Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười Một, 2019, 12:38:13 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường Hồ Chí Minh trên biển  (Đọc 136990 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #180 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2011, 09:47:26 AM »

Chân dung các thuyền trưởng tàu không số (Kỳ 4)


Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

21 tuổi nhập ngũ, 35 tuổi hy sinh, đó là những dòng tiểu sử ngắn ngủi, bình dị của Trung úy, Thuyền trưởng tàu Hải quân Nguyễn Phan Vinh (1933-1968). Năm 1970, anh đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã được mang tên anh, đảo Phan Vinh.

Gia đình người anh hùng

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã có một con đường xẻ dọc Trường Sơn mà hễ nhắc đến là lại liên tưởng tới những sự tích thần kỳ. Song, ngoài con đường ấy, còn có một con đường khác nữa, đó là con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam trên Biển Đông với một nét độc đáo, sáng tạo như thần thoại, với biết bao kỳ tích cảm động về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của những người chiến sĩ Đoàn tàu không số và tình cảm gắn bó keo sơn với quân dân các bến đỗ ở miền Nam. Đó là con đường huyền thoại: Đường Hồ Chí Minh trên biển và tên tuổi Nguyễn Phan Vinh gắn liền với tên con đường ấy.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Phan Vinh. Ảnh tư liệu.

Nguyễn Phan Vinh là người con ưu tú của mảnh đất Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ) sinh ra trong một gia đình cách mạng. Tháng 3-1968, anh hy sinh ở Hòn Hèo thì cuối năm ấy, cha của anh, người du kích tên là Nguyễn Đức Mẫn cũng hy sinh trong một trận chống càn tại quê nhà. Mẹ anh mất trước đó 5 năm, (năm 1963) vì bị địch bắt, đánh đập, tra khảo dã man.

Năm bà ra đi cũng là năm người con trai thứ hai, Nguyễn Đức Lân ngã xuống trên chiến trường Quảng Nam. Người duy nhất còn lại trong gia đình là anh Nguyễn Đức Xử. Một người bạn của tôi trong đợt đi làm phim về “Tàu không số” kể chuyện đã được nghe anh Xử nói về người em trai của mình: “Phan Vinh tuy là con út trong gia đình, nhưng ngay từ nhỏ đã là người cứng cỏi, quyết đoán, và đặc biệt là giàu lý tưởng”.

Có lẽ chính từ cái cứng cỏi, quyết đoán và giàu lý tưởng cách mạng đó đã làm nên một Phan Vinh với chiến công oanh liệt trên vùng biển Hòn Hèo.

Tàu 235 - bản anh hùng ca bất tử trên vùng biển Hòn Hèo

Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua hai xã Ninh Phước, Ninh Vân thuộc tỉnh Khánh Hòa. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn 10km đường biển. Nơi đây, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và đồng đội đã hy sinh cùng Tàu 235 vào năm 1968.

Thời kỳ đó, kẻ địch đã tìm mọi cách ngăn chặn con đường vận chuyển trên biển mà chúng gọi là con đường “cực kỳ nguy hiểm” này. Không quân, Hải quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tung lực lượng khá mạnh để chăng lưới bủa vây trên mặt biển đón bắt những con tàu cảm tử chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Trên biển, chúng chia từng tổ bố trí tàu chiến ngăn chặn và lắp đặt ra-đa quét sóng đêm ngày. Trên trời và trong đất liền cả đêm lẫn ngày, chúng cho lính và máy bay trinh sát, tuần tra, canh phòng.

Ông Long An, một trong 5 người sống sót đã kể lại chuyến đi của Tàu 235.

- 11 giờ 30 phút ngày 27-2-1968, Tàu 235 xuất phát chở hơn 14 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo. Đây là bến hết sức khó vào, luồng hẹp, nhiều đá ngầm. Một tài liệu của Pháp viết rằng, tàu muốn ra vào Hòn Hèo phải có những tay thuyền trưởng lão luyện, với trên dưới 20 năm tuổi nghề.

Trung úy Nguyễn Phan Vinh tuy chưa có tuổi nghề cao nhưng được tin cậy chỉ huy con tàu này. Tàu có 21 cán bộ, chiến sĩ; Chính trị viên: Nguyễn Tương, Thuyền phó 1: Đoàn Văn Nhi, Thuyền phó 2: Võ Tá Tu, máy trưởng: Trương Văn Mùi. Tôi là thợ máy trên Tàu 235.

Trước giờ nhổ neo, chiến sĩ Ngô Văn Dầu bị viêm phổi phải vào viện nên đội hình còn lại 20 người. Chúng tôi đi hai ngày đêm trên vùng biển quốc tế. Tối 29-2, tàu đến ngang vùng biển Nha Trang và chuyển hướng vào bờ. Phát hiện ra tàu ta, địch lập tức huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, 12, 617 và 4 tàu khác của Duyên đoàn 25 đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống...

Biết đã bị lộ, Thuyền trưởng Phan Vinh khôn khéo điều khiển Tàu 235 luồn lách qua đội hình tàu địch và đến được bến Ninh Phước lúc 0 giờ 30 phút ngày 1-3-1968. Anh quyết định thực hiện phương án 2, cho thả hàng xuống nước để quân dân ở bến mò vớt sau. Các kiện hàng được bao gói đặc biệt lần lượt lăn xuống biển. Lúc đó, chừng 1 giờ 30 phút, 3 tàu loại lớn và 4 tàu loại nhỏ của địch khép chặt vòng vây ở phía sau, phía trước là núi.

Phan Vinh cho tàu chạy ven bờ xuôi xuống bến Ninh Vân chừng độ mươi hải lý, nhằm mục đích giữ bí mật không để lộ vị trí thả vũ khí. Tàu địch lập tức đuổi theo, nã đạn dữ dội rồi bật đèn pha và gọi máy bay đến thả pháo sáng, bắn rốc-két. Trong lửa đạn, Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em chiến đấu và điều khiển tàu chạy sát bờ. Các thủy thủ Thật, Phong liên tiếp dùng DKZ và 14 ly 5 bắn về phía tàu địch, một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần.

Cuộc chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Hỏa lực của địch liên tục bắn vào tàu ta. 5 cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã hy sinh, 2 người bị thương nặng, 7 người bị thương nhẹ. Thuyền trưởng Phan Vinh cũng bị mảnh đạn xượt qua đầu. Anh tự băng bó và vẫn đứng trong buồng lái động viên mọi người chiến đấu. Anh có ý định phá vòng vây bởi ngoài khơi dễ cơ động, nếu cần thì áp sát tàu địch và cho nổ tàu tiêu diệt bọn chúng. Nhưng rất không may, lúc đó máy tàu hỏng nặng. Ý định phá vòng vây không thành.

Anh chỉ huy cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ 20 phút, tàu cách bờ hơn 100m, anh tổ chức đưa người đã hy sinh và bị thương vào bờ, sau đó ra lệnh chuẩn bị điểm hỏa cho nổ tàu. Anh Vinh, Thứ và tôi cài kíp nổ ở khoang máy, các vị trí khác do Khung, Thật, Mai đảm nhiệm. Kiểm tra xong lần cuối, chúng tôi nhảy xuống nước bơi vào bờ. Tôi được giao nhiệm vụ nếu tàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ.

20 phút sau, lúc 2 giờ 40 phút, ngày 1-3, một cột lửa bùng lên, kế đó là tiếng nổ dữ dội, chấn động tới Nha Trang. Sức công phá của khối thuốc nổ khiến Tàu 235 đứt đôi, một nửa chìm xuống biển, một nửa văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Sau những phút giây bàng hoàng, địch gọi máy bay đến bắn phá ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ Tàu 235. Số thủy thủ rút lên bờ còn lại 9 người. Địch lập tức đổ quân lùng sục.

Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ chốt ở đó, kiên cường chống trả, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, và cuối cùng, lực kiệt, vết thương ngày một nặng, súng không còn đạn, các anh đã hy sinh. Số thủy thủ của Tàu 235 còn lại 7 người, đó là Thuyền phó Nhi và 6 thủy thủ: Mai, Thật, Phong, Khung, Tuyến và tôi. Tất cả đều thương tích đầy mình. Anh em cố gắng dìu nhau di chuyển khắp vùng núi đá Hòn Hèo.

Mười ngày phơi dưới nắng, không lương thực, không nước uống, chúng tôi kiệt sức. Ngày thứ 11, Khung đi tìm nước uống, rồi không trở về. Sau này mới hay, Khung bị địch bắt. Ngày thứ 12, chúng tôi liên lạc được với du kích ở bến. Mọi người quay lại đón anh Nhi đang nằm trong rừng. Nhưng anh không còn ở đó nữa, chỉ thấy mảnh áo rách và cuốn băng cá nhân, máu đã khô...

Về sự kiện này, tạp chí Lướt sóng của Hải quân ngụy Sài Gòn viết: “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng quân lực Việt Nam cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng (thực chất chỉ có 20 thủy thủ) gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập và tiếp tế cho Mặt trận Giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại một dấu vết”...

Kể đến đây, ông Long An lặng đi, đôi mắt đỏ hoe. Đưa tay gạt những giọt nước mắt, ông nói tiếp:

- Phan Vinh là một thuyền trưởng giỏi, anh đã có 11 chuyến vận chuyển vũ khí thành công, dũng cảm, quyết đoán, sống chân thành, được anh em quý mến. Tôi chỉ tiếc chẳng giữ được chút kỷ vật nào của người thuyền trưởng anh hùng ấy.

Những dòng thư đầy ắp niềm tin và lý tưởng cách mạng

Điều mà ông Long An day dứt phần nào đã được giải tỏa bởi tại Bảo tàng Hải quân hiện còn lưu giữ những bức thư của Phan Vinh gửi người bạn thân là Trần Phong (đồng chí Trần Phong - nguyên Quyền đoàn trưởng Đoàn 125 Hải quân). Trần Phong và Phan Vinh là đôi bạn thân. Họ cùng quê, cùng tập kết ra Bắc, cùng học ở Trung Quốc và cùng về Quân chủng Hải quân làm thuyền trưởng. Những lá thư anh viết khi đang ở tại căn cứ trên nước bạn, chuẩn bị cho những chuyến đi.

Lá thư Trần Phong nhận ngày 26-10-1967, có đoạn:

“Chúng ta phải là những con lạc đà trên bãi sa mạc, mỗi bước đi, mỗi vết chân của chúng ta vì sự nghiệp của Đảng, chúng ta phải là những chiếc cầu chì, vui vẻ và lạc quan mà nhận lấy công tác ở những nơi nguy hiểm nhất. Và khi cần thiết, ta hy sinh sinh mạng mình cho Đảng, cho nhân dân. Thời gian, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta...".

Lá thư gửi tháng 1-1968, trước khi anh hy sinh một tháng, có đoạn: “Phong thân! Mình không ngờ đến nơi đây. Mùa hè đã qua mà nóng ghê, nhưng đâu có nóng bằng cõi lòng người chiến sĩ. Mọi việc ở đây diễn ra bình thường, rất mong ngày “thượng lộ”, ấy thế mà cứ ăn chực nằm chờ mãi, kể cũng ê. Còn những gì tiếp theo nữa thì để lịch sử trả lời. Hẹn gặp Phong vào một ngày vinh quang, điều đó khẳng định... Phong hãy giúp mình biên thư cho anh Xử. Khi nào có dịp mình sẽ biên thư sau, hoặc sẽ có dịp gặp. Mình không muốn biên thư vì mình nghĩ rằng mọi riêng tư lúc này sẽ làm con người ta khó bước tới. Tình cảm đó có lẽ để dành cho sau chiến tranh. Bây giờ thì mình chỉ có một tình cảm duy nhất là hãy bước tới và xông vào cuộc cách mạng vĩ đại, con người hoàn toàn không sợ ràng buộc bởi những mối dây nào khác. Tạm gác lại những tình cảm riêng tư để dồn cho điều duy nhất đó là bước tới và xông vào cuộc cách mạng vĩ đại, với niềm tin vững chắc vào thắng lợi”.

Phan Vinh và thế hệ thanh niên của đất nước đã đi vào chiến trận với tinh thần lạc quan bởi họ luôn nung nấu một lý tưởng cao đẹp, một niềm tin chắc chắn rằng, sự hy sinh vì nghĩa của mình sẽ được nối tiếp, và sẽ thành công. Trong số các anh, có người không còn nữa, nhưng niềm tin và lý tưởng mà các anh tâm nguyện còn sống mãi.

Nguồn: http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/160097/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #181 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2011, 12:17:38 AM »

Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Kỳ 5)


Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

Làng biển Nam Sơn (Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) những ngày đầu năm 2011. Từ tinh mơ mờ đất, cha con ông Đồng Xuân Chế đã vác lưới ra biển. Ông đi đến đâu là đánh thức bà con đến đấy bởi giọng nói hào sảng. Đã bước sang tuổi 75 nhưng ông vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Tay ông vẫn thoăn thoắt thả lưới, bắt chẻo, câu mực..., vẫn lăn lộn với sóng gió để mang về cho vợ con miếng cơm manh áo.

Ông bảo: "Biển gọi tôi suốt cuộc đời". Có lẽ thế mà tuổi già đã không ngăn cản được bước chân ông. Các con ông cũng muốn bố nghỉ ngơi nhưng ông thì không muốn. Bởi một ngày không làm việc với ông thật xa xỉ.

Sau một ngày đầu năm đi biển lấy may, ông trở về trong tâm trạng phấn khởi nên vừa gặp chúng tôi, ông đã hồ hởi bắt chuyện.

- 35 năm trước, khi mới rời quân ngũ trở về làng, tôi đã được dân làng tín nhiệm bầu là Chủ nhiệm hợp tác xã liên hiệp nghề cá.

Thuyền trưởng Đồng Xuân Chế. Ảnh Trịnh Dũng.

Thời chiến tranh, quê tôi là túi đạn bom của giặc Mỹ, làng mạc bị tàn phá, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, ngư cụ khai thác cá biển thiếu thốn đủ bề... Trước tình hình đó, tôi đã cùng với chi ủy, chi bộ ra sức động viên nhân dân khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống. Rồi tôi bàn với anh em bạn hữu động viên dân làng, hãy bám biển mà sống, bỏ biển, bỏ làng là có tội với Đảng và Chính phủ. Nhân dân lắng nghe, họ chủ động đóng thuyền, vá lưới ra biển đánh cá. Chẳng bao lâu, cuộc sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Lúc này, xã có chủ trương cho 30 lao động trong thôn đi học cơ khí và khai thác cá biển để về phục vụ sản xuất. Sau khi chúng tôi đi học về đã trực tiếp hướng dẫn bà con cách đánh bắt, sử dụng ngư lưới cụ và các phương tiên thông tin đi biển. Chúng tôi bắt tay vào đánh bắt, các đoàn tàu đi biển thu về từng khoang cá đầy. Nhân dân phấn khởi, làng biển lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.

Ông cho chúng tôi xem những tấm huân huy chương đã nhuốm màu thời gian, nói như khoe: “Đây là những tài sản quý giá nhất của đời tôi. Mỗi lần nhìn nó, tôi thấy đồng đội mình đang ở đó, thấy những cung đường biển đầy sóng và gió mà một thời chúng tôi đã vượt qua”.

Rồi như chạm vào mạch nguồn cảm xúc, ông kể:

… Tháng 9-1970, tôi được điều động về Tàu 54-Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 125 làm thuyền phó 1, nhận lệnh chở 70 tấn vũ khí đi Rạch Gốc (Cà Mau). Chuyến đi này khung cán bộ có anh Hai Đặng là thuyền trưởng, anh Hai Hiệu là Chính trị viên, tôi và anh Chử Thái Bình làm thuyền phó.

Chúng tôi xuất phát tại cảng K35 Hải Phòng. Để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, tàu đã thẳng hướng sang đảo Hải Nam (Trung Quốc), đi dọc phía Đông quần đảo Trường Sa tiếp giáp Phi-líp-pin. Khi đang ở vùng biển Phi-líp-pin thì cơn bão số 8 xuất hiện, tàu nằm trong tâm bão, một cơn bão mạnh cấp 12. Con tàu nhỏ nhoi oằn mình giữa cơn cuồng phong của biển cả. Hòm đạn súng B41, đạn ĐKZ cố định trên mặt boong đều bị bật tung, liệng đi liệng lại trên mặt boong, 2 bộ phận giảm lắc của tàu bị sóng đánh gãy nên tàu rất tròng trành.

Do bão nên việc xác định vị trí tàu bằng thiên văn không thể tiến hành được, buộc chúng tôi phải dùng phương pháp tính nhích dần để xác định vị trí tàu. Để chống chọi với bão lớn, phần đông cán bộ, chiến sĩ đã ngậm sâm làm việc, qua mấy chục giờ mọi người gần như kiệt sức. Hơn một ngày một đêm chiến đấu vật lộn với bão tố, tưởng chừng có lúc bão đã nhấn chìm con tàu nhỏ bé xuống đáy đại dương. Nhưng cũng do có bão lớn nên kẻ thù đã nới lỏng kiểm soát trên biển, vì vậy chúng tôi đã vượt qua vòng kiểm soát của địch.

Chúng tôi chuyển hướng về phía bến nhưng vì thời tiết quá phức tạp không xác định được vị trí tàu, chúng tôi phải chuyển sang xác định vị trí tàu bằng phương pháp nhích dần. Dự tính 3 giờ sáng thì tàu vào bến, song 4 giờ đến 5 giờ, 6 giờ, tàu vẫn chưa phát hiện được bến. Đến 7 giờ sáng thì tàu phơi lưng ở ven bờ Cà Mau. Tình huống nguy hiểm ngoài dự kiến do người ở bến đón dẫn đường chúng tôi chờ quá thời gian hiệp đồng đã rút đi, tàu nằm chềnh ềnh ở ven bờ, nếu địch phát hiện được thì vô cùng nguy hiểm. Không có người dẫn đường, chúng tôi đã nhanh chóng tự tìm rạch để vào. Đang cơ động vào bến, bỗng có máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu gần đó cất cánh đi tuần ven biển, toàn tàu sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch phát hiện được tàu ta thì đây sẽ là tình huống vô cùng nguy hiểm. Nhưng thật may, địch không phát hiện ra chúng tôi. Hơn một tiếng sau, chúng tôi nhanh chóng đưa tàu vào bến an toàn và tiến hành ngụy trang. Mọi người ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm và phấn khởi vì đã đưa được vũ khí vào tận tay đồng bào, chiến sĩ miền Nam.

Kể đến đây, giọng ông phấn chấn hẳn: Một tuần ở bến bốc xong vũ khí, chúng tôi được lệnh trở về miền Bắc. Tình huống bất ngờ nguy hiểm khác lại đến, đó là vào lúc 19 giờ, tàu được lệnh gỡ ngụy trang, một thuyền máy đuôi tôm B10 của bến chuyển cho chúng tôi một ít hàng. Đang chuyển hàng thì bỗng dưng thuyền máy bị bốc cháy, đạn nổ, tỏa ra một quầng lửa sáng rực. Nghe tiếng đạn nổ và vùng lửa sáng, máy bay địch gần đó đã nhanh chóng cất cánh lùng sục. Lưỡng lự không xử lý nhanh lúc này tàu sẽ trở thành mồi cho đạn bom của giặc. Ban chỉ huy chúng tôi hội ý chớp nhoáng và quyết định cho tàu khẩn trương rời khỏi khu vực nguy hiểm. Nổ máy tăng tốc độ vừa ra khỏi rạch thì máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu bám theo sát chúng tôi, ngoài biển thấy đèn tàu địch thấp thoáng, hình như địch đã phát hiện ra chúng tôi và đang đón lõng để bắt sống hoặc tiêu diệt tàu. Chúng tôi báo động toàn tàu sẵn sàng chiến đấu và khôn khéo cho tàu bám bờ đi theo hướng Ghềnh Hào để lợi dụng tuyến bờ che lấp tránh ra đa của địch phát hiện. Khoảng 1 giờ 30 phút sau, quả nhiên địch bị mất mục tiêu, máy bay không bám theo, ngoài biển cũng không thấy tàu và đèn thấp thoáng nữa, chúng tôi nhanh chóng chuyển hướng cho tàu đi về hướng Đông Đông Bắc, 6 giờ sáng thì ra đến hải phận quốc tế. 7 giờ sáng chúng tôi lại thấy một tàu lạ bám theo cả ngày và sau đó đêm thì một chiếc máy bay thay tàu bám theo. Chúng tôi bình tĩnh tiếp tục hành trình coi như không có gì xảy ra.

Đây thực sự là một chuyến đi đầy khó khăn, gian khổ, tàu đã phải vượt qua bão tố và sự truy cản của kẻ địch để chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Chuyến đi hơn một tháng đã vắt kiệt sức. Tôi và anh Bình thuyền phó phải đi nằm viện chữa bệnh. Sau khi ra viện tôi nhận quyết định của Đoàn điều động về tàu 56 ở Tiểu đoàn 2 nhận nhiệm vụ mới và sau đó đổi số tàu thành 649-Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 125.

Trung tuần tháng 8-1971, Tàu 649 nhận nhiệm vụ chở 70 tấn vũ khí vào chiến trường miền Nam. Trên tàu, ngoài 18 cán bộ, chiến sĩ còn có 3 đồng chí của Đoàn 126 Đặc công. Đầu tháng 11 tàu xuất phát, đi xuyên qua phía Nam đảo Hải Nam để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ đánh lừa Hạm đội 7 của Mỹ, chúng tôi đã lựa chọn cách đi trên các bãi cạn của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong chuyến đi này biển lặng nhưng căng thẳng nhất là phải đi lách trên các bãi đá ngầm Hoàng Sa, Trường Sa nên yêu cầu xác định vị trí tàu bằng thiên văn và lái tàu phải thật chuẩn xác, chỉ cần sơ suất một chút là tàu có thể cưỡi lên đá ngầm. Vượt qua nhiều bãi đá ngầm, bãi cạn san hô và ra khỏi quần đảo Trường Sa, xuống phía Nam tàu lách về phía vùng biển Phi-líp-pin.

Đến cuối tháng 11-1971, vào gần đến nơi theo kế hoạch, ban chỉ huy tàu họp bàn nhận định: Đây là thời cơ tốt cần nhanh chóng cơ động vào bến ngay trong đêm thứ bảy, vì lúc đó địch thường hay mất cảnh giác. Nếu đi theo kế hoạch cũ thì sang tối chủ nhật mới vào bến và thả hàng được. Cấp trên nhất trí theo phương án của chi ủy và chỉ huy tàu. 23 giờ chúng tôi đến vùng biển Thái Lan và chuyển hướng về đảo Cô Công (Cam-pu-chia). Chúng tôi bắt liên lạc thả vũ khí, nhưng bến lại trả lời sai tín hiệu. Thời gian thả hàng đã quá gấp, không thể chờ đợi thêm được nữa. Chúng tôi cử đồng chí Phan Đình Nhu và đồng chí Nhật, cùng 2 đồng chí đặc công người nhái tập kích bắt sống người đánh tín hiệu trả lời của bến. Hóa ra đúng là người của ta. Chúng tôi cấp tốc về bến thả hàng, lúc đó là 0 giờ 10 phút, tàu phân công 9 đồng chí trực chiến đấu, còn lại 9 đồng chí bốc vũ khí từ dưới hầm hàng có độ cao 4m và thả xuống biển. Tàu không thả neo, chúng tôi thả hàng thành 2 đống với tốc độ của tinh thần thần tốc. Chỉ với 9 người và trong 3 giờ 10 phút chúng tôi đã đưa lên mặt boong và thả xuống bến 70 tấn vũ khí, trung bình mỗi đồng chí bốc gần 8 tấn vũ khí. Sau khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về, đồng chí Lê Duẩn đã đánh giá: “Đây là sức mạnh diệu kỳ”.

Suốt cuộc đời quân ngũ, ông Chế luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Bản thân ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương và được tặng ảnh Bác Hồ. Giờ đây, cuộc đời ông đã bắt đầu được hưởng những quả ngọt cuối mùa. Ông khoe với tôi: "Cháu à. Bác thông báo một tin vui đây. Ban liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tỉnh Thanh Hóa vừa họp và đề nghị Quân chủng Hải quân xây dựng nhà tình nghĩa cho bác đấy. Bác cũng vừa nhận được chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người phục vụ trong quân ngũ trên 15 năm.

Nguồn: http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/160182/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #182 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2011, 12:20:18 AM »

Những trang đời huyền thoại (Kỳ 1)


Từ năm 1961 – 1975, trên tuyến “đường Hồ Chí Minh trên biển” đã có 1.789 chuyến tàu không số vận chuyển 150 ngàn tấn vũ khí trang bị và 80 ngàn lượt cán bộ, vượt qua hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến đấu hơn 30 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và bắn cháy nhiều tàu xuồng của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để lập nên những chiến công chói lọi ấy, có biết bao người con ưu tú anh dũng chiến đấu và không ít người trong số đó đã ngã xuống giữa lòng biển khơi. Báo QĐND Online trân trọng giới thiệu một số nhân vật tiêu biểu, mà chiến công của họ là những trang đời huyền thoại…

Kỳ 1: Trận đánh quyết tử và những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

“Hai chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”. Đấy là câu ví von về cuộc đời mình của ông Trần Ngọc Tuấn, cựu chính trị viên tàu 43, Đoàn tàu không số. Ông nói vậy, bởi trong chín lần vượt biển, thì hai lần đánh chìm tàu để không bị rơi tài sản vào tay giặc, bảy chuyến còn lại đều thành công. Để có được kỳ tích ấy, ông và đồng đội đã anh dũng chiến đấu và không ít người trong số đó vĩnh viễn nằm lại giữa lòng biển xanh…

Trận đánh quyết tử

Nha Trang chiều mưa. Những cơn mưa mùa thu khiến phố biển thêm an lành và mát mẻ. Trong ngôi nhà nhỏ số 9A/1B, phố Đặng Tất, cựu chiến binh đoàn tàu không số Trần Ngọc Tuấn say sưa kể về những kỷ niệm một thời cùng đồng đội vượt biển chở vũ khí, lương thực chi viện chiến trường miền Nam.

Những câu chuyện ông kể nhiều tình tiết, tản mạn và nghe qua có vẻ “hơi rông dài” nhưng chắp nối, sắp xếp các sự kiện, thì chính những điều tưởng chừng tản mạn và rông dài ấy lại là nguồn tư liệu vô giá, đầy chất bi tráng về chiến công của các thế hệ cán bộ, thủy thủ đoàn tàu không số năm xưa đã làm nên con đường huyền thoại – đường Hồ Chí Minh trên biển – Con đường của ý chí và sự sáng tạo Việt Nam…

Năm 1968, cục diện trên chiến trường phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu tin tưởng giao nhiệm vụ cho Đoàn 759 tham gia vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam, phục vụ Chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968. Chuyến đi đặc biệt ấy, con tàu mang số hiệu số 43 gồm 17 thuyền viên, do thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và Chính trị viên - Bí thư Chi bộ Trần Ngọc Tuấn chỉ huy. Nhiệm vụ trên giao là tàu 43 chở 37 tấn vũ khí vượt biển vào huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) giao hàng tại bến bí mật.

Ông Trần Ngọc Tuấn (thứ 4 từ trái sang, hàng đứng) cùng đồng đội trên tàu 43 trước lúc đi chiến dịch Mậu Thân – 1968.

Đêm 27-2-1968, tàu 43 và 3 chiếc tàu khác nhận lệnh xuất bến. Mặt biển đen đặc, gió lạnh thốc từng cơn, những con tàu lầm lũi đè sóng thẳng hướng vào Nam. Tuy đã được chuẩn bị rất kỹ và ngụy trang kín đáo, nhưng trên đường đi, máy bay và tàu chiến địch đã nghi ngờ phát hiện và theo dõi sát sao các hoạt động của tàu ta. Trước tình thế đó, chính trị viên Trần Ngọc Tuấn bình tĩnh động viên anh em giả vờ đánh bắt cá, lòng vòng trên biển suốt 3 ngày đêm. Mặc sóng to, gió lớn, bất chấp hành động quần đảo của máy bay và sự phong tỏa của tàu chiến địch, những thủy thủ tàu không số vẫn can trường, bình tĩnh xử lý linh hoạt các tình huống. Cứ kiên trì, bền gan hành quân như vậy, đến đêm thứ ba tàu 43 vào tới vùng biển Quảng Ngãi. Tất cả mọi thành viên đều khấp khởi mừng thầm, bởi chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa thôi tàu sẽ cập bến.

Đúng 0 giờ 50 phút ngày 1-3-1968, tàu 43 cách bờ khoảng chừng 20 hải lý thì bất ngờ bị 4 tàu chiến của địch tăng tốc bao vây. Chúng đồng loạt bắn pháo sáng lên bầu trời đêm, những tia chớp sáng rực cả một vùng biển. Chỉ sau vài phút các loại pháo trên tàu địch bắn tới tấp vào tàu 43. Tiếp đến, chúng khép dần vòng vây hòng bắt sống toàn bộ tàu ta.

Không còn cách nào khác, Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng đứng trên đài chỉ huy phát lệnh tiêu hủy tài liệu, sẵn sàng chiến đấu. Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn đến từng vị trí động viên anh em giữ vững tinh thần. Tại khoang lái, chiến sĩ hàng hải Vũ Xuân Ruệ một tay giữ chặt bánh lái, tay còn lại cầm quả thủ pháo giơ cao, giọng dõng dạc: “Báo cáo chính trị viên! Chúng tôi đã sẵn sàng!”. Chính trị viên Tuấn hài lòng: “Được! Các đồng chí giữ vững vị trí chiến đấu!”.

Chính trị viên Tuấn vừa dứt lời thì đạn pháo địch từ bốn chiến hạm bắn cấp tập vào tàu 43. Cùng lúc 10 tàu cao tốc (loại nhỏ) xuất hiện, mỗi đợt hai chiếc lao vào tấn công bên mạn phải tàu ta. Thuyền trưởng Thắng vẫn hiên ngang trên đài chỉ huy cho tàu luồn lách chờ tàu địch vào gần hơn nữa. Tàu địch cách tàu ta 300 mét, 250 mét, rồi 150 mét…

“Nhằm thẳng tàu địch. Bắn!”. Thuyền trưởng Thắng hô lớn.

Chỉ chờ có vậy, các loại súng của ta đồng loạt nã đạn. Một tàu địch trúng đạn bốc cháy dữ dội, hai chiếc khác bị thương nặng. Bị ta đánh trả bất ngờ gây tổn thương nặng nề, máy bay địch điên cuồng vãi đạn xuống tàu 43. Mặt biển như sôi lên vì đạn pháo và rốc-ket. Tiếng DKZ, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly của ta rền vang. Trận chiến đấu diễn ra rất căng thẳng, nhưng vì lực lượng của ta không cân sức, nên tàu 43 trúng đạn, chao đảo. Chiến sĩ Vũ Văn Ruệ bị thương nặng, toàn thân đẫm máu, tay vẫn giữ chặt bánh lái. Ở vị trí DKZ, chiến sĩ quân y kiêm pháo thủ số 2 Võ Nho Tòng cũng trúng đạn, hi sinh… Sau hơn 3 giờ đồng hồ chiến đấu ngoan cường, tàu ta vừa dùng bom chìm và bộc phá chặn, vừa sử dụng đại liên, trung liên, súng máy 12,7 ly tiêu diệt thêm 3 máy bay HU-1A, bắn hư hại nhiều tàu cao tốc địch rồi lao vào bờ… Quyết không để phương tiện và vũ khí rơi vào tay địch, thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng ra lệnh hủy tàu….

Ông Trần Ngọc Tuấn (người mặc áo quân phục cũ, đeo kính) thắp hương tưởng niệm các đồng đội đã hi sinh.

Ông Trần Ngọc Tuấn đứng dậy bước về phía bàn thờ, thắp nén nhang kính cẩn tưởng nhớ những đồng đội đã hi sinh. Đôi vai gầy của người thủy thủ tàu không số rung lên. Ông nói, giọng nghẹn ngào, mắt ngấn nước: “Chiến tranh là tổn thất và thương vong. Chẳng có cuộc chiến nào mà không mất mát, hi sinh. Không biết bao lần tôi như đứt từng khúc ruột khi chứng kiến những đồng đội thân yêu của mình hi sinh. Đã mấy chục năm trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ mãi lời trăng trối của đồng chí Vũ Văn Ruệ trước lúc ra đi: “Chính trị viên ở lại chiến đấu, trả thù cho em!”. Vũ Văn Ruệ vừa cưới vợ được 20 ngày thì xung phong lên đường. Còn Võ Nho Tòng thì vừa hoàn thành chuyến đi thứ nhất đã tình nguyện đi chuyến thứ hai. Đêm trước ngày lên đường, Tòng còn tâm sự với tôi: “Sau chuyến này em xin tranh thủ về quê cưới vợ. Hôm đó, nhất định chính trị viên phải làm chủ hôn cho chúng em!”. Vậy mà… cậu ấy đã hy sinh, toàn thân ngã vào chân pháo nhưng tay vẫn ôm chặt quả đạn. Để rồi cô thôn nữ Nguyễn Thị Ghi, quê Thái Thụy, Thái Bình vĩnh viễn không bao giờ gặp lại người mình yêu nữa...”.

Những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

Nhấp ngụm trà đặc quánh, cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn trao cho tôi cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Ông nói: “Tôi còn sống đến ngày hôm nay là nhờ bác sỹ Thùy Trâm và bà con thôn Quy Thiện. Cháu đọc đi, trong cuốn sách này cô Trâm có viết về tôi và đồng đội của tôi đấy!”.

Tôi đọc những dòng bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết trong cuốn nhật ký mà cảm thấy khung cảnh chia ly giữa người ra đi và người ở lại thời chiến tranh thật đáng trân trọng. Cuộc chia ly ấy giản dị, hồn nhiên và sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng: “Vậy là chiều nay các anh lên đường, để lại cho mỗi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba lô lên đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong lòng mình như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu”.

- Thưa bác, cơ duyên nào bác có tên trong cuốn nhật ký này?

Ông Tuấn trả lời: “Thì trong chuyến vượt biển vào Quảng Ngãi hồi Mậu Thân – 1968 đó! Ngày ấy nhân dân xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) đã che chở, đùm bọc, yêu thương cán bộ, thủy thủ tàu 43 trong những thời điểm khó khăn, ác liệt nhất!”.

Ông kể: “Khi những tiếng nổ lớn ầm vang cả một vùng biển vừa tan cũng là lúc chúng tôi đã ở trong vòng tay che chở của đồng bào thôn Quy Thiện. Hôm đó, quân Mỹ hùng hổ tiến vào làng. Tiếng quát tháo, chửi thề inh ỏi. Tiếng giày đinh nện rầm rầm trên mặt đất. Vậy mà dưới hầm bí mật, chúng tôi vẫn được bà con che chở… Mười ngày đêm nằm hầm trong tình trạng thương vong, nếu không có sự đùm bọc, tận tình chăm sóc của nhân dân thì tôi và đồng đội đã bị địch bắt. Nếu ở lâu dưới hầm bí mật nguy cơ sẽ bị lộ, nên chúng tôi được du kích cáng lên bệnh xá của chị Đặng Thùy Trâm. Hai lần đi đều gặp địch buộc phải quay lại và đến đêm thứ ba mới về tới trạm xá. Trong thời gian điều trị, tôi và đồng đội được bác sĩ Thùy Trâm chăm sóc tận tình, chu đáo. Hình ảnh nữ bác sĩ Thùy Trâm – người con gái Thủ đô Hà Nội duyên dáng, trẻ trung, lạc quan, yêu đời tận tình cứu chữa thương binh trở thành liều “thuốc quý” động viên chúng tôi vượt qua tất cả…

Nói về kỷ niệm lúc chia tay bà con Phổ Hiệp, cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn bùi ngùi: “Không bao giờ tôi quên được giây phút chia tay trước khi vượt Trường Sơn trở về đơn vị hôm 10-4-1968. Tôi là người cuối cùng chia tay mảnh đất nặng tình, nặng nghĩa ấy. Hôm đó, Thùy Trâm nắm chặt tay tôi, mắt đẫm lệ: “Thôi! Các anh đi mạnh giỏi, bình yên, hẹn ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu!”. Phút chia tay bịn rịn khiến tôi không kìm được lòng mình…Và không ngờ lần chia tay ấy, vĩnh viễn chúng tôi chẳng bao giờ được gặp lại Thùy Trâm bằng xương, bằng thịt nữa!”…

Chính trị viên tàu không số năm xưa bình dị giữa đời thường.

Chiến tranh đã lùi xa, ông Tuấn giờ đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Năm 1968 bị thương ra Bắc điều trị, rồi chuyển ngành qua làm cán bộ trường Đại học Thủy sản. Gần hai chục năm đứng trên bục giảng, ông “truyền lửa” vào sinh viên bằng những câu chuyện về bao chiến công huyền thoại của đoàn tàu không số năm xưa. Về hưu với khoản tiền lương 116 đồng (nay là 2.700.000 đồng) cuộc sống của vợ chồng ông vô cùng khó khăn. Vợ ông – bà Nguyễn Thị Đệ một thời là thanh niên xung phong. Suốt 5 năm bám trụ trên tuyến lửa Quảng Bình và Quảng Trị, nhưng nay bà vẫn không có chế độ gì. Để có tiền nuôi con ăn học, ông bươn chải khắp nơi, từ nhân viên gác cổng trường, rồi nhân viên bảo vệ… Bây giờ con cái trưởng thành, cuộc sống khá hơn, ông tham gia hội cựu chiến binh. Những lúc vết thương không hành hạ, bệnh tình thuyên giảm là ông lại đến từng gia đình trong khu phố vận động con cháu lên đường nhập ngũ. Bằng tấm gương mẫu mực của mình, ông vận động, thuyết phục thanh niên hư hỏng tiến bộ. Thỉnh thoảng ông lại tìm về thăm hỏi những người đồng đội năm xưa…

Cũng có lúc ông cảm thấy như bị “lãng quên”. Ông chuyển ngành khi quân hàm trung úy, nhưng mới đây Quân chủng Hải quân gửi giấy mời tham gia hội thảo khoa học lại ghi thiếu tá. Ông cười hiền: “Chắc các anh ấy thương nên phong quân hàm vượt cấp cho tớ! Đùa vui vậy thôi, chứ còn sống đến ngày hôm nay là hạnh phúc lắm rồi. Chỉ tiếc thương những đồng đội đã hi sinh giữa biển khơi!”.

Tuy cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn không hề trách cứ ai, nhưng tôi thấy ông quá thiệt thòi. Chín lần vượt biển, thì hai lần gặp địch bủa vây, hai lần chỉ huy đánh bộc phá hủy tàu nhưng ông và đồng đội vẫn mưu trí thoát khỏi vòng vây địch. Các chuyến đi còn lại đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chở vũ khí vào miền Nam. Với những chiến công ấy, ông xứng đáng được phong tặng danh hiệu cao quý nhất. Tuy không được Nhà nước tuyên dương, nhưng biết bao đồng đội và đồng bào luôn coi ông là người anh hùng…

Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/159603/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #183 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2011, 12:43:16 AM »

Những trang đời huyền thoại (Kỳ 2)


Kỳ hai: Hai nửa cuộc đời của máy trưởng Phan Nhạn

Mỗi lần vượt biển chở vũ khí vào miền Nam, những thủy thủ tàu không số đều xác định ra đi không hẹn ngày trở lại. Họ được tổ chức truy điệu sống trước lúc xuất bến. Vậy mà nhờ vào sự mưu trí, kiên cường và lòng quả cảm, một máy trưởng đã cùng đồng đội thực hiện 15 chuyến vượt biển, băng qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược vào tiền tuyến lớn miền Nam. Bây giờ ở tuổi 80 con người huyền thoại ấy vẫn đang khó nhọc bươn chải giữa đời thường…Ông là Phan Nhạn – máy trưởng các tàu 41, 43. 56 (Đoàn tàu không số) năm xưa...

Vinh quang thời hoa lửa

Chìm khuất trong con hẻm mịt mù bụi than, ngôi nhà cấp 4 của ông Phan Nhạn thấp lè tè. Tiết trời cuối thu vậy mà không khí ngột ngạt đến khó thở. Đang tắm cho đứa cháu ngoại, thấy chúng tôi đến, ông dừng tay: “Bố mẹ bọn trẻ chia tay, tôi đành vừa làm ông vừa làm cha của chúng!”.

Tuy bận rộn nhưng ông cũng “ưu ái” dành thời gian để kể cho chúng nghe về hai nửa cuộc đời của ông...

“Tháng 3-1962, tôi được cấp trên điều về Đoàn 759 (Đoàn tàu không số). Sau đó biên chế về tàu 02 do đồng chí Nguyễn Dạt làm thuyền trưởng. Vốn quen nghề sông nước lại có tay nghề cơ khí, cấp trên tin tưởng giao cho tôi giữ chức máy trưởng, kiêm tổ trưởng tổ bộc phá. Được giao nhiệm vụ như vậy là tự hào lắm, bởi tàu 02 đi tiên phong mở màn cho chiến dịch “đường Hồ Chí Minh trên biển”. Không ai bảo ai nhưng chúng tôi đều mong chờ ngày vượt biển.

Ông Nhạn (áo sẫm) cùng đồng đội về thăm lại chiến trường xưa.

Và ước mơ cháy bỏng đã thành hiện thực, ngày 16-10-1962, tàu 02 nhận lệnh chở 20 tấn vũ khí vào vùng biển Cà Mau. Dẫu biết rằng chuyến đi vô cùng nguy hiểm nhưng ai nấy đều háo hức, bởi chúng tôi biết mỗi khẩu súng, viên đạn chi viện cho chiến trường miền Nam là rất quý. Đúng 23 giờ 45 phút, tàu 02 lặng lẽ rời Cảng Đồ Sơn - Hải Phòng ra khơi. Theo hải trình, tàu 02 sẽ đi qua đảo Hải Nam, rồi vòng ra phía ngoài quần đảo Hoàng Sa ở vùng hải phận quốc tế để tránh sự kiểm soát gắt gao của máy bay và tàu chiến Mỹ nhằm đảm bảo tuyệt đối bí mật cho cuộc hành trình. Thế nhưng, tàu 02 ra khơi chừng gần chục hải lý thì gặp gió mùa Đông Bắc giật cấp 5, cấp 6. Những đợt sóng hung hãn chồm lên, chiếc tàu gỗ tròng trành, chao đảo. Tất cả thủy thủ áo quần sũng nước, tơi tả. Máy chính, máy phụ hoạt động hết công suất nhưng con tàu vẫn ỳ ra, khó có thể tiếp tục vượt biển theo lý trình như dự kiến ban đầu. Trước tình hình đó, thuyền trưởng Nguyễn Dạt điện về đất liền xin cho tàu chuyển hướng đi gần quần đảo Hoàng Sa. Đây là một quyết định mạo hiểm vì đi vào vùng này gần đất liền, dễ bị tàu địch phát hiện, nhưng cũng chẳng còn phương án nào tốt hơn. Được sự nhất trí của trên, chúng tôi cho tàu chuyển hướng. Gần 2 giờ đồng hồ vật lộn với sóng gió, tàu gặp sự cố mất liên lạc với sở chỉ huy. Trong lúc nguy nan, anh em vẫn bình tĩnh, mưu trí điều khiển tàu vượt qua vĩ tuyến 17 ngay trước mũi tàu chiến Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên sục sạo, theo dõi.

Trên chuyến vượt biển gian nan ấy, ban ngày chúng tôi giả làm ngư dân thả lưới đánh cá, ngụy trang lừa địch. Tối đến cho tàu tăng tốc nhằm thoát khỏi sự đeo bám của chúng. Hành quân đến ngày thứ 6 thì đồng chí nhân viên hải đồ thông báo, tàu ta chỉ còn cách vùng biển Cà Mau khoảng gần 200 hải lý, như vậy là chậm hai ngày so với dự kiến. Theo kế hoạch, để giữ bí mật cho bến, tàu chỉ vào thả hàng trong thời gian ngắn rồi ra ngay trước khi trời sáng. Thế nhưng, sau gần 3 giờ đồng hồ, chúng tôi vẫn không bắt liên lạc và nhận được tín hiệu gì từ bến. Lúc này, các thủy thủ hết sức lo lắng. Nếu không vào bến ngay trong đêm, thì bắt buộc tàu phải chạy ngược ra vùng biển quốc tế, đợi đến đêm hôm sau mới vào lại. Nếu như vậy thì rất nguy hiểm vì tàu địch sẽ phát hiện tàu ta. Kim đồng hồ nhích dần tới 4 giờ 20, chúng tôi đang chuẩn bị cho tàu quay ra vùng biển quốc tế thì phát hiện bên mạn trái có một chiếc ghe. Thuyền trưởng Dạt ra lệnh dừng máy. Biết chắc đấy là ghe đánh cá của ngư dân vùng giải phóng nên chúng tôi nhờ họ dẫn đường vào bến an toàn. Gặp nhau, thủy thủ tàu không số và những người ở bến cảm động, ôm nhau khóc ròng. Hôm đó, anh Tư Đức, bến trưởng đã thốt lên: “Tàu của các anh đúng là con tàu huyền thoại”.

Sau này nghe các anh ở bến kể lại, chúng tôi mới biết, do sự cố tàu 02 mất liên lạc, nên sở chỉ huy đã điện thông báo tình hình cho bến và hẹn thời gian đón tàu. Nhận điện, các đồng chí ở bến bố trí người túc trực suốt ngày đêm từ Gành Hào đến mũi Cà Mau để đón tàu nhưng chờ hơn một ngày đêm mà vẫn không thấy tăm hơi. Vì thế anh em tại bến tưởng tàu chúng tôi gặp nạn, tất cả thủy thủ đã hi sinh, nên công tác đón tàu được hủy bỏ…”.

Từ chuyến vượt biển đầu tiên thắng lợi, Phan Nhạn tiếp tục được điều về giữ chức máy trưởng các tàu 41, 43, 56…Thời gian từ năm 1962 - 1968, ông đã 15 lần vượt biển trên các con tàu không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam. Tàu 41 được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân... Trong số những con tàu ông tham gia, có nhiều người trên tàu 41 được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân...

Nhọc nhằn kế mưu sinh

Ông Nhạn nhìn về bức chân dung người phụ nữ phúc hậu trên bàn thờ, giọng nghèn nghẹn: “Vợ chồng sống với nhau chẳng được là bao! Từ ngày bà ấy đi xa, nhiều lúc tôi tưởng mình không thể nào qua khỏi!”.

Tôi hiểu nỗi buồn trong mắt người cựu binh tàu không số, bởi chuyện tình của ông rất đẹp nhưng cũng đầy vất vả, truân chuyên... Năm 1969, sau lần vượt biển trở về, ông nghỉ ngơi, học tập tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Trai xứ Quảng chưa vợ lại to cao, đẹp trai, vậy mà ông vẫn “lính phòng không” vì mỗi lần tiếp xúc với con gái là lúng ta, lúng túng như “gà mắc tóc”. Mãi cho tới khi bạn bè giới thiệu, ông mới chịu làm quen người con gái xứ Huế có mái tóc dài óng ả, giọng nói dễ thương. Hồi ấy bà Hoàng Thị Khâm là công nhân Xí nghiệp dày da Hải Phòng. Yêu nhau chưa đầy một năm thì họ nên duyên chồng vợ. Đám cưới giản dị, ấm nồng trong vòng tay bạn bè của cô dâu và đồng đội của chú rể.

Tuổi 80, ông Nhạn vẫn cùng chiếc xe đạp bươn chải giữa cuộc đời.

Đất nước thống nhất, ông chuyển gia đình vào Nha Trang. Thành phố sau ngày giải phóng với bao nỗi bộn bề, người dân gồng mình khắc phục, hàn gắn vết thương chiến tranh. Vợ chồng ông cùng ba đứa con tá túc trong căn phòng tập thể chật chội. Tiền lương hai người gộp lại chưa đủ mua chiếc lốp xe đạp. Bà lại bị bệnh tim bẩm sinh nên đau ốm liên miên. Ông xoay trở đủ nghề kiếm tiền chữa bệnh cho bà. Dẫu cuộc sống còn vất vả, nhưng gia đình ông đầy ắp tiếng cười. Niềm vui ấy cũng chỉ được một thời gian, bởi năm 1991, bà Khâm qua đời để lại 3 đứa con thơ dại. Thời điểm này ông Nhạn xin về hưu sớm để lo lắng nuôi con ăn học. Phần đau buồn vì người vợ thân yêu về cõi vĩnh hằng, phần vì vết thương cũ tái phát, ông Nhạn tưởng chừng không qua khỏi, nhưng nhớ lời trăng trối của vợ trước lúc đi xa, ông gắng gượng sống để nuôi con.

Điều làm ông day dứt nhất là vì điều kiện kinh tế quá eo hẹp nên không thể lo cho con vào làm việc ở những nơi có mức lương khá giả. Bây giờ ba người con của ông vẫn chưa có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh. Vợ chồng cô con gái lớn chia tay, hai đứa cháu ngoại về ở hẳn với ông. Nhẽ ra ở tuổi “xưa nay hiếm” được hưởng cuộc sống an nhàn, đằng này ông vẫn lọ mọ lo lắng cơm nước, tắm giặt cho mình và hai cháu ngoại. Có thể nói, ông Phan Nhạn là thủy thủ tàu không số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhất hiện nay. Ở tuổi gần 80, ông vẫn tá túc trong căn nhà cấp 4 xập xệ chừng 40 mét vuông. Tài sản quý giá nhất của ông là bức chân dung người vợ và tấm Huân chương chiến sỹ Giải phóng hạng Nhất trang trọng lồng trong khung kính...

Tuy sóng gió cuộc đời là vậy, nhưng ông vẫn phát huy phẩm chất của người thủy thủ tàu không số. Hiện ông vẫn là tổ trưởng dân phố. Hằng ngày ông túc tắc trên chiếc xe đạp cà tàng đến vận động bà con chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Thỉnh thoảng ông đến phường Phước Long, trường tiểu học Võ Thị Sáu nói chuyện truyền thống cho thế hệ trẻ. Bằng tấm gương mẫu mực của mình, ông đã cảm hóa được nhiều thanh niên hư hỏng tiến bộ. Ông cười vui: “Làm cái chức tổ trưởng dân phố là “quyền rơm, vạ đá” nhưng mình là cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thì bà con mới tin tưởng!”.

Đang nắng chói chang, bỗng dưng trời tối sầm lại. Phố biển Nha Trang sắp nổi cơn giông. Chúng tôi chào ông Nhạn để về cho kịp tránh cơn mưa. Nhìn dáng người thủy thủ tàu không số năm xưa tất tưởi lo chuẩn bị xô, chậu để hứng nước, tôi thấy thương ông vô cùng. Biết đến bao giờ ông mới có điều kiện xây một ngôi nhà tử tế để thoát cảnh “mưa dột, nắng xiên” trong phần đời còn lại?.


Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/159691/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #184 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2011, 12:35:50 AM »

Những trang đời huyền thoại (Kỳ 3)


Kỳ ba: Vũng Rô - đêm Giao thừa năm ấy

Trung tá Hồ Đắc Thạnh – Thuyền trưởng tàu không số năm xưa đã trở về cuộc sống bình dị giữa đời thường, nhưng trong ông vẫn tươi nguyên những ký ức của một thời vượt biển trên con đường huyền thoại. Và câu chuyện về “nắm đất thiêng” của cô giao liên trao cho ông trong chuyến vào bến Vũng Rô năm ấy mãi mãi là một kỷ niệm đẹp, ông luôn trân trọng, nâng niu...

Tuổi 75, ông vẫn khoẻ mạnh, giọng nói trầm và ấm; gương mặt phúc hậu, dễ gần; tác phong giản dị, cởi mở. Đó là những cảm nhận của tôi khi tiếp xúc với cựu binh Hồ Đắc Thạnh – nguyên thuyền trưởng tàu không số – người có 12 chuyến vượt biển, vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam...

Ông say sưa kể về ngày xưa với niềm tự hào... “Cuối năm 1964, sau khi thực hiện hai chuyến tàu chở vũ khí vào bến Vũng Rô thắng lợi, tôi được Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ tiếp tục chỉ huy tàu vượt biển, đúng đêm Giao thừa có mặt tại Vũng Rô. Nhận mệnh lệnh, lòng tôi trào dâng niềm vui khó nói nên lời vì sắp trở về quê hương, được gặp lại đồng chí, đồng bào yêu dấu...

Chuyến đi đúng vào dịp Tết nên ngoài việc tiếp nhận vũ khí, theo dõi thời tiết, nắm tình hình địch, chuẩn bị hậu cần… chúng tôi còn chủ động gói bánh chưng, làm giò chả, chuẩn bị mứt Tết sẵn sàng đón xuân trên biển. Trước giờ ra khơi, tôi kiểm tra công tác chuẩn bị lần cuối. Đến khoang hàng hải, bắt gặp một thùng gỗ đậy kín, bên ngoài có dòng chữ “Quà vui Tết, đón xuân”, bên cạnh một cành đào Nhật Tân chúm chím nụ, tôi hỏi đồng chí Hồng Lỳ thủy thủ trưởng: “Thùng này có danh mục ghi trong phiếu chuyển hàng cho bến không?”. Đồng chí Phan Nhạn, máy trưởng nhanh nhảu trả lời: “Báo cáo thuyền trưởng, thùng này do tàu ta xuất phiếu thôi ạ!”. Tất cả cùng cười vang...

Buổi tiễn đưa cán bộ, chiến sỹ tàu 41 thực hiện “nhiệm vụ đặc biệt” trong đêm đông 1964 thật bùi ngùi, xúc động. Đồng chí Tư lệnh Quân chủng, Đoàn trưởng và Chính ủy đoàn căn dặn từng người chu đáo. Những nụ hôn thắm nồng, những bàn tay xiết chặt gửi gắm niềm tin. Tình cảm hậu phương làm ấm lòng cán bộ, thủy thủ trên đường vào tiền tuyến lớn miền Nam...

Ông Hồ Đắc Thạnh (bên phải, hàng trên) trước bia ghi công các anh hùng, liệt sỹ hi sinh trên tuyến đường biển huyền thoại.

Thời tiết không thuận lợi, sau ba ngày vượt sóng to, gió lớn, luồn lách tránh các tuyến tàu tuần tiễu của địch, chiều 30 tháng Chạp, tàu 41 chuyển hướng vào bờ. Trưa hôm đó, khi chúng tôi đang dùng bữa “tất niên”, thì chiến sỹ trực canh báo cáo: “Mạn phải 30 độ, cự li 3 hải lý, phát hiện hai tàu địch di chuyển về phía Nam!”. Lệnh chuẩn bị chiến đấu được phát ra, tất cả về vị trí. Các lớp ngụy trang vũ khí được triển khai vừa che mắt địch, vừa có thể phục vụ chiến đấu được ngay.

Qua ống nhòm, tôi thấy rõ hai tàu tuần tiễu địch đang di chuyển. Phải tránh! Tôi ra lệnh cho tàu 41 chuyển hướng để tránh và tạo khoảng cách xa hơn, lúc này thời gian đã 16 giờ chiều... Sau khi xác định lại vị trí trên hải đồ, tôi lệnh cho máy trưởng sử dụng tốc độ dự bị. Tàu tăng tốc hành quân giữa ánh hoàng hôn bao trùm lên mặt biển...

Gần nửa ngày chống chọi với sóng gió, đúng 23 giờ 50, tàu chúng tôi vào tới Vũng Rô. Tôi cho thả xuồng và cử người vào bến tìm bộ phận đón. Trong lúc đang loay hoay thả xuồng thì thuyền của các đồng chí ở bến cặp mạn tàu. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, tôi ôm chặt anh Sáu Thu mà hai hàng nước mắt chảy ròng, nghẹn ngào không nói nên lời…

Giữa lúc tình cảm giữa người ở bến và chúng tôi đang dồn nén, thì đột nhiên, hàng loạt súng pháo nổ vang, những chiếc đèn dù xanh, đỏ từ đồn địch ở dốc Ba Ty phụt lên treo lơ lửng giữa khoảng trời Vũng Rô.

- Lộ rồi sao? Địch đã phát hiện tàu ta chăng? Sao không thấy động tĩnh từ phía địch?

Mọi người hồi hộp, lo lắng... Từ khoang báo vụ, chiếc đài bán dẫn vang lên lời Bác Hồ chúc Tết nghe đầm ấm, thiết tha. Giao thừa! Mùa xuân 1965 đã tới. Thời khắc trời, đất giao hòa, chúng tôi vui mừng trào rơi nước mắt... Sau khi cử lực lượng cảnh giới nắm tình hình địch, cuộc liên hoan mừng tết Ất Tỵ được thực hiện ngay trong khoang máy và hầm hàng. Rượu, thịt, dưa hành, thuốc lá chúng tôi mang theo. Cá, mực đồng bào biếu tặng được bày ra thơm lừng, càng tăng thêm hương vị đậm đà của mùa xuân bất tận.

Trong niềm vui chan chứa ấy, tôi thay mặt cán bộ, chiến sỹ tàu 41 chúc Tết các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, chiến sĩ, dân công và bà con đồng bào tại bến. Tiếng pháo tay thay pháo Tết nổ vang. Anh Sáu Thu giục cô gái ngồi bên cạnh (là giao liên của bến) thay mặt bà con địa phương chúc Tết anh em thủy thủ. Cô gái ửng hồng đôi má, ngập ngừng đứng lên: “Có Đảng, có Bác Hồ và đồng bào miền Bắc lo cho miền Nam từng khẩu súng, viên đạn, bát cơm, viên thuốc; có các anh thủy thủ vượt qua sóng to, gió lớn, đối mặt với quân thù vận chuyển hàng chi viện cho miền Nam, quê hương Phú Yên nguyện xứng đáng với nghĩa tình cao cả đó”. Nghe cô giao liên nói vậy, ai cũng nghẹn ngào, xúc động...

Cùng đồng đội về thăm Bộ Tư lệnh Hải quân.

Tối mồng một Tết Ất Tỵ, chúng tôi bốc dỡ hàng. Chiếc cầu tạm bằng cây không đủ sức cho số đông người đi lại, nên đa số anh chị em dân công phải dầm mình dưới nước chuyển hàng. Phía đèo Cả, súng địch vu vơ bắn cầm canh. Chúng đâu ngờ rằng, cách không xa là không khí làm việc khẩn trương của cán bộ, thủy thủ tàu 41 và đồng bào Phú Yên. Hàng bốc dưới tàu lên là vũ khí, thuốc men, quần áo. Hàng trên bờ xuống là khoai, sắn, bánh chưng, rượu, thịt đồng bào gửi tặng và hàng chục bao cát. Cát của Vũng Rô được chuyển xuống tàu để giữ ổn định phòng khi ra khơi gặp bão giông.

Công việc xếp dỡ hàng vừa xong, từ trong đêm tối có cô gái cầm trong tay một gói nhỏ được bọc cẩn thận bằng chiếc khăn tay trao cho tôi, giọng run run: “Bà con quê hương Phú Yên xin gửi theo tàu các anh nắm đất Vũng Rô, mảnh đất kiên cường, bất khuất. Dù giặc càn quét, lùng sục, bắt bớ, tàn sát dã man, đồng bào lên núi ăn củ mài, quả vả thay cơm nhưng vẫn một lòng, một dạ vững tin theo Đảng, theo Bác Hồ. Có súng, có đạn của miền Bắc chi viện, mảnh đất này sẽ là điểm tựa của những chiến công, là mồ chôn thây quân giặc cướp nước!”. Bùi ngùi, xúc động, cầm nắm đất Vũng Rô trong tay, tôi như muốn ôm cả đất trời quê hương Phú Yên vào lòng với tình cảm trân trọng, thiêng liêng...

Cuộc chia tay trong đêm xuân Ất Tỵ hết sức quyến luyến. Những giọt nước mắt tuôn trào, những lời chúc “lên đường thuận buồm, xuôi gió, ở lại mạnh khỏe, chiến đấu hăng say, hứa hẹn ngày trở lại”. Xa xa, tiếng pháo địch vẫn bắn cầm canh. Đúng 3 giờ sáng mồng hai Tết, tôi ấn mạnh tay chuông, con tàu rùng mình rẽ sóng ra khơi...”.

- Thưa bác! Nắm đất thiêng giờ nơi đâu? Cô giao liên năm nào bác có còn gặp lại? Tôi nêu câu hỏi.

 Ông Hồ Đắc Thạnh trả lời: “Nắm đất thiêng Vũng Rô được chúng tôi nâng niu, gìn giữ suốt chặng đường vượt biển, hiện đang đặt trang trọng trong Bảo tàng Quân chủng Hải quân. Còn cô giao liên ngày ấy tôi đã đi tìm suốt 40 năm qua mới gặp lại!”.

Chuyện người cựu binh thủy thủ tàu không số đi tìm cô gái trao cho mình nắm đất trong đêm xuân Ất Tỵ khá cảm động... Chiến tranh kết thúc, ông Thạnh về công tác ở Bộ tư lệnh Vùng 3 Hải quân. Năm 1984 nghỉ hưu tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định). Trong quãng thời gian ấy ông đã mải miết đi tìm, nhưng chẳng ai biết cô giao liên ngày ấy ở đâu. Mãi đến năm 2004 ông về thăm quê hương Phú Yên thì điều kỳ diệu đã đến. Người con gái mà ông đằng đẵng đi tìm gần nửa thập kỷ qua lại chính là bà Nguyễn Thị Tảng, phu nhân của đồng chí Nguyễn Văn Dữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh – nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Tuy An.

Trao nhau nắm đất thiêng từ thuở ấy, gặp lại sau hơn 40 năm xa cách, tóc họ giờ đã chuyển màu sương gió. Nhưng ký ức về những năm tháng chiến tranh ác liệt vẫn tươi nguyên. Ông bảo, những tấm Huân chương mà ông và bà Tảng đeo trên ngực áo thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt của bao đồng đội kiên trung năm xưa đã anh dũng ngã xuống giữa lòng đất mẹ...

Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/159800/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #185 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2011, 11:13:59 AM »

Những trang đời huyền thoại (Kỳ 5)


Kỳ 5: Xứng đáng là người con của biển

Đại tá Phạm Duy Tam - Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân chính là người đã có 7 lần vượt biển trên con tàu không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam. Ông cũng là người vinh dự được giao trọng trách chỉ huy tàu 675 thần tốc hành quân trong điều kiện sóng to, gió lớn, vượt gần 500 hải lý để cùng với các lực lượng dũng cảm truy kích địch và giải phóng hoàn toàn quần đảo Trường Sa vào rạng sáng ngày 29-4-1975.

Người 7 lần “truy điệu sống”

Chiến tranh đã đi qua hơn 1/3 thế kỷ, nhưng dường như kỷ niệm về những năm tháng lênh đênh trên con tàu không số vượt biển “tiếp máu” cho chiến trường miền Nam chưa bao giờ phai nhạt trong tâm trí Đại tá Phạm Duy Tam.

Chân dung Đại tá Phạm Duy Tam.

Ông quê Hải Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình). Tuổi thơ gắn liền với biển cả, nên lớn lên ông trở thành lính thủy, rồi sau đó tốt nghiệp sĩ quan hải quân, đến năm 1969 thì về nhận công tác tại Đoàn tàu không số, được bổ nhiệm Phó Thuyền trưởng tàu 42.

Ngày còn giữ chức Phó chỉ huy trưởng Vùng 3 Hải quân ông là người thường xuyên sâu sát kiểm tra, bám nắm tình hình cơ sở. Những lần như thế cánh lính trẻ thường yêu cầu thủ trưởng kể chuyện về đoàn tàu không số. Trước khi kể bao giờ ông cũng không quên câu “nhắc khéo”: “Các cậu bây giờ quá sướng, chứ hồi “tớ” làm gì có được tàu to, trang bị vũ khí, máy móc, khí tài hiện đại như bây giờ. Vì thế “các cậu” phải lo mà bảo quản cho thật tốt để dùng bền đó!”.

Cánh lính trẻ đồng thanh: “Thưa thủ trưởng, chúng em sẽ cố gắng”, rồi mắt tròn, mắt dẹt lắng nghe. Ông kể: “Ngày ấy vượt biển, trên tàu chỉ có chiếc la bàn từ, đồng hồ thiên văn, máy 1/6 dùng để đo mặt trời, trăng, sao và một bộ tính thiên văn, không có định vị, la bàn con quay, máy đo sâu, máy tính đường, máy móc thông tin liên lạc chủ yếu đánh moóc tạch tè. Để phục vụ cho mỗi chuyến đi, tàu phải chuẩn bị đầy đủ một tháng lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, nước uống... Cán bộ, thủy thủ còn tranh thủ thời gian huấn luyện sử dụng các loại vũ khí, luyện tập xử lý tình huống có thể xảy ra trên biển, các phương án rời tàu, đánh bộc phá khi cần phá hủy tàu….

Do tính chất thực thi “nhiệm vụ đặc biệt”, vì thế trước khi vượt biển, tổ chức làm lễ “truy điệu sống” cho tất cả thủy thủ trên tàu không số. Cấp trên và những người ở lại coi chúng tôi là những chiến sỹ cảm tử quân. Nguyên tắc bất di bất dịch là phải giữ cho bằng được bí mật của con đường. Trường hợp bị địch phát hiện, truy kích, không thoát khỏi vòng vây của chúng thì phải tự dùng bùng bộc phá để hủy tàu, không để người và vũ khí rơi vào tay giặc.

Cứ thế, những con tàu không số âm thầm, lặng lẽ ra đi. Phía trước là bão tố, chông gai, là bom rơi, đạn nổ và mất mát, hi sinh. Phía sau là tiếng gọi quê hương thôi thúc. Do vậy mỗi lần đi chẳng ai biết trước số phận mình sẽ ra sao. Sự sống và cái chết quá mong manh vì tàu ta thì bé nhỏ mà biển khơi thì bao la, đã vậy kẻ thù luôn rình rập ngày đêm.

Đại tá Phạm Duy Tam (thứ 3 từ phải sang) cùng đồng đội thăm di tích đường Hồ Chí Minh trên biển.

Lễ “truy điệu sống” diễn ra trang nghiêm. Những người ở lại từ thủ trưởng Bộ Tư lệnh cho tới đồng đội đều không cầm được lòng mình. Nhưng chúng tôi – thủy thủ của tàu không số chẳng mấy ai sờn lòng. Chúng tôi hiểu, mỗi khẩu súng, thùng đạn, hộp thuốc... được vận chuyển vào chiến trường miền Nam là quý giá vô ngần. Vì thế 100% cán bộ, thủy thủ đều quyết tâm lên đường...”.

Gần chục năm lênh đênh cùng các con tàu không số vượt biển, Đại tá Phạm Duy Tam có 7 lần được “truy điệu sống”. Nhưng điều kỳ diệu là những chuyến đi của ông và đồng đội nhiều lần gặp bão tố và sự theo dõi gắt gao của kẻ địch nhưng nhờ sự mưu trí, khôn khéo và tinh thần quả cảm, họ đã vượt qua tất cả để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...

Thần tốc, giải phóng Trường Sa

Nhân dịp Đại tá Phạm Duy Tam về Đà Nẵng thăm gia đình, tôi đã gặp và đề xuất ông kể lại chuyến vượt biển giải phóng Trường Sa năm ấy. Vốn là sỹ quan cấp dưới của ông từ hồi còn ở Vùng 3 Hải quân, thế nên khi tôi đề đạt “nguyện vọng” là ông “chiều” ngay.

Và câu chuyện ông kể như thước phim quay chậm giúp tôi hiểu thêm về biên đội tàu ngày ấy thần tốc vượt biển, giải phóng Trường Sa... “Hai tuần sau ngày thành phố Đà Nẵng được giải phóng, tôi được Bộ Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ làm biên đội trưởng một biên đội tàu cá giả dạng (tàu không số) hành quân cấp tốc từ Hải Phòng vào quân cảng Tiên Sa (Đà Nẵng). Cấp trên xác định, lực lượng của chúng tôi là mũi tiến công duy nhất trên hướng biển do các đoàn tàu không số (Đoàn 125) được lệnh phối hợp cùng lực lượng đặc công nước và Sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5.

Đúng 4 giờ ngày 11-4-1975, biên đội ba tàu 675, 673 và 674 lên đường. Chuyến đi ấy ngoài chức trách là biên đội trưởng, tôi còn làm Thuyền trưởng tàu 675. Đồng chí Nguyễn Xuân Thơm – Thuyền trưởng tàu 673. Còn tàu 674 do đồng chí Nguyễn Văn Đức làm Thuyền trưởng. Do tính cấp thiết của nhiệm vụ nên biên đội tàu chúng tôi chạy hết công suất, thẳng hướng đảo Song Tử Tây. Chuyến đi ấy gió lớn trong khi tàu ta là loại tàu nhỏ nên bị sóng quần cho tơi tả. Tất cả thành viên vẫn phấn chấn vì được ra giải phóng Trường Sa là niềm vinh dự quá đỗi tự hào của người chiến sỹ. Những cơn sóng biển đổ chụp xuống con tàu, ai cũng say sóng nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Lực lượng đặc công thủy nằm bẹp dưới hầm tàu để tránh bị phát hiện. Anh em say sóng lừ đừ nhưng vẫn ráng chịu đựng. Biển sóng to, gió lớn trong khi tàu ta bé nhỏ, mọi người quyết định vẫn mở hết công suất máy. Rồi một chiếc tàu bị hỏng máy. Khó khăn hơn, cả đội tàu không thể liên lạc được với sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Quân chủng đóng ở Đà Nẵng. Trước tình hình đó, chúng tôi vượt biển bằng la bàn, dõi theo con nước và ngắm sao trời... Sau 3 ngày đêm vật lộn với sóng, gió vượt gần 500 hải lý, chúng tôi đã thấy đảo Song Tử Tây như một chấm nhỏ xa mờ. Ngày đó các đảo còn thấp lè tè, chiều cao chỉ từ 1,5m đến 4,5m so với mặt nước biển. Ban ngày phát hiện đã khó, ban đêm lại càng khó hơn vì đảo không có điện, lại nhấp nhô giữa biển nước mênh mông biết đâu là đảo có quân đội ngụy quyền Sài Gòn chiếm giữ”.
Đại tá Phạm Duy Tam (thứ 3 từ trái sang) cùng đồng đội ra thăm Trường Sa nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng quần đảo.

Đại tá Phạm Duy Tam bỗng hạ giọng: “Ngày đó, chúng tôi được trên chỉ thị là tuyệt đối không đánh nhầm. Đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn bởi máy móc, thiết bị hàng hải mà ta có được lúc đó quá thô sơ. Cuối cùng bằng kinh nghiệm, chúng tôi cũng phát hiện quân đội Sài Gòn chiếm giữ những đảo nổi của Trường Sa. Trong đó đảo Nam Yết là sở chỉ huy với lực lượng lên đến 60 lính; các đảo Song Tử Tây, Trường Sa Lớn đều có 40 lính; các đảo Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang có 20 lính… Thời cơ ngàn năm có một đã tới, biên đội nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Hai tàu 674 và 673 án ngữ phía Bắc đảo 15 hải lý đề phòng đối phương từ phía Bắc xuống và nghi binh hai tàu chiến của ngụy đang lởn vởn ở khu vực đảo Nam Yết. Tàu 675 do tôi chỉ huy bí mật tiếp cận gần mép san hô của đảo, rồi thả xuồng cao su, lần lượt chở bộ đội đặc công nước do đồng chí Nguyễn Ngọc Quế (Đội trưởng Đội 1 – Đoàn 126) chỉ huy đổ bộ lên đánh chiếm đảo.

Đúng 4 giờ 30 phút, ngày 14-4-1975, ta bất ngờ đồng loạt nổ súng, tiêu diệt 7 tên, bắt sống 33 tên, giải phóng hoàn toàn đảo Song Tử Tây. Ngay trong đêm đó, tôi tiếp tục chỉ huy tàu chở tù binh từ đảo Song Tử Tây về Quân cảng Đà Nẵng an toàn. 10 ngày sau, tàu 641 (Đoàn 125) tiếp tục chở phân đội đặc công nước do đồng chí Đỗ Viết Cường (Đội phó Đội 1- Đoàn 126) đổ bộ đánh chiếm và giải phóng đảo Sơn Ca, bắt sống 17 tên ngụy. Thừa thắng xông lên, quân ta tấn công giải phóng đảo Nam Yết.

Đúng 2 giờ sáng ngày 29-4-1975 trên hướng tiến công đường biển ta đã kéo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, giải phóng những đảo thuộc quần đảo Trường Sa do ngụy quyền Sài Gòn chốt giữ. Ngày đó, ngắm nhìn lá cờ Tổ quốc phần phật tung bay trên các đảo tiền tiêu, chúng tôi ồm chầm lấy nhau, niềm vui vỡ òa trên từng gương mặt. Thắng lợi trên mặt trận Biển Đông, giải phóng Trường Sa góp phần quan trọng vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc”...

Những kỷ niệm của một thời chiến tranh vẫn tươi nguyên trên khuôn mặt dạn dày sương gió của người thuyền trưởng 7 lần “truy điệu sống”. Tuy trở về với đời thường, nhưng người cựu binh già vẫn còn nặng nợ với “binh nghiệp”. Ngôi nhà ông là địa chỉ tin cậy mà thế hệ sỹ quan trẻ hôm nay tìm đến học hỏi, trau dồi kinh nghiệm và bản lĩnh của người thủy thủ. Và trong con mắt họ, bao giờ ông cũng xứng đáng là người con của biển...

Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/309/309/160021/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #186 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2011, 01:51:04 AM »

“Pháo đài thép” tiên phong đi mở bến


Trong lịch sử của Đoàn tàu không số, sự ra đời của chiếc tàu sắt có mật danh 54 do Xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng sản xuất đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí phục vụ chiến trường miền Nam. Khi tiếp nhận con tàu, lãnh đạo chỉ huy Đoàn 125 xác định, cần phải làm cho tất cả chiến sĩ đều có niềm tin vào loại tàu mới do chúng ta tự sản xuất. Nếu còn phân vân, lo lắng, thậm chí thiếu tin tưởng, có thể gây trở ngại, ảnh hưởng đến tâm lý của thủy thủ trong chuyến đi thực hiện nhiệm vụ trên con tàu sắt này.

Bằng quyết tâm cao độ và sự chuẩn bị kỹ càng của đơn vị, ngày 17-3-1963, Tàu 54 mang theo 44 tấn vũ khí được lệnh rời bến chuyển hàng tới một bến mới ở tỉnh Trà Vinh. Tàu sắt rất dễ bị phát hiện so với tàu gỗ, nên nó được các thủy thủ ngụy trang rất cẩn thận. Trên chặng đường dài từ Hải Phòng vào Trà Vinh, nhiều lần các đoàn tàu chiến và các loại máy bay của địch bám theo do thám, khiêu khích, nhưng tàu vẫn không bị lộ. Tàu cập bến và bàn giao 44 tấn vũ khí trong niềm hân hoan của đồng chí, đồng bào sau cuộc chống càn “Sóng tình thương” của địch trên chiến trường Khu 9. Các thủy thủ của Đoàn tàu không số hiểu rằng, tàu sắt chính là dấu hiệu mở màn cho giai đoạn phát triển nhảy vọt trong công tác vận tải trên con đường huyền thoại-Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Tính ưu việt của tàu sắt là sự chắc chắn, kỹ thuật tốt, có khả năng vượt qua các luồng lạch nông, chở được nhiều hàng. Nếu ngụy trang khéo léo vẫn có thể che mắt được địch. Điều này đã được chứng minh qua chuyến hành trình vận chuyển 63 tấn vũ khí vào bến mới ở tỉnh Bến Tre an toàn của Tàu 54. Kế thừa những kinh nghiệm có được, trong năm 1964, tập thể thủy thủ Tàu 54 đã thực hiện thắng lợi 6 chuyến vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam.

Sau sự kiện Vũng Rô và cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968, địch tăng cường lực lượng, kiểm soát gắt gao khiến công tác vận chuyển vũ khí trên biển của chúng ta gặp muôn vàn khó khăn. Trong chuyến đi năm 1972, Tàu 54 gặp địch và bị lộ. Cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường đến giây phút cuối cùng trước khi điểm hỏa cho nổ tàu để giữ bí mật tuyến vận tải chiến lược trên biển và tiêu diệt địch. Thời gian đã lùi xa, nhưng hình ảnh con tàu và người chính trị viên anh hùng vẫn mãi lung linh trong trái tim các thủy thủ Đoàn tàu không số như một pháo đài thép, luôn tiên phong đi về những bến mới.

Nguồn: http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/308/308/162752/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #187 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2011, 12:50:29 AM »

Hình ảnh về hoạt động của tàu không số



Tàu của Đoàn 125 nhận hàng từ bến Đá Bạc (Thủy Nguyên, Hải Phòng) để vận chuyển, chi viện chiến trường miền Nam.

Các chiến sĩ tàu không số vận chuyển, sắp xếp hàng hóa chuẩn bị chi viện cho chiến trường miền Nam

Tập kết vũ khí đạn dược đưa xuống Tàu không số để vận chuyển vào Nam. Ảnh tư liệu

Một con tàu không số của Lữ đoàn 125 đang trên đường vận chuyển hàng vào Nam. Ảnh tư liệu.

Nguồn: http://qdnd.vn/qdndsite
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #188 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2011, 01:07:37 PM »

Tàu không số trên bến Vũng Rô (Bài 1)


I - Mở bến Vũng Rô

Theo tác phẩm "Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân" của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2001 viết: "Mùa thu năm 1964, đường Trường Sơn mới vươn tới vùng ba biên giới, chủ yếu chi viện cho Tây Nguyên và vùng giáp ranh của Liên khu 5. Tuy nhiên, việc vận tải bằng đường bộ, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là sự đánh phá ác liệt của kẻ địch, nên gặp rất nhiều khó khăn".

Thực hiện chủ trương phối hợp toàn miền do Trung ương Cục phát động, Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở đợt hoạt động của các lực lượng vũ trang 6 tháng cuối năm 1964, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phá ấp chiến lược. Được các lực lượng vũ trang hỗ trợ, mùa thu năm 1964, nhân dân Khu 5 đã đồng khởi phá tan 1.485 ấp chiến lược ở đồng bằng, 292 ấp chiến lược ở miền núi, giải phóng 123 xã. Nhiều vùng, quần chúng nổi dậy làm chủ gồm 15 đến 20 xã liền nhau, sát đường số 1, tạo thế cho bộ đội chủ lực về đứng chân. Phong trào đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị phát triển. Tuy nhiên, Khu 5 gặp khó khăn là thiếu vũ khí. Các tỉnh Khu 5 liên tục điện ra Trung ương xin vũ khí. Có lần, tỉnh Quảng Ngãi đã chủ động đưa thuyền ra Bắc xin vũ khí... Một khó khăn đối với Khu 5 nữa là, mùa đông năm 1964, giữa lúc phong trào cách mạng đang lên, một trận lụt lớn chưa từng thấy trong vòng 100 năm đã xảy ra ở địa bàn này. Lợi dụng thiên tai, Mỹ-ngụy dùng xuồng máy, xe lội nước càn quét, đánh phá.

Việc cung cấp vũ khí cho Khu 5 trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu (Bộ phận B) kết hợp với Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu nhiệm vụ mở bến, chi viện vũ khí cho vùng ven biển Khu 5.

Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 là công việc phức tạp và vô cùng khó khăn. Mặc dù cung đường so với mút cùng đất nước có ngắn hơn, song việc đặt bến chẳng thuận lợi. Vùng biển Khu 5 không có nhiều kênh rạch và rừng cây um tùm phủ xuống như ở Nam Bộ. Các cửa sông hẹp, đồn địch ken dày và rất nhiều căn cứ hải thuyền của địch. Là vùng sát giới tuyến, lại nằm sát quốc lộ nên hệ thống ra-đa, tàu chiến và máy bay của địch kiểm soát khá cẩn mật.

Việc mở bến vào Khu 5, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Hải quân tiến hành từng bước rất chặt chẽ, thận trọng; phương châm khẩn trương nhưng không nóng vội. Đã đi là chắc thắng. Một bộ phận cán bộ Hải quân do đồng chí Huỳnh Kim và Phan Võ dẫn đầu đã vào Khu 5 truyền đạt ý kiến của Bộ Quốc phòng và cùng cán bộ tham mưu Quân khu 5 đi nghiên cứu địa hình, mở bến bãi.

Sau khi nhận được những tin tức do bộ phận trinh sát và cơ quan quân sự các địa phương báo ra, Bộ tư lệnh Hải quân thông qua phương án vận chuyển vào Khu 5 do cơ quan tham mưu Đoàn 125 trình bày. Bộ tư lệnh nhấn mạnh: Các tàu vào Khu 5 phải thật khôn khéo, đánh lừa địch trên đường hành trình; táo bạo, bí mật thọc sâu vào bến; nhanh chóng dỡ hàng và rút ra ngay trong đêm. Gặp trường hợp đặc biệt mới ở lại ban ngày, song phải có phương án chiến đấu nếu bị lộ.

Tổ trinh sát của hải quân và Quân khu 5 trước mắt đã chuẩn bị được một số bến có khả năng nhận hàng như: Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thủy (Phổ An, Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam), Vũng Rô (Phú Yên)..." (SĐD trang 84, 86).

... Lúc này Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng Chỉ thị: "Tìm bến mới ở Phú Yên. Phú Yên đang cần súng đạn!".

Chấp hành Chỉ thị của Bí thư Quân ủy Trung ương, đồng chí Phan Hàm xuống ngay Hải Phòng để trao đổi với đồng chí Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát. Hai người nhất trí chọn Vũng Rô làm điểm đổ hàng cho khu vực Phú Yên.

Ngay sau đó đồng chí Trần Suyền, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên nhận được lệnh của Trung ương và Khu ủy 5 tìm điểm mở bến ở tỉnh Phú Yên để đón các chuyến tàu không số từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Khu 5. Hàng loạt các vị trí dọc 189km bờ biển của tỉnh Phú Yên đều được đưa ra xem xét và cân nhắc. Cuối cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Yên và Liên tỉnh ủy 3 (Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc) đều nhất trí với Trung ương là chọn Vũng Rô để mở bến đón Tàu không số, nhằm tạo được yếu tố bất ngờ và cũng thuận lợi trong việc tổ chức hành lang vận chuyển hàng về phía sau để chi viện vũ khí cho chiến trường ba tỉnh.

Vũng Rô nằm sát Quốc lộ 1A dưới chân Đèo Cả thuộc địa phận xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa (nay là huyện Đông Hòa), tỉnh Phú Yên, tiếp giáp với Đại Lãnh - Vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa). Vũng Rô có diện tích mặt nước 17km2, có độ nước sâu gần bờ từ 14 đến 19m, kín gió, đáy vịnh ổn định. Cửa biển vào Vũng Rô rộng 2km. Nơi tiếp giáp hải phận quốc tế ở vị trí 12052' vĩ độ Bắc, 109025' kinh độ Đông. Phía bắc giáp dãy núi Đá Bia cao 706m. Phía nam giáp Đại Lãnh (tỉnh Khánh Hòa). Phía tây giáp Đèo Cả có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam. Phía đông giáp Biển Đông (có Mũi Điện - Cáp Varilla)...

Vũng Rô có địa hình núi non hiểm trở bao bọc, có nhiều hang động, gộp đá ở nhiều độ cao khác nhau và đường sá độc đạo, thuận lợi cho việc hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương. Địa hình đó thuận tiện cho việc cất giấu, bảo quản vũ khí, lương thực, thực phẩm an toàn khi chuyển từ tàu đưa vào bến, rồi từ bến chuyển đi các nơi. Trong khu vực Vũng Rô có nhiều bãi như: Bãi Chính, Bãi Chùa, Bãi Lau... rất thuận tiện cho việc xuống hàng và có nguồn nước ngọt phục vụ tốt cho mọi sinh hoạt của bộ đội, dân quân du kích và dân công các xã về đây tải hàng.

Từ Bãi Chính có con đường mòn đi ra Mũi Điện, đi qua núi Bà và núi Bia đến vùng Bãi Xép-khu căn cứ cách mạng Miền Đông, giáp với vùng giải phóng các xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân, Hòa Thịnh v.v.. Các xã này đã có lực lượng dân quân du kích khá vững mạnh, đã đánh và thắng địch nhiều trận vang dội, là chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương.

Nhưng bến Vũng Rô cũng có một số nhược điểm là khá trống trải, khó khăn cho việc tàu chở hàng chi viện đậu lại bến chờ thời cơ. (Nó khác với những kênh rạch ở Nam Bộ, khi tàu vào có rừng đước, rừng tràm che chở, thời gian tàu nằm lại bến từ 5 đến 7 ngày không lo bị địch phát hiện). Ngoài ra, quanh Vũng Rô còn có nhiều núi đá khá cao; địch xây dựng trên đỉnh Đèo Cả bót Pơ Tý và đặt trạm quan sát bảo vệ Vũng Rô. Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam chạy ngang qua Vũng Rô tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ địch dễ cơ động lực lượng khi phát hiện các hoạt động của ta ở Vũng Rô. Mặt khác, Vũng Rô chỉ có một cửa ra vào nên khi có sự cố, địch huy động lực lượng ứng phó nhanh, chốt chặn cửa vịnh là tàu của ta khó thoát. Và Vũng Rô chỉ cách tỉnh đường Phú Yên của địch chừng 30km theo đường chim bay, nếu bị lộ địch sẽ dùng quân đến vây ráp ngay. Đồng thời, tại bến không có sẵn lực lượng túc trực cố định để làm nhiệm vụ bốc hàng, hầu hết dân công đều huy động ở các xã liền kề trong vùng giải phóng, họ đều có quan hệ gia đình làng xóm, nên công tác bảo mật là rất khó khăn. Với các đặc điểm khó khăn trên của ta nên bọn địch rất chủ quan và quản lý sơ hở.

Cuối năm 1964, các xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân thuộc miền đông huyện Tuy Hòa (nay là huyện Đông Hòa) tiếp giáp với Vũng Rô có nhiều thôn đã được giải phóng. Chính quyền cách mạng được thành lập; các tổ chức hội đoàn thể, dân quân du kích và quần chúng nhân dân được tổ chức sinh hoạt, tham gia đóng góp nhân tài vật lực, đi dân công tải vũ khí, lương thực phục vụ chiến trường. Điểm nổi bật nhất của hai xã Hòa Hiệp và Hòa Xuân là phong trào toàn dân đánh giặc rất cao, lực lượng dân quân du kích khá mạnh, là điểm tựa rất vững chắc của bến Vũng Rô.

Năm 1964, dân số xã Hòa Hiệp có 6.350 người, trong đó có 345 dân quân du kích. Dân số xã Hòa Xuân có 5.430 người, trong đó có 258 dân quân du kích. Hệ thống hầm hào, trận địa chiến đấu của hai xã Hòa Hiệp và Hòa Xuân được xây dựng hoàn chỉnh, vững chắc, đúng với các phương án chiến đấu bảo vệ xóm làng, nên nhiều lần kẻ địch mở các đợt càn quét vào xã đều bị lực lượng dân quân du kích, bám trụ kiên cường, đánh địch thắng lợi.

Tháng 10-1964, trong gian nhà nhỏ cuối thôn Lạc Long, nhìn ra hạ lưu sông Bàn Thạch, đồng chí Trần Suyền - Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên cùng Ban chỉ đạo bến làm việc với đại diện Huyện ủy Tuy Hòa và Bí thư Chi bộ hai xã Hòa Hiệp và Hòa Xuân để kiểm điểm công tác mở bến. Theo yêu cầu của Trung ương, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã quyết định tuyển chọn 5 cán bộ thông thạo nghề biển là Lê Kim Tự, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hiền (quê ở xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa), Trần Mỹ Thành, Phan Văn Dợn (quê ở xã Xuân Thịnh và Xuân Thọ, huyện Sông Cầu), vượt Trường Sơn ra miền Bắc để dẫn tàu vào bến Vũng Rô. Các anh vô cùng phấn khởi lên đường vượt Trường Sơn ra miền Bắc, với quyết tâm sẽ sớm đưa tàu chở vũ khí vào bến Vũng Rô.

Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/308/308/162546/Default.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #189 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2011, 10:56:09 AM »

Tàu không số trên bến Vũng Rô (Bài 2)


II. Mở đường vào bến Vũng Rô

Từ cuối tháng 11 năm 1964 đến đầu tháng 2 năm 1965, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh trên cương vị là Phó bí thư chi bộ, thuyền trưởng, đã làm tốt công tác tổ chức, xây dựng quyết tâm, với ý thức sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. Vì vậy, mà chỉ trong vòng hai tháng đã chỉ huy tàu 41 vào bến Vũng Rô liên tục 3 chuyến, chở gần 200 tấn vũ khí trang bị, thuốc men và 6 cán bộ tăng cường cho bến, đáp ứng kịp thời vũ khí trang bị cho quân và dân 3 tỉnh là Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc đánh giặc.

Đồng chí Hồ Đắc Thạnh sinh ngày 1 tháng 5 năm 1934, quê ở phường 3, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở hiện nay, 99/2 Chu Văn An, phường 5, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông nhập ngũ ngày 20 tháng 8 năm 1950, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông cùng đơn vị tập kết ra miền Bắc. Năm 1958 trong lúc nhiều đồng đội, có người được đi học nước ngoài, người vào trường sĩ quan Lục quân, Pháo binh, Hóa học... Còn ông thì được thuyên chuyển về công tác ở Quân chủng Hải quân. Ông nghĩ rằng cơ hội mình sẽ trở về miền Nam chiến đấu để giải phóng quê hương như lời hứa trước khi lên đường tập kết ra miền Bắc không còn nữa.

Năm 1962, đang giữa khóa học ở Trường Sĩ quan Hải quân thì Hồ Đắc Thạnh được điều về Đoàn 759 rất khẩn cấp, rất bí mật và ông cũng không biết nhiệm vụ của mình sắp tới sẽ làm gì. Ông được sống biệt lập ở số nhà 83, phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Ở đó một thời gian khá dài, lòng dạ vô cùng bồn chồn sốt ruột, mong sao cấp trên sớm giao nhiệm vụ cụ thể để được thực hiện. Vào một buổi sáng mùa đông ông nhận được quyết định xuống tàu làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Lúc đó trong lòng ông vô cùng sung sướng và phấn khởi, cho dù nguyện vọng của ông lúc đó là trực tiếp cầm súng chiến đấu trên đất quê hương chưa thành hiện thực; nhưng ông suy nghĩ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam cũng vô cùng quan trọng, nó cũng góp phần giải phóng quê hương. Từ đó Hồ Đắc Thạnh xác định quyết tâm sẵn sàng nhận và hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cho. Đồng chí Hồ Đắc Thạnh đã liên tục bám tàu, đi nhiều chuyến, vào nhiều bến, vượt qua nhiều tình huống khó khăn, phức tạp, luôn xứng đáng với lòng tin tưởng của cấp trên và đồng đội.

Đồng chí Hồ Đắc Thạnh đã cùng với cán bộ chỉ huy 12 lần/chuyến vận chuyển vũ khí trang bị chi viện cho chiến trường miền Nam với khối lượng 800 tấn và 18 cán bộ theo tàu vào tăng cường cho lực lượng vũ trang miền Nam. 10 lần chỉ huy tàu, vận chuyển vũ khí trang bị gián tiếp chi viện chiến trường miền Nam qua cửa sông Gianh và cửa Hội. Cụ thể:

Chuyến thứ nhất vào bến Cà Mau ngày 19-9-1963.

Chuyến thứ hai vào bến Bến Tre ngày 29-11-1963.

Chuyến thứ ba vào bến Trà Vinh ngày 1-1-1964.

Chuyến thứ tư vào bến Cà Mau ngày 1-5-1964.

Chuyến thứ năm vào bến Cà Mau ngày 27-6-1964.

Chuyến thứ sáu vào bến Bến Tre ngày 26-7-1964.

Chuyến thứ bảy vào bến Cà Mau ngày 22-10-1964.

Chuyến thứ tám vào bến Vũng Rô ngày 28-11-1964.

Chuyến thứ chín vào bến Vũng Rô ngày 25-12-1964.

Chuyến thứ mười vào bến Vũng Rô ngày 1-2-1965.

Chuyến thứ mười một vào bến Phổ An, Đức Phổ (Quảng Ngãi) ngày 27-11-1966.

Chuyến thứ mười hai vào bến Cà Mau, bị địch phát hiện, cấp trên cho tàu quay lại.

Đó là hành trình mười hai chuyến làm thuyền trưởng chỉ huy tàu không số chở vũ khí vượt biển chi viện cho chiến trường miền Nam từ năm 1963 đến năm 1966 của đồng chí Hồ Đắc Thạnh.

Trong mười hai chuyến chở vũ khí về miền Nam ấy có ba chuyến tàu không số cập bến Vũng Rô. Trong hồi ức của mình, thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh đã viết khá tỉ mỉ hành trình ba lần ông chỉ huy tàu không số chở vũ khí cập bến Vũng Rô với những cảm nghĩ vô cùng xúc động:

... Chuyến đi Cà Mau thắng lợi vừa về đến Hải Phòng ngày 1 tháng 11 năm 1964. Cán bộ, chiến sĩ tàu 41 đang họp rút kinh nghiệm và tranh thủ nghỉ ngơi sau những ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, thì được lệnh: "Đưa tàu về cảng Đồ Sơn để nhận nhiệm vụ". Lúc đó là 16 giờ ngày 10 tháng 11 năm 1964, tôi trao đổi với Thuyền phó Hồng Lỳ và Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu: "Tranh thủ cho anh em ăn cơm sớm để lên đường". Đêm mùa đông lạnh buốt và sương mù dày đặc, nên đến 19 giờ tàu mới tới cảng Đồ Sơn. Tàu cập bến, tôi và Chính trị viên Chiếu được xe con chở về Sở chỉ huy Quân chủng. Tại phòng họp đã có mặt các đồng chí Tư lệnh Quân chủng Nguyễn Bá Phát, Chính ủy Hoàng Trà, Đoàn trưởng Đoàn Hồng Phước, Chính ủy Võ Huy Phúc, Chủ nhiệm Chính trị Võ Hành và các sĩ quan tham mưu chuyên trách vận chuyển B: Bộ Tổng tham mưu có Phó cục trưởng Cục Tác chiến B Phan Hàm, Cục trưởng Cục Bảo vệ Kinh Chi và một người nữa là đồng chí Trần Ngọc Quang - người quê ở Phú Yên cùng đi với tàu của tôi lần này.

Một tấm hải đồ tỷ lệ lớn trải rộng trên bàn trước mặt đồng chí Tư lệnh - nhìn trên đó người ta thấy dày đặc những mũi tên xanh, đỏ cùng những ký hiệu minh họa tình hình có liên quan công tác vận chuyển thu thập qua các nguồn tin mới nhất đáng tin cậy.

Buổi họp giao nhiệm vụ sơ bộ chuyến đi bắt đầu. Đã nhiều lần nhận nhiệm vụ, nhưng không biết sao lần này lòng tôi cảm thấy bồi hồi, rộn ràng. Mặc dù đồng chí Tư lệnh chưa nói, nhưng qua tấm hải đồ mà mọi ký hiệu tình hình đều tập trung vào vùng biển tỉnh Phú Yên. Như đoán được ý nghĩ trong lòng tôi, nên sau khi Trưởng phòng Quân báo Kim Sang báo cáo tình hình địch trên biển miền Nam nói chung và tập trung ở vùng biển Nam Trung Bộ, trên bờ thì khu vực tỉnh Phú Yên; đồng chí Tư lệnh nói: "Năm 1963, tàu X chở 20 tấn vũ khí chi viện Khu 5 vào bến Lộ Diêu tỉnh Bình Định. Lần đó tàu đến nơi, chuyển được hàng, nhưng vì sóng to, gió lớn, nên không về hậu phương được, anh em phải phá tàu rồi đi bộ về. Hiện nay, nhu cầu vũ khí ở chiến trường Khu 5 rất bức thiết. Tỉnh ủy các tỉnh ven biển Khu 5 đã cử người mang thư ra Trung ương xin chi viện vũ khí, đang chờ chúng ta. Theo chỉ thị của Trung ương, lần này ta đưa hàng vào bến Vũng Rô (tỉnh Phú Yên). Ngừng một lát, đồng chí nói tiếp: "Vì sao cấp trên và Thường vụ Đảng ủy Quân chủng chọn Vũng Rô làm bến? Vũng Rô là vũng có nước sâu, tàu ra vào không lệ thuộc vào thủy triều; lại nằm kề sát đường sắt và Quốc lộ 1A, nơi địch rất sơ hở, nếu ta biết lợi dụng yếu tố bí mật, bất ngờ thì ta sẽ thắng. Bên cạnh những ưu điểm đó, Vũng Rô là nơi dễ bị địch bao vây, chỉ cần một tàu đứng chặn giữa Mũi Điện và Hòn Nưa là tàu ta khó thoát. Bộ đã điện cho Khu 5 chuẩn bị đón. Tàu của các đồng chí vào có thể gặp bến đón hoặc không gặp, nhưng dù gặp hay không gặp thì đồng chí Trần Ngọc Quang cũng phải ở lại nắm tình hình, tổ chức bến rồi ra sau. Bộ Tham mưu và Thủ trưởng Đoàn chuẩn bị chu đáo để Bộ Tư lệnh Quân chủng có thể giao nhiệm vụ chính thức cho tàu. Từ giờ phút này tàu 41 cách ly với các đơn vị trong Đoàn và bên ngoài".

Những ngày tiếp theo biết bao công việc bận rộn. Cán bộ tàu chúng tôi bò lăn ra nghiên cứu hải đồ, tính toán thủy triều, nhận dạng mục tiêu, tìm hướng đi tránh ra-đa Cù Lao Ré và Chóp Chài. Đồng chí chính trị viên tàu lo công tác Đảng, công tác chính trị.

Chúng tôi vừa khẩn trương chuẩn bị mọi mặt vừa lo đón tiếp anh em quân giải phóng quê ở tỉnh Phú Yên bổ sung về tàu làm thủy thủ. Đó là các đồng chí Lê Kim Tự, Lê Xuân quê ở xã Hòa Hiệp và đồng chí Trần Mỹ Thành, quê ở xã Xuân Thịnh. Các anh vừa trải qua ba tháng vượt đường Trường Sơn ra miền Bắc, thời gian nghỉ ngơi dưỡng sức chưa được bao lâu, nay lại xuống tàu làm nhiệm vụ chở vũ khí bằng con đường Hồ Chí Minh trên biển để về lại quê hương. Tàu có 21 đồng chí, hầu hết là anh em quê ở tỉnh Phú Yên và Bình Định cùng một số ít anh em ở các tỉnh khác. Trừ 4 đồng chí có vợ con ở miền Nam và đồng chí Trần Ngọc Quang vừa mới có người yêu, số còn lại chưa một ai được "nếm mùi yêu đương".

Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/307/308/308/162648/Default.aspx
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM