Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Hai, 2019, 12:31:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam.  (Đọc 147319 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2008, 02:11:35 PM »

  Việt Nam là nơi diễn ra không chiến hiện đại đầu tiên. Mỹ sử dụng tất cả những hệ vũ khí mới nhất để đảm bảo sự thống trị trên không, chống lại các hệ thống vũ khí thế hệ mới của Nga. Nhưng, ngược lại với mong muốn của Bộ Quốc phòng Mỹ, mọi chuyện không suôn sẻ F-4 dựa hoàn toàn vào tên lửa, nhưng độ tin cậy của tên lửa thì rất thấp, khả năng bắn trúng mục tiêu bay thấp và cơ động mạnh kém.
 
  Nhưng, thật ngạc nhiên, bất chấp biết được Mỹ đã trang bị công nghệ mới, vào cuối tháng 8 và sang tháng 9 (1967), không quân Việt Nam đã trở lại bầu trời sau thất bại hồi tháng 5, đe doạ nghiêm trọng không quân Mỹ. Gặp phải không ít khó khăn và có thiệt hại, nhưng không quân Việt Nam không lùi bước. Lần này họ thay đổi cách đánh, GCI (dẫn đường bằng ra da). Hiệu quả của chiến thuật mới thật rùng mình. Từ cuối 1967 cho đến hết chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder), Mig 21 bắn rơi trên 5 máy bay Mỹ cho mỗi máy bay họ bị hạ. Sau khi chiến dịch Sấm Rền kết thúc, Không quân Mỹ tổng kết rằng, thiếu huấn luyện là nguyên nhân chính của thất bại.
 
 

MiG-21 xuất kích.

  Cuộc chiến tranh lần hai bắt đầu vào tháng 4/1972 với chiến dịch Freedom Train và tháng 5/1972 với chiến dịch Linebacker I. Lại lần nữa, các máy bay F-4 Hải quân Mỹ với ưu thế công nghệ lại đem lại cho không quânViệt Nam những chu kỳ thiệt hại giống như trong chiến dịch Sấm Rền. Không quân Việt Nam liền dừng tấn công máy bay Hải quân Mỹ, quay sang tấn công máy bay Không quân Mỹ, một chiến thuật đã được chứng minh là hết sức thành công vào cuối chiến dịch Sấm Rền.

  Trong hầu hết mùa hè, Mig thống trị các trận đánh với máy bay của Không quân Mỹ, cho đến tháng 9 khi Mỹ thực hiện một loạt cải tiến công nghệ, contest (thử nghiệm) lại tiếp tục cho đến hết Linebacker I vào tháng 10/1972. Giai đoạn khốc liệt nhất và quan trọng nhất của cuộc chiến bắt đầu vào tháng 12/1972. Thật ngạc nhiên, Mig không có mấy tác dụng với B52 bay đêm. Nhưng chỉ với ít missions flown (phi vụ) không quân Việt Nam lần nữa lại thể hiện họ ngang bằng với các phi công F-4 Không quân Mỹ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2008, 07:19:39 PM »

SỰ KIỆN VỊNH BẮC BỘ

  Stockdale thường đi xung quanh boong sàn bay khi chúng tôi chuẩn bị lên máy bay và kiểm tra xem máy bay đã nạp bom đầy đủ chưa. Anh ấy thường thấy một chiếc máy bay theo ý muốn của mình và nói với viên phi công "cậu đó" và chỉ anh ta xuống máy bay. Sau đó anh ấy leo lên máy bay, thắt chặt dây an toàn và bay luôn đi. Viên phi công tròn mắt ngạc nhiên to như quả bóng bowling.

  Không cho Rick Adams hay ai khác biết, Jim Stockdale đang giữ một bí mật chiến tranh lớn nhất. Anh tham gia cả 2 sự kiện ở vịnh Bắc Bộ năm 1964 mà khi đó nước Mỹ rêu rao rằng các tàu PT của Bắc Việt đã tấn công hai tàu hàng không mẫu hạm của Mỹ. Sự kiện thứ 2 buộc Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Bộ, một bước gần nhất tới lời tuyên chiến đối với cuộc xung đột ở Việt Nam mà người Mỹ có thể chứng kiến. Stockdale tin rằng sự kiện thứ 2 chưa bao giờ xảy ra. Đó là sự nhầm lẫn của các tàu Mỹ trong thời tiết xấu và lời tuyên chiến của nước Mỹ dựa trên một lời dối trá.

  Sự kiện thứ nhất diễn ra vào chủ nhật, 2/8/1964. Khi đó Stockdale, 40 tuổi, tốt nghiệp trường chỉ huy Annapolis, phụ trách phi đội F-8 của tàu sân bay Ticonderoga của Mỹ. Hôm đó anh đang chuẩn bị bay tập như thường lệ. Trước khi cất cánh, anh nhận được một chi dẫn từ ban chỉ huy báo rằng tàu Maddox của Mỹ, một tàu khu trục cũ, đang tiến vào bờ biển của BắcViệt chỉ dẫn tái khẳng định rằng hải quân có quyền tiến vào lãnh hải quốc tế. Nhưng thực ra, tàu Maddox đang thực hiện nhiệm vụ thu thập tình báo.
 
  Lúc 3 giờ chiều, khi đang bay tập, Stockdale nhận được thông báo rằng tàu Maddox đang bị tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt đe doạ. Anh nhận được lệnh dẫn 4 chiếc máy bay đến cứu tàu Maddox. Stockdale nhớ lại "Lúc đầu chúng tôi nhận ra giọng của người kiểm soát không gian của tàu khu trục đó rất yếu, nhưng trong vòng 5 phút, khi chúng tôi cách chiếc tàu đó khoảng 80 dặm, tôi nghe thấy giọng của người kiểm soát không gian rõ như chuông kêu, làm cho tất cả chúng tôi chú ý. Giọng của anh ta giống như thể chúng ta vừa bước vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3.
 
  "Chúng tôi đang bị 3 tàu của Bắc Việt tấn công. . . ngư lôi đang lao về phía tàu. . .Chúng tôi đang phải chống trả bằng pháo trên tàu”.

  Phi đội của Stockdale nhận ra 3 chiếc tàu khi chúng đang quay vô bờ. Những đợt sóng dài, tung bọt trắng dễ dàng nhận ra hơn so với các đợt sóng của tàu Maddox. Những chiếc F-8 nổ hàng loạt đạn vào 3 chiếc tàu đó và Stockdale nói vào điện đàm: "Cả 3 chiếc tàu đều bị trúng đạn, hai chiếc cố gắng cập bờ, một chiếc bị bắn hạ,. bốc cháy và đang chìm dần".


  Sáng thứ 3, 4/8/4964, Stockdale đọc các bản tin được đánh điện tín đến tàu thấy rằng Tổng thống Lyndon Johnson đã gặp gỡ với các quan chức của Bộ Ngoại giao, của Lầu Năm Góc. Họ đã quyết định không có động thái trả đũa vụ tấn công đó, coi đó là một sự kiện đơn lẻ do một chỉ huy tàu PT của Việt Nam hấp tấp gây ra. Một tàu sân bay của Mỹ là Turner Joy đã đến hỗ trợ tàu Maddox và cả buổi chiều thứ 3 đó Stockdale phải bay canh chừng cho cả 2 chiếc tàu. Khi anh rời khỏi 2 chiếc tàu đó vào lúc 6 giờ chiều, những đám mây đen đang đổ sập xuống bầu trời và biển động sóng dữ dội với những con sóng đầu bạc. Khi hạ cánh xuống tàu sân bay Tico, Stockdale có thể nhìn thấy những ánh chớp loé lên từ phía Tây Bắc. Anh ăn xong bữa tối trong phòng nghỉ và trao đổi vài điều với sĩ quan bảo dưỡng máy bay và sau đó bước vào phòng chuẩn bị của phi đội. Đêm hôm đó không có lịch bay. Hai chiếc F-8 đã sẵn sàng trong tình trạng báo động, đặt ngay máy phóng máy bay, nhiên liệu và vũ khí đã chất đầy, phi công trong buồng lái nhưng động cơ chưa khởi động chuẩn bị phóng đi. Trời lúc đó nóng và ẩm, rất khó chịu. Máy điều hoà nhiệt độ trong phòng chuẩn bị thổi ra những luồng khí ẩm, và dường như đầu hàng trước nhiệt độ ngoài trời. Stockadale biết rằng bầu trời đầy sấm chớp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ có thể gây ra những trò đùa đối với những chiếc radar lạc hậu. Anh đang nói chuyện với một viên phi công thì nhận ra hai chiếc máy bay đó đã khởi động cánh quạt chuẩn bị phóng đi. Một sĩ quan từ phòng trung tâm thông tin tác chiến ngó đầu vào phòng chuẩn bị và chỉ Stockdale ra ngoài. Viên sĩ quan hỏi: "Họ đã sẵn sàng chưa?". Stockdale trả lời anh không biết chuyện gì đang diễn ra. Viên sĩ quan bảo với anh rằng đài thông tin cho biết hai tàu Maddox và Turner Joy có thể bị tấn công và bộ  tham mưu đô đốc yêu cầu phi đội phải xuất kích để yểm trợ cho hai chiếc tàu đó. Sau khi 2 chiếc phi cơ xuất kích thì 2 chiếc F-8 trong trạng thái báo động cũng sẽ nối đuôi theo.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Hai, 2008, 07:21:16 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2008, 06:25:59 PM »

  Stockdale túm lấy túi đồ bay và chạy ra boong tàu. Bầu trời tối đen, thời tiết xấu và tỷ lệ xảy ra tai nạn của F-8 cao khiến anh nghĩ rằng, là chỉ huy phi đội, anh phải là người đầu tiên phải bay. Chỉ có anh mới biết những chiếc tàu ngư lôi của Bắc Việt Nam vận hành như thế nào và hỗ trợ cho nhau như thế nào. Chẳng ai trong hai viên phi công vừa xuất kích tham gia nhiệm vụ vào ngày chủ nhật vừa rồi. Và Jim Stockdale cũng thuộc tuýp người năng nổ nên anh không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Anh trèo lên một chiếc F-8 và hét to lên trong tiếng ồn của động cơ phản lực: "Mở cáp ra và khởi động máy phóng máy bay! Tôi đã sẵn sàng rồi”.

  9 giờ 30 đêm thứ 3 ngày 4/8/1964, giữa hai tàu khu trục của Mỹ luôn liên lạc điện đài khi tiến về phía Tây tiếp theo sau là những lời cảnh báo về ngư lôi và phương hướng. Cả hai chiếc tàu đang phải lẩn trốn, huyển hướng một cách miễn cưỡng và tàu Turner Joy bắt đầu nã đạn vào những chiếc tàu bị cho là tàu ngư lôi của Bắc Việt.


USS Turner Joy năm 1964.

  Stockdale nói: "Ngồi trên máy bay tôi có thể nhìn thấy rõ mặt biển và phát hiện ra bất kỳ chiếc tàu nào nếu có. Tôi không phải nhìn qua sương mù và bọt nước giống những chiếc khu trục và tôi có thể quan sát mọi di chuyển của các tàu khu trục đó một cách rõ ràng”.

  Khi một chiếc tàu khu trục phát điện đàm rằng tàu này đang bị một tàu nhỏ của Bắc Việt tấn công khoảng 20 dặm về bên trái, Stockdale vòng máy bay và nhấn nút tên lửa nhắm vào vị trí mà tàu khu trục đó vừa thông báo. Anh cố gắng hết sức tìm ra mục tiêu và mồ hôi đổ ra rất nhiều. "Bình tĩnh lại và suy nghĩ đi Jim” anh tự nhủ, sau một giờ tìm kiếm không có kết quả "Mình đang tìm kiếm cái gì đây? Nhìn lại đồng hồ đo độ cao. Ở đây có vấn đề không chính xác. Những chiếc tàu khu trục đó đang la hét về những cuộc xung đột trên biển thì những ánh sáng đạn bắn nhau đâu? Vậy những vệt sóng rẽ của tàu đâu? Ngày hôm kia mình đã chứng kiến tất cả diễn cảnh của cuộc chiến giữa các tàu nhỏ ngay giữa ban ngày. Những dấu hiệu đó phát hiện rõ như ngọn hải đăng trong đêm tối như hôm nay chứ!".

  Khi hạ cánh xuống tàu Tico, anh bước vào phòng chuẩn bị và gặp 10 viên sĩ quan. Có người hỏi anh có chuyện gì vừa xảy ra vậy Stockdale trả lời anh chẳng thấy gì ngoài đêm tối và hoả lực của hải quân Mỹ. Thái độ của buổi tường thuật lại sự việc vừa rồi lại hoá ra lại trở nên rất nực cười với việc Stockdale thêm thắt cử chỉ để thể hiện cuộc tìm kiếm thất bại của chiếc F-8 của anh và việc tàu khu trục nhả đạn bừa bãi như thế nào.

  "Hãy coi kìa", có ai đó nói to lên: "Đây là điều mà Herrick, đô đốc hải quân trên tàu Maddox, đã thông báo đến Washington và cho toàn thế giới nói chung vào tối nay”.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2008, 06:29:59 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2008, 04:45:28 PM »

  Đó là cuốn nhật kí liên lạc hàng hải. Trên cuốn sổ đó hiện rõ tất cả những thông báo gửi từ Maddox từ khi Stockdale rời tàu Ticonderoga. Thoạt đầu, những thông báo đó giống như những điều mà anh đã nghe thấy trong điện đàm, những bản báo cáo nóng hổi về hai tàu khu trục là nạn nhân của vụ tấn công. Nhưng đến trang rưỡi cuối, thì bản nhật kí có sự khác biệt. Những thông tin ở trang này thể hiện những nghi ngờ về tính đúng đắn của những thông tin trước. Người ta nghi ngờ về việc liệu có tàu của Bắc Việt xuất hiện thực sự không. Stockdale thấy rõ ràng đô đốc hải quân Herrick, chỉ huy cả hai tàu khu trục, cuối cùng đã nhận ra sự kiện thông báo tấn công là kết quả của sự nhầm lẫn và cố gắng cẩn thận đưa ngay những nhận xét đó mà không làm cho bản thân ông và toàn bộ ban chỉ huy giống như những kẻ đần độn. Herrick thúc giục những người có thẩm quyền nên có sự đánh giá toàn diện về sự nhầm lẫn đó trước khi đưa tiến hành những hành động không hợp lý.

  Sáng hôm sau lúc 5 giờ, Jim Stockdale bị một viên sĩ quan boong đánh thức. Thuyền trưởng cử anh ta đến để báo cho Stockdale chuẩn bị sẵn sàng để chỉ huy phi đội tấn công trả đũa Bắc Việt theo lệnh của Washington.

  "Trả thù vì điều gì".

  "Vì vụ tấn công các tàu khu trục đã qua thưa chỉ huy”.

  Tháng 9/1965, Rick Adams biết tin rằng Bắc Việt thông báo là họ bắn hạ và bắt được James Bond. Adams rùng mình. Đó là dấu hiệu đầu tiên là Jim vẫn ổn. James Bond là tên gọi của Jim Stockdale. Anh thường dùng mã số 007 để liên lạc điện đàm khi bay. Phi đội của tàu Oriskany cũng sơn mã số 007 lên máy bay của mình. Bắc Việt, theo lời kể của Rick Adams, có thể đã áp dụng mọi chiến thuật khai thác đối với James Bond. Anh ấy có thể bị tra tấn và ép buộc phải khai báo. Nhưng anh ấy sẽ không bao giờ tiết lộ một bí mật lớn nào cả. Bạn có thể tin tưởng vào điều đó và Rick Adams luôn đánh cược vào điều đó.


Bức tranh vẽ trận oanh kích thành phố Vinh của phi đội F-8 này được R.G. Smith vẽ theo lời kể của James B. Stockdale.

  Thuyền trưởng Jonh Iarrobino không biết Jim Stockdale. Ông nắm quyền chỉ huy tàu Oriskany vài tháng sau khi Stockdale bị bắn hạ. Nhưng ông có thể cảm thấy tinh thần Stockdale vẫn hiện diện trên con tàu này. Các phi công của tàu Oriskany cũng cảm nhận được điều đó nhưng không có nghĩa là bạn phải thích cái cách mà cuộc chiến đang diễn ra. Iarrobino thường nói chuyện với Spwett, chỉ huy không lực, người thay thế Stockdale. Thuyền trưởng nói rõ rằng không nên nói lại những điều đã xảy ra vì điều này sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến kỉ luật của quân đội nói chung và kỉ luật của tàu nói riêng. Họ nói về việc làm chẳng thông minh chút nào khi những phi công của họ vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng dưới màn lửa của pháo phòng không để tấn công một cây cầu nhỏ giống như cầu Cổ Chai.

  "Bắn sập nó hôm nay - thuyền trưởng nói - thì họ sẽ sửa lại nó ngay ngày mai".
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2008, 05:02:44 PM »

KHỞI ĐỘNG

   Là một người đàn ông thấp, gầy, 58 tuổi, Sharp ít khi nói lớn. Từ đệm mà ông dùng nhiều nhất là "chết tiệt”. Nhưng Sharp thấy phiền lòng khi ông nghĩ đến việc Washington đang trói buộc những viên phi công của ông vào những điều hạn chế, mà theo quan điểm của ông đã vi phạm những nguyên tắc của chiến tranh. Washington thông qua những mục tiêu để tấn công dựa trên nguyên tắc hai lần thảo luận. Sharp nghĩ đó là cách điều hành công việc ù lì. Nhưng điều này ít nhất cũng thể hiện một sự cải thiện trong những ngày đầu của cuộc không kích, khi các cuộc không kích được chỉ đạo tiến hành vào một ngày cố định nào đó, mà không cần đắn đo về điều kiện thời tiết hay liệu mục tiêu có bị bắn trúng hay không. Cách thức này đang hoạt động vào lúc này. Sharp đã nói chuyện với lực lượng không quân và hải quân tham gia chiến tranh Việt Nam, và đệ trình những đề nghị của các lực lượng này cho ban tham mưu hỗn hợp ở Lầu Năm Góc. Ban tham mưu này có thể thêm vào hoặc gạch bỏ những mục tiêu và gửi danh sách này đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, trước khi bản danh sách đó đến được tay của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, một loạt "những thiên tài "ở Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao thêm những lời nhận xét của họ và những gợi ý thay đổi của mình và danh sách đó. Cuối cùng khi bản danh sách được gửi đến Tổng thống để ông quyết định xem mục tiêu nào cần đánh phá và Tổng thống thực hiện việc này vào bữa trưa ngày thứ 3 tại Nhà Trắng có sự tham dự của bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Cố vấn an ninh quốc gia và Thư kí báo chí của Tổng thống. Không có sĩ quan quân sự, thậm chí cả Chủ tịch Uỷ ban tham mưu hỗn hợp, tham dự cho đến tận cuối năm 1967. Lyndon Johnson đang chăm chú nhìn một tấm bản đồ với những cái tên mà ông chẳng bao giờ cóthể phát âm chính xác, ông đặt cả nắm đấm lên bản đồ và nói rằng các ngài có thể tấn công những vị trí này, không thể tấn công những vị trí kia.


Đô đốc U.G. Sharp - TL Hạm đội 7 (1967-1969).

  Lyndon Johnson, muốn duy trì sự quản lý dân sự chặt chẽ đối với quân sự, điều này cũng công bằng,nhưng Sharp nghi ngờ rằng thái độ của Tổng thống bị ảnh hưởng rất nhiều tới Robert Mc Namara. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể đã trở thành một giám đốc có uy tín cao của công ty ôtô Ford và là người rất giỏi số liệu, nhưng đối với Sharp, Mc Namara là chúa của sự mâu thuẫn, một người đàn ông với khuôn mặt nghiêm khắc và có tính cách kiêu ngạo, nhưng lại là một kẻ tâm thần khi muốn mình thể hiện cả hai mặt tính cách đó. Sau chiến tranh, Sharp không ngạc nhiên khi đọc bản nhật kí Mc Namara gửi cho Tổng thống Johnson vào giữa năm 1965, trong đó ông khuyên Tổng thống về cách thức tiến hành chiến tranh trên không ở Việt Nam như thế nào.

  "Hãy nhấn mạnh sự đe doạ!". Mc Namara nói với Johnson "Cuộc chiến tranh trên không này cần phải tạo dựng để tận dụng nỗi sợ hãi về các cuộc tấn công trong tương lai. Trong bất kì điểm nào sức ép lên Bắc Việt phụ thuộc không chỉ vào mức độ ném bom hiện đại mà còn sự đe doạ tiềm tàng về sự tàn phá tương lai, điều này có thể tránh được bằng việc chấp nhận một số điều khoản trong các cuộc đàm phán.

  Hạn chế tối đa việc làm mất thể diện của Bắc Việt. Chương trình đàm phán phải được dàn dựng để tạo điều kiện thuận lợi về mặt chính trị cho Bắc Việt tham gia đàm phán và chấp nhận các điều khoản đưa ra trong cuộc đàm phán. Chương trình đàm phán còn thuận lợi hơn nữa về mặt chính trị cho Bắc Việt tham gia đàm phán khi việc ném bom trên lãnh thổ của họ không diễn ra.

  "Tránh những rủi ro và thiệt hại quá mức. Chiến dịch ném bom nên tránh hoặc hạn chế khả năng leo thang để không phải đối đầu với Liên Xô hoặc Trung Quốc và gây chấn động đến mối quan hệ với các nước đồng minh và bạn bè”.

  Hay nói cách khác, Mc Namara, người đứng đầu ban cố vấn quân sự về phía dân sự của Tổng thống Johnson, muốn nước Mỹ cần phải ném bom đủ để đe dọa Bắc Việt phải nhượng bộ một số điều khoản, ném bom theo định kì để xem Bắc Việt có đầu hàng hay không.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2008, 02:21:58 PM »

  Đó không phải là cách thức mà đô đốc Sharp, một trong những sĩ quan quân sự cao cấp trong quân đội Mỹ cho rằng chiến dịch không kích sẽ diễn ra. Bắc Việt là một nước có nền kinh tế kém phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng lúa. Lầu Năm Góc chỉ tìm ra 94 mục tiêu quân sự quan trọng về nước này. Nước Baltimore còn có nhiều mục tiêu quân sự hơn Bắc Việt. Theo quan điểm của Sharp, không cần thiết phải suy nghĩ phức tạp để đề ra một chiến dịch không kích có kết quả cao. Bắc Việt không phải nước Đức trong Thế chiến lần thứ hai.

  Cũng có những cuộc tấn công trả đũa sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, và sau khi Việt cộng tấn công trại lính của Mỹ của miền Nam Việt Nam. Sau đó, ngày 2/3/1965, cuộc tấn công đầu tiên của chiến dịch không kích chính thức mang tên Sấm Rền diễn ra. Cuộc không kích do 104 máy bay Mỹ và 19 máy bay của miền Nam Việt Nam nhằm vào một kho đạn và căn cứ hải quân nhỏ ở khu vực phía Nam của miền Bắc Việt Nam ở Quảng Bình. Giới quân sự coi mục tiêu đó không quan trọng và 15 ngày sau đó ủy ban tham mưu hỗn hợp đệ trình một chiến dịch ném bom gồm 4 giai đoạn cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert Mc Namara. Chiến dịch này kéo dài 12 tuần để cô lập miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn Hà Nội được Trung Quốc và Liên Xô tiếp viện và sau đó phá hoại khả năng về quân sự và công nghiệp của Bắc Việt. Giai đoạn thứ nhất nhằm cắt đứt hệ thống liên lạc của miền Bắc - đường sắt và khu cầu cống ở khu vực miền Nam. Giai đoạn thứ hai sẽ tập trung phá huỷ những vùng đất nối liền với Trung Quốc. Giai đoạn thứ ba sẽ phong toả các hải cảng của Bắc Việt - thả ngư lôi xung quanh cảng Hải Phòng là một ưu tiên - và giai đoạn cuối cùng sẽ là giai đoạn đỉnh điểm, nhằm không kích lại toàn bộ những mục tiêu trước đó nếu cần thiết.

  12 tuần. Nếu như sử dụng sức mạnh không quân, như Lầu Năm Góc đã tuyên bố, thì đó là cách mà chiến dịch không kích sẽ diễn ra. Đó không phải là nhiệm vụ hay công việc của giới quân sự xem xét những dự tính chính trị của một chiến dịch như vậy và đô đốc Sharp và những nhà lãnh đạo quân sự khác sẽ không thay đổi ý kiến và cách thức hiệu quả nhất để nghiền nát Hà Nội khi họ thấy những lời đề xuất bị từ chối hoặc bị hoãn xem xét bởi những nhà lãnh đạo dân sự.

  Khởi đầu chiến dịch không kích, máy bay Mỹ quần đảo suốt ngày, nhằm vào những mục tiêu nằm ở phía Nam của miền Bắc Việt Nam, chủ yếu là hệ thống giao thông. Đến mùa hè năm 1965, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom vào phía Bắc của Hà Nội. Tháng 8/1965, khoảng 65 máy bay tham gia vào các cuộc không kích, tháng 9 số lượng máy bay lên đến 120 chiếc. Nhịp độ của cuộc chiến trên không tăng dần cho đến mùa Giáng sinh, khi có lời kêu gọi ngừng ném bom trong 37 ngày để xem Bắc Việt đã sẵn sàng nhượng bộ hay chưa.

  Bắc Việt vẫn "ngoan cố”.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2008, 05:14:25 PM »

  Lực lượng oanh kích chính của không quân Mỹ ở Bắc Việt trong chiến dịch Sấm Rền là F-105 Thần sấm. F-105B ban đầu được thiết kế là máy bay ném bom nguyên tử chiến thuật tầm xa, bay thấp dùng ở châu Âu. Nó có cánh bé để bay nhanh và khoang mang bom hạt nhân. F-105D với hình dáng gần như giống hệt được phát triển làm máy bay ném bom hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, với thùng dầu ở vị trí khoang chứa bom.

  F-105 gặp vấn đề lớn về bảo trì, nhưng đã được giải quyết trước chiến dịch. Đa số F-105 model có một phi công, nhưng cũng có F-105F có 2 phi công dùng cho các nhiệm vụ đặc biệt. F-105 là loại máy bay nhanh nhất thế giới ở tầm thấp, và cho dù được thiết kế chuyên biệt cho ném bom, trong chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder), F-105 kịch chiến với Mig nhiều hơn so với toàn bộ các máy bay khác cộng lại.


Một phi đội F-105 trên bầu trời Bắc Việt Nam.

  F-105 mang khẩu M-61 (20mm - Vulcan), với tốc độ bắn 6.000 viên /phút, và khi sử dụng như tiêm kích, có thể mang 4 tên lửa tìm nhiệt Aim-9 Sidewinder treo ở hai giá đúp. Giá đúp này gây ra nhiều sức cản, và làm giảm khối lượng bom đạn mang theo, nên ít khi F-105 mang Aim-9 trong các phi vụ ném bom. Vì cánh nhỏ nên cung cấp rất ít lực nâng cho F-105 khi ngoặt, nó nổi tiếng vì kém cơ động, nhưng bất chấp khả năng lượn kém, khẩu can non và tốc độ cao sau khi đã vứt bom khiến cho chiếc F-105 được điều khiển tốt rất hữu dụng trong các cuộc không chiến chống lại Mig 17.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 04:18:56 PM »

  Một nửa các đơn vị không chiến của Hải quân Mỹ trang bị F-8, một máy bay tiêm kích nhanh và cơ động tốt, trang bị súng 20mm Colt Mark 12 và 2 hoặc 4 tên lửa Sidewinder ở ngang sườn, và một bộ radar có khả năng hạn chế. Phi công F-8 được huấn luyện đặc biệt tốt với các trận đánh quần vòng (dogflight) và tự hào về thành tích. Họ tin rằng máy bay của họ là loại tốt nhất trong không chiến trên thế giới. F-8 xuất kích từ các tàu sân bay, thuộc thế hệ Project 27 – Charlie (Oriskany nằm trong số này).
 
  Cả không quân và hải quân sử dụng F-4 Phan tom II, hai ghế. Ban đầu F-4 được phát triển nhằm đem lại cho hải quân lực lượng tiêm kích trang bị radar và tên lửa, không quân cũng chọn luôn nó làm máy bay chiến đấu đa năng. Hải quân gọi F-4 là F-4B; không quân gọi là F-4C, nhưng về bản chất chúng là một loại máy bay. Từ lúc đầu, F-4C trở thành lực lượng tiêm kích chủ đạo của không quân, nhưng F-4B thì chia sẻ nhiệm vụ với F-8. Trên phần lớn các khía cạnh, F-4 là một máy bay tuyệt vời, nó tăng tốc nhanh, bay gấp đôi tốc độ âm thanh ở tầm cao và siêu thanh ở tầm thấp, và có hệ thống radar cực mạnh vận hành bởi người phi công thứ hai ngồi ở ghế sau.
 
  Ở F-4 hải quân, phi công ngồi sau là navigator, gọi là RIO (radar intercept officer). Ở F-4 không quân, phi công ngồi sau là người vừa mới tốt nghiệp bay, thường được biết đến như GIB (guy in back). F-4 của không quân cũng thường mang tổ hợp điều khiển bay dùng cho GIB; F-4 hải quân thì không. Khi không chiến, F-4 có thể mang tới 8 tên lửa, 4 Aim-9 tìm nhiệt và 4 tên lửa dẫn đường bằng radar tầm xa Aim-7 Sparrow. Theo xu thế, F-4 không trang bị súng, và trên thực tế, ít phi công yêu cầu lắp đặt chúng.

 

F-4B của HQ Mỹ.

  Các tên lửa không đối không mà máy bay Mỹ mang được kỳ vọng sẽ đem lại ưu thế về không chiến. Cả ba loại máy bay đều có thể mang Sidewinder, một loại tên lửa tìrn nhiệt tương đối cũ, được sử dụng hiệu quả trong chiến trận năm 1958 bởi những phi công Trung Hoa Dân quốc. Aim-9b của không quân và hải quân vào đầu chiến dịch Sấm Rền nhẹ chỉ 164 pounds với 25 pound đầu nổ (trong đó 10,5 pound là chất nổ) và dễ vận dụng. Khi đầu dò hồng ngoại ở đầu Aim-9 cảm nhận được sức nóng từ ống xả động cơ của đích ngắm, tên lửa reo một tín hiệu âm thanh vào tai nghe của phi công. Phi công điều khiển máy bay tiến vào khu vực bắn hiệu quả của tên lửa (missile envelop) - cơ bản là một hình nón 30 độ, ở sau mục tiêu 1 dặm hoặc ít hơn - và bắn tên lửa, tên lửa sẽ tự lao vào nguồn nóng. Có nhiều ưu thế chiến thuật với tên lửa tìm nhiệt. Giờ đây, thay vì phải tiếp cận trong vòng 2000 feet để dùng cannon, máy bay trang bị tên lửa có thể tấn công từ xa đến gần 1 dặm trong một khu vực rộng phía sau mục tiêu.

  Sidewinder có một số nhược điểm. Chiến đấu cơ chỉ có thể mang số lượng ít (4 quả với F-4 và F-105, và 2 hoặc 4 với F-8) bằng giá treo ngoài, và tổ hợp tên lửa - giá treo gây nên lực cản phụ trội làm giảm độ cơ động. Phi công cũng biết rằng Aim-9 mới được kiểm tra bằng các mục tiêu ném bom tương đối không cơ động ở độ cao lớn; hiệu quả của Aim-9 với mục tiêu tầm thấp đang cơ động vẫn chưa được chứng tỏ (gần như ngay khi Aim- 9 được đưa vào sử dụng, các phi đội đã nhận thức được vấn đề của tên lửa trong không chiến, và yêu cầu phi công lao xuống thấp và lượn để tránh các tấn công bằng tên lửa tìm nhiệt. Điều gần giống hệt cũng xảy ra với không quân Bắc Việt về sau trong chiến dịch Sấm Rền. Dẫu vậy Aim-9 làm tăng đáng kể tiềm năng của máy bay Mỹ, và máy bay địch phải "tôn trọng" nó mà bị giới hạn khả năng cơ động.

 
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2008, 05:47:45 PM »

  Loại Aim-7 dẫn bằng radar dùng cho F-4 thậm chí còn cung cấp ưu thế hơn rất nhiều so với Aim-9. Đây là loại tên lửa có thể bắn từ mọi góc độ quanh mục tiêu, thay bằng chỉ bắn từ phía sau. Nó thực sự trở thành điểm đột phá - máy bay Mig không có khả năng này, nên F-4 có thể bắn sớm hơn địch thủ nhiều. Aim-7 cũng có tầm xa hơn nhiều Aim-9, vào khoảng 12 dặm nếu tấn công đối đầu và 3 dặm từ phía sau. Sparow nặng 400 pounds, mang đầu đạn 65 pound, để giảm tồi thiểu lực cản và không choán nhiều chỗ, nó được treo nửa chìm trong thân của F-4.
 

Tên lửa AIM-7 Sparow.

  Aim-7 là loại tên lửa bán chủ động sử dụng kết hợp với F-4 dùng radar tìm và bám mục tiêu. Ở chế độ bình thường, radar như một bóng đèn trong phòng, khi nó bám vào mục tiêu, thì thu hẹp lại thành một tia sáng chiếu vào mục tiêu. Aim-7 bay theo tia chiếu của radar, hướng về tia phản xạ từ mục tiêu. Mặt nhược là để dẫn Aim-7, radar phải bám liên tục vào mục tiêu trong toàn bộ thời gian tên lửa đang bay, và thứ tự bắn Aim-7 rất mất thời gian và phức tạp. Hơn nữa, radar và Aim-7 không tốt lắm với mục tiêu bay phía dưới F-4, nhất là ở độ cao thấp, bởi hiện tượng nhiễu địa vật vốn tác động đến tất cả các radar vào thời kỳ đó. Khi tia chiếu của radar chạm đất, nó tạo ra đám phản xạ vào radar, khiến cho gần như không thể nhận dạng một máy bay đang bay thấp hoặc quan sát xuống từ trên cao. Bởi vì nhiễu địa vật, quy tắc là tấn công mục tiêu cùng độ cao hoặc cao hơn F-4 để Aim-7 có hiệu quả. Càng cao hơn mặt đất thì càng tốt. Đây là vấn đề chính trong chiến tranh Việt Nam.
 
  Đầu đạn của Aim-7 và Aim-9 có đầu nổ proximity fuse, sẽ kích nổ khi tên lửa bay gần mục tiêu mà không cần phải đâm trúng. Mặt nhược là cả hai tên lửa đều có khoảng bắn tối thiểu lớn, là khoảng an toàn để tránh cho tên lửa không nổ ngay khi vừa được bắn. Ở trong khoảng tối thiểu này - khoảng 3000 feets ngòi nổ sẽ không được kích hoạt; tên lửa bắn trong khoảng này đơn giản chỉ thành một viên đạn lớn, đắt đỏ và vớ vẩn. Khoảng bắn tối thiểu này lại là bắt đầu của khoảng bắn hiệu quả của cannon (không tồn tại ở F-4), có hiệu quả hơn ở tầm gần. Cannon bị coi là quá khứ người ta nói Mcnamara đã bảo rằng trong chiến tranh hiện đại, ý tưởng gắn cannon cho máy bay là cổ hủ như là mũi tên và cây cung.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2008, 01:03:35 PM »

 Các cuộc không kích lại được khôi phục vào ngày 31/11/1965 và thời gian mà Cal Swanson và phi đội 162 đến Yankee Station ngày 8/7/1966, thì nhà máy điện Uông Bí, quốc lộ 5 Hà Nội - Hải Phòng và những kho dự trữ và cung cấp xăng dầu đã bị ném bom lần đầu tiên. Và cầu Cổ Chai là một trong những mục tiêu được đưa ra cho các phi công Mỹ trong chiến dịch của Washington để tăng sức ép lên Hà Nội phòng khi để tránh những rủi ro và thiệt hại quá mức.

  Hà Nội có rất ít Mig và để chống lại sự bất công bằng lớn lao này Bắc Việt đã chơi một cuộc chơi khá khôn khéo, chọn lựa rất cẩn thận khi phải đối đầu với người Mỹ trong các cuộc không kích. Swanson đã có một phép toán cứ 99 máy bay Mỹ cất cánh thì mới phát hiện được một chiếc Mig. Nếu phi đội 162 phải thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trong cuộc chiến này thì các phi công của phi đội này phải giỏi ném bom mục tiêu.

  Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 , máy bay của không quân Mỹ thực hiện hầu hết các cuộc ném bom vào các mục tiêu cố định, ném bom rải thảm toàn bộ một khu vực nào đó. Lúc đó chẳng có mấy ai quan tâm đến dân thường sống trong khu vực bị ném bom dải thảm. Nhưng ở Việt Nam, do tính chất của các mục tiêu và do yêu cầu chính xác và hạn chế gây thương vong cho thường dân của Washington nên máy bay tham gia các cuộc ném bom phải thực hiện một số ngoại lệ. Máy bay phải bay cách mục tiêu ở góc từ 30 độ đến 60 độ và thả bom từ khoảng cách 6000 feet.
 
  Kiểu ném bom này đã đi sâu vào suy nghĩ của người dân thế giới trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai được thực hiện ở Việt Nam bằng máy bay B52 của Bộ Chỉ huy không quân chiến lược (SAC) và mãi đến giai đoạn cuối cùng của chiến dịch không kích, máy bay B52 mới được sử dụng để tiến hành các cuộc ném bom trong khu vực miền Nam Việt Nam hoặc ở khu vực phi quân sự - không nhắm vào các mục tiêu cố định mà tập trung vào các khu vực bị nghi ngờ là nơi đóng quân của quân giải phóng trong rừng. Chiếc máy bay B52 có 8 động cơ, có sải cánh dài đến 195 feet (lớn hơn gấp 5 lần cánh của F-8) và thân dài 156 feet. F-8 thường phải bay thấp xuống thì mới cắt bom với khối lượng 6500 pound và dễ bị pháo cao xạ hạng nặng phát hiện và bủa vây bằng lưới lửa; B52 mang 85500 pound bom và thả bom theo chiều thẳng đứng từ một độ cao mà không có ai đứng dưới mặt đất nhìn thấy.

  Việc lao xuống thấp và ném bom diễn ra ở miền Bắc Việt Nam do máy bay F-8 và máy bay ném bom chiến thuật thực hiện được gọi là "ném bom chính xác". Việc cắt bom chắc chắn chính xác hơn việc ném bom dải thảm do máy bay B52 thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Nhưng các phi công F-8 không có khái niệm về việc ném bom với độ chính xác tuyệt đối. Thậm chí trong điều kiện tốt nhất, trong khi luyện tập, không có ai nhắm bắn vào máy bay và mục tiêu hoàn toàn hiện rõ thì viên phi công ném bom chiến thuật thấy hài lòng khi anh ta cắt bom trong bán kính 50 feet của mục tiêu. Còn như trong điều kiện của chiến tranh với hàng loạt tên lửa phóng lên bắn liên tiếp thì việc cắt bom chắc chắn chẳng bao giờ chính xác cả.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM