Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Mười Một, 2019, 07:43:01 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiếng sấm Tây Nguyên  (Đọc 48124 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #40 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:09:04 AM »


Cùng tiến với cánh quân hướng tây bắc là đoàn cán bộ vận động chính trị gồm 83 người do anh Ama H’oanh lãnh đạo đã vượt qua khu liên hợp pháo binh thiết giáp vào chùa Khải Đoan. Anh Ama H’oanh kể lại: Khi các cơ sở cũ trong thị xã gặp lại những người cán bộ năm xưa họ hết sức vui mừng bởi vì suốt 7 năm qua lòng dân thị xã Buôn Ma Thuột vẫn son sắt với cách mạng, với Đảng. Và không ít người, có lúc nào đó chao chạnh, giảm bớt lòng tin thì lúc đó họ đã hăng hái như những ngày Tết Mậu Thân năm nào dẫn đường cho cán bộ và bộ đội, phát hiện những tên ác ôn có nhiều nợ máu ẩn nấp, kêu gọi ngụy quyền đầu hàng, nộp vũ khí.

Qua một ngày chiến đấu trên cả bốn hướng bộ đội ta chiến đấu rất ngoan cường táo bạo, dũng cảm mãnh liệt thọc sâu, hiệp đồng gắn bó giữa bộ binh và pháo binh, bộ binh và xe tăng, giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã làm chủ phần lớn các mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột và các cứ điểm án ngữ vòng ngoài.

Tiêu biểu trong ngày đầu là gương chiến đấu của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 Sư đoàn 10. Khi chiếc xe tăng đi đầu sụp lầy, đội hình bị ùn lại, máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Trương Quang Oánh bình tĩnh, dũng cảm vượt lên chỉ huy bộ đội và anh đã anh dũng hy sinh. Khi xe tăng ta tiến vào cửa mở, lúc này khói bụi mịt mù chiến sĩ lái không nhìn rõ đường, bất chấp hiểm nguy, đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy trung đội trưởng Nguyễn Đức Lập và tiểu đội trưởng Kiều Hải Âu quê An Tường, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc cầm cờ đứng hai bên cửa mở làm lộ tiêu cho xe tăng mũi thọc sâu binh chủng họp thành tiến vào. Bùi Đức Chín và 9 chiến sĩ của tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 Sư đoàn 10 đã anh dũng hy sinh ở khu vực cột cờ khu truyền tin. Trung đội trưởng Nguyễn Quang Trung (trung đoàn 148) trước tình huống cửa mở hẹp, xe tăng và bộ binh bị ùn lại, không thể để đồng đội bị thương vong, anh đã ôm bộc phá xông lên dưới làn đạn bắn thẳng của địch mở rộng cửa mở cho xe tăng ta tiến công và dẫn đầu trung đội đánh vào bên trong...

Đêm ngày 10 tháng 3, sau khi nghe cơ quan tham mưu báo cáo tình hình, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: “Trong ngày đầu tiến công vào thị xã, ta đã thu được thắng lợi lớn, đã chiếm được hai mục tiêu quan trọng là sân bay thị xã và toà tỉnh trưởng, khống chế được sân bay Hoà Bình. Các mũi đều đánh tốt, riêng mũi phía nam có khó khăn, thắng lợi thu được chưa tương xứng với tổn thất của bộ đội. Hệ thống chỉ huy phòng ngự của địch bị rối loạn. Mặc dù lực lượng tại chỗ kết hợp với không quân phản kích ác liệt, nhưng không đẩy lui được lực lượng ta ra khỏi thị xã nên binh lính, sĩ quan ngụy hoang mang cực độ. Tuy vậy, bọn đầu sỏ, ác ôn vẫn cố chống lại. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương: Tập trung lực lượng mạnh nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã. Triển khai lực lượng sẵn sàng đánh phản kích, đồng thời khẩn trương tiêu diệt các căn cứ bàn đạp Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, trói chặt địch ở Buôn Ma Thuột, không cho lực lượng cơ động bên ngoài ứng cứu. Đưa lực lượng cao xạ áp sát thị xã, bảo vệ đội hình tiến công của ta và bảo vệ nhân dân, điều một bộ phận lực lượng sang phía đông bắc sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không.

Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, pháo binh chiến dịch bắn cấp tập liên tục suốt 2 tiếng đồng hồ. Khi pháo binh vừa ngừng, các mũi binh chủng hợp thành của ta xung phong đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của quân ngụy ở Buôn Ma Thuột. Địch cho máy bay ném bom ngay trên đường phố. Xe tăng M48, đại liên, súng cối, tiểu liên AR15 từ trong lỗ châu mai lô cốt cố thủ bắn như trút đạn trước cổng sư đoàn bộ sư đoàn 23. Các chiến sĩ bộ binh bám sát, yểm hộ cho xe tăng tiêu diệt các ổ đề kháng của địch; các chiến sĩ xe tăng luôn luôn tiến trước, mở những mũi đột kích mạnh tiêu diệt xe tăng và hoả điểm địch. Trung đoàn 95B và đại đội xe tăng 4 từ tiểu khu Đắc Lắc tiến công sang hậu cứ sư đoàn 23 hợp điểm với mũi tiến công phía tây.

Xe tăng 980 do đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy dẫn đầu mũi tiến công phía tây đánh tràn vào cổng chính. Sau khi bắn sập một góc cổng chính, xe tăng 980 xô đổ cổng sắt rồi cùng với xe của Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách dẫn dắt bộ đội đột phá vào trung tâm chỉ huy sư đoàn 23.

Đến 11 giờ ngày 11 tháng 3, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 và các mũi tiến công của trung đoàn 95B, trung đoàn 174 Sư đoàn 316 đã hợp điểm tại sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy. Tổ cắm cờ của đại đội 1 tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 Sư đoàn 10 do tiểu đội trưởng Phạm Văn Vy, quê Yên Nội, Thanh Ba, Phú Thọ cùng hai chiến sĩ là Đàm Duy Tộ, Nguyễn Văn Thắng đã cắm lá cờ Quyết thắng của Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lên trung tâm chỉ huy sư đoàn 23. Dưới sự chỉ huy của chính trị viên đại đội 3 tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 Ngô Huy Chuyên, quê Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình, anh em đại đội 3 đã tiến vào phòng làm việc của Vũ Thế Quang thu toàn bộ cờ hiệu, con dấu, bản đồ... còn nguyên trên bàn làm việc. Đại tá tỉnh trưởng Đắc Lắc Nguyễn Trọng Luật cùng một tốp sĩ quan chạy qua khu “quân cụ biệt lập” định trốn vào rừng cà phê thì bị bộ phận thọc sâu tiểu đoàn 4 (Sư đoàn 10) do Bùi Văn Độ cùng tiểu đội bắt làm tù binh cùng 12 sĩ quan khác. Đại tá Vũ Thế Quang - tư lệnh phó sư đoàn 23 thì chạy một mình, vứt bỏ cả giày, cả mũ, trên người chỉ mang một cái túi con. Đến tối ngày 11, viên đại tá, tư lệnh phó sư đoàn 23 ngụy - một người trai ở phố Sinh Từ, Hà Nội lầm đường theo giặc đã bị trung đoàn 174 bắt khi vượt qua buôn A Lê 2 đi Phước An. Quang được ta đưa xe chở về trại giam. Khi qua phà sông Sêrêpốc, anh ta hết nhìn trời nhìn mây lại nhìn chiếc phà chở tới 3, 4 chiếc xe ô tô cùng chuyến, thốt lên: “Chúng tôi thua là phải”.

Nắm thời cơ bộ đội tiến công, 315 tù chính trị ở nhà tù Buôn Ma Thuột đã nổi dậy phá cửa nhà tù chạy thoát ra ngoài.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #41 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:09:45 AM »


Đêm ngày 11 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: Địch mất thị xã nhưng các căn cứ bàn đạp vẫn còn. Chúng có thể dùng lực lượng tăng viện đổ quân xuống các căn cứ bàn đạp phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Hướng phản kích chủ yếu sẽ là hướng đông bắc. Đồng thời lệnh cho trung đoàn đặc công 198 và trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) tảo trừ, giữ địa bàn, củng cố thắng lợi. Trung đoàn 24 (thiếu) phối họp với tiểu đoàn 6 trung đoàn 95B diệt căn cứ 45. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 24 diệt cứ điểm Chư Nga. Tiểu đoàn 21 Đoàn 559 đánh địch, giải phóng Bản Đôn. Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 và một bộ phận trung đoàn đặc công 198 diệt căn cứ Hoà Bình.

Thực hiện kế hoạch tác chiến trên, ngày 12 tháng 3 trung đoàn 24 và tiểu đoàn 6 trung đoàn 95B cùng xe tăng tiến công căn cứ 45, diệt và bắt 350 tên địch, thu và phá huỷ 245 xe quân sự, thu hơn 400 súng các loại. Chiều ngày 12 tháng 3 trung đoàn 174 đánh chiếm cầu Thọ Thành (Sêrêpốc) diệt và bắt 300 tên địch, thu hàng trăm xe.

Ở hướng bắc, ngày 12 tháng 3, trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, phát triển về hướng thị xã Buôn Ma Thuột diệt căn cứ Chư Pao thu 4 pháo 105 ly, giải phóng ấp Đạt Lý, thu trên 500 súng các loại, làm chủ đường số 14. Cùng với tiến công quân sự, các đội công tác và cơ sở tại chỗ phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp của địch, thu hàng trăm súng các loại, phá banh các khu đồn Klê B, Buôn Hồ (cũ), Buôn Klát, các ấp Chí An, Thiện An, Đạt Hiếu, An Lạc, Tưng Mai, Buôn Đê, Buôn Vít... giải phóng toàn bộ hơn 60 buôn ấp và dinh điền với trên 12 nghìn dân Kinh - Thượng tại chỗ và bị địch dồn về đây...

Đêm ngày 12 tháng 3 năm 1975, anh Văn Tiến Dũng, đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chuyển điện của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, bức điện có đoạn. “Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng mưu trí và sáng tạo, táo bạo và khẩn trương, giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần kịp thời nắm thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Trong điện, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị: “Ở Tây Nguyên cần hết sức chú trọng công tác tiếp quản, chú trọng chính sách dân tộc, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc... Nếu có ngoại kiều ở Buôn Ma Thuột cần đối đãi tử tế và có thể thả họ sớm”. Cũng trong bức điện này Thường vụ Quân uỷ Trung ương đã quyết định phong quân hàm cấp đại tá cho anh Blốc - phó bí thư tỉnh uỷ, chủ tịch uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đắc Lắc.

Có nhiều cuốn sách viết về trận Buôn Ma Thuột đã lấy 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975 - giờ ta cắm lá cờ lên sở chỉ huy sư đoàn 23 xác định là giờ giải phóng hoàn toàn thị xã này. Nhưng ai đã từng tham gia trận đánh vào Buôn Ma Thuột chắc không thể quên, đến trưa ngày 11 và những ngày tiếp sau đó cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt, hơn 8.000 tên địch bị tiêu diệt một số, còn đại bộ phận vẫn ẩn nấp trong thị xã. Trung đoàn 53 là đơn vị bảo vệ chủ yếu ở thị xã vẫn còn trong căn cứ của nó. Sư đoàn 23, ngay chiều ngày 12 tháng 3 đã bắt đầu đổ quân xuống phía đông thị xã. Tất cả tình hình đó cho thấy ta mới giành thắng lợi quan trọng, nhưng chưa phải là thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, trên đài phát thanh lúc bấy giờ ta vẫn chưa công bố là đã giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.

Tôi muốn nói kỹ về trận đánh căn cứ trung đoàn 53 ngụy. Gọi là căn cứ trung đoàn 53 nhưng trong đó gồm doanh trại của 2 trung đoàn 44 và 53, nằm về phía đông nam sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thị xã 10 km, được tổ chức phòng ngự rất vững chắc, quanh căn cứ có đến 7 hàng rào kẽm gai xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất đắp quanh căn cứ cao và dày, các lô cốt và ụ súng bố trí ngay trong tường đất. Hầm chỉ huy của trung đoàn bằng bê tông xây chìm dưới lòng đất. Khi vạch kế hoạch tác chiến, Bộ tư lệnh chiến dịch rất quan tâm đến sân bay Hoà Bình và căn cứ trung đoàn 53. Điều quan tâm này bắt nguồn từ bài học lịch sử hè năm 1972, khi ta bao vây thị xã Kon Tum, quân địch chỉ còn một con đường duy nhất là sân bay Kon Tum. Từ sân bay này quân ngụy đã đủ điều kiện đưa sư đoàn 23 đến để giành giật lại được thị xã Kon Tum. Do vậy việc đánh chiếm sân bay Hoà Bình và căn cứ trung đoàn 53 là mục tiêu quan trọng phải đánh ngay từ đầu. Vì nhiều lý do công tác bảo đảm ta không thể đưa bộ binh và xe tăng vào để đánh ngay mà chỉ sử dụng trung đoàn đặc công 198 thực hiện nhiệm vụ này. Khi được lệnh nổ súng, lúc 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3 trung đoàn 198 nhanh chóng chiếm được sân bay Hoà Bình. Nhưng khi đánh vào căn cứ 53, trung đoàn 198 gặp nhiều khó khăn, tuy có đánh chiếm được một số mục tiêu nhưng sau đó địch đã phản kích đánh bật ta ra, và cho xe tăng ra bịt cửa mở. Một số anh em bị thương không ra được đã bị địch bắt, tra tấn hết sức dã man. Có anh em đã bị chúng thiêu sống hết sức man rợ.

Căn cứ 53 còn thì sân bay Hoà Bình có nguy cơ địch chiếm lại và sẽ là bàn đạp để địch đưa quân tái chiếm Buôn Ma Thuột. Do vậy Bộ tư lệnh sử dụng trung đoàn 149 Sư đoàn 316 diệt căn cứ 53.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #42 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:10:32 AM »


Ngày 14 tháng 3 trung đoàn 149 đánh nhầm vào khu điều vận sân bay, đến khi tiến sang căn cứ 53 đã bị địch chặn lại. Ngày 15 tháng 3, trung đoàn 149 tiến công lần thứ hai, nhưng trung đoàn bị máy bay địch đánh trúng đội hình, bộ đội bị thương vong, cuộc tiến công vào căn cứ 53 vẫn không thành. Địch càng ngoan cố, chiếm giữ chờ quân tiếp viện. Lúc này, 1 đại đội thám kích sư đoàn 23 đổ bộ bằng máy bay lên thẳng đang tìm đường vào căn cứ, trung đoàn 45 ngụy cũng đã đổ xuống cách đó không xa. Lê Trung Tường - sư đoàn trưởng sư đoàn 23 đã về Phước An. Rõ ràng địch đang nỗ lực dùng đòn phản đột kích chiến dịch bằng đổ bộ đường không để giành lại Buôn Ma Thuột.

Chiều ngày 16 tháng 3 Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 quyết định dùng trung đoàn 66 được tăng cường 1 đại đội xe tăng T54 tiêu diệt căn cứ 53. Sau khi nhận lệnh trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Kiệp dẫn cán bộ đi trước trinh sát, đồng thời lệnh cho bộ đội hành quân bám theo. Sau 3 giờ chiến đấu quyết liệt, tiểu đoàn 7 dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Hoàng Ngọc Toái và chính trị viên Phạm Quang Vinh, tiểu đoàn 9 do Bạch Công Nghĩa - tiểu đoàn trưởng và Phạm Chào (phái viên của ban chính trị trung đoàn 66 được cử làm chính trị viên) phối hợp với một bộ phận của trung đoàn 149 từ hướng tây nam đánh vào. Trung đoàn 66 và một bộ phận của trung đoàn 149 đã làm chủ căn cứ 53. Toàn bộ quân địch trong căn cứ bị tiêu diệt và bắt làm tù binh. Đến đây, thị xã Buôn Ma Thuột mới thực sự hoàn toàn được giải phóng.

Bộ tư lệnh chiến dịch dự kiến trước âm mưu khả năng phản kích của địch nên trận Đức Lập vừa kết thúc Sư đoàn 10 đã được lệnh hành quân gấp về phía đông Buôn Ma Thuột để tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy phản kích. Trên chiến trường Kon Tum, sư đoàn 23 thường đụng trận với Sư đoàn 10 của ta, nên cả hai sư đoàn của ta và địch đã hiểu biết khá rõ về nhau. Sư đoàn 23 biết khá nhiều về Sư đoàn 10, từ người chỉ huy đến hướng hoạt động của các trung đoàn. Ngược lại, Sư đoàn 10 cũng biết kỹ về sư đoàn 23, biết rõ từng sở trường, sở đoản của các trung đoàn. Trung đoàn 45 thường hoạt động bí mật, hay đánh bất ngờ. Trung đoàn 53 đã ra quân thì pháo bắn dồn dập, có khi chỉ cần nghe tiếng pháo bắn cũng đủ biết trung đoàn 53 sắp ra quân. Còn trung đoàn 44 thường làm lực lượng dự bị, thay thế các trung đoàn kia khi mất sức. Trong sư đoàn 23, trung đoàn 45 là trung đoàn con cưng số một, chính Vũ Thế Quang đã từng làm trung đoàn trưởng trung đoàn này trước khi được cất nhắc lên làm sư đoàn phó sư đoàn 23.

Ngày 12 tháng 3, được không quân yểm trợ trung đoàn 45 nhảy xuống vùng điểm cao 581 Hoà Bình, liên kết với tàn quân của liên đoàn biệt động 21. Ngày 15 và ngày 16, chúng ném nốt trung đoàn 44 và sư đoàn bộ 23 xuống Phước An. Ngày 14 tháng 3, trung đoàn 24 Sư đoàn 10 và đại đội thiết giáp 5 được sự chi viện của pháo chiến dịch đã đánh tan tiểu đoàn 2 địch ở khu điểm cao 581. Thừa thắng bộ đội ta tiến công vào cụm quân của tiểu đoàn 1 trung đoàn 45. Một số sống sót chạy về co cụm ở đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại cùng với liên đoàn 21 biệt động quân bảo vệ phía tây nam quận lỵ Phước An. Ý đồ phản kích của địch bị đập tan, quân địch quay sang co cụm chống đỡ bị động những cuộc tiến công của Sư đoàn 10.

Sáng ngày 16, bộ binh và xe tăng Sư đoàn 10 tiến công vào ngã ba Nông Trại. Trung đoàn 45 ngụy và liên đoàn 21 biệt động quân bị diệt và tan rã. Một số tàn quân chạy về Phước An.

Tại Phước An, tàn quân từ các nơi kéo về hình thành một cụm quân lớn gồm phần lớn trung đoàn 44, trung đoàn 45, liên đoàn 21 cùng sư đoàn bộ sư đoàn 23, do Lê Trung Tường cầm đầu. Ngày 17 tháng 3 Sư đoàn 10 sử dụng các trung đoàn 24, 28 được pháo binh chiến dịch chi viện cùng xe tăng trung đoàn 273 mở đợt tiến công quyết định vào Phước An. Trước sức tiến công của quân ta, Lê Trung Tường vội leo lên chiếc trực thăng UH1 định chạy trốn nhưng máy bay chở viên tướng này đã bị đạn phòng không của quân ta bắn rơi. Tường bị thương, được một tốp lính lôi ra khơi máy bay và cõng chạy trốn.

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 ở khu vực Phước An, Sư đoàn 10 đã diệt gần 500 tên, bắt sống 1.600 tên, thu 1.800 súng các loại. Toàn bộ lực lượng ở Phước An hoang mang cực độ, nhiều tên cởi bỏ quần áo lính, mặc quần áo thường dân chạy trốn về Chư Cúc. Ngày 18 tháng 3, trung đoàn 25 đón đầu đánh quân địch rút chạy. Trung đoàn 28 truy kích đánh trận cuối cùng tiêu diệt về cơ bản sư đoàn 23 ngụy, giải phóng vùng đông bắc tỉnh Đắc Lắc.

Như vậy, chỉ trong vòng 5 ngày từ 14 đến 18 tháng 3 bằng 4 trận đánh trên chặng đường dài ngót 50 km, Sư đoàn 10 đã xoá sổ vĩnh viễn sư đoàn 23, chấm dứt sự tồn tại của “những thiên thần lịch sử” (danh hiệu của quân ngụy tặng cho sư đoàn 23 năm 1973).

Sau khi Sư đoàn 10 tiêu diệt sư đoàn 23, tình hình nổi dậy của nhân dân Phước An càng sôi động, bọn phòng vệ dân sự ra hàng, nộp vũ khí. Nhân dân nổi dậy phá tan 13 khu đồn, 35 ấp chiến lược; 70 buôn, 11 dinh điền được hoàn toàn giải phóng, giải tán ngụy quyền, thành lập chính quyền cách mạng.

Cùng ngày 18 tháng 3, Ủy ban quân quản tỉnh Đắc Lắc được thành lập, Anh Y Blốc làm chủ tịch, anh Lê Chí Quyết làm bí thư đảng uỷ. Ủy ban quân quản ra mắt nhân dân tại khu chùa xã Lạc Giao đường Trần Hưng Đạo, việc làm đầu tiên của Ủy ban quân quản là thiết lập chính quyền cơ sở. Nhưng việc này khá phức tạp, nhiều nơi phải làm đi làm lại hai ba lần mới tạm ổn. Tiếp đó là việc ổn định đời sống nhân dân trước hết là khôi phục lại hệ thống điện và nước. Hàng nghìn thanh niên các trường Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ tham gia công việc cứu thương, thu vũ khí, canh gác công sở, giữ gìn trật tự... Không ít người xin gia nhập lực lượng vũ trang. Phong trào phụ nữ phát triển khá mạnh, chị em tự nguyện đi gọi chồng con và người thân theo địch trở về với cách mạng, nộp vũ khí, tài liệu. Chị em còn tích cực giúp đỡ cơm nước cho bộ đội.

Bên cạnh Ủy ban quân quản, các đoàn cán bộ tiếp quản của tất cả các ngành hành chính, an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật cùng đoàn cán hộ của Khu 5 tăng cường đã triển khai toàn diện các mặt công tác, nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân trong thị xã.

Một thị xã đông dân vừa mới giải phóng với bao công việc bộn bề, nhung Tỉnh uỷ đã nắm chắc nhiệm vụ phát triển của chiến dịch đã huy động hàng trăm lái xe và 250 xe tải, xe ca sẵn sàng phục vụ bộ đội chủ lực tiến công về Duyên Hải và vào Nam Bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:12:21 AM »


*
*   *

Nói đến chiến dịch Tây Nguyên, phải nói tới trận then chốt mở đầu - Buôn Ma Thuột. Nhưng sẽ là thiếu sót nếu như không nói rõ trận then chốt thứ hai diễn ra nhanh và rất gọn tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động quân số 21 làm cho địch hoang mang, rối loạn, không những ở cấp sư đoàn, quân đoàn mà còn tác động đến cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch dẫn đến sai lầm về chiến lược. Một khi đã sai lầm về chiến lược thì thất bại trong chiến tranh là điều không tránh khỏi.

Ngày 14 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu bay ra Cam Ranh để nghe Phạm Văn Phú tường trình về quân sự. Cùng đi với Thiệu còn có đại tướng Trần Thiện Khiêm và đại tướng Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng quân ngụy và trung tướng Đặng Văn Quang.

Theo tin sau này chúng tôi mới nắm được1, cuộc họp có một số diễn biến chủ yếu như sau:

Phạm Văn Phú - tư lệnh quân đoàn 2, tư lệnh quân khu 2 báo cáo với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu:

- Trình tổng thống, tôi đã cho các trung đoàn 44, 45 giải toả Buôn Ma Thuột, nhưng lực lượng cộng sản quá mạnh đã đẩy lùi được lực lượng tăng viện của chúng ta (ngụy) về phía đông quốc lộ 21. Ở Kon Tum và Plây Cu quân cộng sản đánh mạnh vào liên đoàn biệt động quân 23, hoạt động ở phía đông và phía tây, phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục. Ở phía đông quốc lộ 19 trung đoàn 95 cộng sản đánh mạnh vào liên đoàn biệt động quân 4 và thiết đoàn kỵ binh 3, đã có 12 thiết giáp bị cháy. Ở Bình Định các trung đoàn 12 và trung đoàn 2 của cộng sản nỗ lực từ phía đông để chiếm phi trường Phù Cát...

Nghe xong, Nguyễn Văn Thiệu hỏi Phạm Văn Phú:

- Trước sự kiện đó anh nghĩ sao?

Phú trả lời:

- Tôi hy vọng có thể cứu vãn được quân khu 2 với điều kiện tổng thống cho quân tăng viện.

Sau khi nghe Phạm Văn Phú báo cáo tình hình, Nguyễn Văn Thiệu quay sang hỏi tướng Cao Văn Viên:

- Còn lực lượng dự bị chi viện cho quân khu 2 không?

- Thưa tổng thống, không còn.

Nguyễn Văn Thiệu quay sang hỏi Phạm Văn Phú:

- Nếu không có quân tăng viện, anh có khả năng giữ được bao lâu?

- Nếu được tổng thống và tướng Viên yểm trợ không quân tối đa, tiếp tế bằng không quân đầy đủ về vũ khí, đạn dược tôi sẽ giữ được 1 tháng. Quân khu 2 thôi không xin tăng viện mà chỉ xin quân số bổ sung để bù tổn thất nặng nề sau trận Buôn Ma Thuột. Với trách nhiệm là tư lệnh, tôi sẽ ở lại Plây Cu và sẽ chết ở đó (!).

Nghe xong lời thề thốt của Phú, tổng thống Thiệu ngán ngẩm lắc đầu:

- Không! Không thể có quân tăng viện, không có quân bổ sung, quân viện bị cúp, đạn và tiền đều thiếu. Chúng ta đang bị tấn công mạnh ở khắp mọi nơi chứ không riêng ở quân khu 2. Địch đánh mạnh hơn năm 1968, hơn cả năm 1972. Kon Tum, Plây Cu người ít, kinh tế không có, để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, ở đấy điều kiện tiếp tế thuận lợi hơn.

Dừng hồi lâu, Nguyễn Văn Thiệu lại hỏi Cao Văn Viên:

- Rút theo đường 19 có được không?

- Thưa tổng thống, trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt...

Kế hoạch rút lui được Thiệu, Viên, Phú bàn tính rất kỹ. Thời điểm này, mọi con đường từ Tây Nguyên về đồng bằng đều bị cắt đứt chỉ còn đường số 7 - con đường còn lại duy nhất để về đồng bằng. Đường số 7 bị hư hỏng nặng vì đã bỏ từ lâu, nhất là đoạn phía đông thị xã Cheo Reo 10km trở về Phú Yên đường rất xấu, cây cối um tùm, cầu sụp nhiều nhưng sửa chữa lại có thể sử dụng được. Thiệu, Viên, Phú thống nhất rút lui theo tỉnh lộ 7 là một việc làm rất mạo hiểm nhưng họ hy vọng sẽ tạo được bất ngờ cho việc rút quân.
____________________________________
1. “55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ”. ALOEN DOWSON.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #44 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:12:59 AM »


Ngay tối ngày 14 tháng 3, Phạm Văn Phú triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại bộ tư lệnh quân đoàn 2. Vào cuộc họp, Phú nói:

- Cuộc họp bàn về vận mệnh quốc gia ở Cam Ranh hoàn toàn bí mật, chỉ có 5 người tham dự: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đại tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang và tôi (Phú) đã bàn việc rút khỏi cao nguyên...

Phạm Văn Phú vừa nói xong, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - người chịu trách nhiệm lập kế hoạch rút lui hỏi Phú:

- Ta có thông báo cho các tỉnh trưởng và các cơ quan hành chính cấp tỉnh cùng lực lượng bảo an dân vệ và dân chúng biết không?

Phú nói:

- Theo lệnh của tổng thống không được thông báo cho các tỉnh trưởng. Ai biết thì rút, không biết thì ở lại Tây Nguyên. Dùng lực lượng địa phương ở lại chống đỡ để bảo vệ cho chủ lực rút an toàn, mặt khác đó cũng là cách đánh lạc hướng sự chú ý của đối phương, giữ bí mật cho cuộc rút lui.

Thực hiện kế hoạch rút lui, Phạm Văn Phú điều các liên đoàn biệt động quân số 6 và 23 tăng cường cho lữ đoàn kỵ binh 2 bảo vệ đoạn đường từ ngã ba Mỹ Trạch đến quận Sơn Hoà, yểm trợ cho công binh sửa đường, bắc cầu, đoạn đường còn lại giao cho quân địa phương Phú Bổn và Phú Yên bảo vệ. Tuy vậy, Phú vẫn cảm thấy chưa ổn nên đã điều thêm liên đoàn biệt động quân số 7 từ Kon Tum “ưu tiên” cho rút trước để về án ngữ đoạn đường từ phía đông Cheo Reo đến đèo Tu Na. Đêm ngày 14 rạng ngày 15 tháng 3, sư đoàn 6 không quân ngụy đã chuyển cơ quan quân đoàn 2, lãnh sự quán Mỹ ở Plây Cu về Nha Trang. Tuy địch cố giữ bí mật và tiến hành nghi binh, nói là đưa quân về tái chiếm Buôn Ma Thuột nhưng hành động rút chạy vội vã của địch không thể che được mắt dân chúng và binh lính của họ. Đột nhiên thị xã Plây Cu trở nên hỗn loạn, giá vé máy bay Plây Cu đi Sài Gòn tăng vọt. Dân chúng đã biết cuộc rút chạy của quân đoàn 2, nên cũng vội vã hò nhau chạy theo.

Về phía ta, tối ngày 15 tháng 3, anh Văn Tiến Dũng gọi điện thông báo Bộ tư lệnh chiến dịch biết có hiện tượng địch rút bỏ Kon Tum, Plây Cu. Tiếp đến từ Hà Nội, Bộ Tổng tư lệnh cũng điện cho Bộ tư lệnh chiến dịch: Sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 2 và lãnh sự quán Mỹ đã chuyển về Nha Trang. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã gợi ý cho Bộ tư lệnh chiến dịch nên nghĩ đến khả năng địch buộc phải rút bỏ Tây Nguyên.

Sáng ngày 16 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch vừa triển khai kế hoạch đánh sư đoàn 23 trên đường 21 vừa làm kế hoạch đánh địch rút chạy trên đường số 7. Cùng ngày đài quan sát của ta phát hiện và báo cáo sở chỉ huy chiến dịch từng đoàn xe địch đủ loại hàng trăm chiếc nối nhau từ ngã ba Mỹ Trạch chạy về Phú Bổn. Được tin trên, Bộ tư lệnh chiến dịch điện ngay cho anh Kim Tuấn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 xác minh hiện tượng trên.

Lúc này, trung đoàn 48 ở Thuần Mẫn, trung đoàn 9 ở Phú Nhơn; trung đoàn 64 (thiếu tiểu đoàn 9) đang truy kích địch ở Chư Pao, Đạt Lý; trung đoàn 95B đang làm dự bị cho Sư đoàn 10 ở đường 21. Như vậy, cả Sư đoàn 320 chỉ có tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 là bố trí ở tây Cheo Reo 7km theo đường bản đồ.

Đêm ngày 16 tháng 3, tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 được lệnh cơ động ngay trong đêm, ngày 17 phải có mặt ở phía nam Cheo Reo nổ súng chặn địch. Nhận được lệnh, tham mưu trưởng sư đoàn Ngô Huy Phát (lúc này đang chỉ huy tiểu đoàn 9 và một bộ phận của trung đoàn 48 làm công tác chuẩn bị phương án tiến công thị xã Cheo Reo), không còn thời gian để tính toán anh chỉ thị cho chỉ huy tiểu đoàn 9 cho bộ đội hành quân. Thời gian gấp rút, đường xa, đèo dốc khó đi, trời lại tối nhưng các chiến sĩ tiểu đoàn 9 Sư đoàn Đồng Bằng hiểu rõ giá trị của thời cơ, anh em đã tìm nứa khô đốt đuốc, soi đường vượt qua rừng khoọc, tắt qua dãy núi đá tai mèo để đến nhanh đường 7. Cuộc chạy đua với địch của chiến sĩ tiểu đoàn 9 diễn ra khẩn trương, quyết liệt. Đến 16 giờ ngày 17 tháng 3, đại đội 11 tiểu đoàn 9 đã đến đường số 7 ở phía đông nam Cheo Reo 4km.

Trong đêm ngày 16, anh Đặng Văn Khoát - phó chủ nhiệm hậu cần chiến dịch trực tiếp điều động 110 xe ô tô chở Sư đoàn 320 đang làm nhiệm vụ hướng Buôn Ma Thuột về Thuần Mẫn. Thiếu ô tô, bộ đội tổ chức chạy bộ, ô tô quay lại đón bộ đội dọc đường.

Tiếp theo tiểu đoàn 9 là toàn bộ trung đoàn 64, sau trung đoàn 64 là trung đoàn 48 và các đơn vị còn lại của Sư đoàn 320.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:14:32 AM »


Sáng ngày 17 tháng 3, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn nhưng đại bộ phận tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 ngụy vẫn chưa chạy thoát. Trên đường 7 hàng nghìn xe đủ loại nối đuôi nhau ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn ra cả hai bên đường. Đoàn xe địch qua khỏi Cheo Reo khoảng 4km gặp trận địa phục kích đầu tiên của tiểu đoàn 9. Bộ đội chưa kịp đào cộng sự, lợi dụng gốc cây ụ mối nổ súng. Đang cơn hoảng loạn, nghe tiếng súng của ta, cả đoàn xe địch nhào ra hai bên đường chạy vào rừng. Một số tên lái nhảy ra khỏi xe chạy bộ về Cheo Reo.

Tại thị xã Cheo Reo, lúc này quân khu 2 đã biến thành tuyến trung chuyển để đặt sở chỉ huy hành quân và điều hành việc rút chạy. Do đường chưa sửa xong, lại bị quân ta chặn đánh, thị xã Cheo Reo người chật ních và ước chừng khoảng 2.000 xe các loại đậu kín mặt đường và có khoảng hơn một vạn tên địch, dựng lều bạt nằm ngổn ngang tràn ra cả sân bóng.

Mờ sáng ngày 18 tháng 3, địch củng cố lại đội hình dùng 2 thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 ngoan cường nổ súng dữ dội vào đoàn xe địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi thuộc đại đội 9 tiểu đoàn 9 bắn 2 quả B40 diệt 2 xe bọc thép địch. Bọn địch ùn lại, hoảng sợ chạy tán loạn. Hợi chỉ huy tiểu đội vừa chiến đấu vừa kêu gọi địch đầu hàng. Trong hai ngày 18 và 19 tháng 3, chỉ tính riêng tiểu đội Nguyễn Vi Hợi đã diệt 40 tên bắt 46 tù binh, bắn cháy 9 xe tăng, xe bọc thép. Riêng Hợi diệt 21 tên địch, bắn cháy 6 xe bọc thép, bắt sống 6 xe bọc thép khác1.

11 giờ ngày 18 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo. Được pháo binh chi viện, trung đoàn 48 mở đợt tiến công vào sân bay, toà hành chính, khu cố vấn Mỹ, tiểu khu Phú Bổn, trại lính “Ngô Quyền”, ty cảnh sát, ty chiêu hồi, đài phát thanh. Cầu Ea Nu bắc qua sông Ba bị xe tăng địch tranh nhau vượt qua. Cầu sập, địch cho xe chạy bừa, bãi sông biến thành bãi xác xe. 13 giờ ngày 18, Phạm Văn Phú điện cho Phạm Duy Tất: “Mở đường máu mà thoát thân, xe không đi được thì phá xe, bỏ qua mọi tình huống mà chạy, lấy Củng Sơn làm tụ điểm”. Tất bất lực trước sự tổn thất quá nặng nề, gần như tan rã, thất thểu leo lên máy bay chuồn về Nha Trang bỏ lại quân lính.

18 giờ ngày 18 tháng 3, Sư đoàn 320 hoàn toàn làm chủ thị xã Cheo Reo.

Ngày 21 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 64 đuổi kịp lực lượng rút chạy trước của địch và vây diệt chúng ở Phú Túc. Ngày 22 tháng 3, trung đoàn 64 diệt địch ở Ga Pui. Ngày 23 tháng 3, trung đoàn 64 tiến sát Củng Sơn.

Tại Củng Sơn, địch ùn lại khoảng 6.000 tên, đủ các sắc lính, cùng 40 xe tăng, thiết giáp.

Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ra lệnh cho tiểu đoàn 96 và tiểu đoàn 13 tỉnh Phú Yên chặn đường rút chạy của địch ở phía đông Củng Sơn.

12 giờ ngày 24 tháng 3, trung đoàn 64 và bộ đội tỉnh Phú Yên từ ba hướng tiến vào Củng Sơn. Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân ta, đội quân ô hợp rối loạn, chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng bị tiêu diệt, tan rã. 18 giờ ngày 24 tháng 3, Củng Sơn được hoàn toàn giải phóng.

Sau khi Cheo Reo giải phóng, ngày 20 tháng 3 năm 1975, Uỷ ban quân quản thị xã Cheo Reo ra mắt nhân dân (gần 2.000 đồng bào tham dự anh Siu Pui - phó bí thư tỉnh uỷ làm chủ tịch, anh Hoàng Lâm tức Võ Tịch ) làm phó chủ tịch và một số uỷ viên. Anh A Ma Quang - khu uỷ viên được Thường vụ Khu uỷ Khu 5 phái vào tăng cường chỉ đạo địa phương ở hướng Cheo Reo, đường số 7.

Uỷ ban quân quản và các lực lượng tiếp quản đã tổ chức tốt công tác thu dọn chiến trường, giải quyết các hậu quả do địch để lại, giữ gìn trị an... bước đầu ổn định ăn ở cho dân. Hơn 2 vạn nhân dân Kon Tum, Plây Cu chạy theo địch dồn tại đây được bộ đội và nhân dân địa phương nhường cơm, sẻ áo. Có những gia đình ly tán, chạy lạc vào rừng, anh em cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 320 đã tận tình giúp đỡ. Riêng tiểu đội Nguyễn Vi Hợi đã tìm được hơn 200 người dân lạc trong rừng. Anh em giúp đỡ người già, trẻ em từ nước uống, viên thuốc chữa bệnh, chia sẻ nắm cơm, gói gạo sấy... rồi giải thích cho họ trở về quê cũ. Uỷ ban quân quản đảm bảo về lương thực, thực phẩm và bố trí phương tiện chuyên chở hơn hai vạn người dân Kon Tum, Plây Cu trở về quê hương. Cùng thời gian, Sư đoàn 320 đánh địch trên đường số 7, sư đoàn 10 diệt địch ở Phước An. Ngày 17 tháng 3, trung đoàn 29 Sư đoàn 968 cùng lực lượng vũ trang địa phương. tỉnh Kon Tum tiến vào giải phóng thị xã Kon Tum. Trung đoàn 95A ngược đường 19 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tiến vào giải phóng thị xã Plây Cu.

Trên đường 21, ngày 23 tháng 3, Sư đoàn 10 và trung đoàn 25 đánh chiếm Khánh Dương, diệt và làm tan rã trung đoàn 40 thuộc sư đoàn 22 ngụy và 4 tiểu đoàn bảo an. Ở Quảng Đức ngày 24 tháng 3, trung đoàn 271 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công giải phóng thị xã Gia nghĩa.

Cả vùng Tây Nguyên bao la được giải phóng.
___________________________________
1. Nguyễn Vi Hợi quê ở Phú Khê, Sông Thao, Phú Thọ, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15 tháng 1 năm 1976. Hiện công tác tại Quân khu 2, quân hàm thượng tá.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:15:22 AM »


Tương quan lực lượng trên chiến trường về mặt chiến lược lúc này nghiêng hẳn về phía cách mạng. Lực lượng chiến lược ngụy suy yếu nghiêm trọng, đột biến và đang tan rã lớn. Toàn miền Nam địch có 4 quân khu thì quân khu 2 và quân đoàn 2 bị đánh thiệt hại nặng nhất buộc phải rút khỏi địa bàn chiến lược Tây Nguyên, khả năng trước mắt của địch không đủ sức phản kích chiếm lại Tây Nguyên, mà chủ yếu co cụm lập phòng tuyến ngăn chặn ta, trọng điểm là Nha Trang, Cam Ranh để giữ an toàn vùng Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Địch vội vã rút lực lượng dự bị chiến lược khỏi Trị - Thiên, đưa lữ đoàn dù số 3 lập lá chắn ngăn chặn ta ở đèo Ma Đrắc hiểm trở.

Trước sự tiến công của Quân đoàn 2 và lực lượng vũ trang địa phương Trị - Thiên địch buộc phải rút khỏi Quảng Trị và bắt đầu “di tản” Huế. Thừa thắng, Quân đoàn 2 và bộ đội địa phương Quân khu Trị - Thiên đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài đánh chiếm cửa Thuận An, Tư Hiền và từ ba mặt tiến vào giải phóng thành phố Huế. Ở Quân khu 5, Sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt địch cùng lực lượng địa phương giải phóng Tuần Dương, Tam Kỳ. Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Đà Nẵng đang bị bao vây bốn mặt, cô lập và rối loạn. Ở Nam Bộ, Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 đánh chiếm Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai và đang tiến về Lâm Đồng. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng và các vị trí địch ở Bến Củi, Cầu Khởi, suối Ông Hùng, ngã ba Đất Sét. Ở Tây Nguyên, mặc dù cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt liên tục, song các đơn vị vẫn còn sung sức, bám sát địch. Cán bộ, chiến sĩ phấn chấn, tin tưởng, khí thế thi đua lập công tốt. Qua chiến đấu các trung đoàn chủ lực của ta có thêm kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng đánh thành phố. Hậu cần dồi dào, đủ sức bảo đảm cho bộ đội ta phát triển. Thời tiết đang là mùa khô rất thuận lợi cho việc cơ động bộ đội và công tác vận chuyển.

Ngày 21 tháng 3, tại sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh, anh Văn Tiến Dũng truyền đạt lệnh giao nhiệm vụ bổ sung của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên như sau: “Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3 trục đường 19, 7, 21, giải phóng Phú Yên, Khánh Hoà, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ đoàn 3 ở đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc và tiến xuống giải phóng Nha Trang, Cam Ranh”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công trên 3 hướng xuống các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ.

Ngày 29 tháng 3, trung đoàn 19 Sư đoàn 968 và trung đoàn 95A tiến xuống Bình Định hợp điểm với Sư đoàn 3 Quân khu 5. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu 5, sau 3 ngày chiến đấu Sư đoàn 3, Sư đoàn 968 và trung đoàn 95A đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu). Đây là sư đoàn chủ lực cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy bị xoá sổ. Thừa thắng, 13 giờ ngày 31 tháng 3 quân và dân Bình Định tiến công thị xã Quy Nhơn. Đến 16 giờ ngày 1 tháng 4 năm 1975, thị xã Quy Nhơn được giải phóng.

Cùng lúc, tiểu đoàn 2 trung đoàn 95A vượt biển đánh chiếm và giải phóng các đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu.

Cánh quân thứ hai, ngày 28 tháng 3 Sư đoàn 320 đã có mặt ở vị trí tạm dừng miền tây tỉnh Phú Yên. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Sư đoàn Đồng Bằng vác đạn, tải thương, dẫn đường.

Ngày 31 tháng 3, được du kích đưa đường, phối hợp chiến đấu, tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 tiến công Hòn Một. Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hoà Xuân.

5 giờ sáng ngày 1 tháng 4, các mũi tiến quân của Sư đoàn 320 bắt đầu đánh chiếm Tuy Hoà. Sau 45 phút chiến đấu, ta chiếm được ngã năm, trung đoàn 48 đánh chiếm căn cứ Chóp Chài, phát triển thành 2 mũi dọc đường số 1 và ven biển, tiến công sân bay Đông Tác.

6 giờ 48 phút, trung đoàn 48 vượt sông Đà Rằng đánh chiếm ty cảnh sát, tiểu khu Phú Yên, một mũi đánh vào sân bay. Từ hướng nam trung đoàn 64 và tiểu đoàn 13 bộ đội địa phương diệt địch ở Hoà Hiệp.

9 giờ ngày 1 tháng 4, quân ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu trong thị xã Tuy Hoà.

Trên biển, địch cướp thuyền đánh cá của dân chạy ra khơi lên tàu tẩu thoát. Được bà con ngư dân giúp đỡ Sư đoàn 320 dùng thuyền đuổi theo truy kích địch.

Ở khu vực sân bay, hàng trăm tên địch chui rúc trong hầm ngầm đụn cát lần lượt ra hàng. Trung đội trưởng Đàm Việt Hùng đại đội 9 tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 dẫn đầu mũi truy kích địch ra tận bãi biển Đông Tác. Tại đây trung đội của anh đã bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - phó tư lệnh quân đoàn 2, tư lệnh chiến trường Phú Yên. Ở một địa điểm khác, chiến sĩ ta bắt được viên đại tá Vi Văn Bình trong khi đang cải dạng chạy trốn. Đây là lần thứ hai sau ba năm (lần thứ nhất ở Đắc Tô - Tân Cảnh), viên đại tá này bị bộ đội Tây Nguyên bắt làm tù binh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:16:09 AM »


Cánh quân thứ ba gồm Sư đoàn 10, trung đoàn bộ binh 25, trung đoàn pháo binh 40, xe tăng trung đoàn 273 sau khi giải phóng Khánh Dương được lệnh tiến đánh lữ dù 3 ở đèo Ma Đrắc - Phượng Hoàng mở đường xuống giải phóng Ninh Hoà, Nha Trang, Carn Ranh.

Sau khi chiếm đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc đại tá Văn Bá Ninh - lữ đoàn trưởng lữ dù 3 đã cho bắt tay ngay vào củng cố các chốt bảo an có sẵn và đào thêm công sự. Chúng bố trí trận địa pháo ở các eo núi để ta khó phát hiện. Xe tăng, xe thiết giáp được chúng “phòng ngự dư tản”, lấy đại đội làm đơn vị đóng chốt. Khi phát hiện được lực lượng ta, chúng dùng pháo binh và không quân sát thương. Với thủ đoạn này quân dù hy vọng sẽ tiêu hao và ngăn chặn được ta mà chúng không bị tiêu diệt.

Để tiêu diệt lữ đoàn dù, đập tan lá chắn phía tây Ninh Hoà, Bộ tư lệnh chiến dịch phân công tôi và anh Vũ Lăng trực tiếp đốc chiến Sư đoàn 10. Ngày 25 tháng 3, chúng tôi đã có mặt tại sở chỉ huy Sư đoàn 10. Chúng tôi thống nhất phương án tiêu diệt lữ đoàn dù 3 như sau: Tiêu diệt gọn lữ đoàn dù 3 bằng nhiều trận, tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn địch, thực hiện cài thế bằng lực lượng vây ở phía đông đèo Phượng Hoàng, kết hợp chặt chẽ đột phá chính diện với bao vây chia cắt đánh hai bên sườn, chủ động khắc phục khó khăn phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, giành cho được thế chủ động bất ngờ. Quyết tâm của chúng tôi là cố gắng đánh nhanh diệt gọn lữ đoàn 3, nhưng ta ít thương vong để có lực lượng phát triển ngay xuống đồng bằng. Thế mạnh của lữ đoan dù số 3 trong phòng ngự chính là chúng chiếm được địa hình đường đèo hiểm hóc, lại được 24 khẩu pháo chi viện.

Sáng ngày 29 tháng 3, mở đầu cuộc tiến công tiêu diệt lữ đoàn 3 là trận đấu pháo ác liệt giữa pháo binh ta và pháo binh địch làm rung chuyển cả vùng đường đèo dài hơn 10 km. Những khẩu pháo ta vừa thu được ở Buôn Ma Thuột và những xe đạn pháo từ kho Mai Hắc Đế được chuyển đến đã giáng xuống các trận địa pháo của lữ dù 3 những đòn sấm sét. 12 khẩu pháo của địch đã bị phá huỷ, phá hỏng. Sức chi viện hoả lực của địch bị giảm đi một nửa, bộ binh địch bắt đầu co cụm. Nắm thời cơ lúc địch đang điều chỉnh đội hình, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 ra lệnh cho các trung đoàn bộ binh và xe tăng của ta đột phá vào đội hình phòng ngự của địch. Quân dù không được hoả lực pháo binh chi viện, lại bị quân ta tiến công diệt từng đơn vị; chúng tìm cách co cụm lại chóng đỡ nhưng lúc nay các trung đoàn của ta đã cắt quân địch ra từng mảng. Tinh thần sĩ quan, binh lính dù bắt đầu dao động, hoảng loạn.

Ngày 1 tháng 4, giữa lúc Sư đoàn 320 giải phóng thị xã Tuy Hoà, thì tại khu vực đèo Phượng Hoàng các chiến sĩ Sư đoàn 10, trung đoàn 25 và xe tăng ta mở đợt tiến công vào toàn bộ các cụm quân của lữ dù 3. Sau 2 giờ chiến đấu lữ dù 3 hoàn toàn bị tiêu diệt. Cánh cửa “thép” Phượng Hoàng - Ma Đrắc - phòng tuyến phía tây Ninh Hoà bị đập tan. Bộ đội ta tràn xuống giải phóng thị trấn Ninh Hoà. Cả Sư đoàn 10 bừng bừng khí thế tiến về đồng bằng.

Đơn vị nào có xe thì hành quân xe, không có xe thì hành quân bộ. Khó có thể nói hết niềm vui sướng của cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên khi hành quân đến đỉnh đèo Phượng Hoàng. Phía trước đã nhìn thấy biển Đông, để lại phía sau là cả một vùng cao nguyên bao la vừa được giải phóng... Trên vai nặng trĩu trang bị, chân rộp phồng sau nhiều ngày hành quân đuổi địch nhưng ai nấy đều hăng hái, đi nhanh như nhạy.

Sáng ngày 2 tháng 4, trung đoàn 24 và tiểu đoàn 3 trung đoàn 28 cùng xe tăng, pháo binh tiến vào quận lỵ Ninh Hoà. Lực lượng vũ trang địa phương xa nhân dân Ninh Hoà được bộ đội hỗ trợ đã nổi dậy giành quyền làm chủ. Cả thị trấn Ninh Hoà đỏ rợp cờ sao. Nhân dân đã ra đứng chật hai bên đường vẫy cờ hoa, reo mừng đón bộ đội cách mạng.

13 giờ ngày 2 tháng 4, lực lượng đột kích binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 do anh Vũ Đình Thước - Tham mưu phó sư đoàn chỉ huy theo đường số 1 tiến về thành phố Nha Trang.

Tại Nha Trang, sang ngày 1 tháng 4, được tin lữ dù 3 thua trận, tuyến phòng thủ đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc bị phá vỡ, Phạm Văn Phú vội vã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp, tìm cách “tử thủ” Nha Trang. Ngoài Phú còn có chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - tư lệnh sư đoàn không quân 6 và viên sĩ quan chỉ huy trường hạ sĩ quan Đồng Đế. Một số sĩ quan có mặt lúc đó, sau bị bắt khai rằng: gọi là họp nhưng thực chất chỉ nghe tướng Phú phán lệnh thiết quân luật 24 trên 24 giờ trong ngày, gập rút củng cố lại các trận địa phòng thủ, thu gom tàn quân thành lập các đơn vị mới, bổ sung súng đạn cho các đơn vị bảo an, dân vệ. Đồng thời ông ta quyết định thành lập mặt trận Nha Trang và cử Phạm Quốc Thuần làm tư lệnh. Họp xong, Phạm Văn Phú cùng một số sĩ quan tuỳ tùng dùng máy bay lên thẳng thị sát chiến trưòng. Ông ta dùng máy bộ đàm mà vẫn không liên lạc được với một đơn vị đồn trú nào. Phú bay thẳng về Phan Rang, không xuống Nha Trang như dự định.

Bất chấp lệnh giới nghiêm của Phú, nhân viên hành chính ngụy quyền bỏ nhiệm sở, quân lính ngụy về nhà lo di tản vợ con gia đình. Lính dù, lính biệt động thua trận ùn ùn đổ về Nha Trang cùng hơn một ngàn tên quân phạm vừa phá ngục ra, chúng tranh giành xe cộ, cướp giật của dân làm cho thành phố trở nên hỗn loạn.

17 giờ ngày 2 tháng 4, sau khi đánh tan các chốt của địch ở đèo Ro Tượng, đèo Rù Rì, lực lượng binh chủng họp thành của Sư đoàn 10 bắt đầu vượt cầu Xóm Bóng tiến vào thành phố. Các ổ đề kháng cuối của quân đoàn 2 ngụy đã bị tiêu diệt. Đoàn xe chở bộ đội tiến đến đâu trật tự ở đó được thiết lập. Nhân dân thanh phố biển Nha Trang vây quanh những xe chở bộ đội tặng chiến sĩ ta trái cây, nước ngọt...

Thừa thắng, sáng ngày 3 tháng 4, lực lượng đột kích của Sư đoàn 10 theo đường số 1 tiến về phía nam. Địch cho máy bay ném bom, bắn phá ác liệt chặn đường. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Mịch, đại đội 72 trung đoàn 234 quê Hoàng Thanh, Hiệp Hòa, Hà Bắc, bằng một quả đạn A72 đã bắn rơi tại chỗ 1 máy bay A37, bắt sống giặc lái. Cùng thời gian trên, tiểu đội phó Đỗ Văn Lý đại đội 72 trung đoàn 234 quê Khu 1. Việt Trì, Phú Thọ sử dụng 1 quả đạn bắn rơi tại chỗ 1 máy bay A37. Những ổ đề kháng ở hai bên đường liên tiếp đánh vào đội hình quân ta. Vượt qua ác liệt hy sinh, lực lượng đột kích của ta vẫn nhằm hướng quân cảng Cam Ranh xốc tới.

14 giờ ngày 13 tháng 4 năm 1975, Cam Ranh - quân cảng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất của Tổ quốc ta đã hoàn toàn được giải phóng, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975. 16 giờ chiều hôm đó, tôi, anh Hồ Đệ - Sư đoàn trưởng và anh Lã Ngọc Châu - Chính uỷ Sư đoàn 10 đã có mặt tại quân cảng Cam Ranh vừa chia vui với bộ đội vừa hướng dẫn anh em phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ những thiết bị, kho tàng trong căn cứ và nhanh chóng củng cố lực lượng để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mới...

   
Thượng tướng ĐẶNG VŨ HIỆP
   (Trích từ cuốn “Ký ức Tây Nguyên”:
   LÊ HẢI TRIỀU thể hiện – QĐND, H.:2002)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #48 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:24:28 AM »


ĐOÀN 559 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN1


Tết đến rồi ào qua như cơn gió. Trở về sở chỉ huy, tôi trực tiếp liên lạc với Tiền phương Bộ Tư lệnh. Anh Nguyễn Lang phấn khởi báo cáo: Từ cuối tháng 1, trên hướng bắc Buôn Ma Thuột, theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn 575 - đơn vị vừa được thành lập lâm thời để làm đường chiến dịch, đã tập trung mở mới các trục đường 48, 50, 50B... với tổng chiều dài 60 cây số, đảm bảo cơ động được cả xe tăng, pháo hạng nặng.

Đường được mở theo kiểu “lấn dũi” từ ngoài vào, làm đến đâu ngụy trang cẩn mật đến đó. Đến ngày 4 tháng 3, trục đường do Trung đoàn 575 mở từ hướng bắc đã vào đến bản Kơ Hia, cách thị xã Buôn Ma Thuột chừng 20 cây số, mà kẻ địch không hay biết gì. Lực lượng, thiết bị kỹ thuật đã chuẩn bị để hoàn thành 20 cây số còn lại trong khoảng một ngày đêm, khi có lệnh.

Cùng thời gian này, Sư đoàn ô tô 571 dốc toàn lực gồm 17 tiểu đoàn xe với hơn 2.600 chiếc, vận chuyển 20.000 tấn hàng, chủ yếu là gạo, đạn pháo vào cụm kho ở Phi Hà (khu vực ba biên giới).

Ở tuyến trong, Sư đoàn 471 huy động tổng lực xe chuyển hơn 10 nghìn tấn vật chất vào các cụm kho K20, K40, phía tây bắc và tây nam Buôn Ma Thuột (chủ yếu là đạn pháo, phụ tùng xe tăng, pháo, khí tài, thông tin... ) phục vụ chiến dịch Tây Nguyên: cơ động Sư đoàn 968 vào tây nam Plây Cu thay Sư đoàn 10 làm nhiệm vụ tác chiến nghi binh chiến dịch.

Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, vào đầu tháng 3, Bộ Tư lệnh Trường Sơn điều động Trung đoàn 232 và Trung đoàn 546 pháo cao xạ, Trung đoàn 49 thông tin, tiểu đoàn 55 ô tô trực tiếp phục vụ chiến dịch. Và trước giờ mở màn chiến dịch, Sư đoàn phòng không 377 cũng được tung vào dàn đội hình bảo vệ lực lượng của ta tham chiến ở các khu vực Kon Tum, Plây Cu, Đức Lập, Buôn Ma Thuột.

Bộ đội xăng dầu Trường Sơn - chủ lực quân là Trung đoàn đường ống 537 khẩn trương thi công tuyến ống dài 28 cây số, từ Đắc Đạm (phía tây) sang Đức Lập, đồng thời lắp đặt tại Đức Lập một trạm cấp phát có trữ lượng 100 mét khối. Mục tiêu bảo đảm xăng dầu cho chiến dịch là không dưới 1.000 tấn.

Như vậy là, vào đầu tháng 3, các lực lượng thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn tham gia chiến dịch Tây Nguyên đã sẵn sàng cao độ. Cơ sở vật chất hậu cần - kỹ thuật, đã chuyển giao cánh nam chiến dịch 10.000 tấn, cánh bắc là 15.000 tấn. Anh Nguyễn Lang gọi điện thông báo với tôi rằng: Bộ Tư lệnh B3. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đánh giá cao công tác chuẩn bị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn cả về bảo đảm chiến lược, chiến dịch, cả về bảo đảm vật chất hậu cần – kỹ thuật, cả lực lượng chiến đấu. Với lượng vật chất hiện có, Bộ Tư lệnh Tây Nguyên có thể yên tâm tới hết năm 1975.

Cũng trong thời điểm này, tôi nhận điện của anh Đinh Đức Thiện “mật báo”: Anh Tuấn (anh Văn Tiến Dũng) đã gửi điện cho Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, khen quân hậu cần làm ăn giỏi. Sau này tôi có được xem nội dung bức điện đó. Anh Dũng nói: Tuyến 559 đã xây dựng được mạng đường chiến lược và đường chiến dịch liên hoàn; tạo được khối lượng vật chất để bảo đảm cho năm 1975 và cả cho khi thời cơ phát triển. Đồng thời lại xây dựng được lực lượng phòng không, bộ binh mạnh, để tham gia chiến dịch.

Do công tác chuẩn bị tốt, giữ được bí mật mà ta có đủ yếu tố cần thiết để giữ quyền chủ động trong quá trình tiến công chiến lược. Đó là lực lượng vật chất hùng hậu, hậu cần đủ và nhanh, đường sá và phương tiện bảo đảm khả năng cơ động lớn.


Phấn khởi trước những kết quả bước đầu của toàn tuyến. Nhưng dẫu sao cũng mới chỉ là bước chuẩn bị. Tất cả nén lòng chờ ngày nổ súng.

Cũng chính vào thời khắc căng thẳng trong sôi động này, ngày 5 tháng 3, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chia tay anh Hoàng Thế Thiện được Bộ Chính trị điều vào giữ chức Chính uỷ Quân đoàn 4 - lúc đó anh Hoàng Cầm là Tư lệnh.

Có quyết định, anh Thiện vào quân đoàn ngay. Chia tay chúng tôi, anh hóm hỉnh nói: Mấy năm Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã qua mấy đời Chính ủy, nhưng Tư lệnh Nguyên thì vẫn còn Nguyên.

Xiết chặt tay anh Thiện, tôi xúc động nói:

- Đời hoạt động cách mạng của anh em ta là tiếp nối những chuyến ra đi. Chẳng cuộc chia tay nào giống cuộc chia tay nào. Nhưng có đi mới có đến. Mong chóng đến ngày gặp anh tại Sài Gòn.

Sau khi anh Thiện vào Quân đoàn 4, anh Lê Xy được trên bổ nhiệm giữ chức Chính uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Với Mặt trận Tây Nguyên trước ngày “trở dạ”, lúc này dẫu cho Sư đoàn 968 đã chuyển thuộc Bộ Tư lệnh chiến dịch. Nhưng chúng tôi vẫn dõi theo từng “đường đi nước bước” của những cán bộ, chiến sĩ yêu quý của mình.
__________________________________
1. Tên bài do nhóm biên soạn đặt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #49 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 10:25:16 AM »


Mười ngày đầu tháng 3, Sư đoàn 968 đã thực hiện xuất sắc vai trò nghi binh thay Sư đoàn 10, hút lực lượng địch về hướng bắc Tây Nguyên. Bằng nhiều hình thức nghi binh lừa địch, đặc biệt với đòn tiến công uy hiếp tuyến phòng thủ của địch ở Plây Cu, Kon Tum. Sư đoàn 968 và các lực lượng vũ trang địa phương không chỉ giam chân một lực lượng lớn của địch ở bắc Tây Nguyên, mà còn góp phần “củng cố” thêm nhận định “sai lầm chết người” của đội ngũ tướng tá quân đội Sài Gòn, đặc biệt là Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 ngụy rằng: Hướng tiến công của ta là Plây Cu, Kon Tum. Trên cơ sở đó, ta có điều kiện và thời cơ tiến công Buôn Ma Thuột theo phương án địch không có lực lượng phòng ngự dự phòng.

Ở hướng chính, thực hiện yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đúng 23 giờ ngày 9 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 575 khai thông trục đường 50B, hai nhánh 50C, 50D chọc thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột và tổ chức xong đội hình công binh hộ tống xe tăng.

Ngày 10 tháng 3, ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Theo yêu cầu tác chiến chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 575 hợp sức cùng Trung đoàn công binh 7 Mặt trận Tây Nguyên bảo đảm cho đội hình binh chủng hợp thành tiến công địch, giành thắng lợi.

Bộ đội vận tải vừa cơ động bộ đội, vừa vận chuyển kịp thời đạn pháo cho các đơn vị chiến đấu.

Bộ đội xăng dầu vừa cấp phát, giải phóng xe ở những trạm cây xăng, vừa bố trí một số xe xi-téc cơ động bảo đảm xăng dầu cho các lực lượng xe pháo tham gia chiến dịch.

Cuộc tiến công đồng loạt của ta trên khắp chiến trường Tây Nguyên, đặc biệt là đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột đã làm cho quân địch ở Tây Nguyên tan vỡ nhanh chóng. Để bảo toàn lực lượng, địch quyết định bỏ Tây Nguyên, rút thật nhanh theo đường số 7 về co cụm giữ duyên hải miền Trung.

Nhận lệnh của anh Văn Tiến Dũng, Bộ Tư lệnh chỉ thị cho Sư đoàn 471 tổ chức lực lượng cơ động bộ binh truy kích địch rút chạy theo đường số 7 và cơ động Sư đoàn 320 tiến theo đường 14 đuổi địch đến Buôn Hồ, Đạt Lý.

Ngày 25 tháng 3 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên – đòn công phá của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 toàn thắng. Tây Nguyên hoàn toàn được giải phóng.

Chiến thắng vang dội Tây Nguyên đã tạo nên sự sụp đổ đột biến cả về tinh thần và thế bố trí chiến lược của địch. Từ đây, địch bị dồn vào thế bị tiêu diệt và tan rã không sao cứu vãn nổi.

Lúc này, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh, tôi gọi điện cho anh Nguyễn Lang, giao cho tiền phương Bộ Tư lệnh nhanh chóng tiếp quản vùng giải phóng. Sở chỉ huy tiền phương chuyển vào đóng ở thị xã Buôn Ma Thuột, trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 470 tiếp thu kho tàng - chủ yếu là cụm kho Mai Hắc Đế của quân ngụy, khai thác chiến lợi phẩm bổ sung cho chiến trường; đồng thời triển khai ngay lực lượng bảo vệ vùng giải phóng Kon Tum, Plây Cu.

Sau khi vào tiếp quản vùng giải phóng, anh Nguyễn Lang đã huy động ngay ô tô chuyển gấp một số hàng hóa dân sinh cứu tế cho đồng bào gặp khó khăn.

Theo chỉ thị của Bộ, chúng tôi kịp thời thành lập Trung đoàn 655 làm nhiệm vụ quản giáo hàng vạn sĩ quan, binh lính ngụy bị ta bắt trong chiến dịch Tây Nguyên.

Điện giao nhiệm vụ cho Tiền phương Bô Tư lệnh xong, tôi trao đổi với các anh trong Bộ Tư lệnh: Với chiến dịch Tây Nguyên, bộ đội Trường Sơn thật sự là những người  “đi trước về sau”. Chúng ta có mặt từ những ngày đầu mở đầu vận chuyển bảo đảm vật chất hậu cần – kỹ thuật, tham gia tác chiến chiến dịch, tiếp quản vùng giải phóng và giải quyết hậu quả sau chiến dịch.

Sau này cần nghiên cứu, tổng kết như một chiến dịch điển hình.

   
Trung tướng ĐỒNG SĨ NGUYÊN
   (Trích từ cuốn “Đường xuyên Trường Sơn”:
   DUY TƯỜNG KỲ VĂN thể hiện – QĐND, H:2001)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM