Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Năm, 2020, 06:41:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông  (Đọc 55552 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:59:01 am »

      Chợt anh lái xe nhìn tôi, rồi từ đó, tay lái anh ta run rẩy, xe chạy trên đường không chuẩn, cứ vừa lái vừa nhìn tôi Thấy không ổn, tôi lại cho đoàn xe dừng lại, gọi đồng chí Lạc lên ngồi xe tôi để tôi ngồi lên xe đồng chí ấy. Lạc không hiểu chuyện gì.

     Đến dinh Tỉnh trưởng đã thấy quân quan chính quyền tỉnh Bình Dương xếp hàng ngay ngắn ở sân. Một tên sĩ quan báo cáo:

     - Thưa ngài, xin ngài nhận bàn giao kho tàng tài liệu các công sở.

     Tôi nói:

     - Các anh không phải bàn giao. Bây giờ chúng tôi không bắt giữ ai cả. Các anh đi ra.

     Vào dinh Tỉnh trưởng, tôi lệnh cho Tiểu đoàn 1 , 2 Phú Lợi bộ phận đi với tôi:

     - Các đồng chí chiếm lĩnh tiếp thu tất cả công sở kho tàng, tài liệu báo cáo với tỉnh, anh Một Hữu sắp vào đến đây.

     Sang căn cứ công binh, Trung đoàn 165 vừa tới. Ở đây, sĩ quan binh lính ngụy cũng xếp hàng ngay ngắn và một người đứng ra báo cáo:

     - Thưa ngài, chúng tôi xin bàn giao.

     Tôi trả lời:

     - Các anh không phải bàn giao. Chúng tôi không bắt các anh. Giải tán đi.

     Họ nhớn nhác, chẳng hiểu ra làm sao, rồi nhanh chóng giải tán.

     Tôi lệnh cho Trung đoàn 165 kiểm soát tất cả các kho tàng, quản lý khu nhà cao tầng chuẩn bị cho cơ quan sư đoàn làm việc. Đám hàng binh bên dinh Tỉnh trưởng cũng chạy hết ra thị xã, khi tôi trở lại chẳng còn thấy tên nào lảng vảng. Các trung đoàn và cả bên tỉnh đội bắt được rất nhiều tù binh. Anh em hỏi tôi tập trung tù binh ở đâu? Chúng đói, lấy gạo, thực phẩm ở đâu, ai nấu cho chúng ăn? Tôi ra lệnh thả tất, chỉ giữ lại từ cấp tá trở lên. Ở dưới báo cáo rằng, thả nó không chạy, nó cứ đi theo ta mỗi giờ càng thêm đông, giải quyết chưa xong. Anh Một Hữu rồi cả anh Trường Quân, Phó chính ủy sư đoàn, đi xe bọc thép đến gặp tôi ở nhà tên tỉnh trưởng. Chúng tôi gặp nhau ai cũng mừng. Tôi đang ngồi ghế của tên tỉnh trưởng liền đứng dậy mời anh Một Hữu ngồi vào và nói:

     - Anh tiếp thu đi.

     Rồi giao toàn bộ bản đồ, tài liệu, gậy chỉ huy và cả hai chiếc xe đẹp như xe du lịch. Đang vui vẻ bàn giao thì anh Hồng Phong, Phó chính ủy quân đoàn đến. Nghe tôi báo cáo tình hình xong, anh chỉ thị phải tiếp tục lên Lai Khê - Bến Cát để giữ gìn an ninh, quản lý kho tàng, giải quyết tù binh.

     Tập trung cả Trung đoàn 141, chúng tôi tiếp tục hành quân cơ giới lên Bến Cát - Lai Khê, thì đã thấy ở đây cờ đỏ rực trời trên các nhà tầng cao tầng thấp. Người đi đông nghịt trên đường, lính ngụy đông hơn dân. Quần áo, súng, xe, giày lính ngụy vứt đầy hai bên vệ đường. Lính ngụy đi bộ, đi xe kéo ùn ùn về thị xã. Ta không bắt giữ, nên họ cứ chạy tự do về cả Sài Gòn. Khi chúng tôi vào đến căn cứ Bến Cát, hồi 13 giờ 30, đại đội du kích tập trung huyện đội đã vào đây bắt tù binh. Súng, xe pháo, quần áo, mũ giày chất thành đống. Trung. đoàn 209 đang phân công phạm vi quản lý tiếp quản kho gạo, xăng dầu. Tôi hỏi Trung đoàn trưởng 209 đã gặp Trung đoàn 141 lên Lai Khê chưa? Anh Thích cho biết địch ở Lai Khê cũng ném súng chạy hết rồi. Tôi lệnh:

     - Anh cho một tiểu đoàn và anh đi với tôi ngay.

     Chúng tôi lên Lai Khê, chỉ huy sở tiền phương Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy đã bỏ trống. Chúng tôi chạy thẳng vào căn cứ. Chỉ còn một trăm tên ngồi chờ xin hàng. Không biết Bộ chỉ huy chạy đi đâu. Cả thiết đoàn tăng nữa. Mấy trận địa pháo gần Bến Cát chỉ còn súng, khẩu đứng nòng, khẩu gục nòng. Chẳng biết chúng lẩn trốn về hướng nào. Chúng tôi bảo mấy tên lính ngụy dẫn đến khu chỉ huy sở Bộ tư lệnh sư đoàn 5. Tất cả còn nguyên. Phòng giao ban bố trí rất chính quy, bàn nào cũng có bảng tên, chức vụ từng tên, nơi treo bản đồ, các gậy chỉ huy, cách bố trí hệ thống điện thoại, các máy thông tin có dây, không dây, các tủ tài liệu, phòng truyền thống lịch sử các tư lệnh sư 5 từ ngày thành lập đến cuối đời tận số là tướng Lê Văn Vỹ. Tôi bảo trinh sát thu các thứ cần thiết, bản đồ, tài liệu, gậy chỉ huy. Sang khu làm việc tướng tư lệnh Vỹ thì mới thấy xác tướng Vỹ nằm chết trên vũng máu chưa khô, môi bầm tím. Trên bàn làm việc còn bộ bản đồ, khẩu súng lục con, bên cạnh có tờ báo "Thời cuộc", tự tay tướng Vỹ ghi: "Nhiều tiền, nhiều của, nhục nhã quá". Tủ quần áo, quân hàm, các loại gậy chỉ huy, bàn ghế, cốc tách, chén bát, lọ hoa đều của Mỹ, Pháp. Nhà ngủ, nhà ăn đủ thứ sang trọng. Nhà nghỉ, nơi giải trí, ăn chơi, có cây cảnh, có con trăn to cũng chết nằm còng queo. Khu thông tin bố trí được cả sở chỉ huy nhẹ trên xe có nơi ngủ của tên Vỹ, nơi giao ban, ăn ở do Mỹ trang bị. Tôi chưa nhìn thấy kiểu xe này bao giờ.

     Tôi đi quanh căn cứ đến khu nhà kho, quân trang, vũ khí, đạn, gạo, thực phẩm bị bới tung tóe. Tôi nhắc cán bộ Trung đoàn 209 quản lý cho tốt, nhất là khu xăng dầu. Phân công từng đơn vị quản lý từng khu vực xong, tôi hạ lệnh cho 209 và 141 mỗi đơn vị cử ra một tiểu đoàn cùng huyện đội Bến Cát bắt bằng được cơ quan Bộ tư lệnh sư đoàn 5 nguy, thiết đoàn tăng thiết giáp. Chúng chỉ chạy trốn quanh quẩn gần đây thôi. Chú ý gọi hàng, không được bắn.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #81 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:00:40 am »

     Tình hình như thế là ổn. Tôi trở về thị xã Thủ Dầu Một. 3 giờ chiều, về căn cứ công binh. Anh Quân cho biết đã bắt được toàn bộ cơ quan Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy, cả chỉ huy thiết đoàn tăng thiết giáp. Tôi lệnh cho Trung đoàn 209 và 141 ngay chiều tối nay phải đưa toàn bộ Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy về để chúng ở khu ngã sáu. Thiết đoàn tăng cho tập trung trại gia binh gần thị xã. Còn tù binh tập trung ở đường 15 khu rừng cao su. Tỉnh và sư đoàn sẽ có bộ phận đón. Đến lúc này số tù binh đã lên tới gần 5.000 tên. Tôi tuyên bố thả tất, chỉ giữ từ cấp tá trở lên. Không hiểu sao nhiều thế. Té ra chúng được thả rồi nhưng không đi cứ lẵng nhẵng theo.
   
     Chúng tôi đang họp thì anh Một Hữu bên tỉnh sang gặp tôi trao đổi tình hình. Như vậy là từ 12 giờ trưa ngày 30 tháng tư toàn tỉnh Bình Dương đã hoàn toàn giải Anh nói:

     - Trên quyết định anh làm Chủ tịch Quân quản. Tôi là phó xin ý kiến anh. Mọi công việc các anh đã bàn triển khai thế là được.

     Tôi nói:

     - Bây giờ tù binh nhiều, thả nó không chạy, cứ quanh quẩn theo ta rất lộn xộn, đường nào cũng có lính nguỵ. Súng xe ngổn ngang. Rất dễ không an ninh. Ngày mai, ta hỏi cung Bộ tư lệnh sư đoàn 5 nguỵ từ cấp tá trở lên. Sau đó ta xuống khu tập trung giải thích và tuyên bố thả tất.

     Buổi chiều, chúng tôi ăn mừng bắt được toàn bộ đoàn 5 ngụy, toàn tỉnh Bình Dương đã được giải phóng cùng Sài Gòn. Mới 5 giờ, thị xã đã lên đèn. Tôi nhìn sang khu thị xã Thủ Dầu Một, căn cứ Phú Lợi, các cột đèn trên đường phố đều toả sáng. Dòng người đi trên đường phố cuồn cuộn không dứt. Tiếng reo hò hoan hô Bình Dương, Sài Gòn giải phóng, hoan hô bộ đội Giải phóng quân Mìền nam anh hùng. Chẳng ai ngồi yên mà ăn được, cũng đứng lên nhìn dòng người đi như nước chảy trên đường phố, lòng vui khôn xiết. Vừa đêm qua, chúng tôi còn ăn cơm nắm với mấy miếng thịt hộp, ngồi đất trên thảm cỏ, ngồi trên hầm hố, đạn địch nôt quanh người, với bao suy nghĩ và lo âu, mà đêm nay, ăn cơm đầy tiếng cười, không còn súng nổ, đạn bay, đèn thì sáng rực trời. Ăn cơm xong, tôi trở về phòng ngủ, bảo đồng chí liên lạc đem cho tôi cái đài để cùng nghe tin tức hậu phương, xem nhân dân miền Bắc nói gì về chúng ta. Đồng chí liên lạc vừa mở đài đã có tiếng hoan hô quân dân miền Nam anh hùng, hoan hô quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, hoan hô Sài Gòn giải phóng. Nghe cô phát thanh viên giới thiệu các tầng lớp nhân dân đổ xô ra đường, đi quanh hồ Hoàn Kiếm. Cả các lãnh tụ Đảng, Nhà nước cũng xuống đường diễu hành, mít tinh chào mừng Sài Gòn giải phóng. Tiếng hoan hô rất to. Hai anh em chúng tôi nghe mà xúc động, nhớ đến nhân dân miền Bắc, những gia đình có người thân đang công tác, chiến đấu ở miền Nam, vui mừng phấn khởi biết nhường nào.

     Tôi lại nhớ đến gia đình, bà nó nhà tôi, các con, anh em, bạn bè ở quê hương làng Thượng Nông xa xôi, chắc giờ này cũng biết tin Sài Gòn giải phóng, vui mừng lắm. Đang vui miên man, nghĩ về một ngày trở lại quê nhà thì ở ngoài cổng gác có tiếng người ồn ào, nói rất to. Tôi tắt đài  đi ra xem có chuyện gì. Thì ra nhân dân đứng rất đông, đủ thành phần, các ông bà già, các anh, chị thanh niên, đông nhất là các cháu thiếu niên, đang vây quanh cán bộ chiến sĩ ta ở ngoài công doanh trại. Nhân dân muốn vào thăm, chúc mừng bộ đội chiến thắng. Đồng chí cán bộ đốc gác đang giải thích cho nhân dân rằng, theo lệnh trên, ngày mai đơn vị mới tiếp dân. Nhân dân thông cảm ngay. Nhưng bà con thị xã Thủ Dầu Một lại kẻo đến mỗi lúc một đông hơn. Đơn vị lại cử cán bộ ra tiếp dân, phải trả lời rất nhiều câu hỏi. Ông thì hỏi: “Các chú vào đây lâu chưa?", bà lại hỏi: "Các chú quê ở miền Bắc, thì ở huyện, tỉnh nào?". Các cô gái hỏi: "Bao nhiêu tuổi mà trẻ thế”. Mọi người rất ngạc nhiên thấy bộ đội Miền Bắc đều học cao và khen bộ đội trẻ, khỏe và đẹp quá. Các bà mẹ cứ suýt xoa: "Các bà mẹ miền Bắc sao lại đẻ được những đứa con ngoan và đẹp thế!". Họ rủ bộ đội đi chơi, xuống thăm phố nhà. Chiến sĩ ta trả lời lưu loát rằng, theo lệnh trên, ngày mai mới được đi chơi, sẽ xuống thăm.
   
     Tôi nghe toàn chuyện vui. Chẳng có việc gì khiến tôi phải giải quyết cả. Tôi trở lại phòng nằm ngủ nhưng nằm không yên. Nhân dân thị xã càng cười nói ồn ào hơn. Hình như cả tỉnh Bình Dương đêm 30 tháng tư nhân dân chẳng ai ngủ được.

     Tôi nằm.thao thức mà phấn khởi, lại ngồi dậy nghĩ về nhiệm vụ cấp trên giao cho Sư đoàn 312 đến lúc này cơbản đã hoàn thành. Tôi nghĩ từ lúc sư đoàn nhận lệnh hành quân thần tốc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, cuộc hành quân lịch sử của Sư đoàn 312, cán bộ chiến sĩ đều trưởng thành nhiều mặt, từ trình độ tổ chức lãnh đạo chỉ huy đến công tác hậu cần kỹ thuật và cả mặt ý chí quyết tâm. Tôi nghĩ vậy mà thấy vui trong lòng.

     Tôi nhận thấy cách đánh lần này rất mới, rất khác các chiến dịch trước. Nghĩa là phải chỉ rõ cách đánh tổng hợp ba thứ quân, cách đánh sư đoàn chủ lực, cách đánh bộ đội tỉnh, cách đánh của quân dân du kích cùng nhân dân tấn công nổi dậy. Tuy Sư đoàn 312 tổ chức trang bị rất mạnh, tinh thần ý chí chiến dấu cao, nhưng lúc đầu chúng tôi băn khoăn lo lắng thấy rõ nhược điểm của mình. Đánh thì thắng rồi, nhưng nếu đánh không giỏi bằng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương thì chẳng ra sao cả.
 
    Diễn biến kết quả chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đến lúc này đối với Sư đoàn 312 và quân dân tỉnh Bình Dương đã hoàn thành nhiệm vụ. Sư đoàn trưởng thành nhiều mặt. Là một cán bộ chỉ huy, tôi được dự rất nhiều chiến dịch, hợp đồng chiến đấu rất nhiều đơn vị địa phương các tỉnh, không ở đâu như Bình Dương đảm bảo chiến đấu cho bản thân mình còn cùng với sư đoàn chiến đấu và tận tình phục vụ chiến đấu. Một người dân đúng là một chiến sĩ, rất xứng đáng quân dân Bình Dương Anh hùng. Chắc rằng cán bộ chiến sĩ thời ấy không ai có thể quên chính đồng chí bí thư tỉnh, các đồng chí tỉnh đội phó và tỉnh đội trưởng đã dẫn đường cho cán bộ sư đoàn và cùng thiết kế phương án tác chiến, trong chiến đấu ở gần nhau để chỉ huy lãnh đạo cho đến khi đánh thắng hoàn toàn kẻ địch. Có lẽ đây là một sự kiện lịch sử chỉ có Chiến dịch Hồ Chí Minh mới có.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #82 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:04:33 am »

    4. CUỘC HỎI CUNG ĐẦY ẤN TƯỢNG

      Buổi sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, đúng 8 giờ, toàn bộ sĩ quan từ cấp tá trở lên của sư đoàn 5 ngụy do tên đại tá Vấn, phó tư lệnh sư đoàn, dẫn đầu, đi vào phòng hỏi cung, vẻ ngơ ngác chưa dám ngồi vào ghế ngay. Tôi nhìn bao quát một lượt rồi nói:

    - Mời các anh ngồi vào từng hàng ghế. Trên bàn có nước, thuốc, các anh cứ tự nhiên.

     Nhìn đám tù binh ăn mặc chỉnh tề chỉ không có đeo lon, nét mặt ủ rũ, chẳng mấy ai nghĩ rằng đã có lúc chúng hò hét, bắn giết dân chúng, đàn áp phong trào yêu nước.

     Sau khi tất cả đã ngồi yên chỗ, tôi liền mở đầu cuộc hỏi cung:

    - Hôm nay, mời các anh lên đây, chúng tôi cần các anh cho biết thêm về tình hình mấy ngày qua. Tôi hỏi đến ai, người đó trả lời.

     Tôi quay sang hỏi đại tá Vấn xem các sĩ quan dưới quyền gã quản lý đã đến đủ chưa.
      
     - Thưa ngài, đủ ạ.
 
     - Bây giờ bắt đầu nhé. Các anh biết được Sư đoàn 312 đến đánh sư đoàn 5 các anh từ ngày nào? 

     - Thưa ngài, từ 4 giờ ngày 28 tháng 4 trên đường 13. Chúng tôi phán đoán nếu đúng sư đoàn 312 cũng chỉ là bộ phận nhỏ đến hỗ trợ chiến đấu cho bộ đội tỉnh. Vì cách đánh chỉ có AK, đại liên, B41, súng cối như các lực lượng bộ đội tỉnh. Không thấy nhiều quân và pháo lớn. Nhưng chúng tôi được cấp trên thông báo và tự xác minh Quân đoàn 1 có rất nhiều quân, có xe tăng, pháo lớn đã tiến đến Lái Thiêu đang tiến về Sài Gòn. Chúng tôi lại khẳng định ở đây chỉ là đơn vị bộ phận nhỏ se 312 nghi binh. Không đáng lo sợ. Đến 23 giờ đêm 29, ô tỉnh trưởng Của báo cáo là khu thị xã Thủ Dầu Một, cả căn cứ Phú Lợi đag bị vây; phát hiện quân rất đông, pháo lớn, xe tăng ở trước khu rừng Tân Hội, cầu Thế Ụt; đề nghị pháo bắn và đến giải vây, không thì nguy. Rất rõ ràng Sư đoàn 312 chủ lực chính quy Bắc Việt sắp đánh rùi.

     - Thế lúc ấy Bộ tư lệnh sư đoàn 5 xử trí ra sao?

     - Chúng tôi cả cơ quan vừa lo vừa sợ. ông Vỹ tư lệnh bảo cho rút nhanh, rút tất cả  căn cứ Lai Khê - Bến Cát về thị xã Thủ Dầu Một.; căn cứ Phú Lợi, căn cứ công binh vẫn phải phòng thủ. Nhưng ai cũng sợ Sư đoàn 312. Đường rút theo con đường 13 vẫn chưa giải toả được. Có về được khu thị xã, căn cứ Phú Lợi, chắc chắn gặp sư 312, trận chiến sẽ diễn ra ác liệt. Càng nghĩ chúng tôi càng thấy lo sợ. Nhưng vẫn tin, với khả năng trang bị của sư đoàn, binh khí hoả lực rất mạnh lại còn có đơn vị thuỷ quân lục chiến, các đơ vị biệt động quân, hệ thống bảo an, dân vệ, hệ thống đồn bốt công sự bố phòng vững chắc thì Sư đoàn 312 chưa làm gì được đâu. Chúng tôi bàn như thế. Ông Vỹ tư lệnh quyết đỉnh chuẩn bị tổ chức sáng mai. đúng 6 giờ sáng 30 tháng tư, thực hiện rút quân khỏi căn cứ Bến Cát - Lai Khê theo con đường 13. Lực lượng thiết đoàn xe tăng thiết giáp đi đầu. Tập trung toàn bộ pháo binh bắn vào trận địa chất chặn dọc đường 13, chi viện cho xe tăng tiến lên, tràn qua trận địa chốt chặn. Các xe sau cứ thế tiến theo chạy  qua trận địa chốt, tiến nhanh về vị trí đã quy định. 8 giờ, đơn vị đi đầu phải đến được khu thị xã. 10 giờ, các đơn vị phải triển khai các vị trí phòng thủ xong, chờ lệnh. Cả đêm, chúng tôi chuẩn bị đem theo vũ khí, tài liệu, cả quân trang cá nhân, bốc xếp hết lên xe, rất là cồng kềnh. Xe nào chở cũng nặng, lính ngồi chật như nêm, dàn đội hình dài 4, 5 cây số, từ Lai Khê qua căn cứ Bến Cát. Mới hơn trăm xe đã rất lộn xộn. Tôi rất lo. Cả lính và sĩ quan có đứa chạy trốn. Kiểu hành quân thế này nếu gặp quân các ngài đánh chúng tôi rất khó chống chọi. Đến 3 giờ sáng ngày 30 tháng tư thì nhận được tin ông Của tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương báo cáo là đang bị bao vây kín xung quanh thị xã và căn cứ Phú Lợi rồi, bộ đội giải phóng đang đào công sự, đã đến sát hàng rào, thấy tiếng xe kéo pháo lớn, xe tăng rất nhiều. Một số ấp trưởng, thị đã chạy lên cho biết, mấy ấp dọc đường 13 gần trận địa chốt chặn, bộ đội giải phóng đã chiếm. Cả mấy ấp xung quanh căn cứ Phú Lợi. Đến lúc này chúng tôi thực sự lo. Ông Vỹ nói ta chậm, muộn mất rồi. Chưa đến 5 giờ, theo kế hoạch, ông Vỹ cho nổ súng tiến quân, pháo binh bắn dồn dập vào trận địa chốt chặn của các ngài. Xe tăng thiết giáp đi đầu tấn công không tràn qua được. Còn bị bắn cháy hai xe, nằm cản đường, các xe sau lao lên ùn tắc. Lính xe nằm đầy đường luẩn quẩn loanh quanh. Đến 6 giờ, tiếng pháo lớn các ngài nổ dồn dập ở khu thị xã và căn cứ Phú Lợi. Ông Của tỉnh trưởng và cả căn cứ Phú Lợi đều báo cáo đang bị tấn công, đề nghị cứu viện ngay. Đến lúc này, tiến không được, lui, ông Vỹ chưa có lệnh, lính sĩ quan hoang mang.Có số lính sĩ quan bỏ trốn. Đến 9 giờ, ông Vỹ cho lui về căn cứ Bến Cát - Lai Khê, đơn vị nào cũng muốn chạy trước, lộn quân chồng chéo, vướng người vướng xe, pháo, không thể chỉ huy quản lý các đơn vị được nữa.

      Khi Bộ tư lệnh chúng tôi về đến căn cứ Bến Cát, quân vẫn lê thê dọc đường, chúng tôi rất lo không biết chạy về đâu. Lúc này, ông Của báo cáo trung đoàn 8 đang ở ngã sáu Nhưng các ngài đã chiếm căn cứ Phú Lợi, đang có bộ binh, xe tăng tiến vào ngã sáu thị xã. ông Vỹ quyết định tiến quân theo con đường 14-15 cũ về thị xã Thủ Dầu Một. Nắm chắc thiết đoàn tăng thiết giáp đi đầu. Và đánh điện báo cho ông Của trung đoàn 8 đón chờ ở đấy.

      - Có phải lúc điện các anh đánh "Các em đón chị ở con rắn sáu đầu. Chị đang đi con đường le để về gặp các em" có phải không?

    - Thưa ngài, đúng.

    - Hãy giải thích nội dưng bức điện ấy cho chúng tôi nghe.

    - Thưa ngài, "con rắn sáu đầu” là ngã sáu, trung đoàn 8 đang ở đấy. "Con đường le" là đi con đường nhỏ trong rừng, không phải đi con đường lớn 13.

     - À ra thế. Anh nói tiếp đi.

     - Thưa ngài, đến hơn 10 giờ ngày 30 tháng tư, chúng tôi nhận được lệnh trên toàn quân đội cộng hòa đầu hàng. Lúc này, chúng tôi rất bàng hoàng, cảm thấy bơ vơ đến phát khóc, vừa sợ vừa lo, đầu hàng rồi thì thế nào đây?  (Tên Vấn xúc động) Tôi bảo ông Vỹ, ta cứ đi gặp giải phóng đâu ta hàng đấy. Ông Vỹ bảo tôi cứ đi trước, ông đi sau. Tôi đi cùng cơ đoàn và một số chỉ huy đơn vị trực thuộc, cho thiết đoàn tăng thiết giáp đi đầu, các đơn vị pháo không có pháo đi sau. Đi qua được đường 14, đến đường 15 thì gặp quân các ngài bắn chặn lại. Chúng tôi không bắn, dừng lại, tạt tránh vào khu rừng, ngồi im, cử người ra tìm quân các ngài xin hàng. Đến 15 giờ, chúng tôi nộp súng.

     - Thế ông Vỹ tự sát chết lúc nào, anh có biết không?

    - Thưa ngài, thực ra ông Vỹ không đi với chúng tôi, ở lại căn cứ Lai Khê rồi tự sát lúc nào không biết. Nếu ông ấy tự sát chết phải từ lúc 13 hoặc 14 giờ. Anh em đi sau đến báo cho tôi biết ông Vỹ tự sát chết rồi.

     Tôi hỏi đến tên sĩ quan thông tin:

     - Anh biết Sư đoàn 312 chúng tôi ngày nào?

     - Thưa ngài, từ ngày 28.

     - Bằng những con đường nào?

     - Bằng con đường huyện đội Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

     - Ai báo cho anh?
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #83 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:07:35 am »

     - Thưa ngài, không ai báo cả. Chúng tôi nghe bắt được mạng thông tin của huyện với tỉnh vì tỉnh với huyện đều trang bị loại máy BC25, cùng với loại máy Mỹ trang bị cho chúng tôi nên nghe rất rõ cả kế hoạch Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 chốt chặn con đường 13. Biết cả tên ông Trung đoàn trưởng Thích, do các đơn vị dưới báo cáo lên, trên thông báo xuống và lính thông tin các đơn vị thông báo cho nhau. Biết cả quân giải phóng đã đến sân bay Tân Sơn Nhất. Biết cả Quân đoàn 1 có nhiều tăng pháo đang tiến đến Cầu Bà Triệu, đặc công các ngài đã vào được trong Thành phố Sài Gòn, dân chúng hoang mang, lính sĩ quan ngụy đang hoảng loạn chạy trốn.
   
     - Anh có báo cáo lên trên không?

     - Thưa ngài, có những nội dung dưới báo cáo lên, trên thông báo xuống, chúng tôi đều báo cáo. Còn những tin chúng tôi nghe được hoặc các đài chúng tôi trao đổi với nhau mà biết thường không dám báo cáo. Thí dụ: ngày 28 tháng tư, chúng tôi biết được rất nhiều lính, sĩ quan ở các mặt trận chạy cả về Sài Gòn, dân chúng rất hoang mang, chính phủ Sài Gòn sắp đổ rồi, ta thua to rồi và bảo nhau liệu mà trốn đi. Biết như thế mà không dám báo cáo.

     - Các anh sợ ư?

     - Vâng, thưa ngài, tôi sợ nắm không chắc mà báo cáo, trên ghép tội làm hoang mang tinh thần binh sĩ. Chỉ nói cho vài anh thân với mình.

     - Đàm thoại các anh dùng mật ngữ cả chứ?

     - Thưa ngài, quy định đúng như thế. Nhưng trong chiến dịch này, đâu cũng cần cấp cứu nên nói rõ rất nhiều và cùng nội dung nói đi nói lại nhiều lần, chúng tôi tin chắc các ngài nắm được cả.

     Tôi hỏi các tên phụ trách thiết đoàn tăng thiết giáp:

     - Các sĩ quan, chiến sĩ bao nhiêu người, xe đưa về đây bao nhiêu chiếc?

     - Thưa ngài, xe chỉ có hơn 20 chiếc. Quân số cả binh lính, sĩ quan chưa đầy một trăm, còn chạy trốn cả. Về xe, các ngài bắn hỏng mấy chiếc còn về đầy đủ cả.

     - Có tốt không?

     - Thưa ngài, rất tốt.

     - Tôi hỏi anh, chúng tôi chốt chặn trên đường 13, công sự rất sơ sài, khả năng xe tăng thiết giáp Mỹ có sức đột phá mạnh lắm kia mà, tại sao không vượt qua được?
         
     - Thưa ngài, hai xe tăng đi đầu chưa vào đến trận địa chốt chặn các ngài đã bị hỏa lực B.40, B.41 bắn hỏng ngay, chặn đứng. Các xe khác nằm sau không chịu tiến lên, gây ùn tắc. Lại nghe tin xe tăng các ngài đi vào đánh chiếm căn cứ Phú Lợi rồi, đang tiến vào thị xã. Tôi rất lo. Có tiến về đến thị xã, có khi cả đơn vị bị tiêu diệt. Tôi chờ lệnh ông Vỹ và ông Vấn xem giải quyết thế nào. Cuối cùng, ông Vỹ, ông Vấn còn lo hơn tôi, đành nằm ỳ tại chỗ. Đến gần 10 giờ, ông Vỹ, ông Vấn cho lùi về Bến Cát - Lai Khê. Cả đơn vị quay về nhưng khó lui quá, mãi mới về đến Lai Khê Lúc này lộn quân, các đơn vị khó quản lý chỉ huy. Đơn vị tôi về được đến Lai Khê lại nhận lệnh ông Vấn đi con đường 14-15 về thị xã Thủ Dầu Một. Đơn vị tôi đi đầu. Đi được 4 cây số lại có lệnh gặp quân giải phóng không được bắn, chỉ tránh. Khi gặp quân các ngài chắn chặn, chúng tôi lần vào rừng họp bàn cử người gặp quân các ngài xin hàng.

     Tôi hỏi đến tên sĩ quan phụ trách pháo binh về số lượng pháo binh có bao nhiêu, bố trí bao nhiêu trận địa.

     - Có 50 khẩu 105 ly - 175 ly. Bố trí chủ yếu hai khu căn cứ xung quanh thị xã, căn cứ Phú Lợi, khu Bến Cát - Lai Khê.

    - Bây giờ các anh để đâu?

     - Thưa ngài, vẫn để nguyên ở các trận địa.

     - Các anh để cả xe lại chứ?

     - Thưa ngài, anh em lấy xe, bỏ pháo chạy theo các đơn vị cả.

     - Đạn còn nhiều không?

     - Rất nhiều, để kho lớn Ở Lai Khê.

     - Các anh nhiều pháo thế, bắn đi đâu? Khi chúng tôi đánh vào căn cứ Phú Lợi, các anh bắn ít thế!

     - Pháo chúng tôi lúc đầu bắn vào trận địa chết các ngài trên đường 13 để giải tỏa đường chúng tôi rút. Biết quân các ngài bao vây căn cứ Phú Lợi, chúng tôi bắn ít. Khi chúng tôi đánh tập trung, bắn chi viện cho căn cứ Phú Lợi thì vào lúc các ngài đã tấn công Phú Lợi rồi, pháo bắn rất mạnh vào căn cứ. Có mấy trận địa pháo chúng tôi nằm im không bắn. Trận đỉa pháo phía Nam thị xã thì lính bỏ pháo, lấy xe chạy vào thị xã Thủ Dầu Một. Chưa đến 10 giờ, chúng tôi không còn trận địa nào bắn lại quân các ngài. Khi các ngài đánh vào thị xã, căn cứ công binh, Bến Cát, là không có tiếng pháo chúng tôi nữa.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 07:01:26 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #84 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:59 am »

     - Bây giờ tôi hỏi các anh. Sư đoàn 5 các anh có bị thương vong nhiều không?

     Đại tá Vấn xin trả lời:

     - Thưa ngài, chúng tôi chưa nắm được. Nhưng có thương vong thì cũng rất ít. Chủ yếu là chạy trốn. Có nhiều cũng chỉ đến 200 là cùng.

     - Còn điều này, các anh cho biết. Khi chúng tôi bắt được tù hàng binh, chỉ giữ lại từ cấp tá trở lên để hỏi thêm, còn thả họ về địa phương hết, nhưng họ chỉ cứ luẩn quẩn chạy theo chúng  tôi thì là vì sao?

     - Thưa ngài, là để xin các ngài chứng nhận đã hàng đơn vị các ngài rồi. Nếu không có giấy chứng nhận ấy, dù chúng tôi có chạy đi đâu, về được đến gia đình, địa phương, quân giải phóng lại bắt lần thứ hai.

     - À ra thế. Tôi sẽ cho đơn vị viết chứng nhận thả hết, chỉ giữ các anh cấp tá trở lên hỏi thêm, các anh khai rõ ràng rồi cũng thả cả. Các anh ai còn nói gì không?
      
     Gã đại tá Vấn phó tư lệnh sư đoàn phát biểu:

     - Thưa ngài cho anh em chúng tôi là hàng binh không phải là tù binh.

     - Sao các anh lại là hàng binh được. Các anh toàn sĩ quan có học thức, hiểu biết, tôi chẳng cần giải thích nhiều. Các anh đánh lại chúng tôi quyết liệt. Khi đơn vị chúng tôi đánh các anh tan tác đến thế, có ai chịu hàng đâu. Chỉ đến khi các anh không còn đường nào chạy nên mới bị bắt chứ có thực tâm hàng đâu mà gọi là hàng binh được.

     Tất cả chúng chẳng còn lý lẽ gì để nói. Tên nào cũng cụp mặt xuống phải nhận là tù binh.

     - Bây giờ ta tạm dừng ở đây, các anh cùng chúng tôi xuống khu vực chúng tôi đang tập trung binh lính và hạ sĩ quan sư đoàn 5. Ông Vấn điểm lại xem sư đoàn 5 còn bao nhiêu, rồi các anh muốn nói gì với chiến hữu thì nói. Đồng ý không?

     - Thưa ngài, chúng tôi đồng ý.

     - Các anh uống nước, hút thuốc đi, để chúng tôi điều xe đã.

     Hơn 3.000 tù binh đã tập trung ở bãi rộng trống gần bìa rừng cao su. Tôi bảo gã sư đoàn phó:

     - Anh đứng ra tập hợp.

     Gã tự giới thiệu rồi hô tập hợp. Đám tù binh răm rắp chạy ra, đầu tóc bù xù, quần áo nhiều kiểu loang lổ nhiều màu, như đàn gà vừa bị mưa bão. Nhiều tên mặc quần áo dân thường. Có tên mặc quần không áo. Tập hợp xong, gã sư đoàn phó tù binh chạy đến chỗ tôi, vẻ nhân nhục:

     - Báo cáo ngài, tất cả lính và sĩ quan có 3.500.

     - Thế là còn thiếu, họ đi đâu?

     - Thưa ngài...

     - Thôi được. Còn quân đứng ngoài kia không vào tập hợp là quân nào?

     - Thưa ngài, đấy là quân các đơn vị khác.

     - Anh về vị trí đi. - Tôi bảo gã rồi đi ra trước hàng tù binh, cố nói thật to;

     - Tất cả binh lính sĩ quan sư đoàn 5, nghe đây? Tôi thay mặt Nhà nước và quân giải phóng tuyên bố. "Không bắt giữ ai cả, thả tất, anh em được trở về với gia đình,..quê hương mình. Riêng anh em cấp tá trở lên còn phải khai báo thêm, sẽ về sau."

     Tôi vừa dứt lời xong, hàng ngũ tù binh rộn lên tiếng nói cười. Tiếng gã sư đoàn phó Vấn và các sĩ quan cấp tá vẫn chưa vui. Cuối cùng, tôi tuyên bố giải tán, nhắc họ tự đến lấy giấy chứng nhận để về quê hương.

     Giải quyết công việc tù binh xong, tôi về cơ quan tỉnh đội đang ở trong thị xã Thủ Dầu Một, gặp anh Một Hữu, Tỉnh đội trưởng và anh Trường Quân, Phó chính ủy sư đoàn đang bàn giải quyết vấn đề tù hàng binh. Chúng đi lại lộn xộn trong các ấp xã, cả trong phố. Súng đạn, xe cộ, quần áo, mũ giày, chúng vứt ngổn ngang, ta chưa có người thu dọn, quản lý. Các đơn vị tỉnh và cả cơ quan sư đoàn, đang ổn định vị trí theo kế hoạch đã bàn, chắc ngày mai mới thực hiện được. Xem ra cùng một lúc có quá nhiều công việc phải làm. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi. Có thể nói, đến lúc này, quân dân tỉnh Bình Dương, Sư đoàn 312 đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mà cấp trên giao cho, xóa sổ sư đoàn 5 ngụy và bộ máy nguy quân, ngụy quyền tỉnh Bình Dương, góp phần đập tan chế độ ngụy quyền tay sai cho đế quốc Mỹ ở miền Nam đất nước. Tổ quốc đã sạch bóng quân thù, Bắc Nam liền một dải, ước mơ bao nhiêu năm của toàn dân nay đã thành hiện thực. Đây là Hạnh phúc lớn nhất của cán bộ chiến sĩ và Sư đoàn 312 chúng tôi và cũng chính là Hạnh phúc lớn nhất của đời tôi.

     Hôm nay, ghi lại đôi dòng về trận đánh cuối cùng, trận đánh trước ngày toàn thắng, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ tới hơn một trăm chiến sĩ của sư đoàn đã nằm lại đất Bình Dương không thể nào trở về và biết bao đồng chí đã để lại một phần xương máu. Dẫu cho đã có lần trở lại chiến trường xưa thăm phần mộ anh em tại các nghĩa trang Bình Dương, Bến Cát, Tân Uyên, Bình Cơ, nhưng chẳng thể nào an ủi cho thấu được nỗi tiếc thương cứ trăn trở trong lòng.

     Những trang hồi ký về trận đánh cuối cùng trước ngày toàn thắng tôi viết ở tuổi gần tám mươi này, đầu tiên xin được gửi tới toàn bộ nhân dân tỉnh Bình Dương, tiếp đến xin được coi là nén tâm nhang dâng lên hương hồn các liệt sĩ vô vàn thương nhớ của sư đoàn đang yên nghỉ trong lòng đất Bình Dương trìu mến.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #85 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:15:02 am »

NHỚ MÃI BÀI THƠ
"GIÃ GẠO"


      Đọc "Nhật ký trong tù”, tập nhật ký bằng thơ của Bác Hồ, thấy Bác Hồ thật là kỳ tài và cao đạo vô cùng, ở trong tù mà vẫn lạc quan, vẫn mang phong thái của người chiến thắng, luôn vững niềm tin, luôn ở thế đứng hiên ngang trầm tĩnh không hề nao núng trước xiềng xích của quân hung bạo.

     Có lẽ phải nói, ở Bác còn là một trí tuệ uyên bác đến kỳ lạ. Bài "Học đánh cờ” dạy cho tôi nhiều lắm. Tấn công, thoái thủ không sơ hở. Chân lẹ tài cao quyết thắng người. Rồi: Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công. Điều kỳ lạ chính là ở chỗ ở trong tù mà vẫn giữ sự sáng suốt nhìn nhận của một vị tướng. Hơn thế nữa, bị trói mà Bác văn hình dung: Rồng uốn xung quanh chân với tay. Trông như quan võ quấn tua vai. Bị xích bằng xích sắt giải đi Nam Ninh, Bác còn tưởng tượng ra rằng: Hôm nay xiềng sắt thay dây trói. Mỗi tiếng leng keng tựa nhạc rung. Bị giải qua hết nhà tù này đến nhà tù khác, phải qua đường núi trập trùng, hẳn là mệt lắm, nhưng Bác lại viết: Núi cao lên đến tận cùng. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Còn bị ghẻ khắp người, Bác lại hài hước: Đầy mình đỏ tím như hoa gấm. Sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn.
   
     Không hiểu sao đến bài thơ "Nghe tiếng giã gạo", tôi cứ phải nghĩ, nghĩ nhiều lắm, nghĩ về mình, nghĩ về mọi người. Cái gì đó trong ý tứ của bài thơ khiến cho tôi, mà tôi chắc rằng ai đọc bài thơ này cũng có những suy tư như tôi, nghĩa là phải tự hỏi, có sẵn sàng chấp nhận như hạt gạo kia khi cần thiết?

Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời, người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.

     Năm 1964, Bác Hồ đến thăm Sư đoàn 312 chúng tôi. Hồi ấy tôi là cán bộ cơ quan Tư lệnh pháo, được phân công phụ trách trong phạm vi nhà Bộ Tư lệnh, là nơi nghỉ và làm việc của Bác với cán bộ Sư đoàn. Nghĩ bụng, kỳ này sẽ gần Bác lắm đây, có khi lại được chụp ảnh với Bác cũng nên.

     Có một bộ phận bộ đội quần áo chỉnh tề lập hàng rào danh dự từ cổng vào tới nhà Bộ Tư lệnh để đón Bác. Anh em hồi hộp lắm. Mặc dầu chỉ được thông báo là chuẩn bị đón cấp trên về thăm đơn vị nhưng anh nào cũng đã đoán già đoán non mà biết cấp trên là ai.

      Khi được tỉnh Thái Nguyên gọi điện báo tin: Xe đưa Bác về thăm Sư đoàn đã xuất phát, Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm lên xe ngược lên đón Bác. Xe Bác đi xuống dưới Lương Sơn gần phố Cò, Bác bảo rẽ vào cái đền trong khu rừng thông nghỉ ăn cơm rồi hãy về thăm sư đoàn. Đó là việc thứ nhất mà ở sư đoàn, các anh không tính trước được. Thế rồi, khi tới nơi, Bác không vào theo cổng chính mà Bác đã xuống xe đi lối cổng sau. Về thăm sư đoàn cùng với Bác có cả đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Bác và đồng chí Nguyễn  Chí Thanh vào ngay khu nhà bếp đầu tiên. Đồng chí Vinh, tổ trưởng nuôi quân, kể rằng Bác vẫn nhận ra đồng chí mà Bác đã gặp trong lần về thăm sư đoàn trước đây. Bác hỏi:

    - Chú vẫn ở sư đoàn à? - Bác lấy thuốc đưa cho Vinh - Bác mời chú điếu thuốc. Chú hút, Bác châm lửa cho. Ở đây gần bếp không cần đánh diêm.

    - Cháu xin Bác - Anh Vinh thưa với Bác - Nhưng cháu để về phòng ngủ cháu mới hút ạ!.

     Từ lối cổng sau vào, Bác đã gặp bao nhiêu người rồi mà ở chỗ đón Bác và cả trong nhà Bộ Tư lệnh vẫn chưa ai biết. Đến khi tôi vừa nghe có ai đó nói: "Bác đến tôi vội bước ra thềm thì đã thấy Bác và đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Tôi ngẩn người nhìn Bác, miệng khẽ nói: "Bác! Bác!!' mà quên khuấy đi việc mời Bác vào trong nhà. Thế rồi các anh trong Bộ Tư lệnh cũng tới quây lấy chung quanh Bác. Bác vào thăm phòng Chính uỷ Lê Chiêu rồi sang phòng Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm. Tôi thưa Bác:

     - Mời Bác nghỉ ở đây. Bác cần gì, Bác gọi cháu.

     Tuy vậy, tôi vẫn chưa nhìn thấy Bác thật gần. Ra phòng họp, thấy anh Quyết rót cốc nước để gần chỗ Bác nhưng Bác chưa uống, tôi liền đến cầm cốc nước lên mời Bác cũng là để xem Bác có hỏi gì mình:

     - Cháu mời Bác uống nước ạ!

     Bác nhìn tôi cười, gật đầu rồi quay ra hỏi các anh trong Bộ Tư lệnh:

    - Bộ đội đi đâu, sao doanh trại vắng thế?,

     Anh Chấn, Chủ nhiệm Chính trị báo cáo:

     - Thưa Bác? Đơn vị đang tập trung ở sân trước đón Bác, còn phần đông đi dã ngoại.
   
     Bác liền hỏi anh Chấn:

     - "Dã ngoại" là thế nào?

     Thôi chết rồi! Tôi nghĩ bụng, anh Chấn lại dùng từ nước ngoài rồi. Bác đã dặn nhiều lần là tiếng gì Việt Nam ta có thì đừng có mượn tiếng nước ngoài. Anh Chấn chưa kịp nói gì thì đồng chí Nguyễn Chí Thanh đỡ lời:

     - Thưa Bác, đó là danh từ quân sự để chỉ bộ đội đang tập ở ngoài doanh trại.

     Bác cười. Tôi hiểu là Bác chỉ trêu anh Chấn thế thôi chứ có đâu Bác không biết dã ngoại là gì.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 07:03:00 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #86 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:17:54 am »

      Khi tôi nâng cốc nước mời Bác, anh Tiêu Sơn có chụp một kiểu ảnh. Nhưng rất tiếc là các anh ở phía trước lại đứng che khuất hết cả. Sau này tôi phải tự an ủi mình: Kể như ta có thành tích gì xuất sắc mà được Bác gọi lên khen thưởng chụp ảnh thì mới thật là vinh dự. Chẳng biết người đời có hài lòng về cái nhân vật mà kiểu ảnh nào của lãnh tụ cũng thấy họ thò cái mặt vào cười toe toét?

      Các anh trong Bộ Tư lệnh đề nghị Bác ghi vào Sổ vàng của sư đoàn. Bác đồng ý ngay và bảo cho Bác tờ giấy để Bác viết nháp đã. Tôi nghĩ thầm: Bác uyên bác biết bao, vậy mà Bác vẫn thận trọng từng chữ khi viết vào Sổ vàng của sư đoàn. Bác không nói ra nhưng tôi trộm nghĩ rằng Bác viết những dòng này là viết cho hôm nay và cho mai sau, cho các thế hệ nối tiếp xây dựng sư đoàn. Đó là biểu hiện một tác phong đầy tinh thần trách nhiệmcủa Bác.

     Tiếp đến, anh Hoàng Cầm mời Bác và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đang tập trung ngoài sân chào mừng Bác và Đại tướng.
   
      Anh em vỗ tay vang động khi thấy Bác bước ra. Bác cười đôn hậu giơ tay vẫy chào với động tác rất nhanh nhẹn. Anh em cứ vừa reo:
     
      - "Bác? Bác!" vừa vỗ tay kéo dài. Bác phải giơ tay ra hiệu mãi mới im để Bác nói chuyện. Trước tiên, Bác nói:

     -   Bác về thăm sư đoàn, sư đoàn làm cơm cho Bác ăn, Bác cảm ơn. Nhưng Bác đã ăn ở tỉnh Bắc Thái rồi. Bác về sư đoàn lần này chắc là các chú đã được chuẩn bị trước phải không? Bác thấy nơi ăn chốn ở gọn và sạch lắm. Tường nhà đều mới quét vôi cả. Nếu luôn giữ được như thế thì tốt. Bây giờ Bác giới thiệu Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn.

      Tôi đi bộ đội từ khi là chiến sĩ đã nghe nhiều chuyện về Bác, chỉ mong chiến đấu giỏi để được gặp Bác như các anh đã từng gần gũi Bác. Nhưng chưa có lần nào tôi được đứng gần Bác như lần này, được đi ngay đằng sau Bác, có lúc chạm cả vào áo lụa của Bác, nhìn tận nơi thấy nước da Bác hồng hào, thấy phong thái của Bác phúc hậu, giản dị và đằm thắm như trong gia đình, người cha với các con.
Nhưng lúc này, không hiểu sao tôi cứ liên tưởng khi gần khi xa đến quyển sách Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Bác, về quyển Sửa đổi lề lối làm việc và đặc biệt về tập thơ "Nhật ký trong tù”. Bác dung dị như vậy mà cuộc đời hoạt động của Bác lại vô cùng là thần kỳ. Chắc rằng trên thế giới, tự cổ chí kim, chưa thể có một nhân vật nào vì yêu nước và căm thù quân xâm lược đã vượt mấy ngàn cây số sang tận đất nước quân xâm lược đó, nghiên cứu chúng và tìm cách đánh đuổi chúng ra khỏi đất nước mình, cuối cùng đã tìm thấy con đường cứu được đất nước để rồi ba mươi lăm năm sau kể từ ngày ra đi đã trở thành thượng khách sang họp với chính phủ đất nước của quân thù xâm lược đó với danh nghĩa là Chủ tịch của một nước đã giành được độc lập, đã thiết lập nền Dân chủ Cộng hoà. Một nhà hoạt động chính trị lỗi lạc trên thể giới lại có cách đánh giá rất đặc biệt rằng: "Đồng chí Hồ Chí Minh là một nhà tình báo siêu chiến lược độc nhất vô nhỉ trên thế gian này".
 
      Tôi thì sau khi được đọc “Nhật ký trong tù” của Bác, tôi thấy ở Bác có hình ảnh như là hạt gạo trong bài thơ "Nghe tiếng giã gạo" vậy. Chính Bác đã rèn mình như hạt gạo đem vào giã. Con trai một cụ phó bảng mà đi làm bồi dưới tàu, đi quét tuyết ở Luân Đôn . . . nhưng là để đạt cái đích cuối cùng: Cứu Nước?

Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #87 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:20:42 am »

      Nhớ lại hồi tôi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 trong đội hình Sư đoàn 312 sát cánh cùng bộ đội Pa thét Lào chiến đấu trên mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thì bài thơ Giã gạo tuy không nói ra nhưng ý nghĩa của nó luôn luôn như là lời nhắc nhủ trong mỗi bước gian nan. Tham gia chiến dịch đập tan Cù Kiệt, trung đoàn tôi nhận lệnh phải luồn sâu để đánh địch từ trong tung thâm của chúng. Gọi là trung đoàn nhưng vào đến địa điểm tập kết chỉ còn một tiểu đoàn cùng với các đại đội độc lập và cơ quan trung đoàn bộ. Một tiểu đoàn phải chuyển sang hướng khác theo lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận, còn một tiểu đoàn bị địch chặn đánh phải nằm lại phía sau. Như vậy cũng có nghĩa là đường tiếp tế lương thực đạn dược đối với chúng tôi cũng bị cắt luôn. Cả đơn vị phải ăn đói dài ngày. Mỗi cán bộ chiến sĩ chúng tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào "gạo đem vào giã". Vậy mà chúng tôi đã trụ được để chuẩn bị một trật đánh tấn công năm điểm đồng loạt trong một đêm tạo thuận lợi cho các hướng chính của chiến dịch phát huy thế tấn công nhanh mạnh khiến quân địch không sao đối phó kịp.

     Kế đến là trận Bản Na, cấp trên còn cho là tôi chống lệnh. Song tôi đâu có chống lệnh, trái lại chính tôi là người tìm ra phương án đánh cụm cứ điểm Bản Na vừa đảm bảo thắng lợi vừa ít thương vong. Tôi đúng là "gạo đem vào giã" ở trận này. Khi đội hình trung đoàn còn toàn vẹn, trong phương án tác chiến tôi đã kịp chuẩn bị lực lượng chủ yếu tấn công khu trung tâm Bản Na. Nhưng bỗng nhiên cấp trên lại điều của trung đoàn tôi đi mất hai tiểu đoàn. Như vậy khiến tôi phải thay đổi phương án tác chiến tập trung lực lượng đánh vào khu tây bắc Bản Na có bốn cứ điểm còn đối với khu trung tâm, chỉ dùng pháo bắn phá. Tôi tin rằng diệt được khu tây bắc sẽ làm chấn động khu trung tâm, không cần đánh cũng tan. Tôi tin răng diệt được khu tây bắc sẽ làm chấn động khu trung tâm, không cần đánh cũng tan. Nhưng nếu chọn đánh khu trung tâm, nơi hiểm yếu đối với địch đấy nhưng lại là nơi cực mạnh của chúng, trung đoàn không đủ sức dứt điểm thì sẽ dẫn đến thương vong không cứu vãn nổi tình hình. Vả lại, chúng tôi đã triển khai lực lượng theo phương án tác chiến tập trung tấn công khu tây bắc Bản Na . . . thời gian còn quá ít, giờ nổ súng sắp đến rồi, làm sao có thể di chuyển đội hình chiến đấu cho kịp? Trong trường hợp này có là anh chỉ huy ngu tối và máy móc mới chấp hành cái lệnh "nướng quân" của vị chỉ huy cấp trên vừa thiếu thực tế và cũng rất máy móc nào đó. Vậy mà tôi vẫn bị "giã" tới số Khi cán bộ kiểm sát xuống- sau này mới biết là để bắt tôi về tội chống lệnh - thì cũng là lúc giai đoạn vây lấn đã xong, lực lượng xung kích bắt đầu xuất kích tấn công. Không ai có thể thay thế tôi, vì thế đồng chí Chính uỷ trung đoàn đã "xin" cho tôi được tiếp tục chỉ huy xong trận này đã . . .

      Trận Bản Na đã thắng lợi giòn giã . . . Quân địch ở khu trung tâm Bản Na tháo chạy khi các cứ điểm khu tây bắc bị diệt. Tôi ra lệnh truy kích. Đến 19 giờ thì quân ta làm chủ hoàn toàn khu vực Bản Na, vũ khí kho tàng thu được rất nhiều.

      Vậy là đúng sai đã rõ. Và chắc bạn đọc cũng có thể thấu hiểu cho tôi là tôi cũng phải tự "giã” mình thật lực trước thực tế tình hình mới có thể dám quyết đoán như vậy.

      Và bài thơ này là bài học về sự hun đúc ý chí cho mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi.

     Cứ nhớ lại ngày ở mặt trận Quảng Trị cuối năm 1972 thôi, sư đoàn chúng tôi vào thay các Sư đoàn 308, 204 với bửu bối của Đại tướng Võ Nguyên Giáo mà anh Hữu An trao cho, xây dựng một trận tuyến phòng ngư sư đoàn vững chắc nam sông Thạch Hãn cũng đủ thấy hai tiếng "giã gạo" nó đúng với chúng tôi kể cả nghĩa đen và nghĩa bóng biết chừng nào. Pháo hạm nó "giã gạo" chúng tôi; B.52 nó "giã gạo" chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã "trắng tựa bông" như hạt gạo đã được giã mặc dầu ác liệt thì không lường và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đại tướng Tổng Tư lệnh giao cho. Đại tướng thật sáng suất. Rõ ràng khi đó ở mặt trận Quảng Trị phải biết phòng ngự. Kinh nghiệm về những cái chốt phòng ngự kiên cường một thắng hai mươi của Bùi Ngọc Đủ và một thắng sáu mươi của Nguyễn Hữu Bảo lúc này đối với chúng tôi là vô cùng ý nghĩa. Mà Bác Hồ cũng đã viết trong "Nhật ký trong tù”: "Tiến công, phòng ngự không sơ hở, đại tướng anh hùng mới xứng danh" kia mà! Tôi nghĩ phòng ngự vững chắc ở Quảng Trị khi đó lại chính là tạo điều kiện cho Khu Tây Nguyên, Khu 7, Khu 9 tiến công.

     Có thể nói bài thơ Nghe tiếng giã gạo thấm thía với cuộc đời chiến đấu của tôi nói mãi không dứt. Chẳng những là chuyện rèn luyện trong gian lao mà những gì thuộc về cá tính không phù hợp với cương vị người chỉ huy cũng phải rèn cho sáng thêm tầm mắt và rộng thêm tấm lòng sao cho như Bác Hồ đã dạy, người chỉ huy phải như người anh nghiêm minh và nhân từ để mỗi khi làm việc gì là nhất hô vạn ứng.

      Với tôi, đây là bài học đến trọn đời.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #88 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:52:08 am »

VỊ TƯỚNG KHÉO DÙNG QUÂN

      Đó là tôi nói về cố Đại tướng Lê Trọng Tấn. Với anh, tôi có nhiều kỷ niệm rất khó quên. Tôi không đủ điều kiện nghiên cứu tìm hiểu để nói lên toàn bộ tài năng đức độ của Đại tướng mà tôi hiểu rằng đồng chí đúng là vị tướng tài của quân đội ta, là một người con ưu tú của dân tộc ta. Thật tình tôi cũng không dám làm một công việc như thế bởi nó quá với tầm suy nghĩ của mình. Tôi chỉ muốn ghi lại một vài kỷ niệm mà với tôi nó biểu hiện rằng Đại tướng thực sự là một người thầy mô phạm, một người chỉ huy mực thước và một người anh nhân từ.

     Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi là Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 312. Khi ấy đồng chí Lê Trọng Tấn là Sư đoàn trưởng.

     Đã giữ chức Tiểu đoàn trưởng nhưng năm ấy về trình độ văn hoá tôi mới chỉ có lớp 2 thôi. Kiểm tra văn hoá có câu hỏi về các hình tam giác, tôi vẽ lại nguyên xi các hình tam giác in sẵn sau quyển vở nhưng chẳng chứng minh được gì vì có hiểu gì đâu mà chứng minh. Kết quả là bài kiểm tra được có 1 điểm và phải bắt đầu học từ lớp 2. Nghĩ nực cười, học đến lớp 4, khi học phân số, thoạt đầu tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao một phần hai và bốn phần tám lại bằng nhau.
   
     Năm 1957, Sư đoàn trưởng Lê Trọng Tấn dẫn các cán bộ từ tiểu đoàn trưởng trở lên về Sơn Tây tập huấn. Quá trình học tập, tôi nhận thấy có nhiều nội dung hóc búa khó tiếp thu quá. Có lúc thoáng nghĩ cứ như cái kiểu “tứ tổ nhất đội" mà "oánh" có phải ngon không. Sau này thì tự hiểu được rằng, chính là do cái vốn văn hoá quá ít ỏi nên mới thấy các vấn đề khoa học quân sự nó hóc búa khó tiếp thu. Cái anh dốt thường bảo thủ mà.

      Một hôm, đồng chí Lê Trọng Tấn gặp tôi chậm rãi nói:

     - Là cán bộ chỉ huy quân sự phải có khả năng thiết kế được các phương án tác chiến trên mọi địa hình khác nhau, trước mọi tình huống quân địch cũng như thời tiết khác nhau . . . bảo đảm đánh chắc thắng. Đó là trách nhiệm trước cấp trên, trước nhân dân và trách nhiệm đối với máu xương chiến sĩ. Mà muốn thiết kế được các phương án tác chiến hữu hiệu thì phải tinh thông các môn khoa học quân sự, muốn tinh thông các môn khoa học quân sự thì không thể thiếu vốn văn hoá. Văn hóa là chìa khoá mở các kho kiến thức về mọi lĩnh vực quân sự, chính trị, xã hội. Bởi thế, đồng chí phải đi học văn hoá, ít nhất cũng phải học hết cấp 2 rồi về đơn vị bổ túc cấp 3. Đó chính là một nhiệm vụ mà không phải là không khó khăn đâu.

     Tôi đã về Kiến An học ba năm văn hoá hết được lớp 7 mới trở lại đơn vị. Phải công nhận rằng khi học lên cấp 2 tuy có khó nhưng rất thú vị, nhất là các môn toán, lý, hoá,  nó như là mở trí khôn của mình ra ấy. Cũng nhờ ba cái môn, đặc biệt là môn toán mà khi về đơn vị, được sư đoàn giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng pháo binh, tôi đã đỡ bỡ ngỡ rất nhiều. Chỉ sau một thời gian ngắn tìm hiểu, nghiên cứu, tôi đã có thể làm chủ được công việc của mình. Giá thử nếu chỉ mới có văn hoá lớp 2 thì đúng là chịu cứng. Khi đó tôi càng nhớ những lời khuyên nhủ ân cần của đồng chí Lê Trọng Tấn năm 1957. Đó là một kỷ niệm không thể nào quên.

     Cuối năm 1971, tôi là Chỉ huy trưởng Trung đoàn bộ binh 165 trong đội hình Sư đoàn 312, có nhiệm vụ đánh trận then chốt mở cánh cửa thép trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đó là trận diệt cụm cứ điểm quân Thái Lan trên đỉnh núi Phu Tâng. Muốn đánh vào Cánh Đồng Chum, trước hết phải diệt cụm cứ điểm này.

      Hôm sư đoàn thông qua phương án tác chiến của các trung đoàn có cả đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí Vũ Lập, đồng chí Hữu An và đồng chí Huỳnh Đắc Hương về dự.

     Hồi đó, đồng chí Lê Trọng Tấn được cấp trên hai nước Việt Lào giao cho trọng trách là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt Lào trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum. Tôi rất nhớ hôm ấy, sau khi nghe tôi trình bày phương án tác chiến đánh Phu Tâng phải áp dụng hai hình thức chiến thuật tấn công vây lấn và tấn công dứt điểm mới đảm bảo chắc thắng, diệt gọn quân địch thì cả hội nghị cười ồn ào. Tôi lấy làm lạ. Tại sao cái giọng cười nghe như là cười khẩy, chế giễu mình? Đồng chí Lê Trọng Tấn không cười. Đồng chí nhìn tôi đăm đăm rồi bảo tôi nói rõ cho hội nghị nghe. "Đánh thế nào lại dùng hai hình thức chiến thuật?". Tôi trình bày rằng, "căn cứ vào tình hình quân địch, đặc điểm của địa hình và khả năng thực tế của trung đoàn phải chia giai đoạn ra để đảm bảo tấn công liên tục chứ thực chất nó là một thể thống nhất của một trận đánh. Yêu cầu vây phải vây thật chặt không cho địch trên xuống, dưới lên bằng máy bay lên thẳng, không cho thằng trong đồn ra, thằng ngoài đồn vào trong khi đó phải tích cực lấn sâu mở cửa mở, chiếm chiến hào. Muốn thực hiện được ý định chiến thuật này, hoả lực phải đưa vào sát hàng rào, định bắn vào chỗ nào phải nhìn thấy mới bắn. Mỗi cứ điểm chỉ sử dụng một đại đội bộ binh cùng với hoả lực tấn công vây lấn tức là đã mở được các cửa mở vào đồn giặc, đã diệt được một số sinh lực địch. . . thì chuyển sang thực hiện chiến thuật tấn công dứt điểm, đánh như kiểu đánh địch trong công sự vững chắc, tức là…”

      Lúc này thì cả hội nghị lại im phăng phắc nghe. Khốn khổ, đánh kiểu như thế thì có gì mới đâu. To như trận Điện Biên, còn bé như trận đánh tập đoàn quân địch ở Bản Na vài năm trước đó, chính trung đoàn tôi đã đánh, cũng phải áp dụng hai hình thức chiến thuật như thế, vây lấn tới hơn một tuần thì chuyển sang tấn công dứt điểm. Diệt xong quân Thái Lan ở cao điểm 3 và cao điểm 11 thì 4 tiểu đoàn nguỵ Lào BS, ZDU, BV, ACI chưa đánh đã tan. Chẳng hiểu sao các vị ấy vừa thoạt nghe đã cười khẩy như vậy.

     Nghe tôi trình bày xong, đồng chí Lê Trọng Tấn hỏi tiếp:

     - Thế trung đoàn đánh Phu Tâng, còn gì khó khăn?

     - Thưa Thủ trưởng, hiện nay còn nhiều khó khăn nhưng không lớn, cán bộ chiến sĩ ở nhà đang bàn, nhất định là khắc phục được. Riêng chúng tôi, chỉ xin sư đoàn và Mặt trận tăng cường thêm một tiểu đoàn pháo và đạn cối 120 ly thì mỗi cứ điểm được thêm 500 viên.

     Đồng chí Tấn trả lời, giọng sang sảng:

     - Tôi và sư đoàn đồng ý tăng cường cho 165 thêm một tiểu đoàn pháo và 2.000 viên cối 120 ly. Xin được hỏi, liệu trong đoàn đánh có thể rút ngắn thời gian xuống được không?
      
     - Chắc là được. Thủ trưởng cho phép chúng tôi về cùng đơn vị bàn thêm.

     - Thôi được. - Đồng chí Lê Trọng Tấn khoát tay vẻ hài lòng nói một cách dõng dạc: Phương án tác chiến Trung đoàn 165 thông qua.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 07:04:38 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #89 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:54:05 am »

      Trận Phu Tâng năm ấy, kế hoạch định bảy ngày, chúng tôi đánh có hai ngày, đúng 8 giờ ngày 18 tháng 12 (1971) nổ súng đến 23 giờ ngày 19 tháng 12 thì dứt điểm. Ngay trong đêm đó, từ trên đỉnh núi Phu Tâng nhìn xuống đường 7A, 7B chúng tôi thấy đội hình quân ta tiến công vào Cánh Đồng Chum như vũ bão, xe tăng bật cả đèn pha tạo nên vùng sáng lấp loáng chuyển động. Sau này mới biết được rằng đồng chí Lê Trọng Tấn đã ra lệnh tăng tốc độ tiến công khép nhanh các gọng kìm tiêu diệt địch, người chỉ huy nào chậm trễ để cho quân địch chạy thoát sẽ bị cách chức.

     Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, có những vấn đề nảy sinh khiến tôi rất băn khoăn. Chỉ thị cấp trên đã quy định rõ là phải giữ gìn phẩm chất của đội quân chiến thắng, của người cán bộ cách mạng, người đảng viên Cộng sản, không được mua bán lung tung. Vậy mà có nhiều đồng chí vẫn mua vô tội vạ, không còn làm gương được cho cấp dưới nữa. Mà thượng bất chính thì hạ tắc loạn. Nói thật, tôi không phục dù cho đồng chí đó là cấp gì. Tôi giận lắm. Và buồn nữa. Thế giới thì đang ca ngợi, nhân dân cũng ca ngợi, một quân đội anh hùng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng, vậy mà tại sao nội bộ mình lại diễn ra như vậy? Tất nhiên không phải chỉ có chuyện mua bán.

      Năm 1977, ở Hội nghị Quân chính quân đoàn, trong bài phát biểu của mình tôi đã đề cập đến thực trạng tình hình cán bộ đảng viên nhiều đồng chí có những thiết sót nghiêm trọng.

      Có lẽ do vấn đề tôi nêu lên nó hơi gai góc nên giữa chừng Chủ tịch đoàn cứ ngắt lời, nhưng tôi vẫn nói cho đến hết mọi ý. Tính tôi nó như thế đấy, mà đã nói là nói thẳng, không rào đón và nói to.

      Phải chăng vì vậy mà ít lâu sau, tôi phải chia tay sư đoàn của mình cũng là chia tay cả quân đoàn để về phụ trách cái khu huấn luyện tân binh ở Vĩnh Yên. Có đồng chí nhận định: Kiểu tác phong ông Chuông đi đâu cũng chết.

      Câu nói đó khiến tôi phải nghĩ lắm. Vậy thì mình sai cái gì, sai ở chỗ nào? Chẳng lẽ tình hình thực trạng cán bộ đảng viên không phải như tôi nói chăng?

      Ở đơn vị mới, tôi làm rất tốt công việc của mình, được anh chị em quý mến lắm. Đơn vị có đến hai nghìn quân trong đó có gần bốn trăm chiến sĩ gái. Bạn bè có người trêu đùa tôi về cái công việc cai quản đám lính con gái này. Song tôi chẳng giận, chỉ nghĩ làm sao phát huy truyền thống bản chất đã được tôi luyện trong chiến tranh để làm tốt nhiệm vụ trong hoà bình. Tuy vậy đôi lúc tôi cũng buồn. Bao nhiêu trắc ẩn tôi gửi gắm vào trong những câu thơ viết về quê hương; nhớ quê hương cũng chính là nhớ về đơn vị mà mình đã cùng anh em gắn bó lăn lộn trên chiến trận suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Thế rồi tôi tranh thủ thời gian ghi lại cuộc đời đi theo cách mạng của mình, từ khi mới mười sáu tuổi trốn nhà vào giải phóng quân cho đến khi trở thành Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, đánh địch từ trận Khau Co mới là anh lính vệ túm cho đến khi trở thành cán bộ sư đoàn chỉ huy một mũi tiến công từ hướng bắc vào giải phóng Sài Gòn. . . Ở trên đời có kẻ thất thế giải sầu bằng rượu. Tôi cũng giải sầu, nhưng bằng cách tự khẳng định tư chất của mình trong hơn ba trăm trang viết về con đường mà tôi đã đi tới chân trời và thầm nghĩ rằng thế cũng là hoàn tất cuộc đời đi làm cách mạng của mình.
  
      May sao mà tự truyện Đường tới chân trời của tôi, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân thấy viết được lại in cho và lại còn được Giải Nhì trong phong trào viết về lực lượng vũ trang. Vậy là cái thời gian ngỡ như chỉ để hoàn tất sự nghiệp cũng không uổng.

      Nhưng một bất ngờ khác đến với tôi. Vào quãng trung tuần tháng 6 năm 1978, một đồng chí sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu, cũng là trợ thủ đắc lực của đồng chí Lê Trọng Tấn, trên đường lên Quân khu 2 đã ghé vào thăm tôi và cho biết: "Anh Tấn bảo cậu phải ra đơn vị chiến đấu. Chuẩn bị sẵn sàng, có lệnh là đi được ngay".

      Tôi bàng hoàng như đang trong giấc mơ song lại nghĩ:

      - Chân lý là tất thắng. Vậy là Đường tới chân trời có khi phải viết tiếp tập hai.

      Bốn ngày sau cái hôm bàng hoàng đó, tôi nhận quyết định chuyển lên Quân khu 2 giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 345. Thế rồi tôi trở thành Phó Tư lệnh Quân đoàn bảo vệ biên giới vùng Tây Bắc đất nước, tiếp đến thì được Bộ giao làm Phó Tư lệnh Quân khu 2 cho đến ngày về hưu.

      Tôi chắc đồng chí Lê Trọng Tấn đã hiểu được hết nỗi niềm của tôi mặc dầu sau này mỗi lần gặp nhau, cả Đại tướng và tôi đều không hề nhắc lại bất cứ điều gì về cái năm 1972 đầy bi kịch đối với tôi.

      Người xưa nói làm tướng có trí, có dũng, phải có nhân. Đại tướng Lê Trọng Tấn là một vị tướng như thế.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM