Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Một, 2019, 11:15:53 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo đài Đồng Đăng  (Đọc 249412 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 08:41:33 PM »

Vâng, xin mời bác Grin
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #11 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 08:55:15 PM »

Vậy em mạn phép

CHÚNG TÔI KHÔNG THỂ CHẾT                                                                                                                            
Đắc Trung, ghi theo lời kể của đồng chí Nông Thanh Phi-ao, dân tộc Nùng, chiến sĩ công an vũ trang đồn C5, Lạng Sơn.

Trạm quân y tiền phương của F3 đặt trong 1 eo núi hẹp, 2 bên là vách đá lởm chởm. Mấy chiếc lán làm tạm khung sắt, mái bạt, kiểu nhà dã chiến của bộ đội cao xạ. Từ quốc lộ vào có 1 đường mòn ngoằn ngoèo ô tô có thể đi được, chạy gần như song song với 1 dòng suối nhỏ nước trong vắt.
Tôi được chuyển về đấy từ 6 giờ sáng và lúc này là 9 giờ (ngày 2-3-1979). Tôi tìm lối ra suối tắm giặt. Mặt trrời đã nhô cao nhưng sương mù vẫn lởn vởn bay ngang sườn núi. Phía đầu nhà trực ban, 1 chiếc ô tô cứu thương sơn màu xanh lá cây đang rú máy. Cạnh đấy có mấy đồng chí quân y đang đứng, chốc chốc lại quay lại nhìn vào phía lán như ngóng ai. Tôi vừa bước ra khỏi đoạn hào cách chiếc ô tô khoảng 5m thì cũng từ 1 ngách hào gần đó, 1 thương binh bị vào chân trái chống nạng tập tễnh bước ra. Gần như cả 2 chúng tôi cùng ngước nhìn nhau và cùng kêu lên :
- Hùng !
- Phi-ao !
Hùng nhào tới,, 2 chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Nghẹn ngào không nói được lời nào. Mấy lần tôi định hỏi sao Hùng lại có thể sống mà trở về được tới đây nhưng cứ định nói thì cổ lại nghẹn tắc, nước mắt cứ trào ra. Hùng cũng thế, mấy lần định hỏi tôi câu gì đó mà không sao nói được. Còi ô tô lại réo lên vẻ cáu gắt. Hùng giơ tay chỉ xuống phía đó, tôi ghé vai dìu Hùng đi.
Cửa đóng sầm lại, xe rú máy rồi bò nhanh. Hùng cố thò cổ ra, ngoái lại giờ tay vẫy tôi. Còn tôi cứ đứng lặng đi ở đó mãi, tay vẫy, mắt nhìn hút theo chiếc ô tô cho đến khi nó khuất vào sau một mỏm đá trước mặt, lòng xốn xang buồn vui lẫn lộn.
Tôi ngồi xuống hòn đá bên bờ suối, nhìn ra phía chân trời xa, ở đó tiếng trọng pháo vẫn nổ cấp tập từng đợt. Và trước mắt tôi hình ảnh cuộc chiến đấu lại hiện ra rất rõ nét.
Phía tây nam thị trấn Đồng Đăng cách Hữu Nghị quan khoảng gần 3 cây số có 1 pháo đài rất kiên cố được xây dựng từ thời Pháp. Pháo đài hình bầu dục, tường dày 2m, có 3 tầng, mỗi tầng lại được ngăn thành 4 ô vuông thông nhau bằng 1 cửa nhỏ và từ tầng nọ lên tầng kia có cầu thang xây nhiều bậc. Đó là 1 công trình quân sự kiên cố đúc bằng bê tông cốt thép. Toàn bộ pháo đài được đặt sâu trong lòng đất trên ngọn 1 quả đồi. Từ xa nhìn đến chỉ thấy cây cỏ bao phủ thành 1 lớp màu xanh thẫm. Đến tận nơi mới phát hiện 2 cửa, nói đúng hơn là 2 đường hầm. Cửa phía bắc dài khoảng 1m dẫn vào tầng thứ nhất. Cửa phía nam dài tới 20m dẫn vào tầng thứ 2. Đây là vị trí phòng ngự rất quan trọng bởi nó án ngữ đầu mối giao thông cả đường bộ và đường sắt chạy sang Trung Quốc. Tầng thứ nhất do 2 tiểu đội bộ đội thuộc F3 chốt giữ và tầng thứ 2 do đồn công an vũ trang C5 chúng tôi đảm nhiệm. Cố nhiên trong chiến đấu chúng tôi đều có phương án hợp đồng với nhau.
5h30 ngày 17-2-1979, pháo các cỡ đặt từ đất Trung Quốc điên cuồng nã đạn sang pháo đài và nhiều nơi thuộc khu vực đồn chúng tôi phụ trách. Lập tức cả đơn vị triển khai theo đội hình chiến đấu. 7 giờ, bọn Trung Quốc xâm lược tập trung 1 sư đoàn có xe tăng dẫn đầu hùng hổ vượt qua mốc 16 tràn vào lãnh thổ nước ta. Chúng chia làm 2 mũi. Mũi thứ nhất có 6 xe tăng thọc sâu tấn công chúng tôi từ bên trái và phía sau. Mũi thứ 2 theo đường 1B tới gần ga Đồng Đăng rồi vòng đánh vào bên phải. Xe tăng tiến tới đâu, bộ binh lớp lớp đông như kiến tiến theo tới đấy. Đương đầu với đội quân xâm lược khổng lồ có xe tăng và pháo binh yểm hộ, chúng tôi chỉ có ngót 100 tay súng. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Bọn Trung Quốc xâm lược tấn công hòng chiếm pháo đài nhưng lần nào chúng cũng bị chúng tôi đánh bật trở lại. Suốt từ sáng sớm ngày 17-2 đến hết ngày 22-2, địch vẫn không thể nào xoay chuyển được tình thế. 6 ngày đêm đánh nhau liên tục, khắp nơi ngổn ngang xác giặc, mặt đất bị cày xới, khói bụi mù mịt. Mùi khét của thuốc đạn, của nhà cửa và cây cối cháy, mùi hôi thối tanh tưởi của xác chết xông lên rất khó chịu.
Sáng sớm ngày 23-2-1979, địch tăng cường thêm xe tăng và quân tiếp viện, sau gần 1 giờ tập trung nhiều cỡ pháo nã đạn cấp tập xuống pháo đài và trận địa chúng tôi, từng đoàn xe tăng và nấp sau là bộ binh địch ào ạt tràn lên theo tiếng kèn trận hối hả và dưới sự thúc ép của những tên chỉ huy tàn ác, hèn nhát đứng ở phía sau sẵn sàng bắn chết bất kì tên lính nào chậm chạp. Sau 1 tuần lễ chiến đấu ở vào tình thế bất lợi, tuy thế chúng tôi rất vững vàng trụ chắc ngoài chiến hào, đợi địch đến thật gần mới nổ súng.
Cánh trái, bấy giờ chỉ còn tôi, Bái, Kết và Phong. Chiến hào bị đạn xuyên từ xe tăng bắn vào phá hủy, nhiều đoạn đất đá lấp đầy. Trước mặt, cách tôi độ hơn trăm mét, 1 chiếc xe tăng bò lên. Tới gần một mô đá nó chững lại. Nắp xe bật mở, 1 tên chui ra đứng bên tháp pháo vung tay hò hét kêu gào bọn bộ binh xung phong. Rê nòng khẩu trung liên, lấy điểm xạ thật chính xác, tôi xiết cò cho đi 3 viên đạn. Lập tức tên chỉ huy hung hãn đứng trên xe tăng lộn cổ xuống. Chiếc xe dừng hẳn, xoay nòng pháo về phía tôi. Tôi luồn hào di chuyển vị trí rồi tới tấp nã đạn vào bọn bộ binh cùng với AK và thủ pháo của Bái, Kết, Phong. Địch chết gục nằm la liệt. Những tên đi sau vẫn bị chỉ huy thúc ép đạp qua xác đồng bọn xông lên. 1 quả pháo nổ giữa đội hình, cả 3 đồng chí Kết, Phong, Bái đều bị thương. Tôi chưa kịp nhào tới cứu thì 2 quả pháo khác lại nổ trúng chỗ đó. Đất đá tung lên phủ kín tất cả. Khói đạn pháo vừa tan đã thấy 4, 5 tên Trung Quốc nhảy vào chiến hào cách tôi 3, 4m. Không cần ngắm, tôi kẹp trung liên vào nách xiết cò. Cả 5 tên chết gục tại chỗ. Từ khắp nơi quanh pháo đài, địch tràn lên đông như kiến, chỉ thấy màu xanh của những bộ quân phục vải Tô Châu ùn ùn chuyển động. Chúng đã chiếm được nóc pháo đài, bốn năm tốp đang vội vã đặt đại liên quay về phía tôi.
Không thể trụ lại được ngoài chiến hào, tôi vừa bắn vừa lùi cho đến khi hết đạn. Còn quả lựu đạn cuối cùng, tôi cầm tay, nếu chúng xông vào bắt sống, tôi sẽ giật chốt an toàn và ít ra cũng dăm bảy thằng cũng phải chết. Tới cửa pháo đài, tôi co chân đạp tấm gỗ dày lệch nghiêng. Tôi là người cuối cùng vào được đường hầm an toàn. Địch chiếm pháo đài, lúc đó khoảng hơn 5 giờ chiều*.
Đường hầm dẫn vào pháo đài tối quá, không nhìn thấy gì, 2 đồng chí đã vào trước ôm lấy tôi, sờ khắp người không thấy bị thương vội kéo đi. Mới bước được mấy mét địch đã xông tơi cửa hầm nhưng không đứa nào dám vào, chỉ quăng lựu đạn và xả súng máy bắn xuống.
Lực lượng ta còn rất ít. Trong pháo đài lúc này ngoài chúng tôi còn có độ 50 đồng bào. Hầu hết là đàn bà trẻ em từ dưới thị trấn Đồng Đăng chạy lên tránh đạn pháo từ sớm ngày 17. Đồng bào đã giúp chúng tôi nấu cơm, tiếp đạn, săn sóc thương binh. Nhiều người ra chiến đấu cùng chúng tôi và hy sinh anh dũng. Vì đông người nên thức ăn thức uống dự trữ của chúng tôi đã sắp hết. Chỉ còn dăm cân mì sông và mấy lít nước cạn dưới đáy phi.
Trong pháo đài tối om và ngột ngạt vì hơi người, ầm ĩ tiếng trẻ con khóc lặng đi vì khát nước, khát sữa. Một đồng chí thương binh nào đó đau quá đã cố nén nhưng tiếng rên vẫn bật ra. Màu máu tanh tưởi, mùi phân, mùi nước giải hôi thối nồng nặc. Mệt quá, khát quá tôi ngồi dựa lưng vào 1 góc tường, đầu choáng, người ớn lạnh và buồn nôn vô cùng. Bỗng "Ầm...! ...Ầm!" 2 tiếng nổ khủng khiếp nối nhau. Pháo đài rung chuyển. Tiếp đó hàng chục, hàng trăm tiếng nổ chói tai rung óc. Hơi khói cay sè, đen đặc cuồn cuộn ùa vào từng căn phòng trong pháo đài. Tiếng kêu nhốn nháo :
- Địch giật bộc phá lấp đường hầm rồi !
- Địch thả lựu đạn cay các đồng chí ơi ! Ai có khăn ướt thì đậy ngay lên mặt đi.
Một giọt nước uống còn không có, đào đâu ra khăn ướt. Tiếng trẻ con sặc sụa rồi lặng đi. Mấy đồng chí thương binh kêu rú lên, nấc nấc hai ba cái rồi lịm. Tôi bò sợ soạng lần về lỗ thông hơi để thở nhưng từ ngoài địch nhét lựu đạn cay vào nổ choang choác. Quan ánh lửa tôi thấy đàn bà trẻ em nằm la liệt, co quắp, giãy giuạ. Một thứ khói gì rất lạ ộc vào họng cháy bỏng và lửa cháy bừng bừng. Địch phun hơi độc hoá học và phun xăng xuống đốt, tôi thoáng nghĩ rồi ngất lịm. Tỉnh dậy tôi thấy tức thở quá. Tiếng nổ vẫn ầm ầm. Máu ựa ra từ miệng, từ mũi, từ tai. Tôi bò đi sờ trong đống xác người nằm co quắp ấy xem có ai còn sống không. Tất cả dường như đã chết. Tới 1 góc tường tôi sờ thấy 1 người còn sống. Qua giọng nói thều thào, yếu ớt tôi nhận ra Hùng. Hùng bị thương vào đùi máu ra nhiều nên rất mệt. May Hùng to, thể lực tốt, vết thương nhẹ ở phần mềm thôi, nếu không chắc đã chết. Lần sờ bò qua mấy xác chết không rõ của ai, chúng tôi thấy còn sống : Hà Văn Chiết, Bùi Duy Thanh, Nguyễn Đoan Hạnh, Trần Cường, Nguyễn Văn Năm, Phạm Văn Chiến và mấy đồng chí nữa. Họ nằm gục vào 1 góc tường ẩm ướt.
Mệt quá, tôi ngất lịm đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy thấy xung quanh im ắng một cách ghê sợ. Một cảm giác chết chóc, lanh lẽo khiến tôi rùng mình. Không khí loãng ra, dễ thở hơn. Lúc này là ban ngày hay ban đêm ? Chúng tôi đã nằm trong pháo đài bao lâu rồi ? "Đoành !...Đoành !..." thỉnh thoảng địch mới lại thả xuống 1 quả lựu đạn cay. Có lẽ chúng tôi đã hy sinh gần hết, chỉ cần giết nốt những ai còn ngắc ngoải bằng mấy quả lựu đạn. Tôi tỉnh hẳn, khẽ gọi :
- Có ai còn sống không ?
- Còn.
- Còn.
-...
Ba bốn người lên tiếng. Chúng tôi bò lại gần nhau. 13 đồng chí còn sống, trong đó có mình Hùng bị thương. Đồng chí Chiến là bí thư chi Đoàn và là người đảng viên duy nhất chủ trì cuộc họp. Bọn Trung Quốc xâm lược dã man trả thù bằng cách giết chúng tôi, hèn hạ hơn chúng bắt chúng tôi phải chết dần, chết mòn quằng quại trong đau đớn dưới đáy sâu tăm tối của pháo đài. Chúng tôi bàn nhau phải bằng mọi cách vượt ra, phải sống mà trở về để tố cáo tội ác này cho mọi người biết và để tiếp tục chiến đấu. Nhưng ra bằn cách nào ? Đường hầm bị phá sập, thành pháo đài lại dày. Chúng tôi quyết định khoét đất đá trong đường thông hơi chui ra. Đường thông hơi này lớn hơn tất cả xây bằng gạch nối từ đáy tầng cuối cùng của pháo đài (đường kính 60 phân dài khoảng hơn 30 thước) xuyên chéo trong lòng đất chui ra ngoài sườn đồi. Cửa đường ống đó được đặt trong 1 lô cốt tường cũng xây bằng gạch. Nhưng cái lô cốt này đã bị phá hủy từ khi phát xít Nhật đánh sang, bởi thế đất đá đã đổ xuống lấp kín. Chúng tôi quyết định đào thông và chui ra bằng lối đó, công việc thật vô cùng vất vả. Chúng tôi lần lượt thay nhau đào. Đường ống nhỏ, chỉ 1 người chui vào được, dùng mũi xẻng chọc ngược lên cho đất tơi ra, đùn qua dưới bụng, lấy 2 chân đạp đạp xuống. Và những người khác lại dùng 2 tay cào cào đảy ra nền pháo đài. Đường hầm tối như bưng và ngột ngạt rất khó thở. Tôi đào. 2 cánh tay nhức buốt. Đầu đau nhói như có ai dùng dùi xoáy vào thái dương. Mệt muốn gục xuống, tôi vẫn cố. Cho tới khi tay không giữ nổi cán xẻng nữa, đầu nặng quá không sao cất lên được, tôi gục xuống ngất đi. Không biết anh em đã chui vào kéo tôi ra từ lúc nào. Tỉnh dậy tôi khát quá. Khát tới cháy cổ. Lưỡi cứng lại, khô rát. Không có tí nước bọt nào, muốn nói mà không sao nói được, chỉ ú ớ. Tôi sờ soạng mò tìm cái bát sắt hy vọng có chút nước nào anh em mới dè sẻn rót ra để dành cho chăng, nhưng chỉ thấy chiếc bát khô khốc. 5 cân mì sống và mấy lít nước chúng tôi dùng hết sức tằn tiện cốt đê cầm hơi, khỏi chết thôi, tới nay đã hết. Tôi bò tới 1 góc tường, ở đấy hơi người, hơi xác chết bốc lên đọng lại thành từng hạt nước li ti, chỉ đủ làm cho mặt ngoài của tường ẩm lạnh. Tôi cố há to miệng, thè lưỡi liếm những hạt nước li ti đó. Thật ra nước cũng chẳng đủ ướt đầu lưỡi nhưng dù sao nó cũng man mát làm cơn khát phần nào dịu lại. Tự nhiên cái sáng kiến ấy của tôi được anh em coi như một phát minh. Thế là lần lượt cứ sau một đợt chui vào ống moi đất, chui ra chúng tôi lại bò tới chỗ này đặt lưõi vào tường "uống khan" như thế. Xác đồng đội và đồng bào bị chúng giết hại đã lên mùi. Không có nơi chôn cất, chúng tôi phân công 6 đồng chí tiếp tục đào đường ống, còn lại chuyển tất cả thi hài của các tử sĩ và đồng bào ta lên tầng thứ nhất của pháo đài, sửa sang áo quần và tư thế nằm cho thoải mái. Nỗi đau đớn và thương xót đồng bào đồng chí, sự căm hờn đến cực độ trước hành động tàn ác của bọn Trung Quốc xâm lược khiến chúng tôi lặng đi, răng nghiến chặt, càng hun đúc trong lòng chúng tôi 1 quyết tâm sắt đá không gì chuyển nổi : phải sống, trở về đơn vị để tiếp tục chiến đấu, để bắt lũ giết người man rợ đó phải trả món nợ này.
Sức chúng tôi mỗi lúc một kiệt. 5 đồng chí gục xuống không còn gượng dậy được nữa chỉ nằm thoi thóp thở. Còn lại vẻn vẹn có 8 người : tôi, Chiết, Chanh, Hạnh, Cường, Năm, Dũng và Hùng. Hùng bị thương không chui vào đường ống được nhưng anh rất hăng hái, vui vẻ động viên chúng tôi. Hùng mới 22 tuổi, quê Hà Bắc, học dở lớp 9 anh tình nguyện đi bộ đội và được chuyển sang công an vũ trang. Khát nước khô cổ, giọng nói chỉ thều thào thôi, nhưng đôi khi Hùng vẫn hát cả một đoạn ca quan họ Bắc Ninh cho chúng tôi nghe. Bài hát nói về một vùng quê đầm ấm, một cuộc hẹn hò trong đêm trăng. Tôi người dân tộc Nùng nhưng gia đình lại ở gần thị trấn nên được nghe, được đọc nhiều về các vùng quê trù phú miền xuôi.
Logged
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #12 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 08:55:34 PM »

Tôi mới lấy vợ. Vợ tôi yêu và thương tôi lắm. Nghe Hùng hát tôi nhớ vợ quá. Tôi nghĩ bụng phải sống, nhất định phải sống để trở về đơn vị chiến đấu trả thù bọn xâm lược Trung Quốc rồi xin phép thủ trưởng Ý về với vợ mấy hôm. Tự nhiên tôi thấy khoẻ thêm, cứ lấy tay mà cào đất đá. Mặc dầu cả 10 đầu ngón tay đã toét ra, có ngón bật cả móng thế mà tôi chẳng thấy đau gì lắm.
Đêm ấy tôi mệt quá đang nằm thiếp đi thì thấy đồng chí Chiết khẽ lay lay gọi :
- Phi-ao ơi, đường ống thông rồi. Ra thôi !
* : 1 hồi ức khác của đ/c Nông Thanh Phi-ao có hơi khác (có lẽ lỗi do các tác giả). Cộng với một vài kí sự có nói đến chuyện quân ta tổ chức mở đường máu phá vây ở pháo đài Đồng Đăng, có thể phỏng đoán là chỉ có một bộ phận phá vây thành công, số còn lại bị kẹt trong pháo đài, trong đó có đ/c Nông Thanh Phi-ao.
Tôi sướng quá choàng dậy. Đường ống thông thật rồi ư ? Bây giờ nên thế nào ? Địch còn bao vây kín, phải bí mật mà ra, phải lợi dụng bóng đêm lừa chúng mà thoát. Tôi bàn để tôi và Hùng ra sau cùng, 6 đồng chí cứ ra trước đừng đợi nhau, ra đông dễ lộ. Đặc biệt phải nghe ngóng, thận trọng. Sau khi Chiết, Chanh, Hạnh, Cường, Năm và Dũng ra được rồi, tôi và Hùng mới ra. Chân trái đau Hùng bò rất khó khăn, tôi cứ phải từ phía sau đẩy anh nhoài từng tí "Cố lên Hùng ơi ! Cố lên sắp sống trở về rồi !". Tôi thì thào động viên Hùng, Hùng chỉ thở ì ạch không trả lời, tôi biết anh mệt và đau lắm. Cố nhoài, cố nhoài, cả 2 chúng tôi cùng mệt, thở như kéo bễ. Bỗng Hùng khẽ kêu lên :
- Đây rồi ! Chà...à...
Cùng lúc đó một luồng không khí mát lạnh ngọt ngào ùa vào mũi tôi. Sướng quá. Tôi dạng 2 chân vào thành cống giữ cho người chắc đẻ Hùng đạp chân phải vào đầu tôi, rướn người chui lên. Cố ! Cố tý nữa đi ! Đươc rồi. Hùng nằm vật bên miệng ống, thở.
- Không việc gì chứ ?
- Sống...rồi.
Hùng còn mệt không thể đi ngay được. Để cậu ấy nằm đó, tôi bò ngược vào pháo đài sờ lại xem có đồng chí nào còn sống thì đưa ra nốt. Tối quá, tôi lần tới từng góc sờ tìm nhưng không ai còn sống. Tôi đứng dựa vào tường bùi ngùi ứa nước mắt. Lòng đau thắt, cổ nghẹn tắc, tôi thì thầm : "Các đồng chí và đồng bào ở lại. Chúng tôi ra trước để trả thù. Rồi chúng tôi sẽ vào đưa các đồng chí và đồng bào ra sau".
Ra khỏi đường ống ngầm, tôi và Hùng nối nhau bò trường xuống chân đồi. Lúc ấy độ 12 giờ đêm. Lạnh, khát, vừa bò chúng tôi vừa há miệng hớp lấy những hạt sương li ti đọng trên ngọn cỏ, mắt nhìn khắp mọi phía, tai chăm chú nghe ngóng. Đó đây bập bùng dôi ba đống lửa cháy nơi bọn địch đang tụ tập giết lợn, mổ trâu và tranh nhau các thứ vừa cướp được. Chúng tôi bò ngoằn ngoèo tránh xác những tên giặc nằm ngổn ngang. Mùi tanh hôi xốc lên nôn nao, buồn nôn quá. Thì ra bọn Trung Quốc không những dã man với đồng bào ta mà ngay đối với đồng đội, chúng cũng chẳng thương xót gì. Bao nhiêu tư trang trong nguòi những tên xấu số đã bị đồng bọn moi hết, còn xác chúng thì vẫn nằm phơi trên mảnh đất xa lạ đầy sỏi đá làm mồi cho ruồi bâu, quạ mổ và ròi bọ đục khoét. Đêm yên tĩnh hơn. Đôi khi dội lên vài tràng đại liên vu vơ hoặc mấy quả đạn pháo cỡ nhỏ. Tới 1 dòng suối, cả 2 đứa khoái quá, uống cho một chập thoả thích bõ những ngày khát cháy họng trong pháo đài, rồi lại bò đi. Gần sáng rồi, phải rẽ theo hướng nũi đá tìm chỗ lánh tạm. Khỏi cầu Pá Mật, tới rừng tre thưa, tôi kiếm cho Hùng 1 cây gậy thật chắc vừa để chống vừa để làm vũ khí. 2 đứa lại dìu nhau đi. Qua chân đồi gặp một mảnh vườn nhỏ còn mấy bụi sắn. Tôi nhổ lên được 4 củ. Mừng quá chúng tôi lau sạch đất dùng răng bóc vỏ rồi nhai liền. Chao ôi, sao mà ngon mà ngọt vậy, ăn đến đâu tỉnh táo và khoể ra đến đấy. Đến một khe đá, trên có nhiều bụi cây rậm rạp che khuất chúng tôi nằm đó nghỉ. Bấy giờ đã sáng rõ. Mặt trời nhợt nhạt ốm yếu nhô lên và sương mù tan dần. Tôi băng lại vết thương cho Hùng. Đạn xuyên qua đùi, mất nhiều máu da Hùng tái xanh và mệt mỏi lắm. Đặt Hùng nằm lọt vào giữa khe đá, tôi đứng dậy vén lá cây quan sát. Từ trên cao tôi có thể nhìn rất rộng, rất xa. Cả một vùng dân cư bị tàn phá hết. Địch đông nghịt 2 bên đường 1B và lố nhố trên các đỉnh cao xung quanh.
Chúng tôi nằm ôm nhau trong khe đá, cố ngủ lấy một giấc cho lại sức.
Đêm xuống, chúng tôi lại dìu nhau đi. Tới chân núi, thấy 1 cây chuối rừng gãy gục, tôi bóc hết bẹ lấy cái ruột nõn chia nhau. Đắng, chát quá không thể nào nuốt nổi, đành vứt đi rồi lại bò tiếp, vượt qua đường 1B xuống khu ruộng bậc thang.
Tưởng có thể lợi dụng địa hình cao thấp khác nhau thì dễ tránh địch, nào ngờ cái chân của Hùng đau quá không đi nổi, cũng không bò nổi. Cứ một lúc cả 2 đứa lại trượt hẫng ngã lộn nhào từ trên cao hàng mét xuống và Hùng cố nén chịu đau, ôm chân quằn quại. Một lần, 2 đứa vừa bò tới 1 góc bờ ruộng thì thấy 1, 2 rồi 3 bóng den đi tới. Địch hay ta ? 2 đứa nín thở nằm ép vào mô đất cạnh một bụi cỏ và nghe tiếng chúng nói xì xồ với nhau. À, tụi thám báo. Tên thứ 3 suýt đạp vào đầu tôi. Lúc đó tay tôi đã cầm sẵn quả lựu đạn-quả lựu đạn tôi vẫn giữ từ trận đánh cuối cùng truóc khi địch chiếm pháo đài-và Hùng nắm chắc đầu gậy sẵn sàng chiến đấu. Địch đi, chúng tôi lại bò, và lại ngã. Thấy đã khuya lắm rồi mà 2 đứa vẫn quanh quẩn trèo lên ngã xuống trong cái khu ruộng bậc thang lầy lội này, Hùng ôm lấy tôi giọng xúc động :
- Phi-ao ơi, Hùng không đi nổi đâu. Dắt díu nhau thế này cả 2 cùng chết. Phi-ao nhường cho Hùng quả lựu đạn, mình sẽ nằm lại đây, đợi sáng nếu bọn địch phát hiện hò nhau ra bắt sống, Hùng sẽ thí mạng cùng chúng nó. Còn Phi-ao cố tìm về đơn vị nói với các đồng chí trả thù cho anh em và đồng bào đã hy sinh.
Tôi ôm lấy Hùng, nghẹn ngào :
- Phi-ao không bỏ Hùng đâu. Nhất định thế. Cố lên Hùng ơi, ôm lấy cổ để Phi-ao cõng.
Giằng co mãi Hùng mới chịu để tôi dìu đi. Độ 2 giờ sau chúng tôi gặp một lối mòn. Lối mòn đó dẫn vào một bãi cỏ rộng, nhấp nhô những bụi cây sim, cây mua cao ngang bắp chân. Đi tới gần giữa bãi chúng tôi mới nghe thấy tiếng người và nhiều bóng đen cựa quậy. Cả 2 cùng dừng lại. Ngay phía trái, cách chúng tôi chỉ hơn 1m, có 3 tên địch đang nằm ngửa. Phát hiện ra chúng tôi, 1 tên vùng dậy vớ lấy súng quát lớn :
- Xuẩy (Ai) ?
Lộ rồi, tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn cách chiến đấu. Tôi nhảy chồm đến, đạp quả lựu đạn vào đầu nó. Nó kêu rống lên. Xung quanh tôi tất cả rùng rùng chuyển động. Tiếng kêu hốt hoảng lan đi. Những loạt súng nổ dài. Địch báo động, chạy tán loạn như đèn cù. Lợi dụng lúc nhốn nháo đó tôi vớ lấy chiếc mũ lưỡi trai của địch đội lên đầu và trà trộn vào đám hỗn quân hỗn quan ấy. Bắn loạn xạ một lúc, bọn chúng chửi bới nhau ầm ĩ rồi lại nằm lăn ra ngủ. Tôi cũng chọn một chỗ gần bụi cây mua, nằm xuống.
Độ hơn 1 giờ sau khi chúng đã ngủ say như chết tôi mới lặng lẽ lẻn đi, chỉ tiếc không xoáy được 1 khẩu súng nào vì khi ngủ chúng nó ôm chặt quá. Tôi quay lại tìm Hùng nhưng không thấy Hùng đâu. Bò hết bụi cây này sang bụi cây khác vẫn không thấy. Có lẽ Hùng bị nó bắt rồi chăng ? Hay Hùng đã hy sinh ? Liệu Hùng có thoát được không. Tôi vừa lo, vừa thương, nước mắt rưng rưng. Tôi bò về phía dãy núi đá phía tây. Tới chân núi thì trời sáng hẳn. Thấy phía trước có 1 ngôi nhà lá, tôi bò đến, may ra kiếm cái gì ăn được. Đói và mệt quá rồi. Bò tới nơi thấy cửa khoá, chủ nhà chắc đã chạy đi xa. 2 lần tôi định nâng cửa lách vào nhưng đắn đo laị thôi. Người Nùng chúng tôi coi chuyện ăn cắp xấu như giết trẻ con. Mà kỉ luật bộ đội cũng cấm không được lấy của dân. Tôi không muốn ăn cắp, bò trở ra, qua gian chuồng trâu bỏ trống tôi thấy có 3 cái ngọn mía non trâu ăn dở đã héo quắt nằm lẫn trong đám cỏ úa. Đói quá, thèm quá tôi nhặt, lau sạch đưa lên miệng nhai. Bỗng có bóng người. Tôi giật mình nhìn xuống thấy 3 tên lính Trung Quốc đang vẫy tay ra hiệu bắt sống tôi. Thì ra nó nhìn thấy và theo dõi tôi từ lâu. Vứt vội 2 ngọn mía, tôi vớ 1 hòn đá ném tới rồi co chân chạy theo 1 khe đá ngược lên núi. Địch tưởng lựu đạn nằm gục mặt xuống. Khi tôi chạy được một quãng chúng mới hò nhau đuổi. Chúng không bắn mà định bắt sống tôi. Vốn dân miền núi tôi chạy rất nhanh. Nhiều mỏm đá dốc và sắc nhọn, tôi bám chặt và nhún mình leo qua. May sao tới 1 cái hang nhỏ, tôi giả vờ rẽ ngoặt sang 1 mô đá phía trái nhưng lại bí mật chui tọt vào cửa hang nấp vào 1 hõm đá rất kín. Địch trèo lên tới nơi thì mất hút tôi. Ngay lúc đó từng loạt đại liên từ quả núi bên cạnh nhằm 3 tên địch bắn tới. Chúng hốt hoảng kêu nhau tháo chạy. Tôi mừng quá. Đoán chắc có quân ta ở gần đây, tôi chui ra khỏi hốc đá bò tới 1 cái hang khác nằm thở. Và đêm ấy cứ theo hướng quả núi trước mặt tôi lần đi.
Độ 11 giờ khuya, nấp trong bụi cây tôi nghe có tiếng nói chuyện rồi 6, 7 người hiện ra. Họ đang khiêng cáng vật gì.
- Có phải bộ đội ta đấy không ?
- Bộ đội ta đây. Đồng chí là ai ?
- Tôi là công an trên pháo đài Đồng Đăng về đây.
- Pháo đài Đồng Đăng à ? Thật không ? Nghe nói bọn chúng phun hơi độc vào giết hết anh em và đồng bào ta rồi cơ mà ?
- Đúng. Chúng nó muốn giết nhưng chúng tôi không chịu chết.
1 đồng chí dừng lại bắt tay tôi. Thì ra anh em đi cáng tử sĩ của ta về chôn cất. Lòng tôi bỗng thấy ngùi ngùi khi nhớ tới các đồng chí của tôi, tới gần 50 đồng bào bị bọn xâm lược giết hại. Tôi nhớ 6 đồng chí ra trước và nhớ Hùng. Các đồng chí còn sống không ? Bây giờ ở đâu ? Một nỗi buồn thương bao trùm. Tôi im lặng bưóc đi.
1 giờ đêm hôm ấy chúng tôi về tới nơi đóng quân của đơn vị bộ đội và sau đó 2 giờ tôi được đi cùng với 30 thương binh về trạm quân y tiền phương của F3.
Và tình cờ tôi đã gặp Hùng ở đây.
Vừa gặp đã chia tay. Thời gian ngắn ngủi quá chúng tôi không nói được gì với nhau. Tôi cũng không kịp hỏi Hùng đã thoát chết trở về bằng cách nào sau cái đêm lạc nhau ấy.
Xe ô tô đã chạy khuất từ lâu mà lòng tôi vẫn cồn cào xốn xang đầy xúc động.
Kì tích áo chàm, NXB Văn hoá 1979
Logged
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #13 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 08:56:49 PM »

PHÁO ĐÀI ĐỒNG ĐĂNG                                                                                                                                                      
Dương Mạnh Hải, ghi theo lời kể của đồng chí Nông Thanh Phi-ao và các chiến sĩ công an vũ trang đồn C5, Lạng Sơn.

Từ đầu năm 1979 tình hình biên giới mỗi ngày một căng thẳng. Bọn phản động Trung Quốc ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Những vụ gây rối khiêu khích, lấn chiếm đất đai... càng nhiều và càng trắng trợn. Các tổ trinh sát tiền tiêu của ta liên tiếp thông báo về những tin tức khẩn cấp. Mọi phương án tác chiến đã được chuẩn bị chu đáo và phổ biến xuống tận các chiến sĩ. Chúng tôi luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ở địa bàn này, một trong số những căn cứ phòng thủ kiên cố và đầy tin cậy là pháo đài Đồng Đăng. Trong cuộc chiến tranh vừa qua tại đây đã diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt giữa chúng tôi và bọn Trung Quốc xâm lược.
Pháo đài nằm phía tây nam thị trấn Đồng Đăng, cách Hữu Nghị Quan khoảng 2 cây số. Nó được xây dựng từ thời Pháp/ Pháo đài hình bầu dục, tường dày 2m, có 3 tầng, mỗi tầng lại được ngăn thành 4 ô vuông thông nhau bằng một cửa nhỏ, tầng nọ lên tầng kia có cầu thang xây nhiều bậc. Toàn bộ pháo đài đều đổ bằng bê tông cốt thép và đặt sâu trong lòng đất trên một ngọn đồi. từ xa nhìn tới chỉ thấy cây cỏ phủ kín, đến tận nơi mới phát hiện ra 2 đường hầm cũng đúc bằng bê tông cốt thép dẫn vào tầng thứ nhất và tầng thứ hai của pháo đài. Đây là vị trí phòng ngự rất quan trọng bởi nó án ngữ đầu mối giao thông cả đường bộ và đường sắt từ ta sang Trung Quốc. Chốt giữ pháo đài này có 2 đơn vị : 2 tiểu đội bộ đội thuộc F3 và phân đội 5 chúng tôi. Cố nhiên trong chiến đấu chúng tôi đều có phương án hợp đồng với nhau.
Đêm 16-2, đồn trưởng Hoàng Văn Ý, chính trị viên Phùng Đắc Sình và đồn phó Trần Hà Bắc dường như không ngủ. Ba người phân công nhau bám sát các chốt tiền tiêu nắm tình hình địch. Sổ trực ban chiến đấu chi chít những dòng chữ viết vội. Phía bên kia biên giới xuất hiện nhiều dấu hiệu lạ : những đốm lửa, những tiếng động cơ máy nổ ầm ỳ di chuyển và trên không trung xuất hiện nhiều tần số sóng mới. Có thể địch đang điều thêm quân và bố trí lực lượng.
5 giờ 30 ngày 17-2-1979, pháo các cỡ của địch đặt từ đất Trung Quốc điên cuồng nã đạn sang pháo đài và nhiều nơi thuộc khu vực đồn chúng tôi phụ trách. Lập tức chúng tôi triển khai theo phương án chiến đấu. Trời sáng dần. Pháo chuyển làn. 7 giờ, bộ binh địch bắt đầu tấn công. Chúng có khoảng 1 sư đoàn, xe tăng dẫn đầu hùng hổ vượt qua mốc 16 tràn sang lãnh thổ nước ta. Bọn xâm lược chia làm 2 mũi. Mũi thứ nhất có 6 xe tăng thọc thật sâu tấn công chúng tôi từ bên trái và phía sau. Mũi thứ hai theo đường 1B tới gần ga Đồng Đăng thì vòng lên đánh vào bên phải. Đương đầu với đội quân lớn có xe tăng, pháo binh yểm hộ, chúng tôi chỉ có vẻn vẹn 100 tay súng. Cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ diễn ra rất ác liệt nhưng chúng tôi không hề nao núng. Ỷ thế quân đông, hoả lực nhiều, bọn Trung Quốc tràn lên. Tiếng kèn, tiếng còi, tiếng quát tháo, tiếng reo hò hoà trong muôn vàn tiếng nổ gầm rít của súng đạn. Địch tưởng có thể tiêu diệt ngay chúng tôi để chiếm pháo đài.
Hàng chục chiếc xe tăng điên cuồng lồng lộn quanh pháo đài, súng các cỡ trên xe bắn xối xả cùng với đạn cối, đạn pháo phía xa rót đến. cả khu vực ngập chìm trong khói lửa. Cánh bên trái do đồn phó Trần Hà Bắc chỉ huy. Anh dẫn đầu một mũi, lợi dụng hào sâu và địa hình mấp mô luồn rất nhanh về phía trước đón đầu 3 chiếc xe tăng đang tăng tốc độ lao đến. Chiếc thứ nhất phát hiện ra họ, tên giặc bật nắp xe nhô đầu lên cao xoay nòng khẩu thượng liên 12 ly 7 chúc xuống bắn xối xả tới. Đạn nối nhau cày đất mịt mù. Đồn phó Bắc vẫy tay ra hiệu cho Trường cùng mình theo một đoạn hào cắt chéo trận địa đánh chiếc xe thứ hai vừa tách khỏi đội hình chạy về cửa pháo đài. Từ trên cao chúng tôi tập trung hoả lực bắn xuống chi viện. Nấp sau một mô đá, anh Bắc dùng AK quét từng loạt kìm đầu bộ binh địch, tạo điều kiện cho Trường tiếp cận mục tiêu. Xách khẩu B40, như con sóc, Trường bò rất nhanh. Chiếc xe tăng không hề biết số phận nó đang bị đe doạ vẫn hùng hổ xông đến, khẩu pháo trên tháp quay rè rè lên hướng pháo đài nã đạn tới tấp. Chọn được địa hình thuận lợi, Trường kê nòng súng lên mô đá, bắn đón. Quả đạn đỏ lừ lao đi cắm phập vào xe tăng. Nó khựng lại, rùng mình, cố bò lết thêm một đoạn nũa rồi bùng cháy. Từ trên nóc xe, 3 tên giặc lái chui ra, chúng chưa kịp nhảy xuống đất đã bị những luồng đạn AK thẳng căng của đồn phó Bắc quét tới diệt gọn. Chúng tôi phấn khởi quá reo hò ầm ĩ. Chiếc xe tăng bốc cháy dữ dội, khói lửa tuôn cuồn cuộn, đạn trong xe nổ ầm ầm. Thấy đồng bọn bị diệt, những chiếc xe sau sợ hãi đứng tại chỗ, dùng tất cả các cỡ súng bắn như đổ đạn về mọi phía. Bọn bộ binh cũng hoang mang không kém. Chúng dồn ứ lại. Tiếng hò la, quát tháo, tiếng còi, tiếng kèn loạn xị. Đồn trưởng Ý đứng dậy dõng dạc ra lệnh :
- Cối và đại liên, bắn !
Khẩu đại liên trong tay tôi rung lên. Nhất vừa nâng đạn vừa sung sướng quát to :
- Bắn đi ! Bắn nữa đi ! Chúng nó chết nhiều quá các cậu ơi !
Những quả đạn cối rót rất chính xác vào giữa đội hình giặc. 6 chiếc xe tăng sợ hãi nghiến bừa lên xác lính chạy về phía bên phải. Không bỏ lỡ thời cơ, đồn phó Bắc dẫn đầu một mũi xung kích vừa dùng AK, thủ pháo tiêu diệt bộ binh mở đường, vừa chạy theo lối tắt đón đánh xe tăng. Địch trên xe đã phát hiện thấy anh. Chúng tập trung hoả lực bắn chặn đường. Tên chỉ huy tay vung vung khẩu súng ngắn miệng gào lên :
- Tả ! Tả !
Bọn lính lại thúc nhau tràn tới. Nhất đập mạnh tay vào vai tôi nói to :
- Bắn bỏ mẹ chúng nó đi, Phi-ao ơi !
Tôi rê nòng khẩu đại liên về hướng ấy cùng với khẩu trung liên của Kết quét đi từng mảng bộ binh địch. Lợi dụng thời cơ, Lê Minh Trường ôm khẩu B40 vào bụng lăn tròn mấy vòng tới tiếp cận mục tiêu. Bỗng Trường oằn mình lên quằn quại. Đồn phó Bắc quay lại nhào tới ôm Trường bò nhanh xuống một ngách hào. Lát sau dường như đã băng bó cho Trường xong, chúng tôi thấy anh vẫy tay ra hiệu cho các chiến sĩ bắn yểm hộ, rồi xách khẩu B40 lao vun vút dưới làn hoả lực dày đặc của địch chạy lên đánh chiếc xe tăng thứ ba. Tên xạ thủ đại liên vừa bật nắp xe nhô đầu định chúc nòng súng xuống bắn liền bị tiêu diệt ngay. Cự ly gần quá, chiếc xe tăng gầm lên, định chồm tới nghiền nát anh Bắc. Bỗng "ầm", quả đạn của anh phóng đến, chiếc xe tăng bốc cháy. Tất cả bọn trong xe không còn sống đứa nào. Súng các cỡ của địch từ nhiều ngả tập trung bắn như trút đạn tới. Trên thành pháo đài nhìn xuống chúng tôi chỉ thấy mịt mù lửa khói... Kết chỉ xuống phía ấy nói trong hơi thở :
- Anh Bắc có lẽ bị...
Một cảm giác đau nhói xốc lên khiến tay tôi run run. Đúng rồi, 1 chiến sĩ đang cõng anh trên lưng chạy. Địch hò nhau đuổi theo. Tôi xoay nòng khẩu đại liên nghiến răng xiết cò. 2 khẩu trung liên ở cánh phải cũng tập trung bắn yểm hộ. Kết nhào xuống cùng với 2 đồng chí khác đưa anh Bắc lên cửa pháo đài. Anh bị thương vào bụng và ngực. Vết thương khá nặng, máu ra nhiều, môi nhợt nhạt, da tái xám, tóc bết lại. Sau đợt phản kích quyết liệt bị đánh bật xuống, địch tập trung nhiều khẩu cối bắn lên. Mấy chúng tôi xúm lại chỗ anh Bắc. Anh mệt lắm, mắt lờ đờ nhìn từ người này qua người khác. Giọng thều thào đứt quãng, anh nói :
- Phải chiến đấu đến cùng. Các đồng chí... mỗi chúng ta phải là... là một pháo đài. Mình không sống được. Xin... chào....
Chúng tôi không khóc, mặc dù nước mắt cứ ứa ra, dàn dụa. Phân công 1 đồng chí cõng anh vào trong pháo đài còn chúng tôi vội vã trở về vị trí chiến đấu. Đúng lúc ấy địch lại tấn công. Sau những đợt pháo bắn cấp tập, bộ binh của chúng nấp sau xe tăng tràn lên.
Ở cánh phải, 3 chiếc xe tăng đã vào được cổng đồn. Chúng chồm lên húc đổ hết nhà này qua nhà khác, sau đó quay nòng pháo bắn về chúng tôi. Chính trị viên Phùng Đắc Sình từ chỗ khẩu đội súng cối chạy đến ra lệnh cho tôi chuyển hoả lực sang chi viện cho cánh phải. Vừa chọn được vị trí đặt súng, bộ binh địch đã tràn tới. Chúng bắn lên như mưa. Hoả lực của ta, hoả lực của địch đan cài vào nhau nổ hỗn loạn không thể nào phân biệt nổi. Chúng tôi điếc đặc chỉ dùng tay ra hiệu hoặc quát vào tai nhau. Trên một mô đá cao có 2 thằng lính Trung Quốc đang cầm cờ phất chỉ hướng cho xe tăng bắn. Tôi lấy điểm xạ thật chính xác, xiết cò, cả 2 tên đều chết lộn nhào xuống, quằn quại một lát rồi nằm im. Phát hiện ra chỗ chúng tôi, địch tập trung bắn tới. Ở địa hình trống trải này bắn đại liên dễ lộ, sẽ làm mồi cho cối và pháo xe tăng. Tôi hạ khẩu đại liên xuống, nhào sang bên vớ khẩu trung liên của 1 đồng chí bộ đội thuộc F3 vừa bị thương, lắp cả băng đạn đầy và không cần ngắm cứ nhằm phía trước nơi bộ binh địch đang tràn lên mà bắn. 1 chiếc xe tăng bất ngờ từ phía trái hùng hổ lao tới. Nó mạo hiểm leo theo sườn dốc dùng đạn xuyên nã thẳng vào chiến hào. Tình thế hết sức nguy hiểm, nếu không tiêu diệt được nó ngay bộ binh địch sẽ lợi dụng thời cơ lên chiểm cửa pháo đài. Chính trị viên Sình mồ hôi nhễ nhại từ phía trái chạy sang, anh chưa kịp cử chiến sĩ nào xuống đánh, bỗng chúng tôi thấy một người đang cúi lom khom chạy về chiếc xe tăng. Lê Minh Trường ! Đúng rồi, Trường bị thương mà... Địch phát hiện thấy anh, chúng bắn xối xả đuổi theo. Trường ngã dúi ngã dụi, lại nhỏm lên chạy, tay xách một túi lựu đạn. Chúng tôi dồn hoả lực bắn kìm đầu bộ binh địch yểm hộ cho Trường. Cự ly giảm dần, hoả lực trên xe tăng không có tác dụng ở khoảng cách ấy, nó lồng lên lao thẳng đến trước mặt anh. Trường nhoài người sang bên, nép mình vào một mỏm đá nhô cao.
Chúng tôi vừa lo lắng, vừa hồi hộp theo dõi. Chiếc xe quay ngoắt lại chồm tới. Trường vung tay, tung một chùm lựu đạn vào giữa xích xe. "Ầm", một cột lửa bùng lên. Chiếc xe tăng quay vòng hai vòng rồi mất đà cứ thế lăn xuống vực nằm chết dí dưới suối. Chúng tôi không thấy Trường đứng dậy. 1 đồng chí trong tổ bất chấp những luòng đạn dày đặc của địch chạy lao xuống ôm lấy Trường chạy lên. Anh bị thêm 2 vết thương nữa. Không nói được câu nào, Trường chỉ ngước đôi mắt đen láy nhìn chúng tôi như muốn dặn dò điều gì mà không nói nên lời. Nhưng chúng tôi hiểu. Nhìn đôi mắt của anh, bằng hành động anh đã làm, chúng tôi hiểu lời trối trăn của anh cũng như lời dặn dò của đồn phó Trần Hà Bắc : phải chiến đấu đến cùng, mỗi chúng tôi phải là một pháo đài bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trường hy sinh, trong túi áo ngực còn một bức thư chưa gửi - thư viết cho Bích Đào, người yêu của anh đang học trường trung cấp thương nghiệp. Chúng tôi sẽ thay anh gửi bức thư ấy đến tận tay cô và sẽ viết một bức thư khác kể lại tỉ mỉ hành động dũng cảm và cái chết đẹp đẽ, anh hùng của Trường. Bích Đào ơi, chị hãy đặt niềm tự hào lên trên sự đau khổ. Chúng tôi nguyện sẽ noi gương Trường và quyết trả thù cho đồng chí ấy.
Logged
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #14 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 08:57:02 PM »

Chúng tôi cũng sẽ viết một bức thư dài gửi cho mẹ của Trường, một cô giáo đã đứng tuổi, hiền lành, rất giàu lòn thương con. Bố Trường là một cán bộ chỉ huy trong quân đội. Suốt những năm chống Mĩ, ông lăn lộn trong chiến trường miền Nam và đã hy sinh anh dũng. Trường tình nguyện nhập ngũ sau khi biết tin bố mất. Anh được chọn vào công an vũ trang. Sau 3 tháng huấn luyện, Trường xin lên nhận nhiệm vụ trên tuyến biên giới nóng bỏng này. Trong cuộc sống Trường là một người bạn tốt, một chiến sĩ mẫu mực và trong chiến đấu anh đã nêu cho chúng tôi một tấm gương cao đẹp về lòng dũng cảm. Chúng tôi vĩnh biệt Trường, tay cầm chắc súng trở về vị trí chiến đấu với lòng tự tin và ý chí quyết chiến được nâng cao gấp bội.
Sau nhiều đợt tấn công đều bị chúng tôi đánh bật, địch lui quân ra xa. và pháo cối từ các trận địa lại điên cuồng nã đạn xuống pháo đài. Tất cả ngập chìm trong khói lửa. Tai điễc đặc, chúng tôi chỉ còn cảm thấy đất rùng rùng liên tục dưới chân và hơi nóng phả vào mặt tức thở. Trời đã về chiều. Gió hơi se lạnh. Đôi khi lại lất phất mấy hạt mưa bụi. Trước mặt chúng tôi, xác giặc chết ngổn ngang và xa xa chỗ mấy chiếc xe tăng bị bắn cháy khói vẫn bốc lên cuồn cuộn. Núi đồi tím sẫm dần. Bóng đêm trùm xuống rất nhanh. Trận địa trở lại yên tĩnh hơn. Lợi dụng trời tối chúng tôi tiến hành chôn cất tử sĩ, băng bó cho thương binh. Sau một ngày chiến đấu liên tục, đói, mệt nhưng đồng chí nào cũng rất bình tĩnh, vững vàng, sẵn sàng đón đợi những trận chiến đấu khác. Một số quả đồi xung quanh đã bị địch chiếm, khắp nơi những đống lửa cháy bập bùng. thỉnh thoảng lại dội lên vài ba tràng súng bắn vu vơ. Tổ 3 người gồm tôi, Kết, Bái ngồi gác trước cửa pháo đài và sẵn sàng bắn yểm hộ cho các đồng chí khác bò xuống lật xác bọn địch chết dưới chân đồi lấy vũ khí. Khoảng nửa đêm, Bái khẽ cấu vào vai tôi ra hiệu. Tôi nhìn theo hướng tay Bái chỉ thấy nhấp nhô mấy bóng đen đang thận trọng bò vào. Địch ! Tôi bí mật phân công Bái và Kết rẽ ra hai bên, tôi ở giữa, tạo thành thế bao vây địch. Chúng vẫn không hay biết gì. Khi cự li chỉ còn độ 6m, tôi liên tiếp ném 2 quả lựu đạn, Kết quét 1 tràng AK và Bái ném 1 quả lựu đạn nữa. Toàn bộ bọn thám báo bị tiêu diệt.
Hôm sau, từ 5 giờ sáng địch đã tập trung pháo kích xuống trận địa. Và liền sau đó chúng tổ chức tấn công. Lần này chúng tăng cường thêm xe tăng và bộ binh quây kín quanh pháo đài. Chính trị viên Sình tới các tổ động viên tinh thần chiến sĩ. Chúng tôi hiểu trận đánh sắp diễn ra sẽ vô cùng ác liệt. Phía cổng đồn gần gốc cây gạo, 1 chiếc xe tăng đang bò lên. Trên nắp pháo có 1 tên to béo tay cầm cờ phất, miệng gào thét thúc lính tấn công. Từ phía trái, Hội vận động xuống. Anh đĩnh đạc bắn 1 loạt AK. Tên chỉ huy chết lộn cổ. Chiếc xe tăng vẫn hùng hổ chạy vòng tìm đường lên dốc. Bọn bộ binh hò hét theo sau. Xạ thủ B40 Đỗ Văn Dưỡng chạy như bay xuống đón đầu. Lợi dụng khe cạn, anh tìm được vị trí bắn thích hợp. Chiếc xe tăng vừa chồm tới chỉ cách Dưỡng không đầy chục mét, anh bóp cò. Quả đạn phóng thẳng vào bụng xe, một cụm lửa bùng lên và khói đen tuôn cuồn cuộn. Chiếc đi sau hốt hoảng quay đầu tháo chạy ngược trở lại liền bị tổ ĐKZ của các chiến sĩ bộ đội thuộc F3 bắn cháy. Mất chỗ dựa, lũ bộ binh chạy nháo nhào hỗn loạn. 2 khẩu cối 60 ly đặt trên nóc pháo đài rót xuống rất chính xác cùng các loại hoả lực bộ binh của chúng tôi từ chiến hào bắn đến. Địch chết như ngả rạ, chúng hò nhau tháo chạy. Theo kế hoạch đã hợp đồng, tổ của Hội phản kích quyết liệt hất địch tụt xuống khe suối cạn, nơi chiếc xe tăng địch bị Trường đánh đứt xích nằm đó. Chỗ ấy hai bên là dốc cao, vận động rất khó khăn. Hàng trăm lính địch chen chúc nhau dồn xuống tránh đạn liền bị tổ của Dưỡng dùng B40, lựu đạn phục sẵn đánh dập đầu, tiêu diệt một phần.
Cuộc tấn công quy mô ấy lại thất bại. Địch lui quân ra xa tầm hoả lực của ta. Sau hơn một ngày chiến đấu, chúng đoán biết được lực lượng và thế trận của ta. Lần này địch thay đổi chiến thuật. Chúng đánh chiếm các mỏm núi xung quanh rồi từ đó dùng cối, đại liên và các hoả lực tầm xa khác khống chế chúng tôi liên tục, để yểm hộ cho bộ binh tấn công. Đạn bắn xuống chiến hào như mưa. Quân ta bị thương và hy sinh mỗi lúc một tăng. Đạn dự trữ đã cạn, chúng tôi phải bắn rất tiết kiệm. Trong khi đó địch lại tổ chức tấn công. Một tên chỉ huy cưỡi trên lưng con ngựa màu xám, tay cầm súng ngắn, tay cầm kèn thúc lính.
- Bắn bỏ mẹ cái thằng đốn mạt kia đi ! Kết quát vào tai tôi.
Tôi điểm xạ 3 viên, thằng giặc gục xuống. Địch vẫn ào ạt xông lên. Chính trị viên Sình trực tiếp chỉ huy mũi bên trái nơi phải đương đầu với lực lượng lớn của địch. Tiếng nổ hỗn loạn. Khói lửa mù mịt. Khẩu trung liên của tôi nòng đỏ rực, đạn rơi gần, bắn không còn chính xác nữa. Tôi bỏ sang bên, vớ khẩu AK của đồng chí Nhất vừa hy sinh để lại, nghiến răng xiết cò. Tiếng nổ chồng lên nhau. Bọn giặc bị quét đi từng mảng.
Trời đã gần trưa. Hơi hoe nắng. Hai đồng chí anh nuôi Nghinh và Chính đem cơm ra tận chiến hào. Theo sau họ lại còn 1 cô gái nào nữa ? À, chị Tâm. Tâm là vợ đồng chí Mai Kiên Chanh. Chị công tác ở toà án nhân dân huyện Hà Quảng (Lạng Sơn) lên thăm chồng mấy hôm nay. Khi chiến sự xảy ra, chị Tâm nặng nặc đòi được cấp vũ khí để tham gia chiến đấu và tỏ ra là một tay súng vững vàng, dũng cảm. Phải vất vả lắm các chiến sĩ nuôi quân mới nấu được cơm đem tới trận địa. Họ cho cơm nắm vào ba lô khoác đi phát cho từng người. Biết bao lần bị bắn suýt chết, bao lần bị pháo vùi họ mới tới được đây. Người nào cũng mệt mỏi, quần áo lấm đày bụi đất. Chính ghếch nòng khẩu AK lên mép hào, hất hàm bảo tôi :
- Cậu tranh thủ nhét nhiên liệu vào dạ dày đi, tớ cảnh giới cho. Ác liệt đấy, phải chén cho thật no mới đủ sức đánh lâu dài với chúng nó.
Tôi với lấy nắm cơm từ tay Chính đưa lên miệng nhai, một tay vẫn đặt vào cò súng và chăm chú nhìn địch. Đói mà ăn chẳng biết ngon, nhai cơm cứ như nhai trấu. Địch lại tràn lên. Tôi vừa nhai vừa bắn, nắm cơm hai ba lần phải cầm lên đặt xuống, bẹp dí, dính đầy bụi đất, nhai cứ lạo xà lạo xạo, cứ nuốt bừa.
Địch lên đông quá, hết lớp này đến lớp khác. Tôi nhét vội nắm cơm vào túi quần, nhưng túi quần đầy đạn, liền đặt xuống trước mặt, bắn. Các loại hoả lực của ta đánh trả rất quyết liệt. Địch chết nhiều nhưng vẫn liều lĩnh xông đến. Bốn bề xung quanh khói lửa mù mịt. Địch đã áp sát chiến hào. 1 tên nhảy vào, mũi súng của nó chỉ cách tôi không đầy 1m. Tôi vội gạt ra và bóp cò luôn. Súng nổ, nó chết liền. Giữa lúc ấy anh Mai Kiên Chanh chạy đến chi viện. Anh bảo tôi :
- Cứ bình tĩnh, bắn bỏ mẹ chúng nó đi !
Địch lại tràn vào. Chúng gào thét, kêu la ầm ĩ. Nòng khẩu AK của tôi nóng đỏ lên. Tôi quăng lựu đạn, ở cự li gần như vậy dùng lựu đạn thật nguy hiểm nhưng không còn cách nào khác. Bỗng tôi thấy anh Chanh lảo đảo ôm lấy đầu, một dòng máu chảy loang nhanh xuống má.
- Phi-ao ơi mình bị thương rồi !
- Anh vào hầm đi để tôi trả thù cho !
Tôi quăng tiếp 1 quả lựu đạn nữa.
- Tớ chưa chết được đâu !
Nói rồi anh lại kẹp AK vào nách quét gần hết băng về phía địch. Tôi kéo anh xuống. Vừa lúc ấy chị Tâm và 1 đồng chí cứu thương đến đưa anh vào pháo đài. 1 quả lựu đạn của địch quẳng tới xì xì ngay dưới chân, tôi vội cúi xuống nhặt ném trả. Bấy giờ ở cánh trái chỉ còn tôi, Bái, Kết và Phong. Chiến hào bị đạn xuyên từ xe tăng bắn phá, nhiều đoạn đất đá lấp đầy. Bộ binh địch xông lên ào ạt. Chúng tôi phải buộc túm 2, 3 quả lựu đạn lại với nhau ném cùng một lúc. Bỗng 1 quả pháo cỡ lớn nổ trúng đội hình, cả 3 đồng chí Phong, Bái, Kết đều bị thương. Tôi chưa kịp lên cứu thì 1 quả khác lại nổ cách chỗ đó không xa, đất đá tung lên lấp đi tất cả. Tôi bị sức ép, ngực tức, đầu choáng, mắt hoa. Khói đạn vừa tan đã tháy 4, 5 tên Trung Quốc nhảy vào chiến hào chỉ cách tôi ba bốn mét. Không kịp ngắm, tôi kẹp súng vào nách xiết cò. Cả 5 tên chết gục tại chỗ.
Sau đó địch tổ chức 3 đợt tấn công nữa nhưng đều bị chúng tôi đánh bật xuống. Trời gần tối địch thổi còi thu quân lùi ra xa. Không gian trở lại yên tĩnh và bóng đêm nặng nề trùm xuống. Sau khi cùng các đồng chí cứu thương đưa Phong, Bái, Kết vào trong pháo đài, tôi trở lại chiến hào tìm nhặt những băng đạn, những khẩu súng vương vãi rồi đứng tựa lưng vào một tảng đá nhìn xuống chân đồi. Ở đấy lố nhố nhiều toán giặc Trung Quốc đang đốt lửa nấu ăn hoặc tranh nhau những của cải vừa cướp được. Đứng bên tôi là Chiến và Chít. Chiến là bí thư chi đoàn và mới được kết nạp vào Đảng ngay sau trận chiến đấu ác liệt chiều hôm qua. Anh vốn gầy, sau mấy ngày đánh nhau liên tục, Chiến càng hốc hác mệt mỏi nhưng đôi mắt vẫn sáng long lanh. Chiến lắp những viên đạn rời vào băng súng AK, ngước nhìn tôi im lặng rồi chăm chú nhìn xuống chân đồi nơi có rất nhiều đốm lửa lập loè. Tôi biết Chiến đang nghĩ tới những đồng chí đã anh dũng hy sinh, nghĩ tới những trận chiến đấu ác liệt sắp tới. Nhìn Chiến và Chít với vẻ đăm chiêu tư lự, lòng tôi bỗng cồn cào xúc động. Tự nhiên hình ảnh của đồn phó Trần hà Bắc, của Lê Minh Trường, của Nhất, Phong... hiện lên với gương mặt cương nghị, dũng cảm, và bên tai tôi lại văng vẳng những lời trối trăn dặn dò của họ : "Phải chiến đấu đến cùng. Mỗi chúng ta phải là một pháo đài để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc !".
Tôi nâng khẩu súng trên tay thầm hứa với các đồng chí đã khuất, chúng tôi nguyện chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, nguyện xứng đáng là những chiến sĩ biên phòng, những pháo đài vững chắc của Tổ quốc.
Logged
DucThinh11
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2008, 10:13:02 PM »

toi o? dong` dang -Ls nhung sao hok he` nghe nhac toi' cai' phao' dai` nay` Huh


Đề nghị bạn gõ tiếng Việt có dấu và viết đúng chính tả khi gửi bài. Nếu chưa biết cách, bạn có thể tham khảo ở đây.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2008, 10:15:20 PM gửi bởi Tunguska » Logged
anhlinhcuHo
Thành viên
*
Bài viết: 63


« Trả lời #16 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 12:42:01 PM »

Nó nằm gần trường thpt Đồng Đăng thì phải, giờ thì gần như thành phế tích rồi, có lẽ thế nên ít người nhắc tới
Logged
nvanlebinh
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 258



« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2008, 10:22:09 PM »

Tôi có cái này. Nhưng chủ nhân lại ở xa
nhờ mod reside lại
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:50:51 PM gửi bởi nvanlebinh » Logged

" Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác;
Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi."
Hich Tướng Sỹ.
linh moi
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 669


« Trả lời #18 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 02:44:08 PM »

Thời tôi ở lính ( 83 đến 86 ) .Chốt ở pháo đài Đồng Đăng là B1 C1 tiểu đoàn tôi , anh Tuấn người Nghi Tàm Quảng Bá là B trưởng nên tôi hay sang chơi . Ở trong đó có 1 đôi trăn , nghe bảo vì trước toàn ăn xác người nên to đăc biệt , anh Tuấn  bảo ; đã nhiều lần nhìn thấy , đã bắn nhiều lần mà không trúng vì nó nhanh lắm . Đồng Đăng nhỏ lắm thế mà cái bạn gì ở trên bảo là ; sống ở Đòng Đăng mà không biết pháo đai ở đâu thì thật là lạ ...!!!
Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2008, 07:02:23 PM »

4rum mình có bác nào biết tiếng Tung của không nhỉ Huh
Hai cái sơ đồ này lấy từ bên china-defense.com, theo em hiểu thì nó mô tả trận TQ tấn công pháo đài Đồng Đăng.
Bác nào quan tâm thì xem thêm chi tiết ở đây nhé: http://www.china-defense.com/forum/index.php?showtopic=909&st=25
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM