Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:28:11 am



Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:28:11 am
Nhà xuất bản: Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh, chienvit


LỜI NÓI ĐẦU


Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kết thúc đã 30 năm, những vết tích của bom đạn trên mọi miền đất nước hầu như bị xóa hết nhường lại màu xanh của cây trái sinh sôi, đồng lúa vàng trĩu hạt và những công trình xây dựng mọc lên. Nhưng trong ký ức của đồng bào đồng chí, những người đã từng sống qua cuộc chiến tranh vẫn còn đọng mãi trong lòng những kỷ niệm một thời khói lửa.


Những tháng năm gian khổ ấy, tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ những người cầm bút trên trận tuyến Báo nói - Đài PHÁT THANH GIẢI PHÓNG. Luôn theo dõi cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận của quân và dân ta diễn ra từng ngày từ miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông, Sài Gòn, đồng bằng Nam bộ đến mũi Cà Mau, nhận tin tức, bài viết của phóng viên từ các mặt trận gởi về Đài, lúc bấy giờ mỗi bài viết hoặc một bản tin ngắn gởi kịp thời về cho Đài phát thanh thật vô cùng khó khăn, gian khổ, có khi còn đổi bằng sự hy sinh của anh em phóng viên từ các chiến trường. Cho nên khi nhận được tin, bài của các anh, chúng tôi bằng mọi cách kịp thời phát di trên các buổi phát thanh Nông thôn và Thành thị miền Nam, gởi dện các giới: thanh niên, phụ nữ, nông dân và chiến sĩ dể báo tin chiến thắng... nhằm góp phần động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.


Ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Đài phát thanh giải phóng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Chúng tôi có người tiếp tục ở lại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, có người về Đài phát thanh thành phố, có người chuyển về các Đài địa phương, có người chuyển sang đơn vị công tác khác và có người về nghỉ hưu. Tuy tôi chuyển sang ngành giáo dục, nhưng tôi vẫn còn lưu giữ rất nhiều bài viết của các phóng viên trên các chiến trường trong những năm gian khổ ấy, làm kỷ niệm cho một thời để nhớ.


Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2005), tôi soạn lại các tài liệu cũ, đọc lại từng bài viết, mặc dù giấy đã cũ, chữ đã mờ, tôi không khỏi bồi hồi xúc động, đầu óc tôi như tái hiện lại những hình ảnh của một thời chiến tranh gian khố và tôi quyết định chọn lọc lại những bài viết còn nguyên vẹn tiêu biểu cho các miền từ miền Trung, Tây Nguyên cho đến các vùng Nam bộ, những năm 1969 đến 1975, chỉnh sửa theo nguyên bản vẫn giữ nguyên nội dung ban đầu của tác giả, có bài có tên tác giả, có bài không có tên tác giả. Giờ đây không biết ai còn ai mất, cầu mong cho các anh vẫn còn sống để được đọc lại bài viết của mình từ chiến trường ngày ấy, các anh sẽ sung sướng, cảm động và tự hào vì mình đã góp một phần sức lực cho ngày chiến thắng của toàn dân. Tôi hi vọng tập sách Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy, sẽ làm sống lại những kỷ niệm một thời chiến đấu gian khổ cho đất nước được thống nhất, để con cháu chúng ta hiểu được phần nào cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của dân tộc, trong đó có cha chú đã chiến đấu oanh liệt như thế nào! Gian khổ hy sinh như thế nào! Và đã giữ vững niềm tin mãnh liệt như thế nào!


Nếu như trong mỗi bài, chứ nghĩa, câu cú, văn phong có gì chưa hay, nội dung còn chân chất, sơ sài, điều đó cũng dễ hiểu cho hoàn cảnh lúc bấy giờ. Cái nguyên chất của câu chuyện là phải đổi bằng sự hi sinh, làm gì có thời giờ để gọt giũa từng chữ, câu. Có bài là truyền ngay lên làn sóng phát thanh để tin tức nhanh chóng phát đi khắp mọi miền đến với quân và dân cả vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát, nhằm góp phần động viên tinh thần để quân và dân ta đối mặt với quân thù, anh dũng chiến đấu, không sợ hy sinh. Nhưng phải công nhận mỗi bài viết đều có một nội dung sống động và chân thật, mộc mạc đến cảm động, bây giờ đọc lại vẫn còn nóng bỏng lửa đấu tranh.


Lời người sưu tầm biên soạn
NGUYỄN HỒNG TRANG


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:29:28 am
THƯ GỬI MẸ


Nguyễn Hồng Trang


Trong một cuộc chống trả quyết liệt cuộc hành quân lấn chiếm của tiểu đoàn 2, trung đoàn 16, sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn vào vùng giải phóng Chương Thiện, tiểu đội trường Ngàn quân giải phóng đã lượm được lá thư trên xác chết của một binh sĩ Sài Gòn tên là Hai Hòa, lá thư gởi cho người mẹ ở Cần Thơ có đoạn viết:

"… Má ơi! Cách đây không đầy một tuần lễ, tại một vùng giáp ranh, không ngờ con gặp lại em con. Trong bộ đồ rằn ri mà người ta bắt con phải mặc, vậy mà em con vẫn nhận ra con má à! Từ đằng xa, nó la lớn: "Anh Hai! Anh Hai ơi! Anh có nhận ra út Bình không? Em vừa về nhà thăm má đó anh Hai.

Thằng Bình mau lớn quá, con chỉ kịp nhìn thấy mặt nó dưới vành chiếc mũ tai bèo xinh xắn. Xe đi nhanh không hiểu em nó có nghe tiếng con trả lời không?!

Năm năm rồi, năm mùa nước phải không má! con biết mái nhà cũ rách nát thấy trời của mình, mùa mưa nào cũng dột. Chắc má mong tin tụi con trở về..." cuối lá thơ ký tên bằng cả 5 chữ: "thằng Hai Hòa của má"!


Người mẹ Việt Nam, người mẹ ở Chương Thiện mang nặng đẻ đau, hai lần sinh hạ. Hẩm hút nuôi con, má gởi gắm niềm mong ước vào cái tên đặt cho hai đứa con: hai tiếng Hòa Bình. Cũng mong từ đó má gọi Hòa Bình, má ru Hòa Bình từ khi các con mẹ còn ẵm ngửa. Thế nhưng, mãi gần 18 năm sau, Hòa Bình mới trở lại. Má những mong có ngày sum họp với hai con. Nhưng rồi chẳng được bao lâu súng lại nổ, vẫn bắt thằng Hai Hòa của má đi hành quân lấn chiếm. Vì vậy thằng út Bình vẫn phải chống lấn chiếm, nên tụi nó không về lợp lại mái nhà dột cho má. Ôi, quá nửa đời người má chưa có lấy một ngày vui!


Mang nặng niềm mong ước của bao thế hệ tuổi trẻ miền Nam mong muốn cho đất nước được sống trong cảnh thanh bình hòa hợp. Một em bé mồ côi với chiếc đàn độc huyền đi ăn xin giữa hè phố Sài Gòn. Em hát bài gì mà nhiều người đi đường phải nhẹ bước dừng chân, bé hát:

… Ta mong non nước an hòa
Ta mong đất nước một nhà anh em
Trời cao lồng lộng cánh chim
Ta bay ngang dọc trên trời tự do
Hò khoan cất tiếng ta hò
Ngợi câu thống nhứt cơ đồ Việt Nam...


Lại một ước mơ nho nhỏ đoàn tụ yên vui, hòa bình và hòa hợp. Xưa nay, người ta vẫn nghĩ đất trời phương Nam với eây trái xanh tươi bốn mùa, từ ngàn xưa, nơi đây vốn đã phù hợp với một cuộc sống thanh bình hòa hợp. Bất kỳ ở nơi nào, người ta cũng dễ tìm thấy một mảnh đất vừa ý để dựng lên những mái trường cho con trẻ, những mái nhà ấm cúng nên thơ, những vườn hoa đẹp mắt. Đất xứ này không thích hợp cho những bước chân mang những chiếc giầy đinh, những đoàn xe xích sắt nghiền nát mặt đường, đến những trại giam khổng lồ tàn bạo. Vì vậy một khi miền Nam còn là đất của muôn nỗi khổ đau, bom cày đạn xới nơi đây vẫn còn là đất để tuổi trẻ ươm những ước mơ.


Em bé mồ côi chẳng riêng em mong ước có một gia đình, một đất nước an hòa; tuổi trẻ miền Nam ở cái tuổi học đường này có ai là người không biết .tha với cuộc sống hòa bình. Chính sách Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ đã chôn vùi biết bao mộng đẹp của chúng ta. Hàng ngàn, hàng vạn sinh viên, học sinh vẫn bị bắt lính và đẩy ra trận để chết tức tưởi, oan uổng.


Là nạn nhân trực tiếp của một chánh quyền tay sai, phát xít, tuổi trẻ học đường đã đứng lên cùng cha anh giữ nước và họ luôn sát cánh cùng cha anh đấu tranh cho một cuộc sống hòa bình, hòa hợp dân tộc.


Đứng giữa lớp lớp rào gai dày đặc, bộ quần áo xám bó chẽn người, người lính Sài Gòn khư khư khẩu súng Mỹ trên tay nhưng cặp mắt anh lại thẫn thờ nhìn về một hướng. Ở đó quê anh với cuộc sống mới hòa hợp đang trỗi dậy. Ở đó, một cửa ngõ yêu thương, hòa hợp đã mở ra. Nhưng cái gì còn ràng buộc anh, ràng buộc tuổi trẻ trong quân đội Sài Gòn chưa tiến tới một cái bắt tay, một lời hứa hẹn với anh giải phóng quân đang đối diện với anh không quá một tầm tay. Cái gì làm cho người lính Sài Gòn chưa có được những phút đoàn tụ của cuộc sống gia đình, trong niềm vui hòa hợp. Phải chăng sau các cuộc hành quân lấn chiếm của các anh dưới lệnh chỉ huy của Nguyễn Văn Thiệu thì nhà lại cháy, em nhỏ chết, làng mạc điêu tàn.


Chính tập đoàn bán nước Nguyễn Văn Thiệu mới là những trở ngại cho tuổi trẻ trong quân đội Sài Gòn tiến tới hòa hợp dân tộc. Hãy đừng để họ tiếp tục đẩy các anh vào cái chết oan uổng, đừng để phải thất hứa với người mẹ già tóc bạc như binh sĩ Hai Hòa nào đó, trên mảnh đất Cần Thơ.


Cùng với tuổi trẻ khắp miền Nam, chúng ta hãy mạnh dạn đi đến với nhau. Đừng để cha mẹ chúng ta đau khổ một lần nữa khi thấy chúng ta còn nhìn nhau bằng ánh mắt e ngại, còn chĩa súng vào nhau như những kẻ thù. Trước mắt chúng ta một tổ quốc Việt Nam thống nhất, trước mắt chúng ta là bầu trời rộng bao la, là núi sông hùng vĩ, là đồng ruộng vàng bông, là dòng Cửu Long tươi mát bốn mùa.


Tập đoàn tay sai bán nước Nguyễn Văn Thiệu đã khơi sâu hận thù trong lòng tuổi trẻ, đã để lại những vết thương cho người Việt Nam, chánh quyền Sài Gòn phải trả lại tình thương gia đình cho những đứa trẻ mồ côi. Chánh quyền Sài Gòn phải trả tuổi trẻ lại về với họe đường phải trả người lính về với đồng ruộng với gia đình thân thương của họ. Ở đó cây cuốc vẫn chờ người chủ của nó trở về, ở đó mái nhà dột vẫn chưa có người lợp, ở đó có những mẹ già cần có những đứa con giữ nước và dựng nhà. Lịch sử dân tộc Việt Nam mỗi một khi đánh đuổi quân ngoại xâm ra khỏi cõi bờ thì mọi người dân Việt Nam đều sống trong tình hòa hợp; lấy tình thương mà xoá lấp hận thù, mà hàn gắn lại vết thương đau.


Trở lại chiến trường ngổn ngang, còn nặng mùi thuốc súng, anh chiến sĩ giải phóng quân đang nghĩ gì về lá thư gởi mẹ trên xác chết một binh sĩ Sài Gòn.

Anh xót thương một người bạn trẻ lầm lạc.

Anh thương người mẹ già sớm tối nhớ mong. Anh rút bút ghi tiếp vào lá thư mà người lính Sài Gòn chưa kịp gởi.

"… Má ơi!
Bọn chỉ huy ác ôn đã đẩy Hai Hòa vào cái chết trong cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Vậy là anh ấy không thể về được. Nhưng sẽ có tụi con trở về lợp lại mái nhà dột cho má!?...


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:30:38 am
MÙA BÔNG SEN THÁP MƯỜI


Trần Phấn Chấn


Trước tháng tư, những bông sen của Tháp Mười đã bung xòe cùng nơi khắp chốn. Sen ửng đỏ từ những bưng sâu ra những dòng kinh và hình như kéo dài mãi đến tận chân trời. Đi giữa đầm sen mênh mông đang rộ nở, nghe lệnh tấn công, người ta có cảm giác bình minh đang về trên đồng sen.


Dân Tháp Mười lòng đã tin, chí đã quyết!

Sáu năm rồi, tang tóc đau thương. Bị cào nhà, gom dân, bắn giết, tù đày, bị bắt lính, vơ vét, tệ nạn xã hội.... Đầu dây mối nhợ là còn giặc Mỹ cướp nước, còn Thiệu bán nước, thì còn đau thương.


Thời cơ đã chín muồi rồi! không còn chịu đựng được nữa! Muốn hết khổ ta phải nổi dậy đổi đời.

Từ đêm sáu tháng tư năm 1972 tin tới tấp bay về, Dương Văn Dương, Tân Hiệp... nổ súng, quân dân Tháp Mười đã nổi dậy bao vây hàng trăm đồn bót. Vài hôm sau các tiểu đoàn của sư đoàn 7, tiểu đoàn bảo an ngụy lần lượt bị diệt trong lúc đang phá vườn ở nam kinh Nguyễn Văn Tiếp. Những tên chết thì phơi thây, số còn lại kể cả bọn chỉ huy giơ tay ra hàng. Trận này chiến sĩ Đồng Tháp với trái tim rực lửa ấp Bắc, Rạch Gầm, với tư thế Quảng Trị, Bình Loa ... dàn trận, bao vây, xuất kích, bắt sống địch ngay trên đồng cỏ, giữa ban ngày, để chứng minh cho một thế giới của cách mạng, mưa bão táp tấn công và nổi dậy bắt đầu vào lúc bông sen đang nở rộ.


Trận "gió xoáy" mở màn đã quật gãy lá cờ ba que vốn đã ngả màu cháo lòng trên kinh Dương Văn Dương, để trả lại cái hùng vĩ của con kinh này. Chính những người dân ở đây cũng bỗng thấy như thay đổi lớn nhanh. Mới hôm qua, hôm kia, tàu giặc ban ngày còn ngạo ngễ đi thu thuế, ban đêm chúng còn rình rập người qua lại, thì hôm nay cũng trên dòng kinh này, họ có thể hát tự do bài ca giải phóng, kéo gần trăm người đi phá bót và có thể đi hàng đoàn xuồng máy đuôi tôm về ban đêm để chở gạo, bánh... ra mặt trận tiếp tế cho chiến sĩ ta đang bao váy chúng nó.


Ngay sau đêm sáu tháng tư ấy trên tấm bản đồ chiến sự của Tháp Mười, người ta thấy xuất hiện những điểm đỏ mới, và sau đó càng lúc càng nhiều, từ vùng Thân Thành Cái xuống hầu khắp Cái Bè, Cai Lây, Châu Thành, tấm bản đồ bỗng trở thành bức tranh màu bông sen trên đồng cỏ, hàng loạt lõm giải phóng, mảng giải phóng mới bung xoè như những cánh sen đầu mùa, len đến tận hàng rào, hầu hết đồn bót vùng nông thôn, lan sát thị trấn Cai Lây ven lộ.


Đồng bào ở vùng Nguyễn Văn Tiếp nói: Chỉ cần nhìn cái kiểu trốn chạy của lính đồn kinh M cũng đủ thấy thế ta thế địch ra sao rồi! Bọn này đội lục bình, lội kinh giữa đêm vừa đói, vừa chết dọc đường, đến đồn bên cạnh lại cũng bị bao vây, đồng bào Cai Lây náo nức về chuyện du kích truy bắt trừng trị, cảnh cáo ác ôn giữa ban ngày, ngay trong thị trấn: Từ Kiến Bình xuống Cai Lây, Châu Thành, nơi nào lính Mỹ vừa trốn khỏi đồn là du kích vào chiếm lĩnh ngay và lập tức truy kích chúng. Câu chuyện đối đáp ở đồn P có thể cho ta một ví dụ. Đồn P trước kia vốn là sào huyệt của bọn "trâu điên" ác ôn khét tiếng, giờ đây đang ngày đêm nằm trước họng súng bắn tỉa và tầm dàn thun bằng lựu đạn của du kích, chúng nó chỉ cần ló đầu lên khỏi bờ thành hay ra khỏi công sự đã thấy cái chết. Tên đồn trưởng vẫn là tên ngoan cố đến cùng, nhưng vì quá bức bách nên phải riu ríu xin được lên bờ thành nói chuyện, đã được du kích cho phép mà hắn vẫn còn run: chúng em van xin các anh, đừng bao vây nữa, chúng em xin phép ở đây chỉ để đặt lờ, đổ lợp, nuôi vợ, nuôi con thôi, nếu không thì cho phép chúng em đi nơi khác. Có tiếng trả lời:

- Không được! không được ở, cũng không được đi, muốn sống thì nộp súng đầu hàng, nhân dân sẽ cho về với vợ, con mà làm ăn.

Tên đồn trưởng muốn năn nỉ cái gì nữa, nhưng mồm hắn lập cập không thành tiếng được, phải nhờ người điện đài vốn quen lên nói thay.

Nhân dân cách mạng đổi đời cho cả những ai vốn đã có tội mà biết hối cải quay về. Được gặp những người thanh niên xung phong ở xã khó ai ngờ được rằng mới hôm qua, hôm kia còn là đội viên phòng vệ dân sự. Ngoan cố như bọn đồn Kinh Bùi cả gan mở đường máu tháo chạy thì sáu mươi lăm tên phải riu nu đi về nhà giam trước họng súng của quân giải phóng, toàn bộ số còn lại bị bỏ thây. Nhân dân ta thấy bọn này có đứa tóc tai bồm xồm, hỏi ra mới biết đã ba tháng không cắt tóc được vì bị cắm trại.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:31:31 am
Bọn sư 7 "anh cả" ngụy ở Tháp Mười vốn đã được nhân dân tặng cho cái tên "sư bể" bây giờ càng bể tợn trước thế trận của nhân dân. Đi yểm trợ phá vườn bị tiêu diệt, bị bắt sống như tiểu đoàn 2, trung đoàn 11. Đi giải vây thì bị bao vây đánh gục như bọn "rồng xanh" ở kinh Hai Hạt, bọn tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 ở bắc Nguyễn Văn Tiếp. Lính sư 7 bảo nhau: "Sừng sỏ đến như ông tiểu đoàn trường "rồng xanh" còn phải nhịn đói chém vè nữa là, năm nay đã đánh nhau là coi chừng.


Hỏi về cái kiểu đánh giặc năm nay, đồng chí du kích đang bao vây đồn say sưa trả lời: Phải nói rằng chúng nó dám trút đến hàng tấn bom đạn để giải vây cho vài chục lính quèn, nhưng bom đạn chỉ có làm cho vòng vây ngày thêm chặt. Cái khoái bây giờ là muốn bắn lúc nào thì bắn, mục tiêu rõ ràng, ung dung mà ngắm bắn là trúng!


Anh em xuýt xoa tiếc về chuyện một lần sơ hở để con “cào cào” lén sà xuống thấp ném được cơm sấy cho bọn trong bót đang đói meo. Dù chẳng đủ vào đâu nhưng thả đù thì không dám bay thấp, nửa thì vào đồn, nửa ra ngoài, đến nỗi bọn ở dưới phải vừa nhai cơm sấy vừa rủa bọn cấp trên om sòm.


Ai đã qua xã T, xã M vào những ngày này ắt sẽ được nhìn thấy những hình ảnh mới sinh động, mang nhiều ý nghĩa của bức tranh thờ sự Tháp Mười vào đầu mùa bão táp. Xã M nơi trước kia hầu như mỗi bờ trâm bầu, mỗi khúc kinh đều có giặc, bây giờ thì tất cả chúng nó đã phải chui rút vào cái ổ chuột đào dưới đất trong mấy đồn bót không kịp rút chạy ngay từ đầu. Trước kia có khi chỉ vài tên đã có thể di ngạo nghễ đi từ đầu làng đến cuối xóm thì bây giờ mọi việc nấu cơm, lấy nước, đi tiểu của chúng đều trở thành vấn đề sống chết vì tất cả đã nằm trong họng súng bắn tỉa, dưới tầm súng bốn vòng cầu, dàn thun bắn lựu đạn của du kích. Trên các vành đai vây ép, người ta thấy có mặt bác nông dân, người du kích trẻ, anh chiến sĩ giải phóng. Nếu được dện các ấp kinh M, kinh C, ắt sẽ thấy cái rộn rịp của vùng mới giải phóng này. Đêm qua, nơi đây còn là ấp chiến lược thì đêm nay là ánh lửa đỏ bập bùng của những cuộc họp bàn mưu hiến kế xoay quanh các vấn đề cấp bách, sôi động nhất của thời sự: bao vây, diệt đồn, phá ấp chiến lược, rước đồng bào về, phục vụ tiền phương.


Xã T ở ngay trên lộ 4 đã từ lâu nổi tiếng về nhưng chiến sĩ du kích kiên cường bám trụ, hôm nay với lửa đồng khởi rừng chãi hiên ngang như một pháo đài thép đứng đó thách thức với quân thù. Nằm trên con đường huyết mạch, chúng nó đã dốe hết sức cắm vào đây bốn cái chốt thì vừa bị du kích nhổ bật mất 2 còn 2 đang bị vòng vây siết chặt. Thanh niên bị bắt ép vào phòng vệ dân sự đã trở thành lực lượng cách mạng đánh lại chúng. Để nhìn rõ quân thù mà hỏi tội "nhân dân vừa xây xong pháo đài gọi là pháo đài vây ép, cái pháo đài ngày đêm đứng sừng sững uy nghi. Người du kích xã T đứng trên đỉnh đài sẽ nhìn rõ được quân thù và bất kể ai có nợ với dân phải trả nợ đích đáng. Nhìn cái vẻ hiên ngang vững chãi của pháo đài, người ta có thể thấy được cái thế cao và mạnh của người dân Đồng Tháp và bỗng nghĩ đến một cái gì rất hùng tráng, rất dữ dội của cả một dân tộc không biết quỳ, chỉ biết đứng. Đồng chí xã đội cho biết, những khúc dừa, trâm bầu... và bốn trăm bao đựng lúa này đem đựng đất dựng lên thành pháo đài đó là của tất cả bà con xưng quanh góp lại. Ngày đầu có hơn 80 người đến xây, hôm sau con số đó tăng lên hàng trăm. Người cao tuổi nhất là ông già 60, râu dài đến ngực, kế đến là bà lão xấp xỉ tuổi đó... cuối cùng là lớp nhỏ 11, 12, chỉ sau hai ngày đã có thể trèo lên đỉnh đài nổ những phát đạn đầu tiên vào đầu chúng nó. Đêm qua có cuộc họp đại hội thanh niên ấp H bàn các vấn đề, không có gì quý hơn độc lập tự do, muốn độc lập tự do thanh niên phải làm gì ? Bàn xong có 17 cô gái, 4 thanh niên xin vào dân quân, du kích. Ba chị em ruột L, N, B, hai cha con cô B ghi tên một lượt, hàng loạt vấn đề cấp bách mới mẻ đặt ra với chánh quyền cách mạng, các đoàn thể, các ấp đội, xã đội bảo vệ vùng giải phóng, ổn định đời sống nhân dân. Ai bao vây cứ điểm tiếp tục bao vây, ai lo sản xuất, lo việc xã hội, cũng phải bắt tay ngay từ đầu, lửa đồng khởi rực cháy trên vành đai vây ép, rực cháy trên cả ruộng đồng và trong... các lớp học. Mới trận đầu ra quân đã có con kinh được nối dài thêm hàng ngàn thước, đồng ruộng cày cấy lỗ chỗ hố pháo đã được vá lành lặn và cắm lên trên lá cờ chiến thắng, các em nhỏ ở vùng mới giải phóng đã có ngay lớp học, để cắp sách đến trường. Một cuộc sống mới với những tình cảm mới đang đâm chồi bên những vành đai vây ép. Xã T một mảnh đất nhỏ của Tháp Mười, những ngày hôm nay đã làm nên một hình ảnh khá tiêu biểu của bức tranh thời sự vào đầu mùa bão táp trên cánh đồng tám trăm ngàn mẫu đất thuộc vùng sông Cửu Long này. Và phải chăng cũng tại nơi đây, người ta có thể tìm thấy những nhân tố, những hình ảnh một Tháp Mười ngày mai đang hoàn toàn giải phóng.


Bão táp, mới là đầu mùa, những khi gió đã nổi thì lòng càng thêm tin, chí càng thêm quyết: khi đã quyết thì không gì có thể ngăn.

Ở kinh Đ đoàn thuyền đang chuẩn bị ra đi thì bọn giặc chặn súng vào đồng bào bắt chạy theo chúng. Lập tức đồng bào tố cáo ngay cả bọn này:

- Không được lấy dân làm bia đỡ đạn!

Không được trà trộn với dân để tẩu thoát! Đoàn thuyền rầm rập kéo nhau đi lúc chúng nó buộc phải chúc họng súng xuống đất!

Hàng ngàn bà con phá ấp chiến lược, bỏ ấp chiến lược trở về.

Địch điên cuồng trút bom đạn xuống ngay những nơi mà lá cờ sọc chưa kịp hạ. Đêm, máy bay bắn pháo sáng, vãi đạn đổ trời.... Nhưng tất cả sắt thép và pháo sáng ấy không ngăn nổi bóng tối đè nặng lên hang ổ của chúng nó đang bị siết chặt trong vòng vây thế trận của nhân dân. Đồng bào nói: "thằng Ních-xơn chết nó cũng liều, nhưng quyết không sợ!". Dân ấp chiến lược lần lượt trở về ấp giải phóng dù nơi đây chúng đổ xuống biết bao nhiêu bom đạn, dù chúng tịch thu hết tài sản của dân trong ấp chưa kịp mang đi.

Tự do vẫn hơn tất cả!

Đất vườn xưa ở đâu về đó, người về trước chặt cây, cắt đựng giúp đỡ hầm núp cho người về sau, chánh quyền cách mạng Kiến Tường đã cấp ngay ruộng đất cho bà con mới về cũng như xã T đã có ngay lớp học cho trẻ em...


Cuộc nổi dậy của Tháp Mười rồi đây càng quyết liệt, cái gì phải tới nó đã tới và sẽ tới.
Mùa sen sớm dã nở rộ, làm nên buổi rạng đông của Tháp Mười. Những lá cờ cách mạng đã được cắm giữa thiên nhiên hữu tình cùng nơi khắp chốn. Trên biển cỏ xanh, tận chân trời có hàng hà sa số những bông sen cánh đỏ bung xòe ra, nắng lên giữa đất trời lộng gió những nhụy sen vàng rực rỡ.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:32:25 am
LỬA TRÀM


Mai Nga


Đêm đã khuya, trong ngôi nhà nhà lợp lá dừa nước dựng lại bên bờ kinh, bà má lặng lẽ đưa thêm mấy thanh củi vào bếp, ngọn lửa bốc lên, soi gương mặt phúc hậu với vầng trán đã hằn vết nhăn của má. Mùi gỗ tràm cháy thơm thơm toả khắp căn nhà nhỏ.


Từ chiều tới giờ má cứ bồn chồn trong dạ. Đêm nay xã mình gỡ cái bót ở cuối ấp, má hết đứng lại ngồi, tay làm mà lòng dạ để mãi đâu đâu, má lo cho việc gỡ bót đêm nay có đầu xuôi đuôi lọt không? Nghĩ lòng vòng má lại lo cho cả mấy đứa dân vệ còn nằm trong bót có nhớ lời dặn khuyên mà biết đường biết ngõ ra sớm với bà con không. Tụi nó mà ngon dám nổi dậy khởi nghĩa như cánh thằng Sơn ở vườn Hai Tu hôm nọ thì lũ ác ôn hết cớ kềm giữ được Thằng Sơn sau cái đêm lập công lớn trở về, bây giờ nó với mấy anh em bạn nghĩa binh cũng vô bộ đội được các má các chị thương biết mấy là thương. Nó thứ năm nên đi tới đâu là lũ nhỏ trong ấp líu ríu chạy theo kêu "Anh năm khởi nghĩa! Anh năm khởi nghĩa!” mấy ông già thì gật gù "Thằng Sơn khá lắm! Thế mới biết hễ có hiếu với bà con, có nghĩa với làng nước thì dù ở đâu cũng có dịp làm nên chuyện lớn".


Bà má nghe những lời ấy ngẫm nghĩ cũng thấy thương thằng Sơn với mấy đứa con nghĩa binh vườn Hai Tu. Nhớ tới đêm tụi nó khởi nghĩa cũng khuya chừng này má đang còn nằm trằn trọc thì nghe tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ dữ dội lên ở miệt vườn Hai Tu, nơi tiểu đoàn thần hổ 414 đóng chỉ huy. Chắc đàng mình về đánh tụi thần hổ, má vùng ngay dậy chạy ra ngoài sân nhìn ngóng về phía súng nổ. Lúc đó má chưa biết là thằng Sơn khởi nghĩa, miệt vườn hai Tu chớp lên những ánh lửa. Rồi phút chót những đám lửa lớn bùng cháy, sáng rực cả một vùng. Tiếng đạn nổ không dứt. “Đánh lớn rồi" ngày má với bà con trong ấp tháo cũi sổ lồng, về cất nhà trên nền đất cũ mần ăn đã đến rồi! Cả xã Đông Thái này trông ngóng cái ngày đó.


Lòng bồi hồi má cứ đi vào đi ra nhìn ngọn lửa đang cháy như thiêu cháy chuỗi ngày nhọc nhằn đã qua mà mừng, mà nghĩ miên man về những ngày tự do sắp tới.
Suốt đêm đó má không ngủ.


Không phải đến lúc anh Sơn cùng mấy anh em trong đơn vị bảo an "thần hổ 141" khởi nghĩa, má và bà con trong ấp mới biết anh. Từ hồi cuối năm ngoái, khi tiểu đoàn "thần hổ" kéo về bình định ở xã Đông Thái và đóng chỉ huy sở trong vườn Hai Tu trung tâm của xã, má và bà con trong ấp đã bị lùa gom vào một khu vực gần đồn để chúng dễ bề kiểm soát kìm kẹp, rồi một tháng không biết mấy lần bọn ác ôn trong tiểu đoàn xua linh đi phá vườn, chặt cây dỡ nhà để bắt những ai còn bám đất bám vườn phải vào ấp chiến lược mà ở. Cây trái trong vườn của má sai trái thế mà cũng bị chặt dứt lìa thân. Nhựa trào ra từ những vết chặt rồi đọng khô lại. Tưởng như cây cũng chảy máu, cũng đau đớn, oán thù.


Trong những lần tụi ác ôn kéo vào ấp làm càn phá bậy, má để ý thấy giữa những lũ quạ dữ đó có một người lính hơi khang khác. Anh ta thường tìm cách kín đáo can gián đồng đội của mình mỗi khi họ được lịnh phá vườn, dỡ nhà hay khi có người lính vào đó học đòi xu phụ theo bọn cướp giựt tài sản của bà con.


Những việc làm của anh ta tuy kín đáo nhưng má để ý biết được. Gặp dịp má tìm hỏi chuyện anh ta và được biết anh ta là Sơn trước khi bị bắt làm lính thì anh ta cũng là dân cày cuốc miệt vườn "ờ có vậy chớ! Những người cầm cây phảng, cái cuốc đã chai bàn hay đâu có dễ gì trong chốc lát mà xô nhà, phá vườn, cướp giật mồ hôi nước mắt của bà con mình". Má thầm nghĩ như vậy, có lần má mời anh Sơn vô nhà chơi nói chuyện ba đồng bảy đỗi rồi đột nhiên má hỏi "ở miệt dưới cháu có nhiều tràm không?" Nghe anh Sơn nói có nhiều má ngồi im một lát rồi giọng nhỏ nhẹ, giống tràm cũng thiệt lạ cây bao giờ cũng thằng đuột, bông thơm đã đành, lá, cành cũng thơm, tràm lụt ngâm với nước sình mấy càng ngâm càng cứng, làm củi chụm thì vừa hửng lửa vừa đượm than, tràm mọc thành rừng thì đố ai xô cho ngã. Con người ta sống được như cây tràm cũng đáng phải không cháu?


Anh Sơn ngồi lắng nghe má nói anh hiểu, má không chỉ nói về cây tràm.

Sau bữa đó anh Sơn được bộ đội chi viện từ bên ngoài đã chỉ huy mấy anh em binh sĩ yêu nước khác nổi dậy giành thắng lợi, má cùng bà con trong ấp phá bung, phá kẽm gai trở về cất nhà trên nền cũ.


Cái nhà cũ của má đã bị tụi ác ôn "thần hổ" phá nhưng nền thì vẫn còn đây, dựng lại nhà mấy hồi, hôm má quảy đôi thúng đựng cả gia sản về vườn cũ, các anh em du kích xã đã tới phụ với má cất lại ngôi nhà lợp lá dừa nước, cột làm bằng cây tràm bên dòng kinh.


Má nhớ hôm đó trong bữa cơm gọi là mừng nhà mới, mừng những ngày sống mới, giữa đám con du kích ấp má đã chỉ vào anh Sơn và mấy anh em binh sĩ khởi nghĩa ở tiểu đoàn "thần hổ" nay đã là chiến sĩ giải phóng vui vẻ nói: "tụi bây coi thằng Sơn có giống cây tràm không? Hổ thần chỉ ăn thịt người phá vườn tược bà con, cuối cùng cũng bị người giết chết, còn cây tràm thì sống với người, chung thuỷ với đất, nên bông thơm mà lá cành cũng thơm, nghe má nhắc đến câu nói bữa nào anh Sơn nhìn má cười.


Khuya lắm rồi mà phía cái đồn cuối ấp còn im lặng. Lấy thêm mấy thanh củi cho vào bếp má lắng nghe ngoài hàng cây sủa đũa, có tiếng con bìm bịp kêu từng chập xao động, trong bếp những thanh củi tràm bắt lửa nổ lép bép. Mùi tràm cháy thơm dịu tỏa nhè nhẹ trong đêm.


"Chẳng biết tụi trong đồn có biết theo gương thằng Sơn mà đứng lên không?" má vừa lo vừa mong. Mấy đêm nay đêm nào du kích xã có bà con giúp sức cũng bắc loa phổ biến 10 chánh sách và kêu gọi binh sĩ trong đơn vị hãy đứng lên khởi nghĩa trở về với làng xóm. Chính thằng Sơn cũng gọi loa báo tin và kể lại chuyện khởi nghĩa ở vườn Hai Tu thắng lợi làm sao để cho mấy đứa trong đồn còn biết cách, biết hướng mà làm. Nghe nói, thắng Sơn còn nhắc lại câu nói của má về cây tràm cho mấy đứa trong đồn nghe, ừ mà tụi nó cũng vốn là dân làm ăn, thiệt thà chơn chất cả thôi. Xoa hai bàn tay, dấu tay còn nổi. Thằng Mỹ Thiệu muốn uốn cong bẻ quẹo chúng nó, muốn làm cho chúng nó lạnh tình lạt nghĩa thì mình phải làm sao để cho chúng nó lại mọc thẳng được như cây tràm, lòng chúng nó lại ấm áp tình nghĩa như lửa tràm, như thân tràm.
Má cời bớt than, rồi đẩy mấy thanh củi cháy sâu vào bếp, mùi gỗ tràm thơm thơm toả ấm căn nhà.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:33:35 am
“NGƯỜI VỀ ĐỒNG LÚA"


Tư Hùng

Trời vừa đổ cơn mưa mà áo Tư Đàn vẫn bê bết mồ hôi. Anh đợi mãi mà vẫn không thấy bóng dáng ông đầu chải "tăng gô” láng mượt đâu hết. Trước mắt anh vẫn những người chân đất, những cựu chiến binh mất tay hoặc mất chân chầu chực xin việc và một cái văn phòng sạch sẽ, sang trọng "văn phòng tuyển mộ công nhân" sừng sững.
"Văn phòng tuyển mộ công nhân” đứng đó, nó như kêu gọi lòng nhẫn nại mà cuộc đời đã dạy bảo anh. Chính nó là một hũ gạo, là một ngôi nhà ấm êm mà con anh sắp được hưởng. Chỉ một lát nữa thôi, cánh cửa văn phòng sẽ mở, và ông ta sẽ ra... chính anh đã đưa ông ta 5000 đồng và một tờ khai lý lịch nữa mà... cái nóng bức ban trưa đang bị những cơn gió nhẹ đầu chiều xua đuổi. Lác đác đã có người bỏ về. Vững bụng như anh mà vẫn thấy trong lòng nao núng. Thằng nhỏ bán cà rèm từ sáng tới giờ, nó cũng đã mời khách đến khô nước miếng. Đến trước mặt anh nó cười thiệt dễ thương rồi nói:

- Chú ăn đi! Cà rem đậu xanh nè, cà rem sữa nè, cà rem sữa sô cô la nữa nè!

Tư Đàn ngẫm nghĩ một lát, anh moi hết mấy túi, còn sót lại một trăm đồng rồi đặt lại tay thằng nhỏ.

- Chú cho con, chứ chú không ăn đâu!

Thằng nhỏ chớp chớp mắt, nó định nói câu gì thì bỗng cánh cửa văn phòng kẹt mở. Tư Đàn mừng hùm. Một cô gái có cái đầu kiểu sư tử ló ra, quát tháo thằng nhỏ bán cà rem cây rồi tuyên bố một câu cụt lủn:

- Nè mấy người! Hôm nay "văn phòng" không làm việc đâu nghẹn!

Nói rồi khép cửa cái "rầm" như trả lời những kẻ nào muốn hỏi thêm nữa.

Cũng may cuộc đời đã sớm dạy cho anh cách nhịn nhục, chẳng phải chỉ một lần này, mà đã nhiều lần, chẳng có lần nào nhục hơn lần nào cả. Cái lần gần nhứt cách đây một tháng, khi anh lê gót tới một hãng xăng dầu tìm lấy một chân gác. Với khuôn mặt khôi ngôi và thân hình vạm vỡ hơn người mà trời phú cho anh, ông chủ hãng xăng dầu tiếp anh như một người bắt được của. Cầm ly nước trà còn bốc khói và điếu thuốc lá thơm, ông ta ân cần dưa tận tay Tư Đàn. Rủi ro thay, điếu thuốc lá hụt tay, rơi xuống cạnh cái chân giả bằng gỗ đã bị sứt một miếng lớn của anh khiến nụ cười ông chủ tắt ngấm. Mặt y sắt lại còn Tư Đàn thì bối rối vô cùng. Anh nói:

- Ông thương cho tui, coi vậy mà tui đi nhanh lắm, hổng ai bì kịp đâu. Tôi, tôi đã đi khắp cái thành phố Sài Gòn cũng bằng đôi chân này đó ... nhưng ở đáu người ta cũng không nhận vì người ta không biết năng lực tôi làm. Còn ông, tôi đã nói hết nước hết cái rồi, ông nhận tôi nghe ông ...


Tư Đàn còn nói dài dài lắm. Nhưng cứ nhìn vào cái mặt ông chủ với nụ cười hình như không bao giờ trở lại nữa mà giọng anh thấy đuối dần, đuối dần... rồi tắt ngấm.
Còn bây giờ, dù cô gái với cái đầu kiểu sư tử kia có tuyên bố một câu "hôm nay không làm việc" thì anh vẫn có nhiều lý do để hy vọng, để chờ đợi. Tại đây, tại cái "văn phòng tuyển mộ công nhân này” người ta đã nhận của anh 5000 đồng, và 1 tờ khai lý lịch mà trong đó anh cố tô đậm mấy dòng chữ:

- Chức vụ gì: Thiếu uý không quân quân đội Sài Gòn.

- Xin về việc gì: Bất kỳ việc gì, kể cả gác cổng.

5000 đồng và một chức vụ không xa xăm gì của thời trận mạc; chức vụ: Thiếu uý. Bằng từng ấy chắc đã hơn người, nên họ phải lưu ý thôi.


Tư Đàn nghĩ vậy mà thấy gân cốt đã dàn dàn ra, chân anh cũng mềm mềm trở lại, ít đau buốt hơn. Anh nhìn lần nữa cái “văn phòng tuyển mộ công nhân” rồi bỏ đi, chẳng biết mình là người sau cùng rời bỏ nơi đó. Khi thằng Đốc đứa con út của Tư Đàn nhìn thấy anh thì trời đã nhá nhem tối, nó mừng quá, bương bả chạy tới. Tư Đàn ôm con vào lòng, áp cái mặt bết sình của nó vào lòng mình. Anh bỗng thấy bụng con lép xẹp, sôi o..o...

- Sáng giờ, con chưa ăn gì chớ Đốc?

- Chưa ba à! má biểu chờ má đi mượn gạo, con chờ hoài mà hổng thấy má về.

Từ mỗi tiếng non nớt của đứa trẻ, anh thấy lòng mình như có ngàn mũi kim châm. Cuộc đời hơn 7 năm làm lính cộng hoà và 3 năm làm một viên thiếu uý, anh đã đi bao nhiêu chặng đường, đã làm bao nhiêu việc, nhưng cuối cùng để làm gì mà con anh vẫn đói, vợ anh vẫn chạy ăn từng bữa. Anh kéo con vào sát lòng mình hơn rồi nhìn vào nét mặt nó như hứa hẹn điều gì.


Sáng hôm sau, Tư Đàn dậy thiệt sớm, anh ém lại cái mùng rách cho con, rồi lặng lẽ ra đi. Hy vọng cuối cùng của anh là gặp lại người đàn ông chải đầu "tăng gô" láng mướt kia.

Ba mươi phút, bốn mươi phút, một giờ, rồi hai giờ trôi qua anh đã đứng trước mặt cái "văn phòng tuyển mộ công nhân" nhưng vắng ngắt và chỉ còn lại 4 chiếc cọc gỗ.

- Cháu nhỏ ơi! cái "văn phòng tuyển mộ công nhân" ở đây đi đâu rồi cháu? Tư Đàn gọi thằng nhỏ bán cà rem cây vừa thoáng qua.

- Nó dọn đi từ đêm hôm qua rồi!

- Đi đâu hả cháu?

- Có trời mà biết được!

Nói tới đó, thằng nhỏ bán cà rem cây chạy lại gần anh, nó kéo Tư Đàn thấp xuống... không biết thằng nhỏ nói gì, chỉ thấy sắc mặt người phế binh tội nghiệp tái dần rồi quị xuống. Anh hổn hển trong hơi thở tức giận.

- Trời ơi! lại có cái "văn phòng" giả vậy sao!

Rồi như cái hận với cuộc đời lận đận tột đỉnh, Tư Đàn vụt đứng lên, dùng mọi sức lực còn lại kêu lớn:

- Hơn 10 năm trong quân lực cộng hoà, tao đã bị lừa, bây giờ trở thành một phế binh, tao cũng vẫn bị lừa! Không phải chúng bây lừa một mình tao, chúng bay lừa cả một đàn con đói khổ của tao, chúng bay lừa một người vợ nghèo khó suốt lời của tao!
Tiếng anh nấc lên, nghẹn ngào. Đi đâu bây giờ! anh biết đi đâu! trở về với đàn con ư! ạnh biết nói gì khi tiền lương đã mất sạch, khi một lời hứa trở thành một bóng ma. "ta không thể trở về!" anh lẩm bẩm rồi đứng dậy đi.


Đến lúc này, anh cũng chẳng cần giấu đôi chân tập tễnh của mình làm gì nữa, mặt nó xiêu vẹo đến đâu thì đến. Chiều bắt đầu xuống, phố xá lùi dần sau lưng anh, tiếng ồn ào của xe, của người thưa dần rồi tắt hẳn. Vùng ven với một khoảng trời xanh đang đứng trước mặt, khi chân anh giáp với ruộng lúa vàng thì trời cũng vừa sập tối. Anh cứ đi đại giữa ruộng lúa vàng. Lúa chín quấn vào hai chân anh, nghe xào xạc. Chưa bao giờ anh thấy mùa lúa thơm đến như vậy. Nó không phải thứ thơm nồng nặc của thứ dầu thơm Hoa Kỳ, cũng không phải cái mùi hăng hắc, lờm lợm của mồ hôi người pha lẫn với rượu mạnh và khói thuốc lá từ những khách sạn xông ra. Nó dịu dàng, ngan ngát làm sao. Đến giữa ruộng, anh ngồi xuống, lúa lút đầu anh. Anh đón một bông lúa vào tay và chăm chú nhìn những hạt dài thon thả: Phải! lúa nàng hương đây, một giống lúa nổi tiếng quê vợ anh đây. Hơn 10 năm trước anh đã đặt chân tới đất của thứ lúa này. Quê ngoại sắp nhỏ nhà anh đây mà. Nghe người ta nói bây giờ là đất của giải phóng, của ấm no rồi... 10 năm đi làm lính cho ông Thiệu, ông vẫn không nuôi nổi mình chứ còn lúa thì nuôi mình suốt cuộc đời. Rồi anh đứng vụt dậy. Anh đi như chạy về hướng thành phố... anh trở về cái xóm nghèo để nói với vợ con anh một câu thôi. Rằng: ở đây, cuộc sống ấm no mà không cần có 5000 đồng đưa trước.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:34:33 am
SỐ PHẬN NỮ SINH SÀI GÒN


Hồng Giang

Chị em nữ học sinh, sinh viên nghèo trong các đô thị thuộc vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát, từ lâu bị chế độ Thiệu đẩy vào khổ nhục cả trong khi còn đi học và khi vào đời Chị em phải đương đầu với bao nỗi lo âu, tủi nhục đau dớn ê hề. Chị em muốn vươn lên để tìm cho mình một chỗ đứng xứng đáng trong xã hội, nhưng cái xã hội miệng hùm hang sói Mỹ - Thiệu luôn đe doạ tâm hồn của họ. Cuộc sống của chị em là một chuỗi ngày dài nặng trịch. Chị em muốn thoát nhưng chế độ hiện hành của Thiệu dã đẩy đưa không biết bao nhiêu chị em phải bán thân nuôi miệng. Có nhiều chị em và cả gia đình buộc phải tự tử, vì khổ nhục, vì nghèo đói và không có đường sanh sống, có những chị em bí lối nên đã nhắm mắt bước liều Ngày 22/7 vừa rồi, lại có thêm một nữ sinh 18 tuổi đã tẩm xăng tự thiêu giữa Sài gòn vì thất vọng về thi cử.


Theo các báo xuất bản hàng ngày ở Sài Gòn thì năm học 1973 - 1974, tiền học phí tăng vọt. Giá sách, giá vở và các khoản đóng góp cũng tăng, kế đó đời sống hằng ngày càng mắc mỏ do nền kinh tế chiến tranh của Mỹ - Thiệu gây nên, làm cho đời sống càng thêm ngột ngạt. Vì vậy có từ 30% học sinh trường công bỏ học, có từ 60% học sinh trường tư bỏ học, trong đó phần đông là nữ sinh (Báo Điện tín 25/12/19 73): Những “tà áo trắng" năm nào nhởn nhơ và dịu dàng trên sân trường, giờ đây họ phải quay cuồng trong cơn lốc cuộc đời.


Bị gạt ra khỏi ghế nhà trường, những nữ học sinh, sinh viên nghèo ấy, không biết làm nghề gì để kiếm sống và để sống sao cho khỏi hổ thẹn với lương tâm.

Chế độ Mỹ - Thiệu có bao giờ biết nghĩ đến nguyện vọng và quyền sống của phụ nữ. Khi rời khỏi ghế nhà trường, nếu gia đình khá giả thì dựa vào gia dình, nếu không. dựa vào gia đình thì chỉ có lang thang, nếu có tìm được việc làm đi chăng nữa thì cũng chỉ là những việc làm rất bấp bênh, hoặc đi may thuê vá mướn, hoặc kèm trẻ tại các tư gia, hoặc làm chiêu đãi viên ở các quán ăn khách sạn... với đồng lương rẻ mạt, nếu không khôn khéo giữ vững phẩm giá thì cũng rất dễ bị xã hội xô đẩy đến sa ngã uất hận suốt đời. Báo Điện tín số ra ngày 10/12/1973 cho biết: làn sóng sa doạ dang lan tràn khắp các đô thị miền Nam, hiện có trên năm vạn thiếu nữ từ 15 đến 17 tuổi thất học đang được các mụ "tú bà" dạy cho làm nghề mãi dâm. Một điều thật đau xót đối với những người làm cha làm mẹ chúng ta.


Một công chức già ở Sài gòn đã nhìn thấy cảnh tượng rùng rợn ấy, ông lắc đầu lo cho số phận của đứa con gái 16 tuổi của mình. Ông tâm sự với con: “Con ơi! thà chịu đói, chịu rách mà giữ được lòng trong sạch hơn là vì miếng ăn mà cam tâm đi làm nghề ô nhục ấy!" một nữ học sinh 18 tuổi, học sinh trường trung học Gia Long, sau khi bị thất học, vì cuộc sống, vì chén cơm manh áo nuôi gia đình, cô đi khắp Sài Gòn vẫn không tìm được việc làm, đến đâu người ta cũng nói "thừa" người. Cô thất vọng, cô căm giận, cô gào thét, cô chửi bới, cô nguyền rủa giữa phố phường đông đúc người. Và một đám người không biết từ đâu kéo đến đưa cô gái ấy đi. Vài ngày sau người ta thấy người con gái điên loạn ấy mặc "tà áo trắng" thướt tha, tay xách bóp đầm, miệng ngậm điếu thuốc thơm, môi đỏ chói, ngồi tán chuyện với mấy gã thanh niên con của các ông "Bự". Hỏi ra mới biết cô đã được lòng nhân từ của mụ "Tú bà" nhận làm con (Báo Đại dân tộc 18/4/1974).


Cảnh đời của chị em nữ sinh nghèo là như vậy, còn đối với những nữ sinh còn được ngồi lại ở ghế nhà trường, họ cũng không cảm thấy hãnh diện gì, mà họ cũng có bao nỗi băn khoăn cho số phận của mình tương lai, xã hội sẽ giành cho họ những chỗ đứng ở đâu? Nạn ma tuý xâm nhập vào các trường, nhiều nữ sinh con nhà "danh giá" bị đẩy vào con đường mại dâm, thi sắc đẹp, hội nhạc trẻ lai căng, dâm đãng... lúc nào cũng đập vào tâm hồn của họ, đã đưa đến biết bao nữ sinh đua nhau với bạn trai trên con đường "Sống gấp, hưởng mọi lạc thú rẻ tiền". Một nữ sinh phải kêu lên rằng: "Học đường ngày nay không còn là nơi để tìm kiếm và phát triển tài năng khoa học nữa.." Cô Nguyễn Thị Thu Hiền con của một gia đình "khá giả" sinh viên năm chót khoa Luật tự hỏi mình: "... Tôi không hiểu thi đậu rồi làm gì nữa? Hình như có cái vòng lẩn quẩn trên đầu nền giáo dục xứ này, không biết khi nào mới gỡ được?"

Nhiều nữ sinh đã bỏ học cũng như những nữ sinh còn trong ghế nhà trường, đều cùng chung một số phận, bởi cuộc sống đen tối như vậy, đã dày vò tâm hồn, họ phải kêu lên rằng:

"Khi tôi bước ra cuộc đời
Tôi đi đâu
Tôi sẽ về đâu?”


Bởi vì trước mắt họ nghề nhà giáo dang lụn bại, nữ công chức bị hạn chế và bị sa thải, các hãng buôn, xí nghiệp mời về vườn không biết bao nhiêu kỹ sư "nội hoá"... vòng lẩn quẩn lúc nào cũng quay cuồng trong đầu óc của chị em ta.


Cuộc đấu tranh rộng lớn của đồng bào ta trong các đô thị miền Nam, đòi hoà bình, đòi quyền sống như dòng thác lớn cuồn cuộn. Hàng trăm, hàng ngàn chị em ta đã nhìn thấy ánh sáng của tương lai hạnh phúc nên đã hoà chung một dòng thác của toàn dân tranh đấu. Chị em đã cùng với đồng bào các giới đòi Thiệu phải giải quyết công ăn việc làm, đòi thực hiện hoà bình, hoà giải và hoà hợp dân tộc, đòi tự do, cơm áo và học hành.


Chị em ta đã hiểu sâu sắc rằng: cơm ăn, việc làm, học hành có được là do bản thân mình tranh đấu mà giành lấy Chính bọn Mỹ - Thiệu đang tiếp tục chiến tranh, phá hoại hoà bình, phá hoại Hiệp định Pari nguồn gốc sâu sa gây bao nhiêu tủi nhục, khổ đau cho chị em ta. Chế độ thối nát của Nguyễn Văn Thiệu, công cụ của Mỹ tiếp tục chiến tranh phá hoại hoà bình còn tồn tại thì khổ nhục, đói kém của chị em ta còn tồn tại.
Vì vậy chị em ta đã cùng đồng bào các giới đòi Mỹ Thiệu phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari, thực hiện hoà bình, hoà giải và hoà hợp dân tộc, đòi học hành, đòi có công ăn việc làm chánh đáng, đòi tôn trọng các quyền tự do dân chủ như Hiệp định Pari đã quy định.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:36:02 am
SỰ ĐỔI ĐỜI


(Khuyết danh)


Dọc theo quốc lộ 13, tôi đạp xe về hướng Lộc Ninh. Từng lô cao su cứ nối tiếp nhau chạy dài như vô tận. Những cây cao su mập mạp căng sữa vươn mình che kín con đường. Đi dưới hàng cao su mà tôi cừ ngỡ là mình bị lạc vào một vườn cây rừng thơ mộng như bị choáng ngợp, đầu óc suy nghĩ miên man.


Khi chưa đến đây tôi đã được nghe kể về rừng cao su Lộc Ninh, về sự đổi đời của người công nhân cạo mủ, nhưng khó mà hình dung được hết cái vĩ đại và cái bình dị ở vùng đất đỏ này. Cũng những hàng cao su nằm trong từng lô vuông vắn nhưng bây giờ khác xa rồi. Trước ngày bộ đội ta về giải phóng Lộc Ninh cách đây hai năm, rừng cao su gần như không được ai ngó ngàng tới. Mặc cho cây oẻ đua chen chèn ép những cây cao su đang thời dậy thì. Mặc cho những chiếc máy ủi, máy húc, xe tăng, bom đạn cày xới, Mỹ ngụy Sài Gòn tự do cun chặt. Người công nhân cao su hơi đâtr mà ngăn cản và tu bổ cho nó xanh tươi như hôm nay, bởi vì lúc đó cao su chỉ là nguồn lợi cho một số ít người. Công nhân cao su có cố găng săn sóc vun trồng cũng không làm sao thay đổi được cuộc sống bập bênh ăn nhờ, ở tạm, cũng như cái cảnh phải lo chạy sớm, chạy chiều mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đau không thuốc uống, chết không mồ mả.


Nhưng bây giờ khác rồi, mặt trận và chánh phủ cách mạng lâm thời đã đem lại cho người công nhân cao su Lộc Ninh quyền làm chủ rừng cao su. Họ được thả sức chăm sóc cho rừng cao su được đâm chồi nảy lộc, dòng mủ trắng lại chảy. Và ngày ngày mỗi khi ra ngắm nhìn những dòng mủ trắng phau chảy quanh cây mà họ vừa mới cạo, chắc chắn họ sẽ gật đầu mà nghĩ rằng: Mọi thế lực tàn bạo của Mỹ Thiệu trên vùng đất này đã bị đẩy lùi, bây giờ ở đây tất cả thuộc về ta. Ta là chủ, ta phải chăm lo cho vùng đất đỏ màu xanh tươi mát, cho cao su có nhiều mủ làm giàu cho tổ quốc, đem lại ấm no và hạnh phúc cho người công nhân.


Mải mê nghĩ về những cây cao su và con người làm ra của cải cho vùng giải phóng, xe tôi rẽ vô đường lộ cao su mênh mông lúc nào không biết. Tôi lúng túng chưa biết đi đường nào thì gặp bác công nhân đang cạo mủ. Bác vui vẻ bằng giọng Bắc ấm áp:

- Nghỉ hút thuốc đã đồng chí ơi?

- Dạ! tôi bước tới cây cao su vừa mới bị đạn bom phạt đứt gốc ngã ngang đường, mủ chảy ròng ròng, định hỏi bác về tình hình đánh phá của địch ở đây thì bác đã nói ngay:

- Anh coi đó, ngụy quyền Sài Gòn chúng nó gian ác hết chỗ nói. Chúng nó ăn không được cũng khuấy cho hôi. Từ ngày thua chạy về Sài Gòn, chúng nó thường xuyên dùng máy bay tới liệng bom bừa bãi vào làng xóm giết hại bà con, phá hoại vườn tược, cây cối.

Bác thở dài rồi hạ giọng như cố đè nén sự căm tức:

- Rừng cao su Lộc Ninh đang mùa lấy mủ, cây cối đang xanh tươi vậy mà chúng nó cố tình đem bom đạn tới phá huỷ, thiệt là quân bất nhân.

Bác ngước nhìn tôi như muốn tìm hiểu điều gì, rồi bác nói bằng giọng quả quyết:

- Chánh quyền Sài Gòn muốn phá hết khu rừng cao su này, chỉ ảo tưởng thôi, bà con công nhân còn, thì cao su còn.

Nghe bác nói tôi như thấy muôn ngàn ánh mắt rực lửa căm hờn của người công nhân cao su trước những tội ác trời không dung đất không tha của chánh quyền Sài Gòn. Lòng căm thù đã làm tăng thêm sức mạnh của ý chí và những đôi tay vun trồng, sứa sang cho những khu rừng cao su hồi sinh trở lại và khiến cho người công nhân gắn bó hơn với rừng cao su mà họ đã đổ lên đây bao mô hôi nước mắt.


Tôi bước lại gần bác công nhân, giúp bác một tay xách thùng mủ đổ xuống ô chéo. Tôi tò mò hỏi bác về cách cạo mủ, giữ gìn và chế biến mủ thế nào cho tốt. Mà nói cho đúng hơn là tôi muốn tìm hiểu cung cách làm ăn của người công nhân cao su. Bác vui vẻ kể cho tôi nghe nhiều chuyện lý thú và chân tình. Nào là chuyện rừng cao su Lộc Ninh xưa và nay, nào là chuyện cuộc đời của bác.


Bác là trai lớn trong gia đình. Quê bác ở tận Hà Đông. Hồi năm 1939, bác đang là một học sinh chăm học, thì cảnh nghèo đói đã đẩy bác khỏi nhà trường và đẩy bác tới vùng đất Lộc Ninh này. Hồi mới đến đây, bác nuôi hy vọng là sẽ được đổi đời, nhưng sự đời không phải như bác nghĩ. Ở cái xứ Lộc Ninh này, hồi đó không chỉ riêng gì bác mà hàng ngàn hàng vạn bà con cô bác từ miền Bắc vô đều cùng chung số phận khổ nhục, đầu đường xó chợ, rồi quấn thân vào gốc cao su. So với mọi người thì bác còn đỡ hơn nhiều Ban ngày bác đi cạo mủ, tối về bác còn có thể đi dạy học kiếm tiền để đắp đổi qua ngày.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:36:42 am
Song đâu phải sống mãi một cuộc đời tối tăm cơ cực, bác Hai vẫn nuôi hy vọng về một ngày mai tươi đẹp ấm no. Và ánh bình minh của ngày ấy đã ló dạng khi bộ đội giải phóng về đây. Bọn cướp nước và bọn tay sai cụp đuôi chạy về Sài Gòn bỏ lại cho Lộc Ninh sự đổ nát điêu tàn. Nhưng sau ngày giải phóng, Lộc Ninh đã nhanh chóng xóa mọi vết tích bom đạn và từng bước đổi đời. Người dân lao động Lộc Ninh như được lột xác một lần. Và từ buổi đó, cuộc đời của người công nhân cao su mới được sáng sủa, mở mặt mở mày, rừng cao su mới thực sự về tay người công nhân. Bác Hai như trẻ lại làm việc không biết mệt. Ngày nào cũng vậy, gà chưn gáy bác Hai đã dậy ra vườn cuốc dết trồng cây, tưới rau. Cho tới khi sáng rõ bác Hai mới về nhà ăn vội vài chén cơm, rồi chạy ra lô cao su ngay. Lô cao su do bác Hai phụ trách, ai cũng khen đẹp sạch sẽ, mủ nhiều. Chính ý thức phải nêu cao vai trò làm chủ của giai cấp công nhân trong vùng giải phóng đã động viên bác đổ hết công sức để vun đắp cho những cây cao su thêm màu xanh và nhựa sống. Khi có người hỏi bác vì sao bác làm được như vậy? Bác Hai trả lời bằng một giọng tự hào "vì ơn của cách mạng, của mặt trận, của chánh phủ cách mạng lâm thời đối với gia đình tôi như trời biển. Tôi không có nhà, cách mạng cấp nhà, tôi không có ruộng vườn, chánh quyền cách mạng chia cho ruộng vườn. Bây giờ mình mang sức ra làm cho mình, chớ có phải làm cho chủ điền đâu."


Cứ theo đà làm việc đó mà ngày nay, bác Hai đã xây dựng được một nơi khá khang trang. Vườn cây ăn trái của bác bốn mùa sum xuê trái ngọt. Mặc dù bác đã dành một phần trái cây để cho con cái ăn và tặng bạn bè, phần huê lợi vườn bán đi vẫn mang lại cho bác một nguồn thu hơn 200.000 đồng. Mấy công ruộng của bác, mùa nào cũng đạt trên 20 giạ một công. Trong hai năm nay nhà bác Hai không hề thiếu gạo, con cái bác cho chúng nó theo học ở các trường phổ thông cấp 1, cấp 2 của xã, cháu Hạnh con gái lớn, sau khi học hết cấp 2 đã tình nguyện đi học nghề y tá Hơn năm nay Hạnh về xã phục vụ ở trạm xá.


Tất cả những điều đã diễn ra trong 2 năm nay đối với bác Hai đều lớn lao và mới mẻ. Thật, không có gì quí hơn độc lập và tự do, bác thường nhắc đi nhắc lại câu nói thiêng liêng ấy của Hồ Chủ Tịch kính yêu, để dặn dò con cái câu nói ấy đã thấm sâu trong tim óc của bác. Bởi vì gần suốt cuộc đời của bác, bác mới được hưởng độc lập tự do, hác mới thực sự được làm người, làm chủ ngôi nhà, làm chủ ruộng vườn của mình.
Bác Hai mải mê kể chuyện chợt thấy chén mủ cao su ở dưới gốc cây đã tràn, bác vội vàng xách thùng chạy đi đổ mủ.


Chia tay bác Hai tôi tiếp tục đạp xe theo đường lô cao su về Lộc Ninh. Đi xa rồi mà đầu óc vẫn như in những câu chuyện về cuộc đời của bác Hai. Tôi nghĩ chắc ở vùng giải phóng Lộc Ninh này, dâu cũng vậy, chẳng phải chỉ có bác Hai mà còn có hàng ngàn hàng vạn người công nhân cao su như bác. Rồi đây, chằng còn bao lâu nữa vùng giải phóng Lộc Ninh sẽ giàu đẹp.

- Anh bộ độ ơi, nghỉ chút đã.

Tiếng kêu của các cô gái đang bốc dỡ mủ cao su làm cắt ngang luồng suy nghĩ thú vị của tôi. Tôi vừa thắng xe quay lại thì nghe các cô hỏi luôn:

- Nghe nói bọn lính ở Tống Lê Chân đã bỏ chạy đêm qua rồi phải không anh bộ đội.
 
- Đúng như vậy.

Nghe tôi xác nhận như vậy, lời bàn tán lôn xao cứ mỗi lúc một lớn lên:

- Bọn ở Tống Lê Chân rút chạy thì vùng giải phóng chung quanh đó đỡ biết mấy, tụi gì mà ngoan cố hết cỡ nói. Lúc nào cũng tìm cách ra phá phách bà con mình. Bộ đội mình trừng trị chúng như vậy, bà con ở đây rất hả hê. Tiếng cười nói rộ lên như pháo trận quanh những tội ác của quân đội Sài Gòn và cả chiến công của bộ đội và du kích của ta.


Chờ cho các cô gái ngớt tiếng cười tôi mới hỏi chuyện, qua chuyện trò thân mật, tôi mới được biết là Lộc Ninh đã có nhà máy chế biến mủ cao su. Chuyện cao su là vậy, còn chuyện người công nhân ở các nhà máy chế biến lại càng hấp dẫn. Có ai ngờ được trong cái đổ nát của một thị xã chật hẹp này, nhà máy cao su vẫn hoạt động đều đặn. Ngày ngày xe cộ chở mủ, chở nhựa cao su cứ nườm nượp. Trong những ngày chính quyền Sài Gòn cho máy bay xâm phạm vùng giải phóng Lộc Ninh, ném bom bừa bãi, công nhân ở nhà máy không hề nao núng. Họ vẫn bình thản làm việc mặc cho máy bay địch gầm gè trên đầu. Cao su vần ra lò. Công đoàn, đoàn thanh niên, chi hội phụ nữ vẫn sinh hoạt đều đặn giữa những giờ nghỉ, các tiểu đội tự vệ nhà máy vẫn triển khai luyện tập về cách bắn máy bay, ném lựu đạn, đánh bù nhìn rơm. Đêm đêm dưới ánh điện của nhà máy các tổ văn nghệ vẫn múa hát, các lớp học văn hoá vẫn như thường lệ... chuyện nhà máy, chuyện về những người công nhân cao su đã cảm nhận được sức sống mới dưới chế độ mới đáng yêu biết chừng nào!


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:37:56 am
ĐI VỀ HƯỚNG SAO


Trần Sang


Xưa kia trên đoạn đường đất đỏ này, hai bên chỉ là đồng hoang cỏ dại, gió lộng, bụi mù mỗi khi có xe qua lại và mùa gió chướng thổi về. Từ ngày hơn 100 gia đình con chiên theo cha Quảng về sanh cơ, đoạn đường trở nên đông đúc. Nhà thờ mái tôn vách ván lớn nhất xóm được dựng lên. Từng dãy nhà tôn của gia đình con chiên cất cách khoảng nhau đều đều, mở ra những ngách gió, bên này thổi qua, bên kia thổi lại. Đi lên một đoạn không xa là chợ Quận. Những năm còn Mỹ, hầu hết con chiên trong xóm di cư ven đường này đều đi làm cho sở Mỹ, mỗi ngày kiếm từ năm trăm đến một ngàn đồng. Làm cho Mỹ thì đủ nghề, trong đó có những nghề mà cha Quảng thường nhắc nhở đàn con chiên phải tránh xa, dù có đói phần xác nhưng cố giữ cho phần hồn trong sạch.


Nhưng thực tế cuộc sống không như lời cha khuyên, sống trong một vùng đầy lính Mỹ, con chiên đành phải đi làm việc cho Mỹ để kiếm ưùếng cơm. Bao nhiêu con chiên nữ, trẻ, xinh đẹp, bị Mỹ bức ép vào làm trong các nhà hàng, câu lạc bộ lính Mỹ. Rồi ngày này tháng nọ, những bàn tay lông lá những hành động thú vật của bọn lính đã làm hoen ố bao nhiêu tâm hồn trong trắng của họ. Những con chiên ngoan đạo giản dị, thanh bạch có mái tóc mịn màng, đội mắt hiền từ, vô làm sở Mỹ đành phải uốn tóc quăn, áo dài, quần the, môi son, má phấn... Cuộc sống trông lộng lẫy, vàng son nhưng bên trong là cả một gánh nặng tâm hồn.


Từ ngày Mỹ rút đi, những tà áo dài đủ sắc, dần dần vắng bóng, con chiên bị thất nghiệp. Lòng vẫn thờ chúa, nhớ cha nhưng vẫn phải ra đi tìm cái sống. Chợ Quận trở nên quạnh quẽ thưa thớt, đoạn đường đất đỏ này lại vắng vẻ nắng bụi mưa lầy. Mùi rác hôi thúi từ bên kia đầu chợ theo mùa gió chướng ngày đêm bay về trong xóm nhỏ.
Chiều về, chuông nhà thờ vẫn ngân vang, cửa thánh đường vẫn mở, mà không có mấy ai vãng lại nghe cha Quảng giảng kinh.


Chuông nhà thờ vẫn ngân vang, ông Ngọ biết giờ đi lễ đến, nhưng ông vẫn nằm dài trên chiếc võng bố, hai tay hết xuôi, thẳng lài khoanh tròn gối đầu. Theo tiếng võng đưa cọt kẹt, đôi mắt ông lim dim, thỉnh thoảng lại buông tiếng thở dài. Chuông nhà thờ mỗi lúc một dập dờn. Chạng vạng rồi, bếp nhà vẫn lạnh tanh, từng cơn gió chướng thổi thốc vào đầu song, mấy tấm tôn run lên rang ràng. Nghe tiếng chân bước, đang nằm dài, ông đột nhiên ngồi bật dậy đưa mắt ra đường cái. Hai cái bóng gầy nhom của chị em con Nguyệt từ ngoài lủi thủi bước vào:

- Nguyệt về đó hở, có gì không con? Nguyệt không trả lời, nó quăng chiếc song không vào một góc nhà, buông hơi thở mệt mỏi.

- Đi khắp chợ mà chẳng moi được một thứ gì đâu nội ạ! đêm nay nhịn vậy.

- Nội ơi! con thấy bọn lính lại tập họp chuẩn bị đi đâu nữa đó!

Thằng Quang kể những điều nó thấy để ông nghe. Ông gầm mặt xuống đất, đôi chân đẩy chiếc võng cọt kẹt, im lặng một lúc, ông ngước mắt nhìn ra ngoài đường cái tối om:

- Cha tụi mày bị bắt lính mà phải bỏ mạng sang trường, hồn xác chẳng biết ở đâu!.

- Nội ơi! hầu như họ không phải đi đánh nhau, cháu thấy mỗi lính có hai chiếc lưỡi liềm!

- Lại càn vô bưng biền giải phóng cướp lúa của dân, đồ quân ăn cướp, quân bất nhân!
Rồi ông gọi con Nguyệt đốt đèn lên, còn mấy củ khoai lúc trưa, ba ông cháu ăn lót dạ, xong sập cửa đi ngủ sớm.


Gần hai năm nay, gia đình ông cơm cháo thất thường. Từ ngày bọn Mỹ ở căn cứ Biên Hoà rút đi, cái nghề phục vụ câu lạc bộ Mỹ không còn nữa, mẹ lũ trẻ thất nghiệp, gia đình nghèo túng, mẹ chúng nó phải bỏ nhà về Sài Gòn tìm lại nghề cũ để sanh nhai, thỉnh thoảng dem về cho ông cháu chút đỉnh tiền nuôi miệng. Vì miếng cơm các con chiên dần dần bỏ xóm ra đi, thanh niên thì vào lính, phụ nữ thì đi làm mướn. Nhưng cũng có nhiều gia đình ra hẳn bưng biền giải phóng, mặc dù bị bọn lính ngăn cấm, và bọn tề ngụy đe dọa, ông Ngọ cũng biết về bưng biền thì đời sẽ tươi hơn, còn có dịp tìm về đất cũ quê xưa ở ngoài Bắc. Ông thấy có những con chiên đi hẳn, hàng năm đến ngày lễ chúa giáng sinh, họ lại kéo về đoàn tụ bên cha Quảng trong những ngày lễ trọng, rồi lại đi, có người đi hẳn không về. ông cũng muốn đi, nhưng vẫn còn vương vấn, bên thì sợ phải xin cha, bên thì chén cơm manh áo. Đã mấy mùa gió chướng qua đi, mái tôn nhà thờ đục mờ lô chỗ những vết thủng mà chẳng thấy ai trở về, ngược lại ngày một vắng thêm.


Sáng nay, sau giờ đi lễ như thường lệ, vẫn bộ bà ba đen bạc màu, cổ quàng chiếc khăn rằn rách, ông lê đôi chân đất, lang thang đến mấy đống rác trước cái đồn chợ Quận moi kiếm. Mỗi lần ông rề rà đến là bọn lính trong đồn ra xua đuổi, trêu chọc xem ông như kẻ điên dại, nhưng chúng nó thấy dáng đi đứng lửng thừng của ông đôi lúc cũng đâm ra nghi ngờ ông là việt cộng, mặc dù bọn lính biết rõ ông là dân xổm đạo di cư, có thằng con trai là lính quốc gia chết trận, cố đứa con dâu bán thân cho lính Mỹ.


Hôm nay, bọn lính trong đồn vừa đẩy xe rác ra, thì ông cũng vừa lửng thừng đến, thấy ông bọn linh liền nạt nộ:

- Đó đó, đó thằng già này nhanh dữ đa! Từ nay cấm không được léng phéng đến đây nữa nghe!

Ông Ngọ vẫn cứ im lặng cúi nhặt từng cọng rau, lật từng chiếc lon, bọn lính la lối:
Thằng già này ghê thật, coi lão lì đến mức nào nè! Dứt lời chúng ném tới tấp những lon dỗ hộp vào đầu ông đến u đầu trầy da. Từ trên xe có tên xúc rác hất tung vào đầu ông và nói:

- Chôn lão già này dưới đống rác này, tụi bây ơi! Không chịu nổi nữa rồi, ông quắc mắt nhìn thẳng vào mặt tụi lính, đôi mắt ông đỏ ngầu, môi tím lại, chòm râu ông dựng lên, giận dữ:

- Loài vô lễ, chúa sẽ trừng phạt lũ mi đời đời kiếp kiếp mới hoá nghe. Mẹ bố lũ quỷ xa tăng!

Rồi ông lượm gạch đá, lon sữa hộp chạy tới, ném tới tấp vào mặt chúng nó. Thấy ông nổi giận, ban đầu chúng chưng hửng, về sau, cả bọn sợ kéo nhau rút vào đồn đóng cổng lại. Ông đứng trước cổng đồn, ông căm giận tột cùng. ông gào lên, ông kể tội bọn quan trên đẩy con trai của ông đi chết thay cho bọn Mỹ, bỏ lại đàn con nheo nhóc. Một hồi lâu, ông nhìn thấy không còn thằng lính nào đứng ngoài nữa, ông im lặng lủi thủi lê đôi chân gầy bước trên con đường đất bụi về nhà, chuông nhà thờ cũng vừa ngân vang giữa mùa gió chướng tê lạnh.


Đêm ấy, ông không sao ngủ được, trăn trở, hết nằm lại ngồi. Càng về khuya, ngoài trời lặng gió, cái xóm nhỏ chìm trong đêm tối dày đặc của những ngày cuối năm. Ông ngồi dậy đi ra trước sân, nhìn về hướng nhà thờ cao sừng sững. ông ngước mắt nhìn lên cây thánh giá im lặng giữa đêm đen. Chân ông quỳ xuống, ông quỳ trên cát sỏi ông nức nở và lẩm nhẩm:

- Lạy chúa! hồn chúng con có giữ được thì trước hết xác phải được no, có hột cơm, củ khoai trong bụng thì phần hồn mới tỉnh táo khôn ngoan. Đời sống đói rách, mòn mỏi, thể xác linh hồn của chúng con bị kẻ có quyền khinh miệt, vùi dập. Bao nhiêu đứa con ngoan về đây, ngày qua tháng lại đã đi xa hết - tất cả cũng vì chén cơm nuôi bụng. Họ ra đi nhiều. Họ về bưng biền giải phóng, vì họ thấy bên ấy quyền sống con người được bảo vệ, nơi đó là "đất mật, sữa nguồn". Con tin là thật... nói đến đây, ông gục mặt xuống đất, hai tay buông xuôi, mắt nhắm lại yên lặng hàng giờ!


Rồi khuya đêm ấy, người ta thấy ba bóng đen dắt nhau vượt qua con lộ đất đỏ đi về miệt rừng cao su, thỉnh thoảng dừng chân nhìn trở lại cây thánh giá trên đỉnh nhà thờ.


Sao bắc đẩu đang lên, sáng trưng bưng biền giải phóng, nơi "đất mật; sữa nguồn" đang chờ đón họ, chờ đón những người nghèo đói đang bơ vơ trong vùng Thiệu kiểm soát, đang bị bọn Thiệu tập trung giam cầm trong các trại định cư.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:40:02 am
NHỮNG MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH


Hồng Giang

"Sống trong cảnh khổ mà mình cảm thấy thấm thía cảnh khổ thì sự đau khổ sẽ tăng lên bội phần".

Câu nói ấy đã toát ra từ đáy lòng của những người mẹ nghèo đông con, goá bụa là những người vợ linh Sài gòn bất hạnh. Sống trong chế độ Mỹ Thiệu, những người mẹ, người chị ấy đều là những con người bất hạnh nhất. Khổ vì chồng bị Thiệu đày đi lính, để rồi nhận lấy cái chết vô ích, để lại cho chị em gánh nặng gia đình; khổ vì vật giá leo thang, đồng tiền mất giá, buôn bán không lời, thuế má nặng nề, thất nghiệp tràn lan... bởi sáu biện pháp kình tế khắc nghiệt của Thiệu gây nên. Gánh nặng này thưa trút hết thì gánh nặng khác lại chồng chất lên, ngày này qua tháng nọ, nghèo túng, nợ nần, đói cơm, thất nghiệp... cứ đè nặng hai vai họ. Có những bà mẹ tuy tuổi đời còn trẻ, nhưng mái tóc đã pha sương, bởi cuộc sống là cả một chuỗi dài nặng chịch.

“… Trong vách lá, anh chồng giương đôi mắt
Nhìn người yêu quằn quại cảnh ê chề
Trên ngạch cửa, đứa con nhìn dớn dác
Tay ôm em ru ngủ, miệng vỗ về
- Em ơi, hãy ngủ cho ngon
Mẹ còn... mình còn cơm ăn
Thân cha tàn phế bao năm
Làm sao nuôi được miệng ăn tháng ngày...

(Báo Đại dân tộc 4/6/1974)

Bao năm người lính cầm súng Mỹ đi bảo vệ "quốc gia" vào sinh ra tử không biết để làm gì, giờ đây đã tàn phế trở về nhà, cảnh gia đình lao đao đói khổ, vợ đau con đói, có ai biết tới cho cái cảnh này?


Chị H quê ở Bến Tre, sau năm năm chung sống với chồng, sanh được bốn con thơ, đứa lớn nhất là bốn tuổi, đứa nhỏ nhất là sáu tháng, chồng chị đi lính quốc gia bị chết trận. Số tiền tử tuất chị lãnh được, sau khi chôn cất cho chồng, chỉ còn trong túi chưa đầy 30.000 đồng, chị tiếp tục buôn gánh bán bưng, nhưng cảnh nghèo, vật giá leo thang, có người bán không có người mua, tiền vốn thâm thủng dần, nợ nần tăng lên gần 100 ngàn đồng. Thử hỏi người đàn bà có bốn con thơ dại ấy, làm sao mà sống? đi xin ai và mượn được ai nữa? ai cho? Đi ở đợ không ai mướn, đi làm công chẳng ai thuê. Bao nhiêu sự cùng quẫn ấy cứ dồn ép chị, cuối cùng chị chỉ còn nghĩ đến một con đường là cùng bốn đứa con từ biệt cõi trần cho yên phận. (Báo Đại dân tộc 4/6/1974).


Cô Tuyết 17 tuổi ở đường Bến Vân Đồn Sài Gòn, đi làm mướn, tháng được năm ngàn đồng, làm việc từ lúc mờ sáng cho đến 11, 12 giờ khuya vẫn không hết việc, nhưng cô không dám nghỉ vì tiền đã mượn trước, cô có nguyện vọng rất đơn giản là “mong làm việc cho có tiền để may cho mẹ một bộ đồ mới" nhưng nguyện vọng ấy mãi mãi vẫn không thực hiện được (Báo Đại dân tộc 10/7/1974). Đó là cảnh dân nghèo tự cầm cố đời mình, số tiền năm ngàn đồng một tháng tuy ít ỏi nhưng rất cần thiết đối với đời sống gia đình. Cảnh đời của chị H cũng như cô Tuyết chỉ là một trong trăm ngàn cảnh bi đát, đau lòng trong chế độ của Mỹ Thiệu hiện nay. Những chị em tìm được việc làm để đắp đổi qua ngày thì dù có gian khổ đến cùng cực, cũng cố đem hết sức ra để có lấy miếng ăn nuôi thân, còn những chị em cùng đường bí lối giữa cái xã hội mênh mông tăm tối của Sài Gòn thì chỉ có một con đường là từ biệt cõi trần cho khỏi dày vò tâm can. Trong đó có nhiều người vợ lính "quốc gia" bất hạnh. Ngày 15/11/1973 chị Nguyễn Thị Thanh 27 tuổi ngụ tại đường Nguyễn Huệ Sài Gòn, chị làm công tại hãng Mỹ, chồng chị bị bắt linh, chết trận, chị lại bị chủ sa thải, không tìm được việc khác kiếm tiền nuôi con, nên chị phải trối bỏ cuộc đời bằng một liều thuốc độc để lại ba đứa con thơ cho người bạn láng giềng nuôi nấng.


Ngày 2/2/74 cả dân phố Bùi Thị Xuân Sài Gòn xôn xao và xúc động trước cái chết thê thảm của chị Nguyễn Thị Trọng Đức, chị uống thuốc độc cùng với hai con thơ, vì thất nghiệp tuyệt vọng không đường nương tựa.


Chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt nhà ở đường Trần Quang Diệu, có chồng là sĩ quan quân đội Sài Gòn bị tử thương. Vì thời giá mắc mỏ, túng thiếu chị đã dắt các con ra mộ chồng khóc than kể lể, rồi ba mẹ con cùng uống thuốc độc dể theo chồng về nới chín suối.


Còn trăm ngàn thảm cảnh khác và trăm ngàn cuộc sống hẩm hiu khác diễn ra hàng ngày ở các vùng đô thị Thiệu kiểm soát đang chờ giờ buông tay thả nổi cuộc đời, ai hiểu cho số phận nghèo khổ của chị em ta, trong lúc chính bản thân chị em, những kẻ cô thế, nghèo nàn giữa cái xã hội gian trá, cuồng loạn này của bọn Mỹ - Thiệu?


Một chế độ đầy dấy những tham nhũng, trộm cướp lộng quyền, sống nhờ kinh tế ngoại viện như vậy, thì người dân làm sao sống nổi? Một ký giả báo Đại dân tộc phải kêu lên rằng: "Chị em là nạn nhân của những điều kiện xã hội khắt khe và tàn nhẫn, họ là những người đáng thương ..."


Đứng trước cái xã hội bất lương của Mỹ - Thiệu hiện nay, "bán thân nuôi miệng” hoặc nghĩ đến "chén thuốc độc để mong trút hết gánh nặng cuộc đời, đó không phải là biện pháp tích cực. Mà biện pháp tích cực và có hiệu nghiệm là cùng các giới đồng bào ở phường khóm, cùng anh em thương phế binh ở Sài Gòn và gia đình họ, đứng lên đấu tranh đòi chánh quyền Sài Gòn phải trả phụ cấp đầy đủ, đòi có công ăn việc làm, chúng sa thải, chống đuổi chỗ của chị em bán lẻ. Đòi chánh quyền Sài Gòn phải tôn trọng nhân phẩm con người, đòi các quyền tự do dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình hoà giải và hoà hợp dân tộc đúng theo tinh thần Hiệp định Pa ri đã được ký kết. Một biện pháp nữa để cứu thoát chí em ta khỏi bể khổ, đó là, nếu chúng ta quen sống nghề ruộng rẫy, thì điều tốt hơn hết là trở về vùng giải phóng, nơi đó có tự do, quyền sống con người được tôn trọng, không bị đói, nếu chúng ta cần cù, chịu khó, thì có chánh quyền cách mạng, có bà con láng giềng tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện khác bảo đảm cho chúng ta xây dựng đời sống ấm no. Đó là những sự thật và là con đường cứu thoát chị em ta khỏi cảnh đời cực nhục trong lòng của chế độ Sài Gòn hiện nay.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 31 Tháng Năm, 2009, 07:41:17 am
CHÉN THUỐC NAM


Tư Hùng

Ai bước chân vào tổng y viện Cộng Hoà cũng không khỏi ái ngại nhìn cái cảnh các bịnh nhân chưa được nhập viện nằm la liệt ở lề đường, chân cầu thang. Tiếng giầy, guốc lộp cộp và những lớp bụi mỏng bay lên dưới những bước chân. Một thương phế binh nằm ngay dưới chân cầu thang đưa mắt nhìn. Nếu không vì sự mệt mỏi cực độ đang chiếm dần toàn bộ cơ thể anh thì anh sẽ gào thét lên rằng: "Các người coi! sống như vầy còn chưa đủ khổ sao mà các người còn đi guốc trong tai người ta".


Anh lại đưa mắt nhìn chiếc chiếu rách trải chỗ mình nằm, rồi nhìn chỗ chân cầu thang đầy bụi. Một con nhện đang hối hả giăng tơ, giật mình thôi việc... rồi một cơn ho dữ dội kèo đến, ọc một cái người lính nhổ ra từng cục máu tươi Mặt người bịnh tái đi, đầu anh ngoẹo sang một bên, cổ che khuất một bên chiếc quân hàm thượng sĩ.. Một vùng quê xa xôi trong mắt anh. Nơi ấy, người ta vẫn quen gọi "Mái trường sơn". Nhà anh ở ngay chân núi, đứng ở chân dốc nhìn lên không thấy đỉnh, chỉ thấy một dãy mù, trắng đục tỏa xuống ôm ấp những con đường. Rồi một mái nhà tranh, một suối nước tiên, núi Mã Yên hùng vĩ...


Sau cơn ho, mặt thượng sĩ hồng hồng trở lại. Anh chép miệng nói với một bịnh nhân nằm cạnh.

- Mình đã đi khắp Đồng Bằng Sông Cửu Long, đi cả cái vùng Trị Thiên, mình cá với bạn rằng: chẳng có nơi nào đẹp bằng quê mình hết.

- Nhưng liệu còn nhìn lại quê hương đẹp đẽ của thượng sĩ lần nữa không?

- Nhứt định chứ! Chẳng những phải ngắm lại quê hương, mà mình còn phải về để lợp lại mái nhà dột cho mẹ. Hết mùa xuân này là đến mùa mưa đây. Mưa Trường Sơn phải biết ghen. Mà anh đã biết lũ Trường sơn chưa? Nước từ trên đỉnh núi cao, theo dốc đổ xuống ào! ào!...


Hai tháng chờ đợi rồi mà anh vẫn chưa được nhập 1 viện giờ thì anh nằm xuôi xị, người xanh lét bởi vì thiếu 1 mỗi cái chứng chỉ ngưng lương của tiểu đoàn 6 nhảy dù. 1 Mà cũng chẳng phải một mình anh, nhiều thương bịnh 1 binh vào viện 3, 4 tháng mà chẳng có lương vì những 1 thương bịnh binh này được đưa về bịnh viện dã chiến, 1 hoặc quân y viện nào đó rồi mới được chở về tổng y viện 1 Cộng hoà. Người về trước mà hồ sơ giấy tờ chưa chuyển ì về kịp nên họ không được lãnh lương và vì vậy họ cũng 1 chưa được nhập viện. Ngày tháng bịnh nhân nằm vỉa hè, 1 chân cầu thang hay một xó xỉnh nào đó, quằn quại trong f những cơn đau chờ lương để nhập viện. Một giấy chứng chỉ ngưng lương đâu có gì là khó khăn nặng nhọc, mà sao đơn ví không làm. Nhiều người đã khuyên thượng sĩ T hãy tự đi về đơn vị làm lấy. Bác sĩ Hưng, bạn chiến hữu của thượng sĩ T giờ là chỉ huy trưởng một bịnh viện khác thương tình giúp anh một số tiền cũng khuyên anh nên đi về đơn vị sớm chừng nào hay chừng đó...


Sáng nay, khi sương sớm chưa tan, người đi trên lộ 4 gặp một người đeo lon thượng sĩ chống nạng lần từng bước. Hai vai so lại, nhô cao theo từng cơn ho kéo dài. Một chiếc xe nhà binh đi qua, hai chiếc xe đi qua, rồi nhiều chiếc. Không bỏ lỡ một cơ hội nào, thượng sĩ T run rẩy giơ hai tay ra ngoắc, hy vọng quá giang được một đoạn đường. Nhưng người tài xế nào cũng lắc đầu từ chối, như cả cái tổng y viện Cộng hoà đã từ chối việc nhập viện của anh. Dù đau đớn thượng sĩ T cũng còn nghĩ được rằng, từ đây đến chỗ đóng quân của tiểu đoàn 6 nhảy dù ít nhứt cũng vài ngày đường nữa. Anh không đám nghĩ nhiều hơn, vì chỉ một ngày đường nữa thôi, biết đâu cũng ngốn hết sức lực còn lại trong người anh. Lại một cơn ho, lại từng cục máu tươi để lại bên vệ đường. Người anh tái đi mệt quá, anh nhủi xuống bên đường, nặng nhọc kéo từng hơi thở gấp. Hừ! anh mỉm cười chua chát. 12 năm anh cầm súng đi theo lời kêu gọi của thế giới tự do cho một nền cộng hoà nào đó, và gần 60 ngày nhục nhã trong cái tổng y viện Cộng hoà... một cái gì đăng đắng tắt nghẹn ở cổ anh. Mặt anh tím lại, hai mắt đỏ ngầu.

- Tao là người! Mày là vật, nhưng tao không bằng mày! Đồ chó đẻ!

Anh giận dữ rít lên, rồi đứng dậy, bương bả bước đi. Anh đi ngược lại con đường về đơn vị. Bước chân xiêu vẹo anh đi về đâu hỡi người lính cộng hoà?

- Đi! Đi tới đâu thì tới? cuộc đời đã như vậy thì anh không cần chữa bịnh nữa. Anh chỉ ao ước nhìn lại mái đầu bạc của mẹ trước khi chết. Anh đi, đi mãi và hoàng hôn đã để lại một màu nâu đậm trên mọi nẻo đường. Bóng tối phút chốc trùm xuống. Thượng sĩ T ngã vật xuống đường. Một mảnh trời quê trắng đục hiện lên trong mắt anh lần chót.
Một mùi thơm rất quen thuộc làm thượng sĩ T tỉnh lại.

- Đây là đâu! Tui chết rồi mà.

- Không! Con chưa chết đâu!

Giọng run run của một bà đã già lắm đáp lời thượng sĩ.

- Nhưng mà tui muốn chết, tui căm thù ai cứu tôi.

Bà già không nói gì, bà biết người bịnh thường hay gắt gỏng, khó tính.

Thượng sĩ T cố gượng dậy. Nét mặt anh vẫn còn vẻ giận dữ, bà già tất tưởi chạy tới. Đôi bàn tay nhăn nheo đặt lên vai, ấn anh nằm xuống. Tay run run, bà bưng một chén thuốc sắc đặt kề vào miệng anh:

- Uống đi con! con sắp hết bịnh rồi đó!

Một cái gì tắt nghẹn trong cổ, một dòng nước mắt nhỏ xuống môi anh, mằn mặn, và khi mái đầu bạc đó lại cúi xuống thấp hơn. Không kìm lòng được nữa, thượng sĩ thảng thốt kêu lên:

- Mé ơi !

- Con! con tỉnh rồi hả? ừ? có vậy chớ.

Ôm anh trong lòng, bà nức nở khóc: Mé cũng có con, con mé bị nó bắt lính đã tám năm rồi, tám năm không được tin tức gì của nó. Bây giờ hoà bình rồi cũng không thấy nó trở về. Mé đã khóc mờ hết hai con mắt... Đêm đó, đi từ Di Linh về, thấy con nằm không nhúc nhích, mé thương, mé đem về nuôi Con ơi! mấy con đứa nào cũng đáng thương, cũng như con mé, vì ông Thiệu bắt cầm súng mà phải cầm... Rồi bà xoa đầu anh, cười móm mém...


Nép sát vào bà, anh tường mình nhỏ lại trong lòng mẹ. Thượng sĩ đưa mắt nhìn. Một gian nhà lá lỗ chỗ nhìn thấy trời, hai cái chõng tre, và một bó lá thuốc rửa sạch còn nhỏ nước.

- Mé ơi! Mé nấu thuốc cho con uống khỏi bịnh!

- Ồ! Những cây thuốc này thì thiếu gì. Ngày nào mé cũng hái và nấu cho con uống. Bịnh của con phải uống thuốc nam này mới khỏi, lá Tần nè! cam thảo đất nè, ngải cứu nè!... Mé kể bao nhiêu là thứ lá. Hoá ra cái mùi thơm quen thuộc làm anh thức giấc lại là lá Tần, cam thảo, ngái cứu…


12 năm đời lính cộng hòa, anh cứ tưởng cuộc đời là những bắc đẩu bội tinh lóng lánh như những đoá hoa thơm cài trên ngực, hoá ra lại là những bạt tai đau điếng. Anh chết đi rồi anh sống lại. Người bạn Mỹ không cứu anh, Tổng y viện Cộng hoà không cứu anh. Một bà mẹ Việt Nam đã cứu anh bằng tình thương, bằng chén thuốc nam kỳ diệu. Rau Tần, cam thảo, tàn ô.... Tổ quốc ơi! người quý từng nhánh cây ngọn cỏ.
Khỏe rồi anh sẽ đi đâu? về tiểu đoàn 6 nhảy dù với những cuộc hành quân lấn chiếm chăng? Hay anh ở lại đây với người mẹ nuôi nghèo khổ đã cứu anh. Anh chưa nghĩ đến một quyết định nào, nhưng trong anh đường về quê đang rõ dần trong trí nhớ.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:48:50 pm
ĐẤT ẤM TÌNH NGƯỜI


(Khuyết Danh)


Chòi của ông Sáu Phù vừa mới dựng lại bên gốc Mù u cổ thụ trên bờ kinh. Chòi của ông đặc biệt hơn mọi cái chòi khác, hai mái là chụm lại thành cái hình tam giác hộp, nửa thân chòi lọt thỏm dưới hầm. Mấy hôm nay vết thương dưới lòng bàn chân nó hành hạ ông nhức nhói, miếng đất đang cuốc giữa chừng phải bỏ dở đó. Nằm dí trong chòi bực trong người, ông ngồi xắt hột mù u, lụi thành xâu một để làm đuốc đèn không phải tốn tiền mua dầu, vừa xắt ông vừa thủ thỉ một mình.

- Mẹ cha nó, nó ác quá, trời hại chúng nó là phải mà, "tích thiện thì gặp thiện, tích ác thì gặp ác thôi mà". Ông bà 1 mình nói có sai đâu chớ. Ông gật gù cười có vẻ đắc chí lắm.

- Cách mạng về, kháng chiến thành công, đời già không còn phải khổ nữa, con cái chúng nó về sum hợp với gia đình. Mồ mả ông bà sẽ được con cái sớm chiều thăm nom  nhang đèn để ấm lại hồn người bấy lâu quạnh quẽ. Đợi cho tụi nó về đông đủ, già sẽ kể hết những gì đã xây ra trên mảnh đất máu thịt này. Kể chớp phải kể cho hết để con cháu đời sau mãi mãi nhớ lấy tội ác của bọn Mỹ Ngụy. Chắc rồi mà, lần này chắc chắn là hoà bình, độc lập muôn năm! Lũ giặc còn đâu nữa mà trở lại, ờ mà dù chúng nó có muốn trở lại cũng không được nữa! Ha...ha... chắc như vậy.


Ông giơ cao con dao chém mạnh xuống tấm ván, buông hai tay năm ngửa lưng xuống chiếu, buông một hơi thở thoải mái, nhẹ người. Mắt nhìn lên nóc chòi, tay ông vơ lấy chiếc kèo dọc run run, lòng vui cười hì hì...

- Rồi đây các con già về, bà con làng xóm cũng về đông vui già sẽ dựng lại một ngôi nhà ba gian, hai chái thật rộng, chòi này, già không dỡ, già để làm lưu niệm. Khoái chí, ông lim dim đôi mắt nghĩ tới ngày mai!

- Xa quê hương mười mấy năm trường, đất nước hoà bình, Ba Hoá mới có dịp trở về vùng đất giồng quê anh. Mọi cảnh vật xưa không còn nữa. Anh chống xuồng đi hàng cây số mà không có một mái nhà, lau sậy mọc đầy hai bờ kinh cao ngút đầu người. Xa xa cây mù u cổ thụ, ngày còn nhỏ ở nhà anh thường trèo lên đặt ống để bắt sáo con giờ vẫn còn đó, nhưng cành lá cằn cỗi đi nhiều. Anh nhớ ngay đây là đất của ông Tư Tài ngày xưa, nhìn thấy một cái chòi lá vẫn còn đó.

- Nhà đây rồi ghé thử coi. Xuồng anh cặp bến. Nghe tiếng khua lộp cộp dưới bến, có tiếng chân người đi lên, ông Sáu bật ngồi dậy, nhường người đứng dậy ông nheo đôi mắt để nhìn ra ngoài coi người quen hay lạ. Ba Hoá bước tới đứng im lặng nhìn ông ngỡ ngàng, một nốt ruồi dưới cằm bên trái với mấy sợi râu lơ thơ bạc trắng, anh mạnh dạn hỏi thăm. Nghe hỏi đúng tên mình ông già mừng quá quên vết đau, ông nhảy cà nhót ra khỏi chòi, nheo nheo đôi mắt hỏi:

- Chú là ai?

- Thằng Ba Hoá đây mà?

- Hoá nào? Ông cau mày cố nhớ cho ra được cái tên ấy.

- Con ông hai Kỉnh đây mà. Năm 1958, cháu dẫn đầu tụi thanh niên trong ấp mình đi vây nhà thằng xã trưởng Điền bắt nó phải trả đất lại cho bà con mình, bác quên rồi sao?

- Ối trời ơi! thằng Hoá, nhớ ra rồi, vậy mà lâu nay người ta đồn mày đã chết mất rồi!

- Ông ôm chầm lấy anh khóc nức nở - tiếng khóc rất hiếm hoi ở một ông già đã ngoài 60 tuổi, từng trải sương gió, nắng mưa, chiến tranh, bom đạn. Ông khóc vì nỗi vui mừng gặp lại tôi - người con trai duy nhất của ông hai Kỉnh còn sống sót trở về: Hai Kỉnh là người bạn chí cốt của ông, bị địch treo cổ năm 1968, vợ bị chất độc của Mỹ làm cháy bỏng da thịt và chết đi trong những cơn đau quằn quại. Đứa con gái lưu lạc không biết ở phương nào, thằng con trai út cũng bị địch bắt lính bỏ thây trên chiến trường Vị Thanh đầu năm 1973. Tiếng khóc của ông làm cho Ba Hoá không cầm được nước mắt, hai người im lặng đưa nhau trở vào chòi.

- Bác Sáu ơi! Chân bác làm sao đến nông nỗi này? Bấy lâu nay bác sống với ai?

Ông Sáu gạt nước mắt đọng trên má, ông kể:

- Tao sống một thân một mình, bà nó đã qua đời từ lâu rồi. Mấy coi đó, một vùng đất chưa quá bốn cây số vuông, hàng chục năm nay không biết đã chịu đựng bao nhiêu là bom đạn của thằng địch nó rải xuống, mỗi một thước vuông đất, chứa đựng không biết bao nhiêu là miếng bom, miếng đạn. Đồng ruộng biến thành gò, thành đống, hàng trăm cái đìa chảo chi chít, chúng nó không cho tao tiếp tục sống nữa đó. Nhưng đất ông bà là ruột rà của mình, đâu bỏ đi được, từ đầu trên xóm dưới cũng còn mấy nhà, ông Bảy Tắc, bà Năm Mui, ông Sáu Lì, chú Cẩm Thái.

Phải! Da mặt ông sạm nắng, nhăn nheo, mắt lõm sâu, nếp nhăn hằn sâu, râu ông bạc trắng, đôi bàn tay khô cằn lộ rõ sự khắc khổ đè nặng lên người ông, một sự chịu đựng quả là ghê gớm.

- Bác sáu ơi! Anh Hai Dậu và thằng Sừng bấy lâu nay có tin tức gì cho bác không? Nghe nhắc đến chuyện con cái mặt ông vui hẳn lên.

- Ngày mới giải phóng tao có nhận được một lá thư của thằng hai từ miền Bắc gởi về.

- Đời sống của ảnh ra sao?

- Nó bây giờ đầy đủ lắm, được 3 thằng con trai, thằng lớn nhà nước cho đi học công nhân ở nước ngoài, còn hai thằng nhỏ thì học trung học, nó thì làm công nhân kỹ thuật cơ khí. Nó khuyên tao: Ba hãy yên tâm, một ngày không xa nữa, con sẽ về lại đất cũ quê xưa, con sẽ nối nghiệp Ba, góp phần đưa nền nông nghiệp nước nhà tiến lên cơ khí hiện đại, máy móc thay cho sức người. Con sẽ nuôi Ba đến cuối đời, để Ba được hưởng hạnh phúc bên con, bên cháu, thỏa lòng mong ước của tuổi già. Còn thằng Dậu đi giải phóng nó cũng viết thư về cho biết, để yên yên rồi nó cũng xin về xã công tác, nó nói nó sẽ về xã nhà lấy vợ. Nghe vậy tao liền nhắm cho nó một đứa rồi, con gái của bà Năm Muối đó, con nhỏ đó được người được nết lắm.


Nghe ông kể chuyện gia đình, tự nhiên nước mắt tôi trào ra, tôi quay sang chỗ khác cố nén nỗi buồn vào lòng. Hiểu được nỗi buồn của tôi ông Sáu vỗ vai vui vẻ nói:

- Cháu ạ! Cháu về đây với bác coi như về nhà. Rồi đây mấy đứa nó về nữa, gia đình đông vui, anh em tụi bây sống với nhau, góp công góp sức xây dựng lại những gì đã mất, đời sẽ vui, người khuất cũng thoả lòng.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:49:58 pm
Trưa hôm đó, ông Sáu mời anh bữa cơm bằng khoai lang Diên Ngọc luộc ông vừa nhổ sáng nay. ông chọn đưa anh một củ rồi nói:

- Hoá nè! Mùa tới thứ khoai này không thiếu đâu nghẹn, bà con mình về, thì chỉ vài mùa nữa thứ khoai này sẽ đi khắp lục tỉnh cho mày coi.

Không phải chỉ có món khoai đặc sản này mà tất cả những trái ngon, những đặc sản thiên nhiên của vùng sông nước U Minh này rồi đây cũng sẽ được hồi sinh và nảy nở làm giàu cho đất nước.


Mới giải phóng một tháng mà bà con từ các nơi lần lượt kéo nhau về. Có người về tới bắt tay ngay vào việc dọn đất cất nhà, nhưng cũng có người về tới thấy cảnh hoang vu, lau sậy um tùm, chán nản lại bỏ đi. "Làm thế nào để ổn định ngay đời sống, để bà con yên tâm làm ăn". Đó là nỗi suy nghĩ lo lắng của chu chín Kiên, người cán bộ cơ sở, bao năm bám trụ quê hương, chiến đấu kiên cường, những năm giặc kìm kẹp khắc nghiệt, chú vẫn len lỏi đến mọi người, đến từng gia đình mang đến cho bà con sức mạnh và lòng tin ở ngày mai thắng lợi. Mỗi lo lắng của bà con chú đều rõ, mỗi suy nghĩ của bà con chú đều hiểu và an ủi, động viên. Chú rất được bà con tin yêu và quí trọng. Chú Chín vẫn tin vào sức mạnh đoàn kết của bà con, nếu biết phát động, biết tổ chức tất, thì dù có khó khăn đến mấy bà con ta cũng nhiệt liệt làm theo. Nghĩ như vậy sau khi bàn bạc với ban lãnh đạo, chú Chín tổ chức cuộc họp bà con, phát động phong trào lao động sản xuất. Một vấn đề được đưa ra bàn bạc hết sức sôi nổi, đó là: san lắp hố bom, hố pháo, làm thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, trồng lúa nước. Y kiến này có nhiều bà con tán thành, nhưng cũng có một số bà con bàn ra, nào là "bom mìn nguy hiểm nào dà "đất nào tốt thì sản xuất, đất nào xấu thì thôi" Còn có ý kiến cho là "ông bà ta xưa nay quen trồng khoai, không quen trồng lúa nước .v.v...


Ngồi nãy giờ nghe nhiều người tranh luận, ông Sáu thấy không thể im lặng được nữa, ông xin phát biểu, mọi người nghe ông Sáu phát biểu đầu, hướng mắt nhìn ông chờ đón sự đồng tình ở ông. ông Sáu từ từ đứng dậy vuốt lại mái tóc bạc phơ, ông từ tốn nói:

- Ông bà mình ở đây mấy đời sinh sống chưa có một gia đình nào đói. Từ thời ông cố nội tôi đã ở cái đất này rồi. Đất giồng Tân Lạc đã từng thấm bao mồ hôi và máu để vun xới cho đất qua mỗi mùa càng thêm tốt tươi. Con kinh nước lớn trước mặt là do bàn tay của ông bà ta đào để lấy nước tưới cho đồng ruộng và vườn cây bốn mùa xanh tất. Rồi từ khi Tân Lộc nổi tiếng là đất của khoai lang Diên Ngọc, thì năm 1940, thằng hội đồng Tân nó đến đóng cọc qui vùng đất này là của nó, bắt nông dân mình phải đóng thuế hàng năm. Ông bà mình có ai chịu đâu! một hôm thằng hội đồng Tân đến cắm cọc lên đất của cha tôi, cha tôi kiên quyết không cho, ông ôm cây cọc nhổ lên, thằng hội đồng Tân bắn cha tôi, máu trong lồng ngực trào ra, ông vẫn ôm cây cọc dùng hết sức nhổ lên, khi ông ngã xuống cây cọc đè lên ngực ông, máu nhuộm đỏ cọc, chảy thấm xuống mặt ruộng màu đất tro bạc. Đôi mắt ông vẫn mở to nhìn lên trời cao giữa luống khoai.


Dừng lại giây phút, ông nhìn mọi người, tất cả đều im lặng, thỉnh thoảng nghe vài tiếng thở dài. Ông Sáu lại cất cao giọng:

- Ông Cần, ông mười Trung cũng ngã xuống để giữ phần đất đai của mình. Và hơn 10 năm qua, từ khi thằng Mỹ kéo quân vô, chúng nó đã mang bom, dạn trút bừa bãi xuống ruộng đồng, làng xóm quê ta, bắt bà con ta phải bỏ đất mà đi vào các trại tập trung, ấp chiến lược, sống nhờ, ăn xin. Còn đâu nữa mùa thơm mùa dưa hấu ngọt ngào; còn đâu nửa mùa khoai lang Diên Ngọc thơm ngon, vị ngọt. Từ dưới lòng kinh, trong lòng đất, trên mặt ruộng, miếng bom pháo của Mỹ Ngụy vung vãi khắp nơi, cắm sâu trong lòng đất, làm tím bầm da thịt của ông bà mình, nỡ nào ta lại để cho những thứ sắt thép giết người đó cứ cào xé đất ông bà mình đau khổ triến miên!


Ông giơ cao bàn chân lên trước mọi người, nước mắt cứ tuôn trên má, ông kể tiếp:

- Miếng đạn pháo của thằng Mỹ nó hại tôi đây, mảnh đất đang cuốc phải bỏ giở đó, vết thương hành hạ tôi mấy ngày nay, chân tôi càng nhức nhối bao nhiêu thì tôi càng thương cho đất ông bà mình cũng đau nhức như tôi bấy nhiêu. Hận thù nay phải nhớ lấy, khắc cốt ghi xương nhớ lấy mối thù này. Mang nặng mối thù thì bà con ta càng phải quyết tâm chữa cho đất không còn những vết đau, mà cách tốt nhứt là phải làm theo ý kiến của anh Chín Kiên, cách mạng chỉ lội bao giờ cũng đúng, chỉ cần có quyết tâm, bà con xưa nhay không phải thường nói "nhiều tay vỗ nên kêu, nhiều ngày mần nên chuyện" đó sao!


Từ sau cuộc họp đó, có nhiều người rất thấm thía những lời của ông Sáu, khơi lên tự đáy lòng mọi người tình yêu quê hương, làng xóm, ruộng đồng. Một khí thế lao động mới bắt đầu được dấy lên, "người yêu đất, đất không phụ lòng người". Ruộng hoang được tình người sưởi ấm, cỏ dại lùi dần thay đó là màu xanh của khoai, đậu, bắp. Gần 500 mẫu ruộng hoang, cỏ dại bị lắp đi thì dây khoai bươn tới dệt lên đồng xanh no ấm. Tiếp đó là một con mương mới đào vắt ngang cánh đồng của ba ấp mang nước mát cho đất cho cây.


Qua mấy tháng gian khổ phấn đấu, bà con Tân Lộc đã cơ bản khôi phục hầu hết ruộng đất cũ bỏ hoang. Nhà cửa được xây dựng lại đàng hoàng hơn, vườn tược cũng được trồng xanh. Bà con bắt đầu xây dựng lối làm ăn tập đoàn vần đổi công. Từ chỗ tổ chức vần đổi công năm ba nhà có liền một miếng ruộng từng bước tiến tới cần có sức lao động lớn hơn, sự đồng lòng cao hơn, với thực tế yêu cầu đó, bà con tiến tới tổ chức vần đổi công với qui mô từng xóm một. Do có làm ăn tập đoàn, tạo một điều kiện thuận lợi bà con gần gũi nhau hơn và tình cảm giữa người cùng một xóm cũng dược nảy nở từ những buổi đi cấy, đi cày, làm cỏ, là đất tập đoàn, ai cũng có một niềm vui hay nỗi buồn riêng tư, bộc lộ cho nhau nghe để cùng nhau chia sẻ, làm cho mọi người càng gắn bó nhau, thông cảm cho nhau, giúp đỡ lẫn nhau và mọi người càng thêm gắn bó với xóm làng, thể hiện sâu đậm nhất là ở một số bà con bao năm sống trong cảnh kìm kẹp của Mỹ Nguỵ mới trở về.


Thím hai Bích, mười mấy năm hết sống trong ấp chiến lược đến phiêu bạt lên tận Sài Gòn làm thuê làm mướn nuôi 5 đứa con nhỏ, cuộc đời đói nghèo luôn luôn đè nặng vai thím. Khi nghe quê hương giải phóng, thím khăn gói dắt đàn con trở về, mười công đất giồng ngày xưa tưởng chừng như không còn nữa, vậy mà bấy lâu nay ông Sáu gìn giữ cho thím và khi thím về ông trả lại để thím tăng gia, mẹ con thím mừng vô kể. Bà con mỗi người một tay giúp thím dựng lại ngôi nhà rộng rãi. Đêm đầu tiên về ở nhà mới, mẹ con thím không sao ngủ được Thím nói với mấy con: "Cảnh đời phiêu bạt đã qua đi rồi, bây giờ nghèo gì nghèo cũng ở đây, chết một đống còn hơn sống một mình lẻ loi" và thím đêm đêm đều dạy dỗ các con: Hãy nhớ lấy công ơn trời biển này của cách mạng, của bà con làng xóm, gắng sức mần ăn, tích cực tham gia công tác xã hội, không được lêu lổng như những ngày sống ở thành phố".


Còn vợ chồng của ông Ba Bự, ba đời cày cuốc, vậy mà từ ngày về không ngó ngàng gì tới đất đai, chỉ lo đeo đuổi nghề bán bưng, cảnh lo từng lon gạo bữa vẫn đè nặng trong lòng, trong khi đó, cuộc sống lao động của bà con ngày một vui tươi, thoải mái hơn, ruộng đồng xanh tốt, cuộc sống ấm no mỗi ngày một đến gần với mọi người. Cuối cùng vợ chồng ông ba cũng gác gánh trở về với cuộc sống lao động sản xuất.


Miền Nam hoàn toàn giải phóng chưa đầy ba tháng  mà một vùng đất mang đầy thương tích, qua bàn tay lao động cần mẫn của con người, đất ấm lại và hồi sinh, đất lên một màu xanh lúa, khoai no ấm lòng người, đẹp lại  quê hương.


Chiều về với những làn khói bếp quấn quít trên những mái nhà với bếp lứa cơm, khoai bùi toả ra từng trong mỗi gia đình. Tân Lộc đất giồng hôm nay có vẻ gì thật là ấm áp Trong những đêm trăng thanh gió mát, mặt kinh lóng lánh, xuồng câu thả bồng bềnh trồi trên mặt nước, tiếng ai hò, giọng cô gái thanh thanh:

Hò ... ơ ...
Em về quê mẹ đất giồng
Hôm qua đất trắng, nay đồng ruộng xanh
Đông xuân gối vụ xen canh
Khoai lang Diên Ngọc, ấm lòng quê hương.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:51:08 pm
NHỮNG NỖI ĐAU


(Khuyết Danh)


Bác Sáu bậm môi rửa cho sạch bùn đất chỗ vết thương nơi chân. Bác vừa đạp phải mảnh bom lúc đi cày. Mặt trời đã xuống khỏi ngọn cây, nhìn ra đồng Bác Sáu thấy như thiếu một cái gì. Cây Trâm bầu giữa đồng này không còn nữa. Bom đạn Mỹ đã phạt nó tróc gốc rồi. Bác nhớ mấy năm trước mỗi lần dắt mấy đứa nhỏ về thăm nội, hễ ra khỏi nhà thì nhắm cây Trâm bầu đó, đi tới rồi lấy chòm cau ba cây trước mặt làm mốc đi thẳng lữa là đến nhà nội.


Cánh đồng xưa bằng phẳng, bờ ngang bờ dọc thẳng tắp vậy mà nay đã nham nhở những hố bom sâu hoắm, đất bị đào bới vương vãi thành gò, thành đống. Hồi nào ngày mùa đông vui, đó đây vang lên tiếng hát câu hò, tiếng cười đùa râm ran của nam nữ thanh niên, bây giờ thì gần như nơi không người, bác thở dài nén đau, bước vô căn chòi mới bên bờ kinh. Bác Sáu nhìn ra bờ kinh, trăng thượng tuần đã lên cao, ngoài kia vườn tược nhà cửa của bà con nay không còn nguyên vẹn nữa.


Cây ô môi góc trái nhà bác đã bị bom đạn Mỹ phạt phăng đi một nửa, chỉ còn trơ lại một khúc thân khô. Còn đâu những ngày hoa ô môi nở đỏ, trông thật đẹp mắt. Còn đâu những mùa xoài trĩu quả, mùa mận ngọt ngào. Chất độc hoá học đã tàn nhẫn cướp mất màu xanh, cướp mất sự sống! Cả ngôi nhà của Bác cũng đã bao lần bom giặc thiêu cháy. Bất giác Bác bật thành tiếng nguyền rủa:

“Mẹ cha thằng Mỹ ác quái"

Bác đã xoa thuốc vào vết thương ở bàn chân, nhưng nó vẫn đau nhức, lòng bác vẫn đang nhức nhối. Chính Mỹ đã gây bao cảnh đổ vỡ, tan nát này. Bom đạn đã trút bừa bãi xuống ruộng đồng, trút xuống vườn tược, nhà cửa, sông rạch, bến đò... không từ một chỗ nào. Bom đạn Mỹ cũng không từ trút xuống, những đám cây, những người đang khom mình trên luống cày, những lớp họe rộn vang tiếng trẻ nhỏ, từ mấy năm nay hết anh em Diệm, Nhu đến bọn Thiệu thay nhau làm tôi tớ cho giặc Mỹ, tiếp tay cho Mỹ gây bao cảnh tàn sát, phá nát xóm làng, bọn chúng đã bóp chết hy vọng của bà con ta hường cuộc đời no ấm trong một nước độc lập tự do. Mỹ đã giẫm gót giầy xâm lược lên mảnh đất miền Nam thân yêu, phá hoại hiệp nghị Giơ-neo, ngăn trở hai miền, đất nước chia cắt, miền Nam đau thương dưới gót giầy quân xâm lược Mỹ, miền Bắc cũng đang rườm máu: giặc Mỹ đã đem bom đạn gieo rắc đau thương, chết chóc, tàn phá bao nhiêu người ngã xuống. Đê điều, nhà thương, trường học, nhà cửa là những mục tiêu thù địch của bọn khát máu cuồng chiến Mỹ... Bác Sáu đã trăn trở bao đêm với nỗi đau của quê hương bị chia cắt, bị tàn phá và với nỗi đau của riêng mình, vợ con bị bom pháo Mỹ giết chết, ruộng vườn, nhà cửa bị bom pháo Mỹ phá hoại. Vết thương ở bàn chân vẫn đau nhức. Nằm ngồi, co, duỗi chán bác lại đi bằng gót ra sân.


Vết thương dù nhức nhối vẫn không bắt bác nằm quỵ một chỗ được. Bác vẫn phải đi lại và ngày mai, nén đau nhức bác định đi cày để dọn đất cấy cho kịp mùa, bác nhất quyết phải đi Đồng bào miền Nam, đồng bào miền Bắc, cả nước Việt Nam tuy thân thể cũng đang nhức nhối vì thương tích do bom đạn Mỹ gây ra, nhưng ván bước đi hiên ngang, quả quyết hơn bao giờ hết chỉ vì hai tiếng độc lập tự do. Mỹ - Thiệu đang điên cuồng, cố sống cố chết chống lại cuộc tấn công và nổi dậy mạnh mẽ đều khắp của đồng bào, chiến sĩ miền Nam. Không có cách nào khác, Bác Hồ đã dạy: Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Trận địa trực tiếp của bác Sáu ngày mai là miếng ruộng cày chưa xong.


Phải cày cho xong, phải vượt qua cái đau, cái nhức nhối ở bàn chân. Tất nhiên là không chỉ để cho bác, mà để cho chiến sĩ ta nữa...

- Anh Sáu làm sao mà ngồi đờ đẫn ra vậy?

Bác Sáu đang suy nghĩ, chợt nghe hỏi, giật mình quay lại Thấy chú Tám, bác hỏi:

- A chú! Có chuyện gì mà chú đến tui lúc này?

- Có chớ anh.

- Chuyện gì vậy?

Bác Sáu hồi hộp hỏi, chú Tám hạ thấp giọng:

- Khuya nay ta đồng khởi!

- Vậy hả! Vậy thì trên phân cho tui làm gì? Như đã bàn trước rồi phải không?

- Ừ! Anh vẫn làm như kế hoạch đã bàn trước. Nghe pháo lịnh là bắt đầu nghen. Tôi đi chỗ khác bảo anh em cho kịp.

Chú Tám đi rồi, bác Sáu vẫn còn bàng hoàng: "Khuya nay đồng khởi!" Khuya nay đồng khởi! Lòng bác Sáu như bay lên. Bác không còn nhớ đến vết thương ở bàn chân nữa.
Đồng khởi! Đồng khởi! Phải vậy, chỉ có vậy chớ không có cách nào khác. Có vậy mới làm cho vườn kia lại xanh cây cho ruộng vườn bằng phẳng, không còn những hố bom, không còn sót một miếng bom, cho hoa ô môi nở đỏ, cho tiếng học bài của trẻ thơ vang lên, cho ngày mùa rộn rã tiếng hát hò.


Bác Sáu sắp xếp trong đầu óc: đồng khởi, trận địa số 1, miếng ruộng, trận địa số 2. Bác xé một miếng vải quấn bàn chân đau lại, rồi ra ngoài ôm một bó rơm to ném vào hầm trâu. "Mai chưa cày, cứ ăn no ngủ kỹ đi, mốt hãy cày nghen con!" Bác âu yếm nói với đôi trâu như vậy, rồi cầm dao đi mài. Tiếng con dao cọ vào hòn đá như đánh nhịp cho hai tiếng "đồng khởi" cứ ngân lên trong lòng bác.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:52:13 pm
XÃ B - NHỮNG NGÀY ĐỒNG KHỞI


(Khuyết Danh)


Tôi trở lại xã B vào một buổi chiều nắng đẹp, hai bên bờ kinh những mái nhà còn tươi màu đựng mới. Tại đây, tôi gặp những nụ cười cởi mở của những bác nông dân đã từng nhổ tung hàng rào bốt, những ánh mắt tin tưởng, dịu dàng của các mẹ, các chị, các em vừa thoát khỏi ấp chiến lược. Cuộc sống của bà con xã B đã đổi ngược hoàn toàn, cuộc sống mà dông bào hàng bao năm nay mong đợi.


Đồng chí Hai Chánh, xã đội trường, phấn khởi giới thiệu với tôi: Cách đây ít lâu, chỗ này hoang tàn lắm anh ạ Khi cuộc tấn công bùng nổ, bà con đã cùng du kích phá banh ấp chiến lược trở về với cách mạng, xây dựng quê hương giải phóng như ngày nay.
Tôi nhìn ra kinh, đôi bờ nguyên vẹn. Tiếp màu xanh của cánh đồng lúa nàng hương đang thì con gái mượt mà dưới ánh nắng chiều. Nơi đó cách đây vài tháng là khoảng đồng cỏ lác hoang dại. Vậy mà chỉ một thời gian ngắn, xã B đã thay đổi hẳn trong khí thế chiến thắng của Đồng khởi lịch sử này. Kể từ đêm đầu tháng tư năm nay, khi tiếng súng tấn công nổ dòn trên mảnh đất trù phú của đồng bằng sông Cửu Long, đội du kích xã B đã lấn sát hàng rào đồn địch, cái đồn đã nổi tiếng kèm kẹp ác liệt đồng bào xã B từ mấy năm nay. Khét tiếng ác ôn, bọn lính trong đồn ngày đêm bung ra làm tiền, cướp giựt, khủng bố làm cho không khí xã B lúc nào cũng căng thẳng, ban đêm không tiếng gà gáy, chó sủa, ban ngày không bóng người trên đường. Ấy vậy rylà sau có hai ngày đêm bị bao vây, bắn tỉa, cả trung đội ác ôn trong đồn phải tháo chạy không kịp mang theo xáe đồng bọn. Tin đồn kinh B rút chạy lan đi rất nhanh trong xã, đồng bào rủ nhau phá lô cốt, phá hàng rào kẽm gai, và đến nay những hàng chuối xanh lá đã bám rễ trên nền bốt gạch, đồn này vừa tháo chạy thì đêm sau chỉ một tổ du kích do đồng chí Hai Chánh chỉ huy lại thúc sát đồn B.L bủa lưới bao vây bằng đạn bắn tỉa, đạn vòng cầu. Vòng vây ấy cứ mỗi ngày thêm siết chặt, chặt đến nỗi bọn địch trong đồn phải kêu lên:

- Trời ơi! Mấy ông hãy ngừng một chút, đừng bắn nữa, chúng tôi có yêu cầu.

Nắm vững tâm trạng kẻ thù, trong lúc này, đồng chí Hai Chánh tranh thủ gọi loa ngay vào đồn:

- Hỡi anh em binh sĩ! tánh mạng của anh em đang do đồng bào xã B quyết định, mười chánh sách của chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã vạch rõ con đường đi đúng đắn cho anh em. Thời cơ này anh em hãy tỉnh ngộ, cải tà quy chánh, trở về với nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng.


Tiếng loa của đồng chí Hai Chánh đã đi sâu vào tâm trí của binh sĩ. Đêm hôm sau, du kích xã B đã đàng hoàng cắm lá cờ mặt trận trên nóc đồn. Và đồng chí Hai Chánh nổi lửa đốt đồn, ngọn lửa rực cháy làm sáng cả góc trời xã B, tiếng mõ tre, thùng thiếc, thùng khuy của bà con từ các xóm vang lên rộn rã.


Trước khí thế vùng dậy mạnh mẽ của đồng bào xã B, đồn B.C đóng trên bờ kinh N cũng hoảng hốt tháo chạy. Một nửa xã B đã hoàn toàn được giải phóng, bà con chở đồ đạc dỡ lá đem về đất cũ dựng nhà trên kinh, từng đoàn xuồng của những đội dân công hỏa tuyến đua nhau khua dầm lướt tới. Khí thế nhộn nhịp trong những ngày tấn công của xã B đã làm nức lòng người. Bác Năm thấy lòng mình như trẻ lại, bác hả hê nói với bà con:

- Vầy mà tụi nó bô bô nào là "Bình định 100%" nào là "an ninh" này nọ, thế mà mới có mấy ngày đồn bốt rút chạy ráo trọi, bọn "rồng xanh, rồng đỏ" cũng không thoát chết. ác lắm thì chết nhiều, đáng lắm. Bây giờ bà con mình như cá được về sông, phải tiếp tay với tụi thằng Hai Chánh làm tới chớ!

Và những đêm tiếp sau, bộ đội cùng du kích xã lại tiếp tục bao vây các đồn xung quanh...

Bom pháo cứ ngày đêm trút xuống mảnh đất xã B trên bầu trời không ngớt tiếng máy bay quần đảo. Vậy mà những bữa cơm thắm tình nặng nghĩa hậu phương vẫn diễn ra trong khi khắp xóm nhà mới dựng. Mặc bom đạn địch khoét sâu bờ kinh, đốt cháy những mái nhà mới, nhưng đồng bào vẫn bám sát bộ đội, du kích cùng bảo vệ vùng giải phóng. Chị Bảy đứng bên căn nhà vừa bị bom na-pan đốt cháy, bình thản nói với bà con:

- Cháy cái này dựng cái khác, cách mạng còn là còn tất cả Trên mảnh đất xã B đầy những vết bom đạn địch, đồng bào vẫn một lòng bám đất xây dựng cuộc đời mới; cuộc đời tự do mà đồng bào đã giành được từ tay giặc qua cuộc tấn công gay go ác liệt này. Chính lòng quyết tâm sắt thép ấy của đồng bào đã biến thành sức mạnh vô địch của những cuộc đấu tranh chánh trị trực diện với địch ở chi khu Mỹ An; Khi chúng bắn pháo vào xóm, sức mạnh ấy của đồng bào đã cùng với du kích quét sạch thêm mấy dồn địch trong vòng 10 ngày đầu tháng 7, dồn bọn địch vào khu trung tâm.


Nơi ấy, bây giờ chúng phải sống trong những giờ phút căng thẳng vì những loạt đạn chính xác của du kích; chúng phải nằm hang ở lỗ, khát không dám đi uống nước, ngợp không dám lên thở, thậm chí đến tiểu, tiện cũng không dám ra ngoài. Vòng dây của đồng bào và du kích xã B càng siết chặt. Tin vui chiến thắng liên tiếp bay về, hả lòng hả dạ.


Trong khí thế lay trời chuyển đất của cuộc đồng khởi này, bà con xã B cũng đã vận động được 25 binh sĩ Sài Gòn trở về với nhân dân. Nhiều đội viên phòng vô dân sự hôm nay trở thành những thanh niên đang hăng hái trong những chuyến dân công hoả tuyến hay đang chắc tay súng cùng đội du kích ngàyđêm siết chặt vòng vây bọn địch ở đồn trung tâm. Thôn ấp xã B nhộn nhịp trong những buổi tiễn đưa con em lên đường tòng quân giết giặc Trên 30 thanh niên trong xã đã trở thành những chiến sĩ quân giải phóng.


Đội du kích xã ngày càng tăng, lực lượng ngày càng dông. Trên 30 đội viên du kích đã thật sự làm nòng cốt vững chắc cho cuộc nổi dậy giải phóng quê hương.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:53:29 pm
NHỮNG VÙNG GIÁP RANH


Nguyễn Hồng Trang


Vùng giáp ranh Tân Lạc đang giữa những ngày nắng nóng, đồng khô. Một vùng đất mầu mỡ bao năm qua Mỹ Thiệu biến thành vùng trắng hoang vu. Rồi hiệp định Paris ký kết vừa được mấy ngày thì bà con bị địch nhốt trong ấp chiến lược Tân Lạc cùng nhau bung ra vùng giáp ranh dựng chòi phát hoang sản xuất. Chòi của ông Bảy Cát chòi của bà Năm Bánh tráng mé gò tranh, chòi của chị Tư Trầu kế cây lêkima cụt ngọn... chòi của ông Tư Bài ở tít dưới ngã ba đồng cháy. Tính ra đến nay đã có tới ngót mấy chục cái chòi.

- Chị Tư đang lom khom đan cái vách, chợt nhìn thấy một cán bộ nông hội huyện mặc bộ bà ba đen ngày xưa bước vô nhà, chị mừng thôi là mừng:

- Chèn ơi! Lâu nay anh đi đâu bỏ bà con tui phải khổ sở vậy hả ông cán bộ râu?

Buổi trưa hôm đó chị tiếp khách bằng một bữa khoai lang luộc. Coi bộ chị phấn khởi lắm:

- Anh Sáu nè! yên yên một chút thì tới mùa, thứ khoai này hổng thiếu đâu, chớ bây giờ thì chỉ có nhà tui có thôi đó nghẹn! vì tôi trồng sớm nhứt.

Bỗng có tiếng súng từ ngoài chi khu bắn tới, chị Tư vội nhảy xuống chiếc ván chạy ra cửa, lướt mắt dào dác một lúc rồi chị quay vào nói với giọng khẳng định:

- Chẳng có gì đáng ngại, tụi nó ngứa tay vậy đó thôi anh Sáu, anh yên tâm, hoà bình rồi mà!

Rồi chị kể tiếp cho khách nghe những năm tháng sống trong ấp chiến lược, khổ sở, bữa đói, bữa no, rau cháo thất thường, tinh thần bị kìm kẹp, con người già đi trước tuổi v.v...


Lại có tiếng súng liên thanh, mỗi lúc một gần, chị chạy ra nhìn về hướng có tiếng súng, thấy bà con dưới ngã ba đồng nháy nhốn nháo, chị quay vô dắt khách ra sau vườn rồi chỉ dẫn đường tránh né cho khách khi có bất trắc. Chị nói:

- Thằng ác ôn Năm Lé lại về đây, nó về để gây sự với mấy chục cái chòi này đây? Chị Tư bình tĩnh quay vào nhà điềm đạm ngồi ngay ở cửa nhai trầu. Hôm nay Năm Lé lại kéo bọn lâu la đến và tuyên bố thẳng thừng rằng: ai bàn đến chuyện hoà bình thì bắn bỏ, ai làm chòi ở vùng giáp ranh phải dỡ đưa về ấp chiến lược hết... và, bây giờ nó đã ra tay mần thiệt. Nó nói:

- Lịnh của ông Quận và ngài thiếu tá vùng này cho biết, khu vực này đang bị việt cộng quấy rối, dân chúng phải về ngay ấp chiến lược, ai không nghe, rủi có chuyện gì chết uổng mạng đó! bà con có nghe chưa?

Tiếng ai đó khan khan, chắc nịch nghe như ông Bảy Cát Rồi tiếng nhiều người vang lên:

- Hòa bình rồi, các ông phải để cho dân đi lại làm ăn chớ!

- Ở trong đó hoài để mà chết đói cả đám hay sao?

- Việt cộng nào thì bà con tui hổng thấy chớ cái vụ lính ấp, lính đồn cứ đi phá vườn phá chòi thì sao không nghe mấy ổng nói?

Thằng Năm Lé đứng kiễng chân trước sân chòi chị Tư, vênh vênh váo váo:

- Đây là lịnh, nghe chưa, các ông, các bà không cần phải nói nhiều lời.

Năm Lé vừa quẹt mồ hôi vừa sừng sộ, cặp mắt xếch lé của nó đảo lia lịa lộ ra toàn tròng trắng, nó kéo ngược tay áo để lộ đôi cánh tay lông lá và nham nhở những hình con quái vật kỳ dị.

Chị Tư nói: Cậu Năm, cậu coi kìa, toàn là bà con lối xóm cả. Mấy cậu làm vậy coi sao được. Dân làng về ruộng đất cũ mần ăn thì tội vạ gì mà cậu cứ cho lính ra phá hoài. Hoà bình đến là niềm vui của mọi người, kể cả các anh em binh lính nữa, các cậu không thích hay sao? Hiệp định Pa ri đã nói rõ, hoà bình rồi ai cũng có quyền tự do đi lại mần ăn kia mà!

- Chị Tư vẫn điềm tĩnh vừa nắm áo Năm Lé, vừa chỉ cho nó đám người đang đứng vây chung quanh. Chị nói tiếp: Cậu nói lệnh của ông Quận, ông Tỉnh gì tui hổng biết, tui chỉ biết mấy cậu vô đây gây sự với bà con, không để bà con mần ăn cày cuốc. Mà tui nói thiệt, mấy cậu không phải về đây muốn làm gì thì làm được đâu?


Thằng Hai Kiểng chen vô, giọng trọ trẹ của nó nghe dã đáng ghét rỗi. Nó vừa nói vừa đưa tay vuốt mái tóc, như một thói quen của một tên du đãng. Nó ra lệnh cho lính:

- Lui ra hết. Bắt đầu từ cái liếp xây kia, chúng mày phóng lửa đất cho tao.

Lúc đó ông Bảy Cát chen vô đám đông, xích lại gần Năm Lé, ông vừa nhìn Năm Lé chòng chọc vừa đưa tay vuốt đất trên lưỡi phảng mới mài, mặt ông đỏ bừng lên, ba chòm râu như bành ra, môi mím chặt, trông lẫm liệt đến phát sợ. Ông nói:

- Tao đố thằng nào dám quẹt lửa, phảng này sẽ không tha đâu.

- Lịnh trên, nghe chưa tụi bay, tao biểu, tụi bay vẫn còn đứng đó?

Thằng Năm Lé gào lên, nhưng chẳng có một lính nào động đậy, lính nhìn vào lưỡi phảng của ông Bảy mà da cóc nổi lên đầy người. Khuôn mặt của Năm Lé càng méo mó gớm ghiếc. Nó giựt cây bùi nhùi đã tẩm dầu trên tay lính, Chị Tư nhanh nhẹn chộp lấy vai nó dứt ra sau, chị nhìn thẳng vào mặt nó nói:

- Tui nói cho các người biết, không phải các người muốn làm gì thì làm đâu nghẹn.

- Ông Bảy Cát bước tới, tay lăm lăm lưỡi phảng , cả đám người cũng bước theo ông áp đảo bọn Năm Lé, hai Kiểng,... tụi nó hốt hoảng, hét to lên:

- Giải tán, giải tán hết, các ngươi định mần gì Năm Lé này?

- Chặt tay kẻ nào phá phách và hà hiếp dân. Để cho tụi bây đất phá làng thì dân làng cũng chết. Chặt tay tụi bay thì còn có thể sống, tụi bay liệu mà coi chừng.

Hai Kiểng rút súng bắn tứ tung lên trời rồi cả lũ nhảy phốc lên xe kéo nhau tháo chạy, bụi trên đường tung lên đầy trời cuộn chúng nó biến dần.

Dân làng người dao, kẻ mác, người phảng, dơ cao khỏi đầu, cùng nhau cười dòn dã và hô lớn: Phải thẳng tay với chúng nó. Không có con đường nào khác.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:55:08 pm
VỀ


Trần Phương Nam


Sương sớm dày đặc như một tảng băng khổng lồ đè nặng xuống ấp chiến lược B., mọi cảnh vật đứng im, thỉnh thoảng con chim chìa vôi trên cành trúc líu lo líu lót vài tiếng tẻ nhạt gọi đàn báo tin một ngày mới lại đến. Nhưng có ai biết trong lòng ấp chiến lược B, hôm nay có gì sôi động?


Hơn chục gia đình, già trẻ đã thức giấc từ lúc nào, mỗi người một tay lặng lẽ khẩn trương thu dọn đồ đạc, tài sản chất lên xe, xếp vào gánh chờ lịnh là xuất phát.

Thím Mùi con chim đầu đàn trong đấu tranh, hôm nay thức sớm hơn mọi người. Hai mẹ con hì hục dọn hết đồ đạc chất hết lên chiếc xe bò tự bao giờ. Cơm nước xong, thím dặn con cho bò ăn thật no, còn thím thì đi từng nhà một động viên bà con nhanh tay thu dọn.

Thấy thím Mùi đi tới chị Năm liền chạy vội ra hỏi:

- Thím Mùi ơi! Như vậy là ta quyết định đi thiệt đó hả?

- Ủa, con nhỏ này, đi thiệt chứ chơi sao mây. Hay là mày còn do dự gì?

- Không, tui thấy lo lo thế nào!

- Không có gì đáng lo hết, quyết tâm là được hết trọi. Hoà bình rồi, ai ngăn cản được mình! thôi nhanh tay lên nghen?

Như vậy là cả khóm nhà ở đầu ấp hơn chục gia đình bà con quyết tâm kéo nhau về đất cũ làm ăn.

Ấp chiến lược B. nằm sát vùng giáp ranh, hầu hết bà con trong ấp là người của bên kia xã T. trước ngày hiệp định ký kết, xã T. đã giải phóng, bà con lưu lạc khắp nơi lũ lượt kéo nhau về, dọn lại đất, cất lại nhà, ổn định lại đời sống. Chưa được một năm mà xã T có nhiều đổi mới ngoài sức tường tượng của bà con. Màu xanh của đồng ruộng, vườn cây ăn trái trải rộng vươn lên tốt tươi. Người dân xã T. được hường mọi quyền tự do, dân chủ, nhà nhà xúm hợp, xóm làng yên vui. Xã T. đổi mới có sức lôi cuốn mạnh mẽ bà con trong ấp chiến lược B. kiên quyết phá cũi sổ lồng trở về với đất cũ quê xưa.


Thím Mùi người đàn bà ở lứa tuổi trung niên hiền hậu, cần cù, thương người, thương chồng thương con. Mỹ Thiêu đã cướp đi người chồng thân yêu của thím, giờ đây còn đứa con gái 14 tuổi là nguồn an ủi duy nhất của thím. Năm 1969 gia đình thím cùng bà con bị địch cưỡng bức vào ấp chiến lược, cuộc sống lây lất, bữa đói bữa no, lại bị kiềm kẹp khắc nghiệt, bà con ốm đau không có thuốc chạy chữa... Thím Mùi được chồng để lại cái vốn thuốc gia truyền nên đã chạy chữa cho nhiều bà con khỏi các chứng bệnh, thím còn đỡ đẻ cho nhiều chị em trong ấp... tình thương của thím đối với xóm làng, bà con trong ấp lúc coi thím như người trong gia đình, những lúc tối lửa tắt đèn cứng tìm đến thím, vợ chồng bất hoà cũng tìm đến thím giải quyết, chính vìêvậy mà những điều hay lẽ phải của thím bà con đều nghe và làm theo. Năm năm trời sống trọn ấp chiến lược này, có bao nhiêu cuộc đấu tranh đòi trở về quê cũ đều có mặt thím, thím được bà con tôn là chim đầu đàn đáng kính đáng yêu.

Trong lúc hai mẹ con thím đang sắp xếp lại hành lý thì chị Năm hớt hải chạy đến báo tin:

- Thím Mùi, thím Mùi ơi!...

- Chuyện gì đó Năm, chuyện gì nói cho tao nghe coi?

- Thím ơi... thằng... thằng...

- Thằng nào, làm sao?

- Thằng... thằng Tư Râu nó biết chuyện mình làm rồi!

- Nó biết thì mặc nó, chuyện mình mình làm, đã đến lúc nó không cản được mình rồi.
- Không được đâu thím à! Kìa kìa nó kéo cả bọn "bình định” đến đó!

- Được, mày đi báo cho bà con biết, chuyện mình làm không có chuyện gì thay đổi. Tư Râu đến để mặt nó cho tao, mày theo dõi hễ nó nổi điên thì gõ mõ thật to tập trung bà con cho nó biết tay một trận.

Chị Năm bước nhanh đi, thím Mùi bình thản coi như không chuyện gì sắp xảy ra, ràng buộc lại đồ đạc trên xe. Tư Rầu cùng bọn cán bộ "bình định" xống xộc bước đến, chúng dừng lại, đứng im nhìn thím làm, biết chúng đứng đó, việc thím thím làm, đứng một hồi thấy thím không chào hỏi, mặt nó đỏ bừng lên như con gà nòi, bộ râu ngạnh dựng hẳn lên, bước tới trước mặt thím, gằn giọng:

- Bà Mùi, con chim đầu đàn của ấp này, bà định đi đâu?
 
- Đi về quê cũ?

- Ai cho phép bà đi?

- Hiệp định Pari cho phép, ai có nhà về nhà, ai có quê về quê

- Hiệp định nói là một chuyện, còn ai đi hay ở là một chuyện khác. Khắp nơi súng còn nổ rầm rầm kìa, việt cộng phá hoại hiệp định, nó còn giá trị gì mà hiệp định hiệp điếc! Đừng có kiếm chuyện quấy rối an ninh quốc gia.

- Thím Mùi dừng tay, nhìn thẳng vào mặt của Tư Râu, nói:

- Ông Tư, chính các ông mới là người quấy rối bà con tôi năm năm trời sống trong ấp này, các ông hành hạ bà con tôi chưa đủ sao. Các ông thấy đó, bà con bên kia ai cũng được tự do đi lại cày cấy mần ăn, ai cũng có nhà mới, còn bên này bà con tôi có khác nào như kẻ ngồi tù...

- Bên kia thì mặc bên kia, bên kia không bảo đảm tánh mạng cho các bà. Tất cả không đi đâu hết.

- Chúng tôi đến lúc phải về rồi, các ông phải để cho bà con tôi về. Nói xong thím quay lại tiếp tục chuẩn bị xe cộ bỏ mặc Tư Râu. Thấy không ăn thua hắn liền hạ giọng.

- Thôi bà nội ơi, có muốn đi thì cũng bàn bạc với người chức trách, chớ có đâu mà phớt ăn lê mọi người vậy.

- Đã có hàng trăm cuộc bàn bạc rồi, có những cuộc phải đổ máu mà vẫn không ăn thua. Giờ đây hiệp định Pari qui định mọi quyền tự do dân chủ, quyền tự do đi lại làm ăn, nên bà con tôi không cần bàn bạc gì nữa, chỉ có về thôi!

Tư Râu không nén nổi cơn máu điên:

- Không ai được đi đâu hết, ai không tuân lịnh sẽ qui vào tội quấy rối an ninh quốc gia sẽ bị nghiêm trị. Dứt lời hắn xộc đến kéo con bò của thím về trụ sở. Thím Mùi liền vớ lấy một khúc cây dài chạy theo bất hắn phải trả bò. Tư Kâu hốt hoảng cùng bọn lâu la hai chân ba bước kéo nhau chạy về trụ sở.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:56:04 pm
Tinh ý, đứa con gái của thím nhanh chân chạy đi các nhà thông báo cho bà con cuộc khởi hành bắt đầu, tất cả xe bò, người già, trẻ nhỏ gồng gánh ùn ùn kéo nhau tập trung đến nhà thím Mùi cùng lúc Tư Râu dẫn hai tiểu đội bảo an đến đàn áp. Biết thằng này giở trò đàn áp, mỗi người chuẩn bị sẵn trong tay một thứ vũ khí thủ thân. Tứ Râu bắn mấy phát súng lục chỉ thiên hét to:

- Lịnh của quận trường, ai ở đâu ở đó, tất cả phải giải tán. Ai không nghe sẽ nghiêm trị. Hắn ra lịnh cho bọn lính giải tán đoàn người. Thím Mùi liền nhảy lên xe bò, thím dõng dạc nói:

- Anh em binh sĩ, quân Mỹ thua trận rút hết rồi, hiệp định qui định dân được tự do đi lại làm ăn, tự do về quê cũ sanh sống, bà con tôi bao năm khổ nhiều rồi, bây giờ được về quê cũ là điều chánh đáng, các anh em nỡ nào ngăn cản bà con tôi. Hiệp định Pari là pháp lý đảm bảo sự sống còn của nhà em. Các anh em còn cầm súng đánh ai, cha mẹ, vợ con các anh em đang mong đợi các anh em về Tư Râu cướp lời:

- Các binh sĩ đâu lôi cổ bà đó xuống.

Tiếng thét lạc lõng đó chẳng động được bước chân của các bình sĩ đứng đó. Thím Mùi lại nói:

- Đã đến lúc anh em phải suy nghĩ: nghe theo lẽ phải của dân hay nghe những lời làm bậy của ông trưởng ấp!

- Đám lính đứa thì trúc súng xuống đất, đứa thì quay ngược súng ra sau im lặng nhìn nhau. Giữa đám lính, tên sáu Thẹo cán bộ bình định bước ra, nó đi thẳng đến chiết xe của chị Năm, rút con dao găm ra cắt hết dây để làm gương cho bọn lính, lập tức mấy bà con xông tới lôi cổ nó qua một bên mỗi người một gậy bổ xuống tới tấp, Sáu Thẹo ôm đầu chịu vào đám lính. Thím Mùi nhảy xuống xe ra hiệu cho bà con giăng hàng ngang vây chặt bọn lính, mỗi người một lời khuyên bảo, vận động anh em đừng dại gì nhúng tay vào tội lỗi Nhiều anh em đã nghe ra lẽ phải, nên đã đồng tình cuộc đấu tranh chánh đáng của bà con. Thấy đồng bọn bị đòn đau, Tư Râu như nổi diên bắn mấy phát súng loạn xạ lên không nó gào thét, xua đuổi bọn lính giải vây cho sáu Thẹo, nhưng chẳng có người lính nào hành động theo hắn. Tư Râu bất lực nhưng nó vẫn gào thét:

- Chúng bây ăn gạo quốc gia thờ ma cộng sản rồi, tao sẽ bắn vỡ sọ thằng nào không tuân lịnh.

Một người lính đứng tuổi trong đám lính bước ra trước mặt Tư Râu, anh nói:

- Họ là dân như gia đình, vợ con, cha mẹ tôi. Bà con đòi về quê cũ là chánh đáng, chúng tôi không nỡ giết hại họ. Ông có tài thì nhào vô đó mà trấn áp!

- Phải, phải, anh ấy nói đúng, chúng tôi không dại gì nhúng tay vào tội ác. Một anh trong đám lính la to:

- Kẻ nào đàn áp dân súng này bắn vỡ sọ nó. Rồi họ hô hào bà con cứ đi về. Tư Râu hốt hoảng, hắn lôi thằng sáu Thẹo ngoắc ngoải chạy về trụ sở. Hắn vừa đi vừa nói có vẻ là kẻ thắng thế:

- Rồi các người sẽ biết tay Tư Râu này, đố trời dám cho các ngươi đi khỏi đất này.
Thím Mùi vừa cười vừa nòi:

- Đi chớ còn sợ ai nữa mà không dám đi. Rồi thím quay lại nói với bà con:

- Mặt trời lên cao rồi, thôi ta đi bà con ơi! Đây về bên kia chẳng là mấy bước, có anh em binh sĩ đồng tình ta vạch rào gai mà đi.

Bà con mỗi người một câu khuyên bảo các anh em binh sĩ cùng về vùng giải phóng với bà con, các em nhỏ tíu tít nắm tay các anh lôi đi. Tất cả đều hướng về xã T. hùng dũng bước đi, nét mặt mọi người hớn hở, cười nói râm ran. Bao nhiêu nỗi oán hờn từ mấy năm nay đều trút hết trên mảnh đất tù tội này.


Đoàn người vượt qua rào kẽm gai, ai cũng thấy mình như được gió xuân nâng lên bay bổng giữa đất trời tự do. Trên đường về quê cũ, hương lúa mới mang đến cho mọi người một niềm vui mới.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:57:11 pm
LÁ THƯ SÀI GÒN


(Khuyết Danh)


Anh Tư thân mến,

Tôi đã về đến Sài Gòn được ba ngày nay. Giờ đây tôi Viết gửi ra anh bức thư này để anh khỏi lo lắng. Tôi kính chúc anh dồi dào sức khoẻ để lãnh đạo công tác tốt. Tôi xin nhờ anh chuyển lời tới kính thăm các anh, các chị, các em trong đội múa hát giải phóng, đội kịch nói, đội cải lương, đội múa rối và các đối chiếu bóng mà tôi đã có dịp quen biết qua bảy ngày sống trong khu giải phóng vừa rồi. Tôi xin nhắc lại với anh là dù bận việc hay dù có xa xôi gì anh cũng nên tìm gặp và chuyển lời tôi kính thăm các bạn đó. Tôi chúc các bạn dồi dào sức khoẻ đánh giặc giỏi lao động sản xuất giỏi, sáng tác thật nhiều, thật hay, biểu diễn xuất sắc để mai này trở về Sài Gòn phục vụ đồng bào đạt được thắng lợi to lớn, và để chúng tôi thoả lòng chờ đợi các anh.


Bảy ngày sống trong khu giải phóng, đối với tôi thật quá ngắn ngủi, nhưng đầy thú vị và bổ ích biết chừng nào. Có thể nói, tầm mắt tôi cứ phải căng ra để thu lấy những hình ảnh rất mới lạ. Mới lạ từ cảnh vật đến con người trong khu giải phóng. Còn đầu óc tôi thì phải luôn luôn làm việc với những câu hỏi tại sao? tại sao? mà có lúc tôi cũng phát ngượng với chính mình. Tình cảm của tôi trong bảy ngày đó thật khó tả. Từ xúc động này đến xúc động khác cứ dồn dập. Viết thư này cho anh tôi không hề dấu diềm. Anh cho phép tôi được bộc lộ những điều thầm kín nhứt của một người bạn Sài Gòn lần đầu tiên vào thăm khu giải phóng.


Anh Tư thân mến,

Hôm mới xuống xe đi được 5 cây số đường bộ, chân tôi đã phồng lên, thế mà em bé dẫn đường vẫn cứ nhong nhong ca hát. Tôi hỏi ba má em ở đâu? em nói ở cơ quan X lại có cả nội em tham gia công tác ở cơ quan T. Tôi lại hỏi em tham gia cách mạng mấy năm rồi? em trả lời 5 năm. Nghĩa là em tham gia cách mạng từ hồi em 10 tuổi. Chỉ có bấy nhiêu ấy thôi, tôi cũng tự thấy có cái gì hơi ngường ngượng. Từ đó tôi suy ra rằng cuộc cách mạng chống Mỹ giải phóng miền Nam thu hút từ người lớn đến trẻ em như thế này. Liệu Mỹ có dai sức kéo dài chiến tranh xâm lược để đánh lại một dân tộc đầy đủ quyết tâm và nguồn nhân lực dồi dào, vô tận như thế này được không? Điều mà sau này anh nói với tôi về truyền thống quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ta, giờ đây tôi vô cùng thấm thía.


Khi tôi bước vào một căn nhà nhỏ, đầu tiên tôi cứ tưởng đây là một ngôi nhà của đồng bào. Căn nhà xinh xắn, có ghế bàn, có phích nước nóng, có ly tách, thau rửa mặt, chỗ để xe và cả một bồn nước mưa đựng trong vải nhựa ny lông được ghép bằng các loại cây nhỏ thành hình chữ nhựt để rửa tay chân. Tôi hỏi ra mới biết đây là phòng thường trực. Lúc gặp anh, tôi mừng mừng tủi tủi nói không ra lời, vì chúng ta xa nhau đã 25 năm rồi. Dĩ nhiên là anh đã già, nhưng trông anh hãy còn rất khoẻ, khoẻ hơn tôi là đằng khác, chắc anh cũng thông cảm cho tôi, một giáo viên sống cơ cực giữa thành phố Sài Gòn hoa lệ. Hoa lệ cho ai chứ không một chút nào hoa lệ đối với tôi. Làm sao tôi không gầy mòn được.


Nhà anh ở tuy chung quanh là rừng cây, nhưng xây cất rất khang trang và yên tĩnh, hợp với công việc của anh. Tôi rất xúc động khi thấy trên bàn làm việc của anh có bức chân dung Hồ Chủ Tịch viền trong khung đen. Tôi đứng sững sờ lau nước mắt. Lúc đó anh đứng sau lưng tôi và im lặng. Tôi cám ơn anh đã hiểu được trái tim của tôi đối với Bác Hồ muôn vàn kính mến của chúng ta.


Anh Tư thân mến,

Vì kế sinh nhai, bị giam hãm trong các đường phố Sài Gòn, tôi cứ tưởng nếu ở chiến khu, mà nhứt là ở trong rừng già thì chắc hằn là buồn dữ lắm. Nhưng thực tế đã khác hẳn với sự đoán suy của tôi. Hôm tôi đến chơi với anh Nguyễn Vũ ở đội kịch nói giải phóng là lúc 6 giờ chiều, tôi ngỡ mình lạc đến Thủ Đức hay cầu Băng Ky. Trước mắt tôi có hàng chục cái bàn vuông trên một khu đất rộng mà cây cối phía trên đưa lá cành che kín. Đèn đóm thắp sáng rừng, bàn này uống nước trà, mà anh em gọi là trà quạu, tức là pha rất đậm, bàn kia án đậu phộng rang uống nước sâm, do anh em tự chế lấy, ở dãy bàn xa nữa, các cháu gái đang ăn chè đậu xanh, ăn xưng xăm đường cát. Anh nói với tôi là các loại rau cải hàng bông đều do anh em sản xuất- Mùa nào thức nấy. Thịt rừng thì đừ loại Và đêm ấy tôi đã được ăn cháo thịt cheo, con vật chỉ to bằng con thỏ, hình thù lại giống con nai con, nhưng chân thì bằng đầu đũa.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:58:21 pm
Sáng hôm sau khi anh đưa tôi đến thăm các đội văn công giải phóng như đội múa hát, đội cải lương, đội múa rối.... Thật là một điều kỉnh ngạc đối với tôi khi được thấy những sân khấu đàng hoàng hoặc bằng đất đắp lên hoặc bầng ván gỗ ép bằng phẳng không khác gì các sân khấu đô thành. Tôi đến nơi là giờ các em đang tập luyện. Nơi này các em, các cháu gái đang ôn động tác múa ba lê. Thân mình các em thật uyển chuyển nhẹ nhàng. Nơi kia với dàn nhạc đủ kèn, sáo, ghi ta, vi ô lông, (con tre- basse).v.v... đang vang lên những đoạn nhạc thật là khoẻ khoắn. Không biết có phải do tôi quá suy tường hay không mà lúc bấy giờ lòng tôi rộn lên một nỗi niềm náo nức, sôi sục, thấy mình trẻ lại, thấy mình bị tiếng kèn điệu nhạc, tiếng hát lời ca thúc giục Tôi lại đến thăm đội múa rối của các cháu nhỏ. Tôi xin ngắt ngang đây để nói với anh một điều hết sức khâm phục của tôi là hai đêm trước đó tôi được đến cục điện ảnh giải phóng xem một số phim do xưởng phim giải phóng xuất bản. Những bộ phim "Hạt lúa vành đai", du kích Củ Chi", "Chiến thắng Tây Ninh", "Đường ra phía trước v v đã để lại trong tôi một xúc động mạnh, lòng tự hào lớn và niềm tin tường vô biên, khi thấy cuộc chiến tranh của Mỹ và bè lũ tay sai quả là man rợ nhứt trong lịch sử loài người. Những hành động dã man này chúng làm sao dám chiếu giữa Sài Gòn và cũng qua những bộ phim trên, tôi thấy đồng bào ta, bộ đội giải phóng ta thật là ngoan cường, anh dũng trong chiến đấu. Tôi kinh ngạc khi thấy ở một vài nơi vùng giải phóng, nhà cửa đồng bào đều ở dưới hầm (Phim Du kích Củ Chi), bom đạn Mỹ rải trơ trụi cả một cánh rừng (Phim chiến thắng Tây Ninh), các chị em gái đã bôi sình khắp người để ra đồng sản xuất với những nụ cười dễ thương dưới tầm bom đạn Mỹ (Phim Hạt lúa vành đai), không một sức gì cản được các đoàn dân công tải đạn ra tuyến trong trăm ngàn khó khăn mà vẫn cất cao tiếng hát (Phim Đường ra phía trước). Cái đọng lại trong tôi nhứt là những mầm non miệt mài trong học tập văn hoá, trong tôi luyện nghệ thuật qua phim "Nghệ thuật tuổi thơ”. Tôi đã được ôm các cháu trong đội múa rối vào lòng, các cháu được quay trong phim Nghệ thuật tuổi thơ, trông các cháu hiền từ quá, rất lễ phép và rất khoẻ mạnh. Tôi vào thăm lán trại của các cháu ở, ba lô, quần áo, phong màn, những con rối đủ màu sặc sỡ của các cháu sắp đặt rất ngăn nắp, điều mà anh nói với tôi là tập cho các cháu "Quân sự hoá" sẵn sàng chiến đấu là như vậy đó. Trên vách lá trung quân, một thứ lá cây màu nâu sậm ngụy trang - tôi thấy các cháu treo ảnh Bác Hồ rất trang nghiêm và hình ảnh các vị anh hùng dân tộc như: Võ Thị Sáu. Nguyễn Văn Trỗi, v.v... và một tủ sách thiếu nhi giành cho các cháu đọc. Khi tôi hỏi đến sinh hoạt, cháu P và cháu N đã nói là: Sáng sớm các cháu học văn hoá học nhạc. Buổi chiều các cháu ôn tập nghệ thuật và chơi thể thao. Buổi tối các cháu sinh hoạt đội và bình bầu lao động xuất sắc - cơm có người nấu, củi có người lo, nhưng mỗi sáng chủ nhựt các cháu cũng tham gia vào các việc lao động khác như đi tăng gia cải thiện thêm thức ăn v.v... tất cả những điều mắt thấy tai nghe ở đây làm cho tôi vô cùng thương tâm các cháu nhỏ ở Sài Gòn và các vùng tạm bị chiếm khác hiện nay. Đời sống các cháu đó vô cùng cơ cực. Nhỏ thì đi đánh giày, đi nhặt rác, bán cà rem! Lớn một chút thì đi gánh nước mướn, khiêng gạch làm phụ thợ hồ, làm bồi bếp hoặc túng kế cùng đường đã có biết bao các em các cháu phải làm nghề móc túi, ma cô, đĩ điếm kiếm cách sinh nhai. Ai gây ra tội trạng đó? nếu không phải là bọn Mỹ - Thiệu? từ các rạp hát, các rạp chiếu bóng trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, trên đài phát thanh... lúc nào cũng nghe thấy những lời ca thác loạn trăng gió mây mưa, anh yêu em, em yêu anh. Khắp các tiệm sách, khắp các góc đường, nhan nhản những sách báo Playboy, khiêu dâm, truyện chém giết vì tiền, vì gái, truyện sa đoạ đồi truy v.v... vậy thì các cháu làm sao tránh được các ảnh hường tai hại do xã hội thối nát gây ra. Còn nơi đây, giữa chiến khu giải phóng này, cuộc sống của các em các cháu được chăm nom đầy đủ từ vật chất đến tinh thần. Một lứa tuổi mà hai cuộc sống, hai lớp người thật khác nhau một trời, một vực.


Anh Tư thân mến,

Tôi có được đọc qua một ít sách báo, tạp chí văn nghệ trong vùng giải phóng. Qua cát tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ như Anh Đức, Nguyễn Sáng, Lê Văn Thảo, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Thanh Giang, Trần Hiếu Minh, Nam Hà, Lê Bá, Diễm Phương, Chim Trắng, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Hoài Vũ v.v... in đẹp, trình bày trang nhã, giản dị, màu sắc nhẹ nhàng, nội dung lại rất phong phú, có sức truyền cảm rất mạnh. Thể hiện khí phách anh hùng cách mạng của đồng bào và chiến sĩ ta trong cuộc chiến đấu sinh tử với bọn cướp nước và bán nước.


Anh Tư thân mến,

Như tôi đã nói ở trên, bảy ngày sống trong khu giải phóng đối với tôi thật là quá ngắn ngủi, nhưng bổ ích biết chừng nào! Vừa rồi tôi có nghe đài Hà Nội, đài Giải phóng truyền đi thành tích đạt được qua một năm thành lập chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, tôi vô cùng phấn khởi và tin tưởng. Bọn Mỹ thua đã rõ ràng, bọn Ngụy rêu rã cũng đã rõ ràng. Nếu trước đây tôi sống giữa Sài Gòn đầy lính tráng, xe tăng chạy rầm rập và có lúc tôi đã bi quan chỉ thấy chúng mạnh, thì ngày nay đi ra ngoài nhìn thấy nông thôn giải phóng, có cài nhìn toàn cục hơn, mắt tôi đã sáng rực niềm lạc quan tin tường ở cách mạng. Chỉ mới một năm chính phủ cách mạng ra đời mà đã gặt hái được nhiều thành quả như vậy, cộng thêm nhưng điều mắt thấy tai nghe của tôi vừa qua, tôi tin chắc là ngày thắng lợi cuối cùng của chúng ta không còn xa nữa. Ngày vinh quang chiến thắng trở về Sài Gòn của các anh, tôi xin ra tận cửa ngõ đón mừng với tấm lòng sung sướng nhứt của đời tôi. Thư đã dài, xin hôn anh mặn nồng tha thiết.


Ngày 1 tháng 6 năm 1970
Tôi
H.M


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 04:59:38 pm
MÀU XANH MIỀN ĐÔNG


Nguyễn Hồng Trang


Vào một buổi bình minh nào đó, trời trong gió lặng, nếu chúng ta có dịp ngồi lên máy bay trực thăng, cất cánh từ sân bay Biên Hoà ung dung bay về hướng bắc hoặc Tây bắc, từ trên máy bay nhìn xuống mặt đất, khi ấy tin chắc chúng ta sẽ kêu lên: ôi! màu xanh, thảm xanh! màu xanh trên mặt đất sẽ mang đến cho chúng ta một niềm vui man mát trong lòng, cảm thấy sung sướng và tự hào cho đất nước mình: "ôi, màu xanh đất nước, màu xanh vô tận!".


Phải, đất nước ta là cả một màu xanh: Màu xanh của đồng ruộng mênh mông tít tận chân trời, màu xanh của rừng thiên nhiên bạt ngàn chứa đựng nguồn tài nguyên vô giá tạo cho đất nước tươi đẹp của chúng ta, một tương lai rực rỡ.


Từ cái vẻ đẹp màu xanh bên ngoài, ta lại đi vào cái tiềm tàng giàu có bên trong. Chúng ta ngồi trên xe đi vào màu xanh ở một khoảng đất của miền Đông Nam bộ. Chúng ta sẽ thấy tận mắt màu xanh đã tạo nên vẻ đẹp giàu có của đất nước.


Từ Sài Gòn về đất Thủ - Biên (Thủ Dầu Một - Biên Hòa) màu xanh đầu tiên hiện ra trước mắt chúng ta là xứ vườn. Đi ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai vườn nối vườn mát rượi một màu xanh, đủ loại hoa trái.

"Lái Thiêu, Bến Cát, Châu Thành
Vườn cây trái ngọt lầu xanh bốn mùa"


Đi giữa mùa trái, bông sầu riêng nở từng chùm, Lê-ki-ma trắng như trăm ngàn hột bắp chụm lại lá xanh um, trái chín vàng cành. Cái thú vị nhứt là chúng ta có thể thường thức sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, xoài, bưởi... ngay tại gốc.

Ăn bưởi thì hãy đến đây
Đến mùa bưởi chín vàng cây trĩu cành
Ngon hơn mít mật, cam sành
Biên Hòa có bưởi trứ danh Tân Triều.


Hàng năm, trái cây Thủ - Biên cung cấp cho Sài Gòn và các thành phố khác hàng chục ngàn tấn trái cây đủ loại.

Những năm tháng chiến tranh ác liệt, bom đạn, chất độc của Mỹ Ngụy định hủy diệt màu xanh hoa trái Thủ - Biên, rốt cuộc đều bất lực trước sức sống vươn lên mãnh liệt của màu xanh.

… Cam, quýt, Lê-ki-ma vườn nối tiếp vườn
Nhắm mắt còn nghe ngọt từng khúc ruột
Ghé lại quê nhà ăn những trái sầu riêng...



Từ đất Thủ Biên ta lại ngược lên Bà Rịa Long Khánh, hay đi trên con đường 18 lịch sử, về qua đường 14 chạy ngược Phước Long về lại Bù Đốp Lộc Ninh... Cả một vùng đất đỏ màu tươi rói chen lẫn với màu đất đem sạm và màu xanh của rừng cao su bạt ngàn, tạo nên cho miền Đông Nam bộ một bức tranh hài hoà tươi mát. Đi trên con đường đất đỏ, rừng cao su, từng lô, cứ nối tiếp nhau hai bên đường chạy vào bên trong như vô tận. Những cây cao su mập mạp, căng sữa vươn mình hứng ánh nắng mặt trời, cành lá xúm xuê. Đi dưới vòm cây xanh che kín, chúng ta sẽ ngỡ mình bị lạc vào một vườn bách thảo thơ mộng, bị choáng ngợp ở giữa cái vòm xanh mát rượi giữa trưa hè.


Diện tích đất đai miền đông gồm 28 ngàn cây số vuông, trong đó, riêng rừng cao su chiếm 150 ngàn mẫu tây với hàng trăm đồn điền cao su lớn nhỏ. Như các đồn điền Lộc Ninh, Bù Đốp, An Lộc, Dầu Tiếng, Quảng Lợi... là những đồn điền lớn nhất của miền Đông, có diện tích hàng vạn mẫu tây, mỗi năm khai thác trên 25 ngàn tấn nhựa. Các đồn điền cao su ở La vân, Đình Ba, Cây Gáo (thuộc tỉnh Bà Rịa) rộng hàng trăm mẫu. Các đồn điền Trang Bom, Dầu Dây... (tỉnh Biên Hòa). Ở tỉnh Tây Ninh cũng có những rừng cao su bạt ngàn như các đồn điền Vên Vân, Bến Củi, Cầu khởi chiếm một diện tích khoảng 11 ngàn mẫu. Hàng năm các đồn điền nói trên khai thác hàng chục ngàn tấn nhựa trong mỗi đồn điền.


Theo tài liệu của thực dân Pháp để lại, riêng tỉnh Thủ Dầu Một, sản lượng nhựa cao su khai thác hàng năm chiếm 47% tổng số mủ được khai thác trên toàn cõi Đông Dương. Tỷ lệ nhựa nguyên chất chiếm 80%.


Rừng cao su miền Đông trước đây là một nguồn cây công nghiệp, nới làm giàu lớn nhất của bọn tư sản nước ngoài. Chúng rất tích cực đầu tư vốn vào việc trồng cao su, mớ rộng diện tích. Hàng năm bọn tư bản Pháp ở các đồn điền chi ra hàng chục triệu bạc để tu bổ, phát triền diện tích, chúng thuê hàng vạn công nhân chuyên nghề tu bổ rừng, nâng niu từng cây một, bón đủ loài phân, gây kích thích cho cây cao su từ khi trồng xuống đến khi lấy được mủ trong vòng từ 3 đến 5 năm có thể khai thác mủ, cây nào già cỗi thì chúng chặt bỏ, thay vào đó bằng cây cao su non, cứ như vậy mà rừng cao su cứ trẻ mãi, xanh tốt hàng năm sản lượng mủ được khai thác tăng lên không ngừng. Ngược lại người công nhân cao su bị bọn chủ đối đãi rất tàn nhẫn, khi cạo mủ chẳng may cắt hơi phạm vào xương cây, miệng hở rộng không đúng mạch mủ thì sẽ bị bọn chúng cúp lương, thậm chí đánh đập tàn tệ sa thải. Dưới chế độ cũ, người công nhân miền Đông Nam bộ không ai quên được những câu thơ chua chát.


"Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân"


Từ ngày đất nước sạch bóng quân xâm lược, rừng cao su xanh lại càng xanh thêm.
Cây cao su được trở về trong tình thương yêu thật sự của người công nhân cạo mủ. Anh chị em công nhân phát huy truyền thống đấu tranh chiến thắng kẻ thù, đang ra sức chăm sóc cho rừng cao su ngày thêm xanh tươi tạo nên nguồn sữa trắng tươi mát, làm giàu cho tổ quốc thân yêu.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 13 Tháng Sáu, 2009, 05:01:07 pm
BÀ MÁ XÃ G. (RẠCH GIÁ)


(Khuyết Danh)


Trong cuộc đời chiến đấu của tôi, có một kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên được, cứ sau mỗi một lần chuyển quân về một vùng, một xã mới, thấy các má, các chị tiếp đón bộ đội là tự nhiên kỷ niệm đó tự đáy lòng mình trỗi dậy, hình ảnh vô cùng cảm động lại hiện lên trước mắt tôi. Đó là hình ảnh má Tư.


Má Tư năm ấy độ 55 tuổi, dáng người mảnh khảnh. Cuộc đời của má đáng lẽ phải được sống hạnh phúc với chồng với con trong một gia đình đoàn tụ vui vầy. Nhưng giặc Mỹ và tay sai đã giết chồng má, con bị đẩy đi quân trường rồi cũng chết ngoài chiến trận. Một mình Má phải sống dựa vào tình thương yêu của xóm làng. Xã G. bị giặc kìm kẹp, xóm làng bị tàn phá. Má căm giận lũ giặc tàn bạo, nhiều đêm Má trằn trọc không ngủ.


Má suy nghĩ làm cái gì đây để góp một phần cùng bà con đánh Mỹ, trả thù cho chồng và mong chuộc tội cho con mình. Đó là những lời Má tâm sự với tôi trong những ngày được sống trong tình thương đùm bọc của Má.


Tôi được Má cứu thoát trong một lần bị thương nặng lạc đơn vị. Đó là trong trận đánh trả quân đội Sài Gòn hành quân "bình định" dài ngày ở U Minh đầu năm 1972. Tôi bị thương nặng, bị lạc đơn vị. Trong đêm tối tôi mò mẫm đi tìm dân, không may tôi lọt vào xã G. một xã dưới quyền kiểm soát của chánh quyền Sài Gòn. Đêm ấy tôi vừa vào đến đầu thôn thì bất chợt mấy ánh đèn pin dọi qua mặt tôi mấy lượt.

- Vào nhầm vùng kìm kẹp của địch rồi. Làm sao đây? Tôi tự nhủ, bí quá tôi đành bò vào một ngôi nhà lụp xụp bên đường, nhờ có hàng rào bông búp che ánh đèn, nên địch không phát hiện ra tôi, chỉ nghe tiếng động nên chúng bắn loạn xạ, thổi còi inh ỏi phá tan eái im lặng trong đêm tối. Chúng đuổi theo hướng có tiếng động, giữa lúc đó trong nhà có tiếng chân người chạy nhẹ ra hé cửa nhìn ra ngoài, đó là một bà cụ tóc rối bời tôi nói:

- Con là quân giải phóng, bọn địch đang đuổi bắt con, Má ơi cứu con với!

Bà mở cửa chạy ra thọc hai tay vào nánh tôi, dìu vào nhà, bất chợt Má kêu lên:

- Trời ơi con bị thương rồi, máu chảy nhiều quá...

Giữa lúc đó có tiếng giày đinh nện thình thịch mỗi lúc một gần, tiếng quát tháo om sòm của bọn lính, Má nhanh chóng dìu tôi xuống hầm bí mật cũ kỹ được đào từ bao giờ, vừa lúc đó năm tên cảnh sát ập vào, chúng đập tung cửa, lôi Má ra, tên toán trường dọi thẳng đèn pin vào mặt Má. Nó gắng từng tiếng một:

- Tên Việt cộng vừa chạy vô đây, bà giấu nó ở đâu?

- Tôi già lọm khọm thế này, đêm hôm tối lửa tắt đèn thế này, tôi có biết Việt cộng nào đâu.

- Nè, bà già, đừng có giấu, tôi tìm ra được tên Việt cộng thì nhà bà sẽ bị dốt, đầu bà cũng lìa khỏi cổ đó nghe chưa?

- Tui đáng cha mẹ của mấy chú, tui không dại gì để mấy chú mắng tui.

Tên toán trưởng cảnh sát ra lịnh cho bọn lính lục soát, lấy chĩa xâm từng góc nhà, không thấy gì, tên toán trưởng giận dữ chạy tới túm lấy cổ áo của bà giật mạnh, bà ngã bật ra sau vách. Lòng căm giận đã trào lên tận cổ, Má cố ngồi dậy liền vơ lấy con dao sắt chuối bổ tứ phía, miệng Má la to:

- Quân côn đồ, ức hiếp dân nè, người già cũng không từ nè.

Tên toán trưởng ra lịnh cho bọn lính bắt Má trói lại, thằng thì bị thương đầu, thằng thì bị thương tay, chúng không dám xông vào, tên toán trường rút súng ra định bắn. Má la to:

- Bớ làng xóm ơi, bọn ác ôn nó giết chết tôi rồi! Cứu lấy tôi bà con ơi.

Má đã già yếu, nhưng sức mạnh căm thù đã làm cho tiếng kêu của Má vang cả một vùng. Nghe tiếng kêu, bà con trong xóm tay gậy tay chổi, tay dao tự động đến bao vây bọn lính, tố cáo hành động tội ác giết người vô cớ của chúng, bị đồng bào tố cáo, bọn lính phải ôm đầu kéo nhau chạy về đồn.


Đêm đã về khuya, ngoài trời sương xuống lạnh. Trong đêm tối Má lần mò xuống hầm bí mật. Má châm đèn dầu, thấy tôi mê man bất tỉnh, Má lo quá, chân tôi sưng to, máu chảy nhiều, Má bò lên đi tìm những cây lá thuốc nam, rửa và băng bó vết thương cho tôi, theo dõi từng hơi thở của tôi. Tôi dần dần tỉnh lại, bên ánh đèn leo lét, khuôn mặt gầy gò, tóc bạc trắng với đôi mắt sâu thẳm, hai dòng nước mắt rưng rưng trên hai gò má của Má. Má nhìn tôi chăm chăm, lo âu, có lẽ lo cho số phận của tôi. Thấy tôi tỉnh Má hỏi:

- Chắc con đói lắm phải không, tội nghiệp, con thấy có đỡ được chút nào không, để Má đi nấu cho cho con ăn.

- Dạ? Cám ơn Má, con đã đỡ rồi. Lúe đó tôi không cầm được nước mắt. Tôi quá xúc động trước tấm lòng thương yêu che chở của Má.

Má nhìn tôi, rồi lại nhìn xung quanh hầm, vẻ mặt lo lắng, Má đứng dậy đi lên. Một hồi lâu tôi lại nghe tiếng chân Má bước xuống hầm, tay Má cầm theo cái xẻng cán ngắn, Má nhìn tôi nói an ủi:

- Con cứ nằm đó để Má củng cố lại hầm, bằng mọi cách Má cùng bà con bảo vệ con, không để cho chúng nó bắt con đi. Cả đêm đó Má hì hục đào khoét hầm.

Ngày hôm sau bà con trong xóm thay nhau bí mật đem thuốc, sữa, đường, cháo đến thăm hỏi và chăm sóc tôi. Sau ba ngày được các má các chị chăm sóc vết thương cho tôi chân tôi đã đỡ, chống gậy đì được. Các Má bàn kế hoạch đưa tôi về vùng giải phóng. Vào một đêm cuối tháng, trời đen như mực, càng về khuya sương xuống càng dày, Má cùng hai chị nữa chuẩn bị cơm nước cùng mấy người nữa cáng tôi vượt qua rừng tràm ra vùng giải phóng đưa tôi về quân y viện cách xã G. 20 cây số.


Về tới quân y viện, Má giao tôi tận tay đồng chí phụ tránh bệnh viện, Má mới yên lòng trở lại. Trong giây phút chia tay với Má và bà con cùng đi, tôi quá xúc động ôm chầm lấy Má khóc nức nở, lúc ấy tôi như thấy mình được tái sinh lần hai trên bàn tay chai sạm đầy lòng thương yêu của mẹ mình.


Xuồng của bệnh viện đưa Má cùng bà con trở về xã G., xuồng mỗi lúc một đi xa nhưng Má vẫn ngoái nhìn tôi với đôi mắt dịu hiền, lưu luyến và nhớ thương... cho tới hôm nay, hình ảnh của Má và tấm lòng của bà con xã G. vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi, động viên tôi vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành mọi nhiệm vụ.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:36:58 pm
LÒNG CHA


Lương Cao Rính


Tiếng hò hét, nạt nộ của bọn cảnh sát, tiếng kêu la của các bà các chị kéo ra chặn xe giữ chồng, giữ con đã yên hẳn. Chỉ còn tiếng thở hồng hộc của những chiếc xe tải bịt kín.


Nắng trưa như trút lửa xuống mặt đất, đội cái nắng ấy, một ông già có đôi vai rộng, lưng hơi còng, từ nửa buổi đến giờ vẫn đứng ném mình sau cây cột rào phía cuối ấp, cặp mắt nhìn thẳng, đầu nghiêng nghiêng lắng nghe như sợ bỏ sót một tiếng động nào. Người ấy là ông Sáu.


Chờ cho tiếng xe mất hẳn, ông thở phào một cái rồi mới lững thững bước vào nhà, nét mặt ông không còn tái nữa nhưng các đường nhăn trên trán, trên má ông như hằn sâu hơn. Cặp mắt cùm cụp nhìn xuống. Nếu ai không để ý tưởng ông đang chăm chú nhìn vật gì dưới đất song thực ra ông chẳng nhìn vật gì cả. Ông đang ở trong tâm trạng từ hốt hoảng cực độ chuyển sang lo lắng cực độ, lo lắng trong sự bế tắc.


Lững thững bước từng bước một, ông về đến nhà lúc nào không hay. Năm đầu ngón chân phải của ông va mạnh vào chiếc bậc cứa, lúc thường có lẽ đau lắm nhưng giờ này ông chẳng thấy gì. Cặp lông mày của ông chỉ hơi nhíu lại, rồi ông vẫn lững thững bước vào nhà. Đôi mắt ông hoa lên, ông lảo đảo như người say rượu đi tới bộ ván gỗ kê phía cửa buồng ngồi xuống, hai tay bưng lấy đầu.


Nắng trưa càng gay gắt, ngoài kia cây cối chỉ hơi xao động, hơi nóng hừng hực từ bốn bề vách toả ra, từ trên mái tôn hắt xuống, căn nhà nhỏ của ông càng như cái lò lửa.

- Yên rồi phải không Ba? Bọn nó đi hết rồi hả Ba?

Tiếng đứa con làm ông bừng tỉnh, ông vội vàng chạy tới ấn nó trở lại căn hầm tối vừa rầy con bằng một thứ tiếng rất nhỏ nhưng cũng rất kiên quyết:

- Tao đã bảo ra đâu mà ra hả thằng ranh con? Mày muốn nó bắt đi hả? Mày muốn cha mày phải chết vì thương nhớ mày hả?

Ân được đứa con xuống hầm rồi, ông cứ đứng canh mãi ở cửa nhà chờ cho êm ắng tất cả, không còn một dấu hiệu gì là nguy hiểm - mặc dầu bọn lính đi lùng sục đã về đồn trước đó hai, ba tiếng đồng hồ - lúc đó ông mới mở cửa cho thằng con lên. Cũng chính vì sự cẩn thận quá đỗi như vậy mà nhiều khi thằng nhỏ ở dưới hầm bị bỏ đói đến mờ cả mắt.


Đời ông vất vả cực nhọc từ thuở nhỏ, không biết quyển sách là gì. Quá ba phần ba đời người ông mới lập gia đình. Ba lần sảy, bảy lần sinh, vợ chồng ông chỉ còn lại hai mụn con trai, những lúc nhàn tản, uống hớp rượu, vui câu chuyện, ông thường tự nhủ: mình chịu cực, chịu nhục quá rồi, phải gắng làm ăn cho con cái khỏi khổ. ông lại ý thức rằng tuổi trẻ không có gì sung sướng bằng được đi học.


Đùng một cái, năm 70 bọn Mỹ ập đến bắt thằng con lớn của ông đi. Vợ ông lo cho con quá, lâm bệnh rồi chết. Tiếp đến là cảnh lính Mỹ rầm rầm, rồ rộ kéo về cào nhà, phá ấp, rồi lùa tất cả dân làng ông vào cái ấp chiến lược chết tiệt" này.


Để dẹp bớt nỗi đau vì thương vợ nhớ con, ông dồn tất cả tình thương và niềm tin ở tương lai vào thằng con nhỏ. Vì vậy, mấy năm nay, dù gặp bao nhiêu khó khăn, chịu bao nhiêu phí tổn để đóng góp cho trường học, để đút lót cho mấy tên tề xã, tề ấp để thằng nhỏ khỏi vào phòng vệ ông vẫn ráng gánh hết. Vậy mà từ khi nghe cái tin Mỹ - Thiệu bắt lính cả học sinh thì ông bắt thằng con ở nhà luôn. Sự thật tàn bạo của chế độ Mỹ - Thiệu đã giúp ông nhận ra rằng: học cũng không bằng mất con. Để giữ đứa con, ông nghe và làm theo bà con trong ấp. ông tự nguyện vào tổ truyền tin, ông ký giấy phản đối bọn Mỹ - Ngụy bắn pháo bừa bãi vào xóm ấp; ông vót chông ủng hộ anh em đu kích... bà con làm gì ông làm nấy. Song ông lo rủi bị chúng bắt, đánh đập, bị chết thì không ai nuôi nấng thằng con. Vì vậy, mỗi khi bà con kéo đi đấu tranh chống địch càn quét, bắt lính ông chỉ ở nhà theo dõi tình hình và canh chừng cho thằng con trốn lính.


Từ hôm bọn địch bắt lính ráo riết, ông hì hục đào cho con một cái hầm ngay trong buồng, ngoài ông và thằng nhỏ không ai biết được, cái hầm có lỗ thông hơi rất tốt, nắp hầm ở ngay trên mặt nền nhà, có đứng lên trên nắp hầm cũng không biết được, sau khi làm xong, ông đã xuống đó nằm thử mấy buổi, thấy không ngợp, ông mới cho thằng nhỏ xuống. Bởi vậy ông tin nơi cái hầm ấy lắm.

- Ba ơi, Ba có gặp anh Bảy con bác Năm không? Thằng nhỏ vẫn đứng ở cửa buồng hỏi vọng ra. Nó không thấy ông trả lời mà chỉ nhìn nó chằm chặp, tường ông sắp rầy, nó cúi mặt phụng phịu.

- Ngày nào cũng cứ thụt thò như chuột cóng thế này, con hết chịu nổi rồi. Ba nè, ở dưới hầm tối dữ quá, mắt con mờ rồi nè.

Lời thằng nhỏ như một cây kim đâm nhói vào tim ông. Ông vùng dậy ôm chầm lấy nó kéo nó ra giữa nhà. Hai tay ông úp nhẹ lên hai bên tai nó, mặt ông sát vào mặt nó. ông ngắm nhìn chăm chú như đứa trẻ lần đầu tiên được ngắm cái gương, ông hốt hoảng nhận ra rằng mắt nó thâm quầng như người lâu ngày mất ngữ, đặc biệt là nước da tái đi như một tàu lá chuối non bị héo giữa trưa.

Thằng nhỏ thấy Ba nó để ý đến nó một cách kỳ lạ như vậy liền nghĩ: mình phải hù thêm để ông già chiều ý mình mới được và nó nói:

- Ba muốn con sanh bịnh vì ngồi hầm hả Ba? Ba không muốn con bịnh thì Ba đồng ý để con đi với anh Bảy nghe Ba?

Ông lại thở dài rồi buông tay khỏi đầu thằng nhỏ, lùi ngồi chỗ cũ trên chiếc ván. Đi với anh Bảy à? Đi ra vùng giải phóng thì xa xôi cách biệt, ông không muốn, hiện ông còn có mình nó. Thằng anh nó, ông xem như đã mất rồi - mà sống làm sao được khi bàn tay lông lá của bọn quỷ Mỹ cố tình giết nó? Đi ra cứ? Ở đó tự do thật đấy, nhưng vất vả phải dầm sương dãi nắng... cái thân xác còn non nớt của nó làm sao mà chịu nổi. Rồi ốm đau, ai thuốc thang chăm sóc, ai nấu cho nó chén cháo? Anh em người ta phải lo đánh giặc, ai đâu rảnh mà chăm sóc nó như ở nhà được. Ông quay nhìn con rồi lại thở dài:

- Con cố ở nhà với Ba, ráng chịu vài bữa nữa, chắc là tụi nó lùng sục đến mươi mười lăm ngày chứ đâu lùng sục được cả tháng, cả năm.

- Ba có biết gần hai tuần nay Ba không đi làm rồi, liệu Ba có ở nhà trông chừng cho con được hoài sao? Còn phải mần ăn chứ?


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:38:12 pm
Lời thằng nhỏ làm ông ngây người ra, ờ, đã nữa tháng nay ông không mần ăn gì được. Mạ chưa gieo, ruộng chưa cày được công nào. Hay đến cả việc nấu cơm cũng thất thường. Thấy bếp nhà bên đỏ lửa, ông mới nhớ. Nhưng ông lại tự an ủi: chẳng lo, còn được vài chục ngàn đồng cũng đủ cho hai cha con ăn một tháng. Ông sẽ bớt uống rượu đi, còn vui thú gì mà ăn với nhậu. Say sưa để rồi tụi nó kéo đến bất thần lúc nào không hay à? giờ thì phải nghĩ đến con, giữ lấy sao cho qua được hiểm hoạ tày đình này...


Ông Sáu vừa đặt chai rượu vào chỗ cũ thì thấy thằng con la lên:

- Ba ơi, có người chạy...

Ông ngẩng lên, đúng là tiếng giầy của bọn cảnh sát chạy rầm rập ngay đầu nhà, chân tay ông run bần bật, cuống quít... ông vội đẩy đứa con xuống hầm. Vừa đậy nắp hầm xong thì một tên lính bảo an đã đứng ngay giữa cửa cười sằng sặc:

- Ông già dấu cái gì trong buồng? Việt cộng hả? Như một kẻ lầm lỗi bị bắt quả tang, ông đứng đờ ra, lưỡi líu lại không nói được gì.

Tên lính bảo an nhìn ông rồi cất giọng lè nhè:

- Ông già quên tôi rồi sao? Cùng là bồ bịch với quán rượu cả mà? Có gì cứ nói thiệt đi, không kịp suy nhĩ gì nữa, ông chạy tới lặng lẽ cúi xuống gầm ván cầm chai rượu dứi vào tay tên lình bảo an, trong lúc đồi môi ông cứ run lên bần bật.

Tên lính lắt lư cái đầu, hắn tưởng ông say rượu:

- Câm rồi hả ông già? Đã đến lúc đái ra quần chưa? Khá lắm, biết điều đấy!

Rồi hắn cười, tiếng cười như tiếng cú rúc. Chợt lại có tiếng giầy chạy tới. Ba tên cảnh sát lừng lững từ cửa bước vào. Một tên có lẽ là trưởng toán, cầm mảnh giấy hất hàm hỏi:

- Ông là ông Sáu hả?

Ông Sáu vẫn im lặng.

- Đứa con ông giấu ở đâu? Thằng út ông giấu nó ở đâu, lôi nó ra thì còn được tử tế, bằng không thì... vừa mất con vừa thiệt mạng đấy.

Vừa nói, hắn vừa ra hiệu cho hai tên kia ập vào khám buồng, không còn giữ được bình tĩnh nữa, ông thét lên:

- Không được bắt con tôi! Không được bắt thằng con của tôi! Nó còn nhỏ, tôi chỉ có một mình nó. Các ông muốn đòi bao nhiêu tôi xin có đủ tiền đây, tiền đây...

Ông cuống quít rút vội cái ví ấn váo tay tên toán trưởng rồi ra sức níu nó lại. Như những con chó săn thành thạo, hai tên cảnh sát kia đã lao nhanh vào buồng. Chúng hất tung tấm phên che phía ngoài, ánh sáng ùa vào căn buồng, cái nắp hầm do đậy vội nên phơi ra những khe hở, hai tên cảnh sát nhận ngay ra và reo lên: hầm đây rồi!
Như có ai cầm búa đánh trúng đỉnh đầu, không còn suy nghĩ gì được nữa, ông giựt phắt lấy chai rượu trên tay tên lính bảo an, lăn xả vào buồng đập túi bụi lên đầu hai tên cảnh sát đang hăm hở tìm cách mở chiếc nắp hầm. Cả hai đứa thét lên rồi có tiếng vật lộn huỳnh huỵch. Tên toán trường cảnh sát vội vàng chạy vào, hắn túm được chân ông lão lôi tuồn tuột ra giữa nhà. Ông Sáu vùng đứng dậy, tay vẫn nắm chắc chiếc cổ chai đầy máu. Mắt ông như hai cục than hồng. Những đường nhăn trên trán, trên má cuộn lên, giật giật như những đợt sóng. Tên toán trưởng cảnh sát chĩa súng ngắn vào ngực ông, bắt ông đứng im. Còn người lính bảo an, sau phút ngạc nhiên, hắn cười hô hố, gật gù ra chiều khoái chí:

- Ông già khá lắm! Bố của tôi khá lắm. Phải thế! Đã là thằng đàn ông, bồ bịch với cái chai, cái xị thì ít ra cũng phải biết sử dụng nó vào việc chống trả kẻ thù chớ... Người lính bảo an lại cười hô hố, song ngón tay trỏ luôn luôn đặt nơi cò súng. Tên toán trưởng cảnh sát nhìn ngọn súng của người ấy luôn hướng về phía mình thì hắn bỗng chột dạ, vội thét hai tên kia ra khỏi buồng.

Vừa lúc ấy, tiếng hô hoán lên, tiếng bước chân rầm rập của bà con trong ấp kéo đến. Ba tên cảnh sát và người lính bảo an hoảng hốt kéo ra khỏi nhà.

Trước cảnh ấy, ông Sáu tự nhiên ôm mặt oà lên khóc nức nở. Một bà già vội vượt lên phía trước đám đông ra hiệu cho bà con đuổi theo bọn cảnh sát rồi nói:

- Chú Sáu à, chú làm vậy tuy tốt đấy, nhưng một mình thì chẳng làm nổi mà có khi còn mang hoạ.

Ông Sáu ngẩng lên, giọng cảm động:

- Chị Năm, nếu không có bà con xóm ấp thì tui và cháu bị tụi nó ăn gỏi hôm nay rồi. Tôi nghĩ ra rồi, muốn giữ được con trước hết mọi người phải đoàn kết cùng nhau đuổi tụi nó ra khỏi ấp, khỏi xã trước đã. Lâu nay, tôi có lỗi Bây giờ tôi phải đi với bà con quyết sống chết với tụi nó.

Ông ngừng lại một lát rồi như nhớ ra điều gì, ông ghé vào tai bà Năm nói nhỏ:

- Chị Năm à, tối nay tôi định gặp chị để cho cháu út đi với cháu Bảy bên đó... phải cho cháu đi thôi chị à!

Bà Năm gật đầu:

- Chú Sáu làm vậy là đúng đó.

Nắng trưa vẫn như đổ lửa xuống mặt đất. Cuộn đấu tranh của bà con còn nóng hơn cái nắng hè.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:39:13 pm
XUÂN VỀ VÙNG ĐẤT VEN SÔNG THU BỒN


Phương Hồng An


Tôi về xã V. vào một ngày giáp tết. Bóng tối và mùa đông mây mù đã gom lại dưới rạng hai đống lù lù xám xịt ở hai đầu. Hai đống cứ điểm hột, đống lúc nhúc lũ Nam Hàn. Một đống nữa nhầy nhụa, bọn ngụy trung đoàn 51. khoảnh đất còn lại ở giữa gọi là xã V. đó trần trụi một mình một cõi vẫn cứ đứng lừng lững bên bờ sông Thu Bồn.
Bàn chân nhỏ. Trời ơi, bàn chân của trẻ con!


Tôi bỗng reo lên như một cánh hoa đang nở. Tới một mảnh đất trụi lủi, mà hai đầu là quỷ dữ thì bạn sẽ có tâm lý như tôi lúc này. Tim tôi bỗng đập mạnh, vì hồi hộp, sung sướng hy vọng tin yêu. Như lần được đầu mối, như bị một sức hút kỳ diệu của cuộc sống, tôi lần theo vết chân. Bàn chân nhỏ còn in dấu rất rõ trên nền đất xốp dưa tôi đến một vùng đất nổi giống như những đợt sóng ngầm của một dòng sông sắp gặp biển.

… Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ ...

- Ôi! Tiếng hát! Tiếng hát!

Tôi nén xúc động lắng nghe. Tiếng hát của trẻ thơ còn phảng phất mùi sữa mẹ. Giặc Mỹ rút chạy là phải. Bom đạn Mỹ đang chịu thua là phải. Có nơi nào trên trái đất, mỗi khi mùa xuân đến, lòng người lại dạt dào một niềm tự hào như ở đây không? Tôi thầm tự hỏi. Chao ôi, mùa xuân của đất trời lúc này đối với tôi có thấm vào đâu. Một dấu chân, một tiếng hát ở ngay nơi đây mới là cả một mùa xuân. Tôi cảm thấy vững tâm tin tưởng lạ lùng. Cách đây một năm, lúc đó giặc Mỹ còn đang sung sức, hầu như có bao nhiêu bom đạn chúng đều trút xuống mảnh đất cỏn con này. Từ dưới lòng đất, trong một hầm chìm, bà mẹ nào đó đã ru con:

Đạn giặc Mỹ vãi ra như cát
Đạn cụ Hồ mỗi phát mỗi tên!


Tôi nhớ mãi câu ca đó, và hôm nay lại trở về thăm lại quê hương. Tôi lần theo vết chân. Vết chân dẫn tôi vào mùa xuân của con người, mùa xuân chiến thắng.

Tôi nhìn lên khu đồn dân đang nằm úp chén bên cạnh cữ điểm ngụy. Bây giờ là chín giờ. Nắng luôn chan hoà mặt đất. Không vướng một bóng cây nên nắng tuôn về khắp nơi. Một con chim nhỏ bay vù qua, không có chỗ đậu nó vượt sông về bên kia, vùng giải phóng. Em bé ngước nhìn theo cánh chim, đưa luôn cả dây cỏ xanh trong tay lên vẫy. Bầu trời mỗi lúc một trong sáng và ấm ám hơn. Từng mảng mây trắng kéo theo nhau bay trên các đỉnh núi xa xa giống con tàu đang tốc hành về ga. Dòng sông Thu Bồn sau những ngày giận dữ sủi bọt đục ngầu của mưa dông giờ trở lại xanh trong hiền hòa. Khu tập trung giống một cái nấm độc có màu kẽm gai và tôn tấm đang tàn tạ. Từ đây đến đó, chỉ khoảng năm trăm thước thôi, chỗ có cái vọng lâu bằng sắt sơn đen, ngóc đầu dựng đứng lên như một con rắn. Em bé đã vù chạy về đây một mình. Tôi nhìn lại, em bé vẫn cầm dây cỏ xanh trong tay mơn mê như một cành hoa xuân. Chốc chốc đôi mắt em lại chớp nhìn lên bầu trời mênh mông đầy ánh sáng chung quanh em, mặt đất bị bom đạn cày xới giờ đây đang nồng nắng xuân. Tôi nhớ một hôm công tác vào khu dồn dân. Một khu dồn dân "kiểu mẫu” của bọn bình định. Một bà mẹ già khoảng 60 tuổi nắm lấy cánh tay tôi khóc:

- Các con đừng nghĩ sai cho bà con mà tội nghiệp! Cái chi chi? "Chiến dịch bánh mì"! "Các con đừng nghĩ sai cho bà con tội nghiệp!"

Giặc Mỹ thật xảo quyệt. Dùng bom đạn với tất cả kỹ thuật quân sự hiện đại không được, chúng xoay qua dụ dỗ mua chuộc bằng bánh mì, ở đây, chúng sắm tất cả mọi thứ cho gia đình của một nông dân. Thậm chí đôi đũa cái rổ, chúng cũng phát cho từng nhà. Các gia đình đều có bàn thờ phật chúng sắm ngay cho một nải chuối, quả bòng, mấy trái cam đơm lên cao ngất, mới nhìn giống như thật, trẻ con ngó chảy nước miếng, nhưng tất cả đều bằng nhựa. Năm hôm sau, trại tập trung "kiểu mẫu "đó bị đồng bào tự tay đốt sạch giữa ban ngày.


Bỗng, khu dồn dân như một tổ ong đang vỡ, bay túa ra bốn phía. Kẻ gồng người gánh dắt díu nhau về quê cũ, tiếng súng nổ như bắp rang. Thỉnh thoảng có những viên đạn lửa vạch ngang trời.


Một lát sau, năm cô du kích lưng khoác súng vai gánh đồ đạc chạy về vừa cười vừa lấy khăn thấm mồ hôi trên mặt. Các cô không kịp kể cho tôi nghe chuyện chi hết. Tôi chỉ nghe các cô nói loáng thoáng trong lúc đang thở:

- Diệt được thằng Sáu ác ôn!

- Bọn bình định chạy vô Thị Trấn hết.

Đồng bào đổ về đông như hội. Gồng gánh đặt ở tất cả các miệng hầm. Người đi trong nắng xôn xao làm cho rặt đất cũng loạng choạng say sưa.

Trên mặt đất trần trụi đó. Giờ đây vết chân người chồng lên nhau. Sáu thôn đều có đồng bào kéo về ở.

- Thanh! Chớ đi đâu mẹ tìm muốn chết được!

Tôi chưa kịp quay lại, thì người mẹ đã nắm lấy tay con bé và chào tôi.

Em bé nhí nhảnh nói với mẹ:

- Chú công tác đó! Mẹ ơi! Mời chú về hầm mình đi! Người mẹ nhìn tôi cười nói:

- Suốt đêm hôm qua cháu nó có ngủ đâu. Cứ thức chờ sáng để về nhà.

Nói xong, người mẹ nhìn mảnh đất trống không từ đầu xã tới cuối xã Một mảnh đất không hoa, không lá tường như không còn sức sống nữa. Kẻ thù đã cố tình xoá nhòa mọi kỷ niệm thân yêu của con người, nơi chôn nhau cát rốn. Kẻ thù đã không tiếc bom đạn để tiêu diệt mọi mầm sống của con người nơi quê cha đất tổ này đây, chúng nó muốn xúc sạch đi đem đổ xuống dòng sông, tẩy cho kỳ hết những cái gì của con người làm ra nó, vì nó mà sống. Đôi mắt người mẹ trở nên u uất bên cạnh ánh mắt của đứa con. Chị nhìn mặt đất như đang tìm kiếm cái gì ở đây Chỗ nào ngày trước đặt đôi hũ nước gánh từ ngoài sông về, nơi nào cây ớt mẹ trồng khi chị vào tuổi hai mươi. Hẳn chị đang nhớ lại câu đố của người bạn trai: "Hồi nhỏ tôi mặc áo xanh. Tôi lớn bằng anh tôi mặc áo đỏ!” chỗ nào có lũng dâu mỗi mùa cuốc gốc lại lén nhìn đôi mắt sáng bên kia vườn. Đường đi ra bến nước, dâu xanh ngắt có thể giấu mẹ vài câu hẹn hò. Trước mắt chị chẳng còn một dấu vết gì hết. Một mảnh đất chân tuột ra cho đến bờ con sông thân thuộc kia.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:41:02 pm
Chị Mai dắt con đi trước. Chị mặc chiếc áo đen gọn gàng. Búi tóc hơi rung rung như đánh nhịp cho bước đi của hai mẹ con. Chị đeo đôi bông tai màu vàng óng ánh trong nắng xuân. Một con người như vậy vừa mới đây với hai tay không đứng trước mũi súng quân thù để đối địch từng lời. Giờ đây chị dắt con đi ung dung trên mảnh đất của mình. Em bé tung tăng bên chân mẹ. Nắng xuân như đang nhảy múa chung quanh hai mẹ con chị. Tới cửa hầm chị dừng lại nói với tôi:

- Đây nhà tôi đây rồi!

Nói xong, chị cười. Cái cười của chị không khác em bé gái mấy. Chị lại đưa mắt nhìn khoảng đất trống trước mặt.

Chúng tôi phải chuẩn bị cho quần chúng mấy tháng trời đó anh!

Chao ôi! Một cuộc đấu tranh dai dẳng để giành lại một mảnh đất như thế này đây. Một mảnh đất giống như hai bàn tay trắng. Cái gì đã làm cho chị gắn liền với đất như vậy?

- Đó anh coi, cái hầm nớ là nền nhà cũ của mẹ tôi để lại cho vợ chồng tôi. Một cái nhà năm gian!

Chị Hai đưa tay chỉ một quãng rộng, cái quãng rộng ấy gắn liền với cả cuộc đời chị.
- Chỗ ni mẹ tôi đặt lò bánh. Tết có bánh giò, bánh tét, ngày thường có bánh tráng. Đằng sau ni có chuồng heo chuồng gà. phía trước đó là dâu là bắp.

Chị lại cười rồi nói tiếp:

- Mẹ tôi giỏi giang lầm tôi được ăn uống no đủ cũng nhờ mẹ tôi!

Tôi bỗng hiểu ra tất cả. Vì sao con người nhỏ nhắn ấy lại dám đấu khẩu trước mũi súng quân thù. Giờ đây trước mắt tôi hiện ra biết bao nhiêu màu sắc của một cuộc sống đang đâm chồi nẩy lộc. Bỗng dưng, tôi không còn thấy đây là một mảnh đất trần trụi nữa. Một mảnh đất có nhà cửa, có bãi bắp nương dâu, một mảnh đất có cái hồn bất diệt của nó. Con mắt của chị Hai, một người từ trong cuộc đấu tranh mà ra đã truyền cho tôi cái nhìn mới mẻ đó.

- Mẹ tôi về đó!

Nghe chị Hai nòi, tôi nhìn ra. Một bà cụ khoảng 60 mươi tuổi có đôi gò má cao, nước da sạm nắng, lưng hơi khòm ung dung bước vào nhà. Em bé chạy đến ôm tay bà. Không kịp để tôi chào, bà cụ hỏi:

- Cậu về được tới đây? Giỏi đó!

Tôi thấy thèn thẹn trong lòng. Tôi hình dung ra ngồi nhà rộng năm gian làm cho tôi ngây ngất không khí của một ngày giáp tết. Lò bánh của bà cụ đang bốc hơi, chị Hai đi nhóm bếp đặt ấm nước trên ba hòn đất cứng.

- Bà con trong xã thiệt thòi. Giải tán được khu dồn dân trước hết!

Tôi đỡ lời. Hai con heo đòi ăn, kêu toáng lên trong chuồng. Bầy gà ấp gà nở kêu cục cục trước sân. Bà cụ nói:

- Rồi làm lại hết thôi. Không mấy hồi đâu cậu hễ được đất mình thì cái chi cũng có.
Nắng mỗi lúc một gắt. Bà cụ mời tôi xuống hầm nói chuyện. Chị Hai đội chiếc nón trắng nấu nước cách miệng hầm khoảng bốn năm thước. Vừa lúc đó có bốn, năm bà cụ đi tới.

- Chào các bác!

Tôi cất tiếng chào. Các bà mẹ nheo mắt che ánh nắng nhìn tôi.

- Cậu ấy nghe xã mình phá trại tập trung về thăm đó! Các bà mẹ ở một tiếng rồi tới nắm lấy cánh tay tôi như người thân thuộc trong địa phương.

- Các bác về ăn tết! Chúng cháu vui quá!

Một bà mẹ nghe tôi nói vậy không chịu liền nói:

- Về ở luôn chứ răng về ăn tết cậu?

Các bà mẹ cười rầm lên. Em bé vỗ tay reo: "Vui quá! Tết rồi!". Một bà mẹ vừa cười vừa nói:

- Ngày 30 tết thịt treo trong nhà! Chừ có thịt không biết treo ở mô đây!

Tiếng cười của các mẹ lại dậy lên, rồi loang đi các xóm, loang đi mãi không bao giờ tắt!

- Nè chị Hai hẳn đã kể chuyện cho cậu nghe chưa?

Một bà mẹ lắc mạnh tay tôi hỏi. Chị Hai đang thổi lửa phù phù bằng dây cỏ khô, hai má đỏ rần, chị nói:

- Thôi, chừ bàn chuyện tết nhứt đi các bác!

Một bà mẹ nói tiếp:

- Nè, cậu biết thằng sáu rồi chớ? Cái thằng coi mạng người như rơm như cỏ. Rứa mà rồi bữa nay phải thua con Hai xã ni đó.

Tôi ngồi bên miệng hầm giữa mảnh đất tràn đầy sức sống của mùa xuân, nghe các bà mẹ kể mà tường như mình đang đứng giữa biển người đi đấu tranh.

Mờ sáng, mặt người chưa kịp nhìn ra mặt đất đã có một đội quân đang ẩn mình đêm đêm rậm rịch rậm rịch xuất kích. Có bà mẹ đã dậy từ nửa đêm, thắp hương cắm lên bàn thờ phật lầm rầm khấn vái: "Chúng con là con dân cụ Hồ. Chúng con đã cam kết với nhau! Thề mãi mãi là dân cụ Hồ!" Bữa ni con cháu quyết sống chết phải về lại quê cha đất tổ. Cụ sống con dân được nhà. Nay cụ đi xa con dân hường lộc Cụ. Nén hương ni một lòng một dạ ghi sâu ơn cụ quyết cùng nhau về lại miếng đất cũ của mình!".

- Nè! các ngươi làm chi dậy sớm đó?

Giọng thằng Sáu nặng trịch. Nó giống như một con rắn độc rình ăn sương sớm. hôm nay hắn đoán thế nào cuộc đấu tranh cũng xảy ra. Sáng nay bọn bình đính cũng rục rịch dậy sớm. Chúng lên hết đường cái đứng hút thuốc lập lòe. Mỗi tên một cây súng ngắn cầm sẵn trong tay mô mô vào không khí - cái điềm báo trước, bọn này cũng chỉ làm được thế.

- Thôi, mai tết rồi, đi về đi bà con ơi!

Không biết ai đã nói ra câu đó, từ cái góc nào trong khu đồn dân. Thằng Sáu vểnh tai lên nghe cũng chịu. Lỗ tai hắn giống lỗ tai lừa. Như một cái lệnh, sau câu nói đó, bà con ùa ra cả sân.

- Đi về đây!

- Ai về làng cũ thì về!

- Về ăn tết đây chị em ơi!


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:42:31 pm
Bây giờ thì hàng trăm người cùng nói một lần. Rồi hàng hai trăm người hứng theo. Cả khu dồn dân như bị động đất. Sương sớm chợt tỉnh trút sạch xuống một lượt. Bầu trời bỗng bừng sáng. Con gà trống không kịp gáy nhảy lồng lên trong lồng kêu "cục cục tác" "cục cục tác". Bầy chim sẻ giật mình bay vù đi kêu ríu rít. Tiếng lên đạn lách cách hù dọa trên đường cái, con đường duy nhất ra khỏi trại.

- Đồng bào! Đồng bào! E hèm!

Thằng Sáu thấy không ăn thua liền lên nắm lấy "ô-pạc lơ” của khu dồn dân để rống. Đồng bào lại gọi nhau. tiếng các em nhỏ cũng chen vào lanh lảnh:

- Mẹ ơi! con đây!

- Ờ! Về mau đi con ơi!

Tiếng thằng Sáu trong "ô-pạc-lơ” chìm đắm trong tiếng sóng người. Đồng bào ào lên đường cái. Trước mắt họ, bây giờ là hai hàng rào tưởng như không thể nào qua vượt nổi. Hàng rào "tiếp cận" toàn bộ đồ đen tay cầm súng ngắn. Mới nhìn ta cảm giác đó là một bức tường vì bẩn quá nên người ta phải bôi hắt ín lên. Hàng rào sau là bọn rằn ri mang súng dài. Một bức tường màu da rắn.

- Đi đâu?

Một tên trong bọn đồ đen hỏi, hàng trăm câu trả lời dội lại:

- Về quê ăn tết chớ đi đâu?

- Mồ mả ông bà, tổ tiên ở đâu trong khu dồn dân ni!

- Về quê ăn tết đây các ông ơi!

- Ông mô muốn ăn tết thì theo chị em mà về!

Một trận cười kéo dài phá tan không khí căng thẳng.

- Ớ! Chú Ba? Về ăn tết chớ!

Một anh lính lớ ngớ bị kéo ra khỏi hàng. Anh ta trừng trừng nhìn nhưng cuối cùng nhận ra người quen, đành xuôi tay súng. Liền đó, tất cả hàng lính phía sau đều được đồng bào nắm tay mời mọc. Trong đó có nhiều gia đình nhận ra con em mình. Bức thành đen - bọn bình định - hoàn toàn bị cô lập và mất hẳn chỗ dựa. Chúng đứng trơ vơ như trời trồng. Không một lời mời, không một cái nhìn thiện cảm nào đối với chúng. Thật xúi quẩy trong ngày đầu xuân. Chúng ngơ ngác nhìn nhau. bức thành lính dần dần rã ra thành từng mảng một. Biển người hút hút họ lại thành từng cụm một. Bọn bình định giờ đây bị trống ra như những cây cọc đen chơ vơ giữa biển. Thằng Sáu từ cái lỗ nào chui ra không biết nữa. Hắn nghe tất cả và thấy tất cả. Đồng bào không thèm nghe cũng không thèm thấy hắn. Đường họ họ cừ đi, hắn biết nguy liền bỏ "ô pạc-lơ, xuống, xông vào giữa đám người. Hắn khuỳnh hai chân đi ra cho có vẻ oai vệ. Hai tay hắn cầm hai khẩu súng ngắn. Cây súng ngắn bên tay phải, vừa đi hắn vừa tung lên lại bắt. Bằng cử chỉ đó, hắn nói với mọi người: "Nào! ai dám đưa đầu ra đọ với súng đi!" Người dạt ra hai bên. Hắn đi thẳng vào soi mói nhìn mặt người hai bên.

- Bà con! Muốn răng đó?

Mặt hắn nghếch lên như tấm thớt, hàm hất bạnh ra, môi dày và thâm lại, thỉnh thoảng hắn lại lại nhếch mép cười thách thức.
- Về ăn tết!
- Về ăn tết!
Hàng trăm người trả lời hắn giống như những hòn đất hòn đá ném trả quyết liệt: Hắn giơ hai cây súng lên trời bắn liên tục một loáng hết ngay hai băng. Vỏ đạn rón rén rơi xuống hai cánh tay hắn. Bắn xong, hắn lại rút hai băng khác trong túi ra lắp nhanh như người ta làm trò xiếc. Biển người lại im lặng. Hắn lên giọng:

- Hì! Một người nói thôi! Ai ra đây nói đi!

Cặp mắt ốc nhồi của hấn đảo đi đảo lại hằn học thách thức. Biển người lại rầm rì như một đợt sóng xa sắp kéo đến.

- Ông Sáu! Em trai tôi đi lính cho ông! Ông biết rồi đó:

Đó là tiếng nói của chị Mai trong đoàn người. Thằng Sáu đốp lại nghe như một viên sỏi ném vào tường:

- Còn chồng cô là Việt cộng thì tôi cũng biết rồi!

Đợt sóng chung quanh lại ồ ạt xô tới.

- Không mắc chi! Ai biểu tổ tiên mình ở đâu thì quay đầu về đó

- Chị Hai bước thẳng tới trước mặt thằng Sáu. Chị dùng cánh tay phải của mình gạt hai cánh tay súng ngắn của hắn:

- Ông Sáu! Chồng tôi đi việt cộng tết nhứt về thờ tổ tiên. Em trai tôi đi lính cho quốc gia tết nhứt chỉ lo rừng mô thiên hạ. Tôi phải đem hắn về chỉ cho hắn biết ông bà tổ tiên hắn ở đâu!

Thằng Sáu chĩa ngay mũi súng vào ngực chị:

- Lui ra! Giọng lưỡi Việt Cộng! Tao bắn cho mi về với ông bà tổ tiên mi!

Biển người xô tới. Chị Hai vẫn đứng vụt lên trước mặt hắn. Cả người chị là một cây hải đăng. Người người nhìn về phía chị. Chị quắc mắt nhìn thẳng vào mặt kẻ thù.

- Tau thí mạng với mi tau chỉ có một việc là đòi trả lại đất của ông bà tổ tiên ăn tết thôi. Mi bắn tau chết ở đây thì mi cũng không sống nổi đâu!

Bà con đứng đặc chung quanh như bức tường dày vô tận kiên cố vô cùng. Thằng Sáu lừ lừ đưa mũi súng đen ngòm từ ngực chị Hai xuống sàn, xuống dần, rồi thình lình nòng súng bốc khói. Một tiếng nổ rất đanh!


Từng đợt sóng người cuồn cuộn xô tới. Bọn chúng hốt hoảng đánh tháo cho thằng Sáu lui ra. Hắn đi giật lùi giật lùi mãi rồi đâm đầu chạy lên dường cái. Đồng bào ào ào chạy theo. Tiếng súng nổ ran. Những mũi súng của anh em binh lính chĩa thẳng lên trời. Tổ du kích của chị em bám sát bên đường cái. Chị nào cũng một cái làn nhựa màu trong tay như đi chợ. Thằng Sáu bị các tay súng ấy tỉa rất gọn. Bọn bình định như rắn mất đầu xô nhau chạy về thị trấn hú hồn kêu:

- Việt cộng! Việt cộng!

Chị Hai rót nước chè đậm mời các bà mẹ đang râm ran kể chuyện cho tôi nghe bên miệng hầm.

- Răng con? Hắn bắn con có rụng...!

Các bà cười ồ lên. Chị Hai xấu hổ nháy nháy đôi mắt nói:

- Các bà thiệt quả! có khách mà!

Mùa xuân đến trên mặt đất này như vậy đó. Một mảnh đất trần trụi vẫn cứ đứng lừng lựng bên bờ sông Thu Bồn như một lực sĩ qua nhiều keo vật đã từng chiến thắng.
Nắng xuân về rực rỡ cả hai bờ sông. Tôi đưa em bé gài xuống bến nước, em bé tung tăng bên tay tôi líu lo hát như tiếng chim non.

Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ
Thức rồi em vẫn tương còn mơ...


Một ngày hội xuân trên đất ông bà tổ tiên bắt đầu như vậy đó.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:43:36 pm
Ở MẢNH ĐẤT TẬN CÙNG TỔ QUỐC


Hữu Thành

“Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hót biết nhà má đâu..."


Cho đến lúc mái tóc điểm sương, câu ca dao xưa nói về Cà Mau ấy dường như vẫn ấm lạnh mãi lòng ta. Như người ở đầu sóng thường nhớ về kẻ ở cuối sóng và trong mọi vui buồn, lòng mỗi chúng ta lại nghĩ về Cà mau, mảnh đất cuối cùng của Tổ Quốc.
Tràn đầy hân hoan và tự hào khi chúng ta biết xóm mũi và Gạch Tàu, hai xóm ấp cuối cùng của đất nước vẫn nằm trong vùng giải phóng. Cả xã Viên An mênh mông chỉ còn trơ trọi một đồn ông Trang đứng dựa vào bọt nước. Theo lời kêu gọi của chính quyền cách mạng, nhân dân Cà Mau lại bắt tay vào việc trồng lại rừng đước. Những người thợ rừng lành nghề lại tình nguyện gác kèo lấy mật trong rừng tràm và đi lượm trứng ở sân chim "sơ tán" tại Tân Việt.... Những người dân Long Điền lại bàn đến chuyện mở rộng thêm diện tích ruộng muối, tổ chức nhau lại để làm ăn theo lối hợp tác.
Một vùng giải phóng xã liền xã, huyện hến huyện đã hình thành. Rõ ràng là quân dân Cà Mau đã quét sạch từng mảng đồn bót dịch, giành thắng lợi to lớn nói trên, trong một cuộc đọ sức hết sức chênh lệch về hoả lực. Thắng lợi của nhân dân Cà Mau là thằng lợi của sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, của sự nổi dậy mạnh mẽ của hàng vạn quần chúng quyết tâm "đổi đời" cũng dũng cảm như cha anh, đội thiếu niên Năm Căn dang trở thành một đạo quân của Trần Quốc Toản thời nay. Vừa đi bắt cá, bắt cua vừa lo canh gác; vừa cùng cha anh đánh giặc; các em lại còn phân công nhau lo liệu việc tiếp tế cho bộ đội.


Đứng ở đầu sóng ngọn giáo của cao trào tấn công và nổi dậy là những người cán bộ trung kiên của nhân dân. Trong trận diệt cầu số 3 (Tân Lợi) người dẫn đầu mũi xung kích đầu tiên lao vào đồn là đồng chí xã đội trưởng. Bọn địch gom lại trong hầm chỉ huy ngoan cố chống cự. Anh hy sinh lập tức đồng chí huyện đội trường chỉ đạo mặt trận đánh vọt lên, dùng lựu đạn diệt hầm chỉ huy giành thắng lợi cho trận đánh. Sau hai lần lọt vào hàng kẽm gai thứ hai nhưng lại rút ra và không hạ được đồn cây Sộp, làm đòn xeo cho phong trào nổi dậy của quần chúng huyện Châu Thành, anh tư V đã nói một cách kiên quyết “trong trận đánh ngày mai nếu không hạ được đồn, chúng ta phải chịu trách nhiệm trước lịch sử... "chịu trách nhiệm trước lịch sử”. Mấy chữ ngắn ngủi đó đã có sức động viên mạnh mẽ. Vượt qua Gành Hào sóng nước cuồn cuộn, lẹ làng đi lách giữa hai đồn địch án ngự, băng qua bốn hàng rào kẽm gai rách nát thịt da, các chiến sĩ du kích đã diệt được đồn cây Sộp Mang heo tới''mừng du kích, đồng bào bày tỏ nguyện vọng: "Làm sao tụi bay hạ được đồn Vàm Xàng. Nắm vững tinh thần địch đang hoang mang, du kích quyết hạ luôn Vàm Xàng. Đêm đầu tiên du kích bí mật vào đồn thì chỉ thấy trơ trọi một ngọn đèn sáng choang. Bọn chúng đã lẩn ra ngoài từ hồi chiếu. Đêm sau du kích lại kéo tới. Bọn địch chống cự không nổi, mạnh thằng nào thằng ấy bỏ đồn tháo chạy. Đồng bào ém sẵn ở chung quanh lập tức rồ máy đuôi tôm đổ tới giúp du kích thu chiến lợi phẩm và san bằng đồn. Sáng hôm sau ba cánh quân địch có phi pháo dọn đường lò dò kéo tới phản kích. Du kích đã đánh cho chúng một trận nên thân. Thế tiến công của du kích lên như diều gặp gió. Tên trưởng đồn Vàm Chùa lúc mới đổi tới huênh hoang "du kích lôi thôi tôi nả cho chúng bể đầu giờ xuống nước phân bua với đồng bào "tôi ở đây có làm khó gì đâu ... nói các ông thông thả tôi liệu”... Mới thấy bóng du kích thấp thoáng cách đồn 100 thước hắn hô lính tháo chạy. Thế là bọn đồn cây Su và kinh Công Nghiệp cũng cuốn gói chạy theo.


Bằng tinh thần liên tục tiến công, đội du kích với mốt lực lượng rất bé nhỏ so với địch đã cùng đồng bào nổi dậy giải phóng cả một vùng đất bao la. Qua mấy trận, đội du kích không những có thêm nhiều súng đạn mà dội ngũ còn sinh sôi nảy nở thêm ra. Đông đảo thanh niên nghe tin đội du kích đã đón đường xin gia nhập. Một tình hình tương tự cũng đã xảy ra ở vùng Tân Hòa.


Lực lượng của địch ở trong căn cứ ấp 9 có đến một tiểu đoàn. Lịnh vừa ban ra, những người dân bình thường vừa mới buông phảng phát cỏ, lập tức trở thành người lính cầm súng, bọn địch dừng phi pháo cố nới rộng cái thòng lọng thắt cổ. Thấy nguy chúng vội cho một chiếc cần cầu tới cẩu khẩu pháo 105 đi để chuẩn bị tháo chạy. Chiếc trực thăng vừa bốc lên đã bị trúng đạn, nó phụt khói nghiêng ngả như say rượu, đành buông khẩu 105, nhưng cuối cùng vẫn rơi chấy ở miệt sông Gành Hào. Hàng trăm đồng bào đổ ra sông, người mang dây, người mang cây lôi cổ khẩu pháo từ dưới đất lên, kéo lôi nó về một chỗ kín đáo.


Đuổi bọn đích khỏi đồn ấp 9, du kích và đồng bào lại hè nhau đi hạ đồn Láng Chảo, bọn địch sợ quá vừa hay tin đã ba chân bốn cẳng bỏ chạy, phải đốt đuốc để truy kích chúng. Nhưng bọn Láng Chảo cũng chỉ chạy đến Hợp Quan với bọn đồn ông Tà rồi cả hai thằng lại thi nhau chạy miết. "Trâu chậm uống nước đục". Bọn ở đồn Tân Hợi vừa mới ló ra khỏi đồn thì bị du kích đón đánh, đồng bào cũng đánh trống, mõ trợ lực khiến cho chúng càng cuống cà kê lên. Tên trưởng đồn bị bỏ xác, mấy thằng sống sót vứt lại khẩu cối 60 để chạy lấy thân.


Nhổ được đồn bốt địch, đồng bào ở khắp nơi lập tức nổi dậy phá kềm bung về ruộng vườn cũ.

Đồn ấp 9 vừa mới rút chạy buổi chiều thì ngay đêm đó, bờ sông Bàu Sen lại lập loè ánh đèn khắp nơi. Những chấm sáng đỏ hồng đuổi nhau, chụm lại rồi vun vút xuôi ngược trên dòng sông lấp loáng, tiếng cười nói í ới:

- Đồn ấp 9 chạy rồi má nó ơi!

- Nè cho anh ba hay là tụi tôi về trước ...

- Hì ... đợi anh bảy nhà tui với.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:44:08 pm
Chỉ trong mấy ngày hàng ngàn đồng bào đã kéo vè ruộng vườn cũ. Bỏ nguyên cả nhà cửa để chạy về như ông tư Đ không phải là hiếm. Nghe tin quê hương giải phóng, ông Bốc về ngay “làm lại mấy hồi". Ông nói thế và bốc đi không thèm ngoái lại nhìn căn nhà ba gian trong khu gom dân của địch. Trở về ông lập tức đốn cây làm một căn nhà lớn, ông hể hả nói: "phải làm lại đàng hoàng hơn chứ”. Xong nhà, ông lại hì hục đắp đập ngăm nước mặn tràn ruộng. Ông tính toán: năm nay chắc chắn sẽ làm được 10 công ruộng nhưng kế hoạch phấn đấu đã làm 20 công. Bà Tư thi đua với ông, gây dựng được ngay một đàn vịt 20 con và một con heo.


Mấy năm sống trong khu gom dân, địch vơ vét tàn tệ, đồng bào Cà Mau đã nghèo đi nhiều lắm. nhiều đồng bào đã trở về với hai bàn tay không. những ngày đầu ở Khánh Hưng B một số gia đình phải mò cua bắt cá. Nay có tự do là có tất cả ruộng đất vô tri mà bao giờ cũng chung thủy với người chủ nhân chính của nó. Những ngày tủi nhục sống trong cảnh cá chậu chim lồng, lòng người dân Cà Mau không lúc nào không nghĩ đến mảnh ruộng, vuông vườn mà cách mạng đã mang lại cho họ. Cha ông họ, người Bình, Phú, nam Ngãi hay Bến Tre, gia đình chạy loạn từ thời Gia Long hay phiêu bạt giang hồ vài chục năm trước đây để mơ tưởng một cuộc sống nhấm khá hơn, đã dừng chân lại bên một dòng kênh đặc sệt tôm cá hay ven một khu rừng líu lo chim hót và ong làm tổ của đất Cà Mau. Phận nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo... cha ông họ làm tá điền rồi tới đời họ cũng làm tá điền. Cách mạng đã giải phóng họ, mang lại ruộng đất cho người cày. Bom đạn, dây kẽm gai không thể làm họ quên được công ơn cách mạng. Chính vì thế dù muôn ngàn khó khăn buổi đầu, người dân Cà Mau vẫn lũ lượt kéo nhau về mảnh đất cũ.


Vùng Bàu Sen ngày nào mượt mà vườn tược nhìn mỏi mắt chỉ thấy những thân cây gãy gục khẳng khiu. Dòng sông Thị Tường ngày nào êm ả chảy giữa những bóng dừa lung linh chim bói cá im lặng rinh mồi, trầm ngâm như một vị sư già tĩnh toạ trên núi Tà Lưu thì giờ đây đạn bom băm nát ruộng vườn. Tất cả những cảnh tượng đó nhiều lúc dường như trở nên quá quen thuộc lại thổi bùng lên ngọn lửa căm thù trong lòng mọi người.


Từ thị xã Cà Mau trở về, bà sáu S đã nức nở rất lâu trước ba ngôi mộ trong khu vườn cũ. Chỉ trong một đêm bà đã mang tang chồng và hai con trai. Dằn cơn xúc động, bà tính ngay đến chuyện gọi mấy đứa con gái còn sống trong thị xã trở về với mảnh đất có mồ mả cha ông để làm ăn và nhớ mãi mối căm thù với quân cướp nước và bán nước. Những đau thương đã qua rồi. Như mũi Cà mau cứ vươn mãi ra biển khơi. Người dân Cà Mau vẫn luôn nhìn về tương lai.


Trở về và không hề nghỉ ngơi, đồng bào Cà Màu đã bắt tay ngay vào việc chặt cây dựng nhà, đắp đập ngăn nước mặn, đào mương xổ phèn; trên cánh đồng cỏ hoang ngập lối không lúc nào ngớt tiếng phảng cỏ xoèn xoẹt, tiếng "vỉ thả thúc trâu và tiếng máy bơm nổ giòn, mấy con nghé tung tăng chạy giỡn, thỉnh thoảng lại rướn cổ, ngơ ngác nhìn trời đất bao la, dường như chưa quên được cái mái tôn thấp lè tè và vòng kẽm gai chật chội trong khu gom.


Lúa xanh trên nền bót cũ. Nhà mới và trường học cũng mọc trên nền bót cũ. Ven rừng dược, lò rèn dựng lên vội vã ngày đêm phì phò rèn đao, phảng, máy chạy xuồng đầu tiên cũng ra đời, từ sáng tinh mơ cho đến tối mịt cọc cạch đóng xuồng, ngã tư của hai con kinh, một trạm sửa chữa máy đuôi tôm mọc lên, mở đầu cho một dãy tiện quán. Rồi những nhà máy xay loại nhỏ cũng ồ ồ cất tiếng chào đời, cổng nhà máy phút chốc trở thành một bến xuồng và một cái chợ chồm hỗm "dã chiến".


Gặp nhau giữa dòng kinh nước đỏ lờ đờ, bên bờ ruộng xanh tốt hay dưới mái nhà còn nặng mùi lá mới, người dân Cà Mau đang có muôn ngàn câu chuyện vui để trao đổi với nhau. Chuyện đóng góp cho cách mạng, chuyện xây dựng đội du kích, chuyện tiễn thanh niên tòng quân, chuyện thành lập hợp tác xã mua bán và giúp đỡ những gia đình neo đơn.

Nay là chuyện ấp 9 có hàng chục thanh niên vào du kích, ấp B.H đã đóng xong đảm phụ; Chuyện toàn tỉnh đã có 50 tổ đổi công đầu tiên làm ăn ngon lành.

Trong khôi phục sản xuất, diệt chuột đã trở thành một vấn đề cấp bách. Năm ngoái có gia đình làm 20 công ruộng, đáng lẽ phải thu hoạch 300 giạ nhưng bị chuột cắn phá tàn tệ, cuối cùng chỉ thu được 10 giạ. Rất nhiều công ruộng, chuột cắn từ 40 đến 60% số lúa chín. Phải trừ mối hoạ này mới bảo vệ được công mồ hôi nước mắt của mình! nghĩ như thế, người dân Cà Mau đã tìm mọi cách để diệt chuột. Người chặt cây, người lấy kẽm gai làm bẫy chuột. Có nhà làm đến hàng chục bẫy chuột. Chuột bẫy được nuôi heo, nuôi gà vịt đều lợi. Những con chuột tinh ranh không bị sa bẫy thì người ta lại nghĩ ra kế khác. Trộn thuốc chuột với dầu nhờn và rưới lên những ngách mà chuột hay đi lại. Dầu nhờn dính vào lông, họ hàng nhà chuột liếm cho nhau và cùng lăn quay. Học tập kinh nghiệm Trà Vinh có người còn làm cần câu câu chuột như cá trê. Giữa những câu chuyện dài về thời cơ, những nhiệm vụ nặng nề trước mắt, anh Ba T một cán bộ lãnh đạo của chính quyền cách mạng Cà Mau thường nói thủ thỉ như một lời tâm sự "đuổi được địch rồi không trừ chuột, người nông dân cũng không có ăn. Chánh quyền cách mạng đang tuyên truyền rộng rãi những kinh nghiệm diệt chuột của ông Sáu H. Ở xã Quách Văn Phẩm A. Ngày trước nhiều nông dân thờ ông tý trong nhà để mong chuột đừng phá, ngày nay chúng ta dùng bẫy và thuốc để trừ chuột. Tự do và cơm áo không thể cầu xin mà có được. Khẩu súng, chiếc phảng và cái bẫy chuột đang trở thành những vật dụng hàng ngày của người dân Cà Mau. Tiếp tục củng cố và không ngừng mở rộng vùng giải phóng từ mảnh đất cuối cùng của đất nước này, người dân Cà Mau vẫn luôn luôn nghĩ đến những đồng bào ruột thịt trên cao nguyên Đồng văn tổ quốc xa xôi. Những người dân quân Mèo cưỡi ngựa len lỏi trên những đỉnh núi mù sương của Tây Bắc và người du kích Năm Căn chèo xuống trên những kênh rạch chằng chịt giữa rừng đước đều Ơ trong đội hình của một đạo quân vĩ đại chiến đấu để giành tự do và cơm áo cho mọi người Việt Nam, trong một nước Việt Nam độc lập thống nhất, hoà bình và phồn vinh của một tương lai đang tới gần.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:45:56 pm
VÀO DÂN


Hàn Thế Khương


Tháng năm, ở quê tôi có những cơn mưa đầu mùa rất kỳ lạ. Mưa không lớn lắm nhưng có thể kéo dài suốt một ngày. Cứ trận mưa này tạnh, chân trời phía tây sáng bàng bạc thì ở phía đông những áng mây đen nặng trĩu, không biết từ miền biển nào lại đưa nhau kéo đến, phủ kín bầu trời rồi mưa trút xuống, chạy ào ào trên những vườn cây ven sông.


Lâu lắm rồi, tôi mới được trở lại xã Mỹ An. Hồi tôi đi bộ đội, cây cối ở hai bên bờ sông đã bị bom đạn quật nát, địch quyết tâm phá hết xóm ấp để gom dân ra thị trấn và đường số 5, nhưng bây giờ cây đã ra nhánh lá xanh tốt, xoài bắt đầu trổ bông. Đôi cây, bông còn sai hơn mấy năm trước nữa.



Mưa đã bớt hột. Sông Cái Bát hiện ra trước mắt tôi mênh mông, gió từ bên kia sông từng chập thổi về làm cho nước trên những ngọn bần cao rơi lả tả xuống mặt đất. Tôi nghĩ đến đoạn đường sắp tới. Một tí nữa tôi sẽ qua sông, đến nghỉ đêm với mấy đồng chí du kích xã rồi sáng mai kiếm người ra ấp chiến lược móc gia đình. Tôi thấy lòng vui trở lại, nhưng dù sao tôi cũng không khỏi bực mình với cái cảnh trời mưa. Đường trơn như thoa mỡ bước vội là trợt té ngay.


Sắp tới bến sông rồi, kêu bến sông nhưng nó chỉ là con đường mòn nhỏ luồn qua mấy đám ô rô đi đến mí nước. Trời này mà ngồi trong ô rô chờ xuồng thì không có gì ngán cho bằng. Nhưng may quá hình như có ai cất chòi tại đó. Tôi tới chòi kéo mấy bẹ dừa nước, ngồi bó gối, nhìn ra ngoài sông Cái Bát vắng ngắt, chìm nhẹ trong màn mưa bay.


Xa xa vọng lại tiếng máy đuôi tôm, chắc xuồng ở Rạch Cùng tới. Tôi mừng thầm: Có xuồng sớm, mình sẽ tới ấp Hoà An trước lúc trời tối và có thể kiếm cái gì bỏ vô bụng được Tôi đứng dậy ra mí nước rửa chân và nhìn về ngọn Rạch Cùng. Một chiếc xuồng có mui gắn máy đuôi tôm, chạy băng băng ra sông Cái Bát. Ở phía sau, một cô thanh nữ đứng lái, chiếc khăn ni lông trên cổ tung bay theo gió. Tôi chưa kịp kêu thì cô đã ngoặc xuồng ghé lại. Tôi thầm nghĩ: Chà! gặp người quen mà quá giang về Hoà An thì hay quá!


Xuống tắt máy và đi lần vô bờ. Từ trong mui một người đàn ông chui ra đứng trước mũi. Người đàn ông trạc 30 tuổi bận quần áo đen, đầu vấn khăn rằn. Tiếng người con gái ở phía sau lanh lảnh:

Anh ba nhớ mang gói trầu vàng cho dì Sáu nghen!

Dì Sáu nhịn trầu năm sáu bữa rày rồi đó. Mai anh về em đón anh ở đâu?

- Khỏi phải đón, người đàn ông không quay lại đáp

- Mai chưa biết có về được không. Em nói với cô Tư ráng triệu tập cho được hội nghị phụ nữ nghen.


Tôi nhận ra người đàn ông này rồi, chẳng lẽ thằng Tài rnà mau già quá vậy. Hồi tôi thoát ly xã nó chèo xuống đưa tôi đến tận ngọn Rạch Cùng kia mà! Nhưng không nó thì còn ai nữa. Một cái nút ruồi bằng đầu đũa hằn rõ dưới tai bên trái của nó. Tôi hỏi lớn:

- Có phải mày không Tài?

- Ai đó? Người đàn ông ngửng lên nhìn tôi, lưỡng lự một lúc rồi cười, niềm vui lộ rõ trên đôi mắt thâm đen: Ô Thời! mày đi đâu đó? ở đơn vị mới về hả?

Xuồng cập bến. Tài nhảy lên bờ. Hai chúng tôi ôm chặt lấy nhau. Tôi quên bẵng việc qua sông. Cô thanh nữ chào Tài rồi mở máy, quay xuồng, ngược dòng Cái bát.

- Chết! Tôi giật mình - cô bé đi về đâu đó?

- Về Hòa An...

- Phải để mình quá giang cô đi luôn ... Thôi được! Ở chơi với mấy một lát nữa hãy đi.

- Ở đây ghe xuồng qua lại thiếu gì. Tài nói vâ hỏi tôi:

- Mày về phép phải không?

- Ừ! Đơn vị cho về thăm nhà một tuần. Tao định mai kiếm móc gia đình.

Tài quay sang cười lớn:

- Ôi! Cần gì móc! Bác Hai đã về Hoà An rồi. Chỉ còn bác gái và mấy em mày ở ấp chiến lược thôi. Kế hoạch tháng tới của xã là đưa bà con về hết.

- Vậy hả. Tôi mừng quá vỗ vai Tài.

Hồi còn ở đơn vị gặp người quen ở xã đì dân công, anh em nói địch đã tập trung hết dân và đánh bạt cán bộ ra ngoài. Tôi nghĩ trong tình trạng đó mình làm sao liên hệ được với dân và giữ vững tinh thần của bà con là tốt lắm rồi, không ngờ xã nhà lại đưa được bà con trở về, tôi nói.

- Xã mình làm cách nào mà khá quá vậy.

Tài trầm ngâm như đang suy nghĩ điều gì. Tôi nhìn anh. Tôi nhận ra trên má của anh có những vết nhăn nhỏ. Chắc anh công tác gian khổ lắm. So với hồi chúng tôi sống chung với nhau ở tiểu đội du kích xã, anh trông có vẻ chững chạc hơn nhiều.

- Thì xã mình cũng vậy. Tài nói: Cách đây năm sáu tháng có ai dám bước qua bờ sông bên kia. Biệt kích đi ruồng suốt ngày. Nhưng rồi...anh mỉm cười. đồng bào nhứt định là ở với mình chớ đâu thể ở với địch được.

Câu nói bỏ lửng của Tài gợi lên trong lòng tôi một sự tò mò khó chịu. Tôi muốn hỏi thẳng anh nhưng ngại quá không biết có đụng đến việc bí mật của xã nhà không Tài hỏi tôi:

- Mày ăn cơm chiều chưa?

- Chưa.

- Chà! Tài nói: ở bến này xa nhà quá! Từ đây tới nhà má Năm phải đi bộ hơn một cây số, luồn trong ô rô và dừa nước. Mày có nhớ má năm không? Hai mẹ con má mới về cách đây nửa tháng. Miếng vườn cũ của má bị biệt kích chặt sạch cây.

Bả tức quá dọn luôn qua rẫy ở... hay là tao với mày tới đó xin cơm ăn..."! Nhưng tối nay tao còn hẹn họp với các đồng chí ấp Bình An. Tài dừng lại, ngẫm nghĩ một lúc rồi mới nói tiếp:

- Thôi được! Lâu lắm mới được gặp mày...

- Đâu có lỗi hẹn với anh em được. Tôi vội cất lời với Tài.

- Tao cũng chưa đói bụng. Hai đứa mình ngồi nói chuyện chơi một lúc rồi mày phải đi.
Tài ngồi im. Chắc anh đồng ý với tôi, dù là bạn bè thân thiết nhưng đâu có cách nào khác hơn được. Tôi đánh bạo hỏi Tài:

- Mày có thể cho tao biết xã mình làm cách nào mà đưa dân về được không?

- Được chớ! Nhưng chuyện dài lắm mày ơi! nói cả buổi không hết.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:46:45 pm
Tài đứng dậy bước ra khỏi chòi. Ngoài sông trời đã tạnh mưa. Chim én liệng trên mặt sông. Qua lớp mây đen mỏng, mặt trời ló ra đỏ ngầu như dáng giận dữ.

- Coi vậy mà còn sớm. Tài nói: Kiểu này chắc tạnh mưa luôn rồi. Ớn thiệt! Mưa gì mà liên tiếp suốt ba ngày.

Tôi bước ra khỏi chòi với Tài. Chúng tôi cùng nhìn về ngọn sông Cái Bát. Mấy dề lục bình nở bông tím trôi từ từ theo dòng nước màu trắng đục, Tài nói:

- Nước này mà đi xúc tép thì đã lắm, mỗi dề lục bình ít nhất cũng bốn, năm con. Tao rất nhớ cái bữa tao với mày đi xúc tép làm bánh xèo, rồi sau đó lại nhậu cá lóc luộc hèm. Kháng chiến như tụi mình thời đó thì thiệt là vương giả.

- Gian khổ hiện nay chỉ là tạm thời thôi. Tôi nói:

- Tức nhiên! Ồ, cá con xuống nhiều quá! Tài say sưa nhìn lũ cá con ăn móng ở vàm Rạch cùng. Chúng giỡn nhau nhảy tung lên và chạy dài trên mặt nước. Bỗng anh nói: cái khó của chúng ta không phải là đưa dân về đâu Thời à! Cố nhiên phát động quần chúng như thế nào để bà con dám bung ra, trở về chỗ cũ không phải là dễ. Nó đòi hỏi cũng phải kiên trì dữ lắm. Nhưng theo mình trước hết cán bộ phải bám cho được dân. Quần chúng rất tốt, ví như một miếng đất màu mỡ phải gieo mầm vào đó, tức là phải đưa cán bộ vào đó, thì rừng cây mới lên xanh tốt được, mầy có đồng ý với tao?


Ngày còn ở xã, nói chuyện với Tài tôi rất thích giọng nói hồn nhiên thỉnh thoảng pha vào cái cười lớn tiếng của anh. Nhưng có nhiều lúc tôi cũng bực mình lắm. Vì anh hay chuyển chủ đề rất đột ngột làm tôi bị động và không suy nghĩ kịp. Tôi đáp:

- Tao chưa có kinh nghiệm.

Tài như chằng chú ý đến tôi chậm rãi nói tiếp.

- Thú thiệt với mày, sau khi mày đi được vài tháng tình hình ở xã nhà đen tối lắm. Tao có cảm tưởng như mình đang sống lại thời luật 10/59 của thằng Diệm vậy. Tiểu đoàn "Báo đen" về đây càn quét suất một tháng trời. Chúng chà đi xát lại tưởng chừng như một ngọn cỏ cũng không thể mọc lên được. Trong lúc đó bọn địch thẳng tay khủng bố nhân dân, chúng trấn nước các em bé, thiêu sống ông Tư Chí ở ấp Thới An, đạp lòi thai chị Bảy Dậu và tra tấn dã man nhiều người khác, bắt chỉ hầm cán bộ. Nhưng mày biết đó, nhân dân ở xã này đã từng nếm biết bao cay đắng và cũng đã từng cứa cổ bọn tề điệp ác ôn hồi Mậu Thân thì đâu có sợ gì những thứ đó. Chúng đưa về thêm một liên đội bảo an nữa mày à! ban ngày cùng với tụi chủ lực dàn hàng ngang đi xom hầm từng ấp một...


Tài ngồi lặng đi, đôi mắt đượm một nỗi buồn sâu xa. Anh nhìn ra sông Cái Bát, soi mói, hình như muốn tìm ở đó cái gì có thể làm vơi được nỗi ưu tư trong tình cảm và tâm hồn mình. Một lúc sau, anh nói:

- Phải, chiến đấu, tất phải có hy sinh, nhiều đồng chí trong xã mình ngã xuống, đồng chí Huy phó bí thư, đồng chí Hải xã đôi trường, nữ đồng chí Tần hội trưởng hội phụ nữ... Nhưng tao nghĩ nếp sống ở đời này là gây nợ máu thì phải trả bằng máu. Với lòng sôi sục căm thù chúng tao tập trung du kích xã lại tập kích chúng. Ngay đêm đầu chúng tao diệt gần hết bọn bình định nằm trong xã Sau đó diệt chủ lực nữa, Tài mỉm cười - lực lượng mình nhỏ thì đâu thể đánh lớn được. Nhưng những trận tập kích đó làm địch rung động. Chúng xưởng chủ lực của ta về. Ngay hôm sau cả bọn kéo nhau về thị trấn.

- Chúng mày dám đánh như vậy - tôi xen vào - là táo bạo lắm. Ở bộ đội muốn đánh trận chúng tao phải tính đến lực lượng cụ thể.

Tài cười lớn.

- Ở đó mà tính, phải chiến đấu để sống, hơn nữa chúng tao thông thạo địa hình còn địch thì như thằng mù.

Tài móc trong túi ra một gói thuốc thơm.

- Mày dạo này có hút thuốc không? tao nằm dưới địa hình nhịn thuốc hoài thành cũng bắt ghiền. Làm bậy một điếu cho vui đi.

Tài vào chòi lấy tấm vải nhựa trải trên bãi cỏ non, cạnh mí nước. Chúng tôi ngồi hút thuốc. Tôi bật hợt quẹt chârn lửa cho Tài. Anh kéo một hơi thuốc dài rồi nhả khói ra từ từ.

- Mày tưởng như vậy là địch thua mình rồi đó à! Tài gạt tàn thuốc vào một cọng cây khô và nói.

- Đời nào Xã Mỹ An nằm sát thị trấn, nếu chúng không bình định ở đây được thì làm sao bình định nơi khác để thực hiện cái kế hoạch năm 1970 của Thiệu. Cho nên chúng rất quyết tâm. Chỉ mấy hôm sao sau chúng lại kéo vào xã. Lần này có thêm một đại đội Mỹ với xe bọc thép và xe ủi đất. Ban đầu xã chưa nắm được ý đồ của địch. Chúng vào ấp Bình An trước. Chúng dùng máy bay và pháo dọn bãi y như đánh trận thật sự. Sau đó chúng đưa xe bọc thép và bộ binh tới lùa tất cả bà con ra khỏi nhà. Người nào chống cự bị bắn liền. Chính tao cũng không ngờ địch tàn bạo đến mức đó. Chúng đưa trực thăng tới chở bà con đi rồi cho xe ủi đất ủi băng địa nhà cửa vườn tược. Vậy là địch đã thay đổi kế hoạch. Không bình định tại chỗ được chúng gom dân ra thị trấn. Đó, cứ như vậy chúng triệt hạ hết ấp này đến ấp khác. Thời gian không tới 15 ngày.
Tài dừng lại hút hết điếu thuốc. Anh lấy điếu khác ra châm lửa hút nhưng không biết nghĩ sao lại liệng cả điếu xuống sông.

- Một cảnh đau thương trùm lên cả xã mày à. Tài nói tiếp giọng buồn bã: - Gom dân xong địch tiếp tục đánh bom pháo, kể cũng lạ. Hình như chúng quyết diệt hết chúng mình để rửa nhục cho cái việc rút chạy lần trước chăng? ruộng vườn xơ xác. Bà con chết rất nhiều. Cán bộ và du kích, một số bị tiêu hao, một số dạt ra ngoài. Bọn biệt kích luồn sâu vào các ấp, qua cả bên này sông Cái Bát. Nơi nào cây cối còn là chúng chặt cho kỳ hết. Tài quay sang tôi nửa như muốn nói nửa phân trần - Mày nghĩ trong tình thế đó thì làm thế nào? không ở xã được nữa, số anh em còn lại phải tạm rút vào ngọn Rạch Cùng.  Bấy giờ trong xã xảy ra nhiều ý kiến lắm, một số đồng 1 chí xin đi bộ đội, một số muốn lánh sang nơi khác. Anh em nói: “không còn dân nữa thì ở đây làm gì?" duy trì du kích chiến tranh chỉ bị tiêu hao mà chưa chắc đã đánh được địch. Tao cũng rất bối rối. Vừa lúc đó, huyện cử người về. Nói thiệt với mày, chúng tao mừng còn hơn cha mẹ sanh ra một lần nữa.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:47:44 pm
Tài cười. Từ lúc kể chuyện xã nhà đến giờ, lần đầu tiên tôi mới thấy niềm vui trở lại trên đôi mắt thâm đen của anh. Tôi cũng vui lây niềm vui của anh, phụ hoạ.

Những lúc khó khăn càng thấy sự chỉ đạo của cấp trên là quí giá.

Tài nói tiếp:

- Huyện về, xã bước vào học chỉ thị mới của mặt trận, việc này cũng rắc rối lắm, tao thấy cũng không cần nói hết với mày làm gì. Thú thiệt, trong tình cảnh xã nhà như vậy, làm cho anh em thấy được thắng lợi của ta ngay tại địa phương đâu có dễ, mà mày nghĩ xem, địch phải dùng đến sự tàn bạo chưa từng có để khủng bố và kìm kẹp nhân dân thì rõ ràng là địch không mạnh. Anh em đều nhứt trí với chỉ thị và có một điều là phần lớn cán bộ trong xã rất vui mừng là: Hội nghị quyết nghị phải bám cho được dân, cương quyết đưa bà con trở về sản xuất và xây dựng lại làng chiến đấu chớ không đi đâu hết.


Trên sông Cái Bát có một chiếc xuồng đi tới. Người bơi ngồi ở đằng mũi lay nhẹ dầm cho xuống trôi từ từ theo dòng nước.

- Có xuồng tới kìa! Tôi chỉ cho Tài.

- A xuồng ông Bảy. Tài nói.

- Mày có nhớ ông Bảy không? Ông đi te cá đó.

- Dạo này bà con mình còn te cá à?

- Đi chứ, lúc địch gom dân, có một thời gian không ai bắt, cá nhiêu hơn trước.

Xuồng ông Bảy đến vàm Rạch cùng. Ông Bảy đang ngồi bỗng vụt đứng dậy kéo nhanh vợt lên cao. Một con cá trắng lấp lánh, vùng vẫy trong vợt. Tài hỏi lớn:

- Cá gì đó ông Bảy ơi?

- Sài Vinh.

- Một tháng nay, Tài nói với tôi - Sài Vinh nhiều lắm, con nào bụng cũng đầy trứng.
Ông Bảy bắt con cá bỏ vào rong, te tiếp, chúng tôi nhìn theo ông.

- Xã quyết nghị rồi. Tài trở lại câu chuyện. Tụi mình mừng lắm nhưng cũng rất lo. Làm thế nào bám cho được dân bây giờ đây. Thiệt là khó. Các đồng chí ấp Hoà An về trước bị thất bại. Một đồng chí bị bọn phòng vệ dân sự xung kích bắn chết. Các đồng chí ấp Thới An đi tới đi lui nhiều lần mà không vô được. Đến lượt ấp Bình An, tao suy nghĩ hoài nhưng không kiếm được lối ra. Chùn bước ư? vậy là mình không chấp hành nghị quyết của xã rồi. Trách nhiệm của người cán bộ ở đâu? Nghĩ tới đó tao thấy ân hận quá còn đi thì làm sao? Không nói đâu xa, qua sông Cái Bát đây có thể bị hy sinh rồi. Tao ngao ngán quá. Tài nói nhanh, giọng xúc động - nhưng còn thôn xóm và đồng bào mày ơi! Thôn xóm thân yêu, nơi chôn nhau cắt rún của mình, nơi đã nuôi mình lớn lên, đã để lại trong mỗi bước đi của cuộc sống của mình từng kỷ niệrn xiết bao thân thiết. Thôn xóm xơ xác điêu tàn. Đồng bào mình, những người đã nuôi nấng đùm bọc mình, đã từng chia sẻ với mình những vui buồn trước những thắng lợi và khó khăn của cách mạng. Đồng bào giờ đang sống trong ấp chiến lược, hàng ngày chịu sự kìm kẹp và khủng bố dã man của giặc. Nghĩ tới đó nhiều đêm tao rơi nước mắt! Tao nhớ thôn xóm, tao thương đồng bào quá! Phải đì thồi mày ơi! Dù hy sình cũng phải làm tròn nhiệm vụ đối với cách mạng với tổ chức và đồng bào.


Đầu tiên vào khoảng trưa, khi tình hình coi bộ êm, tao tìm cách qua sông Cái Bát, núp trong dừa nước, chờ đồng bào đi kiếm củi hoặc chặt lá để bắt mối. Tao đi nhiều lần mà không gặp ai hết sau tao thấy qua lại sông ban ngày như vậy nguy hiểm quá mới xây dựng địa hình ở bên kia sông, hàng ngày cứ khoảng ba, bốn giờ sáng tao mang cơm nắm và nước theo, qua sông đến ở bên địa hình có địch đến thì xuống. Nhiều bữa biệt kích ruồng phải nằm dưới địa hình suốt ngày. Tao chờ đến ngày thứ 9 mà không gặp ai hết. Tao bắt đầu thấy hơi nản lòng. Tao tính kiểu này bí rồi, mình không vô được mà đồng bào không ra thì biết bao giờ mới gặp. Nhưng nói thiệt với mày tao không nghĩ tới việc rút lui. Những ý nghĩ cứ thúc giục lòng tao như một ngọn lửa nóng bỏng. Tao thề với mình: thà chết ở đây chớ không thể về.


May quá đến ngày thứ mười một thì thấy ở xã có bóng người thấp thoáng. Ban đầu tao tưởng biệt kích nhưng sau nhìn kỹ lại là bà con mình. Họ đi thẳng ra phía sông, tao nghĩ bụng, nếu gặp người trong tổ chức cũ của mình thì sướng quá, cứ móc nối rồi phát triển cơ sở thôi. Nhưng chờ hoài mà họ không đến. Hài người cứ lẩn quẩn ở cánh đồng xa chắc là bà con lén đi làm rẫy ở cánh đồng gò ấp Bình An chớ không tới đây. Làm thế nào gặp được họ bây giờ? Tao nóng lòng quá.


Từ ngọn sông Cái Bát có một chiếc ghe máy đi tới. Ghe chở đầy mái dầm, rẽ nước lao nhanh về phía trước. Tài hỏi lớn:

Thím Bảy chở cá đi đâu đó?

Đi chợ! Người phụ nữ ngồi ở mũi ghe quay mặt về phía chúng tôi đáp.

Sao đi muộn vậy?

Giăng câu mới về. Ra bán sỉ cho bạn hàng rồi về thôi.

Ghe đi xa Tài nói với tôi.


Cá lóc ở mấy cái bàu ngoài đồng nhiều lắm làm siêng đi nhấp một bữa có thể được cả chục ký.

Anh kể tiếp.

Tao chờ đến ngày thứ mười hai, thứ mười ba cũng vậy, bà con đi đông hơn mà không ra bờ sông. Tài hỏi Tôi: Mày nghĩ phải làm thế nào? Tôi chẳng biết trả lời sao, ngồi im. Tài cười lớn.

Bà con không ra thì mình phải vô thôi. Xung quanh chỗ họ làm rẫy có mấy đám mua già cao khỏi đầu người. Hồi trước, đồng khởi có lần xã đã họp ở đó. Tao dời đia hình vô đám mua. Mặt trời mọc vài sào thì bà con ra đồng. Có một người đến cuốc đất gần đám mua. Tao nhận ra ông Bảy Tình ở ấp Bình An. Ông Bảy Tình nhà ở gần miếu thổ thần đó mày có nhớ không?

- Nhớ chớ! Tôi đáp: Ông già câu cua đinh đó mà!

Ờ phải rồi! Tài nói: Trời còn sớm quá, tao chưa dám gặp ổng. Đến trưa ông nghỉ tay ăn cơm. Tao bò ra rìa dám mua kêu nhỏ:

- Bác Bảy.

Ông già giật mình, dòm xung quanh ngơ ngác: tao kêu nữa:

- Bác Bảy! Tôi là ba Tài đây! Tôi đến gặp bác đây.

Ông già đứng dậy, đi vô đám cây mua rồi nhanh chóng ngồi thụp xuống,
- Thằng Tài đâu, ông thều thào.

- Tôi đây!

- Mày thiệt đó hả Tài.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Sáu, 2009, 07:48:34 pm
Tao luồn đến chỗ ông Bảy. ông nhào tới ôm chầm lấy tao. õng vừa khóc, vừa kể cho tao nghe tình hình bà con mình ở trong ấp chiến lược. Chắc mày cũng biết rồi, tao không cần nói lại làm gì. Thú thiệt với mày, tao không cầm được nước mắt. Nói chuyện xong ông Bảy đem cơm cho tao ăn. Lâu nay ăn gạo rang, uống nước lạnh, bây giờ được một bữa cơm nguội mắm sống thiệt không có gì ngon cho bằng.


Cuối cùng tao gợi ý với ông Bảy về việc cho tao về ở nhà ổng. Ổng ngồi làm thinh rất lâu, chắc ổng suy nghĩ dữ lắm. Một lúc ổng nói.

- Không được đâu à! Tao rất thương mày nhưng nhà tao ở sát nhà hàng xóm, sợ không giữ được thì hại cho mày, hại cho cách mạng. Mày tính phải vào ấp chiến lược mới xây dựng được cơ sở và hướng dần đồng bào đấu tranh được, chớ ở ngoài này thì làm gì? Tao cố giải thích cho ông Bảy. ổng ngồi làm thinh, cuối cùng ổng nói:

- Thôi bây giờ thế này! Mày cứ ở đây! Hàng ngày tao đem cơm nước cho mày. Mày cần biết gì trong ấp tao sẽ dò hỏi kỹ.

Thấy không thể thuyết phục ông Bảy được, tao tạm gác lại, hẹn hôm sau nói chuyện thêm. Ổng trở ra đồng cuốc rẫy một lúc rồi về ấp chiến lược.

Hôm sau, đúng hẹn, ông Bảy trở ra, mang cơm nước cho tao, tao và ổng đang nói chuyện thì nghe ngoài đám mua có tiếng sột sạt. Tao đứng lên quan sát. Tao vừa nhìn thấy bọn biệt kích thì ở ngay bên cạnh có tiếng la lớn:

- Việt cộng! Bắt lấy nó.

Tao luồn trong đám mua chạy. Chúng bắn theo một loạt M16 ông Bảy trúng đạn chết. Loạt đạn cắt đứt vạt áo sau của tao, nhưng không có viên nào vào người. Tao thương ông Bảy quá.

Tiếng Tài bỗng nghẹn lại. Anh rơm rớm nước mắt, ngồi im, dằn xúc động một lúc rồi nói tiếp.

Mình chưa làm gì được cho đồng bào mà bà con đã vì mình mà hy sinh rồi. Điều đó gây cho tao một nỗi đau lòng không nguôi dược. Địa hình cũ tao bọn biệt kích chưa phát hiện được nhưng tao dời đi nơi khác. Tao cũng lại ngồi chờ ở ngoài đồng.


Suốt một tuần lễ sau không có ai ra đồng hết mày à! Tao nghĩ chắc có lẽ mình phải xoay cách khác. Hay là cứ vào ấp chiến lược. Nhưng không móc được người thì làm sao vào? Tao đành ngồi chờ. Tao tự khẳng định với mình: Thế nào cũng có người đi làm rẫy, mình phải ở đây chờ.


Mấy hôm sau bắt đầu có người ra đồng. Họ đi ít và làm rẫy ở xa chớ không dám đến gần chỗ đám mua. Nhưng không biết tại sao ngày nào cũng có một người phụ nữ đi qua đi lại chỗ ông Bảy chết. Tao thoáng có một ý nghĩ: "Hay là con Liên, con ông Bảy? Con Liến là đoàn viên cũ. Nếu đúng là nó thì mình có thể bắt mối được" Tao mừng quá. Ngay hôm sau tao trở lại đia hình cũ. Xế chiều thì người phụ nữ đó đến. Đúng là con Liên rồi! Tao ra rìa đám mua kêu:

- Liên!

Cô gái nhìn lên

- Có phải anh ba Tài không?

- Anh đây!

Liên bỏ cuốc xuống chạy nhanh đến chỗ tao. Chưa nói gì nó đã khóc mùi, một lúc, hết khóc nó nói:

- Tụi biệt kích không biết có anh ở đây? Hôm đó về thằng trung sĩ đến gặp em nói:

- Tụi tao tưởng lầm ông già bay là Việt Cộng nên đã bắn chết ở ngoài đám mua rồi. Ra lấy xác về chôn. Bữa sau cấm không được léo hánh đến đó nữa nghe.

Bà con trong ấp ra lấy xác Ba, khiêng lên thị trấn, bắt thằng quận trường bồi thường...

Liên lại khóc một lúc nói

- Bữa đó ba em về có nói lại, em tức ba em ghê lắm. Em cằn nhằn ổng! "Tại sao Ba không đưa anh ba về đây? Ba bị thằng địch làm mất tinh thần rồi!..." ổng nói: Tết tao mới sợ mấy cái thằng chó đẻ đó. Nhưng phải chờ xem đã , xem, xem cái gì?...

Liên lau sạch nước mắt.

- À! Để em lấy cơm anh ăn nghe! Cơm thịt gà kho! Ngày nào Má cũng gói cơm và thịt gà biểu em đì kiếm anh đó.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:12:35 pm
- Không nên ra, người ta thấy.

Liên nói:

- Em đã bàn kỹ với Má rồi, phải đưa anh về nhà! em kiếm anh mấy ngày rồi mà không gặp.

Liên hẹn chờ với tao rồi ra về. Tối hôm đó tao vào ấp chiến lược, xây dựng chỗ ở. Liên trở thành cơ sở đầu tiên của xã và là người đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa bà con trở về.

- Liên là đứa nào, tao không nhớ rõ. Tôi hỏi:

Tài cười lớn:

Ô, con bé đưa tao đi lúc nãy đó, mày không nhớ sao?

… Ờ hồi mày ở nhà nó còn nhỏ. Hiện nay nó là cán bộ xã đó.


Mặt trời đã xuống dưới ngọn bần bên kia Rạch cùng. Ánh nắng trải dài trên mặt sông Cái Bát, gợn sóng lăn tăn. Có xuồng tới, Tài vào chòi lấy gói trầu rồi cùng tôi xuống xuồng. Tôi đi sông Cái Bát, còn Tài thì đi luôn xuống ấp Bình An. Đến bờ sông bên kia chúng tôi xiết chặt tay tạm biệt nhau, xuồng rồ máy, tách bến ra đi. Tôi đứng nhìn theo Tài lòng tràn ngập một niềm mến thương vô hạn. Tôi suy nghĩ miên man cái gì là yếu tố kết thành sự nỗ lực và quyết tâm sắt đá của con người trong đấu tranh cách mạng? Nguyên nhân nào đưa đến sự biến đổi tình thế mà trước đó tưởng chừng như không thể biến đổi được?.... xuồng máy khuất dần sau doi sông. Hai làn sóng ở sau xuồng tản rộng ra và lặn mất trong bóng dừa nước ở đôi bờ xa.

Tháng 8 năm 1970


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:14:08 pm
ÁNH SAO BĂNG

Trần Như


Bước lên lộ đá, bác Hai Hòa đứng lặng nhìn cánh đồng lúa chạy dài trước mặt, những ruộng lúa chín vàng rụi xuống, phơi mình dưới ánh nắng chiều trở màu vàng nhạt, như muốn lẫn lộn với màu vàng úa của vườn cây lá bị chất độc khai hoang. Những thân dừa trơ trụi vượt lên, đứng sừng sững giữa khoảng trời hồng như những cột nhà cháy đen, còn lại trên nền đầy than đỏ. Như có một mãnh lực gì thu hút làm cho bác còn do dự, chưa muốn bước chân đi, bác vẫn nhìn về phía đó... bỗng lòng bác thấy bồi hồi xúc động nhớ đến cảnh tiêu tan của thôn xóm hôm nào... Cái ngày mà bọn dưới quận kêu máy bay Mỹ đến dội bom, đốt phá ấp Hòa Bình này, cũng để lại trên nền nhà cũ những cây cột khẳng khiu cháy nham nhở như những thân cây dừa kìa. Sau đó chúng còn đưa cả một tiểu đoàn lính đầu cọp từ trên tỉnh về càn quét, bắt người chở đi bắn chết, bắt xâu để dựng lên cái trụ sở của ban hội đống ấp này, giờ nó lại bắt cả bà con và bác phải đến đó. Nhiều đêm không ngủ được, bác trăn trở nghĩ đến chuyện bắt xâu, bắt gác, chuyện trong nhà ngoài cửa. Bác đã năm mươi tuổi đầu còn bị thúc ép phải bỏ cả việc nhà để đi lo chuyện họp bàn canh gác, thì còn trách gì chuyện lúa thóc ngoài đồng sao bà con không lo gặt hái đem về - Ngày xuân ngày tết đến nơi mà lư hương, bàn thờ ông bà cũng chưa lau chùi, quét dọn được... nghĩ đến đây, bác Hai Hòa chau mày lại rồi lặng lẽ bước đi, bao nỗi uất ức cứ muốn trào lên, như muốn trói chân bác lại cho đến lúc tới bên hàng rào ngoài cửa trụ sở, bác mới thấy như bàng hoàng, cổ họng bác như muốn nghẹn lại, chân bước chậm, bác tằng hắng lên một tiếng lớn như cố nén đi nỗi căm hờn, xót xa rồi tiếp tục đi tới...

Trước sân của trụ sở, đôi ba người cũng trạc tuổi bác đang ngồi chụm lại ở một góc giữa sân, ngay chỗ cột cờ, một tốp thiếu niên đang đứng xếp vòng quanh chiếc xe gắn máy hông đa cạnh đó, chủ ấp Mẹo đang lên tay lên chân, miệng la bai bải:

- Tụi bay vặn phá lung tung, hư xe làm sao? Nhè đưa cả bàn tay mồ hôi không mà in vào bình xăng, thì nó làm mẹ hết nước sơn còn gì?

Rồi không hiểu sao hắn lại xuống giọng nói dịu lại.

- Tụi bây muốn biết thì tao thử cho coi.

Nói rồi hắn vẹt đám thiếu niên bước vào lấy chìa khoá trong túi ra mở công tắc, van khoá xăng. Hắn đạp mạnh một cái, tay hắn xoay xoay cái tay ga cho máy rú lên từng hồi rồi hắn cho máy nổ chậm mặt hất hàm về phía đám thiếu niên, nói khoát lác:

- Coi hơi cũ, chớ xe ở hãng mới kéo ra tao không đổi à. Tao đã chạy thử với tụi nó rồi, đây tới quận tao phóng chưa đầy nửa tiếng đã tới nơi ...

Nói đến đây hắn vụt cho xe rú lên như đang lao nhanh đến đích. Hắn tắt máy vỗ vào vai thiếu niên đứng bên nói:

- Cỡ mày mà ngồi lên chiếc xe này thì coi mới thật là yêng hùng. Con gái ở chợ thấy cũng muốn chạy theo.
Hắn cười khoái trá lúc mở mắt không thấy ai cười theo, hắn nghiêm giọng.

- Nói vậy chớ thời buổi này, tuổi tụi bay muốn làm ra tiền mua cho được chiếc xe này thì thật là khó. Nhưng tao đã có cách giúp tụi bay, chỉ cần tụi bay canh phòng cho cẩn mật, ráng bắt cho được một tên cán bộ Việt cộng chính cống mò vô ấp mình thì tao sẽ trình lên ông quận trường cấp cho liền tụi bay một chiếc xe mới, nếu thằng nào ham quá không chờ đem về, chừng đó bay lấy chiếc hông đa của tao đây cũng được.

Chủ ấp Mẹo định nói thêm gì nữa, nhưng khi nghe tiếng tằng hắng quen thuộc của bác Hai Hòa, hắn nhìn ra cửa rồi xua tay đẩy đám thanh niên qua một bên nói:

- Thôi, tụi bay xê ra cho tao đẩy xe vô, còn phải gặp bác Hai có chút việc.

Dựng xe vào cuối phòng, chủ ấp Mẹo quảy quả trở ra mời lăng xăng.

- Bác vô ngồi nghỉ trong này, cháu định dện gặp bác, nhưng công việc bề bộn quá...

Bác Hai vừa ngồi xuống ghế thì chủ ấp Mẹo nhìn xuống nhà sau kêu lên:

- Ở dưới có đứa nào bưng nước ra cho bác Hai coi bay.

Bác Hai từ chối:

- Thôi, nước nôi gì, tao mới uống đằng nhà. Chủ ấp Mẹo ngồi xuống ghế đối diện, nói nghiêm nghị:

- Cháu ở ngoài quận mới nghe tụi nó nói là bác đã nhận lời mời của cháu đi vô đây gác bốn năm ngày nay, cháu nghe cũng mừng! Bác mà vô phòng vệ dân sự rồi thì chắc bà con mình đây sẽ còn đi đông nữa. Cháu biết bà con ở đây tin nơi bác, việc gì bác làm bà con cũng làm theo.

Chủ ấp Mẹo ngừng nói, nhưng bác Hai Hòa vẫn ngồi im thỉnh thoảng bác lại tằng hắng rồi lấy thuốc vấn hút, chủ ấp Mẹo chờ đợi giây lâu thấy bác vẫn không nói gì, vội nói tiếp:

- Sắp đến đây ông quận trưởng lại vô thăm ấp mình bữa đó bà con đây sẽ tổ chức mít tinh chào mừng, để nghe lời khuyến dụ của ông quận trưởng và bà con cũng phải có người đại diện ra đọc đáp từ, cảm tạ lòng ưu ái của chính quyền. Việc đó, cháu thấy ở đây chỉ có bác nới đủ tư cách làm nên cháu định nói với bác và nhờ bác giúp dúm.

Thấy bác Hai vẫn trầm ngâm, chủ ấp Mẹo sốt ruột hỏi:

- Hay bác thấy có gì trở ngại?

Bác Hai bỏ mẩu thuốc xuống gầm bàn, trả lời từng tiếng:

- Việc gì chớ cái ngữ đó hồi nào tới giờ tao có biết gì đâu.

Chủ ấp Mẹo mừng rỡ nói vội:

- Không, không, bài đáp từ đó bác không phải lo chỉ yêu cầu bác nhận đứng ra đọc lên thôi thì bà con ở đây yên lòng mới hăng hái ra gánh vác việc thung, thiệt tình, từ lúc hay tin bác nhận lời mời đi canh gác cháu đã mừng, nhưng được gặp bác ở đây cháu còn mừng hơn nữa. Chớ lỡ ra có bề gì, cảnh sát sẽ làm bậy làm bạ với bác và bà con ở đây thì lúc đó cháu có hay biết thì chuyện cũng đã rồi... Nghe đến đây, bác Hai Hòa thấy hai vành tai mình nóng rần lên, nỗi uất ức căm hờn từ lâu như bùng cháy. Bác muốn đứng phắt dậy nói thắng vào mặt chủ ấp Mẹo. Nhưng bác đã kịp nén lòng vì bác biết làm như thế không lợi và cũng vì vậy mà bác phải đến đây, bác lại chạy ra tằng hắng, vừa lúc ấy, bác nhận ra người liên đội trưởng phòng vệ dân sự từ ngoài cổng đi vô, được dịp, bác vừa đứng dậy vừa nói với chủ ấp Mẹo:

- Thôi việc đó bây để nán lại coi, giờ để tao ra gặp thằng Bằng coi việc gác sách đêm nay ra sao đây.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:15:29 pm
Thấy bác Hai Hòa đi xăm xăm về phía mình. Bằng đi chậm lại ở chỗ không người, có ý chờ đợi, bác Hai bước với nói:

- Tao chờ mày tự nãy giờ, đem nay mày định cho bác cháu tao canh gác ở đâu nữa đây? Không lẽ cứ ra cái gò mả đó hoài vậy sao?

Bằng xoa xoa hai bàn tay vào nhau như đang tìm câu trả lời, một lúc sau mới nói:

- Dạ, cháu định nói lại với bác điều đó, nhưng ngặt ở chỗ đông người cháu chưa nói hết được với bác, cháu biết phía cầu sắt đó quan trọng và nguy hiểm, tụi nhỏ còn dại khờ chưa biết gì. Có bác ở bên chỉ vẽ thêm, cháu thấy đỡ lo...

Bác Hai hơi chau mày suy nghĩ. Nhưng bác muốn giấu Bằng, liền nói giả lả:

- Bác hỏi vậy thôi chứ gác ở đâu không là gác, giờ thì bác cháu tao đi đây.

Bốn bác cháu ra đến đường đi, trăng lưỡi liềm đã chếch ngang đầu, bác Hai lầm lùi đi sau. Bác suy nghĩ về lời nói ban nãy của Bằng. Tại sao nó nói phía này là quan trọng, là nguy hiểm, quan trong là quan trong làm sao, và nguy hiểm thì nguy hiểm chỗ nào? Nói là nguy hiểm mà lai đưa bác đến gác là có ý sao đây? Hay là chủ ấp Mẹo bày mưu kế gì cho nó đây? Đối với ai thì bác chưa dám chắc, chớ đối với Bằng thì bác vẫn tin lòng từ thuở nhỏ lớn lên ở ấp này, bác còn lạ gì tâm tính của Bằng, đi đầu trên xóm dưới bác chưa nghe nói nó làm mích lòng ai, mà bà con ở đây ai cũng thương mến nó. Thương hơn nữa vì ba má nó không có ở nhà, thuở Bằng mới lên hai, cha nó là Hai Trung theo kháng chiến, đi bộ đội tỉnh, có khi hằng năm cha nó mới ghé về nhà mấy ngày vậy mà Hai Trung cũng đến thăm bác, nhờ bác nhòm ngó dúm vợ con anh. Sau mẹ Bằng sinh con Nghĩa được mấy tháng thì Hai Trung theo bộ đội đi tập kết. Ba mẹ con sống như vậy cho đến ngày nay. Từ ngày có cái ban hội đồng ấp này, chính bác cũng không hiểu sao Bằng lại ra nhận làm liên toán trưởng phòng vệ dân sự, không kể gì đến lời can ngăn của cô bác, nhiều người nói bác khuyên Bằng, nhưng rồi cũng không có dịp nào. Bác vẫn không nôn nóng vì bác vẫn tin tường là một đứa con hiếu thảo với bà con như vậy không lẽ một sớm một chiều nó lại thay tâm đổi tính, nhưng giờ đây, có thể là Bằng đang bị chủ ấp Mẹo o ép hăm doạ gì thôi... Bác còn đang băn khoăn thì thằng Nghiệp, thằng lớn nhứt trong toán, hỏi vọng lại:

- Mình cũng lại đằng Mả đá lớn hở bác Hai?

Bác chưa kịp đáp thì hai đứa kia nhao nhao lên:

- Ngồi đó chứ dại gì vô lùm vô bụi cho cực.

Bốn bác cháu lại ngồi trên nền đá. Thằng Hớn mon men lại gần bác. Nó đã 14 tuổi mà đẹt ngắt bằng con người ta 11,12 tuổi. Nó ngồi nhìn quanh quẩn rồi thỏ thẻ hỏi bác:

- Mình ngồi đây thấy người ta tới nơi mình làm sao bác?

Bác Hai xoa đầu nó cười nói:

- Thì mình cứ giơ súng lên trời bắn đại mấy phát rồi về nhà ngủ.

Thằng Hớn lại hỏi tiếp giọng nó xui xị:

- Nhưng cháu với bác đâu có súng mà bắn.

- Ừ! Thì có súng của anh Nghiệp, anh Hải đây cũng đủ rồi. Bác vừa trả lời vừa nắm chặt tay nó, nói như dỗ dành: súng ống mà làm gì cho cực hở cháu, thời chống Pháp, súng hiếm lắm, thấy người ta có súng, có boa nha, tao với bác ba thằng Nghiệp đây cũng ham. Tụi tao mới lên nhờ bác Sáu lò rèn đây rèn cho hai cái phảng, không phải như kiểu phảng co của mình đâu. Hình thù nó ít quớt hơn, nhưng bén ngọt, bữa đó tụi tao xin theo bộ đội đánh trận, hôm đó, bác ba thằng Nghiệp đánh xe ngựa đưa bạn hàng đi bán chợ đầu năm, đến sáng ra, anh bỗng thấy lính tráng đi ăn uống đầy chợ, tụi nó nói với nhau là đi vô hòa bình. Bác Ba bay hoảng hồn đánh xe một mạch về cho bộ đội hay. Tao với bác Ba thằng Nghiệp vác phảng xin đi phục kích. Tháng đó lúc gặt hết, tụi tao mới chui xuống mấy đống rơm dọc lộ cầu sắc mình đây nằm chờ. Gần trưa tụi nó mới lên. Đi đầu là xe nồi đồng, kế đó là 10 xe lính toàn là xe 10 bánh. Tụi nó không hay biết gì cứ hùng hùng hổ hổ kéo đầu vô. Khi chiếc xe nồi đồng trúng trái địa lôi nằm bẹp xuống, thì chiếc xe 10 bánh đi sau cùng cũng bị mình giật mìn lật ngang, súng máy, súng trường của mình bắn vãi đoàn xe như mưa, dứt tiếng súng tụi tao tốc đống rơm nhảy lên, lính chết rục trên xe, có thằng nằm vắt ngang thành. Mấy thằng nhảy xuống đất bị tụi tao phạt luôn cho một phảng không kịp trở tay, tao mới xông lên chở xác chết, tao gặp ngay một khẩu súng ngắn, gần một xác chết nằm ngửa. Tao cúi xuống lấy thì bất giác thấy khuôn mặt sao giống cả Mới, cha của chủ ấp Mẹo. Tao còn đứng nhìn kỹ lại thì bác Ba thằng Nghiệp ở đâu vác một cây súng chạy tới. Thấy mặt cả Mới, bác Ba bay nhận ra ngay, liền chĩa luôn họng súng vào mang tai nó bóp cò. Nhưng súng lại không nổ. Tao với bác Ba loay hoay mở tháo cho tới khi bộ đội ra lệnh rút, về mà tháo vẫn không được, nên chỉ còn có nước vác nó chạy theo...

Bác Hai ngừng lại, trầm ngâm giây lâu, rồi mới kể tiếp:

- Cả Mới chết là chuyện cũng đã rồi, nhưng sẵn nói luôn cho nó có đầu có đuôi, cả Mới hồi thời Pháp làm Hương cả làng này. Sau Việt minh nổi dậy cướp chính quyền, có mời cả Mới đến nói về việc trả lại số ruộng vườn mà cả Mới trước đây dùng quyền hành cướp đoạt của bà con. Nhưng cả Mới không nghe đưa cả gia đình trốn lên tỉnh ở. Sau đó cả Mới định đưa lính Tây về đòi lại ruộng đất, thu lúa ruộng và chết trong trận đó.
Cả Mới chết vì đi theo Tây, nhưng chủ ấp Mẹo nói bà con mình giết cha nó để đoạt ruộng. Không rõ nó có hay biết về vụ bác Ba thằng Nghiệp hay không mà về đây là nó bắt liền bác Ba bay đưa lên tỉnh rồi sau đày luôn ra Côn Đảo. Sau đó nó còn sai lính đi bắt chú Năm Tiến, bác bảy Hưng. Chủ ấp Mẹo còn bắn chết bác Tư Còn, bác Hai Lợi ở ngoài xóm, vì nó nghi hai anh tố cáo cha nó với Việt Minh.

Thằng Hải ngồi há hốc miệng ra nghe kể, đến đây nó bỗng kêu lên:

- Hèn gì cháu nhìn thấy mắt chủ ấp Mẹo đỏ ngầu.

Thằng Nghiệp thúc-vào hông nó một cái, nói giọng cằn nhằn:
- Mầy để bác Hai nói tiếp nghe.

Bác Hai đứng dậy, phủi phủi đít quần, nói:

- Tao kể chuyện đầu hôm tới giờ khô giọng. Bây giờ để tao vô bác Sáu kiếm miếng nước uống đã. Để hôm khác rồi tao kể tiếp cho nghe.

Bác Hai vừa bước đi thì nghe thằng Hải khua súng lách cách. Bác quay lại dặn dò:

- Bây coi chừng súng nổ đó. Ngồi đó có gì tao ra không bắn bậy bạ lầm bà con mình. Còn lỡ gặp líh đồn hay cảnh sát thì nó bắn lại chết hết đó.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:16:30 pm
Thấy bác Hai Hòa bước vô nhà, bác Sáu lò rèn kêu lên:

- Tôi lại tưởng anh không gác, đêm nay thì gặp khó. Anh ngồi xuống ván để tôi lấy nước ra uống.
Bác Hai ngồi xuống đầu ván, nói chậm rãi:

- Nếu đã gác phía khác, thì tôi lại đây cho anh hay từ chiều. Nhưng nó lại nói nó muốn cho tôi gác ở phía này mới làm cho tôi khó nghĩ. Không hiểu thằng Bằng nó có ý gì hay không?

Bác Sáu đặt cái tách nước trước mặt bác Hai vừa róc nước vừa nói:

- Mình tin thằng Bằng nó còn nhớ tới cha nó thì chắc nó còn biết đến bà con ở đây. Bác nhìn ra cửa, cúi xuống nói tiếp: Thằng Chín Kiên nó tán đồng ý anh lắm. Hồi chiều, nghe tiếng xe của chủ ấp Mẹo vọng lại, tôi tưởng là nó lại về quận. Tôi chờ không thấy nó ra. Tôi cho sắp nhỏ đi báo thằng Chín. Nó trả lời: Sau trăng lặn một chút. Thằng Chín còn nói tình hình ở khắp nơi đồng bào mình đã làm tới rồi, mình phải làm thôi. Tôi nghĩ cũng phải anh à! Mấy ngày nay, ngày nào thượng sĩ Ba cũng ra đây chơi với vài thằng lính. Tụi nó nói với tui nhờ nói lại với bà con mình là: thằng chủ ấp Mẹo với tụi cảnh sát làm hung dữ với bà con, tụi nó không biết. Còn anh em tụi nó bị đưa đến đóng bót này thì tụi nó chỉ biết coi bót đó không có gây oán thù gì với bà con mình. Bà con mình muốn làm gì, tụi nó giúp được thì tụi nó giúp, còn không thì ở đó thôi. Thượng sĩ Ba hổm rày cũng rút lính gác cầu về. Tôi thấy đã đến lúc rồi đó anh..."

Bác Hai Hòa bưng tách nước uống vội rồi đứng dậy:

- Có vậy thì để tôi về. Đi lâu không tiện! Còn việc đó anh để tôi lo. Có gì tôi ra hiệu cho anh đằng nầy... thôi, tôi đi nghẹn anh Sáu.

Bác Hai cảm thấy lòng hồ hởi, chân bác như lướt trên mặt đất. Về tới nơi, thằng Hớn thấy bác, nét mặt nó vui lên, nó nói như trách móc:

- Bác đi rồi cháu sợ quá! Mấy anh không nói chuyện gì làm cháu im luôn.

Bác Hai rờ đầu nó rồi ngồi cạnh đó lấy thuốc vấn hút. Bác hết nhìn ra lộ lại nhìn lên trời. Bác mong cho trăng mau lặn. Nhưng hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác bác vẫn thấy trời lâu tối quá.

Thằng Nghiệp ở bên ngoài lấy tay đập muỗi giọng càu nhàu:

- Phục kích cái gì mà đêm nào cũng ra nằm bờ nằm mả hoài!

Được dịp bác Hai mới lên tiếng. Bác vừa khuyên nhủ, vừa nói giả lả cho thời gian qua mau. Bác nói:

- Mình là dân như cá nằm trên thớt. Còn chủ ấp Mẹo, cảnh sát với mấy đứa kia nó có biết nghĩ gì về cảnh ăn nằm ngủ dựa của bà con, bác cháu mình đâu. Nhưng có phải mình chịu gồng lưng gánh hoài vậy sao? Rồi cũng có ngày chớ... cầm phảng mà còn dám xông lên xe nồi đồng thì giờ này đâu có chịu bó tay... ai chịu ngồi ở đó chờ! lúc nào nghe súng nổ thì mình cứ bắn đại mấy phát rồi về nghỉ. Sáng ra lấy cớ đó mà trả súng lại chúng, nghỉ việc gác xách nầy.

Thằng Nghiệp nghe nói vậy, khoan khoái nói luôn:

- Súng nổ thì cháu làm liền.

Vừa lúc đó thì từng loạt đạn nổ vang ngay giữa xóm. Rồi từng loạt khác tiếp theo. Lòng bác Hai rộn lên. Bác định kêu thằng Nghiệp, nhưng nó đã đưa súng lên trời bắn luôn mấy phát, miệng nó kêu lên:

- Mình rút về nghẹn bác Hai?

- Ừ! Đứa nào về nhà nấy, đừng đi đâu (bác vừa nói vừa gọi) cả thằng Hải, thằng Hớn cũng vậy đó.

Bốn bác cháu ra khỏi mả đá, vừa đi vừa chạy. Bỗng một vùng lửa đỏ rực lên sáng cả góc vườn. Thằng Nghiệp kêu lên hớt hải:

- Cháy nhà trụ sở rồi!

Tiếp theo là từng loạt đạn lửa từ đồn trên bót dưới bắn tua tủa đan nhau trên trời. Thằng Hớn dừng lại, ngửa mặt nhìn, vụt reo lên:

- A! Giống sao xẹt đã quá!

Bác Hai Hòa cũng dừng lại. Bác lẩm bẩm như để nói với bác: "Sao đã đổi hướng, nhưng chưa sáng lắm". Dường như bác còn đang chờ đợi những ngôi sao sáng hơn, nhưng tiếng thằng Nghiệp vọng lại:

- Mai tụi cháu ở nhà luôn nghen bác Hai!

Bác Hai Hòa mỉm cười rồi lững thững bước đi. Bác nghe lòng rộn rã, khớp khởi như cái ngày bác xông lên xác giặc, cướp súng ngoài lộ cầu sắt ngày mùng 3 tết năm nào. Đến đầu xóm, bác nghe tiếng nói chuyện rì rầm vang lên. Dường như nhà nào cũng đã thức dậy. Nghe tiếng chân bác đi vô, một người trong nhà hỏi vọng ra:
 
- Ai như anh Hai có phải không?

- Dạ, tôi đây.

Bóng đen từ trong nhà bước ra đến gần bác Hai, nói thì thầm:

- Lúc mấy ảnh nổ súng vào trụ sở tuần tra, thằng Bằng cũng có mặt ở đó. Nó bắn luôn vô tiểu đội cảnh sát, diệt luôn tụi này. Sau đó tụi nó giao súng hết cho các anh.

Bác Hai không dấu được sự mừng rỡ, kêu lên:

- Vậy hả anh?

- Nhưng tụi thằng Bằng nó nói là tụi nó bị tước súng.

- Vậy thì cũng hay (bác Hai vừa đoán vừa gật gù, rồi bác nói luôn) cũng mừng cho ấp mình. Thôi để tôi về cho sớm nghen anh.

Bác Hai Hòa bước đi mà lòng như mở cờ: bao nỗi ưu tư, uất ức trong lòng bác bỗng tan biến từ lúc nào. Bác thấy như trên vòm trời ấp Hòa Bình đang rực lên một vùng ánh sáng, thứ ánh sáng mà bác đã ước mơ từ sau khi trên trời sao đã đổi hướng. Bác về đến đầu ngõ thì trời sáng hẳn, những tia sáng ban mai rọi xuống đồng lúa một màu rừng rực rỡ. Và bác nghe trong xóm vang lên tiếng bà con í ới gọi nhau ra đồng.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:17:57 pm
Câu chuyện truyền thanh

GIA ĐÌNH ÔNG TƯ


Nguyễn Hồng Trang


Các vai:
- Ông Tư
- Bà Tư
- Em Đào - (con ông Tư)

Ông Tư: Bà ơi! Bà nó ở nhà không?

Bà Tư: Ông đi họp về rồi đó hả ông?

Ông Tư: Bà mần việc gì đó hả bà?

Bà Tư: Tui sàng lại mớ lúa giống để đem đi nộp vào quỹ cứu trợ bà con ấp chiến lược về, để người ta còn kịp làm mùa!

Ông Tư: Ha... ha… (cười vui), coi bộ bà tích cực dữ há!

Bà Tư: Ừ, ông này cứ nói móc nói ngoéo tui hoài. Cách mạng kêu gọi thì mình phản tích cực hường ứng chớ sao!

Ông Tư: Ờ, thì tui nói thiệt tình chứ móc ngoéo gì bà đâu?

Bà Tư: Đứng về tình nghĩa mà nói, bà con người ta mới về, ngoài mấy bộ quần áo ra thì còn có gì nữa đâu. Một nắm khi đói bằng một gói khi no mà.

Ông Tư: Tui nói vui với bà vậy thôi chớ tui cũng biết, việc giúp đỡ bà con người ta mới về là nghĩa vụ của mỗi gia đình trong vùng giải phóng đó.

Bà Tư: Thì tui nói vậy chớ có bắt lỗi bắt phải gì ông đâu.

Ông Tư: Ờ, ờ tui cũng muốn bàn thêm với bà mấy chuyện cần thiết nữa để mình đi tới chỗ đồng lòng với nhau.
Bà Tư: Ông muốn bàn thêm với tôi chuyện gì thì ông nói tui nghe coi?

Ông Tư: Trong cuộc họp hồi sáng nay, chú Năm Tài đại diện Uỷ ban xã cho biết là bà con mới về còn thiếu thốn nhiều thứ lắm đó.

Bà Tư: Điều đó tui hiểu rồi, cho nên tuỳ khả năng của từng gia đình mà giúp đỡ...

Ông Tư: Phải, bà nói rất đúng với ý tui, tuỳ khả năng từng gia đình mà giúp đỡ. Ruộng đất thì có ủy ban lo rồi nè, các gia đình giúp giống, cày bừa, trâu bò, để bà con có thể bắt tay ngay vào việc làm mùa.

Bà Tư: Việc làm mùa như vậy là tạm ổn rồi đó...

Ông Tư: Nhưng mà về ăn ở thì bà con còn thiếu thốn nhiều lắm, như.: cây, lá cất nhà, giường, chiếu, lu khạp, xoong, nồi, dầu đèn...mọi thứ đều cần thiết. Vì vậy mà tui định bàn thêm với bà một việc nữa đó.

Bà Tư: Vậy thì theo ông, ông định giúp thêm những gì nữa nè?

Ông Tư: Mình chỉ giúp một táo lúa giống còn ít quá. Nhà mình không có cây gỗ nhưng mình có lá. Bà coi, hay là ta giúp thêm vài trăm đôi gì đó để bà con còn che tạm cái nhà để đỡ mưa đỡ nắng.

Bà Tư: Ông nói phải đó, nhưng....nhà mình còn...

Ông Tư: Nhà mình cũng vừa lợp năm ngoái. Còn chuồng heo thì dột chút ít không sao.

Bà Tư: Phải, tui tán thành với ý của ông đó!

Ông Tư: Bà con khổ cũng như mình khổ vậy. Năm kia gia đình mình bỏ ấp chiến lược về không có cái gì Mình được bà con và chánh quyền cách mạng giúp đỡ, hôm nay mới được như thế này. Ông bà mình thường nói "Tình ruột thịt, nghĩa đồng bào". Tui thấm thía lời dạy đó lắm bà ạ!

Bà Tư: Ờ! ông nói bao giờ cũng đúng!

Ông Tư: Đó, đó ... bà lại ... lại ... nói móc tui rồi (cười vui).

Bà Tư: Tui khen ông thiệt, chớ móc gì ông đâu chớ! cái ông này.

Ông Tư: Hề... hề... thôi bà không móc tui thì thôi. Như vậy là tui với bà lại đồng lòng thêm một việc nữa rồi nghẹn.

Bà Tư: Nhưng ông nè, tui vẫn thấy mình giúp đỡ vẫn còn…

Ông Tư: Vẫn còn sao hả bà?

Bà Tư: Tui nghe đâu bà Tám Chân, chú năm Thứ, cô Ba Huệ người ta còn giúp cả gà, heo con, vịt để bà con gây giống chăn nuôi. Nhà mình còn mấy con ông thấy mình có thể giúp một đôi không?

Ông Tư: (Suy nghĩ và nói chầm chậm) còn hai đôi, tôi cũng định để gây giống.

Bà Tư: Vậy bây giờ ông nghĩ sao nè?

Ông Tư: Bà nè, hay là mình bắt đôi gà của con Đào, đôi gà này cũng sắp sửa nhảy ổ rồi đó.

Bà Tư: ông cho nó nuôi, bây giờ ông muốn bắt thì phải hỏi nó.

Ông Tư: Thì tui với bà đồng lòng trước, tui tin con nó cũng nhất trí luôn vậy hà!

Bà Tư: Thì tui có nói khác gì ông đâu, ông để nó về rồi hỏi nó.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:19:16 pm
Đào: (ở xa đi dần tới, vừa đi vừa hát)
Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ
Râu Bác dài tóc Bác bạc phơ
Em âu yếm hôn đôi má Bác...

Bà Tư: Kìa, nó về rồi đó, ông ra mà hỏi nó, tui đi phơi lúa cái đã.

Ông Tư: Đào, con về đó hả?

Đào: Dạ, con mới về tía ạ!

Ông Tư: Hôm nay có chuyện gì vui đó con? Chà chắc là được cô giáo cho 10 điểm rồi đó.

Đào: Hôm nay cô giáo không lên lớp tía ạ!

Ông Tư: Sao không lên lớp?

Đào: Hôm nay trường con liên hoan đón các bạn mới ở Vàm Xàng về đây học.

Ông Tư: Vậy các cháu nó về có đông không?

Đào: Đông lắm tía ạ, cô giáo nói sẽ cất thêm lớp mới đủ học, cô giáo còn phân công mỗi em giúp dỡ một bạn mới.

Ông Tư: Vậy con có nhận giúp đỡ ai không?

Đào: Có chớ tía, con nhận giúp đỡ bạn ánh, con của dì Năm Khoa. Bạn ánh chưa có một quyển vở nào hết. Con định lấy quyển vở của con tặng lại bạn Ánh đó.

Ông Tư: Con làm như vậy là phải, giúp đỡ bạn trong lúc khó khăn là điều nên làm, nhưng con cũng phải giúp đỡ bạn học tập nữa chớ. Ở vùng ông Thiệu thì chẳng học hành được gì đâu.

Đào: Con hẹn với bạn ấy là tối đến nhà mình ôn bài.

Ông Tư: Ừ, đưa bạn ấy về nhà ta có bàn ghế, dầu đèn, có gì tía giúp đỡ thêm.

Đào: Tía giúp đỡ nữa thì sướng quá… (cười thích thú).

Ông Tư: Đào nè, bây giờ tía muốn hỏi con một chuyện nữa.

Đào: Chuyện gì hả tía?

Ông Tư: Con cho tía mượn đôi gà đó nghen?

Đào: Tía lại bắt gà của con nhậu rượu nữa chớ gì! Kỳ này con hổng cho tía bắt gà của con đâu.
 
Ông Tư: Con cho tía mượn rồi lứa gà sau tía sẽ bù lại cho con.

Đào: Hổng đâu, gà của con tía cứ bắt nhậu rượu mãi thôi hà, Hiệp định Paris ký kết, tía mần gà uống rượu. Chú bảy Hưng lính dù bỏ ngũ về, tía mừng quá bắt gà nhậu rượu. Ký thông cáo chung tía cũng bắt gà của con nhậu rượu, bây giờ đón bà con ấp chiến lược trở về con chỉ con mấy đôi gà cưng tía cũng định bắt để nhậu, tía cứ nhậu hoài thì con làm sao có gà để cho nó đẻ. Hổng được đâu, tía hổng được bắt gà của con...

Ông Tư: Con bình tĩnh nghe tía nói nè. Vui mừng thì uống rượu chớ sao, hồi xưa nhà mình còn ở trong ấp chiến lược nghèo khổ tía đâu có tiền mà uống rượu. Bây giờ nhờ cách mạng mà mình làm ăn khấm khá, lâu lâu cũng nhậu một bữa cho vui chớ con. Nhưng mà kỳ này tía không bắt gà của con uống rượu đâu mà tía làm một việc khác kia.

Đào: Tía làm việc khác là việc gì, tía nói cho con nghe đi.

Ông Tư: Nhưng mà con có tán thành cho tía bắt đôi gà không?

Đào: Tía nói đi!

Ông Tư: Con biết đó bà con người ta bỏ khu gom dân, ấp chiến lược về sống trong vùng giải phóng ngày càng nhiều, xã mình nhiều bà con đã về rồi đó. Bà con về thiếu thốn nhiều thứ lắm, nên mình phải giúp đỡ bà con ổn định đời sống. Nên tía định bắt một đôi gà của con để góp phần giúp đỡ bà con gây giống chăn nuôi.

Đào: Trời ơi, vậy mà hồi nãy tía hổng nói thẳng luôn cho con biết. Con tưởng...

Ông Tư: (cười thích thú) Vậy lã cả nhà mình đều đồng tâm nhất trí hết mọi việc (cười hài lòng)

Bà Tư: (Bà Tư từ bên ngoài gọi vào nhà) Ông nó ơi, ông nó ơi, đến giờ rồi mà ông chưa chịu đi à? Bà con người ta đi hết rồi đó!

Ông Tư: Đi đâu hả bà?

Bà Tư: Ông quên rồi sao mà, đi giúp đỡ bà con cất nhà chớ, còn đi đâu nữa?

Ông Tư: À, à tui nhớ rồi, nhớ rồi, tui đi ngay đây. Bà ở nhà chuẩn bị các thứ để rồi còn mang đi cho sớm. Chiều nay tui giúp dựng nhà, sáng mai tui nhặt lá để phơi cho kịp nắng.

Bà Tư: Ông đi, chút tui cũng đi, chứ tui có ở nhà đâu!

Ông Tư: Bà đi đâu nữa?

Bà Tư: Ông này hỏi lạ thiệt, ông biết giúp đỡ bà con dựng nhà, tui không biết giúp bà con làm việc khác sao? Ông biểu con Đào chiều nó ở nhà mà làm.

Đào: Chiều nay con cũng không có ở nhà đâu, con đi với các bạn cất lớp học đó.

Ông Tư.: (vẻ mặt vui tươi, hồ hở) Như vậy chiều nay cả nhà mình đều đi giúp bà con. Thôi, ta đi đì, tối về làm tiếp.

Bà Tư: Đi thì đi, ông đợi tôi...

Đào: Con cũng đi...

Ông Tư: Thì cả nhà cùng đi, càng đông người mỗi người một tay, thì càng nhanh chóng có nhà cho bà con mình sớm có chỗ ở chớ sao, thôi ta đi đi, bà nó ơi!

Bà Tư: Mau lên đi con...

Đào: Dạ, con chạy theo tía má đây...


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:20:35 pm
Bài viết nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương cho buổi nông thôn

CON VOI BẤT NGHĨA


(Khuyết Danh)

Truyền thuyết ngàn năm của đất nước nói rằng: Dân tộc Việt Nam là cùng một gốc - Lạc Long Quân sánh duyên cùng âu Cơ đẻ ra trăm trjng, nở trăm con.

Năm mươi con trai theo cha xuống biển,
Năm mươi con gái theo mẹ lên rừng.


Chung sức chung lòng lập nên đất nước Văn Lang, xưng hiệu Hùng Vương. Đó là triều đại đầu tiên của lịch sử đất nước ta. Đất nước Văn Lang được thiên nhiên đặt ở giữa miền nhiệt đới Đông Nam, nơi có núi cao, sông lớn, đồng ruộng, đất đai màu mỡ. Trong quá trình lập nước và giữ nước, đất Văn Lang không rộng, người Văn Lang không đông, nhưng từ buổi mới khai sinh đã phải đương đầu với biết bao kẻ thù hết sức hung ác, mạnh hơn mình gấp bội. Trước mối đe dọa kinh hoàng đó, muốn sống thì phải chinh phục thiên nhiên, một người làm không nổi, một bộ lạc làm không nổi mà phải nhiều người, nhiều bộ lạc hợp thành một khối thống nhất, ý chí thống nhất, hành động thống nhất để bắt thiên nhiên phải phục vụ con người.


Có lũ lụt từ khi có trời đất, sông núi, nắng mưa, sương gió. Do đó mà sự đoàn kết, sự thống nhất về ý chí, hành động và tình cảm của dân tộc cũng được hình thành từ lúc ấy Hoạn nạn có nhau, vui sướng chia nhau sống chết không lìa nhau, tình đoàn kết gắn bó anh em cùng một tổ đã tạo nên sức mạnh phi thường đưa đất nước vượt qua bao sóng gió, hiểm nguy.


Chuyện cổ tích Sơn Tinh đó là hình ảnh tinh tuý thể hiện sức mạnh vĩ đại của nhân dân Việt Nam ta hợp sức chung lòng chống thiên tai, mang lại cuộc sống thanh bình ấm no cho dân tộc.


Có thể nói đất nước ta khai sinh bằng tinh thần đoàn kết, thống nhất và hoà hợp. Đoàn kết chinh phục thiên nhiên là một yếu tố dựng nước Văn Lang, nhưng yếu tố quyết định sự sống còn của dân tộc Văn Lang là chống ngoại xâm. Nước Văn Lang được sinh ra ở giữa vùng Đông Nam, một giang sơn gấm vóc làm cho kẻ ngoại bang thèm thuồng, chúng có thể đến từ bốn phương, bằng đường bộ, đường biển, thường là kẻ địch mạnh hơn ta nhiều. Cho nên tổ tiên đã dạy con cháu rằng: Hợp là sống, chia là chết. Tuân theo lời dạy của tổ tiên, suốt 4000 năm qua, dân tộc Việt Nam đã liên tiếp đánh bại hết kẻ địch này đến kẻ địch khác. Chuyện Thánh Gióng thống giặt Ân, là kết tinh của không biết bao nhiêu lần người Văn Lang đánh bại quân xâm lược, giữ vững địa bàn sinh tử của dân tộc mình.


Thánh Gióng chính là hình ảnh của nhân dân ta, một dân tộc cần cù, dũng cảm, yêu nước trên hết. Giặc tan rồi thì lặng lẽ trở về mảnh ruộng, luống cày của mình, tiếp tục lao động xây dựng cuộc sống ấm no. Truyền thống cao đẹp đó đã được nông dân ta hấp thụ một cách sâu sắc, luôn luôn mang sẵn trong mình bản sắc của con cháu Vua Hùng: yêu nước, yêu quê hương, xóm làng, ruộng rẫy, dù có phải cường bức lìa quê xa xứ, nhưng người nông dân vẫn luôn hướng về quê cha đất tổ. Khi giặc xâm lấn, hịch cứu nước loan truyền thì con cháu dù ở xa cách mấy đều trăm ngả đổ về tụ hợp, một lòng đánh giặc, giữ an dật nước bờ cõi. Nhưng trong anh em, con cháu một nhà, lại có những kẻ bất hiếu, bất trung. Truyền thuyết về "Con voi bất nghĩa" là một tấm gương phản chiếu cho con cháu đời sau. Truyền thuyết rằng: Vua có 100 con voi trận, những đứa con trung hiếu cùng vua đi đánh giặc, trăm trận trăm thắng. Một hôm sau khi dẹp yên giặc ngoại xâm vua gọi đàn voi vào chầu thì trong đàn có một con voi bước ra khỏi đàn quay đuôi lại, đầu nhìn về phương khác tỏ ý không thần phục. Vua giận liền tuốt kiếm thần xử tội con voi bất nghĩa để làm gương cho những kẻ quên công cha nghĩa mẹ và tổ tiên. Người đời truyền tụng câu ca trách móc những kẻ bất hiếu, bất trung:

Chín mươi chín con theo mẹ một lòng
Một con ăn ở ra lòng riêng tây


Câu ca ấy, cho đến ngày nay vẫn còn giá trị sâu sắc của đạo làm con.
 
Và thực tế là ngày nay vẫn có kẻ tự xưng là con hồng cháu lạc mà lại rước ngoại bang về dày xéo lên quê cha đất tổ Nông dân ta vốn được sinh ra và lớn lên từ cái nôi của đất Văn Lang, con cháu vua Hùng, luôn luôn mang trong người bản sắc "trung hiếu son sắt một lòng, thờ mẹ kính cha, bảo vệ giang sơn gấm vóc của tiên tổ. Bởi vậy:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Khắp nơi truyền mãi câu ca
Nước non, vẫn nước non nhà ngàn năm.


Người nông dân miền Nam ta ngàn vạn năm vẫn tìm về cội nguồn Hồng Lạc. Chúng ta vô cùng oán giận những kẻ xâm lăng Bá đa lộc, lập công trường Giôn ken nơ đi v.v… Ở Sài Gòn những kẻ này bắt dân Việt phải thờ phụng tri ân ngoại bang. Họ nói ngược rằng "Đó là những người có công dựng nước và giữ nước". Kẻ nào, ai vô đó? Nguyễn Ánh, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều là loài phản tổ tiên, rước kẻ thù giày xéo mồ mả ông bà, chia cắt giang sơn, gây hận thù dân tộc. Bọn chúng có khác nào con voi bất nghĩa kia.


Đồng bào miền Nam ta luôn luôn nhớ lời ký thác của tổ tiên: "Hợp là sống, chia là chết Và cũng nhớ lời dạy của Bác Hồ: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Trải qua hơn một trăm năm chống thực dân, đế quốc và tay sai, nhân dân ta đã chiến đấu liên tục và giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Cuối cùng chúng ta đã đánh bại đế quốc Mỹ hung bạo nhất của thời đại, kẻ thù số một của nhân loại và tống cổ chúng ra khỏi đất nước thân yêu của chúng ta. Giờ đây đồng bào ta lại đoàn kết, hoà hợp toàn dân tộc con bồng cháu Lạc thành một khối thống nhất, kế tục truyền thống của vua Hùng "trọng trung hiếu, ghét bất nghĩa đem lại sự thống nhứt cho giang sơn để cho đồng bào Nam Bắc sum hợp bên nhau, vui hường một ngày giỗ tổ vua Hùng trong mối tình dân tộc hoà hợp, đất nước thống nhất và hoà bình thật sự trong độc lập và tự do hoàn toàn không có sự can thiệp thô bạo của ngoại bang hiếu chiến và xâm lược.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:21:28 pm
LỊCH SỬ MIỀN TRUNG, SÁNG NGỜI CHÍ KHÍ

Nguyễn Hồng Trang



Năm 1858 bọn thực dân xâm lược Pháp vào nước ta. Thực dân Pháp biến Đà Nẵng thành phố cảng thân yêu cửa ngõ của miền Trung, thành một quân cảng đưa súng đạn, quân lính vào để giết hại nhân dân ta.

Cũng từ buổi ấy, tiếng gọi ngân vang hịch truyền khởi nghĩa của những người yêu nước, miền Trung cùng cả nước một lòng đứng dậy đấu tranh. Nhân dân miền Trung nói cho bọn thực dân cướp nước biết rằng: "Chúng tôi sợ trời hơn sợ sức mạnh của các người. Chúng tôi nguyện chiến đấu mãi mãi không nghỉ!”. Từ lời tâm huyết đó khích lệ muôn người Kinh, Thượng nổi dậy đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào.

Cùng với cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, thiên hộ Dương ở Nam Bộ, trải qua 72 năm (từ năm 1859 - 1930), nhân dân miền Trung liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa chống Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước, đòi tự do, độc lập dân tộc.

- Nổi lên là những cuộc đấu tranh: của Lê Trung Đình, Trần Văn Dư… ở Quảng Nam, Quảng Ngãi lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa đánh Pháp (1885). Những cuộc biểu tình chống nộp thuế, bắt phu đã diễn ra liên tiếp và quyết liệt của nhân dân các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (năm 1908). Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân ở Huế năm 1916 đã dấy lên một phong trào chống Pháp mạnh mẽ ở các tỉnh miền Trung.

Phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu thương, viên chức ở các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế đã diễn ra sôi nổi năm 1930 với khẩu hiệu công nông minh liên hiệp chống đế quốc, thực dân gây chiến tranh xâm lược.

Nhiều cuộc đình công, bãi thị, biểu tình của nhân dân nổ ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Đà Nẵng và nhiều nơi khắp miền Trung năm 1932.

Nhiều cuộc đình công, bãi thị, biểu tình của công nhân, nông dân, tiểu thương đã nổ ra ở Huế chống thực dân Pháp cai trị, đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi tự do nghiệp đoàn, giảm tô thuế...

Những phong trào chống thực dân Pháp ấy, vô cùng anh dũng, nhưng đều thất bại, vì nhân dân miền Trung thiếu một,đường lối đúng đắn phù hợp với điều kiện lích sử mới. Nhưng may mắn thay, Hồ Chủ tịch vị cứu tinh của dân tộc, đã chỉ đạo nhân dân cả nước ta đi theo con đường mà Người đã vạch đó là: "Thà hy sinh tất cả chứ nhứt định không chịu làm nô lệ".


Lời hịch của Bác Hồ là một chân lý sáng ngời. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng bào và chiến sĩ miền Trung vẫn hiên.ngang, lẫm liệt, anh hùng. Quân và dân Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định, Phú Yên, cùng với cả nước đã tiến công địch, phát triển du kích chiến tranh nhân dân. Ở các thành thị Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Hội An, Tam Kỳ, Bồng Sơn, Tam Quan v.v... phong trào đấu tranh của đồng bào các giới liên tục dâng lên mạnh mẽ, nổi bật là cuộc mít tinh, biểu tình thị uy có võ trang đã nổ ra ở nhiều phủ, huyện ở Quảng Nam, Quế Sơn, Tam Kỳ (1942), cuộc biểu tình của học sinh trường Khải Định ở Huế bãi khoá chống bắt lính. Năm 1954 nhiều cuộc biểu tình lớn của nhân dân các giới ở Huế, Đà Nẵng và nhiều nơi khác đòi đình chiến...

Đồng bào và chiến sĩ miền Trung anh dũng chiến đấu liên tục đã góp phần đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước ta.


Thực dân Pháp gần 80 năm xâm lược nước ta, để cuối cùng chuốc lấy một thất bại chua cay cuốn gói về nước. Nhưng đế quốc Mỹ không nhìn đó làm bài học, chúng lại nhảy vào. Bọn xâm lược Mỹ dựng lên một chánh quyền tay sai cực kỳ phản động, gây nên vô vàn tội ác với nhân dân ta. Chúng ta làm sao quên được những vụ tàn sát dã man nhân dân ở Duy Xuyên, Hướng Điền, Chợ Được, Sơn Mỹ v.v... Nhưng kẻ gây tội ác thì chúng nhứt định phải nhận lấy đòn trừng phạt. Trà bồng đồng khởi, tiếp đó hàng loạt đơn vị võ trang miền Trung ra đời và trưởng thành nhanh chóng, chiến công nối tiếp chiến công. Chiến thắng Vạn Tường, núi Thành đánh bại uy thế ban đầu của đạo quân viễn chinh Mỹ. Tiếp đó là những chiến thắng đèo Nhong, Phủ Cựu, Đá Đen, Liên Chiếu, Vân Đồn. Đặc biệt đồng bào và chiến sĩ Thừa Thiên đã đạp bằng khó khăn gian khổ, làm nên một chiến công sáng ngời trang sử. Đó là 25 ngày dêm đánh và chiếm giừ thành phố Huế (1968). Năm 1972 cuộc tiến công và nổi dậy của đồng bào cả miền Nam ta làm cho bè lũ Mỹ Thiệu thất bại nặng nề. Vùng giải phóng miền Trung mở rộng làm chỗ dựa vừng chắc cho thắng lợi cuối cùng. Thắng lợi to lớn và toàn diện của quân và dân miền Nam ta năm 1972 đưa đến việc đế quốc Mỹ phải chịu ký kết Hiệp định Paris, rút toàn bộ quân viễn chinh Mỹ ra khỏi nước ta, cam kết quyền tự quyết của nhân dân ta, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân miền Nam ta.


Nhưng thực chất trong hai năm, Mỹ vẫn tiếp tay cho Thiệu phá hoại một cách có hệ thống Hiệp định Parìs về Việt Nam. Thiệu lúc nào cũng tỏ ra hiếu chiến, hắn tuyên bố: "Không bao giờ có hoà bình, không bao giờ có bầu cử". Hắn ra lịnh cho binh lính "xử tù, xử tử hình những người trung lập và những người công khai thân cộng sản". Thiệu đã đẩy hàng chục vạn đồng bào Quảng Trị, Thừa Thiên vào cuộc sống tập trung đói khổ, chết chóc ở các trại định cư Rừng lá, Long Khánh và nhiều nơi khác. Thiệu còn mở hàng ngàn cuộc hành quân lấn chiếm cày ủi ở nhiều nơi khác thuộc các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi... đẩy đồng bào ta vào cảnh màn trời chiếu đất. Có năm mươi ngàn người ở các huyện Phú Lộc, Hướng Điền, Quảng Điền, Phú Thứ, Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên lâm vào cảnh đói khổ chết chóc.


Có thể nào để cho tên Việt gian bán nước Nguyễn Văn Thiệu và tay chân của chúng liên tiếp phá hoại hoà bình, chà đạp lên mọi nguyện vọng và quyền tự do dân chủ của nhân dân ta sao? Đã đến lúc rồi, đến lúc phải đánh đổ  chế độ Thiệu, đánh đổ cả bộ máy thống trị của chúng thì mới có hoà bình, tự do, no ấm.


Khi mà lòng người đã nổi giặn thì không có một thế lực bạo tàn nào ngăn cản nổi. Đồng bào và chiến sĩ miền Trung kiên quyết nổi dậy, tiến công trừng trị tập đoàn ngoan cố Nguyễn Văn Thiệu, đánh mạnh vào tận sào huyệt của Thiệu nơi xuất phát các cuộc hành quân gây tội ác đối với đồng bào ta. Đồng bào ơi, chiến sĩ ta ơi! Tiến lên quyết giải phóng quê hương. Cả vùng trời vùng đất Tây Nguyên đã về tay nhân dân làm chủ, bóng quân thù đã bị quét sạch rồi. Thừa Thiên Huế thân yêu, Quảng Nam, Quảng Ngãi kiên cường, cờ cách mạng đã tung bay trong gió. Cuộc sống độc lập, tự do thật sự trở về với nhân dân. Đồng bào ta hãy vui mừng hợp sức cùng lực lượng võ trang thu dọn những gì đổ nát, nhanh chóng ổn định đời sống, góp phần bảo vệ và xây dựng quê hương. Đồng bào ta già, trẻ, gái trai phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, thừa thắng xông lên kiên quyết quét sạch bè lũ Thiệu.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:22:47 pm
VÙNG K. NGÀY ẤY


(Khuyết Danh)


K. thuộc vùng dân tộc, phần đông là người Xê-tiêng, đã không ngừng vươn lên lập nhiều thành tích mới trong chiến đấu, sản xuất cải thiện đời sống.

Ngót một năm, nay mới có dịp trở lại, nơi đây tôi thấy tất cả cảnh vật và con người đều thay-đổi ngoài sức tưởng tượng. Tại trụ sở của Uỷ ban nhân dân cách mạng, anh Sáu ủy viên thường trực ủy ban nói với tôi:
- "Với tinh thần liên tục nổi dậy tấn công địch mạnh mẽ và đều khắp, đồng bào các dân tộc chúng tôi cố đem hết sức mình làm theo di chúc của Bác Hồ kính yêu và hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ cách mạng lâm thời, tất cả lập công, người người thi đua. Khắp buôn làng từ cán bộ chiến sĩ cho đến đồng bào, trai gái, ai nấy đều hăng hái thì đua, sôi nổi giết giặc lập công để xây dựng đời sống mới và để đáp đền ơn Bác. Với tinh thần đó, ngần một năm nay, tức là sau khi học tập di chúc Bác, chúng tôi đã đẩy mạnh công tác củng cố và phát triển đội du kích, lực lượng đấu tranh chính trị và xây dựng các đoàn thể vững mạnh về mọi mặt, để sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu thâm độc của kẻ địch. Đồng thời xây dựng và củng cố tổ vần công, các tổ chức làm ăn để đẩy mạnh sản xuất, giữ vững đời sống".

Biết tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về tình hình cụ thể ở đây, anh ngừng một lát, mời tôi uống nước rồi hỏi tôi "thời gian qua, trong việc thực hiện cái chương trình "bình định cấp tốc" đồng chí có nghe nói giặc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã làm những gì ở đây rồi chớ? không đợi tôi trả lời anh Sáu nói tiếp:

- "Ở chỗ chúng tôi đây cũng như các nơi lân cận, ngoài việc chúng dùng máy bay, pháo bầy đánh phá ngày đêm vào nương rẫy, buôn làng của đồng bào, tụi sư đoàn 25 Mỹ còn kết hợp với bọn bảo an tăng cường càn quét đánh phá, cướp bóc làm cho công việc đi lại làm ăn của đồng bào hết sức khó khăn. Bên cạnh đó, bọn bình định, bọn chiến tranh tâm lý còn thường xuyên bày trò tuyên truyền chiến thắng giả tạo, tuyên truyền hoà bình bịp bợm để lung lạc tinh thần đồng bào. Thâm độc hơn là chúng tìm cách vu khống nói xấu cán bộ cách mạng, gợi lại những tập quán cũ kỹ để gây mâu thuẫn làm mất lòng tin nhau giữa người kinh với người dân tộc. Chúng còn tổ chức bộ máy kìm kẹp phản động như tổ ấp, công an gián điệp ngầm, tổ chức phượng hoàng, phòng vệ dân sự".

Ngắt lời anh, tôi hỏi:

- "Như vậy có ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống và sinh hoạt của đồng bào mình không?"

Rít một hơi thuốc lá thật dài, anh mỉm cười rồi nói: "Coi dữ vậy chớ không có gì đâu anh ơi? Dễ dầu gì mà chúng nó gạt được đồng bào dân tộc mình. Vốn một lòng một dạ tin tưởng cách mạng, tin tưởng Bác Hồ, được học di chúc của Bác, cán bộ cũng vậy, đồng bào cũng vậy, ai cũng biết cái bụng độc ác của thằng Mỹ, thằng ngụy rồi. Ai mà chịu làm theo nó, ai mà thèm nghe cái miệng nói láo của nó."


Thật vậy, dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đẩy mạnh đấu tranh chính trị du kích vũ trang và vận động binh sĩ địch, vùng K. từng bước đã bẻ gãy chương trình bình định của địch, giữ vững quyền làm chủ của mình. Qua một năm học tập và làm theo di chúc của Bác, vùng K. đã đẩy mạnh du kích vũ trang xây dựng xã chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực định bảo vệ buôn làng, nương rẫy. Dựa vào ưu thế của xã chiến đấu, thời gian qua du kích và đồng bào đã đánh địch hằng chục trận, làm cho chúng hoảng sợ phải co lại không dám ngang nhiên đi lùng sục, cướp phá, bắt bớ đồng bào như trước. Bọn bình định, bọn công an, phượng hoàng, bọn tề điệp ác ôn dần dần bỉ du kích và đồng bào bắt giáo dục và trừng trị gần hết. Số còn lại phải thụt đầu không dám hống hách kìm kẹp đồng bào. Bọn địch hoang mang co lại Thừa thắng, đồng bào ta kéo đến bọn tề đấu tranh đòi tự do đi lại làm ăn, đòi bồi thường những thiệt hại do chúng gây ra và vận động binh sĩ đồng tình, cùng tham gia đấu tranh. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào, với những lý lẽ chính đáng địch buộc phải nhượng bộ và phải chịu để cho đồng bào đi lại sản xuất. Giáo dục tinh thần dân tộc, tinh thần giai cấp, đồng bào đã kêu gọi nhiều đội viên phòng vệ dân sự, lính dân vệ bỏ súng trở về nhà làm ăn sinh sống, tránh những việc làm tội lỗi chết thay cho giặc.

Rời trụ sở ủy ban, tôi theo bác Tư cán bộ Nông hội để đi về ấp R. Vừa đi đường tôi vừa thăm hỏi về công việc làm ăn sinh sống của đồng bào trong vùng. Với giọng vui vẻ bác Tư cho biết:

- "Vùng chúng tôi đây, đất đai không rộng lắm mà lại thường bị hạn hán. Giặc lại đánh phá dã man nên công việc làm ăn luôn gặp khó khăn. Nhưng nhờ ở sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, được nông hội giúp đỡ, nhờ tinh thần quyết tâm bám đất sản xuất, chiến đấu của đồng bào, nên đời sống của bà con trong vùng không ngừng đổi mới."


Chúng tôi lại tiếp tục đi nhiều nơi trong vùng. Gió tháng 8 mát rượi. Đó đây trên khắp mương rẫy từng tốp người đang hăng hái làm mùa. Người cày, người cuốc. Kế bên những đám bắp mới thu hoạch là những rẫy được dọn sạch để chuẩn bị cho vụ rau cải. Những em bé gái thoăn thoắt tỉa hạt, cha mẹ đi dân công tải đạn, tiếp lương ở chiến trường. Những vạn vần công của chị em đang thay chồng, con em mình đi cầm súng canh gác bảo vệ xóm làng, bao vây bốt giặc, đi dân công ra tiền tuyến. Chị em vừa làm, vừa hò hát. Tiếng hò ngân vang giữa ngày mùa đầy hy vọng của vùng dân tộc K dưới ngọn cờ vinh quang của chánh phủ cách mạng lâm thời.

Chỉ tay về phía rẫy lúa đang vươn mình sắp đến ngày trổ bông, bác Tư vui vẻ nói:

- "Chú còn nhớ M không, ở đây năm rồi toàn là cỏ hôi với gai mắc cỡ mà nay như vậy đỏ, chú có mê không?"
Bác Tư mỉm cười nói tiếp:

- Thứ lúa này năm nay nhà nào cũng có tỉa, mỗi nhà ít nhất cũng là hai thùng lúa giống. Còn bắp mà đồng bào mới bẻ đó, thì tính trung bình mỗi gia đình cũng trồng được hơn năm lít giống. Các thứ đậu, rau, cải nếu năm nay không bị trở ngại gì thì đồng bào ăn sao cho hết. Cả tiểu đoàn giải phóng đến ăn cũng đủ.


Qua một năm, trở lại vùng K, những con số kết quả cụ thể mà bác Tư vừa kể làm cho tôi hết sức phấn khởi. Năm nay nhất dình đồng bào ở đây sẽ không còn bị thiếu thốn về lương thực, thực phẩm nữa. Kết quả cụ thể đó còn nói lên tinh thần quyết tâm của đồng bào vùng K vượt mọi khó khăn do thiên tai, dịch họa gây ra để đẩy mạnh và phát triển sản xuất. Với tinh thần đó, tôi tin tưởng nhất định tới đây đồng bào ta sẽ không ngừng ra sức xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia chiến đấu du kích để chống trả mọi cuộc càn quét đánh phá của địch, ra sức chăm sóc và bảo vệ hoa màu.


Bác Tư còn phấn khởi cho tôi biết khá đầy đủ về cuộc sống đổi mới của đồng bào ta trong vùng. Qua một năm học tập và làm theo di chúc của Bác, đồng bào dân tộc vùng K đổi mới cả những nếp sống của con người. Những tập quán cũ kỹ từ xưa như cà răng, căng tai dện nay không còn nữa, hầu hết các dân tộc trong vùng đều ăn cơm bằng đũa, bằng chén. Nhiều nơi đã thực hiện uống nước chín và xây hố tiêu công cộng. Trước kia, đồng bào chỉ biết làm được bao nhiêu thì dem ra ăn bấy nhiêu rồi mới tiếp tục làm nữa. Nhưng ngày nay đã biết dự trữ để ăn lâu dài và đóng góp cho cách mạng. Tổ y tế có y tá phụ trách được thành lập ở khắp các thôn. Trường lớp văn hoá được dựng lên ở mỗi ấp để dạy cho các em thiếu nhi. Hầu hết con em các dân tộc đều được cắp sách đến trường học, các em chẳng những học tiếng dân tộc mà học tiếng, chữ Quốc ngữ.
Nhà rông bây giờ là một hội trường chung được dựng lại ở mỗi ấp. Hội trường chung là nơi để học tập, múa hát của các em nhằm phục vụ đồng bào.


Thật là một sự đổi mới hết sức nhanh chóng, sự đổi mới đó đã nói lên sức mạnh của lòng căm thù giặc cao độ, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ kính yêu của đồng bào dân tộc vùng K.


Trở lại vùng K. lần này, tôi càng thêm tin tưởng rằng vùng K. sẽ không ngừng phấn dấu vươn lên thực hiện tốt hơn nữa di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu. Dù cho kẻ thù Mỹ ngụy có âm mưu thâm độc thế nào, có hành động tàn bạo đến mấy cũng không sao khuất phục nổi đồng bào vùng K. kiên cường.


Đồng bào các dân tộc vùng K. sẽ chung sức chung lòng, chung đoàn kết hậu phương với tuyền tuyến, nông thôn, rừng núi và thành thị, tạo thành sức mạnh sắt thép, quật ngã kẻ thù Mỹ nguỵ để giành quyền làm chủ buôn làng, nương rẫy của mình.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:23:37 pm
MÀU XANH TIẾN CÔNG

Hữu Quả


Tôi về thăm xã L. huyện Quế Sơn đúng vào thời kỳ bà con ở đây đang đẩy mạnh là vụ đông xuân. Đúng lúc này địch đang ra sức dùng phi pháo đánh phá điên cuồng. Chi trong vòng 20 ngày, chúng đã cho B.52 đánh phá 5 lần và bắn hàng nghìn quả đại bác vào khắp xóm làng đồng ruộng của xã. Những đám mạ sắp đến ngày nhổ cấy bị đạn pháo phá nát. Những thửa ruộng đã dọn bờ, bừa nhuyễn bị bom cày tung lên. Bom đạn địch còn cướp đi một số trâu bò.... Khó khăn ác liệt thật đấy, nhưng mỗi người dân xã L. đâu có chịu thua thằng địch, mạ bị phá nát, bà con gieo lại mạ khác thay thế gieo thành nhiều đám, nếu nơi này có hỏng đã có nơi khác bù đắp. Đám ruộng này bị bom đạn khoét, đã có mấy đám khác được cày bừa thay thế. Ý chí quyết thắng giặc Mỹ của nông dân trên đồng ruộng xã L được biểu hiện từ trong bảng chỉ tiêu kế hoạch trong các cuộc họp của cán bộ, cho tới từng việc làm của những bà con nông dân.


Một buổi sáng tôi đi theo đồng chí Mai Phồn chủ tịch xã qua thôn T. trên đường đi, tôi thấy mấy đám mạ vừa bị bom B.52 phá nát, chiều hôm sau tôi trở lại đã thấy những đám mạ mới đã được gieo ngay bên cạnh số mạ bị hỏng. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, đồng chí Phồn nói: "Dân xã này là thế đấy anh ạ, chả chịu thua thằng Mỹ đâu Thời kỳ này anh về có căng thẳng đấy, nhưng đối với nhân dân xã chúng tôi đã là thời kỳ thơ lắm rồi. Những năm gian lao nhứt là từ 1962 đến 1970, năm 1967 là năm bọn không vận Mỹ ồ ạt tràn vào đánh phá khốc liệt Trong 3,4 tháng chúng giết của chúng tôi hơn 900 con trâu, bò cày. Những năm 1969, 1970 là thời kỳ "Mỹ lết Chúng bốc chỗ này đổ chỗ kia, càn đi quét lại dai như đỉa đói. Có tháng chúng càn tới 25 ngày và không tháng nào là không có càn. Trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt người chết, nhà bị đốt, dụng cụ sản xuất bị phá huỷ, sức kéo không có đủ, thế mà nhân dân xã chúng tôi có chịu bỏ ruộng đâu. Chúng tôi kiên trì thực hiện phương châm 3 bám: Cán bộ bám dân, dân bám ruộng, du kích bám địch, địch đến, đưa dân lánh, địch đi, đưa dân về sản xuất. Có thời kỳ căng quá, chúng tôi làm cả ban đêm..."


Qua lời kể của đồng chí Mai Phồn, tôi hiểu rằng, nhờ có quyết tâm cao của cán bộ và nhân dân trong xã, âm mưu thâm độc của giặc Mỹ muốn xã này thành vùng trắng đã bị thất bại. Suốt mấy năm liền đổ mồ hôi, sôi nước mắt và đổ cả máu để làm ra những hạt lúa, củ khoai, nhân dân xã L. đã góp phần xứng đáng vào cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Hôm tôi từ giã xã L. nhân dân trong xã đã cấy được hơn nửa phần diện tích đông xuân.


Rời xã L, tôi sang xã T, một xã trước dây địch lập 2 khu đồn ở hai đầu xã, như hai cái ung nhọt lớn. Khi Cấm Dơi, Quế Sơn bị quân giải phóng bao vây, bọn địch ở xã T đã hoảng hốt bỏ chạy. Nhân dân trong xã nổi dậy đạp rào phá ấp, xoá kẹp. Người bị xúc vào khu dồn trở về làng cũ, người ở lại giữ quyền làm chủ trên mảnh đất của mình, ai ai cũng phấn khởi ra sức tăng gia sản xuất. Ngoài lúa, nhà nào cũng có vài ba vồng lang, dăm trăm gốc sắn.


Chị Hằng ở thôn 2, trước ngày bị địch xúc vào khu đồn L. S., nói với tôi: "Trong khu đồn cực lắm chú ạ. Muốn trồng đám rau cũng không có đất, muốn làm thuê cũng không có việc. Ruộng ít, người nhiều thì ai muốn? nay trở về đất cũ của mình thì tha hồ mà làm. Nông hội còn khuyến khích mình khai hoang vỡ hoá, làm thêm diện tích nữa chứ”. Nói rồi chị vui vẻ dẫn tôi ra xem miếng vườn của chị. Nhiều vồng lang xanh mướt, ngọn bò lan kín cả lối đi. Những dây khoai từ leo quanh quất. Rồi môn, hành, kiệu, rau cải, rau thơm, thứ gì cũng xanh, cũng tốt. Mấy cây đu đủ còn sót lại trên mảnh vườn cũ, được chị vun xới lại nay cũng đang đơm bông kết trái.
Khác với chị Hằng, anh Vui có nền nhà cũ trên khu đồn L.S.Sau khi đồn đã bị phá, anh đã ở lại ngay trên mảnh đất của mình. Anh cho tôi biết, trước đây vì bị địch lừa bịp, dụ dỗ, anh có tham gia vào một tổ chức phản động của chúng. Hôm rút chạy, chúng định kéo anh chạy theo nhưng anh đã tìm cách trốn ở lại với bà con xóm làng. Hiện nay, anh cũng là một trong những người dũng cảm bám ruộng vườn, hăng hái tăng gia sản xuất.


Hôm tôi vào thăm nhà, anh vừa mới đi làm về. Kể cho tôi nghe về chuyện làm ăn, anh Vui nói: "Sau ngày giải phóng, nông hội đã giúp đỡ cho gia đình tôi phục hóa, làm thêm 7 sào ruộng nữa. Mọi năm nhà tôi chỉ có 5 sào ruộng còn 5 sào nữa là làm rẽ nộp tô. Nay có thêm 7 sào phục hoá, nông hội cho biết không phải đóng tô nộp thuế gì cả. Nên tôi ráng làrn. để kiếm thêm hạt thóc cho con, đồng thời có phần đóng góp cho kháng chiến bù lại những năm chưa được vinh dự làm nghĩa vụ thiêng liêng của người công dân".


Tôi hỏi: "Bom pháo thế này, việc làm ăn có khó khăn lắm không?" Anh Vui không trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi mà nói cho tôi biết cách đây mấy hôm đám ruộng vừa cấy của anh cũng bị pháo địch bắn nát, anh đã kịp thời dặm lại toàn bộ.


Nhân dân xã T. vừa thoát khỏi vòng kìm kẹp của  địch, đang phấn khởi làm ăn như gia đình chị Hằng, anh Vui và bao nhiêu gia đình khác, nhưng trong thuận lợi cũng không phải đã hết khó khăn, ngay mới hôm qua, địch đã bắn hơn 1000 quả pháo vào giữa đồng thôn 2 trong lúc bà con đang cày cấy làm chết 7 con bò và hư nhiều ruộng đã cấy. Hiểu rõ đây là những thử thách khi được làm người dân vùng giải phóng, được tự do làm chủ, nhân dân xã T. đã bất chấp bom đạn, ra đồng cày cấy, quyết hoàn thành vụ sản xuất đông xuân.

Trong khi đó, tại những xã vùng sát nách địch, cuộc đấu tranh để giành lấy màu xanh cũng diễn ra vô cùng quyết liệt.


Xã P. có hai đập tưới nước cho gần 500 mẫu ruộng. Địch có âm mưu biến vùng này thành vùng trắng để bắt đần vào khu đồn nên chúng dội bom và dùng pháo khống chế không cho nhân dân ra sửa chữa đập. Chánh quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại âm mưu đê hèn ấy. Có những cuộc đấu tranh thu hút hàng trăm người tham gia, kéo dài từ tháng này qua tháng khác. Trong cuộc đấu tranh này, nhiều người đã bị bắt, bị đánh đập, có người dã ngã xuống. Cuối cùng, đồng bào đã đắp được đập dẫn nước về tưới cho cả cánh đồng lúa bao la. Cũng tại xã P. còn nhiều trận chiến đấu của những người tay không nhào lăn ra cản xe tăng dịch đi chà ruộng, ủi vườn của dân, giữ lấy màu xanh của cuộc sống.


Ngoài việc cày cấy trên đồng ruộng, đồng bào vùng giải phóng huyện Quế Sơn còn tận dụng dết đai ven sông và đất đai trên miệng các hố bom, trồng thêm nhiều rau, sắn. Và mặc dù bị địch giết trâu bò, làm thiếu sứe kéo, đồng bào vẫn tăng được diện tích cấy trồng. Trước đây toàn huyện có hàng chục nghìn trâu bò cày. Qua chiến tranh cục bộ, địch đã giết đi hàng loạt, hiện chỉ còn một vài nghìn con. Với tinh thần tiến công địch, bằng đôi tay và những nông cụ thô sơ, nhân dân các xã trong huyện vẫn phá ruộng, vỡ nà, tăng dần diện tích canh tác. Năm 1970, bình quân một lao động làm hai mẫu 12 thước đến năm 1972 tăng lên ba mẫu một thước. Chỉ tiêu đến năm 1973 đưa lên ba mẫu 10 thước. Nhưng nếu chỉ nhìn vào những con số giản đơn kia thì không thể nào thấy hết được những nỗ lục phi thường của nhân dân trong huyện, mà phải nhìn vào những nhát cuốc trộn mô hồi và những đường cày thấm máu. Một bên là quân thù tàn bạo có trong tay B.52, đại bác, chất độc hoá học .v.v... và một bên là người tay cuốc tay cày, hai bên hằng ngày hằng giờ đấu tranh quyết liệt với nhau. quân thù luôn tìm cách huỷ diệt màu xanh, gieo vào đó sự hoang tàn, chết chóc. Còn những người nông dân thì ra sức đẩy lùi hoang dại để gieo màu xanh, phát triển sự sống. Trong cuộc đấu tranh này, màu xanh luôn ở thế tiến công.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:28:17 pm
NỔI KỒNG LÊN ĐÓN MÙA XUÂN TỚI!

Nguyễn Hồng Trang



Kìa, đàn chim Đrao, chim ling
Chim bay, chim lượn quanh
Trên nương làng buôn rẫy
Nó hót vang rộn ràng
Kêu dân làng đón lấy
Mùa xuân đã đến rồi
!

Mùa xuân lại đến, núi rừng ta đẹp lắm, trên những đường dốc cheo leo, bên những hố bom sâu thẳm, trên những buôn làng nương rẫy, dâu đâu cũng thấy ngàn hoa đọt lá nảy lộc đâm chồi, vẫy chào mùa xuân đến. Những tia nắng vàng ấm áp, tất cả đã điểm tô cho buôn làng, cho núi rừng Tây Nguyên một màu xuân áo mới. Chúc mừng già trẻ gái trai thêm một tuổi. Chúc các dân tộc Tây Nguyên trưởng thành thêm một bước vững vàng.


Tây Nguyên ơi! Chúng ta yêu núi rừng Tây Nguyên bằng một tấm lòng chân thật, sâu sắc, vì Tây Nguyên đẹp về tấm lòng, chung thủy son sắt với Tổ quốc và dân tộc! Mỗi mùa xuân đến, người Tây Nguyên hiền lành và dũng cảm với dáng đứng mới khỏe khoắn, hiên ngang của con người chiến thắng, con người làm chủ rừng xanh.


Năm qua, các dân tộc Tây Nguyên chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ và quyết liệt, chiến đấu với quân thù. Các dân tộc Tây Nguyên đã phát huy truyền thống bất khuất của cha anh năm xưa, bám núi rừng nương rẫy, bám buôn làng, ào ạt tiến công quân thù Mỹ ngụy. Quân và dân Tây Nguyên kiên cường đánh địch cả ngày lẫn dêm, đánh địch trong các khu căn cứ, đánh địch trong đồn bót, đánh địch đi càn quét gom dân, đánh địch trên các trục lộ giao thông, đánh liên tiếp hàng trăm trận... như những mũi tên thần sắc nhọn, chọc thủng tận ruột quân thù, như sức mạnh thần kỳ của Đam-bơ-ri ngày xưa, dang đôi cánh tay kỳ diệu, đốt cháy cả kinh thành của quân xâm lược Pơ-rum, thiêu cháy thành tro bụi, thiêu cháy cá kho tàng, sân bay, căn cứ đại bác của địch và hàng ngàn tên Mỹ ngụy, làm cho lũ chúng nó kinh hồn khiếp vía.


Đây bão lửa dội lên đầu Mỹ, bão lửa của chí căm thù và lòng dũng cảm của người Tây Nguyên kiên cường bất khuất.

Nữ: Hỡi cái rừng, cái núi
      Hỡi cái sóc, cái buôn
      Hỡi trai gái, trẻ già
      Lắng cái tai mà nghe
      Những chiến công vang đậy!

Nam: Kìa, bao tiểu đoàn Mỹ ngụy
        Trên cứ điểm ngọc tô ba
        Hành quân vùng ba biên giới
        Bị quân ta đánh tơi bời

Nữ: Đây, phú nhân, Phú thiện
      Bão lửa đỏ rực trời
      Trại binh đồn bót nổ
      Lũ đầu sỏ ác ôn
      Bị thiêu cháy trong đồn

Nam: Ngọc rinh Rua còn đó
        Hàng ngàn tên Mỹ ngụy
        Căn cứ thép thành than

Nữ: Ngọc Bờ Riêng còn đây
      Pháo đài đại bác ngụy
      Voi sắc vòi xửng xỏ
      Gầy đầu đổ lăn quay.

Nam: Trên các trục giao thông
        Khắp nơi bị bố phòng
        Trăm xe tăng, thiết giáp
        Đua nhau xuống hố nhào

Hợp đồng với chủ lực, du kích Tây Nguyên cũng đã giành nhiều chiến thắng phi thường. Lấy ít thắng nhiều, thọc sâu đánh hiểm, xuất quỷ nhập thần, bắn tỉa, chông mìn cạm bẫy, giặc vào tan xác, giặc ra bỏ đời.

U-xăng người du kích công tum
Đứa con của làng K dũng cảm
Bám đất, bám dân xông vào dồn địch
Phá ấp, công đồn xây làng chiến đấu.
Biệt kích vào làng chồng nháy vợ
Y Úi quăng dao, Y Úi ôm
Bị khoá hai tay thằng giặc giẫy
Vợ giữ cho chồng chém chết luôn

 
Nữ: Bọn Mỹ Thiệu là con cọp rừng sâu, chúng nó hung dữ hại người, không kể người già trẻ nhỏ, chúng nhe nanh trổ vuốt, chúng vồ ăn thịt người. Chúng coi dân làng ta như con dế, con sâu:
     Chế độ Mỹ ngụy
     Như chỗ chôn người
     Chúng muốn làm ta chết đói
     Đói cơm, đói muối đã nhiều rồi
     Bây giờ chúng bắt ta bỏ làng di cư xuống núi
     Chết bao nhiêu rồi trong các trại tập trung.
     Giờ đây dân làng ta có du kích, dân làng ta xuống đường. Ta thức mắt rồi không bị mắc lừa nữa đâu. Khắp Tây Nguyên núi rừng đã chuyển động, người Tây Nguyên liên tiếp đứng lên: Dáo, mác, cung, tên nổi Lồng, nổi mõ, gọi nhau đoàn kết lại, theo hướng mặt trời chỉ lối, làm dúng như lời Bôk Hồ khuyên dạy, Kồng nổi lên tiến vào đồn địch, phá ấp vây đồn diệt trừ ác ôn, kéo nhau về làng cũ:
 
Hỡi lũ làng
Banh, Hơ rê, Hơmông, Sêtiêng ... và tất cả
Ta cùng đứng lên thôi, đến lúc rồi
Không đứng lên
Ta sẽ chết rũ như cây quế già lột vỏ.
Không đứng lên - Con cháu ta sẽ chết lụi như muỗi, ruồi.

 
Nam: Ta đoàn kết một dạ
        Đứng lên bố phòng
        Ta đoàn kết một lòng
        Đứng dậy đấu tranh
        Ta đoàn kết lại
        Như năm ngón tay chụm lại
        Đứng lên cho mặt trời xưa trở lại với buôn làng.

Nữ: Người Tây Nguyên ta trung kiên, thuần phác, lỗi lạc anh hùng, biết yêu và biết ghét. Thương ai rồi thì thương tận cùng gan ruột; ghét ai rồi thì ghét tận tủy tận xương. Chính cái yêu, cái ghét đó của người Tây Nguyên đã tạo nên cho họ một sức mạnh diệu kỳ làm nên bao sự nghiệp vẻ vang. Mỗi lần xuân đến, núi rừng có bao nhiêu hoa nở thì người Tây Nguyên cũng có bấy nhiêu anh hùng xuất hiện:

Đẹp hơn cả cánh "Pơ-lang"
Tươi hơn sắc "Kơ-nốt” trên ngàn ngậm sương
Mùa hoa diệt Mỹ quê hương
Thi nhau nở rộ núi rừng Tây Nguyên.


Người Tây Nguyên rất yêu cảnh đẹp của núi rừng, yêu cuộc sống yên vui, yêu những nương rẫy tĩnh mịch với mái sàn ẩn mình bên triền núi cây xanh, yêu con suối tơ rưng êm êm uốn khúc quanh làng và sống chan hòa khăng khít trong mối tình thơm thảo như "nước trong bầu'. Cũng chính yêu cái đẹp, cái gắn bó với cuộc sống nên thơ từ bao đời mà họ quyết chiến đấu để giữ lấy những gì mà mình đã yêu đã quý.


Sáng nay ta đã đi giữa tiếng pháo chào xuân mới, khắp buôn làng, nương rẫy, theo tiếng Kồng năm qua, trai gái lên đường, người gồng, kẻ địu, người đeo đạn kín người, người chất lên lưng hàng tạ gạo, tất cả, tất cả đều hướng ra phía trước, ca vang khúc nhạc hành quân.

(Nhạc cảnh đẹp trên rẻo cao)


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:29:02 pm
Làng B một làng nhỏ bên sườn núi, những mái nhà ẩn hiện dưới những tàng cây, bên con suối dài trong mát, suối trôi êm ả, lượn quanh bên làng. Đường làng sạch sẽ. Trước nhà rông các bóp mé, các em nhỏ áo thêu hoa, chiếc cà-tu viền đỏ, tay eầm hoa đỏ, hoa vàng, miệng hát vang tiễn chân lũ con gái, con trai làng lên đường đánh Mỹ ngụy. Cuộc sống yên vui, nhà nhà lúa đầy ang, rượu cay đầy hũ, tết vui với rượu với thịt cá đủ đầy. Các già làng kéo nhau đi chúc mừng năm mới. Mùa xuân đến với làng B thật vui tươi, nhộn nhịp.
Cách đây mấy năm về trước, làng B đã năm lần bảy lượt bị bọn Mỹ Thiệu đem máy bay hốt dân đi, đã từng diễn ra nhiều cuộc đấu tranh giằng co ác liệt, lũ làng kiên quyết không đi. Căm thù lũ giặc hung tàn, dân làng càng khắc sâu mối thù: "Men rượu có thể lạt mùi, muối có thể tan ra nước, nhưng cái ruột, cái tim mình đời đời kiếp kiếp không sao quên tội ác của bọn quỷ ác ôn Mỹ ngụy." Được sự giúp đỡ của mặt trận, được học tập lời Bôk Hồ chỉ lối. Tất cả người già lũ trẻ nguyện một lời:

Làng ta có suối nước trong
Giặc vào lấn chiếm bắt dân vào tù
Suối nước trong, quyết không để đục
Mỹ ngụy vào đánh gục chẳng tha
Quyết tâm bám đất giữ nhà
Giặc vô tan xác, giặc ra bị đòn.


Hôm nay ta trớ lại làng B giữa mùa xuân, làng B có nhiều đổi mới. Trên lưng đồi, dưới thung lũng, màu xanh lúa sớm, màu hồng hoa ngô, quanh làng khoai tốt tươi. Đời sống của dân làng sung túc, bếp gạo đầy ang, muối đầy ống. Người già có áo ấm, cơm no, trẻ nhỏ được hát trong làng, nếp sống mới tươi vui, ngày sản xuất và chiến đấu tôi gọi nhau đi học chữ. Cả làng ai cũng vào nhóm, tổ vần công cấy trồng. Ai cũng biết cái chữ chấm công, làm kế hoạch sản xuất, từ chỗ chỉ biết làm ruộng khô trên nương, giờ được cán bộ mặt trận hướng dẫn làm cả ruộng nước một năm hai vụ.


Năm qua vụ lúa nước đầu tiên được mùa, cả làng chiêng trống vui mừng kéo nhau ra ruộng thu hoạch. Nhìn giống lúa mới thơm nồng, các già làng lòng mừng nói với các con cháu: "Cách mạng tốt lắm! lũ làng muốn no cái bụng phải theo cái ruộng của cán bộ nói mà làm". Sau những ngày thu hoạch xong, đêm đêm già trẻ, gái trai quây quần bên đống lứa, tay cầm chày giã gạo, tiếng nhịp đều đều hoà với lời ca ngợi công ơn của mặt trận Bôk Hồ:

Bụp bùm bùm ... ơ … ơ
Bôk Hồ, mặt trận của ta…
Người cứu dân tộc mình
Cho cái hoa "gơ-mơ" nở
Cho cái nương đầy lúa
Cho cái rẫy nhiều khoai
Cho cái gái cườm đeo đầy cổ
Cho nắng tỏ mãi núi rừng
Cho tiếng đàn tơ-rưng vang mãi
Cho Bôk Hồ ta đó sống mãi... ơ… với dân làng
.

Tiếng hát cứ ngân vang như dòng suối chảy, êm mát yêu đời giữa đêm thanh gió nhẹ rừng yên. Những hột gạo mới thơm nồng được theo chân người ra tuyền tuyến đánh Mỹ. Bảo vệ dân làng cuộc sống yên vui, cho nương khoai xanh tươi, ruộng lúa mùa lúa mới, cho lũ em thơ có cái chữ học bi bô trong lớp, cho mặt trời tỏ mãi núi rừng.


Hôm nay làng B giữa nắng mai rực rỡ, hoa pơ-lang nở trắng trên đồi vẫy chào xuân mới. Tiếng cồng ở nhà rông ngân vang, trầm bổng theo gió xuân giục giã bước chân đi Già trẻ gái trai tay hoa tay cờ đỏ, lũ lượt kéo nhau đến tập trung trước nhà rông, nghe già Hiếng đại diện chánh quyền cách mạng đọc thơ chúc mừng năm mới cửa mặt trận và chánh phủ cách mạng lâm thời. Dân làng nghe mà lòng rộn ràng, vui sướng, họ quây quần trước nhà rông, tay nắm tay múa hát tiễn chân các trai làng lên đương đánh Mỹ giữa mùa xuân đông vui. Họ hát vang:

Làng ta có hoa Pơ-lang trắng đẹp
Có con suối reo hát quanh làng
Đời ta có Bôk Hồ chỉ lối
Bôk Hồ đã dạy rằng:
"Không có gì quý hơn độc lập tự do
Người Tây Nguyên chúng ta
Mãi mãi theo lời Bôk Hồ dạy
Soi sáng đường ta đi...


Tiếng hát vang mãi trong gió xuân buổi sớm, trên núi rừng hùng vĩ.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 19 Tháng Bảy, 2009, 02:37:18 pm
ĐẤT VÀ NGƯỜI CỬU LONG

Tấn Lê

Đồng bằng sông Cửu Long là cái tên gọi chung để chỉ một phần đất rộng lớn 16 tỉnh của Nam Bộ, chiếm diện tích trên bốn mươi hai ngàn cây số vuông.

Giở bản đồ Nam Bộ ra, ta sẽ thấy đồng bằng sông Cửu Long trải dài từ sông Vàm Cỏ đông đến tận mũi Cà Mau, phía bắc và đông giáp với miền Đông Nam bộ; Tây giáp Campuchia; Đông và đông nam giáp với biển đông. So với toàn bộ diện tích đồng bằng của Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long chiếm phân nửa và rộng gấp 3 lần châu thổ sông Hồng. Đây là một vùng đất mới, được thiên nhiên hết sức ưu đãi: hàng năm nước sông Cửu Long tràn về mang theo vô vàn phù sa màu mỡ (ở mũi đất Cà Mau, khối lượng phù sa bồi đắp hàng năm đến 60 thước lấn dần ra biển); mưa thuận, gió hoà, ít khi bị thiên tai hạn hán. Ruộng lúa bạt ngàn, cò bay thẳng cánh. Cây lúa không cần bón phân, tưới nước, mỗi mùa cũng thu hoạch trung bình được trên hai tấn thóc một mẫu tây. Nếu khai phá cày cấy hết diện tích vùng này và cải tiến canh tác, thâm canh tăng vụ, năng xuất bình quân có thể đạt tới 6,7 tấn một mẫu tây. Đồng bằng sông Cửu Long có thể sản xuất đủ lúa ăn cho 50 triệu người.


Rừng đước Năm Căn, rừng tràm U Minh cung cấp nguồn nguyên liệu vô tận. Trong những rừng tràm người ta khai thác 3 tầng: nuôi ong mật bằng nhụy hoa tràm, bắt cá dưới những mương nước, đốn gỗ trên mặt đất. Than đước được nhiều người ưa chuộng, xuất cảng sang cả Hồng Lông. Cá biển, cá đồng rất nhiều nên bà con ở đây có câu nói: ở đâu có nước là có cá. Thật vậy khắp một vùng đồng bằng sông Cửu Long mênh mông sông nước này là một biển cá.


Đồng bằng sông Cửu Long chẳng những giàu về lúa thóc cá mắm, than củi mà còn là một vườn cây trái khổng lồ quanh năm bốn mùa tươi tốt với nhiều thứ quả ngon, quả lạ Đi qua các vùng đất vườn của Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa đéc, Long Xuyên... dọc theo hai bên bờ sông Cửu Long, ta thấy khoan khoái dưới bóng mát của những vườn cây trái tít tắp, nối tiếp nhau như không bao giờ dứt. Nói về dừa, riềng tỉnh Bến Tre đã sản xuất gần nửa số chung của cả nước. Có những vườn dừa chạy dài hàng 30 cây số. Vì thế có câu ca dao:

“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy hoa sen nhớ đồng quê Tháp Mười"

Đất U Minh, một loại phân xốp dày hàng thước do những lớp rừng xưa ngả xuống tạo thành một vùng trồng rẫy "lý tưởng”. Trên lớp đất chính là một lớp phân mà các loại rau, dưa, bí, bắp, khoai, mì trồng xuống mười ngày là mọc lên xanh mượt.

Ấy là chưa nói đến những ruộng muối của Bạc Liêu, Trà Vinh và những "vườn chim" ở rừng Cà Mau. Ở đây có một số khu rừng chim trời tụ tập lại hàng vạn con. Người ta vào đấy bắt chim và lấy trứng đem về ăn một cách dễ dàng như bắt gà vịt nuôi trong chuồng.


Đồng bằng sông Cửu Long, một vựa thóc, một biển cá, một vườn cây ăn trái khổng lồ; một rừng đước, rừng tràm bạt ngàn với 7 triệu dân thật là một kho người, kho của đủ sức ìàm nhiệm vụ "hậu cần tại chỗ" cho cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây và cuộc chống Mỹ cứu nước hiện nay.


Bọn Mỹ nguỵ rất thèm khát cái kho của, kho người vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu có này để lấy "chiến tranh nuôi chiến tranh", dùng người Việt đánh người Việt trong âm mưu "Việt Nam hóa". Chúng dặt vừng này là vùng chiến thuật 4 và bố trí ở đây một lực lượng gồm 4 sư đoàn chủ lực: sư đoàn 7,9,21 và phần lớn sư đoàn 25. Đấy là chưa kể hàng trăm đại dội biệt động, biệt kích, nhiều đơn vị xe bọc thép, hải thuyền, không quân và gần 15 vạn bảo an, dân vệ. Những lực lượng quan trọng đó của quân ngụy, kể cả phần lớn lực lượng của hai sư đoàn 9 và 25 của Mỹ ném vào cứu nguy (1967) cũng không đứng vững nổi trước sức tấn công thư vũ bão của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long. Người dân Cửu Long đã mang trong người dòng máu truyền thống bất khuất chống xâm lược của cha ông. Từ trăm năm trước, nơi đây Nguyễn Trung Trực đã từng lập nên chiến công hiển hách: "Hỏa hồng Nhật tảo oanh thiên địa". Lời nói tràn đầy khí phách của ông: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây đến nay đã biến thành ca dao cổ vũ những thế hệ tháu con nối tiếp. Và nơi đây cũng là đất sinh ra Thủ Khoa Huân, người anh hùng mà lịch sử còn ghi, khi gươm giặc kề tận cổ mà vẫn ung dung ngâm lên lời thơ chí khí. Lịch sứ chống Pháp oanh liệt của đồng bằng sông Cửu Long, ngoài Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa ở Tân An, Thủ Khoa Huân ở Mỹ Tho, còn phải kể đến những cuộc dấy binh của hai anh em Phan Tôn, Phan Liêm ở Bến Tre, hai anh em Đỗ Thừa Lương, Đỗ Thừa Tự ở U Minh, thiên hộ Dương, Đốc Binh Kiều lấy Tháp Mười lập căn cứ...

Hàng trăm năm đã qua, truyền thống bất khuất dó của đồng bằng sông Cửu Long vẫn nối tiếp và ngày ngày phát huy cao độ.


Sau khi những cuộc khởi nghĩa cuối cùng trên đây bị thực dân Pháp dập tắt, nhân dân đồng bằng sông Cửu Long tạm thời nén chặt trong tim mối căm thù đối với quân cướp nước, chờ đợi thời cơ.  Thời cơ đó đã đến với những năm cao trào cách mạng 1930 - 1931, rồi Nam Kỳ khởi nghĩa. Mặc dù chưa được thành công nhưng những người chiến sĩ cộng sản trên đất Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân vẫn kiên gan lùi sâu về U Minh, Tháp Mười gây dựng lại cơ sở, súc tích lực lượng để bùng nổ như Cửu Long cuộn sóng vào những ngày khởi nghĩa tháng 8/45.


Qua 9 năm kháng chiến, nhân dân đồng bằng Cửu Long đã biến vùng đất trù phú mênh mông này thành mồ chôn giặc Pháp. Và hơn bao giờ hết, trong cuộc chống Mỹ cứu nước hiện nay, những con cháu của Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân đã phát huy truyền thống của cha ông đến một đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Những cánh đại bàng trên sông nước và đồng ruộng Cửu Long, như Nguyễn Minh Tua, Mai Thanh Thế, Nguyễn Văn Bé, vua đánh mìn và ong vò vẽ Nguyễn Văn Tư... phải chăng là Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân của thời kỳ chống Mỹ. Đặc biệt, qua cuộc thử thách ác liệt lần này, đất nước Cửu Long càng thêm rạng rỡ với tên tuổi của các nữ anh hùng: Út Tịch, Tô Thị Huỳnh, Tạ Thị Kiều, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Thị Hồng Gấm, Hồ Thị Kỷ.


Tất cả những người anh hùng có tên và không tên của 7 triệu dân sống trên vùng đồng bằng Cửu Long giàu đẹp này đã tỏ ra xứng đáng với truyền thống bất khuất của cha ông từ trăm năm trước. Họ đã nổi dậy quyết liệt cùng với các lực lượng võ trang tấn công vào những lực lượng của kẻ thù còn lại, giải phóng hoàn toàn quê hương Cửu Long thân yêu.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:02:39 am
LÀNG VEN SÔNG


Thanh Phương

Ngược dòng Cửu Long tôi ghé xuồng vào bến và đặt chân lên xã T.P.

Gió Cửu Long tràn về trên những bãi dâu xanh mướt phảng phất một mùi thơm dịu ngọt.

Nắng tắt. Những dòng người từ cáe ngõ tuôn về, bà con T.P và các vùng lân cận tụ hợp bên những ghe hàng. Ghe dưa hấu, bên những lưới cá tôm còn tươi rói, vẩy bạc lóng lánh. Tôi bắt đầu qua những ngôi nhà cất dọc trên bờ sông. Người qua lại tấp nập như đang chuẩn bị cho một cuộc lễ lớn.

Nhà cửa, hầm hào vẫn nguyên vẹn, ngăn nắp. T.P không hề có một dấu hiệu nào của một trận càn lớn vừa kết thúc. Tôi tự nghĩ có lẽ bọn địch chỉ dám hù doạ T.P mà thôi. Nếu cuộc càn lớn thì đâu eo cảnh lành lặn, nề nếp thế này. Nhưng những em bé đang chơi trên bờ sông đã kể cho tôi rõ. Một em trai 11 tuổi đang chạy, bị tôi nắm lại, em thở hổn hển nói:

- Chúng nó hơn 300 tên, cả máy bay nữa, nhưng chỉ dám núp ở gốc me kia kìa, còn các chú du kích thì ở hầm này, hầm kia, hầm kia nữa. Chúng nó sợ, chỉ đứng đó tưới lửa vô. Tụi em lượm được hàng thùng vỏ đạn mà không đứa nào bị sượt da.đại đội

Nói rồi em bỏ chạy, trò chơi của bọn trẻ đang thôi thúc cậu bé.

Một cháu bé gái dẫn tôi đến gặp đồng chí thường trực uỷ ban nhân dân cách mạng xã. Đó là má Hai. Má đã ngoài sáu mươi tuổi. Mới gặp tôi, tôi tưởng mình lầm. Nhưng má Hai cười và nói vui vẻ:

Tối nay chính quyền nhân dân xã tổ chức liên hoan mừng thắng lợi. Con sứa soạn tắm rửa cơm nước đi dự kẻo trễ.

Tôi chưa kịp hỏi về thắng lợi cuộc chống càn ba ngày ở xã thì má Hai đã tất tưởi ra khỏi nhà.

Không khí rộn rịp tưng bừng ngoài sân lễ, khiến tôi không kịp cơm nước nữa. Theo hướng loa phóng thanh tôi vội vã đi.

Rõ ràng, buổi chiều ngang qua đây tôi còn nhớ chỗ này chỉ là một khoảng đất trắng. Vậy mà giờ đây một sân khấu hoàn chỉnh, được trang hoàng rực rỡ, xuất hiện dưới ánh sáng xanh của hai ngọn đèn "măng sông”. Bề thế lộng lẫy với bầu không khí tưng bừng khiến tôi hơi ái ngại. Nhứt là khi nghe tiếng máy bay giặc nổi lên rè rè ở phía dưới. Nhưng nhìn quanh tôi thấy trên khuôn mặt mỗi người ai cũng rạng rỡ nụ cười bình thản:

Đèn sáng xanh. Gió từ sông Cửu Long làm các tấm màn, phông lung linh như những lượn sóng. Cuộc lễ vẫn tiếp diễn.

Má Hai thường trực ủy ban nhân dân cách mạng đứng trên lễ đài đọc bảng thành tích của quân dân trong trận đánh càn 3 ngày qua.

Với khí thế bám đất giữ làng T.P diệt 42 tên địch có cả cố vấn Mỹ, làm bị thương 15 tên, bắn rớt 2 trực thăng, thu 6 súng và 4000 viên đạn, bẻ gãy cuộc càn qui mô của địch.

Má Hai thường phải dừng lại vì tiếng vỗ tay vang dậy. Tôi nóng lòng quay sang hỏi cô gái cứu thương xã:

- Vậy bên mình có sao không?

- Tụi em chuẩn bị các thứ sẵn sàng nhưng cuối cùng chỉ đón có một anh bị đạn sướt da thôi.

- Còn bà con mình?

- Cô mở to đôi mắt sáng long lanh. Cô nói giọng hồn hậu:

- Cô bác thì mỗi người mỗi việc. Chị Út trước ở uỷ ban dân y xã giờ là hội phụ nữ giải phóng, chạy lên chạy xuống đôn đốc như con thoi. Kết quả là bà con chống càn bằng cả ba mũi: võ trang, binh vận và chính trị. Kỳ này làm xôm lắm.

Tôi hỏi cô gái "xôm" là thế nào. Cô bẽn lẽn nói:

- Xôm là mình thì hội hè, còn nó rụt cổ lại, do từ bữa bọn chủ lực bị đánh bỏ thây, bọn đồn không dám ló ra. Bà con bàn tán độ này tụi nó mắc phải cái bịnh mặt trời chưa lặn đã kéo nhau xuống máy đuôi tôm trốn về ngủ bên thị trấn. Đêm rồi mình bắt hai tên ác ôn và treo cờ, làm chủ. Bọn lính càng run sợ.

Má hai phó chủ tịch đọc xong bản thành tích rời khỏi lễ đài. Phần đầu đại hội kết thúc, trong lúc chờ đợi đoàn văn công của huyện chuẩn bị biểu diễn bà con cô bác lại trở về với những câu chuyện thời sự vừa xảy ra trong ngày. Một người nói:

- Sáng nay tôi đi chợ qua bót nó kêu lại, tưởng để nó xét thì ra nó lại nói: "Nhờ mấy bà về nói với mấy ổng để tụi tôi yên. Vì ba đồng lương mà phải bám lại đây. Chớ tụi tui ở mấy cái bót này như con cá nằm trên thớt. Mấy ổng chém lúc nào mà chẳng chết". Chị Hai ngồi kế bên cũng góp chuyện.

- Con nhỏ nó đi chợ gặp mấy thằng đó nó nhắn là về nói mấy ông gài lựu đạn nhiều thêm để tụi Mỹ mò vô banh ruột nó ra, cho hết đời bọn phách lối. Chớ lính bót không dám ra nữa đâu. Sợ thiệt tình rồi.

Từ chuyện lính bót nhắn nhẹ, bà con nhắc đến chuyện 4 lính ngụy bỏ đồn rã ngũ, rồi dện việc chính quyền đã làm bảng thành tích chống càn gởi lên trên cấp bằng dũng sĩ cho mấy chú du kích. Ai nấy đều đồng tình; có người khen chính quyền nhân dân sáng suốt, đúng là chính quyền của dân.

Một bà má, lưng hơi còng từ bên ngoài, bước vào nói:

- Chiều nay thấy hai Bê đi mua mấy cây vải ni lông, vải nhựa, vải mùng, nói là xã thưởng công cho mỗi chú du kích 1 bộ đồ, một cái mùng với 5 thước vải nhựa che mưa, hình như đứa nào cũng vui lắm.

Nghe vậy, cụ già râu tóc bạc phơ đứng cạnh nói oang oang

- Hồi cách mạng tháng 8 năm 45 cái làng này nổi dậy cướp chính quyền. Còn bây giờ thì cho tất cả thanh niên bỏ cày bừa, cá mắm để cầm súng đi hết. Rồi tui cũng đi du kích, bà nhà tôi cũng đi du kích. Đi hết để đánh cho Mỹ rút về mau.

Tiếng cười dòn dã thoải mái lạc quan và tư tin bao trùm cả sân lễ.

Đêm liên hoan kéo dài đến hơn 11 giờ khuya. Trở về nhà tôi không sao ngủ được bởi không khí sôi sục niềm vui ở quanh tôi. Có lẽ đã 12 giờ đêm rồi. Bỗng một tiếng nổ lớn từ trung tâm xã nổi lên nghe như những phát súng lịnh. Tiếp theo, hằng chục rồi hằng trăm tiếng nổ lớn nhỏ, tiếng phèng la, tiếng thùng thiếc nổi lên lẫn trên mặt sóng, lan sang tận bên vùng đồn bót giặc. Trong suốt tháng này, tiếng nổ đã lan đi khắp mọi nhà hai bên bờ sông Cửu Long. Những tiếng nổ liên tục tấn công, đánh phá chương trình bình định đặc biệt của Mỹ nguỵ, lập thành tích chào mừng kỷ niệm ngày cách mạng tháng tám và ngày độc lập 2/9.

Đêm nay tôi nằm đây mà lòng rộn ràng phơi phới niềm tin vào sự thắng lợi của nhân dân xã T.B trong cuộc chiến đấu chống phá bình định của quân thù Mỹ nguỵ.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:03:47 am
TRẬN TUYẾN U MINH

Nguyễn Linh


Tôi đi dài theo ven rừng U Minh thường khi ánh bình minh bừng chiếu những tia nắng sáng đầu tiên rực rỡ. Một tiếng gà thanh thoát vang lên từ những mái nhà màu vàng óng, toả khói lam, nằm lúp xúp bên những dòng kinh chằng chịt. Tiếng máy đuôi tôm chạy xình xịch. Tiếng bà con ít ới gọi nhau đi làm mùa.


Trên một thửa ruộng nước, một đôi trâu đang hùng hục kéo cày. Mấy con nghé vùi sình đen trũi, chạy giỡn tung tăng, cất tiếng kêu nghé ngọ. Đây đó vang lên tiếng cười nói vui vẻ của bà con đang đắp bờ, nhổ cỏ, phía trong rừng tràm bát ngát màu xanh biêng biếc còn lóng lánh sương đêm, êm và mát. Chim rừng như cùng vui lây, cất tiếng hót líu lo.

Cảnh sống một buổi sáng tươi tắn của làng xóm ven U Minh vừa được giải phóng đã gieo vào lòng tôi một cảm giác lâng lâng, nhưng cũng gợi cho tôi những xúc động, bồi hồi.

Hai năm trước đây, tôi đã có dịp đến nơi này.

Lúc đó U Minh chìm trong mưa bom bão đạn của quân thù. Một buổi chiều trong lúc chiến sự tạm lắng xuống, tôi lặng lẽ đứng trên đê đưa mắt nhìn bao quát khu rừng trùng điệp. Lửa, từng chòm lửa ngủn ngút cháy, lốm đốm khắp U Minh. Tiếng bom, đại bác đì đùng từ bốn phía vọng lại. Từng cột khói cất cao in đậm trên nền trời lặng lờ trôi, oằn oại trong chiều tà sắp tắt. Tôi quay nhìn về những thôn xóm thân yêu để mong tìm gặp một bóng người. Nhưng xóm làng, ruộng rẫy bây giờ chỉ là một màu tro xám, mờ trong sương khói. Không một bóng người không một tiếng gà gáy, chó sủa.


Mỹ ngụy cố tình hủy diệt U Minh. Chúng huy động đến 3 sư đoàn chủ lực gồm hơn chục ngàn tên Mỹ ngụy cùng tàu chiến xe tăng, đại bác, máy bay tập trung đánh phá bình định U Minh ba năm trời. Chúng giết người hàng loạt. Chúng triệt hạ xóm làng, thiêu huỷ những ngôi nhà thân yêu và hàng phục ngàn công vườn, rẫy, nguồn sống chính của đồng bào nơi đây. Từng bầy xe lội nước cán nát hàng ngàn mẫu lúa đang trĩu bông, máy bay Mỹ rải chất độc hoá học, bom napan huỷ diệt từng gốe tràm, ngọn cỏ U Minh. Vẫn chưa đủ Mỹ ngụy còn đóng đồn, cắm chốt chi chít khắp U Minh như gieo một thứ bịnh đậu mùa lên lớp da đang lành đẹp của một cơ thể con người. Tiến hành phương trình bình định, bọn chúng đã ráo riết gom dân lập bộ máy kìm kẹp, giam hãm, ngăn cách từng người dân, bắt phải lìa bỏ U Minh như phải xa lìa cái núm ruột, bầu sữa, từ bỏ cả đạo lý, thuỷ chung.


Nhưng không, nếu như Mỹ ngụy tiêu diệt được rừng xanh, tát cạn được mạch nước U Minh thấm ngọt, thì người dân U Minh vẫn sống và chiến đấu để giành lại và giữ vững đất U Minh. Dù cho cha phải lìa con, vợ phải xa chồng, nắng mưa dầu dãi, có phải lầm than làm muối, ăn đọt khoai thay cơm, người dân U Minh trước sau vẫn một lòng thuỷ chung với cách mạng, khắc cốt ghi xương mối thù Mỹ ngụy.


Từng đêm, lửa nổi dậy của quần chúng vẫn cháy trong các ấp chiến lược ven rừng. Đạn du kích vẫn róc vào đồn giặc Từng ngày qua, xác thù vẫn ngã gục trên những lối mòn thôn xóm khắp các vùng sông Đốc, Thới Bình, Vĩnh Thuận, An Biên. Có ai đếm được bao nhiêu ,đòn sấm sét của quân giải phóng giáng xuống đầu Mỹ ngụy, bao nhiêu xác giặc chồng chất ngổn ngang trong các căn cứ thứ 11, Xẻo Rô, Rạch Ráng, Bà Thầy.


Bao nhiêu trụ sắt, rào gai, lô cốt, hầm ngầm đã bị sụp đổ Cho đến nay, xác máy bay vẫn còn rải rác trên rẫy thơm Biển Bạch, Đông Hưng, trên đồng các Khánh Bình, ruộng lúa Đông Thạnh, Vân Khánh; xác tàu chiến địch chìm sâu dưới lòng sông ông Đốc, hay phơi thây thảm hai bên bờ sông Cái Tàu, sông Trém, kinh sáng Xẻo Rô.
Ba năm qua, hàng ngàn tên giặc đã bỏ mạng, hàng ngàn các loại phương tiện chiến tranh của Mỹ ngụy bị phá huỷ tại đất này. U Minh đã giáng một đòn chí tử vào kế hoạch bình định trong âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long.


Và đêm 6 rạng ngày 7/4/1971, U Minh đã vùng dậy. U Minh làm bão táp, đốt ngọn lửa đầu tiên, nổ pháo lệnh cho cả đồng bằng Nam Bộ, mở màn cho cuộc tấn công và nổi dậy quyết liệt. Các căn cứ đầu não của địch như Bà Thầy, ông Cạn, Rạch Ráng, Xẻo Bần, Ro Ghe, lần lượt bốc lửa. Sư đoàn 21 ngụy sừng sỏ gian ác bị ăn đòn.
Trong đêm ấy, dũng sĩ Lê Văn Chắt, người con của U Minh kiên cường bất khuất, người chiến sĩ xung kích dũng cảm đã hiên ngang đứng thẳng trên nóc lô cốt sở chỉ huy địch ở căn cứ Bà Thầy. Dù bị thương ở chân, Chắt vẫn bình thản giương lá cờ chiến thắng lên đỉnh cần ăngten cao vút để cho lá cờ đỏ thắm tung bay báo hiệu cho đồng bào đồng chí: U Minh đã vùng lên! U Minh đã chiến thắng!


Từ đó, hướng theo lá cờ cách mạng vẫy gọi, quân dân U Minh đã đồng loạt xông lên, bằng trí thông minh và lòng dũng cảm của mình, liên tục tấn công vào hệ thống đồn bớt, cứ điểm quân sự địch, làm chúng vô cùng hoang man khiếp sợ. Hàng loạt đồn bốt địch bị tiêu diệt, lính bỏ đồn tháo chạy. Cho đến nay dân quân U Minh đã phần lớn đất đai hàng chục xã.

Như chim sổ lồng, như cá về sông, bà con ta được giải phóng vui mừng phấn khởi trở về ruộng vườn cũ thân yêu của mình, xây dựng cuộc sống tự do, no ấm. Những ngôi nhà mới lại mọc lên chi chít ở xã B.K.M.N. v.v...


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:04:17 am
Những miếng vườn cũ được làm cỏ, những con mương cũ được sửa sang. Những luống rau mới qua bàn tay lao động của con người lại nhanh chóng phủ màu xanh bên miệng hố bom, xoá dần dấu vết tàn phá của kẻ thù. Chính quyền cách mạng xã, ấp được thành lập và củng cố. Trường học, trạm y tế được dựng lên để chăm sóc sức khoẻ đồng bào. Người dân ở đây không dấu được niềm vui, xúc động của mình trên nét mặt.

Một chị phụ nữ ở xã biện bạch nói: "Bây giờ là thời kỳ mình đánh địch và chúng nó thì chỉ có đổ!"

Anh nông dân người dân tộc Khơme ở Kinh Lục ục chỉ tay về hướng tuyến kinh sáng Vĩnh Thuận, nơi có tiếng máy bay và bom nổ khói bay nghi ngút, nói với tôi: Tụi nó ngày đêm mất ăn mất ngủ với mình.

Mỗi người dân ở đây đều thấy được thế đi lên của ta, sự thất bại của địch.

Bom đạn Mỹ hằng ngày tập trung ném ven các tuyến đồn bốt còn lại để hòng giải vây cho bọn ngụy, nhưng vẫn bất lực. Còn bọn ngụy trong đồn thì không dám bung ra, ngày nào cũng kêu cứu và đòi rút chạy.

Đồn nước Chảy (xã Vĩnh Bình Bắc) bị du kích vây chặt đến nỗi bọn giặc không còn gạo ăn, nước uống. Nghe theo lời kêu gọi của cách mạng, 22 binh sĩ trong đồn đã lần lượt lội qua sông xin hàng.

Đồn kinh Năm Biển, bị du kích vây ép mạnh. Bọn lính ở đồn này kêu pháo chi viện. Kêu mãi bọn pháo binh ở chốt kinh chính mới bắn ếm trợ được hơn chục quả.


Để trấn áp tinh thần bọn tay chân ở đồn bốt đang hoang mang khiếp sợ, tên Nguyễn Quyền thiếu tá quận trưởng quận Thới Bình khoác lác rằng: “Việt Cộng không có khả năng tấn công chi khu Thới Bình". Liền sau đó đêm 9/6, quân dân Thới Bình đã vả vào mồm hắn, tấn công chi khu quân sự này và hệ thống dồn bốt chung quanh, tên Quyền bị thương, xuýt toi mạng. Đồng bào trong ấp chiến lược bấy lâu nay mang nặng gông cùm kìm kẹp, bằng nhiều hình thức nổi dậy biểu lộ lòng căm thù địch sâu sắc và yêu thương cách mạng.


Ở ấp chiến lược C. nơi chúng tôi trú quân hôm ấy, bác nông dân X. nén đau thương khi đứa con gái tròn 20 tuổi vừa bị trực thăng Mỹ bắn chết, bác lao ngay vào việc tiếp tế cho bộ đội ăn no tiếp tục chiến đấu giết giặc.
Một thanh niên có hai ngón tay cụt đã kể lại tội ác giặc bắt lính và hăm hở tham gia cùng bộ đội xây dựng trận địa đánh địch.


Những cử chỉ ấy làm tôi xúc động và nghĩ rằng trận bão lửa này có phần đóng góp bằng sức mạnh của lòng căm thù của mỗi người dân. Dân ở đâu cũng đều sắc gắn bó với cách mạng.

Bỗng hai chiếc phản lực bay vụt qua đầu. Tôi ngước lên nhìn. Chúng chỉ để lại hai vết khói trắng đặc trên nền trời. Chúng lại ném bom quanh đồn Cái Nứa hay từ tuyến kinh sáng Vĩnh Thuận?


Mặc cho tiếng gầm rít của máy bay và tiếng ầm ầm của bom nổ, các chiến sĩ đội du kích nai nịt gọn gàng nắm chắc trong tay những khẩu súng AR15 đầy đạn vẫn hướng ra tuyến lửa. Những đội viên du kích trẻ măng mới hôm nào là những thanh niên trốn lính trong các ấp chiến lược, có người là đội viên phòng vệ dân sự, hôm nay lại hăm hở đi bao đồn. Dưới dòng kênh, các cô dân công còn mặc những bộ quần áo màu mè theo kiểu “vùng bình định" mặt hớn hớ lái máy đuôi tôm đi tiếp tế.


Đã sống qua những ngày cay đắng trong cảnh cá chậu chim lồng, đồng bào ở các xóm làng vừa được giải phóng càng quí cuộc sống mới tự do và càng dồn sức ra chiến trường để góp phần giải phóng toàn bộ U Minh. Chỉ có khi đó thì U Minh mới vĩnh viễn được sống hoàn toàn tự do hạnh phúc.


Thỉnh thoảng trên đường tôi lại gặp số anh em binh sĩ vừa rời bỏ. hàng ngũ địch trở về với bà con, chòm xóm thân yêu. Họ rải rác từ hướng trận tuyến trở về. Trận tuyến đã phân biệt rõ ràng một bên là phi nghĩa thảm bại, chết chóc khổ đau, một bên là chánh nghĩa tất thắng và nhân đạo.


Trong từng bước đi của đội du kích, dân công, từng bước trở về của những người từ trong hàng ngũ địch, tôi đã nhìn thấy hình ảnh U Minh đang đẩy lùi cái trận tuyến đang bốc lửa kia xa mãi đến tận chân trời. Và chương trình bình định U Minh của Mỹ ngụy nhứt định sẽ tan theo mây khói.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:05:36 am
TUỔI XUÂN TRÊN CHIẾN HÀO VÀ TRÊN ĐỒNG RUỘNG

Trần Tư


“…
Hôm qua bước trên cánh đồng cằn cỗi
Bốc đất lên coi, em nhớ đến phân chuồng
Gặp bà mẹ bị thương nhức nhối,
Em nhớ, đắp thêm hầm và dựng trạm cứu thương.
…!”


Em là ai mà được đi vào lời thơ, câu hát của quê hương! Tên em là Thảo, người con gái xã P (tỉnh Bến Tre) giải phóng. Người con gái ấy mới 24 tuổi xuân đã trở thành vị chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng xã . Nhớ lại năm nào Thảo chỉ là một cô bé, sớm chiều chỉ biết ruộng đồng, con trâu, bếp núc, thơ ngây, hiền hậu, giặc đến làng vừa chạy vừa khóc. Rồi qua những năm dài chiến tranh ác liệt cô gái ấy lớn lên với sông nước quê hương, là đội trưởng du kích xã, ngày đêm bám dân, bám đất chiến đấu giữ làng. Từ ngày xã P được giải phóng, lòng Thảo vui như mở hội. Người nữ du kích năm xưa kiên cường đánh địch, nay trên mặt trận xây dựng quê hương giải phóng đã xông vào lo chuyện xóm làng. ước mơ lớn nhất của cô là làm sao biến đồng ruộng khô cằn của xã thành những cánh đồng lúa tốt tươi, có trường cho các em học tập có bệnh xá chăm sóc sức khoẻ người già, trẻ nhỏ. Bao ước mơ và suy nghĩ ấy đã thôi thúc cô mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ, đạp bằng mọi khó khăn trở ngại cùng các bạn trẻ và ...chú bác, cô dì chung sức chung lòng xây dựng quê hương. Và tên tuổi người con gái ấy được đi vào lời ca tiếng hát của quê hương:

“…
Xóm làng vẫn gọi em là con Thảo con trung
Quân thù sợ em là mặt trời sự sống
Em với quê hương, rất đỗi anh hùng."


Câu chuyện về cô chủ tịch Thảo là như vậy, nhưng ở miền Nam ta ngày nay, còn có biết bao nhiêu những người con như Thảo. Đó là cả một thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Tuổi trẻ miền Nam sinh ra và lớn lên trong khói lửa đấu tranh, được trụi rèn trong gian khổ, từ khi biết nhìn đời:

"Đã từng thấy mẹ lăn trong máu
Mẹ đã vì con khổ vạn đời."


Với nỗi đau khổ của những người cha người mẹ gần suốt một phần tư thế kỷ dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược Mỹ, đã sớm dạy cho tuổi trẻ miền Nam hiểu dược cái nhục của người mất nước và giá trị của độc lập và tự do của dân tộc, hiểu được ai là bạn, ai là thù để nuôi dưỡng trong trái tim non trẻ một hoài bão lớn lao, một ước mơ táo bạo và một lòng tin vững chắc:

"Quyết hy sình, phá tan hết gông xiềng,
Cho tổ quốc muôn năm độc lập!"


Ông bà ta thường khen sức trẻ của con cháu mình là "Mười bảy bẻ gầy sừng trâu”. Lời khen ấy rất đúng. Lứa tuổi mười bảy đôi mươi ấy, được truyền thêm sức mạnh của lòng căm thù, sẽ đập tan chế độ bất công, thối nát, xây dựng một mùa xuân hạnh phúc cho đất nước, cho dân tộc Kẻ thù rất sợ lứa tuổi ấy, rất sợ thế hệ anh hùng của một dân tộc chưa bao giờ chịu cúi đầu trước bạo lực. Làm sao chúng có thể ngăn chặn được bước chân của tuổi trẻ miền Nam rầm rập xông lên trên mọi trận tuyến chiến đấu và sản xuất.


- Đây trong cuộc đọ sức với kẻ thù xâm lược Mỹ, tuổi trẻ chúng ta dã mang sẵn trong lòng tâm niệm trung với nước, hiếu với dân, "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh". Đạp trên đầu kẻ thù mà xốc tới. Lê Văn Phích mỗi trận đánh đều có một lời tâm niệm "hoàn thành kỳ được nhiệm vụ dù có phải hy sinh!" Nguyễn Văn Sơ "sống vì cách mạng là một điều vui, mà chết vì cách mạng cũng là một điều vui , Từ Văn Tư trước mặt kẻ thù anh có dáng đứng "Dù có hy sinh cũng hãy quay mặt về hướng quân thù xốc tới và trong đợt tuyên dương anh hùng lần này, đã xuất hiện nhiều anh hùng ở lứa tuổi 20, mới hai, ba tuổi quân, nhưng trưởng thành nhanh chóng như Phù Đổng. Tiêu biểu cho hành động chiến đấu vì lý tưởng độc lập tự do của những thanh niên ta là các anh hùng liệt sĩ Đồ Văn Đạo Nguyễn Văn O, các anh hùng Hồ Trung Thành, Nguyễn Minh Thắng, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị E, Y-buông, Văn Thị Xuân và nhiều anh hùng khác. Đặng Tiến lợi người thanh niên mới 20 tuổi đời, khi vượt biển đánh vào căn cứ địch, đứng trước biển cả mênh mông sóng to bo lớn, anh động viên mình v đồng đội: "Chúng ta không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, nếu có hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, chúng ta cũng sẵn sàng...


- Nguyễn Thị Phúc, 15 tuổi đời vào du kích. Vượt qua mọi con mắt cú vọ của kẻ thù, em đ nhiều lần lọt vào đồn địch diệt bọn ác ôn ... Nguyễn Thị E coi cái đau của người thương binh như của chính bản thân mình và chị thức thu đêm chạy chữa vết thương cho thương binh.


Và đây trên mặt trận xây dựng quê hương giải phóng, tuổi trẻ miền Nam đ đạp lên mọi tàn tích của chiến tranh ác liệt, mọi khó khăn, nghèo đói, bịnh tật và chết chóc, để thực hiện bằng được lý tưởng, hoài bo v ước mơ cao đẹp của mình l xy dựng qu hương giàu đẹp. Giờ đây tuổi trẻ chúng ta đang từng bước đẩy lùi ruộng hoang, lấp hố bom, san hố pháo cho ruộng đống thay da đổi thịt, cho lúa ngát đồng ấm áp làng quê. Tuổi trẻ Quảng Trị chỉ trong 15 ngày đ khai phá được 2.000 mẫu ruộng hoang, hằng ngày có hàng ngàn thanh niên tiến quân ra đồng cày cấy, làm thuỷ lợi, nhiều chi đoàn thanh niên ở các xã đi đầu trong các công tác vận dụng kỹ thuật mới trong sản xuất, đi đầu trong phương cách làm ăn mới. Đội vần công của cô xuân, người đoàn viên thanh niên xã T lúc đầu chỉ có 10 chị em nhưng với phương pháp làm ăn tập thể, dần dần đội đã lôi cuốn nhiều người tham gia, giờ đây xã T. đã có tới 10 tổ vần đổi công. Tuổi trẻ ở các tỉnh miền Trung Trung bộ, Tây Nguyên đi đầu trong công tác vận dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:06:07 am
Thanh niên làm nòng cốt trong việc cày ruộng nước, cấy lúa mới, lôi cuốn được cả dân làng làm theo. Chi đoàn thanh niên xã B. (Công Tum) đã tích cực vận động bà con dân làng vận dụng phân chuồng bón ruộng. Ở các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Kiến Tường, Vĩnh Long, Rạch Giá, Cà Mau ... có nhiều đội thanh niên xung kích trên mặt trận đồng ruộng và thuỷ lợi, như thanh niên Xã G. huyện Vĩnh Châu (Trà Vinh) đã đắp được một con đê dài năm, bảy cây số để đắp đập ngăn nước mặn. Về qua xã Trường Lưu, chúng ta có thể chứng kiến phong trào thanh niên tiến quân ra ruộng đồng hết sức sôi nổi, ngày cày cấy tối đến học tập văn hoá, hội họp bàn chuyện sản xuất tăng gia, xây dựng quê hương.


"Giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt" đều là những kẻ thù nguy hiểm của nhân dân ta, tuổi trẻ miền Nam ta cũng hiểu rằng, chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói không chưa đủ, mà cịn phải chống giặc dốt, chính vì vậy m trong phong tro văn hoá, giáo dục, văn nghệ tuổi trẻ chúng ta cũng đóng một vai trị đắc lực. Trong đội ngũ giáo dục giải phóng, có biết bao nhiêu thầy giáo, cô giáo trẻ mười tám đôi mươi đã tận tuỵ với công tác của mình. Anh chị em luôn luôn nâng tư tưởng, tình cảm và nghiệp vụ của mình sao cho kịp với yêu cầu cách mạng, góp phần vun xới cho mầm non của đất nước không ngừng trưởng thành. Cô giáo Liên, cô giáo Huệ, thầy giáo Sinh, cô giáo Hoa, thầy Hồ.v..v... ai cũng mang trong lòng một tình yêu trẻ, yêu nghề khắc phục mọi khó khăn, vừa học thêm vừa dạy tốt cho con em nhân dân.


Chúng ta hãy về thăm trường cấp I, Lộc Ninh, chúng ta sẽ thấy mỗi cô giáo, thầy giáo ở đây đều chăm lo từng tí một cho các em trong học tập, vui chơi, phòng chống bom pháo của địch .v.v... các cô coi các em như con cháu. Và đây trường sư phạm cấp I Tây Ninh, chúng ta sẽ thấy các thầy giáo ở đây đã mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ cùng với giáo sinh xây dựng một khu trường khá đồ sộ. Những ngọn đèn đêm đêm thức với các anh chị tới 1,2 giờ sáng. Chúng ta hãy về thăm xã H. (Lộc Ninh), xã V. (Bù Đốp) xã T. (Mỹ Tho), xã G. (Rạch Giá), tuổi trẻ của những nơi này đã đi đầu trong phong trào bổ túc văn hoá, xoá nạn mù chữ, và chính họ cũng là những con chim đầu đàn trong phong trào bình dân học vụ. 100% thanh niên các xã nói trên đều có trình độ lớp 4 trở lên.


Trong phong trào văn hoá, văn nghệ sĩ ở các xã, ấp thuộc miền Tây Nam bộ, thanh thiếu niên tham gia rất đông đảo. Nhiều xã, thanh thiếu niên đã thành lập đội văn nghệ với những tiết mục rất sinh động, phục vụ nhân dân. Tuổi trẻ Tây Nam bộ còn đảm nhiệm công tác cổ động truyền tin, phổ biến chính sách của mặt trận và truyền tin thắng lợi xuống tận xã ấp, mang lại một không khí phấn khởi lạc quan trong lòng mọi người.


Những bàn tay trẻ trung ấy, cũng là những bàn tay rắn chắc bám đất, bám dân, quyết bảo vệ vùng giải phóng và những thành quả cách mạng. Họ là những tay du kích trẻ, nhanh nhẹn, kiên cường, thông minh, không một chút lơ là trước mọi âm mưu phá hoại hoà bình, phá hoại vùng giải phóng của chính quyền Sài Gòn. Họ là những tự vệ trẻ ở Lộc Ninh, Bù Đốp, Đông Hà.v.v... ngày ngày tổ chức canh gác chặt chẽ, vận động đồng bào đào hầm hào phóng tránh, giúp đỡ các trường học đào hầm hào bảo vệ tính mạng và tài sản của học sinh và nhà trường thân yêu của chúng ta.


Ngày nay, với những ruộng lúa mênh mông của vùng đồng bằng Nam bộ, với những xóm làng mới dựng lại sau ngy hồ bình ở các vùng giải phóng, cuộc sống mới đang thật sự là sức mạnh lôi cuốn mọi người, đang là niềm tin yêu và lý tưởng mới của chúng ta.


Sung sướng và tự hào, tuổi trẻ chúng ta - những chiến sĩ kiên cường; những người con trung dũng của miền Nam anh hùng bất khuất, bom đạn của kẻ thù vốn không ngăn cấm được ước mơ ta, thì đói nghèo, dốt nát, đâu nhặt nổi đôi cánh đại bàng đi tới chân trời mới!


Tuổi trẻ chúng ta nguyện làm một dòng sông, dòng sông cuồn cuộn chảy, có sức cuốn trôi mọi rác rưởi và đem lại phù sa đẹp mùa lúa mới ấm lòng quê hương.


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:07:18 am
TUỔI TRẺ U MINH


Tâm Tâm


U Minh về tiết tháng ba, nước từ trong rừng chảy ra xuyên qua các lớp than bùn, có chỗ màu đỏ. Có chỗ màu đen. Đi trong rừng tràm ưa nghe trong giĩ chướng thoảng mùi ngây ngất dễ chịu, như có cô gái nọ vừa xoa dầu tràm chống lạnh đi qua, để lại một mùi hương.

Giữa trưa, ngậm một ngụm nước rừng U Minh, ta thấy có vị chát của dầu tràm, có người nói nước đó có thể dùng để chứa một vài thứ bịnh...

Nhưng, bây giờ dâu phải để nói chuyện hương hoa! mạch nước đó từ trong rừng chảy ra là màu máu của đồng bào. Mạch nước đen từ trong rừng chảy ra là màu máu giặc.


Máu đã chảy ngót bốn trăm ngày qua ở U Minh. Một cuộc bắn phá càn quết tàn bạo chưa từng thấy đã diễn ra liên miên trong khu rừng cực nam tổ quốc, trong cái "chiến dịch bình định U Minh" nằm trong âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ-Thiệu…


U Minh. Thế hệ trẻ chúng ta ngày nay có ai chưa từng nghe nhắc đến tên đó một lần? từ thuở học trò, bài học địa dư đã ghi sâu trong ký ức thơ ấu của tôi hình ảnh một vùng “đất rừng phương nam" kỳ lạ nhưng hấp dẫn biết bao, ước gì ta được đi một chuyến trên mảnh đất mênh mông kéo dài từ U Minh hạ sông Ông Đốc ở phía nam, lên tận U Minh thượng ở vùng Gạch Giá phía bắc. Ước gì được xuôi tàu một buổi chiều hoàng hôn trên dòng hai con sông Trẹm và sông Cái Tàu, phóng mắt về vùng ven biển với những rừng đước, rừng vẹt san sát một màu xóa nhòa ranh giới bờ biển với đất liền...


Nhưng nói đến U Minh là nói đến rừng tràm. Rừng mọc thành những khối xanh đều đặn như cắt xén. Đêm xuôi thuyền dọc kênh ta thấy rừng tràm hiện lên từng khối im lặng bằng phẳng kéo dài tựa bức trường thành vĩ đại Nơi đây là hội hè, tổ ấm của nhiều loại chim muông. Nơi đây khi mùa hoa tràm nở trắng, ong bướm lũ lượt kẻo nhau về mở hội lao động lấy nhụy làm mật...


Trong "đất rừng phương nam" kỳ lạ đó lại có lớp đất đặc biệt gọi là "dết phân" màu thực sự là than bùn. Đó là những lớp cây tràm lâu năm rụi xuống rồi biến thành than, lớp than đó có chỗ dày hơn một mét. Về mùa xuân, lớp than lầy lội như bùn. Mùa hạ lớp than bùn trở nên khô xốp và dễ bén lửa.


Và từ đầu mùa khô năm qua, con quỷ dữ Mỹ - Thiệu đã nhen lên trên đất này 1 ngọn lửa tội ác mới: lửa "bình định"! Chúng ném vào U Minh hai sư đoàn chủ lực ngụy số 9 và 21, cùng nhiều liên đội biệt động quân! Từ các hạm tàu ngoài bờ biển, ngày đêm pháo giặc nã rền vào các khu rừng và dọc theo những bờ kinh rạch san sát nhà cửa. Trực thăng giặc từng đàn hùng hổ đổ quân nơi này rước quân nơi nọ, nhảy cóc, nhảy dị, nhảy chụp, phóng bừa tên lửa xuống các khu rừng.


Cháy! Lửa khi thì ngùn ngụt, lúc thì âm ỉ trong các lớp than bùn. Lửa cháy đi cháy lại có chỗ chỉ còn trơ lại đất sét hạt tràm rụng xuống cũng không còn nơi để bén rễ, nảy mầm. Ruộng vườn, nhà cửa, tính mạng của hàng phục vạn đồng bào bị đe doạ.


Người dân U Minh nhìn ngọn lửa âm ỉ cháy mà cháy ruột cháy gan! Tuổi trẻ U Minh trước tội ác của giặc đã không thể khoanh tay ngồi nhìn hoặc ôm gối chạy đi để quê hương mặc sức bị quân thù đốt cháy. Cuộc chiến đấu của lớp người trẻ tuổi bắt đầu ngay từ ngày đầu giặc kéo quân về.


Ở xã B. khi nghe giặc đến, hàng ngàn đồng bào thề không đội trời chung với giặc đã mang con cái đi sâu vào rừng. Những người ở lại bám đất gồm hàng trăm thanh niên đã xung phong vào các đội du kích ấp. Họ vừa chiến đấu vừa cho gạo, bới mì đem vào rừng tiếp tế cho đồng bào. Mùa giặc đến, lúa chín đầy đồng, thanh niên du kích vừa chiến đấu bảo vệ lúa vừa gặt và cất giấu giúp cho đồng bào. Việc làm tận trung tận hiếu của tuổi trẻ quê hương đem lại cho bà con một niềm khích lệ và tin tưởng mới. Bà con lần lượt kéo nhau về đùm bọc lấy du kích. Từng viên đạn lép, từng mũi chông họ đem góp cho con em giữ làng giữ nước. Đội thanh niên du kích xã B thực sự như những con cá tung hoành trong bể nước rộng và sâu.


Cả một trung đoàn giặc chà đi xát lại một năm ròng, đội thanh niên du kích và cơ sở cách mạng xã B không những không bị tiêu diệt, mà còn lớn mạnh lên gấp bội, giặc bị đánh mãi đánh hoài, đi đến đâu bị đánh đó, có lúc trong vòng ba tháng du kích đã tiêu diệt gần 500 tên chủ lực nguỵ...


Mùa khô năm ngoái giặc kéo vào ấp 8 xã X. Đặc điểm của ấp này là rẫy kéo dài hàng ngàn mẫu, "đất phân" khô xốp rất dễ bén lửa. Nghe giặc vào, mấy cụ già lo ngại nói: "để tụi nó vô cụm quân trên rẫy, đào bếp nấu nướng rồi bỏ đó kéo đi thì một ngàn công rẫy lại biến thành mồi lửa".


Một ngàn công rẫy sẽ bị thiêu cháy. Nghe bà con cô bác nói, đám thanh niên trong ấp không thể bỏ qua được. Ai cũng biết mỗi công rẫy hàng năm gia đình họ thu hoạch được năm bảy chục nghìn đồng tiền khóm. Cháy rẫy tức là cháy cơm, cháy áo của gia đình mình phải bảo vệ lấy rẫy. Những thanh niên hăng hái nhứt rủ nhau vào đội du kích ấp. Những thanh niên còn lại thì xung vào đội cứu lửa. Công việc chiến đấu của họ sắp đặt như sau: thanh niên du kích có súng thì bám rẫy, bất cứ lúc nào thấy giặc đào bếp, nhen lửa, thì cứ nổ súng, không cho chúng nấu. Còn các đội cứu lửa thì sau những loạt pho, loạt bom; lửa cháy ở chỗ nào, thanh niên phải xông ra dập lửa và đào mương sâu không cho lửa lan ra. Cuộc chiến đấu như thế diễn ra suốt một năm trời. Hàng nghìn công rẫy ở xã X tuy có bị giặc tàn phá đôi chút, nhưng mùa thu hoạch khóm năm ấy là mùa thắng lợi.


Đánh giặc để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào. Nhưng đánh giặc còn là để giữ gìn và làm cho lực lượng mình ngày càng lớn mạnh. Đó là phương châm chiến đấu của tuổi trẻ xã Đ huyện K. mùa hạ năm 1971 sau nhiều tháng bị địch bình định lấn chiếm, xã T chỉ còn lại 3 ấp giải phóng. Cơ sở cách mạng và đặc biệt là hàng trăm thanh niên trốn bắt lính bị dồn vào đây. Giặc hung hăng định tiến hành một đợt "lấp lõm" để "khánh thành" cái xã “đã bình định" này và hốt gọn mấy trăm thanh niên đi lính.


Biết được âm mưu giặc, 10 chiến sĩ du kích trẻ ở đây cùng với những đoàn viên thanh niên nhân dân cách mạng nắm chặt tay thề chiến đấu đến cùng để bảo vệ cơ sở cách mạng và gìn giữ thanh niên. Họ bám từng liếp vườn, từng cụm rừng, chiến đấu ngày này sang ngày khác. Cuối cùng địch bị đánh bạt xuống ba ù, du kích thu được hơn chục súng.


Lấy gậy ông để đập lưng ông, lấy gậy ông để đỡ lưng mình, những thanh niên tay không "chạy lính" xin được cấp súng và tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ du kích. Mọi người nói: "không có con đường nào khác, muốn tránh khỏi bị bắt đi lính chết thay cho Mỹ thì tổ chức nhau lại, đánh giặc đến cùng."


Vài ngày sau đó, các đội du kích xã T không những đông lên gấp bội, mà tinh thần chiến đấu tuyệt vời. Các chiến sĩ du kích không những bám trụ chiến đấu, ở địa hình, họ còn xung vào ấp chiến lược, trừ diệt bọn ác ôn, phá kèm kẹp cho đồng bào. Họ còn tiếp cận hàng rào bót giặc nã súng vào và phát loa kêu gọi: "nếu tụi bây xuống càn thì tụi bây còn bị ăn đạn”. Bọn giặc trong đồn nín thinh...

Ba ấp giải phóng của xã T vẫn đứng vững. Và tuổi trẻ xã T vẫn làm chủ quê hương, làm chủ vận mạng của mình.


Tôi vừa kể xong một số chuyện trong trăm ngàn chuyện chiến đấu anh dũng chống giặc bình định của tuổi trẻ miền Tây Nam Bộ và U Minh. Quả thật gần 400 ngày qua, giặc định biến cái kho của kho người U Minh vào cái túi Việt Nam hoá chiến tranh của chúng. Nhưng nước rừng U Minh đã hòa đen máu giặc. Cây rừng U Minh đã biến thành bãi lửa, hầm chông. Lửa chiến tranh du kích và lửa của những trái tim rực tuổi thanh xuân đã áp đảo ngọn lửa bình định đầy tội ác của giặc.

Câu ca dao kháng chiến năm xưa bỗng vụt hiện trong tâm trí tôi.

U Minh vắt, muỗi, bùn lầy
Tây ở ba ngày, ta ở chín năm


Vào thời đánh Mỹ này, câu ca dao đầy hùng khí đó vẫn được tuổi tuổi trẻ U Minh viết lại và dành cho Mỹ ngụy...


Tiêu đề: Những mẩu chuyện viết từ chiến trường năm ấy
Gửi bởi: chienvit trong 21 Tháng Bảy, 2009, 07:08:04 am

XOÁ NẠN MÙ CHỮ, PHÁT TRIỂN BỔ TÚC VĂN HOÁ CHO NHÂN DÂN LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH PHẢI LÀM


Nguyễn Hồng Trang


Trọng hơn 100 năm xâm lược nước ta, bọn đế quốc thực dân cấu kết với phong kiến tay sai dùng chánh sách ngu dân vô cùng thâm độc để đàn áp nhân dân ta, chúng không muốn cho nhân dân ta biết chữ. Hơn 95% nhân dân lao động nghèo khổ Việt Nam bị thất học, dốt nát, bần cùng. Khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch kính yêu không những quan tâm đến việc diệt giặc ngoại xâm và giặc đói mà Bác cịn đặc biệt quan tâm đến việc diệt giặc dốt. Trong lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10 năm 1945, người viết: "Nhân dân Việt Nam muốn giữ vững độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải cĩ kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ!".


Nghe theo lời kêu gọi của Người, toàn dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền núi đến miền xuôi, già, trẻ, gái trai dấy lên một cao trào bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ cho nhân dân lao động, chủ yếu cho quảng đại quần chúng nông dân là lực lượng chủ lực quân cách mạng, đồng thời phát triển phong trào bổ túc văn hoá. Trải qua 20 năm chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam quang vinh, công tác bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ, đẩy mạnh phát triển bổ túc văn hoá cũng được nhà nước đặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện để nhân dân ai cũng có công ăn việc làm, ai cũng được tham gia học hành. Đến nay ở miền Bắc nạn mù chữ đã được thanh toán, nông dân tập thể miền Bắc người già nhất cũng có trình độ văn hoá lớp 1, 2, trung bình trình độ văn hoá của nông dân là lớp 4. Trên cơ sở đó, mọi người không ngừng nâng cao trình độ nhận thức cho mình, trong lao động sản xuất biết phát huy sáng kiến, vận dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, góp phần tăng năng suất cây trồng và chăn nuôi, làm ra thật nhiều của cải vật chất cho xã hội, cải thiện từng bước mức sống cho bản thân và xã hội. Có những lão nông ngày xưa sống dưới chế độ cũ dốt nát, nghèo nàn giờ đây đã trở thành kỹ thuật viên, kỹ sư nông nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong thực tế. Có nhiều kỹ sư nông nghiệp là phụ nữ lớn lên từ gia đình nông dân, từ thực tế lao động học tập mà thành công. Góp phần quan trọng đưa nền nông nghiệp miền Bắc từng bước tiến lên hiện đại.


Trong khi đó, dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam, hầu hết nhân dân lao động đều nghèo khổ, thất học. Mỹ ngụy xây dựng nền giáo dục phản động phi dân tộc, đẩy biết bao con em chúng ta sa vào con đường trụy lạc tha hoá, cam tâm làm tay sai cho chúng, chống lại nhân dân. Mặt khác Mỹ ngụy ra sức tuyên truyền xuyên tạc vu khống lừa mị để kìm kẹp, đàn áp dân ta. Chúng ra sức phá hoại truyền thống tốt đẹp "tình ruột thịt nghĩa đồng bào" vốn có từ bao đời của nhân dân ta, tạo sự chia rẽ, tị hiềm, nghi kỵ người trong một gia đình, người cùng một xóm, đến chỗ không còn ai tin ai. Chúng âm mưu đặt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ lâu dài lên đầu nhân dân ta, lâu dài chia cắt đất nước ta. Tội ác nham hiểm này của đế quốc Mỹ và tay sai làm cho đồng bào ta đã khắc cốt ghi xương mối thù này.


Từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đồng bào ta vĩnh viễn thoát khỏi cảnh đời bần cùng, tủi nhục, dốt nát, sung sướng được làm người dân của một nước độc lập tự do. Nhưng khi Mỹ đã cút ngụy đã nhào thì chúng để lại cho nhân dân ta một hậu quả hết sức đau xót, đó là: nạn đói và nạn mù chữ. Nạn đói đang từng bước được khắc phục, còn nạn thất học đặc biệt ở vùng nông thôn, hầu hết nông dân ta đều bị thất học. Chính vì vậy mà nhiệm vụ cấp bách trước mắt của chánh quyền cách mạng, của ngành giáo dục và của đồng bào ta hiện nay là phải nhanh chóng xoá bỏ tận gốc tàn tích của nền văn hóa, giáo dục phản động của Mỹ và tay sai, điều trước tiên là thanh toán nạn mù chữ cho nông dân lao động nghèo khổ. Chánh quyền cách mạng đang phát động một phong trào sôi nổi, lâu dài trong nhân dân, làm cho mọi người dân đều nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc xóa bỏ nạn mù chữ, động viên mọi người dân đều đi học. Học là để giúp mình nâng cao trình độ nhận thức; học để hiểu biết mình, hiểu biết người, hiểu biết lịch sử đất nước, dân tộc Việt Nam anh hùng, hiểu biết về truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà nâng cao lòng yêu nước, dám xả thân vì nhân dân; học để hiểu sâu sắc bản chất tàn bạo tột cùng của đế quốc Mỹ xâm lược mà không ngừng mài sắc cảnh giác cách mạng; học để hiểu thêm giá trị của lao động sáng tạo, bản chất cao đẹp của người lao động Việt Nam sáng tạo ra của cải vật chất tô điểm cho non sông ta giàu đẹp mà càng yêu lao động; học và học để tiếp thu nền khoa học tiên tiến trên thế giới, biết áp dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng nước nhà. Tóm lại như Bác Hồ kính yêu đã dạy:

"Học để làm việc, làm người
Học để phụng sự đoàn thể
Phụng sự giai cấp và nhân dân
Phụng sự Tổ quốc và nhân loại!”


Có học, học càng cao, hiểu càng sâu, để cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước được càng nhiều. Trước tiên: "Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu” thì mỏi người dân đều phải cố gắng học cho biết chữ, người biết nhiều dạy cho người biết ít để mọi người đều nng cao trình độ văn hoá khoa học. Đối với chị em phụ nữ càng phải tích cực học chữ, cố gắng vươn lên theo kịp nam giới, nắm được khoa học kỹ thuật tối - thiểu và thông thường để góp phần xây dựng đất nước.


Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, phong trào thanh toán nạn mù chữ, phát triển bình dân học vụ, bổ túc văn hoá từ trong các thôn xã, buôn làng bắt đầu dấy lên sôi nổi. Ở Ban Mê Thuộc có 90 buôn làng, khu phố ở thị xã đã xây dựng được hàng trăm lớp bình dân và bổ túc văn hoá. Các huyện miền núi và vùng mới giải phóng của các tỉnh Trị Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên mỗi tỉnh xây dựng được hàng trăm lớp bình dân. Ở Huế có những cụ già ngồi 70 tuổi vẫn còn theo con cháu đến lớp học. Ở các tỉnh Nam bộ phong trào bình dân học vụ và bổ túc văn hoá được đẩy mạnh có chiều sâu, cán bộ, nhân dân hồ hởi, phấn khởi tích cực học tập. Với phong trào như vậy, chánh quyền cách mạng, ngành giáo dục và các đoàn thể các cấp cần tổ chức hướng dẫn tốt hơn, vận dụng nhiều hình thức mở lớp linh hoạt, phổ biến phương pháp dạy và học có hiệu quả tốt nhứt, phát động khí thế cách mạng trong quần chúng mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn, phát huy vai trị v khả năng to lớn của lực lượng quần chúng các giới: thanh niên, học sinh, bộ đội có trình độ văn hoá ở các thôn xã, thị trấn tích cực tham gia, tạo một không khí sôi nổi, hồ hởi trong mọi gia đình, mọi thôn xóm hăng hái đi học.


Với nền giáo dục cách mạng vốn có ở vùng giải phóng cũ, lại được sự chi viện của nền giáo dục cách mạng miền Bắc, được sự chỉ đạo trực tiếp của chánh quyền cách mạng và ngành giáo dục các cấp, nền giáo dục của miền Nam sẽ nhanh chóng quét sạch mọi tàn dư của nền văn hoá giáo dục phản động của địch và nạn mù chữ để mọi người chung tay góp sức thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác Hồ là:

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.