Dựng nước - Giữ nước

Máu và Hoa => Một thời máu và hoa => Tác giả chủ đề:: Trongc6 trong 23 Tháng Tư, 2009, 04:39:52 PM



Tiêu đề: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 23 Tháng Tư, 2009, 04:39:52 PM
... Ngày này 34 năm trước...

      Cả Trung đoàn hành quân bằng xe ô tô suốt từ Đức lập, qua Sông Bé vào Bình Dương. Khí thế hừng hực. Chỉ có quân vào mà không có quân ra.

      Xe GMC lấy được của địch tại Cheo-reo ê chề. Ban hậu cần Trung đoàn hỏi xuống các đại đội bộ binh: có đồng chí nào biết lái xe?
      Tất nhiên là biết lái chứ không phải là lái xe, vì lái xe đâu có ở bộ binh. Tất cả những thằng biết lái xe đều được điều lên trung đoàn. Thằng Nhàn (Nam Hà) ở C tôi cũng lên. Không biết nó tập tọng học ở đâu mà cũng biết các động tác nổ máy, cài số, đạp ga, vặn Vo-lăng. Có lẽ nó chưa được lái xe tới nghìn mét. Không hề gì. Lên Trung đoàn tập huấn cấp tốc 1 ngày, nó cũng được giao 1 cái xe tải GMC để chở quân. Mỗi B bộ binh lên một xe. Mấy năm hành quân bộ rạc cẳng, nay được leo lên xe hành quân cơ giới sướng quá còn gì. Trung đoàn sắp xếp xen kẽ các tay lái, chạy trong đội hình, tốc độ chậm, lại chạy thẳng ban ngày, trong chúng tôi chỉ thấy sướng chứ không thấy sợ. Thế mà suốt mấy chặng đường dài, cả mấy chục xe chở cả Trung đoàn chẳng gặp sự cố gì.
       Qua nhiều vùng thấy bạt ngàn đồn điền caosu. Nhìn những hàng cây thẳng tắp rất sướng mắt. Các trạm nghỉ cũng trong rừng caosu. Nhưng thú thật là mắc võng trong rừng caosu không khoái bằng ở rừng. Cây mọc cách nhau xa quá, lại thấy cứ thông thống thế nào ấy. Nhìn phía nào cũng thấy lính, chỉ sợ mỗi chuyện địch nó phát hiện dội bom cho một trận thì khiêng nhau mệt. Nhưng có vẻ tình hình chiến trường bây giờ đang đổi khác. Suốt mấy ngày hành quân truy kích địch trên đường 7b từ Cheo-reo về đồng bằng Phú yên non tháng trước có thấy cái máy bay nào của địch đâu.

       Ngày 18/4 đã vào đến Bình Dương. Rừng lưa thưa. Chỗ này chắc cách xa địch. Đơn vị được bổ xung thêm tân binh. Lính mới nghe chuyện lính cũ vừa qua vài trận trong chiến dịch Tây Nguyên, thấy háo hức lắm, hăm hở chờ ra trận. Nhưng còn phải học chiến thuật đã. Lính cũ cũng phải học, vì chúng tôi đánh trong thành phố còn lớ ngớ lắm. Trận đánh Thị xã Tuy Hòa là trận đầu tiên trung đoàn đánh trong thành phố. Xung lực AK và M79 bắn không có vấn đề gì. Chúng tôi cứ nép dọc tường, hoặc tụt vào cửa nhà dân rồi lại thò ra bắn. Chỉ có B40 và B41 là có vấn đề. Lúc Đại đội vượt qua Nhạn Tháp đánh vòng sang đường Trần Hưng Đạo hướng ra biển thì vấp phải địch trụ lại chống cự. Đánh nhau trên mặt phố thì địch bị đẩy lùi dần. Khi vào đến gần bệnh viện (Tôi không nhớ Bệnh viện gì, nhưng chắc bệnh viện quân đội của VNCH, vì lúc làm chủ vào trong chỉ thấy toàn thương binh địch). Bọn địch trụ cả trên những căn nhà tầng 2, thò cả Rocket66 ra bắn vào đội hình đơn vị. Lính ta cũng điên tiết chổng B40, B41 lên bắn trả. Mấy thằng đứng xa chỉ bị tạt lửa nhẹ. Thằng Dung B tôi đứng gần quá, góc bắn cao nên khi quả B40 của nó nổ trúng một cửa sổ thì cu cậu cũng ngã lăn ra vì hơi lửa tạt làm xém cả quần và bắp chận. Nó nằm lăn ra giãy giụa. Thế là nó trở thành thương binh và đây cũng là trận đánh cuối cùng trong cuộc chiến tranh của nó.

      Chính vì thế, lính cũ và mới đều phải tập hết. Ai cũng phải tập bắn B40 để lúc chiến đấu còn có thể thay thế. Chúng tôi làm những cái chòi cao giả làm nhà gác hai tầng, rồi tập ngắm bắn. Quan sát góc nâng của súng khi bắn để tập thói quen nhìn khoảng cách. Có nghĩa là chỉ được bắn xa ở cự ly nào đó thôi, tập nhìn cho quen.
      Được cái ăn uống lúc này quá no đủ. Tụi lính mới bổ xung được ăn sướng vậy nên không tin rằng các anh lính cũ ngày trước nhiều tháng đói vàng mắt, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến ăn (Cái đói nó làm suy nghĩ con người nhiều lúc thấp kém thế đấy. Hạnh phúc mong ước nhiều khi chỉ là cả tiểu đội được một khúc dồi voi và nồi cơm đầy). Khoái cái nữa là ngay cạnh thao trường tạm ấy có một con suối nhỏ, rộng chỉ hơn 2 mét nhưng nước trong veo, mát vô cùng.

      Đêm 25/4, cả Tiểu đoàn chuyển quân. Du kích Củ chi dẫn chúng tôi về địa bàn của họ...



Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: mig21q trong 23 Tháng Tư, 2009, 04:46:21 PM
Chào mừng bác CCB chống Mỹ - bác Trọng - Đại đội 6. Hehe, em cứ tạm dịch thế! ;D


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: khanhhuyen trong 23 Tháng Tư, 2009, 06:47:02 PM
Chào mừng bác CCB chống Mỹ - bác Trọng - Đại đội 6. Hehe, em cứ tạm dịch thế! ;D

Nhiệt liệt chào mừng bác tham gia diễn đàn quansuVN.net,bác bắn loạt đầu công lực rất đầm ấm,chân chất của lính Việt cảm ơn bác,mong nhiều bài của bác.


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: hatuyenha trong 24 Tháng Tư, 2009, 07:49:56 AM
Hân hoan đón chào đ/c CCB Trọng đại đội 6 dx ey .
QSVN nhiệt liệt chờ mong các hồi ức cực kỳ quí giá của đ/c.Nhớ càng nhiều càng ít nhé.


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: Trongc6 trong 25 Tháng Tư, 2009, 08:50:58 PM
         … Cái địa đạo Củ Chi chủ yếu dùng trong thời còn Mỹ. Tụi Mỹ càn phá ghê quá, muốn bám trụ nên phải đào địa đạo. Rồi cũng lại phải sống luôn trong địa đạo vì tụi Mỹ thường càn bất thình lình. Sau 1973 thì không còn phải sống trong địa đạo nữa. Tụi lính VNCH cũng kiềng mặt khu vùng ven này.

   Cả Tiểu đoàn chúng tôi được vào thẳng một thôn. Bây giờ cũng chẳng còn nhớ cụ thể là thôn gì, chỉ biết nơi đó thuộc Củ Chi. Mỗi C về một xóm. Một B trú tại hai nhà dân liền nhau. Chỉ có BCH đại đội được vào nhà, còn lính tráng ở tất ngoài sân vườn. Trải nilon mà nằm chứ không mắc được võng. Vùng này an toàn nên du kích đi lại trên đường thôn đàng hoàng. Chúng tôi nghỉ là chính chứ không phải tập tành gì. Tất cả các cơ số đạn được bổ sung tại chỗ. Các B tổ chức lau súng đạn, gói thủ pháo và bộc phá, chủ yếu là bộc phá ống để phá hàng rào. Lúc này chúng tôi cũng chỉ đoán là sẽ đánh cứ điểm chứ cũng chưa biết sẽ đánh nơi nào.

   Ngày hôm sau, chúng tôi được phép đi lại trong xóm, thuộc phạm vi của đại đội. Cuối xóm có một cái quán bán dưa hấu. Tôi dẫn cả B hơn chục người đến đó. Lần đầu tiên sau mấy năm, chúng tôi tiếp xúc và giao dịch với dân bằng tiền. Chả là tôi có tờ 1000 đồng miền Nam.

   Nguyên do là ngay chiều 1/4 hôm đánh Tuy Hòa, lúc một tổ 3 người chúng tôi đang làm nhiệm vụ tảo thanh thì có 2 ông nhóc địa phương xán đến. Chúng chỉ độ 13,14 tuổi, Chúng nó líu ríu kéo chúng tôi đi theo. Một lúc sau mới biết không phải chúng nó chỉ chỗ nấp của tàn quân, mà là chúng dẫn chúng tôi đến một nơi gần như một chi nhánh ngân hàng gì đó. Đã có nhiều người dân tụ tập ở đó. Chả hiểu mô tê gì, một thằng bọn tôi cũng chiều ý họ, ra oai và nổ mấy phát AK phá tung cửa. Đám dân ùa vào. Rồi họ lại ùa ra cho một thằng nhóc tiến vào trong. Nó nhanh nhẹn lôi ở đâu đó một quả US cài vào cái tủ và rút chốt rồi lăn ra nấp. chúng tôi cũng chúi vào một góc khuất. Lựu đạn nổ xong mới thấy bay tung tóe ra cơ man nào là tiền. Đám dân xô vào cướp. Chúng tôi cũng ngẩn người ra như bò đội nón. Mãi đến lúc dân chạy hết, rồi một thằng bé dúi vào tay tôi một tờ tiền trước khi lủi mất, thì ba chúng tôi mới chợt nhận ra là mình vừa tham gia thụ động vào một vụ cướp nhà băng. Lại giật mình nhớ lại động tác cài lựu đạn của thằng bé lúc nãy. Sao nó thành thạo thế và không hiểu nó lấy đâu ra quả lựu đạn. Mất cảnh giác quá, may mà không ai bị sao.

    Tôi đã cất cái tờ tiền mệnh giá 1000 đồng có in hình ông Trần Hưng Đạo ấy vào túi định giữ làm kỷ niệm. Bây giờ lính tráng muốn ăn dưa hấu, dân lại không cho như trên vùng đồng bào dân tộc thì mới chợt nhớ đến cái tờ 1000 đ ấy. Tôi đưa tờ tiền ra, mới biết là giá trị nó quá to vì cô bán hàng nói là cả bọn chúng tôi cũng không thể ăn hết được dưa ứng với tờ tiền ấy. Đúng thế thật. Chúng tôi ăn chán chê, cuối cùng chỉ hết có 300đ, còn được trả lại 700đ.

   Suốt cả ngày hôm 27/4 tôi đã quan sát ngôi nhà nhỏ nằm kế bên nhà B tôi trú nhờ. Nhà có 4 mẹ con. Đứa con gái lớn 14 tuổi, còn hai đứa em còn bé, một trai một gái. Đôi lần trong ngày, đứa con gái đi qua sân của ngôi nhà tôi trú. Tôi chú ý đến khuôn mặt trái xoan với vẻ đẹp buồn của nó. Phải thú thật rằng tôi đã hành quân qua nhiều làng quê đất Bắc, nhiều đợt phải đi tiền trạm liên hệ nơi nghỉ đêm cho đơn vị. Chúng tôi xin nhờ dân từ nếp nhà trú đêm, nước tắm giặt, thậm chí cả củi rạ nấu cơm. Đa phần các làng không còn thanh niên. Họ cũng ra chiến trường như chúng tôi. Trong làng chỉ có phụ nữ, người già và trẻ em. Giúp đỡ bộ đội lúc đầu chủ yếu là dân quân nữ. Nhưng tôi đặc biệt thích các em gái 14 tuổi. Các bạn CCB hãy nhớ lại xem, thuở ấy của các bạn ra sao. Ngẫm một chút đi sẽ hiểu tại sao lại thế. Nhờ quen các cô bé 14 tuổi, tôi luôn nắm nhanh được tình hình trong thôn và hỏi được các nhà đồng ý cho bộ đội nghỉ nhờ chỉ trong một vòng  lượn.

   Bây giờ tôi không còn nhớ tên cô bé 14 tuổi đất Củ chi ấy, nhưng tôi vẫn nhớ đôi mắt to, đẹp và đượm buồn của em. Một chút gì xao xuyến. Nhưng tình cảm đó là trong sáng, đừng ai hiểu lầm gì. Rồi tôi biết tại sao mắt cô bé đượm buồn. Ba cô là một người lính cộng hòa chết trận. Mẹ cô đang ốm. Thật lạ lùng là giữa cái mảnh đất "Củ Chi đất thép" ấy tưởng chỉ toàn có quân ta, thế mà vẫn có người đi lính cộng hòa. Có thể đó là lý do khiến du kích địa phương không cho chúng tôi vào ở nhờ nhà đó. Rồi tôi biết nhà cô bé đang hết gạo ăn, chỉ toàn ăn cháo. Tôi là người đa cảm, hay chạnh lòng trước cảnh khó của người khác, nên cứ thấy day dứt.

   9 giờ tối 27/4, đơn vị báo động hành quân ra trận. Tranh thủ lúc í ới tập hợp, tôi kéo nhanh thằng Sai (dân Hà Bắc) cùng B chạy sang nhà cô bé 14 tuổi. Mấy đứa trẻ vẫn thức bên ngọn đèn dầu cạnh người mẹ ốm. Tôi dúi vào tay cô bé 700đ tiền ăn dưa còn hôm trước và bảo thằng Sai cùng tụt nhanh hai ruột tượng gạo (mỗi cái 7 ký) của 2 đứa xuống. Tôi nói nhanh: "Các chú cho gia đình cháu, thôi đừng nói gì cả", rồi hai thằng tôi chạy nhanh ra chỗ tập hợp. Thấy thằng Sai hơi thắc mắc, tôi bảo: "Nhà đó toàn con nít, má nó ốm. Đừng lo chuyện gạo. Nếu thành tử sĩ thì tao với mày có còn ăn được đâu. Còn nếu thắng, lấy gạo của địch, lo gì". Tôi thường hay có quyết định đột xuất, quyết đoán và liều lĩnh như thế đấy. Chuyện được giấu kín. Sau trận đánh mấy hôm sau, đồ lấy của địch thừa mứa, còn ai hơi đâu lo chuyện gạo ta hay gạo địch.

   Nhưng đêm đó vẫn chỉ là báo động giả. Hành quân đi ra ngoài thôn độ ngàn mét, dừng lại nghỉ một tiếng cho nó có khí thế rồi lại quay về. Hôm sau (28/4) mới là một ngày bận rộn thật sự chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng của Trung đoàn…


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Tư, 2009, 08:52:55 PM
Bác Trongc6, em tách những bài của bác ra thành một topic riêng nhé? Bác muốn đặt tên là gì? ;D


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: TQNam trong 25 Tháng Tư, 2009, 09:04:40 PM
Báo đ/c Trongc6, hình như có nhầm 1 chi tiết. Hòi đó tờ 500 đồng có in hình ông Trần Hưng Đạo là có mệnh giá lớn nhất mà?


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: Trungsy1 trong 26 Tháng Tư, 2009, 10:05:37 AM
"Bây giờ tôi không còn nhớ tên cô bé 14 tuổi đất Củ chi ấy, nhưng tôi vẫn nhớ đôi mắt to, đẹp và đượm buồn của em. Một chút gì xao xuyến. Nhưng tình cảm đó là trong sáng, đừng ai hiểu lầm gì. Rồi tôi biết tại sao mắt cô bé đượm buồn. Ba cô là một người lính cộng hòa chết trận. Mẹ cô đang ốm. Thật lạ lùng là giữa cái mảnh đất "Củ Chi đất thép" ấy tưởng chỉ toàn có quân ta, thế mà vẫn có người đi lính cộng hòa. Có thể đó là lý do khiến du kích địa phương không cho chúng tôi vào ở nhờ nhà đó. Rồi tôi biết nhà cô bé đang hết gạo ăn, chỉ toàn ăn cháo. Tôi là người đa cảm, hay chạnh lòng trước cảnh khó của người khác, nên cứ thấy day dứt."

Chào bác Trongc6 ! Bác là lính trinhsat có phải không ạ? Vì em thấy trinhsat thường có cái nhìn vào bên trong như thế này!
Chúc bác khoẻ và viết đều tay!  :D


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: Phong Quảng trong 26 Tháng Tư, 2009, 10:25:39 AM
Bác Trọng là f320 rồi, bác tiếp đi , chuyện của bác tuyệt lắm. Chúc bác khỏe thường xuyên tham gia vào QSVN


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: Trongc6 trong 26 Tháng Tư, 2009, 10:55:17 AM
     Chào tất cả các đ/c và các bạn.

      Không biết tôi có viết được nhiều và liên tục những chuyện thường và vụn vặt của một thời lính không nữa. Vì thế các bác đặt ở đây hay bỏ ra topic riêng cũng được, tùy các bác. Còn cái tên đâu có quan trọng gì nhiều. Chỉ là dạng nhớ lại pha chút suy ngẫm thôi mà.

       Mà tự nhiên lại nghĩ vơ vẩn thế này:
       Nếu từ từ mà viết dông dài cả quãng đời quân ngũ của mình, liệu có làm rác tai các bác?


Tiêu đề: Re: Có một thời như thế (phần 3)
Gửi bởi: ahuuls trong 26 Tháng Tư, 2009, 01:31:33 PM
@Trongc6
     Chào tất cả các đ/c và các bạn.

      Không biết tôi có viết được nhiều và liên tục những chuyện thường và vụn vặt của một thời lính không nữa. Vì thế các bác đặt ở đây hay bỏ ra topic riêng cũng được, tùy các bác. Còn cái tên đâu có quan trọng gì nhiều. Chỉ là dạng nhớ lại pha chút suy ngẫm thôi mà.

       Mà tự nhiên lại nghĩ vơ vẩn thế này:
       Nếu từ từ mà viết dông dài cả quãng đời quân ngũ của mình, liệu có làm rác tai các bác?
.........................
Bác cứ khiêm tốn ,dông dài nhưng là chuyện của lính mà bác ngại gì diễn đàn này có đủ chỗ cho các câu chuyện của bác , như vậy sẽ làm cho thế hệ con cháu hiểu hơn về những hi sinh mất mát và những cống hiến của các bác hơn mà,có yêu cầu về bản đồ bác cứ yêu cầu các anh em ở đây sẽ nhiệt tình giúp cho bác ,bác cứ làm đi ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 27 Tháng Tư, 2009, 02:46:58 PM
         ... Suốt ngày 28/4, chúng tôi tập trung chuẩn bị lần cuối cùng. Mỗi người lính viết tên, đơn vị và quê quán của mình vào một tờ giấy rồi cho vào túi nilon cất nơi túi áo ngực. Ai hy sinh hay bị thương cứ nằm lại, sẽ có du kích địa phương giải quyết, còn đơn vị cứ tiến.  Chúng tôi được phổ biến là toàn sư sẽ đánh căn cứ Đồng Dù của sư 5 VNVH. Đây là trận đánh quan trọng cho một hướng tấn công vào Sài Gòn của chiến dịch HCM. Cán bộ từ Trung đội trở lên được tập trung để nghe Tiểu đoàn phổ biến nhiệm vụ. Toàn Trung đoàn sẽ tập trung một mũi cửa mở, nhưng thực chất chỉ có một D chúng tôi với sự chi viện tối đa hỏa lực của E sẽ mở cửa đột phá. Một D khác nằm phía sau dự bị và đánh chặn viện binh. Một D làm công tác đảm bảo. Sẽ có 4 xe tăng T54 phối thuộc cho cửa mở của D tôi. Trong đội hình tiểu đoàn, C5 đi đầu làm nhiệm vụ chính là phá các lớp rào để mở cửa, C tôi sẽ phụ đánh cửa mở và chiếm lô-cốt đầu cầu. Vì thế ở C tôi,  mỗi A chỉ mang theo 1 bộc phá ống. Tiểu đoàn trưởng phổ biến nhiệm vụ thông qua cái sơ đồ căn cứ vạch nguệch ngoạc trên nền bãi đất đầu thôn. Thú thực chúng tôi cũng chưa hình dung ra nổi cái căn cứ địch lớn thế nào. Ngay cả chuyện chúng có bao nhiêu quân trong đó, vũ khí ra sao cũng không được phổ biến rõ. Chỉ biết rằng cả sư cùng đánh căn cứ này trong cái thế của ta đang đà chiến thắng như chuyện đánh dọc miền Trung vừa qua, mỗi ngày ta giải phóng một tỉnh.

         Đánh trong cái khí thế ấy thì không phải lo lắng bàn cãi gì cả. Sống chết đã có số. Nhưng cái thông tin căn cứ địch có tới 8 lớp hàng rào với chiều sâu hơn 200 mét, có cả hàng rào cũi lợn thì chúng tôi cũng đã hình dung ra mở cửa sẽ vất vả thế nào. Đơn vị chúng tôi đã nhiều lần đánh cứ điểm kiên cố, nhiều trận đánh cùng xe tăng, nhưng chưa khi nào gặp hàng rào cũi lợn, kinh nghiệm phá loại rào này chưa có. Chúng tôi ngầm hiểu và lường trước đánh căn cứ này sẽ khó thế nào. Thực tế xảy ra còn hơn sức chúng tôi tưởng tượng nữa cơ. Còn sống sót sau trận đánh thật quả là "may hơn khôn".

   Cơm chiều xong, mỗi chúng tôi nhận một túi cơm kèm một ít thịt rang và chuẩn bị tiềm nhập. Trận này chúng tôi không có cả bao cát lẫn tre gỗ để vào trận làm công sự có nắp như hồi đánh địch trên Tây Nguyên. Ba-lô, súng đạn cá nhân mang theo hết. Có phải là điềm gở không, khi chỉ huy đơn vị yêu cầu tất cả chúng tôi đều phải mặc bộ quân phục mới vừa được phát bổ xung trước đó có mươi ngày?

   Tầm chín giờ tối thì đơn vị xuất phát. Du kích Củ Chi và trinh sát dẫn đường. Ra khỏi thôn một đoạn thì bắt đầu toàn là trảng trống. Đêm không trăng nhưng không gian như sáng ửng lên nhờ những vùng sáng đô thị và khu cư dân phía xa. Đường bằng, người sau bám người trước đi rất dễ. Cuối cùng chúng tôi cũng đến một cánh rừng cao su. Lại rồng rắn đi qua rừng. Chợt bừng lên một vùng không gian rộng mênh mông khi vừa qua rừng cao su. Căn cứ Đồng Dù hiện ra choáng ngợp ngay trước mắt cách chúng tôi chỉ chừng bảy tám trăm mét. Nhìn rõ ánh điện sáng dọc rào căn cứ như những cột đèn đường trong cái sân bay Bạch Mai ở Hà Nội ngày tôi còn ở nhà. Ngay thẳng hướng chúng tôi có một cái chòi gác cao đến 15 mét có mắc đèn pha rọi sáng cả một vùng không gian trước căn cứ. Nhìn rõ cả những lớp hàng rào bao quanh căn cứ. Cảm giác rất lạ trào dâng. Cứ như đi đánh trận giả ấy. Tưởng thằng địch ngồi trên chòi gác cũng thấy rõ chúng tôi, hóa ra không phải. Từ vùng sáng nhìn ra rừng cao su chắc cũng chỉ thấy lờ mờ. Chính vì thế toàn bộ C5 và các đơn vị hỏa lực của D, của E lọt vào sát trong cả hai lớp hàng rào để đào công sự mà địch vẫn không biết.

   Đại đội tôi triển khai phía sau ngoài hàng rào, cách các lô-cốt địch cũng phải gần 300 mét. Đất thịt pha cát, đã qua vài cơn mưa đầu mùa nên rất mềm. Chỉ chừng nửa tiếng, mỗi chúng tôi đã đào xong công sự cho mình. Thực chất chỉ là những cái hố cá nhân. Vì là bãi đất trống nên phía trước không được vun cao đất, chỉ đắp một quầng đất lùm lùm lên một chút làm vật che đỡ. Lạ cái là cả mấy trăm con người đào công sự rào rào như vậy mà địch vẫn không hay biết gì. Đào xong hầm vẫn còn rất sớm. Không thể ngủ, nhưng cái cảm giác bình yên lớn đến nỗi chúng tôi thoải mái nằm dài ra trên đất ngửa mặt nhìn trời đêm. Không gian mát mẻ, cảm giác như đêm hè nghịch ngợm kéo nhau ra bãi tha ma dọa nhau chán rồi ngủ quên ngoài đó…



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trucngon trong 27 Tháng Tư, 2009, 02:52:27 PM
Bác cứ tiếp tục nhé! Những kỉ niệm về một thời oanh liệt không dễ ai có thể viết thành nhật kí. Đây là nguồn tư liệu quí và là kinh nghiệm cho thế hệ sau này. Chúc bác khoẻ! nếu có điều kiện tôi cũng xin tham gia!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 27 Tháng Tư, 2009, 03:11:01 PM
Năm 1989 tôi có dịp vào căn cứ Đồng Dù trong dịp tập huấn bảo đảm Hậu cần do sư 9 QĐ4 đăng cai. Ngồi trên xe chạy trong căn cứ đươc nhìn thấy những gì còn sót lại sau 15 năm của một cắn cứ lớn trước kia, bằng cẳm giác của người lính tôi hình dung đây là trận đánh rất khó khăn dù lúc đó ta đang mạnh như trẻ tre. Hôm nay được bác Trong c6  người thực việc thực kể lại thật sự không chỉ riêng tôi mà tất cả anh em trong QSVN đều muốn nghe về trận đánh ngày đó của f320. Bác tiếp đi nhé


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 27 Tháng Tư, 2009, 03:20:01 PM
 Bạn trong c6 thân mến,QSVN có được một người như bạn là rất tuyệt,vì có người tham gia chiến trận nhưng không viết được, mà có người viết được lại không được tham gia.Các bạn CCB ta ơi,bạn nào còn viết được còn nhớ được cố viết lại sự thật để con cháu ta biết sự thật mà chả phải con cháu đâu mà cả chính chúng ta nữa ,mặt trận này không biết hết tình hình của mặt trận kia.Sau  34 năm là quá vô giá rồi bạn ạ.
Chuyện của cả đời lính nữa,nhớ được đến đâu kể đến đó,chịu khó tý bạn nhé.
Cả bạn Trucngon nữa viết đi bạn ,hồi ức quí báu của các bạn vô giá đấy  ,chúng tôi chờ nhé.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 27 Tháng Tư, 2009, 03:47:55 PM
Chào mừng bác Trongc6! Mong bác vững tay phím!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 27 Tháng Tư, 2009, 07:33:32 PM
Bác tuấn sờ hay bác rongxanh làm tý bản đồ cho nó xôm ,động viên bác trongc6@ vững bước trên chiến trường giải phóng Sài-gòn đi ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tranlam99 trong 27 Tháng Tư, 2009, 09:00:20 PM
Chào bác trongc6@, dưới đây là sơ lược trận đánh của đơn vị bác qua lược sử sư đoàn 320 quân đoàn 3. Mong bác cho biết thêm về các phiên hiệu đơn vị (trung đoàn, tiểu đoàn) của bác để tiện theo dõi nhé. Ngoài ra hình như sư đoàn 320 có trung đoàn 52 chứ không có trung đoàn 9 phải không bác.

 
--------------------
Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù

Tổ chức chỉ huy: Thượng tá Bùi Đình Hòe - Tư lệnh Sư đoàn, Thượng tá Bùi Huy Bổng - Chính ủy Sư đoàn, Thượng tá Ngô Huy Phát - Tư lệnh phó Sư đoàn.

Mục tiêu tiến công: Căn cứ Đồng Dù thuộc huyện Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa (cũ).

5 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, Sư đoàn nổ súng tiến công. 7 giờ 30 phút, bộ binh và xe tăng xung phong nhưng trên hai hướng cửa mở của Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 9) và Tiểu đoàn 3 (trung đoàn 48) đều bi địch bịt cửa mở.

- Hướng chủ yểu: Tiểu đoàn 1 (thiếu Đại đội 9) cùng xe tăng đánh chiếm được khu bãi tập chiến thuật bắt 50 tên, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3) đã chiếm được đầu cầu. 8 giờ 30 phút đến 9 giờ 30 phút Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) cùng 4 xe tăng đánh chiếm khu công binh, hậu cứ trung đoàn 46 bắt gần 100 tên, phát triển lên sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy; Tiểu đoàn 2 đánh vào tiểu đoàn 25 công binh bắt 30 tên, phát triển đánh chiếm khu thông tin. Đến 9 giờ, Đại đội 9 (tiểu đoàn 3) cùng 4 xe tăng đột phá được vào bên trong tổ chức thành 2 mũi chiếm khu pháo binh, hậu cứ trung đoàn 46, đánh chiếm sở chỉ huy trung đoàn 50. 10 giờ 30 phút tiểu đoàn 1 cùng xe tăng phát triển đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy bắt nhiều địch.

- Hướng thứ yếu Trung đoàn 9: 9 giờ Đại đội 7 (tiểu đoàn 5) một bộ phận dự bị cùng Tiểu đoàn 1 6 súng 12,7mm đã tiêu diệt 100 tên, bắt 135 tên (tiểu đoàn 3, trung đoàn 50, đến phản kích). Tiểu đoàn 5 (trung đoàn 9) chưa vào bên trong căn cứ, Tiểu đoàn 4 (thiếu) bị mất liên lạc với Trung đoàn nhưng đã tiêu diệt 4 xe tăng địch, bắt gần 100 tên. 10 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 5 đột phá được vào trong căn cứ chiếm khu huấn luyện bắt 200 tên, Tiểu đoàn 4 đánh chiếm khu vận tải và tiểu đoàn vận tải 333.

11 giờ 30 phút ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đồng Dù.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Tư, 2009, 09:07:21 PM
Ngoài ra hình như sư đoàn 320 có trung đoàn 52 chứ không có trung đoàn 9 phải không bác.

e52 về QK5 giữa 72 (ở thời điểm 4/75 là lữ 52 đi cùng QĐ4).
e9/f968 về f320 khoảng cuối 74 đầu 75.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: graywolf83 trong 27 Tháng Tư, 2009, 09:45:04 PM
mong bác vững tay phím để những kẻ hậu sinh như bọn cháu hiểu đc sự khốc liệt của chiến tranh qua con mắt của những người lính chứ không phải của các đạo diễn hay những người viết sử . Đọc bài của các bác mà cháu tưởng tượng như đang tham gia trận đánh , - căng thẳng và hồi hộp  :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 27 Tháng Tư, 2009, 10:19:16 PM
Chào bác trongc6@, dưới đây là sơ lược trận đánh của đơn vị bác qua lược sử sư đoàn 320 quân đoàn 3. Mong bác cho biết thêm về các phiên hiệu đơn vị (trung đoàn, tiểu đoàn) của bác để tiện theo dõi nhé. Ngoài ra hình như sư đoàn 320 có trung đoàn 52 chứ không có trung đoàn 9 phải không bác.
 

Hehe, có khi bác trongc6 bây giờ lại là sếp lớn ... nên ngại nói ra!  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 27 Tháng Tư, 2009, 10:52:06 PM
        Vài thông tin trả lời nhanh các bác thế này:

Trong chiến dịch HCM, F320A có các E làm nhiệm vụ sau:
- E48 mở cửa hướng Đông căn cứ Đồng Dù.
- E9b mở cửa hướng Tây Bắc căn cứ Đồng Dù.
- E64 hỗ trợ Đoàn DC 198 chiếm Cầu Bông cầu Sáng, sau đó đánh sân bay Tân Sơn Nhất.

     Căn cứ Đồng dù là hậu cứ Sư 5 VNCH chứ không phải Sư 25 (VNCH không có sư 25) chắc mấy ông viết sách nhầm vì hồi 1965 xây dựng, đây là căn cứ của sư 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ, sau khi rút thì sư 5 VNCH thế chân.

    Tôi ở D2 (K18), E9b. Trung đoàn tôi không có tiểu đoàn 4 hay tiểu đoàn 5. Chỉ có D1 (K15), D2(K18) và D3 (K16).

     Nếu tài liệu bác TranLam99 đưa ra là đúng thì tôi không còn gì để kể nữa.

     Gửi các bác lời chào trân trọng.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:00:22 PM
        Vài thông tin trả lời nhanh các bác thế này:

Trong chiến dịch HCM, F320A có các E làm nhiệm vụ sau:
- E48 mở cửa hướng Đông căn cứ Đồng Dù.
- E9b mở cửa hướng Tây Bắc căn cứ Đồng Dù.
- E64 hỗ trợ Đoàn DC 198 chiếm Cầu Bông cầu Sáng, sau đó đánh sân bay Tân Sơn Nhất.

     Căn cứ Đồng dù là hậu cứ Sư 5 VNCH chứ không phải Sư 25 (VNCH không có sư 25) chắc mấy ông viết sách nhầm vì hồi 1965 xây dựng, đây là căn cứ của sư 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ, sau khi rút thì sư 5 VNCH thế chân.

    Tôi ở D2 (K18), E9b. Trung đoàn tôi không có tiểu đoàn 4 hay tiểu đoàn 5. Chỉ có D1 (K15), D2(K18) và D3 (K16).

     Nếu tài liệu bác TranLam99 đưa ra là đúng thì tôi không còn gì để kể nữa.

     Gửi các bác lời chào trân trọng.
ấy chết, bác tranlam99 đưa ra chỉ là tài liệu thêm thôi a, còn mọi người ở đây vẫn mong được đọc tiếp bài của bác, không chỉ là diễn biến trận đánh "nhìn từ trong ra", mà còn là suy nghĩ, tình cảm,... của bác lúc đó nữa.
Thông tin của bác tranlam thì có thể đọc được trong sách, chứ thông tin của bác thì chỉ có...đợi bác viết thôi.
Rất mong được đọc bài của bác!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:07:20 PM

ấy chết, bác tranlam99 đưa ra chỉ là tài liệu thêm thôi a, còn mọi người ở đây vẫn mong được đọc tiếp bài của bác, không chỉ là diễn biến trận đánh "nhìn từ trong ra", mà còn là suy nghĩ, tình cảm,... của bác lúc đó nữa.
Thông tin của bác tranlam thì có thể đọc được trong sách, chứ thông tin của bác thì chỉ có...đợi bác viết thôi.
Rất mong được đọc bài của bác!

Hehe, bạn smilingmen nói đúng đó bác trongc6! Cái kia là thông tin trong sách sử F320. Còn chuyện của bác là chuyện kể của lính nó có cái hay riêng bác ạ!
-------------------
PS: Cái sư 25 VNCH cũng mang tên "tia chớp nhiệt đới" như Mỹ. Năm 72 quần nhau với sư 7 chủ lực Miền tại khu vực suối Tàu Ô hơn trăm ngày!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:19:58 PM
Bác cứ tiếp tục nhé! Những kỉ niệm về một thời oanh liệt không dễ ai có thể viết thành nhật kí. Đây là nguồn tư liệu quí và là kinh nghiệm cho thế hệ sau này. Chúc bác khoẻ! nếu có điều kiện tôi cũng xin tham gia!

Bác " Nói Thẳng" em hợp gu với bác,nên em cũng trucngon luôn.Chúc mừng bác vào quansvn.net,bác à bác đã là lính,là cựu chiến binh,đây là sân chơi của của anh em cựu chiến binh,là nơi mình kể cho nhau nghe về những năm tháng chiến tranh trong đó có mỗi chúng ta.Bác không viết là có lỗi với anh em ở đây đó,mong bài của bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tranlam99 trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:20:39 PM
Bác trongc6 à, thông tin tôi đưa ra là ở trong topic  "Lịch sử Đại đoàn Đồng Bằng - Sư đoàn 320 - Biên niên sự kiện 1951-2005" của quansuvn thôi

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=4593.40

Phần này chỉ cho thấy được khung cảnh của cả trận đánh để nhìn thấy được mũi tiến công của đơn vị  bác ở đâu. Còn cái ác liệt thì thấy rõ vì trung đoàn 9 của bác đã bị địch bít cửa mở. Tuy nhiên trong sách lịch sử thì nhiều khi không có sự thật thực sự vì đó là chính sử (bác cũng thông cảm, cái này các bác CCB cũng than phiền nhiều). Rất mong bác cứ kể tiếp những hồi ức của mình. 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mực tàu 4 trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:23:54 PM
Bác TRONG c6 ! Sao thế bác ?
Bác TRANLAM 99 chỉ đưa ra  vài chi tiết mà bác ấy lấy của người khác viết để chúng ta cùng tham khảo thôi chứ có gì đâu. Mà người viết thì nhiều khi nghe kể lại hoặc cũng nhặt từ cái nguồn nào đó . Tam sao thất bản . Ngay các sự kiện lớn của lịch sử hiện đại các ông ấy còn cho con em học sai nữa là . Bác là người lính trực tiếp cầm súng trong từng trận đánh . Lời kể của bác giá trị hơn nhiều vì nó có chất thật của lính . Nó có cái thực tế của chiến trường mà các ông kia ko biết hoặc có biết thì cũng ko thể nói ra được . Tiếp đi bác . Còn 24 tiếng nữa mới tạm gọi là hết chiến dịch . Một ngày cuối của cuộc chiến (lý thuyết ) . Em chờ bác cho ra nốt những sự kiện trọng đại đời lính của bác . Rồi thời gian quân quản nữa . cái này trên QUANSUVN hình như chưa có ai  nói tới .
 Nữa đi anh !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 27 Tháng Tư, 2009, 11:45:15 PM
hehe , mỗi lần nghe cái ông mực tàu này : nữa đi anh ! là em nổi da gà  ;D chắc bác mực tàu nghe câu này mỗi ngày hay sao ấy  ;D
@trongc6 : hehe , bác kể chuyện hay lắm tiếp đi bác , anh em trong này rất thật tình chứ không có ý gì đâu ạ , xung phong tiếp bác nhá  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 28 Tháng Tư, 2009, 02:28:06 AM
hehe , mỗi lần nghe cái ông mực tàu này : nữa đi anh ! là em nổi da gà    ;D chắc bác mực tàu nghe câu này mỗi ngày hay sao ấy  ;D
  "Sư phụ" mà còn nổi da gà thì chắc anh em tôi phải nổi ... da ngỗng  ;D Cứ có bác Haanh là có .... "vui vẻ"  ;)
Gửi bác Trọng : Bác cứ tiếp đi bác ! Bọn em đang mong nghe tiếp chuyện của bác . Biết đâu sau này các ông viết sử lại tham khảo bài viết của anh em CCB ở đây để sửa lại những gì viết thiếu , sai hoặc không chính xác .


   


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 28 Tháng Tư, 2009, 08:00:26 AM
Bạn Trong c6 thân ,theo tôi tư liệu của bạn là chuẩn xác ,người ta viết sai lịch sử do nhiều nguyên nhân lắm: viết theo ý xếp,do lười tìm hiểu ,có người còn có mục đích cá nhân gì gì đó nữa,vì vậy QSVN rất cần những hồi ức của các bạn CCB xịn ta.Rất mong chờ các hồi ức tiếp theo của bạn.
 Chúc bạn khỏe ,nhớ và viết được nhiều hơn cho QSVN .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:03:25 AM
Bác Trongc6 ơi!

Em vừa đưa lên toàn bộ cuốn lịch sử " Đoàn Bình giã - E1, F9 ". Em muốn tận tay ngồi gõ từng chữ ( dù hơi mỏi ) để xem lại lịch sử của chính cái trung đoàn mình từng sống và chiến đấu ( nếu số hoá thì không thể xem chi tiết như ngồi đọc và gõ ). Em thấy rằng, không đâu xa mới có cách nhau 15 - 20 năm thôi, người viết sử đã quên mẹ nó các sự kiện rồi. Ngày tháng thì sai, các sự kiện thì nhầm lẫn hoặc lờ đi ( vô tình hay cố tình ). Đọc mà thấy tức anh ách bác ạ.

Diễn đàn này mở ra là nơi anh em ta nói với nhau những chuyện rất thật của đời lính, nó có thể đã được ghi lại ở đâu đó hoặc chẳng có ai thèm biết tới.

 Viết tiếp đi bác ! Bác cứ viết những gì nó đã xảy ra, bọn em ngồi hóng cổ chờ bác đó!
( Em chỉ tiếc cái thời gian bắt đầu câu chuyện của bác nó gần 30/4 quá. Giá mà bác dịch lên từ 01/03/1975 thì em thích hơn... Em hơi bị tham mà )


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:07:45 AM
Trợ lý viết sử đáng nhẽ phải nằm ở ban Tác chiến, chứ đằng này lại hay nằm ở ban Chính trị!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trucngon trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:12:16 AM
        Vài thông tin trả lời nhanh các bác thế này:

Trong chiến dịch HCM, F320A có các E làm nhiệm vụ sau:
- E48 mở cửa hướng Đông căn cứ Đồng Dù.
- E9b mở cửa hướng Tây Bắc căn cứ Đồng Dù.
- E64 hỗ trợ Đoàn DC 198 chiếm Cầu Bông cầu Sáng, sau đó đánh sân bay Tân Sơn Nhất.

     Căn cứ Đồng dù là hậu cứ Sư 5 VNCH chứ không phải Sư 25 (VNCH không có sư 25) chắc mấy ông viết sách nhầm vì hồi 1965 xây dựng, đây là căn cứ của sư 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ, sau khi rút thì sư 5 VNCH thế chân.

    Tôi ở D2 (K18), E9b. Trung đoàn tôi không có tiểu đoàn 4 hay tiểu đoàn 5. Chỉ có D1 (K15), D2(K18) và D3 (K16).

     Nếu tài liệu bác TranLam99 đưa ra là đúng thì tôi không còn gì để kể nữa.

     Gửi các bác lời chào trân trọng.
Cho tôi được tham gia ý kiến về vấn đề này!
Đây là mũi tiến công theo hướng Tây Bắc của quân đoàn 3 do Vũ Lăng là tư lệnh, Đặng Vũ Hiệp là chính uỷ.Gồm các sư 316, 320A, và 10. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu là đập tan sư 25 nguỵ(Lý Tòng Bá là sư trưởng) tại căn cứ Đồng Dù.Sư 25 ngụy đảm nhiệm phòng thủ tại các khu vực Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa.
Còn sư 5 ngụy đảm nhiệm Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương, cùng với các sư 22, 18 một số lữ thủy quân lục chiến đảm nhiệm vòng ngoài bảo vệ nội đô Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:14:48 AM
Trợ lý viết sử đáng nhẽ phải nằm ở ban Tác chiến, chứ đằng này lại hay nằm ở ban Chính trị!

Ừ, lão trung úy Nguyễn Anh Tính này ở ban chính trị Trung đoàn thật!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:31:17 AM
      Vài lời bày tỏ với các bác:

         - Cảm ơn các bác đính chính, và tôi xin lỗi các bác là trí nhớ kém quá. Không hiểu sao tới giờ tôi (và anh em lính đồng ngũ khi gặp mặt) khi ôn về trận Đồng Dù vẫn cứ nghĩ cái Sư của chuẩn tướng VNCH Lý Tòng Bá là sư 5. Hóa ra sư 25 mới đúng. Vậy tôi sẽ sửa lại đôi chút để gửi tiếp bài các bác đọc.

       - Tôi rất sợ cái trách nhiệm viết sử, vì mình không có nhiệm vụ đó, không có tài liệu để biên soạn. Tôi chỉ xin kể để các bác nghe dưới góc độ người lính, tôi đã thấy gì, nghĩ gì, không dám có ý định đính chính sử sách. Vì thế có thể tôi kể không chính xác được cảnh toàn trận, cũng như không nói lên được rõ quân số tham gia hay số tổn thất của trận đánh, các bác bỏ qua cho.

       -@bác LeThaiTho: Khi tôi đăng ký QSVN để viết bài thì đã là ngày 23/4/2009 rồi, nên đành kể từ mốc đó. Thời gian trước thì để ngày 40/4 qua đi, tôi sẽ dần dần kể. Mà kể dông dài từ mùa xuân 1971 được không bác?




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:37:39 AM
Ái chà bác có chơi Lamson719 không? Hê hê, các bác cựu oánh Mỹ đã vào nhiều rồi!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: angko krao trong 28 Tháng Tư, 2009, 10:00:37 AM
      Vài lời bày tỏ với các bác:

         - Cảm ơn các bác đính chính, và tôi xin lỗi các bác là trí nhớ kém quá....  Mà kể dông dài từ mùa xuân 1971 được không bác?

Xin chào bác Trongc6 ! Bao nhiêu năm tháng đã qua + bao biến động của cuộc sống, sự nhầm lẫn của trí nhớ là chuyện bình thường thôi bác à ! ::) Bác cứ viết tiếp những hồi ức của bác để chia sẻ cùng ACE trong QSVN. Bác cứ "dông dài" từ khi nhập ngũ, tới ngày ra quân và tới bây giờ luôn cũng được ! ;D Nhiều người ngóng bài của bác đấy!  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 28 Tháng Tư, 2009, 10:21:24 AM
Hoan hô chuyện lính của đ/c Trongc6, bạn hiểu trách nhiệm viết SỬ nặng nề quá,bạn và đồng đội cửa bạn chính là  CHÍNH SỬ đấy ,tất cả anh em trong QSVN đều đang ngóng trông những dòng hồi ức của các bạn  ,đặc biệt những ngày không thể quên này đối với mỗi CCB chúng ta,bạn cứ kể nhé ,từng chuyện từng chuện mà bạn nhớ được .Cám ơn bạn nhiều.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mig21q trong 28 Tháng Tư, 2009, 11:56:36 AM
Thế là bác Trọng - Đại đội 6 đã quen với tác phong của quansu rồi, tuyệt quá. Em rất tự hào là đã chào mừng bác đầu tiên ;)
Úi, bác vào Nam từ năm 71 cơ ạ, thế thì phải gọi bác bằng chú xưng cháu rồi; đến các sếp nhà cháu đến cuối 72 mới vào E271 - miền Đông Nam bộ mà cháu vẫn gọi bằng chú.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoangdang_hm trong 28 Tháng Tư, 2009, 02:12:26 PM
 Tiếp đi bác Trọng ơi, mấy cái chiến dịch như Lam Son 719, Đồng Dù... bọn cháu toàn nghe là " đánh rất lớn, thắng lớn " mà không thấy ai mô tả chi tiết trận đánh cả. Ngoài ra, hình như bây giờ căn cứ Đồng Dù cũng trở thành doanh trại QDND rồi thì phải. Hôm nọ cháu đi Củ Chi , qua khu đó thấy vậy!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 28 Tháng Tư, 2009, 02:15:56 PM
Úi giời! Quá quý quá quý!!!

Bác cứ dông dài câu chuyện để mua vui chừng...nghìn trống canh là ổn bác ạ! ;D ;D

Tính em cứ tham thế đấy, bác thông cảm và...chiều em nhé!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 28 Tháng Tư, 2009, 04:13:24 PM
          … Trời sáng dần. Cái ánh sáng của ngọn đèn pha trở nên vàng nhạt yếu ớt, nhòa dần trong không gian. Chúng tôi đã nhìn rõ bóng một tên lính đứng trong cái chòi trên cao, nhưng chắc nó cũng chưa phát hiện ra cái gì ở bãi đất trước mặt trong cảnh còn tranh tối tranh sáng thế này. Trời sáng hơn chút nữa thì có một tên lính khác lên thay gác. Thằng kia đã tụt xuống quá nửa chòi.

   5 giờ sáng.
   Đúng cái giờ nổ súng truyền thống quen thuộc của đơn vị rồi. Một vài tiếng đề-pa phía xa rồi nghe tiếng gió vút xoẹt qua đầu và tiếng pháo nổ sập vào trong căn cứ. Phía trong khu hàng rào trước mặt bừng lên chớp sáng nhòa mắt, cùng tiếng nổ rầm trời của loạt mìn định hướng C5 đánh hàng rào.  Rồi chớp lửa liên tiếp và tiếng nổ rộ lên cả vùng không gian trong khu hàng rào. Hỏa lực các loại tại chỗ của E đã khai hỏa. Tôi nhìn rõ một trái đạn DK nổ trúng cái ống đèn pha khiến nó tắt ngóm. Phát DK thứ hai nện đúng cái chòi cao có tên lính gác, cả cái chòi vỡ tung ra. Lại nhìn rõ tên lính đổi gác đang tụt phía dưới buông tay nhào luôn xuống đất. Rồi cối pháo mù trời, cả pháo to và H12 của Sư đoàn và mặt trận xoèn xoẹt bay vào nổ tung trong căn cứ, lẫn các loại cối pháo của E cấp tập nện vào khu đầu cầu. Từ phía sau nghe tiếng nổ nhằng vào nhau nhưng rất rành mạch, phân biệt rõ từng loại đạn. Tôi nhoài người nhô cao hẳn khỏi mặt đất quan sát, lúc ấy thật hệt như xem phim vậy. Đây là lần thứ hai tôi thấy tiếc là bên cạnh mình không có tay phóng viên hay quay phim quân đội nào để ghi hình lại. Sẽ là những thước phim thật và vô giá. Các hỏa lực cá nhân như B40, B41 hay cối M79 của C5 chưa thể bắn được vì tầm còn quá xa, và còn để dùng lúc xung phong. C chúng tôi cũng chỉ quan sát và chờ đợi.

   Sau chừng vài phút thì tiếng 12ly7 phía trước bắt đầu "pành pành" rộ lên. Trời chưa sáng hẳn nên còn nhìn rõ các đường đạn vạch lên nhằng nhịt trong không gian. Tôi biết là các khẩu đội này bắt đầu bắn chế áp yểm hộ cho bộ binh đem bộc phá lên phá nốt hàng rào. Theo kế hoạch, hai lớp rào ngoài cùng sẽ  do công binh E cắt phá trong đêm. Sau đó họ đặt mìn định hướng trong 4 lớp rào tiếp theo, có liên kết bằng dây nổ để nổ đồng thời khi có lệnh điểm hỏa. Hai lớp rào trong cùng sẽ do C5 đem bộc phá lên đánh. Bây giờ chính là lúc anh em C5 đang lên đánh nốt hai lớp hàng rào.

   Lúc này súng địch đủ các loại cũng bắt đầu bắn mạnh ra. Tôi vẫn nhô cao được đầu quan sát, vì các loại hỏa lực của địch đang còn tập trung bắn vào khu vực cửa mở.

   Vài chục phút trôi qua. Như các trận đánh cứ điểm thông thường thì bây giờ cửa mở đã mở thông, pháo cấp trên bắt đầu bắn chuyển làn vào trong, còn hỏa lực bộ binh tại chỗ thì cấp tập đợt hai để bộ đội xung phong. Thê đội hai cũng nhổm đít là vừa để bám theo vượt qua đầu cầu đánh thọc vào tung thâm.

   Vậy mà vẫn chưa thấy gì. Pháo cấp trên bắn vào sâu bên trong đã thấy thưa dần. Cái cứ điểm này quá lớn khiến mấy chục phút bắn pháo không đủ sức áp đảo. Ngay cả tiếng súng trên hướng cửa mở phía Đông của E48, chúng tôi cũng chẳng nghe thấy gì, chắc xa quá. Hỏa lực tại chỗ của E cũng đã nhạt dần. Chỉ còn tiếng 12ly7 thỉnh thoảng mới rộ lên một hồi, thưa thớt kèm theo tiếng bộc phá nổ loãng toẹt trong không gian mênh mông. Âm thanh thống soái bây giờ chủ yếu là tiếng cối và M72 của địch đều đặn nã ra khu cửa mở, thi thoảng xen một tràng đại liên nhưng cũng chẳng có gì là cuống quít. Chúng đang rất bình tĩnh và chắc đã từng gặp cảnh này.

   Thời gian cứ trôi. Cả C tôi (C6) đều hiểu rằng C5 chưa mở xong hàng rào và chỗ tắc nhất định là tại hàng rào cũi lợn. Nơi đó trống trải, gần địch hơn ta nên khó khăn tất không tránh khỏi. Nếu C5 không mở thông rào thì sẽ tới lượt C tôi. Điều đó cũng có nghĩa C5 đã tổn thất nặng, hết bộc phá. Hỏa lực chi viện cạn, không đủ sức áo đảo thì với hơn chục ống bộc phá trong tay, chắc chúng tôi cũng sẽ lâm cảnh như C bạn. Bộ binh đem bộc phá ống lên đánh hàng rào mà không có chi viện hỏa lực thật mạnh thì không khác gì những bia di động chậm. Mà lúc này sao vẫn chưa thấy xe tăng của ta đâu. Vẫn biết xe tăng không thể vượt qua hàng rào cũi lợn, không thể tấn công vào khi cửa mở chưa thông, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng mơ hồ vào điều gì đó ở những chiếc lô cốt di động lúc này.

   Chừng 8 giờ sáng thì cũng có tiếng xe tăng nổ phành phạch ở hướng khu rừng cao su sau lưng chúng tôi. Một chiếc, hai chiếc… rồi bốn chiếc xuất hiện. Vượt qua phía trước mặt chúng tôi, cả 4 chiếc tăng T54 đã sắp hàng dọc thẳng hướng của mở. Nếu mọi sự tốt đẹp thì đúng như hiệp đồng, những chiếc tăng sẽ rồ máy, tăng tốc, vừa chạy vừa nã pháo và 12ly7 vào cửa mở, còn chúng tôi cũng bật dậy bám sát, vượt qua mấy trăm mét cửa mở rồi bung ra đánh cận chiến với bộ binh địch. Thế mà chúng tôi vẫn không thấy có lệnh gì. Tiến được thêm vài chục mét, nã được vài phát pháo thì cả 4 chiếc tăng bỗng lùi lại rồi xoay ngang chắn ngay trước mặt chúng tôi. Đang khi lúng túng ấy, chiếc tăng đi đầu bị pháo địch bắn cháy. Một chiếc tăng khác vừa xoay ngang chếch trước hầm tôi vài chục mét cũng ăn trọn một phát pháo địch, đứt xích. Từ một chỗ nào đó dưới gầm xe tăng, 4 người lính tăng lóp ngóp chui ra rồi lom khom chạy thẳng về hầm chúng tôi. Họ chia nhau rúc chung vào mấy cái hầm của lính B tôi, không quản chật chội. Tôi hỏi một người lính tăng: "Sao chưa vào mà các ông đã quay lui". Anh ta bảo: "Tử sĩ các ông nằm ngổn ngang chật cửa mở thì vào sao được? Chẹt nát các ông à?".

    Rồi mấy người lính tăng vừa khom người vừa chạy trở lại rừng cao su. Hai chiếc tăng kia cũng đã lùi chạy sâu vào khuất trong rừng cao su. Từ đó trở đi không còn thấy bóng dáng xe tăng phối thuộc nữa.
...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tran479 trong 28 Tháng Tư, 2009, 04:30:27 PM
Những dòng ...:"thật :"sử , ngậm ngùi mặc niệm cho người nằm xuống ở những ngày cuối cuộc chiến .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mrdonkey trong 28 Tháng Tư, 2009, 09:41:22 PM
 Cảm ơn Quân Sử Việt Nam , cảm ơn các bác các chú các cô cựu chiến binh...
 Nói lời cảm ơn có lẽ chưa đủ để thể hiện sự biết ơn của cháu , vì nhờ có những câu truyện rất "đời" về người lính của các bác  , các chú , các cô , mà cháu có được kiến thức rất bổ ích về những sự kiện lịch sử đã qua.
Sau khi đọc hồi ức của bác Trongc6 , đó cũng là cái nhìn từ phía bên kia , phía đối nghịch của cha và chú của cháu cách đây hơn 34 năm., qua đó cháu thấy được những hình ảnh rất nhân bản của chú bộ đội , không còn khô cứng và đáng sợ như trước đây nữa ( lúc đó cháu chưa biết quansuvn.net , cháu chỉ nghe những câu chuyện của cuộc chiến qua lời kể của cha và chú ) .
 Cháu sẽ chờ theo dõi từng chữ từng dòng của bác Trongc6 mỗi ngày cho đến khi bác kể hết chuyện ...   


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 28 Tháng Tư, 2009, 10:57:31 PM
             ... Thời gian lại trôi. Chẳng ai phổ biến tình hình, chẳng ai ra lệnh gì và chúng tôi vẫn ngồi trong hầm chờ đợi.

   Chợt thấy súng nổ rộ lên phía bên kia rừng cao su sau lưng. Toàn tiếng súng bộ binh. Nghe rõ tiếng B40, B41, M79 và xung lực AK. Uỳnh oàng chực hai chục phút thì thấy lính ta ào ào xông ra từ rừng cao su, tiến về phía chúng tôi. Viện binh kiểu gì thế này. Bọn mới tới té ra là lính K15 cùng E. Chúng nó là D dự bị cho D tôi (K18). Đang dự bị phía trước thì ở phía sau, chúng nó phát hiện thấy xe địch chạy rầm rầm. Hóa ra có một đơn vị địch bị ta đánh mạnh phải rút chạy từ Trảng Bàng về, định hội quân với bọn trong căn cứ Đồng dù. Bất ngờ gặp địch, K15 quay ngược lại thành đội hình phục kích, đánh luôn. Đang hoảng loạn tháo chạy, bị đánh vỗ mặt bất ngờ, cả đám quân địch tan ngay. Đánh xong, lính K15 thừa khí thế chủ động vượt luôn qua rừng cao su chi viện cho chúng tôi. Chúng nó tưởng Đồng Dù sắp giải quyết xong rồi.

   Lính K15 nằm rạp ngay trên mặt đất xen kẽ với C tôi rồi đì đùng nã súng vào căn cứ. Đúng là vô duyên. Từ đây vào đến lô-cốt (đất) của địch cũng gần ba trăm mét. Hỏa lực bộ binh thì hết tầm không tới, còn AK thì bắn chim à. Phí cả đạn.

   Tình hình trở nên bất lợi cho ta. Địch điều được cả một chiếc tăng M48 ra bít hướng cửa mở. Quan sát mãi chúng tôi cũng đã hiểu ra rằng cái căn cứ này xây dựng ác chiến thật. Bao quanh toàn bộ căn cứ (phía trong hàng rào) là một con đê đất cao chừng mét rưỡi. Trong con đê đó đó chúng mới xây lô-cốt và các công sự. Bên trong bờ đất có một con đường quai chạy sát cạnh. Ngoài các loại DK và cối từ công sự bắn ra, cái xe tăng M48 cũng như một lô-cốt di động với hỏa lực pháo bắn thẳng rất mạnh. Tất cả các cụm hỏa lực chi viện tại chỗ của E chúng tôi trên cửa mở phải thu súng tụt xuống hầm. Chỗ nào còn nhô lên hoặc lộ ra là bị pháo địch dầm nát. Lính hỏa lực E cũng hy sinh nhiều.

   Lúc này phía giữa cửa mở đã yên ắng. Địch bắt đầu rảnh tay quay sang xử lý bọn lính K15 lúc này đã lộ trơ trên mặt đất. Ngoài đạn cối (cái món này nguy hiểm vô cùng cho hầm không có nắp), chúng còn bắn quét đại liên. Chỉ một chặp sau, lính K15 phải rút vào rừng caosu, lại hy sinh và bị thương một số. Lúc này khu vực C tôi cũng nằm trong tầm đạn của địch. B tôi đã có 2 chiến sĩ bị đạn trúng đầu khi nhô lên hơi cao. Tôi lấy cái thông nòng chọc vào cái mũ tai bèo dâng cao lên một chút để thử, cũng bị ăn luôn phát đạn. Bực cả mình.

   Chưa có trận đánh nào chúng tôi lâm vào cảnh bí rì như bây giờ. Đánh trên Cao nguyên, tầm quan sát hẹp, nhiều vật che khuất che đỡ nên rất yên tâm, không có cái kiểu bị địch không chế thế này.

   Gần trưa, trời bỗng đổ mưa. Mưa rất to, nước tràn vào hầm rất nhanh, người ướt lẹp nhẹp. Rồi mưa lại đột ngột dừng, trời quang trong veo. Đất thịt pha cát nên thấm rất nhanh. Lại phải sửa lại hầm vì mưa đã làm đất cát trôi vào hầm rất nhiều.

   Thế là đã qua nửa ngày trời chúng tôi bị giam chân chết dí. Đánh đấm kiểu này chán thật. Rồi Tiểu đoàn lệnh cho C tôi cử người bò lên cửa mở giúp cho thương binh C5. Tử sĩ đã đành, nhưng thương binh cũng phải nằm bẹp từ sáng, có đưa được về phía sau đâu. Một B được cử lên. Chỉ có bò thoài loài trên mặt đất như những con thạch sùng. Địch vẫn quan sát và chúng lại nổ súng mãnh liệt. Chưa lên tới chỗ C5  mà trung đội đã bị hy sinh quá nửa. Một bên lộ diện không nổ được súng, còn một bên cứ bình tĩnh từ trong công sự ngắm bắn thì làm gì mà quân ta chả tổn thất. Tiểu đoàn đành chấp nhận thu lệnh, để bộ đội nằm tại chỗ, chờ thời cơ. Lúc này chỉ trừ C tôi còn chút hỏa lực cá nhân, còn các đơn vị khác trên cửa mở cũng hết cả đạn rồi mà không thể nào tiếp tế. C7 thì nằm tít sau chúng tôi, nhưng chúng tôi còn nằm đây thì chúng nó cũng chưa thể lên được.

   Mệt mỏi, về tinh thần là chính. Chưa lần nào chúng tôi đánh trận bị dai dẳng thế này. Trừ các trận vây ép đã xác định là dài ngày, còn các trận công phá cứ điểm khác thường chỉ gọn trong buổi sáng. Cũng có trận đánh không nổi, bị thương vong nhiều thì rút lui. Lúc này người cứ nôn nao, bồn chồn. Không thấy no, cũng không thấy đói. Nhưng vẫn phải lấy cơm ra ăn cho nó qua bữa. Trệu trạo nhai, cố nuốt. Chưa chính thức nổ súng mà tinh thần anh em trong B đã có phần giảm rồi. Chỉ huy đại đội cũng lo. Chính trị viên cũng nằm dí một chỗ, chẳng thể bò qua lại mà động viên chiến sĩ.

   Đầu giờ chiều, ta tiêu diệt được chiếc xe tăng M48 của địch. Một khấu đội DK còn sót lại trên cửa mở của Trung đoàn đã dũng cảm bất ngờ dùng DK82 bắn cháy chiếc xe tăng đó.
....


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mực tàu 4 trong 29 Tháng Tư, 2009, 02:09:31 AM
Vừa đội mưa về đến nhà háo hức đọc chuyện của bác Trọng . Lòng ngậm ngùi tiếc thương bậc cha anh đã ngã xuống .Vẫn biết chiến thắng nào cũng có hy sinh mất mát. Nhưng tổn thất thế này là quá xót. Sau trận này '' Rút kinh nghiệm , xét thành tích '' ra sao bác Trọng ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 29 Tháng Tư, 2009, 10:26:16 AM
Hôm nay Hà nội trời mưa,sáng lướt qua QSVN nhưng vội đi họp giao ban Đảng bộ phường nên đành ghìm cảm xúc lại đi cho kịp.
Băng mưa trở về,nước mắt tràn trề nhớ thương các đồng đội ngã xuống trước giờ chiến thắng năm 1975.
Cám ơn những hồi ức của bạn Trọng c6.Nhờ bạn  mà những thương nhớ các liệt sỹ cụ thể hơn,rõ ràng hơn,
sáng láng hơn  .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: TimeBreak trong 29 Tháng Tư, 2009, 03:56:40 PM
Cháu luôn theo sát những bài viết của các Chú, các chú đã mang lại cái khốc liệt nơi trực tiếp đối diện với họng súng kẻ thù ....

Cháu cảm ơn các Chú 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khue_caua trong 29 Tháng Tư, 2009, 04:23:11 PM
Tôi hỏi một người lính tăng: "Sao chưa vào mà các ông đã quay lui". Anh ta bảo: "Tử sĩ các ông nằm ngổn ngang chật cửa mở thì vào sao được? Chẹt nát các ông à?".

Cháu nghĩ,quân đội NDVN chiến thắng mọi kẻ thù chính là đây.Đồng đội như chân với tay bỏ làm sao được.Không thể để đồng đội hy sinh đến hai lần.Cháu có đọc"Sự kiện và nhân chứng" thấy nói trận Xuân Lộc phải xếp tử sĩ 2 bên cửa mở,chỉ để một lối để xe tăng hành tiến.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 29 Tháng Tư, 2009, 05:01:23 PM
   ...           
            Khoảng 2 giờ rưỡi chiều, phía con đường (từ Trảng bàng kéo về đi ngang qua cổng chính căn cứ Đồng Dù) bỗng rộ lên tiếng xe tăng ầm ầm. Hóa ra theo kế hoạch của trên, trong lúc Sư tôi đánh Đồng Dù chưa dứt điểm, Sư 10 đã được lệnh cùng xe tăng thẳng đường cái tiến vào Sài gòn, bỏ qua các vị trí của địch bên đường. Tất nhiên gặp chốt chặn của lính VNCH thì đánh mà tiến. Cả đoàn xe pháo của ta ầm ầm kéo qua ngay trước cổng căn cứ Đồng Dù đã đánh đòn tâm lý mạnh vào tụi lính trong căn cứ, khiến chúng hoang mang, hoảng loạn.

   Thấy có dấu hiệu địch trong căn cứ nhốn nháo, Tiểu đoàn chớp thời cơ lệnh cho bộ đội xung phong. Tôi lập tức dẫn trung đội vọt lên. Phía cứ điểm địch chỉ có một vài loạt đạn bắn thẳng ra nổ yếu ớt rồi im bặt. Chúng tôi vẫn nhằm thẳng hướng cửa mở chạy vào. Đoạn chạy qua nửa phía trong cửa mở (dài hơn trăm mét) là một cảnh tưởng gây xúc động mạnh. Xác bộ đội ta hy sinh nằm la liệt suốt dọc hai bên cửa mở. Nhiều tử sĩ nằm vắt miệng hố, nửa người dưới chìm trong đất cát vì cơn mưa, chỉ còn một phần người nhô lên, súng văng bên cạnh. Thảo nào xe tăng sợ chẹt lên tử sĩ, không dám chạy vào, cũng phải.

    Tại khu vực bố trí hỏa lực của E, cảnh tượng cũng gần như vậy. Tại khu hàng rào cũi lợn sát gần bờ đất của căn cứ, tử sĩ nhiều hơn. Tôi nhận ra cả anh Khung, một B trưởng cứng trong C tôi vừa mới được điều qua C5 làm C phó tháng trước nằm ngửa người cạnh một hố pháo.

   Cả một hàng rào cũi lợn cao 40 phân có độ rộng tới 5 mét hầu như còn nguyên. Trong lòng hàng rào này thấy lô nhô dăm ba chiếc đầu 3 râu của quả mìn râu tôm (mìn nhảy). Tôi phải nhắc anh em đi theo đúng bước chân mình, rồi bước thấp bước cao như kiểu đi tiềm nhập vượt qua khu ràng rào. Bọn địch trong công sự không bắn ra phát nào nữa, chứ nếu không làm sao chúng tôi vào nổi. Lác đác trên mặt các công sự phía trong thấy có vài tên địch phất dù trắng. Khi chúng tôi vào sát gần thì dù trắng phất nhiều hơn. Chỉ còn toàn lính, chắc tụi sĩ quan đã chạy hết.

   Bỏ qua bọn chúng, chúng tôi vượt qua con đường vành đai tiến thẳng vào trong cứ. Ngay trong căn cứ, địch cũng phân khu và ngăn cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai đơn. Chúng tôi cứ theo hướng trung tâm tiến thẳng. Gặp rào phân khu, tôi cho bộ đội dùng bộc phá ống đánh thông rồi vượt qua. Chỗ chúng tôi tiến vào hình như là khu huấn luyện tân binh. Có đến dăm chục tên ngồi trật tự trên một bãi trống, khuơ dù trắng. Chỗ khác thì gặp rất nhiều tên bị thương xếp thành hàng, hai tay giơ cao qua đầu. Hầu như chúng tôi không phải chiến đấu. Các hỏa lực B40, B41 và M79 không bắn được phát nào. Chỉ có AK thỉnh thoảng bắn thị uy vài loạt. Một đôi chỗ thấy cửa hầm sâu, gọi hàng vài tiếng không thấy gì, chúng tôi quăng thủ pháo vào rồi vượt qua nơi khác.

          Vượt qua vài phân khu (cỡ dăm trăm mét), chúng tôi hội quân được với lính E48 cũng từ phía Đông kéo lại. Điều đó chứng tỏ tình hình E bạn cũng không hơn gì chúng tôi, và giờ này chúng nó cũng mới vào được trong cứ điểm.

   (Sau này tôi có được họp quân chính, được nghe lại chiến lệ của trận đánh Đồng Dù, nhưng nó khác xa những gì tôi đã gặp. Ngay cả những tài liệu hay sử sách sau này viết về F320, về trận Đồng Dù cũng không giống như những điều tôi đã kể trên. Có lẽ phải thế thôi, vì sự thật diễn ra trần trụi quá. Rồi sau này nữa, khi về lại Củ Chi gặp và nói chuyện với du kích hay dân Củ Chi, họ đều nói rằng năm xưa bộ đội giải phóng cũng từng đánh vào Đồng Dù của Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ, nhưng thất bại. Họ còn khẳng định là nếu như còn trong năm 1974 thôi, thì cả sư tôi cũng chẳng thể động vào được sư 25 VNCH khi đánh vào căn cứ Đồng Dù. Tôi tin điều đó là thật, vì nếu không có sư 10 hành quân xe pháo qua gây áp lực tâm lý, chắc gì bọn địch đã buông súng đầu hàng. Đáng buồn thay).    

       Chúng tôi cùng lính E48 tổ chức tảo thanh. Nơi chúng tôi bắt tay nhau là một khu gia binh. Trong nhà nào cũng thấy đồ đạc vứt bừa bãi, lộn xộn, quang cảnh của sự tháo chạy vội vã. Rồi chúng tôi vào một khu nhà Quân tiếp vụ to lớn (giống như cửa hàng bách hóa ngoài Bắc). Hàng hóa nhiều vô kể, đủ loại, nhìn hoa cả mắt. Có rất nhiều thứ chúng tôi không biết nó là cái gì. Lính tráng xả Ak bắn tan tành (Bây giờ nghĩ lại mới thấy lãng phí, thấy vô tổ chức). Còn những món quen thuộc, thiết thân như thuốc lá (Rất nhiều thuốc Rubi Queen), đường, sữa hộp và đồ hộp thì lính thi nhau khuân ra cửa. Khuân ra rồi cũng lại vất đấy thôi vì mỗi thằng có tham cũng chỉ đem theo được một ít. Nhiều lính còn khui những chai bia 33 cổ rụt ra uống. May không ai say. Rồi chúng tôi cũng phải thu quân theo lệnh tiểu đoàn.

   Nghe trên phổ biến nhanh: Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư 25 VNCH bị du kích địa phương bắt sống hồi chiều khi đang cùng một số sĩ quan thân cận trốn ra ruộng khoai bên ngoài căn cứ Đồng Dù.
 
   Tối đó C tôi nghỉ quây lại cạnh một khu gia binh. Anh nuôi lấy gạo địch nấu cơm (gạo Thái hạt dài ngon tới mức  nấu lên chỉ cần rưới mắm cũng chén được không biết no). Thức ăn không cần nấu vì đã có đồ hộp nhiều (thịt gà, cá, thịt lợn, loại hộp 200 gam) lấy của địch, ai muốn ăn bao nhiêu tùy thích. Buổi tối không họp, không rút kinh nghiệm gì hết, tất cả ngồi nghỉ ngơi, uống cà phê hút thuốc thơm, muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khác những trận trước vì chúng tôi không phải giải quyết thương binh tử sĩ mà được nghỉ thảnh thơi ngay sau trận đánh. Mà cũng chẳng dám nghĩ gì nhiều, vì mai chúng tôi lại hành quân tiếp, lại đánh nhau và ai biết được mình sẽ ngã xuống khi nào. Đêm đó chúng tôi trải nilon nghỉ bên ngoài, không dám vào trong nhà ngủ, đề phòng bất trắc.
...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 29 Tháng Tư, 2009, 06:01:32 PM
Một sự thật trần trụi và bi thương!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mực tàu 4 trong 29 Tháng Tư, 2009, 06:19:46 PM
Phù ...!Thế chứ . Chẳng nhẽ cứ chết mãi . Đọc chuyện của bác thấy lòng khi thăng khi giáng . Còn đêm cuối cùng của cuộc chiến . Cafe thuốc thơm như vậy mà trải nilon ngủ sao đành . Biết là rất mệt nhưng cố lên bác Trọng . Đừng để đêm nay em thao thức chờ chuyện của bác .
 Nữa đi anh!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 29 Tháng Tư, 2009, 07:47:04 PM
 Em có ý kiến nhỏ với bác Trọng : hàng rào cao 40 phân mà bác gọi là hàng rào cũi lợn  thì bọn em gọi là hàng rào vướng chân .Còn hàng rào cũi lợn cũng đan ngang dọc như vậy nhưng cao quá đầu người .Em quen mấy anh bên e 48 f320 đánh Đồng dù họ cũng nói là phơi áo tại cửa mở gần nửa trăm .Có chiến thắng nào mà không xây bằng xương máu đâu ,cứ theo sử sách thì  đường ra trận toàn hoa thôi


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 29 Tháng Tư, 2009, 09:40:45 PM
Em có ý kiến nhỏ với bác Trọng : hàng rào cao 40 phân mà bác gọi là hàng rào cũi lợn  thì bọn em gọi là hàng rào vướng chân .Còn hàng rào cũi lợn cũng đan ngang dọc như vậy nhưng cao quá đầu người .Em quen mấy anh bên e 48 f320 đánh Đồng dù họ cũng nói là phơi áo tại cửa mở gần nửa trăm .Có chiến thắng nào mà không xây bằng xương máu đâu ,cứ theo sử sách thì  đường ra trận toàn hoa thối

thống kê sau chiến tranh chống Mỹ là hơn 3 triệu người Việt ngã xuống,không lẽ là bị sốt rét ác tính? Vậy mới cần đến anh em mình,kể chuyện cận cảnh hơn.Em là em chúa ngán mấy chuyện kể kiểu tổng kết báo cáo,đọc nó dội lắm.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 29 Tháng Tư, 2009, 09:45:23 PM
@Tai_Lienson:

          Có thể là sai về tên gọi hàng rào, nhưng đúng là hình dáng nó thế đấy. Lúc vào, thấy nó gần như còn nguyên. Đạn lửa chỉ làm mặt đất chỗ đó trơ ra, lộ cả đầu râu tôm của các quả mìn. Lúc đi qua phải đi từ từ, luồn chân bước thấp bước cao.

         Hướng cửa mở E48 bị tắc, chắc cũng tại cái hàng rào này. Bác cứ hình dung lính bộ binh ôm quả bộc phá ống dài 1,2 mét lom khom lên luồn vào đó đánh phá từng chút một, trong khi hỏa lực chi viện của ta nằm phía sau cả trăm mét, còn thằng địch trong công sự phía trước cách chỉ có vài chục mét, địa hình hoàn toàn trống trải thì sao mà chả thương vong nhiều.

         Lính E48 nói hy sinh chỉ có từng đó là đã bớt đi rất nhiều đấy bác ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 29 Tháng Tư, 2009, 09:56:49 PM
Viết thêm đoạn này theo yêu cầu bác Mực Tàu 4:

         Đúng là không ngủ được.

   Đơn vị nào trong trung đoàn trông coi tù binh, ở chỗ nào thì không biết. Nhưng chỗ C tôi trú quân thì mọi sự yên ắng. Trong cả căn cứ đêm đó không hề xảy ra chuyện tàn binh phản kích. Phía địch, ai chạy  đã chạy thoát, còn lại đều đã qui hàng. Có lẽ tất cả hai bên đều hiểu tình thế lúc này. Cuộc chiến đấu lần này nhất định sẽ đánh đến tận cùng, ngã ngũ bằng được mới thôi. Mà phần thắng nhất định sẽ thuộc quân giải phóng. Quân lực VNCH càng ngày càng hao quân, suy yếu trông thấy, chắc chắn không thể gượng lại được. Nhưng sự hy sinh của bộ đội ta chưa phải đã hết. Chúng tôi là người lính đang trên khí thế chiến thắng, không ai lo nghĩ gì cho riêng mình. Chẳng ai lo rằng mình có thể hy sinh hay không. Nếu chuyện phải đến thì sẽ đến, vậy thôi.

   Nhưng quả thực là đêm đó không ngủ được. Lính tráng thức đêm quen rồi, nhiều đêm còn chịu được thì đêm nay mới là đêm thứ hai chẳng có vấn đề gì. Nhưng cái thao thức này khác lúc thao thức trước giờ ra trận. Cảnh vật thì như trong đô thị, dù chỉ thắp giấy dầu. Không gian rộng thênh thang, mình như người chủ nhưng cũng chỉ được đi lại loanh quanh trong khu vực nhỏ.

   Không rút kinh nghiệm, không bàn tán, lo lắng, nhưng chúng tôi cứ nghĩ là không hiểu địch còn nhiều căn cứ thế này không. Chứ cái kiểu đánh trận như hôm nay thì không phải sở trường của chúng tôi. Chúng tôi vốn chỉ quen tác chiến rừng núi thôi. Hôm nay chúng tôi đã chiếm được căn cứ, nhưng chiến thắng không tự tin, không hồ hởi. Tổn thất nhiều quá. Nói thật là lúc đó chúng tôi chưa biết được khi nào chiến tranh sẽ kết thúc, nên chưa có cái ngậm ngùi nghĩ nhiều về đồng đội ngã xuống trước giờ chiến thắng. Suy nghĩ tình cảm cũng vẫn giống như sự tiếc thương anh em bình thường như những trận đánh khác thôi.

   Chỉ có cái khác là mọi khi đánh trận xong thì rút về hậu cứ. Bây giờ sẽ là hành quân tiếp. Mà không hiểu sao đêm đó chúng tôi không tổ chức lau chùi súng đạn. Đạn AK vẫn có một viên lên nòng như thông lệ. Cà phê thuốc lá đấy, nhưng không túm tụm đông. Không ồn ào. Mỗi người ngồi một góc rồi tự ngủ lúc nào không biết. Đêm đó vẫn phải tổ chức gác như mọi đêm…



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 29 Tháng Tư, 2009, 10:14:21 PM
Cháu đọc loạt bài vừa rồi của bác trongc6, cứ dội lên mấy băn khoăn suy nghĩ. Nhưng cũng thật may là lần lượt bác trongc6 cũng đã giải thích hết. Có thể những băn khoăn ấy không phải  của riêng ai:
- Đầu tiên, có lẽ phải đặt trận đánh trong không khí thần tốc, hơi thở gấp gáp của những ngày cuối cùng của chiến tranh. Như bác trongc6 nói chưa biết chiến tranh kết thúc lúc nào, nhưng cảm nhận chắc chắn phải rất gần rồi. Thế nên mới có chuyện bộ đội nằm phơi lưng nửa ngày trong tầm đạn địch. Nếu là 1 vài năm trước 75, chắc chẳng vị chỉ huy nào để như vậy; mà quân lực VNCH cũng sẽ gọi máy bay, gọi pháo... chứ cũng chả chịu ngồi yên trong cứ.
- Cháu có cảm giác công tác chuẩn bị cho trận đánh chưa kỹ. Bằng chứng là bộ binh đến thực địa thì gặp nhiều bất ngờ với địa hình, địa vật, biết có "hàng rào cũi lợn" mà chưa có phương án khắc phục. Thế nhưng trong hoàn cảnh của những ngày cuối tháng 4 ấy, chắc không thể trì hoãn thêm được. Và bù vào đó, là xương máu của người lính trên chiến trường.
- Cuối cùng, như bác trongc6 đã nói,
.. Nói thật là lúc đó chúng tôi chưa biết được khi nào chiến tranh sẽ kết thúc, nên chưa có cái ngậm ngùi nghĩ nhiều về đồng đội ngã xuống trước giờ chiến thắng. Suy nghĩ tình cảm cũng vẫn giống như sự tiếc thương anh em bình thường như những trận đánh khác thôi.

Bây giờ nhìn lại thì thấy xót xa quá. Nếu biết ngày mai thắng lợi, không biết tâm lý người chiến sỹ sẽ ra sao? (rất may, hay không may, là ở đời không có chữ nếu)
... ngày này 34 năm trước... các anh sống mãi, trẻ mãi tuổi đôi mươi...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoangdang_hm trong 29 Tháng Tư, 2009, 11:38:49 PM
 Đọc bài của bác Trọng xong tự nhiên cảm thấy bức bối,ấm ức,  gần giống như khi cháu đọc xong truyện " Ăn mày dĩ vãng" của Chu Lai. Rất khó quên. Rất thực. Cái giá phải trả cho chiến thắng đắt quá mà ngày chiến thắng cũng đã gần kề rồi. Liệu những người đã ngã xuống lúc đó có khi nào nghĩ rằng chỉ ngày mai, ngày kia thôi đất nước mình sẽ độc lập không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: daibacvn trong 30 Tháng Tư, 2009, 12:45:41 AM
Đúng là chiến tranh không phải trò đùa mặc dù ai lúc đó cũng có khỉ thế cao vì chiến thắng đang rất gần... muốn giải quyết một căn cứ được xây dựng và bố trí tốt như Đồng Dù là cả một vấn đề, có lẽ lúc đó bên ta cũng không ngờ địch còn phản ứng mạnh mẽ như vậy nên có tư tưởng chủ quan chăng?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: phơn phớt trong 30 Tháng Tư, 2009, 12:50:59 AM
Em có điều hơi khó hiểu muốn hỏi các bác CCB. Tại sao mình biết là phải đánh nhanh, không kịp trinh sát, nắm tình hình kỹ, địa hình lại trống trải như vậy mà không đánh luôn ban đêm, lại phải để đến sáng rõ mới đánh thì có phải càng phơi ra cho nó bắn không.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mực tàu 4 trong 30 Tháng Tư, 2009, 01:31:20 AM
Em có ý kiến : Sáng nay ta tập trung theo bác Trọng vào giải phóng Sài Gòn . Vụ Đồng dù , hết chiến dịch ta lập hội nghị phân tích nguyên nhân , đánh giá vai trò của từng bộ phận , từng cá nhân . Cán bộ tham mưu các cấp tìm thêm tư liệu để tham gia hội nghị .Bác trọng sau khi cho anh em hưởng cảm xúc hoàn toàn chiến thắng . Cố nhớ lại những chi tiết của ĐD mà các nhà viết sách đã ‘’ quên’’ . Em tin bác và các chiến hữu của bác là người trong cuộc thế nào chả rõ . Chứ chúng em hậu sinh chỉ thấy nói quân ta thế mạnh như chẻ tre . Tiến tới đâu địch hoảng sợ tự tan rã đến đấy . Đánh nhau dễ quá


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:13:34 AM
Chứ chúng em hậu sinh chỉ thấy nói quân ta thế mạnh như chẻ tre . Tiến tới đâu địch hoảng sợ tự tan rã đến đấy . Đánh nhau dễ quá

Nhưng vụ Đồng Dù này thì (theo bác trongc6 kể) đúng là ta (sư 10) tiến qua, thế mạnh như chẻ tre nên định hoảng sợ tự tan rã còn gì bác  :) Nói thế không có nghĩa là không có công của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống ở cửa mở, và cả bác trongc6 và đồng đội tiến vào nữa


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mực tàu 4 trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:55:11 AM
Em ko nói là ta ko mạnh . Có mạnh thì ta mới chiến thắng toàn cuộc chứ . Trong hào quang chiến thắng vẫn có một mảng xám thương vong là điều đương nhiên . Máu cha anh ta đổ xuống ko phải là vô nghĩa . Nhưng cũng có lúc người lính nằm xuống mà ko thanh thản . Bác chưa hiểu ý em .Em muốn nói để sau ta phân tích trận ĐD .Sách vở của ta thường nói một chiều ít khi nêu cụ thể cái thương vong mất mát , cái tàn khốc đến lạnh lùng của cuộc chiến .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: barcaboy trong 30 Tháng Tư, 2009, 05:16:33 AM
Bác Trọng ơi, sao đánh khó thế mà ko xin thêm pháo, thêm vài quả A-1, A-37 rải thảm thì họ khóc ra tiếng mán chứ làm sao mà sống đc!

Trong tình trạng khó khăn như thế, hỏa điểm của địch lại lộ hết ra thế rồi, câu Kachiusa vào khéo cũng giải quyết xong vấn đề tâm lý với mấy ông VNCH ở bên trong.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 30 Tháng Tư, 2009, 05:22:55 AM
Em nghĩ cũng có thể đây là trận nghi binh của các bác nhằm tạo điều kiện cho SƯ 10. Nghiêng mình kính cẩn các bác, kết thúc 1 sự nghiệp vĩ đại hơn 100 năm của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 30 Tháng Tư, 2009, 05:28:47 AM
Sơ sơ thì câu chuyện của trongc6 đã lệch so với sử 320A về thời gian kết thúc trận đánh.
Sử ghi 11h30, ở đây thì khoảng 2 giờ chiều thế trận mới thay đổi (!!!)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 30 Tháng Tư, 2009, 07:41:49 AM
        Gửi bác Tuaans cùng tất cả các bạn.

       Tôi vào đây kể lại vài hồi ức chỉ vì quan niệm đây là sân chơi của các CCB và những người yêu đời lính. Tôi chỉ muốn kể lại cảm nhận của mình khi đó thấy thế nào, nghĩ ra sao để chia sẻ cùng tất cả. Như bài trước tôi đã nói là tôi không có ý định đính chính cái gì cả.

       Tôi viết bài vì nghĩ đây là sân chơi tự nguyện của một tổ chức "phi chính phủ" (Tất nhiên là có những qui định phù hợp Hiến pháp). Còn nếu trang này là của Bộ QP hay Tổng cục CT lập ra thì tôi sẽ vẫn để những hồi ức của mình chỉ được ôn trong những ngày anh em lính cũ gặp mặt, không dám tự tiện post lên đây.

       Còn việc mổ xẻ tình tiết trận đánh, rút kinh nghiệm (thậm chí viết chiến lệ) thì người ta đã làm xong từ lâu rồi. Tôi cũng chỉ là một người lính đâu hiểu hết mọi thứ lúc ấy. Mình chỉ là một con "tốt", chỉ có tiến, đâu có lùi được mà lý sự.

        Mạo muội đôi lời, mong được lượng thứ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 30 Tháng Tư, 2009, 08:34:19 AM
   Vừa nhận lệnh "đ/c Vợ" khẩn trương dọn dẹp để chuyển "Hậu cứ", vì thế phải vội hoàn thiện bài viết kết thúc cho trọn chiến dịch HCM, còn kịp chia tay các bác.

         Sáng ngày 30/4/1975.

   Cả đơn vị dậy từ mờ sáng. Anh nuôi nấu cơm. Tất cả ăn vội vã, đùm cơm rồi tập trung. Chúng tôi hành quân ra thẳng theo hướng cổng chính. Xe hậu cần của đơn vị đỗ sẵn ngoài cổng để các B tranh thủ bổ sung cơ số đạn. Rồi tất cả lên đường, nhằm thẳng hướng Sài gòn mà tiến. Cả đơn vị cứ rồng rắn thẳng đường cái to mà đi.

   Chừng quá nửa buổi sáng, loáng thoáng nghe chính quyền Dương Văn Minh kêu gọi binh lính VNCH buông súng. Đang ngơ ngác thì lại nghe phổ biến không được chủ quan. địch chỉ đang đánh đòn tâm lý. Lại hành quân vội vã hơn. Gần trưa nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng thật. Thế là hết đánh nhau, hết chiến tranh rồi ư. Tiểu đoàn truyền lệnh tạt vào một vườn cây ăn quả của dân bên đường để nghỉ trưa. Lệnh trên cấm không bắn súng, không hò reo. Lính tráng rì rầm bàn tán. Thuốc lá thơm bỏ ra hút thả phanh.

   Sẩm tối, đại đội được lệnh tạt vào một thôn cạnh đó để nghỉ. Chẳng biết gọi vùng này là vùng ta hay địch. Không có du kích địa phương. Nhưng người dân chấp nhận chúng tôi một cách bình thản, không tỏ ra vui mừng, không sợ sệt. Họ cho nghỉ nhờ ngoài vườn, cho củi nấu cơm. Đêm đó chúng tôi vẫn tổ chức mỗi B một trạm gác. Trong đêm, vẫn nghe thấy tiếng súng đì đạch nơi xa.

   Lại một đêm nữa không ngủ. Bây giờ mới nghĩ nhiều hơn về những thằng vừa ra đi trong trận đánh hôm qua. Bởi vì chiến thanh hình như đã kết thúc. Lúc đó chưa ai nói dến từ Giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngày 30 tháng tư chỉ mới hiểu là ngày địch đầu hàng. Nhưng rất có thể không còn đánh trận nữa.

   Hôm sau chúng tôi được nghỉ tại chỗ. Vẫn nghỉ trong vườn nhà dân, chưa được đi tắm giặt. Buổi trưa đại đội phổ biến tình hình: Đêm qua tại Sài Gòn, do say sưa chiến thắng, nhiều đơn vị không quản lý chặt để bộ đội đem súng ra bắn chơi, đã có nhiều người đi chơi lẻ đã bị bọn tàn quân thừa cơ bắn lén mà ta không phát hiện được vì lẫn tiếng súng. Tiếc thay.

   Rồi có lệnh hiện nay bộ đội trong thành phố sài Gòn quá đông nên các đơn vị còn ở ngoài không được vào nữa mà phải rút nhanh ra ngoài tạo chỗ đứng chân, đề phòng các đơn vị địch vẫn còn chưa tan rã.

   Chúng tôi rút về Củ Chi. Ngày sau nữa thì cả Sư cùng vào chia nhau đóng quân trong căn cứ Đồng Dù. Dọn dẹp nơi ở còn phát hiện nhiều thứ của địch bỏ lại. Có đơn vị còn lục ra nguyên cả một kho hậu cần của địch. Tuy có lệnh trên đem nộp tập trung để chia cho Trạm xá, Sư bộ … nhưng hầu như ai tìm thấy gì là được hưởng thứ đó. D tôi quản nguyên một kho pháo sáng, một kho đồ hộp và một bãi hơn trăm chiếc xe máy Honda địch bỏ lại.

   Đồ hộp thì đem giao lưu cùng các D khác đổi lấy đường, sữa. Pháo sáng thì đêm đêm khi gác đem ra rìa căn cứ bắn ra cánh đồng. Mỗi ống pháo sáng to như ống liều phóng B40, rút ống nắp ra lắp ngược ra ngoài rồi vỗ mạnh hoặc dập xuống nền gạch là quả pháo sáng bay vút ra, lơ lửng treo trên một cái dù nhỏ. Có đến mấy mầu sáng khác nhau.

   Riêng món xe máy thì khá đặc biệt. Cấp trên không thu (mà thu lại để làm gì vì lúc này các loại xe GMC, xe DOT, xe Jep còn để đầy trong căn cứ). Hầu như không ai biết đi, lại chẳng có xăng. Thanh niên quanh vùng rất nhạy. Nhiều gã thanh niên áo bó chẽn, quần loe ống, tóc dài đi theo đường cánh đồng lối phụ mà vào căn cứ. Họ làm quen với chúng tôi, gạ gẫm đổi chác. Lúc đầu vui vẻ, chúng tôi cho họ thích cái xe máy nào cứ lấy, tự dắt ra. Về sau chính họ đề nghị đổi hai tút thuốc lá lấy một xe. Cứ thế mà bãi xe vơi dần. Quái hơn nữa là thằng Th. "mốc", lính C5 (Lính C5 hy sinh nhiều nhưng được bổ sung san sẻ lại cho khỏi bị xóa sổ) vừa đem cho dân xe, vừa dắt dấu ra gửi nhờ nhà dân tới 3 chiếc xe Honda. (Sau này năm 1976 ra quân, nó quay lại nhà dân tìm xin lại hai chiếc, bán một chiếc lấy lộ phí và đem một chiếc ra Bắc. Nó là thằng duy nhất trong đơn vị có xe máy Honda đem về nhà khiến cả xã lác mắt).
   
          Chúng tôi ở căn cứ Đồng dù ít ngày thì được chọn một số tham gia tập đội ngũ để duyệt binh 15/5 ở Sài Gòn. Rồi thời gian sau đó lại tập tành đội ngũ, lại tập xạ kích nhưng chủ yếu vẫn là học chính trị. Đến tháng 6/1975 thì có chế độ phát phụ cấp tháng bằng tiền (tiền miền Nam). Cứ chủ nhật có chế độ nghỉ ngơi, 1/5 quân số được xe GMC của tiểu đoàn chở vào Sài Gòn chơi. Chơi theo hướng dẫn, 4 giờ chiều xe lại chở về. Phải làm thế không có mang tiếng lính tham gia chiến dịch HCM mà không biết mặt mũi Sài Gòn. Thế mà khối thằng cũng chưa biết mùi vị bát hủ tiếu như thế nào. Sài Gòn rộng quá, chỉ chơi Sài gòn một lần thì thật đúng là chỉ biết đến Sài Gòn như thày bói xem voi.

   Chúng tôi được nghe đài thường xuyên. Rồi vài bữa lại được xem truyền hình. Cái này thật mới lạ. Ở ngoài Bắc, giữa năm 1971, Hà Nội đã phát thử nghiệm chương trình truyền hình. Thế nhưng đã mấy ai được nhìn thấy cái Vô tuyến truyền hình mà trong Nam này gọi là Ti vi nó như thế nào.

          Tự nhiên thấy nhớ nhà...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 30 Tháng Tư, 2009, 09:51:36 AM
   
  Tôi vào đây kể lại vài hồi ức chỉ vì quan niệm đây là sân chơi của các CCB và những người yêu đời lính. Tôi chỉ muốn kể lại cảm nhận của mình khi đó thấy thế nào, nghĩ ra sao để chia sẻ cùng tất cả. Như bài trước tôi đã nói là tôi không có ý định đính chính cái gì cả.    

Bác Trongc6 không cần phải đính chính!

Đây là "kỷ sử" của bác, là trận đánh trong ký ức hằn sâu của bác. Người trực tiếp tham gia hẳn có lý do để nhớ, có nhiều điều để nhớ hơn là các tổng hợp đôi khi sai lệch, hoặc tệ hơn là vô tình của những người được giao nhiệm vụ viết lại.
"Lịch sử trung đoàn Bình Giã" do tự tay bác Thọ gõ phím mà bác ấy thấy cũng lệch thời gian, đôi khi bức xúc nên thỉnh thoảng bác ấy lại chua thêm một đoạn "chữ nghiêng có màu vàng vàng". ;D
Các cuốn sử của các đơn vị thì nhiều ông CCB có mặt trong diễn đàn như Tran479, yta262, khanhhuyen... đều than phiền về tính chính xác.
Còn tôi thì than phiền về cách viết: Lệch thời gian là một chuyện. Song thiếu Sự kiện - vốn là cốt lõi của Sử, nhưng lại thừa khẩu hiệu với quyết tâm chung chung. Đó là cái bệnh quan liêu của các trợ lý chính trị!
Tôi muốn ví dụ như trận Uđông ròng rã cả tháng trời với rất nhiều hy sinh mất mát và hành động anh hùng của binh lính sĩ quan VN. Các chi tiết dù nhỏ nhưng chọn lọc sẽ làm người đọc hiểu hơn. Như chuyện 12 chiến sĩ trung đoàn 1 hy sinh tại bờ đông sông Mekong do đánh nhau nhầm với Hải quân ta, chuyện địch bẫy cối nổ tức thì ở U Đông, chuyện hạ sỹ Bạch Đại Nghĩa diệt cụm địch 7 tên bằng trái B.41 duy nhất...Những chi tiết điển hình không thể bỏ được
Nhưng trong Sử "Sư đoàn 9", sử Trung đoàn Bình Giã", Sử Sư đoàn 5".....vv và vv...thì chỉ vài dòng đáo qua. Trong khi những câu thường thấy điển hình chung chung xuất hiện đầy rẫy, dạng như: " ...Được sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ Sư đoàn, sự quan tâm giúp đỡ của Đảng uỷ trung đoàn, sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân bạn; đơn vị củng cố quyết tâm chiến đấu....băng qua tầm hoả lực địch, tiến như vũ bão, đập tan mọi sự kháng cự của quân thù ngoan cố ....'  
Ha ha ha ...............! Hùng tráng quá !  :P :P :P


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 30 Tháng Tư, 2009, 09:56:32 AM
 Được biết  bác Trinh sát bà cũng đánh Đồng dù sao không thấy phối hợp nhỉ ? hay đó là bác trọng  ?Trinh sát bà ơi bác ở đâu ???


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: china trong 30 Tháng Tư, 2009, 10:41:10 AM
 Trận Đồng Dù này em đọc một bài viết trên báo  của ông Tướng nào đó bảo rằng chiếc M48(M113?!) bị một chiến sĩ bộ binh đứng thẳng lưng dùng B41 bắn hạ, chiến sĩ nào sau đó được phong anh hùng.
 Cũng theo bài báo này ngay tại cửa mở đã hy sinh hơn 100 chiến sĩ.
 Nhưng theo những tổng kết chiến dịch HCM thỉ trận Đồng Dù khác xa.
BÂy giớ nghe Bác kể mới thấy...ôi chính sử ???


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 30 Tháng Tư, 2009, 11:52:56 AM
Trận Đồng Dù này em đọc một bài viết trên báo  của ông Tướng nào đó bảo rằng chiếc M48(M113?!) bị một chiến sĩ bộ binh đứng thẳng lưng dùng B41 bắn hạ, chiến sĩ nào sau đó được phong anh hùng.
 Cũng theo bài báo này ngay tại cửa mở đã hy sinh hơn 100 chiến sĩ.
 Nhưng theo những tổng kết chiến dịch HCM thỉ trận Đồng Dù khác xa.
BÂy giớ nghe Bác kể mới thấy...ôi chính sử ???
Đó là anh Sơn ở E48 320 .Anh Sơn khi đánh K là C phó cảnh vệ F .Còn tôi đọc trong  Sự kiện và nhân chứng năm 2005 có bài của nguyên chính ủy E48 nói e hy sinh 61 người .đánh Đồng dù có 3 cửa mở , mũi48 vào sớm có vẻ thiệt hại ít nhất


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: yta262 trong 30 Tháng Tư, 2009, 12:59:25 PM
...
Tôi nhoài người nhô cao hẳn khỏi mặt đất quan sát, lúc ấy thật hệt như xem phim vậy. Đây là lần thứ hai tôi thấy tiếc là bên cạnh mình không có tay phóng viên hay quay phim quân đội  nào để ghi hình lại. Sẽ là những thước phim thật và vô giá.
...


Có đó bác Trọng ơi, bác tìm thử các phim tài liệu của QDNDVN chắc sẽ thấy những thước phim của trận này:

"Sau ngày 10-3, trên các mặt trận, chiến sự diễn ra dồn dập. Cục diện giữa ta và địch càng chênh lệch rõ rệt, chiến thắng ngày càng gần. Trước tình hình đó, ĐAQĐ quyết định ra quân tổng lực. Dưới sự chỉ huy của quyền giám đốc Trần Việt, tất cả đạo diễn, biên kịch, quay phim đều được lệnh hành quân vào chiến trường. Đến lúc này, đội quân làm phim đã có mặt tại các chiến trường miền Nam gần 40 người. Họ chia làm nhiều mũi, bám theo hướng đánh của các đơn vị chủ lực. Nhóm Phạm Hanh, Lê Hợi tiến về Quảng Ngãi, nhóm Ngọc Minh,Trần Anh Trà theo lên Đà Lạt. Nhóm Chí Tân, Nguyễn Sớm tiến về Đồng Dù, Củ Chi, nhóm Hoàng Văn Bổn, Ngô Đăng Tuất theo mũi Xuân Lộc và Hồ Quốc Vi, Thành Thái, Trịnh Rãng... xuống tàu ra Côn Đảo, Trường Sa... Còn lại mũi chủ yếu do Trần Việt chỉ huy gồm : Phùng Đệ, Đặng Xuân Hải, Chí Tân, Bùi Xuân Thiện... băng qua Đà Nẵng lên Tây Nguyên, vượt Bù Đăng, Bù Đốp hội quân ở “R” để chuẩn bị cho chiến dịch thần tốc - chiến dịch Hồ Chí Minh.

Không thể nói hết được sự khó khăn gian khổ và cả sự hy sinh của những người cầm máy và tham gia làm phim. Ở Hố Nai (Xuân Lộc) cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn đã diễn ra những trận đánh ác liệt, dai dẳng. Quân địch ngoan cố “tử thủ”. Còn các chiến sĩ Giải phóng cũng quyết sinh. Trên vai áo, trên vành mũ của họ đều được viết đậm dòng chữ “quyết thắng”. Những người làm phim cũng thực sự tham gia chiến đấu bên cạnh những người lính. Họ đã thu vào ống kính những hình ảnh quí giá của trận đánh ác liệt này. Còn ở khu vực Đồng Dù, Củ Chi, quân ta tiến đánh sư 25 của địch. Ở trận đánh này ta đã bắt sống tên tướng Lý Tòng Bá. Hai nghệ sĩ Nguyễn Sớm và Chí Tân đã ngày đêm bám sát các mũi xung kích, ngay cả lúc trời còn chưa sáng rõ để chớp thời cơ. Trước cửa mở Đồng Dù, Chí Tân đứng sau cây rơm để quay đạn bắn thẳng của địch không làm anh hề hấn gì. Nhưng, một trái pháo của địch đã hất tung cây rơm...  Riêng mũi của Phạm Huyên đã có may mắn chộp được giây phút quân ta tiến đánh vào Bộ tổng tham mưu ngụy và ghi được hình ảnh lá cờ giải phóng tung bay trên nóc nhà Bộ tổng tham mưu ngụy."

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1229.msg46928#msg46928 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1229.msg46928#msg46928)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 30 Tháng Tư, 2009, 01:28:40 PM
Liên Xô khi chuẩn bị đánh Berlin đã có tổ chức khá chu đáo, cả về tâm lý lẫn trang thiết bị. Nếu như bác Trong kể thì quân ta (hay cánh của bác) không thấy chuẩn bị gì cả về tinh thần lẫn vật dụng cho Chiến thắng cuối cùng.

@bác Trong: tụi em vô cùng hưởng ứng các bác, có vài nhận xét như của bác Tuanns sẽ làm hồi ký của bác sinh động thêm mà thôi, mong bác đừng giận mà mất hứng, tư liệu của bác quý giá vô cùng, nhất là trong những ngày này.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:41:36 PM
Bác trongc6 ạ, từ lâu cháu rất muốn biết không khí xã hội và tâm trạng người lính những ngày cuối cùng của chiến tranh giải phóng, đặc biệt là từ ngày 30/4 ra sao. Qua sách vở thì chỉ ca ngợi, miêu tả chung chung, ai cũng biết là hồ hởi, vui sướng tột cùng, nhưng cụ thể thế nào? Còn những người mà cháu có điều kiện hỏi thì vì nhiều lý do khác nhau mà không thể hiện được. Bác là người trong cuộc, lại có khả năng viết, nên những gì các bác viết ra đây đối với chúng cháu thực sự quý giá. Nếu chúng cháu có hay chen ngang hỏi han vài câu thì cũng chỉ là vì không hiểu, muốn được giải đáp thắc mắc mà thôi. Cháu hiểu là có thể đối với bác, nhiều điều không nên hỏi hay không nên đặt vấn đề, hay "không hiểu nổi tại sao chúng nó lại nghĩ (hỏi) thế?". Mong bác đừng phiền lòng nhé.
Đợi các bài tiếp theo của bác. Cháu rất muốn được sống trong không khí của ngày chiến thắng, dưới ngòi bút của bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 30 Tháng Tư, 2009, 06:33:12 PM
Sơ sơ thì câu chuyện của trongc6 đã lệch so với sử 320A về thời gian kết thúc trận đánh.
Sử ghi 11h30, ở đây thì khoảng 2 giờ chiều thế trận mới thay đổi (!!!)
Theo như bác  Trọng thì khi vào đã thấy tù binh ngồi thành hàng nghĩa là đã có đơn vị đánh qua đó, họ vào trước  đơn vị của bác Trọng


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dksaigon trong 30 Tháng Tư, 2009, 11:13:52 PM
Tôi có mặt tại sài gòn từ ngày 28/4 , nghe ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ở ngòai đường phố Sài gòn từ Q10 qua Q5, sáng 30 coi như đã ngã ngũ trên đường phố dân vẫn đi lại gần như bình thường, vẫn mua bán! . Bác Trongc6 có nhận xét về dân tình người sài gòn rất đúng là bình thản không vui mừng cũng không sợ sệt!, những nhận xét này mới chỉ từ năm rồi trên một số bài viết đăng báo của các cựu chiến binh có mặt giải phóng Sài gòn 30/4. Người Sài gòn nói riêng và người miền nam ở các đô thị cũng đã quen với chiến tranh trong thành phố từ hồi Mậu thân và tâm trạng cũng biết rõ kết cuộc của cuộc chiến vào những ngày cuối tháng 4/75 với suy nghĩ cũng mong chiến tranh chấm dứt! Tâm lý và suy nghĩ về những ngày giải phóng Sài gòn, chấm dứt chiến tranh của các bác tham gia ngày ấy thì tôi cũng được nghe nhiều bác cựu nói như bác Trọng!
Đêm 30 giờ này 34 năm trước, sau những năm dài " đại bác đêm đêm vọng về thành phố " và tiếng súng giao tranh những ngày trước ngay cửa ngõ SG! thì lần đầu tiên có một đêm hoàn toàn không tiếng súng, một sự vắng lặng kỳ lạ với một thành phố lớn như SG! đêm ấy tôi ngủ trên nóc xe tải nhà đậu trên lề đường Nguyễn Hoàng Q5 với nhiều ký ức cười ra nước mắt! buổi chiều súng ống vứt đầy đường phố người lớn tránh xa thì ngược lại đám trẻ con lại nhặt súng huơ huơ rồi chỉa lên trời xiết cả băng! cảnh tượng này chắc chỉ có ở VN! rồi chuyện hôi của... mặt mày rạng rỡ cũng có, ôm đầu máu vì bị cướp lại cũng có...!
sáng mùng 1 các cửa ngõ SG kẹt cứng vì tòan bộ hệ thống đèn tín hiệu không họat động! đến tối tôi mới trở về đến được BH, nhờ đó mà cũng được tiếp xúc với các anh bộ đội Bắc Việt, cảm nhận đầu tiên là các anh cũng hiền và vui vẻ nếu không muốn nói là hơi... ngố!
Vài dòng ký ức xin được góp lại của một người dân trong những ngày lịch sử!
 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 01 Tháng Năm, 2009, 09:39:38 PM
        Gửi bác Tuaans cùng tất cả các bạn.

       Tôi vào đây kể lại vài hồi ức chỉ vì quan niệm đây là sân chơi của các CCB và những người yêu đời lính. Tôi chỉ muốn kể lại cảm nhận của mình khi đó thấy thế nào, nghĩ ra sao để chia sẻ cùng tất cả. Như bài trước tôi đã nói là tôi không có ý định đính chính cái gì cả.

       Tôi viết bài vì nghĩ đây là sân chơi tự nguyện của một tổ chức "phi chính phủ" (Tất nhiên là có những qui định phù hợp Hiến pháp). Còn nếu trang này là của Bộ QP hay Tổng cục CT lập ra thì tôi sẽ vẫn để những hồi ức của mình chỉ được ôn trong những ngày anh em lính cũ gặp mặt, không dám tự tiện post lên đây.

       Còn việc mổ xẻ tình tiết trận đánh, rút kinh nghiệm (thậm chí viết chiến lệ) thì người ta đã làm xong từ lâu rồi. Tôi cũng chỉ là một người lính đâu hiểu hết mọi thứ lúc ấy. Mình chỉ là một con "tốt", chỉ có tiến, đâu có lùi được mà lý sự.

        Mạo muội đôi lời, mong được lượng thứ.


@trongc6:
Nhà em đọc về sự kiện này ở cả hai cái -sử 320 và câu chuyện kể ở đây, thấy khác thì nói khác. Đó là chuyện bình thường. Còn nói nhà em tin 1 trong hai, cái nào à? Nhà em chả tin cũng chả bác bỏ cái nào! :)
Em cũng có nhiều chuyện lắm nhưng không có khả năng viết được "mượt" như bác. Bác lính xe tăng nói đúng, thật là "những mảnh rời kí ức" ... ráp nối lại thật khó!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 02 Tháng Năm, 2009, 07:33:40 AM
 Mạo muội với bác  Trọng : cũng như Tuân em mò đọc lại sử F320 và nhớ lại chuyện kể của mấy người bạn bên e48 ( Khi ở K có đi phối thuộc cùng và khi ra bắc  bọn em học bổ túc CD cùng nhau mà ) thi em nghĩ là chỉ huy D bên bác lừng khừng ,cửa mở đẫ thông ,chỉ còn cái vướng chân như bọn  em học là cứ đạp vào cọc gỗ mà chạy ,mặt khác các bác còn bộc phá ống thì cứ đút vào mà nổ  ,dễ hơn các laọi hàng rào khác là phải dựng bộc phá mới đánh được .Về thời gian khi tác chiến có trợ lý họ theo dõi ghi nhật ký rất kỹ  nhất là trận quan trọng như thế này cho nên nói sử viết sai là không công bằng ,E48 vào trong gặp các hàng rào phân khu họ hết bộc phá phải gí súng Ak bắn từng sợi dây thép gai một để mở cửa  rất lâu .Như vậy là qua bác kể tù binh đã ngồi thành hàng ,địch không phản ứng .... rõ ràng là do bạn (E48) đã làm chủ trận đánh  D mới ra lệnh cho các bác xung phong và vì địa hình rộng các bác mới có chỗ để tảo thanh .Khi viết sử hoặc báo cáo lên trên những yếu kém thường bị dấu đi do đó họ tóm các d của e9 vào luôn cùng e48 cho đẹp nên có độ lệch về thời gian


Tiêu đề: Chiến lệ
Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Năm, 2009, 08:03:06 AM
Nhân tranh luận của các bác tôi muốn hỏi.

Trước nay tôi vẫn nghĩ chính sử quân chủng, quân đoàn, sư đoàn, các đơn vị, tài liệu công khai của NXB QDND hay các quân khu... thường có nhiều yếu tố "xấu che tốt khoe", chắc các bác ở đây đều biết rõ.

Tuy nhiên theo tôi hiểu chiến lệ QDND VN thì lại khác, không công khai, và được biên soạn kỹ lưỡng, chính xác, để cán bộ chiến sỹ và các thế hệ sau rút ra những bài học, nhiều khi phải trả bằng xương máu của các lớp cha anh mới có được, để tiết kiệm máu xương cho người đi sau.

Nay bác trongc6 cho biết đến cả chiến lệ người ta cũng "đánh bóng", tôi hoang mang quá. Làm thế, có phải là một phần thiếu trách nhiệm với lớp hậu sinh? Các bác thấy thế nào?


Tiêu đề: Re: Chiến lệ
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 08:59:03 AM
Nhân tranh luận của các bác tôi muốn hỏi.

Trước nay tôi vẫn nghĩ chính sử quân chủng, quân đoàn, sư đoàn, các đơn vị, tài liệu công khai của NXB QDND hay các quân khu... thường có nhiều yếu tố "xấu che tốt khoe", chắc các bác ở đây đều biết rõ.

Tuy nhiên theo tôi hiểu chiến lệ QDND VN thì lại khác, không công khai, và được biên soạn kỹ lưỡng, chính xác, để cán bộ chiến sỹ và các thế hệ sau rút ra những bài học, nhiều khi phải trả bằng xương máu của các lớp cha anh mới có được, để tiết kiệm máu xương cho người đi sau.

Nay bác trongc6 cho biết đến cả chiến lệ người ta cũng "đánh bóng", tôi hoang mang quá. Làm thế, có phải là một phần thiếu trách nhiệm với lớp hậu sinh? Các bác thấy thế nào?
Chẳng ai đi công khai những điều rút ra đuợc từ bao xương máu, để cho thằng địch nó biết, nó rút kinh nghiệm nó táng cho mình trận sau đau hơn, bác nhỉ?

Trích về Điều lệnh chiến đấu:
-------------------
SƠ kết, tổng kết chiến đấu:

- Nội dung chính cần sơ kết, tổng kết:
+ Kiểm điểm việc thực hiện quyết tâm, đánh giá kết quả, rút ưu khuyết điểm trận đánh, tìm nguyên nhân thành công và thất bại.

+ Từ kiểm điểm, rút ra những kinh nghiệm chính về địch, ta, về tổ chức chỉ huy, về kỹ thuật, chiến thuật, xây dựng huấn luyện đơn vị...

- Khi tiến hành sơ kết, tổng kết, yêu cầu phải có:
+ QUan điểm thực tiễn, tôn trọng sự thật đã xảy ra.
+ Quan điểm phát triển, rút ra những kết luận phục vụ cho xây dựng và tác chiến sắp tới.

...

- Cấp được quyền công nhận kết quả chiến đấu phải là cấp có tương đối đủ khả năng phương tiện xác minh kết quả chiến đấu. Nói chung phải là cấp sư đoàn trở lên, chủ yếu là cấp chiến dịch mới được quyền công nhận.
+ Cấp sư đoàn được quyền công nhận những trận đánh của đại đội, tiểu đoàn
+ Còn thì tập trung quyền hạn vào cấp chiến dịch và Bộ (Với chiến trường gần mà Bộ có khả năng nắm được chắc).

---------------
Đối chiếu với quy định trên, thì trận ĐỒng Dù là tấn công cỡ Sư đoàn (?) thiếu.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 09:42:15 AM
Ví dụ về chuyện Báo cáo tổng kết chiến đấu trận Hội Sanh (Tài liệu do Mỹ thu được năm 1966)
(Tài liệu này em đã post bên topic Kỷ vật của các chiến sỹ QGP trong KCCM, box Xẻ dọc Trường Sơn)

(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/KCCM/1966_BaocaotrantapkichHoiSanh_Page_.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 09:42:29 AM
(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/KCCM/1966_BaocaotrantapkichHoiSanh_Pa-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 09:42:40 AM
(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/KCCM/1966_BaocaotrantapkichHoiSanh_Pa-2.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 02 Tháng Năm, 2009, 10:04:02 AM
  Tôi không học về lý luận chiến lệ nhưng đã nghe nhiều về chiến lệ  thấy rằng Đã gọi là chiến lệ thì thường là trung thực về hướng ,mũi ,thời gian còn về  kết quả là còn phải bàn vì chiến lệ cũng là do người của đơn vị làm cho nên có chỗ nói quá cho "oách" ví dụ : số lượng địch bị diệt ,hoặc khi đánh gặp may địch bỏ chạy nhanh nhưng cứ nói là địch chống cự ,ta xử lý này nọ vv..


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: _new trong 02 Tháng Năm, 2009, 10:49:16 AM
Em xin góp cái tranh về hàng rào cũi lợn (rào vướng chân) cho bác nào chưa biết dễ hình dung (xem lại mới thấy mình vẽ sai toét, em xin sửa):

Rào hình cũi:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/IMG_1275.jpg)

Rào vướng chân:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/IMG_1276.jpg)

Đây là loại rào cổ điển, dùng để chống bộ binh, trong đêm tối hoặc khói lửa mù mịt loại này rất hữu dụng để chống bộ binh đối phương xung phong. Bộc phá viên khi phá rào thả dưới chân cột rồi chạy là bay cả mảng, nhiều loại rào khác cần công phu hơn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 11:10:43 AM
Trước ngày này, 34 năm trước :D

(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/30-4-1975-DuongVanMinhjpeg.jpg)


(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/30-4-1975-9.jpg)


(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/30-4-1975-6.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Năm, 2009, 11:34:03 AM
Các bác có nhu cầu đọc tổng kết (không phải chiến lệ) trận Đồng Dù không để em post?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongminhkh trong 02 Tháng Năm, 2009, 01:35:15 PM
Bác cứ phọt lên đi, để mọi người cùng tham khảo!  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 02 Tháng Năm, 2009, 03:43:36 PM
Các bác có nhu cầu đọc tổng kết (không phải chiến lệ) trận Đồng Dù không để em post?

Bác cứ phọt lên đi, để mọi người cùng tham khảo!
------------------------------------------------
 Đây, trận Đồng Dù của f320A ;D

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6375.new#new


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Năm, 2009, 04:11:16 PM
Các bác có nhu cầu đọc tổng kết (không phải chiến lệ) trận Đồng Dù không để em post?

Bác cứ phọt lên đi, để mọi người cùng tham khảo!
------------------------------------------------
 Đây, trận Đồng Dù của f320A ;D

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6375.new#new

Cái này đọc sao cứ nửa kí nửa sử thế nhỉ. Em sợ nhất là thể loại này.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Năm, 2009, 04:12:18 PM
Trận tiến công căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn bộ binh 320 (thiếu) Quân đoàn 3
Ngày 29 tháng 4 năm 1975

Sau thắng lợi to lớn liên tiếp cửa quân dân ta trên khắp các chiến trường Tây Nguyên, Huế, Đà Nắng, Nha Trang, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn của địch ở quân khu 1 và 2, phá vỡ thế phòng ngự chiến lược liên hoàn của chung. Cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã bước sang giai đoạn mới. Giai đoạn tổng công kích vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đòn tiến công quyết định vào thủ phủ ngụy quyền Sài Gòn, Quân đoàn 3 được Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng tiến công trên   hướng tây bắc Sài Gòn. Trong đội hình quân đoàn, ngày 29 tháng 4 năm 1975, sư đoàn 320 đã tiến công căn cứ Đồng Dù, một căn cứ lớn nằm án ngữ phía tây bắc cửa ngõ Sài Gòn.

Tiến công căn cứ Đồng Dù là trận đánh mở đầu của chiến dịch, có qui mô lớn, hiệp đồng binh chủng tiến công trong điều kiện chuẩn bị gấp, địa bàn hoạt động mới, tình huống diễn biến khẩn trương, quân địch đông, hỏa lực mạnh, có công sự vững chắc,  phòng ngự liên hoàn và phản kích quyết liệt. Ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã sư đoàn 25 ngụy, phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài trên hướng tây bắc Sài Gòn, mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho quân đoàn tiến công danh chiếm Sài Gòn nhanh chóng và kết thúc thắng lợi, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

I. Tình hình chung

A. Địa hình, thời tiết


Căn cứ Đồng Dù thuộc huyện Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa (cũ). Nay thuộc huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, cách Sài Gòn 30 ki-lô-mét về phía tây bắc, nằm trên một khu gò đất có bình độ cao 12m, hình bầu dục, có chu vi gần 8.500m. Xung quanh căn cứ bằng phẳng và trống trải. Hướng bác và đông bắc là đầm lầy, cách 7 ki-lô-mét là Phú Hòa Đông.

Hướng đông và đông nam cách 12ki-lô-mét là Tân Quy. Tây và tây nam có rừng cao su kín đáo tiện cho việc cơ động và triển khai lực lượng tiến công. Nam và tây nam giáp quận ly Củ Chi. Xung quanh cứ điểm có 5 đường lớn. Đường số 2 từ Củ Chi đi qua trung tâm căn cứ lên Phú Hòa Đông. Đường 8A tỉnh lộ từ Củ Chi đi Tân Quy. Đường 15 từ Phú Hòa Đông đi Tân Quy. Đường 237 từ Trung Hòa - Đồng Dù đi ấp Chợ.  Đường 1A quốc lộ từ Đồng Chùa đi Củ Chi và ấp Chợ.

Trên các trục đường địch đều tổ chức các điểm chốt để khống chế, cơ động binh khí kỹ thuật. Thời điểm diễn ra trận đánh, thời tiết đang cuối mùa khô, không có mưa lớn, nên việc cơ động thuận tiện.

Tóm lại: Địa hình thuộc căn cứ Đồng Dù bằng phẳng và trống trải, hướng tây và tây bắc có điều kiện để triển khai lực lượng và phương tiện nhưng chỉ eo một con đường đi vào căn cứ muốn cơ động phải khắc phục nhiều. Chất đất mềm, dễ đào công sự, nhưng vật liệu không eo phải mang từ ngoài vào.


B. Tình hình địch

Nằm trên trục quốc lộ số 1 Sài Gòn đi Tây Ninh, căn cứ Đồng Dù thực sự là cánh cửa thép án ngữ phía tây bắc Sài Gòn. Từ đây còn có các trục đường giao thông thuận tiện nối với Bình Dương và Hậu Nghĩa. Đồng Dù là căn cứ phòng ngự chủ yếu trong tuyến phòng thủ ngoài Sài Gòn. Nên từ lâu Mỹ - ngụy đã ra sức xây dựng nó thành một căn cứ xuất phát hành quân hỗn hợp với qui mô lớn. Nó vốn là hang ổ của sư đoàn 25 Mỹ (tia nhớp nhiệt đới). Sau khi Mỹ rút bàn giao căn cứ lại cho sư đoàn 25 ngụy một trong những sư đoàn chủ lực mạnh của quân   ngụy.

Lực lượng địch trong căn cứ gồm: bộ tư lệnh sư đoàn 25 bộ binh, ban chỉ huy trung đoàn 50, tiểu đoàn 2 bộ binh, tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, một chi đoàn xe tăng và hậu cứ đại đội 10/T6 tiểu đoàn 25 công binh, tiểu đoàn 25 vận tải, tiểu đoàn 25 thông tin, tiểu đoàn 333 tiếp vận (Quân khu 3), tiểu đoàn 25 chiến tranh chính trị, tiểu đoàn 25 quân y, ban chỉ huy căn cứ Củ Chi, trường huấn luyện hạ sĩ quan và binh sĩ. Tổng quân số có khoảng 3.000 tên.

Căn cứ Đồng Dù địch cấu trúc có bốn cổng ra vào: đông nam, tây nam, tây bắc và bắc - đông bắc được chia thành bốn tuyến, lực lượng chiến đấu chủ yếu ở vòng ngoài.

Tuyến ngoài cùng bao gồm hàng rào, mìn và hào chống tăng có sáu lớp rào chính, quá trình phòng ngự địch bổ sung có hướng lên tới 10 hàng rào, nhưng không thành qui luật, chiều dày hỗn hợp từ 80-100 mét, Hướng nam và đông nam, sáu hàng rào, tây nam và tây bắc, 10 hàng rào, bắc và đông bắc tám hàng rào. Xen kẽ các lớp rào địch kết hợp gài mìn, tuyến trong cùng là mìn có điều khiển. Hướng tây nam có hào phóng tăng.

Tuyến hai: Địch xây tường cao khoảng 1,2m, dày 1m, lợi dụng bờ tường chúng xây 56 lô cốt thành hình vuông bằng gỗ đất mỗi cạnh bằng 6m, nửa chìm nửa nổi, nấp bằng bao cát dày mét, ở được một tiểu đội. Từ lô cốt này đến lô cốt kia có năm đến sáu ụ súng chiến đấu cá nhân không có nắp.

Tuyến ba: Bao gồm các ụ súng chiến đấu và nhà ngủ, tuyến này không thành qui luật, giữa tuyến 2 và 3 có một đường xe chạy vòng quanh căn cứ.

Tuyến trong cùng: Là tuyến nhà ở lớp bằng tôn, xung quanh nhà xếp thùng phi đựng cát hoặc xếp bao cát dày 0,6m, cao 1,2m phân chia từng đơn vị có hàng rào ngăn cách kết hợp ụ súng chiến đấu và lô cốt giao thông hào nối liền của từng khu vực. Các sở chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên đều xây dựng kiên cố chống được đạn pháo 105 và 155 ly. Khu sở chỉ huy sư đoàn, thông tin ở trung tâm căn cứ xây bằng bê tông cốt thép kiên cố, xen kẽ trong khụ vực có nhiều đường xe chạy, cơ động bên trong thuận tiện. Dựa vào công sự sân có cùng các chướng ngại vật đã thiết bị sần, để đối phó ngăn chặn ta tiến công từng bước và tổ chức triển khai lực lượng phản kích khi ta đánh vào trung tâm. Ngoài ra còn có lực lượng lớn địch có liên quan bao gồm: tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 ở ấp Mới, tiểu đoàn 1 trung đoàn 50 ở Trảng Bàng, trung đoàn 46 ở Đồng Chùa, trung đoàn 49 ở Trà Võ - Bến Kéo, chi đoàn thiết giáp thuộc trung đoàn 10 ở Tráng Bàng, pháo bỉnh: Phước Mỹ - Trung Hòa - Tân Quy, Lão Táo và lực lượng bảo an dân vệ: tiểu đoàn 233 ở Phú Hòa Đông, tiểu đoàn 331 ở ấp Chợ, tiểu đoàn 305 ở Đồng Chùa, Củ Chi, tiểu đoàn 320 ở Trung Hòa - Gò Nổi. Vì đây là khu vực phòng thủ vòng ngoài tây bắc Sài Gòn và cũng là đầu mối giao thông quan trọng. Khi Đồng Dù bị ta tiến công, các khu vực phụ cận trực tiếp chi viện và giải vây, ứng cứu. Thủ đoạn đối phó của chúng là dựa vào hệ thống công sự vật cản, hỏa lực bản thân ngoan cố chống trả, khi bị chọc thủng, địch có thể dùng pháo binh, xe tăng và bộ binh ra bịt cửa mở, tổ chức đánh vào bên sườn, phía sau đội hình tiến công của ta, kết hợp với lực lượng bên ngoài đến chi viện, ứng cứu đánh bật ta ra ngoài khôi phục trận địa.

Tóm lại: Hệ thống phòng thủ khu vực Củ Chi và căn cứ Đồng Dù là một hệ thống phòng thủ chặt chẽ, chu đáo, liên hoàn, chuẩn bị sẵn có quân đông, hỏa lực mạnh, các căn cứ phụ cận sẵn sàng chi viện ứng cứu khi bị tiến công đường sá cơ động thuận tiện, công sự vật cản xây dựng cơ bản và có hệ thống. Nhưng địch có những điểm yếu cơ bản là tinh thần binh lính đang bị sa sút, hoang mang do thất bại liên tiếp ở các chiến trường, dễ tan rã khi mất chỉ huy. Căn cứ rộng lớn lại nằm gần Sài Gòn, từ lâu chưa giao chiến nên ít xây dựng củng cố lại. Lực lượng phòng thủ chủ yếu là lực lượng hậu cứ, chuyên môn, phục vụ và chỉ huy nên sức chiến đấu kém, yếu về chiến thuật, sơ hở trong tổ chức phòng ngự nên khó chống đỡ khi ta tiến công đồng loạt bằng sức đột kích mạnh.


C. Tình hình ta

Tham gia trận đánh này sư đoàn bộ binh 320 (thiếu) do đồng khí Bùi Đình Hòe sư đoàn trưởng chỉ huy, trong biên chế có ba trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo binh. Trung đoàn bộ binh 48, trung đoàn bộ binh 9 và trung đoàn bộ binh 64 (riêng trung đoàn 64 được đảm nhiệm hướng độc lập của quân đoàn, nên trận đánh này không tham gia chiến đấu trong đội hình của sư đoàn). Mỗi trung đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị trực thuộc khác. Mỗi tiểu đoàn có từ 220 đến 240 người, mỗi đại đội chiến đấu có từ 30-40 tay súng. Trung đoàn pháo binh 54 có hai tiểu đoàn pháo mặt đất (10, 11) gồm các loại  hỗn hợp pháo 1551y, 1051y, 851y, H12, cối 1601y, cối 1201y, và tiểu đoàn cao xạ 12 có ba đại đội súng máy cao xạ. Trong biên chế còn có các tiểu đoàn hỏa lực cối 1201y, tiểu đoàn ĐKZ, tiểu đoàn súng máy cao xạ và các tiểu đoàn bảo đảm chiến đấu như trinh sát, thông tin, công binh. Các tiểu đoàn phục vụ như quân y, vận tai, huấn luyện, được tổ chức biên chế ổn định trang bị chiến đấu hiện tại bao gồm ba khẩu 1551y, sáu khẩu 105 ly, hai khẩu 851y, một khẩu cối 1601y, một dàn H12, ba khẩu cối 1201y, 18 khẩu cối 821y, chín khẩu ĐKZ, 14 khẩu súng máy cao xạ. Trước khi bước vào chiến đấu, các đơn vị đều đã tham gia chiến đấu trong các chiến dịch ở chiến trường Tây Nguyên, nhất là trận đánh thắng định ở Cheo Reo - Phú Bổn, đã tích lũy được một số kinh nghiệm về tác chiến trong thị xã, thị trấn và huyện ly bằng nhiều hình   thức chiến thuật hiệp đồng binh chủng vời qui mô vừa và nhỏ. Đơn vị đã được rút kinh nghiệm sau đợt hoạt động chiến dịch Tây Nguyên, huấn luyện bổ sung, khí thế đơn vị phấn khởi, cán bộ và chiến sĩ đều tin tưởng quyết tâm hăng hái thi đua giết giặc lập công hoàn thành nhiệm vụ.

Cùng phối hợp tác chiến với sư đoàn trong địa bàn có sư đoàn 316 đang chốt chặn tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy ở Tràng Bàng về Củ Chi, Tây Ninh, sư đoàn 10 đang triển khai lực lượng ở phía sau sư đoàn để tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất sau khi ta mở thông cánh cửa Đồng Dù, phía Hậu Nghĩa có lực lượng Miền, ngoài ra còn có sự phối hợp chiến đấu của nhiều lực lượng khác.

Phối hợp chiến đấu với sư đoàn còn có lực lượng vũ trang địa phương huyện Củ Chi đã từng tham gia chiến đấu đánh độc lập, hiệp đồng với qui mô vừa và nhỏ, thông thạo địa hình có khả năng giúp đỡ và phối hợp với sư đoàn trong quá trình chiến đấu. Khu vực tác chiến là nơi tập trung dân cư đông đúc kinh tế trù phú, xã hội phức tạp nhiều giáo phái. Nhân dán sống dưới chế độ Mỹ-ngụy từ lâu bị tuyên truyền lừa bịp, ít hiểu biết về cách mạng chưa giác ngộ, ít nhiều đều có quan hệ với địch. Riêng nhân dân vùng giải phóng đã nhiều năm chiến đấu kiên cường chống Mỹ-ngụy bảo vệ cách mạng, một lòng tin tưởng vào Đảng sân sàng giúp đỡ bộ đội khi cần thiết. Đảng và chính quyền các cấp tử xã đến huyện được củng cố và phát triển, chiến đấu kiên cường, bền bỉ xứng đáng là “đất thép Củ Chi”.

Tóm lại: Các lực lượng tham gia trận đánh đều đả có kinh nghiệm chiến đấu, bộ đội phấn khởi quyết tâm cao. Mọi công tác chuẩn bị được sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp cửa thường vụ Bộ tư lệnh Quân đoàn. Song trước mắt cũng còn khó khăn: Thời gian làm công tác chuẩn bị ngắn, trinh sát nắm địch ngoài thực địa ít, trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn đánh địch trong căn cứ kiên cố còn hạn chế, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy chiến đấu cấp sư đoàn chưa nhiều, nên sư đoàn phải tập trung lãnh đạo chỉ huy khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Năm, 2009, 04:13:09 PM
II. Tổ chức chuẩn bị

A. Chủ trương, ý định của Bộ chỉ huy chiến dịch và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3


Cuộc tổng tiến công chiến lược của quân dân ta đã bước sang giai đoạn quyết định, chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam đã bắt đầu. Để phối hợp với các hướng tiến công Sài Gòn, Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Quân đoàn 3 tiến công hướng tây bắc Sài Gòn, trước mắt tiến công tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy ở căn cứ Đồng Dù phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch mở thông cánh cửa tây bắc Sài Gòn cho lực lượng của quân đoàn tiến công sân bay Tân Sơn Nhất và phát triển đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định.


B. Nhiệm vụ của Sư đoàn bộ binh 320

Sư đoàn bộ binh 320 (thiếu) được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng T54 (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo binh 1551y (thiếu) thuộc trung đoàn 40, trung đoàn cao xạ 593 (thiếu) có nhiệm vụ:  trong ngày 29 tháng 4 tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù sau đó phát triển đánh chiếm quận lỵ Củ Chi và Tân Quy cùng các lực lượng khác của đơn vị bạn tiêu diệt sư đoàn 25 bộ binh ngụy, không cho chúng co cụm về Sài Gòn mở cửa mở hướng tây bắc Sài Gòn cho lực lượng sư đoàn 10 tiến công sân bay Tân Sơn Nhất, sau đó làm lực lượng dự bị cho quân đoàn. Khi đánh chiếm Sài Gòn thì sư đoàn tiến công đánh chiếm Quận 3, cùng đơn vị bạn phát triển đánh chiếm biệt khu thủ đô và dinh Độc Lập .


C. Công tác chuẩn bị

Ngày 16 tháng 4, cán bộ của sư đoàn và cán bộ đơn vị phối thuộc đi trinh sát nghiên cứu ngoài thực địa, ngày 24 tháng 4, báo cáo quyết tâm với quân đoàn, ngày 26 tháng 4, pháo binh hoàn thành công tác chuẩn bị vào chiếm lĩnh. Ngày 28 tháng 4, sư đoàn hoàn thành mọi công tác chuẩn bị hành quân vào vị trí tập kết.


D. Quyết tâm chiến đấu

1. Ý định chiến đấu


a - Tư tưởng chỉ đạo: Tổ chức chuẩn bị chu đáo, bí mật bất ngờ giành và giữ thế chủ động. Nắm chắc thời cơ tiến công liên tục, tập trung sức mạnh dứt điểm nhanh, tiêu diệt gọn từng mục tiêu, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, làm chủ chiến trường.

b - Mục tiêu tiến công chủ yếu: Sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy.

c - Hướng tiến công chủ yếu: Tây bắc; hướng tiến công thứ yếu: tây nam; hướng đón lõng và chốt chặn: nam.

d - Cách đánh: Phát huy sức mạnh của binh hỏa lực trong biên chế và tăng cường, tiến công liên tục tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, làm chủ trận địa. Đồng thời ngăn chặn bẻ gãy  các đợt phản kích của định từ nơi khác đến ứng cứu chi viện.

e - Tổ chức đội hình sử dụng lực lượng:

Sư đoàn tổ chức thành 5 bộ phận:

- Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, đón lõng chốt chặn, hỏa lực và dự bị (riêng hỏa lực có bộ phận kìm diệt pháo địch).

- Lực lượng tiến công hướng chủ yếu: một trung đoàn bộ binh tăng cường; hướng thứ yếu: một trung đoàn bộ binh (thiếu); đón lõng chốt chặn: một đại đội bộ binh; dự bị: một tiểu đoàn bộ binh. Hỏa lực: một trung đoàn pháo (tăng cường), trung đoàn cao xạ 593 (thiếu) và cao xạ sư đoàn; hỏa lực kìm diệt pháo địch: tám cối 82 ly và một lực lượng bộ binh.

2. Nhiệm vụ của các đơn vị

a) Trung đoàn bộ binh 48: Được tăng cường một đại đội xe tăng (8 chiếc), ba khẩu pháo bắn trực tiếp (hai khẩu 105, một khẩu 85), một khẩu cối 120 ly, được chi viện trực tiếp của hỏa lực pháo binh và phòng không của sư đoàn có nhiệm vụ: Tiến công trên hướng chủ yếu của sư đoàn từ hướng tây bắc vào hình thành hai mũi đột phá: Mũi chủ yếu: Một trung đoàn bộ binh (thiếu 1 tiểu đoàn), năm xe tăng đột phá từ tây bắc vào chiếm sở chỉ huy trung tâm thông tin. Mũi thứ yếu: một tiểu đoàn bộ binh đột phá từ hướng bắc - đông bắc vào đánh chiếm khu pháo binh, thiết giáp và phát triển vào sở chi huy. Sau khi làm chủ căn cứ, để lại một lực lượng nhỏ làm chủ trận địa, một tiểu đoàn cùng đơn vị bạn phát triển đánh chiếm  quận ly Củ Chi, còn lại lực lượng sẵn sàng phát triển chiến đấu tiếp khi có lệnh.

b - Trung đoàn bộ binh 9 (thiếu tiểu đoàn bộ binh 6): Được tăng cường một trung đội xe tăng (4 chiếc), tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,71y, hai khẩu cối 120 ly có nhiệm vụ: Đảm nhiệm tiến công trên hướng thứ yếu đột phá từ hướng tây nam vào, đánh chiếm khu thông tin, phát triển sang phía nam sở chỉ huy cùng trung đoàn 48 diệt sở chỉ huy địch, đánh chiếm liên đoàn vận tải 333 có một lực lượng ngăn chặn ở nam căn cứ không cho địch bỏ chạy về Củ Chi, Tân Quy. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhanh chóng phát triển đánh chiếm Củ Chi và Tân Quy. Hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng cùng đội hình sư đoàn phát triển chiến đấu tiếp.

c - Tiểu đoàn bộ binh 6 trung đoàn bộ binh 9: Làm lực lượng dự bị cho sư đoàn bố trí sau đội hình trung đoàn 48, sẵn sàng tiến công trên hướng chủ yếu của sư đoàn. Ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng địch phản kích vào bên sườn phía sau đội hình chiến đấu của sư đoàn khi có lệnh. Sau khi làm chủ căn cứ, về đội hình của trung đoàn để phát triển chiến đấu vào Tân Quy.

d - Đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 4 trung đoàn 9. Làm lực lượng đón lõng chốt chặn của sư đoàn, có nhiệm vụ chốt chặn không cho địch tháo chạy hoặc co cụm về vị trí khác.

e - Trung đoàn pháo binh 54 và tiểu đoàn lựu pháo 1551y (thiếu) thuộc trung đoàn 40, tăng cường cho trung đoàn 48 bộ binh ba khẩu pháo (2 khẩu 105, một khẩu 85) làm hỏa khí bắn thẳng, lực lượng còn lại tổ chức thành cụm pháo hỗn hợp bố trí ở tây nam Nhuận Đức, chi viện trực tiếp cho bộ binh trên hai hướng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù và phát triển chiến đấu đánh chiếm quận ly Củ Chi, Tân Quy.   

- Trung đoàn cao xạ 593 (thiếu) chiếm lĩnh trận địa ở tây bắc Đồng Dù có nhiệm vụ tiêu diệt máy bay địch bảo vệ sở chl huy, trận địa pháo cối, đội hình chiến đấu của sư đoàn, tiêu diệt bộ binh hỏa khí địch, phá hủy công sự trận địa, xe tăng, xe bọc thép địch khi cần thiết. Sau khì hoàn thành nhiệm vụ phát triển chiến đấu tiếp cùng đội hình sư đoàn.

3. Một số nội dung chính về hiệp đồng, bảo đảm

a – Hiệp đồng.

+ Giai đoạn hành quân chiếm lĩnh trận địa, thực hành mở cửa.

Ngày N-3, pháo binh xuất phát chiếm lĩnh trận địa, kiềm chế pháo cối địch để cho đơn vị hoàn thành công tác chuẩn bị. Ngày N-l, bộ binh hành quân chiếm lĩnh trận địa, đến 5 giờ ngày N chiếm lĩnh xong. 5 giờ 30, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng nổ súng. 5 giờ 30, hỏa lực chuẩn bị thời gian bắn 120 phút chia làm 4 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Thời gian bắn 5 phút cấp tập vào sở chỉ huy, trung tâm thông tin, bộ binh lộ, trận địa pháo cối địch.

Giai đoạn 2: Thời gian 15 phút bân gián xạ vào sở chỉ huy, trung tâm thông tin. ĐKZ pháo ngắm bắn trực tiếp, cối 120 ly, cối 82 ly bần vào các mục tiêu  trên hướng cửa mở, xe tăng cơ động vào vị trí chiếm lĩnh xuất phát xung phong.

Giai đoạn 3: Thời gian 65 phút, pháo bắn gián xạ kiểm nghiệm lại phần tử, hỏa lực bắn thẳng tiêu diệt các mục tiêu trước cửa mở.

Giai đoạn 4: Thời gian 35 phút, trong đó 30 phút đầu bắn phá hoại các mục tiêu bên trong của địch, trận địa pháo cối, pháo bắn thang diệt các lâủa điểm trước cửa mở chi viện cho bộ binh mở cửa mở, phân đội mở cửa thực hành đánh bộc phá liên tục mở cửa mở, 5 phút cuối pháo bắn cấp tập vào sở chỉ huy, trận địa pháo cối chế áp bộ binh địch. Trong thời gian pháo bắn chuẩn bị, bộ binh (trừ đài quan sát) xuống hầm ẩn nấp. Công binh trong khi pháo bắn chuẩn bị giai đoạn 1, khi có lệnh cho nổ lượng mìn liên kết đồng loạt. Xe tăng cơ động vào vị trí chiếm lĩnh xuất phát xung phong dùng hỏa lực bắn thằng tham gia bắn chuẩn bị, lực lượng phòng không, sẵn sàng bắn máy bay chi viện cho đội hình chiến đấu của sư đoàn.

+ Giai đoạn đánh chiếm đầu cầu, phát triển chiến đấu bên trong:

Pháo binh chuyển làn vào bên trong chế áp sở chỉ huy, trung tâm thông tin, trận địa pháo cối địch. Pháo bắn thang tiêu diệt các mục tiêu trên cửa mở, bộ binh nhanh chóng vượt qua cửa mở, thực hành xung phong từng mũi, hướng nhanh chóng đánh chiếm các lô cốt đầu cầu tạo điều kiện cho lực lượng phía sau vào phát triển chiến đấu, khi đã chiếm được đầu cầu các mũi hướng nhanh chóng phát triển chiến đấu vào bên trong, hiệp đồng chặt chẽ, cùng xe tăng  hình thành thế bao vây tiêu diệt gọn từng mục tiêu, nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy, trung tâm thông tin và các mục tiêu quan trọng khác. Pháo binh chi viện theo yêu cầu phát triển chiến đấu của bộ binh. Pháo bắn thang cơ động theo đội hình chiến đấu, sẵn sàng tiêu diệt xe tăng hỏa khí bắn thẳng của địch; pháo phòng không sẵn sàng đánh máy bay bay thấp chi viện trực tiếp cho đội hình chiến đấu bảo vệ sở chl huy, trận địa pháo, cối của ta, bộ phận đón lõng, chốt chặn sẵn sàng đánh địch tháo chạy.

+ Giai đoạn làm chủ trận địa:

Để lại một lực lượng nhỏ của trung đoàn 48 truy quét bắt tù binh, thu vũ khí còn lại nhanh chóng phát triển đánh chiếm quận ly Củ Chi và Tân Quy. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng phát triển chiến đấu tiếp.

+ Dự kiến một số tình huống và cách xử trí:

Địch dùng pháo, máy bay oanh tạc vào đội hình chiếm lĩnh. Nhanh chóng tìm đường vòng tránh để lại một lực lượng nhỏ giải quyết hậu quả, lực lượng còn lại vào chiếm lĩnh theo qui định. Địch sử dụng lực lượng bện ngoài đến phản kích đánh vào phía sau đội hình của ta, thì sử dụng lực lượng dự bị, công binh, pháo binh và cao xạ 12,71y để tiêu diệt. .

Địch điều lực lượng lớn ra bịt cửa mở thì sử dụng pháo binh, pháo bắn thẳng, hỏa lực xe tăng tập trung tiêu diệt, bộ binh nhanh chóng phát triển đánh vào bên sườn phía sau, nếu trường hợp không thể đượm, nhanh chóng lợi dụng kết quả cửa mở của đơn vị bạn để đưa lực lượng vào phát triển chiến đấu.

Địch tổ chức co cụm chống trả: Thì tổ chức hỏa lực bắn vào đội hình địch co cụm, pháo bắn thẳng diệt hỏa điểm, hỏa khí địch, bộ binh, xe tăng hình thành thế bao vây chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch.

b - Bảo đảm:

- Bảo đảm nắm địch và chỉ huy: Các trung đoàn được tăng cường một bộ phận trinh sát, tổ chức đài quan sát cùng với bộ binh, kết hợp cùng địa phương nắm địch thường xuyên trong khu vực tác chiến. Sư đoàn tổ chức một đài quan sát ở Nhuận Đức khi đơn vị vào thực hành chiếm lĩnh.

Thông tin liên lạc sử dụng hết khả năng lực lượng sẵn có trong biên chế, trong thời gian chuẩn bị, chiếm lĩnh chỉ sử dụng một chiều. Trong quá trình chiến đấu sử dụng cả ba phương tiện, khi phát triển chiến đấu chủ yếu sử dụng vô tuyến điện, tổ chức làm mạng vượt cấp xuống các đơn vị trên hướng chủ yếu và độc lập.

- Bảo đảm đường cơ động: Công binh sư đoàn và quân đoàn bảo đảm đường cơ động của xe kéo pháo đến trận địa. Công binh sư đoàn dò gỡ mìn trên đường cơ động vào chiếm lĩnh trận địa và hướng phát triển chiến đấu về Tân Quy. Công binh trung đoàn đảm nhiệm trên hướng của trung đoàn cho xe tăng đi cùng vào đến cửa mở. Sư đoàn tổ chức trạm điều chỉnh hành quân vào chiếm lĩnh của các đơn vị ở Nhuận Đức.

- Đảm bảo mở cửa: Hỏa lực bân thẳng tiêu diệt các mục tiêu trên hướng mở cửa, đồng thời chi viện trong quá trình thực hành mở cửa. Triệt để lợi dụng yếu tố bí mật để cất gỡ và liên kết bộc phá đánh đồng loạt, còn lại mới tiến hành đánh bộc phá liên tục, bảo đảm mở cửa cho cả bộ binh và xe tăng, thời cơ nổ đồng loạt là khi pháo hỏa chuẩn bị trong 5 phút đầu, đánh bộc phá liên tục trong 30 phút cuối.

- Kiềm chế pháo binh địch: Ngoài kế hoạch kiềm chế các trận địa pháo cối địch theo hiệp đồng còn qui định sử dụng thêm. Trung đoàn 48 dùng hai khẩu cối 82 ly kìm chế pháo địch ở Phước Mỹ. Trung đoàn 9 dùng hai khẩu cối 82 ly và một phân đội bộ binh kìm chế pháo và vây ép địch ở Tân Quy.

Đẩy kéo pháo: Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 48 đẩy hai khẩu 105 ly bắn thẳng vào trận địa. Tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn 9 đẩy một khẩu 85 ly bắn thẳng vào trận địa. Trung đoàn 54 dùng xe kéo pháo vào điểm eắt đúng 20 giờ ngày N-1 giao cho các đơn vị trên.

- Đảm bảo hậu cần: Đạn pháo theo cơ số qui định,  đạn bộ binh từ 2-3 cơ số, khi phát triển chiến đấu sử dụng cơ giới để vận chuyển bổ sung.

- Quân y: Trạm phẫu sư đoàn đặt ở nam Nhuận Đức từng trung đoàn tổ chức tuyến quân y trên các hướng, mỗi cá nhân có 1-2 băng cá nhân, hiệp đồng trước với địa phương tiếp nhận thương binh khi sư đoàn phát triển chiến đấu tiếp.

Bảo đảm phòng hóa: Mỗi người phải mang theo ruột khăn mặt hoặc băng miệng do quân y cấp, một bi - đông nước.

4 - Vị trí chỉ huy và các mốc thời gian

- Vị trí chỉ huy của sư đoàn ở Nhuận Đức. Ngày 26 tháng 4, trung đoàn 54 hoàn thành công tác chuẩn bị, chiếm lĩnh, sẵn sàng chiến đấu.

- Ngày N-1 chiếm lĩnh, đến 5 giờ ngày N chiếm lĩnh xong, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị.

- 5 giờ 30 ngày N (29-4), sẵn sàng nổ súng. 




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Năm, 2009, 04:14:18 PM
III. Diễn biến chiến đấu, kết quả và ý nghĩa

A. Diễn biến chiến đấu

1 Giai đoạn hành quân chiếm lĩnh trận địa, thực hành mở cửa (từ ngày 26 đến 28 tháng 4 năm 1975)


Ngày 26 tháng 4, địch cho đại đội trinh sát của sư đoàn 25 và tiểu đoàn 320 bảo an ở Bao Cấp và Trung Hòa lấn ra tây và tây nam Nhuận Đức để phát hiện và phá thế chuẩn bị của ta.

Trung đoàn 54 cùng pháo binh của Quân đoàn 3 tập kích và kìm chế pháo cối địch ở Đồng Dù. Tiểu đoàn 6 trung đoàn 9 hành quân lên Nhuận Đức để giữ bàn đạp và tổ chức ngăn chặn địch không cho chúng nống ra các khu vực ta sẽ chiếm lĩnh.

Ngày 27 tháng 4, các trận địa pháo cối ta thực hành chiếm lĩnh xong, chuẩn bị phần tử và thực hành kìm chế pháo cối địch ở Đồng Dù.

Ngày 28 tháng 4, pháo binh vẫn tham gia thế áp trận địa pháo cối địch, 13 giờ, sở chỉ huy nhẹ sư đoàn đi trước để chỉ huy các đơn vị vào chiếm lĩnh. Trinh sát, công binh và các bộ phận đi trước chuẩn bị dẫn  đường cho các đơn vị vào chiếm lĩnh, 17 giờ, các đơn vị bắt đầu hành quân vào chiếm lĩnh, 18 giờ, sơ chỉ huy sư đoàn bắt đầu làm việc, 20 giờ, trinh sát công binh và bộ phận cán bộ đi trước đã vào đến vị trí triển khai, các đơn vị mở cửa đã tiến hành dô gỡ mìn, 22 giờ, sư đoàn lệnh cho trung đoàn 9 tăng cường thêm lực lượng đón lõng, đồng thời lệnh cho tiểu đoàn 6 và tiểu đoàn 2 đẩy pháo ngắm bắn trực tiếp vào trận địa. 24 giờ trung đoàn 593 cơ động lên khu vực tạm điều chỉnh, 2 giờ ngày 29 tháng 4, trung đoàn 9 đã vào hết vị trí triển khai chiến đấu, sư đoàn lệnh cho tiểu đoàn xe tăng lên tuyến điều chỉnh, 2 giờ 30, trung đoàn 48 đã vào hết vị trí triển khai chiến đấu. Hướng trung đoàn 48, tiểu đoàn 1 cắt triệt để 1 hàng rào, liên kết đồng loạt hai hàng rào bằng mìn tăng, còn hai hàng rào để đánh liên tục, tiểu đoàn 3 cắt triệt để ba hàng rào, liên kết đồng loạt hai hàng rào, còn hai hàng rào, để đánh liên tục.

Hướng trung đoàn 9: Tiểu đoàn 5 cật triệt để hai hàng rào, liên kết đồng loạt một hàng rào bằng mìn ĐH10 còn ba hàng rào để đánh liên tục, 4 giờ tiểu đoàn 4 trung đoàn 9 lực lượng đón lõng đã vào đến Bắc Hà, 5 giờ ngày 29 tháng 4, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bộ đội sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Đúng 5 giờ 20, sau khi các đơn vì báo cáo và kiểm tra lần cuối cùng, thời tiết tốt, quan sát rõ, sư đoàn báo cáo lên quân đoàn, được quân đoàn phê chuẩn đúng 5 giờ 30 sư đoàn ra lệnh nổ súng.

5 giờ 30, pháo binh bắt đầu bắn, đồng thời trên các hướng điểm hỏa mìn đồng loạt phá hàng rào, xe tăng và cao xạ vào chiếm lĩnh trận địa và tuyến xuất phát xung phong. 6 giờ, địch cho khoảng một trung  đội theo cổng tây nam đi ra, bộ phận đón lõng của tiểu đoàn 4 trung đoàn 9 đã nổ súng ngăn chặn và tiêu diệt một số, số còn lại chạy về căn cứ và cho 1 đại đội bảo an ở nhà thờ Bắc Hà ra vây đánh sau đội hình tiểu đoàn 4. Tiểu đoàn dùng 1 đại đội (thiếu) vận động ra chặn đánh, địch bỏ chạy, ta truy kích chiến khu nhà thờ Bậc Hà và tổ chức triển khai đón lõng như nhiệm vụ được giao. Lúc này địch đã phát hiện ra hướng cửa mở của ta, chúng dùng pháo cối bắn ngăn chặn, máy bay đến oanh tạc vào phía sau đội hình trung đoàn 48, cao xạ ta bắn rơi một chiếm, riêng cửa mở tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 địch dùng cả đạn cối hóa học nhưng ta không có ảnh hưởng gì lớn. Địch dùng tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 ở Xóm Mới và một chi đội xe tăng ở Củ Chi lên phối hợp cùng phản kích vào sau đội hình trung đoàn 9.

6 giờ 40, xe tăng hướng trung đoàn 48 vào tuyến chờ đợi dùng hỏa lực tiêu diệt các mục tiêu chi viện cho bộ binh lên đánh bộc phá liên tục. Lúc này địch điều một chi đội xe tăng cùng tiểu đoàn 2 trung đoàn 50 ra tăng cường cho khu trung tâm huấn luyện. 7 giờ chi đội xe tăng thiết giáp và một đại đội bảo an thuộc tiểu đoàn 305 lên đón tiểu đoàn 3 trung đoàn 50, bị một trung đội công binh của trung đoàn 9 ra chặn đánh diệt ba xe và một sổ địch nên chúng không đón được tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 để phản kích vào sau đội hình của ta.

7 giờ 25, các đơn vị báo cáo cửa mở đã thông, sư đoàn ra lệnh cho pháo binh chuyển làn, chi viện cho bộ binh xung phong đánh chiếm đầu cầu. Đúng 7 giờ 30, bộ binh xung phong đánh chiếm căn cứ.

2. Giai đoạn đánh chiếm đẩu cầu, phát triển chiến đấu bên trong

Từ 7 giờ 30 đến 8 giờ, địch điều bộ binh và xe tăng ra phản kích hòng bịt lấp cửa mở, chúng cho máy bay tiếp tục oanh tạc vào phía sau đội hình trung đoàn 48 và các trận địa pháo ở nam Nhuận Đức pháo binh ở Tân Quy bân mạnh vào hướng cửa mở của ta.

Về phía ta, đại đội 3 tiểu đoàn một trung đoàn 48 đã chiếm được đầu cầu, bắn cháy một xe tăng địch. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 9 bị chặn lại ở cửa mở do còn hai hàng rào cuối cùng chưa phá được. Xe tăng trên hướng trung đoàn 48 chiếc đi đầu bị trúng đạn nằm lại ngoài hàng rào, chiếc thứ hai vào đến cửa mở bị địch bắn cháy, xe của đại đội trưởng hỏng máy phải dừng lại, còn một chiếc cùng bộ binh đột phá vào được trong căn cứ. Cao xạ trung đoàn 593 bắn rơi một máy bay A37 bảo vệ tốt đội hình chiến đấu của sư đoàn.

Từ 8 giờ đến 8 giờ 80, địch dùng xe tăng và bộ binh ra bịt cửa mở trên hai hướng của tiểu đoàn 3 trung đoàn 48, và tiểu đoàn 5 trung đoàn 9, tin trên thông báo địch sẽ dùng tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 ở Xóm Mới ra phản kích vào phía sau trung đoàn 9 ở khu rừng cao su phía tây căn cứ.

Ta, 8 giờ 30 tiểu đoàn 1 (thiếu) và xe tăng hướng tnmg đoàn 48 đã đánh chiếm được khu bãi tập chiến thuật, diệt và bắt 50 tên nhưng bị địch chặn lại không phát triển được nữa, tiêu đoàn 2 vào tiếp cũng bị địch chặn lại, ĐKZ của trung đòan bản bốn phát đều không diệt được mục  tiêu.

Đại đội 11 tiểu đoàn 3 đã chiếm được đầu cầu nhưng bị địch chặn lại, đại đội 10 vào tiếp nhưng cũng chưa phát triển được phải nằm ngoài bờ tường. Riêng tiểu đoàn 5 trung đoàn 9 vẫn chưa vào được đầu cầu pháo binh và cao xạ tổ chức bắn vào đội hình địch phản kích buộc chúng phải dừng lại.

Trước diễn biến tình hình của trận đánh, sư đoàn nhận định địch tập trung xe tăng và bộ binh ra bịt cửa mở, đồng thời kết hợp với địch bên ngoài phản kích đánh vào bên sườn phía sau đội hình ta, hòng đánh bật ta ra khỏi căn cứ. Máy bay, pháo binh địch tiếp tục chi viện đắc lực bảo vệ căn cứ Đồng Dù. Ta, trên hai hướng tiểu đoàn 3 và 5 gặp khó khăn, bị địch ngăn chặn và tập trung lực lượng đối phó nên chưa đột phá vào căn cứ được. Hướng trung đoàn 9 cửa mở chưa thông địch lại tổ chức phản kích vào sau đội hình tiểu đoàn 5. Hướng chủ yếu, tiểu đoàn 1 cơ bản đã phát triển vào được bên trong cùng xe tăng đang nhanh chóng phát triển chiến đấu.

Từ nhận định trên sư đoàn quyết tâm: Kiên quyết tập trung lực lượng, nhanh chóng tăng cường lực lượng trên hướng chủ yếu tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 để phát triển chiến đấu thọc sâu vào sở chỉ huy sư đoàn địch và phát triển sang hai hướng tiểu đoàn 3 và 5, để hỗ trợ cho hai hướng tiếp tục đột phá phát triển vào bên trong. Đồng thời sử dụng lực lượng trung đoàn 9, kết hợp cùng pháo binh cao xạ ngăn chặn đánh bại lực lượng phản kích của địch. Sư đoàn trưởng lệnh cho pháo binh tiếp tục chi viện cho tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 phát triển chiến đấu vào sở chỉ huy, trung tâm thông tin. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 cùng tám xe tăng theo hướng của tiểu đoàn 1 phát triển chiến đấu tiến công các lực lượng địch ở hướng tiểu đoàn 3 và 5 hỗ trợ cho hai hướng này phát triển vào bên trong trung tâm căn cứ. Tiểu đoàn 1 nhanh chóng thọc sâu vào sở chi huy sư đoàn 25 ngụy, trung đoàn 9 xốc lại lực lượng tiểu đoàn 5, tập trung hỏa lực chi viện cho tiểu đoàn 5 tiếp tục đột phá, tiểu đoàn 4 và 5 cao xạ ngăn chặn và tiêu diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 địch ra phản kích.

Từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30, địch cho tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 cùng chi đội xe tăng thiết giáp tổ chức phản kích từ ấp Mới ra sau đội hình trung đoàn 9. Trên hướng cổng chính có một bộ phận địch ra khỏi căn cứ Trên hai hướng cửa mở tiểu đoàn 3 và 5, bộ binh và xe tăng địch cơ bản đã bị ta tiêu diệt nhưng chúng vẫn ngoan cố chống cự, chờ trung đoàn 46 ở Tráng Bàng và Đồng Chùa về cứu nguy cho Đồng Dù.

Hướng chủ yếu: tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 và xe tăng ta đã phát triển chiến đấu chiếm được khu công binh, hậu cứ trung đoàn 46, bắt gần 100 tên, đang phát triển tìm diệt sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy, tiểu đoàn 2 đánh chiếm khu thông tin, bật 30 tên, tiểu đoàn 3 cùng bốn xe tăng đột phá được vào bên trong hình thành hai mũi đánh chiếm khu pháo binh và hậu cứ trung đoàn 46 .

Hướng thứ yếu: 9 giờ, đại đội 7, tiểu đoàn 5 trung đoàn 9 cùng một bộ phận dự bị tiểu đoàn 16 cao xạ đã đánh bại địch phản kích diệt 100 tên, bắt 135 tên trong đó có tên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3 trung đoàn 50, mũi tiến công của tiểu đoàn 5 vẫn bị địch ngăn chặn quyết liệt, hai khẩu ĐKZ 75 ly đều bị địch bắn hỏng, bộ binh không đột phá vào được.

Hướng đón lõng: Tuy bị mất liên lạc với trung đoàn nhưng vẫn chủ động tích cực đánh địch, diệt bốn xe tăng địch chạy ra cổng chính, buộc địch phải quay vào căn cứ, tiểu đoàn nhanh chóng truy kích vào cổng bắt 100 tên. Sau đó phối hợp cùng trung đoàn 48 phát triển chiến đấu ở trung tâm đánh chiếm liên đoàn 333 vận tải và trung tâm thông tin.

Như vậy trước nguy cơ bí tiêu diệt, địch ngoan cố chống cự nên tiểu đoàn 5 chưa vào được, lực lượng đánh bên trong chưa đánh đúng sở chỉ huy địch. Để giải quyết nhanh, làm chủ căn cứ đúng thời gian quy định, sư đoàn sử dụng bốn xe tăng dự bị cùng trung đoàn 48 và tiểu đoàn 4 nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy, khu thiết giáp. Lệnh cho tiểu đoàn 5 vòng theo hướng cửa mở của tiểu đoàn 1 và cổng chính để vào căn cứ. Tiểu đoàn 6 dự bị của sư đoàn đánh trung đoàn 46 địch đang tổ chức phản kích.

Từ 9 giờ 30 đến 10 giờ 30: Hướng chủ yếu của trung đoàn 48 phát triển thuận lợi và nhanh chóng đánh chiếm được các mục tiêu quy định. Tiểu đoàn 1 và 2 sau khi đánh chiếm khu hậu cứ trung đoàn 46 địch, khụ thông tin, đến 10 giờ 30, tiểu đoàn 1 cùng xe tăng đã đánh chiếm được sở chỉ huy sư đoàn địch, sư đoàn 25 mất liên lạc hoàn toàn với bên ngoại, sư trưởng Lý Tòng Bá bỏ chạy. Tiểu đoàn 3 cùng xe tăng đánh chiếm xong trận địa pháo  ra sở chỉ huy trung đoàn 50, đánh phát triển sang khu thiết giáp và sân bay. Các mục tiêu cơ bản đã bị tiêu diệt, tnmg đoàn 48 cho một bộ phận phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương lùng sục truy quét quân địch phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương.

Hướng thứ yếu: 10 giờ 30 tiểu đoàn 5 đã đột phá vào được trong căn cứ đánh chiến khu huấn luyện bắt 200 tên, tiểu đoàn 4 đánh chiếm khu vận tải, quân y. Từ 10 giờ 30 đến 11 giờ 30 các mũi hướng phát triển thuận lợi, đánh chiếm các mục tiêu còn lại khu thiết giáp, sân bay, khu thông tin, tiểu đoàn quân y cửa địch. Đồng thời tiếp tục lùng sục truy quét tiêu diệt địch còn sống sót bật tù binh, thu vũ khí. Đúng 11 giờ 30 ngày 29 tháng 4 năm 1975, ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù.

3. Giai đoạn làm chủ trận địa

11 giờ 30, ta đã tiêu diệt, làm chủ căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt đại đội bảo an ở Bắc Hà. Trung đoàn 9 đánh địch phản kích ở hướng tây bấc, địch ở Củ Chi bỏ chạy tán loạn, khi trung đoàn 48 phát triển ra thì lực lượng vũ trang địa phương đã làm chủ Củ Chi. Còn Tân Quy: Sau khi ta làm chủ Đồng Dù, sư đoàn dùng pháo 155 ly kết hợp cối 82 ly bố trí kìm diệt thấy địch hoang mang rối loạn ta dùng pháo cối tập kích kết hợp với lực lượng công binh, trinh sát và cán bộ cấp phó từ trung đội đến trung đoàn đang nam địch ở đó nổ súng tiêu diệt được một số địch. Đến 13 giờ địch bỏ chạy khỏi căn cứ, bộ phận cán bộ vào căn cứ thu hai khẩu pháo 105 ly và nhiều trang bị khác.


B. Kết quả chiến đấu

1. Về địch


Loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 3000 tên trong đó diệt 500 tên (có 1 trung tá và 1 thiếu tá) bật 2.269 tên, trong đó có 1 chuẩn tướng, 1 đại tá, 3 thiếu tá, 8 đại úy và nhiều sĩ quan khác, gọi hàng gần 200 tên, thu: 904 khẩu súng các loại, trong đó có 3 khẩu 175 ly, 4 khẩu 155 ly, 2 khẩu 105 ly. Sau thu thêm 4.000 khẩu súng các loại, 100 máy thông tin, thu và phá 434 xe quân sự, trong đó 23 xe tăng và thiết giáp. Bắn cháy 11 xe tăng và 2 máy bay. Thu toàn bộ kho tàng và phương tiện chiến tranh của toàn bộ căn cứ Đồng Dù, Củ Chi và Tân Quy.

2. Về ta

Bị phá hỏng 4 xe tăng và 1 xe đạn pháo 220 viên.

Tiêu thụ: 1112 viên đạn pháo 155 ly, Đ74: 337 viên, 105 ly: 2628 viên, cối 160: 42 viên, cối 120: 131 viên, pháo 85: 145 viên, ĐKB: 99 viên, Hi2: 52 viên, pháo tăng 211 viên, ĐKZ: 245 viên, cối 82: 1328 viên, cao xạ 57 ly: 23 viên, cao xạ 37 ly: 382 viên, 12,7 ly: 9.054 viên.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 02 Tháng Năm, 2009, 04:58:31 PM
Đọc bài này của chiangsan post lên đây, tôi mới biết là hôm qua đã chụp hình và chạm vào hiên vật lịch sử, phiên bản chiếc xe T54 số 960 đã cùng f320 đánh chiếm căn cứ Đồng Dù sáng ngày 29.4.75.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: thptquochoc trong 02 Tháng Năm, 2009, 07:08:56 PM
Các bác cho cháu hỏi xe tăng 843 ở dinh độc lập hiện giờ và ở bảo tàng quân sự Việt Nam ở Hà Nội thì cái nào là thật ạ(Thật là xe nào húc dinh độc lập)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 07:30:04 PM
Các bác cho cháu hỏi xe tăng 843 ở dinh độc lập hiện giờ và ở bảo tàng quân sự Việt Nam ở Hà Nội thì cái nào là thật ạ(Thật là xe nào húc dinh độc lập)

Cái ở Hà Nội là thật.

Xe 390 thì chiếc ở Bảo tàng Tăng thiết giáp mới là thật, các xe khác chỉ là phiên bản.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Năm, 2009, 07:53:17 PM
Cái ở Hà Nội là thật.

Xe 390 thì chiếc ở Bảo tàng Tăng thiết giáp mới là thật, các xe khác chỉ là phiên bản.

Thông tin của bác đã chắc chưa đấy?  ;) Nếu đúng là thật thì bắt đầu từ năm nào?  :-\


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 08:06:59 PM
Cái ở Hà Nội là thật.

Xe 390 thì chiếc ở Bảo tàng Tăng thiết giáp mới là thật, các xe khác chỉ là phiên bản.

Thông tin của bác đã chắc chưa đấy?  ;) Nếu đúng là thật thì bắt đầu từ năm nào?  :-\

CHắc  ;D ;D

Vì em đã chụp ảnh nó mà :D  sau đó đưa trong topic về Bảo tàng tăng thiết giáp VN.

Em cũng thắc mắc, hỏi chị hướng dẫn câu y chang bác hỏi em. Chị ấy trả lời là chắc chắn, vì họ có hệ thống sổ sách theo dõi, nhận bàn giao chiếc xe này từ Quân đoàn 2 về.
Thực tế đưa xe vô đây nhưng vẫn niêm cất, nổ máy để khi cần là lăn bánh được ngay.

(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/BaotangTTG/CIMG1765.jpg)

Hí hí, em lại nhìn thấy chiếc 960 bên cạnh, có bác sắp khóc đây
:D :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 08:47:12 PM
Bản đồ Đồng Dù, tỷ lệ 1:50.000

(http://farm2.anhso.net/PhotoHandler.ashx?actions=b&auth=27442&api=0DBF62EBE059D9747F80D5C957E517F0F9AC850DD3173963&mz=5)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: daibacvn trong 02 Tháng Năm, 2009, 08:59:21 PM
Hihihi, thật giả quan trọng gì cơ chứ - chiếc nào cũng được... bất kỳ một chiếc tăng nào đã tham gia chiến đấu cũng góp phần không ít thì nhiều đến công cuộc chiến đấu thống nhất đất nước!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 02 Tháng Năm, 2009, 09:03:29 PM
Bản đồ Đồng Dù, tỷ lệ 1:50.000
--------------------------------------
 @rongxanh: Cờ địch mở về Đông. ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 02 Tháng Năm, 2009, 09:31:51 PM
Bản đồ Đồng Dù, tỷ lệ 1:50.000
--------------------------------------
 @rongxanh: Cờ địch mở về Đông. ;D

Em theo sách cũ đấy ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 02 Tháng Năm, 2009, 11:44:18 PM
Có bác nào có trận Prasaut tháng 8/1978, trận Udong, trận KP S'peu tháng 2 năm 1979, thì làm ơn bốt lên cái !  ;)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Năm, 2009, 12:23:53 AM
Lọ mọ lôi ra được cuốn Sử f320, thấy có cái sơ đồ:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dongdu.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lixeta trong 03 Tháng Năm, 2009, 09:25:32 AM
Các bác cho cháu hỏi xe tăng 843 ở dinh độc lập hiện giờ và ở bảo tàng quân sự Việt Nam ở Hà Nội thì cái nào là thật ạ(Thật là xe nào húc dinh độc lập)

Cái ở Hà Nội là thật.

Xe 390 thì chiếc ở Bảo tàng Tăng thiết giáp mới là thật, các xe khác chỉ là phiên bản.

Lixeta xác nhận: Rong xanh nói chính xác đấy!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 04 Tháng Năm, 2009, 10:15:36 PM
Buồn nhỉ, bác chủ topic này chẳng phản biện lại ý kiến anh em tham gia chút nào nhỉ  ???


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mig21q trong 05 Tháng Năm, 2009, 12:27:11 PM
Theo em thì tài liệu bác Trường Sơn post lên là chính xác và cũng phù hợp với những gì bác Trọng đã trải qua!
Cảm ơn bác nhiều!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 05 Tháng Năm, 2009, 08:22:46 PM
Cái này còn chính xác hơn ;D

1. Lực lượng

-   Hướng tiến công chủ yếu: Tây Bắc căn cứ, do Trung đoàn 48 bộ binh đảm nhiệm

-   Hướng tiến công thứ yếu: Tây Nam căn cứ do Trung đoàn bộ binh 9 đảm nhiệm

-   Tiểu đoàn tăng 3 (thiếu) của Trung đoàn tăng 273 phối thuộc cho F320 (thiếu) tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, sau đó phát triển chiến đấu đánh chiếm quận lỵ Củ Chi.

-   Kế hoạch phân chia sử dụng xe tăng:
+ Đại đội tăng 7 trực tiếp chi viện cho E48, đánh chiếm sở chỉ huy F25 ngụy và 1 số mục tiêu quan trọng khác.
+ Đại đội tăng 8 (thiếu) chi viện cho E9, tham gia đánh chiếm sở chỉ huy F25 ngụy
+ 1 Trung đội (4xe) của đại đội tăng 8 làm dự bị của Sư đoàn

2.   Diễn biến

-   5h40 ngày 29/4/1975 các cụm pháo chiến dịch và cụm pháo sư đoàn bắt đầu bắn cấp tập vào Đồng Dù. D3 tăng (thiếu) tiếp tục chiếm tuyến triển khai xung phong theo thứ tự: B1/c7 (3 xe) làm nhiệm vụ ngắm bắn trực tiếp, B1/c8 (4 xe) tiến công hướng Tây Nam, B2/c7 (5 xe) tiến công hướng Tây Bắc, B2/c8 làm lực lượng dự bị dừng tại vị trí điều chỉnh.

-   6h20, d trưởng được thông báo là địch cho 3 xe M48 tiến ra hướng Tây Nam bên trong căn cứ để đối phó với E9

-   6h35 b1/c7 tiến với tốc độ cao tách khỏi đội hình lên chiếm trận địa bắn ngắm trực tiếp ở bờ nam suối  Bến Mương (bên trái cửa mở).

-   6h40 c7 tăng chiếm tuyến triển khai và bắt đầu bắn vào lô cốt tiền duyên địch, chi viện cho bộ binh lên mở nốt hàng rào cuối cùng. Địch bắn trả quyết liệt, chúng dùng cả lựu đạn cay ném vào bộ binh ta đang áp sát hàng rào.

-   7h c7 được lệnh xung phong qua cửa mở. Xe 877 dẫn đầu đội hình lao lên, đến cuối cửa mở gặp bờ tường đất quá cao, đất xốp, xe leo lên, tụt xuống bốn lần không vượt qua được, đội hình c7 ùn lại trong cửa mở. Lúc này địch đã điều 2 xe M48 ra bắn mạnh vào xe tăng và bộ binh ta ở 2 bên cửa mở. Xe 813 ở trận địa ngắm bắn trực tiếp bị trúng đạn, trưởng xe hy sinh. Phát hiện xe tăng địch, c7 liền tập trung hỏa lực tiêu diệt nhưng do vị trí triển khai hẹp, lại ở thế bất lợi gần địch, trong lúc xe địch có tường chắn nên ta khó bắn trúng. Sau 10 phút xe tăng ta mới bắn cháy 2 xe M48 của địch. Tuy nhiên do đội hình ùn lại lâu trước cửa mở nên xe của đại đội trưởng (xe 876) và xe của B phó (xe 881) bị bắn hỏng nặng. Bộ binh ta có bộ phận đã vượt tường cao vào bên trong, có bộ phận còn ở ngoài bị địch bắn trả dữ dội, không tiến lên được.

-   Trong tình thế gay go phức tạp, c trưởng c7 liền nhảy ra khỏi xe, kiểm tra bờ đất sau đó chuyển sang xe còn lại (số 896) tiếp tục chỉ huy đơn vị cùng bộ binh tổ chức xung phong qua cửa mở. Xe 896 đã khéo léo lái chếch bờ tường với góc 20 độ và vượt quá được. Các xe 877, 872 xung phong theo vết xích của xe 896 nên đều vượt được qua bờ đất.

-   Dưới sự chi viện hỏa lực mạnh của 3 xe tăng, bộ binh ta ào ào tiến lên đánh thẳng vào khu vực tiểu đoàn công binh, đánh chiếm hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Trước sức mạnh tiến công táo bạo dũng mãnh của xe tăng và bộ binh ta, địch không thể chống đỡ nổi, 1 số bị diệt, 1 số còn lại hoảng loạn tháo chạy. Thừa thắng c7 cùng bộ binh nhanh chóng phát triển sang khu vực tiểu đoàn truyền tin.

-   Cùng thời gian này, trên hướng cửa mở Tây Nam, sau khi 4 xe của c8 lần lượt bị bắn hỏng, bắn cháy, mất sức chiến đấu, không hoàn thành nhiệm vụ đột phá, bộ binh ta cũng gặp khó khăn, nhiều lần tổ chức xung phong nhưng bị địch chặn đứng trước cửa mở. Địch còn điều 2 xe M113 và 1 tiểu đoàn bảo an từ quận lỵ Củ Chi ra phản kích vào sau lưng E9. Chúng đã bị 1 bộ phận của E9 phái ra đánh tan.

-   Ở hướng của c7, sau khi chiếm xong khu thông tin, c trưởng quan sát thấy ở khu nhà trước mặt, có nhiều cột ăng ten, biết đó là sở chỉ huy F25 ngụy liền lệnh cho toàn c nhanh chóng chia làm 2 mũi cùng bộ binh hình thành thế bao vây chặt và tập trung hỏa lực bắn vào sở chỉ huy, đồng thời cảnh giới đề phòng địch đánh tạt sườn.

-   Địch lợi dụng từng căn nhà, đường hào ngăn chặn ta quyết liệt, bộ binh ta không phát triển lên được. Để kết thúc nhanh trận đánh, d trưởng đã trực tiếp đề nghị Sở chỉ huy F320 đưa B2/c8 dự bị bước vào chiến đấu. Được Sở chỉ huy sư đoàn chấp nhận, 4 xe T54 do chính trị viên C8 chỉ huy nhanh chóng tiến theo cửa mở phụ trên hướng chủ yếu đánh thẳng vào trận địa pháo binh, sân bay và tiến xuống phía Nam bịt chặt cửa phía Đông nam căn cứ, không cho địch rút chạy.

-   Đến 10h30 d3 tăng (thiếu) cùng bộ binh trên cả 2 hướng đánh chiếm Sở chỉ huy F25 ngụy và Bộ tham mưu của chúng. Sau đó các mũi tiến công của c7, c8 tiến đánh tiếp cácmục tiêu còn lại là xưởng sửa chữa xe cơ giới, hâu cứ trung đoàn thiết giáp, liên đoàn vận tải 233, chi viện cho bộ binh bắt tù binh, thu vũ khí.

-   11h30 ngày 29/4/1975 quân ta làm chủ căn cứ Đồng Dù, kết thúc thắng lợi trận đánh


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 05 Tháng Năm, 2009, 09:25:05 PM
Theo em thì tài liệu bác Trường Sơn post lên là chính xác và cũng phù hợp với những gì bác Trọng đã trải qua!
Cảm ơn bác nhiều!

Ngược lại là khác bạn mig21q ơi! :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mig21q trong 06 Tháng Năm, 2009, 07:01:49 AM
Ngược lại là khác bạn mig21q ơi! :)
Em thấy nó phù hợp ở chỗ là: hướng thứ yếu của trận đánh do E9 đảm nhiệm gặp nhiều khó khăn, không mở được cửa, chi viện của xe tăng chỉ có 1 Ct thiếu; hướng chủ yếu tập trung nhiều lực lượng mạnh, có 1Ct tham gia, sau bổ sung nốt 1Bt dự bị của sư đoàn, nên đã vào được tung thâm. Như vậy, E48 trên hướng chủ yếu vào căn cứ trước, E9 trên hướng thứ yếu vào căn cứ sau nên khi bác Trọng vào thì thấy quân địch đã cầm cờ trắng và sắp thành hàng.
Hôm nọ, có việc đột xuất, không ọp ở An Khánh được, tiếc quá bác ạ!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 06 Tháng Năm, 2009, 08:38:49 AM
Trong các tài liệu bổ sung trên kia, hầu hết đều nói 11 giờ 30 quân ta làm chủ căn cứ. Ấy thế mà trongc6 lúc hơn 2 giờ chiều còn trú trong công sự bên ngoài căn cứ để ngắm xe tăng sư 10 chạy qua ...

He, Có vài thời điểm trong ngày không thể nhầm lẫn được đối với thằng lính. Đó là lúc sáng sớm, buổi trưa và xẩm tối ... càng không có đồng hồ càng phân biệt rõ! :)

(Hehe, cái cứ điểm An Khánh đó thật ác liệt)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: TimeBreak trong 06 Tháng Năm, 2009, 08:51:21 AM
Em là hậu sinh không dám phát biểu nhiều, nhưng trong hồi ức của bác TrongC6, thì em thấy có hai điểm đáng chú ý :

1/ khi E của bác ấy thấy " địch trong căn cứ có dấu hiệu hốn loạn", đã xung phong vào, thì không bị kháng cự một chút nào - cái này khác hẳn với các đợt tấn công bị bẻ gãy ngay trước đó vài tiếng va

2/ Khi càn quét vào sâu căn cứ, thấy địch ngồi xếp hàng từng cụm, tay cầm vải/cờ/dù trắng

Cá nhân em nghĩ, việc Sư 10 rùng rùng chạy qua cổng bên kia không thể đủ làm cho quân địch trong căn cứ thay đổi hẳn như thế, chắc là đã có một đơn vị nào tiến chiếm từ hướng khác, căn cứ thất thủ và 2 hiện tượng trên thể hiện quân địch trong căn cứ đã bị giải giáp.

Em rất đồng ý với ý kiến của bác ở trên, có thể E của bác TrongC6 có nhiệm vụ đánh vỗ mặt, thu hút hỏa lực địch, nghi binh để đơn vị kia tấn công thành công

Xin các bác Cựu binh chỉ giáo


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 06 Tháng Năm, 2009, 10:04:54 AM
  Time@      Đánh Đông dù  ta phải mở nhiều cửa để cửa này không mở  được thì có cửa khác   không hề có mũi nào nghi binh cả .Dĩ nhiên E48 là mũi chủ yếu thì được tăng cừong lực lựong nhiều hơn . E 9 vào sau là do chỉ huy không tốt , mở 2 cửa thì một cửa không mở được ,1 cửa (chỗ bác Trọng ) coi như xong ,chỉ còn một hàng rào vứong chân loại này dễ phá nhất ,cán bộ  D không  lên cửa mở để chỉ huy, c 6 mỗi b có một ống  bộc phá nhưng không dùng và bác trọng cứ viếc ngồi ngâm thơ mơ mộng .Còn c5 hy sinh nhiều khi mở cửa là đương nhiên  ,(quân số mỗi c khi đó chắc cũng chừng 20-30 tay súng thôi )
 E48 cán bộ d vào cửa mở để chỉ huy , lại có anh Sơn dám đứng thẳng để bắn xe tăng ( anh Sơn được tuyên dương anh hùng là do có thành tích trong trận này }bộ binh  chiếm đựoc  đầu  cầu thì F tung hết dự bị vào đây để  đánh cũng là  điều đương nhiên ., nếu C6 ở gần đó chắc chắn e9 cũng mượn cửa e48 để vào đánh các mục tiêu đã được phân  công ,
 -Nếu 48 không  chiếm được SCH f25 VNCH thì cho kẹo f10 cũng không thể hành tiến qua đâu .Mục đích đánh Đồng dù là mở đừong cho f10 thọc sâu


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 06 Tháng Năm, 2009, 10:55:24 AM
Lọ mọ lôi ra được cuốn Sử f320, thấy có cái sơ đồ:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dongdu.jpg)
.................
Theo cái này thì 1 bộ phận của d4 còn nằm phía trước đơn vị bác trongc6@,như vậy thì khi tấn công bộ phận này đã bị thương vong hết ,sau đó c5 d2 của bác mới tiếp bước tấn công(bác Khung c phó c5 hy sinh tại cửa mở).Mặc dù "Lịch sử Đại đoàn Đồng Bằng - Sư đoàn 320 - Biên niên sự kiện 1951-2005"ghi rõ là: 11h30 ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng dù nhưng do căn cứ rộng nên có cái không hoàn toàn ở đây .Hướng đột phá của đơn vị bác là hướng chính diện nên khó khăn là phải,có thể các hướng khác đã lên được căn cứ nhưng không phát triển được hết nên hướng của bác vẫn phải nằm chịu trận thôi.Chính những điều không trung thực khi viết sử này (có thể mang nặng nhiệm vụ tuyên truyền ) nên làm cho người đọc khó hiểu khi so sánh với thực tế của các ccb tham gia vào trận đánh.Nhưng có điều bác trongc6@ chưa có ý kiến gì về sơ đồ này nên em không dám bàn nhiều vì nó không ghi địa điểm của d1 e9b nằm ở vị trí nào và có tham gia trận này hay không?Do trận đánh cấp Sư đoàn (thiếu ) nên không hiểu d1 tham gia trận đánh là của e9b hay e48 nữa (mà sơ đồ cũng không ghi đơn vị d1 đánh ở cửa nào) nhưng trong sử ghi rõ :
"- Hướng chủ yểu: Tiểu đoàn 1 (thiếu Đại đội 9) cùng xe tăng đánh chiếm được khu bãi tập chiến thuật bắt 50 tên, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3) đã chiếm được đầu cầu." Làm ăn thế này thì bằng đánh đố người ta còn gì,xin bác trongc6@cho ý kiến để anh em khỏi thắc mắc đi ạ do không ghi chú cụ thể đơn vị cấp c nên chúng em không thể hiểu được vì chúng em là người ngoài cuộc,mong bài của bác!



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 06 Tháng Năm, 2009, 11:44:51 AM
 Bác Ahu@ ơi  tôi hiểu sơ  đồ này ghi D4 Tây bắc là của e 48 còn  D4  Tây nam thuộc E9 ( trong sơ đồ là E3 ) không ai lại xé D4 ra làm 2  cửa mở cả ,làm thế ai chỉ huy được  D4 E3 này không mở được cửa nên vòng về đông nam vào (nhìn mũi tên )Còn D5 là D bác Trọng vì D bác Trọng vào trong bằng cửa của mình và   ở đó vẽ mũi xe tăng vòng lại ( thể hiện 4 xe dến cửa mở thi bị chặn ,lui )


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 06 Tháng Năm, 2009, 11:57:34 AM
tai_lienson @:
 Bác Ahu@ ơi  tôi hiểu sơ  đồ này ghi D4  Tây nam thuộc E9 ( trong sơ đồ là E3 ) không ai lại xé D4 ra làm 2  cửa mở cả ,làm thế ai chỉ huy được .Còn D5 là D bác Trọng vì D bác Trọng vào trong bằng cửa của mình và   ở đó vẽ mũi xe tăng vòng lại ( thể hiện 4 xe dến cửa mở thi bị chặn ,lui )
...................
Vì bác trongc6@ viết: " Tôi ở D2 (K18), E9b. Trung đoàn tôi không có tiểu đoàn 4 hay tiểu đoàn 5. Chỉ có D1 (K15), D2(K18) và D3 (K16)" nên em hiểu như vậy mà bác hay là khi đánh nhau dùng phiên hiệu khác hả bác? Và đây nữa:
"- E48 mở cửa hướng Đông căn cứ Đồng Dù.
- E9b mở cửa hướng Tây Bắc căn cứ Đồng Dù"
 Như vậy sơ đồ này hướng Đông của căn cứ Đồng dù là hướng nào vậy bác?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Năm, 2009, 12:07:17 PM
Về chuyện phiên hiệu, e141 lúc ở f312 gồm các d 1, 2, 3; khi về f3 gồm các d 7, 8, 9.

Theo em được biết, thời chống Mỹ phiên hiệu các d trong 1 f (theo tiêu chuẩn) là 1-2-3, 4-5-6, 7-8-9 lần lượt cho 3 e theo thứ tự nhỏ đến lớn.

Cái d4 ở chỗ e48 có thể là d1, do sách in mờ các bác ạ!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 06 Tháng Năm, 2009, 01:14:29 PM
chiangshan @
Về chuyện phiên hiệu, e141 lúc ở f312 gồm các d 1, 2, 3; khi về f3 gồm các d 7, 8, 9.

Theo em được biết, thời chống Mỹ phiên hiệu các d trong 1 f (theo tiêu chuẩn) là 1-2-3, 4-5-6, 7-8-9 lần lượt cho 3 e theo thứ tự nhỏ đến lớn.

Cái d4 ở chỗ e48 có thể là d1, do sách in mờ các bác ạ
.............
Như thế là hợp lý vì bác Trọng ở c6 thuộc d2(k18), như vậy hướng tây nam chỗ e3(phần chú giải chữ trắng) phải là e9 của bác Trọng,d6 làm dự bị  vào sau theo 2 hướng cửa mở của e48 và e9.Còn d4(phần chú giải chữ trắng) của e48 thực ra là d1 e48 nhưng bác Trọng viết:
'' E9b mở cửa hướng Tây Bắc căn cứ Đồng Dù" lại không hợp với sơ đồ này?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 06 Tháng Năm, 2009, 02:00:24 PM
Em đọc được cái này bên: "Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên-Quân đoàn 3 - 1964-2005 " của bác Sao vàng @ đưa sang đây để các bác tham khảo và so sánh với cái Sử F320 của bác -new@:

Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4, Sư đoàn 320 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155m (thiếu), Trung đoàn phòng không 593 (thiếu) do sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe và chính ủy Bùi Huy Bổng chỉ huy bí mật triển khai trận địa tiến công căn cứ Đồng Dù. Bộ tư lệnh Quân đoàn cử đại tá Nguyễn Kim Tuấn phó tư lệnh trực tiếp xuống sở chỉ huy Sư đoàn 320 giáp đơn vị trong trận đánh quan trọng này.

Đồng Dù là căn cứ hỗn hợp quy mô lớn có vị trí rất quan trọng, nằm trên trục quốc lộ số 1, án ngữ phía tây bắc Sài Gòn. Đây vốn là hang ổ của sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới) được xây dựng từ lâu, có hình bầu dục, chu vi gần 8.500m, xung quanh là vùng trắng bằng phẳng trống trải hoang tàn.

Khi Sư đoàn 320 tiến công, lực lượng địch trong căn cứ Đồng Dù gồm có: bộ tư lệnh sư đoàn 25, ban chỉ huy trung đoàn 50, tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, 1 chi đoàn xe tăng và hậu cứ trung đoàn 10 thiết giáp, các tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải chiến tranh chính trị, quân y, tiếp vận, chỉ huy căn cứ Củ Chi, trường huấn luyện hạ sĩ quan binh sĩ. Tổng quân số khoảng 3.000 tên, trang bị có 34 xe tăng xe bọc thép, gần 5.000 khẩu súng các loại trong đó có 18 khẩu pháo lớn (có 4 khẩu 175mm - vua chiến trường).

Cậy có quân đông, lắm xe, nhiều súng, lại dựa vào hệ thống lô cốt công sự kiên cố bên trong và hệ thống vật cản bao quanh với gần chục hàng rào kẽm gai các loại có gài mìn dày đặc, nên chuẩn tướng Lý Tòng Bá (sư đoàn trưởng sư đoàn 25) rất ngoan cố, bắt quân lính "tử thủ” đến cùng. Song trong cơn hấp hối của chế độ bán nước, quân địch ở Đồng Dù tinh thần hoang mang dao động, sa sút, bị cô lập hoàn toàn, khả năng phòng giữ có hạn không thể chống đỡ nổi trước sức tiến công mạnh mẽ của Sư đoàn 320.

Đúng 5 giờ 30 phút, pháo binh Sư đoàn 320 đồng loạt bắn vào căn cứ Đồng Dù và kéo dài trong suốt 2 giờ liền. Trong tiếng gầm dữ dội của đại bác, xe tăng và pháo phòng không cơ động vào tuyến xuất phát xung phong, bộ binh trên các hướng nổ mìn định hướng và đánh bộc phá liên tục mở bung nhiều lớp rào. Sau 30 phút pháo kích, địch phát hiện được hướng cửa mở của ta và phản ứng mạnh. Chúng điều động bộ binh, xe tăng ra bịt lấp các cửa mở, đồng thời dùng máy bay, pháo cối có cả đạn hóa học đánh vào đội hình tiến công của Sư đoàn 320.

Trên hướng tiến công chủ yếu tây bắc, Trung đoàn 48 do trung đoàn trưởng Lê Quang Bình và chính ủy Đinh Hữu Tấn chỉ huy, chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ những phút đầu. Tại cửa mở số 1, Đại đội 3 (tiểu đoàn 1) dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Trần Nhật Tăng và chính trị viên Đào Xuân Sáng, khi mở những hàng rào trong cùng bị địch tập trung hỏa lực bắn chặn dữ dội. Được pháo cối cấp trên chi viện kịp thời, trung đội trưởng Trung đội 7 Nguyễn Hữu Gióng dũng cảm chỉ huy phân đội đánh bộc phá liên tục mở thông cửa mở. Khi hàng rào cuối cùng bị phá tung cũng là lúc các bộc phá viên Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Văn Lĩnh anh dũng hy sinh.  giờ 30 phút, pháo cối ngừng bắn, bộ binh xung phong lên cửa mở nhưng bị hỏa lực xe tăng địch trong công sự bắn chặn làm một số chiến sĩ thương vong, không phát triển được. Trước tình hình đó, trung đội trưởng Trung đội 9 Vũ Văn Sơn quan sát mục tiêu, nhanh chóng chọn cách đánh rồi bất ngờ đứng thẳng dậy bắn một quả B40 tiêu diệt chiếc xe tăng. Lập tức bộ đội ào ạt xung phong đánh chiếm đầu cầu

Lúc 8 giờ, 4 xe tăng ta tiến đến khu vực cửa mở, nhưng bị địch bắn cháy 2 chiếc, 1 chiếc hỏng máy dừng lại, chỉ còn 1 chiếc vượt qua cửa mở cùng bộ binh đột phá vào các mục tiêu bên trong cứ điểm. Sau khi đưa toàn bộ lực lượng còn lại vào phát triển tiến công, đến 8 giờ 30 phút Tiểu đoàn 1 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh và chính trị viên Nguyễn Văn Thư chỉ huy đã đánh chiếm được khu vực bãi xe của tiểu đoàn công binh, nhưng bị địch chặn lại.

Cùng thời gian này, hướng cửa mở số 2 của Trung đoàn 48 do Tiểu đoàn 3 đảm nhiệm gặp khó khăn. Đại đội 11 mở thông 5 hàng rào, khi mở tiếp 2 hàng rào trong cùng bị xe tăng địch ngăn chặn. Không chút do dự, đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ và xạ thủ B41 Nguyễn Tiến Ngọ dũng cảm diệt xe tăng và dập tắt hỏa điểm địch trước cửa mở, tạo điều kiện cho bộc phá viên Lê Văn Sử đánh tung những hàng rào cuối cùng. 7 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 3 chiếm được tuyến công sự thứ nhất làm bàn đạp rồi phát triển vào bên trong.

Ở hướng tiến công thứ yếu tây nam, Trung đoàn 9 do trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Ân chỉ huy, tổ chức mở hai cửa mở nhưng đều gặp khó khăn, bộc phá viên lên đánh hai hàng rào cuối cùng bị địch ngăn chặn không tiếp cận được. Lúc 9 giờ, qua đài trinh sát kỹ thuật, ta nắm được tin Lý Tòng Bá ra lệnh cho trung đoàn 46 ngụy ở Trảng Bàng, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 50) ở Xóm Mới và một chi đội xe tăng ở Củ Chi đi cứu nguy cho Đồng Dù.

Trước tình hình diễn biến chiến đấu ở Đồng Dù và âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 quyết định tập trung lực lượng trên hướng chính do Trung đoàn 48 đảm trách: đưa Tiểu đoàn 2 cùng 8 xe tăng vào hướng Tiểu đoàn 1 tiến công thọc sâu tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy rồi phát triển sang các hướng Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn 9. Đồng thời nhanh chóng xốc lại đội hình Trung đoàn 9 tiếp tục đột phá, sử dụng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 16 súng máy phòng không ngăn chặn quân địch tăng viện.

Thực hiện ý định chiến đấu mới, từ 9 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 2 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ chỉ huy cùng lực lượng xe tăng phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 1 liên tục tiến công đột phá, lần lượt đánh chiếm khu vực hậu cứ trung đoàn 46, khu truyền tin, nhà máy điện, đập tan những ổ đề kháng trên đường tiến công thọc sâu. Lúc 10 giờ 30 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá và ban tham mưu của y đã bỏ chạy. Bộ đội tỏa ra các hướng tiếp tục phát triển tiến công. Ở hướng Tiểu đoàn 3, bộ binh và xe tăng phối hợp đánh chiếm làm chủ các mục tiêu: trận địa pháo, sở chỉ huy trung đoàn 50, khu thiết giáp và sân bay.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 9 sử dụng Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 cùng một bộ phận dự bị của Tiểu đoàn 16 súng máy phòng không đánh bại lực lượng phản kích của tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 từ Xóm Mới và 1 chi đội xe tăng ở Củ Chi lên, diệt 100 tên, bắt 135 tên, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3 địch. Được phân đội bạn bảo vệ phía sau, 10 giờ 30 phút Tiểu đoàn 5 đột phá được vào bên trong cứ điểm, nhanh chóng đánh chiếm khu huấn luyện, bắt 200 tên địch. Tiểu đoàn 4 không mở được cửa mở, đã cơ động lực lượng qua khu vực nhà thờ Bắc Hà đánh thẳng vào cổng phía nam căn cứ Đồng Dù, chiếm khu tiểu đoàn vận tải, quân y; sau đó phối hợp với phân đội bạn chiếm các mục tiêu còn lại: khu thiết giáp, sân bay và lùng quét tàn binh.

11 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 320 làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng' Dù. Lá cờ truyền thống của Đoàn Đồng Bằng phấp phới bay tại trung tâm chỉ huy sư đoàn 25 ngụy báo hiệu trận đánh đã toàn thắng. Như vậy chỉ trong 5 giờ tiến công bộ tư lệnh sư đoàn 25 và các lực lượng địch trong căn cứ Đồng Dù đã bị đập tan, 500 tên địch bị chết, 2.269 tên bị bắt làm tù binh, 4.909 khẩu súng các loại (có 9 khẩu đại bác 175, 155, 105mm) 100 máy thông tin, 2 máy bay bị tịch thu, 423 xe quân sự (có 23 xe tăng xe bọc thép) bị thu và phá hủy. Ngày hôm sau (30.4), được nhân dân Củ Chi giúp đỡ, ta đã tóm gọn chuẩn tướng Lý Tòng Bá (sư đoàn trưởng) và đại tá Trần Thắng Chức (sư đoàn phó) cùng một số sĩ quan tham mưu sư đoàn 25 ngụy.

Căn cứ Đồng Dù bị đánh chiếm, cánh cửa thép án ngữ tây bắc Sài Gòn đã mở, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng tiến công thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn đánh thẳng về phía nội đô và Sư đoàn 316 tiêu diệt những lực lượng còn lại của địch ở vòng ngoài trên hướng tây bắc Sài Gòn.
 ..............................
như vậy về thời gian làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng dù có sự chênh lệch về thời gian (30') chưa kể đến chiều bác Trọng mới vào được căn cứ và diễn biến trận đánh cũng có sự khác biệt.Hướng chính là hướng tây bắc do e48 đảm nhận và đơn vị này vào căn cứ trước e9 của bác Trọng,hướng này là hướng thứ yếu nhưng cũng khó khăn ở cả 2 cửa mở nhưng trong này viết :
 "...10 giờ 30 phút Tiểu đoàn 5 đột phá được vào bên trong cứ điểm, nhanh chóng đánh chiếm khu huấn luyện, bắt 200 tên địch..." và " Lúc 10 giờ 30 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy."Như vậy nếu như bác Trọng không xác nhận chuyện này thì đây cũng là hàng giả nốt 

 
 
 
 
 
 

 
 
 
 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tranlam99 trong 06 Tháng Năm, 2009, 05:44:09 PM
Về phiên hiệu đơn vị trung đoàn 9, tôi nghĩ là cũng phù hợp, có lẽ trong sử ghi lại theo phiên hiệu đã thay đổi sau này rồi.

Có lẽ ở trung đoàn 48 có các tiểu đoàn 1,2,3 thì trung đoàn 9 sẽ đổi phiên hiệu các tiểu đoàn của mình sang thành tiểu đoàn 4,5,6. Do vậy  D1(K15) cũ đổi thành tiểu đoàn 4, D2(K18)  cũ đổi thành tiểu đoàn 5 và D3(K16)  cũ đổi thành tiểu đoàn 6. Tiểu đoàn của bác Trọng là tiểu đoàn 5 nên có các c5, c6, c7 và trong sử nói bị kẹt ở cửa mở là đúng.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 06 Tháng Năm, 2009, 06:37:33 PM
Em đọc được cái này bên: "Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên-Quân đoàn 3 - 1964-2005 " của bác Sao vàng @ đưa sang đây để các bác tham khảo và so sánh với cái Sử F320 của bác -new@:


 ..............................
như vậy về thời gian làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng dù có sự chênh lệch về thời gian (30') chưa kể đến chiều bác Trọng mới vào được căn cứ và diễn biến trận đánh cũng có sự khác biệt.Hướng chính là hướng tây bắc do e48 đảm nhận và đơn vị này vào căn cứ trước e9 của bác Trọng,hướng này là hướng thứ yếu nhưng cũng khó khăn ở cả 2 cửa mở nhưng trong này viết :
 "...10 giờ 30 phút Tiểu đoàn 5 đột phá được vào bên trong cứ điểm, nhanh chóng đánh chiếm khu huấn luyện, bắt 200 tên địch..." và " Lúc 10 giờ 30 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy."Như vậy nếu như bác Trọng không xác nhận chuyện này thì đây cũng là hàng giả nốt 


Em xin có ý kiến về cái vàng kia, kết luận e hơi sớm, đặc biệt chi tiết đơn vị bác Trọng vào đã thấy địch quân xếp hàng ngay ngắn, cờ trắng ...

Cụ già em (ở 1 đơn vị của F316 đánh bốt TRung Hưng cách khoảng 1km) kể khoảng tầm 10h30 đã thấy địch từ Đồng Dù túa ra khu vực cánh đồng Bắc Hồng cạnh bốt Trung Hưng rồi.

Mà sao hổng thấy bác chủ topic vô phản biện nhỉ ?  ???


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Năm, 2009, 07:43:29 PM
Các bác đang dùng giờ Hà Nội chứ ::)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taydoc711 trong 06 Tháng Năm, 2009, 11:04:13 PM
Các bác đang dùng giờ Hà Nội chứ ::)
Thực chất là Hà Nội và Sài Gòn đều chung  một múi giờ theo chuẩn quốc tế mà bác.Trước 75 thì chính quyền cũ cho chậm hoặc nhanh hơn 1h hay sao đó.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dksaigon trong 06 Tháng Năm, 2009, 11:15:43 PM
Năm 75 chính quyền Sài gòn lấy theo múi giờ thứ 8 , hơn giờ Hà nội 1 giờ !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 07 Tháng Năm, 2009, 08:28:35 AM
chiangshan@
Các bác đang dùng giờ Hà Nội chứ ::)
..............
Ta thống nhất là dùng giờ Hà nội vì mọi việc đều có sự chỉ đạo từ Hà nội mà ví dụ như giải phóng Sài gòn ngày 30/4/1975 ta chẳng dùng giờ Hà nội là gì,mà lạ 1 việc quan trọng như Tổng tấn công và nổi dậy Mậu thân 1968 mà lại không thống nhất về dùng giờ Hà nội hay giờ Sài gòn các bác nhỉ,nếu bảo sau lời chúc tết của Bác  là nổ súng thì đó chính xác là giờ HN rồi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 08 Tháng Năm, 2009, 09:39:23 PM
      Đây là bài viết đăng trên báo Điện Biên Phủ tháng 4/2009.
       Anh Vương Bá Thịnh trong bài, khi đánh Đồng Dù là Chính trị viên phó tiểu đoàn (K18), E9b.

-----------------

              ĐBP - 34 năm ngày giải phóng Sài Gòn đã trôi qua, nhưng với ông Vương Bá Thịnh (phường Thanh Trường, T.P Điện Biên Phủ) vẫn không quên mệnh lệnh tấn công xung phong trong chiến dịch Hồ Chí Minh “Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo, táo bạo hơn nữa”. Mệnh lệnh tấn công đó, không chỉ là khẩu hiệu mà còn là nguồn cổ vũ, động viên toàn quân xung phong giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

     Nhập ngũ khi vừa tròn 19 tuổi, ông Thịnh vào chiến trường miền Nam, tham gia chiến dịch Mậu Thân và trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 320. Nhiệm vụ của Trung đoàn ông khi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh là tiêu diệt Sư đoàn bộ binh nguỵ trấn giữ tại khu vực Đồng Dù (phía Tây Bắc Sài Gòn). Đây là trận đánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cùng với tiêu diệt lực lượng quân tinh nhuệ của địch, trận chiến này còn phá vỡ thế phòng thủ vòng ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập. Trận Đồng Dù, Trung đoàn chia làm 3 mũi tấn công, đồng loạt nổ súng (ông Thịnh thuộc mũi tấn công số 2 tại Tiểu đoàn 2). Sau phản kích, quân ta bị địch quay lại tấn công dồn dập, Tiểu đoàn 2 bị bao vây ngay giữa rừng cao su tại Đồng Du. Trong vòng vây, Tiểu đoàn ông quyết tâm cố thủ với trận chiến giữa ta và địch chỉ cách nhau khoảng 200m. Sau hơn 2 giờ giằng co, Trung đoàn đã huy động đại đội 7 phối hợp với Đại đội phòng không tấn công, giải vây. Nhận được sự tiếp viện từ Trung đoàn, tất cả các chiến sỹ trong Tiểu đoàn đồng loạt xông lên với tinh thần quyết thắng, địch hoang mang, rút chạy, quân ta thừa thế tấn công tiêu diệt chốt địch cuối cùng tại Đồng Du, tiến thẳng vào Sài Gòn.
 
   Đã mấy thập kỷ qua đi nhưng ký ức về những ngày máu, lửa, khốc liệt mà vinh quang vẫn như còn nguyên trong mỗi việc làm, của ông, đặc biệt “Bản giao hưởng chiến trường” như nhắc nhở ông phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh, mất mát to lớn của đồng đội để có cuộc sống no ấm, hạnh phúc hôm nay.
                 
           
(Minh Huyền)



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 08 Tháng Năm, 2009, 10:38:49 PM
Phải nói là rất tôn trọng các bác cựu binh đánh Mỹ nhưng cũng phải nói là bài viết trên, thằng phóng tinh viên viết rất là tào lao!
Đúng là dân mộng du đi giữa đồng.
Em thật.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 09 Tháng Năm, 2009, 12:10:33 AM
Các bác cựu vào đây là mong được chao đổi tin,tình huống,cảm giác thật khi xung trận hay lúc xẩy ra chiến trận và cảm xúc,xuy nghĩ nếu có sau mỗi lần đụng trận.
Đọc báo,truyện để giải trí nó chẳng có ý nghĩa gì với những người đã thật sự đụng trận,nhàm.....nhàm.. ..nhàm.......chán......chán...chán.... ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 09 Tháng Năm, 2009, 12:29:36 AM
Bác trongc6@ như vậy là d2 của bác rồi còn gì mà em cũng chưa thấy bác viết về tình thế bác bị bao vây ra sao hay khi đơn vị dự bị của bác(k15) đón đánh bọn ngụy chạy đến căn cứ Đòng dù chính là lúc đơn vị bác bị bao vây?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 09 Tháng Năm, 2009, 12:51:55 PM
@ahuuls:
Thủ trưởng Thịnh đúng là ở D tôi đấy.
Chính tôi cũng không hiểu tại sao anh ấy kể chuyện cho phóng viên viết vậy.
Nhưng thiển ý của tôi post bài ấy là muốn nói rằng mỗi người có cách nhìn riêng về cùng một sự kiện. Vì thế tranh luận mà làm gì.
Tôi đã kể cho các bác về cảm nhận của mình trong trận đánh đó rồi. Nhớ sao kể vậy vì tôi có cần đánh bóng mình đâu.
Các bác bảo tôi nói sai, cũng chẳng có vấn đề gì. Tôi không buồn.
Kể cả các bác bảo là đánh dễ thế (cái hàng rào cũi lợn) mà không xong, cũng được nốt.
Tôi không muốn bàn thêm, hay tranh luận vì tôi đã nói lý do từ đầu.
Tốt nhất, nên chăng cho nó qua đi, như một chuyện phiếm trong lúc ngồi chờ phà qua sông?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: ahuuls trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:05:24 PM
Vì diễn đàn mang tính thảo luận mà ,nên hậu thế chúng em có lắm lời 1 chút cũng mong bác đại xá cho.Cũng chẳng được ,mất gì ở đây nên bác thông cảm cho ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trungdoangiadinh trong 09 Tháng Năm, 2009, 02:03:32 PM
 Bác Trongc6 ơi....riêng em, xem bài của bác thì rất thích thú....có thể là bị lẫn lộn vài chổ..nhưng thời gian qua lâu rồi mà bác..làm sao chính xác từng chút một được...em cũng mới vào, khi em đăng bài cũng có ý kiến làm em hơi..bị "sốc"..nhưng khi gặp các bác nhà mình thì thấy rất tình cảm với nhau...
 Em xin có ý kiến riêng như thế này (nếu không phải thì các bác bỏ qua, em dựa trên bản thân mình và qua bài của bác Trongc6 vừa rồi )
 Vì mới vào, nên khi đăng bài ..thì chủ yếu tham gia cùng nhau ôn lại những hồi ức, suy nghĩ thật của bản thân mình khi còn làm người lính, là lính lác thì chỉ có cái nhìn nhỏ hẹp trong phạm vi của cùa 1D hay 1C thậm chí là 1A......cho nên nếu ghép toàn cục đôi khi khập khểnh cho người viết..vì đương nhiên anh lính..sẽ khác anh..B trưởng !!!!!! do đó khi có bác CCB nào mới vào viết bài, khi có thảo luận thì các bác cũng nên xem lại, đừng chi tiết quá ...với người cũ thì không thành vấn đề vì "dạn dày chinh chiến " rồi....còn người mới sẽ đâm ra..ngại !!!!
 Để dẫn chứng, em xin bác Trongc6 cho em thêm một đoạn trong bài này không liên quan đến bác nhé...
  Trước em cũng xin bác angko krao cho em trích dẫn lời của bác trong bài này và em không có ý gì khác cả vì đã gặp bác và rất vui khi được làm quen với bác...!!!
  Trong bài bác thảo luận trong topic của em .
"Dễ hiểu thôi mà haanh  Grin Có ai dám "dúi" E Gia Định,con cưng của TP. mang tên Bác vào chảo lửa bao giờ đâu ! Shocked
Nhưng đó là khi E Gia Định qua K sau này và để giữ truyền thống của đơn vị nổi tiếng này. Khi phải "chốt giữ" ở biên giới TN lúc chưa được đánh qua, E Gia Định cũng có những trận đánh dữ dội, và AE ở E Gia Định, hy sinh cũng không ít  Sad.
Hy vọng với topic này, các CCB E Gia Định sẽ tham gia nhiều, để AE mình biết thêm về tình hình các đơn vị khác trong CTBGTN và làm NVQT hồi đó.
Năm 1978,nghe đồn rằng...chính E Gia Định là 1 trong những đơn vị đánh để "mở đường máu" , cho các đơn vị Pốt phản chiến có đường tập trung về BG VN thành lập QĐ và chính quyền CM của Hêng Somrin.
 Khi xem câu "Dễ hiểu thôi mà haanh  Grin Có ai dám "dúi" E Gia Định,con cưng của TP. mang tên Bác vào chảo lửa bao giờ đâu !" em bị ..sốc...vì khi qua K. làm nhiệm vụ, em nghỉ người nào cũng thế...có chăng là đơn vị này" may mắn" hơn đơn vị kia mà thôi...E của em thì đảm nhận lộ 12 và hành quân truy quét đến giáp ranh lộ 6 ..đã từng có 1C2(D1) chống lệnh hành quân....vì đi không nổi nữa!!! và toàn C2 đó đều bị giáng xuống 1 cấp.. đó là đơn vị ..đụng Pốt  nhiều nhất của D1(và người chỉ huy C2 anh em ai cũng quý mến, sau này bị Pốt phục bắn chết ở KongpongCham!0.
 Em chỉ có vài lời và nếu không đúng với chủ đề thì cứ xóa bài giùm nhé..
  Tóm lại là bác Trongc6 cứ tiếp tục đi, sau này anh em nếu có dịp gặp lại, bác sẽ thấy lại tình đội ấm lòng lắm bác ơi...!!!
 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 09 Tháng Năm, 2009, 03:01:17 PM
@trungdoangiadinh : nhà ông bỏ trống kìa , về nhà mở cửa  cho anh em vào tám với , chổ này là chuyện văn học với chính sử biết giề mà nói  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 10 Tháng Năm, 2009, 07:54:56 AM
 BÁc Trọng @ CCB tham gia diễn đàn này là để ghi lại cảm nhận cá nhân trong các cuộc chiến ,diễn đàn này cũng là nơi các tham mưu con tranh luận ( cho vui ) vì cảm nhận của bác về thời gian và một số sự kiện có sai lệch so với những  gì đã biết nên họ đưa các tài liệu lên để tìm hiểu thêm ( hơn 30 năm nhớ được như bác là quý lắm rồi ) chứ  nào  ai nghĩ điều gì xấu đâu ,
  Qua lời kể của Dv Thịnh   kể mà  ông  "lều " báo nào đã viết ,cá nhân tôi  cảm nhận  thêm là D lúng túng giữa  tiếp tục đánh vô hay lo chặn viên ( bác Thịnh nói  bị bao vây )
  Qua trao đổi của anh em CCb  làm rõ  hàng rào vướng chân khác hàng rào cũi lợn (  có hình vẽ minh họa ) tôi thiển nghĩ nó cũng có ích với một sĩ quan trẻ nào đó tình cơ đọc được toppich này
  Mong bác vui ta tiếp tục tào lao đời chinh chiến tiếp


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mig21-58 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:37:06 AM
tôi đọc trận đồng dù của sư 320 đoạn cuối có nói là khi sư 10 đi qua thì tiếng súng truy quét tàn quân vẫn chư hết ,có nghĩa là vẫn còn đánh nhau (những trận đánh trược cửa ngõ sài gòn )


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:45:12 AM
      Các bác đã nói vậy thì tôi xin thêm mấy lời:

        - Có thể trí nhớ đã kém, nhưng chắc chắc hôm 29/4/75 đó, chúng tôi có ăn cơm trưa ngoài cửa mở. Nếu 11h00 đã vào căn cứ thì vội ăn cơm làm gì? Các bác nhớ cho là khi vào trận thì thường rơi vào tình trạng không thấy đói. Thường là khi mọi sự đã xong, bã người ra rồi thì mới nhớ là từ lúc nào đó mình chưa có hạt cơm vào bụng.

        - Trên hướng D2 (K18), trung đội tôi là B đầu tiên xung phong vào khi có lệnh, và tôi là người đầu tiên đặt bước chân vượt qua hàng rào vướng chân tiến vào cửa mở (thôi bây giờ thống nhất nó là hàng rào vướng chân, vì cái hàng rào ở đó chỉ cao có 40 phân thôi).

        - Hàng rào vướng chân đó dùng cọc sắt chữ L, bẻ vênh hai phía trên đầu, cắm rất sâu xuống đất (Không phải cọc gỗ), giằng nhau đan chéo bằng dây thép gai. Phía dưới đất chôn mìn râu tôm khá dày (mìn này hình như có tên M1 hay M3 gì đó) khi dẫm phải sẽ kích  nổ khố thuốc phụ dưới đáy, đẩy quả mìn chính bay cao lên 1,6-1,8mét mới nổ, gây sát thương bộ binh rất lớn. Hàng rào này rộng 5 mét chứ không phải chỉ một, hai mét. (Sau này chúng tôi có được xem lại khu hàng rào đó khi học tập rút kinh nghiệm). Ít nhất cũng phải 4 lần bộc phá ống (1,2m) mới đánh đứt thông được hàng rào đó. Chưa kể yêu cầu bề rộng cửa mở tối thiểu phải 4 mét cho xe tăng vào.

      - Chỗ hàng rào đó cách dãy công sự của địch chỉ chừng 40 mét (trong tay chúng có đầy đủ mọi loại hỏa lực chĩa ra), còn các hầm hỏa lực của E và D để chi viện thì nằm cách phía sau cả trăm mét (số đạn hỏa lực mang theo lại chỉ có hạn). Các bác hình dung lính bộ binh lom khom (hoặc bò) tại đó để luồn ống bộc phá vào hàng rào, giật nụ xòe rồi quay người chạy nhanh về phía sau để nấp (vẫn trên  địa hình bãi trống) thì khả năng bị trúng đạn địch cao hay thấp? Trong đánh công kiên (kiểu đánh nhanh chứ không phải vây lấn như ở Điện Biên Phủ) thì nếu hỏa lực tại chỗ không đủ mạnh để đè đầu địch xuống cho bộ binh lên đánh hàng rào thì khả năng hy sinh rất cao.

    - Bàn về chuyện này thì còn dài và nhiều lắm. Mạn phép hỏi các bác đã có ai đánh công kiên bao giờ chưa (Hoặc đã tập đánh công kiên theo huấn luyện bài bản bao giờ chưa?) Nếu có, các bác sẽ hình dung rõ hơn tình thế trận đánh.
...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 07:53:19 PM
Trongc6
Binh nhất   Bài viết: 18
 Re: Ngày này 34 năm trước...
« Trả lời #136 vào lúc: Hôm nay lúc 10:45:12 am » Trích dẫn 

--------------------------------------------------------------------------------
      Các bác đã nói vậy thì tôi xin thêm mấy lời:

        - Có thể trí nhớ đã kém, nhưng chắc chắc hôm 29/4/75 đó, chúng tôi có ăn cơm trưa ngoài cửa mở. Nếu 11h00 đã vào căn cứ thì vội ăn cơm làm gì? Các bác nhớ cho là khi vào trận thì thường rơi vào tình trạng không thấy đói. Thường là khi mọi sự đã xong, bã người ra rồi thì mới nhớ là từ lúc nào đó mình chưa có hạt cơm vào bụng.


Đúng thế bác ạ,lúc đang đánh nhau sợi dây thần kinh tập chung hết cho những việc cần hơn,cảm giác đang đói bị tạm quên đi.Lúc xong trận,mới thấy mồ hôi lạnh thoát ra vì thấm mệt vì đói,ngồi dựa vào thành hào như cái xác.... ;D


       - Trên hướng D2 (K18), trung đội tôi là B đầu tiên xung phong vào khi có lệnh, và tôi là người đầu tiên đặt bước chân vượt qua hàng rào vướng chân tiến vào cửa mở (thôi bây giờ thống nhất nó là hàng rào vướng chân, vì cái hàng rào ở đó chỉ cao có 40 phân thôi).

Cái loại hàng rào này,tụi em tập là phải có ván hay tấm liếp đan " bó nhiều cây tre,vầu thành phiến" lao lên hàng rào lót chân khi xung phong.


      - Chỗ hàng rào đó cách dãy công sự của địch chỉ chừng 40 mét (trong tay chúng có đầy đủ mọi loại hỏa lực chĩa ra), còn các hầm hỏa lực của E và D để chi viện thì nằm cách phía sau cả trăm mét (số đạn hỏa lực mang theo lại chỉ có hạn). Các bác hình dung lính bộ binh lom khom (hoặc bò) tại đó để luồn ống bộc phá vào hàng rào, giật nụ xòe rồi quay người chạy nhanh về phía sau để nấp (vẫn trên  địa hình bãi trống) thì khả năng bị trúng đạn địch cao hay thấp? Trong đánh công kiên (kiểu đánh nhanh chứ không phải vây lấn như ở Điện Biên Phủ) thì nếu hỏa lực tại chỗ không đủ mạnh để đè đầu địch xuống cho bộ binh lên đánh hàng rào thì khả năng hy sinh rất cao.

Trong câu chuyện của bác kể từ đầu cho đến nay,em hiểu với địa thế như vậy mà tiến là húc đầu vào đá.Tại sao chỉ huy của bác không cho đào hào từ vị trí hố cá nhân nào đó gần với vị trí của hàng rào rồi tiếp tục đào kiểu lấn dũi lên sát hàng rào,từ đấy có thể dùng hỏa lực đi kèm như B 40.41 hay DKZ phụt thẳng vào lô cốt địch.Theo em hiểu thì ở trong điều kiện đó các bác có thể đào lấn dũi được,bởi các bác đã ở dưới lòng đất và tiếp tục đào tiến tới,địch có biết thì chỉ có sợ chứ không thể làm gì được,bởi không nghe bác nhắc đến máy bay ném bom hay đạn bắn cầu vồng,Thay vì phải chồng một đống xương máu của đồng đội mà vẫn không thể qua được cửa mở.

    - Bàn về chuyện này thì còn dài và nhiều lắm. Mạn phép hỏi các bác đã có ai đánh công kiên bao giờ chưa (Hoặc đã tập đánh công kiên theo huấn luyện bài bản bao giờ chưa?) Nếu có, các bác sẽ hình dung rõ hơn tình thế trận đánh.

Những ý kiến trên là kinh nghiệm thực tế của em khi trong đội hình chiến đấu cơ động cho mặt trận,thường xuyên phải tập luyện cả chay lẫn thật.
Và cả gần chọn 1 năm,chiến đấu trực tiếp đối diện với địch luôn,gần như không ngày nào ngớt tiếng súng....mà may..vẫn còn là ccb. ;D ;D ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 10 Tháng Năm, 2009, 08:26:29 PM
Hướng E bạn có gặp vật cản như hướng này không, các bác?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 10 Tháng Năm, 2009, 08:41:01 PM
@khanhhuyen: Dũi cái con khỉ ! Nên nhớ đây là ngày 29/4/75, cách Chiến thắng có đúng 1 ngày. Ai đánh lấn đánh dũi ở đây? Các cánh quân khác nó tiến ầm ầm, không lẽ mình vào sau nhặt ống bơ. Địch rã đám từng mảng .... Vậy nên tôi nghĩ ông nào cũng sốt ruột, hô xung phong trong khi chưa chuẩn bị kịp chu đáo cho trận này.
Càng gần chiến thắng, sự hy sinh càng đau xót. Anh tôi cũng may, chỉ bị mất một mắt trong trận này.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 08:49:43 PM
Anh tôi cũng may, chỉ bị mất một mắt trong trận này.

Chưa nghe bác kể gì về vụ này nha! khai mau. ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:55:18 PM
Sẽ có chuyện ấy! Tít là : " Đ...m thằng CTV bỏ tao chạy đi đâu rồi ?"
Để từ từ rồi góp  :D
Tôi đi lính thì anh ấy cho tôi cái địa bàn Mỹ với cái áo lính ta, may như áo gabadin, có điều vải nilon nhẹ và màu blue. Quân trang hồi đó lạ thật  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:06:55 PM
Sẽ có chuyện ấy! Tít là : " Đ...m thằng CTV bỏ tao chạy đi đâu rồi ?"
Để từ từ rồi góp  :D
Tôi đi lính thì anh ấy cho tôi cái địa bàn Mỹ với cái áo lính ta, may như áo gabadin, có điều vải nilon nhẹ và màu blue. Quân trang hồi đó lạ thật  ;D

Om gì nữa,dạo này lão vẫn vươn cái gì vậy,mà không chịu viết lách cái dìa....hớ.. t...?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:12:38 PM
Sẽ có chuyện ấy! Tít là : " Đ...m thằng CTV bỏ tao chạy đi đâu rồi ?"
Để từ từ rồi góp  :D
Tôi đi lính thì anh ấy cho tôi cái địa bàn Mỹ với cái áo lính ta, may như áo gabadin, có điều vải nilon nhẹ và màu blue. Quân trang hồi đó lạ thật  ;D
xóa cái này hộ cái bác mod,máy lỗi hay sao mà phọt lên tùm lum vậy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:57:32 PM
Em nói thiệt là mở cửa theo em được biết, tỉ lệ sống sót thấp lắm. Ai đời cứ lọ mọ khệ nệ vác bộc phá chạy lon ton làm bia cho nó bắn.:(


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:11:27 PM
@khanhhuyen: Dũi cái con khỉ ! Nên nhớ đây là ngày 29/4/75, cách Chiến thắng có đúng 1 ngày. Ai đánh lấn đánh dũi ở đây? Các cánh quân khác nó tiến ầm ầm, không lẽ mình vào sau nhặt ống bơ. Địch rã đám từng mảng .... Vậy nên tôi nghĩ ông nào cũng sốt ruột, hô xung phong trong khi chưa chuẩn bị kịp chu đáo cho trận này.
Càng gần chiến thắng, sự hy sinh càng đau xót. Anh tôi cũng may, chỉ bị mất một mắt trong trận này.

Cha này quen chạy theo pot rồi. ;D

Lấn dúi chiến thuật là lấn dũi theo điều kiện tình hình cuộc chiến thực tế lúc đó để lật thế trận.Lấn dũi chiến lược,mang tính lâu dài và chờ thời cơ để quyết định toàn diện.

Xung phong cái khỉ gì khi chỉ còn có nhúm quân,mà bố phòng của địch còn quá mạnh mà ta chưa có thế gỡ.Bác trọng có nói trận đó diễn ra từ đêm hôm trước ạ,nếu là em địa hình trống trải như vậy,trước hết tranh thủ trời tối áp sát như có thể và đào hào cá nhân,từ đó sắn đất áp sát rồi tùy tình hình mà liệu.
Lính phần lớn khi chưa vào trận còn hồi hộp hay có chút ít sợ hãi,khi đã gần với cái chết thì lại dễ coi thường,bất cần.Thật sự là trận này có vấn đề về phía chỉ huy.Nói không phải khoe,khi em thay chỉ huy quân hỗn hợp ở cái tổ phục "Gò chè" trên 1100,hào sâu dưới d...........em.Địch chưa tấn công mình đã thấy thua,gom anh em lại họp và phổ biến ý định của tôi,tất cả chỉ nhìn nhìn không ai nói gì,trừ gác là không thể phải miễn cưỡng ra gác...
Pháo bắn sợ bỏ mẹ,gác chỉ đứng và quan sát phía địch,tai dỏng lên nghe tiếng điểm hỏa từ đầu nòng của các trận địa pháo địch,là trong đầu đã phát ra mệnh lệnh của  tri thức " CHẠY",nếu có tiếng điểm hỏa từ trận địa địch rồi.Thì phải quan sát kỹ lần cuối,chạy vào vị trí tạm,sau loại đạn rơi lại quan sát tiếp nếu cần thiết phải chạy về nơi trú ẩn sâu hơn an toàn hơn...đủ căng thẳng chết mẹ,giờ lại phải củng cố đào sâu hào xuống như học .....hơi đâu..lính mà.Thật ra em hiểu cái xuy nghĩ ấy của lính lắm,nói vài lần không thông,chờ chỉ có chờ đến lượt chết.Vậy là sau ca trực gác của em vào ngày hôm sau,em không vào hầm nghỉ mà lặng lẽ sắn những xẻng đất cho hào sâu xuống,đến vọng gác thứ nhất cũng gần được nửa hào của trận địa.Thằng chú gác ở gần vị trí đó thấy ngại,tham gia đào cùng anh,vậy là em để nó phụ và mình nói chú em làm như ý định.Rồi dần dần thêm mấy chú nữa,bữa cơm chẳng nhớ ăn với gì thấy có người chuyện trò tuy nhỏ nhẹ như trai gái thủ thỉ tán nhau,nhưng thấy gần gũi hơn.Và nhiều người quan tâm đến việc mình làm hơn,vì cảm giác đi dưới hào sâu,an toàn hơn cái giao thông hào sâu dưới d...vậy là mỗi đứa tham gia một ý cho trận địa chắc hơn,bí mật hơn,an toàn hơn...

Em cũng nghĩ,chỉ huy trận đánh này thiếu cương quyết,quyết đoán,chỉ huy không sát thực tế của cuộc chiến.Bác Tài cũng có chút ít nghi ngờ chỉ huy,em cũng vậy nhưng chỉ từ khi bác nói cũng có người thân tham gia trận ấy và " Đ....mẹ thằng CTV chạy đâu rồi" thì nghi ngờ của em nó mới phọt ra.... ;D

Quá nhiều thời gian để đào một cái hào từ ngoài vào sát hàng rào vướng chân,rồi cứ nằm đó mà dùng B 40,41 mà phọt,ở cự ly 40 mét như bác Trọngc6 nói,chỉ vài chục phút bị hỏa lực trực tiếp của bộ binh phọt,dù công sự có vững chắc mấy mà ở cự ly ấy cũng xin các anh tha cho em. ;D đó là ý kiến chủ quan của em,và nếu là em ở đấy không phải 1100 em sẽ làm như vậy,chứ không phải khi nghe bác Trongc6 kể mà do địa hình thực tế nó mách bảo phải làm vậy,còn nói do tình hình toàn chiến trường thì em sẽ cho lính xung phong sau xe tăng vào bằng cổng chính,hơi đâu mà vượt rào vì tình hình chung là địch bị áp đảo về mọi mặt rồi mà.. ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:16:36 PM
Em nói thiệt là mở cửa theo em được biết, tỉ lệ sống sót thấp lắm. Ai đời cứ lọ mọ khệ nệ vác bộc phá chạy lon ton làm bia cho nó bắn.:(

Cửa mở phải giữ được 2 yếu tố.
1- là bí mật tiếp cận.
2- là đánh nhanh gọn,giữ vững đầu cầu cho bộ binh xung phong.
Thì hạn chế được thương vong.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:20:30 PM
Em nói thiệt là mở cửa theo em được biết, tỉ lệ sống sót thấp lắm. Ai đời cứ lọ mọ khệ nệ vác bộc phá chạy lon ton làm bia cho nó bắn.:(

Cửa mở phải giữ được 2 yếu tố.
1- là bí mật tiếp cận.
2- là đánh nhanh gọn,giữ vững đầu cầu cho bộ binh xung phong.
Thì hạn chế được thương vong.

3- Hỏa lực chi viện cấp trên chế áp hiệu quả hỏa điểm địch. :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:31:27 PM
Em nói thiệt là mở cửa theo em được biết, tỉ lệ sống sót thấp lắm. Ai đời cứ lọ mọ khệ nệ vác bộc phá chạy lon ton làm bia cho nó bắn.:(

Cửa mở phải giữ được 2 yếu tố.
1- là bí mật tiếp cận.
2- là đánh nhanh gọn,giữ vững đầu cầu cho bộ binh xung phong.
Thì hạn chế được thương vong.

3- Hỏa lực chi viện cấp trên chế áp hiệu quả hỏa điểm địch. :D

Hế hế....DTD

nếu có khoản thứ 3 kia mà dội thì lính phải bỏ bộc phá chạy thật nhanh.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:48:36 PM
Em vẫn nhớ lời thầy em dặn, khi nhận nhiệm vụ Mở cửa, đánh chiếm đầu cầu thì phải hết sức chú ý đến việc chuẩn bị vật chất và đặc biệt là làm công tác tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị. :(
Hồi đầu nghe mở cửa đánh chiếm đầu cầu, bọn em cứ tưởng mở cửa là đánh nhau trong thành phố, muốn chiếm nhà thì phải mở được cửa để vô; đánh chiếm đầu cầu là chiếm giữ mấy cây cầu bắc qua sông đặng cho cơ giới qua. :"> nghĩ lại còn mắc cười, thiệt là ngố!  ::)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 11 Tháng Năm, 2009, 12:19:20 AM
Mở cửa mở,là dùng một lực lượng ép sát vào hàng rào dây kẽm gai của địch,luồn các ống bộc phá liên tục liền nhau,tạo thành một hàng xuyên xuốt bề sâu của hàng rào.Lực lượng hỗ trợ trực tiếp cho lực lượng đánh chiếm cửa mở,gồm các hỏa lực biên chế trực tiếp đi cùng bộ binh,như B 40,41 và DKZ,lực lượng này cũng phải áp sát như có thể.Khi bộc phá nổ,là phát pháo hiệu cho lệnh đánh chiếm một mục tiêu.....pháo binh chỉ bắn phá các mục tiêu phía sau,nhằm ngăn chặn và chia cắt các lực lượng của địch hỗ trợ cho nhau...hế hế.. ;D xin lỗi mình lại chuyển hồi ức,kỷ niệm của ccb,thành tập huấn cán bộ...của quansuvn.net ;D  cáo lui...cáo lui.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 11 Tháng Năm, 2009, 03:10:31 PM
 Theo tôi hôm đó 29/4 rồi không ai nghĩ chuyện lấn dũi nữa mà chỉ cường tập .BB anh nào mà đã đựoc phân công đánh mở cửa thì không nghĩ đến đường về quê mẹ rồi Vấn đề D5 là chỉ huy không kiên quyết ,ngay như ông D  viên phó mà nằm tịt đâu đâu không biết  gì tình hình đơn vị để 30 năm sau nói nhảm cơ mà .Cửa mở bên 48 chẳng khác gì bên E 9 nhưng cách chỉ huy họ khác


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 11 Tháng Năm, 2009, 03:16:06 PM
Cửa mở bên 48 chẳng khác gì bên E 9 nhưng cách chỉ huy họ khác

Bác bật mí chút ít đi,biết sao,nghe sao bác trình bày vậy cho anh em nghe.lỡ có bác nào đứng ngoài dòm là người trong cuộc nhảy vô thì hay biết mấy.Nào......bác bắt đầu đi.... ;)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 11 Tháng Năm, 2009, 10:43:31 PM
...
           Thế là chiến tranh đã kết thúc. Dân tộc ta đã chiến thắng Đế quốc Mỹ sau một cuộc chiến dài hơn 20 năm. Nói như vậy được lòng người hơn, dù rằng thời khắc này thật ra là sự sụp đổ của chính quyền VNCH theo Mỹ. Với những người dân Việt, chúng ta đều là người chiến thắng, dù rằng có không ít người còn mặc cảm.

               Còn chúng tôi, những người lính cũng có thể tự hào mình là người chiến thắng. Dù nhỏ bé gì thì mình cũng vinh dự có mặt trong đội hình của những đơn vị đã trực tiếp làm nên chiến thắng hôm nay. Chúng tôi đón chiến thắng giải phóng miền Nam với niềm vui rạng rỡ, hành động bột phát và cách thể hiện muôn hình muôn vẻ. Có điều trong đơn vị tôi tuyệt đối không bắn súng chào mừng.

               Người ta đã tổng kết rút kinh nghiệm trận đánh cuối cùng. Chúng tôi chỉ được nghe cấp trên nói lại những điều đúc kết ở mức chung chung, oanh liệt và hoành tráng. Tranh công đổ lỗi vốn là một thuộc tính xấu của con người. Ở đâu, và khi nào thì cũng vẫn không bao giờ hết được chuyện tranh công đổ lỗi. Nhưng đó là việc làm của những người ở cấp nào cơ, chứ không phải của những thằng lính quèn chúng tôi. Chúng tôi chỉ thấy lờ mờ bóng dáng mình trong cái tổng kết chung ấy, đôi lúc còn không chính xác. Nhưng có hề gì đâu. Dù sao chiến tranh cũng kết thúc rồi, và chúng tôi cũng được gọi là người chiến thắng.

              Hết chiến tranh rồi, không phải cầm súng chiến đấu, không phải hy sinh nữa. "Rồi có một ngày… chinh chiến tàn…". Vâng, đó chính là điều chúng tôi mong đợi. "Nước còn giặc, còn đi đánh giặc", đó là cái lẽ thường tính của trai thời loạn. Nay hết giặc rồi, chúng tôi sẽ trả lại Tổ quốc cây súng để trở về với ruộng đồng, với nhà máy hay đi học tiếp cho trọn ước mơ tuổi trẻ năm xưa. Cũng giống như sau ngày 9/5/1945 kết thúc chiến tranh TG thứ II của mấy chục năm về trước, những đoàn tàu đã chở những người lính Xô-viết từ Berlin vượt qua Ba-Lan, qua những vùng ruộng đồng của Belarut, của Uykren để về nước Nga…, chúng tôi cũng hình dung có những chuyến xe, chuyến tàu như thế sẽ chở chúng tôi về quê, ra Bắc. Và ở mọi bến xe, bến tàu sẽ có những nét mặt hồ hởi, hân hoan của người thân ra đón, những vòng tay đen sạm của những người lính áo bạc phong sương, sẽ có những cuộc đoàn tụ rơi nước mắt …

               Thời gian ở trong căn cứ Đồng dù, chúng tôi học chính trị, xây dựng doanh trại và tập tành. Tất cả các đơn vị đều ở trong các khu nhà tôn hình vòm cuốn (như dạng cái hầm của tướng Đờ-cát ở ĐBP năm xưa), vốn là các doanh trại lính VNCH. Chúng tôi vừa làm các việc theo trên yêu cầu, vừa hy vọng và chờ đợi vào ngày trở về.

               Nhưng suốt mấy tháng trời, không ai nói đến chuyện chúng tôi sẽ được giải ngũ. Cấp trên bảo chúng tôi còn phải chắc tay súng để bảo vệ chính quyền cách mạng. Chúng tôi sẽ là những đơn vị sẵn sàng làm nhiệm vụ cơ động để tiêu diệt bọn phản động vẫn còn đang muốn chống phá chính quyền cách mạng, vì bản chất kẻ địch là ngoan cố.

               Chúng tôi được phổ biến là trong cuộc di tản hỗn loạn ngày 30/4, có rất nhiều tàu hải quân và máy bay của lực lượng quân VNCH đã di tản sang nhờ ở các nước láng giềng. Những thứ đó là tài sản của đất nước Việt Nam và những nước láng giềng sẽ phải trao trả lại ta. Với thế mạnh vừa đi qua cuộc chiến tranh thắng Mỹ, quân đội ta được xếp vào hàng vô địch trên thế giới. Các nước làng giềng như Thái Lan… đang run sợ ta đánh tràn sang nên phải lên tiếng sẽ thu gom máy bay tàu chiến di tản của VNCH để trả gấp cho ta. Không trả mà được à? Chúng tôi hào hứng lắm. Máu đánh nhau trong người vẫn còn nóng lắm, tưởng sẽ lên đường Tây phạt ngay.

              Đóng quân ở lỳ trong căn cứ Đồng Dù, chúng tôi chỉ hiểu biết thế sự giống như "ếch ngồi đáy giếng". Trên bảo sao nghe vậy. Những chuyện như chính phủ ngoài Bắc vào thăm miền Nam, rồi có vị tuyên bố sẽ đưa nước ta phát triển giàu mạnh theo tiêu chuấn nhà nào cũng có một cái tủ lạnh… thì chúng tôi chẳng hề biết gì. Một đôi lần được ra ngoài căn cứ hay vào chơi Sài Gòn, chúng tôi thấy người dân nơi đây có vẻ khá giả hơn ngoài Bắc. Họ có nhiều thứ vật dụng có vẻ tối tân và lạ lẫm với chúng tôi. Thế nhưng cấp trên bảo đó là cuộc sống phồn vinh giả tạo, là sản phẩm và tàn dư của chủ nghĩa Tư bản đang giãy chết. Nói tóm lại chúng tôi phải có thái độ thờ ơ với những thứ vật chất tầm thường ấy. Chúng tôi chấp hành, nhưng nhiều thằng trong đơn vị vẫn không giấu nổi sự thầm mong có một cái đồng hồ hay một cái đài bán dẫn mang về nhà lúc giải ngũ. Mà nói đâu xa, những thứ trong các khu gia binh, trong kho Quân tiếp vụ ngay tại căn cứ Đồng dù này thôi cũng rất lạ lẫm và nhiều khi có phần hấp dẫn lính tráng.

        Trong những cái ngô nghê gặp phải, tôi nhớ nhất chuyện kem đánh răng. Vớ được những hộp kem Hynos to tướng có hình thằng da đen cười thì tha hồ chia nhau, mỗi hộp đủ dùng vài tháng. Nhưng cái ý nghĩ đơn giản tuýp kem có nghĩa là hộp thuốc đánh răng đã làm hại khối đứa. Tuýp nhỏ thôi, màu thuốc hơi xanh, rất thơm nhưng khi đánh răng thì mồm miệng co rúm lại, nắn bóp xoa xít kiểu gì cũng phải vài chục phút sau mới hết. Chữ nghĩa nước ngoài viết trên hộp, có thằng quái nào biết đâu. Về sau trên phổ biến mới biết đó là kem bôi của các cô gái "chuyên ngành" dùng vào cái chỗ mà lính tráng chúng tôi cũng chưa từng được nhìn thấy. Thật nhớ đời.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 11 Tháng Năm, 2009, 11:35:18 PM
Tuýp nhỏ thôi, màu thuốc hơi xanh, rất thơm nhưng khi đánh răng thì mồm miệng co rúm lại, nắn bóp xoa xít kiểu gì cũng phải vài chục phút sau mới hết. Chữ nghĩa nước ngoài viết trên hộp, có thằng quái nào biết đâu. Về sau trên phổ biến mới biết đó là kem bôi của các cô gái "chuyên ngành" dùng vào cái chỗ mà lính tráng chúng tôi cũng chưa từng được nhìn thấy. Thật nhớ đời.


Hế ...heeeeeee ế......bác làm em cười phụt cả cái tăm tí găm vào màn hình laptop.

Người ta đã tổng kết rút kinh nghiệm trận đánh cuối cùng. Chúng tôi chỉ được nghe cấp trên nói lại những điều đúc kết ở mức chung chung, oanh liệt và hoành tráng. Tranh công đổ lỗi vốn là một thuộc tính xấu của con người. Ở đâu, và khi nào thì cũng vẫn không bao giờ hết được chuyện tranh công đổ lỗi. Nhưng đó là việc làm của những người ở cấp nào cơ, chứ không phải của những thằng lính quèn chúng tôi. Chúng tôi chỉ thấy lờ mờ bóng dáng mình trong cái tổng kết chung ấy, đôi lúc còn không chính xác. Nhưng có hề gì đâu. Dù sao chiến tranh cũng kết thúc rồi, và chúng tôi cũng được gọi là người chiến thắng.

Vâng cái tính sấu ấy làm nản lòng,làm yếu đi rất nhiều tinh thần ái quốc của những người có tâm huyết với đất nước,đáng buồn là nó đeo bám tới thời của em.Thời ông cụ nhà em các cụ bình bầu công trạng rất rõ ràng và nghiêm túc,em lúc bé cũng hay được tham gia các buổi sinh hoạt của các cụ nên em cũng rất mong và thật tiếc nối những hình ảnh đẹp đó.

nhưng có hề gì đâu. Dù sao chiến tranh cũng kết thúc rồi, và chúng tôi cũng được gọi là người chiến thắng.

Vâng các bác là những người lính chiến thắng và dân tộc ta là một dân tộc chiến thắng,chiến tranh đã đi qua.Ai cũng muốn trở về với người thân yêu nhất,được có một cuộc sống yên bình,được gánh vác những công việc rất đời thường trong ngôi nhà của riêng mình và mong đất nước ngày càng giàu mạnh,nhà nhà ấm no hạnh phúc.Đó cũng là ước mơ của em  lúcrời quân ngũ bác ạ,buồn lắm đời rất nhiều cái trái ngang...cứ phải nhìn nó màu hồng để tiếp tục hi vọng. ;D



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taydoc711 trong 12 Tháng Năm, 2009, 12:09:04 AM
...
         
           
           
              

              

     
        Trong những cái ngô nghê gặp phải, tôi nhớ nhất chuyện kem đánh răng. Vớ được những hộp kem Hynos to tướng có hình thằng da đen cười thì tha hồ chia nhau, mỗi hộp đủ dùng vài tháng. Nhưng cái ý nghĩ đơn giản tuýp kem có nghĩa là hộp thuốc đánh răng đã làm hại khối đứa. Tuýp nhỏ thôi, màu thuốc hơi xanh, rất thơm nhưng khi đánh răng thì mồm miệng co rúm lại, nắn bóp xoa xít kiểu gì cũng phải vài chục phút sau mới hết. Chữ nghĩa nước ngoài viết trên hộp, có thằng quái nào biết đâu. Về sau trên phổ biến mới biết đó là kem bôi của các cô gái "chuyên ngành" dùng vào cái chỗ mà lính tráng chúng tôi cũng chưa từng được nhìn thấy. Thật nhớ đời.


Thế là các bác còn may đấy,các bác đóng ở Sài Gòn cũng lôi của nợ ấy ra đánh răng,xong nó rúm lại,sợ qua mới lôi mấy cha bác sỹ Quân y ngụy ra khám,mấy tay bác sỹ ngụy cũng thâm liền chơi khăm mấy anh bô đội liền bảo ra chợ mua dưa leo ( dưa chuột) về đút vào mồm,khổ thân mấy bác bộ đội cứ ngồi ngây người cầm trai dưa leo đút vào rút ra cả mấy tiếng mới hết.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 12 Tháng Năm, 2009, 10:40:24 AM
Đọc chuyện của bạn Trọng c6 vừa cười vừa khóc .Đúng là như vậy đó,lính ta nghèo đất nước lo đánh giặc cũng nghèo đâu có biết những đồ khỉ gió của xã hội tiên tiến.Thương lắm ,mỗi anh bộ đội đều sung sướng khi có một vài mét vải đen mang về cho mẹ,cho chị ,cho vợ cho em may quần  .Có một con búp bê mà trẻ con hồi đó ao ước cũng chả có mà chơi.Một khung xe đạp để về mua linh phụ kiện lắp lấy cái xe đạp là ghê lắm rồi.Bây giờ nghe thì thấy buồn cười nhưng ai sống vào những thời khắc đó mới biết nhu cầu của lính ta đơn giản lắm,hi sinh cả tuổi thanh xuân,cả cuộc đời nhưng chỉ có nhu cầu nhỏ nhoi vậy là hạnh phúc lắm rồi.Mình nhớ hồi đó  dân Sài gòn không thích bộ   đội miền bắc cứ cười anh lính cụ Hồ nào cũng  to òng teng quanh cái ba lô con cóc một con búp bê nhựa,một cái khung xe đạp ,vải đen thì để trong ba lô.Mình thì thương lắm,tội nghiệp có người không biết mua phải loại vải đen pha ni lông thì phải may quần đen không mặc được vì nó cứ hút vào người dính lung tung.
 Một thời kể ra nhiều chuyện khó tưởng tượng nhưng thật là khó quên, mà không thể quên được ấy chứ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 12 Tháng Năm, 2009, 02:59:25 PM
... bọn ngụy SG ...

Bác ôi là bác


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 12 Tháng Năm, 2009, 03:27:28 PM
Ừ mình quên mất lúc đấy làm gì còn ngụy SG nữa cơ chứ,có những bài viết của những người ở phía bên kia,hoặc ủng hộ phía bên kia hoặc không thích bộ đội giải phóng có nói như vậy.Bạn dan ngoc ơi mình nói lại đúng  chưa?
Năm  1981 lần đầu tiên mình đi công tác với bác của mitâm 81 vào Sài gòn và sang K mình mặc quân phục  đi bộ tới thăm bà chị gái ở đoàn ca múa Bông sen.Mình đi bộ từ sân bay Tân sơn nhất đến nhà hát lớn thành  phố.Không dám đi xe gì cả và chỉ  dám hỏi đường một anh bộ đội gác cổng dinh Độc lập và anh công an chỉ đường gần chợ Bến Thành.Đi đường bị dân SG đi theo sau chửi bộ đội Việt cộng mày về bắc đi.
 Cũng sợ nhưng kiên gan đi thẳng không thèm ngó nghiêng gì.Từ Tân Sơn nhất đi tới Dinh ĐÔC LẬP mới hỏi đường.Sau đó gặp bà con họ hàng sống trong nam,họ biết mình bộ đội lại sĩ quan nữa nên kể chuyện diễu bộ đội miền bắc về phép ai cũng mang búp bê và cái khung xe đạp và ra chợ thì toàn hỏi mua vải đen.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 12 Tháng Năm, 2009, 03:38:39 PM
Hồi tụi em vào SG năm 81 còn bị kỳ thị nhiều lắm bác ạ. Trẻ con tụi em đi học nói giọng Bắc đôi khi cũng bị đánh.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 12 Tháng Năm, 2009, 04:03:03 PM
Chắc lúc đó thấy chị là nữ mà mặc đồng phục của lính họ chọc đó,em ở trong từ 79 đến cuối 82.Mỗi lần đi ra chợ Tân Định trên đường Hai Bà,là các cô thiếu nữ trường Lê...gần đó,trên đường đi học trong cái áo dài thướt tha,ngồi trên xe đạp mini đạp theo chọc hoài.Nào là rau muống,ê   hê hê...thế rồi cũng muống hoài,muống hoài thành nghiện hổng có muống các cô ấy nhớ...hơn cố nội. ;D Lúc trước em nằm ở 332 Đồng khởi "Hải Âu,Caravel" trước Nhà Hát Lớn TP "Hạ Viện",một bên là đường Tự Do có rạp chiếu bóng đó,và em ở 42 Trần Cao Vân,cái nhà mà dành cho cơ quan CIA của Mỹ ngày xưa ở Sè Gènh trước tháp con rùa đó.Em lúc trước ở đó thì xướng....sau này thì xuống Ch...... ;D chỉ ưa phụng sự hết mình,,nhưng chẳng có chí làm quan.Trong họ nhà em cũng có những người đã từng đối diện nhau trong cuộc chiến và cũng có người ba là lính VNCH nhưng con vào năm 2001 đã là thượng tá của QDNDVN,chỉ có một số ít những người lính cũ của chế độ cũ vì một lý do gì đó làm họ chưa vừa lòng thôi,dù sao cũng là người Việt chiến tranh đã đi rất xa,cái gì quên được là nên quên nó ngay và làm cho tốt hơn....bà chị sửa hộ em mấy chữ trong bài của chị nhé,cảm ơn chị - KH


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 12 Tháng Năm, 2009, 05:01:59 PM
  Không biết các bác sống ở HN đã nghe chuyện này chưa ?
  Chuyện thứ nhất : Sau SGGP độ 1 vài tháng gì đó , có 1 anh bộ đội về phép về tới HN thì tối rồi nên vào đền Ngọc Sơn ngủ để sáng hôm sau về quê . Cũng chính vì con búp bê nhắm mắt mở mắt và cái khung xe đạp mà anh đã bị giết đêm hôm đó . Sau này CA bắt được cái thủ phạm và nó khai là nhìn thấy những đồ vật anh ấy mang theo nên nổi lòng tham .

  Chuyện thứ 2 : Cũng không lâu sau SGGP , mấy đứa trẻ con ở phố Tuệ Tĩnh ra bơi ở hồ Thuyền Quang vớt được 1 quả mìn !!!??? Mấy thằng mang ra ghế đá ghè và quả mìn phát nổ . 3 đưa trẻ con chết không toàn thây (trong đó có 2 anh em ruột , thằng anh học cùng lớp với em) . Tiếng nổ phát to đến nỗi nhà em ở ngã tư Tô Hiến Thành + Bà Triệu (khoảng hơn 1 km) mà cũng nghe thấy . Sau đó thì dân kéo ra xem đông lắm , em là 1 trong những thằng trẻ con có mặt đầu tiên ở đấy . CA phải mang cả xe cứu hỏa ra phun nước lên cây để những mảnh thịt dính trên ấy rơi xuống . Vậy mà chỉ cách đấy độ chục mét , có 1 anh bộ đội cùng với con búp bê và cái khung xe (đã được buộc vào tay) vẫn cái mũ úp trên mặt , nằm trên ghế đá ngủ say sưa ... Phải đến khi CA ra gọi dậy thì mới biết là anh BĐ đã chết , trên đỉnh đầu có 1 lỗ nhỏ xíu bằng hạt đỗ hơi rỉ máu .

   Đúng là bao năm vào sinh ra tử không sao , vậy mà ! đến ngày chiến thắng trở về đoàn tụ với gia đình thì chết , 1 cái chết không được công nhận LS . 2 câu chuyện này làm em bị ám ảnh mãi .

  @danngoc : Sao hồi ấy thấy thiên hạ đồn rằng :"lêu lêu ... cái giống Bắc Kỳ , nó ăn rau muống nó lỳ như trâu ..."  ;D ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Quangda trong 12 Tháng Năm, 2009, 08:59:53 PM
@hatuyennha:Chắc là mấy ông lão sư phụ đời trước của chú haanh ở trỏng theo cô đó cô ơi! ;D.Chứ người miền nam bọn con phóng khoáng, nhanh thích nghi với hoàn cảnh mới lắm, không có vậy đâu! ::)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Năm, 2009, 10:23:44 PM
Đúng! Bọn tụt tạt ở chợ Bến Thành, chợ Tân Bình lừa mấy chú đội hà rầm! ;D Dân các nơi thì như bạn DKsaigon và cả nước ngoài mô tả về bộ đội là chính xác và thực tế! Đó là bộ đội hiền lành và hơi ngố nữa! :)

Nghe kể: Hồi đó có chú đội lái xe chờ ở đường Lê Lai, mấy thằng du thủ du thực lẻn đến treo nải chuối vào chân chú lái xe đang ngủ, ai đi qua cũng cười! hehe.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 13 Tháng Năm, 2009, 03:15:29 PM
...
        Nhớ lại cha anh ta hơn hai mươi năm trước. Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến của cả dân tộc, làm nên trận Điện Biên "lừng lẫy địa cầu", ngày 10/10/1954, quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô. Hà Nội rực rỡ cờ sao, năm cửa ô ngập nắng đón những anh "bộ đội cụ Hồ". Phút xao xuyến qua đi, khi trở lại đời thường thì ngoài cái hiền lành bản chất, những người lính trở nên lơ ngơ trước cuộc sống thị thành. Chỉ trừ những người lính trong trung đoàn Thủ đô vốn là những học sinh, sinh viên, người thợ… đã từng quen với cuộc sống thị thành, còn lại ít nhiều đều lớ ngớ. Nỡ nào trách họ, khi những người lính ấy vốn là những người nông dân chân đất áo vải, nghe theo lời kêu gọi của cụ Hồ mà lên đường cầm súng đánh Tây. Lớ ngớ hôm nay, nhưng họ sẽ lại là những người xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước ngày mai.

               Có lẽ cũng không khác nhiều khi so với những người lính giải phóng chúng tôi khi vào giải phóng Sài gòn. Đơn giản, vì chúng tôi cũng là những "người lính cụ Hồ" như cha anh chúng tôi, cũng hy sinh tuổi trẻ của mình cho độc lập tự do của đất nước. Là những người thợ, người nông dân áo vải từ mọi miền quê tụ lại trong đoàn quân giải phóng, khi ở trên rừng thì chúng tôi là những người làm chủ cuộc sống. Chiến đấu đã đành, nhưng chúng tôi cùng nhau làm được mọi thứ. Từ dựng nhà (lợp tranh, lợp nứa, lợp lá trung quân…) đến phát nương rẫy trồng lúa, trồng sắn để tự túc một phần lương thực chúng tôi đều làm được hết. Chúng tôi biết rèn dao, rèn cuốc xẻng, tự tạo mìn định hướng, biết đánh bắt cá, biết cả cách làm bún, làm bánh cuốn giữa rừng già. Giữa lúc dừng chân trong cảnh trời mưa như trút của những cơn mưa rừng giữa mùa, chúng tôi biết tìm củi, gơi bếp để bộ đội có cơm nóng, canh ngọt chỉ sau một tiếng dừng chân… Còn nhiều lắm, và chúng tôi tự hào là biết cùng nhau tạo dựng tốt cuộc sống trong rừng giữa hai mùa chiến dịch. Những "người lính cụ Hồ" là như thế đó. Vì vậy sẽ chẳng đáng ngạc nhiên khi về đồng bằng, vào Sài gòn mà những người lính chúng tôi trở nên lớ ngớ. Nói cho công bằng, không phải chỉ những người lính chúng tôi rơi vào cảnh "nhà quê ra tỉnh", mà nếu so sánh thì miền Bắc khi đó so với miền Nam cũng chỉ như nhà quê so với thành phố mà thôi. Nhưng vượt lên tất cả, chúng tôi là những người lính cụ Hồ và chúng tôi tự hào về điều đó.
 
               Ai đi xa mà lúc về chẳng mong có chút quà cho người thân? Vậy thì những người lính xa nhà mấy năm trời không nghĩ đến sống chết có lỗi gì khi mua một con búp bê làm quà cho cô em gái út, một cái khung xe đạp cũ đem về để dựng nên cái xe làm chút tài sản nhỏ khi rời quân ngũ. Mà chúng tôi mua bằng chút tiền phụ cấp ít ỏi mới có của mình, từ những đồng tiền "cửa rừng", tiền "phụ cấp xương máu" của mình đấy chứ. Khi đó tôi nhớ là mình được 30đ tiền "cửa rừng" và 30đ tiền "phụ cấp xương máu" với 5% thương tật, cũng chỉ đủ mua hai cái áo nỉ cho đứa em, mua cho chị và mẹ mỗi người một cái khăn len là hết tiền. Đến bố tôi cũng chẳng có chút quà gì. Nhưng mẹ tôi bảo, "chỉ cần con trở về được thế này là đã đủ, mẹ mãn nguyện rồi".

               Chẳng ai muốn chiến tranh để ngoài cái đau chung của cả dân tộc, còn có những góc khuất nhỏ đau lòng của những người lính.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 13 Tháng Năm, 2009, 03:43:48 PM
Bạn  Trong c6 thân ,bạn trở về dù có quà hay không,thì không chỉ bố mẹ gia đình bạn mãn nguyện mà cả dân tộc ta mãn nguyện bạn ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hatuyenha trong 13 Tháng Năm, 2009, 04:07:43 PM
Đọc bài của bạn Trong c6 cổ cứ nghẹn lại ,nhớ lại những  ngày cách đây đã 34 năm.
Mình kể chuyện mình vào Sài gòn lần đầu tiên ,ngày đầu tiên thế thôi, mà mình còn lớ ngớ thế này nữa cơ ,không có quà gì cho cháu cả vì đi vội vả lại hồi đó cũng nghèo,hai vợ chồng bộ đội lại có hai con rồi , thực chất là văn hóa mua quà còn kém lắm, thấy chị hàng rong bán xoài chọn ngay một quả to nhất mua có nhõn một quả,chắc mẩm cháu mình thích lắm đây. Vào đến nhà bà chị cháu chạy ra đón dì ngoài Bắc vô hét ầm ĩ,Dì thở vì leo gác xong lấy ngay quả xoài đưa cho cháu.Nó mới có 5 tuổi nhưng đã kêu :má ơi dì cho con xoài tượng xanh.Mình còn chưa hiểu ra sao thì bà chị chạy ra giải thích :em  ơi xoài này là xoài tượng chua,chỉ để nhậu hoăc dầm nước mắm thôi . Bà dì được mẻ ngượng với cháu,hôm đi K về phải mua quà cho cháu bù.Sau này thì thân với dân Sai gòn  và nhậu với dân Nam bộ các kiểu.Quí dân trỏng vì sảng khoái thật thà,bụng để ngoài da.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 15 Tháng Năm, 2009, 04:43:30 PM
...
         Thời nào và ở đâu thì cũng không bao giờ thiếu những thằng láu cá trong một tập thể, dù đó là đơn vị bộ đội nghiêm khắc "quân lệnh như sơn" với tư tưởng chỉ đạo "kỷ luật là sức mạnh của quân đội". Những thằng láu cá ấy xuất sứ từ mọi vùng quê. Nhiều thằng lính Hà Nội hay Hải Phòng rất "chân chỉ hạt bột", thậm chí đến mức lơ ngơ, thộn ra mặt, trong khi mấy thằng tai quái và láu cá lại là dân Hà Tây, Thái Bình, thậm chí có cả thằng là người dân tộc Tày quê tít tận Cao Bằng "đá nhiều hơn đất".

             Điển hình là lão Nghị quản lý đại đội dân Sơn Tây. Trong khi chúng tôi chỉ còn toàn mũ tai bèo đã cũ thì hắn vẫn giữ được chiếc mũ cối tàu có gắn ngôi sao Quân hiệu mới chóe. Đêm hôm 2/4 ở Thị xã Tuy Hòa, hắn đã suýt toi mạng vì đi đánh lẻ. Chả là đêm đó chúng tôi đóng tại Trường Kỹ nghệ và tiếp quản trông coi một vùng dân cư khá lớn. Có rất nhiều nhà vô chủ vì đã bỏ chạy. Lão Nghị một mình mò ra khu dân cư chui vào lục lọi mấy cái nhà vô chủ. Vô phúc cho lão vẫn nghênh ngang đội cái mũ cối, người lại đầy đặn hơn lính tráng chúng tôi nên bị mấy thằng tàn quân đoán là cán bộ cỡ to. Chúng nó núp từ căn nhà nào đó chĩa súng ra bắn tỉa. Vận lão Nghị còn dài nên viên đạn bắn trượt, tóe lửa trên mặt đường. Viên đạn thứ hai cũng vậy. Lão Nghị hoảng quá ù té chạy về (lão là quản lý, không có súng, quả là gan trời mới dám mò đi đánh lẻ như thế). B tôi hay tin kéo lại khu nhà trên, xông vào các nhà, leo cả lên gác sục xạo mà cũng không thấy gì. Tức quá chỉ biết quạt vài loạt AK vào mấy xó tối để thị uy. Đã thế mà lão Nghị vẫn chưa chừa, còn bắt chúng tôi chờ đến hơn nửa tiếng nữa cho lão lục lọi cái khỉ gì đó, rồi mới chịu về. Nói thực lúc ấy chúng tôi không thiếu thuốc lá thơm vì hôm qua lấy được chiến lợi phẩm cũng kha khá rồi. Cũng chẳng biết lão Nghị có lấy cái gì không, nhưng chúng tôi không màng. Trừ thuốc lá và đồ ăn, còn mọi thứ khác, lính tráng vốn kiêng, báu gì cái kiểu tham lam "Lý Thông" ấy.

              Về đến căn cứ Đồng Dù cũng vậy. Có cái mũ cối đội đầu, lão Nghị trông oai hơn hẳn lũ lính chúng tôi. Lão thường mò ra ngoài căn cứ (đi tắt lối cổng phụ qua cánh đồng thôi) đến khu dân cư. Nhiều nhà dân, có lẽ vốn không có người nhà theo "đằng mình", sợ bị chính quyền mới o ép (chính quyền mới ở địa phương cũng chỉ là mấy ông du kích nằm vùng thôi) nên nghĩ ra mẹo mới. Họ mời lão Nghị đội nguyên cả mũ cối, đeo xà-cột đứng xen giữa chụp ảnh chung với gia đình, miệng nở nụ cười chiến thắng. Chúng tôi biết được vì về sau ra một vài nhà dân, hay quán ăn (hủ tiếu) thấy những bức ảnh đó phóng to treo trang trọng giữa nhà. Ngón võ này cũng hù đọa được mấy ông du kích quen nhũng nhẽo. Còn lão Nghị được "trả công" cái gì thì lão không nói, chỉ thấy thỉnh thoảng lão có thuốc lá thơm mời anh em.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 15 Tháng Năm, 2009, 06:36:51 PM
Trích từ Hành trình đến dinh độc lập
Tác giả: Nguyễn Khắc Nguyệt
(Nguyên chiến sĩ lái xe tăng Đại đội 4, Lữ đoàn xe tăng 203)

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6189.0

Trích dẫn
Khi hai chiếc xe 843 và 390 đã tiến sát tiền sảnh, đội hình xe tăng tiếp theo tản ra thành hình vòng cung trên thảm cỏ hình thành thế bao vây ôm chặt lấy dinh, những nòng pháo vẫn gườm gườm chĩa thẳng vào dinh sẵn sàng nhả đạn, hàng chục chiếc động cơ 550 mã lực vẫn gầm rú như đàn voi chiến đang còn say máu. Vài giây sau không thấy động tĩnh gì tiếng động cơ nhỏ dần rồi tắt hẳn, những nắp cửa bật tung ra. Từ trong xe những thân hình nhem nhuốc nhảy ra ôm lấy nhau hò reo mừng rỡ, hàng chục chiếc mũ công tác tung lên, mấy tên pháo hai hứng chí quay 12,7 ly ngỏng lên trời kéo cò luôn cả hòm 50 viên đạn.

  Phía sau các ô tô, xe bọc thép chở bộ binh cũng đang dồn đến ngoài cổng, trên xe bộ binh cũng giương súng lên trời xả hàng băng đạn. Cánh nhà báo lúc nãy nấp ở đâu không biết giờ kéo ra khá đông đang lăng xăng ghi hình, chụp ảnh. Bọn lính cảnh vệ và nhân viên trong Dinh đã bị dồn lại ngồi thành một hàng ở phía bên phải sân Dinh một cách rất trật tự…


Em chắc đó là hành động phổ biến tại thời điểm 30/4/1975 (http://www.quansuvn.net/avatars/iconttvn/32.gif)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:31:48 PM
     - Những người lính từng nằm hầm, ở chốt ở chiến trường nhiều năm rồi mới tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ có cái nhìn về chiến trận khác hẳn với các lính nhập ngũ 1974, đầu 1975 rồi thần tốc vào Nam theo đường hàng không, đường thủy để vào tham gia chiến dịch này.

       Các bác có tin rằng lính Sư 320A cũng rất nể lính Trung đoàn 45 (sư 23 VNCH) không? E45/23 cũng là E anh hùng của VNCH đấy.

     - Lính trong các đơn vị ngoài Bắc vào Nam tham chiến cuối tháng 3/1975 không biết đến cảnh đơn vị thường xuyên bị báo động kiểm tra quân tư trang (thực chất là để kiểm soát-khám tự giác chiến lợi phẩm) nên nhìn về chiến tranh lạc quan và lãng mạn lắm.

      - Cảm nhận về chiến thắng là bột phát và muôn hình muôn vẻ, nhưng đừng vội nghĩ lính của cả chục sư đoàn tham gia chiến dịch HCM đều tự do xả súng bắn lên trời để mừng chiến thắng.

      - So sánh hơi khập khiễng: Khi chơi sổ xố, có kẻ trúng độc đắc thì lặng lẽ ngồi thưởng thức tách cà-phê rất trầm tĩnh, có kẻ sướng run lên mấy ngày trời không làm gì nên hồn, có kẻ thì trở nên tâm thần, phí cả một đời.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: angko krao trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:52:30 PM
 ...- Cảm nhận về chiến thắng là bột phát và muôn hình muôn vẻ, nhưng đừng vội nghĩ lính của cả chục sư đoàn tham gia chiến dịch HCM đều tự do xả súng bắn lên trời để mừng chiến thắng...
     
34 năm trước , em mới 13 tuổi thôi ở ngay gần Lăng ông Bà Chiểu , Tòa hành chánh tỉnh Gia Định, nhưng vẫn nhớ là sau khi nghe DVM đầu hàng trên radio , tại KV Sài Gòn-Gia định tiếng súng bắn chỉ thiên mừng chiến thắng vẫn nổ ran trời cả 3-4 tiếng đồng hồ, nhưng là do các thanh niên SG nhặt súng của quân đội ngụy vứt bỏ đầy đường bắn thôi. Bộ đội chính quy ngồi trên đoàn xe molotova chạy chậm,len lỏi giữa dòng người dân đổ ra 2 bên đường vẫy tay chào bộ đội và đi lấy gạo ở kho gạo dự trữ kế bên THC tỉnh GD. Gương mặt các anh bộ đội rất phấn khởi , nhưng không thấy ai nổ súng mừng cả , có lẽ lệnh chĩ huy cấm.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 15 Tháng Năm, 2009, 11:17:26 PM
@bác trongc6:
Em mù mờ tạm hiểu như thế này:
Bác muốn thể hiện Cảm Nhận của bác về cuộc chiến đó là đây đủ nhất về hướng khác (hướng nội), xứng đáng nhất về tâm thế, là đại diện cho cả một lớp người phân vân giữa lý tưởng hay số phận con người phải không bác ?
Hay là thế nào ?
Em nói thật, em cũng có những cảm nhận cá nhân, trong những cảm nhận cá nhân về cuộc chiến như bác tuy khác thời gian! Đôi khi em cũng buồn, cũng chán. Đôi khi cáu bẳn nhưng em xin nói thật nhé! Mình đã là cái ngỗng gì so với tất cả những người khác.
Khiếp! Bác nói cứ như Thánh!
Rất trân trọng những gì bác cống hiến.
Nhưng đôi khi em chỉ cần thấy năm năm lính trận, đổi lấy nửa nụ cười của người bạn thuở thiếu thời, là thấy vui rồi ! Mặc dù em về thi nó đã đi lấy chồng . He he...
Hình như sau nụ cười ấy có gì cao đẹp hơn thì em không dám bàn.
 :P :P :P :P :P :P






Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:17:09 AM
        Các đồng đội Trungsi1 và LeThaiTho ơi,

        Các bác có nghĩ rằng tôi gần như thuộc lòng "Biên giới Tây Nam" và "Tổ Tam tam" cũng như "hậu tổ Tam tam" của các bác không. Các bác viết hay lắm, lính lắm và đầy chất lãng mạn Hà thành. Tôi viết lăng nhăng cũng chỉ mong được gần bằng các bác thôi. Tôi rất quý các bác, nhiều lúc đi đường cảm nhận nhìn thấy các bác mà không dám gọi đấy nhé.

       @TS1: Bác là hình ảnh người đàn ông tài hoa trong tôi. Bác triết lý hay lắm, vốn sống giàu lắm. Tôi luôn đọc bài của bác và tự nghĩ mình không bao giờ bằng bác được. Lính ra lính, làm ra làm và chơi cũng thật ra chơi.

       Tôi chẳng có tâm sự gì nhiều, chẳng dám đại diện cho ai. Tại vì các bác khác cứ bảo khi chiến thắng là phải nhảy tung trời, xả súng bắn lên trời cho thỏa mới đúng tâm trạng lính. Nhưng quả thật trong đơn vị chúng tôi (có thể nói là cả Trung đoàn) khi nghe thông báo của cấp trên về việc TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì cũng kèm theo đó là lệnh cấm bắn súng. Chuyện đó là thật, không phải nói cương. Mà các bác cứ nghĩ xem, lính Giải phóng đầy khắp nơi mà bắn xả láng thế thì dân họ cũng khiếp, mà chỉ nội việc đạn rơi cũng có thằng chết oan rôi. Tôi nhớ lúc đó anh em chỉ nhìn nhau sung sướng, ôm nhau, xoay nhau, bắt tay nhau thật chặt và cả những thằng vốn kẹt xỉn hay giấu thuốc lá hút riêng cũng móc ngay trong ba lô ra mời mọi người hút loạn xạ, mặc dù lúc đó chúng tôi ai cũng có thuốc.

       Cái điều muốn nói là không phải ai cũng giống ai và mọi việc đều có thể xảy ra, đừng vội kiểu vừa muốn tôi viết bài, lại vừa phán là viết cóc đúng.

    Tôi đi lính khi chưa có bạn gái, không được như bác TS1 và bác Thọ. Tôi chỉ có mẹ để nhớ, để thương. Tôi vào chiến trường là đem theo cả cuộc đời của mẹ tôi mà ra trận. Phần trên tôi đã viết là khi tôi trở về thì sự sống sót của tôi đã là đủ để mẹ tôi mãn nguyện.

   Tôi không có gì bất mãn cuộc đời. Bác TS1 đừng nâng lên quan điểm nhé.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: pain trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:51:53 AM
...
                    Chẳng ai muốn chiến tranh để ngoài cái đau chung của cả dân tộc, còn có những góc khuất nhỏ đau lòng của những người lính.


Kính bác một ly :-*


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 16 Tháng Năm, 2009, 02:17:37 PM
Viết bài cóc đúng thì nói cóc đúng, cứ lằng nhằng như chị chàng!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:42:47 PM
Một số bài viết có liên quan đến tình cảm thuở "đội đầu chung một lá sen tơ" đã được di chuyển sang topic "Tình yêu của người lính..."

Kính xin các bác tránh lạc đề để bác Trongc6 tiếp tục hồi tưởng ngày chiến thắng theo kiểu lính Trinhsat! ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 16 Tháng Năm, 2009, 10:21:21 PM
Đội đầu chung một lá sen tơ
Em đi phố huyện tiêu điều lắm.
Trường huyện giờ xây kiểu khác roài!
Mãi đến bây giờ em mới hiểu
Thích cắt là xong, cứ cắt thôi!
.........................................................

Chả biết viết vào đâu thì viết vào đây vậy!
Tình yêu nó cũng phải có một trại riêng, chuyên về tình yêu, như đã có một topic mà bác Đoàn đã dành cho nó. Thế nó mới tập trung dân chủ và bay bổng lãng mạn.
Đằng này các bác cứ để nó dàn trải .... lúc nghỉ trưa, lúc ăn cơm, khi đêm về, lúc trăng lên .... thậm chí là lúc tác chiến cũng nhớ đến nó. Như thế là không nên ...

Tình yêu của người lính lắng sâu nhưng cháy bỏng lắm các bác ạ  :P :P :P
Đến khổ !   :D



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Năm, 2009, 10:25:55 PM
Thích cắt là xong, cứ cắt thôi!
--------------------------------
 Thực ra câu này nên đổi thành: Lúc cắt lúc không, có lý do!
;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: quyenkh trong 17 Tháng Năm, 2009, 01:07:01 AM
Chào cả nhà QS.
Bác nào còn nhớ những gì thì tuôn ra hết đi khỏng mươi năm nữa bịnh tật nó đổ ra muốn viết lại mà tay cứ run
cho con cháu đứa nào có tư duy một chút nó còn biết đến , đừng như đường Trường Sơn ( báo sài Gòn giải phóng ) gần như muốn trôi vào truyện cổ tích , chỉ bên Lào còn 2km nguyên trạng còn bên ta thì cứ hình như là....... bây giờ người ta hiện đại hoá quá nhanh và rất mau quên quá khứ .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Tmct trong 17 Tháng Năm, 2009, 06:00:16 AM
Nhìn đám đông qua lại trên đường, một người khách xa thầm nghĩ "phố này buôn bán sầm uất nhỉ", một người khác bực bội "sao người đâu ra mà lắm thế", một người khác đang đợi bạn thì chỉ thấy "ở đây không có bạn mình".
Hai người cùng uống chung một ly nước cam đã khuấy đều còn có thể người khen "ngon ngọt", kẻ chê "sao bỏ lắm đường?"
...nữa là một cuộc chiến mà trong đó không có hai người nào cùng đi qua những trải nghiệm giống hệt nhau
...nữa là hai cuộc chiến khác nhau cả về độ dai dẳng cũng như độ khốc liệt


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 17 Tháng Năm, 2009, 09:11:30 PM
Các bác ôi có bác nào mua được 2 tập HỒi ức của lính xe tăng ở SG thì cho em biết địa chỉ nhà sách với. Em tìm cả sáng nay mà không thấy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: quyenkh trong 17 Tháng Năm, 2009, 11:38:21 PM
Thì em cứ nói vậy nếu không tiến lên thì cứ nhà lá mà ở sao , du lịch SaiGon có tua thăm lại chiến trường xưa dọc theo đường 5 đến Batdombong ( bộ chỉ huy sư 309 ) thế nào em cũng phải đi , chắc thay đổi rất nhiều  .
Em ở Saigon lâu lâu đi lại chỗ nào đó còn nhận không ra , coi phim tư liệu VTV1 cũng thấy khác rồi , cuối năm 82 ra quân chỗ cầu sập lên Kông pông chơ Năng đã xây lại rồi , lên một chút có một ngôi chùa đơn vị em chôn đến mười mấy nhân  chỗ chân tường chùa sát đường 5 , chắc QĐ 4 đã bốc cốt về Việt Nam . Em phải ghé vào ngã ba biển hồ uống bằng được ngụm bia Pô sheng Tông ( nước thốt nốt lên men ) dân khu vực đó gọi vậy , họ cho mấy lát rễ cây gì đó vào ống tre .Ăn bằng được miếng cá khô phơi còn ươn ướt , à quên không biết đưởng vào Tà Hen ,SpaiLin , Stà Reng có tua không nhỉ nghé vào 3 núi uống một miếng nước giếng nặc mùi vôi , lấy nước nấu cơm hăng hăng mùi bánh Đúc .
Vào Tà Sanh ăn cho được một quả chuối sứ vàng lòng , ăn được một quả sầu riêng thật béo vàng ngậy thấm bao nhiêu mồ hôi  và máu đồng đội của em , em phải cố tìm một đoạn giao thông hào ,em phải cố lên được khu đào đá quý mà trước kia em và đồng đội dò dẫm từng bước chân .
Thôi cho đó là ước nhưng khi nào đến được mới biết là không mơ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 18 Tháng Năm, 2009, 08:18:07 AM
 Đêm qua có bác nào xem chương trình của truyền hình Hà nội về Trường Sơn : người dẫn chương trình kể chuyện ở Trường Sơn có 1 đơn vị bị bao vây sắp chết ,trên điện vào hỏi :các đồng chí cần gì  quân ta trả lời ; thích nghe thơ Phạm tiến Duật rồi chết cũng được ( kính lạy hương hồn ông ) trên phá vây không được bèn dùng cối bắn thơ vào chốt cho anh em đọc ......
  hà.......hà,,,,,,,..Cụ Duật sống lại cũng không tưởng tượng được ... lạy cụ ....


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: quyenkh trong 18 Tháng Năm, 2009, 08:45:35 AM
Chào bác Tài , chiến tranh đã qua rồi lúa tuổi nhỏ nhất của chiến dịch giải phóng K cũng đã 50 .........mấy người còn ở lại nhất là lính cầm súng chạy bám theo đít giặc mà bắn . Bác thấy các ông trên chiếc tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập không , có ông nào làm nên vương tướng gì không thậm chí còn mang vài chiếc mỏ lết ra cây đa đầu làng vá vỏ xe .
Mình nói ra hết nhiều lúc bảo tiêu cực , nhưng riêng em thấy các bác chỉ huy cứ đưa liên lạc đi học sỹ quan tất nhiên khi về sẽ thành chỉ huy chắc là học dược nhiều phẩm chất lãnh đạo khi gần các bác ấy và quan văn lên đều hơn quan võ . Đó là ý của em có đụng đến ai xin chưởi nhè nhẹ.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 18 Tháng Năm, 2009, 02:22:44 PM
trên phá vây không được bèn dùng cối bắn thơ vào chốt cho anh em đọc ......
Bác Tài mời ông ấy về QS kể chuyện cho anh em đi, hay quá cơ !!!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vinaheart trong 18 Tháng Năm, 2009, 06:50:14 PM
Đêm qua có bác nào xem chương trình của truyền hình Hà nội về Trường Sơn : người dẫn chương trình kể chuyện ở Trường Sơn có 1 đơn vị bị bao vây sắp chết ,trên điện vào hỏi :các đồng chí cần gì  quân ta trả lời ; thích nghe thơ Phạm tiến Duật rồi chết cũng được ( kính lạy hương hồn ông ) trên phá vây không được bèn dùng cối bắn thơ vào chốt cho anh em đọc ......
  hà.......hà,,,,,,,..Cụ Duật sống lại cũng không tưởng tượng được ... lạy cụ ....

Em hỏi nhờ các bác là tầm xa của cối là bao nhiêu để bắn được cả thơ vào à các bác. Nếu bắn được thì định vây ta, ta vây địch rồi ????


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 18 Tháng Năm, 2009, 07:11:28 PM
Vi na @ .Cái đó thì phải hỏi Nhà đài Hà nội ,Cục Vũ khí đạn cũng Botay.com


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 18 Tháng Năm, 2009, 07:15:54 PM
Chào bác Tài , chiến tranh đã qua rồi lúa tuổi nhỏ nhất của chiến dịch giải phóng K cũng đã 50 .........mấy người còn ở lại nhất là lính cầm súng chạy bám theo đít giặc mà bắn . Bác thấy các ông trên chiếc tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập không , có ông nào làm nên vương tướng gì không thậm chí còn mang vài chiếc mỏ lết ra cây đa đầu làng vá vỏ xe .
Mình nói ra hết nhiều lúc bảo tiêu cực , nhưng riêng em thấy các bác chỉ huy cứ đưa liên lạc đi học sỹ quan tất nhiên khi về sẽ thành chỉ huy chắc là học dược nhiều phẩm chất lãnh đạo khi gần các bác ấy và quan văn lên đều hơn quan võ . Đó là ý của em có đụng đến ai xin chưởi nhè nhẹ.



Tím :  Bác ơi ! Anh em mình chỉ là 1 hạt muối trong lòng đại duơng thôi ! Nếu "các ông trên chiếc tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập " lên tướng hết thì lấy đâu ra tá chứ chả nói đến úy và lính nữa ... Hay nói theo cách của bác TS1 :"Mình đã là cái ngỗng gì so với tất cả những người khác. "
Đỏ : Không biết đơn vị  bác thế nào , chứ đơn vị em là "Bị dí đi học sỹ quan" .
  Đây cũng là nhận xét của cá nhân em thôi , mong bác đừng mắng  ;D ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: quyenkh trong 19 Tháng Năm, 2009, 12:33:57 AM
Chào bác linhmoi cho em hỏi khí không phải , bác nhập ngũ năm nào...................... còn em nói trước khi có luật nghĩa vụ quân sự năm 81 , trước đó chỉ đi và ngày về ??????????????????????? Thằng bạn em ở trinh sát trung đoàn 250 f309 khi bị mìn Kp2 cụt giò còn kêu trúng mánh rồi ... trúng mánh rồi...........  nó quê ở Nêpu huyện Đức linh bác cứ khảo sát gọi nó là ( Bình toác ). bác mới hiểu những năm tháng ấy chúng em sống ra sao.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 19 Tháng Năm, 2009, 01:30:08 AM
Chào bác linhmoi cho em hỏi khí không phải , bác nhập ngũ năm nào...................... còn em nói trước khi có luật nghĩa vụ quân sự năm 81 , trước đó chỉ đi và ngày về ??????????????????????? Thằng bạn em ở trinh sát trung đoàn 250 f309 khi bị mìn Kp2 cụt giò còn kêu trúng mánh rồi ... trúng mánh rồi...........  nó quê ở Nêpu huyện Đức linh bác cứ khảo sát gọi nó là ( Bình toác ). bác mới hiểu những năm tháng ấy chúng em sống ra sao.


hehe , thời bác lạ nhỉ , thời tụi em có thằng  trúng mìn  xin đồng đội cho 1 phát ra đi thanh thảng , có thằng không ga rô vết thương vì sợ cưa chân nên chết vì mất máu . Chết không sợ , chỉ sợ cụt giò về nhà không ai dám lấy  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 19 Tháng Năm, 2009, 01:43:05 AM
Nói thật lòng mình trước khi tham chiến nha.Trộm nghĩ bị thương,thì bị thương miễn không ai nhìn thấy vết,còn không chết.M...đi cho nó nhàn.. ;D Em hổng động chạm bác nào đâu nhá hừ...em nghĩ thật như vậy đó,và em cũng bị thương đúng như vậy.Rõ khổ lắm lúc cứ như trả vờ,đeo đẳng xuốt 24 năm trời con dế già ngồi trong đầu em mỗi ngày gáy oooooo uuuuuuuuuu iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii càng to lên,ồn hết muốn ngủ luôn...lại thêm một mảnh nhỏ nằm ở chân nữa híc..... :D :D :D :D :D :D :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 19 Tháng Năm, 2009, 01:57:00 AM
Nói thật lòng mình trước khi tham chiến nha.Trộm nghĩ bị thương,thì bị thương miễn không ai nhìn thấy vết,còn không chết.M...đi cho nó nhàn.. ;D Em hổng động chạm bác nào đâu nhá hừ...em nghĩ thật như vậy đó,và em cũng bị thương đúng như vậy.Rõ khổ lắm lúc cứ như trả vờ,đeo đẳng xuốt 24 năm trời con dế già ngồi trong đầu em mỗi ngày gáy oooooo uuuuuuuuuu iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii càng to lên,ồn hết muốn ngủ luôn...lại thêm một mảnh nhỏ nằm ở chân nữa híc..... :D :D :D :D :D :D :D
hehe , hồi mới sang K em nghĩ nếu cụt giò mình sẽ là anh thương binh của nhạc sĩ Trần Tiến , cũng lãng mạng  ;D tới hồi thấy cái giò nát bét khi trúng 652a , máu me tùm lum kêu khóc quá trời , em sợ quá quên ngay bài hát vết chân tròn trên cát  ;D em vốn nhát rất sợ đau nên cầu trời nếu con có trúng đạn thì xin cho được chết ngay cho nó khỏe  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 19 Tháng Năm, 2009, 02:57:45 AM
Chào bác linhmoi cho em hỏi khí không phải , bác nhập ngũ năm nào...................... còn em nói trước khi có luật nghĩa vụ quân sự năm 81 , trước đó chỉ đi và ngày về ??????????????????????? Thằng bạn em ở trinh sát trung đoàn 250 f309 khi bị mìn Kp2 cụt giò còn kêu trúng mánh rồi ... trúng mánh rồi...........  nó quê ở Nêpu huyện Đức linh bác cứ khảo sát gọi nó là ( Bình toác ). bác mới hiểu những năm tháng ấy chúng em sống ra sao.


  Em nhập ngũ 83 bác ạ ! Thời bọn em thì chả thằng nào thích đi học sỹ quan cả . cũng chính vì vậy mà em bảo là bị "dí" . Vì thiếu sỹ quan nên ở chỗ em gọi là "nhận sỹ quan" , tức là bác vẫn ở đv nhưng nhận quyết định bổ nhiệm B trưởng và phong quân hàm thiếu úy . Lúc nào có đợt thì Đv gửi ra trường quân chính "bổ túc sỹ quan" từ 3 tới 6 tháng . Vậy mà vẫn thiếu SQ nên từ năm 85 thì đv thuyết phục lính cũ nhận phục vụ QĐ thêm có thời hạn . Nếu bác nào đồng ý thì nhận quyêt định bổ nhiệm B trưởng và quân hàm thượng sỹ nhưng ăn luơng thiếu úy .
 P/S . Nếu em nhớ không nhầm thì luật NVQS bắt đầu thực hiện từ 85 vì khi có luật này thì các bác lính 80 ở đv em mới được phục viên .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 19 Tháng Năm, 2009, 08:19:37 AM
Luật NVQS áp dụng 1982 bác ạ. Năm đó dân tụt tạt ở SG đi đông lắm vì biết đi có thời hạn để về và về thì được nhập hộ khẩu!  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dksaigon trong 19 Tháng Năm, 2009, 10:01:14 AM
He, cái bác quyenkh này nói nghe có vẻ lung tung nhưng là nói đúng những tâm trạng, suy nghĩ của thanh niên miền nam lúc đó ! ;D
Điểm qua những mốc thì bắt đầu năm 76 là đợt đầu tiên gọi nhập ngũ đi NVQS ở miền nam, đợt này thì có gọi là tuyển bởi cũng xét các tiêu chuẩn và cũng tuyển không nhiều !
Qua năm 77 tình hình chiến sự biên giới tây nam đã nóng thì năm này tuyển quân hơi bị nhiều ! ;D và các tiêu chuẩn cũng chỉ là có lệ, tiêu chuẩn chính trị là hàng đầu mà năm 76 còn xét thì qua năm 77 là... cho qua, cụ thể là có ông đã từng là lính dù chế độ cũ cũng " trúng tuyển "! , và ông nội này đành than rằng " số tao phải đi lính, giải phóng tưởng thoát khỏi, giờ lại đi bộ đội, đúng là cái số ! " Suy nghĩ lúc ấy là không biết có chế độ NVQS gì như thế nào, trúng tuyển đi rồi quả tình là không biết ngày về bởi cũng chẳng ai nói gì về cái ngày về và thực tế lúc ấy những ông đi từ 74 cũng đang ăn cơm lính đó thôi !, sau này đến những năm 79-80 mới dần biết được chút ít khi thấy quái lạ mấy ông lính cựu 74, 75 sao cứ từ chối không nhận chuẩn úy ?! hỏi ra thì mấy ông này nói không nhận để hy vọng có ngày được ra quân, nói là hy vọng bởi ngay cả các ông này cũng không biết có được về hay không dù là dân miền bắc! còn dân miền nam bọn tôi thì mù tịt chế độ! chỉ lờ mờ hiểu là nếu nhận hàm úy thì đi " mút chỉ "!
Đến năm 81 thì được phổ biến có chính sách ra quân, đợt đầu thực hiện vào tháng 6/81 cho các em nhập ngũ từ 76 trở về trước và đợt 2 vào tháng 12/81 cho các em nhập ngũ 77 . Về chính sách ra quân này thì mấy ông quân lực cấp trên cười khà khà nói là : tình thế kẹt , từ 79-81 tuyển quân hẻo quá! đi nhận quân lần nào cũng lèo tèo, có đợt không nhận được em nào, giờ nhà nước có chính sách ra quân  để hy vọng có tác động tích cực tuyển được quân, chứ cứ cái đà này thì các D cứ còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu đừng hy vọng có quân bổ sung...!
Và đúng là trước khi có chính sách ra quân thì suy nghĩ lúc đó là : thôi sống chết có số, tới đâu hay tới đó và ngâm nga cái bài hát có câu " đường dài miệt mài anh đi... "  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: china trong 19 Tháng Năm, 2009, 10:18:10 AM
Nói thật lòng mình trước khi tham chiến nha.Trộm nghĩ bị thương,thì bị thương miễn không ai nhìn thấy vết,còn không chết.M...đi cho nó nhàn.. ;D Em hổng động chạm bác nào đâu nhá hừ...em nghĩ thật như vậy đó,và em cũng bị thương đúng như vậy.Rõ khổ lắm lúc cứ như trả vờ,đeo đẳng xuốt 24 năm trời con dế già ngồi trong đầu em mỗi ngày gáy oooooo uuuuuuuuuu iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii càng to lên,ồn hết muốn ngủ luôn...lại thêm một mảnh nhỏ nằm ở chân nữa híc..... :D :D :D :D :D :D :D
hehe , hồi mới sang K em nghĩ nếu cụt giò mình sẽ là anh thương binh của nhạc sĩ Trần Tiến , cũng lãng mạng  ;D tới hồi thấy cái giò nát bét khi trúng 652a , máu me tùm lum kêu khóc quá trời , em sợ quá quên ngay bài hát vết chân tròn trên cát  ;D em vốn nhát rất sợ đau nên cầu trời nếu con có trúng đạn thì xin cho được chết ngay cho nó khỏe  ;D
Cùng suy nghĩ với Haanh, anh Ẩn nhập ngũ cùng thời với anh Hiển con Bác Tám bán gạo cùng chợ Phú Lâm với má Anh Hiển, đã dùng lựu đạn tự xử khi trúng mìn cụt 2 chân, trong một trường hợp chưa rõ chi tiết, nghe Bác Tám bảo do đồng đội kể lại, lâu rồi không dám hỏi thêm sợ các Mẹ già lên máu


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 19 Tháng Năm, 2009, 10:51:52 AM
hehe , xem ra suy nghĩ của lính lác cũng rối rắm quá nhỉ , thân phận , ám ảnh là đây sao (hehe , xin lỗi bác TS ủa lộn bác trongc6 cho em sờ pam tí ) ;D cũng là 1 sự vật - hiện tượng nhưng mỗi người lại có cách nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan khác nhau  ;D hehe mấy bác nhà văn túm được cái này mừng húm , tha hồ ngâm cứu và sáng tác  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 19 Tháng Năm, 2009, 01:28:31 PM
Luật NVQS áp dụng 1982 bác ạ. Năm đó dân tụt tạt ở SG đi đông lắm vì biết đi có thời hạn để về và về thì được nhập hộ khẩu!  ;D
  Cái này thì em cũng biết , LNVQS ra năm 81 hay 82 gì đấy . Nhưng thực hiện ở đơn vị em thì chắc chắn là năm 85   vì trong năm đó toàn bộ lính 80 , 81 ở đv em được ra quân hết . Nói chung là năm 85 , lính 80 , 81 ở BGPB mới được ra quân . Theo em nghĩ thì có lẽ luật ra rồi nhưng thực hiện ở các đv khác nhau , tùy theo tình hình chiến sự vì thời điểm đó ở BGPB luôn đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất . Nói thật chứ hồi ấy lính lác có biết gì đâu , các bác chỉ huy phổ biến thế nào thì biết thế ... Nếu có hỏi tại sao chưa được ra quân thì sẽ có 1 bài học CT dài , nào là ... nào là ... nghìn lẻ 1 lý do ...Thiếu gì lý do để giữ lính lại ...
 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 19 Tháng Năm, 2009, 03:00:49 PM
hehe , xem ra suy nghĩ của lính lác cũng rối rắm quá nhỉ , thân phận , ám ảnh là đây sao (hehe , xin lỗi bác TS ủa lộn bác trongc6 cho em sờ pam tí ) ;D cũng là 1 sự vật - hiện tượng nhưng mỗi người lại có cách nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan khác nhau  ;D hehe mấy bác nhà văn túm được cái này mừng húm , tha hồ ngâm cứu và sáng tác  ;D

Còn lâu mới viết được cái cảm giác thật khi tôi hay bác haanh nghĩ gì ? híc...dễ mà vẽ ra tiền... ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 21 Tháng Năm, 2009, 06:26:09 PM
...
       Đóng quân trong căn cứ Đồng Dù được hơn một tháng, một đêm chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị sắp xếp lại toàn bộ quân tư trang cá nhân để hôm sau chuyển căn cứ. Có nghĩa là mang được cái gì thì mang, còn lại tức là vứt bỏ. Có quái gì mà phải chuẩn bị cơ chứ. Lính tráng báo động chiến đấu có nửa phút, báo động di chuyển có 5 phút còn kịp thì một đêm là quá dài đối với chúng tôi. Nhưng việc gì cũng có lý do của nó.

            Đêm hôm đó, những thứ ăn được chúng tôi mang ra liên hoan hết (thực ra cũng chỉ còn thịt hộp của dân, chúng tôi đổi được từ những chiếc xe máy cũ địch bỏ lại căn cứ). Đã hành quân bộ thì không thằng nào muốn mang nặng. Nếu có tiếc thì chỉ là gạo của địch phải bỏ lại, không mang được theo thì lại phải ăn theo tiêu chuẩn lính như trước thôi.

           Sáng sau, chúng tôi ăn một bữa no cật lực, đùm cơm nắm rồi lục tục lên đường. Đơn vị nhằm hướng Tây Ninh thẳng tiến. Đi được chừng 15 cây số, cả đại đội dừng lại bên một cánh rừng cao su. Mệnh lệnh tháo dỡ đồ đoàn để kiểm tra quân tư trang được phát ra. Mỗi lính cách nhau 3 mét, rải nilon xuống đất và dỡ bỏ mọi thứ trong ba-lô xếp lên đó. Những thứ trong túi áo quần cũng phải lộn bỏ ra hết. Bây giờ thì chúng tôi đã hiểu rằng chẳng có chuyện chuyển căn cứ gì hết, mà chẳng qua chỉ là kiểm tra quân tư trang. Trong đời lính, tôi đã phải bị tham gia kiểm tra quân tư trang không biết bao nhiêu lần. Những cái mốc đó thường rơi vào lúc sau những trận đánh lớn hay sau những đợt chiến đấu dài ngày. Trong đơn vị tôi chưa có trường hợp đáng tiếc nào xảy ra, tức là chưa có ai vi phạm kỷ luật về chiến lợi phẩm. Các thứ nhét được vào mồm thì không tính, mà giả sử có tính thì lính tráng cũng chẳng từ. Thiếu ăn và đói quá thì con người ta chỉ còn nghĩ đến chữ "con" trong con người thôi. Danh dự đôi khi chẳng là cái gì khi đó. Còn những thứ bị cấm như đài, đồng hồ, vàng bạc thì chúng tôi không màng, nhiều khi còn kiêng, thành truyền thống trong nếp nghĩ của lính rồi. Mà cũng cần nói thêm rằng những thứ đó có phải lúc nào cũng có sẵn đâu. Chỉ có đánh các căn cứ lớn, mà chúng tôi vốn không được đánh lớn bao nhiêu.

          Đoàn kiểm tra của tiểu đoàn hì hục lật xem rồi ghi ghi chép chép chừng hai tiếng thì cũng xong. Mọi chuyện có vẻ vẫn như trước thôi. Nhưng rồi ban kiểm tra cũng tìm ra được một trường hợp. Thằng Sớn (người Nam Hà) có một cái đồng hồ Seiko 2 cửa sổ. Lý do, nó mua được giá 20 đồng bằng tiền phụ cấp của mấy anh em góp lại, nhưng chưa đủ thuyết phục, chiếc đồng hồ bị tịch thu.

             Sau này khi trở lại căn cứ Đồng Dù, một số anh em trong trung đội phải lập danh sách góp đủ số tiền 20 đồng cho Sớn, đề đạt lên tiểu đoàn mãi mới xin lại được. Tiểu đoàn trả đồng hồ, kèm theo lời phê bình là không chịu báo cáo trước khi mua. (Thực ra anh em thương mà nhận giúp nó thôi chứ nó mua lúc nào cũng đâu có ai biết).

             Điều đáng nói thêm là hơn một tháng sau nữa, khi trung đoàn chúng tôi được lệnh trở lại Tây Nguyên làm nhiệm vụ truy quét Fulro thì các thủ trưởng các cấp trên E thi nhau cho công vụ đi các lán (doanh trại) thu vét các dụng cụ sinh hoạt, dù, bạt, thậm chí bóc cả các tấm Phooc-mi-ca mặt bàn cuộn từng bó chở lên cao nguyên để xây dựng doanh trại cho các thủ trưởng. Các thủ trưởng D cũng muốn lắm, nhưng ở sát lính quá nên cũng không dám làm ẩu.

             Trên Cao nguyên, thời truy quét Fulro còn nhiều chuyện nực cười nữa của các thủ trưởng, nhưng có lẽ chuyện kể cũng đã đến điểm dừng.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 21 Tháng Năm, 2009, 06:40:07 PM
Lính tráng báo động chiến đấu có nửa phút, báo động di chuyển có 5 phút

----
Lính thời sau này,thực hiện chế độ báo động được như vậy chỉ có ở quân trường Hạ Sĩ quan thôi bác ạ,chậm một chút là phạt,kính thưa các kiểu phạt được tận dụng vào giờ nghỉ trưa ít ỏi hay đầu buổi tối sau bứa ăn cơm,thời gian đến nửa đêm vẫn nằm trong trương trình huấn luyện.Lính nhiều anh phải đeo nguyên giầy đi ngủ khi báo động trong bóng tối,chỗ giá súng cứ chồm dậy lao vào mà chộp súng không được gây tiếng động,thế mà làm được cái lúc đầu cứ cho là không thể quái đản như thế được....hiiiiiiiiiiiiiii    ;D

Kiểm tra quân tư trang,ở trường không kể đó là qui định,sau khi về đơn vị chiến đấu chỉ thấy có 01 lần ở đơn vị bạn,lý do mất trộm cái gì đó... ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: nvanlebinh trong 21 Tháng Năm, 2009, 09:49:27 PM

  Cái này thì em cũng biết , LNVQS ra năm 81 hay 82 gì đấy . Nhưng thực hiện ở đơn vị em thì chắc chắn là năm 85   vì trong năm đó toàn bộ lính 80 , 81 ở đv em được ra quân hết . Nói chung là năm 85 , lính 80 , 81 ở BGPB mới được ra quân . Theo em nghĩ thì có lẽ luật ra rồi nhưng thực hiện ở các đv khác nhau , tùy theo tình hình chiến sự vì thời điểm đó ở BGPB luôn đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất . Nói thật chứ hồi ấy lính lác có biết gì đâu , các bác chỉ huy phổ biến thế nào thì biết thế ... Nếu có hỏi tại sao chưa được ra quân thì sẽ có 1 bài học CT dài , nào là ... nào là ... nghìn lẻ 1 lý do ...Thiếu gì lý do để giữ lính lại ...
 
Nghiã vụ quân sự có quy định thời gian ra quân từ trước lâu. Trong giai đoạn cuối KCCM thì quy định:
Từ 3 năm đến 5 năm ra quân gọi là xuất ngũ.
Từ sau 5 năm ra quân là phục viên.
Thời gian tôi còn trong QN cũng vẫn theo như vậy. 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: nắngđêm83 trong 21 Tháng Năm, 2009, 10:01:09 PM
Bác Trọng ơi, mạch truyện của bác đang hay mà. Sao lại không tiếp tục nữa ạ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 21 Tháng Năm, 2009, 11:08:58 PM

  Cái này thì em cũng biết , LNVQS ra năm 81 hay 82 gì đấy . Nhưng thực hiện ở đơn vị em thì chắc chắn là năm 85   vì trong năm đó toàn bộ lính 80 , 81 ở đv em được ra quân hết . Nói chung là năm 85 , lính 80 , 81 ở BGPB mới được ra quân . Theo em nghĩ thì có lẽ luật ra rồi nhưng thực hiện ở các đv khác nhau , tùy theo tình hình chiến sự vì thời điểm đó ở BGPB luôn đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất . Nói thật chứ hồi ấy lính lác có biết gì đâu , các bác chỉ huy phổ biến thế nào thì biết thế ... Nếu có hỏi tại sao chưa được ra quân thì sẽ có 1 bài học CT dài , nào là ... nào là ... nghìn lẻ 1 lý do ...Thiếu gì lý do để giữ lính lại ...
 
Nghiã vụ quân sự có quy định thời gian ra quân từ trước lâu. Trong giai đoạn cuối KCCM thì quy định:
Từ 3 năm đến 5 năm ra quân gọi là xuất ngũ.
Từ sau 5 năm ra quân là phục viên.
Thời gian tôi còn trong QN cũng vẫn theo như vậy. 

   Cái em nói ở trên là luật mới (thời em) bác ạ!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: songvedem trong 22 Tháng Năm, 2009, 01:15:22 PM


             Điều đáng nói thêm là hơn một tháng sau nữa, khi trung đoàn chúng tôi được lệnh trở lại Tây Nguyên làm nhiệm vụ truy quét Fulro thì các thủ trưởng các cấp trên E thi nhau cho công vụ đi các lán (doanh trại) thu vét các dụng cụ sinh hoạt, dù, bạt, thậm chí bóc cả các tấm Phooc-mi-ca mặt bàn cuộn từng bó chở lên cao nguyên để xây dựng doanh trại cho các thủ trưởng. Các thủ trưởng D cũng muốn lắm, nhưng ở sát lính quá nên cũng không dám làm ẩu.

             Trên Cao nguyên, thời truy quét Fulro còn nhiều chuyện nực cười nữa của các thủ trưởng, nhưng có lẽ chuyện kể cũng đã đến điểm dừng.
0--------------

Thu vén là chuyện bình thường mà bác, em chả thấy có gì cả. mong bác tiếp tục. Phải tay em thì cho lính dỡ hết đồ, trừ gỗ (vì lên rừng mà), xây dựng doanh trại chứ có sao đâu


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vubang trong 23 Tháng Năm, 2009, 10:56:50 AM
He, cái bác quyenkh này nói nghe có vẻ lung tung nhưng là nói đúng những tâm trạng, suy nghĩ của thanh niên miền nam lúc đó ! ;D
Điểm qua những mốc thì bắt đầu năm 76 là đợt đầu tiên gọi nhập ngũ đi NVQS ở miền nam, đợt này thì có gọi là tuyển bởi cũng xét các tiêu chuẩn và cũng tuyển không nhiều !
Qua năm 77 tình hình chiến sự biên giới tây nam đã nóng thì năm này tuyển quân hơi bị nhiều ! ;D và các tiêu chuẩn cũng chỉ là có lệ, tiêu chuẩn chính trị là hàng đầu mà năm 76 còn xét thì qua năm 77 là... cho qua, cụ thể là có ông đã từng là lính dù chế độ cũ cũng " trúng tuyển "! , và ông nội này đành than rằng " số tao phải đi lính, giải phóng tưởng thoát khỏi, giờ lại đi bộ đội, đúng là cái số ! " Suy nghĩ lúc ấy là không biết có chế độ NVQS gì như thế nào, trúng tuyển đi rồi quả tình là không biết ngày về bởi cũng chẳng ai nói gì về cái ngày về và thực tế lúc ấy những ông đi từ 74 cũng đang ăn cơm lính đó thôi !, sau này đến những năm 79-80 mới dần biết được chút ít khi thấy quái lạ mấy ông lính cựu 74, 75 sao cứ từ chối không nhận chuẩn úy ?! hỏi ra thì mấy ông này nói không nhận để hy vọng có ngày được ra quân, nói là hy vọng bởi ngay cả các ông này cũng không biết có được về hay không dù là dân miền bắc! còn dân miền nam bọn tôi thì mù tịt chế độ! chỉ lờ mờ hiểu là nếu nhận hàm úy thì đi " mút chỉ "!
Đến năm 81 thì được phổ biến có chính sách ra quân, đợt đầu thực hiện vào tháng 6/81 cho các em nhập ngũ từ 76 trở về trước và đợt 2 vào tháng 12/81 cho các em nhập ngũ 77 . Về chính sách ra quân này thì mấy ông quân lực cấp trên cười khà khà nói là : tình thế kẹt , từ 79-81 tuyển quân hẻo quá! đi nhận quân lần nào cũng lèo tèo, có đợt không nhận được em nào, giờ nhà nước có chính sách ra quân  để hy vọng có tác động tích cực tuyển được quân, chứ cứ cái đà này thì các D cứ còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu đừng hy vọng có quân bổ sung...!
Và đúng là trước khi có chính sách ra quân thì suy nghĩ lúc đó là : thôi sống chết có số, tới đâu hay tới đó và ngâm nga cái bài hát có câu " đường dài miệt mài anh đi... "  ;D

Hè hè cái chuyện đi lính hai chế độ thì ở đơn vị em cũng có, một đi NVQS nhập ngũ năm 77 như em, nhưng còn trường hợp khác là lính chế độ cũ từ trước năm 75 bị ta bắt không hiểu lý do gì mà đi theo ta,  thay vì tù binh, lúc em ra trường biên chế về tiểu đoàn 445 anh hùng thì anh này đã đeo lon trung sỹ tên là Tâm, chính anh này là người đi nhận quân, sau này về đơn vị mới nghe AE nói mới biết. Thì ra có những trường hợp như vậy. Còn chuyện " đường dài miệt mài ta đi.." thì chính em cũng từng sống trong tâm trang này khi chưa có chính sách ra quân, lúc ấy chỉ nghe nói nhà nước mình cam kết giúp bạn đến 20 năm ,tất nhiên đây chỉ là chuyện trà dư tửu  hậu của AE, nhưng rồi giật mình nhìn nhau và tự hỏi nhau: " Ủa vậy là bọn mình còn đi đến bao giờ?! ???" kô có câu trả lời nhưng nghĩ đến thời gian dài đằng đẵng trước mắt nghe chùng tư tưởng hơi lung lay. Tuy vậy khi có chính sách ra quân rồi nhìn mấy thằng nhập ngũ từ 76 trở về trước mình cũng kô cảm thấy nôn nóng, vì càng nôn nóng thì càng cảm thấy thời gian nó dài ra chẳng ích gì mặc dù có lúc trong lòng cũng cảm thấy nhớ nhà da diết và tự hỏi kô biết mình có sống sót đến ngày về kô nhỉ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 23 Tháng Năm, 2009, 04:18:17 PM
       Chuyện một người từng khoác hai màu áo lính thì cũng không hẳn là hiếm. Một bên có lý tưởng, một bên không. Được cách mạng cảm hóa thì việc có anh lính cộng hòa chạy sang bên ta cũng bình thường.

       Đại đội trưởng C trinh sát của E9B bọn tôi vốn là Trung đội trưởng biệt kích VNCH. Sau Mậu thân 1968 thì theo Trung đoàn 9B lên rừng làm lính giải phóng. Từ 1971 bác ấy là C trưởng trinh sát của E. Bác ấy tên là Biên.

      Có điều bác ấy không được vào Đảng và sau 1975 lại trở về làm thường dân, không phát triển, mặc dù bác ấy chiến đấu rất giỏi và có nhiều huân chương.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 31 Tháng Năm, 2009, 06:26:12 PM
       .... Còn hơn một tháng nữa chúng tôi mới trở lại với Tây Nguyên, với mưa rừng và những cơn lũ, với những con đường đất đỏ Bazan mà mỗi bước chân đi là đất dính bết dép cao su nặng chịch. Giờ đây chúng tôi vẫn đang ở giữa đồng bằng. Tuy vẫn là trong căn cứ Đồng Dù, giữa trại lính mà sàn bê tông và mái tôn lợp tạo nên những cái lò nung hầm hập trưa hè và vang dội tiếng mưa đập dội ầm ầm đêm mưa, nhưng vẫn là cuộc sống đô thị. Không phải tìm  chặt củi rừng, không phải đào bếp Hoàng Cầm, đào hầm chữ A và nhất là những ca gác chỉ mang tính nếp sống quân đội, lỡ có lơ là đôi chút cũng không lo bị tập kích cả đơn vị. Và những đêm mưa dù ầm ĩ mái tôn, nhưng vẫn ngủ ngon, không phải thấp thỏm chờ nghe tiếng pháo bắn để tụt vội xuống căn hầm ẩm ướt, mà sợ nhất là cái loại pháo "điếm" của các anh lính cộng hòa chiều "bạn gái" trong một đêm đồn trú.

               Vẫn chỉ là tập tành thường nhật. Ăn uống đầy đủ, thịt cá rau đủ chất. Đặc biệt là không phải hành quân dã ngoại mà vẫn phải xơi đồ hộp liên tục (bây giờ mới biết đến khái niệm quá Date, chứ ngày đó cứ nghĩ đồ hộp là mặt hàng chiến lược để bao lâu chẳng được). Ngày trở về nhà thì chẳng ai dám nói đến rồi vì hầu hết lính tráng trong đơn vị đều có tuổi quân chưa đủ 5 năm. Chỉ có mấy cán bộ C là đi lính đã 7, 8 năm, nhưng các anh ấy bây giờ lại không muốn về nhà làm dân cày bám đít mấy con bò. Có anh còn tiếc là chiến tranh kết thúc bất ngờ quá, không kịp để các anh ấy đi xa hơn trên con đường binh nghiệp. Văn hóa lớp 5, lớp 7 mà còn chiến tranh thì khi leo lên đến cán bộ trung đoàn tiểu đoàn, quân đội khắc phải có chế độ bổ túc cho sĩ quan. Nay hòa bình rồi, tất phải giải trừ quân bị thì các anh ấy chỉ còn nước về quê. Cái tâm sự ấy tưởng như chuyện tiếu lâm vì nó ngược lại với ước mơ ngàn đời của dân lành là an cư lạc nghiệp trong thanh bình, thế mà lại là có thật.

               Còn lính tráng chúng tôi, chắc cũng chưa thể về được vì quân đội phải là lực lượng chính để giải quyết hậu quả chiến tranh. Những mảnh đất chiến trường mà không rà phá bom mìn thì mãi mãi chỉ là đất hoang. Bom đạn địch dội xuống đã đành, ngay cả những bãi mìn chúng tôi lập trước khu vực chốt trên Gia-lai ngày trước, chúng tôi cũng chưa kịp gỡ bỏ vì tốc độ chiến thắng, tốc độ truy kích địch năm 1975 nhanh quá. Liệu chúng tôi có quay lại đó gỡ bỏ không, hay nó lại tồn tại giống như những bãi mìn không hồ sơ của địch.

               Nhưng chúng tôi lại chờ mong vào những ngày phép. Mấy năm xa nhà rồi còn gì. Thế mà trong tất cả các đơn vị của trung đoàn không hề có rục rịch gì về chuyện về phép. Thế là vào những ca gác đêm, hay những đêm mưa to thức giấc khó ngủ lại, tôi lại mơ mộng nhớ về gia đình, nhớ về chặng đường quân ngũ của mình, rành mạch lắm, như những thước phim trôi chầm chậm, kể từ một chiều cuối xuân năm 1971 ấy…



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: mig21q trong 01 Tháng Sáu, 2009, 12:43:19 PM
Bác viết hay quá, mong bài của bác ạ!


      sợ nhất là cái loại pháo "điếm" của các anh lính cộng hòa chiều "bạn gái" trong một đêm đồn trú.
     

Em nghe các CCB kể là pháo trong các đồn, căn cứ của địch thường là đã căn sẵn các tọa độ chúng nghi là có đường mòn của ta. Đêm bọn chúng dẫn các cô "chuyên nghiệp" vào đồn, xong việc là ra pháo: anh 1 phát, em 1 phát. Những phát pháo này rất nguy hiểm vì chẳng có quy luật nào để tránh cả. Pháo bác nói ở trên có phải pháo này không ạ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 01 Tháng Sáu, 2009, 12:48:15 PM
Bác viết hay quá, mong bài của bác ạ!


      sợ nhất là cái loại pháo "điếm" của các anh lính cộng hòa chiều "bạn gái" trong một đêm đồn trú.
     

Em nghe các CCB kể là pháo trong các đồn, căn cứ của địch thường là đã căn sẵn các tọa độ chúng nghi là có đường mòn của ta. Đêm bọn chúng dẫn các cô "chuyên nghiệp" vào đồn, xong việc là ra pháo: anh 1 phát, em 1 phát. Những phát pháo này rất nguy hiểm vì chẳng có quy luật nào để tránh cả. Pháo bác nói ở trên có phải pháo này không ạ?

PHÁO ĐĨ


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 01 Tháng Sáu, 2009, 02:15:19 PM
@bạn Mig21q:

     Gọi là pháo "điếm" hay pháo "đĩ" thì cũng là nó, vì nó ám chỉ tác nhân gây ra kiểu bắn này. Không quy luật, không giờ giấc, đông một quả, tây một quả chẳng biết đâu mà lần. Có khi đi trinh sát sát điểm địch không sao, về đến gần hậu cứ, tưởng yên lành lại bị nó "ù...xoẹt" cho một quả vô tình trúng đội hình (trinh sát thường đi 3 người) thì vừa đau vừa tức còn hơn bị "..."



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 04 Tháng Sáu, 2009, 02:54:12 PM
         … Cuối tháng 3/1971, đài báo rầm rộ đăng tin thắng lớn của quân ta trên mặt trận đường 9 Nam Lào. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 mở đầu cho chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ-ngụy bị bẻ gấy trước cửa ngõ Sepon, Trung Lào. Một lữ dù VNCH co cụm bị đánh tan, đại tá Tư lệnh Nguyễn Văn Thọ bị bắt sống tại trận. Chiến thắng này được khuếch trương, rầm rộ chỉ sau Mậu Thân 1968. Một thời gian dài người dân quê đã nghe quá nhiều về chảo lửa Khe-Sanh, làng xóm đón nhận nhiều thương binh, và những người lính ra đi từ 1965, 1967 thì hầu như bặt tin. Gái quê cô nào lấy được một anh thương binh làm chồng thì coi như yên phận, hạnh phúc đã nắm chắc trong tầm tay. Vì thế chiến thắng này được ca ngợi hết lời, hậu phương nức lòng.

             Đoàn trường của các trường phổ thông ở Hà Nội lập tức phát động phong trào viết thư hỏi thăm chiến sĩ đường 9-Nam Lào. Không khí nóng đến mức học sinh lớp 10 cuối cấp chúng tôi đã nhìn thấy con đường tòng quân trước mắt. Chắc chỉ vài tháng nữa thôi. Trong thư gửi chiến sĩ lần đó, tôi đã ước hẹn sớm ngày trở thành đồng đội của các anh.

               Chúng tôi mới trở về Hà Nội được năm đầu, sau 5 năm đi học sơ tán. Chỉ mới năm học 1969-1970 thôi, tôi còn học ở trường cấp III Yên Hòa B. Đây là trường Chu Văn An (trường Bưởi) sơ tán về học chung trên đất ở Cầu Giấy của trường Yên Hòa. Tôi học lớp 9C, cùng lớp với Phạm Như Anh, con gái của luật sư Phạm Thành Vinh. (Bác luật sư này cùng với bác Đỗ Xuân Sảng là 2 luật sư bào chữa cho vụ máy bay biệt kích C47 của Mỹ-ngụy bị bắn rơi ở Ninh Bình năm 1963 đó). Tôi cũng biết anh Nguyễn Văn Thạc, học sinh giỏi văn toàn quốc học trên một lớp, đã mang vinh quang về cho trường năm đó. (Hơn 30 năm sau, khi có tập nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" của anh Thạc, tôi mới biết rằng Như Anh lớp tôi yêu anh ấy, và anh ấy đã hy sinh. Lúc đó con gái lớp 9 mà đã yêu cũng hiếm lắm. Như Anh bây giờ chắc còn nhớ chút ít con đường rẽ từ Cầu Giấy vào trường phải đi qua một cái xưởng của HTX làm mắm, lúc nào cũng nồng nặc mùi, và con đường làng nhỏ chạy men quanh mấy cái ao, không ít đứa học sinh nghịch trêu nhau đã lăn tòm cả người và xe đạp xuống đó).

              Một tháng sau có đoàn dũng sĩ miền Nam đến thăm trường. Toàn khối 10 tập trung ngồi trên sân nghe kể chuyện. Có một dũng sĩ người miền Nam tuổi độ 16, 17 kể chuyện chiến đấu rất hay. Say sưa quá, đến lúc chúng tôi hỏi súng B40 như thế nào mà bắn chảy xe tăng, anh ấy khoa tay giải thích một hồi rồi nhìn vào ngôi trường 3 tầng của chúng tôi bảo: "Cái nhà 3 tầng kia tôi chỉ bắn cho 3 phát B40 là đổ sập". Hãi quá, và buồn nữa vì anh ấy lại lấy ngôi trường thân yêu của chúng tôi làm ví dụ mục tiêu. Nhưng cũng buồn ít thôi, vì chúng tôi nghĩ anh ấy đi đánh giặc từ rất sớm, chắc không kịp học hành gì.

               Tháng 4, chưa kịp thi tốt nghiệp, đã có 5 thằng trong trường tôi lên đường nhập ngũ, được đặc cách công nhận tốt nghiệp. Lớp tôi có thằng Tuyên, cán sự môn thể dục, dáng người cứng cáp, mới 18 mà trông đã như gã 20, cũng lên đường. Cả trường tiễn chúng nó đi như những người anh hùng. Thằng Tuyên chưa hy sinh, chưa thành anh hùng mà chỗ ngồi cũ trong lớp của nó đã được khoanh thành chỗ ngồi danh dự. Nhìn cái chỗ trống trong lớp ấy mà nhớ đến người anh hùng trong tương lai, thế thì đám con trai chúng tôi bị phân tán tư tưởng, học hành thòi thọp cũng phải thôi. Một tháng sau, đúng lúc chúng tôi chuẩn bị làm lễ bế giảng thì thằng Tuyên về phép thăm trường (Về sau khi đã vào lính thì đoán ra là nó "tút" về chơi chứ mới đi có một tháng, thành tích gì mà được về phép?). Nó mặc bộ quân phục còn mới (hình như có đôi chỗ hơi bạc màu phong sương!!), mặt cứ vênh lên giữa đám bạn bè và thày cô. Học sinh lớp chúng tôi hãnh diện ra mặt. Lũ con gái lớp tôi mặt mày rạng rỡ, xúm xít vây quanh, mặc cho bọn con gái lớp khác thòm thèm nhìn ngó, chỉ trỏ từ xa. Bọn con trai kể cũng hơi tự ái, thầm nghĩ ngày mai cũng vào lính luôn cho bè bạn biết tay.

               Tới tháng 7 thì chúng tôi thi xong cả tốt nghiệp PT lẫn thi đại học. Nghỉ hè mà đường phố Hà Nội lúc này chỗ nào cũng nhan nhản áp phích hình anh Lê Mã Lương mặc quân phục giải phóng, đội mũ tai bèo, tay giơ khẩu Ak với hàng chữ bên dưới:

   Lê Mã Lương. "Cuộc đời đẹp nhất,
   Là ở trên trận tuyến đánh quân thù!"


...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 04 Tháng Sáu, 2009, 03:31:34 PM
....nhớ chút ít con đường rẽ từ Cầu Giấy vào trường phải đi qua một cái xưởng của HTX làm mắm, lúc nào cũng nồng nặc mùi, và con đường làng nhỏ chạy men quanh mấy cái ao...

Vâng, đọc những dòng chữ trên của bác tôi lại nhớ đến cái tuổi thơ của tôi vào những năm ấy ( 1968 - 1970 ), ở cái làng Yên Hòa ấy, ở cái " xưởng nước mắm " ấy quá bác Trongc6 ạ!

Cái ngôi trường cấp 3 Yên Hòa ấy, ngày ngày tôi vẫn đi qua để đi học.. Tôi nhớ ngôi đình làng dưới bóng cây đa, hàng ngày học sinh học hát vẫn ra đấy ngồi nhờ... " Ta vượt trên triền núi cao Trường sơn, dá mòn mà đôi gót không mòn..." Bài hát ấy tôi biết lần đầu tiên là do ngồi hóng giờ học hát của các anh, các chị học sinh cấp 3. Nhớ ngồi trường cấp 3 có thày giáo tên Thướng, vợ là cô Lan nhà cũng gần ngay trường. Nhớ mấy cái bể ngâm vỏ cây Dó để làm giấy mà tôi cứ đứng nhìn mấy bà, mấy chị thao tác mà không chán mắt. Và nhớ nhất là cái " xưởng nước mắm " nơi cả tuổi thơ tôi gắn bó với nó. Nó không hẳn là xưởng làm nước mắm đâu bác Trongc6 ạ. Nó có tên là " Xưởng chế biến thực phẩm xuất khẩu " nhưng nhiệm vụ làm Lạp xưởng xuất khẩu là phụ mà chủ yếu là làm ruốc, làm Magi, nước mắm cô đặc phục vụ chiến trường là chủ yếu...
Con đường làng lát nghiêng gạch chỉ, bóng học sinh đầu đội mũ rơm, tay xách lọ mực nhựa vui đến trường trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ...mãi vẫn đọng lại trong tâm trí biết bao thế hệ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 04 Tháng Sáu, 2009, 03:47:11 PM
Thật may là trong cuộc sống nhanh đến chóng mặt, không đủ cả thời gian để đọc hết mail mỗi ngày (nhưng vẫn có thời gian cho quansu :), vẫn có chỗ để hổi tưởng lại thời thơ ấu mà ai cũng đã từng trải qua. Có vẻ như 30 năm trước của các bác ở HN cũng không khác mấy 20 năm trước của thế hệ tụi em ở các tỉnh miền núi. Nhắc tới kỷ niệm lại thấy thời gian trôi nhanh quá. Mà không biết với các em, các cháu 9x, 10x bây giờ thì sau này thời thơ ấu với chúng nó là gì?
À, nói các bác đừng cười, đọc nhưng cảm giác được mặc chiếc áo bộ đội như bác Trongc6 kể lại làm cháu nhớ đến những lần được mặc áo xanh tình nguyện. Cả trường cũng 2-3 trăm đơn TN để chọn lấy 20 người. Tiếc là những cảm giác ấy bị "hiện thực" lấy đi nhanh quá :-[ :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: huynhat trong 07 Tháng Sáu, 2009, 07:25:13 PM
Cái vụ pháo đĩ này em có nghe qua, anh trai ông anh rể em tháng 4/1975 là trinh sát của cánh quân 232 tiến về SG. Sáng 26/4 anh cùng với các đồng đội trinh sát về ngồi uống nước ở sân nhà dân thì bị dính. Mấy anh em chết không toàn thây. Anh ấy tên Lai, nhà ở 14A Bà Triệu- HN. Bạn anh ấy là anh Vũ giờ là phó CN VP chính phủ. Giỗ anh lai năm nào anh Vũ cũng đến.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tuaans trong 07 Tháng Sáu, 2009, 09:53:54 PM
Cái vụ pháo đĩ này em có nghe qua, anh trai ông anh rể em tháng 4/1975 là trinh sát của cánh quân 232 tiến về SG. Sáng 26/4 anh cùng với các đồng đội trinh sát về ngồi uống nước ở sân nhà dân thì bị dính. Mấy anh em chết không toàn thây. Anh ấy tên Lai, nhà ở 14A Bà Triệu- HN. Bạn anh ấy là anh Vũ giờ là phó CN VP chính phủ. Giỗ anh lai năm nào anh Vũ cũng đến.

Cái này không kêu = pháo đĩ, mà kêu = pháo mồ côi


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 07 Tháng Sáu, 2009, 10:18:57 PM
      Pháo "đĩ" (hay pháo "điếm") là đặc điểm chỉ có ở bọn lính đồn trú miền biên cương, chủ yếu trên Cao nguyên. Nơi đó xung quanh vùng đồn trú chủ yếu là rừng núi, chỉ có VC đóng quân. Nó bắn cầm canh, bắn hú họa, bắn chơi, chỉ cần hướng về phía VC là được, không cần biết chính xác ở đâu, xa hay gần. Mà lỡ có rớt vào mấy cái Bản người Thượng theo VC nằm lẫn trong rừng cũng thây kệ.

      Ở đồng bằng thì xung quanh là có dân cư, đâu có bắn lung tung được. Và cái đặc điểm có "gái" lên thăm ngủ lại ban đêm với lính cũng chỉ phổ biến nơi tiền đồn thôi. Tụi lính Biệt động quân biên phòng (VNCH) là loại cực ẩu. Cũng chỉ có sắc lính đó mới hay gây lộn (như trả tiền ăn nhậu bằng lựu đạn) khi về lại mấy cái thị xã Cao nguyên thôi.
      (Đấy là nghe dân sau này họ kể)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 09 Tháng Sáu, 2009, 06:25:36 PM
          …Những ngày hè 1971. Sinh hoạt và cuộc sống của người dân Thủ đô trôi qua bình lặng, im ả. Tất cả chỉ mới giống như cuộc hồi cư trở lại quê hương sau chiến tranh của một dân tộc nghèo. Chưa có cái gì gọi là tái thiết. Hà Nội vẫn giữ lại được mấy cái bãi di tích của ba quả bom máy bay Mỹ ném xuống các phố Huế, Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương trong một ngày hồi năm 1966 bằng cách quét dọn sạch sẽ đám gạch vỡ. Vẫn ăn độn bột mỳ, vẫn xếp hàng từ tờ mờ đất để mua gạo (nhiều khi chỉ được mua từng 5 cân, 10 cân một) và vẫn phải í ới gọi nhau rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra chợ xếp hàng tranh nhau mua mớ rau muống ngọn dài tới nửa mét khi phát hiện có xe rau về…

               Có hai sự kiện đặc biệt. Một là bắt đầu phát thử nghiệm vô tuyến truyền hình. Chưa ai có máy thu, nhưng chúng tôi biết được nhờ những tối kéo nhau ra bờ hồ Hoàn Kiếm. Người ta đặt một cái máy thu hình to tướng chỗ cột đồng hồ trước cửa hiệu kem Hồng Vân, Long Vân. Cuộc phát thử nghiệm chỉ kéo dài chừng một tiếng. Hình đen trắng, ruồi muỗi (nhiễu) lấn át cả hình ảnh. Nhưng đôi lúc cũng nhận ra hình ảnh rõ nét. Người dân dừng xe đạp đứng cả dãy choán một phần đường. Xem vì nó lạ chứ lượng thông tin chả có gì.

               Sự kiện thứ hai là dịch sốt xuất huyết lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, mà điểm nóng là Hà Nội, Hải Phòng. Hàng trăm người nhập Viện, dăm ca tử vong. Thế là đủ gây nên nỗi kinh hoàng. Xuất huyết ngoại, những chấm đỏ li ti mọc đầy lưng, tay chân thì còn cứu chữa được, ai mà lỡ uống thuốc hạ sốt, gây xuất huyết nội là nhiều khả năng đi tong.

               Nhưng cái không khí chiến trường thì lại ập rất rõ nét vào đám thanh niên, học sinh lứa tuổi 17, 18 chúng tôi. Các Tiểu khu đồng loạt gọi thanh niên khám sức khỏe NVQS. Chúng tôi bình thản vì đoán được con đường trước mắt chắc chắn là quân ngũ. Tiêu chuẩn không cao lắm và người ta còn xuê xoa nhiều thứ để đáp ứng sự háo hức vào lính của lớp thanh niên được giáo dục tử tế qua 10 năm ngồi trên ghế nhà trường XHCN, mang danh thanh niên thời đại HCM.

               Lúc đi khám sức khỏe nhập ngũ, mọi tiêu chuẩn của tôi đều đạt, chỉ mỗi trọng lượng là thiếu một chút. Chuẩn mực là 44 kg trở lên, trong khi tôi mới được có 43,5 kg. Nhưng không hề gì. Ông bác sĩ bậc tuổi cha chú có vẻ mặt nhân hậu tươi cười vỗ vai tôi:

               - Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xin "biếu" đồng chí nửa cân thịt.

               Rồi ông ghi vào phiếu sức khỏe của tôi con số 44 kg.
 
               Đến tháng 8 thì có kết quả. Tôi nhận được giấy gọi đại học cùng lúc với giấy gọi nhập ngũ. Ngày nhập trường đại học là 15/9, nhưng giấy gọi vào lính là 24/8. Cái giấy sau được ưu tiên thực hiện trước. Lớp 10 thân yêu của tôi có 22 thằng con trai thì có 17 đứa có giấy gọi nhập ngũ. Những đứa còn lại thì hoặc là con một, hoặc là con liệt sĩ, nên không phải đi. Một thằng đeo kính cận 1 diop cũng bị loại. Lúc đó người ta còn coi trọng chất lượng, cần những thằng biết "nhìn xa trông rộng". Đi lính khi đó tất nhiên là niềm vinh dự, đừng tưởng ai muốn đi cũng được đâu. Lớp tôi còn có thằng Trường (thằng này là anh ruột ca sĩ-nghệ sĩ Hồng Kỳ của nhà hát Tuổi trẻ sau này đấy) học giỏi nhất lớp, sức khỏe dư thừa song do tiền bối "dẫm nhầm giày quốc tế" nên không được vào đại học, mà tức khí xin đi lính (viết đơn bằng máu thật hẳn hoi) cũng không được chấp nhận.
 
               "Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực". Đó là ý chí của bọn thanh niên chúng tôi khi đón chờ ngày vào lính. Tất nhiên bao giờ cũng có ngoại lệ. (... Tôi xóa đoạn này cho phù hợp với nguồn tin của bác PhongQuang. Xin tạ lỗi và nghiêng mình trước vong linh Hồng Quang, người đồng chí đồng ngũ đã hy sinh nơi chiến trường Trị Thiên.)

               Trước ngày chúng tôi nhập ngũ một tuần, miền Bắc mưa trắng đất mấy ngày liền, tưởng như có cơn hồng thủy trong chuyện cổ tích. Đê sông Đuống vỡ. Cả một vùng thôn quê miền kinh Bắc ngập chìm trong nước. Sông Đáy (khi đó còn sâu, lúc thường chảy trong xanh hiền hòa đem cảm hứng cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác…) cũng dâng nước ngập lút đầu người suốt vùng Quốc Oai, Hoài Đức… Con đê quai kéo từ Cầu giấy về qua Ô chợ Dừa, Kim Liên, Ô Đông Mác được đắp cao, chuẩn bị xả nước ngập các vùng Vọng, Ngã Tư  Sở … để cứu nội thành Hà Nội. Nhiều vùng dân cư trở thành ốc đảo. Nhà nước phải cho máy bay chở bánh mỳ đựng trong các túi ni-lon đem thả cứu dân. Thế mới có chuyện "chó đội nón" là xuất phát từ vụ lụt thế kỷ đó đấy.

               Vậy là ngày nhập ngũ của chúng tôi lùi lại. Đã có đợt tòng quân nào mà thanh niên nhận tới hai giấy gọi nhập ngũ liên tục như chúng tôi đâu.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 09 Tháng Sáu, 2009, 07:18:47 PM
@trongc6: Chuyện anh lính họ Võ không như bác nói đâu, Võ Hồng Quang hiện đang nằm ở nghĩa trang đường 9, ở khu mộ của các liệt sĩ quê Quảng Bình. Anh là lính f304 hy sinh trong trận giải phóng Đông Hà ngày 12/4/1972. Tôi đã tìm hiểu kỹ việc này và cảm phục vị tổng tư lệnh của chúng ta Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.
Tôi đã chụp mộ Võ Hồng Quang và đăng bên : Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước_ Tư liệu về đoàn Phong Quảng


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: khanhhuyen trong 09 Tháng Sáu, 2009, 08:01:37 PM
"Cái nhà 3 tầng kia tôi chỉ bắn cho 3 phát B40 là đổ sập". Hãi quá, và buồn nữa vì anh ấy lại lấy ngôi trường thân yêu của chúng tôi làm ví dụ mục tiêu. Nhưng cũng buồn ít thôi, vì chúng tôi nghĩ anh ấy đi đánh giặc từ rất sớm, chắc không kịp học hành gì.

Bác Trọngc6,em nghĩ bác đừng lồng những xuy nghĩ của một người từng trải,thì câu chuyện sẽ hấp dẫn hơn.Tuổi trẻ,mới lớn của học trò mỗi ước mơ đều bị cuốn hút theo hiện trạng của thời cuộc.Cái thời của bác,của cha em và đến cuối cái thời của em nó gần giống nhau.Chỉ cần có những xuy nghĩ không phải,hay ích kỷ đã tự thấy sấu hổ rồi bác ạ.....làm gì có ai nghĩ hãi quá và buồn,em giám chắc là mọi người rất khoái,khi thấy khí thế của ta mạnh mẽ như chẻ tre,theo cách tuyên truyền lúc bấy giờ.Và trong đầu lũ học trò trong trắng ấy,cũng có thể có người nghĩ cái nhà 3 tầng đó đổ như thế nào theo sự tưởng tượng.Nhưng nghĩ liệu có ai phải chết vì cái nhà ấy đổ không? theo em,có lẽ là không? thế mới gọi là cái tuổi mới lớn,của cái thời học trò thời ấy nó như vậy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 09 Tháng Sáu, 2009, 08:34:25 PM
@bác Phong Quảng:

        Tôi đã sửa lại bài viết sau khi nhận nguồn tin của bác. Có điều hơi phân vân. Sau cái buổi chiều có cái xe Com-mang-ca lên đón anh ấy từ doanh trại tiểu đoàn về HN, anh ấy không quay lại đơn vị. Đầu tháng 4/1972 chúng tôi cũng mới hành quân vào tới chiến trường, thế thì anh ấy đi đường nào vào chiến trường để kịp đánh trận giải phóng Đông Hà ấy.

        Nhưng thông tin bác nói chắc chính xác, và chắc không có chuyện có hai người giống nhau.

        Cảm ơn bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 09 Tháng Sáu, 2009, 09:16:30 PM
@Bác Trongc6: năm ngoái tôi vào đường 9 và chụp ảnh mộ Võ Hồng Quang, về Hà Nội tôi có hỏi con gái Đại tướng :chị Võ Hạnh Phúc và đó là sự thật bác ạ, không có Võ Hồng Quang nào khác. Còn trên bia mộ cũng đã rõ mà  Quê : Lệ Thủy, Quảng Bình. Trú quán : 43 Hàng Chuối Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 12 Tháng Sáu, 2009, 09:48:12 PM
       … Lũ rút, nước cạn, đường khô là chúng tôi nhận tiếp luôn giấy gọi nhập ngũ (4/9/1971). Lần này chỉ trước có 3 ngày. Thế cũng đủ vì chỉ phải chuẩn bị tại nhà. Nhà trường và tổ dân phố thì đã tổ chức tiễn chúng tôi từ tháng trước với đủ lời dặn dò rồi. Lúc làm lễ chia tay tại trường cấp III mới lộ ra mấy cặp hẹn hò. Những thằng đơn độc như tôi được chi đoàn tặng một cuốn sổ tay, có ảnh bác Hồ. Còn mấy thằng có bạn gái thì chắc là thêm lắm thứ linh tinh khác. Tôi cũng say cái máu "sa trường" nên dứt khoát không hẹn hò ai, để cho lòng thanh thản. (Thật ra có đứa quái nào nó yêu mình đâu? Hoặc giả là nó yêu thầm mà mình không biết, song tôi không bận tâm, lòng dửng dưng).

         Tranh thủ còn thời gian, tôi đến thăm bà ngoại. Bà ngoại tôi cứ dặn đi dặn lại một câu:

         - Nếu ở bộ đội, người ta có yêu cầu lên lấp lỗ châu mai, thì đừng có mà xung phong, cháu nhé.

         Chả là bà ngoại tôi có một người con trai lớn, mà tôi gọi là cậu ruột, đã hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đó cậu tôi là Đại đội trưởng pháo phòng không của Đại đoàn 308, hy sinh lúc 26 tuổi. Nếu tôi cũng hy sinh, thì tình cảnh của mẹ tôi sẽ y hệt như bà ngoại tôi, vì tôi cũng có một chị gái.

      (Còn chuyện tại sao bà ngoại tôi lại biết đến cái chuyện lấp lỗ châu mai. Đó là do năm 1965, kỷ niệm 10 năm giải phóng Điện Biên, trong một tập hồi ký nào đó có kể câu chuyện đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm một đơn vị bộ đội trước ngày chiến dịch ĐBP. Trong chuyện có tình tiết khi hạ quyết tâm ra trận, CTV hỏi: "Ai xung phong ôm bộc phá lên đánh hàng rào?". Cả đơn vị đồng thanh giơ tay hô: "Tôi!". Sau đó CTV lại hỏi: "Ai xung phong lên lấp lỗ châu mai?". Cả đơn vị lại giơ tay đồng thanh hô: "Tôi!".
 
         Chính câu chuyện đó đã ăn vào tâm trí bà ngoại tôi, vì dù là phụ nữ, bà cũng biết rằng lên lấp lỗ châu mai thì chắc chắn sẽ là liệt sĩ).


        Một ông chú, em rể của mẹ tôi, vốn là một chính trị viên Tiểu đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nay đã chuyển ngành, thì dặn tôi một câu, đầy chất chính trị:

          - Cháu đi bộ đội, dù có gian khổ, hy sinh đến mấy cũng nhất quyết không được đảo ngũ, làm mất danh dự gia đình.

          Vậy thì con đường đi vào quân ngũ của tôi đã xác định rõ hướng, đúng như sau này CTV đại đội huấn luyện của tôi nói: " bộ đội chỉ có tiến, không có lùi".

               Đợt chúng tôi đi có đủ cả thanh niên 4 khu nội thành và 4 huyện ngoại thành (Khi đó không gọi quận, mà gọi là khu phố). Đi theo diện địa phương quản lý. Hai ngày sau (6/9/1971) cũng có đợt tòng quân tại Hà Nội, nhưng là sinh viên năm đầu của các trường Đại học. Cũng đến hơn nghìn người, bổ sung thẳng cho các sư chủ lực. Anh Thạc "Mãi mãi tuổi 20" đi trong số này.

               Dân khu phố chúng tôi đi có đến gần hai nghìn đứa, vào thẳng trung đoàn 1867 (D59) thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô (tư lệnh: trung tướng Chu Duy Kính) quản lý. Mỗi khu phố một điểm giao nhận quân. Tôi thuộc khu Đống Đa, tập trung tại rạp chiếu phim Đống Đa ở phố Thái Thịnh bây giờ. Đọc tên xong ra xe, ô-tô chở thẳng chúng tôi vào Đại Mỗ (Hà Đông).

          Trưa 4/9/1971 bắt đầu ăn bữa cơm lính đầu tiên. Tất cả nghỉ nhờ nhà dân. Chúng tôi nhận mặt A trưởng, rồi sau đó cứ bám vào đấy như lũ gà con theo mẹ cho khỏi lạc. Rồi hỏi han tên nhau trong A, cặp từng hai ba thằng cho có bạn. Cứ thấy ông nào mặc quân phục là gọi thủ trưởng tất.

              Ba ngày đầu liên tục học chính trị. Tối sinh hoạt, thời gian khép kín. Ở nhờ nhà dân, chưa quen rõ hết nhau, lại mặc đồ dân sự nên quản lý cũng không chặt lắm. Thế cho nên sau 9 giờ tối, nhiều thằng vẫn chuồn về được nhà (bạn chúng nó mang xe đạp đến đón) rồi sáng sớm hôm sau trước giờ báo thức lại có mặt ở nhà dân.
...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: songvedem trong 13 Tháng Sáu, 2009, 02:37:32 PM

      Ở đồng bằng thì xung quanh là có dân cư, đâu có bắn lung tung được. Và cái đặc điểm có "gái" lên thăm ngủ lại ban đêm với lính cũng chỉ phổ biến nơi tiền đồn thôi. Tụi lính Biệt động quân biên phòng (VNCH) là loại cực ẩu. Cũng chỉ có sắc lính đó mới hay gây lộn (như trả tiền ăn nhậu bằng lựu đạn) khi về lại mấy cái thị xã Cao nguyên thôi.
      (Đấy là nghe dân sau này họ kể)

-----------
Xem mấy cái diễn đàn VNCH thấy cũng có nói vụ Biệt Động Quân quậy. Theo họ thì một trong những lý do BDQ quậy là vì đây là sắc lính khổ nhất trong đám tinh nhuệ. Dù và Thủy Quân Lục chiến có sư đoàn riêng, có hỗ trợ riêng còn Biệt Động thì thường bị mang đi cho "mượn", bị xài cho bõ công mượn, bị đẩy vào chỗ khó nhất mà k được hỗ trỡ về phương tiện nên quậy và cùn lắm.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 05:50:09 PM
        … Chiều ngày thứ ba, chúng tôi được phát quân trang. Có 3 cỡ số, nhưng lính tráng toàn thuộc loại nhỏ con nên chỉ số 2 và 3 là phù hợp. Thằng nào vớ phải số 1 thì như mặc áo phường tuồng. Nhưng không có đăng ký lựa chọn gì, ai vớ phải ba lô có cái nào dùng cái đó. Ba lô là của Việt Nam, còn quần áo là màu cứt ngựa, vải dày nhưng nhẽo nhèo nhèo, nghe nói của Triều Tiên viện trợ. Chiều đấy mặc quân phục vào nhìn nhau lạ lắm. Nhìn sau lưng ai cũng giống ai, chưa quen phân biệt dáng dấp riêng. Một hai hôm sau mới thấy bình thường.

             Thêm được một ngày nữa làm công tác chuẩn bị. Buổi tối, đơn vị phổ biến lệnh hành quân. Chưa phát súng nhưng mỗi thằng được phát ruộng tượng và 5 cân gạo. Khi đó phát cả chiếu cói cá nhân.

              Sáng ngày thứ năm, cả đơn vị lên đường hành quân, nhằm hướng Thị xã Hòa Bình thẳng tiến. Đội hình là đại đội, nhưng mọi thứ nhất nhất theo lời A trưởng. Chưa quen đi nên ai cũng mỏi mệt. Mỗi tiếng giải lao 10 phút, cứ thế mà làm. Dọc đường đi lên Quốc Oai còn thấy ngấn bùn đọng cao trên hàng cây to ven đường, dấu tích của trận lụt vừa qua.

               Vị trí tập kết mới là Bãi Nai thuộc Kỳ Sơn, Hòa Bình. Từ Đại Mỗ lên đó cỡ bảy chục cây số, chia làm 3 ngày đi đường. Tôi được cử vào đoàn tiền trạm của một chặng, lếch thếch theo một anh B phó hành quân, đi trước đội hình đơn vị một ngày. Tới trước nơi mà đơn vị sẽ định trú quân, tập làm mọi thứ để giao dịch với dân.

               Tôi rất có ấn tượng với một xã thuộc huyện Quốc Oai, Hà Tây ấy. Trong xã hầu như không có thanh niên. Trung niên cũng lác đác, còn đa phần là phụ nữ. Xã đội trưởng cũng là phụ nữ. Về lý thì họ tiếp nhận, giúp chúng tôi phân chia địa bàn vào các xóm, còn hỏi nghỉ nhờ một đêm ở nhà ai thì chúng tôi phải tự đi hỏi. Mang tiếng là bộ đội, nhưng chúng tôi bỡ ngỡ và ngờ nghệch lắm. Toàn chào người nhiều tuổi là mẹ, xưng con, còn với các nữ dân quân thì gọi là đồng chí. Ban đầu cứ nhấm nha nhấm nhẳn với các nữ dân quân, lúc thì đồng chí, khi anh em, mãi gần tiếng đồng hồ mà chưa hỏi được mấy nhà có chỗ cho nghỉ. Cái khó không phải là mái hiên, mảnh vườn, mà khi đó chúng tôi yêu cầu có chỗ nằm trong nhà, lại còn xin dân củi nước nấu cơm nhờ nữa kia. Lính Hà Nội không quen nấu cơm bằng rạ, muốn xin củi cơ, mà đồng bằng khó kiếm (dân Hà Nội khi đó còn phải mua than hay củi định lượng theo phiếu hàng tháng. Tôi nhớ mỗi kỳ bão là bọn thanh niên rủ nhau ban đêm vác dao đi lượm cành khô hoặc chặt cành cây đổ do bão về làm củi. Khi đó có cây đổ, chả đợi đến Công ty Công viên-cây xanh như bây giờ, dân tự dọn hết, sáng ra là đã đường thông hè thoáng rồi. Mà gỗ xà cừ, chặt tươi còn dễ, đem về để khô mới chặt, chẻ thì vất lắm).

               Đi lại loanh quanh mãi mà kết quả không bao nhiêu, tôi tách ra ngồi bệt xuống cạnh một cái rào duối để nghỉ, bụng nghĩ thây kệ, muốn ra sao thì ra. Dùng rạ nấu cơm mà không xong thì tất cả nhịn. Nhưng may quá, lần đầu tiên tôi biết thế nào là "thánh nhân đãi kẻ khù khờ". Hai vị thánh của tôi xuất hiện. Đó là hai cô bé chỉ độ 13, 14 tuổi. Chúng nhìn thấy tôi là ngồi luôn xuống bên cạnh hỏi chuyện, cực kỳ mộc mạc và chân thật. Tôi được phong lên hàng "chú" bộ đội, mặc dù về tuổi xét ra chúng là em, kém tôi chỉ 4, 5 tuổi. Nghe tôi kể khổ, chúng nghe và không ngần ngại kể cho tôi biết trong xóm nhà nào dễ, nhà nào khó, nhà nào có thể cho bộ đội củi nấu cơm. Rồi chúng hăm hở dẫn tôi đi. Hơn nửa tiếng sau thì tôi đã hỏi nhờ được đủ số nhà dân cho trung đội nghỉ nhờ.  Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên trong lính như vậy đó.

              Ôi, các cô bé gái tuổi niên thiếu. Đủ độ để hiểu việc mà lại rất thực, không dấm dẳn à ơi như các "chị" mười tám đôi mươi, tán gẫu thì vui mà đụng vào việc nào là hỏng việc ấy. Các em là những người thày thực tế đầu tiên đã làm cho anh hiểu thêm tâm lý con người. Cái này nhà trường đâu có dạy. Từ đó về sau, khi đóng quân nhà dân, bao giờ tôi cũng tìm cách làm thân với những em gái 13, 14 tuổi, và bao giờ cũng được việc khi muốn tìm hiểu tình hình xóm làng.

   (Sau này tôi có đúc rút kinh nghiệm vả kể lại rất nhiều trường hợp, rất tỉ mỉ cho một thằng bạn làm bên ngành giáo dục, đến nỗi thằng này chọn đó làm đề tài nghiên cứu tâm lý và thu về được một cái bằng Tiến sĩ, cũng hỉ hả như ai).



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 18 Tháng Sáu, 2009, 09:41:45 AM
@Trongc6 :Loại vải chéo của Triều Tiên giặt vài lần là bạc trắng, trông " từng trải" lắm phải không bác ???
 Còn chuyện với các bé gái 14 tuổi, khi tiếp xúc chẳng cần rào đón vì vốn nó đã trong sáng, minh bạch không như mấy cô 18 đong đưa chả biết đằng nào mà lần >:(


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 18 Tháng Sáu, 2009, 06:14:33 PM
Bác trongC6! Thật mến bác! Mời bác ly Lavie đồng ngũ tuy không đồng niên.
Thời gian do bác chọn! Kính!   ;D ;D ;D

 ;D ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trinhsat trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:11:59 AM
    Đây là những dòng cuối cùng trong hồi ức "Biên giới Tây Nam" của bác TS1.

"...Cuộc đời có những ngã ba. Dẫu vẫn đi lối mình đã chọn nhưng vẫn có phần tò mò về cái ngả rẽ kia. Nếu ta đi lối đó thì sao nhỉ ?"
------------
     Nếu bác TS1 rẽ sang lối đó nhỉ. Bác có bao giờ tưởng tượng đến viễn cảnh của lối rẽ đó không? Tôi thì tôi tin, nếu bác có rẽ sang ngả đỏ, bây giờ vẫn có "Biên giới Tây Nam" của bác trong trang QSVN. Bởi vì bản chất con người không bao giờ thay đổi. Chỉ có biểu hiện phản ảnh trạng thái con người là có thể khác thôi.

     Bác là Sherlock Home của VN thì dù thế nào, bác vẫn là như thế.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:30:57 AM
@bác Phong Quảng:

    Từ mấy lời góp chuyện của bác, tôi đã nhận ra bác là người cùng trang lứa.
Bác nhận xét rất đúng về các điều tôi "hồi ức..." Lính HN thời ấy nó thế mà.

    Đợt nhập ngũ của bác có nhiều người ở lại xây dựng quân đội lâu dài không?
Đợt 4.9.71 bọn tôi hầu hết ra quân 1976, 1977. Có dăm vị ở lại, lên đến thiếu tá hay đại úy rồi cũng về. Duy có 3 người lên đến đại tá. 2 vị trong đó đã về hưu, còn 1 vị đang làm thư ký cho Sếp nhất BQP.

   P/s: Xem bên Offline QKTĐ, thấy cái vụ Off ba ba vừa rồi của bác ấm cúng lắm. Lão TS1 tường thuật lại hóm phết. Tôi rất muốn off với các bác, nhưng không uống được rượu bia, sợ các bác mất hứng.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:54:42 AM
@Bác Trongc6: Đợt bọn tôi khá đông nhưng số anh em ở đơn vị chiến đấu với tôi thì cũng rứa năm 76,77 là ra quân hết ( lính HN ). Đợt bác có một đại tá làm ở văn phòng BTTM tôi có biết, ngày xưa thân nhưng bây giờ không thân nữa, chắc là trong 3 đại tá này ??
Nếu bác rỗi rãi thì anh em mình gặp nhau đâu cần phải biết uống rượu.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 22 Tháng Sáu, 2009, 09:19:39 PM
      … Chiều ngày hành quân thứ ba thì chúng tôi đến Bãi Nai. Chỗ này còn cách thị xã Hòa Bình 10 cây số nữa. Rẽ phải vào một đoạn thì gặp một con suối. Lòng suối rộng, nước nông và trong, gập ghềnh toàn đá sỏi. Suối này xe ô tô qua lại vô tư, không phải bắc cầu hay làm đường.

              Qua suối phải đi thêm 7 cây số, qua 2 cái bản rồi mới đến địa danh gọi là dốc Bụt. Lại qua một con suối nhỏ nhưng khá sâu nữa thì lên đến doanh trại. Lán trại đã có sẵn từ đợt huấn luyện tân binh trước. Địa hình rất dốc, các lán phải làm kiểu nửa nhà sàn. Chỗ bằng phẳng do lính san ra không rộng hơn cái chiếu là mấy. Sạp nằm bằng nứa dài đủ sáu bảy người nằm. Mỗi A vào một gian lán. Cuộc sống bộ đội bắt đầu.
 
               Liên tục mấy ngày đầu phải đi gùi lương thực thực phẩm, súng ống … từ mãi ngoài BCH Trung đoàn ở khu suối cạn. Rồi cả D được thịt một con trâu khao lính. Sau đó thì học chính trị, học 10 lời thề, kỷ luật quân đội …

               Hưởng trận mưa rừng đầu tiên, cả đơn bị ngồi bó giò trong lán. Chỉ khổ thằng đi lấy cơm. Nhưng mưa này là mưa rừng miền Bắc, chả thấm vào đâu so với mưa rừng Trường Sơn sau này. Tối nào cũng sinh hoạt, học hát các bài quy định và tự hát "sinh hoạt văn nghệ" cho có không khí.

              Sau tuần đầu tiên thì đơn vị bắt đầu có lính "tút". Lần đầu tiên nghe từ "đảo ngũ". Cho đến bây giờ nói quen miệng thôi chứ thật tình tôi vẫn chưa hiểu "bác" nào trên cục Quân huấn hay Cục chính trị sáng tác ra cái từ này. Xem truyện của Liên xô thời Chiến tranh vệ quốc, thì những ai bỏ đơn vị không tham gia chiến đấu gọi là "đào ngũ", còn chạy sang đầu hàng địch gọi là phản bội. Cái từ "đảo" này chả biết Hán ngữ hay Nôm ngữ, nhưng từ quan to đến lính đều gọi quen mồm thế chứ chưa ai giải thích được rõ ràng. Tóm lại vẫn là theo qui tắc số đông.

               Đợt tôi nhập ngũ, tuy là lính khu phố, nhưng vẫn phân ra hai loại. Số ít là những thằng vừa học xong lớp 10 phổ thông (đã có giấy gọi đại học hoặc không), còn đa phần là dân tự do, công nhân hoặc chưa có việc gì làm. Tuy là lính mới mà vẫn có trò bắt nạt nhau. Những thằng vô công rồi nghề  lúc ở nhà tỏ ra gấu nhất. Thằng Th."mốc" (bây giờ là thương binh, cầm đầu một số anh em thương binh nặng-mất từ 2 chi trở lên- lập nhóm chuyên đòi nợ thuê trong dân sự) có cái mũi đỏ to còn hơn của nghệ sĩ Quang Thắng bây giờ, hay trợn mắt dọa bọn tôi: "Chúng mày có đi lính, chẳng qua đi nghĩa vụ, gọi mới đi, chứ tao đây còn tự nguyện viết đơn xin ra tù để đi lính cơ". Chả là thằng này lúc ở nhà chuyên "giạt vòm", trộm cắp. Trước ngày nhập ngũ nó bị bắt vì tội đánh nhau hay móc túi gì đó, gia đình phải bảo lãnh cho ra để kịp ngày đi bộ đội. Nhưng cái vẻ hung hăng của nó làm khối người sợ. Vào dốc Bụt được một tuần, nó rủ năm sáu thằng đảo ngũ. Chúng nó không trở ra lối suối cạn, mà hỏi đường dân rồi đi sâu vào trong dốc Bụt rồi tìm lối tắt ra quốc lộ 6. Một tuần sau chúng nó lên đơn vị, bị bắt gác đêm và học thuộc 10 lời thề QĐ. Nghe chúng nó kể, lần đầu tiên tôi biết đến đơn vị đo chiều dài của người dân tộc là "một quãng dao". Cả bọn suy diễn, đứa bảo là "một con dao quăng", đứa bảo là "một tay dao". Xem ra thì "một tay xách dao" đúng hơn, vì xách mỏi tay thì nó đổi tay xách, quãng đường tương ứng rất dài chứ "một quăng dao" thì may lắm chỉ vài chục mét là cùng.
….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 22 Tháng Sáu, 2009, 09:54:00 PM
@Trongc6: Chuyện bác kể làm tôi lại nhớ thời huấn luyện. Tôi có ở Bãi Nai vài hôm nhận quân trang sau đó hành quân đi Tân Lạc. Cảm giác của tôi từ Bãi Nai đến thị xã Hòa Bình ít nhất cũng gần 20 km. Tôi còn nhớ buổi đầu hành quân từ Bãi Nai đến Trăm mất một ngày đấy.
Bác mà rỗi, hôm nào ta lên thăm lại chỗ huấn luyện xưa,  37,38 năm rồi còn gì...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: baoleo trong 23 Tháng Sáu, 2009, 07:56:58 AM
@Trongc6: Chuyện bác kể làm tôi lại nhớ thời huấn luyện. Tôi có ở Bãi Nai vài hôm nhận quân trang sau đó hành quân đi Tân Lạc. Cảm giác của tôi từ Bãi Nai đến thị xã Hòa Bình ít nhất cũng gần 20 km. Tôi còn nhớ buổi đầu hành quân từ Bãi Nai đến Trăm mất một ngày đấy.
Bác mà rỗi, hôm nào ta lên thăm lại chỗ huấn luyện xưa,  37,38 năm rồi còn gì...

@Bác Phong Quảng;
Bác cứ giữ cái ý định ấy nhé.
Khi nào em có khe cửa hẹp về thời gian, em sẽ rủ bác và vài bác cựu khác đi thăm lại nơi ta đã đeo quân hàm binh nhì.
Em cũng muốn có được khoảng chừng 10 giờ đồng hồ, để được sống lại thời "binh nhì ngu ngơ" , để quyên đi cái cuộc sống đen bạc này bây giờ, của em.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 23 Tháng Sáu, 2009, 09:41:13 AM
@baoleo: đồng ý ngay !!!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 27 Tháng Sáu, 2009, 09:23:17 PM
        … Đợt nhập ngũ của chúng tôi quân đông quá. Cả đợt tới gần 1800 lính, mỗi A tới 17, 18 thằng nên ở rất chật chội, sinh hoạt có gì đó không ổn. Vì vậy gần một tháng sau, từ 2 tiểu đoàn 48, 50 được tách ra một tiểu đoàn nữa (D52). Tôi được sang D52, hành quân ra đóng quân ở cạnh một bản dân tộc Mường gần khu suối cạn. Chỗ này địa hình bằng phẳng, cả 4 B quây mặt vào một cái sân rộng đủ chỗ tập trung cho cả C. Chỉ khi đi sâu vào rừng mới phải leo dốc. Thao trường cũng là bãi đất bằng cách xa doanh trại nửa cây số. Chỗ tập đội ngũ theo từng B thì thoải mái, rộng rãi, chả bù cho trong dốc Bụt.

             Thế là những ngày huấn luyện bắt đầu, Chúng tôi chỉ học 3 loại súng là AK, RPK và K63.
 
              Chuyện học đội ngũ, học bắn súng, ném lựu đạn, đánh bộc phá, hay đào công sự thì có lẽ nơi nào cũng như nhau trong toàn quân. Lúc đầu chưa quen, mệt và vất vả thì ai cũng như ai, rồi sẽ quen tất thôi. Có mấy điều gây ấn tượng với chúng tôi. Thứ nhất là được ăn nhiều hơn (tiêu chuẩn 1 tháng: 21kg gạo so với 13,5kg ở nhà và 2,4kg thịt so với 0,3kg ở nhà). Thứ hai là phải tập đi bộ và đeo nặng 20-25kg. C trưởng thông báo chúng tôi phải hành quân đủ 500 cây số thì mới được vào chiến trường chiến đấu.

              Đời tân binh có đủ mọi chuyện lạ, nhất là đối với lính học sinh chúng tôi.

              Đầu tiên là chuyện thằng Lương "vỗ vai". Thằng này vóc dáng bình thường thôi, nhưng rắn chắc. Nó chơi ghi-ta rất khá, lúc học sinh từng theo thày Văn Vượng ở khu Cửa Nam để học đàn. Nghe ngón vê đàn của nó thì thật mê li. (Cái trò âm nhạc thu hút lòng người ghê lắm. Bắc lính nào có ngón chơi đàn giắt lưng thì khi đóng quân nhà dân giao lưu, khối em chết). Khi đó thấy trong C có một số thằng hay gây gổ, thằng Lương khó chịu lắm. Cứ gặp thằng nào gây sự với mấy đứa thư sinh, nó lại gần thằng đó "vỗ vai" ghé tai nói nhỏ gì đó. Thế là sau giờ sinh hoạt tối, Lương lặng lẽ cùng thằng đó trốn ra thao trường (cách doanh trại chỉ độ 500 mét). Sau hơn nửa tiếng thấy hai thằng trở về, rồi từ hôm sau thấy thằng kia "dịu" hẳn đi. Mấy vụ như thế, chúng tôi tò mò rồi bí mật theo chân chúng nó trốn ra thao trường ban tối để xem. Thấy thằng Lương và đối phương chẳng nói chẳng rằng, xông vào nhau đấm túi bụi. Kết quả bao giờ cũng là thằng Lương thắng. Sau đó hai thằng đó lặng lẽ ra về. Cứ như vậy, thằng Lương "so găng" đến hơn chục vụ. Rồi anh em trong C cũng biết hết chuyện và nể nó ra mặt. Từ đó Lương có tên là Lương "vỗ vai", nhiều khi chúng tôi còn phong nó là "Lê Mã Lương". (bác này bây giờ làm nghề tự do, sửa TV có tiếng trong khu Đống Đa. Gần sáu chục tuổi rồi mà chiều nào bác ấy cũng chạy 2 vòng hồ công viên thống nhất, sau đó về giã gạo xà kép 2 chục chiếc vô tư, mặt không hề đỏ. Thanh niên khối đứa chạy dài không kịp).

              Rồi đến chuyện của mấy thằng bất trị. Một tối họp đại đội, CTV đứng trên bục thông báo: "Có đồng chí nào lấy trộm cái mũ cối tàu của C trưởng thì trả ngay. Đây là hành động trộm cắp lưu manh, không thể chấp nhận có trong bộ đội được…". Cả C im lặng. Nhiều thằng biết cái mũ cối ấy đã bị chuyển hóa thành kẹo dồi (kẹo lạc) ở quán nước ngoài suối cạn lúc sẩm tối, và đã chui vào bụng lính hết rồi, nhưng không đứa nào dám nói. Lên lớp về phẩm chất cần có của anh bộ đội cụ Hồ chán chê mà không có kết quả, CTV cho cuộc họp giải tán.

              Tối sau, chúng tôi lại họp C (Hơi bất thường). CTV lại đăng đàn. Lần này giọng nói của ông chùng xuống, nghe hơi run run. Ông bảo: "Hôm qua tôi vừa nhắc nhở chuyện cái mũ cối của C trưởng, tìm chưa ra, thế mà đêm qua đ/c nào đã lấy mất của tôi cái ca uống nước. Cái ca ấy không giá trị nhiều, nhưng là kỷ niệm tự tay tôi làm từ ống pháo sáng hồi chiến đấu bên Lào. Thôi, đ/c nào lỡ lấy thì cho tôi xin".

               CTV chỉ nói thế thôi, nhưng lần này lính tráng chúng tôi tỏ thái độ không đồng tình với kẻ bất thiện. Hai hôm sau, một buổi sáng sớm, CTV ra đánh răng đã nhìn thấy cái ca "pháo sáng" ngoắc trên cái ba chạc gác chậu đầu hè.

             Từ đó về sau, không ai còn chính thức nhắc đến cái mũ cối và cái ca trong các cuộc họp nữa.
….



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 28 Tháng Sáu, 2009, 09:28:41 AM
 Đào ngũ:thời các bác có câu truyền đến bọn em .; Hà chuồn ,Nam lủi Thái bình bay
                                                              Hải phòng anh dũng trốn ban ngày
                                                              Thanh hóa mất mùa xin ở lại
                                                               Nghệ -tĩnh thấy thế cũng dơ tay
                                                            hà....hà....


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 01 Tháng Bảy, 2009, 10:53:37 PM
        … Ngay từ tuần thứ hai ra khu doanh trại mới, chúng tôi đã phải tập hành quân mang vác. Phải tập đi những 500 cây số rèn luyện cơ mà. Mỗi thằng tự nặn 4 cục đất (sét), mỗi cục 5 ký lô. Mỗi tuần có hai buổi tối tập hành quân. Vất quân tư trang ra sạp trong lán rồi lấy nilon gói 4 cục đất cho vào ba lô. Buổi đó không phải sinh hoạt tối, đi ngay từ lúc 7 giờ. Mỗi tối đi chừng 10 cây số, sau tăng dần nhưng chỉ thêm độ một hai cây số. Đi và về một hướng nên nhiều thằng láu cá ra khỏi doanh trại một đoạn là giấu bớt một cục đất vào bụi, lúc trở về lại lấy ra cho vào ba lô, nên về đến doanh trại kiểm tra vẫn đủ. Về sau cán bộ B, C đổi chiến thuật, mỗi lần đi một hướng, sau đó là đi theo đường vòng tròn, xuất phát hướng Tây, nhưng về doanh trại lại vào theo hướng Đông nên nhiều thằng bị vạch mặt. Về sau, chúng tôi xác định nếu không tự rèn thì vào đến Trường Sơn mình tự chết trước, nên cái trò láu cá mất dần. Sau nữa, đơn vị lại thỉnh thoảng tổ chức đi dã ngọai xa vài chục cây nên có láu cá cũng không được.

             Chủ nhật, chúng tôi không được nghỉ mà phải vào rừng lấy củi. Ba thằng chung một con dao dựa, khoán mỗi thằng 20 ký. Thực chất mỗi chúng tôi chỉ chặt được một khúc to, chủ yếu là tươi, vác thấy nằng nặng là được. Cái điệp khúc này, lính Bắc chắc ai cũng gặp và cũng ngán. Chẳng qua đều là chặt cây rừng, trộm của dân. Có điều khi đó rừng chưa giao cho dân, lại mang tiếng bộ đội thời chiến nên đồng bào Mường không ai kiện cáo gì. Càng đợt lính sau càng phải đi xa, vào sâu hơn.

               Đến tháng thứ hai, chúng tôi được phép đón người nhà lên thăm. Có lán "nhà khách" dựng ngoài cổng doanh trại hẳn hoi. Vì hầu như chưa lính nào có vợ nên người nhà chỉ lên thăm một ngày. Cuối chiều về sớm để còn kịp ra Bãi Nai đón xe khách. Được chút bánh kẹo đem về lán chia nhau, chủ yếu trong tổ tam tam. Tiểu đội có 12 người nên không đủ chia cho tất cả. Tôi còn nhớ vụ mẹ thằng K. "con" lên thăm nó. Hôm ấy C phó Hảo trực nhà khách nên có ra tiếp mẹ nó. Ông Hảo (người Hà Tĩnh) 35 tuổi mà vẫn lẹt đẹt C phó, là người cao tuổi nhất đại đội, gọi thằng K. là em mà gọi mẹ nó cũng là em. Lính tráng phì cười, mãi sau mới rõ là ông ấy có lý. Mẹ thằng K năm ấy mới có 32 tuổi, sinh nó lúc chưa tròn 15 (!), mà thằng K năm đó cũng chưa đủ 18 tuổi. Nó bị trêu ghê quá tới mức viết thư về dặn mẹ nó đừng lên thăm nữa. Nó bé nhất A nên về sau ai có chút quà gì cũng chia cho nó, cho nó khỏi tủi thân. (Thằng này bây giờ chuyên bán gà làm sẵn ở chợ Vọng, người vẫn nhỏ con và tính vẫn tếu táo như ngày nào. Không ai dám bảo thằng này đã quá 50 tuổi).

               Trung đội tôi ở một khu đất quay sát vào một núi đất. sau lán có mấy rặng bương, vầu của dân. Trong đơn vị có anh Thanh, vốn là công nhân lâm nghiệp, 27 tuổi rồi, nhưng vì sao đó nên phải nhập ngũ cùng đợt chúng tôi. Anh ấy đã có vợ và con. Tính cởi mở nhưng không tếu. Chiều nào trước giờ cơm chiều anh ấy cũng ra sau lán bẻ bẹ vầu đun nước pha chè bồm trong cái ống bơ to. Bát nước chè chuyền tay nhau cho mấy thằng trong tiểu đội. Đôi khi anh ấy kể chuyện rừng, chuyện khai thác lâm nghiệp của xí nghiệp anh ấy. Tôi có cái hứng uống nước chè từ khi đó. (Sau này đến khi chúng tôi vào chiến trường thì anh ấy được giữ lại về làm thủ kho gì đó ở Bộ Tư lệnh thủ đô).

              Rồi lại chuyện thằng Khiêm (thằng này vào chiến trường có nhiều chuyện lắm, kể dần sau). Nó kiếm đâu được cái đài khuyếch đại thẳng tự lắp bằng ba bóng Tranzistor nghe được đài tiếng nói Việt Nam. Pin là tầng pin Vô tuyến cũ xin đâu đó, một cực cứ phải cắm bằng cái kim băng để lấy đúng điện áp nguồn. Tối nào nó cũng đem ra nghe từ 9 giờ tối cho đến 9 giờ 30 thì phải tắt để đi ngủ. Tôi nằm cạnh nó, được nghe ké nên cũng thấy đỡ nhớ nhà.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 01 Tháng Bảy, 2009, 11:52:04 PM
Đào ngũ:thời các bác có câu truyền đến bọn em .; Hà chuồn ,Nam lủi Thái bình bay
                                                              Hải phòng anh dũng trốn ban ngày
                                                              Thanh hóa mất mùa xin ở lại
                                                               Nghệ -tĩnh thấy thế cũng dơ tay
                                                            hà....hà....
hehe , đến thời của em câu này vẫn còn mà hình như cũng đúng vì ...SQ đa số là Thanh Hóa , Nghệ An  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: baoleo trong 02 Tháng Bảy, 2009, 08:12:45 AM
        … Ngay từ tuần thứ hai ra khu doanh trại mới, chúng tôi đã phải tập hành quân mang vác. Phải tập đi những 500 cây số rèn luyện cơ mà. Mỗi thằng tự nặn 4 cục đất (sét), mỗi cục 5 ký lô. ...................


Thời bọn em là 8 viên gạch.
Vì thế, bọn em tự nhật là có quân hàm cao nhất Việt Nam:  1 sao - 8 gạch  ;)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 02 Tháng Bảy, 2009, 02:04:51 PM
 ...Sỹ quan đa số là Thanh nghệ ...Lý do đơn giản thôi : thứ nhất:- dân Thanh ,Nghệ (nghệ an Hà tĩnh )vốn có truyền thống về lòng quả cảm ,ngàn xưa các vua chúa phong kiến Viẹt nam đều trông vào quân Thanh Nghệ "  Hoan Diẽn còn đó thập vạn binh""
    thứ hai :- Dân số Thanh Nghệ đông ,hiện nay vẫn chiếm khoảng 8/% dân số Việt nam nên lính Thanh Nghệ nhiều ,
 Câu ca cho vui chứ ở đâu chẳng có anh hùng ,tiểu nhân


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: finalfanta22283 trong 02 Tháng Bảy, 2009, 09:45:35 PM
@Trongc6: Chuyện bác kể làm tôi lại nhớ thời huấn luyện. Tôi có ở Bãi Nai vài hôm nhận quân trang sau đó hành quân đi Tân Lạc. Cảm giác của tôi từ Bãi Nai đến thị xã Hòa Bình ít nhất cũng gần 20 km. Tôi còn nhớ buổi đầu hành quân từ Bãi Nai đến Trăm mất một ngày đấy.
Bác mà rỗi, hôm nào ta lên thăm lại chỗ huấn luyện xưa,  37,38 năm rồi còn gì...

@Bác Phong Quảng;
Bác cứ giữ cái ý định ấy nhé.
Khi nào em có khe cửa hẹp về thời gian, em sẽ rủ bác và vài bác cựu khác đi thăm lại nơi ta đã đeo quân hàm binh nhì.
Em cũng muốn có được khoảng chừng 10 giờ đồng hồ, để được sống lại thời "binh nhì ngu ngơ" , để quyên đi cái cuộc sống đen bạc này bây giờ, của em.
bác baoleo àh, cháu như cảm thấy có cái gì đó nghèn nghẹn trong câu nói ấy của bác. Hay vì cháu đã cả nghĩ quá chăng? Cháu chúc bác và những con người đáng kính như bác không bao giờ phải dùng từ đen bạc để nói về cuộc đời này


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: MUCTAU trong 05 Tháng Bảy, 2009, 05:43:23 PM
TAI_LIENSON@...Sỹ quan đa số là Thanh nghệ ...Lý do đơn giản thôi : thứ nhất:- dân Thanh ,Nghệ (nghệ an Hà tĩnh )vốn có truyền thống về lòng quả cảm ,ngàn xưa các vua chúa phong kiến Viẹt nam đều trông vào quân Thanh Nghệ "  Hoan Diẽn còn đó thập vạn binh""
    thứ hai :- Dân số Thanh Nghệ đông ,hiện nay vẫn chiếm khoảng 8/% dân số Việt nam nên lính Thanh Nghệ nhiều ,
 Câu ca cho vui chứ ở đâu chẳng có anh hùng ,tiểu nhân
======================================================
 Em nhất trí với bác điểm này . Bổ sung thêm ý của lớp đàn em . Anh em khu 4 nói chung , sống ngiêm túc , chịu khó học hỏi . Cần  cù , tiết kiệm và có ý chí phấn đấu nên được cấp trên để ý , cất nhắc là điều đương nhiên . Còn ông nào dù cũ dù mới đã cùn thì cùn tận mạng . Em thích tính ''anh-em '' của lính khu 4 . Tiếc rằng ngoài đời hơi hiếm .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: danngoc trong 05 Tháng Bảy, 2009, 06:02:14 PM
Thì ở SG muốn sống ổn ta có thể mần đủ mọi thứ, ở khu 4 muốn sống được chỉ có con đường làm quan. Chọn lọc tự nhiên thôi mà bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 09 Tháng Bảy, 2009, 08:51:15 AM
Ý kiến của MT @ và DN@ ddeuf đúng ,thiên nhiên khu 4 khắc nghiệt , con người phải có bản lĩnh để thích nghi , nhiều nhà nghiên cứu đã viết tôi không nhắc lại , ở dải đất này học để làm quan là con đường thoát khỏi đói nghèo , cho nên có thời Hà nội được coi là khu kinh tế mới cua dân Nghệ , người Nghệ ( Nghệ an Hà tĩnh ) đi ra làm ăn thành đạt  nhưng không hiểu vì sao về  quê lại không phát huy được ,có lẽ về quê bị "Xiết vô " thì phải


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: le010180 trong 09 Tháng Bảy, 2009, 09:14:05 AM
Dân Nghệ Tĩnh đây ạ. "Em" không thích chốn quan trường nên sang Mỹ ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 10 Tháng Bảy, 2009, 09:37:13 AM

       Bây giờ đến chuyện làm giúp anh nuôi.

             Bốn anh nuôi trong C tôi vốn là lính thu dung của đợt D34, D36. Chúng nó nhập ngũ đợt hè 1970, trước chúng tôi hơn một năm. Khi đó, chúng nó được nhiều ưu đãi lắm, vì chưa phải cảnh tổng động viên. Đóng quân bên Đông Anh, cách nhà chỉ trên hai chục cây số, thằng nào mà chả tranh thủ "tút" về nhà vài lượt. Có khi chúng nó "tút" cả đám hơn chục thằng, về Hà Nội chơi vài ngày rồi lại nhập lên đơn vị vô tư. Kỷ luật khá lỏng lẻo. Đợt chúng nó chỉ gặp cảnh ăn bí ngô triền miên thay rau là xót ruột thôi, còn thì không có gì đáng phàn nàn. Lúc ấy, mỗi chiều thứ bảy, chủ nhật, thấy bọn lính mặc quân phục bạc màu, tay áo thả dài không cài khuy, quần chít ống mà giày cao cổ lại không thắt dây, thả bước vào quán Gió, quán Bốn mùa gọi cà phê, hút thuốc lá thả khói hình vòng tròn điệu nghệ thì thanh niên Hà Nội mê lắm.

              Cũng vì chiều quá nên lính tráng sinh hư. Sau tết năm 1971, chúng nó chuẩn bị vào Nam. Lính trung đoàn 1867 Bộ Tư lệnh thủ đô thường không bổ xung cho các sư chủ lực ở Bắc, mà hành quân theo đội hình đông vào bổ xung thẳng cho chiến trường. Cả tiểu đoàn sáu trăm con người lên cả một chuyến tàu hỏa ở ga Yên viên. Đợt đó chúng nó được phát ngay quân tư trang mới ở Đông Anh. Súng đạn cũng phát luôn, toàn Ak và lựu đạn chày. Toa hậu cần phía đầu tầu chất sẵn bánh kẹo, thuốc lá và nước ngọt. (Chủ yếu là si-rô thôi chứ chưa có bia). Lính mà được phát thuốc lá Tam đảo, Điện biên, có cả bao bạc hẳn hoi. Lúc đó ngay cả thời gian huấn luyện cũng chưa có lệ phát thuốc lá cho lính, vậy mà lúc đi B, chúng nó đầy đủ vậy. Nghe nói toàn đồ úy lạo của thành phố. (cái này nghe giống như chuyện úy lạo của nhân dân TQ cho các chiến sĩ Quân giải phóng ND TQ trong chiến dịch Thượng Cam Lĩnh bên Bắc Triều tiên hồi 1953 quá).

              Lên tàu là thuốc lá và bánh kẹo đã được phát tới tận tay lính. Tàu chạy chậm, lính tráng ngả ngiêng hát hò, trò chuyện. Sẩm tối thì qua cầu Long Biên. Cầu Long Biên khi đó đã bị máy bay Mỹ đánh sập mấy nhịp trong chiến tranh phá hoại, được sửa lại, nhưng chỉ được phần cầu, còn những dầm khung giằng thép mang dáng dấp đặc trưng của cây cầu thì không có (đến bây giờ cũng vẫn thế) nên tàu chạy chậm. Một thằng nào đó phởn chí chợt thò AK ra cửa sổ toa tàu nhả lên trời một loạt đạn. Thằng khác thấy thế cũng hưởng ứng góp một loạt. Thế là như phản ứng dây chuyền, lính ở các toa cùng thi nhau xả đạn lên trời. Chỉ huy đi cùng toa quát được thằng này, thì thằng ở góc kia bắn, cứ loạn cả lên. Trong cảnh láo nháo mà thằng lính nào cũng có súng đạn, tâm trạng đầy phấn khích thì chỉ có bó tay. Quá đáng hơn, một thằng rút lựu đạn giật nụ xòe rồi quăng xuống lòng sông. Tiếng nổ to và cột nước dựng lên gây ấn tượng hơn. Một thằng làm được thì thằng khác cũng làm được. Thế là mặt sông dọc cầu dậy lên tiếng nổ và cột nước. Chắc khi đó dưới sông không có tàu bè và thuyền đánh cá qua lại, nếu không hậu quả sẽ khôn lường. Bọn cá chết oan nổi lên mặt sông, chắc phải trôi cả cây số xuống dưới hạ lưu mới có người vớt.

               Tàu vào đến ga Long Biên thì tình hình mới tạm ổn. Lính tráng không dám bắn vào khu vực có dân. Chúng nó chỉ thò cổ ra ngoài toa hò hét om sòm. Tối rồi, đường Phùng Hưng cũng vắng vẻ nên không khí lịm dần.

               Vào Ga Hàng cỏ thì tàu dừng lại. Chắc các thủ trưởng cấp trên ở Bộ TLTĐ muốn dừng tàu để vào ga trấn chỉnh lính. Nhưng hình như quyết định này là sai lầm. Tàu dừng là lính tỏa xuống sân ga. Rồi lếch thếch cả ba-lô và súng đạn, từng tốp lính kéo nhau ra hai đầu đường sắt phía Khâm Thiên và phố Nguyễn Khuyến. Tốp thằng Luân phố Huế vừa ra đến gần cầu vượt phố Khâm thiên thì bị một đại uý  đứng chặn giữa đường tàu giang tay ngăn lại. Chẳng sợ chút nào, thằng Luân chỉ vào mặt người sĩ quan, hỏi anh em lính: "Lão này có phải thủ trưởng chúng ta không hả chúng mày?". Một thằng kêu to: "Cóc phải". Thế là chúng nó gạt ông sĩ quan ra rồi ào ào đi. Sức ngăn không lại, cũng không thể rút súng ra bắn (bọn thằng Luân khi đó cũng súng ống đầy mình), ông đại úy đành bất lực nhìn đám thằng Luân, rồi nhiều tốp lính khác tràn qua trước mặt.

               Đêm đó, cả tiểu đoàn lính, lớp ngủ lại sân ga, lớp ra công viên Thống Nhất chơi cả đêm, một số thằng về nhà ở gần. Đến sáng, chúng nó cũng lục đục trở lại tàu. Gần như đủ cả mới lạ chứ. Trời sáng rõ, đoàn tàu mới chuyển bánh rời ga.

              Nhưng như thế chưa phải là đã hết.
…….



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 16 Tháng Bảy, 2009, 09:27:27 PM
     ... Vượt khỏi ga Văn Điển là đã thấy rõ cảnh nông thôn vắng vẻ. Con đường quốc lộ 1 bé chỉ vừa hai xe tải tránh nhau chạy dọc theo đường sắt, chốc chốc mới có người. Trời se lạnh, chỉ thấy bóng nông dân xa xa trên ruộng. Đến gần Thường Tín thì gặp mấy em gái đèo nhau trên xe đạp đi cùng chiều. Thế là lính tráng thò cổ ra trêu, huýt sáo ầm ĩ. Các em e thẹn nghiêng nón che. Thế là một thằng nào đó túm ngay gói kẹo quăng xuống. Chưa kịp hiểu sao thì kẹo trên tàu ném xuống rào rào làm các em liêu xiêu suýt bẹp nón, ngã xe phải dừng lại. Hoảng hồn, nhưng số kẹo ném xuống chắc đủ cho trẻ con cả xóm liên hoan. Cứ như thế mà tiếp diễn kéo dài suốt dọc đường tiếp theo, không ai ngăn được. Có nhẽ đến gần Phủ lý mới không còn kẹo để ném xuống đường. Số lượng lính ăn chẳng bao nhiêu.

               Hết khôn dồn đến dại. Đoạn đường từ Phủ Lý đến Nam Định, lính tráng còn bắn bậy AK xuống ruộng. Có thằng bắn cả trâu của dân trên ruộng. Thật quá đội quân ô hợp.

              Có lẽ cái thông tin trên đã truyền về Bộ TLTĐ. Đến ga Núi Gôi thì tàu dừng. Cả mấy trăm lính có lệnh xuống tàu, hành quân mấy cây số vào một khu doanh trại ở đó. Có lệnh nộp súng vào kho. Đến hôm sau thì có một đoàn xe tải quân sự chạy vào. Lính tráng tập hợp xong, còn đang ngơ ngác thì thấy từng đám vệ binh vây quanh. Rồi có một thủ trưởng đọc lệnh bắt gần trăm thằng. Đọc tên thằng nào tống lên xe tải thằng đó, rồi trở về Hà Nội. Hơn dăm trăm thằng khác ở lại Ninh Bình học chính trị 3 ngày cho thấm nhuần tư tưởng rồi tiếp tục lên tàu đi B.

               Thằng Luân nằm trong đám bị  dẫn về Hà Nội, gộp vào đơn vị thu dung. Vài đứa đầu têu bị đưa về giam ở 33 Phạm Ngũ Lão. Số đông còn lại vừa cải tạo lao động, vừa học chính trị. Rồi sau đó chúng nó được chia nhỏ từng tốp về làm anh nuôi cho các đợt tân binh sau.

              Đấy là tiểu sử bốn thằng anh nuôi trong C huấn luyện bọn tôi. Chúng nó là lính cũ, chiến tích như thế nên khi nghe chúng nó kể lại, bọn tôi cũng hơi ngài ngại.

              Vào lính mới biết cái kiểu họp hành thường xuyên, rồi phát biểu dân chủ này nọ. Một lần khi họp góp ý anh nuôi, có một thằng phê bình anh nuôi nhặt rau không sạch, còn lẫn cả sợi cỏ.

              Hôm sau tôi được cử xuống giúp anh nuôi nấu cơm. Chỉ là bổ củi, nhặt rửa rau và bị sai vặt thôi. Vừa rửa xong mấy rổ rau to tướng, chưa kịp ngồi nghỉ thì thằng Th. "pi-tơ" anh nuôi quát tôi đi kiếm nắm rơm. Đem nắm rơm về, còn đang phân vân không biết làm gì thì thằng Th. giằng nắm rơm cho vào thớt chặt nhỏ ra rồi trộn luôn vào rổ rau tôi vừa rửa. Vừa trộn nó vừa lẩm bẩm: "Này thì lẫn cỏ này, rửa rau không sạch này…", rồi nó thản nhiên cho tất vào nồi luộc rau. Tôi sợ quá không dám nói gì. Bữa cơm ấy tôi được ăn cùng mấy thằng anh nuôi nên không dính rơm. Còn lính tráng trong C nhiều thằng dính rơm nhưng cũng sợ không dám kêu vì cũng đoán là bọn anh nuôi cố tình. Dây vào chúng nó chỉ dại. Bài học đầu tiên về dân chủ và cảnh ma cũ bắt nạt ma mới như thế đấy.

              Chúng tôi là đoàn tân binh thứ hai mà nhóm anh nuôi "thu dung" phục vụ. Sau này đến khi chúng tôi đi chiến trường thì cả 4 thằng anh nuôi cũng được biên chế vào cùng C để đi B như chúng tôi. Mấy năm chiến trường, chúng tôi lại sống chan hòa với nhau, không có chuyện gì xảy ra. Cả 4 thằng đều sống đến hết chiến tranh. Có một thằng là thương binh, về làm ở quận đội Đống đa mãi mới nghỉ. (Bây giờ nó mở một quán bán cơm phở ở gần cái quán 88 "Đồng đội" đường Tô Vĩnh Diện mà bác TS1 và các bác QKTĐ hay off đó).
……



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 17 Tháng Bảy, 2009, 08:19:10 AM
Cái ông anh nuôi của bác bậy bạ quá!
Phản ứng cán bộ nhưng anh em phải chịu hậu quả
Đơn vị tôi thì chúng nó róc xác thằng đó ngay! :-\


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 19 Tháng Bảy, 2009, 03:06:29 PM
 Sau này lính quậy nhưng không đến nỗi như lính thu dung hồi đánh Mỹ , ở gần quê tôi có đoàn thu dung ,khi đó tôi còn bé mà nghe nhiều chuyện đến giờ vẫn không tưởng  tượng được , chuyện bác Trọng kể lính phá như vậy cũng quá thể,


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Midaxudavo trong 19 Tháng Bảy, 2009, 05:41:58 PM
Lính quậy như thế mà chỉ huy C  cũng chịu bó tay hay sao bác Trongc6?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 20 Tháng Bảy, 2009, 06:29:02 PM
         Lính D34, D36 phá phách thế nên đã bị tóm về thu dung cả trăm thằng đấy thôi. Lúc đi B chúng nó mới thế chứ khi huấn luyện thì cũng chưa đến nỗi nào.

         Mà cũng chỉ có đợt ấy thôi. Những đợt sau bị tống đi xa, lên Hòa Bình nên chỉ có chuyện lính "tút" thôi. Miễn là đủ quân số đi chiến trường là các thủ trưởng huấn luyện hoàn thành nhiệm vụ rồi.

       Còn chuyện các 'thủ trưởng anh nuôi" dằn mặt lính mới thì lần nào chả thế. Các thủ trưởng thật còn né tránh thì bọn tôi cũng chỉ biết im lặng. Chả lẽ đánh nhau à.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 23 Tháng Bảy, 2009, 05:59:41 PM
          … Trong đời chẳng có cái dại nào giống cái dại nào. May mắn đa phần là nhờ số phận.

               Sau lần đi bắn đạn thật bài 1, thằng Bắc "con" trong B tôi loay hoay xin được 3 viên đạn AK. Nó khoái chí lắm, cứ đến phiên gác là lại lắp 3 viên đạn đó vào băng. Nó bảo cầm súng có đạn khi gác đêm yên tâm lắm. Thực tình khi đó chúng tôi gác để tập thói quen rèn luyện là chính, chứ đào đâu ra địch. Kẻ gian thì cũng chẳng có ma nào mò lên cái xứ huấn luyện hẻo lánh này. (Từ doanh trại chúng tôi ra khu suối cạn rồi đến mấy cái quán nước bên đường số 6 cũng phải 2 cây số. Chỉ có khi đi lấy gạo, chúng tôi mới được ra đó, tranh thủ mà tạt vào quán. Tất cả tiền gia đình tiếp tế chỉ đổ vào mấy cái quán đó, mà chỉ có kẹo lạc dồi, thuốc lá quấn hay thuốc Lào. Một lần ghé vào bưu điện cạnh đó, tôi mua được cuốn truyện "Vi-chi-a Ma-lê-ép ở nhà và ở trường" của Liên-xô đem về doanh trại đọc cho nhớ lại thời còn học sinh mới chỉ cách đó nửa năm trời. Tưởng đỡ buồn nhưng càng đọc càng nhớ nhà, càng buồn thêm).

               Một đêm thằng Bắc "con" gác, tầm 10 giờ thì đại phó Hảo đi kiểm tra. Nó chờ ông ấy đến gần mới thỏ thẻ chào: "Thủ trưởng đi kiểm tra gác đấy ạ". Tưởng được khen, được động viên mấy câu, ai dè đại phó Hảo lên lớp cho một bài. Ông ấy cầm lấy súng của nó bảo: "Đồng chí phải đứng nép vào một góc khuất, thấy người đến bất kỳ ai phải chờ đến gần quát to, "ai! đứng lại, giơ tay lên", đồng thời lên quy lát chỉa thẳng súng vào đối phương như thế này này". Nghe ông ấy lên quy lát "roạt" một cái và chĩa súng vào mình, thằng Bắc "con" run như cầy sấy. Nó biết một viên đạn đã thực sự được lên nòng. Bây giờ mà ông ấy bóp cò "tạch" một cái là xong đời. Nhưng nó không dám kêu vì sợ ông ấy thu mất 3 viên đạn. May làm sao ông ấy đóng chốt an toàn rồi trả súng lại cho nó, qua kiểm tra vọng gác khác. Ông ấy đi xa rồi, thằng Bắc mới hoàn hồn. Không đến mức đái ra quần, nhưng mồ hôi ướt đầm, dù khi đó trời đã bắt đầu se lạnh. Sau lần đó, Bắc "con" chỉ bỏ đạn trong túi quần, không dám lắp đạn vào băng khi gác.

              Lính tráng mỗi thằng mỗi nghề, có ngón gì cũng đem theo vào lính. C tôi có thằng Thịnh người Lệ Mật, Gia Lâm. Lúc đó không phải ai cũng biết Lệ Mật là làng rắn. Một lần cả C đang ngồi học chính trị trong hội trường, một thằng ngồi phía ngoài nhìn ra sân bỗng kêu to lên vì phát hiện thấy một con rắn rất to vừa trườn khỏi một bụi tre vào sân. Nhanh như cắt, chẳng cần xin phép, thằng Thịnh lao ra sân chạy đến chỗ con rắn. Nó chộp nhanh đuôi con rắn giật mạnh rồi quay tít. Được một lát, nó dùng tay kia vuốt mạnh con rắn từ đuôi lên đầu, nghe roạt một tiếng rồi vứt ra đất. Con rắn bị tuốt rạn xương sống không bò được phải nằm im. Nói thì chậm vậy chứ làm thì nhanh, mọi chuyện diễn ra chắc chưa tới một phút. Cả hội trường lính ồ lên khen ngợi. Hôm đó thằng Thịnh đem con rắn biếu Ban chỉ huy làm bữa cải thiện. Từ đó tiếng tăm Thịnh "rắn" bay khắp tiểu đoàn. Trong thời gian huấn luyện ngắn ngủi sau đó, hễ ở đâu phát hiện rắn là gọi Thịnh "rắn" tới giúp sức và bao giờ cũng thành công. Các thủ trưởng quý nó lắm.

              Lại đến chuyện bên C38 có thằng Hùng con cháu nhà nghệ sĩ xiếc Tạ Hiển. Sau khi phát hiện khả năng của nó, Tiểu đoàn cho nó về phép 3 ngày, rồi mang lên đơn vị một cái xe đạp một bánh. Nó diễn xiếc mấy lần cho cả D xem. Rồi lại diễn cả cho đồng bào xem. Thỉnh thoảng buổi chiều trước giờ ăn cơm, nó còn đi xe 1 bánh ra con đường đất ngoài bản. Phụ nữ và trẻ con bản Mường xem khá đông. Thằng này từ khi có món "xiếc xe đạp 1 bánh" không còn bao giờ phải đi lấy củi hay lấy gạo ngoài kho đường số 6 nữa. Sợ hỏng nhân tài. Tuy thế hết đợt huấn luyện nó vẫn phải đi B. D tôi khi vào Trường Sơn có C38 bị xé ra bổ xung cho chiến trường Quảng Nam nên không biết tin gì của nó nữa.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 31 Tháng Bảy, 2009, 05:19:00 PM
        … Dịp 22/12 năm đó, chúng tôi tổ chức hội thao, có cả các thủ trưởng ở Bộ TLTĐ lên thăm. Được ăn tươi, mỗi C được mổ một con lợn. Từ đây tôi bắt đầu quen nếp và luôn mong đợi được ăn tươi vào những ngày kỷ niệm của quân đội. Ngay cả khi vào chiến trường cũng thế. Khó khăn quá, trên không cấp được thì chúng tôi tìm cách cải thiện tại chỗ. Tóm lại cũng là một cái cớ để ăn.

              Rồi một lần tiểu đoàn có lệnh báo động lúc 4 giờ sáng. Tập trung hết cả ra sân đại đội, ngồi vêu mặt ngắm những ngôi sao muộn mằn. Ngáp và gật trong khi đại đội phổ biến sẽ hành quân xa. 5 giờ sáng có cơm ăn. Trời đông chưa sáng rõ lắm nên không vào nhà ăn mà đem hết ra sân. Cơm sáng đơn giản nên cũng chẳng có gì phức tạp. Ăn xong lại ngồi nghỉ theo đội hình, lại rì rầm cho đến 6 giờ. Rồi tất cả được lệnh hành quân ra thao trường, giống như một buổi tập sớm. Nhưng hình như không phải thế, chúng tôi lại được lệnh đi tiếp, vòng vèo qua những quả đồi lạ mà chúng tôi chưa từng qua. Sau đó tập trung và có lệnh "giá súng" theo từng B. Mỗi B cử 2 người ở lại trông những cái giá súng đó (tất nhiên có đại phó quản lý chung), còn tất cả hành quân sang một quả đồi khác. Đến đây thì mới biết tất cả các C khác cũng đang lục đục tay không từ các hướng khác đi đến. Cả tiểu đoàn tập trung thành hàng lối rồi lại ngồi nghỉ. Mới có 7 giờ sáng.
 
            Chẳng biết có chuyện gì, nhưng chúng tôi cứ ngồi gà gật như thế mãi. Đến 10 giờ, khi tất cả đã bã người ra rồi (may hôm đó nắng không gắt lắm) thì chúng tôi được lệnh đứng dậy, hàng lối chỉnh tề. D trưởng tuyên bố hôm nay tiểu đoàn vinh dự được đón Đại tướng Tổng tư lệnh đến thăm. Thế là ồn ào cả lên. Rồi chúng tôi được lệnh tập vỗ tay. Phải vỗ to và đều. Của đáng tội, cái món này cũng làm cho lính tỉnh táo hẳn ra.

             Nhưng cũng phải nửa tiếng sau mới nghe tiếng ô-tô, rồi đoàn xe com-măng-ca xuất hiện. Quả tình lúc đó chúng tôi cũng bị mất phương hướng, không biết là đoàn xe đi từ đâu tới. Rồi Đại tướng cùng các thủ trưởng E và Bộ TL xuống xe đi vào bãi. Chả biết là bàn và micro chuẩn bị từ khi nào. Khi đó, các Thủ trưởng đều ăn mặc bình thường như lính, đội mũ mềm chứ không có lễ phục gì, thậm chí không đeo quân hàm (chúng tôi cũng vậy. Từ lúc nhập ngũ đến lúc ra quân, tôi chưa hề được đeo quân hàm lần nào, thật chẳng biết cảm giác nó ra sao). Chúng tôi được nghe Đại tướng huấn thị chừng 20 phút, đại loại là động viên lớp thanh niên chúng tôi chiến đấu lập công, giữ vững truyền thống quân đội và truyền thống Hà Nội…

             Đoàn xe của Đại tướng lăn bánh về rồi, nửa tiếng sau chúng tôi mới được quay lại quả đồi kia lấy súng và hành quân trở về doanh trại. Buổi chiều tất cả được nghỉ tắm giặt.

             Sự kiện ấy được cấp trên phổ biến là niềm vinh dự đặc biệt của tiểu đoàn tân binh chúng tôi, vì không phải đợt luyện quân nào cũng được đón Đại tướng đến thăm. Nhưng thật tình mà nói, khi đó chúng tôi cũng không thấy hết được niềm vinh dự đó. Vả lại khi đó trong lính đang truyền tụng một câu nói của bác Hồ: "Tướng phải như tướng Thanh, tá phải như tá Kiện".

               Nghe phổ biến sau 22/12 chúng tôi sẽ hành quân xuống Tân Lạc (giáp Ninh Bình), đoán rằng chúng tôi sắp vào chiến trường, có thể không được về phép thăm nhà, lính tráng rủ nhau "tút' hàng loạt. Cả 4 đại đội đều diến ra cảnh như nhau. Trên đường số 6 có đêm từng tốp lính "tút" của các C gặp nhau cứ như đi tiền trạm. Khi đó có B hụt đến 1/3 quân số.

              Đơn vị trống vắng hẳn, mà chúng nó "tút" đến cả tuần, ngày hành quân đã ngoại đi Tân Lạc sắp đến, nên các cán bộ C của các đại đội phải cử nhau về tận từng khu của Hà Nội gọi lính lên đơn vị. Mục thức đêm học 10 lời thề quân đội diễn ra từng đêm.

              Thế mà rồi cuối cùng, ngày tận cùng của năm 1971 ấy, đoàn tiền trạm vẫn kịp lên đường nhằm hướng thị xã Hòa Bình. Một cái duyên nào đó lại dẫn tôi vào đoàn tiền trạm. B phó Thụy (người Đông Anh) của B tôi dẫn đầu hớn hở kéo chúng tôi vượt suối cạn Bãi Nai ra đường 6. Lội qua dòng suối mát lạnh, tôi không hề nghĩ rằng cho đến 38 năm sau tôi cũng không có dịp nào trở lại nơi đó, cứ như dòng nước trôi để người đời phải thốt lên rằng "con người ta không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông"…
......





Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: thaynhin trong 08 Tháng Tám, 2009, 09:40:49 PM
  Chào các bác CCB!
 Em là lính và là sĩ quan dự bị bộ đội Hóa học của những năm 1983,1984.Đọc nhưnngx dòng tâm sự và chuyện kể về kỷ niệm củ các bác làm em cảm động lắm!Em mới vào Quansuvn được một tuần,cũng muốn đôi điều thưa chuyện với các bác!
TIỆN ĐAY EM RÂT MUỐN LIÊN LẠC VỚI BÁC TRONGC6,BÁC PHONGQUANG...VÀ CÁC BÁC CÓ CHẤT LĨNH VÀ KHÔNG CHÊ EM ..VỚ VẨN.THÂN ÁI!
  Em mới vào Quansuvn được 1 tuần,đọc topic của bác Trongc6 là chủ đề thứ 3!
  Xin lỗi Admin vì mình dùng PC chưa ngon lắm,chúc Admin khỏe và làm tốt nhiệm vụ!



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: binhyen1960 trong 11 Tháng Tám, 2009, 12:46:57 AM
 Ở đây chẳng ai chê bạn vớ vẩn nếu bạn không phải người vớ vẩn , toàn lính với nhau thôi, ôn lại thời máu lửa đã qua chứ chẳng phải tướng tá gì , bạn cứ biết sao nói vậy , bạn thấy vui , anh em cũng thấy vui thôi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 11 Tháng Tám, 2009, 09:54:48 PM
        … Thị xã Hòa Bình quá nghèo nàn. Con đường 6 xuyên qua Thị xã để lên hướng Tây Bắc đi Sơn La cũng chính là trục chính của Thị xã. Nhà cửa thưa thớt. Đây đó gặp mấy ngôi nhà cấp 4 là trụ sở của các cơ quan Dân Chính Đảng. Rồi căn nhà gạch mà lợp mái nứa của một HTX mua bán. Quá sơ sài. Đúng là cảnh miền núi. Đoàn tiền trạm lầm lũi đi qua. Đến chân dốc Cun thì dừng lại làm điểm dừng chân thứ nhất. Làng nông thôn miền núi nhỏ bé nhưng còn có vẻ ấm áp hơn mấy ngôi nhà ven đường Thị xã.
 
              Hỏi nhờ nhà dân, tôi lại giở cái bài tìm các em 14 tuổi. Nhưng điều đó không ấn tượng như ở Quốc Oai. Các thôn nữ vùng sơn cước mang đậm nét chất phác thật thà vùng người dân tộc, dù làng là của người kinh. Các em giúp lính thật nhiệt tình. Chuyện củi nước ở đây cũng khá đơn giản. Nhà nào cũng nhiệt tình đón bộ đội nghỉ nhờ. Chúng tôi còn thời gian thảnh thơi tắm giặt trước khi trời tối. Có ít người nên nấu cơm cũng đơn giản. Tiếc là thức ăn quá xoàng. Chẳng có gì ngoài nồi canh rau láo nháo vặt vội ngoài ruộng. Rau dền cơm, càng cua, tập tàng ấy mà. Dân cũng ăn vậy thôi. Lấy đâu mà tiếp tế cho hơn chục thằng lính. Được cái sau bữa ăn vẫn có nước chè do B phó Thụy mang theo một gói (chè Ba Đình loại 30gram một gói). Cả tối ngồi tán chuyện, giao lưu với các em dân quân, không phải sinh hoạt, thế là sướng rồi.

              Sáng sau một nửa ở lại đón đơn vị, còn 7 chiến sĩ lại lên đường. Bữa cơm sáng ăn với đường cát nâu, lạ mồm nhưng cũng dễ nuốt.

               Hành quân tiếp theo đường số 6. Con đường vắng vẻ, cứ như chỉ dành cho lính. Thảng hoặc mới có một chiếc xe tải chạy qua, hoặc mấy ngườii dân đẩy xe đạp lên lấy củi. Hì hục nửa buổi mới bò lên đến đỉnh dốc Cun. Thật may là ngay đỉnh dốc có một cái cửa hàng ăn uống mậu dịch. Có độc món mì (sợi) nấu với nước canh đậu phụ, có pha chút gừng chống lạnh. Chẳng có chút xương xẩu nào, và tất nhiên là không có mì chính. Giá cũng bình dân, một hào rưỡi một bát.

              Buổi chiều hành quân xuống đến chân dốc. Trên con đường nhựa vắng tanh bỗng xuất hiện một đồng chí tiếp phẩm cưỡi cái xe đạp Vĩnh cửu chở rau đi ngược chiều. Tôi đánh bạo lên tiếng: "Đồng chí ơi, cho chúng tôi mấy mớ rau". Người lính ấy không nói gì, cũng không ngoái cổ lại, nhưng vòng tay ra sau kéo 4 mớ rau cải thả xuống đất. Chúng tôi mừng quá nhặt vội, còn kịp nói với theo thật to: "Xin cảm ơn đồng chí và lời thề thứ bảy". Chỉ thế thôi mà sao trong cái buổi chiều hoàng hôn mùa đông se lạnh ấy, tôi chợt thấy vô cùng ấm áp tình cảm thật là lính của những người mặc quân phục xanh mà mình cũng đang vinh dự khoác trên mình.

               Qua khỏi chân dốc Cun chừng vài cây số, chúng tôi tách khỏi con đường số 6 đi Sơn la mà rẽ sang hướng đi Tân Lạc, xuống Ninh Bình. Đi thêm dăm cây số thì chúng tôi đến một nông trường trồng cam. Anh Thụy cho cả nhóm dừng lại, tuyên bố đây là nơi dừng chân. Toàn là các gia đình công nhân nông trường, nhưng cũng chẳng khác gì bản làng. Có chăng chỉ là cái kiểu bố trí nhà nằm theo cụm và chạy dọc theo quốc lộ. Cũng muộn nên tối đó chúng tôi tạt nghỉ nhờ một nhà ngay ven đường chỉ có hai vợ chồng trẻ, chưa có con. Cơm nước xong nắm tình hình qua nhà chủ rồi nghỉ ngơi. Anh Thụy bảo chúng tôi sáng mai hẵng đi tìm nhà nghỉ nhờ cho đơn vị. Một lệnh nữa cũng được đưa ra là đêm nay nghỉ tập trung ngoài hè, cấm thằng nào được lảng vảng vào nông trường lấy trộm cam. Ở đây bảo vệ họ có đi tuần đêm bằng ngựa, có súng và sẵn sàng bắn hạ kẻ gian.

              Làng quê vốn mến khách. Nơi đây vắng vẻ lại càng mến khách hơn. Tối đó có rất nhiều công nhân đến chơi, uống nước và hỏi thăm chuyện Thủ đô khi biết chúng tôi là lính Hà Nội. Rất nhiều người tròn xoe mắt khi nghe chúng tôi kể chuyện về những chiếc tàu điện "leng keng" chạy trên nhiều tuyến phố. (Thời đó tàu điện còn hoành tráng lắm, không bị ví "lừ lừ như tàu điện" thời cuối những năm 70 đâu). Rồi đủ các thứ chuyện khác nữa. Đám lính chúng tôi cứ như những người mở mang đầu óc cho dân xứ núi không bằng. Và tất nhiên là không cần phải đi ăn trộm cam mà vẫn có cam ăn. Cam của Ban Giám đốc mời hẳn hoi nhé.

              Nông trường còn giúp chúng tôi việc sắp xếp bộ đội của đơn vị chính vào nghỉ những nhà nào trong công nhân. Thế là không phải đi hỏi nhờ từng nhà, quá sướng. Tình quân dân thời chiến ấy đầm ấm quá. (Chắc bây giờ chẳng bao giờ còn trở lại cảnh "Bao giờ cho đến tháng mười" như thế nữa).
….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: baoleo trong 16 Tháng Tám, 2009, 09:44:13 AM
              .......... Thật may là ngay đỉnh dốc có một cái cửa hàng ăn uống mậu dịch. Có độc món mì (sợi) nấu với nước canh đậu phụ, có pha chút gừng chống lạnh. Chẳng có chút xương xẩu nào, và tất nhiên là không có mì chính. Giá cũng bình dân, một hào rưỡi một bát.................

Bác Trong c6  đã gợi nhớ về những món ăn sang trọng của một thời.
Còn nhớ, tại cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh ở Nhổn-Hà Tây, nằm ven đường 32, đối diện với chợ Nhổn. Tại của hàng này cũng có phục vụ 2 món trứ danh, đó là: phở trứng và miến đậu phụ.
Phở trứng bao gồm 1 tô phở không người lái, có 1 chút hành, và tâm điểm là 1 miếng trứng vịt rán. Miếng trứng được chế biến theo kiểu: trứng đánh tơi, nhanh tay đổ vào chiếc chảo to đang nóng vì mỡ sôi già, khéo léo lắc chiếc chảo cho trứng dàn mỏng được ra khắp lòng chảo, tạo thành 1 lớp trứng mỏng tang. Sau đó, cuộn lớp trứng mỏng ấy lại như cuôn bánh cuốn. Thành phẩm là được 1 chiếc chả trứng cuộn tròn và dài. Khi dùng dao sắc như dao cạo râu cắt ra, ta được từng miếng trứng tráng có đủ độ đậm nhạt của sắc mầu và có những lớp lang như miếng bánh ga tô. Mỗi bát phở trứng được 1 miếng trứng thái cuộn như trên, tầm 1 phần 3 quả trứng vịt.
Còn miến đậu phụ thì được đựng trong cái bát chiết yêu. Bao gồm một chút miến dong, một chút hành, nước dùng là nước sôi có chêm muối-không mì chính. Và đỉnh của đỉnh là có 2 miếng đậu phụ rán. To bằng 2 nửa miếng đậu phụ loại 1 nghìn/bìa bây giờ.
Gía của bát phở trứng là 3 hào/bát. Còn giá của tô miến đậu phụ là 2 hào/bát.
Cách phục của cửa hàng ăn thời đó cũng rất độc đáo.
Đó là phải xếp hàng để mua tích kê. Phở trứng là cái mảnh sắt tây hình gần vuông hoặc gần chữ nhật. Miến đậu phụ thì tích kê là mảnh sắt tây hình gần giống tam giác.
Còn xi-rô lựu (chẳng hiểu tại sao lại gọi là xi-rô lựu, chỉ biết đó là 1 thứ nước hơi ngòn ngọt và có mầu hơi hồng hoặc hơi đỏ-tùy theo tay nghề của nghệ nhân chế biến), thì tíc kê là miếng sắt tây hình gần tròn.
Cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh chỉ phục vụ 3 món đó, không có món thứ tư. Vua đến ăn cũng mặc kệ, thực đơn chỉ có vậy.
Tất cả 3 loại tích kê trên, đều có 1 cái lỗ thủng  ở gần giữa miếng sắt tây.
Và sau khi xếp hàng mua tích kê xong, đến lượt phải xếp hàng để lĩnh món sơn hào-hải vị kể trên.
Cái dây xếp hàng này có hướng ngược với dây xếp hàng tích kê, đầu hàng hướng về cái ô vuông phát ngọc thực.
Để chống bọn lưu manh-phản động làm giả giấy tờ có giá, cơ quan chuyên môn đã có cách thức sau: nối giữa quầy bán tích kê và ô lĩnh hàng, có ba sợi dây thép song song. Một cái dây để lồng và dẫn hướng tích kê hình chữ nhật (hoặc vuông), một cái dây để lồng và dẫn hướng cái tích kê hình tam giác, cái dây thứ 3 còn lại thì để lồng và dẫn hướng cái tích kê tròn.
Đó là lý do tại sao, các tíc kê đều có lỗ thủng ở giữa.
Khi đã nộp tiền xong, thủ quỹ căn cứ vào vật phẩm được bán ra, sẽ lồng cái tíc kê tương ứng vào sợi dây thép phù hợp, rồi đẩy cái tíc kê ấy ra ngoài. Khách hàng tự dẫn cái tíc kê của mình đến cái ô vuông thần tiên kia.
Nếu như có 1 ông hỗn ăn, mua cả 3 thứ, thì ông ta phải khéo léo đi vào giữa 3 hàng dây và phải nhanh tay đẩy 3 cái tíc kê của mình cùng lúc, không thì con ma đói phía sau nó chửi.
Baoleo còn nhớ đó là năm 1970, kết thúc đợt sơ tán chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lần thứ nhất.
Để liên hoan chia tay nơi sơ tán là thôn Kim Hoàng, baoleo quyết định lắc cái ống tre tiết kiệm (làm gì có tiền mua lợn đất-mà chỉ lấy cái đoạn ống tre, cưa vát 1 tý ở thân ống để làm chỗ đút tiền) ra 6 đồng 5 xu-tức là 3 hào, cuốc bộ ra thị trấn Nhổn để tự khao.
Sau khi đứng trước cửa hàng tầm gần 1 tiếng, nghiến răng cỡ mòn mất đề xi dem răng cho đỡ tiếc, baoleo hùng dũng tiến vào quầy mua tíc kê. Lúc trao tiền, cô thủ quỹ kêu thét lên vì bỏng tay. Hóa ra, do baoleo nghiến răng, nắm chặt 6 đồng 5 xu mạnh và lâu quá, đến mức cả 6 đồng xu đều nóng đỏ cả lên.

Đến tận hôm nay, khi gõ những dòng này, baoleo vẫn ân hận là đã dám xa xỉ tiêu tiền để ăn một cách hoang toàng, phá phách như thế. 8)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 22 Tháng Tám, 2009, 09:10:48 AM
        …. Hôm sau chúng tôi được cả một ngày nghỉ ngơi. Tôi và thằng Xuyên được cử vào Bản Mường gần đó kiếm rau. Tinh thần chỉ đạo là có thể mua, nhưng xin được là tốt nhất.

               Hai chúng tôi hỏi đường rồi cứ theo con đường đất to mà đi vào phía chân núi. Chưa được cây số thì thấy cả một không gian rộng mở ra trước mắt. Một con suối nước to, nông, toàn đá và trong veo chảy hiền hòa na ná như suối cạn Bãi Nai. Bờ bên kia là cả một khu vườn trồng rau rộng lớn ríu rít tiếng của hơn chục cô cậu học sinh. Phụ trách chúng là một cô giáo ăn mặc kiểu dân tộc Mường, người nhỏ nhắn và… xinh quá đi mất. Hai thằng tôi đứng ngây ra nhìn. Chỉ một nhoáng là đám học sinh đã phát hiện ra có hai chú bộ đội đứng bên kia suối. Chúng líu ríu vẫy tay gọi. Hai chúng tôi nhìn nhau rồi cùng xắn quần lội sang.

               Đám học sinh quây lấy chúng tôi như người nhà, còn cô giáo thì e thẹn đứng lùi sau một chút, nhưng không giấu được nụ cười tươi. Vốn đã có một vài bài tập nho nhỏ về công tác dân vận, tôi và Xuyên hòa nhập ngay với cô giáo và học sinh. Tôi đề nghị được cùng tham gia tưới rau và nhổ cỏ. Việc này cũng dễ thôi, thằng Xuyên vốn là dân Thanh Trì, nông dân chính hiệu trước khi vào lính, còn tôi cũng đã nhiều năm sơ tán về quê.

              Vừa làm vừa tán chuyện, chúng tôi nhanh chóng chiếm được cảm tình của đám học sinh và cả… cô giáo. Chừng một tiếng sau, chúng tôi ra về sau khi được cô giáo và học sinh tặng cho một ôm rau cải to tướng, được biết tên cô giáo là Hoa, và còn được cô hẹn buổi tối sẽ ra chỗ chúng tôi chơi. Giá không còn phải về lo cơm nước chung cho cả nhóm, chắc tôi và Xuyên còn muốn nhổ cỏ, bắt sâu lâu hơn nữa.

               Hôm đó là một ngày thảnh thơi hiếm có từ ngày nhập ngũ. Từ đấy, tôi bắt đầu hiểu được cái sướng của đi công tác lẻ. Không chỉ ngoài Bắc mà sau này vào chiến trường cũng thế. Không gò bó, ăn uống bao giờ cũng tốt hơn và nếu khéo sắp xếp thì kể cả không phải gác, dù ở gần ngay sát địch.
 
               Tối đó chúng tôi tập trung tại nhà một công nhân nông trường có vợ cũng là cô giáo của cái trường cấp I mà lúc sáng chúng tôi đã tới. Anh chị ấy mới có một đứa con gái chừng 3 tuổi. Buổi tối trời lạnh ngồi trong nhà uống nước, tôi ngồi khoanh tròn trên giường và cho cháu bé ngồi trong lòng. Đứa bé ngồi im, thỉnh thoảng ngoái cổ ngước nhìn mặt chú bộ đội. Anh chị em công nhân cũng kéo nhau đến chơi khá đông. Anh Thụy (vốn trước đây là lính trong Đội Danh dự của Quân đội, cao to, đẹp trai) trổ tài tán chuyện. Đôi lúc tôi chợt quên đi mình đang là lính, và nghĩ rằng nếu cuộc đời cứ như thế này thì đẹp biết bao nhiêu.

               Hơn tám giờ tối, cô giáo chủ nhà nháy tôi ra ngoài. Cô giáo Hoa (dân tộc Mường) đang chờ tôi ngoài sân và rất mạnh bạo rủ tôi dạo chơi. Bây giờ trông Hoa bình dị như một cô gái kinh, áo trắng (có khoác thêm một chiếc áo len hay sợi gì đó), quần lụa, cái hình ảnh thiếu nữ đơn giản một thời đã làm xao xuyến lòng trai của cả một thế hệ. Chúng tôi chậm rãi đi dạo ra phía suối. Trời mùa đông, mọi khi thì chiếc áo vệ sinh (một loại áo khoác nỉ dài tay cài khuy màu cỏ úa phát cho lính khi đó) chưa phải đủ ấm, nhưng hôm đó tôi lại không thấy lạnh. Tôi mới 18 tuổi, và Hoa thì cũng chắc tuổi đó, nếu không muốn nói là nhỉnh hơn. Nhưng cô ấy bé nhỏ và xinh xắn trước cái thằng trai mới lớn là tôi. Vụng về và ngượng nghịu, nhưng cũng khoái vì chính tôi được rủ đi dạo chứ không phải mấy thằng khác trong tốp tiền trạm. Chúng tôi cứ chậm rãi đi trên con đường đất nhỏ và nói đủ thứ chuyện linh tinh. Hoa kể về mình ít thôi, nhưng gợi ý để tôi kể chuyện. Kể chuyện Hà Nội, chuyện lính tráng tập tành chứ không phải là tán. Thú thực là nếu cô giáo Hoa không bạo dạn, thì tôi không biết nói chuyện gì cho phải. Nhưng tôi nhớ nhất cái cảm giác lúc đó là tuy nói chuyện rất vui vẻ, nhưng trong lòng tôi thoáng có chút buồn. Chiến tranh không biết trước thế nào. Số phận con người càng mong manh, khó đoán. Đón nhận một tình cảm trên đường hành quân, liệu mình có đem lại điều tốt lành cho người ta? Tính tôi cầu toàn nên không muốn làm điều gì trái lương tâm mình khi đó.

               Chúng tôi chỉ lang thang và nói chuyện đâu đâu thế thôi, cho đến khi trở lại nhà cô giáo người kinh thì đã khuya khuya. Chia tay nhau cũng chỉ là cái bắt tay chứ không phải cầm tay. Rồi anh Thụy thò đầu ra gọi tôi đi ngủ.

               Lại chơi gần một ngày nữa, chiều hôm sau thì đơn vị hành quân đến. Rồi sau một đêm nghỉ, cả đơn vị hành quân tiếp xuống phía Ninh Bình.

               Chuyện thoáng qua của tôi và Hoa, nhiều đứa trong C biết. Chúng nó bàn tán đủ kiểu, nhưng nói chung là bậy bạ. Tôi không chấp nhận cái kiểu sống gấp của kẻ sắp chết. Tôi tự hào mình vừa là trai Hà Nội, có học và lại là anh bộ đội cụ Hồ, nên sẽ phải sống cho xứng với niềm tự hào đó.

               Đến nơi mới hơn một tuần thì nhận được thư Hoa. Chả hiểu cô ấy hỏi ai được số Hòm thư của C tôi. Không ngờ cô ấy mến tôi thật sự và muốn kết bạn. Tôi cũng có thư hồi âm cho cô ấy. Chỉ một lần thôi. Tôi đánh bạo nói là sẽ hẹn gặp cô ấy khi đơn vị hành quân trở lại Thị xã Hòa Bình sau đợt dã ngoại, khi đi ngang qua nông trường cam.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: songvedem trong 22 Tháng Tám, 2009, 11:45:04 AM
              .......... Thật may là ngay đỉnh dốc có một cái cửa hàng ăn uống mậu dịch. Có độc món mì (sợi) nấu với nước canh đậu phụ, có pha chút gừng chống lạnh. Chẳng có chút xương xẩu nào, và tất nhiên là không có mì chính. Giá cũng bình dân, một hào rưỡi một bát.................

Trong cửa hàng ăn uống Mậu dịch còn có: Các ghế được xích vào nhau và xích vào cái bàn vì sợ bọn CIA và phản cách mạng nó bê đi mất. Các thìa (cùi dìa) múc phở cơm, miến thì đều được đục lỗ ở giữa, tránh bị bọn gián điệp đội lốt quần chúng ăn trộm.

Mẹ em kể ngày xưa có cấm phở, đến thời năm 79- 80 thì lại có đợt cấm phở nữa. Mà đau ốm thập tử nhất sinh, khen thưởng thì cũng quy ra phở hết và cũng chỉ nhận phở chứ không nhận cái khác. Mà sao hồi đấy ăn bát phở mậu dịch cứ thấy ngon lừ đi. Em ăn phở làm từ thịt xương thủ mà vẫn thấy trên cả tuyệt vời, phở Bát Đàn hay Lý Quốc Sư cú phải gọi bằng bố.

@ mod, min: cái này tiện để ở đây hay mang sang bên bao cấp các Sếp nhỉ


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 22 Tháng Tám, 2009, 02:13:05 PM
Đề nghị bác Trọng hành quân trở lại Hoà Bình nhanh nhanh lên cái! Giờ cũng đến đoạn "đồ hộp" thì quăng bài đấy cho thiên hạ chờ là không có được !
Kiểu cắt bài này giáo Hà đầu têu rồi lây thành cái bệnh toàn Quân sử roài ! Hic  8)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taydoc711 trong 22 Tháng Tám, 2009, 02:15:48 PM
Đề nghị bác Trọng hành quân trở lại Hoà Bình nhanh nhanh lên cái! Giờ cũng đến đoạn "đồ hộp" thì quăng bài đấy cho thiên hạ chờ là không có được !
Kiểu cắt bài này giáo Hà đầu têu rồi lây thành cái bệnh toàn Quân sử roài ! Hic  8)


 Chứ không phải tác giả Biên giới Tây nam đầu têu ạ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 22 Tháng Tám, 2009, 02:20:20 PM
Hè hè tớ cứ thấy câu chuyện nào có dính chút đến khoản máy bay bất kể cánh quạt hay phản lực là y rằng thấy mặt chú  :o


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taydoc711 trong 22 Tháng Tám, 2009, 03:18:35 PM
Hè hè tớ cứ thấy câu chuyện nào có dính chút đến khoản máy bay bất kể cánh quạt hay phản lực là y rằng thấy mặt chú  :o

 Ơ!em của bác thì không giống nhau à?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 22 Tháng Tám, 2009, 05:17:39 PM
Bác Trongc6 : cái nông trường đó có nhiều bà con Việt kiều ở Thái Lan và Tân Đảo lắm, họ về nước đầu những năm 60, nhiều cô xinh hơn con gái Hà Nội đấy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: pain trong 22 Tháng Tám, 2009, 05:21:36 PM
Úi giời! Đúng chỗ rồi bác Trong ơi. Đại trưởng em trinh sát chỗ này kỹ lắm ;D Nắm hết qui luật hoạt động và quân số bác ạ ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 22 Tháng Tám, 2009, 08:21:54 PM
      Bác Phong Quảng chỗ nào cũng tỏ, cứ như ma xó ấy. Chịu bác thật.
     Mà cũng phục bác thật đấy, vì cái vụ trở lại chốn xưa ấy. Bác biết rõ những nơi cũ bây giờ ra sao, còn tôi trong đầu chỉ còn toàn hình ảnh cũ.

     Bác Quảng ơi, mạn phép cho em hỏi:
- Thế bây giờ cô giáo Hoa của em ra sao rồi?

     Em như người lính trong "Tây tiến", một đi không ngoái đầu trở lại, thành ra đi đến đâu cũng có lỗi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: thaynhin trong 23 Tháng Tám, 2009, 09:29:50 AM
 Chuyện bác TrongC6 làm em nhớ lại dịp 1979 đi lính dự nhiệm ở Sơn Tây.
 Đó là dịp 9/!1979 rất căng thẳng ở biên giới phía bắc,em là loại được đi học chưa phải làm nghĩa vụ quân sự.Nhưng có vẻ to hơn các bạn vào học ĐH Tổng hợp chút(bây giờ thì em rất nhỏ con sau bao năm vật lộn với nhân gian ),nên sếp vào diện đi BỘ ĐỘI DỰ NHIỆM ngày đó,khác với các bạn cùng lớp chỉ tập quân sự và lao động tại trường ngay tại Hà Nội.
 Nghĩ lại ...thấy mình ngày ấy ..hoàn cảnh quá!Được nên Sơn Tây,được phát 2 bộ quần áo đủ để tập tành như người lính là khoái rồi(đỡ... mòn mấy bộ quần áo dân sự của mình...he he..).
 Lúc đi nhà trường cũng làm lễ giao quân như nhập nghũ chính thức,xe đưa tới tận Sơn Tây,giao quân ở ĐÊN VÀ(đó là lần đầu đến đây).Lúc về trường có nghe đài Tiêng nói ViêtNam đọc bài thơ Hoa Đại ở Đền Và,bạn nào là tác giả bài thơ này có cùng kỷ niệm xin liên lạc với mình nhé!
Mình nhớ xe đi qua Hà Đông,rồi đi lối nào không biết nữa và đỗ ở gần thành cổ Sơn Tây,nó cổ lắm và hoang tàn nhuốm màu thời gian hơn bây giờ nhiều.Mình cũng thích và có máu XEM NGẮM từ ngày đó,vậy nhưng không dám đi xa xe(sợ lạc,vì có biết đâu là đâu?!).Vậy mà cu Hoan(bây giờ bán buôn vòng bi ở gần Ga Hà Nội) do háu đói dã đi ăn phở và. ..bị lạc.Xe về đến Đền Và thì cán bộ cũng biết và các tân binh CCB bảo và tin là nó tự đi bộ vào.Rồi cỡ 45 phút người tồ tồ đi bộ vào thật,phải vài ba Km chứ ít đâu!
Rồi tập tành,rồi giải dây thông tin ...như thật.Bắn đạn thật mình được 29 điểm,chỉ sau có Khánh được 30 điểm(và tiện đây có lời thăm tới gia đình Khánh vì bạn đã mất cách đây gần 10 năm,như một nén hương tưởng nhớ bạn!).Vậy cũng là giỏi,lính Sinh Viên bắn kém lắm.Tuy vậy mình tin là sau 3 tháng mình có thể đi phục vụ quân đội được.Vậy nên các chiến hữu đi giải phóng K mà không được tập tành chu đáo làm mình chạnh lòng lắm!!!
  Nhưng kỷ niệm nhớ nhất là...rét,rét tê người mất cả ngủ mà mình phải chịu!Mình nhớ lúc đi là mùa thu(tháng 9),rồi mùa đông đến.Mấy ông lính cựu khôn hơn,tìm đôi căp lại với nhau và anh Điều thì ngủ chuyên với Thêm (con bà chủ,A Điều giờ ở Viễn thông Lạng Sơn),vậy là lẻ mình một vỏ chăn!!!Nhở vậy mình hiểu sâu hơn cái lạnh tả trong vụ TẬP KÍCH CỨU TÙ BINH phi công Mỹ bị giam ỏ Sơn Tây năm 1970 hơn.
  Mình được anh Thắng (Cựu Binh) tư vấn gập màn vào vỏ chăn,thấy đã cải thiện rất nhiều(bao nhiêu quần áo mặc tất cả khi đi ngủ).Thật là một cơ hội rèn thành thép!
 Kỷ niệm đẹp về nghệ thuật ngày đó là tiếng ghi ta của bác Thắng trố,tuy không đỉnh bằng bạn ở bên Đại Học Thủy Lợi nhưng vẫn đọng lại trong em đến bây giờ.
 Mình nhớ hôm trực ban,lúc chiều đi tưới rau(chúng tôi cũng tăng gia để tô màu xanh cho cuộc sống).Làm vài ôdoa nước là rau được thỏa mãn nước.Đương nhiên là tôi tham ô thởi gian để ...lãng mạn!Trèo nên ngọn đồi phía sông Tích,ngồi nên mấy ngôi mộ cổ ngắm cảnh hoàng hôn.Có vụ này tôi mới rõ cảnh đăc tả hoàng hôn ở các sách vân học,thật là là thả hồn.Tuy vậy cũn có sự cố xảy ra,ở nhà báo động kiểm tra tài sản(tôi quên tên gọi chính thức rồi),báo hại là tôi ngồi góc khuất và thả hồn tự do nên không hề nghe được còi báo động...và cứ ngắm tiếp.Lúc ngắm chán tự ra về thì gặp toàn C đang tập trung ở bãi ngay sườn đồi bên cạnh,tôi ngoại phạm vì đi tăng gia,nhưng A trưởng vẫn hỏi nhỏ mầy ở đâu vậy?
Vậy đó mà đã 30 năm,bạn nào có cùng thời gian quân ngũ ở khu vực Đền Và năm ấy xin liên lạc,các bạn đang ở đâu?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Mùa Thu trong 23 Tháng Tám, 2009, 10:52:13 AM
Chuyện các bác viết hay quá, đầy tính nhân văn . MT mong các bác viết tiếp ạ.MT cảm ơn các bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: baoleo trong 23 Tháng Tám, 2009, 11:26:53 AM
Bác Trongc6 : cái nông trường đó có nhiều bà con Việt kiều ở Thái Lan và Tân Đảo lắm, họ về nước đầu những năm 60, nhiều cô xinh hơn con gái Hà Nội đấy.

Bác Phong Quảng nhớ thật.
Đúng là khu vực đấy, bà con Việt kiều Thái nhiều thật.
Năm 80, em ăn cơm mãi cùng với bà con Thái trong cái xóm ở bến phà Đúng-Hòa Bình.
Còn nhớ, những năm 80, khi vực đấy thật hoang vu-chẳng hiểu sao bà con Việt kiều ở Thái về, lên đấy sống từ những năm 60-62, có thể quen được với cái xó rừng hoang vu đó.
Ở cái xóm Thái lan bên bến phà Đúng đấy, em lần đầu biết cái dây chun vòng, đường kính bằng cổ tay (bây giờ thì bạt ngàn), gọi là chun Thái Lan. Chẳng hiểu sao cô gái đấy còn giữ được một bọc tướng. Cô bé nói là kỷ niệm về Thái lan, giữ lại từ năm 62, khi ấy còn là cô bé 3 tuổi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 26 Tháng Tám, 2009, 07:18:58 PM
….
   Cái bản mà chúng tôi đến đóng quân trong đợt dã ngọai cuối cùng này nằm ngay bên đường quốc lộ, địa hình bằng phẳng. Tôi không còn nhớ tên bản, nhưng từ đó mà đi xuống Ninh Bình thì cũng không còn mấy xa. Bản ở gần một cái hồ nước lớn, không có suối, cách khá xa rừng. Cả đại đội chia nhau ở nhờ trong các nhà dân. Nhà sàn khá to, vững chãi. Các C khác trong tiểu đoàn cũng đóng ở các bản xung quanh. Vùng dân cư này khá tập trung, đông đúc.

               Thời gian ở đây chúng tôi tập trung tập tành chiến thuật. Đất đồi toàn sim, mua ở đây rất rộng, chạy mỏi chân. Chúng tôi tập nốt bài 3 bắn ban đêm. Hầu như phải đi tập đêm nhiều nên nhiều khi không phải sinh hoạt. Có thể nói là thời gian này khá thoải mái, vì dù sao cũng đang ở trong dân. Đơn vị lại mua củi của dân bản tại chỗ nên chúng tôi không phải vào rừng lấy củi. Mà có đi lấy, chắc cả ngày cũng không được một bó vì xa quá.
   
             Chúng tôi bắn bài 3 vào một đêm trăng mờ. Mỗi người được phát 10 viên đạn. Bắn găm, bắn gần hết 2 loạt, còn 3 loạt nằm bắn bia đèn dầu (lỗ châu mai giả định). Hai bia bắn găm, bắn gần tôi đều bắn trúng. Bia đèn tôi nã loạt đầu trúng ngọn lửa tắt ngấm. Đèn châm lên, tôi lại bắn trúng, tắt đèn. Châm tiếp lần nữa thì tôi bắn gẫy cả bấc đèn. Tôi bắn đạt loại xuất sắc (vì loạt bắn nào cũng trúng), nhưng không được thưởng phép vì chúng tôi sắp về nghỉ phép cả lượt để đi B rồi. Tôi chỉ được biểu dương.
   
            Thời gian đó có một lần chúng tôi được tập trung nghe kể chuyện chiến đấu ở chiến trường. Người kể chuyện là anh hùng Trịnh Tố Tâm. Khi đó anh là C trưởng công binh, chuyên phục kích đánh địch ở khu đèo Hải Vân. Chuyện anh kể về phục kích, diệt địch với đầy mưu mẹo về lập tình huống này nọ để đưa địch vào bẫy mà nghe ngon lành cứ như tập đánh trận giả. Tôi vẫn nhớ rõ con số tên địch mà cá nhân anh tiêu diệt là 153. Buổi nói chuyện của anh đã thổi thêm luồng khí nóng vào nhiệt huyết chúng tôi, khiến chúng tôi cũng náo nức muốn ra trận ngay lập tức.
   
            Gần cuối tháng 1/1972, chúng tôi còn phải tham gia một đợt dã ngoại nhỏ 3 ngày nữa lên một vùng núi cao cách nơi ở chừng ba chục cây số. Các chỉ huy nói là vùng núi đá này có nhiều chỗ giống với Trường Sơn. Khi ấy leo cũng thấy mệt mỏi, rã rời lắm, nhưng sau này vào Trường Sơn nhớ lại thì cái núi ấy chẳng thấm tháp vào đâu. Trên đỉnh núi cao ấy thế mà cũng có một bản dân tộc có độ hơn chục nóc nhà. Đặc biệt ấn tượng là có hoa đào và hoa mai đã lác đác nở. Lại còn hoa Lan nữa chứ. Tôi không tường nhiều về loài hoa này nhưng trông những nhành hoa Lan trắng muốt trên các cành cây cổ thụ trên núi cao này thì cũng thấy xao xuyến lòng. Nghe nhiều đứa nói ở Hà Nội hoa lan đắt và quý, các cụ rất thích chơi. Chiều và đêm đóng quân ở đó, mấy thằng lính nhà ở khu phố cổ hì hục đi xin và nhờ dân lấy giúp. Lúc xuống núi cũng có bảy tám đứa mang theo được nhành lan về làm quà tết cho gia đình.
   
          Tập tành xong rồi, bắn đạn thật và đi dã ngoại núi cao rồi, nên tuần cuối cùng với chúng tôi khá thảnh thơi. Chủ nhật chúng tôi còn được nghỉ để đi chợ. Cách chỗ chúng tôi chừng 2 cây số có một cái chợ to họp theo phiên, giống như chợ vùng trung du mà tôi đã gặp. Lính tráng rủ nhau đi chợ khá đông. Có 2 thứ được lính mua nhiều là cau khô và măng khô. Tôi chọn mua nửa cân măng khô, nhớ tới nồi canh măng tết có chút ít sườn và móng giò cùng ít hành củ trắng bóng mẹ tôi thường nấu. Lính năm đồng, cũng chẳng thể muốn gì hơn.
   
           Một buổi, tôi được cử xuống giúp anh nuôi. Tiêu chuẩn ăn của lính vốn đã cao hơn ở nhà, nay chuẩn bị tết nên càng tươi hơn. Bếp ăn làm tạm bên rặng tre, cạnh một nhà sàn nơi BCH đại đội trú quân. Cửa ngách nhà sàn mở ra, trông thẳng xuống bếp nấu. Cơm canh nấu xong thì chia cho các A đem về nhà ăn chứ không ăn tập trung. Tôi được trông nồi thịt lợn luộc. Lúc nồi thịt vừa chín, tôi đang mở vung hít hà mùi thơm và lấy cái đũa chọc vào xem chín hết chưa, thì C phó Hảo từ trên nhà sàn thò đầu xuống gọi to:
   
         - Cắt cho tớ một miếng nếm xem nào.
   
          Tôi xiên một miếng thịt to chừng nửa cân ra khỏi nồi, cắt đôi. Một phần độ một lạng còn phần kia to hơn. Tôi đưa miếng nhỏ lên cho thủ trưởng Hảo. Thế mà thủ trưởng không chịu, bắt tôi đổi miếng to. Rồi cứ thế, thủ trưởng điềm nhiên dùng dao găm tỉa miếng thịt ấy ra nếm bằng hết, rồi khen chín rồi đấy, mặc kệ cho thằng tôi đứng dưới đất nuốt  hết cả nước bọt của mình vì thèm. Hình ảnh đó in đậm trong tôi đến mức nhiều lúc tôi chỉ nghĩ mục tiêu phấn đấu của mình trong quân đội chỉ đơn giản là làm sao lên được đến đại phó để có lúc được nếm gần nửa cân thịt lợn luộc cho nó thỏa mãn cái đời.
……



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 26 Tháng Tám, 2009, 08:52:30 PM
mục tiêu phấn đấu của mình trong quân đội chỉ đơn giản là làm sao lên được đến đại phó để có lúc được nếm gần nửa cân thịt lợn luộc cho nó thỏa mãn cái đời.
Anh nuôi có cái "lợi thế cạnh tranh" mà bác TrongC6 không biết dùng. Bọn tôi một bữa trong cơm có cục mỳ sợi to vón cục bị một ông nhiều di-ốp hắt ra ngoài. Một thằng không đeo kính kêu "từ từ", nhìn kỹ lại hoá ra một cục thịt nạc to bằng nắm tay. Phán đoán là chị nuôi A vùi cục thịt vào nồi cơm mới cạn thì chị nuôi B đảo chảo. Thế là các sĩ quan mới được chia 6 cái phần của 1 chị.
(sửa vì nhầm, khi mới SQ)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: qua_den trong 02 Tháng Chín, 2009, 02:33:51 PM
Tìm hiểu việc bắt chuẩn tướng Lý Tòng Bá, e tìm ra duoc hồi ký của đại tá ĐINH HỮU TẤN  nội dung
TẤM CĂN CƯỚC CỦA CHUẨN TƯỚNG LÝ TÒNG BÁ pót lên để các bác đánh giá
 
(http://thumb2.webshots.net/t/51/151/0/55/53/2356055530031690022LdySqx_th.jpg)
Lý Tòng Bá   giờ hiện ở USA
Với trung đoàn 48, Sư đoàn 320, Quân đoàn 3, trận đánh căn cứ liên hợp Đồng Dù-Củ Chi ngày 29-4-1975 thật sự là một trận đánh ác liệt.

 

Trong chiến dịch Tây Nguyên, trung đoàn tiêu diệt đồn Chư Sê ngày 7-3. Tiếp đó ngày 8-3, tiêu diệt chi khu Cẩm Ga-tức quân lỵ Thuần Mẫn, rồi phát triển đánh chiếm thị xã  Cheo Reo cùng sư đoàn truy kích địch rút chạy trên đường 7, bắt sống hàng nghìn tù binh thuộc lực lượng quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy, giải phóng thị xã Tuy Hòa. Cả trung đoàn hy sinh 21 chiến sĩ. Trong trận đánh căn cứ Đồng Dù, nổ súng mở 12 hàng rào dây thép gai xong lúc 5 giờ mà đến 9 giờ 30 phút, bộ đội ta vẫn chưa vào được bên trong căn cứ của địch vì Lý Tòng Bá, chỉ huy sư đoàn 25 của ngụy kiêm chỉ huy trưởng căn cứ liên hợp này đã phái 12 chiếc xe tăng ra bịt cứng cửa mở. Y còn động viên binh lính dưới quyền: “Các chiến hữu cứ yên tâm chiến đấu, để tôi xem bọn cán binh Bắc kỳ “bụng toàn rau muống” này còn giở  được trò gì nữa” (tin ta thu được của bộ phận kỹ thuật A50 theo dõi sự chỉ huy của địch). Do vậy, khi trung đoàn dùng hỏa khí chống tăng bắn cháy được một số xe tăng của địch, bộ đội ta mới xung phong được vào bên trong căn cứ.

 

Trong trận này, anh  Lê  Quang Bình,  Trung đoàn trưởng (hiện nay anh Bình là Ủy viên thường vụ, Trưởng ban dân nguyện của Quốc hội khóa XI), tôi là Chính ủy trung đoàn. Chúng tôi kêu gọi các phân đội lùng bắt cho được Lý Tòng Bá, nhưng mãi gần tối mới bắt được tên tướng này. Khi ấy Lý Tòng Bá đã trút bỏ bộ quân phục, nói dối với bộ đội ta y là thầu khoán dân sự vào trong căn cứ để xây dựng nhà cửa cho quân sự thuê, nên bộ đội ta đã thả cho  y chạy trốn ra bến xe  Củ  Chi, ngồi đợi xe ca trốn về Sài Gòn.  May nhờ có các cô du kích Củ Chi chỉ cho bộ đội ta đi tuần tra nên bắt được tên tướng rất nhiều tham vọng này. Khi anh em giải Lý Tòng Bá đến, tôi bắt trình và giữ luôn thẻ căn cước của hắn. Kết thúc trận đánh, hoàn thành nhiệm vụ “mở cánh cửa sắt ở tây bắc Sài Gòn” để cho Sư đoàn 10 và các đơn vị phối  thuộc làm nhiệm vụ thọc sâu của quân đoàn tiến vào đánh chiếm các mục tiêu lớn như sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu quân đội ngụy, trung đoàn đã hy sinh 61 chiến sĩ gấp 3 lần số liệt sĩ của trung đoàn đã hy sinh trong 25 ngày của chiến dịch Tây Nguyên.

 

Tôi đã giữ chiếc căn cước của tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá cho đến nay. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử của dân tộc ta, của quân đội ta, tôi đã báo cho anh Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, xin tặng lại hiện vật này cho nhà bảo tàng.

 

Trích Sự Kiện & Nhân Chứng

Ngày 22 tháng 04 năm 2005

ĐDTB, ngày 18/12/05



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: MUCTAU trong 03 Tháng Chín, 2009, 03:18:05 AM
 Thức nguyên đêm đọc lại topic này . Bác Trọng kể chuyện chống fulro đi . Ngày trước nghe mấy anh ở đ/v biên phòng kể hay lắm .
 Nữa đi anh !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 04 Tháng Chín, 2009, 06:32:19 PM
Hôm nay hội lính 4/9/71 chúng tôi tổ chức gặp mặt nhân 39 năm ngày nhập ngũ tại quán Lã Vọng 181 Đê La Thành. Tất cả chừng 200 người.
Ngoài đoàn văn công, khách mời chừng bảy tám chục người thì lính 4/9/71 chúng tôi cũng đủ hơn trăm. Đợt bọn tôi đi là 1800 thằng, nhưng chỉ có chừng 450 thằng vào 2 E của F968. Các thủ trưởng cũ của 2 E 9 và 19 về dự nhiều. Đại tá nhiều nhưng không có tướng (Bác L.K. Phiêu, bác Vũ Xuân Sinh không tới dự).
Hò hét như trẻ con, cười đùa hết mình.
Nhiều thằng giờ là tổng GĐ các công ty nên tài trợ nhiều, kinh phí thoải mái.
Ra về khản hết cả cổ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: binhyen1960 trong 04 Tháng Chín, 2009, 10:31:46 PM
 Bên bác tổ chức vui thế , chắc bia và gụ chảy thành suối . Cho em ké chia vui với các bác , chúc các bác hàng ngày có thêm niềm vui hơn nữa , nhưng cũng nên uống ít thôi để còn ra về trong an toàn .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 05 Tháng Chín, 2009, 08:15:04 AM
( Lại tắc bọp tiếp vài phát súng lẻ làm nền cho chuyện chiến đấu của bác Bình Yên bên "Mũi chính diện...")
------

              Những ngày đầu tháng 2/1972, tiểu đoàn huy động các C cử người ra khu ruộng cạn của dân cạnh đường cái để đắp sân khấu. Không hiểu cái đợt nhập ngũ của chúng tôi có tầm quan trọng gì mà được ưu tiên nhiều thế. Độ trước thì được Đại tướng đến thăm. Bây giờ nghe nói là sẽ được đón đoàn văn công TCCT về biểu diễn. Với lính tráng thì đơn giản nhất là đắp sân khấu đất. Chả phải tốn vật liệu gì, còn công lính thì yên tâm đi, nhiều như… nước sông mà.

              Ngày thứ bảy đầu tiên của tháng 2 đó, đoàn văn công về thật. Chúng tôi được ăn cơm chiều sớm rồi hành quân tập kết đến khu sân khấu. Cả tiểu đoàn ngồi thành hàng lối, súng ai nấy cầm, để tựa vai và tất nhiên là không có đạn. Đoàn văn công về biểu diễn chủ yếu là hát, nhạc và độc tấu nhạc, không có múa. Tôi chỉ còn nhớ nhất diễn viên Kim Quy hát bài "Người ở đừng về". Tất nhiên là còn nhiều tiết mục hay khác nữa.

               Sáng hôm sau, cả tiểu đoàn báo động sớm, sắp xếp ba-lô rồi nhận lệnh hành quân về Hà Nội. Đợt dã ngoại xa này đã kết thúc đợt huấn luyện quân và chúng tôi chuẩn bị vào chiến trường. Tiểu đoàn trưởng đọc lệnh hành quân, tuyên bố chúng tôi đã hành quân dã ngoại mang vác nặng đủ 400 cây số. Còn thiếu 100 cây nữa mới đủ tiêu chuẩn đi B, thì từ đây về Hà Nội hơn 100 cây sô, cộng vào là đủ tiêu chuẩn. Thế là cả đoàn quân hăm hở lên đường. Không hiểu sao buổi sáng hôm ấy phấn khích lắm, không thấy mệt bao nhiêu. Thằng Thái Pi-tơ (và cả nhóm 4 thằng anh nuôi) được biên chế vào các B để đợt này vào Nam luôn, không phải ở lại làm anh nuôi nữa. Cái ba lô của nó lép xẹp, lại không phải mang súng (còn soong nồi thì ô-tô tiểu đoàn đã chở đi rồi, kỳ này chúng tôi tập nấu ăn theo từng A), nên nó phởn chí vừa đi vừa hát. Thằng này có biệt tài âm nhạc. Nó hát lại đúng theo các bài mà các anh chị văn công đã hát tối qua. Nó uốn giọng theo diễn viên, kể cả giọng nữ nghe cũng lả lướt mềm mại lắm. Nó làm chúng tôi không thấy mệt vì như được nghe lại buổi biểu diễn. Đoan đường rút ngắn lại dần.

               Tôi còn có một niềm vui khác ở nông trường cam. Lần này tôi không được đi tiền trạm, nhưng nếu đêm nay dừng chân ở khu nông trường cam bữa trước thì tôi cũng sẽ gặp được Hoa. Sẽ có người giúp tôi tìm Hoa, đó là vợ chồng cô giáo người Kinh, chủ nhà bữa đó tôi ở.
             Nhưng số phận con người ta quả là do ông trời sắp đặt. Khi còn cách nông trường cam rất xa thì đơn vị tôi lại rẽ theo một con đường khác để về Hà Nội theo hướng Kim Bôi. (con đường này là đường 128 hay gì đó, nghe nói do TNXP làm từ thời mới hòa bình 1954). Tôi hẫng cả người, rồi từ đó cứ lầm lũi đi, không còn nghe cả tiếng thằng Thái "pi-tơ" hát hay thôi lúc nào nữa. Tôi còn phải nghĩ vơ vẩn về cô giáo Hoa cho đến hết ngày hành quân đó. Thôi, số trời là vậy. Nhưng chắc Hoa cũng chẳng giận tôi hay phải buồn nhiều, vì tình cảm của chúng tôi chưa có bao nhiêu. Rồi cô ấy sẽ nhanh quên tôi. Nhưng có lẽ cô ấy cũng trách cái thằng trai Hà Nội không có được cái thật mộc mạc của những người dân tộc như cô. Tự nhiên tôi lại nghĩ quẩn là nếu vào trong kia, tôi ngã xuống trong một trận đánh nào đó, rồi tin tôi hy sinh được báo tới cô, thì khi đó cô sẽ ra bên bờ suối cạnh trường, nơi có những vườn cải xanh mướt, ngồi khóc một mình rồi tha thứ hết cho tôi. Hoa ơi, thôi anh đi đây. Bao giờ anh cũng là người có lỗi mà chẳng biết làm thế nào được. Đành đổ lỗi tất cả cho chiến tranh vậy, em nhé.

              Cũng từ đó, tôi không còn tin gì của Hoa và cũng không bao giờ gặp lại cô ấy nữa.
   …

               Tối hôm đó chúng tôi dừng chân ở một bản Mường thuộc huyện Kim Bôi. Không phải sinh hoạt nhiều, nhưng có một việc phải làm là mỗi lính chuẩn bị một bó củi độ 5 kg. Củi sẵn đầy sân, dân cho, chỉ việc sắp lại và bó cho gọn. kế hoạch là ngày mai chúng tôi sẽ dừng chân ở Quốc Oai, đem sẵn củi ở rừng về để không làm phiền dân.

              Ngày hôm sau, cả đơn vị hành quân cẳt qua Lương Sơn, đường số 6 về Quốc Oai. Chúng tôi nghỉ nhờ ở một xã khác chứ không phải cái xã hôm chúng tôi lên Hòa Bình 6 tháng trước. Về đến đồng bằng, lại đúng ngày 23 ông Công ông Táo, nên không khí tết đã rõ rệt lắm, dù khi ấy thành thị nông thôn đều nghèo như nhau. Phú quý mới sinh lễ nghĩa. Ngày đó cả nước nghèo nên ngày 23 cũng chỉ là ngày nhắc nhở sắp tết thôi, không có cúng lễ lằng nhằng như sau này. Nhưng dù sao cũng có chút không khí tết. Ở phố thì nhộn nhịp tem phiếu mua chút hàng tết, còn nông thôn thì đã chuẩn bị lá dong, đụng lợn, tát ao bắt cá… nên cũng náo nức.

              Cuối chiều ngày thứ ba của cuộc hành quân huấn luyện cuối cùng, chúng tôi về đến Đại Mỗ, Hà Đông. Hôm đó là ngày 24 tết rồi. Thế mà chúng tôi còn phải nằm lại Đại mỗ, học chính trị, lau chùi súng ống nộp kho thêm 3 ngày. Lạ cái là không khí Tết sát đít, hồ Hoàn Kiếm chỉ cách xa nơi này có 14 cây số, thế mà không ai chuồn. Đến chiều ngày 11/2 (27 tết) chúng tôi tập trung nghe BCH từng C phổ biến kế hoạch nghỉ phép, ngày tập trung trở lại. Chúng tôi nhận tiêu chuẩn tết (tôi không còn nhớ có những gì, chỉ nhớ 1 điểm đặc biệt là mỗi lính được một bao thuốc lá Thủ Đô bao bạc, hàng cao cấp lúc bấy giờ) rồi giải tán, tự túc về nhà. Vậy là đợt chúng tôi lại có thêm một cái may mắn nữa là nghỉ phép chuẩn bị đi B đúng dịp tết.

               Từng toán lính áo quần bụi bặm, ba-lô kềnh càng (lúc đó chúng tôi mang cả chiếu cói cá nhân, thằng nào có cành Lan rừng lấy ở núi Tân Lạc về mang theo còn lỉch kỉch hơn) bổ ra thị xã Hà Đông, ra bến tàu điện. Lính tráng lên ngồi chật cả 3 toa tầu điện. Lại một cái may nữa là không ai phải mất tiền vé, dù từ đó về bến Bờ Hồ dài nhất tiền vé cũng chỉ có 1 hào. Có lẽ cả mấy chuyến tàu điện Bờ Hồ - Hà Đông tối đó cũng thế, các bác tài và bán vé tàu điện đã úy lạo cho cả một tiểu đoàn lính Thủ Đô, con em của họ chuẩn bị ra chiến trường.

              Bảy giờ tối hôm đó, ngày 11/2/1972, tức là ngày 27 tết Tân Hợi, tôi về đến ngôi nhà sau hơn nửa năm trời xa vắng.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 05 Tháng Chín, 2009, 09:18:49 AM
...Nhưng số phận con người ta quả là do ông trời sắp đặt. Khi còn cách nông trường cam rất xa thì đơn vị tôi lại rẽ theo một con đường khác để về Hà Nội theo hướng Kim Bôi. (con đường này là đường 128 hay gì đó, nghe nói do TNXP làm từ thời mới hòa bình 1954). Tôi hẫng cả người, rồi từ đó cứ lầm lũi đi, không còn nghe cả tiếng thằng Thái "pi-tơ" hát hay thôi lúc nào nữa. Tôi còn phải nghĩ vơ vẩn về cô giáo Hoa cho đến hết ngày hành quân đó. Thôi, số trời là vậy. Nhưng chắc Hoa cũng chẳng giận tôi hay phải buồn nhiều, vì tình cảm của chúng tôi chưa có bao nhiêu. Rồi cô ấy sẽ nhanh quên tôi. Nhưng có lẽ cô ấy cũng trách cái thằng trai Hà Nội không có được cái thật mộc mạc của những người dân tộc như cô. Tự nhiên tôi lại nghĩ quẩn là nếu vào trong kia, tôi ngã xuống trong một trận đánh nào đó, rồi tin tôi hy sinh được báo tới cô, thì khi đó cô sẽ ra bên bờ suối cạnh trường, nơi có những vườn cải xanh mướt, ngồi khóc một mình rồi tha thứ hết cho tôi. Hoa ơi, thôi anh đi đây. Bao giờ anh cũng là người có lỗi mà chẳng biết làm thế nào được. Đành đổ lỗi tất cả cho chiến tranh vậy, em nhé.

              Cũng từ đó, tôi không còn tin gì của Hoa và cũng không bao giờ gặp lại cô ấy nữa...


Đoạn đối thoại với bản thân của bác thực, mộc mạc mà sâu lắng quá, đúng với tâm tư lính trẻ HN. Mà cũng mấy ai viết ra với tận cùng suy nghĩ, trải lòng thanh thản, bác Trongc6 ôi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 05 Tháng Chín, 2009, 09:41:26 AM
@ Bác Trongc6: Tết năm đó tôi chỉ đi chơi với lính 48, 52 các bác. Đêm giao thừa, mùng 1, mùng 2, tôi vẫn nhớ mấy tên Tùng, Thắng  ở Hàng Trống và Phan Thế Hùng. Năm đó đi chơi Hàng Bài ( Phố Tẩy ) va chạm với học sinh miền Nam, HSNM quây kín hai đầu phố Hàng Trống vào phút chót nhận ra vài mặt quen là giải tán. Sau này tôi có gặp Thắng f968 bị thương ở chân và nhà đã về Khâm Thiên, những người này bác có biết không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 10 Tháng Chín, 2009, 06:43:22 PM
Bác PhongQuang:
Bác biết nhiều anh em trong đơt lính bọn tôi. Chắc gặp nhau sẽ có ối chuyện để nói.
C tôi lúc đó có Thắng "bột" Hàng Trống, nhưng nó bị thương vào mắt phải.
(Thôi, tiếp một đoạn nữa hồi ức về ngày đó:)

-------------------

     … Mươi ngày phép thật bận rộn. Thằng nào có chút bạn gái học cùng lớp hẹn hò thì tha hồ mà bận. Tán quanh tán quẩn, nhớ thương nhau kiểu gì thì cũng không thoát khỏi câu nói kinh điển thời chiến khi đó là "hẹn ngày chiến thắng", hoặc "hết chiến tranh anh sẽ về". Lãng mạn và thơ mộng thế đó, dù rằng sau đó có nhiều thằng về trước cả ngày chiến thắng. Đó là khi các cậu bị thương đủ tiêu chuẩn để ra Bắc, nhưng lúc đó chẳng ai nghĩ đến tình huống này. Thằng Tuấn "đen" ở Khâm Thiên có cô người yêu xinh như mộng (Xinh tới mức không muốn cho những thằng lính khác trong đơn vị gặp mặt vì… ghen). Cô nàng nũng nịu chia tay lúc lên đường bằng câu: "Hẹn anh nửa năm sau. Em chỉ cho anh đi sáu tháng thôi đấy". Không ngờ câu nói đó ám ảnh nó suốt. Sáu tháng sau, thấy chẳng có vẻ gì là hết chiến tranh cả, thằng Tuấn "đen" nghĩ quẩn chọn đường về bằng cách tự thương vào tay. Quân y phát hiện ra ngay. Nó bị hành thêm 18 tháng gian lao nữa mới được tước quân tich đuổi ra Bắc.

               Nhưng đó là chuyện sau này. Còn tết đó chúng tôi đi chơi thả phanh. Ngoài chuyện thăm hỏi chia tay họ hàng, bạn bè, ăn tết cùng gia đình ra, chúng tôi lại í ới tụ tập nhau. Ngày ấy chưa có điện thoại gia đình. Sang thì bon xe đạp tìm nhau, không thì cuốc bộ hay nhảy tàu điện. Ra Bờ Hồ, ra công viên Thống Nhất chụp ảnh kỷ niệm, quân phục bèo nhèo, xộc xệch. Có tối thì rủ nhau ra Quán Gió hay hiệu Bốn Mùa, ăn kem và uống cà-phê. Bỏ bao thuốc lá Thủ Đô ra hút khoe với thiên hạ. Hôm giáp tết còn tập trung ở Cột Đồng hồ xem đài "Tàng hình" phát thử chương trình truyền hình thời sự. Đêm giao thừa rồi đêm mồng một, mồng hai Tết, toàn là lính cứ quấn lây nhau mà đi chơi. Cùng một sắc áo bạc màu, nhận ra nhau ngay, gặp nhau chan chát trên phố. Cụm lại tán chuyện ầm ĩ, cứ như Hà Nội chỉ có mình, rồi lại xé lẻ từng nhóm tiếp tục "bát" phố. Rồi lại giăng nhau từng đàn đến hai chục đứa chật một góc phố, nghiêng ngó lần cuối khung cảnh Thủ Đô. Có đêm đi chơi tới mấy giờ sáng mới về.

               Bố mẹ cũng không kêu ca như thời còn đi học. Hầu như cái gì ngon cũng được tập trung cho ăn. Chẳng phải là bồi dưỡng sức quân gì đâu, mà là các cụ thương con, không biết sau này có còn được trở về nữa hay không. Nhưng thật tình lúc đó chẳng ai nghĩ đến tình huống xấu. Còn chính cái sự chơi bời nghịch ngợm vô tư của chúng tôi khi đó cũng làm cho các bậc phụ huynh bớt đi phần nào lo lắng.

              Ngày 24/2, hết đợt phép ba thằng bạn cùng lớp 10 (chúng nó là diện con một hoặc đã có anh trai đang ở chiến trường nên không phải đi lính) đèo xe đưa tiễn tôi vào tận Đại Mỗ. Tôi bị chậm một ngày phép. Sáng sớm nay cả tiểu đoàn đã hành quân về hướng Vân Đình xuống Hà Nam rồi. Anh Thụy (B phó) đang chờ đón mấy thằng lính muộn chúng tôi, chừng hơn chục thằng. Tối đó chúng tôi ăn cơm và nghỉ lại nhà dân. Ba đứa bạn học cũng cùng ăn cơm và ở chơi với chúng tôi tới khuya mới về.

               Thế là kết thúc huấn luyện, kết thúc những ngày ở Bắc. Từ ngày mai, chúng tôi sẽ chính thức bước chân lên đường vào chiến trường.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 30 Tháng Chín, 2009, 06:59:49 PM

              Sớm hôm sau anh Thụy dẫn chúng tôi ra bến xe ô-tô Hà Đông. Lính tráng góp tiền mua vé xe đến Vân Đình. Anh Thụy bảo phải đi ô tô cho kịp. Tới Vân đình cả bọn xuống xe đi bộ sang tỉnh Hà Nam.

              Đoạn đường cũng chỉ độ non chục cây gì đó thôi, vì chúng tôi tìm đên đơn vị thì cũng còn kịp ăn cơm trưa. Nơi ấy là xã Đại Kim, huyện Kim Bảng, Hà Nam. Tất cả đều ở trong nhà dân, nhưng hình như nơi đây có một cái trạm nào đó thì phải, vì có nhà bếp, có anh nuôi nghiêm chỉnh, nấu cơm bằng cái chảo gang to tường. Đến bữa ăn là đi ăn tập trung.

               Hôm sau chúng tôi học chính trị. Cấp trên không phổ biến cụ thể, chúng tôi chỉ cần biết là đi B, thế là đủ. Chính trị viên Trần Tính người Thanh Hóa có một bài chính trị vô cùng ấn tượng, nó theo suốt tôi những ngày quân ngũ và cho đến nay tôi vẫn còn nhớ, cứ như mới được nghe vừa hôm nào đấy thôi. Cái giọng xứ Thanh nằng nặng quyện chất thuốc lào khi đã nghe quen thì mê li lắm. Ông bảo:

              " Các đồng chí là lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh. Các đồng chí đang được hưởng một niềm vinh dự lớn lao mà không một thế hệ nào có được. Đó là được đánh Mỹ và sẽ đánh thắng Mỹ. Niềm vinh dự và tự hào này sẽ không bao giờ còn có nữa. Đến đời con, đời cháu các đồng chí, dù có muốn cũng không còn Mỹ nữa mà đánh. Các đồng chí hãy vững bước lên đường. Quê hương luôn chờ tin chiến thắng của các đồng chí. Chúc các đồng chí lên đường mạnh khỏe, lập công và chiến thắng trở về".

               Những bài học chính trị không bao giờ thừa. Còn khoác áo lính là còn học chính trị thường xuyên. Nhưng ấn tượng với tôi chính là điều CTV Trần Tính khẳng định rằng chính thế hệ chúng tôi sẽ đánh thắng xong Mỹ. Sau này tôi cứ ngẫm mãi điều này. Ông nói suông theo kiểu chính trị, hay là một niềm tin mãnh liệt mang tính dự đoán thiên tài? Tôi nhớ lại Di chúc của Bác Hồ, trong đó Bác chả nói rằng cuộc KCCM của chúng ta nhất định thắng lợi, nhưng có thể phải kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa đấy là gì? Vậy thì cái gì là quyết tâm, cái gì là niềm tin thực tiễn?

               Chính trị gì thì chính trị, nhưng thực tình lúc đó nghe bài chính trị ấy, chúng tôi háo hức lắm. Đúng là náo nức ra trận thật chứ không phải là miễn cưỡng hay bắt buộc gì.

              Rồi sau này suốt trong những ngày tháng hành quân trên Trường Sơn, mỗi khi nghe tin chiến thắng trong chiến trường là chúng tôi sốt ruột ghê lắm. Kèm tin chiến thắng, CTV phó (Vì lúc đó cấp trưởng B,C và A ở lại, chỉ có cán bộ B,C cấp phó là theo vào chiến trường cùng chúng tôi thôi) bao giờ cũng thêm một câu:"Nhanh chân lên, khẩn trương lên các đồng chí, không có vào trong đó muộn các đơn vị bạn họ đánh hết Mỹ rồi thì còn gì mà đánh nữa".

               Ừ nhỉ. "Các đồng chí ơi, đánh nhè nhẹ thôi, còn dành Mỹ cho chúng tôi với. Đừng lấy mất niềm tự hào được đánh Mỹ của chúng tôi". Thật mà cứ như đùa. Đúng là lúc đó suốt dọc đường chúng tôi cứ luôn có ý nghĩ luẩn quẩn như vậy.
*

               Trở lại câu chuyện ở xã Đại Kim, Hà Nam. Sau hai ngày học chính trị, chúng tôi chuẩn bị tinh thần để ngày mai nhận quân trang mới. Hai bộ quần áo lính qua sáu tháng huấn luyện tuy đã cũ, nhưng còn tốt lắm. Cứ so với cái tiêu chuẩn một năm được 5 mét vải của người dân khi đó, thấy cứ tiếc bộ quần áo lính thế nào ấy. Đã vậy, bác chủ nhà còn lôi ra ở đâu mấy bộ quần áo lính còn cũ hơn, sờn rách cả vai và đầu gối bảo đổi cho chúng tôi để mai đem nộp. Bác ấy bảo, đằng nào số quần áo thu lại của các chú cũng chỉ đem cho lính pháo làm giẻ lau thôi. Nể quá, chúng tôi cũng lấy quần áo cũ của mình ra đổi, nhưng chỉ đổi bộ trong ba-lô, còn bộ mặc trên người dù sao anh em cũng đã quen nhìn lành lặn, mặc bộ rách quá thấy nó bôi bác thế nào ấy.

               Hôm sau chúng tôi tập trung thành từng C ra sân kho đổi quân trang. Chuyện nộp quân trang cũ xảy ra êm thấm. Đến lúc được phát quan trang mới, chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng và sung sướng. Toàn quần áo Tô-Châu xanh mượt. Dép đúc, giày cao cổ, mũ cối, mũ tai bèo, thắt lưng, xanh-tuya-rông, rồi chăn, màn… đủ cả. Rồi cả ruốc, đường, Hăng-gô, bi-đông, thuốc chống vắt… nói chung là đầy đủ tới mức không thể ngờ. Mối tổ 3 người được phát một khẩu súng AK có 20 viên đạn, 1 dao găm, 1 bật lửa Trung Quốc. Đồ đoàn cá nhân thế mà cũng gần 20kg.

              Chúng tôi mặc quần áo mới thay ngay tại chỗ, trông thằng nào cũng xúng xính. Nhưng phải nói thật là đa số quần áo đều rộng so với số đông lính chúng tôi. Quần toàn phải xắn gấu. Áo lót cũng là một cái sơ mi cộc tay vải phin. Còn quần đùi thì đúng là quần chính ủy. Thắt cái dải rút xong mà nó rộng thùng thình, chim chóc thoáng mát cứ như không mặc gì. Mặc cái quần đùi ấy mà đi quây bắt lợn, đảm bảo con lợn 20kg phi lọt từ ống quần này chui qua ống quần đùi kia của mình.

….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: smilingmen trong 30 Tháng Chín, 2009, 08:30:43 PM
Mong bác Trongc6 tiếp tục cuộc hành quân để chúng cháu được hiểu thêm không khí hào hùng thời đánh Mỹ. Nhưng kể ra tốc độ hành quân, 10 ngày/1 bài là... hơi chậm bác ạ :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: con_ech_gia trong 01 Tháng Mười, 2009, 12:41:56 PM
Trích dẫn
… Còn quần đùi thì đúng là quần chính ủy. Thắt cái dải rút xong mà nó rộng thùng thình, chim chóc thoáng mát cứ như không mặc gì. Mặc cái quần đùi ấy mà đi quây bắt lợn, đảm bảo con lợn 20kg phi lọt từ ống quần này chui qua ống quần đùi kia của mình.
….
Cái quần đấy mà mặc đi hoạn lợn thì mới kinh, bác Trọng ạ! ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 01 Tháng Mười, 2009, 06:26:39 PM
Cái quần đấy mà mặc đi hoạn lợn thì mới kinh,
-------------
Xin bái phục cái hóm của bác Ếch Già. Tôi đọc lại mà ngẩn người ra, rồi càng nghĩ càng thấy buồn cười. Càng tưởng tượng lại càng buồn cười không nhịn được. Cười một mình cứ như thằng dở hơi ấy mà không nín được, phải quay sang đọc cái khác,
Chịu bác thật đấy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Mười, 2009, 07:20:55 AM
Tôi nhớ lại Di chúc của Bác Hồ, trong đó Bác chả nói rằng cuộc KCCM của chúng ta nhất định thắng lợi, nhưng có thể phải kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa đấy là gì?

Dạ, bác nhớ nhầm. Cụ bảo "có thể còn kéo dài mấy năm nữa". Các bác BCT bán tín bán nghi cắt ngắn bớt lại là "có thể còn kéo dài."  ;)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: anhkhoi trong 02 Tháng Mười, 2009, 08:35:41 AM
Tôi nhớ lại Di chúc của Bác Hồ, trong đó Bác chả nói rằng cuộc KCCM của chúng ta nhất định thắng lợi, nhưng có thể phải kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa đấy là gì?

Dạ, bác nhớ nhầm. Cụ bảo "có thể còn kéo dài mấy năm nữa". Các bác BCT bán tín bán nghi cắt ngắn bớt lại là "có thể còn kéo dài."  ;)

Vụ "5 năm, 10 năm" không phải trong di chúc đâu các bác ạ.

"Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do."
(Trích "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" của Hồ Chủ Tịch, ngày 17/7/1966)



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 07 Tháng Mười, 2009, 10:08:34 PM
……
               Sáng hôm sau, Cả tiểu đoàn lại được tập trung ra sân kho xem văn công biểu diễn. Lần này là văn công Hà Nội, không phải văn công Trung ương. Các tiết mục thập cẩm, có cả hát chèo lẫn chầu văn. Tôi đang ngồi giữa hàng quân nghe hát, thì thấy anh Thụy lách vào ra hiệu cho tôi ra ngoài:"Mẹ cậu tới thăm đấy". Tôi xin phép anh rồi chui ra ngoài. Mẹ tôi và một thằng bạn học phổ thông đang đứng chờ. (Là một trong ba thằng tiễn tôi vào Hà Đông hôm trước. Nó không phải đi lính vì hiện đang có anh trai là bộ đội đặc công chiến đấu trong Quảng Nam).

           Mẹ tôi nói đã xin phép cấp chỉ huy, rồi dẫn tôi ra ngoài thôn. Từ đây ra ga Đồng Văn ngoài đường 1 có 5 cây số. Thằng bạn hỏi thăm biết đơn vị chúng tôi còn ở đây mấy ngày nên đưa mẹ tôi xuống thăm. Mẹ tôi cũng biết đây là lần cuối cùng có thể gặp được tôi nên không quản đường xa. Cả ba ra một cái quán nước bên đường ngồi nói chuyện. Mẹ tôi mua đủ thứ cho tôi ăn, mà tôi lại không ăn được mấy (mà hàng quà lúc đó cũng chỉ lèo tèo ít hoa quả, bánh quê và vài thứ kẹo vờ vẩn rắn như đanh thôi). Tôi biết mẹ thương tôi lắm, vì tôi là đứa có hiếu nhất nhà. Hoàn cảnh của tôi lúc ấy, nếu tôi không đi bộ đội, mà đi học nước ngoài thì vẫn được vì khi đó bố tôi là một cán bộ cao cấp trong ngành ngoại giao. Nhưng tôi không muốn bố tôi mang tiếng, ảnh hưởng đến thanh danh. Mặt khác gia đình tôi có hai anh em trai, đứa em tuổi cũng gần kề tôi.

             Trước ngày tôi nhập ngũ ít tháng, mẹ tôi đã suy nghĩ rồi bảo tôi:

           - Đằng nào thì nhà mình cũng phải góp một người cho cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước này. Con dù sao cũng có phần nhanh nhẹn hơn em con, đi bộ đội may ra cũng có thể còn sống mà trở về. Nếu con đi học nước ngoài thì chắc chắn đến năm sau nữa, em con phải vào bộ đội. Nó vốn chậm chạp, chắc không thoát khỏi cái chết.

             Tôi vui lòng nghe lời mẹ, không lấn cấn điều gì. Song, qua tâm sự của mẹ tôi, tôi cũng biết mẹ rất đau lòng. Giàu con út, khó con út. Mẹ thương em tôi cũng phải thôi. Mà ngay cả tôi, tôi cũng rất thương em. Nếu phải hy sinh một người trong nhà, thì đó sẽ là tôi.

            Tôi vào lính và ra đi thanh thản lắm. Tôi cũng có một chút cá tính. Đợt 22/12 năm ngoái, quân lực trung đoàn chấm tôi cho về làm văn thư ở Bộ tư lệnh thủ đô, vì tôi là thằng văn hay chữ tốt. (Học phổ thông, tôi nhiều năm là học sinh tiên tiến A1, A2. Năm lớp 10, tôi còn suýt đi thi học sinh giỏi văn. Điểm văn trung bình của tôi năm đó là 8,2. Tôi từng có những bài văn cô giáo cho điểm 10, được đọc trước toàn lớp). Thế  nhưng tôi đã từ chối, đơn giản vì ý nghĩ rât kiêu hùng của lớp lính thời đó: "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực". Đã đi lính mà không được làm thằng lính cầm súng ra trận giết giặc, lại ngồi ru rú góc văn phòng thì đời trai còn có nghĩa lý gì nữa.

           Mẹ tôi cũng biết chuyện này, nhưng không phàn nàn gì. Mẹ không muốn làm chùn bước tôi. Còn bố tôi thì nghĩ theo kiểu riêng. Năm đó đang công tác nước ngoài không về được, ông bảo mẹ tôi gửi ảnh tôi sang rồi cặm cụi thuê làm một cái ảnh to như quyển sách giáo khoa trên một tấm gỗ bọc phim. Cái ảnh là hình tôi màu sáng ở giữa với đôi mắt măng tơ mở to nhưng kiên nghị, mà xung quanh là cả một vùng tối, trông như ảnh thờ. (May mà bức ảnh không phải làm cái chức năng ấy). Sau này tôi trở về, nhận lại tấm ảnh đó từ bố tôi. Nó vẫn sáng như ngày năm đó, nước phim không hề mờ ố, đến nay vẫn vậy. Thằng con tôi học đại học rồi mà vẫn treo cái ảnh ấy của bố nó trước bàn học. Đấy là 2 thằng thanh niên của hai thế hệ đang nhìn nhau.

             Buổi trưa mẹ tôi cho tôi đi ăn phở. Gọi là phở cho oai thôi, thực ra là món bánh đa thái nhỏ, còn nước dùng là nồi nước ninh với dăm củ su hào cho ngọt. Mẹ tôi cho thêm một tí mì chính vào, thế là ngon tuyệt. Tôi chén ngon lành tới hai bát. Rồi mẹ tôi cho tiền, nhưng lần này tôi dứt khoát không nhận. Ngày cuối cùng rồi, từ mai đã trên đường hành quân, còn ở đất Bắc mấy ngày nữa mà mua với bán. Thằng bạn tôi hầu như không bắt chuyện, nó ngồi im để cho mẹ con tôi rì rầm nói chuyện.

             Đến đêm đơn vị mới lên tàu, nhưng buổi chiều tôi đã nói mẹ tôi nên ra ô-tô về Hà Nội kẻo trễ. Tôi không muốn mẹ tôi tiễn tôi vào lúc tàu chạy, sợ mẹ buồn. Mẹ tôi không khóc, nhưng lúc lên ô-tô, mẹ tôi đã kín đáo lấy khăn tay lau mắt. Tôi biết mẹ tôi buồn lắm.

             Đến đêm, tôi cùng đơn vị ra ga, lên tàu vào chiến trường. Thế là tôi đã ra đi, tôi đã đem theo cả cuộc đời của mẹ tôi mà ra trận.

     …


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 14 Tháng Mười, 2009, 02:52:05 PM
        Các bác CCB thời K đặt chân lên biên giới là nổ súng ngay.

        Chiến trận liên miên, các cánh quân điều hướng này hướng khác, có chính diện, có thọc sâu vu hồi với tư thế đánh nhanh, đánh dập đầu não chỉ huy của địch, cứ như thời Giải phóng châu Âu vậy,

         Thật oanh liệt và hào hùng.

         Thời chúng tôi là "Đi lâu, đi sâu, đi đến ngày toàn thắng". Mệt mỏi và dằng dai lắm. Chuyện chiến đấu và công tác chỉ là những mấu chuyện kiểu "Chuyện thường ngày của lính". Số chiến dịch chỉ như đếm đầu ngón tay. Lúc nào cũng mong đánh lớn để "may ra tình thế có thay đổi gì không".
Quả là chuyện không có gì đặc sắc để kể.

        Tôi muốn "tụt tạt' chờ các cánh quân của Binhyen1960, của QuyenKH, của Dongdoi78 lên đường.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: DuyAnh trong 14 Tháng Mười, 2009, 09:47:38 PM
……
               
             Đến đêm, tôi cùng đơn vị ra ga, lên tàu vào chiến trường. Thế là tôi đã ra đi, tôi đã đem theo cả cuộc đời của mẹ tôi mà ra trận.

     …


Em xin phép hóng hớt tí.

QSVN lại phát hiện thêm một tài năng viết văn, xúc động vô cùng.

Em thiết nghĩ có người sĩ quan huấn luyện nào đó mà in những bài hồi ký này cho những người lính thời nay được đọc thì quả thật sẽ có ý nghĩa rất lớn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 22 Tháng Mười, 2009, 06:49:05 PM
     Trong Diễn đàn này, các bác CCB chiến trường K rất đông.

      Các bác đã nêu lên thiệt thòi của CCB k khi mà chỉ gần đây xã hội mới nhắc đến, nhưng cũng chỉ nói vèo qua một cái là hết.

       Tôi rất thông cảm với các CCB ở K, vì bọn tôi cũng là lính tình nguyện quốc tế, nhưng ở chiến trường Lào nên được nhắc đến nhiều và công khai hơn.

       Hôm nay tôi nhận được một cái giấy mời của BTL Thủ đô do Thiếu tướng Phí Quốc Tuấn (Tư lệnh) ký, thay mặt Ban liên lạc Quân tình nguyên Việt Lào mời dự họp mặt truyền thống vào chủ nhật (25/10) này tổ chức tại Trung tâm Hội nghị QG Mỹ Đình.

     Trong chương trình sẽ có phần đọc thư gửi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có phát biểu của Lãnh đạo Thành phố Hà Nội, của Đại sứ nước CHDCND Lào, của các tướng lĩnh từng là bộ đội tình nguyện Việt-Lào. Nhất là chuyện chúng tôi sẽ được tặng Kỷ niệm chương của Bộ quốc phòng.

      Trong cái vui ấy, chạnh lòng nhớ đến các CCB chiến trường K. Không biết khi nào các bác mới được công khai nhận kỷ niệm chương của Bộ quốc phòng.

      Vài dòng chia sẽ cùng các bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 22 Tháng Mười, 2009, 08:24:33 PM
   
       Hôm nay tôi nhận được một cái giấy mời của BTL Thủ đô do Thiếu tướng Phí Quốc Tuấn (Tư lệnh) ký, thay mặt Ban liên lạc Quân tình nguyên Việt Lào mời dự họp mặt truyền thống vào chủ nhật (25/10) này tổ chức tại Trung tâm Hội nghị QG Mỹ Đình.




Bác cho em hỏi 1 chút, vụ này là có tiêu chuẩn nào, hay tất cả các CCB chiến trường C đều đựoc mời ạ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Bodoibucket trong 22 Tháng Mười, 2009, 09:31:26 PM
Hé hê, ít ra các bác CCB K cũng có chỗ mà tán phét, các bác Lào thì chỉ nấu rượu là giỏi!  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vovanha trong 22 Tháng Mười, 2009, 09:39:29 PM
    Trong Diễn đàn này, các bác CCB chiến trường K rất đông.
 Trong cái vui ấy, chạnh lòng nhớ đến các CCB chiến trường K. Không biết khi nào các bác mới được công khai nhận kỷ niệm chương của Bộ quốc phòng.

      Vài dòng chia sẽ cùng các bác.

Cũng không mong gì đâu bác ơi !
Quan hệ Việt _ Lào  là mối quan hệ có thể gọi là mẫu mực. Sự biến đổi về Lượng ắt sẽ có biến đổi về Chất.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: yta262 trong 23 Tháng Mười, 2009, 10:03:10 AM
        Các bác CCB thời K đặt chân lên biên giới là nổ súng ngay.

        Chiến trận liên miên, các cánh quân điều hướng này hướng khác, có chính diện, có thọc sâu vu hồi với tư thế đánh nhanh, đánh dập đầu não chỉ huy của địch, cứ như thời Giải phóng châu Âu vậy,

         Thật oanh liệt và hào hùng.

         Thời chúng tôi là "Đi lâu, đi sâu, đi đến ngày toàn thắng". Mệt mỏi và dằng dai lắm. Chuyện chiến đấu và công tác chỉ là những mấu chuyện kiểu "Chuyện thường ngày của lính". Số chiến dịch chỉ như đếm đầu ngón tay. Lúc nào cũng mong đánh lớn để "may ra tình thế có thay đổi gì không".
Quả là chuyện không có gì đặc sắc để kể.
...
Bác TrongC6 khiêm tốn rồi. Em tuy là CCB ở K. nhưng không biết nên tiếp nhận lời khen này của bác TrongC6 như thế nào đây ạ ... bởi vì có nơi này lại cũng có nơi khác, có lúc này lại cũng có lúc khác. Thời các CCB ở K. cũng như thời của bác TrongC6 KCCM, cũng có đơn vị đánh và đánh, như các đơn vị QĐ4 và sư 5, còn chỗ F302 của em ở Siêm Riệp & Sầm Rông hồi 79-82, em thấy cũng khá bình thường, không có gì đặc sắc để mà kể. Sau này mới biết khu vực em đóng quân xung quanh Sầm Rông là khu vực của ông hoàng mít ướt Sihanouk, ai đời làm chính trị khi được phỏng vấn lại đi khóc bù lu bù loa. Lực lượng Sihanoukist, tụi em gọi là Mulika, hình như là lực lượng yếu nhất trong 3 phái, bọn này đánh đấm cầm chừng để chờ đàm phán, đa số bọn Mulika có học và chơi đồ xịn (ba cái vụ đồ cổ xịn có Haanh làm chứng), chứ không gay cấn đánh chết bỏ như Pôn Pốt ở các khu vực Battambang, Pouk Sát, Núi Hồng, Anlong Veng & Preah Vihear. Nhóm Pôn Pốt đánh chết bỏ là vì chúng mù quáng theo đúng cái câu "quyền lực nằm trên nòng súng" của Mao chủ tịch, ngoài ra Pôn Pốt cũng dư biết là đại đa số dân chúng đã quá kinh hãi và chán ghét cái chế độ Pôn Pốt như thế nào, Pôn Pốt chỉ còn nước xài võ lực thôi. Tới khoảng giữa 1982 gì đó, dưới sức ép của Mỹ và Trung Quốc, lực lượng Mulika này mới chịu liên minh với Pôn Pốt và Son San, sau đó Mỹ và các nước phương Tây & Đông Nam Á giúp đỡ tận tình cho nên về sau mới chiến dữ như vậy, khi đó em phục viên gởi trả về nước rồi. Chỗ em và của bác TrongC6 không đánh là vì có chỗ khác, đơn vị khác đánh dùm rồi, em mượn câu này của bác Tailien_Son trong loạt bài "Mũi chính diện" đó ạ. Cho nên phần em, em phải cám ơn các đồng đội QĐ3, QĐ4, F5 & F307 rất nhiều. Lính mình ưa nói câu: "Súng đạn nó tránh mình, chứ mình nào có tránh được nó" là vậy, tụi em chỉ mong đem cái mạng về với gia đình, còn oanh liệt hay oai hùng thì sau khi về tới quê nhà rồi thỉnh thoảng nghe người mình hay báo chí nhắc thì mới ngẫm lại "Ồ, may quá"   :o


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 23 Tháng Mười, 2009, 11:11:44 AM
Đánh nhau không sợ bằng hành quân. Có lệnh là đi, đi hoài đi mãi, đi mòn đi mỏi chỉ mong đụng địch để được.... nghỉ.
Mãi giờ cái ấn tượng sâu nhất với tôi thời ấy không phải là các trận đánh mà chính là các cuộc quân hành dai dẳng không biết đâu là đích. Mùa mưa 9h sáng hơi nước mù mịt trong rừng thẳm sau đêm ngủ mệt. Ngủ rừng không khí nó nặng lắm! Ngày nào cũng như ngày nào ... Mùa khô thì vạ vật đái ra mà uống, ăn cắp cả nước đái nhau mà uống, mà sống...
Như trận luồn sâu leo U Răng mệt quá sức chịu đựng của con người. Có những lúc tôi đã nghĩ giờ đụng địch đánh nhau, được ăn phát đạn vào đầu là sướng nhất. Khỏi leo khỏi vác nhẹ đời. Có thằng la khóc đòi tự sát nhưng thằng nào tự sát lúc đó chắc anh em nó vằm xác ra. Vì thân nó nó còn không mang nổi lại phải mang cái xác thối kia.
Chiến tranh không chỉ thử thách lòng dũng cảm, cái đó bình thường thôi. Đái ra quần trận đầu nhưng đụng vài trận sau là quen. Nhưng khốn nạn nhất là nó tra tấn, gặm nhấm sức chịu đựng cả phần hồn lẫn phần xác con người trong một thời gian vô hạn định, trong một điều kiện gian khổ vô hạn định
Sau này về rồi đi chơi Sapa, chúng nó cứ gạ leo đỉnh Fanxipăng. Mình nhìn cái đỉnh thấy ghê chết luôn!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 23 Tháng Mười, 2009, 11:24:38 AM
Sau này về rồi đi chơi Sapa, chúng nó cứ gạ leo đỉnh Fanxipăng. Mình nhìn cái đỉnh thấy ghê chết luôn!
Mỗi năm nên đi leo Yên Tử một lần thì vừa sức. Mùa thu đi rất hay đấy. Lại có cáp treo, lỡ khi thấy mình già.
Năm kia năm kìa tôi đi một mình, có dịp leo bộ cả lên cả xuống đỉnh cao nghìn mét mất 5 giờ đồng hồ. Tất nhiên là không có trang bị gì ngoài đồ nghề đi chơi. Bây giờ chắc không nổi.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 23 Tháng Mười, 2009, 11:28:18 AM
Cụ ơi! Còn 600 nàng hầu thì bỏ cho ai đây ?  ???

Thôi thông ở lại với trời
Ta về phố thị với người hồng nhan
Cuộc đời vất vả lo toan
Bát canh rau muống giòn tan quả cà
..................................


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 24 Tháng Mười, 2009, 08:08:09 PM
@bác Rongxanh:
         
          Hôm nay xem TV mới biết chính xác ngày 31/10 là ngày kỷ niệm của chuyên gia và bộ đội tình nguyện Việt Lào. Có vẻ năm nay nhà nước định tổ chức to. Thế mới có chuyện họp mặt rầm rộ và tặng kỷ niệm chương.

         Nhưng cũng như bác thắc mắc. Hóa ra không phải CCB Lào nào cũng có giấy mời. Tất cả chỉ là chuyện làm ví dụ thôi. Tôi có giấy mời, chẳng qua do có một thằng đồng ngũ hiện làm ở Ban Kiểm tra TW, sang bên BTL Thủ đô vớ lấy hai chục cái giấy mời đem về. Nó chợt nhớ ra thằng nào thì ghi tên thằng đó vào rồi gửi mời.

         Lại nhớ cách đây dăm năm chính phủ Lào chợt có một đợt tưởng nhớ nào đó đến bộ đội tình nguyện Việt Lào, thế là mít tinh và tặng 500 triệu đồng. Lính tráng thằng nào nghe tin làm bản kê khai thì được cấp 3 triệu. Cũng chỉ có hơn trăm thằng nhanh chân là được, và cũng chỉ tập trung ở HN thôi, còn bọn các tỉnh khác thì chỉ kịp nghe hơi thôi là tiền đã hết.

       Sau đó đến lần gặp mặt kỷ niệm sau, có thắc mắc thì được trả lời là nước bạn còn nghèo lắm, họ còn phải nhờ ta giúp đỡ cơ, cho được một lần (khởi hứng) như thế là tốt rồi. Không có chính sách lâu dài gì đâu.

       Thôi thì hàng năm được gặp mặt truyền thống, tự góp tiền để hò hét cũng tốt rồi các bác ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongdoi78 trong 25 Tháng Mười, 2009, 07:47:35 AM
Đánh nhau không sợ bằng hành quân. Có lệnh là đi, đi hoài đi mãi, đi mòn đi mỏi chỉ mong đụng địch để được.... nghỉ.
Mãi giờ cái ấn tượng sâu nhất với tôi thời ấy không phải là các trận đánh mà chính là các cuộc quân hành dai dẳng không biết đâu là đích. Mùa mưa 9h sáng hơi nước mù mịt trong rừng thẳm sau đêm ngủ mệt. Ngủ rừng không khí nó nặng lắm! Ngày nào cũng như ngày nào ... Mùa khô thì vạ vật đái ra mà uống, ăn cắp cả nước đái nhau mà uống, mà sống...
Như trận luồn sâu leo U Răng mệt quá sức chịu đựng của con người. Có những lúc tôi đã nghĩ giờ đụng địch đánh nhau, được ăn phát đạn vào đầu là sướng nhất. Khỏi leo khỏi vác nhẹ đời. Có thằng la khóc đòi tự sát nhưng thằng nào tự sát lúc đó chắc anh em nó vằm xác ra. Vì thân nó nó còn không mang nổi lại phải mang cái xác thối kia.
Chiến tranh không chỉ thử thách lòng dũng cảm, cái đó bình thường thôi. Đái ra quần trận đầu nhưng đụng vài trận sau là quen. Nhưng khốn nạn nhất là nó tra tấn, gặm nhấm sức chịu đựng cả phần hồn lẫn phần xác con người trong một thời gian vô hạn định, trong một điều kiện gian khổ vô hạn định
Sau này về rồi đi chơi Sapa, chúng nó cứ gạ leo đỉnh Fanxipăng. Mình nhìn cái đỉnh thấy ghê chết luôn!
Chào đồng chí Trung si1.
Đúng là tâm trạng của người lính hành quân đường dài mang vác nặng đi không thấy đích. Mùa mưa cũng khổ mà mùa khô thì càng khổ hơn vì không có nước. Đã có chuyện khen nước tiểu của thằng nào " Xnganh " ( tiếng K Xnganh là ngon - không biết tôi nói có đúng không) hơn thằng nào... Có khi cả tiếng đồng hồ đội hình hành quân mới nhích được hơn 1 km. Tâm lý bộ đội lúc đó thường hay cáu bẳn với chỉ huy và chỉ huy cấp dưới bụng xụng với cấp trên là chuyện bình thường. Lại nữa, như bác H2 nói, nhiều khi còn cáu với cả K nữa: phục phọt thì làm đi cho các bố còn giải lao...
Bây giờ nghĩ lại thấy kinh kinh vì những lúc đơn vị rệu rã như vậy, chỉ cần 1, 2 thằng K nó ập - oành B hay tóc - oành M thì lại gói và khiêng nhau còn khốn hơn nữa.
Nỗi vất vả của chúng tôi chắc không thấm tháp gì việc đồng đội leo núi Urăng ulợi gì đó vất vả lắm, toàn núi đá dựng ngược mìn bom nhiều...Xin khâm phục


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 26 Tháng Mười, 2009, 07:06:01 PM
(Xin hành quân tiếp...)


   Đoàn tàu xuất phát tại ga Đồng Văn vào quãng 10 giờ đêm. Nơi này cách ga Hàng Cỏ đúng 45 cây số. Anh Thụy giải thích là từ sau đợt bọn lính tiểu đoàn 34, 36 phá phách ghê quá, nên các đợt lính sau bị vạ lây. Chúng tôi không được huấn luyện gần Hà Nội đã đành, mà ngay cả lúc vào chiến trường cũng phải hành quân mấy chục cây số để thu quân rồi mới được lên tàu.

               Cả tiểu đoàn xuất quân im ắng. Làng quê chắc đã quen với cảnh này. Tất cả tập hợp một cách có trật tự, im lặng trên sân ga chờ tàu từ Hà Nội vào. Chúng tôi lần lượt lên tàu một cách lặng lẽ. Cả chuyến tàu đó chỉ có lính của tiểu đoàn tôi.

               Chiếc đầu máy hơi nước kéo chừng chục toa xình xịch lăn bánh. Mặc dù thời gian này Mỹ đã tạm ngừng ném bom miền Bắc, nhưng những cuộc chuyển quân vẫn phải đi lặng lẽ trong đêm. Lính Hà Nội đa phần đã biết đến tàu hỏa, nhưng cũng có nhiều thằng mới được đi lần đầu, háo hức ra mặt. Vài ga đầu từ Phủ Lý đến Ninh Bình, chúng tôi còn thức, rì rầm trò chuyện, cố ngắm cảnh trời đêm bên ngoài. Khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn lướt qua khung cửa sổ. Gió thổi mát rượi. Rồi những cảnh đổ nát do bom Mỹ bắn phá các ga liên tục xuất hiện: Nam Định, Núi Gôi… Trời đêm se lạnh dần, lại mệt mỏi nên lính tráng dần dần lăn ra ngủ. Trải ngay nilon ra trên sàn tàu, nằm ngủ ngổn ngang.

               Đến cầu Hàm Rồng - Thanh Hóa, nghe tiếng kêu to của cán bộ chỉ huy, chúng tôi láo nháo thức dậy nhòm ra ngoài. Dòng sông Mã anh hùng và cây cầu huyền thoại đây rồi. Nhưng sao bé nhỏ và trơ trọi quá, chỉ thấy loang loáng những nhịp thép đen sì. Vài nhịp xình xịch là cây cầu đã lướt hết qua khung cửa. Không nhìn thấy lòng sông vì trời tối. Chả thể nào hình dung ra những chiếc ca nô phá thủy lôi từ trường chạy trên mặt sông ra sao. Cũng chẳng biết trận địa pháo của người anh hùng Đinh Tích Nhưỡng bảo vệ cầu nằm ở nơi nào. Thế là lại lăn ra ngủ.

               Sáng bảnh mắt thì vào đến ga Vinh. Chúng tôi bị đánh thức dậy. Chả hiểu tàu dừng bánh từ lúc nào. Tất cả xuống tàu tập trung gọn ghẽ theo hàng lối. Tôi đưa mắt nhìn quanh. Đây mà gọi là ga Vinh ư? Chẳng có nhà ga. Chẳng có những vệt hè lát gạch nằm bên đường tàu, dù chỉ là cái vệt bé rộng chưa tới ba mét như ở ga Đồng Đăng. Xung quanh như một bãi đất trống rộng không ranh giới. Thậm chí hình hài của những căn nhà đổ nát cũng không thấy rõ.

               Cả tiểu đoàn lục tục hành quân. Anh Thụy bảo đây là thành phố Vinh. "Anh chỉ lòe bọn em. Có thấy phố xá nhà cửa gì đâu". Nhưng đúng là thành phố Vinh thật. Một thành phố (hay thị xã to thì đúng hơn) đã bị bom Mỹ san bằng. Tôi liên tưởng cứ như mình đang ở một đơn vị Hồng quân Liên-xô hành quân qua một thị trấn châu Âu đổ nát nào đó hồi thế chiến thứ hai. (Bây giờ khi trở lại Vinh, tôi không thể nào tìm lại hay hình dung nổi ra vệt đường hành quân ngày đó). Đi mãi thì cũng tới một cái làng. Bây giờ chỉ còn nhớ cái làng đó là nhà tranh nứa dựng trên nền đất pha cát. Chúng tôi nghỉ ngoài vườn.

              Tất cả các điểm chúng tôi dừng chân nghỉ ngày từ đây vào đến trạm 5 Trường Sơn đều là binh trạm, bố trí lẫn trong dân. Không được lò mò đi đâu xa (mà cũng có biết nơi nào mà đi?). Đến bữa có người báo đi lấy cơm. Lấy cơm về ăn theo từng tiểu đội. Chúng tôi đã có đầy đủ ca, thìa cá nhân. Còn mỗi A được phát một soong 6, có cái nắp vung hình 3 khía để chia riêng thức ăn.

              Sẩm tối chúng tôi hành quân ra Bến Thủy, lên ca-nô đi tiếp sang Hà Tĩnh. Đây là lần đầu tiên tôi đi ca-nô. Ban đêm nhìn ra mặt sông chỉ thấy mênh mông nước. Mỗi ca -nô chở một trung đội gần bốn chục người. Chắc đoàn ca-nô phải nhiều lắm mới chở hết cả tiểu đoàn chúng tôi. Không biết cái ca-nô hay con tàu thủy mà bác Năm Sài Gòn khi xưa vẫy vùng kiếm ăn trên sông nước Thái Bình thời Pháp thuộc có to như ca-nô chúng tôi không?

               Đêm hành quân đường sông vô cùng êm ái. Chỉ chạy độ ba hay bốn tiếng gì đó thì tàu đã cập bờ. Chúng tôi lên một cái làng gần đó để nghỉ. Được ngủ no mắt thì trời mới sáng.

               Những căn nhà dân ở đây cũng tựa như ngoài Nghệ An, nhưng có vẻ chắc chắn hơn. Vẫn là nghỉ ngoài vườn thôi. Ban ngày, chúng tôi được nghỉ ngơi. Không phải họp, cũng không phải làm gì giúp dân, chỉ cần trật tự là được. Nơi đây tuy nghèo nàn, nhưng bác chủ nhà bắt đầu hướng dẫn chúng tôi một việc cần làm trước khi vào Nam. Mặc dù giọng nói của bác nặng và rất khó nghe (nhưng chưa đến nỗi ngôn ngữ bất đồng), chúng tôi hiểu là cần phải tiêu hết tiền đi vì sắp vào đến nơi không dùng được tiền nữa rồi. Thế là chúng tôi dốc tiền ra góp để bác chủ nhà mua giúp gà và chuối. Bác còn giúp chúng tôi làm gà (mỗi món luộc). Nếu như ở ngoài Hà Nội, 5 đồng là có một con gà to ngon lành thì trong này là 20 đồng. Của mua là của được, vì thế hầu như tiểu đội nào cũng mua gà. Nhưng cũng chỉ có món đó thôi, chẳng còn gì khác. Ăn đi, rồi đi ngủ để đến đêm còn phải hành quân.

…..



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 31 Tháng Mười, 2009, 08:00:42 PM

               Đêm nay chúng tôi chuyển sang hành quân bằng ô-tô Giải phóng của Trung Quốc. Sẽ vượt đèo Ngang để sang Quảng Bình.

               Quãng nửa đêm, cả đoàn xe dừng lại chừng một tiếng ven Thị xã Hà Tĩnh để chuẩn bị vượt đèo Ngang. Đây là quê hương của đại đội phó Hảo của chúng tôi. (Tôi vẫn ấn tượng với cái màn nếm gần nửa cân thịt lợn hồi còn ở Tân Lạc của thủ trưởng). Chẳng biết hiệp đồng tác chiến từ khi nào, mà đã có người nhà của thủ trưởng ra tận đoàn xe đón. Họ nhanh chóng gặp nhau và thủ trưởng bàn giao cho người nhà hai ba lô chật căng. Thảo nào mà suốt từ những ngày ở Đại Kim, Hà Nam, thủ trưởng chịu khó xin những thứ của lính, từ quần áo đến mũ cối. Có lẽ đây cũng là một hình thức tiếp tế trợ giúp cho gia đình, nhưng không phải ai cũng có điều kiện làm được. Vui vì được gặp người nhà, nhưng thủ trưởng Hảo cũng tâm sự buồn rằng, lần này phải vào chiến trường, không được làm công tác huấn luyện nữa. Thủ trưởng vốn là cán bộ khung của BTL Thủ đô, chuyên luyện quân tới mấy năm nay rồi, từ ngày thành lập trung đoàn 1867 (trung đoàn 59) cơ. Thủ trưởng đã 35 tuổi, là cán bộ nhiều tuổi nhất trong BCH C huấn luyện của tôi khi đó.

               Lại nói về mũ cối. Thú thật là mới chỉ qua mấy ngày hành quân và trò chuyện, chúng tôi đã thấy quân đội phát cả mũ tai bèo lẫn mũ cối cho chúng tôi là thừa. Mũ tai bèo gọn bao nhiêu thì mũ cối cồng kềnh bấy nhiêu. Nhiều thằng đã cho đi giao lưu ngay từ Hà Nam. Hôm qua ở cái làng bên sông Lam, nhiều tiểu đội cũng mua gà không phải bằng tiền mà bằng mũ cối. Vì thế cái chuyện chúng tôi cho thủ trưởng Hảo dăm cái mũ cối cũng là chuyện bình thường. Rồi sau này cũng thế. Chúng tôi giải tán mũ cối dọc đường hành quân hết. Vào đến đơn vị chiến đấu thì chúng tôi đã thực thụ là người chiến sĩ giải phóng, quân của chị Ba Định với chiếc mũ tai bèo đặc trưng rồi.

               Xe chúng tôi đến lượt vượt đèo Ngang. Các thủ trưởng bảo bây giờ thuận lợi thế này mới có thể đi cả đoàn xe vượt đèo ngang, chứ ba năm trước không thể. Khi đó phải đi bộ là chính, theo đường 12A qua ngã ba Đồng Lộc, hay đường 20 Quyết thắng. Trên đỉnh đèo Ngang trong đêm nhìn ra biển chỉ thấy mờ mờ. Thời gian vượt đèo Ngang cũng rất ngắn ngủi. Có lẽ cái sự nổi tiếng của đèo chính vì nó chặn ngang con đường độc đạo vào Nam và vươn dài sát biển, chứ sự hùng vĩ của nó không phải là nhất nước. Ngày xưa Bà Huyện Thanh Quan qua đây vào buổi xế chiều, chắc sau một hồi leo đèo chùn chân mỏi gối, ngồi trên đỉnh đèo hưởng gió mát, nhìn quanh thấy buồn cho cảnh heo hút đường xa mà tức cảnh làm nên bài thơ hay. Nếu có đi thực tế mà học thơ của Bà, chắc cũng nên đi bộ lên đèo Ngang vào lúc xế chiều mà ngắm cảnh, chứ ngồi xe tải ban đêm như chúng tôi thì chỉ thấy vùng biển đen mịt mù xa xăm và đám sao trời li ti trong màn đêm lành lạnh thôi.

               Lại dừng chân nghỉ ban ngày sau một đêm hành quân xe. Đến đêm lại đi ca-nô, hình như vượt qua sông Lệ Thủy thì phải. Thời gian đi ca-nô cũng chỉ vài giờ. Nơi này vẫn thuộc trên đất Quảng Bình. Chúng tôi được phổ biến đây là điểm dừng cuối cùng trước khi vào Binh trạm Trường Sơn. Thế là ngày hôm đó, lính tráng có bao nhiêu tiền đều đốc hết vào ăn uống. Thực phẩm ở đây nghèo nàn và đắt hơn rất nhiều so với bên Hà Tĩnh, nhưng giữ tiền cũng chẳng để làm gì. Mũ cối ở đây cũng rất có giá trị, tất nhiên cũng chuyển thành gà. Mà cũng lạ là khi đó chỉ có món gà mà thôi, chẳng còn thứ gì khác. Một vài thằng cố giữ lại tờ 10 đồng màu đỏ có in hình Bác Hồ mà lính khi đó gọi là tờ "cụ mượt" để làm kỷ niệm.

              Buổi chiều, chúng tôi được lĩnh gạo. Cái ruột tượng bây giờ mới phải dùng đến. Mỗi lính nhận 7kg gạo, tiêu chuẩn cho 10 ngày. Chỉ còn bữa ăn chiều nay là tập trung thôi, còn từ mai, chúng tôi sẽ phải nấu ăn theo từng tiểu đội suốt chặng đường hành quân.

               Buổi tối tập trung lên xe. Đường xe chạy nhỏ dần, gập ghềnh và hai bên là rừng cây rậm rạp. Xóc kinh khủng. Cứ lầm lũi đi như thế trong màn đêm đen giữa rừng già, xe ô-tô chỉ bật đèn gầm. Chắc vào quãng mấy giờ sáng gì đó thì tới nơi. Cạnh bãi đổ quân là một bãi đất rộng mờ mờ nằm dưới những cây cổ thụ. Chúng tôi xuống xe, được phân chia vào từng khu vực, ở đó đã có chi chít những hầm thùng đào sẵn sâu chừng 40 phân. Mỗi thằng chiếm lấy một chiếc, trải ni-lon, xếp ba-lô, kê ruột tượng gạo rồi lăn ra ngủ.

               Đây là Trạm 5 Trường Sơn, một trạm đầu mối của tuyến đường 559.

….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: thaynhin trong 05 Tháng Mười Một, 2009, 03:54:22 PM
Em cũng không thật rõ nhưng cũng xin thưa vói bậc đàn anh Bác TrọngC6 ạ: Không biết sông Lệ thủy bác nhắc đến có phải sông Bến Hải không?
 Năm 2007,2008 em qua lai Đồng Lộc vài lần,đường qua ĐL là đường 15,em không biết có sự đổi tên nữa không?Trên đường thỉnh thoảng vẫn có bia kỷ niệm chiến thắng!Kính bác và chúc bác khỏe!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 05 Tháng Mười Một, 2009, 05:39:10 PM
     Sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh (Quảng trị)
     Còn sông Lệ Thủy thuộc Quảng Bình.

     Quảng bình có 2 sông chính là sông Gianh (Nơi gianh giới phân chia Trịnh-Nguyễn phân tranh hồi thế kỷ 17 đấy) và sông Lệ Thủy. Dân gian vẫn gọi là sông Lệ Thủy, thật ra tên chính là Nhật Lệ. Con sông này có một nhánh là sông Kiến Giang. Có lẽ chảy trên địa phận huyện Lệ Thủy nên người ta hay gọi Nhật Lệ là sông Lệ Thủy chăng? (con sông này có bến phà Long Đại nổi tiếng trong KCCM đấy).

     Các con đường mở ra trong KCCM có nhiều tên. chắc chắn có nhiều thay đổi. Ví dụ con đường 10 chạỵ qua căn cứ Chư Nghé ở B3 bọn tôi vẫn quen gọi ngày xưa, nhưng bây giờ mà nói đường 10 thì người ta lại hiểu là đường 10 ở Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vovanha trong 05 Tháng Mười Một, 2009, 05:52:01 PM
 ... Các con đường mở ra trong KCCM có nhiều tên. chắc chắn có nhiều thay đổi. Ví dụ con đường 10 chạỵ qua căn cứ Chư Nghé ở B3 bọn tôi vẫn quen gọi ngày xưa, nhưng bây giờ mà nói đường 10 thì người ta lại hiểu là đường 10 ở Hải Phòng.
Chư Nghé , cao điểm 421...hậu cứ của E95 thời 1975,1976.
Lạnh kinh khủng. Bây giờ vẫn còn hãi này Bác Trongc6 ơi !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 06 Tháng Mười Một, 2009, 10:22:44 PM
….
     Chúng tôi được nghỉ ở đây một ngày.

       Cả đại đội huấn luyện chỉ còn có 5 cán bộ khung gồm C phó Hảo và 4 B phó khác dẫn chúng tôi vào Nam. Còn lại từng A chúng tôi phải tự bảo nhau. Trừ thủ trưởng Hảo, các B phó huấn luyện đều lần đầu vào Trường Sơn nên cũng chẳng ai có kinh nghiệm gì hơn chúng tôi. Nhất nhất đều phải nhận lệnh qua giao ban tại từng Trạm, hành quân có giao liên dẫn đường.

      Giờ này chắc các thủ trưởng đi họp giao ban nên chẳng có ai đánh thức chúng tôi dậy sớm. Chúng tôi ngủ ngon đến bảnh mắt.

       Đêm qua dù tối om nhưng không hiểu sao tôi vẫn mắc được tấm tăng che cao trên cái hầm thùng mấy chục phân để tránh sương. Bây giờ thức giấc rồi, tôi nằm im nhìn lên màn sáng đục sau tấm tăng. Nằm mà nghĩ vơ vẩn thôi. Thế là cái thân trai này đã nằm ngủ một đêm trên dãy Trường Sơn, cách nhà tới vài trăm cây số. Khoảng cách địa lý thì đo được, nhưng cuộc đời từ đây chỉ có một hướng: phía trước là mặt trận và cứ phải theo đó mà đi, không hẹn ngày trở lại. Không biết mấy tháng, mấy ngày nữa sẽ vào đến đơn vị mới, sẽ được xung trận, được nổ súng như các anh trong tiểu đội Bùi Ngọc Đủ trên đồi không tên đã đi vào bài hát "Dòng suối La La" bất diệt.

         Bỗng nhiên nghe tiếng loạt xoạt rất khẽ nơi bao gạo gối đầu. Rồi có tiếng nhai gạo lách cách. Tôi hơi nghiêng người, thấy có con gì đó be bé như con chuột chạy vụt ra. Quyết định nằm im tư thế đó mà theo rõi. Lại nghe tiếng loạt xoạt. Hé mắt khe khẽ ra thì thấy một con chuột đã chui vào cắn gạo. Nhưng không phải chuột. Nó to bằng nửa cổ tay, lông màu tro vằn vèo, đuôi dài và rậm. Cái đầu giống con chuột nhưng đôi mắt lanh lợi, không đen sì và gian giảo như mắt chuột. Con vật khá bạo, tiếp tục moi những hạt gạo ra ăn. Phải nghĩ mãi tôi mới đoán ra là con sóc. Nhưng sao con sóc này bé quá, đuôi không to như con sóc ăn hạt dẻ trong chuyện cổ tích. Tôi vùng dậy và con sóc chạy mất.

          Cởi bỏ tấm tăng, tôi nhìn quanh, thấy choáng ngợp trước quang cảnh của bãi khách. Bắt đầu từ đây, tôi biết đến từ "bãi khách", là nơi được trạm giao liên chuẩn bị sẵn, có hầm, có cây mắc võng, nằm dưới những tán rừng già, dùng để cho các đoàn "khách" vào, ra dừng chân. Một trạm có nhiều bãi khách. Thường các đoàn quân vào, ra đều chỉ biết bãi khách chứ hầu như không biết vị trí Binh tram hay Trạm, nơi có BCH, có thông tin, có trạm xá… nằm chỗ nào.

        Bãi khách này rộng thật. Hầm thùng đủ cho cả đại đội tôi hơn trăm rưởi người nằm mà vẫn còn thừa. Khi đó lính tráng đã dậy cả. Nhiều đứa đã ra tắm ở con suối chảy ven bãi khách. Suối không sâu nhưng rộng cỡ 2 mét, nước trong và mát. Nhiều tốp lính đã bẻ củi bắc hăng-gô nấu cháo ăn sáng. Củi khô ở đây nhiều vô biên, đúng là củi rừng. Mỗi lính chúng tôi được phát 2kg ruốc (một cân loại trằng ít muối, còn một cân loại đen thì nhiều muối mặn chát xít dùng để nấu ăn). Mỗi lính cũng được phát một gói cỡ 2 lạng mì chính cánh của Trung Quốc. Thế là tự nấu ăn được rồi, nhưng buổi sáng lười nên chỉ toàn nấu cháo. Đến trưa mới tổ chức nấu cơm theo tiểu đội. Đại đội phát nốt từ hôm trước ở Quảng Bình cho các A một ít rau cải chở theo được bằng ô-tô. Từ ngày mai thì chỉ còn ruốc và rau rừng.

        Ngày hôm đó, chúng tôi được phổ biến tất cả mọi quy định chung cần thiết khi hành quân trên Trường Sơn. Từ chuyện đội hình, giữ bí mật, vệ sinh theo kiểu "hố mèo"… đến các quy định về ánh sáng, lửa khói… Rồi học cách mắc tăng, mắc võng thế nào cho nhanh để khi tháo cũng chỉ rút dây một cái là xong, rồi cách buộc ni-lon khi đi trời mưa… Tóm lại là một đống kiến thức cần thiết trên đường hành quân. Không thể nhớ hết một lúc, nhưng dần dà qua những ngày hành quân dọc các binh trạm thì rồi tất cả ngấm vào người như một bản năng. Nó ngấm mạnh tới mức bây giờ vẫn không quên điều đó. (Tôi vẫn còn giữ được chiếc võng vải dù chiến lợi phẩm và tấm tăng TQ zin làm kỷ niệm. Chẳng có điều kiện mà dùng lại. Đôi lúc cũng muốn đem ra vườn mắc lên nằm chơi một buổi để gặm nhấm quá khứ, nhưng lại sợ thiên hạ nhìn thấy, chê bố này lẩn thẩn rồi, nên đành vẫn để đấy).

           Chúng tôi còn được nghỉ thêm một ngày nữa ở trạm 5. Tôi cứ ngồi ngửa cổ nhìn lên những cây già cao vút, cỡ hơn người ôm. Rồi nhận ra ở đây có rất nhiều lũ sóc chuột bé tẹo ấy. Hầu như ruột tượng của thằng nào cũng bị sóc cắn, chúng tôi phải khâu ríu lại. Về sau vào sâu trong Nam và sống lâu trong rừng, tôi biết rừng già nào cũng có sóc chuột. Có thể ví chúng với chuột ở đồng bằng. Và tôi nhận ra rằng chỗ có người ở thì có chuột đủ loại, còn rừng già thì có sóc, nhưng không có chuột. Ở đó chỉ có những con chuột núi (con dũi) to tướng hay đào gốc măng nhai kèn kẹt thôi. Nhiều vùng rừng già lại có cả sóc bay nữa. Chúng cũng bé tì tẹo. Lúc yên tĩnh, nhìn thấy chúng nó thả người từ một thân cây cao, vèo một cái đã thấy bám vào một cây khác cách đó một đoạn xa thì biết nó là sóc bay. Có điều nó chỉ bay từ trên cao xuống thấp thôi chứ không thấy bay từ thấp lên cao bao giờ.
….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: con_ech_gia trong 07 Tháng Mười Một, 2009, 08:12:34 PM
    Sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh (Quảng trị)
     Còn sông Lệ Thủy thuộc Quảng Bình.

     Quảng bình có 2 sông chính là sông Gianh (Nơi gianh giới phân chia Trịnh-Nguyễn phân tranh hồi thế kỷ 17 đấy) và sông Lệ Thủy. Dân gian vẫn gọi là sông Lệ Thủy, thật ra tên chính là Nhật Lệ. Con sông này có một nhánh là sông Kiến Giang. Có lẽ chảy trên địa phận huyện Lệ Thủy nên người ta hay gọi Nhật Lệ là sông Lệ Thủy chăng? (con sông này có bến phà Long Đại nổi tiếng trong KCCM đấy).
Bác TrongC6 chỉ đi qua thôi mà biết khá rõ về đất Quảng Bình  ;D. Nhưng em xin mạo muội đính chính một chút:
Sông Nhật Lệ gồm 2 nhánh chính: Kiến Giang (chỉ yếu trên đất Lệ Thủy) và Đại Giang (chủ yếu trên đất Quảng Ninh). Phà Long Đại nổi tiếng ác liệt đi qua dòng Đại Giang (gần thôn Long Đại). Cách đây mười mấy năm người ta còn trục được cả loạt T54 từ lòng sông lên, rồi hội POW/MIA về đào xác phi công cũng khá nhiều.
Có lẽ chỗ bác TrongC6 vượt sông là chỗ phà Long Đại đấy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 11 Tháng Mười Một, 2009, 10:07:21 PM
….
              Sau ngày nghỉ tại trạm 5, chúng tôi hành quân sang trạm T6. Đường đi độ non ba chục cây số. Phần lớn đi trong rừng già. Đường thoai thoải lên cao xuống thấp tí chút như miền trung du ngoài Bắc. Có lẽ đây là vệt núi cùng bình độ với trạm 5. Hành quân trong Trường Sơn mà khung cảnh yên tĩnh hòa bình, nhiều lúc cảm thấy như vẫn đang đi dã ngoại vậy. Ngoài quân tư trang cá nhân giống nhau, chỉ có khẩu súng AK và cái soong là phải chia nhau mang. Vẫn 3 người một khẩu phát từ ngoài Kim Bảng, chưa có thêm vũ khí gì.

               Trạm T6 có bãi khách nhỏ hơn T5. Con suối cũng nhỏ hơn. Chúng tôi chỉ dừng chân một đêm, hôm sau sẽ đi tiếp. Sáng hôm sau, C38 với hơn trăm rưởi lính trong tiểu đoàn chúng tôi chia tay hành quân theo hướng khác. Họ đi theo trục Đông Trường Sơn. Sau này hết chiến tranh gặp lại mấy thằng,chúng nó kể là được bổ xung vào tỉnh Quảng Ngãi, làm bộ đội địa phương. Cũng xuống đồng bằng, vào làng, nằm hầm bí mật và chống càn. Đến năm 1975, Quảng Ngãi giải phóng thì chúng nó làm công tác tiếp quản địa phương. Không được theo đại quân vào chiến dịch Hồ chí Minh. Đến 1976 thì những đứa sống sót cũng lần lượt được ra quân và về nhà hết.

               Còn lại 3 đại đội chúng tôi hành quân theo ngả Tây Trường Sơn. Con đường chúng tôi đi đúng là đường mòn, chỉ có thể đi bộ. Chỗ rộng cũng chỉ đủ hai người đi ngược chiều tránh nhau. Cứ hành quân non tiếng lại nghỉ giải lao mươi phút. Đặt phịch ba-lô và ngồi ngay bên vệ đường. Chúng tôi được dặn là nghỉ đâu thì ngồi ngay đó. Đi giải thì cứ đứng mà chĩa ngang vệ đường. Còn đại tiện thì chỉ cần đi vài mét rồi đào hố mèo là xong. Nói thế nhưng chẳng thằng nào có xẻng mà đào hố, nên cứ thiên nhiên. Một thằng đi là thể nào cũng có vài đứa chửi rầm rầm lên vì thối. Giao liên còn dặn chúng tôi nên tập đi nhấc cao chân. Đừng tạo thói quen đá vào các vật bên đường. Chỉ qua ít trạm sau, chúng tôi còn được nghe phổ biến về cây nhiệt đới và mìn lá (loại này dẫm vào chỉ cụt nửa bàn chân, nhưng như thế cũng coi như bị loại ngũ rồi). Hai của này bọn Mỹ thả rất nhiều trong các cánh rừng miền Trung.

               Quá nửa chiều thì chúng tôi đến trạm T7. Như vậy là mỗi trạm cũng chỉ cách nhau chừng năm sáu tiếng đi đường. Chưa phải leo dốc nhiều. Đại đội tôi ở vào một bãi khách nhỏ nhưng rất bẩn. Mùi xú uế khắp nơi, cứ như có một bọn nào vừa rời khỏi đây. Mà cũng vì bãi nhỏ, không đi rộng ra được (vướng các khe núi) nên mật độ ở dày. Chúng tôi mắc võng san sát nhau. Cạnh bãi khách chỉ có một con suối nhỏ. Gọi là lạch thì đúng hơn, vì dòng chảy lờ đờ mà lại chỉ bé như cái cổ tay, vướng đầy lá. Phải bới một vệt lõm, gạt lá ra, chờ cho nước tụ lại trong trong rồi lấy ca gạn cho vào bi-đông. Hơn trăm rưởi thằng lính rải ra và chờ nhau mãi mới lấy đủ nước. Chỉ có cơm canh là đun nước sôi (mà canh cũng chỉ là nồi nước đun sôi cho vào ít ruốc, đánh tơi ra, cho đũa vào ngoáy trông nó như nồi canh sợi bao tải rách. vò vào đó ít lá chua người ta chỉ cho quanh đó, chẳng biết lá cây gì). Còn nước tất cả đều là nước lã, Mỗi bi-đông chúng tôi cho vào một viên thuốc lọc nước của Trung Quốc (Mỗi lính được phát một lọ nhựa có 50 viên). Uống thấy mùi nó hơi ngai ngái.

               Cấp trên thông báo chúng tôi đang ở đất Lào, thuộc tỉnh Khăm Muộn. Cũng chẳng biết là đã vượt biên từ lúc nào. À, thế ra là mình đã được "đi ngoài ra nước" (à không, "đi ra nước ngoài") rồi đấy. Đúng là đi Tây, chứ không phải là đi Tây Bắc như những thằng đi học ở Đông Âu đâu nhé.

               Hôm sau lại cuốn gói đi tiếp. Bắt đầu quen với nhịp điệu hành quân. Ngày đi đêm nghỉ. Sáng dậy nấu cơm vào lúc trời sáng hẳn để không còn nhìn rõ ánh lửa. Ăn sáng xong rồi mỗi thằng đùm một túm để ăn trưa. Không hơi sức đâu mà nắm cơm chung, của ai nấy lo. Ai muốn nắm thì nắm, ai ngại thì cứ gói vào khăn mặt hay ni-lon cũng được. Buổi trưa giữa đường thì giở ra ăn, chan ít nước lã, cho tý ruốc vào là xong. Mà cũng lạ là chẳng ai đau bụng. Sau này chúng tôi được biết là nếu đang hành quân, ra mồ hôi và căng cơ bắp thì uống nước lã cũng như nước sôi. Chỉ một lúc sau là nó bài tiết ra hết, kể cả vi trùng. Khoảng 3 giờ chiều thì tới trạm T8. Như vậy chặng đường này ngắn. Được phổ biến nghỉ lại đây một ngày lấy sức.

           Thế là đua nhau tắm giặt. May là ở đây có con suối nhỏ, nhưng là suối đá nên nước trong, và chảy khá mạnh. Giặt quần áo trên các mô đá rất khoái. Chúng tôi được phát mỗi người một bánh xà phòng giặt của Liên-xô có in chìm số 72%. Đây là một điểm đặc biệt, vì lúc đó mọi thứ khác trang bị cho chúng tôi đều là của TQ, kể cả cái bật lửa. Vậy mà lại lẫn vào trong đó con dao găm và bánh xà phòng Liên-xô. Được cái bánh xà phòng này rất bền. Mỗi lần giặt quần áo chỉ xát một ít vào cổ áo và đũng quần, rồi giặt. Chỉ có một ít xà phòng nhờ nhờ đục, thế mà cũng sạch. Cái bánh xà phòng hầu như không mòn. Dùng mãi đến 3 năm sau, khi chỉ còn bé bằng cái lưỡi mèo thì nó mới trôi tuột đi lúc nào không biết.
…..



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 01:15:37 PM
…..
               Một ngày nghỉ không phải họp hành. Chỉ được đi chơi loanh quanh trong bãi khách. Tụ tập nhau tán chuyện và đun nước pha chè uống. Cũng chỉ vài thằng còn lại tí chút chè Ba-Đình sót lại sau tết mang từ nhà đi. Vài bữa nữa thôi là sẽ hết sạch. Thuốc lá không mấy ai hút. Cũng chỉ dăm ba thằng còn đem theo mấy bao thuốc Trường Sơn, chẳng ai xin làm gì. Rồi nấu cháo xì xụp ăn.

              Chiều đó mấy thằng liều lĩnh đột phá đi xa ngoài bãi khách và gặp dân. Chắc họ từ bản nào đó gần đây. Họ có chuối chín đem đổi. Lính tráng moi nốt tiền Bắc ra gạ mua (thôi, còn giữ để kỷ niệm làm gì nữa), nhưng không được, vì dân họ không dùng tiền. Đành nuốt nước bọt trở về. Độ nửa tiếng sau, đang buồn vì tiếc thì mấy thằng ở C khác hiên ngang xách 3 nải chuối chín đó đi qua. Xông ra hỏi chúng mày mua bằng gì mà tài thế. Mua gì đâu, bọn tao đổi 2 cái kim băng lấy một nải đấy. Thế là sùng sục bảo nhau tìm kim băng quay ra tìm dân, nhưng hết mất rồi. Kinh nghiệm này được phổ biến, và nó có tác dụng ở những trạm sau, thậm chí ngang đường hành quân cũng gặp dân đổi chuối, đổi sắn. Không chỉ đổi bằng kim băng đâu. Khi hết loại này rồi thì ảnh màu con gái là loại hàng có giá. Vô tình mà phát hiện ra điều này.

               Lính mới chúng tôi chưa hiểu được rằng đem được một cân gạo từ miền Bắc vào đây là ít nhiều cũng có máu xương của các đồng đội lái xe. Theo từng quãng nhất định, có những kho gạo binh trạm để phát cho các đoàn quân ra, quân vào. Tiêu chuẩn vẫn là 7 lạng một ngày. Hành quân đường dài thì như thế cũng chỉ là đủ, ăn vừa hết và không đói. Thế mà có thằng trong A tôi ngại nặng đã trút bớt  phần gạo của nó xuống khe núi cho nhẹ. Lúc đến mỗi trạm, thấy nó nhường cho người khác bỏ gạo ra nấu trước, tưởng nó có tinh thần đồng đội cao cả. Đến hôm cuối cùng tới lượt nó bỏ gạo ra nấu thấy còn có nửa, cả A chửi rầm lên. Nó cãi là cái ruột tượng rách, nhưng anh em biết thừa. Sau cái bữa đói đó, chúng tôi rút kinh nghiệm là đến bữa mỗi đứa góp một ít gạo đều nhau để nấu cho công bằng. Thằng nào đổ gạo đi thì tự nhịn. Về sau vào sâu hơn một chút thì chỉ lĩnh ăn 6 lạng gạo một ngày thôi. Mà đừng tưởng cứ vào Trường Sơn là ăn lương khô thoải mái đâu nhé. Của đó chỉ có lính lái xe, lính tăng pháo, lính binh trạm hay Bộ tư lệnh thôi. Vào chiến trường hơn nửa năm sau, tôi mới được biết mùi vị bánh lương khô nó như thế nào.

               Cũng vì còn đói nên chúng tôi hay nghĩ đến ăn. Cứ mơ mộng là trong rừng sẽ có nhiều củ quả gì đó, hay là một rừng cây ăn quả nào chẳng hạn. Nhưng cái đó (chắc chắn có) lại không nằm sẵn ven đường hành quân. Có lần qua một khúc rừng thấy ngào ngạt mùi bánh mỳ. Tưởng đến gần lò bánh của binh trạm nào đó, nhưng không phải. Đó chỉ là mùi của một loại lá cây. Cũng như có lần gặp lá cơm nếp. Nó thơm mùi của bát cơm nếp mới sới. Loại lá này đáng sợ lắm. Kẹp khô trong cuốn sổ, nó giữ mùi thơm đến cả năm. Ngửi nó đã không no mà còn làm mình thèm và thấy đói hơn.

               Trong cảnh thèm ăn như thế, một lần chúng tôi gặp dân ven đường hành quân. Họ có sắn, nhưng chúng tôi chẳng còn gì mà đổi cả. Thằng Dũng "ú ớ" moi trong ví ra cái huy hiệu đoàn, đổi được một củ sắn dài độ gang tay. Quá ít cho mấy cái vẻ mặt háo hức chờ ăn. Loay hoay thế nào, nó đánh rơi cuốn lịch túi (loại lịch một hào, bằng lòng bàn tay, thịnh hành lúc ấy). Trang bìa là ảnh của Ái Vân trong vai "chị Nhung" của bộ phim Việt nam cùng tên, kể về chiến công của nữ biệt động Sài Gòn, chiếu năm 1971. Năm đóng phim, Ái Vân (cô  ca sĩ sau này) mới 17 tuổi, kém lứa lính chúng tôi đúng một tuổi. Ảnh nhân vật chị Nhung của cô được lên trang bìa của lịch túi năm 1972. Phải nói là cô rất xinh, ảnh in màu nên hầu như lính nào cũng có một cuốn. Nhìn thấy cái hình cô gái, người dân đòi xem rồi gạ đổi 2 củ sắn. Thằng Dũng đồng ý luôn. Thế là chúng tôi rào rào lấy lịch ra đổi. Chỉ một loáng, mấy người dân đổi hết sắn và hể hả cầm mấy cuốn lịch ấy đi về. Không chỉ mấy người đàn ông, mà xem ra phụ nữ và cả trẻ con cũng thích ảnh con gái đẹp. Cũng phải thôi, vì phụ nữ dân tộc vùng đó xấu lắm, không ai vượt nổi qua nước cản.

               Vậy là sau đó, thằng nào còn lịch túi "chị Nhung" là bỏ sẵn hết ra túi áo để khi cần đổi cho nhanh. Rồi đổi mãi cũng hết lịch. Hết khôn dồn đến dại, nhiều thằng lấy cả ảnh người yêu ra đổi. Nhưng bà con dân tộc cũng khôn. Họ chỉ đổi ảnh màu thôi chứ không đổi ảnh đen trắng. Lúc ấy chưa có ảnh chụp màu. Sở dĩ có những tấm ảnh màu là do các bác thợ ảnh của mấy hiệu ảnh quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm dùng bút màu tô thêm cho ảnh ở những phần môi, mắt hay áo quần. Lúc mới đầu đổi ảnh người yêu lấy sắn cũng thấy hơi áy náy, nhưng cái dạ dày đã chiến thắng. Thôi, các bạn gái hãy vui lòng cho lính tráng có thêm sức mà chân cứng đá mềm. Gửi các em ở lại trong dân cũng như là nhờ hậu phương che chở. Theo bọn anh ra nơi hòn tên mũi đạn, nhỡ lọt vào tay quân thù thì lại đau lòng người lính hơn.

              Nếu bây giờ có nhà khảo cổ hay nhà dân tộc học nào lặn lội vào dãy Trường Sơn mà gặp những tấm ảnh "chị Nhung" hay ảnh các thiếu nữ Hà Nội tô màu đã phai mờ theo năm tháng ở trong các bản dân tộc ít người, xin hãy bình tĩnh, chớ vội reo mừng tưởng mình đã "tìm ra châu Mỹ".
….



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trevn trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 04:10:28 PM
cháu chào chú TrongC6, chú ơi cho cháu hỏi là: doc đường hành quân theo đường TS vào nam, đơn vị chú có chạm trán với bọn biệt kích của giặc cũng như máy bay B52 Mỹ ném bom rải thảm không ạ ? vì cháu nghe CCB KCCM kể là có nhiều bộ đội ta hy sinh ngay trên đường TS, trước khi vào đến chiến trường cần chi viện. kính chúc chú khoẻ ạ


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tran479 trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 05:48:10 PM
Thời anh TrọngC6 du nam chắc là trên trời vắng bóng máy bay nhiều rồi ,từ đầu năm 1973 thì hình như hết máy bay do H Đ Paris ,còn từ 1972 về trước vẫn còn ...Nhưng theo đường ô tô chạy ,còn đường mòn lính đi bộ ngụy trang kỹ nên không lộ đường .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 28 Tháng Mười Một, 2009, 01:59:16 PM
….
               Sau một ngày nghỉ ngơi ở T8, hôm sau chúng tôi hành quân đến T9. Dọc đường, chúng tôi đi qua một cánh rừng toàn cây song. Đó là loại cây dây họ cây mây, nhưng thân to hơn nhiều, vỏ màu sẫm. Cả đoàn quân được dừng chân giải lao. Hầu như ai cũng tìm chặt một đoạn song theo ý mình. Rừng song này lớn lắm. Có lẽ các đoàn quân ra, quân vào đều dừng lại nơi đây chặt song làm gậy chống. Rừng song quá rộng, lại mọc liên tục nên lính có chặt cũng chẳng hao mòn bao nhiêu. Chịu khó mang theo đến chiều tới trạm khách hơ lửa uốn thì sẽ có cây gậy ba-toong tuyệt đẹp. Bây giờ và sau này cũng vậy. Rất nhiều lần chúng tôi được gặp những thứ có thể gọi là sản vật của rừng. Ở rừng Trường Sơn đây thì đơn giản, nhưng đó lại là thứ mơ ước rất lớn của người dân Hà Thành mà không phải ai cũng dễ có.

              Sau một ít ngày hành quân thì chúng tôi nắm sơ bộ được về cách bố trí các binh trạm Trường Sơn. Mỗi Binh trạm là 1 D, quản lý chừng 4 đến 5 trạm. Khoảng cách giữa các trạm là khoảng một ngày đường. Do địa hình nên khoảng cách không thể đều nhau. Có những trạm cách nhau trên hai chục cây số nếu nhiều đường bằng, người ta không đặt xa quá vì còn phải có thời gian cho bộ đội nghỉ ngơi. Không chỉ là đoàn quân mang vác bộ, mà ngay cả thương binh chuyển ra vào mùa mưa, cũng phải đảm bảo giao liên tải thương đi trong một ngày. Còn có những cung đường như từ trạm 40 đến trạm 43A thì dốc kinh khủng. Trên bản đồ, hai trạm chỉ cách nhau mươi cây số, nhưng một trạm là bên này núi, còn trạm kia là bên kia núi. Khi leo lên thì ba-lô thằng đi trước đặt sát mặt thằng đi sau. Chưa lên đến đỉnh mà mây mù đã phủ kín, cứ như đi thày trò Đường Tam tạng cưỡi mây. Đi trong mây mù như thế, chỉ một lúc sau là mồ hôi thấm ra và hơi nước ngấm vào đã bắt được tay nhau trên lớp vải quân phục của lính rồi. Mùa khô trên Trường Sơn không có vắt, nhưng những đoạn đường đỉnh núi cao ẩm ướt thì vắt bò như tằm trên noong dâu. Lúc xuống dốc toàn phải đi lùi. Người ta thường nói "gối mỏi, chân chùn", chắc là để chỉ với những lúc như thế này. Thanh niên cả mà đi run lẩy bẩy như những người ốm do ham mê tửu sắc, loại "chân ống giang, đầu gối củ lạc". Lúc giải lao, tử tế thì còn xoay người hạ ba-lô xuống đất, còn không thì cứ thế mà phệt cả người xuống, lúc đứng dậy hành quân tiếp lại phải nhờ người khác kéo tay.

               Các trạm đánh số thứ tự, nhưng cứ đến ngã ba của nhánh đường rẽ hướng, là lại đánh số khác. Từ trạm T5, chúng tôi cứ lần lượt đi đến trạm T13A. Những trạm nào đường bằng thì đa phần bãi khách rộng, suối nước trong lành, dù to hay nhỏ. Các trạm ở những vùng đường bình độ sít nhau, mặt bằng hẹp thì đa phần chật và bẩn. Nhiều trạm có bãi khách mà không có hầm, hoặc hầm chỉ là những hôc đá chiếu lệ. Chẳng may bị đánh bom thì đành chịu cảnh "nhà ngói cũng như nhà tranh". Ở những chỗ như thế thì chỉ có cây nhỏ, mắc võng rất tiện. Nhưng cũng thật bẩn nếu có các đoàn quân vào nối tiếp nhau, vì chẳng đủ diện tích dất để đào hố mèo. Các đoàn quân vào thưa thì không sao, vì để lâu thì nó cũng "…hóa bùn" rồi.

              Đến trạm T10 thì chúng tôi bắt đầu vào địa phận tỉnh Sa-va-na-khet của Lào. Đêm đó gặp mưa. Chiến trường Lào mùa mưa đến sớm hơn chiến trường miền Nam một tháng, nhưng cơn mưa đầu mùa này cũng là cơn mưa đến sớm, vì lúc này mới là nửa đầu tháng 3. Mưa không to, nhưng dày hạt, kéo dài chừng hơn một giờ. Lần đầu tiên được hưởng mưa rừng Trường Sơn, được thấy tác dụng thứ nhất của tấm tăng bộ đội (cái từ tăng mà xuất phát gốc của nó là TANK, thì rồi mãi về sau chúng tôi mới hiểu hết). Lúc đó chưa khuya, nằm trên võng mà cảm nhận rõ cái tiếng rơi lộp bộp của những hạt mưa xuyên qua lớp lá rừng thưa đập vào mái tăng, ngay sát mặt mình chỉ chừng mấy chục phân. Cảm giác hơi lạnh… và nhớ nhà.

               Nhớ những ngày mưa ở nhà, trẻ con rủ nhau chui ra chui vào những hốc cây rơm, cây rạ để trú, để chơi trò, coi đó như là cái nhà riêng của mình. Nhớ những lúc mưa ngồi núp kín dưới mấy tàu lá chuối tranh thủ vung cần xuống ao câu mấy con cá giếc đi ăn mưa, không hiểu sao lúc ấy cá cắn câu mạnh lắm. Nhớ những cơn mưa rào đầu mùa rủ nhau ra đồng bắt cá rô rạch. Nhớ những đêm mưa bão rủ nhau ra công viên chặt cành cây đổ về làm củi giúp mẹ. Rồi cuối cùng lại quay về nhớ cái cảnh trời mưa ngồi bậu cửa chờ mẹ đi chợ về có gói quà là một ít bỏng ngô, hay mấy miếng bánh chè lam lọc bột không kỹ còn lạo xạo trấu mẹ mua ở chợ đầu làng…

               Nước mắt không thành dòng, nhưng cũng đủ ướt hai khóe mắt… rồi chìm dần vào trong giấc ngủ. Hậu phương đã lùi xa, mà đường đến chiến trường thì vẫn còn dài, còn xa xăm lắm…
….



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoangdang_hm trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 11:27:27 PM
 Tiếp đi chú ơi, sao chú ngừng lại lâu thế  :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 03 Tháng Mười Hai, 2009, 10:47:35 PM

               Sau một ngày nghỉ lại trạm T10 để nhận gạo, chúng tôi hành quân sang T11. Như vậy là cứ đi vài ngày lại nghỉ một ngày lấy sức. Đôi khi được nghỉ lặp nhiều hơn, vì trạm chưa có giao liên dẫn đường, hoặc có tình hình đột xuất nào đó, nhưng cỡ lính tráng lèm nhèm thì không thể biết rõ. Chúng tôi như đàn ngựa, con đầu đi đâu thì cả đàn theo đấy. Dừng thì cùng dừng. Vẫn là cái đội hình lính huấn luyện ngoài Bắc cùng nhau, dựa dẫm vào nhau nên chẳng phải lo lắng gì.

               Ở trạm T11 rừng rất thấp. Rặt một thứ cây gì đó lá mềm, to và mỏng. Thân cây nào to chỉ cỡ bắp chân, còn thì bé tẹo. Mắc võng nằm phải cột giằng mấy gốc mới đủ lực giữ. Không dám căng tăng, và cứ thấy nó trống huếch trống hoác thế nào ấy, nhất là khi trời còn sáng. Nhưng chịu khó rải lá khô ra, rồi trải ni-lon nằm thì thấy kín đáo hơn. Lúc mới vào chiến trường cứ thấy rừng già cây to cổ thụ cao vút che hết cả nắng thì yên tâm vì kín đáo. Nhưng thật ra những khu rừng thưa, rừng thấp, thậm chí rừng toàn lau lách, nếu giấu quân tốt thì đó mới thật là nơi an toàn. Rừng già mà chẳng may gần tuyến đường chiến lược thì bị ăn B52 lúc nào không biết. Nhưng đấy là kinh nghiệm về sau, còn lúc đó thì chỉ thấy sợ thôi. Nấu cơm mà vừa nấu vừa lo khói. Nhiều bãi khách có những bếp đào sẵn cho lính nấu cơm, hết đoàn này đến đoàn khác. Chúng tôi nghe biết nó là bếp Hoàng Cầm, nhưng cấu tạo ra sao chưa biết. Chỉ biết là đun ở các bếp đó không thấy có khói.

               Trạm T12 và T13 nằm dọc bên một con sông, hình như là sông Se Băng Hiêng. Sông ở đây dốc rất cao. Vì thế ở bãi khách mà ra sông lấy nước nấu cơm như đồng bào vùng cao đi gùi nước. Thằng nào đến phiên đó phải nấu cơm thì đúng là số ruồi. Những thằng không phải nấu cơm thì thậm chí nhiều thằng không đi rửa mặt mũi, chân tay vì ngại. Phải nhờ thằng khác lấy hộ bình tông nước dùng tạm qua đêm.

               Hôm vượt sông phải dậy từ 2 giờ sáng. Công binh mắc cho sợi dây soong chăng ngang mặt sông. Chỗ vượt là một cái ghềnh, đi qua các mỏm đá cho nông, nhưng nước chảy rất siết. Cái dây chăng cứ oặt ẹo, giằng qua giằng lại qua tay thằng này thằng khác, nên nhiều thằng mất đà ngã ướt hết. Cuối cùng thì cũng qua hết được sông. Không biết từ lúc nào, chúng tôi đã vứt hết giày. Vừa nặng, vừa khó dùng. Dép cao su đúc là ưu việt nhất. Càng về sau, chúng tôi càng thấy tác dụng to lớn không gì sánh được của đôi dép đúc. Vừa nhẹ, vừa bền, vừa chắc chắn. Nhưng dứt khoát phải có tất. Tốt nhất là tất len của bọn ngụy. Đi khô, đi ướt, đi bùn kiểu gì đôi tất cũng làm cho chân bám chặt vào dép, không bị trơn hay xoay vòng. Thế là sau chiếc mũ cối, đôi giày cao cổ phát cho lính vượt Trường Sơn đã cho thấy tác dụng kém của nó.

               Qua sông, chúng tôi tới một ngã ba rẽ sang nhánh khác và thay giao liên. Bây giờ là trạm T31. Do vượt sông ngã rơi gạo… chúng tôi phải ăn cháo một ngày và phải nhịn ăn một ngày trong điều kiện vẫn phải hành quân đủ một cung đường hơn hai chục cây số. Lính tráng làu bàu, nhưng chỉ có cây rừng nghe. Cả đội hình tụt tạt, lõng thõng. Thằng đi đầu tới trạm khách lăn ra ngủ đến hơn tiếng sau thằng cuối cùng mới tới. Nhe răng ra mà nhìn nhau, đói cả lũ một lượt. Hộp sữa bột 1 kg và cân đường cá nhân cũng chẳng mấy thằng còn. Đành lấy ra nhúm ruốc mặn khuấy vào ca nước suối mà ăn uống tạm.

               Hôm sau chúng tôi được lấy gạo bổ sung, ăn no, nghỉ một ngày chờ đêm hành quân vượt đường 9.

              Con đường 9 đã trải qua 1 năm kể từ chiến dịch đường 9 Nam Lào. Mùa khô mà lau lách hai bên đường vẫn cao vút, bò lấn ra con đường lâu ngày không người qua lại. Chúng tôi vượt đường 9 không phải theo hướng cắt vuông góc, mà phải đi dọc theo nó tới cả trăm mét. Không thể tin là mình đang đi qua con đường đã lừng danh sử sách. Đường đất, hẹp như một con đường miền trung du. Có lẽ con đường 4 qua Đông Khê, Thất khê đầy bông lau hai bên đường, nơi bộ đội ta mở chiến dịch Biên giới 1950 cũng giống thế này. Chẳng còn dấu tích nào của những trận đánh năm ngoái, hay nơi đây chỉ đơn thuần là con đường hành quân của những lữ đoàn dù ngụy? Thế mà chúng tôi vẫn phải ngậm tăm, lom khom chạy để vượt qua con đường thật nhanh. Mà có lẽ nơi này cũng gần với tuyến đường xe vận tải Trường Sơn rồi thì phải.
......



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: songvedem trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 06:50:02 AM
Mãi giờ cái ấn tượng sâu nhất với tôi thời ấy không phải là các trận đánh mà chính là các cuộc quân hành dai dẳng không biết đâu là đích. Mùa mưa 9h sáng hơi nước mù mịt trong rừng thẳm sau đêm ngủ mệt. Ngủ rừng không khí nó nặng lắm! Ngày nào cũng như ngày nào ... Mùa khô thì vạ vật đái ra mà uống, ăn cắp cả nước đái nhau mà uống, mà sống...

--------------------------
Em vừa xem Discovery tối qua xong, trong trường hợp bị đắm tàu hay lạc trong rừng, nếu cố uống nước biển hay nước tiểu thì sẽ bị khát hơn, bị tác động lên não và nhanh toi hơn nếu chỉ cố gắng nhịn bác ạ.
Cả anh Trung Sỹ và Bình Yên đều có đái ra mà uống khi đi rừng, có thể đây là liệu pháp tinh thần hơn là hiệu quả các bác nhỉ


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 11 Tháng Mười Hai, 2009, 09:16:04 PM
…..
              Đúng như vậy. Sau khi vượt qua đường 9 thì tình hình có nhiều điều khác hẳn. Chúng tôi chỉ đi được một chặng đến gần sông SeKong thì phải nghỉ. Từ đây vào, phòng không của ta yếu hơn nên máy bay địch hoạt động rất nhiều. Đường vượt sông của tuyến đi bộ sát ngay gần đường xe. Trong này không thể có cầu, xe ô-tô phải đi qua sông bằng đường ngầm. Nằm ở một cái trạm không ra trạm ngay gần bờ sông. Có lẽ cũng không phải bãi khách vì ở đây chỉ thấy vô số hầm nằm dọc hai bên đường. Rồi vào sâu hơn cũng thấy cảnh hầm dọc đường. Đa phần là hầm nắp bằng, nhưng cũng nhiều hầm chữ A. Có lẽ những hầm này dùng cho giao liên hoặc các đơn vị hành quân qua đường. Thật đúng là "…Trên đường ta ra tiền phương, có những căn hầm ven Trường Sơn. Hầm chở che ta trước giờ xuất kích, hầm cùng ta đi đánh giặc đêm ngày…" như lời một bài hát.

              Chúng tôi chưa thể vượt sông vì địch đang đánh phá rất mạnh. Phía ngầm địch thả pháo sáng suốt đêm. Tiếng máy bay nghe cứ ì ì. Vệt sáng của pháo sáng cứ nhập nhòe, chập chờn, chao đảo. Rồi tiếng súng nghe lùng tùng lúc xa lúc gần. Cảm giác rất lạ, vừa nôn nao, vừa là lạ như đang xem phim ngoài trời.

              Chúng tôi lấy nước nấu cơm, không phải dưới sông mà phải đi lùi lại một con suối xa đến cả tiếng đồng hồ. Cho đến lúc này chúng tôi vẫn chưa đi qua một bãi bom nào. Các cánh rừng đều có vẻ yên bình. Đến đêm thứ ba thì chúng tôi dược lệnh vượt sông. Nhận lệnh từ tối. Cả đơn vị đeo sẵn ba-lô ngồi ngủ vạ vật theo đội hình hàng dọc, đến tầm 3 giờ sáng thì được lệnh lên đường. Hành quân đêm không phải là lần đầu với chúng tôi, nhưng ở nơi chưa quen biết địa hình, đêm tối đen, tốc độ hành quân lại do giao liên quyết định, lúc nhanh lúc chậm nên chỗ nào cũng xảy ra cảnh thấy thằng trước đi vèo vèo thì mình vội vàng chạy bám theo kẻo lạc. Bất thình lình hàng quân dừng lại đột ngột, thế là thằng sau đâm sầm vào thằng trước ngã dúi dụi. Nhất là đoạn xuống dốc ra bờ sông thì ngã xoành xoạch.

              Cuối cùng thì chúng tôi cũng ra được đến bờ sông và lội qua sông dưới khung trời bàng bạc. Nước sâu đến ngang lưng. Có muốn đội ba-lô lên đầu cũng không được vì không quen, lại mỏi, thế là lại bị ướt mất nửa ba-lô. Tẳng sáng thì thằng lính cuối cùng cũng leo lên được bờ sông bên kia. Không được nghỉ mà phải cắm cúi hành quân hơn một tiếng nữa mới được lệnh dừng lại. Tất cả được phép nghỉ một tiếng rưới để nấu cơm. Chỗ này có khoảng bằng rất rộng, gần một con suối nhỏ nên chuyện cơm nước cũng dễ dàng. Hành quân tiếp đến chiều thì chúng tôi tới được bãi khách. Bãi khách rộng, hầm rất nhiều và tốt.

              Cạnh bãi khách có mấy căn nhà khá vững chắc. Chắc nơi đây từng là nhà chỉ huy hay trạm phẫu gì đó. Cột nhà to hơn bắp đùi, đều nhau chằn chặn, chẳng hiểu là thứ cây gì. Trong này làm nhà, cột nhà chỉ là thân cây lóc vỏ, thế mà loại cây này như là thứ cây không vỏ, nhẵn như kiểu thân cây chuối.

               Hôm sau hành quân qua một cánh rừng lớn, chúng tôi ngạc nhiên nhận ra loại cây có thứ gỗ làm cột nhà ở bãi khách đêm qua. Hóa ra đó là cây xương rồng. Nếu không tận mắt nhìn, chắc chẳng bao giờ tôi tin có thứ cây xương rồng to mà thân gỗ của nó làm được cột nhà. Cả một cánh rừng chỉ toàn cây xương rồng. Thân chúng mọc thẳng, cao vút và tự tróc hết vỏ. Có ngửa cổ nhìn lên cao tới 3, 4 mét mới thấy đám ngọn xương rồng xanh cằn cỗi. Tuổi thọ của chúng chắc không dưới vài chục năm.

              Sang đến chiều thì phải qua một khu rừng trông như những ruông dâu. Tất cả được lệnh bẻ mỗi thằng một cành cây to che đầu làm ngụy trang. Con đường qua cánh rừng này dài tới mấy trăm mét, lối mòn nhỏ như không có mấy người qua. Chắc là đường nhánh tránh con đường giao liên chính bị hỏng. Hàng quân cũng dài nên không phải qua ngay được cùng một lúc. Chợt có lệnh ngồi xuống tại chỗ và lấy cành cây che đầu vì có máy bay. Một lúc cũng nghe thấy tiếng máy bay thật, nhưng nó cứ o o… như ở mãi đâu. Rồi ngẩng đầu ngó lên trời thì cũng thấy một cái máy bay hai thân màu trắng bạc bay tít trên cao. Nhìn nó bé tẹo, không biết nó có nhìn thấy mình không. Đợi mãi đến khi nó vè vè đi đâu mất thì lại được lệnh lên đường.

               Từ hôm đó trở đi, nhiều lần chúng tôi phải đi qua các khu rừng thưa, hầu như đều gặp loại máy bay trinh sát này. Rồi được biết nó là OV10, chuyên thám thính cho B52 đánh bom. Sau này ở chiến trường, cuối năm 1972 ra Sa-ra-van đánh nhau, chúng tôi gặp loại này thường xuyên. Đi nhóm vài thằng thì cứ đậy lá nằm ngủ rồi ngắm nó bay vè vè cả ngày. Cũng có lần bị nó nghi ngờ gọi B52 đến. Chỉ nghe tiếng F105 bay thấp sạt cánh rừng trinh sát lần cuối rồi chưa đầy 10 phút sau thì bom đã rơi ngập đất. May mà ở rìa bãi bom, căn hầm chữ A bị lật trơ lên một bên vách, trơ khấc ra mấy thằng lính, nhưng người chỉ bị chút sức ép mà không chết ai.

               Dọc đường Trường Sơn, tiểu đoàn chúng tôi không bị dính bom trận nào. Thế những cũng phải đến dăm lần phải đi qua bãi bom B52 mới thả. Có một lần nghe tiếng bom ở xa mà rồi lại đi qua chính chỗ đó. Cây cối đổ ngổn ngang, cành là còn tươi nguyên. Mùi thuốc bom hòa mùi thân cây gãy còn ngai ngái, khen khét và có lúc ngửi như mùi đường cháy. Đi qua đó, dù chỉ là cắt ngang mà cũng vướng víu vô cùng. Nhưng giao liên bảo, đó mới là con đường an toàn nhất.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 20 Tháng Mười Hai, 2009, 11:08:32 AM

   "…Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay,
   Đất Thánh hiên ngang "tút" ban ngày…"


               Chả hiểu cái câu đó do ai sáng tác, và bắt đầu có từ bao giờ. Khi chúng tôi vào bộ đội, thì được nghe câu đó từ các cán bộ khung. Nhắc nhở, giáo dục và răn đe, nhưng lính "tút" vẫn cứ "tút". Chúng tôi không coi đó là tội lỗi, chỉ xem như là tranh thủ, vì trước sau chúng tôi vẫn vào Nam và sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ và cuộc đời cho Tổ Quốc trong những trận chiến đấu đang chờ chúng tôi trong chiến trường.

               Đó là ngoài Bắc, còn đã vào đến Trường Sơn rồi thì không ai còn nghĩ đến chuyện quay lại. Tât cả chỉ có một hướng phía trước là con đường vào chiến trường. Mới chỉ vất vả thôi và trong lòng còn có niềm háo hức ra trận của tuổi trẻ. Mùa khô quả là mùa ra trận, và "… đường ra trận mùa này đẹp lắm…", đúng như nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, quả là không ai muốn hoặc có gan quay lại. Thế mà cái câu ".. Hà chuồn…" lại ứng đúng vào một buổi chiều, khi chúng tôi đang trên một cung đường thuộc đất bạn Lào ở tỉnh Sà-Vằn-Nà-Khẹt.

               Cung đường này không có dốc cao; rừng già, đường rộng và có lắm khe suối nhỏ. Hôm ấy đến phiên tôi mang khẩu AK. Mỗi tổ tam tam có một khẩu AK được phát từ ngày nhận quân trang ở Hà Nam với 20 viên đạn nên cứ quay vòng ba ngày là tới lượt mình. Chỉ có súng không, còn đạn do A trưởng cầm. Thằng này không phải mang súng. Thật đúng là chuyện quản lý dở hơi, vì nếu có gặp thám báo thì có súng mà không đạn thì còn vướng hơn, chạy đâu cho thoát. Nhưng hôm trước qua một trạm lấy gạo bổ sung, tôi lân la xin được một anh lính giữ kho của binh trạm hơn chục viên đạn. Thế là khoái lắm, tôi dấu kín trong ba-lô, coi như của riêng. Hôm nay đến lượt mang súng, tôi lắp luôn 3 viên vào băng, thế là dù sao mình cũng có vũ khí ra vũ khí. Tiểu đội tôi có thằng Nghị bị ốm (chưa phải là sốt rét), nên tôi mang đỡ ít đồ và đi cùng nó. Chúng tôi đi sau cùng đội hình, có thêm đại đội phó Hảo khóa đuôi. Lúc ăn cơm trưa, chúng tôi cũng ăn sau cùng, rồi lại lẽo đẽo đi sau đơn vị. Giao liên đã chỉ sẵn đường nên thủ trưởng Hảo rất yên tâm. Cả tốp đi chậm và phải nghỉ giải lao nhiều hơn so với cả đơn vị.

               Khoảng gần giữa chiều, chúng tôi ngồi nghỉ lại bên một con suối. Tôi đang duỗi chân tay khoan khoái trên một phiến đá, ngửa cổ nhìn lên tán cây cao vút của rừng già và ngó ngoáy nhìn quanh thì chợt thấy có làn khói mỏng ở khe suối phía xa. "Thám báo"! Tôi kêu lên rồi tụt ngay xuống khỏi mỏm đá, giương khẩu Ak (chưa kịp lên đạn) lên và vấy tay cho thủ trưởng Hảo. Tât cả cùng nằm bẹp xuống. Thủ trưởng Hảo rút cây K54 ra lăm lăm, nhưng cũng chưa ra lệnh gì. Có đến mấy phút trôi qua, không thấy gì, thủ trưởng mới bảo tôi đi xuống khe suối rồi tiến lại xem khói ấy là gì. Lính mới tò te, kinh nghiệm là số không, nhưng có khẩu AK trong tay nên tôi cũng vững dạ dò dẫm tiến lên. Trượt chân mấy lần thì tôi cũng mò tới nơi. Chỉ thấy có một cái hăng-gô treo trên hai chạc cây đang đỏ lửa, cạnh đó có một cái ba-lô như của lính chúng tôi mà không thấy có người. Thủ trưởng Hảo cũng tới nơi, nhanh chóng nhận ra đây là quân tư trang của một thằng lính Bắc đang nấu cháo, thấy động thì bỏ trốn. Đoán thằng này đang đảo ngũ, chúng tôi lần ra xung quanh tìm. Nó chắc cũng vừa mới chạy, lại bỏ quên ba-lô nên cũng không thể chuồn thẳng. Chúng tôi kiên nhẫn ngồi đợi. Độ chục phút sau, tôi phát hiện có bụi cây gần đó lay động, mò lại thì phát hiện một thằng lính mình. Nó thấy tôi có súng nên tất nhiên là sợ và phải chui ra ngay. Thằng này cao và dáng khỏe hơn tôi rất nhiều. Thủ trưởng Hảo bình tĩnh bảo nó ra ăn cháo cho khỏi đói rồi hỏi chuyện tỉ tê. Tất nhiên là cu cậu phải khai vì đã lâm vào thế bí. Hóa ra nó là lính đoàn Hà Tây, hành quân trước chúng tôi một ngày. Sớm nay nó trốn lại, và lần theo đường cũ quay ra, đến đây nấu cháo ăn thì bị chúng tôi phát hiện. Thế là nó phải cùng chúng tôi quay lại trạm khách, nơi đoàn của nó nghỉ đêm trước. Thằng này cũng tử tế, mang vác luôn đồ cho thằng Nghị để tất cả cùng đi cho nhanh.

               Chiều đó nhập vào được với đơn vị, tôi lại phải cùng thủ trưởng Hảo đưa nó vào giao cho Ban chỉ huy trạm. Lúc này tôi đã biết tên nó là Mạnh. Tuy không ủng hộ chuyện nó "B quay", nhưng trong lòng tôi cũng thấy nể nó một phần. Có mỗi cái ruột tượng gạo, vũ khí không mà dám một mình lặn lội theo kiểu chui lủi để tìm đường về nhà thì ghê thật. Thằng Mạnh được BCH Trạm tiếp nhận, còn chúng tôi ra về bãi khách.

               Hôm sau, chúng tôi lại hành quân tiếp. Đi chừng nửa tiếng, chúng tôi gặp một tốp giao liên binh trạm đi ngược chiều. Chợt trong đoàn có một thằng nhảy ra ôm chầm lấy tôi rồi túm hai tay lắc lắc. Tôi nhìn, nhận ra nó là thằng Mạnh đoàn Hà Tây gặp hôm qua. Nó bảo nó đã được nhận vào bổ sung làm lính binh trạm. làm nhiệm vụ cùi hàng, tải thương. Nó có vẻ mãn nguyện lắm, vì không phải vào Nam đánh nhau. Nó nói rối rít rồi vội chạy cho kịp toán giao liên. Tôi cũng nói vội câu chúc mừng nó. Thế là nó vừa toại nguyện không phải đánh nhau, vừa vẫn được phục vụ Tổ quốc, không phải mang tiếng đào ngũ, sống lao động cải tạo trong mấy cái trại thu dung ngoài Bắc.

               Cảnh đào ngũ trên con đường Trường Sơn, tôi cũng chỉ gặp một lần đó thôi. Sau này vào chiến trường, trải qua gian lao, vất vả và ác liệt, lính trong trung đoàn và cả nhứng đồng đội Hà Thành của tôi đảo ngũ rất nhiều. Nhưng đó lại là chuyện khác, chuyện của nhiều năm sau…




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 30 Tháng Mười Hai, 2009, 08:32:39 PM
….
               Không chỉ những đường mòn chuyển quân, mà cả những con đường vận chuyển hàng bằng xe ô-tô trên Trường Sơn, phần lớn nằm vắt qua đất Lào. Ai cũng bảo có tuyến Đông và tuyến Tây Trường Sơn, nhưng những câu chuyện về các chiến sĩ công binh làm đường, làm ngầm và chuyện của cánh lính lái xe thì phần lớn đều mang dáng dấp rừng và địa danh Lào.

              Tuyến đường ống của bộ đội xăng dầu trên Trường Sơn cũng vậy. Nó tránh xa các con đường vận tải luôn bị bom Mỹ đánh phá vì nơi đó mất an toàn. Nó bám theo các tuyến đường mòn của đoàn quân đi bộ. Tôi biết điều đó vì không chỉ một lần, chúng tôi phát hiện thấy đường ống dẫn dầu. Nhiều đoạn qua khe hay sườn núi, nó nằm lộ thiên ngay trên mặt đất. Kẻ địch không thể đủ thám báo để tung ra mà lần mò khắp Trường Sơn, chứ đường ống dẫn dầu không phải là khó tìm. Có những lần nó nằm sát đường đi, ngồi nghỉ giải lao ven đường chỉ cách nó độ một mét.

              Lính tráng cũng là con người, nên có lúc, có thằng bộc lộ cái ngu hết sức ngớ ngẩn và dở hơi. Thằng Bình bên Đông Dư (Gia Lâm), một lần dừng chân giải lao thấy cái ống dẫn dầu đã dùng dao găm cậy cái nắp ở một chỗ nối. Đầu tiên là nó, rồi tất cả đám lính tại đó đều tranh nhau lấy xăng đổ bật lửa từ cái dòng xăng phọt ra không lấy gì làm mạnh đó. Hết khôn dồn đến dại. Lấy đủ hết xăng rồi thì không sao bịt lại được nữa. Cái dòng xăng ấy dù bé nhưng cũng chảy dần ra thấm đẫm cả một khoảng đất. Xăng cũng hòa vào không khí, bốc mùi ra một vùng rộng lớn xung quanh. Cán bộ và giao liên không ai biết. Đến lúc đứng dậy hành quân, một thằng ngu nào đó còn lấy bật lửa ra lách tách bật thử. Thế là cả đám cỏ xung quanh bừng cháy rất nhanh. Đám lửa lan nhanh ra cả khoảng đất thấm dầu, khói bốc cao. Thế là tất cả bỏ chạy. Bọn nghịch dại này nằm ở tốp sau cùng. Thấy bọn đằng sau rầm rầm chạy lên kèm theo khói lửa bốc cao, chúng tôi ngồi nghỉ phía trên cũng bật dậy chạy. Cứ thế, cả hành quân rùng rùng chạy. Chạy cho mau vì lúc đấy cũng chưa ai hiểu ra tình hình là thế nào. Lại sợ, lúc này mà có máy bay trinh sát OV-10 trên đầu thì chạy đằng trời. Tất cả xanh mặt. Cán bộ cũng phải chạy tới chạy lui, một lúc lâu sau mới hiểu ra tình thế. Mấy thằng hiểu biết một chút còn đoán là một lúc nữa thôi cả đoạn ống sẽ nổ như bom. Lính tráng sợ đã đành, mà cán bộ khung dẫn quân cũng sợ.

               May thay đám cháy lùi lại ở phía sau chắc tắt dần, vì không thấy khói bôc lên nữa. Không có nổ đường ống. Đám cây rừng quanh đó cũng không bị cháy để có thể gây ra cháy rừng. Sau này chúng tôi biết là đường ống dẫn dầu chỉ bơm từng trạm. Trong lòng đoạn ống khi đó chỉ còn lượng xăng dính ống nên khi bị thủng chỉ chảy ra ít và không đủ để gây cháy nổ đường ống. Thật hú vía.

              Rồi chúng tôi cũng an toàn đến được trạm khách sau. Đơn vị họp ngay để kiểm điểm, nhưng không đứa nào bị sao cả, vì thực ra cũng có tìm ra đứa nào bật lửa đâu. Tất cả lại lên đường tiếp tục hành quân. Về sau chúng tôi rút kinh nghiệm, xin luôn xăng của cánh lái xe khi gặp họ ở những trạm phải lấy gạo bổ sung.

*

              Không hiểu bắt nguồn từ đâu mà tít trên dãy núi Trường Sơn, có chỗ tưởng như là đỉnh cao nhất rôi, mà vẫn có nhiều suối. Mùa khô, nhiều con suối nhỏ và cạn đã đành, nhưng chúng tôi cũng gặp nhiều con suối to. Chiều rộng dòng nước của nó cũng tới hai, ba mét. Có nhiều chỗ dòng chảy quẩn lại, nước rất sâu. Có lần dừng chân ở một bãi khách, lính tráng nhìn thấy cá, đem AK ra bắn mà cũng được cá. Một điều rất may là trước đó, chúng tôi đã được phổ biến kiểu truyền miệng là không được thò nòng AK xuống nước rồi bắn. Bắn kiểu đó nòng AK sẽ vỡ toắc ngay vì gây ra một thứ áp suất nào đó. Không đứa nào dám thử, nhưng chắc là như vậy. Vài con cá suối ranh, thế mà đem nấu cháo cũng thấy ngon tuyệt. Dọc Trường Sơn, chúng tôi đứa nào cũng thạo cái món tự nấu cháo bằng hăng-gô rồi thả tí ruốc vào. Lúc ấy là ruốc thịt, chưa biết tới ruốc cá. Cháo ruốc ngon tuyệt vời, nhất là trong cảnh lúc bấy giờ.

               Lúc ở nhà đọc chuyện cổ tích, tôi cứ nghĩ rừng có nhiều thứ ăn được lắm, và những cuộc đi chơi rừng sẽ vô cùng thơ mộng. Nào là hái nấm, nhặt hạt dẻ… Thực ra trong rừng cũng có rất nhiều thứ đó, sau này chúng tôi cũng có nhiều dịp hái nấm và nhặt hạt dẻ về rang ăn, nhưng lúc ấy dọc đường không thấy những của đó. Chẳng có rừng vải, rừng chuối, rừng mơ gì cả. Hành quân mùa khô nên hầu như không có rau ăn. Gặp Tre, gặp Vầu, gặp Bương, gặp Luồng… vô khối ra đấy, nhưng không phải mùa măng. Chỉ có đôi lần qua những đoạn có khe suối cạn, chúng tôi được giao liên chỉ cho cây rau tàu bay. Ngày ở nhà nghe cha chú kể nhiều về loại rau này trong kháng chiến ở Việt bắc, nhưng bây giờ mới biết. Rau mọc tốt, xanh um. Chúng tôi hái cả ôm mang theo, để đến khi tới trạm thì nấu ăn. Lúc đầu chưa có kinh nghiệm, hái dài ngoẵng, mang nặng. Lúc nhặt vẫn phải bấm ngọn non như nhặt rau muống, bỏ cọng già rất nhiều. Rau tàu bay lúc mới ăn thấy hơi hăng hắc, nhưng vì thiếu rau xanh lâu ngày nên chẳng để thừa tẹo nào. Nhiều người còn bảo ăn thứ rau ấy hay bị ngã nước, nhưng chắc không phải. Sau này có một thời gian mấy tháng trời, chúng tôi chỉ có thứ rau đó ăn. Hết luộc lại sào, nhưng theo tôi ngon nhất là rau tàu bay muối dưa. Dòn và đậm lắm.

               Không phải ở rừng chỗ nào cũng có rau tàu bay mà ăn đâu. Trong rừng mà ăn được nhiều nhất có lẽ là các thứ lá chua. Không chỉ cây bứa, mà còn nhiều loại cây lá chua khác, chả biết tên nó là gì. Cây chỉ nhỏ như cây mọc tái sinh, lá màu như lá sấu non. Vò ăn thấy chua chua, đem ngắt thả bừa vào nồi nấu canh, lùa cơm cũng dễ.

               Hết mơ rau lại đến mơ quả. Đi mãi ngày này qua ngày khác mà không gặp rừng cây ăn quả. Nhiều lúc cũng thấy thứ cây có quả, nhưng không ăn được. Đặc biệt có những thứ quả quái quỷ gì đó màu sắc cực đẹp, rực rỡ. Loại này chỉ có đem bày cho đẹp. Hỏi mấy anh giao liên, bọ bảo trong rừng quả gì càng đẹp, càng độc. Chớ có hái cắn thử mà có ngày chết. Thậm chí họ còn bảo có thứ quả chim ăn được, nhưng người không thể ăn được. Tốt nhất là nên hỏi lính cũ trong rừng chứ đừng có mà cắn bừa. Đấy cũng là những bài học vỡ lòng về rừng với lính mới chúng tôi…




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoangdang_hm trong 30 Tháng Mười Hai, 2009, 11:51:07 PM
 Chú Trọng viết bài này hay quá, cháu có cảm giác như được ở cạnh chú, cùng chú đi về quá khứ , cùng với chú hành quân trên con đường năm nào. Chú viết nhanh thêm tí nữa nhé :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: H3 Hùng trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 12:54:15 AM
             Đến trạm T10 thì chúng tôi bắt đầu vào địa phận tỉnh Sa-va-na-khet của Lào. Đêm đó gặp mưa. Chiến trường Lào mùa mưa đến sớm hơn chiến trường miền Nam một tháng, nhưng cơn mưa đầu mùa này cũng là cơn mưa đến sớm, vì lúc này mới là nửa đầu tháng 3. Mưa không to, nhưng dày hạt, kéo dài chừng hơn một giờ. Lần đầu tiên được hưởng mưa rừng Trường Sơn, được thấy tác dụng thứ nhất của tấm tăng bộ đội (cái từ tăng mà xuất phát gốc của nó là TANK, thì rồi mãi về sau chúng tôi mới hiểu hết). Lúc đó chưa khuya, nằm trên võng mà cảm nhận rõ cái tiếng rơi lộp bộp của những hạt mưa xuyên qua lớp lá rừng thưa đập vào mái tăng, ngay sát mặt mình chỉ chừng mấy chục phân. Cảm giác hơi lạnh… và nhớ nhà.

Nửa đêm về sáng, tâm hồn yên tỉnh, đọc giọng văn kể chuyện hành quân trầm buồn tha thiết của bác Trọng thấm lắm. Biết được thêm mùa mưa ở Lào đến sớm hơn mùa mưa ở Miền Nam Việt Nam một tháng.

Thấy cái cảnh nằm rừng đêm mưa dưới tán rừng, dưới tấm tăng nylon bộ đội của bác Trọng mà tự dưng tôi chạnh lòng nhớ lại cảnh hành quân truy quét năm nào ở biên giới Thái gần Đăng-cum (phía bắc ngã ba Con Voi 20km), nằm dưới cơn mưa rả rít dai dẳng, nghe tiếng mưa rơi lộp bột trên mái tăng, cảm nhận rõ dòng chảy của nước theo thân cây thấm vào dây võng quấn thân cây, thấm qua cọc phụ, thấm xuống dây giăng võng, rồi lan ra cả cái võng mình nằm, thấy cái lạnh đêm mưa, thấy cái ướt át khó chịu, thấy rõ cái khổ cực kỳ của đời lính rừng, vậy mà tuổi 20 bất chấp tất cả, sáng dậy vuơn vai, thay bộ đồ khô mình mặc ngũ ra nhét vào ba lô, mặc lại bộ đồ ướt hành quân tiếp...

Hình như bộ đội Việt Nam thời nào cũng khổ như nhau, nay nhắc lại cái khổ đó không thấy sợ, mà thấy nó lãng mạn mới chết chứ.  ;D Bởi thế tại sao thằng lính chiến về đời thường nó lại hơi gàn, hơi bất cần, hơi bất chấp... Có lẽ vì nó đã vượt qua được cái gian khổ của cuộc chiến, nó đã vươn lên một tầm cao mà chỉ nó tự cảm nhận và sau đó nó nhìn lại đời bằng một con mắt bao dung và phán xét.

Bao dung vì nó sẳn sàng tha thứ cho những sai lầm vấp váp của mỗi con người, nó sẳn sàng sẻ chia giúp đở những người khốn khó hơn nó và phán xét khi nó thấy một người nào đó làm ra vẽ ta đây là anh hùng, là lãnh đạo. Bởi vì anh nói miệng thì tôi chưa tin đâu, thử ra chiến trường tôi coi anh chiến đấu thế nào thì tôi mới tin. Khi chiến trận bùng lên, khi đạn bay pháo nổ, cái bản chất con người nó hiện ra ngay, trong cái ranh sống chết đó người lính nhận ra ai là anh hùng, ai là anh... xạo! >:(


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 01:39:02 AM
hehe đúng thật , lính ở rừng mùa mưa cực hết chổ nói , tăng lỡ đổi chó hết rồi cứ dầm mưa suốt ngày suốt đêm , quần áo hết khô lại ướt hết ước lại khô . Hành quân thì đở lạnh còn nằm trên võng thì cái gì teo được nó sun hết lại  ;D Hết đợt chiến dịch kéo dài gần 1 tháng mới được ra phum , ôi chao sao lúc đó thấy đời sung sướng quá , con gái K đứa nào cũng đẹp   ;D ( hehe 1 tuần sau nhìn lại tự trách mắt bị bù lệch ăn )


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trevn trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 10:02:41 AM
Chú ts Hùng ơi @: đọc đâu đó trong quansuvn.net, cháu thấy bộ đội ta được hướng dẫn cách mắc võng làm sao để mưa không bị ướt phải không ạ - hay là nếu mưa rả rich cả đêm thì kiêu gi` cung bị ướt ạ ?
Cháu hỏi chú Haanh một tí: thấy các chú bộ đội hay đổi quần áo, tăng võng lấy các thứ để lien hoan, Vẫn biết là các chú đã trải qua và không sao cả, cháu vẫn thắc mắc là đổi hết đi rồi hành quân tác chiến rét mướt + muỗi nhiều như thế làm sao mà ngủ được, vì vất vả thì có thể chịu được nhưng mà thiếu ngủ thì thật sự mệt mỏi và không tỉnh táo (rất khập khiểng nhưng cháu lấy từ kinh nghiệm xem bong đá world cup ạ, nhiều khi sang hom sau đi xe máy còn ngủ gật ấy chứ  ;D)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: H3 Hùng trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 10:19:21 AM
Chú ts Hùng ơi @: đọc đâu đó trong quansuvn.net, cháu thấy bộ đội ta được hướng dẫn cách mắc võng làm sao để mưa không bị ướt phải không ạ - hay là nếu mưa rả rich cả đêm thì kiêu gi` cung bị ướt ạ ?

Chú xin giải thích cách mắc võng đại khái như sau:

1. Lấy dây võng quấn quanh cọc phụ, sao cho đoạn dây mắc vào cọc phụ cao hơn đoạn dây mắc vào thân cây, để nước theo dây không chảy vào võng. Cọc phụ thường là đoạn cây nhỏ bằng cườm tay, cườm chân.
 
2. Sau đó lấy dây võng quấn tiếp vào thân cây mắc võng làm cọc giăng võng.

Tuy nhiên trong quá trình mình nằm võng, do nước mưa làm cọc phụ và dây võng trơn ướt nên nó mất ma sát, nó từ từ tuột xuống, nước mưa lại len vào võng theo nguyên lý nước chảy từ trên xuống. Mình khắc phục bằng cách lấy khăn lau mặt quấn đở trên đoạn dây dẩn nước đó để nước theo khăn rơi xuống đất. Đầu dây kia cũng vậy, vắt đại cái quần cái áo ướt gì đó để dẩn nước đi xuống đất. Chứ trời đang mưa, đang mặc bộ quần áo khô cuối cùng mà lại nhảy ra ngoài mưa giăng võng lại thì lát nửa lấy cái gì thay đây: Tài sản của thằng lính chỉ có duy nhất 2 bộ quân phục mà thôi!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 12:20:29 PM
Hình như bộ đội Việt Nam thời nào cũng khổ như nhau, nay nhắc lại cái khổ đó không thấy sợ, mà thấy nó lãng mạn mới chết chứ.   Bởi thế tại sao thằng lính chiến về đời thường nó lại hơi gàn, hơi bất cần, hơi bất chấp... Có lẽ vì nó đã vượt qua được cái gian khổ của cuộc chiến, nó đã vươn lên một tầm cao mà chỉ nó tự cảm nhận và sau đó nó nhìn lại đời bằng một con mắt bao dung và phán xét.

Bao dung vì nó sẳn sàng tha thứ cho những sai lầm vấp váp của mỗi con người, nó sẳn sàng sẻ chia giúp đở những người khốn khó hơn nó và phán xét khi nó thấy một người nào đó làm ra vẽ ta đây là anh hùng, là lãnh đạo. Bởi vì anh nói miệng thì tôi chưa tin đâu, thử ra chiến trường tôi coi anh chiến đấu thế nào thì tôi mới tin. Khi chiến trận bùng lên, khi đạn bay pháo nổ, cái bản chất con người nó hiện ra ngay, trong cái ranh sống chết đó người lính nhận ra ai là anh hùng, ai là anh... xạo!


--------------------
       @bác Thuong si Hung:
     Bác nói rất đúng. Cảm ơn sự chia sẻ của bác vì nó rất gần với suy nghĩ của tôi.
       Chúng mình vừa sống về nội tâm, vừa gặm nhấm quá khứ nên hay bị nhìn là gàn. Nhưng nhớ về quá khứ nó cũng sướng lắm bắc ạ, không gì so sánh nổi đâu. Mà cũng chỉ có lính mình mới hiểu hết được nhau thôi. Người khác hiểu được phần nào, quý phần đó, đâu dám mong họ hiểu hết.

       Nhưng dù gian lao vất vả thế nào thì tự bản thân mình vẫn thấy trân trọng cái quá khứ làm lính ấy. Nó dạy mình làm người thật sự bác ạ. Nó làm cho mình thấy bao dung hơn với những người xung quanh mình ngày nay, cho mình cảm nhận được cái hạnh phúc bé nhỏ mà nhiều người đã coi thường.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 01:43:06 PM
Chú ts Hùng ơi @: đọc đâu đó trong quansuvn.net, cháu thấy bộ đội ta được hướng dẫn cách mắc võng làm sao để mưa không bị ướt phải không ạ - hay là nếu mưa rả rich cả đêm thì kiêu gi` cung bị ướt ạ ?
Cháu hỏi chú Haanh một tí: thấy các chú bộ đội hay đổi quần áo, tăng võng lấy các thứ để lien hoan, Vẫn biết là các chú đã trải qua và không sao cả, cháu vẫn thắc mắc là đổi hết đi rồi hành quân tác chiến rét mướt + muỗi nhiều như thế làm sao mà ngủ được, vì vất vả thì có thể chịu được nhưng mà thiếu ngủ thì thật sự mệt mỏi và không tỉnh táo (rất khập khiểng nhưng cháu lấy từ kinh nghiệm xem bong đá world cup ạ, nhiều khi sang hom sau đi xe máy còn ngủ gật ấy chứ  ;D)

hehe , mưa rừng dù có tăng che chắn cách gì đi nữa cũng sẽ ướt hết thôi , vấn đề là ướt sớm hay muộn ;D
Con người ta khi cùng cực quá thì không còn sợ chết nữa mà cái chết ở chiến trường K sau này nó đến và đi rất bất ngờ như mưa bóng mây , mới ngồi cười ha hả đó trong phút nghỉ giải lao , xách súng đi thêm vài bước là chết rồi  . Vì vậy sướng được chút nào thì cứ sướng , ăn được gì cứ ăn . Buồn ngủ thì tự khắc lăn ra ngủ , vừa hành quân vừa ngủ còn được nữa mà sá chi mưa ướt , gió lạnh . Ngủ ở rừng Biển Hồ sáng ra mặt mũi chân tay thằng nào cũng sưng vù như ong đốt , võng toàn là máu do muỗi cắn no máu quá không bay nổi . Lúc đó có mùng thì cũng không ai mắc vì ta và địch cùng ở chung nhau 1 khu rừng , thậm chí có thể ngủ cách nhau 5-7 m nên thằng nào cũng muốn núp cho thật kỹ để ngủ cho đã , trời sáng đánh tiếp  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vubang trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 02:40:33 PM
hehe đúng thật , lính ở rừng mùa mưa cực hết chổ nói , tăng lỡ đổi chó hết rồi cứ dầm mưa suốt ngày suốt đêm , quần áo hết khô lại ướt hết ước lại khô . Hành quân thì đở lạnh còn nằm trên võng thì cái gì teo được nó sun hết lại  ;D Hết đợt chiến dịch kéo dài gần 1 tháng mới được ra phum , ôi chao sao lúc đó thấy đời sung sướng quá , con gái K đứa nào cũng đẹp   ;D ( hehe 1 tuần sau nhìn lại tự trách mắt bị bù lệch ăn )

Phải nói cảm giác lúc ra đến bìa rừng, xa xa nhìn thấy vài nóc nhà khi ẩn khi hiện mới thấy lòng rộn ràng khó tả. Sau này có lúc nhớ lại muốn so sánh với cảm giác khi còn nhỏ được ba mẹ cho đi SG nhưng thấy vẫn khập khiểng. Chắc chỉ có những thằng lính ở rừng mới cảm nhận được hết, đúng là thấy cái gì cũng đẹp, kể cả mê mai ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 03 Tháng Một, 2010, 08:43:26 PM
….
            Những lần được nghỉ thêm một ngày ở một trạm nào đó, nhiều đứa trong chúng tôi viết thư gửi về nhà. Gửi về đơn phương thôi vì chúng tôi không có hòm thư. Viết xong lá thư gửi đi đấy, chắc chắn thư mới đi được vài ngày chưa thể về đến nhà thì chúng tôi đã đi tiếp tới tận đâu rồi. Chẳng có khái niệm gì về trạm quân bưu giữa rừng Trường Sơn này đâu. Chẳng cán bộ nào phổ biến cho chúng tôi viết thư, vì chẳng có hòm thư để bỏ vào. Cũng chẳng có binh trạm nào đứng ra nhận thư của lính. Nhưng chúng tôi vẫn viết. Dọc đường vào Nam, chúng tôi đã gặp rất nhiều đoàn ra. Khi thì là đoàn cán bộ miền Nam, toàn người nhiều tuổi, mặc áo bà ba, đeo bòng, thắt khăn rằn, túi dết. Có ông mặc toàn dân sự mà lại đeo súng ngắn. Đa phần họ nói giọng miền nam. Có khi thì gặp cả một đoàn thiếu nhi miền Nam. Trai gái đủ cả, chừng 12, 13 tuổi, mỗi đứa đeo một túi nhỏ và có một cây gậy chống dài ngoãng. Lúc lại gặp cả đoàn thương binh đến mấy chục người. Dù là mùa khô, mùa xe chạy, nhưng chắc cũng không đủ xe, nên vẫn phải có nhiều người đi bộ ra. Cảnh gặp nhau giữa rừng thì chào nhau ríu rít, vui như đi hội.

               Thường là gặp những đoàn ra như thế, chúng tôi lấy ra những lá thư đã viết sẵn, đưa nhờ họ mang ra. Mỗi đứa một lá, có đứa hai ba lá, nên mỗi người phải nhận cả tập thư. Thời gian ấy chúng tôi còn có tem thư, mỗi lính lại được phát cả chục chiếc tem nên thư nào chúng tôi cũng dán tem. Dặn nhờ  người mang là cứ khi nào gặp hòm thư thì bỏ hộ vào đó cho tiện. Chả biết bao giờ thư về tới nhà, nhưng vẫn cứ viết cứ gửi như thế, với suy nghĩ đơn giản là khi nhận được thư, bố mẹ biết là đến lúc đó con mình vẫn còn sống.

              Tôi cũng nhiều lần viết thư như thế. Chỉ toàn viết thư về nhà thôi. Mỗi lần gửi được thư là lại đánh số và ghi vào cuốn sổ tay bé tí. Dọc đường hành quân thì vừa đi vừa ngó nghiêng nhìn cảnh vật, nhất là ở những đoạn đường bằng đều đều chân bước. Lớp trẻ chúng tôi khi đó được giáo dục lòng tự hào đất nước ta "rừng vàng biển bạc", nên tôi cố gắng tận hưởng tất cả cảnh đẹp mà mình nhìn thấy dọc đường. Mà quả là cũng luôn tin như thế. Cái mà tôi thích nhất là củi rừng. Chỗ nào cũng có củi. Dừng chân bất cứ đâu, dù bãi khách xấu đẹp hay rộng hẹp thì việc vơ lấy mấy cành cây để nấu hăng-gô cháo cá nhân quá dễ dàng. Chẳng bù cho ở nhà, mỗi tháng cả nhà chỉ được mua 10 hay 15 kg củi theo phiếu phân phối và độ 30 kg than ướt. Chính vì thế mà trong nhà tôi có một thứ vật dụng rất quý là con dao dựa mài sắc. Những ngày tháng bảy mưa bão là những ngày hết sức háo hức. Tôi chờ từng đêm có bão gió to để quần đùi áo may-ô cùng bọn thanh niên choai trong phố đi chặt cành cây đổ. Cành xà cừ lúc tươi chặt rất dễ, để khô nó quánh lại đẽo ra đun đượm lửa vô cùng. Mùa bão qua đi là nhà tôi cũng có đủ số củi bằng tiêu chuẩn phiếu hơn nửa năm trời và tôi luôn tự hào với thành tích đó. Sau này vào bộ đội, lên Bãi Nai huấn luyện đi chặt củi rừng vào các chủ nhật, tuy có khá hơn ở nhà, nhưng những ngày đi lấy củi vẫn là vất vả đối với chúng tôi và càng ngày càng phải vào rừng sâu hơn. Đi lấy củi vẫn là một công tác khó nhọc mà chúng tôi rất ngại.

              Bây giờ vào giữa rừng Trường Sơn thì thấy quả là rừng vàng. Mà lạ cái là đi trên tuyến Tây Trường Sơn thuộc đất bạn Lào, nhưng tôi không hề thấy có cái cảm giác của người được đi ra nước ngoài. Vẫn như là đất của nước mình vậy. Rừng "vàng" không phải chỉ là củi đâu thôi, tuy đó là thứ tôi cảm nhận thích nhất. Thú rừng, một nguồn thực phẩm quý và nhiều mà sau này chúng tôi săn bắn được để cải thiện thì lũ bạn ở nhà đi học (bọn con gái và những thằng con một ấy mà) có mà nằm mơ cũng không thể nào hình dung ra được. Còn cảnh đẹp thì miễn chê. Tôi đã tận hưởng và sau này nghiệm lại thì mọi thứ phong cảnh hữu tình, ở núi rừng Trường Sơn đủ cả (không khí trong lành và tôi chưa hề có trong đầu khi đó khái niệm gọi là "ô nhiễm môi trường"). Chỉ riêng chuyện nơi đây có thứ cây xương rồng mà thân gỗ của nó dùng được để làm cột nhà thì đã không gì có thể so sánh được rồi.

               Hồi hành quân dã ngoại ở ngoài Tân Lạc, tôi đã kể về chuyện có những giò phong lan rừng đã làm ngây ngất những thằng nhà chơi cây cảnh tới mức cố lấy và cất công mang hơn trăm cây số đi bộ về làm quà dịp nghỉ phép. Những thằng mù tịt về cây cảnh như tôi chỉ có cảm nhận chung là đẹp thôi.

               Từ Binh trạm 41 trở vào có nhiều rừng già, dốc cao. Gặp mưa nhiều hơn. Nói chung hành quân trong rừng mà gặp mưa thì kiểu gì cũng ướt. Đừng mong che khô người bằng tấm ni-lon. Đi ở chỗ quang thì còn được, chứ rừng rậm mà quàng ni-lon vướng cành cây thì chỉ có rách. Mà rách thì sau này lấy cái gì dùng? Ngay lính giao liên cũng chỉ thấy họ quàng cái tấm ni-lon bằng vải đựng gạo đồ cắt ra, chỉ quàng che mỗi chỗ vai và cái gùi nhỏ. Phải nói là chúng tôi khi ấy được phổ biến kỹ càng và có ý thức giữ gìn ghê lắm. Biết là lúc đi B được trang bị đầy đủ mọi thứ đấy, nhưng chắc chỉ có một lần, không lấy đâu ra mà cấp lại. Ngay cả hai thứ căn bản là Tăng và võng, nó che chở mưa nắng cho mình lúc còn sống, và nó cũng sẽ là thứ cuối cùng theo mình sang thế giới bên kia, nếu số phận mình chỉ có vậy.

              Một lần chúng tôi gặp một cánh rừng vô cùng nhiều hoa Lan. Tôi không biết hoa Lan có bao nhiêu loài, tên riêng là gì, nên gọi chung chúng là hoa Lan rừng. Cành dài đầy hoa trắng muốt như mọc ra từ một cành cây rừng trên cao. Nếu chỉ dăm bảy cành thì chẳng gây ấn tượng bao nhiêu. Đằng này nhiều đếm không xuể. Không biết cây rừng ở đây là loại gì mà hoa Lan ký sinh trên đó nhiều vậy. Trắng cả một khoảng rừng. Không thể không reo lên thích thú và đòi nghỉ giải lao để ngắm. Rất nhiều thằng chặc lưỡi hít hà tiếc rẻ. Anh giao liên chỉ cười, bảo vùng rừng này nhiều lắm. Lán giao liên nào ở binh trạm cũng lấy về treo dăm cành. Thật đúng là rừng vàng. Nhưng thôi, đường ra chiến trường còn ở phía trước. Hẹn ngày chiến thắng trở lại đây kiếm nhành hoa Lan rừng thật đẹp tặng cho người con gái của đời mình thay bó hoa Lay-ơn ngày cưới.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 10 Tháng Một, 2010, 09:50:09 AM

              Ngày hành quân thì ngắm cảnh rừng. Đêm về nằm võng thì bắt đầu nghĩ về nhà và mơ những chuyện cổ tích. Mơ cả chuyện Việt nam và mơ cả ở những phương trời xa xôi. Lớp phổ thông của tôi có nhiều bạn gái sang Nga học. Không biết có ai đến thành phố Leningrat để được thưởng thức đêm trắng như câu chuyện tình lãng mạn trong phim "Belưie Notri" không? Nằm giữa rừng Trường Sơn mà mơ mình là chàng hoàng tử phóng ngựa đấu kiếm để cứu nàng công chúa bị nhốt trong lâu đài thì cũng thấy khoái lắm, quên cả gian nan vất vả ban ngày. Rồi lại lẩm nhẩm đếm xem mình đã gửi về nhà bao nhiêu lá thư, và chúng đã đi tới đâu.

               Hôm hành quân từ trạm 43A sang trạm 43B, tôi cũng đi ở một tốp sau cùng với đại đội phó Hảo. Đoạn đường này có nhiều dốc dài thoai thoải, nhiều cây rừng già và khe suối đá rộng. Cũng là sau bữa cơm trưa, được nghỉ lâu một chút. Chỗ này quang đãng rộng rãi nên khi tôi muốn đi giải quyết nỗi buồn âm ỉ, thủ trưởng Hảo bắt tôi đi dọc theo suối vào sâu trong rừng một quãng xa. Đi độ ba chục mét tới một khe đá, tôi bỗng hoa mắt lên khi nhìn thấy trong khe đá trắng xóa một đống thư. Phải là hàng vài trăm, không, có lẽ tới cả ngàn bì thư được bỏ xuống đấy như được trút ra từ cái bao tải khổng lồ. Tôi kêu lên gọi thủ trưởng Hảo. Cả tốp lính chạy tới. Chúng tôi nhặt lên xem, thấy địa chỉ nhận là nhiều vùng quê miền Bắc. Tại sao những lá thư này lại ở đây. Phải nói lúc ấy cái cảm giác thật khó tả. Ngạc nhiên và không thể lý giải. Người lính quân bưu nào hy sinh nơi đây ư?

               Thủ trưởng Hảo đúng là người lính già đầy kinh nghiệm. Chỉ vài phút, ông đã luận ra được đây là thư của những người lính đang trên đường vào chiến trường như chúng tôi. Họ đã gửi những lá thư viết vội dọc đường, nhờ những tốp cán bộ hay thương binh đi ngược đường đem ra Bắc. Những lá thư ấy nhiều quá đến mức là món hành lý nặng cho người mang. Để nhẹ gánh, họ đã vứt lại nơi này. Có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ. Sao họ không đem gửi vào binh trạm rồi lúc nào đó thuận tiện thì binh trạm gửi ra?

             - Có lẽ không dễ làm như vậy, vì từng này thư mà mang đến trạm cũng rất xa, mà chưa chắc đã có ai nhận gửi. Khi con người ta leo núi quá mỏi mệt thì "Con ruồi đậu nặng đồng cân". Cũng không nên trách họ quá, các cậu ạ.

            Đại phó Hảo trầm ngâm nói vậy. Và ông bảo chúng tôi châm lửa đốt hết số thư ấy trong khe núi, vì để đó cũng không ổn. Chờ đám cháy gần hết, chúng tôi múc nước suối dập tắt hết tro nóng, rồi lên đường đuổi theo đơn vị. Tôi còn nghĩ mãi về chuyện này, cảm thấy nó ngậm ngùi thế nào ấy. Và cũng từ hôm đó, suốt dọc đường hành quân vào chiến trường, tôi không còn hứng để viết thư gửi về nhà nữa.

*

               Trong thời gian đi trên Trường Sơn, chúng tôi chỉ họp theo trung đội. Phần vì không mấy khi có bãi đất rộng, phần vì lý do an toàn nên không tập trung cả C. Tin tức thời sự rồi cũng thưa dần. Chúng tôi chỉ cặm cụi đi hết ngày này sang ngày khác, mặc kệ cho bao giờ tới nơi thì tới, chứ không còn háo hức muốn  vào nhanh đơn vị chiến đấu để đánh trận như lúc mới hành quân nữa. Sự khắc nghiệt của rừng núi bắt đầu xuất hiện. Trong các đại đội bắt đầu có sốt rét. Chúng tôi phải chia nhau mang đồ đoàn và dìu người ốm hành quân. Cái món sốt rét này rất lạ, nhiều lúc cứ như giả vờ ấy. Trời bình thường mà thấy có thằng kêu rét, sờ đầu thấy nóng. Chỉ có ở binh trạm mới có y tá, còn trong đội hình hành quân không có. Chúng tôi tự lấy thuốc Nivaquin được phát theo cá nhân để uống. Ngày 4 viên, chia 2 lần. Thằng ốm chẳng ăn được mấy, dù là cháo, nhưng vẫn bắt uống thuốc. Viện Nivaquin rất đắng. Ấy vậy mà hôm sau, thằng sốt lại có lúc vùng lên đi băng băng như thi việt dã, thằng khỏe theo không kịp. Nhưng đó mới là dạng sốt bình thường. Trong tiểu đoàn đã có thằng sốt ác tính, khiêng vào trạm xá binh trạm, sau này không gặp lại. Nghe nói đã nằm lại Trường Sơn, trở thành liệt sĩ mà chưa được ra trận lần nào. Trong C tôi cũng có 2 thằng sốt rét nặng phải gửi lại binh trạm, sau này được nhập vào trạm làm lính giao liên, hết chiến tranh cũng trở về nhà. (Một thằng trong số đó năm 1974 còn được ra Viện Quân y 103 học Bác sĩ. Đến đợt những năm 1980 nó đi xuất khẩu lao động ở CHDC Đức rồi định cư luôn bên đó).

            Thế mới biết đường ra trận cũng gian nan, đâu phải chỉ có bom đạn kẻ thù. Sau này lính tráng chúng tôi cũng lần lượt nếm mùi sốt rét hết. Người ta bảo, không bị sốt rét thì không phải là lính Trường Sơn. Có thể không chết ngay, nhưng nó làm tổn hại sức khỏe lính tráng rất nhiều. Anh nào bị sốt nhiều còn bị ảnh lưởng tới gan và lá lách. Khi chúng tôi vào tới mặt trận mà mình được bổ sung, còn gặp một trường hợp thương tâm và ít nhiều ảnh hưởng tâm lý. Có một anh ở chiến trường 7 năm, bị sốt rét nhiều đã sa lá lách đến gần độ 4, mạng sườn to như đàn bà có chửa. Đơn vị cáng anh ấy ra, nghe nói anh ấy sẽ được ra Bắc. Đi ngược chiều đoàn quân vào của chúng tôi, những người cáng anh ấy trượt chân ngã, tất cả cùng lăn xuống dốc. Anh ấy bị vỡ lá lách, chết ngay trước mặt đám lính trẻ chúng tôi. Thần chết quả là phũ phàng trước số phận con người.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: MUCTAU trong 14 Tháng Một, 2010, 12:38:17 AM
 Chuyên đống thư làm em thấy thế nào.
 Ông anh em kể, có lần một người lính nhờ ông mang thư ra Bắc. (ông này lái xe dân sự). Ông thấy nhiều thư có vết máu đã khô liền lấy bút bic ( là của hiếm bấy giờ) viết thêm ý rằng đấy là máu của người quân bưu chứ không phải máu người viết thư. Để thân nhân ở quê đỡ lo.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 17 Tháng Một, 2010, 08:41:14 AM

         Tôi là thằng thích học văn (dù học toán xuất sắc hơn), thích những câu chuyện lịch sử của cả Ta và Tây, của cả Việt và Tàu. Những thằng trong cùng A huấn luyện ngoài Bắc với tôi còn sống, đến bây giờ gặp nhau vẫn còn nhắc lại chuyện khi hành quân vào Nam đã có may mắn ở cùng A với tôi. Tôi đã giúp cho những ngày hành quân trên Trường Sơn của chúng nó bớt buồn tẻ và đơn điệu. Chả là sau khi hành quân từ Trạm 5 vào được dăm hôm, một tối chúng tôi đem chuyện Thủy Hử ra tranh luận xem cuộc sống của các hảo hán Lương Sơn Bạc có gần giống như Trường Sơn không. Tôi đã đọc ra vanh vách cho chúng nó nghe rằng trước khi về Lương Sơn thì các Hảo hán còn ở những núi nào. Từ núi Thiếu Hoa của bọn Chu Vũ, Trần Đạt, Dương Xuân đến núi Đào Hoa của Lý Trung và Chu Thông rồi núi Nhị Long của Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm, hay núi Thanh phong của Yến Thuận, Vương Nụy Hổ… Có nhiều đoạn văn tả cảnh chiến trận, hay lời nói của các hảo hán, tôi đọc vanh vách.

          Chúng nó tròn xoe mắt. Thế là từ hôm đó, cứ tối đến sau lúc cơm nước và nghe phổ biến về lịch hành quân hôm sau, dăm bảy đứa trong A lại mắc võng túm tụm một chỗ, hoặc trải ngay ni-lon trên lớp lá rừng nếu trời khô ráo, quây quần nghe tôi "đọc" truyện. Hết Thủy Hử lại đến Tam Quốc. Hết chuyện sử xa xưa, lại đến chuyện cận đại, như "Hầm bí mật bên sông En-bơ" hay "Nam tước Phon-gon-rinh". Đặc biệt có truyện "Nữ tài tử" chưa in thành sách mà chỉ là truyện đăng nhiều kỳ trên báo QĐND thì hầu như là của độc của riêng tôi. Câu chuyện kể về nữ gián điệp Li-di-a, con gái của một sĩ quan Bạch vệ cũ được tung vào Liên-xô sau Thế chiến thứ hai. Cả một lực lượng phản gián đông đảo của an ninh Liên-xô trong một thời gian dài chỉ tìm được dấu tích của cô gái còn lại, sau khi sự việc đã xảy ra. Việc thu phục cô gái chỉ nhờ tình người chứ không phải biện pháp nghiệp vụ…

         Những tối kể chuyện dọc đường hành quân đó quả là niềm vui thú vị trong A tôi. Người "đọc" truyện cũng hào hứng, mà người nghe cũng say sưa. Chúng nó rất thích giọng đọc truyện đầy truyền cảm của tôi. Có thằng còn phong cho tôi là "Kim Cúc đọc truyện đêm khuya". Mỗi tối như thế, tôi rì rầm độ 30 phút rồi kết thúc để còn đi ngủ, dành sức cho ngày hôm sau hành quân. Tất nhiên hôm nào mệt quá hoặc gặp trời mưa thì buổi "tự đọc chuyện đêm khuya" phải hoãn.

         Những cuốn tiểu thuyết tôi đã đọc để có thể kể cho chúng nó thì rất nhiều, nhưng đường hành quân liên miên nên kể mãi rồi cũng có lúc oải. Chúng tôi quay sang kể cho nhau nghe chuyện gia đình của mình. Trong A tôi có thằng đã cùng học phổ thông với tôi, nhưng thực tình chúng tôi cũng chỉ biết về nhau rất sơ sơ, đại loại nhà ở đâu, có mấy anh chị em, ai học hay làm gì. Nhiều hơn nữa thì biết thêm tên bố mẹ. Ngày đó người ta ít gọi tên bố mẹ ra như bây giờ mà còn kiêng kỵ, giống như ở nông thôn gọi theo tên con cả. Bây giờ trên đường hành quân mới có dịp kể ra cho nhau nghe. Kể về gia đình mình cho bạn nghe, cũng chính là tự trầm ngâm nhắc về người thân để vơi đi nỗi nhớ nhà. Nhất là thằng nào xác định có bạn gái thì kể ra, chẳng còn giấu diếm gì nữa. Có thằng kể chuyện bạn gái mình là cô bạn cùng lớp, con một ông thứ trưởng, nhà giàu. Chuyện có xe đạp mà lại thích rủ nhau đi tàu điện để được đi bộ với nhau một đoạn dài, tha hồ ngắm trời đất mà trò chuyện cùng nhau ra sao... Ngày đó rủ được đèo nhau bằng xe đạp cũng khó lắm. Có ý đấy, nhưng đứa nào cũng sợ chuyện gán ghép. (Trong đám lính bạn học với tôi có tới 3 cặp yêu người cùng lớp. Sau này cả 3 thằng đều trở về và có hai cặp thành công. Còn thằng có câu chuyện tình thơ mộng nhất thì bạn gái đã đi lấy chồng trước ngày 30 tháng tư lịch sử).
*

           Cao tít trên Trường Sơn vẫn có những bản người dân tộc. Không hiểu họ sinh sống bằng gì. Chỉ đôi ba lần gặp, thấy họ đứng bên đường đem sắn, chuối đổi cho bộ đội lấy bất cứ thứ gì họ cần. Từ cái kim băng, kim khâu, sợi chỉ, đến cả viên đá lửa cùng những lọ xăng bé tẹo. Chúng tôi không gặp nương rẫy nào. Chỉ có một lần gặp một bản nhỏ chưa tới chục nóc nhà. Con đường đi vòng qua cạnh bản, nhưng không hiểu sao đến giữa đội hình thì cứ thế cắt đường đi tắt qua bản. Chỉ có vài đứa trẻ, vài phụ nữ già ngồi trên sàn nhà chỉ cao độ hơn mét im lặng nhìn chúng tôi lũ lượt đi qua. Nhưng cuối bản thì chúng tôi thấy có một cô gái tuổi như chúng tôi đứng ngay trên sàn nhà. Trang phục đơn sơ, nhưng ấn tượng vì ai cũng nhận ra vẻ đẹp cùng nước da trắng của cô gái. Im lặng đi qua, không dám chào hỏi, chòng ghẹo, nhưng từ quan đến lính ai cũng ngước mắt nhìn vì ngỡ ngàng. Đi qua rồi còn khối thằng ngoái lại nhìn. Chuyện này ghi nhớ bởi đa phần những người dân tộc mà chúng tôi gặp sau này đều có nét chung là đen, gầy và khắc khổ.

   …


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 17 Tháng Một, 2010, 06:07:06 PM
Sau hơn 12 giờ đồng hồ cố thủ trong nhà  nghỉ Như Phước (đường Nguyễn Sinh Cung,TP Huế) với một khẩu AK và 36 viên đạn, đối tượng Nguyễn Văn Minh (SN 1988, quê ở Sơn Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình), thuộc Trung đoàn 19 sư đoàn 968 bộ binh, đóng quân tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã bị lực lượng đặc nhiệm khống chế thành công vào hồi 5h30 phút ngày 17/1/2010.
-------------------

     Sư đoàn bộ binh 968 thời chống Mỹ thuộc bộ đội Trường Sơn, có đến cả chục ngàn người từng phục vụ. Tôi vẫn mong chờ có đồng đội cùng Sư thời đó vào đây tiếp sức. Bây giờ chỉ nghe đến tên "968" là đã thấy nao nao trong lòng rồi.

     Thế mà hôm nay vào mạng đọc được tin này. Thất vọng với chú hậu sinh này quá.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 24 Tháng Một, 2010, 07:34:01 AM


              Sau khoảng hơn một tháng hành quân tính từ trạm 5, chúng tôi tới Trạm 44. Tất cả được nghỉ một ngày tắm giặt và bổ sung lương thực cùng một chút thực phẩm, chủ yếu là muối. Đây là lần cuối cùng đường dây 559 cung cấp gạo và thực phẩm cho đơn vị. Từ ngày mai, chúng tôi sẽ rời trục đường chính của Trường Sơn, rẽ nhánh đi sang hướng Tây Nam. Bây giờ thì chúng tôi biết mình sẽ được bổ sung cho chiến trường Nam Lào. Giao liên của đường dây 559 giao chúng tôi cho bộ phận nhận quân của mặt trận Nam Lào. Từ đây trở đi sẽ không còn binh trạm, không còn bãi khách nữa. Điểm dừng chân sau mỗi ngày hành quân sẽ do cán bộ nhận quân của mặt trận quyết định.

              Đường sẽ nhánh sang phía Tây chưa phải đã hết dốc ngay. Rừng núi vẫn chập trùng trước mặt. Đường đi của chúng tôi cắt ngang liên tiếp các con đường trục của xe cơ giới. Nói thật là thấy đường có vết xe chạy cắt với đường hành quân bộ thì biết là đường xe thôi, chứ tất cả những con đường ấy đều là đường đất trong rừng. Bạt núi mở rừng mà tạo đường, san lấp cũng chỉ là đất đá tại chỗ. Những con đường đó có thể biến mất chỉ qua một hai mùa mưa mà không có xe chạy. Cảnh vật lúc này vẫn chưa khác cũ là mấy vì nó vẫn thuộc dãy Trường Sơn. Sau ngày thứ nhất, chúng tôi được nghỉ giữa một cánh rừng già. Tự chọn chỗ nấu cơm, phạt bớt cây rừng và mắc võng. Nói chung là dừng chân chỗ nào thì cũng phải có suối, dù to hay bé để có nước mà nấu cơm. Từ hôm vào Trường sơn không gặp cái ao hồ nào.

              Hết ngày thứ hai thì đã thấy bớt núi rừng hơn. Đường đi có vẻ xuống dốc. Dọc đường qua nhiều chỗ có dấu vết của bom đạn, nhưng chỉ là dấu tích của quá khứ. Có rất nhiều khu rừng non lẫn trong rừng già. Bây giờ mới biết thực tế đến cái gọi là rừng tái sinh. Cả một khu rừng rộng chỉ toàn những cây nhỏ đều nhau. Cây nào to lắm cũng chỉ bằng bắp chân. Xen trong đám rừng còn sót lại nhiều thân cây đổ nằm ngang cháy chưa hết, hoặc những thân cây chết đứng to cỡ người ôm. Chúng tôi còn gặp một số đồi cỏ tranh. Buổi chiều đi trên đó thấy gió thổi mát rượi.

           Có hai loại rừng đặc trưng của vùng này khiến tôi nhớ mãi. Một là rừng Bằng Lăng. Chưa phải mùa hoa nên chỉ toàn rừng cây xanh lá. Tôi nhận ra loại cây này vì nơi nhà tôi ở ngoài Hà Nội cũng có vài cây. Hoa Bằng Lăng màu tím, nở sau hoa Phượng mùa hè, nhưng lại tàn nhanh trước. Quả của nó to tròn và cứng, chỉ dùng để ném nhau thì tốt. Thân cây Bằng Lăng không thẳng mà mọc cong queo, lắm cành. Trong này cũng thế. Tuy rừng cây Bằng Lăng bạt ngàn và nhiều cây rất to, thân cây có đường kính tới ba chục phân, nhưng cũng không thẳng để có thể làm cột nhà. Sau này đóng quân gặp loại rừng này, kiếm gỗ làm hầm chữ A còn khó.

              Cuối ngày thứ hai chúng tôi dừng chân cạnh một rừng cây Săng- lẻ. Loại cây này thoáng trông giống cây bạch đàn, vỏ trơn, thân trắng. Có lẽ nó cũng cùng họ với cây Bạch Dương mà tôi nhìn thấy trong các phim của Liên-xô. Ở đây toàn cây Săng-lẻ to từ cỡ một người ôm trở lên, cao đến trên hai chục mét. Nắng chiếu xuống tới đất chỉ nhạt và lốm đốm như những tấm vải hoa. Loại cây này nghe nói rừng miền Trung của mình cũng nhiều. Gỗ của loại cây này là thứ tốt số 1 dùng cho đóng thuyền đi biển.  Trong rừng ở đây còn có bãi rộng, dấu vết của một đơn vị xe ô-tô, nhưng không thấy chiếc xe nào. Chúng tôi dừng lại đó vì có một con suối to nước rất trong. Chỉ tội kiếm chỗ mắc võng khó, nên hầu như chúng tôi vun lá rồi trải ni-lon, ngủ đêm quanh gốc cây. Rừng Săng-lẻ rất sạch sẽ, ít muỗi.

               Đã sang hẳn đất Nam Lào rồi vì đây thuộc tỉnh Sa-ra-van. Vùng này là bình nguyên. Chúng tôi đã gặp một số bản người Lào, nhà cửa lèo tèo. Có điều là dù bé thế nào thì cũng vẫn là dạng nhà sàn. Thi thoảng cũng gặp một cái nương nho nhỏ. Nhưng dân vùng này rất nghèo, nhìn họ ăn mặc xơ xác lắm, thua xa bộ đội.

              Ba ngày sau, chúng tôi được tập trung ngay tại một cánh rừng thưa gần một bản nhỏ. Đến đây, 3 đại đội của tiểu đoàn 52 (ngoài Bắc) chúng tôi được bổ sung cho sư đoàn 968, nhưng lại bị xé lẻ luôn (lần trước một C đã tách ra ngay trên Trường Sơn để bổ sung cho chiến trường miền Nam nên tiểu đoàn chúng tôi chỉ còn 3 đại đội). Một C rưỡi bổ sung cho Trung đoàn 19, còn C tôi và nửa C nữa thì về Trung đoàn 9b.

               Một điều bất ngờ là các cán bộ cấp phó B, C của đơn vị ngoài Bắc chúng tôi được Sư đoàn trả về Bắc cho BTL Thủ đô. Mỗi C có 5 người gồm 4 B phó và 1 C phó. Đại phó Hảo thân yêu của chúng tôi cũng nằm trong số được quay ra Bắc. Các anh ấy mừng như cha… chưa chết và ríu rít chia tay chúng tôi. Các anh ấy vui, còn chúng tôi, nói thật là cũng chưa biết gì để mà buồn. Chỉ có một buổi chiều để chia tay. Bây giờ chẳng còn gì để làm quà cho các anh ấy cả. Vỏ chăn và cả màn xô chúng tôi vẫn đang cần. Mũ cối và giầy vải gần như đã vứt hết dọc đường. Chỉ còn một số thằng còn giữ mấy tờ tiền Bắc, thôi bây giờ đem cho các anh nốt, kỷ niệm cũng chẳng để làm gì. Đại phó Hảo được quan tâm nhất vì quê hương Hà Tĩnh cũng là nơi tuyến lửa. Có điều khi các thủ trưởng bảo chúng tôi viết thư để mang ra, hầu như không mấy ai viết. Cái vụ đống thư bên khe suối ngày nào vẫn còn ám ảnh chúng tôi. Thôi, để cho các thủ trưởng nhẹ gánh, chân cứng đá mềm để quay trở về hậu phương miền Bắc.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 31 Tháng Một, 2010, 09:10:28 AM

              Chia quân, nhưng hầu như chúng tôi chưa có cảm giác khác lạ gì ngoài cái chuyện thủ trưởng dẫn quân của chúng tôi là người mới. Chúng tôi thấy yên tâm vì đó là chỉ huy ở trong chiến trường, chắc chắn dày dạn kinh nghiệm hơn cán bộ khung huấn luyện. Mọi lời nói các anh phát ra, chúng tôi đều chăm chú nghe và tuân lệnh răm rắp. Hơn nữa đội hình của đám chúng tôi cũng còn đông tới trên hai trăm thằng, nên vẫn còn nguyên cái nếp cũ.

               Chia quân xong, chia tay các thủ trưởng khung xong, chúng tôi được nghỉ lại một đêm yên ổn. Cũng cần nói thêm là từ hôm bắt đầu hành quân từ Hà Nam đất Bắc đến nay, chúng tôi chưa phải tổ chức gác đêm lần nào. Màn đêm buông xuống thì cứ yên tâm mà ngủ. Mặt trận còn xa thì tuyến đường này vẫn còn là hậu phương. Với lại có muốn gác cũng không ổn, vì đoàn quân chúng tôi không đủ vũ khí, lại không tổ chức chặt chẽ như ở ngoài Bắc thì cũng không biết phải gác thế nào.

        Sáng hôm sau, chúng tôi nhận gạo bổ sung. Mạng lưới hậu cần của ta vươn khắp mọi nơi, nhưng nơi đây thật quá đơn sơ. Kho gạo chỉ là một cái nhà be bé nằm cạnh một bản nhỏ, không to và chắc chắn như các kho của binh trạm trên Trường Sơn. Chúng tôi lĩnh gạo nếp. Lính tráng khoái quá vì gạo nếp vốn hiếm và quý hơn gạo tẻ mà. Tha hồ mà nấu cháo hay cơm nếp nhé. Cơm nếp nấu khéo còn ngon như xôi đồ ấy chứ. Lúc này chúng tôi vẫn ăn tiêu chuẩn 7 lạng/ngày, và vì cứ được lĩnh gạo bổ sung luôn nên chúng tôi chưa nhận ra được nguy cơ tiềm tàng của cái đói trong chiến trường. Cũng vì bây giờ là mùa khô nên đường vận chuyển vẫn thông suốt. (Nhưng cũng chẳng lâu nữa đâu. Khó khăn đằng trước mà chúng tôi đâu có biết thì cũng chỉ vài tháng sau là xảy ra. Gạo ăn tiêu chuẩn 3 lạng rồi 2 lạng/ngày thật quá ít ỏi với sức ăn và làm của lính tráng tuổi trai trẻ. Gạo tẻ còn đỡ, vì nấu cháo nó cũng nở ra ít nhiều. Khổ nhất là gạo đồ của TQ đựng trong bao nhựa xanh 50 kg. Hạt gạo đem nấu cứ trơ ra. Cứ cho gạo vào nồi, cho bao nhiêu nước cũng được, cứ đun cạn nước để một lúc là cơm chín. Còn định nấu cháo bằng thứ gạo đồ này thì đúng là bất khả thi. Nếu có cho ca gạo vào nồi, đổ cả một huyện nước vào đun thì rồi mãi tới khi cạn nước, nó cũng chỉ thành cơm, vì hạt gạo không nở. Còn gạo nếp, thú thực cũng không hơn, vì nó không nở. Nấu cháo ăn mãi cũng chán (mà đói), còn nấu cơm thì mỗi bữa được nắm to chưa bằng quả trứng vịt. Lại còn gặp lúc thiếu không có muối nữa thì "ôi thôi…").

               Lĩnh gạo buổi sáng thì buổi chiều hành quân luôn. Cung đường này sao xa thế. Đi suốt buổi chiều tới một dòng sông rộng. Tất cả được lệnh nấu cơm ăn khẩn trương để tối vượt sông. Nghe bảo đây cũng là sông Sê-kông. Sao lắm Sê-kong thế. Hóa ra con sông này chảy từ Việt Nam sang, qua đất Lào thì nó chảy ngoằn ngoèo như con rắn trước khi trở lại Việt nam, nên vượt sông mấy lần mà vẫn là nó. Chúng tôi vượt sông theo một cái ghềnh đá. Đoạn này lội được, nhưng nước chảy rất xiết, lại rất trơn. Chặt sẵn gậy chống rồi mà không biết có bao nhiêu là thằng bị ngã. Ngã rồi lại túm gậy, túm tay nhau kéo cho khỏi bị trôi theo dòng nước. Lội sông trong đêm tối mênh mông nước thấy rợn lắm. Thằng biết bơi còn tự nhủ nếu có gì bất trắc thì cứ cởi bỏ mẹ nó ba-lô, vứt hết mọi thứ mà bơi cho thoát, thằng không biết bơi thì run như cầy sấy, chỉ lo bỏ xác nơi đây làm mồi cho cá, hết cả mộng làm anh giải phóng hưởng cuộc đời đẹp nhất nơi trận tuyến đánh quân thù. Thế mà rồi cũng qua được hết, dù hầu như thằng nào cũng ướt (Ông thủ trưởng dẫn quân biết thế nào chúng tôi cũng ngã ướt hết rồi, nên trước lúc hành quân đã bắt tất cả quấn gạo bọc kín trong ni lon rồi cất vào trong ba-lô).

         Vượt sông xong rồi thì đi tiếp, ngay đêm đó chúng tôi vượt đường 23 để đi sang phía Tây. Con đường 23 kéo dài từ đường 9 chỗ ngã ba Mường Phìn, chạy thẳng xuống Nam rồi đâm vào ngay thị xã Sa-ra-van. Đến đây nó lại đi tiếp vào cao nguyên Bô-lô-ven, đến thị trấn Pắc-soòng. Lại chạy tiếp 50 cây số nữa theo hướng Tây Nam, đường 23 sẽ giao nhau với đường 13 từ Viên Chăn men sông Me-kông xuống tại Pắc-xế, thủ phủ của Chăm-Pa-Xắc, tỉnh cực Nam của đất bạn Lào. Không biết ngày xưa con đường 23 được xây dựng thế nào chứ lúc chúng tôi qua, nó cũng chỉ là con đường đất giống như con đường 9 mà chúng tôi qua độ trước. Có điều nơi đây quang đãng, chẳng có cây cỏ gì mọc xung quanh. Đi dọc qua nó một quãng dài mới biết là đường. Nơi này mà có xe chạy thì chẳng bao giờ sợ bị phục kích vì tầm nhìn quá rộng. Chúng tôi đi qua một khoảng đất nhỏ có thứ cây gì đó không cao, ít lá mà lá rất to, tưởng như có thể đếm được lá trên cây. Về sau có dịp trở lại tác chiến nơi này, gặp thứ cây đó giữa ban ngày nhiều hơn, chúng tôi mới biết đó là cây Khộp (hay khọoc), một thứ cây điển hình của vùng bình nguyên đất đá khô cằn.

              Lại phải qua một ngày hành quân đường xa và nắng nóng nữa. Bây giờ phải phơi đầu ra đi giữa trời nắng chang chang mới biết giá trị của tuyến đường trên Trường Sơn hầu như lúc nào cũng rợp bóng cây. Lúc ngồi nghỉ cũng ngồi luôn giữa trời nắng vì chẳng có bóng cây nào. Được cái không có bụi vì dưới chân toàn một thứ cỏ lưa thưa đã chết khô, loại cỏ như kiểu cỏ may mà trâu bò cũng không ăn được. Đến chiều thì tới một vạt rừng nhỏ có con suối to. Mệt nhưng cũng nhiều thằng tắm cho mát. Kiểu tắm xong lại mặc luôn quần áo cũ vào ấy mà, vì vẫn còn phải hành quân tiếp.

              Hôm sau chúng tôi lại lên đường từ sớm. Đơn vị lại vượt qua một con sông không lớn lắm, bây giờ không còn nhớ rõ chính xác tên sông là gì. Hình như là Xê-băng-phai thì phải. Chỗ vượt sát ngay một một cây cầu sắt bị sập. Cây cầu chắc chỉ dài hơn cái cầu Đuống lên ga Yên Viên (ngoài Bắc) một chút thôi. Qua sông là địa phận thị xã Sa-ra-van. Cái thị xã này không giống với sự tưởng tượng của tôi, vì tôi nghĩ nếu là thị xã thì nó cũng phải na ná như Phủ Lý, hay kém ra thì cũng phải như thị xã Hòa Bình, nhà cửa dọc đường chứ. Ở đây gọi là thị xã mà chẳng thấy nhà cửa gì. Đôi chỗ thấy có những nhà sàn đổ nát, nhưng có vẻ đó như cái bản nhỏ bên đường chứ không phải dãy nhà.

               Chúng tôi rẽ vào một con đường đất rộng và cứ đi dọc theo nó mãi. Từ đây bắt đầu làm quen với một loại đường gọi là đường xe bò. Các bản Lào nối với nhau bằng những con đường này để đi lại và vận chuyển. Phương tiện của nó là những cái xe na ná như xe bò ngoài nông thôn miền Bắc. Hai bên đường xe bò mọc nhiều loại lau lách. Hôm đó đi rất xa. Cuối chiều chúng tôi được dừng chân tại một cánh rừng rộng, cây thưa nhưng toàn là những cây rất to. Chỗ này gần một bản Lào, nhưng chúng tôi không được gặp dân. Nơi đây bắt đầu là địa bàn đóng quân của Trung đoàn 9B.

….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 05 Tháng Hai, 2010, 10:18:59 PM
....
(Tạm ngắt để nói về một việc ngày hôm nay)
...
      Cuộc hành quân bây giờ  mới là đầu tháng tư năm 1972. Nhưng xin tạm dừng lại để nói về một trận chiến đấu tấn công địch ở khu Xưởng cưa, sân bay  Sa-ra-van sau thời điểm này hơn 8 tháng. Trận đó đại đội tôi bị tổn thất nặng. Lính Hà Nội bị "dính" khá nhiều. Trong đêm tối hôm đó, có 2 người lính trong C tôi là Nguyễn Khả Nhật và Hoàn (cùng người huyện Từ Liêm) mải tấn công địch mà không thấy trở về đơn vị. Trung đội trưởng Lê Đức Chèo (người Đình Bảng, Từ Sơn, Hà Bắc) chỉ còn nhớ được bóng 2 người lính của mình vào phút cuối đã nhập nhoạng lẫn vào bóng đêm mờ dần chạy về hướng Tây Nam. Anh đã ghi vào cuốn nhật ký của mình một dòng chữ mang nội dung như thế.
Đêm hôm sau, chúng tôi cử một nhóm lần theo hướng đó đi tìm. Kết quả cuối cùng chỉ là thấy nhiều nấm mộ mới. Chúng tôi đoán các anh đã hy sinh và bị địch chôn cùng với lính chết trận của chúng. Lúc ấy, các anh chỉ được coi là mất tích.

      Sau đấy chúng tôi chuyển địa bàn như đèn cù rồi xa dần vùng đất ấy. Cuối mùa mưa năm sau, chúng tôi có quay trở lại vùng Sa-ra-van để quy tập hài cốt các liệt sĩ, trước khi chuyển chiến trường khác, nhưng trong số đó không có các anh Nhật và Hoàn, bởi không ai xác định đâu là nấm mộ của các anh. Báo cáo cuối cùng của đơn vị là đề nghị lên trên ghi tên các anh là Liệt sĩ.

        Sau năm 1975, anh Hoàn trở về trong diện trao trả tù binh. Khi ấy chúng tôi mới biết chắc Nguyễn Khả Nhật đã hy sinh. Hoàn về nhà buồn chán (cảnh tù binh trao trả thì các bác có thể hình dung phần nào số phận), rượu chè rồi ốm chết mấy năm trước.

         Còn gia đình của Nhật (Nhà có 4 anh em trai và 1 em gái, Nhật là con cả) vấn tiếp tục sang Hạ Lào để tìm kiếm hài cốt của anh. Các đội quy tập của Nghệ An và Thừa Thiên Huế trong những năm sau chiến tranh có sang Lào quy tập hài cốt bộ đội tình nguyện, nhưng không có Nhật trong danh sách đó. Điều này dễ hiểu vì Nhật hy sinh và được chôn cất trong trường hợp như tôi kể trên thì không ai dám xác nhận chính xác. Sau mấy lần sang Nam Lào, gia đình cũng chỉ tìm được khu vực Nhật hy sinh thôi chứ không xác định được mộ. Nhưng có một may mắn là nhờ chính quyền tỉnh Sa-ra-van giúp đỡ nên đã tìm được 2 người lính đối phương trong cái đơn vị ZM41 đã chiến đấu với chúng tôi ngày trước. Một trong hai người lính đó đã ném quả lựu đạn khiến Nhật hy sinh, còn người lính kia thì đã chôn cất Nhật. Nhưng thời gian trôi qua đã quá lâu, cảnh vật thay đổi, đô thị xây dựng nhiều, nấm mồ đã bị san bằng nên không thể xác định chính xác. Tháng trước, nhờ một nhà ngoại cảm trên Hòa Bình giúp, cử hẳn người em trai đi cùng sang đó. Nhà ngoại cảm đã tìm được chính xác vị trí, chính quyền địa phương của Bạn đã không ngần ngại phá cả một bức tường ở cái vị trí nghi ngờ ấy để đào bới. Cuối cùng đã tìm thấy hài cốt của Nhật, để gia đình đưa anh trở về.

        13h30 hôm nay (05/02/2010), chính quyền địa phương phường Mai Dịch đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu Nguyễn Khả Nhật. Đồng đội cũ chúng tôi đã đến dự lễ truy điệu và cùng đưa anh về nơi vĩnh hằng ở nghĩa trang Nhổn. Nhiều người nguyên là Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn 9B đã tới dự. Nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Trung doàn 9B Lê Khả Phiêu cũng đã gửi vòng hoa đến viếng.

        Tôi không chụp được ảnh vì không có phương tiện. Xin viết mấy dòng này để chia sẻ cùng đồng đội, cùng các CCB và nghiêng mình tưởng nhớ đến anh, người lính Hà Nội Nguyễn Khả Nhật trong cùng đại đội 6 quân tình nguyện thân yêu của tôi, đã ngã xuống trên chiến trường đất bạn, vì một sự nghiệp cao cả như lời Bác Hồ dạy quân tình nguyện chúng tôi: "Giúp bạn chính là giúp mình".



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trevn trong 06 Tháng Hai, 2010, 03:30:49 PM
Cháu xin hỏi chú Trongc6 một tí,
Cháu có người nhà là CCB kể rằng: nhập ngũ năm 69 (Hà tĩnh), vào sư đoàn 968 chiến đấu giúp bạn Lào, nhưng sau đó lại thành bộ đội Trường Sơn bảo vệ các binh trạm, nhưng năm 75 lại trở về sư đoàn 968 tham gia chiến dịch HCM sau đó về trường quân chính binh đoàn 12. Như vậy bác ấy có cùng sư đoàn với chú không ạ ?
Cháu đang vận động bác ấy – tham gia quân sử kể chuyện chiến trường năm xưa  :)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 07 Tháng Hai, 2010, 12:45:24 PM
       @Trevn: Ông bác của bạn là lính sư 968, và Trung đoàn 9B chúng tôi cũng thuộc sư 968.
Theo bạn nói thì ông bác ấy chắc thuộc Trung đoàn 39 của sư 968. Trung đoàn này có từ năm 1968, nhưng lúc đó chỉ gọi là mặt trận 968 thôi. Năm 1970, thêm E9B và thành lập E19 thì mới gọi là sư 968. Sư 968 vừa thuộc Bộ đội Trường Sơn, vừa là quân tình nguyện Việt Lào, bạn ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 07 Tháng Hai, 2010, 03:57:59 PM
Bác trongc6 ạ, e9 của bác trước mậu thân là e9 của 304, năm 1968 vào Huế sau đó qua Lào tách khỏi 304. Theo như bác kể thì năm 1975 có qua 320 nữa phải không ạ. Cái trung đoàn này cũng lang thang đấy nhỉ. Hôm trước tôi có xem tivi thấy TBT Lê Khả Phiêu về thăm f968 ở Quảng Trị bây giờ nó lại về QK4.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 08 Tháng Hai, 2010, 09:10:19 PM
Tiếp tuc cuộc hành quân của những ngày đầu tháng 4 năm 1972...

        Sáng dậy, chúng tôi được tập trung toàn đơn vị. Đây là lần đầu tiên hơn hai trăm thằng chúng tôi được tập trung gặp nhau. Thời gian gian qua chỉ toàn đi là đi theo đội hình đơn vị, nên biết là đi cùng nhau đấy, nhưng không dễ gặp nhau. Bây giờ gặp nhau, cùng trong đoàn quân mà cứ như từ những nơi nào về ấy, hỏi thăm nhau ầm ĩ. Tất cả được tập trung một chỗ học chính trị trong buổi sáng. Nội dung là học truyền thống Trung đoàn 9B.

               Chúng tôi háo hức nghe để biết mình được vào một đơn vị có tiếng tăm thế nào. Đại khái sơ sơ một vài ý chính mà chúng tôi còn nhớ đến tận bây giờ.

               Trung đoàn 9B được thành lập ngày 23/9/1947 tại Nông Cống, Thanh Hóa. Đó là một trung đoàn độc lập. Trong kháng chiến chống Pháp nó đã từng nhập về Đại đoàn 304, lập nên chiến công trên Đường số 6 (Xuân Mai) tháng 12 năm 1951 với thành tích một mình diệt xe tăng của anh hùng Cù chính Lan. Sau hòa bình 1954, Trung Đoàn 9 được nhân đôi.  Bản gốc tách ra và lấy tên 9B lại trở về Quân khu 4. Những năm sáu mươi, Trung đoàn 9B trở thành quân tình nguyện Việt Lào, cứ mùa khô sang Trung Lào chiến đấu, mùa mưa lại về Việt Nam củng cố. Xuân Mậu Thân 1968, Trung đoàn tham gia đánh Huế, giữ cờ trên cố đô 26 ngày đêm, với người chỉ huy là Tư lệnh kiêm chính ủy Lê Khả Phiêu. Hết đợt thì rút lên rừng. Sau năm 1969, khi tổng kho 61 trên rừng Trường Sơn thuộc địa phận Trị Thiên bị Mỹ Ngụy đánh chiếm và phá tan tành, Trung đoàn rút ra Bắc, an dưỡng và huấn luyện ở Quảng Bình. Cuối 1970, Trung đoàn làm dự bị cho Sư 2 Quảng Đà của tướng Nguyễn  Chơn đánh Nam Lào, rồi tiếp quản Sa-ra-van. Mặt trận 968 thành lập tháng 9/1968 vốn chỉ có một trung đoàn 39 (chuyên làm công tác dân vận), khi đó đã tiếp thu Trung đoàn 9B, thành lập thêm trung đoàn 19 để nâng cấp thành sư đoàn 968. Đây là sư đoàn bộ binh duy nhất trực thuộc bộ đội Trường Sơn (559) có nhiệm vụ bảo vệ hành lang Tây Nam của tuyến đường. (Đoàn 559 còn có một đơn vị cấp sư đoàn nữa là sư đoàn vận tải 471. Còn lại là các đơn vị như binh trạm, công binh, pháo cao xạ, đoàn xe… chỉ ở cấp Tiểu đoàn là chính). Hiện tại, Trung đoàn 39 vẫn làm công tác dân vận, Trung đoàn 19 đảm nhận vùng A-tô-pơ, còn Trung đoàn 9B đảm nhận cao nguyên Bô-lô-ven.

               Cái thông tin trên lúc đầu mới nghe chỉ ù ù cạc cạc nhớ được một ít. Về sau được học, được nhắc lại nhiều nên nó mới ngấm như thế.
 
              Buổi chiều chúng tôi được phát xẻng và đào hầm. Đây là căn hầm đầu tiên tôi phải đào trong chiến trường. Thực ra đó là cái hố thì đúng hơn vì nó không có nắp. Chẳng biết mục đích là để chúng tôi làm quen hay để đề phòng địch tập kích hoặc tránh máy bay. Thế mà chúng tôi chấp hành nghiêm ra phết. Không phải là sợ chết (chẳng đứa nào tin nơi đây đã có địch) mà đơn giản là lính thì phải phục tùng. Sau này, chuyển quân, ở hậu cứ chỗ nào chúng tôi cũng phải đào hầm nghiêm chỉnh. Tối thiểu phải có hầm chữ A. Ở lâu một chút phải làm thêm hầm thùng. Còn đi đánh nhau thì trận nào cũng phải đào ít nhất một cái hầm cá nhân, dù là đánh phục kích, đánh điểm hay đánh chốt. Có trận phục kích đón đuổi địch, trong có 2 ngày đêm mà mỗi thằng phải đào tới 3 hầm cá nhân. Các hầm chốt thì phải làm loại hầm chữ A thật chắc chắn. Nếu ở kiềng hay chốt công trình thì hầm chữ A phải to và đủ sâu để có thể chống được cả đạn pháo 105ly.

              Chiều hôm đó có mấy thằng đào xong hầm còn rủ nhau mò ra phía bản gần đấy. Đúng là dân Hà Nội chỉ biết đến đường nhựa mà dám học đòi dân vùng cao. Chúng nó thấy một cái cây có tổ ong to tướng trên đó, tưởng bở có mật, lại nghĩ ong nó hiền như ong nuôi nên chặt gậy ném. Cả bọn bị ong đuổi đốt chạy bằng chết. Một đứa số không may bị ong đốt mặt sưng như cái lệnh vỡ, mắt díp lại không còn nhìn thấy gì. Chỉ biết mỗi cái bài bôi vôi chống ong đốt, nhưng giữa chốn này lấy đâu ra vôi. May được thủ trưởng nhận quân có cái bình-tông mật ong (không hiểu sao ông ấy lại có mà mang bên người), lấy mật ong ra bôi lên khắp mặt cho nó. Tưởng bôi đùa làm phép, thế mà hôm sau mặt nó tẹt hẳn, lại hành quân được cùng anh em như thường. Đấy là bài học đầu tiên về sản vật rừng.

              Hôm sau chúng tôi hành quân tiếp. Từ đây thấy toàn đi theo đường xe bò. Đầu giờ chiều thì gặp mưa rất to, kéo dài cả tiếng đồng hồ. Đường đi đã vào vùng cao nguyên Bô-lô-ven rồi và mùa mưa đã tới. Đi theo đường xe bò nên khá trơn, nhiều thằng vồ ếch. Mãi đến xẩm tối chúng tôi đến một hậu cứ, có các lán lợp cỏ tranh, có hầm thùng, trong đó có các sạp nằm bằng nứa ghép. Nghe nói đây là hậu cứ của C công binh. Đã có người nấu sẵn cơm, chúng tôi chỉ việc đi lấy cơm về ăn. Chẳng có đèn đóm gì, nên ăn xong là chúng tôi dọn chỗ ngủ. Ban đêm trời vẫn mưa rả rích.

             Buổi sáng trời tạnh. Chúng tôi được báo đi nhận cơm sáng, khẩn trương ăn rồi thu dọn mang ba-lô ra một bãi đất tập trung. Có thêm nhiều cán bộ cũ nữa đến. Chúng tôi bị tịch thu toàn bộ súng Ak (3 thằng có một khẩu), dao găm và hăng-gô. Hai món trên thì được, nhưng hăng-gô là vật dụng cá nhân cơ mà. Chúng tôi thắc mắc, nhưng vẫn bị thu, không í ó gì hết. (Sau này nghĩ lại, chắc các thủ trưởng khi đó muốn triệt nọc từ gốc "bài ca ống cóng" của lính, và cũng để có cái mà trang bị cho các ban bệ, trạm xá…của Trung đoàn. Sau này khi đã thành ma cũ rồi thì chúng tôi cũng tự kiếm cho mình một cái hăng-gô riêng từ các đợt tân binh vào sau. Của lính cũ rồi thì chẳng bố nào dám thu. Cái hăng-gô tôi mang về nhà sau chiến tranh làm kỷ niệm, bây giờ chuyên dùng để đựng mỡ là của một chú tân binh nào đó vào sau tôi cả năm, chứ không phải là cái tôi mang từ Bắc vào đâu).

          Sau đấy một thủ trưởng đọc tên lính chúng tôi để chia quân. Chúng tôi cũng chưa hình dung được các đơn vị trong trung đoàn khác nhau như thế nào, nhưng cứ đọc tên ai thì lại đứng ra thành tốp, có người nhận. Một đám 30 thằng trong đó có tôi được chia về K18, là tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn. Chia quân xong là chúng tôi lên đường về đơn vị ngay. Tiểu đoàn tôi đang đứng chân ở tuyến trước, xa nhất nên không thể chậm trễ. Chúng tôi phải qua 2 bản nhỏ rồi rẽ vào đi theo con đường xuyên rừng. Đường nhỏ, cây rừng quệt cả vào ba-lô. Có đoạn còn đi ngang qua vườn cà-phê của đồng bào. Buổi trưa dừng lại ăn cơm nếp nhận từ sáng. Sau bảy giờ hành quân, chúng tôi đến một cánh rừng già, hậu cứ của D bộ K18. Đơn vị đang ở tuyến trước nên hậu cứ chỉ còn ít người. Cả bọn được chia vào 3 lán. Cơm tối đã nấu sẵn. Hậu cứ ở đây có vẻ chắc chắn, sạch sẽ, nhưng đường xuống suối (và bếp ăn cũng ở dưới đó) xa quá, ngót 200 bậc nên lên xuống cũng ngại. Tối đó không phải là sinh hoạt chính thức, chỉ phổ biến qua loa nhiệm vụ rồi ngồi nói chuyện phiếm hỏi han nhau. Chúng tôi giới thiệu mình, rồi hỏi tình hình đơn vị với mấy anh lính cũ. Buổi nói chuyện diến ra rất thân mật, có nước chè và thuốc lá thơm có đầu lọc, chiến lợi phẩm tuyến trước gửi về. Sang thật.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 08 Tháng Hai, 2010, 09:39:00 PM
Thế trận đánh Đồng Dù trung đoàn 9B của bác lại thuộc 320 phải không ? Sự "lang thang" của một số đơn vị kiểu như e9 mà sau này việc xác minh tìm mộ liệt sĩ rất khó khăn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 08 Tháng Hai, 2010, 09:51:25 PM
@bác PhongQuang.

       Sư 320 thời chống Mỹ nằm địa bàn B3 (Tây Nguyên). Tháng 5/1973, Trung đoàn 52 của sư 320 bị rút đi bổ sung cho chiến trường Quảng trị (Nó nhập vào sư 325 thì phải). Thế là E9B bị cắt ra khỏi sư 968 và bổ sung cho sư 320A. Mãi đến tháng 8/1975, trung đoàn 9B mới trở lại đội hình sư 968 và ở đó cho đến ngày hôm nay. Đúng như bác PhongQuang đã nói, bây giờ sư 968 thuộc QK4 và đóng tại Quảng Trị


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 12 Tháng Hai, 2010, 09:30:26 PM

            Lúc này cả tiểu đoàn K18 có tăng cường đang đánh một căn cứ địch gọi là Bãi đá nằm trên đường 23, nên cả bọn chúng tôi tạm thời ở lại tiểu đoàn bộ, do anh Choát, trợ lý tác chiến D phụ trách. Anh cho chúng tôi nghỉ một ngày tắm giặt, sau đó sẽ tham gia cùi đạn và gạo ra tuyến trước, đồng thời cáng thương binh về. Tối hôm trước trong bữa ăn các anh lính cũ có đãi chúng tôi món nấm xào. Nấm trắng, mềm và rất ngọt. Lúc ở nhà tôi cũng có thưởng thức mấy món nấm hương (của này hiếm, chỉ tết mới có một ít) hay nấm rơm, nhưng không so được với cái nấm ở đây. Đặt miếng nấm lên miệng thấy vừa mát vừa mịn. Vì chỉ được ăn nên chúng tôi không biết rõ hình thù cây nấm ra sao. Cứ nghĩ đơn giản như chuyện vào rừng hái nấm trong chuyện cổ tích. Hôm sau chúng tôi lang thang trong khu hậu cứ. Có đi xa cũng chỉ cách độ vài trăm mét. Rừng già, cây to lá đan kín, nhìn không thấy trời. D bộ làm nhiều lán thành các khu vực của từng đơn vị nhỏ, nối với nhau bằng các đường mòn tự tạo. Trong rừng rất nhiều sóc, ngoài ra không thấy con gì khác. Vẫn là cái đám sóc chuột bé tẹo tôi đã thấy ở trạm 5. Nhưng ở đây có cả sóc bay. Bọn sóc này cũng không to hơn bọn sóc chuột bao nhiêu. Ngồi im một chỗ đừng làm náo động thì chỉ một lúc là thấy sóc. Lần đầu tiên ngắm sóc bay thấy thú vị lắm. Giáo cụ trực quan sống về sinh vật rừng là đây chứ đâu. Tự nhiên thấy cuộc đời lính có vẻ thơ mộng quá. Thảo nào mà anh bộ đội trong bài "Nhạc rừng" hứng chí vừa đi vừa hát một mình trong rừng mà thấy đời lên hương.

          Đi dịch ra phía suối thì nấm nhiều vô kể. Chúng tôi thi nhau hái, đem về định đến tối tự nấu ăn với nhau (nấu vụng thôi, vì chúng tôi vẫn còn có ruốc mặn để làm gia vị. Có nó mà nấu với nấm chắc ngon hơn đứt món nấm tối qua chỉ sào với muối). Loanh quanh thế mà mãi gần tối vẫn chưa nấu được. Phần vì suối xa, phần vì không mượn được soong nên chúng tôi xếp gọn đám nấm vào góc nhà. Bữa cơm tối diễn ra với thức ăn mới là món kiệu sào. Ở ngoài Bắc chỉ nghe nói củ kiệu muối đem ăn với thịt lợn quay rất hợp, chứ lúc đó lấy đâu ra thịt lợn quay mà ăn với kiệu. Rất nhiều thằng còn chưa biết củ kiệu là gì. Mới nhìn thì nó na ná giống củ hành, nhưng củ của nó lại không to tròn như hành củ. Tất nhiên là vị khác rất nhiều. Chẳng ai đem xào hành không để ăn cơm bao giờ. Thế mà ở đây có món kiệu xào ăn lạ miệng mà ngon ra phết. (Sau này sống lâu ở Lào chúng tôi mới biết là cả cái vùng Nam Lào người ta không trồng và ăn hành bao giờ. Thâm chí chả bao giờ nhìn thấy cây hành. Nhưng người Lào trồng kiệu thành nương, có khi là cả một vùng đồi bát ngát. Bụi kiệu cũng gần giống bụi hành. Mùa mưa kiệu mọc tốt, đẻ nhánh rất nhanh. Có những bụi kiệu to bằng cả một vòng tay ôm. Kiệu đem xào, muối, luộc hay nấu canh đều được. Ngon nhất là kiệu muối, nhưng nhiều khi muối còn chả có thì đừng mơ kiệu muối). Chúng tôi tạm quên đi món nấm. Đến tối khi chúng tôi trở lại lán thì thấy cái đống nấm ban chiều của chúng tôi đang phát sáng rực lên ở góc nhà như ma trơi. Màu lân tinh sáng xanh rõ hình từng chiếc nấm. Chúng tôi gọi và kể chuyện cho các anh lính cũ. Họ cười bò ra rồi giải thích. Đó là một loại nấm độc. May mà chúng tôi chưa nấu ăn, chứ nếu đã nấu ăn vụng với nhau rồi thì ngộ độc không biết sẽ thế nào. Hú vía. Chúng tôi vội dẹp hết vứt xa phía sau nhà. Rồi các anh giảng giải cho chúng tôi. Lính mới vào thằng nào cũng lớ ngớ, cần phải chịu khó mà nghe và học hỏi lính cũ. Cứ tự ý làm mọi thứ có ngày đi ngủ với giun lúc nào không hay.

           Hôm sau một anh dẫn chúng tôi đi lấy nấm để chúng tôi tạm làm quen. Ngoài các nương rẫy của dân có những cây đổ nhưng không cháy hết khi đốt rẫy từ nhiều năm trước. Bây giờ trên đó thường có loại nấm trắng xòe như cái dẻ quạt, to lắm cũng chỉ cỡ bàn tay. Đó là nấm dai. Loại nấm này không mềm thịt, nhưng nấu nước rất ngọt. Loại thứ hai ngon hơn, đó là nấm mối mọc dưới đất, nhất là vùng đất ẩm có lá đã mục. Lúc sáng sớm nó đẩy đất nhô cái mũ lên như chiếc ô cụp. Sau đó nó nở rất nhanh. Chỉ trong một hai tiếng, cái mũ nấm đã xòe to ra như chiếc ô. Chính giữa mặt cái nấm có một vùng sậm như núm vú đàn bà. Những chiếc to, mũ rộng có đường kính tới 20, 25 phân, cao chừng hơn gang tay thì chỉ 3 chiếc là đủ bữa cho một tiểu đội bốn năm thằng. Hái lúc 9, 10 giờ là đẹp nhất. Để chậm, những con muỗi, con dĩn nó bâu vào ăn lỗ chỗ mặt nấm. Cây nấm mối già rất nhanh, đến chiều tối thì nó rũ ra, có khi thối ủng không còn ăn được nữa. Đấy là hai loại nấm dễ nhớ nhất. Nói chung cây nấm nào có con muỗi con dĩn (hay con sâu) ăn được là người cũng ăn được. Còn loại nấm hôm trước chúng tôi được ăn thì hiếm hơn phải tinh mới biết. Nghe vậy thôi nhưng tốt nhất là cứ đi theo các anh lính cũ cho nó chắc. Tất nhiên là đến một lúc nào đó thì chúng tôi cũng phải thành thạo.

          Liền suốt 10 ngày sau đó, anh Choát và một anh nữa chia chúng tôi làm hai nhóm thay nhau cùi đạn ra phía trước. Chúng tôi phải bỏ toàn bộ quân tư trang ra gói vào cái tăng cất trong lán, còn ba-lô đem đựng đạn hay gạo. Đạn cối 60 hay B40, B41 thì mỗi lính cùi 8 quả. Đạn cối 82 thì 5 quả. Nếu là gạo thì mỗi người 20 kg. Không phải là nhiều lắm, nhưng bước đầu như thế cũng đủ nặng. Đường ra trận địa Bãi Đá xa 4 giờ đồng hồ. Tất nhiên là đướng rừng và lội suối quanh co. Mỗi chuyến là hết một ngày. Trận đánh này hình như là vây ép nên đánh mấy ngày. Chỗ chúng tôi đem đạn và gạo ra cách trận địa một quả đồi to. Đó là khu bàn đạp. D bộ tiền phương đóng ở đó, hầm hố đàng hoàng. Khung cảnh khẩn trương nhưng vẫn an toàn, chúng tôi chỉ nghe tiếng súng nổ ùng oàng xa xa. Các anh lính cũ bảo chỗ này chỉ sợ máy bay hay pháo nó câu tới thôi. Giao đạn gạo xong rồi thì chúng tôi được ăn cơm (cơm nếp mang đi từ hậu cứ) rồi ngồi uống nước chè với lính cũ. Trong này chè có mà thiếu giống, có làm có uống, lính cũ bảo thế. Có lần chúng tôi còn được mời hút thuốc lá thơm có đầu lọc. Đó là thuốc chữ A của Lào. Có 2 loại đầu lọc: đỏ và trắng. Loại trắng có bạc hà hút thấy man mát trong lưỡi. Bao thuốc mềm trông rất đẹp, chữ loằng ngoằng như giun chỉ đọc được mỗi chữ A. Tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc từ lúc này, toàn được lính cũ cho. Về sau tôi cũng nghiện thuốc từ lúc nào không biết. Ngày nào không có thuốc không thể chịu được. Rồi lúc đi đánh nhau luôn có ý thức trong đầu là sau trận đánh phải lục ba-lô và túi của lính địch chết để tìm thuốc lá. Thời gian ở Lào cũng chỉ có một loại thuốc lá chữ A thôi, không hề có loại thuốc nào khác. Hết thuốc thẳng (thuốc điếu trong bao) thì tự lấy lá thuốc của dân (dân Lào trồng ngoài nương nhiều lắm) về phơi hoặc sao lên, rồi quấn sâu kèn để hút.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dream_kgb trong 17 Tháng Hai, 2010, 01:47:13 PM
Hôm nào ol cũng vào đây hóng, tiếp đi bác. Lâu quá ạ.  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 18 Tháng Hai, 2010, 09:20:14 AM
…..
         Được mấy ngày đầu cùi đạn gạo như thế cũng chưa có gì là vất vả lắm, mệt nhưng quen ngay. Đến ngày thứ 5 thì bắt đầu có thương binh. Cứ ba thằng một thương binh, cáng võng buộc đòn tre thay nhau khiêng. Bây giờ mới biết mặt nhé. Đeo quai ba-lô dù sao cũng êm ái, bây giờ cáng võng bằng cái đòn tre cứng nó tì vào vai đau lắm. Lính Hà Nội, thằng nào vốn dân ngoại thành đã quen gồng gánh còn đỡ, mấy thằng nội thành có gánh bao giờ, bây giờ mặt nhăn như bị. Đảo vai liên tục rồi lại đỡ bằng cả hai tay cho khỏi đau vai. Đoạn đường 4 tiếng đồng hồ cùi cõng trở nên vô tận. Đau nhất là những đoạn lên xuống dốc, cáng nó cứ chuội sượt trên vai thằng đi phía đầu thấp. Không hiểu sao cái trạm phẫu lại đặt xa trận địa thế không biết. Đi hết 4 giờ đồng hồ về gần đến khu hậu cứ D bộ K18 rồi, lại bàn giao cho đơn vị khác khiêng tiếp về tuyến sau hơn. Về đến nhà xuống suối ngồi nghỉ mãi vẫn không hết mệt. Cởi áo ra mà thương xót cho cái vai mình quá. Đỏ bầm tụ máu và đau ê ẩm. Hôm cáng thương binh đầu tiên về đến hậu cứ mà bã hết cả người, không muốn ăn cơm nữa dù vẫn đói. Hôm sau lại có lệnh đi cáng thương binh tiếp. Ôi cha mẹ ơi. Hôm đầu đau một thì hôm sau đau mười. Lót cả cái khăn mặt vào vai rồi mà đặt cái cáng lên nó đè như muốn lột da. Bây giờ mới biết thương cái kiếp con trâu con bò. Nó kéo cày, cái vai nổi u lên một cục chai to tướng. Thân trai này sắp thành con bò mất rồi. Còn đâu trong tim hình ảnh anh Lê Mã Lương đội mũ tai bèo, khoác tấm khăn dù đứng nghiêng người quạt Ak giữa trận tiền nữa.

          Hôm thứ ba nhóm bọn tôi phải cáng một thương binh bị thương vào chân. Trong nhóm có thằng Sưởng người to cao nhưng lại vốn dân công tử bột, con nhà giàu. Thằng này chẳng nể mặt ai đâu. Huấn luyện ngoài Bắc đứa nào va chạm với nó là nó chửi thẳng thừng, chẳng nể nang gì. Lần này tôi phải khiêng cùng nó mới khổ chứ. Nó vốn cao hơn tôi đến cả chục phân, nên phần nặng tất nhiên lúc nào cũng nghiêng về phía tôi. Đường không bằng phẳng nên cứ phải bước thấp bước cao mà tránh rễ cây rừng. Cáng thương binh đi trước hay sau đều khổ. Đi trước thì phải giữ cho cân mà chỉnh theo đường. Nhiều lúc nặng quá đi không vững, chân nam đá chân chiêu loạng choạng như thằng say rượu. Còn đi sau thì không nhìn rõ đường, thằng trước kéo thì cứ phải lao theo nó cho khỏi ngã. Lần này anh thương binh có lẽ cũng to con nên nặng lắm. Đã thế anh ấy còn rên la ghê lắm, nó đánh vào tinh thần làm cho người khiêng mệt thêm nhiều phần. Nghe kêu rên ghê quá, thằng Sưởng cáu tiết bảo:

        - Thôi ông ơi, ông làm ơn im cho chúng tôi nhờ. Đã nặng bỏ mẹ…

        Người thương binh không những không im mà vẫn kêu, có khi còn to hơn. Thằng Sưởng lại bảo:

         - Im đi không các bố mày vứt mẹ nó xuống đất bây giờ.

          Thế là lập tức ông thương binh nhỏm ngay dậy giữa võng, chỉ mặt thằng Sưởng bảo:

          - Này đồng chí tên là gì, ở đơn vị nào hả? Có biết tôi là ai không?

          Nghe thế bọn tôi cũng sợ. Lúc này nhìn kỹ vào võng thấy bố này vẫn đeo nguyên cả cái Xanh-tuya-rông có khẩu súng ngắn. Thảo nào mà cáng nặng thế. Chúng tôi không dám nói thêm gì, lặng lẽ cáng tiếp. Đến một đoạn đường dốc hơi trơn, thằng Sưởng trượt chân ngã. Tôi cũng ngã theo, hất ông thường binh lăn mấy vòng trên đất. Ông ấy gầm lên nhổm người dậy chửi ầm lên rồi rút súng ra dọa bắn. Bọn tôi sợ quá ù té chạy núp vào mấy bụi cây, bỏ mặc ông ấy đứng ngoài bãi dốc với cái chân băng trắng toát. Mãi sau anh Choát đi tới xin lỗi rồi dàn xếp lại người để khiêng tiếp. Thằng Sưởng lủi sang nhóm khác, dứt khoát không khiêng cùng tôi nữa. Thế là tôi đành chịu trận. Nhưng tôi dứt khoát không nói tên thằng Sưởng, dù ông thương binh gặng hỏi. Nhưng rồi cuối cùng ông ấy cũng biết chúng tôi là đám tân binh Hà Nội mới vào. Sau này chúng tôi biết ông thương binh hôm ấy là CTV của K16 (vẫn còn may vì không phải K18 chúng tôi). (Sau này ông ấy lên chính ủy Trung đoàn. Năm 2000, ông ấy là chính ủy QĐ1, hàm thiếu tướng rồi mới nghỉ hưu).

         Cáng thương binh mấy ngày mệt quá, chúng tôi chỉ mong được về các C để tham gia đánh nhau.  Cứ phải khiêng vác thương binh thế này mãi, nếu không gục ngã thì khéo cũng đến đảo ngũ mất thôi.

          Sau đợt ấy, chúng tôi gùi đạn cho C5. Hướng tác chiến quay sang phía khác vì trận đánh Bãi Đá đã xong rồi. Đêm hôm ấy chúng tôi được nghỉ lại ngoài tuyến trước cùng C5, đơn vị cũng vừa tham gia đánh Bãi Đá. Chúng tôi háo hức hỏi chuyện, còn các anh ấy trả lời và chuyện trò bình thản lắm, chẳng có gì là gay go ác liệt  hay hào hùng gì. Mọi việc xảy ra chỉ như chuyện thường ngày ở huyện vậy. Thế nên bọn tôi càng phục và càng náo nức. Đêm nằm hầm, hút thuốc thơm chiến lợi phẩm và thò cổ ngắm sao trên trời. Nói chung lính cũ già trước tuổi, khó đoán chính xác. Khi hỏi các anh vào chiến trường bao lâu, có anh bảo, bọn tớ vào cũng chỉ mới độ 3, 4 năm thôi. Ôi chao ôi. Từng ấy năm mà mới. Còn chúng tôi mới vào chưa được 2 tuần, chỉ mới cùi cõng thôi mà đã thấy lâu lâu rồi. Biết đến khi nào chúng tôi mới có được khoảng thời gian 3, 4 năm như các anh bây giờ. Đêm đó tôi xin được của một anh lính cũ một quả lựu đạn mỏ vịt của Mỹ. Cài nó vào Xanh-tuya-rông rồi lấy cái dây chun cột lại trông cũng ra dáng lắm.

          Hôm sau về hậu cứ được nghỉ một ngày, tôi rủ hai thằng nữa mò ra một cái suối gần đó để thử quả lựu đạn và cũng để kiếm ít cá. Tôi đã nghe nói nhiều về cái chuyện bộ đội đánh cá bằng lựu đạn. Chúng tôi lần mò ra cách nơi ở đến hơn một cây số, tìm một khúc suối sâu nước lặng. Nhìn xuống thấy có cá bơi. Mấy thằng tôi nấp sau tảng đá, làm đúng thao tác yếu lĩnh rồi ném quả lựu đạn xuống suối. Tiếng nổ không to lắm, chắc suối sâu. Chúng tôi mò ra vớt được một ít cá bé tí tẹo, chắc khoảng 3, 4 lạng. Đem về bếp, anh nuôi D bộ chỉ cười, nhưng cũng chiều lòng nấu cho chúng tôi nồi cháo cá gạo nếp. Không có gạo tẻ nên nồi cháo quánh lắm. Đứa nào ăn cũng khen ngon, nhưng thực chất lúc đó chắc đói và tự hào là kiếm được nên thấy thế thôi.

               Chúng tôi ở D bộ đã được chục ngày. Lúc đầu chúng tôi được phổ biến chờ các đơn vị ở tuyến trước rút về thì tiểu đoàn sẽ phân chia chúng tôi về các đại đội. Sau vì Tiểu đoàn vẫn còn ở phía trước dài ngày, nên chúng tôi được chia quân luôn. Các anh lính cũ của các C có việc về hậu cứ khi trở ra tuyến trước đã kết hợp đón và dẫn chúng tôi về đại đội. Chúng tôi được chia đều về 4 đại đội và tiểu đoàn bộ. Tôi được về C6, cùng với thằng Sưởng và thằng Thái "Pi-tơ" anh nuôi ngoài Bắc, lính thu dung của D36 mà khi trước tôi đã nhắc tới. Lúc này chúng tôi mới được phát súng đạn. Mỗi người nhận một khẩu AK cũ cùng hai trăm viên đạn. Bao xe không có nên ngoài băng lắp ở súng, chúng tôi phải cho băng còn lại vào ba-lô.

     …


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 21 Tháng Hai, 2010, 08:15:12 AM

               Lúc này C6 đang đứng chân phía trước. Từ D bộ, chúng tôi cũng phải đi hơn 6 giờ mới tới vị trí tập kết của đại đội. Có hai B đóng trên đỉnh một giông đồi. Cái giông đồi này chỉ rộng chừng dăm chục mét, nhưng dài tới hơn cây số. Toàn cây to kiểu rừng già. 4 thằng trong bọn tôi được chia về 2 B đó, còn lại tôi với thằng Đức (người huyện Từ Liêm) đi tiếp hơn nửa tiếng nữa. Lội qua một con suối to có tên là Huội Chăm-pi, lòng cạn mà cũng phải rộng tới hai chục mét, đi thêm hơn trăm mét nữa thì tới B5. Khu vực trú quân là vạt rừng thưa có nhiều cây lúp xúp. Địa hình không phẳng, các hầm phân tán. Hầm bếp anh nuôi gần suối, còn hầm của các A nằm rải rác men theo sườn dốc. Ở đây chỉ có đại trưởng và một B bộ binh. Trong các hầm đều có người. Chẳng thấy ai làm gì cả ngoài việc ôm cây súng ngồi ngay cửa hầm. Ở đây toàn hầm chữ A. Tôi được chỉ cho một căn hầm để cất ba-lô vào đó. Có một anh nói đơn vị đang ở chốt, tối mới về.

              Sẩm tối, từ một hướng trên dốc có mấy anh lính cũ chạy ào ào xuống. Đó là các anh từ trên chốt về. Một anh dừng lại chỗ hầm tôi ngồi, hạ cây B40 và cái ba-lô đạn xuống, rồi hỏi tôi: "Mày mới vào hả, tên gì?". Tôi xưng tên. Anh ấy cũng xưng tên là Trịnh, rồi nhoẻn miệng cười rất hiền và đưa cho tôi một túm dâu da to tướng, vỏ màu trắng hồng, ăn rất ngọt. Cũng là anh chạy xuống bếp đem lên một bọc cơm nếp, ít muối vừng bảo tôi cùng ăn. Chúng tôi ngồi ăn ngay trên miệng hầm, trời sập tối lúc nào không biết. Tôi nhanh chóng được biết sẽ ở cùng tiểu đội và cùng nằm chung hầm với anh. Đây là lần đầu tiên tôi được nằm hầm chữ A. Hầm dài hơn 2 mét và cũng phải rộng cỡ mét rưỡi. Tôi đưa tay sờ thấy hàng gỗ to cỡ cổ chân ken dày vách hầm. Đáy hầm trải cỏ tranh, rải ni-lon nên nằm trong cũng thấy ấm cúng ra phết. Mặc dù có nến bằng giấy dầu, nhưng ở đây không được đốt vì sợ ánh sáng. Các lính cũ hầu như ai cũng có đèn pin chiến lợi phẩm, che miếng giấy chỉ để một lỗ sáng nhỏ với ánh sáng mờ. Đêm đầu tiên tôi chưa phải gác. Các anh còn đi hội ý gì đó rồi anh Trịnh nói sáng sớm mai tôi sẽ ra chốt cùng anh.

               Đại đội trưởng C6 là anh Đỗ Kim Băng, người Nam Hà. Bổ sung vào đơn vị rồi phải đi chốt hay ra trận ngay, thực ra là điều rất bình thường đối với tất cả những người lính. Nhưng có một lý do khiến tôi được ra trận trước tất cả 6 thằng lính  Hà Nội khác trong C, sau này tôi mới biết. Số là nghe tin có lính Hà Nội vào, các thủ trưởng nghĩ ngay bọn tôi là công tử bột, không phải dân lao động. Thủ trưởng Băng hỏi anh Thiết quản lý xem trong đoàn Hà Nội có thằng nào là đoàn viên không. Trong 6 thằng chúng tôi có 3 đứa đã học hết lớp 10, nhưng cũng chỉ có tôi với thằng Đức là đoàn viên thanh niên thôi. (Cũng cần nói thêm là ngày đó, tuy đã vào lính, đã ra chiến trường nhưng không phải ai cũng được vào Đoàn. Tất cả bọn đoàn viên chúng tôi đều đã được kết nạp từ thời học phổ thông, chứ suốt cả 6 tháng huấn luyện cả chi đoàn đại đội huấn luyện của tôi tuy có thành lập và họp hành chiếu lệ dăm lần nhưng cũng không hề kết nạp ai cả). Vì thế mà tôi và thằng Đức được đưa ngay ra B5 là B đang chốt giữ tuyến trước. Thêm việc nữa là khi vừa bổ sung vào B thì thằng Đức lại đau bụng, nên tôi trở thành ứng cử viên duy nhất cho đoàn Hà Nội được ra trận để "xem chúng nó đánh đấm thế nào". Vậy là tôi trở thành thằng lính Hà Nội trong cái đoàn tân binh hơn hai trăm lính ấy ra trận đầu tiên và có cơ hội được nổ súng trước chúng nó.

               Đêm ấy nằm cùng hầm, anh Trịnh đem thuốc đầu lọc ra mời hút và trò chuyện cùng tôi một lúc. Thuốc lá là chiến lợi phẩm trận đánh tuần trước ở Bãi Đá. Nghe chuyện đánh nhau cứ ngon ơ như định sẵn. Anh Trịnh bảo ngày mai chúng ta sẽ ra chốt bản Xoan, ngoài đó đã đào  sẵn hầm chữ A rồi. Mỗi người một hầm, vị trí theo sự phân công. Địch vào thì đánh. Có gì chưa rõ thì cứ hỏi và nhìn lính cũ mà làm. Còn bây giờ đi ngủ để mai lấy sức đi sớm. Nếu muốn tè thì chui ra ngoài hầm mà tương vào rệ cỏ. Còn đi đồng thì nhớ cầm cái xẻng đào hố mèo xa xa một chút. Chấm hết.

               Vốn quen với mấy tháng hành quân Trường Sơn, nên tôi cũng nhanh chóng ngủ ngon lành, chẳng lạ lẫm cái gì cả. Sớm tờ mờ đất hôm sau, anh Trịnh thúc tôi dậy. Chưa quen địa hình nên vẫn anh Trịnh xuống suối lấy cho mỗi người một bi-đông nước và qua bếp lấy cơm. (Lại vẫn là cơm nếp, chuỗi thời gian ăn cơm nếp liên tục còn kéo dài đến hơn hai tháng nữa). Tôi tranh thủ đánh răng bằng ngón tay, còn rửa mặt thì từ nay chỉ có lúc nào qua suối mới biết đến rửa mặt. Ăn vội phần cơm sáng , túm nắm cơm còn lại vào tấm khăn dù (vải dù lính cũ có rất nhiều và tôi đã được anh Trịnh cho một miếng to bằng 4 chiếc khăn mùi-xoa. Gói cơm nếp bằng vải dù tuyệt lắm. Nó không bị hấp hơi, không dính bết và nhất là giặt rất nhanh khô). Tôi để ba-lô lại hầm, chỉ mang theo khẩu AK, hai băng đạn lắp sẵn cùng một bọc đạn AK gần 200 viên, được phát thêm một quả lựu đạn mỏ vịt nữa. Nhóm 4 người chúng tôi ra chốt bản Xoan, gồm anh Lạc A trưởng người Tuyên Quang, anh Hoài - Nam Hà, anh Trịnh - Hà Tây và tôi.  Anh Lạc mang súng cối cá nhân M79, còn tôi và anh Hoài mang AK. Men theo các sườn dốc và chui qua các hàng cây lúp xúp, chúng tôi đi chừng hơn 300 mét thì lọt vào một cái bản Lào bỏ không. Lối chúng tôi vào không phải là đường mà chỉ là do chúng tôi đạp rừng mà vào. Hướng đối diện mới có một con đường xe bò đi vào bản.

           Cả bản có chừng hơn chục nóc nhà, toàn nhà sàn khá to và đẹp. Cây ăn quả trồng nhiều trong bản, nhưng lúc này nổi bật là mấy cây dâu da to và rất sai quả. Dân cũng mới bỏ chạy nên vẫn còn bóng dáng gia súc. Các hầm chốt của chúng tôi nằm phía rìa bên này bản, nên nếu có địch vào thì chúng cũng phải vào hết trong bản thì mới gặp chúng tôi. Trận địa chính là trong lòng bản. Theo hướng nhìn vào bản thì tôi được bố trí hầm bên trái, anh Hoài hầm bên phải, còn anh Trịnh B40 và anh Lạc M79 ở giữa và hơi lùi lại phía sau. Tôi chẳng biết kế hoạch tác chiến là gì, chỉ biết nếu địch vào thì theo các anh lính cũ mà nổ súng. Tôi chỉ làm ngay được mỗi việc mà sau này trở thành thói quen trong suốt cả quãng đời cầm súng là cây AK của tôi luôn có sẵn một viên đạn lên nòng, bất cứ là đang ở tuyến trước hay về hậu cứ tuyến sau.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tycon trong 21 Tháng Hai, 2010, 10:24:16 PM
 Năm mới chúc Chú và gia đình mạnh khỏe an khang thịnh vượng.
 Cháu vẫn thường xuyên theo dõi các bài viết của Chú, các bài viết về chiến trường Lào ít quá mà cháu rất muốn tìm hiểu về quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Bố cháu là cựu chiến binh chiến trường này, Bố cháu nhập ngũ năm 1967 thuộc sư đoàn 316 đến năm 1973 Bố cháu bị thương và được cho ra quân. Nhà cháu bây giờ còn giữ rất nhiều kỷ niệm chiến trường của Bố đó là vải dù, võng bằng dây dù...
 Rất mong được đọc các bài của chú.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 25 Tháng Hai, 2010, 10:12:54 AM
Em là lính sư 10 có mặt trên đoàn xe đi qua căn cứ Đồng dù trưa ngày 29/4/1975 để đánh thọc sâu vào SG.
Lần đầu tiên vào trang Web QUANSU và đọc bài của Bác TrongC6 em thấy bác viết rất hay, rất thực và xúc động. cảm ơn bác! Kính chúc bác khỏe và tích cực viết nhiều hơn nữa.     


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 25 Tháng Hai, 2010, 03:09:54 PM
Xin chào đ/c Bob.
Trên QSVN này, thế là bạn ở đơn vị gần gũi với tôi nhất trong chiến trường rồi đó. Chúng mình đã cùng chung một cánh trong cả 2 chiến dịch lớn 1975.
Chiến dịch Tây Nguyên, đơn vị đạn đánh Ban Mê Thuột, còn bọn tôi đánh Buôn Hồ và đường 14.
Chiến dịch HCM thì đơn vị bạn đánh thọc sâu vào SG, còn chúng tôi đánh Đồng Dù.
Chúng mình đã cùng có cảm nhận chung về không khí chiến thắng khi đó phải không bạn.
Các bài của lính thời trước 1975 còn ít, nhất là của QĐ 3.
Bạn vào đây viết bài chia lửa đi nhé.
Chờ bạn


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 25 Tháng Hai, 2010, 03:55:58 PM
Chào bác trongc6, tôi mới vào QSVN tình cờ đọc bài bác viết về những kỷ niệm một thời "máu lửa". tôi rất thích (đồng cảm) cách viết của bác. Suy nghĩ và nhớ lại mà, trí nhớ của bác còn tốt lắm. Tôi cũng tham gia chiến trường từ 1970, Tham gia khá nhiều chiến dịch, khá nhiều trận, bị thương nặng nhẹ, cũng dăm bảy bận... Chiến dich 1975 (thần tốc) được tham từ mở đầu Buôn mê thuột , Nha trang cho đến trận cuối cùng: giải phóng SG... (nhiều kỷ niệm không quên được)Nhưng không viết được như bác. hoặc viết ra thì sợ người ta đánh giá; "Thằng cha này muốn kể công" nên hơi ngại.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: pain trong 25 Tháng Hai, 2010, 04:08:36 PM
Chào mừng bác bob tham gia diễn đàn. Bác cứ viết theo hồi ức của mình thôi, không ai nói bác kể công đâu. Chúc bác khỏe và có nhiều bài viết về KCCM.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trungsy1 trong 25 Tháng Hai, 2010, 04:09:09 PM
Chúc các bác lính "tiền 75" và bác TrongC6 một năm mới an khang mạnh khỏe, vạn sự như ý!  :D

Trên này lính K thì nhiều. Lớp các bác thì hơi hiếm, nên các đàn em chỉ dám đọc thôi chứ cũng không biết gì nhiều để tham gia cho xôm. Nhưng cũng có mấy bác tiền 75 như PQ, Lixeta, Mig21_58 ...vẫn tham gia ọp ác đấy. Hôm nào tiện đầu xuân, kính mời các bác ly trà chén gụ, như tình đồng ngũ quân sử... :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: daccong-tinhnhue trong 25 Tháng Hai, 2010, 08:50:49 PM
Chào bác trongc6, tôi mới vào QSVN tình cờ đọc bài bác viết về những kỷ niệm một thời "máu lửa". tôi rất thích (đồng cảm) cách viết của bác. Suy nghĩ và nhớ lại mà, trí nhớ của bác còn tốt lắm. Tôi cũng tham gia chiến trường từ 1970, Tham gia khá nhiều chiến dịch, khá nhiều trận, bị thương nặng nhẹ, cũng dăm bảy bận... Chiến dich 1975 (thần tốc) được tham từ mở đầu Buôn mê thuột , Nha trang cho đến trận cuối cùng: giải phóng SG... (nhiều kỷ niệm không quên được)Nhưng không viết được như bác. hoặc viết ra thì sợ người ta đánh giá; "Thằng cha này muốn kể công" nên hơi ngại.
Bác Bop à?Trươc lạ,sau quen thôi mà.Đa phần các CCB,toàn kể lại nhưng việc thật,chuyện thật mà mình đã trải qua trong các cuộc chiến,các bác ý có xuất thân là nhà văn,nhà báo đâu.Mà nhà văn,nhà báo Xịn chắc gì đã có những bài hay được như các CCB."Gái có công,chồng chẳng phụ" kiểu gì các bác cũng có Công cả,dù ít ,dù nhiều.Bàn tay còn có ngón dài,ngón ngắn mà,tránh sao được những lời nọ,kia.Nhưng việc ai,người lấy làm.Rât nhiều bạn đọc mong bác sớm" khai bút" đó.Cố lên-Cố lên Thái bình dương. ;D :-* ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 25 Tháng Hai, 2010, 09:10:06 PM
Chào bác Bob.

        Đúng là lính KCCM mới chỉ có rất ít người vào viết trong QSVN, dù chỉ dăm bài. Lính trận thì mới có vài người. Tôi, bác Lixeta và bác PhongQuang cùng tuổi.
        Bác Bob vào chiến trường từ 1970, có thể nói là nhỉnh hơn mấy anh em tôi một chút đấy. Nếu ngày trước được vào đúng đơn vị bác, có khi lại được làm lính của bác cũng nên.

         B3 ác liệt và nổi tiếng cát cứ một thời, lính khổ nhiều hơn so với hai đầu chiến tuyến (B2 và B4,B5). Sư 10 khi đó đóng vùng Kontum phải không bác Bob (vì Sư 320 ở Gia Lai rồi). Còn Đắc Lăk khi đó đâu có quân mình, rừng sâu còn lắm cọp mà.

       Bác ở chiến trường từ 1970, tham gia nhiều chiến dịch, bị thương nhiều lần mà vẫn trụ lại, chắc khi thần tốc vô Sài Gòn bác đã là cán bộ C phải không.
        Bác kể chuyện đơn vị bác đi. Tôi tuy có ở B3, nhưng hiểu biết về chiến trường Tây Nguyên không được mấy, vì thời gian không dài.

      Bác viết chuyện đi nhé. Đừng ngại gì cả. Nếu kể công thì mình đã kể ở nơi khác, chứ trang QSVN chỉ là giúp ôn hồi ức thôi. Viết ra cho nó vui, để tạm quên đi cái cuộc sống nhọc nhằn đời thường ấy mà bác.

      Chờ bác, chờ một đàn anh lính cựu đấy nhé.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 25 Tháng Hai, 2010, 10:14:01 PM
Bác Bob đi năm 1970 mà ở sư 320 chắc có tham gia chiến dich Đường 9 Nam lào rồi. Tôi đã có thời cùng đơn vị mấy anh trước ở 320 sau chiến dịch Nam Lào về học lục quân. Cùng đi lính năm 1970 như bác nhưng lập công sớm được đi học. Anh Diệu người bắt sống thiếu tá Đức trưởng ban 3 lữ dù 3 của Nguyễn Văn Thọ. Bác biết gì, nhớ gì cứ kể đừng ngại.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 25 Tháng Hai, 2010, 10:25:02 PM
Bác Trong cho em hỏi, đoạn này bác TrongC6 đang ở tỉnh nào của đất Lào ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: NicolasCage trong 26 Tháng Hai, 2010, 02:55:34 AM
Văn phong bác Trongc6 hay quá. Đọc mà cứ tưởng đang hành quân cùng với bác. Cảnh vật dọc đường hành quân sống động cứ như đang hiện ra trước mắt. Chả trách tại sao mà chỉ sau có 1 buổi “.. nhổ cỏ, bắt sâu…” mà cô giáo Hoa lại chấm bác chứ không phải bác Xuyên nông dân hay bác Thụy cao to, đẹp giai  ;D.
Xin phép được góp vui 1 câu chuyện nghe các bạn Lào kể khi NC đóng ở Dakchung, Sekon:
Chuyện kể rằng có chàng trai Việt đưa cô vợ Lào về ra mắt bố mẹ chồng. Do thói quen, đến bữa ăn cô vợ đưa tay bốc thức ăn. Anh chồng thấy vậy đánh vào tay cô vợ, miệng nói:
- Ở VN cái này phải dùng đũa để gắp. Cô vợ có vẻ buồn nhưng không nói gì.
Đêm đó không biết anh chồng làm gì mà bị cô vợ đánh vào tay rồi nói: Cái này phải dùng đũa mà gắp (!!!) ;D
Năm mới chúc các bác luôn khỏe.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 26 Tháng Hai, 2010, 08:37:35 AM
Chào bác PhongQuang. Tôi ở sư 10 bác ạ, chiến dịch đường 9 nam lào tôi không tham dự. Bác viết lại những ký ức chiến tranh cũng rất hay, tôi chưa đọc hết các bài của bác, nhưng tâm sự của người đã qua trận mạc kể lại rất sống động. tiếp tục viết bác nhá...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 26 Tháng Hai, 2010, 09:45:29 AM
Chắc bác Trọng đang ở cao nguyên Bolooven bác chốt như vậy chắc ngụy lào dễ đánh phải không bác ??


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 26 Tháng Hai, 2010, 01:43:09 PM
Chào bác Rongxanh:

       Trong mạch chuyện, tôi đang ngồi chốt ở bản Xoan trên cao nguyên Bô-lô-ven. Suy rộng ra thì nó thuộc tỉnh Chăm-pa-xắc cực nam của Lào. Thủ phủ là thị xã Pắc-xế nằm trên đường 13 (từ Viên Chăn đi xuống) cạnh sông Mê-Kông.

       Từ Pắc - xế ngược theo đường 23 lên hướng Pắc - Soòng 21 cây số là ngã Ba Lào Ngam. Bản Xoan nằm ở hướng Tây ghé Bắc của ngã Ba này, cách độ 3 cây số gì đó.

       Nếu tìm được Bản đồ vùng này, bác Post lên giúp thì hay quá.
       Cảm ơn bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 26 Tháng Hai, 2010, 04:51:45 PM
Chào bác trongc6, bác đoán khá chuẩn đấy. tôi vào B3 từ 1970, lúc đó chưa có sư 10 (sư 10 thành lập cuối năm 1972 sau chiến dich Đăktô-Tân cảnh). mới vào tôi ở E40 pháo (mang vác). khi sư 10 ra đời tôi về E24 (F10 có 3E: 66,28,24). Sau hiệp định Pari e24 làm nhiệm vụ giữ chốt tuyến tây bắc thị xã Kon tum (ác liệt lắm) vậy mà suốt từ đầu năm 1973 đến ngày miền nam giải phóng 1975 địch không ủi được. tuyến chôt được trên tặng là cánh cữa thép Tây nguyên. Cũng từ tuyến chốt đó đơn vị tôi xuất phát vào chiến dịch 1975. Tôi đang lục tìm trong "bộ nhớ" xem còn nhớ được bao nhiêu và sẽ viết lại 1 số sự kiện mà mình trực tiếp tham dự. Nhưng tôi xin phép các bác trước là tôi không có khiếu văn chương nên có gì sơ xuất các bác bỏ qua cho nhé. chân thành cảm ơn. 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: daibacvn trong 26 Tháng Hai, 2010, 04:59:33 PM
Chào bác trongc6, bác đoán khá chuẩn đấy. tôi vào B3 từ 1970, lúc đó chưa có sư 10 (sư 10 thành lập cuối năm 1972 sau chiến dich Đăktô-Tân cảnh). mới vào tôi ở E40 pháo (mang vác). khi sư 10 ra đời tôi về E24 (F10 có 3E: 66,28,24). Sau hiệp định Pari e24 làm nhiệm vụ giữ chốt tuyến tây bắc thị xã Kon tum (ác liệt lắm) vậy mà suốt từ đầu năm 1973 đến ngày miền nam giải phóng 1975 địch không ủi được. tuyến chôt được trên tặng là cánh cữa thép Tây nguyên. Cũng từ tuyến chốt đó đơn vị tôi xuất phát vào chiến dịch 1975. Tôi đang lục tìm trong "bộ nhớ" xem còn nhớ được bao nhiêu và sẽ viết lại 1 số sự kiện mà mình trực tiếp tham dự. Nhưng tôi xin phép các bác trước là tôi không có khiếu văn chương nên có gì sơ xuất các bác bỏ qua cho nhé. chân thành cảm ơn.  

Làm luôn một topic mới kể chuyện cho thế hệ sau như cháu nghe đi bác ơi!!!


Đêm đó không biết anh chồng làm gì mà bị cô vợ đánh vào tay rồi nói: Cái này phải dùng đũa mà gắp (!!!) ;D
Cái gì phải dùng đũa để gặp thế nhỉ... là lá la hahaha :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 26 Tháng Hai, 2010, 05:18:27 PM
Chào bác Rongxanh:

       Trong mạch chuyện, tôi đang ngồi chốt ở bản Xoan trên cao nguyên Bô-lô-ven. Suy rộng ra thì nó thuộc tỉnh Chăm-pa-xắc cực nam của Lào. Thủ phủ là thị xã Pắc-xế nằm trên đường 13 (từ Viên Chăn đi xuống) cạnh sông Mê-Kông.

       Từ Pắc - xế ngược theo đường 23 lên hướng Pắc - Soòng 21 cây số là ngã Ba Lào Ngam. Bản Xoan nằm ở hướng Tây ghé Bắc của ngã Ba này, cách độ 3 cây số gì đó.

       Nếu tìm được Bản đồ vùng này, bác Post lên giúp thì hay quá.
       Cảm ơn bác.

Bản đồ khu vực Pakse (1:250.000), cao độ tính bằng m (không phải feet)  ;):

(http://i595.photobucket.com/albums/tt38/rongxanhpmu2/TC6-Pakse-26-2-2010copy.jpg)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 26 Tháng Hai, 2010, 10:36:57 PM
      Rất cảm ơn bác Rongxanh cung cấp bản đồ. Tôi đã nhận ra ngã Ba Lào Ngam và Bản Phin. Nhưng phải nửa tháng nữa tôi mới ra bản Phin. Còn bản Xoan và Bản Phiệt (mà tôi sẽ kể tiếp đây) thì không thấy trên bản đồ. Phải chăng nó bé quá hay cảnh vật đã thay đổi.

Xin tiếp tục trận chốt bản Xoan...


               Trời sáng dần và tôi nhìn rõ hơn cảnh vật. Cây cối trong bản rất xanh tốt. Nằm sát mặt đất quan sát cũng chỉ nhìn xa được độ dăm chục mét. Tất cả im ắng. Tôi tranh thủ cắp AK lò dò lên phía trước vài chục mét tìm hiểu địa hình cũng không thấy có gì khác lạ. Tôi nhìn quanh để xem xét rồi quay trở lại hầm, không dám đi xa hơn về phía bên kia bản. Mò xuống cái hầm của mình, thấy hầm cũng là loại mới đào, vách hầm là ván gỗ chứ không phải thân cây, khá chắc chắn và rộng rãi. Ngửa cổ nhìn quanh thì mới thấy ngay cạnh cửa hầm là một cây dâu da to, trĩu quả. Tôi với tay lên bẻ một chùm to rồi ngồi ngay trên miệng hầm bóc ăn. Nhìn sang các hầm bên thấy các anh Trịnh, Lạc xòe tay vẫy thân thiện. Các  anh ấy cũng bẻ dâu da ngồi ăn cho đỡ sốt ruột. Phía hầm của anh Hoài xa hơn nên chẳng nhìn thấy gì. Nơi ấy, ở sát ngay hầm là một căn nhà sàn.

               Tầm chín giờ, trời đã sáng rõ lắm rồi. Tôi vứt đầy vỏ dâu da trên miệng hầm và đã hái thêm chùm dâu da khác. Bỗng có tiếng lao xao phía xa, tôi tụt người xuống hầm, thò đầu nhìn. Nhìn mãi một lúc cũng thấy bóng người, địch rồi, tôi thầm nghĩ. Không nhìn rõ hết người, nhưng từ ngang lưng trở xuống thì thấy khá rõ. Đến vài chục tên, chúng đã lọt vào hết trong bản và đang sục ra xung quanh một cách chậm rãi. Chúng không bắn vì chưa phát hiện thấy gì đáng ngờ. Gần chục thằng đi về hướng tôi, quần áo và mũ đều màu rằn ri loang lổ. Chúng cứ phải vạch bớt cành cây để đi nên đến gần hầm tôi tới chục mét mà chưa phát hiện ra tôi. Tôi đã mở chốt an toàn, chĩa AK và chờ anh Hoài hay anh Trịnh nổ súng trước. Lúc ấy tôi chưa có kinh nghiệm, cứ nghĩ là lính cũ phải nổ súng trước rồi mình mới được bắn. Một thằng địch vạch lá cây và tiến lại hầm tôi. Nó tới gần quá khiến tôi phải tụt hẳn xuống hầm để nó khỏi nhìn thấy. Tôi gần như nín thở và nghe rõ tiếng bước chân của nó.

               Lúc này anh Trịnh cũng đã giương B40 và chờ cho mấy tên địch cụm lại, nhưng vẫn chưa có thằng nào lại gần anh hơn. Khổ thân cho tôi là anh Hoài, người lính cũ mà tôi mong chờ nổ súng làm lệnh ở cánh phải lại là sâu rượu. Hầm anh ấy dựa ngay vào cái nhà sàn to tướng. Thế là trong lúc chúng tôi ăn dâu da thì anh ấy leo lên sàn tìm rượu. Trong nhà sàn có mấy cái hũ ngâm gạo nếp làm rượu sắp đem chưng cất. Nó gần giống như món rượu nếp, nước cái của nó thì thơm ngọt và rất dễ say. Đang mải loáy hoáy mò rượu xơi như thế thì anh Hoài chợt nghe tiếng động ngoài vườn. Nhìn qua khe cửa xuống dưới đã thấy lố nhố mấy thằng địch dưới đất. Có hai thằng đứng sát cầu thang, hình như chúng muốn leo lên. Anh Hoài nép vào vách gỗ và bật nhẹ chốt an toàn (nếu biết cách bật thì không hề phát ra tiếng động), nhưng cha mẹ ơi, súng lại chưa lên đạn. Bây giờ mà kéo quy-lát thì chắc chắn ăn đạn từ dưới đất bắn lên ngay. Đúng lúc anh đang căng đầu ra như thế thì tiếng AK ở cánh trái nổ giòn và tiếng B40 "ùng…oàng" nổ ngay giữa bản. Bọn địch dưới sàn nhà dạt ra, quay sang hướng súng nổ. Anh Hoài thừa thế kéo quy-lat cái "roạt" và đạp cửa sổ nhảy đại xuống đất, quất AK hạ gục ngay hai thằng ở chân cầu thang rồi vọt xuống hầm, chĩa AK bắn tiếp vào bọn phía sau.

               Vâng, đúng là trận đánh đó tôi nổ súng đầu tiên. Loạt AK mở màn của tôi vừa cứu nguy cho tôi, vừa giải nguy cho anh Hoài. Trước đó, khi tên địch cắp AR15 mò lại cái hầm của tôi thì tôi đã tụt đầu xuống hầm và thò AK lên chờ đợi. Căng thẳng vì tôi cứ phải chờ hiệu lệnh nổ súng, ngốc thế chứ. Nhưng sự cẩu thả của tôi khi ăn dâu da vứt bừa vỏ trên cửa hầm đã vô tình cứu sống tôi. Tên địch bước sát hầm tôi nhìn thấy đống vỏ dâu da còn mới, lại không thấy có người nên nó chủ quan nghĩ không có ai và cứ thế nó chậm rãi bước tiếp. Rất may là nó không hứng chí ném đại một quả US vào cửa hầm, vì nếu như thế thì bia tưởng niệm liệt sĩ ở phường tôi đã phải khắc thêm một dòng rồi. Đúng lúc nó nghiêng người nhìn vào cửa hầm của tôi thì tôi nhô lên. Bốn mắt ngây ra nhìn nhau trong một chớp và tất nhiên tôi là người chủ động. Tôi kéo mạnh một loạt AK khiến nó bật ngửa người lùi lại, nhưng là để ngã ngửa ra đất vì hứng trọn loạt đạn 7 ly 62 của tôi chứ không phải để chạy. Tôi nhô hẳn người lên quạt tiếp AK vào đám địch đang chạy ràn rạt phía trước. Bọn địch chỉ lùi một đoạn rồi nằm rạp quạt AR15 bắn trả. Tiếng đạn địch nghe rèn rẹt không giòn bằng tiếng AK, chíu chít phía trên đầu. Cùng lúc đấy tôi nghe tiếng nổ của B40, lần đầu tiên mới biết nó kêu "ùng" rồi mới "oàng" kèm theo chớp lửa và quầng khói đen. Anh Trịnh đã nổ súng rồi. Tôi vẫn bắn về phía bọn địch cho đến hết băng AK, chẳng còn nhớ điểm xạ hay kéo cò tùy hứng. Xen trong lúc ngưng bắn, tôi nghe thấy tiếng "cốc… oành" của anh Lạc bắn M79 và tiếng AK ở cánh phải của anh Hoài. Lúc đó tâm trạng tôi rất phấn khích. Thằng địch bị tôi bắn còn được hưởng thêm vài viên AK bắn cho chắc ăn của tôi. Lúc đó, khi cơn hồi hộp đã qua, tôi lại không thấy sợ gì cả. Về sau này cũng thế, trước trận đánh khi chưa nổ súng, tôi đều thấy hồi hộp (nhất là những trận phục kích đếm từng bước chân địch để chọn thời điểm nổ súng), nhưng khi tiếng súng đã nổ thì mọi việc trở nên bình thường, chẳng phải nghĩ gì cả.

               Bọn địch lùi ra xa rất nhanh. Chỉ còn M79 của chúng từ xa câu lại. Chúng bắn khá chụm và chính xác. May có những tán cây dày chặn lại nên nhiều quả nổ trên cây, chỉ có mảnh văng xuống rào rào. Cây cối tả tơi nhanh chóng. Tôi tụt sâu xuống hầm tránh mảnh. Không lâu sau đó, pháo địch từ đâu ào ào bắn tới. Bọn địch đã rút ra ngoài bản và gọi pháo bắn. Tiếng pháo nổ vang chủ yếu trong khu vực bản. Không có quả nào rơi trúng hầm chúng tôi. Chúng bắn chừng độ vài chục quả thì dừng, không gian lại đột ngột yên tĩnh. Ngồi trong hầm, tôi đã tranh thủ thay băng đạn và lắp thêm những viên đạn rời vào băng AK vừa bắn hết. Một lúc sau, tôi thò đầu lên. Cảnh tượng trong bản khác hẳn. Cây cối đổ gãy và không gian mờ mờ khói đạn, tràn ngập mùi hăng hăng ngai ngái. Có cái nhà sàn đã trúng đạn đổ sập. Cái cây dâu da chỗ hầm tôi cũng gãy cành, quả rụng vung vãi. Tôi nhìn sang các hầm khác nhưng chẳng thấy gì vì vướng cành cây đổ. Chẳng ai gọi tôi mà tôi cũng chẳng dám mò sang hầm các anh.

               Một lúc lâu nữa thì có một tổ 3 người từ phía sau lên chi viện cho chốt. Các anh ấy lần lên phía trước, đếm được tất cả 4 xác địch. Bọn này đều phải chết 2 lần vì ăn thêm mảnh đạn pháo của chúng. Phía ta, anh Lạc A trưởng bị trúng mảnh pháo nhỏ vào đầu, phòi ra một tí óc. Anh Cát (Bắc Thái) ở lại chỉ huy thay, còn hai anh khác khiêng anh Lạc về tuyến sau. (Sau này anh Lạc vẫn sống, được giải ngũ về nhà nhưng mất trí nhớ. Các bác sĩ quân y nói vết thương như thế thì về nhà anh ấy cũng chỉ sống thêm được nhiều lắm là hai năm nữa thôi. Tội nghiệp cho anh quá).

               Gần trưa, bọn địch quay trở lại bản. Tới đầu bên kia bản, chúng đã bắn tơi bời rồi cứ vừa bắn vừa mò vào. Khi chúng vào giữa bản, anh Cát cho lệnh nổ súng. Tôi không quan sát được nhiều nhưng cứ nhằm tầm cao cách đất nửa mét mà điểm xạ. Được ít phút thì bọn địch rút ra. Chúng lại gọi pháo bắn một thôi nữa. Sau này thì tôi quen dần với cái kiểu địch nống ra mà gặp ta thì lùi lại gọi bom, pháo. Chúng lợi thế hơn ta ở món hỏa lực đó.

               Sau đợt ấy thì địch bỏ cuộc. Suốt buổi chiều không có gì xảy ra. Chờ đến lúc tối mịt thì tất cả chúng tôi cũng rút về mấy cái hầm trú quân cạnh Huội Chăm-pi hôm trước.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:03:32 PM
Bác Trongc6 đã bao giờ quay lại thăm chiến trường cũ chưa, nghe nói vùng này bây giờ phát triến nhất Lào đấy, rất nhiều Việt kiều thành đạt ở đây.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:22:08 PM
     Rất cảm ơn bác Rongxanh cung cấp bản đồ. Tôi đã nhận ra ngã Ba Lào Ngam và Bản Phin. Nhưng phải nửa tháng nữa tôi mới ra bản Phin. Còn bản Xoan và Bản Phiệt (mà tôi sẽ kể tiếp đây) thì không thấy trên bản đồ. Phải chăng nó bé quá hay cảnh vật đã thay đổi.




Khả năng tên bản đó chỉ có trên bản đồ tỷ lệ lớn hơn (1:100.000 hoặc 1:50.000) bác ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 27 Tháng Hai, 2010, 03:18:02 PM
Đã 35 năm rồi...Đọc bài của bác trongc6 đánh Đồng dù (29/4/1975). tôi dần nhớ lại: Cũng ngày ấy Đơn vị tôi (sư 10) tiến vào SG khi ngang qua Đồng dù thấy trong căn cứ khói lửa vẫn còn nghi ngút, thỉnh thoảng vẫn còn tiếng súng bộ binh nổ đì đùng. Toàn bộ sư 10 đi bằng cơ giới (xe tăng, xe bọc thép và xe tải...). Đội hình xe nối đôi nhau dài hàng chục km. cơ động ầm ầm trên đường. Đơn vị tôi (E 24) dẫn đầu. Xe tăng T54 đi trước, xe bọc thép K63 tiếp theo rồi xe tải chở bộ binh. (Riêng chiếc đi đầu tiên của đội hình xe tăng là chiếc tăng M48 chiến lợi phẩm). trên các xe đều cắm cờ giải phóng. Còn cán bộ chiến sĩ sư 10 mang băng đỏ trên tay trông thật khí thế. Trước khi xuất trận anh em chúng tôi được quán triệt nhiệm vụ; thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân sơn nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy. thời cơ thuận lợi tiến chiếm Dinh độc lập. Cấp trên còn nhắc đi nhắc lại: Dọc đường không đươc nổ súng chỉ khi nào địch kháng cự thì mới tiêu diệt mà đi tiếp vào mục tiêu đã định. xe nào bị cháy, bị hỏng điều ngay xe ủi lên gạt qua bên đường cho đội hình hành tiến. Trận đánh Đồng dù của sư 320 đã mở của ngõ sài gòn cho sư 10 tiến quân thuận lợi... (còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: bob trong 01 Tháng Ba, 2010, 09:56:35 AM
...tuy nhiên khi vừa qua Đồng dù, đoàn quân sư 10 đang hành tiến bỗng gặp ngay lực lương xe tăng + xe bọc thép M113 của địch ra đánh chặn. tôi không còn nhớ địa danh chỗ giao tranh, nhưng mang máng hình dung lại thấy: xe tăng 2 bên dàn trận bắn nhau "ùng ục", nhiều chiếc bị cháy khói đen cuồn cuộn bốc lên...có chiếc tháo chạy bị trúng đạn chúi đầu xuống ruộng. Cánh bộ binh chúng tôi cứ ngối yên trên xe tải ở phía sau xem "họ đánh nhau". Ngồi xa xa (Khoảng gần 1km) xem xe tăng bắn nhau như tập trận thế mà không ai tỏ ra sợ sệt gì, thậm chí còn khoái nữa vì chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng đánh nhau 'hoành tráng" như vậy. Nhưng cảnh tượng đó chỉ diễn ra hơn 1 tiếng đồng hồ thì chúng tôi nhận lệnh tiếp tục hành quân. Lúc đó tôi hiểu rằng: Lực lượng xe thiết giáp địch đã bị tiêu diệt... Khi chúng tôi đi ngang qua Quân trường quang trung, ngó qua lỗ châu mai ở các lô cốt thấy lính địch còn đầy trong đó chĩa đại liên ra phía chúng tôi, nhưng địch không dám bắn nên chúng tôi cũng không bắn cứ rầm rầm đi qua. chiều tối ngày 29/4/1975 Đơn vị tôi đã vào tới ngã tư Bảy Hiền...


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dream_kgb trong 01 Tháng Ba, 2010, 04:51:28 PM
Bác Bob mở thêm cái topix kể chuyện nữa đi ạ. Bọn cháu vào xem cho đỡ lận lộn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 05 Tháng Ba, 2010, 09:01:23 AM
….
               Đêm về nằm trong hầm tôi hỏi chuyện anh Trịnh. Anh bảo, mày cũng khá đấy. Đại trưởng Kim Băng cũng khoái, anh bảo lính Hà Nội cũng chơi được đấy nhỉ. Nhưng tôi thì lại chẳng cảm thấy gì cả, chẳng biết tại sao. Nhưng tôi ghi sâu trong lòng cái lỗi của anh Hoài về việc ra trận mà quên không lên đạn trước. Kiểu như thế có ngày chết oan. Đấy là bài học và một kinh nghiệm phải luôn luôn ghi nhớ. Tôi lại hỏi anh Trịnh sao lúc mình đánh nhau, đại đội không chi viện thêm cho mấy quả cối 60. Anh bảo hỏa lực riêng mình cũng đủ rồi. Súng M79 bắn tại chỗ nhiều khi có tác dụng hơn là cối 60 từ phía sau câu lại. Hơn nữa đạn cối chỉ để đánh những trận quan trọng thôi vì số lượng có ít. Chi viện được dăm quả chẳng bõ bèn gì, lại lộ thêm nơi trú quân, địch nó gọi máy bay táng cho mươi quả bom thì quá tội. Lúc đánh nhau chỉ nên trông cậy ở trang bị bản thân thôi. Sau này rồi tôi cũng hiểu, cảnh con nhà nghèo đi đánh nhau với con nhà giàu thì đương nhiên chiến tranh còn phải kéo dài 5 năm, 10 năm… là tất nhiên thôi.

               Sau này các đơn vị trong E chúng tôi cũng gặp phải nhiều cảnh trớ trêu, kể ra thì như chuyện hài. Đánh trận mà xin trên được 2 quả cối 82 đòi bắn cấp tập thì thật như gãi ghẻ. Bắn trúng địch thì không sao, bắn trượt (mà trượt là chính) thì chỉ tổ địch nó cười. Đấy là chưa kể chi viện mà lại đấm đít bộ binh thì cha con tha hồ chửi nhau. Thằng chỉ huy phía trước chỉ muốn rút súng quay lại bắn bỏ hỏa lực phía sau trước khi hô quân xông lên đánh địch. Cánh bộ binh chúng tôi có một nguyên tắc phải thuộc, nhất là khi đi lùng sục hay đánh tao ngộ chiến. Đó là phải nhằm diệt thằng thông tin của địch trước. Mất thông tin thì mày cũng cô lập như chúng ông, chẳng còn nhờ thằng bố gửi bom pháo hỗ trợ nữa, đánh tay bo xem thằng nào hơn. Thứ nữa là diệt thằng chỉ huy của địch. Mày cậy có sĩ quan học trường lớp, đào tạo tử tế, chê chúng ông là lính quèn qua chiến trận tự kéo nhau lên thì bây giờ mất đầu rồi, cùng lính chơi nhau xem sao.

               Đêm hôm ấy tôi cũng phải tham gia gác đêm. Đây là ca gác đầu tiên trong đơn vị. Rồi từ đó về sau, gác đêm đã trở thành một nhiệm vụ thường xuyên mỗi đêm của tôi. Nó dần ăn sâu vào người, đến nỗi sau này khi ra quân phải mất một thời gian dài tôi mới quen được cảnh đêm không phải thức dậy một tiếng. Cũng phải thôi, bởi vì bây giờ nếu phải đếm xem trong thời gian quân ngũ có bao nhiêu đêm không phải gác thì có lẽ còn dễ hơn là đếm xem có bao nhiêu đêm phải gác. Khi ấy không có đồng hồ, cũng chẳng quen nhìn sao trời vì có phải lúc nào gác cũng  nhìn thấy bầu trời đâu mà học nhau cách này. Cách tốt nhất truyền nhau là đếm. Cứ "một trăm linh một" là đủ một giây. Đếm đủ 3600 cụm từ như thế thì đủ một giờ gác. Nhưng đấy là ở doanh trại cơ, chứ gác tuyến trước còn phải quan sát và nghe ngóng động tĩnh, sẵn sàng xử lý tình huống thì không thể chỉ nhăm nhăm vào đếm. Tốt nhất là luyện cho mình cảm nhận thời gian. Mới nghe thì có vẻ phi lý, nhưng thật sự là như vậy. Rèn mãi cũng thành bản năng. Bây giờ giữa đêm, tôi có thể ra ngoài hiên, chỉ ngồi nghĩ vơ vẩn thôi cũng có thể canh được một giờ trôi qua với sai số chỉ chừng 5 phút.

               Đêm đó trôi qua thật yên tĩnh. Không có pháo địch bắn. Chỉ có tiếng côn trùng thôi, vì chỗ nào mà chả có giun dế.

               Mờ sáng hôm sau, chúng tôi lại ra bản Xoan. Chỉ có ba người là anh Trịnh, anh Hoài và tôi. Lần này chúng tôi không vào trong mấy cái hầm hôm qua trong bản, mà lùi hẳn ra ngoài đám cây lúp xúp phía ngoài bản đào hầm mới theo kế hoạch của đại trưởng Băng. Đất mềm nên chỉ độ hơn tiếng là mỗi người đã đào xong cho mình một cái hầm cá nhân be bé có đủ cả nắp hầm chống được cối cá nhân và ngụy trang tử tế. Ngồi chỗ này chốt thì chẳng có gì nhấm nháp ngoài hút thuốc lá và phải canh chừng máy bay. Cấp trên dự kiến địch có thể không vào bản mà dùng pháo bắn phá. Đào thêm hầm dịch hẳn ra ngoài này an toàn hơn. Quả nhiên chừng độ 9 giờ, khi mặt trời đã lên cao thì nghe vè vè tiếng máy bay. Hai chiếc máy bay cánh quạt xuất hiện, sau này tôi biết nó là máy bay ném bom T28 và quen thuộc với nó suốt thời gian ở Lào. Chúng nó đã có chủ định sẵn nên chẳng cần trinh sát trước làm gì. Bay đến trên đầu chúng tôi là chúng nó bổ nhào cắt bom luôn. Làm mấy vòng như thế, tất cả các đợt bom đều ném vào trong bản Xoan. Chỉ cách chúng tôi chừng trăm mét nên tiếng nổ rất to, đất rung và khói bụi mù mịt. Hết một đợt như thế lại thấy hai chiếc T28 khác vè vè bay đến và lại bổ nhào ném bom. Ba đợt máy bay như thế, có quả cũng ném gần ra rìa bản, tưởng như nó thả trúng đầu mình. Chúng tôi chúi xuống hầm tránh mảnh thôi chứ nếu nó thả trúng thì đi tong tất cả. Sau đợt bom cuối chừng hai chục phút, biết chúng đã kết thúc, chúng tôi mò vào bản. Cả cái bản sáng hôm trước còn an bình thì nay tan hoang tất cả. Nhà cửa, cây cối chả còn gì. Đám gia cầm gia súc có lẽ cũng chạy bạt hết đi từ hôm trước. Có lẽ người dân cũng chẳng quay trở lại đây nữa, vì làm bản ở nơi mới có lẽ còn thuận lợi hơn. Các lính cũ bảo địch ném bom như thế này thì chúng nó cũng chẳng trở lại nữa đâu. Thế là chiều hôm ấy chúng tôi rút lui sớm về chỗ trú quân.

               Nửa đêm, theo chân trinh sát tiểu đoàn, hai tiểu đội trong đó có A của tôi luồn rừng vòng lên phía trước bên kia bản Xoan chừng 300 mét. Chỗ đó có một ngã tư đường xe bò. Sáu người chúng tôi đào hầm phục kích (hầm không nắp) lùi sâu vào một bên vệ đường. Tiểu đoàn cho rằng địch ném bom hôm trước xong có thể trở lại bản Xoan kiểm tra nên đưa chúng tôi ra đây phục kích nhằm tiêu diệt địch bất ngờ trước khi chúng chuẩn bị tổ chức vào bản. Tại khu vực này vẫn chỉ có một cái đại đội địch hôm trước đã vào bản Xoan thôi.

               Hôm ấy là một ngày dài. Chúng tôi ăn sáng ngay sau lúc đào xong hầm, trời còn tối. Sau đó là ngồi đếm thời gian trôi qua. Cái vệ đường xe bò này toàn cỏ tranh mọc hai bên, đã tươi tốt lại sau mấy trận mưa đầu mùa. Bọn địch đi ngoài đường không dễ nhìn thấy chúng tôi, tuy hầm phục kích chỉ cách vệ đường chừng dăm mét. Nhưng công tác ngụy trang lại rất cần thiết. Hôm đó máy bay trinh sát cánh bằng L19 của địch bay lượn rất nhiều. Nó đảo qua đảo lại khu vực Bản Xoan nhiều lần. Tôi che cỏ tranh kín đầu mà vẫn có cảm giác như thằng phi công địch nhìn thấy mình, vì những lúc nó chao cánh, tôi thấy cái đầu phi công rõ mồn một. Lực lượng phòng không của ta trong chiến trường rất yếu, nếu không muốn nói là không có, nên không quân địch gần như làm chủ bầu trời. Tiểu đoàn có một khẩu 12 ly 7, nhưng là để chi viện bộ binh đánh địch mặt đất khi cần chứ không phải để bắn máy bay. Tuy rằng máy bay nó bay thấp thế thì 12 ly 7 bắn quá tốt, nhưng nếu đem ra bắn máy bay thì lại sợ T28 nó đến làm cỏ mình. Tóm lại, chúng tôi cứ bí mật ngồi im là tốt nhất. Cả ngày hôm đó chỉ thấy L19 trên bầu trời, còn đưới đất tụi địch không đến. Trời tắt nắng, chúng tôi lại rút về bên bờ Huội Chăm-pi vì muộn thế này rồi thì cũng chẳng còn thằng địch nào hành quân ra nữa.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: VietPo`Lut´ trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:04:24 AM
Hay quá chú Trọng à, chú tiếp tục viết nhé vì hồi ký thời kỳ KCCM là của quý hiếm lắm chú ạ. Phần lớn các chú bác CCB KCCM đến bây giờ đều nhiều tuổi và ít có cơ hội tiếp xúc với internet nên hồi ký trong QSVN ít quá, mới lác đác có mấy người. Chúc chú luôn khỏe mạnh và dẻo tay gõ phím như ngày xưa bóp cò AK


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:22:56 AM

               Đêm ấy, cả 2 B còn lại của C tôi và một vài đơn vị của tiểu đoàn cũng ra tuyến trước. Khu vực bản Xoan tơi bời được bàn giao cho C hỏa lực. Đại đội chúng tôi đi xuôi theo huội Chăm-pi xuống hơn một cây số nữa đến một cái bản có tên là bản Phiệt. Con Huội (suối-tiếng Lào) Chăm-Pi là con suối chính và lớn nhất trên cao nguyên Bô-lô-ven. Nó bắt nguồn từ bên A-tô-pơ sát dãy Trường Sơn chảy vòng qua thị trấn Pắc-Soòng trên cao nguyên Bô-lô-ven rồi men theo bờ phía Bắc con đường 23 chảy xuôi về Tây Nam. Đến ngã Ba Lào-ngam, nó bẻ ngoặt lên phía Bắc theo hướng  Keng-Nhao để hòa nước vào một con sông từ Sa-ra-van chảy xuống. Con sông này chảy xuyên qua lộ 13 phía bắc thị xã Pắc-xế rồi đổ nước vào dòng Mê-Kông hùng vĩ. Song song với huội Chăm-pi luôn luôn có một con đường lớn là quốc lộ hay tỉnh lộ. Các bản Lào nằm ven đường thường có mật độ dày hơn so với các vùng khác, có khi cách nhau chỉ hơn cây số. Vào sâu phía trong cao nguyên thì có khi bản lại cách bản tới mấy giờ đi đường. Giữa chúng là các nương rẫy, các cánh rừng rộng lớn và nối với nhau bằng các con đường xe bò.

               Chiến sự chỉ mới lan rộ lên ở khu vực này từ sau trận Bãi Đá, nên dân bắt đầu rời bản bỏ chạy. Họ mang theo đủ các vật dụng cần thiết, nhưng phải bỏ lại nhiều nhất hai thứ là gia cầm gia súc thả rông và các hũ rượu nếp chưa chưng cất trên nhà sàn. Bản Xoan và bản Phiệt cũng vậy, nhưng vì bản Phiệt ở xa địch hơn nên sau khi đào hầm bố trí quân ngoài bản, chúng tôi đã có thể túc tắc mò vào bản một cách thận trọng. Nếu ở nhà biết câu "nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò" thì bây giờ ở đây phải nói là "nhất lính, nhì ma, thứ ba tới quỷ" mới đúng. Chỉ mới tới bản một ngày, bố trí xong đội hình, đào xong hầm và tổ chức lùng sục là chúng tôi đã như những người chủ của bản Phiệt rồi. Nói thêm một chút là các đại đội bộ binh chúng tôi sau khi đến một địa bàn mới, bất kể ở ít hay nhiều ngày, thì song song với việc tổ chức đào hầm, bao giờ cũng phải tổ chức ít nhất 2 tổ đi lùng sục ra các hướng để nắm địa bàn và tình hình. Trinh sát tiểu đoàn có cách nắm địa bàn theo kiểu của họ (kết hợp nắm địch và thuộc địa hình), thì bộ binh chúng tôi cũng có kiểu lùng sục địa bàn của mình, càng ở nơi mới càng phải tổ chức lùng sục sớm, bán kính thường rộng ra tới cả cây số. Lần ấy địa bàn phải nắm chắc nhất là bản Phiệt và các con đường dẫn vào nó. Tất nhiên các nhà sàn, khu vực gà đậu ban đêm được tìm hiểu luôn. Bộ đội đi đến đâu cũng phải chấp hành chính sách dân vận, một trong nhiều chính sách bắt buộc phải thực hiện (như chính sách tù hàng binh, chính sách thương binh tử sĩ…). Nhưng đấy là khi ở cùng dân, tiếp xúc với dân cơ, chứ đằng này dân bỏ chạy hết rồi thì cũng nên coi như chỗ bỏ hoang. Ta không ăn thì địch nó cũng ăn, hoặc nếu không ai ăn thì lũ gia súc gia cầm cũng chạy hết vào rừng, lâu ngày rồi cũng thành thú hoang cả. Đấy, lính tráng thì chỉ nghĩ đơn giản như thế thôi (mà rồi sau này có nghiệm lại thì đúng là như thế thật). Thế mà các cấp chỉ huy (mà thực chất chỉ là dân chính trị) lúc nào cũng hô hào rất nghiêm khắc. Không may cho các chính trị viên là cứ phải đem thân mình ra mà làm gương cho lính. Nói cho cùng thì cán bộ chính trị nơi chiến trường là thiệt thòi nhất. Họ chính là sợi dây tư tưởng, sợi dây tinh thần xuyên suốt của Đảng từ trên xuống để tạo nên sức mạnh kỷ luật trong quân đội mà. Nhớ ngày xưa xem phim hay đọc truyện về chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên-xô, khi Hồng quân bị bắt, bọn Phát-xít chẳng mấy quan tâm đến các sĩ quan chỉ huy mà chúng chỉ nhăm nhăm truy hỏi ai là Chính ủy rồi đem bắn ngay không í ó gì hết. Chúng sợ truyền kiếp cáí đội ngũ Chính ủy Bôn-sê-vích trong Hồng quân.

               Mệnh lệnh là mệnh lệnh và trong đơn vị tôi ai cũng tỏ ra chấp hành nghiêm chính sách dân vận. Nhưng về thực chất, các lính cũ đã láu cá vượt quá cả ma và quỷ rồi. Khi đào hầm chữ A để phục vụ chiến đấu thì hầm bao giờ cũng phải có hai cửa đối chéo nhau. Cái cửa phụ đáng lẽ bé và đơn giản hơn thì lại được làm to và tăng thêm ngách. Đấy chính là sào huyệt để tạo nên "bài ca ống cóng". Tất nhiên nếu chiến sự đang diễn ra ác liệt thì không nói làm gì, nhưng lúc này lại đang bình yên và cái bản Phiệt này đang do chúng tôi làm chủ. Thế là khi đêm đến, các đệ tử của "Thời Thiên" trong Thủy Hử liền ra tay. Các anh ấy có mẹo bắt gà và giết gà mà chúng không hề ọ ẹ lấy một tiếng. Đứng cách chục mét cũng chẳng nghe thấy gì. Thế là ngay từ đêm đầu tiên, từ những cái bếp trong ngách hầm phụ mà khi đun ban đêm cũng không lộ ra ánh sáng ấy, tiểu đội nào cũng có gà ăn. Chỉ toàn luộc thôi, vì món này ít bốc mùi thơm đi xa. Từ B trưởng trở xuống thì thông đồng với lính rồi. Các liên lạc cũng được giao đi truyền lệnh để xuống các B hưởng lộc. Đại trưởng chúng tôi cũng chả kém ai. Ông ấy cũng đi kiểm tra các B một cách thầm lặng. Cuối cùng chỉ còn mỗi CTV đóng chốt tại hầm chỉ huy và tất nhiên không hay biết gì. Tất cả ăn xong đều chùi mồm sạch sẽ. Còn những thứ bỏ đi thì cứ đào hố mèo thật sâu mà chôn.

               Trong 4 ngày chúng tôi chốt giữ và lùng sục tại khu vực bản Phiệt, đám gia cầm vợi dần. Nhưng có sổ sách nào bàn giao gì đâu nên cũng chẳng ai phải lo lắng. Thú thực là chỉ thương cho thủ trưởng chính trị. Trong khi tất cả đều được bồi dưỡng hàng đêm thì anh ấy vẫn chỉ ngày ba bữa cơm nếp với muối rang. Thương mà cũng chẳng biết làm thế nào, vì chính sách dân vận nó thế, lộ ra với CTV thì chết cả nút. Sau này nếu anh ấy có biết cũng chỉ là do cảm nhận thôi chứ chẳng ai kể lại chuyện cũ bao giờ. Còn tôi, thú thực là khi ấy tôi thấy đời lính sao mà lắm chuyện lạ thế. Ở nhà sống chế độ tem phiếu, đâu có thể có thịt mà ăn thả phanh. Vào lính ngày huấn luyện thấy thủ trưởng nếm gần nửa cân thịt luộc đã thấy quá thèm. Bây giờ đi đánh nhau lại được ngồi ngắm trăng sao mà chén vã một mình tới nửa con gà to, thì không khỏi chạnh lòng nhớ thương cha mẹ và các em ở hậu phương đang còn nhiều khốn khó.

               Sau bốn ngày cắm tại bản Phiệt, vì tình hình quá an toàn, hơn nữa địch cũng không đủ quân để bung ra khắp nơi, nên đại đội chúng tôi lại được lệnh quay trở lại khu vực bản Xoan để chuyển qua hướng khác. Chúng tôi rút đi, để  lại bản Phiệt nguyên vẹn và còn nhiều sản vật. Vậy là kết thúc bốn ngày đóng chốt bồi dưỡng sức quân. Từ ngày mai sẽ trở lại với cơm nếp muối rang. Tiếc cũng chẳ làm gì bởi đời lính khi no lúc đói là thường.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 13 Tháng Ba, 2010, 08:34:43 PM

               K18 là tiểu đoàn chủ công của E9B. Trong các trung đoàn của ta thì bao giờ cũng vậy. Mỗi D mạnh về một mặt nào đó và ở D chủ công thì bao giờ cũng có cán bộ chỉ huy chiến đấu vững hơn. Vững ở đây không chỉ là lòng dũng cảm, mà còn là ý chí, mưu mẹo, quyết tâm và xử lý tình huống nhanh nhậy. Trong K18 chúng tôi thì C7 là chủ công (C7 đã từng được phong anh hùng), còn C6 chúng tôi lại mạnh về chốt giữ. Tất nhiên trong một C lại có B chủ công, nhưng tính cách biệt giữa các B không rõ rệt  như các C trong tiểu đoàn. Chính vì thế mà trong khi C7 vẫn còn nằm lùi xa phía sau thì C6 và C5 cùng một B của C8 hỏa lực phải loay hoay ở phía trước để đánh địch nhỏ lẻ.

   Trở lại khu vực bản Xoan, C6 chúng tôi lại làm dự bị cho C5  theo hướng ngược huội Chăm-pi để lần lên gần ngã Ba Lào-ngam (nằm trên đường 23). Chỗ ngã ba này có một bản gọi là bản Phin. Để lại một B ở bờ nam Huội Chăm-pi, còn hai B quay trở lại bờ bắc Huội. Chúng tôi phải tổ chức đào nhiều căn hầm chữ A suốt dọc con đường mòn đi từ tuyến sau lên theo hướng này. Con đường này là do trinh sát đạp đường mà thành, chứ không có trên bản đồ. Chiều dài của đoạn cần đào hầm cũng tới gần hai cây số. Con đường này sẽ là trục đường chính để chúng tôi ra ngã Ba Lào-ngam nên trước sau gì cũng sẽ bị địch phát hiện và ném bom hay bắn pháo. Không có hầm dự bị để ẩn nấp tránh pháo trên suốt cả một giông đồi dài thì thật nguy hiểm khi phải cùi đạn và gạo qua đây. Không những thế, chúng tôi còn phải đào hầm xây dựng thêm một khu trú quân tạm ngay gần suối, trong một vườn chuối rừng rộng lớn. Đào hầm trong rừng già có cảm giác rất an toàn, nhưng đào hầm trong vườn chuối thì thấy nó trống trải lạnh lẽo thế nào ấy. Có lẽ vì nơi đây ẩm ướt, lắm muỗi và làm lối đi cũng rất bất tiện.

               Sau mấy hôm đào hầm, B tôi được làm nhiệm vụ cùi gạo và đạn ra tuyến trước. Vì đơn vị đã lót sẵn gạo và đạn ở vị trí trung gian, nên chúng tôi chỉ phải vận chuyển trên đoạn đường độ hơn một tiếng kể cả qua suối. Sau khi vượt huội Chăm-pi thì phải qua một cánh rừng nhỏ ven suối rồi, rồi ra một bãi trống chỉ toàn cây lúp xúp cao ngang đầu người, rộng tới sáu bảy trăm mét để tới khu rừng trú quân của C5. Ngay chỗ cửa rừng có một cái cây to cỡ gần hai vòng người ôm bị đổ, nằm xòa sát đất và chắn ngang đường. Các lính đi trước đã phạt bớt cành để tạo một lối đi trèo qua nó. Cái thân cây vướng cành nên nó không nằm hẳn sát đất mà còn kênh lên cách độ hơn hai chục phân. Chui qua dưới nó thì không được nên toàn phải trèo qua. Thân cây to quá nên ai muốn vượt qua nó cũng phải ôm rồi trườn qua, trông cứ như con nhái ôm cây tre ấy. Đí không còn đỡ, chứ vừa đeo súng vừa cùi gạo hay đạn thì rất khó khăn. Đi thêm nữa, đến lúc chuẩn bị vượt qua khu vực cây lúp xúp có nhiều bãi đất trống thì phải bẻ mỗi người một cành lá to rồi vừa đi qua đó vừa ngó nghé máy bay. Nghe thấy tiếng L19 là phải ngồi im, che cành lá lên đầu. Khi nó vòng xa thì lại nhổm người chạy nhanh một đoạn. Cứ như thế nên có khi phải mất đến mấy chục phút mới vượt qua được bãi trống. Hai ngày đầu không sao, đến ngày thứ ba khi vừa giao gạo xong cho C5, quay lại bãi trống thì chúng tôi gặp L19. Vì vội nên chúng tôi di chuyển hơi nhanh qua đó và bị L19 phát hiện. Khi thấy nó vừa chao cánh bắn xịt ra một quả pháo khói, anh Trịnh biết đã lộ nên hô chúng tôi vùng dậy vứt cây ù té chạy. Thế mà chỉ một tẹo sau thôi, hai chiếc T28 từ đâu đã vè vè bay đến, cứ như là nó phục kích sẵn ở đâu đó vậy. Khi chúng tôi vừa thoát vào đến cửa rừng thì cũng là lúc chiếc T28 đầu tiên chúi xuống thả bom. Chỉ còn mỗi cách ẩn nhanh vào rừng mới mong thoát. Cả 4 người chúng tôi cứ cắm đầu chạy, kệ cho bom nổ rầm rầm sau lưng. Chạy thoát đến suối rồi mới nằm vật ra thở. Một lúc sau, chợt nhớ ra chúng tôi hỏi nhau lúc chạy về có qua cái cây đổ không nhỉ, vì chúng tôi không ai còn nhớ đã vượt qua cái cây đổ đó như thế nào. Nhảy hay bay qua không biết nữa. Có lẽ giữa cái sống và cái chết, con người ta chợt có thêm sức mạnh phi thường thì phải.

              Mấy ngày sau đó, đám tân binh chúng tôi được học súng M79 và B40. Lúc này trong đơn vị chưa có B41. Người dạy là lính cũ thôi. Phần lý thuyết như tác dụng sát thương, liều phóng, nguyên lý đạn lõm… chỉ học sơ qua để biết. Chủ yếu là thao tác bắn súng. Phải lắp đạn như thế nào, bắn ra sao, địa hình nào thích hợp, tư thế bắn... là phải nghe kỹ mà nhớ. Tiếp theo là tập suông chứ không được bắn đạn thật. Rồi lại được học bắn rocket66 (M72) của địch. Ở chiến trường này, tụi bộ binh địch cũng chỉ có trang bị bản thân gọn nhẹ như lính ta. Súng bắn thẳng thì có AR15, cạc-bin. Hỏa lực tại chỗ có M79, trung liên Bar, cối 61 và mỗi thằng thường có thêm khẩu M72 bắn một lần. Cấp tiểu đoàn của chúng cũng có cối 81. Cả ta và địch đều không có đại liên. Như vậy có 3 loại vũ khí của địch mà chúng tôi có thể lấy để dùng lẫn gồm lựu đạn, cối cá nhân M79 và rocket M72. Còn những vũ khí khác thì phân biệt của địch của ta rõ ràng, không dùng lẫn.

               Một hôm tôi được cùng các anh lính cũ đi cải thiện. Chúng tôi ra trận địa bãi Đá lấy giấy dầu (vải tẩm dầu bọc đạn pháo của địch) về làm nến và sang vườn dứa cạnh đó bẻ dứa về làm thức ăn. Nơi đây khi trước lúc quân ta chưa đánh đến thì vẫn có bản và những nương rẫy của dân nằm sát ngay căn cứ địch. Vườn dứa rất to này cũng chỉ nằm cách hàng rào căn cứ độ trăm mét. Dân họ sống với địch cũng thân thiện. Tôi bắt đầu biết thế nào là nhiệm vụ đi "cải thiện" trong chiến trường. Đó là việc đi tìm những thứ ăn được đem về đơn vị làm thức ăn hay bổ sung cho nguồn quân lương còn ít ỏi của lính. Ở trận địa Bãi Đá, các anh còn dẫn tôi đi xem lại cửa mở khi trước, xem bố trí hầm của địch và ta đã đánh như thế nào để hình dung ra, sau này về còn học chiến thuật.

               Ngày 7 tháng 5 năm đó, cả tiểu đoàn được làm thịt một con bò, Chắc không phải kỷ niệm ngày chiến thắng phát xít Đức, mà đơn giản vì lâu quá rồi đơn vị chưa được ăn thịt. Thêm một điều quan trọng nữa là ngày mai chúng tôi lại phải ra khu vực bản Phin đánh địch, thay cho C5 về hậu cứ.…


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 20 Tháng Ba, 2010, 06:29:55 PM

               Chưa đến nửa đêm, khi suất cơm chiều có thịt bò còn chưa tiêu hết thì chúng tôi được lệnh hành quân. Lần này chúng tôi ra bản Phin, nằm cách ngã Ba Lào Ngam chừng độ cây số. Dân cũng chạy hết từ lâu. Trinh sát tiểu đoàn bám địch cho biết hiện trong bản không có địch. Ngoài căn cứ chính tại ngã Ba, bọn địch cũng nống ra đóng dã ngoại ven đường 231 nhưng còn cách bản khá xa.

               Một giờ sáng, trung đội tôi đã vào bản bố trí vị trí và tổ chức đào hầm. Hai trung đội còn lại nằm ngoài bản, lui xa đến mấy trăm mét. Bản Phin khá rộng, nhà sàn nhiều hơn, to hơn nhưng ít cây cối hơn bản Xoan. (Mấy năm qua ở Hà Nội có nhiều đại gia mới phất đua nhau lên vùng dân tộc mua nhà sàn và tháo ra chở về lắp ở Hà Nội hay ở các  trang trại đồng bằng cho có vẻ hoang dã. Tôi cũng đã ngó nghé qua vài nơi, nhưng những căn nhà sàn ấy thua xa các nhà sàn của dân Lào ở các bản to trên cao nguyên Bô-lô-ven, kể cả ở cái bản Phin này). Phần lớn các căn hầm của chúng tôi đều bố trí sát các căn nhà sàn để còn lợi dụng chúng mà tránh mảnh pháo. Cũng chỉ đào hầm bằng thôi. Đào gần nhà sàn còn dễ vì đất mềm chứ nếu đào hẳn dưới gầm nhà sàn thì đất cứng lắm vì đó là đất nện. Người Lào cũng thả rông gia súc nhưng đặc biệt không có cái kiểu buộc trâu bò dưới gầm sàn nên cũng khá vệ sinh và đỡ muỗi.

               Trời sáng, chúng tôi chia nhau ngồi chốt. Địch không vào bản, nhưng chúng nó cũng bố trí trận địa và đào công sự không cách xa bản bao nhiêu, vì sáng hôm đó chúng tôi nghe tiếng chúng nó chặt gỗ lạch cạch ở cánh rừng ngoài bản. Buổi chiều, anh Trịnh kéo tôi ra phía đầu bản và leo lên một cái nhà sàn ở phía đó. Nói thật là cũng hơi liều nếu như địch nó phục kích lại mình sát ngay bản thì coi như tiêu. Nghé qua một khe cửa sổ, chúng tôi nhìn ra được một bãi trống khá rộng. Chắc công sự của địch ở đám rừng phía bên kia bãi. Nhòm ngó được độ hơn chục phút, định mò về thì thấy có ba thằng địch xuất hiện và đi ra ở phía bên kia bãi trống. Chúng nó không phải định đi lùng sục vì chỉ có 3 thằng thì quá ít. Ba thằng đó bước rất thong thả ra bãi trống rồi hành động như các diễn viên phường tuồng. Một thằng vung tay chỉ về một hướng, thế là thằng cầm M79 "cốc" ngay một quả về hướng đó, nổ "oành". Tiếp theo thằng thứ ba lại trỏ tay về một hướng khác và một quả cối cá nhân lại "cốc…oành" về hướng ấy. Cứ như chúng nó chơi trò nghịch ngợm gì vậy. Đến lúc chúng nó "cốc…oành" hướng vào bản thì tôi và anh Trịnh giật mình. Chuồn thôi chứ không có khi chẳng phải đầu lại trúng tai thì phiền. Chúng tôi rút về hầm rồi mà vẫn cứ thấy tiếng nổ "cốc…oành" quả Đông quả Tây mãi như thế. Đúng là cái bọn thừa đạn. Anh Trịnh bảo có đạn bắn chơi thả sức như thế cho nên chúng nó mới đa phần bắn giỏi hơn ta, vì luyện tập thường xuyên thế mà lại. Nghĩ cũng phải. Quân ta không có đạn hỏa lực để bắn tập thật đã đành, ngay cả đạn AK khi về hậu cứ tít mãi đằng sau cũng đâu có được bắn chơi (hay thậm chí bắn chim chóc) để tập. Chỉ còn cách nâng cao trình độ qua các trận đánh thôi.

               Đêm đến, đại đội tăng cường thêm một B nữa vào Bản Phin. Chúng tôi bố trí lại hầm theo một hình cánh cung quây vào lòng bản. Hôm sau, vừa mới bảnh mắt, địch đã nã pháo và cối vào bản ầm ầm. Lại cảnh cây đổ nhà sập. Tụt người xuống cái hầm bằng được chắn trên nắp bằng hơn nửa mét đất mà cứ nghe tiếng đất dội nảy lên thình thình, mong trời khấn phật đừng có quả pháo nào rơi trúng vào hầm mình. Dập pháo được nửa tiếng thì bọn địch ngưng bắn và xua bộ binh vào. Chúng tôi khi đó chưa có ai bị thương vong, đã đón đánh chặn địch ngay từ đầu bản. Trong cảnh chiến trận ấy, tôi vẫn nhận rõ tiếng súng ta giòn hơn tiếng súng địch. Chúng tôi đứng trong công sự bắn ra, nhưng địch dựa vào địa hình là các cây hay các cột nhà bắn vào nên chúng cũng chẳng hề lép vế. Chúng nhiều đạn hơn nên bắn liên tục như vãi đạn. Phía ta, công bằng mà nói chỉ có AK là được hơn 200 viên đạn, còn B40 mỗi khẩu chỉ có 5, 6 quả đạn, M79 mỗi khẩu 40 viên nên cũng phải bắn dè sẻn. Trong ngày thì chẳng có ai tiếp tế đạn cho đâu, nên có nhìn thấy địch mới được bắn. Hai bên đã lộ diện thì khi địch muốn vào chỗ nào, chúng nó tập trung bắn dữ dội chỗ đó. Ta và địch đều không biết quân số của nhau, chỉ đoán áng chừng theo tiếng súng. Được chừng hai đợt xông vào bản bắn dữ dội như thế không ăn thua gì nên bọn địch rút ra. Cả hai bên đều không có tử sĩ.

               Đầu giờ chiều, đại trưởng Băng cho một tổ ra đầu bản thăm dò rồi quyết định kéo chúng tôi vượt hẳn ra ngoài bản phục sẵn để đánh địch bất ngờ nếu chúng vào tiếp trong bản. Chẳng còn thì giờ đào công sự, chúng tôi nằm phục một bên mé đường xe bò. Cứ nằm tơ hơ trên mặt đất như thế thấy lạnh lưng lắm. Giá có cái hầm dù bé cũng yên tâm hơn.

               Rồi địch lại bắn pháo vào bản. Cái bài nã pháo rồi dấn bộ binh là cách đánh muôn thuở của địch. Chúng tôi nằm ngoài bản nghe tiếng pháo nó ù ù xoèn xoẹt bay vượt qua đầu mình rồi nổ rầm trong bản mà cũng thấy hơi lạnh người. Tiếng đạn pháo lúc nó lao xuống đất mà gần chỗ mình thì thấy tiếng nó nặng lắm, cứ như đè mình xuống. Hết đợt pháo, chúng tôi ngỏng cổ lên nghe ngóng. Chẳng phải chờ lâu đã phát hiện thấy tốp địch đi đầu trên đường xe bò, chừng độ dăm tên. Chúng đi thưa và thận trọng, nhưng chắc không nghĩ chúng tôi mò hẳn ra đây phục sẵn nên cứ thong thả mà lọt vào đội hình quân ta. Không thể chờ tốp thứ hai vì chúng đi cách quá xa, đại đội ra lệnh nổ súng. B40 và AK tập trung quất ra đồng loạt rầm rầm nên chẳng thằng nào còn sống mà kịp bắn trả. Bọn địch ở tốp sau liền nằm ngay trên mặt đường mà bắn trả lại dữ dội nên chúng tôi cũng không thể xung phong ra mà thu súng. Nằm đấy cũng không ổn vì địa hình trống trải, chúng tôi phải rút ngay về bản, cứ lom khom ven đường đạp qua bãi tranh mà chạy. Pháo binh địch quả là lợi hại vì chúng tôi vừa về đến mấy cái nhà sàn là đạn pháo đã rót đến rồi. Chúng bắn rải từ đầu bản rồi chuyển làn sâu dần vào trong, đạn như đuổi theo sát nút chúng tôi vậy. Lại chúi xuống dưới mấy cái gầm nhà sàn. Lần này chúng dùng pháo lớn hơn hay sao ấy, nên nhà sàn trúng đạn là sập luôn. Hai B chúng tôi tản ra hai phía rìa bản. Mấy cái hầm đào hồi đêm trước không làm chúng tôi yên tâm vì nó mong manh quá nên chẳng ai chui xuống. Thế là cả bọn cứ chúi vào cái gầm nhà sàn nào to mà còn nguyên vẹn. Tôi cũng cảm thấy sợ, cứ bám theo anh Trịnh, rồi cả hai lao vào chỗ B trưởng Quân đang nấp. Anh ấy chửi rầm lên, bảo chúng mày tản ra ngay, muốn chết cả nút à. Nhưng giữa cái lúc đạn nổ rầm rầm như thế thì chạy đi đâu? Thôi, thà chết một đống còn hơn sống một người, chửi thì chửi, chúng tôi cũng cứ chúi vào. Cái cảm giác lúc đó hoang mang ghê sợ lắm, tưởng chết hết cả lũ đến nơi. Sau này chúng tôi có bị pháo bắn nhiều lần nhưng không hề giống cảm giác hôm ấy, vì đa phần là ở chốt có công sự chắc chắn, chết chỉ còn do số mà thôi.

               Hết đợt pháo, đại đội kiểm điểm quân số. Chỉ có một anh lính cũ ở B khác bị mảnh pháo vào bắp chân, còn B tôi không sao. Xem lại vũ khí thấy đạn hỏa lực bắn gần hết. Chiều tối, tất cả rút ra khỏi bản, về vị trí của 1 B bên ngoài cách xa bản tới năm trăm mét. Sau một ngày mệt rã rời, thế mà vẫn phải đào hầm hì hục cả đêm. Không còn cách nào khác. Căn hầm luôn là chiếc vỏ bọc như áo giáp và ấm áp che chở cho người lính nơi chiến trường.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 27 Tháng Ba, 2010, 02:15:04 PM


               Hôm sau, phía bản Phin yên ắng. Có lẽ những chỗ đã bắn nát rồi thì địch cũng bỏ, coi như đã xác định được khu vực có quân ta. Ta và địch đều có công tác trinh sát thăm dò nhau. Phía ta là những tốp trinh sát, còn bên địch là những toán thám báo. Bọn địch đóng quân thành các căn cứ công khai vì chúng lập tuyến và có máy bay và pháo binh yểm trợ sẵn sàng. Quân ta chủ yếu ở rừng bí mật, thay đổi vị trí đóng quân thường xuyên. Ngay cả ở tuyến trước, việc lập chốt tức là tạo trận địa công khai, nhưng cũng chỉ qua một hai trận, lộ là lại chuyển chốt ngay. Vì thế thám báo địch khó nắm tình hình đối phương hơn trinh sát ta. Nhưng nếu vị trí trú quân của ta, dù là vị trí tạm mà bị lộ thì ăn đủ bom pháo ngay.

               Sáng hôm ấy, chúng tôi tiếp tục củng cố hầm và làm công tác ngụy trang. Trinh sát tiểu đoàn bám địch báo về, địch tiếp tục đưa thêm quân từ trong Phù Chiêng ra khu Lào Ngam. Tại Phù Chiêng là căn cứ chính của GM41 của địch. Vùng Hạ Lào này còn có một trung đoàn cơ động chủ lực của địch nữa là GM42 và một số tiểu đoàn bảo vệ quanh Pắc-xế. Bọn Thái Lan cũng có một trung đoàn, trong đó tiểu đoàn 621 Thái lập căn cứ có công sự vững chắc ngay tại Lào Ngam, nằm về phía Nam đường 23. Mấy ngày qua chúng tôi chủ yếu đánh nhau với một tiểu đoàn Lào của cái GM41. Chúng nó đóng sâu trong Lào Ngam nhưng liên tục nống ra lập trận địa dã ngoại đánh chặn quân ta.

               Buổi chiều, B tôi được lệnh lùng sục trinh sát ra đường 231. Tiểu đội thằng Đức (Cầu Giấy) được cử đi, gồm 4 người, 3AK và 1B40. Trong đơn vị tôi, tất cả các loại hỏa lực như B40, M79 đều giao cho lính cũ nhiều kinh nghiệm sử dụng, chứ bọn tân binh chúng tôi mới vào thì chỉ có AK thôi. Thằng Đức được cử đi đầu. Thằng này trắng trẻo, to con và cao tới 1m67. Thế là cao lắm rồi vì lính tráng chúng tôi thời đó đa phần chỉ cao từ 1m58 tới 1m62 thôi, cho nên trong hàng quân thì bao giờ cái đầu của nó cũng nhô cao hơn hẳn lên. Cắp AK đi đầu mà thằng này cứ đứng thẳng người, bước thẳng tưng như đi chơi ở chỗ không người. Anh Pha A trưởng của nó quát bảo phải khom người cúi thấp xuống mà đi, chậm chậm và thăm dò chứ phưỡn người ra như thế khác nào khiêu khích địch. Lộ ra nó nện cho một phát chết ngoéo bây giờ. Quát bảo thế, thậm chí nắm đầu mà dúi xuống, nhưng chỉ được ba bước là nó lại đứng thẳng lưng lên mà đi. Vài lần như thế, cứ như là trêu ngươi lính cũ vậy. Cáu tiết quá nhưng không làm gì được, vì nó cứ giơ cái mạng sống của nó ra mà đi như thế chứ có phải nó chạy lùi đâu, mà nó cũng chẳng tỏ ra sợ sệt gì cả. Cuối cùng anh Pha đành phải đi đầu và tống nó xuống cuối đội hình. Có lẽ cái xương sống của thằng Đức không cong được chứ không phải nó muốn trêu ngươi ai. Sau này đánh nhau cũng thế, nó cứ thẳng lưng mà chạy, mà xung phong. Nửa năm sau khi ngoài Sa-ra-van, trong một trận đánh vận động, nó bị trúng một mảnh đạn cối, xuyên vào phổi và vẫn mắc ở trong đó tới giờ. (Bây giờ nó là thương binh, là doanh nghiệp tư nhân buôn bán thuốc tây ở Quận Cầu Giấy).

               Chiều hôm ấy tiểu đội anh Pha không phát hiện thấy địch. Cái trận địa dã ngoại ngoài bản Phin của bọn địch hôm trước cũng đã bỏ không. Chúng tôi lại trải qua một ngày không tác chiến.

               Hôm sau, tiểu đoàn tập trung C5 và C6 tổ chức lùng sục vũ trang sang hẳn khu Lào Ngam. Bây giờ đến lượt tôi đi đầu tiểu đội. Anh Trịnh bám sát ngay sau tôi để chỉ dẫn. Các A khác cũng bám ngay sau A tôi. ra đến gần đường 231, chúng tôi thận trọng thăm dò tình hình. Chỗ này rất nhiều cây lúp xúp, xen kẽ nhiều cây nhỏ chỉ độ bắp chân mọc thưa, tầm nhìn không xa lắm. Đi một đoạn, chúng tôi lại ngồi xuống quan sát qua các khe thân cây rồi mới đi tiếp. Càng đến gần vùng đường 231, nơi mà trinh sát bám địch đã cảnh báo, chúng tôi càng thận trọng. Đến nửa buổi sáng hôm ấy thì chúng tôi phát hiện thấy địch. Chúng nó cũng đào công sự dã ngoại, hầm không nắp và không có hàng rào. Chúng tôi bò sát vào đến cách độ vài chục mét. Đại đội ra lệnh giá hai khẩu cối 60, nện vào đó hơn chục trái rồi chúng tôi bắt đầu đánh. B40 tập trung bắn mạnh, rồi chúng tôi xung phong, vừa chạy vừa bắn AK. Địa hình thưa nên M79 bắn thẳng rất tốt. Bị đánh vỗ mặt, bọn địch vừa bắn trả, vừa rút. Chúng tôi chiếm được mấy cái công sự bên ngoài. Vì dã ngoại nên địch không đào giao thông hào. Theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ vừa lợi dụng địa hình địa vật, vừa đánh lấn từ hầm này sang hầm khác của địch. Nhưng mới chỉ được một đoạn, vượt qua được mấy cái xác địch ở khu công sự ngoài thì chúng tôi bị chặn lại. Địch đã kịp tổ chức lại và điều quân từ phía sau lên. Hai khẩu trung liên Bar của địch quạt chéo cánh sẻ vào đội hình chúng tôi. A trưởng Soán của B4 bị một viên vào mặt văng mất hàm dưới làm một mũi tấn công khựng lại. Cùng lúc địch dùng M72 bắn lại dữ dội. Rồi cối 61, cối 81 của địch rót vào khu vực trận địa mù mịt. Súng đạn bản thân của chúng tôi có hạn, chưa tiến được bao nhiêu thì B40 đã gần hết đạn, chỉ còn trông chờ M79 và AK. Chúng tôi phải nằm bẹp lại và tản thưa ra tránh đạn cối. B40 đạn ít mà địch không tập trung thì tác dụng thấp, lại bị địch chú ý tập trung tiêu diệt vì chúng rất sợ B40. Có lẽ cả đại đội mấy chục tay súng chúng tôi cũng không thể tiêu diệt được cái đại đội này của địch. Đại đội ra lệnh bắn cối 60 chi viện và gọi cối 82 của tiểu đoàn. Cả trận địa cứ mù mịt cả lên.

               Một khẩu cối 60 của C tôi bắn được mấy trái thì gặp nạn. Có lẽ do liều ẩm, trái trước chưa ra khỏi nòng thì anh Đối đã thả trái sau. Hai trái cối đội đít nhau nổ ngay đầu nòng làm anh Đối và một anh nữa hy sinh. Khẩu cối vỡ toác nòng. Còn một khẩu cối 60 nữa bắn cầm canh cùng cối 82 của tiểu đoàn chi viện cho được độ hai chục trái. Chúng tôi không đủ sức đánh tiếp nữa nên rút lui. Bây giờ mới gay go. Cả một vùng cây thưa, rừng thấp rộng lớn mà chúng tôi phải băng qua không che nổi đạn pháo của địch rót tới. Kẻ địch mạnh và dư thừa về bom pháo. Động một tí là chúng gọi pháo. Bom pháo luôn là mối đe dọa kinh hoàng đối với chúng tôi sau mỗi trận đánh. Không rút nhanh, thoát ra được nhanh, kể cả khi ta đã làm chủ trận địa thì khả năng thương vong rất cao. Trên đường chúng tôi rút chạy về đến khu tạm trú ở Huội Chăm-Pi (chỗ đó có hầm chữ A vững chắc và chưa bị lộ). thêm 4 người nữa hy sinh về đạn pháo, 3 người bị thương. Thế là chỉ trong một trận đánh không lớn vào buổi sáng đại đội tôi đã hy sinh mất 6, bị thương 4 và chúng tôi cũng chỉ còn đủ sức khiêng vác tất cả về đến huội Chăm-pi. May là địch chỉ gọi pháo bắn chứ không tổ chức truy kích chúng tôi.

               Phía C5 cũng không hơn gì chúng tôi. Họ bị địch phát hiện và tấn công trước. Bên đó lại còn không được cối 82 của tiểu đoàn hỗ trợ. Thực chất tiểu đoàn có lẽ cũng định tổ chức lùng sục vũ trang, gặp đơn vị nhỏ của địch, đánh phủ đầu tiêu hao sinh lực của chúng thôi, không ngờ cả 2 C đều gặp lực lượng lớn của địch. Không kể bị thương, C5 cũng có 5 tử sĩ.

               Cả hai đại đội chúng tôi khiêng thương binh, tử sĩ kéo nhau vượt về bờ Bắc huội Chăm-pi, đến tập kết tạm tại khu vườn chuối. Bây giờ cũng đã giữa chiều rồi còn gì.

….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoi76 trong 28 Tháng Ba, 2010, 02:50:58 PM
Chào chú Trongc6 và các thành viên QSVN cháu là thành viên mới tham gia gia diễn đàn. Cháu rất đam mê lịch sử bi hùng của QDNDVN qua hồi ký của chú và các thành viên khác trong diễn đàn. Cháu sinh ra khi dân tộc ta vừa kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ thống nhất đất nước. Ký ức chiến tranh của cháu là qua lời kể của bố (bố cháu tham gia quân đội năm từ năm 1968 sau đó chuyển sang lái xe tại các mặt trận phía nam, chiến trường K, chiến trường Lào), rồi những năm khoảng 1984 đêm nằm chợt tỉnh giấc vì tiếng xe quân sự chạy rầm rập qua cửa (nhà cháu tại Hải Phòng nằm ngay trên trục đường Hải Phòng - Hà Nội cũ). Cháu còn nhớ những năm đó đã có lần mẹ cháu nhìn cháu và khóc "con ơi ... chiến tranh ... bộ đội ..." Khi cháu lớn lên thì đất nước đã rất đỗi thanh bình, tuy nhiên những gì mà chiến tranh để lại thì cháu vẫn có thể cảm nhận được : các chú thương binh chở về, các câu chuyện về bom đạn mất mát ..v.v.Cuộc hiện tại có thể thành công với người này hoặc còn khó khăn với người khác. Tuy nhiên khi đọc các trang hồi ký của các CCB người ta chợt có một khoảng lặng ở trong lòng và bỗng nhận ra rằng cuộc sống hiện tại thật tươi đẹp , thật hạnh phúc biết bao. Thưa các chú , các bác cháu rất yêu và khâm phục những người lính QDND Việt Nam. Cháu rất mong được đọc các trang hồi ký thấm đẫm sự chân thực của các CCB. Sau này con trai cháu lớn lên cháu cũng sẽ kể cho nó nghe một trang lịch sử hào hùng của dân tộc. Nhân dịp những ngày đầu năm mới chúc các CCB mạnh khỏe, thành đạt trong công việc hiện tại.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 29 Tháng Ba, 2010, 10:19:55 AM
 Trung đoàn tôi đánh ngụy Lào , phỉ Vàng pao , lính Thái ở Xiêng khoảng , khi chạm BB mình lính nó hay chạy rồi kêu pháo ,mình khó diệt lại bị tổn thất nên hay dùng chiến thuật " Đón lõng ". Bộ phận đánh chính diện - xua đuổi _có khi ít nhưng bộ phận đón lõng thì nhiều vì phải phục kích ở nhiều ngả đường mình đoán địch chạy , do đó khi chạm địch nổ súng , địch chạy là bị rơi vào các ổ phục , địch  kêu pháo thì bộ phận đánh chính lui, nên ít tổn thất mà hiệu quả . Được cái lính thời đó chủ yếu  là các bác người Mông  ,thái , tày Tây bắc và các bác người Thanh ,Nghệ nên chuyện luồn rừng là chuyện nhỏ


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 01 Tháng Tư, 2010, 01:02:57 PM
       Vừa nhớ đến Pleiku, định tìm topic "Từ Đức cơ đến chù Preat viahea" của đại trưởng trinh sát Võ Văn Hà mà không thấy cả chuỗi topic đó đâu cả. Độ này năm ngoái, bác VovanHa là điểm nóng của Box "Máu và hoa" cơ mà.

      Bác nào biết chùm topic đó dời đi đâu, chỉ giúp tôi với.
       Mà cũng lạ là đã lâu không hề thấy giáo Hà xuất hiện.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: yawningallday trong 01 Tháng Tư, 2010, 01:16:27 PM
Bị khóa nick rồi bác ạ, thông báo tại đây ạ
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=652.msg196618#msg196618


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: trung uy trong 02 Tháng Tư, 2010, 12:39:55 AM
Em vừa thấy loáng thoáng xuất hiện ở đâu đó 1 bác nick mới vovanhoa...nghe hao hao...hihi nghi lắm...hình như ở topic của bác lixeta thì phải.
Mà bọn hậu sinh chúng em chỉ được đọc thông báo của admin, không rõ sự vụ thế nào...thế bác trongc6 cũng không biết ạ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 03 Tháng Tư, 2010, 09:44:47 AM
….
               Cả hai đại đội dồn cục lại khu vườn chuối, bây giờ mới giở cơm ra ăn vội. Cổ khô, chán chả muốn ăn.
   
           Thương binh được tập trung, vừa khiêng vừa dìu về ngay tuyến sau. Từ đây về đến trạm xá trung đoàn cũng phải bảy tám tiếng. Tiểu đoàn chỉ có một y sĩ và một y tá nên cũng chỉ sơ cứu được thôi. Mỗi C có 3 y tá đấy, nhưng cũng chẳng giải quyết được gì hơn. Tất cả tử sĩ được liệm trong vải dù trắng. Cũng phải có người khiêng về tuyến sau chứ, vì nghĩa trang của tiểu đoàn cũng phải đi xa tới dăm tiếng.
   
            Không thể để mất vị trí bờ huội Chăm-pi, trước khi trời tối, cả hai C5 và C6 lại phải sang giữ Nam huội Chăm-pi chặn địch. Tất cả 11 tử sĩ được xếp nằm trong vườn chuối, giao cho tôi ở lại canh ban đêm. Sáng mai sẽ có lực lượng của C7 ra khiêng về.
   
           (Trong trung đoàn tôi cũng có C25 gọi là C vận tải. Không biết quân số của họ là bao nhiêu, nhưng nhiệm vụ của họ chủ yếu là cùi gạo đạn và vận chuyển đồ đoàn của sở chỉ huy trung đoàn. Suốt thời gian chiến đấu ở E9b, tôi chưa bao giờ gặp họ đi cáng thương binh hay tử sĩ từ trận địa về bao giờ. Vì thế khi xem chuyện về Biên giới Tây Nam, tôi rất ngạc nhiên khi biết ở đó lính vận tải phải mang đạn ra tận trận địa cho bộ binh và nhận luôn nhiệm vụ cáng thương binh tử sĩ về).
   
           Lúc mới nhận nhiệm vụ một mình ở lại bãi chuối ban đêm trông tử sĩ, tôi chưa nhận thức được điều gì và chưa thấy sợ. Nhưng khi mọi người đi hết rồi, chỉ còn lại một mình với khẩu AK, một nắm cơm nếp và trời cứ tối dần thì tôi bắt đầu thấy sờ sợ. Cả cái vườn chuối rừng rộng lớn cây mọc đều nhau, trong đêm đen trông lờ mờ như những người đang đứng. Gió xào xạc, lá chuối phất phơ. Ở trong rừng chuối lạnh lẽo lắm chứ không ấm cúng như trong rừng già. Có mấy cái hầm chữ A đấy, nhưng cái nào cũng xâm xấp nước vì ở gần suối, nên không thể chui vào đó được. Trong đêm tối nhờ nhờ, dãy tử sĩ nằm nổi lên trắng toát, vẫn còn tanh mùi máu. Tôi cũng không phải là thằng sợ ma lắm vì ở nhà cũng rất hay nghịch ngợm, thường hay rủ bọn trẻ con ra bãi tha ma chơi đánh trận giả. Chơi chán thì dọa nhau rồi chạy. Trơ ra thì có khi còn ngủ quên cả ngoài đó vì trời mát, người nhà phải ra gọi về. Thế mà ở đây, đồng chí đồng đội mình nằm chứ ai, lại có khẩu AK lên đạn sẵn, thế mà vẫn thấy gai gai lành lạnh. Tôi không sợ địch vì biết chắc ở chỗ này cũng chẳng có ma nào mò tới. Bọn thám báo nó sục ở mé rừng già cơ, chứ chỗ này ngách cụt, chẳng ra thế trận gì cả thì chúng cũng chẳng màng. Có lẽ đơn vị phải cử tôi  trông vì sợ có con thú nào nó mò vào đây chăng. Tôi mới vào chiến trường, chuyện trò với các anh lính  cũ không được bao nhiêu, nên chẳng biết ở đây có hổ không. Nói dại chứ hổ nó mò vào thì tôi làm sao mà đánh lại được nó như ông Võ Tòng đánh hổ ở đồi Cảnh Dương trong Thủy hử. Tôi lại lan man nghĩ đến những con kỳ đà bới mộ ăn xác chết trong chuyện "Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi. Đêm tối thế này nhìn không rõ mà có độ mấy con to như con cá sấu già sồn sột bò đến thì biết xử lý ra sao. Cứ nghĩ thế mà màn đêm xuống muộn lắm rồi tôi vẫn chưa lôi được gói cơm ra ăn.
   
             Chừng nửa đêm thì trời mưa. Nhẩm lại từ hôm tôi vào đại đội đến nay đã hơn hai tuần, đúng là mùa mưa rồi đấy mà tận hôm nay mới gặp mưa. Mưa khá to và dai dẳng suốt đêm. Tôi lấy tấm ni-lon ra quấn quanh người, bấm bụng lấy can đảm rồi rà một lượt đi quanh các tử sĩ. Mưa làm ướt hết tấm vải dù liệm xác, ướt hết cả tử sĩ, nhưng cũng chẳng có gì để che. Tôi đành quay về tìm một khóm chuối rậm rồi cứ để nguyên ni-lon quấn quanh người mà chui vào đó, ngồi co ro cho đỡ nước mưa và đỡ lạnh. Rồi cũng phải chén hết nắm cơm. Giá đây là căn hầm có rải cỏ tranh khô ráo thì tôi cũng đánh liều mà làm một giấc cho đỡ mệt. Nhưng cái bụi chuối này chỉ che được mưa tạt trực tiếp thôi, chứ không có hơi ấm. Lúc ấy tôi chưa nghiện thuốc lá, chưa có cái bọc thuốc rê như của lính cũ nên cũng chẳng có gì giúp làm mình ấm hơn. Không ngủ được và cứ ngồi co ro như thế nhìn ra ngoài chỗ để tử sĩ.
   
           Trong số các anh nằm kia, tôi cũng chỉ mới biết một hai người. Cũng chưa hiểu rõ tính tình các anh, quê quán nơi nào. Các anh vào lâu chưa, đánh bao nhiêu trận rồi. Bây giờ các anh ấy đã sớm trở về lòng đất. Cuộc đời đã khép lại, món nợ trần gian đã hết. Đã ai có vợ con gì chưa. Bao giờ thì gia đình các anh ấy nhận giấy báo tử. Tôi cứ nghĩ lan man rất dở hơi như thế mãi. Cái điệp khúc này dễ làm nao núng lòng người, dễ dẫn người ta đến con đường đảo ngũ lắm. Trong bộ đội, người ta yêu cầu sinh hoạt thường xuyên, dù ở tuyến trước hay tuyến sau, chính là để lính ta hướng vào hoạt động tập thể, giảm bớt cái khoảng thời gian suy nghĩ vẫn vơ dễ làm cho người ta sinh ra tư tưởng. Thế mà bây giờ tôi ngồi đây cả đêm mà nghĩ lung tung như thế thì thật không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi thoáng nghĩ đến con đường hành quân trên Trường Sơn. Đường vào gian nan một thì đường ra chắc phải khó gấp đôi. Nhưng tôi đã quyết ra đi không quay gót rồi mà. Nếu không đỏ ngực thì phải xanh cỏ thôi. Con đường chinh chiến phía trước còn dài và mịt mù lắm. Đã ai dám hẹn được ngày quay trở lại. Trong khó khăn, đói rét và cơ cực thì còn quyết tâm là mình phải sống, phải vượt qua chứ đời lính chiến thì đố ai dám quả quyết là mình phải sống. Chẳng ai đoán trước được số phận con người. Cứ xác định là rồi đến lúc nào cũng tới lượt mình ngã xuống thì còn thấy nhẹ nhàng và thanh thản hơn. Điều an ủi có thể làm yên lòng là mình đã thay cho gia đình để góp vào sự hy sinh chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến này mà gia đình nào cũng có nghĩa vụ đóng góp.
   
            Cuối cùng trong cái mưa lạnh ấy, về gần sáng tôi cũng chợp mắt được một lúc trong cái thư thế co ro trong bụi chuối. Ngủ đấy nhưng cũng tỉnh rất nhanh khi có tiếng động trên đầu dốc. Trời đã tảng sáng nhưng vẫn nhòa trong cơn mưa. Một đoàn lính của C7 theo sau một người của C tôi đi tới. Tất cả nhanh chóng xếp các tử sĩ vào cáng rồi khiêng đi. Mưa to, đường trơn thế này thì chắc cũng phải đến chiều mới tới nghĩa trang. Tôi trở về bên kia huội Chăm-pi với đại đội ngay sáng hôm ấy.
   
             Buổi chiều, tôi lăn ra sốt. Cơn sốt rét rừng đầu tiên. Thoạt đầu là thấy mệt mỏi, đau đầu. Rồi lạnh, cái lạnh như từ trong người chui ra. Tôi chúi xuống cái hầm chữa A xếp đầy cỏ tranh nằm sóng xoài. Đến khi hết rét thì người và đầu nóng bừng bừng, rồi thiếp đi, miên man không biết đến thời gian. Dọc đường hành quân trên Trường Sơn, chúng tôi được phát mỗi người một cái lọ nhựa có 50 viên Ni-va-quin. Mỗi tuần làm một viên để phòng chống. Có mấy thằng bị sốt dọc đường đã phải dùng theo chế độ 4 viên một ngày. Bây giờ đến lượt tôi. Lấy ngay lọ thuốc của mình chứ y tá chưa có cho thuốc men gì. Đến tối anh Trịnh đưa cho nắm cơm nếp, thấy khô và đắng lắm. Giả dụ có muốn ăn cháo thì ở đây cũng chẳng ai nấu cho mà ăn. Chỉ muốn nằm thôi vì nhỏm dậy là thấy chóng mặt vô cùng. Tôi cứ ốm vạ vật như thế mấy hôm, mặc cho đơn vị cứ thay nhau lên chốt. Nhưng hình như cũng chẳng có đánh nhau. Sau lưng nước huội Chăm-pi dâng cao do nước lũ đổ về, ngăn cách hẳn đơn vị với tuyến sau.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: nghiacdt trong 05 Tháng Tư, 2010, 05:53:18 AM
Kính chào chú Trọng
Cháu công tác trong quân đội 15 năm. Ngay từ khi bắt đầu vào QD. Khi được học về chiến thuật ở năm đầu tiên, cháu đã từng nghĩ, chiến đấu, chiến tranh đơn giản vậy sao
Và nghĩ rằng, những kiến thức về kỹ thuật chiến đấu, về cuộc sống của người lính trong chiến tranh, thực tế chiến tranh như thế nào, nếu không có ai truyền lại, ghi lại, viết ra. Thì thế hệ này qua thế hệ khác, các thế hệ sau, càng ngày càng xa lạ với lịch sử dân tộc, hiểu không đúng về lịch sử dân tộc, hoặc hiểu một cách chung chung, như cháu đã từng hiểu trước khi đọc được những dòng chú và các chú, các anh khác viết ra trong diễn đàn này.
Mặc dù không được học sâu toàn diện về quân sự, nhưng những gì được học qua trường đại học, qua nhìn nhận về các anh chỉ huy  ở năm đầu tiên, qua cuộc sống quân ngũ 15 năm, cháu vẫn thấy, kiến thức về chiến tranh, về quân sự, được truyền đạt không đủ để một người lính bình thường có thể chủ động trong chiến tranh.
Cháu cảm thấy, kiến thức quốc phòng, cách truyền đạt trong lịch sử, trong văn học chiến tranh, trong nhà trường quân sự, trong quân đội, đã bị lược bỏ nhiều yếu tố chân thực.
Qua đọc được những hồi ức của chú và các chú khác trong quansuvn.net, cháu thấy hiểu đúng, rõ ràng về cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, đánh Trung Quốc.
Và thấy đây là những thông tin chân thực nhất, về một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Thấy cuộc chiến tranh đúng là như vậy. Đó là cuộc đời.
Mảng đề tài chiến tranh Việt Nam, bây giờ, các chú mà không viết, thì lớp sau, hay các nhà văn, nhà viết sử bây giờ, chỉ viết như kiểu mô phỏng và thêm thắt, suy luận, không chân thực.
Chắc sẽ có ai đó suy nghĩ rằng, nếu thấy máu chảy, thấy hy sinh, hiểu quá sâu về chiến tranh, thì còn ai giám hy sinh.
Nhưng, các chú, các chú cũng đã chứng kiến, đã trải qua những khó khăn, các chú vấn “dấn thân”.
Riêng cháu, thế hệ cháu, và các lớp sau nữa, cháu nghĩ, vẫn sẽ suy nghĩ và hành động như các chú đã trải qua
Bọn cháu sống trong hòa bình, nhưng vẫn là người lính, vẫn thực hiện các nhiệm vụ, cũng có nhiều khó khăn, không thể bằng các chú, các anh lớp trước. Nhưng qua “cân, đong, đo, đếm” về những người lính thời bình. Cháu tin tưởng ỏ suy nghĩ của mình
Cháu không tô hồng, không lý tưởng hóa, không duy ý chí. Nhưng cháu tin là thế.
Một giai đoạn lịch sử không thể nào quên.
Chân thành cảm ơn chú đã viết lên những hồi ức chân thực.
Rất hy vọng, sẽ có dịp được gặp lại chú và các chú, các anh trong hội QKTD và trong nhóm Cựu chiến binh.
Nếu các chú, các anh, cần hỗ trợ về số hóa, về tin học… cháu xin sẵn sàng
Chúc chú giữ được sức khỏe và nhiệt huyết.
Mong chú tiếp tục vững tay máy vi tính, tiếp tục cho cháu, và những người khác, được biết những hồi ức chân thực không thể nào quên.



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: t2ncdn trong 05 Tháng Tư, 2010, 07:56:39 PM
Rất chia sẻ với đồng chí nghiacdt. Nnăm 1992, khi mình đang học ở trường SQLQ I, trong buổi giới thiệu về cách mắc màn khi nằm võng trong lúc dã ngoại, đ/c trung đội trưởng khung kiêm giáo viên hướng dẫn anh em vắt màn qua dây đỉnh võng để hở 2 đầu. Nói chung là mọi người đều thấy không hợp lý nhưng có lẽ nghĩ rằng chả bao giờ dùng đến nên nên không thắc mắc gì. Mình là loại hiếu sự nên có hỏi như vậy thì mắc màn có tác dụng gì nếu như muỗi vẫn ra vào vô tư và được giải thích là trong chiến đấu việc bị muỗi đốt thì có ăn thua gì (chống chế một cách vụng về). Không thỏa mãn với cách giải thích như vậy lúc có dịp mình hỏi cụ già, cụ là lính hết chiến tranh phục viên với quân hàm hạ sĩ quan thì được hướng dẫn cách mắc màn hết sức thỏa đáng. Năm 1992, quân đội ta mới bước ra khỏi cuộc chiến cuối cùng thời gian không xa. Từ ví dụ nhỏ nêu trên mình thấy có rất nhiều kinh nghiệm chiến tranh hết sức quý báu giúp cho tiết kiệm xương máu người lính đã nhanh chóng bị lãng quên không được truyền lại cho thế hệ sau (riêng sốt rét cũng đã gây tổn thất không nhỏ làm mất sức chiến đấu của bộ đội). trong trường họp tình huống chiến tranh xảy ra nhiều việc lại phải bắt đầu lại từ đầu. Giá như có điều kiện tập hợp ghi chép lại những điều tưởng nư nhỏ nhặt này thành các tài liệu để truyền lại các thế hệ sau thì rất quý báu. Việc này ở quân đội nhiều nước đã làm rất tốt, trong quá trình làm việc mình đã có điều kiện tiếp xúc với một số tài liệu hướng dẫn kiểu như sổ tay dành cho chiến sĩ của quân đội nước ngoài thấy rất tiếc là quân đội ta đã bỏ phí một tài nguyên trí tuệ lớn của các lớp đàn anh đi trước.
Vĩ thanh: Sau này không nhớ cụ thể lúc nào mình có đọc một bài báo trên báo QDND nói về việc một đơn vị của Quân Đoàn 3 luyện tập hành quân dã ngoại gặp mưa tất cả đều bị ướt mặc dù được trang bị đầy đủ tăng võng, đơn giản là từ lính đến quan đều không biết cách mắc võng.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hai Ruộng trong 05 Tháng Tư, 2010, 08:32:10 PM
Cháu không tô hồng, không lý tưởng hóa, không duy ý chí. Nhưng cháu tin là thế.
Một giai đoạn lịch sử không thể nào quên.

 Các cháu suy nghĩ như thế là rất đúng . Nếu cái gì ta cũng tô hồng , đến khi bất chợt chúng ta gặp một việc gì đó nó không hồng thì ta dễ mất phương hướng lắm . Việc gì cũng cần chúng ta phải bình tỉnh , suy nghĩ như thế nào cho nó hợp với khoa học , thì lúc đó chung ta mới vững niềm tin .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: haanh trong 05 Tháng Tư, 2010, 09:48:45 PM
hehe nghe anh bạn nghiacdt nói mà mát ruột quá  ;D anh em CCB tụi tui tham gia kể những câu chuyện thật của lính , thật đến trần trụi và thậm chí bị cho là dung tục cũng không ngoài mục đích cho lớp đàn em chắc lọc được tí gì đó kiến thức thực tế mà giáo trình không thể cung cấp đủ . Những em làm công tác chỉ huy có thể qua nhựng câu chuyện trần trụi , dung tục này mà hiểu được tâm và cả sinh lý của chiến sĩ trong mọi điều kiện hoàn cảnh , biết được " chiêu " của chiến sĩ để " bắt bài " cho dễ  ;D Đùa tí thôi chứ hiểu được lính thì chỉ huy rất thuận lợi .
Kinh nghiệm chiến trường phải đổi bằng máu , nếu thế hệ đàn em học được gì đó thì đúng là máu xương của những đồng đội chúng tôi đổ ra cũng không uổng phí .
Cám ơn bạn nghiacdt nhiều lắm .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 05 Tháng Tư, 2010, 10:31:23 PM


               Hôm sau, phía bản Phin yên ắng. Có lẽ những chỗ đã bắn nát rồi thì địch cũng bỏ, coi như đã xác định được khu vực có quân ta. Ta và địch đều có công tác trinh sát thăm dò nhau. Phía ta là những tốp trinh sát, còn bên địch là những toán thám báo. Bọn địch đóng quân thành các căn cứ công khai vì chúng lập tuyến và có máy bay và pháo binh yểm trợ sẵn sàng. Quân ta chủ yếu ở rừng bí mật, thay đổi vị trí đóng quân thường xuyên. Ngay cả ở tuyến trước, việc lập chốt tức là tạo trận địa công khai, nhưng cũng chỉ qua một hai trận, lộ là lại chuyển chốt ngay. Vì thế thám báo địch khó nắm tình hình đối phương hơn trinh sát ta. Nhưng nếu vị trí trú quân của ta, dù là vị trí tạm mà bị lộ thì ăn đủ bom pháo ngay.

               Sáng hôm ấy, chúng tôi tiếp tục củng cố hầm và làm công tác ngụy trang. Trinh sát tiểu đoàn bám địch báo về, địch tiếp tục đưa thêm quân từ trong Phù Chiêng ra khu Lào Ngam. Tại Phù Chiêng là căn cứ chính của GM41 của địch. Vùng Hạ Lào này còn có một trung đoàn cơ động chủ lực của địch nữa là GM42 và một số tiểu đoàn bảo vệ quanh Pắc-xế. Bọn Thái Lan cũng có một trung đoàn, trong đó tiểu đoàn 621 Thái lập căn cứ có công sự vững chắc ngay tại Lào Ngam, nằm về phía Nam đường 23. Mấy ngày qua chúng tôi chủ yếu đánh nhau với một tiểu đoàn Lào của cái GM41. Chúng nó đóng sâu trong Lào Ngam nhưng liên tục nống ra lập trận địa dã ngoại đánh chặn quân ta.

               Buổi chiều, B tôi được lệnh lùng sục trinh sát ra đường 231. Tiểu đội thằng Đức (Cầu Giấy) được cử đi, gồm 4 người, 3AK và 1B40. Trong đơn vị tôi, tất cả các loại hỏa lực như B40, M79 đều giao cho lính cũ nhiều kinh nghiệm sử dụng, chứ bọn tân binh chúng tôi mới vào thì chỉ có AK thôi. Thằng Đức được cử đi đầu. Thằng này trắng trẻo, to con và cao tới 1m67. Thế là cao lắm rồi vì lính tráng chúng tôi thời đó đa phần chỉ cao từ 1m58 tới 1m62 thôi, cho nên trong hàng quân thì bao giờ cái đầu của nó cũng nhô cao hơn hẳn lên. Cắp AK đi đầu mà thằng này cứ đứng thẳng người, bước thẳng tưng như đi chơi ở chỗ không người. Anh Pha A trưởng của nó quát bảo phải khom người cúi thấp xuống mà đi, chậm chậm và thăm dò chứ phưỡn người ra như thế khác nào khiêu khích địch. Lộ ra nó nện cho một phát chết ngoéo bây giờ. Quát bảo thế, thậm chí nắm đầu mà dúi xuống, nhưng chỉ được ba bước là nó lại đứng thẳng lưng lên mà đi. Vài lần như thế, cứ như là trêu ngươi lính cũ vậy. Cáu tiết quá nhưng không làm gì được, vì nó cứ giơ cái mạng sống của nó ra mà đi như thế chứ có phải nó chạy lùi đâu, mà nó cũng chẳng tỏ ra sợ sệt gì cả. Cuối cùng anh Pha đành phải đi đầu và tống nó xuống cuối đội hình. Có lẽ cái xương sống của thằng Đức không cong được chứ không phải nó muốn trêu ngươi ai. Sau này đánh nhau cũng thế, nó cứ thẳng lưng mà chạy, mà xung phong. Nửa năm sau khi ngoài Sa-ra-van, trong một trận đánh vận động, nó bị trúng một mảnh đạn cối, xuyên vào phổi và vẫn mắc ở trong đó tới giờ. (Bây giờ nó là thương binh, là doanh nghiệp tư nhân buôn bán thuốc tây ở Quận Cầu Giấy).

               Chiều hôm ấy tiểu đội anh Pha không phát hiện thấy địch. Cái trận địa dã ngoại ngoài bản Phin của bọn địch hôm trước cũng đã bỏ không. Chúng tôi lại trải qua một ngày không tác chiến.

               Hôm sau, tiểu đoàn tập trung C5 và C6 tổ chức lùng sục vũ trang sang hẳn khu Lào Ngam. Bây giờ đến lượt tôi đi đầu tiểu đội. Anh Trịnh bám sát ngay sau tôi để chỉ dẫn. Các A khác cũng bám ngay sau A tôi. ra đến gần đường 231, chúng tôi thận trọng thăm dò tình hình. Chỗ này rất nhiều cây lúp xúp, xen kẽ nhiều cây nhỏ chỉ độ bắp chân mọc thưa, tầm nhìn không xa lắm. Đi một đoạn, chúng tôi lại ngồi xuống quan sát qua các khe thân cây rồi mới đi tiếp. Càng đến gần vùng đường 231, nơi mà trinh sát bám địch đã cảnh báo, chúng tôi càng thận trọng. Đến nửa buổi sáng hôm ấy thì chúng tôi phát hiện thấy địch. Chúng nó cũng đào công sự dã ngoại, hầm không nắp và không có hàng rào. Chúng tôi bò sát vào đến cách độ vài chục mét. Đại đội ra lệnh giá hai khẩu cối 60, nện vào đó hơn chục trái rồi chúng tôi bắt đầu đánh. B40 tập trung bắn mạnh, rồi chúng tôi xung phong, vừa chạy vừa bắn AK. Địa hình thưa nên M79 bắn thẳng rất tốt. Bị đánh vỗ mặt, bọn địch vừa bắn trả, vừa rút. Chúng tôi chiếm được mấy cái công sự bên ngoài. Vì dã ngoại nên địch không đào giao thông hào. Theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ vừa lợi dụng địa hình địa vật, vừa đánh lấn từ hầm này sang hầm khác của địch. Nhưng mới chỉ được một đoạn, vượt qua được mấy cái xác địch ở khu công sự ngoài thì chúng tôi bị chặn lại. Địch đã kịp tổ chức lại và điều quân từ phía sau lên. Hai khẩu trung liên Bar của địch quạt chéo cánh sẻ vào đội hình chúng tôi. A trưởng Soán của B4 bị một viên vào mặt văng mất hàm dưới làm một mũi tấn công khựng lại. Cùng lúc địch dùng M72 bắn lại dữ dội. Rồi cối 61, cối 81 của địch rót vào khu vực trận địa mù mịt. Súng đạn bản thân của chúng tôi có hạn, chưa tiến được bao nhiêu thì B40 đã gần hết đạn, chỉ còn trông chờ M79 và AK. Chúng tôi phải nằm bẹp lại và tản thưa ra tránh đạn cối. B40 đạn ít mà địch không tập trung thì tác dụng thấp, lại bị địch chú ý tập trung tiêu diệt vì chúng rất sợ B40. Có lẽ cả đại đội mấy chục tay súng chúng tôi cũng không thể tiêu diệt được cái đại đội này của địch. Đại đội ra lệnh bắn cối 60 chi viện và gọi cối 82 của tiểu đoàn. Cả trận địa cứ mù mịt cả lên.

               Một khẩu cối 60 của C tôi bắn được mấy trái thì gặp nạn. Có lẽ do liều ẩm, trái trước chưa ra khỏi nòng thì anh Đối đã thả trái sau. Hai trái cối đội đít nhau nổ ngay đầu nòng làm anh Đối và một anh nữa hy sinh. Khẩu cối vỡ toác nòng. Còn một khẩu cối 60 nữa bắn cầm canh cùng cối 82 của tiểu đoàn chi viện cho được độ hai chục trái. Chúng tôi không đủ sức đánh tiếp nữa nên rút lui. Bây giờ mới gay go. Cả một vùng cây thưa, rừng thấp rộng lớn mà chúng tôi phải băng qua không che nổi đạn pháo của địch rót tới. Kẻ địch mạnh và dư thừa về bom pháo. Động một tí là chúng gọi pháo. Bom pháo luôn là mối đe dọa kinh hoàng đối với chúng tôi sau mỗi trận đánh. Không rút nhanh, thoát ra được nhanh, kể cả khi ta đã làm chủ trận địa thì khả năng thương vong rất cao. Trên đường chúng tôi rút chạy về đến khu tạm trú ở Huội Chăm-Pi (chỗ đó có hầm chữ A vững chắc và chưa bị lộ). thêm 4 người nữa hy sinh về đạn pháo, 3 người bị thương. Thế là chỉ trong một trận đánh không lớn vào buổi sáng đại đội tôi đã hy sinh mất 6, bị thương 4 và chúng tôi cũng chỉ còn đủ sức khiêng vác tất cả về đến huội Chăm-pi. May là địch chỉ gọi pháo bắn chứ không tổ chức truy kích chúng tôi.

               Phía C5 cũng không hơn gì chúng tôi. Họ bị địch phát hiện và tấn công trước. Bên đó lại còn không được cối 82 của tiểu đoàn hỗ trợ. Thực chất tiểu đoàn có lẽ cũng định tổ chức lùng sục vũ trang, gặp đơn vị nhỏ của địch, đánh phủ đầu tiêu hao sinh lực của chúng thôi, không ngờ cả 2 C đều gặp lực lượng lớn của địch. Không kể bị thương, C5 cũng có 5 tử sĩ.

               Cả hai đại đội chúng tôi khiêng thương binh, tử sĩ kéo nhau vượt về bờ Bắc huội Chăm-pi, đến tập kết tạm tại khu vườn chuối. Bây giờ cũng đã giữa chiều rồi còn gì.

….


Bản Phin - Bản Soan (?) - Lao Ngam - Huoi Champi



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trên Lầu trong 05 Tháng Tư, 2010, 11:57:01 PM
Rất chia sẻ với đồng chí nghiacdt. Nnăm 1992, khi mình đang học ở trường SQLQ I, trong buổi giới thiệu về cách mắc màn khi nằm võng trong lúc dã ngoại, đ/c trung đội trưởng khung kiêm giáo viên hướng dẫn anh em vắt màn qua dây đỉnh võng để hở 2 đầu. Nói chung là mọi người đều thấy không hợp lý nhưng có lẽ nghĩ rằng chả bao giờ dùng đến nên nên không thắc mắc gì. Mình là loại hiếu sự nên có hỏi như vậy thì mắc màn có tác dụng gì nếu như muỗi vẫn ra vào vô tư và được giải thích là trong chiến đấu việc bị muỗi đốt thì có ăn thua gì (chống chế một cách vụng về). Không thỏa mãn với cách giải thích như vậy lúc có dịp mình hỏi cụ già, cụ là lính hết chiến tranh phục viên với quân hàm hạ sĩ quan thì được hướng dẫn cách mắc màn hết sức thỏa đáng. Năm 1992, quân đội ta mới bước ra khỏi cuộc chiến cuối cùng thời gian không xa. Từ ví dụ nhỏ nêu trên mình thấy có rất nhiều kinh nghiệm chiến tranh hết sức quý báu giúp cho tiết kiệm xương máu người lính đã nhanh chóng bị lãng quên không được truyền lại cho thế hệ sau (riêng sốt rét cũng đã gây tổn thất không nhỏ làm mất sức chiến đấu của bộ đội). trong trường họp tình huống chiến tranh xảy ra nhiều việc lại phải bắt đầu lại từ đầu. Giá như có điều kiện tập hợp ghi chép lại những điều tưởng nư nhỏ nhặt này thành các tài liệu để truyền lại các thế hệ sau thì rất quý báu. Việc này ở quân đội nhiều nước đã làm rất tốt, trong quá trình làm việc mình đã có điều kiện tiếp xúc với một số tài liệu hướng dẫn kiểu như sổ tay dành cho chiến sĩ của quân đội nước ngoài thấy rất tiếc là quân đội ta đã bỏ phí một tài nguyên trí tuệ lớn của các lớp đàn anh đi trước.
Vĩ thanh: Sau này không nhớ cụ thể lúc nào mình có đọc một bài báo trên báo QDND nói về việc một đơn vị của Quân Đoàn 3 luyện tập hành quân dã ngoại gặp mưa tất cả đều bị ướt mặc dù được trang bị đầy đủ tăng võng, đơn giản là từ lính đến quan đều không biết cách mắc võng.

Không phải đâu,
Sách vở truyền đạt kinh nghiệm của quân ta thì vô khối ... các loại sổ tay không thiếu. Chẳng qua là các bác học sĩ quan cấp phân đội bây giờ chịu nhiều áp lực quá và cũng chả có thời gian và thói quen vào thư viện lục sách nữa!



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh moi trong 06 Tháng Tư, 2010, 06:24:08 AM
  Giá như ai cũng hiểu được như bạn nghiacdt thì tốt biết bao , nhất là cấp chỉ huy . Nhớ lại thời huấn luyện , khi đêm có báo động chiến đấu là lính mình cứ cuống cuồng làm thằng Hùng "sớm nắng chiều mưa" A Tr được dịp chửi bới ... mà cái việc làm chậm nhất là đi giày , vì dây hay bị tuột khỏi lỗ xỏ . Vậy mà qua 1 CCB bên K (thăm em ) chỉ dẫn , chúng tôi biết cách xỏ dây giày mà không bao giờ bị tuột .


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 06 Tháng Tư, 2010, 07:28:44 AM

Vĩ thanh: Sau này không nhớ cụ thể lúc nào mình có đọc một bài báo trên báo QDND nói về việc một đơn vị của Quân Đoàn 3 luyện tập hành quân dã ngoại gặp mưa tất cả đều bị ướt mặc dù được trang bị đầy đủ tăng võng, đơn giản là từ lính đến quan đều không biết cách mắc võng.
Muốn không bị ướt phải làm cọc phụ, có thể nơi mắc võng là rừng của dân lính không dám chặt phá như trước kia.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hai Ruộng trong 06 Tháng Tư, 2010, 01:24:26 PM
 Để khỏi phải chặt cây của dân và nhanh chóng khi mắc võng , mà nước mưa không chảy vào võng , mình đã đề nghị HẬU CẦN  chế tạo thêm hai cái khoen xâu vào nhau như mắc xít của dây lòi tói ( dây chuyền đeo cổ). Một đầu cột vào võng , một đầu cột vào dây để cột vào cây , Như thế không bao giờ hai vòng tròn cùng nằm trong một mặt phẳng và nước mưa không thể nào chảy vào võng được , vã lại mỗi đầu chỉ cần hai vòng thép cọng 5 ly , vòng tròn đường kính 50 ly , thì anh em chiến sỹ khmang nặng hơn bao nhiêu . Anh em trên mạng khen là sáng kiến hay , nhưng không biết Hậu Cần có nghe không . Hay là chỉ lo cải tiến quân phục , thì kiếm tiền Nhà Nước dễ hơn.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 06 Tháng Tư, 2010, 01:33:07 PM
Để khỏi phải chặt cây của dân và nhanh chóng khi mắc võng , mà nước mưa không chảy vào võng , mình đã đề nghị HẬU CẦN  chế tạo thêm hai cái khoen xâu vào nhau như mắc xít của dây lòi tói ( dây chuyền đeo cổ). Một đầu cột vào võng , một đầu cột vào dây để cột vào cây , Như thế không bao giờ hai vòng tròn cùng nằm trong một mặt phẳng và nước mưa không thể nào chảy vào võng được , vã lại mỗi đầu chỉ cần hai vòng thép cọng 5 ly , vòng tròn đường kính 50 ly , thì anh em chiến sỹ khmang nặng hơn bao nhiêu . Anh em trên mạng khen là sáng kiến hay , nhưng không biết Hậu Cần có nghe không . Hay là chỉ lo cải tiến quân phục , thì kiếm tiền Nhà Nước dễ hơn.
Có lý đấy bác Hai.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 06 Tháng Tư, 2010, 03:03:48 PM
Cảm ơn bác RongXanh:
Bản đồ của bác đúng là khu vực Lào Ngam và Bản Phin, Bản Soan đấy.
Phía bờ Bắc Huội Chăm pi địa hình dốc, rừng rậm, còn bờ Nam chỉ có sát suối là dốc. Ra đến mấy cái Bản và đường 231 thì khá bằng phẳng và rộng, rừng thưa có nhiều cây xúp xúp.
Mong được bác chỉ dẫn tiếp qua bản đồ con đường hành quân.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: rongxanh trong 06 Tháng Tư, 2010, 08:35:36 PM

Bản đồ của bác đúng là khu vực Lào Ngam và Bản Phin, Bản Soan đấy.
Phía bờ Bắc Huội Chăm pi địa hình dốc, rừng rậm, còn bờ Nam chỉ có sát suối là dốc. Ra đến mấy cái Bản và đường 231 thì khá bằng phẳng và rộng, rừng thưa có nhiều cây xúp xúp.
Mong được bác chỉ dẫn tiếp qua bản đồ con đường hành quân.

Chắc là các bác ở bờ Bắc Huoi Champi đánh xuống.

Bác cứ nêu địa danh, để em thử tìm bản đồ cho bác.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: T54b trong 07 Tháng Tư, 2010, 05:51:46 AM
Qua đọc được những hồi ức của chú và các chú khác trong quansuvn.net, cháu thấy hiểu đúng, rõ ràng về cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, đánh Trung Quốc.
Và thấy đây là những thông tin chân thực nhất, về một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Thấy cuộc chiến tranh đúng là như vậy. Đó là cuộc đời.
Mảng đề tài chiến tranh Việt Nam, bây giờ, các chú mà không viết, thì lớp sau, hay các nhà văn, nhà viết sử bây giờ, chỉ viết như kiểu mô phỏng và thêm thắt, suy luận, không chân thực.
Chắc sẽ có ai đó suy nghĩ rằng, nếu thấy máu chảy, thấy hy sinh, hiểu quá sâu về chiến tranh, thì còn ai giám hy sinh.
Nhưng, các chú, các chú cũng đã chứng kiến, đã trải qua những khó khăn, các chú vấn “dấn thân”.

@nghiacdt:

Dù sao cũng thấy vui vì sự đồng cảm của bạn vói những CCB trong QSVN.
Đúng là những câu chuyện các CCB kể rất chân thực bạn ạ. Chuyện mỗi người lính trên chiến trường là một chi tiết của bức tranh lịch sử tổng thể. Thiếu thì không được mà để cho đủ thì liệu có dễ. Trong các cuộc chiến tranh có bao nhiêu người lính, sẽ viết như thế nào, viết tất cả ư. Tôi nghĩ những chiến sĩ Việt Nam thật tuyệt vời khi họ đã chiến đấu hi sinh và khiêm tốn khi kể về mình. QSVN chỉ mới có sự tham gia rất ít, rất ít trong hàng vạn người lính đã từng tham gia chiến đấu.
KHông phải sợ viết hết những gian khổ hi sinh sẽ làm cho những thế hệ sau không dám hi sinh đâu bạn.Lịch sử dân tộc mình thế nào, bạn, tôi và các thế hệ đều tự hào kia mà.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 10 Tháng Tư, 2010, 11:08:28 AM
….
              Sốt rét là một loại bệnh đặc biệt trong các loại bệnh. Lúc ở nhà, Hà Nội đã có dịch sốt xuất huyết cũng rất đáng sợ. Vô tình uống thuốc hạ sốt để cơ thể bị hạ áp hay xuất huyết nội là rất dễ đi tong. Bây giờ vào chiến trường thì biết được sốt rét thế nào. Người ta bảo sốt rét là thứ bệnh đặc thù của lính Trường Sơn. Ai chưa từng sốt rét, chưa được công nhận là lính Trường Sơn. Trừ các anh bị sốt rét ác tính đa phần nằm lại rừng già không nói làm gì, còn ai cũng bị sốt rét và không phải chỉ một lần. Sốt rét có thể nóng lên đến 42 độ C mà không chết. Lúc sốt thì các khớp xương rã rời, ăn gì cũng đắng miệng. Có thuốc uống thì tốt, mà không có thuốc uống thì cứ vật vã độ dăm ba ngày cũng tự nhiên khỏi (có điều khi đó cái lá lách lại bị yếu đi một tí). Khỏi rồi thì thèm ăn, không có mà ăn thôi chứ có đủ thì khi đó lính dám ăn thi với Trạng ăn lắm.

               Tôi cũng không phải ngoại lệ. Vật vã ba ngày rồi thì tôi cũng có thể vác súng ra ngồi chốt đánh nhau được.

               Mùa mưa đã đến thật rồi. Bây giờ thì không còn có ngày nắng to nữa. Ngày nào gọi là không mưa thì bầu trời cũng u ám, còn đa phần là mưa. Mưa ở đây không giống mưa rào, cũng chẳng phải mưa bão như ngoài Bắc. Chẳng cần có gió thổi giật ầm ầm đổ cây cối, nhưng trời cứ mưa liên miên, lúc to lúc bé, rất dai dẳng. Lúc này mới thấy tác dụng to lớn của tấm ni-lon, không có nó thì gay. Mặc dù quần áo lúc nào cũng ẩm, gấu quần và tay áo luôn ướt, nhưng về đêm co ro một lúc thì nó cũng khô khô do hơi ấm của mỉnh nhả ra. Nếu lúc nào cũng ướt sũng chắc cảm lạnh mà chết, dù rằng khi đó đang là sức trai mười tám đôi mươi. Các căn hầm chữ A làm trên triền dốc đều được chúng tôi làm mái che cỏ tranh trên nắp nên về đêm vẫn có thể ngủ ngon trong hầm.

               Mùa khô ủng hộ quân ta, còn mùa mưa lợi thế thuộc về kẻ địch. Nói thế vì về căn bản do các đường giao thông của ta toàn ở trong rừng, lại là đường đất, sông suối ngăn cách nên mùa mưa khó vận chuyển, cả vũ khí và lương thực. Cùi cõng bằng sức lính thì mùa mưa cũng kém hơn. Thiếu cơ sở vật chất hơn địch, nên nói rằng chúng nó làm chủ cũng đúng thôi. Nhưng công bằng mà nói, vào mùa mưa địch nó cũng đóng căn cứ là chính, kết hợp lùng sục phát hiện quân ta để gọi bom pháo thôi chứ chúng cũng chẳng sức đâu mà lấn với dũi. Còn chúng tôi cũng chốt giữ là chính. Nhưng chẳng lẽ lại không đánh đấm gì, thế nên mùa mưa chúng tôi cũng rải quân ra khá rộng, luồn sâu tập kích các vị trí nhỏ của địch. Bọn cối 160 và DKB của trung đoàn thì làm trận địa, bắt bộ binh chúng tôi cùi đạn đến rồi thỉnh thoảng bắn ì ùm một hai phát vào tít mãi trong Phù Chiêng cách Pắc-xế hơn 10 cây số để dọa địch là chính. Thằng Khiêm (cái thằng cùng tiểu đội có cái đài 3 bóng khuếch đại thẳng mà tôi kể khi còn huấn luyện ở Bãi Nai ấy) được vào C16 là đại đội hỏa lực của trung đoàn. Thơm hơn nữa là nó lại được vào trinh sát pháo. Cái bọn trinh sát pháo thì chỉ khi đánh lớn chúng nó mới ra trận. Nằm ở cửa mở cùng bộ binh, lúc mở màn trận đánh thì quan sát điểm nổ để chỉnh độ ba bốn phát cho nó rơi vào trong trận địa, xong là hô cấp tập, thế là hết nhiệm vụ, rút lui luôn. Mà gọi là pháo cho oai, chứ thực chất chỉ là khẩu cối 160 ly. Chỉnh cho nó rơi vào chỗ nào trong cái căn cứ to tướng của địch là được, quan trọng nhất là đừng có đấm đít bộ binh.

               Cái thời chúng tôi mấy khi có đánh lớn, thế cho nên bọn hỏa lực E tôi chỉ làm nhiệm vụ tập kích và bắn trộm là chính. Thằng Khiêm lại là trinh sát pháo DKB nên chỗ quan sát của nó còn lâu mới ra đến tuyến trước. Tôi nghe nói DKB chính là một cái nòng của dàn hỏa tiễn Ca-chiu-sa 16 nòng tháo ra. Cả E có 2 nòng trang bị cho C16. Đạn của nó nặng hơn năm chục cân, phải chia đôi đầu và liều phóng cho hai thằng vác một quả. Bọn DKB thường làm trận địa cách xa bộ binh (vì chẳng đời nào chúng tôi cho chúng nó làm gần cả, để tránh bị phản pháo oan). Chúng nó thường làm trận địa ở khe núi để ngụy trang tiếng vọng nổ đầu nòng. Phần thóat khói phụt ra khi bắn phải đào cả một cái hầm to theo kiểu bếp Hoàng Cầm để giấu khói. Thế mà lần nào cũng chỉ vừa bắn đi một quả là có L19 lượn đến chỉ điểm cho pháo địch bắn tới, hoặc T28 đánh bom. Ngày nào may lắm, nhìn trước nhìn sau cẩn thận mới bắn được 2 quả. Có ngày chẳng bắn gì. Tiếng nổ và bay của DKB to lắm, nên cứ khi nào bọn C16 bắn là chúng tôi biết ngay. Nhưng phải thừa nhận là bọn DKB giấu trận địa rất khéo. Suốt thời gian ở trong đó, bắn không phải là ít, bị bom và phản pháo cũng nhiều, thế mà không lần nào trúng vào trận địa chính. Bọn linh DKB số thọ lâu thật.

               Thằng Khiêm là trinh sát pháo đấy, nhưng chưa một lần nào nó phải vào gần Phù Chiêng quan sát. Vào đấy thì làm gì có điện đài, hữu tuyến thì lại càng không thể có. Nó kể là phải leo lên cây cao dùng ống nhòm quan sát để hiệu chỉnh nhưng tôi chả tin. Chả có cái cây nào đủ cao và cái ống nhòm nào có đủ tầm xa để nó nhòm vào Phù Chiêng từ cách xa hơn chục cây số.

              Sau cái đợt đánh nhau ở đường 231 rồi tôi bị sốt ít ngày ấy, B tôi được rút về cái giông đồi cao ở phía Bắc cách xa Huội Chăm-pi tới hơn cây số làm nhiệm vụ cùi cõng. Mưa suốt ngày nên nước suối lúc nào cũng dâng cao như có lũ. Bọn công binh E kiếm dây rừng bện thành một sợi rất to căng ngang suối sát mặt nước. Lính tráng khi qua thì bám dây bơi sang, người vuông góc với dây, từ trên cao nhìn xuống trông cứ như cái giẻ vắt trên cây sào. Còn gạo và đạn thì cho vào bao ni-lon chằng dây hai đầu kéo sang. Có chục bao vừa gạo và đạn đưa qua suối cũng hết cả buổi. B nằm chốt bên bờ Nam với B làm vận chuyển bên bờ Bắc, chả biết thằng nào cực hơn thằng nào. Đấy là chưa kể một B còn phải chuyển gạo đạn từ hậu cứ xa hàng mấy tiếng đồng hồ ra đây nữa.

               Suốt thời gian đó chúng tôi chỉ có ăn cơm nếp với muối, vì cũng hết vừng. Muối cho lẫn vào gạo lúc vo. Bây giờ tuy là mùa mưa, nhưng cái hướng ra tuyến trước này của chúng tôi là các núi cao, rất xa các bản. Trong rừng này không có cái giống tre nứa nên cũng không có măng. Chỉ có khu bãi chuối nơi tôi canh tử sĩ độ trước là có chuối rừng, Tranh thủ lúc chuyển gạo đạn ra tuyến trước, khi về chúng tôi tạt qua chặt lấy gốc của nó đem về ăn cho đỡ xót ruột. Nhưng cũng không thể ăn mãi được. Ngày ở nhà ăn bún hay bánh đúc cua mong có tí rau chuối ăn vào cho ngon miệng là vì ăn ít và có canh cua quá ngon nó đỡ cho thôi, chứ bây giờ ngày nào cũng ăn cơm nếp xong rồi lôi một khúc thân chuối ra nhai thì nó cũng vô vị và khó nuốt lắm.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lixeta trong 10 Tháng Tư, 2010, 11:43:26 AM
He...He...!
Quê lại nhắc đến mùa mưa làm tôi thấy ... rùng mình. Chả thế mà ở B4 có câu ca... rao thế này: "Bao giờ mùa nắng; Ta thắng Mỹ thua; Còn đến mùa mưa, Ta thua Mỹ thắng"... ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 18 Tháng Tư, 2010, 10:30:22 AM

               Cùi cõng được vài ngày thì địch bắt đầu dò ra con đường mòn đạp trong rừng từ giông đồi chỗ B tôi đóng quân ra bờ huội Chăm-pi. Thế là không kể giờ giấc, cứ thích lúc nào là chúng nó lại nện pháo vào dọc con đường đó. Mỗi ngày độ dăm bảy đợt, mỗi đợt chỉ 15, 20 quả mà gây cho lính vận chuyển tâm lý nặng nề. Đại đội cho tăng cường đào thêm hầm chữ A dọc con đường đó. Đào kiểu lấn dũi, dựa vào hầm cũ trú ẩn khi pháo bắn để đào thêm hầm mới. Những đoạn toàn vách đá không đào được hầm thì đành chịu, trước khi qua đó dừng lại nghe ngóng một hồi phán đoán tình hình rồi khẩn trương ù té qua.

               Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, các cụ dạy cấm có sai. Sau nhiều lần cùi cõng qua đó, vừa đi vừa chạy tránh pháo thì một buổi chiều đầu tháng sáu, năm người chúng tôi vừa đến đúng cái đoạn đường đá không có hầm thì bị pháo dập. Cả bọn nép mình vào một bên bờ đá, lấy cùi gạo che người. Bị pháo bắn mà nằm trơ ra trên mặt đất thì chỉ còn mỗi cách cầu mong ông bà ông vải phù hộ thôi. Bỗng tôi thấy cánh tay trái tê dại, nhìn vào máu chảy toe toét. Không phải một mà có đến 3 mảnh găm vào tay. Tôi kêu to "Em bị thương rồi". Thêm vài quả nữa thì pháo địch ngừng bắn. Một anh lính cũ đến bên xé băng cá nhân ra băng cho tôi. Cái cùi gạo tôi ôm bên người cũng bị vỡ bục. Thế mà bốn anh kia lại không ai hề hấn gì. Các anh ấy xan gạo của tôi sang cho các anh ấy, dìu tôi đến đoạn có hầm cho chui vào đó rồi đi tiếp. Tôi phải nằm chờ đến hơn một tiếng, các anh ấy quay lại mới đưa tôi về chỗ trú quân trên đỉnh đốc.

               Buổi tối nằm trong hầm với cái tay băng chặt thấy nhức lắm. Lúc tối anh y tá xem cho tôi bảo là chỉ vào phần mềm thôi, chưa chạm xương. "Chú mày chưa đủ tiêu chuẩn ra Bắc đâu. Mai cho về hậu cứ, lên trạm xá Trung đoàn nghỉ ít ngày rồi lại về với anh em. Nếu cái mảnh nó bé thì cứ để im trong đó, không phải mổ gì hết". Tôi sợ không dám nói gì, nhưng vẫn nghĩ là về trạm xá nhất định phải xin mổ chứ mảnh nó nằm ngay bắp tay thế này vướng lắm. Lại nhớ chuyện thằng Phúc "chó" cùng A với tôi ngoài Bắc. Nhà nó ở phố Bạch Mai gần Trại Găng. Ngày còn học sinh đi sơ tán về quê Ninh Bình có lần bị máy bay Mỹ thả bom bi. Nó bị 3 viên vào mông, nhưng vì viên bi nó tròn, mông lại lắm mỡ nên bác sĩ không mổ vì bi nó chạy, không nằm yên một chỗ. Ông ấy bảo mỡ nó sẽ bọc viên bi lại, không có vấn đề gì hết. Thế nhưng thằng Phúc kể là nhiều khi ngồi mà nó vẫn có cái cảm giác cộm trong mông. Ngày đi dã ngoại ở Tân Lạc, một lần ra bờ đập tắm cùng tôi, nó kêu ngứa rồi chổng mông cho tôi xem. Tôi thấy có một vết đen rất rõ, sờ tay vào cảm nhận được cả viên bi. Rồi nó nghiến răng gãi và cào thế nào đó mà bật được ra cả một viên bi giống như viên bi xe đạp. Cái chỗ đó hở ra một lỗ, rỉ nước vàng mà không chảy máu. Chỉ mấy hôm sau là chỗ đó thành sẹo. Rồi nó cứ cầu mong cho 2 viên bi còn lại chạy tiếp ra phía ngoài da như thế để cậy, nhưng chuyện đó không xảy ra nữa.

               Hôm sau, có 2 A về hậu cứ lấy đạn và tôi được về cùng. Bây giờ tôi mới được biết hậu cứ của đại đội mình. Cứ C6 nằm trên hai khoảnh rừng cách nhau một con suối nhỏ. Lòng suối chỉ rộng hơn mét, rất sâu. Lối đi qua suối được bắc bằng mấy cây gỗ ghép lại. Sát hai bên bờ suối toàn chuối rừng. Chỗ này chỉ cách tiểu đoàn bộ, nơi chúng tôi đã ở mười ngày khi mới được bổ sung về tiểu đoàn dạo nọ chừng sáu bảy trăm mét. Rừng già, cây to nhưng chỉ đi độ trăm mét là ra đến nương của dân. Nương của dân thuộc một Bản gần đó có tên là Xăm-xi-núc May. Chữ "may" trong tiếng Lào là "mới". Bản Xăm-xi-núc Cầu ("cũ") cách đó chừng hai cây số. Có lý do gì đó nên dân bản chuyển chỗ để lập bản mới. Trên cao nguyên Bô-lô-ven có mấy cặp bản có đuôi tên là "cầu" và "may" như thế, nhưng trên bản đồ thì chỉ có bản "cầu" thôi. Bản cũng chỉ hơn chục nóc nhà. Tất cả những điều đó là về sau mới biết chứ lúc đó tôi chưa được ra bản.

               Về đến hậu cứ lại phải nằm thêm một đêm nữa với cái tay nhức. Bây giờ mà ai có nhọt hoặc là sứt sẹo chỗ nào đó là được chỉ định kiêng của nếp. Nhưng lúc đó chỉ toàn ăn gạo nếp nên cũng chẳng ai nói kiêng dè gì, có lẽ vì thế mà mấy cái vết thương bé tẹo của tôi gây nhức chăng. Nói bé tẹo, vì hôm sau lên D bộ, Y sĩ tiểu đoàn là anh Soạn xem rồi bảo: để đấy tao giải quyết. Anh ấy cho một người giữ tay tôi, tiêm mấy mũi No-vo-ca-in vào cạnh vết thương rồi dùng panh ngoáy vào gắp ra được mấy mẩu đá bằng cái hạt bưởi. Hóa ra là tôi bị mảnh đá bắn vào chứ không phải mảnh pháo, nên nó mới chỉ vào phần mềm thôi. Anh Soạn bảo nếu là mảnh pháo thì nó phải cắm vào đến xương rồi. Thế là tôi không phải về Trạm xá của E nữa. Tuy là vết thương mảnh đá, nhưng anh Soạn vẫn giữ tôi lại cho nghỉ cùng D bộ 3 ngày rồi mới trả về C. Vết thương chỉ bôi thuốc đỏ, để hở nhưng rất nhanh khô và lành. Về đến C tôi lại được nghỉ thêm 3 ngày, chỉ xuống anh nuôi giúp việc lặt vặt là coi như khỏi hẳn.

               Trong tuần đó, cả đại đội tôi cũng lục tục trở về hết khu hậu cứ. Đánh đấm nhẹ nhàng hơn nên chỉ còn có một C5 ở lại chỗ huội Chăm-Pi khu vực bản Soan. Nghe nói chúng tôi sẽ mở hướng sang phía Nam đường 23, mạn đông khu Lào Ngam. Cái vùng này vẫn rất nhiều núi cao, rừng rậm, bản làng thưa thớt. Tôi vẫn ở tiểu đội anh Trịnh. Bây giờ anh ấy là A trưởng, nhưng vẫn giữ B40. Trung đội tôi là B5, trung trưởng là anh Quân, người dân tộc Mường ở Hòa Bình. Anh này không to con, nhưng rắn chắc, nhanh nhẹn, cặp mắt sáng rất khôn và nói năng mạnh bạo đâu ra đấy, chẳng có vẻ dân tộc tẹo nào. Trung đội tôi nằm ở cái dẻo rừng cách biệt với đại đội một con suối nhỏ tí ấy. Bếp ăn của C và của B tôi nằm hai bên suối. Ở đây là hậu cứ nên chúng tôi đào hầm rất cẩn thận. Hầm trú ẩn là chữ A vững chắc, cạnh đó là hầm thùng để sinh hoạt và ngủ. Bên trên chúng tôi làm lán, đơn sơ nhưng vững chắc, mái lợp cỏ tranh mưa to mấy cũng không dột. Mỗi A một lán. Trong hầm làm sạp nằm ghép bằng nứa. Chỉ có mỗi đường đi là trơn vì bùn đất thôi. Chúng tôi làm công trình phụ hẳn hoi chứ không được dùng hố mèo. Trung đội tôi nằm ở đây chặn con đường đi từ phía nương dân vào. Chỉ trừ thám báo luồn lách thôi chứ địch muốn vào tất phải đi qua con đường này.

               Cần nói thêm là bọn lính Lào đi rừng rất giỏi. Lính mình dù trong lý lịch quân nhân khi xuất ngũ về có ghi là "Sở trường hoạt động rừng núi" đấy, nhưng trình độ luồn rừng thì không bao giờ bằng lính bản địa được. Tuy tuyến trước có thể cách hậu cứ chúng tôi dăm tiếng đi đường, nhưng chuyện cả một trung đội địch hơn chục thằng có thể luồn rừng xuất hiện tại các khu hậu cứ của chúng tôi rồi tổ chức phục kích, đánh ù một trận bất ngờ rồi biến mất nhanh chóng không phải là chuyện hiếm. Năm ngoái ngay gần tại khu hậu cứ của trung đoàn, an toàn đến mức pháo địch không bắn tới, lúc họp đơn vị có thể cùng nhau hát vang bài "Giải phóng miền Nam", thế mà địch cũng bí mật mò tới được. Chúng phục kích tại một ngã ba vườn cà phê bắn chết E phó Mịch và cậu liên lạc đang trên đường đến một D gần đó. Từ đó về sau ngã ba ấy được mang tên "Ngã ba ông Mịch".




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 24 Tháng Tư, 2010, 08:32:26 AM

              Về trung đội được một hôm thì hôm sau cả B tôi phải sang Nam đường 23. Ở trong lính có lẽ từ cấp đại đội trở lên không có cái kiểu đi hoạt động lẻ và ăn mảnh, vì đội hình của cả C thì hơi đông. Thế nhưng từ cấp B trở xuống A, hay một tổ khi đi hoạt động lẻ thì tức là đã được tự do. Cả trung đội hơn chục người bảo nhau cũng dễ, biết giữ bí mật và lúc cần huy động sức người thì cũng có đủ. Thông thường đi lẻ một B là sẽ có 1 cán bộ C đi theo. Đại phó Hùng thường đi với B5, nhưng tính ông này cũng bạt mạng lắm, hợp với lính nên cũng coi như anh em một nhà. Lần này B tôi đi độc lập không có C phó, sang hướng Nam đường nhưng không phải là lập chốt đánh nhau mà chỉ là đi thăm dò địa hình. Có lẽ cũng đã biết hướng này đang an toàn vì đã từng đi nên anh Quân B trưởng tự tin lắm. Đi khỏi hậu cứ chừng 3 tiếng, anh ấy bảo tất cả đi chậm lại phía sau, để anh ấy đi lên trước cách xa anh em tới năm chục mét. Vùng này thường hay có hoẵng, khỉ và anh ấy có ý định săn bắn cải thiện. Cứ đi như thế rất lâu thì chúng tôi nghe "đoàng" một tiếng, rồi nghe tiếng anh ấy gọi. Chạy lên đã thấy anh ấy đứng đó, dưới chân là một con khỉ vàng rất to. Nó bị bắn trúng đầu nên rơi thẳng từ trên cây xuống đất. Chúng tôi chặt gậy, lấy dây buộc rồi khiêng đi. Đến một khu rừng khá rậm, có một con suối thì anh Quân cho tất cả dừng lại nghỉ chân. Anh ấy cắt cử người sục sạo cảnh giới và cho làm thịt con khỉ. Mấy anh thạo việc xắn một tay giúp anh nuôi. (C tôi có 3 anh nuôi, nếu có một B đi lẻ thì có 1 anh nuôi đi cùng). Cách làm thì cũng na ná như làm thịt chó, cũng thui vàng. Con khỉ này thuộc giống nào không biết, nhưng rất to, phải đến hơn chục cân. Các anh ấy bỏ đầu đi cho nó đỡ ghê, còn lại luộc tất. Mà cũng chỉ làm được thế thôi chứ không thể làm gì hơn. Rau ăn kèm có ít kiệu tươi lấy từ nương dân ở hậu cứ. Đây là lần đầu tiên tôi được ăn thịt thú rừng. Thịt khỉ ăn lúc đầu thì thấy nó hơi gây gây, nhưng đói nên cứ chén tràn. Chiều và đêm hôm ấy chúng tôi nghỉ luôn tại đấy.

               Hôm sau chúng tôi lần mò sang Nam đường. Đoạn đường này còn cách xa địch nên vượt qua rất dễ dàng. Ở đây, quân ta chỉ chốt chặn địch theo khu vực chứ không chốt theo tuyến đường. Bây giờ mà cứ thẳng đường 23 này đi về phía Tây thì sẽ tới thẳng căn cứ của địch. B chúng tôi đi lần này không có trinh sát tiểu đoàn, không có thông tin vô tuyến đi cùng. Anh Quân chỉ nhận nhiệm vụ miệng và cầm bản đồ địa bàn rồi dẫn chúng tôi đi thôi. Không biết có phải vì anh ấy là người dân tộc, cũng đã thạo đi rừng hay vì anh ấy đã thạo khu vực này mà dẫn chúng tôi đi rất tự tin. Đi lẻ kiểu này cũng gần như trinh sát. Chả có đào hầm hố gì cả. Đến đêm thì bố trí quân, mắc võng ngủ và chia nhau canh gác. Chủ trương là không tác chiến, nếu không phải là đường cùng. Sang đến Nam đường thì chúng tôi cẩn thận hơn, không có săn bắn gì nữa. Sục xạo trong mấy cánh rừng suốt hai ngày đến cách cái khu Lào Ngam một con suối mà không thấy có gì thì chúng tôi quay lại, rồi trở về đơn vị. Sau này khu Nam đường được giao cho D tôi chốt giữ suốt mấy tháng mùa mưa.

               Gần cuối tháng sáu, trung đoàn tôi nhận một đợt tân binh Nam Hà. Đại đội tôi được nhận mười lính, A tôi được một người. Lính Hà Nội chúng tôi chỉ vào trước chúng nó có hai tháng nhưng đương nhiên được coi là lính cũ hơn rồi. Chả gì thì cũng đã đánh vài trận, bắn đì đòm vài băng đạn và chạy bom chạy pháo chí chết chục lần. Đảm bảo hơn hẳn về cái đoạn nghe tiếng pháo rít biết đạn nó rơi thế nào. Nhưng nói vậy thôi chứ các anh cũ đã đối xử với chúng tôi ân tình thế nào thì chúng tôi cũng đối xử với chúng nó như thế.

              Hướng Lào Ngam phía Bản Soan được bàn giao cho K15. Toàn bộ D tôi rút về để chuẩn bị sang hướng Nam đường 23. Mùa mưa chốt chặn là chính. Mỗi hướng thường chỉ có 1 C đứng chân phía trước, còn các C khác cùi cõng để tiếp tế. Sau một tháng lại đổi nhau trong cùng tiểu đoàn. Chúng tôi xác định công việc trong vài tháng tới sẽ chủ yếu làm công tác vận tải. Xe ô-tô của mặt trận chỉ chở hàng cho chúng tôi vào đến khu hậu cứ trung đoàn, sau đó chúng tôi phải tự cùi cõng về đơn vị. Hậu cứ đơn vị nào xa nhất thì cũng chỉ cách kho trung đoàn độ năm sáu tiếng. Nhưng từ đó ra đến phía trước lại vài tiếng đi đường nữa. Vì thế các D phía sau ngoài việc cùi cõng cho mình còn phải làm vận tải trung chuyển cho D ở tuyến trước. Một lần hứng lên, trung đoàn cho một cái xe "Giải phóng" chở đạn đến tận vùng hậu cứ D tôi để lính tráng đỡ cùi cõng một ngày đường. Xe ô-tô cứ dựa vào đường xe bò mà đi qua các bản. Không may cái bản Xăm-xi-nuc "may" gần hậu cứ D tôi là con đường cụt, đường do dân mở chưa hẳn thành đường xe bò nên đến cách D tôi chừng cây số thì cái ô-tô bị sa xuống suối đất. Càng rú ga càng lún, bánh xe quay tròn phá rộng cả một bên bờ suối. Đến lúc bị lầy gần kín bánh thì cái xe chịu thua. Ba đại đội trong K18 chúng tôi được huy động quân ra kéo xe. Hơn một trăm con người do D phó Khanh chỉ huy bắt đầu cứu xe từ sau bữa cơm trưa. Chúng tôi phải bốc chuyển đạn lên xa bờ, sau đó kiếm dây rừng bện lại thành thừng buộc vào xe để kéo. Không khí chả kém gì quân ta kéo pháo vào Điện Biện năm xưa, có khi còn khí thế hơn vì chúng tôi phải hò dô ta vang cả một vùng rừng. Có điều là kinh nghiệm kém nên có vẻ như càng kéo cái xe càng bị lầy hơn, đến giữa chiều mà nó vẫn nằm im. Không biết ai dân vận ở đâu mà sau đó mượn được một con voi của dân bản. Lúc đầu lính tráng ngồi trên bờ xem người dân chỉ huy con voi kéo xe. Nhưng thật tội nghiệp cho chú voi vì cái xe bị lầy chắc chắn nặng gấp mấy lần nó. Nó rướn người kéo cong cả vòi, rống lên ồ ồ như gọi thêm bầy đàn giúp sức mà cái xe chỉ hơi rung rinh. Tin chắc một mình con voi không thể thay thế hơn trăm thằng lính "sốt rừng" chúng tôi nên cuối cùng D phó Khanh quyết định hợp lực. Thế là lại phải cho người về hậu cứ lấy xẻng ra bạt lại đường cho đỡ dốc, rồi vừa voi vừa người cùng bâu vào kéo. Lại phải cử chục thằng vác các khúc gỗ chèn dần vào bánh xe. Cuối cùng thì ta nhất định thắng, cách mạng bao giờ cũng thành công. Trời vừa tối không nhìn rõ mặt người thì cái ô tô đã nằm ngon lành trên đường. Tay lái xe nổ máy cho xe ô-tô cút thẳng về trung đoàn. Chẳng biết con voi được dắt đi lúc nào và có được bồi dưỡng cái gì cho lại sức không. Còn chúng tôi thì lại phải chia nhau số đạn bốc ra từ ô-tô để mang đến nhập vào kho trung chuyển, làm nốt nhiệm vụ mà cái xe ô-tô bỏ lại. Chúng tôi về đến nhà vào lúc gần nửa đêm. Thằng nào cũng bẩn bê bết bùn đất. Ăn suất cơm tối xong là về lán lăn ra ngủ, bẩn cũng chưa chết ngay đâu mà phải sợ.

               Hôm sau tất cả được nghỉ một buổi sáng. Nghĩ lại chuyện hôm qua mà rùng mình. Nếu như bọn thám báo nó mò ra chúng tôi lúc ấy, gọi B52 hoặc T28 đến ném bom, chắc D tôi xóa sổ. Thầm mong cái chuyện vận tải cùi cõng ra tuyến trước, thôi từ nay cứ để đấy cho sức lính chúng tôi. Chúng tôi như những con kiến tha lâu cũng đầy tổ, bày đặt cái chuyện vận tải ô-tô mà không tổ chức tốt, thì "hiện đại" đúng là "hại điện". Cầu được, ước thấy, từ đó về sau không còn có chuyện ô-tô chở hàng vào đến vùng hậu cứ chúng tôi nữa.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: hoi76 trong 24 Tháng Tư, 2010, 01:28:01 PM
Câu chuyện chú trongc6 kể cháu nghe khá giống với những câu chuyện bố cháu kể ngày xưa, dân Lào quý bộ đội Việt Nam. Chờ bài của bác đã lâu, trưa nay cháu có việc không được ngủ lại được đọc bài mới. Cám ơn chú !


Tiêu đề: Re: Ngày này 35 năm trước... 1975
Gửi bởi: vitính trong 30 Tháng Tư, 2010, 06:44:36 AM
Chuyện của anh bạn tôi, lính phòng không A72
Ảnh: Báo Chiến sĩ Giải phóng ngày 17/5/1975


(http://lh3.ggpht.com/_e1j2gjyaF1c/SgV4oqxH1BI/AAAAAAAAFAI/DKaE8jGJd4E/s640/LDC2mdf.jpg)

Thời gian sau 35 năm ,chiều 29/4 năm 1975 các đơn vị hổn hợp mũi nhọn của QĐ2 trong khí thế hừng hực,say sưa chiến thắng,được lệnh hành quân hướng về phía Sài Gòn.Từ đầu chiến dịch C15 -A72 thuộc F673 của chúng tôi luôn bám sát đội hình.Trung đội do Tôi phụ trách có 3tiểu đội thì 1 tiểu đội đi phối thuộc cho F304,1 tiểu đội bảo vệ cho lữ Tăng 203,Tôi được trực tiếp phụ trách một tiểu đội bảo vệ QĐ bộ.Thực ra thì nhiệm vụ này được bắt đầu từ sau cái ngày 17/4,ngày bắn được cái F5E.Khoảng 17h đội hình chiến đấu hợp đồng quân binh chủng xuất kích từ căn cứ Nước Trong đã ra đến lộ 15.Ngay từ chiều mặt dù các lực lượng Ta đánh rất mạnh,nhưng địch vẫn chống trả quyết liệt.Các loại máy bay phản lực F4, F5 vẫn gầm rít trên bầu trời .Đã nhiều lần vác đạn trên vai,đã thay nhiều nguồn pin đến nóng rát cả bàn tay,nhưng không thể bắn được vì chúng bay quá cao, đã là lính thì nếu có cơ hội là nhả đạn.Các loại pháo cao xạ lúc này sẵn sàng nổ súng .Chúng quần lượng không đánh vào đội hình rồi theo hướng Biển bay thẳng.Lúc này vào khoảng 21h đoàn quân đã ra gần đến xa lộ thì được lệnh dừng lại.Phía trước bộ đội Đặc Công đang chiến đấu quyết liệt với địch giữ cầu xa lộ.Từ các đài quan sát địch vẫn theo dõi các hướng tiến công của ta.BTL quân đoàn ra lệnh các loại pháo hạ nòng bắn thẳng vào hỏa lực đich.Suốt đêm 29/4 chúng tôi vẫn phải chờ phía trước mở đường.Lúc này anh,em cử nhau cảnh giới còn lại tranh thủ nghỉ dưới gầm xe và bờ bụi quanh đó.nói là nghỉ nhưng không ai ngủ được,súng đạn lúc nào cũng lăm lăm trong tay,vì tàn binh địch đâu đó còn nhiều lắm.
-Mờ sáng ngày 30/4 tất cả đã sẵn sàng.Khoảng 9h có lệnh hành quân ,cả đoàn quân ào ào như Thác đổ,ra đến xa lộ các loaị xe lao vun vút tiến về hướng Sài Gòn trong tiến reo hò,vẫy chào cũa nhân dân hai bên đường,nhưng cũng không tránh khỏi những ánh mắt sợ hải,những khuôn mặt cúi gầm xuống lầm lủi đi bên lề đường, đó là những lính ngụy lột hết quân phục để thoát thân,xác giặc chết ngổn ngang nằm dọc xa lộ đầu hướng về thành phố.Không thể nói hết được cái rạo rực lúc bấy giờ.
-Trước mặt chúng tôi là cổng Dinh Độc Lập bị húc đổ trước đó ít phút,lúc này, dân Sài Gòn đổ về đây đông nghịt,họ tranh nhau xin được chụp ảnh với bộ đội,xin được làm những gì gì đó nhiều lắm.Khó có thể nói hết những gì vào cái ngày lịch sử này.Đã 35 năm trôi qua nhưng những ngày này, kỷ niệm về một thời đi đánh giặc vẫn còn đó

Ít nhất có một chuyện nhầm, là chiến trường khi đó làm gì có F4, ở VN thứ này chỉ thuộc không quân Mỹ thôi chứ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 30 Tháng Tư, 2010, 06:57:07 AM
Bố mày quen miệng, lúc ấy Không lực VNCH chủ yếu chỉ có A7,F5...Một cái nhần nữa là thượng sĩ nhưng các bài viết và sách đã phong cho ông này lên Thiếu úy.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: minhnam1803 trong 30 Tháng Tư, 2010, 07:56:10 AM
F4 của Mỹ bay bảo vệ cầu hàng không di tản ?

Em nghe nói ngoài ra còn có cả F14?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 30 Tháng Tư, 2010, 08:06:32 AM
F4 của Mỹ bay bảo vệ cầu hàng không di tản ?

Em nghe nói ngoài ra còn có cả F14?
Khoảng thời gian này Mỹ đang tiến hành chiến dịch "Kẻ Liều mạng" di tản người, máy bay mà bác, trong biên đội tàu của Mỹ có tàu sân bay đang ở ngoài khơi Vũng tàu. Khả năng là có máy bay F4 Hải quân Mỹ. Trong bài cũng nói là bay thẳng ra biển.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 30 Tháng Tư, 2010, 08:08:10 AM
Bố mày quen miệng, lúc ấy Không lực VNCH chủ yếu chỉ có A7,F5...Một cái nhần nữa là thượng sĩ nhưng các bài viết và sách đã phong cho ông này lên Thiếu úy.
PQ gõ chữ thiếu, A37 chứ.
À, chuyện F4 Hải quân Mỹ bảo vệ di tản thì mình không biết thật.
Bác Đại Cương này còn nhầm phiên hiệu F367 thành F673, gõ nhịu?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: q.trung trong 30 Tháng Tư, 2010, 09:32:25 AM
Đường hành quân ven biển,có thể có không quân của hải quân Mỹhoạt động nhưng người Mỹ tôn trọng hiệp định, không cho máy bay vào sâu trên đất liền, nên máy bay Cương nói là F4 thì có thể là loại gì đó của NAVY, Loại có thể cất cánh hạ cánh trên tầu sân bay, thực ra tất cả các điều đó là không quan trọng, quan trọng là người lính phòng không dũng cảm nhằm thẳng vào quân thù, bảo vệ đội hình mà không bỏ chạy, nhà báo khi làm phóng sự vào thời điểm sau này(khi đã có quyết định phong quân hàm) anh ta không thể để ý lúc nhân vật bấm nút phóng đạn  đang mang quân hàm gì, điều đó có thể hiểu được, xin cung cấp thêm cho các bạn một thông tin nữa, người bắn rơi máy bay trong ảnh sau này chính là Thượng tá công an đánh sập vụ Hang Dơi- Lạng sơn, tuy nhiên ông phang nhầm ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 30 Tháng Tư, 2010, 09:59:05 AM
Khi đánh hang Dơi hình như trung tá thôi, thượng tá là hàm... về hưu.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taydoc711 trong 30 Tháng Tư, 2010, 10:35:38 AM
F4 của Mỹ bay bảo vệ cầu hàng không di tản ?

Em nghe nói ngoài ra còn có cả F14?
Khoảng thời gian này Mỹ đang tiến hành chiến dịch "Kẻ Liều mạng" di tản người, máy bay mà bác, trong biên đội tàu của Mỹ có tàu sân bay đang ở ngoài khơi Vũng tàu. Khả năng là có máy bay F4 Hải quân Mỹ. Trong bài cũng nói là bay thẳng ra biển.

 Liệu có sự thỏa thuận ngầm gì không các bác? Chứ theo bà cô ruột em, chồng bà ấy là **//trưởng phòng hành quân của sân bay Cần Thơ ( Ông này là em ruột của Nguyễn Văn Cử ném bom dinh Gia Long năm 1962 cùng với bác Phạm Phú Quốc ). Bà ấy nói : 29/4 cô ngồi trên máy bay để bay ra hạm đội 7, từ trên không nhìn xuống thấy khói đạn mịt mù nhưng không có viên đạn nào bắn lên cả con ạ.

 Sau đó bà cô em còn hỏi em : Năm mất nước con mấy tuổi? Làm em ớ người ra không hiểu gì cả?!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dksaigon trong 30 Tháng Tư, 2010, 11:04:03 AM
@taydoc: ngày 29 đúng là có F4 bay bảo vệ trực thăng Mỹ di tản nhưng bay cao và không thấy có đạn từ dưới bắn lên F4 với F5 dễ phân biệt qua nhìn cánh máy bay, F5 là của không lực VNCH bay trốn chạy ra biển đông thì thấy có đạn phòng không bắn lên, nghe nói là lính VNCH trong cơn tuyệt vọng đã bắn những chiếc F5 tháo chạy, không phải phòng không của quân giải phóng !
Có hay không sự để yên cho máy bay Mỹ di tản cho xong việc thì không rõ, nhưng ngoài mấy loạt phòng không bắn F5 thì bầu trời ngày 29 rất yên tĩnh và F4 cũng bay rất cao !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 30 Tháng Tư, 2010, 11:41:04 AM
Cứ theo những gì đọc được thì vào những ngày cuối mục tiêu của quân GP không phải là tiêu diệt sinh lực đối phương mà là giành quyền kiểm soát. Bởi vậy nếu đối phương không chống trả thì các mũi tiến công cũng không dùng đến hỏa lực.
Anh bạn tôi cũng trả lời rằng: "Ngày đó chắc vẫn có F4 hay loại nào đó HT à,vì chiều 29/4 ĐC vẫn thấy có mấy tốp vỉ ruồi quần đảo khu vực Long Thành.ĐC định làm thêm vài quả cho sướng,nhưng nó bay cao quá.Chắc nó ở căn cứ nào đó bay vào để làm oai cho bọn rút chạy."


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: minhnam1803 trong 30 Tháng Tư, 2010, 01:04:54 PM
Bố mày quen miệng, lúc ấy Không lực VNCH chủ yếu chỉ có A7,F5...Một cái nhần nữa là thượng sĩ nhưng các bài viết và sách đã phong cho ông này lên Thiếu úy.
PQ gõ chữ thiếu, A37 chứ.
À, chuyện F4 Hải quân Mỹ bảo vệ di tản thì mình không biết thật.
Bác Đại Cương này còn nhầm phiên hiệu F367 thành F673, gõ nhịu?

Không nhầm đâu bác ạ. Đó là Sư đoàn phòng không 673 nằm trong đội hình cơ hữu của Quân đoàn 2. Hình như F trưởng của Sư này bị du kích mình bắn nhầm khi ông ngồi trên xe Jeep mạn BÌnh Thuận...

http://www.quansuvn.net/index.php/topic,8162.55/wap2.html

Trích dẫn
Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết tâm, tập trung lực lượng chủ yếu gồm các sư đoàn bộ binh 304, 325, lữ xe tăng thiết giáp 203, sư đoàn phòng không 673, lữ pháo binh 164 thực hành đột phá từ điểm cao 43 đến ngã ba Phước Lộc theo hướng đường số 15, ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ vào Sài Gòn. Sư đoàn 304 đảm nhiệm mũi đột kích chủ yếu vào căn cứ Nước Trong, Long Bình, cầu Xa Lộ. Sư đoàn 325 đảm nhiệm mũi đột kích chủ yếu vào căn cứ Nước Trong, Long Bình, cầu Xa Lộ. Sư đoàn 325 đảm nhiệm mũi đột kích quan trọng vào chi khu Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Cát Lái.


http://www.quansuvn.net/index.php/topic,8162.50/wap2.html

Trích dẫn

Trên đoạn đường từ Phan Rang tới Phan Thiết có mấy cuộc hội ngộ khó quên. Sư đoàn trưởng Tự cùng vài cán bộ tham mưu của sư đoàn cao xạ rẽ vào một làng ven đường. Du kích thấy họ ngồi trên xe Zeep tưởng rằng lính ngụy, bèn bắn một trái B.40. Sư đoàn trưởng Tự bị thương nặng và hy sinh. Được tin này tôi lặng người đi vì thương tiếc anh. Khi biết là đồng chí mình thì mọi việc đã rồi. Ở khu vực đội hình của lữ đoàn thiết giáp 203 cũng gặp trường hợp tương tự. Du kích nổ súng. Anh em 203 tưởng bọn tàn quân ngụy, cho xe bao vây bắt sống. Khi bắt sống được rồi mới biết là các đồng chí du kích, thế là ôm nhau khóc.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 30 Tháng Tư, 2010, 01:18:36 PM
Bác Đại Cương này còn nhầm phiên hiệu F367 thành F673, gõ nhịu?
Không nhầm đâu bác ạ. Đó là Sư đoàn phòng không 673 nằm trong đội hình cơ hữu của Quân đoàn 2. Hình như F trưởng của Sư này bị du kích mình bắn nhầm khi ông ngồi trên xe Jeep mạn BÌnh Thuận...
Lại không biết nữa rồi. Cám ơn nhé.
Vừa hỏi lại anh ĐC, F673 tách từ 367 rồi sau nhập lại về 367 trong TSN. Buổi trưa anh ĐC bắn rơi cái F5E thì buổi chiều ông Tự Sư trưởng bị bộ đội địa phương bắn nhầm, hi sinh cả 6 người. Có trong hồi ký Nguyễn Hữu An.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 30 Tháng Tư, 2010, 04:05:55 PM
@taydoc: ngày 29 đúng là có F4 bay bảo vệ trực thăng Mỹ di tản nhưng bay cao và không thấy có đạn từ dưới bắn lên F4 với F5 dễ phân biệt qua nhìn cánh máy bay, F5 là của không lực VNCH bay trốn chạy ra biển đông thì thấy có đạn phòng không bắn lên, nghe nói là lính VNCH trong cơn tuyệt vọng đã bắn những chiếc F5 tháo chạy, không phải phòng không của quân giải phóng !
Có hay không sự để yên cho máy bay Mỹ di tản cho xong việc thì không rõ, nhưng ngoài mấy loạt phòng không bắn F5 thì bầu trời ngày 29 rất yên tĩnh và F4 cũng bay rất cao !
Thật ra cũng không thể nói là có thỏa thuận hay không.
Từ ngày 26.4.75, các máy bay cánh cố định không thể cất cánh vì đường lăn và sân đỗ máy bay đều bị pháo kích làm hư hỏng, máy bay lớn của Mỹ không dám lên/xuống TSN vừa do lo bị dính đạn pháo vừa không còn đường lăn cất hạ cánh.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dksaigon trong 30 Tháng Tư, 2010, 05:32:56 PM
Tôi thì không nghĩ đến cụm từ " thỏa thuận " như chú taydoc hỏi ! nhưng có nghĩ đến sự " để yên " cho Mỹ di tản theo như đã chứng kiến trên bầu trời với những chuyến trực thăng di tản khỏi Sài gòn!

Sau này có đọc những thông tin về chuyện di tản của người Mỹ thì cũng thấy có nhắc đến sự " để yên " này, mắt thấy và suy gẫm một chút thì thấy có lý vì phía quân giải phóng thắng lợi đã trước mắt, những người Mỹ cuối cùng rút chạy thì bắn máy bay di tản không thành vấn đề nữa!

Lúc ấy thấy trực thăng khi bốc lên lấy độ cao ngay, chốc lát đã trên mây! không như những chuyến bay chở quân tác chiến như trước ! Chuyện người Mỹ theo phương án di tản bằng trực thăng thì truyền thông sau này có đề cập đến là có tính toán, không hẳn là vì sân bay Tân sơn nhất đường băng bị pháo kích trước đó mà vì người Mỹ có lo sợ sự tuyệt vọng của binh lính Sài gòn sẽ liều lĩnh ngăn cản, đến phương án di tản bằng trực thăng mà bốc lên cao ngay theo tôi nghĩ họ không sợ phòng không của quân giải phóng mà sợ hỏa lực của lính Sài gòn thì đúng hơn! Và tôi nghĩ Mỹ chỉ có phương án di tản trực thăng vì Sài gòn lúc ấy rất nhiều điểm bốc trực thăng chứ không có phương án bay bằng C130 từ TSN vì từ ngày 20, 21/4 gì đó, dân ở vùng biển Bà rịa đã truyền nhau là thấy hạm đội tàu sân bay của Mỹ ở ngoài biển, lúc ấy dân vùng BH có bà con ở vùng Phước tỉnh Bà rịa đã kéo nhau chạy ra đó khi đường 15 chưa bị cắt và số người này đã đi bằng tàu đánh cá ra hạm đội 7 từ những ngày tháng 4/75 đó ! :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: anhkhoi trong 30 Tháng Tư, 2010, 06:02:07 PM
Anh bạn tôi cũng trả lời rằng: "Ngày đó chắc vẫn có F4 hay loại nào đó HT à,vì chiều 29/4 ĐC vẫn thấy có mấy tốp vỉ ruồi quần đảo khu vực Long Thành.ĐC định làm thêm vài quả cho sướng,nhưng nó bay cao quá.Chắc nó ở căn cứ nào đó bay vào để làm oai cho bọn rút chạy."

Trong chiến dịch di tản năm 1975, quân đội Mỹ chẳng những sử dụng F4 mà còn có cả F14, loại máy bay mới nhất thời đó để yểm hộ. Các máy bay F14 trực thuộc tàu USS Enterprise.

Nguồnhttp://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Frequent_Wind (http://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Frequent_Wind)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Tư, 2010, 06:12:06 PM
Hình như chiều 29/4/75 còn có 1 tốp F-4 bắn tên lửa xuống trận địa PK của QD2 (bọn Mỹ cũng công nhận vụ này).


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: altus trong 01 Tháng Năm, 2010, 05:52:25 AM
Hình như chiều 29/4/75 còn có 1 tốp F-4 bắn tên lửa xuống trận địa PK của QD2 (bọn Mỹ cũng công nhận vụ này).

Thông tin tổng kết của bác Buff đây.

http://www.quansuvn.net/index.php/topic,4243.msg59361.html#msg59361

Trích dẫn từ: OldBuff
Kết hợp cả nguồn ta (sử f367 PK) và địch (báo cáo tổng kết Op. Frequent Wind như được nêu), thì trận đánh đó như sau: Ngày 29/4/1975, Đại đội 13 Tiểu đoàn 105 Đoàn cao xạ Hồng Lĩnh Sư đoàn phòng không 367 phối thuộc cùng mũi thọc sâu của Quân đoàn 1 tiến quân theo trục đường từ Tân Uyên qua Lái Thiêu về hướng Sài Gòn. Hồi 14 giờ 45 phút tại một điểm gần Tân Uyên, một tốp 4 chiếc F-4E Wild Weasel thuộc Không đoàn tiêm kích chiến thuật 388 Liên đoàn Không quân số 7 phát hiện trận địa của Đại đội 13 đang tham gia bảo vệ đội hình hành tiến cho mũi thọc sâu của Quân đoàn 1. Một chiếc F-4 cắt bom chùm bi trúng trận địa cao xạ khiến 5 chiến sĩ C13 là Nguyễn Hồng Sáu, Nguyễn Văn ấm, Trần Xuân Quang, Trịnh Tiến Thơ, Đinh Công Trai hi sinh.

Vụ F-4 với cả F-14 thì đây:

(http://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=4243.0;attach=1908;image)


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dream_kgb trong 20 Tháng Năm, 2010, 09:44:06 PM
 Bác Trọng dạo này bận bịu gì thế ạ ?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: minh son trong 22 Tháng Năm, 2010, 03:06:39 AM
Chào Trongc6 !Bài anh viết rất hay ! Đặc biệt là những cảm nghĩ ,rất chân thực ,rất sống động và...rất lính ! Không phải lính bây giờ mà đúng kiểu lính thời đánh Mỹ. Điều này chỉ có những người cùng thời mới " ngửi " thấy được. Mình là lính công binh ở Bắc Lào ,cũng có dính "tí" đánh nhau .Đúng như anh viết đấy,đánh nhau với bọn ngụy Lào cứ như đùa,như đánh trận giả .Chỉ có súng , đạn ,máu và cái chết là thật thôi ! Chúc anh khỏe !


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 05 Tháng Sáu, 2010, 09:39:33 PM

   Ở hậu cứ ít ngày, bên cạnh việc cùi cõng đạn gạo, ngày nào đại đội cũng phải cử người đi "cải thiện". Thường là một tốp 3 người do 1 lính cũ đã khá thông thạo địa hình vùng này dẫn đi. Mỗi người chỉ mang theo 1 khẩu AK có 1 băng đạn và 1 quả lựu đạn cho nhẹ. Để giữ gìn ba-lô, lính tráng chúng tôi ai cũng sắm cho mình một cái "gùi" chuyên dùng cho việc đi cải thiện hay cùi gạo, đạn. "Gùi" là một cái bao to như kiểu bao tải gạo, làm bằng vải Pông-xô lấy của địch (loại vải này không thấm nước, rất bền, dai). Lính tự khâu theo ý của mình cho vừa chiều ngang khổ người, nhưng phải đủ đựng được khoảng 35-40 kg gạo. Quai "gùi" được cắt ra từ quai ba-lô của địch. Lính mới vào thì mượn của lính cũ, sau đó nhờ lính cũ kiếm cho. Thứ này ở các căn cứ cũ của địch bị ta chiếm có nhiều. Chịu khó bới trong hầm, đem về giặt là xong. Nhiều khi chỉ cần xin lính cũ vì mỗi khi có dịp đi cải thiện gần căn cứ cũ của địch là nhiều anh lấy về làm mái che mưa cho lán.

   Thích nhất là đi cải thiện ở mạn đường 23. Nơi đó có rất nhiều bản cũ của dân, vườn tược cây cối bỏ hoang vì dân đã chạy từ lâu. Pắc-Soòng là thị trấn thì không nói làm gì, nhưng suốt dọc đường từ đó vào đến Bãi Đá dài 25 cây số thì có không biết bao nhiêu là bản cùng các căn cứ cũ của địch. Khi đó các căn nhà sàn của dân hầu như đều bị làm thịt. Dân Lào thì ra gỡ về để dựng nhà ở các bản "may", còn lính trung đoàn thì lấy về làm nhà thùng cho E bộ cho nó hoành tráng. Nhà sàn ở đây rất to, gỗ tốt nhưng mái lợp thì lại chủ yếu là tôn múi. Ngoài E bộ ra thì ở các D bộ cũng gỡ về một ít phục vụ nhà hầm chỉ huy. Chỉ có các C thì không dùng vì cũng chẳng cần đến thế. Hơn nữa lính đi cải thiện lấy đồ ăn là chính, còn sức đâu mà vác thêm tấm tôn về cho C bộ. Chỉ có ở tiểu đoàn bộ, bọn trinh sát hay thông tin đi địa hình lúc về tay không kết hợp vác tôn mà thôi.

   Bản nào ở đường 23 cũng có vườn. Bị bỏ hoang thì cây còi đi một chút, nhưng mùa mưa đến thì nó lại được dịp phát triển. Những thứ lấy về cải thiện chủ yếu là mít, chuối, đu đủ, măng và dứa dùng để nấu lên làm thức ăn. Còn các loại hoa quả khác như bưởi, chanh, lê, đào, xoài, táo… thì chỉ lấy ăn chơi và mang kết hợp về cho anh em trong A nhấm nháp buổi tối thôi. Dạo đó chúng tôi ăn gạo nếp, tiêu chuẩn 4 lạng, rồi 3 lạng một ngày nên đói lắm. Được đi cải thiện ra mạn đường 23 là chén thật lực các loại hoa quả vớ được. Kể ra đây thì nhiều loại như thế, nhưng vì đại đội nào cũng cử quân đi, mà lính thì thằng nào cũng giỏi sục sạo, ăn mãi đến rừng cũng phải cạn nên dần dần muốn có cái gì đó cũng phải chịu khó tìm kiếm. Đôi khi phát hiện được vườn hoang nào đó mà ẩn khuất thì phải đánh dấu, giữ kín và xin đi cải thiện liên tục để khai thác. Vùng cao nguyên này có 3 thứ quả gây ấn tượng mạnh trong tôi. Thứ nhất là đu đủ. Có một vườn cây mà các anh C tôi phát hiện được ở tít mãi bên Nam đường ngang với bản 40 (Dọc đường 23 không thể phân biệt rõ từng bản, chúng tôi gọi các cụm nhà dân theo cột cây số). Cây đu đủ ở đó to và sai quả vô cùng. Một lần 3 anh trong C tôi đi lấy mà không thể xếp vào cùi cho gọn được, đành chặt gậy làm đòn để gánh. Vai khoác AK, mỗi anh chỉ đủ sức gánh nổi 6 quả vì nó to quá. Số đu đủ ấy đại đội sào ăn đủ 3 ngày.

   Loại quả thứ hai là chuối. Cả vùng cao nguyên Bô-lô-ven chỉ có mỗi một giống chuối tây, không hề có chuối tiêu. Dân họ trồng nhiều như rừng, suốt hai bên đường xe bò hoặc lan từ vùng nương này đến vùng nương khác. Muốn lấy chuối không phải xin. Có thể lấy chuối xanh để xào hoặc lấy bắp-bi, thậm chí mới chỉ là bắp-bi của cây chuối có chửa mới nhô ở ngọn cũng được, không hề gì vì nó rất nhiều. Còn chuối chín cây hay chuối già lấy về dấm ăn dần, xin cứ tự nhiên. Có điều nên thực hiện một quy ước nhỏ thế này: Thấy cây chuối ra buồng mà quả đã già thì chặt đổ hộ cây chuối đó xuống. Không muốn lấy quả mà cứ để đó cho quả tự chín cũng được, để cho nó tự thối hoặc lợn rừng hay thú rừng khác vào ăn. Mục đích chặt đổ cây chuối chỉ đơn giản là để thân cây đó chóng thối, mau lấy chỗ cho chồi cây đẻ mới có chỗ mọc. Chuối tây nhiều chỗ quả rất to, nhất là ở rìa nương. Có một lần chúng tôi khiêng một buồng già về hậu cứ, tới khi chuối chín đố nhau ăn mà kẻ đạt danh hiệu vô địch cũng chỉ cố nuốt được 4 quả.

   Loại quả thứ ba là dưa chuột. Đúng là giống dưa chuột chứ không thể nhầm là loại dưa nào khác như dưa bở, dưa gang hay dưa hấu, vì nhìn vỏ và ruột nó biết ngay. Nhưng tính từ "chuột" gắn với tên dưa không còn đúng, vì những con chuột cống trong các cống ngầm ở thành phố cũng phải gọi kích thước các quả dưa chuột ở đây là cụ. Dưa chuột gì mà quả nào quả nấy đều dài và to như bắp chân. Chúng nằm trên nương nần nẫn và lăn lóc như đám lợn con.

   Dọc đường 23 còn có nhiều vườn mía và chè. Ở đây người dân trồng nhiều loại mía tím gióng ngắn, thân to và giòn như mía Tuy Hòa, ăn rất ngọt. Loại này khi bị bỏ hoang thì thoái hóa nhanh chóng. Còn một loại thứ hai là mía trắng vàng gióng dài thân nhỏ chỉ bằng nửa cổ tay, trồng thành bãi rộng hàng hec-ta. Những bãi mía này tuy không chăm sóc mấy nhưng mọc rất khỏe, chuyên dùng cho voi ăn. Người ta cứ chặt từng vác đem ra cho voi chén. Chúng tôi rất thích những bãi mía này, chui vào tít trong chén đến chảy máu lưỡi mới chui ra. Công bằng mà nói, khi đói ăn mía dễ hơn ăn chuối. Có thể không có cơm mà vẫn tồn tại được trong bãi mía cả tuần, nhưng nếu lạc vào vườn chuối chắc không trụ nổi ba ngày.

   Tất cả cái nguồn sản vật của dân dọc đường 23 để lại hấp dẫn như thế, nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng đến được vì đường xa quá. Những chỗ gần cách ba bốn giờ đi đường thì cạn dần thứ lấy được. Chỗ xa hơn thì không kịp về trong ngày vì còn phải sục xạo nữa. Mà cái việc lọ mọ tìm của ăn được mất nhiều thời gian lắm, đâu phải cứ tới nơi là lấy được ngay. Vì thế nhiều khi chúng tôi phải tìm đến các nương gần đó của dân để xin các thứ họ trồng. Mùa mưa, thứ sẵn và nhiều nhất là dưa chuột. Từ hậu cứ chỉ đi độ dưới một tiếng là đến nương có dưa. Dân Lào trồng dưa không phải chỉ để ăn. Họ vãi hạt trồng dưa đầy trong nương lúa mục đích để dưa mọc kín không có chỗ cho cỏ mọc. Đặc biệt lắm mới có một vài nơi người ta vãi hạt cải xanh hay hạt cây bí ngô. Những thứ đó chỉ cần xin dân một lần rồi tự nhiên lấy mãi. Cải xanh và bí ngô mà lính càn lần nào là tan hoang lần đó. Chỉ dưa chuột là gần như vô biên. Nhưng dưa chuột đem về thái ra xào ăn không hấp dẫn lắm, chẳng qua ăn cho có chất rau. Mà ngay cả mọi thứ thức ăn khác cũng vậy vì thực ra cơm nếp (nấu cơm chứ không ai hơi đâu mà đồ xôi) đâu có cần ăn cùng thức ăn.

   Ngoài dưa chuột ra thì củ kiệu cũng có sẵn. Dân Lào trồng kiệu để ăn, nhưng họ trồng nhiều lắm. Có khi cả một quả đồi bát ngát trồng toàn kiệu. Cây kiệu đẻ nhánh như hành, nhưng phát triển nhanh hơn. Búi kiệu lúc mới trồng chỉ to bằng miệng bát, thế mà về sau nó to thành đám đường kính đến gần hai gang tay. Dân họ bảo, bộ đội Việt nên lấy từng nửa búi một thôi để cho kiệu nó còn mọc tiếp, nhưng lính mình nhiều khi ẩu lắm. Đáng lẽ lấy dao găm xén ra một nửa thì lại bậy cả búi lên cho nhanh vì chỉ dăm sáu búi là đầy chặt gùi. Nhưng phải cám ơn và thừa nhận là dân Lào họ hiền và cần cù nhẫn nại lắm. Nhờ có các bản dân mà cuộc sống của chúng tôi đỡ cực rất nhiều so với các chiến trường khác. Sau này khi về miền Nam, quen cái kiểu tàn phá như bên Lào, không ít lính trong E tôi bị người dân tộc bắn chết hoặc gài lựu đạn gây thương vong khi mò vào các nương của dân định kiếm chác. Nhưng đó là chuyện về sau…



Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 12 Tháng Sáu, 2010, 10:14:50 AM
….

                 Ma cũ bắt nạt ma mới. Chuyện đó ở đâu cũng có, chẳng bao giờ thoát được. Những ngày đi cải thiện cùng lính cũ, vì phải tiếp xúc dân nên hai đợt lính Hà Nội và Nam Hà vừa vào được lính cũ dạy tiếng Lào. Mục đích học ban đầu chỉ đơn giản là để chào rồi xin các thứ rau cỏ. Các nhu cầu khác xét sau. Mấy bố lính cũ mà điển hình là quản lý và y tá người Hà Bắc trong C tôi bắt đầu nghĩ chuyện tai quái. Họ giả vờ ân cần rồi dạy từ bậy bạ cho bọn tôi. Ghi chép ra giấy để luyện học hẳn hoi nhé. Nhưng bọn lính Hà Nội cũng không phải gà mờ. Học được câu nào với người này, chúng tôi áp dụng ngay với người khác trong C, sau đó là hỏi nhiều người một cách độc lập. Những câu bậy bạ không được thống nhất, mỗi người giải đáp một cách nên chúng tôi phát hiện ra ngay. Thằng Thái "Pi tơ" còn láu cá hơn. Một lần đi cải thiện, nó lủi ra nương làm một giấc ngon lành. Chiều về tay không, nó trả lời đại đội là theo như các anh dạy nó đã nói như thế, như thế… nhưng dân họ đuổi đi không cho. Đại đội nghe biết đúng là bậy bạ thật nên chẳng làm gì được nó. Cuối cùng CTV phó C tôi là người Tày phải họp tuyên bố chấm dứt bậy bạ và cử người dạy có trách nhiệm cho chúng tôi tiếng Lào. Sau này các đợt tân binh khác vào cũng chỉ có một vài lính cũ nói chuyện bậy bạ được vài câu lẻ tẻ rồi dần dần tịt hẳn.

                 Cùng cái đợt tân binh Nam Hà bổ sung, một lần toàn C tôi báo động hành quân chiến đấu rồi kéo nhau ra rìa một cái nương của dân. Tất cả lính tráng cũ mới đều được lệnh trải ni-lon rồi xếp toàn bộ quân tư trang ra đấy. Có cả một cán bộ D xuống kiểm tra. Họ ghi chép vào sổ tay cẩn thận, xác định mỗi lính chúng tôi có gì để sau này quản lý việc thực hiện chính sách chiến lợi phẩm cho tiện. Chỉ ghi quân tư trang cá nhân thôi. Nói chung là chúng tôi đều không có gì. Chỉ còn vài người có sổ tay để ghi chép nhật ký hay ghi linh tinh việc cá nhân. Thế mà họ cũng mở ra xem chúng tôi ghi cái gì. Nhưng có một trường hợp là thằng Thái "Pi tơ" có một cái nhẫn vàng hai chỉ. Vì chúng tôi cũng đã qua đôi ba trận đánh rồi nên các thủ trưởng nghi vấn, định tạm thu. Mấy thằng lính Hà Nội chúng tôi phản đối và xác nhận cho nó, đây là cái nhẫn mẹ nó cho lúc đi chiến trường. Nhà nó chỉ còn có mẹ và em gái, nhà làm nghề thủ công, chả dư dật gì, thế mà không hiểu sao nó vẫn cầm của mẹ nó mang đi. Các thủ trưởng cũng chưa tin đâu, nhưng may quá nó lôi ra được một mảnh giấy của C phó Hảo (cán bộ huấn luyện dẫn quân vào chiến trường) có ghi xác nhận cho nó khi đi chiến trường có mang theo một cái nhẫn hai chỉ. Chả có dấu má gì, nhưng dù sao cũng có sức thuyết phục ít nhiều. Thế là tài sản đó được ghi nhận. Về sau mỗi khi có đợt tân binh vào, trước khi chia quân các thủ trưởng đều bắt khai tài sản quý, nhưng chả ma nào có. Trường hợp của thằng Thái "Pi tơ" cũng chỉ có một và tôi biết chắc rằng cái nhẫn đó chính là nó mang đi từ miền Bắc.

                 Trong chiến trường chúng tôi không bao giờ được biết đến tiền phụ cấp. Nhưng hậu cần E và D vẫn được mặt trận phát cho tiền Kip của Lào để mua thực phẩm bổ sung cho lính. Ngoài gạo muối là thứ bắt buộc phải cấp ra, thứ khác phải lo tại chỗ. Rau cỏ cải thiện thì tự kiếm loanh quanh. Còn thịt thì từ cấp tiểu đoàn có tổ chức các nhóm công tác đi về các vùng dân phía sau để mua lợn. Bọn đi mua lợn này gần như là chuyên nghiệp quanh năm. Một nhóm 4 hay 5 người đi mấy ngày đường về vùng dân, có khi xuống tận gần đường 13. Lùng mua được hơn chục con lợn thì dong về như các mục đồng chăn ngựa sống trên thảo nguyên. Về đến đơn vị nghỉ vài ngày rồi lại đi mua đợt khác. Chẳng hiểu duyên cớ gì mà hai thằng lính Hà Nội trong C tôi là thằng Sưởng và thằng Thái "Pi tơ" đều được gọi lên tiểu đoàn để xung vào đội quân đi mua lợn do anh Choát chỉ huy. Chúng nó xa rời cảnh đánh nhau và cùi cõng của đơn vị. Đi mua lợn thì tác phong lúc nào cũng chỉ túc tắc và lững thững như lợn đi vậy thôi. Chúng nó luôn gần dân và thuộc loại đi công tác lẻ, tự do nên sinh hoạt rất đầy đủ, không gặp cảnh lúc nào cũng thèm ăn như anh em trong đơn vị. Cũng có cái hay là đôi khi chúng tôi cũng nhờ vả được tí chút. Trong đơn vị chúng tôi có quy định cấm lấy quân trang của địch. Thế nhưng dân Lào ở các vùng tự do rất thích quần áo và mũ của địch, vì nó đẹp và bền. Vậy là khi đánh trận, chúng tôi lén lấy những thứ đó nếu thấy nó còn mới và đem giấu đi. Sau đó gửi bọn đi mua lợn đem ra vùng dân đổi hàng. Cũng chả được bao nhiêu đâu. Một cái mũ vải dù hoa đổi được một cái bật lửa gần giống như bật lửa Trung Quốc và 5 viên đá lửa. Một cái quần hoặc áo trông còn mới thì đổi được 3 bao thuốc lá đầu lọc nhãn "Tô A". Vậy thôi, nhưng vẫn khoái lắm.

                 Cuối tháng sáu năm 1972, tiểu đoàn chúng tôi nhận lệnh chuyển sang hướng Nam đường 23. Như vậy là K15 ở hướng đường 231 khu bản Soan, còn K16 vẫn ở tuyến sau. Các C trực thuộc thì đi phối hợp xen vào các D bộ binh, chủ yếu là C hỏa lực và C công binh. Mùa mưa này nước huội Chăm pi lúc nào cũng đầy. Vì sang Nam đường bắt buộc phải qua Huội, địa bàn rộng nên công binh đi dọc suối tìm chỗ có cây to. Họ hạ cây to đổ ngang suối rồi đẽo bớt cành để làm cầu. Có hai ba lối đi sang như thế. Cây gỗ tuy to nhưng vì thân tròn nên đi qua cũng khá trơn và chênh vênh vì chẳng có tay vịn. Về sau công binh phải dùng dao băm vào thân cây thành khía cho thêm ma sát.

                 Cả C tôi sang hẳn bên Nam đường và luồn vào khá sâu. Có lẽ nơi nào gần đường thì mới có nhiều bản dân hoặc nhiều căn cứ địch. Những chỗ thuộc vùng sâu núi non hiểm trở, rừng già nhiều cây cổ thụ thì chỉ có ý nghĩa làm nơi trú quân cho quân ta là chính. Mạn Nam đường cũng có những con suối to. Lần này B4 phải đi sâu hơn qua một con suối, còn hai B chúng tôi nằm bên ngoài hướng ra phía đường 23. B4 làm chốt trên đồi bên kia, có cả anh nuôi ở chung hàng ngày lo cơm nước. Mấy ngày đầu có vẻ ngon lành, nhưng sau đó thì mưa tầm tã, nước suối dâng cao như lũ, B4 bị cách li. Thấy nước suối có vẻ cứ đầy lên không chịu rút, mà đường sang ở đoạn này thì khó hơn cả bên huội Chăm pi phía bản Soan, lại không có công binh hỗ trợ nên đại đội rất lo. Nếu địch phía bên đó sục vào đánh nhau với B4 thì không biết chi viện thế nào. Mà hết gạo ăn cũng gay chứ không phải chuyện chơi. Đến một ngày trời tạnh, thấy bên đó nổ súng đì đùng. Rồi bẵng đi rất lâu lại có tiếng B40. Cuối cùng thì tất cả câm tịt, mà lạ là cũng chẳng có bom pháo. Đại đội đoán B4 đụng thám báo, chắc tiêu diệt gọn cả lũ ấy rồi. Hai bên vẫn không liên lạc được với nhau, mà trời lại tiếp tục đổ mưa. Hơn một tuần như thế, không hiểu B4 ăn bằng cái gì, liệu có củ gì mà đào không. Có người đoán già đoán non là B4 đi sâu tiếp vào rất xa, gặp một cái bản nào đó và nương tựa vào dân.

                 Chúng tôi liên lạc về tiểu đoàn nhờ chi viện, cuối cùng thì cũng sang được với B4. Hóa ra các anh ấy chẳng hề đi đâu cả, vẫn trụ lại trên ngọn đồi với hầm hố đầy đủ, chả ai sứt sẹo gì. B trưởng Tuyền nhe răng cười bảo, chúng mày liên lạc chậm quá, sao không mò sang sớm. Hóa ra cái hôm có tiếng súng là ở bên ấy không hiểu sao có một chiếc trực thăng của địch mò tới. Nó bị trục trặc làm sao mà sa vào cả ngọn cây rồi rơi xuống đất. Anh nuôi Đức người Nam Hà ở gần đó vác AK mò tới, bắn chết được cả 3 thằng trong máy bay. B trưởng Tuyền cho quân ra chi viện, mò vào máy bay thấy mấy thùng hàng mở ra toàn đồ hộp. Anh ấy cho lính khuân về sạch rồi cho B40 bắn cháy máy bay, đề phòng trong đó có máy phát gọi được máy bay khác chi viện thì gay cả lũ. Hết gạo, không liên lạc được với đại đội, anh ấy cho lính ăn đồ hộp trừ cơm. Toàn là hộp cá tròn 2 lạng, chế biến giống như cá sốt cà chua. Bữa đầu ăn rất ngon, thả phanh mỗi lính 3 hộp ăn vã. Sau đó là lên kế hoạch để còn dùng lâu dài. Không ngờ đồ ăn dù ngon đến mấy mà ăn mãi thì cũng chán, nhất là không có cơm nên rất xót ruột. Về sau chả còn ai háo hức, anh Tuyền cho ăn tự do, tùy thích. Cuối cùng thì đến đoạn cứ nhìn hộp cá mà ngán, dù là đói. Lúc chúng tôi sang thì chỉ còn độ hơn hai chục hộp. Đại đội đem chia đều cho 2 B còn lại ăn tươi một bữa. Hôm ấy đối với 2 B chúng tôi thì gần như ngày hội. Đun cá hộp nóng rồi ăn với cơm nếp chả ra cái kiểu gì cả nhưng sao ngon thế. Mọi thứ sạch như chùi. B4 không ai động vào cá, chỉ ăn cơm nếp thôi. Vậy mà sau vụ đó nhiều anh trong B4 bị dị ứng với cá hộp, thậm chí là với cá. Có người chỉ nghe "cá" đã lợm hết cả cổ. Thậm chí đến năm 1975 đánh Đồng Dù lấy được đồ hộp ê chề, nhưng chỉ có thịt hộp hấp dẫn, còn cá hộp thì thờ ơ. Thật là no dồn đói góp.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: baoleo trong 13 Tháng Sáu, 2010, 07:33:11 AM
                 ..... B4 không ai động vào cá, chỉ ăn cơm nếp thôi. Vậy mà sau vụ đó nhiều anh trong B4 bị dị ứng với cá hộp, thậm chí là với cá. Có người chỉ nghe "cá" đã lợm hết cả cổ. Thậm chí đến năm 1975 đánh Đồng Dù lấy được đồ hộp ê chề, nhưng chỉ có thịt hộp hấp dẫn, còn cá hộp thì thờ ơ. Thật là no dồn đói góp.…


Cũng chỉ và phải ăn cá nhiều qua, mà cá nhân baoleo, đến bây giờ cũng vẫn còn sợ cá, Chỉ ăn cá trong hoàn cảnh bắt buộc.  ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: votmuoi trong 13 Tháng Sáu, 2010, 02:31:13 PM
                 ..... B4 không ai động vào cá, chỉ ăn cơm nếp thôi. Vậy mà sau vụ đó nhiều anh trong B4 bị dị ứng với cá hộp, thậm chí là với cá. Có người chỉ nghe "cá" đã lợm hết cả cổ. Thậm chí đến năm 1975 đánh Đồng Dù lấy được đồ hộp ê chề, nhưng chỉ có thịt hộp hấp dẫn, còn cá hộp thì thờ ơ. Thật là no dồn đói góp.…


Cũng chỉ và phải ăn cá nhiều qua, mà cá nhân baoleo, đến bây giờ cũng vẫn còn sợ cá, Chỉ ăn cá trong hoàn cảnh bắt buộc.  ;D
Em  thì may quá ! tới lúc sang K, có nghĩa là 19 năm trong cuộc đời mới biết ăn cá & bí xanh ;D bi giờ thì em lại thích ăn bù :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 18 Tháng Sáu, 2010, 10:42:31 AM
….
              Thời gian chúng tôi ở Nam đường 23 cũng khá dài. Các B cứ thay nhau lên chốt. Không đánh nhau nên cái chốt không bị lộ, vì thế nó cứ tồn tại mãi. Nhưng như thế hóa ra phí cả một đại đội ở phía trước nằm chơi và hai đại đội phía sau phải cùi cõng tiếp tế. Tiểu đoàn cho chúng tôi tổ chức luồn sâu, vòng hẳn vào phía sau lưng địch. Tất nhiên không phải là vòng để bao vây, vì lực lượng địch hơn chúng tôi nhiều lắm. Nếu lộ, có khi chính chúng nó bao vây làm thịt chúng tôi ấy chứ. Chúng tôi luồn sâu nhưng phải bí mật. Sau đó cùng trinh sát tiểu đoàn (C tôi được tăng cường một tổ) bám địch, xem có bọn nào đóng lẻ chừng độ một B thì lên phương án tập kích chúng nó. Theo thiển nghĩ của tôi thì thực chất là quấy nhiễu. Nơi tập kích phải cách chỗ chúng tôi ém quân chừng 3 cây số để tạo thế an toàn. Đầu tiên là trinh sát D đi tìm và bám địch, sau đó cùng cán bộ B, C trinh sát lại và bàn giao vị trí địch. Phần cuối cùng là đại đội tôi tự tổ chức một nhóm, thường là gồm 2 M79, 3 B40 và 3 AK mò đến đó từ lúc nhập nhoạng tối và chiếm lĩnh vị trí. Chừng độ 9, 10 giờ đêm thì khai hỏa. B40 cấp tập vào đó mỗi khẩu hai quả, còn M79 thì mỗi khẩu câu vào chừng 5, 6 trái. Bọn địch bị bất ngờ còn đang lộn xộn chưa kịp phản ứng thì chúng tôi rút lẹ. Thời gian mỗi lần như thế có khi chỉ độ hơn một phút. Nếu chúng có bắn ra thì cũng chỉ là hú họa, thậm chí có lần chẳng bắn trả được phát nào. Các tay súng AK không bắn vì tác dụng không bao nhiêu, mà mục đích đi cùng chỉ là để bảo vệ. Tập kích xong chúng tôi cũng phải rút thật nhanh vì sợ pháo. Trung bình mỗi tuần tập kích độ 2 lần ở các nơi khác nhau. Kết quả địch có bị thương vong thế nào chủ yếu nhờ cấp trên nghe đài kỹ thuật báo lại. Tập kích kiểu này không bao giờ chúng tôi được tính thành tích vì không thu được súng. Cấp trên quy định báo công theo số súng thu được. Không hiểu sao cái trò này lại làm tôi háo hức. Tôi xin được đi cùng để bắn thử B40 và M79. Có một cái vẻ gì đó giống như chơi đánh trận giả ở nhà.

               Mùa mưa hiếm có ngày nắng, nhưng không phải là không có. Thi thoảng vẫn có đêm nằm bìa rừng nhìn thấy bầu trời có sao. Những ngôi sao lờ mờ không nhiều lắm và có vẻ xa tít tắp chứ không rạng rỡ như đêm mùa khô, khi đó sao sáng và nhiều tới mức tưởng có thể vươn tay được lên bầu trời mà nắm lấy. Thường người ta hay có cảm giác nhớ nhà nếu như được nhìn thấy một khung cảnh nào đó giống như lúc còn ở nhà. Giữa núi rừng sâu thẳm này thì khung cảnh duy nhất có thể gợi nhớ nhà chính là bầu trời đêm. Rất có thể lúc này đây, bản thân mình và cha mẹ, anh chị em ở nhà đang cùng ngắm một ngôi sao. Cái cảm giác ấy làm cho lòng ấm lên, thấy gần hậu phương hơn. Trải tấm nilon ra nằm cho đỡ ướt, ngắt một ngọn cỏ nhấm nháp và ngắm trời đêm trong khung cảnh thật bình yên. Tôi đã bắt đầu biết hút thuốc lá. Độ trước đi qua gần bản Xăm-xi-nuc "may" thấy có nương thuốc lá của dân trồng rất nhiều, cây cao to và xanh um. Có rất nhiều cái sự khác lạ ở đây để so sánh với ở nhà. Ví dụ như ở đây không hề có hành mà chỉ có kiệu. Còn thuốc hút thì cũng chỉ có thuốc lá (rất nhiều) mà không hề có thuốc lào. Các anh lính cũ hướng dẫn cho cách ngắt lá thuốc. Nhằm lá già gần gốc mà vặt, mỗi người làm một ôm to, cứ như của nhà mình chẳng xin xỏ gì vì thực ra cũng không mấy khi gặp dân ngoài nương. Đem về hậu cứ lấy dao thái nhỏ ra rồi bắc một tấm tôn lên bếp mà sao cho khô. Khi thuốc đã khô và nguội thì cho vào một cái túi khâu bằng vải dù, cất ba-lô. Lại có một cái túi con khác để bốc bỏ vào đấy một nắm đem theo bên người để hút. Tùy từng nơi mà thuốc lá có thể nặng nhẹ khác nhau chút ít. Nếu muốn thơm và nhẹ thì pha tí nước đường rồi vẩy vào sợi thuốc. Thuốc lá loại này không có mùi thơm bay xa nên không ngại. Vì thế ngồi chốt hay luồn sâu đều có thể hút. Toàn quấn thuốc kiểu sâu kèn thôi.

               Một vài lần nằm chơi ngắm trời sao và hút thuốc, có cả cán bộ B, C cùng tán chuyện. Cách xa địch hàng vài cây số, lại ở bí mật nên cũng hơi tự do. Chuyện lính thì đủ các thứ trên trời dưới biển. Chuyện thường của người này nhiều khi là điều lạ và thích thú với người kia. Đã là lính thì ai cũng biết rằng đối với lính chuyện nhiều nhất và lặp đi lặp lại không chán là chuyện ăn và chuyện tán bậy. Nhưng nhiều khi những chuyện khác cũng thu hút người nghe không kém. Trong C tôi lúc đó có khoảng 4 người đã học hết lớp 10 phổ thông nên đôi khi cũng đem những chuyện khoa học ra nói. Nhìn trời đêm, tôi thường hay kể về vũ trụ và các vì sao. Những chuyện ở nhà tôi đọc về Ga-li-lê, về Nicolai Copecnich…được đem ra kể. Nào là quan niệm vũ trụ và trái đất, về những dải Ngân hà, những Hệ Mặt trời, những ngôi sao và hành tinh… Khi từ những cái bao la như thế trở về thực tại thì thấy trái đất và con người bé nhỏ quá. Câu chuyện qua đi, đến lúc vào ca gác, ôm khẩu AK trong tay thì lại thấy mình không còn bé nhỏ nữa.

               Nhiều lần nói chuyện chơi như thế, tôi đã lọt vào tầm ngắm của Đại trưởng Kim Băng, một người nông dân ở tỉnh Nam Định khoác áo lính, mới học chưa xong lớp bảy. Anh ấy thích thú với cái tri thức mà thời tuổi trẻ anh ấy không có điều kiện tiếp cận. Thêm nữa là cũng có chút cảm tình với tôi qua cái trận chốt bản Soan (trận đầu tiên trong đời lính của tôi), tôi đã không phụ lòng mong đợi cho cái ý định "thử mấy thằng đoàn viên Hà Nội xem đánh đấm thế nào" của anh ấy. Thế là giữa tháng bảy, tôi chia tay anh Trịnh để lên C bộ làm liên lạc cho anh Băng. Ai cũng hiểu liên lạc là phải làm nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh liên tục từ BCH đại đội đến các B và các A độc lập trong chiến đấu, trong hành quân cũng như khi đóng quân tại chỗ. Cần phải nhớ đường, tập quan sát các vị trí và luôn bám theo thủ trưởng. Việc đầu tiên đại trưởng Băng dạy cho tôi là cách xem và sử dụng bản đồ, địa bàn. Học kiểu truyền tay thôi, nhớ theo quy ước là chính chứ không có giải thích. Địa bàn thì đơn giản hơn, vì thời học phổ thông chúng tôi cũng đã  được dạy để biết cách xem hướng. Chỉ có chuyện dùng nó kết hợp với bản đồ để đạp đường thì cần phải có nhiều thời gian, qua thực tế để đúc rút kinh nghiệm. Đại trưởng Băng cũng dạy tôi cách xem bản đồ. Những điều cơ bản không khó lắm. Xem tỉ lệ bản đồ, quy ra cách đo khoảng cách chim bay. Xem màu sắc, biết địa hình núi đá đất hay cây cối, rừng non, rừng già. Xem các đường bình độ và độ xít của nó, biết độ dốc các vùng hay biết chỗ không ghi suối mà mùa mưa có thể là suối… Đặc biệt cách xác định điểm đứng là cơ bản và khó nhất khi dùng bản đồ. Rồi những thủ thuật và kinh nghiệm đi từ một nơi đến một nơi khác trên bản đồ thì phải xác định thế nào. Tóm lại không khác gì kiển thức cho một trinh sát. Tôi rất háo hức nên tiếp thu cũng nhanh, làm đại trưởng Băng rất hài lòng. Tôi còn rất khoái khi anh ấy hỏi tôi lan man sang những kiến thức khác và những lý giải của tôi cũng nghe được, không đến nỗi nào.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 18 Tháng Sáu, 2010, 11:11:49 AM
Em ăn cá ở Biển Hồ chắc cũng không kém các Bác. Sáng cá, trưa cá, chiều cá, tối cá... Nhưng đến bây giờ vẫn thích ăn cá.
Chắc là nhiều quá hóa nghiện! ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 25 Tháng Sáu, 2010, 01:29:02 PM
…..
               Từ khi làm liên lạc cho đại trưởng Băng, tôi ít phải tham gia cùi cõng và gác đêm hơn. Thay vào đó là đi lại sùng sục suốt ngày theo đại trưởng. Anh Băng khỏe lắm, đi trong rừng mà cứ phăm phăm như đi giữa bãi trống không người. Thời gian đầu chỉ riêng cái khoản theo cho kịp anh ấy đã đủ tướt mồ hôi rồi, nói gì đến chuyện ngó ngiêng nhìn đường cho thuộc lối. Tôi hầu như là chạy chứ không phải đi. Anh Băng rất chịu khó đi trinh sát địa hình. Đơn vị chúng tôi, trong 4 cán bộ C thì chỉ có C phó có AK báng gấp, còn lại đều là K54. Anh Liêu người Thái Nguyên làm liên lạc cùng tôi cũng có AK báng gấp. Nhưng nói thật thì AK báng gấp tuy gọn, nhưng nặng lắm. Khẩu AK Tiệp nòng vát của tôi tuy dài nhưng nhẹ hơn nhiều.

              Tuy lúc đi đường cứ băng băng, nhưng gần đến khu vực trinh sát thì đại trưởng Băng lại đi rất thận trọng. Đặc biệt là lúc đó anh ấy không bao giờ cầm bản đồ hay súng ngắn trên tay. Lúc nào cũng chỉ có mỗi cái địa bàn pháo binh nhỏ gọn. Khi ấy tôi cũng có địa bàn riêng của anh Trịnh cho (mỗi lần đánh cứ điểm là lính mình tự trang bị dần những món đồ kiểu như thế), nhưng hầu như không dám lấy ra. Chỉ khi ngồi nghỉ giải lao hay lúc ngồi chờ anh Băng trèo cây quan sát, tôi mới lấy ra xăm xoi xem hướng, học mót nghề trinh sát.

              Lính cũ cũng hay có những ngón võ riêng của họ. Khi đi trinh sát, bao giờ đại trưởng Băng cũng đeo xà-cột xong rồi mới mặc áo ngoài và luôn bỏ áo ngoài quần. Từ xa mà kẻ địch có dùng ống nhòm nhìn thì cũng không thể thấy cái xà-cột và khẩu súng ngắn của anh ấy. Quan và lĩnh lẫn lộn. Lúc đầu tôi cũng ngạc nhiên với cái vẻ ăn mặc luộm thuộm ấy của đại trưởng, khác hẳn lúc ở hậu cứ tắm xong chuẩn bị ăn cơm chiều áo bỏ trong quần, gọn gàng trông rất oách. Hay là lúc anh ấy đi họp giao ban trên tiểu đoàn về, xà-cột và súng ngắn đeo bên hông đập tanh tách theo nhịp đi (nhất là anh ấy mông lại to nữa) thì trông mê li lắm. Về sau tôi hỏi anh Trịnh thì được biết dạo trước bên K15 một lần có anh C trưởng đi trinh sát quân phục chỉnh tề, lúc đang leo cây vác ống nhòm quan sát địch thì bị bắn tỉa. Chắc thằng bắn tỉa của địch nhìn rõ cái xà-cột và bao súng ngắn của anh ấy nên biết anh ấy là sĩ quan. Đại trưởng Băng sợ lặp lại cảnh ấy nên phòng thân trước.

               Một lần khác anh Băng dẫn một trung đội ra gần đường 23 lùng sục. Đến tối, chúng tôi tạm nghỉ lại cạnh đường, hạ trại nấu cơm ngay dưới ngôi nhà sàn còn sót lại duy nhất của một cái bản bỏ. Cơm nước xong xuôi thì trời tối, trung đội ấy bố trí người gác và ngủ luôn ở ngay cái nhà sàn ấy. Tôi cũng định trải ni-lon ra một góc nhà để hai thầy trò ngả lưng, nhưng anh Băng đã xua tay rồi kéo tôi đi. Chúng tôi vượt hẳn sang bên kia đường, luồn vào một bãi dứa và tìm thấy một cái hầm chữ A của bộ đội ta đào khi trước. Tôi cầm đèn pin chui vào dọn dẹp một lúc, trải cái ni-lon ra, thế là xong chỗ ngủ đêm. Hai thầy trò chui vào duỗi chân duỗi tay, quấn thuốc lá hút, rì rầm nhỏ to một lúc rồi đi vào giấc ngủ, chả có gác sách gì cả. Sáng sớm hôm sau tất cả lại tập trung, cơm nước xong là lên đường làm nhiệm vụ tiếp. Tôi cứ phân vân là sao đại trưởng Băng lại không cho ngủ ở nhà sàn cho nó thoáng. Mưa gió không sợ ướt, thám báo cũng không lo vì đã có người gác. Với lại ở đông người vẫn đỡ lạnh lưng hơn chứ. Về sau anh Băng cũng giải thích cho tôi là đêm đó không phải sợ thám báo đâu, vì bọn thám báo Lào cũng rát lắm, ít khi dám đi đêm. Anh ấy phòng xa là địch nó ngẫu nhiên quan sát được rồi đêm câu pháo thì đỡ phải chạy. Anh ấy bảo là khi đi trinh sát có ít người thì ban đêm cứ chọn tìm nơi nào kín đáo và bất ngờ chui vào ngủ là đảm bảo nhất, không cần gác làm gì. Anh còn nói thêm chỗ an toàn nhất khi ngủ đêm chính là trong hàng rào địch. Tuy nhiên phải lo chuồn đi khỏi đó trước khi trời sáng. Tôi nghe và cố nhập tâm nhưng vẫn thắc mắc mãi một điều không dám nói là đêm hôm ấy nếu đã lo địch bắn pháo ban đêm, sao đại trưởng không cho cả đơn vị rời khỏi nhà sàn mà sang bãi dứa ngủ tất cả có hay hơn không?

               Nói thêm về võ riêng của lính cũ. Trong C tôi, nhiều người bảo anh Quân B trưởng B5 cũ của tôi có giác quan thứ sáu. Nhiều khi anh ấy phát hiện được địch, nhưng lại không giải thích được cụ thể là thế nào. Những chuyện cũ thì tôi chỉ nghe nói, nhưng có một lần tôi được chứng kiến. Đó là lần đơn vị đang ở khu luồn sâu, tôi được anh Băng cho đi cùng B5 về hậu cứ lấy thêm đạn gạo. Đường về và đi mất trọn hai ngày. Hôm về hậu cứ thì không có việc gì. Ở lại hậu cứ một ngày chuẩn bị các thứ xong, ngày thứ ba chúng tôi lên đường quay trở lại đường 23. Vượt qua đường 23, theo một con đường mòn nhỏ chúng tôi đi hàng một, có dãn cách theo quy định và không nói chuyện, điều này vẫn chỉ là làm theo quy định từ trước thôi. Anh Quân là người đi đầu chứ không phải lính tráng chúng tôi. Đang đi khẩn trương, bỗng anh Quân dừng bước và phẩy tay về phía sau. Chúng tôi ngồi nép luôn xuống hai bên đưởng, tay lăm lăm súng. Còn anh Quân, anh ấy cứ vươn cổ ra, nghiêng nghé hai bên, nhăn mũi cứ như đánh hơi vậy. Trong lúc đó, chúng tôi im lặng, hơi căng thẳng nhưng cũng chẳng phát hiện thấy gì. Một lúc, anh Quân rón rén lùi lại rồi đưa chúng tôi đi quay ngược lại, lùi xa tới hai trăm mét. Ở trong rừng, khoảng cách ấy là lớn lắm rồi. Chúng tôi tụm lại hội ý. Anh ấy bảo phía trước nhất định có địch phục kích. Chúng tôi có thể đạp đường vòng đi tránh đoạn phía trước thì vẫn có thể về được chỗ đơn vị đang trú quân. Thế nhưng anh Quân nheo mắt cười hóm hỉnh: "Mẹ cái bọn này chứ. Mình sẽ tìm chỗ phục lại, choảng cho nó một trận cho chúng nó hết nho nhoe". Thế là Anh Quân nhắm đường đạp vòng hẳn một vòng to vượt qua cái chỗ nghi có địch ấy. Chúng tôi theo anh vượt qua một con suối nhỏ, hai bên khá dốc và bố trí phục kích ở bờ bên kia. Cần nói thêm là khi đi hoạt động luồn sâu, chúng tôi đạp đường mới là chính, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải lợi dụng một vài đoạn đường mòn cũ của dân. Chỗ phục kích này cũng là một đoạn đường mòn cũ, nhưng không phải con đường chúng tôi vẫn đi.

               Chờ đợi chán chê, đến cuối chiều mới phát hiện thấy địch. Đúng là cái bọn định phục kích chúng tôi. Chúng nó chờ chán quá, lại đã chiều rồi nên rút quân về căn cứ. Cái bọn tưởng chủ động bây giờ lại hóa ra một lũ chủ quan. Chúng tôi nhìn rõ 7 thằng lội qua suối và tụm lại khá gọn. Đúng lúc những thằng đi đầu đang gò lưng leo dốc thì anh Quân phảy tay. Thằng Lễ (Nam Hà) phọt luôn một trái B40. Chúng tôi cũng bắn như đổ đạn vào đó. Xét về lực lượng thì chúng tôi còn nhiều người hơn chúng nó. Cả bảy thằng địch chết dụi tại chỗ, chả bắn nổi phát nào. Anh Quân hô chúng tôi lấy súng và lột luôn những thứ có thể lấy được rồi chuồn gấp. Vốn là về hậu cứ lấy đạn gạo nên chúng tôi đã cùi nặng, bây giờ lại nặng thêm, nhưng chả ai dám chần chừ. Tất cả rút vội theo anh Quân. Nhập nhoạng tối thì chúng tôi cũng về tới nơi trú quân của đại đội. Sau vụ đó, anh Quân càng nổi danh hơn với giác quan thứ sáu. Còn tôi, thú thật là mãi về sau, tôi cũng không hiểu là anh ấy ngửi thấy cái gì mà đoán chắc có địch phục hôm đó. Dù sao, cũng thật là hạnh phúc khi có những người chỉ huy như anh Quân.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 27 Tháng Sáu, 2010, 01:59:44 PM
Xen ngang một chút.

      Sáng hôm nay (27/6/2010), tại nhà khách Bộ Quốc phòng (số 1 Trấn Vũ) đã có cuộc gặp mặt thân mật của các CCB sư đoàn 968 Quân tình nguyện Nam Lào. Số người đến dự độ hơn trăm rưởi.

       Lính Trung đoàn 9B chúng tôi chiếm cũng tới gần 1/4 quân số. E9B tự hào có những vị tướng đã trưởng thành từ đây như thượng tướng Lê Khả Phiêu, trung tướng Nguyễn Quốc Thước, trung tướng Nguyễn Phước Thanh, thiếu tướng Vũ Xuân Sinh...

       Lần gặp mặt này chúng tôi được kê khai về thành tích và thời gian tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào, nghe nói sẽ được Nhà nước Lào xét tặng huân, huy chương. Tuy vật chất có thể cũng không có gì, nhưng chúng tôi đã được vinh danh (có cái treo trong nhà để dọa vợ con, hàng xóm, bọn cán bộ Phường xã quan liêu...).

         Không hiểu sao cứ mỗi lần họp mặt quân tình nguyện Việt Lào, tôi lại nhớ đến Trung sĩ 1, đến Lê Thái Thọ... với những ước mơ cháy bỏng của các anh là được công khai vinh danh về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường K. Đơn giản vì chúng mình đều là những người lính tình nguyện của QDNDVN./.

        Hỏi thêm: các bác Tai_lienson, Q. Trung, Minhson, Linhthongtin... cũng là quân tình nguyện Việt Lào, các bác có dự ngày truyền thống 30/10 và được nhận Kỷ niệm chương của Bộ QP tặng không?


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: q.trung trong 27 Tháng Sáu, 2010, 02:13:29 PM
Tôi chẳng biết gì, đơn vị cũ tứ tán chẳng biết giờ ở đâu, có cái giấy chứng nhận viết tay có dấu của tiểu đoàn từ năm 1974 chứng nhận C dài chẳng biết để làm gì, mà có phương tiện thông tin đại chúng nào báo đâu mà biết, thôi cũng chẳng sao, nhận được huân huy chương đem dọa bọn địa phương không khéo nó tìm cách đì cho thì toi. ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: taxek9 trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:17:03 PM
Anh bạn tôi cũng trả lời rằng: "Ngày đó chắc vẫn có F4 hay loại nào đó HT à,vì chiều 29/4 ĐC vẫn thấy có mấy tốp vỉ ruồi quần đảo khu vực Long Thành.ĐC định làm thêm vài quả cho sướng,nhưng nó bay cao quá.Chắc nó ở căn cứ nào đó bay vào để làm oai cho bọn rút chạy."

Trong chiến dịch di tản năm 1975, quân đội Mỹ chẳng những sử dụng F4 mà còn có cả F14, loại máy bay mới nhất thời đó để yểm hộ. Các máy bay F14 trực thuộc tàu USS Enterprise.

Nguồnhttp://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Frequent_Wind (http://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Frequent_Wind)
Nghe nói lính ngụy lái máy bay tháo chạy qua Thái lan nhiều lắm phải không các bác;có Bác nào thống kê được không-post lên qsvn cho anh em biết với ?
 Tiếc thật đấy ,bây giờ bỏ tiền sắm thì ...khằm à.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh thong tin trong 01 Tháng Bảy, 2010, 10:37:23 AM
Lúc nào họp quân đi Lào, các bác a lô lên mạng cho chúng em tham gia với nhé. Bọn em là quân C ngắn nên không được coi là quân tình nguyện.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: q.trung trong 01 Tháng Bảy, 2010, 10:47:31 AM
Gửi bởi: linh thong tin 

"Lúc nào họp quân đi Lào, các bác a lô lên mạng cho chúng em tham gia với nhé. Bọn em là quân C ngắn nên không được coi là quân tình nguyện "

Anh muốn đi thì liên lạc với ông Khiêng, các vị ấy có ban liên lạc, có họp hành nộp hội phí đầy đủ, vừa rồi họp đấy, anh nào hội viên được lĩnh cái huân chương, oai lắm.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: doi_bui trong 01 Tháng Bảy, 2010, 11:23:25 AM
Xen ngang một chút.

      Sáng hôm nay (27/6/2010), tại nhà khách Bộ Quốc phòng (số 1 Trấn Vũ) đã có cuộc gặp mặt thân mật của các CCB sư đoàn 968 Quân tình nguyện Nam Lào. Số người đến dự độ hơn trăm rưởi.

       Lính Trung đoàn 9B chúng tôi chiếm cũng tới gần 1/4 quân số. E9B tự hào có những vị tướng đã trưởng thành từ đây như thượng tướng Lê Khả Phiêu, trung tướng Nguyễn Quốc Thước, trung tướng Nguyễn Phước Thanh, thiếu tướng Vũ Xuân Sinh...

       Lần gặp mặt này chúng tôi được kê khai về thành tích và thời gian tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào, nghe nói sẽ được Nhà nước Lào xét tặng huân, huy chương. Tuy vật chất có thể cũng không có gì, nhưng chúng tôi đã được vinh danh (có cái treo trong nhà để dọa vợ con, hàng xóm, bọn cán bộ Phường xã quan liêu...).

         Không hiểu sao cứ mỗi lần họp mặt quân tình nguyện Việt Lào, tôi lại nhớ đến Trung sĩ 1, đến Lê Thái Thọ... với những ước mơ cháy bỏng của các anh là được công khai vinh danh về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường K. Đơn giản vì chúng mình đều là những người lính tình nguyện của QDNDVN./.

        Hỏi thêm: các bác Tai_lienson, Q. Trung, Minhson, Linhthongtin... cũng là quân tình nguyện Việt Lào, các bác có dự ngày truyền thống 30/10 và được nhận Kỷ niệm chương của Bộ QP tặng không?


Chú cùng đơn vị ông già vợ cháu, ông bị thương năm 1968 tại Huế nhưng giờ chưa có chế độ gì cả. đang quay vào Đông Hà để xác minh.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 02 Tháng Bảy, 2010, 11:55:43 AM
Bọn em vẫn nguyên đội hình E, F cả khi ở Lào ,và ở K nhưng mọi chuyện cũng phải đến khi về quân khu mới thấy cơ quan QSDP triển khai , ở chủ lực chuyện khen thưởng huân huy chương hình như không được chú ý hoặc là các trợ lý chính sách thay đổi liên tục nên nghiệp vụ không có
 Em trực tiếp làm công tác chính sách mấy năm phải nói là rất tận tâm tận lực , có thời kỳ bọn em   tổ chức khảo sát  số người được hưởng trên địa bàn rồi vác loa xuống từng xóm đọc các chế độ chính sách , cùng cán bộ địa phương mời các bác cựu đem giấy tờ đến kê khai làm chế độ . Nhưng lên đến cấp trên mới nhiêu khê,trực tiếp cử người ra Viện thi đua làm ,chi cả tiền bồi dưỡng cho bộ phận đóng dấu ... rồi sơ suất trong đánh máy chữ tác ra chữ tộ , sơ suất trong khi gửi trả chế độ lẫn địa phương này sang địa phương khácvv,, việc kéo dài cả chục năm mà vẫn không trọn vẹn . Khôi hài là ngay em làm cho em nhưng vẫn không được ....


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh thong tin trong 02 Tháng Bảy, 2010, 12:33:41 PM
Ngay cái việc thực hiện QĐ 142 cho số anh em không có lương hưu phát xong đợt 1 từ cuối năm ngoái đến nay đã giữa năm 2010 rồi mà đợt 2 (thiếu giấy tờ) vẫn chưa thấy đâu, nói chi đến đợt 3 (không còn giấy tờ).


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: q.trung trong 02 Tháng Bảy, 2010, 03:22:14 PM
Cố lên anh Linh ạ, lại còn được cả bảo hiểm ytế nữa đấy, không mất tiền, tay quân sự phường Quỳnh mai gọi tôi đem giấy tờ nộp phường. mấy tháng rồi vẫn chưa được, nhưng chắc là không trước thì sau thế nào cũng có, riêng cái chất độc da cam chẳng thấy  thông báo gì. cái qđ 142 thì tôi lĩnh rồi, mua được cái tivi lcd32 in là hết.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh thong tin trong 02 Tháng Bảy, 2010, 04:23:22 PM
Anh nộp giấy tờ cho phường để làm cái gì? Anh chưa vào Hội CCB phường à? Khi nghe phong phanh có chuyện làm BHYT miễn phí cho CCB, tôi phải nhảy vào hội luôn rồi kê khai với ông chi hội trưởng. Có cái BHYT lúc nào đi hoàn vũ được 10 tháng lương tối thiểu đấy. Bây giờ sáng nào cũng đi tập thái cực quyền với hội, vui lắm, chắc cũng còn lâu mới phải đi hoàn vũ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 02 Tháng Bảy, 2010, 05:15:24 PM
Các bác lạc đề thì em sẽ xóa bài và nếu còn tiếp tục lạc đề thì....

Tại sao các cụ ít chịu đọc tên topic và chịu hiểu nó nói về cái gì, về thời điểm nào thế nhỉ? ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: lethaitho trong 02 Tháng Bảy, 2010, 05:45:43 PM
Các bác lạc đề thì em sẽ xóa bài và nếu còn tiếp tục lạc đề thì....

Tại sao các cụ ít chịu đọc tên topic và chịu hiểu nó nói về cái gì, về thời điểm nào thế nhỉ? ;D

TL thông cảm! Mấy lão lính này trinh độ vi tính và trình độ tham gia diễn đàn đều thuộc dạng binh nhì, binh nhất cả. Vả lại nhiều khi trong đầu nó chợt nghĩ đến cái gì là pọt luôn cái đó nên nó vậy. Ai cũng thạo như TL thì còn nói làm gì! Lúc ấy mấy cái cột điện của TL mang ra làm củi đun hết!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 02 Tháng Bảy, 2010, 06:05:39 PM
Thông cảm chứ, có thông cảm thì em mới chỉ nhắc, không thông cảm thì em xóa bài lâu rồi! ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 03 Tháng Bảy, 2010, 01:00:30 PM
….
              Thời gian ở Nam đường 23 xảy ra thật lắm chuyện. Vui cũng có mà buồn cũng có. Mùa mưa đang vào độ đỉnh điểm giữa mùa. Mưa nhiều hơn, kéo dài và liên tục hơn. Người lúc nào cũng ẩm ẩm. Đi rừng lúc mưa khó chịu lắm. Quàng áo mưa thế nào cũng ướt. Gấp đôi lại mà quàng phía trên thắt lưng thôi, không dám mở to vì sợ đi rừng cây nó cào vào rách hết nilon rồi sau lại không có cái mà dùng. (Tấm nilon của lính mình là tốt nhất. Bọn địch nó cũng có nilon là tấm vải dù quét nhựa. Loại này nhẹ mềm nhưng không chống được mưa to. Còn loại Pông-xô che mưa rất tốt nhưng nặng chình chịch, chả ai muốn dùng). Phía dưới ướt đã đành, mà đầu và cổ trước sau rồi cũng ướt. Lính tráng khi đó thằng nào cũng có một cái ví vỏ nilon để đủ các thứ linh tinh. Cần giữ khô nhất là cái bật lửa và cái túi con đựng thuốc lá. Chỗ tạm trú quân có đào hầm trên dốc cao, không bị ngập nước, nhưng hầu như chả ai chịu vào nếu không có pháo bắn. Ban đêm chúng tôi cứ mắc võng sát đó mà nằm. Chỉ có về đêm mới là thời gian riêng của mình. Duỗi thẳng chân tay trên võng cho nó đỡ mỏi, hay khoanh tay trước ngực để tự ủ ấm mình mà ngủ. Mơ gì tùy thích, nhưng nhiều khi đặt lưng lên võng là ngủ như chết. Sẽ quên đi tất cả nếu nửa đêm không bị thằng khác gọi dậy gác.

              Lính Hà Nội chúng tôi vào đây mấy tháng rồi, nhưng hầu như chỉ có trong cùng C gặp được nhau, còn khác C và nhất là khác K thì chịu. Chẳng biết những thằng ở các C trên Trung đoàn thế nào. Một lần theo đại trưởng Băng về tuyến sau, tôi gặp bọn hỏa lực trung đoàn. Trong E tôi có 2 C hỏa lực. Một C có DKB và cối 120 ly. C khác có DKZ và 12ly7. Lần đó tôi gặp thằng Lân "xế lô" ở cối 120 ly. Chúng nó đi hướng Lào Ngam đường 231 về đến đó thì nhập chung với đường về của chúng tôi. Đó là một giông đồi rất cao gần huội Chăm Pi. Thằng Lân cũng chẳng cao to gì hơn tôi, vào C16 hỏa lực được ưu tiên vác cái núm "qui tỳ" của khẩu cối vì nó nhỏ con nhất tiểu đội cối. Lúc gặp nhau thấy nó lấm lem bùn đất đầy người, chào hỏi mà như mếu. Hóa ra nó đang đánh vật với cái núm qui tỳ. Đó chính là cái cục sắt có kim hỏa nằm ở cuối nòng khẩu cối, chỗ gắn với bàn đế. Cái cục đó tròn như cái cối đá nhỏ, nặng tới ba chục cân chứ không ít. Vì nó tròn nên rất khó vác. Dốc huội Chăm pi rất dốc và cao, đường từ huội lên đỉnh dốc phải tạo ngoắt ngoéo chữ chi cho dễ đi. Vì trời mưa, dốc cao, đường trơn nên thằng Lân bị trượt chân ngã liên tục. Mỗi lần như thế, cái cục qui tỳ lại lăn vào bụi rậm. Thế là lại phải hạ ba lô rồi chui vào vần ra. Cũng phải lên gân lên cốt mới kéo ra được chứ. Rồi lại đeo ba lô, lại dé chân chèo để bốc nó lên vai. Có lần thằng Lân "tối kiến" lấy dây dù buộc vào cái mấu (phần cắm vào đế cối) rồi quấn vào người với hy vọng khi ngã cái núm qui tỳ không lăn xa. Không ngờ ở chỗ dốc quá, khi ngã cái núm qui tỳ vẫn lăn lông lốc, còn sợi dây thì giằng vào cổ thằng Lân thít lại, suýt nữa thành treo cổ nằm ngang. Mấy thằng khác trong A cối cũng nặng nhọc không kém vì phải khiêng đế và nòng cối còn cồng kềnh và nặng hơn, nên chẳng giúp được gì cho thằng Lân. Gặp nó trong cảnh đấy, tôi cũng xáp vào cùng nó hì hục vần cái núm qui tỳ cho đến khi lên được tận đỉnh dốc. Người tôi cũng bê bết đất, mệt rã rời. Dạo trước lúc mới chia quân đôi khi thắc mắc là tại sao, tiêu chuẩn nào mà bọn thằng Lân, thằng Khiêm được bổ sung vào hỏa lực (luôn ở phía sau, sướng thế), còn mình lại vào bộ binh ở tuyến trước, gần hơn với cái chết. Sau vụ gặp và giúp thằng Lân vần cái núm qui tỳ lên dốc huội Chăm pi, tôi dẹp ngay cái suy nghĩ ấy. Sống chết có số. Nếu phải chết thì chết ở tuyến đầu sướng hơn, ít nhất là không phải hành quân chiến đấu quá vất vả như thế.

               Chia tay thằng Lân, tôi phải gần như chạy mãi mới đuổi kịp đại trưởng Băng. Anh ấy xạc luôn sau khi tôi nói lý do bị rớt lại. Anh ấy bảo, "ai có nhiệm vụ người ấy, nhiệm vụ của cậu là bám sát tôi nghe lệnh chứ không phải gặp đồng hương là dừng lại giúp như thế. Nếu không phải đang về hậu cứ mà đi sang hướng khác, làm sao cậu tìm được tôi". Tất nhiên là tôi sai rồi. Sau này tôi còn nhận ra là mình không đủ khả năng để làm một thằng liên lạc nữa cơ, vì sức khỏe của tôi chỉ có hạn. Hôm đó, dọc đường đi, Anh Băng lúc thì dừng lại lấy dao găm đào một búp măng mai, lúc lại rẽ ngang nương dân đào mấy củ dong riềng già hay vặt ít lá thuốc lá. Tất cả đều giao cho tôi mang. Anh ấy đang dạy tôi thêm nhiệm vụ khi đi đường luôn phải để ý tìm và kiếm đồ cải thiện thêm cho BCH. Tối về khu hậu cứ rừng già mà vắng tanh không có người, anh Băng bày tôi cách nấu các thứ. Thế là tôi biết thêm nhiệm vụ phải nấu ăn cho chỉ huy khi không đi cùng đơn vị có anh nuôi. Tôi tiếp thu rất nhanh và dần dà nấu nướng cũng khá thạo. Chỉ mỗi tội tôi không làm được nhanh và không lanh lợi bằng anh Liêu (cũng là liên lạc) người Bắc Thái vào chiến trường trước tôi hai năm. Anh ấy rất khỏe, có thể vác thay cả ba lô cho thủ trưởng. Hai ba lô mà đi băng băng, dọc đường dừng lại đào vội một củ măng mai bên đường mà vẫn theo kịp đội hình hành quân đơn vị. Ngay cả khi ở hậu cứ có anh nuôi nấu cơm chung, ngoài cơm và thức ăn chia giống như lính, bao giờ anh Liêu cũng nấu thêm một món thức ăn khác bổ sung cho bữa ăn của các thủ trưởng (và của cả liên lạc nữa).

               Được dịp đi theo chuyến công tác về hậu cứ hội họp của thủ trưởng, tôi cũng có thêm điều kiện gặp lính Hà Nội ở các đơn vị khác để hỏi thăm tin tức của nhau. Có một chuyện của thằng Tuấn "đen" làm lính Hà Nội bọn tôi không được vui. Tôi đã kể về thằng này ít nhiều trong những trang hồi ức trước. Nó ở cùng B với tôi từ ngày mới vào lính (C36 D50) ở trong dốc Bụt (Hòa Bình), rồi lại cùng nhau chuyển ra ngoài C40 D52 ở khu suối cạn ngoài Bãi Nai. Thằng này chỉ tội đen thôi, chứ khuôn mặt nó rất đàn ông và đẹp trai, dáng dấp khỏe mạnh. Đặc biệt nó có giọng hát rất trầm ấm. Nó không hát nhạc vàng, nhưng lúc sinh hoạt đại đội, nó hát mấy bài thời tiền chiến như bài "Đêm đông"… thì nghe tuyệt vời lắm. Lẽ ra nó phải vào Văn công thì hợp hơn, nhưng lúc đó người ta cần thêm tay súng chứ không cần thêm giọng ca, nên nó vẫn đi B cùng chúng tôi. Nó còn hơn những thằng như tôi là đã có người yêu (lại rất xinh nữa chứ). Người yêu tiễn nó vào bộ đội và tiễn nó cả lúc đi B với những lời thề non hẹn biển. Người yêu của nó nói "chỉ cho anh đi B 6 tháng thôi" và nó đã đinh ninh lời dặn ấy. Thời gian phía trước trôi đi thật chậm lúc người ta mong ngóng, nhưng lại trôi quá nhanh khi ta ngoái đầu nhìn lại. Kể từ lúc chúng tôi rời Đại Mỗ (Hà Đông), hành quân qua Trường Sơn rồi vào đơn vị, hưởng mùa mưa đầu tiên trong chiến trường thì sáu tháng trời đã trôi qua lúc nào không biết. Những người lính theo đoàn quân hành quân rầm rập vào Nam thì chúng tôi ai cũng biết, nhưng con đường trở ra Bắc sẽ như thế nào thì lại không ai hay. Có một điều chắc chắn rằng không ai dám mong đó là đường về trong đoàn quân ngày  chiến thắng, vì ai biết bao giờ mới kết thúc chiến tranh. Thằng Tuấn "đen" hiểu lờ mờ con đường về trước mắt chỉ có thể là con đường lẻ loi đối với cá nhân từng người lính mà thôi. Thế là nó đã tự chọn cho mình con đường đau thương nhất: tự thương. Nó lấy đủ loại khăn vải quấn quanh cổ tay rồi dùng súng AK tự bắn vào tay mình trong một lần K15 của nó ra tuyến trước.

               Các bác sĩ (và cả y sĩ, y tá) trong chiến trường là những chuyên gia bậc thầy về giám định vết thương. Kết hợp với tình huống chiến đấu và vết đạn, mùi khói súng trên vết thương, họ dễ dàng bắt được thằng Tuấn nói ra sự thật. Nó được đưa về trạm xá trung đoàn. Nó cũng được chữa chạy, nhưng không được đối xử tử tế như những thương binh khác, nếu không muốn nói là bị phân biệt. Người ta khinh rẻ nó ra mặt và luôn bỏ rơi nó. Những thương binh khác bị vết thương như thế chỉ cần hai tuần là khô vết thương, sau một tháng có thể được giám định sơ bộ để chuyển ra Bắc hay đưa trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Vết thương của thằng Tuấn "đen" tới sáu tháng sau vẫn chưa lành. Tới tận sau hiệp định Viên chăn (Hiệp định đình chiến tại Lào này ký sau Hiệp định Pari - Việt Nam một tháng và cũng có ý nghĩa giống như Hiệp định Pari vậy), thằng Tuấn vẫn còn ở trên Trạm xá Trung đoàn. Chúng tôi đi công tác lên đó gặp nó không được tự do mà phải hạn chế trong một phạm vi nhất định. Những thằng đào ngũ đã quay lại đơn vị cũng không bị đối xử đến mức như nó. Sáu tháng rồi mà vết thương của nó vẫn không lành, có lúc còn đầy ròi, tưởng như phải cắt bỏ cả cái tay. Vết tiêm trên bắp tay của nó cũng bị áp-xe, nhiễm trùng. Nó không được cấp đủ thuốc mà cũng không dám kêu, vì mở mồm ra là bị mắng chửi. Có lúc muốn ép mủ từ vết thương ra mà không có người giúp, nó phải nhét gấu áo vào mồm cắn chặt rồi ra nắm chặt tay vào một cành cấy, nén đau lên gân vặn cho cơ tay nó ép mủ trào ra. Một lần thằng Kim "con" cùng C lên gặp nó đúng lúc như thế đã xông vào giúp rồi chửi ầm lên mắng y tá, nhưng đã nhanh chóng bị tống cổ ra khỏi khu quân y. Sau thằng Kim "con" gặp kể lại chuyện cho tôi, tôi cũng thấy rơm rớm nước mắt vì thương thằng Tuấn. Dù sao nó cũng là đồng đội, là đồng hương Hà Nội với tôi.
 
                Chúng tôi không nghĩ là người ta lại có thể xử ác như thế với thằng Tuấn, tuy nó có lỗi lầm. Nhưng hèn nhát chưa chắc đã phải là một cái tội. Thằng Tuấn phải tự lau rửa vết thương cho nó bằng nước muối pha. Khổ thêm một nỗi là mùa mưa năm đó, trung đoàn chúng tôi cũng thiếu muối. (Nhiều khi trong đơn vị chúng tôi không nấu thức ăn có muối, mà muối nhận về được đếm hạt chia theo đầu người để tự bảo quản và sử dụng. Chuyện này tôi sẽ kể riêng sau). Lính Hà Nội chúng tôi thương nó tìm cách góp muối gửi cho nó để nó tự rửa vết thương. Chuyện này cũng phải làm giấu chứ không dám công khai. Có lẽ tình đồng đội cũng giúp được nó ít nhiều để cuối cùng cái tay của nó cũng trở nên lành lặn. Mãi tới cuối mùa khô năm 1973, Tuấn "đen" mới được ra Bắc, tất nhiên không phải với tư cách là một chiến sĩ quân giải phóng. Lính Hà Nội chúng tôi chẳng ai biết mà tiễn nó. (Sau năm 1985 tôi có gặp lại, nhưng nó không muốn nói chuyện nhiều. Chúng tôi có mời nó đến gặp mặt vào ngày nhập ngũ 4/9 tổ chức hàng năm, nhưng không lần nào nó đến. Có lẽ nó còn tự mặc cảm thôi, chứ chúng tôi cũng không nghĩ xấu về nó).

…..


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: kisilangthang trong 03 Tháng Bảy, 2010, 01:07:22 PM
Thông cảm chứ, có thông cảm thì em mới chỉ nhắc, không thông cảm thì em xóa bài lâu rồi! ;D
@Bác Trọng, tại bác lâu lâu mới hành quân tiếp làm cho các bác khác tranh luận lại dẫn đến lạc đề ??? Có điều kiện thì bác nhớ hành quân liên tục nhé bác :D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: linh thong tin trong 05 Tháng Bảy, 2010, 04:55:12 PM
Bác admin ơi, không biết trong trang quân sử này có topic nào giải đáp về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước giành cho CCB không để anh em thắc mắc còn biết đường hỏi nhau. Nếu chưa có thì đề nghị mở riêng một tôpic chuyên về khoản này. Xem ra nhiều người hãy còn mù mờ về chế độ chính sách lắm. Hỏi phường thì phường bảo chưa có hướng dẫn hoặc không nắm được. Không có nhẽ lại vượt cấp lên quận hỏi (như cái đoạn giấy XYZ ấy).


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Bảy, 2010, 05:08:38 PM
Diễn đàn quansuvn không phải của Nhà nước, Quân đội hay Bộ LĐ-TB&XH nên không có chức năng "giải đáp" về chế độ, chính sách bác ạ!

Tuy nhiên, nếu các bác CCB muốn tự hỏi - tự đáp nhằm giúp nhau hiểu thêm và có thể qua đó giúp nhau có quyền lợi chính đáng thì BQT và cá nhân em sẵn sàng ủng hộ. Mời các bác tạm mở topic về vấn đề trên dưới box Quán nước trong khi chúng em nghĩ cách "quy hoạch" cho nó! ;D 


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 09 Tháng Bảy, 2010, 09:48:29 AM
……
              Bọn lính Nam Hà vào sau chúng tôi hai tháng đánh nhau rất gấu. Đoàn Tân binh đó chỉ đông hơn đoàn chúng tôi một chút. Trong khi đoàn Hà Nội chưa có lính nào hy sinh, thì lính Nam Hà đã bị hy sinh và bị thương khá nhiều. Không riêng các K15 và K16 ở hướng đường 231, ngay trong K18 chúng tôi khi thay chốt đánh nhau cũng như vậy. Có trường hợp bị thương rất đau lòng. C6 chúng tôi đã phải chi viện để đi khiêng thương binh tử sĩ. Có lần tôi khiêng một thương binh Nam Hà ở C5. Thằng này mang AK, lúc đánh đường 231 vận động lên cùng đội hình lại chạy ngay sau thằng B40. Thằng mang B40 khi bắn không quan sát phía sau, cứ thản nhiên làm "rầm" một phát. Quầng lửa phụt lại trúng luôn vào mặt thằng tân binh. Thằng này bị bỏng nặng, khiêng về cứu sống được nhưng bị mù hai mắt. Súng AK của nó chưa bắn viên nào. Trận đánh đầu tiên cũng là trận cuối cùng trong đời của người thương binh nặng (chắc là hạng cao nhất) mới 18 tuổi đó. Chúng tôi vừa khiêng vừa thương nó, nhưng cũng trách thầm sao tập tành không đến nơi đến chốn.

               Trong C tôi có thằng Lễ (Nam Hà) cũng hăng máu lắm. Lính mới vào chỉ có AK, thế mà nó chỉ sau một đợt ra tuyến trước đã được giao B40 và cứ khư khư như bảo bối không nhường ai. Thằng Lễ ít nói, tính tình lạnh lùng. Ngày còn ở nhà, máy bay Mỹ đến ném bom vào làng trúng ngay ngôi nhà nó. Mẹ nó cùng hai đứa em gái bị chết. Nó cùng bố ra đồng cày đất nên thoát chết. Nó đã phải tự tay chôn mẹ và em. Vì thế mới hơn 17 tuổi một tý, nó đã nằng nằng đòi đi bộ đội. Văn hóa thấp, trình độ có hạn, học chính trị được phát biểu thì chỉ độ 3 câu là nó chửi Mỹ. Có lúc CTV phải ngăn nó mới dừng để người khác còn phát biểu. Thằng Thái "pi-tơ" có một lần chỉ lỡ phát biểu rằng "Trai thời loạn phải đi đánh nhau chứ thích thú chó gì", thế là nó xông vào đấm đá thằng Thái, nói là không biết căm thù giặc, là đồ hèn. Thấy nó thái quá như thế nên từ đó về sau chúng tôi tránh không nói đến chuyện chính trị với nó nữa. Đấy chỉ là ở hậu cứ, còn ra tuyến trước thì nó hăng lắm, lúc nào cũng đòi đánh nhau. Vừa mới nổ súng đã đòi hô xung phong, khiến có lúc tôi nghĩ, ở cùng thằng này có ngày chết oan. Nhưng cũng chính vì thế mà có lần nó bắt được tù binh, mặc dù thời gian ở Lào chúng tôi rất ít bắt được tù binh. Bọn lính Lào chạy nhanh lắm. Kể cả bị thương nhẹ, nếu trong tình huống rút lui là nó biến mất rất nhanh. Còn nếu nó bị thương nặng là chúng tôi "bòm" luôn. Khiêng thương binh của mình vượt suối leo dốc cao đã mệt bỏ mẹ, giờ ôm thêm chúng nó vào thành tích chả thấy đâu, chỉ tổ ốm xác. Mà khai thác gì cái bọn tù binh này, chúng cũng chỉ là lính trơn. Mùa mưa nống ra thì phải đánh nhau nhì nhằng chứ kế với hoạch quái gì. Thế mà lần phục kích ấy, vừa nện xong quả B40, xung lực AK còn đang quạt "tằng tằng…" thì thằng Lễ đã lao ra đường tống cả cái nòng B40 không đạn vào ngực tên địch làm thằng này hoảng quá ngã lăn ra, giơ vội hai tay, chưa cần phải nghe lính ta hô "Ọc ma nhom bò tải" (hàng thì không chết). Chỉ khổ là sau đó đơn vị lại phải trích ra hai người để giải thằng này về tuyến sau. Mà lúc giải nó đi cũng khổ. Phải trói nó hai tay, lại buộc luôn một khúc gỗ to và dài vào người nó cho yên tâm, chứ nếu không lúc qua suối sâu, dù đi đất hay đi giày, nó cũng đi phăm phăm lôi lính mình trượt ngã lên ngã xuống dưới lòng suối.

               Chỉ mới vào đơn vị được 3 tháng, đánh vài trận, khi A trưởng hy sinh là thằng Lễ lên làm A trưởng luôn. Tiểu đội nó có cả thảy 5 người. Bốn thằng lính trong A nó rất vất vả vì nó quá hăng hái. Lúc ở hậu cứ, chỉ mới nghe cán bộ đại đội nhắc anh em củng cố lán trại cho tươm tất một chút, thế là ngay trưa hôm đó nó kéo cả A bỏ giờ nghỉ sang tít tận cái rừng bên cạnh chặt nứa. Nói là bên cạnh thôi nhưng cái rừng đó cách chỗ chúng tôi hai cái dốc, đi không cũng phải bở hơi tai mất 30 phút. Lại phải mất thêm buổi trưa không nghỉ nữa để thưng lại mấy cái bức liếp quanh hầm thùng. Nếu là A khác thì  lính kêu bằng chết, nhưng lính của A  nó thì không dám kêu to vì sợ nó chửi. Thằng này chửi cũng đơn giản lắm, không văn hoa gì đâu mà chửi bậy rất tục, gọn và cục cằn. Đôi lúc thấy nó chửi lính A nó, tôi thầm mừng là may mà mình không bị ở cùng nó. Tôi lại còn cười thầm là thằng này chửi văng ra mấy thứ bậy bạ như thế, nhưng chắc đếch gì nó đã một lần được nhìn thấy cái của mà nó văng ra. Mà của đáng tội là thằng này cũng không phải là loại khéo tay hay thạo việc nhà, nên cái vách hầm thùng bên A nó tuy được thưng lại mới nhưng chỉ kín chứ không đẹp. Nói vụng chứ nó không hơn cái nhà cầu của A khác bao nhiêu.

               Dạo chúng tôi ở hậu cứ gần bản Xăm-xi-nuc "may", nhiều đêm có máy bay địch đến gọi loa kêu chiêu hồi. Mới đầu chúng tôi không để ý, chỉ thấy lạ là lúc bắt đầu tổ chức canh gác (khoảng 9 giờ tối) thì nghe trên đầu có tiếng máy bay ì ì rất nặng rồi nghe như có tiếng loa, tiếng được tiếng mất. Sau chú ý thì thấy vào đêm trời quang có máy bay vận tải của địch bay chậm trên các cánh rừng. Rừng già rất dày nên nó không thể nhìn thấy chỗ chúng tôi đóng quân, nhưng chắc nó cũng khoanh được vùng tọa độ. Không biết nó bắc loa trên máy bay kiểu gì mà nghe cũng khá rõ. Nó nói tiếng Việt, kêu gọi chúng tôi trở về miền Bắc hoặc ra Pắc-xế đầu hàng. Nó cũng đọc tên của lính mình mà nó bắt được. Thời gian chúng tôi ở Lào, số lính mình bị bắt làm tù binh rất ít, song cứ có vụ nào là nó lại bay và gọi loa rỉ rả suốt đêm. Điều đặc biệt là nghi ngờ vùng đóng quân của chúng tôi, nhưng chúng lại không dội bom tọa độ. Có thể chúng cho rằng cái máy bay ấy bay gọi loa sẽ phủ được trên cả một vùng rộng mà B52 nếu có ném bom cũng không xuể chăng. Một điều khác nữa là nó chỉ gọi loa chứ không thả truyền đơn chiêu hồi như trên chiến trường B3. Một lần trời quang có máy bay bay như thế, thằng Lễ nổi khùng vác AK xả hết gần một băng lên trời ở cái bìa rừng nơi A nó đóng quân. Tất nhiên là không thể bắn tới cái máy bay ấy được, nhưng nó tức quá mà bắn. Cái máy bay chắc cũng không phát hiện ra nên chẳng đếm xỉa gì đến chuyện đó. Chỉ có chúng tôi được phen hoảng hồn lo lắng. Thằng Lễ bị gọi lên BCH đại đội, nhưng vì cái lý căm thù giặc kèm theo cái nhận thức thấp của nó, cộng với việc hậu cứ vẫn chưa bị lộ nên nó chỉ bị khiển trách và rút kinh nghiệm.

              Mới tuổi thanh niên nhưng thằng Lễ đã hói đến 1 phần 3 đỉnh đầu. Mặt mũi nó lúc nào cũng sứt sẹo vì khi đi đường có mấy khi nó chọn đường quang đâu. Khi lùng sục thì cứ thẳng hướng mà đạp đường, bụi gai thường chứ tre gai hay mây song nó cũng không ngại. Thế nên vết cào cũ chưa liền da thì đã vết mới đã xuất hiện. Quần thì hầu như lúc nào cũng ống thấp ống cao, xộc xệch. Ở hậu cứ thì thế đấy, nhưng lúc hành quân hay chiến đấu thì thằng Lễ chững chạc hơn nhiều. Nó chẳng ngại khó và nguy hiểm nên chúng tôi rất nể và quý nó. Vì cái chuyện chết hụt khi ở nhà nên nó bảo số nó không chết được. Có lẽ thế thật. Vào chiến trường được hơn một năm thằng Lễ đã được kết nạp Đảng. Sau này khi về miền Nam, đi đánh chốt được vài trận, nó được rút lên học quân chính trên sư đoàn. Về sau nó được bổ nhiệm về làm B trưởng bên E64 (theo chính sách đảo quân của B3) và không về đại đội nữa nên chúng tôi cũng mất tin tức về nó luôn.

              Ngoài thằng Lễ nổi bật ra, bọn lính Nam Hà khác cũng sàn sàn như bọn tôi. Ngoài chuyện đánh nhau và cùi cõng ra, những kinh nghiệm sống của chúng nó cũng không hơn gì chúng tôi. Có lẽ quê chúng nó là vùng đồng chiêm trũng, nghề phụ không có gì nên vào lính cũng không có gì đặc biệt để thi triển. May chăng có món bơi lội và bắt cá, nhưng ở rừng thì những món này ít gặp. Trong đơn vị tôi rất ấn tượng với các anh lính quê rừng núi và các anh Hà Tây. Đặc biệt là có anh đã đi làm chán chê rồi mới vào lính. Anh Liêu liên lạc với tôi cũng vậy. Đợt ở đường 23 dài ngày, chính anh ấy đã tìm và chỉ cho chúng rôi những cành Gắm trong rừng già. Khi đói thì ăn quả gắm cũng tốt lắm. Khai thác nó cũng phải cẩn thận. Phải cho vào bao cát rồi đem ra suối chà cứ nếu để lông gắm dính vào tay chân thì ngứa bằng chết. (Vào chiến trường tôi mới biết đến từ "bao cát". Thực ra nó là của địch. Có hai loại bao cát, một loại bằng vải dứa, một loại là sợi tròn như vải. Tất cả đều là dạng sợi tổng hợp pha nilon. Kích cỡ của nó chứ được từ 15 đến 20 kg đất. Cho đất vào đó rồi buộc túm lại để đem đắp lên làm công sự. Hầu như trận đánh nào, trừ những trận phục kích, chúng tôi cũng phải đem theo bao cát làm công sự cho nhanh). Hạt gắm đem rang ăn rất bùi. Anh Liêu bảo quê anh ở Bắc Kạn có rất nhiều cây gắm trong rừng, nhưng quả nhỏ hơn trong này. Về sau anh ấy còn giúp chúng tôi đào cả củ mài nữa. Trong thời gian làm liên lạc cùng anh Liêu, anh ấy còn dạy tôi cách sao chè. Tranh thủ lúc đi cải thiện hay đi công tác qua các bản bỏ ở đường 23, anh ấy dẫn tôi tạt vào vườn chè để hái. Ngắt ngọn 3 lá là vừa và ngon nhất, anh ấy hái rất nhanh, chỉ đi lướt lướt qua mà hái được rất nhiều. Khi về hậu cứ anh ấy lấy mảnh tôn ra bắc bếp và bỏ chè vào sao. Chè hái ở vườn không báo giờ rửa, có thể mới nguyên chất. Đảo một lúc trên bếp lại phải bỏ ra miếng tôn khác để vò cho nó mềm đều. Cứ như thế vài lượt, tay thì đen nhẻm vì nhựa chè, còn sản phẩm là một ít chè móc câu đàng hoàng. Không có hương bưởi hương sen, nhưng như thế là quá tuyệt. Ngoài ra anh Liêu còn dạy tôi cách tìm dây lông beo trong rừng. Loại dây này sau khi bứt đem xoắn lại cho mềm hoặc tết nhiều sợi lại thì được sợi dây còn bền hơn dây thừng. Càng ngâm nước càng chắc nên dùng trong mùa mưa thì không gì bằng. Anh ấy còn dạy tôi cách buộc các nút thắt, thật không khác gì trong sổ tay của các hướng đạo sinh thưở trước. Phải chăng chính những điều như thế đã giúp tôi trở thành một người chăm làm và tháo vát khi ra quân trở về với cuộc sống đời thường?

….


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 10 Tháng Bảy, 2010, 03:47:30 PM
Chuyện bác kể về bác Lễ hay thật ,một mẫu người mà ở đơn vị nào cũng có ,có thể hoàn cảnh xuất thân của họ khác nhau nhưng có cái  chung là sự hăng hái nhiều lúc thái quá có thể dẫn đến những hy sinh không đáng có , nhưng chính những người lính mang tâm hồn trong sáng có  nhận thức mộc mạc đó là nòng cốt  là chất xúc tác của ý chý chiến đấu trong đơn vị .Nếu đơn vị không có những người lính như vậy thì sức mạnh giảm thiểu biết bao nhiêu
 Tuy nhiên các bác đó được đào tạo bồi dưỡng chỉ huy đến cấp C là tốt , lên nữa chắc sẽ gặp nhiều khó khăn


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: q.trung trong 10 Tháng Bảy, 2010, 04:28:25 PM
Tôi đọc cho các bạn nghe một mẩu thơ tâm lý chiến trên truyền đơn thả đầy rừng núi khi chúng tôi mở chiến dịch 139 năm 1969:
  " Từ ngày con lên đường xa mẹ
     Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung
     Non xanh nước biếc chập chùng
     Sớm nắng biển chiều mưa rừng, gian khổ...

 Gì gì đó rồi đến:
   
    ...đã nhiều lần tay con run rẩy
      Khi gài mìn và sau bỗng thấy
      Xác người tung, và máu đổ chan hoà...

Lâu quá rồi không nhớ được nữa nhưng mà hồi đó vừa đọc vừa cười tủm, cái bọn củ chuối. Vừa ăn cướp vừa la làng. Mắt mình nhìn thấy nó giết dân như nghoé mà nó lại đổ cho mình, Hồi đó nó còn lợi dụng việc bác Hồ mất. nó bảo hết người lãnh đạo rồi, về hồi chánh theo chánh nghĩa quốc gia, các em gái hậu phương đang mỏi mòn chờ đợi. he he. nhiều cái ngớ ngẩn buồn cười lắm ;D


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: tai_lienson trong 10 Tháng Bảy, 2010, 04:33:48 PM
Tiếp :.
sớm nắng biển chiều mưa rừng gió biển
.''Chiều Trường sơn núi rừng cô quạnh
 Mẹ hiền ơi con chợt nhớ quê nhà
 Khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh
 Con bướm trắng mái đình xưa nhớ quá ....
 Truyền đơn này hồi 72 máy bay Mỹ thả xuống quê em trắng đồng cùng nhiễu B52 , bọn trẻ con đứa nào cũng thuộc


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Mr.Ngan trong 10 Tháng Bảy, 2010, 09:50:22 PM
Lâu quá rồi không nhớ được nữa nhưng mà hồi đó vừa đọc vừa cười tủm, cái bọn củ chuối. Vừa ăn cướp vừa la làng. Mắt mình nhìn thấy nó giết dân như nghoé mà nó lại đổ cho mình, Hồi đó nó còn lợi dụng việc bác Hồ mất. nó bảo hết người lãnh đạo rồi, về hồi chánh theo chánh nghĩa quốc gia, các em gái hậu phương đang mỏi mòn chờ đợi. he he. nhiều cái ngớ ngẩn buồn cười lắm ;D
Hơn hai tháng trước, tôi có một chuyến đi vào Pleiku đi theo đường Hồ Chí Minh, qua đoạn Khe sanh, a sầu, a lưới, có bác Thanh đi cùng đoàn khi xưa  là lính cận vệ của Tướng Chơn có kể là vào năm 1969 khi Bác Hồ qua đời, đúng là quân ta có một khoảng thời gian ngắn tinh thần giảm sút, hoang mang giao động vì sự ra đi của Bác, Lãnh tụ của cuộc cách mạng..Bên kia chiến tuyến, kẻ thù cho máy bay dùng loa ra rả tuyên truyền rằng Cộng sản Bắc Việt đã như rắn mất đầu...càng làm cho tình hình quân ta rối ren..


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 19 Tháng Bảy, 2010, 08:26:08 AM
……
              Mùa mưa đầu tiên trong chiến trường tôi đã hưởng cái đói. Mà kể cũng lạ, khi ở nhà tiêu chuẩn gạo cán bộ của bố mẹ tôi chỉ có 13,5 kg một tháng (tôi khi đang là học sinh lớp 10 được hưởng cao nhất là 15 kg một tháng) thế mà sao vẫn đủ ăn, không thấy đói. Mà tiêu chuẩn đó là quanh năm, niềm mơ ước được đong gạo bông không bao giờ sợ đói so với dân làng ở quê đấy nhé. Vào trong chiến trường tiêu chuẩn là 21 kg một tháng, nhưng đó là trên giấy thôi, còn thực tế là có đến đâu phát đến đấy, thường là ít hơn. Bắt đầu từ lúc ăn 5 lạng một ngày là thấy đói, thấy thèm ăn rồi. Mà ở đất Nam Lào này mùa mưa chỉ có gạo nếp. Mùa khô thì có gạo đồ của Trung Quốc, thứ gạo không nở và không thể nấu thành cháo. Thành ra gạo nào thì cũng đói. Trên chiến trường Lào, lúc gay go nhất là ăn 3 lạng một ngày. Mỗi bữa một lạng cơm nếp nắm lại chỉ to hơn quả trứng vịt. Nhưng cơm nếp có ưu điểm là để được lâu hơn. Đi chốt cả ngày hay thậm chí 2 ngày chỉ cần tiếp tế cơm một lần. Khi nấu cơm nếp cho tí muối vào là đủ độ đậm, không cần thức ăn. Cũng vì trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến ăn nên lính tráng đi đến đâu cũng ngó nghé tìm ăn. Của rừng cũng được mà của dân cũng xong. Bản bỏ ven đường 23 nhiều đấy, nhưng không phải lúc nào cũng được đi qua, hay cây cối cũng phải có thời gian cho nó mọc chứ. Thế là cái từ "bài ca ống cóng" ra đời. Lính mà kém cái phần "ca cóng" là coi như kém hẳn một khả năng để tồn tại.

          Đợt cuối tháng 8 năm 1972 các đơn vị phải đi cùi cõng gạo đạn chéo cho nhau nhiều lắm. Thông thường cùi từ kho trung đoàn về kho dã chiến tiểu đoàn. Khi các C đi nhận gạo từ kho tiểu đoàn về, chúng tôi không được lĩnh gạo theo cân có đóng bao, mà nhận gạo theo đong soong. Một gạt bằng của soong 6 tương đương 5 kg gạo. Tức một nỗi nữa là cái soong dùng để phát gạo cho lính gao giờ cái đít cũng bị lõm vào trong một ít, nên một soong chắc không đủ 5 cân. Đi lĩnh gạo từ kho tiểu đoàn về C thì chúng tôi rất nghiêm chỉnh. Chỉ khi cùi gạo trung chuyển chúng tôi mới giở trò. Thoạt đầu chúng tôi cũng hiền lắm, nhưng hiền cũng không xong. Lúc nhận gạo ở kho trung đoàn, thường bọn ở kho đong cho chúng tôi bắng cái soong lõm đít. Khi trả gạo ở kho tiểu đoàn thì bọn ở đây lại nhận bằng cái soong lồi đít. Thế nên bao giờ chúng tôi cũng bị thiếu gạo. Tình ngay lý gian, lính tráng bị chửi mắng, nhưng chúng tôi cùi cõng theo cả đội hình, có cán bộ C đi kèm thì làm sao ăn cắp gạo. Có tụt hết tất cả ra mà khám thì cũng chẳng tìm được gì, cuối cùng là hòa cả làng. Vậy là 2 thằng thủ kho 2 đầu ăn gian đã dạy cho chúng tôi cũng chẳng cần thật thà làm gì cho mệt. Thế là dù không bảo nhau, nhưng thỉnh thoảng (chỉ thỉnh thoảng thôi) khi cùi gạo, lúc qua suối, thằng nào không phải mang súng là xoay cái cùi gạo nặng hơn hai chục cân của mình lại, ôm chặt trong lòng rồi vừa lội suối vừa cởi nút bốc ra một nắm gạo cho vào cái bình tông đeo bên mình, rồi buộc lại xong nút gùi thì cũng vừa vặn đi qua bên bờ kia suối. Làm thế không dễ đâu nhé, nhưng rồi cũng làm được. Mà ở cái bình tông cũng phải có độ non nửa là nước trong đó, vừa để ngụy trang, vừa không làm cho gạo bị nát mủn. Buổi chiều về đến nhà gom lại chui vào góc hầm nấu cháo là tối đến mỗi thằng cũng được lưng bát cháo hoa. Làm ít và kín đáo nên mùa mưa đó chúng tôi chưa bao giờ bị lộ. Âu cũng là cảnh đói ăn vụng, túng làm liều như các cụ đã dạy.

               Đấy là đánh lẻ khi ở hậu cứ. Ra tuyến trước thường không có gì. Trong rừng chim thú cũng nhiều, nhưng phải tùy vùng. Lại phải giữ bí mật nơi trú quân, nên thường chỉ có đi lùng sục lẻ mới có thịt thú rừng ăn. Đợt cuối tháng 8 năm đó, chúng tôi còn được đi cải thiện thịt ngựa theo chủ trương của tiểu đoàn. Số là khi ta giải phóng thị trấn Pắc-Soong, địch rút chạy đã đành, cả dân ở trong toàn thị trấn và ven đường 23 cũng chạy tứ tán. Các loại gia cầm gia súc được tháo cũi sổ lồng chạy hết vào rừng. Bên Lào thì chỉ cần đi ra khỏi bản độ vài trăm mét thì đã là rừng rồi. Ngày đầu chính sách dân vận được thực hiện nghiêm lắm, nhưng trò đời cái gì để lâu chẳng hóa bùn. Đuổi địch mãi thì cũng phải có lúc dừng lại làm hậu cứ trú quân. Lúc bận quá không sao, nhưng lúc có tí rỗi rãi, tất "nhàn cư vi bất thiện", mà cái bất thiện đầu tiên tất phải hướng đến cái dạ dày. Lính tráng trong các C tìm dịp lần mò quay lại các bản cũ tìm ăn, dù đường xa có khi tới trên hai chục cây số. Cái gì ngon xơi thì làm trước, hết nạc là vạc tiếp xương. Lũ gà vịt vốn là loài thuần hóa, không thể bỏ đi xa, chạy loạn chỉ ít hôm là phải quay về kiếm ăn quanh bản nên được hóa kiếp đầu tiên. Tiếp theo là đám lợn lười nhác và ngốc nghếch lần lượt chui vào bếp lính. Giải phóng Pắc-Soong nửa năm thì các bản trở thành bản hoang hết lượt. Tuy thế có hai loài nhanh chóng thích nghi với đời sống hoang dã của tổ tiên chúng bởi dễ kiếm cái ăn trên những bãi cỏ mênh mông ven các cánh rừng, đó là bò và ngựa. Chúng sống luôn trong rừng và xa lánh con người, nên đã tồn tại được trước sự tham ăn và thèm khát của những anh lính Bắc Việt. Nhưng chết nỗi là loài vật cũng nhiều khi có tình có nghĩa. Chúng chưa hoang dã hoàn toàn nên đôi khi cũng nhớ chủ, nhớ chuồng. Thỉnh thoảng chúng cũng về kiếm ăn ở các bãi cỏ cạnh bản.

          Đầu tiên không ai để ý điều này, nhưng bọn lính trinh sát trên trung đoàn phát hiện ra trước. Bọn trinh sat E vốn được đi loăng quăng nhiều nơi trên địa bàn rộng và chỉ thật bân bịu khi đánh cỡ Tiểu đoàn trở lên (mà những trận đánh như thế thì cả năm có khi đếm chưa hết 5 đầu ngón tay). Đầu tiên chúng nó ngỡ là của dân đang chăn thả, vì một số bản phía trong Cao nguyên vẫn có dân, mãi sau mới đoán ra là những con thú đi hoang. Lúc đầu là trung đoàn cho các C trực thuộc bắn để cải thiện chất tươi. Về sau dưới các tiểu đoàn cũng tham gia cải thiện. Các đại đội cử lính, thường là tốp 3 người về vùng quanh thị trấn Pắc-soong tìm kiếm. Những con bò chậm chạp hơn nên bị săn bắn trước tiên. Ba thằng lính cũng không khiêng nổi con bò, nên sau khi cắt sẻ mang được bao nhiêu thì mang, còn lại vứt đó về báo tọa độ cho các C khác trong tiểu đoàn  đến lấy nốt. Cũng có khi gặp lính C trực thuộc thì chia sẻ luôn, ngược lại cũng vậy. Ở vùng này hiếm thú dữ nên khá an toàn. Bắn được bò thì bao giờ nhóm cải thiện cũng phải chén trước. Thường chúng tôi đi săn phải mất hai ngày, lại xa địch nên thể nào cũng nổi lửa thưởng thức trước đã. Sau đó thì tùy tình hình mà trở về. Hôm nào bắn được bò vào lúc chiều tối thì nghỉ luôn tại chỗ, hôm đó là khỏe nhất. Mà cả con bò chúng tôi cũng chỉ lọc lấy phần thịt, còn xương, da và đầu, chân vứt lại. Đấy là lúc đầu thôi. "Miệng ăn núi lở" nên dần dà về sau mang được đến đâu là mang tất về, anh nuôi khắc lo chế biến.

          Rồi bò cũng tuyệt chủng luôn. Lúc ấy chúng tôi phải quay sang bắn ngựa. Những con ngựa nhanh lắm, nên gặp bất thình lình thường không bắn được mà phải phục kích. Mỗi lần đi săn phải dài ngày hơn. Bây giờ thì các anh người dân tộc phát huy thế mạnh vì khi ở nhà họ cũng đã quen săn bắn. C nào cũng có lính dân tộc nên thế mạnh ngang nhau. Đại đội tôi có anh Quân (Mường) cũng thiện nghệ lắm, nhưng anh ấy là B trưởng nên không thể cử đi bắn ngựa. Thường là C tôi cử anh Sơn (Tày) làm tổ trưởng đi săn, còn lại là lính như bọn tôi. Mỗi lần đi thì chỉ có khác nhau là dài hay ngắn ngày thôi, chứ thể nào đại đội cũng có thịt ngựa ăn. Thịt ngựa đem về chỉ làm độc mỗi món luộc chấm muối, ăn cứu đói rất tốt nhưng nói thật là tôi thấy nó không ngon, cũng gây gây như kiểu thịt khỉ. (Chắc là do khi đó chẳng có rau cỏ gia vị gì để chế biến chứ bây giờ người ta bảo thịt ngựa Sóc Sơn đem về Hà Nội bán được chế biến ngon còn đắt hơn cả thịt trâu, thịt bò).

               Vào cái giai đoạn mà cả bò và ngựa hoang đã vãn ấy, một lần cả trung đoàn được thông báo C hỏa lực bắn được một con voi rừng rất to bên đường xe bò gần bản Pắc-Kụt, các đơn vị cử người đến mà xẻ thịt. Chả có chia bôi gì, anh nào đến trước lấy được bao nhiêu cứ lấy. C tôi cũng vội cử 3 người mang theo gùi và dao sắc đi. Đến tới nơi đã có nhiều lính của các C khác. Bọn bắn được voi và tụi đến trước đã cắt hết cả vòi, tai và đế chân rồi, nghe bảo đó là những thứ có thể coi là ngon của con voi. Các C đến sau hè nhau lột da, cắt thịt đã hết nửa con voi. Nhìn cái bộ khung xương to dính máu trông phát ghê, chúng tôi phải hè nhau dùng gậy bẩy và lật phía bên kia của con voi để cắt thịt. Chắc cuối cùng con voi chỉ còn lại xương với da. Đem về nhà luộc thịt voi lên chấm nước muối ăn, mới hiểu câu nói của các cụ: "trăm voi không được bát nước xáo". Nhạt thếch.

               Hai hôm sau, tưởng không còn nói gì đến chuyện con voi nữa thì trung đoàn thông báo: C hỏa lực bắn nhầm voi của dân. Chỗ bản Pắc-Kụt tuy cũng là bản bỏ, nhưng vẫn là đất rừng của dân Lào thì đương nhiên họ có quyền chăn thả voi. Thằng lính hỏa lực người Hà Tây hôm đó mắt to hơn người, cà là tóe mới nhìn đã vội tưởng voi rừng nên tương cho một loạt AK rồi về báo công. Cũng phúc tổ bảy mươi đời nhà nó là voi nhà đã thuần dưỡng thì mới bắn được như thế chứ nếu voi rừng thì có khi ra bã rồi. Thịt voi ăn đã chẳng ra gì lại còn bị dân bắt đền. Trung đoàn phải cử cán bộ đến xin lỗi và đền mất một tạ muối. Nhưng khi đó chúng tôi cũng thiếu muối nên phải quy ra tiền (kíp Lào) trả cho dân, lính tráng đương nhiên phải nhịn ăn bớt phần đi về vùng dân mua lợn mất hơn tháng. Trung đoàn có lệnh từ nay cấm bắn voi, nhưng chuyện đó giống như "mất bò mới lo làm chuồng" vì về sau cũng chẳng khi nào chúng tôi gặp voi mà không có dân đi kèm.




Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: daibacvn trong 20 Tháng Bảy, 2010, 11:20:01 PM
Chú TrongC6 ới ời, chiến tiếp đi chú... chờ chú mãi mỏi cả cổ rồi!


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 23 Tháng Bảy, 2010, 04:32:43 PM
Rẽ ngang một tí:

Hôm nay vào trường ĐHBK Hà Nội dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, do Bộ GD&ĐT và Hội cựu Giáo chức Việt nam phối hợp tổ chức. Gặp lại một thằng bạn học cũ là Tạ Quang Chính, con trai của GS Bửu.

Tay này cũng là lính trường Trỗi từ 1965 đến 1970. Năm 1970 nó ra ngoài, học cùng lớp 9 với tôi ở trường Yên Hòa III B. Nó lên thiếu tướng từ 9/2009, bây giờ là Chủ nhiệm Chính trị TCCNQP.

Các bác Phong Quảng, Vitinh... chắc có biết vị này.

Chương trình văn nghệ mở đầu có ca sĩ Thanh Lê hát bài Quê hương của Đỗ Trung Quân. Nghe đến câu người lính "có một chiều thu lá thu rơi, ôm súng nhìn quê thầm mong có ngày về" thấy lòng xao xuyến. Cuộc chiến tranh nào cũng ác liệt. Bao thằng cùng nhập ngũ đã không thể có ngày về. Mà mình khi đó cũng chẳng có một chiều thu nào ngồi ôm súng để dám mơ ngày về. Chỉ nghĩ rằng không biết ngày nào sẽ đến lượt mình ngã xuống.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Phong Quảng trong 24 Tháng Bảy, 2010, 09:44:10 PM
Chúng tôi vẫn biết nhau bác ạ.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: vitính trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:26:57 PM
Gặp lại một thằng bạn học cũ là Tạ Quang Chính, con trai của GS Bửu.
Các bác Phong Quảng, Vitinh... chắc có biết vị này.
Vâng, khi cậu Chính chuẩn bị tốt nghiệp ĐH có về đơn vị tôi thực tập.


Tiêu đề: Re: Ngày này 34 năm trước...
Gửi bởi: Trongc6 trong 25 Tháng Bảy, 2010, 10:32:48 AM


               Đúng là thời gian ấy chúng tôi thiếu muối. Không hiểu tại sao việc vận chuyển muối vào chiến trường khó khăn vậy. Các đơn vị cử người xuống vùng dân mua muối cũng không được là bao. Đơn vị quản lý muối còn chặt chẽ hơn quản lý súng đạn. Mỗi lần đi lĩnh muối trên trung đoàn là phải có cán bộ B đi cùng. Không lĩnh qua tiểu đoàn mà phát thẳng từ kho trung đoàn để tránh khâu ăn bớt. Cả đại đội lâu lâu mới được lĩnh một lần, mỗi lần chỉ được một cân muối.  Đến bữa anh nuôi cho tẹo muối vào canh hay món xào, nhưng chỉ riêng cái đoạn dính soong nồi cũng đã lãng phí. Sau vì chúng tôi ăn cơm nếp là chính nên đại đội quyết định đem chia muối theo đầu người, ai muốn ăn thế nào thì ăn. Chúng tôi cho dúm muối vào cái túi nilon nhỏ xíu, buộc chặt và luôn đem theo người. Khi nào đến bữa hay thèm thì lôi ra liếm một cái. Được cái là khí hậu vùng cao nguyên không ẩm như miền Bắc nên những hạt muối giữ được khá khô. Về sau có đợt được phát muối mỏ, viên muối rắn như đá, rất khó chảy nước. Tôi dùng rất dè xén món muối mỏ đó và bảo quản cũng khá tốt. Cho đến tận khi đánh Đồng Dù 29/4/1975, tôi vẫn còn giữ được hai viên muối mỏ to như hạt ngô nếp, sau này bình thường rồi thì mới đánh rơi mất.

             Năm 1972 trong C tôi có thằng Tuyến người Thái Bình được bình bầu chiến sĩ thi đua không phải do thành tích chiến đấu mà là do ăn cắp vỏ bao đựng muối cho đại đội. Chuyện như hề nhưng thực tế lại đúng như vậy và chúng tôi ai cũng ghi công cho nó. Lần ấy lên kho trung đoàn lĩnh muối, trong lúc mọi người đang xúm xít chia muối thì thẳng Tuyến lỉnh đi đâu mất. Có lẽ trong tất cả các món nhu yếu phẩm của lính thì chia muối là nhiêu khê nhất. Không thể tính cân vì muối nó vốn ẩm ướt, dính nước mưa vào thì còn nặng thêm biết bao nhiêu. Chỉ có cách đong bằng bát đều cho các đơn vị. Muối khi đó được đóng vào bao tải cói chứ không phải bao nilon nên phần muỗi dính và ngấm vào bao tải rất nhiều. Lính kho chỉ vét hết muối ra đong, chia rồi thu lại bao đựng cất đi, tất nhiên trong đó còn dính khá nhiều muối. Thằng Tuyến láu cá đã lần ra cái chỗ bọn coi kho cất vỏ bao và bò vào khuơ trộm một chiếc rồi chui tắt ra rừng cất giấu. Khi chúng tôi ra về thì trong người nó đã có cái vỏ bao ấy rồi, nhưng chỉ khi về nhà nó báo cáo chúng tôi mới biết. Anh quản lý đại đội thu nhận báo cáo C và tất cả nhất trí đó là công, cần giữ kín chuyện. Cào trong đó ra còn được đến gần nửa cân muối hạt. Cái bao tải được bỏ vào soong 20 đem ninh lên cho muối nó thôi ra hết, cũng dùng ăn được mấy ngày. Vì thế mà cuối năm thằng Tuyến được bầu chiến sĩ thi đua, nhận cái bằng khen trên trung đoàn, nhưng tất nhiên báo c