Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười, 2019, 12:57:28 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Thăm dò
Câu hỏi: Khi khởi nghĩa Lý Bí nổ ra, Phạm Tu ở độ tuổi nào?
Thanh niên (>30 tuổi) - 1 (20%)
Trung niên - 1 (20%)
Cao niên (>60 tuổi) - 3 (60%)
Tổng số phiếu: 5

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này  (Đọc 74646 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1242


« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 01:18:44 AM »

Theo Đào Duy Anh trong cuốn "Đất nước Việt Nam qua các đời"

 - An Nam đô hộ phủ lúc đó là thành Tống Bình, mà Tống Bình ở đời Tuỳ là ở phía nam sông Hồng và sông Đuống (gồm cả Gia Lâm và nội thành Hà Nội nay), về sau nó chỉ nằm ở phía nam sông Hồng (Hà Nội nay), còn nam sông Đuống là huyện Long Biên.

Vậy là thành Long Biên đến 99% ở vùng gần sông Đuống!

và quận Long Biên ngày nay có lẽ cũng thuộc vùng huyện Long Biên xưa?

http://lichsuvn.info/forum/archive/index.php/t-8054.html

Quan trọng cái chỗ "về sau " là từ khi nào ạ??
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:40:53 AM »

"Về sau" chính là khi nhà Đường chuyển hẳn An Nam đô hộ phủ từ thành Long Biên sang vùng đất Thăng Long (thành Tống Bình) đó là những năm ngay sau năm 621.Và khi đó: vùng có thành Long Biên được gọi là huyện Long Biên
Việc chuyển Đô hộ phủ đã đề cập ở bài trước đây trong chủ đề này.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1242


« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 05:00:25 PM »

"Về sau" chính là khi nhà Đường chuyển hẳn An Nam đô hộ phủ từ thành Long Biên sang vùng đất Thăng Long (thành Tống Bình) đó là những năm ngay sau năm 621.Và khi đó: vùng có thành Long Biên được gọi là huyện Long Biên
Việc chuyển Đô hộ phủ đã đề cập ở bài trước đây trong chủ đề này.

Thế "Về sau" có thể muộn hơn thời điểm trên được không ạ?
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 12:12:03 AM »

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-05-nguyen-ngoc-thach-nguoi-dinh-do-lai-thanh-thang-long

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?
Logged
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 03:02:52 PM »

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-05-nguyen-ngoc-thach-nguoi-dinh-do-lai-thanh-thang-long

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?

Cái cũng chỉ là ý kiến cá nhân của ông Thạch khi "cho rằng"
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
6604
Thành viên
*
Bài viết: 137


« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 03:31:26 PM »

Thành Đại la

Thành Ðại La là một kiến trúc vĩ đại, có đầu tiên ở trên đất này. La thành không phải là một tên riêng, chỉ có nghĩa là một bức thành lớn bao quanh một bức thành nhỏ ở bên trong. La thành có từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, những căn cứ của những đất đã chiếm được đều đắp hai lần thành, thành ngoài gọi là La thành.

Suốt cả thời kỳ Bắc thuộc (111 trước Công lịch đến 939 sau Công lịch), bọn vua quan phong kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta, đều đóng căn cứ địa ở mấy nơi bên tả ngạn sông Hồng, như Liên Lâu (Tiên Du, Bắc Ninh), rồi đến Long Biên (phía Bắc sông Ðuống). Ðến đời Ðường, thường có quân Chà Và ở ngoài bể tràn vào và quân Nam Chiếu ở mạn Vân Nam tràn xuống, kéo đến vây đánh phủ Ðô hộ; hơn nữa nhân dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn xâm lược, cũng thường nổi lên chống đánh. Năm 824, Ðô hộ là Lý Nguyên Gia, tin theo thuyết phong thuỷ, cho rằng trước cửa thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, nên nhân dân hay nổi lên "làm phản". Lý Nguyên Gia bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình, gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây một toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi ấy có địa thế hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, đắp rộng cao thêm thành, làm cho dân ta hồi đó phải phục dịch rất khổ sở.

Ðến năm 866, nhà Ðường đổi An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ. Cao Biền là một tướng có nhiều tài lược và mưu trí, đã dùng nhiều thủ đoạn để loè nạt dân chúng, như việc phá những thác ngầm ở dọc sông: đêm đến, hắn cho đục đá đặt thuốc nổ, làm nổ tung những thác ấy, rồi nói phao lên là vì trời giúp vua Ðường sai thiên lôi xuống phá thác, làm cho nhân dân sợ hãi. Muốn củng cố thêm căn cứ thống trị, Cao Biền cho đắp lại thành Ðại La, bốn mặt dài hơn 1.982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước. Muốn ngăn ngừa không cho nước sông Tô, sông Hồng tràn vào phủ trị, Cao Biền lại cho đắp một đường đê bao bọc ở ngoại thành, dài hơn 2.125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng, dày 2 trượng, trong thành cho nhân dân làm nhà ở hơn bốn chục vạn nóc. Ðường đê bao ngoài thành gọi là Ðại La thành, cũng gọi là Ngoại La thành.

Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian ta vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như nói Cao Biền thấy ở đất Giao Châu ta có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Vì vậy, ở nông thôn, làng nào có nhiều giếng khơi, người ta vẫn nói đó là giếng do Cao Biền đào ra. Lại như, mỗi khi thấy người nào yếu sức, tay chân cử động run rẩy, thường vẫn nói câu đã gần thành tục ngữ: "Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non". Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh" nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc một trăm lần thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hoá thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững. Lại còn chuyện nói Cao Biền đắp La thành, mấy lần bắt đầu đều bị sụt lở; một đêm Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo cho Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Ðền thờ ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm.

Từ năm 939, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bắt đầu độc lập tự chủ, nhưng đời Ngô Vương Quyền lại đóng đô ở Cổ Loa, hai đời Ðinh, Lê thì đóng đô ở Hoa Lư, thành Ðại La trở nên hoang phế. Mãi đến năm 1010, Lý Thái Tổ mới dời kinh đô đến đó, nhưng lại đắp một thành khác nhỏ hẹp hơn gọi là thành Thăng Long. Nền cũ của thành Ðại La, phần lớn không còn lại dấu vết, chỉ còn nhận thấy những khoảng từ Thanh Nhàn (giáp Thanh Trì) đi lên cửa ô Cầu Dền sang ô Chợ Dưà, rồi thẳng đến ô Cầu Giấy, ngược lên đến làng Bưởi. Năm kia, ta đã cho theo dấu cũ ấy, sửa chữa lại nhiều nơi, đắp cao lên làm thành thân đê, đề phòng nạn lụt. Còn phần đê La Thành về phía sông Hồng, từ đời Lý đã nhập vào với đê Cơ Xá, và từ đời Trần đã nhập vào với đê Quai Vạc, chuyên ngăn nước sông Hồng.

Ðê Ðại La thành này khi còn độc lực giữ việc chống nước lụt cho nội thành, thường bị sạt lở. Năm 1243, đời vua Thái Tôn nhà Trần, nước sông Hồng lên to quá, phá vỡ một đoạn thân thành, làm cho nội thành bị ngập lụt. Cũng từ đó, các đời vua Trần mới nghĩ đến việc đắp đê quai vạc suốt từ đầu nguồn trở xuống cho đến miền bể, dọc hai bên bờ sông Hồng.

Bài thơ "Ðiếu cổ La thành" của nhà thơ Tế Xuyên, đời cuối Lê đã mai mỉa dã tâm xâm lược của Cao Biền, tốn công, nhọc lòng đắp nên thành ấy, kết cục bọn phong kién thống trị Trung Quốc đều phải diệt vong. Sau chiến công trên sông Bạch Ðằng năm 939, nước ta hoàn toàn tự chủ. Bài thơ đại ý như sau:

"Ðại La thành tốn công xây,
Cao Biền tưởng chiếm đất này dài lâu.
Nào ngờ mấy chục năm sau,
Vùi quân xâm lược dòng sâu Bạch Ðằng"

- Doãn Kế Thiện (Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội)
Logged

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt đời nào cũng có.( Nguyễn Trãi 1380 - 1442 )
6604
Thành viên
*
Bài viết: 137


« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 03:52:25 PM »

Thời kỳ tiền Thăng Long
 
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Nhưng đến thời kỳ băng tan, biển tiến sâu vào đất liền, các cư dân của thời đại đồ đá mới bị đẩy lùi lên vùng núi. Phải tới khoảng 4 hoặc 5 ngàn năm trước Công Nguyên, con người mới quay lại sinh sống ở nơi đây. Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng đến đầu thời đại đồ sắt, minh chứng cho sự hiện diện của Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn. Những cư dân Hà Nội thời kỳ đó sinh sống nhờ trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Giai đoạn tiền sử này tương ứng với thời kỳ của các Vua Hùng trong truyền thuyết. Thế kỷ 3 trước Công Nguyên, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục Phán quyết định đóng đô ở Cổ Loa, nay là huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên trở thành một đô thị trung tâm về chính trị và xã hội.

Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một ngàn năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc được chia thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ. Vắng bóng trong sử sách suốt năm thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–456, Hà Nội mới được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình. Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm 602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thế kỷ 10, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.

PS: - Từ những địa danh Luy Lâu, Cổ Loa, Cổ Pháp, Phù Đổng, Đại La thì Hà Nội đã là Trung tâm của Đồng bằng Bắc Bộ từ thời thượng cổ vì rất thuận tiện cho giao thông, vận tải. Không thể chỉ dựa vào 1 tấm bia được dựng vào năm 1676 để phỏng đoán một vấn đề gì đó được.

Logged

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt đời nào cũng có.( Nguyễn Trãi 1380 - 1442 )
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #37 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2010, 11:55:14 PM »

Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm 602.

Cái này hình như không đúng nhá
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2010, 05:13:50 PM »

Nhầm Cổ Loa vì chuyện Lý Phật Tử-Triệu Quang Phục giống chuyện Triệu Đà-An Dương Vương
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2010, 05:18:34 PM »



Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?

Thời Tam Quốc có quan cai trị của triều đình nhà Hán ở Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp (137-226). Các sử gia Việt Nam đánh giá cao công lao của ông trong hoàn cảnh loạn lạc của phương Bắc mà Giao Chỉ vẫn phát triển phồn thịnh nhất là về Nho học. Trong đó có người coi ông như vị vua tự trị ở Giao Chỉ bấy giờ.

Sĩ Nhiếp một người họ Phạm Trung Quốc đã được Tôn Quyền - vua Đông Ngô phong là Long Biên hầu. Nhiều Vua Việt Nam về sau vẫn tiếp tục có sắc phong ghi nhận đóng góp của ông.

Đối với Họ Phạm Việt Nam tự hào có một vị thượng thủy tổ Phạm Tu (476-545) là khai quốc công thần nhà Tiền Lý, một nhà nước độc lập có tổ chức đầu tiên ở nước ta. Ông có nhiều công lao trong khởi nghĩa, công phá thành Long Biên của giặc, bình ổn phía Nam khỏi sự xâm lấn của Lâm Ấp, (có thể chính ông là người cầm quân đánh giặc ở Hợp Phố mà sau này chúng ta có Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu), tròn 70 tuổi vẫn hiên ngang chống giặc bảo vệ quê hương đất nước ngay trên chiến thành bằng đất với tre gỗ ở cửa sông Tô. Chiến thành là dấu ấn của thời kỳ tiền Thăng Long - Hà Nội cách nay đã 15 thế kỷ.

Danh tướng Phạm Tu sống mãi với mảnh đất Thủ đô, ông được phong là Đô Hồ đại vương, Long Biên hầu.

Như vậy có một người họ Phạm Trung Quốc có công lao đối với Giao Chỉ, nhất là thủ phủ Luy Lâu, tạo sự phát triển ở thành Long Biên sau này thuộc vùng Kinh Bắc; Hơn ba thế kỷ sau một người họ Phạm Việt Nam đã đứng dậy quật khởi chống sự đô hộ của phương Bắc, phá tan thành trì của giặc tại Long Biên.

Điều trùng hợp là hai vị đều được phong Long Biên hầu
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM