Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Mười Hai, 2019, 02:40:25 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam.  (Đọc 146968 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #140 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2008, 05:36:10 PM »

PHI CÔNG B52 KIỆN SAC
VỀ CHIẾN DỊCH LINEBACKER II

  Giữa năm 1977, Đô-rên-cao-xki (Drenkowski) đại úy phi công B52 tìm thấy trong hồ sơ lưu. trữ của Bộ Không quân Hoa Kỳ văn kiện mang số AF/100RD về chiến dịch ném bom bằng B52 xuống Hà Nội - Hải Phòng mang tên Lai-nơ-bêch-cơ 2 (Linebacker 2). Đô-rên-cao-xki đã phát đơn kiện Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) về sự tồi tệ trong việc vạch kế hoạch và điều hành chiến dịch này.

  Đây là bản lược dịch những quan điểm của Đô-rên-cao-xki về chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2, đăng trên tạp chí Không quân Mỹ số tháng 7-1987 (Minh Bảo lược dịch)

  B52 được đưa vào sử dụng trong chiến tranh Đông Nam Á từ giữa những năm 1960 nhưng không được phép hoạt động ở các vùng đông dân có bảo vệ chắc chắn và dày đặc ở thung lũng sông Hồng. Người ta cho rằng B52 với các trang bị gây nhiễu hiện đại và đắt tiền không bõ liều bay vào thung lũng sông Hồng để có thể bị bắn rơi. Sau đó nó lại bị các đồng minh của Liên Xô nghiên cứu khám phá các bí mật của những trang bị đó.

  Theo chiến thuật được sử dụng lúc ban đầu để đánh các mục tiêu ở Nam Việt Nam, nơi không có vũ khí phòng không đủ tầm bắn rơi B52, thì các máy bay số 2 và số 3 bay gần như ngang hàng ở hai bên máy bay số 1. Các phi công đi hoạt động tạm thời ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng ở Đông Nam Á chỉ qua huấn luyện ở Mỹ về cách oanh tạc từng chiếc riêng lẻ ở tầm thấp. Phương pháp này thông thường dùng để oanh tạc một mục tiêu bằng vũ khí hạt nhân. Các phi công này không có kinh nghiệm về cách bay theo đội hình một tốp 3 chiếc, theo dõi nhau bằng mắt thường trong các trận ném bom qui ước. Sau một vài vụ B52 đâm nhau trên bầu trời và những vụ suýt húc nhau, các ban điều tra của Bộ Chỉ huy không -quân chiến lược (SAC - viết tắt của chữ Strategic Air Command) phát hiện ra rằng đối thủ nguy hiểm nhất của B52 lại chính là một chiếc B52 đang bay bên cạnh nó. Vì vậy chiến thuật bay trên các khu vực tương đồi an toàn ở Nam Việt Nam là nhằm bảo vệ B52 trong môi trường không có sự đe dọa của hệ thống hỏa lực phòng không đối phương. Có nghĩa là máy bay số 2 bay sau máy bay thứ nhất 2,4km và máy bay số 3 cũng bay sau chiếc thứ hai 2,4km. Cả hai máy bay số 2 và số 3 đều bay hơi chếch về hai phía đường bay của chiếc dẫn đầu. Như vậy những quả bom của chúng rơi ra song song với bom của máy bay dẫn đầu trong khoảng cách 100mét khiếm thảm bom sẽ trùm lên một diện tích rộng hơn.
 
  Mọi hoạt động của B52 trong chiến tranh Đông Dương đã biến thành một thứ dây chuyền sản xuất. Hết ngày này sang ngày khác, các máy bay B52 đi đánh mục tiêu đều bay theo cùng một đường bay. Trước khi thả bom vài phút, các máy bay gây nhiễu được bật lên. Trước khi bom rơi 90 giây, cánh cửa khoang bom mở ra làm cho tiết diện B52 rộng hẳn lên, ra-đa dễ quan sát và bám chặt lấy nó. Các máy bay B52 tiếp tục bay với cùng tốc độ, cùng độ cao. Sau khi bom rơi, tất cả đều ngoặt 90 độ để bay ra khỏi mục tiêu. Lúc này ăng-ten máy nhiễu lắp dưới bụng máy bay hướng ra khỏi khu vực mục tiêu trong khoảng từ 30 đến 60 giây. Đơn vị cơ bản được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là tốp 3 chiếc. Nếu cần oanh tạc nhiều lần vào một mục tiêu thì đặt kế hoạch dùng nhiều tốp vào đánh phá.

  Cuối những năm 1960, máy bay B52 đã bắt đầu ném bom các khu vực bên ngoài Nam Việt Nam, nhất là quãng đường mòn Hồ Chí Minh qua Lào. Lần đầu tiên, B52 vấp phải pháo phòng không cỡ lớn, điều khiển bằng ra-đa của đối phương. Đôi khi chúng gặp cả tên lửa SAM. Phi công biết rằng kiểu đánh theo lối dây chuyền sản xuất sẽ không có hiệu lực khi tiến công các mục tiêu có các phương tiện bảo vệ tinh vi. Chiến thuật này của B52 làm cho bộ đội Bắc Việt Nam có thể đoán trước mục tiêu và thời gian bị ném bom. Vì vậy, nhiều cuộc oanh tạc bị mất hiệu lực vì đối phương đã di chuyển trang bị và người ra khỏi khu vực hoặc xuống hầm trú ẩn. Tiếp đó, các trận địa phòng không có nhiều thời gian chuẩn bị đối phó.

  Các phi công B52 phản đối việc không chịu thay đổi chiến thuật. Nhất là khi một số B52 đã bị vũ khí phòng không đối phương gây thiệt hại. Song thái độ ngoan cố của SAC đã cản trở mọi thay đổi.

  Tình hình vẫn nguyên như vậy cho đến tháng 3 năm 1972, khi ba sư đoàn Bắc Việt Nam có xe tăng dẫn đầu và có pháo cỡ lớn yểm trợ đã đánh gục sư đoàn 3 của Sài Gòn tại khu phi quân sự. Lúc ấy, lục quân Mỹ đã rút đi. Vùng này chỉ còn 2 lữ đoàn, nhưng các lữ đoàn trưởng đã được lệnh không tham chiến vì sợ làm tăng số lính Mỹ thương vong. Do đó lực lượng duy nhất có sức mạnh để hỗ trợ quân đội Sài Gòn là không quân Mỹ. Tháng 4 năm 1972, Tổng thống Ních-xơn cho phép ném bom trở lại Bắc Việt Nam. Hoạt động ném bom này mang mật danh là chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ".

  Mục tiêu của nó là phá các đường tiếp tế từ Trung Quốc đến Hà Nội. Vì đó là đường vận chuyển cơ sở vật chất, kỹ thuật tới tay bộ đội Bắc Việt ở miền Nam. Sau khi các hải cảng Bắc Việt Nam bị rải thủy lôi, Hà Nội bị bóp nghẹt dần. Nhưng cái giá phải trả của Mỹ thật là đắt. Các máy bay chiến đấu chiến thuật phải mất nhiều tháng mới làm tê liệt được các hệ thống phòng không với cái giá mà phần lớn các nhà quan sát Mỹ không nhận ra được. Các đơn vị như các đại đội máy bay chiến đấu chiến thuật số 4 và số 421 tại sân bay Đà Nẵng đã mất hơn hai phần ba số F-4 và một nửa kíp bay trong vòng có 2 tháng. Máy bay B52 tiếp tục ném bom các mục tiêu chiến thuật ở các khu vực "an toàn" hơn trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ, sau này gọi là Lai- nơ-bếch-cơ 1. Ngày 21 tháng 10 năm 1972, Mỹ ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 và chiến dịch Lai-nơ-bếch- cơ 1 kết thúc.
 
  Sau đó 2 tháng, người ta thấy rõ là Bắc Việt Nam lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom ở đồng bằng Bắc Bộ để xây dựng lại hệ thống phòng không. Lúc này, lực lượng phòng không của Bắc Việt Nam lại lên tới 180 chiếc MIG (có cả MIG 17, 19 và 21), 2.300 tên lửa SAM, chủ yếu là SAM 2 và nhiều pháo phòng không có ra-đa điều khiển. Toàn bộ toàn mạng lưới phòng không này  được phối hợp thành một lưới lửa bảo vệ dày đặc, loại này không gây cản trở cho loại kia trong chiến đấu.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #141 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2008, 04:36:04 PM »

  Ngày 17 tháng 12 năm 1972, các phi công B52 được lệnh báo động. Tối hôm sau, chiến dịch Lai-nơ- bếch-cơ 2 bắt đầu. Các máy bay F-111 bay trước tiên vào Bắc Việt Nam với tốc độ siêu âm ở độ cao thấp, tiến hành oanh tạc vào các sân bay. Máy bay F-4 bay theo rải nhiễu kim loại thành một hành lang bằng nhôm kéo dài từ Đông Bắc sang Tây Nam thung lũng sông Hồng nhằm bịt mắt ra-đa. Phía cuối hành lang song song với rặng núi Tam Đảo, bắt đầu xuất hiện các tốp B52. Theo sau chúng là hơn 100 chiếc F-4 để đánh chặn MIG và 4 chiếc F-105 trang bị tên lửa đánh ra-đa để chế áp tên lửa SAM. Các tốp B52 dàn cự ly rộng hơn để mỗi tốp 3 chiếc có thể qua mục tiêu chỉ trong từ 2 đến 3 phút. Khoảng cách giữa mỗi tốp mở rộng tới 4 phút bay. Như vậy một lực lượng 18 chiếc B52 bay qua mục tiêu hết độ nửa giờ, bay cùng một đường bay, một tốc độ, một độ cao như nhau.
 
  Vài tốp đầu tiên không bị hỏa lực phòng không đối phương bắn, điều này khiến người ta nghĩ là đối phương bị bất ngờ. Nhưng khi các tốp sau tiếp tục bay theo cùng đường bay thì trận đánh sôi nổi hẳn lên. Hành lang nhiễu kim loại bị gió thổi bạt đi từ từ. Nhưng kế hoạch của SAC không cho phép B52 linh hoạt. Các phi công không được phép điều chỉnh đường bay để lợi dụng sự che chở của hành lang nhiễu. Tuy nhiên họ vẫn phải bay vào mục tiêu.


  Đầu tiên các pháo thủ điều khiển tên lửa SAM của Bắc Việt đã phóng những quả đạn không điều khiển, hy vọng may ra đánh trúng máy bay. Nhưng khi các B52 ầm ĩ bay vào, giữ nguyên một tốc độ, một độ cao trên cùng một đường bay thì các pháo thủ đã tìm ra ngay cách đánh. Các pháo thủ cao xạ và nhân viên điều khiển SAM dễ dàng giải quyết được vấn đề tính toàn các phần tử bắn và điều chỉnh ngòi nổ. Họ bắt đầu đánh trúng B52.
 
  Sáng hôm sau, máy bay ném bom chiến đấu của không quân và hải quân tiếp tục đánh phá các mục tiêu. Một số mục tiêu đó được máy bay A-7 cùng với máy bay F-4 tiến hành đánh phá bằng bom điều khiển bằng la-de.
 
  Một công thức được đặt ra cho 10 ngày tới: B52 sẽ oanh tạc ban đêm, đánh các mục tiêu rộng như sân ga kho xăng dầu, doanh trại. Đường bay của chiếc B52 đi đầu sẽ là đường bay cho mọi chiếc B52 khác trong suốt đêm đó. Ban ngày, các máy bay chiến đấu chiến thuật mang vũ khí có điều khiển sẽ đánh các nhà máy điện, cầu.

  Vào đêm thứ hai, các máy bay B52 từ phía Tây xông vào ném bom ga Gia Lâm, sân bay Bạch Mai và đài phát thanh Hà Nội. Các phi công B52 biết rất rõ rằng động tác lẩn tránh cũng chẳng có hiệu lực gì. Pháo phòng không và tên lửa SAM phóng lên dày đặc hơn. Các phi công dùng các động tác lẩn tránh kịch liệt để tránh cả hai loại hỏa lực này. Chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi ở thung lũng sông Hồng. Sân bay Gia Lâm và bệnh viện Bạch Mai bị đánh do nhầm lẫn vì các phi công mải quan tâm đến việc bảo vệ sinh mạng mình hơn là việc ném bom sao cho chính xác. Hỏa lực đối phương đã đánh trúng một số B52. Đêm đó, ít nhất có 2 chiếc đã bị bắn rơi.

  Những người điều khiển tên lửa SAM khôn ngoan đã quan sát ngay vị trí chiếc B52 đi đầu ngoặt khỏi mục tiêu. Họ phóng lên một SAM để tên lửa bay theo đường đạn khoảng 45 giây tới gần chỗ B52 phải ngoặt. Họ dùng 5 đến 10 giây điều khiển quả tên lửa "khóa" vào điểm ngoặt, sao cho khi tên lửa tới đó vừa đúng lúc chiếc B52 tiếp theo cũng bay tới. Thật ngon xơi.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #142 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2008, 09:48:37 AM »

  Các phi công trở về căn cứ và bắt đầu một cuộc đấu tranh vô hiệu quả đòi thay đổi chiến thuật sử dụng B52. Các nhân viên SAC không chịu lắng nghe các ý kiến này. Để phản đối, các phi công đi làm nhiệm vụ trở về đã bắt đầu thổ lộ những thất vọng của họ tại các câu lạc bộ sĩ quan ở Gu-am và U-ta-pao. Con số thiệt hại cứ ngày một tăng lên. Đầu tiên là 3 chiếc B52, rồi 4, rồi 6 chiếc bị bắn rơi một ngày. Vậy mà SAC vẫn cứng nhắc, không chịu thay đổi chiến thuật.
 
  Từ ngày 22 đến 24 tháng 12, tinh thần phi công tại các căn cứ B52 suy sụp. Số lớn phi công xin rút khỏi diện bay vì lý do sức khỏe. Các buổi giao nhiệm vụ thực hiện các phi vụ hàng ngày trở nên những cuộc cãi vã. Phi công cười mỉa mai hoặc nói kháy các sĩ quan thuyết trình. Điều có ý nghĩa ở các sự kiện này là số đông phi công không phản đối cuộc chiến tranh, không phản đối ném bom mà là họ phản đối về sự ngu xuẩn và lỏng lẻo trong kế hoạch ném bom của SAC, giữ nguyên hướng trên đoạn bay thả bom rồi bay ra khỏi mục tiêu theo "đường bay như nhau”. Họ phàn nàn về những hiểm họa không cần thiết do sự kém linh hoạt của SAC gây ra.

  Lệnh ngừng ném bom được công bố vào ngày lễ Nô- en. Các nhân viên SAC tại Ô-ma-ba, Me-bra-ska báo cáo về thiệt hại lúc đó đã tới từ 10% đến 12% trong số từ 150 đến 200 chiếc B52 hiện có ở Đông Nam Á. Quanh phỏng vấn các tướng cao cấp của SAC tham gia đặt kế hoạch, ta thấy các tư lệnh SAC hoàn toàn không biết đến ý kiến đề nghị của các phi công (trừ các vấn đề tinh thần) về việc thay đổi cách đánh.
 
  Đợt ngừng ném bom kéo dài 41 giờ. Tới lúc này, SAC mới xem xét các chiến thuật mới. Cuộc oanh tạc ngày hôm sau (26-12) gồm 77 chiếc B52 đánh làm 5 đợt gần như đồng thời từ nhiều hướng tiến vào các mục tiêu. Chiến thuật mới đã có hiệu quả rõ rệt. Chỉ có một chiếc B52 bị bắn rơi, còn 76 chiếc kia trở về an toàn. Động tác ngoặt 90 độ để ra khỏi mục tiêu được loại bỏ. Cự ly giữa các máy bay trong tốp rút ngắn lại còn 1,8km. Ngoài ra, một số B52 còn mang bom CBU để làm tê liệt trận địa SAM. Các tốp F-105 và F-4 cũng mang bom CBU đi tìm đánh các trận địa SAM khác. Đến ngày 28, thấy được những dấu hiệu về hoạt động của hệ thống phòng không đối phương sút kém. Ngày 31 tháng 12, ngừng ném bom. Ba tuần sau, hiệp định Paris được ký kết. Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2 được SAC coi là đã thành công. Nhưng cái giá phải trả thật là đắt. Trong thời gian chiến dịch, không quân nói rằng 17 chiếc B52 đã bị bắn rơi. ít nhất có 9 chiếc nữa tuy đã về được U-ta-pao nhưng bị hư hỏng quá nặng không thể bay được nữa. Do vậy cái giá chung phải trả là từ 22 đến 27 chiếc B52. Ngoài ra còn 10 máy bay ném bom chiến đấu và trinh sát bị bắn rơi.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #143 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2008, 05:54:58 PM »

  Đã có thể chứng minh thêm một điểm là các máy bay loại B52 lỗi thời này vẫn có thể bay vào một khu vực có vũ khí phòng không dày đặc để giáng cho đối phương một đòn. Mọi mục tiêu đưa ra đều bị 729 phi vụ B52 phá hoại hoặc tiêu diệt trong 11 ngày ném bom. Nhưng những sai lầm của SAC đã phạm phải trong chiến dịch này là không thể biện bạch được và SAC phải chịu trách nhiệm. Những sai lầm đó làm cái giá phải trả càng cao thêm. Đó là:
 
1. Oanh tạc nhỏ giọt từng đợt
 
  Đánh phá thành các đợt liên tiếp cách nhau có khi đến 1 giờ làm cho các hệ thống phòng thủ đối phương có cơ hồi phục và chuẩn bị đối phó với đợt sau. Ngoài ra đánh như vậy còn làm giảm tác động choáng váng của mỗi đợt, cho phép đối phương mỗi lần có thể tập trung đối phó vào một máy bay. Khi đã sửa chữa sai lầm bằng cách dùng 5 đợt B52 đồng thời từ nhiều hướng vào ném bom thì số thiệt hại máy bay mới giảm.

2. Thiếu yếu tố bất ngờ

  Do vấn đề bảo đảm bí mật tốt nên các tốp B52 đầu tiên vào bầu trời Hà Nội đã khai thác được yếu tố bất ngờ, các hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam không phản ứng kịp thời. Tuy vậy, chủ trương của SAC là mọi chiếc B52 đều phải bay theo đường bay của chiếc đầu tiên, cùng độ cao và tốc độ. Mỗi đêm, khi chiếc B52 đầu tiên bay qua, thì các pháo thủ đối phương có thể biết chính xác chiếc B52 tiếp theo sẽ bay tới vị trí nào. Lẽ ra phải nghĩ đến các đợt oanh tạc ở tầm thấp để gây yếu tố bất ngờ. Ít nhất cũng phải cho các máy bay B52 bay ở nhiều độ cao và tốc độ khác nhau.
 
3. Thiếu linh hoạt

  Chiến thuật không thay đổi kịp với những thay đổi của tình hình. Thí dụ, nếu một chiếc F-105 báo tin toàn bộ tên lửa SAM ở một khu vực đã bị tiêu diệt, tạo nên một "lỗ hổng" trong chu vi phòng thủ của SAM các máy bay B52 vẫn không được phép thay đổi đường bay để lợi dụng lỗ hổng này mà cứ phải bay vào mục tiêu theo đường bay đã định sẵn. Đêm đầu tiên, khi dải nhiễu đã bị gió thổi tạt đi, các phi công B52 vẫn không được phép điều chỉnh đường bay vào mục tiêu trong khoảng từ 24 đến 32km để lợi dụng dải nhiễu này.
 
4. Không có những ưu tiên thích đáng
 
  Phần lớn các nhà chiến lược và chiến thuật nhất trí rằng trong một cuộc tiến công bằng máy bay thì ưu tiên hàng đầu phải là tiêu diệt các vũ khí phòng không. SAC đã ngay lập tức dùng B52 bám vào các mục tiêu quân sự chiến lược chứ không chú ý tới 27 tiểu đoàn SAM đang chờ đối phó. Đã có những cố gắng để đánh phá các sân bay MIG, song ngay cả những cố gắng này cũng không được ưu tiên nhiều. Cho tới ngày 26 tháng 12, khi số B52 bị rơi cao tới mức không thể chấp nhận được lúc đó mới bắt đầu nghiên cứu việc phối hợp lực lượng để tiêu diệt đối thủ chính đã diệt B52: đó là tên lửa SAM. Nếu vài ngày trước mà SAC đã nghĩ tới cố gắng diệt các hệ thống SAM thì họ đã không thể hoạt động tùy ý muốn của họ.

5. Thiếu thông tin

  Những thiếu sót trên đây là những sai lầm chiến lược và chiến thuật đã được chấn chỉnh sau đợt ngừng ném bom vào lễ Nô-en. Nhưng một thực tế rõ ràng là các phi công đã thấy trước được những sai lầm mà lẽ ra không được để xảy ra điều đó. Từ nhiều năm trước, các phi công đã hiểu rằng chiến thuật như vậy là điên rồ. Song SAC vẫn phớt lờ điều đó. Điều mỉa mai đáng buồn là các sĩ quan tham mưu không phải trả giá cho thái độ này. Chính các phi công đã phải trả bằng xương máu của họ. SAC đã đẻ ra một hệ thống thông báo một chiều, không cho phép cấp dưới trình bày ý kiến trở lại. Căn bệnh này thể hiện ở các giới quân sự trong chiến tranh Đông Nam Á nhưng nó đã và vẫn đang thể hiện đặc biệt rõ nét ở SAC. Vì nhiều lý do, thành phần của SAC gồm toàn những "nhân viên gật" không muốn làm đảo lộn tình hình. Tiêu chuẩn để đề bạt sĩ quan chú trọng nhiều vào lòng trung thành và vào những người cùng "ê kíp" hơn là vào tính trung thực hoặc sáng tạo. Vì vậy tin tức về công việc không tiến triển tốt hoặc về một số chiến thuật nào đó không có hiệu lực đã không thể nào đến tai các cấp trên. Những thay đổi về chiến thuật sau lễ Nô-en không phải là để đáp ứng các đề nghị của phi công. Chính vì ba viên tướng chịu trách nhiệm về chiến dịch này nằm ở căn cứ không quân Offut, Nebraska nhận thấy rằng nếu tốc độ máy bay rơi cứ diễn ra như hiện tại thì trong 2 tuần lễ sẽ không còn máy bay B52 ở Đông Nam Á. Thậm chí SAC cũng không cần hỏi ý kiến những kíp lái máy bay chiến đấu đã ném bom các mục tiêu ở thung lũng sông Hồng trong 7 tháng. Qua họ, các viên tướng ở SAC cũng có thể biết rằng những quả đạn dùng để tiếp cho các bệ phóng luôn luôn được tàng trữ ở các kho trung tâm. Mỗi bãi chứa vài trăm quả tên lửa sẽ tạo ra một mục tiêu để đánh phá và có giá trị.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2008, 05:55:20 PM »

VIỆC KÝ HIỆP ĐỊNH PA-RI
VÀ CUỘC NÉM BOM B52 CỦA MỸ

Đại tá Nguyễn Văn Minh - Viện Lịch sử
quân sự Việt Nam

  Ngày 25 tháng 1 năm 1969, Hội nghị bốn bên bàn về hòa bình ở Việt Nam khai mạc ở Pari thủ đô nước Pháp.

  Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Ních-xơn gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Mít-uây giữa Thái Bình Dương đầy sóng gió để thống nhất hành động đó, Mỹ phải đơn phương rút quân trước và chấm dứt ném bom miền Bắc. Tổng thống Ních-xơn ý thức được rằng việc rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam không phải để giành thắng lợi với quân số ngày càng giảm trong khi quân số đầy đủ nhất mà cũng vẫn thua, cho nên trong cuộc họp này mục đích là làm cho Nguyễn Văn Thiệu yên lòng, chấp nhận những quyết định của Mỹ tại cuộc đàm phán ở Pari. Tháng 10 năm 1969 là thời điểm hết hạn cho Tổng thống mới Mỹ xem xét điều chỉnh các chính sách của chính phủ trước để lại, trong hai viện của quốc hội Mỹ nổ ra cuộc tranh luận gay gắt về chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Nhiều thượng nghị sĩ Mỹ phê phán kịch liệt Ních-xơn, đòi phải ngừng bắn hoàn toàn, đòi rút quân Mỹ về nước trước năm 1970 và thủ tiêu nghị quyết "Vịnh Bắc Bộ". Phong trào "chống chiến tranh" của nhân dân Mỹ cũng lên cao chưa từng thấy. Phong trào này đã huy động một lúc hai, ba vạn người xuống đường diễu hành trên các đường phố của Thủ đô Oa-sinh-tơn, rồi tụ tập trước cửa Nhà Trắng, Bộ Quốc phòng, hô vang các khẩu hiệu "Hòa bình ngay bây giờ”, "Hòa bình ngay bây giờ", "Phải rút quân Mỹ về nước", v.v... Lúc này, tình hình nước Mỹ theo Kít-xinh-gơ mô tả là "rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta (Mỹ) vào". Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, nạn thất nghiệp tăng, nội bộ mâu thuẫn sâu sắc. Chính quyền Ních-xơn bị sức ép từ nhiều phía hết sức nặng nề. Trong bối cảnh đó, Ních- xơn muốn kết thúc cuộc chiến tranh trong danh dự, ngừng ném bom miền Bắc, rút quân Mỹ, nhưng vẫn giữ được Thiệu và miền Nam Việt Nam. Tại hội nghị Mít-quây Ních-xơn vừa thúc Thiệu ủng hộ các giải pháp mà Mỹ sẽ thỏa thuận với ta tại Hội nghị Pari, vừa hứa hẹn viện trợ hậu hĩnh cho Thiệu làm cho Nam Việt Nam đứng vững sau khi Hiệp định Pari được ký kết. Song, Thiệu không biết mình là Tổng thống do Mỹ dựng lên, nên khi về miền Nam, y đưa ra tuyên bố bốn không: không nhìn nhận kẻ thù, không trung lập hóa Nam Việt Nam; không có chính phủ liên hiệp, không nhường lãnh thổ cho kẻ thù. Ních-xơn và Kít-xinh-gơ tức giận trước thái độ ngang bướng của Tlúệu, nhưng vì tránh tiếng là bỏ rơi "một nước đồng minh", nên Mỹ kiên trì vừa thuyết phục Thiệu, vừa đe dọa miền Bắc Việt Nam với hy vọng ta sẽ rút lại các yêu cầu tại cuộc đàm phán.
 
  Ta biết rằng kết quả của Hội nghị Pari là phụ thuộc vào kết quả thành, bại trên chiến trường - trong đó chiến trường chính là miền Nam. Do đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược mùa xuân 1972 nhằm đánh bại chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại "Học thuyết Ních-xơn" ở Việt Nam, tạo ra chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện, chiến tranh, giành thắng lợi to lớn, hỗ trợ đắc lực cho cuộc đấu tranh của phái đoàn ta. Theo tinh thần đó, bắt đầu ngày 30 tháng 3 năm 1972, quân và dân ta ở miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược trên hướng Trị - Thiên, đánh chiếm Quảng Trị; ngày 1 tháng 4 năm 1972, quân ta mở cuộc tiến công ở miền Đông Nam Bộ và ngày 24 tháng 4 năm 1972 tiến công Đắc Tô - Tân Cảnh. Cuộc tiến công chiến lược đã giành được thắng lợi lớn, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn quân chủ lực ngụy, giải phóng Quảng Trị, Lộc Ninh, Đắc Tô - Tân Cảnh. Tướng A-bơ-ram, tư lệnh Mỹ tại Việt Nam điện về Oa-sinh-tơn rằng “rất có thể quân đội Việt Nam (ngụy) đã mất ý chí chiến đấu và có thể sẽ mất tất cả". Đòn quân sự đã tác động đến nước Mỹ, làm cho "phong trào chống chiến tranh" của nhân dân Mỹ như lửa gặp gió đã bùng lên mạnh mẽ, cùng với việc quốc hội Mỹ đòi cắt giảm ngân sách chi cho cuộc chiến tranh Việt Nam, khiến cho Ních-xơn và Kít-xinh-gơ phải tính đến một giải pháp nghiêm chỉnh tại cuộc Hội nghị Pari.

  Tháng 8 năm 1972, Kít-xinh-gơ và phái đoàn đàm phán của Mỹ sang Sài Gòn thuyết phục Thiệu thống nhất với Mỹ về một giải pháp Mỹ rút quân, ngừng bắn... sao cho các bên có thể chấp nhận được. Nhưng Thiệu phản đối kịch liệt, cuộc hội đàm diễn ra không êm thấm. Kít-xinh-gơ về Mỹ báo cáo với Ních-xơn, sau đó gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà 108 đường Giê-nê- ran Lơ-cléc cách Pari 15 dặm về phía tây nam trong hai ngày 26, 27 tháng 9 năm 1972. Cuộc đấu tranh tại cuộc họp bí mật cũng như công khai giữa ta và Mỹ diễn ra quyết liệt. Ngày 8 tháng 10 năm 1972 ta đưa ra bản dự thảo hiệp định. Phía Mỹ đã thỏa thuận nội dung văn bản hiệp định do ta đưa ra. Hai bên tiếp tục hoàn tất các điểm trong văn bản mà mỗi bên đều chấp nhận được và thống nhất ký tắt tại Hà Nội ngày 22 tháng 10 năm 1972, ký chính thức tại Pari ngày 31 tháng 10 năm 1972. Kít-xinh-gơ lại đến Sài Gòn cùng với đại sứ Bân-cơ thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu và đưa thư của Ních-xơn gửi Thiệu đề ngày 16 tháng 10 năm 1972. Thư có đoạn: “Trong diễn tiến của cuộc hội đàm mới đây của tiến sĩ Kít-xinh-gơ với các đại biểu của Bắc Việt Nam tại Pari thì vấn đề đã trở nên rõ ràng một cách khả quan rằng bộ máy lãnh đạo Hà Nội sẵn sàng chấp nhận cuộc đình chiến trước khi có giải pháp chính trị ở miền Nam Việt Nam... Kết quả sự thay đổi chiến lược này đã tạo ra một bối cảnh mà trong đó chúng tôi (Mỹ) và phái đoàn Hà Nội sẽ ký một hiệp ước chung với nội dung chấm dứt chiến tranh, sự rút quân của các lực lượng đồng minh còn tồn tại, sự trao đổi tù binh chiến tranh và sự tiếp tục tồn tại của chính phủ ngài". Và, Ních-xơn dọa Thiệu "Trong tình hình này tôi muốn khuyên ngài hãy tìm mọi cách không để phát sinh bầu không khí có thể dẫn đến những sự kiện tương tự với những gì mà chúng tôi ghê tởm năm 1963". Thiệu liên tưởng đến một cuộc đảo chính với chiếc xe bọc thép M113 và cái xác của Diệm - Nhu bị bắn chết. Thiệu lo sợ, ám sát trở thành cơn ác mộng đối với y, nhưng y vẫn ngoan cố, nói với Kít-xinh-gơ là: "Chúng tôi đã thông báo với các ngài rằng, chúng tôi không đồng ý thay đổi lập trường của chúng tôi trong vấn đề rút quân". Thiệu đòi quân miền Bắc phải rút và vĩ tuyến 17 phải được coi trọng và được xem là giới tuyến của hai nước Việt Nam; Thiệu không tán thành Hội đồng hòa giải dân tộc ba thành phần, v.v… Kít-xinh-gơ nói với Thiệu: "Chúng tôi (Mỹ) cố gắng nhưng không biết họ (miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) có chấp nhận hay không". Đại sứ Bân-cơ trở nên tức giận trước thái độ ngoan cố của Thiệu, ông hỏi: "Có phải ý kiến cuối cùng của ngài là không ký không, ngài Tổng thống?", Thiệu đáp: “Phải, đó là ý kiến cuối cùng của tôi". Kít-xinh-gơ liền nói với Thiệu: Tôi xin đọc bức thông điệp của Tổng thống Ních-xơn gửi cho ngài mà dự định sau cuộc nói chuyện sẽ trao. Thông điệp viết: "Nếu ngài cho rằng hiệp định không thể chấp nhận được ở điểm này và đối phương phải tiết lộ những giới hạn đặc biệt mà những yêu cầu của cuộc đàm phán đặt ra thì tôi nghĩ rằng quyết định của ngài sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến khả năng tiếp tục cung cấp viện trợ cho ngài và chính phủ miền Nam Việt Nam". Còn 13 ngày nữa là đến ngày Mỹ và ta thống nhất ký hiệp định (31-10), những nỗ lực của Mỹ thuyết phục Thiệu không kết quả, ngày 18 tháng 10 năm 1972, Ních-xơn gửi cho Thiệu một bức thư với thái độ kiên quyết hơn: "Một lần nữa tôi kêu gọi ngài hợp tác với chúng tôi trên con đường mà tôi nhất quyết đi theo. Tôi phải khẳng định lại về mối nguy hiểm to lớn là sẽ mất đi sự hậu thuẫn to lớn của công chúng Mỹ với tất cả những sự liều lĩnh để đôi bên chúng ta tiếp tục nỗ lực... ". Ních-xơn hứa sẽ chỉ thị cho tiến sĩ Kít-xinh-gơ đưa những đề nghị của Thiệu vào thảo luận với Bắc Việt Nam. Nhưng Ních- xơn cũng nói rõ cho Thiệu rằng: "Trong khi chúng tôi cố hết sức đảm bảo về những thay đổi trong hiệp định mà tướng Ha-gơ đã bàn cùng ngài và những chi tiết bổ sung mà đại sứ Bân-cơ sẽ trình ngài, chúng tôi không thể nói rằng sẽ đảm bảo được tất cả. Thật là phi thực tế khi cho rằng chúng tôi sẽ có thể đảm bảo tất cả các cam kết tuyệt đối mà ngài hy vọng có được về vấn đề quân sự" Ních-xơn biết chắc là những yêu sách của Thiệu sẽ bị phía Bắc Việt Nam bác bỏ, nhưng vì không muốn bị tai tiếng là bỏ rơi một "đồng minh", nên phía Mỹ đã nêu ra lý do "khó khăn từ phía Sài Gòn" để hoãn ngày ký hiệp định vào ngày 26 tháng 10 và đề nghị ta sửa đổi các điều khoản đã thỏa thuận.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #145 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2008, 05:34:11 PM »

  Sau khi đơn phương hoãn ngày ký hiệp định, sức ép của quốc hội và nhân dân Mỹ càng tăng đối với Ních-xơn và chính phủ ông ta, dẫn đến sự chia rẽ ngày càng sâu sắc giữa các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp nước Mỹ, nên ngày 23 tháng 11, Tổng thống Ních-xơn gửi tiếp cho Thiệu bức thư nói rõ thái độ của Mỹ là: "Tôi kinh ngạc bởi các chiến thuật trì hoãn mà phía chúng tôi đang gặp phải từ các ngài ở Pari. . . Như tôi đã nói cùng ngài trong các lá thư ngày 8, 14, 18 tháng 11, tôi sẽ tiến hành tức khắc một giải pháp cuối cùng nếu hiệp định có thể đạt được ở Pari tuần này. Bất cứ một sự trì hoãn nào từ phía các ngài chỉ có thể giải thích là một mưu toan ngăn chặn một hiệp định. Điều này sẽ gây một hậu quả tai hại cho nỗ lực tiếp tục hậu thuẫn cho ngài và chính phủ ngài". Ních-xơn kiên quyết thuyết phục Thiệu rằng hiệp định phải được kết luận không được trì hoãn thêm. Ngày 25 tháng 11 Kít-xinh-gơ gặp đồng chí Lê Đức Thọ, nhưng cuộc hội đàm được hoãn lại. Ngày 7 tháng 12 Kít-xinh-gơ gặp đồng chí Lê Đức Thọ hội đàm trong 4 giờ trình bày những yêu sách của phía Sài Gòn, yêu cầu ta sửa đổi lại văn bản hiệp định. Đồng chí Lê Đức Thọ đã bác bỏ. Kít-xinh-gơ linh cảm khả năng ký một hiệp định đang mất dần. Ngày 15 tháng 12 Kít-xinh-gơ về Mỹ, trước khi lên máy bay ông ta nói với viên đại sứ Sài Gòn tham gia cuộc đàm phán là "Tôi sắp làm một việc đầy bi kịch". Kít-xinh-gơ báo cáo với Ních-xơn là Hà Nội kiên quyết không từ bỏ cấc mục tiêu đã thỏa thuận hồi tháng 10.

  Ngày 14 tháng 12, Ních-xơn ra lệnh ném bom Hà Nội, Hải Phòng bằng máy bay B52 - chiến dịch Lai-nơ- bếch-cơ II, đồng thời cử tướng Ha-gơ đến Sài Gòn đưa thông điệp của Ních-xơn cho Thiệu. Thông điệp viết: “Sứ mạng của tướng Ha-gơ bây giờ là trình bày nỗ lực cuối cùng của tôi nhằm chỉ cho ngài thấy sự cần thiết về sự phối hợp hành động và cho thấy dự định tiến tới không lay chuyển của tôi, tốt hơn là với sự hợp tác của ngài, nhưng nếu cần, một mình tôi cũng làm. Tôi yêu cầu tướng Ha-gơ lấy cho được câu trả lời của ngài và đề nghị tuyệt đối sau cùng này để chúng ta tìm ra một cuộc dàn xếp theo các kế hoạch tôi đã chấp thuận, hoặc chúng ta ai sẽ đi đường nấy. Cho tôi nhấn mạnh để kết thúc rằng, tướng Ha-gơ không đến Sài Gòn để đàm phán với ngài. . . Tôi tin chắc sự từ chối hợp tác với chúng tôi của ngài sẽ đưa đến thảm họa... ". Đọc thư của Ních-xơn, Nguyễn Văn Thiệu thấy Mỹ vẫn giữ nguyên lập trường của bản thỏa ước với Hà Nội tháng 10 năm 1972, cho nên tướng Ha-gơ đến Sài Gòn không phải để đàm phán với Thiệu mà lấy cho được câu trả lời của Thiệu có ký vào hiệp định hay không. Thiệu cảm thấy mất hết quyền của một Tổng thống, mà phải làm theo lệnh của Mỹ bắt buộc.
 
  Cuộc ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng là cuộc biểu dương sức mạnh của Mỹ. Ních-xơn hy vọng - dù là hy vọng mỏng manh - là ta phải nhượng bộ. Điều đó nếu xảy ra thì Mỹ cũng đỡ mất mặt và làm cho Thiệu thỏa mãn một phần yêu sách của y được Mỹ thực hiện. Nhưng Ních-xơn không ngờ là bị thiệt hại nặng - 34 máy bay B52 đã bị bắn rơi, nhiều tên lái bị thiệt mạng và làm bùng lên làn sóng phê phán gay gắt về việc tái ném bom của nhân dân và quốc hội Mỹ, làm cho tình hình chính trị ở Oa-sinh-tơn căng thẳng và nặng nề hơn bao giờ hết. Thất bại của chiến dịch ném bom Lai-nơ- bếch-cơ II đã làm tiêu tan tham vọng giành thắng lợi về cả quân sự và ngoại giao của Ních-xơn. Mỹ buộc phải đình chỉ hoàn toàn việc ném bom và phong tỏa mìn miền Bắc Việt Nam. Ních-xơn gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu và cử tướng Ha-gơ đến Sài Gòn đưa thư và bản hiệp định. Ních-xơn nói với Kít-xinh-gơ là ông ta quyết định đưa Thiệu ra nước ngoài, vì "nếu cứ để thằng này (Thiệu) nó sẽ tiếp tục ngăn cản". Trong thư, Ních-xơn nói nếu cần thiết sẽ ký một mình và cảnh cáo Thiệu: "Dù sao tôi cũng không thể thay đổi quyết định tiến hành việc ký Hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Pa ri. Tôi sẽ làm như thế, nếu cần thiết đơn phương chúng tôi sẽ tiến hành. Trong trường hợp này tôi sẽ phải giải thích công khai rằng chính phủ các ông gây cản trở cho nền hòa bình. Kết quả không tránh khỏi là chúng tôi sẽ chấm dứt ngay viện trợ kinh tế và quân sự". Ở vào thế một tên tay sai có khả năng bị Mỹ vứt bỏ, Nguyễn Văn Thiệu vẫn tỏ ra ngoan cố viết thư yêu cầu Ních-xơn làm rõ vấn đề cam kết của Mỹ mới chịu ký hiệp định. Sau khi nhận thư của Thiệu, lập tức Ních-xơn cảnh cáo rằng: "Tôi hoàn toàn tin chắc rằng nếu các ông không ký hiệp định thì toàn bộ ngân sách chúng tôi viện trợ cho các ông sẽ bị cắt giảm. Vì lý do đó, chúng tôi yêu cầu các ông tiến hành việc ký kết hiệp định mà tướng Ha-gơ mang đến cho ông ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ông phải ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Nếu các ông không ký, mọi hậu quả thuộc về trách nhiệm của các ông". Kết thúc bức thư, Ních-xơn nói rõ là "Đây không phải là một hiệp định lý tưởng, nhưng đây là hiệp định duy nhất có thể được tiến hành trong tình hình hiện nay và tôi giải thích tại sao trong tình hình này đòi hỏi một giải pháp như vậy". Thiệu thấy đây là tối hậu thư của Tổng thống Hoa Kỳ đối với y, biết không thể trì hoãn được mãi, y buộc phải tuân theo.

  Cuối cùng, ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết trên cơ sở văn bản dự thảo hiệp định ta đưa ra hồi tháng 10 năm 1972.
 
  Kết quả này chứng tỏ Đảng ta đã đánh giá đúng bản chất, âm mưu của đế quốc Mỹ và khả năng giành thắng lợi của nhân dân Việt Nam, đã chủ động đưa ra bản dự thảo Hiệp định tháng mười phản ánh đúng tương quan lực lượng của đôi bên được phía Mỹ chấp nhận. Sau đó, dù Mỹ có dùng đòn chiến lược quân sự mạnh đánh Hà Nội, Hải Phòng để ép ta, nhưng do nắm chắc âm mưu của Mỹ, ta vẫn kiên định mục tiêu cách mạng, giữ vững những điều đã thỏa thuận trong văn bản trước. Cuối cùng phía Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Đó là minh chứng hùng hồn về trí tuệ sáng suốt và tài năng của Đảng, mà tập trung là Bộ Chính trị trong chỉ đạo chiến lược tiến hành chiến tranh và kết thúc từng bước chiến tranh vào lúc có lợi nhất cho nhân dân ta.
 
  Quân và dân ta phải giành thắng lợi từng bước, phải đánh cho Mỹ cút rồi đánh cho ngụy nhào. Mỹ buộc phải rút quân, nhưng cả Mỹ và ngụy đều lo sợ sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn sau khi không còn chỗ dựa là quân Mỹ. Vì vậy Ních-xơn tiến hành cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng để làm suy yếu Bắc Việt, trấn an chính quyền Sài Gòn, răn đe ta và chứng tỏ Mỹ rút quân trên thế mạnh.

  Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu lâu dài chống Mỹ cứu nước trên cả hai miền Nam - Bắc mà trực tiếp cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam là nhân tố quyết định Mỹ phải chấp nhận việc rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, mà phía Việt Nam vẫn giữ nguyên hiện trạng. Thất bại của cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri mà không có gì thay đổi quan trọng so với nội dung đã thỏa thuận trước đó. Còn thắng lợi của ta đánh bại đòn tập kích chiến lược này đã củng cố quyết tâm của quân và dân ta đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #146 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2008, 05:50:06 PM »

TRẬN ĐÁNH MÁY BAY B52
ĐÊM 20 THÁNG 11 NĂM 1971

Thượng tá Vũ Đình Rạng


  Đầu năm 1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho bộ đội không quân chuẩn bị lực lượng để đánh máy bay B52. Đây là một nhiệm vụ mới mẻ và khó khăn. Ở trung đoàn không quân Sao Đỏ, lực lượng phi công chiến đấu ban ngày tương đối dồi dào, đã trải qua chiến đấu, được thử thách, có nhiều kinh nghiệm, nhiều trận chiến đấu thắng lợi, nhiều phi công đã lập công xuất sắc. Lực lượng phi công đánh máy bay B52 rất mỏng, cần phải gấp rút huấn luyện và xây dựng phương án đánh B52. Các đồng chí cán bộ chỉ huy, tham mưu ngay từ đầu năm 1967 đã phải vượt qua bao khó khăn để cho không quân hoạt động tham gia chiến đấu trên chiến trường Quân khu 4. Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân triển khai hàng loạt sở chỉ huy tiền phương, các trạm ra-đa theo dõi địch, các trạm quan sát bổ trợ cho việc nghiên cứu nắm địch. Nhiều sân bay dã chiến được bộ đội công binh sửa sang lại. Song vẫn còn hàng loạt khó khăn mà ta chưa lường trước được bởi chiến trường Quân khu 4 chiều ngang rất hẹp, phía tây là dãy Trường Sơn, phía đông giáp với biển, nơi hạm đội 7 ngày đêm hoạt động. Hàng ngày địch dùng máy bay tiêm kích đánh phá vào các mục tiêu của ta như dùng tên lửa Sơ-rai khống chế các trạm ra-đa, dùng các loại pháo trên các hạm tàu bắn vào các sân bay mà chúng cho là có máy bay ta trực chiến. Vì vậy muốn bảo đảm bí mật, an toàn, bộ đội công binh phải có phương pháp ngụy trang nghi binh, sửa đến đâu ngụy trang đến đấy, nhằm hạn chế tổn thất.

  Để đánh được máy bay B52 địch, đầu năm 1968, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ chỉ huy, tham mưu không quân vào Vĩnh Linh, lên các đài quan sát để nghiên cứu quy luật hoạt động, thời gian, cách bố trí đội hình B52 và đội hình bảo vệ của máy bay tiêm kích địch, v. v. . .

  Bộ Tư lệnh còn cử một tổ gồm những phi công đánh đêm có nhiều kinh nghiệm như các đồng chí Đinh Tôn, Hoàng Biểu và Vũ Đình Rạng. . . đi ô tô theo đường 15 vào Vĩnh Linh - gần vĩ tuyến 17 nghiên cứu hoạt động của máy bay B52. Qua nhiều lần nghiên cứu và trực tiếp nhìn tận mắt các tốp máy bay B52 đánh phá các mục tiêu ở đèo Mụ Giạ, các chân hàng, những điểm chúng cho là lực lượng quân ta tập kết, các phi công ta đã nắm được quy luật về thời gian hoạt động, đội hình, độ cao bay, tốc độ bay của B52 và phương pháp yểm hộ của máy bay tiêm kích, v. v. . . Từ đó các cơ quan nghiên cứu đã cùng các phi công đề ra những phương án chiến đấu tối ưu để tiếp cận B52. Phi công tiến hành huấn luyện bay theo phương án chiến đấu gần sát với thực tế của chiến trường, đồng thời bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ tiếp cận địch. Từ năm 1967, không quân bắt đầu cơ động lực lượng vào Khu 4 để phục kích đánh máy bay B52 song đều chưa thành công.
 
  Đêm 20 tháng 11 năm 1971 là đêm thứ bảy - ngày cuối tuần, Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ theo phương án chiến đấu sử dụng hai máy bay Mig-21 sẵn sàng làm nhiệm vụ. Đồng chí Hoàng Biểu trực chiến ở sân bay Vinh, đồng chí Vũ Đình Rạng trực chiến ở sân bay Anh Sơn.

  Đợt đầu tiên phát hiện có B52 hoạt động, Sở chỉ huy tiền phương ra lệnh cho đồng chí Hoàng Biểu xuất kích. Máy bay cất cánh, được sự dẫn dắt của chỉ huy dẫn tiếp cận mục tiêu, song địch đã phát hiện nên cho tốp máy bay quay trở ra. Trận đánh không thành. Sở chỉ huy cho phi công Hoàng Biểu bay về sân bay Sao Vàng hạ cánh.
 
  Lúc 20 giờ 10 phút, các đài ra-đa và trạm quan sát phát hiện một tốp máy bay B52 bay từ hướng tây sang. Theo nhận định của chỉ huy có thể tốp máy bay B52 này vào đánh mục tiêu trên tuyến đường 20. Sở chỉ huy ra lệnh cho đồng chí Vũ Đình Rạng chuyển cấp và cất cánh. Sau khi cất cánh, phi công bay theo phương án, các trạm ra-đa dẫn đường liên tục theo dõi, bám sát mục tiêu và thông báo kịp thời về sở chỉ huy. Tốp máy bay B52 bay thẳng đến mục tiêu trên đường 20. Chúng chủ quan cho là không còn máy bay Mig hoạt động nữa, vì những năm trước, ta chỉ hoạt động một đợt, nếu không tiếp cận được địch thì không thể tổ chức hoạt động tiếp theo.
 
  Theo phương án đã hiệp đồng, phi công Vũ Đình Rạng cất cánh, bay ở độ cao thấp để tránh sự phát hiện của ra-đa đối phương. Sở chỉ huy tiền phương và các trạm quan sát theo dõi sát tốp máy bay B52. Mục tiêu vào gần, khi còn cách 70km, rồi 60km, Sở chỉ huy lệnh cho đồng chí Vũ Đình Rạng tăng tốc độ và kéo lên độ cao 10.000 mét. Cự ly rút ngắn dần, dẫn đường Sở chỉ huy liên tục thông báo 30km, 20km rồi 15km. Lúc này máy bay ta đã ở độ cao 8.000m, phi công Vũ Đình Rạng mở ra-đa trên máy bay phát hiện 3 chiếc, mục tiêu rất to, chiếc gần nhất đã ở 6km, chiếc xa nhất 10km. Đồng chí vừa chỉnh điểm ngắm, vừa chỉnh độ cao và tăng tốc độ lên 1.400km/h, ngắm chiếc máy bay B52 bay đầu. Cự ly còn 2km, các điều kiện xạ kích cho phép phóng tên lửa, phi công Vũ Đình Rạng ấn nút phóng, một quả tên lửa rời khỏi bệ, lao vụt vào mục tiêu. Đồng chí làm động tác thoát ly lên cao để quan sát, song thật bất ngờ lại phát hiện một chiếc B52 nữa qua hàng đèn trên lưng đang nhấp nháy. Tranh thủ thời cơ cho phép, phi công Vũ Đình Rạng đặt máy ngắm và tiếp tục bám sát mục tiêu, đến cự ly cho phép đồng chí phóng nốt quả tên lửa thứ hai, sau đó làm động tác thoát ly và quay về căn cứ sân bay hạ cánh theo lệnh của Sở chỉ huy.
 
  Địch vô cùng bất ngờ khi bị máy bay MIG tấn công. Sau trận đánh đêm 20 tháng 11 năm 1971, không quân Mỹ đã phải dừng hoạt động trong một thời gian dài để rút kinh nghiệm và tìm cách đối phó với không quân ta.

  Trận đánh đêm 20 tháng 11 năm 1971 đã tạo điều kiện để Đoàn vận tải 559 vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực và lực lượng chi viện cho mặt trận miền Nam mở các chiến dịch giành thắng lợi to lớn, trong đó có sự đóng góp của bộ đội Không quân Việt Nam anh hùng. Trận đánh này góp nhiều kinh nghiệm rất quan trọng cho không quân ta đánh B52 trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #147 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2008, 09:55:34 AM »

VẤN ĐỀ ĐẠN TÊN LỬA
TRONG 12 NGÀY ĐÊM ĐÁNH B52

Trần Long - Tạp chí lịch sử quân sự


  Khi trận "Điện Biên Phủ trên không" kết thúc, có người đã thở phào mà thốt lên: Thật là may! Nếu như các đêm 22, 23 và 24 tháng 12 Mỹ vẫn duy trì cường độ đánh phá bằng B52 như mấy đêm trước đó (18 - 20) thì ta biết lấy đạn tên lửa đâu ra mà chống chọi? Cách hiểu như vậy phải chăng trong kết cục của trận "Điện Biên Phủ trên không", phần thắng thuộc về ta ở một chừng mực nào đấy có yếu tố may mắn?
 
  Như chúng ta đều biết, chuyện thiếu đạn tên lửa trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 đối với ta là có thực và việc giảm cường độ đánh phá và tần suất oanh kích của B52 vào Hà Nội trong các ngày 22, 23 tháng 12 của địch là một tất yếu, mặc dù nó nằm ngoài ý định ban đầu của Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) cũng như Lầu Năm Góc. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là việc B52 "lảng xa" Hà Nội đã giúp ta giải quyết vấn đề thiếu đạn tên lửa.

  Để chuẩn bị cho trận "Điện Biên Phủ trên không" chúng ta đã có một quá trình chuẩn bị tương đối toàn diện, một thế trận tương đối vững chắc đã sẵn sàng. Song phải qua đêm 18 tháng 12, thì khái niệm về một cuộc tập kích lớn bằng B52 vào Hà Nội mới được thực tế làm sáng tỏ. Có những vấn đề phát sinh vượt quá dự tính của ta mà vấn đề thiếu đạn tên lửa là một thí dụ.
 
  Thực ra thì vấn đề đạn tên lửa là một trong những vấn đề được quan tâm nhất của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Trước khi bước vào chiến dịch, nhiều cán bộ, công nhân có tay nghề cao của xưởng A31 được tăng cường xuống 2 tiểu đoàn chuyên lắp ráp đạn tên lửa. Đội ngũ này đã không quản ngày đêm mày mò cùng đơn vị tìm biện pháp khôi phục, sửa chữa và lắp ráp đạn cùng một số thiết bị khí tài khác. Các tiểu đoàn kỹ thuật đều được huấn luyện về cách lắp ráp đạn ban đêm, lắp ráp ở trận địa dã chiến, lắp ráp trong điều kiện bị oanh kích. . . Một số khí tài hỏng đều được cán bộ kỹ thuật của ta và chuyên gia Liên Xô kịp thời sửa chữa. Tại xưởng A31, một số lượng tương đối lớn đạn quá thời hạn sử dụng, đạn hỏng được dồn dịch và khôi phục trở lại làm tăng thêm lượng dự trữ cho các đơn vị. Cho đến trước ngày 18 tháng 12, ở Hà Nội và Hải Phòng bình quân mỗi tiểu đoàn tên lửa đều có hơn 2 cơ số đạn với hệ số kỹ thuật bảo đảm 100% (trong khi hệ số kỹ thuật của pháo phòng không chỉ đạt 95% và của ra-đa là 96,5%). Mặc dù công tác dự phòng đã được triển khai khá chu đáo song mới chỉ qua một đêm, tín hiệu về "cơn sốt đạn tên lửa" đã được phát ra. "Giữ đạn đánh B52", "Dành đạn cho B52" không còn là khẩu hiệu nữa mà trở thành mệnh lệnh từ sau đêm 18 tháng 12. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chỉ "dành đạn tên lửa để đánh B52", các tiểu đoàn vẫn không thoát khỏi tình trạng khan hiếm đạn. Ngay từ sáng 19 tháng 12 những chiếc xe chuyên dụng TZM đã đổ xô lao đến các kho, bãi lắp ráp đạn. Chuyện tranh cãi, muốn giành đạn nhiều cho đơn vị mình ở các kho bãi; chuyện “cháy túi" bắn đến quả đạn cuối cùng tại các trận địa không còn là chuyện hãn hữu, cá biệt. Cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Hai ca sản xuất suốt ngày đêm, có được quả đạn nào lập tức được đưa ngay xuống các trận địa. "Cơn sốt đạn" không những không thuyên giảm mà tiếp tục tăng cao vào các đêm 19 và 20. Đã có lúc có người nghĩ đến những đêm tiếp theo mà lòng đầy lo lắng.
 
  Tình trạng thiếu đạn tên lửa xảy ra và lan nhanh bởi nhiều lý do. Trước hết chúng ta chưa dự đoán đầy đủ quy mô lớn của trận tập kích chiến lược với số lượng B52 tham chiến như vậy. Theo lời mô tả của viên đại úy phi công Mỹ Rô-bớt Vôn-phơ đăng trên tạp chí Air Forces - 1977 thì đêm 18 tháng 12 "đàn voi con" bao gồm 67 chiếc B52 nối đuôi nhau dài tới 70 dặm ầm ầm kéo vào Hà Nội. Cường độ đánh phá cũng đạt tới mức kỷ lục: đêm 18 có 90 lần chiếc tập kích liên tiếp 3 đợt vào hầu hết các mục tiêu quan trọng ở Hà Nội. Ngày 19 có 87 lần chiếc và ngày 20 tới 93 lần chiếc được huy động. Máy bay địch bay vào ngày càng đông, nhưng do thiếu kinh nghiệm trong trận đầu dẫn đến bắn trượt, bắn hỏng cộng với việc sử dụng đạn tên lửa có phần phung phí ở một vài đơn vị đã góp phần dẫn đến việc khan hiếm đạn. Điều này biểu hiện rõ nhất trong đêm 18 và 19 là những đêm mà ta sử dụng số lượng đạn tên lửa lớn trong khi chỉ bắn rơi 3 chiếc B52 (đêm 18) và 2 chiếc B52 (đêm 19).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #148 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2008, 01:00:50 PM »

  Đúng vào lúc tình trạng khan hiếm đạn tên lửa đang trở nên nghiêm trọng thì cường độ đánh phá của B52 đột nhiên giảm hẳn. Đêm 21 chỉ có 1 đợt 24 chiếc đánh vào Bạch Mai, An Dương, Giáp Bát, Văn Điển. Các đêm 22, 23 và 24, máy bay B52 dường như lảng xa Hà Nội. Phải chăng "hiện tượng" trên đã giúp ta khắc phục được tình trạng khan hiếm đạn tên lửa như một số người lầm tưởng. Khách quan mà xem xét thì việc kẻ địch giảm dần tần suất và cường độ oanh kích bằng B52 và ngừng ném bom vào ngày Nô-en phần nào cho ta có thêm điều kiện thuận lợi để củng cố trận địa và lực lượng, trong đó có vấn đề tạo thêm nguồn đạn cho tên lửa. Nhưng nguyên nhân chính của việc chặn đứng được tình trạng khan hiếm đạn tên lửa là do ta đã kịp thời tìm ra những "phương thuốc" hữu hiệu và triển khai nó một cách tích cực. Bên cạnh việc động viên phát huy tối đa công suất của các dây chuyền lắp ráp đạn tên lửa và thực hiện nghiêm túc chỉ lệnh "Chỉ dành đạn tên lửa cho B52", sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả, cơ quan chỉ huy chiến lược còn kịp thời điều chỉnh, sắp xếp bố trí lại lực lượng. Số đạn tên lửa dự trữ được khẩn trương chuyển từ Thanh Hóa ra chi viện cho Hà Nội. Hai tiểu đoàn tên lửa (71 và 72) được điều từ Hải Phòng lên án ngữ phía đông bắc. Ba tiểu đoàn (87, 88, 89) thuộc trung đoàn 274 được điều từ Quảng Trị ra bố trí ở hướng đông nam và tây nam Hà Nội. Đến ngày 26 tháng 12, Hà Nội đã có 84 bệ phóng với đầy đủ cơ số đạn theo quy định. "Cơn sốt" đã bị đẩy lùi, bộ đội tên lửa đã có "của ăn" và một ít "của để" không còn phải lo "cháy túi"; bình tĩnh, tự tin bước vào đánh đòn quyết định đêm 26 tháng 12 năm 1972.

  Như chúng ta đều biết, theo ý định ban đầu của Bộ chỉ huy liên quân Mỹ thì chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II được thực hiện trong 3 ngày với phương châm "đánh thật mạnh, thật nhanh, gặt hái thắng lợi trước Nô-en 1972". Nhưng sau khi phân tích và nhận thấy rằng "Hà Nội, Hải Phòng là một trong số các khu vực có lưới lửa phòng không khủng khiếp nhất trên thế giới" thì một kế hoạch dài ngày hơn đã được vạch ra và thông qua. Theo kế hoạch này thì hoàn toàn không có vấn đề hạ cường độ và tần suất oanh kích trong các ngày từ 22 - 24. Vậy điều gì đã xảy ra đối với SAC kể từ sau đêm 20? Và vì sao từ đêm 22 tháng 12, B52 lại cố tình "lảng xa" Hà Nội? Thực tế đã cho một câu đáp án và đến mức không thể chịu nổi. Những phi công còn sống sót thừa nhận: "Ngày 20 tháng 12 chứng kiến nỗ lực phòng thủ mãnh liệt nhất của Bắc Việt Nam chống lại các máy bay B52 và đó là một ngày tổn thất cao nhất của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II. Sự thật đúng như vậy? Đêm 20 rạng sáng 21, địch tung vào Hà Nội nhiều B52 nhất (93 lần chiếc) cũng chính là đêm B52 bị bắn rơi tại chỗ nhiều nhất: 4 chiếc. Đêm 21 có một đợt 24 chiếc vào đánh phá thì 3 chiếc bị bắn rơi tại chỗ. Hãng thông tấn AP bình luận: “Nếu B52 cứ bị bắn rơi theo nhịp độ như thế này thì chẳng bao lâu nữa các loại máy bay này sẽ bị diệt chủng”. Mức thiệt hại trong ba ngày đầu của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II đã vượt quá mức tưởng tượng của SAC cũng như Lầu Năm Góc. Nó không chỉ là vấn đề số máy bay B52 bị bắn rơi mà còn là vấn đề tinh thần hoang mang dao động của giặc lái. Từ sau đêm 20, tại các căn cứ B52, tinh thần phi công khủng hoảng đến mức suy sụp. Hiên tượng phản chiến đã xuất hiện bằng các hình thức cáo ốm, từ chối không nhận nhiệm vụ hoặc cao hơn nữa là viết đơn phản kháng như hành động của Mai-cơn Hếch - một phi công từng có 262 lượt bay chiến đấu ở Đông Dương. Rồi thì những cuộc đấu tranh đòi thay đổi chiến thuật, những bức thư phản chiến bay về nước, thậm chí được gửi cho một số nghị sĩ quốc hội. Các câu lạc bộ sĩ quan ở Gu-am và U-ta-pao trở thành những nơi thổ lộ và trút tâm trạng thất vọng, sợ hãi của giặc lái B52.

  Trước một thực trạng như vậy, việc giảm cường độ và tần suất oanh kích từ sau ngày 21 và việc B52 lảng ra xa Hà Nội từ sau ngày 22 là điều tất yếu. Thứ nhất, SAC không còn đủ sức để tiếp tục cuộc đấu trí, đấu lực ở cường độ cao như 3 ngày đầu của chiến dịch; hơn nữa số lượng B52 bị bắn rơi quá lớn đã không cho phép SAC tiếp tục đi nước cờ phiêu lưu, mạo hiểm. Họ sợ rằng "nếu B52 cứ rơi với tốc độ như thế này thì sau 2 tuần lễ sẽ không còn máy bay B52 ở Đông Nam Á để chiến đấu nữa". Thứ hai, SAC rất cần có thời gian để trấn an bọn giặc lái và điều quan trọng hơn là để tổ chức rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho một trận đánh mới dữ dội hơn, ác liệt hơn, hòng "đánh nốc ao đối phương", buộc ta phải trở lại bàn hội nghị trên thế yếu và sửa đổi lại văn bản hiệp định đã thỏa thuận có lợi cho Mỹ và Sài Gòn. Thực tế cho thấy sau lễ Nô-en, chiến thuật oanh kích của B52 đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên SAC cũng không tài nào xoay chuyển được tình thế. Theo tạp chí Air Forces (số 7-1977) thì "tới ngày 25 tháng 12 khi số B52 bị rơi cao tới mức không thể chấp nhận được, lúc đó Mỹ mới nghiên cứu tới việc phối hợp đánh vào đối thủ chính đã diệt B52, đó là tên lửa SAM".

  Tóm lại, tình trạng khan hiếm đạn tên lửa trong 3 ngày đầu tiên của chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972 là có thực. Nó đã đạt tới đỉnh điểm vào đêm 20 rạng ngày 21. Việc ta chặn đứng được tình trạng trên không phải hoàn toàn nhờ vào việc giảm cường độ và tần suất oanh kích của B52 trong 3 ngày tiếp theo đó mang lại. Thực ra thì không hẳn như vậy, các chiến lược gia Hoa Kỳ không phải không nhận ra điều đó khi điều chỉnh kế hoạch. Họ muốn "làm tới" nhưng "lực bất tòng tâm". Họ hiểu cái giá phải trả như thế nào nếu như cứ duy trì cường độ oanh kích như các ngày 18, 19 và 20 tháng 12. B52 bị bắn rơi quá nhiều; tinh thần giặc lái (linh hồn của các đợt oanh kích) bị suy sụp, hoang mang thì thử hỏi làm sao Lai-nơ-bếch-cơ II lại có thể diễn ra suôn sẻ như ý muốn của các tác giả của nó.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #149 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2008, 05:52:32 PM »

THẾ GIỚI LÊN ÁN CUỘC NÉM BOM BẰNG MÁY BAY
B52 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀO HÀ NỘI, HẢI PHÒNG

Thượng tá Hán Văn Tâm
Viện lịch sử quân sự Việt Nam

  Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã từng ghi vào lịch sử nhiều chiến công hiển hách, trong đó chiến dịch đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ tháng 12 năm 1972 được coi là một trong những đỉnh cao thắng lợi. Sau 4 năm thực hiện "Học thuyết Ních-xơn" mà bước thực nghiệm đầu tiên là "Việt Nam hóa chiến tranh", đế quốc Mỹ không những không giành được một thắng lợi nào có ý nghĩa chiến lược mà ngày càng lún sâu vào thế suy yếu và bị động. Đặc biệt, trong 2 năm 1971-1972 quân và dân ta liên tiếp giành những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương, buộc Mỹ phải thỏa thuận văn bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do ta đưa ra đầu tháng 10-1972. Trong các thông điệp gửi Chính phủ ta, Ních-xơn phải thừa nhận thiện chí của ta và cho rằng đó là phương án mà các bên có thể chấp nhận được. Ních-xơn khẳng định: "Hiệp định hiện nay đã coi như hoàn chỉnh. Có thể tin ở chúng tôi là sẽ ký tắt được vào ngày 31 tháng 10".

  Như để chứng minh cho cam kết của mình, ngày 22 tháng 10 năm 1972 Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Hơn thế nữa, ngày 26 tháng 10 năm 1972, trong một cuộc họp báo, đại diện của Nhà Trắng tuyên bố "hòa bình trong tầm tay".

  Tuy nhiên, Đảng ta vạch rõ: Với bản chất hiếu chiến, ngoan cố, đế quốc Mỹ còn nhiều thủ đoạn xảo quyệt tàn bạo chống lại nhân dân Việt Nam. Tháng 11 năm 1972 Bộ Chính trị Đảng ta ra nghị quyết khẳng định, trong thời gian tới địch sẽ ít bị ràng buộc hơn về chính trị vì cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ đã tiến hành xong, cho nên ta phải đề phòng Mỹ tăng cường hành động quân sự.

  Quả nhiên, trong lúc cả loài người tiến bộ vốn có thiện cảm với nhân dân Việt Nam, từng dành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình để mong ngày hòa bình sớm trở lại với nhân dân Việt Nam, đang chờ đợi hiệp định được ký kết, thì ngày 18 tháng 12 năm 1972, lực lượng không quân chiến lược và chiến thuật lớn chưa từng thấy của Mỹ lại ồ ạt tiến công vào Hà Nội, Hải Phòng và các vùng đông dân trên miền Bắc Việt Nam theo lệnh của Ních-xơn.

  Trong 12 ngày đêm, B52 đã xuất kích 663 lần chiếc, không quân chiến thuật 3. 920 lần chiếc, trút xuống miền Bắc nước ta khoảng 10 vạn tấn bom đạn, riêng Hà Nội chúng đã "rải thảm" khoảng 4 vạn tấn.

  Hành động tội ác đó của đế quốc Mỹ lập tức bị toàn thế giới kịch liệt lên án. Các tổ chức quốc tế và những người có lương tri đã lên tiếng vạch trần bản chất tráo trở, lật lọng của Mỹ, tố cáo tội ác của chúng, đồng thời bày tỏ quyết tâm ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta và tin tưởng vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.
 
  Sự lật lọng của đế quốc Mỹ đã khiến Tổng thống Pháp G. Pông-pi-đu phải nói: "Không có ai trong các nhà lãnh đạo các nước đau buồn hơn tôi về việc Mỹ ném bom trở lại và nhất là ném bom dữ dội như thế ở miền Bắc Việt Nam. . . Vì lý do nhân đạo, vì chúng tôi đã hy vọng sâu sắc là các cuộc thương lượng thành công và thậm chí chúng tôi tưởng rằng sự thỏa thuận đã dứt khoát cho nên sự thất vọng của chúng tôi là cay đắng". Tổ chức quốc tế các nhà báo coi "việc tăng cường ném bom dã man mới của không quân Mỹ trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" là sự "tự bóc trần thủ đoạn lật lọng xấu xa hòng đánh lừa dư luận thế giới". Hành động lật lọng của Ních-xơn khiến ngay chính giới Mỹ cũng phải bất bình, 17 nghị sĩ Mỹ đồng thanh phản ứng: "Người ta không thể nói với nhân dân Mỹ và các đại diện của họ tại Quốc hội 2 tuần trước ngày bầu cử Tổng thống rằng "hòa bình ở trong tầm tay" rồi sau đó lại nói rằng "một hành động quân sự ồ ạt là cần thiết".
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM