Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2019, 08:33:07 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước hội nghị Paris  (Đọc 64309 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #50 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:28:44 AM »

CHƯƠNG TÁM
GIÓC-GIÔ LA PI-RA: HY VỌNG VÀ THẤT VỌNG CỦA CHUYẾN ĐI HÀ NỘI
(Trong chương này, những lời Hồ Chủ tịch nói được tác giả viết theo "Lược ghi biên bản tiếp xúc Hồ Chủ tịch - La Pi ra" của Nguyễn. Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch của Bộ Ngoại giao.)


Bộ Ngoại giao Việt Nam phân vân khi nhận được đề nghị của giáo sư Gióc-giô La Pi-ra. Đây là một sáng kiến cá nhân hay là một hành động phối hợp với Chính phủ I-ta-li-a, thậm chí với Chính phủ Mỹ?

Ở Hà Nội, người ta biết khá rõ về con người và hoạt động của La Pi-ra, một nhân vật có tên tuổi ở I-ta-li-a. Là giáo sư luật, hơn mười năm là thị trưởng Thành phố Phi-ren-xê (Phlo-răng) nổi tiếng, ông đã tham gia cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít những năm 30 và trong chiến tranh thế giới thứ hai, đã đóng góp tích cự vào việc thành lập Đảng Dân chủ thiên chúa giáo, Đảng cầm quyền ở I-ta-li-a. Vốn có tư tưởng tiến bộ, ông cũng tham gia các hoạt động vì hoà bình và công lý, vì dân chủ xã hội.

Năm 1965, ông đã mời thị trưởng các thành phố lớn trên thế giới đến họp tại thành phố quê hương để ký một công ước hoà bình, ông đã đứng ra tổ chức hội nghị hoà bình về vấn đề Trung Đông lần thứ nhất.

Năm 1958, ông đã tổ chức hội nghị về vấn đề An-giê-ri và đã có những hoạt động trung gian giữa Pháp và ban lãnh đạo kháng chiến An-giê-ri, tạo điều kiện để đi tới Hội nghị E-vi-an.

Ông đã ủng hộ chính sách của Tổng thống Ken-nơ-đi và tin rằng Johnson sẽ đi theo đường lối của Ken-nơ-đi như ông này đã tuyên bố. Nhưng việc máy bay Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam đã làm cho ông cùng như bao nhiêu người khác kinh hoàng, ông liền lên tiếng phản đối các cuộc ném bom đó, ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam.

Với sự ủng hộ của nhiều hoạt động chính trị khác ở I-ta-li-a và của Đảng Cộng sản I-ta-li-a, La Pi-ra đã đứng ra tổ chức hội nghị chuyên đề về Việt Nam ở Phlo-răng ngày 26 tháng 4 năm 1965. Là một diễn đàn quan trọng, tập hợp nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội nhiều nước châu Âu, đại biểu cho nhiều tổ chức hoà bình trên thế giới, Hội nghị đã thông qua nghị quyết ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và lời kêu gọi triệu tập lại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Việt Nam và có các giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi được Mỹ thông báo về chủ trương "thương lượng không điều kiện" của Tổng thống Johnson, ông A-min-tô-rê Phan-pha-ni, Ngoại trưởng I-ta-li-a không thể bỏ qua một con người có quá trình chính trị, uy tín quốc tế như La Pi-ra, ông ta mời La Pi-ra đến gặp và đề nghị ông này đi Hà Nội thăm dò hoà bình. Lúc này ông La Pi-ra đã thôi làm thị trưởng và đang dạy luật La Mã tại Trường Đại học Phlo-răng.

La Pi-ra nhận lời ngay. Cùng đi với ông còn có các nhà toán học Ma-ri-ô Pô-ri-mi-chê-ri-ô.

Sau khi được Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời đồng ý ngày 20 tháng 10, hai ông La Pi-ra và Ma-ri-ô Pô-ri-mi-chê-ri-ô lên đường đi Hà Nội. Hai ông qua Ba Lan, Liên Xô, trên đường đi Bắc Kinh phải dừng lại Iếc-cút hai ngày vì thời tiết quá xấu. Ngày 8 tháng 11 hai ông tới Hà Nội.

Các bạn Việt Nam đã dành thì giờ cho hai ông nghỉ sau chuyến đi khá mệt nhọc và nghe đại tá Hà Văn Lâu, Trưởng phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam giới thiệu về tình hình thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; thất bại của chiến tranh đặc biệt của Mỹ; tình hình chiến trường sau khi Mỹ đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, cho máy bay ném bom miền Bắc, lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:29:51 AM »

Ngày 11 tháng 11, hai ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tại Phủ chủ tịch. Cùng dự với Người có Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau những lời chào mừng thường lệ, ông La Pi-ra xin được nói trước, ông nói:

- Tôi đã gặp ông Phan-pha-ni ngày 7 tháng 9, ông Phan-pha-ni nói với tôi rằng: ông đã tổ chức hội nghị Phlo-răng, đã hoạt động cho Việt Nam, ông nên đi Việt Nam, ông yêu cầu tôi nói với Chủ tịch rằng chúng tôi sẵn sàng phục vụ hoà bình và công lý. Vấn đề Việt Nam hiện nay là vấn đề của thế giới.

Hội nghị Phlo- răng đã có nhiều chính khách quan trọng tham gia, đó là chất men kích thích phong trào thế giới. Tôi đã viết thư cho B. Ken-nơ-đi và nhiều nhà chính trị khác của Mỹ. Hiện nay phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ gồm nhiều nhà chính trị quan trọng như Phun-brai, Móc-xơ, nhiều giáo sư và sinh viên. Đây là lần đầu tiên tôi đi Hà Nội. Trước đây tôi đã đi Mát-xcơ-va. Lần này tôi qua cả Vác-sa-va, Mát-xcơ-va, Bắc Kinh, Hà Nội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vui vẻ nói:

- Ông đi lại với cộng sản nhiều quá chăng?

Không khí trở nên thân mật, ông La Pi-ra nói:

- Chúng tôi đặt quan hệ giữa người với người. Tôi thấy đã đến lúc phải ngừng ném bom. Khi đến Mát-xcơ-va, tôi đã gửi cho ông Phan-pha-ni một bức điện về việc này (ông đọc bức điện bằng tiếng I-ta-li-a).

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi:

- Vậy là lần này ông mang cành ô-liu đến Việt Nam? Vậy ông Phan-pha-ni yêu cầu ông nói gì với chúng tôi?

- Nói rằng chúng tôi đã sẵn sàng. Việt Nam được hoà bình, thế giới sẽ hoà bình. Vấn đề khó nhất là bước đi đầu tiên. Hiện nay sinh viên Mỹ đang đấu tranh chống Lầu Năm Góc. Tham gia phong trào đó có rất nhiều người công giáo có tổ chức chặt chẽ.

Chủ tịch tiếp lời:

- Các anh Mo-ri-xơn và La Póc-tơ (Hai thanh niên Mỹ này tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.) cũng là những người công giáo. Các anh đó rất dũng cảm, nhưng những kẻ phải chết cháy chính là Johnson và Macnamara.

- Hiện nay có phong trào mạnh mẽ đòi hoà bình, cần giúp đỡ phong trào đó và gây áp lực với Chính phủ Mỹ, phải bao vây Johnson lại. Vấn đề quan trọng là bước đầu phải làm gì để đẩy phong trào lên, làm gì để chấm dứt đau khổ của nhân dân. Chỉ có hai con đường: hoặc là hoà bình hoặc là trái đất sẽ bị huỷ diệt. Hoà bình hiện nay là ở Hà Nội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh liền hỏi:

- Nếu ở địa vị ông thì ông phải làm gì?

- Sẽ gặp nhau uống trà mà không giết nhau nữa - La Pi-ra trả lời.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:30:59 AM »

Thủ tướng hỏi tiếp:

- Và người Việt Nam sẽ hỏi: Mỹ sang Việt Nam để làm gì? Mỹ chỉ có việc về Mỹ.

Ông La Pi-ra nói:

- Đúng, nói như vậy tốt. Cứ nói, nhưng nói giữa hai người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: 

- Mỹ đã đến Việt Nam gây chiến, giết hại nhân dân Việt Nam, còn nhân dân Việt Nam chỉ muốn Mỹ rút. Như ông nói, bước đầu là quan trọng, vậy thì bước đầu chúng tôi có đánh vào Oa-sinh-tơn đâu? Ai đã đến Việt Nam giết hại nhân dân Việt Nam?

- Mỹ! - ông La Pi-ra trả lời ngay. Vấn đề là ở chỗ đó. Vậy thì Mỹ phải rút như lời Chúa dạy.

Ông La Pi-ra dừng một chút rồi nói:

- Nhưng cũng có vấn đề kỹ thuật trong việc rút... Tôi là giáo sư về luật La Mã. Luật La Mã nói rằng khi có một cuộc tranh chấp thì nên chia ra hai giai đoạn: bước đầu là hai bên ngừng lại, bước sau là vận dụng luật La Mã để phân xử. Vì vậy tôi nghĩ trước mắt phải ngừng ngay bạo lực lại sau đó sẽ đem đối chiếu luật pháp và thực tế.

Thủ tướng nhận xét:

- Như vậy, phải cho bọn kẻ cướp vào tù rồi đem xử sau.

- Nhưng phải có thời gian, phải vận động, phải đẩy phong trào lên. Hiện nay đã đến lúc, thời cơ đã chín muồi - La Pi-ra nói.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi:

- Vấn đề quan trọng là bước đầu. Chính Mỹ đã ném bom bắn phá và hiện nay hàng ngày đang đánh phá chúng tôi. Vậy ai vi phạm luật lệ của Chúa?

- Và ai vi phạm luật lệ của người? - Thủ tướng hỏi tiếp - ông cho ai là kẻ có tội?

Không đợi khách trả lời, Thủ tướng nói:

- Tôi xin cảm ơn ông về đề nghị của ông là ngồi vào bàn nói chuyện với Mỹ, nhưng ông có cho rằng Mỹ có đồng ý ngồi vào bàn không?

La Pi-ra:

- Trước đây vì quần chúng chưa hiểu, còn bị tinh thần chống cộng làm sai lạc, mặc dù thế, lịch sử tiến lên. Từ ba tháng nay, phong trào nhân dân Mỹ lại phát triển một cách mạnh mẽ. Lực lượng tiến bộ đang có triển vọng thắng thế, phải ủng hộ các lực lượng đó. Chúng tôi hoàn toàn phản đối việc ném bom, kể cả ném bom các nước cộng sản. Thời cơ đã đến, nên mở cửa cho Mỹ vào, nên nói chuyện với đại diện của Chính phủ Mỹ. 

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:31:47 AM »

Thủ tướng:

- Giải pháp duy nhất là Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Mỹ phải rút về Mỹ.

- Việc đó sẽ giải quyết trong lúc uống trà.

- Muốn nói chuyện, - Thủ tướng phân tích - phải có người để nói. Vậy Mỹ có muốn nói chuyện không? Không? Chúng vẫn mở rộng chiến tranh ở miền Nam, ném bom bắn phá miền Bắc. Chúng muốn bắt chúng tôi, muốn chúng tôi phải nhận thứ hoà bình Mỹ. Nhưng việc đó chúng tôi không thể chấp nhận được. Chúng tôi tha thiết với hoà bình. Đêm chúng tôi không ngủ, ngày chúng tôi suy nghĩ rất nhiều phải làm gì. Hoà bình trong công lý là lập trường bốn điểm mà chúng tôi đã đưa ra.

La Pi-ra:

- Muốn có hoà bình thì phải gặp nhau, phải nói chuyện với nhau rồi Mỹ mới rút. Về bốn điểm, Mỹ đã nhận gần hết. Nếu Mỹ không nói bốn điểm mà chỉ nói một điểm là Hiệp nghị Giơ-ne-vơ trong đó bao gồm những vấn đề là lập trường bốn điểm đã nêu ra thì các ông có đồng ý không? Có nhận không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút. Nhưng nếu Mỹ không rút thì phải đánh đuổi Mỹ đi. Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ. Nhưng với Johnson và Macnamara thì hoặc là trải thảm đỏ hoặc là đá đít ra khỏi cửa.

Tất nhiên là chúng tôi muốn hoà bình: chúng tôi sẵn sàng giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam. Chúng tôi không muốn trẻ em bị giết và nhà cửa bị đốt. Chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với kẻ xâm lược, nhưng trước hết kẻ xâm lược phải ngừng xâm lược.

Nhờ ông nói với Tổng thống Johnson và Macnamara hoặc thông qua ông Phan-pha-ni mà nói với họ rằng: Hồ Chí Minh chỉ muốn hoà bình. Ai là kẻ gây chiến? Ai là kẻ không muốn chấm dứt chiến tranh? Đó chính là Mỹ! Mỹ phải rút khỏi Việt Nam rồi Tổng thống Johnson đến đây nói chuyện cũng được, hoặc ông ta có mời tôi qua Oa-sinh-tơn tôi cũng sẵn sàng! Nhưng trước hết Mỹ phải để chúng tôi yên. Mỹ phải chấm dứt ném bom!

- Nếu Mỹ còn xâm lược thì chúng tôi còn đánh. Chén trà sẽ có sau - Thủ tưởng Phạm Văn Đồng nói thêm.

- Cần phải pha trà sẵn - La Pi-ra nói.

- Đồng ý - Thủ tướng trả lời.

Cuộc nói chuyện về hoà bình ở Việt Nam đến đây chấm dứt, một cuộc nói chuyện cởi mở, thẳng thắn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện khách về tình hình chính trị ở I-ta-li-a, cho khách biết Người đã ở Phlo-răng một thời gian trong một nhà hàng không sang trọng lắm, ông chủ xem Người như người nhà. Người kể là đã từng ở Thành phố Na-plơ hai tháng, đi thăm Pom-pê và núi lửa Vê-duy-vơ, cầu Thủ đô Rô-ma thì Người chỉ đi qua hai giờ đồng hồ.

Người còn hỏi về tình hình ăn ở của khách, hỏi khách có mãn nguyện đối với nhiệm vụ trong chuyến đi thăm Việt Nam không? La Pi-ra nói rằng ông rất mãn nguyện và cho đây là chuyến đi quan trọng nhất của ông trong mười năm qua. Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngỏ lời mời ông trở lại Việt Nam khi nào thuận tiện.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:32:40 AM »

*
*   *

Nhận được thư của giáo sư La Pi-ra tóm tắt cuộc nói chuyện về vấn đề Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Phan-pha-ni, khi đó đang ở Niu Yoóc, là chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 20, đã gửi thư cho Tổng thống Johnson. Thư đề ngày 20 tháng 11, nội dung chủ yếu như sau:

"Trong cuộc hội kiến mà Ngài đã có nhã ý dành cho tôi hồi cuối tháng 5, Ngài đã luôn luôn nhắc lại ý định vững chắc của Ngài kiên trì tìm kiếm một giải pháp thương lượng cho cuộc xung đột ở Việt Nam.

Tôi xin thông báo với Ngài việc sau đây:

Ngày thứ năm, 11 tháng 11 ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bày tỏ với hai người quen của tôi ý muốn tha thiết tìm một giải pháp hoà bình cho cuộc xung đột ở Việt Nam và đã tuyên bố tóm tắt như sau, theo như hai người đã viết cho tôi:

Để cho cuộc nói chuyện hoà bình có thể thực hiện được sẽ cần phải:

a. Ngừng bắn trên không, trên biển, trên đất liền trong toàn lãnh thổ Việt Nam (Bắc và Nam Việt Nam), chấm dứt mọi cuộc hành quân đối địch (bao gồm cả việc đưa thêm quân Mỹ vào);

b. Tuyên bố rằng Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 sẽ được dùng làm cơ sở cho cuộc thương lượng; tuyên bố cần nói đến bốn điểm của Hà Nội - các điểm này thực chất là việc giải thích Hiệp nghị Giơ-ne-vơ - theo đó có thể gom gọn lại thành một điểm, nói một cách khác: thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ.

Chính phủ Hà Nội đang chuẩn bị mở cuộc thương lượng mà không đòi quân Mỹ phải rút trước.

Cụ Hồ Chí Minh đã nói: sẵn sàng đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai...".

Bức thư có những điểm khác với lập trường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với ông La Pi-ra và ông Pô-ri-mi-chê-ri-ô, đặc biệt là có một số ý kiến của Người đã được trình bày lại gần giống lời lẽ của Johnson.

Cũng trong dịp này, ông Phan-pha-ni đã gặp đại sứ Ác-tơ Gôn-bớc, đại diện Mỹ tại Liên hợp quốc, rồi Ngoại trưởng Đin Ra-xcơ để thông báo về kết quả chuyến đi Hà Nội của La Pi-ra và Pê-tơ-mi-chê-ri-ô,

Ngày 4 tháng 12, Đin Ra-xcơ gửi thư cho Phan-pha-ni, nói:

1. Như đã nhiều lần tuyên bố, Hoa Kỳ sẵn sàng đi vào các cuộc thảo luận hay thương lượng với bất cứ chính phủ nào, vào bất cứ lúc nào, không có bất cứ điều kiện tiên quyết nào.

2. Mặc dù có ít nhiều điều chưa rõ ràng trong tuyên bố về lập trường của Hà Nội các nguồn tin của Ngài hình như chỉ ra rằng Hà Nội đồng ý là các cuộc thương lượng sẽ được tiến hành trên cơ sở Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 không có phân biệt hoặc điều kiện. Về phần chúng tôi, chúng tôi cũng mong muốn đi vào thương lượng trên cơ sở đó, không có phân biệt hoặc điều kiện.

3. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không đồng ý với luận đề cho rằng bốn điểm của Hà Nội đưa ra là một sự giải thích chân chính Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954. Các yếu tố trong bốn điểm nhất là cương lĩnh của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng không có cơ sở trong Hiệp nghị Giơ-ne-vơ và việc Hà Nội nhấn mạnh một cách rõ ràng phải có tuyên bố trước chấp nhận bốn điểm, đã tỏ ra vừa không nhất quán với Hiệp nghị mà còn đòi một điều kiện quan trọng cho việc thương lượng. Tuy nhiên, chúng tôi sẵn sàng xem xét bốn điểm trong bất cứ cuộc nói chuyện hoà bình nào cùng với bất cứ đề nghị nào là Hoa Kỳ, Nam Việt Nam và các nước khác mong muốn đưa ra.

4. Nếu có sự giảm bớt hoặc đình chỉ chiến sự trước khi thương lượng, hiển nhiên điều đó phải trên một cơ sở công bằng và có đi có lại...

5 . Chính phú Hoa Kỳ ghi nhận thông điệp gửi cho chúng tôi rằng Bắc Việt Nam sẽ không nhấn mạnh việc rút lực lượng Mỹ trước khi bắt đầu thương lượng. Tuy vậy việc làm sáng tỏ điểm này dù không phải không có ý nghĩa... vẫn để lại các vấn đề ở điểm hai và ba nói trên, vì vậy chúng tôi còn xa mới tin rằng những lời tuyên bố của cụ Hồ Chí Minh và ông Phạm Văn Đồng là dấu hiệu của lòng mong muốn thật sự về thương lượng không điều kiện” (Bộ Quốc phòng Mỹ: Quan hệ Mỹ - Việt Nam 1945-1967, Oa-sinh-tơn, 1971, Phần. VI-B, Quyển 12, tr. 22-23.)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:33:29 AM »

Ngày 13 tháng 12. Phan-pha-ni báo cho đến Ra-xcơ biết rằng ông đã tóm tắt ý kiến trên của Mỹ để gửi cho Hà Nội ngày 8 tháng 12, ông nghĩ rằng hôm nay ngày 13 tháng 12, các văn kiện đó đã đến địa chỉ cuối cùng.

Hà Nội đã nhận được thư của ông Phan-pha-ni đề ngày 6 tháng 12 với tiêu đề: Chủ tịch Đại hội đồng (Liên hợp quốc) cá nhân và mật.

Bức thư như sau:

Kính thưa Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thưa Chủ tịch,

Hai người I-ta-li-a đã nói chuyện với Ngài và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 11 tháng 11 vừa qua đã thông báo cho tôi ngày 19 tháng 11 rằng trong buổi nói chuyện về cuộc xung đột ở Việt Nam, phía các Ngài có lẽ đã đưa ra những điểm sau đây - mà tôi đã viết lại bằng tiếng Anh - nghĩa là trong ngôn ngữ mà tôi đã dùng để chuyển đi: 

1. Để tạo khả năng cho thương lượng hoà bình gồm:

a. Ngừng bắn trên không, trên biển và đất liền trong toàn lãnh thổ Việt Nam (Bắc và Nam) một cuộc ngừng bắn - có nghĩa là ngừng tất cả cuộc hành quân (bao gồm cả việc chấm dứt việc đổ bộ thêm quân Mỹ).

b. Tuyên bố rằng Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 sẽ được dùng làm cơ sở cho việc thương lượng - tuyên bố cần nói đến bốn điểm của Hà Nội - thực ra các điểm đó là sự giải thích văn bản Hiệp nghị Giơ-ne-vơ và thực chất là thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ.

2. Những người đối thoại với Ngài cũng nói thêm rằng họ đã nhận được những dấu hiệu cho thấy Chính phủ Cộng hoà Dân chủ của Bắc Việt Nam sẵn sàng mở các cuộc thương lượng mà không nhấn mạnh vào việc rút quân của Mỹ trước.

3. Cũng những người đối thoại đó nói thêm rằng Ngài có lẽ đã nói Ngài "sẵn sàng đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai" nếu việc đó có lợi cho sự nghiệp hoà bình.

Vì những người đối thoại đó đã nói rõ ràng Ngài muốn các điều nói trên sẽ được chuyển một cách bí mật cho Chính phủ Mỹ qua tôi, ngày 20 tháng 11 vừa qua, tôi cho rằng mình có bổn phận chuyển các ý kiến đó đến Tổng thống Hoa Kỳ một cách trực tiếp và dè dặt trong văn bản bằng tiếng Anh mà tôi vừa chuyển cho Ngài.

Trong những ngày tiếp theo, tôi đã nhận được những lời cảm ơn của Tổng thống Johnson về thông báo của tôi và bảo đảm rằng trong một thời gian ngắn người ta sẽ gửi đến tôi quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

Quan điểm mà người ta đã nói cho tôi ngày 29 tháng 11 vừa qua, hôm nay, ngày 6 tháng 12 tôi đã nhận được, được sự cho phép của lời thông báo cá nhân và bí mật đó, tôi xin báo với Ngài một việc sau đây:

1. Như đã nhiều lần tuyên bố, Hoa Kỳ sẵn sàng đi vào các cuộc thảo luận hay thương lượng với bất kỳ chính phủ nào, bất kỳ lúc nào, không có bất cứ điều kiện tiên quyết nào. Người ta thêm rằng "Chính phủ Mỹ xác nhận lại lòng mong muốn đó".

2. Oa-sinh-tơn có cảm giác rằng có một sự không rõ ràng nào đó trong cách diễn đạt quan điểm của Bắc Việt như hai người đối thoại với Ngài đã chuyển lại. Thực vậy, hình như Oa-sinh-tơn cho rằng "Hà Nội đồng ý rằng cuộc thương lượng sẽ phải dựa trên cơ sở Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 không có phân biệt hoặc điều kiện", và người ta cũng thừa nhận về phía Oa-sinh-tơn lòng mong muốn đi vào thương lượng trên cơ sở đó không có phân biệt hoặc điều kiện.

3. Vì vậy Hoa Kỳ không thể đồng ý với luận đề rằng bốn điểm trong tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ở miền Bắc là một sự giải thích chân chính Hiệp nghị năm 1954. Người ta cũng thêm rằng "các yếu tố trong bốn điểm, nhất là cương lĩnh của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng không có cơ sở trong Hiệp nghị Giơ- ne-vơ".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:34:11 AM »

Từ đó, người ta diễn giải rằng việc Hà Nội nhấn mạnh phải nhận bốn điểm trước là không phù hợp với Hiệp nghị, bởi vì việc đó đòi hỏi "những điều kiện đáng kể cho cuộc thương lượng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẵn sàng đưa bốn điểm đó vào xem xét trong bất kỳ cuộc nói chuyện hoà bình nào cùng với các điểm mà Hoa Kỳ, Nam Việt Nam và các chính phủ khác có thể đưa ra".

4. Tham chiếu các điều mà những người đối thoại của Ngài đã nói về việc ngừng bắn và những biện pháp áp dụng trước khi bắt đầu thương lượng, người ta nhấn mạnh ở Oa-sinh-tơn rằng "Hoa Kỳ sẵn sàng thương lượng mà không áp đặt bất kỳ điều kiện nào như vậy. Tuy nhiên, nếu cần thu xếp một sự giảm bớt chiến sự trước cuộc thương lượng thì tất nhiêu điều đó phải trên cơ sở công bằng và có đi có lại. Nếu có sự đình chỉ một số hoạt động quân sự nào đó của bên này thì cũng phải có sự đình chỉ tương đương như vậy của phía bên kia”.

Và người ta cũng thêm rằng trong thông báo của những người đối thoại của Ngài "Các công chức mà Hà Nội đưa ra chưa đáp ứng tiêu chuẩn đó, thí dụ nó không bó buộc một sự hạn chế nào cho việc tiếp tục đưa lực lượng và trang bị từ Bắc vào Nam Việt Nam".

5. Về những thông báo của những người đối thoại với Ngài rằng Chính phủ Việt Nam ở miền Bắc không nhấn mạnh việc rút quân Mỹ trước khi bắt đầu thương lượng, người ta nhận xét rằng "Lời tuyên bố về điểm này, mặc dầu nó không phải không có ý nghĩa dưới ánh sáng của các tuyên bố mâu thuẫn nhau của Hà Nội về vấn đề đó vẫn còn là việc thảo luận trong điểm hai và ba nói trên".

Sau khi báo cho Ngài biết những tin tức mà Chính phủ Mỹ đã cho tôi hay - và tôi tin rằng Ngài sẽ sử dụng nó một cách tốt nhất và bí mật cho sự nghiệp hoà bình - tôi nghĩ bổn phận của tôi là phải thêm rằng những thông tin mà những người đối thoại của Ngài đã không thuyết phục được Oa-sinh-tơn về ý muốn thật sự của Bắc Việt Nam mở các cuộc thương lượng không diều kiện tiên quyết.

Tuy vậy, tôi cũng phải thêm rằng Chính phủ Mỹ: trên cơ sở những đánh giá nói trên và có lẽ dưới ánh sáng của những cuộc thăm dò hơn nữa các nguồn tin của ông, cần gặp Hà Nội để thảo luận thêm vấn đề với ông.

Khi trình bày với Ngài những điều trên đây, tôi hy vọng rằng việc đó cần được khuyến khích để đi sâu hơn. Cuộc nói chuyện sơ bộ đó có mục đích sớm đạt được một cách nhìn và những ý định rõ ràng để đi đến bắt đầu thương lượng.

Cũng bằng con đường mà tôi đã dùng (mà Ngài cũng đã gợi ý với những người đối thoại) để chuyển các tin tức, tôi hy vọng rằng có thể nhận được sự trả lời của Ngài có thể giúp vào việc thiết lập hoà bình mà mọi người đều mong muốn. Tôi thêm rằng tôi sẽ rất sung sướng nếu tôi có thể giúp đỡ Ngài trong vấn đề tối quan trọng này như sự giúp đỡ mà do đó tôi đã nhận được sự biết ơn và lời cảm tạ của Chính phủ Hoa Kỳ.

Kết thúc bức thư này, Thưa Chủ tịch, tôi xin được lưu ý Ngài về một tình hình đòi hỏi tất cả mọi người có trách nhiệm phải hết sức sáng suốt trong sự xét đoán và cả lòng dũng cảm trong những quyết định cần có sau này. Và điều này để tránh mọi việc có thể thoát ra khỏi sự kiểm soát.

Xin Chủ tịch nhận lấy những lời chào trân trọng nhất”.

A-min-tô-rê Phan-pha-ni
(Thư bằng tiếng Pháp. Những đoạn ghi trong ngoặc kép là bằng tiếng Anh.)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #57 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:35:02 AM »

Dù qua trung gian, ít nhất Hà Nội và Oa-sinh-tơn một lần nữa đã trao đổi được ý kiến về lập trường của mỗi bên. Phan-pha-ni và các ông La Pi-ra, Pô-ri-mi-chê-ri-ô tưởng chừng như quá trình tiếp xúc đã được khởi động. Nhưng sự thật lại tồi tệ hơn họ tưởng.

Ngày 15 tháng 12, nhiều tốp máy bay "thần sấm" ném bom nhà máy điện Uông Bí, một cơ sở dân dụng cách Hải Phòng bốn mươi ki lô mét. Đây là cơ sở công nghiệp đầu tiên của Bắc Việt Nam bị đánh phá. Những ngày sau, các máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá nhà máy điện Uông Bí và đánh rộng ra nhiều điểm dân cư thuộc vùng Quảng Ninh.

Ngày 16 tháng 12, Macnamara họp báo nói rằng "Việc đánh phá Uông Bí và cơ sở công nghiệp ở vùng này là thích hợp đối với các hoạt động khủng bố ở Việt Nam và đó là loại tấn công mà Mỹ sẽ tiếp tục sau này”.

Ngày 17 tháng 12, Bộ Ngoại giao Mỹ tiết lộ các tin tức và công bố các thư trao đổi giữa ông Phan-pha-ni và Johnson cho tờ Tin nhanh Bưu điện Xanh Lui.

Dư luận Mỹ và quốc tế xôn xao.

Đại sứ Ác-tơ Gôn-bốc ở Liên hợp quốc tìm cách giảm nhẹ bước leo thang đột nhiên đánh phá nhà máy điện Uông Bí. Mác Clô-xki, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ, cũng tìm cách xoa dịu dư luận: "Bây giờ là tuỳ thuộc ở Hà Nội, muốn đưa vấn đề từ chiến trường đến bàn thương lượng không? Mỹ hoan nghênh một sự bày tỏ trực tiếp về quan điểm của Hà Nội. Chúng tôi đợi phản ứng của Hà Nội (Xem thêm Đa-vít Crá-xlô và Xti-a H.Lu-ri: Cuộc bí mật tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam. Ran-đơn Hao-dơ, N.Y. 1968, tr. 126-135.)

Ngày hôm sau Thông tấn xã Việt Nam tuyên bố.

"Việt Nam Thông tấn xã được phép tuyên bố rằng những tin tức do Bộ Ngoại giao Mỹ tung ra đó (tức là sự thăm dò thương lượng của Chính phủ Nước Việt Nam Dâu chủ Cộng hoà - Tác giả) là hoàn toàn bịa đặt, vô căn cứ".

*
*   *

Trong nhiệm kỳ đại sứ tại Rô-ma (1978-1982), Nguyễn Anh Vũ đến thăm Phlo-răng nhiều lần và thăm giáo sư Pô-ri-mi-chê-ri-ô. Trong dịp lễ thành lập Tổ chức La Pi-ra, đồng chí đã đến thăm nơi ở và làm việc của giáo sư La Pi-ra, một biệt thự nhỏ ở ngoại vi thành phố gần tu viện nổi tiếng Xan Mác-cô. Cùng trong dịp này, đồng chí đã hỏi thêm về chuyến đi Hà Nội của La Pi-ra và Pô-ri-mi-chê-ri-ô năm 1965. Cuộc nói chuyện này đã cho biết thêm một số chi tiết.

Sau khi thông báo cho Phan-pha-ni biết kết quả chuyến đi Hà Nội, La Pi-ra không biết những gì diễn ra ở Niu Yoóc và Oa-sinh-tơn. Nhưng La Pi-ra nghĩ rằng cần phải cho nhiều người bạn của ông biết nội dung cuộc gặp gỡ ở Hà Nội để cùng gây sức ép với Johnson, ông gọi điện thoại cho một số bạn trong phong trào chống chiến tranh ở Mỹ, trong đó có luật sư Pi-tơ Oai- xơ người đã dự hội nghị về Trung Đông theo sáng kiến của ông. Ông Oai-xơ đã qua Pháp.

Qua điện thoại, ông liên lạc được với Oai-xơ và ngay ngày hôm sau 5 tháng 12, Pi-tơ Oai-xơ và vợ bà Co-ra Oai-xơ đến Phlo-răng, ông bà Oai-xơ và hai ông La Pi-ra và Pô-ri-mi-chê-ri-ô đều thấy rằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dành nhiều thì giờ tiếp hai người bạn I-ta-li-a là một điều rất quan trọng và hứa hẹn là khác nữa.

Ông La Pi-ra còn nhắc lại rằng ông nhớ mãi câu nói cuối cùng của Chú tịch Hồ Chí Minh: “Trước hết Mỹ hãy để chúng tôi yên, Mỹ phải chấm dứt ném bom". Vậy cần phải cảnh cáo ngay Mỹ mở rộng ném bom thì mọi khả năng hoà bình sẽ dập tắt. La Pi- ra yêu cầu Pi-tơ Oai-xơ thông báo ngay cho nhiều người Mỹ, trong đó có thượng nghị sĩ Phun-brai, Rô-bóc Ken-nơ-đi, cố vấn Nhà Trắng M.G.Bân-đi. Bản thân La Pi-ra cũng làm việc đấy.

Trong thư gửi đại sứ Ác-tơ Gôn-bớc ông nói rõ: "Cụ Hồ Chí Minh sẽ không thảo luận hoà bình với Hoa Kỳ nếu vùng Hà Nội, Hải Phòng bị ném bom". Trong thư gửi Giang La-cu-tuya, ông nhấn mạnh: "Cụ Hồ Chí Minh là con người cởi mở, cởi mở với hoà bình ở trong nước ông, ở châu Á và tôi có thể nói trên toàn thế giới nữa" (Giang La-cu-tuya: Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Xe-vin, Paris, 1967, tr. 24.)

Nhưng ngay sau khi biết nội dung cuộc nói chuyện ở Hà Nội, Mỹ tiến một bước leo thang mới, đánh phá các cơ sở công nghiệp, La Pi-ra cho Mỹ là không nghiêm chỉnh, không thành thật muốn hoà bình.

Tình hình nội bộ I-ta-li-a khi đó càng làm ông phiền lòng. Sau khi các thư trao đổi giữa Tổng thống Johnson và Phan-pha-ni được Bộ Ngoại giao Mỹ công bố, dư luận I-ta-li-a bàn tán sôi nổi. Nhiều nghị sĩ Quốc hội chất vấn Phan-pha-ni rằng tại sao chính phủ và bản thân ông Phan-pha-ni đã xen vào công việc không phải của I-ta-li-a.

Các đối thủ chính trị đả kích kịch liệt Phan-pha-ni, tìm cách phỏng vấn giáo sư La Pi-ra. Trong bài trả lời, ông đã có những lời rất chua cay đối với chính quyền Johnson, ông cho Đin Ra-xcơ là một người chẳng biết gì, một con người không muốn biết gì cả (Xem thêm Đa-vít Crá-xlô và Xti-a H.Lu-ri: Sđd, tr. 135.)

Ông tiếp tục là người bạn của nhân dân Việt Nam và không ngừng hoạt động trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam.

Ông xứng đáng với những tình cảm chân thành của nhân dân Việt Nam đối với ông cũng như các bạn bè khác trên thế giới.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #58 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:36:11 AM »

CHƯƠNG CHÍN
PINTA

Như trên đã nói, ngày 28 tháng 7 năm 1965, Tổng thống Johnson đã quyết định đáp ứng các yêu cầu của Westmoreland, đưa tổng số quân Mỹ lên một trăm bảy mươi lăm nghìn người cuối năm 1965. Nhưng đầu tháng chín, Westmoreland đề nghị tăng thêm ba mươi lăm nghìn quân nữa, nâng tổng số từ một trăm bảy mươi lăm nghìn lêu hai trăm mười nghìn quân vào cuối năm.

Giữa tháng mười, Westmoreland báo cáo những yêu cầu sửa đổi quân số năm 1966. Thay cho con số hai trăm bảy mươi lăm nghìn vào tháng 7 năm 1966, ông ta yêu cầu ba trăm hai mươi lăm nghìn quân với khả năng sau này còn tăng nữa và không bảo đảm là đạt được những mục tiêu của mình.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara lo ngại đây là khởi đầu một cam kết không giới hạn và tình hình đang tuột dần ra ngoài sự kiểm soát của lãnh đạo. Theo đề nghị của ông, Johnson chỉ định một nhóm chuyên gia do Tommy Thom-son phụ trách. Nhóm này kết luận là leo thang chiến tranh bằng không quân sẽ gây ra phản ứng mạnh mẽ của Trung Quốc và Liên Xô và gợi ý ngừng ném bom một thời gian dài để thử mối quan tâm của Hà Nội đối với vấn đề đàm phán.

Macnamara đề nghị Tổng thống chuẩn y con số ba trăm năm mươi nghìn người cho cuối năm 1966, ngừng ném bom một tháng và cố gắng bắt đầu đàm phán... Johnson còn hoài nghi các ý kiến của Macnamara thì tháng 11, Westmoreland lại xin thêm hai trăm nghìn quân cho năm 1966, gấp hai lần dự tính hồi tháng 7 của ông ta. Như vậy tổng số quân Mỹ ở Việt Nam sẽ tăng lên bốn trăm mười nghìn vào cuối năm 1966 trái với dự tính ban đầu là hai trăm bảy mươi lăm nghìn quân

Từ đầu tháng 12 năm 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra lệnh cho các đơn vị quân đội của mình ngừng tấn công các đơn vị quân Mỹ và Sài Gòn trong dịp lễ Giáng sinh và Tết dương lịch 1966.

Sau khi đi Sài Gòn nắm tình hình một lần nữa, Macnamara trình Tổng thống hai phương án: một là đi đến một giải pháp thoả hiệp thấp hơn mục tiêu, hai là đáp ứng những yêu cầu của Westmoreland và tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam.

Sau nhiều cuộc tranh luận của các cố vấn và cân nhắc của Tổng thống, ngày 23 tháng 12, Tổng thống với sự đồng ý của Sài Gòn, tuyên bố một cuộc ngừng bắn ba mươi giờ, kể cả ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ đêm Giáng sinh. Buổi sáng lễ Giáng sinh. Johnson quyết định kéo dài thêm một hoặc hai ngày nữa. Đến ngày 27 ông lại quyết định kéo dài lệnh ngừng bắn ném bom vô thời hạn và tăng cường nỗ lực ngoại giao để đưa Hà Nội đến bàn đàm phán.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #59 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:37:12 AM »

*
*   *

Để kết hợp với chiến dịch ngừng ném bom, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố kế hoạch mười bốn điểm dưới một tiêu đề phụ là: "Các đóng góp của Mỹ vào cái giỏ “hoà bình".

Một: Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và 1962 là một cơ sở thích hợp cho hoà bình ở Đông Nam Á.

Hai: Chúng tôi hoan nghênh một cuộc hội nghị về Đông Nam Á hay về bất cứ phần nào của Đông Nam Á.

Ba: Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thương lượng không điều kiện tiên quyết như mười bảy nước đề ra,

Bốn: Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thảo luận không điều kiện như Tổng thống Johnson đề nghị.

Năm: Ngừng bắn có thể là điểm đầu tiên trong thương lượng hoặc là vấn đề trong thảo luận sơ bộ.

Sáu: Bốn điểm của Hà Nội có thể được thảo luận cùng với các điểm của người khác...

Bảy: Chúng tôi muốn không có căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.

Tám: Chúng tôi không muốn duy trì quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam sau khi hoà bình được bảo đảm.

Chín: Chúng tôi ủng hộ tuyển cử ở Nam Việt Nam để cho nhân dân có quyền lựa chọn.

Mười: Vấn đề thống nhất nước Việt phải do nhân dân Việt Nam giải quyết thông qua quyết định tự do.

Mười một: Các nước Đông Nam Á có thể không liên kết hay trung lập.

Mười hai: Hoa Kỳ mong muốn sử dụng tài nguyên của mình xây dựng lại Đông Nam Á. Nếu có hoà bình, Bắc Việt Nam có thể được lợi ích trong số một tỷ đô la mà Hoa Kỳ sẽ đóng góp.

Mười ba: Tổng thống đã nói rằng: Việt cộng không có khó khăn gì trong việc cử đại diện và trình bày quan điểm của họ khi Hà Nội quyết định chấm dứt xâm lược. Đó không phải là trở ngại không vượt qua được

Mười bốn: Chúng ta sẽ chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam xem như là một bước tiến tới hoà bình như không có dấu hiệu hay gợi ý của phía bên kia cho thấy họ sẽ làm gì một khi chấm dứt ném bom.

Hoa Kỳ vốn là một nước lớn, có nhiều nhà ngoại giao giỏi, những kinh nghiệm ngoại giao phong phú. Nhưng bản tuyên bố về lập trường mười bốn điểm này có vẻ buồn cười hoặc ít nhất cũng là vá víu. Nó ghi chép tất cả những gì người ta nói về một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam: lập trường bốn điểm của Hà Nội, đề nghị của mười bảy nước không liên kết ở Bêôgát, đề nghị của Liên Xô về một hội nghị quốc tế về Cam-pu-chia. Mục đích của nó hình như là để tỏ vẻ Mỹ coi trọng ý kiến của tất cả các phía, miễn là đạt tới hoà bình, do đó thu nhỏ cái gậy nhưng phóng to củ cà rốt.

Ngày 7 tháng 1, Mác Closkey, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ ít nhất lần này cũng tỏ ra thành thật: Mỹ bỏ tất cả mọi thứ trong cái giỏ hoà bình, trừ sự đầu hàng của Nam Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM