Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Mười Hai, 2019, 03:33:48 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam.  (Đọc 146972 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2008, 06:20:50 PM »

  Ngoài ra Cal Swanson đang phải đối mặt với một vấn đề đặc biệt trong việc bố trí nhân lực. Nếu như tàu Oriskany đang chịu cảnh thiếu nhân lực có trình độ thì phi đội 162 lại gặp vấn đề ngược lại. "Rõ ràng chúng ta có hàng trăm trung uý đang phục vụ quân đội nhưng chẳng ai có một tí kinh nghiệm chiến đấu nào”. Black Mac nói: "Hải quân cứ tống họ vào phi đội này thôi. Thông thường một phi đội có một tổ phụ trách gồm 3 trung uý phụ trách hành chính, hoạt động và bảo dưỡng và hai sĩ quan phụ trách việc chỉ huy và quản lý. Số còn lại sẽ gồm có những trung uý và thiếu uý hải quân trẻ. Nhưng trong phi đội của chúng ta có 6 chỉ huy trung uý, những gã đàn ông cao cấp đã ở đây quá lâu và quá bảo thủ nên chẳng bao giờ chịu nghe lời của Swanson".

  Viên trung uý chỉ huy thẳng tính nhất là Pat Crahan đến từ Ohio chỉ cao 5 feet 6 inches, thấp nhất trong phi đội. Crahan, 32 tuổi, có khuôn mặt điển trai bộc lộ qua những nét lạnh lùng. Anh đã tham gia không quân hải quân nhưng sau đó quyết định xin ra khỏi quân đội và xin vào công ty đăng ký tài khoản quốc gia khi bố anh đã từng làm chủ tịch. Pat nói: "Tôi không thích những người cứ nói vòng vòng không thẳng thắn. Khi tôi gặp khách hàng và giới thiệu tôi là nhân viên của Công ty đăng ký tài khoản quốc gia thì người ta bỏ đi một cách bất lịch sự mà không thèm nói với tôi một lời. Tôi không chịu đựng được điều đó. Tôi gặp khó khăn với những người như vậy và những cuộc tiếp xúc đó đã không cải thiện được quá trình công tác của tôi".

  Pat đến thăm Jim Stockdale để hỏi xem liệu Jim Stockdale, người từng là sĩ quan quản lý của anh ở đơn vị cũ có thể giúp đỡ anh trở lại làm phi công chiến đấu trong lực lượng hải quân không. Stockdale ra tay giúp đỡ nhưng Pat chỉ được nhận lại với vai trò sĩ quan hướng dẫn bay. Khi anh làm sĩ quan phụ trách máy phóng máy bay ở tàu Constellation thì Ev Alvarez, phi công của tàu Connic, là phi công đầu tiên bị bắn rơi và bị bắt làm tù binh trong sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Hải quân đã kỷ luật anh nhưng anh cảm thấy điều này không hợp lý. Pat biết rằng hãng hàng không Hoa Kỳ đang cần thuê những sĩ quan hướng dẫn bay. Anh có 5 đứa con và lương mà hải quân trả cho anh cao hơn lương của hãng hàng không Hoa Kỳ. Nhưng anh vẫn không quên được việc bị kỷ luật không hợp lý đó và không lâu sau anh không được đề bạt lên chức trung uý chỉ huy. Anh không tìm ra lý do rõ ràng nào trong khi anh bị loại ra khỏi danh sách đề bạt thăng chức và việc chỉ huy không lưu của tàu Connic nhúng tay vào việc thăng chức của anh. Crahan rất tức giận. Anh đã gửi lên ban chỉ huy một lá đơn thông báo ý định xin ra khỏi ngành hải quân, sau đó anh sẽ bay đến Seattle và viết đơn xin việc vào hãng hàng không Hoa Kỳ.

  Lúc đó là gần cuối năm 1965, cuộc chiến bắt đầu vận hành guồng máy của nó nên hải quân quyết định không giải quyết một yêu cầu ra quân nào cả. Một sĩ quan chuyên nghiệp có thể xin ra khỏi quân đội nhưng sẽ phải phục vụ thêm 12 tháng trước khi nhận được quyết định ra quân và thời gian đó được tính từ khi anh phục vụ trong một phi đội hoặc một con tàu nào đó. Pat Crahan đã mang nỗi trăn trở của mình bày tỏ với nghị sĩ Everett M. Dirksen và yêu cầu ông can thiệp. Sau đó văn phòng của nghị sĩ Everett nhận được thông báo của Lầu Năm Góc cho biết Pat đã được phi đội 162 chấp nhận. Sau một năm phục vụ ở đây, anh sẽ được phép ra khỏi quân đội.

  Pat kết thúc khoá huấn luyện máy bay F-8 trước Hert Hunter và nhận được lệnh đến Nhật Bản. Lần này anh được thăng chức trung úy sĩ quan chỉ huy. Pat kể lại: "Khi tôi đến Nhật Bản, một viên hạ sĩ quan phụ trách việc vận chuyển hỏi khi nào tôi muốn đến Philippin và từ đó sẽ đến Yankee Station. Tôi trả lời: "Khoảng 2 tuần tính từ thứ tư tuần tới". Anh ta nói:"Tôi rất tiếc, tôi chỉ cho anh thời gian một tuần thôi". Ở Nhật Bản, Pat gặp Herb Hunter và thế là cả hai người cùng bay đến Philipin. Herb tỏ ra sốt sắng về việc đến tàu Oriskany và anh cố gắng thuyết phục Pat bay cùng với anh chung một chuyến bay nhưng anh không định vị được vị trí của chiếc tàu đó ở đâu. Đó là buổi sáng ngày 26/10/1966 khi tàu Oriskany bị hoả hoạn. Crahan và Hunter phải đợi cho tàu đến Philippin. Số thành viên còn lại của phi đội phải mua vé máy bay để đến San Diego trong khi Pat và Herb phải trở lại tàu Orikany lúc này trông giống như một chiếc bánh bị cháy thui. Trong chuyến bay trở về tàu, Pat chú ý rằng tàu không bị máy bay của Liên Xô quấy rối như bình thường, có thể đó là hành vi lịch sự vì người Nga biết rằng lực lượng không quân của tàu Oriskany không có khả năng xuất kích và thực hiện một cuộc đối đầu với không quân của Nga vào lúc này.

  Pat không gặp được sĩ quan chỉ huy mới của anh đến tận sau khi cuộc họp thay đổi chỉ huy. Trong lúc đó, anh hoàn tất khoá học về an toàn hải quân ở Washington. Điều này có nghĩa là anh sẽ là sĩ quan phụ trách vấn đề an toàn mới của phi đội. Cuối cùng thì Swanson và Pat cùng gặp được nhau, nhưng cuộc nói chuyện này đã không diễn ra thuận lợi. Pat nói: 'Thưa ngài, tôi được chỉ định đến phi đội của ngài nhưng tôi rất muốn ra khỏi nơi này. Nếu ngài có cách nào giúp tôi ra khỏi nơi này nhanh hơn thì tôi rất lấy làm cảm ơn. Tôi sẽ làm những việc tôi phải làm nhưng xin ngài hiểu cho rằng tôi chỉ phục vụ ở đây trong thời gian ngắn thôi. Trong bất kỳ trường hợp nào thì tôi vẫn phải đi trong vòng một năm nữa.

  Cal Swanson giật mình khi nghe Pat tuyên bố như vậy Pat có thể hiểu Cal Swanson rất giận và cảm thấy bị xúc phạm cho dù anh ta vẫn cố gắng giữ sự điềm tĩnh. Nhưng khi họ cùng huấn luyện ở Arizona thì Cal Swanson không còn giữ được sự bình tĩnh nữa, anh bộc lộ hết những gì anh nghĩ. Pat kể tiếp: "Chuyện xảy ra ở một quán bar ở Yuma. Cả hai chúng tôi đã uống quá nhiều và khi đến độ thì chúng tôi sẽ nói ra những gì chúng tôi vẫn nghĩ. Tôi đang kể cho ai đó về việc tôi sẽ ra khỏi hải quân thì Swanson tức giận thực sự. Điều này làm cho mọi người ở đó ngạc nhiên. Khi chúng tôi trở về Miramar, anh ta gọi tôi vào văn phòng của anh ấy và đọc cho tôi nghe điều khoản về tội bạo loạn. Tôi nhắc lại suy nghĩ của mình: "Nếu ngài có cách nào giúp tôi ra khỏi nơi này thì điều đó rất tốt cho cả hai chúng ta".

  Cal bị rơi hoàn cảnh khó xử. Anh nói: "Pat Crahan đang hiếu chiến. Tôi nghĩ hành động của anh ấy gây ảnh hưởng xấu đến kỉ luật của phi đội. Anh ta đã thể hiện thái độ chán ghét hải quân và việc hải quân đã làm cho anh ta thất vọng như thế nào. Tôi đã bảo anh ấy nên giữ điều đó trong lòng thôi". Swanson không thể chuyển Pat Crahan đi đâu được vì nghị sĩ Dirksen đã được thông báo rằng Pat sẽ phục vụ trong phi đội 162 trong vòng một năm và cả Swanson và Lầu Năm Góc không muốn liều lĩnh khơi dậy cái vấn đề này với sức mạnh quyền lực của vị chính khách này. Bên cạnh đó theo cách nhìn nhận của hải quân thì Pat là vấn đề của Cal. Đó là một thử thách của một người chỉ huy. Và Cal biết rằng đó là điều anh phải lao tâm khổ tứ.

  Điều làm cho vấn đề càng tệ hại hơn là Pat Crahan là một sĩ quan hải quân xuất sắc, có năng lực và ăn mặc rất bắt mắt. (Ngay Cal cũng phải công nhận: " Pat là một phi công giỏi và không có gì phải bàn cãi về điều này”) và trong anh có một nét duyên dáng quyến rũ khi anh không phàn nàn về cái này hay cái kia. Pat rất hoà đồng và sẵn sàng tham gia những trò chơi của những người đàn ông như là uống rượu lửa, một trò chơi vào đêm khuya ưa thích của Dick Wyman và Black Mac. Họ đổ đầy rượu mạnh vào một chiếc cốc và châm lửa đốt; một người sẽ uống cạn trong khi lửa vẫn đang cháy; một trò chơi vô nghĩa đôi khi gây bỏng môi người uống. Năng lực và tính hoà đồng của Crahan đã tạo ra một sức ép lớn đối với hải quân nói chung và Swanson nói riêng trong những lần anh cảm thấy không hài lòng hơn là lúc anh từng là, theo ngôn ngữ của hải quân - một gã vô dụng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2008, 05:13:03 PM »

  Swanson cố gắng phớt lờ Crahan. Anh có ý định chuyển đổi phi đội của mình thành phi đội ném bom. Một năm trước, phi đội này đã ném bom vào những mục tiêu như là Cổ Chai nhưng hầu hết những nhiệm vụ đó toàn do những phi công chiến đấu đơn thuần đảm nhiệm. Kế hoạch của Swanson không bắt từ ý tưởng muốn tăng cường sức tàn phá của quân đội Mỹ lên Bắc Việt mà bắt nguồn từ một sự xem xét thực tế là các thành viên trong phi đội thường xuyên lãng phí thời gian làm nhiệm vụ canh chừng Mig cho các máy bay ném bom khác. Nếu như đạn bắn vào những vật cứ thoắt ẩn thoắt hiện như Mig, vốn rất khôn ngoan, của Bắc Việt một cách không có mục đích thì tốt hơn là tập trung vào một thứ để phục vụ cuộc chiến tranh. Phi đội F-8 khác trên tàu Oriskany cũng muốn khôi phục chức năng ném bom đầu tiên của họ và Swanson đã phải đấu tranh quyết liệt xem phi đội nào sẽ đảm nhận nhiệm vụ này, người ta phải dùng việc tung đồng xu. Cal chọn mặt ngửa và thắng. Tuy nhiên, phi đội đã không tán thành ý kiến của anh ngay.

  Black Mac nói: "Lúc đầu tất cả mọi người đều phản ứng gay gắt về việc chuyển phi đội thành đơn vị ném bom chuyên trách như Swanson muốn. Có hàng triệu lý do để giải thích tại sao việc mang đủ bom cho tất cả những chiếc F-8 là không thể thực hiện được. Nhưng quyết định của Swanson lại hoàn toàn đúng đắn và sau đó tất cả mọi người đều nhất trí rằng kế hoạch của Swanson là rất hay và sáng tạo".

  Những phi công phản đối kế hoạch của Swanson có cơ hội tham gia những cuộc nói xấu sau lưng khi Swanson dẫn cả phi đội tham gia một cuộc huấn luyện ở Arizona để ném những quả bom chất đầy cát và nước xuống một trận địa giả. Cal nói: "Tôi muốn giống thực tế và càng gắn khung cảnh chiến tranh càng tốt. Vì vậy tôi tắt tất cả các thiết bị định vị và quan sát chặt chẽ bằng mắt thường. Bay ở độ cao thấp với tốc độ 400 hải lý qua một sa mạc mà chỉ định vị mục tiêu bằng mắt thì rất dễ nhầm đường. Và tôi đã nhầm thật sự”.

  Black Mac kể: "Swanson nhìn thấy một cánh đồng và nói: "Mục tiêu đây hả". Tôi trả lời "Tôi nghĩ là như vậy đó”. Anh ấy lượn vào rồi ném bom. Khi tôi lao vào theo thì nhìn thấy một dấu x lớn nằm vắt ngang cánh đồng, dấu x này mang màu vàng cam. Tôi tự nhủ "Chết tiệt, chẳng có ai đánh dấu mục tiêu như vậy cả. ". Tôi liền quay trở ra khỏi khu vực đó và ném vài quả bom xuống khu rừng bên cạnh. Đúng lúc đó tôi nghe thấy ai đó gọi, một viên phi công A-4 kêu lên: "Anh bạn chọn nhầm mục tiêu rồi". Swanson đã dẫn chúng tôi đến khu liên hợp Uỷ ban năng lượng hạt nhân nằm ngay giữa sa mạc. Nhân viên của uỷ ban năng lượng hạt nhân không hiểu tại sao Swanson lại ném bom xuống đây và họ điện đài lên cho Swanson "đi đến Arizona" và thế là chỉ huy bay cho Swanson một bài thuyết giáo ngay lập tức và Swanson không được dẫn đầu một nhóm không kích lớn nào nữa sau khi chúng tôi trở về Yankee Station. Tôi nghĩ điều này là sai lầm của anh ấy vì việc dẫn đầu và chỉ đạo những cuộc trận không kích lớn là cách bạn giành được thêm sao bạc trên vai đó".

  Swanson nói: "Tôi thấy thật sự rất xấu hổ”.

  Vấn đề đối với Pat Crahan đạt đến đỉnh điểm khi tàu Oriskany chuẩn bị chuyển đến Yankee Station. Lee Prost, một thành viên cũ của East Coast và là người bạn thân của Dick Wyman, đang tiến hành một cuộc tập luyện nhắm vào một bộ phận kéo của tàu. Đây là chuyến bay luyện tập về phương hướng mà các phi công thực hiện đợt luyện tập này rất dễ dàng mà không mất chút mồ hôi nào. Vậy mà vì một lý do nào đó Prost đã không thực hiện được nhiệm vụ này mà bay thẳng xuống biển chứ không bay ra khỏi khu vực mục tiêu. Và vì là một sĩ quan phụ trách những quy định an toàn, Pat Crahan buộc phải điều tra tai nạn này và viết báo cáo.

  Máy bay bị hỏng đến nỗi không thể phục hồi được. Không còn những cuộc trao đổi điện đàm được ghi lại. Điều duy nhất mà người ta có tính đến là Prost luôn bị ám ảnh bởi hiểm nguy hiện hữu của sự cố định mục tiêu. Các phi công đôi khi vẫn bị rơi vào tình trạng bị thôi miên về đường ném bom, thay vì thả bom xong và bốc thẳng lên thì họ lao thẳng vào mục tiêu. Đó là điều mà họ đã được cảnh báo trong các chuyến bay luyện tập. Pat Crahan chỉ có thể nhận xét được như vậy thôi. Anh biến bản báo cáo này thành vũ khí chỉ trích việc chỉ huy lãnh đạo của Swanson. Anh nói: "Nghĩ lại, có thể tôi cố gắng nhạo báng Swanson nhưng lúc đó tôi cũng muốn nói ra sự thật để nhằm vào Swanson". Quy trình thông thường để nộp các bản báo cáo về các tai nạn là phải chuyển qua sĩ quan chỉ huy trực tiếp, người này sau đó sẽ chuyển bản báo cáo đến một loạt sĩ quan chỉ huy cấp trên kèm theo lời nhận xét của mình. Pat quyết định lờ Swanson đi. Anh gửi thẳng bản báo cáo đến Washington. Được sự giúp đỡ của Burt Shepherd, sĩ quan chỉ huy bay. Swanson đã lấy được bản báo cáo đó tại phòng bưu chính của tàu trước khi nó được gửi đi.

  Cal nói "Bản báo cáo tai nạn đó gây cho tôi một cơn nổi giận lôi đình. Tôi gọi ngay anh ta vào văn phòng và dùng hết lời lẽ để mắng. Pat quy trách nhiệm tai nạn của Prost do sự thiếu sót trong phối hợp hoạt động và thiếu sự chỉ dẫn của chỉ huy. Tôi nói: Anh biết bản báo cáo đó là sai. Đã vậy, anh còn biến nó thành mũi dùi để chọc vào hải quân và tôi. Về phòng và viết lại báo cáo theo đúng những gì anh biết. Và nếu anh còn có thái độ như thế này nữa thì tôi dám chắc với anh một điều là anh sẽ chẳng bao giờ nhấc chân ra khỏi hải quân được đâu”. Tôi nói ra một số ý của tôi nghĩ sẽ làm cho bản báo cáo hợp lý hơn và anh ta viết theo những ý đó. Và tất nhiên Pat vẫn bất bình và nghĩ tôi đang dùng vị trí người chỉ huy để thay màu bản báo cáo".

  Pat cho biết: "Sau lần đó chúng tôi rất ít khi nói chuyện với nhau. Swanson phạt không cho tôi làm sĩ quan phụ trách an toàn nữa. Anh ấy bắt tôi trở thành phi công. Tôi không bao giờ bộc lộ sự đối đầu vì tôi không muốn. Tôi treo một ảnh của người mẫu của hãng hàng không Hoa Kỳ DC-8 qua chiếc ghế trong phòng chuẩn bị. Điều này làm cho Swanson nóng mắt nhưng anh ta không bảo tôi bỏ tấm ảnh đó xuống. Tôi nghĩ rằng anh biết được nếu anh yêu cầu tôi bỏ tấm ảnh đó xuống thì anh ấy rơi vào bẫy của tôi. Và mối quan hệ của chúng tôi là như vậy đó".
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2008, 05:16:44 PM »

  Cho dù Crahan suy nghĩ về Cal như thế nào đi nữa thì anh vẫn phải đồng ý với mọi người rằng Cal là người hiểu rõ công việc có liên quan đến máy bay nhất. Cal có thể bước lên bảng và thể hiện rõ những gì anh nghĩ với một nhà toán học xuất sắc một cách dễ như thường. Đó là những điều mà hầu hết các phi công khác đã từng học và ghi nhớ từ hồi học ở trường dạy phi công nhưng giờ thì đã quên gần hết. Bạn phải lắng nghe những gì anh ấy nói. Swanson là một trong những người đầu tiên phát hiện ra cách đánh bại SAM. Anh nói bay ở tầm cao thấp là một sai lầm. Bạn có thể làm sai lệch hệ thống hệ thống dẫn đường của tên lửa bằng cách bay vào giữa một quả đồi hoặc một địa hình nào đó. Nhưng khi ở đội cao thấp như vậy thì ngay cả một đứa trẻ con cũng ném đá vào được ca bin của bạn.

  Swanson ủng hộ phương thức đối đầu trực tiếp với tên lửa ở trên cao. Đó là một việc nguy hiểm và cần những người có dây thần kinh thép, nhưng cách thức thực hiện thì đáng tin cậy nếu như bạn thực hiện đúng. Đầu tiên bạn phải quyết định xem khu vực tên lửa đó có bám theo bạn không bằng cách cố gắng tạo ra vận động tương đối. Ví dụ như nếu bạn đang đi trên một sa mạc và nhìn thấy một ai đó ở đằng xa, bạn có thể quan sát người đó bằng ngón tay cái của mình để nói xem anh ta đang đi đâu. Nếu như anh ta đang tiến về phía bạn thì dường như anh ấy không di chuyển gì cả người anh chỉ to hơn thôi. Nếu anh ta không tiến về phía bạn thì anh ấy sẽ đi sang phải hoặc sang trái của ngón tay cái của bạn. Khi phi công nhìn thấy một quả tên lửa bay với vận tốc 1800 dặm một giờ thì anh ta phải chúc đầu máy bay xuống và giữ nguyên tư thế đó khi anh dùng ngón tay cái để kiểm tra hướng bay của quả tên lửa. Nếu như không có sự vận động tương đối và quả tên lửa không lệch sang trái hay sang phải thì có nghĩa là nó đang lao về phía máy bay của bạn đó. Đến gần phút cuối cùng, bạn phải thực hiện động tác lộn nhào. Khi đó bạn phải đột ngột nâng độ cao và lượn sang phải hoặc sang trái liên tục trong khi lao thẳng lên bầu trời. Nếu quan sát trong khung cảnh không gian ba chiều thì động tác nhào lộn này giống như vòng xoáy của đồ khui nút chai. Bạn sẽ bay cách thức giống như vòng xoáy của đồ khui nút chai, do nó liên tục thay đổi toạ độ của máy bay, cộng với vận tốc của tên lửa càng làm cho cách thức chống tên lửa kiểu này càng hiệu quả. Hệ thống dẫn đường của tên lửa không thể nào phản ứng đủ nhanh nhẹn so với động tác lộn nhào của máy bay vì bán kính của mỗi động tác lượn là khá lớn nên quả tên lửa sẽ bay qua và phát nổ một cách vô hại.

  Những phi công xuất sắc hơn trong phi đội nhanh chóng nhận ra được giá trị của chiến thuật này. Quá trình này diễn ra rất nhanh nhưng đó là điều mà DickWyman và Black Mac quan tâm và ngoài ra chiếc hộp đen đã được cải tiến tạo điều kiện cho phi công tiếp cận những biện pháp đối phó điện tử phức tạp hơn để chống tên lửa. Bên cạnh đó mỗi máy bay đều được trang bị hộp đựng những miếng kim loại nhôm nhỏ mà phi công có thể phóng ra để giả vờ đó là vỏ kim loại để đánh lừa hệ thống định vị bằng radar của tên lửa, một chiến thuật đã được phát triển ở chiến tranh thế giới lần thứ II.

  Dick Wyman nói: "Lần đầu tiên tham gia chiến dịch không kích, tôi đã gần mất mạng khi suýt đâm xuống đất để tránh tên lửa. Vì vậy trong cuộc không kích năm 1967 này tôi sẽ bay ở trên cao và quan sát tên lửa và thử xem tôi có thể xác định được vận động tương đối hay không. Vỏ kim loại mà chúng ta tự tạo có ý nghĩa trợ giúp về mặt tinh thần. Trong ca bin của bạn có một chiếc nút, khi bấm vào thì bạn sẽ tạo ra một dải những mảnh kim loại nhôm, tôi sẽ bấm nút hên tục. Đó là cách của tôi".

  Khi Oriskany đến Yankee Station, Cal Swanson cảm thấy tự tin rằng cả phi đội đã chuẩn bị kĩ lưỡng cho cuộc chiến. Lúc này, ở nước Mỹ người ta đang dần dần phản đối cuộc chiến này nhưng Swanson hi vọng sự tác động của người dân không thể đầu độc được kỷ luật của các phi công. Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, không được đề cập đến việc sống chết, phi đội nào cũng cần được củng cố liên tục về mặt tinh thần. Cal Swanson quyết định viết một lá thư rồi gửi cho tất cả những người vợ của các phi công và chỉ cho họ biết những lời khuyên để động viên tinh thần của những người chồng đang chuẩn bị bước vào một cuộc chiến mới .
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 10:21:07 AM »

  Hai ngày sau đó, Swanson ra lệnh cho phi đội tiến hành chiến dịch không kích đầu tiên vào miền Bắc Việt Nam trong năm 1967. Chiến dịch không kích diễn ra không gặp trở ngại nào. Do có điều khoản trong hiệp ước quân sự nên sĩ quan chỉ huy và sĩ quan phụ trách không bao giờ bay cùng với nhau, do đó Herb Hunter sẽ chỉ huy chiến dịch không kích lần thứ hai. Nhưng Herb không có chút kinh nghiệm chiến đấu nào và Swanson muốn Herb cần phải có một chút kinh nghiệm trước khi chỉ huy một phi đội tiến vào đất liền. Vì vậy ban chỉ huy đã quyết định Butch Verich sẽ chỉ huy chiến dịch không kích thứ hai. Butch là sĩ quan trung uý cao cấp – sĩ quan chỉ huy chiến dịch của phi đội. Dick Wyman có thể bay cạnh Hunter trong chiến dịch do Butch chỉ huy,để tạo điều kiện cho Herb học hỏi thêm kinh nghiệm thực tế. Thời gian ấn định cho cuộc không kích lần thứ 2 là ngày 16/7/1967. Swanson tin rằng sau chuyến bay này Herb sẽ sẵn sàng chỉ huy chiến dịch không kích vào Cổ Chai diễn ra vào 3 ngày sau đó.

  Một năm trước Butch bị bắn hạ. Người ta vẫn nghi ngờ về khả năng phản ứng của Butch trên đất liền nhưng đó không phải là năng lực của anh ta DemetrioVerich, 40 tuổi, đến từ Wisconsin, là thế hệ đầu tiên con lai của người Nam Phi và người Ý đến định cư tại Mỹ. Gen thuộc dòng Ha vơ của bố anh ta đã hoà quyện vào gen thuộc dòng Latinh của mẹ anh ta nên anh ta vừa điềm đạm vừa chậm chạp. Anh ta rất lịch thiệp. Có một câu chuyện cười trong phi đội, tất nhiên là có phóng đại, về cái cách mà anh ta kể cho Rick Adams về việc máybay của Rick bị cháy vào năm ngoái. "Này Rick, máy bay của cậu đang cháy phải không?". Sau khi có đám lửa trên thân máy bay thì máy bay của Rick đột nhiên tăng tốc, đó là trạng thái tăng tốc của máy bay và tạo cho đám lửa càng bốc to hơn từ khí thải thoát ra từ ống khói nhưng Rick không nhận ra là máy bay của mình đang cháy ngày càng to vì gió tạt. Rick trả lời "làm gì có” cho dù vẫn hơi nghi ngờ. Butch buồn rầu thốt lên: "Thì cậu đang cháy đấy”.
 
  Năm ngoái Butch là sĩ quan bảo dưỡng máy bay của phi đội và anh làm việc rất có hiệu quả. Máy bay phản lực rất hay bị hỏng hóc đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nhiệt đới và luôn giữ đảm bảo điều kiện máy bay sẵn sàng chiến đấu là một vấn đề. Verich nói Bellinger và Swanson rằng phi đội sẽ có cả 12 máy bay tham gia chiến dịch cùng một lúc. Hai người đó nói rằng điều đó không thể thực hiện được. Nhưng Butch đã thực hiện được. Black Mac nhận xét: "Butch là tuýp người nếu bạn cho anh ta chút thời gian để anh ta suy nghĩ về vấn đề đang cần giải quyết thì anh ta sẽ luôn tìm ra được đáp số đúng. Nhận xét về anh ấy chỉ tập trung vào điều này thôi”.

  Lối suy nghĩ độc lập là sự bổ sung tuyệt vời cho những đức tính mà sĩ quan phụ trách bảo dưỡng máy bay cần phải có. Nhưng đó lại trở thành điểm bất lợi khi cần có những quyết định tổng hợp của nhiều người trong khi bay qua những khu vực bố trí trận địa pháo cao xạ và tên lửa. Lối suy nghĩ độc lập đã đẩy Butch vào khó khăn đợt tháng 8/1966. Anh và một người đồng đội khác tiến hành một nhiệm vụ trinh sát các khu vực vũ trang. Họ không tìm thấy điều gì khả nghi và Butch quyết định ném bom xuống một cây cầu. Khi Butch bay trở ra thì anh nhìn thấy 5 chiếc thuyền nhỏ ở trên sông. Anh ta đã thả hết bom rồi nhưng vẫn còn vài quả rockét và thế là anh ta bay đến chờ máy chiếc thuyền đó. Có một quả rocket không khai hoả. Anh ta hạ thấp độ cao để ngắm lại mục tiêu và dồn toàn bộ sự chú ý vào mục tiêu. Sau này Butch kể lại, lúc đó anh hạ máy bay xuống quá thấp trong khi anh ta ngắm mục tiêu. Do đó anh bị súng trường bắn cháy. Anh phải lao ra biển và sau đó được trực thăng đến vớt lên.

  Báo chí tôn trọng những phi công bị bắn rơi giống như những người anh hùng, giống như cầu thủ bóng đá bị thương được cáng ra khỏi sân bóng. Nhưng các thành viên trong phi đội mà biết chuyện đã xảy ra như thế nào thì có xu hướng chia vụ Butch bị bắn cháy thành hai quan điểm, một quan điểm thiên về việc tai nạn đó có thể phòng ngừa được và một quan điểm đối lập với quan điểm trên. Và rất nhiều phi công của phi đội tin rằng vụ Butch bị bắn rơi thuộc quan điểm thứ nhất.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 08:00:21 PM »

  Sau khi Swanson chỉ huy phi đội, anh cho Butch lựa chọn giữa việc vẫn làm sĩ quan bảo dưỡng hoặc làm sĩ quan chỉ huy chiến dịch. Swanson gợi ý rằng anh rất vui nếu như Butch vẫn giữ vai trò bảo dưỡng máy bay cho phi đội nhưng quyết định của Butch dựa vào vị trí chức vụ của anh ta đó là anh sẽ có một sự nghiệp tốt hơn khi đảm nhận công việc chỉ huy các hoạt động của chiến dịch. Và khi đảm nhận vị trí mới Butch luôn chứng tỏ được mình là một sĩ quan chỉ huy cẩn thận và kín kẽ; và anh được mọi người trong phi đội yêu mến.

  Chiến dịch không kích vào ngày 16/7/1967 nhằm vào thị xã Phủ Lý. Herb Hunter sẽ tham gia vào chiến dịch không kích vào Cổ Chai diễn ra 3 ngày sau đó nhưng trong chiến dịch này Herb và Dick Wyman sẽ bay dưới sự chỉ huy của Butch. Người bay cùng với Butch bị lao xuống boong tàu do một sự cố khi họ cất cánh.
 
  Butch nói: "Ba chúng ta sẽ tăng tốc, dẫn đầu nhóm không kích và loại bỏ những ụ pháo cao xạ. Ý tưởng của tôi là tăng tốc, nâng độ cao và lao vào trận địa. Nào tăng tốc đi các chàng trai". Khi chúng tôi bay lên cao thì tôi nghe thấy sóng điện từ đối chọi nhau trong tai nghe khá rõ. Đột nhiên tôi nghe thấy sóng dao động đó rung động mạnh, sóng điện từ phát ra âm thanh có nghĩa là đã có tên lửa ở một phía nào đó đã được phóng đi. Tôi bèn lượn quay sang hai bên và nhìn xuống. Có hai tên lửa SAM đang lao đến. Tôi bắt đầu lộn nhào máy bay.Tôi chọn được vận động tương đối và nhận ra hai quả tên lửa sẽ phóng qua đuôi máy bay của tôi.

  “Tôi lộn lại để kết thúc việc tiếp cận mục tiêu. Tôi nhìn xuống thì thấy có một quả tên lửa khác đang lao về phía đầu cánh của tôi, lần này thì không có đủ thời gian để lựa chọn vận động tương đối. Tôi sẽ lộn nhào máy bay lao thẳng vào nó như lời dạy của Swanson. Nhưng khi tôi bắt đầu bay lên cao thì nhận ra tôi đã mất tốc độ. Máy bay của tôi chở hơi nhiều bom. Tôi không thể thực hiện động tác lộn nhào này hoàn hảo được Tôi nhìn lại quả tên lửa đó và nó đang lao thẳng về phía tôi. Tất cả diễn ra trong khoảng từ 5 đến 10 giây. Tôi không thực hiện nốt động tác nhào lộn nữa mà lượn hình vòng nửa chữ S. Khi mũi máy bay vừa chúi xuống thì quả tên lửa đó đã trúng mục tiêu.

  Chiếc máy bay loạng choạng bởi quả tên lửa đó nổ. Quả đạn đó màu trắng nóng hừng hực bay vù qua buồng lái. Tôi mất điều khiển máy bay và máy bay cứ lao thẳng xuống đất. Tôi chờ máy bay rơi xuống thấp hơn thì bung dù. Cánh dù bung ra trên đầu làm cho xuất hiện trong tôi một cảm giác rất lạ, khó miêu tả. Lại có một tiếng nổ khủng khiếp khác "bùm". Lại một quả tên lửa khác nổ cách chỗ tôi vừa bung dù không xa, để lại trên bầu trời một đám mây khói vàng da cam".

  "Tôi nghe thấy tiếng súng phòng không kêu rat-tat, tạt phía dưới. Tôi nhìn thấy hai chiếc F-8, đó là Wyman và Hunter. Hai người đang vật lộn với làn đạn phòng không đang bắn lên trời rất dữ dội và tôi biết họ chắc đã nhìn thấy tôi bị trúng đạn. Khi tôi đang hạ thấp dù xuống thì máy bay của tôi nổ. Một cơn gió lùa mạnh chiếc dù của tôi về phía xác chiếc máy bay đang cháy. Tôi nói: "Thật là điên rồ khi mình sẽ bị cháy rực bởi chiếc máy bay của mình. Tôi dùng hết sức kéo mạnh dây dù. Và may mắn của nỗ lực đó đã xuất hiện. Tôi đã tránh được xác chiếc máy bay đang cháy. Thế nhưng tôi bắt đầu rơi xuống một khu đất cao của một quả đồi ngay phía trên của một khu vực pháo phòng không.

  "Tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc súng từ những khẩu pháo và nhìn rõ những mảng bông trong thùngđạn giống như những tờ giấy pháo đang bị sức ép của pháo làm cho xoáy tung lên. Tôi cảm thấy một màn mưa đạn đang bao phủ lấy tôi. Tôi đáp xuống cách khu vực phòng không khoảng 200 feet. Dân quân và bộ đội Bắc Việt bắt đầu nhả đạn vào những cái cây xung quanh tôi bằng vũ khí hạng nhẹ và súng tự động. Tôi nghĩ họ đang dọa tôi và họ đã thành công. Tôi chạy như ma đuổi về phía đối diện, chạy đến khi mà tôi không còn sức để chạy nữa. Tôi bị bắn rơi lúc 5h52' chiều. Tôi biết trời sẽ tối rất nhanh."

  "Tôi gọi điện đàm để thông báo tôi vẫn ổn nhưng tín hiệu truyền tin không có dấu hiệu trả lời. Tôi để máy hoạt động thêm một chút nữa rồi tắt đi vì không muốn hết pin. Tôi nhìn thấy một chiếc hang nhỏ có phiến đá chắn ở phía trước. Tôi tìm thấy cành cây và dùng chúng để che chiếc hang đó sau khi tôi nấp sau phiến đá. Tôi nghe thấy dân quân và bộ đội Bắc Việt đi qua các bụi cây và gọi nhau truy tìm tôi. Tôi nhận ra đôi ủng bay của tôi có màu sáng. Tôi nghĩ chắc chắn họ bắt tôi làm tù binh và thế là tôi đánh lạc hướng họ bằng cách ném một hòn đá về một hướng khác”.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2008, 04:54:56 PM »

CHIẾN THUẬT MỚI CỦA MIG-17

  Từ 14/2/1967 các hoạt động ném bom tăng lên đáng kể và tiếp đó 10 tháng, Mỹ cố gắng lần lượt đánh phá cơ sở công nghiệp Bắc Việt. Không may, các lần đánh phá không theo hướng một cuộc đại tấn công mà vẫn theo lối leo thang dần dần.

  Cho đến lúc này, F-4 đã nhận được QRC-160 pod của riêng mình mà không phải nhờ đến loại của F-105. Mig Cap F-4 đã có thể hộ tống F-105 trên toàn bộ hành trình mà không cần phải lượn chờ ngoài khu vực SAM. Pod đã giúp làm giảm mạnh số thiệt hại do tên lửa SA-2. Từ tháng 9-12/1966, SA-2 bắn rơi 6 F-4 trong 226 lần cất cánh trong khu vực 6; Từ tháng 1-3/1967 SA-2 chỉ bắn rơi 1 F-4 trong tổng 306 lần xuất kích trong cùng một khu vực - F-105 khi bắt đầu mang QRC-160.

  Tháng 2/1967 thời tiết phần lớn rất tồi, không có thiệt hại không chiến cho cả hai bên. Mig- 21 không hoạt động và có một biên đội 4 chiếc F-4 bắt đầu tuần phòng trên sân bay rình Mig cất cánh. EC-121D của Big Eye chuyển tới Udon RTAFB, cùng cơ sở với đơn vị TFV số 8, nơi tiến hành phần lớn các phi vụ chống Mig. (Ngay sau khi chuyển tới Udon, các phi vụ EC-121được đổi tên từ Big Eye sang College Eye). F-4 muốn tận dụng khả năng của EC-121 không chỉ dừng lại ở cảnh báo sớm, mà cả điều khiển Mig Cap.

  Trong một vài trận giao chiến tháng 2, F-4 nhận thấy chiến thuật của Mig-17 có tiến bộ. Ngày 4/2, 4 F-4 hộ tống F-105 trên khu vực Hà Nội ở độ cao khoảng 3000 feet phát hiện 2 Mig-17 phía trước. Khi họ ngoặt tới tấn công, thì đồng thời F-4 bị tấn công bởi 2 Mig-17 từ phía sau. Cuộc tiếp chiến hoá thành đuổi bắt ở độ cao thấp với các cú ngoặt gấp; không bên nào có thể chiếm ưu thế. Cứ lúc nào F-4 tiếp cận được phía sau một Mig-17 thì nó lại bị một Mig-17 phía sau đánh bật. Khi Mig ở phía sau, F-4 sử dụng chiến thuật tiêu chuẩn là kéo cao gấp khiến Mig không thể theo được.

  Trước kia, Mig-17 sẽ kéo cao theo F-4, rồi bị hụt hơi giữa chừng mà rơi xuống, khiến cho sau đó F-4 có thể ngoặt lao theo từ phía sau và phóng tên lửa. Nhưng lần này, phi công Bắc Việt đã học được chiến thuật, tránh không kéo cao theo mà giữ ở phía dưới; bằng cách đó họ đã làm mất ưu thế chiến thuật của F-4. Những chiếc F-4 trong thất vọng bắn 8 tên lửa (3 Sparow và 5 Sidewinder), nhưng không có quả nào gần đích.


MiG-17 của KQVN

  Mig-17 Bắc Việt nhận thức được tiếp chiến tầm thấp làm giảm hiệu lực của cả hai loại tên lửa không đối không của Mỹ. Phân tích cho thấy độ cao tiếp chiến, đặc biệt của Mig-17, ngày càng xuống thấp rõ rệt.

