Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Bảy, 2024, 11:23:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về làng  (Đọc 21406 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 10:47:21 am »



VỀ LÀNG - Tập truyện ngắn

Tác giả : Phan Tứ (Lê Khâm)
Rút trong tập “PHAN TỨ - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh”
Nhà xuất bản Văn học 2007
(In theo bản in của NXB Văn học Giải phóng, 1976)

Số hóa : hoi_ls




MỤC LỤC:

* MỘT BUỔI CHỢ
* NHÀ TÔI
* TẤM ẢNH
* CHÈ ĐẦU XUÂN
* MỞ CỬA
* KHÓ HIỂU
* VỀ LÀNG
* SỨC MẠNH MỚI
* CHÔNG BA LÁ
* “CON ĐĨ”
* TRONG ĐÁM MÍA
* LỬA ĐÊM
* HAI ANH EM




PHAN TỨ - MẤY NÉT TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM

   Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, ông sinh ngày 20-12- 1930 tại thị xã Quy Nhơn; nguyên quán xã Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình trí thức yêu nước.

   Phan Tứ tham gia cách mạng từ năm mười lăm tuổi, làm liên lạc chuyển tài liệu, báo chí bí mật. Năm 1950, ông nhập ngũ tại Hà Tĩnh, tốt nghiệp Trường Lục quân ở Thanh Hóa rồi sang Lào chiến đấu trong quân tình nguyện Việt Nam.

   Năm 1954, Phan Tứ tập kết ra Bắc rồi theo học khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1958, ông cho xuất bản tiểu thuyết Bên kia biên giới. Năm 1960, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Trở về Hà Nội và tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Năm 1961, ông trở về công tác tại chiến trường miền Nam, làm phái viên ban Tuyên huấn Khu ủy Liên khu V, lấy bút danh là Phan Tứ. Năm 1966, Phan Tứ trở ra Bắc, công tác tại Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, làm quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng. Năm 1968, ông xuất bản tiểu thuyết Gia đình má Bảy, tập truyện ngắn Trong đám nứa. Năm 1970 ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và giữ chức vụ Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên Ban thư ký của Hội. Và ông lần lượt cho xuất bản: bút ký Măng mọc trong lửa; tiểu thuyết Mẫn và tôi năm 1972, tiểu thuyết Trại S.T.18 vào năm 1974.

   Năm 1975, Phan Tứ được nhận Giải thưởng ba mươi năm (1945-1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

   Sau kháng chiến chống Mỹ, Phan Tứ giữ chức vụ Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi Đại biểu Quốc hội khóa VIII, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba. Thời gian này ông cho xuất bản hồi ký Trong mưa núi và ba tập tiểu thuyết Người cùng quê (1985).

   Năm 1995, Phan Tứ được nhận Giải thưởng Văn học loại A mười năm (1985-1995) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ông còn được nhận Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu.

   Năm 2002, Toàn tập Phan Tứ (4 tập) được Nhà xuất bản Văn học xuất bản.

   Ông mất ngày 17 tháng 4 năm 1995 do hậu quả chất độc màu da cam.
   
Năm 2000, Phan Tứ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Trước giờ nổ súng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Về làng.



TÁC PHẨM CHÍNH

      Bên kia biên giới - Tiểu thuyết (1958);
      Trở về Hà Nội - Tập truyện ngắn (1960);
      Trước giờ nổ súng - Tiểu thuyết (1960);
      Trên đất Lào - Bút ký (1961);
      Về làng - Tập truyện ngắn (1964);
      Gia đình má Bảy - Tiểu thuyết (1968);
      Măng mọc trong lửa - Bút ký (1970);
      Mẫn và tôi - Tiểu thuyết (1972);
      Trại S.T.18 - Tiểu thuyết (1974);
      Trong mưa núi- Hồi ký (1984);
      Người cùng quê - Tiểu thuyết, 3 tập (1985);
      Sông Hằng mẹ tôi - Tiểu thuyết (dịch) (1984);
      Toàn tập Phan Tứ, 4 tập (2002).
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2021, 11:39:06 am gửi bởi ptlinh » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #1 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 10:50:02 am »

MỘT BUỔI CHỢ

   Đi tới cách cổng chợ chừng trăm thước, chị Hai Phước bưng mủng cá rẽ sang con đường hẻm, định lọt vào chợ chỗ hàng rào gãy mé sau. Nhưng vừa bước qua mấy cây tre rào đổ ngang, chị gặp ngay thằng Phùng thu thuế chợ lù lù đứng chực sẵn, tay ôm cái kẹp vé thuế, tay chống ba toong:

   - Ê, chị kia, trốn đâu? Dám đạp rào chợ nữa chớ!

   - Dạ không... Tôi ghé thăm bà con, tiện đường tắt mới vô đây bán mớ cá vụn. Dạ anh cho đi.

   Chị vội đi ào qua tránh hắn, nhưng bị túm nón lôi lại. Hắn thọc cây ba toong xuống cát, càu nhàu:

   - Có vài đồng bạc thuế mà cứ ráng trốn quanh cho mất công. Mà sao chị mặc rách xác xơ vầy, ai cho vô chợ hử?

   - Dạ tội quá anh, bộ quần áo lành tối qua giặt chưa kịp khô... Đây anh coi giùm, không giấu gì anh, mới tát được nắm cá vụn đem bán mua gạo cho con. Giỏi lắm được mười đồng chớ mấy.

   Thằng Phùng liếm đầu ngón tay gỡ xấp vé thuế.
   - Chị cầm tôi như con nít sao chớ? Chợ ít cá, chị bán không được bốn chục chớ kể tôi là người. Ba đồng thuế!

   - Chết, anh nghĩ lại cho...

   - Nghĩ rồi đó, thôi cho chị bớt một đồng còn hai. Hai đồng thuế, dụng tâm trốn thuế phạt gấp ba thành sáu đồng, thêm cái sự mặc rách rưới đi chợ làm xấu quốc gia phạt chị vi cảnh nhẹ mười lăm đồng, vị chi hăm mốt đồng, tính lại thử đúng chưa?

   Nhanh như làm trò ảo thuật, hắn vừa nói vừa xé toạt một khúc giấy đỏ trong tập vé thuế và một mảnh giấy biên lai phạt vi cảnh, trong khi chị Hai há miệng kinh hoảng chưa kịp kêu.

   - Xỉa tiền ra đây, hăm mốt đồng!

   - Ôi chao, anh nghĩ thương giùm, không có lấy một xu...

   - Biên lai xé rồi, bộ tôi bỏ tiền nộp thay cho chị sao. Chánh phủ buộc vậy chớ tôi muốn phạt làm gì mang oán. Xuân đâu, xách cái nón đem bỏ trạm thuế đi em.

   Mặc chị Hai kêu thét, giằng co, đứa em trai thằng Phùng giật cái nón mới quai thao chạy thẳng. Thằng Phùng gạt chị ra, nạt:

   - Muốn vô đồn công an nữa hả? Cầm biên lai, chút nữa tới chuộc nón... Ê ông già gánh chiếu, lại đây! Cha chả, nhảy rào rúc bụi dữ hè!

   Chị Hai van xin một hồi, rồi đành bỏ đi vào chợ, chửi lầm bầm: “Mẹ tổ cha cái bọn chặn đàng cướp chợ, ăn dơ ăn dáy”. Nó cướp không của chị một buổi chiều đi tát vũng, sáng nay mất đèo thêm một buổi chợ. Trưa về con chị lại rướn cổ nuốt khoai chấm muối... Chị đặt mủng cá xuống góc lều chợ, mặt hầm hầm. Trong cơn tức của chị còn pha lẫn xấu hổ, tủi nhục, chị muốn hắt mủng cá vào mặt thằng Phùng mà không dám, sợ bị tù không ai nuôi hai đứa con dại. Bây giờ ai chọc chị một câu là chị đánh xé ngay giữa chợ cho biết mặt.

   Chợ đông dần. Biển hôm nay được cá, từng chục gánh kĩu kịt chạy qua cổng. Các chị buôn rỗi cãi qua lại với thằng Phùng mấy câu rồi móc túi đưa tiền mau kẻo nó giữ lại lâu cá ươn, để nó quệt tí hồ vào nón hay đòn gánh, dán lên đó một khúc giấy đỏ dài hay ngắn tùy từng gánh nặng nhẹ. Người mua không có mấy. Dạo này loa thúc thuế cử tri kêu om ngày đêm, mấy nhà đã còn tiền đi chợ, không phải bán đổ tháo heo giống gà ấp đi là coi như may phước rồi. Đôi bà mặc sang đi qua, buông một tiếng thờ ơ: “Bảy đồng hử.... Thách ba chục thì ai dám trả!”. Chị Hai xốn xang trong bụng, không lẽ chị mất cái nón chị mượn đi chợ sao, ít ra cũng phải đủ hăm mốt đồng nộp cho nó chứ.

   Phía cổng chợ bỗng nổi lên tiếng xôn xao. Bà con tránh dạt ra rất nhanh. Chị Hai vơ mủng cá kéo vào lòng, rồi ngấp nghé dòm. Hôm nay ráp chợ soát giấy, hay biệt động quân ra ghẹo gái kiếm ăn? Không phải. Một thằng công an quận đội mũ lưỡi trai trắng đi trước, cầm một cái loa. Hai thằng dân vệ theo sau, xốc nách một người mặc áo trắng quần đen đi chệnh choạng như say rượu. Thằng công an đưa loa lên, nói ồm ồm từng loạt ngắn:

   - Nè, đồng bào chú ý. Nghe đây. Tập trung lại đây hết. Nghe cộng sản chánh hiệu hô đả đảo Hồ Chí Minh. Thôi lại đây, mua bán gì bỏ đó đã, mau!

   Bọn dân vệ xách súng đi lùa từng người một. Thằng Phùng cũng khua cây ba toong, chạy lăng xăng: “Bác kia, điếc sao? Bà con học tố cộng miết, thấm nhuần rồi chớ! Con nít cũng tới nghe, tới hết!”. Mọi người càu nhàu xếp gánh, dồn lại thành một vòng vây rộng chung quanh tên công an. Chị Hai tránh né một lúc rồi cũng bị đẩy vào chỗ đông, một tay ghì chặt mủng cá, một tay nắm biên lai phạt và vé thuế. Thấy cái thế không trốn được, chị chen vào nhìn cho bõ công đứng may nhờ chị cao nên trông thấy rõ.

   Cộng sản đây là một cô gái thấp nhỏ trạc độ hai mươi đến hăm hai, mặt xanh nhợt, môi dưới sưng trễ xuống, mặc cái áo trắng dính mấy vệt máu đã khô đen. Hai thằng dân vệ xốc cô ta đứng lên một thềm nhà gạch, ấn cái loa vào tay. Thằng công an nói nhẹ nhàng: “Thôi em, ráng hô ít tiếng rồi anh thả. Tội nghiệp”. Chị Hai thấy rõ cô gái rùng mình một cái mạnh. Đôi mắt cô đã to, trên khuôn mặt xanh gầy trông càng to quá, nhìn trừng trừng qua đầu mọi người như đang tìm một cái gì, nương theo một tia sáng gì ở đâu xa lắm. Cô dựa lưng vào tường, từ từ đưa loa lên miệng, rồi hạ xuống. Thằng công an đằng hắng, sờ tay vào bao súng ngắn. Cô lắc đầu, gạt mớ tóc xõa hất qua vai, giơ loa nói nhanh, giọng khản đặc và hổn hển:

   - Tôi là đảng viên Cộng sản. Tên là Út, Trần Thị Út ở gần chợ Đồng Trầu. Tôi bị bắt về học tố cộng ở quận bốn tháng nay...

   Thằng công an nói át đi:
   - Đồng bào hô theo cho to, nghe không? Được đó, làm đi em.

   Chị Hai quay mặt đi, “hừ” một tiếng khinh bỉ thật nhỏ trong mũi. Lần trước chính mắt chị thấy một anh đảng viên cũ ra trước mít tinh xưng tên họ rồi xé cờ búa liềm. Lần này cũng cái trò ấy. Chị không phải đảng viên, nhưng chị nghĩ thân con người đã theo bên nào thì chí quyết theo trọn một bề mới phải, đồ úy tử tham sanh vô Đảng làm gì cho xấu cả mặt mình mặt người. Tiếng hét trong loa làm chị giật mình, chưa kịp hiểu.

   - Đả đảo Mỹ - Diệm!

   - Ủa...

   - Đảng Lao động Việt Nam muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!

   Thằng công an chồm lên thềm nhà:
   - Thôi! Câm họng! Ai hô theo đó?

   Đám đông thét dậy lên một loạt tiếng “muôn năm” lộn xộn, rồi vỡ chạy tán loạn. Chị Hai chỉ kịp hô vớt theo một tiếng, nép vội vào góc nhà bên cạnh. Bốn năm tiếng súng nổ cắt ngang tiếng loa. Chị Hai kêu rít trong miệng: “Chao ôôôi!” Mủng cá và hai mảnh giấy buột rơi khỏi tay chị lúc nào không biết. Mắt chị hoa lên, chỉ thấy chập chờn những lưng người nhốn nháo. Một lúc sau, chị nhìn kỹ lại chỗ nền nhà trống trơn. Một vũng máu trên nền gạch, một vũng nữa loang tím trên bãi cát trước thềm, và một chuỗi giọt tím nối dài lấm tấm chạy ra phía cổng. Chợ tan nhanh, kẻ mua người bán táo tác ra về. Các bà các chị lén đưa tay áo quệt mắt, có người kêu thành tiếng: “Trời ơi là trời!”. Không một dấu chân nào giẫm trên các vết máu.

   Chị Hai từ từ đi như người mất hồn, bước tới chỗ cát thấm máu, cúi xuống bốc một nắm cát ướt dẻo, cầm khư khư trong tay đi ra cổng. Chị không hiểu mình đang làm gì và có ai nhìn theo mình không. Trong óc chị nhảy nhót chờn vờn những câu hò liên hoan nhận ruộng, ánh đèn chai đêm học bình dân, tiếng hò reo của trẻ em chơi trăng Trung thu, những thứ chị tưởng đã quên từ lâu nay vụt hiện về quay cuồng như một vòng lửa nung đốt chị sau khi nghe những câu khẩu hiệu quen quá.

   Hồi đó, hồi còn chánh phủ Cụ Hồ, chị hô khẩu hiệu hồn nhiên như đứa trẻ chỉ biết kêu mẹ mỗi khi vui buồn chứ không kêu ai khác. Đã đảng Lao động với Hồ Chủ tịch thì tất nhiên là muôn năm ba lần không thể nào khác được. Chị không thể ngờ rằng sau khi ngừng tiếng súng chồng chị lại bị đánh hộc máu chết vì một chữ ký đòi hiệp thương, và phần chị lại bị bắt quỳ sám hối một tháng tới hai chục đêm, hô những câu quái gở trước cái mặt heo luộc của một thằng ai cũng biết là bán nước cho Mỹ. Sau mấy năm bầm giập, chị đuối sức dần. Chị bắt mình phải quên hình ảnh cô Hai Phước, nữ du kích hay hát hay cười, lén lấy mìn của chồng đi ăn lẻ kiếm súng giật chết một thằng Tây đi chợ ngay gần chỗ thằng Phùng chặn phạt chị hôm nay. Chị muốn cắt cả đoạn đời ấy đem đào sâu chôn chặt đi cho dễ sống. Chị nén từng cơn giận, bịt lấp từng tia hi vọng mơ ước, cố tập cho mình chai đi, trơ đi, thành câm điếc đi, không còn biết yêu ghét gì nữa, để có thể yên phận làm ăn nuôi hai đứa con mất cha. Nhưng khổ cho chị, chị vẫn đau đớn, căm hờn, hi vọng. Dù muốn hay không, dòng máu trong thân chị vẫn là máu đỏ. Những hòn than chị nuốt trong lòng vẫn cháy ngún, gặp cơn gió hôm nay thổi vào lại bốc lửa. “Chao ôi, các đồng chí ở đâu, các anh chị ở đâu hết đi, sao mãi không về”. Chị kêu thầm những tiếng dài nức nở. Đứa con của Cách mạng vẫn y nguyên một lời gọi Mẹ.

   Chị Hai đi thất thểu trên đường ruộng, đầu không nón, đôi vai gò xuống nặng nề, cái áo cộc rách cùi tay phủ thân hình cao gầy, lưng khom khom như đã quá quen đứng chờ đón trước mặt các ban khai thác xã, quận, tỉnh. Cổng nhà chị đây, hằn một chữ A đen đánh dấu gia đình tình nghi loại A. Chị đi thẳng lên nhà trên, đẩy phên liếp cho sáng. Tấm ảnh người chồng điểm một chấm trắng vuông nho nhỏ trên bàn thờ khuất tối. Chị cầm bát hương trút ra phản, bỏ nắm cát tím dẻo vào bát, bốc tro đổ lên trên. Chị đánh bật lửa châm mấy nén hương, rồi cầm hương đứng trước bàn thờ chắp tay định khấn. Chị vừa hé miệng thì tiếng khóc trào ra không cầm nổi, chị ngồi thụp xuống đất, tay úp mặt, khóc rung hai vai không thành tiếng.

7-1958
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:19:44 am »

NHÀ TÔI

   Tôi níu một gốc mua nhỏ, đu người trèo lên khỏi bực đá, gọi Hậu:
   - Nè, nghỉ chút đã ông tướng Thầy Ba. Đường xuống trung châu gì mà leo dốc hung ác, vắt cắn hốt ném không kịp!

   Hậu cười hì hì, nheo một mắt:
   - Lỏng đầu góc rồi hả anh? Cái thứ cá ngừ cá núc dưới kia, mệt cấm khẩu ăn vô cũng tỉnh liền.

   Hậu trèo nhanh thoăn thoắt, không thở mạnh, chỉ tháo mồ hôi bết tóc trên gáy và ướt lưng áo cổ vuông xanh đã bạc màu, mỗi lần quay mặt lại vẫn cười hì hì nguyên một điệu. Hai má tròn thường ngày hơi tái vì sốt rét lúc này hồng lên, vết sẹo trên mang tai thành đỏ ửng. Hậu thường gõ ngón tay lên chỗ vết sẹo hình con cá nhám quẫy đuôi, kỷ niệm một trận đòn tra tấn, nói oang oang: “Rõ ràng là ngư dân có đóng dấu đây, thấy chưa? Hội đồng xã mình nó sợ lạc mất dân, nó in cho mình cái nhãn thiệt to trên đầu”.

   Hậu mang khá nặng. Lưng cõng một ba lô đầy căng, kiểu ba lô đơn giản của cách mạng miền Nam làm bằng cái bao bột mì viện trợ Mỹ, buộc cái ruột tượng rách túm góc thắt miệng dùng làm quai. Mỗi bận về căn cứ họp, Hậu mang muối lên đổi lấy mật ong, chè khô của đồng bào Thượng, đem xuống đồng bằng đổi gạo ăn. Quanh năm Hậu không lãnh một xu sinh hoạt phí nào, áo quần nhân dân cho gì mặc nấy. Khẩu súng trường 86/93 cổ lỗ dài như cây sào vịt tước của dân vệ vác trên vai. Cái thắt lưng to của Hậu đèo hai quả lựu đạn Mỹ, một bó mũi chông sắt có ngạnh mới rèn trên căn cứ, còn tất cả áo quần chăn võng chỉ nhồi vào một túi vải bố tự may lấy đeo bên mông lủng lẳng. Cứ vậy Hậu băng băng đi trước, hai bàn chân không dép bước trên đá như gắn nhựa, không vấp hay trượt lần nào trong khi tôi chụp ếch liên hồi.

   Lên đến đỉnh dốc, tôi thả phịch cái ba lô trên tảng đá phẳng:
   - Đi với thanh niên mệt gớm. Cha nội kéo luôn một hơi gần ba tiếng đường dốc, rồi cha nội cười ngon lành. Ngày mai còn đợi liên lạc, tối mai mới xuống Nghĩa Kỳ, đi gấp làm gì hả?

   Hậu cười lặng lẽ, đứng trên tảng đá nhìn về mé bên trái. Tôi đứng lên, và ngạc nhiên thấy một khoảng đồng bằng hiện ra giữa hai sườn núi. Con sông quanh co chảy ngược lên chân trời, giữa hai lưỡi cát trắng đục. Xóm làng là những mảng xanh sẫm rải rác trên ruộng kẻ ô bàn cờ, những mái nhà tranh vàng nhạt nhô ra một góc vuông dưới cây. Ngoài xa tít, một đường viền rất mỏng, xốp như bông, từ từ co duỗi, sủi lên rồi xẹp xuống: sóng biển. Tôi đùa:
   - Đứng đây nhún thiệt mạnh, nhảy ào xuống tới biển đó. Thanh niên ưa bay nhảy, làm thử coi.

   Hậu xoắn mãi cái quai súng, rồi nói chầm chậm, giọng trầm khác hẳn mọi khi:
   - Nhà tôi chỗ kia nè, anh.

   Đôi mắt Hậu bị hút vào khoảng sa bàn đóng khung giữa núi thành hình tam giác ngược đằngtrước. Môi Hậu mím trễ xuống, một đường nhăn lạ mắt hằn bên khóe miệng, hai cánh mũi mấp máy như tìm hơi gió mặn thổi về. Cái sẹo hình con cá trên mang tai Hậu từ đỏ hồng đang trắng dần lại. Hậu không nhìn tôi, nói như nói một mình:
   - Anh lại đây, lại đây tôi chỉ cho coi. Cứ nhắm con sông Trầm xuống thẳng tới biển, bên tay trái là xã tôi, sát bên xã Nghĩa Kỳ đó. Chỗ nhà tôi đó, gần cây mắm đen đen thiệt cao, bây giờ nước lên ngập gốc ngó như con người đang lội qua cửa sông, anh thấy không? Cũng chỗ gốc mắm đó, nó treo con em tôi đánh chết tươi, bốn bữa sau nó đá chị Cước sổ thai, chết cả hai mẹ con. Nhà chú Bàng nó đốt, bắt đi di dân, bây giờ còn mấy cây cột đen, ngó kỹ mới thấy, bên chỗ trạm thu thuế cầu đường của xã...

   Tôi cố nhìn nhưng không nhận ra cây mắm và nhà Hậu. Tôi biết Hậu đang nhìn vừa bằng mắt vừa bằng trí nhớ, bằng những kỷ niệm đau đớn đã hằn sâu trong óc. Theo đà Hậu nói say sưa, cảnh đồng bằng dưới kia cựa mình sống dậy, các thôn xóm tách rời nhau ra, các mái nhà hiện lên, và. những bóng người ăn nói đi lại rõ nét dần... Nhà cháy ngùn ngụt, ông già lăn vào rút chiếc chiếu bị nó đạp ngã chúi. Em gái nhỏ đang mếu máo khóc gọi mẹ bị nó rút dây treo ngược lên cành cây, đấm cho đu đưa qua lại như bao cát, đến khi chỉ còn là cái xác tím và mềm nhũn. Những chị đói gầy vì ăn khoai chấm muối ớt, phải dành dụm tiền sắm một bộ áo quần lụa “ba biên” để nó cho vào chợ, qua các trạm thuế đường thuế cầu thuế chợ còn phải móc nốt mấy đồng bạc bớt ra mua gạo cho con. Những bà mẹ chiến sĩ hồi kháng chiến, nay vừa đánh mõ vừa la làng: “Việt cộng! Việt cộng về bớ làng xóm!”, vừa kéo vạt áo thấm nước mắt. Những dây người, chuỗi người cắp chiếu đèo nối lếch thếch kéo đi học tố cộng, đi canh gác, đi làm xâu cộng đồng… Cuộc sống quằn quại ngạt thở lăn lộn đang diễn ra dưới đó. Con sông Trầm có phải đầy thêm đục thêm vì máu người chết và nước mắt người còn sống, còn cố sống để đợi cách mạng về? Những chấm sáng lấp lánh dưới vòm lá xanh kia là tia nắng hay những cặp mắt đang khắc khoải lén nhìn lên núi? Tiếng rền xa của sóng biển hay tiếng đồng bằng rên xiết đó?

   Hậu nói nhanh, lộn xộn:
   - Nhà tôi nó dỡ rồi anh à. Chỗ tôi chỉ khi nãy là cái nền đó. Phần tôi nó đánh bể đầu đã đành, còn cớ gì tới gia đình tôi mà nó cố diệt cho tàn hại nó mới ưng? Con em tôi mười lăm tuổi, tuổi Tuất. Hôm tôi đi, nó tự ý làm thịt con gà mái đẻ, nạo dừa hầm rục đi, bắt tôi ăn một mình cho hết, nó cứ chống đũa ngồi ngó rồi chảy nước mắt. Ai đời con nít mà nó nói vầy anh: “Anh lên đó hỏi các ông cách mạng coi, có cần người nấu cơm sai vặt gì thì nhắn em lên với nghe. Em làm không thua người lớn, mà ăn ít lắm, nuôi không tốn kém đâu”. Nó khôn sao khôn lạ...

   Câu nói tắc nghẽn trong cổ Hậu. Hậu đứng ngây ra, đưa tay vuốt hai lần chỗ vết sẹo hình con cá, rồi đột ngột xốc cái bao lên vai, xách khẩu súng dài thòng, gật đầu ra hiệu đi.

   Tôi lặng lẽ bước sau. Con đường đá lởm chởm hình như phẳng hơn ban nãy, chân tôi bước cũng dẻo chắc hơn. Tối mai... không, ngay tối nay chúng tôi sẽ về nằm hầm bí mật ở Nghĩa Kỳ. Phải đi gấp chạy đua với địch đến sớm một ngày, rút ngắn đau khổ của đồng bào được hăm bốn tiếng đồng hồ...

   Khoảng đồng bằng dưới kia co hẹp dần, rồi khuất sau một mỏm đồi. Chúng tôi đi sát nhau, rì rầm nói những chuyện không đầu không đuôi. Hậu đã trở lại bình tĩnh, đôi lúc buông một câu đùa quen miệng. Hai giờ sau, đến một con suối. Hậu cúi xuống vốc nước rửa mặt, quay lại nheo mắt cười hì hì như mọi khi:
   - Cho con cá trên đầu lội nước một chút… À, anh ngủ với tôi có thấy tôi giật giật bàn chân không? Có hả? Dân biển vậy đó, nằm xuồng câu cá đêm cứ vừa ngủ vừa nhấp nhấp cái dây câu cột nơi ngón chân cái. Mấy năm bỏ nghề mà còn tật. Quên không hỏi, ông có hôi nách không vậy ông? Ở hầm với ba cái ông hôi nách, kinh bỏ cha!

10-1959

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:22:11 am »

TẤM ẢNH

   Khoảng nửa đêm ông Bảy thức dậy đi đái. Vừa sờ đến tấm cửa hông, ông giật mình. Hồi đầu hôm, chính tay ông đóng cửa, gài cây ngáng, mà bây giờ cửa chỉ khép hờ, cây ngáng dựng một bên. Ông dặng hắng rồi đánh tiếng gọi:
   - Con Hai còn thức đó không?

   Đợi một chút, ông gọi to hơn:
   - Má thằng Sính còn ở nhà không?

   Vẫn không có tiếng trả lời. Ông nhúc nhắc đi vào ngồi phản giữa, trong bụng giận sôi lên. Mấy hôm nay, ông để ý ngờ con dâu, bây giờ mới bắt được tay day được cánh đây. Ông bật lửa định châm đèn rồi lại thôi, cầm cây gậy lăm lăm rình trong góc tối. Để cho con dâu thấy yên nó rúc về, ông đánh cho một trận, xé nát ra rồi tới đâu thì tới. Cha chồng đánh nàng dâu là sự hiếm có. Riêng tình cảnh ông chết vợ ở với nàng dâu vắng chồng càng dễ mang tiếng. Nhưng đến cơ sự này, con ông không ở nhà dạy vợ thì ông phải dạy dâu. Chồng nó tập kết để lại đứa con dại ẵm ngửa, lâu nay nó lo làm ăn nuôi con không mắc điều tiếng gì bà con thường khen ông khéo chọn được nàng dâu thảo. Bao nhiêu lần bị bắt ly hôn, nó vẫn chịu đòn mà không ký. Bây giờ sinh hư đốn ra, đi nằm bờ ngủ bụi với thằng nào. Ông đã ngờ ngợ từ lâu, từ cái hồi con ông định đi hỏi vợ kia, vì xem ra tuổi Ngọ lấy tuổi Dậu là bất sum hợp, tân khổ cơ hàn, trước hợp sau ly. Lại thêm tướng con dâu nó đào hoa nhỡn, lanh lợi mà có phần lẳng, ưa sự tình tứ này nọ. Hồi ấy đang kháng chiến, nói ra ai cũng chê ông phong kiến nên ông để bụng đó thôi. Bây giờ sự đã quả nhiên, thấy chưa! Phần ông năm kia bị thằng cảnh sát phó đánh tám búa vào hai mắt cá chân, tiếng rằng chưa què hẳn mà cũng như què, chỉ đan được cái nia cái rổ, ngày hai bữa cơm ghế cũng trông nhờ vào con dâu. Nó thấy vậy nó rỡn mặt. Được, để rồi coi, áo mặc không qua khỏi đầu, chồng đi còn cha, ông còn sống sờ sờ đó mà nó dám giở trò đĩ bợm! Ông rình lâu lắm. Muỗi cắn mặt, cổ và hai chân ngứa ran ông chỉ xoa xoa mà không dám đập. Cánh cửa liếp kẹt một cái. Một bóng đen luồn vào, sờ soạng khép cửa, gài cây. Ông nắm chặt đầu gậy, định nạt một hơi rồi quật luôn, nhưng lại ngồi im. Phải nọc nó ra đánh hẳn hoi, làm cái lối vơ đâu xáng đó nó khinh.

   Tiếng xòe bật lửa trong buồng. Ông bỏ guốc, rón rén đến dòm qua kẽ phên: đứa con dâu để cây đèn xuống chân cột, rút cái giấy gì trong túi ra soi, đọc lẩm bẩm. Chà, quá lắm, vậy thì quá lắm, đi ngủ lang về còn đọc thư trai… Xưa nay ông vẫn giữ ý không hề bước vào buồng con dâu, nhưng lúc này giận điên lên ông quên ráo cái câu “nam đáo nữ phòng”. Ông lập cập bước tới cửa buồng, vô ý va đầu gối vào phản một tiếng cộp. Ngọn đèn trong buồng tắt biến. Tiếng hỏi run run:
   - Ai? Ai đó?

   Ông gằn giọng:
   - Con Hai thắp đèn lên, tao hỏi.

   - Ba hả ba? Vậy mà...
   - Hứ, ba con gì? Tao bửa đầu ra, đồ đĩ!

   Đèn vừa sáng lên, ông bước vào buồng, giơ ngay cây gậy định vụt. Chị Sính vội nép vào góc cột, mặt còn xanh nhợt, hốt hoảng hỏi khẽ:
   - Ủa ba, có gì thì nói... khoan, khoan đã mà...
   - Tao hỏi mày, nãy giờ mày đi với thằng nào? Nói!

   Chị Sính lúng túng, giơ tay trước mặt phòng đỡ đòn, gắt lại cha chồng:
   - Ba kìa, lạ chưa. Người ta nghe bây giờ. Để tôi nói... Tôi đi có việc.
   - Việc này tao biết rồi. Thằng nào?
   - Nói nhỏ chút chớ, con nít nó giựt mình. Ba hỏi làm gì?
   - Á, to gan hung! Nè gan!

   Ông vụt một gậy. Chị Sính né sang phía đầu giường, tránh được. Chị vừa xấu hổ, vừa tức ông lão, lại sợ lọt đến tai hàng xóm, sợ dân vệ đi tuần hay cộng tác viên rình mò nghe được. Ông Bảy cũng ngại cái chuyện con dâu ngủ lang đổ vỡ ra thiên hạ người ta cười, nên chỉ gầm nho nhỏ trong họng. Nghe chị nói quanh co một lúc, ông lại nổi điên quát to:
   - Đồ hùm tha voi xé, tưởng bộ tao không biết hả?
   - Thôi đây nè, ba biết thì biết luôn đi.

   Chị Sính không ghìm được nữa, rút tờ giấy trong túi ra mở xòe trước mặt cha chồng, nhưng lại vội vàng cất vào túi. Đưa lá thư ông coi không ra lại hỏi kì kèo mất thì giờ. Chị nhấc hũ gạo sang bên, lật viên gạch kê đáy, lấy ra một gói nilông vuông. Ông Bảy trố mắt nhìn tấm ảnh chị nhét vào tay. Trong ảnh, có một anh con trai to mập, mặc rất bảnh, đeo cà la oách hẳn hoi, tóc chải trơn bóng, cái miệng cười coi không tự nhiên, hai con mắt hơi lé đang nhìn ông... cặp mắt thằng con ông cũng lé giống má nó... Ôi đúng con trai ông đây rồi. Ông ghé sát tấm ảnh vào ngọn đèn, chòm râu đen rung rung. Con ông nó nhớ ba nó, nhớ vợ con, nó gửi ảnh về đây mà, giờ nó ra cái ông rồi, không láu táu lưởi tưởi như hồi làm thôn đội trưởng dân quân nữa. Chòm râu bật cháy xèo một tiếng gọn, mùi khét bốc lên nồng mũi. Ông giật mình né đầu ra, sờ sờ tấm ảnh xem có bị cháy lây không, rồi mới phủi râu xoa cằm.

   - Thôi ba đưa tôi cất, để khi khác coi. Còn lá thư nữa.
   - Khoan, để thử...

   Ông ngắm mãi khuôn mặt đầy đặn và đôi mắt lé, đưa ngón tay sờ mặt giấy bóng, lật đằng sau thấy chữ đề lít nhít:
   - Mày đọc tao nghe nó viết gì đây.
   - Đưa tôi. Đây nè...

   Một con chó đầu xóm bật sủa, con vện nhà láng giềng sủa theo. Ông Bảy thổi phụt ngọn đèn, nhúc nhắc chân ra nằm phản giữa, kéo chiếu trùm kín. Có tiếng ho ngay gần ngõ nhà ông. Bọn cảnh sát và dân vệ bàn gì với nhau lào xào rồi đi luôn, ở vùng sâu này chúng nó còn dám đi đêm. Một cơn giận khác từ từ bốc lên làm ông nghẹt thở. Ông thấy như suốt bảy năm ở tù ông mới nhìn mặt con trai được một chớp loáng, đã bị tụi nó lôi trở về cái nhà giam tối đen này, chút ánh sáng mới lóe lên đã vụt tắt như ngọn đèn ban nãy. Giang sơn phân cách, cha được thư con mà không dám chường mặt ra coi thì còn trời đất nào nữa.

   Đợi trong xóm thật yên tĩnh, ông trở mình nằm nghiêng, ghé mặt vào kẽ phên gọi nhỏ:
   - Hai! Con Hai còn thức không? Đưa tấm hình lại ba coi chút.

   Chỉ có tiếng ngáy phì phò đáp lại. Ông chép miệng, lẩm bẩm một mình: “Đàn bà con gái gì ngủ như chết”. Ông hơi oán con dâu, nó đi gặp cán bộ cứu nước mà giấu ông, ông có phải như bọn thuần túy quốc gia đậu mà nó nghi. Nghĩ luẩn quẩn một lúc, ông thấy con dâu chưa tin ông cũng phải, tính ông nóng nảy bụng để ngoài da, việc đời ông hơn nó chứ việc cách mạng nó hơn ông rành rành. Làm sao cho nó tin, nó đưa ra gặp cán bộ, khó chứ chẳng chơi... Con dao ông mài rất bén giắt mái tranh còn y đó. Cách mạng nổi lên một cái là ông chém thằng cảnh sát phó. Thứ roi đòn hay bạt tai lặt vặt ông chẳng đòi nợ làm gì còn lại tám búa vào chân. Tám búa là tám nhát dao. Ác giả ác báo, dĩ oán báo oán là vậy, sách dạy đâu có sai chữ nào. Ông dù bạc phước chết sớm thì còn thằng con trai gửi thư gửi ảnh về đó, nó trả thù cho ông. Khuôn mặt anh con trai mắt lé cùng với con dao mài rất bén lẫn vào nhau, đảo qua đảo lại, xoay tròn. Ông ngủ lúc nào không biết.

   Đến gần sáng chị Sính vẫn thức. Chị cố ngủ để lát nữa dậy sớm nấu cơm ăn đi cấy, nhưng trong cái đêm được kết nạp vào Phụ nữ giải phóng, lại được luôn thư ảnh chồng thì ngủ làm sao. Sáng ra chị cấy cho con Bính thì chị nắm chắc, chỉ một buổi cấy chung nói chuyện rủ rỉ là nhận công tác. Ông cha chồng phải để sau, phạt ông cái chuyện om sòm ban nãy... không, đằng nào ông cũng biết rồi, phải nói cho ông hiểu, mà mỗi ngày phải một lần nhắc ông kín miệng. Cơ sở đẻ ra cơ sở, đến khi thật mạnh rồi ùm một lần nổi dậy, chỉ nghĩ đến cũng thích mê. Phong trào trong thôn bể vỡ đã năm lần tất cả, người chết và đi tù tới hơn trăm rồi. Nhưng lần này, ta khôn khéo hơn, chắc không sao...

   Chị trở mình, ngáy một hồi để buộc mình ngủ, rồi lại mở chong mắt. Chị thò tay vào túi lấy bật lửa, định thắp đèn đọc tiếp thư chồng, nhưng nén lại được. Chị thấy thu thú như đứa trẻ mới nếm sơ cái bánh đã cất đi, đợi lúc thật đói mới ăn.

   Anh ấy đi tập kết có để lại một cái ảnh cũ, chị gói giấu kỹ, mỗi lần giở ra coi chị lại tủi thân buồn mất mấy ngày. Ấy bởi vì chị soi mặt mình trong gương và so với tấm ảnh của chồng, thấy mình mỗi năm một già đi, già hơn chồng nhiều quá, trông như chị với em. Chị tự mắng mình lẩn thẩn, anh ấy cũng phải già chớ đâu trẻ hoài như trong ảnh được. Rồi chị tự cãi rằng anh ấy ra Bắc ăn sung mặc sướng, béo tốt sởn sơ ra hẳn trẻ lâu, còn chị khổ nhiều nhất định da nhăn má hóp. Biết đâu được cái bụng đàn ông, người ta trơn lông đỏ da rồi chê vợ già xấu, giàu đổi bạn sang đổi vợ là thường…

   Đêm nay chị nằm với lá thư chồng trong túi, tấm ảnh mới dưới gối, cũng như có chồng bên mình rồi. Củng với niềm an ủi mát rười rượi, chị còn một nỗi mừng thầm kín: chồng chị mập mạnh nhưng không trẻ hơn chị. Coi kỹ tấm ảnh mới, chị thấy trên mép và dưới cằm chồng có màu râu cạo còn sâm sẫm. Anh ấy làm cách mạng ngoài Bắc, ở đây chị cũng làm cách mạng chứ thua gì. Mai sau đoàn tụ, dù chị phai tàn đến mấy, anh cũng phải thương phải nể người vợ biết lo việc nhà việc nước trọn đôi bề... Nói phòng xa vậy chứ mới đọc mấy hàng chữ mà chị đã thổn thức mừng tủi, anh viết văn chương lắm, một lời thăm ba hai lời thăm vợ con, những tiếng “anh, em” nghe thương thấm tới ruột gan. Thằng Sính đã lên bảy tuổi, mà... mà nó chưa có em, thứ con một dễ hư quá. Con có ba mà chẳng khác con . chửa hoang. Đến bao giờ con mới biết mặt ba, con ơi!

   Chị lần tay rút tấm ảnh giấu dưới chiếu. Thằng Sính quẫy mình, ú ớ. Chị thôi ru con từ lâu, bây giờ chị muốn hát lại một câu nghịch ngợm của chồng. Sợ ông Bảy thức giấc, chị ghé tai con ru thật nhỏ: “À ơi... Ai về nhắn với lão Khoai, có thương mụ Đậu thì gởi hai bát Đường”. Rồi một tay chị ôm con, một tay chị áp tấm ảnh trên má, mỉm cười xấu hổ với mình trong đêm tối, một giọt nước mắt rỉ xuống mang tai thành dòng âm ấm.

12-1959
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #4 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:26:39 am »

CHÈ ĐẦU XUÂN

   Vườn chè đã ra lứa búp đầu xuân. Những chùm xanh non mảnh dẻ nảy chen trên lá sẫm trông mát mắt lạ, mới trông tưởng như một đàn bướm xanh vừa sà xuống đậu kín vườn, xếp dựng những đôi cánh mịn màng.

   Chị Tư hái được gần đầy giỏ chè búp vẫn chưa nghe Hợp nói gì. Sáng nay chị mới nhấc nồi cơm xuống rế đã thấy Hợp tất tưởi xách giỏ qua rủ chị đi hái chè sớm. Trông con bé đờ đẫn như người mất của, chị đoán ngay nó muốn kể tâm sự gì đây. Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay là vậy, mọi chuyện riêng tư nó đều đem sang trút cho chị trước tiên, mà cái tuổi con gái mười chín thật là dây mơ rễ má lắm nỗi. Nhiều lúc nó kể sa đà, chị phải gắt: “Nói vừa vừa chứ, để cái miệng kịp đổi da non, không sau đẻ con nó câm”. Chị tính đưa nó vào Phụ nữ giải phóng, nhưng sợ cô ả mồm miệng hớ hênh nên còn treo lại, chỉ mới tuyên truyền bóng gió.

   Năm ngoái chị Tư mất ngủ với Hợp gần tháng vì thằng Tế công an quận lựa khi vắng đang đêm vào nhà định hiếp nó. Con bé không xinh lắm nhưng được cái lanh lợi có duyên, con nhà nghèo mà lúc nào cũng chải gỡ sạch gọn, hai con mắt lại sắc “liếc đứt tàu chuối”. Gà chưa lên chuồng nó đã ôm chiếu rúc rào sau nhà, luồn qua vườn chè đến ngủ với chị, rủ rỉ suốt đêm. Chị sợ bọn chánh quyền và cộng tác viên để ý, nhưng không nỡ đuổi nó về, xui lên xã kiện nó lại không dám, sau chị bày mưu tính kế giúp nó giữ thân. Từ đó Hợp luôn miệng kêu đau dạ con, đi hỏi thuốc tây thuốc ta các nơi, bán hai con gà mái mua mấy gói thuốc về để đầu giường làm chứng, thằng Tế thấy vậy mới bỏ qua. Đến khi hai anh cách mạng bắn chết thằng Tế ngay giữa sòng bạc, Hợp mới thật hoàn hồn. Hợp tấm tắc khen cách mạng giỏi, thằng Tế một đêm đổi chỗ ngủ hai ba lần mà họ về tìm thấy. Hợp không biết chính chị Tư đào hầm nuôi họ trong nhà, và theo rình thằng Tế nửa tháng liền.

   Mặt trời lên hơn con sào, trong vườn đã thoảng bốc mùi chè phơi nắng thơm nồng. Gió lay ngọn tre, rây những chấm vàng nhảy nhót trên lưng Hợp, lùa mát dưới nón Hợp. Hợp vẫn hái chăm chỉ, mấy ngón tay dính nhựa chè xám ngắt, những đọt mềm bỏ giỏ nhanh thoăn thoắt. Từ sáng Hợp nghĩ mãi không biết nói sao để chị Tư khỏi hiểu lầm, nói trắng ra ngay thì mắc cỡ không nói được, mà quanh co thì dễ mất lòng. Như khi thằng Tế làm bậy Hợp có giấu chị Tư đâu, nhưng cái chuyện này rắc rối quá thể đi. Hợp đưa tay với nhánh chè cao mấy lần không tới, quay lại gọi chị Tư:
   - Chị cao hơn em, níu hái mấy đọt trên ngọn chút. Mới đó đã gần nửa buổi.

   Chị Tư bước tới, ỡm ờ:
   - Nửa buổi rồi, mà cái bầu tâm sự không biết ngỏ cùng ai hả? Thôi sắp sửa về, tao còn đi thăm ruộng.
   - Tâm sự gì đâu... à, xã có giấy kêu đợt quân dịch 39 rồi đó.
   Hợp lật nón ra quạt, má đỏ rựng, không nhìn chị Tư:
   - Anh Hổ cũng đi. Chao, nắng gớm hè.

   Ra vậy đó. Chị Tư cười thầm. Lâu nay nó hay nhắc đến anh Hổ, hỏi dò chị coi anh ta tốt xấu, chừng như có tình ý gì rồi đây. Hổ là con ông Tiện, nhà vào hạng khá giả trong làng. Phần hắn ta cũng thật thà chịu khó, nhưng tính nhút nhát, mang cái tên nghe thật oai mà lại sợ rắn sợ ma đủ thứ. Còn gia đình thì năm bè bảy bối: ông cha vào công giáo, hay nịnh bợ bọn hội đồng xã, tuy không hẳn là tay chân, bà mẹ cảm tình cách mạng và thờ Phật, anh con cả vào bộ đội hồi kháng chiến làm tới đại đội phó sau đi tập kết, chị Hai lấy chồng thượng sĩ biệt kích tỉnh thuộc loại ác ôn. Đợt quân dịch này bắt một loạt hai mươi sáu thanh niên trong xã. Chị Tư đã gặp bà Tiện vận động giữ con ở nhà, chưa biết kết quả ra sao. Nghe Hợp gợi chuyện, chị không hỏi ngay vì biết tính Hợp như trẻ con, thấy người ta lờ đi thì bám theo, hễ hỏi đến lại làm mình làm mẩy. Chị giẫm những cành khô ngổn ngang dưới gốc chè, tới chỗ xa đường qua lại. Hợp bước theo, ngập ngừng:

   - Hôm kia em gặp anh Hổ… hồi đi cuốc cỏ lúa về, đông người ta... ảnh nói năm ngày nữa đi. Em coi quyển sách gì họ phát cho ảnh, thấy chụp hình những chỗ quân đội ăn ở chơi bời vui lắm, ca dao cũng nhiều.

   - Thiếu gì thứ ca dao quân dịch. Muốn nghe tao đọc cho nghe. “Em là con gái Đồng Nai, tuổi vừa đôi tám chờ ai bây giờ…”.

   - Biết chị giỏi. Mà sao người ta đồn lính chết nhiều quá, toàn bị đạn từ bụng trở lên. Bên Giải phóng bắn đâu trúng đó mà.

   - Đồn gì, xe chở xác chở thương binh về nườm nượp, trực thăng bay như chuồn chuồn, mày đi coi về nói với tao chứ ai.

   Hợp buột miệng kêu:
   - Vậy mà ảnh nhất định đi quân dịch chị à. Người đâu lại có thứ người...

   Hợp nghẹn lời, chớp mắt. Chị Tư ngừng tay hái chè, nhìn thẳng vào mắt Hợp, chặn ngọn luôn:
   - Chị hỏi thiệt em, hai đứa đã hứa hẹn gì chưa?

   Hợp ngây mặt, luống cuống cãi lấy được:
   - Dạ... không mà, chưa gì hết. Chưa đâu chị à, mới sơ sơ...
   - Em nói ảnh đừng đi, bà con chòm xóm người ta chê cười.

   Hợp ngồi xổm xuống bóng cây, thở dài, tẩn mẩn xé vụn từng cái lá chè, hai má đang đỏ dần dần tái đi:
   - Phải chị em mới dám nói thiệt, má em cũng không biết đâu. Bọn em có gặp nhau nói chuyện mấy lần, em thấy ảnh tốt bụng hiền lành. Thanh niên diệt cộng hay thanh niên cộng hòa hiếc gì cũng không... ảnh về thưa với ba má ảnh đi hỏi em, ông Tiện không chịu, nói nhà em nghèo, bị tình nghi can cứu, tánh nết em bướng sao đó. Ba con rầy lộn nhau. Ảnh nói không lấy được em ảnh nhảy xuống giếng, em sợ quá. Chị đừng nói với ai nghe. Ảnh không muốn đi quân dịch, đập bệnh ra nằm, ông Tiện cằn nhằn hoài: “Mày không đi thì họ cào nhà, tịch hết trâu ruộng, họ bắt tao đi thay. Trước sau gì cũng khó thoát, thà đi trót một lần cho xong, mười tám tháng chớ mấy. Bộ ai đi lính quốc gia cũng chết hết sao”. Đó chị nghe thử, nói ra câu nói vậy mà không mắc ngang cổ mới lạ chứ. Bà Tiện khóc miết mà cãi ông Tiện không nổi. Chị Hai còn xúi ảnh nộp đơn đi biệt kích tỉnh với chồng mình nữa mới gớm chớ, nói đi biệt kích dễ về thăm nhà nè, lãnh lương khá nè, anh em gần nhau nè, đi quân dịch phải vô tới Sài Gòn, tháng phụ cấp trăm hai bạc ăn tiêu gì. Ảnh giận gia đình mới tính đi đó. Tức cho ông Tiện, con đẻ đứt ruột chứ phải hòn đất nặn ra đâu mà coi như người dưng, ảnh chết rồi ổng ở đó mà hưởng trâu ruộng cho sướng đời, có xếp phản mít dày cả sải ra nằm cũng không êm lưng đâu. Chị Hai cũng thiệt tệ, chẳng kể gì chị em hòn máu xắn đôi. Để coi anh cả đi tập kết về ảnh chỉ ngón tay giữa mặt, hỏi “em tao đâu?” rồi ăn nói sao cho biết. Cứ tưởng cái mạng ông thượng sĩ biệt kích to lắm đó, không biết bên Giải phóng họ bắn trúng rồi có lột da sống lại được không?

   Hợp nói một hơi không nghỉ, thè lưỡi nếm dòng nước mắt chảy xuống môi, kéo ống quần lên lau mắt, rồi lại bật khóc thút thít. Chị Tư mủi lòng, trách mình lâu nay ít chuyện trò với nó, để nó băn khoăn rầu rĩ mà không biết. Hợp run giọng tiếp:
   - Em cứ thây kệ, ai có thân nấy lo. Chẳng thà trầu cau ăn hỏi thành vợ thành chồng rồi còn dễ khuyên can, chớ bây giờ nói ra người ta lại nghi ngờ này nọ, à con này lãng mạn trai gái, à con này tư tưởng Việt cộng tác động tinh thần thanh niên, gì gì nữa thì em chết với hội đồng, thịt lộn xương xương lộn thịt mất.

   - Thì đừng nói với người khác, nói riêng với anh Hổ thôi. Em khóc níu ảnh được, chớ bảo chị khóc níu giùm sao?

   - Cái chị này, giỡn có hồi có chặp... Em nói hai lần rồi, ảnh cứ phủi đi như phủi tàn lửa. Thôi mặc kệ ảnh, ảnh không nghe gia đình lại khai báo cả em nữa cho coi. Thời buổi này ai dám tin ai đâu chị. Mà cái lập trường ảnh lung lay vậy, lỡ ở nhà làm công an dân vệ lại xấu lây tới em. Níu kéo làm gì, phải vợ chồng thì em không thương cũng giả đò khúm núm rồi đó. Bà Tiện tới tìm em nói nhỏ: “Bác với cháu chưa phải má con cũng như má con, cháu biểu thằng Hổ đừng nghe ổng...”.

   
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #5 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:26:58 am »

Hợp bỗng nín tắp, quay mặt. Một bóng người cao, tóc cắt bàn chải, đang thập thò sau rào nhà Hợp ngó qua vườn chè. Chị Tư vẫy tay gọi:
   - Hổ ơi, ra hái giùm ít nắm chè coi thử.

   Hổ chỉ đợi tiếng gọi là vạch rào bước tới. Hợp đứng dậy vặn lưng, xách giỏ, con mắt ngó lơ:
   - Về chị, còn thăm ruộng nhà mà.

   Chị Tư kéo tay Hợp:
   - Làm bộ hoài, ngó coi thằng Hổ cái mặt còn bằng hai ngón tay tréo kia. Nó linh thiệt, mới nhắc đã thấy tới, hèn gì tên là Hổ.

   Hổ gầy sút hẳn, tóc đâm vành tai không buồn cắt, hai má nhô xương. Cái miệng hở một hàng răng lúc nào cũng như đang cười, bây giờ càng làm nổi rõ khuôn mặt chỉ còn răng với mắt. Hổ mặc cái sơmi trắng sạch bỏ ngoài quần bà ba đen, tay cầm rựa, đứng lúng túng:
   - Chị Tư à… thấy con trâu nhà em đâu không?
   - Có thấy một con trâu tơ, trâu cái. Thôi, đừng lấy vải thưa che mắt thánh, ngồi xuống. Tụ họp mới ba người, dân vệ chưa kiếm cớ bắt được đâu. “Túi nhung thêu nếp chỉ vàng, anh đi quân dịch vẻ vang gia đình”, chị em tôi có lời mừng ông quân đội đó nghe.

   Hổ vốn ăn nói vụng, chỉ xịu mặt xuống ấp úng:
   - Tội chết đi chị, em chưa biết tính sao đây.

   Hợp vẫn ngồi quay lưng, kéo dài giọng chua như giấm:
   - Tính sao nữa. Người ta đi lính đóng lên ông thượng sĩ đại sĩ, sắm cây ba toong bịt bạc như ông Tế công an quận đó, về gõ đầu chị em mình cho oai, ra đường con nít bỏ chạy, ông già khom lưng vái chào cho sướng chơớớ.

   - Kìa Hợp, tôi không...

   - Ông thượng sĩ Hùm tới mà tôi quên chào. Xin nhận tội lỗi để dành sau sám hối luôn. Anh đi lính, cấp trên có biểu giết đồng bào thì anh giết má con tôi thôi, chớ đừng giết má anh mà mang tội đó nghe.

   - Hợp! Hợp muốn tôi... tôi chết ngay bây giờ nè!

   Hợp ngoảnh cổ lại. Đôi mắt sắc như dao cau lúc này ướt đẫm. Hợp cười như mếu, cái môi dưới đỏ mọng giật giật:
   - Anh vậy, chớ tôi còn muốn sống nữa à?

   Chị Tư bùi ngùi nhìn hai đứa cùng khổ như nhau mà dằn vặt rỉa róc nhau vì không tìm ra lối thoát. Đập bệnh đòi miễn hoãn quân dịch thì bọn xã nhất định bắt khiêng xuống cho bọn trưng binh khám. Trốn đi xa làm ăn cũng chưa chắc đã yên. Còn một con đường mà chị đã mở cho một số thanh niên khác nhưng ngần ngại không nói với má con Hổ vì thấy tính Hổ nhát gan và gia đình quá phức tạp: bỏ nhà theo Cách mạng. Nhưng đến tình cảnh này không nói ra là có tội... Chị đắn đo ướm một câu:
   - Như anh Cả của Hổ mà hay. Hồi kháng chiến nhảy đại vô vùng tự đo đi bộ đội, ông Tiện cằn nhằn chán cũng thôi chớ sao. Có điều anh Cả dạn gan hơn Hổ nhiều.

   Hổ đáp luôn, giọng sôi nổi khác hẳn mọi ngày:
   - Hồi đó khác, chánh phủ Cụ Hồ nơi nào cũng có, bây giờ Cách mạng ở đâu đố chị tìm ra. Tìm được là em nhảy theo liền. Chưa thấy Cách mạng đâu chớ đã nghe Cách mạng mấy năm nay, họ giết thằng Tế em sướng bụng quá. Em sợ liên lụy gia đình, không em rình bằm đầu nó năm ngoái rồi. Cần dạn thì phải dạn chớ.

   Hợp nép đầu sau lưng chị Tư để giấu nụ cười. Cơn giận tan chảy trong ngực Hợp êm ru. Anh chàng sao thiệt thà như đếm, nói câu nào nghe thương gọn câu đó. Hồi thằng Tế rình mò Hợp, anh Hổ có hỏi đò mấy lần, Hợp vẫn giấu vì thằng kia dọa nếu hở ra “mất uy tín cán bộ” nó chôn sống cả nhà. Mãi về sau Hợp mới biết ảnh ghen ngầm, tưởng Hợp trai gái với thằng kia, nên thiết tha với Hợp đã lâu mà không chịu ngỏ lời, còn khích bác xa gần nữa. Con người hiền lành vậy mà vì mê Hợp cũng đâm ra nói gay nói móc mới tội chớ. Còn cái sự bằm đầu thằng Tế thì chắc ảnh thương Hợp quá nói thêm thắt ra vậy, khi ảnh hiểu rõ đầu đuôi thì thằng kia đã xanh mả rồi, Cách mạng cứu Hợp khỏi bị nhục rồi.

   Khi biết anh Hổ yêu mình, Hợp chỉ nghĩ sơ sơ thôi. Đáng lẽ ông trời sinh ra Hợp là trai mà ảnh thân gái mới đúng, giả sử lấy nhau chắc Hợp phải làm chồng. Cha ảnh cắn đồng tiền bể tư, không phải người tốt. Thêm chị Hai hay vênh vênh cái mặt bà thượng sĩ, giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng. Thôi quách, mình nghèo mình dốt thì yên phận nghèo phận dốt, không thèm làm dâu nhà đó. Hợp làm kiêu với anh Hổ một dạo, lại hơi ghẹo một chút để ảnh ấp úng cười chơi. Rồi dần dần Hợp thấy ảnh không giống mọi người. Ảnh không có chí khí anh hùng làm cách mạng, mà cũng không ngổ ngáo cao bồi như cái đám vỗ ngực “làm trai phải biết chơi hoa, phải biết đốt nhà phải biết chém trâu”. Hợp đoán ảnh cố làm ra nhát gan sợ sệt quá mức đi, để bọn chánh quyền không bắt lãnh súng vô Thanh niên diệt cộng. Đến cái khoản Thanh niên cộng hòa đánh trống ghi tên mà ảnh tránh được, Hợp chịu là tài. Coi bộ ảnh im im như vậy chứ “đầu óc” lắm đó. Hợp hối hận. Hợp làm quen, lén nói đôi ba câu chuyện. Hợp mến con người làm chắc nói thiệt đó. Rồi Hợp nhận thấy đời mình không thể thiếu anh Hổ được, nhứt đánh nhì đày Hợp cũng phải sống với anh Hổ thôi. Hợp mới lớn lên, sống hăm hở nồng nàn, mở đôi mắt trong veo nhìn quanh thấy quá nhiều nhơ bẩn, tàn bạo và nghi kỵ, những mẫu người anh hùng hồi kháng chiến Hợp chỉ còn nhớ mang máng. Vì vậy Hợp yêu tha thiết một người tuy không giống với mơ ước của Hợp cho mấy nhưng có thể gọi là tốt. Hợp tô vẽ thêm cho Hổ những đức tính mà Hổ không có nhưng Hợp muốn Hổ có và tin rằng Hổ có. Càng bị ông Tiện ngăn trở, Hợp và Hổ càng gắn bó nhau, say nhau, bàn với nhau đủ mưu mẹo, từ chuyện dắt nhau vô Sài Gòn làm ăn đến viết thư ra Bắc nhờ anh Cả can thiệp, chỉ có chuyện thoát ly theo Cách mạng thì chưa nghĩ tới vì cũng chưa bức xúc gì lắm mà phải xa nhau.

   Hợp chỉ ngước mắt nhìn tới, xăm xăm đi tới mà không biết có ổ gà dưới chân. Đùng một cái, đợt quân địch đến. Hổ sắp bị cuốn vào cái che đạp mía khổng lồ nghiến hết thanh niên đó. Tránh trớ được ít lâu rồi Hổ sợ vạ lây tới gia đình, định đi lính. Hợp ngạc nhiên, kinh hoảng. Hợp lầm rồi, mắc lừa rồi! Hợp thù ghét cái lối giằng co, lưng chừng, nửa nạc nửa mỡ, đen trắng nhập nhèm của Hổ. Quốc gia xấu, Cách mạng tốt, dứt khoát vậy đó. Chính Hổ cũng biết. Vậy sao Hổ còn muốn đi lính quốc gia đánh Cách mạng? Hợp khinh Hổ thậm tệ, đay nghiến cho sướng miệng, không kịp nghe Hổ phân trần gì hết, thề nhất định không thèm nhìn mặt cái anh đồ tồi đồ hèn ấy nữa. Ông Phật trên tòa biến ra hòn đất. Viên ngọc hóa mảnh chai. Chấm dứt. Cắt đứt. Hết.

   Mới tránh mặt Hổ ba ngày rưỡi đúng mà Hợp chống chếnh như mất đi nửa người, cầm gì rớt nấy, mất ngủ đến phát bệnh. Hợp phải cầu cứu đến chị Tư. Kể lể từ sáng đến giờ Hợp đã nguôi giận. Hết giận đến thương, thương con người phải khổ vì Hợp đi tìm Hợp như ma lạc mồ mà sợ Hợp đến nỗi không dám ngó thẳng. Hai tay bó gối, Hợp nhìn Hổ đăm đăm như người vợ ngắm chồng đi xa mới về. Ánh nắng soi xiên trên mặt Hổ, cái má lõm sâu và những đường nhăn mới chung quanh mắt trông càng rõ. Vậy mà Hợp còn nhiếc móc ảnh, nghi ngờ ảnh. Ác sao ác quá vậy. Hợp không nén được cảm động rộn rực:
   - Anh Hổ nè, em đi lính thay anh được em đi liền.

   Hổ cũng quên hẳn chị Tư đang ngồi bên, tuôn ra cái câu văn hoa đã nhẩm thuộc lòng sẵn từ. đêm qua, tay chém cái rựa đứt một nhánh chè con:
   - Anh mà phụ bạc cõi lòng em thì chuỗi ngày xanh cũng đoạn trường ngay lập tức như vầy.
   - Đừng anh, thề độc miệng dữ...
   - Thề vậy chớ thề nữa cũng chưa xứng. Trước đây anh không dám liều, bây giờ cái thế không bước lui được nữa Hợp à. Anh nghĩ chín rồi. Ở nhà trước sau cũng bị nắm đầu, thà theo Cách mạng chết còn vinh hiển hơn, đi lính quốc gia sống sót cũng nhục. Má anh đồng ý rồi. Anh tính tìm Hợp hỏi thử coi hễ Hợp đồng ý nữa thì anh trốn đi tìm Cách mạng, tìm miết rồi phải gặp. Miễn là Hợp nhớ cho lời hứa bữa trước, chừng nấy thôi.

   Hợp chưa bao giờ khuyên ảnh đi tìm Cách mạng, vì biết Cách mạng ở đâu mà tìm. Hợp cũng không kíp nhớ mình đã hứa những gì, nhưng nghe ảnh nói đúng, Hợp cảm thấy như chính Hợp đã nhiều lần thúc giục ảnh theo con đường của anh Cả. Ờ, có vậy thôi. Mọi việc trở nên đơn giản lạ. Hợp nói rất trịnh trọng:
   - Em trước sau như một, em chỉ muốn có một người chồng cứu nước, xông pha những sự khó khăn chiến trường. Anh theo Cách mạng thì đừng nói năm ba năm, đến năm ba chục năm em cũng đợi.

   Bốn con mắt nhìn nhau, quấn lấy nhau, ngời ngời ánh sáng. Trên quả đất và trong vườn chè này không còn ai nữa hết, chỉ còn Hợp và Hổ say sưa cười với nhau trong khi bao nhiêu lớp rào độc ác còn cố ngăn cách họ. Cả hai cùng giật mình xấu hổ khi nghe chị Tư bật ho một tiếng. Chị nói thấp giọng:
   - Chuẩn bị sẵn mà đi, Cách mạng sắp về đón anh em đó.

3-1960

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #6 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:30:17 am »

MỞ CỬA

   Sau cái ngày đi hai chuyến tàu lặn, tức là bị đổ một thùng nước xà phòng và một thùng nước vôi, bà Tư Lạng đâm ra nặng tai, ai nói gì bà cũng đưa bàn tay khum khum lên vành tai, hỏi gặng. Hàng xóm qua kêu đi cấy, bà bốc đưa cho nắm chè là chuyện thường.

   Đêm ấy bà nhai đến miếng trầu thứ ba vẫn chưa buồn ngủ. Con Hường nằm bên bà thỉnh thoảng nghiến răng trèo trẹo, bà lại vỗ vào miệng cháu một cái cho im. Con nhỏ ngày hai lần xách cơm cho má nó ở tù trên nhà lao xã, sưng cả bàn chân, hôm nay dầm mưa về lạnh cóng, cứng hàm không nói được.

   Phía đầu xóm chợt rộ tiếng chó sủa, năm bảy con một lần. Chân người chạy huỳnh huỵch. Nhà bên cạnh kẹt cửa. À, lão thôn trưởng cũng chạy, thôi rõ rồi, bên ta về rồi! Con Hường vẫn ngủ lăn như củ khoai. Bà Lạng lập cập nhổm dậy, trống ngực đập mạnh tưởng chừng như cả xóm nghe được. Đêm xưa Cách mạng về bắt thằng đại diện ở thôn bên cạnh, bà ra hé cửa dòm, đợi mãi không thấy anh em giải phóng vô cho coi mặt một chút.

   Tiếng gọi loa dội ngay gần ngõ nhà bà. Con chó Mực vừa giật lùi vừa sủa ăng ẳng, bà không nghe được gì. Tức cho con chó, bà đập chết ngay bây giờ! Bà rón rén mở hé tấm cửa hông, gọi khẽ: “Chậc chậc, Mực ô!”. Con chó luồn vào nhà còn gừ, bà vỗ đầu nó cho im. Tiếng loa vẫn gọi khàn khàn: “... Ai hành động lộn xộn nê là đi báo cáo với địch sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Alô!”. Anh em đi đêm dầm mưa lạnh cổ cách sao mà nghe tiếng khản quá. Họ cũng khôn, chặn ngay cái sự đánh mõ la làng. Bà đứng nép vào bên cửa, phập phồng đợi. Một bàn tay nhỏ kéo áo làm bà giật mình. Con Hường dậy lúc nào, đứng bên bà thì thào:
   - Việt cộng về hả bà?

   Hỏi xong nó mới sực nhớ bà nó nặng tai. Nó định hỏi lại bà nó thật to, nhưng bà nó đã nói:
   - Im, im coi. Cháu vô giường nằm đi.

   Mấy người nói gì trước ngõ. Bà Lạng chợt nghe rõ một câu: “Ừ, đồng chí vô đây”. Anh em vào nhà bà, đến thăm riêng bà! Vô mau các con, lâu quá rồi, vô mau cho má gặp má mừng một chút… Bà rút cây gài cửa được nửa chừng, bỗng dừng lại. Bàn tay bà, cả người bà lạnh tê. Thằng thôn trưởng mai sẽ trở về, nháy con mắt chột chột cười: “Sướng hử! Hồi hôm mới nghe họ giả cộng sản loa một tiếng, bà lo mở cửa đón liền. Họ nói chuyện vui không hả?”. Thằng cảnh sát trưởng tuổi xứng con bà sẽ gầm lên: “Treo mụ già này cho đi tàu bay, đồ chó đẻ!”. Ông Ất xóm bên bị tù ba năm vì trúng bọn biệt kích giả làm Cách mạng đi thử lòng dân. Lỡ lần này bọn nó cũng giả Cách mạng thì sao? Bà đứng im bên cửa, hai tay run đến nỗi con Hường phải hỏi nhỏ:
   - Bà sợ hả bà? Họ làm gì mà sợ?
   - Không. Để yên, cháu đừng nói.

   Tiếng chân bước trong sân, lên thềm. Tiếng gõ cửa cành cạch. Một giọng chưa vỡ hẳn, khi thanh thé, khi ồ ồ, nửa trống nửa mái cất lên ngoài cửa:
   - Má Tư ơi má Tư, mở cửa cho con vô!

   Im lặng.
   - Má Tư ơi, Cách mạng tới đây, má mở cửa vô nói chuyện chút. Bộ má sợ Cách mạng làm hại sao?
   Trong nhà, bà Lạng nín thở. Không phải giọng bọn biệt kích lắng nhắng. Cách mạng mới về mà đã biết rõ nhà bà, tên bà... Con Hường giật áo bà, ra hiệu thúc bà mở, bà vẫn không động đậy. Bà đã tin chắc là Cách mạng thật rồi, nhưng không mở được. Thằng thôn trưởng chạy, còn nhà thằng cộng tác viên mật ở ngay mé sau, nó đang lắng tai rình. Khổ cho bà, biết làm sao đây? Gia đình bà bị treo bảng cô lập ngoài ngõ, con gái bà đang bị bắt, lúc này chỉ cần kẹt cửa một tiếng là mai nhà ra tro, người đi tù. Bà như đứng trên đống kiến lửa, phần sợ anh em kêu cửa không được bỏ đi mất, phần thương “thằng nhỏ” nào đó đứng ngoài mưa nói rỉ rả mãi, phần lại tức sao nó dại quá, nó khờ quá, nó chưa biết ra lệnh ồn ào để bà con đây có cớ mà đến với Cách mạng, địch không trả thù được...

   Bên ngoài một giọng trầm hỏi:
   - Sao, không mở hả?
   - Dạ, báo cáo anh bả không mở. Đồng bào đây tệ quá!

   Câu nói xóc thẳng vào ruột bà Lạng. Bà muốn kêu to: “Con ơi, hiểu cho má một chút, tội nghiệp!”. Đến nước này bà đành mở liều, tới đâu thì tới... Cánh cửa bỗng nảy lên đánh thình, tiếng quát tiếp theo:
   - Mở cửa thắp đèn ngay! À, chứa ác ôn hả! Không coi mệnh lệnh Cách mạng ra gì hả?

   Bà Lạng dạ thật to, mừng quá đỗi mừng. Có vậy chớ, anh nào tới sau đó đã hiểu bụng bà. Trong khi bà bật lửa châm đèn, con Hường đã lanh tay kéo cây gài cửa. Luồng gió lạnh lùa vào, ánh đèn soi rõ hai anh giải phóng quân lạ mặt, đội mũ vải chỏm tròn vành mềm, mặc áo bà ba quần đùi đen, quàng tấm nilông còn chảy nước ròng ròng. Trong khi họ cởi áo mưa giũ bớt nước, bà ngó chăm chăm: đúng thiệt rồi, “bộ đội mũ sụp” nổi tiếng của đằng mình trăm phần trăm rồi, nghe mãi bây giờ mới xáp mặt, đứa nào đứa nấy to như tấm phản, tóc tai hớt sạch sẽ coi xinh quá. Vậy mà bọn xã dám nói anh em ăn lá cây ốm nhom, tóc dài tới mông, bảy người đeo trên một cọng đu đủ không gãy. Thiệt cái bọn nói láo không sách.

   Anh bộ đội trẻ bước vào trước, một giọt nước còn đọng long lanh trên cái cằm chưa có sợi râu nào. Bà Lạng khẽ gắt cháu:
   - Hường, không thấy à? Thổi lửa lên các anh ngồi ấm chút, ngó coi tội chưa.

   Rồi bà túm cánh tay anh bộ đội trẻ, gí ngón tay vào cằm anh quệt giùm giọt nước mưa, nửa cười nửa mếu:
   - Mấy năm đợi miết, bây giờ mới thấy mặt bọn bay. Sao không ở luôn trên núi, còn xuống làm gì nữa? Bộ ở dưới này thiếu gạo hay sao mà bay chê không tới? Mà sao mày dại vậy hả con, tiếc gì một tiếng nạt mà con không nạt cho má mở cửa? Con về rồi con đi, má phải giả bộ vậy chớ đau lòng lắm con ơi...

   Con Hường thổi lửa, cầm cây than cho các anh hút thuốc, quanh quẩn bên bà nghe các anh nói chuyện, rồi mệt quá lăn quay ra ngủ tiếp lúc nào không biết... Nghe tiếng kêu to, nó giật mình mở mắt. Bà nó đang xúc lúa đổ vào ba lô của hai anh bộ đội mình, miệng la ồn xóm:
   - Các ông bắt bán tôi phải bán, chớ rồi bà cháu tôi kéo đi ở tù hết. Khổ quá trời ôi, mai kia ôm nhau chết đói cả nhà...

   Rồi bà thì thào:
   - Bay cứ lấy thêm vài ang, một lần đi một lần khó. Đồng bào khoai củ sao cũng được mà. ăn no đánh mạnh về đây giải phóng má mừng. Gói ít hột muối nữa.

   Tay bà trút hũ muối, miệng bà la:
   - Để cho bà cháu tôi vài lon với quý ông ơi, mua muối ghi sổ có chừng, lấy chi ăn nữa đây.

   Con Hường định ngồi dậy, nhưng bà nó trừng mắt: “Ngủ đi, luẩn quẩn cái gì”. Nó nằm im nhắm mắt chập chờn, nghe bà nó hết la om sòm lại nói thầm, không hiểu làm cái trò gì kỳ cục quá. Nó định đợi hỏi thử, nhưng chỉ thức một lúc giập miếng trầu là ngủ tít mất.

   Sáng hôm sau nó dậy, thấy bà đang nấu cơm, ngồi lờ đờ bên bếp. Nhà sau có tiếng kêu khóc xôn xao, nó nghe lõm bõm như ai bị bắt sao đó. Nó đến gần bà, xòe hai bàn tay sưởi ấm:
   - Các ảnh đi rồi hả bà?
   - Cái gì?
   - Cách mạng đâu hết rồi bà? Họ bắt ai vậy?

   Bà nó vành bàn tay lên mang tai như mọi ngày, gật gật:
   - Ừ, vậy cũng được, bữa nay cháu gởi thằng Chín đem cơm lên xã, ở coi nhà cho bà đi vun khoai.

   Con Hường ngơ ngác nhìn bà, nhìn căn nhà trống trơn. Rõ ràng đêm qua nó thấy bộ đội mình về. Hay là nó ngủ mê sao đó. Nó lại mê thấy bà nó lanh lợi, tai không điếc, nói thầm cũng nghe mới lạ chứ. Nó không hỏi thêm, lẳng lặng đi lấy cái mo cau nhúng nước để gói cơm gởi cho má. Nó thầm xếp giấc chiêm bao đêm qua vào trong số chuyện lạ trẻ con không hiểu được, hỏi thì không ai nói rõ, đợi lớn lên sẽ biết. Ví dụ như chuyện má nó tự nhiên phải ở tù, như thằng Chín chăn trâu sau nhà hội đồng, đào dế đụng phải bốn năm cái xương sọ người chôn chung một chỗ.

10 - 1960
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #7 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:34:15 am »

KHÓ HIỂU

   Trung sĩ bảo an Trần Dĩnh dậy từ ba giờ sáng, chải tóc kỹ hơn mọi ngày, lấy bộ chiến phục xanh ra ngắm một chút rồi chép miệng cất đi, thắng bộ y phục làm việc bằng ka ki vàng vào mình, bấm lên cánh tay áo trái cái cấp hiệu trung sĩ, cài lên trên nắp túi cái huy chương Anh dũng bội tinh sao đồng, rồi ưỡn ngực soi gương. Chỉ tiếc rằng người hắn thấp lùn, nên mặc gì thì mặc trông vẫn không oai. Đáng lẽ mặc chiến phục mới phải, vì hắn tự coi như sắp ra trận. Số là hôm qua đại úy quận trưởng đích thân gọi hắn lên bàn giấy, dặn bằng cái giọng Bắc pha Nam lơ lớ:

   - Dĩnh, nghe kỹ đây. Có tin của công an chìm báo rằng Việt cộng nội nhật ngày mai sẽ đẩy dân xã Phù Dương xuống quận đấu tranh hợp pháp. Chúng nó phá tan hoang hết bốn cái ấp chiến nược rồi, bây giờ tính chống không chịu rào nại, gớm chưa. Mày người Phù Dương, tao tin mày, giao mày hai tiểu đi chặn chỗ đầu đường cái, gặp dân Phù Dương xuống đấu tranh mày nắm đầu hết cho tao. Cố tóm cho gọn nhá, tao tính thăng thưởng đặc cách cho mày nên trung sĩ chánh, cố gắng em nhá. Mà đừng bắt nộ niễu quá, Việt cộng tuyên truyền ầm ĩ, phiền ra.

   Trung sĩ Dĩnh “dạ” một tiếng vừa phải, hơi nhỏ để tỏ lòng cảm động biết ơn, và đủ to để tỏ ý quyết tâm chống cộng. Hắn ngửng đầu đi ra, cảm thấy mình cao lớn hơn lên hàng tấc.

   Trời chưa sáng hẳn. Hai tiểu đội của Dĩnh đã đặt trung liên và súng phóng lựu kiểm soát chỗ ngã ba đầu đường cái, cách quận đường hai cây số. Dĩnh cầm khẩu các bin lăm lăm, quát bọn lính đang uể oải ngáp, hút thuốc, ngồi lê la giở bài cáctê định sát phạt nhau:
   - Nè, đừng có giỡn mà đứt đầu với đại úy. Bọn nó đấu tranh hợp pháp chớ không vừa đâu.

   Thực ra chính hắn cũng không hình dung được đấu tranh hợp pháp là thế nào. Chắc hẳn là một cuộc biểu tình lớn mang biểu ngữ chống cụ Ngô và nước bạn Huê Kỳ, rước cờ đỏ búa liềm của cộng sản. Có lúc hắn lại thấy một đoàn người gậy gộc giáo mác ùa tới cướp quận như hồi Việt Minh khởi nghĩa 45. Hôm qua mấy chục người dân Phù Dương hốt hoảng chạy xuống báo cáo quận: Việt cộng về đông tới số ngàn, bắt trụm các ông chánh quyền và dân vệ, chỉ trong một đêm phá hết rào, lấp hết mương ấp chiến lược rồi. Hắn nghe nói mà rởn gáy, nhắm chừng mất quận đến nơi, cái mạng trung sĩ của hắn sắp đến ngày tận chăng. Nhưng tối đến có tin của cộng tác viên công an báo về rằng Việt cộng chỉ vỏn vẹn có năm người hai súng, chính dân Phù Dương nghe lời xúi giục nổi lên làm loạn đó. Hắn còn nửa tin nửa ngờ, nhưng cũng thấy vừng bụng hơn. Lời hứa thăng thưởng đặc cách của đại úy khiến hắn say như nốc rượu đế, không biết sợ nữa. Chỉ còn lo một nỗi là vợ con hắn bị kẹt trên ấy. Đại úy đang xin thêm lính để hành quân lên Phù Dương. Hắn cũng sốt ruột muốn theo quân đội về thăm nhà, đón vợ con xuống quận ở sau đó tàu bay đại bác cứ mặc sức triệt hạ xã Phù Dương, hắn không oán trách gì.

   Người đi chợ hôm nay khá đông, gồng gánh lũ lượt. Bọn lính chặn hỏi giấy khám xét mãi không thấy gì khả nghi. Trung sĩ Dĩnh ghé vào quán định làm cốc bia, chợt nghe gọi to sau lưng:
   - Báo cáo, có người Phù Dương!

   Hắn giật mình, túm khẩu các bin bước ra, lưng hơi khom theo thói quen sẵn sàng chiến đấu. Bọn lính đang xốc đôi bầu của mẹ con bà Lãnh quen buôn chợ quận, ném ra từng bó chè tươi, từng nải chuối xanh. Bà Lãnh túm lấy Dĩnh, rên rỉ:
   - Cháu coi đó, không hiểu sao anh em họ đòi bắt bác, dọa trói đánh, ném đồ đạc lung tung. Mọi ngày anh em mua chịu đủ thứ rồi quên chưa cho tiền, bác có nói gì đâu. Cách mạng về cấm xuống quận, bác trèo bờ rúc bụi chạy xuống báo cáo, gặp anh em bộ đội chưa kịp mừng đã bị…

   - Thôi bác, đừng la ồn. Cấm không được gọi Việt cộng là Cách mạng, nhớ đó. Khám có gì không bay?
   - Không... À, có một lá cờ.

   Trung sĩ Dĩnh quắc mắt, bước lại đống chè chuối, nhưng lại thất vọng khi thằng lính xổ ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ. Bà Lãnh không rên rỉ nữa mà gào lên:
   - Bộ bây giờ mang cờ quốc gia cũng bị tội nữa sao? Để ở nhà Việt cộng họ soát, thấy đâu xé đó, bác liều mạng đem xuống quận gởi cất giùm, đợi yên yên mang về treo.

   - À, vậy thì tốt Dân Phù Dương vẫn một lòng theo quốc gia đó chớ. - Dĩnh ngẫm nghĩ, rồi nghiêm giọng phán: Được, cho bác đi. Cấm không được đấu tranh hợp pháp nghe chưa! Ba trăm bạc tôi mua chịu của bác dạo trước để thiếu nợ đó đã, không mất đâu mà lo nhắc khéo.

   Mẹ con bà Lãnh đi khuất, Dĩnh mới dạy bọn lính:
   - Bọn bay dốt lắm, không biết chiến tranh tâm lý là gì. Tức là... è, nghĩa là phải phân biệt ai tay chân Việt cộng, ai thuần túy quốc gia, rồi mới la hét chớ. Ai mở miệng nói đấu tranh, tự do dân chủ, chống khủng bố, bay cứ kéo vô xóm nện một trận tơi bời cho tao. Còn dân chúng người ta chạy Việt cộng xuống trình báo quốc gia thì đừng động tới. Điều giáo lệnh thứ bảy nói rằng: “Phải thân dân, bảo vệ dân và giúp đỡ dân”. Ấy là bay phải nhớ, hiểu chưa?

   Hắn còn định nói dài, nhưng nhác thấy hai ba thằng lính che miệng ngáp nên kết luận cụt lủn.

   Từ lúc ấy trở đi, lác đác có người Phù Dương bồng con bế cái đi từng nhóm xuống quận, mang theo cờ ba sọc, ảnh cụ Ngô giấu kín dưới đáy mủng đít bầu. Họ khai trốn Cách mạng đem cờ ảnh xuống gửi quận, kẻo nữa phạm luật 10/59. Có người lại nói xin ở luôn với quốc gia, xin quân đội về bảo vệ cho dân làm ăn. Trung sĩ Dĩnh ngờ ngợ, bèn thử ra oai một lần:
   - Ai xuống quận coi như đi đấu tranh, bắt hết cho tao.

   Đồng bào chẳng những không kêu van, lại còn ríu ríu đi theo bọn lính: “Dạ phải, các ông bắt cho bà con nhờ, kiếm miếng cơm ăn qua ngày, đợi bên Giải phóng rút thì bà con về xã. Về bây giờ cũng nguy, chắc họ làm tội hết, lỡ xuống báo cáo với quốc gia rồi, như con gái chửa hoang...”. Nghe vậy Dĩnh lại ra lệnh thả cho đi cả, và nhắc bọn lính không được ngủ gật, đề phòng bọn đấu tranh hợp pháp bất ngờ kéo xuống.

   Khi một đoàn hơn bốn mươi người đi tới, Dĩnh bắt đầu hoảng, hô lính chuẩn bị chiến đấu. Nhưng phải rằng mắt quáng đèn lòa, chính vợ hắn bồng con đi trước, ông nhạc hắn chống gậy theo sau. Vợ hắn dúi đứa bé vào tay chồng, khóc thút thít, kể lể. Trung sĩ Dĩnh mủi lòng, nhưng chưa đến nỗi quên rằng mình đang thừa hành công vụ, nên đưa trả con cho vợ và dặn về đồn sẽ nói chuyện. Vợ hắn chỉ đám người vây quanh:
   - Bà con đây trước sau cũng là đi trình báo cả đó anh à, đừng nghi họ mà tội.
   - Được, không sao, tôi biết coi người lắm chớ.

   Ông nhạc hắn nán lại sau, nói nhỏ cho hắn biết rằng Việt cộng kỳ này toàn thứ đội mũ sụp, mang súng nòng to có hai ba chân. Hắn hiểu ngay là trung liên đại liên, có thể là súng cối nữa. Ông nói thêm một câu khiến hắn lạnh người: “Anh có thân thì giữ, đừng để vợ anh phải mẹ góa con côi nó thảm thiết lắm nghe”. Bà con đi xa rồi, hắn vẫn thừ người ra nghĩ ngợi. Được thăng trung sĩ chánh mà vào nằm trong sáu tấm gỗ thì sầu đời quá. Bọn lính bàn tán cái gì với nhau, mặt nhớn nhác. Hắn nạt mấy câu lấy lệ, rồi len lén lùi về phía sau, ngồi vào trong cái cổng gạch, bí mật gỡ cái Anh dũng bội tinh sao đồng nhét vào túi áo trong cùng. Mẹ cha mấy thằng cộng tác viên làm phản, Việt cộng dữ vậy mà báo cáo láo chỉ có năm người hai súng, may dân chúng nói cho biết, không thì quận trưởng cũng chết không kịp ngáp!

   Mặt trời đứng bóng, hỏa đầu vụ vẫn chưa mang cơm đến, bọn lính kêu đói ồn ồn lên, đòi về. Dĩnh cho người đi gọi cơm. Đúng hai tiếng đồng hồ sau, thằng lính mới trở lại, hình như đang cố nín cười:
   - Báo cáo không có cơm. Đại úy cho mời trung sĩ về. Bộ đội cũng rút hết.

   Trung sĩ Dĩnh đang mừng vì được lệnh lui quân nên không hỏi gì thêm. Theo thói quen lâu ngày, hắn tập họp lính cho đi đều hàng ba để biểu dương lực lượng và nhất là để bà con chợ quận thấy rõ hắn đã chỉ huy gần một trung đội. Gần đến cổng quận đường, Dĩnh cau mày bực dọc, sao hôm nay đường sá lại ngập ngụa những lá bánh, vỏ sắn, khúc củi thừa ra vậy. Rồi hắn bịt mũi nhổ toẹt, trong khi bọn lính nhốn nháo bước quanh tránh mấy đống phân trẻ con, kéo qua cổng không còn hàng ngũ gì cả.

   Sân quận đường đầy chật những người dân Phù Dương ngồi im, còn đại úy quận trưởng đứng trên thềm đang nói to, giọng hằn học và khản như nuốt than:
   - Đã nói mãi rồi. Tôi biết cộng phỉ xui các người xuống đây than khóc, đòi gạo ăn, trả cờ ảnh để giở trò yêu sách chánh phủ, tôi đi guốc vào bụng chứ đừng tưởng thằng này dại! Nhưng thôi tôi nhắc nại: tình hình đang chộn rộn thế này, tôi tạm thời cho hoãn rào ấp chiến nược, cho gửi lại cờ ảnh. Tôi chỉ giải quyết được đến thế thôi, các người nằm vạ đây đến hàng tháng cũng chả hơn gì đâu, bảo cho mà biết, rồi đi tù cả xã đừng trách.

   Tiếng rì rầm nổi lên trong đám đông. Một cụ già đứng lên, Dĩnh nhận ra chính ông nhạc hắn. Cụ thưa gửi rất lễ phép:
   - Dạ cấp trên đã chiếu cố mà chấp nhận ý kiến bà con đây, vậy chúng tôi xin kiếu. Xin chào đại úy. Xin chào quý ông, quý bác, quý anh chị trong quận.

   Mấy trăm người gồng gánh dắt díu nhau đi ra cổng. Trung sĩ Dĩnh gật đầu chào mấy người quen. Hắn định hỏi xem họ báo cáo hay xin xỏ gì mà xem đại úy có vẻ gắt gỏng vậy, chợt thấy vợ hắn bồng con đi lẫn trong đồng bào. Chết cha! Sao vợ hắn lại về làng? Lỡ Việt cộng hãm hại thì sao? Lỡ bom đạn quốc gia giội xuống thì sao? Hắn cuống quít định chạy theo, nhưng bị tiếng quát trên thềm lôi giật lại:
   - Dĩnh, thằng Dĩnh đâu? Vào đây!

   Hắn hậm hực trở vào. Trước mặt bàn dân thiên hạ, đại úy gọi hắn bằng thằng nghe chướng quá… Đại úy đóng cửa phòng giấy đánh sầm, ngồi phịch xuống ghế lau mồ hôi trán, rồi trợn mắt:
   - Mày gác thế đấy hở? Đồ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, mẹ kiếp, ông xách cổ mày đi, ông cho mày một tháng trọng cấm, ông nhốt mày vào khám tối với bọn binh nhì, ông tống mày nên cao nguyên cho mọi nó thịt, hiểu chưa thằng khốn?

   Trung sĩ Dĩnh xanh mặt, cúi đầu len lét, không dám hỏi vì sao thượng cấp nổi cơn thịnh nộ. Nghe chửi đã khá lâu, hắn mới đánh bạo thưa:
   - Dạ bẩm... con gặp toàn những phần tử thuần túy quốc gia...
   - Thuần túy, thuần cái mả mẹ mày hay cái gì kia?

   Nhìn theo ngón tay đại úy, trung sĩ Dĩnh thấy một đống lù lù những cờ ba sọc và ảnh cụ Ngô nhàu nát, dính bẩn nhem nhuốc, chất đầy có ngọn trên cái bàn và rơi vãi xuống thềm nhà. Hắn rập gót chào kính rồi lùi lũi bước ra khỏi phòng giấy, mồ hôi ngấm ướt cả cái cấp hiệu trung sĩ và cái Anh dũng bội tinh sao đồng hắn mới gắn lại trên ngực. Một đống dấu hỏi lộn tròn trong đầu khiến hắn chóng mặt. Hắn không hiểu gì nữa hết. Dân Phù Dương theo cộng hay theo quốc gia, cộng phá ấp chiến lược hay dân phá? Gia đình vợ hắn và chính vợ hắn trốn xuống đây lại trở về, sao vậy? Vì sao đại úy đi guốc vào bụng người ta mà chịu thua đám dân nhếch nhác kia, để họ vất trả cờ ảnh vào mặt rồi nhè hắn mà chửi? Còn riêng phần hắn, ừ, riêng Dĩnh có nên bám mãi cái lon trung sĩ với mấy ngàn bạc lương đầy bấp bênh, cực nhục và nguy hiểm này nữa không?

   Chiều hôm đó, lần đầu tiên từ ngày đăng vào quân đội Liên hiệp Pháp đến nay, trung sĩ Trần Dĩnh đập bệnh ra nằm lì trong đồn trại.

1 - 1961

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #8 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:39:33 am »

VỀ LÀNG

   Ông Sần tụt đôi guốc ra cầm tay, trèo lên chỗ dốc trơn trước miếu Cây Đa, mắt lấc láo coi có ai gác không. Thằng cháu xách chai nước mắm và chai dầu lửa buộc chung chạy vượt lên, dừng lại trước miếu, ngửng cổ đọc cái gì. Ông vừa đi tới, nó kêu:
   - Nè ông, tờ lệnh của Giải phóng. Các ảnh về tới đây rồi, mau quá hè.

   - Mô Phật, đi cháu! Đại bác bắn bây giờ.

   - Ca dao nữa ông: “Bảy năm đóng thuế quốc gia, để mua súng Mỹ phá nhà giết dân”. Úi, nhiều thứ lắm. Họ vẽ thằng Mỹ kỳ chưa!

   - Cái thằng! Đi, nói không nghe hả? Tàu bay tới rồi chạy đâu!

   Ông đi thẳng qua miếu, chỉ kịp ngước nhìn sơ những tờ giấy to viết và vẽ xanh đỏ. Chỗ này trống trải quá nên ông vội đi cho thoát. Về đến làng sẵn hầm hố, sẵn con cháu, có trúng bom đạn cũng không ra cái người chết đường chết chợ.

   Ông Sần đang trở về làng.
   Cách đây đúng mười một hôm, đang đêm trong ấp chiến lược bỗng nổi lên mấy chục phát súng cắc bụp. Mười phút sau có tiếng loa nghe trọ trẹ như người rao cố uốn lưỡi cho khác giọng: “Đồng bào chú ý: Quân giải phóng đã về tiêu diệt chánh quyền Mỹ - Diệm và giải phóng thôn nhà, ra lệnh cho toàn thể đồng bào tập trung dự mít tinh tại trụ sở, alô alô!”. Ông Sần nửa tin nửa ngờ, theo bà con ra chỗ họp thì thấy cả một xâu một xốc bọn hội đồng, thôn trưởng, dân vệ, công an, cộng tác viên mật bị trói ngồi đấy, thanh niên trong thôn cầm súng đứng gác. Còn Quân giải phóng thì nghe nói rằng đông lắm chứ không thấy ra mặt, chỉ có những bóng đen lừ lừ đi qua lại ngoài đường lớn. Mấy ông cán bộ mặt trận cũng người trong xã đứng ra kêu gọi đồng bào vạch tội ác ôn đầu sỏ. Bà con ngó mặt nhau, thậm thụt. Một người bật ra nói trước, một người nữa, thế là ầm ầm ào ào cả chục người giơ tay xin tố. Ông Sần không đám tin mình đang tỉnh ngủ. ông hồi hộp nín thở nghe bà con vừa nói vừa khóc. Mô Phật! Sao ta lật được chính quyền nó gọn gàng quá vậy? Cái làng này lọt vào tay nhân dân thật rồi ư? Tất cả những nỗi ngậm đắng nuốt cay trong bảy năm qua đã đến lúc thanh thỏa ư?

   Mười mấy người đã vạch tội bọn ác ôn. Nếu xảy ra tai vạ đã có họ đứng mũi chịu sào hứng lấy trước. Vậy thì ông nói, ông nói hết, ông ngửng cao đầu chửi to vào mặt cái bọn đại gian ác cho nó hả cục lửa nuốt trong bụng. Ông giơ tay rõ cao gọi chủ tọa, ông xăm xăm đi lên trước ánh măng sông, ông chỉ tay giữa mặt thằng đại diện ác ôn mà thét: “Mày còn nhớ mày đánh tao bao nhiêu cây sắt không? Mày cướp của tao bao nhiêu ruộng, khai đi! Đồ quỷ, đồ chó Mỹ!”. Người ông hừng hực. ông càng nói cơn giận càng bốc dữ, ông giơ gậy quật vào mặt nó, mới được một gậy đã bị bà con cản lại: “Đừng đánh nó chết, để nó nghe tiếp đã”. Ông nói đến khản tiếng ngút hơi mới đi xuống, mặt bừng bừng. Dù sáng mai đứt đầu, đêm nay ông cũng thỏa được mối hờn phần nào rồi, không đến nỗi sống để bụng chết chôn đi. Ông ăn hiền ở lành, chứ đâu phải ông hiền giả quá ngu?

   Hai thằng đầu sỏ bị bắn ngay tại chỗ. Bọn tiểu yêu được khoan hồng ra nhận tội trước nhân dân. Ông Sần ưng ý lắm. Sát nhứt miêu cứu vạn thử, nhưng không ham điều sát sanh, Cách mạng xử vậy là hợp lẽ đạo tình người. Ông xách cuốc rựa đi đốt rào lấp mương ấp chiến lược với bà con, mãi gần sáng mới về, còn bắt con dâu mổ gà ăn mừng và sai cháu xách chai đi mua rượu về làm đôi chén ngà ngà.

   Rồi ông nhập vào đám đông bà con đi xuống quận, báo cáo rằng Quân giải phóng về đông đen như kiến, phá sạch ấp chiến lược, mang toàn thị thứ súng gì mối gặm thủng lỗ chỗ hết cái đầu, có lẽ chôn lâu mới đào lên. Bây giờ họ nằm phục kích trên các ngả đường, cắm chông dày kín như cỏ vườn hoang. Ông cười thầm trong bụng khi thấy bọn quận xanh mặt nhớn nhác. Nhứt sinh ông chưa bao giờ hả như lần này. Ông bấm ngón tay tính: trong quận có hai mươi lăm xã, cứ bỏ rẻ đi mỗi xã phát động một đêm, chỉ trong vòng một tháng là hốt gọn cái quận này thôi. Lòng dân theo Cách mạng hết, châm một ngòi lửa là dây pháo nổ tung, tổng khởi nghĩa đến nơi rồi còn gì.

   Nhưng chỉ ba hôm sau, đại bác ở đồn chợ Cà bắt đầu bắn vào thôn. Quả đạn đầu tiên hú một tiếng dài to dần như mèo gào, kêu rẹt rẹt như ai cào nong, rồi rắc rối như cây đổ, nổ một tiếng rầm trời sập ngay trước nhà ông Sần. Ông hoảng hồn đứng đờ ra không biết chạy đâu, cũng quên không nằm xuống trong khi mảnh đạn veo véo trên đầu, xốc ngược mái tranh đổ bụi mù. Mùi thuốc cháy khét nồng, thối như trâu chết trương. Một quả nữa nổ sập thành giếng xây gạch. Liên tiếp hơn ba chục quả đại bác rơi rải rác trong thôn, giết hai con trâu, phá mấy khoảng ruộng, chặt khá nhiều dừa, tre, chuối, may chỉ trúng một người bị thương nhẹ.

   Ông Sần khiếp vía không kịp đôi hồi đắn đo nữa. Không xong, không ổn, phải lật đổ Mỹ - Diệm cách nào chắc ăn kia, chứ cái lối hùa nhau nổi dậy cướp chánh quyền như thôn ông thì chết ráo, chết bất đắc kỳ tử cả lũ. Bọn chó dại bây giờ ra mặt giết dân, mình tay không đương đầu với nó sao được, ở lì đó cho nó dập pháo trên lưng thì liều mạng chứ cách mạng gì. Ông buộc tay nải, gói túm gạo đi tản cư. Trong thôn những mấy chục gia đình bỏ chạy, có phải riêng gì ông đâu. Nếu có vùng tự do như hồi kháng chiến thì chắc chắn ông đã về với Cách mạng, nhưng bây giờ đồn lũy của địch giăng kín mọi nơi, ông đành xuống ở nhà người quen trong ấp chiến lược chợ Cà. Ông cố kéo con cháu chạy theo. Anh con trai chỉ đủng đỉnh xách cái mai ra đào hầm tránh pháo.

   - Tôi sống với Cách mạng, chết với Cách mạng, chẳng đi đâu hết. Nó lên thì đánh, nó câu pháo thì núp hầm. Hồi xưa tàu bay như chuồn chuồn còn không sợ nữa là pháo. Ông muốn đi cứ đi, có điều đừng khai báo gì với nó mà xấu lây cả nhà.

   Con dâu ông đã soạn gánh dắt con theo ông, nghe chồng nói cứng là đâm do dự, ngồi xuống chân cột sụt sịt:
   - Ba nói cũng phải, ảnh nói cũng phải, tôi loạn ù chẳng biết đằng nào mà rờ... Đi bỏ ruộng bỏ vườn, trâu ăn hết lúa, heo ủi hết khoai, ra giêng lấy gì nuôi mấy đứa nhỏ. Rồi còn lúa mướn ruộng, còn mấy chục ang nợ ông xã Bổn... Thôi, ba để má con tôi sống đâu chết đó, sợ gì không bằng sợ đói. Mình nhà nghèo, rời hòn đất ra là treo niêu, bom đạn chưa chắc chết chớ hết gạo không sống nổi đâu ba à.

   Nghe con cái nói có lý, ông Sần đặt tay nải xuống, xách cuốc ra đào hầm. Chưa được một thép mai đất ông lại nghe luôn một hồi mười hai quả pháo nữa bay rít qua đầu, nổ ở thôn bên. Ông bỏ cơm trưa, không kịp thay bộ quần áo lấm lem, tất tưởi ra đi một mình, miệng niệm liên hồi cái câu chú tịnh pháp giới “úm lam xóa ha” vì không kịp nhớ ra các câu chơn ngôn trừ nguy cứu nạn khác.

   Suốt tám ngày chạy xuống vùng địch trốn pháo, ông ăn cơm như nhai rơm khô, đêm nằm mở mắt đến sáng. Cái cảnh ăn nhờ ở đậu thôi thì đủ thứ cực nhục, nằm chen chỗ nấu chen bếp, thiếu từ cây củi nắm chè thiếu đi. Ông không quản ngại những cái vặt đó, đâu phải như khi ở nhà, cơm mình ăn ngon con mình dễ khiến. Ông chỉ khổ vì nhớ con cháu, vì phải xa bà con họ mạc giữa cái lúc vui sướng nhất mà cũng gian nan nhất này. Sáu bảy năm ông thiết tha trông đợi ngày giải phóng, ông mơ tưởng thấy cái ngày đó chói lọi vàng son chứ có đâu bom đạn dữ dội như vầy. Bà con chạy tránh pháo năm ba ngày rồi lần lượt trở về làng, ở trong ấp chiến lược như nằm trong rọ không chịu nổi. Ông cũng buộc khăn gói định về, nhưng nghe đại bác trên đồn khạc đạn một tiếng ùng, đằng xa dội về một tiếng rầm, ông lại nhủn đầu gối ngồi xuống bậc cửa.

   Bọn quận phát cho dân các xã tản cư mỗi nhân khẩu hai cân gạo, lại bắt nhận truyền đơn gửi về làng. Chúng nó liệu thế không chiếm lại được các xã trên ấy, nên vừa dập pháo vừa hù dọa, vừa tung gạo ra nhử, định kéo dân về lập những ấp chiến lược mới gần đồn chợ Cà, bỏ đất hoang trên đó cho Cách mạng ở. Thằng đoàn trưởng dân vệ xã ông Sần trốn thoát Cách mạng xuống ở đồn, bắt ông tới tra gạn mãi. Ông chỉ nhất mực khai rằng Quân giải phóng ở trong rừng, đêm về hoạt động, ngày biến đâu mất, mọi việc do họ làm hết chứ dân chúng không dính vào. Hắn chỉ mặt ông, dọa: “Bác liệu sao mua đời mà sống, kêu hết gia đình tộc thuộc xuống ở với quốc gia cho khỏi liên quan. Biệt động quân đeo đầu cọp họ sắp đánh lên, mổ bụng ăn gan hết ba đứa theo Cộng. Mới đại bác chưa ăn thua gì, còn cho tàu bay thả bom lửa nữa, tiêu ra tro hết. Trên đó chánh phủ phát cho mỗi đầu người năm trái bom, mười trái đại bác, liệu sắm thúng mà đội...”. Còn may hắn chưa biết ông đứng ra vạch tội thằng đại diện, nếu biết hắn đã vằm ông ra làm mắm rồi. Ông vâng dạ đỡ đòn, vừa rủa thầm thằng ác ôn lọt lưới, vừa lo mất vía cho bà con trên làng, cho con cháu ông không chịu tản cư.

   Chiều chiều ông ra ngồi trước thềm, nhìn về dãy đồi thấp phía tây. Ông tưởng trông thấy làng ông nhỏ bằng bàn tay đang chịu mỗi ngày đêm bốn năm chục quả đại bác trút xuống, cày nát nhà cửa cây cối, xốc tung cả mồ mả tổ tiên lên vất mỗi nơi một mảnh xương vụn, người chết nằm la liệt không ai chôn. Nhà trong ấp đỏ đèn ăn cơm, rồi bọn biệt kích dân vệ lắng nhắng đi tuần, rồi kẻng gọi dân canh ra điếm, ông vẫn ngồi trơ như tượng đất, đếm từng tiếng ùng tiếng rầm, nhìn những đường lửa đỏ bầm màu nước mắm phụt từ đồn về phía mặt trời vừa lặn. Miệng ông lẩm bẩm niệm Phật, mà bụng ông đau buốt như bị cật nứa khía dọc ngang, nước mắt giàn giụa trên mặt ông, chảy lẫn vào chòm râu bạc.

   Nghĩ quanh quẩn mãi, ông lại thấy bà con ở bám làng là phải. Mỹ - Diệm nó đè đầu cưỡi cổ mình bấy lâu, nay hất được nó xuống rồi ai mà chịu rời bỏ Cách mạng chạy về ở với nó lần nữa. Cái xương sống của người dân nghèo là vậy, đã thẳng lưng ngửa mặt lên sống ra con người một lần thì không có sức nào bắt họ cúi xuống làm thân trâu ngựa như cũ được. Chỉ có riêng ông cam chịu nhục, ông chạy về đây mong thoát nạn một mình, để cho bọn đầu trâu mặt ngựa nó xỉa ngón tay nó chửi lại, như hôm nào ông chửi thằng đại diện. Ngay gia đình người bạn già cho ông ở nhờ đây cũng xì xầm nói bóng cái chuyện con cá rúc ra khỏi lờ rồi tiếc miếng mồi tôm lại rúc trở vào. Người ở vùng địch còn kìm kẹp mà nói vậy, huống chi dân làng ông còn rủa ông tới đâu nữa. Cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Bà Quan Âm Thị Kính tắt thở mới gỡ được oan, chứ ông có nhắm mắt xuôi tay cũng mang mãi cái tiếng xấu bỏ Cách mạng, bỏ làng chạy theo bợ đít Mỹ - Diệm. Mô Phật, oan này đeo nặng đến đời nào xong?

   Ông sắm hương đèn bánh chuối lên chùa xin một lễ cầu yên nữa. Sáng sau, lúc gà gáy đầu, người bạn già nhổ chông vạch rào cho ông lọt ra khỏi ấp chiến lược, rồi xóa sạch dấu. Ông đeo khăn gói về làng. Quái ác làm sao, hôm đó đồn chợ Cà bắn sớm, tám quả đạn nổ trắng lóa trên chỗ đèo ông sắp đi qua. Ông lại chống gậy trở lui, run lập cập vì sợ và vì ngấm sương lạnh, may sao bọn dân vệ không dám đi tuần sớm nên không lộ.

   Cũng hôm đó con ông cho thằng cháu xuống đón ông về. Thằng nhỏ đắp chung chiếu với ông một đêm, kể bi bô những chuyện cóc nhảy:
   - Chông bây giờ nhiều lắm, cháu vót được hai trăm ông à. Ba vô du kích rồi, lãnh một cây súng bắn heo cũng được bắn người cũng được, cái miệng nó đút lọt ngón chân cái vậy đó.

   - Mô Phật, nói nhỏ chút cháu.

   - À nhà mình được một miếng ruộng to lắm, chu cha to lắm. Có điều chia chưa xong, nghe loa nói đang lập hương án...

   - Sao, cháu nói sao? Đã chia ruộng rồi à?

   - Ông hỏi ba thử coi. Cháu làm đội phó thiếu nhi ông à, chị Mùi nói cháu hay cãi lộn không cho cháu làm đội trưởng. Mai ông về sớm ông nghe?

   - Ờ ờ… ở chơi với ông vài ngày đã, ông dẫn đi chợ mua bánh cho. Nè cháu, bà con trên đó có nói gì ông không?

   - Họ nói sao hè... dưới chợ Cà chôn cả hầm vàng hay sao mà ở riết dưới đó vậy. Người ta ở làng làm ăn đã ai chết đâu. Mai cháu về ông à. Cháu phải đi kêu bọn nó làm vườn rau thiếu nhi. Ông đi chợ mua bánh rồi về sau cũng được, ông có mắc việc Cách mạng đâu.

   Nó cười rúc rích, rồi trở mình một cái, ngáy khò khò luôn. Ông Sần không ngủ, nằm cân nhắc một lúc nữa. Chưa biết ông còn cân nhắc đến bao giờ, nếu ngay trong đêm ấy không xảy ra chuyện mới. Cách mạng kéo về chụp đầu được thằng đoàn trưởng dân vệ xã ông đang ve gái dưới xóm, nổ súng đánh bọn biệt kích đi tuần, đốt mấy ngàn thước rào ấp chiến lược chợ Cà. Bọn trên đồn khiếp vía, giã vung vãi xuống mấy chục quả cối, quét súng máy như mưa, chẳng kể gì dân sống hay chết. Suốt đêm hai ông cháu rúc nằm dưới phản gỗ, và sáng ra ông Sần mang tay nải lên vai từ lúc tờ mờ đất. Ông tới số chết cũng về làng mà chết với con cháu, chôn bên mồ cha mả mẹ. Đâu cũng ào ào bom đạn của Mỹ - Diệm giội xuống đầu dân, đến cơ sự này ông phải thì gan với chúng nó, bám làng mà sống chứ còn biết đi đâu cho thoát cái cơn binh lửa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #9 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 11:41:42 am »

*
*    *

   Ông Sần đi khỏi vùng địch kiểm soát đã xa, mà chân vẫn ngập ngừng như bước vào đất lạ, tai dỏng lên nghe chừng tiếng đạn hú trên đầu, nghe quả dừa rụng đánh bịch cũng chực nằm sấp. Mới tám ngày mà trông ông gầy hõm đi như người mới ốm dậy, râu tóc phờ phạc, hai hố mắt đựng hết một chén gạo. Không, không có gì. À mà có, đây, một hố đạn khoét đất hình lòng chảo trên đám ruộng mạ. Mấy cây dừa gục đầu qua đường. Từng luồng lạnh chạy lên xuống trong lưng ông. Ông theo không kịp thằng cháu nhưng vẫn luôn miệng giục nó: “Đi mau, mau lên cháu!”. Ông niệm mãi bài kinh “Phát nguyện tu trì” mà không tĩnh được cõi tâm chút nào.

   Gần tới làng rồi. Đường bị phá nát, cầu sập hết, hố chông rải chi chít còn cắm cây rào chung quanh để đồng bào khỏi sụp. Ông Sần nhẹ người hẳn khi thấy những hầm tránh pháo đào sẵn dọc đường, chừng mươi thước một cái. Đỡ lo được một nỗi, ông lại xốn xang khi nghĩ đến lúc gặp lại bà con chòm xóm, gặp Cách mạng. Chẳng biết họ nghĩ sao nói sao. Có lẽ họ sẽ trừng trừng nhìn mặt ông: “Lão này xuống báo cáo dưới đồn lâu nay chắc lãnh liền cả bó bằng đầu gối”. Người không nghi ngờ ông cũng buông một câu mỉa xóc hông: “Ăn gạo quốc gia về coi mập mạnh hung hè?”. Hay họ níu ông bắt đền: “Chạy bậy bỏ trâu ăn hết lúa tôi, làm sao đó làm”. Ông chỉ còn cách úp mo lên mặt, giả câm giả điếc, luồn ngõ tắt về nhà...

   Thằng cháu đang chạy lon ton trên đường ruộng bỗng tạt vào một bụi duối, thò đầu ra dòm. Ông Sần ngó quanh tìm chỗ núp, nhưng chung quanh đều là ruộng mới cấy, ông đành ngồi thụp xuống, đợi. Một đoàn người lô nhô từ xa đi đến, che dù đen, đội nón lá, gồng gánh thứ gì nhiều lắm như dạo bị địch lùa vào ở trong ấp chiến lược. Thằng cháu quay lại réo: “Ông ơi, bà con mình đó”. Ông vững bụng đứng dậy, nhưng một chân vẫn để né né phía sau, phòng có bất trắc là chạy.

   Ông dần dần nhận ra từng người. Cụ Trĩ thầy thuốc bắc chống gậy đi đầu. Hai ông già khiêng một cái võng, chiếu phủ tùm lum. Chị con gái bà Đậu quấn khăn tang, mắt đỏ hoe, bồng con theo sau. Rồi ông Tám có hai con đi quân dịch, chị Mậu vợ một trung sĩ bảo an, mụ Lợi địa chủ. Rồi mấy chục ông già bà lão với phụ nữ ôm con mọn, gánh chõng chiếu nồi niêu, lùa cả trâu bò. Ông Sần nhếch mép cười trong chòm râu, khoái chí. Ra vậy chớ, có phải một mình ông tản cư đâu, bà con ở lì được bấy lâu rồi cũng chạy, ai còn mở miệng trách ông nữa mà lo.

   Ông Tám mau miệng gọi:
   - Anh Sần ở chợ về hả?
   - Phải.
   - Vừa khéo đó, đi luôn với bọn này xuống quận hử?

   Ông Sần nhập vào đám người gồng gánh, một lần nữa đi ngược lại con đường về làng. Ông đắn đo tìm một lời phân trần để mọi người hiểu rằng ông không hề khai báo làm hại bà con. Ông định đi nói chuyện một quãng rồi tách ra, về thăm con cháu, hỏi kỹ cái chuyện chia ruộng, xong sẽ liệu tản cư lần nữa với đám bạn già hôm nay rời làng. Ông Tám gãi gáy, lắc đầu:
   - Anh đi vắng không biết, chớ bọn nó làm quá tay không chịu nổi. Tối qua bà Đậu trúng mảnh chết.
   - Mô Phật!
   - Bọn này xuống quận kêu kiện đây. Nằm lì ăn vạ nó, đấu tranh tới bao giờ thôi bắn pháo vô làng mới về, anh hiểu chưa? Còn ba cánh nữa, đi đường khác, nó cao tay cũng chặn được một hai cánh là cùng.
   - Nè anh Tám... mô Phật, dám kiện tới quận à?

   Ông Tám vốn nóng tính. Ông nảy bật cái đầu như bị rắn cắn, ngó ông Sần trân trân như không nhận ra là ai. Rồi ông dồn một hồi gay gắt, trút luôn cơn tức đã dồn cục sẵn tự bao giờ:
   - Đại bác nó đào mả ông mả cha lên cũng ngồi trơ thổ địa ra đó hả? Hay là lạy quý ông đồng chí, quý ông đừng cách mạng nữa, để cho Mỹ - Diệm nó ngồi trên lưng bọn tôi y như cũ, chớ cựa quậy thì nó gõ đầu đau lắm! Hay là cứ xàng xê hai chân như cái điệu anh, ai chết mặc ai?
   - Ủa, anh Tám...
   - Mất lòng trước được lòng sau, tôi có miệng ăn cũng có miệng nói. Tôi nói bọn Mỹ - Diệm có giỏi cứ đem quân về chọi với anh em giải phóng, có sừng có mỏ cứ gõ với nhau, chớ nhè con nít lên ba bà già đi sấp mà giết thì dân coi không bằng con chó. Giáp mặt thằng Mỹ ở trung ương thượng đỉnh của nó tôi cũng nói, không phải tới quận tới tỉnh mà thôi đâu. Mình im thì nó dấn tới, rồi còn tàu bay Mỹ thả bom lửa bom xăng nữa, mẹ tổ nó chớ!

   Bà cụ Trĩ đi sau cũng chêm vào một câu lơ lửng:
   - Trẻ không tiếc mạng mà già còn ham sống dữ hè.
   Ông Sần đớ lưỡi, há miệng mấy lần mà không thưa thốt được câu nào, chỉ ờ ờ chịu trận. Ông sượng mặt quá đỗi còn biết cãi làm sao. Ông cụ Trĩ quay đầu lại, dịu giọng:
   - Bà con nghĩ vậy đó anh Sần à, anh nhắm chừng đi được thì đi, thêm một tiếng nói là quý. Cãi gắt tới chớ. Đây nè: “Cách mạng về, bọn tôi đã tới quận báo cáo từ đầu rồi. Cách mạng ở rừng ở núi chớ ở đâu trong làng mà bắn pháo? Cụ Ngô nói chánh quyền vì dân do dân, bộ bây giờ muốn giết hết dân sao? Luật 10/59 trừng trị những kẻ giết người, phá hại làng xóm mùa màng, coi thử bây giờ ai phạm cho biết?”. Nó đánh đập hay bỏ tù, bà con lại đấu tranh đòi thả mình ra. Nói cho cùng kỳ lý, nó giết cũng không lùi, liều mấy năm mình sống ráng cho con cháu nó sống cả đời, phải không anh?

   Ông Sần đang lúc rối ruột, chưa biết trả lời sao. Mặt ông nổi gai rân rân vì xấu hổ nhưng một cơn sợ khác lại bóp ngực ông đến khó thở. Hôm mới phát động ông đã xuống quận rồi, nhưng lần đó ông đi báo cáo để giữ thế hợp pháp, ông giả dại qua ải mà hù bọn nó thất kinh, chứ lần này rõ ràng ông đi đấu tranh. “Đấu tranh là đánh trâu”, nó nện cho như đánh trâu còn sống sao nổi. Cái khí thế bừng bừng căm thù trong đêm tố khổ bây giờ nguội rồi. Ông lạnh lưng rồi. Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách...

   Ông tạt qua bên đường, vén quần giả đi đái. Đợi đoàn người qua hết, ông tọt vào cái quán lụp xụp ngồi nghỉ một chút, vì khắp người ông tự nhiên mỏi nhừ, mồ hôi vã ra dán áo vào lưng. Ông rút cái khăn cháo lòng vắt vai xuống lau mặt, gọi một bát nước chè, mua cho thằng cháu vài cái kẹo. Ông phùng má thổi bát nước nóng. Ông làm lăng xăng vậy để không phải ngó ra đường, khỏi trông theo đoàn kiện đang đi xa dần. Ruột ông cồn cào như đang đói uống bát nước đậm quá. Ông trốn, ông lủi một mình. Bà con trước rủa ông một, bây giờ hẳn rủa mười…

   Hai vợ chồng chủ quán đang bàn chuyện gì, thấy ông vào họ nín lặng. Được một lúc anh chồng ngừng tay thái rau, hỏi khẽ:
   - Bà con xã trên xuống đông quá ông hè?
   - Phải.
   - Nói sai ông đừng chấp, có phải trên đó Cộng về chia ruộng không ông?
   - Mô Phật, cũng nghe nói vậy…

   Hai bên chưa ai dám tin ai, nên câu chuyện cứ lấp lửng. Ông Sần ngứa miệng muốn khoe làng ông anh hùng nổi lên làm cách mạng, nhưng đành bấm bụng ngồi yên. Rồi ông chợt nghĩ: làng ông anh hùng chứ ông có anh hùng đâu mà khoe. Người ở lại đánh giặc cày cấy. Người ra đi lo đi đấu tranh ăn nói với địch. Chỉ còn trơ trụi một mình ông tiến thoái lưỡng nan, ba lần về làng mà bây giờ còn ngồi ì trong cái quán giữa đường này. Thằng cháu đang mút kẹo và nghịch con chó con trong quán nên không giục ông về mau, nếu nó giục mấy tiếng chắc ông đã đứng dậy về làng để khỏi xuống quận rồi.

   Anh chủ quán vẫn thăm dò cái chuyện chia ruộng:
   - Nhắm chừng ruộng chia được kha khá không ông?
   - Ờ nghe đồn mỗi người được vài ba sào gì đó.
   - Liệu có giữ được mà ăn không ông?

   Ông Sần thổi bát nước một lúc lâu mới nói:
   - Chắc họ cũng ráng mà giữ...
   Thấy ông không mặn chuyện, anh chủ quán lại cúi xuống thái rau. Nhưng mấy câu hỏi của anh đã đánh thức nỗi thèm khát ruộng trong lòng ông Sần. Nỗi thèm khát đó từ đời ông đời cha truyền lại, ngấm vào ông theo dòng sữa mẹ. Nhà ông trước sau chỉ được đúng một sào hai thước đất ở, hoàn toàn không có ruộng. Mới biết đi ông đã bị một roi trên lưng vì ỉa vào ruộng hàng xóm. Rồi lớn lên bao nhiêu lần ông ăn đòn trừ cơm vì con trâu nuôi rẽ đi qua ruộng người thò mõm đớp đôi bụi lúa. Rồi đống lúa gặt về vàng chói giữa sân bị chia năm xẻ bảy, phần đóng tô, phần trả nợ lãi. Rồi những câu chửi réo chiều ba mươi Tết đòi nợ tất niên.

   Ông Sần từ từ lật hai bàn tay chai từng mảng lớn như da trâu khô, thẫn thờ ngắm lại. Gần sáu mươi tuổi đầu, ông chưa hề biết cái sướng được đánh con trâu nhà cày đám ruộng nhà. Cánh đồng làng ông rộng lắm, toàn thượng đẳng điền ăn nước đập chẳng cần nước trời, cho dù các nơi đất nẻ lúa héo, ở đồng làng ông bụi lúa vẫn xòe như cái nơm. Nhiều lần ông Sần đứng ngắm ruộng người mà mê mẩn quên cơm tối. Trong số hơn ngàn thửa ruộng trải dài đó, ước gì ông có lấy vài sào, chỉ vài sào thôi. Ông sẽ trút hết mồ hôi xuống bón ruộng, bắt hòn đất nhả lúa ra gấp đôi gấp ba để bà con chòm xóm chịu tài ông lão nông tri điền. Hồi còn Tây ông đổ sức ra vỡ ruộng, suốt hai năm làm cháy mặt lấm lưỡi mới cuốc được tám sào tư đất đồi thành ruộng một mùa, những tưởng từ đó mở mặt được với thiên hạ. Nhưng lão Chánh Phó, cha thằng đại diện ác ôn, bỗng dưng lật sổ bộ đưa biên lai ra trình làng rằng đất ấy lão trưng khẩu từ lâu. Ông giận muốn treo cổ ngay trước ngõ nhà lão để gieo vạ, nhưng còn vợ con ai nuôi cho mà chết. Tay trắng hoàn trắng tay, ông lại lang thang đi mua chịu từng cái gốc tre về chẻ đan nong, nghèo đan thúng túng đan nong chứ chẳng biết xoay nghề ngang nào khác. Mỗi lần ngoẹo cổ vác chục nong đi bán rong, qua chỗ ruộng mình vỡ đã bị cướp, ông quay mặt đi không dám ngó, ruột gan như xát muối. Thôi cũng đành bưng tai bịt mắt, số ông nghèo hèn thì quẫy lắm chỉ trầy vi tróc vẩy chớ thoát sao được cái phận nghèo hèn. Tới hồi chánh phủ Cụ Hồ, làng ông nằm lọt trong vùng tạm chiếm, mãi tới gần đình chiến mới được giải phóng, các anh cán bộ chạy sấp ngửa chia cho dân được hơn ba chục mẫu công điền rồi đi tập kết. Bọn đối phương tới cướp gọn lại hết, sau đó bày trò cải cách điền địa, cải cách ra sao mà số người lang thang mua chịu gốc tre về đan nong cứ tăng mãi lên.

   Đôi lúc ông Sần rờn rợn, nghĩ chắc hẳn đời mình khổ vì tiền oan nghiệp chướng gì đây nên mới bị đọa đầy, sinh ra kiếp người mà không có được miếng đất đặt bàn chân. Ông chăm đi lễ chùa, lo tu tâm dưỡng tánh, chống mọi điều tham sân si để mau được thoát kiếp luân hồi. Đó là về phần đạo, còn phần đời ông vẫn cứ thèm ruộng khát ruộng, càng về già càng thêm quay quắt: đời mình đã vậy tới đời con, đời cháu chắt vẫn cứ nghèo khổ mãi sao? Nam mô A Di Đà Phật! Phật tử đại từ đại bi chứng giám cho ông lòng thành, chẳng biết Ngài có ban cho lũ con cháu ông được chút ít phước lộc gì không?

   Cách mạng tới. Bọn Mỹ - Diệm lâu nay bôi xấu Cách mạng đủ điều tàn tệ, chẳng khác gì quỷ thập điện. Nhưng ông mới nghe một câu “người cày có ruộng” là ông hiểu ngay: đúng người nghèo vùng dậy rồi, cuộc cách mạng này là của ông, đem ruộng tới cho ông, đổi đời cho con cháu ông. Ông hăm hở theo Cách mạng. Rồi ông thấy hiểm nguy lắm nỗi, ông bỏ cuộc, ông chạy... Cách mạng chia cho nhà ông một miếng ruộng to lắm, ông giữ được thì ăn, không giữ thì mất. Mất lần này nữa là mất hẳn, mất hết. Ông chết đi, lớp con cháu ông lại gò lưng cúi cổ xuống cho roi đòn, nghèo đói, dốt nát chất chồng trên đầu. Chúng nó sẽ rủa ông úy tử tham sanh để chúng nó chịu mãi cái kiếp trâu ngựa. Lúc đó ông còn mặt mũi nào mà trở về hưởng phần hương hoa giỗ quải? Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục...

   Thằng cháu đã ăn hết kẹo, con chó bị kéo đuôi vừa đớp tay nó một cái rồi chạy mất. Nó đến kéo áo ông:
   - Thôi về ông, nghỉ lâu rồi.
   - Ờ, ông đi đây.

   Ông Sần móc mấy đồng bạc cuối cùng trả quán, lặng lẽ đứng dậy ra đường cái. Máu ông sôi bốc dần lên. Mặt ông đỏ như vừa uống rượu. Đúng, ông sẽ về bám làng kiếm sống, nhưng không phải cúi mặt len lét mà về, rồi suốt ngày co ro bên miệng hầm, sợ lưng tim lưng mật đến phát đau ốm lên, để khổ cho con cháu. Ông sẽ về sau khi đem lý lẽ chống chọi với quân thù, ngửng cao đầu mà về, có kẻ mừng người đón hẳn hoi. Con đường về làng là con đường đấu tranh chống khủng bố, muốn về làng ông phải xuống quận trước đã. Làm như bà con là đúng. Nó khinh đám dân cơm khoai áo cụt mặc lòng, mà mình kéo tới số đông, đối đáp có lý có tình, nó không nghe cũng chẳng được với mình. Dây dùn khó đứt, lạt mềm buộc chặt là vậy. Sức ông không đánh chém được ai, ông cũng liều cái mạng già này chống bom đạn, tìm đường sống cho con cháu, giữ cho chúng nó miếng ruộng được chia. Ngày sau chén cơm cúng giỗ ông phải là cơm ruộng nhà, chứ dứt khoát không phải cơm đong tô trả nợ nhín lại!

   Ông giắt cái khăn cháo lòng vào thắt lưng, đặt đôi guốc xuống đất, xỏ chân vào đi lẹp kẹp cho chỉnh tề hơn. Thằng cháu đã mau chân chạy ton ton về phía làng, quay lại nhìn ngơ ngác, rồi chạy theo níu tay ông:
   - Ủa ông, sao không về? Ông sợ đại bác à?

   Ông Sần dằn từng tiếng dõng dạc:
   - Mô Phật, sợ cái gì? Nè cháu, cháu về trước nói với ba má, ông xuống quận đấu tranh với bà con rồi ông về sau. Cháu nói rõ là đi đấu tranh chớ không phải đi tản cư, nhớ chưa? Hay vấp một cái lại quên sạch trơn đi.

2-1961
Logged
Trang: 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM