Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười Một, 2019, 11:33:48 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiếng sấm Tây Nguyên  (Đọc 48113 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #60 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:49:34 AM »


Sau 32 giờ tiến công mãnh liệt, sư đoàn 316 chúng tôi đã cùng các đơn vị bạn hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ trận đánh then chốt của chiến dịch. Trận Buôn Ma Thuột vượt thời gian dự kiến của mặt trận đề ra.

Các vị trí quan trọng của địch trong thị xã cùng sở chỉ huy sư đoàn 23 đã mất, đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc bị ta bắt sống. Dù thất bại nặng nề, chúng vẫn hy vọng tìm mọi cách tổ chức phản kích hòng chiếm lại.

Từ Sài Gòn, ngày 12 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu trực tiếp hạ lệnh cho Phạm Văn Phú cố thủ ở các cứ điểm còn lại.

Sân bay Hoà Bình, căn cứ trung đoàn 53, trung đoàn 45 cùng các khu huấn luyện Lê Lai, Đạt Lý, Châu Sơn, Chư Nga, Bản Đôn, địch vẫn còn kiểm soát. Chúng hy vọng tiếp tục sử dụng liên đoàn biệt động quân 21 cùng với số quan của trung đoàn 53, hình thành các cánh quân phản kích tại chỗ, đồng thời tập trung các đơn vị của sư đoàn 23 gồm trung đoàn 45, trung đoàn 44 cơ động xuống Buôn Ma Thuột phối hợp với các cánh trên, đánh chiếm lại thị xã. Chúng huy động đến mức tối đa lực lượng không quân của sư đoàn 6 và tất cả số máy bay ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) chi viện cho quân phản kích. Thiệu ra lệnh điều gấp liên đoàn biệt động quân từ Sài Gòn ra bịt kẽ hở Plây Cu thay cho sơ đoàn 23 rút về để phản kích.

Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên chỉ thị cho các đơn vị tiến công Buôn Ma Thuột phải tích cực phát huy thắng lợi, giải quyết nhanh, gọn các mục tiêu còn lại để sớm ổn định tình hình thị xã, đồng thời tổ chức ngay một lực lượng mạnh kịp thời đánh bại các đợt phản kích trên mặt đất và đường không của địch.

Đêm 11 tháng 3, trung đoàn 148 và tiểu đoàn 4 (trung đoàn 198) đặc công được lệnh ở lại tiếp tục tảo trừ số địch còn lại tại các căn cứ đã chiếm và bảo đảm an ninh trật tự trong thị xã. Các đơn vị còn lại tiếp tục phát triển tiến công các mục tiêu địch co cụm ngoài thị xã.

Trong hai ngày đầu, ta đã bắt được trên 7.000 tù và hàng binh. Trước chiến dịch sư đoàn chỉ dự kiến có khoảng 3.000 - 4.000 tù hàng binh. Nay số địch bị bắt tăng vọt lên. Với số gạo và thuốc ít ỏi ta chẳng thể nào nuôi nổi chúng. Tôi xin ý kiến Bộ chỉ huy mặt trận. Anh Thảo nhắc nhở chi nên giữ lại lính kỹ thuật, lính lái xe còn lại bao nhiêu tập hợp lại tuyên truyền rõ chính sách khoan dung của mặt trận rồi tha cho chúng về đoàn tụ với gia đình. Chính số lính được thả tự do này đã tuyên truyền cho ta ở trong vùng nhân dân bị tạm chiếm và trong đám ngụy quân ngụy quyền khiến cho tinh thần của chúng thêm hoang mang rệu rã.

Sau hai ngày thắng lợi giòn giã, 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3, trung đoàn 95 và tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 với 7 xe tăng được hai cụm pháo chiến dịch chi viện tiến công vào hậu cứ trung đoàn 45.

9 giờ, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, bắt 152 tên địch, thu 414 súng các loại. Một bộ phận lớn quân địch ở đây bỏ chạy về căn cứ trung đoàn 53. Ta truy kích diệt thêm 210 tên (trong đó có tên trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 45).

5 giờ sáng, tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 đánh chiếm cứ điểm Thọ Thạnh, diệt 40 tên, bắt sống 45 tên, thu ba pháo 105, giải phóng hoàn toàn đoạn đường 14 từ Đức Lập về Buôn Ma Thuột.

Ngày 13 tháng 3, địch dồn tiểu đoàn 45 về Buôn Ma Thuột. Căn cứ trung đoàn 45 bị mất. Căn cứ trung đoàn 53 đang bị vây ép mạnh. Toán quân đầu tiên của sư đoàn 23, trực thăng phải đổ xuống khu nông trại Phước An bên ngoài thị xã. Vừa chạm mặt đất, toán quân này lập tức bị quân ta vây đánh, buộc phải chuyển sang phòng ngự trong vòng vây hãm của ta cùng với số tàn quân của liên đoàn 21.

Cũng trong ngày 13 tháng 3, trung đoàn 148 diệt ấp Châu Sơn, Đạt Lý, sư đoàn 10 diệt điểm Chư Nga.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #61 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:50:11 AM »


Ngày 14 tháng 4, hồi 5 giờ 35 phút, trung đoàn 149 được xe tăng pháo binh yếm trợ, tăng cường tiến công căn cứ trung đoàn 53. Sau 30 phút pháo bắn cấp tập, bộ binh và xe tăng xung phong đánh vào căn cứ. Địch dùng phi pháo đánh trả, đồng thời huy động các lực lượng bộ binh phản kích liên tiếp. Cuộc chiến đấu mỗi lúc một quyết liệt, giằng co đến chiều tối. Các loại đạn A.K, B.40, B.41, pháo 105, 155, 120 và đạn chống tăng cạn dần. Sau khi nắm lại tình hình, sư đoàn thấy quân số địch ở đây có khoảng ba nghìn tên, được tổ chức và chỉ huy chặt chẽ, công sự phòng thủ kiên cố, có nhiều hầm cố thủ lớn, hoả lực pháo binh và xe tăng của chúng còn rất mạnh. Nếu chỉ dùng lực lượng trung đoàn 149 thì không thể bảo đảm tiến công thắng lợi. Sư đoàn báo cáo lên mặt trận đề nghị thêm lực lượng và thời gian để tổ chức đợt tiến công mới. Đề nghị của sư đoàn không được chấp nhận. Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh phải nhanh chóng sử dụng trung đoàn 149, giải quyết bằng được căn cứ này trong ngày.

Hồi 17 giờ ngày 15 tháng 3, sau khi bổ sung gấp đạn dược, củng cố, chấn chỉnh đội hình, trung đoàn 149 tiếp tục tố chức tiến công. Tiểu đoàn 9 cùng hai xe tăng từ trận địa pháo dã chiến tiến vào phá hàng rào khu tây cứ điểm. Địch bắn ra mãnh liệt. Đồng chí Hồ Đức Bảy đại đội trưởng đại đội 9, từ sáng đã hai lần bị thương, anh dũng cảm chỉ huy đơn vị tiến công địch. Khi tiến qua hàng rào cuối cùng của địch. Bảy lại bị thương lần thứ ba vào bụng. Tay giữ chặt vết thương ở bụng, tay cầm súng, Bảy dẫn đầu đại đội xông và căn cứ. Do vết thương quá nặng, máu mất nhiều, anh ngã xuống giữa đợt tiến công gần lô cốt đầu cầu nơi đơn vị vừa mới chiếm được và đang trụ lại để đánh địch ra phản kích. Ở mũi tiểu đoàn 8, xe tăng vướng vật chướng ngại không lên được, bộ binh phải tiến hành đột phá để kịp hiệp đồng với mũi tiến công của tiểu đoàn 9. Lần mở cửa thứ nhất và thứ hai đều bị xe tăng địch bịt mất cửa mở. Khi mở cửa lần thứ ba, số bộc phá mang theo không đủ. Tiểu đoàn dừng lại. Trời tối mịt. Cả hai mũi lớn bám được phía ngoài căn cứ địch.

Vậy là đợt tiến công lần thứ hai của trung đoàn 149 không thành. Mặt trận ra lệnh rút trung đoàn 149 ra ngoài, chuẩn bị cho đợt tiến công tiếp sau, dự định sẽ tiến hành vào ngày 16 tháng 3.

Ngày 15 tháng 3, khi ta đang chuẩn bị đánh tiếp căn cứ trung đoàn 53, địch đổ thêm trung đoàn 44 và sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 23 xuống Buôn Ma Thuột. Chuẩn tướng Lê Trung Tường, phó chỉ huy sư đoàn 23, chỉ huy cuộc đổ bộ đã bị pháo cao xạ bắn bị thương phải đi Sài Gòn cấp cứu. Toàn bộ lực lượng sư đoàn 23 địch lúc này đã có mặt đầy đủ ở ven thị xã. Như rắn mất đầu lại bị quân ta đánh liên tiếp nên chúng phải dồn lại xung quanh Chư Cúc, Krông Pốc, Phước An, trên đường 21. Địch không dám phản kích như dự tính mà phải cùng với số quân xuống trước tăng cường phòng ngự.

Lực lượng địch tại căn cứ 53 do tên đại tá Võ Ân chỉ huy được trang bị và bố phòng rất vững chắc. Nơi đây quân địch hy vọng biến thành một bàn đạp chủ yếu cho cuộc phản kích lớn từ trong lòng Buôn Ma Thuột. Đó cũng là nơi các cánh phản kích phía nam của sư đoàn 23 đang cố gắng liên tục. Trước tình hình ấy, mặt trận điều thêm trung đoàn 66 sư đoàn 10 tới hiệp đồng chiến đấu với trung đoàn 149. Ngoài hoả lực các đơn vị được tăng cường từ trước, lần này có thêm chín xe tăng, hai pháo 155, tám pháo 122, hai pháo 105, bốn pháo cao xạ 57, tám pháo cao xạ 37 cùng hai súng phun lửa và hai cơ số B.72 đến tham gia trận đánh.

Hai trung đoàn tổ chức thành bốn mũi tiến công. Hai mũi ở hướng bắc và đông-bắc do trung đoàn 66 đảm nhiệm. Hai mũi ở hướng nam và tây-nam do trung đoàn 149 đảm nhiệm.

16 giờ ngày 16 tháng 3, pháo binh ta phát hoả. Sau đó một giờ, xe tăng ta trên các hướng ngắm bắn trực tiếp tiêu diệt lần lượt các hoả điểm, chi viện cho bộ binh mở đường. Máy bay và pháo địch đánh trả quyết liệt vào đội hình quân ta. Mỗi khi phát hiện cửa mở của ta ở hướng nào, địch điều ngay xe tăng và bộ binh ra ngăn chặn, buộc ta không những phải xung phong chiếm đầu cầu và phát triển nhanh mà còn phải tổ chức bảo vệ cửa mở một cách vững chắc mới không bị chia cắt và có đủ sức mạnh đánh sâu vào căn cứ của chúng. Đến 20 giờ, trung đoàn 66 cùng trung đoàn 149 mới mở xong cửa mở cho hai mũi. Từ 22 giờ, trên cả bốn mũi của hai trung đoàn, bộ binh và xe tăng ta đồng loạt tiến công vào căn cứ địch, chiếm các bàn đạp đầu cầu rồi phát triển nhanh vào tung thâm. Địch chống trả quyết liệt. Trận đánh kéo dài suốt đêm tới sáng ngày 17 tháng 3. Các mũi của ta lợi dụng khi trời vừa sáng, tổ chức hiệp đồng, tiến công đánh thẳng vào sở chỉ huy trung đoàn 53. Quân địch ra sức kháng cự. Nhưng do bị đánh cùng một lúc từ bốn phía chúng buộc phải phân tán lực lượng ra từng hướng để đối phó. Các mũi bộ binh, xe tăng ta được hoả lực của pháo binh chi viện, ép dần địch vào trung tâm căn cứ. Lợi dụng các hoả điểm địch bị pháo ta tiêu diệt chưa kịp củng cố, quân ta tập trung lực lượng đánh rất mạnh, tạo thành các lỗ thủng thọc sâu vào lòng địch, lần lượt chiếm các khu để xe, nhà kho, câu lạc bộ sĩ quan rồi tiến thẳng vào hầm chỉ huy trung đoàn. Bị dồn chặt vào một khu, lại bị cắt ra từng khoảng nhỏ, đội hình địch trở nên hỗn loạn, sức chống đỡ yếu dần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #62 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:50:56 AM »


Đến 8 giờ ngày 17 tháng 3, một số quân địch tháo chạy. Ta xung phong chiếm hoàn toàn sở chỉ huy trung đoàn 53. Căn cứ còn lại mạnh nhất của địch ở Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt. Thừa thắng, quân ta phát triển chiếm tiếp sân bay Hoà Bình, căn cứ thiết giáp, căn cứ pháo binh. Trong lúc quân địch bỏ chạy hỗn loạn, tên Võ Ân bị thương được bọn tàn quân dìu thoát. Quân địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy về phía đông. Căn cứ 53 bị tiêu diệt, bàn đạp triển khai phản kích của sư đoàn 23 đã bị mất. Niềm hy vọng tái chiếm thị xã Buôn Ma Thuột của địch tắt ngấm.

Khi chiến đấu, một chiến sĩ ta không may bị lọt vào tay giặc, chúng tra tấn cực kỳ man rợ. Người chiến sĩ ấy không chịu nổi những cú đòn hiểm đã khai: đánh thị xã Buôn Ma Thuột là sư đoàn 316 ở Lào về, được trang bị rất hiện đại, có đủ cả xe tăng, pháo mặt đất và pháo phòng không.

Điều này khiến địch rất bất ngờ, rất lo sợ. Chả là theo chỉ thị của Bộ, để nghi binh địch, khi hành quân, sư đoàn vẫn để lại trên đất Diễn Châu (Nghệ An) một máy thông tin 15 oát, thường ngày đánh điện báo giả về Bộ, còn báo cáo thực thì được gọi theo đường dây hữu tuyến điện, qua các binh trạm.

Điều đó khiến địch hoang mang. Vậy là ở Tây Nguyên còn ba bốn sư đoàn nữa như sư 10, sư 320, sư 968 và nhiều trung đoàn độc lập khác, chứng tỏ lực lượng dự bị chiến dịch của ta còn khá mạnh. Bộ Tổng Tham mưu ngụy sợ quân đoàn 2 của tướng Phạm Văn Phú và một số đơn trị khác ở Plây Cu, Kon Tum một sớm một chiều sẽ bị bốn sư đoàn của ta đánh lại.

Thiệu vội vã hạ lệnh cho họ “tuỳ nghi di tản” để bảo toàn lực lượng, bố trí lại thế trận, bảo vệ đồng bằng Trung Bộ. Xe cộ binh lính ngụy quyền hốt hoảng rút theo đường số 7.

Thế là hơn mười ngày đêm chiến đấu giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và chặn đánh địch âm mưu tái chiếm, sư đoàn 316 đã hoàn thành nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên giao cho. Sư đoàn đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, trận mở màn, then chốt của chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975.

Mảnh đất sống còn của lực lượng ngụy quyền, ngụy quân trên Tây Nguyên trước đây và cả một vùng đất đai rộng trên 10.000 kilômét vuông với hàng chục quận lỵ, chi khu đã được giải phóng.

Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn chúng tôi hết sức vui mừng, tự hào trước những cố gắng đã góp phần tạo nên chiến thắng Buôn Ma Thuột. Đây là trận đầu tiên sư đoàn được tham gia cùng nhân dân miền Nam sau nhiều năm làm nghĩa vụ quốc tế. Chiến thắng Buôn Ma Thuột không chỉ là một quả đấm thép của ta điểm trúng huyệt kẻ thù mà còn là một đòn giáng mạnh vào ý chí quân ngụy làm cho tinh thần chúng bắt đầu rệu rã và suy sụp nghiêm trọng.

Đối với sư đoàn chúng tôi, chiến thắng Buôn Ma Thuột mang một ý nghĩa đặc biệt và giá trị lớn lao. Là lực lượng chủ yếu trong trận Buôn Ma Thuột, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn với ý chí và quyết tâm cao, đạp bằng mọi gian khổ, hy sinh quyết giành chiến thắng, thực hiện kỳ được ý đồ chiến dịch, chiến lược của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trong trận then chốt mở đầu cho chiến dịch Tây Nguyên và cho cả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 này. Chiến thắng Buôn Ma Thuột còn chứng minh sư đoàn 316 chẳng những giỏi tác chiến trên chiến trường rừng núi mà đánh trong thành phố, thị xã cũng phát huy được hiệu quả chiến đấu cao, đánh phân tán, độc lập trong một chiến dịch nhỏ, cũng như đánh hiệp đồng binh chủng lớn trong một chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đánh thắng mọi kẻ thù. Điều đó chúng tỏ sự trưởng thành của sư đoàn trong quá trình rèn luyện trong thực tế chiến đấu trên chiến trường bạn những năm làm nhiệm vụ quốc tế; tiếp thu nhanh những cái mới, chịu khó học tập kinh nghiệm của bản thân và của các đơn vị bạn, tự bổ sung cho mình những điều khiếm khuyết, từng bước hoàn thiện, nâng cao bản lĩnh chiến đấu.

Một tờ báo phương Tây ngày 21 tháng 3 bình luận về chiến thắng Buôn Ma Thuột như sau: “Trong có vài ngày, bản đồ quân sự cũng chính là chính trị của Việt Nam bị đảo lộn lung tung. Chỉ cần một trận - trên Buôn Ma Thuột, đã khiến cho từng mảng lớn cấu trúc do chế độ Nguyễn Văn Thiệu dựng lên sụp đổ một cách chẳng vinh quang gì”.

Sau khi bị bắt, Vũ Thế Quang nói:

“Đã từ lâu, tình hình trong tỉnh rất yên tĩnh. Một số cuộc đụng độ nhỏ đã diễn ra vừa không quan trọng vừa ở những nơi rất xa thị xã. Ngoài trận thọc sâu năm 1968 với lực lượng nhỏ trong khoảng một thời gian rất ngắn, rồi sau đó bị đẩy ra ngay, không có một dấu hiệu nào nói lên khả năng đánh lớn của cách mạng ở đây. Việc bố trí quân của quân khu 2 cũng chứng minh đã coi nhẹ Buôn Ma Thuột. Ở Kon Tum có từ ba đến năm đơn vị cấp trung đoàn, Plây Cu có bốn trung đoàn của sư đoàn 23 và lữ đoàn 2 thiết giáp. Quảng Đức ít nhất cũng có một trung đoàn. Nhưng ở Buôn Ma Thuột nhiều lúc chẳng có một lực lượng chủ lực lớn nào. Nếu có thì thường là những đơn vị được điều về ngắn hạn để nghỉ ngơi hoặc làm nơi dừng chân trước khi chuyển đi hoạt động trên hướng khác. Do tình hình nhiều năm ít có đánh lớn tại khu vực, việc bố trí như vậy có phần “hợp lý”, nhưng sai lầm chính ở đây là chỗ cứng nhắc, thiếu linh hoạt, không thấy được đối thủ rất biến hoá, luôn luôn đổi cách đánh”.

“Trận đánh thị xã có thể nói là một trận đánh hiệp đồng binh chủng tuyệt đẹp, biểu hiện một trình độ tổ chức chuẩn xác cao - Vũ Thế Quang nói tiếp - Tuy còn một vài khuyết điểm như một, hai mũi tiến công không thuộc địa hình nên đánh chưa nhanh, chưa mạnh. Ngoài việc chúng tôi bị nghi binh, thiếu chuẩn bị đối phó, việc phối hợp ăn ý, nhanh, mạnh giữa các binh chủng tăng, pháo bộ binh của Quân giải phóng đã làm cho chúng tôi bất ngờ quá đỗi, không sao kịp trở tay, mặc dù chúng tôi còn vài chục xe thiết giáp, đạn chống tăng và các loại khác đủ dùng... Trước đây, với cách đánh của cách mạng, chúng tôi quan niệm nếu tiến công thị xã, Quân giải phóng sẽ phải đột phá qua trận tuyến bảo vệ vòng ngoài. Phải “bóc vỏ” rồi mới vào sâu được bên trong. Với cách đánh đó, chúng tôi có đủ thời gian để đối phó. Nhưng cách đánh rất mới này của Quân giải phóng đã làm tuyến phòng thủ Buôn Ma Thuột tan vỡ mau lẹ. Chúng tôi không có cách nào chống đỡ, cứu vãn nổi”.

Tù binh Nguyễn Trọng Luật cũng rất ngạc nhiên vì chúng ta đã đưa xe tăng, thiết giáp đánh thẳng vào thị xã trong điều kiện địch có nhiều vành đai tai mắt dày đặc vây xung quanh mà không hề hay biết, ngay cả tới giờ phút cuộc tiến công vào thị xã của ta mở màn. Luật nói: “Thật kỳ lạ, thật bất ngờ đau xót cho chúng tôi”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:51:47 AM »


Trí thấp dẫn đến lực hèn, quân ngụy từ giờ đầu nổ súng đã bị hãm vào một thế trận hết sức hiểm nghèo, bị chia cắt ra từng mảng, không liên hệ, ứng cứu được cho nhau. Từ tình trạng vô cùng bị động và bất lợi đó dẫn đến các đơn vị của chúng như bị trói tại chỗ, ở đâu đánh đó, ngày càng lâm vào cảnh bị vây hãm và bị đánh tới tấp, phải giơ lưng chịu đấm. Tuy ở một số khu vực, chúng có đối phó lại khá mạnh, song cũng chỉ là những phản ứng tự vệ, mặc dù lực lượng còn dồi dào, để rồi cuối cùng không tránh khói bị tiêu diệt. Được như vậy, chính là nhờ thế trận vô cùng thuận lợi mà quân ta đã tạo được, đã khắc phục được nhiều khuyết điểm, nhược điểm cả trong tổ chức cơ động lực lượng, chỉ huy hiệp đồng trong vận dụng cách đánh cụ thể, giành được chủ động, đánh thắng quân địch.

Từ đánh nhỏ, đánh vừa, đánh vận động là phổ biến trước đây, sư đoàn đã tiến lên đánh tập trung trong đội hình lớn, với nhiệm vụ chủ yếu đánh vào một thị xã quan trọng được phòng ngự kiên cố và đã hoàn thành một cách tốt đẹp. Đây là bước trưởng thành nhảy vọt của sư đoàn trước đòi hỏi của giai đoạn chiến đấu mới.

Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã đánh giá cao sự đóng góp của sư đoàn 316 trong đợt chiến đấu giải phóng Buôn Ma Thuột. Sư đoàn được xác định là một đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đội hình của mặt trận.

Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tặng thưởng sư đoàn 316 chúng tôi huân chương Quân công hạng nhất về những thành tích mà tập thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đã cống hiến trong chiến dịch này.

   
Trung tướng ĐÀM VĂN NGỤY
   (Trích từ cuốn “Đi một ngày đàng”: Hồi ký;
   LÊ MINH HUY, DƯƠNG DUY NGỮ ghi – QĐND. H: 1994)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #64 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:55:29 AM »


BỘ ĐỘI VẬN TẢI TRƯỜNG SƠN
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
1


Đầu năm 1975, với cương vị Phó chủ nhiệm chính trị, Đảng uỷ viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn đang là phái viên đốc chiến trên tuyến, tôi nhận được điện báo về hậu cứ họp Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Điểm họp là một trạm khách được Bộ Tư lệnh cho xây dựng ở Vĩnh Mốc, Vĩnh Linh, sau khi ta giải phóng Quảng Trị, để đón tiếp các đồng chí lãnh đạo từ chiến trường ra, hoặc từ ngoài Bắc vào. Dự họp có đông đủ các anh trong Đảng uỷ Bộ Tư lệnh: Đồng Sĩ Nguyên, Hoàng Thế Thiện, Nguyễn Lang, Phan Khắc Hy..., cùng các anh chỉ huy cơ quan Bộ Tư lệnh và đơn vị.

Vào hội nghị, anh Nguyên quán triệt lại quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong 2 năm 1975-1976, tranh thủ thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, nếu điều kiện cho phép, quyết tâm dứt điểm trong năm 1975. Đặc biệt, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên làm “đột phá khẩu” cho chủ trương chiến lược mới, thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch, do anh Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, anh Đặng Vũ Hiệp làm chính uỷ. Do vậy, ngoài thực hiện nhiệm vụ chi viện chiến lược theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn có nhiệm vụ tham gia chiến dịch Tây Nguyên, cụ thể là làm đường chiến dịch, cơ động quân, vận chuyển bảo đảm vật chất hậu cần, vũ khí, khí tài cho các lực lượng tham gia chiến dịch và trực tiếp tác chiến chiến dịch.

Để trực tiếp phục vụ chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương. Phó tư lệnh Nguyễn Lang được phân công phụ trách Bộ Tư lệnh tiền phương. Anh còn được Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ định làm Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, đặc trách công tác hậu cần, kỹ thuật. Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh tiền phương đặt ở Sa Thầy, cạnh sở chỉ huy Sư đoàn 470. Tôi được chỉ định là thành viên của Bộ Tư lệnh tiền phương. Những gì lĩnh hội được từ hội nghị có tính lịch sử này đã tạo cho chúng tôi niềm tin mãnh liệt về một mùa xuân mới - mùa xuân toàn thắng.

Thực hành mệnh lệnh của Bộ, Sư đoàn 470 được giao nhiệm vụ vừa vận chuyển chi viện chiến lược vừa bảo đảm phục vụ chiến dịch Tây Nguyên và lực lượng tác chiến tại chỗ của chiến dịch Sư đoàn bộ binh 968 quân tình ngụyện Việt Nam tại Hạ Lào, trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, khẩn trương cơ động về bắc Tây Nguyên, tác chiến trên một hướng chiến dịch. Sư đoàn ô tô 471 dâng toàn bộ đội hình sâu vào phía Nam, vừa vận chuyển chi viện chiến lược, vừa vận chuyển phục vụ chiến dịch. Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn thành lập thêm hai trung đoàn công binh (574 và 575) để mở gấp đường chiến dịch, bảo đảm cơ động bí mật bất ngờ xe tăng, pháo hạng nặng... theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch.

Do yêu cầu nhiệm vụ, hầu hết cán bộ các cơ quan Bộ Tư lệnh và Bộ Tư lệnh tiền phương được tung xuống các đơn vị, từng cung đường, trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của cấp trên, đôn đốc, kiểm tra, giúp đơn vị thực thi nhiệm vụ. Tôi được phân công xuống đốc chiến, giúp các anh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 và hai trung đoàn công binh 574, 575.

Đối với Sư đoàn vận tải ô tô 471, sau khi chuyển sang làm Chính uỷ Sư đoàn 472 và về cơ quan Bộ Tư lệnh, tôi vẫn luôn theo dõi từng “đường đi nước bước” của Sư đoàn - nơi tôi từng gắn bó suốt hai mùa khô 1971-1972 và 1972-1973. Bình tâm nhìn lại, đây là thời điểm gian khổ, quyết liệt nhất đối với Sư đoàn 471.

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Sư đoàn 471 chuyển sang hoạt động chủ yếu ở địa bàn đông Trường Sơn, góp phần hoàn chỉnh thế trận cầu đường, chuẩn bị cho chủ trương chiến lược mới, vận chuyển chi viện chiến trường. Được sự hỗ trỡ của lực lượng thanh niên xung phong, của Bộ Tư lệnh Khu 5, mặt trận Tây Nguyên..., Sư đoàn 471 đã hoàn thiện mạng đường, cầu đông Trường Sơn từ A Vương đến Sa Thầy, vào năm 1974.

Tháng 6 năm 1974, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc Phòng quyết định thành lập các Sư đoàn binh chủng. Theo đó, Sư đoàn khu vực 471 và Sư đoàn khu vực hậu cứ 571 chuyển thành hai sư đoàn vận tải ô tô. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử tổ chức quân đội ta, nếu không nói là chưa có tiền lệ cả với những cường quốc quân sự trên thế giới.

Biên chế của Sư đoàn 471 lúc này có các trung đoàn ô tô 32, 33, 536 và 17, do anh Nguyễn Văn Lạn làm Sư đoàn trưởng, anh Phạm Thái làm Chính uỷ; các anh Phạm Lê Hoàng, Nguyễn Tất Giới là Sư đoàn phó, anh Phan Biên là Phó chỉnh uỷ và anh Nguyễn Thuận Quảng là Tham mưu trưởng. Đây là một tập thể cán bộ sư đoàn vận tải cơ giới khá lý tưởng. Anh Nguyễn Văn Lạn nguyên là cán bộ chính trị, là người khá quyết đoán, có chính kiến kể cả chính kiến trái với cấp trên như bản tính “đồ Nghệ” mà chúng tôi vẫn thường đùa gọi anh như vậy. Sự kiện anh phản ứng quyết định của Bộ Tư lệnh Trường Sơn thử nghiệm tổ chức vận chuyển cơ giới mùa mưa trước đây là một điển hình cho tính cách đó.

Đến với Sư đoàn 471 trong những ngày khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch, nhớ về hội nghị Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn bàn triển khai thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng, khi đó lãnh đạo, chỉ huy các Sư đoàn 470, 471, 472, 571... nhận nhiệm vụ đột xuất nặng nề mà đầy tự tin, không một chút lo lắng, tôi càng cảm phục tầm nhìn xa của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và sự năng động, sáng tạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Chỉ bằng “vốn liếng” quý giá là mấy sư đoàn binh chủng - đặc biệt là hai sư đoàn vận tải thiện chiến sẵn trong tay thì Bộ Tư lệnh Trường Sơn mới chủ động hoàn toàn trước tình hình có bước phát triển đột biến, mới đủ khả năng bảo đảm nhanh nhất, đầy đủ nhất khối lượng vật chất kỹ thuật cho chiến trường; kể cả sử dụng lực lượng lớn vận tải cơ giới cơ động các binh đoàn binh chủng hợp thành của Bộ vào tham gia các chiến dịch quy mô lớn.

Từ khi chuyển thành sư đoàn vận tải cơ giới, biên chế hơn 1.600 xe, trong điều kiện cầu đường cho phép, cường độ đánh phá của không quân địch giảm hẳn, Sư đoàn 471 đã tổ chức vận chuyển cung dài từ đường số 9 vào Xê Sụ, Sa Thầy; giao hàng trực tiếp cho chiến trường Khu 5, Tây Nguyên; một bộ phận chuyển tiếp vào Lộc Ninh, Bù Gia Mập, giao hàng cho Nam Bộ.
__________________________________
1. Tên bài do nhóm biên soạn đặt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #65 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 11:18:19 AM »


Bước vào Tổng tiến công xuân 1975, sở chỉ huy Sư đoàn chuyển từ Đầu Mầu - đường số 9 vào Xê Sụ. Hai trung đoàn 33 và 536 lấy hàng ở Xê Sụ, Sa Thầy, chuyển giao cho các hướng chiến trường. Hai Trung đoàn 32 và 17 trực tiếp lấy hàng từ cụm kho Đông Hà, đường số 9 chuyển thẳng vào giao cho Nam bộ tại Lộc Ninh.

Chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên, theo yêu cầu của Bộ, Sư đoàn 471 huy động tổng lực phương tiện cơ động gấp toàn bộ đội hình Sư đoàn 316 cùng toàn bộ binh khí kỹ thuật từ Tây Nguyên; tập kết quanh đường số 19, bảo đảm tuyệt đối bí mật an toàn. Thành công của việc cơ động Sư đoàn 316 đã tạo tiền đề để chúng tôi tổ chức lực lượng cơ động Sư đoàn 968 từ Hạ Lào về Plây Cu, Kon Tum thay chân Sư đoàn 10 tác chiến nghi binh ở hướng bắc chiến dịch. Tiếp đó, ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 471 tổ chức lực lượng, bí mật cơ động Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch, chuẩn bị tiến công Đức Lập; chuyển hơn 100 tấn đạn pháo lớn theo lưng bộ đội vào tới tận trận địa pháo, kịp giờ “G” phát hoả mở màn chiến dịch.

Để bảo đảm kịp thời yêu cầu vận chuyển vật chất, cơ động lực lượng tham gia chiến dịch, tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh sư đoàn quyết định cho xe chạy lấn sáng, lấn chiều, nhưng tuyệt đối phải bảo đảm bí mật. Riêng các đêm 6 và 7 tháng 3, khi chuyển hàng giao tại những điểm gần địch, lái xe phải tắt đèn, đi mò trong đêm.

Xen kẽ những ngày đốc chiến tại Sư đoàn 471, tôi sang nắm tình hình mở đường chiến dịch từ nam Đức Cơ xuống Chư Mnga của các Trung đoàn 574, 575. Trên hướng bắc Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 575, do các anh Nguyễn Văn Châu và Nguyễn Văn Liễu chỉ huy, khẩn trương khôi phục các trục đường 48, 50. Từ giữa tháng 2, Trung đoàn tiếp tục mở một trục dọc gồm đường 50B và hai nhánh là đường 50C, 50D. Tổng chiều dài trục đường này lên tới gần sáu chục cây số. Đa phần đường mới mở đi sát đồn điền cao su của các chủ tư bản Pháp trước đây. Vào gần thị xã Buôn Ma Thuột, địa hình trống trải, dân cư đi lại nhiều, yêu cầu giữ bí mật được đặt lên hàng đầu. Khi đường mở vào cách thị xã chừng 20 cây số, chỉ huy trung đoàn được lệnh cho bộ đội tạm dừng, chuẩn bị vật liệu, phương tiện để khi có lệnh là hoàn tất quãng còn lại trong một ngày đêm. Chính thời gian này, anh em công binh đã bí mật, khôn khéo tổ chức thành từng nhóm nhỏ, cưa cắt sát gốc những cây to dọc trục đường sẽ mở, chỉ để lại một phần cho cây khỏi ngã; đào đặt sẵn lượng nổ cần thiết vào những gò đống phải phá... Tất cả sẵn sàng chờ lệnh thông đường.

Dốc hết khả năng, phát huy cao độ trí tuệ, tính tổ chức kỷ luật cao, đến ngày 4 tháng 3, trục đường do Trung đoàn 575 mở từ hướng bắc đã vào đến bản Kơ Hia, Chư Mnga, cách thị xã Buôn Ma Thuột chừng hai chục cây số mà kẻ địch không hay biết gì. Để có được kết quả đó, cũng phải kể đến sự ưu ái của núi rừng Trương Sơn. Đúng là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Dưới những tán rừng lặng lẽ là cả một chiến dịch ra quân của mấy chục nghìn quân, mấy nghìn xe ô tô pháo lớn. Núi rừng Trường Sơn đang ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng, to lớn mà đối phương không thể nào hình dung nổi.

Thời gian mở màn chiến dịch đến gần, kế hoạch bảo đảm cho chiến dịch cũng hoàn tất. Ngoài cơ động Sư đoàn 968 và Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch bí mật, an toàn, Sư đoàn 471 đã chuyển 10.300 tấn vũ khí, khí tài - chủ yếu là đạn pháo lớn, khí tài thông tin, phụ tùng xe tăng thiết giáp vào khu vực Sa Thầy, tập kết ở trục đường đông Trường Sơn, tại những nhánh rẽ xuống từng hướng chiến dịch...

Qua theo dõi, kiểm tra của Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, toàn bộ công tác chuẩn bị, bảo đảm vật chất kỹ thuật, cầu đường..., bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 30 phần trăm trước ngày so với thời gian quy định. Đặc biệt, do chủ động chuẩn bị tốt, khi được lệnh mở tiếp các trục đường còn lại như dự kiến, Trung đoàn 575 đã dồn lực tổ chức thi công suốt ngày đêm. Đúng 23 giờ ngày 9 tháng 3, Trung đoàn đã triển khai thông trục đường 50B, hai nhánh 50c, 50D và tổ chức xong lực lượng hộ tống xe cùng binh khí kỹ thuật.

Là người chủ trì tiền phương Bộ Tư lệnh trong “đêm trước” của chiến dịch, sau khi gọi điện báo cáo kết quả công tác chuẩn bị cũng như đánh giá của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, với anh Đồng Sĩ Nguyên và anh Lê Xy, anh Nguyễn Lang không giấu nổi vui mừng. Anh tâm sự với chúng tôi: Bộ đội Trường Sơn đã thực hiện tốt lời căn dặn một tháng trước đó của anh Văn Tiến Dũng và anh Đinh Đức Thiện... Niềm vui ngập tràn cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương, làm vợi đi tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm của chúng tôi, bởi giờ mở màn chiến dịch Tây Nguyên đang đến gần.

Ngày 10 tháng 3, ta nổ súng tiến công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn công binh 575 đã phối hợp cùng Trung đoàn 7 công binh, Mặt trận Tây Nguyên bảo đảm cầu đường cho đội hình binh chủng hợp thành tiến công địch, giành thắng lợi.

Cuộc tiến công đồng loạt của ta trên khắp chiến trường Tây Nguyên, đỉnh cao là đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột đã làm cho quân địch ở địa bàn chiến lược trọng yếu này hoàn toàn tan rã. Địch buộc phải bỏ Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 về co cụm tạo “lá chắn” ở duyên hải miền Trung.

Không cho địch chạy thoát, nhận chỉ thị của Đại tướng Văn Tiến Dũng, anh Nguyễn Lang lệnh cho Sư đoàn 471 tổ chức một lực lượng cơ động Sư đoàn 10 truy kích địch rút chạy theo đường số 7 và cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch theo đường 19 xuống Buôn Hồ, Đạt Lý.

Theo phân công của anh Lang, tôi may mắn được đi cùng cánh quân truy kích địch theo đường số 7. Khi Sư đoàn 10 phối hợp cùng Sư đoàn 3 Quân khu 5 chặn đánh tiêu diệt gọn lực lượng Quân khu 2 của địch từ Plây Cu tháo chạy theo đường số 7 xuống Phú Yên; chúng tôi lại đi cùng Trung đoàn ô tô 32 và Trung đoàn ô tô 536 cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch, phía nam tiểu khu Buôn Hồ đến Đạt Lý.

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm và tham gia chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 470 khẩn trương sửa chữa gấp trục đường 19 nối dài từ Đức Cơ xuống đường 14 ở khu vực Núi Hòn Rồng và trục đường từ Công Tum vào Buôn Ma Thuột...

Khói súng chưa tan, Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn được lệnh khẩn trương tiếp quản và chuyển vào thị xã Buôn Ma Thuột, đóng tại khu vực kho Mai Hắc Đế và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 quân ngụy. Sư đoàn 470 cơ động toàn bộ lực lượng vào Đắc Lắc, Bộ Tư lệnh sư đoàn đóng tại ngã ba đường 14 và đường 21 đi Ninh Hoà. Sư đoàn 471 khẩn cấp chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm cứu đói cho nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận, kịp thời ổn định tình hình vùng mới giải phóng.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm đảo lộn hoàn toàn thế phòng thủ chiến lược của quân đội Sài Gòn, là cơ sở để Bộ Chính trị họp ngày 25 tháng 3, hạ quyết tâm “Tập trung lớn nhất và nhanh nhất lực lượng binh khí kỹ thuật, vật chất đảm bảo giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Nắm thời cơ chiến lược, tiêu diệt, làm tan rã quân đoàn 1 ngụy và đại bộ phận quân đoàn 2, không cho chúng co cụm quanh Sài Gòn”.

   
Thiếu tướng VÕ SỞ
   (Trích từ cuốn “Đường về đất mẹ: Hồi ức”:
   DUY TUỞNG thể hiện – QĐND, - H. 2000)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #66 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 11:23:17 AM »


GIẢI PHÓNG BUÔN MA THUỘT


Đầu năm 1975, từ miền Bắc, sau gần hai chục ngày hành quân, cuộc hành quân đầu tiên hoàn toàn bằng cơ giới cỡ sư đoàn của quân đội ta, Sư đoàn 316 tới địa điểm tập kết chiến dịch tại khu vực Đắc Đam (tỉnh Đắc Lắc), chuẩn bị tiến công thị xã Buôn Ma Thuột.

Khi tiến hành xây dựng kế hoạch tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, ta chọn hướng tây-nam làm hướng chủ yếu. Ở hướng này, hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch mỏng, dễ vượt qua để có thể chọc thẳng vào mục tiêu chính: sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Mặt khác, khu vực này không có đường giao thông, chỉ có đường kiểm lâm, khó triển khai lực lượng lớn. Vì vậy địch khó có thể ngờ là chúng ta lại vượt qua sông Sêrêpốc rồi luồn rừng tiến vào Đây chính là “gót chân A-sin” của chúng.

Ngày 28-2-1975, Bộ tư lệnh chiến dịch thông qua quyết tâm chiến đấu của Sư đoàn 316. Là đơn vị chủ công đánh Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 phải tiêu diệt cho được 5 mục tiêu: sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy; căn cứ thiết giáp và pháo binh địch; tiểu khu Đắc Lắc, sân bay thị xã; sân bay Hoà Bình; chi khu Hoà Bình và khu kho Mai Hắc Đế. Anh Đàm Văn Ngụy, Sư đoàn trưởng, được Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ định đốc chiến trung đoàn 98, đơn vị phải vu hồi xa, có nhiều khó khăn. Sở chỉ huy cơ bản của sư đoàn do tôi, Sư đoàn phó, chỉ huy chung, cùng với Chính uỷ Hà Quốc Toản, Tham mưu trưởng Nguyễn Xuân Khoát và Chủ nhiệm chính trị Trần An, triển khai phía sau trung đoàn 174.

1 giờ 30 phút sáng 10-3-1975, một bộ phận của trung đoàn đặc công 198 nổ súng tiến công khu kho Mai Hắc Đế, mở đầu trận Buôn Ma Thuột. Đến 2 giờ, các cụm pháo binh chiến dịch bắt đầu bắn vào những mục tiêu đã định trong thị xã. Ngay từ đầu, mũi đặc công đánh sân bay thị xã đã chiếm được đài chỉ huy và khu cảnh sát. Đến 4 giờ 30 phút đánh sân bay thị xã, chiếm lĩnh mục tiêu và bắt liên lạc được với trung đoàn 95B. Địch phản kích từ sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy ra, trung đoàn 174 phải sử dụng tiểu đoàn bộ binh 1 đến chi viện đánh phản kích và phát triển đánh chiếm khu kho. Đến 11 giờ tiểu đoàn 1 mới chiếm được khu kho Mai Hắc Đế.

Mũi đặc công đánh sân bay Hoà Bình mãi 5 giờ sáng mới nổ súng. 11 giờ, tiểu đoàn 9 của trung đoàn 98 cơ động tới, cùng đặc công đánh vào chi khu Hoà Bình và sân bay Hoà Binh. 17 giờ giải quyết xong chi khu, sau đó phát triển vào sân bay Hoà Bình, bắt liên lạc được với trung đoàn đặc công 198 hiệp đồng cùng đánh địch phản kích chiếm lại sân bay và kết thúc lúc 19 giờ trong ngày.

Trên hướng trung đoàn 98, tiểu đoàn 8 tiến công vào khu tiếp vận, thú ý, ngân khố. Đến 11 giờ tiến sát tiểu khu Đắc Lắc. Địch liên tục phản kích, chiến đấu kéo dài. Đến 15 giờ mới bắt liên lạc được với trung đoàn 95B, cùng hiệp đồng đánh chiếm tiểu khu Đắc Lắc. 18 giờ, sư đoàn lệnh cho trung đoàn dừng lại củng cố nơi đã chiếm, chấn chỉnh lực lượng để chuẩn bị sang ngày 11-3 tổ chức thành một mũi phối hợp với e174 tiến công đánh chiếm khu trung tâm sư đoàn 23 ngụy.

Đối với trên hướng chủ yếu, khoảng 7 giờ ngày 10-3, trung đoàn 174 bắt đầu tiến công sở chỉ huy sư đoàn 23. Đến 12 giờ trung đoàn báo cáo giải quyết xong mục tiêu và dừng lại củng cố chiếm lĩnh. Cũng khoảng 12 giờ, trung đoàn 148 đã đánh chiếm hậu cứ pháo binh và thiếp giáp địch, tiếp tục phát triển vào Ngã Sáu - Trung tâm thị xã. Tại đây, trung đoàn 148 đã bắt liên lạc được với trung đoàn 95B. 18 giờ, trung đoàn chuyển sang chốt giữ khu vực đã chiếm. 15 giờ cùng ngày, trung đoàn 95 đánh chiếm xong tiểu khu Đắc Lắc, dừng lại củng cố nơi chiếm lĩnh.

13 giờ ngày 10-3, nghe tin tổng hợp tình hình mọi mặt, tôi chú ý đặc biệt những thông tin nhận được hoàn toàn trái ngược nhau: trung đoàn 174 báo cáo đã giải quyết xong sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Trong khi đó, cơ quan tham mưu chiến dịch phát hiện thấy Sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy vẫn còn liên lạc với các đơn vị ở vòng ngoài, gọi Liên đoàn biệt động quân 21 từ sân bay Hoà Bình về gấp để bảo vệ, đồng thời gọi máy bay đến đánh phá để cố thủ, chờ viện binh phản kích. Tên đại tá Nguyễn Trọng Luật, chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc đã bỏ nhiệm sở chạy về sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy cùng với tên đại tá Vũ Thế Quang, phó sư đoàn trưởng 23 tổ chức cố thủ để chờ viện binh.

Trước tình hình ấy, tôi trao đổi với Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn rồi báo cáo về Sở chỉ huy chiến dịch đề đạt ý kiến để tôi trực tiếp vào thị xã nắm tình hình xem thực tế ra sao mà bọn đầu não Sư đoàn 23 ngụy vẫn còn chưa bị tiêu diệt. Tư lệnh chiến dịch đồng ý.

Sau khi nghe Trung đoàn trưởng 174 Đào Trọng Lịch và Chính uỷ trung đoàn Nguyễn Sướng báo cáo tình hình, tôi trao đổi: Theo các nguồn tin, ta chưa diệt được sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Vì vậy anh Lịch cùng tôi vào thị xã nắm tình hình và tổ chức chiến đấu để tiến công dứt điểm sư đoàn 23 ngụy trong ngày.

Vào tới khu vực sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, tại thực địa chúng tôi phát hiện một khu nhà biệt lập phía trái cách đó khoảng 400-500m, có hàng rào thép gai bao bọc và nhiều công sự, lô cốt. Đối chiếu với bản đồ do chiến dịch cung cấp thì không có khu vực này. Tôi cho gọi tên sĩ quan mới bị bắt trong khi hắn chỉ huy địch để khai thác. Tên tù binh cho biết bên này - trong bản đồ chiến dịch cấp ghi là Sở chỉ huy - thì chỉ là hậu cứ, gồm có hậu cần, tiếp vận, thông tin và gia binh. Bên kia mới chính là khu sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy hiện tại có hệ thống hầm và giao thông hào ngầm, nhà cố vấn, trung tâm chỉ huy và trung tâm liên lạc, có xe tăng và pháo trực tiếp bảo vệ... Thế là đã rõ. Ngay tối 10-3, tôi triệu tập trung đoàn trưởng trung đoàn 174, tiểu đoàn pháo binh 187, các tiểu đoàn trưởng và các đại đội trưởng tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn tăng 273, cụm pháo binh chiến dịch, tiểu đoàn 4, trung đoàn 24, sư đoàn 10 cùng đi trinh sát tiếp cận mục tiêu, nghiên cứu từng hướng tiến công và hiệp đồng cụ thể các binh chủng ngay tại thực địa.

5 giờ 30 phút ngày 11-3, các cụm pháo binh chiến dịch và sư đoàn tập trung hoả lực bắn mãnh liệt vào khu trung tâm sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy cùng các mục tiêu kế cận. Pháo bắn thẳng và xe tăng tiến hành bắn phá hoại các hoả điểm địch trên đoạn cửa mở và cổng chính của căn cứ dịch. 6 giờ 30 phút, các mũi bộ binh và xe tăng đồng loạt mở cửa.

10 giờ 30 phút ngày 11-3-1975, ta đã giải quyết xong căn cứ sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Quân ngụy như rắn mất đầu, các đồn bốt trong thị xã đều tan rã, bỏ chạy ra vòng ngoài. Vòng ngoài khi ấy còn sân bay Hoà Bình, căn cứ trung đoàn 53 ngụy, căn cứ trung đoàn 45 ngụy, khu huấn luyện Lê Lai và các cứ điểm Châu Sơn, Đạt Lý, Thọ Thạnh, Chư Nga, Kim Châu Phát, Bản Đôn...

Từ đêm 12-3 đến ngày 18-3 các trung đoàn toả ra diệt hết các cứ điểm vòng ngoài. Buôn Ma Thuột hoàn toàn giải phóng.

   
Trung tướng, PGS-TS. NGUYỄN HẢI BẰNG
   NGUYỄN TÂN (ghi)
   (Theo “Sự kiện và nhân chứng” số 11/2004)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #67 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 11:24:36 AM »


BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG THAM GIA MỞ MÀN CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN


Thực hiện ý định của trên, trung đoàn đặc công 198 thuộc Mặt trận Tây Nguyên khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị, trinh sát trận địa, nắm chắc các mục tiêu được giao đánh chiếm. Tháng 2 năm 1975, trên tăng cường cho trung đoàn 198 tiểu đoàn 27 đặc công chủ lực. Tiểu đoàn đặc công 27 do đồng chí Nguyễn Đình Tiết làm tiểu đoàn trưởng, tôi lúc đó làm tiểu đoàn phó. Sau khi được lệnh điều động của Bộ Tư lệnh thì tiểu đoàn hành quân vào Tây Nguyên ngay. Khi vào đến Tây Nguyên, chúng tôi dừng chân ở cạnh sông Sêrêpốc, gần Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên và tổ chức liên hệ ngay với trung đoàn 198. Là đơn vị phối thuộc, nên tiểu đoàn 27 được Ban chỉ huy trung đoàn 198 giao cho nhiệm vụ cùng với tiểu đoàn 5 của trung đoàn, có tăng cường hoả lực A72, cối 82, ĐKZ đánh chiếm sân bay Hoà Bình, căn cứ của hai trung đoàn 44 và 53 thuộc sư đoàn 23 ngụy Sài Gòn. Tiểu đoàn 27 còn được trung đoàn điều động đại đội 18, phối thuộc cho tiểu đoàn 4 của trung đoàn 198 đánh chiếm sân bay thị xã Buôn Ma Thuột. Sau khi phân công nhiệm vụ, tiểu đoàn 27 (thiếu đại đội 18) tiến công tiêu diệt căn cứ trung đoàn 44 thuộc sư đoàn 23 ngụy. Nhằm bảo đảm cho trận đánh thắng lợi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27 Nguyễn Đình Tiết đã cùng với tổ trinh sát nằm cả ngày ở hàng rào để nắm địch trong sân bay, xác định từng vị trí để hạ quyết tâm chính xác cho trận đánh.

Là cán bộ chỉ huy tiểu đoàn 27, tôi được phân công đi cùng đại đội 18, do đồng chí Chính làm đại đội trưởng, đồng chí Minh là chính trị viên đại đội. Đại đội 18 phối hợp với 2 đại đội của tiểu đoàn 4 đánh vào sân bay thị xã Buôn Ma Thuột. Ở hướng đông thị xã, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 4 do đồng chí Khúc Đình Đức làm đại đội trưởng được giao nhiệm vụ đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế. Trên hướng đánh kho Mai Hắc Đế, đồng chí Lê Mạnh Hùng, phó tiểu đoàn trưởng, đồng chí Kích tiểu đoàn phó chính trị của tiểu đoàn 4 trực tiếp chỉ huy. Chỉ huy chung trên hướng đánh sân bay thị xã và khu kho Mai Hắc Đế là đồng chí Hiếu, phó trung đoàn trưởng trung đoàn 198. Trên hướng của đại đội 18 có tôi đi cùng được đảng uỷ, chỉ huy tiểu đoàn 4 rất quan tâm. Khi được tăng cường cho tiểu đoàn 4, đồng chí Biều, tiểu đoàn trưởng đã trực tiếp chỉ huy các lực lượng trinh sát, nắm mọi mặt tình hình sân bay thị xã, nên chúng tôi rất thuận lợi. Sân bay thị xã Buôn Ma Thuột nằm trên địa hình khá phức tạp, khó quan sát phát hiện mục tiêu. Khi đi trinh sát, các đồng chí ở tiểu đoàn 4 đã phải ém người, nằm sát hàng rào ngay ban ngày để nắm chắc tình hình hoạt động của địch. Khi đại đội 18 vào nắm lại mục tiêu, chúng tôi cũng phải tiến hành trong đêm tối. Địch bố phòng rất cẩn mật, chúng tôi phải vượt qua gần chục lớp hàng rào. Giữa các lớp hàng rào là những vườn khoai, cà phê có nhà dân ở lẫn. Khi chúng tôi đi qua nhà dân thì có chó sủa dữ, chủ nhà ra soi đèn. 7 anh em trinh sát phải nằm ép xuống luống khoai. Tôi bảo đại đội trưởng Chính phải thật cẩn thận. Không ai phát hiện ra chúng tôi. Khi chúng tôi nắm mục tiêu xong thì trời đã gần sáng. Chúng tôi hội ý và quyết định không trở về theo đường cũ mà táo bạo, bí mật vượt qua quốc lộ để kịp thời gian cho trận đánh. Chúng tôi đi qua một bản của dân, thấy lác đác có người dậy nấu cơm, nhưng chúng tôi không bị lộ.

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất trên tất cả các hướng, đúng 1 giờ 55 phút ngày 10-3-1975, các tiểu đoàn 4, 5, 27 thuộc trung đoàn đặc công 198 đồng loạt nổ súng đánh chiếm sân bay Buôn Ma Thuột, sân bay Hoà Bình, kho đạn Mai Hắc Đế, mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Khi tiến công vào sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, tiểu đoàn 4 chia làm 3 hướng; trên hướng chủ yếu, các đồng chí Hiếu, trung đoàn phó, đồng chí Biều, tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trình chính trị viên tiểu đoàn đi cùng. Tôi đi theo hướng của đại đội 18 do đồng chí Chính, đại đội trưởng chỉ huy. Các hướng chiến đấu với địch rất quyết liệt. Đến 5 giờ sáng thì ta cơ bản làm chủ sân bay, tạo cho bộ binh, xe tăng của ta vào đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã. Sau đó, tiểu đoàn 4 và chúng tôi hiệp đồng với bộ binh, xe tăng đánh địch cố thủ trong hầm ngầm, trong các ổ đề kháng suốt ngày 10-3, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ địch, phá 3 giàn ra-đa, 9 máy bay, bắn rơi 2 trực thăng và thu nhiều vũ khí, trang bị khác.

Ở hướng tây-nam, đại đội 2 của tiểu đoàn 4 do đại đội trưởng Đức, phó tiểu đoàn trưởng Hùng chỉ huy, đồng chí Kích, tiểu đoàn phó chính trị đi trên hướng này đã chiến đấu, nhanh chóng chiếm được mục tiêu kho đạn Mai Hắc Đế và ngoan cường chống trả các đợt phản kích của địch, giữ vững được vị trí. Chiếm giữ được kho Mai Hắc Đế, ta đã thu được 50 kho đạn pháo trữ lượng tổng khoảng 100.000 tấn, 14 kho đạn và 200 súng các loại; thu và phá huỷ nhiều xe tăng, xe bọc thép... Trên hướng đông-nam thị xã, sân bay Hoà Bình bị tiểu đoàn 5 và 27 bất ngờ nổ súng, địch hoảng hốt rút xuống hầm ngầm cố thủ. Trên hướng này, được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ huy trung đoàn gồm đồng chí Kình, trung đoàn trưởng, đồng chí Tích chính uỷ, đồng chí Cự tham mưu trưởng, đồng chí Tôn tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 đã chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm. Tiểu đoàn 27 do đồng chí Tiết, tiểu đoàn trưởng; đồng chí Mai, tiểu đoàn phó chính trị, đồng chí Tiến chính trị viên và đồng chí Chũ, tiểu đoàn phó quân sự thường xuyên bám sát đơn vị, động viên chiến sĩ chiến đấu. Sau 7 ngày đêm chiến đấu kiên cường, giữ vững mục tiêu, bộ đội đặc công đã cùng với các lực lượng ta đánh tan nhiều đợt phản kích của địch, diệt 500 tên, số còn lại phần nhiều bị bắt sống, phá và thu nhiều phương tiện chiến tranh của địch, góp phần giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột.

Trận đánh mở màn của bộ đội đặc công đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng binh chủng hợp thành đánh chiếm thị xã, góp phần tiến đến giải phóng Đắc Lắc và Tây Nguyên, tạo thế phát triển chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
   
Đại tá TRẦN THANH PHƯƠNG kể
   HƯƠNG HỒNG THU ghi
   Báo “Sự kiện và nhân chứng” tháng 3/1997.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #68 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 11:26:18 AM »


ĐƯỜNG TỚI MÙA XUÂN TÂY NGUYÊN


Đầu tháng 12 năm 1974, đại đội 7, tiểu đoàn 74, sau mùa huấn luyện đang thực tập dã ngoại thì được lệnh của thủ trưởng Cục 2 (nay là Tổng cục 2) gọi về nhận nhiệm vụ: hành quân khẩn cấp vào B3 chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên. Niềm phấn chấn ùa đến với mỗi chúng tôi sau những ngày chờ đợi, chuẩn bị.

Đoàn xe chở đại đội theo con đường giao liên 559 len lỏi giữa những cánh rừng Trường Sơn, chốc chốc lại gặp những mảnh rừng cháy rụi, cây đổ ngổn ngang vì bom đạn. Sau 10 ngày xuyên rừng, băng suối, chúng tôi vào đến hậu cứ của Mặt trận B3 tại Đắc Đam. Bộ Tư lệnh Mặt trận, trực tiếp là đồng chí trưởng phòng 2 giao nhiệm vụ cho đại đội chúng tôi phối thuộc quân đoàn, chia làm 2 hướng trinh sát chuẩn bị đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Sư bộ binh 23 ngụy khét tiếng thiện chiến đóng quân tại đây. Nhận lệnh xong, ban chỉ huy đại đội gồm có tôi đại đội trưởng, đồng chí Phùng Đình Từ chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Tân đại đội phó, đồng chí Nguyễn Văn Kim phó chính trị viên cùng đồng chí Phạm Văn Hân tiểu đoàn phó đi cùng đại đội bàn bạc phương án tiếp cận chiến trường.

Tình hình địch lúc này, Mỹ đã rút, nhưng những cứ điểm ngụy ở Buôn Ma Thuột đều do các sư đoàn chủ lực đóng. Hàng ngày, chúng dùng trực thăng tuần tra, lùng sục 4-5 lần, tung thám báo, biệt kích ráo riết thăm dò lực lượng ta. Để chúng không phát hiện được nơi ém quân, chúng tôi phải tuyệt đối giữ bí mật. Từ 1968 đến 1974, ta không đánh Buôn Ma Thuột bằng quân chủ lực, chủ yếu đánh hướng Plây Cu khiến địch có phần chủ quan. Thơi gian này, lực lượng của bộ đội đặc công cũng tiến sát thị xã, nhưng chúng tôi ngụy trang rất khéo nên địch không đánh hơi được gì. Cuối tháng 1, đầu tháng 2-1975, hai hướng của đại đội 7 triển khai nhiệm vụ. Mục tiêu chúng tôi trinh sát gồm: đài phát thanh thị xã tổng kho Mai Hắc Đế, sở chỉ huy sư đoàn 23, toà thị chính, sân bay trực thăng và sân bay Hoà Bình. Mỗi mũi tiếp cận mục tiêu từ hướng của mình. Mặc dù khẩn trương với nhiệm vụ, nhưng mỗi chúng tôi đều cảm nhận được mùa xuân đang về với vùng đất đỏ cao nguyên. Thoảng đâu đây mùi hương rừng, mùi của những chồi non, hoa cà phê ngạt ngào trong nắng đượm. Con sông Sêrêpốc như hiền hoà hơn, ngân vang tiếng nước vỗ bờ... Tất cả như trào sôi sức sống mới, như linh cảm điều gì lớn lao đang đến. Một cái tết nữa sắp về. Và chúng tôi sắp bước vào trận. Bỗng nhiên trong lòng mỗi người đều xôn xao khó tả.

Đêm 30 Tết, chúng tôi quây quần quanh chiếc bàn kê tạm bằng thân cây, chiếc rađiô để chính giữa, xung quanh bầy thuốc lá, lương khô do quân đoàn tiếp tế. Có cả cà phê anh em nhặt được trên đường hành quân rồi tự tay chế biến. Tất cả lặng im trong giờ phút thiêng liêng, nghe như nuốt từng lời từ miền Bắc thân yêu vọng vào. Ai đó ngồi cạnh siết nhẹ tay tôi. Ngoài kia, rừng khoọp như đang nhú những mầm xanh đầu tiên. Tôi bỗng thèm được ngắm từng khuôn mặt thân thương của gia đình trong mùi hương trầm lan toả biết bao. Và tôi cũng biết rằng, lúc này, gia đình, đồng đội ở miền Bắc cũng đang nghĩ về chúng tôi...

Đón Tết xong, chúng tôi bắt tay vào công việc ngay. Mỗi hướng chúng tôi chia làm 5 đến 6 tổ, ban ngày đi từ vị trí tập kết đến bìa rừng gần thị xã chúng tôi đi đêm. Mùa này đồng bào Tây Nguyên phát rẫy làm nương, những trảng cỏ, lùm cây đều bị đốt khiến chúng tôi rất khó di chuyển. Chỉ một sơ suất nhỏ là chúng tôi có thể lọt vào tầm quan sát của địch. Có lần trên đường đi, bất ngờ gặp một tốp đồng bào đi rẫy. Không còn cách nào khác, chúng tôi đành nói thật: “Chúng tôi là bộ đội giải phóng, xin bà con giữ bí mật”. Quả thật, chúng tôi đã không gặp một rắc rối nào sau đó, càng vững lòng và tin dân. Điểm chúng tôi chọn làm nơi trú chân để quan sát là những bụi cây những bụi cỏ còn sót lại cách thị xã chừng 1km. Đêm đến, từng tổ chúng tôi bí mật tiềm nhập thị xã, vượt qua các vành đai bảo vệ, cứ khoảng 3-4 giờ sáng lại nhớ mọi ngóc ngách, đếm từng hàng rào, từng loại mìn, hào chống tăng, đặc biệt là các vị trí chiến đấu của giặc. Tỉ mỉ, chính xác và khẩn trương, sau 20 ngày đêm chúng tôi đã có trong tay bản đồ chi tiết về bố phòng của thị xã Buôn Ma Thuột, tận mắt chứng kiến và thuộc đường đi lối lại trong hang ổ kẻ thù. Hai hướng của đại đội 7 nhanh chóng trở về vị trí làm báo cáo, một tuần sau lại dẫn cán bộ Mặt trận B3 vào tận nơi trinh sát trận địa, bảo đảm bí mật.

Hoàn tất nhiệm vụ trinh sát, chúng tôi sẵn sàng chờ lệnh dẫn bộ binh đi chiến đấu. Tối 9-3 vào chiếm lĩnh trận địa, rạng 10-3-1975, chúng tôi trong đội hình Mặt trận B3 đồng loạt tiến công thị xã. Tiếng súng nổ, tiếng hô xung phong, dồn dập rộ lên các hướng. Địch tuy bị động nhưng chống trả rất quyết liệt. Pháo binh bắt đầu nã đạn vào các mục tiêu. Hướng bắc, chúng tôi cử đồng chí Tân chỉ huy 1 tổ 5 đồng chí vượt khói lửa vào trung tâm thị xã. Lợi dụng địa hình cao các đồng chí quan sát và báo cáo kịp thời về các hướng tiến công của ta, về sự phản công của địch, thương vong... Sau 2 ngày đêm chúng ta đã giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, đây là một chiến thắng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Không nghỉ ngơi, chúng tôi lại khẩn trương lên đường đi chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Qua trận trinh sát thị xã Buôn Ma Thuột, chúng tôi đã trưởng thành lên một bước. Do sự chỉ đạo, huấn luyện của Cục, cùng với nỗ lực của anh em, chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo toàn lực lượng. Do có nhiều thành tích trong chiến đấu, sau giải phóng, đại đội 7, tiểu đoàn 74 - Cục 2 đã vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

   
Đại tá HOÀNG MINH CẨM kể
   TRẦN THANH XUÂN ghi
   Báo “Sự kiện và nhân chứng” tháng 4/2000.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 11:27:55 AM »


CUỘC TRUY KÍCH ĐỊCH THÁO CHẠY TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7


Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, lực lượng còn lại của sư đoàn 23 ngụy và các liên đoàn biệt động quân tiến hành “Tái chiếm Buôn Ma Thuột” bị đại bại, ngày 14 tháng 3 năm 1975 Nguyễn Văn Thiệu cùng bọn chóp bu ngụy quyền Sài Gòn vội vã lệnh cho quân đoàn 2 rút bỏ cao nguyên Trung phần bằng đường số 7 về giữ vùng đồng bằng duyên hải miền Trung.

Nắm chắc diễn biến tình hình địch và thời cơ, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã quyết định sử dụng sư đoàn 320 đang đứng chân ở khu vực Thuần Mẫn được tăng cường một tiểu đoàn thiết giáp một cụm pháo chiến dịch nhanh chóng chặn địch ở đông nam Cheo Reo tiêu diệt lực lượng rút chạy của quân đoàn 2 ngụy.

Thế là đúng 21 giờ ngày 16 tháng 3, cả sư đoàn chúng tôi lao vào cuộc truy kích thần tốc, kiên quyết không cho địch chạy thoát.

Cuộc truy kích thần tốc trước hết diễn ra ở tiểu đoàn 9 - trung đoàn 64. Tối ngày 16 tháng 3, tiểu đoàn 9 đang chốt cắt đường 7B ở tây Cheo Reo 10km, sau khi nhận được lệnh của sư đoàn trưởng Kim Tuấn: “Bằng bất cứ giá nào, sáng 17 tháng 3 tiểu đoàn phải có mặt ở chân đèo Tu Na để chặn địch”, cả tiểu đoàn lập tức lao vào cuộc chạy đua với quân địch. Tới trưa ngày 17 tháng 3, đại đội 11 đã đến vị trí chuẩn bị nổ phát súng đầu tiên trong cuộc truy kích của sư đoàn.

Trên hướng bắc, trung đoàn 9 sau khi chiếm quận lỵ Phú Nhơn đã nhanh chóng hình thành mũi tiến công từ phía bắc xuống thị xã Cheo Reo. Trung đoàn 48 đã chủ động đưa tiểu đoàn 2 theo đường 7B áp sát phía tây Cheo Reo.

Sáng ngày 17 tháng 3, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn nhưng phần lớn tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 vẫn chưa chạy thoát. Trên đường số 6, hàng ngàn xe quân sự của địch nối đuôi nhau ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn cả ra hai bên bìa rừng. Trên trời máy bay hộ tống trút bom, bắn rốc két ngăn chặn phía sau, dọn đường phía trước.

Đoàn xe địch chạy ra khỏi thị xã Cheo Reo 4km gặp trận địa phục kích của tiểu đoàn 9, cả đoàn xe nhào ra hai bên đường, chạy vào rừng, lùi lại phía sau. Đến chiều ngày 17 tháng 3, cánh cửa thép phía đông nam Cheo Reo đã được khoá chặt. Lực lượng cơ bản của tập đoàn địch rút chạy đã bị nhốt chặt trong thung lũng Cheo Reo.

Cũng trong ngày và đêm 17 tháng 3, cơ quan hậu cần chiến dịch và sư đoàn đã huy động hơn 100 xe ô tô cấp tốc chở trung đoàn 64 và một số đơn vị trực thuộc trong đó có tiểu đoàn 16 súng máy 12 ly 7 chúng tôi đang làm nhiệm vụ ở khu vực Phước An, Đạt Lý, Buôn Hồ (bắc Buôn Ma Thuột) về ngã ba Thuần Mẫn. Thiếu xe thì chạy bộ. Xe chạy hết tốc lực. Đổ quân xuống nơi quy định, xe lập tức quay lại đón bộ phận chạy sau. Từ chỗ dừng xe, chúng tôi tiếp tục chạy bộ suốt đêm theo đường rừng về Cheo Reo.

Mờ Sáng ngày 18, địch củng cố lại đội hình, dùng hai thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 đồng loạt nổ súng dữ dội vào đội hình địch, xe tăng, xe bọc thép liều chết mở hết tốc độ lao qua cầu Ea Nu. Cầu sập, xe và lính rơi xuống sông, đường tắc nghẽn, địch bỏ xe, tản vào rừng, lội qua sông Ba chạy trốn. Đúng lúc đó lực lượng cơ bản của trung đoàn 64 và đơn vị tôi đến nơi, đánh thốc tới. Hàng trăm xe quân sự địch bị bắn cháy nằm ngổn ngang trên đường và bãi sông. Trong trận đánh táo bạo và quyết liệt này, tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi thuộc đại đội 9 (tiểu đoàn 9) đã nêu một tấm gương chiến đấu ngoan cường dũng cảm. Qua hai ngày chiến đấu, một mình anh đã bắn cháy và bắt sống 12 xe bọc thép, diệt 120 tên, cùng đồng đội bắt sống 120 tên khác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau này Nguyễn Vi Hợi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Để tạo thế tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, chiều ngày 18 Bộ Tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho trung đoàn 48 tiến công thị xã Cheo Reo. Đồng thời lệnh cho trung đoàn 64 chuẩn bị đón đánh địch trong thị xã bung ra.

Sau bước chuẩn bị ngắn, được pháo binh và thiết giáp chi viện, trung đoàn 48 đã lần lượt đánh chiếm cơ quan hành chính tỉnh, tiểu khu Phú Bổn, đài phát thanh, ty ngân khố và một bộ phận quan trọng cơ quan Quân đoàn 2 ngụy rút chạy về đây.

Bước sang ngày 19 tháng 3, ở hướng trung đoàn 64 cuộc chiến lại bước vào giai đoạn quyết liệt. Bị đánh trong thị xã, địch bung ra húc bừa vào các chốt của ta mong thoát chạy được về phía đông. Suốt ngày hôm đó, khắp các mũi các hướng trên tuyến chốt chặn của trung đoàn 64, ở đâu cũng bắt sống được xe tăng, xe bọc thép địch. Tù binh đủ sắc lính ngụy ngày một đông. Đông đến nỗi các bộ phận không còn đủ người để trông coi chúng nữa. Ở trận địa 12 ly 7 của chúng tôi, nhiều toán lính ngụy tay không, đầu trần, giơ cao miếng vải trắng vào trước hầm pháo xin được đầu hàng. Chúng tôi chỉ hướng cho họ ra đường lộ để được dẫn về vị trí tập trung.

Ngay đêm 19 tháng 3, trung đoàn 64 và các lực lượng phối thuộc được tăng cường 1 tiểu đoàn thiết giáp được lệnh hành tiến đánh địch. Ngày 21, chúng tôi đuổi kịp lực lượng chạy trước của địch, vây diệt chúng ở Phúc Túc. Ngày 22 diệt địch ở sông Ca Lúi. Ngày 23 toàn bộ đội hình trung đoàn tiến sát Củng Sơn, bắt liên lạc được với tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương Phú Yên, hình thành thế bao vây quân địch ở Củng Sơn.

Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 64 và tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương Phú Yên được pháo binh, xe tăng yểm trợ đã tiến công thị trấn Củng Sơn. Đến 16 giờ trận đánh kết thúc. Cụm quân địch ở Củng Sơn hoàn toàn bị tiêu diệt. sơn 2 ngàn tên địch bị diệt và bị bắt. Toàn bộ trang bị vũ khí đã lọt vào tay quân ta, trong đó có 41 xe tăng, thiết giáp, hơn chục khẩu pháo 105 và 155 ly và 1 máy bay trực thăng còn nguyên vẹn đỗ trên đường băng sân bay Củng Sơn.

Đến đây cuộc truy kích thần tốc đuổi địch trên đường số 7 của sư đoàn 320 và cũng là trận then chốt thứ 3 của chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Toàn sư đoàn đã diệt gọn tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 ngụy, gồm 4 tiểu đoàn biệt động quân, 3 trung đoàn thiết giáp cùng phần lớn cơ quan quân đoàn 2 và nhân viên kỹ thuật sư đoàn 6 không quân. Bắt sống hơn 8.000 tên, thu và phá huỷ 1.400 xe quân sự (có 90 xe tăng, 35 xe bọc thép), 8 khẩu pháo 175 ly, 19 khẩu pháo 155 ly cùng nhiều vũ khí trang bị khác. Đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch về đồng bằng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Và bằng chiến thắng này, sư đoàn 320 đã góp phần quan trọng kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, mở ra thời cơ có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

   
HÙNG TẤN
   Báo “Sự kiện và nhân chứng” tháng 4/2000
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM