Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 11:45:03 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vỏ bọc nhiệm màu  (Đọc 40813 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:47 PM »


Tên sách: Vỏ bọc nhiệm màu
Tác giả: Hà Bình Nhưỡng
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản:  2005
Số hoá: Excocet, ptlinh, chuongxedap




LỜI GIỚI THIỆU

Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn mãi mãi đồng hành với thời gian. Góp phần làm nên chiến thắng lịch sử đó có sự đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ tình báo, binh vận, mà chiến công của họ ở những thời điểm nhất định đã làm thay đổi cục diện chiến tranh sang hướng có lợi cho Cách mạng. Nhưng mấy ai biết được ở mặt trận thầm lặng này lại là nơi thử thách khắc nghiệt nhất của những chiến sĩ Cộng sản. Bên cạnh sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, cụ thể là các đồng chí lãnh đạo Tình báo Quân đội, Tình báo Công an, Binh vận... còn đòi hỏi những người trong cuộc phải có sự kết tinh cao độ lòng dũng cảm, đức hy sinh, tinh thần yêu nước và trí tuệ con người.

Lịch sử Tình báo Việt Nam trong suốt 21 năm chống Mỹ cứu nước đã ghi nhận biết bao sự mất mát, hy sinh rất thầm lặng của các chiến sĩ trên mặt trận này. Họ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tạo cho mình một “vỏ bọc”, khoác trên vai chiếc áo của kẻ thù, chấp nhận sống hai mặt “xanh vỏ đỏ lòng”... để rồi âm thầm cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những câu chuyện về họ là cả một kho tàng vô tận, không sao kể hết được, nhưng lịch sử sẽ mãi mãi không quên là luôn dành cho họ những trang trang trọng nhất.

Vỏ bọc nhiệm màu” là một trong những cuốn sách viết khá thành công về đề tài này. Là người từng có một thời gian dài phục vụ trong quân đội, nguyên là Trưởng phòng biên tập ký sự lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân, đại tá nhà văn Hà Bình Nhưỡng có điều kiện trực tiếp gặp gỡ hầu hết các nhân vật trong tập truyện nên ông đã  viết rất thực. Bạn đọc sẽ bị cuốn hút bởi lối viết sinh động và hấp dẫn. Đặc biệt, qua tập truyện, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn cảnh về diễn biến thời cuộc ở dinh Độc Lập - cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn - trong những ngày bão táp tháng 4 năm 1975 lịch sử.

Xét thấy giá trị về mặt tư liệu của tập truyện “Vỏ bọc nhiệm màu”, Nhà xuất bản Công an Nhân dân cho tái bản cuốn sách này nhân dịp 60 năm thành lập Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam 19 tháng 8 và Quốc khánh 2 tháng 9.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà xuất bản Công an Nhân Dân
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:44:36 PM »


VỊ CHUẨN TƯỚNG CẬN THẦN


* Tín hiệu từ một đám tang

Trời đã phú cho Bảy Lương có vóc dáng và khuôn mặt rất hợp với vai ông chủ cỡ bự người Hoa. Ông chủ đó càng sang trọng, đĩnh đạc hơn khi mang bộ đồ ký giả đắt tiền và cặp kiếng mát gọng vàng...

Với tướng mạo ấy cùng tấm chứng minh thứ thiệt mang tên Đỗ Văn Ba mà Ban Binh vận phải dứt ruột chi ra mấy cây vàng để bọn công an ngụy làm cho anh, Lê Quốc Lương càng dễ bề hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Anh được trao trọng trách làm Đội trưởng Đội vận động sĩ quan địch, một nhiệm vụ đòi hỏi rất cao về tài trí và kinh nghiệm dày dạn của một nhà hoạt động chính trị mang dạng tình báo. Bằng kinh nghiệm và tài trí đó, anh đã bắt mối được nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch. Song, hầu hết mới chỉ là sĩ quan cấp thấp, chưa có được một sĩ quan cao cấp nào mang tầm chiến lược như Trung ương Cục yêu cầu.

Đúng lúc ấy, vào trung tuần tháng 10 năm 1963, Bảy Lương nghe được câu chuyện về một đám tang khá đặc biệt ở xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Không chần chừ, anh về ngay xã Kim Sơn gần xã Phú Phong tìm gặp đồng chí Sáu Rếp, một cơ sở tin cậy, đồng thời là người có quan hệ thân thiết với mình.

Quả là anh đã tìm đúng cầu nối để dẫn đến mục tiêu. Qua Sáu Rếp và bà con nơi đây, Bảy Lương đã hiểu được tận tường về đám tang này.

Đó là đám tang ông Nguyễn Hữu Điệt, cha đẻ của Nguyễn Hữu Hạnh, đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật, một sĩ quan cao cấp của ngụy đang có nhiều quyền thế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng nhà của cha Hạnh nằm trong một ấp đã được giải phóng, không nằm trong vùng phong tỏa của Hạnh. Chính đó là cái khó khăn đối với viên đại tá có nhiều quyền thế ở đây về việc thực hiện lời di chúc của cha mình.

Cha Hạnh là một người có học thuộc dòng dõi nhà nho. Ở bệnh viện Cần Thơ trước khi nhắm mắt, ông đã trăn trối với Hạnh:

- Cha biết con là người con hiếu thảo. Con đã hết lòng chạy chữa cho cha. Nhưng nghiệp trời đã định, không thể cưỡng lại được số phận. Khi qua đời, cha không có mong muốn gì hơn là được về yên nghỉ ở nơi quê cha đất tổ, bên cạnh ông nội của các con.

- Thưa cha - Hạnh nghẹn ngào nói với cha - Cha cũng thể tất và hiểu cho con là việc này rất khó. Nhưng cha cứ yên lòng. Con xin hứa sẽ thực hiện bằng được nguyện vọng của cha và sẽ hoàn tất tốt đẹp.

Nghe xong lời hứa đó, ông đã trìu mến nhìn Hạnh lần cuối cùng rồi thanh thản nhắm mắt ra đi. Còn Hạnh, Hạnh đã cho người đi tìm ngay bác Chín Quá, một người quen biết với gia đình mà Hạnh biết rõ là người ở phía bên kia, đến nhà. Khi bác Chín Quá tới, Hạnh khẩn khoản thưa:

- Thưa bác, khi tới đây chắc bác đã biết lời trăn trối và cũng là nguyện vọng tha thiết của cha tôi. Vậy tôi xin cảm phiền nhờ bác về xã Phú Phong quê tôi và cả xã Kim Sơn ở bên này sông xin phép Cách mạng cho gia đình tôi được đưa thi hài cha tôi về quê chôn cất.

Đã hiểu được nguồn gốc và biết Hạnh là người rất có tình nghĩa với làng xóm quê hương, ai cần gì Hạnh cũng sẵn sàng giúp đỡ, bác Chín liền vui vẻ nhận lời và hối hả đi ngay. Lúc trở về, bác đã vui mừng thông báo cho Hạnh:

- Cách mạng ở hai xã đều đã chấp nhận đề nghị của Đại tá nhưng có yêu cầu...

- Dạ, yêu cầu như thế nào, xin bác cho biết.

Yêu cầu này chủ yếu cũng vì người quá cố, là phía Quốc gia không được hành quân, ném bom, bắn phá trong khu vực này suốt ba ngày tang lễ.

- Tôi không có toàn quyền, nhưng yêu cầu này sẽ được thực hiện, bởi tôi nghĩ ông Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật chắc chắn sẽ chấp nhận đề nghị của tôi.

Đáp lời bác Chín Quá xong, Hạnh đi ngay đến phòng viên Tư lệnh. Đúng như Hạnh dự đoán, viên thiếu tướng Tư lệnh vốn trước đây đồng khóa với Hạnh và hiện nay lại rất kính nể Tham mưu trưởng của mình nên đề nghị của Hạnh được chấp nhận ngay. Không những thế, ông ta còn gọi ngay Tham mưu phó phụ trách tác chiến của quân đoàn lên để thực thi lệnh “ngừng hoạt động...” này.

Nguồn tin ấy cũng qua bác Chín được truyền ngay đến các đồng chí lãnh đạo của xã Phú Phong. Thế nên khi thi hài của cha Hạnh được vợ con Hạnh đưa tới bên kia sông, Chín Úa và Ba Dinh, cán bộ của xã đã sang đón dể cùng với cô Năm em út của Hạnh quá giang. Lúc xe tang sang đến xã Phú Phong, cả chủ tịch xã cùng một số bộ đội Giải phóng lại cùng tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Hạnh chỉ tiễn biệt cha qua cổng bệnh viện. Vợ con Hạnh cũng chỉ đưa tiễn ông Điệt đến bên này bờ sông, việc còn lại trao cho cô Năm. Nhưng cả gia đình Hạnh đều rất yên lòng và xúc động trước tình cảm của xóm làng, quê hương đối với cha mình. Họ không ngờ đám tang người cha viên đại tá đang ở phía Quốc gia chống đối lại Cách mạng mà chỉ vì cha mình muốn được gửi xương cốt ở quê hương lại được chính quyền cách mạng và bà con đưa tiễn đông đảo đến thế. Hầu như cả xã, nhà nào cũng có người đi tiễn đưa và dự lễ an táng ông Điệt.

Theo tục lệ ở đây, ba ngày phải mở cửa mả cho linh hồn người chết được siêu thoát. Lễ mở cửa mả phải có vàng hương, hoa trái để cúng kỵ. Và phải có một con gà giò để cho người thân nhất kéo gà chạy ba vòng quanh mả, xong thả gà ra, nó vào nhà ai, nhà đó sẽ được phước.

Cô Năm đã xin ở lại để làm việc này. Nhưng Hạnh muốn được vĩnh biệt cha lần cuối cùng đúng ngày mở cửa mả, nên lại qua bác Chín Quá đề nghị với chính quyền xã Phú Phong. Lần nữa, nguyện vọng của Hạnh lại được chấp nhận với điều kiện không có trực thăng vũ trang bay kèm.

Tất nhiên Hạnh hoàn toàn chấp nhận điều kiện đó, và bằng chiếc trực thăng, anh bay ba vòng trên mộ cha mình. Đấy cũng là ba vòng mà không gian hoàn toàn yên tĩnh, không có một tiếng súng nào, để Hạnh được ngắm lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình từ trên cao một cách yên ả và lắng sâu nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:47:07 PM »


Nghe đồng chí Sáu Rếp kể lại toàn bộ diễn biến về đám tang như vậy, Bảy Lương rất phấn chấn. Anh thầm cám ơn các đồng chí và đồng bào ở hai xã Phú Phong và Kim Sơn đã xử sự rất cao thượng, nghĩa tình. Việc làm đó lẽ nào lại không tác động đến lương tâm của sĩ quan, binh lính ngụy, mà ở đây, trước hết là đại tá Nguyễn Hữu Hạnh. Rõ ràng là các đồng chí và bà con ở đây đã thấm nhuần về công tác binh vận - mũi giáp công thứ ba tiến công địch của Đảng ta. Họ đã tranh thủ thời cơ và làm việc này rất tế nhị. Cũng từ đây, Bảy Lương thấy rõ ràng đại tá Nguyễn Hữu Hạnh có nhiều nét khác biệt so với các sĩ quan cao cấp khác của ngụy quyền hiện tại. Anh quyết định phải tìm hiểu kỹ để có thể “bắt rễ” ngay viên đại tá này nên liền hỏi Sáu Rếp:

- Ngoài bác Chín Quá, anh có biết ai là người đằng mình có quan hệ mật thiết về gia tộc với đại tá Hạnh không?

Sáu Rếp suy nghĩ một lát, đôi mắt chợt sáng lên:

- Tôi nhớ ra rồi. Có một người là bác họ của Hạnh.

- Ai vậy?

- Đồng chí Tám Thành, tức Nguyễn Tấn Thành, có biệt hiệu là Tám “vô tư”. Tám Thành đã từng là huyện ủy viên, được Hạnh rất quí trọng và nghe đâu năm 1956, chính Hạnh đã cứu ông Tám “vô tư” ra khỏi nhà giam Catina1.

- Chà, tuyệt quá! Vậy bây giờ anh Sáu biết ông Tám ở đâu không?

- Lâu lắm rồi tôi không biết tin tức về ổng. Chỉ biết sau lần được Hạnh cứu ra đến năm 1961, ông Tám lại bị bắt vô tù lần nữa. Mà anh biết không, ông Tám “vô tư” này có tìm thấy cũng không dễ gì tiếp cận được đâu.

Bảy Lương hơi hẫng người. Nhưng anh không thất vọng, liền động viên Sáu Rếp:

- Cái đầu mối anh vừa chỉ ra cho tôi rất quý. Bằng bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải tìm cho ra đầu mối này. Anh tiếp tục dò tìm ở đây. Tôi về Sài Gòn để báo cáo lại các đồng chí lãnh đạo và tìm ông Tám qua các cơ sở ở trên đó. Ba hôm nữa tôi sẽ trở lại đây. Khi ấy mong sẽ nhận được ở anh những tin mới nhất về ông Tám “vô tư”.

Sáu Rếp gật đầu và xiết chặt tay Bảy Lương. Nhưng anh không để cho Bảy Lương ra khỏi nhà ngay. Anh giả đò bước ra đường, xong mới báo hiệu cho Bảy Lương trở về Sài Gòn bằng lối sau nhà mình.



* Thầy lang ẩn tích

Các đồng chí lãnh đạo trong Ban Binh vận của Trung ương Cục đều rất mừng và quan tâm đến cái tín hiệu từ đám tang ở Phú Phong. Từ tín hiệu này, lãnh đạo Ban nhất trí: Nguyễn Hữu Hạnh là người có thể để ta bắt mối xây dựng cơ sở, nhưng trước hết phải hiểu rõ và tìm gặp  được ông Tám “vô tư”.

Việc này Bảy Lương đã được hỗ trợ tối đa. Không chỉ có các cơ sở nội thành Sài Gòn-Gia Định của đồng chí Sáu Vũ2 mà các cơ sở binh vận ở tất cả các tỉnh lân cận và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều được lệnh của Ban cùng tìm hiểu, phát hiện. Thuận lợi nữa, đồng chí Tư Chí3 trong lãnh đạo của Ban đã biết Tám “vô tư” khi cùng hoạt động ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, do lâu ngày Tư Chí chưa gặp lại ông Tám nên cần phải thẩm tra, nhưng Bảy Lương vẫn một mực tin rằng đây sẽ là một đầu mối đáng tin cậy. Chỉ mong sao bằng tai mắt của cả tập thể đã từng dày dạn kinh nghiệm hoạt động bí mật sẽ sớm tìm thấy người bác họ này của Hạnh.

Điều mong mỏi ấy của Bảy Lương một tuần sau đã thành hiện thực. Không phải đâu xa, chính Z5, một cơ sở ở ngay trong nội thành Sài Gòn, người cùng quê và biết rõ lai lịch, thành tích hoạt động của ông Tám Thành đã phát hiện thấy ông. Ông Tám cũng đang ở ngay trong Sài Gòn. Qua thẩm tra, Z5 biết được đồng chí Tám “vô tư” vẫn đang tiếp tục hoạt động cách mạng nhưng ẩn tích dưới danh nghĩa là một thầy lang coi mạch, bốc thuốc gia truyền khá tín nhiệm.

Theo nguyên tắc hoạt động, Bảy Lương không được trực tiếp gặp Z5. Nhưng qua đồng chí Sáu Vũ đã nghe Z5 báo cáo, anh không chỉ biết rõ lai lịch của thầy lang này mà còn được biết nhiều chuyện cả về mối quan hệ giữa ông Tám và đại tá Nguyễn Hữu Hạnh.

Ông Tám Thành là bác họ đại tá Nguyễn Hữu Hạnh, hơn Hạnh khoảng 10 tuổi. Hồi trên 10 tuổi, Hạnh đã ở nhà bác Tám để đi học. Bác đã từng kèm cặp, dạy Hạnh học thêm và hai bác cháu rất ý hợp tâm đồng. Cách mạng tháng Tám thành công, Hạnh tròn 19 tuổi, anh rất hãnh diện khi nhận được chức thư ký cho bác Tám. Bác lo về quân sự phụ trách Mặt trận Kinh Xáng, đi đâu cũng có khẩu súng sáu rất oai. Lúc ấy Hạnh rất tự hào về ông bác của mình.
___________________________________
1. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành tức ông Tám “vô tư” là cha đẻ của đồng chí Nguyễn Tấn Phát, ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo hiện nay.”
2. Bí danh đồng chí Lê Đình Ngoạn.
3. Tức đồng chí Nguyễn Hữu Chí.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:49:05 PM »


Đầu năm 1946, khi Pháp đã tái chiếm Mỹ Tho, nhiều cán bộ ở đây trong đó có bác Tám đã phải chạy sang Bến Tre. Khi ấy bác không kịp kéo Hạnh đi theo nên Hạnh phải bơ vơ ở nhà với ông nội. Lúc bấy giờ, quân Pháp thường đến ruồng bố ở Phú Phong nên Hạnh phải trốn lên Sài Gòn để tìm việc làm. Chưa tìm được việc làm thì có một người bạn tới lôi kéo rủ vào quân đội Pháp. Nhập ngũ xong, Hạnh được chuyển về cùng một đại đội với Dương Văn Minh.

Thế là từ đó hai bác cháu ở hai trận tuyến chống đối nhau. Ở hai trận tuyến đó thấm thoát đến năm 1954, bác Tám đã là Huyện ủy viên. Còn Hạnh là thiếu tá trong quân đội liên hiệp Pháp. Suốt thời gian ấy hai bác cháu không gặp nhau. Phải mãi mười năm sau, tức năm 1956, bác Tám mới gặp lại Hạnh, nhưng gặp trong một hoàn cảnh thật trớ trêu mà riêng với bác Tám từ quá đỗi ngại đến không khỏi nghi ngờ.

Chẳng là, dạo đó trung tá Nguyễn Hữu Hạnh đang làm Tham mưu trưởng cho đại tá Dương Văn Minh chỉ huy chiến dịch Thoại Ngọc Hầu truy quét quân giáo phái Cao Đài đang chống đối lại Ngô Đình Diệm. Ở đây, Hạnh hay tin bác Tám Thành bị quân của Diệm bắt, đang bị giam trong xà lim tại Khám Lớn Sài Gòn.

Mười năm rồi không gặp lại bác Tám và không biết bác bị bắt trong hoàn cảnh nào, nhưng lý do thì Hạnh biết chắc chắn vì bác đang hoạt động cách mạng. “Thôi lý do gì mình chẳng cần biết nữa, vì đó là lý tưởng và đường đi của bác. Nhưng vì tình bác cháu, nhất là ân nghĩa trước đây, phải tìm cách gỡ cho bác ra khỏi tù”. Hạnh nghĩ vậy, và viên trung tá Tham mưu trưởng chiến dịch đã phải hạ cố tìm đến cấp dưới của mình là đại úy Tiên đang giữ chức Trưởng phòng Nhì ở quân khu của Hạnh.

- Tôi muốn nhờ Đại úy một việc. Tôi có người bà con tên là Nguyễn Tấn Thành đang bị bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Nhờ Đại úy đến đó tìm cách lãnh ổng ra giùm tôi.

- Ông Tám có phải Việt cộng không? - Tiên hỏi.

- Từ đầu năm 1946 đến nay, tôi không gặp lại. Trước đó ông là người ở phía bên kia.

- Vậy thì trung tá đừng ra mặt nhận ông là họ hàng, chỉ nhận ông là người cùng quê ở Mỹ Tho thôi.

- Ổng đúng là ở cùng làng, cùng xã với qua.

- Trung tá cứ yên tâm. Tôi đã có cách cứu ông Tám mà Trung tá vẫn đứng ngoài cuộc. Đúng một giờ nữa, tôi xin trình diện tại văn phòng của Trung tá.

Một giờ sau, đại úy Tiên gõ cửa xin phép vào phòng làm việc của Hạnh với tờ công văn đã đánh máy trên tay.

- Xin Trung tá đọc duyệt và ký tên dưới công văn này, còn mọi việc sau đó tôi xin lo liệu.

Hạnh mừng thầm và đọc ngay:

“… Kính gửi Giám đốc Nha Công an Việt Nam Cộng hòa. Bộ Tư lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu hay tin quý Nha vừa bắt được một tên Việt cộng là Nguyễn Tấn Thành. Chúng tôi đang cần khai thác gấp những tin tức thuộc khu vực mà bọn giáo phái Cao Đài đang ẩn náu như Mỹ Tho, Cần Thơ. Chúng tôi xin giới thiệu với Giám đốc: đại úy Trần Văn Tiên, Trưởng phòng Tình báo của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Xin phép Giám đốc cho đại úy Trần Văn Tiên nghiên cứu hồ sơ. Nếu tên Nguyễn Tấn Thành hiểu biết nhiều về khu vực đang xảy ra chiến sự, chúng tôi hy vọng Giám đốc cho chúng tôi nhận can phạm về khai thác.

TM Bộ Tư lệnh hành quân chiến dịch Thoại Ngọc Hầu


Tham mưu trưởng
Trung tá Nguyễn Hữu Hạnh”

- Đại úy khôn khéo lắm. Rất cám ơn Đại úy.

Hạnh đọc xong, ngước lên mỉm cười nói với Tiên và cầm bút ký ngay vào tờ công văn. Tiên nâng tờ công văn, đứng nghiêm chào Hạnh rồi quay ra xe đi thẳng tới Nha Công an. Quả là đối với uy tín của Bộ Tư lệnh chiến dịch do Dương Văn Minh làm Tư lệnh - người có công chỉ một tháng trong chiến dịch Hoàng Diệu trước đây đã quét sạch được Bình Xuyên, công việc mà suốt 8 năm Diệm không làm được - Tiên đã được viên Giám đốc Nha Công an đón tiếp trọng thị và chấp nhận ngay yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu theo như tinh thần công văn mà Hạnh đã ký. Ngay tối hôm đó, viên đại úy Trưởng phòng Tình báo của Hạnh đã đưa được bác Tám về Cần Thơ. Nguyễn Hữu Hạnh thầm mừng rỡ và hỏi Tiên với ý thăm dò:

- Đại úy nghĩ sao nếu tôi đưa bác Tám về nhà riêng?

- Thưa, việc này tùy Trung tá. Nhưng ngay bây giờ nếu muốn trả tự do cho bác Tám, tôi sẽ có cách lập hồ sơ.

- Cảm phiền Đại úy tiếp tục giúp tôi việc này. Bây giờ tôi về nhà trước, mười lăm phút sau Đại úy đưa bác Tám tới nhà tôi.

- Xin tuân lệnh!

Tiên rập hai gót giày rồi quay ra xe. Xe của Tiên vừa ra khỏi cổng thì Hạnh cũng tự lái xe về nhà. Anh thông báo với vợ con về sự có mặt của bác Tám ở nhà mình, xong thay quần áo thường phục sẵn sàng chờ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:32 PM »


Đúng thời gian quy định, đại úy Tiên đưa bác Tám vào phòng khách nhà Hạnh, xong lẳng lặng quay lui.

Quả là đã “vô tư” như ông Tám, nhưng từ sáng tới giờ ông đã phải hết từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ông không biết vì lý do gì mà ông đang bị giam trong xà lim cấm cố bỗng nhiên bọn công an lôi ông ra và giao cho tình báo quân đội. Rồi vào trại giam quân đội vừa ngồi chưa ấm chỗ, chúng lại đưa ông tới phòng khách sang trọng này. Ông đặt ra nhiều giả thuyết mà chưa tìm ra lời lý giải xác đáng, chỉ còn biết tự nhủ mình: “Hãy giữ vững khí tiết, dù chúng tra khảo dã man hay mua chuộc, dụ dỗ...”.

- Con xin chào bác!

Ông Tám sững người khi thấy Hạnh từ trong nhà bước ra và liền nghĩ ngay: “Đây là màn kịch, phải cảnh giác”.

- A, thì ra đây là tư dinh của anh, trung tá Nguyễn Hữu Hạnh.

- Dạ, đúng đây là nhà con. Xin mời bác Tám ngồi xuống rồi con sẽ thưa chuyện.

- Anh định lãnh tôi về đây khai thác để lập công với tụi nó phải không? Nếu vậy xin mời Trung tá cứ thi hành phận sự dẹp bỏ sa lon mà đem cùm kẹp, máy quay điện và cả máy chém tới đây.

- Thưa bác Tám. Lời dạy của nội con về “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” và câu nói “Đừng làm việc gì mà mình không muốn người khác làm cho mình” con còn nhớ rõ. Con xin thề không động gì tới hoạt động của bác. Con tiếp bác trong gia đình như tiếp bác khi bác nuôi con trước đây, con không muốn vì chuyện gì khác mà tình cảm của hai bác cháu ta rạn nứt.

Nghe Hạnh nói vậy và nhìn vào gương mặt, nhất là đôi mắt, ở đó đang toát lên một tấm lòng đầy chân thực và nhân hậu, đôi mắt đang nảy lửa của bác Tám đã dịu xuống.

- Vậy thì được. Nè bây giờ anh cho ta vào thăm tụi nhỏ được không?

- Dạ, con xin mời bác! - Hạnh đáp lời xong liền đưa ông Tám vô nhà và gọi lũ trẻ ra chào ông Tám.

Mấy đứa con của Hạnh vốn lễ phép lại vừa được Hạnh báo trước “Nhà ta sắp có ông Tám đến chơi. Ông là bác họ của ba và là người đã nuôi ba từ nhỏ, các con phải quý trọng ông” nên bọn chúng đã lần lượt khoanh tay chào ông Tám. Không những thế, chúng còn quây tròn quanh ông ríu rít hỏi chuyện, làm cho ông Tám “vô tư” bỗng nhiên quên hết chuyện mình đang là người tù mà cảm thấy như đang được sống trong cảnh đầm ấm của gia đình khi Hạnh còn nhỏ. Lúc cùng Hạnh quay ra phòng khách, ông mới vỗ vai Hạnh, hỏi:

- Anh có biết tôi là Việt cộng không

- Dạ, biết!

- Vậy không sợ liên lụy sao?

- Con sẽ có cách. Nhưng bác Tám đã quy ước với con là không nói chuyện chính trị cơ mà.

- À, bác quên. Từ giờ phút này ta sẽ thực hiện nghiêm chỉnh quy ước đó.

Hạnh mỉm cười, bởi muốn qua cái quy ước này để bác Tám sống thoải mái trong nhà mình. Ngược lại, Hạnh cũng có ý trong ba ngày bác sống ở đây chính là ba ngày để Hạnh gỡ bác ra khỏi cảnh tù đày. Hạnh đã phải nói khá nhiều để bác Tám hiểu rõ được ý định của mình.

- Bác thông cảm giùm con. Thâm tâm con chỉ muốn cứu bác, nhưng thủ tục rất phiền phức. Việc làm trước tiên để cứu bác là con đã tìm cách lãnh bác từ bên công an về đây. Chuyện này và cả sự hiện diện của bác ở nhà con cũng chỉ có đại úy Tiên và con biết. Tuy vậy con không thể để bác ở lâu ngày tại đây và cũng không thể trả tự do cho bác từ ngôi nhà này. Để được êm thấm, ngày mai con sẽ gửi bác xuống trại tù chính trị ở Cần Thơ. Anh ruột vợ con làm giám ngục tại đó. Anh ấy sẽ bố trí để bác làm bồi bàn lo cơm nước cho anh. Đây là việc làm cần thiết cho hợp lệ và cũng là thời gian chờ đợi để anh ấy lo giấy tờ mà trả tự do cho bác.

Bác Tám ngồi im lặng, bác tin những lời nói này của Hạnh là hoàn toàn thật lòng, không ẩn giấu một mưu mô gì nên đã xúc động nói với Hạnh:

- Đến bây giờ, bác càng hiểu lòng anh hơn. Xin cám ơn anh và mong rằng anh sẽ mãi mãi nhớ lời ông nội của mình như anh đã nhắc lại với bác.

Đây cũng là lời chào của bác đối với người cháu họ của mình trước khi lên xe về trại tù chính trị ở Cần Thơ. Ở đó đúng một tháng, người anh vợ của Hạnh đã lo xong giấy tờ để bác được trả tự do...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:01 PM »


Khi nghe Sáu Vũ kể về ông Tám “vô tư” và cả về nơi đang hành nghề của thầy lang này như vậy, Bảy Lương rất mừng. Anh tham khảo ý kiến Sáu Vũ:

- Nghe nói ông Tám này khó tiếp cận lắm. Theo anh nên làm cách nào để làm quen được với ổng?

Sáu Vũ cười:

- Anh cùng người miền Nam với ông Tám, lại vốn là cán bộ đầu ngành ở một tỉnh, thế nào chẳng quen với một hai người cỡ lớn đã hoạt động với ông Tám để bắc cầu. Còn lần đầu đến với ông Tám, tôi nghĩ anh nên đóng giả vai người bệnh đến xin coi mạch, chẩn trị.

- Ý anh hay thiệt đó. Ngay chiều nay tôi sẽ là người bệnh.

Chiều hôm đó, Bảy Lương không ăn uống gì để cho người mệt phờ phạc và cũng bỏ áo quần “ông chủ” đến nơi ở của thầy lang Tám “vô tư”. Anh khấp khởi mừng, bởi đã tìm được chính xác nhân vật mình đang cần gặp và kín đáo quan sát người thầy lang có gương mặt vừa nhân hậu lại vừa kiên nghị khi đợi tới lượt mình vào để thầy hỏi bệnh.

- Nào mời bệnh nhân cuối cùng. Ông bệnh gì?

- Dạ, thưa thầy tôi bị đau ngực, tức thở suốt hai tháng nay, trị thuốc gì cũng không lành.

Ông Tám đặt ba ngón tay lên cổ tay Bảy Lương, nhưng mắt lại tập trung quan sát thần sắc của bệnh nhân. Vừa buông tay, thầy liền nghiêm nét mặt bảo:

- Ông rất khỏe. Tỳ, phế, thận đều tốt, đâu có bệnh gì. Chắc ông đến đây định thử tay nghề của tôi?

- Dạ. Thầy bảo tôi không có bệnh là rất đúng. Nhưng tôi đâu dám đến thử tài của thầy mà chỉ qua vai người bệnh để gặp được thầy về một chuyện khác.

- Tôi chỉ là môn đệ của Lãn Ông, thọ thế để trị bệnh cứu người chứ có biết chuyện gì khác nữa đâu mà ông đến nhờ tôi?

Bảy Lương biết rằng ông Tám “vô tư” đang cảnh giác, sợ bọn mật vụ của địch đến dò xét mình nên anh liền khéo léo lật ngửa bài:

- Thưa đồng chí Tám Thành. Tôi là Bảy Lương ở chỗ anh Bảy Dự và anh Tư Chí. Hôm nay tôi đến gặp đồng chí muốn được đồng chí cộng tác với chúng tôi về việc xây dựng cơ sở Nguyễn Hữu Hạnh. Thưa, đây có thư của anh Tư Chí.

Đã quan sát Bảy Lương, thấy người này không phải dạng mật vụ đến để dò xét mình, lại nghe có thấy thư của Tư Chí, ông Tám “vô tư” liền thay đổi thái độ đôi chút:

- Tư Chí nào nhỉ? Tôi có quen biết ai là Tư Chí đâu?

- Dạ, anh Tư Chí là Nguyễn Hữu Chí cùng hoạt động với bác Tám, có dạo đã là Tỉnh đội trưởng Mỹ Tho và hiện nay là một trong những cán bộ lãnh đạo của Ban Binh vận Miền. Hôm nay, chính anh Tư cử tôi tới đây đề nghị bác cộng tác với chúng tôi bắt mối Nguyễn Hữu Hạnh. Sở dĩ Ban Binh vận có ý định này vì biết bác là bác họ rất có uy tín với Hạnh. Hơn nữa, đại tá Hạnh đã từng không sợ liên lụy dám cứu bác ra khỏi khám Chí Hòa.

Nghe Bảy lương nói đến những điều cốt lõi như vậy, lại đã đọc thư của Tư Chí, tuy chỉ ít dòng ngắn ngủi, nhưng ông Tám đã nhận ra nét chữ và nhất là cái chủ định rất có lợi cho Cách mạng nên đến lúc này ông Tám mới thật tin và bắt đầu cởi mở với Bảy Lương:

- Thôi được, anh về nói với Tư Chí để chuyện này tôi suy nghĩ thêm đã. Bởi lâu nay tôi chỉ có quen với cái việc chữa bệnh tại đây. Nhưng anh đã đến để coi bệnh thì bây giờ tôi sẽ kê cho anh một toa thuốc. Anh ra tiệm thuốc bắc mua về sắc uống hết ba thang rồi đến tôi coi mạch lại cho.

- Dạ, rất cám ơn thầy! Bảy Lương rất mừng, bởi như thế là ông Tám đã nhận lời. Nhưng rõ ràng, ông cho đơn và hẹn ngày đến coi bệnh lại là để che mắt những kẻ tò mò và cũng để ông còn xin ý kiến của Tỉnh ủy Mỹ Tho. Hiểu được ngụ ý đó anh yên tâm lễ phép cáo từ thầy ra về.

- Nhớ uống thuốc đúng giờ, kiêng cữ như tôi đã dặn.

Ông Tám dặn to Bảy Lương để mọi người xung quanh nếu có chú ý đến anh đều nghe rõ khi anh bước ra khỏi nhà.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #6 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:58 PM »


Bảy Lương về rồi, còn một mình, ông Tám mới bình tâm ngồi suy ngẫm lại việc Nguyễn Hữu Hạnh. Ông điểm lại các biểu hiện thuộc về tư chất của Hạnh từ hồi còn nhỏ, về việc cứu ông ra khỏi nhà tù, về chuyện đám tang của cha Hạnh và những chuyện Hạnh nổi sùng với các cố vấn Mỹ bởi lòng tự trọng của một sĩ quan Việt Nam Cộng hòa mà ông đã nghe được. Tổng hợp lại, ông đi đến kết luận: “Hạnh là người nhân hậu, luôn giữ vững khí tiết dòng dõi nhà nho, có tinh thần dân tộc yêu nước, nhưng đã lạc hướng, lầm đường để thực hiện lý tưởng, ta có thể giác ngộ, lôi kéo Hạnh về với Cách mạng”.

Từ kết luận đó, ông đã giả việc đi coi mạch cho người bệnh ở xa nhà, tìm đến báo cáo cấp trên về đề nghị của Bảy Lương. Được trên nhất trí và khuyến khích, ba ngày sau khi Bảy Lương đứng hẹn tới để coi bệnh lại, ông Tám đã tiếp đón anh rất thân tình. Từ đó thầy lang và người bệnh đã như đôi tình nhân đắm mình vào mối tình mới nảy nở cùng bám sát Nguyễn Hữu Hạnh.



* Vượt qua cửa ải vô hình

Các sĩ quan thân cận và lũ lính canh tư dinh của đại tá Nguyễn Hữu Hạnh đều khá quen thuộc với ông Tám “vô tư”. Chuyện Hạnh cứu ông ra khỏi khám Chí Hòa hơn sáu năm trước đây chỉ có đại úy Tiên và anh ruột vợ của Hạnh biết. Nhưng Tiên đã tử trận, còn anh vợ của Hạnh lại ở mãi tận Cần Thơ. Thế nên, tung tích của ông Tám, bọn chúng ở đây hoàn toàn không hay biết. Chỉ biết, đấy là ông bác họ của đại tá mà đại tá rất kính trọng. Chẳng những thế, bọn chúng còn được Hạnh dặn bảo: “Ông Tám là người đã nuôi qua hồi nhỏ. Thỉnh thoảng ổng có vô chơi nhà, phải đón tiếp cho thật chu đáo”.

Có được ưu thế như vậy nên việc ông tiếp cận Nguyễn Hữu Hạnh để cùng với Bảy Lương thực hiện nhiệm vụ với ông chẳng có khó khăn gì. Từ khi ông được Hạnh tìm cách đưa ra khỏi nhà tù, Hạnh vắng nhà ba năm để sang Mỹ học tới lúc cha Hạnh mất, ông mới năng lui tới để chia sẻ, làm nguôi đi nỗi đau buồn của Hạnh. Mỗi lần tới, ông đều được Hạnh tiếp đón thân tình, trọng thị. Nhưng cả hai bác cháu, nhất là Hạnh đều giữ đúng qui ước là “không nói chuyện chính trị”.

Đó là điều khó khăn nhất đối với ông Tám khi tổ chức đã nhất trí để ông chuyển hẳn sang binh vận, nhận sự chỉ đạo của Ban thông qua Bảy Lương.

Hiện tại, bên ta đang có một đồng chí tên Huỳnh Xuân nhập vai trung úy trong quân đoàn của đại tá Hạnh, Xuân mới bị địch bắt trong vụ chuyển vũ khí cho ta do tên H3 phản bội tố cáo. Bác đặt thẳng vấn đề với Hạnh, đề nghị anh cứu Xuân để thử lại xem lương tâm và chí hướng của anh thế nào.

Bảy Lương gợi ý bác Tám, để từ việc này mà đánh giá lại Hạnh. Nếu Hạnh nhận lời và cứu được Xuân, từ đó sẽ tiếp tục các bước sau.

- Để tôi thử xem sao.

Bác Tám nhất trí với Bảy Lương và hôm sau đến chơi, bác đã đưa chuyện đó ra, đề nghị Hạnh giúp.

Hạnh hơi bất ngờ, bởi lâu nay bác Tám tới chơi, trong câu chuyện trao đổi giữa hai bác cháu chỉ xoay quanh chuyện gia đình. Còn xã hội có nói đến cũng chỉ là chuyện rất chung. Tuy vậy do vì kính nể bác Tám, Hạnh đã không từ chối. Sau ít phút suy nghĩ, Hạnh nói:

- Việc này con có biết. Cùng đi nhận vũ khí rồi móc nối với du kích trao toàn bộ cho họ còn một thiếu úy nữa, nhưng viên thiếu úy này đã trốn thoát. Bây giờ vụ Huỳnh Xuân, Tòa án binh sắp đưa ra xử. Sự vụ không còn thuộc quyền của con. Nhưng bác Tám yên tâm. Con sẽ nhờ luật sư quen biết bào chữa cho Xuân.

Ông luật sư mà Hạnh nhờ bào chữa quả là rất tài trí. Ông cho Xuân cứ giữ nguyên lời cung đổ tội cho viên thiếu úy đã trốn thoát và làm một cái đơn kể lại đã có công tháp tùng bảo vệ cho đại tá Hạnh mấy lần thoát chết. Hạnh đã chứng thực vào lá đơn này. Với lời cung khai nhất quán và công tích này, Tòa đã xử Xuân trắng án.

Sau vụ Huỳnh Xuân, mặc dầu Hạnh không bị liên lụy gì, việc nhờ luật sư rất kín đáo, nhưng Bảy Lương được chỉ thị của Ban sẽ không được phiền Hạnh những chuyện tương tự mà để dành vào những việc có tầm cỡ lớn hơn. Cũng từ đây đồng thời những câu hỏi đã được đặt ra:

“Hạnh làm việc này vì động cơ gì? Vì kính nể bác Tám, vì đã có cảm tình với Cách mạng, bởi Hạnh biết rõ Xuân là người của ta, hay chỉ vì lòng nhân hậu muốn cứu người?”. Kính nể bác Tám thì rõ rồi. Còn câu hỏi sau, cả Bảy Lương và bác Tám đều chưa dám khẳng định.

Phải có lời đáp chính xác cho câu hỏi này mới đi đúng được nước cờ tiếp theo trong phương cách lôi kéo Hạnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:54:34 PM »


Để có lời giải đáp, bác Tám lại phải xuất quân sau khi đã bàn bạc kỹ về phương cách với Bảy Lương. Lần này, bác tới nhà Hạnh với lợi thế là qua vụ Huỳnh Xuân, cái quy ước trước đây gần như đã ngầm được xóa bỏ. Hạnh không lảng tránh việc bác nói tới vài chuyện về thế sự và còn có ý muốn được thanh minh với bác về những việc bắt buộc mình phải làm theo phận sự. Nắm bắt được tâm lý đó, bác liền khéo léo gợi chuyện để Hạnh bộc lộ quan điểm của mình qua phân tích thời cuộc.

“Bác ơi, con nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Sau trận Điện Biên Phủ, Pháp đâu có muốn rút khỏi Việt Nam.Họ đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh con trai Tâm làm Bộ trưởng Quốc phòng cùng với những tay thân tín của Pháp vô trong Chính phủ của Tâm chính là để tiếp tục duy trì quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam. Nhưng khi đó Pháp đã thất bại, lại lệ thuộc vào Mỹ nên ngày 7 tháng 7 năm 1954 Mỹ đưa Ngô Đình Diệm - cựu đại thần thân Mỹ về nước rồi bằng nhiều mưu chước để thay thế Bảo Đại. Con ủng hộ ông Diệm vì ông ấy có tinh thần dân tộc đòi Pháp rút hết kể cả quân đội ra khỏi Việt Nam. Khi quân Pháp rút hết, ông ta đã dẹp tan được các giáo phái, xây dựng quân lực Việt Nam Cộng hòa mạnh lên rất nhanh, có nhiều chính sách để biểu hiện là một quốc gia độc lập. Nhưng từ khi ông Diệm trở mặt rước Mỹ vô, hô hào Bắc tiến, ra luật 10/59 lê máy chém đi gây nên bao cảnh thương tâm khắp miền Nam thì bọn con hết tin. Thì ra, ông ta bài trừ Quốc trưởng để mình lên làm vua theo lối độc tài gia đình trị. Ông đuổi Pháp đi là để rước Mỹ vô và theo ý Mỹ lập hai đảng cho có dân chủ, nhưng lại bóp chết đảng của Phan Quang Đán. Ông và Ngô Đình Nhu - em trai ông ta - đã gian manh, ác độc hết chỗ nói. Ông Dương Văn Minh là người có công lớn, chỉ trong một tháng đã dẹp tan phái Bình Xuyên để ông ta ngồi yên trên ghế Tổng thống, vậy mà ngay sau đó vì sợ uy tín của ông Minh, anh em ông ta đã tìm cách tước hết mọi quyền hành của ông Minh. Còn với phái Cao Đài ông ta đã bày kế dụ được Trịnh Minh Thế ra hàng, nhưng sau đó liền bí mật thủ tiêu Thế. Giết xong lại truy phong Trung tướng và cho làm tang lễ rất lớn rồi xây mộ bề thế ở chân núi Bà Đen để lừa mị tín đồ, che mắt thế gian.

Diệm, Nhu được Mỹ cưng bế đưa tận Hoa Kỳ về và làm nhiều sự kiện thất nhân tâm để Mỹ có thể cắm rễ sâu ở Việt Nam như thế, nhưng đến khi tỏ ra cứng đầu không phục tùng, Mỹ thủ tiêu ngay.

Giết Diệm, Mỹ đưa Dương Văn Minh lên. Nhưng chỉ được mấy tháng ông Minh lại bị Nguyễn Khánh lật đổ.

Vì sao? Nội tình này con biết rõ. Cũng vì ông Minh không tuân theo ý đồ của Mỹ. Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính để nhanh chóng truất bỏ vị trí của ông Minh ở cái ghế này là cuộc gặp gỡ giữa ông Minh với MacNamara, Bộ trưởng Quốc phòng và Harkins, Đại sứ Mỹ ở Miền Nam.

Trong cuộc gặp gỡ ấy, MacNamara đã đề nghị: “Tướng Dương Văn Minh dùng không quân của Việt Nam Cộng hòa thả bom nổ chậm xuống các cơ sở kinh tế ở miền Bắc”. Ông Minh đã trả lời: “Làm như vậy hoạt động chống đối ở khắp miền Nam sẽ tăng lên”. Không được chấp nhận việc đó, MacNamara lại đề nghị: “Cho thả bom phá đê sông Hồng”. “Sao lại làm thế? Tôi cho rằng hành động đó là vô nhân đạo, vì người dân miền Bắc bị chết đói do hậu quả vỡ đê cũng là người Việt Nam”.

Kết quả sau cuộc gặp gỡ này là Mỹ đã ra tay bằng cách đạo diễn cho Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ ông Minh. Chín tháng sau, tướng trẻ mới 36 tuổi Nguyễn Khánh đã từng được Taylor khen là “Mỹ con, người Mỹ da vàng”, lại bị Mỹ chê là võ biền, làm xấu mặt cả nước Mỹ nên dã buộc Khánh phải trao quyền cho Phan Khắc Sửu.

Đấy bác Tám đâu có hiểu rõ nội tình Mỹ và các Tổng thống Việt Nam hơn con. Mỹ bỏ đô la ra, ai có lợi cho Mỹ là cho lên làm Tổng thống, không dùng được nữa thì giết và phế truất đì. Trong quân đội, các cố vấn Mỹ đều là cố nội, hống hách, tiếm quyền, coi thường sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, con ghét Mỹ lắm. Chúng là ngoại bang như thằng Tây Ma-rốc trước kia đã méc-xà-lù ông nội con dẫn đến thấy bị nhục quá mà ông nội con phải tự vẫn. Nhưng con đâu có chịu chết thảm như nội con. Con sẽ tìm cách để loại trừ được Mỹ ra khỏi nước ta. Để thực hiện được chí hướng đó, con đường con đang đi là đúng. Ở đây tụi con đã tranh thủ được viện trợ Mỹ, vũ khí Mỹ, kiến thức Mỹ để rồi quất lại Mỹ. Hiện giờ tụi con đang chờ thời cơ để làm việc đó...”.

Lãnh đạo Ban Binh vận đã phân tích kỹ nội dung buổi trò chuyện này và thống nhất nhận định: “Hạnh là một sĩ quan có trí thức, trình độ và có tinh thần dân tộc. Hạnh đã thấy bộ mặt thật của Mỹ, đang ghét Mỹ và những kẻ trong cùng hàng ngũ với mình đang cúc cung, tận tụy ôm chân Mỹ mà với mục đích ích kỷ đã làm những việc tán tận lương tâm với đồng bào, dân tộc để được vừa lòng Mỹ, nên đang nuôi ý chí chống Mỹ và đang chờ thời cơ để hành động.

Đó là mặt tích cực ở Hạnh. Nhưng mặt tích cực đó nếu như không có chỗ dựa vững chắc và nếu Hạnh manh động sẽ bị chính kẻ mà Hạnh đang căm ghét bóp chết ngay. Chỗ dựa đó không có lực lượng nào khác là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Hạnh chỉ có cộng tác với Mặt trận mới không đơn độc và mới thực hiện tốt đẹp ý nguyện của mình khi có thời cơ. Còn đường đi thì không thể coi là đúng. Nó chỉ là chỗ đứng tạm thời, là cơ hội để Hạnh dùng viện trợ Mỹ, vũ khí Mỹ, kiến thức Mỹ mà quật lại Mỹ, nếu như Hạnh đã đứng trong cùng đội ngũ của nhân dân để chống Mỹ cứu nước...”.

Từ nhận định trên đây, đồng chí Tư Chí đã gặp cùng một lúc cả Bảy Lương và Tám Thành trao tiếp nhiệm vụ cho hai đồng chí đã từng dày công xây dựng được cơ sở này. Nhiệm vụ tiếp đó đồng chí Tư Chí đã nhấn mạnh: “Phải tiếp tục bám sát Hạnh để giác ngộ cách mạng, chỉ ra hướng đi cho Hạnh như lãnh đạo của Ban đã nhận định và đề ra. Đặt thẳng vấn đề yêu cầu Hạnh cộng tác với Mặt trận Dân tộc Giải phóng, thực chất là với Cách mạng. Khi Hạnh đã chấp thuận, sẽ từng bước đặt ra những yêu cầu cụ thể như:

Cung cấp cho ta những tin tình báo quan trọng.

Hạn chế xua quân đi càn quét ở vùng giải phóng. Nếu bị bắt buộc thì sẽ báo trước cho ta và huy động số quân ít nhất, trong thời gian ngắn nhất.

Nếu cần có một “quả bom chính trị” nổ giữa Sài Gòn, sẽ sẵn sàng tham gia Chính phủ Quốc gia nếu như người đảo chính là Dương Văn Minh, hoặc một người tiến bộ nào khác.

Để thực hiện được nhiệm vụ này, đồng chí Bảy Lương đã phải từng bước vạch ra đường đi nước bước, đồng chí Tám Thành đã không biết bao lần phải tới thăm Hạnh và trò chuyện với người cháu họ của mình. Cả hai đã phải vượt qua biết bao nguy hiểm, kiên trì, lăn lộn bám sát mục tiêu suốt 5 năm trời. Từ chấp thuận một, hai yêu cầu của bác, mãi tới 1969 khi Nguyễn Hữu Hạnh được phong hàm chuẩn tướng, vị Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4 này mới hoàn toàn chấp thuận cộng tác với Cách mạng. Chỉ có yêu cầu sẽ làm quả bom chính trị nổ giữa Sài Gòn là Hạnh từ chối. Anh nói với bác Tám:

- Bác hiểu cho con, phía sau con còn vợ và hơn mười đứa con. Bọn Mỹ-Thiệu sẽ không để yên cho họ khi con đã hành động rồi đi ra vùng giải phóng.

- Bác hiểu, thực ra yêu cầu ấy lúc này cũng không cần thiết nữa. Cháu còn phải cần đến những việc lớn hơn nhiều.

Bảy Lương đã hoàn toàn nhất trí với ý kiến đó của bác Tám. Trải qua bao công phu, bây giờ mới kéo được Hạnh sang vòng tay của mình, từ thời điểm này anh cũng rất hạn chế đặt ra các yêu cầu đối với Hạnh. Anh thận trọng bảo vệ để dùng cơ sở này vào việc có giá nhất.

Cũng từ đây, Hạnh đã chính thức mang biệt danh S7. Nhưng với ước mong lớn, anh đã thường quên biệt danh đó, bởi anh đã thầm đổi lại tên S7 là Sao Mai cho mình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:17 PM »


* Tưởng đã “dã tràng”

Vào hạ tuần tháng 10 năm 1969, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn một toán quân đi thanh trừng Việt cộng ở Vĩnh Long. Cùng đi bên cạnh Hạnh là một đại tá cố vấn Mỹ, cấp phó là John Pauval, cố vấn trưởng quân đoàn. Cuộc hành quân đã kéo dài suốt từ sáng tới chiều vẫn không gặp được Việt cộng để thanh trừng. Thấy binh lính đã mỏi mệt và một số đã thương vong do vấp phải mìn, Hạnh ra lệnh rút quân. Thấy thế, viên đại tá Mỹ hậm hực hỏi Hạnh:

- Tại sao ông không hỏi ý kiến tôi khi ra lệnh rút quân?

- Tôi là chuẩn tướng Phó Tư lệnh Quân đoàn, chỉ huy cao nhất trong cuộc hành quân này!

Viên đại tá Mỹ càng tức tối:

- Ông đã giải vây cho Cộng sản khi chúng ta sắp quặp được chúng?

Hạnh trừng trừng nhìn thẳng vào tên Mỹ:

- Ông không được nói năng càn bậy. Ông không thấy phía trước đó là những ấp đời mới mà quân lực Việt Nam Cộng hòa có trách nhiệm bảo vệ hay sao?

Từ lúc ấy, Hạnh không thèm nói thêm một lời nào với tên Mỹ và khi về đến bản doanh, Hạnh đã phóng xe đến tận nhà riêng của John Pauval trình bày và tuyên bố không cộng tác với viên đại tá đó.

Là người thâm thúy, John Pauval đã cho đổi ngay viên đại tá đó đi nơi khác, nhưng sự vụ đó cũng liền đến tai Nguyễn Văn Thiệu.

Trải qua bao đời Tổng thống được Mỹ xếp đặt tới giờ, Thiệu là người giữ được chiếc ghế này lâu nhất. Cũng dễ hiểu, bởi Thiệu được Mỹ ưng ý nhất. Ngô Đình Diệm bị giết vì không chấp thuận cho Mỹ đổ quân vào Việt Nam thì Thiệu đã hăng hái làm việc đó. Dương Văn Minh bị đổ sau cuộc gặp MacNamara bởi không đồng ý ném bom phá đê sông Hồng thì Thiệu đã đồng tình với Mỹ mà cổ vũ Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay vượt vĩ tuyến 17 ra ném bom Đồng Hới để mở màn cho cuộc oanh kích miền Bắc của không quân Mỹ.

Thiệu là như thế nên việc rút quân sớm, bất hợp tác với viên đại tá Mỹ của Hạnh, Thiệu đã ghi thêm một chấm đen nữa trong lý lịch của Hạnh. Với Hạnh, Thiệu - một tên lừa thầy phản bạn sống rất lươn lẹo này - đã không ưa Hạnh ngay từ khi cùng học ở trường đào tạo sĩ quan, bởi tính Hạnh cương trực lại có nhiều ưu thế hơn Thiệu. Tới khi cùng là trung tá dưới quyền Dương Văn Minh, Hạnh được Minh tin dùng hơn, Thiệu đã ghen ghét nhưng lúc đó chỉ biết ngậm bồ hòn...

Với bản chất gian manh, lại vốn ghen ghét Hạnh từ xa xưa như thế nên từ khi được Mỹ cất nhắc lên làm Tổng thống, Thiệu đã thả sức gây cho Hạnh bao nỗi thăng trầm.

Hạnh không bao giờ được làm cấp trưởng, không được ngồi lâu ở đâu ấm chỗ và khăm nhất là Thiệu thường xuyên điều Hạnh đi làm cấp phó cho những sĩ quan trước đây vốn là cấp dưới của Hạnh. Khi Hạnh đang làm phó cho Nguyễn Viết Thanh cai quản vùng Đồng bằng sông Cửu Long được Thanh vị nể, vì từng là cấp trên của mình thì Thiệu liền điều luôn Hạnh lên Tây Nguyên làm thuộc hạ cho Ngô Du - một chúa tể sơn lâm và trùm áp phe khét tiếng hoàn toàn không hợp với Hạnh.

Thế là Hạnh phải xa vùng đất có thể vùng vẫy. Ở đó, khi có thời cơ Hạnh có thể có trong tay một quân đoàn để hành động hoặc ít ra cũng ghìm chân cả quân đoàn này lại như hồi tướng Dương Văn Minh đảo chính lật đổ Diệm. Ngày đó, Hạnh chưa bắt tay với Cách mạng nhưng vì ủng hộ Dương Văn Minh mà Hạnh đã đạo diễn cho viên Tư lệnh làm việc ấy. Bên cạnh việc phải xa vùng đất này, điều trăn trở nữa với Hạnh là lên Tây Nguyên, Hạnh đã không còn điều kiện để lui tới đàm đạo với Dương Văn Minh (vì sức ép của Mỹ, Thiệu đã phải cho Minh về nước không còn phải sống lưu vong).

Trong những tháng ngày ảm đạm của Hạnh hồi năm 1973 này, bác Tám “vô tư” lại phải lặn lội lên tận Tây Nguyên để thăm Hạnh. Hạnh cũng thấy đỡ cô đơn và vui hơn khi bác nói cho Hạnh biết những chuyển biến quan trọng của cuộc chiến đang rất có lợi cho Cách mạng khi quân Mỹ đã phải rút hết về nước theo Hiệp định Paris. Cũng qua gợi ý của bác mà Hạnh đã yên tâm và có những kế sách để thực hiện ý nguyện của mình từ vùng đất Tây Nguyên này.

Nhưng Hữu Hạnh lần nứa lại bất hạnh. Khi đốm lửa lần này vừa le lói lên thì cả một thùng nước đã dội xuống. Ngày 15 tháng 5 năm 1974, đột nhiên Hạnh nhận được quyết định về hưu do Thiệu ký khi Hạnh mới ở tuổi 48.

Cuối tháng 5, bác Tám về Cần Thơ thấy Hạnh nhàn nhã ở nhà thì thấy làm lạ. Bác đã sững sờ khi Hạnh chìa ra quyết định ấy, Bảy Lương và cả các đồng chí lãnh đạo Ban Binh vận đều không khỏi buồn. Anh than phiền với bác Tám:

- Vậy là công lao của anh em mình bao năm, giờ thành công cốc!

Nhưng đó chỉ là suy nghĩ khi Bảy Lương vừa bị cú sốc mạnh. Sau cú sốc này không lâu, từ phân tích thời cuộc, anh đã thấy vẫn còn hy vọng, và đúng lúc ấy, các đồng chí lãnh đạo của Ban đã chỉ thị cho anh:

- Phải động viên S7 giữ vững tinh thần, bình tâm chờ đợi thời cơ mới. Theo xu hướng của thời cuộc, có nhiều khả năng Dương Văn Minh sẽ trở lại chính trường. S7 luôn luôn sẵn sàng nhảy vào cuộc khi Dương Văn Minh lên nắm quyền.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #9 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:39 PM »


Cũng như mọi khi, Bảy Lương không trực tiếp gặp Nguyễn Hữu Hạnh. Việc truyền đạt và phân tích tình hình chỉ thị sẵn sàng “nhảy vào cuộc” cho Hạnh lại do bác Tám đảm nhiệm. Chính Hạnh khi chưa gặp bác Tám lần này cũng tự thấy: do thất bại liên tiếp về quân sự, do uy tín ảnh hưởng và lực lượng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày càng lớn mạnh, do sức ép mạnh mẽ của dư luận cả trong và ngoài nước đòi Thiệu phải thay đổi chính sách, chấp nhận các yêu cầu của lực lượng hòa hợp, hòa giải dân tộc và lên án mạnh mẽ Thiệu về tội tham nhũng, buôn lậu nên Thiệu đang rất lúng túng. Còn Mỹ từ khi cho Dương Văn Minh về nước, tuy rằng không ưa ông Minh, nhưng bây giờ thấy ông Minh đang có nhiều uy tín cả trong giới quân sự, nên đã hé mở rõ chủ định sẽ dùng Minh làm con bài dự trữ để thay thế Thiệu khi Thiệu đã hết vai trò... Nghĩ vậy, Hạnh nói với bác Tám:

- Con sẽ làm theo ý bác. Về hưu con cũng có thuận lợi là được tự do và có thời gian. Với chế độ đãi ngộ cấp tướng, con vẫn còn được cấp xe hơi, vẫn còn có lính hầu, lính bảo vệ, lính lái xe, từ nay con sẽ năng lên Sài Gòn thăm viếng ông Minh để tình nghĩa vừa là thầy vừa là bạn giữa ông ấy với con ngày càng thắm thiết hơn.

- Các cụ xưa có eâu: “Trong cái rủi lại có cái may”. Biết đâu việc về hưu của anh lại là một cơ hội tốt. Anh nên tận dụng hết lợi thế đang có của mình.

Ông Tám cổ vũ Hạnh. Và ông không ngờ rằng sự mong đoán ấy đã nhanh ứng nghiệm bằng việc ông tới gấp để truyền đạt chỉ thị của Ban cho Hạnh khi ta đã mở màn chiến dịch mùa Xuân 1975 bằng chiến thắng vang động giải phóng Buôn Ma Thuột. Khi ông tới Cần Thơ, Thiệu vừa ra lệnh cho quân ngụy rút khỏi Tây Nguyên. Trong những ngày này, không khí ở Sài Gòn đang sôi động đòi Thiệu phải từ chức. Tại Pháp, một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Pháp đã gặp bí mật Trần Văn Đôn. Đôn bay về Sài Gòn gặp hai đại tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm và tướng Minh cùng với Khiêm đã ra tuyên bố đòi Thiệu từ chức. Nguyễn Bá Cần và Nguyễn Văn Hảo, Thủ tướng và Phó Thủ tướng cũng công khai ủng hộ tuyên bố của Minh - Khiêm, nhưng Thiệu vẫn không chịu, chỉ nao núng. Bác Tám đặt ra cho Hạnh một loạt câu hỏi:

- Quân ngụy còn khả năng chiến đấu tới đâu?

- Còn, nhưng coi như đã gãy xương sống khi đã phải rút chạy, bỏ mất Tây Nguyên.

- Tụi nó giải thích Phước Long bị ta chiếm là do chậm trễ trong việc điều quân cứu viện, ý kiến anh thế nào?

- Láo! Tụi nó đâu còn lực lượng để cứu viện. Bộ Tổng tham mưu có hai sư dù và thủy quân lục chiến để làm tổng trù bị thì cả hai đang mắc kẹt nằm ở Quảng Trị và An Lỗ - Thừa Thiên. Còn sư biệt động là lực lượng bảo vệ Sài Gòn thì đâu dám điều đi.

- Thiệu có buộc phải rút lui không?

- Nếu Thiệu rút, tụi nó kể như hết. Muốn Thiệu rút nhanh phải có áp lực mạnh, nhất là áp lực về quân sự. Nếu có áp lực của Quân giải phóng trên các ngả đường vào Sài Gòn thì sẽ thúc đẩy ngụy quyền mau sụp đổ.

- Ai sẽ lên thay Nguyễn Văn Thiệu?

- Con rất mong ông Dương Văn Minh, song chưa chín muồi.

- Vì sao?

- Vì người Mỹ chưa bỏ phiếu ngay cho ông ta, bởi chê ông ta không biết làm chính trị, lại thân Pháp và có em ruột là đại tá Việt cộng, mặc dù ông được lòng cả phái quân sự và dân sự. Họ vẫn đặt ông Minh là con bài quan trọng trong bàn cờ và chúng chỉ chịu đưa ông lên khi không còn ai hợp hơn. Hơn nữa, Thiệu không muốn giao quyền cho ông ta.

- Vì sao

- Vì Thiệu từng làm tình làm tội ông Minh. Trao quyền, Thiệu sợ ông ta sẽ trả thù, khi Thiệu ra đi cần phải có một chuyến bay riêng chở vàng bạc châu báu đã vơ vét được qua 10 năm cầm quyền và cầm đầu các vụ buôn lậu.

- Bao giờ anh đến gặp ông Minh trong dịp này?

- Con sẽ gặp khi ông ta lên cầm quyền.

Ông Tám tỏ ra hài lòng trước những câu trả lời của Hạnh. Ông coi đây như buổi kiểm tra cuối cùng trước khi trao nhiệm vụ cho Sao Mai vào trận. Tới lúc này ông mới truyền đạt chỉ thị của lãnh đạo Ban Binh vận qua Bảy Lương ông đã tiếp nhận được cho Hạnh:

- Tình hình chiến sự trong cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ. Cuộc chiến hoàn toàn có khả năng sẽ kết thúc như anh đã hiểu. Thiệu phải đi là điều tất yếu. Mỹ dù không ưa nhưng sẽ không thể cưỡng lại được việc đưa Dương Văn Minh lên thay thế. Đây sẽ là thời cơ tốt cho anh tận dụng lợi thế để thực hiện ý nguyện của mình. Bởi thế, theo chỉ thị của Ban Binh vận, khi ông Dương Văn Minh lên cầm quyền, anh phải lên ngay giành lấy vị trí quan trọng, xúc tiến việc đầu hàng của ngụy quyền càng nhanh càng tốt, cố tránh đổ máu. Chúng ta đã cùng trồng cây bây giờ ngày hái quả sắp đến. Mong anh hãy vượt qua những thử thách cuối cùng để giành được thắng lợi lớn nhất.

- Dạ thưa bác, nếu có được thời cơ như bác cháu ta mong muốn, con sẽ gắng sức hoàn thành xuất sắc sứ mạng của mình để xứng đáng với công lao và lòng mong đợi của các bác và các anh.

Hạnh hứa với bác Tám, hai ánh mắt đầy hy vọng cùng gặp nhau và chưa bao giờ hai bác cháu cùng xiết chặt tay nhau như lần này.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM