Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Bảy, 2024, 04:52:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 161719 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #50 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2008, 10:59:27 am »

CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp)


Cơn tự ái của người phóng viên tan ngay sau câu nói ấy. Ông hiểu rồi: không phải người lái xe coi thường ông. Nhân cách này cao cả và lạ lùng: anh ta chỉ muốn một mình mình hứng chịu nỗi hiểm nguy.

Xe dừng lại một phút để người đàn ông chuyển về hàng ghế sau. Và khi xe tiếp tục chuyển bánh ông lại rơi vào một trạng thái tâm lý dở dang, lừng chừng rất quen thuộc. Y như cái cảnh tranh tối tranh sáng nhuốm một vẻ bâng khuâng ở ngoài xe: đồng hoang trải rộng chập chờn những đám sương trắng mỏng mảnh như khói, ẩn giấu đâu đó nỗi kinh dị về những huyền tượng yêu ma, quái đản.

Xe đã gặp lại một chiếc cầu. Trên dặm đường thăm thẳm đó là nỗi an ủi duy nhất của nó. Lần này trời sáng hơn. Và vì người lái dừng xe xin thuốc lá người gác nên người phóng viên nhìn rõ gương mặt, những anh bộ đội Việt Nam: những người lính rất trẻ, tỉnh táo và mắt lấp lánh nhiệt tình khi nhận ra trong xe có hai người phương Tây, nhất là lại có một phụ nữ.

Nhưng, cuộc gặp gỡ như định kỳ ấy lại khiến người phụ nữ thấp thỏm. Về tâm linh, chị tinh tế hơn chồng. Sau phút yên lòng, chiếc xe đi vào nỗi bơ vơ, đơn chiếc. ở mỗi đoạn đường, hai cây cầu là hai điểm nương tựa, an toàn và chỉ có vậy thôi, còn khúc giữa dằng dặc là dặm đường đầy những bất hạnh khôn lường.

Người phụ nữ níu tay chồng dồn dập hơi thở:

- Bốp! Thật là kinh khủng! Chỉ với cái không khí này em cũng đã hiểu bọn người xưa kia thống trị xứ sở này tàn ác như thế nào. Nhưng, sao ta lại dấn thân vào đất này? Thật là mạo hiểm! Mà em cũng chẳng hiểu: Tại sao người Việt lại dính vào công việc ở đây. Họ rỗi việc quá hay sao, nên thấy đám cãi nhau liền xô lại can.

- Không phải! Bọn Pôn Pốt đánh họ đấy chứ! Người đàn ông cải chính.

Người phụ nữ lắc đầu:

- Em không thích, Bốp ạ. Chúng ta sống yên ổn, thái bình và buôn bán với ai thỏa thuận với ta. Sao họ không như ta?

Lần này người đàn ông không giải thích cho vợ nữa! Chị là một phụ nữ xinh đẹp, đảm, yếu đuối và ngây thơ. Vậy thôi. Nhưng người lái xe sau khi nghe người đàn ông dịch lại câu nói của người phụ nữ, gần như nhoai nửa người qua lưng ghế, anh chỉ lái có một tay.

- Chị chưa hiểu dân tộc tôi. - Anh nói - Chị tôi, năm trước xung phong đi xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Hăm hở lắm. Nhưng vừa rồi tôi về phép thì gặp bà ấy bồng bế tất cả con cái về làng. Không phải là bà ấy không chịu được khổ. Trên ấy sung túc là khác. Nhưng bà ấy về vì… nhớ quê. Cái làng quê Việt Nam giữ chặt chân người ta lắm. Người ta chẳng muốn rời khỏi làng mình, xã mình, huyện mình, tỉnh mình, chứ đừng nói đi tới nước khác. Người Tàu thì khác! Với ba củ lạc rang, họ đi khắp thế giới. Họ đến đất này thoạt tiên xin ngủ nhờ đầu hè nhà người Khơ-me. ít lâu sau, họ mở sòng bạc, cửa hàng tạp hóa. Rồi họ lấy vợ người địa phương. Rồi bắt đầu mua đất. Người Cam-pu-chia đánh bạc hết tiền, cầm đất. Hết đất, thế là vợ chồng con cái lên xe cho bò kéo đi. Thực dân một cách êm thấm là cái cách của người Tàu. Còn chúng tôi, tất nhiên không phải thế. Nhưng nói thế nào để chị hiểu nhỉ? ờ, vấn đề chính trị, ờ, đúng là Pôn Pốt đã gây sự với chúng tôi… nhưng không phải chỉ có thế…

Hình như lúng túng về cách diễn đạt, người lái xe trở lại tư thế bình thường, hai tay xoay nhè nhẹ vòng tay lái:

- Ông bà trông kìa, có giống cánh đồng ma không? Người Khơ-me có câu thành ngữ rất hay: "Người Tàu đuổi người Khơ-me, người Khơ-me đuổi ma". Đó, cầm đất cho người Tàu xong, người Khơ-me lại lặn lội đến các cánh đồng hoang, bắt đầu khai phá.

"Anh ta hiểu biết vấn đề một cách sâu xa". Người phóng viên nghĩ. Nhưng, câu chuyện về tội ác của bọn người cai trị đất nước này lẽ ra có thể kể lại rất nhiều nữa nhưng đã bị dừng lại. Dường như không muốn gây những ấn tượng nặng nề cho người phụ nữ, cảnh ở ngoài xe đã đủ lắm rồi, anh lái, sau một vòng cua hẹp, giọng bỗng trở nên nhẹ tênh:

- Đến Cam-pu-chia, ông nên đưa bà ấy đi xem Ăng-co.

- Anh đã đi chưa? Người phóng viên hỏi.

- Tôi đã đưa khách đến đó một vài lần. Chà! Thật là cả một kỳ quan. Mùa khô này, ông bà nếu xem ở phía đông nên xem từ quãng tám giờ đến mười giờ sáng. Lúc ấy mặt trời vàng như mật ong, tượng các vũ nữ rực rỡ, lộng lẫy nét hình, đẹp hơn tượng trong hoàng cung nhiều. ừ, đẹp nhất là tượng phụ nữ. Mà phụ nữ Cam-pu-chia đẹp thật. Bà chị tôi 38 tuổi đã xồ xề. Phụ nữ dân tộc này 40 vẫn thon gọn vóc dáng đầy sức sống nữ tính - Anh lái xe mỉm cười: Ông bà nên đến Ăng-co. Đến đó, ông thử nghĩ, giả dụ ông có một người xóm giềng tài năng như thế…

Người phụ nữ bị nỗi sợ hãi ám ảnh giày vò, không để ý tới ý tứ chứa đựng trong từng câu nói của anh lái xe, nghe chồng chị dịch lại chưa hết, đã lắc đầu quầy quậy:

- Không! Không! Tôi chẳng đi đâu cả! Lạy Chúa! Đến Phnôm-pênh tôi mua vé máy bay về ngay nước tôi thôi. Bốp! Thôi đừng kể những chuyện khủng khiếp nữa.

Những câu nói gay gắt của người phụ nữ làm không khí trong xe trở nên nặng nề. Không ai nói nữa. Và lúc này, xe đang đi vào vùng tối âm u. Bóng đen từ khu rừng cao su rậm tỏa ra, vệt đường trước kính xe chìm lẫn trong cõi mông lung.

Mắt căng, rọi cái nhìn tập trung về phía trước, anh lái xe cho xe chạy chậm chậm như vừa chạy vừa dò đường. Người phụ nữ nép vào bên chồng, run rẩy. Chị lẩm nhẩm như đọc kinh: "Bốp! Chắc chắn họ đã dò mìn cẩn thận rồi chứ". "Bốp, sao mãi không đến một chiếc cầu nào?", "Bốp, dừng lại ở trạm gác cầu sắp tới nhé. Em chịu không nổi nữa rồi!".

Và nỗi sợ hãi của chị đã tới cực điểm, đã thành sự thật. Chị bỗng ôm chặt chồng, rú lên một tiếng khiếp đảm và tắt nghẽn.

Đoành! Đoành! Đoành! Đạn vừa nổ ba tiếng phá vỡ bóng đen. Đó là tiếng súng bắn chiếc xe của bọn tàn quân.

Người phóng viên chồm lên, thét một tiếng còn kinh hãi hơn tiếng rú của người phụ nữ, ông nhìn thấy người lái xe đập mặt xuống vành tay lái:

- Trời!

Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe, phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống, lưng hơi cồm dậy, ở đó máu đã ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi! Hết rồi! "Phát đạn đầu chúng dành cho người lái xe. Phát thứ hai là một quả B41". Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh.

Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, mất hết tri giác. Nhưng ông bỗng nắm lấy lưng ghế trước. Sao lạ thế này? Trong cái phút hoàn toàn tuyệt vọng này, khi người vợ yêu quý đã chết ngất bên mình, kỳ lạ quá, người đàn ông bỗng thấy trọng lượng thân thể mình sụt xuống, ông hẫng người, chông chênh trong một cảm giác mờ mờ ảo ảo: ngoài cửa xe, cảnh bỗng chuyển dịch như các khuôn hình của một cuốn phim.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #51 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2008, 10:59:57 am »

CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp)

"Xe vẫn chạy". Người đàn ông bàng hoàng khi thấy phía sau xe vụt qua một luồng hơi nóng ngột và một tiếng nổ lớn. Ông ngồi xuống nghiến chặt răng.

Quả thật chiếc xe có khựng lại, nhưng chỉ một giây thôi. Và bọn tàn quân chưa kịp phóng quả lựu đạn hủy diệt vào nó, nó đã tiếp tục lăn bánh.

Chiếc xe không chết! Nó lao vùn vụt, tốc độ xem ra có phần còn nhanh hơn lúc nãy. Tựa như có một lực vô hình đẩy nó. Tựa như có một phép thần nào điều khiển nó. Tựa như trong nó vừa xuất hiện một bầu năng lượng mới chưa từng có. Bởi vì anh lái xe người Việt vẫn gục trên tay lái, máu càng lúc càng đẫm khoảng lưng áo. Bởi vì anh lái như đang ở trong giây phút hấp hối: thỉnh thoảng anh lại nghểnh lên giống như là quằn quại, nhìn về phía trước, rồi lại giụi mặt xuống tay lái, đau đớn hực hực thở hắt ra.

Mười phút sau, chiếc xe đỗ lại ở một cây cầu có những người lính gác. Anh lái xe đã bất tỉnh, nhưng chân vẫn còn đặt hờ trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái.

*
*   *

Câu chuyện về chiếc xe vượt qua cõi chết vô cùng khó hiểu đã trở thành một trong những chuyện kỳ lạ của chiến tranh. tính toán chi li thì với ba viên đạn xuyên qua phỏi, anh lái xe người Việt coi như đã gục ngay tại chỗ rồi. Cũng không phải chiếc xe đã chạy theo quán tính. Đường rừng ở đây ngoằn ngoèo, không theo một sơ đồ cố định nào. Vả lại, tính ra, nó đã chạy được tới gần mười cây số để tới sự sống an toàn.

Câu chuyện gây xôn xao cho các bác sĩ và các phóng viên.

Hai vợ chồng người phóng viên phương Tây đến bệnh viện. Anh lái xe người Việt chưa chết. Đến bên giường anh, người phụ nữ đặt bó hoa lên cái bàn nhỏ cạnh anh, nước mắt giàn giụa. Còn người đàn ông, thói quen nghề nghiệp lại hòa vào xúc động của ông.

Ông nắm tay người lái xe trẻ tuổi, rưng rưng:

- Thật là kỳ diệu! Vì sao lại có thể như thế được, anh người Việt ơi?

Mặt nhợt vì mất máu, anh lái xe mấp máy đôi môi nhỏ:

- Lúc ấy tôi như chết rồi. Nhưng ông bà là người tôi có trách nhiệm phải đảm bảo an toàn, ông bà như mọi người, cần phải sống. Ông bà lại mới lấy nhau. Tôi như chết rồi, nhưng chân ga chưa chết, mắt cũng như tay cố sống thêm, cố gắng để sống thêm.

Ngước lên nhìn người phụ nữ mi mắt đầy nước, anh lái xe nhoẻn cười, nụ cười in dấu cơn đau, méo xệch:

- Ông bà nên đi thăm Ăng-co đi. Đó mới là sự kỳ diệu…

Anh nói thế đã là quá sức rồi. Người phóng viên vội ghi lại ngay những lời của anh. Vì đó có thể là những lời cuối cùng của một người đã tự biểu hiện một cách hết sức tự nhiên và khiêm tốn nhân cách dân tộc mình: một dân tộc vị tha, sống, chết vì người khác, điều đó đã thành một đạo lý, một nguồn năng lượng vô tận của họ…

 

                                                                                  4-12-1980

                                                                                      M.V.K
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 02:05:32 pm »

Xin đừng gõ cửa

Xuân Thiều              

     Thực ra, Hảo không điên như lũ trẻ mất dạy ở khu gia đình tập thể K.42 thường trêu. Gặp anh, chúng xì xào "Trung tá điên, Hảo điên". Có đứa còn giả vờ cúi đầu chào anh kính cẩn: "cháu chào chú Hiển". Và cả bọn cười phá ra cười. Ðấy là cách nói lái, Hảo điên thành Hiển đao. Cả khu K42 đều biết, trung tá Hảo không hiểu vì lý do gì, mà về hưu lúc mới 43 tuổi. Từ một sĩ quan nhanh nhẹn hoạt bát và vui tính, anh bỗng hóa như người mất hồn, im lặng, nhẫn nhục. Thường chỉ tủm tỉm cười. Gặp ai tủm tỉm đã đành, ngồi một mình cũng vậy. Chị Phúc, vợ anh hốt hoảng chạy thầy chạy thuốc hết đông, tây y lại sang cả bệnh viện tâm thần ở Trâu Qùy. Người ta đều bảo, anh bị một cú sốc gì đó về tâm lý, lên tổn thương thần kinh, một dạng tâm thần phân liệt. Ðến một lúc nào đấy, sẽ khỏi thôi. Ðến lúc nào đấy là bao giờ hở trời, chị Phúc than vãn. Một cú sốc về tâm lý, chị cũng linh cảm vậy, nhưng không biết ngọn nguồn. Anh Hảo không hay đem chuyện ở đơn vị tâm sự với vợ con. Chỉ biết trước lúc về hưu một thời gian, anh có đổi tính đổi nết, hay cáu gắt vớ vẩn. Cáu gắt đấy rồi lại bần thần đấy. Cứ ngồi ngẩn mặt ra, nhìn chăm chăm vào một điểm mơ hồ nào đó ngoài cửa sổ. Ngoài ấy chỉ có mấy cây đu đủ. Sau nữa là bức tường nhem nhuốc của dãy nhà khách. Chẳng có gì đáng để chiêm ngưỡng. Vào thời kỳ đó, anh có chứng giật mình. Ai gọi giật giọng, anh giật mình, mặt cứ tái ngoét. Ðặc biệt, anh sợ tiếng gõ cửa. Ðang đêm, nghe tiếng cộc cộc  gõ cửa, anh tung chăn choàng dậy, thở hổn hển, không lên tiếng đã đành, còn có vẻ sợ sệt, thu nhỏ mình lại sau tấm màn gió. Chị Phúc đã treo một tấm biển phía ngoài: "Xin đừng gõ cửa, cứ gọi tên người nhà". Hàng xóm đã quen, ai đến có việc gì cũng chỉ gọi khẽ. Chỉ mấy người khách xa, vô tình mới làm cho anh Hảo hốt hoảng. Sau mỗi lúc giật mình hốt hoảng, anh trằn trọc, không ngủ được. Về hưu, bệnh giật mình của anh càng nặng, trở thành ngớ ngẩn lúc nào không biết. Chị Phúc đã tìm đến bộ tư lệnh quân chủng, nơi anh làm việc. Phòng cán bộ tiếp chị lịch sự, tử tế, nhưng chị không moi được điều chị cần biết. Họ bảo, về hưu là do nguyện vọng của anh, lá đơn có chữ ký của anh sờ sờ trước mắt chị. Chẳng ai ép anh về hưu. Cũng chẳng làm gì có chuyện cú sốc về tinh thần. Cán bộ trong phòng quân lực, nơi anh làm việc, đều nói anh sống hòa thuận với đồng sự, chẳng bao giờ xích mích. Cán bộ đơn vị rủ nhau tới thăm anh, cho quà, khuyên chị đưa anh vào viện. Chị chỉ còn một cách thắp hương lên bàn thờ khấn vái tổ tiên phù hộ cho chóng đến cái lúc nào đấy. Chị Phúc buồn. Nói đáng tội, anh Hảo tuy bị tâm thần nhưng hiền khô, không đập phá, không đi lang thang, không quát nạt vợ con, không cà khịa với ai, kể cả với đám trẻ con hư đốn thường chạy theo anh trêu chọc. Chỉ cười tủm tỉm. Nhiều khi thấy anh cười cười như vậy, cũng đâm sợ. Anh vẫn lao động bình thường, chăm luống rau, nấu cám lợn, quét nhà quét sân, giặt giũ quần áo, đọc sách. Chỉ có điều là hầu như trí nhớ của anh lặn đi đâu, bà dì ruột anh đến thăm, anh lơ láo, cụ hỏi ai, khiến bà dì đứng khóc tu tu.Vẫn đọc sách đấy, nhưng không nhớ. Ðọc Tam Quốc đến tập 5 rồi quay lại đọc tập 3. Quá khứ đối với anh là một cõi u minh, suốt mấy năm, chẳng lúc nào anh nhớ được một chút kỷ niệm. Nói cho đúng hơn, anh nhớ được trong thời gian rất ngắn, từ sáng đến chiều chẳng hạn. Những việc mới xảy ra hôm qua, anh quên biến hoặc nhớ, cũng nhớ láng máng y như người bình thường nhớ một chuyện xa xưa lắm. Một hôm chị Phúc trước lúc đi làm, dặn anh bảo thằng Hiếu đi chợ mua su hào. Thằng Hiếu đi học về, vất cặp ra giường, anh ấn tiền vào tay nó, nhưng không thể nào nhớ ra tên củ su hào. Anh lấy que vẽ ra đất một cái hình bầu dục có mấy sợi dâu.Thằng bé lên mười một tuổi gật gật đầu ra vẻ hiểu ý, chạy ra chợ mua về một túm hành. Lại có hôm, cô hàng xóm gửi thằng bé một tuổi nhờ anh trông hộ. Thằng bé đang ngủ chợt tỉnh dậy khóc. Chị Phúc bảo anh bế nó dậy, xi đái. Thằng bé cứ ưỡn lên khóc không chịu đái, nhưng đũng quần anh lại ướt lũng nhũng. Chị Phúc đành lắc đầu, thở dài, đại loại thế. Nhìn vào mắt anh, dễ nhận ra vẻ ngớ ngẩn, lạc hồn lạc vía đi đâu.

     Một buổi chiều, vào lúc tan tầm, một chiếc commăngca mang biển đỏ đỗ xịch trước nhà chị Phúc. Dân khu tập thể thường có nết tò mò, trẻ con xúm đen xúm đỏ, người lớn ngấp nghé lảng vảng. Không ai để ý đến thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ của quân chủng anh làm việc trước kia, người ta tròn mắt ra nhìn một thiếu phụ xinh đẹp, quần áo sang trọng môi son má phấn, nước hoa ngoại thơm lừng, tay xách ví đầm, chân đi giầy cao gót. Thiếu tá Cần giới thiệu với chị Phúc, từ ngoài cửa. Rằng chị khách là Việt kiều ở Canada về tìm đến đơn vị xin gặp anh Hảo, anh Phan Nhân Hảo. Ðơn vị đã nói rõ với chị về hoàn cảnh của anh, song chị thiết tha đòi được gặp. Cần đã xin xe đơn vị đưa chị về đến tận nhà. Thiếu phụ Việt kiều nghiêng đầu lễ phép chào chị Phúc, làm chị bối rối. Càng bối rối hơn là khi khách vào nhà, nhà cửa tuềnh toàng, bộ xa lông bằng gỗ nan cũ kỹ làm nơi tiếp khách ấm chén còn cáu bẩn. Anh Hảo buông cuốn "Hồng Lâu Mộng" ra, vừa lúc Cần đi tới vui vẻ chào "thủ trưởng". Không biết, Hảo có nhận ra người cùng đơn vị cũ không, vẫn bắt tay, bàn tay lỏng lẻo. Thiếu phụ không ngồi, đứng trân trân nhìn anh Hảo từ đầu tới chân, nét mặt xúc động. Bỏ cặp kính râm ra, thiếu phụ thốt lên.

     - Anh Hảo đấy ư? Anh có còn nhận ra em nữa không?

     Ðôi mắt chớp chớp, dường như Hảo cố nhớ, nhưng làm sao có thể nhớ ra, khi đầu óc còn chìm đắm trong cõi u muội. Anh lắc đầu.

     - Em là Hường đây! Huỳnh Thị Mỹ Hường ở Khang Xuyên!

     Giá là người tỉnh táo, khi thiếu phụ nhắc lại như thế, ắt phải reo lên. Mà anh vẫn nhìn bằng cặp mắt vô hình. Lại lắc đầu.

     Bỗng dưng thiếu phụ chạy đến nắm tay anh rân rấn nước mắt:

     - Trời ơi! Sao anh đến nông nỗi này? Anh là ân nhân của em, đã cứu sống em, cho em được làm người, mà anh thì thân tàn ma dại. Sau giải phóng, biết anh còn sống, em đã về Huế tìm anh. Ðến Mang Cá, người ta bảo anh chuyển ra Bắc rồi. Miền Bắc rộng lớn thế, biết tìm anh ở đâu. Cuối năm 1978, có người bảo lãnh, vợ chồng em mới sang cư trú ở Canada. Sang nơi đất khách quê người, em vẫn giữ một lời nguyền, nhất định phải gặp được anh, để tạ ơn tái sinh. Bây giờ, gặp được anh rồi, em mừng khôn xiết. Dẫu anh bệnh tật, dẫu anh không còn nhớ ra em, cũng xin anh nhận cho em mấy lạy đền ơn. Người thiếu phụ chợt quỳ sụp xuống nền xi măng trước mặt anh, vừa lạy vừa khóc nấc lên, khiến mọi người bàng hoàng. Một không khí im lặng thiêng liêng bao trùm lên gian nhà. Không ai hiểu gì cả, mà cảm thấy có một nỗi niềm sâu nặng trong trái tim người khách lạ. Những khuôn mặt tò mò ngoài chấn song cửa cũng trở lên nghiêm trang. Chị Phúc cầm cái ấm định đi pha trà, mà đứng chôn chân tại chỗ, tay run run, rơm rớm nước mắt. Còn cái Hằng, con gái lớn của chị đang học lớp 11 thút thít thành tiếng. Chị Phúc chạy tới đỡ thiếu phụ:

     - Em xin chị! Em xin chị! Mời chị ngồi ...

     Anh Hảo từ nãy giờ vẫn đứng, đôi mắt anh chợt sáng hẳn lên, dường như cái màn sương mù u ám trong đầu anh đang dạt trôi, anh đang cố gắng phục hồi lại trí nhớ.

     Khi đã ngồi đối diện với thiếu phụ, anh Hảo nở một nụ cười.

     - Sao cô Hường biết được địa chỉ đơn vị cũ của tôi mà tìm đến?

     Thiếu phụ đang lau nước mắt, mừng quýnh:

     - Anh nhớ ra tên em rồi ư? Trời ơi! Còn em không bao giờ quên cái tên Phan Nhân Hảo. Lúc chia tay anh hồi năm 69 ấy, em vẫn nhắc với anh rằng Phan Nhân Hảo nghĩa là một người họ Phan tốt bụng, em còn nhớ quê anh ở ngoại thành Hà Nội, có đúng không?

     Chẳng biết Hảo có thật hiểu hay chỉ theo thói quen mà gật đầu. Chị Phúc đáp thay chồng:

     - Vâng đúng đấy ạ! Quê nhà em ở Gia Lâm.

     Thiếu phụ nói tiếp:

     - Chuyện tìm tung tích anh dài lắm. Năm 82, em về nước, trở lại Khang Xuyên viếng mộ cha mẹ, thăm họ hàng, rồi lại lên Huế đến trại lính Mang Cá hỏi tin anh. Người ta bảo bây giờ đấy là bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên, không ai biết anh cả. Buồn quá, trở lại Sài Gòn. Tình cờ gặp anh Tốn. Anh có nhớ anh Tốn thợ may ở chợ Quán, Khang Xuyên nữa không? Anh ta khoe từng làm bí thư chi bộ thời chiến tranh, sau bị bắt quân dịch. Hồi thất trận 1975, anh Tốn đã bị chính đơn vị anh bắt. Anh còn giao cho anh Tốn phụ trách đám tù binh ở Cửa Thuận. Hồi này anh ấy lãnh đạo một công ty buôn bán đồ may mặc với nước ngoài ở Sài Gòn, giàu có và sang trọng lắm. Trước ở Khang Xuyên, quả thật anh Tốn rất mê em, tán tỉnh em mãi, nhưng em không thể... yêu được bởi em đã có người yêu, bây giờ chính là chồng em. Dù sao gặp anh Tốn, một người làng, em cũng mừng. Nói chuyện loanh quanh một lúc, hóa ra anh Tốn biết địa chỉ của anh. Nghe nói anh Tốn cũng xin địa chỉ của anh ở nhà O Thẻo, Khang Xuyên. Hình như hồi anh ra Bắc, anh vẫn viết thư thăm hỏi O Thẻo luôn. Biết được địa chỉ của anh, nhưng em không còn thời gian để ra Hà Nội nữa. Vé máy bay sang Thailand em đã cầm trong tay. Về Canada em viết thư liền cho anh. Không có hồi âm. Em lại viết thư thứ hai, thứ ba.Vẫn không có hồi âm. Lần này về Sài Gòn em chưa ghé vào anh Tốn. Thực tình em ngại. Bây giờ ai cũng có gia đình riêng cả, con cái đã lớn, vậy mà gặp em, anh vẫn gợi chuyện hồi xưa. Tính nết anh Tốn chắc anh còn lạ gì, hiếu sắc và sấn sổ...

     Anh Hảo lắng nghe chăm chú, có lúc anh cau mày lại cố tập trung trí nhớ. Và dường như câu chuyện dông dài của thiếu phụ tạo thành những mắt xích móc nối với nhau một cách hợp lý, khiến anh tìm được mã số đang cởi mở những u uẩn lưu cữu của mình lâu nay. Anh lẩm bẩm:

     - Tốn! Tốn! Tốn! A, nhớ ra rồi, thằng đểu! Thằng mặt...! Anh gầm lên một từ rất tục với  khuôn mặt tím rịm và đôi mắt bốc lửa. Mọi người sửng sốt và ngượng. Trong im lặng, không ai dám nhìn vào mặt nhau. Chị Phúc phá tan sự im lặng bằng cách mời khách uống nước. Cái Hằng ý tứ đặt trước mặt bố cốc nước đun sôi. Anh Hảo uống ừng ực. Chất nước lạnh làm anh tỉnh lại, chợt nhận ra mình đã quá lời.

     - Tôi xin lỗi cô! Bởi tôi giận quá! Nói cho đúng hơn là hiểu ra nỗi giận của mình.

     - Không có gì đâu anh! - Thiếu phụ đỡ lời nhưng trong lòng cũng vỡ ra một ước đoán, chắc tay Tốn có quan hệ tới cuộc đời anh.

     Anh Hảo trở lại hoạt bát, nụ cười trên môi cố xóa đi cái ấn tượng tục tĩu anh vừa gây ra. Anh kêu lên:

     - ấy, tôi quên mất... - Anh giới thiệu vợ và các con bằng một lối nói vui và chuyển sang thăm hỏi Mỹ Hường về chồng con, về đời sống ở nước ngoài. Lại hỏi về làng Khang Xuyên và người đàn bà tên là O Thẻo nào đấy. Câu chuyện giữa hai người sôi nổi, chân tình. Nét mặt anh biến đổi theo tình cảm của câu chuyện, không ai có thể nghĩ rằng anh mắc bệnh tâm thần. Cái nhìn đờ đẫn vô hồn mới ban nãy thôi, biến đâu mất. Giờ đây cặp mắt dậy thần sắc, sáng lunglinh. Chị Phúc và hai đứa con, cái Hằng và thằng Hiếu nhìn nhau, vui mừng và ngạc nhiên. Dẫu còn nửa tin nửa ngờ, nhưng họ đều cảm nhận được sự thay đổi đột ngột trong trạng thái, tâm lý và tình cảm của anh Hảo.

     Chuyện trò một lúc, Hảo mới nhận ra sự có mặt của Cần. Với vị khách là Việt kiều ở Canada về tìm gặp một cán bộ đã nghỉ hưu mấy năm nay, thay vì ghi hộ địa chỉ nhà riêng, đơn vị lại cho xe, cho phó phòng bảo vệ đi cùng, hẳn không phải vì xã giao. Anh nhìn Cần như lần đầu tiên mới gặp nhau. Rồi cảm ơn Cần đã đưa khách quý đến, nhất thiết gia đình phải lưu khách lại. Nhờ Cần chuyển lời cảm ơn thủ trưởng đơn vị. Hiểu ý Cần xin phép về. Chiếc máy ghi âm bé xíu nhưng cực nhạy trong túi áo Cần, dù sao cũng được việc.

     Dân khu tập thể K42 bàn tán xôn xao về chuyện người khách Việt kiều sang trọng tới thăm nhà Hảo "điên" và ở lại qua đêm. Sáng hôm sau, ăn uống xong, vợ chồng Hảo cho gọi xích lô, tiễn chân khách ra đến ngoài đường phố. Người thì bảo, đấy là người tình cũ của Hảo hồi chiến đấu trong Nam. Ðáng khen thay là chị Phúc chẳng hề ghen tuông, lại tiếp đãi nồng hậu. Vào tay tôi mà xem, không quại cho mấy gậy cũng tống cổ ra khỏi nhà và xích chân ông chồng lại. Bậy nào! Người khác cãi, chỉ bạn bè thôi. Nhưng trò đời, khi giàu có sang trọng, người ta nổi máu nhân đức, nghe bạn bị tâm thần, phải tới thăm cho quà. Chẳng phải quà nhỏ đâu, không đến ngàn "đô" cứ cổ tôi mà chặt! Chỉ có vài người đứng ngoài chấn song cửa sổ hôm đó mới biết sự thật. Người khách lặn lội từ nước ngoài về, tìm anh Hảo để tạ ơn đã cứu sống chị, thì chịu. Ðến ngay như chị Phúc cũng không biết. Ðêm có khách lưu lại, anh Hảo cho thằng Hiếu sơ tán sang hàng xóm, cái Hằng chung giường với khách. Còn anh vào phòng sau. Có dễ gần bốn năm, vợ chồng mới lại nằm chung.

     Da thịt tuổi bốn mươi của chị Phúc như được hồi sinh. Chị đã vuốt ve anh, ôm hôn anh. Và chị cũng thực sự sung sướng mãn nguyện trong vòng tay anh, vòng tay vẫn xiết chặt như hồi mới cưới nhau.

     Vậy mà khi thủ thỉ hỏi anh về chuyện người khách nằm giường ngoài, thì anh tặc lưỡi. Ðể tâm làm gì, hồi chiến tranh, cái sống cái chết cách nhau một sợi tóc, chuyện cứu sống nhau là bình thường. Và chị chẳng gạn hỏi, chẳng nỡ làm phiền anh. Bởi trong lòng chị đang oà vỡ một niềm vui quá lớn, bỗng nhiên chồng chị trở lại bình thường như có phép màu.

     Dân khu tập thể cũng ngạc nhiên không kém chị. Người ta thấy anh vui vẻ hoạt bát như xưa. Gặp anh, lời chào hỏi đã khác, nhìn vào mắt anh càng hoàn toàn khác. Dấu hiệu đầu tiên ai cũng dễ thấy là anh lại chạy thể dục buổi sáng. Ngày xưa, dẫu trời rét căm căm , anh vẫn không bỏ thói quen, không chạy ra đường cũng chạy quanh sân. Từ lúc vướng bệnh, anh nằm co ở nhà. Mấy hôm nay, anh trở về nếp cũ. Tinh mơ đã nghe chạy thậm thịch ngoài đường. Ðám trẻ con rồng rắn chạy theo anh. Làm một thôi trở về sân, mặt mũi hơn hớn, anh lao vào đá bóng cùng tụi nhỏ. Hoặc làm trọng tài trận đấu. Còi toe toe. Chú Hảo ơi! Bác Hảo ơi! Cấm đứa nào dám lếu láo gọi: "Hiển đao" như trước.

     Người ta thêu dệt đồn đại. Rằng chị Việt kiều nọ tặng anh một loại thuốc quý hiếm, uống vài viên là dây thần kinh săn lại như tơ se. Rằng trò nhân ngãi với nhau là thế, xáp được mặt nhau là bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ. Rằng có khi đấy là nàng tiên giáng thế chăng? �n ở hiền lành như vợ chồng anh Hảo ắt phải động đến thiên tào v.v.. Chuyện cứ tán nhăng tán cuội, nhưng anh Hảo khỏi bệnh là có thật.

    
  

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #53 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 02:06:52 pm »

ở Bộ Tư lệnh quân chủng, đơn vị cũ của Hảo, cái tin Hảo khỏi bệnh cũng được các sĩ quan chào xáo. Cũng chỉ một chốc thôi ai hơi đâu mãi chuyện về anh sĩ quan về hưu. Riêng thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ thì thực sự băn khoăn. Toàn bộ câu chuyện về hưu của trung tá Hảo, anh đều biết tường tận, giờ đây thêm diễn biến mới, buộc anh phải suy xét. Ðóng chặt cửa phòng nghiệp vụ, anh mở cuộn băng ghi âm nghe lại. Cái giọng gầm lên chửi tục của Hảo nghe như có sự bùng nổ. Có thể chính lúc đó, anh mới nhận ra kẻ làm hại mình là Tốn. Thiếu tá Cần lục tìm hồ sơ mang ký hiệu Y8. Anh đọc lại lá thư tố giác viết năm 1982 của một người tự xưng là Lê Huy Tốn. Ðịa chỉ không cụ thể, chỉ nói là cán bộ hiện công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lá thư kể khá chi tiết về mối quan hệ giữa Hảo và Mỹ Hường, một tên chỉ điểm địch trong chiến tranh. Và lưu ý đơn vị theo dõi hành tung của họ hiện nay. Chứng cứ có thể nằm trong bức thư của Mỹ Hường từ Canada gửi về. Quả thật, sáu tháng liền sau đó, Quân bưu đơn vị lần lượt nạp cho phòng bảo vệ ba bức thư của Mỹ Hường gửi cho Phan Nhân Hảo. Nội dung ba bức thư không có thông tin gì đáng nghi vấn, toàn chuyện thăm hỏi trách móc sao không có hồi âm. Soi kính lúp, dùng thuốc hóa học kiểm tra vẫn không thấy chữ chìm chữ nổi gì cả. Hồi đó, còn là thượng úy trợ lý, Cần đã áy náy, giữ thư riêng lại là phạm pháp. Song đại tá Lê Hớn, phó chủ nhiệm chính trị kiêm trưởng phòng bảo vệ đã lý sự nghe ra có vẻ xuôi tai, thư riêng liên quan đến an ninh quốc phòng, thì không còn riêng nữa. Phải giữ lại để tiếp tục nghiên cứu theo dõi. Bây giờ, đại tá Lê Hớn đã về hưu tận trong Quảng Ngãi, nhưng ba bức thư còn lại đây . Cùng với ba bức thư là biên bản cuộc đối thoại giữa đại tá Lê Hớn và trung tá Phan Nhân Hảo, lúc đó là phó phòng quân lực . Biên bản này do chính tay Cần chép lại dựa trên cuốn băng ghi âm, hiện còn cất giữ trong hộp chống ẩm.

   "...

   - Anh có quen ai là Hường không?

   - Không, cái tên đó không nhớ.

   - Ðể tôi nhắc lại anh. Hồi năm 1969 lúc anh còn là trung úy chỉ huy đội trinh sát an ninh, có lần nào đấy anh nhận nhiệm vụ thủ tiêu một con gián điệp ở Khang Xuyên tên là Huỳnh Thị Mỹ Hường.

     - à, tôi nhớ ra rồi, vâng có một cô gái tên là Mỹ Hường. Chuyện đã quá lâu.

   - Mười ba năm, kể cũng dài, nhưng tôi tưởng anh phải nhớ chứ?

   - Nhớ sao hết được? Có chuyện gì vậy anh?

   - Cũng là chuyện cũ thôi. Chúng tôi muốn biết, sao hồi đó anh không giết mà tha cho nó. Lại không báo cáo cho tổ chức biết?

   (Im lặng một chút, rồi có tiếng cười của Phan Nhân Hảo).

   - Ai moi chuyện cũ ra để ton hót với các anh thế? Chỉ làm rối chuyện lên thôi.

   - Anh Hảo ạ! Anh nên nhớ đây là cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh giữa người có trách nhiệm và đương sự. Anh không nên giễu cợt. Nghiệp vụ đòi hỏi chúng tôi phải biết hết mọi việc, dẫu cũ thế, chứ cũ nữa cũng phải tìm hiểu. Vậy là anh công nhận sự việc chứ?

   - Vâng, thưa đại tá, đúng như thế!

   - Anh có thể giải thích kỹ hơn không?

     - Sao lại không? Chuyện hơi dài và không nên hiểu một cách  giản đơn. Anh ở quân chủng này đã lâu, chắc hồi 1969 anh ở Hà Nội hoặc sơ tán về vùng quê nào đó, còn tôi ở phía nam Huế, một vùng chiến trường quá gian khổ và ác liệt, nhất là sau Mậu Thân. ở căn cứ trên rừng lính chúng tôi ăn mỗi ngày một lạng gạo chia làm hai bữa nấu lẫn với môn thục. Chậu cháo màu xanh nhễu nhão ấy, chắc chắn heo nhà tôi bây giờ cũng lấy mõm hất đi. Sống cầm hơi như thế để gây dựng lại cơ sở coi như đã mất trắng. Khang Xuyên xưa là một xã hoàn toàn giải phóng, nơi chúng tôi quen thân, sà vào đâu dân cũng nuôi, vậy mà lúc đó... (im lặng   một lát để nén xúc động) cán bộ, đảng viên, du kích, người bị giết, kẻ bị bắt, số khác hoặc chạy lên Huế, vô Ðà Nẵng, Sài Gòn hoặc nhảy lên rừng, xin ra Bắc. Trật tự xã hội nằm trong tay kẻ địch. Còn hơn các xã khác mất trắng, Khang Xuyên vẫn trụ lại được ba đảng viên sống hợp pháp do anh Tốn thợ may ngoài chợ làm bí thư. Chúng tôi đã cử về Khang Xuyên một tổ ba người do thiếu úy Lân phụ trách, họ đào hầm bí mật lớn ngay trong vườn nhà O Thẻo, một đảng viên ngoài năm mươi tuổi góa chồng, con gái đã đi ở riêng. Người đàn bà mù chữ ấy thật nhân hậu, tốt bụng và cực kỳ dũng cảm. Ðêm thứ ba, xảy ra sự cố. Lúc trời tối mịt. O Thẻo mở hầm cho tổ của Lân lên. Ðang ăn cơm thì những họng súng AR15 của địch chĩa tới. Nhanh như chớp, Lân ném cả bát cơm vào mặt tên đứng gần nhất và hô anh em chạy. Súng nổ. Hai đồng đội của anh bị giết tại chỗ, máu lẫn với cơm. Chỉ Lân chạy thoát. Tất nhiên O Thẻo bị bắt. Thực ra O Thẻo bị chúng bắt từ ngoài vườn, lúc O  đứng gác cho anh em ăn cơm. Bị tra tấn hành hạ dã man nhưng O chỉ một mực khai rằng, thấy mấy người lính giải phóng vô nhà xin ăn cơm, thương họ mà cho ăn. Thế thôi. Không khai báo những đảng viên hợp pháp khác. O bị đày ra Côn Ðảo, sau giải phóng miền Nam, mới trở về. Lân chạy thoát, một ngày nằm giữa ruộng nước lúa đang thì, đỉa bám đầy lưng, bụng rỗng, đêm hôm sau, chờ tới khuya mới mò vô làng, tìm Tốn, nhưng không gặp. Tốn tạm lánh đi nơi khác phòng O Thẻo khai báo. Lại tìm đến ông Quán, một đảng viên  già bị bệnh tê thấp. Nắm xong tình hình, đánh  một bụng cơm no căng, Lân một mình một bóng mò về căn cứ báo cáo. Cú thất bại ấy làm đội trinh sát an ninh chúng tôi đau điếng. Vẫn quyết tâm trở lại Khang Xuyên. Dân Khang Xuyên không thể phản bội cách mạng, trước sự o ép của địch, họ đành nín thở chờ thời cơ đó thôi. Phải tạo thời cơ cho họ. Nhưng trước khi trở lại Khang Xuyên, phải biết nguyên nhân vụ thất bại vừa rồi. Ðịch hú họa tập kích hoặc có chỉ điểm? Trường hợp thứ hai thì phải tiêu diệt tên chỉ điểm đã.          
      
  
  
  
 
- Anh có thể nói ngắn hơn được không? Ði thẳng vào vấn đề chúng tôi cần biết!

     - Muốn hiểu kỹ, đừng ngại nghe kỹ anh ạ! Bởi anh ở quân chủng này lâu, e không biết nhiều về trinh sát anh ninh. Thực chất công việc của chúng tôi hồi đó là tiêu diệt bọn ác ôn, gián điệp. Chúng tôi đều qua lớp vũ thuật cả. Qua 5 năm làm trinh sát an ninh, riêng tôi... (Phan Nhân Hảo xòa ngửa hai bàn tay ra) tự tay tôi đã giết không kém một tá ác ôn, gián điệp. Ðang đêm đột nhập vào nhà đối tượng, lấy danh nghĩa cách mạng "mời đi học", thế là cho đi luôn. Không nổ súng, nổ súng bị lộ. Không dùng lưỡi lê, dao găm, sẽ có vết máu. Có thể dùng chiếc gậy ngắn bằng dùi trống  đánh một phát vào chỗ hiểm sau gáy, đối tượng uỵch, ngáp mấy cái là tắt. Nhưng mang gậy cũng lích kích. Chỉ bằng hai bàn tay này thôi. Bấy giờ tôi mới ngoài hai mươi tuổi khỏe như trâu mộng, hai bàn tay cứ như hai gọng kìm. Cầm chéo hai tai chó trên cổ áo sơ mi của đối tượng mà xiết chặt, giỏi lắm chỉ hai phút sau là đối tượng nghẹo đầu, nước dãi ộc ra. Ðàn bà còn dễ hơn, chỉ tay không bóp cổ cũng chóng vánh. Giết xong, vùi luôn và ngụy trang chỗ vùi, coi như đất bằng. Ðến ngay như chúng tôi cũng không thể nhớ nổi tên ác ôn nọ bị thủ tiêu nằm nơi đâu cho thật chính xác. Trường hợp phải giết để cảnh cáo, chúng tôi giết tại nhà đối tượng, bên cạnh xác là lời tuyên án. Công việc của chúng tôi để lại những ấn tượng không vui, nếu không gọi đó là những ám ảnh khủng khiếp. Ðấy là tiếng ằng ặc của người bị bóp cổ, là cái mùi nước dãi ộc ra trước lúc tắt thở cái mùi hoi hoi tởm lợm rửa tay bằng xà phòng thơm lá chanh ba ngày sau chưa phai. Ðấy là thứ tiếng phát ra từ dưới huyệt sau khi đã vùi xong, một loại nấc khan trầm và rè như cóc ho. Ðấy là nỗi day dứt không hiểu những cặp mắt lồi ra như ngạc nhiên trước cái chết của mình, có cặp mắt nào thực sự nói điều oan ức không? Chính những ấn tượng không vui ấy cùng với sự thanh thản trong lòng khi trả lại tự do cho cô Mỹ Hường, tôi đã quyết định xin chuyển sang lính đặc công. Bận độc một chiếp xilip, bôi nhọ nồi hoặc pin đèn khắp người, tiểu liên, thủ pháo trong tay, luồn vào tận giường ngủ thằng Mỹ mà chơi nhau, hoàn toàn yên trí những kẻ bị giết kia chỉ được sám hối lúc về cõi chúa.

     - Anh vừa nói tới Mỹ Hường. Hẳn là các anh phát hiện ra chính nó là chỉ điểm của địch ở Khang Xuyên.

     - Không phải chúng tôi phát hiện. Huyện ủy thông báo dựa trên báo cáo của cơ sở, nghĩa là của chi bộ Khang Xuyên.

     - Và anh đã phản đối?

     - Trái lại, tôi rất mừng. Tìm được tên chỉ điểm mà diệt, chúng tôi sẽ cho quân về "lún" lại ở Khang Xuyên ngon lành. Tuy thế, tôi vẫn thận trọng. Mỹ Hường là ai, tôi không biết. Nhưng tay Lân biết. Ðấy là một cô học sinh thi trượt tú tài về bán tạp hóa với mẹ ở chợ Quán. Bố cô là công chức bưu điện trong Sài Gòn. Nghe đâu, cô từng tham gia phong trào học sinh ở Huế. Hồi Khang Xuyên còn là vùng giải phóng, ở Huế về, cô cũng sinh hoạt thanh niên. Theo Lân đấy là một cô gái xinh đẹp duyên dáng. Thời xinh đẹp duyên dáng cũng dẹp, đã làm chỉ điểm là phải đền tội. Trước lúc quyết định hành sự, tôi còn cử Lân luôn về Khang Xuyên gặp Tốn thẩm tra lại. Tốn cung cấp thêm một số chi tiết. Rằng, người ta thấy Mỹ Hường mấy lần nói chuyện với bọn cố vấn Mỹ bằng tiếng Anh. Mỹ Hường có quan hệ mật thiết với tên thiếu tá quận trưởng, nghe đâu anh em con dì con già gì đấy. Rằng trước đêm xảy ra vụ đột kích ở nhà O Thẻo, buổi chiều Mỹ Hường có tới chơi nhà O nói chuyện lai rai, lại còn đi nghiêng ngó ngoài vườn. Ngần nấy chi tiết cũng chưa khẳng định được tội ác, nhưng có thông báo của huyện của chúng tôi vẫn hành sự. Thành lập một tổ công tác ba người tôi trực tiếp chỉ huy. Thêm thiếu úy Lân, thổ công ở Khang Xuyên và chuẩn úy Nẫm, người Tày Cao Bằng, một cây đẹp trai, da trắng và môi đỏ chót như môi con gái. Ðêm ấy, tôi còn nhớ, trời nhờ nhờ, chừng như trăng mười bảy, mười tám gì đó bị mây che phủ.

     Chúng tôi luồn về Khang Xuyên an toàn, móc với Tốn và chính Tốn dẫn chúng tôi tới nhà đối tượng. Sau đó Tốn lánh mặt. Nguyên tắc hoạt động bí mật ở vùng tạm chiếm, Tốn lánh mặt là phải. Gõ cửa. Tôi đã gõ cửa nhà đối tượng nhiều lần. "Cộc, cộc, cộc" cái tiếng của ngón tay gõ vào ván gỗ nghe đùng đục là mệnh lệnh giết người . Cũng là một ám ảnh dai dẳng. Thú thật với anh, mãi gần đây mỗi khi nghe ai gõ cửa nhà mình, tôi vẫn còn giật mình, cảm thấy ớn lạnh.

     - Anh kể dông dài quá đây! Anh nói ngắn gọn vì sao anh không giết tên chỉ điểm ấy, hoặc thấy nó xinh đẹp duyên dáng hoặc vì có ý nghĩ gì đó vừa nảy sinh?

     - Theo tôi, giết đúng đối tượng là hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bức thiết, trái lại, giết sai đối tượng là phạm tội giết người. Tôi không muốn là kẻ giết người vô căn cứ.

     (Im lặng một lúc).

     - Nghĩa là anh không công nhận Mỹ Hường là chỉ điểm.

     - Ðúng thế

     - Lý do?

     - Giản đơn thôi. Những tên ác ôn; gián điệp, chỉ điểm đều có khuôn mặt khác, thái độ khác, giọng điệu khác, hành động khác với cô gái này. "Mời đi học", ba tiếng ấy không có tên phản động nào không hiểu. Phải xạ ngay lập tức. Hoặc run lẩy bẩy, mặt đổ chàm. Hoặc đỏ mặt lên phản đối gay gắt. Có đứa làm ầm lên buộc chúng tôi phải dí súng vào lưng. Có đứa mắt trước mắt sau, chực tẩu thoát. "Mời đi học" là cục vôi giơ ra trước mắt con đỉa. Cô gái này vui vẻ, hớn hở nữa là khác. Lại hỏi đi bao lâu, mang chăn màn đã đành, chỉ tiếc không kịp sắm cái võng, chắc học "trên xanh" phải không mấy anh? ở trên xanh, em có khối đứa bạn. Bà mẹ lo cuống, cô an ủi. Một tháng ăn nhằm gì mẹ, ai hỏi mẹ phải nói thác là con vô Sài Gòn nghe.

     - Chắc anh chưa gặp những đứa gián điệp cao tay, hớn hở vui vẻ chỉ là bền ngoài nhưng nó đã nhẩm tính cách khác trong bụng.

     - Chẳng có cách gì khác, khi đang đêm, một cô gái tay không bị ba anh lính trinh sát an ninh, tiểu liên, súng ngắn áp giải. Có là bay đàng trời! Ðiều băn khoăn của chúng tôi lúc đó không phải là cô gái đào tẩu hoặc hạ thủ chúng tôi, mà ở chỗ khác. Dường như cả ba anh em chúng tôi đều linh cảm rằng cô gái này vô tội. Giá lúc đó, tôi gân lên một chút thì Lân và Nẫm phải im re, chỉ có chấp hành. Chậc, chiến tranh là thế, cứ lệnh mà làm, ai hơi đâu phân giải rằng oan hoặc không, dẫu giết nhầm một người cũng không hề tai hại đến sự nghiệp chung.

     - Và anh đã phóng thích cho con chỉ điểm?

    
 
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 02:07:49 pm »

 - Sự việc không giản đơn như thế. Ðiều băn khoăn ấy đeo đẳng chúng tôi suốt chặng đường dài hàng chục kilômét cho đến lúc chúng tôi gặp tai họa. Một trận pháo bất chợt chụp đúng đội hình hành tiến chúng tôi lúc vừa mớm đến chân đồi Thắm. Vùng giáp ranh là tuyến bắn chặn thường xuyên của địch. Dứt pháo, trong khói đạn mờ mịt là một vùng đồi sim im lặng hoàn toàn. Rồi có tiếng rên, lại có tiếng khóc. Thôi, chết tôi rồi, Nẫm bị thương khá nặng vào bụng. Lân bị một mảnh pháo vào sọ, chết ngay. Cô gái khóc vì quá sợ, nhưng cũng nhanh tay băng bó vết thương cho Nẫm và giúp tôi đào huyệt. Khi vùi Lân, cô gái khóc ròng. Lại tiếp tục lên đường, bây giờ trời đã mửng sáng . Tôi bí mật tháo hết đạn trong băng và trao cả hai khẩu AK, hai chiếc bồng nhỏ của Lân và Nẫm cho Mỹ Hường, tôi cõng Nẫm ì ạch mãi mới tới cửa rừng, mới chặt cây mắc võng làm cáng, Mỹ Hường vai trước, tôi vai sau chúng tôi khiêng được Nẫm đến một trạm xá  đội vận tải, mệt muốn chết. Ðến đây, Mỹ Hường gặp một bạn gái làm y tá vốn là học sinh cũ ở Huế lên. Hai chị em cứ tíu tít mãi, không chịu rời nhau. Tôi quyết định nghỉ một đêm ở trạm xá lấy lại sức. Sáng dậy, ăn uống xong, xin một nắm cơm vắt, lại lên đường. Bây giờ chỉ còn Mỹ Hường và tôi. Ði đâu? Rừng Trường Sơn mênh mông bạt ngàn. Mỹ Hường hỏi, đường còn xa nữa không anh Hảo? Cũng còn xa xa, tôi đáp vu vơ. Lớp học có đông không anh? Ðông. Tôi đáp vu vơ. Cô gái hỏi chuyện luôn miệng, còn tôi đáp cho có lời đáp, trong lòng đang ngổn ngang một cách xử sự. Khó mà tin cô gái này là chỉ điểm, nó đã tìm cách đào tẩu. Suốt một chặng đường dài thiếu gì cơ. Có sự u uẩn nào đây chăng? Báo cáo của chi bộ Khang Xuyên do tay Tốn làm bí thư, chưa có bằng cớ xác đáng. Cũng có khi chẳng vì thù oán, khử được một tên chỉ điểm, há chẳng  phải là thành tích của chi bộ trong công tác an ninh hay sao? Tôi không muốn bàn tay mình dính máu người lương thiện. Sẽ phải trả tự do cho Mỹ Hường. Nhưng để quyết định của tôi đảm bảo chính xác, tôi phải thẩm tra lại một lần cuối. Dừng chân bên bờ suối vắng, rửa ráy tay chân xong, chúng tôi ngồi nghỉ. Bây giờ tôi mới ngắm kỹ cô ta, quả là một cô gái đẹp duyên dáng. Tôi gợi chuyện cô, giọng nói và nét mặt dung dị, nhưng thực chất là thẩm vấn. Hỏi từ cha mẹ họ hàng, anh em, đến đời tư của cô, quan hệ của cô trên Huế, dưới Khang Xuyên. Rồi xoay sang chuyện liên quan đến vụ địch tập kích vào nhà O Thẻo. Mỹ Hường nói, cả làng gọi O Thẻo, còn cô đúng ra phải gọi thím. Ông nội cô và bố chồng O Thẻo là anh em ruột. Hôm đó, cô đang ở Huế về nhà mới nghe chuyện, chỉ biết hỡi ôi. Người ta nói hai người lính giải phóng bị bắn chết trong nhà, lính ông Thiệu còn đem trói vào gốc cau, suốt nửa ngày hôm sau, mới cho chôn. Rõ quân thất đức. Biết thím Thẻo bị tống nhà lao, mà chưa kịp đi thăm. Vậy là lời khai của Mỹ Hường (tôi tạm gọi lời khai) hoàn toàn khác với lời tố cáo của tay Tốn. Tuy đã hai năm rõ mười, tôi càng làm mặt nghiêm, nhìn thẳng vào mắt Mỹ Hường mà bảo, rằng có kẻ cho chúng tôi biết cô đã nhúng tay vào vụ thảm sát đó, cô đã chỉ điểm  cho lính ngụy cô nghĩ sao? Mỹ Hường đang vui vẻ hơn hớn chợt tái mét mặt, rồi khóc oà. Trời ơi, sao người ta có thể vu oan giá họa cho cô như thế. Dì ruột cô lâm bệnh phải nằm nhà thương Huế, mẹ cô bảo phải lên thăm nuôi gì cả tuần lễ, nào cô có biết nếp tẻ gì về việc giết người giải phóng  ở nhà thím Thẻo. Mà sao cô nỡ làm hại bộ đội giải phóng, còn làm hại cả thím Thẻo của cô được. Cô không thể thất nhân thất đức như thế! Tôi nói thẳng với Mỹ Hường rằng, không phải chúng tôi dẫn cô đi học, chẳng có lớp học nào cả, chúng tôi được lệnh dẫn cô đi hỏi tội. Ðang khóc, bỗng cô lau nước mắt, môi run run, cô ném vào mặt tôi một cái nhìn thách thức: vậy thì anh bắn em đi! Không, tôi không thích bắn cô, nếu giết cô, tôi đã hành động lúc còn dưới trảng cát vắng vẻ, hoặc dưới giáp ranh từ đêm hôm qua. Tôi không tin cô là chỉ điểm là gián điệp. Tôi sẽ trả lại tự do cho cô với một điều kiện:

     (Có tiếng cười của đại tá Lê Hớn)

   - Anh chớ vội nghĩ về tôi như thế. Bây giờ tôi mới 26 tuổi, chưa vợ, khỏe mạnh, chẳng đến nỗi xấu, lại con trai Hà Nội, có bằng đại học, tôi có thể bộc lộ tình yêu với cô ta, mà không thấy ngượng. Cũng như mọi người trẻ trai, nhìn khuôn mặt thanh tú, đôi môi thật duyên, chiếc cổ trắng ngần và bầu ngực nở nang của Mỹ Hường, cũng có phút chốc con thú đàn ông trong người tôi trỗi dậy. Hoặc tán tỉnh, hoặc cưỡng đoạt hoặc khêu gợi cô ta hiến dâng, bề nào cũng được. Chỉ hai người mà rừng quá vắng. Có điều tôi biết chắc chắn, sau khi thỏa mãn với người con gái này, nhất thiết tôi phải bóp chết cô ta. Như vậy tôi sẽ được nhiều bề. Vừa thỏa mãn, vừa có chiến công, vừa không lo sợ hậu quả. Nhưng lại mất một điều quan trọng, ấy là tự làm mất mình. Nhờ trời, tôi không bao giờ chịu đánh mất mình. Bởi thế, điều kiện của tôi đề ra cho Mỹ Hường là phải giấu tung tích đi, cấm không được lai vãng về Khang Xuyên. Cô muốn sống ở Ðà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ gì cũng mặc, nhưng sự có mặt của cô ở Khang Xuyên sẽ bất lợi cho cô và cho cả tôi. Cô gật đầu. Tôi lại dẫn cô tiếp một chặng đường đến cao điểm Eo Gió. ở đây đã nhìn thấy quốc lộ số 1, chỉ cần hai tiếng đồng hồ đi bộ là có thể vẫy xe ô tô. Chúng tôi chia tay. Nấn ná ngập ngừng một chút, rồi cô gái ôm chầm lấy tôi, khóc thút thít. Quả thật lúc đó trái tim trai trẻ của tôi đập loạn nhịp, cảm giác như hụt hơi. Không để cho sự xúc động trì níu, tôi nhẹ nhàng gỡ tay cô gái. Hãy can đảm lên, chúc mọi sự bằng an và giữ trọn lời hứa. Sau này, có lúc nào đấy chợt nhớ lại, tôi gọi đó là cuộc chia tay màu xanh.

   - Thôi được, cứ cho rằng anh tin việc làm của mình là đúng, sao không báo cáo cho tổ chức biết sự thật?

   - Thực ra không ai ký lệnh cho tôi giết cô gái ấy, huyện ủy chỉ thông báo cho biết tình hình. Ðồng chí phụ trách an ninh huyện giao cho đội trưởng trinh sát an ninh là tôi xem xét. Nghĩa là tôi có quyền quyết định số phận của đối tượng. Tôi đã phóng thích cô gái, bởi tin việc làm của tôi đúng, bởi tin vào sự thành thật và trong trắng của cô gái. Còn lúc bấy giờ mà báo cáo đúng sự thật thì câu chuyện trở nên vô cùng phức tạp. Chắc không ai tin tôi, bởi nhân chứng duy nhất còn lại là chuẩn úy Nẫm cũng đã chết ở trạm xá vận tải, vì vết thương quá nặng. Ðã không tin thì người ta bẻ hành bẻ tỏi tôi đủ điều. Bị kỷ luật thải hồi là may, còn hơn đón nhận cái chết. Mượn bàn tay kẻ địch  để loại bỏ một người bị nghi ngờ  là một cách giết người đó sạch sẽ nhất. Tôi rất am hiểu chuyện đó.

   - Vậy là anh cũng sợ chết?

   - Tôi sợ cái chết phi lý nhàm chán, nhưng không sợ cái chết có mục đích cống hiến. Như đã trình bày, sau vụ Mỹ Hường cùng với những ám ảnh nghề nghiệp, tôi nhất quyết chuyển sang bộ đội đặc công. Anh xem lý lịch tôi chắc biết, ba năm làm đại đội trưởng đặc công tôi đã có ba bằng dũng sĩ và hai huân chương. Khi lên cán bộ tiểu đoàn, tôi mới chuyển sang bộ binh. Năm 1975, tôi là đại úy tiểu đoàn trưởng bộ binh tấn công vô Huế, truy kích địch xuống tận cửa biển Thuận An. Trong đám tù binh tóm được tình cờ tôi nhận ra Tốn. Hắn khai là bị bắt quân dịch ngay sau khi chi bộ Khang Xuyên đổ bể, nghĩa là người đảng viên già cuối cùng tên là Quán cũng bị địch bắt nốt. Bí thư chi bộ gì mà chịu cầm súng cho địch từ bấy đến giờ. Dù sao gặp lại hắn trong tư thế tù binh bị bắt, tôi cũng thêm an tâm về việc trả lại tự do cho Mỹ Hường. Hắn cứ bám lấy tôi, nhưng tôi tránh. Chúng tôi không nhắc gì đến Mỹ Hường cả.

   - Anh có gặp Mỹ Hường lần nào hoặc có biết tin gì về cô ta không?

   - Hồi ở Huế tôi có về lại Khang Xuyên thăm O Thẻo, O có cho biết Mỹ Hường đã có chồng con trong Sài Gòn, bố mẹ cô đều mất cả. Chỉ biết thế thôi, chứ tôi không tìm cách liên hệ, chẳng để làm gì cả.

   - Anh có gặp Tốn không?

   - Tốn đi cải tạo, có lần hắn đi tìm tôi ở Mang Cá, năn nỉ xin tôi chứng nhận cho hắn có làm bí thư chi bộ Khang Xuyên, thêm nữa trong thời gian đi quân dịch vẫn móc nối với quân giải phóng. Hắn gãi đầu gãi tai, nháy mắt tinh quái với tôi rằng sẽ không quên ơn. Chẳng đời nào tôi hạ bút ký xằng xịt như thế, tôi nén giận, bảo hắn tìm mấy ông đảng viên cũ ở Khang Xuyên hoặc huyện ủy mà xin. Hắn kỳ kèo mãi, tôi mới nổi nóng đuổi hắn đi.

   - Chuyện anh kể đã dài, cứ hẵng biết thế! Dù sao cũng là ý kiến riêng anh - Phải đợi tổ chức xem xét, kết luận. Ta tạm dừng ở đây".

   Ðọc lại hồ sơ vụ Y8, thiếu tá Cần ngồi thừ người. Sự việc không có gì khó hiểu, vậy mà hồi đó phòng bảo vệ do đại tá Lê Hớn chủ trì không thể kết luận được. Lá thư ký tên Lê Huy Tốn rõ ràng là nặc danh, địa chỉ không có, và lời lẽ chỉ gọi là để đơn vị lưu ý, nhưng lưu ý một vấn đề chính trị nguy hiểm, quả là chết người. Phải chăng Tốn chỉ là Tốn? Mà một người như Tốn làm sao tin cậy được? Vụ Y8 không kết luận, hồ sơ nằm im trong tủ "mật", nhưng nghi án về Hảo cứ treo đấy. Không đề bạt được trưởng phòng, đến niên hạn thăng quân hàm đại tá lại kẹt. Ðại tá Lê Hớn gọi Phan Nhân Hảo lên, kiên trì thuyết phục, kể cả mớm cung, yêu cầu Hảo viết lại hoặc viết bổ sung thêm về quan hệ giữa anh và Mỹ Hường. Hảo phản ứng, không có gì phải nói lại, nói thêm. Ðại tá Lê Hớn đánh bài ngửa, nếu sự việc còn mù mờ không kết luận được thì việc đề nghị thăng quân hàm cho anh là khó. Tốt nhất, anh làm đơn xin về hưu. Sẵn sàng Hảo lấy giấy bút viết nhoay nhoáy, ký rẹt một chữ. Thế là xong, đại tá Lê Hớn thở phào. Coi như ông hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng nhận thêm một bậc lương nữa, trước khi nghỉ hưu. Lê Hớn mang theo cái thở phào về chăm mảnh vườn của mình trong quê đã vài năm nay. Còn hồ sơ vụ Y8 vẫn nằm mốc meo trong tủ "mật". Cán bộ thay thế lúc này đến mới toanh, không ai biết kỹ vụ Y8, ngoài thiếu tá Cần. Lòng đầy băn khoăn thiếu tá bèn trình bày với các thủ trưởng của mình. Các thủ trưởng nghe chăm chú, cuối cùng đều nói giống nhau. Rằng chuyện cũ bới lại làm gì, thôi dẹp. Muốn kết luận vụ này, không thể đơn giản. Nếu gọi là để trả lại danh dự cho anh Hảo, thì có ai làm mất danh dự anh đâu. Dù sao, anh đã về hưu lâu lâu, với lại nghe tin khỏi bệnh là mừng. Thế nhé! Hai chữ "thế nhé" có nghĩa là chỉ thị cấp trên, vậy mà thiếu tá Cần không sao giải tỏa được sự ấm ức trong lòng. Chẳng nhẽ để anh Hảo chịu tiếng oan, dẫu không ai biết chuyện ngoài một cán bộ có trách nhiệm, thì chính tâm tư anh cũng đau đớn, làm sao thanh thản được. Lương tâm cắn rứt, thiếu tá Cần quyết định đến thăm Hảo, nói cho  anh biết sự thật, chỉ mong anh thông cảm giùm. Một buổi sáng chủ nhật, Cần đạp xe đi, trong chiếc túi vải treo đầu ghi đông có một chai cuốc lủi nửa lít, mươi gói lạc rang mua ngoài quán nước. Anh em gặp nhau có cái mà lai rai, tâm sự.

   Hôm đó, Hảo ở nhà một mình. Chị Phúc ra chợ, hai đứa con đều đi học thêm ngoài giờ. Anh đóng cửa, nằm đọc lại Tam Quốc. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa đột ngột làm anh giật bắn mình, ngồi choàng dậy, cuốn sách rơi xuống đất. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa gấp hơn mạnh hơn. Tim đập loạn xạ, mồ hôi rịn ra trên trán, Hảo thở hổn hển, mắt chợt hoa lên trong một đám mây mù bao phủ trước mặt.

   - "Cộc, cộc, cộc", có ai ở nhà không? Anh Hảo ơi, anh Hảo!

   Hảo vẫn ngồi đờ đẫn như người lạc vía.

   - Anh Hảo ơi, ngủ à? Cần đến chơi đây mà!

   "Cộc, cộc, cộc" - thiếu tá Cần, tay xách túi vải, đang hớn hở gõ cửa mạnh hơn chợt nghe một tiếng gầm:

   - Cút mẹ mày đi! Tiên sư cha mày!

   Cần vội lùi ra, ngơ ngác chưa kịp hiểu tiếng gầm là có thật hay nghe nhầm, thì cánh cửa xịch mở. Phan Nhân Hảo nét mặt hoang dại, mắt đỏ ngầu, tay lăm lăm chiếc then cài cửa. Chiếc then cửa vung lên trong một tiếng hét, y như lúc xung phong. Miệng ú ớ, mặt tái mét. Cần kịp né tránh và cóc cò chạy. Cây đủ đủ trước hiên bị phạt cụt ngọn, ở đấy nhựa đùn lên trắng hếu. Mấy bác hàng xóm chạy tới giữ Hảo lại, dìu anh vô nhà, trong lúc anh vẫn thở hổn hển, chẳng nói chẳng rằng. Khi hoàn hồn, thiếu tá Cần, tuy chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, vẫn phải nhờ mấy đứa trẻ vác hộ xe đạp ra ngoài sân khu gia đình, tay run run mở khóa, mắt vẫn để ý về phía xảy ra điều kỳ quái.

   Kể từ hôm ấy, dân K42 không nghe thấy chân chạy thể dục buổi sáng của anh Hảo, đám trẻ con đá bóng thiếu trọng tài, cãi nhau ỏm tỏi. Anh Hảo trở lại căn bệnh như cũ, chỉ tủm tỉm, nét mặt ngây dại. Anh lại quên, chẳng những quên hết quá khứ, mà quên rất nhanh, kể cả những việc vừa xảy ra- Anh bảo cái Hằng vào ngủ với mẹ, còn anh chung giường với thằng Hiếu, hai bố con anh đắp hai chăn. Chị Phúc thở dài, cái Hằng và thằng Hiếu cũng buồn. Buồn nhất là lũ trẻ con mất dạy trong K42 lại cúi gập người "cháu chào chú Hiển ạ" và phá ra cười. Chị Phúc cho treo lại tấm biển "Xin đừng gõ cửa" vừa gỡ ra chưa đầy tháng. Niềm vui ngắn ngủi quá, tiếng thở dài của chị não nuột hơn. Lời khấn  của chị trước bàn thờ hương khói nay có khác. Chẳng những khấn tổ tiên ông bà phù hộ độ trì, chị còn khấn vái cầu mong người đàn bà có tên là Mỹ Hường quay lại. Biết đâu người đàn bà xinh đẹp nọ là tiên trên trời giáng thế cứu giúp  chồng chị chăng? Chị hoàn toàn không hiểu cội nguồn những việc xảy ra, lắm lúc muốn đến đơn vị cũ của chồng, hỏi chuyện thiếu tá Cần mà ngại ơi là ngại. Chị Phúc đâu biết, sau ngày xảy ra điều kỳ quái ấy và nghe tin Phan Nhân Hảo trở lại bệnh cũ. Cần đã xin chuyển công tác. Không biết anh đến đơn vị nào và chắc gì còn tiếp tục công việc cũ nữa.

10-1991         
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 02:50:44 pm »

 
Anh không có lỗi                                             
My Lan

  Cu Trí mếu máo chạy từ ngoài ngõ về ôm chầm lấy mẹ, vừa khóc vừa kể lể :
Mẹ ơi, bọn thằng Hà nó gọi con là thằng "chí Phèo", hu hu hu. Chúng nó bảo con không phải là con của mẹ... hu hu hu,..

- Thôi nín đi, nín đi con, các bạn ấy đùa ấy mà, con không phải là con trai của mẹ thì là con ai cơ chứ?

   Chúng nó bảo mẹ nhặt được con ở ngoài lò gạch ấy, hu hu hu... Con ứ thích tên là Trí đâu, ngày nào chúng nó cũng trêu con.
   
   Ðể mai mẹ thưa cô giáo, cô sẽ phạt bạn nào hay trêu con. Thôi nín đi, con trai ngoan của mẹ nào, rửa mặt mũi chân tay rồi ăn cơm nhé!

   - Vâng ạ!

   Nhìn thằng bé ngoan ngoãn đi rửa mặt, chị băn khoăn tự hỏi : không biết sao bọn trẻ lại biết cu Trí không phảị là con đẻ của chị... và ai đã bịa ra cái tình tiết quái ác "nhặt được ở ngoài lò gạch" để trêu chọc thằng bé vậy?

   Ðúng là cu Trí không phải là con đẻ của chị, nhưng không phải chị đã nhặt được nó ở ngoài lò gạch. Câu chuyện về thằng cu Trí là một trang bí mật trong cuộc đời chị mà cho tới nay chị vẫn giấu kín. Chị nghĩ đó là điều cần thiết để giữ trọn niềm hạnh phúc cho người chồng mà chị yêu quý suốt đời?

... Chị đã chờ đợi thuỷ chung suốt tám năm anh đi đánh Mỹ ở chiến trường miền Ðông Nam Bộ. Khi giải phóng miền Nam, anh trở về thì họ đã ở ngoài tuổi ba mươi và mới sinh con đầu lòng. Nhưng thật đau đớn, đứa con làm họ mong chờ với bao hy vọng lại chỉ là một quái thai!
Vì yêu thương chồng, không muốn anh phải đau khổ, thất vọng, chị đã đề nghị với các bác sĩ không cho ai biết sự thật phũ phàng đó. Cũng may là khi chị sinh con, anh đang làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Cam-pu-chia. Khi viết thư báo tin cho chồng, chị nói là do trở dạ lâu nên con bị ngạt không cứu được. Anh rất đau buồn, nhưng vẫn hy vọng rồi họ sẽ có đứa con như mong muốn. Vậy mà mãi đến bẩy năm sau khi anh chuyển ngành công tác tại một xí nghiệp gần nhà, chị mới sinh lần thứ hai. Lần này chị đã bốn mươi tuổi nên đẻ khó, phải mổ, nhưng hai anh chị đều rất vui mừng vì họ đã có một cậu con trai rất kháu, nặng những ba cân hai. Lúc ấy chị rất sung sướng, tưởng như mình là người hạnh phúc nhất trần gian!...

   Rồi một hôm, cô bác sĩ sản khoa - người bạn thân nhất của chị - đến chào tạm biệt chị để đi công tác nước ngoài. Hai người bạn tri kỷ "dốc bầu tâm sự" rất vui vẻ , cởi mở và cô bác sĩ bảo :

   - Mình nghĩ là cậu không nên đẻ nữa...

   Chị cười rất tươi :

   - Không đẻ nữa là thế nào, ông xã nhà mình đang gạ trong năm nay sẽ đẻ thêm cô con gái nữa đấy!

   Thật trần đời có một người yêu quý con như anh ấy? Cậu biết không, anh ấy còn bảo, bây giờ nếu có ai đòi đổi thằng cu Trí lấy cục vàng nặng bằng nó, anh ấy cũng chả thèm! Ghê chưa? ừ kể có thêm một đứa con gái nữa cũng hay, nhưng riêng với cậu thì mình khuyên chân tình đấy, hãy nghe mình...

   - Nhưng vì sao cơ chứ, hay là mình già rồi thì không nên đẻ nữa?

   - Không, không hẳn là như vậy. Mình nói điều này chỉ mình cậu biết thôi, mà phải bình tĩnh đấy, có hứa không nào?

   - Ôi, cậu làm mình hồi hộp đến chết đi được. ừ, thì xin hứa!

   Lẽ ra không nên nói, nhưng vì mình sắp đi xa, nên không thể không nói với cậu. Thế cậu có biết vì sao lần đầu cậu sinh lại như vậy không?

   - À có lẽ khi có thai mình ốm nên uống thuốc linh tinh....

   - Cậu tin chắc như vậy ư? Không phải vậy đâu.
   Các bác sĩ sau khi xét nghiệm đã kết luận, trường hợp của cậu là do chồng cậu bị nhiễm chất độc điôxin ở chiến trường miền Nam...

   - Ôi! Thật vậy sao? Nhưng...

   - Chắc cậu muốn nói về thằng cu Trí phải không?

   - Ðúng vậy...

   - Nó đâu phải con của cậu!

   - Trời ơi! Lẽ nào nó không phải là con của tôi?

   - Hôm ấy, các bác sĩ mổ cho cậu đã lấy ra một cái thai giống như lần trước, mình nhìn nó đã ngất xỉu đi vì sợ hãi...

   Chị bỗng khóc nấc lên.

   - Lẽ nào đời tôi lại bất hạnh đến thế nào? Vậy mà lần trước tôi cứ tưởng là lỗl tại mình... Trời ơi!.

   Bình tĩnh lại đi, cậu đã hứa rồi cơ mà!

   Vậy thì thằng bé ấy ở đâu ra?

   - Ðêm hôm trước có một cô gái trẻ đến bệnh viện một mình. Ðẻ xong cô ta được đưa về phòng sản phụ, còn đứa con trai đưa sang phòng nhi theo quy định của Viện. Sáng hôm sau đến giờ cho con bú thì không thấy cô ta đâu nữa, chỉ thấy dưới gối một mảnh giấy vỏ bao thuốc lá ghi mấy chứ : "Em lỡ lầm, không có điều kiện nuôi con. Xin các bác sĩ cứu giúp cháu bé , em xin chịu ơn suốt đời...". Các bác sĩ đã biết rõ hoàn cảnh của cậu và yêu cầu mọi người hãy giữ kín chuyện này. Sự thật là như vậy. Ðến hôm nay, đã hơn một năm trôi qua rồi, mọi sự đều tốt đẹp gia đình cậu sống hạnh phúc. Vậy là tốt lắm. Những người thầy thuốc cũng chỉ mong có thế. Mình chỉ muốn khuyên cậu phải chú ý dùng biện pháp, đừng có thai nữa bởi vì cậu sẽ không bao giờ có được một đứa con nguyên vẹn với anh ấy đâu. Nói ra với cậu điều này thật tàn nhẫn, nhưng đó là lương tâm, là trách nhiệm người thầy thuốc để tránh cho cậu nỗi đau khổ. Hãy hiểu cho mình, mình chỉ muốn mọi điều tốt đẹp cho cậu thôi!

   Mình hiểu và rất biết ơn cậu và các bác sĩ đã làm việc đó... Chỉ có điều xin đừng ai tiết lộ cho anh ấy biết, một mình mình đau khổ là đã đủ rồi...

   Chị đã hết sức gắng gượng để không đổ sụp xuống trước sự thực đau đớn này. Chị hiểu rằng, hạnh phúc hôm nay chị có được là nhờ tấm lòng nhân hậu của những người thầy thuốc, chị phải ra sức vun đắp cho cái gia đình nhỏ của mình luôn được vui vẻ đầm ấm.

   Anh tỏ ra mãn nguyện vì có đứa con trai khôi ngô, khoẻ mạnh mà anh yêu quý nó hơn mọi thứ ở trên đời. Mỗi khi rảnh việc, anh thường "kiệu" cu Trí trên vai đưa nó đi chơi quanh xóm. Hễ ai khen thằng bé khoẻ, đẹp trai như tranh, anh lại cười nói vui :

   Khoẻ như con nhà lính mà lại! Tớ là tớ bác bỏ cái thuyết "cha già con cọc" của thiên hạ đấy!

   Suốt mấy chục năm chinh chiến, cuộc đời anh phải trải qua bao gian nan, vất vả, giờ được về công tác gần nhà, quấn quýt bên vợ con và bằng lòng với những gì anh đang có trong tay. Hạnh phúc của người lính thật là giản dị. Anh chẳng còn mong gì hơn thế? Và cuộc sống cứ bình lặng trôi qua theo năm tháng. Ðôi khi chị cứ lẩn thẩn tự hỏi : Có phải là chị đã lừa dối anh, như lần đầu chị giấu anh sự thật về đứa con không nên người - lần ấy chị vẫn tưởng là lỗi tại chị. Còn lần thứ hai phải mổ nên chị không biết về sự thật, chỉ biết là khi tỉnh dậy, các bác sĩ đã báo cho chị biết đã sinh con trai! Chị đâu có ngờ chiến tranh đã cướp đi vĩnh viễn của anh cái khả năng và hạnh phúc làm cha của những đứa con bình thường. Hiểu theo một kiểu nào đó thì đúng là anh đã sống yên vui hạnh phúc trong sự day dứt của chị. Nhưng rồi sẽ có một ngày nào đó, sự bí mật này được khám phá và anh sẽ đau khổ như thế nào? Cái gia đình bé nhỏ này sẽ ra sao? Trên đời này liệu có bí mật nào chôn vùi mãi mãi được không? Chị luôn ám ảnh bởi mặc cảm rằng chị đã lừa dối chồng, nhưng chị không thể nói lên sự thật đau lòng đó, vì chị rất yêu anh. Trong tâm trạng ấy, chị càng ra sức vun vén và càng nỗ lực có thể của mình để anh luôn cảm thấy sự ngọt ngào của hạnh phúc, cho dù chị phải chịu muôn vàn đắng cay âm thầm. Ôi, giá như anh biết được rằng chị yêu anh đến chừng nào!

   "... Ai gây nỗi bất hạnh này? Em không oán trách anh đâu, em hiểu rằng anh không có lỗi, mà chính là tội ác của chiến tranh!

   ... Nếu người có thể gọi đó là sự lừa dối thì em đã lừa dối anh, hãy tha thứ cho em! Em không phải là kẻ lừa dối. Tất cả chỉ vì em yêu anh!...."

   Ðã bao lần chị thầm nghĩ như vậy khi nép mình trong vòng tay âu yếm của anh!

 
 
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #56 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 04:24:44 pm »

Ngày cuối cùng của chiến tranh
Vũ Cao Phan       

   
   Không hiểu vì sao cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa kể  ra câu chuyện này, mặc dù còn như in đôi tay gày guộc của ma xơ* run rẩy lần tìm chiếc chìa khóa, vạt sân hoang, những khuôn mặt trẻ con và tiếng kêu thảng thốt của chính tôi lúc đó, hai mươi năm trước...

   Lúc đó, sớm của một ngày trước Ba mươi tháng Tư, năm người lính đứng bên chiếc cổng sắt xiêu vẹo, phía trong nhô cao một tháp xi măng lênh khênh. Vậy là đây rồi. Chúng tôi gọi cửa. Người gác dan chạy ra rồi thụt vô luôn. Có cái gì đó lao xao, rồi im, rồi lao xao. Mãi sau, vài cái đầu thập thò và một người đàn bà bận đồ đen từ sâu hút trong sân đi ra:

   - Dạ thưa, các ông là giải phóng?

   - Vâng, chúng tôi có thể vào?

   - Dạ được.

   Cửa mở. Tôi ngó lại người đàn bà:

   - Ðây là nhà thờ sao?

   - Dạ không, trường học, đây là trường học, thưa trung úy. (Bà kêu đại vậy chứ tôi có mang thứ phù hiệu nào trên người đâu). Nhưng trường học đóng cửa rồi, chắc đã cả tháng nay. Còn chúng tôi ở Cô nhi viện G, từ miền Trung chạy giặc, Giê su, xin lỗi (bà lấm lét nhìn tôi) chạy bom đạn mới tấp vô. Nơi này bữa trước làng lính có ở, sau họ nhường cho Cô nhi viện.

   Bất giác tôi nắm chặt báng súng, nghi ngại:

   - Còn lính ở trong không, thưa bà?

   Bà già cũng hoảng hồn:

   - Dạ không, không có, họ đi hết trơn từ mấy bữa rồi. Hồi hổm có tốp chạy qua đây trút bỏ đồ lính rồi cũng "dông"luôn.

   Những thứ "trút bỏ" được nhìn thấy ngay ở chỗ quẹo. Cả xứ sở đang lên cơn sốt di tản, khó mà xác định đây là vùng mới giải phóng hay vẫn còn nằm trong tay quân đội Sài Gòn. Chúng tôi dừng lại bên chiếc tháp. Không giống một tháp canh. Mà một trường học có nó để làm gì cũng không rõ. Có vẻ như tháp được dùng cho mục đích quan trắc thường xuyên nào đấy. Sơ sài nhưng khá vững. Tôi yêu cầu đồng đội cảnh giới rồi leo lên.

   Cuộc tổng tiến công trực tiếp vào nội đô Sài Gòn đã nổ ra từ ngày hôm qua. Các đơn vị phòng không được lệnh bám sát bộ binh đánh địch trong hành tiến. Nhưng trung đoàn tôi thì dừng lại ở hướng này, cách Sài Gòn khá xa về phía bắc, sẵn sàng đón lõng những đường bay địch mà rất có thể xuất phát từ các căn cứ ngoài Việt Nam bất ngờ lao đến một lúc nào đấy. Tôi, Chủ nhiệm trinh sát  trung đoàn được chỉ thị thiết lập gấp một đài quan sát cho nhiệm vụ trên. Chúng tôi đã phát hiện ra chiếc tháp từ chiều hôm qua trên bản đồ UTM tỷ lệ 1/25000 mới lấy được của địch và phải mất gần sáu giờ đồng hồ cho việc tìm đến nơi.

   - Lý tưởng! Không thể nói khác được.

   Tôi gật đầu với các chiến sĩ khi đã ở dưới mặt đất. Quả vậy, đài quan sát được đặt ở đây chẳng những nằm thẳng hướng xác định mà xạ giới quan sát lại rất rộng, không bị che khuất. Tôi mở máy liên lạc với trung đoàn trưởng, báo cáo tình hình rồi khẳng định bắt đầu nhận nhiệm vụ. Từ giờ phút này, mạng hai oát trên tất cả các trận địa pháo cao xạ đã sẵn sàng nhận chỉ thị mục tiêu của chúng tôi. Hơn thế nữa, trung đoàn trưởng trao quyền trực tiếp hạ khẩu lệnh xạ kích cho tôi trong trường hợp khẩn cấp.

   Tôi nói với ma xơ Giám đốc Cô nhi viện, người đàn bà bận đồ đen, rằng do nhiệm vụ quân sự, chúng tôi sẽ ở lại đây. Rằng cũng do tính chất của nhiệm vụ quân sự, tôi muốn được xem qua nơi đóng quân. Bà già khẽ khàng đáp "dạ" nhưng đôi  mắt của bà lại không có vẻ như vậy. Nắm chắc địa bàn công tác là tác phong của người lính trinh sát nhưng tôi còn có ý muốn tìm kiếm một vị trí tập kết cho cái đơn vị nhỏ bé của mình. Gần như hành quân suốt đêm, tất cả   đều đã thấm mệt. Tôi để Vinh, một tiểu đội trưởng trinh sát già dặn ở lại đài quan sát rồi cùng các chiến sĩ bước theo ma xơ.

   Ngôi trường tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng song hầu như chỉ có một dãy nhà ngang với dăm bảy phòng học mà giờ đây Cô nhi viện dùng làm nơi ăn ở lẫn nơi học tập, vui chơi cho các cháu. Mới di tản đến nhưng nơi có vẻ các ma xơ vẫn cố gắng duy trì nền nếp cũ. Chúng tôi lướt qua các phòng, gắng không gây xáo động những khuôn mặt trẻ thơ hồn nhiên, đủ các lứa tuổi. Một bé trai làm bộ chĩa súng lên trời bóp cò trước sự kinh hãi của ma xơ phụ trách lớp. Tôi mỉm cười. Trẻ em là trẻ em, dù chúng ở đâu. Trong một phòng khác, các bé gái đang học khâu vá. Gian cuối cùng, cửa khóa. Tôi hỏi ma xơ liệu đây có phải là phòng thừa còn bỏ trống không thì bà đáp nhanh như tên bắn:

   - Dạ không. Ðây là nơi tôn nghiêm nhất, thưa trung úy, nhà nguyện của Cô nhi viện. Nó cũng là nơi chứa các đồ Thánh lễ.

    Hẳn thế, đây là Cô nhi viện công giáo mà. Như vậy chúng tôi chỉ còn cách dựng lều trú quân ở một góc nào đó. Không sao. Có vẻ như đọc được ý nghĩ của tôi, ma xơ Giám đốc chỉ  xuống một căn nhà nhỏ gần như tách biệt:

   - Các ông coi thử căn nhà này. Một gia đình của Cô nhi viện đang ở đó, nhưng chúng tôi có thể thu xếp được.

   Gia đình có ba người, một thiếu phụ trẻ với đứa con nhỏ và một thiếu nữ, cỡ 16, 17 tuổi. Vẻ mặt hơi rầu của thiếu phụ là điều mà chúng tôi có thể giải thích, vì ma xơ  đã cho biết chồng của chị đang chốt ở một phòng tuyến nào đó. Tuy thế khi thấy chúng tôi vào nhà, sau lời chào, thiếu phụ đã mau mắn kêu thiếu nữ:

   - Lấy nước mời mấy chú đi em, Dịu Thơm.

   Ôi cái tên nghe bình yên quá. Chiến tranh dường đâu có ngụ ở nơi này.

   Trong khi cô gái còn chưa kịp tìm thấy bình nước thì ma xơ Giám đốc đã nhanh chóng quyết định:

   - Cô Hồng thu xếp để chuyển gia đình lên ở chỗ tôi cho mấy ông giải phóng mượn tạm chỗ này ít bữa. Và quay lại phía tôi: Trung úy định ở lại đây bao lâu?

   - Hết chiến tranh, thưa ma xơ. Tôi cười. Nhưng chiến tranh cũng chỉ còn một trận đánh này và tôi không nghĩ rằng nó lại kéo dài.

   Thêm một lần ma xơ nhìn tôi như có chút phân vân.

   Ngày hôm ấy chúng tôi thay nhau trực trên đài quan sát với biết bao nôn nóng khi nghe tiếng pháo từ hướng đông, hướng tây và xa hơn nữa, hướng nam. Ðôi lúc mơ hồ vọng đến cả tiếng súng nhỏ. Sẽ đến  rất gần một ngày Sài Gòn; ngày mai, ngày kia, hay...?

   Nhưng đã xảy ra  một chuyện làm đảo lộn công việc của chúng tôi. Bắt đầu là binh nhất Ruân, con chiên xứ đạo gốc Hải Hậu băn khoăn tìm đến vào lúc cuối chiều:

   - Anh ạ, có chuyện này khó hiểu. Em hỏi ma xơ khi nào thì hành lễ, lúc đầu ma xơ làm bộ  như không nghe, rồi sau  đó bà hỏi: "Mấy ông giải phóng cũng quan tâm chuyện đó sao? Chúng tôi làm lễ rồi, cảm ơn". Em phải nói rằng em là con Chúa, bấy lâu ở rừng chỉ đến thầm với Chúa được thôi, nay có nhà nguyện thì sướng nhất rồi, em muốn đi lễ. Em nói thế, ma xơ nhìn em rất lạ rồi bỏ đi mà không nói gì thêm. Anh thấy không, chúng mình đến đây từ sớm, đã có buổi lễ nào đâu? Không có lễ sáng mà cũng chưa thấy lễ chiều. Em để ý kỹ lắm mà. Ma xơ nói thế thì lạ thật!

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #57 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2008, 04:25:26 pm »

Tôi chưa kịp chia sẻ mối nghi hoặc thì tiểu đội trưởng Vinh xuất hiện:

   - Báo cáo chủ nhiệm, không ổn đâu! - Vinh hạ giọng.

   - Có địch!

   Vinh cho biết anh đi kiếm rau dền, rau rệu quanh trường, vừa lúc qua phía sau nhà nguyện thì đột ngột cửa sổ hé mở rồi đóng vội lại ngay. Anh áp sát chân tường và nghe thấy bên trong có tiếng động.

   - Anh xem. - Vinh chỉ. - Ðứng đây mình vẫn nhìn thấy ổ khóa trái đen đen kia. Rõ ràng là...

   Ruân đưa thêm ý kiến:

   - Có một lúc ma xơ đi ngang chỗ khóa cửa, em để ý thấy bà bước chậm, miệng lẩm bẩm điều gì đó và đôi mắt thì không yên ngó vào một chỗ.

   Các chiến sĩ trinh sát của tôi khá đấy. Tôi cũng đã thấy đôi điều ngờ ngợ và giờ đây thì rất nhanh, như một phản ứng nghề nghiệp, tất cả các dữ kiện được xâu lại để bật lên thông tin chủ yếu này: ma xơ Giám đốc đã giấu ai đó - những ai đó -  trong nhà nguyện kia vào lúc chúng tôi vừa hành quân đến đây. Ai?

   Tôi không có lý do gì để không đồng ý với tiểu đội trưởng Vinh rằng đó là địch. Và chúng thậm chí không chỉ có một tên. Rất có thể địch đã để lại đây một tốp nhỏ - vì lý do nào đó - sau khi "nhường khu trường cho Cô nhi viện" như lời ma xơ. Và cũng có thể đó là những tên chối bỏ cuộc chiến từ đâu đó chạy về, vẫn như lời ma xơ. Tôi quyết định phong tỏa nhà nguyện mà không cần cật vấn thêm ai nữa. Phương án tác chiến được vạch ngay với hai kịch bản cho những tình huống, hoặc địch lợi dụng trời tối để lén rút chạy, hoặc chúng mưu đồ tập kích lại chúng tôi. Chỉ biết rằng từ giờ phút này với năm người, gánh nặng của nhiệm vụ chiến đấu đã tăng lên gấp bội.

   Ðể có thể khống chế được mặt sau ngôi trường, tôi không có cách nào khác là phân công Ruân đem tăng võng ra mắc ở mấy gốc cây xế phía hồi nhà. Ðộng tác này không thể không đập vào mắt ma xơ và mặc dù lúc đó đã tối trời, tôi vẫn cái thấy cái nhìn của bà hướng đến như muốn hỏi: Vậy thì cần làm gì, căn nhà mà các ông yêu cầu?

   Vậy là cuối cùng, đã đến với chúng tôi một đêm bức bối và hồi hộp lạ thường. Pháo cứ rền lên từng đợt, chớp cứ rung bần bật phía đường chân trời và thân xác chúng tôi thì căng lên hết nỗi. Chúng tôi lắng theo bước chân chiến thắng của đồng đội, chúng tôi lo làm nhiệm vụ được giao, và chúng tôi... Thôi, khỏi cần kể thêm. Khuya mọi thứ  có dịu đi nhưng tuyệt nhiên không một ai muốn chợp mắt.

   Lúc đó quãng nửa đêm, trăng hạ tuần chưa qua khỏi ngọn cây. Tôi làm hiệu bí mật theo dõi khi đồng đội phát hiện một bóng đen. Bóng đen từ đầu bên kia dẫy nhà men theo chân tường, lợi dụng sự che khuất của các bóng cây, chầm chậm, di chuyển về hướng này. Cuối cùng thì bóng đen cũng đến được gốc cây cách nhà nguyện lối chừng mươi bước. Mục đích có thể là đã rõ: tên này, hoặc làm nhiệm vụ đưa tin, hoặc tìm cách mở cửa cho đồng bọn. Nhưng điều tác hại là cả khoảng trước cửa nhà nguyện lại hết sức trống trải, và kẻ phiêu lưu kia đành hầu như án binh bất động nơi gốc cây. Tôi dự kiến bắt sống nhưng chưa kịp hành động thì ngay lúc đó đã đẩy tới một tình huống bất ngờ. Bóng đen bỗng tách khỏi gốc cây, nghe ngóng rồi nhảy lên bậc thềm chỗ cửa nhà nguyện và chắc là bước hụt, y ngã sấp với một tiếng "xoảng". Rất nhanh, bóng đen đứng vụt dậy biến mất về hướng ngược lại. Tôi quyết định không đuổi theo.

   Buổi sáng, các chiến sĩ thu được từ hiện trường một cặp lồng với cơm canh tung toé, mấy ổ bánh mì và một chiếc dép. Vậy là mục đích của cuộc phiêu lưu ban đêm đơn giản hơn điều chúng tôi tưởng. Tôi cho xếp gọn các thứ, để ngay ngắn trên thềm nhà nguyện.

   Ngày làm việc đã trở lại mà không một ai trong Cô nhi viện đi qua hướng này, trong khi các ma xơ thì có vẻ lóng ngóng đứng ngồi chẳng yên. Cũng chẳng có lễ sáng trong nhà nguyện nữa, đương nhiên. Và cũng không một ai trong chúng tôi nhìn thấy ma xơ Giám đốc đâu, bà như giấu mặt vậy. Tất cả giống một sự đồng lõa tự tố cáo.

   Vào phiên liên lạc sớm với trung đoàn, tôi được nhắc tăng cường cảnh giác và được biết thêm rằng ngày hôm nay - rất có thể là ngày hôm nay -  các quân đoàn bộ binh sẽ tiến vào nội đô. Trong báo cáo của mình  tôi cũng đề cập đến tình hình mặt đất nơi tác nghiệp và xin được toàn quyền hành động. Trung đoàn trưởng đồng ý: "Gắng hết sức bắt sống hay gọi hàng. Ðừng phung phí cái chết, chiến tranh sắp qua rồi. Vả lại ở đó đang có nhiều trẻ em phải không?"

   Tôi quyết định đi tìm ma xơ Giám đốc, phải nói chuyện với bà ta trước đã. Tất nhiên sẽ không có thuyết giảng  về chính tà, về chỗ đứng, dù ở thời điểm này. Càng không cần  vòng vo Tam Quốc. Tôi nghĩ là mình hiểu bà. Các ma xơ luôn hành động hướng thiện như bằng chứng đây về trại mồ côi. Tình huống mà chúng tôi gặp phải cũng vậy, hẳn vì bà muốn tránh đổ máu. Tôi sẽ nói với ma xơ rằng chúng tôi cũng muốn thế, do đó xin ma xơ vận động những kẻ  đang ẩn náu trong nhà nguyện kia buông súng đầu hàng. Cách mạng sẽ khoan dung.

   Nhưng tôi được trả lời là ma xơ Giám đốc đang ốm? Không thể chần chừ, tôi nói với một ma xơ khác có vẻ đứng tuổi:

- Xin ma xơ lấy chìa khóa mở căn nhà nguyện kia. Chúng tôi cần kiểm soát trong đó.

   - Giê su! Bà thốt lên. - Nhưng tôi không có chìa khóa. Thứ đó ma xơ Giám đốc giữ.

   - Thì ma xơ trình lại với bà ấy yêu cầu của chúng tôi. Từ giờ phút này nhà nguyện bị phong tỏa xin ma xơ thu xếp để tất cả mọi người, nhất là trẻ em chuyển hết về đằng kia. - Tôi tuyên bố.

   Ma xơ làm dấu thánh rồi tất bật đi luôn. Nhưng hơn nửa tiếng trôi qua, không thấy bà quay lại. Tuy nhiên các trẻ em đã được đưa ra khỏi khu vực phụ cận.

   Phải hành động ngay. Tôi triệu tập bộ đội, chỉ để một chiến sĩ ở lại đài quan sát. Vinh tới, anh nói mà không biểu hiện một trạng thái nào rõ rệt trên nét mặt:

   - Quân ngụy đã đầu hàng. Anh nghe đây...

   Vinh tăng chiết áp của chiếc đài bán dẫn Sô-ny lúc nào cũng  cặp kè bên sườn anh. Ðập ngay vào tai tôi lệnh hạ vũ khí cho quân đội Sài Gòn của Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi  cảm nhận cả mình cũng không có cảm xúc rõ rệt nữa khi hướng về đồng đội:

   - Chúng ta sẽ đánh trận cuối cùng của chiến tranh.

   "Ðiều gì cũng có thể xảy ra", ý nghĩ đó lướt nhanh trong khi tôi phân công vị trí chiến đấu cho các chiến sĩ. Mọi sự chấp hành đều lập tức và tuyệt đối.

   - Phá khóa gọi hàng! Tôi ra lệnh.

   - Kìa Chủ nhiệm, ma xơ...

   Tôi quay lại. Ma xơ, ma xơ Giám đốc bỗng như từ đâu đó hiện ra đi về phía chúng tôi, bước chân lẩy bẩy   như khựng lại, như trờ tới. Khi bà gắng giơ cao  một chùm chìa khóa, hào hển điều chi mà khi đến gần mới nghe rành:

   - Xin đừng bắn vô trỏng, trung úy...

   Mới chỉ qua một đêm, ma xơ  đã gầy rộc hẳn đi. Bà cúi xuống, đôi tay gầy guộc run rẩy lần tìm chiếc chìa khóa nhà nguyện. Có lẽ bà đã đếm qua nó cả chục lần nhưng vẫn tìm, tìm hoài. Cuối cùng thì bà cũng giữ lấy một chiếc, nhìn lên:

   - Trung úy để tôi.

   Thoắt một cái, động tác của ma xơ bỗng trở nên nhanh hoạt lạ lùng. Bà như khẳng định lại tư thế Giám đốc. Khóa nẩy, cửa mở, sau dấu Chúa tuẫn nạn, bà kêu rành rọt:

   - Má đây, ra đi các con... Và bất đồ đổ ụp dưới chân tôi, bà nấc lên: - Lạy Chúa, xin các ông đừng giết. Chúng đâu có tội, chúng không có tội...

   Thôi rồi! Tôi chợt hiểu tất cả khi từ trong góc tối của nhà nguyện, thất thểu, sợ sệt và hốc hác vì đói bước ra ba đứa trẻ lai: hai Mỹ đen, một Mỹ Trắng. "Trời! Lại có thể như thế sao Chúa ơi".

   - Lấy sữa trong ba lô pha cho các cháu mau đi! Tôi nói với đồng đội trong khi cúi xuống đỡ ma xơ dậy.

   Và cũng chỉ nói được đến thế, tôi đã phải xoay người bước nhanh để lẩn trốn những giọt nước mắt của chính mình. "Lại có thể như thế được sao, lại có thể...".


--------------------------------------------------------------------------------

* - Maxơ gốc tiếng Pháp: Ma souer (chị của tôi, xơ của tôi) nhưng được Việt hóa trong khẩu ngữ từ miền trung trở vào để chỉ người phụ nữ tu hành trong nhà thờ Thiên Chúa giáo, thường làm những việc thiện trong nhà thờ (tương tự như từ xơ, nhưng được hiểu với nghĩa tôn quý hơn).

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #58 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 09:26:21 am »



Ðây là một trong những truyện ngắn đầu tay của nhà văn Hồ Phương viết trong thời gian đang diễn ra cuộc kháng chiến 9 năm lần thứ nhất (1945 - 1954). Qua truyện ngắn bạn đọc có thể thấy hình tượng người nông dân mặc áo lính ra trận nhưng lòng dạ vẫn hướng về quê hương bản quán nơi có lũy tre xanh, những cánh đồng bát ngát và những người thân yêu ruột thịt.

Thư nhà
Hồ Phương

Tôi ghếch súng vào ba-lô định quay ra làm giấc ngủ con thì Lượng đưa cho tôi một mảnh giấy:

- Cho Phượng xem thư của em mình vừa gửi xong.

Tôi giở ra, bức thư chỉ là một mảnh giấy nhỏ đã ố nước. Chữ nhòe hết già nửa. Chỉ còn đọc được mấy chữ đầu và vài dòng cuối cùng:

.... ngày 15-12-1948

Anh Lượng kính mến,

Em gửi thư này không biết có tới được tay anh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

...Ðông Triều bây giờ cơ cực lắm anh ạ. Chúng nó đóng không biết bao nhiêu là đồn nữa. Chúng nó càn quét Ðông Triều cũng không còn biết bao nhiều bận nữa. Làng ta chúng đốt gần trụi hết.

Pháp đang cố lập hội tề nhưng không được. Dân làng đói rét, khổ sở, may nhà ta thày mẹ còn sống cả, chỉ hay ốm vặt thôi. Chị Chi vẫn còn ở làng. Chị ấy bảo nhất định chờ anh đấy.
Thôi em không viết nữa. Em còn muốn viết thật dài cho anh nhưng hồi này em yếu lắm, sức em chỉ còn một phần ba ngày trước thôi anh ạ. Chúc anh mạnh khỏe giết được nhiều Tây. Bao giờ rỗi, anh xin phép về thăm nhà nhé.

Em Lân

Tôi bỏ thư xuống:

- Lâu nhỉ! Từ tháng tám bây giờ mới tới nơi. Ðược tin nhà cũng yên bụng đấy nhỉ. Thế nào? Lượng có định về thăm nhà, thăm cô Chi nào đó không?

Lượng bỏ chiếc mũ nan, vuốt mái tóc xõa xuống trán, cười:

- Mình về rồi! Về trước khi thư này đến đây.

- Hồi nào nhỉ?

Sau trận Ðồng Khuy ở Ðông bắc, mình có công tác đi liên lạc với đội võ trang ngoài Hồng Quảng nên tiện thể ghé về nhà một buổi. Hơn bốn tháng rồi còn gì. Có buồn ngủ không, mình kể lại cho mà nghe, cũng nhiều cái rắc rối lắm cơ Phượng ạ...

Tôi cõng ba-lô, giắt hai quả lưu đạn, khoác một khẩu tiểu liên, lên đường về qua lối Mai Xiu. Mấy hôm ấy, mưa dườn dượt, mưa thối đất thối cát, mưa trên rừng núi đáng lẽ buồn chết người đi được, nhưng trái lại, tôi thấy vui ghê, vì chắc chắn chuyến này thế nào cũng được rẽ qua nhà một tí. Anh tính ba năm rồi còn gì...

Quần xắn móng lợn, áo tơi lá cuốn tròn, chiếc gậy song cầm chắc trong tay, thế là cứ đi phăng phăng. Ðường trơn thế mà không ngã cái nào cả. Chỉ mong bay ngay về để được trông thấy ông cụ, bà cụ, chú Lân và Chi... người yêu của tôi.

Cứ một mình xuyên rừng, qua suối, đi miết hơn một ngày mới về tới Mai Xiu. Vết tích cuộc nhảy dù càn quét vẫn còn. Nhà cửa cháy trụi; trâu bò, người chết ngổn ngang. Trận Ðồng Khuy chính tay tôi đâm sáu tên giặc, đốt cháy ba nóc nhà như không, mà về đây tôi thấy lạnh người. Tôi lại sực nhớ tới Ðông Triều, quê cũ. Một người bạn cho biết hồi đầu hè: "Ðông Triều tan tác, điêu linh lắm! Giặc tàn phá không còn thương một búi cỏ. Làng tôi cũng bị đốt ra tro. Nhưng gia đình tôi vẫn toàn vẹn. Chi vẫn chờ tôi".

Cái đau đớn vì quê hương bị tàn phá, thêm cái vui vì gia đình bình yên càng làm cho tôi sốt ruột, muốn về cho chóng. Trời càng mưa tôi càng đi khỏe. Thế rồi tôi vượt Mai Xiu, sang Huyền Bồ, núi rừng vẫn ngàn rậm rạp. Ðường đi tắt, nhỏ teo hoang vu.

Cỏ dại cao chấm rốn. Tôi vẫn đi miết không mỏi. Không khí ở đây đã thấy nhè nhẹ, thoáng thoáng gió bể. Chao ôi! Ðông Triều... Hồng Gai.

Ðêm tối bưng, lạnh buốt. Gió bấc hun hút. Phải vượt qua con sông Cầu, giặc đã gác kín.

Tối, sông nhỏ nom cũng thành mênh mông. Ngại ngùng thật. Tôi tắc lưỡi. Ðồng Khuy cũng chẳng coi mùi nữa là... Thế là Sten, lựu đạn, quần áo buộc lên đầu, tôi khẽ rẽ lau lội xuống. Nước rào rào. Ngại quá. Ðèn trên đồn đỏ nhuộm như ứa máu.

Tôi bơi đứng, cố đạp nhanh sang bên bờ. Chợt nghe đằng sau cũng có tiếng nước oàm oạp. Ngoảnh lại thấy hai bóng người đang bơi theo. Thôi chết rồi! Ðúng là tụi giặc đuổi theo rồi. Ðời tôi có lẽ tàn ở đây chắc. Tôi nghiến răng, bao nhiêu sức đổ ra hết, đạp phăng phăng. Ðến bãi cát, mệt quá, tôi lảo đảo ngồi bệt xuống. Hai bóng người cũng vừa nhoài lên. Tôi lặng rút tiểu liên, lên đạn, từ từ đưa lên ngang sườn... Một giọng đàn bà:

- Ai?

Tôi dằn từng tiếng:

- Giơ tay lên! Tiến lại gần đây!

Dưới ánh sao lờ mờ, tôi nhận ra hai người quen quen.

- Trời! Ai như anh Lượng?

Tôi nhận ra rồi:

- ồ! Chị Thu, chị Viên.

Ðây là hai chị cán bộ của Ðông Triều khi trước. Họ ra hiệu cho tôi nói khẽ rồi chỉ tay về phía ga. Tôi hiểu ý, khoác vội chiếc áo, xách súng rảo cẳng theo hai người về phía một tòa miếu sát dãy núi đá.

Chúng tôi vào một khu vườn rậm. Lâu lắm tôi mới gặp Thu, Viên. Ngày trước họ là hai thanh nữ đẹp có tiếng trong vùng. Bây giờ họ đã có vẻ điềm đạm, một nét nhăn mờ trên má.

Thu, Viên vẫn hoạt động cho đoàn thể! Cơ sở phụ nữ, du kích, các đoàn thể cứu quốc của Ðông Triều bây giờ vững lắm rồi.

"Ðông Triều hồi trước xác xơ khốn đốn thật. Dân ăn cháo, ăn bẹ để kháng chiến. Nhiều lúc khốn khó, tưởng chừng có thể tan vỡ. Nhưng bây giờ Ðông Triều cứng cáp lắm rồi. Anh Lượng ạ! Ðông Triều đang sẵn sàng chờ các anh về. Ðông Triều đang giằng co với giặc, chống khủng bố, càn quét. Chính quyền bù nhìn của giặc không sao đặt nổi. Nhiều làng vẫn kháng chiến mạnh mẽ, chẳng hạn như làng anh...".

Tôi bó gối ngồi nghe giọng nói ấm áp của Viên, thấy lòng nhẹ hẳn. "Ðông Triều bây giờ cứng cáp lắm rồi... Nhiều làng vẫn kháng chiến mạnh mẽ, chẳng hạn như làng anh...".

Tôi nhớ lại ngày theo bộ đội tới Ðông Triều lên Việt Bắc, tôi đã phải ứa nước mắt nhìn lại Ðông Triều.

Tôi quay hỏi Viên, Thu:

- Các chị có biết tin gì về nhà tôi không nhỉ?

Thu lắc đầu nhìn xa xôi:

- Cũng đã lâu không sang bên đó, không rõ lắm! Chỉ biết đại khái là các cụ, chú Lân vẫn mạnh. Còn Chi...

Tôi nín thở.

- Còn Chi, tôi nói anh phải bình tĩnh mà nghe nhé. Chi bị Pháp bắt, làm ô uế, rồi thả về. Và từ đó Chi cũng bắt đầu tích cực hoạt động. Bây giờ Chi là một cán bộ phụ vận của liên xã... - Và Thu, ngập ngừng - ... Chi nó không muốn bao giờ gặp anh nữa vì... Nhưng mà kể ra thì con bé cũng "gì" quá.

Tôi bàng hoàng, lặng đi, nhưng rồi trấn tĩnh được ngay, sờ tay chỉ thấy mồ hôi trán nhơm nhớp. Thế mới biết cảm giác của người lính thành trai cũng là một điều hay thực.

Tôi lảng sang chuyện khác:

- Nội đêm nay tôi phải về tới nhà mà đường lối tắt không quen lắm. Hai chị nếu có thể cùng đi...

Thu, Viên gật đầu. Về khuya sao càng sáng lạnh, xanh biếc, lấp lánh. Nhìn lên buồn buồn. Bỗng có tiếng quát tháo ngoài cửa miếu. Rồi ba phát súng nổ ròn. Giặc đến vây rồi! Thu, Viên cuống lên. Tôi lẳng lặng xách súng đứng dậy ra hiệu cho họ đi theo. Chúng tôi rẽ đám cây luồn ra để chạy lên núi, thì một tràng tôm-sơm rít qua đầu, chiếc mũ nan chồm lên, chực bay xuống.

- Chúng nó kia kìa! Có ra không? Ông bắn bỏ mẹ bây giờ.

Mặc! Tôi nhào ra, Thu, Viên chạy theo. Thế là ba đứa luồn vào các bụi cây dại, lần đường lên một chỏm núi xa nhất!

Ðằng sau, tụi Pháp, ngụy binh vẫn chửi om sòm, quạt tiểu liên vào các bụi cây sau  miếu.

Ðến lưng chừng núi chúng tôi đứng lại thở. Thu lắc đầu:

- Gian lao thật! Nhưng có phải có một lần này thôi đâu. Chúng tôi cứ phải qua lại mãi mãi. Chi nó gan và nhanh hơn chúng tôi nhiều.

Nghe tiếng "Chi" người tôi nóng bừng. Tôi phất tay leo lên. Hai người hổn hển bò theo.

Chừng nửa đêm tới đỉnh. Có một cái hang rộng. Chúng tôi dừng lại.

Phía chân trời xa xa có đèn lấm chấm thành vệt dài. Thu chỉ tay:

- Hồng Gai đấy!

ờ mà Hồng Gai thật! Ðèn điện sáng lờ mờ. Biển mênh mang đen sẫm, những cù lao lí tí.

Gió bể thổi vào phần phật. Tôi đặt chiếc mũ nan, vuốt tóc thở dài. Mệt cũng có, buồn cũng có. Hồng Gai! Bao nhiêu là kỷ niệm hồi ông cụ tôi làm cai khu mỏ, tôi thư ký sở mỏ. Nghèo khổ. Chiều chiều tôi lê gót chân rã rời, buồn nản trên "kè" hay ngoài bãi Cháy nhìn bể mịt mùng, chim vật vờ trắng muốt. Tôi gặp Chi bán hàng rong. Chúng tôi hiểu nhau, yêu nhau. Ðời tôi bắt đầu có chút ánh sáng. Rồi tôi và ông cụ được tham gia đoàn thể. Ngày Tổng khởi nghĩa, chúng tôi, cả Chi, về cướp Ðông Triều.

Cho đến nay! ồ... Cái thằng Pháp.

- Chết chửa này! Nó bắn rách toang chiếc mũ của anh, anh Lượng này!

Viên giơ chiếc mũ rách soạc trên chỏm. Tôi rùng mình. Viên đạn chỉ vào sâu thêm một chút nữa thì thôi...

Ðêm lạnh! Trời thăm thẳm. Sao xanh biếc đầy trời khó ngủ quá!

Chiều hôm sau chúng tôi về tới làng. Từ xa đã thấy lũy tre đỏ xuộm vì bị đốt cháy. Tôi muốn chạy lên. Tôi lắng nghe tiếng lọc xọc của những khung cửi dệt trong làng vọng ra như những năm nào, ngày nghỉ từ Hồng Gai về thăm nhà. Nhưng không có gì cả. Ðồng vắng ngắt, thênh thang lạnh như tha ma.

Chúng tôi tới gần cổng làng. Bỗng uỳnh! uỳnh! Hai quả moóc-chi-ê nổ cách chúng tôi chừng ba mươi thước. Ba đứa nhoài sấp xuống! Rồi liên thanh réo ầm ầm cuối làng. Ðạn xé không khí, rú rít.

Thu tái mặt:

- Chúng nó về càn quét! Chạy thôi anh!

Tôi ngần ngừ, nhưng sau cả quyết:

- Tôi nhất định phải vào! Hai chị chạy đi, mau!

Thu, Viên nhìn nhau, nhìn tôi rồi rẽ xuống cánh ruộng chạy miết. Tôi thấy máu trong người muốn sôi lên. Tôi lên đạn:

- Phải vào! ít nhất hạ cũng được hai mươi thằng có chết rồi mới hả.

Tôi chạy tắt vào cổng làng, thấy giao thông hào chi chít. Tôi nhảy phốc xuống, chạy về phía một ngôi nhà gạch để chọn một tử giác an toàn nhất chĩa súng ra.

Lúc bấy giờ tôi bình tĩnh lắm. Nhưng sự thực, tôi cũng ân hận: mình chết cũng không sao nhưng còn công tác? Tôi càng thấy người nóng như điên. Nhất định không cho giặc hạ nổi, tôi nghĩ thế.

Súng dần dần ngớt. Nghe súng, tôi đoán được tình thế. Súng du kích bình tĩnh, chắc; súng giặc cuống quýt, lồng lộn.

Sẩm tối, tiếng súng im hẳn. Thế là tụi giặc không vào sâu trong làng được. Tôi khoái quá, thấy tự kiêu hãnh, vì cái làng "xôi thịt" của tôi bây giờ đã đường hoàng chơi nhau được với giặc.

Trời tối hẳn, tôi mới mò ra, ngồi lâu chân tê, đi dạch dẹo, óc mệt mỏi. Hình ảnh Thu, Viên chập chờn trong đầu.

Ðằng cuối làng có tiếng reo à à. ánh lửa hồng hồng, ngọn tre lá lăn tăn. Lại giặc chắc? Tôi nép vào một bức tường. Không! Tiếng cười tiếng hát. Có lẽ của dân làng. ờ mà biết đâu không có thày, mẹ, Chi, chú Lân ở đấy.

Tôi rảo cẳng, tay nghênh ngang khẩu sten. Bỗng một tiếng thét ở lỗ con góc tường bật ra.

- Ai! Ðứng lại! Giơ tay lên!

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #59 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 09:27:22 am »

Một mồi lửa bừng lên. Anh du kích chạy ra. Tôi nhận rõ là con cụ Ðiều Năm. Nhưng hắn chưa nhận ra tôi. Hắn ghé sát vào mặt tôi mà nhìn mãi rồi reo:

- Ơi trời ôi! Anh Lượng! Anh về bao giờ thế? Sao anh lại về vào lúc này! Tôi nghe nói anh bị... bị đạn ở Lũng Vài rồi cơ mà!

Hắn nắm tay tôi nói liến thoắng. Hắn trẻ quá, vẫn tươi vui như cũ. Mấy anh du kích khác ùa ra. Toàn anh em thanh niên làng quen thuộc cả. Họ xoắn lấy hỏi chuyện. Tôi cảm động quá không nói được nên lời. Ngày tôi đi, làng mới có sáu tay súng mà bây giờ, theo lời họ, đã có hai trung đội thoát ly.

- ồ anh về đúng lúc thắng trận! Chúng nó chỉ giết được hai con trâu, đốt cháy trụi một chòi canh. Dân làng đang mổ trâu "ăn khao" ngay cuối làng vui lắm, anh đi đến cả thể đi. Anh mới về không rõ chứ, ba xóm phía cuối làng, độ ba trăm thước, địch đặt vị trí, chỉ rình bắn vào làng. Chúng nó đốt làng ta bốn lần. Bốn lần bị đốt, bốn lần làng làm lại, chúng lại đốt. Cứ thế giằng co mãi. Nhưng cóc cần, ngày lên núi ở, tối lại về khai hội, mít-tinh, kiểm thảo, có lo gì. Truyền kiếp cho nó cũng chẳng lập được hội tề.

Anh du kích nói một thôi say sưa, nóng bỏng.

Chúng tôi kéo đến bãi cỏ trước nhà ông Xôi. Ba bốn đống lửa sáng lòa. Trai làng đang mổ hai con trâu bị Pháp bắn. Người đen nghịt. Anh em giới thiệu tôi. Cả làng hoan hô. Thế là mấy tràng 12,7 ùng ục reo lên. Ðạn đi đâu cả. Vẫn vui, tôi kể mấy trận chiến thắng ở Ðông Bắc làm quà. Dân làng lại hoan hô ầm ầm. Thoáng có tiếng xì xào:

- Lượng con ông Ðộ đấy mà. Ði vệ quốc Việt Bắc có khác. Rắn rỏi đáo để. Rõ tội nghiệp về nhà bố mẹ chẳng còn.

Tôi lạnh người. Run cả bàn tay. Bây giờ tôi mới nghĩ đến nhà. Một anh du kích khoác tay tôi ra chỗ vắng thì thầm:

- Mấy lần Pháp về bắt lập hội tề đều bị đánh lui. Chuyến tháng trước nó về bắt được ông bà nhà đem về dụ không được, bắn rồi. Chú Lân bây giờ yếu lắm. ốm quặt quẹo luôn. Nó làm thư ký cho huyện đội bộ cách đây chừng sáu cây. Nó bảo hồi ông bà còn sống, nó gửi cho anh ba bốn lá thư mà không thấy trả lời.

Ðầu tôi nóng cháy. Tôi muốn khóc mà không ra nước mắt.

- Anh có muốn gặp chú Lân thì mai. Còn chị Chi...

Tôi ngắt lời:

- Tôi biết rồi anh ạ. Việc ấy cũng không hề gì. Miễn là Chi vẫn trung thành với dân với nước.

Có tiếng còi rúc, anh du kích xin lỗi về tập hợp. Tôi lặng lẽ vào một ngõ tối. Tôi tìm đường về nhà.

Quanh co mấy lối rào mục đổ xiêu vẹo. Tôi tới chiếc cổng tre của nhà. Tim tôi như ngừng đập. Một cái gì mừng mừng tủi tủi làm tôi muốn rơi nước mắt.  Cánh cổng vẫn như xưa, mốc rêu, vết giấy dán nham nhở. Chắc là dấu vết những bức tranh ông tướng của chú Lân hồi còn bé.

Tôi đẩy cánh cửa, tiếng kẹt lạnh người. Tôi đã chắc chắn là không còn ai ra đón tôi nữa nên hững hờ bước vào mảnh sân đã lên rêu trơn trơn. Cỏ um tùm mấy nhóm. Cuối sân, chiếc nhà tranh năm gian vẫn còn, nhưng một đầu đổ sụp. Hai chiếc cột cháy thui đứng sừng sững.

Tôi rón rén bước vào hiên, mấy cửa phên cót ghép tre kín mít. Tôi đẩy ra. Lòng nhà tối om, lạnh buốt, tiếng muỗi vo ve buồn xé ruột. Tôi bước hẳn vào, mái tranh thủng toang toang. ánh sao nhợt nhạt lọt vào từng mảng mờ mờ dưới nền đất ẩm.

Tôi đứng lặng người, nghe rõ tiếng tim đập. Tôi lòe bật lửa. Trên giường, một mảnh giấy úa vàng nằm trơ, tôi nhặt lên trang một quyển vở nào. Tôi phủi bụi bỏ vào túi trên.

Một lúc lâu tôi quay ra.

Có bóng người thoáng qua giậu. Bóng một người đàn bà.

Tôi chạy ra. Người ấy đứng lại:

- Chị Vựng đấy à?

- Không, Lượng đây!

Người ấy lùi lại:

- Trời ! Anh Lượng về ư?

Tôi tiến lại. Tôi nắm lấy tay Chi. Hai đứa đứng lặng hồi lâu, rồi Chi nức nở. Tôi lắc mạnh tay Chi:

- Các chuyện anh rõ cả rồi. Anh không giận Chi. Anh vẫn... vẫn yêu Chi. Tại thằng Pháp cả! Thầy mẹ em cũng như thầy mẹ anh đã...

Không hiểu sao đến đây tôi nghẹn lời không nói được nữa.

Chúng tôi ra đường cái rồi đi về cuối làng, ngồi trên một bãi cỏ. Hai đứa lại im lặng không nói được gì. Chi tỏ ý tiếc tôi về muộn không gặp thầy mẹ tôi. Tôi ngậm ngùi bảo Chi: "Các cụ chết cho chúng ta được sống, cũng như bao người khác hy sinh để cho có Ðông Triều."

Hai đứa lại im lặng rồi tôi bảo mai phải đi ngay. Chi không giữ tôi, nhưng bảo nên sang thăm chú Lân, tôi bằng lòng.

Chúng tôi lặng lẽ vượt cánh đồng, qua ba mũi 12,7 rồi tới bờ một con sông rộng.

Chi để tay lên mồm khẽ hú. Không có tiếng trả lời. Chi lắc đầu rồi ngập ngừng:

- Hay là ta bơi sang hở anh?

Tôi lưỡng lự. Bên kia sông chợt lóe mấy ánh lửa như đèn pin rồi vài tiếng súng nổ vu vơ.

Chi nói khe khẽ:

- Tụi nó ở vị trí bên kia đi tuần!

Tôi kéo tay Chi:

- Trở lại thôi Chi ạ! Mạo hiểm vô ích!

Chi ngước mắt nhìn tôi, giọng đau khổ:

- Anh! Thế còn chú Lân...

Tôi lấy giọng thản nhiên:

- Khi nào Chi sang thăm em, bảo anh hỏi thăm.

Rồi chúng tôi lủi thủi quay về. Hai đứa lại im lặng. Tới gần làng tôi dựng lại từ giã Chi.

Chi nhìn tôi. Trong bóng tối, tôi cũng nhận thấy mặt Chi tái đi. Tôi dằn từng tiếng:

- Chúng ta phải can đảm nghe không Chi? Can đảm nhé! Công tác đoàn thể cho trọn vẹn.

Chi cúi đầu nức nở rồi ngẩng lên cương quyết:

- Vâng anh đi! Em đợi...

Tôi không thể nói gì thêm nữa, quay đi, bước thật mau. Vừa đi, tôi vừa có cảm giác Chi thẫn thờ nhìn theo và đang vẫy.

Khi đi khuất ngọn tre làng cũ tôi mới đi chậm lại. Trời tờ mờ sáng. Ngôi sao mai vàng óng đã hiện trên nền trời sáng như bạc phía đông.

Lượng ngừng lại chống hai tay ra sau nhìn lơ đãng xa xa.

Tôi vỗ vai Lượng:

- Té ra bức thư này đến rất lạc hậu, càng làm cho Lượng...

Lượng xua tay cười:

- Không đáng kể Phượng ạ! ồ, một thằng lính...

Chúng tôi chuyển sang chuyện Bắc Cạn giải phóng lúc nào không biết.

1949             

Hồ Phương 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM