Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:12:58 AM



Tiêu đề: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:12:58 AM
Tên sách: Những viên tướng ngã ngựa

Tác giả: Nguyễn Phương Nam

Nhà xuất bản: Lao động
Năm xuất bản: 2004

Số hoá: ptlinh, nhinrathegioi



CÁC BẠN THÂN MẾN

Chúng ta đang hướng tới ngày kỷ niệm 60 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 50 năm kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và 50 năm giải phóng Thủ Đô.
Để các bạn có thêm chút tư liệu tìm hiểu sâu về những sự kiện lịch sử trọng đại này, tôi xin gửi tới các bạn đôi nét về những viên tướng của phía bên kia đã một thời dính líu vào cuộc chiến xâm lược nước ta với vai trò là Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh hoặc với trọng trách là Tư lệnh chiến trường mà tôi đã thu lượm được qua sách báo xuất bản trong và ngoài nước.
Họ hầu hết là những “con ông cháu cha” được đào tạo có bài bản, kinh qua các chiến trường chấu Âu, châu Á, châu Phi trong Chiến tranh thế giới thứ hai với phương thức tác chiến hiện đại. Họ đã từng được một lớp người nào đó suy tôn là anh hùng, là vĩ nhân, là sĩ quan chỉ huy giỏi nhất thậm chí tôn họ là “vua”, là “cứu tinh” của một dân tộc.
Nhưng một thực tế hiển nhiên: tất cả đều ngã ngựa trên đấu trường Việt Nam.
Sao vậy?
Tìm ra nguyên nhân đích thực, đánh giá đúng cái mạnh cái yếu về quan điểm, năng lực, sở trường, trình độ tổ chức chỉ huy của họ liên quan đến những vấn đề về bản chất và quy luật của cuộc chiến tranh, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, tương quan lực lượng của hai phía, những vấn đề về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật với những mâu thuẫn tất yếu nẩy sinh không thể giản đơn cảm tính. Phần này xin dành cho các bạn.
Tôi không phải là nhà nghiên cứu lịch sử, không phải là nhà quân sự mang tầm cỡ, cũng không phải là nhà văn, lại không thông thạo tiếng mẹ đẻ của nhân vật, chỉ có một may mắn duy nhất là đã sống cùng thời với họ, được chứng kiến những biến cố của một qúa trình lịch sử mà trong đó có họ thủ vai, nên sự phản ánh về nội dung và chuyển tải những thông tin chắc chắn có những hạn chế, thậm chí những sai sót. Nhà xuất bản đưa tập sách này đến tay các bạn ít nhiều có sự chiếu cố đối với một người cầm bút tay trái.
Rất mong được sự đồng cảm và những bổ khuyết của các bạn. Xin chân thành tỏ lòng biết ơn các bạn chiến đấu đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình cổ vũ tôi việt những trang này.


Nguyễn Phương Nam
Cán bộ lão thành cách mạng, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:13:38 AM
A. TERAUCHL COUNT SEIKI

- Một thời "nam chinh, bắc chiến", làm mưa làm gió ở Thái Bình Dương.
- Một đạo quân tinh nhuệ, sản phẩm của chủ nghĩa quân phiệt hạ súng, Tổng tư lệnh - Thống chế bá tước dâng gươm của tổ phụ đầu hàng. Tất cả "án binh bâí động" trước khí thế của quần chúng trong cách mạng Tháng Tám 1945.
- Chết cùng sự cáo chung của chế độ phát xít và thuyết Đại Đông Á.
Từ sau khi Minh Trị (Meiji) lên cầm quyền, nước Nhật đã bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Sản xuất thép và dầu lửa đứng thứ ba thế giới nhưng nguồn khoáng sản lại không đáng kể, trữ lượng dầu mỏ ít, năng lượng thiếu, gần như phải nhập toàn bộ từ nước ngoài.
Nhật rất cần thị trường để đầu tư, đầu hóa, vơ vét nguyên liệu, bóc lột nhân công. Năm 1904 - 1905, Nhật tiến hành cuộc chiến tranh đế quốc qui mô lớn, đầu tiên trên thế giới là với Nga Sa hoàng (được Anh, Mỹ ủng hộ) nhàm giành quyền bá chủ ở Đông Bắc Trung Quốc (Mãn Châu và Triều Tiên) phân chia khu vực ảnh hưởng ở Viễn Đông.
Không tuyên chiến, ngày 9-1904, Nhật tập trung ưu thế binh hỏa lực (sinh lực gấp 3 lần, tàu chiến gấp 1,8 lần, pháo binh gấp 8, súng máy gấp 18 lần) bất ngờ tấn công hạm đội Nga ở cảng Lữ Thuận và ngoài khơi cảng Nhân Xuyên. Nga bị thua nặng nhiều trận, thiệt nhại 27 vạn quân, vài chục tàu chiến, buộc phải ký hoà ước Pooc Mao (9/1905) thừa nhận Triều Tiên thuộc phạm vi ảnh hưởng của Nhật, để cho Nhật chiếm bán đảo Liêu Đông, Lữ Thuận, nam đảo Sa kha lin và nhánh nam đường sắt Đông Bắc Trung Quốc.
Để chuẩn bị Chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1937 Nhật xâm lược Trung Quốc, chiếm vùng Đông Bắc và một dải hẹp ven biển vào 1941.
Nhằm độc chiếm Đông Dương thuộc Pháp làm bàn đạp chia Đông Nam A và Thái Bình Dương, Nhật không ngừng gậy sức ép với Pháp về quân sự, chính trị, ngoại giao, buộc Pháp để Nhật thay chân ở Đông Dương. Sau khi ký hiệp ước Berlin (1940) cam kết liên minh quân sự chính trị với Đức - Ý để mở rộng Chiến tranh thế giới, mở rộng khu vực ảnh hưởng, tháng 6/1940 Nhật gửi tối hậu thư đòi Pháp đóng cửa biên giới Việt Trung, đặt các cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và cửa biển Hải Phòng dưới sự giám sát của phái viên Nhật.
Tiếp sau khi Pháp đầu hàng Đức 22/6/1940, Nhật tăng cường sức ép buộc Pháp ký hiệp ước 80/8/1940 thừa nhận đặc quyền của Nhật ở Đông Dương và thỏa thuận quân sự 22/9/1940 cho phép Nhật đóng quân, chuyển quân và sử dụng 3 sân bay quân sự ở Bắc Kỳ1 (Nội dung thỏa ước: Pháp nhường cho Nhật sử dụng ba sân bay: Gia Lâm, Lao Cay, Phủ Lạng Thương và cảng Hải Phòng. Nhật có quyền đồn trú 6000 quân Bắc sông Hồng, có thể đi qua Bắc Việt sang tham chiến ở Vân Nam nhưng không được quá 2.500 người và ở Quảng Đông có thể rút về nước qua Bắc Việt).


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:14:04 AM
Thoả ước ký chưa ráo mực, chiều 22 tháng 9, quân Nhật từ Quảng Tây vượt biên giới Việt Trung đánh chiếm Lạng Sơn (22 - 25/9), đổ bộ lên Đồ Sơn, ném bom đánh chiếm Hải Phòng (26/9) và lần lượt chiếm đóng Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh.
Trước thái độ khuất phục của chính phủ Petain, Nhật lấn thêm, đòi Pháp ký hiệp ước 23/7/1941 và hiệp ước 27/9/41 chấp nhận cho Nhật đóng quân trên toàn Đông Dương với số quân không hạn định và cam kết "tương trợ" nhau trong phòng thủ Đông Dương.
Chính quyền và quân đội Pháp tuy tồn tại ở Đông Dương nhưng thực chất đã trở thành công cụ phục vụ lợi ích của Nhật. Nhân dân Đông Dương chịu hai tầng áp bức. Một tên thực dân vơ vét bóc lột nhân dân Đông Dương đã cực khổ lầm than nay lại thêm một tên phát xít đang cần mọi thứ phục vụ cho cuộc chiến tranh được mở rộng khắp Đông Nam Á và Thái Bình Dương nên càng điêu đứng kiệt quệ. Đến năm 1945 đã có hai triệu dân chết đói. Thêm vào đó hàng ngàn dân vô tội còn bị chết, bị thương do bom của Mỹ ném xuống1 (Ngày 10/12/1943 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 128, bị thương 191. Ngày 22/12/1943 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 373, bị thương 541. Ngày 4/8/1944 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 65 người, bị thương 148 người).
Ngày 7/12/1941, Nhật tập kích vào căn cứ chính hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ở Trân châu cảng thuộc quần đảo Hawai, mở đầu chiến tranh Nhật - Mỹ trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Kế hoạch trận đánh do đô đốc Jamamoto hoạch định1 (Một tư lệnh lỗi lạc về chiến lược chiến thuật trên biển, nhìn xa phán đoán đúng, táo bạo linh hoạt, chết trong trận máy bay Mỹ tập kích ngày 18/4/1943 khi đi thị sát căn cứ Nhật trên đảo Salomon) và do phó đô đốc Nagumô Chuchi trực tiếp chỉ huy thực hiện.
Hải quân Mỹ đóng tại cảng có 93 hạm tàu gồm 8 thiết giáp, 8 tuần dương, 29 khu trục, 5 tàu ngầm, 9 tàu rải mìn, 10 tàu quét mìn, 394 máy bay, 42.959 quân. Cảng được bố phòng bằng các loại chướng ngại nước, có tổ chức cảnh giới chặt chẽ bằng hạm tàu ở phía Nam và có máy bay trinh sát thường xuyên trên vùng trời, vậy mà đoàn tàu sân bay của Nhật và các loại tàu chiến đi cùng, vượt chặng đường biển dài 6.300 km trong vòng 10 ngày vào đến khu chiến Mỹ vẫn không hay biết.
Sau hai đợt công kích, từ 7 giờ 35 đến 9 giờ 15 của quân đội Nhật Bản, tuy chống trả mạnh mẽ, Hải quân Mỹ đã mất toàn bộ tàu thiết giáp (4 đắm, 4 hư hỏng nặng), 6 tuần dương hạm và khu trục, 270 máy bay, 4.498 người thương vong. Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tê liệt cả năm sau chưa phục hồi nổi.
Thắng lợi trên tạo điều kiện cho Nhật giành quyền khống chế trên biển, mở rộng bành trướng trên Thái Bình Dương và Đông Nam Á.
Liên binh đoàn thực hiện những nhiệm vụ chiến dịch chiến lược của Nhật, đương đầu với quân Anh Mỹ trên chiến trường này là đạo quân Phương Nam gồm 4 tập đoàn quân do Thống chế Bá tước Terauchi làm tổng tư lệnh.
Terauchi (A. Terauchi Count Seiki) sinh năm 1879, con Bá tước Masataki thủ tướng Nhật Bản năm 1919, tốt nghiệp trường cao đẳng quân sự của Đức năm 1897, học viện hoàng gia Nhật năm 1900. Năm 1924 được phong hàm thiếu tướng. Năm 1932 chỉ huy quân Nhật ở Mãn Châu, Đài Loan, Triều Tiên. Năm 1937 chỉ huy tập đoàn quân đánh Hoa bắc Trung Quốc. Năm 1938 là uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao Nhật Bản.
Tổng hành dinh của Terauchi lúc đầu đặt tại Sài Gòn. Tháng 2/1942 dời sang Singapo, tháng 5 chuyển đến Malayxia để tiện chỉ huy các chiến dịch. Tháng 4/1944 lại trở về Sài Gòn vì ở đây, từ khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ đã trở thành một căn cứ đường biển giữa Đông Nam Á và Nhật Bản, đồng thời còn là một cơ sở hậu cần tiếp lương thực và các nguồn lợi khác rất thuận tiện, dồi dào cho quân đội Nhật Bản đang tác chiến hoặc chiếm đóng trong khu vực.
Ngày 6/11/1941 Bộ tổng tham mưu Nhật đã thành lập tại Sài Gòn quân khu Nam do Nanpogun chỉ huy, sau đó ngày 9/2/1942 tổ chức Quân khu Đông Dương dưới quyền tướng Kazumoto Machigin với quân số một sư đoàn và một lữ đoàn vừa làm nhiệm vụ chiếm đóng vừa làm nhiệm vụ hậu cần cho đạo quân Phương Nam của Thống chế Terauehi.
Từ tháng 12/1941 sau khi chiếm Hồng Công đạo quân Phương Nam của Terauchi đã liên tiếp mở những chiến dịch lớn đánh chiếm các thuộc địa của Anh, Hà Lan, Mỹ ở Thái Bình Dương: chiến dịch Malayxia 1940-1942, chiến dịch Java 14/2-15/3/1942, chiến dịch Philippine 1941 - 1942, chiến dịch Myanma 20/1 - 10/5/1942.
Malayxia là thuộc địa của Anh. Nhật đã sử dụng tập đoàn quân 25 gồm 70.000 quân, 25 tàu chiến, 16 tàu ngầm, 600 máy bay đánh bại 14.500 Quân Đồng minh, kiểm soát được Malayxia và căn cứ Hải quân Singapo làm chủ tuyến đường biển qua eo Malacca.
Trong chiến dịch Philippin, tập đoàn quân 14 của Nhật đã tiến hành một cuộc tập kích bất ngờ vào các sân bay và căn cứ hải quân Mỹ- Philippin, đổ bộ lên các đảo Lujon Miđanao, chiếm thủ đô Manille1 (Từ 1942 - 1945 Mỹ đã phải sử dụng lực lượng tàu ngầm để tiếp tế cho lực lượng chiến đấu trên quần đảo. Trong đó chuyến đầu tiên mạo hiểm là tàu Gớt Giôn). Quân Mỹ trên đảo Lujon có đến 79.500 nhưng chống cự không nổi phải đầu hàng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:14:28 AM
Trên đảo Java lúc này thuộc Hà Lan có đến 5 vạn quân của Mỹ, Anh, Hà Lan phòng thủ với 200 máy bay, 8 tuần dương hạm và 12 khu trục hạm. Sau khi chiếm xong Xumatra, Timor, Nhật tổ chức đổ bộ lên đảo Java bằng 2 cụm tàu ở cả phía đông và phía tây, ngày 5/3 chiếm Batavia, Giacacta. 12/3 chiếm được Java. Đến 15/3 chiếm hết các đảo thuộc Hà Lan kết thúc việt xâm chiếm toàn Đông Nam Á, củng cố thế đứng vững chắc ở Thái Bình Dương.
Myanma lúc đó là thuộc địa Anh, tập đoàn quân 15 của Nhật đã từ Thái Lan vu hồi và thọc sâu chiếm thủ đô Rangoun và tiến lên phía bắc kiểm soát toàn bộ Myanma và một phần đất đai Vân Nam, đánh tan 35.000 quân Anh và 50.000 quân Tưởng Giới Thạch, mở đường cho quân Nhật tiến vào Ấn Độ.
Thời điểm này Nhật triển khai ở Việt Nam khoảng 10 vạn quân1 (Theo Franchini trong "Những cuộc chiến tranh Đông Dương" tiếng Pháp - Nhà xuất bản Pygmalion; Paris; 1988 trang 230 thì quân số của Nhật khoảng 13 vạn. Theo Lê Kim trong Tạp chí Lịch sử quân sự số 4/2001 thì quân Nhật có 82.260 tên. - Theo Jean Maria de Baucorps trong cuốn Soldat de Jade do Kergour xuất bản thì quân đội Nhật ở Đông Dương gồm:
Sắc lính   Người Nhật   Người nước ngoài   Tổng
Bộ binh   30.086   26.354   64.170
Thuỷ quân   3.200   1.900   5.100
Không quân   1.000   2.000   3.000
Bản xứ   -   -   8.000
Tổng cộng   34.286   30.254   80.270
Trong các đơn vị quân Nhật có 42% là quân tình nguyện người nước ngoài: 40% người Cao Ly, 40% người đại lục Trung Quốc, 20% người Đài Loan.). Lực lượng bảo an như binh đoàn cơ động Chí Hoà (Brigade mobile Chí hòa), binh đoàn trợ chiến Sở sen đầm Chợ Lớn (Brigade auxiliaire de la Gendarmene Chợ Lớn) ra đời khi Nhật lập ngụy quyền thân Nhật.
Nòng cốt là quân đoàn 38 do thiếu tướng kiêm toàn quyền Đông Dương Tsuchihasshi chỉ huy. Đây là lực lượng tinh nhuệ của đạo quân Phương nam với quân số khoảng 2 sư đoàn, một lữ đoàn hỗn hợp: sư đoàn 21 ở phía Bắc, lữ đoàn 34 ở miền Trung, sư đoàn 2 ở phía Nam. (quân số của quân đoàn luôn biến động. Ngày 9/3 quân đoàn có 3 sư đoàn, 2 lữ đoàn hỗn hợp, sư đoàn 55 được tăng cường từ Myanma sang nhưng sau chiến tranh mới tới Đông Dương).
Lúc đầu sở chỉ huy quân đoàn đóng tại Sài Gòn nhưng trước sự uy hiếp của Quân Đồng minh, nhằm tăng cường phòng thủ Đông Dương chống một cuộc đổ bộ của Anh-Mỹ đồng thời đề phòng quân của Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc, sở chỉ huy quân đoàn lược chuyển ra Hà Nội.
Tháng 6/1944 nước Pháp được giải phóng, chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp do De Gaulle đứng đầu được thành lập vào tháng 9/1944. Chưa ổn định tình hình, Pháp đã điều hai trung đoàn sang tăng cường cho Đông Dương để giữ lấy thuộc địa. Đến lúc Nhật phải hất cẳng Pháp.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:15:30 AM
Chiến dịch Meigo được thực hiện vào ngày 9/3/1945. Có nơi Nhật tổ chức một bữa tiệc mời tất cả các quan chức quân sự, dân sự Pháp đến dự. Khi các “ông Tây", "bà Đầm" lễ phục chỉnh tề, son phấn loè loẹt tề tựu đông đủ, Nhật đứng lên tuyên bố "tất cả các ông, các bà đều đã trở thành tù binh”. Có nơi Nhật đưa xe bánh xích chạy lòng vòng quanh đồn binh của Pháp, quan lính trong đồn tưởng đại quân Nhật kéo tới vội vàng tháo chạy.
Cuộc đọ súng diễn ra ở Hà Nội, Lạng Sơn, Móng Cái. Ở Đồng Đăng cuộc chiến bắt đầu từ đêm, cho đến chiều Nhật chưa vào được đồn, bị thiệt hại nặng, khi Solie chỉ huy trưởng của đồn bị giết, Nhật mới chiếm được đồn.
Ở đạo quan binh 2, cho đến ngày 11/3 đại uý Anosse vẫn chỉ huy quân chống cự. Nhật phải tăng quân mới bắt được đồn trưởng buộc vào xe kéo lê trên đường.
Trên chín vạn quân Pháp ở Đông Dương1

(Cũng theo Jean Marie de Baucorps, quân Pháp ở Đông Dương ngày 1/3/1945 gồm:

Sắc lính   Người Âu   Người bản xứ   Cộng
Bộ binh   12.060   48.350   60.410
Lính khố xanh   600   23.900   24.200
Thuỷ quân   160   1.900   3.500
Không quân   500   2.000   2.500
Tổng cộng   13.320   76.150   90.610
         
) hoàn toàn mất sức đề kháng. Ngay từ phút đầu, Decoux2 (Đô đốc, đứng đầu hải quân Pháp ở Viễn Đông. Khi Catroux bị triệu hồi về Pháp, ông ta được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Dương ngày 2(]/7/1 940), toàn quyền Đông Dương bị giam chặt trong dinh tại Sài Gòn. Tướng Mordant Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương 20 giờ ngày 9/3 thấy tiếng súng, trong bộ đồ thường phục, trèo tường chạy sang nấp ở nhà bác sĩ Botreau Roussel nhưng đã bị bắt vào chiều 10/3/1945.
Tướng Delsue, tư lệnh quân Pháp ở phía Nam và Campuchia cũng chung số phận với Mordant3 (Ngày 1/10/45 Decoux, Delsue M.De Boisannger và chánh mật thám M.Armoux được rời Lộc Ninh về nước).
Alessandri tư lệnh bắc Đông Dương chỉ kịp tập hợp quân ở Tông, chạy ngược sông Hồng lên sông Đà qua Sơn La lên Điện Biên vào ngày 24/3/1945 và đến Phong Xa Lỳ ngày 31/3.
Tướng Sabachier, Tư lệnh Bắc Kỳ thu được một số đơn vị về Phủ Đoan, theo đường Yên Bái vào Nghĩa Lộ, Tú Lệ đến được Lai châu ngày 23/3/1945.
Lực lượng hai cánh tàn quân khoảng trên 5.000, nhờ sự can thiệp của Paris, tháng 5 họ được vào đất Trung Quốc và khoảng tháng 7 thì được đồn trú nhờ ở Mông Tự (Vân Nam) và các thị trấn dọc đường sắt Côn Minh - Lào Cai. Ngoài ra có một tiểu đoàn chạy thoát từ Móng Cái sang Thập vạn đại sơn của Tàu.
Lực lượng hải quân khoảng 6 đại đội, 920 binh sĩ do Commentry chỉ huy từ Hạ Long chạy trốn sang Calcuta. Lực lượng này sau do Lieutenant de Vaisseau Flichy và tiểu đoàn trưởng Carbonel cầm đầu trở về đổ bộ lên hải đảo Đông Bắc trước ngày có hiệp định sơ bộ 6/3/1946.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:16:54 AM
Lúc đầu Nhật có ý định duy trì bộ máy thống trị Pháp, biến nó thành tay sai thuần tuý song cũng có người Pháp không chịu, vả lại làm như vậy thì thuyết "Đại Đông Á" sẽ thành mớ rẻ rách trước nhân dân Đông Dương. Nhật phải dùng đến bọn tay sai người Việt, dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 11/3/1945. Ngày 11/6/1945, Toàn quyền Nhật tuyên bố với Bảo Đại: "Nhật không có tham vọng đất đai Việt Nam, sẽ trao trả Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Nam Bộ".
Bộ máy tuyên truyền của Nhật không ngớt hô hào "cùng máu dỏ, da vàng", bọn Trần Trọng Kim thì ra rả "phải biết ơn người Nhật đã giải phóng cho dân tộc Việt Nam" nhưng dưới cái ách của phát xít, với những vụ khủng bố điển hình, chém xả đôi người giữa chợ, và những cuộc vây ráp bắt bớ của bọn hiến binh (Kempei) dân ta càng ngột ngạt. Phong trào cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương bột phát như sóng triều, chờ thời cơ bùng nổ. Các chiến khu Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Ngọc Trạo, Hà Ninh Thanh hình thành với những đội du kích chống Nhật được tổ chức, tạo chỗ đứng cho phong trào cách mạng.
Từ giữa năm 1944, ở Thái Bình Dương, Anh-Mỹ đã bắt đầu phản công chiến lược, giải phóng dần các đảo từ phía đông, đến hết 1944 giải phóng Nouvelle Guineé và các đảo của Phihppin, sau đó lần lượt giải phóng Myanma, Philippin (1945)1 (Cụm các tập đoàn quân 14 của Nhật phòng thủ vùng này có 45 vạn quân, 980 máy bay, 86 tàu chiến các loại. Mỹ sử dụng tập đoàn quân 6 (24 vạn quân) và 2 hạm đội 3 + 7 với 245 tàu chiến các loại trong đó có 35 tàu sân bay + 29 tàu ngầm, khoảng 2500 máy bay của lực lượng không quân Viễn đông, mở chiến dịch tiến công Nhật từ 20/11/1944 nhưng đến ngoại vi Manilla thì bị chặn lại. Các hoạt động chiến đấu ở Philippin về cơ bản chấm dứt vào tháng 7/1945) chiếm đảo Josima (3/1945) và Okinaoa (6/1945) của Nhật.
Theo hiệp định Crưm 4-11/2/194, ngày 8/8 Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Có sự phối hợp của quân đội Mông Cổ, quân đội cách mạng Triều Tiên và Trung Quốc, Liên Xô đã mở 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Mãn Châu 9/8 đến 2/9/1945 nhằm giải phóng Đông Bắc Trung Quốc và Triều Tiên, chiến dịch Nam Xakhalin giải phóng vùng Nhật chiếm đóng của Nga từ 1905, chiến dịch Crưm từ 18/8 đến 1/9/1945.
Chiếm đóng Mãn Châu là đạo quân Quan Đông- liên binh đoàn chiến lược tinh nhuệ và thiện chiến nhất của Nhật (được thành lập từ năm 1919 ở Liêu Đông) gồm 3 phương diện quân 1 + 3 + 17, một tập đoàn quân độc lập, hai tập đoàn quân không quân 2 và 5, quân số trên 1 triệu cùng 1.000 xe tăng, 5000 pháo và 1800 máy bay do đại tướng Otodo Jamada chỉ huy.
Đập tan đạo quân Quan Đông sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự tiêu vong của chủ nghĩa phát xít Nhật Bản. Liên xô đã tập trung 1 triệu 50 vạn quân của 3 phương diện quân: Viễn Đông 1 + Viễn Đông 2 + Dabaican, hạm đội Thái Bình Dương, giang đội Amour cùng quân Mông Cổ với 2.600 pháo, 5.300 xe tăng và pháo tự hành, 5000 máy bay và 93 tàu chiến đặt dưới quyền nguyên soái Vaxilepki, mở cuộc tiến công trong 3 tuần tiêu diệt 100.000 quân Nhật, bắt sống 600.000 trong đó có 148 viên tướng khiến ý chí xâm lược của những tên trùm phát xít suy sụp.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:17:32 AM
Từ tháng 3/1945 Mỹ thực hiện kế hoạch Curtiso Demay huy động 334 máy bay B29 ném bom cháy xuống Tokyo và sau đó oanh tạc 66 thành phố khác của Nhật gây thảm họa khủng khiếp đối với dân thường. Đến lúc này Mỹ thực hiện phương án mật "tàu tuần dương Agusta" bồi thêm 2 quả bom nguyên tử xuống đất Nhật. Ngày 6/8/1945 Hirôsima, một cảng ở tây nam Honsu bị ném một quả bom nguyên tử chứa chất nổ uraniom đương lượng 20KT nặng 6 tấn, lấy tên Thằng nhóc (The Little bay), khiến phần lớn thành phố bị phá huỷ, chết và bị thương 140.000 người. Tiếp đấy ngày 9/8 Nagasaki, thành phố cảng trên đảo Kiusu, trung tâm công nghiệp cũng bị Mỹ ném một trái bom nguyên tử 20KT chứa chất nổ plutonium có tên Lão béo (The Fat man) khiến 1/3 thành phố bị phá huỷ, chết và bị thương 75.000 người.
Trước những thất bại, Nhật hoàng có ý định đầu hàng. Với tư cách là uỷ viên hội đồng chiến tranh, Terauchi đã kiến nghị với vua Nhật tiếp tục chiến đấu đến cùng. Nhưng bằng những cái chết tự nguyện có sự điều hành chặt chẽ, theo kiểu Kamikađê (Thần phong) hình ảnh chủ nghĩa anh hùng kiểu Nhật cũng không cứu vãn nổi, 6 giờ 30 ngày 15/8/1945 (theo thời gian của nước Nhật)1 (Báo Asahi bản tin hãng đô mây) Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Văn bản đầu hàng của Nhật được ký vào 2/9/1945.
Thống chế bá tước Terauchi đã cay đắng ra lệnh cho tất cả quân nhân Nhật ở châu Á, Nam Á ngừng chiến đấu vào ngày 8/8/1945.
Không biết số phận ngày mai, sĩ quan, binh lính Nhật hoang mang giao động cực độ. Họ ở lỳ trong doanh trại uống rượu giải phiền. Có những người tìm đến cái chết theo kiểu "võ sĩ đạo".
Ngày 12/9/1945 Moutbatten, đô đốc hải quân Anh, nhân danh nhà vua Anh, tổ chức một buổi lễ tiếp nhận đầu hàng của quân Nhật ở Đông Dương có cả Cedile đại diện cho Pháp tới dự. Terauchi đã trao cho Moutbatten 2 thanh gươm trong đó có một thanh đúc từ năm 1280 là thanh kiếm thờ tổ tiên của Terauchi.
Chớp thời cơ "ngàn năm có một", Đảng Cộng sản Đông Dương đã phát động toàn dân vùng dậy cướp lấy chính quyền, xoá ách đô hộ của thực dân, đế quốc và tay sai. Trước một lực lượng vũ trang thù địch đông đảo hàng chục vạn, tuy mất ý chí xâm lược nhưng còn tổ chức chỉ huy từ trên xuống, còn thói quen chấp hành kỷ luật phát xít, trang bị đến tận răng, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân đã được kết hợp chặt chẽ hai hình thức bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang đồng thời khéo léo vận dụng sách lược ra sức khoét sâu yếu tố tinh thần đã rêu rã của địch, thuyết phục họ không can thiệp để tránh những cuộc xung đột vũ trang đổ máu, giảm bớt những mất mát hy sinh.
Từ trung tuần tháng 8/1945, liên tiếp những cuộc mít tinh, biểu tình của quần chúng diễn ra trên quảng trường và đường phố hà Nội trước mũi súng của binh lính Nhật và ngay khi quần chúng cách mạng xông vào chiếm Phủ khâm sai, Tòa thị chính, cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn sát cạnh Tổng hành dinh quân đội Nhật (tại 33 Phạm Ngũ Lão) họ đều "án binh bất động". Đến lúc ta vào chiếm trại lính bảo an, thu phục người chỉ huy mở kho súng phân phát cho lực lượng tự vệ, Nhật mới cho một đơn vị có xe tăng rầm rập kéo ra bao vây và kiểm soát các phố bao quanh trại. Có thể đưa đến đàn áp, xung đột vũ trang.
Đại diện ủy ban khởi nghĩa đã lấy ô tô ở Phủ khâm sai, cắm cờ đỏ sao vàng tiến thẳng đến khu vực Nhật kiểm soát, gặp người chỉ huy quân đội Nhật trước cửa rạp Majestic1 (Rạp tháng Tám bây giờ), thuyết phục họ không nên can thiệp vì trại bảo an binh thuộc quyền Phủ khâm sai. Trước khí thế áp đảo của quần chúng xung quanh với sự thuyết phục mềm mỏng, viên sĩ quan không hung hăng sừng sộ như trước, chấp nhận rút quân về doanh trại và gợi ý ta nên đến gặp cấp trên của họ.
Sáng ngày 20/8, hai đồng chí Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long bất chấp những bất trắc, mạo hiểm vào tổng hành dinh quân đội Nhật, trực tiếp gặp Tsuchihashi, tư lệnh quân đoàn 38, kiêm chức toàn quyền của Nhật, tỏ thái độ "xúc động được tin Thiên hoàng ban lệnh đình chiến", rằng "người Nhật và người Việt đều là người châu A không thù hằn nhau. Trong lúc này chúng tôi có trách nhiệm phải ra sức giúp đỡ cho người Nhật bằng mọi cách để các vị yên ổn, mong các vị cũng giúp đỡ chúng tôi để làm tốt công việc của mình". Ông ta đã nghiêm nghị, chậm rãi và rành rọt đáp lại "bây giờ công việc của người Việt thì các ông phải tự bàn lấy để giải quyết chỉ yêu cầu các ông đừng tổ chức mít tinh, biểu tình nữa. Nếu mất trật tự, rối rắm tình hình thì quân đội Nhật bắt buộc sẽ can thiệp". Ông ta đã chỉ định sĩ quan dưới quyền từ nay sẽ liên lạc với Việt Minh tại dinh khâm sai, mặc nhiên công nhận Việt Minh là nhà chức trách đương quyền. Tsukamoto, phụ tá tướng Tsuchihashi đã lập tức điện về Tokyo về cuộc gặp các nhà chức trách chính thức của Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:18:03 AM
Ở Sài Gòn, chiều ngày 16/8, các đồng chí Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tấn Nhơn theo chỉ thị của xứ ủy Nam kỳ đã đến tổng hành dinh quân đội Nhật ở Đông Nam Á hội kiến với Thống chế Terauchi, nhân danh lãnh tụ thanh niên tiền phong "phân ưu” với ông ta, thăm dò và yêu cầu quân Nhật không can thiệp vào nội tình Việt Nam khi nhân dân Việt Nam ngăn chặn không cho Pháp trở lại Đông Dương.
Cuộc hội kiến có kết quả tương đối như dự kiến. Từ ngày 17/8 Sài Gòn sôi sục, Việt Minh ra công khai. Chiều ngày 24/8, nông dân vũ trang ở các tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, cả Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh kéo về cùng nhân dân Sài Gòn chiếm xong các công sở trước 10 giờ đêm. Ngày 25/8 hàng triệu người đã họp rít tinh, chào mừng Lâm ủy hành chính Nam bộ ra mắt, biểu thị tinh thần đại đoàn kết, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, tụ do của tổ quốc trước nguy cơ trở lại của thực dân.
Người Nhật đã tỏ thái độ không can thiệp. Những tổ chức thân Nhật tan rã như "nước đá để ngoài nắng". Bọn chỉ huy cấp cao thì kẻ chạy vạy thu thập thêm súng đạn kéo ra ngoài thành phố tìm nơi "hùng cứ", kẻ bắt liên lạc với Việt Minh xin gia nhập mặt trận.
Ở Thái Nguyên, khi Quân giải phóng từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã, lính Nhật đã chống cự lại. Có lẽ họ ở xa Tổng hành dinh, không am hiểu tình thế. Ngày 18/8, Tsuchihashi, tư lệnh quân đoàn 38 mới ra lệnh cho quân sĩ dưới quyền thực hiện ngừng bắn từ 8 giờ ngày 21/8/19451 (Lực lượng từ Tân Trào kéo về Thái Nguyên có sự phối hợp giữa Quân giai phóng và một số người Mỹ thuộc đội công tác Con Nai do thiếu úy Elixon K.Toát (E.Thomas) làm đội trưởng hoạt động ở Việt Bắc từ tháng 7 đến tháng 9/1945 gọi là bộ đội Việt-Mỹ).
Chấp hành mệnh lệnh số 1 của quân Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương đã sẵn sàng cho việc giải giáp. Ngày 2/9/1945 một đoàn đại biểu quân Nhật đã đến Vân Nam nhận chỉ thị của tướng Lư Hán: "phải giữ an ninh ở phía bắc cho đến khi quân đội Trung Quốc vào, thả ngay tù binh Đồng minh, chuyển giao quyền lực cho Trung Quốc". Lư Hán sợ quân đoàn 38 của Nhật sẽ liên hệ chặt chẽ với Pháp để Pháp vào Đông Dương, gạt quân đội Trung Quốc khỏi miền Bắc trong lúc họ muốn làm chủ Đông Dương.
Ngày 14/9 Lư Hán đến Hà Nội. Ngày 20/10, 15 sư đoàn binh lính Trung Quốc đã thay thế quân Nhật trên toàn lãnh thổ phía Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra.
Sỹ quan và binh lính Nhật bị tước khí giới và tập trung ở các trại gần Hải Phòng, Đà Nẵng trừ khoảng 3.000 người trong các đội vận tải đường sắt, công binh được tiếp tục hoạt động dưới sự kiểm soát của quân Lư Hán.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:19:21 AM
Tháng 3/1946 khoảng 30.000 lính Nhật đã giải giáp được đưa về nước bằng 10 tàu biển. 189 người bị giữ lại tại Hải Phòng vì bị nghi là tội phạm chiến tranh.
Một chuyện như là hài hước: Tại sân vận động Vinh một tiểu đoàn quân Tàu tập hợp để tiếp nhận sự đầu hàng của một tiểu đoàn quân Nhật. Khi viên tiểu đoàn trưởng Nhật hô quân lắp lê chỉnh đốn hàng ngũ thì cả tiểu đoàn quân Tưởng ù té chạy. Hai ngày sau mới tổ chức lại buổi lễ.
Quân đội Nhật ở phía Bắc có 348 đào binh từ chối không trở về Nhật.
Ở phía Nam, tướng Gracey của Anh đã dung túng bọn Pháp gây hấn, chiếm các công sở của Việt Nam trong ngày 24/9 thúc bách quân đội Nhật tham gia tác chiến với quân Anh, Pháp. Họ đã gây cho ta những tổn thất ở Cần Thơ, Châu Đốc, Đà Lạt. Về phía họ cũng chịu những thương vong. Theo số liệu chưa đầy đủ từ 15/8/1945 đến 4/1946 có 109 quân nhân bị chết, 132 bị thương, 72 bị mất tích trong các trận đánh. Riêng cuộc rút lui từ Phan Rang lên Đà Lạt sau 12 ngày bị bao vây, 33 binh sĩ và cả ban chỉ huy đại đội bị chết trong tổng số 148 quân nhân. Số đào binh từ chối nhiệm vụ chiến đấu lên tới 478 người.
Số quân giải ngũ ở phía Nam kể cả những binh lính từ Thái Lan, Myanma về là 70.000. Phần lớn họ trở về Nhật vào tháng 4/1946 chỉ còn lại ở Đông Dương 600 người tình nghi là tội phạm chiến tranh và 728 đào binh.
Những người Nhật dân sự có chừng 1.400 ở phía Bắc được tập trung ở Quảng Yên và về nước cùng các quân nhân vào tháng 4/1946. Ở phía Nam có 5.500, bộ tư lệnh Anh tập trung họ trong nhà lao Chí Hoà và trả về Nhật vào tháng 5/1946.
Số người Nhật ở lại Việt Nam bởi nhiều lý do, phần thì bị ngược đãi, phần lo số phận bấp bênh khi về Nhật đang trên đống tro tàn, thất nghiệp đầy đường, phần thì sợ bị coi như tội phạm chiến tranh, hoặc vì cha mẹ đã chết không nơi nương tựa. Cũng có người có cảm tình với nhân dân Việt Nam, muốn tham gia vào những hoạt động cách mạng với người Việt Nam “Chống người da trắng".
Những người Nhật tự nguyện và được thu nhận vào hàng ngũ quân đội quốc gia Việt Nam đã giúp cho nhiều đơn vị nhanh chóng nắm được kỹ năng chiến thuật, kỹ thuật trong lúc đội ngũ cán bộ còn rất thiếu. Một số đã trực tiếp tham gia chiến đấu, trở thành cán bộ chỉ huy và đã lập nên những thành tích đáng ghi như Keochiro Iwai. Anh sang hàng ngũ ta khi phải giao nộp vũ khí cho quân Tưởng, lấy tên là Sáu. Anh em vẫn quen gọi là Sáu Nhật, trở thành đại đội trưởng trinh sát của Trung đoàn 174.
Ngày 14/12/1950, Trung đoàn đánh đồn Bình Liêu. Suốt một ngày đêm công kích chưa hạ được đồn. Đạn đại bác chỉ còn hai viên trong đó có một viên bẹp vỏ. Sáu Nhật đã cùng trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt xuống sát trận địa xem xét tình hình. Anh nảy ra sáng kiến: "tháo rời khẩu sơn pháo đưa vào trại con gái cách đồn 30m, khoét lỗ hổng qua tường vừa lọt nòng pháo nhắm vào lỗ châu mai lô cốt chính mà bắn". Sáng kiến được áp dụng, phát đại bác cuối cùng của trung đoàn đã phá vỡ lô cốt, diệt toàn bộ bọn ngoan cố chống cự khiến đơn vị xung kích mở được đột phá khẩu, chiếm lĩnh toàn bộ đồn Bình Liêu.
Anh đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất và Huân chương chiến thắng hạng hai.
Sau khi hoà bình lập lại, về nước cùng với những đồng hương, anh trở thành chủ tịch hội Nhật-Việt hữu nghị và thường xuyên trở lại Việt Nam, tìm mọi cách giúp đỡ trong khả năng có thể đối với tổ quốc thứ hai của mình.
Đạo quân Phương Nam của Terauchi, trải qua "Nam chinh, Bắc chiến" đã bị xóa sổ. Tư lệnh của nó, Thống chế Bá tước Terauchi chết vào năm 1946 cùng với nó.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:20:00 AM
PHILIPPE DE HAUTECLOQUE LE CLERC


- Người mở đầu cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam
- Tiên liệu: "không thể sử dụng vũ lực khuất phục một dân tộc có ý thức mạnh mẽ về bản sắc văn hóa"
- Từ chối chức Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh để điều hòa mâu thuẫn giữa xu thế thời đại, thực tiễn cuộc sống với chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn và chức trách cầm quân
Tháng 10 năm 1990 ở Pháp người ta đã tổ chức một cuộc hội thảo với đề tài tướng Le Clerc và Đông Dương. Những nhà sử học nổi tiếng như De Villers, Brocheux, các nhà hoạt động chính trị thời Le Clerc gồm các nguyên thủ tướng, các bộ trưởng, các giới báo chí đã tới dự.
Người Pháp xếp Thống chế Philippe de Hautecloque Le Clerc của họ là một trong những nhà chỉ huy quân sự giỏi nhất nước Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ II.
Le Clerc sinh năm 1902 trong một gia đình quí tộc, tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr khoá 109 (1922-1924), gọi là khoá Metz et Strabourg. Năm 1936 chính phủ bình dân lên cầm quyền chấp nhận kiến nghị của De Gaulle phải xây dựng một đội quân nhà nghề và những binh đoàn thiết giáp để đảm bảo vị trí cường quốc của Pháp. Le Clerc được giao chỉ huy một trong hai sư đoàn thiết giáp mới hình thành và từ đó cuộc đời binh nghiệp của ông ta gắn với binh chủng này trong chiến tranh giải phóng và cả trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Rất tâm đắc quan điểm của De Gaulle trong tập sách được xuất bản năm 1924 "Có chiến tranh mới phân biệt được tướng tài giỏi, tướng yếu kém" nên khi phát xít Đức tấn công Ba Lan-đồng minh của Pháp, Anh-Pháp tuyên chiến với Đức (ngày 3/9/1939), Le Clerc coi đây là dịp tự khẳng định mình.
Nhưng từ 10/5 đến 24/6/1940, Đức huy động 136 sư đoàn (3,3 triệu quân, 2580 xe tăng, 7.378 pháo, 3.824 máy bay) mở chiến cục tiến công liên quân Anh-Pháp-Bỉ ở Tây Âu với lực lượng 147 sư đoàn (3 triệu 78 vạn 5 ngàn quân, 3.099 xe tăng, 14.544 pháo và 3.791 máy bay) nhằm thôn tính các nước Bắc và Tây Âu, loại Pháp khỏi chiến tranh, buộc Anh ký hoà ước có lợi cho Đức, trên hướng đột kích chủ yếu, Đức tập trung ưu thế áp đảo về binh lực 45/16 sư đoàn, đột phá Sephan qua Bắc Pháp tiến tới biển Manche, bao vây Doongkéc (ngày 20/5) một bộ phận quân Anh và Pháp phải vứt lại khí tài, theo đường biển về Anh.
Pháp còn lại 71 sư đoàn cùng hai binh đoàn Anh rút về phòng thủ tuyến sông Somme và sông Elbe. Ngày 5/6 Đức sử dụng 10 sư đoàn xe tăng, 6 sư đoàn cơ giới mở chiến dịch tiến công chọc thủng phòng tuyến, tiến sâu vào nội địa. Trong chiến cục Pháp bị chết, bị bắt 1.631.000 quân, Le Clerc và binh đoàn thiết giáp của ông ta không lập được chiến công nào đáng kể.
Ngày 10/6/1940, chính phủ Pháp rời Paris về Tour, ra lệnh bỏ ngỏ Paris (14/6). Ngày 17/6 Petain đứng ra thành lập chính phủ ký hiệp ước đầu hàng Đức tại Compieng ngày 22/6. Theo hiệp ước, Đức chiếm đóng trung tâm và Bắc Pháp, chính phủ Petain thân Đức được kiểm soát miền Nam nước Pháp, đặt trụ sở ở Vichy và chịu mọi phí tổn chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:20:41 AM
Không chịu khuất phục, De Gaulle, thiếu tướng, thứ trưởng quốc phòng trong chính phủ Reynaud từ Luân Đôn, ngày 18/6/40 ra lời kêu gọi nhân dân Pháp tiến hành cuộc kháng chiến chống phát xít Đức. Le Clerc theo De Gaulle đổi tên là Jean Hau te Cloque để tránh sự theo dõi, gây khó khăn của phát xít Đức và tay sai đối với gia đình đang Ơ lại nước Pháp.
Phong trào kháng chiến của nhân dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp cùng các tổ chức yêu nước Pháp hình thành do De Gaulle đứng đầu lấy tên là Nước Pháp tự do sau đổi là Uỷ ban kháng chiến Pháp phát triển ngày càng sâu rộng. Le Clerc được giao nắm một đội quân ở Tchad, nổi tiếng trong những trận ở Camerun và đặc biệt trong chiến dịch Bắc Phi (10/11/1942) cùng Quân Đồng minh đánh đuổi quân Đức và quân của chính quyền Vichy ở Maroc, Algerie, Tunisie (thuộc địa của Pháp) làm bàn đạp đổ bộ vào ý và phối hợp với tập đoàn quân Anh đang hoạt động ở Ai Cập-Li bi diệt quân Đức-Ý tại đại lục châu Phi chiếm toàn Bắc Phi, thông đường vận chuyển từ Đại Tây Dương sang Ấn Độ Dương qua kênh đào Suez.
Ngày 30/5/1943, De Gaulle sang Alger chuẩn bị thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng. Từ 28/11 đến 2/12/1943, nguyên thủ các nước Liên Xô, Mỹ, Anh họp ở Teheran tuyên bố hành động chung chống phát xít và sự hợp tác sau chiến tranh đã quyết đinh mở mặt trận thứ hai. Ngày 6/6/1944 liên quân Anh-Mỹ tiến hành chiến dịch đổ bộ đường biển mang mật danh Overlook vượt qua biển Manche vào Normandi nhằm chiếm bàn đạp chiến lược trên bờ biển Tây Bắc Pháp để phát triển tấn công đến biên giới Tây Đức. Le Clerc đã chỉ huy sư đoàn thiết giáp số 2 tham gia cuộc đổ bộ cùng 39 sư đoàn đồng minh (tập đoàn quân 1 + 3 của Mỹ; Tập đoàn quân 2 của Anh; tập đoàn quân 3 của Canađa). Với 38 sư đoàn, 361 hạm tàu, Đức không ngăn nổi thất bại.
Ngày 3/6/1944 Đệ tứ Cộng hòa ra đời, De Gaulle trở thành Tổng thống. Ngày 25/8/1944 Paris được giải phóng, sư đoàn thiết giáp số 2 clo Le Clerc dẫn đầu đã tiến vào Paris trong không khí đón chào nồng nhiệt của nhân dân.
Le Clerc được phong quân hàm đại tướng, thay mặt quân đội Pháp tiếp nhận đầu hàng của phát xít Nhật.
Tin rằng việc thiết lập lại các thuộc địa ở châu Á mới có thể đảm bảo sự tồn tại của nước Pháp như là một cường quốc, vừa lên cầm quyền, De Gaulle đã bộc lộ dã tâm tái chiếm Việt Nam mà trước đây Decoux toàn quyền Đông Dương đã quì gối dâng cho phát xít Nhật. Dựa vào những nguyên tắc được xác định và những thỏa thuận ngoài lề của các hội nghị những người đứng đầu các nước lớn chiến thắng phát xít gồm Mỹ, Anh, Liên Xô tại Teheran từ 28/11 đến 1/12/1943 và tại Crưm từ 4/11 đến 2/19451 (Tại hội nghị Teheran các nước lớn đều không lán thành để Pháp tiếp tục đô hộ Việt Nam. HỌ đều biết sau gần LO(J năm thống trị của Pháp, đời sống củ~l nhân dân Đông Dương rất tồi tệ. Tưởng và Roosevelt sẽ bàn riêng vấn đề độc lập của Đông Dương sau chiến tranh. Cuối cùng họ thống nhất là để Đông Dương dưới chế độ ủy trị từ 20 đến 30 nam. Stalin đồng ý quan điểm này (Bcrnard Fall trong cuốn Chiến tranh Đông dương dẫn nguồn tư liệu Foreingn Relation of the United States, The Conferennes er Cairo and Teheran 1943 Washington 1961)), ngày 24/3/1945 De Gaulle đã đọc một bài diễn văn ở Brazaville về "Qui chế mới cho các thuộc địa Pháp", hứa cho các quốc gia Đông Dương "hưởng quyền tự trị trong khối Liên hiệp Pháp".
Trước lúc tung ra "cái bả De Gaulle", ông ta đã tập trung chú ý vào việc chuẩn bị và tổ chức đội quân viễn chinh để tiến hành tái chiếm Việt Nam bằng vũ lực. Ở Đông Dương đội quân thuộc địa được hình thành từ năm 18t57. Trong cuộc đảo chính Nhật-Pháp năm 1945 quân số khoảng 38.000 không kể lính khố xanh, được tổ chức thành 12 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo dã chiến và pháo bờ biển, 60 máy bay cổ lỗ sĩ, 30 xe tăng sản xuất từ năm 1918. Sợ Nhật hất cẳng, chính quốc phái thêm sang Đông Dương một đạo quân khoảng 2 sư đoàn, thành phần chính gồm một phân đội của sư đoàn thiết giáp số 2 và lữ đoàn Viễn Đông. Tất cả đều tan rã sau ngày Nhật- Pháp bắn nhau. Một số tàn quân khoảng trên 5.000 chạy sang nương bóng Tàu Tưởng, một bộ phận chạy sang tận Calcuta của Ấn Độ, một phần trút áo nhà binh như những kiều dân bị nhốt trong các nhà giam của Nhật.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:21:08 AM
Blaizot Rogert nguyên là thiếu tá tham mưu trưởng quân đội thuộc địa Pháp ở Bắc Đông Dương được giao thành lập Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO - Force expedionnaires Francaise d' Etrême Orient)2 (De Gaulle định thành lập hai sư đoàn 1 và 2 D.I.C.E.O (Division infanterie colonial Extrême Orient) gồm các trung đoàn người Phi, xin Mỹ trang bị vũ khí và phương tiện vận chuyển nhưng tổng thống Roosevelt không tán thành, Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ từ chối đề nghị nên De Gaulle đã lại dựa vào Anh) trước mắt đặt dưới quyền Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Anh (SEAC) hoạt động cùng quân Anh trên chiến trường châu Á. Tháng 4/1944 Blaizot dẫn đầu phái đoàn quân sự Pháp tới Candy (Xrilanca) đặt trụ sở bên cạnh Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Moutbatten (Anh).
Trước những sự thất bại của phát xít Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương mà lực lượng cơ động viễn chinh Pháp lại chưa sẵn sàng, ủy ban quốc phòng Pháp quyết định thành lập Quân đoàn viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CEFEO- Corps Experdionnaire Francaise d'extrême Orient). Vì muốn có một cộng sự tin cậy, De Gaulle giao nhiệm vụ này cho Le Clerc. Le Clerc không hào hứng nhưng cả đến ông trùm cánh tả nhân danh phó Thủ tướng chính phủ đương thời cũng đã vỗ vai động viên ông "Cognez, cognez fort" (Đánh đi, đánh mạnh vào). Yêu nước Pháp lúc này là phải khôi phục lại các thuộc địa, giữ nguyên sự hùng mạnh của đế chế Pháp. Le Clerc đã nhận lời "chiêu binh mãi mã" để hình thành đội quân viễn chinh. Trong thư ngày 28/6/1945 gửi Salan, Le Clerc viết: "tôi đang lập khung cho quân đoàn Viễn Đông. Rất mừng nếu anh đến chỉ huy 1er DICEO". Nhưng đến 16/8/1945 quân đoàn viễn chinh (CEFEO) mới ra đời trên cơ sở nhưng đơn vị đã có của FEFEO gồm sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 đang chiếm đóng Đức và một phần sư đoàn thiết giáp số 2.
Le Clerc được giao quyền Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 17/8, De Gaulle cử đô đốc Thiery D'Argenlieu viên thày tu phá giới làm cao ủy Pháp ở Đông Dương. Bạn bè hỏi Le Clerc: "anh là đại tướng 4 sao, vậy sao De Gaulle không giao cho anh làm toàn quyền mà lại giao cho D'Argenlieu?" Le Clerc không ưa gì viên thầy tu rởm và không đồng quan điểm với ông ta nhưng vì De Gaulle đã lựa chọn nên Le Clerc chỉ trả lời: "Vì ông ta là nhà chính trị mà nhà chính trị thì bao giờ cũng thống trị giới quân sự!”.
Để chứng tỏ chủ quyền của Pháp ở Đông Dương tồn tại là một thực tế, Pháp tổ chức cho Cedile nhân danh đại diện chính phủ Pháp tại Nam kỳ cùng đại úy Fregate de Riencourt nhảy dù xuống Sài Gòn vào ngày 21/8. Sainteny (trưởng phòng tình báo M5 của Pháp ở Côn Minh, con rể toàn quyền Albert Saraut, đại diện chính phủ Pháp ở Bắc Kỳ) theo chân phái đoàn của đồng minh Mỹ do Patti cầm đầu đến Hà Nội. Ở Huế, ngày 26/8/1944, quan tư Castella cùng một quan 3, hai quan 2 và một viên quản nhảy dù xuống Hiền Sỹ (Huế) mang theo một mật lệnh của De Gaulle bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh cùng các lực lượng Pháp ở hải ngoại và nội địa, tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung.
đồng sự: "đây là một sĩ quan của quân đội ấn độ một quận công- ông đã giúp tôi rất nhiều trong việc thực thi có hiệu quả nhiệm vụ được giao".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:21:33 AM
Gracey đã ra lệnh thiết quân luật tại Sài Gòn, tịch thu vũ khí của người Việt Nam, dùng quân đội Nhật vào việc kiểm soát tình hình cùng với quân Anh với lý do thiếu quân, trang bị vũ khí cho 1600 lính cũ của trung đoàn bộ binh thuộc địa và kiều dân Pháp được các biệt đội của Gracey phóng thích từ các trại tù của Nhật. Bọn này đổ ra đường nấp sau quân Anh chè chén say sưa, tấn công người Việt, diễn ra trạng thái vô chính phủ.
Với lực lượng đổ bộ đợt đầu cộng với số tại chỗ được tái vũ trang, Le Clerc tung quân chiếm lĩnh các công sở trong đó có trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam bộ, tự vệ quốc gia, đài phát thanh, bưu điện và một số bốt cảnh sát trong đêm 23/9/1945. Hắn hi vọng sau 48 giờ sẽ làm chủ Sài Gòn và sau bốn tuần sẽ bình định xong Nam bộ rồi đánh chiếm toàn bộ Việt Nam.
Để tránh khiêu khích và để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, lực lượng vũ trang tập trung của ta vừa mới hình thành đã được lệnh rút ra ngoài. Ngay trong đêm Xứ ủy và Uỷ ban nhân dân Nam bộ họp tại Cây Mai với sự có mặt của đồng chí Hoàng Quốc Việt ủy viên thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định động viên nhân dân Nam bộ đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Nhân dân Sài Gòn đã triệt để bất hợp tác với giặc, đình công, bãi thị, dựng chướng ngại vật khắp đô thành ngăn chặn địch. Lực lượng vũ trang công đoàn, công an xung phong kịp thời chống trả, gây cho định nhiều thiệt hại, bước đầu làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Le Clerc.
Trước sự phản đối của nhân dân dân ta, M.utbatten đã gọi Gracey tới Xingapo chỉ trích về việc áp đặt pháp luật trật tự một cách bừa bãi nhưng thái độ cơ bản vẫn là ủng hộ Pháp. Ngày 23/9 đã có cuộc gặp giữa Devey - đại tá Mỹ, Gracey - thiếu tướng Anh và Cedile - đại diện Pháp ở Cite Heyrand. Tiếp đó ngày đầu tháng 10, Gracey đã ký hiệp định bàn giao quyền chỉ huy của hắn cho người Pháp trên toàn cõi Đông Dương ở nam vĩ tuyến 16.
Từng trải qua một cuộc chiến tranh giải phóng, từng chứng kiến 55 vạn người dân Pháp vô tội chết dưới bom đạn phát xít và 7 triệu người phải ly tán, Le Clerc đã có những quan điểm khác biệt với các viên thực dân có nòi và những viên tướng khát máu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Trước việc tổng thống Truman công nhận Phillppin là một quốc gia tự do ngày 4/7/1945 và chính sách cởi mở của Anh ở Myanma, Le Clerc suy nghĩ nhiều về tuyên bố ngày 8/6/1945 xác lập chủ quyền của Pháp ở Đông Dương của De Gaulle. Ông ta giao cho các sĩ quan thân cận nghiên cứu kỹ quan điểm của Mỹ và Anh đối với các thuộc địa.
Ngày 25/9 De Gaulle đã lại gửi thư cho Le Clerc: "Nhiệm vụ của anh là thiết lập lại chủ quyền của Pháp tại Hà Nội và tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh vẫn ở đây, chưa làm được như vậy".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:22:26 AM
Ngày 5/10 ở Tân Sơn Nhất, Le Clerc tuyên bố: Au travail pour reparer le dégats de la guerre et construire une Indochine “juste" dans la "communauté francais"1 (Tôi đang làm để chuẩn bị các yếu tố của cuộc chiến tranh đồng thời tôi xây dựng một Đông Dương "công bằng" trong “khối liên hợp Pháp”).
Trong bữa cơm thân mật tại nhà riêng ngày 25/10, Le Clerc hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Dione - bạn mình: "... không thể dùng biện pháp quân sự đơn thuần, phải hết sức thông minh nhẹ nhàng và có lương tâm. Một đất nước đã bị vắt kiệt bởi những con đỉa Nhật Bản, phải mang đến cho họ một bầu không khí trong lành".
Thực tế Le Clerc cũng không có thực lực trong tay để thực hiện nhiệm vụ mà De Gaulle áp đặt. Ngay bản thân ông ta cũng không giữ được an toàn. Ngày 25/10 Le Clerc cùng Massu trên chiếc xe Jeep do đại uý Peschand lái trên đường đi Mỹ Tho đã bị liên thanh và súng cối của quân du kích tấn công, Mirabeau sĩ quan cận vệ Le Clerc bị tử thương, Péchand đã than vãn: "ở Tchat (Châu Phi) thì không có gì sờ tới, lại chết ở Đông Dương, thật tội nghiệp chàng trai!”.
Cho đến tháng 10/1945, hai tiểu đoàn bộ binh, một đơn vị com măng đô, một trung đoàn xe bọc thép Pháp được tăng viện đến Sài Gòn. Sang tháng 11, có thêm binh đoàn cơ động thuộc sư đoàn thiết giáp số 2 và trung đoàn bộ binh thuộc địa Maroc, Le Clerc mới cho quân nống ra các vùng ngoại vi, đánh phá các căn cứ của ta. Trong nội thành chúng tập hợp bọn Việt gian phản quốc cùng những đội biệt kích do tên đại tá Ghislain tổ chức và chỉ huy ra sức lùng sục, tiêu diệt các cơ sở cách mạng.
Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, trung đoàn thuộc địa số 5 (5ẹr REI) chạy trốn quân Nhật sau 9/3 được đưa từ Tàu qua Lào về củng cố tại Sài Gòn đội lốt quân Anh với những trang bị ghi 2 chữ LEND LEASE (đồ cho mượn của chính phủ Mỹ) đã cùng hai trung đoàn lê dương thứ 2 vừa cập bến Sài Gòn tháng 2/1946 được Le Clerc cấp tốc điều động ra đánh chiếm Nam Trung Bộ. Còn ở phía Nam thì phải thực hiện chiến thuật "Vết dầu loang” bình định đến đâu thì dần thiết lập trật tự an ninh tới các vùng phụ cận.
Bọn 5er REI trước đây hèn nhát đầu hàng quân Nhật bao nhiêu thì giờ hung hãn tàn sát đồng bào ta bấy nhiêu.
Tuy nhiên các đơn vị Nam tiến1 (Chi đội Nam Long, chi đội Vi Dân, chi đội Bắc Bắc) gồm hàng ngàn thanh niên tình nguyện cùng các trung đoàn 79 (ở Đắc Lắc), Trung đoàn 80 (Khánh Hòa ), Trung đoàn 81 (Ninh Thuận), Trung đoàn 82 (Bình Thuận) được thành lập, mặc dù còn rất non trẻ, đã cùng quân dân miền Nam buộc Le Clerc phải chững lại.
Le Clerc đã gợi ý cho Paris về khả năng đưa ra một hình thức cai trị Đông Dương thời kỳ sau chiến tranh (ông ta dùng từ tiếng Pháp là tự trị) nhưng De Gaulle vẫn kiên quyết phản đối: "Nếu tôi nghe theo điều tầm bậy đó thì chẳng mấy chốc Pháp không còn là một đế chế nữa. Xin đọc lại tuyên bố của tôi ngày 24/3/1945 và tuân theo văn bản đó một cách triệt để".
De Gaulle đã nghiêm khắc trách phạt D'Argenlieu vì đã không khôi phục được trật tự trước khi đàm phán. Tháng 1/1946 De Gaulle từ chức. D'Argenlieu trở về Paris tham khảo ý kiến chính phủ. Trước khi đi ông ta dặn Le Clerc không được dùng từ độc lập trong các cuộc đàm phán, Le Clerc đã điện sang Paris gợi ý: "Nếu Pháp dùng từ độc lập thì vấn đề gần như được giải quyết xong. Có thể từ độc lập trên cơ sở hạn chế trong khuôn khổ liên hiệp Pháp". Nhưng D'Argenlieu-một kẻ kiêu ngạo và bảo thủ được mang chính hiệu "cái đầu thông minh nhất thế kỷ thứ 12" đã bác bỏ ý kiến đó.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:22:57 AM
Ở Bắc vĩ tuyến 16, trong khi chính phủ Pháp tìm mọi cách ve vãn Tàu Tưởng, tranh thủ Anh, Mỹ gây áp lực để Pháp vào thế chân, ngày 29/10/1945, Le Clerc ra quyết định cử Salan, thiếu tướng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ (không có quân) làm đại diện Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp bên cạnh tướng Lư Hán - tư lệnh quân Tàu Tưởng ở miền Bắc Đông Dương với nhiệm vụ thu thập bọn tàn quân đang đồn trú dọc tuyến đường xe lửa Vân Nam - Lào Cai biến nó thành đội quân xung kích thọc một mũi từ phía bắc xuống khi đại quân của hắn đổ vào miền Bắc.
Salan đã thu gom được trên 5.000 quân gồm 5e REI, 9e RIC, 4 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn Rhadê, một tiểu đoàn của 4e RTT, một số đơn vị lính khố xanh, đơn vị vận tải. Ngày 13/11 từ Tàu về Sài Gòn báo cáo với Le Clerc, Le Clerc tỏ ra rất vui, hỏi Salan cần gì. Salan trả lời họ thiếu vũ khí, quân trang và tiền. Le Clerc đáp: "Được, tôi sẽ cho anh tất cả, Lư Hán không cho bọn này trở về Việt Nam sợ trở thành sức cản đối với âm mưu chiếm đóng lâu dài miền Bắc Việt Nam. Cuối cùng ngày 24/1/1946, Tưởng điện chấp thuận cho lực lượng trên được chuyển sang Lào.
Trong số 17.611 người Pháp có mặt rải rác ở Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai, Thanh Hóa, Vinh, Huế và Hà Nội, Salan đã phân loại các sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc từng đơn vị, từng binh chủng, tổ chức lại. Riêng ở Hà Nội có 502 sĩ quan, 1.468 hạ sĩ quan, 4.411 binh sĩ, Salan đã hình thành một tiểu đoàn của 9e RIC, một tiểu đoàn của 9e RIC, một tiểu đoàn của 5e REI, trung đoàn 4 bộ binh thuộc địa, một đại đội vận tải. Đây sẽ là lực lượng nằm vùng chống phá ta từ bên trong khi bên ngoài tấn công vào. Le Clerc bàn với Salan sẽ thực hiện cuộc đổ bộ từ đường biển với qui mô lớn do đích thân Le Clerc tổ chức, chỉ huy. Salan sẽ phối hợp với đội biệt kích của Ponchardier và Conner đưa một lực lượng nhảy dù vào thành Hà Nội. Salan cho đây là một hành động rất nguy hiểm, rất khó khăn. Quân đội Việt Nam không phải là con số 0. Họ đã có đến 6 vạn với 35.000 súng cá nhân 1.350 liên thanh, 200 súng cối 54 đại bác các cỡ từ 37 đến 75 ly và có cả chiến xa. Quân nhảy dù có thể bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống như toán của Castenla khi nhảy dù xuống Hiền Sỹ cách Huế 25 km.
Cuộc đàm phán Pháp - Trung về việc Pháp thay thế quân Tưởng tại bắc vĩ tuyến 16 diễn ra không suôn sẻ. Ngay trong hội nghị Teheran khi bàn về số phận Đông Dương sau kết thúc Chiến tranh thế giới Tưởng đã tỏ thái độ không đồng tình việc Pháp trở lại với thuộc địa cũ. Hắn đã tính riêng với Roosevelt là hai bên Trung - Mỹ sẽ bàn bạc giành cho Việt Nam một qui chế ủy trị vào khoảng từ 20 đến 30 năm thực chất là chuyển Việt Nam vào vòng tay của hắn. Chính vì muốn dựng lên một chính phủ tay sai hắn đã đưa tới 16 vạn quân vào Việt Nam chỉ để tước khí giới 3 vạn quân Nhật đã đầu hàng.
Tham vọng của Tưởng như vậy song cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang đe dọa sự sống còn của chế độ Tưởng Giới Thạnh. Pháp nhân nhượng tới mức trả lại Tưởng các tô giới của Pháp trên đất Tàu, nhượng cho Tưởng đường hỏa xa Hà Nội - Vân Nam, hàng hoá của Tàu Tưởng được miễn thuế khi quá cảnh Hải Phòng kèm theo sự hối thúc của Anh, Mỹ, Tưởng đã chấp nhận ký hiệp định Trùng Khánh ngày 28/2/1946, chịu rút quân khỏi Việt Nam tháng 3/1946.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:23:32 AM
Không thể qua mặt một nhà nước có chủ quyền tồn tại trên thực tế, Pháp đã cử Sainteny, nhân danh ủy viên Cộng hòa Pháp thương lượng với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về thỏa thuận trên.
Nhằm nhanh chóng đẩy ngót hai chục vạn quân Tưởng về nước, tránh tình trạng phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù, đồng thời tranh thủ được thời gian chấn chỉnh đội ngũ, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào, chuẩn bị đầy đủ nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới, ta chấp nhận tạm thời hòa hoãn với Pháp, ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 với ba nội dung chủ yếu:
- Nước Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính của mình ở trong liên bang Đông Dương và khối liên hiệp Pháp.
- Việt Nam thỏa thuận cho quân đội Pháp vào thay quân đội Trung Hoa dân quốc trong thời hạn không quá 5 năm.
- Hai bên đình chỉ chiến sự để mở đàm phán chính thức. Trong khi chờ đàm phán thì quân đội hai bên đóng ở đâu vẫn giữ nguyên tại đó.
Hiệp định sơ bộ 6/3 được cụ thể hóa tại hiệp định quân sự ký ngày 3/4/1946 trong đó qui định lực lượng thay thế quân đội Tưởng gồm 15.000 quân Pháp và 1 vạn quân Việt Nam. Quân Pháp được triển khai tại Hà Nội là 5.000, Hải Phòng 1.750, Hòn Gai 1.925, Nam Định 825, Huế 825, Đà Nẵng 225, Hải Dương 650, Điện Biên 825, các vùng biên giới Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai châu 2.775. Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Giêmxơbơn nói với ngoại giao Pháp: "Hiệp định 6/3 hoàn tất việc Pháp trở lại Đông Dương".
Chưa đợi đến lúc hiệp định được ký kết1 (Paris chỉ thị "hiệp định ký xong thì tàu có thể nhổ neo"), 7 giờ sáng ngày 2/3 Le Clerc đã cùng hạm đội rời Sài Gòn đi Hải Phòng. Ngày 5/3 hạm đội Le Clerc vào vịnh Bắc Bộ. Trung Quốc không thoả thuận để Pháp vào Hải Phòng trừ khi tiếp tục nhượng bộ. Vì an toàn cho quân đội, Le Clerc yêu cầu Sainteny làm tất cả để đạt được một hiệp định trong thời gian sớm nhất "thậm chí phải chấp nhận cả những điều khoản trong hiệp định cho dù sau này có thể bỏ”.
Sáng ngày 6/3 hạm đội Pháp cập cảng Hải Phòng. 8 giờ 30 chiếc tàu đổ bộ đầu tiên tiến vào cửa Cấm. Quân Tưởng ở hai bên bờ nổ súng. Sau 15 phút trì hoãn Pháp phản ứng lại. Chiến sự kéo dài đến 11 giờ trưa. Một số tàu Pháp hư hỏng nhẹ. Một kho quân nhu Tưởng bị cháy. Sau khi Tàu Tưởng rút khỏi Đông Dương ngày 18/3, 1.200 lính Pháp, trên 200 xe quân sự phần nhiều là của Mỹ do một đoàn xe thiết giáp đi đầu đã vượt cầu Long Biên tiến vào Hà Nội1 (Gồm 9e DIC và 2e DB đến Long biên lúc 12 giờ). Người Pháp vui mừng nhưng Le Clerc lại không tự tin vì với một sư đoàn không đủ để bình định. Theo ông ta "Đây không phải là một cuộc chiến tranh chống một quân đội mà là cuộc chiến tranh chống cả một dân tộc". Nhưng không vì thế mà kém vui Le Clerc nói với Sa lan: "tôi tìm lại được cảm giác khi binh đoàn thiết giáp số 2 tiến vào Paris", cùng với Jean Sainteny và Valluy, ông ta bước lên ban công toà nhà của đại diện cộng hoà Pháp đưa hai tay lên thành hình chữ V (chiến thắng) và hô lên: "Hà Nội, chặng cuối cùng của tự do!” (Le Clerc từng công khai bộc lộ: nhiệm vụ khó khăn nhất, phức tạp nhất là đưa quân Pháp ra miền Bắc Việt Nam đấu 1946").
Chiều ngày hôm đó Le Clerc, Sainteny và Pinhong tới Bắc Bộ Phủ gặp Hồ Chủ Tịch và các thành viên chính phủ, buổi tối họ dự bữa tiệc do Hồ Chủ Tịch chiêu đãi. Hai bên chúc mừng quan hệ Việt - Pháp nhưng không khí trong phủ cũng căng thẳng như ngoài đường phố. Sự có mặt của quân Pháp Chè chén say sưa gợi lại trong ký ức người Việt Nam những cay đắng trước đây. Thiếu tá Mỹ Waiter nhớ lại: "không khí bữa tiệc lạnh lẽo. Những vị khách Pháp hầu như không có gì để nói, còn những vị khách Trung Quốc do Lư Hán dẫn đầu thì say mèm.
Ngày 22/3 có một cuộc diễu binh chung. Trong đám đông họ chỉ hoan hô đoàn quân của họ, sáng hôm sau Le Clerc rời Hà Nội, trao quyền chỉ huy cho Valluy. Vừa nắm quyền, Valluy đã cho quân chiếm đóng trái phép một số địa điểm ngoài qui định của hiệp nghị. Phẫn nộ dâng cao dẫn đến cuộc tổng đình công, Pháp phải rút quân về vị trí cũ.
D'Argenlieu ngỏ ý muốn có một cuộc họp chính thức với Hồ Chủ Tịch để bàn về cuộc đàm phán chính thức nhằm phê duyệt hiệp định sơ bộ. Hồ Chủ Tịch đồng ý. Sáng 24/3 chiếc thuỷ phi cơ Catalina đã chở Hồ Chủ Tịch lên chiếc tàu chiến có tên là Emin Boctin đậu trên vịnh Hạ Long. D'Argenlieu và các quan chức Pháp đã chào mừng và mời Hồ Chủ Tịch duyệt đội tàu Pháp chậm rãi chạy qua tàu chỉ huy của đô đốc D'Argenlieu. Hồ Chủ Tịch muốn cuộc đàm phán càng sớm càng tốt. D'Argenlieu đã đề nghị nên có một cuộc họp trù bị tại Đà Lạt và cuộc đàm phán chính thức cũng tổ chức tại đó.
Hồ Chủ Tịch yêu cầu cuộc đàm phán chính thức được tổ chức ở Pháp. D'Argenlieu tỏ ý khó chịu vì vượt khỏi tầm kiểm soát của ông ta và với vai trò nguyên thủ quốc gia Hồ Chủ Tịch dễ gây ảnh hưởng đối với dư luận Pháp vốn dễ dao động, thất thường sau chiến tranh. Cả Le Clerc và Sainteny đồng ý với Hồ Chủ Tịch. Cuối cùng D'Argenheu đã thua cuộc.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:23:59 AM
Trước sau D'Argenlieu luôn chủ trương dùng sức mạnh quân sự chiếm lại Đông Dương, không thừa nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tách Đông Dương thành 5 xứ, lập ra chính phủ Nam kỳ tự trị nhằm duy trì chế độ thực dân kiểu cũ của Pháp ông ta phản đối mọi cuộc thương lượng. Ngay khi đến Hà Nội để bàn về cuộc đàm phán hoà bình ông ta không từ bỏ mục tiêu hối thúc quốc hội Pháp phê chuẩn nước cộng hoà Nam kỳ tự trị - con đẻ của ông ta.
D'Argenlieu rất bất bình khi thấy Le Clerc có những cuộc tiếp xúc với Hồ Chủ Tịch và đặt trước ông ta vấn đề thương lượng. Ông ta nói "tôi không muốn thấy một Muynich Đông Dương" ám chỉ việc tiếp xúc của Le Clerc giống như sự nhượng bộ của Daladier, Chamberlain đối với Hitle và Mussolini, một sự hoà hoãn không can thiệp để Đức tấn công Tiệp Khắc năm 1939.
Le Clerc cũng tỏ thái độ bất bình không kém. Ông ta nói với Salan: "ở đây chỉ có một mình tôi là chịu trách nhiệm". Khi Salan trình bày với ông ta những chỉ thị của D'Argenlieu về cuộc họp trù bị hai bên Việt - pháp tại Đà lạt, Le Clerc nhún vai phát biểu: "đấy là những thời gian vô ích".
Ngày 5/4 Le Clerc qua Salan gửi một bức thư tay viết ngày 27/3 đề nghị chính phủ Pháp cho ông thôi giữ chức Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
Bình luận về sự kiện này, trong cuốn "Giáp" do nhà xuất bản Perien Paris xuất bản bằng tiếng Pháp, Macdonald Peter viết: "Le Clerc là con người ngạo mạn, nhìn đối tác với thái độ kẻ cả, chỉ muốn mọi người phải nghe theo. Giáp đã được Sainteny hướng dẫn vào Sài Gòn gặp Le Clerc nhưng cuộc thương lượng không thành vì thái độ ngạo mạn của Le Clerc. Đó là sự sai lầm thô bạo về cách phán đoán và đưa lại hậu quả nặng nề. Le Clerc không thể ở lại Đông Dương lâu"1 (Perien, Paris- 1992. Bản dịch tiếng Pháp do Jean Cletin và Frank Slrachitz thực hiện từ thông Anh). Theo các nhân chứng lịch sử thì không hề có một cuộc gặp riêng nào của ông Võ Nguyên Giáp với Le Clerc tại Sài Gòn. Căn cứ vào tư liệu của Wilham J. Duiker thì ông Võ Nguyên Giáp và Le Clerc chỉ gặp nhau tại Hải Phòng để triển khai về mặt quân sự của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Ngày 31/5/1946 Hồ Chủ Tịch đi Pháp với tư cách là thượng khách nước Pháp. Trong khi đó ở Pháp xảy ra khủng hoảng chính phủ. Không có chính phủ nào của Pháp đứng ra đón chính thức đoàn. Ngày 22/6 chính phủ Bidaul được thành lập Hồ Chủ Tịch mới tới Paris. Trong bữa tiệc Sainteny tổ chức tạ nhà riêng chiêu đãi Hồ Chủ Tịch vắng mặt Le Cler. Người ta thắc mắc không hiểu sao khi ở Dông dương Le Clere đã có quan hệ tốt với Hồ Chủ Tịch mà nay vắng mặt. Sainteny đoán rằng ông ta bị giới quân si Pháp chỉ trích nhiều về những hành động ở Đông Dương nên không muốn xuất hiện.
Ngày 15/11/1946, D'Argenheu về Pháp xin tăng cường lực lượng để ngăn chặn Việt Minh. Bidaul hứa có thể tăng cường lực lượng được nhưng cảnh báo không thể bảo vệ đông Dương chỉ bằng vũ lực, ông ta nói phải đợi chính phủ mới thành lập mới có ích thị thêm. Blum lên cầm quyền tiếp tục sử dụng D'Argenheu làm cao ủy nhưng không quyết định cụ thể vấn đề tăng viện và hành động quân sự chống Việt Nam.
Valluy người đồng loã với quyết tâm của D’Argenlieu, quyết định cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo ra một sự đổ vỡ để bắt đầu chiến sự và đưa Pháp vào việc đã rồi.
Ngày 16/12 ông ta lệnh cho tướng Morliere người chỉ huy quân đội Pháp ở Miền Bắc phá huỷ các chướng ngại vật trên đường phố. Liên tiếp phía Pháp gửi 3 tối hậu thư yêu cầu chính phủ Việt Nam chấm dứt mọi hành động chuẩn bị chiến tranh, giải tán mọi lực lượng dân quân và bàn giao vấn đề an ninh thủ đô cho Pháp. Đêm 19/12/1946 cuộc Kháng chiến toàn quốc đã nổ ra.
Cuối tháng 12 năm 1946 Mutet Bộ trưởng Hải ngoại của Pháp sang Đông Dương xem xét tình hình theo đề nghị của Blum. Le Clerc đi cùng Mutet chia sẻ quan điểm với Mutet là phải có phản ứng quân sự mạnh mẽ đối với Việt Minh trước khi đàm phán. Tuy nhiên Le Clerc tin rằng giải pháp đàm phán là giải pháp cuối cùng và việc Mutet từ chối gặp Hồ Chí Minh làm ông phiền lòng.
Ngày 9/1 rời Đông Dương về Pháp báo cáo tình hình, ông nhận xét: "có quá nhiều người ở đây tin rằng chiếc cầu nối giữa Pháp và Việt Nam có thể được xây dựng trên đống xác”. Trong báo cáo riêng với chính phủ ông viết: "truớc mắt có thể chưa thực hiện được một giải pháp phức tạp, nhưng không thể có giải pháp nào khác ngoài giải pháp chính trị”. Ông kết luận: "Pháp không thể sử dụng vũ lực hòng khuất phục một dân tộc 24 triệu dân luôn có ý thức thạnh mẽ về bản sắc dân tộc". Tuy nhiên giải pháp cuối cùng theo Le Clerc vẫn phải trên cơ sở thế mạnh của quân đội Pháp trên chiến trường."


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:24:25 AM
Thấy quan điểm của Le Clerc giống mình, Blum đã đề nghị Le Clerc thay thế D'Argenlieu là người có quan điểm cứng rắn và làm cho tình hình trở nên bế tắc De Gaulle đã khuyên Le Clerc không nên nhận. Trước khi Le Clerc quyết định thì Ramadier người cùng đảng Xã hội lên thay Blum. Ramadier chủ trương dùng vũ lực thiết lập trật tự ở Đông Dương, thống nhất 3 kỳ thành quốc gia trong liên hiệp Pháp, chọn Emile Bolaerc - chính trị gia theo quan điểm tự do, có nhiệt tình và khả năng nhưng chưa có tiếng tăm thay D'Argenheu. Trước khi rời Pari, Bolaerc đã được lời khuyên của Le Clerc "Phải đàm phán bằng mọi giá".
Ít ngày sau Le Clerc được cử sang Bắc Phi, làm Tổng thanh tra quân đội Pháp, ông ta mất trong một tai nạn máy bay. Năm 1952 chính phủ Pháp truy tặng hàm Thống chế.
Ông ta may mắn hơn Tassigny không bị những cơn "đau đến vỡ tim" khi phải chứng kiến cái chết của đứa con trai trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Trung uý Herri Le Clerc - con ông, chết sau ông 5 năm. Giá như giới cầm quyền Pháp thời đó thức thời chấp nhận quan điểm của Le Clerc thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam thì chắc chắn 50 vạn thanh niên Pháp và con ông không phải bỏ mạng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Nhận thức của Le Clerc về bản chất và quy luật của chiến tranh còn có những hạn chế, chưa theo kịp sự vận động, phát triển của thực tiễn, chưa đạt tới chân lý và chưa đáp ứng xu thế của thời đại. Nhưng Le Clerc là một viên tướng độc nhất trong các tướng lĩnh pháp có những suy nghĩ và cách nhìn sáng suốt biết rõ dùng vũ lực tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược để áp đặt chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam sẽ chuốc lấy sự thất bại. Nửa thế kỷ sau, thân nhân của trung uý Henri Le Clerc de Haute cloque đã nhờ những cựu chiến binh Việt Nam tìm kiếm giúp mộ phần của Henri Le Clerc. Căn cứ vào nhật ký chiến đấu và bài viết của tướng Massu cựu chiến binh sư đoàn thiết giáp số 2 ấn hành gửi kèm thì trung uý Le Clerc bị thương vào chân trong trận càn ở thôn Trung thuộc tiểu khu Yên Cư Hạ tại Yên Khánh, Ninh Bình ngày 4/1/1952. Được đồng đội là trung uý Đại cõng tới một nghĩa địa thì bị hoả lực đối phương bắn chặn lại. Biết là khó thoát cả hai, Henri Le Clerc đã giao bản đồ, mật mã cho Đại, yêu cầu Đại vượt nhanh khỏi vòng vây. Trận đánh kết thúc, phía Pháp trở lại trận địa nhưng tìm không thấy Henri Le Clerc.
Xuất phát từ mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Pháp và truyền thống nhân đạo, những người cựu chiến binh Việt Nam đã lần tìm về quá khứ, biết trận đánh là do trung đoàn 48 sư đoàn 320 thực hiện, nhưng những báo cáo tổng kết còn được lưu trữ chỉ ghi là tiểu đoàn đã diệt 100 địch trong đó có 1 quan ba, 1 quan hai, làm bị thương 30 tên, nhưng không có tên cụ thể một sĩ quan, một binh sĩ nào của Pháp có nghĩa là không có tên Henri Le Clerc. Trong trận cũng không bắt được một tên tù binh nào và như vậy là Henri Le Clerc không bị bắt làm tù binh.
Tuy nhiên trong cuốn Chiến tranh Đông Dương do Bernard Fall viết có nói là trung uý Le Clerc con trai Thống chế Le Clerc chết trong trại tù. Như vậy rất có thể Bernard Fall có một nguồn thông tin nào đó.
Trải qua ba mươi năm chiến tranh, gần 30 vạn cán bộ chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh chưa tìm được phần mộ hoặc không biết được tên người nằm dưới mộ, đây là một nỗi đau của dân tộc ta. Chúng ta thông cảm với nỗi đau của gia đình Le Clerc và mong họ sớm tìm được tin tức về cái chết của con em mình. Bao giờ chúng ta cũng coi nhân dân Pháp là bạn.



Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:25:00 AM
VALLUY JEAN ETIENNE


- Viên tướng lộng quyền, hung hăng, hiếu chiên, khiêu khích, gây hấn.
- Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh phá sản.
- Mất chức Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh
Trong quá trình tổ chức Quân đoàn viễn chinh tái chiếm Đông Dương (C.E.F.E.O - Corps Expedionnaire Francais d'extrême Onent), tháng 6/1945, Le Clerc đã dựa vào lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông do Blaizot Roger - nguyên thiếu tá tham mưu trưởng quân đội thuộc địa của Pháp ở Bắc Đông Dương chiêu mộ và thành lập theo ý đồ của De Gaulle, đặt dưới quyền Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Anh, hoạt động cùng quân Anh trên chiến trường châu Á (1944)1 (F.E.F.E.O: Force Expedionnaire Francaise d'extrême Orient lúc này Blaizol được giao tư lệnh quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Năm 1948 Valluy bị triệu hồi, Salăng lên nắm quyền TTL nhưng bị chê là non nớt thiếu kinh nghiệm, Pháp đã đưa Blaizol lên làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh).
Nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đoàn, Le Clerc đã đề nghị ủy ban quốc phòng đưa vào biên chế của quân đoàn một phần sư đoàn thiết giáp số 2, đơn vị cũ của ông ta - nay do Massu chỉ huy, và sư đoàn số 9 bộ binh thuộc địa (9eDIC) đang chiếm đóng Đức do Valluy chỉ huy.
Trong số các tỳ tướng thân cận như Massu - tư lệnh sư đoàn thiết giáp, Nyo - tư lệnh sư đoàn 3 bộ binh, Valluy - tư lệnh sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9, Le Clerc luôn dành cho Valluy sự ưu ái, giữ vị trí tiền phong và là người thay thế số một.
Khi đổ bộ vào Nam Việt Nam, Valluy vừa là tư lệnh sư đoàn vừa kiêm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Nam Đông Dương. Khi đổ bộ vào Hải Phòng, Le Clerc chuyển Salan về phía Nam (tuy vẫn giữ vai trò là sĩ quan liên lạc với quân đội Tàu Tưởng và bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam) giao quyền tư lệnh miền Bắc Đông Dương cho Valluy. Ngày 8/5/1946, Sainteny- uỷ viên Cộng hoà Pháp về nước, Valluy đảm nhiệm cả chức ủy viên Cộng hòa thay Sainteny. Lúc Le Clerc từ chức cũng bàn giao luôn quyền Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh cho Valluy và trên cơ sở đó. Valluy được bổ nhiệm chức Tổng tư lệnh vào tháng 4/1946.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:25:34 AM
Ông ta được trọng vọng vì so với lớp Le Clerc, Salan, ông có tuổi đời lớn hơn. Salan sinh năm 1900, Le Clerc sinh năm 1902, Valluy sinh từ năm 1899. Salan vẫn gọi ông là "mon vieux camarade (ông bạn già)"' Valluy tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr khoá La Fayette năm 1917-1918. Năm 1937 đã phụ trách công tác tình báo của bộ thuộc địa tại vùng một ở Thượng Hải chuyên theo dõi đánh cắp tin tức ở khu vực Á của Nga, bắc Thái Bình Dương và các nước Nhật, Trung Hoa. Ngày 7/11/1940 người ta thấy ông ta đeo lon đại tá, sau đó thăng thiếu tướng tham mưu trưởng tập đoàn quân. Những ngày chiến đấu ở châu Phi ông ta là tham mưu trưởng quân đoàn B của tướng De Lattre De Tassigny. Ông đã trực tiếp chỉ huy đơn vị tác chiến trên chiến trường châu Âu và cùng Quân Đồng minh đánh đuổi phát xít Đức sang tận sào huyệt tại nước Đức.
Cuộc đời binh lửa đã hình thành ở ông ta "đức" hiếu chiến đến cực đoan, luôn coi hành động quân sự là biện pháp hàng đầu và duy nhất, luôn tìm cách khiêu khích gây hấn, tạo cớ thổi bùng ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam. Có chăng một lần duy nhất ông ta khuyên Sainteny không nên vội vàng chuyển trụ sở ủy viên cộng hoà từ ngân hàng Đông Dương về phủ Toàn quyền ngay khi quân Lư Hán rút khỏi Đông Dương (Chắc hẳn là vừa "chân ướt chân ráo” đưa quân lên Hà Nội, ông ta chưa kịp "bài binh bố trận sẵn sàng cho cuộc chiến).
Chiến tích ở Việt Nam gắn với tên Valluy là vụ khiêu khích, gây hấn ở Hải Phòng ngày 20 tháng 11 năm 1946. Sự kiện được nhen nhóm tử đầu tháng 3/1946 khi cuộc đàm phán giữa chính phủ ta và chính phủ Pháp về việc đưa quân đội Pháp vào thay thế quân đội Tưởng từ vĩ tuyến 16 trở ra đang được tiến hành. Paris đã chỉ thị cho quân đội Pháp ở Nam bộ: "Hiệp định giữa hai bên Việt - Pháp được ký xong thì có thể nhổ neo tiến ra Bắc”. Nhưng cuộc đàm phán đang ở hồi gay cấn chưa thỏa thuận được với nhau về các điều khoản thì 7 giờ sáng 2/3 Valluy đã dẫn hạm đội gồm tàu chiến và tàu vận tải chở quân ra phía Bác.
18 giờ 30 ngày 5/3, Salan gửi điện cho Lư Hán thông báo "tàu của Pháp tới Hải Phòng, không đổ bộ, đừng bắn”. 8 giờ 30 sáng ngày 6/3 Valluy cho tàu tiến vào Cửa Cấm. Quân Tưởng ở hai bên bờ sông nổ súng. Sau ít phút lưỡng lự Valluy ra lệnh bắn trả. Cuộc đọ súng kéo dài tới 10 giờ. Được cấp báo của Legendre từ Hải Phòng, Salan vội can thiệp với bộ chỉ huy Tàu Tưởng, tiếng súng mới ngừng1 (Tạp chí Lịch sử Quân sự số tháng 2/2002, Nguyễn Hùng Phong cho rằng chính quân Nhật bắn vào tàu Pháp. Thật ra quân Nhật đã bị giải giáp và tập trung vào một số địa điểm trước khi hiệp đinh Pháp - Trung được ký kết ở Trùng Khánh ngày 20/2/1946. Trung Hoa chấp nhận rút hết quân ở miền Bắc tháng 3. Từ tháng 3/1946 quân Nhật ở Bắc Đông Dương đã xuống tàu về nước. Nếu có quân Nhật tham gia thì chi là bọn bị đưa làm bia đỡ đạn cho Tưởng chứ không thể là đơn vị bố phòng ở cảng Hải Phòng).
Một số tàu Pháp bị hư hỏng. Trên 70 quân sĩ bị chết và bị thương trong đó có cả Valluy. Số bị chết được đưa ra chôn tại một cái hang trên một đảo nhỏ ở Vịnh Hạ Long. Tưởng bị cháy một kho đạn ở Sáu Kho.
Theo hiệp định phụ số 1 kèm theo hiệp định 6/3/1946 ký giữa Bộ Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam và pháp ngày 3/4/1946, thì Pháp được đóng tại Hải Phòng 1.750 quân. Nhưng sau khi đến Hải Phòng, lợi dụng đường biển, Pháp đã tăng quân không hạn chế lên Đồ Sơn, Cát Bà. Thuế quan là nguồn thu lớn nhất của chính quyền thuộc địa trước đây nên trong các cuộc đàm phán, Pháp đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này đòi quản lý thuế quan qua cảng. Ta kiên quyết gạt khỏi chương trình nghị sự bởi đây là vấn đề nhạy cảm thuộc chủ quyền đất nước. Trong tạm ước cũng bảo lưu: vấn đề này sẽ bàn sau.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:26:00 AM
Đúng ngày tạm ước được ký tại Paris, D’Argenlieu, cao uỷ Pháp đã lệnh cho Morliere phải chiếm quyền kiểm soát hải quan trong thời gian nhanh nhất. Morliere chưa kịp thực hiện thì đầu tháng 11/1946, theo lệnh Valluy từ Sài Gòn, quân Pháp ở Hải Phòng đã chiếm cơ quan Hải quan, đuổi cán bộ hải quan của ta ra khỏi nhiệm sở. Ta cực lực phản đối, quân Pháp phải rút.
Ngày 20/11, một tàu chở hàng vào cảng, Pháp ngăn cản không cho vào. Trước hành vi khiêu khích của Pháp, tự vệ ta đã nổ súng. Cuộc đụng độ ngắn ngủi tạo thêm không khí căng thẳng. Hai ngày sau, Valluy lệnh cho tư lệnh quân Pháp ở Hải Phòng nắm lại quyền kiểm soát hải quan, “khôi phục trật tự” trong thành phố.
Ngày 23/11, Debes - đại tá, tư lệnh Pháp tại Giải Phòng ra tối hậu thư đòi ta phải sơ tán triệt để khỏi khu phố Khách và hạ vũ khí. Lính Pháp đã nổ súng vào công an và hải quan đang làm nhiệm vụ. Tiếp đó 2000 quân Pháp tiến vào các khu phố nã pháo vào thường dân1 (Lệnh nã pháo được phát từ Bidault - thủ tướng Pháp qua đô đốc D'Argenlieu- General Yves Gras- Lịch sửr chiến tranh Đông Dương) tiến công đánh chiếm nhiều vị trí, nhất là các khu vực ở quanh Nhà hát thành phố và nhà ga cố tình làm cho cuộc xung đột thêm nghiêm trọng nhằm chiếm cửa ngõ phía Đông trong kế hoạch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam.
Các đội tự vệ vũ trang, công an xung phong cùng nhân dân Hải Phòng dựa vào chiến luỹ, dùng lựu đạn, súng trường, lưỡi lê, mã tấu đánh lui nhiều đợt tấn công của Pháp, gây cho chúng nhiều thương vong. Hành động của Pháp ngay cả đại sứ Mỹ Capheri ở paris cũng tỏ thái độ không đồng tình.
Ngày 25/11 quân ta đánh vào sân bay Cát bi phá huỷ kho xăng và kho đạn của địch. Ngày 28/11 các lực lượng vũ trang Hải Phòng rút khỏi nội thành sau khi tổ chức cho hàng vạn dân sơ tán đến nơi an toàn, lập phòng tuyến tại cầu Niệm, cầu Rào, An dương bao vây ngăn chặn địch.
Cùng sự kiện Lạng Sơn ngày 20/11/19461 (Lấy cớ đi tìm chứng tích tội ác chiến tranh của Nhật, đại tá Sizaire chi huy trung đoàn 21 bộ binh thuộc địa (21e RIC) đã xua quân vào khu vực kiểm soát của ta phá chướng ngại vật bắn giết gần 50 người cua ta) sự kiện Hải Phòng do đích thân Valluy châm ngòi đánh dấu sự mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở miền Bắc Việt Nam năm 1946.
Ngày 18/3/1946 Valluy, trong thái độ ngạo mạn dẫn đầu đoàn xe 200 chiếc chở sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa cùng sư đoàn thiết giáp số 2 từ Hải Phòng theo đường số 5 tiến lên Hà Nội vào đóng trong thành cổ, Đồn Thủy, phủ Toàn quyền, ga Hà Nội, ngân hàng Đông Dương, cầu Long Biên và sân bay Gia Lâm. Valluy đã được Salan bàn giao thêm 3 tiểu đoàn bộ binh thuộc địa 9e RIC, 19ẹ RIC, 5e REI, 1 trung đoàn pháo, 4ẹ RAC cùng lực lượng phụ trợ hậu cần, quân y do Salan nắm trên đất Trung Quốc và tổ chức lại trong đám sĩ quan và binh lính tan vỡ lẩn quất sau chính biến Nhật - Pháp 9/3/1945. "Đó là một gia tài đẹp, - Salan nói, - Valluy đã đứng đầu một quân đoàn quan trọng và chất lượng”.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:26:25 AM
Ngày 22/3/1946 Le Clerc gửi thư cho các cấp thuộc quyền từ giã Hà Nội. Sang tháng 4/1946 ông ta xin từ chức. Valluy chính thức đảm nhiệm chức Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh.
Đầu tháng 12/1946 các đảng phái chính trị Pháp lao vào cuộc tranh giành quyền lực. Nhân lúc Bidaul từ chức, nội các mới của Blum chưa ổn định, mất phương hướng không nhận ra thiện chí hoà bình của Việt Nam, D'Argenlieu và Valluy được dịp lộng hành, ra sức bưng bít sự thật.
Trong lúc nội các Pháp họp bàn, chưa có ý kiến ngã ngũ về hai vấn đề tăng viện và tiến hành các hành động quân sự chống nước Việt Nam do D'Argenlieu đề nghị thì ở Việt Nam, Valluy- kẻ đồng loã với D’Argenlieu về chủ trương gắn hoạt động quân sự với lật đổ chính quyền do đối phương kiểm soát, khước từ thương lượng đã quyết định phải tiến hành khiêu khích Hà Nội, nhằm tạo sự đổ vỡ để bắt đầu cuộc chiến tranh, đặt chính phủ Pháp trước việc đã rồi.
Không những Valluy không chịu rút quân khỏi những điểm đóng trái phép trước ngày 20/11, ngày 16/12 còn ra lệnh cho Morliere chỉ huy quân đội Pháp ở miền Bắc phá huỷ các chướng ngại vật do ta dựng lên trong thành phố đề phòng địch tráo trở. Sáng 17/12, xe bọc thép của Pháp rầm rập kéo vào các đường phố san ủi các chướng ngại vật. Lính Lê dương mũ đỏ, mặt đỏ, tay súng lăm lăm nghênh ngang khắp đường, đập phá nhà thông tin Tràng Tiền, tước vũ khí của tự vệ, xả súng bắn vào thường dân ở hàng Bún, Yên Ninh. Sáng 18/12 Pháp ra tối hậu thư buộc ta không được dựng tiếp bất kỳ một chướng ngại vật nào trên đường phố. Chiều hôm đó lại thêm một tối hậu thư đòi để chúng đảm nhận vấn đề trật tự an ninh tại thủ đô.
Phản ứng lại, ta đã phong toả mọi ngả đường. Sáng 19/12 Pháp gửi tối hậu thư thứ 3 đòi chính phủ Việt Nam chấm dứt mọi hành động chiến tranh, giải tán lực lượng tự vệ, bàn giao vấn đề quản lý an ninh tại thủ đô cho Pháp1 (Từ những sự kiện này người Pháp đã gọi Morliere là "ông tướng tối hậu thư”).
Xuất phát từ nguyện vọng được sống trong hoà bình của nhân dân Việt Nam, trước thái độ và hành động ngang ngược của quân đội Pháp, Hồ Chủ Tịch đã gửi một bức điện cho Leon Blum đòi ông ta phải can thiệp. Bức điện đã bị dìm lại. Valluy còn viết thêm đề nghị chính phủ Pháp bật đèn xanh, có hành động quân sự cứng rắn, nếu để muộn đến sang năm thì đó sẽ là một thảm họa đối với nước Pháp ở Đông Dương.
E bức điện không tới tay Blum. Hồ Chủ Tịch lại trực tiếp gửi một bức điện nữa cho Paris đồng thời viết mấy chữ để ông Hoàng Minh Giám, trợ lý đối ngoại của Bác chuyển đến cho Sainteny, uỷ viên cộng hoà Pháp ở Bắc Đông Dương: Tình hình trở nên căng thẳng trong vài ngày qua. Rất đáng tiếc. Trong khi chờ đợi quyết định từ Paris, tôi hy vọng rằng ngài và ông Giám sẽ tìm ra một giải pháp nhằn cải thiện tình hình.
Sainteny là con rể Albert Sarraut, toàn quyền, Đông Dương bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp1 (Trong bữa tiệc Sainteny chiêu đãi Hồ Chủ Tịch khi người sang thăm nước Pháp, Albert Sarraut bố vợ Sainteny đã được mời tới dự. Gặp Hồ Chủ Tịch, ông ta reo to: “Ông đây rồi! Bây giờ ông đã ở trong 2 vòng tay tôi. Theo dõi ông là một niềm hạnh phúc của đời tôi!”), là thiếu tá trưởng phòng M5, cơ quan tình báo của Pháp đặt tại Trung Quốc2 (M.5. Denomination de la M.M.F-Kunming a’ pertiz Avril 1945) theo chân phái đoàn đồng minh do Patti (Mỹ) cầm đầu vào Việt Nam ngày 22/8/1945 với tư cách là ủy viên cộng hoà của Pháp ở Bắc Đông Dương. Ông ta đã thay mặt chính phủ Pháp tiến hành các cuộc đàm phán với Việt Nam để đi đến ký kết hiệp định sơ bộ 6/3/1946. ông luôn thừa nhận nhân cách vĩ đại của Hồ Chủ Tịch, tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp và sự kính trọng của bản thân ông đối với cụ Hồ, nhưng với lập trường thực dân, trong các cuộc đối thoại đều tỏ thái độ không khoan nhượng và không từ bất kỳ cơ hội nào để lập lại quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:26:51 AM
Theo William J.Duiker trong cuốn Hồ Chí Minh do nhà xuất bản Hypenon ấn hành tại Newyork năm 2000 thì Sainteny đã được báo trước về những quyết định khiêu khích xung đột của Valluy nên đã từ chối không gặp ông Hoàng Minh Giám. Trước thái độ hung hăng hiếu chiến, ngày càng lấn tới của Pháp, ngày 18/12/1946 thường vụ Trung ương họp dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ Tịch quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Thời gian nổ súng là tối 19/12/19461 (Theo đồng chí Hoàng Văn Thái, lúc này là Tổng tham mưu trưởng Quân đội ta trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Quân sự số 3/1992, bức điện lịch sử về thời gian nổ súng của cuộc kháng chiến toàn quốc đã được Bộ Tổng tham mưu gửi các khu và mặt trận vào 9g30 ngày 19/12/1946).
Cũng theo William J. Duiker thì tối 19/12 vừa từ cơ quan về nhà riêng, Sainteny thấy tiếng súng nổ và điện thành phố tắt ngấm. Ông ta vội lao lên chiếc xe bọc thép do Morliere điều tới đưa ông ta vào thành thì bị trúng mìn trên đường. Sainteny bị thương nặng, suốt hai tiếng đồng hồ nằm lịm, máu me bê bết, xung quanh là các đồng sự đã chết hoặc đang hấp hối. Đây rõ là "kẻ gieo gió phải gặt bão”. Chắc hẳn tiếng mìn này làm cho ông ta tỉnh người nên tháng 7/1966 trở lại Hà Nội tìm kiếm khả năng người Pháp làm trung gian hòa giải cho cuộc xung đột Việt Mỹ, ông tỏ ra am hiểu tình hình Đông Dương, cho rằng Mỹ chỉ có thể đạt được giải pháp thương lượng, mức tối đa là Mỹ có thể lập được một chính phủ trung lập tại Sài Gòn.
Sáu mươi ngày đêm, từ 19/12/1946 đến 17/2/1947 cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội diễn ra quyết liệt giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố dưới khẩu hiệu "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" với nhiều hình thức chiến thuật rất phong phú: phòng ngự dựa vào chiến luỹ đường phố, phòng ngự theo phương thức điểm tựa, tập kích, phục kích. Trung đội 5, tiểu đoàn thủ đô ở liên khu I đã bắn rơi cả máy bay địch.
Vấp phải cuộc chiến đấu mang tính chất toàn dân bao gồm từ phụ nữ đến em bé vị thành niên, Valluy đã định dùng máy bay tấn công từ trên không để đẩy ta ra khỏi Hà Nội nhưng Morliere đề nghị tiến từ từ để khôi phục sự kiểm soát từng bước và tránh thương vong cho quân Pháp trong thế cài răng lược giữa ta và địch.
Saliven - Tổng lãnh sự Mỹ ở Hà Nội đã báo cáo về Mỹ "người Việt Nam chiến đấu với lòng quả cảm và kiên cường chưa từng thấy". Với lực lượng có hạn, địch không nống được ra ngoại thành. Hai tháng bị giam chân, thiếu thốn từng lá rau xanh. Một máy bay "bà già" chắc là được phái đi trinh sát liều mạng hạ cánh trên đường số 1 ngoại vi thị xã Bắc Ninh nhổ vội những luống rau bên đường rồi chuồn.
Nhằm bảo toàn lực lượng, các đơn vị chiến đấu ở Hà Nội được lệnh rút ra vùng tự do. Được chuẩn bị chu đáo, với ý thức tổ chức kỷ luật cao, 1200 con người và vũ khí đã vượt vòng vây của địch trong một đêm an toàn. Cuộc bám trụt giam chân địch tại thủ đô đã cổ vũ động viên quân và dân cả nước, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện.
Valluy chắc không hình dung được tám năng sau, ngày 10/10/1954 đại tá Lephevre Dagiangxe chỉ huy đơn vị quân Pháp cuối cùng ở Hà Nội đã phải cuốn cờ, bàn giao quyền quản lý thành phố cho trung đoàn Thủ đô - những người chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ thủ đô và cũng là những người đầu tiên trở về tiếp quản thủ đô.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:27:25 AM
Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến tạm thời bị địch chiếm đóng nhưng đầu não của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ vẫn tồn tại. Một thủ đô kháng chiến đã hình thành tại Việt Bắc, căn cứ địa thần thánh của cả nước.
Valluy muốn triệt tiêu căn cứ địa Việt Bắc, bắt bằng được chính phủ kháng chiến trước hết là Hồ Chủ Tịch, vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, linh hồn của cuộc kháng chiến ngay trong thu đông 1947 bằng một cuộc bao vây toàn bộ thượng du Bắc Kỳ, khép chặt biên giới Việt - Trung từ hai phía Lạng Sơn, Lào Cai với hợp điểm là Hà Giang. Valluy cần 50 ngàn quân trong thời gian 3 tháng ở Bắc Kỳ nhưng khả năng tập trung tối đa chỉ được 35 ngàn. Ông ta xin được tăng viện từ chính quốc 10 vạn nhưng chính phủ Pháp đang muốn hồi hương 90 ngàn quân ở Đông Dương vào đầu 1948, mặt khác đang vướng vào cuộc nổi dậy của nhân dân Madagasca, có cố gắng thì phải chín tháng sau, chính phủ Pháp mới có thể tăng quân viễn chinh ở Đông Dương lên 195 ngàn. Vì còn phải chốt chiến lược để đối phó với 18.000 quân Việt Minh đang hoạt động ở Nam bộ, Valluy buộc phải chuẩn bị kế hoạch đánh Việt Bắc với số lượng quân ở mức tối thiểu, 12.000 (nhu cầu 20.000).
Ba binh đoàn: binh đoàn S do trung tá Sauvagnac chỉ huy, binh đoàn B do đại tá Bauffre chỉ huy và binh đoàn C do trung tá Communal cầm đầu hình thành hai gọng kìm, đặt trọng tâm vào tam giác Bắc Cạn - Chợ Mới - Chợ Đồn nơi địch cho là đại bản doanh của chính phủ kháng chiến.
Trong khi Valluy về Pháp để phản ánh những quan điểm bất đồng của mình đối với quan điểm của Bolaerc và xin tăng viện, đô đốc Battet chỉ huy hạm đội của Pháp ở Đông Dương tạm thay quyền Tổng tư lệnh. Ông ta không được các tướng lĩnh tin cậy nên toàn bộ chiến dịch mang tên LEA do Salan, tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Kỳ là người tổ chức và chỉ huy.
Ngày 7/10/1947, sương mù chưa tan hết, 1.137 quân dù thuộc binh đoàn S được tung xuống Bắc Cạn. Cùng lúc, binh đoàn B gồm 3 tiểu đoàn xe bọc thép, 3 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo theo đường số 4 tiến lên Đông Khê - Thất Khê - Cao Bằng. Ngày 12/10 trung đoàn Maroc có yểm trợ của thiết giáp tiến xuống Bắc Cạn hội quân với Sauvagnac.
Hướng Tây bắc, hai tiểu đoàn bộ binh của binh đoàn C được tàu và xà lan vận chuyển ngược sông Lô lên Tuyên Quang. Tiếp đó ngày 19/10, lực lượng thiết giáp tiến lên Chiêm Hoá. Để đánh lạc hướng phán đoán của ta và cũng để khép kín vòng vây, địch còn thả quân xuống Cù Vân - chợ Mới.
11 giờ ngày 17/10/1947, đang bay trên chiếc thuỷ phi cơ Catalina để thị sát cuộc chiến đấu, Salan được Sauvagnac điện báo bằng bộ đàm: "đã túm được chính phủ Việt Minh. 11 giờ 25 sẽ chuyển cho ngài bức điện của Hồ Chí Minh đề nghị 11 giờ 35 ngừng chiến".
Salan lập tức báo tin tốt đẹp của cuộc hành quân cho Bolaerc. Bolaerc điện ngay tin giật gân này cho Battet quyền Tổng chỉ huy, yêu cầu ông ra ngay Hà Nội và điều gấp một thông báo hạm đến Hạ Long nhận tù binh đặc biệt...


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:27:57 AM
Ngày 18/10/47 Battet đến Hà Nội và hoàn toàn hất vọng vì đây chỉ là một tin tình báo lếu láo không có sự kiểm tra, tên phụ trách điện đài bị tâm thần đã phát bức điện đó, Sauvagnac không hề phát  tin này1 (Truyện thật như đùa này của quân đội Pháp đã được Yves Gras thuật lại trong cuốn "Lịch sử Chiến tranh Đông Dương”. Nhà xuất bản Denoel 1992).
Ta đã lường trước âm mưu của địch sẽ mở cuộc iến công lên Việt Bắc thu đông 1947 nên các nẻo đường kháng chiến đây đó đều có những khẩu hiệu “kiên quyết phá tan cuộc tiến công thu đông của giặc" nhưng ta bị bất ngờ về qui mô và thủ đoạn hiến thuật của địch2 (Trần Long trong tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 7/1997 cho biết dịch đã nhảy dù trúng nóc hầm có đồng chí Trường Chinh đang ẩn 3 và đã giết cụ Nguyễn Văn Tố phó ban Thường trực Quốc hội). Rất may là trung đoàn 74 ở Cao Bằng đã bắn rơi chiếc máy bay chở viên đại tá Lambe, tham mưu trưởng quân đội Pháp ở Bắc Bộ, thu được chiếc cặp trong đó có toàn bộ kế hoạch chiến dịch của địch, ta mới kịp điều chỉnh kế hoạch phá tan cuộc tiến công lên Việt Bắc của chúng3 (Chiến sỹ liên lạc Nguyễn Danh Lộc đã chạy bộ 4 ngày 3 đêm từ Cao Bằng đưa cặp tài liệu về Bộ tổng tham mưu ở Yên Thông).
Mười trung đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn tập trung của Bộ và các quân khu cùng dân quân tự vệ các địa phương được tung vào 3 mặt trận: Sông Lô - Đường số 4- Đường số 3, đánh địch trên sông, trên bộ bẻ gãy từng gọng kìm của địch với các trận Bông Lau 30/10, chợ Mới 18/10, chợ Đồn 21/10, Tuyên - Hà 22/10, Sông Lô 23- 24/10 và 10 - 11/11/1947 khiến địch không thực hiện được việc hợp kích tại Đại Thi nhu kế hoạch. Địch buộc phải kết thúc chiến dịch LEA.
Không cam chịu thất bại, địch tiếp tục mở chiến dịch “Ceinture" với số quân còn lại khoảng 7.800, chia làm 7 cánh hướng mọi nỗ lực vào Thái Nguyên, trung tá Coste mở đầu đợt hoạt động bằng 2.200 quân từ Phả Lại tiến lên Phủ Lạng Thương làm bàn đạp đánh lên Yên Thế nhưng đến ngày 23/11 quân của Sauvagnac nhảy dù xuống Thái Nguyên, địch mới coi là ngày chính thức mở màn chiến dịch. Bọn Bauffre từ chợ Mới đánh vào chợ Chu, Đại Từ - Thái Nguyên. Bọn Communal từ Tuyên Quang theo sông Lô đánh về Tam Đảo. Vanuxem từ Hưng Hoá qua sông Hồng tiến lên Việt Trì xuống Tam Đảo. Sauvagnac tiến vào Ký Phú, Bá Vân, Sơn Cốt đông bắc Tam Đảo.
Thực chất chiến dịch Ceinture là một cuộc "giương đông kích tây" để đánh "bài chuồn" nhằm giảm tổn thất đến mức thấp nhất hay là một cuộc rút lui trong danh dự. Trên đường rút, Pháp đã vấp phải lực lượng ta. Cánh quân từ Thái Nguyên rút qua Sàn Rãnh trên đường 13 đã bị một đại đội gồm 45 tay súng chặn lại. Cả hai tiểu đoàn tổ chức hàng chục đợt phản kích từ sáng đến chiều không vượt qua được trận địa của ta. Nguyễn Quang Huy một mình sử dụng cả súng máy, súng trường, lựu đạn diệt 35 tên địch. Anh đã được tặng thưởng huân chương quân công hạng ba, một vinh dự Nhà nước rất đặc biệt thời đó. Không những thế, địch còn gặp nhiều khó khán về thời tiết, địa hình phải trèo đèo lội suối. Tốc độ hành quân, theo chúng chỉ đạt 300 m/giờ. Tuy nhiên, ta nắm tình hình không sát, thiếu kinh nghiệm đánh truy kích, nên chỉ thực hiện được một số trận ở Phan Lương, đèo Giàng, Phủ Thông. Không đạt được mục tiêu, địch phải kết thúc chiến dịch vào ngày 17/12/1947 chỉ chiếm đóng một số vị trí trên đường số 3 , số 4.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:28:57 AM
Valluy mất 6000 quân và nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Cuộc tiến công qui mô lớn do ông ta chủ trương và Salan thực hiện đã bị đánh bại. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh bị phá sản. Ta bảo toàn và phát triển được chủ lực, bảo vệ được cơ quan đầu não và căn cứ địa, đưa cuộc kháng chiến sang một thời kỳ mới, đánh dấu bước hình thành rõ nét nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.
Để giữ uy tín cho "ông bạn già" Valluy và cũng để tự bào chữa, Salan đã báo cáo: “Chiến dịch đã thành công, tuyến đường chính sang Trung Quốc qua Cao Bằng - cửa ngõ duy nhất của Việt Minh liên hệ với thế giới bên ngoài bị cắt đứt. Hồ Chí Minh hoàn toàn bị cô lập. Chỉ còn lại những toán quân lẻ tẻ có thể xử lý được bằng các hoạt động cảnh sát thông thường". Ông ta tuyên bố "căn cứ của Việt Minh thực chất không còn."
Những người am hiểu tình hình của Pháp cho rằng trong chiến tranh Đông Dương hiếm thấy một báo cáo nào sai như vậy. Theo họ trên thực tế chiến tranh chỉ mới bắt đầu.
Vừa thất bại đậm trong cuộc tiến công lên Việt Bắc, lại mâu thuẫn với cao ủy Bolaerc, Valluy bị triệu hồi về làm thanh tra các lực lượng bộ binh của Pháp ở hải ngoại. Năm 1952 ông ta là trưởng phái đoàn Pháp trong Bộ chỉ huy khối Nato rồi Tổng tư lệnh khối Nato tại Trung Âu. Năm 1960 mới nghỉ hưu.
Cũng do thất bại này, nội các Ramadier phải từ chức dẫn đến sự thay đổi nhân sự một loạt, địch buộc phải chuyển sang chiến lược đánh lâu dài.
Theo tướng Yves Gras trong Lịch sử chiến tranh Đông Dương, sau thất thủ đường số 4 năm 1950, ngày 18/11 Valluy cùng Le Tourneau và tướng Juin trở lại Đông Dương không biết Valluy nghĩ gì?


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:29:44 AM
BLAIZOT ROZET C' và MARCEL CARPENTIER



- Biên giới Việt-Trung 1950: Cả hai không kịp thực hiện ý đồ tháo chạy. Hai binh đoàn Charton và Lepage bị tiêu diệt.
- Toàn tuyến bao vây chiến lược của địch dọc biên giới bị đập tan. Pháp lâm vào thế bị động triền miên.
- Một cuộc khủng hoảng Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh

Blaizot Rozet C' gắn với cuộc tái chiếm Việt Nam ngay từ khi ý đồ giành lại các thuộc địa đã mất nhằm giữ vai trò cường quốc Pháp manh nha trong đầu tướng De Gaulle.
Nguyên là thiếu tá, tham mưu trưởng quân đội thuộc địa của Pháp từ những năm 1937 - 1938 ở Bắc Đông Dương. Trước việc Decoux dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, Blaizot đã dám vượt vòng kiềm toả của Mordant - Tổng tư lệnh quân đội thuộc địa Pháp tại Đông Dương liên lạc với phe kháng chiến của De Gaulle.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai chưa kết thúc, De Gaulle đã nhắm giao cho Blaizot chức Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương với nhiệm vụ tổ chức lực lượng, chuẩn bị cho quân Pháp trở lại Đông Không được Roosevelt - Tổng thống Mỹ viện trợ vũ khí trang bị và phương tiện để hình thành hai sư đoàn bộ binh thuộc địa Viễn Đông gồm các trung đoàn tuyển mộ từ người Phi, De Gaulle quay sang nhờ cậy sự giúp đỡ của Anh. Tháng 4 1944, Blaizot dẫn đầu phái bộ quân sự Pháp tới Candy (Srilanka) đặt trụ sở bên cạnh bộ Tư lệnh Đông Nam Á của Anh do đô đốc Moutbatten làm Tư lệnh, một binh đoàn do Blaizot tổ chức được thành lập và ra đời tại Ấn Độ năm 1946. Khi quân Pháp thảm bại trong chiến dịch tấn công lên Việt Bắc 1947, Salan đã được đưa lên nắm quyền Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh thay Valluy bị triệu hồi. Vì đã chỉ trích chính phủ thiếu tích cực trong việc tiến hành chiến tranh ở Đông Dương, Salan bị chê là non nớt thiếu kinh nghiệm không được đề bạt chính thức.
Vị trí Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh lọt vào tay Blaizot Rozet C'. Tình hình chiến trường tiến triển không mấy khả quan đối với Pháp. Một nửa số quân được để lại phía Nam và đã được huy động đến mức tối đa không đẩy được đối phương ra khỏi vùng sông nước và đầm lầy.
Ngày 1/3/1948 đã xuất hiện trận La Ngà. Tiếp đến ngày 18/4/1948 lại thêm trận Tầm Vu chứng tỏ lực lượng vũ trang của đối phương ngày càng lớn mạnh. Ở miền Trung, hoạt động bị hạn chế, tạo cơ hội cho Việt Minh xây dựng một vùng giải phóng kéo dài 200 dặm từ Hội An đến Mũi Né hình thành một hậu phương cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Trên biên giới phía Bắc, đường số 4 trở thành con đường máu lửa. Bên kia biên giới làn sóng thủy triều đỏ đang dâng tràn xuống phía nam, uy hiếp sự an toàn nếu ông bạn Tưởng Giới Thạch không còn khả năng chống đỡ.
Blaizot rất muốn làm một cuộc tấn công lên Việt Bắc lần thứ hai để ngăn chặn sự đổ vỡ nhưng sau thất bại thu đông 1947, lực lượng chưa kịp phục hồi. Blaizot xin tăng quân viễn chinh lên 131.000. Chính quốc đang trong khủng hoảng chính trị chỉ hứa với Bolaerc, cao ủy pháp, sẽ tăng thêm 18 tiểu đoàn nhưng đến sáu tháng sau, quân đội viễn chinh cũng chỉ dừng ở con số 108.000.
Với thực lực như vậy, Blaizot cho rằng phải mất 5 năm mới bình định được Việt Nam. Trong năm 1948-1949 hình thành trong ông ta một kế hoạch 4 bước: bước 1 và 2 sẽ bắt đầu vào mùa thu 1948 đánh thông đường bộ, đường thủy vùng đồng bằng sông Thái Bình, sông Hồng lên Việt Trì đến Lào Cai; bước 3, khi được tăng viện thêm 8 tiểu đoàn sẽ tiến hành trận quyết định quật ngã đối phương ở phía Bắc. Bước 4 đánh chiếm Thanh Hóa.
Alessandri, Tư lệnh Bắc kỳ cho đó là một kế hoạch khó thực hiện. Ông ta đề nghị đẩy mạnh hoạt động ở Bắc Kỳ nhất là đường số 5, Nam Định, Phát Diệm. Ngày 14/10 Ramadier Bộ trưởng quốc phòng Pháp lại đòi phải nống ra Thanh Hóa ngay trong mùa đông 1948. Chiến dịch Serene được thực hiện ngày 31/10. Các đơn vị thuỷ quân dưới sự yểm trợ của không quân đã đánh vào vùng biển Thanh Hóa nhưng đến ngày 6/11 đã kết thúc vì không mang lại hiệu quả.
Blaizot chuyển sang các cuộc bình định càn quét mở rộng vùng chiếm đóng ở Bắc Bộ. Ngày 19/10/1948 cho quân chiếm Bảo Hà. Ngày 7/11 mở chiến dịch Ordine do đại tá De Poutbnand chỉ huy đánh lên Việt Trì, đến 24/11 tiến lên Yên Bái, Lục Yên Châu. Ngày 8/11 Blaizot đôn quân lên Sơn Tây, từ 21/11 ngược Sông Đà và đường số 6 lên Xuân Mai- Hoà bình. Ngày 7/12 huy động bốn tiểu đoàn dù đánh vùng sông Đáy, Nho Quan.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:30:14 AM
Ở phía Nam, tướng de Latour triển khai 4 tiểu đoàn Âu Phi cùng 4.600 quân nguỵ xây dựng 18 đồn lớn, 460 bốt nhỏ hình thành thế bao vây đồng bằng sông Cửu Long để bình định khu vực sông nước.
Ngày 16/12/1948, từ Nam kinh, Đại sứ Pháp tại Trung Hoa dân quốc phát báo động về những nguy hiểm trước làn sóng tiến công của Hồng quân Trung Hoa, Blaizot hình thành một kế hoạch mới: giữ Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Hóa, đánh chiếm Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái. Rút Bắc Cạn, Cao Bằng, Đông Khê Thất Khê đến Lạng Sơn để tăng cường lực lượng cơ động.
Mâu thuẫn giữa Pignon, người mới thay Bolaerc làm cao uỷ Đông Dương với Blaizot nảy sinh, Pignon muốn chuyển trọng tâm hoạt động quân sự về phía Nam, Blzaizot thì muốn hướng sự chú ý vào phía Bắc. Trong đội ngũ những chỉ huy cao cấp của Pháp ở Đông Dương cũng đẻ ra những lủng củng, Alessandri, Tư lệnh Bắc Kỳ tán thành phải tăng cường đối với Bắc Kỳ, tập trung vào tam giác đường 5, Nam Định, Phát Diệm, phản đối rút Cao Bằng, Đông Khê.
Chính phủ Pháp chần chừ chưa có thái độ vì Marshal, ngoại trưởng Mỹ vừa tuyên bố nếu Pháp cố gắng tăng cường lực lượng cho các nhóm dân tộc, Mỹ sẽ xem xét viện trợ cho Pháp. Quốc hội Pháp vừa phê chuẩn hiệp định Elyse ký giữa Pháp và Bảo Đại 29/1/1950, đầu tháng 2 Mỹ công nhận chính quyền Bảo Đại và ngày 10/3 Truman đã thông qua khoản viện trợ 15 triệu đô la cho Pháp Ơ Đông Dương.
Theo đề nghị của Ramadier, Bộ trưởng quốc phòng, Thủ tướng Queill đã cử tướng Revers - Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp sang Đông Dương khảo sát tình hình và điều hòa mâu thuẫn của bọn chóp bu ở Đông Dương, có kế sách trước sự uy hiếp của Cộng sản Trung Hoa và sự phát triển của Việt Minh.
Ngày 13/5/1948 Revers tới Sài Gòn gặp Valluy và Tư lệnh các quân binh chủng, ngày 16 đến ngày 17/6 đã đi thăm các đơn vị, các khu vực từ Lào Cai đến Bắc Cạn và Cao Bằng tìm hiểu các giới chính trị. Revers chỉ trích chiến lược đang được áp dụng trong cả lĩnh vực chính trị và sống của chính quyền Bảo Đại thối nát, đề xuất quyền chỉ huy của Pháp phải được tập trung trong tay cao ủy cả về quân sự và chính trị. ông ta bi quan về giải pháp quân sự, cho rằng mức tối đa có thể đạt được là cải thiện tình hình nhằm tiến tới một giải pháp thương lượng. Ngày 29/6, Revers đã làm một bản báo cáo bao gồm cả những vấn đề quân sự, chính trị ở Đông Dương, quyết định thay đổi Tư lệnh 3 quân chủng, đưa tướng Bodet làm Tư lệnh không quân, Đô đốc Ortoli làm Tư lệnh Hải quân, đưa Alessandri làm Tư lệnh lục quân để điều hòa mâu thuẫn giữa Alessandri và Blaizot.
Nội dung kế hoạch Revers chuyển hướng kế hoạch 1948, bao gồm: 
- Củng cố chính quyền tay sai, lợi dụng tôn giáo, chia rẽ dân tộc, lập các xứ tự trị dùng người Việt đánh người Việt;
- Đặt kế hoạch phòng thủ Đông Dương của Pháp trong kế hoạch chống Cộng chung của phương Tây, tích cực tranh thủ viện trợ Mỹ.
- Tăng quân cho chiến trường chính Bắc Bộ. Mở rộng phạm vi chiếm đóng đồng bằng và trung du. Tăng cường phòng thủ tứ giác Lạng Sơn, Tiên Yên, Hải Phòng, Hà Nội. Rút ngắn phòng tuyến biên giới Việt Trung. Tập trung vào Thất Khê, Móng Cái.
- Phát triển quân đội bản xứ làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung Âu Phi làm cơ động càn quét, đánh phá phong trào chiến tranh du kích. Mở rộng những cuộc tiến công lớn diệt bộ đội chủ lực của Việt Minh. Kế hoạch được Mỹ ủng hộ, đánh dấu sự can thiệp công khai của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:30:43 AM
Có sự đồng tình của Revers, ngày 30/6 Blaizot vạch kế hoạch quân sự gồm 2 bước:
1/ Từ 1/6 đến 10/9 kiểm soát đồng bằng bắc sông Hồng, rút Bắc Cạn;
2/ Từ 10/9 đến 10/10 kiểm soát Thái Nguyên rút Cao Bằng và Đông Khê.
Alessandri chống lại việc rút Cao Bằng vì như vậy là mở cửa cho Tàu vào đến Thái Nguyên cách Hà Nội 60 km một cách tự do. Blaizot cho rằng tuyến biên giới chỉ có 2 tiểu đoàn dự trữ do đại tá Vicaire chỉ huy không đảm bảo cho việc vận chuyển, tiếp tế. Quân Cộng sản Trung ioa đang là một áp lực, không thể giừ được biên gíới, Cao Bằng giống như một cái túi mà ở đó quân Pháp không có đường chạy.
Ở các tuyến phòng thủ ông ta cho thay các đồn bốt vốn được xây dựng sơ sài bằng gạch, tre nứa và hàng rào lông nhím bằng những lô cốt kiên cố. Mùa hè 1949 được tăng cường thêm từ chính quốc sang 7 tiểu đoàn, Blaizot mở chiến dịch Bastille giao đại tá Lacroit chỉ huy đánh lên Đa Phúc, Đáp Cầu, Phủ Lạng Thương tiếp đến chiến dịch Carrigon và từ 18/8 đến 15/9 đánh Vĩnh Yên, Phúc Yên. Hai tiếu đoàn dù đã nhảy xuống Tĩnh Luyện do trung tá Carbonel chỉ huy, không gặp quân Việt Minh nhưng khi rút đã diễn ra một trận chiến kéo dài nhiều ngày. Các chiến dịch này số nguỵ binh được đưa vào chiến đấu lên đến 5.000 tên.
Ngày 24 - 26/7 Blaizot cho rút Phục Hoà; Ngày 9 - 21/8 rút Bắc Cạn; Ngày 24 - 25/8 rút Nguyên Bình. Cao Bằng, Đông Khê trở thành những vị trí gần như cô lập. Đến đây 8/1949 Blaizot không còn thời gian để thực hiện ý đồ rút tiếp Cao Bằng đến Thất Khê. Căn cứ vào báo cáo của Pignon, Thủ tướng Queill đã đưa tướng Carpentier thay Blaizot vào 2/9/1949.
Người ta cho rằng Blaizot phải về vườn liên quan đến kế hoạch Revers. Một văn kiện tuyệt mật mang tầm “quốc gia đại sự" được tung lên làn sóng của đài tiếng nói Việt Nam ngày 26/8 tức là trước ngày ông ta rời nhiệm sở gần một tuần. Nhưng việc rò rỉ thông tin dẫn tới một vụ bê bối chính trị liên quan đến nhiều vị tai to mặt lớn khiến chính phủ Queill bị đổ, Bidault lên thay, Floret mất chức Bộ trưởng pháp quốc hải ngoại bị Letournau thay, Pleven lên làm Bộ trưởng quốc phòng thay Ramadier, Revers tổng tham mưu trưởng bị tướng Blanc thế chân, sau ba tuần khủng hoảng chính phu với những tội danh được phanh phủi sau đó không thấy liên quan đến Blaizot.
Từng chiến đấu ở châu Phi và là Tổng tham mưu trưởng của tướng Juin ỏ Ý, nhận vai trò Tống tư lệnh quân đội viễn chinh, Carpentier đã cảnh báo tổng thống Orion: nhiều nhất thì Pháp cũng chỉ đạt được một giải pháp chính trị, ông ta đề nghị chỉ nên giữ lại 3 căn cứ: Hạ Long, Cam Ranh, Vũng Tàu ở Việt Nam. Nghe những ý kiến này, Pignon - cao uỷ Pháp ở Đông Dương đã nói với một nhà ngoại giao Mỹ: "Carpentier là con người thụ động phòng thủ đến mức phải đặt dấu hỏi về năng lực lãnh đạo quân đội của ông ta".
Đến Đông Dương Carpentier đã tiến hành một loạt thay đổi nhân sự. ông ta kiêm luôn chức Tư lệnh lục quân và điều Alessandri ra Hà Nội chỉ huy quân đội viên chinh Bắc Đông Dương. Đối với quân Nhật thì Alessandri sợ như cọp, chạy dài sang tận đất Tàu không dám nổ một phát súng nhưng đối với phong trào giải phóng dân tộc, Alessandri luôn tỏ ra là một cây đại đao có hạng. Vừa chuyển vị trí, ông ta yêu cầu phái có 40 tiểu đoàn bộ binh, 5 liên đội pháo, 11 đơn vị thiết giáp nhẹ để giữ đồng bằng nhưng sự tăng viện chỉ được thực hiện nhỏ giọt.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:31:09 AM
Từ cuối 1949 đến đầu 1950 ông ta mở hàng loạt cuộc hành quân càn quét. Ngày 8/2 cuộc hành quân Tonneau ở Thái Bình, từ 20-28/4 mở chiến dịch David càn quét Hà Đông, Hưng Yên, Ninh Bình, ngày 17/4 đến 8/5 huy động 4 tiểu đoàn với lực lượng Hai quân mở chiến dịch Parpaing đánh Đông Triều. Chiến dịch Foudre gồm 3 binh đoàn mở vào 31/5 tấn công Phủ Lý. Các cuộc hành quân được tổ chức liên tục nhưng theo nhận xét của chính Alessandri thì chỉ đạt mục tiêu cơ bản.
Bước sang 1950 lực lượng ta bao gồm cả 3 thú quân ngày càng phát triển, càng được cải tiến, đã hình lực Sức chiến đấu đã được ở chiến dịch Lê Hồng Phong 1 và tiêu diệt đồu Đông Bằng Khê lần thứ lại được đối nhất, vấn đề giữ hay rút Cao phương đặt ra. Tháng 8/1950 Vincent Auriol (Tổng thống Pháp) chỉ thị không được bỏ Cao Bằng. Theo Carpentier, chỉ riêng bảo vệ Móng Cái đã mất 6 tiểu đoàn cơ động. Muốn bảo vệ Cao Bằng phải mất 12 tiểu đoàn trong khi đó khả năng dự trữ đáp ứng tối đa chỉ có 8 tiểu đoàn. Các tiểu đoàn dù bị căng khắp nơi: Tiểu đoàn 1 BEP Thất Khê, tiểu đoàn 2 Pakha, tiểu đoàn 10 Phát Diệm, tiểu đoàn 3 ở Lào, tiểu đoàn 6 ở Trung kỳ, tiểu đoàn 1 BCCP ở Nam kỳ còn tiểu đoàn 7 ở Hà Nội. Trong khi Pignon đi Paris, tướng Carpentier đã họp với các thành viên hội đồng quốc phòng của Pháp đến Sài Gòn ngày 18/8 về việc rút cao Bằng, Đông Khê và đánh chiếm Thái Nguyên, ông ta đã tính đến việc tổ chức rút Cao Bằng bằng đường không hoặc đường bộ theo đường số 3 hoặc số 4.
Đại tá Manourt chỉ huy lực lượng không quân cho rằng đường băng ở Cao Bằng có 900m rất khó tiếp nhận máy bay Zunker 52 và Dacota hạ cất cánh. Việc chuyên chở một tiểu đoàn lê dương, một tiểu đoàn Thổ và gia đình họ cùng mấy trăm nhà buôn Việt Nam, Hoa kiều và lực lượng dân sự sẽ mất rất nhiều thời gian, không che được mắt đối phương và không thể giữ được an toàn sân bãi. Theo đường số 3 thì quá xa, về tới Bắc Cạn mất 140km toàn đường rừng rậm, rất dễ bị phục kích, theo đường số 4 là đẹp nhất vì giáp biên giới, không gặp quân đột nhập từ biên giới sang. Hai bên đường cây thưa, núi đá, khó bị phục kích, con đường ngoằn ngoèo uốn khúc như con rắn, hỏa lực đối phương không phát huy theo kiểu xuyên táo. Về Đông Khê có 45km và từ đó về Thất Khê là 25km. Carpentier đã chọn phương án này.
Ngày 16/9 ông ta ra mệnh lệnh số 46 cho Tư lệnh quân khu biên giới: Triệt thoái Cao Bằng, Đông Khê và tiến công Thái Nguyên theo đường Kép - Bố Hạ - Nhã Nam - Thái Nguyên. Kết hợp với việc thả. tiểu đoàn dù số 7 xuống thị xã để thu hút chủ lực địch, chiến dịch sẽ được thực hiện vào khoảng một tháng (tháng 10). Từ nay đến lúc rút tăng cường cho Cao Bằng một tiểu đoàn bằng máy bay vận tải. Chuyến về sẽ chuyên chở theo đàn bà, trẻ con, người già và phương tiện kỹ thuật quý hiếm về Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:31:59 AM
Trong khi địch đang lúng túng, ta quyết định mở chiến dịch biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế bao vây của địch mở rộng và củng cố căn cứ địa.
Đường số 4 chạy dài theo biên giới Việt Trung. Bị ta đánh nhiều lần nên chúng phải thiết lập hàng trăm đồn bốt để bảo vệ hành lang tiếp tế, vận chuyển và tạo thế đứng vững chắc. Từ năm 1949 trước sự uy hiếp ngày càng tăng của ta, địch phải rút bỏ những đồn bốt lẻ, co cụm lại tại các trung tâm lớn hình thành các cụm cứ điểm gồm Cao Bằng- Đông Khê - Thất Khê - Đồng Đăng - Lạng Sơn xuôi xuống là Bình Liêu, Đầm Hà, Hà Cối điểm chót là Móng Cái.
Ta chủ trương đánh điểm, diệt viện tức là kéo địch ra ngoài công sự để đánh, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta. Lúc đầu ta định lấy Cao Bằng làm điểm của chiến dịch nhưng sau khi điều tra nghiên cứu kỹ thấy: Cao Bằng ở vào địa thố phòng ngự khá hiểm, hai con sông lượn vòng án ngữ, địch có tới 2.400 quân (3 tiểu đoàn của 3e REI, 1 tiểu đoàn ngụy và 3e Tabor) bố phòng vững chắc, ta có thể thương vong lớn và trận đánh có thể kéo dài. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đánh Đông Khê cụm cứ điểm nằm giữa Cao Bằng và Thất Khê. Đánh Đông khê địch sợ bị cô lập sẽ phải rút Cao Bằng hoặc phải từ Thất Khê lên ứng cứu tạo điều kiện để ta đánh địch ngoài công sự.
Ngày 16/9/1950 đúng lúc Carpentier phát lệnh chuẩn bị rút Cao Bằng, ta bắt đầu nổ súng đánh Đông Khê. Đến 10 giờ ngày 18/9, trung đoàn 209 và 174 đã tiêu diệt xong toàn bộ cụm cứ điểm do hai đại đội lê dương chiếm đóng, bắt sống tên Allioux chỉ huy trưởng Đông Khê.
Mất Đông Khê, Carpentier quyết định rút Cao Bàng sớm hơn dự định. Biết là Charton, chỉ huy trưởng 3e REI đồng thời là chỉ huy trưởng Cao Bằng luôn phản đối việc rút bỏ Cao Bằng nên Carpentier đã cử một sĩ quan cưỡi máy bay lên đưa mệnh lệnh buộc Charton phải tổ chức lực lượng gọn nhẹ, bỏ lại tất cả những trang bị nặng, nhanh chóng theo đường số 4 hợp với quân Lepage lên đón, đồng thời ra lệnh cho 5 tiểu đoàn tiến lên đánh chiếm Thái Nguyên thu hút lực lượng ta ở mặt trận chính trở về.
Trong khi tiếng súng đang nổ ở Đông Khê một binh đoàn gần 4 tiểu đoàn. 1er, 3e, 11e Tabor và 1 tiểu đoàn của 8 RTM đã được tập hợp tại Lạng Sơn tiến lên Thất Khê.
Ra chỉ thị cần thiết cho Marchand (quyền Tư lệnh miền Bắc trong khi Alessandri về Pháp) và Constant (Tư lệnh quân khu biên giới), ngày 20/10 Carpentier về Hà Nội. Alessandri cũng vừa từ Paris sang. Pignon đã tổ chức cuộc họp chung. Một cuộc khẩu chiến đã nổ ra giữa Carpentier và Alessandri khá kịch liệt về chủ trương rút Cao Bằng. Ngày hôm sau Carpentier vào Sài Gòn, Alessandri lĩnh trách nhiệm điều hành chiến dịch nằm ngoài ý muốn của mình1 (Alessandri luôn chủ trương chiếm đóng đồng bằng Bắc Bộ, chối rừng núi, chống lệnh rút Cao Bằng. Năm 1950 bị kết tội chống lệnh cao trên, bị triệu hồi về nước không được giao nhiệm vụ chỉ huy).


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:32:44 AM
Ngày 19/9 binh đoàn Lepage mang tên binh đoàn Bayard vẫn chưa tới được Thất Khê vì vừa đi vừa phải sục sạo. Ngày 23/9 đến Pò Mã, 1er BEP đi đầu bị chặn lại. Đội quân lê dương đã phản ứng bằng một trận nổ súng chưa từng thấy ở Bắc Kỳ. Ngày 30/9, trung tá Lepage nhận mệnh lệnh số 2 của đại tá Constant thực hiện chiến dịch "Tiznit" lên Đông Khê vào sáng 22/10 và sẽ có lệnh tiếp vào gần trưa 2/11.
Sau nửa tháng chờ đợi không thấy địch lên, ta chuyển hướng nghiên cứu đánh Thất Khê. Đêm 30/9 Lepage dẫn quân lặng lẽ tiến lên Chọc Ngà. Chạm ta, Lepage đốc tiểu đoàn dù thứ nhất và tiểu đoàn Tabor số 11 chiếm lĩnh dãy Khâu Luông - Nà Pá phía nam Đông Khê và lệnh cho 1er Tabor tiến lên phía tây Đông Khê chiếm sân bay, 1er BEP bịt ở phía nam Đông Khê, hôm đó là ngày 2/10.
14 giờ 30, một mệnh lệnh được ném từ máy bay xuống thúc binh đoàn Bayard phải tới Nậm Nàng cách Đông Khê 15km về phía bắc vào 3/10 đón đoàn quân của Charton theo đường số 4 rút về mang tên chiến dịch “Therese".
Khâu Luông là một đồi cỏ gianh đỉnh cao 703m có 4 mỏm tương đối bằng phẳng khống chế một đoạn đường số 4 khá dài chạy theo dưới chân đồi, nơi đây quân của trung đoàn 36 đã triển khai trận địa chống quân nhảy dù khi đơn vị bạn đánh Đông Khê nên quá quen thuộc địa hình địa vật.
22 giờ đêm 2/10 quân ta tiếp cận địch bắt đầu nổ súng. Địch cố giữ Khâu Luông để bám lấy đường số 4, con đường rút chủ yếu, nên cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Một phần quân số đi lấy gạo không về kịp nhưng các tiểu đoàn 80- 84 đã tham chiến cùng các đơn vị bạn đạt hiệu suất cao. Hai chú bé liên lạc của đơn vị tuổi mới 13-14 khi hành quân đi chiến dịch còn khóc nhè vì đau chân, giờ như những con sóc chạy từ trung đội này đến trung đội khác truyền đạt mệnh lệnh. Bị tiến công suốt ba ngày đêm, hai đại đội lính dù và Tabor bị tiêu diệt. Thấy rõ khả năng không giữ nổi, Lepage lệnh cho binh lính vứt bỏ trang bị nặng, lừa ngựa, cả 4 khẩu pháo 105, tụt từ đỉnh đồi cao xuống đường, tạt sang phía đông vào Cốc Xá một vùng núi đá hiểm trở hy vọng có thể từ đó men theo đường mòn ra Nậm Nàng đón Charton. Đây chính là tử địa của quân Lepage. Chiến thắng oanh liệt của trung đoàn 36 làm đảo lộn kế hoạch hành binh của cả 2 binh đoàn Lepage Charton, sĩ khí quân ta tăng lên gấp bội quên cả ngủ cả ăn. Người người quyết tâm bắt sống Lepage, Charton và quân Tabor về cho đi tải gạo.
Dựa vào máy bay chi viện và thế núi hiểm trở quân Lepage liều chết chống cự nhưng chiến sĩ ta đã gan góc trèo lên vách đá cheo leo ném lựu đạn vào các hang núi kết hợp cái mũi xung kích tiến công lên từ chính diện, lại bị cái đói cái khát hành hạ, đến 8 giờ sáng 7/10 Lepage và toàn bộ Bộ tham mưu binh đoàn Bayard bị bắt. Quân lính chạy trốn tản mát trong rừng, khe suối lũ lượt kéo nhau ra hàng xin được ăn và tha mạng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:33:19 AM
Đoàn quân của Charton không tới được Nậm Nàng như trong mệnh lệnh, tới cây số 22 thì phải bỏ lại toàn bộ xe, pháo theo đường mòn về Quang Liệt để bắt liên lạc với cánh quân Lepage. Bị vây đánh ở điểm cao 477, quân Charton tan rã. Chiều ngày 7/10 toàn bộ binh đoàn bị tiêu diệt và bị bắt sống trong đó có Charton cùng bộ tham mưu và tên Hai Tu tỉnh trưởng Cao Bằng.
Từ Thất Khê, một lực lượng trên một tiểu đoàn do De Labaume chỉ huy lên ứng cứu. Tới nam Lũng Phầy gặp quân ta chặn đánh phải chạy thục mạng về Thất Khê. Như một phản ứng dây chuyền bọn ở Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng lần lượt bỏ đồn cuốn gói.
Constant Tư lệnh quân khu biên giới thấy thế của quân ta như chẻ tre hoảng hốt xin cho rút Lạng Sơn. Cấp trên chưa trả lời, ngày 17/10 Constant đã bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị kho tàng, hô quân chạy về phía Đình Lập. Quân ta thu được ở đây một cơ sở vật chất kỹ thuật đủ trang bị cho năm trung đoàn.
Phòng tuyến được mệnh danh "vành đai khép chặt biên giới" mà quân Pháp ra sức xây dựng hoàn toàn bị đập tan. Thừa thắng quân ta đuổi địch đến Bình Liêu và tiêu diệt nốt căn cứ này khiến hành lang từ Đông Bắc đến Tây Bắc của Tổ quốc được giải phóng.
Chiến dịch kéo dài 1 tháng 2 ngày, nhưng chỉ ngót 1 tuần địch mất gọn 8 tiểu đoàn gồm 6.000 quân bị tiêu diệt và bắt sống, theo Lucien Bodard trong cuốn Chiến tranh Đông Dương, xuất bản ở Paris năm 1963, thì thất bại trên đường số 4, tình cảnh khốn quẫn bi thảm của binh đoàn Lepage, Charton ở Cao Bằng khiến các quan chức Pháp hoảng loạn. Trong lúc hoang mang đã sơ tán vội gia quyến của họ khỏi Hà Nội. Người Pháp không còn tự dối mình về khả năng giành một chiến thắng trong cuộc chiến tranh này. Tâm lý hoảng hốt không chỉ lan truyền trong số người Pháp. Donan Heth mới tới Sài Gòn với tư cách công sứ Mỹ tại Việt Nam đã cảnh báo rằng tình hình Bắc Bộ đang nguy hiểm cần phải loại bỏ toàn bộ khu vực phía bắc trừ hành lang Hà Nội - Hải Phòng, ngay cả khi không có sự can thiệp của Trung Quốc.
Bà con ở Hà Nội cho rằng Việt Minh sẽ về ăn tết ở Hà Nội.
Nước Pháp lâm vào một cuộc khủng hoảng Tổng tư lệnh quân viễn chinh ở Đông Dương. Pleven đòi thay ngay Carpentier. Ông ta bị triệu hồi, chuyển sang làm Tư lệnh lục quân khối Nato những năm 1953 - 1956. Nội các Pháp định đưa Boyer de Latour người có sáng kiến hình thành "tháp canh De Latour" ở Nam bộ bủa vây nhân dân đồng bằng sông Cửu Long làm Tổng tư lệnh, nhưng ông ta không nhận vì thấy khó cả trong lẫn ngoài. Định đưa tướng Juin vào vị trí này, Juin cũng từ chối. Auriol bàn đưa De Lattre de Tassigny sang Đông Dương. Ngày 25/11, Letourneau, cao ủy Đông Dương, đến thuyết phục De Lattre. Sau nhiều ngày suy nghĩ ông ta đồng ý. Ngày 6/12 Nội các Pháp ra quyết định cử ông ta làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đây là vị Tổng tư lệnh thứ 5 sau Le Clerc, Valluy, Blaizot, Carpentier.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:42:46 AM
DE LATTRE DE TASSIGNY



- Một vĩ nhân trong chiến tranh giải phóng nhưng chỉ là một tên tướng cướp trong chiến tranh xâm lược.
- Phát huy mọi khả năng cơ động, pháo và Napan kết hợp tuyến phòng thủ boong-ke lên cố không ngăn được đối phương, không dành được chủ động trên chiên trường.
- Cả hai bố con bị loại khỏi "cuộc chiến tranh bẩn thỉu”
Đám ma ông to lắm?
Văn võ bá quan, lon vàng kiếm bạc, những quý tộc, những ông chủ nhà băng, những nhà công thương đứng ngập hai bên đại lộ. Các quân binh chủng đủ màu cờ, sắc áo xếp hàng thành từng khối, từng khối nối dài như bất tận.
Bà De Lattre trong bộ đồ đen, đi một mình, kiêu hãnh ngẩng cao đầu bước từng bước theo sau chiếc xe tang phủ vải đen viền trắng do ngựa kéo chầm chậm tiến về phía Khải hoàn môn.
Không khí của ngày quốc tang bao trùm. Những tiếng trao đổi thì thầm. Ai cũng cố tạo cho mình một bộ mặt đưa đám. Năm mươi năm sau ngày ông qua đời (11/1/1952 - 11/1/2002), lễ tưởng niệm ông lại được tổ chức trọng thêm tại Hôtel national des Invalides Paris và tại Mouilleron en Pareds quê hương và là nơi chôn cất thi hài bố con ông với sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh và đông đảo cựu chiến binh các thời kì 1914 - 1918, 1939 - 1940, 1944 - 1945. Người ta đặt hoa tại Porte Dauphine, đốt lửa vĩnh cửu ở Arc de Triomphe, diễu binh, rước cờ và gậy Thống chế. Tràn ngập những cờ, có đến 750 lá.
Xúc động quá! Long trọng quá!
Nhật lệnh số 1 ngày 11/1/1952 của Bộ trưởng quốc phòng Pháp Georges Bidault tuyên dương ông là anh hùng, là vĩ nhân (grand homme), là người chiến thắng. Sỹ quan, binh sỹ dưới quyền ông gọi ông là grand chen (sếp lớn) là cha. Trước nhà ông ở Mouilleron en Pareds người ta gắn tấm biển lớn ghi các chức tước của ông với dòng chữ "II sau ve le Tonkin" (tạm dịch là cứu tinh xứ Bắc Kỳ). Tên ông từng được đặt cho một đường phố ở Hà Nội.
Vinh quang gấp mấy mươi lần vinh quang!
Jean De Lattre De Tassigny sinh ngày 2 tháng 2 năm 1889 tại Mouilleron en Pareds (Vendee') trong một gia đình địa chủ quý tộc. Tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr với quân hàm Trung úy. Trong chiến tranh 1914 - 1918, De Lattre 5 lần bị thương, 8 lần được tuyên dương, sau đó tham gia chiến tranh Maroc lại bị thương 2 lần.
Năm 1939 thăng quân hàm thiếu tướng, năm 1940 làm Tư lệnh sư đoàn bộ binh thứ 14. Năm 1941 làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Tunisie. Năm 1942 làm Tư lệnh sư đoàn bộ binh thứ 16 ở Montpelher. Do từ chối hợp tác với phát xít Đức, tập hợp lực lượng chống Hitle, De Lattre bị chính phủ Vichy bắt cầm tù ở Toulouse rồi Lyon với án 10 năm. Năm 1943 De Lattre trốn khỏi Riom cùng vợ con, liên lạc với tướng De Gaulle ở Luân Đôn, sau đó sang Anger tổ chức một đơn vị lớn lấy tên "Quân đoàn B" Sau này là Quân đoàn Pháp quốc thứ nhất (lere Armee Francaise) để chống phát xít.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:43:25 AM
Ngày 17/6/1944 De Lattre cùng đồng đội đổ bộ lên đảo Elbe sau đó lên Provence hợp nhất quân đoàn B với tập đoàn Hải ngoại Pháp-Ý (Corps Expeditionnaire Francais d'italie - CEFF) của tướng Juin đánh chiếm Toulon Marseille, giải phóng 25 quận dọc sông Rhône và Saône, dùng thuyền buồm đổ bộ lên Normandie đánh đòn quyết định đắt giá giải phóng Vosges - Alsace.
Ngày 30/3/1945 đội quân của De Lattre vượt sông Rhin đến Áo.
Ngày 8/5/1945 nhân danh nước Pháp, ông ta cùng đại diện các nước Đồng minh tiếp nhận việc ký kết văn bản đầu hàng của phát xít Đức tại Beclin.
Năm 1949, ông ta làm tổng chỉ huy các lực lượng lục quân của Tây Âu trong khối Bắc Đại tây dương (NATO). Năm 1950, ta mở chiến dịch Biên giới tiêu diệt 8.000 quân địch, xóa sổ hai binh đoàn Charton, Lepage, giải phóng 4000 km2 đất đai, 35 vạn dân; khai thông toàn tuyến biên giới, phá thế bao vây của giặc, thu một khối lượng binh khí kỹ thuật đủ trang bị cho 5 trung đoàn, Pháp lâm vào thế bị động vội vàng điều Bauffre lên giữ Tiên Yên, Erolin giữ tuyết Việt Trì, Phúc Yên, Bắc Ninh ngăn chặn quân ta tràn về trung du, uy hiếp Hà Nội. Được cử sang Đông Dương khảo sát tình hình vào tháng 10 năm ấy, De Lattre gợi ý phải tổ chức ngay những binh đoàn cơ động theo kiểu Mỹ để đối phó với đối phương một cách linh hoạt. Binh đoàn cơ động Bắc Phi (GMNA) do đại tá Edon chỉ huy và binh đoàn cơ động số 3 do trung tá Vanuxem chỉ huy được hình thành ngay sau đó theo chủ ý của De Lattre.
Coi De Lattre như “con át chủ bài", tháng 11 năm 1950, chính phủ Pháp bổ nhiệm ông ta làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Được hơn một năm, ngày 11/1/1952 ông ta bị bạo bệnh chết. Bốn ngày sau, De Lattre được phong hàm Thống chế nước Pháp.
Trong lúc Lavan, Pétain - Thống chế nước Pháp, quỳ gối đầu hàng phát xít Đức, De Lattre đã có nhãn quan chính trị sáng suốt đứng về phía nhân dân và quân đội đồng minh, tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi đất nước là một hành động đúng đắn, dũng cảm đáng được tôn vinh. Tên ông đáng được ghi vào sử sách, và lá cờ của nước Pháp. Nhưng từ khi đảm nhận chức Cao ủy viên Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, ông không còn là ông nữa. De Lattre De Tassigny đã biến dạng thành một tên trùm xâm lược, nói nôm na là một tên kẻ cướp.
Clausewitz, nhà lý luận và sử học quân sự của Đức (1780 - 1831) qua nghiên cứu 130 cuộc chiến tranh từ 1566 đến 1815, trong tác phẩm nổi tiếng "Bàn về chiến tranh" đã nêu lên một kết luận rất có giá trị: "Chiến tranh là công cụ của chính trị. Nó nhất định phải mang tính chất chính trị." Cuộc chiến tranh mà De Lattre De Tassigny tiếp tục lao vào khác về bản chất cuộc chiến tranh giải phóng nước Pháp 6 năm trước đó ông ta đã tham gia. Dù biện minh thế nào nó vẫn là cuộc chiến tranh phi nghĩa phục vụ cho mục đích chính trị xâm lược, thống trị một đất nước, một dân tộc. Những trang sử hào hùng về cuộc đời De Lattre trở nên hoen ố. Vầng hào quang trên đầu ông ta không còn tỏa sáng.
Ông ta là cứu tinh xứ Bắc Kỳ ư? Ông ta cứu ai và ai cần ông ta cứu? Ông ta đã cứu Bắc Kỳ thế nào? Ông ta luôn nhắc thuộc hạ là phải coi Bắc Kỳ là chiếc "chìa thoá" của mọi vấn đề ở Đông Dương và trong quan hệ quốc tế. Đại bản doanh của ông ta hầu như được đưa từ Sài Gòn ra Bắc Kỳ nhưng không ngoài ý đồ bình định Bắc Kỳ, nơi có căn cứ địa Việt Bắc thần thánh, đầu não của cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam bằng mọi giá, hòng cứu vãn sự sụp đổ của chủ chủ nghĩa thất dân kiểu cũ đã lỗi thời.
Giống như Giáo hoàng Thiên chúa giáo Urba XI tập hợp những người đứng đầu nhà thờ Clermont Pháp mùa thu 1095 tiến hành một cuộc thập tự chinh1 (Thập tự chinh: gốc chữ la tinh “crux” - chữ thập biểu tượng được mang trên quần áo người tham gia. Một tư liệu khác viết Pierre l’Errmite (1050-1115)-một tu sĩ-người hô hào và tham gia cuộc thập tự chinh lần thứ nhất (1096-1099)) về vùng Đất Thánh (Israel ngày nay để có sự giầu có, quyền lực và vị trí chính trị, De Lattre cũng là người đầu tiên đề xướng "Thập tự chinh” nhằm lôi cuốn Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam trong khi Mỹ đang không từ một âm rnưu thâm độc nào chống Liên bang Xô viết.
Cuộc thập tự chinh do De Lattre đề xướng cuối cùng đã thất bại như mọi cuộc thập tự chinh mà người ta xúi giục trẻ em Pháp-Đức và cuộc thập tự chinh của ba vua Frederik (Đức), Richards (Anh), Phillip (Pháp) năm 1189 - 1192. Có chăng nó thu hút được nguồn viện trợ Mỹ ngày càng tăng (năm 1950: 52 tỷ Franc, năm 1951: 62 tỷ Franc). Dựa vào đô la  Mỹ, uy thế của De Lattre cũng không ngừng tăng. Người ta nói chỉ có ông ta là dám nổi giận thúc ép các bộ phận trung gian (các bộ, ban, ngành của chính phủ Pháp), buộc họ thỏa mãn nguyện vọng của ông ta, nếu không ông ta hét to vang động đến cả nước Mỹ. Bom đạn Mỹ viện trợ cho Pháp đã gây ra cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu là chết chóc đau thương. Cuộc bán máu người Pháp lấy đô la Mỹ đã dẫn tới hệ quả bi đát: Mỹ hất cẳng pháp khỏi Đông Dương. May mà De Lattre đã nhắm mắt vĩnh viễn không nhìn thấy những nỗi đau của chính phủ Pháp.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:44:17 AM
Ông ta o bế nhiệt tình chính quyền bù nhìn tay sai do Bảo Đại làm quốc trưởng và Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng. Dựa vào công cụ thuần phục này để kìm kẹp, đôn quân bắt lính, tăng cường lực lượng từ 23 vạn 9000 năm 1950 lên 33 vạn 8000 năm 1951, trong đó ngụy binh từ 12 vạn 2000 năm 1950 tăng lên 21 vạn năm 1951; ông ta đã đưa Nguyễn Văn Hinh con trai Nguyễn Văn Tâm từ trung tá lên làm Tổng tham mưu trưởng cái gọi là "quân đội quốc gia" đẩy nó ra phía trước làm bia đỡ đạn để giảm số quân tăng viện từ chính quốc sang trong lúc phong trào phản chiến trên đất Pháp ngày càng cao và cũng để giảm bớt sự chết chóc của quân đội chính quốc trên chiến trường.
Tư tưởng chiến tranh của ông ta là sự tàn bạo, coi đó như thứ quyền không hạn chế của kẻ mạnh đối với các dân tộc khác. Ông ta không ngần ngại sử dụng những phương tiện giết người dã man. Ném bom napan và bắn pháo vô tội vạ được bắt đầu cùng lúc ông ta xuất hiện trên chiến trường việt Nanh. Trong quân của ông hình thành một châm ngôn "Napalm ét l'artillerie ont vaincu” (napan + pháo = chiến thắng). Trận Núi Đanh - Cẩm trạch ở Vĩnh Yên ông ta lệnh cho không quân ném napan như rải thảm, ở Tu Vũ, quân ông ta đã bắn 5000 phát đại bác trong 5 tiếng đồng hồ liền và cuộc rút lui từ Hòa Bình về Xuân Mai - theo những nhà sử học Pháp - quân đội Pháp đã bắn đến 3 vạn phát pháo các cỡ.
Khoác cho ông ta danh hiệu "Cứu tinh xứ Bắc Kỳ" là sự xúc phạm cả một dân tộc và là sự bào chữa cho những tội ác xâm lược của De Lattre de Tassigny.
Nghe đồn ông ta nắm và vận dụng rất giỏi nguyên tắc cơ bản về tác chiến, chiến cục và chiến tranh, biết sử dụng hết mức mọi lực lượng, tập trung tối đa binh lực ở hướng đột kích chủ yếu giáng cho đối phương những đòn bất ngờ, từ những thắng lợi giành được, nhanh chóng chuyển hướng tấn công liên tục chớp nhoáng vào đối phương để giành chi động trên chiến trường. Rất có thể là "danh bất hư truyền" vì ông ta được đào tạo bài bản lại có kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường Tây Âu với cả một đội quân phát xít. Song do lún quá sâu vào thế bị động trước một đối phương dũng cảm mưu trí "khó nhằn", hoặc do cuộc đời binh nghiệp của ông trên chiến trường Việt Nam quá ngắn, người ta ít thấy ông ta thi thố sở trường, chỉ thấy ông ta dồn sức, dồn tiền xây dựng một tuyến lô cốt cố thủ bằng bê tông cốt thép gọi là "tuyến phòng thủ De Lattre" phân ranh giới vùng tự do và vùng tạm chiếm của Pháp với một khu trắng rộng từ 6 đến 7 km để cố thủ kỹ và dễ bề khống chế kiểm soát1 (Tassigny đã huy động một lực lượng công binh rất lớn và hàng vạn phu phen đổ 51 vạn mét khối bê tông xây 2.200 lô cốt để kiểm soát 21.000 km2 đồng bằng và trung du Bắc Bộ).
Người ta mô tả De Lattre khác Navarre. Nếu như lâm vào tình thế khó khăn như Navarre ở Điện Biên, ông ta sẽ không ngần ngại rút 12 tiểu đoàn được coi là món tiền đặt cọc của một canh bạc, tung chúng vào hậu phương Việt Minh quanh Hà Nội rồi bắc loa tuyên truyền "đã chơi bọn Việt một cú đích đáng". Như vậy ông ta chẳng những là nhà chỉ huy quyết đoán mà còn là nhà chiến tranh tâm lý hạng siêu.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:44:41 AM
Nhưng tài năng tính cách "dám làm" của ông ta tích lũy suốt cuộc đời binh nghiệp đã không giúp ông ta làm thay đổi cục chện các cuộc chiến đấu trên các chiến trường mà ở đó ông ta đóng vai trò trực tiếp điều binh, khiển tướng như một Tư lệnh chiếu trường. Ông ta càng không thay đổi được tương quan lực lượng và xu thế tất yếu của cuộc chiến tranh ở Việt Nam trên cương vị một Cao uỷ nước Pháp và Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh.
Hãy nói về loạt trận trên địa bàn tỉnh Vĩnh trên (cũ) mà hai lần De Lattre xuất hiện. Đây là chiến dịch ta mở ở trung du mang tên Trần Hưng Đạo từ 25 tháng chạp 1950 cho đến 18/1/1951 đánh vào phòng tuyến Pháp từ đông Việt Trì - Vĩnh Yên - Phúc Yên đến tây sông Cầu trên đất Bắc Ninh. Bên ta là sư đoàn 308, sư đoàn 312 cùng 4 liên đội pháo của trung đoàn 675 và 4 tiểu đoàn địa phương cùng dân quân du kích. Bên địch gồm 8 tiểu đoàn: 8 đại đội chiếm đóng cộng với 7 tiểu đoàn và 3 đại đội cơ động cùng 4 đại đội pháo. Mở đầu chiến dịch, ta chặt đánh cuộc hành quân Becatxin ở khu tập kết của ta ở Xuân Trạch, Liễn Sơn. Đêm 26-27 ta đánh tiếp cứ điểm: Hữu Bằng, Tú Tạo, ấp Cà Phê, Thằn Lằn, Yên Phụ. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên.
Đợt II từ 30/12/1950 ta chủ trương tiếp tục đánh điện buộc viện binh địch ra ứng cứu để ta có điều kiện diệt thật nhiều sinh lực địch. Đêm 10/1/1951 tiểu đoàn 89 nhổ đồn Tam Lộng, trung đoàn 141 thuộc đại đoàn 312 tấn công cứ điểm Ba Huyên (Bảo Chúc) cách thị xã Vĩnh Yên 12 km, đại đoàn 308 được tăng cường thêm trung đoàn 209 bố trí diệt viện trên đường từ Vĩnh Yên lên Ba Huyên.
Đêm 13 tháng 1, trung đoàn 141 cơ bản giải quyết xong đồn Ba Huyên. Sáng 14/1, binh đoàn cơ động số 3 gồm 4 tiểu đoàn do Vanuxem chỉ huy lên ứng cứu đã rơi vào trận địa được bố trí sẵn của ta. Tiền vệ của Vanuxem bị đánh tơi tả ở Long Trì - Cẩm trạch. Địch điều tiếp lực lượng lên đón tàn quân lại bị ta quây đánh trên cánh đồng Thanh Vân - Đạo Tú, đuổi sát về đến thị xã Vĩnh Yên. Binh đoàn Vanuxem bị diệt gọn một tiểu đoàn Senegal, và một bộ phận lớn trung đoàn số 8 Algerie gồm 700 tên. Ba xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy.
Vừa nhậm chức, sợ Vĩnh Yên thất thủ thì mất mặt. Tassigny vội vã từ Sài Gòn cưỡi chiếc máy bay Moran ra thẳng Vĩnh Yên ngay trong ngày 14 tháng giêng để trực tiếp đối phó. Ông ta tung bốn đại đội dù xuống thị xã và điều binh đoàn cơ động số 1 do Edon chỉ huy tiến lên Quảng Canh đánh giải vây cho thị xã Vĩnh Yên. Một trận tao ngộ chiến giữa các tiểu đoàn 79-18 thuộc trung đoàn 102 với binh đoàn cơ động số 1 diễn ra quyết liệt ở Ngoại Trạch. Địch bị diệt trên 100 tên, ba xe tăng và xe vận tải. Trầy trật chúng mới chiếm được các ngọn đồi 47, 157, 110 và 210. Sáng 15/1 các đơn vị của trung đoàn 209 vượt qua hỏa lực ngăn chặn của không quân và pháo binh đánh chiếm đỉnh 210. 14 g30 bị địch đánh bật khỏi. Chiều và đêm ta tổ chức tiếp hai lần phản kích. Các trận tranh sơn hết đợt này đến đợt khác bằng tiểu liên, lựu đạn dưới sự yểm trợ của pháo binh cả hai phía dường như không dứt trong đêm 16/1. Địch bị diệt 250 tên, bên ta cũng thương vong lớn. Trong khi đó binh đoàn cơ động số 1 của địch chịu sự tổn thất nặng nề mới nối được mỏm 47 với mỏm 101.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:45:11 AM
Thấy quân ta xuất hiện ở sân bay, ngày 17/1 De Lattre lại một lần nứa tới Vĩnh Yên. Ông ta ra lệnh tập trung mọi khả năng của không quân kể cả máy bay vận tải mở chiến dịch ném bom chưa từng có ở Đông Dương chủ yếu là loại bom napan (loại bom chứa ét xăng crêp tạo một vừng lửa, nhiệt độ cao và một đụn khói đen đậm đặc thiêu cháy mọi vật và làm ngạt thở) được ném xuống không hạn chế. Bằng súng bộ binh ta có thể bắn rơi máy bay địch nhưng sợ lộ bí mật trận địa, chỉ phòng thủ thụ động, lần đầu tiên quân ta gặp bom cháy trùm khắp có phần lúng túng đối phó. Có đơn vị bị tổn thất nặng nhưng không vì thế mà ngừng các cuộc tiến công. De Lattre phải đưa lực lượng dự trữ đang hoạt động ở Ba Vì gồm hai tabor và một tiểu đoàn dù tổ chức thành GMII sang tây bắc Vĩnh Yên phối hợp với bọn Vanuxem giữ điểm cao 210, khống chế mũi tiến công của ta vào thị xã.
Tassigny còn lệnh cho Salan lập ngay cầu hàng không điều 4 tiểu đoàn từ miền Nam và miền Trung ra miền Bắc nhưng quân ta đã vượt qua Tam Đảo về căn cứ địa.
Thật ra từ khi mở chiến dịch ta không có ý đồ đánh chiếm thị xã, giải phóng đất đai. Đến lúc ta kết thúc chiến dịch, chuyển hướng hoạt động sang chiến trường khác, được dịp, địch huênh hoang tuyên bố Tassigny đã diệt 6000 quân Việt, tương đương một sư đoàn, bắt 500 làm thất bại âm mưu chiếm đóng Vĩnh Yên của quân Việt!
Jean Arrighi - thư ký hội nhà văn quân đội Pháp gọi "chiến thắng Vĩnh Yên của De Lattre" là bản anh hùng ca, là chiến thắng dở dang ngụ ý còn nhiều chiến thắng tiếp theo. Uy tín và ảnh hưởng của De Lattre trong quân đội và chính giới Pháp tăng lên như diều.
Qua một cái Tết đầm ấm tình quân dân ở hậu phương với đủ các thứ chiến lợi phẩm lỉnh kỉnh được các chàng trai chưng diện có phần kiêu hãnh về những chiến thắng Biên Giới, Trung Du, các đơn vị của ta đã bị Tassigny "tiêu diệt" trong chiến dịch trung du gồm sư đoàn 308, sư đoàn 312 cùng trung đoàn 74, một liên đội sơn pháo 75, một trung đoàn công binh cùng lực lượng vũ trang địa phương lại xuất hiện ở Vùng mỏ - kho nhiên liệu chủ yếu của Pháp, cách thành phố Cảng Hải Phòng, nơi chúng coi là yết hầu khoảng 20 km mặc cho máy bay của địch ném bom ngăn chặn ngay khi vượt Nam Mẫu, Đèo Thùng, đánh vào phòng tuyến trên đường 18 từ Phả Lại đến Uông Bí.
Đêm 23 tháng 3/1951, các đồn Lán Than, Sóng Trâu, lọc Nước bị san bằng mở màn cho chiến dịch Hoàng Hoa Thám và cũng để nhằm nhử địch nống ra cho ta đánh. Rút kinh nghiệm những trận đòn ở Vểnh Yên, De Lattre không đưa quân ra chiếm lại những vị trí đã mất. Ta tiêu diệt tiếp Tràng Bạch, Bí Chợ chuẩn bị tiến công Uông Bí. Bọn Uông Bí rút chạy về Quảng Yên, ta không kịp chặn. Quân ta kiên trì chờ đợi dưới những trận mưa tầm tã, trong những công sự nhão nhoẹt bùn trên dãy Bình Hương, Ba Vành, Tassigny vẫn "án binh bất động".
Đến khi Mạo Khê mỏ bị các đơn vị của sư đoàn 312 tấn công, bọn sống sót kêu cứu thảm thiết, không thể "án binh bất động" mãi, địch liều đưa tiểu đoàn đù thuộc địa số 6 dưới sự yểm trợ của B26 và Helcat tới thu nhặt bọn tàn quân và bọn gia binh chạy vội về thị trấn Mạo Khê cách đó trên 3 km. Đêm 29/3, trung đoàn 36 không nắm được việc địch tăng quân ở Mạo Khê rời vị trí phục kích, tiến đánh Mạo Khê đồn và Mạo Khê phố. Pháo ở Đông Triều và trên các pháo hạm LSSL (Lartgding Ship Support Large) LCM (Langding Craft Mechanized) thuộc chiến đoàn DNA (Divisions navales d'assaut) do Brossard chỉ huy đậu trên sông Đá Bạc đã nã đạn suốt đêm chi viện cho đồng bọn. Ở Mạo Khê đồn, bộc phá của ta sau những ngày mưa, hầu hết bị ẩm không mở được hết hàng rào trước khi trời sáng chỉ nã được pháo và cối vào đồn. Ở phố Mạo Khê ta bắn sập lô cốt ở hai đầu, bắn cháy xe tăng, diệt địch ở từng căn nhà. Hai đại đội trưởng Nguyễn Ích Tỷ và Nguyễn Huy Chưởng chỉ huy hai mũi, gặp nhau ở giữa phố đều rất ngạc nhiên không hiểu tại sao mình diệt đã nhiều mà địch vẫn còn đông? Gần sáng, địch hoảng sợ chạy tuốt về nhà thờ cụm lại chống trả. Chúng công bố ở Mạo Khê phố chúng chết 40 tên, bị thương 150 tên. Tất nhiên con số này còn xa sự thật. Do vận dụng phương châm kém linh hoạt, chuẩn bị thiếu chu đáo, còn bỏ lỡ cơ hội nên mục tiêu chiếu dịch đạt thấp . Ta chỉ loại khỏi vòng chiến 1.300 tên.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:46:38 AM
Trong chiến dịch Hà Nam Ninh cả phòng tuyến sông Đáy từ Yên Mô, Ninh Bình đến nam Phủ Lý của địch bị uy hiếp. Ngày 28, 29 tháng 5 ta tấn công các vị trí bảo vệ thị xã Ninh Bình. Gần 500 tên bị diệt ở Gối Hạc, Non Nước trong đó có tên trung uý Bernard, con trai độc nhất của De Lattre. Địch bố trí phòng tuyến này 4 tiểu đoàn và 27 đại đội chiếm đóng ngoài ra có 4 tiểu đoàn và 5 đại đội cơ động. Song chúng đã phải kêu cứu chiến đoàn thủy của DNA số 3 ngược sông Đáy lên chi viện. Bị hoả lực Bazoka, SKZ của đại đội trưởng Đoàn Ngọc Ánh bên núi Cánh Diều cản lại, không phải nằm bẹp bên hữu ngạn. Nguyễn Quang Vinh đưa một thuyền bộc phá bí mật áp sát mạn tàu phá huỷ một chiếc. Địch phải điều 3 GM cơ động, 4 đơn vị pháo binh, một chiến đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn dù lên phản kích răn sự uy hiếp của ta chiếm lại Ninh Bình. Chiến sự diễn ra ngắn ngủi trong đêm mùng 4 tháng 6. Ngày 5 tháng 6 địch xuất hiện ở thị xã Ninh Bình, tiểu đoàn 80 xuất kích, địch tạo một lưới lửa của pháo cản lại và rút chạy tránh đụng độ với ta. Có lẽ mục tiêu chính của các cuộc hành quân chỉ nhằm tìm xác quy tử của Tổng tư lệnh De Lattre de Tassigny.
Mãi đến ngày 17 tháng 6 địch mới đưa một tiểu đoàn có 10 xe lội nước (ta vẫn hay gọi là xe cóc) lên càn quét tả ngạn sông Vân, khu trục lực lượng ta. Khi địch lọt vào giữa Cam Giá, Kỳ Vỹ, quân ta nhất tề nổ súng. Đại đội trưởng Kim Thảo dẫn đầu đơn vị ào xuống đồng chiêm trũng quần nhau với địch. Bị hai gọng kìm của quân ta khép chặt, phi pháo địch mất hiệu lực, chúng hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại cả 10 xe lội nước và hàng trăm xác chết. Tiếp theo ta đánh một số không cứ điểm Chùa Cao, Kỳ Cầu, Hưng Công, cầu Bút nhưng không diệt gọn. Toàn bộ chiến dịch chỉ loại được 4.000 tên địch.
Đặt chân đến Đông Dương, De Lattre đã chỉ thị cho đám công chức đông đảo không được để vợ con làm vướng chân. Nhưng trong lúc xác quân lính dưới quyền nằm ngổn ngang khắp chiến trường, ông ta chỉ lưu tâm tìm kiếm xác con mình. De Lattre đã chỉ thị cho các cấp thuộc quyền bằng mọi giá thực hiện bằng được yêu cầu của ông ta. Edon, tư lệnh binh đoàn số 1 từ Nam Định đã định dốc toàn lực đánh sang Ninh Bình để thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng hai đơn vị kỵ binh thuộc quyền đại tá Sal đã bị tiêu diệt, đội biệt kích của Vandenberghe vừa bị nhấn chìm ông ta sợ càng đưa nhiều lực lượng sang sông càng chịu tổn thất lớn. Ông ta đã giao cho Marengo, trung uý đưa một đại đội vượt sông trên hai chiến thuyền với sự yểm trợ tối đa của pháo binh thuộc 64 e R.A, chiến xa của Auffret và đại bác của 3 tầu chiến khác liều chết tiến về phía đồn mà trước đây Becnard chiếm đóng. Sau những cuộc giao tranh họ đã tìm thấy xác Becnard và hàng chục xác chết khác chồng chất trong một hang đá.
Mặc cho chiến trường nóng bỏng, De Lattre đưa Becnard về chôn ở chính quốc vì nó là con ông. Ông ta phải làm cho toàn nước Pháp thấy bố con ông ta đã hy sinh chiến đấu cho nước Pháp như thế nào. Người ta tính Pháp mất mỗi năm một khoá sĩ quan được đào tạo từ trường võ bị Saint Cyr, số tướng tá bị bỏ mạng trên chiến trường cũng không ít- 20 con của các ông tướng đã chết trong chiến tranh Việt Nam như con tướng Leclerc, Gambiez nhưng không mấy người được đưa về chôn ở nước mẹ và cũng không có đám ma nào của sĩ quan được tổ chức trọng thể như đám ma con ông ta. Cái chết của De Lattre con trong cuộc "chiến tranh bẩn thỉu” đã làm De Lattre bố thêm rạng danh "người yêu nước nồng nàn", người đã "Hiến dâng tất cả cho tổ quốc (Loi - ngày 15/1/1952).


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:47:41 AM
Để giành lại thế chủ động, từ ngày 9 đến 14 tháng 11/1951 Tassigny tập trung 20 tiểu đoàn đánh chiếm thị xã Hoà Bình với ý đồ cắt đứt đường giao thông tiếp tế từ Khu 4, Khu 3 lên Việt Bắc, thu hút và tiêu diệt chủ lực ta. Mờ sáng ngày 14 tháng 11, 3 tiểu đoàn dù được tung xuống thị xã nơi nhân dân đã triệt để tản cư đề phòng cuộc tấn công mùa đông của địch, 15 tiểu đoàn bộ binh, 2 liên đoàn xe bọc thép, 7 liên đội pháo cùng các đơn vị công binh tập kết ở Xuân Mai theo đường số 6 lên Phương Lâm. Hai chiến đoàn1 (Chiến đoàn (Dinassaut) thuộc các D.N.A (Divisions navales d'assaut chiến đoàn xung kích thủy) thường có 1 2-20 tàu LSSL bọc thép, 2 LCM bọc thép, 6 LCM khác được trang bị các ụ pháo, cối 81 hoặc chở được 1 đại đội lính thủy hoặc biệt kích) thủy ngược sông Đà lên Hoà Bình. Để khuếch trương chiến quả, De Lattre đã đưa cả quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại lên thăm "xứ Mường tự trị" chưa kịp ra đời.
Trước ta phải nhử địch ra để đánh, giờ địch tự ra cho ta đánh. Nắm thời cơ, ngày 10/12/1951 ta nổ súng đánh Hòa Bình. Trung đoàn 209 tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn địch ở Ninh Mít (Ba Vì). Đêm đó, trung đoàn 88 được tăng cường tiểu đoàn 80 đánh Tu vũ thuộc phân khu sông Đà, do một tiểu đoàn Âu Phi chiếm đóng. Địch phản ứng điên cuồng, kết hợp với pháo bắn cấp tập xe tăng địch lồng lộn chà xát các hướng tiến công của ta. Cuối cùng tên chỉ huy 1er BPC đã phải ra lệnh cho quân mạnh ai nấy chạy nhưng không một tên nào chạy thoát.
Nhằm cô lập thị xã Hoà Bình ta chủ trương cắt đứt đường tiếp tế trên sông và trên bộ của địch. Thực hiện khẩu hiệu “Biến đường số 6 thành đường số 4 năm xưa", "Biến sông Đà thành sông Lô lịch sử", quân ta chặt đường số ảo thành từng khúc, tiêu diệt từng đoàn xe của địch. Đoàn vận tải hàng tiếp tế chc Hòa Bình do Gille tổ chức và cầm đầu phải mất bảy ngày, từ 11 đến 18 tháng giêng mới vượt được chặng đường 40 km từ Xuân Mai lên Hòa Bình. Mỗi một cây số chúng đều phải đổi bằng máu.
Phía sông Đà, Trung đoàn 36 có tiểu đoàn súng phòng không và một đại đội pháo 75mm phối thuộc đã liên tiếp phục kích, bắn phá các đoàn tầu xuôi, ngược của địch. Ngày 22/12, chúng mạo hiểm chc một đoàn 4 Vedette và một LSSL bọc thép, trang bị pháo do một đại đội hộ tống từ Hòa Bình về Trung Hà đã bị bắn cháy, bắn chìm toàn bộ Lạc Song. Một máy bay khu trục bị hạ.
Ta chuyển sang siết chặt vòng vây thị xã Hòa Bình. Đêm 7/1 ta đánh vị trí Pheo do tiểu đoàn 11 bán lữ đoàn Lê dương số 13 chốt giữ. Sau 4 giờ giao tranh, theo tư liệu địch toàn bộ sĩ quan trong đồn bị loại khỏi vòng chiến đấu, chỉ còn mấy tên lê dương nấp trong công sự bắn ra. Cũng trong đêm, trung đoàn 36 diệt 5 cứ điểm ngoại vi cỡ trung đội, mở đường cho một đơn vị biệt kích được trang bị gọn nhẹ do Chu Tấn và Lê Quang Tý chỉ huy lọt vào trung tâm thị xã phá huỷ một trận địa gồm 4 pháo 105 hạn chế hỏa lực chi viện của địch, góp phần giảm bớt thương vong cho đơn vị bạn tiến hành công kích Pheo.
Hơn một tháng tiếp đó, các đơn vị thuộc trung đoàn 36 đã 225 lần đánh địch bằng mọi hình thức. Pháo, cối của ta nã vào các mục tiêu hoặc tập kích bằng những lực lượng nhỏ, bắn tỉa những tên địch xuất hiện, diệt gần 400 tên, phá hủy 3 máy bay.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:48:07 AM
Vào thời điểm gay cấn nhất, De Lattre De Tassigny bị bạo bệnh phải về nước và chết vào ngày 11 tháng 1 năm 1952. Vừa bị bao vây nghẹt thở ở Hòa Bình, vừa bị đánh tơi bời ở các mặt trận phối hợp tại đồng bằng Bắc Bộ, Salan lên thay De Lattre nắm quyền Tổng chỉ huy vội vã ra lệnh rút khỏi Hòa Bình, kết thúc thảm hại chiến dịch phản công do De Lattre chủ trương. Cuộc rút lui mang tên Amarante bát đầu từ 19 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952. Dọc đường chúng thiết lập 10 điểm tựa gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 liên đoàn thiết giáp, một số đơn vị công bính, tăng cường hoạt động phi pháo lên gấp nhiều lần mà phải mất hai ngày trầy vẩy năng mới tới Xuân Mai.
Bọn từ Hà Nội lên đón và bọn từ Hòa Bình về gặp nhau đều thở phào vì thoát chung số phận 2 binh đoàn Charton Lepage ở Cao - Bắc - Lạng. Một sĩ quan cao cấp của địch đã nói: "Thống chế De Lattre đã chết đúng thời điểm để khỏi chứng kiến cuộc rút lui này”.
Kết cục chiến dịch Hòa Bình địch bị loại gần 7.000 tên, kể cả các mặt trận phối hợp là 15.000 tên. Ta giải phóng thêm 1.000 km2 đất và 20 vạn dân. Địch bị động càng lún sâu vào thế bị động.
Jules Roy, nhà báo Pháp đã mô tả tâm trạng ngao ngán của Navarre trước một di sản mà De Lattre và ê kíp của ông ta để lại cho người kế nhiệm: "Đó là một đội quân đã quá mệt mỏi trước một đối thủ mềm dẻo, khó nắm bắt đến độ nguy hiểm, có mặt khắp nơi và có tất cả. Không ở đâu là hậu phương, tất cả đều bị đe dọa và chết người. Hầu hết các cú đánh của quân viễn chinh như đấm vào không khí".
Có người còn hạ một câu xanh rờn: "Thời Thống chế De Lattre chỉ còn lại một phòng tuyến lô cốt đúc bàng bê tông nhằm phá vỡ các đợt tiến công của đối phương ở châu thổ. Người ta tống đến các lô cốt ấy bọn xuẩn ngốc và bọn đầu óc lạc hậu” (ám chỉ nó giống như tòa nhà Katignon xây năm 1721 ở phố Varenne Paris dành làm nơi họp Hội đồng bộ trưởng Pháp).
Bốn năm sau khi De Lattre chết, Điện Biên Phủ thất thủ, người ta cho rằng De Lattre có trách nhiệm vì ông đã đưa De Castrie - một đại tá gắn với chiến tranh cộng đàn bà và ngựa vào ê kíp của mình, đưa sang Đông Dương với những huyền thoại: ông tổ là Thống chế Pháp, bộ trưởng hải quân dưới thời Louis 15, dòng dõi một Thống chế, 4 đô đốc, 4 phó toàn quyền, 8 trung tướng, 5 lần được tặng Bắc đẩu bội tinh v.v..


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:48:48 AM
RAOUL SALAN



- 45 năm gồng mình tìm lại "những ngày sung sướng nhất" của cuộc đời thực dân bằng hàng vạn sinh mạng của binh sĩ dưới quyền.
- Liên tục thảm bại từ chiến dịch này đến chiến dịch khác. Cuối đời nhạn bản án tử hình, 76 tháng tù giam và được tha ở tuổi 70.
Tám đời Tổng tư lệnh Quân đội viễn chinh Pháp tái chiếm Việt Nam, đại tướng Raoul Salan là người có thâm niên lâu nhất ở Việt Nam.
Hai mươi tư tuổi đời, với quân hàm Trung uý ông ta đã có mặt ở các đạo quan binh xứ Bắc Kỳ hoạt động từ Nguyên Bình (Cao Bằng), Lạng Sơn, Đình Lập (Móng Cái) rồi Mường Sinh tận Thượng Lào suốt 13 năm liên tục.
Trở về Pháp một thời gian, từ năm 1945 đến năm 1953 lại thường xuyên có mặt tại Việt Nam. Salan rất hài lòng về những tháng năm từ 1924 đến 1987 và cho đó là "quãng đời sung sướng nhất" của đời ông.
Bắt nguồn từ chính sách thống trị bằng biện pháp quân sự nhằm đàn áp hữu hiệu các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của nhân dân Việt Nam vùng thượng du, ngày 6/8/1891 Toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định tổ chức trên lãnh thổ Bắc Kỳ 4 đạo quan binh: đạo thứ nhất: phả lại; đạo thứ hai: Lạng Sơn; đạo thứ 3: Yên Bái; đạo thứ 4: Sơn La; một phần lãnh thổ Lai Châu thuộc đạo quan binh thứ 5: Thượng Lào.
Mỗi đạo quan binh do một sĩ quan cấp tá người Pháp làm tư lệnh, có quyền dân sự ngang thống sứ Bắc Kỳ, có quyền mở các cuộc hành quân đánh phá trong phạm vi cai quản, chỉ chịu sự chỉ đạo của Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương. Mãi tới ngày 18/4/1oJ08 mới quy định lại: Về dân sự, người đứng đầu đạo ngang quyền công sứ (quan cai trị đứng đầu một tỉnh) về quân sự chịu sự chỉ huy của tư lệnh chiếm đóng Bắc Kỳ; Bãi bỏ tiểu khu, thay bằng đại lý do một sĩ quan cấp uý đứng đầu.
Vì vậy, là sĩ quan cấp thấp nhưng Salan nắng trong tay quyền sinh, quyền sát như một "bạo chúa” tha hồ làm mưa, làm gió ở các địa phương thuộc quyên cai quan.
Do môi trường sống và hoạt động Salan đã thông thạo tiếng Việt, tiếng Quảng Đông, tiếng Lào. Sau này trở về Pháp làm ở phòng nhì thuộc Bộ thuộc địa nơi có đến 8 chi nhánh đóng ở khắp nơi từ Hà Nội, Thượng Hải đến Noumea, Dibuti... chuyên ăn cắp thông tin tình báo và do thám các nước trong vùng, ông ta thông thạo và thi đậu bằng ngôn ngữ Thái Lan. Một nhà báo Pháp đã viết "ông sài thuốc phiện như một dân bản địa, mọi sáng kiến kế hoạch của Salan đều hình thành trong khói thuốc phiện".
Tháng 1 năm 1940, Salan rời Bộ thuộc địa xuống làm tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn Sénégal ở gần Bordeau. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, thời gian đầu Salan phục vụ chính phủ Vichy sau đó theo De Gaulle sang Châu Phi, làm trung đoàn trưởng thuộc đạo quân của Tassigny chiến đấu trên các mặt trận phía Nam nước Pháp.
Kết thúc chiến tranh Pháp - Đức, Salan mang quân hàm đại tá. Ngày 12/2/1945 Tassigny gọi "bé con" Salan tới, giao tổ chức chỉ huy sư đoàn 14 và gắn cho 2 sao cấp tướng.
Tháng 6 năm 1945, Le Clerc nhận chức Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đang thiếu cán bộ khung để hình thành CEFEO (Corps Expedionnaire Francaise Extrême Orient) ngày 28/6 Le Clerc gửi thư đề nghị Salan sang Đông Dương với mình, Salan không muốn đi vì muốn nghỉ ngơi, vợ sắp đẻ nhưng ngày 15/9 Diethelm gọi đến nói: đô đốc D'Argenheu và tướng Le Clerc rất muốn tướng quân trở lại Bắc Kỳ nơi đang diễn ra nhiều sự kiện. Salan đành phải chấp nhận. Le Clerc được Salan nhận lời, giao luôn cho Salan làm đại diện Bộ Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương cạnh tướng Lư Hán- người sắp sửa đưa quân Tàu Tưởng vào tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, đồng thời làm tư lệnh quân đội Pháp ở Trung Quốc và Bắc Kỳ thực chất là thu nhặt bọn tàn quân chạy sang nương náu Tàu Tưởng sau ngày 9/3/1945 và tô chức lại những quân nhân cởi áo lính trà trộn trong kiều dân Pháp tá túc ở các tỉnh từ Huế trở ra thành một lực lượng sẵn sàng hỗ trợ cho đại quân Le Clerc khi đổ bộ ra miền Bắc.
Ngày 7/11/1945 Salan sang Côn Minh nắm được khoảng trên 5000 quân của các trung đoàn thuộc địa, lính Rađê, lính khố xanh được Tưởng cho tạm trú dọc tuyến đường sắt từ Mông Tự đến giáp giới Lào Cai trong tình trạng thiếu vũ khí, thiếu quân trang quân dụng, thiếu tiền. Salan trở về báo cáo và được Le Clerc đáp ứng mọi nhu cầu. Khi Salan đề nghị Lư Hán cho bọn này trở về Bắc Kỳ, Lư Hán chỉ ầm ừ không dám chấp nhận măc dầu Salan đưa cả Thống đốc ngân hàng Đông Dương sang để gạ gẫm vì Lư Hán sợ sẽ trở thành lực lượng cản trở mưu đồ biến Đông Dương thành thuộc quốc của Trung Hoa dân quốc. Nhờ sự can thiệp của chính quốc, Tưởng đồng ý cho bọn này chuyển về Bắc Lào. Nhưng trên thực tế những cánh quân của Droniou Gaucher, Quilichini, Lepage đã vượt sông Hồng đánh chiếm Lai Châu, Phong Thổ, Tuần Giáo, Điện Biên tháng 2 năm 1946.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:49:13 AM
Salan cũng đã nắm được số người Pháp còn ở lại ở Bắc Đông Dương là 17.611 người gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con. Riêng ở Hà Nội ông ta đã phân loại được 582 sĩ quan, 1.468 hạ sĩ quan cộng cả binh sĩ là 4.411 người đủ phục hồi một tiểu đoàn của 9e RIC, một tiểu đoàn của 19e RIC, một tiểu đoàn của 5e REI, trung đoàn pháo binh thuộc địa thứ 4, một đại đội vận tải và một số thuộc các binh chủng hải quân, không quân. Ở Hải Phòng cũng tìm được 30 sĩ quan, 96 hạ sĩ quan, 106 lính cộng 232 trong số 1160 người pháp. Ở Huế là 7 sĩ quan, 28 hạ sĩ quan, 33 lính cộng 68 trong số 1892 người có mặt v.v... Đây có thê coi là lực lượng nằm vùng rất lợi hại vì quan thung thổ - sau ngày 6/3/ 1946 bọn chúng được tái vũ trang trở nên rất hung hăng trong những hành vi khiêu khích làm mất trật tự an mình của thủ đô, châm ngòi cho ngọn lửa chiến tranh.
Có thể nói Salan đã hoàn thành 2 nhiệm vụ quan trọng mà Le Clerc giao.
Sau khi Hiệp định sơ bộ 6/3 được ký kết ngày 24 tháng 3 Hồ Chủ Tịch tới Vịnh Hạ Long theo lời mời mời của cao uỷ Pháp D'Argenlieu. D'Argenlieu đề nghị nên có một cuộc họp trù bị tiếp đó là một cuộc họp chính thức hai bên Việt - Pháp tại Đà Lạt đế chính thức hóa Hiệp định sơ bộ 6/3.
Hồ Chủ Tịch muốn đưa vấn đề khỏi tầm tay với của một tên thày tu phá giới hiếu chiến nên yêu cầu cuộc họp được tiến hành tại Paris. D'Argenlieu sợ vai trò của Hồ Chủ Tịch với tư cách là nguyên thủ quốc gia sang nước Pháp sẽ gây ảnh hưởng tới dư luận Pháp vốn giao động một cách thất thường sau Chiến tranh thế giới lần thứ II nên không tán thành. Y kiến của Hồ Chủ Tịch đã tranh thủ được sự nhất trí của Le Clerc và Sainteny nên D'Argenlieu phải miễn cưỡng chấp thuận.
Sáng 30/5 lễ tiễn Bác đi Pháp được tổ chức với trên 5 vạn người tham dự. Sáng 31/5 sau khi cùng Valluy hướng dẫn Bác duyệt đội quân danh dự, Salan đã tháp tùng Hồ Chủ Tịch đi Pháp với tư cách là khách mời danh dự của chính phủ Pháp (không phải là đại biểu chính thức trong phái đoàn đành phán giữa 2 chính phủ Việt - Pháp).
Ở Pháp đang tiến hành tổng tuyển cử, không có chính phủ chính thức đứng ra đón Hồ Chủ Tịch nên chuyến đi Pháp của Hồ Chủ Tịch bị trì hoãn nhiều lần. Để đảm bảo cho tổng tuyển cử kết thúc trước khi đoàn đến Paris, Bác đã dừng lại Myanma, Calcuta, ngày 4/6 tới Agra, rồi Carachi, Ai Cập.
Đã từng ở Châu Phi, Salan đóng vai một hướng dẫn viên du lịch rất đắc lực. Ngày 6/7 hội nghị Fontainebleau khai mạc, trong đoàn của Pháp có Mac Angdre, Pignon, Toren, Mesme và cả Salan. Hôm sau, 12 giờ Salan dẫn vợ con đến thăm chào Hồ Chủ Tịch. Cho đến ngày 16/9 khi Hồ Chủ Tịch rời Tulon lên tàu Dumon Durville về Hải Phòng, Salan mới kết thúc công việc tháp tùng mặc dầu trong quyết định ngày 29/5/1946 D'Argenlieu chỉ giao cho ông nhiệm vụ đại diện cao uỷ Pháp và Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương dự Hội nghị Paris, ký các thoả thuận về quân sự trong khuôn khổ của Hội nghị giữa hai bên.
Nhiều năm sau ông còn giữ được tấm ảnh Hồ Chủ Tịch tặng có dòng chữ: A monsieur le Général Salan Meilleurs amitiés 7/4/1946 (Tặng ngày đại tướng Salan vì tình bạn). Tấm ảnh được in trang trọng trong cuốn hồi ký của Salan xuất bản năm 1970.
Tất nhiên lập trường của Salan vẫn là lập trường thực dân. Mục tiêu của ông ta không ngoài việc phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam.
Tháng 12/1946 nội các Pháp họp bàn giải đề nghị của D'Argenlieu cao uỷ Pháp ở Đông Dương: Tăng viện và dùng hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam. Cuộc họp chưa đi đến kết luận ngã ngũ thì ở Việt Nam, Valluy nguyên tư lệnh sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa lên thay Le Clerc làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh, đồng loã với quyết tâm của D'argenheu là cần phải duy trì sự có mặt của Pháp ở Đông Dương, quyết định tiến hành khiêu khích nhôm tạo ra một sự đổ vỡ để bắt đầu cuộc chiến và đưa Pháp vào việc đã rồi.
Hắn liên tiếp chỉ thị cho Morliere đưa ra những tối hậu thư rất láo xược đòi ta phải giải tán lực lượng bán vũ trang, chấm dứt mọi hành động chuẩn bị đối phó với âm mưu gây hấn, đòi bàn giao vấn đề an ninh cho Pháp, tung bọn lính lê dương nghênh ngang trên đương phố, vô cớ xả súng bắn giết đồng bào ta khiến cuộc kháng chiến toàn quốc đã nổ ra trong đêm 19/12/1946.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:49:54 AM
Thu đông 1947, Valluy chủ trương tấn công chiến khu Việt Bắc - căn cứ địa thần thánh của cả nước, nhằm bắt sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đè bẹp quân chủ lực của ta coi đó là tiền đề tiến hành một cuộc đàm phán. Để đạt mục đích, Valluy cho rằng phải tăng thêm 10 vạn quân nhưng chính quốc đang vướng vào cuộc nổi dậy của nhân dân Madagascar không đáp ứng được yêu cầu Valluy buộc phải tấn công trên quy mô hẹp đánh thẳng vào trung tâm căn cứ của ta ở Việt Bắc trọng điểm là Bắc Cạn - Chợ Mới - Chợ Đồn hòng bắt sống cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến.
Ngày 20/10/1947, hai mươi tiểu đoàn gồm 12.000 quân do Salan chỉ huy hình thành hai gọng kìm: Một theo đường số 4 tiến thẳng xuống đường số 3 kết hợp với quân nhảy dù ở Bắc Cạn; một theo Sông Lô và đường số 2 tiến lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá. Cả hai cánh hợp kích tại Đại Thí.
Lúc đầu ta phán đoán không đúng âm mưu địch nhưng sau bắt được toàn bộ kế hoạch chiến dịch của địch ta điều chỉnh lại lực lượng, đánh địch ở mọi hướng, bẻ gãy gọng kìm của chúng khiến chúng thất bại nặng buộc phải rút quân.
Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Valluy bị phá sản lại mâu thuẫn với Bolaerc cao uỷ Pháp ở Đông Dương, Valluy bị triệu hồi (10/2/1948), Salan tạm thời được giao Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp. Trước hoạt động mạnh của Quân Giải Phóng Trung Quốc dọe biên giới Việt Trung, Salan đòi chính phủ pháp phải có hành động mạnh mẽ để giữ vững quyền kiểm soát của Pháp ở biên giới. Trong thư Salan ngầm chỉ trích sự thiếu tích cực của chính phủ.
Người ta cho Salan còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm về quân sự, đã đưa tướng 4 sao Blaizot thay thế ngày 15/5/1948, rút Salan về Pháp làm nhiệm vụ theo dõi quân đội thuộc địa.
Mùa xuân 1949, trước sự uy hiếp của ta ở biên giới, Blaizot kêu gọi chính phủ Pháp rút khỏi những vị trí từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, chỉ kiểm soát từ Lạng Sơn đến Vịnh Bắc Bộ. Tháng 5/1949, Revers, Tổng tham mưu trưởng Pháp sang kiểm tra thấy cần phải cải thiện tình hình quân sự mới thuyết phục được Mỹ tăng viện trợ. Với khả năng thực tế, Revers đồng ý với giải pháp tình thế của Blaizot, rút từ Thất Khê đến Cao Bằng. Nhưng cho đến năm 1950 kế hoạch Blaizot không được thực hiện, Cacpentier lên thay đột ngột hạ lệnh rút toàn bộ đường số 4 chỉ để lại Móng Cái, khi toàn bộ đường số 4 bị đánh tơi bời.
Tâm lý hoảng hốt lan truyền sang cả người Mỹ. Donan Heth công sứ Mỹ tại Việt Nam cảnh báo: Tình hình Bắc Bộ đang nguy hiểm cần bỏ khu vực phía Bắc trừ hành lang Hà Nội, Hải Phòng ngay cả khi không có sự can thiệp của Tàu. Nhiều người Việt Nam cho rằng thắng lợi ở Biên giới là bệ phóng cho cuộc Tổng tiến công vào trung tâm đồng bằng Bắc Bộ và dự đoán quân ta có thể về Thủ đô ăn Tết vào 1951.
Chính phủ Pháp vội cử Thống chế Tassigny sang làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương để cứu vãn tình thế. Biết Salan từ những trận đánh ở Tulon khi ông ta đang làm trung đoàn trưởng, với 3.200 quân bị chết 635, bị thương 1.659, hàng mấy trăm đào ngũ, bỏ ngũ, Salan vẫn giữ được ý chí chiến đấu, nên Tassigny đã kéo Salan sang Đông Dương làm phụ tá hành quân cho mình.
Trong chiến dịch Trung du 1951 - 1952, Vĩnh Yên nằm trong tầm súng của quân đội ta, trước sự uy hiếp của đối phương, Salan đã kịp lập một cầu hàng không đưa 4 tiểu đoàn từ phía Nam ra phía Bắc cứu nguy Vĩnh Yên đỡ đòn cho Tassigny.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:50:54 AM
Sau những đợt hoạt động của ta ở đường 18 và đồng bằng Hà Nam Ninh tuy hiệu suất không cao đã chiến cho các tướng lĩnh Pháp hình thành 2 quan điểm: Một phía thấy cần tập trung lực lượng giữ cho được đồng bằng Bắc Bộ, phía khác đòi phải đánh ra vùng căn cứ địa của ta giành lấy chủ động. Tassigny đã chọn biện pháp "cứng" tiến công vào thị xã Hoà Bình nhằm cắt khu 3, khu 4 với Việt Bắc, thu hút và bẻ gãy chủ lực của ta. âm mưu lâu dài là lập xứ Mường tự trị.
Được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch, biết Hòa Bình không có tổ chức phòng ngự từ trước, Salan vẫn thốt lên "Tôi thật sự kinh ngạc nếu không nói là hoảng hốt". Thấy ta đánh mạnh ở Nghĩa Lộ, tưởng chủ lực ta hoạt động chủ yếu ở Tây Bắc, Tassigny ra lệnh bắt đầu chiến dịch Tulip. Salan đưa 12 tiểu đoàn, 5 đơn vị pháo nống ra Chợ Bến. Không gặp phản ứng của chủ lực ta Salan mở tiếp chiến dịch lấy tên Lotus, tập kết 18 tiểu đoàn trong đó có 8 đơn vị pháo, 2 đơn vị chiến xa, 2 tiểu đoàn công binh chia hai ngả: một theo đường sông Đà tiến lên thị xã Hoà Bình, một theo đường số 6 kết hợp với 3 tiểu đoàn dù được ném xuống Hoà Bình ngày 14 tháng 11 năm 1951.
Tassigny bị ung thư đến giai đoạn cuối lết trên chiếc gậy có hai người xốc hai bên mở cuộc họp báo đêm 15/11 thông tin chiến thắng. Ông ta tuyên bố "Với trận tiến công Hoà Bình, ta đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có nghĩa là ta đã bắt buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hoà bình có ảnh hưởng quốc tế lớn". Ngày 19/11 gắng gượng cưỡi máy bay cùng Bảo Đại lên Hòa Bình khoe khoang chiến tích, chỉ thị cuối cùng cho thuộc hạ trước khi về chết trên đất mẹ. Toàn bộ gánh nặng đè lên vai Salan. Trên mặt trận chính, mở màn chiến dịch, ta diệt gọn một tiểu đoàn Âu Phi được xe tăng và pháo binh yểm trợ tối đa tại Tu Vũ bên sông Đà. (Trận này địch bắn 5.000 phát đại bác trong 5 giờ liền để ngăn chặn các mũi tiến công của ta), các đại đoàn 308, 304, 312 đã "biến đường số 6 thành đường số 4 năm xưa", "biến sông Đà thành Sông Lô lịch sử" khiến quân Pháp ở Hoà Bình nằm trong thế bị bao vây chặt. Quân lính của Salan kêu là bị đẩy vào "đống phân" và sa xuống địa ngục vì vừa thiếu thốn mọi thứ trong sinh hoạt, cả ngày lẫn đêm bị các cỡ đạn dội xuống đầu có thể thương vong bất cứ lúc nào.
Địch liều đưa 5 tàu từ Hoà Bình xuôi sông Đà lấy hàng tiếp tế. Đến Lạc Song sa vào trận địa phục kích của trung đoàn 36, cả đoàn tàu bị diệt cùng một đại đội lính đi áp tải. Ta thu 3 khẩu pháo, 3 súng 12,7. Bắn rơi tại chỗ một máy bay. Sau trận này địch không dám xuất hiện trên sông Đà.
Trên đường số 6, dưới những triền núi hiểm trở các xe các loại của địch bị các đơn vị của sư đoàn 304 tiêu diệt nằm ngổn ngang. Phía sau lưng bị các đại đoàn 316, 320 đánh sập từng mảng, phong trào du kích phát triển rộng khắp các tỉnh đồng bằng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:51:21 AM
Đêm 7/1/1952, năm cứ điểm ngoại vi thị xã bị diệt, trận địa pháo 105 ở trung tâm bị phá huỷ. Phía hữu ngạn sông Đà, vị trí Pheo bị tấn công chỉ còn mấy tên lê dương sống sót. Tiếp tục chiếm giữ Hoà Bình thì đói khát, tổn thất ngày càng nhiều. Rút lui là một cuộc phiêu lưu. Nhưng trước sự áp đảo của đối phương, sáng 23/ 2 Salan ra lệnh rút quân. Trên đường rút then kiểu cuốn chiếu, địch bắn đến 3 vạn phát đại bác mà ba ngày sau về đến Xuân Mai còn run vì vừa thoát khỏi tình trạng bị bắt sống cả lũ như Charton - Lepage ở biên giới. Lại một lần Salan mất 6.000 quân, 9 máy bay, 18 tàu xuồng, 12 xe tăng, 24 pháo.
Đánh giá thất bại lần này, các nhà sử học Pháp Jean Lacouture và Philippe Devillers cho rằng: "từ đây nước Pháp hoàn toàn mất quyền chủ động, buộc phải quay về phòng ngự". Người Pháp còn nói: "De Lattre chết kịp thời để không phải trông thấy sự phá sản và thất bại hoàn toàn".
Cuối năm 1952 do ta tổ chức nghi binh bằng nhiều hình thức, làm đường, lập kho tàng bến bãi, điều chỉnh lực lượng v.v... Salan đoán chắc ta sẽ tấu công vào đồng bằng Bắc Bộ.
Ở vùng núi Tây Bắc nơi dễ bị uy hiếp, ông ta có tính đến và đã bố trí 8 tiểu đoàn, 43 đại đội, thiết lập 144 cứ điểm với 4 phân khu: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và ba tiểu khu độc lập: Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo đủ để đối phó nếu ta đánh vào Tây Bắc.
Bị bất ngờ đến mức 6 vạn bộ đội và dân công của ta chia làm bốn mũi vượt sông Thao trong hai đêm tiến vào giải phóng Tây Bắc mà địch vẫn không hay biết. Từ ngày 14 đến 23 tháng 10 ta đánh Nghĩa Lộ và tiểu khu Phù Yên. Toàn bộ phòng tuyến vòng ngoài từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà bi đập tan.
Lúc này Salan mới vội vàng tăng viện cho Tây Bắc 8 tiểu đoàn bộ binh và dù âu Phi, 3 tiểu đoàn Nguy, 4 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, một tiểu đoàn pháo lập thành tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản ngăn chặn ta vượt sông Đà sang cao nguyên Châu Mộc. Để giảm bớt áp lực của ta. Salan lệnh cho De Linares Trung tướng tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ thực hiện kế hoạch Loraine huy động ba vạn thuỷ, lục, không quân - một lực lượng lớn nhất trên chiến trường Đông Dương tính đến thời điểm đó đánh lên Phú Thọ nhằm phá hậu phương trực tiếp của chiến dịch Tây Bắc, thu hút chủ lực ta về.
Ngày 20/10 địch lập đầu cầu tại Việt Trì đưa ba tiểu đoàn công binh sửa chữa gấp đường số 2 cho hai binh đoàn cơ động số 1 và 4 tiến lên Đoan Hùng vào ngày 4/11. Mặt khác địch đổ quân từ Trung Hà sang Thanh Thuỷ lên Tam Nông, Thanh Sơn. Sau khi Bonichon, đại tá dẫn quân chiếm lĩnh Ngọc Tháp, viên đại tá già Dodiher đã thiết lập bản doanh tại đây để chỉ huy hai cánh quân.
Ngày 9/11, Trung tá Ducournan đưa ba tiểu đoàn dù nhảy xuống Đoan Hùng. Được tiếp sức, binh đoàn cơ động của địch nống lên chợ Hiên lùng sục đốt phá làng mạc, kho xưởng của ta.
Lường trước âm mưu địch, ta đã sơ tán từ khi có chủ trương mở chiến dịch. Địch không thu được gì ngoài 2 chiếc Mônôtôva hỏng và một kho vũ khí cũ đang chờ sửa chữa lại bị lực lượng chủ lực ém sẵn của ta phối hợp cùng quân dân địa phương ngăn chặn từng bước tiến. Thiệt hại không lớn nhưng chúng luôn nơm nớp lo sợ vì bị đánh khắp nơi.
Bernard Fall, nhà báo, trong cuốn Chiên tranh Đông Dương đã viết "Xét tình hình năm 1962, thì Loraine ngay từ đầu đã là một sự mạo hiểm vượt khá xa khả năng tấn công của quân đội viễn chinh Pháp. Giả thiết là nó thành công cũng chỉ là sự "đánh bạc" một cách nguy hiểm các chiến dịch khác đang diễn ra ở Đông Dương".
Trên chiến trường chính Tây Bắc từ 7 đến 22/11 ta tiếp tục vượt sông Đà tấn công cao nguyên Mộc Châu, giải phóng Tuần Giao Điện Biên, Sơn La truy kích đến Nà Sản.
Đưa quân vào sâu hậu phương ta, phương tiện vận chuyển tiếp tế khó khăn, lực lượng cơ động tại đồng bằng trống rỗng không đủ ứng phó với các đại đoàn chủ lực của ta, đang luồn sâu vào hoạt động tại các tỉnh Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương. Ngày 14 tháng 11 Salan vội vàng ra lệnh triệt thoái các binh đoàn cơ động trên mặt trận Phú Thọ từ bỏ tham vọng sẽ chiếm đóng lâu dài không những Phú Thọ mà cả một phần đất Yên Bái. Được tổ chức chặt chẽ, với sự yểm trợ tối đa của không quân, pháo binh và xe tăng thiết giáp, các binh đoàn cơ động của địch đã không rút lui trót lọt.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:52:04 AM
Từ ngày 11/11, trung đoàn 36 thuộc đại đoàn 308 được lệnh tách khỏi đội hình chiến dịch tại Tây Bắc thực hiện một cuộc hành quân thần tốc, vượt ookm đường rừng núi hiểm trở trong 4 ngày đêm kịp đón đánh địch trên đường số 2 tại Chân Mộng và Trạm Thản (Phú Thọ) trong ngày 17/11 bằng một trận phục kích, diệt gọn 400 tên giặc phá huỷ và phá hong trên 40 xe cơ giới, bắt sống cả xe tăng, đập tan kế hoạch Lorraine góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch.
Xét khả năng phát triển không còn, ta chủ động kết thúc chiến dịch nhưng nửa tháng sau, Salan vẫn chưa xác định được ý đồ của ta trên chiến trường. Tính chung chiến dịch của ta đã diệt 10.000 quân địch, giải phóng 300.000 km2 và 250.000 dân, nối vùng Tây Bắc với Việt Bắc và thượng Lào làm phá sản âm mưu lập xứ "Thái tự trị" của địch.
Sau chiến dịch này, Rafford chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ đã xếp Salan vào loại "chờ thời nhút nhát". Năm 1954 Ely, Tổng tham mưu trưởng Pháp sang cầu viện Mỹ, Raffort đã phán: "các anh đã thua cuộc chiến tranh Đông Dương từ năm 1952 khi Salan không dám đi tái chiếm Lào Cai".
Khốn nỗi mới mạo hiểm đi một phần đoạn đường, Salan đã hụt hơi còn sức đâu mà đi tiếp lên tận Lào Cai.
Như vậy là trải qua 3 chiến dịch, Salan trực tiếp chỉ huy từ Thu Đông 1947 đến Hoà Bình và Tây Bắc, ông ta đã nướng gọn 22.000 quân trên chiến trường chính ở phía Bắc đến mức ngày 24/4/1953 chính phủ Pháp đã phải chỉ thị cho Salan: "Thà chịu mất đất hơn là lao vào những cuộc hành quân không an toàn cho quân viễn chinh".
Liên tiếp thất bại, Salan và các tướng lĩnh cao cấp dưới quyền ông ta ở Đông Dương đã phải "rương hòm” nối gót nhau về Pháp. Trước khi ra đi, trong bữa tiệc đón Navarre do Cao uỷ Le Tourneau tổ chức, Salan nhắc Navarre "phải coi chừng các sư đoàn chủ lực của Việt Minh đã được tổ chức theo mô hình các nước Phương Tây", còn De Linares tướng bộ sậu của Salan vẫn thường gọi là "Bác Ly" luôn cập kè với cô bồ nhí người Hoa thì vắt vẻo ngồi trên tay ghế, với tư cách đồng môn với Navarre đã hỏi Navarre "Hăng ri, cậu chui vào "đống cứt" này làm gì? Tớ thì tớ chuồn” (Jule Roy - Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp).
Ngày 28/5/1953 ông trở về Pháp. Sang năm 1954 ngày 3/6 ông lại theo tướng Ely (1897 - 1975) Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phong Cao uỷ kiêm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông trương, làm tư lệnh hành quân như thời De Lattre. Thực chất cuộc đi này là đề chứng kiến thất bại thảm hại trên chiến trường Điện Biên Phủ mà ông là ruột trong những người có trách nhiệm đưa tới hậu quả nặng nề cho nước Pháp.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vùng lên tự giải phóng khỏi ách thống trị của chữ nghĩa thực dân. Tháng 11-1954 nhân dân tỉnh Onen của Algieri nổi dậy và nhanh chóng lan tới Alger, Cônbơtăngti... Salan lại được điều sang Algieri tiến hành cuộc chiến tranh chống lại phong trào giai phóng dân tộc của nhân dân Algieri.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:52:50 AM
Ở chính quốc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam khiến chính trường luôn lâm vào tình trạng khủng hoảng. Liên tiếp 20 lần thay đổi chính phủ. Kết thúc chiến tranh nước Pháp mất 3.000 tỷ franc tương đương 7 tỷ đô la, 56 vạn 1.900 binh lính bỏ mạng trong đó 142.900 Âu Phi. Cuộc chiến tranh của Pháp chống nhân dân Algieri tuy có gây cho nhân dân Algieri những tổn thất nhưng phong trào kháng chiến ngày càng phát triển. Năm 1958 Algieri đã có 60.000 quân chính quy và 70.000 quân du kích đương đầu với Pháp. Cuộc khủng hoảng ở chính quốc ngày càng thêm trầm trọng.
De Gaulle được đưa trở lại chính trường, ngày 28/9/1958, ông ta đưa ra quốc hội thông qua hiến pháp mới xác lập nền cộng hoà thứ và chế độ độc tài De Gaulle. Hiến pháp được 80% phiếu thuận. Tiếp đó ông được bầu làm Tổng thống với 78. 5% số phiếu bầu của 80 ngàn nghị sĩ và cử tri các địa phương.
Lên cầm quyền, De Gaulle thi hành chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, rút khỏi khối NATO và yêu cầu quân đội Mỹ cùng các căn cứ quân sự Mỹ rút khỏi Pháp, ký hiệp nghị 18/3/1962 trao quyền tự quyết cho nhân dân Algieri và tiếp đó, tháng 7/1962 công nhận nền độc lập của Algien.
Bám lấy chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và lời dặn của De Gaulle trong thư tay viết cho Salan từ ngày 24/10/1958: "Không được bỏ Algieri - chỉ ngừng bắn khi đối phương nộp vũ khi”, Salan đã chống lại chính sách mới của De Gaulle và bị bắt vào năm 1962.
"Một ông tướng được tặng thưởng rất nhiều huân chương của nước Pháp, trải qua bao nhiêu là chiến trận, luôn đi theo một con đường, giữ lời đã hứa coi đó là danh dự đã câm lặng nhận bản án tử hình. Sau 76 tháng trong tù, được tha vào đúng tuổi 70". Đó chính là Đại tướng Raoul Salan.
Trong hồi ký của mình ông ta ngậrn ngùi than thở: "45 năm tôi đã chiến đấu cho Tổ quốc trên những miền đất xa xôi, luôn gồng mình giương cao ngọn cờ ba sắc. Dù không muốn nhưng khốn thay tôi đã nhìn thấy cái chết của triều đại đế quốc Pháp. Cuốn hồi ký được xuất bản vào năm 1970 mang tên “Kết thúc một đế chế”. Salan mất năm 1984.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:53:23 AM
DE LINARÈS



- Mở cuộc hành binh lớn nhân Đông Dương tính đền thời điểm đó "Tiến thì lo, rút thì rên"
- Chưa đến 10 ngày không đạt được bâí kỳ mục tiêu nào đã phải chạy tuổi về phòng tuyên bê tông
- Thượng sách là "chuồn" về nước mẹ.
1952
Suốt chiều dài hữu ngạn sông Thao thuộc ba tỉnh Yên Bái - Sơn La - Lai Châu là vùng tạm chiếm của giặc Pháp với ba quân khu: Nghĩa Lộ - Sông Đà - Sơn La và tiểu khu độc lập Tuần Giáo. Địch cắm chốt 140 vị trí lớn nhỏ gồm 8 tiểu đoàn và 40 đại đội chiếm đóng. Bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, giải phóng đồng bào các dân tộc thoát ách kìm kẹp của giặc.
Ngày 9/9/1952, trong Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch, Hồ Chủ Tịch chỉ thị: Chiến dịch này gian khổ, có nhiều khó khăn nhưng vẫn phải đánh cho thắng.
Do khéo nghi binh lừa địch, đồng bào có ý thức giữ bí mật, 6 vạn bộ đội và dân công dắt theo cả trâu bò làm thực phẩm dự trữ, vượt sông Thao trong 2 đêm trên 4 bến bằng cầu phao, bằng thuyền nan, tiến vào vùng địch tạm chiếm mà chúng không hay biết.
Đêm 14/10 tiếng súng mở màn chiến dịch bắt đầu nổ. Trung đoàn 174 thuộc đại đoàn 316 đánh Ca Vịnh, trung đoàn 141 thuộc đại đoàn 312 đánh Sài Lương. Ngày 17/10 hai trung đoàn 88 và 102 thuộc đại đoàn 308 với ưu thế tuyệt đối binh hoả lực, mở cuộc tấn công vào sở chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ do ngót 800 quân địch chiếm đóng. Mặc dầu địch chống trả điên cuồng, trước khi mở được đột phá khẩu, tiểu đoàn trưởng Vũ Phương cùng 34 chiến sĩ bị máy bay địch ném bom sát thương nhưng cả hai đơn vị đã san băng Nghĩa Lộ đồn (Pú Chạng) và làm chủ hoàn toàn Nghĩa Lộ phố, bắt sống chỉ huy phân khu vào 5 giờ 30 sáng 18/10. Điều rất thú vị là người chỉ huy trận thắng Nghĩa Lộ lần này chính là người tù cũ của căng Nghĩa Lộ: đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ.
Cùng lúc đơn vị bạn công kích Nghĩa Lộ, trung đoàn 36 cũng áp sát bao vây đồn Cửa Nhì do một đại đội địch chiếm đóng trên một điểm cao. Thực hiện chính sách nhân đạo, ta gọi hàng nhưng chiều 18/10 địch thả thêm quân tăng viện, dùng máy bay bắn phá, ném bom napan vào các vị trí nghi có quân ta và lợi dụng đêm tối chuẩn bị rút chạy. Bám sát hành động của địch, đại đội trưởng Dương Thế Minh nắng quyền tiểu đoàn trưởng thay đồng chí Cao Lưu bị ốm và tiểu đoàn phó Tường Kính vừa hy sinh đã ra lệnh nổ súng diệt ngót 100 tên, bắt sống cả đồn trưởng, đồn phó và 80 tên khác.
Trên các hướng, các đồn Nậm Mười, Gia Hội, Tú Lệ, Bản Trại, Bản Mơ lần lượt bị tiêu diệt. Chỉ trong mười ba ngày đêm, toàn bộ quân giặc ở Nghĩa Lộ và Phù Yên bị quét sạch. Sáng 16/10 từ 11 giờ 20 đến 14 giờ 30, hai đợt, mỗi đợt 15 chiếc Dakota đổ tiểu đoàn dù số ảo (6e BPC) do Bigeard chỉ huy xuống Tú Lệ cứu nguy bị đánh tơi tả phải chay tít về Ít Ong, Mường Chén, chín ngày sau (5/11) mới tới bờ sông Đà.
Sau khi nghe Pleven thông báo về thảm bại Nghĩa Lộ trước Hội đồng chính phủ, chính giới và bọn chóp bu quân sự trong chính phủ Pháp đòi Salan, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh ở Việt Nam phải làm "cái gì đó" để rửa nhục, cứu vãn tinh thế mất Thượng Lào, biến cuộc chiến tranh thành chiến tranh Đông Dương.
Theo lệnh của Salan, 8 tiểu đoàn đã được tung xuống Nà Sản, hình thành một cụm cứ điểm hòng ngăn chặn quân ta vượt sông Đà tiến sang ca nguyên Châu Mộc uy hiếp chúng không chỉ ở Sơn La, Lai Châu mà cả Thượng Lào. De Linares, tư lệnh Bắc Bộ đã tổ chức triển khai kế hoạch Lorraine với 3 vạn thuỷ lục không quân số quân được huy động lớn nhất trên chiến trường Đông Dương tính đến thời điểm đó - đánh lên Phú Thuyên Bái, nhằm phá kho tàng hậu phương trực tiếp lực lượng chủ lực của ta ở chiến trường chính Tây Bắc và trong điều kiện thuận lợi cho phép chúng sẽ chiếm đóng lâu dài Phú Thọ và một phần đất Yên Bái.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:53:52 AM
Từ 29 tháng 10 chúng thiết lập đầu cầu đổ quân tại Việt Trì đồng thời từ Hà Nội tiến lên Trung Hà, vượt sông Đà đánh chiếm các huyện Thanh Thuỷ, Tam Nông, Thanh Sơn chốt 2 điểm chính là Hưng Hoá và Đồn Vàng.
Ngày 4/11, ba tiểu đoàn công binh với các phương tiện cơ giới ra sức san lấp đứng số 2 vốn bị phá hoại nặng từ ngày đầu kháng chiến toàn quốc để binh đoàn cơ động số 1 do trung tá Bastiani chỉ huy và binh đoàn cơ động số 4 do đại tá Kergaravat chỉ huy tiến lên Đoan Hùng. Trên dọc đường chúng rải quân chiếm đóng Đồi Trò - Núi Khuyết - Phú Hộ - Năng Yên - Chân Mộng - Vân Mộng tạo thành một hệ thống đồn bốt cách nhau 5 - 7 km. Ngày 5/11 cánh quân của đại tá Bonichon chiếm Ngọc Tháp để 7/11 viên đại tá già Dodelie thiết lập hành dinh chỉ huy chung các cánh quân tiến đánh Phú Thọ.
10 giờ 30 đến 15 giờ ngày 9/11, trung tá Ducournean chỉ huy các tiểu đoàn dù nhảy xuống Đoan Hùng. Có quân dù tiếp sức, lực lượng thiết giáp của binh đoàn số 1 do Marion chỉ huy đã nống ngay lên Tây Cốc rồi Phủ Yên Bình.
Các cánh quân vừa tổ chức phòng ngự đề phòng những cuộc tấn công của ta, vừa tiến hành lùng sục triệt phá các kho tàng công xưởng ở sâu hai bên đường giao thông nhất là các khu vực chúng coi là căn cứ hậu phương.
Rút kinh nghiệm chiến dịch Biên giới, khi ta tấn công địch trên đường số 4 thì chúng đánh lên Thái Nguyên để đỡ đòn, buộc ta bị động đối phó, nên trước khi mở chiến dịch Tây Bắc, ta đã ém sẵn các đơn y! chủ lực với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ sẵn sàng đánh địch bảo vệ hậu phương nên địch tiến đến đâu đều bị quân ta ngăn chạn không thực hiện được âm mưu phá hoại kho tàng, công xưởng. Địch bị thiệt hại không lớn nhưng nơm nớp lo sợ bị giết bất ngờ không dám hung hăng lùng sục.
Sau khi kết thúc đợt I chiến dịch Tây Bắc, một bộ phận quân ta đi vào vùng sâu, vùng xa tiễu phỉ trừ gian, cùng các cán bộ dân chính đảng địa phương xây dựng chính quyền và các đoàn thể góp phần củng cố vùng giải phóng còn đại bộ phận chuẩn bị vượt sông Đà tiến hành đợt II chiến dịch.
Do không tận dụng khai thác ngay con đường 13 từ Âu Lâu vào để tổ chức vận chuyển đạn dược gạo nước bằng xe cơ giới, vẫn duy trì hình thức vận chuyển bằng đôi vai theo đường mòn qua những đèo cao như Khau Vác nên ta không đủ gạo dự trữ. Kế hoạch đợt II chiến dịch phải lùi lại. Tất cả mọi lực lượng đều dồn vào việc vận chuyển lương thực từ nữu ngạn sông Thao về tập trung tại các kho bên tả ngạn sông Đà. Trong lúc đang làm nhiệm vụ này thì được tin địch đánh lên Phú Thọ -nơi cán bộ chiến sĩ trung đoàn 36 (Bắc Bắc) coi như quê hương thứ 2. Người muốn sớm mở đợt II chiến dịch vượt sông Đà chia lửa với đồng bào Phú Thọ, người muốn trở về đánh địch ngay trên quê hương để nhân dân phú Thọ giảm bớt những tổn thất, đau thương và cũng là để đền ơn đáp nghĩa đồng bào ruột thịt đã nuôi dưỡng, cưu mang nhất là những ngày dừng chân giữa hai mùa chiến dịch.
Giống như truyện "cầu được ước thấy" trong cổ tích, ngày 10/11 đồng chí Tổng tư lệnh đã gọi đồng chí Phạm Hồng Sơn, Trung đoàn trưởng trung đoàn 36 lên Sở chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ đưa trung đoàn về cùng nhân dân Phú Thọ đập tan kế hoạch Lorraine của địch.
Các cán bộ quân sự từ cấp đại đội trưởng trở lên đã lập tức cùng trung đoàn trưởng lên đường về Phú Thọ chuẩn bị chiến trường để kịp thời đánh địch không cho chúng chạy thoát khi nghe tin có chủ lực ta từ Tây Bắc trở về.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:54:26 AM
Sáng 11/11 các đơn vị đã thu quân đủ, bàn giao việc vận chuyển gạo cho đơn vị bạn, lợi dụng trời mù sương và rừng rậm hành quân ban ngày để tranh thủ thời gian. Từ Ba Khe về Yên Lập là con đường rất hiểm trở, nhiều khúc phải lội theo thượng nguồn sông Bứa và phải vượt những ngọn núi cao lởrn chởnl đá tai mèo, vai vác nặng, chân không phải ai cũng có giày dép trời mùa đông giá lạnh thấu xương cơm không được ăn trúng bữa, đêm không được ngủ đẫy giấc nhưng không ai muốn rớt lại phía sau. Người khoẻ tương trợ người yếu, tất cả đều muốn tới khu tập kết đúng thời gian. Ra đến Yên Lập là một cuộc chạy đua maratong. Nghe tiếng máy bay địch, tất cả đều tản sang hai bên đường, hết tiếng máy bay lại chạy.
Tới sát bờ sông Hồng, tiểu đoàn 84 tách khỏi đội hình, tiến về phía Thanh Sơn đánh địch ở khu vực Đồn Vàng còn đại quân thì vượt bến đò Vũ Ẻn sang Thanh Ba. Vũ Ẻn xưa đông vui đã thành ca, thành vè: "Sông Thao nước đục người đen. Ai lên Vũ Ẻn thì quên đường về” nay vắng teo. Đồng bào đã tản cư sâu vào trong phía núi đề phòng địch tấn công lên. Đã nghe thấy tiếng đại bác uỳnh oang nổ vọng về. Không ngửi thấy mùi quê hương quen thuộc chỉ thấy mùi khét của lúa gạo bị cháy, mùi xăng dầu bốc từ những đoàn xe địch chạy trên đường tràn vào không trung. Vậy mà thấy quân ta về, không chờ vận động bà con hai bên sông đã ý ới gọi nhau đưa thuyền ra bến chở bộ đội qua. Một trung đoàn thiếu với toàn bộ trang bị vũ khí nặng, nhẹ đã qua sông an toàn về vị trí tập kết trong tư thế sẵn sàng chiến đấu vào sáng 16/11/1952.
Tính ra trong 5 ngày đêm, bộ đội ta đã vượt 200 km. Nhớ lại chuyện Tôn Tấn, một binh gia Trung Quốc thời chiến quốc nói với Điền Kỵ, tể tướng nước Tề: "Đưa quân đi 100 dặm (vào khoảng 50km) một cách cấp tốc để chiến đấu thì một tướng giỏi đến đâu cũng bị đánh bại. Hành quân 50 dặm (25km) một ngày thì quân lính chỉ còn một nửa mà thôi". Ở đây trung đoàn đã vượt quy ước của binh thư thời cổ gấp bốn lần vẫn đảm bảo đủ quân số, sức chiến đấu không giảm ngược lại khí thiêng sông núi, tình cảm quê hương, ý chí quyết đánh thắng đã nâng con người cả về thể chất lẫn tinh thần trước cuộc chiến giữa ta và địch.
Bộ phận chuẩn bị chiến trường, sau khi nghiên cứu quyết định đánh đồn Vân Mộng nằm giữa quãng Chân Mộng và Đoan Hùng. Lực lượng chiếm đóng của địch khoảng một đại đội. Công sự còn sơ sài mang tính chất lâm thời phòng ngự. Cái mạnh duy nhất là địch có xe tăng và xe bọc thép trấn giữ ở vòng ngoài, pháo ở các căn cứ có thể rót về yểm trợ khá nhiều. Tất cả lao vào chuẩn bị quyết đánh thắng ngay từ trận đầu ra quân trên đất Phú Thọ.
Giữa lúc đó trung đoàn được cấp trên thông báo địch ở Yên Bái - Đoan Hùng chuẩn bị rút, cần tranh thủ đánh địch rút lui. Trạm quan sát của trung đoàn cũng thông báo về: có 90 chiếc xe địch từ Đoan Hùng xuôi về Phú Thọ không thấy xe chạy ngược nhiều lên phía Bắc như mọi khi.
Sau này ta được biết, kế hoạch Lorraine của De Linares đã vấp phải một mâu thuẫn lớn. Khi đưa quân lên Phú Thọ với một số lượng đông, phương tiện vận chuyển bị thu hút rất lớn, kể cả máy bay. Hàng chục tiểu đoàn co cụm tại Nà Sản không đủ phương tiện vận chuyển tiếp tế đang gặp khó khăn, chiến trường đồng bằng sơ hở, một loạt đồn bốt bị các đại đoàn chủ lực của ta bao vây, tiêu diệt không còn quân dự bị ứng cứu. Ở Phát Diệm chúng đang bị uy - hiếp. Lại có tin tình báo đánh hơi thấy chủ lực ta ở Tây Bắc được chuyển về. Ngày 14/11 Sa lan vội vàng ra lệnh rút quân. Ngày 15/11 bọn ở Chợ Hiên tập kết về Đoan Hùng, sáng 16/11 cùng quân dù ở Đoan Hùng rút xuống Phú Thọ. Các đơn vị còn lại sẽ rút theo.
Căn cứ vào tình hình địch, trung đoàn huỷ quyết định đánh Vân Mộng chuyển sang đánh quân rút lui của địch. Đánh địch ở ngoài công sự sẽ ăn to vì có nhiều thuận lợi hơn công đồn. Vấn đề là phải rất khẩn trương, dám vượt qua tầm kiểm soát của các đồn Chân Mộng - Năng Yên và hoả lực địch để chiếm lĩnh vị trí phục kích, tuyệt đối giữ bí mật, giữ nghiêm kỷ luật chiến trường, thống nhất giờ nổ súng đã tạo thế bất ngờ.
Vì khá quen thuộc đường số 2 trong những ngày trú quân và luyện quân tại Phú Thọ, trung đoàn chọn điểm quyết chiến ở Chân Mộng, Trạm Thản nằm giữa quãng đường từ ngã ba Hạ Hoà đến gầu Phú Hộ.
Đây là một thung lũng dài khoảng 8 km, hai bên có những thành vại cao từ 2m đến 20m, cây cối bụi rậm phú kín. Sau này báo chí phương Tây gọi đây là cái "bẫy chuột" chui vào không có đường chạy, xe cơ giới quay đầu rất khó khăn Súng các cỡ đặt trên xe không phát huy được hết tính năng tác dụng. Ta có thể ém quân trên thành vại ném lựu đạn xuống sát thương địch dưới mặt đường.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:55:34 AM
Trung đoàn không có nhiều thì giờ trao đổi bàn bạc và cũng không có điều kiện tập hợp bộ đội để phổ biến nhiệm vụ như thường lệ. Ngoài đường số 2 trước mũi súng của các đơn vị trú quân dưới rừng cọ, bọn địch cảnh giới cho toán quân rút lui vẫn lởn vởn đi lại Các đơn vị chỉ kịp phổ biến nhiệm vụ và quán triệt những yêu cầu về tổ chức chỉ huy về chiến thuật kỹ thuật cho từng bộ phận đang ở các vị trí sẵn sàng chiến đấu để mọi người chấp hành.
Mặt trời vừa xuống núi, trung đoàn trưởng đã dẫn cán bộ các cấp băng qua rừng ra thực địa phân giao nhiệm vụ cho từng tiểu đoàn và đại đội tại khu vực phục kích để sau đó cán bộ kịp quay trở lại đón bộ đội dẫn vào vị trí chiến đấu. Lối qua Năng Yên ra đường số 2 địch đang đóng chốt, đoàn cán bộ phải mở Itlột lối khác. Cây cối mọc rậm rạp đang phải định hướng thì có một ông già xuất hiện. Cả đoàn chột dạ. ông tự giới thiệu tên là Kính quê gốc Nam Định làm nghề đốt than ở ngay Năng Yên hàng chục năm nên quen thuộc thung thổ, xin được dẫn đường cho bộ đội. Nhờ ông, đoàn cán bộ nhanh chóng ra tới đường và cũng nhanh chóng tìm được vị trí giấu quân khá tốt Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ chặn đầu cho tiểu đoàn 80, bố trí hoả lực kiềm chế đồn Năng Yên không cho chúng ra ứng cứu, đại đội 61 và 62 triển khai bên phía Đông, sở chỉ huy tiểu đoàn và các đơn vị còn lại bố trí bên hướng Tây, chốt chặt buộc địch phải co lại, từ trên các điểm cao thả lựu đạn xuống tiêu diệt. Tiểu đoàn 89 khoá đuôi chia cắt bọn địch đã lọt vào trận địa với Chân Mộng bố trí đại đội 395 sang phía Đông còn đại bộ phận ém ở phía Tây cùng dồn địch vào điểm quyết chiến để tiêu diệt. Sở chỉ huy của trung đoàn ơ ngay Lán Than thuộc địa phận xã Chân Mộng, cách mặt đường 200 m sát tiểu đoàn bộ 80 có thể ra lệnh trực tiếp cho tiểu đoàn không cần điện thoại.
Hơn 4 giờ sáng các đơn vị đã chiếm lĩnh xong trận địa. Những dấu vết trên đường được xoá sạch.
Cuộc rút lui của địch được tổ chức khá chặt chẽ. Đi đầu là binh đoàn cơ động số 4 được tăng cường một đại đội xe tăng của trung đoàn bộ binh thuộc địa Maroc (RICM) do đại tá Kergaravat trực tiếp nắng đồng thời chỉ huy chung cuộc hành quân. Tiếp sau là binh đoàn cơ động số 1 do trung tá Battiani chỉ huy có một tiểu đoàn thiết giáp hộ tống. Các binh đoàn đều có pháo binh riêng. Ngoài ra còn có pháo của GM3 và một khẩu 155 mm phối thuộc.
Ba tiểu đoàn trong các binh đoàn được chúng xếp vào loại mạnh nhất Đông Dương là tiểu đoàn khinh binh Đông Dương, tiểu đoàn 2 của trung đoàn lê dương số 2 và tiểu đoàn 4 của trung đoàn bộ binh Algérie số 7 (RTA) . Trên đường rút có sự yểm trợ của các cứ điểm Vân Mộng, Cầu Hai, Chân Mộng Năng Yên, Phú Hộ. Bọn này sẽ rút cuốn chiếu theo khi các binh đoàn đã đi qua hết. Ngoài ra còn pháo tầm xa và máy bay sẵn sàng chi viện.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:56:05 AM
So sánh tương quan lực lượng trận đánh thì địch có 8 tiểu đoàn, ta chỉ có 2. Một đơn vị còn đang ở phía hữu ngạn sông Hồng không kịp tham gia. Không không quân số họ đông hơn gấp 4 lần mà hoả lực còn mạnh hơn ta nhiều lần những ở đây địch ở thế bị động ta ở thế chủ động. Địch là kẻ rút chạy ta là người đón đánh. Lực của địch đông nhưng yếu. Lực của ta yếu thành mạnh.
7 giờ sáng 17 tháng 11 năm 1952 địch từ Đoan Hùng rút về Chân Mộng. Cả đoàn dừng lại. Tên chỉ huy đồn Chân Mộng ra báo cáo tình hình trong đêm với Kergaravat: "Có nhiều tiếng động phát ra trong đênl trên đường số 2. không có đụng độ. Có thể là dân chúng đi tản cư. Kergaravat sinh nghi lệnh cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Algerie cho quân đi sục sạo Tiểu đoàn trưởng đích thân dẫn 2 đại đội theo hàng dọc tiến xuống. Đến khu vực ém quân của đại đội 395 tên cai Abderrahman thấy mấy khúc gỗ và mấy hòn đá lổn nhổn trên mặt đường và một số lỗ mới đào. Nghi là có mìn chúng cho một tổ sục lên phía rừng đúng chỗ tiểu đội trưởng Trần Văn Chương và chiến sĩ Lê Văn Hiến làm nhiệm vụ tiền tiêu đang ẩn nấp. Để giữ bí mật trận địa đến phút chót, cả hai không nổ súng. Địch phát hiện được mục tiêu xả súng bắn Trần Văn Chương bị thương vào chân và xông vào bắt sống Lê Văn Hiến đưa cả hai xuống mặt đường tra khảo. Câu hỏi duy nhất chúng muốn tìm hiểu là thuộc đơn vị nào. Một tình huống khá căng thẳng đối với cán bộ chỉ huy và lãnh đạo của đơn vị. Hiến là chiến sĩ mới. Cuộc chiến đấu có thể không thành nếu Chương và Hiến không giữ được khí tiết. Y đồ trận đánh sẽ bị lộ ngay khi địch chưa lọt vào trận địa phục kích và đơn vị có thể chịu nhiều thương vong do phi pháo địch.
Nhưng rất đáng mừng là Chương đã giả vờ chết ngất không nói một lời còn Hiến thì một mực nhậu mình là dân quân du kích không phải là bộ đội. Chúng ném Chương lên xe, còn tiến chúng buộc theo xe kéo trên đường. Căm thù tràn ngập trận địa, anh em muốn nổ súng để giải cứu đồng đội, chính trị viên Mai Thuận phải nhắc nhở đơn vị nén lòng, vì mục tiêu của cả trận đánh nên họ đành kiên trì chờ.
Cảnh giác đề phòng, địch nã pháo và đạn các cỡ vào khu vực ngờ có quân mai phục. Ta có thương vong nhưng tất cả nghiến răng chịu đựng, không một tiếng kêu và không ai chạy lung tung. Chờ không thấy động tĩnh, Kergaravat ra lệnh tiếp tục cuộc hành quân.
Đoàn xe của địch đã tới đơn vị chặn đầu. Tiểu đoàn 80 đề nghị được nổ súng nhưng trên xe, địch chở theo nhiều thường dân. Trung đoàn ra lệnh chờ đoàn xe chở sinh lực địch tiến vào điểm quyết chiến sẽ nô súng.
9 giờ 30 đội tiền vệ của địch vừa đi thoát, tiểu đoàn trưởng Mai Xuân Tần cho nổi kèn hiệu. Bazoka của đại đội 61 phát hoả bắn trúng chiếc xe Half track, xe quay ngang ra mặt đường chặn gọn lối đi. Chiếc xe tăng phía sau chạy lên tìm cách gạt chiếc xe trúng đạn sang bên đường nhưng không được. Toàn bộ xe của địch ùn lại trước mũi súng, trong tầng ném lựu đạn của quân ta. Đạn của các cỡ súng bố trì hai bên sườn nã xối xả vào kẻ địch, đường số 2 trở thành một biển lửa. Trên tà-luy lựu đạn của trung đội Nguyễn Thuận ném xuống rào rào. Địch hoảng loạn kêu la không kịp ứng phó. Quân ta ào xuống mặt đường. Nhiều tên vứt súng vái ha lịa xin tha mạng. Địch ở Năng Yên -  Chân Mộng nằm im, sau hơn nửa giờ cận chiến bằng lưỡi lê, báng súng địch hoàn toàn mất sức phản kháng. Đại đội trưởng Trương Anh Dũng hướng dẫn cho chiến sĩ cách phá huỷ những xe còn lại, thu súng ống, đạn dược, bắt tù binh đưa về hậu cứ. Lúc này máy bay của địch ào ào bay tới nhưng chỉ gầm rú, hù doạ không dám bắn. Pháo tầm xa của địch nã vu vơ vào chỗ không người. Không chặn được đường rút của ta.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:56:56 AM
Cho đến 15 giờ 30 Battiani từ Chân Mộng mới dám cho xe ủi xuống dọn đường để số quân còn lại tiếp tục rút. Tên nào tên nấy nhớn nhác không còn vẻ ngông nghênh như khi ngồi trên xe lúc sáng. Chúng chỉ thu lượm số bị thương còn bọn chết chúng gạt sang hai bên đường cùng xác của các xe bị đốt cháy hoặc phá huỷ.
17 giờ đoàn xe tiếp tục tiến vào thung lũng đằng sau có sự yểm trợ của tiểu đoàn thiết giáp. Chúng tưởng sẽ thoát chết song một đòn sấm sét tiếp tục giáng xuống binh đoàn Battiani.
Số là tiểu đoàn 84 được lệnh tiến về Đồn Vàng. Ở đây địch đã rút. Trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn về ngay Khải Xuân làm đội dự bị của trung đoàn. Tiểu đoàn lập tức vượt sông ở bến Chủ Chè để kịp chiến đấu cùng các đơn vị trong trung đoàn. Đến nơi được chỉ định thì tiếng súng đã ngừng, trận đánh vừa kết thúc. Cán bộ chiến sĩ trong tiểu đoàn đang tiếc rẻ vì không có dịp lập công thì thấy đạn pháo địch bay sàn sạt qua đầu. Phán đoán địch tiếp tục rút, tiểu đoàn trưởng xin trung đoàn cho xuất kích.
Được trung đoàn đồng ý, tiểu đoàn lệnh cho đại đội 41 tiến ra đánh chiếm đồn Chân Mộng, tiêu diệt bọn đang yểm trợ cho đội hình rút lui của chúng. Các đại đội khác bám theo đoàn xe đang rút không để chúng thoát. Do trời tối, chướng ngại vật còn đầy bên đường, tốc độ vận chuyển của địch bị hạn chế. Các đơn vị chạy đầu tiểu đoàn đã bám kịp xe địch. Tổ trưởng Diêu ném một quả lựu đạn về phía địch. Lựu đạn nổ trên xe văng mảnh về phía sau. Diêu ngã xuống đúng lúc tiểu đoàn trưởng Sơn Mã xông tới Địch phía trước bàn lại Sơn Mã hy sinh tay còn nắm chặt khẩu súng ngắn.
Trả thù cho tiểu đoàn trưởng, đại đội 43 ào lên bất chấp đạn địch bắn chặn, bám xe, tương lựu đạn vào các thùng xe của chúng. Riêng Trần Văn Thoa đã diệt 4 xe địch. Bọn địch trên một tăng 18 tấn vội nhao khỏi xe bỏ lại chiếc xe còn đang nổ máy. Quân ta tiếp tục truy đuổi đến gần Phú Hộ mới dừng lại.
Bị hai trận đòn, De Linaes mất 400 quân để lại xác tại trận, 44 xe cơ giới trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, 80 tên bị bắt sống cùng một xe tăng 18 tấn, chưa kể 180 tên bị diệt và 100 tên bị bắt trong trận Đồi Chò, Núi Khuyết đêm 23/11/1952. Chúng kêu trận Chân Mộng - Trạm Thản là "1 cuộc tàn sát thực sự”. Nhưng nếu đó là một cuộc tàn sát thì làm sao có đến 250 tên bị thương mà chúng đã công bố trong tư liệu lịch sử.
Đưa ba vạn quân được trang bị đến tận răng hùng hổ tiến sâu vào hậu phương ta nhưng các mục tiêu đề ra trong kế hoạch Lorraine đều không đạt. Vẻn vẹn chúng chỉ đốt được ba kho gạo ở Tam Nông, phá huỷ một kho vũ khí bên bờ sông Chảy trong đó có 70% là vũ khí hư hỏng chờ sửa chữa, thu được 2 xe vận tải Molotova 2 tấn 5 và một một xe jeep mang về triển lãm để khoe chiến tích.
Ngay đêm diễn ra trận Chân Mộng - Trạm Thản, đại quân ta ở Tây Bắc đã vượt sông Đà, tiến đánh Bản Hoa, Mường Lúm tiếp tục đợt II chiến dịch. Ở tả ngạn sông Hồng, vùng đồng bằng, 34 vị trí bị tiêu diệt, 16 đồn phải rút chạy, 26 đồn bị bao vây. Ngày 14/11 ta đánh Phát Diệm diệt gọn ba đại đội, bắn chìm ba tàu địch.
Tinh thần địch sa sút đến mức những tên tiểu đoàn trưởng của các tiểu đoàn sừng sỏ nhất của chúng sau trận đánh "chỉ còn những con mắt tuyệt vọng". Sau 18 giờ vật lộn trong hoảng loạn, Kergaravat không dám cho quân dừng lại, bất chấp những bất trắc trong những cuộc hành quân đêm, Kergaravat tiếp tục cho quân chạy tiếp đến 23 giờ mới dám dừng chân ở Ngọc Tháp, "hắn sợ bị bao vây và trong trường hợp đó, hắn không thể mở đường bằng sức mạnh".
Ngày 17 - 18 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Tam Nông - Hưng Hóa và ngày 1/12 chúng phá huỷ các cơ sở thường trực ở Việt Trì chuồn về sau cái gọi là "chiến tuyến De Lattre".
De Linares, trung tướng, tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Kỳ - đồng đội vẫn gọi hắn là "Bác Ly" - người đích thân vạch và điều hành kế hoạch Lorraine thì ngao ngán giao động đến tận não. Trong bữa tiệc cao uỷ Letourneau tổ chức chào đón tân Tổng tư lệnh Navarre sang thay đại tướng Salan về vườn, với tư cách bạn đồng môn với Navarre hắn ngồi vát vẻo trên tay ghế hỏi Navarre: "Cậu chui vào đống cứt này làm gì? Tớ thì tớ chuồn (!)”. Không phải là hắn tự nguyện rời bỏ cuộc sống xa hoa của một tên tướng thực dân trong thời loạn lạc, luôn cập kè bên cô bồ nhí người Hoa mà người ta bắt hắn phải chuồn sau những thất bại thảm hại.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:57:22 AM
Chân Mộng - Trạm Thản không phải là trận quyết chiến chiến lược, cũng không phải là mũi điểm của chiến dịch. Nó không phải là nguyên nhân chính buộc địch phải rút khỏi Phú Thọ ngay sau chín ngày mở cuộc hành quân nhưng rõ ràng nó mang tính quyết định chiến trường góp phần quan trọng làm phá sản toàn bộ kế hoạch Lorraine. Ảo mộng chiếm đóng Phú Thọ và Yên Bái mà kẻ địch ôm ấp tiêu tan vĩnh viễn.
Sau trận này, Trần Vàn Chương được truy tặng Huân chương chiến công hạng hai vì tinh thần bất khuất nhưng đến ngày hoà bình lập lại, anh đã trở về sau đợt trao đổi tù binh giữa ta và địch. Lê Văn Hiến được đồng đội cứu thoát, đơn vị cho đi học trở thành bác sĩ phụ trách một trung tâm y tế huyện của Thanh Hóa nay đã nghỉ hưu. Anh vẫn khỏe, vẫn có mặt trong những dịp đồng đội tổ chức đi thăm chiến trường xưa, thăm những người thân vĩnh viễn nằn lại trên mảnh đất Chân Mộng - Trạm Thản trong đó có Sơn Mã - một tiểu đoàn trưởng đầy triển vọng.
Hồ Chủ Tịch rất vui về chiến thắng Tây Bắc trong đó có Chân Mộng - Trạm Thản. Một chiến dịch mà ta đã diệt được vạn 8 ngàn tên địch (riêng chiến trường chính diệt 6000 tên) giải phóng 2 vạn 800 km2 đất, 25 vạn dân các dân tộc. Bác đã tặng cho Trung đoàn 36 lá cờ Quyết chiến quyết thắng để biểu dương thành tích chiến đấu của trung đoàn và giành cả buổi cùng các thành viên Hội đồng chính phủ gặp gỡ những cán bộ chiến sĩ đã lập công trong trận như ông già Kính, như Trần Văn Thoa - do đồng chí Lê Linh chính uỷ trung đoàn dẫn đầu.
Trong niềm vui, Lê Kim, cán bộ tuyên huấn đi theo đoàn, đã đọc bài vè về chiến dịch Lorraine do anh sáng tác để Bác nghe:
"Tây thua Tây Bắc, Tây lo "
Đặt ra kế hoạch gọi là Lo-ren
Tiến quân thì những lo phiền
Lui quân thất bại thì rên như bò
Đờ-li-na-rét chạy co
Phát sốt, phát rét mặt mo càng đờ”.
Nghe xong, Bác và các thành viên chính phủ có nhặt đều cả cười.
Tháng 11 năm 2002, nhân 50 năm chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết:
… "Chiến thắng Sông Lô (1947)
Chiến thắng Tô Vũ (1955)
Chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản (1952)
Chứng tỏ mỗi lần giặc Pháp xâm phạm vùng đất Tổ, chúng đều bị quân và dân Phú Thọ đánh cho thất bại thảm hại".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:57:50 AM
HENRI NAVARRE



- Tìm một "lối thoát danh dự" bằng những kế hoạch phiêu lưu dẫn đến một thất bại kinh  hoàng của bọn thực dân xâm lược: Trận Điện Biên Phủ
Từ sau thất bại ở biên giới Việt Trung năm 1950, trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động. Viện trợ Mỹ mỗi năm một tăng, viên Thống chế kiệt xuất nhất của lị nước Pháp De Lattre de Tassigny được tôn là "Vua Jean" đã xuất chinh đảm nhiệm vai trò Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Việt Nam cũng không cải biến được tình hình.
Nhân dân Pháp từ chỗ thờ ở không hiểu gì nhiều về cuộc chiến tranh diễn ra ở cách nước Pháp hàng vạn dặm do bị bưng bít chuyển sang thái độ hồ nghi và bất bình với nhà cầm quyền về mục đích của cuộc chiến ngày càng hao tiền tốn của khiến nước Pháp ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Những người trực tiếp cầm súng ngày càng mất tin tưởng vào chiến thắng.
Không trông mong ở giải pháp quân sự có thê đánh gục đối phương, Pháp cần một lối thoát danh dự, nói cách khác là muốn tạo được cho mình một cái thế cho cuộc thương lượng và chấm dứt chiến tranh1 (Họ muốn một "issue honorable" và muốn "sortir honorablement de cette sa le guerre"). Vấn đề là phải tìm được người thay thế Salan viên tướng đã từng ở Đông Dương lâu năm nhưng liên tục đưa đến những thất bại từ Việt Bắc thu đông 1947 đến Hoà Bình và mới nhất là Tây Bắc.
Sau một thời gian tìm hiểu khá lâu danh sách các tướng lĩnh, René Mayer, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Pháp đã chấm Henri Navarre. Navarre từng là đại uý ở đội kỵ binh Saint Germain số 16, chỉ huy đội kỵ binh Maroc số 3, trung đoàn mà sĩ quan và thiếc khăn đỏ khiến De Lattre ghét cay ghét đắng. Trong chiến tranh giải phóng Navarre chỉ huy sư đoàn Constantine ở Algerie. Lúc này Navarre đang là Tổng tham mưu trưởng của Thống chế Juin chỉ huy lực lượng Pháp thuộc khối NATO ở Trung Âu. Mayer cho đây có thể là một minh chứng đối với Mỹ rằng họ có cách giải quyết mạnh dạn hơn và có thể là con bài để thuyết phục Nhà Trắng tăng thêm viện trợ.
Ngày 7/5/1953, Navarre vừa đi thanh tra ở Đức về, Ren Mayer đã gọi ông ta đến Văn phòng Hội đồng bộ trưởng giao cho ông ta làm Tổng tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp ở Việt Nam. Vốn là một sĩ quan tình báo có thâm mến ở Bộ Tổng tham mưu, không hiểu gì nhiều về Đông Dương nhưng Navarre thừa biết Tassigny rồi đến Salan đã để lại ở Việt Nam một gia tài nghèo nàn, một đội quân viễn chinh với trang bị kỹ thuật cũ kỹ, lạc hậu, cùng một đội quân đông đảo gọi là quân đội quốc gia thực chất chỉ là một lũ ô hợp, nhiều lắm cũng chỉ dùng vào việc diễu binh. Trong khi đó đối phương ngày càng mạnh, họ đã có những đại đoàn được tổ chức như quân đội các nước phương Tây, chiến đấu có lý tưởng và ngày càng dạn dày kinh nghiệm nên Navarre ra sức khước từ việc bổ nhiệm với lý do chưa từng phục vụ ở Đông Dương và không hề có chuyên môn trong lĩnh vực này.
René Mayer đã gạt phắt những lý lẽ mà Navarre biện minh chống lại việc đề bạt. Mayer nói: "tưởng quân có thể thấy hết mọi vấn đề vì có cái nhìn mới và có thể tự học những điều cần thiết". Ra khỏi điện Matignon, Navarre lẩm bẩm: "Ren Mayer điên rồi". Ông ta đã tường thuật buổi gặp và ý định của Ren Mayer với Thống chế Juin, đề nghị tướng Juin giữ mình tại Châu Âu ít nhất hai năm nữa. Nhưng Navarre chưng hửng vì tướng Juin đã được Ren Mayer trao đổi trước việc này và đã trả lời: "ông có nghĩa vụ nhận lời. Phải có người hy sinh chứ". Với thái độ lạc quan, Thống chế Juin động viên thêm: "Để giải quyết vấn đề Việt Nam chỉ cần thêm vài tiểu đoàn trong vài tháng nhưng phải đề phòng một cuộc tấn công ở vùng châu thổ sông Hồng. Bọn Việt không có phương tiện tiến hành vận động chiến và chúng sẽ thất thế nếu bị dồn ép". Navarre tự biết mình không phải là người được Watshington ưa vì có tiếng là người quá thận trọng, thiếu quyết đoán. Được cử làm Tổng tư lệnh, ông ta sẽ cố làm giảm bớt nghi ngờ của Mỹ về mình bằng cách đưa ra một chiến lược đầy tham vọng để giành thế chủ động trong chiến tranh Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:58:19 AM
Ông mang theo một bộ sậu mới gồm tướng không quân ba sao Bodet (cùng ở Fontaineblau) làm phó tướng Gambier làm tham mưu trưởng và Lauzin làm tư lệnh không quân thay Chassin.
Ngày 19/5/1953 Navarre xuất hiện tại phi trường Tân Sơn Nhất trong sự nghênh đón trọng thị của các tướng lĩnh và cá nhân vật dân sự cấp cao cùng hai tiểu đoàn quân dàn chào với tiếng quân nhạc ồn ã.
Xuất thân từ một gia đình nhiều đời làm chưởng lý quan toà và luật sư ở Normandie, niềm nở, thân mật, có tư cách của con người có tính nhân văn. Một trong những nhược điểm lớn của Navarre là quá thận trọng. Có thể do tính dè dặt khiến ông ta mang bộ mặt bí hiểm và lạnh lùng trước mọi người. Ông ta không có vẻ lôi cuốn hấp dẫn như anh chàng Cogny. Không thích những cuộc chiêu đãi, không ưa các nhà báo và luôn nghi ngờ họ. Gương mặt "cáo già" khi cười thường cau lại. Hình ảnh ông ta trở nên khó chịu. Gần suốt trọn tuổi nghề làm tình báo và ở cơ quan nghiên cứu, Navarre thường dày công tìm hiểu thấu đáo vấn đề để mỗi khi chọn giải pháp thì không còn gì cản trở1 (Dựa theo hồi ký "Thời điểm của những sự thật" của Navarre - NXB Plong-Paris 1979, thì Navarre phân biệt được sự khác nhau trong điều hành chiến tranh của hai bên, có những nhận xét khá chính xác về cục diện chiến trường, am hiểu qui luật chiến tranh qui ước).
Đặt chân đến Việt Nam, ông ta đến thăm tất cả các tư lệnh các quân binh chủng tại nhà riêng, đi thanh tra các đơn vị của quân viễn chinh kể cả ở các đồn lẻ, các đơn vị của đội quân Bảo Đại, tính toán quân số, lật đi lật lại vấn đề trong óc, ghi lên bản đồ. Navarre đề nghị với Salan một chương trình thăm địa bàn chiến sự ở Bắc Kỳ trước hết là Nà Sản. Đại tá Berteil, tư lệnh cụm Nà Sản đã đưa ông ta đến các cứ điểm với vẻ cứng nhắc kính cẩn.
Trước khi sang Đông Dương, Navarre nói với Chevigné, bộ trưởng Bộ Chiến tranh: "Rút quân khỏi Nà Sản sẽ là một trong những hành động đầu tiên của tôi trong công tác chỉ huy và tôi sẽ không tái diễn những cuộc hành quân kiểu đó". Ông ta cho rằng khuyết điểm lớn nhất của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương là không có một lực lượng chủ lực cơ động tác chiến để chống chọi với lực lượng này của Việt Minh. Ngoài 6 binh đoàn cơ động (G.M: Groupement Mobile có 4 đến 5 tiểu đoàn) do De Lattre xây dựng đang bị phân tán hoàn toàn và 8 tiểu đoàn dù được coi là cơ động nhất, số còn lại là những đơn vị dự bị chôn chân tại khu vực chiếm đóng. Một vài lực lượng dự bị ở địa phương cũng phải chiếm giữ và bảo vệ rất nhiều địa điểm.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 01:58:44 AM
Thăm Nà Sản, đã thai nghén trong Navarre một tập đoàn cứ điểm và ông ta muốn xây dựng nó ở Điện Biên Phủ để cùng với Lai Châu và Nà Sản/hình thành một hệ thống kiểm soát toàn vùng Tây Bắc.
Gần bốn tuần sau, ngày 16/6/1953 ông ta trình bày biện pháp sẽ áp dụng để tìm đáp số cho bài toán của cuộc chiến tranh ở Việt Nam - mà người ta thường gọi là kế hoạch Navarre - trước các tướng lĩnh, các quân binh chủng.
Những tư tưởng mà ông trình bày thực chất dựa trên di sản kế hoạch Sa lan từ 30 tháng (4/1953 đến 1/1955) rút còn 20 tháng, (từ 8/1953 đến 3/1955) gồm 2 bước:
1/ Trong mùa chiến dịch tới, trước hết giữ thái độ thận trọng, chủ yếu nhằm khôi phục quân đội viễn chinh trả lại cho nó tinh thần và nhiệt tình chiến đấu, tránh đụng độ với chủ lực đối phương. Phía Bắc là địa bàn nghiêm trọng, phải tiếp tục bình định ngăn ngừa bằng cách bẻ gây các cuộc tấn công của đối phương trước khi nó nổ ra.
Ở vĩ tuyến 18, địa bàn chia cắt với Bắc Kỳ bằng một dãy núi hình thành một ranh giới tự nhiên sẽ vây chặt, bằng một cuộc tấn công tương đối dễ dàng mang tên Atlante để thanh toán gọn các đơn vị thuộc khu 5 của Việt Minh không để các mối đe doạ trở nên trầm trọng khiến tình hình có thể xấu đi.
2/ Đến mùa chiến dịch sau sẽ chủ động. Gây chiến. Trước hết sẽ tấn công các vựa thóc lúa của lùng đông dân cư và cuối cùng là tiêu diệt chính chủ lực của đối phương.
Với quân đội quốc gia của Bảo Đại, một quân đội không thích đánh nhau sẽ từng bước giao nhiệm vụ chiếm đóng để cho phép ta tăng cường tiềm lực tấn công.
Navarre trưng cầu ý kiến của các tướng lĩnh, Cogny - mới được phong trung tướng và được đề bạt làm tư lệnh Bắc Kỳ thay De Linares, là người đầu tiên phản bác chiến lược của Navarre. Cogny sợ lực lượng chiếm đóng của ông ta có thể bị tràn ngập nếu xảy ra một cuộc tiến công của đối phương. ông còn sợ Tổng tư lệnh sẽ rút những lực lượng cơ động từ quân số Bắc Kỳ để tập trung cho chiến dịch Atlante vì chiến dịch này sẽ ngốn nhiều quân. Cogny đề nghị vùng cao nên tránh các cuộc đụng độ mà kết quả không đảm bảo. Chỉ nên xây dựng ở đó những căn cứ dã chiến hay đưa lên đó những đơn vị chính quy có thể lẩn tránh dễ dàng. Ở đồng bằng, nơi quá trình ung thối đang phát triển cần giữ thế tiến công liên tục chống lực lượng đối phương và cuối cùng mở nhiều cuộc càn quét thường xuyên mạnh mẽ ở vùng ven để gây rối loạn trong hệ thống tiếp tế và trong việc mở rộng địa bàn kiểm soát của các binh đoàn Việt Minh.
Vừa mới nắm quyền, Navarre muốn tránh một sự va đụng nên đã trấn an Cogny, đề nghị Cogny cứ kiến nghị những hoạt động theo hướng đó và hứa sẽ bật đèn xanh cho Cogny. Ngày 17/7/1953 Navarre đồng ý để Cogny tổ chức một cuộc tập kích lên Lạng Sơn mang tên chiến dịch Con én (Hirondelle) do đại tá Ducour chỉ huy.
Với sự yểm trợ của máy bay B26, tiểu đoàn dù 6 của Bigeard, tiểu đoàn dù 8 của Tourret, một đơn vị công binh cùng 2 tiểu đoàn khác do Liesenfelt nắm được tung xuống Lạng Sơn, lùng sục các khu vực, hang động nơi nghi có cá kho tàng vũ khí trang bị của ta cất giấu. Sau 18 giờ phá phách chúng rút mang theo những tên tay sai người địa phương trước đây đã từng phục vụ chúng. Chúng khoe đã phá huỷ nhiều xe vận tải, hàng ngàn trung liên, hàng tấn thuốc nổ, hàng vạn lít xăng dầu. Chiến thắng trên khiến Navarre rạng rỡ.
Ngày 24/7/1953 ông ta trình bày kế hoạch mang tên mình tái điện Elyseés trước Tổng thống Vincent Auriol, Hội đồng bộ trưởng và các tham mưu trưởng trong đó có ý đồ lập một căn cứ không quân và bộ binh ở Điện Biên Phủ để bảo vệ Lào. Ông xin thêm 12 tiểu đoàn, một chi đội pháo 75 mm cho quân dù, một tiểu đoàn công binh, một phi đội vận tải, máy bay B26 và một hàng không mẫu hạm, những phương tiện vận tải đường biển và tàu đổ bộ.
Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng không giấu diễm tình hình kiệt quệ của đất nước, ý định của chính phủ là tiến hành thương lượng ngay với đối phương sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết. Các tham mưu trưởng thì đề nghị không nên buộc Navarre phải bảo vệ Lào, tất nhiên, Navarre vẫn phải có trách nhiệm. Biên bản không nên ghi điều khoản này vì lý do tế nhị về mặt ngoại giao. Nói cách khác họ không muốn thiết lập một căn cứ không quân và bộ binh tại Điện Biên Phủ như Navarre đề nghị.
Bộ trưởng Bộ Tài chính thì tuyên bố thẳng thừng là không có thêm một xu cho kế hoạch Navarre vì ngân sách trống rỗng. Tướng Cornilion Molimer hàm bộ trưởng, nguyên là phi công đã từng đáp máy bay xuống Điện Biên Phủ cùng Le Clerc năm 1946 thì kêu lên: "Điện Biên Phủ là một sân bay nằm giữa khoảng đất rộng, trống trải như Champ de Mars bên sông Seine, xung quanh là đồi cao kẻ thù chiếm lĩnh. Cách Hà Nội - Hải Phòng đến mức chỉ đủ xăng cho máy bay đến đó và quay về."
René Pleven, bộ trưởng Quốc phòng chống lại việc gia tăng nỗ lực quân sự chừng nào quân đội quốc gia chưa được xây dựng thực sự và yêu cầu chính phủ giao nhiệm vụ rõ ràng cho Navarre.
Navarre không tin người ta chấp nhận hoàn toàn kế hoạch của mình nhưng ông ta chắc chắn sè không có sự phản đối. Ông ta không thay đổi và không từ bỏ ý đồ đã chuẩn bị: chiếm Điện Biên Phủ. Ông ta thừa nhận sẽ phải đánh một trận gay go và cũng thành thật nói trận đánh ấy có thể chứa đựng những thất bại quan trọng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:01:24 AM
Hội nghị hết lời ca ngợi ông ta và chỉ yêu cầu điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với nhiệm vụ duy nhất là tìm một lối thoát danh dự cho dân tộc và phù hợp với khả năng. Từ Paris, Navarre sửa lại mệnh lệnh với nội dung "Trong trường hợp kẻ thù tấn công ở thượng lưu sông Mêkông, phải nghiên cứu một hành động đón trước nhằm bất ngờ chiếm Điện Biên Phủ”. Ngày 25/7/1953 Navarre chuyển văn bản cho đô đốc Auboyneau, người thay ông ta khi vắng mặt tại Sài Gòn, ký gửi các thuộc cấp.
Mới hôm nào ông nói với De Chevigné "Tôi sẽ không phạm phải sai lầm như những người tiền nhiệm” nhưng thực tế ông đang phát động hoạt động ở Điện Biên Phủ như Salan đã gây ra ở Nà Sản trước đây.
Ngày 5/8 Navarre quyết định rút Nà Sản, 150 máy bay đã tham gia vào việc rút quân này. Hình dung thấy lực lượng tại đây sẽ được chuyển sang Điện Biên Phủ trong nay mai, Cogny đã viết cho Navarre "Tôi tuyệt đối không tin giá trị của một cứ điểm để chặn một hướng cách Luang Prabang 200 km. Chúng ta có nguy cơ tái diễn một Nà Sản mới trong điều kiện tệ hại hơn". Để yên lòng Cogny, cuối tháng chín Navarre cho mở chiến dịch Brochet càn quét vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp đó là cuộc hành quân Pelican biệt kích vào bờ biển Thanh Hóa ngăn chặn chủ lực của ta tiến vào đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cũng là để thăm dò ý đồ của ta.
Đầu tháng 11, Navarre đã vơ vét được 480.000 quân gồm 267 tiểu đoàn, trong đó có 89 tiểu đoàn cơ động (ở Bắc Bộ có 44 tiểu đoàn tinh nhuệ). Kế hoạch đánh chiếm Điện Biên Phủ được triển khai. Ngày 11 tháng 11, đại tá Nicot, người chỉ huy vận tai hàng không được lệnh tập hợp máy bay đã thẳng thừng nói: “Hàng không không đủ sức đảm bảo tiếp tế cho Điện Biên Phủ thường xuyên"1 (Không lực Pháp thời đó có 530 máy bay, số sử dụng được chiếm 370 chiếc. Số máy bay vận tải có 80 chiếc, 70 máy bay chiến đấu (45 chiết B26) 30 máy bay tiệm kích, 40 máy bay liên lạc, 90 chiếc Morane, 17 trực thăng. Khả năng vận chuyển 70 đến 80 tấn/ngày. Thực tế yêu cầu ở Điện Hiên Phủ là 200 tấn/ngày).
Tham mưu trưởng Bắc Kỳ và chánh văn phòng của Cogny khi được trưng cầu ý kiến đã viết trả lời vào phiếu: Điện Biên Phủ không ngăn nổi Lai Châu thất thủ. Lúa gạo ở Điện Biên Phủ không cần thiết lắm đối với Việt Minh - 5 tiểu đoàn không đủ đối phó với đại đoàn 316 được tăng cường.
Các tướng Masson, Dechaux, Giues đều trả lời: Điện Biên Phủ không bỏ trống như người ta tưởng. Ba tiểu đoàn của trung đoàn 148 đang chiếm đóng. Không nên đánh Điện Biên Phủ vì lý do kỹ thuật và chiến thuật. Khoảng cách 300 km là quá lớn khiến điều kiện sử dụng không quân trở nên phức tạp và nghiêm trọng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:02:12 AM
Như vậy, việc đánh chiếm Điện Biên Phủ không phải hình thành một cách ngẫu nhiên. Người ta đã suy nghĩ, bàn luận, cân nhắc thậm chí đã cãi nhau tại hội nghị quyết định cuộc hành quân ngày 17/11/1953.
Navarre nghe tất cả các ý kiến phản bác một cách lễ độ. Câu hỏi cuối cùng của ông ta: Có thể làm được không?
Mọi người trả lời: Vâng, làm được.
- Thế thì không quân phải chịu đựng khó khăn ấy và tìm cách khắc phục, kỹ thuật phải phục tùng chiến thuật.
Cuối cuộc họp, Gilles, tư lệnh lữ đoàn dù, tự động đứng lên khẳng định sẽ làm tất cả để cuộc hành quân thắng lợi.
Cogny từ chỗ phản đối Navarre đánh chiếm Điện Biên Phủ, nay không tuyên bố chống nhưng vẫn muốn giữ ưu thế ở đồng bằng, sợ Điện Biên Phủ sẽ là thảm họa nhưng lại sợ mình lầm. Vốn nổi tiếng là người biết phục tùng, ông ta miễn cưỡng vâng lệnh.
Navarre luôn luôn nói về giữ quyền chủ động của ông ta, bây giờ ông ta mang sinh mệnh hàng ngàn con người vào canh bạc. Cuộc hành quân mang tên CASTOR đánh chiếm Điện Biên Phủ bắt đầu. (Castor là tên con trai thần Jupiter và nữ thần Le da- từ ngày 5/12 Castor được thay bằng GONO - binh đoàn tác chiến Tây Bắc).
Điện Biên Phủ là một thung lũng nằm theo hướng Bắc Nam dài gần 20 km, rộng từ 5 đến 7 km, xung quanh là những ngọn đồi, có ngọn thoai thoải, có ngọn là đá vôi lộ thiên nhọn hoắt hình thành một vòng cung có những mảng rừng bao phủ, nằm trên đường từ Tuần Giáo qua Lào. Điện Biên Phủ bị Pháp chiếm từ 1887, còn lại một cái đồn cũ kỹ. Thời Nhật thêm một sân bay.
5 giờ 45 phút sáng ngày 20/11/1953 chiếc máy bay privateer bốn động cơ thường được dùng thám hiểm vùng trời thuộc lực lượng không quân của hải quân chở Bodet, phụ tá của Navarre, Dechaux và Gilles bay lượn trên bầu trời Điện Biên Phủ kiểm tra thực địa và nắm tình hình khí tượng để đi đến quyết định cuối cùng của cuộc hành quân Castor.
8 giờ 15, 67 chiếc Dakota bắt đầu cất cánh từ Hà Nội bay theo hàng dọc cỡ 10 km có máy bay B26 hộ tống lên Điện Biên Phủ. Sau giờ ném bom bắn phá dọn bãi, khu trục đối phương, 10 giờ 35 các đơn vị lính dù và công binh lần lượt được ném xuống hai khu vực của Điện Biên Phủ: Tiểu đoàn 6 dù (BCP) và 1 đại đội công binh do Bigeard chỉ huy nhảy xuống Tây Bắc thị trấn. Khu vực thứ II nằm ở phía Nam là tiểu đoàn dù 11 (BCP) do Bréchignac chỉ huy. Ở Hồng Cúm địch không gặp sự đề kháng nhưng cách sân bay 500m địch bị bắn ngay khi chưa kịp chạm chân xuống đất. 50 tên chết và bị thương. Có tên cháy như ngọn đuốc sống lơ lửng trên không. Cho đến khi trời sập tối Begeard mới đặt được sở chỉ huy ở Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:02:48 AM
Đợi đến khi chiến dịch được triển khai ở Điện Biên Phu thì ở Sài Gòn, Navarre mới tiếp chuẩn đô đốc Cabanier sau mấy ngày trì hoãn để làm việc đã rồi. Lúc này vị tổng thư ký hội đồng quốc phòng, phái viên của chính phủ mới biết đã diễn ra cuộc hành quân vào sáng nay. Ở Paris, khi bức điện của Jacket chuyển về thông báo cuộc hành quân đã được thực hiện khiến Tổng thống, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đến các thành viên của chính phủ và các tổng tham mưu trưởng đều rất đỗi ngạc nhiên.
Sáng 21/11/1953, tướng Gilles người mới thoát ra khỏi "cái bẫy khổng lồ” ở Nà Sản và mới chiếm được ngôi sao cấp tướng bên cái bẫy đó đã nhảy dù đợt đầu tiên xuống Điện Biên để đảm nhiệm vai trò chỉ huy cuộc hành quân Castor tại Điện Biên Phủ. Tiếp theo người ta trút xuống nào người, nào đại bác, nào dây thép gai và lương thực thực phẩm. Langlais bị sái chân đang cố giấu vẻ tập tễnh của mình.
Tối hôm đó, tại Hà Nội, Cogny bộc lộ rõ nỗi vui mừng trước các nhà báo: "Nếu có thể được, tôi đã bê nguyên si cụm cứ điểm từ Nà Sản về Điện Biên Phủ ngay từ khi tôi mới nắm quyền chỉ huy cách đây 5 tháng".
Ngày 22/11 Cogny lên Điện Biên Phủ. Trong lúc hướng dẫn Cogny đi thị sát 5000 con người đang bận rộn đào hầm hố, chăng giây thép gai, dựng lều trại ở các cứ điểm, Gilles đã đề nghị Cogny tìm người thay thế. "Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là cái bẫy của kẻ ngu ngốc cần cuốn xéo cho nhanh". Gilles nghĩ thế vì đã chán ngán. Gilles còn ngửi thấy nguy cơ đến gần do bệnh đau tim có lúc làm ông mệt mỏi nhu ngã gục. Tuy vậy ông chỉ nhẹ nhàng nói với Cogny: "Tôi đã chui rúc ở Nà Sản suốt 6 tháng, nếu được chuyển đến một nơi thoáng đãng thì tốt hơn".
Cogny muốn níu ông ta lại vì Gilles là người thích hợp nhất ở đây nhưng biết khó giữ nổi nên đã hứa xem xét vấn đề ngay khi quay về Hà Nội. Vừa đến sở chỉ huy ông được thiếu tá Levain báo cho biết qua theo dõi hệ thống thông tin thì ông Giáp đã ra lệnh cho đại đoàn 316 lên đường và sẽ đến Điện Biên Phủ vào ngày 6/12, đại đoàn 308 vào khoảng 24 và đại đoàn pháo 351 khoảng 26/12. Cuối cùng là đại đoàn 312 sẽ có mặt vào ngày 28/12. Cogny lập tức điện cho Navarre tin tức tình báo trên. Những người bên cạnh Navarre cho rằng ê kíp của Cogny cố thổi phồng tầm quan trọng của Bắc kỳ, muốn cho ê kíp của Navarre không đụng đến đặc quyền của họ.
Bản thân Navarre cũng nghi ngờ những kết luận của Cogny. Theo ông có lẽ chỉ có một số đơn vị của các đại đoàn trên sẽ đến Điện Biên và cũng có thể là mệnh lệnh giả. Các sĩ quan quanh ông đảm bảo rằng không quân sẽ đập nát các đại đoàn của tướng Giáp nếu họ chuyển quân, rằng không nên đánh giá quá cao khả năng cơ động và tiếp tế của Việt cộng. Chặng đường tiếp tế của họ dài khoảng 600 km, đảm bảo lương thực, thực phẩm cho 5 vạn người chiến đấu cần 5 vạn người vận chuyển. Mỗi người sẽ ăn hết gần hai phần ba lương thực họ mang theo. Nếu có nguy cơ một cuộc tấn công đối phương không thể kéo dài hơn một tuần. (Thực tế ta vừa tiến hành chiến dịch Tây Bắc năm trước cách hậu phương hàng 300 - 400 km).


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:03:26 AM
Một đáng ngại khác của Navarre là viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam sẽ tăng ngay sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc song ông ta tự bác bỏ hiệu quả chiến lược của những viện trợ Trung Quốc, nhiều lắm sự viện trợ cũng chỉ giữ ở mức cũ không nên đánh giá quá cao.
Ngày 29/11 trên cùng chuyến máy bay đến Điện Biên Navarre và Cogny bàn chọn người thay Gilles để chỉ huy tập đoàn Điện Biên Phủ. Gilles rất thích Vanuxem thay mình vì hắn nổi tiếng trong vai trò chỉ huy tập đoàn quân cơ động tuy cũng nổi tiếng không biết tiết kiệm quân. Nhưng cũng như Gilles, Vanuxem không thích thú gì cương vị này. Navarre và Cogny cùng chọn và cùng đề xướng De Castries vào vị trí trên. De Castnes mới rời Trung tâm học viện cấp cao, biết sử dụng xe bọc thép. Là một kỵ binh, Castries không thể phi ngựa trên những dãy núi ở Điện Biên Phủ nhưng có khả năng ứng phó linh hoạt.
Cogny muốn đưa Castries lên Điện Biên Phủ còn vì một lý do riêng. ông ta không thích con người kênh kiệu, mới chỉ là một đại tá đến nhận công tác ở miền Nam Châu thổ mà đã đòi 10 lính cận vệ mang găng trắng, cưỡi xe mô tô ra đón lại còn đòi một lễ misa trang trọng.
Về phần Navarre, ông ta nghĩ đến Castries vì hắn là một viên đội dưới quyền khi ông là trung uý. Ở đại đội kỵ binh Saint Germain số 16, lúc ông được tháng đại uý thì Castries là thiếu uý. Khi ông là chỉ huy đội kỵ binh Maroc số 3 thì Castries là đại đội trưởng trong binh đoàn số một. Ở đây, lúc này nhiều người không ăn ý với ông, ông phải bám vào những người ông tin cậy. Navarre biết không ít điều tiếng về Castries trong đó có nhiều điều tiếng xấu nhưng theo ông, Castries là một sĩ quan giỏi, một kỵ binh xuất sắc có năng khiếu hoạt động ở chiến trường. Khi chỉ huy binh đoàn cơ động số 2, Castries đưa quân lên ứng cứu Vĩnh Yên theo lệnh De Lattre nhưng chưa va đụng với ta. Trong chiến dịch Tây Nam Ninh Bình, Castries đã từng tham chiến với quân ta ở Ghềnh.
Castries không tỏ ra vui mừng quá đáng. Người ta đã hứa sẽ đưa ông lên thiếu tướng vào mùa xuân cùng Vanuxem. Ông ta sợ lên Điện Biên sẽ chui đầu vào rọ, nhưng rồi ông ta chấp nhận sự thuyết phục của Navarre và sự khích lệ của Cogny.
Vậy là từ ngày 7/12/1953 Chiristan Mariac Ferdinana de la Croix de Castries, bắc đẩu bội tinh hạng III, 16 lần được tuyên dương, cháu Thống chế - bộ trưởng hải quân thời Louis XV, họ hàng với vô số trung tướng công khanh, người đoạt chiếc cúp trong cuộc đua ngựa ở Somuyre nắm quyền chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ có biệt ngữ quân sự là Tập đoàn tác chiến vùng Tây Bác (Groupement Operationel du Nord Ouest - Viết tất là GONO) để thực hiện ý đồ vừa công vừa thủ trong tam giác Lai Châu - Điện Biên Phủ - Tuần Giáo mà Điện Biên Phủ là căn cứ cố thủ cuối cùng. Ông ta chỉ mang theo cô nữ thư ký Paule Bourgeade và một phụ tá là trung tá Pierre Langlais - một con sâu rượu.
Như Navarre đã trình bày, một trong nhưng nội dung cơ bản trong kế hoạch của mình là tránh giao chiến chừng nào lực lượng viễn chinh chưa phục hồi, nghĩa là trong vòng một năm nữa nhưng ngày 3/12/1953 tại chỉ thị số 949 Navarre đã quyết định chiến đấu ở Tây Bắc tập trung phòng thủ tại Điện Biên Phủ và phải bảo vệ căn cứ này bằng mọi giá. Trong chỉ thị cũng yêu cầu giữ càng lâu càng tốt quân đồn trú tại Lai Châu.
Lệnh của Navarre vừa phát, ngày 7/12 nghe tin các đơn vị chủ lực của ta đang tiến lên Lai Châu, Cogny vội thực hiện chiến dịch Pollux, rút khỏi Lai Châu. Dọc đường tháo chạy, 24 đại đội địch bị đánh tơi bời. Castries đã cử Langlais mang ba tiểu đoàn từ Điện Biên Phủ đi đón bọn Lai Châu. Ông ta dặn Langlais: "Cậu đi bắt tù binh về cho tớ" nhưng mới ra khỏi sân bay 7 km tiểu đoàn 8 của Langlais bị bao vây. Các tiểu đoàn còn lại phải xông vào ứng cứu để khỏi bị tiêu diệt. Trận đánh tạm kết thúc, 12 chuyến trực thăng chưa chở được hết số bị thương. Những tên chết nằm ngổn ngang ở chiến địa. Đám tàn quân ở Lai Châu chạy về đến Điện Biên không tăng thêm sức mạnh cho quân đồn trú tại đây mà ngược lại đã làm cho bọn ở Điện Biên Phủ phát hoảng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:04:08 AM
Lường trước sự tan vỡ của Điện Biên Phủ giống như Lai Châu, Cogny đã ném lên đây 11 tiểu đoàn, tăng cường trung tâm đề kháng Hồng Cúm lên ba tiểu đoàn để hỗ trợ cho trung tâm chính. Ông ta đã cùng Crevecoeur chuẩn bị một kế hoạch tuyệt mật mang tên Senophon nhằm di tản quân đồn trú ở Điện Biên. Bodet, phụ tá của Navarre đã đưa lên Mường Sài ở Thượng Lào ba tiểu đoàn rải rộng về phía Sốp Nạo nói là để quấy rối Việt Minh nhưng thực chất là thiết lập sẵn một đường dây và một trạm liên lạc để đón quân ở Điện Biên Phủ - Langlais đã được giao mở đường từ Điện Biên Phủ liên lạc với tiểu đoàn Vandray ở Sốp Nạo.
Navarre cũng tiên liệu sẽ thất trận khi các đại đoàn chủ lực của đối phương tiến đánh Điện Biên Phủ nhưng vẫn hy vọng ở cơ may chiến thắng nên không quyết định rút quân. Ông ta vẫn nghĩ họ khó có thể vượt qua những trọng điểm đánh phá và sự kiểm soát thường trực của không quân với 51 máy bay tiêm kích Bearcat và 30 chiếc Hencat liên tục quần đảo trên trục đường Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên. Họ có thể đưa lên Điện Biên Phủ một số lượng pháo lớn kể cả pháo cao xạ nhưng khó mà phát huy được hoả lực. Họ không thể đưa pháo lên lưng chừng núi, đặt pháo khuất sau núi thì tầm bắn không với tới trung tâm. Đưa pháo tới cự ly cần thiết để đạt hiệu quả thì với 24 khẩu 105mm, 4 pháo 155, 18 khẩu cối 120 ly của Pirot sẽ dập tắt ngay khi họ khai hỏa.
Người ta đã gợi ý Pirot - viên sĩ quan cụt một tay trong trận chiến đấu ở Ý trước đây, nay là đại tá phụ trách pháo binh của tập đoàn Điện Biên Phủ nên xin thêm pháo cho Điện Biên, Pirot đã nhún vai từ chối vì số lượng pháo ông ta nắm trong tay quá đủ. Còn cao xạ, nếu đối phương có, chắc khó với tới tầm cao của máy bay. Trong trường hợp họ dùng chiến thuật biển người thì Điện Biên sẽ là cối xay thịt. Mười xe tăng của đại úy Hervouet có thể chà nát họ. Năm ngoái họ phải từ bỏ ý định đánh Nà Sản thì năm nay họ cũng không thể đụng tới Điện Biên với ngót 20 tiểu đoàn và cả một tập đoàn cứ điểm được xây dựng vững chắc.
Cao ủy Pháp ở Đông Dương Maunce Dejean đã điện cho bộ trưởng của ông: "Bộ chỉ huy ta (quân viễn chinh) cho rằng nếu địch khiến cho cuộc giao chiến nổ ra, đó sẽ là trận đánh rất gay go nhưng ta có nhiều cơ may giành thắng lợi chắc chắn. Cho đến nay quân đội của tướng Giáp chưa bao giờ đứng trước một nhiệm vụ đáng sợ như nhiệm vụ tấn công Điện Biên Phủ”. Các quan khách từ chính quốc, từ Mỹ, từ Anh đua nhau tới Điện Biên: Ely, Pleven, Jacket, Chevigné rồi Mac Donal, O.Daniel cả Spear, Lowen... "Căn cứ có vẻ mạnh", "Điện Biên Phủ là một Nà Sản nhân lên gấp 10 lần", “Ta sẽ nghiền nát không chỉ là một đại đoàn mà là 4 đại đoàn”. Họ trầm trồ nói với Cogny và De Castries như thế. O.Daniel trưởng phái đoàn Mỹ ở Đông Dương, cố vấn quân sự của Tổng thống Eisenhower, hiện thân của viện trợ Mỹ, sau khi thăm Điện Biên Phủ về ngày 2/2, tỏ ra rất phấn khởi phát biểu ở Washington "Cả một tập đoàn cứ điểm cứ như ở dưới đất chui lên".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:04:32 AM
Tuy vậy, không ít người tỏ vẻ hoài nghi thậm chí bi quan lo lắng cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bảy mươi tiểu đoàn chiếm 80% lực lượng cơ động đang bị căng ra khắp các chiến trường Đông Dương từ trung, hạ Lào đến Tây Nguyên trong những "con nhím" (những cụm cứ điểm). Cogny lo Navarre phát động chiến dịch Atlante sẽ hút rất nhiều máu quân đội viễn chinh. Điện Biên Phủ sẽ thiếu lực lượng chi viện nếu bị tấn công. Cụm cứ điểm không đủ vững chắc. Navarre trả lời: "Cuộc hành quân Atlante là hoạt động tấn công có quy mô, nhất định phải tiến hành. Nếu tôi không chơi được Atlante theo ý tôi muốn, tôi sẽ xin từ nhiệm để chính phủ cử người khác thay thế." Cogny càng lo.
Pobert Guillain, nhà báo, sau khi thăm Điện Biên thì cho đây là "sân vận động mà Việt Minh đang chiếm các bậc thang chung quanh, Điện Biên Phủ là cái hố thả sư tử”.
De Chevigné, thứ trưởng phụ trách chiến tranh của Pháp nói: "Điện Biên Phủ quả là một cái ống nhổ, đội quân đồn trú đóng ở dưới đáy mà Việt Minh chiếm cái vành ở trên", “Kể từ năm 778 sau trận do tướng Roland của vua Charlemage thực hiện trên đèo Roncevaux thuộc dãy Pyreneés chưa bao giờ thấy binh lính diễu qua một khe hẹp thế này".
Blanc - tổng thanh tra quân đội Pháp: "Cần rút khỏi Bắc Kỳ để giữ Trung Kỳ và Nam kỳ thì tốt hơn. Cần thương lượng để chấm dứt chiến tranh trong danh dự. Tiếp tục để cho quân đội viễn chinh bị giết hại trong lúc quân dự bị đang bị tiêu tán là một tội ác”.
Trong buổi trao đổi giữa Jacket - bộ trưởng các quốc gia liên kết với Pléven - bộ trưởng Quốc phòng, cùng Ely - tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, Jacket bộc lộ: "Tôi rất bi quan", Pleven và cả Ely đều đáp "Chúng tôi còn bi quan hơn".
Hỏi ý kiến Fay, tư lệnh không quân trong chuyến đi cùng Dodet và đoàn tuỳ tùng lên Điện Biên Phủ, Fay đáp "Tôi khuyên tướng Navarre nên lợi dụng cuộc chiến chưa nổ ra ở đây và khả năng sử dụng cả 2 sân bay mà ông ta đang còn để đưa khỏi nơi đây càng nhiều càng tốt bởi ông đã thua rồi, không gì cứu vãn nổi". Fay đã nói riêng với Navarre: "cậu suy nghĩ đi, tôi vẫn sẵn sàng ở lại đây một tuần và chịu trách nhiệm cá nhân về cuộc hành quân rút khỏi Điện Biên Phủ. Tôi thề với cậu là chúng ta sẽ rút hết toàn bộ những gì rút được. Để ủng hộ cậu tôi sẽ dùng mọi phương tiện cần thiết." Navare mỉm cười từ chối đề nghị của Fay. Theo ông, ý kiến cánh không quân không đáng kể. Cùng ngày 19/2/1954 trong cuộc họp báo, Navarre tuyên bố. "Việt Minh đã đi đến tận cùng tham vọng. Họ vừa chứng tỏ họ đã vượt quá khả năng hậu cần của mình". Nghe xong, phóng viên báo Le Monde viết: "Tôi thề rằng Navarre đã phạm sai lầm bi thảm. Ông ta đang nói dối chúng ta. Tôi thề rằng tình hình ông ta trình bày không giống gì thực tế".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:05:06 AM
Đúng là cả Cogny và Navarre đều nghi ngờ về sự vững chắc của khu căn cứ, đều ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan-Cogny đã nói riêng với Navarre: "Cần phải làm tất cả để ông Giáp đình tấn công”. Nhưng đã đến lúc họ không thể rút chân ra khỏi bẫy.
Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch và mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, các đại đoàn 308-312-316, trung đoàn bộ binh 57 thuộc đại đoàn 304, đại đoàn công pháo 351 đã cùng nhân dân cả nước vào trận với tinh thần quyết chiến quyết thắng.
Lợi dụng địch chưa kịp củng cố công sự, Bộ chỉ huy tiền phương ở mặt trận Điện Biên Phủ dự định tập trung toàn bộ binh hoả lực từ nhiều hướng thọc sâu vào trung tâm, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong hai ngày ba đêm liên tục chiến đấu. Thời gian nổ súng là 17 giờ ngày 25/11/1954. Đến khi đưa pháo vào trận địa, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ cân nhắc thấy địch đã tăng cường thêm lực lượng, đánh nhanh rất ít yếu tố thắng lợi và không thể tránh khỏi thương vong nhiều khi chiến đấu trên địa hình trống trải dưới tầm đạn bom của máy bay pháo binh địch đã quyết định chuyển từ cách đánh nhanh, thắng nhanh sang cách đánh chắc, tiến chắc.
Do khai thác được các nguồn tin tình báo, địch dự đoán cuộc tiến công của ta sẽ xảy ra vào ngày 25/1. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm được lệnh báo động sẵn sàng chống trả. Tại Hà Nội có mặt đông đủ: Tổng tư lệnh Navarre, Tư lệnh Bắc Bộ Cogny, Tổng thanh tra quân đội Blanc, Bộ trưởng các quốc gia liên kết Jacket, Cao uỷ Dejean đều chờ đợi cuộc tiến công nhưng đã không nổ ra.
Ngày 26/1, De Castries điện báo về tổng hành dinh: "tình hình vẫn yên tĩnh Việt Minh có vẻ từ bỏ tiến công Navarre quyết định một chuyến bay cùng Cogny lên Điện Biên Phủ để nghiên cứu tình hình tại chỗ nhưng không khẳng định được lý do đối phương không tiến đánh Điện Biên Phủ.
Cogny tỏ ý tiến nhưng Navarre thì nói thẳng: "tôi không mong Việt Minh tiến đánh Điện Biện Phủ” rồi trở lại hành dinh ở Sài Gòn với căn biệt thự đầy đủ tiện nghi trưởng giả, cách khá xa trại Mares - nơi đặt bộ tham mưu đang ngày đêm sôi động lục sục.
Ngày 2/2 trung tướng Mỹ O Daniel tới thăm Điện Biên Phủ giữa lúc đại đoàn 308 đang tiêu diệt một loạt các căn cứ của Pháp ở Bắc Lào đã khẳng định: "Việt Minh sẽ từ bỏ ý định đánh Điện Biên Phủ”.
Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, ngày 13/3 ta nổ súng tiến công Him Lam và Độc Lập vào ngày 14, những cứ điểm thuộc tuyến phòng ngự vòng ngoài của tập đoàn Điện Biên Phủ. Bão lửa đã dội lên đầu chúng. 6.000 phát đại bác của địch không chặn được các mũi xung kích của ta. Cả Him Lam và Độc Lập đều bị tiêu diệt. Bọn ở đồn Bản Kéo run sợ trong vòng vây, nghe tiếng loa quân ta kêu gọi, kéo cờ trắng ra hàng.
De Castries huy động các tiểu đoàn dự bị và xe tăng tiến hành phản kích chiếm lại đồn với sự yểm trợ tối đa của máy bay, đại bác nhưng bị đánh tơi tả phải rút chạy.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:05:47 AM
Tuyến phòng ngự vòng ngoài bị đập tan mở  thông cửa vào khu trung tâm phòng ngự. Pirot, tư  lệnh pháo binh vốn huênh hoang về uy lực pháo hắn nắm trong tay, hoàn toàn bất lực, xấu hổ đến phát điên, suốt đêm lảm nhảm cuối cùng rút chốt lựu đạn ép vào ngực tự tử. Hắn đã được chôn ngay trong hầm và cái chết của hắn được giấu kín.
Từ ngày 30 tháng 3 ta mở đợt tấn công thứ 2 nhắm vào các cao điểm phía Đông Mường Thanh thuộc phân khu trung tâm. Những trận chiến đấu giành dật điểm cao diễn ra quyết lìệt. Giao thông hào của quân ta từ những cánh rừng đại ngàn ngày càng vươn tới sát các cứ điểm tạo thành những vành đai xiết chặt lấy khu trung tâm. Những tổ bắn tỉa ở các râu tôm đầu hào sẵn sàng nhả đạn vào không tên địch ló ra khỏi công sự. Từng tràng đại bác bất thần róc vào đầu chúng. Ô tô của ta còn kéo pháo cao xạ của các đại đội 815, 816 thuộc tiểu đoàn 383 vượt qua Khe Chít gần cứ điểm đồi A1 vào sát cụm cứ điểm Hồng Cúm bắn máy bay chặn đường tiếp tế của địch. Máy bay lên xuống hoặc đậu ở sân bay thường xuyên bị bắn cháy, đến tiếp tế phải nâng dần độ cao, phải bay đêm nhưng bị bắn rơi tại chỗ ngày càng nhiều. Những dù đạn dược, lương thực ít nhất cũng lạc sang trận địa ta trên một nửa. Chỉ trong tháng 3 địch huy động trên 750 lượt máy bay thả 11.000 tấn bom mà không giãn được quân ta. Không đủ máy bay cường kích và khu trục, dịch phải dùng cả máy bay vận tải để thả bom napan ban đêm, Nicot, tư lệnh vận tải hàng không đảm bảo đủ yêu cầu vận chuyển cho Điện Biên Phủ buộc phải từ chức.
Nhà báo Howard R.Simpson, Mỹ viết: "Nhảy dù chi viện cho Điện Biên Phủ là cú nhảy vào địa ngục".
Giữa tháng 4, ta tấn công chiếm sân bay Mường Thanh cắt đứt cầu hàng không - đường tiếp tế quan trọng nhất của địch. Chúng lâm vào thế nguy khốn, bị tấn công trong điều kiện vật chất ngày càng thiếu thốn khó khăn.
Lúc này Navarre hối hận là không sớm cách chức De Castries. Ông và đồng bọn trông chờ người Mỹ sớm mở chiến dịch Vantour (Chim Kền kền) giải nguy cho Điện Biên Phủ. Một phái bộ Mỹ bao gồm các sĩ quan không quân và chuyên gia các loại đã đến nghiên cứu chiến trường về sử dụng máy bay hạng nặng và bom nguyên tử để cứu nguy cho Điện Biên Phủ. Họ tiết lộ là sẽ có 60 máy bay B29, 150 máy bay tiêm kích của Hạm đội 7 sẽ tham gia chiến dịch. "Bọn Việt chắc sẽ bị nghiền nát". Nhưng chuyến đi cầu viện Mỹ của Tổng tham mưu trưởng Pháp Ely đã không thành. Đô đốc Raffort, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ thì nhiệt thành ủng hộ: "Phải tiêu diệt ở Bắc Kỳ cái bọn Cộng sản chưa bị tiêu diệt ở Triều Tiên và phải quét sạch bọn Việt ra khỏi Điện Biên Phủ”. Nixon, phó Tổng thống Mỹ hoàn toàn nhất trí với quan điểm này. Riêng Eisenhower, tổng thống Mỹ sau thất bại Triều Tiên lại chần chừ không muốn đưa quân vào Đông Dương, không chấp nhận cung cấp, yểm trợ bằng máy bay theo yêu cầu của Pháp tuy vẫn thăm dò khả năng Mỹ can thiệp.
Navarre thất vọng. Khi đại tá Fleurant, trưởng phòng tình báo ghé thăm, Navarre nói: "Anh đừng có ảo tưởng gì nữa. Thua rồi. Tôi mong sao bọn Việt không đánh tiếp. Ta sẽ phải tìm cách gì khác đây".
Ác cảm giữa Navarre và Cogny tăng thêm. Người nọ đổ lỗi cho người kia. Cogny cho rằng ý muốn đánh ở Điện Biên Phủ chỉ đơn thuần là ý của Tổng tư lệnh. Navarre thì cho Cogny đã tố cáo tất cả những sai lầm của ông ta khiến họ không triệt để ủng hộ kế hoạch của ông.
Ngày 2 tháng 4 họ đã cãi nhau kịch liệt. Cogny hét lên khi Navarre bảo Cogny là "đồ phản bội".
- Nếu ông không phải là tướng 4 sao thì tôi đã cho ông một cái tát.
Navarre tái mặt: "Tôi yêu cầu anh giữ kín chuyện này giữa hai chúng ta”.
Cogny giập gót trả lời:
- Tôi sẽ coi đó là nghĩa vụ hàng đầu của mình.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:06:22 AM
Tuy nhiên, trước vấn đề sống còn liên quan đến sinh mạng của cả hai họ vẫn phải trao đổi với nhau. Tờ Sài Gòn, Navarre điện hỏi Cogny: Điện Biên Phủ còn giữ được bao lâu? liệu có phải bỏ công mở cuộc hành quân Condor (rút chạy sang Lào) không? Ngày 16/4 Cogny trả lời: Cuộc hành quân Condor không chắc chắn. Phải mất 15 ngày binh đoàn từ Lào mới tiếp cận được Điện Biên Phủ, dù có thả dù thêm ba tiểu đoàn ở phía Nam lòng chảo. Crevecoeur không đủ tầm cỡ để chọc thủng vòng vây của Điện Biên Phủ.
Navarre cũng không muốn mạo hiểm tiến hành một cố gắng cứu viện, trong điều kiện tai hại có thế dẫn đến thảm hoạ khôn lường.
Nếu thất thủ Điện Biên Phủ cũng chỉ mất 13 tiểu đoàn, 4 đơn vị pháo, không đầy 1/10 quân bài của ông ta.
Vấn đề gay gắt nhất đối với Cogny vẫn là đồng bằng châu thổ Bắc Kỳ. Ném thêm viện xuống Điện Biên Phủ chỉ thêm hao quân khi cứ điểm đang tan rã và tiếp sau là sự sụp đổ. Nên thương lượng ngừng bắn. Vòng vây của đối phương ngày càng xiết chặt tập đoàn cứ điểm đến nghẹn thở. Ngày 24/4 Cogny lại muốn tiến hành ngay không chậm trễ cuộc hành quân Condor, chọc thủng vòng vây tiến về Lào. Đại tá Lalande ở Hồng Cúm đã tìm cách thực hiện chỉ thị của Cogny nhưng tất cả các toán trinh sát phái đi trinh sát đều bị chết hoặc bị thương.
Từ 1/5 theo ba hướng Đông, Tây, Đông Bắc các đại đoàn của ta mở cuộc tiến công cuối cùng vào Điện Biên Phủ. Ngày 2/5 Cogny ra lệnh cho Castries nghiên cứu cuộc hành quân Albatros - một phiên bản của kế hoạch Condor. Trong hầm De Castries có mặt Langlais, Lemenier, Bigeard, Vadot Seguinses Paggig. Người ta đã quyết định lập ba đạo chạy theo ba hướng và đã lường trước mất đến chín phần mười số quân tháo chạy nhưng đã quá muộn.
Sau khi chiếm đồi C1 ta diệt các cứ điểm C2-A1- 507 là những cứ điểm kiên cố cuối cùng của địch. Sáng 7/5 ta tổng công kích trên toàn bộ mặt trận.
Hôm 1/4 Navarre tuyên bố. "Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được tính đến chuyện đầu hàng". Nhưng hôm nay ông ta lặn sâu ở Sài Gòn. Toàn bộ Điện Biên Phủ tràn ngập cờ trắng. Cogny chỉ còn cách gọi điện tạm biệt Castries.
Sau 55 ngày đêm chiến đấu ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 16.000 tên, bắt sống toàn bộ Bộ tham mưu kể cả tư lệnh tập đoàn Tướng De Castries gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, bắn rơi và phá huy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng. Kể cả các chiến trường toàn Đông Dương trong chiến cục đông - xuân 1953-1954 Pháp mất 20 vạn quân.
Người Pháp bị một cú sốc, một nỗi đau về thất bại ở Điện Biên Phủ. Họ đi tìm nguyên nhân và người chịu trách nhiệm về thất bại này. Họ dồn mọi tội lỗi lên đầu Navarre: Navarre là kẻ chủ quan khinh địch, không biết mình, biết người; tự chuyên, độc đoán, hiếu thắng thậm chí là dốt nát về kỹ thuật hiện đại về chiến tranh hiện đại cứ tưởng bằng mấy thứ hoá chất có thể làm mưa ngăn được đối phương, không cần ra đa dẫn đường từng phi đoàn máy bay Mỹ có thể bay đến Điện Biên Phủ ném bom đúng hướng v.v và v.v.
Người ta bảo Navarre thay đổi rất nhiều sau bại trận. Nghe nói ông ta đã nghĩ đến chuyện tự tử. Có tin đồn một sĩ quan đã gửi cho ông ta một cái hộp đựng khẩu súng lục nhưng ông ta vẫn sống như thường. Ông ta vẫn tin chỉ bị một thất bại chiến thuật và dành được một thắng lợi chiến lược. Chín năm sau ông ta vẫn nói với một nhà báo: "dù xảy ra điều gì đi nữa, Điện Biên Phủ vẫn khiến cho Việt Minh phải từ bỏ ý đồ đổng tấn công ở vùng châu thổ". Navarre khẳng định là đã làm theo chỉ thị của chính phủ với nghĩa vụ của một quân nhân.
Đối với những biện minh này, người Pháp đã nhắc đến câu nói của Napoleon - nhà chính trị và quân sự nổi tiếng trong lịch sử nước Pháp, thủ lĩnh thứ nhất của nền cộng hoà Pháp (1789-1804), Hoàng đế Pháp (1804-1814-1815): "Tướng chỉ huy không thể được miễn tội về những sai lầm trong chiến đấu. Vị tướng chỉ huy nào thực hiện một kế hoạch mà ông ta đánh giá là tồi của nhà vua hay của bộ trưởng ban hành khi ở xa vùng chiến sự, không hiểu rõ hoặc không biết gì về tình hình giờ chót đều là người có tội ông ta phải nêu rõ những lý lẽ của mình, phải nài ép khẩn khoản để kế hoạch được sửa đôi hoặc rốt cuộc cần phải từ chức thay vì biến mình thành công cụ làm cho quân đội của mình bị tiêu diệt".
Khách quan mà nói chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị. Một viên tướng giỏi trong một tình huống nào đó có thể xoay chuyển được cục diện một trận đánh trên một chiến trường nhưng với một đường lối chính trị sai lầm thì người làm tướng dù có tài đến mấy cũng không hi vọng dành thắng lợi của cuộc chiến tranh. Qui toàn bộ tội lỗi cho Navarre về đại bại ở Điện Biên Phủ mà bỏ qua tội lỗi của những người cầm quyền đương thời hẳn không phải là sự công bằng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:07:48 AM
DE CASTRIES



- Thích "choảng" nhau, ngựa và gái, kiêu ngạo và bốc phét quá mức. Đánh trận chỉ để gặt hái vinh dự. Không phải là người chỉ huy sẵn sàng nêu gương.
- "Sẽ bám trụ, sẽ cố gắng" với ông ta chỉ là sự phong tỏa mình trong thành luỹ, trong hầm chỉ huy, thông báo ngược tình hình ở Điện Biên Phủ về Hà Nội, là kéo cờ trắng - sự tận cùng của nhục nhã.
Người được giao chỉ huy cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ ngày 20/11/1953 là Gilles, lữ đoàn trưởng dù, người "bị nhốt" trong cụm cứ điểm Nà Sản, mới được thoát ra khỏi cái cạm bẫy khổng lồ và đã chiếm được ngôi sao thiếu tướng, một con người biết có thể bị đối phương đánh bại nhưng chỉ biết phục vụ và thi hành ý đồ của bộ chỉ huy tối cao.
Ngày 20/11, từ 5 giờ 45 phút sáng ông ta đã cùng Bodet phụ tá của Navarre và tướng Dechaux bay trên chiếc Privateer số 356 cất cánh từ Hà Nội lên Điện viên Phu nghiên cứu địa hình, thời tiết, theo dõi tiểu đoàn 6 của Bigeard và tiểu đoàn 11/RCP của dõi tiểu đoàn của Brechignac nhảy xuống lòng chảo Điện Biên Phủ.
Sáng hôm sau ông cùng trung tá Langlais, hai cha tuyên úy nhảy xuống cứ điểm Natacha, nơi các đại đội của tiểu đoàn 6 lính dù thuộc địa (6 BPC) bị bắn ngay từ khi chân chưa chạm đất và bị chết gí ở cứ điểm đổ quân. Xác của binh lính thương vong đã được chôn vội ngay bên cạnh các hố cá nhân.
Ngày 22/11, tướng Cogny, tư lệnh Bắc Kỳ lên thị sát Điện Biên Phủ, Gilles đã báo cáo được với ông về các cuộc thám sát chung quanh, trình bày chi tiết những biện pháp để bảo vệ cứ điểm khỏi các cuộc tấn công, chỉ vị trí và nói rõ nhiệm vụ của các dàn pháo. Năm nghìn con người vừa được ném xuống đang hồi hả đào hố, căng giây thép gai, dựng lều trại. Cảm thất thoải mái, Cogny ưỡn ngực "ở đây ta thở được, có thể hoạt động được". Máy bay vẫn tiếp tục thả xuống vũ khí đạn dược.
Gilles nói riêng với Cogny: "ở Nà Sản tôi đã sống chui rúc như con chuột cống suốt sáu tháng trời. Dù sao tôi cũng vui hơn khi các anh tìm được người thay tôi”. Nhìn người sĩ quan chỉ còn một mắt, lì lợm, thận trọng, tuy hay cự nự, cáu gắt, và với kinh nghiệm đã tích luỹ được, Cogny muốn nài ép để ông ta siêu lòng ở lại vì Gilles đúng là người thích hợp song ông ta đã ngót 50, đang có vấn đề về sức khỏe, có nguy cơ gục ngã nên Cogny hứa sẽ giải quyết, chỉ cần đợi ít ngày.
Bigeard và Brechignac đã tỏ ra ngao ngán, Gilles nghĩ đến đại tá Vanuxem, một trong những người kỳ cựu của De Lattre rất nổi tiếng trong vai trò chỉ huy tập đoàn quân cơ động, tuy cũng nổi tiếng là "nướng quân". Nhưng Cogny cho Vanuxem không nổi bật, ông nghĩ đến Catries, một sĩ quan kị binh sẽ là người rất thích hợp ở Điện Biên Phủ, nơi tình hình sẽ biến chuyển, ở đấy chúng ta cần có người biết nhúc nhích và dồn ép bọn Việt cộng, Castries cũng mới rời trung tâm học viện cấp cao như Vanuxem, biết sử dụng xe bọc thép ở đồng bằng và biết rõ kiểu chiến tranh mà người ta tiến hành ở đó Cogny dùng gậy chỉ kích thước đồ sộ của lòng chảo Điện Biên Phủ "một kỵ binh, hắn ta có thể phi ngựa trong lòng chảo này" Gilles mỉm cười tưởng ông ta nói đùa nhưng Navarre chấp nhận ngay: "đó cũng là ứng viên của tôi. Ông có thể chỉ định ông ta bất cứ lúc nào”.
Trong thâm tâm Cogny muốn đẩy Castries lên Điện Biên Phủ vì không thích tính kênh kiệu của viên sĩ quan này. Vừa mới chuyển đến phía nam châu thổ mà đã đòi 10 lính cận vệ mang găng trắng, 1 cưỡi mô tô đi đón. Ông ta lại còn đòi một cái lễ Mi sa long trọng. Sớm muộn Vanuxem sẽ thay De Castries vì Navarre cũng sẽ không chịu được con mãnh thú ấy được lâu. Quả De Castries đã nổi tiếng là người phóng túng, vô kỷ luật ở doanh trại. Con người gắn với ngựa, gái và chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:08:53 AM
Về phần Navarre, ông ta nghĩ đến Castries vì biết hắn ta từ lâu. Khi ông ta còn là trung úy thì Castries là một viên đội dưới quyền và khi là đại úy ở đội kị binh Saint Germain số 16, Castries là thiếu úy và sau này, khi Navarre chỉ huy đội kị binh Maroc số 3 thì Castries là đại đội trưởng trong binh đoàn số 1. Theo ông ta, có nhiều ý kiến và nhiều người nói xấu Castries nhưng Castries là một kị binh xuất sắc có năng khiếu hoạt động ở chiến trường, nếu dưới thời Napoleon thì Castries sẽ là tướng tiên phong số 1 của đại quân. Vả lại trong cái xứ sở mà chung quanh Navarre toàn là những người mà ông phải đề phòng thì cần phải bám vào những thủ hạ trung thành.
Gặp lại sếp cũ, Castries bối rối nhưng khi thấy Navarre đề bạt mình lên một chức vụ quan trọng Castries không tỏ ra vui mừng quá đáng. Người ta đã hứa cho ông ta đeo lon thiếu tướng cùng Vanuxem vào cuối năm. Ông sợ lên Điện Biên Phủ là chui đầu vào rọ.
Castries nói với Navarre: "Nếu ông định xây dựng một cụm cứ điểm, xin ông chọn người khác, đó không phải là sở trường của tôi".
Navarre trả lời: "Điện Biên Phủ phải là một căn cứ tiến công. Chính vì thế mà tôi chọn ông".
Quả Castries đã là trung tá Tư lệnh binh đoàn cơ động số 2 được tổ chức vội vàng, được Tassigny điều lên ứng cứu lúc Vĩnh Yên lâm nguy năm 1951 và trong chiến dịch tấn công tây nam Ninh Bình, ông ta đã nắm binh đoàn này đối mặt vối quân ta ở Ghềnh. Tháng 1/1952 trong chiến dịch Hoà Bình, ông ta là đại tá chỉ huy binh đoàn 1.
Cogny nói thêm: "ông sẽ là một kỵ sĩ cướp đường quân địch trên một khoảng không bao la của miền thượng du”.
Vậy là đại tá Chiristan Mariac Ferdinand de la Croix de Castries, bắc đẩu bội tinh hạng 3, 16 lần được tuyên dương, giòng dõi quí tộc, tổ tiên gồm một Thống chế, một đô đốc, 4 phó toàn quyền, 5 người được thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng 5, 8 trung tướng, vô địch thế giới trong cuộc đua ngựa ở Đại điện về nhảy cao năm 1933 với con ngựa "bay trước gió" và nhảy xa với con ngựa "dẻo dai". Con người được De Lattre yêu quý vì tính gan dạ, mang sang Đông Dương cùng ê kíp với mình, con người được người ta thêu dệt với những huyền thoại anh hùng của một vị chỉ huy, chính thức nắm quyền chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Biệt ngữ quân sự: Tập đoàn tác chiến vùng Tây bắc. Groupement Operationel du Nord Ouest. Viết tắt là GONO, từ ngày 7/12/1953.
Khi chia tay với De Castries, Gilles dặn: "Cậu hãy coi chừng, cậu mà để mất một tấc đất thì cậu sẽ đi đời đấy".
Theo điều 142 của chỉ thị: về việc áp dụng chiên thuật đối với các đơn vị lớn thì việc lập kế hoạch phòng thủ, xác định vị trí đề kháng, chỉ rõ phần đất cần phải giữ bằng mọi giá thuộc về Cogny, tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Kỳ. Ngày 23/1 Cogny đã gửi chỉ thị riêng và mật cho đại tá chỉ huy trưởng G.O.N.O.: "phải đảm bảo giữ vững trung tâm đề kháng Điện Biên Phủ và tối thiểu là giữ bằng mọi giá hệ thống phòng thủ hạn chế gồm các cứ điểm: khu chỉ huy, khu đồi C, khu đồi D, sân bay Mường Thanh, Bản Kéo. Trong trường hợp địch chiếm được các vị trí của ta sẽ tổ chức phản công để lấy lại các cứ điểm đã mất”.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:09:33 AM
Những ngày đầu, tháng đầu của De Castries ở Điện Biên Phủ không có gì cập rập. Ông ta đã phái Bigeard đưa một tiểu đoàn sục sạo về phía các triền núi trong hai ngày nhưng không phát hiện được địch. Ở phía Hồng Cúm có va đụng giữa quân tuần tiễu với đối phương nhưng thiệt hại không đáng kể. Thỉnh thoảng ông ta xuất hiện trên chiếc xe Jeep với cái mũ ca lô đỏ viền 5 vạch vàng, chiếc gậy rất đẹp vẫn dùng ở trường đua ngựa gác phía sau, hướng dẫn các vị khách từ Sài Gòn ra, từ chính quốc, từ Mỹ, từ Anh đến thăm "chiếc cối xay thịt khổng lồ", và nghe những lời tán tụng về sự vững chãi của tập đoàn cứ điểm hơn hẳn chiến lũy Maginot của Pháp trong Chiến tranh thế giới và đặc biệt là những lời khen đối với ông. Ngày 19/2, Pleven đã nói với Castries "ông đại tá có biết cả nước Pháp đang chú mục nhìn ông không?". Nếu ở thời đế chế, De Castries hẳn đã được phong là Quận công xứ Điện Biên Phủ. Theo Robert Guilain - báo Le Monde "Giấc mơ của De Castries và Bộ tham mưu của ông là thu hút quân Việt vào lòng chảo Điện Biên". De Castries còn huênh hoang cho máy bay rải truyền đơn xuống các ngả đường và những ndi nghi có quân Việt Minh: "các người còn chờ gì nữa mà không chịu tấn công nếu các người không phải là lũ hèn nhát. Bọn ta đang chờ các người đây", "Bọn ta đã sẵn sàng. Nếu các người mạnh đến như thế, hãy dẫn xác tới đây".
Mệnh lệnh tác chiến đầu tiên của De Castries là giao cho Langlais, trung tá, mang ba tiểu đoàn ra Mường Pồn cách tập đoàn cứ điểm 13 km đón bọn ở Lai Châu rút chạy về với lời dặn "cậu bắt lấy tù binh cho tớ". Lực lượng đi ứng cứu bị bao vây, tổn thất đến mức phải chở 12 chuyến trực thăng mà chưa hết thương binh, còn số chết phải bỏ lại ngổn ngang trên chiến trường. Hôm ấy là 13 tháng 12 năm 1953.
Ngày 20/12 đơn vị cuối cùng của Lai Châu về đến điện Biên Phủ chỉ còn một sĩ quan, 9 hạ sĩ quan Pháp và 175 lính Thái trong số 2101 binh sĩ, 3 sĩ quan, 34 hạ sĩ quan Pháp rút khỏi Lai Châu.
Trong lúc Navarre lo các đại đoàn chủ lực của đối phương đang tiến về Điện Biên Phủ, ra lệnh cho Cogny và đại tá Crevecoeur chuẩn bị một cuộc hành quân mang tên Xenophon nhằm di tản tập đoàn cứ điểm khi có nguy cơ bị tấn công, thì trong hầm của De Castries mọi người đang say xỉn trong bữa tiệc Reveillon mừng đêm giáng sinh. Ngày ngày thấy ông ta vui vẻ bên cô thư ký Paule Bourgeade xinh đẹp, cô phóng viên Bigitte Friang duyên dáng hoặc các cô tiếp viên hàng không từ Hà Nội lên. Đêm đêm ông ta đánh bài Brit với Keller - thiếu tá tham mưu trưởng, trung tá Gaucher "con lợn lòi có nanh vuốt sắc bén", tư lệnh phân khu trung tâm và Langlais, người thoát chết từ Mường Pồn, đang trực tiếp chỉ huy 2 tiểu đoàn dự bị với những khẩu đại liên 4 nòng bảo vệ nam sân bay thuộc khu trung tâm nơi có hầm chỉ huy của De Castries.
Điện Biên Phủ lúc này đã trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Nó bao gồm 49 cứ điểm được tổ chức thành cụm cứ điểm liên hoàn với nhau. Mỗi cụm cứ điểm là một khu vực phòng ngự - một trung tâm đề kháng có lực lượng phòng thủ và lực lượng cơ động với hoả lực riêng, chung quanh có nhiều hàng rào dây thép gai và bãi mìn. Các trung tâm đề kháng này lại được liên kết với nhau thành các phân khu.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:10:20 AM
Toàn bộ tập đoàn cứ điểm được chia thành ba phân khu: phân khu Bắc có hai trung tâm đề kháng, phân khu Trung tâm có năm trung tâm đề kháng, phân khu Nam có một trung tâm đề kháng.
Trong tay De Castries là 16.000 quân chiếm một phần ba lực lượng cơ động của Pháp trên toàn chiến trường Bắc Bộ phần lớn thuộc các đơn vị Âu - Phi tinh nhuệ, có máy bay, đại bác yểm trợ đến mức tối đa. Ông ta nghĩ như tất cả mọi người là đối phương không bao giờ có vũ khí hạng nạng. Nếu do phép lạ nào mà họ mang vũ khí nặng đến được thì chính đại pháo của ông ta sẽ nhanh chóng dập nát.
Điện Biên Phủ chưa có gì ngã ngũ, hai đấu thủ chờ giây phút đối phương tự bộc lộ. 11 giờ 30 ngày 1/1/1954, chiếc Dacota hạ cánh xuống sân bay chở theo một đoàn gái điếm "món quà mừng năm mới của Cogny" gửi tặng binh sĩ Pháp và linh lê dương. Castries nói với Guilain đặc phái viên báo Le Monde: "bọn Việt chịu xuống lòng chảo thì chúng tôi nắm được chúng rồi". "Cuộc đụng độ có thể gay đấy, chúng tôi sẽ chịu được chúng, và rút cục chúng sẽ có được cái mà chúng tôi vẫn thiếu”.
Ngày 3/2, Tết nguyên đán, 12 giờ trưa, pháo 75 ly của đối phương ở sườn đồi Đông Bắc nhằm vào những máy bay đỗ ở đường băng Điện Biên Phủ nã đạn, lập tức pháo của Pirot trả lời: 1.650 viên đạn 105 ly. Máy bay B 26 còn thả thêm 156 quả bom, nhưng tất cả đều vào trận địa giả.
Không thấy Việt Minh nhảy vào "thộp ngực", De Castries kiêu ngạo nói với cha tuyên úy Amornon đi cùng: "chúng bắn bọn tôi nhưng rồi thì sao? Tôi đội cái mũ ca lô đỏ để chúng thấy rõ hơn".
Ngày 13/3 cuộc tấn công vòng ngoài tập đoàn cứ điểm bắt đầu, bão lửa của quân ta dội xuống Him Lam (Béatrice), và tiếp sau là đồi Độc Lập (Gabrielle) vào ngày 14/3. Sáu nghìn phát đại bác các cỡ của địch, máy bay được huy động tối đa không dập tắt được các ụ pháo của ta đặt chìm trong núi và không ngăn được lực lượng xung kích ào vào đồn. Lực lượng dự bị với tất cả xe tăng từ Mường Thanh tiến ra phản kích bị chặn đánh tơi bời. Đạn pháo ta đã bắn sập cả hầm chỉ huy khu trung tâm nơi De Castries đã từng khoe với phái đoàn Pleven là "rất chắc chắn, quý vị cứ yên tâm", giết chết trung tá Gaucher.
De Castries xuống tinh thần và ủ rũ gọi Cogny: "Ông sẽ chuyển cho tôi được bao nhiêu đạn nữa? Ông còn phải thả dù cho tôi một tiểu đoàn với thời tiết này? Các đơn vị dự bị đang choáng váng vì bị pháo đánh vỗ mặt suốt đêm. Ông bảo tôi phải làm gì?" Piroth, tư lệnh pháo binh tự sát. Ở Hà Nội hàng giờ lại nhận được điện của De Castries báo về một tai hoạ mới. Navarre gần như câm lặng trước một bức điện của ông ta "tôi nghĩ rằng tập đoàn cứ điểm có thể bị chia cắt, và trong trường hợp đó, tôi dự kiến ra lệnh cho cứ điểm Hồng Cúm rút lui bằng phương tiện của mình".


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:12:01 AM
Chiến hào bò từ các vực sâu, triền dốc dẫn xuống lòng chảo, Castries nói với nhiếp ảnh viên Daniel Camus: "tối nay (tối 16/3) mà chúng đánh nữa thì chúng ta tiêu” Castries đau khổ như tham mưu trưởng của ông ta. Cả hai không muốn nhúc nhích. Ông ta tự phong toả mình trong thành lũy và tự chôn mình trong hang ổ của hầm chỉ huy. Mọi việt tổ chức phòng thủ sử dụng pháo và lực lượng dự bị đều giao cho cấp dưới. Phái đoàn điều tra của quân đội Pháp có hỏi: "Vậy thì có đại tá De Castries để làm gì?"
Langlais trả lời ngay không chút do dự: "Đại tá chuyển những thông điệp của chúng tôi về Hà Nội."
Dư luận cho rằng ông ta đánh trận không phải để cống hiến hay hy sinh  vinh dự và được thăng cấp, ông ta là kẻ phiêu lưu, tàn nhẫn, kiêu ngạo và hay bốc phét quá mức cần thiết. Ông ta không phải là con người chịu nổi một thử thách như vậy.
Người ta đồn đại tá Sauvagnac, chỉ huy trưởng không vận Bắc Kỳ đã chuẩn bị hành lý lên đường thay ông ta, thế rồi lại trở lại, không ai dám giáng cho ông ta một kỷ luật dù cũng từng nghĩ đến. Trong hồi ký của mình Navarre cũng đã ân hận là không sớm cách chức ông ta vào lúc này.
Ông ta không phải là người chỉ huy sẵn sàng nêu gương, đã để mất hết nhưng gì một thời làm nên huyền thoại và uy tín nhưng ông vẫn muốn là "ông hoàng làm theo mệnh trời", tự cho phép mình làm tất cả mặc dầu thâm tâm cấp dưới không cảm thấy kính trọng ông ta.
Các trận địa tấn công của đối phương ngày càng xiết chặt xung quanh các cụm cứ điểm. Hôm trước De Castries đưa xe tăng ra san ủi các đầu hào dẫn tới các cứ điểm thì hôm sau giao thông hào lại được phát triển sâu hơn về phía hàng rào dây thép gai. Từ 30/3/1954 quân ta tiếp tục đợt tiến công thứ 2. Các đồi C1, D1, D2 lần lần sụp đổ, từ đồi D2 có thể nhìn bao quát khắp lòng chảo, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm khoảng 1km. Bigeard vẫn bám giữ đồi C4. Vùng trời càng thu hẹp. Tiểu đoàn 2 của trung đoàn một lính dù được ném xuống tăng viện phải mất bốn ngày mới xuống được hết. Máy bay vừa phải nâng độ cao vừa phải tránh đạn phòng không. Hàng tiếp tế lạc sang phía trận địa đối phương1 (Hai phi công dân sự Mỹ trở thành người Mỹ đầu tiên bị giết trong chiến tranh Việt Nam là Jame Megovern và Wallace Buforl khi cố gắng tiếp tế cho Điện Biên (Bruce Kenedy- phóng viên CNN)). Hàng đống xác chết vung vãi trong hàng rào dây thép gai. Cuộc tranh chấp các cao điểm ở phía đông diễn ra quyết liệt ở phía tây từng cứ điểm bị lấn chiếm. Hồng Cúm bị bao vây và cô lập. Trước ngày 12/3 có gần 11.000, đã thả dù thêm 4 tiểu đoàn, nhưng đến ngày 14/4 chỉ còn 3.000 quân chiến đấu được.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:12:36 AM
Ngày 23/3, tại thư số 44/CAB De Castries gửi Cogny: "tám ngày nay, lực lượng địch từ từ xiết chặt vòng vây. Bom, pháo của chúng ta không làm chậm bước tiến của họ. Ta không chọc thủng được vòng vây Hồng Cúm sẽ bị cô lập. Trong lúc địch trông thấy mọi hoạt động và cách bố trí của ta thì tôi lại mù, thiếu phương tiện trinh sát và quan sát đường không. Quyết tâm của họ không mảy may suy suyển. Tôi cho rằng tình hình chỉ có thể ngày càng xấu đi mà thôi. Khi nào tình hình có lợi cho họ, địch sẽ phát động hoạt động cuối cùng". Cũng may là ông ta bị mù, nếu ông nhìn thấy cả nước chúng ta đang lên đường tiến vào Điện Biên Phủ với chủ nghĩa anh hùng cách mạng nở rộ như hoa ban thì ông ta đã vỡ tim!
Ấy vậy mà người ta vẫn nói đến việc thăng cấp cho De Castries, tổng thống Eisenhower bày tỏ sự ngạc nhiên với tướng Ely: vì sao người chỉ huy Điện Biên Phủ chỉ là một đại tá. Ở tập đoàn cứ điểm một số sĩ quan bắt đầu nổi tiếng đang được thăng cấp đặc biệt chẳng lẽ lại trừ người chỉ huy. Navarre đã gửi một loạt các bức điện đòi hỏi các "ngôi sao" để làm cho quân đồn trú lên tinh thần.
Ở Hội đồng Bộ trưởng, Mare Jacque phản đối thăng thiếu tướng cho De Castries "nếu ông ta thoát được, ta sẽ xem, còn thời gian". Pierre de Chevigné thì sợ Điện Biên Phủ thất thủ, họ cầm tù được một đại tá thì chiến thắng sẽ bớt vang dội. Các thành viên khác thì can thiệp để gắn sao cấp tướng cho De Castries để ông ta lên tinh thần. Ngày 15/4/1954 De Castries được Cogny báo cho biết là đã được thăng cấp tướng. Sao cấp tướng và rượu rửa lon đã gửi theo các thùng hàng. Tất cả sao cấp tướng, huân chương Bắc đẩu bội tinh và rượu cô nhắc đã theo dù rơi sang phòng tuyến của ta. De Castries phải mang ngôi sao cấp tướng tự làm ở Điện Biên Phủ.
Từ 1/5 ta tiến hành đợt tổng công kích trên toàn bộ mặt trận, trọng điểm là đánh chiếm đồi A1 "cuộc chiến sắp đến hồi chung cuộc và lực lượng đồn trú sắp đi đến hồi tận cùng nhục nhã". Ngày 4/5 theo lệnh Cogny, De Castries triệu tập tất cả cán bộ chỉ huy cao cấp đến hầm bàn việc tháo chạy theo kế hoạch Albatros, sang Lào, nơi mà đại tá Crevecoeur đã ém quân chuẩn bị chờ đón. Họ quyết định lập ba đạo quân: lính dù do Langlais và Bigeard chỉ huy, lê dương do Lemeumer và Vadot theo một cánh và một cánh do Jsabelle với Lalande nắm mở đường máu để rút chạy. Dự kiến sẽ mất khoảng 9/10.
Nhưng đã quá muộn. Lực lượng phản kích cạn kiệt. Pháo thủ và đạn đều bị chết hoặc bị thương không còn. Lính dù, lính lê dương kiệt sức như những con ngựa ngã gục. Hàng trăm, hàng trăm tên nhiều ngày đã chui lủi vào các hang hốc như những con cua ven bờ biển nhiệt đới để tránh đánh nhau. Những dàn hoả tiễn mang mật danh H.6 của ta lúc này xuất hiện, từng loạt đạn với những tiếng rít dài chùm xuống các hầm hào của khu trung târn. Những tên chưa chết nhao khỏi hầm bùn đất phủ đầy từ đầu đến chân, mặt mũi đen thui vì khói, đôi mắt thất thần bám chạy loạng choạng và ngã gục.
12 giờ ngày 7/5 Bigeard đến gặp Castries: Hết rồi! Nếu ông đồng ý tôi sẽ mang quân của tôi chuồn khỏi nơi đây vào chập tối. ông hãy để cho Trancart ở lại và đi cùng tôi. Castries trả lời: chính tôi sẽ ở lại cậu cứ yên tâm. Cậu phải tìm cách thoát ra cùng vài người nữa.
Tại Hà Nội Cogny gọi De Castries:
- Khả năng tối đa của các anh?
- Tôi sẽ cố gắng, sẽ cố gắng, tuỳ tình hình tìm cách tuồn đi tối đa các phương tiện và trang bị của ta về phía nam. Trung tướng cho phép tôi chứ?
- Tôi cho phép anh.
- Cuối cùng tôi sẽ giữ vừng, tôi sẽ bám trụ ở đây càng lâu càng tốt với quân số còn lại.
- Hôm nay không quân sẽ nỗ lực lớn để yểm trợ hoả lực, cố làm cho quân Việt cộng dừng nỗ lực của họ lại!
Nhưng sự nỗ lực của Cogny chỉ đưa lại kết quả là thêm hai máy bay chiến đấu kiểu mới F4-U của hải quân Mỹ bị bắn rơi. Đó là chiếc thứ 61, 62 bị ta hạ trên vùng trời Điện Biên.
Cogny tiếp tục gọi De Castnes: Này ông bạn, bây giờ phải kết thúc, tất nhiên rồi nhưng điều chắc chắn là những gì anh làm được từ trước tới nay là tuyệt diệu. Đừng có làm hỏng tất cả bằng cách kéo cờ trắng. Anh bị tràn ngập nhưng không đầu hàng, không có cờ trắng!
Trong lúc đó thì cờ trắng xuất hiện khắp các trận địa, các chiến hào và cả trên nóc hầm chỉ huy của De Castries.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:13:06 AM
Trung sĩ Kubak đã trông thấy lá cờ ấy. Ở trong hầm của mình Bigeard và Langlais chuẩn bị đón quân Việt. De Castries đứng đợi quân Việt ở cửa, ông ta đã thay quần áo như thường lệ, mang cuống huân chương, tay áo sắn lên. Khi tiểu liên chĩa vào người, Castries kêu "đừng bắn tôi"'. Grauwin nhìn xuống đường hào thấy De Castries tái xám dưới chiến mũ ca lô đỏ, môi ngậm điếu thuốc lá, chói mắt vì ánh nắng trên chiếc xe Jeep về cơ quan tình báo của đối phương.
Gần hầm chỉ huy quân Việt gọi Langlais, ông ta bước đến: tôi đây, họ vây lấy ông ta và cùng kêu lên: Bigeard đâu? Bigeard câm lặng bước về trại tù binh theo đoàn người dài dằng dặc.
Năm mươi năm sau, năm 2003 ở Pháp người ta xuất bản một cuốn album khổ lớn "50 năm Điện Biên Phủ”, trong đó dành cả một chương đưa lên hình ảnh của những tù binh mặt mày hốc hác, râu ria mọc tua tủa, đếm được từng chiếc xương sườn và phàn nàn những người lính của họ bị bắt làm tù binh phải chịu đựng đói khát, bệnh tật và chết nhiều trong các trại. Họ không hiểu được những người chiến thắng đã khó khăn như thế nào khi phải tiếp nhận một lúc hàng vạn tù binh ở mặt trận cách xa hậu phương trên 500 km. Chính những người chiến thắng đã nhường cơm, xẻ áo cho những người trước đó một giờ đã cầm súng xả về phía mình. rẽ ra họ phải trái những người cầm quyền của nước Pháp. Những người này thừa biết khó khăn của đối phương nhưng họ đã không hề gửi cho binh lính của họ bị đối phương bắt một chút lương thực, thực phẩm, thuốc men. Trên đường dẫn tù binh về trại, máy bay của họ còn không ngớt tìm tòi, hù dọa thậm chí còn ném bom bắn phá ngăn chặn. Ở hội nghị Genève, tuyệt nhiên họ không nghĩ đến việc tìm mọi cách để cho binh lính của họ bị bắt sớm được về với gia đình. vuốt hai tháng trời đàm phán họ khăng khăng đòi giới tuyến tạm thời phải ở vĩ tuyến 18, đòi chiếm giữ Hải Phòng lâu dài, không chấp nhận các điều khoản chính trị, không muốn tổng tuyển cử sớm.
Chính họ không ai khác, phải gánh lấy trách nhiệm trước lịch sử về những số phận của những binh lính của họ.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:13:36 AM
PHỤ LỤC
CUỘC ĐIỆN ĐÀM CUỐI CÙNG
CỦA DE CASTRIES Ơ ĐIỆN BIÊN PHỦ



Vào 10 giờ ngày 7/5/19t)4 từ văn phòng của ông trong thành Hà Nội, Cogny gọi Castnes. Mưa giông đang đe dọa toàn vùng làm máy nghe rè rè. Cuộ( đàm thoại có thể là liên lạc cuối cùng với tập đoàn cứ điểm được thu vào đĩa trong phòng truyền tin, Cogny nói:
- Chào ông bạn. Anh còn lại những phương tiện nào?
Castries nói bằng giọng rõ ràng, chậm rãi, chừng mực. Giọng hơi cao do qua điện thoại. Có lúc Castries phải tìm từ, tự chữa, nhắc lại, Cogny đều đặn ghì nhận bằng giọng trầm đục.
- Còn tiểu đoàn 6 lính dù thuộc địa, tiểu đoàn 2 của trung đoàn một lính dù thuộc đia và bộ phận còn lại của trung đoàn pháo binh Algérie.
- Vâng.
- Dù sao, chỉ còn cách là để một chữ thập lên trên.
- Vâng
- Có phải thế không? Còn các đơn vị, nhưng hao hụt rất nhiều, tất nhiên rồi, vì ta đã lấy bớt, đã rút quân từ mặt Tây để cố gắng chèn quân ở phía Đông
- Vâng
- … còn gần hai đại đội trong mỗi tiểu đoàìn, hai đại đội cho cả hai tiểu đoàn dù lê dương cộng lại
- Vâng.
- ... ba đại đội của trung đoàn pháo binh Maroc, nhưng chúng không có giá trị gì, phải vậy không, chẳng có giá trị chút nào, chúng bị suy sụp tinh thần rồi.
- Vâng
- ... Còn hai đại đội của tiểu đoàn 2 xung kích.
- Vâng.
- ba đại đội của tiểu đoàn 2 lính Thái, nhưng điểm này tất nhiên thôi, ở trung đoàn pháo binh Maroc và tiểu đoàn 2 lính Thái là còn nhiều quân nhất, bởi vì họ đâu có chiến đấu.
- Tất nhiên rồi.
- Phải không? Còn ở tiểu đoàn 1, trung đoàn 2  và tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh Lê dương, còn 1 khoảng 2 đại đội, và gần 2 đại đội ở tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13. Đó là những đại đội có khoảng tám mươi quân.
- Vâng, tôi hiểu.
- Thế đấy! Chúng tôi sẽ bảo vệ.
- Vâng.
- Chúng tôi sẽ bảo vệ và tôi cho rằng khả năng tối đa của chúng tôi


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:15:00 AM
Máy bỗng bị nhiễu làm cuộc nói chuyện gián đoạn. Cogny nhắc lại:
- Alô... Alô
- Alô... thưa trung tướng, trung tướng vẫn nghe tôi đấy chứ?
- … Rằng khả năng tối đa của các anh?
- … là chặn địch trên sông Nậm Rốm, phải vậy không?
- Vâng.
- Với điều kiện chúng tôi phải giữ được bờ phía đông, bởi nếu không chúng tôi sẽ không còn nước uống.
- Vâng, tất nhiên.
- Phải vậy không? Vậy tôi đề nghị sẽ làm thử, tôi sẽ cố gắng giữ được như thế nhé? Tôi vừa mới lấy, không tôi vừa gặp Langlais, chúng tôi nhất trí như thế và, lạy Chúa, tôi sẽ cố gắng, sẽ cố gắng, tuỳ tình hình, tìm cách tuồn đi tôi đa các phương tiện và trang bị của ta về phía nam.
- Vâ ng, đồng ý. Chắc sẽ làm điều đó vào ban đêm?
- Sao?
- Ban đêm chứ?
- Vâng, thưa trung tướng, ban đêm, tất nhiên rồi.
- Ừ, đúng đấy.
- Và tôi... tôi cần trung tướng đồng ý để làm điều đó.
- Đồng ý, ông bạn ạ.
- Trung tướng cho phép tôi chứ?
- Tôi cho phép anh.
- Cuối cùng, tôi sẽ giữ vững, tôi sẽ cố gắng bám trụ ở đây càng lâu càng tốt với số quân còn lại.
Castries để thời gian trôi qua, rồi cho thấy ông ta không cần gì để nói.
- Thưa trung tướng...?
- Vâng, đồng ý ông bạn ạ.
- Như thế đấy.
Cogny hỏi rất nhanh:
- Về đạn dược, liệu các anh có thu lượm được cái gì không?
- Đạn dược ư? Còn nghiêm trọng hơn. Chúng tôi hết rồi
- Không có cái gì mà...
- Chúng tôi hết đạn rồi, vậy đó. Tất nhiên cũng còn một ít đạn 105, nhưng.
Một câu trong tư liệu ghi âm nghe không được. Có thể là Castries nói về các quả đạn 155 bởi vì tất cả các khẩu pháo đều hết dùng được.
- … chúng không còn dùng được việc gì ở đây.
- Vâng
- … trong lúc này. Còn đạn, đạn 120
- Vâng
- … tôi còn, có lẽ tôi còn từ 100 đến 150 viên.
- Và chúng nằm rải rác khắp nơi, có phải vậy không?
- Vâng, tất nhiên rồi.
Castries nhắc lại:
- Chúng nằm rải rác khắp nơi. Không thể trong thực tế hầu như không thể nào thu nhặt được. Tất nhiên ta càng bắn đi nhiều chừng nào càng tốt chừng ấy, phải không?
- Vâng.
- Cho nên chúng tôi sẽ giữ vững, cố giữ được càng lâu càng tốt.
Cogny vừa nói vừa nuốt từng tiếng:
- Tôi nghĩ là tốt hơn hết, hôm nay không quân sẽ nỗ lực lớn để yểm trợ hoả lực, cố làm cho quân Việt dừng lại, dừng nỗ lực của họ lại.
- Vâng, thưa trung tướng. Với lại không quân không được ngừng, phải không? Không quân cần hoạt động liên tục. Vâng, còn quân Việt phải chăng, tôi sẽ tả diện mạo chúng cho trung tướng.
- Vâng
- Quân Việt đã đưa toàn bộ lực lượng còn lại của chúng sang phía Đông.
- Vâng.
- Kể cả hai trung đoàn của đại đoàn 308.
- Thế à, vâng.
- Có phải không? Hiện nay chỉ còn, có lẽ còn ở phía Tây
- Vâng
- Chỉ còn trung đoàn 36.
- 36, vâng, chắc thế.
- Phải không? Chỉ còn trung đoàn 36. Trung đoàn 102...
Máy đột ngột im tiếng


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:15:44 AM
Cogny thở hổn hển trong lúc các kỹ thuật viên cố gắng nối liên lạc.
- Alô... Alô... 
Castries nói tiếp:
- Trung tướng có nghe tôi không?
- Còn trung đoàn 102, lúc nãy anh bảo sao?
- Vâng thưa trung tướng.
- Trung đoàn 102?
- Có nghĩa là chúng đã đưa sang mặt Đông
- Vâng.
- Có phải không? Cùng với tất cả những gì-khá nhất mà chúng có của đại đoàn 312.
- Đúng thê. Vâng.
- ... Và nay có cả đại đoàn 316.
-Vâng
- Phải vậy không?
Cogny bảo: "Chúng đã dốc hết lực lượng sang mặt Đông."
- Nhưng trung tướng thấy đó, như tôi đã dự kiến, còn đại đoàn 308, hình như tôi đã nói rồi, nó vẫn vuột khỏi tầm quan sát của tôi, như mọi khi.
- Vâng, đúng thế.
Cogny hỏi:
- Được? Thế còn việc rút quân về phía Nam? Anh hình dung chuyện đó thế nào? Rút về Hồng Cúm hay phân tán ra?
- Thưa trung tướng, dù sao, dù sao, họ cần phải... vượt qua Hồng Cúm về phía Nam phải không?
- Vâng, đúng thế.
- Nhưng tôi sẽ ra lệnh, tôi cũng sẽ ra lệnh cho Hồng Cúm cố gắng, cố gắng phá vòng vây, nếu có thể được.
- Vâng, đồng ý, vậy anh sẽ cho tôi hay để chúng tôi cô gắng dùng không quân yểm trợ tối đa cho anh trong chuyện đó.
- Ôi, tất nhiên rồi, thưa trung tướng.
- Thế nhé, ông bạn. Và lạy chúa, tôi sẽ giữ lại đây... những đơn vị mà họ không cần dùng đền.
- Đúng thế, Vâng.
- … Những người, nói sao bây giờ, tất nhiên là thương binh, nhưng nhiều thương binh đã rơi vào tay địch, bởi vì có thương binh trong các cứ điểm, đồi C.
- Vâng tất nhiên rồi.
- Phải vậy không? Tôi giữ lại tất cả số đó dưới quyền chỉ huy của tôi.
- Vâng ông bạn ạ.
- Thế đấy.
- Xin tạm biệt ông bạn.
- Có thể tôi sẽ gọi lại cho trung tướng trước khi trước khi kết thúc.
- Vâng, tạm biệt, ông bạn Castries.
- Xin tạm biệt trung tướng.
- Tạm biệt ông bạn.
Castries gác máy. Cách đó 300km, Cogny không nhìn đến các sĩ quan đang vây quanh ông. Im lặng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán ông. Cái nóng oi ả trước cơn mưa giông chưa nổ ra được đè nặng trên Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:16:31 AM
Ở Hà Nội, Cogny nghe Castries báo cáo tình hình một lần nữa rồi chuyển đường dây xuống tầng hầm dưới cho tướng Bodet. Navarre để tướng Bodet lại thay mặt mình. Tướng Bodet muốn nói với Castries vài câu theo nghì thức, xứng đáng với Tổng tư lệnh và viên phó xuất sắc của ông ta.
Bastiani, tham mưu trưởng của Cogny, can thiệp. Ông bảo Cogny:
- Coi chừng ông chưa nói về vấn đề cờ trắng.
Bỗng dưng có linh cảm khủng khiếp. Cogny lao tới cầu thang và bổ vào văn phòng tướng Bodet đúng vào lúc bằng giọng êm dịu, viên phó của Navarre nói với Castries:
- Tạm biệt ông bạn. Chúc anh mọi sự tốt lành. Thôi thế là rất tốt.
Cogny gạt ông ta ra và giật lấy máy. Navarre không bao giờ hình dung là người ta có thể kéo cờ trắng. Trong chỉ thị ngày 1 tháng 4, ông tuyên bố là trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được tính chuyện đầu hàng.
- Alô, alô, Castries?
- Thưa trung tướng.
- Này ông bạn, bây giờ phải kết thúc, tất nhiên rồi, nhưng điều chắc chắn là những gì anh làm được tù trước tời nay là tuyệt diệu. Đừng có làm hỏng tất cả bằng cách kéo cờ trắng. Anh bị tràn ngập, nhưng không đầu hàng, không có cờ trắng.
Có phải lúc đó Castries mới bỗng chốc lường được ý nghĩa sai lầm lớn của mình? Có lẽ sẽ không bao giờ có ai biết điều đó và tướng Castries cùng Seguins Pazzis sẽ ôm bí mật ấy xuống mồ. Băng ghi âm cuộc đàm thoại, mà tôi nghe được bản sao, bị cắt mất một đoạn đúng vào chỗ đó. Điều nổi bật là sự thất vọng của Castries sau lời dặn của Cogny và lý lẽ mà ông ta dùng để tự biện minh. Tự biện minh về cái gì, nếu không phai về việc đã kéo cờ trắng? một lúc sau Castries mới trả lời, bằng giọng rầu dĩ:
- Vâng được thưa trung tướng. Tôi chỉ muốn bảo vệ thương binh. Vâng tôi biết. Vậy anh làm đi, tốt nhất là để (…) của anh tự làm (...) những gì anh đã làm là quá đẹp nên bây giờ không thể làm điều đó. Anh có hiểu không, anh bạn.
- Vâng thưa trung tướng.
- Thôi tạm biệt anh bạn, mong sớm gặp lại anh.
Không có câu "Nước Pháp muôn năm" như người ta đồn là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm đã nói. Điện báo viên Mélien phụ trách nối điện đàm ở phòng bên cạnh văn phòng Castries đã kết luận cho đồng nghiệp của mình ở Hà Nội.
- Quân Việt chỉ còn cách vài mét. Chúng tớ sắp phá máy đây. Chào các cậu.
Người ta mang một lá cờ trắng đến, lá cờ mà trung sĩ Kubiak đã trông thấy phấp phới trên hầm chỉ huy của Castries trong lúc Bigeard và Langlais ở trong hầm mình chuẩn bị đón quân Việt.
Cogny báo cho bà Castries biết tin Điện Biên Phủ thất thủ và yêu cầu giữ bí mật tin ấy. Trong phòng khách của Cogny có ông Hedberg, phóng viên báo Exoressen đang chờ. Khi quân Việt vào hầm chỉ huy và vạch cửa ra, Castries đứng đợi họ, không vũ khí, tay áo sắn lên. Ông đã thay quần áo và như thường lệ, mang cuống huân chương. Trung sĩ lính dù Paseerat de Silans thuộc phòng 3 của Langlais thuật lại là khi tiểu hên chĩa vào người, Castries đã kêu lên: "Đừng bắn tôi". Câu ấy không đúng giọng điệu của Castnes. Để làm dịu thái độ đe dọa của tổ lính Việt Minh có thể ông ta đã nói: "Các ông không định bắn đấy chứ?"
Ctrawin đưa mắt nhìn xuống đường hào. Trông thấy Castries tái xám dưới chiếc mũ ca lô đỏ, môi ngậm điếu thuốc lá, chói mắt vì ánh nắng. Một chiếc xe Jeep lập tức đưa ông về cơ quan tình báo.
(Trong tập: Trận Điện Biên Phủ dướì con mắt người Pháp của Jules Roy - Bùi Trần Phượng dịch từ tiếng Pháp).




Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:18:32 AM
COGNY RENES
- Hậu Điện Biên Phủ: thời mạt vận của Cogny
- Núp sau hàng rào lửa tránh mọi đụng độ
- Lủi dần về hang ổ và cuốn xéo
7/5/1954
Toàn bộ tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp nơi chúng mệnh danh là "cái cối nghiền chủ lực Việt Minh" đã bị đập tan gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp đối với bọn xâm lược. Dưới con mắt người Pháp "đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây báo trước sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hoà". Các nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán Hà Nội có thể thất thủ nếu Việt Minh tấn công mạnh.
Washington cũng bi quan như vậy. Tại buổi thông báo tình hình của hội đồng an ninh quốc gia ngày 8/5, giám đốc CIA Alen Dun dự tính 5.000 xe tải quân sự Việt Minh dễ dàng từ Điện Biên Phủ đến đồng bằng Bắc Bộ từ hai đến ba tuần. Pháp còn 20 vạn quân so với 76.000 quân chủ lực Việt Minh nhưng hầu hết tinh thần suy sụp nằm bẹp trong đồn xung quanh là dân cư thù địch. Quân đội quốc gia của Bảo Đại được thành lập sau hiệp định Elyse như Navarre gọi, chỉ là lũ ô hợp.
Người bi quan hơn, lo lắng hơn trước sự sụp đổ không cưỡng nổi là Cogny trung tướng tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Kỳ. Khi Navarre sang Đông Dương nhận chức, trong hàng ngũ tướng lĩnh có mặt ở Đông Dương hầu như chỉ còn Cogny là muốn phiêu lưu ở lại Đông Dương. Là chuyên gia kỹ thuật, chỉ huy pháo binh, tiến nhanh trong binh nghiệp sau khi vượt ngục ở Đức và chuyển sang tham gia kháng chiến. Đầu óc vốn đầy những toan tính phức tạp, thậm chí là xảo quyệt, giấu sau bề ngoài nồng hậu, lúc nào ông ta cũng tìm cách đạt mục tiêu bằng những con đường ngoắt ngạo. Ông ta muốn ở lại không theo Salan về Pháp chủ yếu là do say mê vinh quang, ưa được mọi người tung hô trọng vọng. Ở Hà Nội ông ta chỉ di chuyển với đoàn xe hộ tống và được mệnh danh là "ông tướng kỳ quặc".
Trước mặt Navarre, Cogny bày tỏ lòng mến mộ và sự tận tuỵ trung thành hoàn toàn của mình nhưng cũng không ngần ngại mặc cả với Navarre: "Tôi ở lại với hy vọng thêm một sao và cương vị chỉ huy miền Bắc Đông Dương." Càng ngày Cogny càng biểu lộ nhân cách đúng như De Linares - nguyên tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Kỳ nhận xét và trao đổi riêng với Navarre: "Cogny chưa đủ là một người chỉ huy tác chiến tầm cỡ lớn, nhất là ông ta thiếu trung thực, sẵn sàng phản lại ngay khi có thời cơ."
Là đệ tử trung thành của Thống chế De Lattre đã từng phục vụ trong bộ chỉ huy của De Lattre ở Tây Âu từ năm 1950 và ở Đông Dương năm 1951. Ngay khi làm tư lệnh khu Bắc Bắc Bộ Cogny nhớ huấn thị của De Lattre như nhớ Kinh thánh: "Bắc Kỳ là chìa khoá của Đông Nam Á, khi tình hình gay go của các vùng lãnh thổ khác nhau, cần ưu tiên cho Bắc Kỳ". Với Bắc Kỳ thì "vùng châu thổ - theo Cogny là cái gút của vấn đề, giữ châu thổ mang tính chất sống còn đối với Đông Dương và bình diện thế giới. "Đây là kho người kho của, là trung tâm giao lưu trong nước và đầu mối giao thông quốc tế, là chiến trường mà ông ta có thể phát huy cao độ trang bị vũ khí và phương tiện có trong tay. Người ta gọi Cogny là "con người của châu thổ sông Hồng”.
Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Cogny là người đầu tiên phản ứng với kế hoạch của Navarre tiến hành chiến dịch Atlanta ở khu V và xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngoài những động cơ cá nhân, điều Cogny bất bình là khối cơ động dưới quyền ông ta sẽ bị thu hút vào các chiến trường xa xôi; đồng bằng sông Hồng, nơi ông ta coi là cái gút của vấn đề sẽ trở nên trống rỗng không đủ ứng phó với đối phương. Khi Navarre quyết định theo ý riêng, ông ta lại là người chấp hành tích cực. Ông ta gắn bó với Điện Biên Phủ ngay từ ngày đầu hình thành cho đến phút cuối cùng. Người ta tính được ông ta đã tới Điện Biên 11 lần để trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng và chiến đấu của tập đoàn cứ điểm.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:19:07 AM
Trong khi Navarre đang loay hoay đối phó với đối phương ở Điện viên Phủ thì ngày 13/1/1954 Cogny đã huênh hoang tuyên bố với phóng viên báo Mỹ: "Bộ chỉ huy Pháp chắc chắn buộc Việt Minh chịu một thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ. Chúng tôi nhất định chiến thắng". Thật lòng ông ta không tin tưởng sự vững chắc của Điện Biên Phủ nhưng vẫn hy vọng - nếu không chiến thắng được chủ lực của đối phương thì cũng kìm chân nó khiến vùng châu thổ của ông ta chưa đến mức vướng vào vòng tai họa. Giờ toàn bộ tập đoàn cứ điểm giương cờ trắng đầu hàng, ông ta không thể giữ được "trạng thái thoải mái giữa chiến tranh như ở nhà riêng". Cái mà ông vẫn tự hào "làm việc gì cũng thành công" (Jules Roy) tan biến. Trong khí thế chiến thắng, phong trào đấu tranh cách mạng ở các vùng tạnh chiếm thuộc đồng bằng Bắc Bộ ngày càng phát triển sâu rộng, uy hiếp quân đội chiếm đóng ở mọi nơi, mọi lúc, sự hoảng sợ của Cogny với tư cách một tư lệnh đã nhân lên gấp nhiều lần.
Ông ta đã điện cho Navarre: "Tình hình châu thổ tiếp tục xấu đi. Các cuộc giao tranh, các cuộc phục kích tiếp diễn. Mỗi làng đã biến thành một pháo đài. Đường xá chỉ đi lại được ban trưa, đến chiều bị cắt đứt ngay. Nông dân ngày bị đưa đi sửa đường, ban đêm chính họ đi cắt đường. Bắc Kỳ đang đứng trước ba nguy cơ: tuyến đường sinh tử từ Hà Nội đi Hải Phòng bị cắt đứt; cơ sở hạ tầng bị phá vỡ từng mảng; địch đóng thêm những căn cứ mới trực tiếp đe dọa Hà Nội". Ông hứa với Navarre "chấp nhận hy sinh để đối phó với nguy cơ thứ nhất tuy nhiên hai nguy cơ kia rất nghiêm trọng. Địch nhanh chóng rút các đơn vị ở Điện Biên Phủ về. Cần thêm ba binh đoàn cơ động, trong đó cần hai binh đoàn trong vòng 8 ngày để tránh nhãng tai họa mà ta phải hình dung ở Điện Biên Phủ."
Navarre căm ghét nhưng vẫn phải động viên Cogny. Tại công điện số 679 gửi Cogny, Navarre viết "những giả thiết của anh không chắc chắn và xa vời, chỉ đơn thuần là giả định. Các đại đoàn của Việt Minh chỉ có thể quay về can thiệp ở châu thổ sau thời hạn Điện Biên Phủ thất thủ từ một tháng đến sáu tuần. Khối cơ động chiến lược của Việt Minh sẽ cần thời gian khá dài để xây dựng lại, ít có khả năng vào chiến dịch trước mùa đông". Ông ta còn chỉ thị cho Cogny "lợi dụng ngay cơ hội có thể để mùa thu giáng cho Việt Minh đòn thật nặng, ít nhất có thể dẫn họ phải thương lượng trực tiếp và cho phép ta gỡ lại thất bại ở Giơneve".
Sự chỉ đạo của Navarre không giúp Cogny yên tâm. Cogny đã đảo lại thế bố trí bình định và tổ chức toàn đồng bằng thành một chiến trường. Ông ta đã tập trung quân viễn chinh xung quanh trục Hà Nội - Hải Phòng bằng cách thay thế quân Pháp bằng các tiểu đoàn quân ngụy để bố trí chúng thành một thế trận mới gồm các "vùng cơ động" có khả năng vừa phòng ngự theo diện vừa chiến đấu chống lại các đơn vị của đối phương. Các lực lượng này được tổ chức thành 4 sư đoàn khinh binh, bao gồm 51 tiểu đoàn bộ binh (hồi tháng 5 chỉ có 28). Toàn bộ lực lượng thiết giáp và một nửa lực lượng pháo binh, các căn cứ hậu cần và kho tàng của quân Pháp được tập trung trong khu vực Hải Phòng. Cogny ra lệnh rút bỏ một số đồn bốt, phá huỷ những công trình không có tác dụng trên tuyến phòng thủ bê tông để các lực lượng trên bộ của Pháp ở Bắc Việt Nam có đủ điều kiện không những thực hiện được các cuộc rút quân dự địch mà còn ứng phó được một cuộc tổng tiến công.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:19:37 AM
Đến lúc này bại tướng Navarre không còn được sử dụng, ngày 3/6/1954 chính phủ Pháp đưa Ely, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, người vừa đi Mỹ hôm 23/3/1954 cầu xin Mỹ can thiệp trực tiếp và sâu hơn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam sang thay thế làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Người ta thường ca ngợi sự khiêm tốn, không phô trương của Ely. Ông đã mất 24 năm để leo từ trung úy lên tiểu đoàn trưởng nhưng rồi bằng cách tự biến mình thành mờ nhạt ông không yêu cầu và cũng không từ chối ai điều gì. Ông chỉ muốn phục vụ nên bốn ngôi sao đã được đính thêm trên cầu vai ông trong vòng có bốn năm. Ông trở thành tổng tham mưu trưởng quân lực vào lúc không ứng viên nào xung phong để đưa ma cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông mang theo Salan làm tư lệnh hành quân.
Với con mắt bi quan, Ely lo ngại một thất bại mới đã đi đến quyết định phải nhanh chóng rút phía nam Bắc Bộ và bắt đầu từ 23/6 tiến hành cuộc hành quân Overge rút thiết bị nặng, các gia đình viên chức và quân nhân về các hang ổ nhằm ổn định tinh thần binh lính sĩ quan, viên chức, tạo thế và lực cho bọn ngụy quyền tay sai trong cuộc đấu tranh mới nếu hiệp nghị Giơnevơ được ký kết.
Ngày 16/6 địch rút khỏi Việt Trì. Ngày 30/6 ta đã tập trung lực lượng chặn đánh địch rút chạy tại vùng Ninh Bình, Phát Diệm, Phủ Lý, Thái Bình. Cogny ra chỉ thị cho Vanuxem, viên đại tá trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân rút lui một mặt tiến hành nghi binh làm cho ta tin rằng các hoạt động đang diễn ra chỉ là sự tập trung lực lượng và là sự phân trách nhiệm mới đối với các khu vực giữa quân Pháp và quân ngụy, mặt khác thực hiện cuộc rút quân theo ba trục phân kỳ: các lực lượng tiểu khu Phát Dlệm được các tàu nhẹ của hải quân đón, vượt qua hỏa lực ta theo sông Đáy ra biển. Các tiểu khu Thái Bình và Bùi Chu cũng rút bằng đường sông và đường biển theo trục Nam Định, cửa sông Hồng. Trục chính là lực lượng thuộc Ninh Bình, Nam Định đều hướng về Phủ Lý.
Đêm 1/7 chúng đã tập kết chung quanh Phủ Lý. Vấp phải lực lượng ta cắt đường số 1 và tiến vào đánh chiếm thị xã Phủ Lý, Vanuxem vội đưa binh đoàn cơ động số 8, phân đoàn thiết giáp số 2, có sự yểm trợ của ba pháo đội và hàng trăm lượt chiếc máy bay cường kích để phản kích yểm trợ cho lực lượng rút lui. Đến 4/7 các đơn vị rút lui từ phía nam đồng bằng mới tới được bắc sông Hồng sông Luộc và sông Thái Bình để thành lập tuyến phòng thủ mới sau những tổn thất khá nặng.
Tranh thủ lúc địch đang lâm vào tình trạng vô cùng lúng túng ta chủ trương mở mặt trận mới trên đường 13 ở phía bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng, lôi kéo lực lượng cơ động của chúng ra ngoại vi buộc chúng phải kết thúc những cuộc hành quân càn quét gom dân ở hậu địch, góp phần đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng vùng tạm chiếm, tiến lên từng bước vững chắc tạo thêm áp lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta ở Giơnevơ đang ở hồi gay cấn nhất chung quanh việc phân vùng và các điều khoản về chính trị.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:20:03 AM
Trung đoàn 36 thuộc đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ này. Với khí thế chiến thắng bất chấp bom đạn địch ngày đêm cản đường, trung đoàn đã từ mặt trận Điện Biên Phủ vượt trên 500 km về căn cứ hậu phương trước thời hạn Navarre dự tính. Toàn trung đoàn bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới: sửa đường số ba bảo đảm cho xe cơ giới có thể hoạt động được nhằm phục vụ đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh dự cuộc họp giữa hai bên Việt - Pháp vào ngày 4/7, bàn giải quyết những vấn đề quân sự do hội nghị Giơnevơ về Đông Dương nêu lên như vấn đề ngừng bắn, chuyển quân, tập kết, trao đổi tù binh v.v
Được về đánh địch nơi "chôn rau cắt rốn" của trung đoàn từ ngày còn trứng nước để sau này khi hình thành, trung đoàn được mang tên "Bắc Bắc", cán bộ và chiến sĩ trong trung đoàn kể cả những anh em chưa một lần được đặt chân tới bờ sông Thương nơi "bên trong bên đục" chưa bao giờ được ngắm nhìn dãy Huyền đinh, dòng sông Lục với màu xanh như màu ngọc đều náo nức một sự đền đáp ân tình, một niềm tin tất thắng.
Trải qua hơn nửa năm chiến đấu liên tục, đánh đuổi địch từ Mường Ngòi, Nậm Bạc, Nậm Ngà theo dòng Nậm Hu đến sát Luang Prabang cách sông Mê công một đoạn đường rồi những ngày đêm quần nhau với giặc ở lòng chảo Điện Biên, sức chiến đấu của bộ đội có phần giảm sút không những về thể lực mà cả về tổ chức. Tân binh mới được bổ xung nhiều, chưa nắm vững kỹ thuật chiến thuật. Cán bộ vừa qua một đợt điều chỉnh. Nhiều đồng chí lên nắm cương vị mới song mặt khác được tôi luyện trên chiến trường rực lửa, bản lĩnh, ý chí, kỹ năng, trình độ tổ chức lãnh đạo chỉ huy có những bước trưởng thành vượt bực.
Đòn đầu tiên trung đoàn nhắm tiêu diệt là đồn Cầu Lồ, một hệ thống boong ke hoàn chỉnh thuộc tuyến phòng ngự vòng ngoài trên chiến trường trung du, được thiết lập theo sáng kiến của Thống chế De Lattre de Tassigny, nằm sát đường số 13, cách thị xã Bắc Giang 18 km. Đồn nằm trên một quả đồi bằng phẳng rộng 400m, dài 600m, tất cả lô cốt nhà chìm đều bằng xi măng cốt thép dây thép gai bao quanh nhiều lớp do một đại đội được tăng cường đa số là bọn lính người Ngái bị mê hoặc và một số lính âu Phi chiếm giữ. Trường hợp bị tấn công, các chốt vệ tinh có thể co cụm về, lực lượng chúng sẽ đông hơn. Quân ở đồi Ngô và từ Thái đào dễ dàng tới ứng cứu, chúng còn được máy bay và đại bác chi viện.
Trong khi thừa nhận không còn giành được thế chủ động từ tay ta, Navarre chỉ thị cho các cấp thuộc quyền "có thái độ phòng thủ nhưng là phòng thủ có tình tiến công nhằm gây trở lực tối đa cho các kế hoạch của địch và giáng cho địch những đòn thất bại cục bộ". Đánh vào Cầu Lồ, nơi chúng coi là mảnh đất bất khả xâm phạm vì được bố phòng vững chắc sẽ làm cho quân Pháp tiêu tan hi vọng vào chỗ dựa cuối cùng về tổ chức phòng ngự.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:20:34 AM
Cầu Lồ có thể coi như cửa mở để tiến xuống Bắc Giang theo đường số 13, chọc xuống Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương uy hiếp con đường sinh tử của địch từ Hà Nội xuống Hải Phòng. Đánh Cầu Lồ, địch buộc phải huy động lực lượng cơ động đang bị thiếu tới ứng cứu hoặc ngăn chặn, vùng sau lưng địch sẽ bị trống rỗng. áp lực các cuộc càn quét gom dân của chúng đang thực hiện từ đầu tháng 7 như cuộc hành quân Auverge sẽ phải kết thúc.
Nhận định về lực lượng quân đội viễn chinh Pháp tại thời điểm này, tướng Yves Gras viết: " Các lực lượng quân viễn chinh vào trận năm nay rõ ràng là yếu hơn năm trước, nó đã bị mất đi các đơn vị hàng đầu là 11 tiểu đoàn dù và lê dương ở Điên Biên Phủ, các đơn vị đều không thuần nhất, chỉ huy yếu, và chưa được chuẩn bị tốt cho các cuộc hành quân cơ động. Nó phải chiến đấu trong hoàn cảnh thất bại mà các cuộc mặc cả ở Giơneve làm cho nặng nề thêm trong sự nhộn nhạo về chính trị ở Hà Nội, sự giảm sút tinh thần của quân Việt Nam (Ngụy) và mối lo ngại một cuộc tổng nổi dậy". Mặt khác tướng Yves Gras cũng cho rằng "Bây giờ là những trận đánh chính quy ở nơi quang đãng, nơi mà quân viễn chinh tìm lại được thế mạnh nhờ có lực lượng thiết giáp mà mùa hè đặc biệt khô hạn đã rất thuận tiện cho việc di chuyển, nhờ ở pháo binh bây giờ tập trung và cơ động lại được sử dụng theo khối lượng lớn, nhờ ở không quân mà sức mạnh dược tăng lên gấp bội vì được hoạt động ở gần căn cứ".
Cogny là người trực tiếp chỉ huy cuộc chiến từ chính xương sống Hà Nội - Hải Phòng để bảo vệ tuyến phòng thủ mới được xây dựng sau khi rút các cứ điểm quan trọng ở phía nam Bắc Bộ. Vốn là một sĩ quan kỵ binh từ 1929, năm 1948-1949 đã là chỉ huy trưởng lữ đoàn bộ binh thiếu, năm 1952 làm tư lệnh sư 2 ở Bắc Bộ, người ta cho rằng Cogny có thể tung các lực lượng có trong tay từ đầu này đến đầu kia phòng tuyến, đánh trả mỗi cú đánh của đối phương bằng sự tập trung nhanh chóng lực lượng và sự phản ứng tấn công.
Rõ ràng chúng ta bước vào cuộc chiến không chỉ có thuận lợi mà còn có những khó khăn. Khó khăn nổi cộm là thiếu sự đảm bảo về vật chất kỹ thuật đủ để hạn chế, khắc phục cái mạnh tạm thời của địch. Chúng ta không có pháo nặng để phá huỷ công sự kiên cố (công sự boong ke của địch có thể chịu đựng được đạn pháo 105 ly và một vài quả đạn 155), không có đủ pháo để đối pháo, không có cao xạ bắn máy bay tầng trung thậm chí bắn máy bay tầng thấp cũng không được trang bị cần thiết, không có khí tài làm vật cản chống tăng và thiết giáp v.v. Chiến đấu ở một khu trắng, không có dân cư nhưng lực lượng cấp cứu tải thương mỏng Thời gian chuẩn bị cho chiến dịch rất khẩn trương. Từ khi nhận lệnh đến khi nổ súng chưa đến một tuần kể cả mấy chặng hành quân dài 60 - 70 km. Tất cả những khó khăn ấy không làm giảm quyết tâm chiến đấu của quân ta.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:20:59 AM
Đêm 6/7/1954, trong lúc đại đội 41 thuộc tiểu đoàn 84 diệt gọn 1 trung đội địch ở Mỗ Sơn nằm giữa Cầu Lồ và Đồi Ngô thì đại đội 395 của tiểu đoàn 89 vượt sông Lục Nam sang đường 17, bao vây đồn Chỉ Tắc để thu hút lực lượng cơ động của địch. Phát hiện được chủ lực ta, địch đưa 1 tiểu đoàn đến giải vây và thăm dò. Đại đội 395 đã dựa lưng vào đồn địch để tránh phi pháo sát thương, dũng cảm chiến đấu loại khỏi vòng chiến gần 100 tên địch.
Ta điều tiếp đại đội 397 sang tả ngạn sông Lục chiếm lĩnh những ngọn đồi men dấy núi Huyền Đinh ngăn chặn quân cơ động từ Phả Lại, Cẩm Lý theo đường 17 tiến lên Chỉ Tắc.
Thấy diễn biến trận đánh bất lợi, phán đoán chủ lực ta có thể mở đột phá tiến xuống Hải Dương uy hiếp đường 5 - con đường sinh tử đối với địch nối hến Hà Nội - Hải Phòng, Cogny đã điều 2 binh đoàn cơ động số 1, số 4 và 8 đơn vị pháo lên Cẩm Lý đối phó.
Xe tăng địch từ đường 17 vừa bò vào trận địa ta bị bắn cháy ngay 2 chiếc. Lần đầu tiên y tá Nhương trực tiếp chiến đấu cùng lực lượng xung kích lại ném lựu đạn trúng xe tăng địch phấn khởi quá nhảy lên reo hò. 395 diệt thêm 50 tên. Số thương vong của đại đội lên tới 36 đồng chí trong đó có đại đội trưởng Phạm Văn An và đại đội phó Phạm Văn Toa.
Bên phía núi huyền Đinh, không có những đợt đánh giáp lá cà như ở Chân Mộng - Trạm Thản năm trước nhưng cuộc chiến đấu của đại đội 397 diễn ra quyết liệt. Từ sáng đến chiều ngày 16/7 hỏa lực các cỡ của địch nã lên trận địa ta, cây cối bị phạt tơi tả như sau trận bão. Quân ta vẫn bình tĩnh xả súng vào nơi địch xuất hiện. Súng cối không còn đạn, đại đội trưởng Tế vừa hạ lệnh cho khẩu đội của Gương rút về tuyến sau thì bị xe tăng địch hạ sát bằng súng bắn thẳng. Chỉ riêng trong ngày, thêm 18 cán bộ chiến sĩ hi sinh. Địch sục lên đồi bắt sống 4 đồng chí. Sau ngày hoà bình lập lại, trong đợt trao đổi tù binh, anh em trở về đơn vị với niềm tự hào vì đã giữ vững khí tiết khi sa vào tay địch.
Không vượt được qua trận địa ta, địch triển khai trận địa pháo dọc đường 17, theo chỉ điểm của máy bay, bắn như đổ đạn sang đường 13 chi viện cho đồng bọn đang bị vây hãm và công kích.
Sau khi ta rút, bà con Huyền Sơn cho biết địch chết rất nhiều ba ngày liên tiếp địch cho xe lên nhặt xác mà vẫn còn những tên bị bỏ lại. Giá như tổ chức thông tin và hiệp đồng giữa các đơn vị của ta được thực hiện tốt chắc chắn địch bị còn thương vong nhiều hơn.
Ở Cầu Lồ. Vận dụng chiến thuật "vây, lấn, tấn, diệt" đã thể nghiệm thành công ở Điện Biên Phủ, một số đơn vị của tiểu đoàn 84 triển khai trên các hướng công kích, đào trận địa, bắn tỉa từng tên địch xuất hiện, phong tỏa các châu mai của lô cốt để cắt dây thép gai quanh đồn, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 80 làm nhiệm vụ chủ công đột phá.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:21:31 AM
Đêm 13/7, tiểu đoàn 80 dùng DKZ, Bazôka bắn phá hoại, sau đó mang bộc phá lên đánh lô cốt. Do tiếp cận muộn, địch chống trả quyết liệt, tiểu đoàn không dứt điểm được phải dán ra chỉ để lại một bộ phận trụ lại ở khu vực đã chiếm trong đồn.
Suốt ngày 14/7 tiếp theo các đợt "pháo bầy" máy bay địch liên tiếp dội bom phá, bom napan vào các vị trí quân ta đang làm chủ trong đồn và trên các tuyến chặn viện từ đồi Ngô về. Lực lượng phòng không của ta quá mỏng. Chỉ có một số súng 14,5 đã sử dụng một thời gian dài ở Điện Biên Phủ. Nòng rỗng đến mức đạn ra khỏi nòng kêu vù vù. Bốn khẩu thì bị địch đánh hỏng 3. Ta lại không phát huy mọi hoả khí bộ binh bắn máy bay bổ nhào vì “sợ lộ trận địa" nên máy bay địch được dịp lồng lộn bắn phá vào những công sự đào nông trên đất sỏi đá khiến số thương vong của đơn vị chặn viện khá nặng. Cán sự chính trị Xuyên vừa từ tiền duyên về chưa kịp phản ánh tình hình với tiểu đoàn đã bị bom. Đại đội phó Trương Toàn được bổ xung về chỉ được tiểu đoàn phổ biến sơ qua hình thái địch ta đã phải theo liên lạc xuống Đồi Ngô nắm đơn vị đánh địch xuất hiện.
Các đại đội 61, 62 của tiểu đoàn chủ công cũng thiệt hại lớn, đại đội trưởng đại đội 61 hi sinh, đại đội phó Tái vừa lên thay thế cũng hi sinh tiếp nhưng tiểu đoàn trưởng Đào Đình Xung vẫn quyết tâm tổ chức công đồn vào xẩm tối. Nắm được hướng đột kích của ta, địch tập trung pháo và súng phóng lựu ngăn chặn. Tiểu đoàn phó Nguyễn Huy Chưởng vừa lệnh cho đại đội trưởng Căn bị thương rút ra ngoài thì đến lượt mình cũng bị thương. Có mũi đột phá chỉ còn 7 - 8 chiến đấu viên. Tiểu đoàn trưởng phải sử dụng đến trợ lý tác chiến tiểu đoàn Quang Liên xuống trực tiếp chỉ huy đánh bộc phá.
Lợi dụng đêm tối giữa hai đợt tạm dừng tiếng súng, bọn địch ở một số lô cốt đã chui lủi trốn theo hướng không có lực lượng ta bao vây. Giữa lúc ta và địch đang còn dằng co ở Cầu Lồ, địch cho một tiểu đoàn từ Bắc Giang kéo lên ứng cứa. Đến Đại Giáp chúng bị tiểu đoàn 84 được tăng cường thêm đại đội 273 của trung đoàn 102 chặn đánh diệt hàng trăm tên, 2 xe tăng bị cháy, chúng phải rút chạy.
Sau 20 giờ chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn đồn Cầu Lồ. Quân địch bị tiêu diệt trong đồn, trên đường 13 và đường 17 lên tới gần 500 tên. Ta thu 4 đại liên, 15 trung liên, 4 súng cối 81 mm. Cầu Lồ bị tiêu diệt toàn bộ hệ thống phòng thủ bắc, đông bắc Bắc Giang trên đường số 1, số 13 và số 17 bị quân và dân địa phương phá giã, buộc phải rút chạy hoặc xin hàng. Ta định đánh tiếp đồn Thái Đào thì có lệnh đình chiến. Hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương đã được ký kết giữa các bên.
rận Cầu Lồ, Chỉ Tắc biểu hiện một quyết tâm chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ ta nhằm đạt tới mục tiêu của trận đánh. Ta đã giam chân những binh đoàn cơ động của chúng, buộc địch phải bỏ dở trận càn gom dân mang tên Auberge, đập tan một hệ thống phòng ngự bằng bê tông cốt thép của địch trên "tuyến De Lattre". Một bộ phận sinh lực địch bị tiêu diệt, ý chí của địch sau thất bại Điện Biên Phủ đã rêu rã càng thêm rêu rã.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:22:01 AM
Trận đánh cũng đưa lại cho chúng ta những kinh nghiệm hay về tổ chức và thực hành chiến đấu dài ngày trên vùng đất trống va trắng, về đánh địch phòng ngự trong hệ thống boong-ke bằng vũ khí trong biên chế của trung đoàn bộ binh.
Nhưng phải nói chúng ta mang nặng tư tưởng chủ quan khinh địch, không đánh giá đúng so sánh giữa ta và địch trên đại thể và tương quan lực lượng ở từng chiến trường, không thấy hết tính ngoan cố của kẻ địch trước giờ rãy chết, cứ tưởng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đại quân kéo về hô một tiếng là địch "bó giáo lai hàng" nên việc lựa chọn mục tiêu công kích, sử dụng lực lượng, vận dụng cách đánh đảm bảo những yếu tố vật chất kỹ thuật không phù hợp phương châm "tiêu diệt địch, bảo vệ mình", bệ nguyên xi những kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường Điện Biên Phủ vào trận đánh một cách giáo điều, máy móc, kinh nghiệm chủ nghĩa đã đưa lại những tổn thất không đáng có.
Viết về những trận đánh cuối cùng này, tướng Yves Gras trong cuốn Lịch sử chiến tranh Đông Dương đã hết lời ca ngợi tài “điều binh khiển tướng” của Cogny khiến cuộc tấn công của Việt Minh đã bị chặn đứng và bị hất bật trở lại bởi sự đánh trả dữ dội của quân Pháp, bởi các trận phản kích của xe thiết giáp dưới sự yểm trợ và tiếp tay của không quân. Bị thiệt hại nặng nề, các trung đoàn Việt phải ngừng trận đánh và rút lui lên phía bắc tuyến phòng thủ bê tông.
Yves Gras đã lầm. Rõ ràng Cogny trong những trận này không còn là Cogny liều lĩnh hung hăng của những trận càn trong chiến dịch Porto ở Thuận Thành ngày 14/4/1952; khi chỉ huy GM1+GM3 trong chiến dịch Turco ngày 18/4/1952 ở nam phần Bắc Ninh hoặc trong chiến dịch Hirondelle biệt kích quân dù xuống Lạng Sơn ngày 17/7/1953 với vai trò là tư lệnh miền Bắc Bắc kỳ.
“Vận đỏ” của ông ta đã qua. Những trận cuối cùng này chỉ thấy ông ta hoàn toàn mất chủ động, tìm cách lẩn trốn không dám đương đầu với đối phương. Ông ta chỉ thị cho Vanuxem bí mật rút quân ở nam Bắc Bộ theo đường sông ra biển để tránh đụng độ; điều quân cơ động ra tiền duyên thì cũng chỉ để ngăn chặn chứ không phải để giao chiến theo đúng chức năng mà ông ta đã xác định cho quân cơ động. Nhiều lắm ông ta chỉ phát huy được chút sức mạnh từ xa bằng pháo binh hoặc từ trên trời bằng máy bay.
"Cái chìa khoá" (chỉ Bắc Kỳ - theo De Lattre de Tassigny) và "cái gút" (châu thổ sông Hồng theo ẩn ý của Cogny) mà ông muốn nắm giữ đã mất. Ông không còn cả chỗ đứng. Ông đã bị bật sang tận Maroc và sau đó là Trung Phi. Các trung đoàn Việt ngày ấy ngừng trận đánh vì hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết và quân Việt rút lên phía bắc tuyến phòng thủ bê tông là để trở về tiếp quản các vùng vừa được giải phóng và thủ đô Hà Nội của mình.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:22:35 AM
MỘT VÀI SỐ LIỆU
VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC


Trong chín năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam (từ 1945 đến 1954) thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp đỡ đã tung vào chiến trường Đông Dương mọi lực lượng và phương tiện chiến tranh có thể huy động được. Ở vào thời điểm huy động lực lượng cao nhất (3/54) thực dân Pháp đã sử dụng:
191 tiểu đoàn (trong đó có 84 tiểu đoàn Âu Phi).
550 máy bay.
26 tiểu đoàn pháo binh.
10 trung đoàn xe tăng và xe bọc thép.
390 tàu chiến và ca nô.
Thực dân Pháp đã tiêu phí ngót 3.000 tỷ franc (tương đương 7 tỷ đô la Mỹ) trung bình mỗi ngày tiêu phí một tỷ franc.
Do những thất bại liên tiếp trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam nên 20 lần chính phủ Pháp bị đổ. Trung bình mỗi chính phủ chỉ làm việc trong bảy tháng, có chính phủ chỉ tồn tại trong bảy ngày, nhiều lần thay đổi chủ trương kế hoạch, bảy lần thay "toàn quyền", tám lần đổi tướng tổng chỉ huy quân viễn chinh.
Trong năm năm (1950 - 1954) Mỹ đã viện trợ cho Pháp ngót 1.200 tỷ franc (2,7 tỷ đô la) cung cấp cho Pháp 350 máy bay, 390 tàu chiến, 1400 xe tăng, xe bọc thép 16.000 xe ô tô vận tải, 175.000 súng hạng nhẹ.
Cuối cùng thực dân Pháp vẫn không tránh khỏi thất bại. Nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp và quân Nguỵ tay sai bị tiêu diệt, 435 máy bay bị bắn rơi và phá huỷ, 603 tàu chiến bị bắn chìm và bắn cháy, 344 khẩu pháo, 9.238 xe quân sự, 377 đầu máy bị phá huỷ, 255 khẩu pháo, 504 xe quân sự, 130.415 súng các loại bị rơi vào tay đối phương.
Thực đần Pháp buộc phải thừa nhận độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, phải rút quân khỏi miền Bắc và bị đế quốc Mỹ hất cẳng ở miền Nam.
Tư liệu của Tạp chí Công tác Tư tưởng Văn hoá
Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và Cục Tư tướng
Văn hoá - Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Những viên tướng ngã ngựa
Gửi bởi: TimeBreak trong 01 Tháng Một, 2009, 02:23:09 AM
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT


B.C.C.P Batailillon commando colonial parachute - tiểu đoàn biệt kích dù thuộc địa
B.E.P Bataillon étrangere parachute - tiểu đoàn dù lê dương
B.P.C Bataillon parachute colonial - tiểu đoàn dù thuộc địa.
C E.F.E.O: Corp expédionnaire francaise Extrême Orient quân đoàn viễn chinh Pháp ở Viễn Đông.
D.B: Demi brigate - bán lữ đoàn
D.I.C: Diviston infantene colonial - sư đoàn bộ binh thuộc địa.
D.I.C.E.O Division infanterie colomal Extrême – Orient - sư đoàn bộ binh thuộc địa Viễn Đông
D.N.A: Division navale d'assaut cu dinassaut - chiến đoàn thuỷ quân xung kích.
F.E.F.E.O: Force expidionnaire francaise Extrême Orient lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông.
G.M: Groupement mobile - binh đoàn cơ động.
L.C.T - L.C.M -  L.S.T - L.S.S.L - L.V.T - các phương tiện vận tải thủy chủ yếu dùng đổ bộ nhưng có loại bọc thép trang bị súng cỡ 40 mm và súng cối 81 mm
R.A.C: Régiment artilleri colonial - trung đoàn pháo binh thuộc địa.
R.E.I: Régiment etrangere infanterie - trung đoàn bộ binh lê dương
R.I.C: Régiment infanterie colonial - trung đoàn pháo thủ thuộc địa.
R.I.C.M: Régiment d'infanterie colonial du Maroc trung đoàn bộ binh thuộc địa Maroc.
R.T.A Régiment tirailleur africain - trung đoàn pháo binh người Phi
R.T.M Régiment tirailleur marocain - trung đoàn pháo binh người Maroc
R.T.T Régiment transport & transmission - trung đoàn vận tải và truyền thông
TABOR Một sắc lính địa phương người Maroc giống như lính khố xanh - một đơn vị Tabor tương đương một tiểu đoàn


HẾT