  Từ đây Mig-17 cố gắng dụ F-4 vào các cuộc đối đầu quần vòng tốc độ thấp. Và năm 1967 tiếp diễn, phi công Mỹ nhận thấy Mig-17 chờ đợi bằng đội hình bay vòng tròn, giống như bánh xe kéo, tại độ cao cực thấp ngay trên hầu hết các đường bay của F-105. Đội hình này cho phép Mig-17 có thể tấn công cả F- 105 đang bay vào và bay ra khỏi mục tiêu.

  Bánh xe này cực kỳ hiệu quả. Mig-17 giữ khoảng cách với nhau trên chu vi đường tròn; khi F-4 cố giảm tốc và chui vào bánh xe để bắn tên lửa thì sẽ bị một Mig-17 khác tấn công từ phía sau. Nhiễu địa vật không cho phép F-4 dùng radar khoá mục tiêu; và độ cao thấp làm giảm đáng kể giới hạn bắn Aim-9b. ở 10.000 feet, Aim-9b có tầm khoảng 6000 feet và có thể bắn ở nón 40 độ phía sau mục tiêu; nhưng ở tầm tối đa giảm xuống còn 4000 feet và nón bắn co lại còn 30 độ. Giới hạn bắn hạn chế, các vòng ngoặt gấp của Mig, cộng với tín hiệu hồng ngoại từ địa vật khiến cho Aim-9 trở nên vô dụng.

  Cho dù F-4 có thể tránh tấn công của Mig-17 bằng kéo cao rồi lại nhào xuống tấn công lại, nhưng thời gian không đủ để ngắm bắn tên lửa, mà F-4 thì không có can non để bắn. Mig-17 thì chỉ có cơ hội nhỏ để bắn hạ F-4 bằng may mắn hoặc tấn công bí mật, hoặc lúc F-4 giảm tốc và lượn cải bằng.

  Trong khi không bắn được F-4 thì Mig-17 cũng vẫn an toàn từ F-4 và đợi các phi đội F-105 tới. Khi đội hình ném bom tới nơi, Mig-17 rời bỏ "bánh xe" để kéo cao tấn công khiến F- 105 phải vứt bom cơ động tránh và tiếp chiến quần vòng.

  Thường xuyên máy bay Mỹ thấy một chiếc Mig-17 duy nhất trong khu chiến của bánh xe, và cho rằng đấy là chiếc dẫn đầu hoặc chỉ huy. Người ta tin chiếc này sẽ thông báo các Mig khác khi nào bị tấn công, và khi nào thì bật ra để công kích đội hình cường kích.

  Phi công Mỹ cho rằng đội hình này cho phép không quân Bắc Việt bảo vệ được một số lớn các phi công không kinh nghiệm và một số ít các phi công cốt cán kinh nghiệm của họ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2008, 05:48:19 PM »

  Tháng ba trăng sớm khiến thời tiết xấu, nhưng 10/3 vẫn có leo thang lớn khi khu gang thép Thái Nguyên bị bỏ bom lần đầu tiên. Sấm Rền ngày càng gây nhiều tranh cãi, và gây phân hoá giữa quân đội và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Quân đội muốn tăng cường mức độ và giảm các hạn chế đánh phá. McNamara thì tin rằng chiến dịch đạt được kết quả, nhưng vẫn sợ phải đối đầu với Liên Xô và Trung Quốc.

  Tháng 4/1967, gió mùa đông bắc kéo dài hơn thường lệ khiến thời tiết vẫn xấu. Vào ngày 18/4 trời sáng ra, bắt đầu một giai đoạn quyết liệt nhất của chiến dịch Sấm Rền.

  Số lượng Mig và SAM tham chiến đạt mức kỷ lục. Các báo cáo của Mỹ cho thấy phi công Mig "quyết liệt hơn và thành thạo hơn", "chiến thuật của Mig đã chuyển biến đáng kể trong mấy tháng gần đây", và Mig thường xuyên tấn công cả F vào và F bay ra.

  Những ngày SAM và ngày Mig đã qua. Nay cả SAM và Mig cùng hoạt động song song. Bắc Việt bảo vệ Mig-17 bay thấp bằng cách cắt ngòi nổ của cao xạ trên 12.000 feet và giữ Mig 17 bay thấp dưới độ cao này. SAM và cao xạ hoạt động trên 12.000 feet khiến F-4 mất hiệu lực khi dùng cách tấn công. Bánh xe Mig từ trên cao: F-4 dễ bị trúng đạn cao xạ và SAM 2.

  Chiến thuật của Mỹ cũng thay đổi. Do cần nhiều bom ném vào mục tiêu hơn nên nhiều F-4 phải mang bom, giảm số lượng không đủ F-4 cho hộ tống. Vì thế, để tăng cường bảo vệ, F-105 bay thoát khỏi mục tiêu sẽ nhận nhiệm vụ tiếp theo là bảo vệ các phi đội còn lại khi họ ném bom. Khi đã ném hết bom chỉ còn lại Aim9, F-105 khá hữu ích trong chống Mig. Chiến thuật này hiệu lực tốt cho đến suốt tháng 5.

  Trong 4 ngày đầu tiên sau khi thời tiết trong xanh trở lại, Mig-17 cố gắng khẳng định mình, trong khi hiếm khi Mig-21 xuất hiện. Vào ngày 19/4 một lực lượng lớn tấn công doanh trại quân đội ở Xuân Mai và một trường huấn luyện nằm dưới chân núi, cách khoảng 12 dặm về phía Tây - Tây Nam Hà Nội. Từ 19/4 cho đến hết tháng, hàng loạt các cuộc cận chiến quần vòng khiến 6 F- 105 và 1 A- 1 bị bắn rơi.

  Như thường lệ, F-105 bàn tay sắt (Iron hand) đến trước để tiêu diệt bất cứ trạm SAM nào. Phi đội Kingfish đến khu vực đầu tiên và bị Mig-17 bắn rơi số 2, nhưng số 1 bắn rơi một Mig-17. Khi lực lượng ném bom bay vào khu vực, F- 105 chống Mig va chạm với một số lớn Mig-17, trong khi số 1 của phi đội Kingfish định vị 2 phi công của tổ bay số 2 đã bị rụng xuống đất và bắt đầu bay vòng quanh trên đó. Hoạt động cứu hộ bắt đầu.

  Phi đội F-105 mang tên Tomahawk tấn công mục tiêu và đang bay ra chuẩn bị tiếp nhiên liệu sau trận đánh thì nghe được số 2 của phi đội Kingfish bị bắn rơi. Khi số 1 của phi đội Tomahawk tiếp cận máy bay tiếp dầu, anh ta tình nguyện quay lại để bảo vệ đội cứu hộ, nhưng phía kiểm soát cứu hộ lưỡng lự không cho phép vì phi đội Tomahawk không có thùng dầu phụ (họ đã vứt nó khi tiếp cận Mig lúc trước), nên chỉ có thể bay bảo vệ trên đầu tổ bay bị bắn rơi trong thời gian ngắn. Nhưng vì không còn máy bay nào để điều vào nhiệm vụ kiểm soát viên đành cho Tomahawk lấy đầy dầu rồi quay lại.

  Khi lực lượng cứu hộ tìm đến khu vực phi công rơi, Mig-17 xuất kích tìm cách ngăn chặn, và một cuộc không chiến lớn đã xảy ra.

  Lực lượng cứu hộ dẫn đầu bởi loại A-1 cánh quạt bay chậm vốn hộ tống trực thăng cứu hộ. A-1 thường bay chờ ở gần Bắc Việt vào thời gian tấn công để luôn ở vị trí tối ưu phòng khi cần hỗ trợ cứu hộ. Ngay khi có phi công bị bắn rơi, A-1 sẽ bay tới khu vực phi công nhảy dù, xác định khả năng cứu phi công dựa trên đánh giá tình hình vị trí và mức độ phòng ngự của đối phương. Sandy sẽ dẫn hướng trực thăng bay đến chỗ phi công rơi, tự tấn công địch và điều hành các phi đội khác tấn công địch ở mặt đất. Chẳng cần phải nói nhiều, phi vụ bay chậm và bay thấp như A-1 và trực thăng rất rủi ro và khó khăn. Nguy cơ càng tăng khi Bắc Việt có thể nghe được radio để biết được khi nào một phi công bị rơi và khi nào hoạt động cứu hộ bắt đầu. Do đó cứu hộ chỉ được thực hiện ngoài vùng phòng ngự mạnh, sao cho Bắc Việt chỉ có thể cản trở bằng Mig; nhưng họ lại làm thế thường xuyên, và rất hiệu quả xuyên suốt cuộc chiến.


Một vụ giải cứu phi công.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 03:09:37 PM »

  Ngày 19/4, 2 A-1 Sandy 1 và Sandy 2 đang trực chờ khi Kingfish bị rơi. A-1 hướng tới vị trí 32 dặm tây nam Hà Nội, gặp Kingfish 1 và bắt đầu tìm vị trí của phi công. Sandy 2 nhìn thấy F-105 đang cháy, và thấy một thành viên tổ bay. A-1 bắt đầu bay vòng trực ở khoảng 1000 feet và vừa mới kết thúc lượn thì Sandy 2 thấy 4 Mig-17 phía sau và hơi cao phía trên; Mig-17 chia làm 2 cặp tấn công 2 chiếc A-1. Mig-17 bắt đầu bắn ngay khi Sandy 2 thấy họ. Sandy 2 gọi "ngoặt phải", và liền ngoặt phải hướng về phía Mig. Mig bắn trượt Sandy 2, nhưng khi anh ngoặt cũng là lúc anh thấy Sandy 1 trúng đạn và quay lộn nhanh sang trái với các mảnh vỡ cánh trái rơi ra, sau đó đâm vào đỉnh núi; không có dù và tín hiệu nào bung ra.

  Kingfish 1 cũng bị Mig tấn công và cảnh báo phi đội Tomahawk rằng Mig ở khắp nơi. Khi phi dội Tomahawk đang ở 20 dặm phía tây của khu vực, Kingfish 1 gọi nói rằng đã cạn dầu và phải rời khu vực hướng tới máy bay tiếp dầu. Sandy 2 cũng liên lạc thông báo Sandy 1 đã bị bắn rơi và 4 Mig-17 đang tấn công anh ta, sau đó hốt hoảng yêu cầu F-105 đến giúp. F- 105 đề nghị A-1 giữ bay thấp rồi hướng bay tới, giảm cao độ 5000 feet và tăng tốc lên 700 knots.

  Mig-17 giờ đây đang bao vây Sandy 2 và lần lượt từng chiếc tấn công từ xung quanh vòng tròn. Chúng đã lao tới bắn ít nhất 5 lần trước khi Sandy 2 thấy 4 F-105 và gọi: "F-105, tôi ở 3 giờ (bên phải), sang phải, sang phải, sang phải". Sandy 2 ngoặt tiếp để tránh Mig và sau đó thấy 4 F-105 ở sau đuôi xa xa và có một Mig ở phía sau họ. Sandy 2 gọi: "F-105 ngoặt, có một Mig ở sau đuôi anh".

  Phi đội Tomahawk ngoặt phải và tiếp đón một nhóm Mig ở gần phía trước mặt. Tomahawk 1, cố gắng tách Mig khỏi A-1 bằng cách dẫn cả 4 F-105 bay vào giữa các Mig, Mig tản ra khi F-105 bay xé qua đội hình. Một Mig cải bằng rồi lộn vào sau đuôi Sandy 2, nhưng Tomahawk 2 và 3 ngoặt ngay vào Mig để rồi ngay sau đó mắc vào một dây chuyền tầm thấp: Mig-17, Tomahawk 3, Mig-17, Tomahawk 4 và thêm 2 Mig nữa. Cuộc chiến chậm hẳn xuống dưới 300 knot, rất thuận lợi cho Mig nhưng cực kỳ nguy hiểm cho F-105.

  Trong dây chuyền này, Tomahawk 3 bắn trúng chiếc Mig phía trước bằng can non vào cánh trái và thân sau buồng lái, nhưng khi anh ta bắt đầu bắn, Tomahawk 4 gọi "Tomah 3 ngoặt phải, Tomah 3 ngoặt phải - F-105 ngoặt phải ngay, Mig-17 đang bắn vào anh". Tomahawk 3 thấy "những quả cầu lửa da cam lớn bay trước buồng lái và quyết định đã đến lúc ngoặt phải", và lao xuống các đám mây gần đó, "hy vọng không có núi ở phía bên kia đó". Mig vẫn tiếp tục bắn khi Tomahawk 3 vào mây; khi anh ta ra khỏi mây, Mig đã bay đi.

  Trong khi đó, Tomahawk 1 quay lại khu chiến và ngay lập tức thấy dây chuyền của Tomahawk 3, 4 và 4 Mig-17. Khi anh lại gần, anh thấy Tomahawk 4 bắn từ phía sau khoảng 200 feet vào chiếc Mig-17, chiếc mà đang bắn Tomahawk 3, nhưng rõ ràng bắn trượt. Một Mig nữa kéo vào sau đuôi Tomahawk 4, và Tomahawk 4 kêu "ai đó giúp tôi, tôi có một Mig ở sau đuôi và không thể tống khứ được". Tomahawk 1 giờ đây ở gần cuộc chiến và dễ dàng trượt vào sau đuôi chiếc Mig đang bắn Tomahawk 4. Anh ta bay vào 1000 feet phía sau chiếc Mig và bắn, ngay lập tức trúng vào thân sau buồng lái của chiếc Mig. Tomahawk 1quyết định thay cho Sandy 2: "Sandy, tốt hơn là anh hãy quay về, chúng tôi sắp hết dầu và không thể ở lại lâu hơn nhiều nữa". Lúc này Mig kiên quyết tấn công F-l05, Sandy 2 bắt đầu bay dọc thung lũng. Một Mig cố gắng lao tới, nhưng bị F-105 cản trở nên không thể theo kịp. Khi Sandy 2 tới bờ kia của thung lũng, anh ta thấy một khe họng hẹp và sâu, có các đỉnh núi nằm trong tầng mây khoảng 300 feet trên bề mặt nền thung lũng. Chiếc A-1 liền chui vào trong tầng mây, lần theo khe, và đi thoát an toàn; khi đó F-105 cũng rời Mig và trở về căn cứ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2008, 05:29:58 PM »

  Sau đó vào cuối tháng 4, F-4 của Không quân tới khu chiến trước 5 phút để "quét” Mig, sau đó bay trực giữa khu vực mục tiêu và sân bay để cắt đứt đường tiếp cận của Mig tới các phi đội ném bom. Điều này không thành công; cả radar của F-4 lẫn EC-121 không thể phát hiện được Mig bay thấp, và dẫn đường Bắc Việt đơn giản chỉ cần dẫn Mig bay vòng qua F-4 để tới đội hình ném bom. Hơn nữa, F-4 tới sớm nên sớm cạn dầu trong khi phi đội ném bom đến cuối vẫn còn đang ném bom, và quỹ đạo bay khiến F-4 phải phơi mình trước cao xạ và SAM trong một thời gian dài.

  Thật không may, trong hai ngày cuối cùng của tháng 4, Mig-21 quay lại cuộc chiến và đã thể hiện ưu thế trước F-105. Vào ngày 29/4, phi đội Tia chớp gồm 4 chiếc F-105 đang trấn áp cao xạ ở một mục tiêu gần Hà Nội. Thời tiết tốt - mây rải rác với đáy mây khoảng 16.000 feet và đỉnh mây khoảng 20.000 feet. Tầm nhìn tốt (khoảng 15 dặm) . Sau khi ném bom mục tiêu, Số 1 và Số 2 tách ra tấn công 2 Mig-17 trong khi số 3 và số 4 rời khu vực. Số 3 và số 4 đang bay ra ở độ cao 18.000 feet và tốc độ 500 knots khi họ thấy một máy bay màu bạc không mang vũ khí chưa xác định được danh tính bay ra khỏi những đám mây khoảng 2 dặm phía sau họ, hơi lệch về bên trái. Chiếc máy bay này ở cùng độ cao và tiến gần rất nhanh. F-105 bắt đầu ngoặt trái vào chiếc máy bay này và vứt bỏ thùng dầu phụ. Khi lại gần, họ nhận ra đấy là một chiếc Mig-21; họ tiếp tục rẽ trái, lao xuống thấp để tăng tốc khi Mig-21 ngoặt vào sau đuôi họ.

  Chiếc Mig lại gần, và số 4 cảm nhận được một cú đấm khi các viên đạn của Mig bắn trúng. Chiếc Mig bay trượt lên phía trước, và 2 chiếc F-105 nhìn vô vọng khi chiếc Mig- 21 bay lên cao, lấy lại vị trí ở khoảng 1dặm phía sau khi họ vẫn đang tiếp tục lượn vòng xuống thấp. Khi lao qua độ cao 10.000 feet, số 4 thấy chiếc Mig tiến lại gần lần nữa, rồi thấy cả bụng của chiếc Mig khi nó kéo lên bắn đón đầu. Ngay khi đó số 3 kêu đã bị trúng đạn, và lập tức phải giảm tốc độ. Thấy lửa và khói bay ra từ thân sau, số 4 kêu phi công số 3 bỏ máy bay. Số 3 vẫn tiếp tục lao xuống, rồi ngay sau đó bùng lên thành đám cháy từ cánh trái. Số 4 theo sau số 3 và vẫn tiếp tục quan sát Mig, nhưng chiếc Mig (chắc đã hết đạn) không tấn công thêm lần nữa. Ở khoảng 1000 feet, phi công số 3 nhảy dù. Số 4 thấy 2 vật thể đen bung ra từ máy bay và thấy F-l05 đârn xuống đất. Anh ta ở lại trên khu vực 2 phút, rồi khi không thấy Mig đâu, và băn khoăn về hư hỏng của chính máy bay mình, rồi rút đi.
 
  Kết quả kiểm tra trận đánh thật gây thất vọng. Dẫn đường Bắc Việt đã đưa Mig-21 tới một vị trí tuyệt vời và Mig- 21 đã có thể đuổi đánh 2 F-105 sau khi chúng đã ném hết bom. Cái thực sự làm mất yên tâm là khác với các phi công Mig-21 trước kia, phi công Mig này đã trình diễn một khả năng đáng kể trong việc sử dụng tốc độ và ưu thế cơ động trước 2 F-105 khi thúc ép tấn công. Đó là một điềm xấu, nhưng may mắn chỉ có một F- 105 bị hạ.

  Ngày tiếp theo, Mig-21 lại đánh tiếp. Tomahawk, một phi đội 4 chiếc F- 105, đang bay chống SAM hỗ trợ cho một đợt đánh phá vào ga Hà Nội. Tomahawk là phi đội đầu tiên ở khu vực khi họ nhận được cảnh báo có Mig-21. Vài phút sau, số 1 quan sát thấy số 3, một F-105F với tổ bay 2 người, đang cháy. Máy bay bùng cháy toàn bộ sau đó, tổ bay mất điều khiển. Số 1 và số 2 thấy 2 dù và nghe tiếng máy phát tín hiệu báo vị trí phi công nhảy dù, họ liền bay vòng quanh hai chiếc dù đang rơi xuống.


Phi công Mỹ bị bắt.

  Lúc đấy, số 1 và số 2 nhận ra số 4 không bay cùng với họ. Không ai thấy số 4 bị trúng đạn hay nghe thấy radio. Họ cố gắng liên lạc với anh ta nhưng không có trả lời. Số 1 báo cáo về tổ bay bị bắn rơi, đồng thời nói thêm với đội tìm kiếm cứu hộ số 4 cũng có thể đã bị bắn hạ. Phân tích quân báo sau đó xác nhận cả hai chiếc F-105 đều là nạn nhân của cùng một chiếc Mig. Carbine là một trong các phi đội F-105 của lực lượng đánh phá, và sau khi trận đánh bị huỷ bỏ, 4 F-105 thiết lập bảo vệ tầng cao ở 16.000 feet trên đầu tổ bay, trong khi phi đội bốn chiếc F-105 khác bảo vệ ở tầng thấp. Khi phi đội bảo vệ tầng thấp thông báo phải rời đi để tiếp nhiên liệu, số 1 và số 2 của phi đội Carbine hạ thấp để bảo vệ tầng thấp, trong khi số 3 và 4 vẫn ở lại trên cao.

  Trong khi đang ở trong quỹ đạo bay, số 4 "cảm nhận được cú xóc và một tiếng sấm" và ngay lập tức gọi số 3 ngoặt trái vì "có Mig”. Khi số 3 ngoặt trái và lao xuống, anh ta thấy 1 Mig-21 trượt ra bên trên cánh trái. Anh ngoặt lại vào chiếc Mig và khi đó thấy chiếc Mig-21 thứ 2 đang tiếp cận số 4. Cả hai F- 105 bật tăng lực và bổ nhào an toàn vào các đám mây vài ngàn feet bên dưới. Trên đường bay ra, số 3 liên tục hỏi số 4 nhiều lần có "nhìn thấy anh ta không". Mỗi lần số 4 lại khẳng định "có thấy". Sau khoảng 10 giây sau một lần hỏi như vậy, số 3 quay lại và thấy một quả cầu lửa, đó là số 4. Số 1 và số 2 gọi số 3 và báo họ thấy số 4 đang lao xuống và có một dù với một người đang vẫy tay.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:04:21 PM »

Phi công Mỹ đánh giá về Mig-17 và Mig-21

  Mig-21 cơ động tốt hơn so với máy bay Mỹ ở tầm cao. Tuy nhiên, khả năng vòng lượn còn tuỳ, phụ thuộc vào các yếu tố khác (như cao độ, thiết kế khí động học và các hệ thống điều khiển của máy bay). Ở cao độ cho đến 15.000 feets hạn chế khí động học khiến Mig-21 chỉ cơ động như F-4 và F-8. Nhưng ở bất cứ cao độ và tốc độ nào, Mig-21 vẫn bỏ xa F-105 về khả năng cơ động. Trong chiến dịch Sấm Rền, có 2 sự khác biệt về tính năng máy bay. Mig-17 kém hơn nhiều so với bất cứ máy bay nào của Mỹ và thực tế thiệt hại thể hiện điều này. Cho dù có dẫn đường tốt và chủ yếu tiếp cận với máy bay ném bom, nhiều Mig-17 đã bị hạ, trong khi ngược lại chỉ bắn rơi 23 máy bay Mỹ.

  Nhưng, Mig-21 rõ ràng ưu việt hơn F-105: chúng bắn rơi 15 F-105 trong khi F-105 thực sự chỉ bắn rơi có mỗi một Mig-21.

  Cả Mig-21 và Mig-17 đều có vấn đề về điều khiển. Mig-17 thiếu khả năng điều khiển ở tốc độ trên 400 knots và 3.5 G và Mig-21 khó cơ động ở tốc độ trên 510 knots và 210 knots, điều này đem lại thuận lợi nào đó với phi công Mỹ.

  Tháng 5/1967, chiến tranh tiếp tục leo thang. Thêm nhiều mục tiêu được giới chính trị thông qua cho chiến dịch Route Package VI. Thời tiết xấu trên bầu trời mục tiêu và số lượng đánh phá gia tăng khiến Việt Nam phải di chuyển một số pháo cao xạ và SA 2 về khu vực Hà Nội.


Một bức tranh về phi vụ của F-4c Phantom II trên bầu trời Việt trì năm 1967.

  Sự tăng cường không thủ khiến có những thay đổi chiến thuật. F-4C trước có nhiệm vụ đánh bom – phòng vệ (mang bom và nếu Mig tấn công sẽ vứt bom để đánh trả nay chuyển hẳn sang chống Mig - chỉ mang mỗi tên lửa đối không và không mang bom. Số lượng phi đội chống Mig hộ tống đoàn bay đánh phá tăng lên tới 8. Thêm vào đó, một vài phi đội F-105 được chuẩn bị như bay bay tiêm kích, mang Aim-9b và không mang bom, hy vọng sẽ làm Mig bất ngờ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM