Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Một, 2020, 07:27:33 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tây Nguyên ngày ấy  (Đọc 73745 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #100 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:04:03 PM »


Ngày 15 tháng 7 năm 1971. Lên đường ngày 2 tháng 7 năm 1971 qua đại đội thu dung C3 dừng lại liên hoan thịt chó. Qua đội tăng gia lại một bữa liên hoan nữa. Tới Binh trạm Bắc, lại chiêu đãi một trận rồi mới thực sự lên đường.

Hai ngày đầu đi yên ổn qua T2, T1, hai trạm của B3, trời nắng ráo. Thật may, đây là những ngày nắng hiếm hoi của Tây Nguyên trong đầu mùa mưa.

Tôi có cảm giác vừa mừng, vừa lo. Cứ nghĩ vẩn vơ tới truyện “Bão táp” của nhà văn Nga Ilya Ehrenburg và những nhân vật trong truyện của ông. Trong tác phẩm lớn này, tác giả dành cho các nhân vật của mình những số phận khá bi thảm: Sau những cuộc chiến đấu ác liệt, qua những thử thách gian khổ nhất, mỗi khi loé ra một tia hy vọng, ngày nghỉ phép, ngày chiến thắng, rời khỏi chiến trường, sắp về nhà, gặp lại gia đình, người yêu, vợ con... thì lại xảy ra tai nạn, chết, bị thương.

Tôi cứ vẩn vơ nghĩ tới những nhân vật này, tới Xécgây và tự hỏi, trên con đường dài trở về liệu có an toàn không? Gia đình có xảy ra chuyện gì không?

Rời trạm T2 được khoảng một giờ, anh Hiếu bỗng hốt hoảng: Bỏ quên thắt lưng ở trạm. Trên thắt lưng có cả dao găm, súng ngắn, bi đông. Phải quay lại. Vừa đi, vừa về mất hai giờ. Nhưng khi đoàn tới T1 nghỉ một lúc thì Hiếu cũng đuổi kịp.

Rời T1 sang trạm 74, trạm đầu tiên của đường dây Xã hội chủ nghĩa1, trời đổ mưa ào ào. Tới chỗ giao trực, chờ hơn hai giờ vẫn không thấy giao liên của trạm ngoài vào đón. Thì ra nước lũ tràn về, giao liên không qua sông được Buổi trưa ghé vào một ngôi lều bỏ hoang cạnh đường che tạm ni lông lên mái lều, ăn cơm nắm. Hai giờ chiều ra tới bờ sông Xê Ca Mán. Nước sông chảy ào ào, đỏ ngầu phù sa cuốn băng băng theo dòng nước những cây gỗ to hai ba người ôm. Giao liên gọi nhau í ới giữa hai bên bờ. Không qua sông được. Đêm ngủ nhờ một trạm gác bên bờ sông.

Hôm sau, nước đã rút, qua sông bằng thuyền. Tới bên kia bờ, mấy cậu lính trẻ xanh như tầu lá, bước chân run rẩy, đi phải chống gậy, cứ nằng nặc đòi vào chiến trường. Giao liên giữ lại không cho đi, cứ nhảy xuống thuyền. Hai bên giằng co. Giao liên giằng lấy ba lô. Cậu thanh niên bỏ ba lô, nhảy ào xuống thuyền sắp rời bến, một mực đòi đi theo đơn vị. Giằng co hơn nửa giờ trên bờ sông mới dìu được đồng chí trở lại.

Tới trạm 74 lúc 9 giờ sáng, anh Trạm trưởng cho biết có biệt kích nhảy xuống giữa hai trạm 73-74 từ hôm trước. Đang truy lùng. Từ sáng sớm máy bay trinh sát vũ trang DC-10 bay vè vè trên đầu. Đường bằng phẳng, phủ cát, dễ đi. Đến trưa tới nơi giao trực thì phản lực đến bắn, ném bom phía trước mặt.

Có tiếng súng phòng không 12 ly 7 từ mặt đất bắn lên. Trực thăng tới ném cối, bắn rốc két. Phía trước mặt trên trục đường đi, khá gần. Không đi tiếp được. Phải dừng lại trên một ngọn đồi có ít công sự cũ đã mục nát. Tiếng 12 ly 7 bỗng nhiên nổ rộ mấy loạt phía sau lưng về bên trái.

Đồng chí giao liên hốt hoảng: Nguy rồi, chúng nó đánh cả phía trước lẫn phía sau... Mọi người lùi lại, nấp vào một khe suối cạn. Bom cối, rốc két nổ xối xả cả phía trước lẫn phía sau. Bất giác lại nghĩ tới Xécgây. Chớ nên trở thành Xécgây trong lúc này...

Bốn giờ chiều mới ngớt máy bay, tiếp tục đi. Nhưng DC-10 lại vè vè trở lại như tiếc rẻ, bắn tiếp mấy loạt rốc két và đại liên xuống hai bên đường. Đêm không đến kịp trạm 73, chúng tôi vào ngủ nhờ một kho gạo nhưng nguyên tắc không cho khách qua đường ngủ nhờ trong kho. Phải gọi điện thoại lên Ban chỉ huy tiểu đoàn giao liên mới được bố trí ngủ nhờ trong một kho cũ.

Tới trạm 73, đường dây Xã hội chủ nghĩa bắt đầu có không khí mới. Các trạm, nhà cửa tương đối khang trang hơn. Trên tường có trang trí tranh ảnh. Thấy lại cái phích vỏ tre sản xuất ở Hà Nội. Chúng tôi ngắm nghía chiếc phích tre mà trong lòng thấy xốn xang như gặp lại người bạn cũ.

Anh tiểu đoàn trưởng giao liên người Huế, bạn cùng đơn vị cũ của anh Toản, Chính uỷ của Viện, lại biết anh Thìn. Như vậy là chỗ quen biết cũ cả.

Được anh chiêu đãi một bữa có thịt gà, cà bát.

Trạm 73 cũng là ngã ba đường rẽ đi Nam Bộ. Trước đây, đường vào chiến trường Nam Bộ (B2) phải qua B3, nhưng từ ngày Lon-non đảo chính Sihanúc, vùng giải phóng Campuchia mở rộng, nên đường đi B2 tách ra ở đây, qua Stungtreng, Krachiê đi B2 nhanh hơn và an toàn hơn, tiếp tế cũng dễ hơn.

Gặp một đôi vợ chồng cán bộ của B2 trên đường ra hậu phương, cũng vào trạm. Anh đã đứng tuổi, áo sơ mi kẻ ca rô xanh. Chị vợ trẻ, người gầy đét, đôi mắt to. Anh chị cùng là người Hà Nội. Câu chuyện vui vẻ về tình hình Nam Bộ, tình hình Tổng công kích Tết Mậu Thân ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

Sáng hôm sau, gặp lại anh chị trên đường ra trạm 72. Hai anh chị có một cậu cần vụ đi theo. Các đồng chí giao liên nhấm nháy, trêu tróc: “Ba cha con nhà kia đi chậm thế!”. Chốc chốc hai anh chị lại nghỉ. Chị vợ nhăn nhó bóp chân. Buổi chiều tới trạm 72, hỏi anh em giao liên mới biết đây là vợ chồng nhà báo Thép Mới. Anh vào chiến trường từ năm 1964, đã đi hầu hết các tỉnh miền Nam, khi đi công khai, khi đi bí mật. Anh thích thú kể lại chuyện ăn hủ tiếu trên đường 14. Chúng tôi thường cho cách viết của anh giống cách viết của nhà văn Nga Erenburg. Nghĩ tới thiên phóng sự nổi tiếng của Erenburg trong Đại chiến 2 “Trên những con đường Châu Âu”, tôi nói đùa với anh Thép Mới: “Anh chắc có đủ tư liệu để viết “Trên những con đường Đông Dương” rồi đấy!”. 

Tới trạm 72, anh chị vào Bệnh viện điều trị, chị đau chân quá không đi nổi. Chúng tôi tiếp tục đi. Gặp một đoàn cháu nhỏ miền Nam ra Bắc học. Các cháu tuổi từ 12-13 đến 16-17. Có cả nam và nữ. Mũ tai bèo, áo rằn ri, quần ống nhỏ bằng vải xanh. Mỗi cháu một túi nhỏ đeo sau lưng. Một cháu gái quê ở Sài Gòn. Ba má đi bộ đội chiến đấu ở Sài Gòn. Cháu gầy xanh nhưng đôi mắt sáng thông minh. Tóc chấm vai thật dễ thương. Cháu học lớp năm. Từ hôm ra đi chưa khóc vì nhớ nhà lần nào...

Có thêm những đoàn thương binh từ B2 ra. Nhiều thương binh nằm lại các trạm dọc đường vì không đủ lực lượng cáng. Chuyện dọc đường, chuyện các chiến trường rôm rả. Mỗi lần gặp đoàn từ hậu phương vào, câu đầu tiên hỏi là: “Quê đâu đây? Có ai ở Nam Hà không? Có ai ở Vĩnh Phú không?”. Rối rít... “Thanh Hoá, huyện nào?”. “Thọ Xuân, xã nào? Thôn nào?”. Thế là nhiều lúc bất ngờ gặp đồng hương, giở gói thuốc lá, mời nhau một điếu, hỏi thăm tin tức một vài người quen. Giở sổ tay, ghi gấp một vài địa chỉ, rồi lại bắt tay nhau, người đi vào, kẻ đi ra.

Ăn uống dọc đường tuy có khó khăn nhưng vẫn bảo đảm 7 lạng gạo một ngày. Qua trạm 71 đã có thịt hộp. Anh trạm trưởng xem giấy giới thiệu biết chúng tôi là đoàn cán bộ đi công tác, nên dặn: “Khi lấy cơm thì lấy cửa sau, được thêm một đĩa thịt hộp”. Anh em phấn khởi quá, đến trạm nào cũng hỏi: “Có được lấy cửa sau hay không?”.

Thư anh em gửi về gia đình nhiều quá. Đầy một ba lô nặng. Đến một trạm nghỉ, chúng tôi đem ra xem lại: Tất cả hơn năm trăm lá thư! Có người viết mười một lá thư, trong đó có năm lá gửi cho vợ, cùng một nội dung. Cậu Quảng y sĩ, viết năm lá thư, cùng viết một đêm, để năm phong bì khác nhau nhưng gửi cho cùng một địa chỉ. Thì ra, vì sợ thư thất lạc nên nhân có người ra viết cho “ăn chắc”. Không nghĩ gì đến công sức của người mang thư gùi chúng trên lưng, đi hàng tháng ròng.
_____________________________________
1. Đường dây 559.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #101 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:04:29 PM »


Ngày 20 tháng 7 năm 1971. Ra tới trạm 51, sau hai lần nghỉ dọc đường. Số hiệu các trạm không liên tục, để giữ bí mật, từ trạm 72-71 nhảy xuống trạm 65, 64.

Ở trạm 63 được xem hai buổi chiếu phim. Một buổi chiếu vào lúc 8 giờ đêm, một buổi vào lúc 4 giờ rưỡi sáng. Tuy giờ chiếu thật bất thường, nhưng mọi người vẫn cố gắng, ngồi xem chật cả một khu rừng.

Nhân ngày nghỉ ở trạm 54, được biết có một đội điều trị ở gần, chúng tôi rủ nhau vào thăm để kiếm một chút prôtít. Kinh nghiệm đi đường cho chúng tôi thấy tình cảm đồng nghiệp rất mạnh mẽ giữa anh em quân y.

Trong đoàn chúng tôi, có người là giáo viên lâu năm học Học Viện Quân y, người là học viên nhà trường, nên đến bất cứ một đơn vị quân y nào, dọc đường giao liên, chúng tôi cũng gặp học sinh cũ hoặc bạn học cũ. Có dịp trao đổi kinh nghiệm hoặc được thông báo tin tức về tình hình trong ngành, và thường kết thúc bằng một bữa liên hoan.

Ở Đội điều trị, gặp bác sĩ Tân, đội trưởng, cũng là Học viên của Học Viện Quân y. Anh Hiếu giới thiệu kinh nghiệm điều trị thương bệnh binh ở B3.

Trong câu chuyện, anh Tân phàn nàn: “Nghe nói ở Tây Nguyên các anh có cây Lântơuynh, chữa vết thương hay lắm. Thế mà ngoài này, chúng tôi kiếm không ra!”. Dược sĩ Lôi, trong đoàn chúng tôi “A!” lên một tiếng rồi chỉ lên ngọn cây: “Lântơuynh kia kìa!”.

Thì ra các anh ở ngay dưới gốc cây Lântơuynh mà không biết! Anh Lôi giới thiệu hào hứng cách thu hái, bào chế và công dụng Lântơuynh. Chiều hôm đó, chúng tôi được chiêu đãi một bữa thịt gà thật xứng đáng.

Thời gian biểu của chúng tôi trên đường đi trở nên rất đều đặn. Hàng ngày khoảng 4 giờ sáng dậy, rửa mặt, ăn sáng. Nhận mỗi người một gô cơm để ăn trưa. Khoảng 6 giờ sáng lên đường, theo sau một đồng chí giao liên dẫn đường. Khoảng 9 giờ rưỡi - 10 giờ tới chỗ trực giao liên, nơi giao liên trong ra và ngoài vào gặp nhau, bàn giao “khách”, tài liệu. Sau đó “khách” tiếp tục theo giao liên trạm ngoài đi ra còn đoàn thì lại được giao liên trạm dẫn vào… 11 giờ trưa nghỉ ăn cơm trưa, 12-1 giờ chiều đến trạm mới. Hai trạm cách nhau khoảng 5-6 giờ đi bộ. Chỉ thỉnh thoảng mới có trạm xa, như trạm 54-55 cách nhau 8 tiếng. Khoảng cách ở đây tính bằng giờ đi bộ, không tính bằng cây số.

So với năm 1966, khi chúng tôi vào, đường đi đã được cải tiến nhiều. 6 giờ đi của khách “lẻ”, tức là những đoàn khách ít người, thường tương đương với khoảng 9 giờ đi của khách “đoàn”, - tức là những đoàn hành quân đông - đại đội hay tiểu đoàn.

Năm 1966 các trạm xa nhau hơn nên đi rất mệt. Nay đường đi cũng bằng phẳng, tương đối dễ đi hơn. Các cây gỗ to đổ ngang đường được dọn dẹp, chỗ dốc có đánh bậc. Qua suối có cầu, có tay vịn. Về mùa mưa được chống lầy bằng những phên tre hoặc bằng những thanh gỗ đặt ngang đường cách nhau vừa một bước chân để khỏi lội xuống bùn.

Khách đi trên đường giao liên như đi trên một chuyến tầu. Các trạm giao liên như các ga nhỏ. Những thanh gỗ chống lầy, đặt ngang đường như những thanh tà vẹt trên đường sắt. Tới mỗi ga, có người mới lên tầu, có người xuống là những người đi tách sang chiến trường khác hoặc ốm đau phải dừng lại các trạm.

Theo quy định thì mỗi ngày đi một trạm và cứ khoảng 4-5 trạm được nghỉ một ngày, nhưng với đoàn đi ra, với sức “mã hồi” có đoàn đi dồn hai trạm một ngày. Riêng chúng tôi thì vẫn di mỗi ngày một trạm, nhưng có khi 7-8 trạm mới nghỉ một ngày.

Trời khi mưa, khi nắng. Từ hôm ra đi đã có bốn lần báo bão, từ cơn bão số 6 tới cơn bão số 9. Chưa lần nào bão vào tới Trường Sơn, nhưng mỗi lần báo bão thì ở đây lại có mưa to. Chúng tôi cứ theo tin của Nha khí tượng báo bão để định ngày nghỉ.

Tới nay, chúng tôi đã vượt 3 con sông Xê Ca Sụ, Xê Ca Mán và sông Bạc.

Sông Bạc khá rộng. Máy bay địch kiểm soát ngày đêm. Hai bên bờ bị bom đánh phá trụi, không có chỗ ẩn nấp. Hành quân tới gần bờ sông nghỉ lại, chờ tới năm giờ chiều thì vượt sông bằng thuyền. Cũng còn may là do trời nưa nên giao liên cho chúng tôi qua sông lúc trời còn sáng. Đi thêm một giờ nữa tới trạm.

Từ Bắc Xê Ca Mán, ăn uống kém hơn. Thức ăn chủ yếu là nước mắm, thỉnh thoảng mới được bữa canh rau sắn. Khách ra cũng đông lên dần. Sau trạm 75 gặp đường dây Nam Bộ ra, tới trạm 61 gặp thêm đường dây khu 5, từ Quảng Nam - Đà Nẵng ra. Hàng ngày xấp xỉ có 300 khách.

Từ trạm 75 chúng tôi vẫn đi cùng với đoàn các cháu từ Nam Bộ ra. Dọc đường đi, chúng tôi đã trở nên thân thiết. Mỗi cháu như Phương, Hiếu, Tiến là cả một cuộc đời chiến đấu. Cháu Tiến 11 buổi, gia đình có 6 người chết 5, chỉ còn mình cháu được đưa ra Bắc học. Cháu Hiếu, bố mẹ là cán bộ hoạt động ở Sài Gòn, gửi cháu cho ông bà nuôi từ bé. Cháu kể: gặp ba má, không biết kêu là chi! Cháu Nam, bé loắt choắt, mỗi lần leo dốc lại kêu: “Chu cha! Dốc quá trời, quá đất!”. Lúc ra đi từ B2, đoàn có 32 cháu. Qua sông Bạc, chỉ còn 12. Ốm nằm lại ở các trạm dọc đường những 20 cháu.

Tới trạm 61, chúng tôi gặp đoàn Quân y khu 5 cùng ra dự Hội nghị Quân y chiến trường. Anh em gặp nhau mừng tíu tít. Biết thêm một số tình hình công tác ở khu 5. Nói chung rất gian khổ ác liệt. Anh em cho tôi biết tin một người cháu đã hy sinh đầu năm 1971, cháu là bác sĩ Hoàng Khâm, con chị họ tôi, chị giáo Sen. Có trạm xá 50 nhân viên hy sinh 25 người trong năm 1970, năm 1971 hy sinh thêm 10. Khâm phụ trách một bệnh xá bám trụ sát vùng địch. Anh em khen là công tác tốt lắm. Rất dũng cảm. Trong một chuyến đi công tác, rơi vào một ổ phục kích và bị bắn chết.

Nhiều đoàn thương binh đi ra, lẻ tẻ. Đoàn 4-5 người, đoàn 2-3 người. Từ trạm 52 bắt đầu có tổ chức chuyển thương binh bằng ôtô. Mất 4 ngày ra tới Quảng Bình. Nhưng gay go ác liệt lắm.

Việc mua bán đổi chác bắt đầu phát triển. Dọc đường giao liên, từng tốp dân địa phương tụ họp 4-5 người một chỗ, ngồi túm tụm cạnh đường, đổi bí, ngô, gà cho bộ đội, lấy muối, bật lửa, quần áo. Trong trạm cũng mua bán đổi chác. Đang ở trạm 54, một nhân viên của trạm vào hỏi: các anh ở chiến trường ra, có bút bi, bán cho tôi một chiếc.

Anh Hiếu trả lời bốp chát: “Chúng tôi vào chiến trường lâu, quên mất chuyện mua bán rồi. Nếu có thì chúng tôi cho nhau thôi chứ không bán!”.

Có lẽ cũng vì mua bán đổi chác nên chuyện ăn cắp vặt phát triển. Thỉnh thoảng lại có người kêu mất cái võng, đôi dép, cái quần, cái áo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #102 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:04:49 PM »


Ngày 24 tháng 7 năm 1971. Đến trạm 51, thấy anh trạm phó vui vẻ báo tin: “Chiều nay, nếu về kịp, các anh sẽ có thịt voi ăn!...”.

Trạm bắn được voi, cách trạm ba giờ. Nhưng đến chiều chỉ thấy có cơm với nước mắm. Sáng hôm sau cũng vẫn nước mắm với cơm. Thịt voi chưa về kịp. Từ hôm rời Tây Nguyên đến nay đã gần một tháng. Túi ruốc dự trữ mang theo đã gần cạn. Tôi nảy ra một ý, bảo anh em... “Ta nghỉ đây một hôm thôi”.

Anh Hiếu trố mắt: “Ta vừa nghỉ hôm kia, hôm nay lại nghỉ sao?”. Trong khi mọi người đang mong từng ngày, từng giờ, nhanh chóng ra tới Hà Nội, thì việc nghỉ lại quả là điều không ai muốn.

Tôi nháy mắt, nói nhỏ với anh Hiếu: “Ông không biết sao? Thịt voi...”. Hiếu hiểu ý. Thế là phân công: anh Lôi đắp chăn, nằm trên võng rên hừ hừ, giả vờ ốm. Còn anh Thêm và anh Hiếu lên gãi đầu gãi tai với trạm trưởng “Đêm hôm qua, đoàn chúng tôi có một đồng chí sốt cao quá. Xin cho nghỉ lại một ngày!”.

Trạm trưởng phân vân, 7 người ở lại một ngày, tức là trạm mất thêm 7 ngày gạo! “Đây không phải là trạm nghỉ. Hay là các anh cứ để đồng chí ốm ở lại, chúng tôi sẽ chăm sóc rồi đi theo sau. Còn cả đoàn thì cứ đi!”.

Hai anh năn nỉ: “Chúng tôi đi chín mười ngày chưa nghỉ rồi. Lại là đoàn Quân y, có đủ thuốc men chăm sóc cho nhau. Để một đồng chí ở lại, anh em không yên tâm. Chúng tôi chỉ nghỉ lại một ngày thôi. Mai sẽ đi!”.

Cuối cùng, trạm trưởng phải miễn cưỡng đồng ý cho chúng tôi nghỉ lại.

Kinh nghiệm khi bắn được voi, không bao giờ có thể ăn hết thịt. Nhìn đoàn các cháu miền Nam đi cùng đường với chúng tôi gần nửa tháng nay, cũng không có gì ăn. Cháu nào cũng vêu vào cả. Tôi rỉ tai với anh phụ trách đoàn. Anh đồng ý ngay, cũng lên nằn nèo với trạm trưởng xin ở lại.

Anh Hiếu phát huy tình cảm đồng nghiệp với cậu y tá của trạm. Cậu y tá tiết lộ cho biết một tin quan trọng: “Lúc nữa, em cũng có người ra chỗ bắn voi”.

Thế là cậu Sinh cùng với một thanh niên trong đoàn các cháu miền Nam khoác một cái gùi, lưng đeo một con dao găm lẳng lặng đi theo anh y tá trạm xá vào rừng.

Trong khi chờ Sinh đi lấy thịt voi về, chúng tôi phân công nhau, người thì mài dao, người lấy củi, chuẩn bị xoong nồi, thớt... anh Thiêm nhanh chóng chăng một tấm màn che bằng chiếc võng, ngăn đôi căn nhà hầm chúng tôi để lấy chỗ nấu nướng cho kín đáo.

Buổi trưa, Sinh gùi về một gùi thịt voi còn tươi roi rói. Đúng như tôi phán đoán: đơn vị bắn được voi không thể nào lấy hết thịt và sẵn sàng chia sẻ với các đơn vị qua đường.

Thật mừng. Trong căn hầm không khí náo nhiệt hẳn lên. Mọi người tay dao, tay thớt xúm vào thái thái, băm băm. Tôi cũng cầm dao định tham gia lao động với anh em thì anh Hiếu ngăn lại chỉ cho tôi chiếc võng mắc sẵn phía ngoài tấm màn che: “Thôi anh không phải làm gì, cứ mặc chúng tôi. Anh chỉ có một việc là nằm khểnh trên võng, vặn đài thật to, canh cho chúng tôi hoạt động”.

Mọi người đang thái thái, băm băm, thì một cậu bộ đội trẻ, bước vào nhà, nói giọng run run: “Nghe nói các anh có thịt voi. Các anh bán cho em 10 đồng! Một tháng nay, em bị ốm mà không có miếng thịt nào. Thèm quá!”.

Nhìn cậu thanh niên gầy gò, mặt xanh như tầu lá... thật vừa thương hại, vừa buồn cười trước đề nghị bán thịt của anh. Anh Hiếu liền xẻo một miếng thịt to trong gùi, dúi vào tay anh ta và dặn: “Thịt đây... Nhưng bí mật đấy nhé... Cả cái bãi khách này, mỗi thằng đến xin chúng tao một miếng thì còn gì!... Nếu muốn nhiều hơn thì chúng tao chỉ cho chỗ mà đi lấy! Trong ấy còn khối!”.

Bữa chiều hôm ấy, và sáng hôm sau, đoàn chúng tôi và đoàn các cháu miền Nam được hai bữa thịt voi thoả thích. Mỗi người còn có một gói thịt voi khô đeo trên lưng để dự trữ dọc đường.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #103 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:05:09 PM »


Ngày 4 tháng 8 năm 1971. Đường đi vẫn hôm mưa, hôm nắng. Qua các trạm 45-44 đường rất lầy lội khó đi. Hôm đến trạm 45, đang mắc võng, chuẩn bị để nghỉ thì có tiếng nổ ở nhà bên. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau: Có lẽ ai đó lau súng bị cướp cò hay sao? Nhưng anh Hiếu ở ngoài về báo tin: Một cán bộ đại đội tự sát bằng một phát súng K54, bắn xuyên tai phải sang tai trái, chết ngay trên giường. Không rõ nguyên nhân. Thật là bi thảm!

Một đoàn cán bộ đặc biệt ra hậu phương công tác. Đoàn của anh Trần Văn Trà, Tư lệnh trưởng mặt trận Nam Bộ. Chúng tôi gặp anh ở một trạm nghỉ giữa đường. Anh người cao, gầy, mặc một bộ quần áo xám. Đội mũ tai bèo, không đeo ba lô. Đoàn đi rất nhanh. Cứ đều đặn một ngày đi hai trạm.

Chúng tôi vẫn cùng đường với các cháu miền Nam. Các cháu gái thuỳ mị, dịu dàng, giữ dáng điệu của các cô em gái, chị gái. Tới trạm là sà vào bếp, giúp đỡ anh chị em cấp dưỡng, giúp nấu cơm, thái măng. Còn bọn con trai thì nằm khoèo, tán chuyện. Khi đi đường bọn con trai lại mang đỡ ba lô cho bọn con gái. Tới chỗ nghỉ thì rúc vào rừng lấy măng, xách từng xâu măng lủng lẳng về để cải thiện.

Trên đường, một đồng chí thương binh mù cả hai mắt, từ chiến trường Nam Bộ ra. Tiêu chuẩn đi cáng, nhưng vì không có người cáng, nên anh đi bộ. Anh đi rất nhanh. Hai tay cầm hai chiếc gậy. Một chiếc đưa cho đồng chí giao liên dắt. Một chống lên đường. Chân bước rất cao. Anh giao liên thì luôn miệng nhắc: “Có gốc cây nhé! Cẩn thận có hố sâu đấy! Chỗ này bước lên cao...” và anh thương binh nhanh nhẹn đi theo, miệng luôn luôn mỉm cười. Anh quê ở Quảng Ngãi, đã chiến đấu ở khu 5, lên Tây Nguyên, vào khu 6 rồi vào Nam Bộ. Bị sức ép bom trong một trận đánh đồn. Máu mũi, máu tai, máu mắt chảy giàn giụa. Đầu sưng to bằng cái tráp. Hai mắt lồi hẳn ra, đã tưởng chết. Nhưng đi điều trị, khỏi dần, nhưng hai con mắt hỏng hẳn. Ai trông thấy anh cũng chép miệng ái ngại. Nhưng anh thì lại luôn luôn vui vẻ. Miệng lúc nào cũng cười…

Ngày 31 tháng 7 từ trạm 41 sang 40 vượt qua sông. Trạm 40 mới di chuyển nên còn chật chội. Đây là ngã ba đường vào chiến trường Trị Thiên. Có thêm cán bộ, thương bệnh binh từ Trị Thiên ra và cũng có thêm các câu chuyện của chiến trường này.

Buổi chiều tôi mắc võng dưới gốc cây. Trên trời một vài đám mây trắng bồng bềnh... Không khí đang yên tĩnh bỗng bị khuấy động bởi tiếng máy bay địch. Một chiếc DC-10 bắn một phát pháo hiệu xuống đâu đó ở gần. Những chiếc phản lực như những chấm đen tít ở trên cao nhào xuống nhanh như những con chim cắt, tiếng bom rung động nhà, tiếng đại liên rốc két, liên tục. Đêm tối, vẫn còn tiếng bom nổ từng hồi xa xa. Tiếng DC-10 bắn đại bác 40 ly nổ ùng ục từng tiếng một.

Ngày 1 tháng 8 từ trạm 40 sang trạm 36, đường đi mất 7 tiếng. Trời nắng, đường dễ đi. Trạm mới bị B52 đánh cách đây 10 ngày. Mới di chuyển, chưa có nhà cửa. Tất cả nằm rừng.

Dọc đường, nhân dân địa phương ngồi chờ để đổi chác cho bộ đội tương đối đông. Túm tụm đám ba, đám năm người như những cái chợ nhỏ. Ít đá lửa đổi lấy bắp ngô, đôi pin đổi mấy củ sắn. Có người đổi cả dao găm, quần áo... Hàng hoá trao đổi cũng có vẻ phong phú hơn. Ở một gốc cây treo lủng lẳng hai chiếc đài bán dẫn National kêu inh ỏi. Một thanh niên dân tộc chỉ cái kính tôi đang đeo hỏi: “Mình ưng cái kính, đổi cho mình cái kính”. Tôi gật đầu giả vờ đồng ý. Tháo kính đưa anh ta. Anh đeo kính vào mắt và vội bỏ ra: “Mình không thấy gì cả”.

Đến trạm 15 sau khi qua sông Xê Băng Hiên. Quang cảnh nhiều thay đổi. Đường ôtô dọc ngang như bàn cờ. Ở nhiều đoạn, đường giao liên chập vào đường ôtô, vết bánh xe hằn sâu trên đường.

Qua một trạm sửa chữa ôtô. Một ngôi nhà tre, cao, to lợp toàn ni lông. Không khí đầy mùi xăng dầu khét lẹt. Hàng chục chiếc ôtô, méo mó xiêu vẹo đổ ngổn ngang dưới cây rừng. Đường lầy lội, từng mảng xăng dầu bốc mùi khét lẹt loang lổ trên mặt đất. Các công nhân gầy guộc cầm cụi bên các xe ô tô méo mó, han rỉ. Không chiếc xe nào có kính, thùng xe, mui xe lỗ chỗ vết đạn.

Gặp nhiều đoàn khách vào chiến trường. Có cơ quan chỉ huy các đơn vị mới thành lập: Đoàn 470, 471, các phái viên của Bộ. Một tiểu đoàn pháo 37 ly lên đường vào B3 nhưng vì gặp mùa mưa không đi được. Xe, pháo cất giấu trong rừng, còn lái xe, y tá được điều đi giúp các trạm giao liên làm công tác chuyển thương, chuyển gạo.

Có thể thấy bộ đội đang khẩn trương chuẩn bị cho hoạt động mùa khô 71-72. Các cán bộ, như những ban tham mưu nhỏ, bàn tán sôi nổi hướng chiến dịch năm nay. Mấy anh khu 5 thì quả quyết cho là sẽ đánh ở Tây Nguyên, vì có đánh Tây Nguyên mới mở được đường xuống đồng bằng.

Ở trạm 32 tôi gặp anh Trứ, phái viên của Tổng cục Hậu cần. Mấy năm nay, anh như con thoi đi lại giữa các chiến trường. Năm ngoái, anh đi vào B2 rồi qua B3. Hồi đầu năm, gặp anh ở trạm 74 đi ra chuẩn bị cho kế hoạch X. Sau đó anh ra hậu phương. Nay lại gặp anh đang trên đường vào chiến trường.

Tôi gọi đùa anh là Phái viên Đông Dương của Tổng cục.

Ngồi chơi với anh một buổi chiều. Anh kể chuyện Hà Nội, miền Bắc. Anh đãi tôi một miếng lương khô BA72 của Trung Quốc, có sô cô la, thật ngon. Anh dặn tôi: “Khi qua trạm 12, nhớ mang cho chị Hương một nhánh phong lan ở một bản bỏ hoang gần trạm giao liên. Tôi đã đếm có 7 loại phong lan cả thảy”. Anh còn dặn thêm: “Nhưng lấy ít thôi nhé, để dành cho tôi khi trở ra tôi lấy”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #104 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:05:50 PM »


Ngày 10 tháng 8 năm 1971. Càng ra các trạm ngoài, càng ít thấy giao liên đi cùng. Buổi sáng, khi chúng tôi lên đường thì giao liên tụt lại sau, chỉ đầu mỗi con đường để chúng tôi tự đi. Có cậu giao liên nói khách ra, chẳng cần dẫn đường cũng tới được trạm. Nhưng thật ngạc nhiên, khi tới chỗ trực đã thấy cậu giao liên ngồi chờ sẵn rồi. Như vậy cậu đã đuổi kịp và vượt đoàn lúc nào mà mình không biết. Lúc đầu, chúng tôi không để ý, chỉ cảm thấy ngạc nhiên, nhưng cũng cho là do mải đi, không để ý, nên anh em vượt lúc nào không hay. Về sau mới vỡ nhẽ, trong rừng, có đường tắt đi qua rẫy. Giao liên không muốn cho khách đi qua, có thể vì sợ đi đông người dễ lộ, lại cũng có thể sợ khách phá nương. Nên cứ mặc để khách tự đi trên những con đường mòn có đánh dấu sẵn bằng cách rấp lá cây vào các chỗ rẽ. Còn giao liên thì ung dung theo đường tắt, nên đi sau mà lại đến trước. Chính vì thế cho nên mới xảy ra chuyện. Trạm 32 sang trạm 31, cả đoàn có khoảng hơn ba chục người trong đó ngoài các cán bộ đi công tác còn có nhiều thương bệnh binh mất sức chiến đấu. Như thường lệ, không có giao liên dẫn đường. Tới một ngã ba trên đỉnh đồi. Con đường bên phải rấp đầy cành lá. Đó là dấu hiệu quy ước, đường không đi. Chúng tôi đi theo đường bên trái. Nhưng thật bất ngờ, con đường rừng cứ thấy nhỏ dần, càng đi càng rậm rạp. Không thấy bóng người qua lại nên không biết đâu mà hỏi. Đi mất gần hai tiếng đồng hồ mới gặp một đoàn bộ đội đóng trong rừng: “Các anh đi lạc đường rồi. Quay ra thôi!”. Lại lần mò hai tiếng nữa dưới trời mưa, đường trơn, mới trở lại chỗ ngã ba bị lạc. Thì ra, có một đơn vị mới đến đóng trong rừng, sáng hôm đó, đi lấy gạo, nên rấp lại đường khỏi lạc!

Mọi người bực lắm. Mấy đồng chí thương binh chửi um. Một thương binh cụt chân, tập tễnh trên đôi nạng, quát to: “Giao liên đâu, giao liên đâu?...”. Không ai trả lời. Anh bỏ nạng, ngồi phịch xuống một cây gỗ cạnh đường, nghiến răng: “Tôi mà vớ được khẩu AK thì tôi bắn bỏ mẹ mấy thằng này”. Mấy anh cán bộ ngồi gần lên tiếng can: “Thôi, chúng tôi cũng đi lạc đây, cũng bực lắm. Nhưng anh em có khuyết điểm thì báo cho trạm biết để kiểm điểm thôi”. Anh thương binh vẫn bực bội: “Ở chiến trường, không chết vì Mỹ khéo ra đây chết vì mấy thằng giao liên này! Tôi mà biết thằng nào dẫn đường hôm nay, tôi phải vụt cho nó mấy gậy”.

Quan hệ giữa thương binh và các trạm giao liên trên đường dây những ngày này có nhiều chuyện căng thẳng. Thỉnh thoảng lại có xô xát, đánh chửi nhau... Thậm chí, đã có trường hợp, thương binh nổ súng, bắn chết một cán bộ đại đội giao liên!

Các trạm giao liên thì phàn nàn có thương binh giết lợn tăng gia của trạm. Một trạm trưởng kể lại: “Các tướng ấy tài lắm, cả một con lợn sáu bảy chục ký mà mấy ông ấy lôi vào rừng, chỉ có con dao và một cái hăng gô cũng làm lông, đánh tiết canh, xào nấu ăn hết được!”.

Trạm khác thì đưa chúng tôi xem một tang vật là một sợi dây cước dài, đầu buộc một lưỡi câu: “Đây các anh xem. Giữa ban ngày, ban mặt, các ông ấy ngồi trong lán, thả cái lưỡi câu, có móc con giun ra vườn. Thế là con gà mái tơ của trạm đang kiếm ăn gần đó, bập ngay vào. Các bố cứ ngồi trong nhà kéo sợi dây. Con gà khốn nạn, bị mắc vào họng không kêu được một tiếng, chỉ vỗ cánh sành sạch, bị lôi vào nhà”. Anh thở dài lắc đầu: “Thương binh mà! Công thần lắm các anh ơi!”. Tôi chỉ nhận xét: “Chả phải thế đâu. Ở đây các anh chỉ có 50-70 thương bệnh binh qua trạm một ngày, chứ ở trong kia, chúng tôi có hàng ngàn thương binh, mà điều kiện còn khó khăn hơn đây nhiều. Căn bản là ở thái độ phục vụ... Trong kia khi họ thấy chúng tôi chịu đói khổ như họ, hàng ngày từ Viện trưởng, Viện phó đều vào rừng hái măng cho họ ăn, thì họ chỉ có thương chúng tôi, không làm gì có chuyện đánh chửi nhân viên. Thậm chí không một ai nói nặng lời với nhân viên chúng tôi... Còn ở đây, trong khi họ phải ăn đói, mà các anh vẫn đổ cả rổ cơm cho đàn lợn hàng chục con béo múp míp của trạm thì họ giết lợn của các anh là không oan đâu”.

Từ trạm 31 chuyển sang trạm 15, qua một dốc núi cao, đi trong mây mù mịt. Leo dốc toát mồ hôi nhưng tới chỗ nghỉ, ngồi một lúc là thấy rét. Những bãi bom B52 ở cạnh đường, tiếng máy bay quần lượn suốt ngày trên khu vực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #105 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:06:16 PM »


Ngày 16 tháng 8 năm 1971. Đến trạm 12, gặp đoàn cán bộ của Cục Quân y vào chiến trường, có anh Nguyễn Sỹ Quốc, Cục phó Cục Quân y, anh Bùi Đại, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm và là bạn cùng lớp với tôi.

Vui mừng tíu tít, các anh chuyển cho tôi một tập thư của hậu phương. Tôi liếc nhìn qua phong bì, thấy có thư của các bạn, của các anh chỉ huy Viện 108... nhưng không có thư của Hương và gia đình làm cho tôi hơi ngạc nhiên. Chiều và tối hôm đó tíu tít chuyện hậu phương, chuyện chiến trường, nên tôi chưa kịp đọc thư.

Tối hôm đó, tôi nằm ngủ với anh Đại, tiếp tục câu chuyện về tình hình Hà Nội, bạn bè 108, 103, tôi thì kể về các kinh nghiệm đi đường và công tác ở chiến trường. Thỉnh thoảng anh Đại lại hỏi gặng tôi: “Đã lâu anh có nhận được thư của chị không?”. Nhưng tôi cũng không để ý.

Sáng hôm sau, các anh chuẩn bị lên đường. Còn chúng tôi là ngày nghỉ nên tiễn các anh lên đường rồi mới quay về nhà, mở thư ra đọc. Thư của anh Lý, Chính uỷ 108, mở đầu bằng một câu làm cho tôi sửng sốt: “Chắc anh đã nhận được thư của chị về tin cháu mất. Chúng tôi đã ra chia buồn với chị...”.

Trời ơi, lẽ nào như vậy sao? Con gái độc nhất của tôi, Lộc mất rồi sao?...

Mở vội những thư khác của các anh Vinh, Âu... không có tin gì thêm.

Tôi vứt tập thư lên võng, chạy đuổi theo đoàn anh Đại. Các anh đi chưa xa nên đuổi một đoạn thì kịp. Anh Đại bối rối, nói thực: “Đúng là cháu mất, trong một tai nạn. Cháu lên sân thượng phơi quần áo, trượt chân ngã. Thấy anh đang đi ra vui vẻ, nên chúng tôi không muốn để anh buồn. Chỉ vài ngày nữa về tới nhà, anh sẽ biết tin”.

Một ngày liền, tôi nằm bẹp trên võng, cơm không muốn ăn, nước mắt cứ trào ra giàn giụa. Làm sao, làm sao lại như vậy được. Con thân yêu ơi!

Những ngày sau, tôi đi theo anh em mà cứ như đi trong mơ. Có thể như vậy được chăng. Hay là tin nhầm. Nhớ lại lúc ra đi, con khóc réo ôm chầm lấy bố, nhớ tiếng nói ngọng nghịu của đứa con gái nhỏ, khoẻ mạnh, thông minh, xinh xắn. Nhớ buổi chia tay trên con đường làng đất đỏ. Con líu lo kể chuyện, không hiểu gì về việc bố sắp vào chiến trường. Mấy hôm trước vẫn định qua trạm 10 lấy phong lan tặng con gái có chút quà Trường Sơn và sau này, mỗi lần sinh nhật con lại tặng con một loài phong lan mới. Hôm đi, bố hứa sẽ mua cho con một chiếc xe đạp mà chưa thực hiện được. Lại tưởng tượng hình ảnh con đầm đìa trong vũng máu. Trời, cái nhà gác quái ác, cái nhà ba tầng ấy như đè nặng lên tôi. Căn buồng nhỏ chật hẹp, quanh năm thiếu ánh sáng và không khí... và bây giờ thêm một tai hoạ, đứa con gái nhỏ ngã từ tầng thượng xuống.

Những năm dài trong chiến trường, lắm lúc nghĩ khi ra có thể không còn được gặp một vài người thân trong gia đình. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ rằng sẽ không gặp lại con gái.

Buổi tối nằm trong võng, sau những chặng hành quân dài mệt nhọc, nhớ tới con da diết và khóc như đứa trẻ. Lắm lúc tôi nghĩ không muốn ra nữa mà muốn quay lại chiến trường.

Những ngày sau tiếp tục đi, trời vẫn mưa sụt sùi. Chân lội bùn, leo dốc. Qua ngã ba sông Tà Lê, nước chảy cuồn cuộn. Tôi vẫn thấy hình ảnh đứa con gái bé nhỏ, ngây thơ, có giọng nói ngọng nghịu vẫn theo tôi như trong cơn mơ.

Trưa 15 tháng 8, chặng cuối cùng của đường hành quân đi bộ. Trên đường ôtô, các đoàn thanh niên xung phong, công binh nam và nữ lao động nhộn nhịp. Tiếng mìn nổ suốt ngày. Máy bay địch vẫn sèn sẹt trên đầu.

Buổi chiều ăn cơm xong, ra bãi chờ ôtô. Lội một quãng đường bùn lầy lội tới bắp chân, leo một dốc cao, qua một khu rừng kín, ra tới ngã ba đường ôtô, ở một bãi phẳng rộng, lầy lội trên một đỉnh đồi, có một vài công sự bên cạnh đường.

5 giờ chiều xe đến. Một chiếc xe Zin loại lớn, mọi người chen chúc nhau trên thùng xe. Một chiếc máy bay DC-10 vè vè đằng xa, chiếc ôtô trơ trụi giữa đường. Không khí căng thẳng, mọi người hồi hộp theo dõi. Chiếc DC-10, đang bay những vòng hẹp như đang quan sát mặt đất rồi lao xuống thấp, chui vào những đám mây đen, cút thẳng về hướng Đông.

Xe chuyển bánh. Sau vài phút đầu phấn khởi được đi ôtô, nhưng niềm phấn khởi không được lâu. Xe chạy băng băng trên con đường đầy ổ gà, ổ trâu, chồm chồm như con ngựa bất kham. Người ngồi chen chúc trên sàn xe, đầu gối, khuỷu tay anh nọ thúc vào ngực, vào bụng anh kia kêu oai oái cãi nhau ầm ỹ. Đôi mông nện thình thình như giã giò trên sàn xe có những thanh sắt ngang dọc, đau điếng. Đầu lắc lư, đập vào thành xe. Chiếc ba lô của người ngồi cạnh, có một thùng sát bên trong đè vào cẳng chân.

Con đường quân sự làm gấp, lại bị bom tàn phá, xe lắc lư chồm lên thụt xuống. Người ngồi trên xe cũng lắc lư, nhảy nhót theo, thúc vào nhau như tra tấn.

Xe cứ chạy băng băng. Tiếng đập ầm ầm lên thùng ca bin, chỗ lái xe ngồi, tiếng các thương binh la thét, chửi rủa ầm ỹ: “Chạy chậm lại, chạy chậm lại! Đ... mẹ chúng mày, chở người hay chở lợn đấy”. Một anh kêu to: “Gẫy cha nó cái xương sườn đây này. Đ... mẹ nó, chạy gì mà như đi ăn cướp thế?”. Tiếng đập vào ca bin ầm ầm nhưng xe vẫn lao vun vút trong đêm. Con đường chúng tôi đang đi nằm trên biên giới Lào - Việt mà lúc này Giônxơn đã phải ngừng bắn trên địa phận Việt Nam, nhưng tiếp tục đánh phá ác liệt trên đất Lào.

Lái xe biết rõ điều đó, nên phóng xe thục mạng để sớm sang địa phận Việt Nam, thoát khỏi khu vực có thể bị oanh tạc bất cứ lúc nào.

Đến một trạm ba-ri-e cạnh đường, một cây tre chắn ngang đường, ánh đèn dầu tù mù trong trạm. Căn hầm đào sâu vào vách núi. Những xác xe đổ, những mảnh sắt màu sơn còn mới, những hố đầy nước như những chiếc ao to ở cạnh đường.

Biên giới đây rồi. Bắt đầu từ đây sang địa phận tỉnh Quảng Bình. Xe chạy êm hơn. Con đường ngoằn ngoèo trên đỉnh núi, xuống thấp dần. Hai bên đường bắt đầu thấy lấp loáng ánh đèn của nhà dân ven đường, những thửa ruộng với những cây lúa mảnh dẻ như những bàn tay vẫy vẫy người đi xa trở về. Con đường trắng trắng đột ngột đen thẫm. Xe rú ga, chạy vút êm như ru. Đường nhựa đây rồi. Mọi người vui sướng báo tin cho nhau. Con đường như dải lụa phẳng, bánh xe lăn như bay.

10 giờ đêm, tới Cự Nẫm, trời xanh thẫm đầy sao. Chúng tôi hít thở thật sâu, ngửa mặt ngắm bầu trời không chán mắt. Ôi, hơn năm năm nay mới lại được trông thấy bầu trời cao lồng lộng, có những ngôi sao lấp lánh tít trên cao.

Sáng dậy, có cảm giác như một cuộc đời, như bừng tỉnh một giấc mơ dài khủng khiếp.

Cảnh vật đã khác hẳn. Mới hôm qua còn lội bì bõm, bùn ngập tới bắp chân, trời mưa sụt sùi, dưới những vòm lá rừng nặng sũng, liên tiếp như thiên la địa võng, tưởng không bao giờ hết. Thế mà hôm nay, đã như ở giữa mùa hè, nắng chói chang. Đường khô bụi mù rộng thênh thang. Tầm mắt nhìn hình như bỗng nhiên rộng rãi hẳn ra. Không còn bị các cây rừng chặn lại. Những xóm làng đông vui, những cánh đồng bằng phẳng tít tắp tới chân trời. Thấy một đàn trẻ em ríu rít đi học mà tôi thấy nao nao trong lòng, như thấy một cái gì thật mới lạ mà cũng thật gần gũi. Mới sực nhớ ra là trong hơn năm năm hầu như không trông thấy, không nói chuyện, không nghe thấy tiếng nói, tiếng cười, tiếng khóc của trẻ con.

Trạm giao liên đặt tại xã Cự Nẫm. Máy cày chạy trên cánh đồng, những đoàn dân công hoả tuyến từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, tập trung về đây để rồi tiếp tục đi ra phía trước.

Mọi người tranh thủ tắm giặt. Ở đây chỉ thấy thiếu một thứ quen thuộc ở chiến trường; thiếu một dòng suối mát! Ở đây phải tắm giếng, múc nước ở một hố bom. Giặt thoả thích hết quần áo, chăn màn, tăng, võng ba lô... như muốn rũ sạch hết bụi đường. Hưởng cái thú được tự do phơi phóng ngoài trời nắng. Đây là lần đầu tiên trong năm năm, được phơi quần áo ngoài trời mà không nơm nớp sợ máy bay, không bị ai la hét. Những rặng núi đã lùi ra xa, xanh xanh ở phía chân trời.

Chúng tôi ở lại Cự Nẫm hai ngày, chờ xe ra Hà Nội. Mỗi người được phát tiền “cửa rừng” là tiền tiêu vặt hàng ngày. Nhận được những tờ giấy bạc mới tinh còn thơm mùi mực in cũng làm cho tôi xúc động. Đã hơn năm năm nay, chúng tôi hầu như đã quên việc mua bán, không sử dụng đồng tiền, không có cửa hàng, không có chợ búa, chỉ biết lĩnh trên, phát dưới. Sống trong một hình thái kinh tế thật thô sơ, nguyên thuỷ, lấy hàng đổi hàng, không còn biết đến đồng tiền.

Sau hai ngày chờ ở Cự Nẫm, chúng tôi được ưu tiên đi xe. Mất thêm hai ngày đi ô tô ra Hà Nội. Đêm nghỉ ở Vinh, thành phố bị đổ nát, tan hoang. Lúc này tôi mới thật chắc là sẽ về tới nhà nên đi tìm trạm Bưu điện, điện cho gia đình báo tin sắp ra.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #106 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:06:40 PM »


Ngày 19 tháng 8 năm 1971 ra tới Hà Nội, trời mưa như trút. Hà Nội đang căng thẳng vì nước to, lo vỡ đê.

Nhận được điện, gia đình tôi ra đón ở trạm 66, đường Lý Nam Đế từ trưa hôm 19, ngóng chờ suốt đến chiều không thấy xe ra. Buổi tối xe mới tới nơi. Hương thấy tôi oà lên khóc. Em gầy hốc hác đi nhiều. Tôi ôm choàng lấy Hương rồi vỗ vào lưng, cố an ủi: “Anh biết tin con rồi... biết tin con rồi...”.

Theo đúng thủ tục đáng lẽ chúng tôi phải ngủ lại trạm đêm hôm đó, học tập nội quy rồi mới được về nhà. Nhưng trước cảnh các gia đình ra đón chồng con tấp nập, trạm đành phải linh hoạt cho về nhà luôn.

Sáng hôm sau, tôi bật dậy trong tiếng máy bay trực thăng nổ phành phạch trên trời. Hốt hoảng, tưởng như biệt kích đổ xuống đâu đây. Phải một lúc tôi mới hiểu ra là đang ở Hà Nội. Thì ra là máy bay trực thăng của bộ đội đang đi hộ đê, chống lụt!

Tối hôm đó và những ngày sau, gia đình tôi tấp nập như ngày hội, các anh chị em, họ hàng, bạn bè... mừng rỡ đến thăm hỏi. Cha mẹ tôi, lúc này đã ở tuổi trên 70. Hai cụ tuy gầy, nhưng mạnh khoẻ, hàng ngày vẫn đọc báo, xem sách. Mấy năm trước để tránh cuộc chiến tranh phá hoại, cha mẹ tôi phải đi sơ tán lên Bắc Giang, nơi vợ con tôi theo trường sơ tán, rồi lại lên sống với gia đình anh thứ năm của tôi, anh Lâm, kỹ sư thủy lợi ở Phú Thọ, rồi lên Đoan Hùng ở với gia đình chú em út, chú Vinh, dạy học ở đó và mới trở về Hà Nội từ khi Mỹ ngừng đánh phá miền Bắc.

Các anh chị tôi, anh chị Hoè, anh cả tôi, một kỹ sư cầu đường có kinh nghiệm. Anh đã khảo sát đường lên Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp và tham gia thiết kế đoạn đường mòn Hồ Chí Minh, từ Quảng Bình qua Lào. Các em tôi ở Hà Nội, đến thăm tôi ngay tối hôm đầu. Các anh em tôi, công tác ở các tỉnh xa từ Hải Phòng, Việt Trì, Đoan Hùng mặc dầu lụt lội, đi lại rất khó khăn cũng tấp nập về Hà Nội thăm tôi ngay ngày hôm sau.

Cũng ngay tối hôm đó, tôi sang thăm gia đình bên ngoại. Cha mẹ vợ tôi, đều vẫn mạnh khoẻ. Các em vợ tôi đều đã trưởng thành, người là sĩ quan quân đội, người thì đã tốt nghiệp các trường Đại học và đang tiếp tục đi nghiên cứu thực tập ở Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc.

Trong chiến tranh gia đình bên ngoại của tôi cũng bị mất một chú em rể, chồng cô Hồng, em út vợ tôi. Là một hiệu trưởng một trường miền Nam, chú được điều động vào công tác ở chiến trường khu 6 năm 1965, khi con gái đầu lòng, cháu Hồng Hà mới được bốn tháng. Sau đó bặt tin luôn. Hai năm sau, nhân có một đoàn cán bộ khu 6 ra hậu phương và nghỉ lại ở Bệnh viện 211, tôi mới hỏi được tin: Chú đã bị hy sinh trong một cuộc bắn phá của máy bay địch vào căn cứ.

Trở lại ngôi nhà cũ, nơi vợ chồng chúng tôi chung sống hơn mười năm nay, trong một căn phòng hẹp, nhìn chỗ con gái tôi trượt chân ngã từ sân thượng gác ba xuống đất mà không sao cầm được nước mắt.

Chúng tôi xuống thăm mộ cháu ở Văn Điển. Sau năm năm xa gia đình. Quà của bố mang về tặng con lại là một vòng hoa trắng? Chúng tôi ngồi bên mộ con một hồi lâu, cắm từng bông hoa lên mộ con. Nhìn nấm mộ con gái tôi mới 14 tuổi đời, nằm thẳng hàng giữa các ngôi mộ các cụ già 70-80 tuổi, thật là vô cùng đau xót.

Ngày 10 tháng 9 năm 1971. Chúng tôi thật bận rộn với việc đưa thư và quà của các anh em trong chiến trường gửi ra cho gia đình. Chúng tôi phải chia nhau. Một số thư ở xa thì đành phải gửi bưu điện. Còn các gia đình ở gần, khu vực Hà Nội, Hà Đông... thì cố gắng đến tận nhà đưa thư và thăm hỏi.

Những ngày này, nhà tôi tấp nập khách khứa ra vào. Ngoài anh em, bạn bè, họ hàng, số đông nhất là gia đình các anh chị em đang còn ở chiến trường. Biết tôi đi đã hơn năm năm, nhiều bà con, họ hàng bảo tôi rất chân thành: “Thôi đi thế là đủ rồi, để lượt người khác”. Có người nói ý tứ hơn: “Thôi hoa thơm, dành cho mỗi người hưởng một chút, các anh hưởng như thế là đủ rồi”.

Tới đâu cũng được mời ăn uống chiêu đãi. Tôi không còn đủ thời gian để đi dự hết các bữa liên hoan.

Đi họp về đến nhà, bữa nào cũng có ba bốn đám khách ngồi chờ. Không ai bảo ai mà mọi người đều đến thăm tôi vào đúng bữa cơm chiều, vì đúng lúc đó là tôi mới có mặt ở nhà.

Nhiều gia đình sau khi nhận được thư do chúng tôi chuyển ra, tìm tới tận nhà để hỏi thăm tin tức cho thật rõ. Có gia đình ở Nghệ An, Hà Tĩnh cũng ra, có chị ở Nam Định, Thái Bình về. Có anh em trong đơn vị tôi biết rõ có thể nói tỉ mỉ tình hình sức khoẻ, tình hình công tác. Nhưng cũng có người ở đơn vị khác, tôi không biết mặt, biết tên. Không hiểu sao gia đình cũng biết chúng tôi từ Tây Nguyên ra và đến hỏi thăm. Trong những trường hợp này, tôi cũng chỉ đành kể chuyện chiến trường chung chung. Cố gắng tìm những chuyện vui để bà con yên lòng.

Thăm các gia đình có người thân đi chiến trường lâu ngày, tôi thấy thật tội nghiệp. Nhiều chị héo hon vì chờ đợi. Nhiều lúc tôi nghĩ tới những hòn vọng phu. Có lẽ không phải không có lý do mà khắp trên đất nước mình, suốt dọc theo chiều dài biên giới, trên đất liền cũng như trên biển, đâu đâu cũng có những hòn vọng phu, những nàng Tô Thị! Chờ chồng đi xa đến hoá thành đá! Phải chăng đó là truyền thống đã trở thành huyền thoại của người phụ nữ Việt Nam?

Chắc chắn, những cảnh nhỡ nhàng, không chịu nổi nỗi cô đơn xa cách, không phải là không có. Nhưng đa số gia đình mà tôi gặp thấy đều thủy chung, chờ đợi.

Các chị kể lại cho chúng tôi nghe những cảnh gia đình thật éo le, những khó khăn do người chồng đi xa, và nỗi mong chờ ngày đoàn tụ. Nhiều gia đình chứng minh cho hình ảnh, được anh em ở chiến trường tổng kết tóm gọn ở 3 chữ d: “Vợ già, nhà dột, con dốt”, thật đáng buồn!

Đoàn chúng tôi, được coi như rất may mắn so mới anh em còn ở trong chiến trường, là dù sao cũng còn có dịp được thăm gia đình, sau năm năm xa cách. Tuy nhiên cũng gặp nhiều chuyện bất ngờ. Anh Hiếu khoác ba lô về khu tập thể, nơi anh chị ở, thấy quang cảnh đổi thay nhiều. Gặp một đám trẻ con đang chơi bi dưới sân, bỡ ngỡ hỏi thăm nhà, thì được một cháu chỉ một đứa đứng cạnh: “Đây con nhà bác ấy đây”. Anh trố mắt nhìn đứa trẻ mà anh không nhận ra đây là con mình. Khi ra đi cháu mới lên hai mà nay đã lên bảy, lên tám. Các anh khác cũng tương tự. Nhiều anh có hoàn cảnh khá éo le.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #107 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:07:03 PM »


Ngày 17 tháng 9 năm 1971. Nhân có việc phải lên Bắc Giang dự đám cưới của cậu Sinh, cần vụ của tôi, tôi nhận mang thư của anh em ở chiến trường gửi các gia đình ở Bắc Ninh.

Trong số thư có lá thư của một anh Binh trạm trưởng, gửi qua anh Thiêm đưa về cho vợ là một bác sĩ ở Bắc Ninh. Nhân tôi về anh Thiêm gửi tôi chuyển hộ.

Tôi và anh Hiếu đạp xe từ Hà Nội, gần trưa mới tới Thị xã Bắc Ninh và mất khá nhiều thời gian mới tìm ra nhà.

Căn nhà tềnh toàng, hiện rõ ra cảnh thiếu thốn của một gia đình bộ đội đi xa. Chị người bé nhỏ gầy gò. Chị tỏ ý rất vui mừng khi nhận được thư, vội vàng mở ra đọc ngay. Nhưng sau khi đọc, có vẻ tư lự, băn khoăn điều gì mà không nói ra.

Ngay cả khi biết chúng tôi đạp xe từ Hà Nội sang, chị cũng quên không mời uống nước. Câu chuyện nhạt nhẽo rồi chúng tôi cáo từ ra đi.

Tôi rất băn khoăn và ngạc nhiên. Cách cư xử của chị thật khác với biết bao gia đình mà tôi đến thăm.

Sau này trên đường vào lại chiến trường, tôi kể câu chuyện cho anh Thiêm nghe. Anh mới vỗ tay lên trán một cái rồi nói: “Chết rồi, bây giờ, tôi mới nhớ ra. Khi ông ấy gửi lá thư, có nhờ tôi cầm hộ cho chị một miếng cao voi! Nhưng vì nặng, nên tôi chỉ nhận thư. Có lẽ thư viết từ trước trong đó nói có gửi quà về cho gia đình. Anh ấy đã không kịp sửa lại khi tôi không nhận mang quà. Nên chị ấy đợi anh đưa quà mà không thấy, cũng không dám hỏi vì nể”.

Ngày 30 tháng 9 năm 1971. Từ hôm 20 tháng 9, chính thức vào Hội nghị. Họp liên tiếp một tuần rồi đi tham quan các cơ sở Dân y, Quân y viện 108, Quân y viện 9, Đại học Quân y, trường Quân y trung cấp, kho C, kho B, Bệnh viện Việt Đức, Viện Đông y... chương trình làm việc khá căng, trong khi đó tiếp tục làm việc với các cơ quan chức năng của Bộ, Cục Chính sách, Cục Quân y... đồng thời chuẩn bị dụng cụ, phương tiện để đưa vào chiến trường.

Tình cảm của hậu phương với tiền tuyến thật là cảm động. Tới đâu, chúng tôi cũng được tiếp đón thật là ân cần, niềm nở. Tiệc tùng, liên hoan, biểu diễn văn nghệ. Nhiều nơi muốn mời đoàn đến trao đổi kinh nghiệm, nói chuyện chiến trường.

Nhân dịp các cán bộ ở chiến trường ra. Các cơ quan của Tổng cục giành một số buổi nghe chúng tôi phát biểu ý kiến.

Sau gần một tháng về gia đình và thăm gia đình anh em còn ở chiến trường, tôi thấy một số điều bất công. Trong buổi họp với Cục chính sách, tôi phát biểu thẳng một số ý kiến về chính sách ở cán bộ bộ đội đi B. Các chính sách đề bạt, bồi dưỡng, đi học nước ngoài... hình như quên anh em đi B, kể cả lương bổng... sư bất hợp lý của chính sách “Bê trọc” với người đi không có gia đình, việc trừ lương theo bình quân thu nhập gia đình... Tôi nêu: “Trong 5 năm ở chiến trường, không một cán bộ nào ở chiến trường được gọi ra đi học trong khi hàng năm, hàng trăm cán bộ ở hậu phương được cử đi bồi dưỡng học tập nước ngoài”... “5 cán bộ trung cấp trong đoàn chúng tôi, về hỏi gia đình mới biết mỗi tháng bị trừ từ 50 đến 75 đồng”. Tôi hỏi: “Chúng tôi ăn gì ở chiến trường mà trừ của gia đình chúng tôi như vậy. Trong khi mọi người đi học Liên Xô, Đức... chỉ bị trừ 27 đồng?”. Tôi kết luận: “Chúng tôi không cần chính sách ưu đãi cho chúng tôi, mà chúng tôi chỉ đề nghị có sự công bằng”.

Nghe câu nói đó Cục trưởng Cục Chính sách đỏ mặt, giẫy nảy lên: “Chúng tôi ưu tiên cho các anh nhiều chứ!”. Sau đó ông giải thích: “Các anh bị trừ lương nhiều là vì các anh ít con, bình quân thu nhập gia đình cao. Chứ những người 8-9 con thì Nhà nước phải bù bao nhiêu?”. Tôi vặn lại: “Thế tại sao không lấy tiền của tất cả mọi người bù cho người đông con, mà lại lấy tiền của anh đi B bù cho anh đi B đông con?”.

Ngay trong Hội nghị, anh em cũng chỉ vào cổ áo tôi. Sau năm năm ở chiến trường tôi vẫn giữ nguyên cấp bậc khi ra đi, một sao, hai gạch. Trong khi các cán bộ ở hậu phương, cùng cấp với tôi khi đi, nay đã đeo hai sao!

Đoàn khu 5 còn có chuyện vô lý hơn. Đó là trường hợp một bác sĩ khi ra đi mang cấp thượng uý, vào chiến trường phiên thành đại đội bậc trưởng. Sau sáu năm ở chiến trường được đề bạt lên tiểu đoàn bậc phó. Khi ra Bắc được phiên trở lại thành thượng uý! Tóm lại vẫn nguyên như cũ! Thật hết sức vô lý!

Sau này trở vào chiến trường, chúng tôi báo cáo lại các vấn đề này với các anh Tư lệnh chiến trường. Các anh cũng đồng ý với chúng tôi là cần có những kiến nghị về chính sách với cán bộ đi B, và thực tế, trong những năm sau 1972-1973, một số chính sách không hợp lý đã được thay đổi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #108 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:07:30 PM »


Ngày 5 tháng 10 năm 1971. Trong buổi đi tham quan Bệnh viện Việt Đức, tôi gặp lại Giáo sư Tôn Thất Tùng, thầy học của tôi. Ông vừa là một nhà khoa học đầy sáng tạo, một phẫu thuật viên có bàn tay vàng, vừa là một người anh và một người thày, thẳng thắn bộc trực, đôi khi nóng nảy khi uốn nắn những sai sót của chúng tôi.

Tôi còn nhớ những kỷ niệm về anh khi lần đầu gặp anh năm 1947-1948, trong kháng chiến chống Pháp, ở trường Đại học Y lúc đó sơ tán ở Ngòi Quãng, Tuyên Quang. Anh lội qua Ngòi Quãng để sang lên lớp cho chúng tôi, đeo trên thắt lưng lủng lẳng một thanh kiếm Nhật... Những lần anh ra chiến trường mổ cho thương binh trong chiến dịch Trần Hưng Đạo, Vĩnh Yên, năm 1951 và Điện Biên Phủ năm 1954. Rồi sau này về Hà Nội khi tôi làm Nội trú ở Bệnh viện Việt Đức, đôi khi trong chẩn đoán, điều trị hoặc phụ mổ cho anh, bị anh quát cho đến ngượng mặt trước những sinh viên trẻ và các cô y tá. Nhưng anh vẫn lộ ra lòng nhân ái, mong muốn sự tiến bộ cho thế hệ trẻ.

Gặp lại anh, tôi rất mừng, thấy anh vẫn khoẻ mạnh. Anh cũng rất vui gặp lại tôi, mời tôi và vợ tôi đến nhà, ăn cơm với anh chị. Anh chị Tùng tiếp vợ chồng chúng tôi trong căn buồng nhỏ, đầy sách vở. Trong bữa cơm, ngồi chung quanh một chiếc bàn dài còn có hai bác Hồ Đắc Di, cũng là một thấy học nữa của chúng tôi trong trường Y. Bác Di tuy tuổi đã cao nhưng rất sắc xảo và hóm hỉnh.

Trong bữa cơm, bác Di và anh Tùng hỏi tôi rất nhiều về tình hình chiến trường, công việc chăm sóc thương binh. Anh Tùng hỏi tôi: “Trong ấy các cậu mổ các thương binh nặng, lấy máu đâu mà truyền cho anh em?”. Tôi lắc đầu: “Không làm gì có máu... Nếu cần lắm thì lấy máu của chính chúng tôi để truyền cho thương binh nặng!”.

Anh cho tôi biết sự giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến của ta. Các nước lập ngân hàng máu cho ViệtNam và hỏi: “Có thể nào chuyển máu vào chiến trường được không?”.

Tôi nghĩ tới quãng đường từ chiến trường về Hà Nội, nên nói: “Không thể nào chuyển được đâu anh ạ?”. Anh tỏ vẻ rất bản khoăn, hỏi gặng thêm: “Từ Luân Đôn, Pari, người ta còn chuyển sang đây được mà từ đây nào Nam không chuyển được sao? Có thể đặt các frigidaire (tủ lạnh) từng trạm để chuyển”.

Tôi vẫn lắc đầu: “Anh không thể tưởng tượng được đường đi kinh khủng như thế nào đâu. May ra có thể chuyển cho chiến trường gần ngoài này. Còn trong sâu, như khu 5, Tây Nguyên... thì chắc không thể được”.

Một lúc khác anh lại hỏi tôi: “Trong ấy cậu có gặp ung thư gan không?”. Tôi trả lời: “Có, thỉnh thoảng tôi có gặp!”.

Anh lại hỏi: “Có thể nào cậu gửi ra cho tôi một miếng gan ung thư hay không?”. Tôi ngạc nhiên: “Để anh làm gì?”.

- Để xét nghiệm tìm dioxin.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến chất dioxin, từ chất Da cam - Tôi biết anh đã là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên nêu lên vấn đề về tác hại của chất Da cam với sức khoẻ nhân dân ta.

Hơn 15 năm sau, năm 1986, Hội nghị Quốc tế lần thứ sáu về Dioxin họp ở Nhật Bản - một nhà khoa học Hoa Kỳ, ông J.Constable - người đã cộng tác nhiều năm với Giáo sư Tôn Thất Tùng trong vấn đề này. Trong một lúc rỗi rãi giữa phiên họp, chỉ hội trường đông nghẹt các nhà khoa học của thế giới và Nhật Bản, Constable, nói với tôi một cách rất tự hào: “Anh thấy không. Hai mươi năm trước, khi chúng tôi và Tôn Thất Tùng nói tới hiểm hoạ của dioxin và chất Da cam thì chúng nó không đứa nào nghe mà còn chửi chúng tôi là tuyên truyền cộng sản. Bây giờ thì anh thấy đấy, chúng nó phải thừa nhận chúng tôi đã dự kiến chính xác như thế nào!”.

Ngày 10 tháng 11 năm 1971. Hôm trước, chị Trạch, vợ anh Minh, bác sĩ khoa 33, đến tìm tôi, chị là bác sĩ Nhi, hiện công tác ở một bệnh viện Hà Nội.

Sau nhiều câu hỏi đắn đo, chị có vẻ rất bối rối, nước mắt chạy quanh, đột ngột hỏi tôi: “Anh có tin gì mới về Bệnh viện của anh ở Tây Nguyên không?”. Tôi ngạc nhiên: “Không, không có tin gì cả, chắc không có gì đặc biệt”.

Chị hỏi gặng: “Anh nói thực đi, có điều gì xảy ra với anh Minh không?”.

Nhìn vẻ mặt lo lắng, đau khổ của chị, tôi càng ngạc nhiên hơn: “Không, không có tin gì cả. Anh vẫn bình thường. Hôm mới ra, tôi chả đã mang mấy lá thư của anh cho chị rồi là gì?”.

Chị khóc thực sự: “Nhưng mấy đoàn vừa ra, không thấy có thư anh ấy”.

Tôi an ủi: “Ôi, Tây Nguyên là một chiến trường rất rộng. Có đoàn ra gặp thì gửi được thư. Nếu không gặp thì làm sao anh Minh gửi được?”.

Chị có vẻ không yên tâm lắm, nhưng cũng đành lau nước mắt ra về...

Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, chị lại quay lại nằn nèo: “Anh đừng giấu tôi có điều gì xảy ra với anh Minh không?”, làm tôi cũng đâm ra lo.

Tôi vào Cục Quân y xin điện vào Chiến trường, hỏi thăm tình hình Viện 211, Cục Quân y trả lời: “Bình thường, không có gì xảy ra cả!”.

Lần gặp chị Trạch sau, sau khi báo cho chị câu trả lời của Cục quân y, tôi hỏi: “Chị nói thật cho tôi biết, có điều gì làm cho chị lo lắng đến thế?”. Chị ấp úng mãi, cuối cùng mới nói cho tôi biết: “Có ông chú ở Nam Định, bất ngờ nghe đài Sài Gòn, thấy báo tin: bác sĩ Đinh Quang Minh Viện 211 Tây Nguyên nhắn tin cho gia đình là ông... Ở số nhà... Hàng Quạt Hà Nội biết tin là anh đã bị bắt trong một trận càn ngày... tháng... năm... Vậy báo tin để gia đình biết”.

Nghe tin tôi thật bàng hoàng, không hiểu tại sao. Nhưng hỏi Cục Quân y thì vẫn được trả lời, từ hôm tôi rời chiến trường, tình hình Bệnh viện vẫn bình thường. Không có bác sĩ nào bị địch bắt cả...

Mấy tháng sau, gặp lại anh Minh, kể lại chuyện này, anh Minh cũng rất ngạc nhiên, vội viết thư ra cho gia đình yên tâm.

Sau này, chúng tôi mới hiểu. Một lá thư của anh Minh gửi về gia đình, ngoài bì ghi rõ địa chỉ của cụ thân sinh. Trên đường chuyển ra hậu phương, anh em giao liên gặp biệt kích, vứt lại trên đường cả gùi thư. Thế là Đài tâm lý chiến của chính quyền Sài Gòn cứ việc theo các địa chỉ ghi trên thư để nhắn tin bịa đặt, gây hoang mang cho các gia đình ở hậu phương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11344



« Trả lời #109 vào lúc: 04 Tháng Một, 2010, 12:08:08 PM »


Ngày 20 tháng 11 năm 1971. Mặc dầu thời gian rất ngắn, nhưng tôi vẫn phải dành một tuần vào kiểm tra mắt ở Viện Quân y 108.

Từ trước khi đi B, tôi đã được khám và chẩn đoán là bị thiên đầu thống thể đơn thuần, và đã phải điều trị bằng các loại thuốc giảm nhãn áp.

Hai năm cuối ở chiến trường tôi cảm thấy mắt trái của tôi nhìn không rõ.

Nếu bịt mắt phải, tôi không nhìn rõ mặt người ở cách xa vài mét.

Hơn năm năm, tôi mới có dịp kiểm tra mắt cẩn thận. Kết quả cho thấy, trên bảng đồ thị trường mắt trái, có một vòng đen to ở giữa... Một khu vực của mắt không nhận được ánh sáng và về thị lực thì mắt trái không còn được 1/10.

Anh Vũ Văn Cẩn Cục trưởng Cục Quân y, rất thông cảm bảo tôi: “Thôi kỳ này, có lẽ sẽ để cậu ở lại ngoài này làm việc thôi”.

Tuy nhiên, Cục trưởng Cục cán bộ lại bảo tôi, nửa đùa, nửa thực: “Anh làm thế nào mà ở trong ấy, người ta “mê” anh quá. Mới ra có hơn một tháng mà đã hai ba bức điện ra nói thế nào cũng phải để Lê Cao Đài trở vào”. Đến hôm trước khi lên đường, anh còn gặp tôi nói: “Thôi anh cứ yên trí. Chúng tôi sẽ cho người vào thay anh”. Tôi đề nghị: “Nếu anh cho ai vào thì xin đề nghị cử người có thể thay công việc phụ trách Bệnh viện của tôi... Nếu cho anh em trẻ quá, chiến trường sẽ không đồng ý đâu”.

Cục trưởng gật đầu: “Thì chúng tôi cử anh T. vào thay anh là được chứ gì?”. Tôi biết anh T. là một cán bộ có trình độ và năng nổ, nên đồng ý ngay:

“Nếu được anh T, thì hay quá còn gì!”.

Ngày hôm sau, có dịp gặp anh T. ở cơ sở anh đang làm việc. Tôi mau miệng kể lại câu chuyện với Cục trưởng, nhưng tôi thấy vẻ mặt anh T. thật lạnh nhạt, không nói câu nào. Và sau khi tôi khoác ba lô trở lại chiến trường độ một tháng, các đoàn vào sau cho tôi biết anh T. đã bay sang học ở nước ngoài. Câu chuyện người vào thay thế không còn thấy đặt ra nữa.

Ngày 10 tháng 12 năm 1971. Ba tháng trôi qua thật là nhanh. Cuối cùng lại lĩnh quân trang để trở vào chiến trường.

Ngày 11 tháng 12 năm 1971, chúng tôi rời Hà Nội. Từ hôm trước, anh trạm trưởng trạm 66, phổ biến cho chúng tôi: “Ngày mai, sẽ có ôtô đưa các anh đi. Khởi hành từ trạm 66 lúc 6 giờ sáng. Xin các anh đến đúng giờ. Việc tiễn đưa, từ biệt với gia đình, xin làm ở nhà. Xin đừng để các chị đến trạm”.

Tôi ngạc nhiên: Tại sao lại như vậy?

Anh trạm trưởng giải thích: Lôi thôi lắm, đã có trường hợp, các chị giữ không cho xe đi. Có chị nằm lăn cả trước xe.

Từ bốn giờ sáng cả nhà tôi đã trở dậy. Khi ra cửa, cha mẹ tôi cầm tay tôi không nói được câu nào. Tôi đã dặn gia đình làm đúng yêu cầu của Trạm, không ai đưa tôi ra đến trạm, mặc dầu trạm ở ngay phố Lý Nam Đế, trong nội thành Hà Nội.

Vợ tôi nước mắt chạy quanh, cũng đành ở lại nhà. Chú em trai đèo tôi bằng xe đạp ra trạm để tôi lại rồi cũng quay về. Các anh trong đoàn cũng lần lượt tới. Chúng tôi ngồi chờ xe trong phòng khách của Trạm. Các cán bộ Cục Quân y, Tổng cục đến đông đủ tiễn đưa chúng tôi. Bỗng một bóng xe đạp phóng vào trạm. Nhìn ra là vợ tôi. Hương lúng lúng giải thích: “Anh bỏ quên cái địa bàn!”. Và đưa cho tôi cái địa bàn mà tôi bỏ quên trong lúc xếp ba lô. Đưa xong, cô vẫn không ra về mà cứ loanh quanh ở lại trạm. Một lúc sau thì vợ anh Thiêm, vợ anh Minh, anh Lôi... cũng lục tục tới. Chị thì có lý do anh quên cái khăn mặt, cái bàn chải đánh răng. Cuối cùng thì các chị đều có mặt đông đủ. Cũng không ai nỡ giục các chị về.

6 giờ sáng, chiếc xe ca chở khách đến. Chúng tôi lục lục lên xe... Có chị oà lên khóc, có chị mím môi, nức nở. Chúng tôi giơ tay vẫy vẫy trong khi xe chuyển bánh. Qua cửa xe, phố phường Hà Nội như nhoà đi trong sương...

Đoàn vào thiếu anh Hiếu bị ốm đột xuất hôm trước khi chúng tôi lên đường. Anh đi sau chúng tôi mấy ngày nhưng cũng đuổi kịp khi chúng tôi vào tới chiến trường. Nhưng đoàn lại có thêm một anh, anh Tạ Thực, trợ lý hậu cần của Viện, được cử ra công tác mấy tháng trước, nay hoàn thành công việc theo chúng tôi vào. Anh Trà, Dược sỹ trung cấp ở lại nhận trang thiết bị cho xưởng Dược và sẽ áp tải hàng vào sau. Như vậy khi ra chúng tôi có 7 người, nay vào còn 6.

Trong các đồ đạc đeo trên người, tôi còn mang theo chiếc đài bán dẫn để theo dõi tin tức dọc đường, chiếc máy ảnh của Cục Quân y cấp cho Bệnh viện. Trong ba lô của tôi ngoài quần áo, tăng võng, chăn màn, ruốc, thuốc men như thường lệ còn có thêm một bộ quân cờ nhỏ bằng đầu ngón tay để giải trí dọc đường, một gói đường hoá học nhỏ thay cho đường, để có vị ngọt mà lại nhẹ. Một gói sâm Triều Tiên do chính tay cha tôi xao cho tôi, tuy bị cháy vì cụ không có kinh nghiệm làm bếp, nhưng cụ vẫn giành lấy làm cho tôi. Ngoài ra còn một bó kim băng và một gói bóng bay, dùng để làm “lương khô” dọc đường.

Đường vào vẫn náo nức các đoàn quân ra tiền tuyến. Mấy hôm đầu trời còn mưa. Các trạm T5, T6 lầy lội, dốc. Các trạm sau, khô ráo dễ đi hơn. Mấy tháng không đi bộ nên mới bị đau chân.

Tôi đi cùng ngày với đoàn Quân khu 5. Anh Ích, trưởng đoàn, người cao gầy. Đoàn anh lúc ra đi cũng có 5 người, dọc đường có một cô dược tá cũng vào khu 5 nhưng bị ốm tụt lại và được gửi đi cùng đoàn của anh thành 6 người.

Lần này vào, chúng tôi cũng có giấy giới thiệu ưu tiên. Nhưng thay cho mã số CCC - CCC - của lần trước thì lần này mã số thay đổi: Trên giới thiệu có đóng hai chữ QL mà chúng tôi cố phán đoán, anh thì bảo là Quân Lực: anh thì bảo là Quân Lẻ. Không ai biết chính xác là gì. Tuy nhiên kinh nghiệm của hai chuyến đi trước cho chúng tôi biết là nếu trung đoàn có phụ nữ thì thường được ưu tiên hơn.

Đi mấy hôm, cùng đoàn khu 5, cùng ở một trạm giao liên. Chiều hôm đó, anh Ích, trưởng đoàn khu 5, sang chơi với đoàn chúng tôi bỗng thắc mắc hỏi tôi: “Quái nhỉ, sao anh cũng QL, tôi cũng QL mà hôm nào tôi đến cũng được ở nhà tốt hơn, cơm nhiều hơn và có thêm thức ăn hơn các anh?”.

Tôi im không trả lời. Qua mấy trạm liền đều thấy vậy anh lại hỏi lại tôi.

Tôi nháy mắt, trả lời: “Có gì đâu anh ơi. Đoàn anh có cả Cu lẫn Lờ, còn đoàn tôi chỉ có Cu là Cu thì làm gì nó ưu tiên cho tôi được!”.

Anh phì cười, hiểu ý tôi ám chỉ chính sách ưu tiên không thành văn của các trạm giao liên với phụ nữ. Và sau không hỏi lại nữa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM