Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Mười Một, 2019, 12:15:57 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam.  (Đọc 146351 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #130 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2008, 05:58:18 PM »

  Bốn năm sau lệnh tạm dừng ném bom, tàu Oriskany đã trở lại trạm Yankee Station với mục đích: Họ một lần nữa phá hoại chiếc cầu nhỏ vốn đã bị ném bom nhiều đến mức chu kỳ của nó đã giống như việc trồng và thu hoạch lúa ở những cánh đồng xung quanh. Người Mỹ đánh bom, người Bắc Việt sửa chữa.
 
  Cuộc không chiến thực tế chưa bao giờ dừng lại. Các phi đội bay Hoa Kỳ đã không từ bỏ và trở về nước sau năm 1968. Họ tiếp tục thực hiện các chuyến bay thực hiện nhiệm vụ do thám trên bầu trời Bắc Việt Nam và đã chuyển hành động bị cấm sang mục tiêu khác - con đường Hồ Chí Minh ở Lào. Hệ thống viện trợ của Bắc Việt Nam được thực hiện bởi các chuyến tàu của Liên Xô qua cảng Hải Phòng bằng đường biển và qua đường sắt Trung Quốc. Hàng viện trợ sau đó được chuyển đến phía nam thành phố Vinh và từ đó tới biên giới Lào, nơi chúng được vận chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh. Mặc dù chỉ có chiều dài hơn 210 dặm nhưng đường mòn Hồ Chí Minh thật sự là một hệ thống nhằng nhịt trong khu rừng rậm rất khó quan sát và khó đánh, ước tính có hơn 3000 dặm đường bộ. Con đường mòn này đã bị ném bom từ năm 1965, nhưng sau khi có lệnh dừng đánh bom năm 1968, các chuyến bay của Hoa Kỳ trên lãnh thổ Lào đã tăng gấp ba lần; từ 150 đến 450 lượt mỗi ngày.
 
  Với việc khó đánh vào Lào, Richard Nixon đã quyết định mở rộng ném bom sang nước thứ ba thuộc Đông Dương: Campuchia. ông ta đổ lỗi cho cuộc tấn công của Việt Cộng ở Nam Việt Nam, được thực hiện ngay sau một tháng ông lên nhận chức. Người Mỹ, dưới sự chỉ huy của tướng Creighton Abrams, người thay thế tướng William Westmoreland, cũng đã có hành động tấn công. Liệu cộng sản phản ứng lại hành động của Mỹ trên mặt trận hay thực hiện các công việc của họ theo chiến lược thảo luận - chiến tranh vẫn chưa được biết, cho dù có thể có sự kết hợp cả hai biện pháp.
 
  Dù sao, Nixon cũng đã coi cuộc tấn công của Việt cộng là nhằm phá hoại bản thân ông ta. Ông ta tin rằng cộng sản đã không cho ông cơ hội thể hiện ông đã có ý định tiến tới các cuộc đàm phán hoà bình ở Paris như thế nào. Hơn nữa, như đổ thêm dầu vào lửa, cuộc tấn công đó lại bắt đầu vào ngày mà Nixon thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới châu Âu trên cương vị Tổng thống. Các biện pháp trả đũa Việt Cộng của Nixon rất hạn chế. Ông ta và cố vấn hiểu rằng không thể thực hiện tái đánh bom vào Bắc Việt Nam. Hiệp định dừng ném bom đã dấy lên hy vọng hoà bình, và Nixon đã vận động tranh cử bằng lời hứa tìm ra giải pháp cho cuộc chiến ở Việt Nam. Vì lẽ đó, Nixon quyết định đáp trả cuộc tấn công của Việt Cộng bằng cách đánh bom vào những nơi trú ẩn của người Bắc Việt ở Campuchia, thuộc giới hạn của máy bay Mỹ bởi vì Campuchia được coi là một nước trung lập. Hành động này của Nixon được Henrry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia ủng hộ. Henrry Kissinger về sau đã thú nhận trong cuốn hồi tưởng rằng thất bại trong việc đánh trả cuộc tấn công của Hà Nội "có thể thiêu cháy hy vọng thương thuyết của chúng ta; chỉ có Hà Nội mới có thể tuyên bố các điều khoản và đó là dấu hiệu vô dụng của Nixon khi đối mặt với áp lực trong nước ...".

  Các cuộc tấn công vào Campuchia được thực hiện không phải bằng máy bay ném bom bổ nhào mà bằng những chiếc B52 chiến lược. Chúng đã thả hàng loạt bom trên một khu vực rộng lớn. Một chiếc B52 có thể mang 24 tấn bom, nhiều hơn tất cả các máy bay phi đội 162 gộp lại. Để tránh dư luận báo chí, quân đội Mỹ đã thực hiện kế hoạch đánh ngụy trang. 12 trong số 60 chiếc B52 đã được đưa đến thực hiện ném bom vào các mục tiêu ở Nam Việt Nam, số còn lại đánh vào Campuchia.

  Đó là khởi đầu của các nhiệm vụ bí mật. Phi đội B52 được giao nhiệm vụ tấn công vào Nam Việt Nam, sau đó một số chiếc được đưa ra ngoài và cho biết trong khi đang thực hiện nhiệm vụ, họ thường nhận được các hướng dẫn đặc biệt từ một trạm radar dưới mặt đất. Các trạm radar này điều khiển máy tính trên B52 và hướng dẫn mục tiêu của họ ở Campuchia. Những nhiệm vụ này được thông báo công khai khi xảy ra ở Nam Việt Nam. Thủ đoạn che mắt tấn công của người Mỹ đã không bị lộ cho đến khi có các cuộc điều tra của Watergate năm 1973.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #131 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2008, 05:47:21 PM »

  Cuộc đánh bom vào Campuchia bắt đầu vào ngày 18 tháng 3 năm 1969, là một điển hình về hình thức không chiến được thực hiện trong ba năm tới: Bí mật, tăng cường một cuộc tấn công đường bộ thông thường bằng xe tăng và các đơn vị bộ binh hùng hậu vào lễ Phục sinh năm 1972. Nixon từ bỏ chính sách bí mật, thực hiện lại các vụ đánh bom công khai vào Bắc Việt Nam. Và tàu Oriskany đã được đưa trở lại nhằm tấn công vào cầu Cổ Chai.
 
  Chính sách ném bom của chính quyền Johnson và Nixon rất khác nhau. Trong thời kỳ Johnson, chiến lược không chiến được đưa ra bởi nhiều quan chức khác  nhau, còn trong chính quyền Nixon, chiến lược không chiến hầu như được quyết định bởi hai người: Tổng thống và cố vấn an ninh quốc gia của ông ta. Bởi vậy vai trò của từng vị Tổng thống trong cuộc chiến Việt Nam cũng khác nhau, và cũng có thể dễ dàng nhận ra vai trò của từng người dưới thời Nixon hơn.
 
  Bên cạnh sự sáng suốt đã được thể hiện, Henry Kissinger còn có óc khôi hài, dường như chứ không phải thật sự không hài lòng về bản thân. Điều này phù hợp với tính hài hước của các tờ báo Washington. Nhiều nhân viên báo chí đó đến từ các thị trấn nhỏ ở miền Nam và Trung Tây, thường thích moi móc tin tức theo cùng một kiểu mà người Do Thái nhập cư hay thể hiện về thành công hay thất bại của họ. Một phần vì leõ đó, Kissinger có quan hệ với báo chí tốt hơn bất kỳ quan chức chính phủ nào kể từ thời John F-Kenedy. Những người ủng hộ Kissinger trong giới truyền thông thường coi ông ta là nhà chính trị gia thật sự đúng nghĩa, và những kẻ phản đối dường như không thể tìm ra được lời chỉ trích mạnh mẽ nào hơn là kết tội ông ta quá quỷ quyệt. Phải thừa nhận rằng, điều này giống như bình sữa mẹ nuôi dưỡng các nhà ngoại giao thành công nhất trong lịch sử. Thậm chí Seymous Hersh, một nhà sử học nghiêm túc người đã trở nên nổi tiếng với việc vạch trần tội giết người hàng loạt ở Mỹ Lai, dường như cũng đã hết lời ca ngợi, tâng bốc Kissinger lên cao tận trời xanh.
 
  Điều có thể nói về vai trò của Kissinger trong việc xây dựng chính sách đánh bom chính là việc ông ta đã tiếp tục chơi trò hai mặt. Kissinger đã tự thể hiện có một ảnh hưởng trung hoà đối với Nixon trên giới truyền thông, trong khi lại cố vấn riêng cho Tổng thống rằng đánh bom có thể sẽ thể hiện những đặc điểm hiếu chiến của giới diều hâu. Người ta nhận ra chân dung Kissinger trong suốt đợt đánh bom vào thời gian Giáng sinh năm 1972, khi báo chí bắt đầu phỏng đoán rằng Kissinger đã từng phản đối quyết định gây nhiều tranh cãi của Nixon trong việc sử dụng B52 đánh vào Hà Nội. Ông ta phủ nhận trong cuốn hồi tưởng rằng ông ta đã cho các nhà báo biết ông phản đối cuộc ném bom, nhưng lại thêm vào: "Tôi chắc đã làm gì đó mới gây ra sự suy đoán như vậy, một phần là phản ứng của tôi trước vụ lộn xộn tuần trước, một phần là do bản thân cá nhân cũng mong muốn cuộc chiến đi theo hướng khác".

  Thái độ của Nixon về việc đánh bom rõ ràng hơn và khác hơn so với Lyndon Johnson. Johnson nhận thấy những viên chỉ huy quân sự quá hiếu chiến. Ngược lại, Nixon cho rằng họ quá cẩn trọng. Năm 1972, trong một cuốn băng thu âm cuộc họp tại Nhà Trắng, Nixon nói: "Các mục tiêu chưa bao giờ bị đánh bom như lần này, nhưng các ông phải tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết”.
 
  “Thời tiết ở đó vẫn còn xấu lắm sao?" John Mitchell hỏi.

  "Hừ” Nixon nói, "không phải vậy, không lực không xứng, tôi muốn nói là họ sẽ không bay”. Vì vậy cần xem xét kỹ lưỡng thái độ trái ngược của Nixon đối với Johnson, người chống đối mạnh mẽ các hành động quân sự đánh vào các mục tiêu như Phúc Yên (theo cách gọi của ông ta).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #132 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2008, 03:52:41 PM »

  Tất nhiên, trong suy nghĩ manh động của mình, nhân tố hạn chế đối với Nixon chính là việc Lyndon Johnson đã cho ngừng đánh bom vào Bắc Việt Nam, và đến tận 1972, Nixon mới cảm nhận được áp lực chính trị do việc công khai thực hiện tái đánh bom. Dù vậy, đầu năm 1971, chính sách của ông ta đã trở thành hành động hiếu chiến hơn. Các phi công đang bay do thám trên Bắc Việt lần đầu tiên được phép chạy trốn nếu như họ bị pháo binh hoặc tên lửa đe doạ. Giờ đây, họ còn được phép đánh bom vào các vị trí phòng không khi có tín hiệu cho biết máy bay của họ đang trong tầm ngắm của ra đa. Tất cả các vụ đánh bom này, theo Nhà Trắng, là chuyện "phản ứng tự vệ". Mười sáu nhân viên đánh bom thường được gửi đến hỗ trợ cho một máy bay do thám. Và họ cũng thường tìm ra chuyện gì đó để có "phản ứng”.

  Tờ New York Times trích dẫn lời giải thích của một quan chức Nhà Trắng: "Trông kìa, những cuộc đánh bom được gọi là tự vệ đó đã chạm đến mức giới hạn của việc đánh bom. Nhưng chúng bị hạn chế về thời gian và địa lý. Tuy nhiên, như Tổng thống và ông Laird đã nói đi nói lại nhiều lần, chúng ta không có ý định cho phép Hà Nội tận dụng việc chúng ta thu quân để đe doạ tấn công vào số quân còn lại. Trong bất kỳ giây phút nào chúng ta cũng phải nhắc nhở Hà Nội về điều này”.

  Chính sách phản ứng tự vệ của Nixon, dù đã viện cớ việc Bắc Việt tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, là hết sức vòng vèo, và đã nhanh chóng dẫn đến trò lửa đảo công khai của lực lượng không quân. Tướng Johll D. Lavelle, chỉ huy trưởng lực lượng không quân, đã bí mật chỉ thị ít nhất 28 nhiệm vụ đánh bom vào các mục tiêu hạn chế ở Bắc Việt Nam trong cuối năm 1971 và đầu năm 1972. Sau một số nhiệm vụ, ông này đã ra lệnh cho các phi công báo cáo sai sự thật, rằng những cuộc đột kích vừa qua chỉ là đáp trả lại các cuộc tấn công của kẻ thù. Lavelle đã bị vạch trần bởi một viên trung sĩ, anh này đã viết thư cho một thượng nghị sĩ về các vụ gian dối này. Lavelle tin rằng Lầu Năm Góc và Nhà Trắng biết rõ và ủng hộ những việc ông ta đang làm. Tuy nhiên, ông ta đã bị cách chức, hạ cấp bậc xuống thiếu tướng và buộc phải về hưu.

  Trò chơi phản ứng tự vệ lố bịch đã phải dừng lại khi Bắc Việt tiến hành cuộc tấn công trên bộ với quy mô lớn vào ngày 30 tháng 3 năm 1972. Các nhà lãnh đạo Hà Nội về sau giải thích rằng họ đang cố gắng nắm giữ càng nhiều làng mạc càng tốt để chuẩn bị cho một bản hiệp ước đàm phán. Nixon và Kissinger đã thấy trước cuộc tấn công và cảnh cáo với Liên Xô và Trung Hoa rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng một cách mạnh mẽ. Hà Nội hoàn toàn tin rằng chân tay của Nixon đã bị phong trào phản đối chiến tranh trói buộc. Quân đội Bắc Việt đã sớm thu được thành công ban đầu, buộc Nam Việt Nam phai rút ra khỏi 14 căn cứ phía sau vùng Phi quân sự hoá. Một tháng sau thủ phủ Quảng Trị sụp đổ, quân đội cộng sản gần Sài Gòn tiến hành vây hãm An Lộc. Dường như chính quyền Sài Gòn đã đi đến chỗ huỷ diệt.
 
  Phản ứng của Nixon, dù cho những người chỉ trích suy nghĩ gì đi nữa, đã có sự tách biệt giữa tính trực tiếp và không do dự, một diều khá hiếm hoi trong các quyết định đối với chiến tranh Việt Nam. Ông ta ra lệnh thêm máy bay B52 tới Đông Nam Á, chuyển thêm nhiều chuyến hàng tới Yankee Station và gửi các máy bay khác đến Thái Lan và Nam Việt Nam. Tướng John Vogt, chỉ huy trưởng mới lực lượng không quân ở Sài Gòn, đã có cuộc gặp với Tổng thống ngay sau cuộc tấn công bắt đầu. Vogt cho biết Nixon "muốn có ai đó sử dụng trí tưởng tượng nhiều hơn - giống như Patton" và "Tôi muốn anh (Vogt) trở lại chiến dịch xâm lược và chúng ta sẽ rạng danh với một chiến thắng. Chúng ta sẽ không từ bỏ Việt Nam".

  "Khi nhận được những đệ trình đầu tiên về việc đánh bom Bắc Việt từ Lầu Năm Góc trong tuần đầu tháng 5", Nixon sau này nhớ lại. “Tôi đã hết sức tức giận. Những đề xuất của họ là sự tái diễn chiến dịch ném bom nhút nhát của Johnson từ năm 1965 đến 1968. Trong một bức thư gửi đến Kissinger, tôi đã viết: "Tôi không thể chắc chắn là tôi đã quyết định được việc chúng ta nên tiến hành không kích. Tôi tiếp tục cho rằng chúng tôi nằm trong nguy cơ hành động quá ít, quá chậm và rằng chúng ta tốt hơn là sai lầm về mặt hành động quá nhiều, đồng thời chúng ta đã có sự ủng hộ tối đa của công chúng. “Tôi cho rằng chúng ta đã có quá nhiều thứ để nói và hành động thì quá ít”. Tôi viết. "Đây chắc chắn là điểm yếu của chính quyền Johnson. Ở một mức độ nào đó nó có thể là điểm yếu của chúng ta, khi mà chúng ta liên tục cảnh báo kẻ thù và rồi hành động theo cách quá ôn hoà lúc kẻ thù đã khiêu khích chúng ta. Họ giờ đã bước qua nguy hiểm và chúng ta cũng vậy. Chúng ta có đủ sức mạnh để huỷ diệt khả năng tiến hành chiến tranh của họ. Vấn đề duy nhất là liệu ta có sẵn sàng sử dụng sức mạnh đó hay không”. Tôi đã giải thích rằng tôi sẵn sàng thực hiện các hành động mạnh mẽ và sẵn sàng đón nhận các hậu quả có thể xảy ra".
 
  Bên cạnh việc ra lệnh ném Bắc Việt, ông ta cũng đã cho phép rải mìn, thủy lôi vào cảng Hải Phòng.
 
  Henry Kissinger cho rằng "đó là một trong những giờ khắc tuyệt vời nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của Nixon".

  Vào ngày 19 tháng 7 năm 1972, khi tàu Oriskany một lần nữa sẵn sàng đánh vào cầu Cổ Chai, cuộc tấn công của Hà Nội đã phải dừng lại. Sức mạnh không quân rõ ràng đã đóng vai trò quyết định ngăn chặn cuộc tấn công đó. Nhưng đó là không lực sử dụng chống lại lực lượng cộng sản ở Nam Việt Nam. Những ảnh hưởng của cuộc đánh bom có được đối với miền Bắc Việt Nam vẫn chưa rõ ràng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #133 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2008, 12:31:18 PM »

  John Hellman đã cầu nguyện xong. Anh có thể cảm nhận con tàu đang đi vào từng cơn gió. Anh vẫn còn cảm thấy rùng mình, nhưng cầu nguyện đã đem lại cho anh lòng can đảm để đối mặt với trận đánh vào Cổ Chai. Điều quan trọng là thuộc cấp của anh không được thấy anh lo sợ. Anh băn khoăn tự hỏi kể từ năm 1965, đã có bao nhiêu lần con tàu Oriskany đánh bom vào Cổ Chai. Tàu Oriskany đã thực hiện chuyến trận thứ bảy và đã có dấu hiệu mệt mỏi vì chiến tranh. Trong một đêm sửa chữa, con tàu này đã đâm vào tàu chở đạn USS Nitro và mất một bánh lái độ cao. Nhưng con tàu vẫn tiếp tục được sửa chữa, như thể đã được xác định phải trải qua cuộc chiến này.
 
  Cầu Cổ Chai từng giữ một tầm quan trọng bậc nhất do quyết định của Nixon đánh mìn vào các hải cảng Bắc Việt. Vào ngày 08 tháng 5 năm 1972, các liên đội từ ba con tàu đã tiến hành thả mìn vào Hải Phòng, Hòn Gai và Cẩm Phả ở miền Bắc; Thanh Hoá, Vinh, Quảng Khê, Đồng Hới ở miền Trung. Hai tuần sau, cuộc tấn công này được đánh giá là thành công. Hai mươi bảy tàu nước ngoài đã bị mắc kẹt ở Hải Phòng. Sau tất cả những lời cảnh báo của chính quyền Johnson về phản ứng mạnh mẽ của Liên Xô, chẳng có điều gì có thể xảy ra cả.

  "Chuyện đáng nói là tất cả các phương tiện vào Việt Nam, ngoại trừ băng qua biên giới Trung Quốc, đã dừng lại.". Đô đốc Wiliam P. Mark, đã tự hào nói vậy. "Trong vòng 10 ngày, chúng tôi đã không bắn đi một tên lửa hay quả đạn pháo nào từ bờ biển. Bắc Việt đã cạn kiệt vũ khí, đúng như chúng tôi luôn nói vậy”.

  Đó chỉ là tạm thời. Nguồn viện trợ đã bị giảm thiểu. Hệ thống hậu phương chặt chẽ của Bắc Việt chịu sức ép nặng nề. Nhưng như cơ quan tình báo Trung ương Mỹ đã nhận định, vụ bắn phá bằng mìn đã không làm cạn kiệt các nguồn viện trợ mà đơn giản là buộc người rniền Bắc phải sắp xếp lại các đường vận chuyển. Các con tàu được chuyển hướng sang các hải cảng Trung Quốc và từ đó hàng viện trợ sẽ được đưa qua biên giới bằng tàu hoả hoặc xe tải. Một đường ống dẫn dầu cũng đã được xây dựng nối liền từ Trung Quốc về Hà Nội. Với sức ép nặng nề do chiến lược của Nixon, Bắc Việt buộc phải giữ các địa điểm chuyển giao quan trọng như cầu Cổ Chai luôn được thông suốt. Họ tăng cường thêm nhiều vị trí phóng tên lửa ở đây, đưa địa điểm phòng thủ tên lửa đất đối không trong nước lên con số 300. Nhiều khẩu súng phòng không giờ cũng được lắp đặt các thiết bị ra đa phức tạp. Nhận được các máy bay Mig 21 thế hệ mới, phi công Bắc Việt đã bắt đầu thực hiện những cuộc tấn công bất ngờ vào các nhóm không lực Mỹ. Trong tháng 6 và tháng 7 năm 1972, cứ mỗi lần tấn công, người Mỹ lại thiệt hại một chiếc máy bay.

  John Hellman và phi đội của anh được lệnh phải tiêu diệt các vị trí hoả lực phòng không xung quanh cầu Cổ Chai. Họ buộc phải mang các loại vũ khí sát thương đã từng sử dụng cách đây 5 năm, được gọi là CBU hoặc bom bi, loại bom tiêu chuẩn năm trăm pound đã không phát huy đủ hiệu quả để chống lại các bệ súng. Nó tạo ra những hố bom có đường kính đến 30 feet, sâu 15 feet và bắn các mảnh kim loại nhỏ trong tầm 200 feet. Nhưng những hầm trú ẩn bằng túi cát hoặc thậm trí bằng tre cũng có thể che chắn tất cả cho các xạ thủ, loại trừ những quả rơi chính diện.
 
  Bom bi là chuyện khác. Một quả bom chứa khoảng 600 quả bom nhỏ, cỡ bằng quả bóng tennis, mỗi quả bom nhỏ có 2 ao xơ chất nổ và 300 viên đạn nhỏ. Nguồn khí nén làm bung lớp vỏ bảo vệ bom bi khi cách mặt đất 500 feet, và 600 quả bom nhỏ, chứa tổng cộng 180.000 viên đạn sẽ phát nổ, bao phủ một khu vực rộng lớn. Nhưng bom bi đã không gây chết người như ý muốn, cũng không phải là thứ vũ khí khủng khiếp mà các nhà chỉ trích đã gọi. Điều này xảy ra khi nó được sử dụng để tiêu diệt các xạ thủ Bắc Việt. Họ chống lại các quả bom nhỏ bằng cách xây dựng những tuyến phòng thủ kiểu tổ ong, tạo lập các vành chắn bằng kim loại xung quanh từng khẩu cao xạ, chỉ để nòng súng thò ra ngoài. Các xạ thủ đã không hề buồn chui xuống cho đến khi họ nhận thấy luồng khí làm bung lớp vỏ quả bom "mẹ" và phóng ra các quả bom "con".
 
  Chỉ có bom laze là thứ mới nhất ở Yankee Station. Một bộ phận cảm biến laze được lắp trên đầu quả bom, cho phép tự hướng vào mục tiêu phá huỷ được chiếu sáng bằng năng lượng laze thấp. Việc chiếu sáng được thực hiện bằng cách gắn một chiếp hộp nhỏ, dài phía dưới phi cơ. Chiếc hộp này chứa một bộ phận quan sát quang học và một máy phát laze. Hệ thống laze được sử dụng đối với các máy bay hai người lái. Người ngồi sau xác định vị trí ném bom và chiếu sáng nó bằng thiết bị laze của anh ta. Bom laze đã tạo ra một bước nhảy vọt về tính chính xác trong ném bom và bắt đầu đánh dấu sự chấm dứt của loại bom trọng lực, vốn được sử dụng từ thế chiến thứ nhất và đã gây ra vô số nạn nhân vô tội. Loại bom laze cũng đã đặt dấu chấm hết sự tức giận của người Mỹ về việc không thể đánh gãy cầu Hàm Rồng ở Thanh Hoá. Bẩy năm sau khi cuộc không chiến bắt đầu, 14 chiếc máy bay không lực mang 24 quả bom laze và các loại bom quy ước khác đã được chuyển đến để đánh vào cây cầu này. Cuộc tấn công đã thắng lợi. Rốt cuộc thì ít nhất cầu Hàm Rồng cũng đã tạm thời bị phá vỡ.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #134 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2008, 06:39:26 PM »

  John Hellman không biết liệu trận đánh lần này có sử dụng bom laze hay không. Có thể là không. Các loại bom mới vẫn còn ít và được sử dụng có chọn lựa. Tất cả những gì mà Hellman biết là anh đang đối mặt với những khẩu cao xạ 85mm đáng sợ xung quanh cầu Cổ Chai. Sáu đến tám khẩu này bắn liên thanh bằng điều khiển điện tử. Một khẩu phát hoả trong một giây rưỡi đồng hồ - r. . r. . ă. . ặp ặ . . p - dừng một lúc - rồi một khẩu khác lại phát tiếng. . r. . r. . ặp. . p. . p. Người miền Bắc biết rất rõ góc độ mà người Mỹ sẽ phải sử dụng để đánh cầu. Tất cả hỏa lực của họ sẽ tập trung vào tâm của những mảnh kim loại đã phát nổ. Sau bảy năm, họ có thể nhắm mắt mà vẫn bắn trúng mục tiêu.

  Cuộc họp bắt đầu. John Hellman đang lắng nghe nhưng không thực sự để tâm. Bất ngờ anh nhận ra các phí công khác đang đứng dậy ra ngoài. Anh băn khoăn tại sao? Và rồi lời của người chủ trì cuộc họp vang lên: "Các ông, trận đánh Cổ Chai bị huỷ bỏ vì thời tiết xấu”.

  Bob Punches đã lái chiếc Ranger vào ngày 18 tháng 12 năm 1972. Công việc của anh là bảo vệ phía sau các phi công ném bom B-52 tấn công vào Hà Nội và Hải Phòng trong trận đánh bom mùa Giáng sinh. Punches, người từng là bạn cùng phòng với John Hellman trong tàu Oriskany năm 1967, giờ đang lái chiếc USS Ranger. Anh đã từng rất mến Hellman, người anh coi là một con chiên nghiêm túc và một chàng trai tốt. Bạn cùng phòng bên cạnh của anh ta trên tàu Oriskany cũng rất ngoan đạo và họ đặt một giá sách bên ngoài đựng các cuốn Kinh thánh. Nhân sự trong phi đội bay đã thay đổi và trở nên kín đáo hơn sau khi Black Mac và Dick Wyman đến chỗ khác.

  Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên tàu Oriskany, Punches theo học khoa học chính trị ở một trường học. Môn học chính của anh là Lịch sử Đông Nam Á. Thật ra, anh thừa nhận không hề quan tâm lắm vào chủ đề này. Anh muốn thấy chiến tranh kết thúc - đó mới là điều quan trọng. Giờ đây dường như anh có thể đạt được ước mơ. Anh có thể nhận ra sức phá huỷ của B52 đối với Hà Nội và Hải Phòng. Nhìn những chiếc B-52 anh ta nói: "Đây rồi. Không có cách nào để họ gượng dậy từ vụ đánh bom đó. Họ sẽ phải đầu hàng ngay bây giờ”.

  Đó chính là điều mà Richard Nixon và Henry Kissinger đã tính đến. Nixon đã ra lệnh mở cuộc không kích cuối cùng này, đòn nặng nhất trong cả cuộc chiến, nhằm cố gắng kết thúc chiến tranh và đưa các tù nhân chiến tranh trở về trước khi một Quốc hội đang giận dữ trở về Washington vào tháng 1 và ép buộc ông ta phải chấm dứt chiến tranh qua việc cắt bỏ tài chính cho cuộc chiến. Cuộc chiến mùa Giáng sinh, vốn kích động sự phản đối trong và ngoài nước, đã xảy ra sau khi một hiệp ước hoà bình được ký vào tháng 11 và rồi bị xé bỏ.
 
  Việc tái ném bom trong tháng 3 năm 1972, như Nixon đã làm giữ một vai trò quan trọng trong việc ép buộc Hà Nội đàm phán bản hiệp ước hoà bình tháng 10. Việc sử dụng không lực, đặc biệt là ở miền Nam đã chấm dứt sự đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ của Bắc Việt. Chính quyền Sài Gòn lại làm chủ Quảng Trị, và trận đánh An Lộc đã kết thúc. Những sự kiện này, kết hợp với áp lực phản chiến trong nước đối với Nixon trong năm bầu cử, đã buộc Henry Kissinger và Lê Đức Thọ phải đi sâu hơn vào các cuộc đàm phán hoà bình bí mật trong mùa hè năm 1972.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #135 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2008, 06:11:42 PM »

  Cùng với hiệp ước hoà bình có vẻ đã hoàn tất và dự định ký kết vào tám ngày sau. Nixon đã cho dừng ném bom Bắc Việt vào ngày 23 tháng 10, ngoại trừ khu vực quan trọng phía Nam. Bắc Việt cố gắng giành ưu thế trước Washington vào sớm ngày 26 tháng 10 bằng cách công bố một bản tóm tắt của hiệp ước, đưa ra một số điều khoản nhất định mà họ chủ định giải thích một cách mơ hồ nhưng lại có lợi cho họ nhất, và tiết lộ số lần đàm phán bí mật ở Paris.
 
  Nixon và Kissinger đã tiến hành các cuộc đàm phán hoà bình mà không hề tham khảo ý kiến của chính quyền Sài Gòn, đứng đầu là Nguyễn Văn Thiệu. Trước đó một tuần, Kissinger đã bay tới Sài Gòn để trao hồ sơ cho Thiệu và phải đối mặt với sự bất bình của họ. Sau khi nghe Bắc Việt công bố, Thiệu hết sức tức giận và tin rằng chính người Mỹ đã bán đứng Nam Việt nhằm mục đích đưa các tù nhân chiến tranh về nước. Ông ta nói với Washington rằng ông sẽ không đáp ứng tất cả các điều khoản. Nixon chưa sẵn sàng sử dụng vũ lực để ép buộc Sài Gòn, và cũng không muốn mạo hiểm đi đến một cuộc chiến tranh công khai với đồng minh của ông ta khi chỉ còn một tuần nữa là cuộc bầu cử Tổng thống được tiến hành. Họ cũng thực hiện nỗ lực cuối cùng nhằm thuyết phục Sài Gòn thay đổi quan điểm về bản hiệp ước hoà bình, và để đảm bảo với Nam Việt rằng Hoa Kỳ không hề để mặc Nam Việt ra khỏi cuộc chiến.

  Henry Kissinger đã tổ chức một cuộc họp báo vào ngày 26 tháng 10, sau công bố của Hà Nội. Trong hồi ký, ông ta nói ông đã cố gắng đạt được hai điều: "Thứ nhất là để khẳng định lại với Hà Nội rằng chúng ta sẽ giữ vững bản hiệp ước cơ bản ban đầu, đồng thời bỏ ngỏ khả năng đề nghị thay đổi của Sài Gòn. Thứ hai là để chuyển đến Sài Gòn thông điệp rằng chúng ta đã quyết định thực hiện đúng tiến trình". Kissinger nói với các nhà báo và cả thế giới: "Hoà bình đang nằm trong tầm tay”. Lúc đó có thể ông ta chưa nhận thức được rằng lời tuyên bố giả dối của ông ta đã đánh đòn cuối cùng vào chiến dịch tranh cử Tổng thống đang có nhiều lợi thế của George Mc Govern, ứng cử viên đảng Dân chủ.
 
  Mặc dù tuyên bố của Kissinger đã góp phần vào thắng lợi của đảng Cộng hoà, hoặc ít nhất đã làm tăng khả năng chiến thắng của họ, nhưng sau đó Nixon cho biết chính điều đó đã đẩy ông ta vào ngõ cụt. Công chúng Mỹ tin rằng cuộc chiến đã đi qua và cảm thấy bị lừa dối khi chỉ ngay sau cuộc bầu cử, điều đó đã không thành hiện thực. Bắc Việt nhận ra sự lo lắng của Washington trong việc kết thúc chiến tranh và quyết tâm từ chối bất kỳ điều khoản thay đổi nào có lợi cho chính quyền Sài Gòn. Họ cũng như Nixon hiểu rõ ý định cắt giảm ngân sách chiến tranh của quốc hội. Một lần nữa, họ tin rằng thời gian đang ủng hộ phe họ.

  Nixon và Kissinger tìm cách đổ lỗi cho Hà Nội về sự sụp đổ của tiến trình hoà bình. Bắc Việt thực tế đã rất khôn ngoan khi đơn phương công bố bản tóm tắt hiệp ước hoà bình, một chiến thuật được thực hiện nhằm gây rắc rối ở Sài Gòn qua việc nhắc đến sai lầm của Nguyễn Văn Thiệu trong các tập hồ sơ, nhưng Nixon và Kissinger cũng quá quỷ quyệt trong việc cố gắng mở các cuộc đàm phán nhằm xoa dịu Sài Gòn sau khi đã định ngày giờ ký kết hiệp ước hoà bình với Hà Nội.
 
  Cả Sài Gòn và Hà Nội đều không chịu nhân nhượng. Thiệu muốn có một sự bảo đảm về chủ quyền của ông ta trong bản hiệp ước. Bắc Việt phản đối bất kỳ thay đổi nào và bắt đầu rút lại những nhượng bộ trước đây. Ngày 06 tháng 12 năm 1972, khi bế tắc đang tăng lên, Kissinger đánh điện từ Paris cho Nixon về hai khả năng lựa chọn. Ông ta nói họ có thể đưa ra yêu cầu tối thiểu đối với Bắc Việt, có thể ít hơn so với đòi hỏi của Thiệu và do đó có thể mạo hiểm công khai cắt đứt với Sài Gòn nếu như được chấp nhận. Hoặc họ có thể kích động Bắc Việt từ bỏ các cuộc đàm phán qua việc đưa ra những yêu cầu không thể chấp nhận được, sau đó thực hiện lại vụ đánh bom phá hoại cho đến khi Hà Nội đồng ý trao trả tù nhân để đổi lấy việc Mỹ rút quân khỏi miền Nam.
 
  Nixon chẳng chịu chấp nhận một lựa chọn nào. Ông ta bảo Kissinger tiếp tục tiến đến thoả hiệp. Nhưng sự kiên nhẫn của ông ta chẳng giữ được lâu. Giới truyền thông đã khẳng định chắc chắn rằng bản hiệp ước tháng 11 đã bị Sài Gòn phá huỷ và Nixon đang để tâm đến Thiệu. Kissinger ở Paris cho đến ngày 14 tháng 12, nhưng Bắc Việt, mà đại diện là Lê Đức Thọ, tiếp tục trì hoãn, và các cuộc đàm phán đã bị huỷ bỏ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #136 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2008, 10:20:37 AM »

  Đó là lúc Nixon quyết định sử dụng loại máy bay ném bom khổng lồ B52. Ông ta cho biết ông đã nói với đô đốc Thomas Moorer, trưởng ban tác chiến: "Tôi không muốn có thêm điều tai tiếng nào nữa về việc chúng ta không thể đánh trúng mục tiêu này hay mục tiêu nọ. Đây là cơ hội cho ngài sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để giành phần thắng trong cuộc chiến này. Và nếu thất bại, tôi sẽ xem xét trách nhiệm của ngài".

  Quyết định của Nixon thể hiện sự kết hợp hai yếu tố Nixon muốn đánh đòn chí mạng vào Hà Nội và ông ta thích sử dụng B52, cho phép sử dụng chúng để đánh vào miền Bắc khi thực hiện tái đánh bom vào tháng 4 năm 1972. Nhưng cho dù Nixon đã cân nhắc rất nhiều về việc sử dụng các tay lái thì điều kiện thời tiết cũng có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng máy bay của ông ta. B52 là loại máy bay đánh bom trong thời tiết thật thuận lợi và suốt trận đánh bom 11 ngày vào lễ Giáng sinh chỉ có đúng 12 tiếng đồng hồ có thể tập trung sử dụng các máy bay chiến lược ở Oriskany.
 
  Mặc cho B52 gặp rắc rối với thời tiết xấu. Các phi công đã được ra lệnh mang các loại vũ khí hạt nhân nhằm đề phòng trường hợp bom không đánh trúng vào mục tiêu đã định. Tướng John Vogt kết luận rằng không thể đánh một mục tiêu chính xác dưới 500 feet khi sử dụng các loại bom quy ước trong B52. Nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm hạn chế tối đa thương vong dân thường. Chỉ được phép đánh vào các mục tiêu quân sự nhạy cảm và sử dụng máy bay ném bom tia laze khi điều kiện thời tiết thuận lợi. Nhà Trắng phản đối việc tấn công B52 vào một nhà máy sản xuất vũ khí ở trung tâm Hà Nội vì sợ có thể gây ra thương vong quá nhiều cho dân thường. Đây là nơi hàng đêm tạo ra các quả tên lửa đánh hạ các tay lái.

  Dù vậy, dân thường vẫn bị thiệt mạng, khoảng 600 người. Bắc Việt cảm nhận được các vụ tấn công sắp xảy ra và đã di tản trẻ em ra khỏi Hà Nội trước đó hai tuần, và một lần nữa những khu hầm tránh bom của họ lại phát huy hết sức hiệu quả.
 
  Không thể xác định chính xác có bao nhiêu thường dân ở Bắc Việt đã bị giết chết trong suốt cuộc không kích. Nhưng vượt qua con số mà Hà Nội công khai, có thể có đến 5000 người, bao gồm cả các nạn nhân trong vụ đánh bom Giáng sinh. Đó không phải là con số mà người dân Mỹ thấy tự hào, nhưng cũng khó có thể coi là định nghĩa về sự diệt chủng vốn thường xuyên được những người phản chiến sử dụng (hơn 500.000 dân thường đã thiệt mạng trong các vụ đột kích vào Nhật Bản trong thế chiến II). Con số này không quá lớn, một phần là do sự trung thực và tính kiên cường của người dân Bắc Việt, những người sau nhiều thập kỷ chiến tranh liên tục đã trở thành các chuyên gia trong việc tránh né các mảnh bom. Mặc khác cũng do sự kiềm chế của người Mỹ khi từ chối ra lệnh đánh bom vào các đập nước ở Bắc Việt, việc này có thể vừa phá hoại Hà Nội vừa gây ra cái chết của hàng ngàn dân thường do lụt lội.
 
  Tuy nhiên, vụ đánh bom Giáng sinh cũng đã đủ nặng nề. Các cuộc tấn công ngày đêm liên tục nhằm vào các nhà máy điện, đài phát thanh, đường sắt, đường bộ, cầu cảng, các kho vũ khí và sân bay, các máy bay chiến lược đã được sử dụng ban ngày, B52 và F-111 được sử dụng ban đêm. Những chiếc máy bay nhỏ hơn dẫn đường những chiếc lớn vào Hà Nội, vượt qua hệ thống radar. Máy bay điện tử bay xung quanh bờ biển nhằm đánh lạc hướng các vị trí tên lửa phòng không.
 
  Nhưng dù đã có các vũ khí điện tử, B52 vẫn cho thấy có thể bị đánh gục. Chúng quá to và kềnh càng để có thể lượn tránh tên lửa đất đối không. Hệ thống radar tên lửa đã bị phá sóng nhưng Bắc Việt vẫn hạ đến 15 chiếc B52 bằng cách ngắm bình thường. Họ đã bắn nhiều tên lửa đất đối không trong một đợt bắn chặn, 12 máy bay không quân và hải quân nữa bị triệt hạ.
 

  Với những mất mát về không lực nặng nề cùng những bài báo tường trình về số thường dân thiệt mạng, trận bom Giáng sinh đã dấy lên sự giận dữ của công luận vốn đang còn âm ỉ từ sau cuộc xâm lược Cămpuchia năm 1972. Nixon chịu sức ép nặng nề về việc chấm dứt các cuộc tấn công. Một ngày sau vụ đánh bom bắt đầu, thư ký báo chí của Nixon đã nói với phóng viên rằng các cuộc đột kích sẽ "tiếp tục cho đến khí một bản thoả thuận được công bố”. Vài ngày sau, chính quyền Hoa Kỳ đã bí mật bắt đầu việc rút lui. Kissinger đánh điện đến Hà Nội rằng Washington đã sẵn sàng chấm dứt ném bom và mở lại các cuộc thương thuyết trên cơ sơ bản hiệp ước tháng 10 vốn không có lợi gì cho phía Mỹ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #137 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 10:11:40 AM »

  Nixon và Kissinger quyết định "bỏ quên" Nguyễn Văn Thiệu và những phản đối của ông ta về bản hiệp ước. Nixon hết sức tức giận khi Thiệu tiết lộ với phóng viên báo chí rằng Washington đã cố gắng áp đặt điều kiện với ông nhưng ông ta đã từ chối. Nhưng trên thực tế Thiệu và Nam Việt đã chỉ có con đường chọn lựa giữa việc nhận lấy hoặc từ bỏ, vốn được Nixon thuyết phục bằng những cam kết bí mật, và sau này đã trở nên vô nghĩa. Vụ đánh bom miền Bắc đã dừng lại vào ngày 29 tháng 12. Các cuộc đàm phán được nối lại ở Paris vào ngày 08 tháng giêng. Bản hiệp ước đình chiến được ký kết sau ba tuần, tức vào ngày 27 tháng 01 năm 1973.


  Liệu vụ đánh bom Giáng sinh đã buộc Bắc Việt phải quy thuận như Nlxon và Kissinger đã tuyên bố hay không? Trên một góc độ phù hợp nhất, có thể nói vụ đánh bom đã chấm dứt mọi suy nghĩ của Hà Nội về việc chờ đợi và xem xét liệu quốc hội Hoa Kỳ dự định cải tổ vào ngày 02 tháng 01 năm 1973, có thể "đứng” về phía họ qua việc cắt bỏ chi phí chiến tranh hay không. Khả năng quốc hội thực hiện việc này là rất lớn (Nixon rất lo lắng điều này), thể hiện qua một bản nghị quyết cắt giảm chiến phí trong một phiên họp riêng của thượng viện ngay sau khi đã sắp xếp đưa các tù nhân chiến tranh trở về. Đô đốc Thomas Moorer coi vụ đánh bom là một chất xúc tác nối lại các cuộc đàm phán. Đó có thể là cách nói tốt nhất. Rõ ràng vụ đánh bom đã không gây ra một sự ép buộc nào đối với Bắc Việt để Washington có thể đạt các điều khoản mới. Về cơ bản Bắc Việt vẫn tiếp tục với bản hiệp ước giống với bản mà họ đã ký kết hồi tháng 10, cộng với một cam kết bí rnật của Nixon, sau này không bao giờ được thực hiện, về việc đền bù chiến tranh hàng tỷ đô la cho họ. Vị Tổng thống này, dưới áp lực nặng nề của công luận và đe doạ từ phía quốc hội, dường như đã phát điên và phải chấm dứt vụ đánh bom sớm hơn dự định.
 
  Như vậy không lực đã hoàn toàn thất bại trong tất cả những lần thử nghiệm sử dụng để đạt được các mục đích chính trị. Từ Mc Namara đến Nixon, kết quả của các vụ đánh bom đều rất tồi tệ và tốn kém: thiệt hại 920 máy bay ở Việt Nam. Mặt khác, không lực cũng đã chứng minh hiệu quả của nó thu được sử dụng trên lĩnh vực quân sự. Không lực đã ngăn chặn được việc chiếm giữ căn cứ của Hoa Kỳ ở căn cứ Khe Sanh năm 1968 và tác động chấm dứt cuộc tấn công quy ước của Hà Nội năm 1972. Việc Sài Gòn sụp đổ (khi phải chống đỡ một cuộc tấn công tương tự năm 1972) đã không xảy ra đồng thời với việc các máy bay Mỹ phải rút lui khỏi Đông Dương.
 
  Một kết thúc còn nhiều hoài nghi, nhưng Bob Punches rất mừng khi thấy hiệp định ngừng bắn đã được ký kết. Anh đã thường cầu nguyện cho các thành viên phi đội 162, và tiếp tục cầu nguyện rằng Chuck Rice sẽ trở về an toàn. Sau khi cập bến ở Cubi Point Punches xin phép được đến căn cứ không lực Clark để chúc mừng những tù nhân chiến tranh đầu tiên trở về.

   Các tù nhân chiến tranh chào đón sự kết thúc chiến tranh một cách lặng lẽ. Sau khi Bắc Việt ra thông báo không hề có một tiếng hò reo nào, chỉ có sự lo lắng rằng có thể có chuyện xảy ra vào thời điểm cuối cùng. Sự vui mừng chỉ đến khi máy bay hạ cánh. Chuck Rice hết sức ngạc nhiên khi thấy các đám đông với những áp phích lớn có ghi tên anh, chào đón anh trở về. Anh cảm thấy một chút tội lỗi. Anh biết rằng mình không phải là anh hùng. Những người lính từng trải qua địa ngục ở miền Nam sẽ chẳng bao giờ được tiếp đón như vậy. Vì vậy, anh thực sự xúc động.

  Mọi việc đã qua.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #138 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2008, 05:43:08 PM »

DICK WYMAN

  Có người cho rằng Việt Nam không xứng đáng được như vậy. Nhưng nhìn vào Đông Nam Á ngày nay, bạn sẽ thấy rất nhiều điều chúng ta từng cho là sai lầm đã trở thành sự thật. Lý thuyết tác động dây chuyền đã phát huy tác dụng ở Đông Dương. Và điều gì xảy ra với Mặt trận Giải phóng Dân tộc, đại diện yêu tự do của nhân dân? "Hồ Chí Minh? Mặt trận Giải phóng Dân tộc sẽ giành thắng lợi". Đúng vậy. Họ đã chiến thắng.

  Tôi tin rằng hoàn toàn công bằng khi cho là chúng tôi thực sự đã không thắng, đặc biệt là khi xem xét cuộc không chiến. Chính phủ đã cố gắng thuyết phục công chúng rằng chúng tôi sẽ tiến hành không chiến nhưng sẽ chẳng gây thương tích cho bất kỳ ai. Và đó là sự lừa bịp. Nếu anh quyết định tiến hành chiến tranh, anh phải sẵn sàng nói với nhân dân sự thật - rằng chiến tranh là trò chơi tính toán và nguy hiểm. Thật không may, chúng tôi thua, vì vậy không ai muốn nói về nó. Nhưng có một bài học cần thiết phải ghi nhớ. Anh làm hoặc không làm. Và nếu anh làm, anh sẽ thắng, khá đơn giản. Anh không gửi những tín hiệu hoặc đe doạ đến kẻ thù của anh nhằm cố gắng thuyết phục họ thay đổi. Vì ngay lúc đó, họ sẽ đá vào tử huyệt của anh.
 
  Mọi chuyện về cuộc chiến đã khép lại. Một số chúng tôi vớt vát được phần nào khi tù nhân chiến tranh được đối xử như những vị anh hùng. Có một số ngoại lệ như Jim Stockdale, người xứng đáng với danh hiệu đó. Nhưng đa số các tù nhân chiến tranh đều là đồ vô dụng. Họ bị bắn rơi chỉ vì sợ hãi và ngu ngốc. Họ đơn giản là những phi công thiển cận. Họ trở về để reo hò, được đứng trên đầu người khác và được lựa chọn nghĩa vụ. Nếu anh từng ở Yankee Station thử thách bộ não của mình liên tục, anh sẽ bị quên lãng. Nhưng tất nhiên anh không thể hét to lên được, bởi vì điều đó nghe thật kỳ cục. Dù vậy, tôi đã thức giấc trong nhiều đêm và thầm thì: "Chờ đã. Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra vậy?”.

  Tuy nhiên, Việt Nam đã dạy cho tôi khá nhiều về con người. Ở lĩnh vực này, tôi cho rằng tôi là người thắng lợi. Tôi đã học hỏi nhiều hơn về con người trong một thời gian ngắn, hơn cả khi tôi học hỏi trong mười năm hoặc hai mươi năm. Cuộc đời đã mang một ý nghĩa khác Tôi bắt đầu coi trọng những thứ đã đạt được. Một ngày nắng đẹp ở miền quê đã cho tôi điều kỳ diệu mà tôi chưa bao giờ có, đó là niềm vui sống. Tôi tìm được sự thanh thản. Tôi tự tin với những gì tôi có thể làm được.

  Một ngày nọ, tôi đang chơi golf và vợ tôi, cô ấy chợt hỏi: "Anh có nhận ra là anh có một gia đình không Dick? Anh đã không dành nhiều thời gian cho chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn sống".

  Tôi bắt đầu chú ý.

  Thật khó khăn để từ bỏ hình ảnh phi công chiến đấu Tôi đã sớm thử nghiệm và được quyền điều khiển một phi đội F-4 ở tàu USS Independence. Tôi thích có một viên phi công kém cỏi và giúp anh ta có được lòng tự tin. Thật vui khi nhận thấy anh ta tiến bộ và cất cánh. Tôi nhận ra rằng có thể anh cần một chút tưởng tượng. Bay trên không vào ban đêm có thể là công việc chết người. Có những lúc anh thực sự sợ hãi và dao động. Anh cần phải nghĩ rằng bản thân anh hết sức đặc biệt, giỏi hơn số còn lại - sự tưởng tượng đó sẽ tiếp thêm sức mạnh cho anh.
 
  Nhưng tôi bắt đầu phản đối ý kiến cho rằng anh không thể trở thành phi công chiến đấu giỏi trừ khi anh ra ngoài, uống rượu và ca hát. Khi gặp phi đội của mình, tôi đã truyền đạt tư tưởng rằng nếu một phi công không muốn dự tiệc hay những giờ giấc vui vẻ cũng không sao. Chẳng ai bị xét xử bởi sự xa lánh tiếp xúc xã hội của anh ta.
 
  Những việc khác cũng bắt đầu thay đổi trong suy nghĩ của tôi. Trong nhiều năm tôi nghĩ rằng không có điều gì có thể xảy ra với tôi. Thế rồi tôi bắt đầu nhận thức rằng một người đàn ông có thể tự tử. Tôi đã làm việc tích cực hơn trên máy bay trong khi vẫn cố gắng tỏ ra thờ ơ với nó. Nếu như công việc trên khoang tàu của tôi không kết thúc, tôi có thể đã gặp rắc rối trong việc kiềm chế nỗi sợ hãi của mình. Điều đã xảy ra với tôi là tôi đang già hơn và chững chạc hơn. Lần đầu tiên, tôi nhận ra gia đình tôi là một đơn vị và nó thật giá trị với tôi. Hai đứa con trai tôi đang đến độ tuổi mà chúng tôi có thể làm việc cùng nhau. Một ngày cuối tuần nọ, chúng tôi đi chơi thuyền, câu cá và trải qua một thời gian đẹp đẽ. Thế rồi, ngay khi định về nhà, tôi trèo lên bờ sông và cảm thấy đau nhói ở ngực. Tôi không thể thở được Tôi bám vào một gốc cây và ngồi dựa vào nó.
 
  Khi về nhà, vợ tôi hỏi: "Chuyện gì vậy Dick?"
 
  "Anh không biết". Tôi nói: "Anh đau ở đây nè. Có thể do áp lực công việc".

  "Chúng ta đến bệnh viện nhé".

  "Không, anh thấy đỡ rồi".

  Tôi đã không muốn thừa nhận chuyện vừa xảy ra. Nhưng rồi cũng đã phải đến bệnh viên vào sáng hôm sau. Ardyce đã đúng. Tôi đã bị đau tim.

  Đau tim? Và tôi đã 41 tuổi. Tâm thất bên trái bị tắc nghẽn. Tôi bị liệt vào danh sách những người tàn tật. Các bác sĩ đang chờ để lắp đường dẫn máu phụ, bởi vì tôi quá trẻ để họ tiến hành việc phẫu thuật kiểu này. Có thể sẽ tắc nghẽn máu ở nơi khác nếu như việc phẫu thuật tiến hành quá sớm. Tôi phải uống thuốc, không được chơi bóng đá hay tennis, không được uống bia. Những người điều hành máy bay chịu áp lực lớn hơn và có tuổi thọ thấp hơn nhiều những người làm công việc khác. Anh luôn gặp những nguy cơ tiềm ẩn.

  Một bác sĩ của tôi đùa: "Anh giống như một con ngựa già Ấn Độ. Anh đã từng chạy rất khoẻ và giờ phải nằm giường bệnh".

  Đó là điều có thể nói về chúng tôi, những người đã chiến đấu ở Việt Nam.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #139 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 05:48:18 PM »

MỘT SỐ TƯ LIỆU THAM KHẢO THÊM


CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DỰ BÁO SỚM
VIỆC ĐÁNH B52

Thượng tướng Phùng Thế Tài
Nguyên Tư lệnh Quân chủng phòng không -Không quân,
nguyên Phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN


Thượng tướng Phùng Thế Tài

  Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch phòng không đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972 có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn quyết định của chiến tranh. 25 năm đã qua nhưng mỗi khi nói đến chiến dịch này, mọi người chúng ta lại nhớ tới sự chỉ đạo sớm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu chuẩn bị đánh B52.

  Ngay từ năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân, Bác hỏi tôi: “Chú đã biết gì về B52 chưa?". Và sau đó Bác lại nói: “Nếu chú có biết, bây giờ cũng chưa làm gì được nó, vì nó bay cao, bay nhanh".
 
  Những ngày mới thành lập, Quân chủng phòng không - Không quân phải tập trung vào nhiệm vụ xây dựng phát triển lực lượng, bố trí thế trận bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, do vậy việc nghiên cứu về B52 cũng chưa được đặt ra.

  Năm 1964, đế quốc Mỹ đã liều lĩnh cho không quân đánh phá một số mục tiêu ven biển của ta từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Quân và dân miền Bắc đã đánh trận phủ đầu giành thắng lợi lớn. Sau khi tuyên dương công trạng đánh thắng trận đầu ngày 5 tháng 8 năm 1964, Bác lại hỏi: "Các chú đã chuẩn bị đánh B52 như thế nào rồi?".

  Tuy Bác đã nhắc nhở, nhưng lúc này B52 chưa xuất hiện trên chiến trường, mặt khác chúng ta chưa có tư liệu về B52 nên chưa thể chuẩn bị gì cho việc đánh.

  Năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam tiến hành "chiến tranh cục bộ" và bắt đầu sử dụng lực lượng ném bom chiến lược B52 trên chiến trường. Trong một lần đến thăm bộ đội phòng không Hà Nội, Bác lại dặn: "Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay "bê" gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Thực hiện lời dạy của Bác, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tập trung mọi nỗ lực phát triển lực lượng nhanh chóng, nghiên cứu nghệ thuật tác chiến đánh bại từng bước leo thang của địch trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng chưa có điều kiện tổ chức nghiên cứu đánh B52. Năm 1966, Bộ Tư lệnh Quân chủng cùng một số cán bộ đại diện lên chúc thọ Bác. Sau khi nghe Quân chủng báo cáo thành tích chiến đấu, Bác dặn: "Các chú đã đánh được B66 là tốt, nhưng nó là máy bay trinh sát. Còn B52 là máy bay ném bom lợi hại, các chú phải chuẩn bị đánh B52".
 
  Để chuẩn bị đánh B52 việc trước tiên là phải tìm hiểu tính năng kỹ thuật, đặc điểm và quy luật hoạt động của nó, trên cơ sở đó tìm ra cách đánh phù hợp. Với mục đích đó, tháng 5 năm 1966, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức cho trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu cách đánh B52. Từ đó chúng ta luôn luôn duy trì một lực lượng ở chiến trường để đánh B52 với phương châm "vừa đánh địch, vừa nghiên cứu địch".

  Năm 1967, không quân địch tổ chức nhiều đợt đánh phá tập trung Hà Nội, Hải Phòng. Quân chủng phát động phong trào thi đua, kiên quyết đánh tiêu diệt địch bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội.

  Trong phong trào thi đua đó, bộ đội phòng không đã đánh nhiều trận thắng lớn. Đặc biệt ngấy 19 tháng 5 năm 1967, ngày sinh nhật của Bác, quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 13 máy bay địch. Quân chủng tổ chức đoàn cán bộ chiến sĩ tiêu biểu lên chúc mừng sinh nhật Bác. Sau khi nghe đoàn báo cáo chiến công, Bác vui vẻ nói: "Bác mừng và hoan nghênh các chú đánh giỏi. Nhưng chớ có chủ quan mà khinh địch, nó thua keo này, nó bày keo khác. Nó còn đánh và nhất thiết ta phải chuẩn bị đánh B52". Theo lời Bác dặn, các binh chủng tên lửa, ra-đa, phòng không đều chủ động triển khai việc nghiên cứu đánh B52, nhiều đoàn cán bộ vào chiến trường cùng các đơn vị nghiên cứu rút kinh nghiệm các trận đánh, thu thập các tư liệu về B52 và từng bước xây dựng cách đánh B52.
 
  Cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bác dặn: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cơ quan tham mưu của quân chủng bắt đầu nghiên cứu phương án đánh B52 bảo vệ yếu địa miền Bắc.

  Từ khi ta đưa lực lượng vào chiến trường trực tiếp nghiên cứu đánh B52, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên theo dõi kết quả đánh B52 của các đơn vị và chỉ đạo quân chủng khẩn trương nghiên cứu chuẩn bị đánh B52 khi chúng liều lĩnh ra đánh phá hậu phương miền Bắc, đặc biệt chuẩn bị kế hoạch đánh B52 bảo vệ Thủ đô Hà Nội.
 
  Bằng sự dự báo thiên tài và những lời dạy có ý nghĩa lịch sử đối với bộ đội Phòng không - Không quân ngay từ khi những chiếc B52 đầu tiên của Mỹ xuất hiện ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chuẩn bị tư tưởng cho chúng ta đánh thắng B52. Tư tưởng quyết đánh thắng B52 của Người đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện thành công trong chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM