Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười Một, 2019, 07:22:24 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 - Tập 2  (Đọc 75485 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #90 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:32:51 PM »


Theo kế hoạch đúng 23 giờ ngày 25 ta nổ súng, nhưng lúc này đột nhiên có nhiều xe ôtô chở đầy lính từ Tây Ninh vào căn cứ, nên 0 giờ 30 phút ngày 26-1-1960 (đêm 28 Tết âm lịch) trận đánh mới bắt đầu. Ba Bảy đánh vào sở chỉ huy trung đoàn 32, phát lệnh tiến công. Từ các hướng, cán bộ, chiến sĩ ta tiến công vào tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 ngụy và đại đội pháo binh, khu để xe, nhà kho. Tiếng súng, lựu đạn nổ ran trên toàn trận địa hòa cùng tiếng hò la vang dậy áp đảo quân địch. Bị đánh bất ngờ quân địch rối loạn, tên trung đoàn phó cùng tiểu đội bảo vệ bị diệt.

Các đơn vị tiến công đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Riêng bộ phận đánh vào hai tiểu đoàn còn lại không hoàn thành nhiệm vụ vì đi lạc đường. Địch kịp thời trấn tĩnh, chúng tập hợp lực lượng chống trả. Qua ánh lửa của những ngôi nhà cháy, địch thấy lực lượng ta không nhiều, lại có cả phụ nữ, chúng định dùng hỏa lục mạnh để đè bẹp sức tiến công của ta. Nhưng các trinh sát viên của ta đã kịp thời đột nhập vào khu vũ khí, lấy được ba khẩu đại liên, bắn quét về phía quân địch, đè bẹp sức kháng cự của chúng. Kết quả trận đánh ta đã diệt 500 tên địch, thu gần 1.500 khẩu súng các loại, nhưng chỉ chuyển về căn cứ được gần 500 khẩu.

Trận Tua Hai là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiêu diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí nhất. Chiến thắng Tua Hai đánh dấu một bước phát triển mới về trình độ tổ chức chỉ huy hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang ta. Chiến thắng mang ý nghĩa chính trị to lớn, nó củng cố niềm tin và cổ vũ khí thế đồng khởi của quần chúng cách mạng. Đối với địch, đây là đòn đánh vào ý chí của ngụy quân, ngụy quyền, khiến chúng hoang mang lo sợ. Tên tỉnh trưởng và những tên ác ôn đến đêm phải trốn đi ngủ ở nơi khác, bỏ lỏng nhiều vùng nông thôn.

Tua Hai, trận đột phá không chỉ mở đầu cho cuộc đồng khởi ở miền Đông, mà còn kích thích nhân dân các tỉnh đồng bằng Nam Bộ nổi dậy tiến công mạnh mẽ, dồn dập và liên tục vào bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở. Suốt trong những ngày đồng khởi, quần chúng vui như hội, đèn đuốc sáng rực vùng quê, hồ hởi, tay gậy, tay dao, kéo nhau đi vây đồn, lấy bốt, truy lùng ác ôn, giải tán các tổ chức của địch.

Ngay trong đêm Tua Hai bị diệt, địch ở đồn Vịnh thuộc xã Hảo Đước rút chạy. Hôm sau, kết hợp với nội ứng, quần chúng lấy bốt Hòa Hiệp (Châu Thành), bốt Cầu Ván (Trảng Bàng). Nhiều đồn, bốt trên đường 22 từ Tây Ninh đến biên giới Campuchia, trên tỉnh lộ 3 và 4, địch bỏ chạy. Nhân đà đó, nhân dân ở nhiều nơi trong tỉnh vùng lên lấy đồn, giải phóng xã, ấp.

Có nơi chỉ một tổ dân quân mang súng đến chụp bọn tề, hoặc bà con đến giả xin giấy tờ, rồi cướp luôn chính quyền địch.

Hai ngày sau chiến thắng Tua Hai, toàn bộ huyện Châu Thành, đâu đâu cũng vang tiếng súng, tiếng trống, mõ tre, thùng thiếc của nhân dân nổi dậy bao vây đồn bốt địch, truy bắt ác ôn. Chỉ trong một tháng lực lượng vũ trang huyện Châu Thành cùng đồng bào địa phương đã nổi dậy diệt 13 đồn bốt thu nhiều súng, bắt tù binh. Tổng Phước Hưng có 7 xã1 là Phước Hòa, Phước An, Phước Lộc, Hảo Đước, Hòa Hiệp, Phước Vinh và Phước Lợi thì 6 xã được giải phóng hoàn toàn, chỉ có Phước Lợi còn trơ trọi một cái đồn. Tổng Hòa Ninh có 8 xã thì chỉ có 3 xã Thái Bình, Trí Bình và Thanh Điền còn vướng đồn lớn chưa nhổ được.

Ở huyện Trảng Bàng, hưởng ứng chỉ thị đồng khởi của tỉnh, các đội công tác nhanh chóng xuống xã, ấp tổ chức quần chúng nổi dậy. Trong 5 ngày, các xã Đôn Thuận, Lộc Hưng, Phước Luu, Phước Chỉ, Bình Thạnh, nhân dân giành được quyền làm chủ. Xã Gia Lộc, hai nông dân tay không cũng hù dọa bắt được một tên thám báo. Ấp Bàu Trâm chỉ cách thị trấn Trảng Bàng 2 km, hai thanh niên đi tưới bông cũng lập mưu bắt được một thám báo. Đặc biệt, xã Gia Bình nằm sâu trong vùng địch, phong trào yếu, nhưng trong khí thế chung của toàn tỉnh sau chiến thắng Tua Hai, cán bộ xã cũng đã móc nối với cơ sở nội tuyến, mượn vũ khí nơi khác, tổ chức nổi dậy diệt đồn. Vì địch ở đây quá mạnh, hỏa lực ta chưa đủ, nên kế hoạch không thành. Tua vậy, lần đầu tiên quần chúng đấu tranh công khai làm địch phải dè chừng.

Huyện Gò Dầu, ngay sau khi tin chiến thắng Tua Hai loan truyền, quần chúng đã xuống đường mít tinh, kêu gọi binh sĩ địch quay với cách mạng, với nhân dân. Đội tự vệ làm nòng cốt ngăn chặn các hành động chống đối của địch. Chỉ vài ngày sau chiến thắng Tua Hai từ hai xã Phước Thạnh, Hiệp Thạnh phong trào đã lan ra toàn huyện. Nhiều xã trong huyện nhân dân giành được chính quyền về tay.
_____________________________________
1. Lúc đó Châu Thành chia làm hai tổng: tổng Phước Hưng và tổng Hòa Ninh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #91 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:33:17 PM »


Các huyện Bến Cầu, Dương Minh Châu được lực lượng vũ trang hỗ trợ, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển mạnh, bộ máy chính quyền địch ở hầu hết các xã trong huyện tan rã, nhân dân đứng lên làm chủ xã, ấp với nhiều mức độ khác nhau.

Ở Phú Khương (Hòa Thành ngày nay), đồng bào tín đồ Cao Đài, sau một thời gian dài bị địch o ép, đàn áp, phong trào tạm thời lắng xuống, nhiều cơ sở bị vỡ, nhưng sau Tua Hai, nhân dân cũng vùng lên phá nhiều khu trù mật, khu dinh điền, bung về ruộng vườn cũ làm ăn.

Ở thị xã, địch co về quanh các cơ quan đầu não, tuần tra canh gác ngày đêm. Một số gia đình sĩ quan, binh lính ngụy bỏ chạy về Sài Gòn, trong khi đó, các đội tự vệ mật và lực lượng vũ trang tỉnh liên tiếp đột nhập tấn công vào các công sở, đồn bốt địch đóng trong thị xã gây xáo trộn tình hình an ninh của chúng, làm cho ngụy quân, ngụy quyền càng rối ren thêm.

Sau chiến thắng Tua Hai, quân dân Tây Ninh đã kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và binh vận gỡ được 30 đồn, bốt địch, chiếm tỷ lệ 50% đồn bốt trong tỉnh, giải phóng hoàn toàn 24 xã, giải phóng cơ bản 19 xã. Tề, dân vệ tan rã từ 70 đến 80%. Lực lượng vũ trang Tây Ninh phát triển. Đầu tháng 2-1960, tỉnh thành lập tiểu đoàn 14, huyện Châu Thành thành lập đại đội 40, Gò Dầu, Trảng Bàng có đại đội 33A, Bến Cầu có đại đội 61, huyện Dương Minh Châu có đại đội 31A. Thị xã thành lập đại đội 2/45. Tòa Thánh (Hòa Thành) tổ chức đội vũ trang tuyên truyền. Các xã xây dựng các đội du kích (trong 49 xã có 44 xã lập đội du kích).

Song song với miền Đông Nam Bộ, tại Trung Nam Bộ, mặc dù lúc này địch đã đề phòng, tăng cường lực lượng phòng giữ, nhưng Liên tỉnh ủy chỉ đạo các tỉnh giữ vững kế hoạch hành động, tuyệt đối giữ bí mật, tạo yếu tố bất ngờ cho đồng khởi.

Đêm 25-1-1960, cuộc đồng khởi ở Long An bắt đầu bằng trận trung đội 231, tiểu đoàn 506 của tỉnh tập kích diệt đồn Đức Lập trên lộ 8 nối Bầu Trai (tỉnh Hậu Nghĩa) với quốc lộ 1 (đoạn Củ Chi) do một trung đội dân vệ đóng giữ. Có cơ sở nội tuyến dẫn đường, hỗ trợ chiến sĩ, cán bộ trung đội 231 đánh nhanh, dứt điểm gọn, thu toàn bộ vũ khí.

Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, ngày 26-1, nhân dân ở các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Cần Giuộc, Châu Thành, Thủ Thừa, Tân Trụ nổi dậy, đánh trống mõ kéo đi lùng bắt tề ấp, tề xã. Ngay tại Đức Lập, ta diệt 2 tên, cảnh cáo một tên. Xã Mỹ Hạnh lực lượng vũ trang tự vệ tập kích bất ngờ lấy bốt, tên xã trưởng chạy thoát. Xã Thành Lợi, 500 quần chúng lấy uy thế cách mạng buộc tề điệp ra nhận tội. Trước khí thế nổi dậy của quần chúng, nhiều tề xã thôi việc, một số tên ngoan cố phải chạy về huyện lỵ. Sau thắng lợi ở Đức Hòa, tiểu đoàn 506 tiếp tục đánh trận Gò Xoài, Bà Vụ, diệt 20 tên bảo an, thu 20 súng. Bộ đội còn hóa trang dùng xe chở khách chở quân, bất ngờ tập kích diệt gọn đồn Tân Bửu. Thắng lợi này đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào nổi dậy của quần chúng các huyện bắc lộ 4.

Ở nam lộ 4, tiểu đoàn 508 hóa trang, đột nhập diệt đồn Đông Thạnh vào đêm 28-1-1960, thu 13 súng. Ngay 29-1, tiểu đoàn 508 đánh tiếp đồn Hưng Long, bắt 30 tên, thu 24 súng. Quần chúng nổi dậy giải tán tề ấp, tề xã giành quyền làm chủ. Tính đến tháng 9-1960, tỉnh Long An đã giải phóng hoàn toàn 12 xã, phá lỏng kìm ở 67 xã khác, đưa dân lên làm chủ với nhiều mức độ khác nhau.

Tỉnh Kiến Tường, đồng khởi bắt đầu từ 28-1-1960. Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện kết hợp với nhân dân và cơ sở nội tuyến, bao vây, đánh chiếm bốt Bắc Chan 2, uy hiếp đồn Bắc Chan (thuộc Tân Thạnh), đồn Năm Ngàn, đánh đồn Nhà thờ lá, Gò Dung, bức rút 11 đồn từ kinh Bùi (Tân Ninh) đến kinh Năm Ngàn (Nhơn Ninh) ra lộ 12 (Tân Hòa), phá khu trù mật Bắc Chan giải phóng các xã Tân Ninh, Nhơn Ninh, Tân Hòa và hai ấp xã Hậu Thạnh.

Tiểu đoàn 504 của tỉnh sau khi tiến công đồn Maren (xã Phong Phú) diệt 17 tên, bắt 8 tên, thu 17 súng đã bao vây đồn Kinh Tắc, giải tán khu trù mật Nồi Gọ, bức rút 8 đồn và “tua” từ Nồi Gọ theo sông Vàm Cỏ Tây đến sông Xoài xã Thuận Nghĩa Hòa, giải phóng các xã Bình Hòa, Thạnh Phước, Phong Phú, Thạnh Hòa. Lực lượng vũ trang tỉnh kết hợp với lực lượng địa phương huyện diệt đồn sông Trăng (2-2-1960), bức rút các đồn “tua” dọc biên giới, sau đó diệt đồn Cái Rưng xã Tuyên Bình, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá khu dinh điền Gò Cát, Ninh Điền, La Ngà, giải phóng các xã Hưng Điền, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại. Đến 2-3-1960, Kiến Tường đã trừng trị 56 tên ác ôn có nợ máu, cảnh cáo 98 tên, bắt hàng trăm tề xã thú tội và thôi việc, tiêu điệp và làm tan rã 300 bảo an, dân vệ, thu hơn 200 súng các loại giải phóng 11 xã.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #92 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:34:03 PM »


Tại Mỹ Tho, Tỉnh ủy chọn xã Long An (huyện Châu Thành) làm điểm đồng khởi. Phương châm hành động là kết hợp tiến công quân sự với phát động quần chúng nổi dậy. Ngày 24-2-1960, đơn vị 514 (lực lượng vũ trang tỉnh) đóng giả lính ngụy, phục kích tại Cây Me.(thuộc xã Long An trên lộ 4) đánh xe chở bạc đi phát lương của địch. Trận đánh không thực hiện được. Nhưng ngày 25-2-1960, tỉnh vẫn phát động nhân dân nổi dậy đồng loạt. Ở xã điểm Long An, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tỉnh, nhân dân nổi dậy đốt trạm canh, bắt cảnh cáo bọn chủ ấp, liên gia. Các xã trên kênh Nguyễn Văn Tiếp từ Hưng Thạnh đến Thiên Hộ, quần chúng đánh trống mõ, phá bỏ các bảng liên gia và các khẩu hiệu tố cộng. Tiểu đoàn 514 của tỉnh vũ trang tuyên truyền tại các xã Long Hưng, Phước Thạnh, Long Định, Nhị Bình, Tân Lý Đông, Tân Lý Tây, Tân Hòa Thành. Song lực lượng chính trị còn yếu, nên ta chưa giành được quyền làm chủ.

Tại Gò Công, cũng trong đêm 25-2-1960, tổ vũ trang hoạt động ở Đông Gò Công, Vàm Láng, diệt tên đại diện Chớ và treo băng cờ khích lệ khởi nghĩa. Địch phát hiện bắn chết bốn đồng chí, bắt đi một. Cuộc nổi dậy không thành ở phía tây, tổ vũ trang đụng phải địch, quay trở lại, hai người đào ngũ. Vừa ra quân trận đầu, Gò Công đã bị tổn thất - kế hoạch nổi dậy đồng loạt theo chủ trương của Liên tỉnh ủy không thực hiện được.

An Giang là một tỉnh nằm trong vùng yếu, nhân dân không nổi dậy được. Song tỉnh đã phát động diệt ác ôn và tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, chờ thời cơ.

Trong lúc các tỉnh bạn đang trong cao trào đồng khởi đợt một, thì ở Bến Tre. Tỉnh ủy tổ chức hội nghị sơ kết phong trào đồng khởi và chủ trương tiếp tục mở các đợt tiến công, nổi dậy, chuẩn bị mọi mặt ứng phó với địch. Tỉnh quyết định thành lập đơn vị vũ trang thứ hai, đại đội 269. Ban chỉ huy đại đội gồm có đồng chí: Trần Khắc Chung (Sáu Chung), Trần Bì (Vệ Quốc), Nguyễn Hữu Vị (Tám Vị). Giữa lúc đó, (tháng 3-1960) Ngô Đình Diệm trực tiếp đến Bến Tre khảo sát tình hình và trấn an bọn ngụy quân, ngụy quyền. Diệm quyết tung một lực lượng mạnh để trừ khử cái ung độc Kiến Hòa1 ngay từ đầu để tránh nguy hại về sau.

Ngày 25-3-1960, gần 10.000 quân hỗn hợp (lính thủy đánh bộ, dù, biệt động...) do tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy mở cuộc vây quét ba xã Bình Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy. Chúng chia nhiều mũi bao vây chia cắt từng khu vực. Chúng chà đi, xát lạt, lục soát từng bụi cây, đám cỏ tìm diệt lực lượng vũ trang và cơ quan đầu não của tỉnh, quyết dập tắt phong trào đồng khởi ở ba xã điểm. Đi đến đâu lính địch bắn giết, đốt phá, cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ đến đó. 36 thanh niên đã bị chôn sống, 80 đồng bào bị giết chết.

Nhân dân ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp đứng trước một thử thách lớn. Đây không chỉ là sự sống còn của ba xã mà còn là sự sống còn của phong trào đồng khởi của tỉnh. Nhận thức rõ điều này, ban lãnh đạo tỉnh trực tiếp chỉ huy cuộc chống càn đã nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể, tỉ mỉ tình hình dịch, ta, đi đến quyết định phát động quần chúng đấu tranh chính trị trực diện với địch, huy động phụ nữ kéo ra quận, tố cáo tội ác địch, đòi chúng phải rút quân kết hợp với lực lượng vũ trang bám trụ bên trong lừa thế đánh địch bảo vệ cơ quan lãnh đạo và nhân dân.

Ngày 1-4-1960, nhân dân ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp làm cuộc “tản cư ngược” ra thị trấn Mỏ Cày. Hàng ngàn phụ nữ với hàng chục ghe thuyền chở theo lợn gà, xoong nồi, chăn màn kéo nhau đi “lánh nạn”. Đến thị trấn, đoàn người đổ vào các đường phố, trước các công sở ngụy quyền, nằm ngồi la liệt, khóc lóc kêu la, tố cáo lính thủy quân lục chiến cướp bóc, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ. Nhân dân thị trấn Mỏ Cày ra đường, thăm hỏi và tiếp tế cơm nước. Ngày hôm sau, 5000 phụ nữ các xã lân cận kéo lên thị trấn tiếp sức, đưa số người “tản cư ngược” lên đến gần 10.000. Đường phố Mỏ Cày tắc nghẽn, chợ búa và một số cơ sở sản xuất trong thị trấn ngừng hoạt động. Các trường học, bệnh viện, Thánh thất, nhà bưu điện, dinh quận trưởng... bị đoàn người vây kín... Nhân dân lớp đưa đơn, người nói miệng yêu cầu quận trưởng cho nhờ nương náu, chờ “quần áo rằn” rút. Chị em còn khích động quận trưởng: lính chủ lực coi thường quân địa phương, chửi cả quận trưởng, tỉnh trưởng. Quận trưởng Mỏ Cày tức tối, báo cáo với tỉnh trưởng. Tỉnh trưởng bực mình, lên Sài Gòn tố giác lính thủy quân lục chiến sát hại nhân dân, coi thường các nhà chức trách địa phương.

Trước sức mạnh và lời lẽ có lý, có tình của đội quân chính trị hùng hậu, đại diện của tổng thống Diệm, tỉnh trưởng Bến Tre, quận trưởng Mỏ Cày và tên đại tá chỉ huy lực lượng thủy quân lục chiến ở Sài Gòn phải xuống tận xã điều tra, lập biên bản thừa nhận tội ác và hứa sẽ rút quân về.
Trong khi lực lượng chính trị đấu tranh trực diện với địch thì lực lượng vũ trang đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, làm cho binh lính bắt đầu chán nản. Nhân cơ hội này, bộ đội và cơ quan lãnh đạo tỉnh rút khỏi vòng vây và di chuyển an toàn lên huyện Minh Tân và Giồng Trôm để chỉ đạo phong trào.

Ngày 20-4-1960, địch rút khỏi ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp. Cuộc phản công quy mô lớn của địch vào ba xã điểm Đồng khởi của tỉnh đã thất bại trước tinh thần đấu tranh kiên quyết và khéo léo với sự kết hợp ba mũi chính trị, quân sự và binh vận của nhân dân Mỏ Cày, đặc biệt là phụ nữ. Địch hoảng sợ và gọi những người phụ nữ Bến Tre tay không mà thắng giặc là “đội quân tóc dài”.
_____________________________________
1. Tên gọi của Bến Tre cũ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #93 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:34:32 PM »


Qua đồng khởi đợt I, Bến Tre thể nghiệm thành công phương pháp kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận góp cho cách mạng miền Nam phương pháp đấu tranh mới trong lãnh đạo khởi nghĩa động loạt. Từ cuộc “tản cư ngược” của phụ nữ Bến Tre, “đội quân tóc dài” ra đời. Đó là những cống hiến của Bến Tre trong phong trào Đồng khởi, là điển hình về sự kết hợp các phương thức đấu tranh chính trị, binh vận với vũ trang.

Cùng với Trung Nam Bộ, ở Tây Nam Bộ, từ đầu 1960, phong trào Đồng khởi cũng diễn ra sôi nổi, đều khắp và liên tục.

Cà Mau - tỉnh tận cùng của đất nước - Tỉnh ủy họp ngày 6-1-1960, chủ trương kiện toàn các đơn vị vũ trang hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa đồng loạt. Trong lúc Tỉnh ủy đang họp, một bộ phận của tiểu đoàn Ngô Văn Sở (lực lượng vũ trang tỉnh) do các đồng chí Út Điệp, Sáu Nhung chỉ huy vượt 20km đường biển tiến công cứ điểm Hòn Khoai, diệt một trung đội địch đóng tại đây.

Tiếp đó, bộ đội cùng du kích và nhân dân nổi dậy diệt và bức rút các bốt dân vệ giải phóng các xã Viên An, Tân Ân. Phong trào phát triển tới tận thị xã Cà Mau. Với sự hỗ trợ của bộ đội Đinh Tiên Hoàng, du kích An Xuyên đã phục kích bắt gọn cả hội đồng xã đưa vào căn cứ giáo dục. Tại xã Tân Thành chi bộ lãnh đạo quần chúng làm công tác binh vận, kết hợp bộ đội và du kích phục kích diệt một trung đội địch (27 tên), thu toàn bộ vũ khí, giải tán hội đồng xã, làm chủ hoàn toàn xã Tân Thành.

Đặc biệt ở Đầm Dơi, quần chúng xã Tạ An Khương đã nổi dậy cùng du kích bắt toàn bộ tề xã. Xã Tân Thuận được sự hỗ trợ của đơn vị Ngô Văn Sở, nhân dân kéo đến ấp Tân Thuận đánh trống mõ bao vây địch suốt 7 ngày đêm. Địch trong đồn hoảng sợ phải đầu hàng. Ta bắt 15 tên, thu 15 súng.

Bộ Tổng tham mưu ngụy đã phải đưa tiểu đoàn 3 Bắc Ái (trực thuộc phủ Tổng thống) về Đầm Dơi. Chúng đổ quân vào xã Thanh Tùng. Tiểu đoàn Ngô Văn Sở sử dụng 2 đại đội phục kích địch tại Bến Dựa (trên sông Cái Ngang), 6 giờ 30 ngày 6-3-1960, một cánh quân của địch gồm 1 đại đội của tiểu đoàn Bắc Ái, 1 tiểu đội bảo an và tên quận trưởng Đầm Dơi lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội nổ súng diệt gọn. Kết quả: ta diệt và bắt sống 150 tên, thu 133 súng. Đây là trận tiêu diệt gọn và thu nhiều vũ khí ở Cà Mau. Thắng lợi của trận đánh đã thúc đẩy phong trào Đồng khởi ở vùng đất mũi.

Ở Sóc Trăng, Tỉnh ủy chọn Long Điền (huyện Giá Rai) làm điểm chỉ đạo đồng khởi của tỉnh. Tại đây ngày 19-3-1960, tiểu đoàn Phú Lợi (lực lượng vũ trang tỉnh) tiến công đồn Cây Giang, diệt gọn 1 trung đội dân vệ, thu toàn bộ quân trang quân dụng. Tiếp đó, tiểu đoàn diệt đồn An Trạch, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá rã bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp, mở ra vùng giải phóng gồm hai xã sát lộ 4. Ở huyện Hồng Dân, quần chúng nổi dậy chiếm đồn Ninh Quới, giải tán lực lượng bảo vệ hương thôn. Huyện Long Phước, ta diệt cảnh sát, giải tán “thanh niên cộng hòa”, bao vây chi khu Ngan Dừa. Tại huyện Vĩnh Lợi, lực lượng vũ trang kỳ tập diệt Vĩnh Phước, kết hợp nội ứng chiếm đồn Tân Lập, giáo dục 1 trung đội giữ đồn về với cách mạng. Phát huy thắng lợi này, quân dân hai huyện Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu đẩy mạnh tiến công địch, diệt 23 đồn, thu trên 1000 súng, giải phóng 50.000 dân.

Sáu tháng đầu năm 1960, Sóc Trăng đã giải phóng một vùng nông thôn rộng lớn bao gồm các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Gia Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lộc.

Ở Cần Thơ ngày 10-2-1960, Tỉnh ủy họp quyết định bỏ phân hiệu các đơn vị mang tên giáo phái, thành lập tiểu đoàn Tây Đô. Hưởng ứng phong trào nổi dậy trong khu, Cần Thơ chọn xã Thới Lai (huyện Ô Môn) làm trọng điểm I, xã Vĩnh Viễn (huyện Long Mỹ) làm trọng điểm II để phát động quần chúng nổi dậy. Chuẩn bị cho cuộc nổi dậy tỉnh mở đợt hoạt động vũ trang. Để tạo thế cho cuộc đồng khởi ngày 5-2-1960, tiểu đoàn Tây Đô phục kích đánh một đại đội bảo an ở Cây Me thuộc xã Trường Thành, huyện Ô Môn và diệt đồn Vàm Xáng (xã Nhơn Nghĩa) đêm 28-2. Sang tháng 3, trên đà thắng lợi, tiểu đoàn Tây Đô đánh diệt một đại đội bảo an ở xã Trường Long, tập kích địch ở đồn Cờ Đó (Ô Môn) diệt đại đội bảo an thứ hai, thu hơn một tấn vũ khí đạn dược (26-3). Thắng lợi của đòn quân sự đã khích lệ quần chúng trong vùng nổi dậy đập tan bộ máy kìm kẹp của địch ở thôn, ấp, giành quyền làm chủ.

Tiểu đoàn Tây Đô lại cơ động về Long Mỹ, phối hợp với bộ đội huyện hoạt động vũ trang hỗ trợ cho nhân dân phá khu trù mật Vị Thanh, bức hàng đồn Vàm Ninh, diệt địch ở xã Vĩnh Viễn, đồn Tô Ma và Vịnh Chèo. Bị đánh mạnh, địch tập trung quân tổ chức phản kích. Ngày 9-4-1960, địch càn vào Xẻo Cỏ (xã Long Phú), tiểu đoàn Tây Đô đánh diệt 79 tên (có một tỉnh đoàn trưởng bảo an). Ngày 6-5-1960, địch lại đưa 4 tiểu đoàn càn quét tại Rạch Ông Dựa (xã Trường Thành, huyện Ô Môn). Tiểu đoàn Tây Đô kết hợp với lực lượng vũ trang huyện Ô Môn chống càn thắng lợi, diệt 200 tên, bắt sống 6 tên, thu 30 súng các loại cùng nhiều quân trang quân dụng. Đây là lần đầu tiên Cần Thơ đánh bại cuộc càn lớn của địch. Sau những thắng lợi của đợt một. Cần Thơ đã tạo được thế và lực mới để chuẩn bị cho đồng khởi đợt hai.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #94 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:35:18 PM »


Tại tỉnh Rạch Giá, đầu 1960, tỉnh đảng bộ đang tổ chức học tập Nghị quyết 15 của Trung ương, thì 3.000 quân địch càn quét vào vùng căn cứ U Minh. Vừa học tập Nghị quyết Tỉnh ủy vừa chỉ đạo tập trung lực lượng quân sự và chính trị kiên quyết đánh bại cuộc càn của địch, để tạo thế cho quần chúng nổi dậy. Đêm 12-2-1960, đại đội 202 của tiểu đoàn Ngô Văn Sở (lực lượng vũ trang tỉnh) được tăng cường một bộ phận bảo vệ tỉnh ủy tập kích tiêu diệt gọn bộ chỉ huy hành quân và một đại đội biệt động ngụy đóng tại Xẻo Cạn (xã Đông Yên, huyện An Biên). Trận đánh đã tác động đến tinh thần binh lính địch. Nhân lúc địch đang hoang mang, quần chúng bị bắt đi đào kênh xuyên rừng U Minh Thượng, nhất loạt bỏ về, kế hoạch càn phá U Minh của địch bị thất bại.

Ngày 15-2-1960, đại đội 203 ( tiểu đoàn Ngô Văn Sở) tiến công chi khu Gò Quao, diệt 1 đồn dân vệ và một số điểm trong chi khu. Cùng thời gian này ngày 14-2-1960 ở Hà Tiên, tiểu đoàn Lê Quang với 93 cán bộ, chiến sĩ, trang bị chủ yếu súng trường, mã tấu, đồng loạt tiến công 3 đồn dân vệ hỗ trợ cho 7000 dân trong khu trù mật Ba Thê (một trong 4 khu trù mật lớn ở Tây Nam Bộ), phá tan hệ thống kìm kẹp, đốt hết nhà cửa, trở về quê cũ. Cay cú vì khu trù mật lớn mà địch đã cố công xây dựng trong 2 năm chỉ trong một đêm đã bị phá banh, sáng 16-2-1960, địch huy động tiểu đoàn quân dù, 1 đại đội biệt động quân và 3 đại đội bảo an đánh vào tiểu đoàn Lê Quang. Cán bộ và chiến sĩ của tiểu đoàn đã chiến đấu anh dũng, bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch, diệt 400 tên. Cùng với các trận đánh của lực lượng vũ trang, quần chúng khắp nơi trong toàn tỉnh nổi dậy phá rã hệ thống kìm kẹp của địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ.

Trong khi đó ở miền Đông Nam Bộ, do tác động của trận đánh Tua Hai cũng như phong trào nổi dậy ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhân dân nhiều tỉnh đã vũ trang diệt ác và nổi dậy.

Tỉnh Thủ Dầu Một, ngày 31-1-1960, tại căn cứ Giếng Chảo rừng An Điền (Bến Cát). Tỉnh ủy họp và quyết định sử dụng toàn bộ lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nổi dậy vào ngày 25-2-1960. Tỉnh có thế mạnh là xây dựng được nhiều cơ sở nội tuyến trong hàng ngũ địch1, nên Tỉnh ủy chủ trương lãnh đạo cơ sở nội ứng, vận động thuyết phục, đánh địch từ bên trong, kết hợp với lực lượng vũ trang bao vây, uy hiếp đồn, bốt địch, để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Nam Bến Cát (gồm các xã Thới Hòa, Phú An, An Điền, An Tây) - nơi có cơ sở chính trị mạnh, có lực lượng vũ trang của khu đứng chân, được chọn làm điểm chỉ đạo của tỉnh. Thới Hòa là điểm đột phá. Tại đây, từ giữa tháng 2-1960, nhân cơ hội địch ở đồn Thới Hòa vừa lĩnh lương, chi bộ xã đã lãnh đạo cơ sở nội ứng tổ chức tiệc rượu rồi gom súng. Khi cả bọn đã ngấm rượu ta nổ súng diệt ác ôn và kêu gọi số còn lại đầu hàng. Bên ngoài, quần chúng cùng gia đình binh sĩ kéo tới đồn thuyết phục chồng, con, em trở về với cách mạng. Kết quả ta chiếm đồn Thới Hòa, thu toàn bộ vũ khí, giải tán tề vệ, đốt phá trụ sở ngụy quyền và xây dựng lực lượng tự vệ xã. Thới Hòa là ngọn cờ tiên phong trong phong trào đồng khởi toàn tỉnh.

Đêm 25-2-1960 (ngày dự kiến nổi dậy của tỉnh), cuộc đồng khởi đã nổ ra trên nhiều điểm chỉ đạo của tỉnh, huyện.

Ở Bến Cát, lực lượng vũ trang bao vây các đồn Phú An, Rạch Bắp rồi dùng đất đèn bỏ vào ống tre, trình mắm, đốt nổ vang trời giả pháo lớn, làm địch khiếp sợ. Nhân dân các xã Phú An, An Điền, An Tây nổi thùng thiếc, mõ, thanh viện uy hiếp địch. Các tổ hành động, thanh niên gậy gộc đi truy lùng, trừng trị bọn ác ôn lẩn trốn. Địch ở các đồn Phú An, Rạch Bắp hoảng sợ rút chạy. Cơ sở của ta ở các đồn Hòa Nhật, Tân Hóa vận động binh sĩ làm binh biến, diệt chỉ huy ác ôn mang súng về với cách mạng. Tề xã, tề ấp, gián điệp, số bị diệt, số bỏ chạy.

Tân Định, điểm chỉ đạo của huyện Châu Thành, cơ sở nội ứng phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh diệt trung đội dân vệ xã, thu toàn bộ vũ khí. Thừa thắng lực lượng vũ trang huyện phối hợp với quần chúng nổi dậy phá trụ sở ngụy quyền, truy bắt và diệt tề điệp ác ôn. Phong trào lan rộng từ Tân Định đến An Hòa, An Lợi, Vĩnh Tân, Chánh Lưu, Bình Mỹ, Phú Chánh.

Ở Lái Thiêu, các tổ hành động được quần chúng hỗ trợ tiến hành diệt ác, trừ gian đồng loạt ở các xã Thuận Giao, Bình Chuẩn, Bình Hòa, Hòa Lân. Địch phản ứng quyết liệt. Chúng tập trung lực lượng mở cuộc càn lớn vào Thuận Giao. Ta vừa tổ chức chống càn, vừa bí mật chuyển hướng hoạt động ra An Sơn, An Trạch, Bình Nhâm, Hưng Định, Phú Long, Vĩnh Phú...

Huyện Tân Uyên, đồng khởi bắt đầu từ các xã ở chiến khu Đ, sau đó lan ra các vùng gần thị trấn. Tại đây, nhân dân và lực lượng vũ trang tiến công hàng loạt trụ sở tề xã, ấp, trừng trị ác ôn ở Phước Hòa, An Linh, Phước Sang, Mỹ Lộc, Đất Quốc, đánh phá giao thông, phá hủy nhiều xe địch, giết cả tên quận trưởng.
_____________________________________
1. Toàn tỉnh có 220 cơ sở nội tuyến. Đại đội bảo an ở Lộc Ninh 25% là cơ sở của ta.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #95 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:36:04 PM »


Phối hợp với phong trào Đồng khởi trong toàn tỉnh, công nhân và đồng bào ở các làng thuộc khu vực đồn điền cao su Dầu Tiếng, Hớn Quản, Lộc Ninh nổi dậy giành quyền làm chủ.

Phong trào lan rộng từ các vùng nông thôn đến thành thị. Hàng ngàn quần chúng ở thị xã, thị trấn nổi dậy đấu tranh đòi giảm thuế, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bắt lính...

Sau hơn một tháng kết hợp tiến công với nổi dậy, quân dân Thủ Dầu Một đã giải phóng gần hết huyện Bến Cát, bắc Châu Thành và một phần Lái Thiêu, làm chủ hơn 40 ấp thuộc 25 xã trên 46 xã toàn tỉnh và hơn 10 làng trên 22 làng công nhân cao su, diệt hơn 100 tề điệp, ác ôn, giải tán nhiều dân vệ, bức hàng, bức rút hàng chục đồn, bốt địch, thu 300 súng các loại.

Đồng khởi ở Thủ Dầu Một đã mở ra một vùng căn cứ khá vững chắc, tạo thế liên hoàn từ bắc Lái Thiêu qua Châu Thành, Bến Cát, Long Nguyên, Dầu Tiếng đến vùng rừng núi Hớn Quản, Lộc Ninh.

Cùng với Thủ Dầu Một là Phước Long. Do đặc điểm riêng của tỉnh (địa hình rừng núi là chủ yếu lại nằm ở biên giới phía tây - tây bắc Đông Nam Bộ) nên Tỉnh ủy xác định nhiệm vụ chủ yếu là đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa ở vùng đồng bào dân tộc. Hưởng ứng phong trào Đồng khởi, lực lượng vũ trang của tỉnh đã tiến công tiêu diệt các đồn An Bình, Nước Vàng, mở cửa vào Đồng Xoài, giải tán các trạm kiểm lâm của địch ở các cửa khẩu. Công nhân cao su và đồng bào các dân tộc tranh thủ thời cơ nổi dậy phá rã tề địch ở cơ sở.

Trong lúc đó, ở Bà Rịa, tháng 2-1960, Tỉnh ủy họp và quyết định dùng đại đội 40 (lực lượng vũ trang của tỉnh) làm nòng cốt, phát động nhân dân trong tỉnh nổi dậy. Điểm chỉ đạo của tỉnh là vùng Tam Long (Hòa Long, Long Phước, Long Tân) các cơ sở cao su dọc lộ 2 và các xã xung quanh căn cứ Minh Đạm thuộc huyện Đất Đỏ. Điểm đột phá là đồn điền cao su Bình Ba. Trung tâm đồn điền nằm trên lộ 2, cách thị xã Bà Rịa 8 km về phía bắc. Tại đây địch đã xây dựng ba bốt: dân vệ, bảo an và hiến binh, mỗi bốt khoảng một tiểu đội, trang bị 3 trung liên và một số súng trường, tiểu liên.

Tối 30-3-1960, lực lượng ta hành quân đến vị trí tập kết cách đồn địch 100m. Đại đội 40 sau khi bố trí 2 tiểu đội chặn quân viện ở hai đầu lộ 2, số còn lại chia làm 3 mũi bí mật tiếp cận mục tiêu và dùng lựu đạn, thủ pháo đồng loạt đánh các bốt địch, diệt nhiều tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Ta thu 8 súng và hơn 1 tấn đạn, bắt sống trưởng bốt hiến binh.

Chiến thắng Bình Ba đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào nổi dậy trong tỉnh, nhất là ở vùng điểm chỉ đạo của tỉnh.

Tại các cơ sở cao su ở Xà Bang, Xuân Sơn, Ngãi Giao, sông Cầu... nhân dân cùng với công nhân đã nhất tề vùng dậy, dùng gậy gộc, mã tấu, dao cạo mủ truy lùng ác ôn, làm chủ xã, ấp. Hàng trăm đồng bào xã Long Phước nổi trống mõ, đốt đuốc, kéo đến bao vây bốt địch ở trung tâm xã, bắt tề ngụy ác ôn phải ra thú tội trước nhân dân.

Ở vùng Đất Đỏ, đêm 6-4-1960, đội vũ trang tuyên truyền của huyện diệt đồn dân vệ ở Long Mỹ, thu 4 súng. Nhân dân nổi dậy, nổi trống mõ, đốt nhà hội tề. Địch ở địa phương hoảng sợ chạy trốn về chi khu. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, đội vũ trang huyện mở rộng hoạt động dọc lộ 52 và 23 hỗ trợ cho nhân dân Đất Đỏ, Long Hội Mỹ, Long Tân, Long Điền, An Ngãi nổi dậy giành quyền làm chủ.

Trên địa bàn tỉnh Long Khánh, do tác động của phong trào tỉnh Bà Rịa, từ tháng 4-1960, nhiều nơi quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ xã, ấp với nhiều mức độ khác nhau.

Phong trào nổi dậy đồng loạt ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã chia sẻ lực lượng địch buộc chúng phải căng kéo đối phó khắp nơi. Trong tình hình đó, ở Biên Hòa vào đầu 1960 mặc dù toàn tỉnh chỉ còn hai chi bộ1, 1 trung đội vũ trang, tỉnh ủy chỉ còn 4 ủy viên do đồng chí Lê Quang Chữ làm Bí thư. Tỉnh ủy vẫn chủ trương mở một đợt vũ trang tuyên truyền, trọng điểm là bốn xã thuộc chiến khu Đ (Thường Lang, Tân Tịch, Tân Hòa, Mỹ Lộc).
_____________________________________
1. Chi bộ xã Lý Lịch và chi bộ xã Thái Hòa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #96 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:36:49 PM »


Đầu tháng 3-1960, với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tỉnh, nhân dân bốn xã vùng chiến khu Đ đã nổi dậy làm chủ một vùng tương đối rộng tạo bàn đạp phát triển xuống các vùng sâu.

Phong trào Đồng khởi ở nông thôn đã tác động mạnh đến Sài Gòn, Gia Định. Từ tháng 2-1960, nhiều vùng nông thôn ở Gia Định đã nổi dậy giành quyền làm chủ xóm, ấp. Tại Củ Chi, khi huyện ủy phát lệnh: “Nhất tề nổi dậy, phá rã nông thôn”, với sự hỗ trợ của đội vũ trang huyện, đồng bào đã xông vào nhà thông tin các xã xé ảnh Diệm, xé cờ ba que, xé khẩu hiệu chống cộng của địch. Trên các lộ 7, lộ 15, hàng ngàn đồng bào biểu tình rải truyền đơn, căng biểu ngữ cách mạng. Bọn tề ấp, tề xã hoảng sợ bỏ chạy. Lực lượng vũ trung của khu (C13) hoạt động ở các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Duyên Hải, Thủ Đức, Dĩ An đã diệt các đồn An Hòa, Tân Thạnh Tây, Trung Hòa, An Nhơn Tây, nhà hàng Bến Mương... hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Đến tháng 3-1960, nhân dân đã làm chủ các xã Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức và một số ấp thuộc các xã An Nhơn Tây, Trung Lập và vùng bắc Củ Chi.

Ở nội thành Sài Gòn - Gia Định. Thành ủy chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, chĩa mũi nhọn vào chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, kết hợp với đòi quyền dân sinh, dân chủ cho quần chúng lao động.

Thực hiện chủ trương của Thành ủy, ngay đầu năm 1960, công nhân các hãng dầu Sen, Stanta, Côsôny, công ty điện nước, lái xe tắc xi, hãng giày ba ta...đã đấu tranh buộc chủ sở phải trả công cho công nhân hàng triệu đồng.

Học sinh, sinh viên đấu tranh chống chế độ thi cử khắc nghiệt, đòi dạy tiếng Việt ở bậc đại học, đòi mở thêm trường lớp ở nội, ngoại thành. Giáo sư các trường công và tư ở Sài Gòn phản đối Mỹ - Diệm bắt bớ và đóng cửa nhiều trường tư thục. Luật sư ở Sài Gòn và Huế lên án luật 102 (luật khống chế giới luật sư và hạn chế tự do của họ) của Diệm. Đặc biệt tháng 1-1960, thanh niên Sài Gòn đã treo cờ đỏ búa liềm ở chợ Bến Thành cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng.

Cuộc đấu tranh của Sài Gòn - Gia Định không chỉ giới hạn ở nội thành mà còn lan rộng ra các vùng Củ Chi, Dầu Tiếng, Lai Khê, Bến Củi, Phú Hòa, Trảng Bom, Xuân Lộc. Ở những nơi này công nhân cao su và nhiều tầng lớp tổ chức hội thảo, ra kiến nghị, phát đơn kiện thanh tra lao động, tố cáo ngụy quyền địa phương và cảnh sát, nhờ đăng báo gửi Ngô Đình Diệm, đòi phải trả lời.

Khác với các tỉnh Nam Bộ, Trị - Thiên là khu đệm nối hậu phương lớn miền Bắc XHCN với miền Nam, do địch kiểm soát. Trong điều kiện tình hình chính trị quốc tế diễn biến phức tạp, để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và bè bạn xa gần và kiềm chế Mỹ, Trung ương Đảng chủ trương cho Trị - Thiên hoạt động quân sự phải hạn chế, không rầm rộ, có mức độ, nhất là vùng Quảng Trị, đường 9 và biên giới Việt - Lào.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 15 và chỉ thị của trên, căn cứ thực tiễn địa phương, Tình ủy Quảng Trị và Thừa Thiên chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang tự vệ mức độ hạn chế, nắm thời cơ phát động phong trào nổi dậy ở miền núi.

Cuối năm 1959 đầu năm 1960, những cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân chống luật 10/59, chống lập khu dinh điền, chống bắt lính, đòi cứu trợ nạn đói liên tục nổ ra. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh 16 ngày liền của đồng bào Quảng Trị chống địch lấp sông Bến Ngự để làm đường quân sự. Qua đấu tranh, cơ sở cách mạng ở đồng bằng bước đầu được phục hồi, căn cứ địa miền núi được xây dựng một bước, các đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Trị - Thiên - Huế lần lượt ra đời1.

Trước sự phát triển của phong trào, địch phải tăng cường đối phó, nhất là đối với, miền núi. Chúng củng cố hệ thống đồn bốt để khống chế từng vùng, dùng lực lượng chính quy và biệt kích càn quét liên tục, ra sức dồn dân vào các khu tập trung, tung lực lượng án ngữ các vùng giáp ranh và biên giới Việt - Lào.

Đi đôi với càn quét, đàn áp, địch còn thực hiện chính sách chia rẽ giữa người Kinh và người Thượng, mua chuộc các chức sắc, lập các trại biệt kích và các đơn vị người Thượng để đánh phá phong trào. Hành động đó đã gây phẫn uất trong đồng bào các dân tộc, lẻ tẻ đã xảy ra những vụ diệt ác. Tháng 7-1960, du kích và thanh niên La Đụt diệt 3 tên địch từ đồn A Lưới lên, thu 3 súng. Ngày 12-6-1960, ông Kon Sâm dùng nỏ có tên thuốc độc giết chết tên thiếu tá ngụy ở thôn Kon Kô.

Lúc này phong trào Đồng khởi ở Nam Bộ phát triển mạnh đã tác động và cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Trị - Thiên.
_____________________________________
1. Đến giữa 1960, Quảng Trị có ba đội: 59A, 59B và đội 45. Thừa Thiền Huế có đội 105, một đội trinh sát và một đội đặc công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #97 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:37:29 PM »


Tháng 7-1960, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị tiêu diệt vị trí Tuồi Muồi, diệt một trung đội địch. Chiến thắng Tuồi Muồi đã thúc đẩy phong trào nổi dậy ở Quảng Trị, nhất là vùng nam đường 9. Tại đây phong trào đấu tranh của nhân dân diễn ra dưới nhiều hình thức từ đấu tranh công khai hợp pháp đến bất hợp pháp, kết hợp với diệt ác trừ gian, bao vây đồn bốt, giải tán ngụy quyền, lập chính quyền nhân dân tự quản.

Ở Thừa Thiên, tháng 10-1960, địch mở các cuộc hành quân dồn dân vào các trại tập trung, đồng bào không chịu, bỏ chạy vào rừng sâu và đòi vũ trang đánh địch. Tình thế bắt buộc, không thể dừng hoặc lùi lại được nữa, Tỉnh ủy Thừa Thiên đã phát động phong trào nổi dậy đều khắp. Mở đầu, lực lượng vũ trang của tỉnh trừng trị tên chánh tổng của đảng “Cần lao nhân vị” ở Khe Tranh. Tiếp đó là hai cuộc đấu tranh lớn với sự tham gia của hàng chục làng ở xã Hương Lâm, Phong Lâm. Nhân dân trừng trị hai tên chánh, phó tổng ác ôn, tuyên bố xóa bỏ ngụv quyền. Các thôn, xã đều lập chính quyền nhân dân tự quản, tổ chức các đội du kích, xây dựng bản làng chiến đấu. Phong trào nổi dậy phát triển mạnh, buộc địch phải rút bỏ nhiều vị trí ở Tuồi Muồi, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trần, Ly Tông và co lại các vị trí lớn A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre... Địch mở nhiều cuộc hành quân giành lại miền núi Trị - Thiên, nhưng chúng không thực hiện được. Đại bộ phận miền núi Thừa Thiên và một vùng rộng lớn miền núi Quảng Trị (có 8 xã huyện Tuồi Muồi, 3 xã nam Hoang Hóa, 5 xã Ba Lòng và một số thôn của xã Hải Phúc) được giải phóng, tạo ra vùng căn cứ rộng lớn, liên hoàn có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của phong trào cách mạng ở Trị - Thiên và trong việc mở rộng, bảo đảm hành lang vận chuyển tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Thắng lợi của phong trào nổi dậy ở miền núi Trị - Thiên góp phần vào thắng lợi to lớn của cao trào đồng khởi toàn miền Nam trong năm 1960, buộc Mỹ - ngụy phải bỏ kế hoạch: “Vừa bình định miền Nam, vừa chuẩn bi tiến ra miền Bắc” để quay về tập trung đối phó với phong trào cách mạng miền Nam.

Khu V, sau khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi, địch tập trung đánh phá ác liệt khắp các căn cứ miền núi, từ Ninh Thuận đến Quảng Đà. Chỉ trong ba tháng đầu năm 1960, chúng đã mở 52 cuộc càn quét từ một đại đội đến hai tiểu đoàn. Kết hợp lùng sục, đối phá làng bản với bao vây kinh tế, triệt phá mùa màng. Địch đã làm cho nhân dân vùng căn cứ Quảng Ngãi và Ninh Thuận phải điêu đứng. Nhiều nơi thuộc huyện Trà Bồng, nhà cửa bị chúng đốt sạch chỉ còn một số thôn, nóc nằm sâu trong núi. Có nơi bị đốt đi đốt lại hàng chục lần. Hàng ngàn gia đình ở vùng thấp, vùng giáp ranh bị địch chà sát phải chạy lên vùng cao.

Mặc dù vậy, được sự cổ vũ của phong trào Đồng khởi ở Nam Bộ, nhân dân Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi vẫn bền gan chiến đấu. Lợi dụng địa thế hiểm trở của rừng núi, với các loại vũ khí thô sơ: chông, bẫy, thò, tên, ná, đồng bào Thượng đã làm thất bại các cuộc càn quét của địch, giữ vững buôn làng giải phóng. Ở đồng bằng lực lượng cách mạng từng bước được khôi phục và chuyển sang thế tiến công.

Giáp với Quảng Ngãi là Quảng Tín và Quảng Đà (nay là tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng), trong những năm tố cộng, diệt cộng (1955-1957) địch đánh phá ác liệt, các cơ sở ở đồng bằng bị vỡ, tỉnh đảng bộ phải dựa vào rừng núi để xây dựng căn cứ, lãnh đạo phong trào. Sau khi tạm ổn ở đồng bằng, địch lại tiếp tục đánh lên miền núi. Từ 1958 địch rải quân đóng dọc đường 16. Đầu 1960, chúng đưa tiểu đoàn lính cộng hòa đánh phá vùng thấp huyện Phước Sơn. Các làng1 Ông Tía, Ông Điếu, Ông Nuông, Ông Dấu... bị địch chiếm đóng. Không chịu nổi sự áp bức kìm kẹp của địch, nhân dân bàn với nhau phải cầm vũ khí đứng lên đánh lại kẻ thù.

Ngày 13-3-1960, nhân dân nóc Ông Tía với 11 tự vệ và 30 gia đình đã nổi dậy dùng rựa chém chết cả tiểu đội lính bảo an đóng trong làng, đốt trụ sở ngụy quyền, rồi rời vào rừng sâu, tổ chức bố phòng chống địch càn quét. Năm ngày sau, địch đưa một đại đội càn vào làng. Chúng đốt sạch nhà cửa, phá hết hoa màu trên rẫy. Nhưng khi địch tiến sâu vào hướng làng mới, chúng vấp phải chông thò, nhiều tên chết và bị thương, buộc phải rút lui. Theo gương nóc Ông Tía, hơn 10 làng khác ở vùng thấp huyện Phước Sơn cũng tổ chức đấu tranh bất hợp pháp, rào làng, bố phòng, tạo thế liên hoàn đánh địch.

Nổi dậy ở nóc Ông Tía là cuộc nổi dậy có vũ trang đầu tiên ở miền núi Quảng Nam. Tuy quy mô không lớn, song nó là cái mốc quan trọng mở đầu thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang của tỉnh để mở rộng căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng. Ở đồng bằng, lực lượng vũ trang tuyên truyền và bộ đội đặc công tỉnh diệt tên Hường, chi phó công an huyện Đại Lộc, tên Quí, chi trưởng công an quận Hiếu Đức và tổng đoàn dân vệ xã Xuyên Phú huyện Duy Xuyên... Những hoạt động đó đã hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở các huyện đồng bằng phát triển.

Thời gian này ở Bình Định, du kích tập trung huyện Vân Canh có sáng kiến đánh giao thông bằng cách đập các ống kim loại tròn vừa bằng chiếc ê-cu để mở ốc các thanh tà vẹt, rồi dùng dây mây bện để kéo đường ray. Tháng 3-1960, khi đoàn tàu quân sự địch vừa đến đoạn Mục Thịnh, 4 chiến sĩ du kích dồn sức kéo bật thanh đường ray, đầu tàu và 16 toa lao xuống vực làm chết 100 tên lính ngụy, phá hỏng hàng chục tấn hàng.

Các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, các đội vũ trang công tác thọc sâu xuống đồng bằng, trừng trị tên chỉ huy trưởng công an Ba Ngòi (Khánh Hòa), chi trưởng công an Dư Khánh (Ninh Thuận) v.v… Hoạt động vũ trang của ta tăng lên làm một số tên trong bộ máy ngụy quyền thôn, xã hoang mang dao động. Chúng hoạt động cầm chừng. Các tổ chức cách mạng từng bước được phục hồi.

Thắng lợi to lớn trong cao trào Đồng khởi ở Nam Bộ và những cuộc nổi dậy vũ trang diệt ác ở miền núi Khu V (gồm cả Trị - Thiên) đầu năm 1960 đã đẩy chính quyền tay sai Mỹ ở Sài Gòn bước vào thời kỳ khủng hoảng chính trị triền miền, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhân toàn ta Đồng khởi đợt hai, đưa phong trào cách mạng tiến lên một thời kỳ mới.
_____________________________________
1. Nhân dân quen gọi là nóc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #98 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 09:53:28 PM »


II. MIỀN NAM ĐỒNG KHỞI ĐỢT HAI

Sau Đồng khởi đợt một, địch ra sức đề phòng bằng biện pháp dùng lực lượng quân chính quy và bảo an tăng cường càn quét các vùng nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Ở những nơi mà Đồng khởi đợt một ta chưa giành được thắng lợi hoặc vùng địch còn kiểm soát chặt, chúng đóng thêm các đồn bốt và đưa bọn tay sai ác ôn từ trung ương hoặc ở các nơi khác về rà soát, bắt tất cả những người tình nghi, khống chế dân chúng chặt chẽ. Tuy vậy, qua Đồng khởi đợt một, trước sức mạnh của quần chúng, nhiều tên tay sai không dám lộ mặt, lừng chừng, lo giữ lấy thân, mặc cho cấp trên của chúng thúc giục. Không khí bi quan, tư tưởng “chờ thời” bao trùm trong hàng ngũ bọn tay sai cấp dưới của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong khi đó, khí thế cách mạng của quần chúng đang lên cao, sẵn sàng nổi dậy.

Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ tháng 7-1960, đã đánh giá đúng tình hình là: “… Chúng ta chấp hành đúng đắn Nghị quyết của Trung ương Đảng, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và kết hợp với hoạt động vũ trang, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, tình hình nông thôn Nam Bộ đã biến chuyển có lợi cho cách mạng. Khí thế quần chúng lên cao, tương quan lực lượng giữa ta và địch có những thay đổi quan trọng... Những thắng lợi của ta, đồng thời cũng là những thất bại của địch. Nói chung trong thời gian qua, địch bị thất ậai nặng nề về chính trị. Chính sách khủng bố ác liệt và quy mô của chúng không thể làm cho quần chúng chùn bước. Mặt dù chúng cố gắng xuyên tạc tình hình thực tế ở nông thôn, cố lừa mị quần chúng và gian xảo đổ lỗi cho bọn tay sai bên dưới, nhưng chúng không thể che giấu bộ mặt thật. Dư luận rộng rãi trong và ngoài nuớc chẳng những kết án chính sách tàn bạo của chúng mà ngày càng thấy rõ chúng đang suy yếu và nhất định bị sụp đổ... Trước phong trào quần chúng trong thời gian qua, địch đã phô bày tất cả những nhược điểm không thể khắc phục được”1. Đó là những điều kiện thuận lợi căn bản để ta phát động Đồng khởi đợt hai. Xứ ủy xác định phương hướng công tác trước mắt là: “Phát động trong các tầng lớp nhân dân ở nông thôn cũng như ở thành thị một phong trào đấu tranh rộng rãi, mạnh mẽ để giữ vững những thắng lợi và tiếp tục tấn công chính trị làm cho địch càng thất bại và bị động hơn nữa trên mọi mặt, nhằm đánh lui từng bước âm mưu chính sách của địch, đưa phong trào tiến lên từng bước, tạo điều kiện và thời cơ cho cuộc khởi nghĩa đánh đổ toàn bộ chính quyền Mỹ - Diệm. Ra sức tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và bố trí rộng khắp để đủ sức ứng phó với mọi tình thế. Tích cực xây dựng căn cứ cách mạng”2. Nhiệm vụ cụ thể: “Tính cực đẩy mạnh đấu tranh chính trị có kết hợp đấu tranh vũ trang đúng mức để tiếp tục phá thế kìm kẹp, giữ vững và mở rộng thế chủ động ở nông thôn, đồng thời phải hết sức chú trọng đẩy mạnh phong trào đô thị”3. Xứ ủy chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ nhất loạt nổi dậy vào tháng 9-1960.

Chấp hành chi thị của Xứ ủy, Liên tỉnh ủy miền Tây Nam Bộ phát động quần chúng trong toàn khu nổi dậy đồng loạt vào ngày 14-9-1960.

Trên địa bàn Cà Mau, ngày 14-9, tiểu đoàn U Minh (đơn vị vũ trang của tỉnh) châm ngòi nổ cho Đồng khởi bằng trận tiến công tiêu diệt chi khu quận lỵ sông Ông Đốc. Cùng với đòn tiến công quân sự của lực lượng vũ trang tỉnh, quần chúng đồng loạt nổi trống mõ, đốt khí đá vang trời, kéo đi vây bắt tề điệp ác ôn. Cuộc Đồng khởi giành được thắng lợi lớn. Ta làm chủ hầu hết các vùng nông thôn. Trong đợt này, nhân dân xã Tân Hưng (huyện Cái Nước) đã nêu gương về tinh thần đấu tranh kiên quyết và giành được thắng lợi vẻ vang. Tại đây lực lượng vũ trang huyện (33 đồng chí) kết hợp nội ứng dùng 3 ghe lớn, hóa trang chở quân, bất ngờ tập kích đồn Giá Ngựa, diệt 1 trung đội bảo an, thu 36 súng. Chiến thắng Giá Ngựa đã cổ vũ nhân dân nổi dậy bao vây đồn Vàm Xáng, dùng loa kêu gọi binh lính ra hàng. Địch ngoan cố chống cự. Chúng bắn vào đoàn biểu tình. Chị Nguyễn Thanh Hồng cầm đầu đoàn phất cao cờ đỏ sao vàng, động viên quần chúng giữ vững đội ngũ kiên quyết tiến công. Chị đã bị địch bắn chết. Một bà má lập tức lao lên thay chị giữ cờ. Cả đoàn người tiến lên, địch hoảng sợ phải bỏ đồn tháo chạy. Nhân dân làm chủ xã, ấp. Cuộc nổi dậy lan ra vùng ven ngoại ô thị xã Cà Mau. Đảng bộ thị xã phát động lục lượng vũ trang cùng quần chúng nổi dậy diệt tề, đốt trụ sở xã Giồng Kè, phục kích bắt gọn hội đồng xã An Xuyên, vận động binh lính đồn Tắc Thủ và dân vệ xã Tân Thành quay súng trở về với nhân dân, giải phóng một vùng rộng lớn đến sát thị xã Cà Mau.

Tính đến tháng 12-1960, toàn tỉnh đã san bằng 62 đồn (trong đó có 11 đồn khởi nghĩa, 36 đồn ta giải phóng bằng tiến công quân sự, chính trị kết hợp với nội ứng và binh vận, 15 đồn ta đánh bằng tập kích bất ngờ), thu trên 3.000 súng, giải phóng 55/65 xã, 500/550 ấp trong toàn tỉnh.

Kề với Cà Mau là Rạch Giá, đêm 14-9-1960, tiểu đoàn U Minh 104 đã bao vây, tiến công các đồn Trà Quớn, Nhà Ngang, Cái Nứa, Nước Chảy (cặp sông Cái Lớn). Nhân dân trong 5 khu trù mật, 34 khu tập trung nổi dậy phá banh hệ thống kìm kẹp của địch, bung về làng cũ làm ăn. Gần 200 lính dân vệ và bảo an được sự giáo dục, giúp đỡ của ta đã mang súng trở về với cách mạng.
_____________________________________
1. Trích Nghị quyết Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ lần thứ 5 (7-1960). Tài liệu lưu trữ tại Viện lịch sử Quân sự Việt Nam.
2, 3. Tlđd.
4. Trước là tiểu đoàn Ngô Văn Sở.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #99 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 09:54:16 PM »


Đến đầu tháng 10-1960, Rạch Giá đã diệt và bức rút 500 đồn bốt giải phóng 15 xã 350 ấp với hàng vạn dân, trong đó phần lớn thuộc các huyện An Biên, Gò Quao, Giồng Giềng, Hà Tiên và Phú Quốc. Các huyện Châu Thành, Tân Hiệp và ven thị xã, nhiều xã chuyển lên thế tranh chấp. Qua phong trào đấu tranh, lực lượng cách mạng, nhất là lực lượng vũ trang tỉnh trưởng thành nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu tình hình.

Ở Cần Thơ, ngày 14-9-1960, khi lệnh Đồng khởi phát ra, tiểu đoàn Tây Đô tiến công vào các đồn, bốt địch ở huyện Châu Thành, Ô Môn, Long Mỹ... tạo đà cho nhân dân thị xã và các huyện vùng lên bao vây, truy quét tề điệp ác ôn, giải phóng xã, ấp...

Nhân dân bao vây đồn Vàm Bi, xã Trường Long (huyện Ô Môn) kết hợp với binh vận, bức hàng đồn này, bắt 6 tên, thu 12 súng. Lực lượng vũ trang huyện Châu Thành, Long Mỹ cùng cơ sở nội tuyến diệt đồn Vàm Sáng và Vĩnh Viễn, thu 30 súng. Địch phải phân tán lực lượng đối phó với phong trào nổi dậy khắp nơi trong tỉnh. Tranh thủ thời cơ này tỉnh ủy phát động quần chúng nổi dậy phá banh khu trù mật Vị Thanh - Hòa Lựu (một trong những khu trù mật lớn ở đồng bằng sông Cửu Long).

Phối hợp với nông thôn nổi dậy, Thành ủy thành phố Cần Thơ huy động 20.000 quần chúng xuống đường biếu tình chống Diệm kết hợp với du kích xã An Bình diệt đồn Rau Răm, thu một số súng trang bị cho ta, hỗ trợ quần chúng tại chỗ nổi dậy chiếm đồn bốt, trừng trị hàng chục tên tề điệp ác ôn.

Chỉ trong tháng 9-1960, Cần Thơ đã giải phóng 11 xã, và 300 ấp (Long Mỹ: 4 xã, Phụng Hiệp: 2 xã, Ô Môn: 5 xã), hàng chục vạn dân giành được quyền làm chủ.

Ở Sóc Trăng, nhân dân huyện Châu Thành (nay là Mỹ Tú) có lực lượng vũ trang hỗ trợ đã nổi dậy gỡ hệ thống đồn, bốt sát chi khu huyện lỵ. Huyện Kế Sách, du kích xã Thới An Hội lấy đồn Cầu Lộ, quần chúng kết hợp với nội ứng diệt đồn Phong Nẫm và truy lùng bọn tề xã, tề ấp. Huyện Long Phú, được lực lượng vũ trang tỉnh hỗ trợ, 19 giờ ngày 13-9-1960, du kích và quần chúng bao vây đồn Bến Bạ (An Thạnh Nhì) vừa phát loa kêu gọi, vừa đưa gia đình binh sĩ ngụy vào vận động. Rạng sáng 15-9-1960, đồn Bến Bạ bị hạ. Ta thu 16 súng, bắt sống tên đồn trưởng. Huyện Thạnh Trị, các xã Gia Hòa, Hòa Tú, Thạnh Quới, Thạnh Phú, Ngọc Tố (nay thuộc Mỹ Xuyên) đồng loạt nổi dậy, bao vây các đồn bốt còn lại ở nông thôn. Địch rút chạy về thị trấn và những đồn, bốt trên các trục lộ giao thông. Huyện Vĩnh Châu được bộ đội tỉnh hỗ trợ, Đảng bộ đã phát động đồng bào Khơme nổi dậy diệt ác phá kìm. Sau 3 tháng (đến cuối 1960), Sóc Trăng đã giải phóng 13 xã với trên 50 ngàn dân, trong đó có 3 xã Cù lao của huyện Long Phú nằm giữa sông Hậu, là căn cứ hành lang quan trọng nối Sóc Trăng - Cần Thơ với Trà Vinh, Vĩnh Long.

Tại Trà Vinh, ngày 14-9-1960, ngọn lửa Đồng khởi cũng bùng lên ở ba xã điểm Mỹ Long, Hiệp Mỹ, Hiệp Thạnh. Ở xã Mỹ Long, ngày đầu ta tấn công, tề xã, dân vệ chống cự quyết liệt. Chúng bắn vào quần chúng làm chết 3 người, bị thương hàng chục người. Sang ngày thứ hai, lực lượng du kích, các gia đình binh sĩ ngụy và nhân dân tiếp tục tiến công và kêu gọi binh lính địch trở về với nhân dân. Lo sợ trước sức mạnh của cách mạng, tề xã và dân vệ đồn Mỹ Long tan rã, đầu hàng. Cùng thời gian với Mỹ Long, nhân dân Hiệp Thạnh, Hiệp Mỹ cũng nổi dậy tiến công địch bằng sức mạnh ba mũi giáp công vây ép, áp đảo kẻ thù. Sáu giờ chiều ngày 15-9-1960, địch trong đồn Hiệp Thạnh đầu hàng, đêm 15-9-1960, địch ở đồn Hiệp Mỹ rút chạy, ta vây bắt gọn vào sáng 16-9. Ba xã hoàn toàn giải phóng. Ta thu trên 100 súng các loại, bắt trọn vẹn 3 ban tề xã, 1 cai tổng.

Được sự cổ vũ từ thắng lợi ở ba xã điểm, các xã Ngũ Lạc, Trường Long Hòa, Long Hữu, Long Vĩnh, Đại An, An Phú Tân, Nhị Long... nhân dân nổi dậy tiến công địch. Lực lượng vũ trang tỉnh (tiểu đoàn 501) đánh địch, bao vây hàng trăm đồn, bốt hỗ trợ cho phong trào. Nổi bật là trận Ninh Quới, trận Lồ Ô, tiểu đoàn 501 diệt hai đại đội bảo an, thu hàng chục súng.

Phối hợp với phong trào nổi dậy ở nông thôn, ngày 15-9-1960, 12.000 người các xã lân cận cùng 2.000 đồng bào thị xã tổ chúc đấu tranh đòi địch phải chấm dứt khủng bố, đàn áp, đòi thả những người bị bắt.

Ngày 20-9-1960, nhân ngày lễ “Đôn Ta” (của dân tộc Khơme), trên 20.000 đồng bào Khơme và 2.000 sư sãi kéo vào thị xã Trà Vinh đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ chống khủng bố đàn áp. Địch đưa quân đến chặn các ngả đường, bắn vào đoàn biểu tình làm 10 người chết, hơn 100 người bị thương. Đồng bào vẫn khép chặt đội ngũ, kiên quyết đấu tranh, đưa đơn kiến nghị, buộc tên tỉnh trưởng phải nhận yêu sách, bồi thường tính mạng cho người bị hại.

Ngày 4-10-1960, một cuộc đấu tranh quy mô lớn hơn lại diễn ra tại thị xã Trà Vinh. 40.000 đồng bào nông thôn, có 5.000 đồng bào thị xã hưởng ứng đòi Mỹ - Diệm chấm dứt hành quân, chống bắt lính, đòi cải tổ chính quyền...

Sau ba tháng Đồng khởi, Trà Vinh đã giải phóng hoàn toàn 12 xã, 14 ấp, giải phóng cơ bản 7 xã và 15 ấp khác. Chính quần tự quản ở cơ sở được thành lập lấy tên “Ủy ban giải phóng”. Các cơ sở đảng được củng cố. Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích xã phát triển.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM