Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: Triumf trong 30 Tháng Mười, 2007, 01:39:17 PM



Tiêu đề: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 30 Tháng Mười, 2007, 01:39:17 PM

Phi công B-52 kiện SAC về chiến dịch Linebacker 2

Giữa năm 1977, Drenkowski, đại úy phi công B-52 tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Không quân Hoa Kỳ văn kiện mang số À/100RD về chiến dịch ném bom bằng B-52 xuống Hà Nội – Hải Phòng mang tên Linebacker 2. Drenkowski đã phát đơn kiện Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC – Strategic Air Command) về sự tồi tệ trong việc vạch kế hoạch và điều hành chiến dịch này. Dưới đây là những quan điểm của Drenkowski về chiến dịch Linebacker 2 đăng trên tạp chí US Airforce
B-52 được đưa vào sử dụng trong chiến tranh Đông Nam Á từ giữa những năm 1960 nhưng không được phép hoạt động ở những vùng đông dân có bảo vệ chắc chắn và dày đặc ở thung lũng sông Hồng. Người ta cho rằng B-52 với các trang bị gây nhiễu hiện đại và đắt tiền không bõ liều bay vào thung lũng sông Hồng để có thể bị bắn rơi. Sau đó nó lại bị các đồng minh của Liên Xô nghiên cứu, khám phá các bí mật của những trang bị đó.

Theo chiến thuật được sử dụng lúc ban đầu để đánh các mục tiêu ở Nam Việt Nam, nơi không có vũ khí phòng không đủ tầm bắn rơi B-52, thì các máy bay số 2 và số 3 bay gần như ngang hàng ở hai bên máy bay số 1. Các phi công đi hoạt động tạm thời ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng ở ĐNA chỉ qua huấn luyện ở Mỹ về cách oanh tạc từng chiếc riêng lẻ ở tầm thấp. Phương pháp này thông thường dùng để oanh tạc một mục tiêu bằng vũ khí hạt nhân. Các phi công này không có kinh nghiệm về cách bay theo đội hình một tốp 3 chiếc, theo dõi nhau bằng mắt thường trong các trận ném bom quy ước. Sau một vài vụ B-52 đâm nhau trên bầu trời và những vụ suýt húc nhau, các ban điều tra của SAC phát hiện ra rằng đối thủ nguy hiểm nhất của B-52 lại chính là một chiếc B-52 đang bay bên cạnh nó. Vì vậy, chiến thuật bay trên các khu vực tương đối an toàn ở Nam Việt Nam là nhằm bảo vệ B-52 trong môi trường không có sự đe doạ của hệ thống hỏa lực phòng không đối phương. Có nghĩa là máy bay số 2 bay sau máy bay thứ nhất 2,4km và máy bay số 3 cũng bay sau máy bay chiếc thứ hai 2,4km. Cả hai máy bay số 2 và số 3 đều bay hơi chếch về 2 phía đường bay của chiếc dẫn đầu. Như vậy, những quả bom của chúng rơi ra song song với bom của máy bay dẫn đầu trong khoảng cách 100m khiến thảm bom sẽ trùm lên một diện tích rộng hơn.
Mọi hoạt động của B-52 trong chiến tranh Đông Dương đã biến thành một thứ dây chuyền sản xuất. Hết ngày này sang ngày khác, các máy bay B-52 đi đánh mục tiêu đều bay theo cùng một đường bay. Trước khi thả bom vài phút, các máy gây nhiễu được bật lên. Trước khi bom rơi 90 giây, cánh cửa khoang bom mở ra làm cho tiết diện B-52 rộng hẳn lên, radar dễ quan sát và bám chặt lấy nó. Các máy bay B-52 tiếp tục bay với cùng tốc độ, cùng độ cao. Sau khi bom rơi, tất cả đều ngoặt 90 độ để bay ra khỏi mục tiêu. Lúc này, ăngten máy nhiễu lắp dưới bụng máy bay hướng ra khỏi khu vực mục tiêu trong khoảng từ 30 đến 60 giây. Đơn vị cơ bản được sử dụng trong chiến tranh VN là tốp 3 chiếc. Nếu cần oanh tạc nhiều lần vào một mục tiêu thì đặt kế hoạch dùng nhiều tốp vào đánh phá.
Cuối những năm 60, máy bay B-52 đã bắt đầu ném bom các khu vực bên ngoài Nam Việt Nam, nhất là quãng đường mòn Hồ Chí Minh qua Lào. Lần đầu tiên, B-52 vấp phải pháo phòng không cỡ lớn, điều khiển bằng radar của đối phương. Đôi khi chúng gặp cả tên lửa SAM. Phi công biết rằng, kiểu đánh theo lối dây chuyền sản xuất sẽ không có hiệu lực khi tiến công các mục tiêu có các phương tiện bảo vệ tinh vi. Chiến thuật này của B-52 làm cho bộ dội Bắc Việt Nam có thể đoán trước mục tiêu và thời gian bị ném bom. Vì vậy, nhiều cuộc oanh tạc bị mất hiệu lực vì đối phương đã di chuyển trang bị và người ra khỏi khu vực hoặc xuống hầm trú ẩn. Tiếp đó, các trân địa phòng không có nhiều thời gian chuẩn bị đối phó.
Các phi công B-52 phản đối việc không chịu thay đổi chiến thuật. Nhất là khi một số B-52 đã bị vũ khí phòng không đối phương gây thiệt hại. Song thái độ ngoan cố của SAC đã cản trở mọi thay đổi. Tình hình vẫn y nguyên như vậy cho đến tháng 3 năm 1972, khi 3 sư đoàn Bắc Việt Nam có xe tăng dẫn đầu và có pháo cỡ lớn yểm trợ đã đánh gục sư đoàn 3 của Sài Gòn tại khu phi quân sự. Lúc ấy, lục quân Mỹ đã rút đi. Vùng này chỉ còn 2 lữ đoàn, nhưng các lữ đoàn trưởng đã được lệnh không tham chiến vì sợ làm tăng số lính Mỹ thương vong. Do đó, lực lượng duy nhất có sức mạnh để hỗ trợ quân đội Sài Gòn là không quân Mỹ. Tháng 4 năm 1972, tổng thống Nixon cho phép ném bom trở lại Bắc Việt Nam. Hoạt động ném bom này mang mật danh là chiến dịch Linebacker. Mục tiêu của nó là các đường tiếp tế từ Trung Quốc đến Hà Nội. Vì đó là đường vận chuyển cơ sở vạt chất, kỹ thuật tới tay bộ đội Bắc Việt Nam ở miền Nam. Sau khi các hải cảng Bắc Việt Nam bị rải thủy lôi, Hà Nội bị bóp nghẹt dần. Nhưng cái giá phải trả cảu Mũa thật là đắt. Các máy bay chiến đấu chiến thuật phải mất nhiều tháng mới làm tê liệt được các hệ thốgn phòng không với các giá mà phần lớn các nhà quan sát Mỹ không nhận ra được. Các đơn vị như đại đội máy bay chiến thuật số 4 và số 421 tại sân bay Đà Nẵng đã mất hơn hai phần ba số F-4 và một nửa kíp bay trong vòng có 2 tháng. Máy bay B-52 tiếp tục ném bom các mục tiêu chiến thuật ở các khu vực “an toàn” hơn trong chiến dịch Linebacker, sau này gọi là Linebacker 1. Ngày 21 tháng 10 năm 1972, Mỹ ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 và chiến dịch Linebacker 1 kết thúc.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 30 Tháng Mười, 2007, 01:40:10 PM
Sau đó 2 tháng, người ta thấy rõ là Bắc Việt Nam lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom ở đồng bằng Bắc Bộ để xây dựng lại hệ thống phòng không. Lúc này, lực lượng phòng không của Việt Nam lại lên tới 180 chiếc MIG (gồm MiG-17/19/21), 2300 tên lửa SAM, chủ yếu là SAM-2 và nhiều pháo phòng không có radar điều khiển. Toàn bộ mạng lưới phòng không này được phối hợp thành một lưới lửa bảo vệ dày đặc, loại này không gây cản trở cho loại kia trong chiến đấu.
Ngày 17 tháng 12 năm 1972, các phi công B-52 được lệnh báo động. Tối hôm sau, chiến dịch Linebacker 2 bắt đầu. Các máy bay F-111 bay trước tiên vào Bắc Việt Nam với tốc độ siêu âm ở độ cao thấp, tiến hành oanh tạc vào các sân bay. Máy bay F-4 bay theo rải nhiễu kim loại thành một hành lang bằng nhôm kéo dài từ Đông Bắc sang Tây Nam thung lũng sông Hồng nhằm bịt mắt radar. Phía cuối hành lang song song với rặng núi Tam Đảo, bắt đầu xuất hiện các tốp B-52. Theo sau chúng là hơn 100 chiếc F-4 để đánh chặn MiG và 4 chiếc F-105 trang bị tên lửa đánh radar để chế áp tên lửa SAM. Các tốp B-52 dãn cự ly rộng hơn để mỗi tốp 3 chiếc có thể qua mục tiêu chỉ trong từ 2 đến 3 phút. Khoảng các giữa mỗi tốp mở rộng tới 4 phút bay. Như vậy, một lực lượng 18 chiếc B-52 bay qua mục tiêu hết độ nửa giờ, bay cùng một đường bay, một tốc độ, một độ cao như nhau. Vài tốp đầu tiên không bị hỏa lực phòng không đối phương bắn, điều này khiến người ta nghĩ đối phương bị bất ngờ. Nhưng khi các tốp liên tục bay theo cùng đường bay thì trận đánh sôi nổi hẳn lên. Hành lang nhiễu kim loại bị gió thổi bạt đi từ từ. Nhưng kế hoạch của SAC không cho phép B-52 linh hoạt. Các phi công không được phép điều chỉnh đường bay để lợi dụng sự che chở của hành lang nhiễu. Tuy nhiên, họ vẫn phải bay vào mục tiêu.

Đầu tiên, các trắc thủ điều khiển tên lửa SAM của Bắc Việt đã phóng những quả đạn không điều khiển, hy vọng may ra đánh trúng máy bay. Nhưng khi các B-52 ầm ĩ bay vào, giữ nguyên một tốc độ, một độ cao trên cùng một đường bay thì các trắc thủ đã tìm ra ngay cách đánh. Các phảo thủ cao xạ và nhân viên điều khiển SAM dễ dàng giải quyết được vấn đề tính toán các phần tử bắn và điều chỉnh ngòi nổ. Họ bắt đầu đánh trúng B-52. Sáng hôm sau, máy bay ném bom của không quân và hải quân tiếp tục đánh phá các mục tiêu. Một số mục tiêu đó được máy bay A-7 cùng với máy bay F-4 tiến hành đánh phá bằng bom điều khiển lade. Một công thức được đặt ra cho 10 ngày tới: B-52 sẽ oanh tạc ban đêm, đánh các mục tiêu rộng như sân ga, kho xăng dầu, doanh trại. Đường bay của chiếc B-52 đi đầu sẽ là đường bay cho mọi chiếc B-52 khác trong suốt đêm đó. Ban ngày, các máy bay chiến đấu chiến thuật mang vũ khí có điều khiển sẽ đánh các nhà máy điện, cầu.
Vào đêm thứ hai, các máy bay B-52 từ phía Tây xông vào ném bom ga Gia Lâm, sân bay Bạch Mai và đài phát thanh Hà Nội. Các phi công B-52 biết rất rõ rằng động tác lẩn tránh cũng chẳng có hiệu lực gì. Pháo phòng không và tên lửa SAM phóng lên dày đặc hơn. Các phi công dùng các động tác lẩn tránh kịch liệt để đánh trả cả hai loại hỏa lực này. Chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi ở thung lũng sông Hồng. Sân bay Gia Lâm và bệnh viện Bạch Mai bị đánh do nhầm lẫn vì các phi công mải quan tâm đến việc bảo vệ sinh mạng mình hơn là việc ném bom sao cho chính xác. Hỏa lực đối phương đã đánh trúng một số B-52. Đêm đó có ít nhất 2 chiếc B-52 bị bắn rơi. Những người điều khiển tên lửa SAM khôn ngoan đã quan sát ngay vị trí chiếc B-52 đi đầu ngoặt khỏi mục tiêu. Họ phóng lên một SAM để tên lửa bay theo đường đạn khoảng 45 giây tới gần chỗ B-52 phải ngoặt. Họ dùng 5 đến 10 giây để điều khiển quả tên lửa “khóa” vào điểm ngoặt, sao cho khi tên lửa tới đó vừa đúng lúc chiếc B-52 tiếp theo cũng bay tới. Thật ngon xơi.


Các phi công trở về căn cứ và bắt đầu một cuộc đấu tranh vô hiệu quả đòi thay đổi chiến thuật sử dụng B-52. Các nhân viên SAC không chịu lắng nghe các ý kiến này. Để phản đối, các phi công đi làm nhiệm vụ trở về đã bắt đầu thổ lộ những thất vọng cảu họ tại các câu lạc bộ sĩ quan ở Guam và Utapao. Con số thiệt hại cứ ngày một tăng dần lên. Đầu tiên là 3 chiếc B-52, rồi 4, rồi 6 chiếc bị bắn rơi một ngày. Vậy mà SAC vẫn cứng nhắc, không chịu thay đổi chiến thuật. Từ ngày 22 đến 24 tháng 12, tinh thần phi công tại các căn cứ B-52 suy sụp. Số lớn phi công xin rút ra khỏi diện bay vì lý do sức khỏe. Các buổi giao nhiệm vụ thực hiện các phi vụ hàng ngày trở thành những cuộc cãi vã. Phi công cười mỉa mai hoặc nói kháy các sĩ quan thuyết trình. Điều có ý nghĩa ở các sự kiện này là số đông phi công không phản đối cuộc chiến tranh, không phản đối ném bom mà là họ phản đối về sự ngu xuẩn và lỏng lẻo trong kế hoạch ném bom của SAC, giữ nguyên hướng trên đoạn bay thả bom rồi bay ra khỏi mục tiêu theo “đường bay như nhau”. Họ phàn nàn về những hiểm họa không cần thiết do sự kém linh hoạt của SAC gây ra.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 30 Tháng Mười, 2007, 01:41:50 PM
Lệnh ngừng ném bom được công bố vào ngày lễ Noel. Các nhân viên SAC tai Omaba Nebraska báo cáo về thiệt hại lúc đó đã tới từ 10% đến 12% trong số từ 150 đến 200 chiếc B-52 hiện có ở ĐNA. Qua phỏng vấn các tướng cao cấp của SAC tham gia đặt kế hoạch, ta thấy tư lệnh SAC hoàn toàn không biết đến ý kiến đề nghị cảu các phi công (trừ các vấn đề tinh thần) về việc thay đổi cách đánh. Đợt ngừng ném bom kéo dài 41 giờ. Tới lúc này SAC mới xem xét các chiến thuật mới. Cuộc oanh tạc ngày hôm sau (26-12) gồm 77 chiếc B-52 đánh làm 5 đợt gần như đồng thời từ nhiều hướng tiến vào các mục tiêu. Chiến thuật mới đã có hiệu quả rõ rệt. Chỉ có 1 chiếc B-52 bị bắn rơi, còn 76 chiếc kia trở về an toàn. Động tác ngoặt 90 độ để ra khỏi mục tiêu được loại bỏ. Cự ly giữa các máy bay trong tốp rút ngắn lại còn 1,8km. Ngoài ra, một số B-52 còn mang bom CBU để làm tê liệt các trận địa SAM. Các tốp F-105 và F-4 cũng mang bom CBU đi tìm đánh các trận địa SAM khác. Đến ngày 28, thấy được những dấu hiệu về hoạt động cảu hệ thống phòng không đối phương sút kém. Ngày 31 tháng 12, ngừng ném bom. Ba tuần sau, Hiệp định Paris được ký kết. Chiến dịch Linebacker 2 được SAC coi là đã thành công. Nhưng cái giá phải trả thật là đắt. Trong thời gian chiến dịch, không quân nói rằng 17 chiếc B-52 đã bị bắn rơi. Ít nhất có 9 chiếc nữa tuy đã về được đến Utapao nhưng bị hư hỏng quá nặng, không thể bay được nữa. Do vậy cái giá chung phải trả là từ 22 đến 27 chiếc B-52. Ngoài ra còn 10 máy bay chiến thuật và trinh sát bị bắn rơi.

Đã có thể chứng minh thêm một điểm là các máy bay loại B-52 lỗi thời này vẫn có thể bay vào một khu vực có vũ khí phòng không dày đặc để giáng cho đối phương một đòn. Nhưng những sai lầm của SAC đã phạm phải trong chiến dịch là không thể biện bạch được và SAC phải chịu trách nhiệm. Những sai lầm đó làm cái giá phải trả càng cao thêm. Đó là:

1. Oanh tạc nhỏ giọt từng đợt: Đánh phá thành các đợt liên tiếp cách nhau có khi đến 1 giờ làm cho các hệ thống phòng thủ đối phương có cơ hồi phục và chuẩn bị đối phó với đợt sau. Ngoài ra, đánh như vậy còn làm giảm tác động choáng váng cảu mỗi đợt, cho phép đối phương mỗi lần có thể tập trung đối phó vào một máy bay. Khi đã sửa chữa sai lầm bằng cách dùng 5 đợt B-52 đồng thời từ nhiều hướng vào ném bom thì số thiệt hại máy bay mới giảm.

2. Thiếu yếu tố bất ngờ: Do vấn đề đảm bảo bí mật tốt nên các tốp B-52 đầu tiền vào bấu trời HN đã khai thác được yếu tố bất ngờ, các hệ thống phòng không của Bắc VN không phản ứng kịp. Tuy vậy, chủ trương của SAC là mọi chiếc B-52 đều phải bay theo đường bay của chiếc đầu tiên, cùng độ cao và tốc độ. Mỗi đêm, khi chiếc B-52 đầu tiên bay qua thì các trắc thủ đối phương có thể biết chính xác chiếc B-52 tiếp theo sẽ bay tới vị trí nào. Lẽ ra phải nghĩ đến các đợt oanh tạc ở tầm thấp để gây yếu tố bất ngờ. Ít nhất cũng phải cho máy bay B-52 bay ở nhiều độ cao và tốc độ khác nhau.

3. Thiếu linh hoạt: Chiến thuật không thay đổi kịp với những thay đổi cảu tình hình. Thí dụ, nếu một chiếc F-105 báo tin toàn bộ tên lửa SAM ở một khu vực đã bị tiêu diệt, tạo nên một “lỗ hổng” trong chu vi phòng thủ của SAM, các máy bay B-52 vẫn không được phép thay đổi đường bay để lợi dụng lỗ hổng này mà cứ phải bay vào mục tiêu theo đường bay đã định sẵn. Đêm đầu tiên, khi dải nhiễu đã bị gió thổi tạt đi, các phi công vãn không được phép điều chỉnh đường bay vào mục tiêu trong khoảng từ 24 đến 32km để lợi dụng dải nhiễu này.

4. Không có những ưu tiên thích đáng: Phần lớn các nhà chiến thuật và chiến lược nhất trí rằng trong một cuộc tiến công bằng máy bay thì ưu tiên hàng đầu phải là tiêu diệt các vũ khí phòng không. SAC đã ngay lập tức dùng B-52 bám vào các mục tiêu quân sự chiến lược chứ không chú ý tới 27 tiểu đoàn SAM đang chờ đối phó. Đã có những cố gắng để đánh phá các sân bay MiG, song ngay cả những cố gắng này cũng không được ưu tiên nhiều. Cho tới ngày 26 tháng 12, khi số B-52 bị rơi cao tới mức không thể chấp nhận được, lúc đó mới bắt đầu nghiên cứu việc phối hợp lực lượng để tiêu diệt đối thủ chính đã diệt B-52: đó là tên lửa SAM. Nếu vài ngày trước mà SAC đã nghĩ tới cố gắng tiêu diệt các hệ thống SAM thì họ đã không thể hoạt động tùy ý muốn của họ.

5. Thiếu thông tin: Những thiếu sót trên đây là những sai lầm chiến lược và chiến thuật đã được chấn chỉnh sau đợt ngừng ném bom vào lễ noel. Nhưng một thực tế rõ ràng là các phi công đã thấy trước được những sai lầm này và lẽ ra không được để xảy ra điều đó. Từ nhiều năm trước, các phi công đã hiểu rằng chiến thuật như vậy là điên rồ. Song SAC vẫn phớt lờ điều đó. Điều mỉa mai đáng buồn là các sĩ quan tham mưu không phải trả giá cho thái độ này. Chính các phi công đã phải trả bằng xương máu của họ. SAC đã đẻ ra một hệ thống thông báo một chiều, không cho phép cấp dưới trình bày ý kiến trở lại. Căn bệnh này thể hiện ở các giới quân sự trong chiến tranh ĐNA những nó đã và vẫn đang thể hiện đặc biệt rõ nét ở SAC. Vì nhiều lý do, thành phần cảu SAC gồm toàn nhứng “nhân viên gật” không muốn làm đảo lộn tình hình. Tiêu chuẩn đề bạt sĩ quan chú trọng nhiều vào lòng trung thành và vào những người cùng “ê kíp” hơn là vào tính trung thực hoặc sáng tạo. Vì vậy, tin tức về công việc không tiến triển tốt hoặc về một số chiến thuật nào đó không có hiệu lực đã không thể nào đến tai cấp trên. Những thay đổi về chiến thuật sau lễ Noel không phải là để đáp ứng các đề nghị cảu phi công. Chính vì ba viên tướng chịu trách nhiệm về chiến dịch này nằm ở căn cứ không quân Offut, Nebraska nhận thấy rằng nếu tốc độ máy bay rơi cứ diễn ra như hiện tại thì trong vòng 2 tuần lễ sẽ không còn máy bay B-52 ở ĐNA. Thậm chí SAC cũng không cần hỏi ý kiến những kíp lái máy bay chiến đấu đã ném bom các mục tiêu ở thung lũng sông Hồng trong 7 tháng. Qua họ, các viên tướng ở SAC cũng có thể biết rằng những quả đạn dùng để tiếp cho các bệ phóng luôn được tàng trữ ở các kho trung tâm. Mỗi bãi chứa vài trăm quả tên lửa sẽ tạo ra một mục tiêu đánh phá có giá trị./.


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 30 Tháng Mười, 2007, 01:46:12 PM
Tìm hiểu một phần sự thật về những con số
Cuộc chiến tranh xâm lược VN của Mỹ từ lúc mở đầu cho đến khi kết thúc chỉ là một chuỗi dài dối trá bỉ ổi. Nói dối để gây chiến tranh (vụ tàu Maddox), báo cáo láo để xin tăng quân số và ngân sách, khoác lác để giữ uy tín cho không lực Hoa Kỳ… Toàn là những trò ảo thuật bịp bợm, đổi trăng thay đen tới mức Mc Gee, một kẻ suốt 25 năm trời tận tụy với CIA đã phải thừa nhận trong cuốn Deadly Deceits (Sự lừa dối chết người): “Bằng thông tin giả dối và bằng các hoạt động phá hoại của mình, CIA đã góp phần gieo rắc tội ác”. Dưới đây chỉ là một vài mẩu liên qua tới cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở VN, rút ra từ sách báo Mỹ.
Patrick J.Mc Garvey, 14 năm làm việc trong cộng đồng tình báo Hoa Kỳ, đã theo dõi chiến tranh VN nhiều năm, tố giác nhiều thủ đoạn dối trá của các tổ chức quân sự và tình báo Mỹ suốt cuộc chiến tranh VN trong cuốn “CIA, The Myth and the Madness – CIA, Huyền thoại và điên loạn”
“Phần lớn giới chức quân sự Lầu Năm góc sùng bái máy điện toán. Đã biết bao lần tôi chứng kiến các viên tướng và đô đốc dựa vào máy tính điện tử thay vì dựa vào sự phân tích đánh giá và trí tuệ của con người. Kết quả do máy tính đưa ra có ý nghĩa đối với họ phần nào đó vì đấy là kết quả của cơ khí. Một tình trạng gần như điên rồ bao trùm giới quân sự cấp cao của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân vào những ngày đỉnh cao ném bom Bắc Việt Nam mà phần lớn gây ra bới các báo cáo của hệ thống máy điện toán của không quân và hải quân. Các máy móc này hàng ngày đăng ký số xe vận tải thấy được trên các tuyến đường Bắc VN, số xe bị đánh hỏng, số xe bị tiêu diệt. Các số liệu đó được đưa về trung tâm tính toán lớn ở Cục tình báo quân sự, nơi đây đã tồn trữ các số liệu về số xe vận tải của Bắc VN được xác lập trên sự tính toán số xe Hà Nội nhập khẩu mà tình báo Mỹ nắm được và khả năng sửa chữa những xe bị hư hại. Từ tất cả số liệu đó, người ta nói rằng tình báo có thể xác định được cái ngày kỳ diệu Hà Nội sẽ hết sạch xe tải và như vậy sẽ chấm dứt chiến tranh!”.

Garvey nói tiếp, không giấu sự châm biếm. “Bắc VN đã hết xe tải ít nhất 7 hoặc 8 lần trong thời gian tôi công tác ở bộ phận theo dõi Bắc VN. Cứ mỗi lần như thế, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân lại chất vấn tại sao họ vẫn còn thấy xe tải ở Bắc VN. Một viên tướng không quân thuộc Cục tác chiến xỉ vả tôi om sòm nhân một phiên họp: ‘bọn tình báo các anh sao mà ngu ngốc thế’. Tôi nhắc lại cho ông ta là các ước tính của chúng tôi phần lớn là dựa vào các số liệu do bên tác chiến của ông ta đưa sang. Các phi công Mỹ bay tới tốc độ 800-900km/h trên bầu trời Bắc VN có thể thấy nửa tá xe tải đang chạy trên một con đường và lập tức tiến công chúng bằng tên lửa và bom. Sau đó ngoái lại nhìn xem kết quả. Chín trong mười trường hợp những gì anh ta thấy được là khói lửa cuồn cuộn của những quả bom nổ. Anh ta ghi lên sổ đã tiêu diệt 4 và gây hư hỏng 2 chiếc khác. Người trợ công của anh ta cũng phải chia sẻ vinh quang nên ghi công cho phần mình 3 chiếc, đánh hỏng 3 chiếc. Còn viên phi công yểm trợ cho tốp cường kích dĩ nhiên là ghi nhận thấy 6 xe tải địch

Cuối ngày, báo cáo về Washington nói rõ phát hiện 18 xe tải địch, diệt 7 chiếc, phá hỏng 5 chiếc. Thực tế trong nhiều trường hợp, 6 chiếc xe tải đó lùi ra xa khỏi đường và bình thản nhìn bom Mỹ rơi cách họ nửa dặm hoặc hơn thế”. Garvey chua chát nhận xét toàn bộ cuộc chiến tranh này của Mỹ, hễ cái gì đụng đến số lượng đều theo một cung cách tương tự: đếm xác chết, tính số lượng quân Bắc VN thâm nhập, số lần xuất kích của MiG, số lượt phóng tên lửa SAM-2, số vũ khí bắt được, kết quả của chương trình bình định…
Một chuyện rất khôi hài mà Garvey dẫn ra liên quan tới tổn thất của không quân Mỹ. Vào những ngày đầu ném bom Bắc Việt, vì muốn đưa thêm nhiều bộ binh vào VN, lục quân Mỹ cần chứng minh là lực lượng Bắc VN thâm nhập vào Nam VN với nhịp điệu lớn chưa từng có. Nhưng làm như vậy thì có khác gì coi không quân là vô tích sự. Phía không quân đương nhiên phải tìm cách để chứng tỏ là họ đã lập được những thành tích phi thường trong các cuộc ném bom. Để giải quyết sự tranh chấp này, người ta lập hẳn một ủy ban ở Washington gồm các sĩ qua cao cấp của Cục tình báo quốc phòng (DIA) và đại diện của tình báo lục quân và không quân với số lượng bằng nhau. Kết quả là tháng nào cũng như tháng nấy, có một câu được đưa vào báo cáo rất tiêu chuẩn: “Số lượng thâm nhập của địch cao hơn tháng trước, tuy nhiên kết quả tổng hợp của việc ném bom đã làm sút giảm nghiêm trọng khả năng của địch mở một cuộc tiến công quy mô lớn”. Người ta đâu cần biết tới dấu hiệu nào chứng tỏ kẻ địch có ý đồ mở một cuộc tiến công đại quy mô”.

Sau ngày máy bay tiêm kích của Bắc VN xuất hiện và tiên tiếp bắn rơi nhiều máy bay địch, tình báo Mỹ lập ra một ủy ban theo dõi không chiến. Ủy ban này gồm các thành viên của Cục tình báo quốc phòng và tình báo các quân chủng. Chẳng mấy chốc, ủy ban này nhận thấy Bắc VN có “những phi công khá là tài ba. Tỷ lệ bắn hạ máy bay Mỹ của họ gây cho người ta ấn tượng mạnh mẽ”. Các quân chủng hình thành một cuộc “thi” xem ai bị hạ ít hơn. Ủy ban rất đau đầu trước bài toán nan giải. Một phần là vì rất khó xác định máy bay Mỹ rơi do vũ khí thông thường, do pháo cao xạ, do tên lửa hay do MiG, nhưng phần khác là do chẳng quân chủng nào muốn nhận là máy bay mình bị MiG bắn rơi. Các cuộc họp của Ủy ban bao giờ cũng xảy ra cãi cọ gay gắt, đập bàn đập ghế về việc lý do máy bay rơi. Chẳng hạn, đại diện của hải quân cứ khăng khăng máy bay mình rơi là do bị tên lửa của đối phương – tên lửa được coi là nguyên nhân chính đáng hơn! Nhưng đại diện của không quân nhất mực cho rằng máy bay của hải quân rõ ràng là bị MiG bắn rơi, ông ta có đủ bằng chứng. Nếu ông ta nói đúng thì sau đó ông ta lại bị bên hải quân đưa các bằng chứng khác xác định máy bay của không quân cũng bị MiG cho đo ván. Cuối cùng Garvey tiết lộ “không quân và hải quân thỏa thuận với nhau trước phiên họp của ủy ban để đưa ra các số liệu phần trăm cho ủy ban đăng ký vào số liệu lưu trữ. “Những số liệu này đương nhiên được bưng bít rất kỹ để cho không quân Mỹ đỡ xấu mặt vì chẳng lẽ những người lái VN trẻ cả tuổi đời và kinh nghiệm lại đánh thắng được những phi công già đời, sừng sỏ của không lực Hoa Kỳ?



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:34:36 AM
Những trận đánh then chốt trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 1972

Cuối tháng 12 năm 1972, gần đến thời điểm kết thúc chiến tranh, tập đoàn cầm quyền ở Mỹ đã mở một cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất trong cuộc chiến tranh không quân ở VN hòng giành thắng lợi trên thế mạnh, ép ta phải thương lượng theo những điều kiện cảu chúng.
Đế quốc Mỹ đã huy động hơn 1.300 máy bay chiến thuật trên các tàu sân bay và các căn cứ ở Thái Lan; sử dụng gần 200 máy bay ném bom chiến lược B-52 làm lực lượng đột kích chủ yếu đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc. Các lực lượng Phòng không – Không quân đã tiến hành một chiến dịch phòng không để đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược này.
Trong 11 ngày và 12 đêm chiến đấu liên tục và quyết liệt, các lực lượng PK-KQ hiệp đồng với lực lượng pháo cao xạ của quân khu, quân đoàn và dân quân tự vệ đã bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B-52, 5 F-111, 21 F-4, 12 A-7, 1F-105, 4 A-6, 2 RA-5C, 1 HH-53 và 1 không người lái, bắt sống 44 giặc lái, trong đó có 33 giặc lái B-52.

Qua diễn biến của chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972, chúng ta thấy có các trận đánh sau đây có thể coi là những trận đánh then chốt.

Trận đêm 18 tháng 12 năm 1972
Tuy thời tiết trong đêm rất xấu, trời nhiều mây lại có mưa nhỏ những Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B-52 và 143 lần chiếc không quân chiến thuật chia làm 3 đợt đánh vào các sân bay Nội Bài, Hòa Lạc, Gia Lâm và một số mục tiêu ở thủ đô hà Nội.
Các lực lượng tham gia chiến dịch chủ yếu là lực lượng tên lửa, đã bắn rơi 3 chiếc B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 7 giặc lái. (Tuy nhiên, trong cuốn The Vietnam War của tác giả Green Wood cho biết: Đêm 18-12-1972 có 121 phi xuất B-52 vào miền Bắc VN và đã bị bắn rơi 3 chiếc B-52 và 2 chiếc khác bị thương).
Đây là thắng lợi mở đầu của chiến dịch, có ý nghĩa quan trọng về chính trị, quân sự và nghệ thuật chiến dịch, có tác dụng cổ vũ, động viên các lực lượng tham gia chiến dịch và thúc đẩy sự tiến triển của chiến dịch. Giới cầm quyền Mỹ sử dụng B-52 là lực lượng chủ yếu trong chiến lượng răn đe, hù doạ nhân dân thế giới. Các nhà vạch kế hoạch củ Bộ chỉ huy không quân chiến lược (SAC) phổ biến cho các nhân viên phi hành B-52 rằng: Máy bay MiG và tên lửa đã mất hiệu lực, cứ yên trí bám đuôi nhau đi và về đủ. Nhưng sự thực không diễn ra như ý muốn của SAC. Ngay từ trận đầu, các lực lượng tham gia chiến dịch đánh thắng giòn giã, bắn rơi B-52, bắt giặc lái, đối tượng chủ yếu của cuộc tập kích chiến lược.


Thế là từ tháng 4 năm 1952 (khi B-52 ra đời) cho đến tháng 12 năm 1972 trên chiến trường VN, giặc lái B-52 chưa bao giờ bị bắt sống thì nay đã được vào “khách sạn Hilton Hà Nội” (tên gọi nhà tù Hỏa Lò của giặc lái Mỹ). Thủ đoạn lợi dụng đêm tối bất ngờ đánh đòn phủ đầu của địch đã bị đập tan. Trận thắng mở đầu đêm 18 tháng 12 là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Sự chủ động sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng phòng không tham gia chiến dịch, sự hiệp đồng chặt chẽ của nhiều thành phần, tự hệ thống radar phát hiện B-52 đến cách đánh cụ thể cảu bộ đội tên lửa; từ việc giải quyết tốt nhiều vấn đề trong lĩnh vực đấu tranh vô tuyến điện tử chống lại thủ đoạn gây nhiễu tích cực đến thủ đoạn nghi binh, làm mục tiêu B-52 giả… Trận thắng đầu tiên đã làm cho bọn giặc lái B-52 từ chỗ chủ quan coi thường hệ thống phòng không của ta, bắt đầu hoang mang, nghi ngờ rồi đến chỗ lo sợ, khiếp đảm và kết thúc đợt một của chiến dịch đã có tên phản đối không chịu bay. Trận thắng đêm đầu tiên cảu 2 tiểu đoàn 59 và 77 bắn rơi tại chỗ B-52 đã mở ra một khả năng to lớn, khẳng định các đơn vị tên lửa có thể khắc phục được nhiễu, bắn rơi được B-52.

(còn tiếp)




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:35:49 AM
Trận đêm 20 tháng 12 năm 1972
Trong trận này Mỹ đã huy động 93 lần chiếc B-52 và 151 lần chiếc máy bay chiến thuật, tổ chức 3 đợt đánh vào các mục tiêu ở Hà Nội, Thái Nguyên và Hải Phòng. Mặc dù thời tiết xấu, trời nhiều mây nhưng do phán đoán đúng về địch và nắm chắc thời cơ nên Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ vẫn cho không quân cất cánh. Tuy chưa đánh được B-52 nhưng không quân ta đã buộc máy bay tiêm kích và máy bay chiến thuật đi hộ tổng B-52 phải quay ra đối phó để lộ rõ đội hình B-52, làm cho nhiễu giảm đi, chỉ còn nhiễu của B-52, tạo điều kiện cho tên lửa phát hiện ra B-52 trong nền nhiễu và đánh rơi nhiều B-52. Pháo cao xạ của chiến dịch đã tích cực đánh máy bay chiến thuật, bắn rơi máy bay và bắt sống giặc lái. Trong đêm, ta đã bắn rơi 7 B-52, trong đó có 5 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 12 giặc lái. Đồng thời các lực lượng khác đã bắn rơi 3 F-4, 1 F-111. 1 A-6 rơi tại chỗ, bắt sống 2 giặc lái của không quân chiến thuật. Thắng lợi của trận đánh đêm 20 tháng 12 càng cổ vũ tinh thần chiến đấu cảu bộ đội và thúc đẩy sự phát triển của chiến dịch trong thế thuận lợi. Đồng thời, khẳng định việc chỉ đạo cách đánh trong chiến dịch phòng không phải là cách đánh hiệp đồng binh chủng mới đem lại hiệu quả chiến đấu cao.
Về phía địch, sau trận này, giặc lái Mỹ càng hoang mang lo sợ. Tiếp đến các ngày sau đó là suy sụp tinh thần. Trong bài Tấn bi kịch của chiến dịch Linebacker 2, Drenkowski, một giặc lái B-52 đã viết trên tạp chí Armed Forces Journal như sau: “Từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 12, tinh thần tại các căn cứ B-52 (Guam và Utapao) đến mức suy sụp, một số phi công thì tương tượng hoặc thổi phồng các lý do biện bạch cho việc các máy bay không hoàn thành nhiệm vụ trong khi đó có một số nhân viên khác cáo ốm… Một số phi công khác đi gặp các nghị sĩ của họ và không chịu bay. Một số phi công tiếp xúc với giới báo chí đã bị đưa ra tòa án binh và bị thải hồi ngay lập tức”.
Đó là những nhân tố thúc đẩy chiến dịch mau kết thúc Quả nhiên, đêm 21 tháng 12 địch đã rút từ 3 đợt xuống một đợt với lực lượng B-52 ít hơn (36 chiếc) đánh vào Hà Nội. Những đêm sau cũng chỉ tổ chức được 1 đợt và phải giãn xa HN xuống Hải Phòng và lên đường số 1 Bắc. Nhưng B-52 vẫn bị rơi, giặc lái B-52 vẫn bị bắt sống. Cho đến đêm 24 tháng 12, địch buộc phải kết thúc đợt một chiến dịch.

Trận đêm 26 tháng 12 năm 1972
Sau 36 giờ tạm ngừng ném bom, địch ra sức chuẩn bị kế hoạch, nghiên cứu lại cách đánh, tổ chức lại lực lượng. Đến đêm 26 chúng huy động một lực lượng lớn gồm 105 lần chiếc B-52 và 130 lần chiếc không quân chiến thuật yểm hộ, đồng thời đánh vào 3 khu vực HN, HP và Thái Nguyên.
Về phía ta, thời gian ngừng đánh phá, đã có gắng vượt bậc, chuẩn bị tốt về mọi mặt để bước vào chiến đấu đợt 2 như rà xét lại phương án, điều thêm lực lượng tên lửa về HN, phổ biến kinh nghiệm đánh B-52 cho các đơn vị chưa đánh được, đặc biệt là công tác bảo đảm kỹ thuật và cung cấp đủ đạn cho các đơn vị hỏa lực.
Trong đêm 26 tháng 12, ta đã bắn rơi 6 B-52, có 4 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 8 giặc lái. Đây là 1 trận thắng lớn, mở màn cho giai đoạn 2 chiến dịch. Thắng lợi của trận đêm 26 tháng 12, đã thúc đẩy chiến dịch sớm kết thúc vì SAC không thể chịu đựng được một tỷ lệ thiệt hại như vậy, mặc dù chúng đã áp dụng cả những biện pháp tàn bạo, đánh vào các khu dân cư đông đúc để uy hiếp tinh thần nhân dân ta. Những đêm tiếp sau, địch đã phải giảm dần số lượng phi xuất B-52 và mỗi đêm chỉ tổ chức được 1 đợt đánh. Đêm 27 tháng 12, địch huy động 54 lần chiếc B-52, đêm 28 tháng 12, có 60 lần chiếc, nhưng phải giãn ra xa HN, vòng lên Thái Nguyên, Đồng Mỏ là những nơi có ít lực lượng tên lửa. Cuối cùng, đến 7 giờ sáng ngày 30 tháng 12, Mỹ đã phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Như vậy, trong chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972 đã diễn ra 3 trận đánh then chốt:
- Trận thứ nhất mở màn chiến dịch với chiến thắng trận đầu giòn giã.
- Trận thứ hai là một trận đánh xuất sắc, tiêu diệt được nhiều máy bay B-52, bắt sống nhiều giặc lái, thúc đẩy chiến dịch phát triển trong thế thuận lợi,
- Trận thứ ba dẫn đến sự kết thúc của chiến dịch.

Ở đây chúng ta đã phán đoán đúng âm mưu và dự kiến được đối tượng tác chiến chủ yếu là B-52. Ngay từ khi tập đoàn cầm quyền Nixon phát động lại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2, đặc biệt là sau đêm 16-4-1972, khi kẻ địch dùng B-52 đánh vào HP thì các cơ quan chỉ đạo từ Quân uy Trung ương, Bộ tổng tư lệnh đến Bộ tư lệnh quân chủng PK-KQ đã nghĩ đến khả năng kẻ địch sẽ dùng B-52 đánh sâu ra miền Bắc, kể cả HN, HP.
Theo sát từng bước phát triển của tình hình thực tế, các cơ quan chỉ đạo đã chỉ ra sẽ có một cuộc tập kích đường không mà lực lượng chủ yếu là B-52. Trong thời gian này, ta đã làm được nhiều việc có ý nghĩa thiết thực cụ thể để đánh B-52: Bố trí lại hệ thống radar, nhằm phát huy hết khả năng của khí tài phát hiện B-52 sớm nhất và thông báo kịp thời. Xây dựng phương án đánh B-52 và thường xuyên bổ sung, hoàn chỉnh phương án. Đây là việc lập thế trận, tạo thế cho chiến dịch phòng không. Chúng ta đã phổ biến kinh nghiệm đánh B-52 của các trung đoàn tên lửa ở chiến trường khu 4 cho các đơn vị ở HN, HP. Triển khai công tác bào đảm vật chất kỹ thuật, hiệu chỉnh, sửa chữa vú khí, khí tài, chuẩn bị đạn dược, nhất là khâu sản xuất đạn tên lửa. Sau khi đã xác định được đối tượng tác chiến chủ yếu thì tất cả công việc chuẩn bị cho chiến dịch phòng không đều tập trung cho trận chiến đấu then chốt mở đầu.
Trận then chốt đêm 20 tháng 12, lại diễn ra trong một hoàn cảnh khác. Đêm đọ sức đầu tiên ta bắn rơi 3 chiếc. Cả 2 bên còn đang thăm dò nhau. Đêm sau (19-12) ta không đánh rơi tại chỗ (kinh nghiệm đánh B-52 của cấp tiểu đoàn thắng trận đầu phổ biến cho các đơn vị chưa chuyển hóa đến hành động chiến đấu của bộ đội để biến thành kết quả cụ thể). Địch lúc đó lại chủ quan. Chúng ta vẫn kiên trì chỉ đạo các đơn vị kiên quyết bắn rơi tại chỗ và dẫn đến kết quả đêm 20 tháng 12. Trận then chốt đêm 26 tháng 12 là kết quả cảu một phương hướng chỉ đạo đúng đắn về công tác nghiên cứu nắm địch.
Trong tác chiến phòng không, trận đầu có vị trí hết sức quan trọng. Trận đầu đêm 18 đã diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt sau đêm 16-4-1972 ở Hải Phòng hơn 8 tháng. Đêm đó, ở HP ta đã bắn khá nhiều đạn tên lửa nhưng lực lượng B-52 của địch đều trở về căn cứ an toàn. Sẵn tư tưởng chủ quan, tin vào vũ khí kỹ thuật, tin vào khả năng chế áp vô tuyến điện tử của hệ thống khí tài gây nhiễu, kẻ địch đã bị bất ngờ và bị thua đậm ngay từ trận đầu tiên. Trong chiến dịch phòng không tháng 12, tỷ lệ đạn tên lửa rơi đất và mất điều khiển rất thấp.

Những trận đánh then chốt trong chiến dịch phòng không phải là những trận đánh hiệp đồng binh chủng. Chúng ta đã xác định tên lửa và không quân mà tên lửa là lực lượng chủ yếu đánh B-52. Cho nên trong chỉ đạo, ta đã chủ trương để dành đạn tên lửa ban đêm đánh B-52; giao nhiệm vụ cho pháo cao xạ đánh không quân chiến thuật và điều thêm các lực lượng cao xạ để bảo vệ tên lửa. Còn không quân tiêm kích là lực lượng cơ động chủ yếu của chiến dịch nhưng thực tế, lực lượng không quân đánh đêm của ta có ít. Điều kiện có thể cất cánh chiến đấu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết, dẫn đường, sân bay… Nhưng trong những trận đánh then chốt, ta vẫn kiên quyết cho không quân cất cánh đánh địch từ xa, phá vỡ đội hình yểm hộ B-52, tạo điều kiện cho các lực lượng khác đánh thắng.



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:45:47 AM
Trận đầu đánh thắng không quân Mỹ
Sáng ngày 5 tháng 8 năm 1964, không ai bảo ai, tất cả các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân chủng đến phiên trực hay chưa, đều có mặt ở sở chỉ huy sớm hơn thường lệ. 6h12, trên màn sóng hiện hình thấy xuất hiện 3 tốp máy bay địch, trong đó có 2 tốp hoạt động dọc theo ven biển Hà Tĩnh, Nghệ An, Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Đồng Hới, Đèo Ngang (Quảng Bình) cách bờ từ 50 đến 120km; 7h59, một máy bay trinh sát U-2 lại xuất hiện, bay sâu vào nội địa. Lúc này, ở sở chỉ huy quân chủng, một không khí yên tĩnh lạ thường. Mọi người hồi hộp theo dõi đến từng giây, chờ đón một cái gì đó sẽ xảy ra và về phần mình sẵn sàng có lệnh là hành động. Kíp trực ban được tăng cường, trung đoàn radar 290 được lệnh mở toàn bộ các đài để theo dõi địch. Tất cả các đơn vị pháo cao xạ trên miền Bắc được lệnh vào cấp một. mạng thông tin nội bộ thông suốt. Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu theo rất sát mọi hoạt động triển khai của các lực lượng phòng không toàn quân chủng.
11h15, trên bảng tiêu đồ không còn một tốp mục tiêu nào nữa. Như vậy, lệnh báo động toàn quân chủng vào cấp 1 đã kéo dài gần 4 tiếng đồng hồ. Sự hồi hộp vừa tạm lắng xuống thì những câu hỏi mới làm căng đầu óc mọi người lại xuất hiện:
- Kẻ địch hoạt động suốt đêm qua và cả buổi sáng nay nhằm mục đích gì, có phải mở đầu cho bước leo thang đánh phá miền Bắc không?
- Tình hình đã cho phép xuống cấp báo động chưa?
Cuộc trao đổi để tìm đáp số diễn ra khá sôi nổi, nhưng cũng kết thúc thật nhanh. Tập thể Bộ tư lệnh nhận định: hành động của máy bay địch quần thảo suốt đêm là tuần tiễu để yểm hộ cho các hạm tàu hoạt động, nhưng không loại trừ khả năng tập dượt và nghi binh để bất ngờ ập vào đánh phá các mục tiêu trong đất liền của ta. Việc máy bay U-2 tiến hành trinh sát sâu trong đất liền là tiếp tục âm mưu chuẩn bị cho bước leo thang mới. Có thể tạm thời xuống cấp báo động (cấp 2), nhưng bộ đội phải ở tư thế sẵn sàng để đánh trả nếu chúng liều lĩnh đánh vào miền Bắc.

Nhận định của Bộ tư lệnh là hoàn toàn chính xác. Song tính chính xác ở đây cũng chỉ là tương đối, nó đúng về cơ bản, nhưng không thể trùng khớp hoàn toàn về cụ thể. Dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể đoàn đúng giờ phút địch đến đánh ta, chúng dùng loại máy bay gì, bao nhiêu lần tốp và đánh vào mục tiêu cụ thể nào. Quả thật, trong khi đơn vị bảo vệ thành phố Vinh vừa xuống cấp báo động vào buổi trưa ngày 5 tháng 8, thì sau đó ít phút những tốp máy bay phản lực Mỹ cất cánh từ tàu sân bay Ticondroga ập vào đánh phá các loại mục tiêu trong thành phố, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Dẫn đầu là tốp máy bay A-4 (4 chiếc) bay theo đội hình bậc thang, độ cao khoảng 200m, sau hạ dần xuống 100m (thấp hơn núi Quyết). Đến cảu sông Lam, tốp này hạ thấp độ cao xuống còn khoảng 60-70m áp sát triển sông ròi đột nhập vào thành phố. Với đội hình hàng dọc 2 chiếc một, chúng lần lượt lao vào đánh phá kho dầu. Đường bay như vậy chứng tỏ những tên phi công Mỹ vừa có nghề lái giỏi, vừa biểu hiện thủ đoạn đánh phá nham hiểm; chúng đánh theo lối vu hồi, tránh đương đầu trực tiếp với các trận địa phòng không của ta.
Nhưng trung đội 14.5mm thuộc trung đoàn 280 pháo cao xạ (Đoàn Hồng Lĩnh – Đoàn pháo cao xạ bắn rơi nhiều máy bay nhất trong các trung đoàn cao xạ của quân chủng) bố trí trên núi Quyết đã phát hiện được tốp báy lén lút này và kịp thời nổ súng. Có thể xem đây là tiếng súng đầu tiên của bộ đội Phòng không nhân dân VN tiến công hành động ăn cướp của những tên giặc trời Mỹ. Lúc đó là 12h25 ngày 5 tháng 8 năm 1964.

Tiếp theo tốp 4 chiếc A-4D bay theo đường sông Lam vào đánh kho dầu là các tốp AD6, F-8U ập vào đánh phá trận địa cao xạ, truờng thủy sản, Hòn Ngư. Tốp AD6, bay tới độ cao 250m tới làng cống Mỹ thì cất cao bổ nhào với góc 30 độ, cắt 10 quả bom xuống kho dầu vẫn đang bốc cháy. Như vậy là cả ba tốp ngoài nhiệm vụ riêng đều hợp điểm đánh kho dầu.
Về phần ta, mặc dù lúc đầu có phần nào bị động và lúng túng, nhưng chỉ ít phút sau đó, các đơn vị thuộc trung đoàn 280 pháo cao xạ đã chiến đấu với mọt tư thế chủ động. bình tĩnh và thông minh. Lúc đầu, hầu hết các khẩu đội đều áp dụng phương pháp bắn trực tiếp nên hảo lực phân tán, hợp đồng thiếu chặt chẽ, hiệu suất chiến đấu kém. Sau đó đại đội 71 đã tiến hành bắn được bằng phần tử Đ-49, đại đội 72 bắn bằng phần tử tổng hợp, tấp trung vào một mục tiêu nhất định. Nhờ vậy mà ngay trong đợt chiến đấu đầu tiên, với 30 phút, trung đoàn 280 đã bắn rơi 2 máy bay địch.
Mặc dù cuộc chiến đấu bảo vệ thành phố Vinh đã diễn ra rất dũng cảm, ta đã bắn rơi 2 máy bay địch, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy hết sức đau xót khi đã không đưa được bộ đội vào thế chủ động đánh địch một cách liên tục ngay từ đầu. Trách nhiệm này thuộc về chúng tôi, những người lãnh đạo và chỉ huy. Sau khi cho chuyển cấp báo động, trong Bộ tư lệnh quân chủng không phân công người trực ở sở chỉ huy buổi trưa hôm đó là một sai lầm, nên khi có lệnh cảu đồng chí Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tiếp tục duy trì báo động cấp 1, vì Johnson đã tuyên bố máy bay Mỹ được phép đi đánh phá miền Bắc. Đồng chí sĩ quan trực ban tác chiến nhận lệnh đã lúng túng, không phát tiếp lệnh cảu Tổng tham mưu trưởng xuống các đơn vị thuộc quân chủng (điều mà chức trách trực ban tác chiến cho phép), mà lại đi báo cáo xin chỉ thị thủ trưởng. Lúc này đòng chí Đặng Tính, chính ủy và đồng chí Phùng Thế Tài, tư lệnh trưởng sau một đêm trực chỉ huy khá căng thẳng, cần được nghỉ ít phút để lấy lại sức. Còn tôi (Nguyễn Xuân Mậu, sau này là Trung tướng, chính ủy quân chủng Phòng không) với cương vị phó chính ủy, lẽ ra phải có mặt ở sở chỉ huy lúc này thay đồng chí Đặng Tính, thì cũng về nghỉ ở nhà riêng. Đây là nguyên nhân gây ra sự chậm trễ trong việc chuyển cấp báo động, và đó cũng là nguyên nhân gây cho một số đơn vị gặp khó khăn lúng túng lúc đầu.

Đúng là chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ cho trận đánh này, nhưng lại chưa tính đến những vấn đề cụ thể nhất, và do đó đã có những sơ hở trong chỉ hy tác chiến. Nhận thức về thủ đoạn của địch vẫn còn chủ quan., đơn giản. Suốt cả buổi sáng chúng bay dập dờn ngoài biển, thỉnh thoảng chớm sâu vào đất liền một ít, và chúng tôi hạ lệng báo động cấp 1 toàn quân chủng, kể cả những đơn vị sâu nhất như Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên. Khi trên bảng tiêu đồ vừa hết mục tiêu, chúng tôi liền cho bộ đội về cấp 2. Đây chính là cái nếp mà kẻ địch đã xảo quyệt làm cho chúng tôi gần như quen thuộc suốt một tuần nay. Mãi sau này, chúng tôi vẫn thường tự hỏi tại sao mà buổi trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964 ấy lại không để lại một vài đơn vị trực ban cấp 1, kể cả khu vực Vinh, một yếu địa có khả năng bị địch oanh tạc nhiều nhất. Trước hết, đây là thiếu sót về công tác nắm địch. Chúng tôi đã không chú ý đúng mức đối tượng không quân của hải quân, đặc biệt là hạm đội 7 Mỹ, đối thủ nguy hiểm của chúng tôi trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại sau này. Vì vậy dẫn đến tình trạng là trong phương án tác chiến, trong huấn luyện, ít đề cập đến các kiểu loại máy bay cảu hải quân, thậm chí việc nhận dạng máy bay, bộ đội cũng còn nhầm lẫn. Vì không chú ý đi sâu nghiên cứu những đặc điểm không quân của hải quân, nên không có những biện pháp đề phòng thủ đoạn bay thấp từ ngoài biển để đột nhập vào đất liền cảu kẻ địch. Chúng tôi đã nhanh chóng nhận ra thiếu sót đó và có biện pháp sửa chữa tích cực. Những kinh nghiệm nóng hổi của cuộc chiến đấu ở Vinh đã được kịp thời chuyển xuống các đơn vị trong toàn quân chủng./.

-----------------------------------------------

Có lẽ đây là sự thật mà không nhiều người biết. Đôi khi báo chí và công tác tuyên truyền của ta "bốc thơm" về quân ta đánh thắng trận đầu một cách chủ động, đánh thắng giòn giã, mục tiêu được bảo vệ, thiệt hại thấp. Hy vọng những tư liệu này đem lại cho các bạn một góc nhìn tổng quan hơn, khách quan hơn và thật hơn về cuộc sống và chiến đấu của những người lính Phòng không - Không quân.




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:48:37 AM
Tên lửa gặp khó khăn trong chống nhiễu

Cho đến cuối năm 1966, ở khu vực Hà Nội, trước khi mở những chiến dịch đánh phá lớn, thủ đoạn gây nhiễu của địch chủ yếu là gây nhiễu ngoài đội hình. Những chiếc máy bay EB-66, EC-121 được trang bị những máy điện tử cực kỳ hiện đại bay lượn từ xa, phát nhiễu và làm mờ các đài radar của ta, che chở cho bọn cường kích, tiêm kích lẻn vào đánh phá. Thủ đoạn này lúc đầu có gây cho ta một số khó khăn, nhưng ta đã dần dần khắc phục được bằng cách nâng cao trình độ bám sát mục tiêu cảu các trắc thủ. Mặt khác, dù cho địch huy động vào một trận đánh đến 5-6 máy bay EB-66 thì cũng không thể nào che kín hết cho đồng bọn của chúng. Chiến đấu trên không rất cơ động, nhất là lúc bị các lực lượng phòng không khác như cao xạ, không quân đánh mạnh, bọn cường kích, tiêm kích không thể không có lúc bị lọt ra ngoài cái “áo giáp nhiễu”, phơi mình ra cho các chiến sĩ tên lửa ta tiêu diệt.

Vào cuối tháng 11 năm 1966, trên bản đồ tình báo ở sở chỉ huy xuất hiện một hiện tượng lạ. Gần suốt một tuần lễ, những chiếc EB-66, EC-121 bay lượng suốt ngày đêm ở các vùng biên giới và ven biển. Chúng có ý đồ gì đây? Ít lâu sau, khi chuẩn bị kế hoạch bảo vệ Hà Nội, chúng tôi đã có câu trả lời. Bọn địch tiến hành một đợt trinh sát điện tử lớn để chuận bị cho đợt leo thang mới. Ngày 15 tháng 1 năm 1967, địch ập vào đánh cầu Xuân Mai. Lúc máy bay địch còn ở xa, cả 4 tiểu đoàn cảu trung đoàn 236 chỉ thấy 1 dãi nhiễu chứ không phải nhiễu trắng cả màn như trước đây. Lúc địch đánh cầu, chỉ có tiểu đoàn 63 ở trận địa Gốt mới thấy mục tiêu và phóng được 2 quả đạn nhưng không kết quả. Còn tiểu đoàn 64 ở Yên Nghĩa, cách Xuân Mai 18km, chỉ thấy loáng thoáng mục tiêu lúc bổ nhào và lượn vòng. Bởi vậy, mặc dầu biết địch đang đánh vào trận địa tiểu đoàn 63 nhưng không thể nào bắn chi viện được. Hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 236 cũng ở trong tình trạng như thế. Tối hôm đó, đồng chí Trần Xanh, trung đoàn trưởng 236 báo cáo về sở chỉ huy quân chủng: địch bắt đầu dùng thủ đoạn nhiễu mới.

Hai tuần sau, ngày 23-1-1967, 8 chiếc F-4 bay theo đội hình bàn tay xòe, 4 chiếc một, theo đường Hồi Xuân, Hòa Bình, Nhổn, Hồ Tây, Đông Anh, Vĩnh Yên… toàn trung đoàn 236 ở vòng trong đều bị nhiễu, không bắt được mục tiêu. Trung đoàn 274 bố trí ở Bắc sông Hồng thấy mục tiêu, bắn đuổi, rơi một chiếc ở Sơn Tây, bắt sống giặc lái. Tại sao các trắc thủ của trung đoàn 236, trung đoàn ra quân đầu tiên của bộ đội tên lửa đã từng dày dạn trong chiến đấu lại không bắt được mục tiêu, còn trung đoàn 274 xây dựng sau lại bắn rơi được máy bay địch? Tại sao, trước đây, cả đơn vị vòng trong, vòng ngoài đều bị nhiễu, còn bây giờ có đơn vị bị, đơn vị không? Tại sao, tại sao, những câu hỏi đó cứ nằm trong đầu óc chúng tôi như một sự thách thức khiến mọi người phải suy nghĩ đến quên ngủ để tìm cho ra một lời giải. Liên tiếp trong các ngày 23, 26, 30 tháng 3-1967, địch cho nhiều tốp máy bay bay qua Hà Nội, các tiểu đoàn của trung đoàn 236 đều “án binh bất động” vì nhiễu quá nặng, không bắt được mục tiêu.

(còn tiếp)




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:49:27 AM
Đầu tháng 4-1967, bộ đội tên lửa có một cuộc họp quan trọng. Thành phần gồm các đồng chí trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng tên lửa và toàn bộ kíp chiến đấu của các tiểu đoàn. Nội dung chính là tìm thủ đoạn gây nhiễu mới của địch và cách đối phó. Đồng chí tư lệnh quân chủng chủ trì cuộc họp. Mọi người phát biểu rất sôi nổi. Các đồng chí trung đoàn 236 kiên trì bảo vệ lập luận của mình là địch đã xuất hiện thủ đoạn gây nhiễu mới, muốn đánh thắng phải có cách đánh mới.
- Cách đánh mới là cách đánh như thế nào? - Đồng chí tư lệnh quân chủng ngắt lời hỏi
Đồng chí Trần Xanh trả lời ngay như đã có chuẩn bị từ trước:
- Cách đánh 3 điểm.
- Cách đánh 3 điểm là cách đánh như thế nào? Có phải là các anh định đánh “mò” không? – Rồi đồng chí tư lệnh khoát tay quay ra nói với những người dự họp – Các anh phát biểu đi! 236 đề nghị đánh 3 điểm, còn các anh muốn đánh bao nhiêu điểm?
Câu hỏi vui của tư lệnh làm cho mọi người bật cười. Cuộc họp sôi nổi hẳn lên. Các đồng chí tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển và cả các đồn chí trắc thủ hăng hái phát biểu kinh nghiệm thực tế cảu đơn vị mình. Nhưng đến cách đánh 3 điểm thì phần đông còn phân vân. Các đơn vị bố trí vòng ngoài vẫn có thể nhìn thấy được mục tiêu, vẫn có thể đánh được và đã đánh thắng, tuy không dễ dàng.

Bây giờ đây, phải chăng cũng là biểu hiện của một sự thiếu quyết tâm. Thế nhưng, trong cuộc họp hôm nay, vừa nghe, vừa ngắm nhìn những khuôn mặt quen thuộc phát biểu ý kiến, thấy rằng không phải như vậy. Trung đoàn trưởng trung đoàn 236, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 là những con người ham học hỏi, luôn có quyết tâm vươn lên phía trước… Lẽ nào những con người như thế lại dao động trước thủ đoạn mới của địch? Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 61 Nguyễn Văn Viễn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 63 Trần Thái, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 64 Lê Tính, mỗi người một tính cách, nhưng đều có một điểm giống nhau, trẻ tuổi, xông xáo, thông minh, dũng cảm. Chính họ đã cùng với tiểu đoàn của mình ghi biết bao chiến công trên các địa bàn từ Hà Tây, Vĩnh Phú, Yên Bái cho đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Chiến thắng của họ đã làm cho kẻ địch bao phen lúng túng, thay đổi hết chiến thuật này đến thủ đoạn khác. Thế mà trong những ngày vừa qua, tất cả đều như chững lại. Máy bay địch ầm ầm bay qua bầu trời Hà Nội, ngay trên đầu họ, nhưng những bệ phóng của họ vẫn cứ nằm im?
Đêm hôm đó, tôi (Nguyễn Xuân Mậu, phó chính ủy quân chủng) và đồng chí Đặng Tính (chính ủy quân chủng) lại đứng với nhau dưới gốc cây sấu.
- Liệu có vấn đề tư tưởng trong chuyện nhiễu này không? Tôi băn khoăn nêu suy nghĩ của mình với đồng chí Đặng Tính.
Sau một lúc trầm ngâm suy nghĩ, đống chí Đặng Tính nói chậm rãi:
- Mấy lâu nay ta có thói quen làm công tác tư tưởng chung chung, một chiều. Hồi ở Điện Biên Phủ khác, hồi năm 1964 khác. Bây giờ lại càng khác. Ở quân chủng kỹ thuật này, vấn đề tư tưởng phải đi đôi với vấn đề kỹ thuật.


Chúng tôi đang trao đổi thì anh Phùng Thế Tài bước đến:
- Thằng Xanh 236 láu cá lắm. Hôm nay nó đề nghị cho đánh 3 điểm, nhưng nó đã cho 64 “đánh chui” mấy trận rồi. Đạn đi chầu trời tất.
- Để anh em phải đánh chui là khuyết điểm của chúng ta – anh Tính nói, nét mặt lộ vẻ không vui.
Anh Tài lại nói:
- Ngày mai họp Bộ tư lệnh, anh Tri, anh Huyên sẽ kết luận toàn bộ ý kiến trao đổi của anh em hôm nay rồi đưa ra ta bàn chung. Nếu cần ta cho tiểu đoàn 62 đánh thí điểm trước.
Tôi nhất trí với ý kiến để 62 đánh thí điểm:
- Đúng! Nên cho cậu bát nghiên cứu đánh thử trước. Cậu ta vừa hăng hái vừa nắm chắc kỹ thuật. Còn trước mắt, theo tôi, chưa nên cho đánh rộng rãi cách đánh 3 điểm.
Cuối cùng anh Tính cũng nhất trí:
- Đồng ý để 62 đánh thí điểm, nhưng cần phát động toàn binh chủng tên lửa nghiên cứu. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ tiến tới mở hội nghị chuyên đề về vấn đề này.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:50:37 AM
Cho đến tháng 8 năm 1967, tình hình đánh trong nhiễu vẫn gặp khó khăn. Do tư tưởng và cách đánh cụ thể chưa được giải quyết dứt khoát, nên nhiều trận lỡ thời cơ. Phần đông các tiểu đoàn vẫn dựa vào phương pháp bắn vượt X góc bằng cách cố gắng tìm “nhân” mục tiêu trong nhiễu, kết hợp với bố trí đội hình cạnh sườn để tránh né cường độ nhiễu của địch. Tiểu đoàn 62 của Hoàng Bát đánh đến 8 trận mà máy bay địch vẫn chưa rơi cái nào. Trong một cuộc họp rút kinh nghiệm, đồng chí Phùng Thế Tài chỉ vào Hoàng Bát nói:
- Này anh Bát hói! Anh có biết là anh đánh bao nhiêu điểm rồi không? Tán lần 3 là 24. Hai mươi bốn điểm rồi. Anh xin quân chủng đánh 3 điểm, anh đã đánh đến 24 điểm rồi mà vẫn chưa nộp một chiếc máy bay nào cả.
Đến giờ giải lao, tôi gặp riêng Hoàng Bát ở hành lang:
- Cậu suy nghĩ thế nào về cách đánh 3 điểm?
- Báo cáo phó chính ủy, tôi vãn cứ đánh 3 điểm. Không thể có cách nào khác. Đồng chí Đặng Tính, đ/c Trương Công Cẩn, đ/c Honàg Văn Khánh ủng hộ tôi. Đồng chí Thần Xanh, đ/c Ly Sơn khuyến khích tôi.
Tôi khoác vai Hoàng Bát dạo quanh khu nhà họp:
- Nếu cậu có quyết tâm như thế. Có lòng tin như thế thì cậu cứ đánh. Bộ tư lệnh đã thống nhất ý kiến rồi. Phải tìm cách mà xoay xở chứ không chịu bó tay. Tôi chỉ lưu ý cậu: Nước ta còn nghèo. Một viên đạn pháo 100 ly có thể nuôi sống một gia đình trung nông trong một năm thì quả đạn tên lửa giá trị như thế nào, cậu suy ra khắc biết.
Sau đó, cuộc họp lại tiếp tục cho đến tận khuya.

Cuộc chiến đấu đất đối không bảo vệ Hà Nội mỗi ngày càng thêm căng thẳng và phức tạp. Kẻ địch không cam chịu thất bại. Dựa vào tiềm lực kinh tế và quân sự phát triển ở trình độ cao, đế quốc Mỹ không ngừng cải tiến kiểu loại máy bay, phát triển thiết bị - khí tài hiện đại và tinh vi để quyết thắng đối phương. Nếu như những tháng đầu năm 1967, trong một tốp – 4 chiếc máy bay địch, chỉ có chiếc số 1,3 hoặc 2,4 được trang bị máy gây nhiễu, thì đến tháng 6, tháng 7, địch đã trang bị đầy đủ cho mỗi máy bay một máy gây nhiễu. Cường độ nhiễu tăng lên đột ngột trên các màn hiện sóng. Trong những ngày đó, hễ có báo động là sở chỉ huy quân chủng lại nghe các nơi tới tấp báo cáo về: Nhiễu trong đội hình, cường độ 3 (là các máy bay đi làm nhiệm vụ tự mình gây nhiễu do các máy gây nhiễu được gắn trong các máy bay đó hoạt động). Không thể quên được hình ảnh đồng chí Lê Văn Tri trong những giờ phút đó. Với cặp mắt sâu, đôi mày rậm, môi mím chặt, hai tay chắp sau lưng, đồng chí cứ đi đi lại lại sau chiếc bàn chỉ huy, chốc chốc lại hướng về các đồng chí sĩ quan phương hướng hỏi:
- Chưa có đơn vị nào phóng à?
- Báo cáo, chưa! Ở đâu cũng nhiễu trắng cả màn.
Bước sang tháng 8, tình hình lại càng nghiêm trọng hơn. Trong mỗi máy bay của địch không chỉ có một máy gây nhiễu, mà đã tăng lên 2. Có thể nói, nền công nghiệp điện tử của Mỹ đang chạy hết công suất để phục vụ cho cuộc chiến tranh này. Trong đợt chiến đấu tháng 8 năm 1967, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội có 57 lần tiểu đoàn bắn, thì có đến 66,3% đạn tự hủy, đặc biệt nghiêm trọng có 6,3% đạn rơi xuống đất.

Ngày 11 tháng 8 năm 1967, địch đánh cầu Long Biên, 3 tiểu đoàn cảu trung đoàn 236 còn lại ở vòng trong chỉ phóng lên được 1 quả đạn. Cầu Long Biên bị hỏng. Đến lúc này cũng mới chỉ có 14% đơn vị dùng phương pháp 3 điểm và phần lớn chỉ mới dám dùng 1 quả trong một lần bắn. Tiểu đoàn 62 của Hoàng Bát vẫn chưa thành công. Cuộc họp rút kinh nghiệm chiến đấu tối 11-8-1967 diễn ra trong không khí nặng nề và căng thẳng. Kết thúc cuộc họp, đồng chí Đặng Tính nói với các tiểu đoàn trưởng tên lửa như kêu gọi:
- Các đồng chí! Lẽ nào chúng ta lại chịu bó tay trước âm mưu thâm độc của kẻ thù. Ngày mai, địch vào đánh Hà Nội, tất cả các đơn vị đều phải phóng đạn. Các đồng chí cứ mạnh dạn đánh 3 điểm.
Ngày hôm sau, 12-8-1967, địch lại vào đánh Hà Nội. Sau những ngày gian khổ, vất vả, niềm vui của chiến thắng đã đến vói chúng tôi. Hồi 16h13, tiểu đoàn 63 đã bắn rơi tại chỗ một chiếc RF-4C bằng phương pháp 3 điểm. Tin báo về sở chỉ huy làm cho ai nấy đều rạng rõ hẳn lên. Có lẽ vì chúng tôi đợi quá lâu. Tối hôm đó, tại sở chỉ huy trung đoàn 236, cuộc họp rút kinh nghiệm chiến đấu diễn ra tưng bừng chưa từng thấy, giống như là một buổi họp mừng chiến thắng vậy. Kíp chiến đấu của tiểu đoàn 63 gồm các đồng chí tiểu đoàn trưởng Trần Thái, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Thực và các đồng chí Tạo, trắc thủ cự ly; Pháo, trắc thủ phương vị; Mạnh, trắc thủ góc tà được mời lên hàng ghế đầu. Đồng chí chuyên gia Liên Xô lần lượt bắt tay các đồng chí trắc thủ, sĩ quan điều khiển và ôm hôn nông nhiệt đồng chí tiểu đoàn trưởng Trần Thái trong tiếng vỗ tay vang dội.


Chiến thắng ngày 12-8-1967 của tiểu đoàn 63 đánh dấu một cái mốc quan trọng trên con đường chiến đấu của bộ đội tên lửa. Ngày 17-9-1967, tiểu đoàn 76, trung đoàn 257 bắn rơi 1 RF-4 bằng phương pháp 3 điểm, tiếp đó, tiểu đoàn 88 trung đoàn 274 đánh thắng bằng phương pháp 3 điểm trong đội hình dày đặc. Trên cơ sở những trận thắng đó, cùng với những kinh nghiệm cảu những trận không thắng trước đây, Bộ tư lệnh binh chủng tên lửa đã nhanh chóng xuất bản một tài liệu về phương phấp đánh 3 điểm. Đầu tháng 10-1967, các tiểu đoàn trưởng tên lửa đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội, cùng với kíp chiến đấu của mình được triệu tập về một địa điểm gần chùa Thầy dự lớp huấn luyện về cách đánh 3 điểm. Lớp huấn luyện đó do đồng chí Đoàn Huyên, tư lệnh binh chủng tên lửa chủ trì. Nếu như trận thắng 12-8-1967 là cái mốc thứ nhất trên bước đường đánh thắng thủ đoạn nhiễu trong đội hình của địch, thì cuộc tập huấn đầu tháng 10-1967 này là cái mốc thứ 2 không kém phần quan trọng. Sau khi tư tưởng và cách đánh đã được giải quyết tốt, công với công tác huấn luyện được đặc biệt chú ý, hiệu suất chiến đấu được nâng lên rõ rệt trong 2 chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội tháng 10 và tháng 11 năm 1967.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:51:25 AM
Trong 2 chiến dịch này, bộ đội tên lửa bảo vệ Hà Nội đã có 173 lần tiểu đoạn phóng đạn, trong đó có 68% dùng phương pháp 3 điểm; trong số 18 tiểu đoàn dùng phương pháp 3 điểm thì có 14 tiểu đoàn đánh thắng, 4 tiểu đoàn chưa đánh thắng là do vừa xây dựng, trình độ bám sát mục tiêu của trắc thủ chưa được thành thạo (như vậy, tổng số tiểu đoàn tên lửa phải là 26-27 tiểu đoàn). Trong số 253 quả đạn bắn thì 80% nổ có điều khiển. Số máy bay địch bị bắn rơi so với tháng 4, tháng 5 và tháng 8 năm 1967 tăng gần gấp 2 lần. Đặc biệt có những trận đánh tiêu diệt xuất sắc như trận này 18-11-1967, 6 tiểu đoàn cảu 2 trung đoàn 274, 257, cùng bắn vào một tốp, tiêu diệt 4 F-105, bẻ gãy hẳn một đợt đánh của địch. Trận ngày 19-11-1967, cả 10 tiểu đoàn thuộc 3 trung đoàn cùng bắn, diệt một lúc 7 F-105.

Trong lúc cán bộ, chiến sĩ toàn quân chủng vẫn đang còn hân hoan với niềm vui của chiến thắng tháng 10 và tháng 11-1967, thì kẻ địch xảo quyệt lại gây cho chúng tôi 1 khó khăn mới. Trong đợt máy bay Mỹ đánh phá lần thứ 7 (từ 14-19 tháng 12) vào Hà Nội, bộ đội tên lửa chỉ bắn rơi được 1 F-105. Mặc dầu đã có kinh nghiệm khắc phục nhiễu trong đội hình, mà kinh nghiệm lớn nhất là phải tuyệt đối tin vào quần chúng, chúng tôi vẫn dè dặt, hồ nghi khi nghe báo cáo của các đơn vị! Làm sao lại thế được? Ta phóng đạn lên trời, thằng địch lại làm cho đạn ta rơi xuống đất. Vừa cách đây chưa đầy 1 tháng, ngày 19-11-1967, chúng ta đã thu được chiến thắng giòn giã, khiến kẻ địch run sợ, phải bỏ cuộc. Thế mà bây giờ chúng phản công lại chúng ta nhanh đến thế ư? Cũng có thể đây là một dạng chủ quan, thỏa mãn, dẫn đến đánh không thắng, không rơi chăng?
Buổi hội ý Thường vụ hôm ấy diẽn ra trong không khí trầm lặng. Hai ngày chiến đấu, địch đánh cầu Long Biên, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn, hiệu suất chiến đấu kém rõ rệt. Địch thật ư? Không có lẽ chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng chúng thay đổi thủ đoạn nhanh đến như thế. Nhiễu ngoài đội hình rồi, nhiễu trong đội hình rồi, bây giờ là loại nhiễu gì? Đó là chưa kể các loại nhiễu khác chúng đã đưa vào sử dụng từ hơn 2 năm nay như các loại nhiễu tiêu cực bằng kim loại, bằng các sợi thủy tinh; các loại nhiễu tích cực như nhiễu xung trả lời, nhiễu râu, nhiễu xoắn thừng, nhiễu cỏ may, nhiễu phên liếp, nhiễu mưa rào, nhiễu chấn song… nhưng đều bị các trắc thủ tên lửa của ta loại trừ bằng trình độ thao tác điêu luyện.

Vốn rất thực dụng, lại có tiềm lực, khi thấy dung nhiễu QRC-160 vẫn bị bắn rơi, bọn trùm chiến tranh ở Lầu năm góc đã nghĩ ngay đến một thủ đoạn mới. Và khi ta còn chưa kết luận được nhiễu trong đội hình thì từ ngày 15-5-1967, địch đã bắt đầu thí nghiệm 1 loại nhiễu mới. Đầu tháng 8-1967, trong một trận đánh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 đã phát hiện có một loại nhiễu mới ảnh hưởng đến sự điều khiển của đạn, nhưng không ai tin. Trong các trận chiến đấu tháng 10, tháng 11, lẻ tẻ cũng có một vài đơn vị phát hiện những hiện tượng tương tự của tiểu đoàn 62 đã nêu hồi tháng 8. Nhưng cũng không được ai chú ý, kể cả cơ quan nghiên cứu khoa học quân sự. Nếu như hồi ấy, lãnh đạo và chỉ huy chúng tôi sáng suốt, nhạy bén, cơ quan nghiên cứu quân chủng xông xáo, tác phong nghiên cứu thực tiễn hơn nữa, chắc chắn chúng ta không gặp khó khăn như trận 14-12-1967. Và suốt đêm đó, cả trung đoàn 236 hầu như không ngủ. Sau cuộc họp rút kinh nghiệm đến 12 giờ đêm, toàn trung đoàn bắt tay vào thực hiện các biện pháp được đề ra trong cuộc họp là kiểm tra lại toàn bộ khí tài, bệ, đạn. Đạn là nơi tập trung nhiều nghi ngờ nhất, nên đồng chí trung đoàn trưởng Trần Xanh đã đích thân dự kiểm tra từng quả một. Tất cả những biện pháp trên được tiến hành xong trong đêm 15 rạng 16-12-1967. Nhưng kết quả chiến đấu vẫn không như mong muốn! Tối 16-12-1967, tại cơ quan Bộ tư lệnh tên lửa đóng tại 1 xóm nhỏ bên dòng sông Đáy, đã diễn ra một cuộc họp quan trọng từ cán bộ đại đội trở lên. Kíp chiến đấu của tất cả các tiểu đoàn cũng tham gia cuộc họp này. Cuộc họp có nhiệm vụ trao đổi ý kiến và kết luận cho được việc đạn không có điều khiển trong mấy ngày qua là do địch hay ta và bàn cách đối phó. Nhưng hội nghĩ vẫn không đi đến một kết luận thống nhất. Bạn đọc sẽ nghe đồng chí Trần Xanh kể lại không khí cuộc họp hôm đó và những diễn biến tiếp theo:

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:56:52 AM
“… Chập choạng tối, chúng tôi đến địa điểm họp. Trong ngôi đình đã rất đông người, đang ồn ào, sôi nổi. Tôi nghe rõ tiếng đồng chí Nguyễn Mạnh Đàn, trung đoàn trưởng trung đoàn 274.
- Cứ nói thẳng ra là do địch sao lại phải sợ. Đánh giặc mà còn sợ thì đánh cái gì.
Tiếng đồng chí Lê Ngọc Quất, trưởng phòng huấn luyện tên lửa cảu binh chủng tên lửa:
- Địch gì! Đánh không thắng, trước hết là do ta, sao lại là do địch?
Thấy tôi bước vào, đồng chí Nguyễn Đình Sơn, trung đoàn trưởng 257 reo lên vồn vã:
- A! 236 chủ công đây rồi!
Đồng chí Đoàn Thuận, trung đoàn trưởng 267 vừa siết chặt tay tôi, vừa nói chân thanh:
- Hôm nay đến đây chủ yếu để nghe kinh nghiệm cảu anh đây.
(Như vậy là có ít nhất 4 trung đoàn tên lửa về tham dự hội nghị này)
Ở hội nghị này cũng có hai khuynh hướng: một là do địch; hai cho là do chủ quan ta gây nên. Tôi thuộc khuynh hướng thứ nhất, nhưng chưa có đầy đủ luận cứ để thuyết phục mọi người. Thế là vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Tại chủ quan ta, hay tại địch vẫn là một bài toán chưa có đáp số. Sau hội nghị về, chúng tôi lại tập trung nghiên cứu. Và cuối cùng đáp số đã được tìm ra. Theo nguyên lý kỹ thuật, thì đạn muốn có điều khiển, phái có một công suất nhất định để nhận đúng tần số do đài của ta phát đi. Kẻ địch xảo quyệt đã dùng máy gây nhiễu phát vào tần số rãnh đạn của ta một công suất lớn hơn công suất của đạn và như thế là đạn mất điều khiển. Hiện tượng này gọi là “nhiễu rãnh đạn”. Muốn giải quyết cơ bản vấn đề này, phải tăng công suất đạn lên để thắng công suất máy gây nhiễu của địch. Đây là vấn đề lớn, vượt quá khả năng ta. Trong lúc chưa thỏa mãn được yêu cầu trên, ta vẫn có cách khắc phục bằng cách đánh theo phương pháp P.L. (phương pháp P.L. là thế nào, thuộc phạm vi bí mật mong bạn đọc thông cảm).

Tôi (Trần Xanh) mang kết quả nghiên cứu này lên báo cáo đồng chí tư lệnh binh chủng tên lửa và xin chỉ thị cho đánh theo phương pháp mới đó. Đồng chí tư lệnh suy nghĩ một lúc rồi cho gọi đòng chí Dục, trưởng phòng kỹ thuật đến hỏi:
- 236 đề nghị đánh bằng phương pháp P.L., cậu xem có được không?
Đồng chí Dục trả lời được. Cuối cùng đồng chí tư lệnh bảo tôi:
- Thôi được, cậu cứ áp dụng phương pháp của cậu và thường xuyên báo cáo tình hình lên trên này.
Liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18 tháng 12-1967, chúng tôi phóng theo phương pháp mới nhưng vẫn không đem lại kết quả mong muốn.
Tối 18-12, các đồng chí cấp trên xuống trung đoàn tôi dự rút kinh nghiệm. Vừa trông thấy tôi, đồng chí phó chính ủy quân chủng hỏi:
- Thế nào ông Xanh? Sao mà thằng địch cứ nhè đúng 236 nó nhiễu thế nhỉ?
Tôi im lặng, chẳng biết trả lời thế nào.
Từ trưa, khi biết các đồng chí trên sẽ xuống dự rút kinh nghiệm, tôi và đồng chí Bùi Biếng, tham mưu trưởng trung đoàn đã cùng nhau dốc sức chuẩn bị một báo cáo với đầy đủ những số liệu về tất cả các mặt, hy vọng chứng minh cho cấp trên hiểu rằng nguyên nhân đánh không thắng trong mấy ngày qua chủ yếu là do địch có thủ đoạn mới. Nhưng việc làm của chủng tôi chưa đạt kết quả hoàn toàn. Vẫn có ý kiến cho rằng cần phải tìm “nhiễu” trong cái đầu của chúng ta trước đã. Sáng 19 tháng 12, đồng chí Trương Công Cẩn, chính ủy binh chủng tên lửa đến, sự có mặt của đồng chí trong lúc này làm tôi vui hẳn lên. Nhớ hồi loay hoay vất vả với thủ đoạn nhiễu trong đội hình và cách đánh 3 điểm, đồng chí luôn là người gợi cho chúng tôi nhiều ý kiến thiết thực.
(còn tiếp)




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 12:01:43 PM
- Các cậu đau đầu và khổ tâm lắm phải không? Tớ biết và rất thông cảm. Nhưng đây là một vấn đề quan trọng. Trên Tổng cục và Quân ủy cũng đang đặt vấn đề xem xét. Bộ Tổng tham mưu đã lệnh cho Cục quân báo và Viện khoa học quân sự tập trung nghiên cứu. Quân chủng cũng vừa có cuộc họp lớn bàn về vấn đề này. Hôm nay tất cả sẽ tung xuống đơn vị. Đồng chí Tính, đồng chí Khánh sẽ trực tiếp xuống tiểu đoàn 62 dự chiến đấu. Tớ sẽ xuống 61. Sau đó sẽ nhanh chóng kết luận. Trước khi xuống 61, đồng chí Cẩn siết chặt tay tôi (Trần Xanh) tạm biệt và nói thêm:
- Xanh ạ! Lần này với cương vị là trung đoàn trưởng, cậu cứ thẳng thắn phát biểu ý kiến của mình. Đây là vấn đề quân sự, kỹ thuật, tớ sẽ ủng hộ cậu, tin ở cậu. Nhưng nhớ là chuẩn bị cho thật kỹ vào, chân lý bao giờ cũng đi đôi với khoa học…”
Và sự kiện nhiễu rãnh đạn kết thúc như thế nào, bạn đọc hãy nghe thêm những điều tâm sự sau đây của đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 tên lửa:
“… Sáng tinh mơ ngày 15-12-1967, ở trận địa Cổ Nhuế, chúng tôi đang tập thể dục thì đồng chí Đặng Tính, tư lệnh kiêm chính ủy quân chủng bước vào.
- Các cậu kiểm tra tham số chưa?
- Báo cáo rồi ạ
- Tốt cả chứ?
- Báo cáo tốt.
- Hôm qua tham số cũng tốt mà các cậu cho một quả tên lửa lên thăm Ngọc Hoàng. Còn một quả thì chui xuống âm phủ, chầu Diêm Vương.
- Báo cáo chúng tôi còn đang nghiên cứu. Hiện tượng hôm qua lạ lắm, chính ủy ạ!
Đồng chí chính ủy cho gọi toàn kíp chiến đấu lại và dặn:
- Hôm nay nó lại đánh lớn HN. Các cậu nhớ ghi toàn bộ diễn biến cuộc chiến đấu, diễn biến trên màn hiện sóng, cần chú ý xem hiện tượng nhiễu có gì mới; nếu có là phải phát hiện nay.
Trước khi chia tay với chúng tôi, chính ủy vui vẻ dặn thêm các trắc thủ:
- Cần nhất là phải tập trung tư tưởng bám sát – Chính ủy giơ 2 bàn tay lên – các cậu phải tập trung tư tưởng vào 2 bàn tay này này, sai một ly đi một dặm. Chưa vợ cả phải không?
Các trắc thủ đồng thanh đáp”
- Chưa ạ!...
Chính ủy cười hết cỡ, phô cả hàm răng có màu ngà ngà vàng ra:
- Thế thí cứ yên chí, chiến đấu cho thật giỏi vào, tớ còn mấy đứa con gái khá lắm, chưa cùng ai!
Lính ta khoái quá, reo lên:
- Có xinh không ạ?
- Đã bảo cứ yên chí, xinh lắm, rất giống tớ.
Thế là cả một trận cười như sấm vang. Tiếng cười còn đuổi theo mãi bước chân khập khiễng của đồng chí chính ủy đi ra xa. Lính ta kháo nhau:
- Lạy bố! Con gái mà giống bố thì con xin hàng


Mấy ngày tiếp theo, tình hình chiến đấu của chúng tôi vẫn không tốt đẹp hơn. Trung đoàn chỉ đạo cách đánh mới… Hiện tượng đạn không điều khiển có hạn chế một phần nào. Họp rút kinh nghiệm liên miên, nhưng vẫn chưa đi đến kết luận thống nhất. Ngay cả việc phóng thử, bắn lệch dải nhiễu cũng có đồng chí trợ lý ở trên xuống không nhất trí, bảo rằng không được làm như thế! Trong tình hình hiện nay, không làm như thế thì còn cách giải quyết nào khác. Chúng tôi đang lúng túng, chưa biết xoay xở ra sao thì ngày 19-12-1967, đồng chí Đặng Tính lại xuống. Cùng đi có cả đồng chí phó tư lệnh binh chủng tên lửa Hoàng Văn Khánh nữa. Tôi mừng thầm trong bụng: Lần này chắc các cụ quyết tâm dứt điểm vấn đề đây.
Bấy giờ tiểu đoàn tôi đã về chiếm lĩnh trận địa Nhật Tân, cách trận địa cũ chỉ vài cây số, và vẫn là trận địa chốt vòng trong, bảo vệ HN. 7h30 có thông báo địch vào. Máy nổ chạy ầm ầm, còi báo động rú lên. Tất cả đều nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Đồng chí Khánh lên xe trước rồi đưa tay kéo đồng chí Tính lên. Cửa xe đóng chặt, tiếng máy chạy êm êm. Đồng chí Đặng Tính đứng phía sau các đồng chí trắc thủ. Đồng chí Hoàng Văn Khánh đứng ngay cạnh tôi và sĩ quan điều khiển. Thực tình mà nói, sự có mặt của các đồng chí thủ trưởng trong xe, làm chúng tôi vừa mừng, vừa lo – Mừng là các đồng chí sẽ thấy chúng tôi chiến đấu như thế nào. Chúng tôi không hề sợ địch như có người ngộ nhận. Lo là lỡ xảy ra cái gì đó không an toàn…!
7h32, trung đoàn thông báo là tiểu đoàn 61 đã phóng và đạn không có điều khiển. Tôi báo cáo tin đó với đồng chí Tính và đồng chí Khánh. Đồng chí Khánh nhắc tôi:
- Đồng chí cứ tập trung chỉ huy chiến đấu!
Địch vào đúng hướng chúng tôi phụ trách. Trên vi-vô của tôi thấy rõ 1 tốp 4 chiếc bay theo đội hình bàn tay xòe. Tôi chỉ thị mở máy thu rãnh đạn và thấy có nhiễu. Màn hiện sóng xuất hiện một dạng nhiễu lăn tăn. Tôi quay lại phía đồng chí Khánh:
- Báo cáo đồng chí, chính “nó” đấy
Đồng chí Khánh và đồng chí Tính phải đeo kính lên và cúi sát màn hiện sóng để nhìn cho rõ.
- Mục tiêu vào 30km - tôi hô.
- Phóng phương pháp Y. Đạn không bắt. Tôi hô tiếp:
- P.L. x độ.
Đạn bắt nhưng lúc này mục tiêu đã vào 15km, nên tôi quyết định không phóng đạn.

(còn tiếp)






Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:01:00 PM
Lệnh trung đoàn đã cho báo động về cấp 2, nhưng đồng chí Tính và đồng chí Khánh còn ngồi lại hỏi han tỉ mỉ các đồng chí trắc thủ hồi lâu mới xuống xe. Các đồng chí còn đi khắp các bộ phận để nắm thêm tình hình.
Trưa hôm ấy, các đồng chí ăn cơm với chúng tôi dưới căn lán dã chiến, ngay tại trận địa. Buổi chiều 15h lại có báo động. Đồng chí Hoàng Văn Khánh tuyên bố: Từ giờ phút này trở đi, các tiểu đoàn khác do trung đoàn chỉ huy, còn tiểu đoàn 62 theo lệnh tôi. Địch vào, chúng tôi bắt được từ xa, ngoài 45km. Thấy đồng chí Khánh có quyết tâm đánh, tôi lệnh cho đồng bộ cae 3 quả đạn. Địch vào 40km – 35km – 32km, tôi hô: Phương pháp Y. Đạn không bắt. Tôi báo cáo với đồng chí Khánh:
- Nhiễu đạn rất nặng! Theo tôi, nếu phóng thì đạn sẽ không có điều khiển, có khả năng rơi xuống đất. nhưng nếu thủ trưởng đồng ý thì chúng tôi phóng. Đồng chí Hoàng Văn Khánh hô rất to:
- Phóng!
Các cậu trắc thủ bên xe tính toán kêu um lên trong loa phóng thanh:
- Điện áp A-nu (Bộ phận đo cường độ nhiễu rãnh đạn) cao thế mà vẫn phóng à?
Tôi phải quát lên:
- Tất cả theo lệnh tôi. Trật tự!
Viên đạn rời bệ phóng, nhưng không bắt được vào cửa sóng chờ. Trắc thủ cố bám sát mãi cũng đành chịu. Sĩ quan điều khiển Hùng buộc phải hô:
- Đạn không điều khiển.
Trận chiến đấu kết thúc nhanh chóng, không lấy gì làm vui vẻ lắm. Đồng chí Tính và đồng chí Khánh trao đổi với nhau một lúc, rồi gọi chúng tôi quây quần dưới căn lều bạt của ban chỉ huy tiểu đoàn. Đồng chí Khánh nhận xét:
- Hôm nay, tôi và đồng chí chính ủy quân chủng xuống kiểm tra và tham gia chiến đấu với tiểu đoàn các đồng chí. Trước hết, tôi biểu dương các đồng chí có quyết tâm chiến đấu tốt. Thứ hai, qua trận đánh hôm nay, chúng tôi có cơ sở để chính thức kết luận là kẻ địch đã dùng thủ doạn nhiễu mới rất nham hiểm là nhiễu rãnh đạn.
Từ khi trận đánh kết thúc, tôi thấy nét mặt đồng chí Đặng Tính trở nên đăm chiêu, suy nghĩ nhiều hơn. Khi tiễn các đồng chí ra xe, chỉ còn 3 người với nhau, đồng chí mới nói những suy nghĩ của mình:
- Từ trước tới nay, chủ yếu là ta dùng cách đánh và mưu mẹo để thắng chúng. Chúng ta đã thắng nhiễu trong đội hình bằng cách đánh 3 điểm, chủ yếu là nhờ bàn tay khéo léo và trí thông minh của các đồng chí trắc thủ. Còn lần này thì vấn đề vượt quá khả năng của chúng ta. Tất cả các dữ kiện mà các đồng chí rút ra qua mấy ngày chiến đấu vừa rồi là những gợi ý khoa học rất bổ ích để chúng ta báo cáo lên trên nghiên cứu giải quyết”

Trong lần họp Bộ tư lệnh sau khi di kiểm tra, tham dự chiến đấu ở tiểu đoàn tên lửa 62 về, đồng chí Đặng Tính chỉ thị: Khắc phục nhiễu rãnh đạn là một công việc mang tính khoa học phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian, phối hợp đồng bộ nhiều ngành, với cả chuyên gia bạn nữa mới có thể giải quyết căn bản vấn đề. Nhưng như thế không có nghĩa là ta bó tay, cái khó phải ló cái khôn. Trước mắt chúng ta càn làm tốt việc phát huy tư tưởng tích cực tiến công, không đánh giá cao dịch; hoàn thiện cách đánh mới… cơ quan kỹ thuật cần đi sâu nghiên cứu làm một số điều chỉnh nhỏ ở đài, ở đạn trong phạm vi cho phép; đồng thời nghiên cứu một đội hình chiến thuật thích hợp để có thể “tránh né” được cường độ nhiễu của địch mà vẫn phóng được đạn…
Nhờ kiên quyết áp dụng những biện pháp nói trên, bộ đội tên lửa đã đánh thắng địch trong những trận sau. Đặc biệt, ngày 11-2-1968, tiểu đoàn 61 đã bắn rơi tại chỗ chính chiếc máy bay dịch mang máy gây nhiễu mới mà bấy lâu chúng tôi cần tim. Đó là chiếc máy gây nhiễu mang nhãn hiệu ALQ-71 còn nguyên vẹn. Chính trắc thủ cự ly Nguyễn Xuân Đài lúc ấy đã trở thành sĩ quan điều khiển, cùng với kíp chiến đấu dũng cảm và tài trí: Hưng, Tân, Khải, làm nên chiến công lịch sử này – bí mật của nhiễu rãnh đạn đã gây cho chúng tôi bao lao tâm khổ tứ, thì bây giờ đây nó đang nằm trước mặt mọi người. Cuộc chiến tranh điện tử thứ 3 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội đã thất bại./.



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:03:27 PM
Vào hang bắt cọp B-52
Ngày 12-4-1966, 30 B-52 ném bom đèo Mụ Giạ. Đây là lần đầu tiên B-52 ra đánh phá miền Bắc. Ngay sáng hôm sau, tin đó đã gây nên cuộc thảo luận sôi nổi trong buổi giao ban ở sở chỉ huy quân chủng. Phòng quân báo được lệnh đi sâu nghiên cứu tính năng chiến thuật, kỹ thuật của B-52. Phòng tên lửa được lệnh ngoài nhiệm vụ chỉ đạo các đơn vị tác chiến thường xuyên, cần dành thời gian nghiên cứu cách đánh B-52. Ngày 27-4-1966, địch cho B-52 ra đánh Mụ Giạ lần thứ 2. Một hôm đồng chí Tính được gọi lên gặp Bác, trở về đồng chí nói với tôi (tướng Mậu, phó chính ủy quân chủng):
- Bác bảo miền Bắc chúng ta cần chuẩn bị để đối phó với B-52 và nhiệm vụ này chủ yếu giao cho bộ đội phòng không. Bác bảo bất kể trong tình huống như thế nào, chúng ta phải đánh thắng B-52.
Có thể nói là lúc bấy giờ chúng tôi chưa có một cơ sở tối thiểu để xây dựng một phương án đánh B-52, dù là ở dạng đơn giản nhất. Theo những số liệu do Cục quân báo, Bộ Tổng tham mưu cung cấp và phòng quân báo của quân chủng sưu tầm thêm được, chúng tôi biết B-52 là một loại máy bay to lớn, nặng nề. Trong lượng toàn bộ của nó lên tới trên dưới 200 tấn, tùy theo từng loại. Loại B-52 vừa được cải tiến mang ký hiệu B-52G, H, thì riêng lượng dầu để bảo đảm cho 1 chuyến bay lên tới 141 tấn. Cứ mỗi giờ bay, thông thường phải tiêu thụ hết từ 6 đến 7 tấn nhiên liệu. Xét riêng về cái thân hình nặng nề này thì B-52 đúng là miếng mồi ngon cho tên lửa SAM-2. Điều đáng chú ý là trên mỗi chiếc B-52 có đến 15 máy gây nhiễu. Thằng Mỹ có dại gì để những chiếc “pháo đài bay thượng đẳng” của chúng phơi xác cho ta thịt một cách dễ dàng. Vấn đề đặt ra lúc này là phải tập “nhìn” kẻ thù, phải đi đến những nơi có kẻ thù để bước đầu làm quen với nó. Nói cách khác, muốn bắt cọp thì phải vào tận hang.
Giữa tháng 7, chúng tôi được lệnh của Bộ Tổng tham mưu đưa trung đoàn tên lửa 238 vào Vĩnh Linh để đánh B-52. Đây quả là một quyết định hết sức táo bạo. Có bao giờ tên lửa lại đi xa như thế? Cuối năm 1965 và đầu năm 1966, một số tiểu đoàn tên lửa đã cơ động chiến đấu trên một số hướng, có tiểu đoàn đã vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh. Nhưng dù sao thì cũng mới chỉ đi trong vúng hậu phương, đường sá được chuẩn bị tốt, có lưới lửa phóng không của các đơn vị bạn bảo vệ. Còn bây giờ là cả một trung đoàn tên lửa với hàng mấy trăm xe máy cồng kềnh, đi đâu phải có cần trục đi theo để tháo lắp; vào một vùng tuyến lửa ngày đêm địch bắn phá ác liệt, làm sao mà bảo đảm được an toàn! Thường vụ Đảng ủy quân chủng họp một phiên chuyên đề về việc trung đoàn 238 vào tuyến lửa. Chúng tôi dự kiến 3 cửa ải mà trung đoàn phải dũng cảm, mưu trí, sáng tạo mới có thể vượt qua để giành thắng lợi.
Một là, phải vượt qua chặng đường gần 600km, phần lớn phải đi theo đường chiến lược mới mở, có nhiều đèo dốc, khe sâu, địch thường xuyên khống chế, đánh phá ác liệt;
Hai là, giấu mình, trụ vững tại một vùng đất nhỏ hẹp nằm trong tầm phi pháo của địch từ trên không, từ ngoài biển và từ bờ nam sông Bến Hải.;
Ba là, phóng được đạn, bắn rơi được B-52, một đối tượng mà đơn vị chưa hiểu biết bao nhiêu.
Cho đến đầu năm 1967, tất cả 5 tiểu đoàn của trung đoàn 238 đều đã lần lượt có mặt trên đất Vĩnh Linh. Trên đường đi vào, qua đất Nghệ An, Bộ Tư lệnh quân khu 4 đã có một yêu cầu rất có ý nghĩa đối với trung đoàn: Tiểu đoàn nào bắn rơi được máy bay địch trên quê hương Bác mới “được giấy phép” vượt sông Lam. Ngày 28-7-1966, từ trận dịa quê hương làng Đỏ, tiểu đoàn 84 đã phóng 2 quả đạn, diệt 2 chiếc A-4, bắt sống giặc lái, trở thành tiểu đoàn đầu tiên giành được “chiếc vé” vượt Bến Thủy đi vào tuyến lửa. Đến Quảng Bình, chỉ do một sơ suất nhỏ, để lộ bí mật, tiểu đoàn 84 đã bị địch đánh liên tục trong 2 ngày, mỗi ngày trên 100 lần chiếc.


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:04:08 PM
Tại Vĩnh Linh, khu vực tên lửa hoạt động được chỉ khoảng trên dưới 24km2. Đánh hơi tên lửa đã vào Vĩnh Linh, bọn địch quyết tâm đánh hủy diệt, hoặc ít ra cũng “đánh bật” được những bệ phóng SAM-2 ra khỏi khu vực này để tránh cho những pháo đài bay B-52 của chúng khỏi bị đe dọa. Vì thế vấn đề công sự ngụy trang được đặt lên hàng đầu, và có tầm quan trọng sống còn.
Chỉ trong một thời gian ngắn, bằng sức lao động của bản thân mình là chính, trung đoàn đã xây dựng được 22 trận địa tên lửa với khối lượng đào đắp lên tới 32.628m3 đất; hàng nghìn cây gỗ được chặt ngả, pha đẽo để làm hầm. Ngoài trận địa ra, còn phải xây dựng những khu giấu khí tài, trong đó có những khu có đủ hầm chứa xe máy, có đường cho xe xích kéo khí tài lên xuống. Đặc biệt hai trận địa sản xuất đạn của tiểu đoàn 85 giống như một công xưởng dưới hầm sâu, có đủ cả hầm tránh bom cho người và khí tài. Ở những nơi địch đánh ác liệt nhất, nhưng điều kiện bắn lại có thuận lợi, trung đoàn đã quyết tâm xây dựng những trận địa có nắp che kín cả khí tài. Toàn bộ khu trung tâm gồm xe điều khiển, xe tính toán, xe thu phát và trạm nguồn điện gồm xe điện, máy nổ 75KVA đều được nằm kín dưới hầm sâu, trừ bộ ăng tên phải vươn lên cao để phát sóng tìm địch và điều khiển đạn. Đó thực sự là cả một công trình đồ sộ. Chúng ta chắc đã từng thấy một trận địa tên lửa ở gần Hà Nội, hoặc ở một tỉnh đồng bằng. Một trận địa như vậy phải chiếm đến gần 10 héc ta. Ấy thế mà toàn bộ cái trận địa ấy, ở khu vực Vĩnh Linh, phải chuyển xuống lòng đất.
Nhưng không phải như thế là đã bảo đảm an toàn. Ở vùng tuyến lửa này, kẻ địch thường xuyên có mặt ở trên trời để nhòm ngó, phát hiện. Đó là chức năng chủ yếu của 2 tên chỉ điểm L-19 và OV-10. Chỉ cần 1 dấu hiệu nhỏ thôi; một làn khói mỏng lướt nhẹ trên ngọn cây; một cành lá ngụy trang héo chưa kịp thay; một vết xe đi vào bãi giấu chưa kịp xóa… lập tức nó thả pháo khói xuống và gọi bọn F-4, A-6 đến giội bom, vãi đạn. Các đồng chí trung đoàn 238 mỗi lần ra quân chủng họp, thường nói: ở vùng Vĩnh Linh có khoảng 10, 15 phút yên tĩnh là một điều hết sức hiếm hoi. Bọn L-19 và OV-10 không nghỉ trưa. Anh em bảo chúng “giao ban” ngay trên trời. Tên này đến thì tên kia mới về. Chính vì vậy mà kỷ luật về bí mật và ngụy trang được đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Phải thực hiện nghiêm túc 24/24. Đôi khi, chỉ một sơ suất nhỏ mà dẫn đến tổn thất nặng nề. Đối với 1 trận địa tên lửa, đây là một vấn đề đặc biệt khó khăn, đòi hỏi công tác ngụy trang phải nâng lên đến mức nghệ thuật. Nếu vừa hành quân đến một địa điểm mà cây cối đang bị khô héo sau một đợt bom thì ngụy trang cho trận địa cũng phải là những cành lá khô héo giống như thế. Nếu con đường kéo khí tài vào trận địa là màu cỏ úa thì cũng phải dùng đúng những cỏ úa như thế để ngụy trang. Nghĩa là màu sắc vùng đất mà anh vừa mới đến hôm qua như thế nào, thậm chí giờ trước như thế nào, thì ngày hôm sau, giờ sau, anh phải làm lại đúng như thế.


Nhưng cũng vẫn phải coi chừng. Khi bọn do thám trên trời không phát hiện ra điều gì khả nghi thì bọn cường kích sẽ dùng thủ đoạn đánh xăm, thường là bằng đạn 20mm hoặc rốc két. Cũng có khi chúng xăm bằng bom. Chúng xăm từ ngoài vào, từ trong ra, xăm chéo góc. Đã có lần, chúng gây cho ta những tổn thất đáng kể với cái lối đánh xăm này. Ngoài các thủ đoạn phóng Shrike, bổ nhào bắn phá trận địa, đánh xăm, kẻ địch còn dùng một thủ đoạn hết sức nham hiểm nữa là đánh tọa độ. Bằng phương pháp giao hội điện tử, chúng phát hiện trận địa tên lửa cảu ta ở một tọa độ nào đấy, chúng liền dùng thủ đoạn bay bằng, ném bom theo tọa độ đã tính sẵn. Thủ đoạn này cho cho phép chúng không cần phải có thời tiết tốt, mà cả những lúc trời mưa, trời mù, chúng vẫn có thể ném bom trúng mục tiêu. Cho nên ở Vĩnh Linh, anh em đã có câu: “Nắng ráo bổ nhào, mưa rào tọa độ”. Và khi không có bổ nhào, không có tọa độ thì đã có pháo trên các hạm tàu ở ngoài biển bắn vào, pháo ở bờ nam bắn sang thay thế. Bầu trời và mặt đất Vĩnh Linh không bao giờ ngớt tiếng bom đạn.
Thế nhưng các chiến sĩ trung đoàn 238 vẫn ngoan cường chịu đựng, kiên nhẫn giấu mình chờ dịp trị cho bằng được tên giặc nguy hiểm B-52. Trong hoàn cảnh như vậy, tất nhiene trung đoàn khó tránh khỏi những tổn thất nhất định. Tất cả 5 tiểu đoàn đều lần lượt bị đánh. Trong đó, trận đánh ác liệt nhất, tàn bạo nhất là trận chúng ném bom tọa độ vào trận địa tiểu đoàn 83 ngay 29-4-2967. Hôm đó chúng đã dùng đến 109 lần chiếc máy bay các loại, đánh 24 đợt bom, trung bình 15,20 phút một đợt tọa độ. Kết hợp với máy bay, pháo từ hạm tàu, từ bờ nam cũng bắn vào 192 quả. Tiểu đoàn 83 hoàn toàn mất sức chiến đấu. Trận địa của tiểu đoàn 81 chi cách sông Bến Hải trên dưới 6km. Nhhững hôm trời trong, chiến sĩ ta có thể thấy hoạt động của địch ở các vị trí Cồn Tiên, Dốc Miếu. Trận địa của tiểu đoàn 82 ở xã Vĩnh Kim, Vĩnh Trung, thuộc khu đông, cách bờ biển chưa đầy 2km, hàng ngày anh em có thể nhìn thấy tàu địch lảng vảng ngoài xa. Tôi có được đọc cuốn nhật ký của đồng chí Phạm Sơn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 81 lúc bấy giờ, sau này là đại tá, tham mưu phó quân chủng PK, trong đó có ghi: “Trong thời gian 3 tháng trú quân “tàng hình, rình mồi”, tháng 2, tháng 3, tháng 4 năm 1967, tiểu đoàn đã bị 67 lần pháo kích, tọa độ và bổ nhào (37 lần tọa độ, 1 lần bổ nhào, 29 lần pháo kích), trong đó 7 lần trúng khu trung tâm, 32 lần trong vòng từ 2m đến 500m, 35 lần từ 500m đến 1000m. Hy sinh 7, bị thường 22”. Kể cả các đồng chí cao xạ bảo vệ tên lửa và công binh, con số thương vong của riêng tiểu đoàn 81, tính đến hết tháng 7-1967 đã lên tới hàng chục. Tất cả những tổn thất hy sinh đó không một mảy may làm cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 238 nao núng.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:07:08 PM
Cái cửa ải thứ ba, cửa ải phóng được đạn lên trời, bắn rơi được B-52 thực khó khăn chiết chừng nào. Gần 5 tháng cắn răng chịu đựng, nằm dưới tầm bom đạn của địch, chưa tiểu đoàn nào phóng được quả đạn nào vào những tốp B-52 vẫn hàng ngày rải bóm xuống khu vực Vĩnh Linh. Trong thời gian này, radar cảnh giới của ta chưa phát hiện được B-52 nên tên lửa không được báo động từ xa để vào cấp 1, mà chủ yếu là dựa vào triệu chứng hoạt động của bọn cường kích để phán đoán. Có lần nghe tiếng bom B-52 vọng đến, đơn vị mới phát lệnh vào cấp 1. Khi phát sóng lên thì địch đã bay xa. Có lần vào cấp 1 được khá chủ động, có thời cơ, nhưng khí tài lại không ổn định.
Ở chiến trường Vĩnh Linh, thường xuyên phải cơ động, khí tài phải đặt dưới hầm sâu, độ ẩm cao, việc bảo đảm hệ số kỹ thuật, hệ số chiến đấu cho tên lửa là một việc cực kỳ khó khăn. Tuy nhiên, chí ít cũng có đến 2 lần, thời cơ phóng đạn vào B-52 đã đến với tiểu đoàn 81 và tiểu đoàn 83, nhưng rất tiếc là đã không thực hiện được, chỉ vì chỉ huy có phần thiếu quyết đoán. Một lần vào giữa tháng 3-1967, khi kẻ địch còn bất ngờ. Hôm đó, cả tiểu đoàn 81 và 83 đều đã nhìn thấy B-52. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 81 Phạm Sơn đề nghị cho phóng đạn. Nhưng người chỉ huy bảo còn chờ ý kiến của Mặt trận. Thời cơ trong tác chiến phòng không làm gì có chỗ cho việc đợi chờ! Lần thứ 2 vào đầu tháng 4-1967. Hôm ấy, cũng 2 tiểu đoàn 81 và 83 đều thấy mục tiêu. Nhưng sau đó, khí tài 83 không ổn định. Tiểu đoàn trưởng Phạm Sơn khẩn thiết đề nghị cho phóng, vì đây là thời cơ hiếm có. Nhưng người chỉ huy vẫn cứ báo chờ, lý do có khác lần trước, là chờ cho khí tài 83 tốt để đánh tập trung. Và kết quả là cái thời cơ vàng ngọc đó đã qua đi, không bao giờ trở lại với họ nữa.
Như trên đã nói, sau trận tọa độ ác liệt ngày 29-4-1967 của địch, tiểu đoàn 83 đã phải tạm thời lùi về phía sau củng cố. Lúc này Vĩnh Linh chỉ còn lại tiểu đoàn 81. Với lòng dũng cảm tuyệt vời, với tinh thần lao động không biết mệt mỏi, tiểu đoàn 81 dưới sự chỉ huy của người tiểu đoàn trưởng mưu trí, lại đào thêm hầm, đắp thêm công sự, kiên quyết đứng vững trên đất lửa Vĩnh Linh, chờ ngày bắt bon B-52 phải đền tội. Nhưng đường vào cửa ải thứ 3 lại càng khó khăn hơn. Bọn địch đã tăng cường thêm những biện pháp điện tử để giấu kín mình trong nhiễu.



Đầu tháng 5-1967, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh: “Cho tên lửa được đánh tất cả các đối tượng”. Mệnh lệnh sáng suốt đó đã đáp ứng được lòng mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 238, của tiểu đoàn 81. Bất chấp sự khống chế ác liệt của kẻ thù, ngày 10-5-1967, những quả đạn đầu tiên của bộ đội tên lửa Việt Nam đã được phóng lên trên bầu trời sông Bến Hải, thiêu cháy 1 lúc 2 chiếc F-105 của giặc Mỹ, làm nức lòng quân và dân 2 bờ Nam, Bắc. Bọn địch phản ứng quyết liệt, tìm mọi cách “làm cỏ” những bệ phóng SAM-2 này. Mưu trí và sáng tạo, hết sức dũng cảm và ngoan cường, ngày 22-5-1967, tiểu đoàn 81 lại phóng đạn tiêu diện 1 chiếc L-19, tên chỉ điểm nguy hiểm mà từ trước tới nay chưa hề bị trừng trị ở đây. Tiếp đó, ngày 16-7-1967, phối hopự với Mặt trận đường 9, tiểu đoàn 81 lại đánh thắng hết sức xuất sắc, bằng 2 quả đạn, bắn rơi tại chỗ 2 máy bay địch trên đất Gio An, đúng lúc bộ binh ta ào ạt tấn công vào căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu của địch. Đó là một trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng tuyệt đẹp. Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phòng miền Nam tặng tiểu đoàn 81 huân chương chiến công Giải phóng hạng nhất. Nhưng cũng trong trận này, tiểu đoàn 81 đã bị địch đánh hỏng một số khí tài. Toàn kíp chiến đấu bị thương vong. Sĩ quan điều khiển Lê Hồng Thịnh đã hy sinh trong tư thế hết sức dũng cảm, được truy tặng huân chương Chiến công hạng 2. Tiểu đoàn trưởng Phạm Sơn cũng bị thương trong trận này. Con đường vượt qua cửa ải thứ 3, đánh rơi B-52, đành phải tạm thời dừng lại.

Trong những ngày này, địch đang mở những chiến dịch lớn đánh phá Hà Nội. Tại đây, bọn không quân chiến thuật đã leo đến nấc thang cao nhất và hy vọng nhờ đó có thể tạo nên một cục diện mới trên chiến trường. Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tập trung chỉ đạo cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Tuy nhiên, các đồng chí vẫn không quên B-52. Phải chăng, ngay từ bấy giờ, với tầm nhìn chiến lược, các đồng chí đã thấy: sẽ có ngày chúng ta phải chạm trán với bọn B-52 trong một trận quyết chiến chiến lược. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thường xuyên hỏi về tình hình chiến đấu cảu 238. Chúng tôi báo cáo tình hình khó khăn mà trung đoàn đang gặp phải. Các tiểu đòan của trung đoàn đã tạm thời lui về tuyến sau củng cố. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng chỉ thị:
1. Quân chủng tập trung mọi cố gắng trang bị lại cho 238, tiếp tục đưa 238 trở lại chiến trường Vĩnh Linh, kiên quyết đánh cho được B-52.
2. Tổ chức một đoàn cán bộ của quân chủng vào trực tiếp giúp trung đòan 238 đánh thắng B-52

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:09:45 PM
Chấp hành chỉ thị đó của đồng chí Tổng tham mưu trưởng, chúng tôi tập trung cố gắng để tổ chức cho tiểu doàn 84, tiểu đoàn 82 hành quân vào Vĩnh Linh. Mặc dầu lúc này 80% lực lượng tên lửa phải tập trung bảo vệ HN, nhưng vẫn dành cho trung đoàn 238 những bộ khí tài tốt nhất, số phụ tùng linh kiện điện tử có chất lượng nhất. Quân chủng còn cử những kỹ thuật viên, thợ sửa chữa tên lửa có tay nghề vững vào giúp trung đoàn sửa chữa và hiệu chỉnh khí tài nhằm đảm bảo hệ số kỹ thuật, hệ số chiến đấu cao nhất, phục vụ cho nhiệm vụ đánh thắng B-52. Khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng B-52” từ lâu đã cháy bỏng trong lòng các cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 238, nay cũng bắt đầu trở thành một trong những khẩu hiệu hành động của các cơ quan quân chủng, đặc biệt là cơ quan tham mưu. Đã bắt đầu hình thành tổ nghiên cứu đánh B-52; tổ này có nhiệm vụ theo sát cuộc chiến đấu của 238, tổng hợp những kinh nghiệm bước đầu thu được ở chiến trường Vĩnh Linh để làm tài liệu tập huấn cho cán bộ chỉ huy. Lần này phòng tác chiến – huấn luyện tên lửa, phòng quân báo quân chủng đã cử những cán bộ có khả năng tham gia vào đoàn công tác quân chủng. Đoàn được đặt tên là đoàn công tác B. Do tầm quan trọng của công việc, Đảng ủy và Bộ tư lệnh quân chủng đề nghị Bộ Tổng tham mưu chấp thuận việc cử đồng chí Hoàng Văn Khánh, lúc bấy giờ là phó tư lệnh binh chủng tên lửa, dẫn đầu doàn công tác này.
Chiều ngày 11-8-1967, giữa lúc hàng trăm máy bay địch lao vào đánh phá HN, chúng tôi tiễn đồng chí Hoàng Văn Khánh lên đường. Anh Khánh vốn không được khỏe lắm. Những ngày đêm chiến đấu bảo vệ HN căng thẳng vừa qua đã làm căn bệnh dạ dày của anh phát triển thêm. Tuy nhiên, khi được giao nhiệm vụ vào tuyến lửa để chỉ đạo đánh B-52, anh Khánh như quên hết cả bệnh tật. Cũng như trung đoàn 238 trước đây, các đồng chí đoàn công tác B và 2 tiểu đoàn 82, 84 lại phải bắt đầu vượt qua 3 cửa ải; Hành quân đến nơi an toàn, trụ vững dưới bom đạn ác liệt và đánh thắng B-52. Ngày 13-8-1967, đoàn công tác B vào đến Vĩnh Linh an toàn. Trước đó 3 ngày, tiểu đoàn 84 đã từ Nghệ An vào tập kết xong ở khu tây Vĩnh Linh; 15 ngày sau, 25-8-1967, tiểu đoàn 82 cũng hành quân vào tập kết xong ở khu đông Vĩnh Linh. Trung đoàn 238 lúc này đang trong tình trạng hết sức phân tán, từ Hà Bắc đến Vĩnh Linh, chỗ nào cũng có quân. Theo lệnh của đồng chí Hoàng Văn Khánh, trung đoàn chuyển trọng tâm công tác vào khu vực Vĩnh Linh, tập trung chuẩn bị cho tiểu đoàn 84 triển khai đánh B-52, kịp thời nổ súng phối hợp với chiến dịch Đường 9. Ngày 23-8-1967, tiểu đoàn 84 chiếm lĩnh xong toàn bộ trận địa T3, đội 6 nông trường Quyết Thắng. Ngày 25-8-1967, chuẩn bị chiến đấu xong ba hệ, hai rãnh, ba đạn, nhưng không có đài radar P-12 vì máy nổ còn ở Quảng Bình chưa kịp kéo vào. 3h05 sáng ngày 26-8-1967, Mặt trân thông báo sẽ có B-52 ra đánh phá Vĩnh Linh. Vì không có radar P-12 nên sau khi nghe B-52 ném bom ở An Xá, Lò Môn, tiểu đoàn mới vào cấp 1, do đó đã bị lỡ thời cơ. Buổi chiều ngày 25-8-1967, có 5 lần RF-4 bay thấp theo hướng đông – tây qua khu vực trận địa. Tiếp đó, có một chiếc RF-101 bay qua lại trên khu vực trận địa 6 lần.
Có khả năng trận địa bị lộ.


Vấn đề đặt ra gay gắt lúc ấy là có nên di chuyển hay không. Ở vùng đất lửa này, mỗi việc đều phải cân nhắc hết sức thận trọng, đặc biệt là vấn đề trận địa. Nếu chưa lộ thì chẳng dại gì mà chuyển, đã tốn công sức mà biết đâu trong quá trình đi chuyển lại bị lộ. Nhưng nếu đúng là bị lộ, thì bằng bất cứ giá nào cũng không được chần chừ. Đây là vấn đề thành công và thất bại, là xương máu, là tính mạng của cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt lúc này, chúng ta chỉ có 1 tiểu đoàn 84 được giao nhiệm vụ đánh B-52, còn tiểu đoàn 82 ở phía đông, được dùng làm lực lượng dự bị. Đảng ủy trung đoàn nhận định: “Trận địa chưa bị lộ, tiếp tục ở lại chiến đấu, nếu rút ra sẽ bỏ lỡ thời cơ chiến đấu”. Quyết định đó thể hiện tinh thần tích cực đánh địch và đáp ứng đúng nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ nên được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Vào lúc này, vai trò của bộ phận lãnh đạo và chỉ huy thực vô cùng quan trọng. Chỉ nghĩ đến tiến công địch, đi theo tình cảm của quân chúng, mặc dù là tình cảm rất chính đáng, rất đáng han nghênh, nhưng thiếu mất sự tỉnh tảo, sâu sắc trong phân tích âm mưu của kẻ thù thì sẽ không tránh khỏi có những tổn thất đáng tiếc.
Đồng chí Hoàng Văn Khánh có mặt trong cuộc họp đã gợi ý, nếu trận địa có khả năng bị lộ, cần rút ra chuẩn bị trận chiến đấu khác, thời cơ đánh B052 còn nhiều. Nhưng tập thể đảng ủy trung đoàn sau khi thảo luận thêm vẫn quyết định để tiểu đoàn 84 ở lại trận địa cũ. Các đồng chí cho rằng trận địa T3 này được chuẩn bị rất chu đáo, đảm bảo bí mật cao, hầu như không có một sơ xuất nào để kẻ dịch phát hiện được. Đã 3 hôm nay, sáng nào nah em cũng thức dậy từ 3 giờ sáng để thay lá ngụy trang cho trận địa, bộ phận nào cũng cử người đi kiểm tra đường ra, lối vào, sửa lại từng cành cây, ngọn cỏ. Rút kinh nghiệm những trận địa trước, đường hào dẫn khói từ máy nổ dài hơn 500m đã được làm theo hướng đi ngược lên, để khói không tụ lại ở một đoạn nào. Còn việc địch trinh sát thì ở đây là chuyện bình thường như ta ăn cơm, uống nước. Các đồng chí quên mất 1 chi tiết khá quan trọng là bọn RF-4 vừa trinh sát xong, thì bọn RF-101 lại đến. Phải có điều nghi vấn, chúng mới làm như thế. Trước tình hình đó, đồng chí Hoàng Văn Khánh đã trao đổi với đồng chí Nguyễn Cận, phó tư lệnh phòng không không quân khu 4. Thấy rằng lấy danh nghĩa cá nhân để bác nghị quyết tập thể đảng ủy cấp dưới là không hợp lệ, nên 2 người đã bàn nhau xin ý kiến của Thường vụ Đảng ủy Mặt trận. Nhưng rất tiếc hôm đó, đường dây bị trắc trở, không liên lạc được.
Thế rồi việc không may đã xảy ra.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:14:14 PM
9h sáng ngày 26-8-1967, địch dùng từng chiếc F-4 thay phiên đánh tọa độ vào trận địa cũ của tiểu đoàn 81, nhưng do trận địa T3 của 84 cách trận địa cũ của tiểu đoàn 81 chỉ có 150m, nên ngay loạt đầu, bom đã rơi gần khu trung tâm của trận địa 84. Một quả nổ cách xa đài điều khiển 30m. Một quả nổ cách đạn tên lửa 4m. Tất cả 17 lọat bom tọa độ. Đài điều khiển bị chấn động mạnh, phải có thời gian điều chỉnh lại. Riêng ăng ten bị móp nhẹ, còn có thể chiến đấu được. Tất cả 3 quả đạn nằm trên bệ thì 1 quả hỏng hoàn toàn, 1 quả hỏng cánh nâng, chỉ còn 1 quả tốt. Đêm 26-8-1967, tiểu đoàn 84 được lệnh rút khí tài kéo đến địa điểm cất giấu để kiểm tra hiệu chỉnh lại, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Đồng chí tiểu đoàn phó được cử ra nông trường Phú Quý (Quảng Bình) chỉ huy chở thêm đạn vào.
3h15 ngày 1-9-1967, B-52 tiếp tục kéo ra một đợt 9 chiếc. Lúc này đài radar vẫn chưa chữa xong. Tiểu đoàn vào cấp 1 theo tiếng bom. Cả 2 lần phát sóng đều bắt được mục tiêu bay ra.
4h30, tiểu đoàn được lệnh vào cấp 1. Sau khi phát sóng bắt được 2 chiếc ở độ cao 8km, cư ly 18km. Tiểu đoàn báo cáo lên trung đoàn không phải là B-52 mà có thể là máy bay cường kích. Lệnh trung đoàn là tiếp tục phát sóng, sục sạo để xác định. Do tư tưởng nôn nóng sau nhiều lẫn lỡ thời cơ, chấp hành mệnh lệnh máy móc, yếu lĩnh chống Shrike chưa tốt, nên sau lần phát sóng thứ 2, bắt được mục tiêu ở cự ly 10km, thì ngoài trận địa nghe 1 tiếng nổ rất đanh. Shrike địch rơi gần xe điều khiển, trắc thủ phương vị hy sinh, một số đồng chí khác bị thương, trong đó có tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn. Thế là tiểu đoàn 84 lại phải tạm ngừng chiến đấu khi chỉ mới bước vào cửa ải thứ 3.

Mặc dầu liên tiếp trong vòng 1 tuần bị đánh 2 lần vào trận địa, các chiến sĩ tiểu đoàn 84 vẫn không hề nao núng. Chôn cất những đồng chí thân yêu đã hy sinh xong, họ lại tiếp tục lao vào chuẩn bị cho những trận đánh mới. Lại làm đường, lại đào hầm. Để có 1 trận địa ở Vĩnh Linh có thể triển khai chiến đấu được phải tốn công sức gấp mấy chục lần một trận địa ở ngoài miền Bắc. Đó là chưa kể xương máu phải đổ xuống. Chính trong khi làm đường vào trận địa T3, đại đội phó công binh Nguyễn Văn Hỗ đã hy sinh vì một quả pháo của địch từ bờ nam sông Bến Hải bắn sang.
Lúc này, trung đoàn chủ trương chuyển nhiệm vụ đánh B-52 cho tiểu đoàn 82 ở khu đông. Nhưng sau khi phân tích mọi mặt, thấy tiếp tục đánh B-52 ở khu tây có lợi hơn, đoàn công tác B đã đề nghị trung đoàn điều xe điều khiển của 82 lên ghép với khí tài của 84 để tiếp tục chiến đấu.
Đêm 2-9-1967, xe điều khiển cùng với kíp chiến đấu của tiểu đoàn 82 gồm tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên, sĩ quan điều khiển Lê Hỷ, trắc thủ góc tà Lê Hữu Dính, trắc thủ phương vị Trần Mạnh Hiến, trắc thủ cự ly Nguyên Văn Ngận đi đến ngã ba Hạ Cờ thì bị bom tọa độ. Trần Mạnh Hiến bị thương nhẹ, Lê Hữu Dính bị thương nặng và hy sinh. Sau khi đưa Dính đến nơi yên nghỉ cuối cùng, kíp chiến đấu lại tiếp tục lên đường.


Tiểu đoàn 84 tiếp tục triển khai chiến đấu. Lúc này, tiểu đoàn 84 thực ra là một tiểu đoàn ghép. Tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển và toàn bộ kíp chiến đấu đều là của tiểu đoàn 82 điều sang. Đêm 13-9-1967, toàn bộ khí tài triển khai xong. Trời mưa rất to, nước ngập đến sàn xe. Hai đại đội công binh tập trung đào hào thoát nước cho trận địa. Do mưa, hầm ngập nước, độ ẩm cao, nên khi tài luôn luôn bị hỏng hóc. Bệnh này vừa chữa xong lại sinh ra bệnh khác. Các kỹ thuật viên, thợ sửa chữa thức suốt đêm bên máy. Toàn bộ kỹ thuật viên của trung đoàn được tung xuống tiểu đoàn 84. Toàn bộ linh kiện máy móc, kể cả những bóng đèn điện tử dự trữ cuối cùng trong kho của trung đoàn cũng được lệnh chuyển xuống tiểu đoàn 84. Tất cả cho trận đầu đánh thắng B-52.
Ngày 17-9-1967. Mưa đã ngớt, nhưng trời vẫn xấu, mây mù nhiều. Mặt trận không có thông báo B-52, nhưng đồng chí Hoàng Văn Khánh và ba chỉ huy trung đoàn nhận định: hôm nay có khả năng B-52 sẽ đánh. Sở chỉ huy trung đoàn cho radar P-12 của 2 tiểu đoàn 81, 82 thay nhau mở máy. Tiểu đoàn 84 được lệnh ngồi trên xe, vừa luyện tập, vừa sẵn sàng chiến đấu chờ địch.
17h đài quan sát trên đồi 74 báo về có tiếng động cơ F-102, tên cận vệ của B-52, hoạt động ở hướng đông và đông bắc.
(còn tiếp)




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:17:14 PM
17h02, P-12 của tiểu đoàn 84 bắt được một tốp 3 chiếc B-52 ở phương vị 180. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên nhìn thấy rõ tốp này trên màn hiện sóng của mình và xin lệnh đánh. Sở chỉ huy trung đoàn nhất trí. Sĩ quan điều khiển Lê Hỷ bật công tắc, phát sóng, bắt được 3 chiếc B-52 đi theo đội hình bậc thang ở cự ly 40km, phương vị 180, độ cao 11km. Trắc thủ góc tà Phạm Văn Ngoạn, trắc thủ góc phương vị Trần Hồng Thính, trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Ngận đã ngồi sẵn trên xe trong tư thế luyện tập, chuyển sang chiến đấu một cách bình tĩnh, tự tin.
17h03, 2 quả đạn của tiểu đoàn 84 từ trận địa T5 thuộc địa phận nống trường Quyết Thắng bay lên, hướng về tốp B-52 đang lừng lững bay vào. Quả đạn thứ nhất phóng ở cự ly 31km, gặp mục tiêu ở cự ly 25km, nổ sau 39 giây. Quả đạn thứ 2 phóng ở cự ly 29km, gặp mục tiêu ở cự ly 23km, nổ sau 36 giây. Sau 2 tiếng nổ, mục tiêu bị xóa trên màn hiện sóng.
17h27, đài quan sát trên đồi 74 báo về nghe tiếng động cơ B-52. Trận địa chỉ còn lại 1 quả đạn. Tiểu đoàn báo cáo quyết tâm lên sở chỉ huy trung đoàn. Đồng chí Hoàng Văn Khánh lệnh đánh tiếp.
17h34, tốp máy bay B-52 thứ 3 tiếp tục vào. Tiểu doàn 84 phát sóng bắt được mục tiêu khi chúng đang bay ra. Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh bắn đuổi. Sĩ quan chỉ huy ấn nút phóng. Các trắc thủ nhìn thấy rõ mục tiêu. Đạn có điều khiển tốt.
Mặt trận thông báo: 2 B-52 bị tiêu diệt.


Khuya hôm đó, tin tiểu đoàn 84 bắn rơi 2 B-52 về đến sở chỉ huy quân chủng. Sau đó, báo cáo với Bác. Sau khi nghe báo cáo, Bác đã gửi thư khen đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân và cán bộ Vĩnh Linh (đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 20-9-1967):
“Bác rất vui lòng được tin ngày 17-9-1967, Vĩnh Linh đã lập công xuất sắc, lần đầu bắn rơi 2 máy bay B-52 của giặc Mỹ. Thay mặt trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Vĩnh Linh đã đánh giỏi, bắn trúng, chiến thắng vẻ vang. Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bacứ xã hội chủ nghĩa. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Vĩnh Linh hãy phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu và sản xuất, giành nhiều thắng lợi hơn nữa…
Chào thân ái và quyết thắng
Bác Hồ”

Cùng ngày, Bác đã ký lệnh thưởng huân chương chiến công hạng Nhì cho tiểu đoàn 84./.



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:21:31 PM

Máy bay B-52 trong vai trò chiến thuật

John T. Greenwood
B-52 là loại máy bay chiến lược của Mỹ. Trong chiến tranh VN, Mỹ đã phải dùng B-52 vào nhiệm vụ chiến thuật. Dưới đây, xin trích một đoạn trong chương “B-52: máy bay ném bom chiến lược trong vai trò chiến thuật” của cuốn The Vietnam War của John T. Greenwood do NXB Salamande London ấn hành năm 1979.
Sau khi Nixon trúng cử, những chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh, tình trạng không ổn định bên trong nước Mỹ và chính sách “Việt Nam hóa” của chính quyền bắt đầu có ảnh hưởng đến cuộc chiến tranh bằng không quân. Bộ trưởng quốc phòng Laird quyết định giảm số phi xuất của chiến dịch Cung Sáng (Operation Arc Light) xuống 1.600 từ ngày 15-7-1969 rồi 1.400 từ đầu tháng 10. Do những khó khăn về tài chính và quân Mỹ tiếp tục rút khỏi các hoạt động tác chiến trên bộ, số phi suất của chiến dịch Cung sáng giảm xuống còn 1.000 mỗi tháng kể từ ngày 1-6-1971. Khi quyết định này được thục hiện, sư đoàn 3 không quân được đổi tên thành tập đoàn 8 không quân từ tháng 4-1970 – có thể đảm nhiệm tất cả các phi xuất bằng số máy bay ở căn cứ Utapao. Lần đầu tiên trong 5 năm, chỉ có 42 máy bay B-52 làm nhiệm vụ trong chiến dịch Cung sáng. Nhiều máy bay và tổ lái trở về Mỹ đã trở lại với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chiến lược.
Đầu năm 1972, sự gia tăng hoạt động của đối phương trên hệ thống đường mòn ở Lào và tăng cường lực lượng trên nhiều mặt trận khác ở miền Nam chứng tỏ đối phương sắp mở một cuộc tiến công. Tướng Abram và đô đốc John Mc Kên tổng tư lệnh Thái Bình Dương, yêu cầu tăng cường sự yểm trợ của chiến dịch Cung sáng để ngăn chặn mối đe doạ này. Ngày 8-2, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân cho phép tăng số phi xuất hàng tháng lên 1.200 và ra lệnh đưa thêm 29 máy bay B-52D tới Guam. Lực lượng B-52 giờ đây cho phép tăng số phi xuất lên 1.500 theo yêu cầu của Abram.

Số máy bay B-52 tăng thêm được sử dụng để tăng cường oanh tạc các đường mòn ở Lào, các kho chứa đồ tiếp tế và các bãi xe, trong chiến dịch “Săn lùng VII”.
B-52 oanh tạc miền Bắc 1 lần nữa
Đúng vào ngày thứ sáu, 30-3-1972, đối phương mở màn cuộc tiến công vào các vị trí của Nam Việt Nam ở tỉnh Quảng Trị rồi mau chóng phát triển tới vùng ba biên giới ở Kontum, Playcu và tỉnh Bình Long (Lộc Ninh và An lộc). Hội đồng tham mưu trưởng liên quân lập tức ra lệnh đưa thêm máy bay B-52 tới Guam và tăng số phi xuất hàng tháng lên 1.800. Trong tháng 4, sau 2 lần triển khai nữa, toàn bộ số máy bay B-52D của Mỹ đã được đưa tới chiến trường, đủ để tăng số phi xuất hàng tháng lên 1.800. Một lần nữa pháo đài bay phục vụ cho chiến dịch Cung sáng lên tới con số 105. Tình hình ngày càng xấu đi trên cả 3 mặt trận khiến Hội đồng tham mưu trưởng liên quân phải quyết định đưa thêm 28 máy bay B-52G tới Guam. Tuy chỉ mang được 27 trái bom ở bên trong, các máy bay B-52G có thể bay thẳng từ căn cứ tới Nam Việt Nam mà không cần tiếp dầu trên không. Tuy nhiên, chúng không được trang bị tốt như các máy bay B-52D; các phương tiện gây nhiễu điện tử của chúng gồm các máy phát kém hiện đại và yếu hơn. Nhưng nhờ có thêm số máy bay B-52G, lực lượng 133 máy bay phục vụ cho chiến dịch Cung sáng có thể thực hiện 75 phi xuất hàng ngày và 2.200 phi xuất hàng tháng
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:24:08 PM
Vì hành động xâm lược của đối phương, tổng thống và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã bãi lệnh ngừng ném bom Bắc Việt Nam và cho phép các máy bay chiến thuật và máy bay B-52 mở rộng dần các cuộc oanh tạc ra phía Bắc chừng nào đối phương còn tiếp tục cuộc tiến công. Trong tháng 4-1972, lần đầu tiên kể từ tháng 7-1968, các máy bay B-52 lại được lệnh oanh tạc miền Bắc. Trong 5 phi vụ, máy bay B-52 đã oanh tạc Vinh, sân bay Bái Thượng, khu kho chứa dầu Hải Phòng, và cuối cùng, điểm chuyển tải Hàm Rồng và Thanh Hóa ngay 21và 23 tháng 4. Trong phi vụ oanh tạc Hải Phòng, lần đầu tiên các máy bay B-52 mạo hiểm bay vào khu vực có hỏa lực phòng không mạnh giữa Hà Nội – Hải Phòng. Tuy nhiên, trong phi vụ này, các máy bay đã không bị tổn thương vì tên lửa và pháo phòng không.
Trong 5 tháng, thêm 70 máy bay B-52G được đưa tới Guam. 50 máy bay B-52D ở Utapao, cùng 52 chiếc B-52D và 98 chiếc B-52G ở Andersen (Guam), hàng ngày thực hiện 105 phi xuất (3150 phi xuất hàng tháng) trong khoảng từ tháng 2 đén tháng 6. Như vậy, Bộ tư lệnh không quân chiếc lược (SAC) đã tăng lực lượng của tập đoàn 8 không quân từ 50 lên 200 máy bay B-52 và tăng số phi xuất hàng tháng từ 1.000 lên 3.150.

Đối phó với cuộc tiến công mùa xuân 1972 của đối phương
Nỗ lực oanh tạc trong chiến dịch Cung sáng đã mau chóng được tăng cường trong tháng 4 và 5 năm 1972 để hỗ trợ cho các lực lượng Nam Việt Nam đang bị đối phương gây sức ép mạnh ở tỉnh Quảng Trị, Kon tum và An Lộc, Tây Bắc Sài Gòn. Chuyển mục tiêu oanh tạc từ Lào, Campuchia về VN trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1972, các máy bay B-52 đã thực hiện 6.000 phi xuất. Khối lượng ném bom chính xác đã góp phần chặn đứng rồi đẩy lùi cuộc tiến công dữ dội của đối phương. Trong nỗ lực tiến công lớn cuối cùng của đối phương ở An Lộc vào giữa tháng 5, các máy bay B-52 đã oanh tcạ 91 mục tiêu với 56 phi xuất ném bom các mục tiêu chỉ cách các vị trí của quân đồng minh khoảng 600-800m. Ở đây cũng như ở Kon tum và Quảng Trị, các máy bay thường oanh tạc trúng những lực lượng tập trung của Bắc VN, tiêu diệt một lúc hàng trăm quân địch và nhiều khi cả đơn vị trong một đòn oanh tạc.
Trong tháng 4 ở tỉnh Quảng Trị, đã có lần 2 tốp máy bay B-52 bẻ gãy hoàn toàn các mũi tiến công trên bộ của đối phương khi một máy bay làm nhiệm vụ kiểm soát trên không phía trước đã phát hiện các xe tăng đối phương mạo hiểm theo quốc lộ số 1 tiến xuống Đông Hà. Khu vực này nằm trong ô mục tiêu đã định trong kế hoạch, vì vậy nhân viên kiểm soát trên không phía trước đã gọi B-52 tới. 30 phút sau, 6 máy bay B-52 tới ném bom, tiêu diệt 35 xe tăng và phá hủy một công sự dùng làm sở chỉ huy sư đoàn của đối phương.
Nỗ lực ngăn chặn cuộc tiến công mùa xuân năm 1972 của đối phương đã đòi hỏi phải sử dụng một số lượng lớn, có phối hợp các máy bay kiểm soát trên không, phi pháo, máy bay chiến thuật của không quân Mỹ, máy bay trực thăng vũ trang, máy bay vận tải của lục quân Mỹ và máy bay chiến lược B-52. Một chuẩn tướng thuộc bộ tư lệnh viện trợ vùng 3 sau này nói rằng B-52 “đã trở thành vũ khí có hiệu quả nhất mà chúng ta có thể đánh giá được…” Tướng John Vogt, tư lệnh tập đoàn 7 không quân, đã bình luận rằng B-52 “đã góp phần chủ yếu cho thắng lợi của những nỗ lực phòng thủ chống các lực lượng xâm lược. Hỏa lực mạnh ghê gớm của nó có ý nghĩa quan trọng ở những vùng then chốt như An Lộc và Kon tum”.

Linerbacker: Vùng trời Hà Nội chật hẹp
Nhân tố này hạn chế các đường vào và ra cho các đợt tiến công của máy bay B-52. Để lợi dụng khả năng có gió mạnh thổi từ hướng Tây Bắc, các máy bay bao giờ cũng từ phía Tây Bắc bay vào các mục tiêu lớn ở khu vực Hà Nội. Ngay sau khi trút bom, máy bay phải lượn vòng rất lớn ra phía sau mục tiêu để thoát ra ngoài tầm bắn của tên lửa đất đối không, càng nhanh càng tốt. Theo quy định, các tốp trong đội hình tiến công của máy bay ném bom chỉ được bay ở các độ cao và hướng khác nhau rất nhỏ, các tốp phải bám chặt đội hình để làm giảm khả năng dễ bị tổn thương vì tên lửa đất đối không, để tăng hiệu quả bảo vệ của các phương tiện gây nhiễu điện tử trong đội hình và giữa các tốp là để giữ đội hình trong hành lang có thả sợi nhiễu. Vì các phi công thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược ít khi bay trong các đội hình lứon vào ban đêm và vì trời HN sẽ đông đặc máy bay nên các phi công được lệnh tránh va chạm bằng cách càng ít thực hiện động tác cơ động càng tốt.
(còn tiếp)






Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:28:36 PM
Không đầy 30 phút trước khi chiếc đầu tiên trong số 129 máy bay B-52 dự định sử dụng cho cuộc tiến công ban đêm 18-12-1972, các máy bay F-111 đã oanh tạc 4 sân bay MiG. Các máy bay F-4 rải 2 hành lang sợi nhiễu để che chở cho các máy bay đánh phá các khu liên hợp Đông Anh và Yên Viên ở ngay phía Bắc HN. Đêm đó, cũng như 2 đêm sau, gió từ hướng Tây Bắc thổi mạnh với tốc độ lên tới trên 100 dặm/h đã đẩy các máy bay B-52 bay nhanh vào thung lũng sông Hồng, nhưng cũng thổi bạt sợi nhiễu ra khỏi các hành lang trước khi các pháo đài bay kịp tới. Những chiếc B-52 đầu tiên ném bom các sân bay Hòa Lạc, Kép và Phúc Yên. Một máy bay MiG bị bắn rơi – chiếc đấu tiên được xác định là do máy bay B-52 bắn rơi trong chiến dịch Linerbacker II và trong cả cuộc chiến tranh. Sau đó, Đông Anh và Yên Viên bị ném bom. Chiếc máy bay mang mật danh “Than củi” dẫn đầu 3 chiếc B-52 cất cánh từ Guam đánh vào khu nhà kho Yên Viên – Ái Mỗ, bị 2 tên lửa đất đối không bắn trúng trước khi trút bom và rơi xuống phía Tây Bắc Hà Nội. Đó là chiếc B-52 đầu tiên bị hỏa lực phòng không đối phương bắn rơi trong chiến dịch và là chiếc thứ 2 bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh. Đến nửa đêm, 30 máy bay cất cánh từ Guam oanh tạc HN một lần nữa. Một chiếc B-52 khác bị thương nặng vì tên lửa đất đối không khi đang ngoặt ra khỏi mục tiêu và rơi ở Thái Lan, sau khi tổ lái đã nhảy dù. 5 giờ sau, đợt thứ 3 bay vào, thêm 1 máy bay nữa bị bắn rơi. Trong ngày thứ nhất 121 trong số 129 phi xuất dự định đã oanh tạc khu liên hợp Đông Anh và Yên Viên, 3 sân bay MiG, nhà máy xe lửa Gia Lâm và Đài phát thanh HN. Lực lượng phòng không đối phương đã phóng trên 200 quả tên lửa và hàng ngàn phát đạn pháo phòng không, bắn rơi 3 máy bay B-52 và bắn bị thương 2 chiếc khác. Xạ thủ trên các pháo đài bay đã bắn rơi ít nhất là 1 trong số những chiếc MiG đã cố gắng xuất kích một cách không hiệu quả.
Những điểm yếu nghiêm trọng trong việc vạch kế hoạch và thực hiện bộc lộ trong những cuộc oanh tạc ngày thứ nhất đã trở nên rõ rệt một cách bi thảm trong những ngày sau. Các chiến thuật áp dụng trong chiến dịch ném bom mang tên Cung sáng miền Nam không thích hợp với khu vực HN, nơi có hỏa lực phòng không mạnh. 5 phi vụ tiến hành hồi tháng 4, đặc biệt là trận oanh tạc Hải Phòng, đã dẫn các nhà vạch kế hoạch Mỹ tới những nhận định sai lầm. Hệ thống phòng không của HN không phải là yếu – đó là điều đã thấy rõ từ các cuộc oanh tạc trong chiến dịch Linerbacker lần trước, nhưng hiển nhiên điều đó đã được quan tâm quá ít. Do không có thêm các hành lang sợi nhiễu cho mỗi đợt, các máy bay ném bom B-52 đã không tận dụng được sức gió xuôi thổi mạnh. 3 đợt mỗi đêm gây khó khăn cho việc rải sợi nhiễu hay trấn áp tên lửa đất đối không đồng thời giúp cho hệ thống phòng không đối phương có thời gian hồi phục và chuẩn bị đối phó với đợt tiến công mới. Gió thổi mạnh giúp cho các máy bay ném bom bay nhanh tới mục tiêu, nhưng cũng thổi bạt sợi nhiễu, khiến cho các máy bay B-52 phải dựa vào thiết bị gây nhiễu của chính mình để tránh bị radar phát hiện. Hơn nữa, khi ra khỏi mục tiêu, các máy bay B-52 phải ngoặt trở lại bay ngược chiều gió mạnh 100 dặm/h nên tốc độ rút lui chậm lại quá nhiều và hướng gây nhiễu chị chệch, khiến cho radar của các trận địa tên lửa đất đối không lân cận có thể lọt qua những chỗ yếu trong màn nhiễu. Hơn nữa, đội hình máy bay ném bom dài và việc quy định một điểm ngoặt độc nhất cho máy bay khi ra khỏi mục tiêu đã giúp cho máy bay khi ra khỏi mục tiêu đã giúp cho đối phương nhằm trúng điểm ngoặt sau khi những tốp đầu bay qua.
Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không
Trong ngày thứ 2, chiến thuật chỉ được thay đổi chút ít ở 3 máy bay bị bắn rơi trong 121 phi xuất được coi là mức có thể chấp nhận được. Các máy bay B-52 lại đánh phá Đông Anh, Yên Viên, Đài phát thanh HN, và cả điểm chuyển tải Bắc Giang cùng nhà máy nhiệt điện Thái Nguyên ở phía Bắc HN. Các đợt đánh phá lại được tiến hành cách nhau 4-5 giờ. Không máy bay nào bị bắn rơi, mặc dầu dối phương đã bắn tới ngót 200 quả tên lửa đất đối không.
Các đợt oanh tạc ngày 19-12 đã gây cảm giác tin tưởng 1 cách giả tạo, và chiến thuật đánh phá trong ngày thứ 3 không có gì thay đổi nhiều. Những chiếc đi đầu của đợt tiến công thứ nhất ngày 20-12, hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng, nhưng nhiều tên lửa đất đối không đã phóng vào những chiếc đi sau. Tên lửa đã bắn trúng 2 chiếc B-52G khi chúng đang bay ngoặt ra khỏi mục tiêu và cả 2 đã rơi ở Hà Nội. 1 chiếc B-52D bị trúng đạn trước khi trút bom và cố bay được về Thái Lan thì rơi. Đợt oanh tạc cuối cùng bắt đầu vào khoảng nửa đêm về sáng. Các máy bay B-52 oanh tạc Hà Nội cũng được tiếp đón bằng tên lửa một cách dữ dội như dợt đầu. Một chiếc B-52D bị thương nặng bởi tên lửa, rơi ở Lào. 2 chiếc B-52G khác cũng bị tên lửa bắn rơi. Trên 220 quả tên lửa đã được phóng trong đêm 20-12, và 6 chiếc B-52 bị hạ trong vòng 9 giờ. Cho đến nay, người ta đã thấy rõ 2 nhân tố có ý nghĩa khác nhau gây nên tổn thất: 5 chiếc bị bắn rơi khi ngoặt ra khỏi mục tiêu, và 5 chiếc B-52G chưa được cải tiến để mang thêm các thiết bị gây nhiễu mạnh hơn.
Tuy nhiên, trừ số tổn thấy ngày 20-12, các cuộc oanh tạc trong 3 ngày đầu được coi là thành công. Hầu hết các mục tiêu quan trọng đều bị tàn phá nặng. Trên 300 phi xuất đã được thực hiện, với 9 máy bay bị hạ; mức tổn thất chưa đến 3%, tuy nhiên mức tổn thất như trong ngày thứ 3 có thể làm cho chiến dịch ném bom phải mau chóng chấm dứt.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:31:16 PM
Ngay trước khi chấm dứt nỗ lực cao nhất trong 3 ngày, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã ra lệnh kéo dài chiến dịch ném bom nhưng với quy mô nhỏ hơn. Các kíp lái cho rằng nguyên nhân dẫn tới tổn thất là việc vạch kế hoạch kém và ở chiến thuật, và yêu câu thay đổi. Một ban nghiên cứu chiến thuật ở Utapao đã nghe được những lời phàn này này: phi công trong các kíp bay đặc biệt phàn nàn rằng vòng ngoặt rộng khi ra khỏi mục tiêu khiến máy bay của họ bay chệch ra khỏi màn nhiễu và vì vậy dễ bị trúng tên lửa đất đối không. Họ muốn thu hẹp vòng ngoặt và mau chóng thoát khỏi khu vực mục tiêu ra vịnh Bắc Bộ. Hơn nữa, họ muốn được tự do áp dụng các thủ đoạn cơ động né tránh, bay theo các đường đạn chéo nhau, thu ngắn đội hình ném bom, tiếp cận mục tiêu từ nhiều hướng, ở các độ cao khác nhau và cự ly không nhất định và thay đổi độ cao không theo quy luật để gây lúng túng cho việc đối phó của hệ thống phòng không đối phương.
Áp dụng chiến thuật mới để giảm tổn thất
Bộ tư lệnh không quân chiến lược (SAC) chấp nhận những đề xuất này và còn đưa ra những thay đổi khác, một số trong đó đã được đưa vào kế hoạch oanh tạc ngày thứ 4. Tất cả các phi xuất tiến công các mục tiêu trong chiến dịch Linerbacker II trong ngày 21-12 đều do các máy bay ở căn cứ Utapao thực hiện, trong khi các máy bay ném bom ở căn cứ Guam lại tiếp tục chiến dịch Cung sáng. Trong ngày 22-12, ngày thứ 5 của chiến dịch, các máy bay B-52D chuyển sang phía Đông, tiến công nhà máy xe lửa và khu chứa dầu Hải Phòng. Các máy bay tiến công đã áp dụng chiến thuật mới và tránh được tổn thất tuy bom rơi không thật trúng đích. Tuần thứ nhất của chiến dịch Linerbacker II kết thúc vào ngày thứ 7 của chiến dịch. Nhiều bài học đã được rút ra và tổn thất gây cho đối phương cũng đáng kể, nhưng với cái giá phải trả là 11 máy bay B-52 và nhiều phi công cùng nhân viên phi hành.
Sau 36 giờ tạm ngừng ném bom nhân dịp lễ Noel, ngày 26-12, chiến dịch lại tiếp tục bằng cuộc tiến công được vạch kế hoạch tỷ mỉ và phối hợp chặt chẽ của 120 máy bay B-52 với những đám mây sợi nhiễu bao phủ bầu trời Hà Nội và HP trong khi 7 đợt máy bay ném bom tiên tiếp, oanh tạc 10 mục tiêu khác trong vòng 15 phút. Lực lượng này đòi hỏi trên 100 máy bay yểm trợ, các máy bay F-111 đánh phá các sân bay, trong khi các máy bay A-6 của hải quân Mỹ trấn áp các trận địa tên lửa đất đối không ở khu vực Hải Phòng. 2 đội hình máy bay ném bom dày đặc bay vào HN từ hướng Tây Bắc và Tây Nam qua Lào rồi thoát ra phía vịnh Bắc Bộ, 2 đội hình khác theo hướng ngược lại, bay vào HN từ hướng Đông Bắc và Đông Nam qua vịnh Bắc Bộ và bay qua Lào. Các máy bay tiến công Hải Phòng bay vào từ hướng Đông Bắc và Đông Nam. Các máy bay B-52G dễ bị tổn thương hơn được giao nhiệm vụ đánh phá Thái Nguyên và Hải Phòng.
Chiến thuật mới được áp dụng một cách có hiệu quả. Hệ thống phòng không của đối phương bị dội bom đến mức bão hòa, rối loạn và giảm hiệu lực – tuy tên lửa đất đối không có bắn rơi 1 máy bay B-52 ở Hà Nội. Chiếc thứ 2 rơi ngay gần đường băng trên sân bay Utapao trong khi cố gắng hạ cánh vì đã bị thương rất nặng trong trận đánh. Chỉ trong khoảng thời gian hơn 15 phút, 113 máy bay B-52 đã thực hiện một cuộc oanh tạc tập trung nhất trong lịch sử. Quả thật, đó là một kiệt tác về chiến thuật, cho thấy các bài học rút ra từ cuộc oanh tạc trước đã được áp dụng tốt như thế nào.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:33:20 PM
Đánh giá kết quả của chiến dịch ném bom bằng máy bay B-52
Cuộc oanh tạc ngày thứ 9 được tiến hành bằng lực lượng 60 pháo đài bay. Một chiếc B-52G cất cánh từ căn cứu Utapao bị thương nặng khi tiến công một trận địa tên lửa, nhưng đại úy phi công đã cố gắng bay được tới Nakhon Phanom ở Thái Lan và cả tổ lái đã nhảy dù. 2 chiếc khác bị thương trong ngày ngày 27-12. Nhưng đó cũng là những chiếc cuối cùng bị thương. 60 máy bay oanh tạc trong 2 ngày thứ 10 và 11 đều trở về an toàn. Trong 2 ngày này, số lượng tên lửa phóng lên đã giảm đi nhiều vì sự kết hợp biện pháp phong tỏa và ném bom đã cắt đứt nguồn tiếp tế tên lửa cho đối phương.
Đến nửa đêm ngày 29-12-1972, tất cả các cuộc oanh tạc ở Bắc vĩ tuyến 20 đều chấm dứt. Trong 11 ngày của chiến dịch Linerbacker II, các máy bay B-52 đã thực hiện 729 phi xuất: 340 từ sân bay Utapao và 389 từ sân bay Guam. Có 15 chiếc B-52 bị bắn rơi, đều do tên lửa đất đối không: 9 chiếc B-52D và 6 chiếc B-52G, 9 chiếc khác bị thương, 29 phi công và nhân viên phi hành tử trận, 33 bị bắt sống và về sau đã được trao trả và 26 được cứu thoát sau trận đánh. Các pháo đài bay đã oanh tạc 34 mục tiêu, trút gần 49.000 trái bom, tổng cộng 13.606.000kg. Trước hỏa lực phòng không mạnh của đối phương và số lượng lớn máy bay tham gia, các cuộc oanh tạc được đánh giá là hết sức chính xác. Theo số liệu công bố của Bắc Viẹt Nam thì có khoảng 1.300-1.600 dân thường bị thương vong. Căn cứ vào khối lượng bom đã thả và số máy bay bị bắn rơi ở Hà Nội thì con số thương vong này quá thấp. Chiến dịch ném bom, biện pháp phong tỏa đường biển, tình trạng bế tắc trên chiến trường là những nhân tố kết hợp buộc Bắc VN phải trở lại cuộc thương lượng ở Paris. Những thiệt hại lớn gây nên bởi chiến dịch Linerbacker II đòi hỏi phải được khắc phục ngay và làm cho Bắc VN phải trì hoãn cuộc tiến công xâm lược Nam VN đến tận năm 1975.
Thêm 1 máy bay B-52 bị hạ trước khi ngừng bắn, chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom ở VN ngày 27-1-1973. Các cuộc oanh tạc ở Lào còn tiếp tục cho đến giữa tháng 4 và sau đó, các máy bay B-52 chuyển sang đánh phá ở Campuchia cho đến ngày 15-8-1972, khi Quốc hội Mỹ cắt hoàn toàn ngân sách cho cuộc chiến tranh bằng đường không. Trong 8 năm 2 tháng, các máy bay B-52 đã thực hiện tổng cộng 124.532 phi xuất ném bom có hiệu quả vào các mục tiêu đã định, trút trên 2.674.745.000kg bom thường, 18 chiếc B-52 bị đối phương bắn rơi và 13 chiếc khác bị rơi do đâm phải nhau hay do tai nạn.
Ngoài chiến dịch Linerbacker II, ở trận Khe Sanh, trong cuộc tiến công vào dịp tết năm 1968 và cuộc tiến công mùa xuân 1972, hiệu quả của chiến dịch Cung sáng là một vấn đề được quan tâm sâu sắc và thường gây ra các cuộc tranh cãi ngay từ đầu. Tướng Westmoreland và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở VN (MACV) tin rằng các cuộc ném bom đã ngăn chặn việc tập trung lực lượng lớn của đối phương để mở các cuộc tiến công, gây bối rối, phá hủy các căn cứ, cắt đứt đường tiếp tế và giao thông liên lạc, và gây tâm lý hết sức căng thẳng cho binh sĩ đối phương do phải thường xuyên di chuyển và luôn luôn lo ngại bị thương vong vì những cuộc oanh tạc bất ngờ. Những người chỉ huy trên bộ thường suy nghĩ nhiều đến những gì đã không xảy ra về những chiến dịch mà đối phương có thể đã dự định nhưng bị cản trở - nhưng những người chỉ huy không quân Mỹ lại quan tâm hơn đến những thiệt hại và con số thương vong mà họ đã gây cho đối phương. Tuy nhiên, hiệu quả chẳng bao lâu sau đã được đánh giá bằng số tấn bom đã trút xuống những khu vực mục tiêu đã định, xác suất trúng đích, và số phi xuất trong các phi vụ. Cách đánh giá bằng số lượng này được chấp thuận vì thiếu những thực tế rõ rệt chứng minh sự thành công của 124.532 phi xuất oanh tạc các mục tiêu đã định.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:36:44 PM

Vì ngay sau đó, các hoạt động trên bộ thường được tiếp theo, vì khó khăn của việc trinh sát chụp ảnh sau mỗi cuộc oanh tạc, và lời kể lại mơ hồ của tù binh, Bộ tư lệnh không quân chiến lược đặc biệt muốn thấy khoản đầu tư của mình mang lại hiệu quả lớn hơn chứ không phải chỉ có những khu vực lớn, rừng rậm bị cày xới và hằng hà sa số các loại rắn, khỉ và côn trùng bị giết chết. Họ phải chịu đựng sự tốn kém về máy bay, người lái, nhiên liệu, số giờ bay và năm 1969, 1 vấn đề tinh thần nghiêm trọng trong toàn bộ lực lượng người lái và nhân viên phi hành trên các máy bay B-52D và gia dình họ. Trên hết, những yêu cầu tác chiến ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ chủ yếu của SAC là răn đe chiến lược vì các cuộc oanh tạc của máy bay B-52 thường được tiến hành ở những vùng rừng núi cách xa nơi có lực lượng bạn, nên các nhà quan sát Mỹ không thể nhìn tháy hiệu quả. Tác động của chiến dịch Cung sáng như thế nào là điều thường bị nghi ngờ. Tuy nhiên, khi các lực lượng lớn của đối phương xuất hiện ở Khe Sanh trong cuộc tiến công vào dịp tết năm 1968, hay ở An Lộc, thì hiệu quả của máy bay B-52 là điều dễ thấy. Đó là những mục tiêu lý tưởng cho khả năng sát thương hàng lọat của các máy bay ném bom này và trong các cuộc tiến công này, các máy bay B-52 đã làm cho Bắc VN và Việt cộng phải trả giá vô cùng đắt. Có lẽ Westmoreland đã đánh giá đúng vai trò của chiến dịch Cung sáng trong cuộc chiến tranh, và hiệu quả cuối cùng của nó khi ông ta viết hồi ký năm 1968 rằng: “Việc sử dụng vũ khí này đã giúp người Mỹ giành chiến thắng trong nhiều trận đánh mà đáng nhẽ phải chiến đấu thêm nhiều trận nữa”./.




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:50:19 PM
Hà Nội sơ tán dân để đánh Mỹ tháng 12-1972
Nguyễn Kim Phong
(Tạp chí Lịch sử Quân sự 12/1987)

Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta (8-1964-1972), những người cầm đầu Nhà trắng và Lầu Năm góc luôn luôn coi Hà Nội, thủ đô nước VNDCCH, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước là một mục tiêu quan trọng nhằm gây sức ép “tối đa” với ta trong những bước phiêu lưu quân sự của chúng. Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, HN có số dân là 1.021.000 người trên diện tích 586km2, bao gồm 4 khu phố nội thành (nay là 4 quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa) và 4 huyện ngoại thành (Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh). Trong đó, chỉ với hơn 37km2, nội thành HN có tới gần 65 vạn người, bình quân 17.000 người/km2. Khu phố Hoàn Kiếm là nơi có mật độ dân số rất cao, hơn 4 vạn người/km2. Nơi đây có nhiều cơ quan, xì nghiệp liền nhau, nhiều rạp hát, rạp chiếu bòng, mậu dịch lớn, chơ to, có khu vực HN cũ, đường sá chật hẹp, nhà cửa xây dựng từ lâu rất nguy hiểm đối với chiến tranh phá hoại của địch. Không những đông, thành phần cấu tạo số dân nội thành cũng rất đa dạng, phức tạp, khó khăn cho công tác vận động sơ tán. Trong số 65 vạn dân ở nội thành, có 106.000 cán bộ, công nhân, viên chức ở các cơ quan, xí nghiệp Trung ương, hơn 42.000 học sinh, sinh viên các trường đại học và trung học chuyên nghiệp của các Bộ mà diện vận động sơ tán thuộc về công tác của Ban sơ tán trung ương. Ngoài 50.000 cán bộ, công nhân viên chức các cơ quan, xí nghiệp địa phương còn 46.000 xã viên các hợp tác xã thủ công, xây dựng…, hơn 10.000 tiểu thương các ngành, gần 9.000 lao động linh tinh khác mà đời sống của họ gắn liền với sinh hoạt của thành phố, hơn 200.000 trẻ em từ 15 tuổi trở xuống. Ngoài ra, còn phải kể đến thường xuyên có hơn 20.000 người vãng lai thành phố hàng ngày.


Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của địch, Hà Nội đã vận động được nhiều người sơ tán ra ngoại thành và đi các tỉnh khác. Kết hợp với việc điều chuyển các cơ sở kinh tế ra ngoài thành phố và thực hiện nhiều biện pháp tích cực, số dân ở nội thành hà Nội đã giảm nhiều. Song, sau khi địch ngừng ném bom chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tình hình HN tương đối yên tĩnh, và do gặp nhiều khó khăn trong khi sơ tán, nhiều người lớn và trẻ em lại trở về, làm cho dân số thực sự ở nội thành lại tăng lên. Bước vào cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, để chủ động đối phó với địch, ngày 4-5-1972, Thành ủy chủ trương khi địch bắt đầu đánh lại vào thành phố nhưng không liên tục thì vẫn phải đảm bảo sản xuất bình thường, sẵn sàng chiến đấu nhưng phải sơ tán hết người già, trẻ em, những người không có nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất ra khỏi thành phố, khoảng 30 vạn (số còn lại khoảng 30-35 vạn). Những người còn ở lại làm nhiệm vụ phải có đủ hầm, hố, sinh hoạt quân sự hóa. Từng cơ quan, xí nghiệp, khối phố… sẵn sàng sơ tán cấp tốc khi có tình hình khẩn trương.
Khi địch đánh vào thành phố tương đối liên tục thì phải sơ tấn khoangr 10-15 vạn người nữa (số còn lại khoảng 20-25 vạn). Và khi địch đánh liên tục, ác liệt vào HN thì phải cấp tốc sơ tán nhân dân, tạm ngừng sản xuất trong nội thành, sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất và chiến đấu thắng lợi với kẻ thù. Trường hopự này chỉ có những lực lượng có nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ trực tiếp cho chiến đấu mới được ở lại nội thành, bao gồm bộ phận nhẹ các cơ quan Thành ủy, Ủy ban hành chính thành phố, các lực lượng vũ trang chiến đấu bảo vệ thành phố (bộ đội chủ lực của Bộ và Hà Nội, các lực lượng dân quân tự vệ, công an nhân dân), các lực lượng cấp cứu phòng không, khắc phục hậu quả, thông tin liên lạc, những cơ sở sản xuất đảm bảo cho chiến đấu như điện, nước… Tất cả các bộ phận khác phải cấp tốc sơ tán, trong thời gian ngắn nhất phải rút ra ngoài.

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:53:30 PM
Việc vận động, tổ chức sơ tán cho hàng chục vạn người dân ra khỏi thành phố là một vấn đề rất lớn, nó ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm đời sống của mọi người. Vì vậy, trong công tác vận động sơ tán, Hà Nội luôn luôn xác định phải đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, đi sâu phát động quần chúng, nêu cao vai trò gương mẫu của đảng viên, đoàn viên, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước để có tác dụng thúc đẩy quần chúng tự giác chấp hành. Trong công tác vận động tổ chức sơ tán, các phương tiện thông tin đại chúng và cán bộ vận động sơ tán ở cơ sở có vai trò quan trọng.
Một đối tượng thường xuyên được chú trọng vận động là 200.000 trẻ em từ 15 tuổi trở xuống. Đây là đối tượng đông đảo, vận động sơ tán tốt không chỉ bảo đảm an toàn cho các cháu, giúp bố mẹ ở lại yên tâm sản xuất, chiến đấu mà còn là bảo vệ tương lai của đất nước, của Thủ đô. Thành phố chủ trương vận động gia đình đưa các cháu về quê, cho đi theo cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã sơ tán. Thành phố còn tổ chức hơn 400 trại sơ tán cho các cháu dưới 6 tuổi, hàng trăm trường trại sơ tán cho các cháu lớn hơn. Nhiều trại được tổ chức với phương thức “học trường làng, ở nhà dân, ăn tập thể”; trợ cấp 3 đồng, 5 đồng, 7 đồng một tháng cho mỗi cháu tùy theo hoàn cảnh gia đình. Công tác sơ tán nhân dân cũng gắn liền với việc điều chuyển các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã ra khỏi thành phố. Mỗi đơn vị sơ tán không chỉ đảm bảo đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức, xã viên mà còn đảm bảo cho cả những người ăn theo của họ như con cái, bố mẹ già… Việc điều chuyển này cũng góp phần đáng kể vào việc giảm bớt mật độ dân số của thành phố.
Đối với tiểu thương, để đảm bảo đời sống cho họ, thành phố chủ trương vận động họ chuyển ngành nghề, tìm công ăn việc làm cho họ trong các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn giản hơn như tổ chức cho họ làm gia công cho Nhà nước: đan len, may quần áo, bóc lạc… làm ở ngoại thành.
Căn cứ vào chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ về công tác sơ tán nhân dân, phân tán các khu côn gnhiệp tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng ra các tỉnh, Hà Nội đã liên hệ với các tỉnh bạn để tổ chức cho nhân dân sơ tán, cho các cơ sở sản xuất, bệnh viện, trường học… phân tán đến. Đảm bảo việc cung cấp bình thường các nhu yếu phẩm phục vụ đời sống đồng bào sơ tán như lương thực, thực phẩm, chất đốt,… Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh bạn, nhất là Hà Tây, Hà Bắc, Hưng Yên, Nam Hà, Vĩnh Phú là nơi có đông đồng bào Hà Nội và các cơ sở kinh tế, văn hóa của Hà Nội so tán đến, đã hết lòng đùm bọc, giúp đỡ với tinh thần thần “nhường cơm, sẻ áo”, chia sẻ những khó khăn của đồng bào, cán bộ Thủ đô.
Các ngành của thành phố cũng có những kế hoạch cụ thể phục vụ công tác sơ tán nhân dân. Sở giao thông vận tải có kế hoạch vận chuyển sơ tán lúc bình thường cũng như khí có tình huống khẩn trương. Trong tình huống thứ ba, để đảm bảo trong thời gian ngắn nhất vận chuyển thoát ra ngoài số lượng lớn nhất, Sở đã có kế hoạch cụ thể căn cứ vào việc điều tra số người trong diện sơ tán cấp tốc từng khu vực, số đầu phương tiện của các công ty vận tải kể cả đường bộ, đường thủy, hiệp đồng với đại diện hành chính từng nơi, bố trí khu vực tập kết dân, hướng đi, phân công cụ thể cán bộ phụ trách… Sở thương nghiệp, Sở lương thực tăng cường mạng lưới thương nghiệp ở ngoại thành, liên kết với các sở hữu quan của các tỉnh bạn để phục vụ đồng bào sơ tán. Sở ý tế đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường lực lượng cán bộ y tế ở ngoại thành, đảm bảo phục vụ tốt công tác sơ tán theo hướng tổ chức nhỏ, phân tán, gần nơi tập trung đồng bào.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:55:10 PM
Đến này 24-5-1972, khi tình hình bắt đầu căng thẳng, thành phố đã tăng cường vận động đồng bào sơ tán. Đợt này vận động được 214.164 trẻ em, 125.894 người lớn, các cơ quan, xí nghiệp trung ương cũng đưa đi được 60.631 người ra các huyện ngoại thành và các tỉnh bản xung quanh. Các huyện Thanh Trì, Từ Liêm là những huyện không bị cách trở bởi sông Hồng như Gia Lâm, Đông Anh, giao thông tiện lợi với nội thành nên được chọn làm khu vực dự trữ cho việc sơ tán cấp tốc những lực lượng cần sơ tán trong tình huống thứ ba, bao gồm nhiều cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo của thành phố.
Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1972, tình hình cuộc đấu tranh giữa ta và địch đã hết sức gay gắt. Ngày 27-11-1972, Bộ Tổng tham mưu đã nhận định: “Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng”. Từ 18 giờ ngày 4-12-1972, Thành phố tổ chức ngay việc sơ tán người già, trẻ em và những người không thật cần thiết cho sản xuất, chiến đấu ra khỏi nội thành và cả những trọng điểm ngoại thành như Gia Lâm, Yên Viên, Văn Điển, Châu Quỳ cũng phải sơ tán đến các tỉnh lân cận. Mọi công việc sản xuất và chuẩn bị chiến đấu vẫn được bảo đảm, đồng thời sẵn sàng tiến hành sơ tán cấp tốc khi tình hình diễn ra gay gắt.
Đêm 18-12-1972, địch bắt đầu dùng máy bay B-52 đánh phá ác liệt vào thành phố, mở đầu 12 ngày đêm gây tội ác hủy diệt của chúng đối với Hà Nội. Lệnh sơ tán cấp tốc và triệt để được nhân dân nghiêm túc chấp hành. Sở giao thông vận tải, các đơn vị có phương tiện và ngành vận tải trung ương đã bố trí 182 xe ca, 54 xe tải liên tục vận chuyển, sơ tán nhân dân không thu vé. Trong suốt 12 ngày đêm, lực lượng vận tải của Hà Nội có sự hỗ trợ của ngành vận tải trung ương và các tỉnh bạn đã vận chuyển 295.885 người. Cùng với các phương tiện vận chuyển khác: xe đạp, xích lô, xe máy, đi bộ, 547.895 người đã sơ tán nhanh gọn, có trật tự trong tổng số 65 vạn dân ở nội thành. Đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại về người do địch có thể gây ra. Thiệt hại nặng nhất ở Hà Nội thời gian này là khu vực Khâm Thiên. Đây là khu dân cư đông đúc, có 5 vạn dân nhưng nhờ sơ tán tốt, thiệt hại về người chỉ xấp xỉ 1%. Các khu vực An Dương, Mai Hương, Tương Mai, thiệt hại về người chưa đến 0,5% số dân. Ở ngoại thành, thiệt hại về người không đáng kể.
Cùng với chiến thanứg bắn rơi 30 máy bay, trong đó có 23 máy bay B-52, 2 máy bay F-111, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái, thành tích sơ tán hơn nửa triệu dân trong thời gian ngắn, nhanh gọn trật tự, đảm bảo an toàn, làm giảm đến mức thấp thiệt hại về người do địch gây ra cũng là một thắng lợi rất đáng tự hào. Dùng 444 lần chiếc máy bay B-52, hơn 1.000 lần chiếc máy bay cường kích đánh phá ác liệt Hà Nội, phá hoại nặng nề tiềm lực kinh tế, quốc phòng ở Thủ đô, đế quốc Mỹ tưởng có thể uy hiếp tinh thần nhân dân Hà Nội, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Đế quốc Mỹ buộc phải tới bàn Hội nghị Paris ký hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam./.



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:57:13 PM
Vài nét về giặc lái Mỹ bị bắt ở Bắc Việt Nam
Nguyễn Li
(Tạp chí Lịch sử Quân sự 12.1987)

Người tù binh Mỹ đầu itên ở Bắc Việt Nam là trung úy hải quân Everett Alvarez. Máy bay chiến đấu của Everett Alvarez là một trong 2 chiếc bị bắn rơi ngày 5-8/1964, sau khi ném bom cảng Hải Phòng, theo lệnh của Tổng thống Mỹ Johnson, sau vụ Vịnh Bắc Bộ. Cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Những vụ ném bom miền Bắc leo thang nhanh chóng, bình quân khoảng 70 lần chiếc/ngày. Số máy bay bị bắn rơi ngày càng nhiều. Phi công Mỹ tiếp tục vào nhà tù ở Bắc Việt Nam. Cuối năm 1965, đã có 61 tù binh Mỹ “may mắn” được vào nhà tù Bắc Việt Nam. Trong năm 1966, đã tăng lên 223 lần chiếc bay đi ném bom miền Bắc Việt Nam trong một ngày. Máy bay Mỹ bị bắn rơi ngày càng nhiều hơn, trung bình cứ 10 ngày có 8 chiếc. Trong năm 1966, lại có thêm 86 phi công Mỹ được đưa về “khách sạn vỡ tim”, một bộ phận của nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.
Vào cuối năm 1967, những cuộc oanh tạc trên miền Bắc đã tăng lên 300 lần chiếc/ngày và hầu như ngày nào cũng có máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, Hải Phògn và những nơi khác. Vào cuối năm 1968, lúc Tổgn thống Mỹ Johnson ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam (31-10-1968), đã có tất cả 927 phi công Mỹ chết, 356 bị bắt làm tù binh và 917 người Mỹ mất ích trong lúc hành sự. Những phi công Mỹ nhảy dù, phần lớn bị thương, bị gãy tay, gãy chân… Nếu không chết, họ đều được miền Bắc cứu chữa. Có người lẩn trốn được, không bị bắt ngay lúc nhảy dù xuống đất. Nhưng rồi lại bị bắt sau vài tuần chui lủi. Ví dụ như đại tá George E. ''Bud'' Day, 40 tuổi, là phi công lái chiếc F-100, bị bắn rói ngày 26-8-1967, tay phải bị gãy 3 chỗ, đầu gối bị trẹo xương, nhưng ông ta đã cố gắng để vượt qua khu phi quân sự, lội qua những cánh đồng lúa, băng qua rừng rậm và sau 12 ngày thì bị bắt.

317 người Mỹ bị cầm tù năm 1970 được đưa đến Hỏa Lò, là lúc họ đang ở tuổi thanh xuân của cuộc đời, trung bình là tuổi 32. Trong số này có 85% đã bay trên 15 phi vụ vào miền Bắc. Trung tá Richard Paul Keirn bị bắn rơi ngày 24 tháng 7 năm 1965, là phi hành của không lực thứ 7, bị bắt ở Việt Nam. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Paul Keirn là phi công lái máy bay B-17, bị bắn rơi trong nhiệm vụ đầu tiên ở nước Đức, bị cầm tù 9 tháng. Khi sang Việt Nam, Paul Keirn lái máy bay F-105 và bị bắn rơi ở ngày thứ 3 khi đến Đông Nam Á.
Trung tá Robison Risner của không lực Hoa Kỳ, bị bắt ngày 16 tháng 9 năm 1965, khi lái chiếc F-105 trên miền Bắc Việt Nam. Risner là một ngôi sao trong chiến tranh Triều Tiên với 109 phi vụ chiến đấu, được Mỹ công nhận là đã hạ 8 MiG. Nhưng đến Việt Nam trong vòng 6 tháng với 5 chuyến bay thì bị bắn rơi. Risner đã cố bay ra biển và được máy bay SA-16 cứu thoát, được báo chí Mỹ in ảnh ca ngợi. Thế nhưng, báo chí Mỹ, sau đó lại không đưa tin Risner tiếp tục bay ra ra miền Bắc và lại bị bắn rơi. Và lần này thì Risner được nhà tù Bắc Việt cứu sống. Risner là tù binh nhiều tuổi nhất và sống 7 năm rưỡi trong nhà tù Bắc Việt Nam.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc Việt Nam, lần thứ 2 và trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, trong “khách sạn Hilton - Hà Nội”, đã có thêm nhiều tù binh Mỹ. Và thế là đã có đủ mặt những phi công máy bay chiến thuật và phi công B-52, đeo huy hiệu SAC (Bộ chỉ huy không quân chiến lược). Đầu năm 1973, sau hiện định Paris về Việt Nam, tất cả tù binh Mỹ này ra khỏi “khách sạn Hilton - Hà Nội” để trở về Mỹ. Ngày 12/2/1973, tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội, 116 quân nhân Mỹ được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trao trả cho phía Mỹ trong đợt đầu tiên. Ngày 14/3/1973, lại 106 quân nhân Mỹ được trao trả. Mười nagỳ sau, 14/3/1973, 107 quân nhân và 1 nhân viên dân sự Mỹ lên đường về nước. Đợt cuối cùng trao trả diễn ra ngày19/3/1973. Người cuối cùng từ giã sân bay Gia Lâm là thiếu tá hải quân Alfred Agnew, 33 tuổi, quê ở bang Ilinoi. Agnew lái chiếc máy bay RA5C đi trinh sát tìm kiếm những tên lái B-52 có thể còn sống sót ở vùng rừng núi phía Tây Bắc Hà Nội. Nhưng máy bay của Agnew bị bắn cháy và bị bắt ở Hà Tây sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972. Chiếc máy bay sơn trắng C141 của Mỹ cuối cùng mang số hiệu 50.238 cất cánh khỏi sân bay Gia Lâm vào 15h20 ngày 19/3/1973, trả về cho Nixon “những người khách không mời mà đến” của “khách sạn Hilton - Hà Nội”.
Tổng cộng có 511 người Mỹ, trong đó có 503 quân nhân và 18 dân sự được trở về nước. Đó là những bằng chứng biết nói về thất bại sâu cay của con chủ bài không quân Mỹ trên đất Việt Nam./.



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 02:04:50 PM
Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972
Trích lược từ cuốn Hồi ký “Bảo vệ bầu trời” của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên chính ủy Quân chủng Phòng không.

Cuộc chiến tranh leo thang của địch đã lên đến nấc cao nhất trong năm 1967 và đã bị thất bại thảm hại. Trong lúc đó, cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam vẫn đang diễn ra quyết liệt. Quân chủng vẫn tiếp tục gửi những đơn vị phờng không vào chiến trường và được lệnh thành lập thêm những trung đoàn tên lửa mới. Trên bầu trời Hà Nội, tiếng bom đạn, tiếng gầm rít của những bầy phản lực bắt đầu giảm dần. Kẻ địch đã xuống thang.
Một buổi chiều, sau bữa cơm, chúng tôi kéo nhau sang phòng anh Đặng Tính để nghe đài đưa tin chiến thắng. Kể từ hôm quân ta đánh vào Sài Gòn, tập trung nghe đài là một niềm vui của chúng tôi.
- Sắp tới, bọn địch sẽ đánh Hà Nội như thế nào? - Cuối bản tin, anh Đặng Tính bống nêu câu hỏi.
- Có thể sẽ là B-52. Bước đường cùng rồi. Thằng Mỹ sẽ không bao giờ chịu thua khi chưa tung hết con bài cuối cùng ra - anh Lê Văn Tri nói.
Thế là buổi chiều hôm đó, mùa xuân rồi nhưng vẫn còn se lạnh, quanh đĩa sắn nướng mà đồng chí công vụ bưng vào “chiêu đãi” các thủ trưởng, B-52 trở thành chủ đề chính trong cuộc trao đổi ngoài giờ của chúng tôi. Chúng tôi nhắc đến kinh nghiệm Triều Tiên. Trước lúc đến Bàn Môn Điếm, Mỹ đã huy động máy bay đến thả bom hủy diệt Bình Nhưỡng. Chúng tôi nhắc tới lời dặn của đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng hôm đến thăm quan chủng hồi đầu năm; Tiếp tục theo dõi giúp đỡ 238 đánh B-52 và chú ý đúc rút kinh nghiệm cho thật tốt. Vẫn đang là vấn đề mà trên và dưới đang phải tìm đáp số.
- Phải có một phương án đánh B-52 bảo vệ Hà Nội ngay từ bây giờ. - Cuối cùng, đồng chí Lê Văn Tri nói như kết luận cuộc trao đổi ý kiến.
Sau này, khi chúng ta đã giành được thắng lợi vang dội, đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của địch trên bầu trời Hà Nội những này cuối tháng 12 năm 1972, tôi lại nghĩ đến buổi chiều bên đĩa sắn nướng hôm ấy.


Tôi vẫn nhớ rõ căn phòng của đòng chí Đặng Tính, hay nói đúng hơn là căn lán dã chiến được làm bằng những tấm cót ép, lợp vải bạt. Chính từ căn lán như thế và quây quần xung quanh đĩa sắn nướng, chúng tôi đã bắt đầu phác thảo kế hoặc đánh trả một cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội. Một bản kế hoạch dùng cho 5 năm sau. Tất nhiên, so với bản kế hoạch trực tiếp chuẩn bị cho chiến dịch 12 ngày đêm sau này thì bản kế hoạch tháng 2 năm 1968 còn đơn giản lắm. Rất cảm ơn các đồng chí bảo mật phòng không còn giữ được nó cho đến bây giờ, và theo tôi, nên đăng ký nó thành một hiện vật bảo tàng. Bản kế hoạch được viết bằng chữ đỏ, nét đạm, chưa được đánh máy, đề ngày 27/2/1968. Mở đầu, bản kế hoạch viết:
“Trước thất bại ngày càng nặng nề của địch trên cả 2 miền, với bản chất ngoan cố, với quan điểm ỷ lại vào vũ khí - kỹ thuật, địch sẽ không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để uy hiếp đánh phá ta, hòng cứu vãn thế thua của chúng. Địch sẽ có một bước leo thang mới, tiếp tục đánh mạnh vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong bước đường cùng, địch sẽ dùng B-52 tranh thủ mọi điều kiện, tạo thế bất ngờ về chiến lược, về chiến thuật...”
“... Ta đã bắn rơi B-52 của địch. Với lực lượng hiện có của ta, với khả năg của các binh chủng, ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện thực tế để tiêu diệt B-52 của địch, đánh rơi chúng tại chỗ, đánh bại bước leo thang liều lĩnh bằng B-52 của chúng”.
Trong phần “Quyết tâm tiêu diệt B-52 của quân chủng”, bản kế hoạch nhấn mạnh phải làm tốt các khâu: Hiệp đồng chặt chẽ, phát hut hết khả năng chiến đấu của các binh chủng, chủ yếu là tên lửa, không quân, pháo trung cao, kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, bắt sống giặc lái, bảo vệ mục tiêu do quân chủng phụ trách, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng”.
(còn tiếp)






Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 02:27:05 PM
Thú vị nhất là khi đọc đến những dự kiến đường bay của B-52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng, các “tác giả” của bản kế hoạch hồi đó đã chứng tỏ một trí tuệ tập thể sáng suốt, một năng khiếu tham mưu đặc biệt: Dự kiến có 5 đường bay cơ bản địch đánh vào Hà Nội:
a) Từ Tây-Bắc xuống
b) Từ Tây-Nam vào
c) Từ Nam lên
d) Từ Đông-Nam tới
e) Từ Đông-Bắc đến
Thực tế, trong cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm cuối năm 1972, 70% số máy bay B-52 đã đột nhập từ hướng Tây-Bắc xuống. Còn đối với Hải Phòng thì độ chính xác gần như 100%. Ngay từ hồi ấy đã nhận định địch sẽ theo:
a) Từ Đồng-Bắc xuống theo cửa Nam Triệu
b) Từ Đông-Nam lên theo cửa sông Văn Úc
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Nếu như trong nghệ thuật tác chiến phòng ngự, việc phán đoán chính xác hướng tiến công, nhất là hướng tiến công chủ yếu của đối phương, đã là thành công 1 nửa, thì trong chiến dịch phòng không cũng có ý nghĩa tương tự. Việc xác định đúng đường bat và hướng bay của địch phải được xem như vấn đề cốt lõi của nghệ thuật chiến dịch phòng không, nhất là đối với những yếu địa quan trọng. Bởi vì từ đây mới có biện pháp sử dụng lực lượng hợp lý, mới dàn thế trận hiểm hóc để đánh địch và thắng địch.
Nhân đây, cũng xin kể lại điều tâm đắc nữa. Đó là việc sử dụng lực lượng ở Hải Phòng, có một trùng khớp đến kỳ lạ giữa dự kiến và thực tế. Trong kế hoạch hồi đó nêu ra 2 phương án:
1. Đủ 8 tiểu đoàn
2. Chỉ có từ 5 đến 6 tiểu đoàn
Thật là thần tình! Năm năm sau, trong chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng tên lửa Hải Phòng diễn ra đúng như thế. Lúc đầu có đủ 8 tiểu đoàn của 2 trung đoàn 238 và 285. Chiến dịch bắt đầu được 2 ngày thì quân chủng điều 2 tiểu đoàn 71, 72 của trung đoàn 285 lên Hà Nội. Như vậy, Hải Phòng chỉ còn lại đúng 6 tiểu đoàn. Nhưng tiểu đoàn 84 phải làm định kỳ, nên cuối cùng, Hải Phòng chỉ có 5 tiểu đoàn
Tôi muốn nói kỹ vấn đề này để bạn đọc thấy rằng, chúng ta đã chuẩn bị cho trận “Điện Biên Phủ trên không” từ rất lâu như thế đó. Tôi cũng muốn nói thêm rằng bản kế hoạch đánh B-52 ngày 27-2-1968 có được chính là dựa trên cơ sở bản báo cáo kinh nghiệm đánh B-52 dày 38 trang của đoàn công tác B do đích thân đồng chí Hoàng Văn Khánh làm trưởng đoàn từ Vĩnh Linh mang về. Như chúng ta đã biết, để có những kinh nghiệm mà báo cáo đã đúc kết được, biết bao nhiêu đồng chí đã hy sinh. Chỉ tính riêng trong thời gian đoàn công tác B có mặt ở Vĩnh Linh, đã có đến 2 lần địch đánh vào sở chỉ huy và cơ quan trung đoàn bộ, 6 đồng chí đã hy sinh.
Sau khi bản kế hoạch đánh B-52 đầu tiên của quân chủng ra đời, tôi thấy đồng chí Lê Văn Tri và đồng chí Lương Hữu Sắt, tư lệnh bộ đội radar, cứ như hình với bóng. Hễ có dịp là 2 con người cùng quê Quảng Bình đó lại tìm đến nhau, không phải để nói chuyện đồng hương, mà chỉ tập trung vào một chủ đề: “Bắt B-52” như thế nào?Tư lệnh bộ đội radar Lương Hữu Sắt dành sự quan tâm đặc biệt tới kíp trắc thủ và toàn thể đại đội 12 đang đóng quân ở Tân Truyền, Quảng Bình. Đại đội 12 là đơn vị có mặt ở tuyến lửa suốt từ đầu cuộc chiến tranh phá hoại cho đến lúc này. Trong những trận đánh đầu tiên của địch ngày 7,8 và 11 tháng 2 năm 1965, đại đội 12 đã lập công xuất sắc, không những phát hiện được địch từ xa, thông báo kịp thời cho các đơn vị hỏa lực mà còn trực tiếp bắn rơi 4 máy bay địch. Thực hiện chỉ thị của đồng chí tư lệnh quân chủng, đồng chí tư lệnh binh chủng tiếp tục giao cho đại đội 12 nhiệm vụ mới nặng nề: phát hiện B-52 đầu tiên cho toàn binh chủng đúc rút kinh nghiệm để phổ biến cho các đơn vị khác. Để thực hiện nhiệm vụ này, bộ tư lệnh radar đã có một chủ trương tích cực và cụ thể, tập trung một số đài trưởng và trắc thủ giỏi ở các đại đội 18,19,25,30,35,39,40,... vào đại đội 12 để thực tập trực tiếp “bắt B-52” và rút kinh nghiệm về bắt “B-52”. Đoàn do đồng chí trưởng ban trinh sát bộ đội radar phụ trách.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 02:29:50 PM
Theo chỉ thị của đồng chí tư lệnh binh chủng, đoàn trắc thủ đi “bắt B-52” được ưu tiên trang bị 1 chiếc Gaz-63 mới nguyên và 1 đồng chí lái xe giỏi, có kinh nghiệm. Trước khi lên đường, đồng chí trưởng đoàn được gọi lên gặp đồng chí tư lệnh quân chủng:
- Thế nào, các cậu chuẩn bị đầy đủ cả rồi chứ?
- Báo cáo, đầy đủ!
- Nếu dọc đường xe bị địch đánh hỏng thì cậu giải quyết thế nào?
- Báo cao, nếu bị đánh hỏng ở địa phận Nghệ An, chủng tôi sẽ lấy xe của 290 đi tiếp. Nếu bị đánh hỏng ở địa phận Hà Tĩnh, Quảng Bình thì chúng tôi tiếp tục đi bộ.
- Các cậu có quyết tâm thế là tốt.
Đồng chí tư lệnh quân chủng bắt ta đồng chí trưởng ban trinh sát thông minh và hoạt bát, nói tiếp:
- Chúc các cậu hoàn thành thắng lợi chuyến đi. Bắt cho được B-52 và mang kinh nghiệm trở về. Bộ tư lệnh quân chủng chờ tin các cậu.
Cuối tháng 3 năm 1968, đoàn công tác “bắt B-52” lên đường. Vượt qua chặng đường địch đánh phá ác liệt ở khu Bốn, đoàn đến đại đội 12 an toàn. Tại đây, suốt 3 tháng trời, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí trưởng ban chinh sát binh chủng, đại đội 12 và đoàn công tác “bắt B-52” đã hoàn thành 1 công trình có giá trị. Đồng chí Đỗ Công Hoa, trắc thủ của đại đội 12, người đầu tiên của bộ đội radar “bắt” được B-52, đã trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp của mình. Tất cả các trắc thủ của các đơn vị bạn đều lần lượt lên máy “nhận dạng” B-52. Các quy trình thao tác được lặp đi, lặp lại nhiều lần và lựa chọn lấy 1 quy trình tối ưu. Đặc biệt, các dạng nhiễu của B-52 qua các giai đoạn từ xa đến gần, từ nặng đến nhẹ, đều được chụp ảnh lại, phóng to ra, đóng thành 1 tập album với nhan đề: “B-52 trên màn hiện sóng”.
Tháng 7-1968, đồng chí Lương Hữu Sắt vào Quảng Bình kiểm tra tình hình. Sau khi nghe báo cáo của đoàn công tác “bắt B-52”, thấy không những đã đạt mà có những mặt còn vượt yêu cầu đề ra, đồng chí lệnh cho đoàn rút về Hà Nội.
Sau đó ít lâu, hội nghị tập huấn “bắt B-52” trong nhiễu, cùng với các chuyên đề khác đã được mở ở đại đội 37. Bản báo cáo của đoàn công tác “bắt B-52” được hội nghị đánh giá cao.
Từ những hạt giống đó, một phong trào học tập, rèn luyện bắt B-52 trong nhiễu sôi nổi khắp các đơn vị của bộ đội radar. Nhờ vậy, trong các năm 1969,1970, 1971, các đơn vị radar ở tuyến trong đã lần lượt bắt được B-52 phục vụ cho các đơn vị ở cửa khẩu các tuyến hành lang đánh rơi B-52.
Từng ngày, từng ngày, qua thực tế chiến đấu trên chiến trường, kinh nghiệm được bồi đắp thêm. Thế hệ chiến sĩ radar lớp trước trao kinh nghiệm lại cho lớp sau. Tài liệu “bắt B-52 trong nhiễu” của đoàn công tác “bắt B-52” được bổ sung thêm những trang mới, với nhiều kinh nghiệm mới. Điều đó cũng là dễ hiểu, vì kẻ địch những năm 1969-1971 không còn là kẻ địch của năm 1968. Trình độ của chiến sĩ ta cũng dần dần được nâng lên. Cánh sóng của bộ đội radar ngày càng vươn xa, vượt cả Trường Sơn, vươn sang tận sông Mekong.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 31 Tháng Mười, 2007, 02:31:50 PM
Bước sang năm 1972, các chiến sĩ radar lại đứng trước một thử thách mới. Ngoài việc phải đối phó với cường độ nhiễu ngày càng nặng hơn của địch, đặc biệt là của B-52, việc phân biệt B-52 thật và B-52 giả trở nên 1 vấn đề thời sự nóng hổi và hết sức cấp bách. Ngày 16-4-1972, địch chỉ dùng 3 tốp, 9 chiếc B-52 đánh hải Phòng mà ta đã bắn hết 1 lượng đạn không nhỏ, nhưng phần lớn bắn vào B-52 giả. Cũng ngày 16-4-1972, địch dùng 44 lần chiếc đánh Hà Nội, không có chiếc B-52 nào, nhưng tên lửa và không quân của ta cũng đã “đánh” rất “tích cực” vào những tốp B-52 giả.. Tôi xuống gặp đồng chí Bùi Đình Cường, đồng chí Hoàng Văn Ngữ, tư lệnh và chính ủy bộ đội radar. Vừa trông thấy 2 đồng chí, tôi không kìm được, nói ngay:
- “Mắt thần” của các đồng chí dạo này không thiêng rồi! B-52 thật thì không biết. B-52 giả thì đường bay trên tiêu đồ lại cứ y như thật.
Vóc dáng to lớn của đồng chí Bùi Đình Cường cựa quạy trên chiếc ghế, cặp mắt thường ngày vốn đỏ ngầu, nay càng thêm đỏ, giọng nói Nghệ Tĩnh của đồng chí nghe như dao chém đá:
- Cái thằng Nixon bây giờ nó xảo quyệt quá, anh ạ. Tôi đã vào tận máy với anh em rồi: Nhiễu trắng hết cả màn, không nhìn thấy gì hết. Trên thì cứ giục. Thế là khi thấy bọn B-52 giả hiện lên là lính ta chộp ngay, thông báo luôn...
Đúng là ở đây không có vấn đề trách nhiệm, mà là kẻ địch rất xảo quyệt
Sau đó chúng tôi được báo cáo, bộ dội radar đã mở hội nghị “đầu bờ”, “xây dựng quy trình bắt B-52 trong nhiễu” tại đại đội 18. Tất cả các đại đội trong toàn binh chủng từ biên giới đến hải đảo, từ miền Đông Bắc đến giới tuyến, đều cử đại biểu đến dự đông đủ. các đồng chí tư lệnh Bùi Đình Cường, phó chính ủy Nguyễn Đăng Tuất, tham mưu trưởng Nguyên Tâm Trinh đã trực tiếp chủ trì hội nghị. Suốt 3 ngày làm việc sô nổi, khẩn trương, với khẩu hiệu hừng hực khí thế cách mạng tiến công “vạch nhiễu tìm kẻ thù”, hội nghị đã thu được kết qủa tốt đẹp. Một lần nữa, các đơn vị ở tuyến trong lại đóng góp những kinh nghiệm quý báu. Các đơn vị ở vùng đồng bằng Bắc Bộ lần đầu tiên tiếp xúc với B-52 cũng đưa ra những ý kiến mới mẻ, với những dẫn chứng cụ thể, nóng hổi. Trận địa radar ở khắp miền đất nước, sóng điện từ bản chất giốgn nhau, nhưng ở mỗi địa bàn nó lại được thể hiện bằng những màu, những vẻ khác nhau. Các công tắc, núm, nút trên mặt máy cái nào cũng như cái nào, nhưng qua bàn tay của từng người chiến sĩ trắc thủ, những hình sóng hiện về cũng cho những kết quả khác nhau. Người chỉ huy giỏi là người biết chắt lọc từ tất cả những cái riêng đó, nắm lấy cái chung nhất, biến thành bài học, thành quy trình cho tất cả mọi người. Kết quả của hội nghị chuyên đề được mở tại đại đội 18 là 1 tài liệu về quy trình bắt B-52 trong nhiễu của bộ đội radar ra đời, kế thừa và nâng cao lên những kinh nghiệm đã có trước đó.
Chất lượng phát hiện B-52 ngày một tăng lên, nổi bật nhất là trung đoàn 291, gồm các đại đội đóng trên địa bàn Thanh hóa, Nghệ An. Đi đôi với việc rèn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật bắt B-52 của bộ đội radar, quân chủng cũng dành nhiều công phu nghiên cứu bố trí lại đội hình chiến thuật của các đơn vị.
(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 12 Tháng Mười Một, 2007, 01:08:19 PM
Sau các trận B-52 đánh ra Vinh ngày 10-4-1972, Thanh Hóa ngày 13-4-1972 và Hải Phòng ngày 16-4-1972, quân chủng tập trung suy nghĩ rất nhiều về hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa. Đặc biệt đối với trận Hải Phòng ngày 16-4-1972.
Từ 23 giờ đêm 15 tháng 4 năm 1972, trên đã thông báo sẽ có B-52 ra đánh phá Hải Phòng. Lúc này, bộ đội đoàn H63 đang ở trong tình huống diễn tập theo phương án đánh B-52. Các phái viên của quân chủng đang có mặt ở sở chỉ huy và các trận địa. Rõ ràng đây là một điều kiện rất thuận lợi để đơn vị đánh thắng.
2h15 phút, cường kích vào đánh phá.
2h28 phút, trên bảng tiêu đồ ghi tình báo của tổng trạm radar, những tốp B-52 bắt đầu xuất hiện. Sau này ta mới biết đây là những tốp F-4 đóng giả B-52.
2h32 phút, tổng trạm radar lại thông  báo có B-52 hoạt động ở độ cao 9 đến 10km. Các đơn vị của trung đoàn 285, 238 đã bắn hết hơn 10 quả đạn. Thấy không hiệu quả gì, sở chỉ huy sư đoàn nhắc nhở các đơn vị phải chú ý đánh chắc thắng, tiết kiệm đạn. Nhưng ngay sau đó, các tốp B-52 thật bắt đầu bay vào và loạt bom đầu tiên nổ vào lúc 2h56phút. Chính lúc này lại không thấy các tiểu đoàn tên lửa phóng đạn. Sở chỉ huy giục bắn thì các đơn vị báo cáo là không thấy gì hết cả. Mãi đến 3h36 phút, lúc loạt bom cuối cùng nổ và B-52 đã quay ra mới thấy có 5 quả đạn phóng lên.
Trung đoàn 238 và trung đoàn 285 là 2 đơn vị được thành lập sớm nhất của bộ đội tên lửa. Cả hai đơn vị đều đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Đặc biệt, trung đoàn 238 là đơn vị từng bắn rơi B-52 ở Vĩnh Linh, ở hành lang 559. Quân chủng đã cân nhắc rất kỹ khi điều 2 trung đoàn này về bảo vệ Hải Phòng. Thế mà trận đánh đã diễn ra không đúng như lòng mong muốn của mọi người. Chỉ trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ, cả hai trung đoàn đã phóng hàng chục quả đạn tên lửa để đổi lấy 1 chiếc B-52 nhưng không phải là rơi tại chỗ.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 12 Tháng Mười Một, 2007, 02:12:38 PM
Trước tình hình đó, cuối tháng 4 năm 1972, Bộ Tổng tham mưu đã cử một đoàn kiểm tra xuống nắm tình hình chiến đấu của quân chủng. Đoàn gồm có 2 bộ phận. Bộ phận chiến thuật gồm 8 đồng chí, một đồng chí ở Cục tác chiến, 3 đồng chí ở Viện nghiên cứu khoa học quân sự, 2 đồng chí ở Cục quân huấn, 2 đồng chí ở Bộ tư lệnh thông tin. Bộ phận này do đồng chí Thế Bôn, Cục trưởng Cục quân huấn phụ trách. Bộ phận kỹ thuật gồm 5 đồng chí của Viện nghiên cứu kỹ thuật quân sự, là những chuyên viên tên lửa, radar, thông tin, do đồng chí Hoàng Đình Phu, Viện trưởng Viện nghiên cứu kỹ thuật quân sự phụ trách.
Chúng tôi có ấn tượng hết sức tốt đẹp đối với các đồng chí trong đoàn kiểm tra, do tinh thần làm việc tận tuy, tác phong công tác tỉ mỉ, khoa học của các đồng chí đó. Trong vòng chưa đấy nửa tháng, các đồng chí đã lần lượt đi sâu vào các trận đánh ở Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nội.
Sau khi làm việc với cơ quan tham mưu quân chủng, nghiên cứu các văn kiện liên quan đến trận đánh, các đồng chí đã xuống tận các đơn vị cơ sở gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ, nghe báo cáo diễn biến các trận đánh và kinh nghiệm thực tiễn của từng người.
Trong nội dung báo cáo của đoàn sau đợt kiểm tra, có những vấn đề giúp cho quân chủng thấy rõ hơn để có những biện pháp khắc phục. Ví dụ trong báo cáo của đoàn có đoạn viết:
“Cán bộ cấp tiểu đoàn trở xuống phần đông mới đề bạt, ít kinh nghiệm, lần đầu chỉ huy chiến đấu ở chức vụ đang đảm nhiệm, nên có nhiều bỡ ngỡ khó khăn. Chiến sĩ và phân đội trình độ thao tác bắn, sử dụng các phương tiện, khí tài, các trang bị kỹ thuật chưa thành thạo, còn yếu. Số trắc thủ có kinh nghiệm đã chuyển nhiệm vụ khác. Theo thống kê của đoàn H61 thì chỉ có 2 trắc thủ cũ đã trực tiếp đánh trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, còn lại hoàn toàn mới”.

Đây là vấn đề từ lâu đã làm chúng tôi phải đau đầu. Muốn có một đội ngũ trắc thủ giỏi, thông thường phải có một quá trình xây dựng từ 3 đến 5 năm. Người ta đã ví bàn tay của người trắc thủ tên lửa giống như bàn tay của nghệ sĩ chơi đàn dương cầm. Kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, chúng ta đã có những kíp trắc thủ nổi tiếng như kíp Đài – Hưng – Tân – Khải của tiểu đoàn 61, kíp Vương – Chính – Nhu của tiểu đoàn 73, kíp Thư – Nam – Ty của tiểu đoàn 52.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 13 Tháng Mười Một, 2007, 01:25:40 PM
Ở những kíp trắc thủ này, bàn tay điều khiển đạn của họ không chỉ là những động tác có tính chất cơ học, mà đã quyện vào đó cả tâm hồn và tình cảm của mình. Nhưng khi đã đạt đến trình độ cao của nghệ thuật điều khiển đạn thì lại được cử đi học sĩ quan hoặc phải chuyển công tác. Bởi vì theo chế độ, chính sách thì trắc thủ chỉ là những hạ sĩ quan. Muốn phát triển thành sĩ quan, họ phải rời khỏi cái ghế quen thuộc mà họ đã từng ngồi, đã cùng đồng đội đánh thắng trăm trận.
Đúng như bản báo cáo của đoàn kiểm tra nêu, đội ngũ trắc thủ giỏi của những năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đến nay chỉ còn lác đác vài người. Một số phát triển thành sĩ quan điều khiển, thành cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn. Còn phần đông đã chuyển sang công tác khác. Cũng có những đồng chí đã chuyển ngành, phục viên. Cá biệt ở binh chủng radar có đồng chí gắn bó với “nghề” trắc thủ của mình từ đầu cuộc chiến tranh cho đến ngày toàn thắng với quân hàm thượng sĩ. Khi mới bước chân lên máy, làm quen với màn hiện sóng, đồng chí đó mới 18 tuổi. Cho đến lúc từ biệt chiếc máy thân yêu đã cùng mình trải qua những năm tháng thử thách ác liệt, đồng chí đó đã có đến 3 con. Bây giờ với tuổi 30, với quân hàm thượng sĩ, đồng chí được trở về hậu phương và nhường lại chiếc ghế trắc thủ cho những chiến sĩ mới với tâm hồn thanh thản, không hề suy tính thiệt hơn. Mãi mãi chúng ta ca ngợi cái nhân sinh quan trong vắt như pha lê ấy. Lịch sử sẽ không quên những chiến công nhỏ bé mà khắc sâu ấy của các trắc thủ. Nhưng về phần chúng ta – những người lãnh đạo và chỉ huy thì phải có nhiệm vụ quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của họ; hơn thế nữa, phải suy nghĩ tìm ra biện pháp hay nhằm xây dựng một đội ngũ có phẩm chất và năng lực như họ để góp phần bảo vệ bầu trời của tổ quốc.
Thế hệ trắc thủ sắp bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù này tuyệt đại đa số mới được tuyển vào đội ngũ trong một, hai năm gần đây. Phần đông chưa trải qua thực tế chiến đấu. Nhiều đồng chí chưa từng được một lần nhìn thấy kẻ địch trên màn hiện sóng. Trong lúc đó thì càng về cuối cuộc chiến tranh, kẻ địch càng tung vào những tên giặc lái sừng sỏ nhất, những phương tiện chiến tranh càng được cải tiến tinh vi hơn.
Tháng 2 năm 1970, vừa lên cầm quyền được mấy tháng, Nixon đã chỉ thị cho Kít-xin-giơ, cố vấn an ninh số 1 của Nhà trắng, gặp những nhà lãnh đạo của Ủy ban cố vấn khoa học của tổng thống để đề nghị các nhà khoa học kỹ thuật có sự giúp đỡ chính quyền trong việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mới do cuộc chiến tranh ở Việt Nam đặt ra.
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam càng thất bại thì chúng sàng sốt ruột, càng hối hả tìm ra những biện pháp mới về kỹ thuạt với hy vọng bằng cách đó đánh bại đối phương trong canh bạc cuối cùng này. Lẽ nào một nước Mỹ công nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật hiện đại lại chịu thua một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 16 Tháng Mười Một, 2007, 01:39:16 PM

Chúng ta sẽ thử tìm hiểu xem nền khoa học kỹ thuật hiện đại của bọn Mỹ đã trang bị cho 1 chiếc B-52 những máy móc hiện đại như thế nào.
Ngoài các loại máy thu mang ký hiệu ALR-20, APR-25, APS-54 dùng để phát hiện radar của ta, thu được tần số của nhiều loại như radar cảnh giới, radar dẫn đường, radar đo cao, radar tên lửa, cao xạ để gây nhiễu trở lại làm cho radar của ta không bắt được mục tiêu; mỗi máy bay B-52 còn được trang bị tất cả 15 máy gây nhiễu để làm tê liệt các loại khí tài điện tử của đối phương. Chưa hết, mỗi chiếc B-52 còn được trang bị thêm 2 máy gây nhiễu tiêu cực ALE-24, mỗi máy đựng khoảng 450 bó nhiễu, mỗi bó nặng 0,225kg, gồm hàng chục vạn sợi kim loại dài ngắn khác nhau. Như vậy, tổng số máy thu và gây nhiễu tiêu cực, mỗi B-52 có tới 19 chiếc tất cả. Vì vậy chúng phải bố trí trên mỗi chiếc B-52 một tổ bay đông đến 6 người, trong đó có những nhân viên có trình độ kỹ sư chuyên sử dụng những máy móc điện tử. Ở phần trên, chúng tôi đã kể với bạn đọc, để phục vụ cho những trận đánh lớn vào Hà Nội năm 1967, chúng đã sử dụng từ 4 đến 6 chiếc máy bay gây nhiễu EB-66. Hồi đó, chúng ta gọi loại máy bay này là những nhà máy điện nhỏ di động trên không. Còn bây giờ thì khác hơn nhiều. Có thẻ nói không ngoa chút nào, là trong lòng mỗi chiếc B-52 ở vào thời điểm này chứa gọn 1 máy bay EB-66. Thế nghĩa là, có bao nhiêu máy bay B-52 đi đánh phá là có bấy nhiêu máy bay EB-66 gây nhiễu.
Hãy làm một con tính cụ thể để thấy rõ vấn đề hơn: Ví dụ một trận đánh với 9 máy bay B-52 thì trên vùng trời nhỏ hẹp đã có hơn 150 máy gây nhiễu tích cực và gây nhiễu tiêu cực với 8.100 bó nhiễu gồm hàng triệu sợi kim loại, phủ kín cả một góc trời. Đấy là chưa kể mỗi phi vụ B-52 đi đánh phá, địch còn phái thêm rất máy bay tiêm kích, cường kích khác làm nhiệm vụ bảo vệ, mà các loại máy bay này cũng đều có máy gây nhiễu, để gây nên “mưa” nhiễu trên bầu trời. Như vậy địch đã tạo nên một “bức tường” nhiễu trên không trung để che mắt các chiến sĩ radar và tên lửa của ta.
Trong tình hình như vậy, chúng ta phải làm gì và làm như thế nào để chiến thắng kẻ thù? Bất giác chúng tôi nghĩ đến đồng chí Bùi Đình Cường, tư lệnh bộ đội radar của chúng ta hiện nay. Sinh ra trong 1 gia đình nông dân nghèo, mãi khi vào bộ đội, đồng chí Cường mới học chữ, mới biết đọc, biết viết. Những ngày đầu tiên vào bộ đội, đồng chí Cường được phân công làm anh nuôi, mà lúc bấy giờ gọi là cấp dưỡng. Vừa tận tụy trong công tác được phân công, vừa tích cực học văn hóa, nên đồng chí được đề bạt làm tiểu đội phó, rồi tiểu đội trưởng. Thể theo nguyện vọng, cấp trên đồng ý chuyển đồng chí ra đơn vị chiến đấu. Sống ở môi trường mới, đồng chí Cường tỏ ra rất dũng cảm trong chiến đấu, nhiều năm là chiến sĩ thi đua, tặng thưởng huân chương Chiến công. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã là cán bộ tiểu đoàn. Nhớ hồi năm 1960, khi quân chủng giao quyết định bổ nhiệm đồng chí làm tham mưu trưởng 1 trung đoàn radar, cặp mắt đỏ ngầu của đồng chí cứ mở to ra một cách ngạc nhiên:
- Đề nghị cấp trên nghiên cứu lại xem, tôi có đảm đương được nhiệm vụ hay không?
Và đúng là đồng chí Cường đã không phụ lòng tin của Đảng. Với tinh thần tự học, tự rèn, lại được tổ chức quan tâm bồi dưỡng, đồng chí Cường chẳng những đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu trưởng trung đoàn, mà còn lần lượt đảm đương xuất sắc các nhiệm vụ tiếp sau: trung đoàn phó, trung đoàn trưởng radar, phó tư lệnh và bây giờ - ở vào giai đoạn gay go, quyết định nhất trong cuộc đọ sức cuối cùng với kẻ thù, đồng chí đã trở thành tư lệnh của bộ đội radar Việt Nam...

(còn tiếp)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 07 Tháng Mười Hai, 2007, 05:54:56 PM
Col. Norman Gaddis

http://www.pownetwork.org/bios/g/g044.htm

Thằng này nó kể khổ là vừa bị ăn đạn cao xạ, máy bay trục trặc đang loạng choạng thì bị anh Mai đánh bồi chứ cũng không có gì ghê gớm.

Ngoài ra nó còn lu loa là bị hành hạ như thế này:

My reception at the Hilton could not even by the most general terms be described as amicable and my captors often called me "stupid" since I didn't seem to know the answers to their questions. After three weeks of very brutal treatment I was placed in solitary confinement. At the end of 1000 days of solitary I was allowed to live with another senior officer.

Chắc là công ước Geneva cấm tuyệt đối không được hành hạ thinh thần tù binh bằng cách chửi là "đồ ngu", nên vị đại tá này mới phàn nàn như thế.
Thắc mắc một chút là việc phối hợp giữa tên lửa, pháo cao xạ và không quân được tiến hành như thế nào trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ??? Trên cùng một vùng trời liệu có chuyện cả 3 lực lượng này cùng tham chiến???


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Mười Hai, 2007, 06:05:29 AM
Thắc mắc một chút là việc phối hợp giữa tên lửa, pháo cao xạ và không quân được tiến hành như thế nào trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ??? Trên cùng một vùng trời liệu có chuyện cả 3 lực lượng này cùng tham chiến???

Có thấy nó nói gì về tên lửa đâu bác ?


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: phoenirstvt trong 26 Tháng Mười Hai, 2007, 11:56:17 PM
Chương một

SỰ RA ĐỜI CỦA TRUNG ĐOÀN TÊN LỬA 236
RA QUÂN ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU VÀ CƠ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH
TRÊN MỘT SỐ ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẤT NƯỚC

(1965 – 1966)


......., Tư lệnh Quân chủng dẫn đầu đi khảo sát địa hình, chọn trận địa tên lửa phòng không ở khu vực Hà Nội, Hải Phòng. Được sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, đoàn cán bộ Bộ Quốc phòng đã chọn được 4 trận địa hỏa lực là Vạn Điểm, Nga My, Bần Yên Nhân, Đại Chu và trận địa kĩ thuật ở Miếu Môn (khu vực Hà Nội); ......

...

 Ngay đầu thôn em (Bạc hạ) từ năm 1965 có trận địa tên lửa Sam2 bảo vệ Thủ đô, không biết có phải của trung đoàn này ko ? Hồi đó bọn em hay được xem phim của các chú bộ đội phục vụ, Bộ đội mình và chuyên gia LX dễ thương lắm. Bác có thể cho em biết kết thúc chiến tranh phá hoại trậ địa này bắn rơi bi nhiêu MB Mẽo đc ko ạ.


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 07 Tháng Một, 2008, 01:07:44 PM
Có một vài thông tin em đang thắc mắc:
- Liệu có phải Trung đoàn pháo phòng không 280 là trung đoàn bắn rơi nhiều máy bay nhất trong số các trung đoàn pháo cao xạ (và so với cả các trung đoàn tên lửa, không quân???)?
- Liệu có phải trung đoàn phòng không 280 bắn rơi chiếc máy bay cuối cùng của địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử?
- Liệu có phải trung đoàn này bắn rơi chiếc F-111A đầu tiên?
Ông già em trước từng là tham mưu trưởng Trung đoàn này. Xin trích một đoạn trong cuốn lịch sử Trung đoàn 280:
"10 giờ 15 phút, bốn máy bay Mỹ kéo đến. Ba trong bốn chiếc máy bay kia là 74H. Còn chiếc thứ tư, không ai biết, nó là loại máy bay gì, chỉ thấy nó bay rất nhanh và trông trùi trụi như cái bắp chuối to. Chính cái vẻ lạ lẫm của nó càng khiến đại đội trưởng Nguyễn Ngọc Đoàn phải chú ý “phải bắn rơi chiếc máy bay này để xem nó là loại máy bay gì”. Đại đội trưởng Đoàn nghĩ như vậy. Cũng vừa lúc, chiếc máy bay lạ bổ nhào. Đoàn giơ cao cờ lệnh:

-Bình tĩnh. Thao tác chính xác.

Trắc thủ đo xa đếm:

-Năm ngàn… bốn ngàn rưỡi.

Có ai đó nhắc khẽ: “đánh được rồi đấy” xong Đoàn vẫn đợi cho tới khi đo xa đọc: hai ngàn tám anh mới phất cờ và thét.

-Bắn.

Đường đạn mạnh như sấm sét quất thẳng mặt tên giặc trời hất nó lật ngửa bụng và rơi ngay tại chỗ. Thì ra nó là F-111A cánh cụp cánh xoà, loại máy bay cực kỳ hiện đại Mỹ vừa chế tạo được. Lần đầu tiên, chúng đem ra miền Bắc loại máy bay này hòng tạo một cú bất ngờ ở Tang Núng nhưng nó đã gặp phải những đối thủ vô địch F-111A đã tan xác, tan luôn cả tiếng tăm lẫn uy lực của loại máy bay này".


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Một, 2008, 08:14:49 PM
- Liệu có phải trung đoàn này bắn rơi chiếc F-111A đầu tiên?
Ông già em trước từng là tham mưu trưởng Trung đoàn này. Xin trích một đoạn trong cuốn lịch sử Trung đoàn 280:
"10 giờ 15 phút, bốn máy bay Mỹ kéo đến. Ba trong bốn chiếc máy bay kia là 74H. Còn chiếc thứ tư, không ai biết, nó là loại máy bay gì, chỉ thấy nó bay rất nhanh và trông trùi trụi như cái bắp chuối to. Chính cái vẻ lạ lẫm của nó càng khiến đại đội trưởng Nguyễn Ngọc Đoàn phải chú ý “phải bắn rơi chiếc máy bay này để xem nó là loại máy bay gì”. Đại đội trưởng Đoàn nghĩ như vậy. Cũng vừa lúc, chiếc máy bay lạ bổ nhào. Đoàn giơ cao cờ lệnh:

-Bình tĩnh. Thao tác chính xác.

Trắc thủ đo xa đếm:

-Năm ngàn… bốn ngàn rưỡi.

Có ai đó nhắc khẽ: “đánh được rồi đấy” xong Đoàn vẫn đợi cho tới khi đo xa đọc: hai ngàn tám anh mới phất cờ và thét.

-Bắn.

Đường đạn mạnh như sấm sét quất thẳng mặt tên giặc trời hất nó lật ngửa bụng và rơi ngay tại chỗ. Thì ra nó là F-111A cánh cụp cánh xoà, loại máy bay cực kỳ hiện đại Mỹ vừa chế tạo được. Lần đầu tiên, chúng đem ra miền Bắc loại máy bay này hòng tạo một cú bất ngờ ở Tang Núng nhưng nó đã gặp phải những đối thủ vô địch F-111A đã tan xác, tan luôn cả tiếng tăm lẫn uy lực của loại máy bay này".

Bác thử so ngày tháng xem, theo trang này (http://www.f-111.net/F-111A/combat-ops.htm) thì F-111A đầu tiên bị rơi ngày 28/3/1968.


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: Triumf trong 10 Tháng Một, 2008, 08:31:55 AM
Đúng là ngày 28/3/1968 thật. Như vậy, chính xác trung đoàn 280 là đơn vị bắn rơi F-111A đầu tiên căn cứ tài liệu ta (Lịch sử e 280) và tài liệu nước ngoài khớp nhau. Nhưng trung đoàn 280 có phải là đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trong tất cả các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa phòng không, không quân không? Có phải là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay cuối cùng trong chiến dịch Hồ Chí Minh không?


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: trucdang trong 28 Tháng Hai, 2009, 03:57:14 PM
Gửi Bạn OldBuff:
-Trong cuốn "Chiến tranh Việt Nam là thế đó" có nói đến việc thay toàn bộ SA-75 bằng loại SA-75M, hỏi Bạn: "thay" tức là thay cả đạn, xe điều khiển vv... hay chỉ là thay thế một số bộ phận cải tiến thôi ạ ?
- Hồi tụi tôi (pháo cao xạ) bảo vệ tên lửa, mỗi lần đạn bay qua trận địa, nó nhè xuống đất những miếng chất đốt rắn cháy không hết, chạy thành vệt dài theo hướng bắn, đó là những miếng mỏng như bánh đa cua, màu cánh gián, được cắt thành hình thoi. Sao họ không có cách nào để đốt cho cháy hết nhỉ ?  


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: OldBuff trong 28 Tháng Hai, 2009, 05:34:45 PM
Gửi Bạn OldBuff:
-Trong cuốn "Chiến tranh Việt Nam là thế đó" có nói đến việc thay toàn bộ SA-75 bằng loại SA-75M, hỏi Bạn: "thay" tức là thay cả đạn, xe điều khiển vv... hay chỉ là thay thế một số bộ phận cải tiến thôi ạ ?
- Hồi tụi tôi (pháo cao xạ) bảo vệ tên lửa, mỗi lần đạn bay qua trận địa, nó nhè xuống đất những miếng chất đốt rắn cháy không hết, chạy thành vệt dài theo hướng bắn, đó là những miếng mỏng như bánh đa cua, màu cánh gián, được cắt thành hình thoi. Sao họ không có cách nào để đốt cho cháy hết nhỉ ?  

Bác trucdang đã có nhời hỏi thì em xin được trả lời như sau:

Em chưa đọc cuốn sách bác đề cập, nhưng từ "thay" toàn bộ SA-75 bằng SA-75M bác hỏi gồm có mấy ý:
(i) Đầu tiên (1965) ta được viện trợ các tổ hợp SA-75M Đờ-vi-na nhưng cùng cơ cấu của tổ hợp SA-75 Đờ-vi-na: tổ hợp 6 xe, 6 bệ, đạn tên lửa V-750V (11ĐU/ĐM) băng sóng đề-xi-mét tương tự đạn tên lửa V-750 (1Đ) của SA-75. Như vậy, ngay từ đầu ta đã dùng SA-75M Đờ-vi-na rồi bác ah!
(ii) Từ năm 1966 - 1967, máy bay Mĩ áp dụng các giải pháp chiến thuật (cơ động tránh đạn) và kỹ thuật (gây nhiễu trong và ngoài đội hình) để chống SAM. Thời điểm này, ta được LX viện trợ các tổ hợp SA-75M Đờ-vi-na rút gọn (tổ hợp 3 xe và dùng đạn V-750V (11ĐU và 11ĐM) và đài điều khiển kháng nhiễu SNR-75MA. Như vậy, thời điểm này là thay kết cấu của tổ hợp các xe và đài điều khiển cải tiến, đạn tên lửa vẫn thế.
(iii) Cuối 1967, Mĩ cải tiến thiết bị gây nhiễu chiến thuật trong đội hình đánh vào "rãnh" đạn tên lửa của SA-75M. LX giúp ta cải tiến một số tính năng của tổ hợp SA-75M như: thu nhỏ bi sát thương và mở rộng bán kính góc chùm nổ của đầu nổ để chống mục tiêu cơ động; biến tần linh hoạt để chống nhiễu rãnh đạn, nhiễu ngòi nổ; đạn bám thụ động theo dải nhiễu trong giai đoạn hành trình để chống tên lửa dẫn bức xạ (sơ-rai) gây hại cho đài điều khiển; tổ hợp chùm điều khiển "phóng giả" để lừa máy bay Mĩ bộc lộ đội hình, vỡ nhiễu và giảm tính năng chiến thuật do cơ động tránh đạn. Những cải tiến này được hiện thực hóa bằng tài liệu hướng dẫn và các bảng mạch, khối linh kiện, đầu nổ sản xuất tại LX, do chuyên gia bạn và bộ đội tên lửa của ta thay trực tiếp tại trận địa. Như vậy, "thay" ở giai đoạn này là thay chiến thật và thay thế khối linh kiện cải tiến (bác nhìn trong clip sẽ thấy ;D)

Mấy cái miếng màu cánh gián mà khoang sơ cấp đạn tên lửa Sam-2 "nhè" xuống trận địa của bác có thể là vỏ của mấy thỏi thuốc phóng rắn!


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: trucdang trong 28 Tháng Hai, 2009, 05:51:25 PM
Tôi là tay "táy máy" có hạng, nhất đơn vị. Mấy miếng thuốc phóng đó, bẻ nhỏ rồi gói vào giấy bạc bao thuốc lá, vê thành hình trụ nhọn một đầu, đốt, nó cũng bay ngoằn ngèo như tên lửa đấy ạ ! Các loại thuốc phóng của đạn cao xạ, từ súng máy 14,5ly (màu vàng, nhỏ xíu như ngòi bút chì) đến loại pháo 100ly (dài như que đũa, rỗng giữa, màu nâu), loại gì tôi cũng "xài" rồi ạ !
Còn thuốc phóng rắn tầng 1 tên lửa, tôi cho rằng nó không quan trọng lắm, không cần tính toán nên không cần đốt hết ạ !


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: chiangshan trong 28 Tháng Hai, 2009, 06:01:45 PM
Bác ơi, thuốc phóng rắn là tính toán mệt nhất đấy ạ.


Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: twosoul trong 08 Tháng Chín, 2011, 08:52:29 PM
Các bài học kinh nghiệm phòng không tên lửa chống không quân Mỹ tại Việt Nam 1972

Tháng 12 năm 1972. Năm đỉnh cao của lực lượng không quân chiến lược Mỹ với vai trò chủ đạo là máy bay ném bom chiến lược B52 Stratofortressa. 18 tháng 12 năm 1972. Lần đầu tiên 127 chiếc máy bay ném  bom chiến lược pháo đài bay B-52 xuất kích vào không phận Miền Bắc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục tiêu. Đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá.

Đại tá Tiến sỹ Alexcander Malgin
Giáo sư Viện Hàm lâm quân sự, giảng viên
Viên khoa học phòng thủ hàng không vũ trụ Liên bang Nga.
Đại tá, Tiến sỹ Mikhain Malgin.
Chuyên viên nghiên cứu khoa học
Viện nghiên cứu khoa học quân sự Bộ quốc phòng Liên bang Nga.

Chiến thắng không thể nào đạt được với  máy bay ném bom hiện đại

Tạp chí phòng không, phòng thủ vũ trụ VKO nhiều lần đăng các bài viết về kinh nghiệm chiến tranh không quân và phòng không trong cuộc chiến tranh mang nhiều dấu ấn lịch sử giữa Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hòa từ năm 1965 đến năm 1973. Trong bài viết này VKO đưa ra những thông số mang tính kỹ chiến thuật đối với lực lượng không quân Mỹ và lực lượng phòng không Việt Nam trong 1 giai đoạn vô cùng căng thẳng của chiến tranh Việt Nam – năm 1972. Trong bài viết này tác giả không bình luận nhiều về chiến dịch Linebacker II. Các bài viết về nó đã có rất nhiều. Ở bài viết này, tác giả tổng kết kinh nghiệm phòng thủ bầu trời của lực lượng phòng không Việt Nam trong một năm cao điểm nhất của chiến tranh đường không.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/25638.jpg)
Lực lượng phòng không Việt Nam với chiến dịch Linebacker II

Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1972, biên chế tác chiến của lực lượng không quân Mỹ khu vực Đông Nam Á tăng cường lực lượng không quân chiến lược lên 3 lần, không quân Hải quân tăng cường 1,5 lần. Cũng từ tháng 3 năm 1972, không quân Mỹ tăng cường tần xuất không kích các mục tiêu kể cả mục tiêu dân sự trên địa bàn Miền Bắc Việt Nam. Sau tuyên bố của Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon về việc đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá, tần suất không kích của lực lượng không quân chiến lược và chiến thuật với sự tham gia của 207 máy bay ném bom chiến lược B52 và hơn 2000 máy bay cường kích đánh chặn của không quân và hải quân Mỹ. Mật độ không kích cao nhất là từ 18/12 đến 30/12. Cuộc không kích đã bị lực lượng phòng không Việt Nam đáp trả xứng đáng với những tội ác mà nó gây lên.

Lực lượng phòng không tên lửa Việt Nam trong chiến tranh phòng không.

Năm 1972, lực lượng phòng không Việt Nam, như trước kia, thực hiện các nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở 3 khu vực chính. Quân khu Hà Nội, Quân khu duyên hải với thành phố Hải Phòng, và quân khu 4. Trong giai đoạn đó, trên các trận địa phòng không có khoảng từ 30 đến 36 tiểu đoàn tên lửa phòng không S-75.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo01.jpg)
Sơ đồ bố trí lực lượng tên lửa phòng không khu vực Hà Nội - Hải Phòng

Nếu tính toán hệ số sẵn sàng chiến đấu thì các tiểu đoàn tên lửa phòng không có hệ số là 0,6 – 0,7. Khả năng phóng đạn đánh chặn các đợt không kích sẽ là khoảng 22 – 25 tiểu đoàn (nếu tính những tổn thất và tính chất của các đòn tấn công liên tiếp thì các tiểu đoàn tên lửa sẵn sàng phóng đạn còn thấp hơn) Trên các bệ phóng tên lửa của các phân đội sẵn sàng từ 10 – 12 tên lửa. Các tên lửa còn lại tập trung tại các điểm cách xa bệ phóng, nạp nhiên liệu và chuẩn bị kỹ thuật( trực tiếp trên các xe vận tải đạn. Trong trường hợp đó, khả năng sống còn và phản kích của các phân đội tên lửa hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng đảm bảo cung cấp tên lửa kịp thời lên bệ phóng của các phân đội trong quá trình đánh trả lực lượng không quân đối phương.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo03.jpg)
Sơ đồ bố trí các đài radar cảnh báo của phòng không Việt Nam

Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng phòng không Việt Nam là bảo vệ các mục tiêu ở Hà Nội và Hải phòng, các mục tiêu kinh tế công nghiệp của miền Bắc, các tuyến đường vận tải và sân bay quân sự trên địa bàn cả nước. Bảo vệ tuyến vận tải huyết mạch từ Bắc vào Nam và các mục tiêu ven biển của Vịnh Bắc bộ.

Trong cả năm 1972, không quân Mỹ tham chiến với các tần suất khác nhau. Vì vậy có thể chia ra thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 bắt đầu từ tháng 3 đến giữa tháng 10, giai đoạn 2 tính từ 18/12 đến 30/12/1972. nêu nghiên cứu các hoạt động của không quân Mỹ và các hoạt động tác chiến của phòng không và không quân Việt Nam, có thể thấy:

Giai đoạn 1: tần suất hoạt động của không quân Mỹ không cao. Hệ thống tên lửa phòng không Việt Nam phóng đạn 55 lần và bắn hạ 23 máy bay không quân hải quân chiến thuật với 4 máy bay không người lái. Bình quân 4 tên lửa cho 1 máy bay, hiệu quả phóng đạn là 0,5. Không quân cường kích sử dụng nhiễu ở cường độ trung bình và cường độ thấp. Tầm cao bay tác chiến là từ 1 đến 5 km.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo05.jpg)
Phân tích kết quả các đòn tấn công của không quân Mỹ vào trận địa tên lửa

Kết quả những đòn tấn công của không quân Mỹ vào các trận địa của các phân đội phòng không với mức độ cơ động trung bình trong một đợt tác chiến vào năm 1972. 

Giai đoạn 2 Giai đoạn triển khai chiến dịch Linebacker II. Với mật độ bay và lực lượng lớn nhất trong lịch sử không quân Mỹ với mục tiêu san phẳng Hà Nội Hải Phòng và các mục tiêu khác

Để chống lại lực lượng phòng không tên lửa, không quân Mỹ đã triển khai kế hoạch tấn công phủ đầu các trận địa tên lửa của các cụm phòng không.

Đợt tấn công thứ 1 của không quân Mỹ trong chiến dịch Linebacker II. Không quân chiến thuật Mỹ đã  tập kích với 12 đòn tấn công vào trận địa phòng không tên lửa bị phát hiện (6 quả bom và 6 quả tên lửa chống radar) Theo kết quả gây tổn thất cho 7 phân đội tên lửa (hai bệ phóng – 1 tên lửa Shrike). Các tiểu đoàn di chuyển 6 lần trong một giai đoạn tác chiến-1 đợt không kích ( khoảng 2 lần trong 1 tháng). Để chống lại tên lửa chống radar điều khiển Shrike, loại tên lửa đã gây nhiều khó khăn cho các khẩu đội tên lửa. Theo tính toán của các cán bộ chiến sỹ trắc thủ điều khiển phóng, khi kíp trắc thủ điều khiển phát hiện tên lửa chống radar Shrike hoặc trên các trạm quan sát phát hiện đối phương phóng tên lửa Shrike. Trắc thủ điều khiển có thể kịp thời quay anten và cắt nguồn phát tín hiệu cao tần. Kỹ thuật này sẽ làm tên lửa Shrike mất sóng dẫn đường, đánh trượt mục tiêu. Đầu nổ nổ cách mục tiêu hàng trăm mét cách xe điều khiển.

Đã có những trường hợp trắc thủ  khẩu đội tên lửa không kịp thời đánh lạc hướng tên lửa Shrike toàn bộ khẩu đội bị tổn thất và mất khả năng chiến đấu. Một khẩu đội tên lửa trong chiến dịch Linebacker II không kịp thời cắt Shrike. Tên lửa phát nổ cách xe điều khiển 6 m, trên cánh radar thu phát bị 70 lỗ đạn bi xuyên qua, tên lửa cắt đứt hơn 10 cuộn cáp vi mạch và cáp cao tần của radar, trên bệ phóng cáp nguồn điện và cáp điều khiển bị cắt đứt. Khẩu đổi bị loại hoàn toàn khỏi trận địa, tổn thất sinh lực không.

Trong chiến tranh, các hoạt động tác chiến đều do các chiến sỹ điều khiển tên lửa Việt Nam đảm nhiệm, các chuyên gia quân sự Xô viết chỉ giới hạn nhiệm vụ hỗ trợ trong các hoạt động chuẩn bị trang bị khí tài, vũ khí, sửa chữa và khai thác sử dụng, thống kế kết quả phóng đạn và đưa ra những đề xuất, kiến nghị về nghệ thuật tác chiến. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng các ban chỉ huy các đơn vị tên lửa Việt Nam rất chú trọng tiết kiệm đạn (không ít lần phóng 1 tên lửa, dẫn đến hiệu quả phóng không cao) Có khoảng 70% lần phóng là 2 quả đạn liên tiêp và 28% lần phóng là 1 đạn. Trong đợt tấn công lần 1 của chiến dịch Linebacker II tỉ lệ tổn thất 3,8. Có nghĩa là cứ một khẩu đội tên lửa bị tổn thất là có 4 đơn vị bay của đối phương bị bắn rơi. Có thể coi tỷ lệ đó là rất cao, nhưng so với những năm trước 1966 – 1968 tỷ lệ đó còn cao hơn nhiều.

Đợt tấn công thứ 2 của chiến dịch Linebacker II, tần suất tấn công của không quân Mỹ tăng gấp nhiều lần, đặc biệt là không quân hải quân và không quân chiến thuật. đồng thời tăng cường gây nhiễu chiến thuật đến mức độ cực đại. Giai đoạn này các khẩu đội phóng 500 tên lửa, bắn rơi 185 máy bay, trong đó có 177 máy bay chiến thuật và không quân hải quân. 8 máy bay B52. Tỷ lệ hiệu quả tác chiến là 5 tên lửa trên 1 máy bay. Tỷ lệ khẩu đội tên lửa với máy bay đối phương là 0,37, với máy bay ném bom B52 là 0,16. Tỷ lệ đạn cho 1 máy bay B52 là 8 tên lửa/1 B52. Mật độ nhiễu xạ bầu trời và độ phức tạp phòng không khi phóng đạn đạt đỉnh cao nhất, gần 90% khó phát hiện mục tiêu.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo02.jpg)
Sơ đồ tác chiến của bộ đội tên lửa phòng không đợt 1 chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch Linebacker II, để phát hiện và đánh dấu các mục tiêu trận địa phòng không và hệ thống phòng không, người Mỹ đã sử dụng cả máy bay trinh sát chiến lược SR-71. Trên tất cả các trận địa tên lửa bị tấn công 111 lần. Bom và tên lửa Shrike đã gây tổn thất cho 32 trong tổng số 37 tiểu đoàn tên lửa phòng không. 3 trong số 10 tiểu đoàn kỹ thuật bị tấn công. Có những phân đội bị tấn công nhiều lần (2 hoặc 4 lần) một nửa là bằng bom, số còn lại là tên lửa. Các phân đội tên lửa bị tổn thất là 54 lần, bị tổn thất do tên lửa Shrike là 10 phân đội, các kíp xe trắc thủ đã nhanh chóng học được phương pháp tránh tên lửa Shrike. Hiệu quả của tên lửa Shrike  giảm xuống chỉ còn 0,16.

Hệ số cơ động của các đơn vị tên lửa tăng cao. Trong giai đoạn tác chiến này, các phân đội thực hiên đến 12 lần cơ động sang vị trí mới (tương đương khoảng 4 lần cơ động trong 1 tháng). Đồng thời hệ số khó khăn trong cung cấp đạn cũng tăng cao. Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân lại quyết định chỉ lệnh tiết kiệm đạn cao nhất khi bắn nhằm mục tiêu chủ yếu là B52.

Chính vì thế khoảng 70% lần phóng là 1 tên lửa. tất nhiên, trong điều kiện quá phức tạp của chiến trường khả năng tiêu diệt mục tiêu rất khó khăn. Chính vì vậy, việc tiết kiệm đạn lại dẫn đến việc tiêu hao đạn cao hơn. Tỷ lệ giữa các khẩu đội tên lửa và máy bay bị bắn hạ là 3,4. Có nghĩa là cứ 1 khẩu đội tên lửa bị đánh trúng chỉ còn 3,4 máy bay bị bắn rơi. Đây là tỷ lệ hiệu quả nhỏ nhất trong toàn bộ những năm chiến đấu của phòng không không quân Việt Nam.

Đợt tấn công thứ 3 của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, các phân đội tên lửa phóng 290 tên lửa, bắn hạ 110 máy bay, trong đó có 104 máy bay chiến thuật và không quân hải quân, 6 máy bay ném bom chiến lược B52. Tỉ lệ bắn hạ máy bay là 4,5 tên lửa / 1 máy bay, hiệu quả bắn là 0,38.

Hiệu quả tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược B52 là 0,6, tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ chiến tranh ở Việt Nam. Trong giai đoạn này, các phân đội tên lửa phòng không quân khu 4 đã tấn công B52 bằng phương pháp phục kích. Khi máy bay B52 chưa kích hoạt máy gây nhiễu tích cực. Từ phương án khác, các chiến sỹ trắc thủ điều khiển tên lửa đã học được phương phát vạch nhiễu để phát hiện máy bay. Khi máy bay bật nhiễu tích cực và gây nhiễu dầy đặc hoặc khi máy bay địch bay lượn vòng, biểu đồ các thông số nhiễu thay đổi và tín hiệu máy bay hiện ra rất rõ trên màn hình radar ngay cả trong trường hợp nhiễu dày đặc nhất.

Trong khu vực có khả năng tiêu diệt mục tiêu của tên lửa, khi phát hiện nhiễu bắt đầu dày đặc, các phân đội tên lửa Việt Nam lập tức phóng đạn vào hướng mục tiêu. Trong rất nhiều trường hợp đạn đánh trúng mục tiêu khi đội hình hành tiến của không quân Mỹ chưa kịp triển khai đội hình chiến đấu. Trong khu vực tác chiến mật độ phức tạp đạt đến 100% do nhiễu thụ động, nhiễu tích cực, tác chiến điện tử và chế áp điện tử, các hoạt động nghi binh của không quân, các đòn tấn công của tên lửa Shrike, bom đánh tọa độ vào khu vực trận địa phòng không…

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo08.jpg)
Biểu đồ số lượt xuất kích của các loại máy bay Mỹ trong năm 1972

Không quân Mỹ đã tấn công vào các trận địa tên lửa 55 lần, 22 lần tấn công bằng bom và 33 lần tấn công bằng tên lửa. 20 phân đội bị tổn thất, trong đó có 8 khẩu đội vị trúng tên lửa Shrike. Trong đợt tấn công này, các đơn vị tên lửa đã thực hiện đến 20 lần cơ động trận địa, khiến hiệu quả đánh trúng các khẩu đội tên lửa xuống thấp  0,36. Hiệu quả giai đoạn 2 của chiến dịch Linebacker II là 0,5.

Trong đợt không kích thứ 3 mặc dù độ phức tạp của chiến trường tăng đến 100%, các phân đội tên lửa Việt Nam đạt hiệu quả tác chiến rất cao, khả năng đánh trúng mục tiêu lên đến 0,4. Tỷ lệ phóng đạn là 70% lần phóng là 2 tên lửa liên tiếp. Tỷ lệ tổn thất của 1 khẩu đội tên lửa với máy bay là 4,0. Mỗi khẩu đội bị đánh trúng, không quân Mỹ mất 4 máy bay chiến đấu. Điều đó đã khẳng định khả năng huấn luyện chiến đấu và chiến đấu rất cao của các phân đội, các trung đoàn tên lửa phòng không Việt Nam, khả năng hợp đồng và phối hợp điêu luyện, trình độ đánh giá điều kiện chiến trường chính xác, ra quyết định chính xác trong phóng đạn tiêu diệt mục tiêu trên không.




Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: twosoul trong 08 Tháng Chín, 2011, 08:57:26 PM
Kết quả


Các đơn vị phòng không tên lửa Việt Nam trong giai đoạn năm 1972 đã phóng tổng số 1025 lần, bắn rơi 376 máy bay, trong đó có 325 máy bay chiến thuật và hải quân. 45 máy bay ném bom B52, 6 máy bay không người lái. Nếu so với năm 1967, năm căng thẳng nhất của của các chiến dịch ném bom ngoài miền Bắc đã bắn rơi 397 máy bay trong đó có 367 máy bay máy bay chiến thuật không quân và hải quân, 24 máy bay không người lái và chỉ có 6 máy bay B52. các máy bay B52 đều do phòng không quân khu 4 tiêu diệt.
Tỉ lệ tiêu hao đạn cho một máy bay trong toàn bộ năm 1972 là 5 tên lửa, hiệu quả bắn cho tất cả các loại máy bay là 0,34 máy bay cho 1 tên lửa. nếu tính toán đến độ phức tạp của chiến trường do mật độ nhiễu lớn nhất, gây nhiễu điện từ và chế áp điện tử cao nhất, mật độ bay tấn công lớn nhất, tính cơ động cao nhất thì tính tổng kết hiệu suất chiến đấu của các đơn vị tên lửa Việt Nam là rất cao.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo06.jpg)
Đặc điểm sơ đồ tác chiến chiến thuật của không quân Mỹ

Trong giai đoạn năm 1972, các trận địa tên lửa bị tấn công 200 lần, trong đó 96 lần bằng bom và 104 lần bằng tên lửa chống radar Shrike. Các đơn vị tên lửa bị tổn thất phải rút khỏi trận đánh 98 lần, trong đó có 21 lần bằng tên lửa. Hiệu quả tấn công trận địa tên lửa bằng Shrike giảm xuống còn 0,2. Các kíp trắc thủ điều khiển tên lửa đã học được phương pháp tác chiến hiệu quả với tên lửa Shrike. Do đó làm giảm đến tối thiểu hiệu quả của tên lửa Shrike nếu so sánh với năm 1966 – 1967. Tỷ lệ tổn thất giữa máy bay và khẩu đội tên lửa trong năm 1972 là 3,8.

Cũng trong gian đoạn, các đơn vị pháo phòng không bắn rơi 20 máy bay, trong đó có 1 máy bay B52 và 3 máy bay F111A. Lực lượng không quân xuất kích 10 lần, bắn rơi 7 máy bay, trong đó có 2 máy bay B52. Tổn thất 3 máy bay tiêm kích.

Có thể so sánh như sau: Đại chiến thế giới lần thứ 2 trong 1000 lần xuất kích, không quân Mỹ bị mất bình quân 9 máy bay. Trong cuộc chiến tại Triều tiên ( 1950 – 1953) tổn thất là 4 máy bay. Nhưng trong cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1972. Bình quân cứ 1000 lần xuất kích người Mỹ mất 17 máy bay. Trong chiến dịch Linebacker II từ 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, tổn thất trong 1000 lần xuất kích là 27 máy bay.

Tổng kết lại các kết quả của lực lượng phòng không Việt Nam tính từ ngày 24 tháng 6 năm 1965 đến tháng 12 năm 1972. Các đơn vị tên lửa đã phóng 3228 lần và bắn rơi 1293 máy bay, chiếm 31% số lượng máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam. Trong đó có 1109 máy bay chiến thuật của không quân và hải quân, 54 máy bay B52 (chiếm 95 %  tổng số máy bay B52 bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam) và 130 máy bay không người lái.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo04.jpg)
Vị trí các sân bay dã chiến và lực lượng không quân Việt Nam

Trong giai đoạn này không quân phòng không và không quân Việt Nam bắn rơi 350 máy bay Mỹ (chiếm khoảng 9% tổng số máy bay bị rơi) trong đó chỉ có 2 chiếc B52. một chiếc bị tiêu diệt bởi đòn tấn công đâm thẳng vào máy bay địch.

Các đơn vị và phân đội pháo phòng không trong các lực lượng phòng không Việt Nam (bao gồm các lực lượng dân quân tự vệ và các đơn vị phòng không độc lập đã bắn rơi 2550 máy bay. Chiếm 60% tổng số máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam. Tổng số máy bay bị bắn rơi khoảng 4200 máy bay, có thể khác nhau chút ít, do số liệu máy bay do pháo phòng không các loại bắn rơi khó chính xác. Do máy bay có thể bay đến chỗ khác và bị rơi.

Số lượng lớn máy bay bị bắn rơi do các lực lượng pháo phòng không được hiểu chính xác là: lực lượng pháo phòng không nhân dân được thành lập rất sớm, ngay từ ngày đầu chiến tranh và từng ngày phát triển. Đến giữa năm 1967 lực lượng pháo phòng không đã có tới 35 trung đoàn và các phân đội phòng không độc lập. Được biên chế đến 1000 khẩu pháo phòng không các loại như pháo phòng không tầm trung 85 mm, 100mm, tầm thấp 37mm, 57 mm. Chủ yếu các lực lượng phòng không được trang bị pháo phòng không 57mm. Tất  cả các mục tiêu nhỏ ( cầu, phà, ngầm, đường hẹp, và bản thân đường quốc lộ số 1 đường Hồ Chí Minh, các kho xăng dầu, thiết bị và vật chất chiến tranh được bảo vệ bởi các đơn vị pháo phòng không. Nói  chính xác là lực lượng pháo phòng không được trải rộng trên toàn bộ địa bàn đất nước.

Nếu lực lượng phòng không và không quân Việt Nam chiếm khoảng 200.000 cán bộ chiến sỹ thì các đơn vị pháo phòng không có quân số lên tới 160.000 người, chiếm khoảng 80% quân số. Lực lượng tên lửa phòng không chỉ có 14000 cán bộ, chiến sỹ (7% quân số) của lực lượng phòng không, không quân. Các trung đoàn tên lửa phòng không trên toàn bộ đất nước khoảng 11 trung đoàn sẵn sàng chiến đấu. Triển khai trên các trận địa tên lửa khoảng 30 – 35 phân đội trong các giai đoạn của chiến tranh.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/pvo07.jpg)
Biểu đồ số lần cất cánh của không quân Mỹ

Tháng 2 năm 1973. Bộ trưởng Bộ quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc họp tổng kết kinh nghiệm chiến trang với phái đoàn quân sự Liên bang Xô viết và lãnh đạo đội cố vấn quân sự Xô viết tại Việt nam đã đánh giá chiến công của lực lượng tên lửa phòng không bảo vệ miền Bắc” Nếu như không có chiến thắng của lực lượng bộ đội tên lửa phòng không trên bầu trời Hà Nội, thì Hiệp định Pari sẽ bị kéo dài và có thể không ký được, nói cách khác, chiến công của lực lượng bộ đội tên lửa là chiến công có ý nghĩa chính trị” Sau này, dù có nhiều người muốn bóp méo kết quả của chiến dịch Linebacker II, chiến công của bộ đội tên lửa thực sự là một chiến công anh hùng. Bộ đội tên lửa phòng không và không quân được trao tặng danh hiệu: đơn vị anh hùng.

Kết luận

1. Dù đã cố gắng hết sức, nhưng lực lượng không quân Mỹ không thể đạt được một chiến thắng có ý nghĩa chính trị cho chính phủ tổng thống Mỹ Richard Nixon.
2. Trong khoảng thời gian 6 tháng, từ 15 tháng 3 đến nửa đầu tháng 10 năm 1972. Không quân Mỹ tấn công vào các trận địa tên lửa 166 lần, 74 lần sử dụng bom và 92 lần sử dụng tên lửa chống radar. Các phân đổi tên lửa bị tổn thất và mất khả năng tác chiến 74 lần (18 khẩu đội bị tổn thất bởi tên lửa, còn lại là bom không điều khiển) Hiệu quả tấn công sử dụng bom thông thường là 0,75. Hiệu quả sử dụng tên lửa chống raddar Shrike là 0,19. Các kíp điều khiển tên lửa đã học được phương pháp vô hiệu hóa tên lửa Shrike.

3. Hiệu quả tấn công vào các trận địa tên lửa giảm xuống rất thấp do khả năng cơ động liên tục của các phân đội tên lửa, trong một tháng, các đơn vị tên lửa thường xuyên di chuyển trận địa, mật độ cơ động là 4-5 lần thay đổi trận địa trong một tháng.

4. Các đơn vị và các phân đội tên lửa thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện vô cùng phức tạp, khó khăn của trến trường. Nhưng hiệu quá tác chiến đối với mọi mục tiêu trên không rất cao. 0,34 máy bay/tên lửa.

5. Nhóm các chuyên gia quân sự Xô viết liên tục có mặt trong các trung đoàn và tiểu đoàn tên lửa. Các tướng lĩnh chuyên gia và các sỹ quan chuyên gia quân sự đã kịp thời hỗ trợ các cán bộ chiến sỹ phòng không tên lửa sự giúp đỡ kịp thời, đưa ra những đề xuất tác chiến trong cuộc chiến đấu, lắp đặt và hiệu chỉnh các phương tiện, trang thiết bị, hỗ trợ tổ chức các đơn vị tên lửa cơ động và cung cấp đạn ở vị trí trận địa mới, sửa chữa khí tài tên lửa khi bị tổn thất hoặc đánh hỏng.

6. Lực lượng chỉ huy phòng không và không quân Việt Nam trong điều kiện phức tạp của đợt không kích đã sử dụng phương án tiết kiệm đạn. Trong 6 tháng có 49% lần phóng đạn sử dụng 1 quả tên lửa, 48% phóng 2 tên lửa liên tiếp. Chỉ có 3% phóng liên tiếp 3 quả đạn do điều kiện tác chiến trở lên vô cùng phức tạp, độ phức tạp đạt đến 100% do không quân Mỹ đã sử dụng hết mọi phương thức gây nhiễu, chế áp điện tử, ngụy trang, nghi binh.v.v…Tổng kết cho thấy, nếu mỗi lần phóng chỉ một quả đạn, lượng tiêu thụ đạn cho một mục tiêu lên đến 6 tên lửa/1 máy bay các loại, nhưng nếu phóng 2 tên lửa liên tiếp, hệ số tiêu diệt là 4 tên lửa/máy bay. Do đó, phương án phóng đạn đơn chỉ thích hợp trong điều kiện tác chiến rất tốt, nếu như tháng 12 năm 1972, phương pháp đó làm số lượng tên lửa tiêu hao tăng lên.

7. Đỉnh cao của tác chiến phòng không và chống phòng không là cuộc đọ sức giữa lực lượng phòng không Việt Nam và không quân Mỹ, lực lượng phòng không Việt Nam đã thành công trong việc bẻ gấy đòn tấn công có quy mô lớn nhất với sự tham gia của pháo đài bay B52 trong chiến dịch không kích tháng 12 năm 1972. Linebacker II trở thành đỉnh điểm của cuộc chiến tranh đường không chống Miền Bắc Việt nam. Chiến dịch Linebacker II đã sử dụng hơn 800 máy bay chiến thuật không quân, hải quân, có tới 190 máy bay B52, 36 máy bay ném bom chiến thuật hiện đại nhất F111A, 54 máy bay cường kích ném bom Hải quân.

Bài học kinh nghiệm

1. Nhiệm vụ chính của lực lượng phòng không Việt Nam trong điều kiện cụ thể, với những cụm mục tiêu cụ thể là bảo vệ chắc chắn các mục tiêu được giao, không để lọt các đòn tấn công từ trên không của đối phương. Nhưng vào tháng 12 năm 1972. Bộ tư lệnh tham mưu phòng không không quân đã có quyết định giao nhiệm vụ khác: trong quá trình đánh phản kích các đòn tấn công ô ạt, có mật độ hỏa lực cao nhất và có sự tham gia với số lượng lớn máy bay tiến công đường không chiến lược, chiến thuật không quân và hải quân vào các mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam, mục tiêu đầu tiên cần phải tiêu diệt là máy bay ném bom chiến lược B52 (ngay cả trong trường hợp trong khu vực phòng thủ của các đơn vị tên lửa có hoạt động tác chiến của máy bay cường kích chiến thuật). Quyết định đó được hình thành bởi nhận định đúng âm mưu của đối phương, tương quan lực lượng giữa ta và địch về khả năng tác chiến của các đơn vị phòng không và tiềm năng quân sự của lực lượng không quân đối phương. Hệ thống phòng không không đủ khả năng tiêu diệt toàn bộ lực lượng không kích trong 1 trận tấn công ồ ạt với mật độ không lực cao như vậy. Do đó trong điều kiện thực tế của chiến trường, quyết định này là chính xác và đã thể hiện sự đúng đắn của nó trong chiến dịch.

2. Các đơn vị tên lửa không được liên kết trong một hệ thống chỉ huy đồng bộ, thống nhất dưới 1 trung tâm chỉ huy tác chiến. Điều khiển hỏa lực được thực hiện bởi các ban chỉ huy cấp trung đoàn, trong một số trường hợp đã xảy ra hiện tượng khai hỏa tự phát, ngay cả trong trường hợp đánh phục kích B52. Do đó, mặc dù đội hình tác chiến của các trung đoàn tên lửa phòng không đã tạo ra một lưới lửa dầy đặc, nhưng không ít trường hợp tiến hành đánh B52 không hợp lý, thậm chí tấn công cả máy bay ném bom chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ. Có thể nói, trong thời điểm đó, về thực tế không thể hình thành một trung tâm điều khiển hỏa lực trên toàn tuyến phòng thủ tính trên sự cân đối lực lượng, kinh nghiệm và trình độ tác chiến hiện đại của cán bộ chiến sỹ. Nhưng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu có một trung tâm chỉ huy đồng bộ từ cấp cao nhất của lực lượng phòng không không quân và sự năng động, chủ động sáng tạo, phối hợp nhịp nhàng của các khẩu đội tên lửa, sẽ cho hiệu quả cao hơn sự tác chiến độc lập của các trung đoàn tên lửa.

4. Trong đợt tấn công thứ 2 và thứ 3 của chiến dịch. Không quân Mỹ đã tăng cường lực lượng vàn tần suất tấn công các trận địa phòng không và cũng đạt được những kết quả nhất định. Nếu các tiểu đoàn tên lửa không năng đông, cơ động thay đổi trận địa liên tục, thì cụm phòng không Hà Nội sẽ bị tiêu diệt. Từ những kinh nghiệm này, việc chế tạo các tổ hợp phòng không có sức cơ động rất cao, bao gồm cả các dàn phóng tên lửa, các xe chỉ huy, điều khiển và các xe cấp đạn, đồng thời phát triển chiến thuật cơ động của các cụm hỏa lực phòng không tên lửa. Các nhân tố đó quyết định sự sống còn của các cụm hỏa lực phòng không, hiệu quả sử dụng trang thiết bị khí tài phòng không và kết quả tác chiến của các đơn vị lực lượng phòng không. Kinh nghiệm chiến tranh cho thấy, một cụm hỏa lực tác chiến cố định hoàn toàn không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ trước một lực lượng không quân hùng mạnh, hiện đại, trong điều kiện ngày nay, khi đối phương sử dụng vũ khí có độ chính xác cao. Các cụm hỏa lực phòng không cố định sẽ bị tiêu diệt ngay trong giờ đầu tiên của trận đánh.

5. Một lần nữa khẳng định, vị trí và ý nghĩa quan trọng bậc nhất của nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, hợp đồng tác chiến và khả năng phối hợp hoạt động nhịp nhàng, chuẩn xác và hiệu quả của từng thành viên cán bộ chiến sỹ trong kíp trắc thủ. Các cán bộ chỉ huy Việt Nam thể hiện khả năng nắm bắt trang thiết bị rất tốt, có năng lực chỉ huy tác chiến cao, phối hợp ăn ý và hiệu quả với các cố vấn, chuyên gia quân sự Xô viết trong hoạt động khai thác vũ khí trang bị khí tài tác chiến. Nhanh chóng nắm bắt được các kinh nghiệm chỉ huy tác chiến hiện đại trong quá trình chiến đấu phức tạp và nguy hiểm. Các chuyên gia quân sự đã đóng một vai trò quan trọng trong vị trí huấn luyện tác chiến cho các trắc thủ, cán bộ kỹ thuật tên lửa của trung đoàn, góp một phần công sức vẻ vang cho chiến công của phòng không Việt nam.

Biên dịch Trịnh Thái Bằng.tech.edu
http://www.vko.ru
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nguồn:http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1379&Chitiet=1636&Style=1 (http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1379&Chitiet=1636&Style=1)



Tiêu đề: Re: Những thông tin tham khảo về tác chiến phòng không trong KCCM
Gửi bởi: longtt88 trong 22 Tháng Sáu, 2012, 12:11:51 PM
Công tác Phòng không Nhân dân TRONG SỰ NGHIỆP XD & BV TỔ QUỐC

http://www.youtube.com/watch?v=q3oG8Ts_BeI

http://www.youtube.com/watch?v=82YpSFKm2Mc

http://www.youtube.com/watch?v=Dmowma4e2WY