Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 09 Tháng Bảy, 2020, 07:35:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Tập 4  (Đọc 102532 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:23:20 pm »


Ngày 24-5, Tiểu đoàn 70 tổ chức lễ xuất quân cho Đại hội 2. Đồng chí Hoàng Minh Thắng, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chính trị viên tỉnh đội đến dự, giao nhiệm vụ cho đơn vị và trao cho Đại đội 2 lá cờ mang dòng chữ Quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược để cắm lên Núi Thành.

0 giờ 30 phút ngày 26-5-1965, sau khi cắt xong các lớp rào kẽm gai ở mỏm đồi 49, Trần Ngọc Ảnh mũi trưởng hướng chủ yếu lao lên ném thủ pháo vào công sự Mỹ, phát lệnh tiến công. Dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Võ Thành Năm, từng tổ ba người phát triển theo đội hình chữ A; tổ trưởng tiến trước bắn yểm hộ cho hai chiến sĩ trong tổ dùng bộc phá, thủ pháo, lựu đạn đánh chiếm từng mục tiêu từ vòng ngoài đến vòng trong. Bị đánh bất ngờ, quân địch ở mỏm đồi 49 chống cự yếu ớt. Trong khi ở hướng chủ yếu phát triển tiến công thuận lợi, thì các mũi tiến công lên mỏm đồi 50 gặp khó khăn, địch ngăn chặn quyết liệt, địa hình lại có độ dốc cao, nhưng chiến sĩ ta dũng mãnh, dùng thủ pháo, lựu đạn, lê đánh “giáp lá cà” với địch. Lực lượng ta ở hướng chủ yếu nhanh chóng đánh sang chi viện. Sau 20 phút chiến đấu, Đại hội 2 đã đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn mỏm đồi 50. Ở đồi 49, chiến sĩ ta đánh chiếm được hai tuyến công sự vòng ngoài, thì vấp phải súng đại liên địch ngăn chặn. Ba chiến sĩ mũi đột kích chủ yếu bị thương vong, đội hình tiến công dừng lại. Đại đội trưởng Võ Thành Năm liền ra lệnh cho lực lượng dự bị lên tăng cường và mở một mũi tiến công từ phía đông bắc đánh thẳng vào bên trong, chia cắt đội hình địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị phát triển đánh chiếm và làm chủ trận địa, diệt đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên, thu toàn bộ vũ khí, quân dụng và cắm lá cờ của Đảng bộ Quảng Nam trao cho lên Núi Thành, báo tin chiến thắng. Đây là đại đội Mỹ bị tiêu diệt đầu tiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Trận Núi Thành quy mô không lớn, nhưng là trận mở đầu thắng lợi khi lực lượng Mỹ đã có mặt ở miền Nam 82.000 tên, là trận đánh biểu thị ý chí quyết tâm của nhân dân Việt Nam chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, là trận phát động tinh thần dám đánh và quyết thắng Mỹ trong toàn dân và lực lượng vũ trang cả nước. Trận Núi Thành xuất hiện khẩu hiệu hành động “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”, là bài học kinh nghiệm đánh Mỹ đầu tiên của quân và dân ta. Trận Núi Thành củng cố lòng tin và nâng cao quyết tâm cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang ta, nó xua tan những ý nghĩ sợ Mỹ, gờm Mỹ trong một số cán bộ, đảng viên và nhân dân. Với chiến thắng mở đầu vẻ vang này, Đại đội 2 được Bộ chi huy Miền tặng lá cờ mang dòng chữ “Núi Thành oanh liệt, quyết chiến lập công”.

Trận Núi Thành có ý nghĩa lịch sử to lớn, nhưng chưa đủ các yếu tố để kết luận là ta có thể thắng Mỹ, vì sức mạnh và cách đánh của địch chưa bộc lộ, phải đợi đến trận Vạn Tường ngày 18-8-1965. Vạn Tường, một thôn nhỏ ven biển thuộc xã Bình Thiện, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được giải phóng trước 1965 và xây dựng thành làng chiến đấu.

Sau chiến thắng Ba Gia lần thứ nhất (5-1965), Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu V về đóng tại Vạn Tường để củng cố huấn luyện, chuẩn bị cho hoạt động Thu - Đông. Phát hiện được đơn vị chủ lực của ta ở cách Chu Lai 17 km về phía đông nam, Oétmolen ra lệnh cho lính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên Anh sáng sao (Starlite) đánh vào Vạn Tường, nhằm tiêu diệt Trung đoàn 1 Quân giải phóng, gây uy thế cho quân Mỹ.

Trong trận này quân Mỹ hoàn toàn chủ động lựa chọn chiến trường tác chiến hợp với sở trường để xuất quân. Đánh vào Vạn Tường, quân Mỹ có điều kiện thuận lợi sử dụng xe tăng, pháo binh, hải quân, không quân của chiến tranh hiện đại. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ là binh chủng được thành lập sớm nhất (1775), có bề dày kinh nghiệm trận mạc trong suốt 200 năm. Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ trực tiếp đánh vào Vạn Tường là đơn vị cơ động nhanh, giỏi về đổ bộ, có khả năng mở rộng nhanh khu vực tác chiến tiến công trên địa hình ven biển, là đơn vị đã lập được thành tích xuất sắc nhất của quân đội Mỹ ở Viễn Đông trong Đại chiến thế giới thứ hai.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:25:40 pm »


Đêm 17-8-1965, năm tàu chiến và sáu tàu đổ bộ Mỹ đậu ngoài biển đối diện với ấp An Cường, bắn dồn dập hàng ngàn quả đạn đại bác vào các thôn xóm. Vạn Tường phút chốt trở thành vùng lửa sáng rực một góc trời. Nhà cửa bị cháy, cây trái gãy nát, ruộng vườn bị cày xới. Biết địch đang chuẩn bị hoả lực dọn đường cho bộ binh tiến công, bộ đội, du kích và nhân dân thôn Vạn Tường khẩn trương sơ tán người già, trẻ em và của cải, sửa chữa hầm hào, chuẩn bị chiến đấu. Chỉ huy Trung đoàn 1, Đại đội 21 bộ đội địa phương và xã đội, thôn đội Vạn Tường họp bàn phương án chiến đấu và phân công hiệp đồng. Sáng ngày 18-8-1965, sau khi máy bay dội bom xuống làng Long Bình, Ngọc Hương chuẩn bị cho việc đổ quân, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính thuỷ đánh bộ số 4 đổ bộ bằng trực thăng xuống cánh đồng Lộc An; đồng thời Tiểu đoàn 3, Trung đoàn hải quân đánh bộ số 3, một bộ phận từ Chu Lai đánh sang, bộ phận còn lại cùng một tiểu đoàn tăng, thiết giáp từ tàu đổ bộ lên bãi biển An Cường. Các cánh quân địch hình thành một vòng cung khép kín bao vây, tiến công vào thôn Vạn Tường. Nhưng ngay lúc địch đang đổ quân xuống cánh đồng Lộc An, các khẩu đội súng cối 82 và 60mm của Trung đoàn 1 bắn cấp tập vào bãi đổ quân của địch, phá hỏng tám máy bay lên thẳng, diệt hơn 100 tên Mỹ. Cánh quân từ Chu Lai sang bị Đại đội 21 bộ đội địa phương Quảng Ngãi phục kích tại thôn Phổ Tịnh đánh, diệt nhiều tên. Lực lượng Mỹ đổ lên bãi biển An Cường bị hoả lực của các chiến sĩ Trung đoàn 1 và dân quân du kích diệt tại chỗ 25 tên; số còn lại lùi ra biển, dùng pháo hạm, máy bay bắn phá, ngăn chặn ta, yểm trợ cho quân Mỹ đổ bộ lần thứ hai. Ở bãi đổ bộ phía tây An Cường diễn ra trận đánh ác liệt. Dưới sự yểm trợ mạnh của máy bay, quân Mỹ cố tiến lên chiếm đồi 43 và 30 ở phía nam và bắc thôn An Cường. Nhưng Trung đoàn 1 và Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh vận động tiến công vào đội hình địch. Bị đánh dữ dội, quân Mỹ hỗn loạn, chúng không còn kiểm soát được chiến trường. Đến trưa, địch cho năm xe thiết giáp chở quân và ba xe tăng phun lửa đến tiếp viện. Trong khi đoàn xe địch đang bò trên những thửa ruộng lúa, thì bị ta phục kích diệt gần hết. Chỉ huy Tiểu đoàn 3/3 vội vã tập hợp một toán cứu viện gồm một xe tăng M48, một tăng phun lửa, ba xe chống tăng Ontos và một số xe thiết giáp tiến về đồi 30 phía bắc thôn An Cường, liền bị ta tiến công. Chỉ trong vòng bốn, năm phút, cánh quân ứng cứu của địch thương vong gần hết. Địch từ chỗ chủ động chuyển sang bị động, chống đỡ lúng túng. Ta từ chỗ bị bất ngờ đã giành được thế chủ động tiến công. Trận đánh kéo dài đến chiều tối ngày 18, địch bị đánh thiệt hại bốn đại đội. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng những không hợp điểm được tại thôn Vạn Tường theo ý định ban đầu, mà còn có nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn. Hải quân Mỹ pháo kích dữ dội hòng làm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm đội đang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường. Ta tiếp tục tiến công cho đến khi màn đêm buông xuống thì trận đánh kết thúc. Quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 900 tên, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị bắn rơi. Đêm 18 rạng 19 lực lượng ta bí mật rút khỏi Vạn Tường an toàn. Chiến thắng Vạn Tường chứng minh rằng quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế về binh, hoả lực và sức cơ động. Với ý nghĩa đó, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã danh giá: “Nếu trận Ấp Bắc đầu năm 1963 đã chỉ ra khả năng đánh bại việc Mỹ dùng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, yểm hộ cho những lực lượng lớn quân ngụy càn quét ở đồng bằng, nếu trận Bình Giã cuối 1964 đã đánh dấu bước trưởng thành của quân chủ lực ta trong việc tiêu diệt những đơn vị ứng chiến lớn quân chủ lực ngụy, thì trận Vạn Tường đã chứng tỏ một cách hùng hồn khả năng của ta đánh bại được quân Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hoả lực”1.

Trận Vạn Tường đánh dấu sự thất bại không tránh khỏi của quân viễn chinh Mỹ trong chiến tranh cục bộ.

Sau trận thắng ở Vạn Tường, quân ta tiếp tục tiến công quân Mỹ ở Thuận Ninh (18-9), Cát Sơn, Cát Hiệp (10 và 14- 10) thuộc tỉnh Bình Định; bắn pháo vào sân bay Đà Nẵng, Chu Lai (24-10) phá huỷ, phá hỏng 163 máy bay các loại, diệt nhiều tên Mỹ.

Trận Vạn Tường đang làm cho giới quân sự Mỹ xôn xao kinh ngạc rằng, trận này “giống như trận đánh Ôkinaoa”2 trong Chiến tranh thế giới thứ hai và lính Mỹ “phải trả giá đắt” thì ngày 19-10-1965, Quân giải phóng Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công Plâyme, cách thị xã Plâycu khoảng 30km về phía tây nam. Không gian chiến dịch diễn ra trong tứ giác Plâyme - Bầu Cạn - Đức Cơ - Plây Thê thuộc huyện 5, nay là huyện Chư Prông với diện tích 1.200 km2. Đồn Plâyme được chọn làm điểm khơi ngòi chiến dịch để nhử địch ra khỏi căn cứ tiêu diệt. Đây là vị trí biên phòng mạnh, hiểm yếu của địch do một tiểu đoàn lực lượng đặc biệt Nam Việt Nam đóng giữ, bảo vệ mặt tây nam thị xã Plâycu và căn cứ Quân đoàn 2 ngụy.
________________________________
1. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.131.
2. Ôkinaoa: đảo lớn ở tây Thái Bình Dương do 77.000 quân Nhật phòng thủ. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã sử dụng 550.000 quân, hơn 1.500 tàu chiến, gần 2.500 máy bay tiến công quân Nhật trên đảo. Bắt đầu ngày 25-3-1945, không quân, hải quân Mỹ bắn phá mãnh liệt chế áp không quân Nhật trên đảo Ôkinaoa và các đảo kế cận, sau đó chiếm đảo Kêrama tiếp giáp với Ôkinaoa. Ngày 1-4, quân Mỹ đổ bộ lên bờ phía tây và ngày 5-4 tiến công sang bờ phía đông. Những trận đánh ác liệt diễn ra cho đến ngày 21-6, quân Mỹ mới hoàn toàn làm chủ đảo Ôkinaoa.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 08:57:57 pm »


Nhiệm vụ chiến dịch được xác định là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực Sài Gòn, kéo Mỹ ra ứng cứu; nếu quân Mỹ ra thì cố gắng diệt một bộ phận quân Mỹ để tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng, xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội ta. Quyết tâm của Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) là dù một đổi một cũng quyết thắng trận đầu. Máu xương và tính mạng của chiến sĩ, đồng bào ta là vô giá không có gì so sánh được, nhưng vì mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ chúng ta sẵn sàng chấp nhận tỷ số 1/1 một cách thanh thản. Theo tinh thần đó, chưa biết chiến thuật của quân Mỹ, bộ đội ta cũng cứ đánh khắc tìm ra cách đánh thắng. Đây không phải là sự liều lĩnh “điếc không sợ súng” mà là quyết tâm dựa trên cơ sơ khoa học và cách mạng, cán bộ, chiến sĩ chúng ta trong quá trình chiến đấu sẽ khắc phục mọi khó khăn, phát huy trí tuệ sáng suốt và tài năng của mình để tìm ra giải pháp tình thế phù hợp, chiến thắng kẻ thù, từ đó tích luỹ dần kinh nghiệm, đúc kết thành bài học quý để đánh Mỹ có hiệu quả hơn.

Để đánh lạc hướng sự chú ý của địch, tạo điều kiện cho bộ đội ta bí mật ém lực lượng an toàn, bao vây đồn Plâyme, ngày 19-10-1965, các chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 Mặt trận Tây Nguyên đánh Tân Lạc, Đức Cơ, Chư Ho. Dưới ánh sáng của đèn dù và lửa cháy, bộ đội ta tiến hành đào công sự và hào giao thông vây ép Plâyme. Những trận đánh ở ngoại vi đồn Plâyme diễn ra rất ác liệt. Địch cố sức đánh bật lực lượng bao vây của ta. Ta thì tìm mọi cách siết chặt vòng vây từ bốn hướng. Nguy cơ cứ điểm biên phòng Plâyme bị mất, Plâycu bị uy hiếp, ngày 23-10, địch dùng một tiểu đoàn bộ binh và Chiến đoàn thiết giáp số 3 quân đội Sài Gòn tiến theo trục đường 21 bis, giải vây cho Plâyme. Trung đoàn 320 của ta đã xây dựng trận địa phục kích hai bên đường 21 bis. Các chiến sĩ trong trung đoàn đã hơn bốn ngày phải ẩn mình trong những công sự được ngụy trang kín dưới cái nắng như thiêu như đốt chờ đợi địch. Khi cả chiến đoàn địch lọt vào trận địa phục kích, các chiến sĩ Trung đoàn 320 như những chiếc lò xo bị ép chặt, bật dậy, nổ súng chặn đầu, khoá đuôi, rồi vọt khỏi công sự, dũng mãnh xung phong ra mặt đường. Bị đánh bất ngờ, cả chiến đoàn địch rối loạn, dồn lên điểm cao 601 cạnh đường chống đỡ. Đồng chí Thiết, trung đội trưởng táo bạo dẫn trung đội mình vượt qua đường 21, vòng về phía tây, xung phong đánh vào đội hình co cụm của địch. Đang tập trung đối phó ở hướng đông, bị ta đánh bất ngờ, số quân phòng ngự phía tây của địch hốt hoảng bỏ chạy, tạo ra thời cơ thuận lợi cho Trung đoàn 320 tiêu diệt hoàn toàn Chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp của quân đội Sài Gòn, phá huỷ, phá hỏng 89 xe quân sự.

Ngày 24-10-1965, hai tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ lên thị xã Plâycu, yểm trợ cho quân đội Sài Gòn tiếp tục giải vây. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cho mở vây, chuẩn bị đánh Mỹ. Ngày 26-10, quân đội Sài Gòn giải vây cho đồn Plâyme lần thứ hai. Tại đây, 11 chiến sĩ bao vây phía đông nam vì không nhận được lệnh lui quân, nên đã trụ lại, chặn đánh quyết liệt với một tiểu đoàn địch cùng 20 xe tăng, bọc thép ngay sát hàng rào đồn Plâyme. Chiến sĩ ta bị thương vong quá nửa, nhưng vẫn kiên cường bám đánh địch. Dưới sự chỉ huy của Đậu Văn Phơn, những chiến sĩ còn lại mỗi người dùng hai, ba loại súng đánh địch. Đậu Văn Phơn bị thương, nhưng anh nghiến răng chịu đau, bình tĩnh chỉ huy, động viên đơn vị kiên quyết đánh bại địch, giữ vững trận địa. Trận chiến đấu kéo dài đến tối, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên địch, bắn cháy năm xe tăng và bọc thép. Được lệnh lui quân, năm chiến sĩ còn lại khiêng cáng tử sĩ và dìu thương binh, vác hết súng đạn rời khỏi trận địa về đơn vị an toàn. Tiểu đội Đậu Văn Phơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nêu một tấm gương sáng về lòng dũng cảm, về chấp hành mệnh lệnh, về tình thương yêu đồng chí, đồng đội lúc thường cũng như lúc chiến đấu.

Cuộc giải vây của quân đội Sài Gòn bị đánh bại, đồn Plâyme vẫn nằm trong tầm khống chế của ta. Ngày 26-10, Oétmolen, Tư lệnh lực lượng đồng minh Mỹ ở Nam Việt Nam cấp tốc đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn kỵ binh không vận ở Plâyđêmốt xem xét tình hình. Y ra lệnh đình chỉ cuộc hành quân càn quét ở Bồng Sơn (Bình Định) để tập trung lực lượng lên Tây Nguyên, giải vây cho quân ngụy và tìm diệt chủ lực ta. Ngày 31-10-1965, quân Mỹ đổ xuống làng Mùi, Plây Ia Priêng, Quynh Klă, Ia Mơ... bị Trung đoàn 33 của ta đánh thương vong, nên ngày 9-11 chúng rút về Plâycu.

Diễn biến trên chiến trường mười ngày đầu tháng 11 - 1965 cho thấy cuộc ra quân của Mỹ có tính chất thăm dò, chuẩn bị bàn đạp cho Sư đoàn kỵ binh không vận “nhảy cóc” đánh đòn bất ngờ vào phía sau đội hình chiến dịch của ta. Quân Mỹ muốn giữ bí mật ý định, nhưng bị động ngay từ đầu; sử dụng phương tiện hiện đại, cơ động nhanh, đánh bất ngờ, chớp nhoáng, nhưng bị ta ở ngay tại chỗ đánh cho thiệt hại, buộc chúng phải bị động, hành động đúng như dự kiến của ta... Qua các trận chiến đấu đầu tiên của Trung đoàn 33 trong các ngày 31 - 10, ngày 4 và 6 - 11, hàng trăm tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, chứng minh bộ đội ta chẳng những dám đánh mà còn biết đánh thắng Mỹ. Đến đây, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định triển khai đợt hai chiến dịch và chọn thung lũng Ia Đrăng cách đồn Plâyme khoảng 25km về phía tây nam (sâu trong hậu cứ của ta) làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt thứ hai, tiêu diệt một bộ phận Sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ, kết thúc chiến dịch. Bộ Tư lệnh Tây Nguyên chủ trương “châm ngòi” Plâyme, nhử quân Mỹ vào sâu trong căn cứ của ta, nhưng ngày 10-11, Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận trở lại Bầu Cạn; ngày 11, một bộ phận của Lữ đoàn này nhảy xuống Plâyngo cách đồn Plâyme 10 km về phía tây. Ta cho Tiểu đoàn 952 đặc công tập kích đánh phủ đầu sở chỉ huy hành quân của Lữ đoàn 3 ở Bầu Cạn và quyết định không “châm ngòi” Plâyme như đã chủ trương, để điều Trung đoàn 33 về khu vực Ia Đrăng cùng với Trung đoàn 66 đánh trận then chốt quyết định ở đây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 08:59:48 pm »


Ngày 2-11-1965, Lữ đoàn 1 Mỹ được trực thăng vận lên phía tây Plâycu gần khu vực Chư Pông, lùng sục, phát hiện dấu vết lực lượng ta. Chúng phán đoán Chư Pông là căn cứ lớn của “Việt cộng”, nên tướng Kinna (Kinnard) Tư lệnh Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 ra lệnh cho Lữ đoàn 3 thay Lữ đoàn 1, tiến công vào khu vực Chư Pông. Ngày 14-11, toàn bộ Tiểu đoàn 1/7 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn kỵ binh bay số 7) do trung tá Harốt Morơ chỉ huy đổ xuống bãi đáp Ia Đrăng và lùng sục lên phía bắc dãy Chư Pông. Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66 vừa đến chiến trường đang củng cố chỗ đóng quân, thì gặp Mỹ. Bộ đội ta vào trận chiến đấu rất ngoan cường, đánh thiệt hại Đại đội A, tiêu hao Đại đội C của Tiểu đoàn 1 Mỹ. Tiểu đoàn 1/7 đang lâm nguy, chỉ huy Lữ đoàn 3 điều Tiểu đoàn 2/7 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn kỵ binh bay số 7) từ An Khê lên tăng viện, sau đó chúng đổ thêm Tiểu đoàn 2/5 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn kỵ binh bay số 5) xuống Ia Đrăng. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của không quân, pháo binh, quân Mỹ tiến công vào khu vực trú quân của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66. Nhưng địch mới tiến được hơn 100 m thì bị ta đánh chặn, buộc chúng phải co cụm chống đỡ. Ngày 15-11-1965, đồng chí Nguyễn Hữu An, Tham mưu phó B3, Tư lệnh Sở chỉ huy tiền phương mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 66 nhân đà quân Mỹ lúng túng, bị động chống đỡ, dùng Tiểu đoàn 7 cùng với Tiểu đoàn 9 tiếp tục tiến công. 4 giờ 30 phút ngày 16-11, bộ đội ta chiếm lĩnh các vị trí bao vây quân Mỹ từ hướng bắc và tây bắc, đồng thời bố trí lực lượng đón lõng ở hướng tây và tây nam. Trung đoàn phó Phạm Công Cửu ra lệnh cho Đại đội 2 nổ súng mở màn trận đánh. Bằng chiến thuật vận động tiến công và sự mưu trí của chiến sĩ ta, Tiểu đoàn 7 và 9 tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng hai đại đội C và D của Tiểu đoàn 2/7 kỵ binh bay, loại khỏi vòng chiến hơn 200 tên (có hơn 80 tên Mỹ chết), bắn rơi 9 máy bay lên thẳng, thu 72 súng các loại, 22 đài thu phát 2 W. Ta hy sinh hơn 50 đồng chí.

Trước tình thế nguy khốn của Tiểu đoàn 1/7 và Tiểu đoàn 2/7 kỵ binh bay, định cho 100 lần chiếc máy bay B52 ném bom rải thảm xuống thung lũng Ia Đrăng. Đây là lần đầu tiên Mỹ sử dụng máy bay chiến lược yểm trợ chiến thuật cho bộ binh. Oétmolen thú nhận; “Vì không còn cách nào khác, Lữ đoàn 3 đang nguy khốn” (Hồi ký của Oétmolen).

Quán triệt tư tưởng tiến công, ngay trong đêm 16, Tiểu đoàn 7 tổ chức tiến công, không cho quân Mỹ kịp trấn tĩnh, củng cố. Dưới ánh sáng chói loà của đèn dù, pháo sáng, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 giương lê sáng quắc, băng qua rừng le và cỏ lau rậm rạp tìm đánh quân Mỹ. Ban đêm bộ đội ta hiệp đồng chiến đấu theo tiếng súng. Nhiều cán bộ, chiến sĩ bị lạc trong rừng đều nhằm hướng súng nổ lao tới phối hợp. Bị đánh tả tơi và bị ta truy kích, quân Mỹ phải chạy bộ khỏi thung lũng Ia Đrăng ra “bãi đáp” chờ trực thăng đến bốc. Nhưng bị những loạt súng AK, lựu đạn của ta đánh chặn, suốt đêm chúng chỉ chạy được một quãng về phía làng Gà.

Sáng ngày 17-11-1965, Tiểu đoàn 8 đang đón đánh địch ở khu vực Ba Bỉ được lệnh cấp tốc hành quân về đội hình trung đoàn để chuẩn bị đánh trận quyết định. Trên đường hành quân đến phía đông bắc Chư Pông, Tiểu đoàn 8 gặp quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi1 bình tĩnh, chỉ huy đơn vị tiến công Tiểu đoàn 2/7 Mỹ, tiêu diệt Đại đội C. Đồng chí Luận, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 đang chỉ huy lùng địch ở hướng khác, nghe súng nổ, liền dẫn đơn vị đến phối hợp với Tiểu đoàn 8. Trận đánh rất ác liệt kéo dài đến chiều ngày 17-11-1965. Núi rừng Chư Pông rung chuyển trong tiếng nổ xé trời của bom B52 và pháo bầy Mỹ. Lửa bom napan thiêu cháy cả những khu rừng rộng lớn ở Ia Đrăng. 16 giờ Lê Xuân Phôi hy sinh, đồng chí Luận, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 tiếp tục chỉ huy chung hai đơn vị vượt qua bom đạn, tiến công, tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 2/7 kỵ binh bay Mỹ. Ngày 18-11, Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo của Tiểu đoàn 2/5 ở phía tây bắc suối Ia Mơ phá hỏng ba pháo lớn, bảy máy bay lên thẳng. Trận quyết chiến ở thung lũng Ia Đrăng đã khắc hoạ lên hình tượng tuyệt vời về người chiến sĩ quân đội cách mạng giản dị, dịu hiền mà anh dũng, thông minh, khiến cho Hãng AFP ngày 27-11-1965 bình luận: “lính Việt cộng đã chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà các cố vấn Mỹ phải phục” và “Tướng Mỹ phải đánh theo cách đánh của kẻ thù (BQP) lựa chọn, không phải theo cách đánh của chúng ta (Mỹ)” (Thời báo Niu-oóc số ra ngày 21-11-1965).

Kết thúc chiến dịch Plâyme, ta tiêu diệt một chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp quân đội Sài Gòn, phá huỷ 89 xe quân sự, tiêu diệt Tiểu đoàn 2/7, đánh thiệt hại Tiểu đoàn 1/7 kỵ binh bay Mỹ; bắn rơi, phá hỏng 59 máy bay lên thẳng. Phía Mỹ thừa nhận trong trận đánh Ia Đrăng có 824 lính Mỹ chết và bị thương, trong đó có 304 chết.

Chiến công đặc biệt xuất sắc này được Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh tặng các đơn vị chiến thắng ở Plâyme hai Huân chương Quân công hạng nhất. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương giải thích: quân đội ta không có huân chương nào cao hơn Huân chương Quân công. Để xứng với chiến thắng này, Bộ quyết định tặng hai Huân chương Quân công hạng nhất.

Cùng với Núi Thành, Vạn Tường, chiến thắng Plâyme - Ia Đrăng chứng minh quyết tâm đánh Mỹ của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân dân ta là hoàn toàn đúng đắn. Việt Nam chẳng những dám đánh Mỹ mà còn biết cách đánh thắng, có khả năng đánh tiêu diệt từng đơn vị quân Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế về lực lượng, trang bị và sức cơ động, để làm chuyển biến cuộc chiến tranh có lợi cho cách mạng. Tướng Mỹ G. Morơ và L.Galoguây phóng viên chiến tranh, đã chiến đấu trong trận Ia Đrăng sau này nhận định rất đúng rằng: “Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam”2.
_________________________________
1. Đồng chí Lê Xuân Phôi được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, năm 1995.
2. Dẫn theo cuốn Đã một thời chúng tôi là những người lính... và trẻ trung của Trung tướng G. Morơ và L. Galoguây do Vương Minh Quang dịch, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1993.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 09:03:55 pm »


Giữa lúc Bộ chỉ huy quân Mỹ ở Sài Gòn đang lúng túng tìm cách đối phó với ta ở Ia Đrăng, thì quân, dân ta ở miền Đông Nam Bộ mở cuộc tiến công đánh phủ đầu quân Mỹ ở Đất Cuốc, Bầu Bàng, Dầu Tiếng. Thực hiện chủ trương của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam “đánh tiêu diệt và làm tan rã lớn quân ngụy - nhất là quân chủ lực; tổ chức vòng vây các căn cứ Mỹ, tiêu diệt, tiêu hao quân Mỹ”1, ngày 8- 1 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn bộ binh 9 phục kích Lữ đoàn dù 173 Mỹ ở Đất Cuốc, cách Biên Hoà 30 km về phía bắc. Được Đoàn pháo binh 69 chi viện đắc lực, Trung đoàn 1 áp sát địch, tiến công. Lữ đoàn dù 173 nổi danh thiện chiến đã bị bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên. Đây là trận thất bại đầu tiên của quân Mỹ trên đất thành đồng Nam Bộ.

5 giờ 30 phút ngày 12-11-1965, Sư đoàn 9 chủ lực Miền tiến công Lữ đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 1 – Anh cả đỏ ở Bầu Bàng. Mở đầu trận đánh, quân ta dùng súng cối, ĐKZ, B40, B41 bắn mạnh vào sở chỉ huy, khu thông tin, thiết giáp để kiềm chế chúng, làm cho bộ binh Mỹ mất chỗ dựa hoả lực. Liền sau đòn phủ đầu bằng hoả lực, cán bộ, chiến sĩ ta dũng mãnh xung phong vào trận nội, đánh gần, diệt từng cụm địch. Suốt trong ba giờ chiến đấu ác liệt, bộ đội ta đã đánh thiệt hại tiểu đoàn bộ binh Anh cả đỏ, một chiến đoàn thiết giáp Mỹ, phá hỏng 39 xe quân sự, sáu khẩu đại bác 105 mm.

Trận Bầu Bàng thể hiện tài nghệ đánh tập kích của bộ đội ta, chứng tỏ lực lượng vũ trang ta có khả năng đánh tiêu diệt từng đơn vị Mỹ. Dư luận Mỹ và phương Tây cho rằng trận Bầu Bàng tỏ rõ “thế tiến công của Việt cộng là một bước ngoặt rõ ràng của họ trong chiến tranh”.

Tám ngày sau trận Bầu Bàng, ngày 20-11 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 4 (Sư đoàn 9 Miền) phục kích ở Cẩm Xe, diệt 40 xe quân sự và hàng trăm tên Mỹ. Trong trận này xuất hiện tấm gương “Đại đội trưởng khoá đuôi” Tạ Quang Tỷ. Trước đó, trong chiến dịch Bình Giã, anh là “Đại đội trưởng chặn đầu”. Với thành tích xuất sắc này, tại Đại hội liên hoan Anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ lần thứ hai, Tạ Quang Tỷ dược tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 5-12-1965, các chiến sĩ Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 tiến công vào Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 1 – Anh cả đỏ ở bàu Đa Dội thuộc xã Long Nguyên, huyện Bến Cát. Trận đánh diễn ra suốt ngày dưới tầm phi pháo ác liệt của địch. Bộ đội ta vận dụng cách đánh gần, chia cắt đội hình càn quét của địch ra từng cụm để diệt. Đến 17 giờ, Sư đoàn 9 mới làm chủ trận địa, diệt gọn một đại đội Mỹ, đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ khác. Lữ đoàn 2 Mỹ buộc phải rút khỏi Dầu Tiếng.

Bốn ngày sau khi Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ tiến công Lữ đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 1 – Anh cả đỏ Mỹ ở Bầu Bàng, Trung đoàn 1, chủ lực Quân khu V cũng bắt đầu bao vây cứ điểm Việt An (16-11-1965). Việt An là cứ điểm mạnh trong tuyến phòng ngự của địch ở tỉnh Quảng Tín (nay là Quảng Nam), nằm ở ngã ba đường 16 và tỉnh lộ đi Quế Sơn, cách quận lỵ Hiệp Đức khoảng 12 km về phía đông. Sau 12 ngày vây hãm, địch vẫn không giải toả, ta tiếp tục siết chặt vòng vây cho đến ngày 8-12, Chiến đoàn 5 và hai chi đoàn xe bọc thép quân đội Sài Gòn mới mở cuộc hành quân Liên kết 18 giải vây cho Việt An. Ngày 9-12-1965, quân ngụy bị diệt, Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn buộc phải tung vào trận chiến năm tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ để cứu Việt An. Trong các ngày 9, 10, 12, 15, quân Mỹ liên tục đổ quân xuống khu vực các xã An Lý, Châu Xuân, Cầm La, La Ngà, Chiêm Sơn, Hà Châu, Gia Hội, Cẩm Khê. Các chiến sĩ Trung đoàn 1 Ba Gia ém quân sẵn ở đó, tiến công vào các cánh quân Mỹ và chặn chúng rút theo đường Chiêm Sơn - Hà Châu - Cẩm Khê qua Quán Ruồng để về Tam Kỳ. Các trận chiến đấu diễn ra ác liệt cho đến sáng ngày 18, quân Mỹ dồn cụm vào chợ Cẩm Khê chống đỡ. Tiểu đoàn 90, Tiểu đoàn 70 tiến công vào chợ Cẩm Khê. Tiểu đoàn 60 chặn địch ở hướng bắc nghe súng nổ vận động đến phối hợp. Bị đánh mạnh, lại ở trong thế bị bao vây, máy bay, pháo binh địch ném bom, bắn phá ngay vào đội hình tiến công của quân ta, để yểm hộ cho quân Mỹ rút chạy. Từ trong cảnh hỗn độn của trận ác chiến, bỗng vang lên lời hô của một cán bộ: anh em bám sát lính Mỹ mà đánh để tránh phi pháo.

15 giờ ngày 18-12-1965 trận đánh kết thúc thắng lợi.

Tổng kết trận đánh Việt An, đồng chí Lê Hữu Trữ2, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Ba Gia kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch đã khái quát lời của cán bộ ta trong trận đánh thành khẩu hiệu hành động “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”. Bộ đội ta lại tìm ra được cách đánh mới.
___________________________________
1. Trích Nghị quyết Thường vụ Trung ương Cục, tháng 8-1965, lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
2. Đồng chí Lê Hữu Trữ được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, năm 1995.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 09:07:23 pm »


Các trận đánh phủ đầu quân Mỹ trên đây thể hiện thế chủ động của ta trên chiến trường là vững chắc; tình trạng phát triển không đều về trình độ tác chiến về thế trận chiến tranh nhân dân, về thế chiến lược trước đây giữa ác chiến trường được khắc phục. Bộ đội ta đã trực tiếp đọ sức với đủ các quân, binh chủng Mỹ, từ thuỷ quân lục chiến đến kỵ binh bay, dù, bộ binh Anh cả đỏ, thiết giáp... Mỗi loại binh chủng Mỹ sở trường và khả năng tác chiến có khác nhau, nhưng chúng giống nhau ở một điểm là dựa vào hoả lực mạnh và sức cơ động bằng máy bay, xe bọc thép, khi bị đánh thì tìm cách co cụm, dùng phi pháo đánh chặn, sát thương đối phương. Nhưng bộ đội ta đã dũng cảm và thông minh, hạn chế được những điểm mạnh của quân Mỹ, khoét sâu chỗ yếu của chúng nên đã giành được chiến thắng. Thực tiễn này cho ta các yếu tố để kết luận là quân, dân Việt Nam hoàn toàn có khả năng đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược dù chúng có quân đông, vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Trong mọi tình huống, quân và dân ta vẫn giữ ữừng thế chủ động tiến công, buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta đề ra nhiệm vụ chiến lược cho quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc.

Hoà nhịp với những trận đánh phủ đầu quân Mỹ, từ tháng 8 đến tháng 12-1965, quân và dân ta dồn dập tiến công địch khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, khu VI, khu V, Tây Nguyên, Trị - Thiên. Từ ngày 1-8-1965, lực lượng vũ trang Nam Bộ diệt 16 vị trí địch ở các tỉnh Gò Công, Tân An, Chợ Lớn, đánh bom Sở cảnh sát Mỹ ở Sài Gòn, khách sạn Mêtrôpôn, sân bay Biên Hoà. Ở Khu V quân ta tiến công địch ở Đồng Dương (Quảng Nam), Minh Long (Quảng Ngãi), Tuy Hoà (Phú Yên). Ở Trị - Thiên ta đánh địch đóng ở quận lỵ Ba Lòng, diệt cứ điểm Tân Đệ, A Chùm, buộc chúng phải co về giữ Khe Sanh, Tà Cơn. Ta giải phóng Lao Bảo, Huội San, thọc sâu xuống đồng bằng, đánh địch, mở vùng ở Tây Hoàng, Mỹ Phú, Phong Điền. Thu - Đông 1965, ta giành thêm nhiều địa bàn ở vùng sâu, củng cố vùng giải phóng và thế trận đã bố trí. Sự phát triển không đều giữa các chiến trường về trình độ tác chiến, về lực lượng và thế chiến lược được khắc phục một bước. Quyền chủ động chiến trường của ta được giữ vững. Trái lại, chính quyền và quân đội tay sai - công cụ của Mỹ để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới khủng hoảng nghiêm trọng và suy yếu toàn diện, nhất là ngụy quyền trung ương.

Giai đoạn một kế hoạch chiến lược ba giai đoạn của tướng Oétmolen đã trôi qua. Việc đưa ồ ạt quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam Việt Nam đã phần nào cứu vãn được sự sụp đổ và tan rã nhanh chóng của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Song, quân Mỹ không thể ngăn chặn được sự chi viện của miền Bắc hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, không tránh được các đòn tiến công như vũ bão của Quân giải phóng và không thể giành được quyền chủ động chiến trường như mục tiêu đề ra trong kế hoạch. Điều đó chứng tỏ rằng dù quân Mỹ vào miền Nam, nhưng chúng không thể đảo ngược được chiều hướng thua của quân đội Sài Gòn, cả Mỹ lẫn ngụy đều bị mắc kẹt trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta, chúng luôn bị động về chiến lược, lúng túng về chiến thuật đối phó.

Thực tiễn tình hình quân sự, chính trị trên cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam và tình hình quốc tế trong năm 1965 đủ những yếu tố để Đảng ta hoạch định và bổ sung hoàn thiện từng bước đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và chiến lược quân sự để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh. Tiếp theo Hội nghị Trung ương lần thứ 11 tháng 3 - 1965 khẳng định quyết tâm đánh Mỹ, chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc vào thời chiến, tăng cường quốc phòng, chuẩn bị trước một bước về tư tưởng, tổ chức để sẵn sàng bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, ngày 27-12-1965, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khoá III) khai mạc dưới sự chủ trì của Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh. Hội nghị thảo luận, đánh giá toàn diện các mặt tình hình địch, ta và tình hình quốc tế có liên quan, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân hai miền Nam - Bắc. Hội nghị Trung ương nhận định: “Đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn”1. Quân Mỹ vào miền Nam làm cho “cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch”2. Trên cơ sở những thắng lợi trong năm 1965, nhất là những trận “đánh phủ đầu” quân Mỹ, Hội nghị Trung ương đánh giá “dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng, nhân dân ta đã sáng tạo nên những lực lượng to lớn về mọi mặt và đang đứng vào một thế thuận lợi”3 để đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới. Thực tiễn cho thấy: “Quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng tiêu diệt những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân viễn chinh Mỹ, tiêu diệt những đơn vị ngày càng lớn của quân chủ lực ngụy, trong tình hình mới vẫn kiên quyết tiến lên”4.
__________________________________
1 ÷ 4. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), bản sao lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 09:11:25 pm »


Mỹ là tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh và lớn nhất thế giới, nên mặc dù liên tiếp bị thất bại, chúng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Âm mưu trước mắt của Mỹ là: “Ra sức mở những cuộc tiến công nhằm tiêu diệt lực lượng ta - nhất là lực lượng vũ trang tập trung của ta, giữ vững và củng cố hoặc chiếm đóng thêm các căn cứ chiến lược quan trọng rồi dựa vào đó đẩy mạnh công tác bình định có trọng điểm, đánh phá vùng giải phóng, khống chế kìm kẹp quần chúng và chiếm lại một số vùng đã mất; tìm mọi biện pháp để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, bao vây cô lập chiến trường miền Nam, đồng thời tăng cường chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta”1. Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ sử dụng cả hai lực lượng quân Mỹ và quân ngụy. Quân Mỹ sẽ trở thành lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh xâm lược, vừa làm chỗ dựa về quân sự cho ngụy quân, ngụy quyền, vừa làm lực lượng cơ động chiến lược chiến đấu chủ yếu. Quân đội Sài Gòn được quân Mỹ hỗ trợ vừa làm lực lượng cơ động trên chiến trường trong những điều kiện nhất định, vừa là lực lượng chủ yếu để bình định, kìm kẹp nhân dân, là chỗ dựa về chính trị, quân sự của quân đội Mỹ. Tính chất và nhiệm vụ của quân Mỹ và quân ngụy trên đây là do bản chất cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy định. Đó là nguồn gốc làm nảy sinh những mâu thuẫn trong quá trình vạch chiến lược, chính sách, phương pháp tiến hành chiến tranh xâm lược với hành động thực tế của Mỹ và tay sai trên chiến trường, mà Nhà Trắng và Lầu Năm góc Mỹ không thể nào khắc phục được. Quân Mỹ chiến đấu không có lý tưởng, vì phi nghĩa nên bị nhân dân Mỹ, nhân dân thế giới phản đối, lên án. Có thể lúc đầu mới sang chiến trường Việt Nam, người lính Mỹ chưa nhận ra lẽ phải, nhưng khi ra trận tiếp xúc với thực tế họ sẽ nhận ra là Chính phủ Mỹ đã lừa dối họ, tinh thần chiến đấu của họ sẽ sa sút. Đó là điểm yếu chí mạng của Mỹ trong cuộc chiến tranh. Từ sự phân tích bản chất cuộc chiến tranh, nhận rõ chỗ yếu, chỗ mạnh của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương khẳng định: “Đế quốc Mỹ dù có đưa mấy chục vạn quân, về chiến lược chúng cũng buộc phải phân tán lực lượng trên khắp các chiến trường và ngày càng lâm vào thế bị động, sa lầy, nhất định chúng sẽ thất bại, không thể nào cứu vãn được sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền”2.

Với lòng tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng, dựa trên những phân tích khoa học về so sánh lực lượng, về thời cơ, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 đề ra nhiệm vụ chung cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”3. Sau khi so sánh cân nhắc tính toán kỹ tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, có tính đến nhân tố khách quan là tình hình thế giới tác động đến cuộc chiến tranh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương kiềm chế và thắng địch trên chiến trường miền Nam là chính, song phải chuẩn bị sẵn sàng thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh ra cả nước ta. Đây là một chủ trương táo bạo, cách mạng và khoa học. Để thực hiện được chủ trương này, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 đề ra phương châm đấu tranh: “Tiếp tục kiên trì đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công, đồng thời trong hoàn cảnh hiện nay, trên cơ sở tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài, chúng ta cần cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam”4. Cụ thể là:

- Tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, làm cho Mỹ bị tổn thất nặng không đủ sức cứu vãn sự tan rã của ngụy quân, ngụy quyền, dẫn đến sự thất bại trong nhiệm vụ quân sự và chính trị của chúng.

- Tiêu diệt, làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn tới mức không còn là một lực lượng mà quân Mỹ có thể làm chỗ dựa để tiếp tục chiến tranh. Và khi Mỹ buộc phải chuyển sang giải pháp chính trị, thì thế, lực của chính quyền, của quân đội Sài Gòn đã suy yếu nghiêm trọng không đủ sức duy trì và giữ vững chế độ chính trị của chúng.

Từ đó ta đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và thực hiện được mục tiêu về độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

Trước đây, phương châm chiến lược của ta là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính vì xuất phát từ cơ sở ban đầu ta phải lấy yếu đánh mạnh và đây cũng là sự kế thừa truyền thống đánh giặc, giữ nước của tổ tiên; mặt khác, xuất phát từ tiến trình của cách mạng miền Nam từ lúc khởi sự cho đến khi đạt được những mục tiêu cơ bản đề ra là một quá trình lâu dài. Hơn nữa, Mỹ là một tên đế quốc giàu, mạnh, hiếu chiến, thua keo này chúng bày keo khác, ta phải dự kiến nhiều khả năng phát triển về quy mô, mức độ của cuộc chiến tranh. Cuộc đấu tranh của đồng bào ta trong những năm ấy chứng minh phương châm chiến lược nói trên là đúng. Nay tình hình chuyển biến cuộc chiến tranh ở miền Nam có bước phát triển mới. Cách mạng đã giành được những thắng lợi to lớn, làm thay đổi nhanh chóng lực lượng so sánh có lợi cho ta. Từ khi tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ vào Đà Nẵng đến nay, quân và dân ta ở miền Nam đã thực hiện vượt mức những yêu cầu về diệt địch, phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. Tình hình đó cho phép ta trên cơ sở đánh lâu dài, tranh thủ thời cơ, nỗ lực phấn đấu giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nói: “Khi nêu quyết tâm giành thắng lợi quyết định, chúng ta đặt yêu cầu giành một bước thắng lợi căn bản trong tình hình cụ thể nhất định của chiến tranh. Điều đó rõ ràng có khác với giành thắng lợi hoàn toàn trong bất kỳ tình huống nào”5.
_____________________________________
1 ÷ 4. Tlđd.
5. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.125.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 09:15:08 pm »


Vấn đề đặt ra được Trung ương bàn luận rất kỹ là quân Mỹ vào miền Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh, ngôn ngữ bất đồng, tình cảm, tâm lý, tập quán cũng khác, nhân dân ta có còn đấu tranh chính trị như trước được không. Hội nghị cho rằng đưa quân viễn chinh vào miền Nam làm cho cuộc chiến tranh có những thay đổi mới về lực lượng và cách đánh, nhưng đế quốc Mỹ vẫn bị ràng buộc trong khuôn khổ chiến tranh thực dân kiểu mới, phải dựa vào bọn tay sai để thực hiện mục tiêu xâm lược, nhưng bọn tay sai lại rất yếu. Phương thức xâm lược và chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ luôn luôn quyện chặt vào nhau và chứa đầy mâu thuẫn. Chiến tranh càng mở rộng và kéo dài, thì mâu thuẫn càng bộc lộ và bị khoét sâu mà Nhà Trắng, Lầu Năm góc Mỹ không thể nào khắc phục được. Đó là:

- Mâu thuẫn giữa mục đích muốn giấu mặt trá hình để áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới nhưng buộc phải tiến hành chiến tranh bằng quân viễn chinh Mỹ, nên chúng nhanh chóng bị lộ mặt.

- Mâu thuẫn giữa tiến hành chiến tranh xâm lược nhưng phải xây dựng cho được chính quyền, quân đội tay sai bản xứ làm chỗ dựa và là công cụ xâm lược của Mỹ nhằm áp đặt cho được chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

- Mâu thuẫn khi buộc phải tiến hành chiến tranh để giữ vững và củng cố chính quyền, quân đội tay sai với thực tế càng tiến hành chiến tranh thì chính quyền, quân đội đó càng lục đục, suy yếu, lệ thuộc Mỹ, đồng thời kéo theo sự suy yếu của chính bản thân Mỹ.

- Mâu thuẫn giữa sức mạnh quân sự vốn có, nhưng do phi nghĩa và đặc điểm của thời đại chi phối, lại phải tiến hành chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, nên đế quốc Mỹ không thể sử dụng hết sức mạnh quân sự của bản thân chúng trong cuộc chiến tranh cách xa nước Mỹ.

Xâm lược, nhưng sợ lộ mặt, nên đế quốc Mỹ cũng phải mị dân, vì vậy, phương châm đấu tranh của ta là: ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công. Trung ương chỉ rõ trong giai đoạn hiện nay, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ vai trò ngày càng quan trọng, nhưng đấu tranh quân sự chỉ thu được kết quả lớn nhất nếu nó được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và ngoại giao. Hội nghị Trung ương lần thứ 12 nhấn mạnh: “Cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và viện trợ quốc tế vì đó là một nhân tố quan trọng, góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta”1.

Đối với miền Bắc, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu nhiệm vụ: “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, động viên sức người, sức của tăng cường chi viện cho miền Nam, ra sức giúp đỡ cách mạng Lào, đồng thời chuẩn bị đánh thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước”2.

Để hoàn thành nhiệm vụ hết sức nặng nề mà Hội nghị Trung ương lần thứ 12 đề ra, Đảng phải ra sức tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức, nội dung cụ thể là kiện toàn thêm một bước sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng ở địa phương và Trung ương, vì đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

Trước thử thách cực kỳ nghiêm trọng đối với vận mệnh sống còn của Tổ quốc, dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi: “Chúng ta đang tiến hành một cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại nhất trong lịch sử nước nhà, một cuộc chiến tranh cách mạng vừa để giải phóng dân tộc, vừa để bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa cống hiến vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”3. Vì vậy, “chúng ta phải có tinh thần chiến đấu cao, dũng cảm phi thường, phải có chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào”4.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng là kết tinh giữa thực tiễn sáng tạo vĩ đại của quần chúng với trí tuệ sáng suốt của toàn Đảng, mà tập trung là Ban Chấp hành Trung ương; là văn kiện lịch sử củng cố lòng tin và chỉ đạo cho quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc vững bước vượt qua gian lao, thử thách để tiến đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go này.
____________________________________
1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá III), bản sao lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam.
2 ÷ 4. Tlđd.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 09:20:19 pm »


Nói chuyện với cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng, nhất định ta thắng. Ta nói như thế không phải để tuyên truyền, mà căn bản là như thế...”1. Về ý nghĩa và tầm vóc của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nếu chúng ta thắng ở miền Nam tức là chúng ta đã đè được lực lượng xâm lược của Mỹ, đó là ta góp phần vào cách mạng thế giới. Vì vậy, ta quyết chiến, quyết thắng ở miền Nam chẳng những là vì nhiệm vụ của ta, mà còn là nghĩa vụ của ta đối với cách mạng thế giới”2. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí nhất định phải biến quyết tâm của Đảng, của Trung ương thành quyết tâm của mỗi đảng viên, mỗi chiến sĩ, mỗi người dân để thực hiện tốt nghị quyết này”3.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 12 và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về quân sự, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, chủ động bám sát địch, phát huy sức mạnh lực lượng tại chỗ, kết hợp với chủ lực cơ động của bộ, của miền và quân khu, tiến công và phản công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực, phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, bẻ gãy các cuộc tiến công tìm diệt của quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ, hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phá kế hoạch bình định của địch. Tháng 2-1966, Quân uỷ Trung ương xác định chiến trường rừng núi là chiến trường tiêu diệt dịch, trọng điểm là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ; đồng thời chú trọng đẩy mạnh tác chiến ở chiến trường khu V; đẩy mạnh chiến tranh du kích và đánh vận động nhỏ ở chiến trường khu VIII, Khu IX; làm chuyển biến chiến trường Trị - Thiên thành hướng chiến lược quan trọng để phối hợp và hỗ trợ với các chiến trường khác.

Thực hiện những nhiệm vụ trên đây, điều quan trọng là hậu phương lớn miền Bắc bằng mọi cách phải tăng cường chi viện về người và vật chất, kỹ thuật, làm tăng nhanh thế và lực cho cách mạng miền Nam cũng như từng chiến trường. Quân uỷ Trung ương chỉ đạo cho Đoàn 559: “Phải khẩn cấp mở thêm các trục đường vận chuyển cho các chiến trường miền Nam và Hạ Lào. Bảo đảm lương thực cho các lực lượng hành quân, các đơn vị bảo đảm hành lang. Vận chuyển các loại văn thư, bưu kiện...”4. Phương châm hoạt động là triệt để tận dụng cơ giới kết hợp phương tiện thô sơ.

Năm 1964, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 mở được tuyến đường thuỷ phía tây Trường Sơn song song với tuyến đường bộ. Đường thuỷ từ sông Bạc đến sông Xê Công lắm thác nhiều ghềnh, và những dòng thác lớn hung dữ thuyền bè chở gạo, vũ khí bị lật chìm đến 90%. Đoàn 559 phải phá thác tạo dòng chảy xuôi, rộng ít nhất 15 mét trở lên. Trung đoàn công binh 298 được giao nhiệm vụ phá thác. Đồng chí Hoàng Văn Nghiên được chỉ huy trung đoàn giao cho phụ trách phá thác đi điều nghiên cụ thể và vạch phương án phá thác. Bằng trí thông minh và lòng dũng cảm, đồng chí Nghiên cùng tổ đã vạch được cách phá thác là lặn xuống tầng sâu của thác, gài bộc phá vào thành thác rồi giật kíp nổ. Bằng cách này, tổ Hoàng Văn Nghiên đã phá sạch 45 thác lớn, nhỏ khai thông dòng chảy sông Xê Công, tạo thuận lợi cho vận chuyển đường thuỷ của Đoàn 559. Riêng Hoàng Văn Nghiên đảm nhiệm phá thác lớn nhất, nguy hiểm nhất là thác Căn Xa Thư. Anh điều tra rất kỹ dòng chảy rồi ôm khối thuốc nổ 40 kg lặn xuống thác, nhưng nước chảy xiết làm bật khối thuốc khỏi tay và cuốn trôi cả người cách thác khoảng một trăm mét. Hoàng Văn Nghiên bình tĩnh cố sức vật lộn với dòng nước xoáy lao theo chụp được khối bộc phá ôm chặt vào lòng và lặn xuống áp khối thuốc vào tầng sâu của thác... Thác Căn Xa Thư bị phá đã góp phần quan trọng tạo dòng chảy thông thoáng trên sông Xê Công. Hoàng Văn Nghiên được Chính phủ tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, tháng 1 - 1967.

Vất vả là vậy, nhưng trong năm 1964 Đoàn 559 chỉ chuyển được vào Nam giao cho các chiến trường 1.410 tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm và 517 tấn lương thực cho các binh trạm nuôi bộ đội hành quân, đạt 25% kế hoạch. Bước vào năm 1965, chỉ tiêu trên giao cho Đoàn 559 phải tận dụng mọi khả năng vận chuyển cả hai mùa, tăng khối lượng vật chất tiếp tế cho các chiến trường lên gấp 2,5 lần năm 1964. Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, Đoàn 559 được tổ chức xây dựng tương đương cấp quân khu, biên chế 16.800 người. Lực lượng vận tải cơ giới được bổ sung đủ 674 ô tô các loại; lực lượng cao xạ bảo vệ các trọng điểm có 14 đại đội, tăng gấp hai lần so với đầu năm 1965; công binh có hai trung đoàn với 2.959 cán bộ, chiến sĩ, hai đội thanh niên xung phong 7.665 người. Bộ Tổng tham mưu còn ra lệnh cho hai trung đoàn bộ binh đang hành quân vào Tây Nguyên, Nam Bộ dừng lại, tăng cường cho Đoàn 559 mở đường, vận chuyển một thời gian. Đồng thời, với việc tăng cường tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, hệ thống giao thông thuỷ, bộ ở hậu phương lớn hướng vào Nam cũng được củng cố và mở mới hoàn chỉnh cho phù hợp với công tác vận chuyển trong tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt. Lực lượng vận tải quân đội và các đoàn vận tải (B) của Bộ Giao thông thi đua đẩy nhanh tốc độ vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559 chuyển tiếp vào Nam. Dù đã rất cố gắng, nhưng đến tháng 4-1965, lực lượng vận tải mới chuyển được đến Tổng kho R ở Hoá Thanh, Hoá Tiến (Quảng Bình) 20 đến 25% kế hoạch. Tổng cục Hậu cần phải tổ chức nhiều đoàn xe ô tô vận chuyển hàng từ Tổng kho Hà Nội đi thẳng vào các chiến trường. Mùa mưa lũ Trường Sơn ập đến, đường chiến lược số 12, núi hai bên sụt lở, lầy lội, mọi con suối đều dồn nước vào các sông Xê Băng Phai, Pha Năng Phan làm cả khu rừng và những mỏm núi thấp ở đây ngập ghìm trong nước, tạo nên “túi nước Seng Phan” gây ách tắc vận chuyển cơ giới. Cán bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong một mặt tăng cường gùi thồ bộ, mặt khác phát huy sáng kiến làm các loại thuyền nan, thuyền vải cốt gỗ liên kết với các phuy xăng thành bè, mảng, chuyển hàng qua các sông suối và túi nước Seng Phan. Song song với vận tải bộ và đưa đón bộ đội vào chiến trường, Đoàn 559 khẩn trương mở đường 20 vượt qua các dãy núi đá vôi, sang phía tây Trường Sơn, nối với đường 128, tránh “túi nước” ở Seng Phan, rút ngắn cung độ vận chuyển. Dù đã cố gắng cao độ, phát huy mọi sáng kiến, mùa mưa 1965-1966 và đầu mùa khô 1966, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong Đoàn 559 cũng chỉ thực hiện được 57% kế hoạch vận chuyển. Tỷ lệ tổn thất lớn: thương vong 1,2%, đầu xe ô tô bị mất 42%. Điều này chứng tỏ tính chất vô cùng ác liệt của nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Khối lượng vật chất đưa được vào các chiến trường tuy chưa đạt kế hoạch, nhưng nó đã góp phần quan trọng làm tăng thế và lực của cách mạng miền Nam, bảo đảm cho lực lượng vũ trang trụ bám địa bàn, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức với Mỹ mùa khô 1965-1966 một cách chủ động.


*
*    *

Chiến tranh đặc biệt, một hình thức xâm lược giấu mặt trá hình của đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã bị phá sản. Đây là một thất bại chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh, dẫn đến tình hình suy sụp của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Không cam tâm chịu thất bại, đế quốc Mỹ liền đưa quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào Nam Việt Nam tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ, đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân, hải quân, nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài Gòn, hòng giành lại quyền chủ động và đẩy lùi lực lượng cách mạng miền Nam... Song, đế quốc Mỹ chuyển từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ trong khi cách mạng Việt Nam ở miền Nam đã hình thành xong thế bố trí chiến lược vững chắc. Những luận điểm của Đảng ta trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 phân tích về so sánh lực lượng, về nhiệm vụ và phương châm đấu tranh trong giai đoạn chiến tranh cục bộ là cơ sở vững chắc để chúng ta hạ quyết tâm và hành động đúng, đưa cuộc kháng chiến tiến lên.
______________________________________
1÷3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996, t.12, tr.15, tr.15-16, tr.16.
4. Nghị quyết Quân uỷ Trung ương số 54/QUTW, bản sao lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #19 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2010, 08:10:08 pm »


CHƯƠNG 15
ĐÁNH THẮNG CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC LẦN THỨ NHẤT - MÙA KHÔ 1965-1966
CỦA QUÂN VIỄN CHINH MỸ


I- CUỘC CHIẾN ĐẤU ANH HÙNG VÀ SÁNG TẠO CỦA QUÂN VÀ DÂN TA
TRONG CUỘC ĐỌ SỨC ĐẦU TIÊN


Mùa mưa 1965, quân Mỹ đã bị lực lượng vũ trang giải phóng đánh đòn phủ đầu bị thiệt hại nặng. Mặc dù vậy, Bộ chỉ huy Mỹ cho rằng vì mùa mưa ở xứ nhiệt đới, chằng chịt sông, suối, nước chảy xiết và rừng rậm, quân đội của họ không phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật hiện đại và sức cơ động nhanh để tiêu diệt đối phương. Mùa khô đến là điều kiện hết sức thuận lợi trong việc sử dụng hoả lực có phối hợp của không quân, hải quân, pháo binh và xe tăng, mà những thứ vũ khí hiện đại này chỉ quân Mỹ mới có, nên Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn ráo riết chuẩn bị, triển khai lực lượng trên các hướng, sẵn sàng tiến công ồ ạt và bất ngờ trên diện rộng, làm cho ta không kịp trở tay đối phó. Âm mưu của Mỹ trong cuộc phản công lần thứ nhất là “tìm diệt” lực lượng chủ lực của ta, phá các căn cứ du kích, giành lại thế chủ động chiến trường, hỗ trợ cho chương trình bình định có trọng điểm do quân đội Việt Nam Cộng hoà đảm trách. Âm mưu đó được tướng Oétmolen cụ thể hoá thành năm điểm:

- Tiêu diệt một bộ phận chủ lực quân giải phóng giành lại chủ động trên chiến trường, buộc đối phương phải phân tán, do đó không đủ khả năng đánh lớn.

- Bình định có trọng điểm, giành dân, đánh phá hậu cần dự trữ của ta.

- Ổn định tình hình chính trị, củng cố ngụy quân, ngụy quyền.

- Khai thông các hệ thống giao thông giữa các vùng chúng kiểm soát với nhau.

- Đánh phá miền Bắc, cô lập miền Nam.

Để thực hiện những mục tiêu trên, đầu năm 1966, đế quốc Mỹ đưa thêm vào Nam Việt Nam hai Trung đoàn lính thuỷ đánh bộ số 1 và số 5 cùng Bộ Tư lệnh sư đoàn; Lữ đoàn 1 và 4 của Sư đoàn bộ binh 25; Tập đoàn không quân số 7; Phi đoàn biệt kích 14 và 315 (3-1966); Phi đoàn trinh sát 460 (2-1966), v.v....

Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, Mỹ sử dụng 72 vạn quân, có 18 vạn quân Mỹ, gồm 14 sư đoàn, 9 lữ đoàn và trung đoàn bộ binh Mỹ, ngụy và các nước phụ thuộc Mỹ, hơn 1.000 khẩu đại bác, 1.342 xe tăng, xe bọc thép, 2.288 máy bay các loại, 541 tàu, xuồng chiến đấu.

Trên chiến trường Đông Nam Bộ, quân Mỹ tập trung Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ), Lữ đoàn dù 173, Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới), Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia, một đại đội pháo binh của Niu Dilân và hàng chục vạn quân đội của chính quyền Sài Gòn.

Ở khu V, quân Mỹ cã Sư đoàn 3 và Trung đoàn 7 thuộc Sư đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ, Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 101 dù Mỹ, Sư đoàn bộ binh 1 Nam Triều Tiên (Sư đoàn Mãnh Hổ), Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ Rồng xanh Nam Triều Tiên và hai quân đoàn chủ lực Sài Gòn.

Ở Quảng Trị - Thừa Thiên, lúc này chủ yếu là quân đội của chính quyền Sài Gòn; quân Mỹ có khoảng 2.000 tên làm nhiệm vụ xây dựng, củng cố căn cứ Phú Bài, chuẩn bị địa bàn cho các đơn vị lớn của Mỹ sau này.

Với lực lượng đó, Bộ chỉ huy Mỹ dự định cuộc phản công sẽ bắt đầu tuần cuối tháng 12-1965, nhưng bị ta đánh phủ đầu trong mùa mưa, nên đến ngày 8-1-1966, quân Mỹ mới mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, lần lượt đánh ra năm hướng trên hai chiến trường trọng điểm: miền Đông Nam Bộ và khu V.

Hướng thứ nhất, đánh ra tây bắc Sài Gòn, gồm Củ Chi, Bến Cát, Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu (Chiến khu C) nhằm tiêu diệt Sư đoàn 9 chủ lực Miền, phá căn cứ giải phóng của ta, giữ an ninh cho sào huyệt Mỹ-ngụy ở Sài Gòn.

Hướng thứ hai, đánh xuống phía đông Sài Gòn, từ sông Đồng Nai đến Bà Rịa để bảo vệ đường 15, sông Lòng Tàu và các căn cứ quân sự Biên Hoà, Vũng Tàu, phá các căn cứ du kích ở vùng đông Sài Gòn - Gia Định.

Hướng thứ ba, đánh ra phía nam tỉnh Phú Yên.

Hướng thứ tư, đánh ra vùng bắc tỉnh Bình Định. Đây là hướng trọng điểm của cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của địch.

Hướng thứ năm, đánh ra vùng nam tỉnh Quảng Ngãi.

Ba hướng phản công ở khu V địch nhằm tìm diệt, đẩy lùi các sư đoàn chủ lực của Quân khu mà trực tiếp là Sư đoàn 3 và Sư đoàn 2 khỏi các tỉnh đồng bằng, bảo vệ các căn cứ Mỹ dọc ven biển Trung Bộ, bảo đảm giao thông thông suốt của quốc lộ 1, tạo bàn đạp để bình định đồng bằng đông dân khu V.

Ngoài năm hướng phản công chính, địch gọi là “chiến dịch năm mũi tên” trên đây, chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét cỡ tiểu đoàn và lữ đoàn trên khắp các tỉnh miền Nam nhằm hỗ trợ cho hướng chính.

Đây là thời điểm thử thách khốc liệt đầu tiên của dân tộc ta trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ xâm lược - một tên đế quốc giàu mạnh và xảo quyệt nhất thời đại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM