Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Hai, 2019, 08:17:42 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 - Tập 2  (Đọc 76102 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #80 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 11:50:04 PM »


Ngày 26-8-1959, địch đến xóm Rừng, xã Trà Lãnh. Đồng bào các thôn, nóc bí mật cắm chông vây xung quanh nơi trú quân của địch, rồi phóng lửa đốt. Địch phát hiện được ý đồ của đồng bào, chúng hốt hoảng bỏ chạy qua Trà Phong. Đến Trà Phong bị thanh niên đánh, địch chạy về EO Chim.

Cụ phó mục Gia, lãnh tụ nghĩa quân năm xưa, chủ động bàn với cán bộ lãnh đạo dụ địch ra rừng để diệt, tránh thiệt hại cho dân. Ngàn 27-8-1959, địch lên Trà Phong. Thanh niên xã đang đào hầm, địch đánh úp, ta chết 1 bị thương 2. Tin địch giết người loan đi khắp huyện Trà Bồng, thổi bùng ngọn lửa căm thù đang dồn nén trong lòng nhân dân.

Ngày 28-8-1959, mới mờ sáng, tiếng chiêng cồng, tiếng trống mõ, tiếng thanh viện, tiếng la hét hòa trong tiếng súng từ các bản làng nổi lên vang động khắp núi rừng Trà Bồng, giục giã quần chúng cách mạng xuống đường, vây diệt ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng bùng nổ. Nhân dân và lực lượng thanh niên vũ trang các xã Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Khê nhất loạt nổi dậy, vây diệt bọn cảnh sát ác ôn, nổi trống mõ, rúc tù và náo động cả vùng rộng lớn, uy hiếp tinh thần binh lính địch. Vùng cao Trà Bồng bừng bừng khí thế quật khởi. Lính địch hốt hoảng lẩn trốn vào các thôn, nóc, liền bị bao vây, gọi hàng, bắt sống. Những tên ngoan cố phá vây, chạy thục mạng về đồn EO Chim và quận lỵ. Các đơn vị vũ trang, các đội du kích, cổ quàng khăn đỏ1, lưng đeo cuộn dây trói tù binh, tay chắc súng, tên ná và mã tấu, từ các “Trại sản xuất” bí mật, tiến đánh quân địch tháo chạy và cùng nhân dân cắm chông, gài bẫy, rấp đường. Núi rừng Trà Bồng xanh thẳm bừng sáng lên màu đỏ cách mạng. Quân địch ở hai đồn Đá Líp, Tà Dạt khiếp sợ, bỏ cả đồn và hòm phiếu, chạy về quận lỵ. Bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở bị đập tan. Các hòm phiếu bị phá bỏ. Chiều ngày 28-8, nhân dân và lực lượng vũ trang truy lùng bọn ác ôn còn lẩn trốn, dẹp tiếp các trụ sở ngụy quân. Trước khí thế xung thiên của quần chúng cách mạng, địch bỏ đồn Tầm Rung và Nước Vóc. Trong ngày, toàn huyện, địch chỉ còn đóng ba vị trí: EO Chim, EO Reo, quận lỵ. Ngày 29-8, nhân dân và du kích bao vây EO Chim và EO Reo. Nhân dân phá nguồn nước uống, bắn tên thuốc độc vào đồn. Ngày 30-8, một đại đội địch đến giải vây cho EO Chim. Đơn vị 339 và các nhóm vũ trang đánh diệt 9 tên, thu 6 súng. Đêm 30 rạng 31-8, lực lượng bao vây đốt lửa quanh đồn và đánh chiêng trống, rúc tù và uy hiếp. Trưa ngày 31-8, lực lượng cách mạng giải phóng EO Chim, EO Reo. Ở vùng xung quanh quận lỵ đồng bào Kinh nổi dậy xóa bỏ các hình thức kìm kẹp của địch. Tên quận trưởng, quận phó Trà Bồng trốn chạy về tỉnh.

Từ vùng cao Trà Bồng, cuộc khởi nghĩa lan nhanh đến các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long.

Ở Sơn Hà, địch tổ chức bầu cử vào ngày 30-8, chúng ép dân xuống quận lỵ cách hai ngày đi bộ để bỏ phiếu. Dân chống lại. Địch đe doạ bắn bỏ và đàn áp. Lập tức, nhân dân ở 9 xã nhất tề nổi dậy đánh địch, cắm chông gài bẫy. Ngày 2-9 một đại đội địch đến xóm anh Thiết, chúng bị sa bẫy, chết và bị thương một số, bọn còn lại chạy về quận lỵ Sơn Hà. Ban lãnh đạo huyện nhận định thế nào địch cũng đêm quân lên trả thù, đã động viên nhân dân siết chặt hàng ngũ, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đấu tranh trực diện với địch. Đơn vị 89 mới thành lập, được lệnh nhanh chóng triển khai lực lượng ở các điểm xung yếu, cùng du kích chiến đấu, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chính trị. Vừa chuẩn bị lực lượng vũ trang và nhân dân vừa tranh thủ thời gian trước khi địch đến, đánh diệt bọn ngụy quyền cơ sở, xóa bỏ các tổ chức kìm kẹp của chúng, lập chính quyền nhân dân tự quản, làm mất chỗ dựa bên trong của quân ngụy. Ngày 5-9, quân địch từ quận lỵ kéo lên, bị ta chặn đánh, chúng buộc phải lui quân, chấm dứt cuộc càn. 9 trong số 10 xã của huyện Sơn Hà được hoàn toàn giải phóng.

Ở Minh Long, các xã vùng cao Long Quang, Long An, Long Môn, nhân dân nhanh chóng xóa bỏ ngụy quyền và các hình thức kìm kẹp của địch, tổ chức bố phòng, chuẩn bị chống càn. Các ban tự quản thôn, xã được thiết lập. Một vùng đất đai rộng lớn của huyện Minh Long được giải phóng.

Ở Ba Tơ, các xã Ba Lễ, Ba Lục, Ba Bích, Ba Nam không có chính quyền địch, nhân dân đã đứng lên lập chính quyền cách mạng. Các xã Ba Liên, Ba Khâm, Ba Lương, Ba Trang giáp vùng trung châu, nhân dân nổi dậy diệt ác ôn, đốt cơ quan ngụy quyền xã, thành lập các đội du kích, bố phòng, chuẩn bị đánh địch từ huyện Đức Phổ lên. Ở các phía bắc Ba Tơ là Ba Điền, Ba Gia, Ba Tàng... nhân dân nổi dậy diệt ác, xóa bỏ ngụy quyền. Kết hợp giữa đấu trang quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, nhân dân đã làm tan rã các đơn vị dân vệ ở xã, thôn, kêu gọi được một tiểu đội lính người H’rê mang 15 khẩu súng trở về với cách mạng.

Phối hợp với cuộc nổi dậy mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc vùng cao. Ở các vùng thấp miền tây, các nhóm “trả dầu”, “bảo vệ dân tộc”, các đội vũ trang tuyên truyền mở rộng hoạt động diệt ác, trừ gian, phá vỡ một mảng hệ thống kìm kẹp của địch. Ở xã Sơn Thanh, Sơn Rinh, các đơn vị dân vệ được nhân dân giác ngộ đã diệt bọn tề xã, rồi mang súng theo cách mạng. Chính quyền cách mạng được thành lập ở các xã Sơn Hạ, Sơn Rinh, Sơn Thành, Sơn Trung, Trường Giang.

Trong quá trình cuộc khởi nghĩa, Ban Thường vụ tỉnh ủy và Ban cán sự miền tây phân nhau xuống các vùng trực tiếp chỉ đạo phong trào, giải quyết từng tình huống gay cấn, đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi nhanh chóng và vang dội.
______________________________________
1. Dấu hiệu của những người thoát ly làm cách mạng trong ngày khởi nghĩa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #81 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 11:50:52 PM »


Để giữ vững thành quả cuộc khởi nghĩa, ngày 6-9-1959, Thường vụ tỉnh ủy và Ban cán sự miền tây họp hội nghị bất thường, đánh giá toàn bộ tình hình và chủ trương.

- Đối với Trà Bồng, kiên quyết phát động chiến tranh du kích, giữ vững các xã có điều kiện (cơ sở đảng mạnh, quần chúng giác ngộ, dũng cảm, lãnh đạo quyết tâm, địa thế thuận lợi), đánh bại địch càn quét, xây dựng thành căn cứ địa vững chắc. Ra sức phá chủ trương cấy lại ngụy quyền của địch, kiên quyết trừ bọn tay sai ác ôn ngóc đầu dậy. Củng cố dân quân du kích, đẩy mạnh sản xuất tự túc. Lãnh đạo nhân dân vùng thấp trở lại giữ thế hợp pháp, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, buộc địch để cho dân tự do làm ăn sinh sống và giữ các hình thức tự vệ chống thú rừng, cử người của ta ra quản lý thôn xã.

- Đối với Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ phải nhanh chóng đưa phong trào lên mạnh hơn nữa, trực tiếp hỗ trợ cho Trà Bồng. Các vùng cao, nơi nào có đủ điều kiện thì lãnh đạo quần chúng tiếp tục nổi dậy xóa ngụy quyền, lập chính quyền nhân dân tự quản. Tăng cường hoạt động quân sự diệt ác, phá tề, tiến công vào nơi địch sơ hở, phân tán lực lượng địch. Riêng 10 xã vùng cao Sơn Hà (khu 7) thì lãnh đạo dân về sống hợp pháp như các xã vùng thấp và gần đồn địch của Trà Bồng.

- Đối với vùng thấp của bốn huyện miền tây thì lãnh đạo nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, phá thế kìm kẹp của địch. Xã nào xa đồn địch thì tranh thủ xóa dần ngụy quyền, phát triển lực lượng ta.

- Đối với các huyện đồng bằng, tuyên truyền thắng lợi của Trà Bồng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, công tác binh vận, tranh thủ mọi cơ hội đưa hoạt động quân sự sâu vào vùng địch để hỗ trợ cho Trà Bồng.

Ngày 7-9-1959, Sư đoàn 22 ngụy từ ba hướng bắc, đông, nam tiến công vào Trà Bồng vùng cao Sơn Hà nhằm tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa. Ý đồ của địch là sẽ hội quân tại xã Trà Phong, phục hồi lại các tổ chức ngụy quân, ngụy quyền, quét sạch “cộng sản” khỏi miền tây. Nhưng đến cuối cùng tháng 9 địch vẫn không tiến lên được, chúng phải co lực lượng đóng chốt các đồn cũ EO Chim, EO Reo, Long Ngãi, Tà Lạt, Đá Líp. Lực lượng vũ trang, bán vũ trang của ta bám sát bao vây bắn tỉa, tập kích. Địch nống ra ngoài, gặp chông thò, mang cung, bẫy đá, tên độc. Thương vong của địch ngày càng nhiều, tinh thần binh lính rã rời, chán nản. Trong khi đó, những cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào liên tiếp nổ ra, họ kéo cả vào nơi đóng quân của địch, vào quận lỵ, đòi cứu đói, cứu đau, đòi phải rút quân khỏi miền tây để đồng bào đi làm cái rẫy, làm nương kiếm sống. Trước làn sóng đấu tranh của quần chúng, địch rút khỏi Tà Lạt, Đá Líp. Đến giữa tháng 10, chúng rút đồn Long Ngãi. Cuối tháng 10, chúng rút đồn EO Chim và EO Reo. Ta thu hồi toàn bộ vùng đất đai bị địch chiếm đóng, 40 xã thuộc các huyện miền tây được giải phóng, tạo nên thế đứng vững chắc của cách mạng trên địa bàn rừng núi hiểm trở rộng lớn, để phát triển tiến công xuống đồng bằng Duyên Hải.

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi “mở đầu trang sử đấu tranh chính trị và vũ trang song song, là đỉnh cao nhất của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Ngãi lúc bấy giờ... Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng có giá trị lớn, vì đã cung cấp được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc vận dụng Nghị quyết 15 không chỉ ở Quảng Ngãi mà ở trong toàn khu”1.

Nghiên cứu cuộc chiến tranh Việt Nam, G. Sáppha viết về cuộc khởi nghĩa Trà Bồng trong cuốn “Hai cuộc chiến tranh của Việt Nam từ Valuy đến Oétmôlen” như sau: “Mọi việc khởi đầu vào tháng Tám năm 1959 tại tỉnh Quảng Ngãi. trung phần Việt Nam... Quân đội chính phủ (Diệm) đến tái chiếm vùng này và thi hành một chính sách sắt thép để trừng phạt các bộ lạc đã ủng hộ Việt Minh. Những cách đối xử dã man nhất được áp dụng khiến người ta liên tưởng đến cách đối xử của người Mỹ đối với dân da đỏ ở thế kỷ 19... Dân tộc Cor chính là những người đầu tiên đứng lên làm loạn. Họ đã tàn sát cả một đồn binh quốc gia trong quận Trà Bồng và cướp đoạt 54 khẩu súng...

Sôi sục trước tấm gương của dân tộc Cor, các bộ lạc lân cận đã liên kết với những người khởi nghĩa. Một cuộc chiến tranh du kích đã thực sự diễn ra giữa dân Thượng với lính của Diệm. Tin vụ biến động tại Quảng Ngãi đã truyền đến Nam Kỳ... Hành vi chống đối vũ trang đầu tiên này đã tác động và được coi như là một khích lệ...”2.

Thắng lợi Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi chẳng những thúc đẩy phong trào cách mạng ở Khu V, mà còn góp phàn kích thích phong trào trên toàn miền Nam, chứng minh sự sáng suốt và đúng đắn của đường lối cách mạng miền Nam do Đảng ta đề xướng.
______________________________________
1. Trích bài phát biểu của đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu uỷ khu V, tại cuộc hội nghị sơ kết Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và tổng kết tình hình đấu tranh 1954-1960 của Quảng Ngãi, tháng 2-1960 - Tài liệu lưu trữ tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Ngãi.
2. Gioócgiơ Sáppha: Hai cuộc chiến tranh của Việt Nam từ Valuy đến Oétmôlen, t. I. Paris, Latable, ronde, 1969.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #82 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 11:52:51 PM »


Trên núi rừng Tây Nguyên, tháng 11-1959, đồng bào làng Xung Ia O (Gia Lai), Mang Khênh (Kon Tum), Buôn Sâm (Đắc Lắc) cũng lần lượt nổi dậy diệt địch, đốt làng cũ, dời sâu vào rừng lập làng mới chống Mỹ - Diệm.

Cùng với phong trào nổi dậy ở miền núi Trung Bộ là những trận diệt ác ở đồng bằng khu V và chống càn bảo vệ căn cứ của nhân dân Trà Bồng, Vĩnh Thạnh, Bắc Ái liên tục nổ ra. Tháng 10-1959, địch dùng 6 tiểu đoàn chủ lực và bảo an mở cuộc hành quân mang tên “Tây Khánh, Bắc Ninh” tiến công vào căn cứ Bắc Ái để dồn dân trở lại khu tập trung. Nhân dân Bắc Ái đoàn kết đấu tranh, có vũ trang hỗ trợ và làm thất bại âm mưu dồn dân của địch. Nhưng do lực lượng địch đông, hỏa lực mạnh, nên chúng bắt được một số người già, trẻ em dồn về khu tập trung Ma Ty, Tà Lú, đồng thời đóng các đồn Ma Ty, Tà Lú, Suối Đầu. Tỉnh ủy Ninh Thuận chỉ đạo phát động một đợt phá tề, trừ gian ở vùng đông và tây Bắc Ái. Trong đợt hoạt động này, nhân dân Bắc Ái phá tan được tổ chức phản động ngầm của địch, diệt 27 tên, bước đầu làm trong sạch nội bộ, bảo vệ an ninh căn cứ, đưa quần chúng lên làm chủ vững chắc ở các thôn, ấp vùng đông và tây.

Ở Nam Bộ, tháng 2-1959, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy nhận được điện tóm tắt tinh thần cơ bản của Nghị quyết 15 cho phép vũ trang kết hợp với chính trị, khởi nghĩa giành chính quyền. Xứ ủy Nam Bộ đã kịp thời chỉ đạo các tỉnh tăng cường hoạt động vũ trang, tạo thế cho quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm. Tháng 9-1959, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị mở rộng có các bí thư tỉnh ủy tham gia. Hội nghị họp tại Trảng Chiên (Rùm Đuôn) thuộc vùng căn cứ bắc Tây Ninh, quán triệt Nghị quyết Trung ương 15 và bàn phương hướng thực hiện. Hội nghị đề ra cho toàn đảng bộ phải lãnh đạo nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân nổi dậy giành chính quyền ở nông thôn. Trong Hội nghị này Xứ ủy cũng chủ trương sử dụng lực lượng vũ trang đánh một số trận thôi động để gây uy thế và hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng. Chủ lương đó của Xứ ủy đã thực sự gây phấn chấn trong nhân dân và lực lượng vũ trang. Thời cơ đã mở, lực lượng vũ trang và du kích các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động vũ trang diệt ác, hỗ trợ cho nhân dân phá thế kìm kẹp của địch. Báo cáo “Tóm tắt tình hình Quân khu V” trong tháng 12-1959, Bộ Tổng tham mưu ngụy đã phải ghi nhận: “Tình hình đặc biệt nghiêm trọng, bởi ngoài các vụ khủng bố, ám sát thường xuyên, hoạt động võ trang của Việt cộng gia tăng. Nhiều vụ phục kính các toán tuần tiễu của ta và đột nhập vào các cơ sở hương thôn. Việt cộng còn tấn công cả ban ngày bằng súng máy và phóng lựu vào Châu Thành, tỉnh Kiến Tường. Rõ ràng Việt cộng tiếp tục theo đuổi chủ trương tập trung và vẫn cố gắng tạo thế chủ động với các hoạt động táo bạo như chấp nhận giao tranh..., nhất là ở các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, An Xuyên, Kiên Giang...”1.

Ở Cà Mau, lúc này hai tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng à Ngô Văn Sở được bổ sung đầy đủ quân số 800 người, toàn tỉnh còn 700 đảng viện trung kiên, đang bám trụ tại các thôn, xã. Có cơ sở lãnh đạo tốt. Đêm 25 rạng ngày 26-8, bộ đội tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng do Năm Tân và Tám Lực chỉ huy, kết hợp với đảng viên và đội vũ trang tuyên truyền xã Khánh An tiến công đồn Vàm Cái Tàu, cách thị xã Cà Mau 10 km, diệt trung đội dân vệ và hội đồng xã, bắt 12 tên, thu 57 súng các loại. Những ngày tiếp sau, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng và Ngô Văn Sở vũ trang tuyên truyền khắp các địa phương, hỗ trợ cho dân giải tán các tổ chức phản động, bức địch rút đồn Rạch Chui. Các xâ Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây thuộc huyện Trần Văn Thời, nhân dân và du kích nổi trống mõ, đốt khí đá uy hiếp địch và truy lùng, trừng trị các tên ấp trưởng, đội trưởng đội bảo vệ hương thôn gian ác ở các ấp Trảng Còn, Rạch Ráng, Rạch Nhum, Rạch Ruộng, phá tan các khu trù mật Quản Hảo, Rạch Lùm, dành quyền làm chủ. Ở xã Khánh Lâm, có bộ đội Đinh Tiên Hoàng giúp sức, nhân dân vây đồn Cả giữa, giải tán tề ngụy, diệt các tàn ác ôn, rồi tiến lên vây khu dinh điền Khánh Lâm. Giữa cao trào nổi dậy của nhân dân huyện Trần Văn Thời, quân chủ lực ngụy càn vào vùng Cây Bàng, các chiến sĩ đại đội 3, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng phối hợp với du kích bẻ gẫy cuộc càn của địch, diệt nhiều tên. Trên đà thắng lợi, lực lượng ta tiến công vào dinh điền Đồi Đức Mẹ, xã Khánh Bình Đông, đánh thiệt hại 1 đại đội địch, phá khu dinh điền kiểu mẫu của Ngô Đình Diệm. Toàn huyện Trần Văn Thời được giải phóng, trừ chi khu Rạch Ráng, đồn sông Đốc, khu trù mật Khai Quang.

Đêm 23-9-1959, tiểu đoàn Ngô Văn Sở, tỉnh Rạch Giá, kết hợp với cơ sở nội tuyến tiến công diệt chi khu, quận lỵ Xẻo Rô. Bị đánh bất ngờ, quân địch tan tác, chạy tán loạn, các chiến sĩ tiểu đoàn Ngô Văn Sở chiếm toàn bộ chi khu, diệt 20 tên, bắt tên quận trưởng cùng 50 tên khác, thu 50 súng các loại, giải thoát cho trên 100 đồng bào, cán bộ ta bị địch giam giữ. Chiến thắng Xẻo Rô đã hỗ trợ đắc lực cho đồng bào và du kích các xã quanh quận lỵ nổi dậy diệt ác, giải tán các tổ chức kìm kẹp, hủy bỏ các bản “tố cộng”, rồi trở về vườn cũ, rào làng, chống địch.

Tháng 10-1959, phong trào vũ trang diệt ác ở Cà Mau lại nổi lên sôi động. Các đơn vị Đinh Tiên Hoàng, Ngô Văn Sở mở rộng hoạt động vũ trang sang các huyện Thới Bình, Cái Nước, Ngọc Hiển, diệt và bức địch rút các đồn Hai Ngó, Đồn Giữa (Tân Lộc), Vàm Đình, Tân Đức, Cái Keo… hỗ trợ cho quần chúng ở Biển Bạch, Trí Phải, Tân Lộc (huyện Thới Bình), Phú Mỹ, đầm bà Tưởng, Lương Thế Trân (huyện Cái Nước), Tạ An Khương, Tân Duyệt, Tân Thuận (huyện Ngọc Hiển) nổi dậy thắng lợi.
______________________________________
1. “Tóm tắt tình hình Quân khu V trong tháng 12-1959” của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn - Tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #83 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 11:58:11 PM »


Ở Trà Vinh, trong hai tháng 10 và 11, lực lượng vũ trang đánh địch ở xã Long Toàn, Long Hữu, Long Nước, Long Vĩnh. Cùng thời gian này, tiểu đoàn Trần Hưng Đạo, tỉnh Vĩnh Long đánh địch càn quét vào xã Tân Quới, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên. Thừa thắng, tiểu đoàn phát triển tiến công diệt đồn Vàm Ninh, hỗ trợ cho du kích các xã An Khánh, Bình Thiêng, Bình Phước, diệt các tổng đoàn dân vệ, đưa dân lên làm chủ ở nhiều mức độ khác nhau.

Các tỉnh miền Trung Nam Bộ được phổ biến tinh thần cơ bản của Nghị quyết 15, đảng viên, cán bộ phấn khỏi, thở phào nhẹ nhõm, vì Đảng đã cho “hoạt động vũ trang”. Ngày 26-9-1959 tiểu đoàn 502, tỉnh Kiến Phong đang học tập Nghị quyết 15 tại Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung, thuộc xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự, thì phát hiện địch hành quân bằng thuyền càn vào căn cứ của ta. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Khiên (Tám Dần) và chính trị viên Sáu Chung liền hội ý với cán bộ trong đơn vị và quyết định chiến đấu, không tránh né như trước. Tiểu đoàn 502 thành lập tháng 12-1956 theo chỉ thị vũ trang tuyên truyền của Xứ ủy Nam Bộ, lần đầu tiên ra quân đánh lớn. Mùa lũ lụt nước sông lên to, bộ đội ta triển khai đội hình chiến đấu bằng thuyền, phục kích chờ địch trong đám cỏ Chàng và lau sậy cao vút đầu người trên Giồng Thị Đam. Trận địa được ngụy trang kín, tiểu đoàn địch đi đầu thuộc chiến đoàn 42 quân ngụy, chống thuyền tiến thẳng vào nơi phục kích. Bất ngờ, các chiến sĩ tiểu đoàn 502 nổ súng, bắn chìm 9 thuyền đi đầu, đội hình hành quân của địch rối loạn, binh lính chúng luống cuống, bơi xuồng tránh đạn. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 502 vốn quen sông nước, chống xuồng lướt nhanh áp sát địch và bắn chính xác. Chỉ sau ít phút xung trận, ta diệt thêm 74 xuồng, bắt sống 105 tên lính Nùng (có một đại úy tiểu đoàn trưởng), thu 365 súng các loại, có 11 khẩu trung liên Mỹ và súng cối.

Diệt xong tiểu đoàn địch đi đầu, tiểu đoàn 502 lui về Gò Quản Cung. Buồi chiều, cánh quân thứ hai của địch lại tiến vào Gò Quản Cung. Tiểu đoàn 502 sử dụng những khấu súng máy vừa thu được, bắn quét vào đoàn xuồng địch, diệt một số tên. Lực lượng còn lại của chiến đoàn địch vội vã tháo lui, không dám liều lĩnh ứng cứu cho đồng bọn.

Trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung là trận đánh lớn đầu tiên ở miền Nam. Ta tiêu diệt một tiểu đoàn địch, thu nhiều súng đạn. Ta hy sinh một đồng chí. Trận đánh thắng lợi gây tiếng vang lớn không chỉ ở đồng bằng sông Cửu Long mà cả miền Nam, có tác dụng củng cố niềm tin và cổ vũ khí thế đấu tranh của nhân dân, nâng cao uy thế của cách mạng.

Nhân đà thắng lớn ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung. Tỉnh ủy Kiến Phong phát động phong trào nhân dân vũ trang nổi dậy phá bung khu trù mật Ninh Hoà, Cát Cái, Tân Thành. Ở bốn huyện tả ngạn sông Tiền, có tiểu dàn 502 hỗ trợ, nhân dân đấu tranh bức dịch rút đồn Vĩnh Huê, Cầu Sắt, giải phóng xã Thạnh Mỹ, Phong Mỹ và giành quyền làm chủ ở 2/3 số xã trong khu vực Đồng Tháp Mười.

Ở Kiến Tường, tiểu đoàn 504 tiến công địch ở Đìa Ngát, Vĩnh Lợi (6-1959), phá khu trù mật Ruộng Lưới (Vĩnh Thạnh), đánh địch càn quét ở Gò Gòn (11-1959), thu thêm 50 súng. Đồng thời, mở rộng địa bàn diệt ác, phá kìm, hỗ trợ cho nhân dân các xã dọc biên giới Việt Nam - Campuchia nổi dậy.

Ở Long An, tiểu đoàn 506 và 508 hoạt động phía bắc và nam đường số 4, phát triển đánh địch đến khu vực Phú Lâm, Chánh Hưng, cầu Nhị Thiên Đường. Nét nổi bật của hoạt động vũ trang của ta từ sau khi có Nghị quyết Trung ương 15 không chỉ nổi lên đều khắp, liên tục ở các vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi, mà còn lan đến các vùng ven đô và cả trong một số thành phố, thị xã. Đã từ lâu các chiến sĩ biệt động chú ý đến mục tiêu phái đoàn cố vấn Mỹ MAAG ở khu “nhà xanh” ấp Tân Mai, thị xã Biên Hòa, nhưng chưa tìm được cách trừng trị chúng, vì xung quanh là cả một hệ thống đồn bốt, tháp canh và lực lượng bảo vệ dày đặc, mặt khác chưa có ý kiến của trên, nên chưa dám hành động. Nay Trung ương cho hoạt động vũ trang để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, ban chỉ huy đại đội 250 quyết định tấn công trụ sở phái đoàn cố vấn Mỹ MAAG. Đồng chí Năm Hoa chỉ huy 6 chiến sĩ đặc công phối hợp với tổ tự vệ mật của Ba Lê thực hiện trận đánh. Sau nhiều ngày đêm điều nghiên, chuẩn bị, đúng 10 giờ 15 phút, ngày 7-7-1959, lực lượng ta tiếp cận đến khu “nhà xanh”, bất ngờ bắn chết tên lính gác rồi lao vào trụ sở MAAG bắn diệt các tên cố vấn Mỹ. Trận đánh diễn ra nhanh chóng đến nỗi chiến sĩ ta đã rút ra ngoài nhưng những tên Mỹ, ngụy sống sót vẫn chưa định thần. Kết quả, ta diệt 2 Mỹ, 3 ngụy, bắn bị thương 1 tên Mỹ khác. Đây là những lính Mỹ chết trận đầu tiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Trận đánh trụ sở phái bộ viện trợ quân sự MAAG diễn ra vào thời điểm Oasinhtơn vào Sài Gòn tuyên truyền về sự ổn định của “chế độ cộng hòa” Ngô Đình Diệm, khiến cho dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ chính sách của Tổng thống Mỹ ở Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #84 vào lúc: 31 Tháng Một, 2010, 12:00:56 AM »


Trong lúc ở miền Nam hoạt động vũ trang đang sôi động và những trận đánh tập trung binh lực cấp tiểu đoàn đầu tiên xuất hiện, trên miền Bắc các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các đơn vị bộ đội khẩn trưởng chuẩn bị mọi mặt chi viện cho miền Nam theo tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương một cách lặng lẽ, bí mật. Bộ Chính tri giao cho Tổng quân ủy phối hợp với Ban Thống nhất Trung ương lo việc chi viện cho cách mạng miền Nam. Tháng 2-1959. Tổng quân ủy họp hội nghị mở rộng quyết định xây dựng và mở rộng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân chính quy hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng đưa một bộ phận quân đội vào Nam chiến đấu, trước mắt đưa những cán bộ, chiến sĩ quê miền Nam tập kết trở lại chiến trường. Trong hội nghị này, đồng chí Lê Duẩn, ủy viên Bộ Chính trị nói rõ: “Ta không dùng chiến tranh để thống nhất đất nước. Nhưng nếu Mỹ - ngụy dùng chiến tranh thì ta sẽ phải dùng chiến tranh và cuộc chiến tranh do địch gây ra sẽ là một thời cơ để ta thống nhất đất nước”1.

Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Tổng tham mưu phó, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đồng chí Minh B, cán bộ tác chiến, được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo, tổ chức công việc chi viện miền Nam. Trước tiên, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho lữ đoàn 338 tập trung quân bí mật huấn luyện để đi B2. Cán bộ của lữ đoàn và ở cơ quan Bộ phải đến các cơ quan dân chính, đảng, các nông trường, công trường, nhà máy xí nghiệp trên miền Bắc để động viên, giải thích, tập hợp số cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết đã chuyển ngành về lại đơn vị. Một công việc không kém phần gian khổ, vì bao nhiêu nỗi bực dọc, tự ái của cán bộ, chiến sĩ đã chuyển ngành đều dồn trút lên các cán bộ đi thu quân. Nhưng khi được giải thích, anh em đều vui mừng rời tay cày, tay cuốc, tay búa tự nguyện trở về đơn vị cầm súng luyện tập, sẵn sàng vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu.

Tháng 5-1959, Tổng quân ủy quyết định lập “Phòng nghiên cứu công tác chi viện miền Nam”, nghiên cứu mở đường vận tải trên bộ để đưa vũ khí, khí tài, trang bị vào miền Nam. Thượng tá Võ Bẩm (Sau này là thiếu tướng) được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan - tiền thân của Đoàn 559 sau này. Đồng chí Phạm Tề (Trường Sơn) làm công tác tổ chức và phụ trách công tác giao thông đặc biệt. Đồng chí Hường nữ y sĩ quê ở Cửa Việt lo vật chất và sức khỏe cho cơ quan.

Ngày 19-5-1959, Đoàn vận tải quân sự 559 chính thức thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt Quân uỷ gặp gỡ và giao nhiệm vụ cho Đoàn. Đồng chí nói: “Chúng ta làm cách mạng già đời nhưng chưa thất lúc nào kẻ thù ép ta vào thế khó như thế này. Cách mạng thế giới đang phát sinh những vấn đề phức tạp. Kẻ thù lợi dụng phản kích lại ta quyết liệt. Bác Hồ và Bộ Chính trị rất đau đầu về điều đó. Chúng ta phải ráng sức chống chèo, góp sức với dân, với Đảng chiến thắng cho kỳ được cuộc đối đầu lịch sử này”3. Đồng chí nhắc nhở: Phải tuyệt đối giữ bí mật nhiệm vụ. Ta chưa làm được việc gì mà để lộ, kẻ thù sẽ kêu la ầm ĩ miền Bắc xâm nhập và chúng chủ động ngăn chặn thì hậu quả sẽ không lường hết được. Cái gì bàn ở đây mỗi cán bộ trong đoàn phải nhập tâm không được ghi chép.

Sau khi nhận nhiệm vụ, cơ quan phân công một số đi tìm vị trí đặt trạm, thăm dò xoi đường, đồng chí Tề và Tâm được cử về sư đoàn 305 chọn quân. Trong 3 ngày đã chọn được 440 cán bộ, chiến sĩ quê miền Nam tập kết, lập thành tiểu đoàn 301. Đồng chí đại úy Chu Đăng Chữ, quê Nghệ An đã từng chiến đấu ở chiến trường Khu V, làm tiểu đoàn trưởng, đại úy Nguyễn Chính Danh quê Quảng Ngãi, làm chính trị viên và Ngô Văn Diệm tiểu đoàn phó. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 301 tập trung học tập tình hình nhiệm vụ mới, đồng chí nào cũng phấn khởi sẵn sàng lên đường. Đồng chí Võ Bẩm, Phạm Tề cùng ban chỉ huy tiểu đoàn 301 và Nhỏ Nhận, Hồ Sĩ Bơi trinh sát, Hà Kỳ Thụ, Trần Cảnh trợ lý xoi đường, hành quân vào khe Hó tìm vị trí trú quân và điểm vượt sông Bến Hải. Chọn được điểm vượt, tiểu đoàn 30l và lực lượng trinh sát tiếp tục hành quân vào nơi tập kết. Từ khe Hó, đêm đến khi có tín hiệu an toàn, các chiến sĩ 301 vượt qua giới tuyến. Mỗi đêm bộ đội đi qua, trinh sát phải trở lại xóa dấu vết, chỉ một sơ xuất nhỏ là có thể đổi bằng xương máu. Đồng chí Xu đội phó trinh sát chỉ vì gây ra một tiếng động nhỏ đã bị địch bắn chết tại chỗ. Thượng sĩ Trần Văn Tương bị địch bắt tra tấn đến chết, không khai báo, giữ bí mật cho hành lang. Khe Hó trở thành trạm một - trạm khởi đầu của đường mòn Hồ Chí Minh. Và sự hy sinh anh hùng của các liệt sĩ ấy mãi mãi gắn liền với điểm mốc lịch sử đường chiến lược Trường Sơn mang tên Bác.

Bằng tinh thần vượt khó, chịu đựng hy sinh thầm lặng, đến ngày 20-8-1959, tiểu đoàn 301 đặt được trạm thứ 9 ở Pa Lin (tây Thừa Thiên) và chuyển đến trạm 500 kg hàng giao cho Khu V. Đến cuối 1959, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 301 đã đưa đến Pa Lin 1667 súng bộ binh, 188 kg thuốc nổ, 788 dao găm và nhiều đồ dùng quân sự khác. Cùng thời gian này sư đoàn 325 bộ binh gấp rút mở trong 3 tháng xong đường vận tải quân sự cho ô tô kịp chuyển hàng từ Đồng Hới (Quảng Bình) và khe Hó (tây Vĩnh Linh), đồng thời gùi gạo qua đỉnh 1001 để Đoàn 559 chuyển tiếp vào Nam. Theo con đường mới mở Đông Trường Sơn, hơn 500 cán bộ cấp đại đội, trung đội, tiểu đội bộ binh, đặc công và chiến sĩ, nhân viên cơ yếu, thợ sửa chữa vũ khí, khí tài hành quân bộ vào tăng cường cho Khu V và Nam Bộ (Nam Bộ: 27 người, Khu V: 515 người). Trong năm 1960, miền Bắc tiếp tục chi viện 51 tấn vũ khí, đạn dược cho Khu V.

Đường vận tải trên bộ dọc Trường Sơn thời gian này chưa với tới Nam Bộ, một chiến trường rộng lớn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Bộ Chính trị quyết định mở đường vận tải chiến lược trên biển. Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo tuyển chọn số cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm đi biển ở các đơn vị miền Nam tập kết, thành lập tiểu đoàn 603. Tháng 5-1959, 107 cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 603 do thượng úy Lưu Đức làm tiểu đoàn trưởng, thượng úy Hồ Văn Xá làm chính trị viên, tập kết ở xã Thanh Khê (Quảng Bình), một vùng hẻo lánh dọc bờ sông Gianh, đóng thuyền, sắm lưới, chuẩn bị mọi mặt cho chuyến vận tải đường biển đầu tiên. Để giữ bí mật, tiểu đoàn hoạt động dưới danh nghĩa “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Đêm 30 Tết Canh Tý (đầu năm 1960 dương lịch), tiểu đoàn 603 chở 10 tấn vũ khí rời bến sông Gianh ra biển, rẽ sóng hướng vào Nam Bộ. Đến địa phận vùng biển Trung Bộ, thuyền của tiểu đoàn 603 gặp bão lớn. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn phải vật lộn với sóng bão giữa biển cả mênh mông, nhưng không vượt qua được. Thuyền bị chìm vũ khí mất, anh em thủy thủ trôi dạt vào bờ, bị địch bắt gần hết. Chuyến thuyền buồm bí mật vượt biển đầu tiên không thành, Tổng quân ủy quyết định tạm dừng vận tải biển để rút kinh nghiệm. Tiểu đoàn 603 được bổ sung về Đoàn 559 vận tải bộ. Tổng quân ủy nhận thấy về lâu dài, đường vận tải biển là một trong những hướng chiến lược quan trọng. Vì vậy, Tổng quân uỷ đề nghị Bộ Chính trị điện cho các tỉnh miền Nam tổ chức lực lượng đưa thuyền ra Bắc nhận vũ khí để rút kinh nghiệm tiếp tục tổ chức tuyến vận tải biển.

Song song với việc tổ chức chi viện cho miền Nam, công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh được tiến hành hết sức khẩn trương.

Sư đoàn 338 và các đơn vị miền Nam tập kết bắt đầu huấn luyện các khoa mục sát với các loại địa hình ở miền Nam, để chuẩn bị sẵn sàng lên đường. Một số sư đoàn, lữ đoàn bộ binh cơ động của Bộ và của Quân khu IV, Quân khu Tây Bắc biên chế gọn, mạnh theo thời chiến, chuẩn bị sẵn sàng khi có lệnh là lên đường chiến đấu được ngay. Mọi công việc chuẩn bị chi viện cho chiến trường miền Nam của hậu phương lớn lúc này không diễn ra sôi động, ồn ã, mà âm thầm bí mật, nhưng vô cùng gấp rút vì cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay gắt.

Cuối năm 1959, dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ được khởi xướng. Phong trào cách mạng miền Nam đã tạo được hệ thống tổ chức cơ sở khá mạnh ở hầu khắp các địa phương. Nhiều nơi, tổ chức cơ sở của địch bị nhân dân thao túng hoặc bị tan rã. Số đông trong tầng lớp nhân dân kể cả thành thị ngày càng căm ghét chế độ Diệm, họ hướng chờ cách mạng và sẵn sàng hành động. Thời cơ bùng nổ của một cuộc cách mạng ở miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đến độ chín muồi.
______________________________________
1. Bài nói của đồng chí Lê Duẩn Ủy viên Bộ Chính trị tại Hội nghị Tổng quân ủy tháng 3-1959, Lưu trữ Bộ Quốc phòng hồ sơ 243.
2. B là mật danh chỉ miền Nam.
3. Trường Sơn: “Cuộc hành trình năm ngàn ngày đêm”, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 tr. 29-30.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:24:28 PM »


Chương VIII
ĐỒNG KHỞI - BƯỚC MỞ ĐẦU CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG Ở MIỀN NAM


I. TÌNH THẾ CÁCH MẠNG CHÍN MUỒI - NAM BỘ ĐỒNG KHỞI

Vào những tháng cuối năm 1959 tình hình kinh tế, chính trị miền Nam Việt Nam dưới chính quyền Diệm không có gì sáng sủa hơn. Chế độ độc tài gia đình trị của anh em Diệm, Nhu làm tăng thêm mâu thuẫn trong chính nội bộ địch. Đảng Cần lao nhân vị thừa nhận có tình trạng mất tin tưởng và dao động trước tình hình. Báo chí của Diệm cho biết: Ở nông thôn, Hội đồng hương chính lừng chừng, ở thành thị, công chức thiếu tin tưởng ở thắng lợi “của chính phủ quốc gia”, trí thức thì hiềm nghi “chế độ cộng hòa”. Bản thân Diệm cũng lo sợ một cuộc lật đổ, nên đã ra sức sàng lọc, thanh trừng nội bộ gắt gao. Trong số 123 dân biểu quốc hội kỳ I, Diệm đã tìm cách gạt 73, trong đó cả một số trước kia tích cực ủng hộ Diệm. Các vị trí then chốt trong quốc hội, Diệm cũng thay bằng tay chân của ông ta.

Để ổn định tình hình chính trị nội hội Ngô Đình Diệm một mặt thanh lọc những người không ăn cánh, mặt khác tập trung nỗ lực ra bên ngoài, dùng lực lượng quân sự mở 219 cuộc hành quân càn quét đánh phá phong trào cách mạng miền Nam. Riêng Nam Bộ có tới 120 cuộc hành quân, chiếm 76%. Những hành động đó của chính quyền Sài Gòn không làm cho phong trào cách mạng dịu đi, trái lại làn sóng chống Diệm ngày càng phát triển rộng khắp. Hoạt động vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ phát triển trên toàn miền Nam, hỗ trợ tích cực cho quần chúng chống địch lập “khu trù mật”. Rầm rộ nhất là phong trào nhân dân chống bầu cử Quốc hội khóa II của Diệm (tháng 8-1959). Nhân dân tìm mọi cách không đi bỏ phiếu hoặc làm lá phiếu không hợp lệ. Có người viết cả khẩu hiệu chống Mỹ - Diệm bỏ vào hòm phiếu. Ở Mỏ Cày (Bến Tre) nhân dân giết chết tên tay sai địch và cướp hòm phiếu. Tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ và Liên khu V, nhân dân tổ chức mít tinh, biểu tình rải truyền đơn chống bầu cử Quốc hội hoặc dùng các đội vũ trang tuyên truyền tiến công vào bầu cử để nhân dân lấy cớ không đi bỏ phiếu.

Trong khi đó, trên thế giới, các chính quyền thân Mỹ ở Irắc, Nam Triều Tiên, Thổ Nhĩ kỳ, Cu Ba bị lật đổ làm cho Mỹ - Diệm thêm bối rối.

Tình hình trên đây đã tác động làm sâu sắc thêm những mối mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn và đẩy chúng bước vào thời kỳ khủng hoảng triền miên. Cuối năm 1959, đầu năm 1960, “Chế độ thống trị ở miền Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Tuy ở thành thị địch còn tương đối mạnh, nhưng trong nhiều vùng nông thôn rộng lớn, địch không thể cai trị nhân dân một cách bình thường được nữa; ngụy quyền cơ sở từng phần đã suy yếu và bất lực. Còn quần chúng nhân dân, đặc biệt là đông đảo nông dân thì sục sôi cách mạng đã tỏ ra kiên quyết và sẵn sàng chiến đấu sống chết với quân thù. Đó là điều kiện chín muồi cho phép phát động quần chúng nông thôn nổi dậy khởi nghĩa từng phần đập tan khâu yếu nhất trong hệ thống cai trị của địch”1.

Tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ họp nhận định: Với chính sách vũ lực tàn bạo, địch đã gây cho ta những khó khăn, nhưng xét về căn bản và toàn cục thì chúng ta đã giành được thế chủ động, còn địch ở vào thế bị động. Trong năm 1959, cơ sở Đảng vẫn được giữ vững, phong trào quần chúng phát triển cao hơn so với 1958, chất lượng phong trào được nâng lên. Hoạt động vũ trang tuyên truyền phát huy tác dụng hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Xứ ủy đề ra nhiệm vụ trước mắt của đảng bộ là: “giữ vững và đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, lấy đấu tranh chính trị rộng rãi và mạnh mẽ của quần chúng làm chính, đồng thời kết hợp với hoạt động vũ trang tuyên truyền để chống chính sách khủng bố tàn bạo, chính sách bóc lột vơ vét của Mỹ - Diệm, ngăn chặn và đẩy lùi từng bước mọi chính sách của địch, đẩy địch vào thế bị động, cô lập hơn nữa về chính trị tạo điều kiện thuận lợi tiến tới đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, ra sức xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chuẩn bị sẵn sàng nắm lấy thời cơ đánh bại hoàn toàn kẻ địch”2.

Để thực hiện Nghị quyết lần thứ 15 của Trung ương Đảng và Nghị quyết xứ ủy Nam Bộ, tháng 12-1959. Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ họp ở Hồng Ngự (Kiến Phong) có đại biểu các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, An Giang, Kiến Phong tham dự. Hội nghị nhận định: Các tỉnh miền Trung Nam Bộ đã trải qua một thời kỳ đen tối, cơ sở cách mạng bị tổn thất, có nơi tổn thất nghiêm trọng, nhưng lực lượng lãnh đạo và cơ sở quần chúng vẫn tồn tại. Đội ngũ tuy ít nhưng tất cả đều là những đảng viên, cán bộ và quần chúng trung kiên, vững vàng, quyết tâm tiêu diệt địch. Quân địch tuy nhiều, hệ thống kìm kẹp chặt, nhưng tinh thần chúng giảm sút. Việc trừng trị hàng loạt tên ác ôn đã làm chúng hoang mang, chính quyền cơ sở rệu rã, có nơi chỉ tồn tại hình thức.

Từ nhận định này, Liên tỉnh ủy chủ trương: Đối với các tỉnh tiếp giáp căn cứ Đồng Tháp Mười cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh vũ trang hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá thế kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ ở thôn ấp, mở rộng căn cứ du kích, xây dựng và bảo vệ lực lượng vũ trang chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa đồng loạt. Đối với các tỉnh vùng địch kiểm soát, ta không còn cơ sở thì khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị, đồng thời xây dựng một bộ phận lực lượng vũ trang, tăng cường hoạt động diệt ác, hỗ trợ cho khởi nghĩa.
_____________________________________
1. Lê Duẩn: Hăng hái tiến lên dưới ngọn cờ vĩ đại của Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật. Hà Nội. 1969: tr.41.
2. Trích Nghị quyết Xứ ủy Nam Bộ (11-1959), tư liệu Viện Lịch sử Quân sự, số TWC 17.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:30:05 PM »


Liên tỉnh ủy quyết định tháng 1-1960 phát động quần chúng khởi nghĩa ở xã, ấp với phương châm: nổi dậy đều khắp không để nổi cộm ở từng điểm khiến địch có thể tập trung lực lượng đàn áp, ta không giữ được phong trào. Phải đưa cho được đông đảo quần chúng nhân dân vùng lên đấu tranh với địch nhưng giữ cho được thế đấu tranh hợp pháp. Hoạt động vũ trang phải khôn khéo, tránh nặng về đấu tranh vũ trang đơn thuần.

Hội nghị đang họp, Liên tỉnh ủy đã điện tóm tắt Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương khởi nghĩa để các tỉnh chuẩn bị trước.

Kết thúc hội nghị, các đại biểu trở về tỉnh khẩn trương triển khai quyết định của Liên tỉnh ủy.

Khác với Trung Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ có thế mạnh là đã xây dựng được lực lượng vũ trang khá sớm. Ngoài lực lượng của các tỉnh, Bộ Tư lệnh miền Đông đã lập được 4 đại đội trong đó có 3 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công. Xứ ủy đã chỉ thị cho Ban quân sự Liên tỉnh miền Đông Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động vũ trang, tập trung lực lượng đánh cho được một trận lớn thôi động toàn Miền, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, đồng thời lấy vũ khí địch trang bị cho các đơn vị vũ trang của ta.

Những ngày đầu năm 1960, Ban quân sự Liên tỉnh miền Đông Nam Bộ họp ở Bàu Giá (Tây Ninh) bàn việc thực hiện chỉ thị của Xứ ủy.

Hội nghị đề ra hai phương án: một là, đánh từ một đến hai quận lỵ và tù 4 đến 5 cứ điểm địch. Hai là, đánh Tua Hai - căn cứ trung đoàn 32 ngụy.

Tính toàn lực lượng và khả năng ta có thể đánh được từ một đến hai cứ điểm. Song ảnh hưởng của thắng lợi không lớn lắm. Sau khi phân tích, cân nhắc kỹ các mặt, Ban quân sự Liên tỉnh miền Đông đề nghị đánh Tua Hai và được Xứ ủy chuẩn y.

Đánh Tua Hai là đánh vào chỗ mạnh của địch: lực lượng chủ lực ngụy. Đây là một khó khăn, một thử thách lớn đối với bộ đội ta. Song diệt được căn cứ này thì tác dụng và ý nghĩa của nó tăng lên gấp bội, vì chủ lực ngụy không chỉ ở Tây Ninh mà cả miền Đông Nam Bộ sẽ dao động. Lực lượng bảo an, dân vệ xã càng lung lay. Kho vũ khí lấy được của địch, sẽ làm tăng đáng kể sức mạnh của lực lượng vũ trang ta. Khi đó phát động quần chúng nổi dậy diệt ác phá kìm lấy đồn, giải phóng xã, ấp thuận lợi hơn.

Trong khi bộ đội ta đang trinh sát chuẩn bị cho trận đánh Tua Hai thì đồng khởi ở Bến Tre đã nổ ra.

Bến Tre - một tỉnh nhỏ trong các tỉnh Trung Nam Bộ, nằm ở phía đông nam và cách Sài Gòn 86 km. Tỉnh Bến Tre bốn bề sông nước (loại chiến trường điển hình ở đồng bằng sông Cửu Long). Ở phía bắc con sông Tiền ngăn Bến Tre với Tiền Giang. Phía tây và nam sông Cổ Chiên phân ranh giới Bến Tre với Vĩnh Long, Trà Vinh. Phía đông là biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Hai con sông Ba Lai và Hàm Luông chảy giữa tỉnh, chia Bến Tre thành ba cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Trên mỗi cù lao, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Bến Tre có bảy huyện (Châu Thành, Bình Đại, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú) và một thị xã (thị xã Bến Tre) với 115 xã, 786 ấp, 60 vạn dân1.

Nhân dân Bến Tre có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng rất kiên cường. Từ thuở khai hoang lập ấp người dân Bến Tre đã biết đoàn kết đắp đê ngăn mặn, lấn biển, chống chọi với thiên nhiên. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Bến Tre đã cùng với nhân dân Nam Bộ kết thành một khối, bằng mọi vũ khí thô xơ ngăn bước quân thù hung hãn.

Năm 1954, Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Nhận thấy Bến Tre là mảnh đất kiên cường, bất khuất, nơi địa bàn chiến lược quan trọng, là đầu mối giao thông nối Sài Gòn với các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam Bộ, địch đã chọn Bến Tre làm nơi thí điểm đánh phá phong trào cách mạng. Chúng thiết lập ở đây hệ thống kìm kẹp từ tỉnh đến huyện, xã nhằm thống trị nhân dân lâu dài. Chúng chia Bến Tre thành 7 quận, 24 tổng, 115 xã; đồng thời xây dựng các đơn vị chủ lực, bảo an, dân vệ đủ mạnh để đàn áp cách mạng. Đến trước Đồng khởi, không kể lực lượng chính quy, ở Bến Tre có 9 đại đội bảo an tăng cường cho các quận và thị xã (7 đại đội đóng trên 7 quận, 2 đại đội đóng ở thị xã), 24 trung đội dân vệ (còn gọi là tổng đoàn dân vệ) trấn trị ở các tổng. Chúng còn xây dựng nhiều loại công an, cảnh sát, mật vụ, do thám, chỉ điểm... Đầu năm 1959 riêng tổ chức cảnh sát hiến binh đã có 206 tên, công an duyên hải 210 tên.
_____________________________________
1. Hiện nay Bến Tre vẫn có bẩy huyện, một thị xã với 156 xã, phường và số dân theo điều tra năm l989 là 1.245.519 người. Huyện Minh Tân nay đổi là Chợ Lách.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:30:37 PM »


Song song với củng cố bộ máy tay sai, Mỹ - Diệm tiến hành tố cộng, diệt cộng một cách khốc liệt. Hàng loạt cán bộ đảng viên bị thủ tiêu. Nhiều cơ sở đảng, cơ sở quần chúng bị tan vỡ. Tính đến cuối 1959, địch đã sát hại 2.519 cán bộ, đảng viên, bắt 17.000 người. Trong 115 xã chỉ còn 18 xã có chi bộ đảng. Mặc dù vậy, địch không khuất phục nổi nhân dân Bến Tre. Từ cuối 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bến Tre, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân đã diễn ra sôi nổi. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, chống khủng bố đàn áp được tổ chức ở nhiều nơi.

Hai năm kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình không kết quả, nhân dân Bến Tre bắt đầu tổ chức những vụ diệt ác bí mật, lẻ tẻ, từng bước hình thành lực lượng vũ trang ngầm và bắt đầu đột nhập lấy một số đồn bốt địch trong tỉnh. Ngày 15-12-1959 ta lấy đồn Tân Xuân (Ba Tri), ngày 19-12, đánh đồn Lộc Thuận (Bình Đại) thu 7 súng. Địch phản ứng yếu ớt.

Tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện ở Bến Tre. Giữa lúc đó Đảng có chủ trương vũ trang tự vệ. Đồng chí Võ Văn Phẩm, Bí thư tỉnh ủy hội ý với các đồng chí trong Thường vụ tỉnh ủy thực hiện chỉ thị của Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư tỉnh ủy đi dự hội nghị Liên tỉnh ủy trở về đến Bến Tre (30-12-1959) thì các đồng chí trong Thường vụ đã xuống các huyện chỉ đạo phong trào.

Mặc dù không gặp được đầy đủ các đồng chí trong tỉnh ủy, nhưng do tình hình khẩn trương, đồng chí Nguyễn Thị Định đã triệu tập cuộc họp tỉnh ủy mở rộng tại nhà chị Bảy Tốt ở ấp Tân Huề, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày vào ngày 1-1-1960.

Dự họp có các đồng chí: Nguyễn Tâm Cang (Hai Thủy), tỉnh ủy viên, Nguyễn Văn Song (Năm Hỏa), Bí thư Mỏ Cày; Ba Cầu, Sáu Huấn, Bảy Tranh huyện ủy viên Mỏ Cày và đồng chí Lê Văn Quang, Bí thư huyện ủy Minh Tân.

Đồng chí Nguyễn Thị Định đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết lần thứ 15 của Trung ương Đảng và chủ trương nổi dậy của Liên tỉnh ủy. Sau đó, cuộc họp bàn cách thực hiện chủ trương của Liên tỉnh ủy. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch, ta ở Bến Tre, cân nhắc những thuận lợi khó khăn, khả năng của địa phương, tỉnh ủy quyết định phát động một tuần lễ nổi dậy trên toàn tỉnh, lấy ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp (thuộc huyện Mỏ Cày) làm điểm. Phương châm là, mạnh làm theo mạnh, yếu làm theo yếu, đánh vào nơi hiểm yếu, đồng thời cũng là chỗ yếu nhất của địch là bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, vừa diệt ác phá kìm, vừa phát động quần chúng trong đó chú trọng vận động các gia đình binh sĩ ngụy kết hợp với cơ sở trong lòng địch để bức hàng, bức rút, lấy đồn, giải phóng xã ấp.

Sau khi quyết định phương thức nổi dậy, tỉnh bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Đồng thời theo đường liên lạc đồng chí Nguyễn Thị Định sang báo cáo đồng chí Bí thư tỉnh ủy ở khu vực cù lao Bảo về tình hình và nội dung cuộc họp tỉnh ủy.

Chưa có lực lượng vũ trang, tỉnh đã lập những tổ hành động làm nòng cốt trong việc diệt ác, trừ gian. Thanh niên được tập hợp thành từng tổ, trang bị mã tấu, dao găm, súng bập dừa, lấy danh nghĩa tiểu đoàn 502 (đơn vị đã đánh thắng địch giòn giã ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung) để khoa trương thanh thế, uy hiếp tinh thần binh lính địch. Lực lượng làm nhiệm vụ phát động quần chúng kịp thời thu nạp những người tốt vào các tổ chức cách mạng, làm cho lực lượng quân sự, chính trị của ta phát triển nhanh. Các cơ sở nội tuyến trong các đồn bốt địch được rà soát lại.

Sau 16 ngày chuẩn bị khẩn trương và bí mật, ngày 17-1-1960, cuộc đồng khởi của nhân dân Bến Tre nổ ra đúng như dự kiến. Bắt đầu từ ba xã điểm của tỉnh.

Tại xã Định Thủy, 8 giờ sáng ngày 17-l-1960, tổ hành động gồm ba đồng chí Bảy Thông, Ba Giai, Chín Chim giết tên đội Tý - chỉ huy tổng đoàn dân vệ (gồm 11 tên) đóng tại xã khi chúng đang ăn nhậu ở tiệm Năm Thiêu (ngã tư Định Thủy). Súng nổ, vợ đội Tý và hai tên lính dân vệ hoảng hốt chạy khỏi đình Định Phước - nơi tổng Đoàn dân vệ đóng quân. Ta lập tức bắt cả ba tên. Đồng thời, hai tổ hành động được bố trí sẵn cùng 200 thanh niên và quần chúng tràn vào đình áp đảo địch, 4 tên đầu hàng, 2 tên chạy thoát. Ta thu 8 khẩu súng, 3 lựu đạn và gần 1000 viên đạn. Tổng đoàn dân vệ bị diệt lúc 9 giờ. Một tổ hành động khác do đồng chí Hai On chỉ huy, kết hợp với cơ sở nội tuyến vận động anh em binh sĩ ở đồn Vàm Nước Trong nổi dậy phá đồn, diệt ác ôn, giải tán tề xã, thu 11 súng, 10 lựu đạn và trên 500 viên đạn.

Có vũ trang của các tổ hành động hỗ trợ, nhân dân Định Thủy nổi trống mõ cầm giáo mác, gậy gộc tràn ra các ngả đường cùng các tổ hành động truy lùng bọn tề điệp ác ôn, quét sạch các tổ chức kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn xã nhà.

Đêm 17-1-1960, với số súng thu được của địch, tỉnh đã chỉ đạo lập 4 tiểu đội vũ trang kịp thời hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy ở các xã lân cận.

Từ tay không vùng dậy, đến đây nhân dân Định Thủy đã có súng, có lực lượng vũ trang, có chính quyền trong tay. Đó là thành quả đầu tiên của phong trào đồng khởi ở Bến Tre.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:31:22 PM »


Kề với Định Thủy là Phước Hiệp. Theo kế hoạch chung, cuộc nổi dậy sẽ bắt đầu vào 17- 1-1960, song cơ sở nội tuyến sợ không dám hành động, nên việc lấy bốt dân vệ không thành. Đến 18 giờ ngày 17-1-1960, nghe tin Định Thủy đã nổi dậy thắng lợi, lệnh khởi nghĩa mới được phát ra. Nhân dân cùng với các tổ hành động bao vây đồn dân vệ và trụ sở hội động xã. 20 giờ, tổ hành động dùng loa truyền quân lệnh của tiểu đoàn 502 gọi địch trong đồn ra hàng. Chúng ngoan cố chống cự. Nửa đêm, ban chỉ đạo điều một tiểu đội vũ trang vừa mới thành lập ở Định Thủy sang hỗ trợ. Sáng 18-1-1960, từ Mỏ Cày, địch tăng cường lính bảo an về ứng cứu cho Phước Hiệp. Dự đoán được tình huống, ta đưa lực lượng phục kích tại cầu Ông Bòng. Địch vừa lọt vào trận địa phục kích ta nổ súng. Tên trung úy chỉ huy chết ngay tại chỗ, một xuồng máy bị chìm. Địch hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại ba xác chết. Được tin viện binh đã bị tiêu diệt, quân địch trong đồn hoang mang. Lợi dụng sơ hở của ta, đêm 18-1, chúng xé rào chạy về quận. Tên đội chỉ huy chạy lạc sang Định Thủy bị ta bắt sống. Thừa cơ nhân dân xông vào san bằng đồn và trụ sở hội đồng xã, giải tán tề ấp, tề xã. Phước Hiệp được hoàn toàn giải phóng vào sáng ngày 19-1-1960.

Ở xã Bình Khánh, trước ngày đồng khởi, đồng chí Bảy Đoàn, huyện ủy viên Mỏ Cày phụ trách xã không may bị bắt. Địch thấy quần chúng chuẩn bị nổi dậy. Chúng tăng cường một trung đội “công an Ngô Quyền” về xã để giữ an ninh. Bọn này thường đi lẻ vào nhà dân xin ăn. Nắm được điểm yếu của địch, sáng 17-1-1960, đồng chí Năm Thơ cùng 6 thanh niên tổ chức tiệc rượu mời bọn chúng đến. Địch cảnh giác, nên tổ hành động không thực hiện được ý đồ. Không để lỡ thời cơ, anh em dùng mưu lừa địch xuống ao bắt cá làm đồ nhậu. Hai tên công an cùng một thanh niên của ta xuống ao bắt cá. Tên đội cầm súng ngồi gác trên bờ. Khi địch vừa xuống ao, nhanh tay đồng chí Văn Anh đã vãi mẻ chài trùm kín đầu hai lên lính. Cùng lúc hai thanh niên ôm cổ quật nhào tên đội cầm súng ngồi gác trên bờ. Bọn công an bị diệt cũng là lúc trống lệnh đồng khởi vang lên. Nhân dân nhất tề nổi dậy, xuống đường diệt ác, phá kìm, bao vây đồn Bình Khánh, phát loa kêu gọi địch đầu hàng. Địch ngoan cố bắn trả. Một tiểu đội vũ trang từ Định Thủy kịp thời sang hỗ trợ, diệt bọn ngoan cố trên tháp canh đột nhập vào đồn, diệt, bắt sống một số tên, thu 6 súng. Xã Bình Khánh hoàn toàn giải phóng lúc 2 giờ sáng ngày 20-1-1960.

Từ thắng lợi đồng khởi ở ba xã điểm nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh. Chỉ trong một tuần (từ 17 đến 24-1-1960), 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri Thạnh Phú, nhân dân đã nhất tề nổi dậy. 22 xã diệt ác, lấy đồn, đập tan bộ máy kìm kẹp giải phóng hoàn toàn xã, ấp. 25 xã khác diệt ác, bao vây đồn bốt, giải phóng nhiều ấp.

Phối hợp cùng các vùng nông thôn, tại thị xã Bến Tre, lực lượng tự vệ đã đánh bốt Lò Tương, diệt ác ở phường I, diệt công an ngụy ở ngã ba Tháp, trừ gian ở xã Phú Khương.

Trong tuần lễ đồng khởi, trên 300 tề điệp, dân vệ ác ôn đã bị bắt, 37 đồn, bốt bị bức rút, bức hàng. Ta thu 150 súng, nhiều đạn và lựu đạn.

Với số súng thu được, tỉnh lập đại đội vũ trang đầu tiên của tỉnh mang phiên hiệu đại đội 264. Ban chỉ huy đại đội gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Song (Bảy Song), Lê Phục (Mười Phục), Đinh Văn Chức (Tám Chức).

Sau khi giành được chính quyền, các xã đã mở đại hội nhân dân, lập tòa án xét xử những tên tay sai có nợ máu với nhân dân. Ruộng đất của Việt gian, địa chủ bị tịch thu chia cho nông dân. Các đoàn thể quần chúng được tổ chức. Nhân dân hồ hởi phấn khởi bàn bạc mọi việc trong xã. Quyền làm chủ xã, ấp nay lại trở về tay nhân dân.

Cùng thời gian này, ở Kiến Phong, tỉnh cũng lãnh đạo nhân dân nổi dậy. Trước khi vào đợt, để đánh lạc hướng địch, tỉnh dùng lực lượng vũ trang tấn công địch ở Mỹ Hòa (Mỹ An). Đêm 4-1-1960, một phân đội của đại đội 2721 và một tổ đặc công đánh sập tháp mười tầng ở Gò Tháp (một đài quan sát kiên cố nhằm kiểm soát trung tâm Đồng Tháp Mười), diệt 10 tên định. Cùng lúc, một phân đội của đại đội 276 và một tổ đặc công đồn chợ Mỹ Hòa diệt, làm bị thương 15 tên địch chiếm trụ sở tề xã, mở khám, giải phóng bốn người của ta bị địch bắt. Sau 2 trận, ta thu 30 súng, giải phóng xã Mỹ Hòa.

Địch lo đối phó ở Mỹ Hòa thì đêm 15-1, nhân dân các xã điểm Tân Thành, Thường Thới, Thường Phước thuộc huyện Hồng Ngự đồng loạt nổi dậy. Đại đội 271 cơ động của tỉnh đánh đồn Cả Cái, xã Tân Thành (Hồng Ngự). Sau một tuần hoạt động, lực lượng vũ trang tỉnh đã diệt đồn Cả Cái, giải phóng hoàn toàn xã Tân Thành, diệt bót Cái Sơ (xã Bình Thạnh, Hòng Ngự) bót Bến  Siêu (xã Tân Quới) trên cù lao huyện Thanh Bình. Nhân dân nổi dậy, giải phóng toàn xã.

Ở Cao Lãnh, quần chúng và cơ sở xã Bình Thạnh nổi dậy chiếm bót Bình Linh, giải phóng ba ấp. Hướng Mỹ An, lực lượng vũ trang cùng nhân dân bức rút đồn Bà Cò, giải phóng một ấp của xã Đốc Binh Kiều. Tính đến 20-1-1960, quân dân Kiến Phong đã diệt và làm bị thương 165 tên, bắt sống 40 tên, giáo dục cải tạo 20 tên, phá lỏng, phá rã tề ở nhiều xã.
_____________________________________
1. Các đại đội của tiểu đoàn 502 đổi phân hiệu: Tám Trà: 272, Bảy Trì: 273, Năm Bình: 274, Chín Cứ: 276, Út Biên: 295, bảo vệ tỉnh đội: 278, bảo vệ tỉnh ủy: 279, đại đội cơ động của tỉnh: 271.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2010, 12:32:14 PM »


Lúc này ở miền Đông Nam Bộ, trận đánh Tua Hai mở màn. Tua Hai nằm trên đường 22 đi Kông Pông Chàm (Campuchia), cách thị xã Tây Ninh 7km. Đó là tháp canh (tua) cũ của Pháp. Từ 1956, Mỹ - Diệm đã biến nó thành căn cứ của một trung đoàn quân chính quy (trung đoàn 32). Đây là trung đoàn duy nhất đóng ở Tây Ninh lúc bấy giờ (ngoài sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 21)1. Địch vẫn quen gọi Tua Hai là thành Nguyễn Thái Học. Toàn bộ khuôn viên của căn cứ nằm gần quốc lộ 22 mỗi cạnh dài 600m, bờ thành cao 2 m và cách 50m lại có một tháp canh biệt lập hẳn với khu dân cư. 

Chỉ huy sở trung đoàn nằm ở trung tâm căn cứ. Từ bờ thành đi vào phải qua một bãi trống có gài mìn và hào giao thông ngang dọc.

Đây còn là một trung tâm đào tạo biệt kích, huấn luyện lính mới và kho chứa vũ khí để trang bị cho các đơn vị mới thành lập. Hàng ngày lính đi tập mang theo vũ khí, đêm đến súng được đưa vào kho khóa lại. Bảo vệ căn cứ có một tiểu đoàn ứng chiến, vũ khí đầy đủ và một đại đội thám báo đêm đêm ra đóng ngoài xóm, hoặc bìa rừng quanh căn cứ. Một đại đội thám báo chìm, sống lẩn khuất trong dân và cả trong binh sĩ của chúng. Ngoài ra, chúng còn bố trí một đơn vị thiết giáp, ngày thường là những tháp cánh di động bảo vệ căn cứ, khi hành quân là mũi nhọn, chỗ dựa của bộ binh. Theo Nguyễn Hữu Có, đại tá, tư lệnh Quân khu I ngụy lúc đó, thì quân số trung đoàn 32 có 1694 tên.

Tuy nhiên, Tua Hai là nơi có cơ sở mạnh của ta hoạt động. Trong những dịp lễ tết, dưới sự chỉ đạo của ta, hàng trăm anh em binh sĩ đã bỏ về nhà không xin phép chỉ huy. Cơ sở của ta phát triển cả trong hàng ngũ hạ sĩ quan và sĩ quan. Đặc biệt, một cơ sở của ta làm việc trong bộ phận quân lực do một viên sĩ quan người Khơme phụ trách. Tên này chữ nghĩa không đủ để làm giấy tờ sổ sách nên phải dựa vào đồng chí của ta. Nhờ đó, ta nắm thực lực quân số, vũ khí, trang bị của địch trong căn cứ khá chắc. Một cơ sở khác của ta phụ trách thông tin liên lạc của trung đoàn. Tình hình hàng ngày của địch ở căn cứ, ta đều biết. Trong căn cứ, ta còn tổ chức một chi bộ đảng, chi bộ này chịu sự lãnh đạo của một huyện ủy viên từ bên ngoài có lúc là tỉnh ủy viên chuyên trách.

Từ đầu 1959, cơ sở của ta trong căn cứ đã có ý đồ tổ chức nổi dậy khởi nghĩa, nhưng trên chưa cho phép. Tháng 6-1959, chi bộ nội tuyến tổ chức học tập về nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên thì bọn thám báo chìm theo dõi. Các đồng chí đã giải tán kịp thời và giữ được an toàn.

Thấy có nguy cơ bại lộ, chi bộ cơ sở họp bàn phương án khởi nghĩa và xin cấp trên xét duyệt. Đề nghị không được chấp nhận. Trong khi đó, cơ sở phụ trách điện đài của ta trong trung đoàn địch đã để lộ kế hoạch. Địch nắm được và bắt gần 120 người đày đi Côn Đảo. Phải ba tháng sau, ta mới móc nối được với số ít cơ sở còn lại, phát triển thêm được một số đảng viên và sâu chuỗi được nhiều quần chúng tích cực khác. Đúng lúc đó, nghị quyết Trung ương 15 được triển khai. Các đồng chí cán bộ của Tây Ninh về Xứ ủy học tập, báo cáo tình hình Tua Hai và khí thế của quần chúng trong tỉnh. Xứ ủy Nam Bộ căn cứ thực tế tình hình và quyết định dồn lực lượng đánh Tua Hai, tạo một quả đấm quân sự có sức nặng để hiệu triệu khởi nghĩa trong toàn Miền. Trận đánh có thể nổ ra sớm hơn, những Xứ ủy quyết định lùi thời gian đến Tết âm lịch để cho nhân dân gặt xong lúa, thóc đã vào bồ, có lương thực dự trữ và cũng để tạo yếu tố bất ngờ đối với địch.

Tham gia trận đánh có 3 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công trực thuộc Ban quân sự Miền (gần như toàn bộ lực lượng chủ lực Miền có lúc bấy giờ) cùng lực lượng của địa phương (bộ đội tỉnh Tây Ninh và dân quân, du kích).

Phương án tiến công Tua Hai từ bốn hướng được xác định:

Hướng 1, đánh vào chỉ huy sở trung đoàn 32, gồm có 37 cán bộ, chiến sĩ đại đội 60 và 80 do đồng chí Tư Đen chỉ huy trưởng, đồng chí Vinh và Sáu Tươi chỉ huy phó, đồng chí Ba Bảy bộc phá viên.

Hướng 2, đánh vào tiểu đoàn 1 ngụy và khu kho, gồm 54 cán bộ, chiến sĩ thuộc đại đội 59 và 1 tổ của đại đội 80, do đồng chí Năm Nhỏ chỉ huy trưởng, Tư Lồng chỉ huy phó, Bẩy Tâm chính trị viên, đồng chí Tư Sáu bộc phá, nổ trái.

Hướng 3, đánh vào tiểu đoàn 2 ngụy và phát triển cùng với lực lượng hướng 2 đánh khu kho, gồm 40 cán bộ, chiến sĩ của đại đội 60 và 1 tổ của đại đội 80 do đồng chí Tám Lê Thanh chỉ huy trưởng, Bảy Tấn (Tèo) chỉ huy phó. Đồng chí Nhà chỉ huy tổ đặc công.

Hướng 4, tiến công đại đội pháo binh và khu nhà xe gồm 70 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Sáu Hiến chỉ huy trưởng, Sáu Quân chỉ huy phó, Năm Cẩm chính trị viên. Đồng chí Ngon phụ trách đặc công.

Lực lượng chặn viện 1 trung đội do đồng chí Hai Phương chỉ huy.

Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến (Tám Kiến Quốc) chỉ huy chung.

Lực lượng vận tải, tiếp tế toàn đảng viên, đoàn viên do đồng chí Tư Nguyện phụ trách.

Cơ sở nội tuyến ngoài nhiệm vụ nắm tình hình, báo cáo kịp thời cho chỉ huy còn phải bí mật đưa một bộ phận lực lượng tiến công vào trong trước khi nổ súng.
_____________________________________
1. Cuối 1959, địch cải tổ quân đội ngụy. Từ 10 sư đoàn chấn chỉnh lại còn 7 sư đoàn mạnh. Nam Bộ chúng bố trí 2 sư đoàn. Sư đoàn bộ binh 7 cắm chỉ huy sở ở Biên Hòa; cùng với 2 trung đoàn thiếu của sư đoàn này, còn lại 1 trung đoàn chúng bố trí ở Thất Sơn, 1 tiểu đoàn Cái Vồn. Sư đoàn 21 đóng chỉ huy sở và 1 trung đoàn ở Tây Ninh, 1 trung đoàn ở Bến Cát, 1 trung đoàn ở Chơn Thành (Quốc lộ 13 bắc Sài Gòn).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM