Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Một, 2008, 01:37:34 PM



Tiêu đề: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 1
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Một, 2008, 01:37:34 PM
   TÊN SÁCH: LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM - TẬP 1: BUỔI ĐẦU GIỮ NƯỚC.
   NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA.
   NĂM XUẤT BẢN: 1999.
   SỐ HOÁ: Ptlinh, UyenNhi05.

   Ban chủ nhiệm:
   Trung tướng, PGS NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC.   
   Đại tá PGS, PTS NGUYỄN QUỐC DŨNG. 
   Đại tá, PGS, PTS TRỊNH VƯƠNG HỒNG. 
   Đại tá PTS LÊ ĐÌNH SỸ.

   Tập thể tác giả:
   GS. Hà VĂN TẤN (chủ biên).
   PGS CHỬ VĂN TẦN.
   PGS, PTS PHẠM LÝ HƯƠNG.
   PTS TRỊNH CAO TƯỞNG.
   Đại tá PGS, PTS NGUYỄN QUỐC DŨNG.




Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước
                                                                                                     
                                                                                                                    HỒ CHÍ MINH


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

   Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử II của Đảng 2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thông quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
   Bằng tinh thần yêu nước cùng với ý chí tự lực, tự cường và tài thao lược Việt Nam được hun đúc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giừ nước, dân tộc ta đã lập nên những chiến công hiển hách. Nước Việt Nam trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau hiên ngang nhìn ra Thái Bình Dương với thế đứng vững vàng hôm nay là thành quả của biết bao mồ hôi, xương máu của những thế hệ người Việt Nam xây dựng và chiến đấu.
 
   Chỉ tính từ thế kỷ III trước Công nguyên - từ cuộc xâm lược của nhà Tần vào đất Việt đến nay, trải qua gần 2.300 năm, dân tộc ta đã buộc phải cầm vũ khí tới 12 thế kỷ để bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc, đấy là chưa kể công cuộc mở nước và các cuộc nội chiến khốc liệt kéo dài. Chiến tranh giữ nước đã đi suốt chiều dài cùng lịch sử đất nước.

    Trong lịch sử nhiều nghìn năm, dân tộc ta phải thường xuyên đương đầu với những thế lực ngoại xâm rất to lớn, cực kỳ hung bạo và nham hiểm; vì vậy, muốn thắng giặc, ông cha ta đã sáng tạo ra cách đánh đặc sắc Việt Nam ở tầm binh thuyết. Những chiến công và bài học lịch sử trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông là bộ phận chủ đạo của lịch sử dân tộc, là niềm tự hào chung của mọi người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải có trách nhiệm “kiểm kê” và “bảo quản” cẩn trọng kho báu đó cho muôn đời con cháu.
Nằm trong cố gắng chung của giới sử học, vừa qua Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã chủ động phối hợp với các nhà sử học giàu tâm huyết trong và ngoài quân đội tổ chức nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, 14 tập. Đây là một bộ sách rất công phu và có giá trị, được xem như bộ sử lớn đương đại, dựng lại toàn bộ hoạt động quân sự của dân tộc trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, kể cả những cố gắng mở nước của cha ông và các cuộc nội chiến từ thời Hùng Vương - An Dương Vương cho đến ngày nay theo lịch đại trên tất cả các mặt:

   •   Lịch sử khởi nghĩa và chiến tranh.
   •   Lịch sử nghệ thuật quân sự.
   •   Lịch sử tổ chức quân sự.
   •   Lịch sử tư tưởng quân sự.
   •   Lịch sử kỹ thuật quân sự.

   Tập 1 mang tiêu đề: BUỔI ĐẦU GIỮ NƯỚC (Thời Hùng Vương - An Dương Vương) do các chuyên gia khảo cổ học đảm nhiệm. Các tác giả đã cố gắng tái tạo nền văn minh sông Hồng rực rỡ, xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - âu Lạc và hai cuộc kháng chiến đầu tiên chống đế chế Tần và quân Triệu Đà xâm lược.

    Có thể nói đây là một trong những tập khó khăn nhất của bộ sách. Các tác giả đã cố gắng sử dụng triệt để nguồn tài liệu khảo cổ học, dân tộc học, văn hoá dân gian, nguồn sử liệu tuy ít ỏi nhưng rất có giá trị của các bộ sử cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc và những công trình khoa học đã được công bố để phân tích, đối chiếu, so sánh với thái độ khoa học rất tỉ mỉ, cẩn trọng, dựng lại diện mạo chân thực của lịch sử giai đoạn này một cách có chủ kiến.
 
   Việc xuất bản tập 1 của bộ sách là thành công mới của giới sử học Việt Nam nói chung và sử học quân sự nói riêng.

    Vì tầm quan trọng và giá trị khoa học, bộ sách đã vinh dự được Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu viết Lời tựa, nhà sử học lão thành - Giáo sư Trần Văn Giàu viết Lời giới thiệu.

   Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Giáo sư Trần Văn Giàu. Cũng ở tập 1 này, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam có phần mở đầu rất quan trọng cho cả 14 tập.

   Với tất cả sự trân trọng lịch sử vẻ vang của cha ông để lại chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc tập 1 của bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, 14 tập. Những tập khác của bộ sử đang được khẩn trương hoàn thành và sẽ lần lượt ra mắt bạn đọc những năm sau.

                                                                                                                                   Tháng 10 năm 1999
                                                                                                                          NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Một, 2008, 10:57:29 PM
LỜI TỰA

   Dựng nước luôn luôn đi đôi với giữ nước đã trở thành một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề chiến lược có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho dân tộc ta mãi mãi trường tồn và cường thịnh.

  Dân tộc Việt Nam đã trải qua chặng đường dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đầy gian khổ hy sinh nhưng rất vẻ vang. Một dân tộc mà hàng bao thế hệ kế tiếp nhau phải chống ngoại xâm, trong những điều kiện rất ác liệt, trong so sánh lực lượng hết sức chênh lệch, tiến hành chiến tranh vệ quốc với hoàn cảnh một nước kinh tế còn lạc hậu, chống lại sự xâm lược của những kẻ thù giàu mạnh, đông quân hơn, trang bị hiện đại hơn, người Việt Nam đã tìm ra cách đánh riêng, có hiệu quả. Đó là cả nước đánh giặc, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm, đường phố là một pháo đài, đánh giặc mọi nơi, mọi lúc và bằng mọi loại vũ khí có trong tay.

   Qua mỗi cuộn chiến tranh, thời nào dân tộc ta cũng có những anh hùng hào kiệt, những tướng lĩnh thao lược, những nhà quân sự - chính trị kiệt xuất. Trước kẻ thù xảo quyệt và hung bạo, dân tộc Việt Nam đã vùng lên, dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng bằng sức mạnh của truyền thống dân tộc anh hùng, lòng dũng cảm và trí tuệ của con người Việt Nam giàu lòng nhân nghĩa nhưng rất kiên cường.  Nghệ thuật đánh giặc, tư tưởng - lý luận quân sự Việt Nam phát triển và trở thành một truyền thống quân sự độc đáo, một kế sách giữ nước thích hợp và đạt đến đỉnh cao học thuyết chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh.
 
   Lịch sử quân sự dân tộc ta để lại một kho tàng kinh nghiệm vô giá, những bài học sâu sắc cho muôn đời. Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chung ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử, phát huy tinh thần anh hùng dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn cũng như truyền thống lao động, chiến đấu dũng cảm và sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi người Việt Nam chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ tịch  Hồ Chí Minh: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu  ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

   Với ý thức sâu sắc rằng, giữ gìn và phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là bổn phận và trách nhiệm, là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người Việt Nam ngày nay, tôi rất hoan nghênh Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, biên soạn và phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản bộ sách Lịch sử quân sự Việt Nam 14 tập; cám ơn các nhà nghiên cứu sử học trong và ngoài quân đội đã nhiệt tình cộng tác trong việc biên soạn và xuất bản bộ sách này. Đây là một công trình rất quan trọng, có giá trị khoa học và thực tiễn to lớn, góp phần thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng về công tác khoa học và công  nghệ, về giừ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; góp phần giáo dục lòng tự hào dân tộc, củng cố tinh thần đoàn kết của nhân dân ta, cổ vũ toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hăng hái tiến lên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

                                                         

                                                                                                                                          TỔNG BÍ THƯ
                                                                                                                               BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
                                                                                                                                 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
                                                                                                                                        
                                                                                                                                          LÊ KHẢ PHIÊU


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Một, 2008, 11:06:15 PM
LỜI GIỚI THIỆU


   Dân tộc Việt Nam có một truyền thống quân sự rất đáng tự hào, được hun đúc từ lâu đời và truyền lại qua bao thế hệ nối tiếp. Đó là truyền thống lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh; một truyền thống anh hùng bất khuất, thông mình sáng tạo, tài thao lược kiệt xuất, quyết chiến, quyết thắng vì tự do độc lập. Nhờ đó mà nhân dân ta đã giữ gìn được quê hương, đất nước, bảo vệ giống nòi và bản sắc của mình sau hàng nghìn năm, với nhiều lần bị phong kiến phương Bắc và các đế quốc lớn đô hộ.
 
   Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua những bước thăng trầm, thịnh suy; nhưng thế kỷ nào, triều đại nào cũng có chiến công, chưa bao giờ vắng người hào kiệt, chưa lúc nào thiếu bóng anh hùng. Trên hành tinh đã xuất hiện những dân tộc anh hùng, trong đó Việt Nam là một dân tộc phải vượt qua nhiều thử thách nhất. Nhưng “trải biến cố nhiều thì trí lực sâu, lo việc xa mà thành công lạ”, vì thế, lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam đã hun đúc nên những phẩm giá cao đẹp và vĩ đại, ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của một dân tộc anh hùng.

   Không chỉ riêng chúng ta tự hào mà cả anh em, bè bạn đều khâm phục truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam. Một đất nước có lịch sừ lâu đời đã trải qua một chặng đường dài hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đầy chông gai nhưng rất quang vinh; một đất nước mà điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sừ đã đặt ra quá nhiều thử thách gian nguy, phải thường xuyên đối phó với thiên tai và địch hoạ.  Đối với dân tộc Việt Nam, thử thách lớn nhất và nguy hiểm nhất là phải, liên tục chống lại những thế lực xâm lược quá lớn mạnh và hung bạo để bảo vệ tự do, độc lập. Tuy nhiên, khi lao động dựng nước cũng như khi chiến đấu giữ nước, nhân dân ta luôn luôn đoàn kết, hợp quần trong tình làng nghĩa xóm, trong khối cộng đồng quốc gia dân tộc. Nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm bằng cả tinh thần và ý chí, bằng cả trí tuệ và nhân nghĩa Việt Nam.  Việt Nam là một dân tộc có truyền thống và tư chất quân sự đặc biệt. Có dân tộc nào yêu quý hoà bình và khát vọng độc lập tự do như dân tộc Việt Nam? Chính điều đó đã thôi thúc nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu giữ nước. Không để cho kẻ thù khuất phục, dân tộc Việt Nam luôn luôn vươn lên với ý chí kiên cường, với trí tuệ tài ba và năng lực sáng tạo phong phú vì tự do độc lập. Trước những kẻ thù to lớn, quân đông và thiện chiến, cuộc chiến đấu của dân tộc ta thường mang tính toàn dân, toàn diện, cả nước đánh giặc. Những cuộc đọ sức ấy biểu hiện trên tất cả các mặt hoạt động xã hội, nhưng trong đó, đấu tranh quân sự là lĩnh vực chủ yếu phải tập trung nhiều tinh lực nhất và diễn ra quyết liệt nhất. Thất bại chỉ là tạm thời, và không bao giờ vì thất bại mà chùn chân, nản chí, dân tộc ta cuối cùng đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, kể cả những đế quốc hùng mạnh bậc nhất của các thời đại. Qua hàng chục thế kỷ, thường xuyên phải sống trong sự tủi hờn nước mất nhà tan, trong bão lửa của chiến tranh chống xâm lược, nhân dân Việt Nam càng hiểu rõ những giá trị truyền thống của mình. Truyền thống quân sự với bao bài học quý giá ấy là báu vật của tổ tiên được xây đắp bằng mồ hôi nước mắt, bằng máu xương của bao thế hệ. Lịch sử Việt Nam trải qua bao gian nan thử thách; nhưng “lửa thử vàng gian nan thử sức”; thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: ‘Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói.

   Nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện các lĩnh vực của lịch sử quân sự dân tộc vừa là một nhu cầu, vừa là một nhiệm vụ sử học to lớn. Nhiệm vụ đó có thể và cần phải thực hiện khi giờ đây, trong không khí cởi mở của đất nước thời kỳ đổi mới, khi mà sử học nói chung và sử học quân sự nói riêng đã có nhiều biến chuyển, đạt được những thành tựu quan trọng. Nhiều đề tài nghiên cứu được tiến hành, nhiều cuộc hội thảo khoa học về các nhân vật và sự kiện quân sự được tổ chức, nhiều tác phẩm sử học được xuất bản. Tuy nhiên, giới sử học và Việt Nam học trong và ngoài nước đang mong muốn tìm hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc về lịch sử quân sự Việt Nam. Khắp năm châu, bè bạn nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nghiên cứu truyền thống quân sự Việt Nam với sự say mê và nhiệt tình của họ là để rút ra những kinh nghiệm tích cực cho bản thân. Điều làm cho các nhà Việt Nam học ngạc nhiên là tại sao Việt Nam có tinh thần chiến đấu ngoan cường như vậy? Tại sao Việt Nam có thể chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh gấp bội mình? Đối phương cũng nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam vì những mục tiêu của họ.  Người Việt Nam càng cần hiểu biết lịch sử dân tộc để phát huy những giá trị tinh thần, những truyền thống và kinh nghiệm lao động, chiến đấu trong sự nghiệp của mình.
 
   Chúng ta đang có điều kiện hơn trước để “phát kiến” chính  dân tộc của chúng ta trong chiều sâu lịch sử; tìm hiểu tổ tiên, ông cha một cách cặn kẽ và hệ thống, chúng ta không có gì khác hơn là để xây dựng con người mới, xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa mà sâu gốc bền rễ trong lịch sử dân tộc. Chủ nghĩa xã hội của chúng ta phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa lịch sử có chọn lọc, có phê phán, trong đó truyền thống quân sự Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng. Chính vì lẽ đó mà nghiên cứu lịch sử giữ nước của dân tộc để có một bộ Lịch sử quân sự Việt Nam tương đối hoàn chỉnh và hệ thống, phản ánh được các lĩnh vực hoạt động quân sự của dân tộc từ xưa đến nay là rất cần thiết.

   Tôi tin chắc rằng, việc Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử quân sự Việt Nam 14 tập sẽ đáp ứng được mong mỏi của bạn đọc. Tôi hoan nghênh Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho công bố công trình khoa học có ý nghĩa to lớn này, vui mừng và trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


                                                                                                                                       TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 5 Năm 1999

                                                                                                                                                  GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:28:09 PM
MỞ ĐẦU

LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU


Lịch sử quân sự là quá trình phát sinh và phát triển lĩnh vực quân sự của loài người từ xưa đến nay. Nó là một bộ phận của lịch sử xã hội. Trong lịch sử Việt Nam, từ xa xưa đến nay các hoạt động quân sự của dân tộc ta được hình thành và phát triển, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu và hành động thôn tính bằng bạo lực của bọn xâm lược.

So với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, lịch sử quân sự Việt Nam có bề dày rất lớn, phong phú và nhiều nét đặc sắc. Do đó, việc nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam cần được xúc tiến mạnh mẽ, xứng đáng với tầm vóc của lịch sử dân tộc, để tiếp tục đưa khoa học lịch sử quân sự vươn lên đáp ứng tốt yêu cầu và đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
 
 
I. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

1. Các giai đoạn phát triển của Lịch sử quân sự Việt Nam:

Việt Nam là một quốc gia phát triển sớm và có ích sử lâu đời. Trong lịch sử Việt Nam, lịch sử quân sự được biểu hiện đậm nét và oanh liệt nhất. Đó là lịch sử quá trình phát sinh và phát triển các hoạt động quân sự của dân tộc ta trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Việt Nam có vị trí quan trọng trên các lĩnh vực chính trị ‘-quân sự, văn hoá và kinh tế, trong mối quan hệ giữa các quốc gia trên lục địa châu á nói chung, vùng Đông - Nam á nói riêng. ở một đầu mối giao thông tự nhiên trong vùng, Việt Nam có điều kiện giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của các nền văn minh khác, trở thành nơi hội tụ nhiều nền văn minh trong khu vực và thế giới. Nơi đây có tài nguyên phong phú, là một địa bàn chiến lược trọng yếu mà bọn xâm lược qua các thời đại đều muộn chiếm lấy để thực hiện mưu đồ thực dân của chúng. Các thế lực bành trướng hên tục gây chiến tranh thôn tính nước ta. Vì thế, từ xa xưa hoạt động quân sự của đần tộc ta đã xuất hiện và phát triển, trở thành một nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước ta là một trong những chiếc nôi của loài người, một xứ sở của văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, sớm có nền văn hoá bản địa với bản sắc riêng. Thành quả lao động đáng tự hào của người xưa để lại là sớm tạo dựng nên một nền văn hoá - văn minh Việt mà tiêu biểu là văn minh Sông Hồng và văn minh Đại Việt rực rỡ, toả sáng trong vùng. Đó là những nền văn minh cổ xưa nhưng xán lạn, tiêu biểu cho tài năng lao động sáng tạo, những phẩm giá cao quý và truyền thống tinh thần của tổ tiên. Tuy nhiên, do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử riêng, Việt Nam thường xuyên phải gánh chịu những thử thách hiểm nguy trước thiên tai và địch hoạ.

Trong lịch sử, dân tộc ta biết bao lần bị phong kiến phương Bắc tiến công xâm lược, nhiều lần và trong nhiều thế kỷ bị đô hộ với âm mưu Hán hoá; rồi đến thời cận đại và hiện đại phải chống nguy cơ âu hoá và Mỹ hoá trong mưu đồ xâm lược của các đế quốc tư bản phương Tây. Vốn có một nền văn hoá bản địa vững bền nên dân tộc ta không bị đồng hoá; những ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Bắc hay phương Tây cũng không làm mất được bản sắc riêng của văn hoá dân tộc Việt Nam.

Việt Nam còn là một đất nước sớm hình thành dân tộc, sớm thống nhất đất nước và cũng sớm hình thành nhà nước tập quyền. Trước sự đe doạ của thiên tai và giặc ngoại xâm, nhân dân ta đã cố kết và hợp quần lại để có đủ sức mạnh dựng nước và giữ nước. Công cuộc lao động và chiến đấu gian khổ tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ láng giềng, dòng họ; trong cộng đồng rộng lớn Nhà - Làng - Nước - Dân tộc Chính vì thế, người Việt đã sớm nhận thức được rằng, quê cha đất tổ, non sông đất nước này là do bàn tay, khối óc và xương máu của biết bao thế hệ xây đắp nên, là tài sản vô giá truyền lại muôn đời. Tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết, sức mạnh và ý thức độc lập tự chủ của dân tộc đã nảy sinh và phát triển trên cơ sở đó.

Truyền thống quân sự là nét nổi bật của lịch sử Việt Nam. Lịch sử quân sự Việt Nam xuất hiện từ buổi đầu dựng nước, có một quá trình phát triển liên tục, chủ yếu do nhu cầu chống ngoại xâm, luôn gắn liền trong mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa dựng nước và giữ nước. Suốt dọc dài lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam đã nêu cao tinh thần bất khuất, tự lập tự cường, trí thông minh và tài thao  lược; xây dựng nên một nền văn hoá quân sự độc đáo. Mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đều có những nỗ lực sáng tạo, đều giành được những chiến công vang dội, lập nên những chiến tích phi thường trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Có thể phân chia các giai đoạn Lịch sử quân sự Việt Nam như sau:




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:32:20 PM


1.1. Giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương- An Dương Vương (từ thế kỷ II Tr.CN về trước).

Trong giai đoạn này nhiều truyền thống dân tộc đã được hình thành, lịch sử quân sự Việt Nam xuất hiện và phát triển bước đầu. Nhân dân Văn Lang - Âu Lạc phải liên tục chống nhiều thứ giặc, tiêu biểu là hai cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ thứ III Tr. CN) và chống Triệu (thế kỷ thứ II Tr.CN).
 
Vừa dựng nước tổ tiên ta đã phải đánh giặc giữ nước. Qua cuộc đấu tranh chống thiên tai và địch hoạ, ý thức cộng đồng, ý chí chống ngoại xâm của dân tộc ta đã phát sinh và phát triển. Người Việt đã rút ra được nhiều bài học, trong đó có bài học chiến thắng quân xâm lược Tần lớn mạnh và bài học mất nước thời An Dương Vương.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ hơn 10 năm của nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đã ghi vào lịch sử trang mở đầu của truyền thống quân sự Việt Nam. Thành Cổ Loa và các vũ khí bảo vệ thành như nỏ liên châu là những sáng chế lớn về kỹ thuật quân sự, thể hiện tư duy quân sự độc đáo của nhân dân Âu Lạc.

1. 2. Giai đoạn đấu tranh chống Bắc thuộc, giải phóng dân tộc (Từ thế kỷ II Tr. CN đến thế kỷ X).

Thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu đã dẫn đến một thảm hoạ lớn: nước ta bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ và Đường đô hộ. Thời Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm với âm mưu đồng hoá thâm độc  của ngoại bang là một thử thách hết sức nghiêm trọng đối với  sự mất còn của dân tộc ta.

Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn này chứng tỏ, từ rất sớm người Việt đã có ý thức dân tộc ý chí quật cường và tinh thần bền bỉ đấu tranh bảo vệ giống nòi tổ tiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá lâu đời quyết tâm giành lại tự do, độc lập.
 
Tinh thần và ý chí đó được biểu hiện qua bao cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ách đô hộ, chống sự đồng hoá tàn bạo, thâm hiểm của phong kiến phương Bắc. Hai Bà Trưng, Bà Triệu tiêu biểu cho khí phách dân tộc, cho ý chí quật cường, quyết tâm “giành lại giang san, cởi ách nô lệ”.
 
Khởi nghĩa Lý Bí thành công dẫn đến sự thành lập Nhà nước Vạn Xuân, kháng chiến chống Lương (545-550), chống Tuỳ (602) cùng với các cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ nhà Đường như khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (722), của Phùng Hưng (766-791), của Dương Thanh (819-820) và cuộc nổi dậy khôi phục chính quyền tự chủ của Khúc Thừa Dụ (905) là những sự kiện lịch sử quân sự tiêu biểu trong quá trình chống Bắc thuộc và chống đổng hoá của nhân dân ta.

Hai cuộc kháng chiến chống Nam Hán các năm 931 và 938 do Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền lãnh đạo đã khẳng định quyết tâm giành và giữ độc lập tự do của cả dân tộc. Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đánh tan giặc Nam Hán (938) là cột mốc lớn kết thúc giai đoạn mất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới của lịch sử quân sự Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự chủ từ thế kỷ thứ X.

1.3. Giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV).

Nước Đại Việt độc lập đang vươn lên xây dựng một quốc gia văn minh, thịnh vượng, thì ở phương Bắc xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược lớn mạnh và nạn ngoại xâm vẫn không ngừng đe doạ. Nhân dân ta lại phải tiếp tục sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn luôn gắn bó khăng khít trong lịch sử Việt Nam.  Năm thế kỷ phục hưng đất nước cũng là một giai đoạn huy hoàng của lịch sử dân tộc ta với bao thành tựu rạng rỡ của nền văn hoá Thăng Long và nhiều võ công hiển hách trong sự nghiệp giữ nước.

Chiến công của Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên “loạn 12 sứ quân” thống nhất giang sơn cùng với chiến thắng trong kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn lãnh đạo (981), khẳng định chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho đất nước bước vào kỷ nguyên văn minh Đại Việt dưới các vương triều Lý 1010-1225), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407) và Lê SƠ 1428-1527).

Giai đoạn này khẳng định sự phát triển của binh chế và kế sách giữ nước tiến bộ của Nhà nước Đại Việt.  Một tổ chức quân sự với nhiều thứ quân ra đời bao gồm cấm quân (quân triều đình), quân các đạo, lộ (quân địa phương) và dân binh, hương binh các làng bản. Lịch sử kỹ thuật quân sự giai đoạn này có bước phát triển mới, từ bạch khí chuyển sang hoả khí. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự đã đạt đến một đỉnh cao chói lọi, thể hiện trí tuệ, tài năng quân sự của dân tộc ta.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý và bài thơ Nam quốc sơn hà - tuyên ngôn độc lập đầu tiên nổi tiếng, chứng tỏ sự phát triển của tinh thần yêu nước, cũng như hành động và nhận thức về chủ quyền của dân tộc ta. Ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi cùng với những bộ Binh thơ, Hịch tướng sĩ, Di chúc của Trần Quốc Tuấn phản ánh bước trưởng thành về tư tưởng, lý luận quân sự Việt Nam, của tư duy quân sự gắn nước với dân, dựa vào dân để tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước. Cuộc kháng chiến chống Minh thời Hồ đã để lại bài học sai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh. Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) nêu cao ngọn cờ đại nghĩa, phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính chất nhân dân sâu rộng.  Bình Ngô đại cáo vang động núi sông, thể hiện ước vọng của cả nước: “Mở nền muôn thuở thái bình”. Lịch sử quân sự dân ..tộc thế kỷ X - XV để lại những bài học lớn về tổ chức, xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh nhân dân chống xâm lược, về kế sách và nghệ thuật đánh giặc giữ nước... Kỷ nguyên Đại Việt thật đáng tự hào với bao thành tựu trên cả hai Linh vực xây dựng và bảo vệ đất nước, rực rỡ văn trị, chói lọi võ công.

 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:34:52 PM

1.4.  Giai đoạn nội chiến, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh giữ nước từ đầu thứ kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX.
 
Từ thế kỷ XVI, trong khi nhiều nước châu âu chuyển sang giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, thì ở Đại Việt, Nhà nước phong kiến đang bước sang giai đoạn khủng hoảng và trở thành lựe cản của sự phát triển xã hội. Nước ta đắ chìm trong một thời kỳ dài hơn hai thế kỷ bị chia cắt và nội chiến với chiến tranh Lê - Mạc 1543-1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627-1672). Lịch sử quân sự Việt Nam thời kỳ này tiếp tục phát triển với sự hoàn thiện của các tổ chức quân sự, trang bị vũ khí kỹ thuật, tư tưởng - lý luận mới trong điều kiện hoả khí phát triển; đặc biệt nổi bật là hoạt động chiến tranh giữa các phe phái phong kiến và những cuộc khởi nghĩa nông dân chống áp bức.

Mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn đến sự bùng nổ cao trào khởi nghĩa nông dân và đưa đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn. Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào Tây Sơn phát triển thành một phong trào dân tộc rộng lớn, xoá bỏ tình trạng chia cắt đất nước, bước đầu lập lại nền thống nhất quốc gia và thực hiện ..  thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Xiêm (1784 - 1785) và chống Thanh 1788-1789). Quang Trung - Nguyễn Huệ, một thủ linh áo vải của phong trào nông dân trở thành anh hùng dân tộc với tài năng chính trị - quân sự kiệt xuất. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoả khí, nghệ thuật tập trung binh lực, hiệp đồng giữa các loại quân với cách định thần tốc, táo bạo trên nhiều mũi, nhiều hướng đã phát huy được hiệu quả chiến đấu rất cao.

Sau khi Quang Trung mất (1792), triều đại Tây Sơn suy yếu và bị Nguyễn Ánh đánh bại. Triều Nguyễn thành lập (1802), đóng đô ở Phú Xuân (Huê) với tên nước là Việt Nam.  Nhà Nguyễn tổ chức một quân đội lớn, đắp thành luỹ, đúc nhiều súng thần công, nhằm chống lại các cuộc khởi nghĩa nông dân và đề phòng sự xâm lược của ngoại bang. Nhưng trong bối cảnh thế giới thế kỷ XIX, triều Nguyễn là một vương triều quân chủ chuyên chế bảo thủ, không có khả năng đưa đất nước tiến kịp trào lưu tiến hoá của thời đại mới, làm cho thế nước suy yếu. Vì vậy, từ giữa thế kỷ XIX, Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược.

1.5. Giai đoạn gần 100 năm chống sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp (từ 1858 đền Cách mạng Tháng Tám 1945).

Bước sang thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây, trong đó có Pháp đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và ráo riết tìm kiếm thị trường, tiến hành chiến tranh xâm lược ở Đông Nam á và châu á. Đối tượng cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta từ đây không phải là một quốc gia phong kiến phương Đông nữa mà là một cường quốc tư bản phương  Tây đi trước ta một phương thức sản xuất, có nền kinh tế  phát triển, có quân đội mạnh với vũ khí trang bị hiện đại.
 
Lịch sử quân sự Việt Nam bước sang giai đoạn chống thực dân Pháp xâm lược. Hoạt động quân sự của dân tộc trong giai đoạn này chủ yếu là đấu tranh vũ trang của quân và dân cả nước chống lại ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập tự do. Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của  một số vị vua có tinh thần yêu nước thuộc triều đình nhà Nguyễn, của các sĩ phu hoặc những nhà yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; là hoạt động vũ trang cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vận động tiến tới Cách mạng tháng Tám 1945. Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước đã trở về Tổ quốc, trở thành lãnh tụ của Đảng và của cả dân tộc. Trong giai đoạn này, lực lượng vũ trang cách mạng ra đời, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh xuất hiện và trở thành ngọn đuốc soi đường cho các hoạt động vũ trang cách mạng ở Việt Nam.

Sự xuất hiện Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo là nhân tố cơ bản, tất yếu, quyết định những thắng lợi oanh liệt và các bước nhảy vọt lớn trong lịch sử nói chung và lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng. Đảng kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống yêu nước kiên cường, bất khuất của dân tộc, đưa sự nghiệp giải phóng đất nước từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng trong vòng 15 năm (1930-1945), cách mạng Việt Nam trải qua cao trào (1930-1931), cao trào dân chủ (1936-l939) cao trào cứu nước trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai (l939-1945) dẫn tới thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám 1945.
 
Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Bà Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là thành tựu tuyệt vời của ý chí, tinh thần, trí tuệ con người và văn hoá cứu nước, giữ nước Việt Nam. Tinh thần và trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, được nâng lên một tầm cao mới. Nó kết tinh truyền thống quân sự của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm chống phong kiến bành trướng xâm lược phương Bắc và gần một thế kỷ đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Lịch sử quân sự Việt Nam  chuyển sang một giai đoạn phát triển mới: giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ nhà nước và chế độ mới ở Việt Nam.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:39:52 PM

1.6. Giai đoạn 30 năm đấu tranh cách mạng, gồm hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, một lần nữa phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.  Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời đã đứng trước một thử thách khắc nghiệt như “ngàn cân treo sợi tóc” . Lợi dụng nước ta đang chồng chất khó khăn, bè lũ đế quốc “định hãm ta trong thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc”. Nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược tài tình, khéo lợi dụng mâu thuẫn của kẻ địch, tranh thủ hoà hoãn với Pháp để đẩy gần 20 vạn quân Tưởng về nước, chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp. Đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Từ 1945 đến 1954, quân dân cả nước đã tiến hành một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, giành được những thắng lợi rực rỡ, làm thất bại nhiều kế hoạch chiến lược của thực dân Pháp. Lịch sử quân sự dân tộc phát triển lên tầm cao mới, ghi thêm nhiều chiến công lớn. Tiêu biểu là chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, chiến thắng Biên Giới (1950), chiến thắng Hoà Bình, Tây Bắc (1952) và cuối cùng là chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Chiến công này là mốc vàng lịch sử đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, dẫn đến ký Hiệp định Giơnevơ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam và quy định sau 2 năm, tiến tới hoà bình thống nhất Bắc - Nam. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chứng tỏ sức mạnh của một quân đội kiểu mới, thể hiện một đường lól quân sự và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo của Đảng ta.

Nhưng đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, dựng lên chính quyền tay sai và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mỹ, nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn làn sóng cách mạng thế giới, dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam anh hùng với đế quốc Mỹ - kẻ hiếu chiến lớn mạnh và tàn bạo nhất thời đại.

Nhân dân miền Nam đã anh dũng đứng lên. Cả nước cùng đánh Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.  Miền Nam là tiền tuyến lớn; miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là căn cứ địa, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Quân và dân Việt Nam anh hùng đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược trải qua năm đời tổng thống Mỹ nối tiếp nhau, làm thất bại bốn chiến lược chiến tranh xâm lược với quy mô ngày càng lớn, với tính chất ác liệt, dã man của chúng. Đòn tiến công chiến lược Mậu Thân 1968, thắng lợi của cuộc tiến công năm 1972, cùng với chiến công xuất sắc của quân dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri, rút quân về nước. Đại thắng mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.  Quân và dân cả nước thực hiện trọn vẹn quyết tâm chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó “mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm cỡ quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”1.  Đây là giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử quân sự Việt Nam, giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; nâng tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tí. 5, 6. 



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:44:10 PM
1.7. Giai đoạn đánh thắng chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc và phía Tây - Nam, xây dựng quốc phòng và  bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (từ sau năm 1975).

Nước Việt Nam vừa độc lập, thống nhất, đang bước vào công cuộc xây dựng trong hoà bình thì các thế lực thù địch mưu toan phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta, dùng hành động tiến công xâm lược, gây nên nhiều tội ác man rợ từ hai đầu biên giới phía Tây - Nam và phía Bắc Tổ cuốc Quân, dân ta buộc phải tiếp tục cầm súng bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Trong giai đoạn đất nước đổi mới, các lực lượng vũ trang của ta được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, phù hợp với tình hình mới và thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc phòng bảo vệ nền độc lập, tự do và chủ quyền đất nước Việt Nam .

Dân tộc ta đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, khi thành công khi thất bại, nhưng lịch sử quân sự nước ta là một quá trình phát triển liên tục, khi hoà bình thì xây dựng tiềm lực, hễ giặc đến là toàn dân, cả nước một lòng đứng lên chiến đấu và chiến thắng. Nhân dân ta đã vượt qua mọi gian nan thử thách, đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử quân sự luôn luôn là nội dung nổi bật của lịch sử Việt Nam. Tất cả những hoạt động quân sự, trong đó nổi bật là chiến tranh và khởi nghĩa vũ trang yêu nước chống ngoại xâm nói trên đã tô đậm và làm rạng rỡ truyền thống quân sự Việt Nam. Đó là những cuộc chiến đấu chính nghĩa, anh dũng và tài giỏi của một dân tộc nhỏ chống lại sự xâm lăng của những thế lực xâm lược to lớn quân đông và giầu mạnh. Lịch sử quân sự Việt Nam để lại những trang oanh liệt, hào hùng - hếch sử anh hùng của một dân tộc anh hùng.

2. Mấy đặc điểm của lịch sử quân sự Việt Nam:

2. 1. Trong tiên trình lịch sử, nạn ngoại xâm là mối đe doạ thường xuyên và nguy hiểm nhất đối với sự sông còn của dân tộc, vì thê, khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm đã diễn ra hầu như liên tục, dựng nước gắn liền với giừ nước là mối quan hệ mang tính quy luật chi phổi quá trình lịch sử quân sự của đất nước ta.

Ngay từ cuối thời Hùng Vương, người Việt đã phải chiến đấu chống ngoại xâm và luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc. Gần như ở triều đại nào, thời đại nào nhân dân ta cũng phải cầm vũ khí đánh giặc giữ nước. Kể từ thế kỷ thứ III Tí.CN đến thế kỷ XX, trong khoảng hơn 22 thế kỷ với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang đã  chiếm tới 12 thế kỷ.

Hoạ mất nước có khi kéo dài mấy chục, mấy trăm, thậm chí tới nghìn năm; có những thế kỷ nhân dân ta phải nhiều lần đứng lên đánh giặc. Điều đáng lưu ý ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện và số lượng các cuộc kháng chiến giữ nước, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng ở Việt Nam quá lớn so với nhiều nước khác trên thế giới. Chiến đấu chống ngoại xâm vừa là thử thách gay go, ác liệt nhất, vừa thể hiện ý chí quật cường, là niềm tự hào lớn nhất của nhân dân ta.
 
Tất nhiên, chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của lịch sử Việt Nam. Trên trái đất này, có quốc gi nào, dân tộc nào mà trong lịch sử sinh tồn và phát triển của mình lại không có một đôi lần phải chiến đấu để tự vệ? ...  Nhưng điều chắc chắn là trong lịch sử nhân loại, hiếm có một  dân tộc nào mà quá trình đấu tranh giữ nước lại liên tục, lâu dài và oanh liệt như dân tộc Việt Nam.
 
Do điều kiện đặc biệt về vị trí chiến lược và hoàn cảnh  lịch sử của đất nước, quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc ta chịu sự chi phối thường xuyên của quy luật dựng nước gắn liền với giữ nước, nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc luôn gắn liền với nhiệm vụ chống lại âm mưu thôn tính và hành động xâm lăng độc ác của kẻ thù bên ngoài. Trong lịch sử, ông cha ta vừa phải chăm lo phát triển kinh tế và mở mang văn hoá, vừa phải luôn củng cố quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với hoạ xâm lăng.
 
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống (1075-l077), vua Lý Nhân Tông đã căn dặn con cháu: “cần phải sửa sang giáo mác để đề phòng việc bất ngờ”. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285), Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đã làm thơ rằng: “Thái bình tu trí lực, vạn cổ thử giang san” (thái bình nên gắng sức, non nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ sau khi bình Ngô, xây dựng đất nước thịnh vượng, vẫn lo nghĩ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” (biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài) và không quên di chúc cho con cháu đời sau phải “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Vua Lê Thánh Tông cho rằng: “Phàm có nhà nước tất có võ bị” và luôn nhắc nhở các quần thần, tướng lĩnh phải bảo vệ từng thước núi tấc sông của vua Thái Tổ đã để lại.

Từ những nhận thức đó, nhiều vị vua sáng tôi hiền, giỏi việc nước luôn luôn có những chủ trương lớn nhằm kết hợp dựng nước và giữ nước. Quốc sách “Ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông), xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn dưới thời Lý, Trần và Lê Sơ là một phương thức xây dựng lực lượng vũ trang thích hợp, liên kết hài hoà giữa “việc binh” và “việc nông”, giữa kinh tế và quân sự.

Dựng nước và giữ nước, hai nhiệm vụ khác nhau nhưng liên quan chặt chẽ; là tiền đề, đồng thời là điều kiện của nhau. Dựng nước đi đôi với giữ nước; dựng nước để giữ nước và ngược lại. Đó là tư tưởng biểu thị nhận thức của người Việt Nam từ xưa đến nay về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó được biểu hiện rõ nét trong diễn trình lịch sử dân tộc Việt Nam và đã chi phối quá trình vận động, phát triển của lịch sử quân sự dân tộc ta.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:47:34 PM


2.2. Trong phần lớn các cuộc chiến tranh, kẻ thù dân tộc ta là những thế lực xâm lược to lớn, giầu mạnh, có quân đông  gấp nhiều lần quân ta; vì thế, dân tộc ta luôn phải “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”.

Các đối tượng xâm lược mà dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu chủ yếu là những triều đại phong kiến lớn mạnh ở phương Bắc và bọn đế quốc tư bản phương Tây. Dưới thời cổ - trung đại, đó là những thế lực xâm lược có cùng một trình độ phương thức sản xuất, điều kiện vật chất và khoa học kỹ thuật quân sự không hơn kém nhau nhiều, nhưng là những nước lớn, có tiềm lực kinh tế hơn ta, có quân đội đông và thiện chiến.
 
Dưới thời cận - hiện đại, dân tộc ta phải chống lại những đế quốc giàu mạnh, với phương thức sản xuất tư bản hiện đại, có tiềm lực về mọi mặt, phương tiện vật chất, kỹ thuật quân sự tiên tiến.
 
Trải qua các thời đại, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành biết bao cuộc chiến tranh lớn, vì độc lập tự do. Hoàn cảnh lịch sử của mỗi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh có khác, nhưng điểm chung xuyên suốt trong cả dọc dài lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến thời hiện đại là: với một nước nhỏ, dân không đông, quân không nhiều mà Việt Nam thường xuyên phải đương đầu, chống lại các thế lực xâm lược có đất nước rộng lớn, dân số nhiều, quân đội thường trực đông và giầu mạnh, đã từng chinh phục nhiều quốc gia lại ở sát biên giới phía Bắc hoặc là những đế quốc tư bản phương Tây có tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh.

Dân tộc ta phải chống ngoại xâm trong điều kiện so sánh lực lượng quá chênh lệch. Nước đi xâm lược ngoại trừ vài ba trường hợp là những quốc gia không lớn lắm, so sánh về đất đai, dân số và tiềm lực các mặt không hơn kém nhiều như Nam Việt, (Nam Hán và Xiêm), còn lại là những đế chế giầu mạnh ở phương Đông hay những cường quốc đế quốc tư bản chủ nghĩa ở phương Tây.

Đế chế Tần cuối thế kỷ III Tr.CN huy động 50 vạn quân chinh phục các dân tộc Bách Việt, trong đó có một bộ phận lớn tiến vào Văn Lang. Bấy giờ, dân số nước ta chưa đầy một triệu người. Nhà Tống trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai (1075-1077) đã huy động hơn 30 vạn quân các loại; khi ấy dân số nước Đại Việt có khoảng 4 triệu và quân thường trực có khoảng 5-7 vạn người. Đế chế Nguyên - Mông thế kỷ XIII là một đế quốc giầu mạnh, rộng lớn, đã từng chinh phục khắp các lục địa âu - á. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược nước ta các năm 1285 và 1288, nhà Nguyên đã huy động tất cả trên một triệu lượt quân: cuộc xâm lược năm 1285 có 60 vạn, cuộc xâm lược năm 1288 có trên 50 vạn quân. Lúc đó, nhà Nguyên đã thống trị toàn Trung Quốc, có quân đông tướng mạnh; còn nước Đại Việt có khoảng 5 - 6 triệu dân và quân thường trực của vương triều Trần lúc huy động cao nhất chỉ có khoảng 30 vạn. Cuối thế kỷ XVIII, nhà Thanh đã sử dụng 29 vạn quân tiến công chiếm đóng Thăng Long, còn quân đội Nguyễn Huệ có chừng 10 vạn.

Trước Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ đôi tròng”, vừa phải chống thực dân Pháp vừa phải chống phát xít Nhật - những thế lực xâm lược lớn mạnh và hiếu chiến. Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ (1954-1975), nước Việt Nam còn nghèo, kinh tế còn lạc hậu mà phải chống lại hai đế quốc to, có tiềm lực kinh tế mạnh, có quân đội đông được trang bị đủ loại vũ khí tối tân hiện đại bậc nhất.

Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách chưa từng có của dân tộc Việt Nam. Chưa bao giờ quân và dân ta phải chống lại một đạo quân viễn chinh được huy động đông và trang bị hiện đại đến như vậy. Đó là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc điển hình, lâu dài, chống lại thế lực xâm lược lớn mạnh gấp bội lần. Lúc cao nhất đế quốc Mỹ đã huy động trên 60 vạn quân Mỹ và chư hầu, cùng với hàng triệu lính nguỵ được Mỹ tổ chức và trang bị hiện đại. Đây là thời điểm xuất hiện đội quân xâm lược đông nhất, trang bị hiện đại nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Mặt khác, hầu hết các cuộc chiến tranh xưa nay, quân thù còn có khả năng huy động những đạo viện binh lớn và chi viện các mặt cho chiến trường.

Vì thế, trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam thường phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.  Trong hoàn cảnh đó, muốn chiến thắng quân thù lớn mạnh, Việt Nam phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước, đánh giặc trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao. Đối với dân tộc Việt Nam xưa nay, lực lượng đánh giặc không chỉ là lực lượng quân sự mà còn là lực lượng chính trị, kinh tế và văn hoá. Chế độ chính trị, nền kinh tế, văn hoá và con người Việt Nam luôn luôn là những cơ sở của sức mạnh giữ nước. Sức mạnh đó không chỉ là của riêng nhà nước (triều đình) mà còn là sức mạnh của cả dân tộc được huy động từ mỗi địa phương, mỗi làng xã, động bản và mỗi gia đình ở khắp mọi nẻo miền đất nước (quốc gia tính lực), là sức mạnh truyền thống cả nước đánh giặc (cử quốc nghênh địch) .



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 10:54:43 PM
2.3. Dựa vào dân, xây dựng lực lượng vũ trang từ nhân dân, thực hiện chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự toàn dân, cả nước đánh giặc, là phương thức thích hợp nhất, là bài học thành công trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam .

Sức mạnh to lớn cho phép một nước nhỏ đánh thắng một kẻ thù lớn mạnh là sức mạnh của cả dân tộc đứng lên bảo vệ và giải phóng Tổ quốc. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành công từ thới xa xưa đến thời hiện đại của dân tộc ta đều là chiến tranh nhân dân, với nền nghệ thuật quân sự tiêu biểu, nghệ thuật toàn dân đánh giặc, kết hợp sức mạnh chiến đấu của quân chủ lực với sự tham gia đông đảo của các tặng lớp nhân dân, của toàn dân, của cả nước.

Trong lịch sử quân sự Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông (thế kỷ XIII), chiến tranh giải phóng chống Minh (thế kỷ XV), kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (thế kỷ XX) là những cuộc chiến tranh mang tính nhân dân sâu sắc nhất. Trần Quốc Tuấn và các vua Trần, Lê Lợi và Nguyễn Trãi cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thời hiện đại luôn có tư tưởng quân sự dựa vào dân, xây dựng lực lượng từ dân chúng và tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược, tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.  Chính sách “Ngụ binh ư nông” được vận dụng trong suốt thời Lý, Trần và Lê Sơ là phương thức xây dựng lực lượng vũ trang nằm trong nhân dân, gắn liền với sản xuất, là một chính sách đúng đắn nhằm kết hợp kinh tế với quốc phòng, vừa bảo đảm tập trung lao động nông nghiệp, vừa duy trì lực lượng quân đội cần thiết trong thời bình và có thể huy động tối đa trai tráng, nhân lực khi có chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” đã giúp nhà nước đảm bảo cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị. Khi hoà bình vẫn đủ sức canh phòng, thời chiến huy động được đông đảo quân đội, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân là lính.

Lực lượng vũ trang, trong đó có quân đội bao giờ cũng giữ vai trò nòng cốt của sức mạnh giữ nước. Trong lịch sử, lực lượng đó bao gồm quân triều đình, quân các lộ, trấn và hương binh, dân binh các bản làng; trong thời hiện đại, đó là lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Quân chủ lực của triều đình, của Nhà nước là lực lượng trụ cột, có số lượng hợp lý và tinh nhuệ, được xây dựng theo hướng chính quy với phương thức: “quân cần tinh không cần nhiều”. Đó là cơ cấu tổ chức quân sự truyền thống của dân tộc ta, đó là lực lượng vũ trang của nền quốc phòng toàn dân, của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tất nhiên, khi tiến hành chiến tranh, ông cha ta trước kia cũng như Đảng và Nhà nước ta ngày nay đều không chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, vào quân đội mà còn dựa vào lực lượng nhân dân, cả nước đánh giặc. Những nhà lãnh đạo đất nước tài giỏi đều nhận thức được vai trò của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhân dân được coi là cơ sở để tiến hành các cuộc chiến tranh giữ nước. Chính vì lẽ đó mà Trần Quốc Tuấn đã đề nghị vua Trần Nhân Tông ngay sau khi chiến thắng quân Nguyên - Mông chưa vội xây thành Thăng Long nguy nga đồ sộ, mà việc cần kíp trước hết phải làm là giảm thuế cho dân, nhất là ở những nơi có chiến tranh tàn phá; thực hiện “chúng chí thành thành”, xây dựng bức thành kiên cố bằng ý chí của nhân dân và ông đã tổng kết kinh nghiệm các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc rằng:

“ Đến đời Đinh - Lê dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đó là một thì... Mới rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, vì vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”1.  Nguyễn Trái coi dân như nước, nước có thể chở thuyền và nước cũng có thể lật thuyền, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” (lật thuyền mới hay sức dân như nước). Ông khuyên vua Lê “nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận, sầu than”. Từ quan điểm: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” mà trong cuộc chiến tranh giải phóng, Lê Lợi và Nguyễn Trái đã có một đội nghĩa binh đông tới 35 vạn, phần lớn là “manh lệ bốn phương tụ hội”; và nghĩa quân Lam Sơn đi đến đâu thì “chật đất người theo, đầy đường rượu bày, dân chúng kéo đến như đi chợ”, “họ nguyện đồng lòng hợp sức, liều chết vây thành diệt giặc”2.
 
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Mình và Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ, tập hợp hết thảy mọi người dân yêu nước trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc, đấu tranh vì tự do độc lập. Tổ quốc trên hết! Dân tộc trên hết! Triệu người Việt Nam như một, dưới ngọn cờ đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sẵn sàng hy sinh tất cả tính mạng và của cải để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Trong kháng chiến chống Pháp nhân dân cả nước nhất tề vùng dậy chống xâm lăng, thực hiện lợi kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”3.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu hy sinh vì một chân lý vĩnh hằng: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ của Đảng, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng Việt Nam đã được phát huy và nâng lên gấp bội. Cả miền Bắc và miền Nam, cả hậu phương và tiền tuyến, cả nước đánh giặc. Biết bao bà mẹ Việt Nam anh hùng đã tiễn đưa người con cuối cùng của mình ra mặt trận để cứu nước, cứu nhà. Hàng triệu thanh mền nam nữ đã lớp lớp “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Hậu phương tuôn người, tuôn của ra tiền tuyến. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống. Tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết chặt người Việt Nam thành một khối vững chắc để “nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Dựa vào dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc trở thành phương thức thích hợp, là chìa khoá thắng lợi trong chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên, trong lịch sử dân tộc ta cũng có đôi ba lần phải chịu thất bại cay đắng khi tiến hành chiến tranh tự vệ, như dưới thời An Dương Vương (thế kỷ II Tr.CN), thời Hồ (đầu thế kỷ XV) và thời Nguyễn (cuối thế kỷ XIX). Một bài học lớn rút ra từ ba lần mất nước nói trên là các vương triều đó đã không có một đường lối chính trị - quân sự đúng đắn để động viên, đoàn kết nhân dân cả nước cùng đừng lên đánh giặc giữ nước.


1. Đại Việt sử ký toàn thơ, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 79.
2. Nguyễn Trái: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976,  tr. 58, 59.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,T.4, Tr.480.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:04:17 PM
2.4. Dân tộc Việt Nam chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm bằng ý chí và lòng yêu nước, bằng trí thông minh, tài thao lược, nhân nghĩa và văn hoá Việt Nam.
 
Từ thế hệ này đến thế hệ khác, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã tôi luyện truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường của nhân dân ta. Trước hoạ xâm lăng, thái độ nhất quán của toàn dân, của cả nước là quyết đứng lên chiến đấu “quét sạch nó đi”. Lời tuyên bố của Trần Thủ Độ vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (1258); những tiếng hô “quyết đánh” của các bô lão vang lên trong Hội nghị Diên Hồng (1284); tinh thần quyết chiến của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi đi đã”; gương chiến đấu “sát Thát” của Lê Tần, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toàn và các binh sĩ trong kháng chiến chống Nguyên - Mông; gương lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Phan Đình Giót, đem thân mình chèn pháo của Tô Vĩnh Diện trong kháng chiến chống Pháp; khí phách hiên ngang của Nguyễn Văn Trỗi và tiếng hô “nhằm thẳng quân thù mà bắn” của Nguyễn Viết Xuân trong kháng chiến chống Mỹ,... là những biểu tượng sáng ngời chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.  Đó chính là tinh thần xả thân vì nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc giống nòi. Dù cho cuộc chiến đấu gay go, phức tạp, thậm chí có lúc thất bại tạm thời, dù cho phải chịu đựng nhiều gian khổ hy sinh, nhưng lòng yêu nước và chí căm thù giặc vẫn rực cháy.

Lịch sử đã hun đúc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và trở thành truyền thống lâu dài, bất tử. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc, là tư tưởng, tình cảm thiêng liêng nhất của nhân dân ta. Yêu nước là đá thử vàng, là chuẩn mực giá trị cao nhất của con người, biểu hiện tập trung tinh thần làm chủ rất cao của nhân dân Việt Nam đối với Tổ quốc, quê hương, đối với nền văn hoá lâu đời của cộng đồng, là chủ nghĩa anh hùng, tinh thần bất khuất trong đấu tranh vì sự sống còn của dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã sớm trở thành lẽ sống thiêng liêng của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 1.

Trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và rất hào hùng của mình, dân tộc ta chẳng những đã thắng địch bằng lực lượng vật chất, bằng tinh thần và ý chí chiến đấu kiên cường, bằng nghị lực vượt khó khăn thử thách phi thường mà còn thắng địch bằng cả trí tuệ và tài thao lược Việt Nam. Trong dựng nước và giữ nước, Việt Nam tỏ rõ là một dân tộc giàu tài năng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo. Tài dụng binh, mưu cao, mẹo giỏi, biết địch, biết ta biểu hiện phong phú trong quá trình đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng giặc là nội dung bao quát của nghệ thuật quân sự Việt Nam, một nền nghệ thuật truyền thống lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh xưa nay.

Một trường phái nghệ thuật quân sự tiên tiến của dân tộc ta ra đời và phát triển theo yêu cầu ngày càng cao của công cuộc giữ nước. Các nhà quân sự đã tổng kết thành những phương châm lớn, những tư tưởng, lý luận quân sự tiến bộ: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của chúng” (tiên phát chế nhân - Lý Thường Kiệt); “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “dĩ đoản binh chế trường trận” (Trần Quốc Tuấn); “Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” (Nguyễn Trãi); thần tốc táo bạo “đánh cho giặc không còn một chiếc xe, một mảnh giáp quay về; đánh cho chúng biết rằng nước Nam anh hùng là có chủ” (Nguyễn Huệ); “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, “kiên quyết không ngừng thế tiến công”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” (Hồ Chí Minh), v.v..

Tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự dân tộc ta mang sắc thái độc đáo Việt Nam. Những di sản quý giá đó tiêu biểu cho tài thao lược kiệt xuất, cho trí tuệ và tài ba của ông cha, nó từng bước được kế thừa và nâng cao trong tiến trình lịch sử. Thắng lợi trong chiến tranh chống ngoại xâm là thắng lợi của sức mạnh con người mà trước hết là của trí tuệ, tinh thần và văn hoá Việt Nam.

Trong lịch sử quân sự dân tộc có những đỉnh cao trí tuệ tiêu biểu. Đó là thời Lý - Trần với các tài năng quân sự lớn như Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn, thể hiện trong kế  sách giữ nước, trong cuộc phạt Tống thắng lợi (thế kỷ XI) và ba lần đại phá Nguyên - Mông (thế kỷ XIII); đó là trí tuệ trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV mà tiêu biểu là thiên tài quân sự Lê Lợi và Nguyễn Trãi; đó là tài thao lược của dân tộc hồi cuối thế kỷ XVIII mà người đại diện là anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ, với nghệ thuật dụng binh đặc sắc, tài giỏi, mưu trí, với cách đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ và mãnh liệt; đó là đỉnh cao trí tuệ Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh trong cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm, đánh thắng chiến tranh xâm lược của cả chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới của Pháp và Mỹ.


1. Hồ Chí MinhToàn tập, Sđd, T.6, tr.171.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:09:11 PM
Tinh thẩn cùng trí tuệ Việt Nam, ý chí chiến đấu ngoan cường kết hợp với tài thao lược kiệt xuất càng làm tăng thêm sức mạnh giữ nước, là cơ sở để dân tộc ta lập nên những chiến công vang dội. Bạch Đằng, Như Nguyệt, Đông Bộ Đầu, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa, Điện Biên Phủ, Xuân Mậu Thân, Chiến dịch Hồ Chí Minh, v.v. mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như những võ công hiển hách, tiêu biểu cho lòng yêu nước, ý chí quật cường vì độc lập tự do và trí tuệ tài năng đánh giặc cứu nước, để lại những tấm gương chói lọi và bài học sâu sắc cho muôn đời.

Trong quá trình chỉ đạo chiến lược, ở mỗi thời kỳ, mỗi cuộc chiến tranh đều mang những đặc trưng sắc thái Việt Nam và để lại những bài học lớn. Đối với các lân quốc, giới lãnh đạo quốc gia trong các giai đoạn lịch sử luôn cố gắng giừ mối hoà hiếu, thi hành nhiều biện pháp ngoại giao mềm mỏng để duy trì hoà bình, xây dựng đất nước. Khi có nguy cơ bị xâm lược, ông cha chúng ta đều cố sức tránh chiến tranh, hoặc tìm cách trì hoãn để chuẩn bị lực lượng. Phương châm xử thế là “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vì hoà bình và hữu nghị, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, khi kẻ thù đã đẩy dân tộc ta vào thế không còn con đường nào khác, để bảo vệ độc lập và chủ quyền thì chúng ta chấp nhận cuộc thử thách với tất cả quyết tâm, ý chí và nghị lực phi thường của mình.

Như một quy luật là trên cơ sở giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, dân tộc ta biết dùng những biện pháp chính trị, ngoại giao khôn ngoan, thích hợp để kết thúc chiến tranh. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thường kết thúc bằng những trận quyết chiến chiến lược và sau đó là những cuộc thương thuyết, đàm phán để chấm dứt chiến tranh và lập lại quan hệ bang giao giữa hai nước. Tư tưởng kết thúc chiến tranh mang tinh thần đại nghĩa đó được Nguyễn Trãi đúc kết rằng:

“Nghĩ về kế lâu dài của nước nhà
Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh
Sửa hoà hiếu cho hai nước 
Tắt muôn đời chiến tranh”
. . . 1
 
Đó là tư tưởng nhân văn - nhân nghĩa Việt Nam và cũng nhờ đó mà nhân dân ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn, bảo vệ vững chắc được độc lập tự do.


II. NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CỦA LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

1.  Nội dung nghiên cứu của lịch sử quân sự Việt Nam:

Nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam là nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của lĩnh vực hoạt động quân sự trong lịch sử dân tộc để tìm ra các quy luật phát triển của nó và những bài học thiết thực cho hiện tại và tương lai.  Lịch sử quân sự là một bộ phận của lịch sử xã hội, có mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực hoạt động khác. Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử quân sự cũng phải đặt trong mối liên hệ chung ấy.

Trong lịch sử Việt Nam, các hoạt động quân sự của dân tộc ta phát sinh, phát triển chủ yếu do nhu cầu chống ngoại xâm, gắn liền với sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Lịch sử quân sự dân tộc là một quá trình hầu như liên tục tiến hành các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước rất oanh liệt. Do đó, nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam cũng là nghiên cứu những hoạt động quân sự của dân tộc ta trong quá trình xây dựng lực lượng quốc phòng, chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của lịch sử quân sự Việt Nam là lịch sử khởi nghĩa và chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tổ chức quân sự, lịch sử tư tưởng quân sự và lịch sử kỹ thuật quân sự.

1. Nguyễn Trãi: Toàn tập, Nxb. khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tí. 73.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:14:29 PM


- Lịch sử khởi nghĩa và chiến tranh là lịch sử về nguồn gốc nẩy sinh, quá trình diễn biến và kết quả, ý nghĩa của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh trong lịch sử Việt Nam. Hiếm có một dân tộc nào trên hành tinh này có bề dày về lịch sử chiến tranh như dân tộc ta.

Ở việt Nam có nhiều loại hình chiến tranh; đó là khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh giữa các phe phái phong kiến, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh chinh phạt.

Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh chống ngoại xâm là nét nổi bật, tiêu biểu trong lịch sử chiến tranh ở nước ta. Chỉ tính sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III Tr.CN) đến cuộc chiến tranh chống xâm lược từ hai đầu biên giới (1979), dân tộc ta đã trải qua 20 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 1 cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Vào cuối các triều đại phong kiến đều có khởi nghĩa nông dân và nội chiến phong kiến. Đó là những cuộc nổi dậy của nông dân chống áp bức bóc lột, chống chính quyền phong kiến phản động.

Khởi nghĩa nông dân ở Việt Nam nổ ra nhiều và mạnh mẽ nhất vào cuối thế kỷ XVIII, dẫn đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn. Nội chiến phong kiến ở nước ta thực chất là những cuộc chiến tranh giành quyền lãnh đạo đất nước, do đó thường dẫn đến sự thành lập triều đại mới. Kết thúc “loạn 12 sứ quân” cuối đời Ngô đã dẫn đến thắng lợi của Đinh Tiên Hoàng và sự thành lập triều Đinh (969-979); nội chiến cuối triều Lý dẫn đến sự thành lập triều Trần ( 1226- 1400) . . .

Nội chiến ở nước ta diễn ra mạnh mẽ ở thế kỷ XVI và XVII, với hai cuộc chiến tranh lớn là chiến tranh Lê - Mạc 1543-1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn 1627-1672). Vì thế đất nước bị xẻ chia, bị phá vỡ cố kết cộng đồng trong suốt hai thế kỷ. Chiến tranh chinh phạt ở nước ta diễn ra dưới một số triều đại phong kiến như thời Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ và Nguyễn với một số tiểu vương quốc ở phía Nam hoặc Tây - Nam đất nước.

Mỗi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam diễn ra trong một điều kiện lịch sử nhất định; tính chất, loại hình và đặc điểm của nó rất đa dạng và phức tạp. Chiến tranh có khi thành công, có khi thất bại, nhưng nhìn chung phổ biến đều là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước, chính nghĩa của nhân dân ta; đều để lại những bài học mang tính truyền thống và quy luật nhận thức về mối quan hệ dựng nước và giữ nước, trong thế ứng xử với quân xâm lược và nước đi xâm lược.

Nghiên cứu lịch sử chiến tranh cũng là tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến và kết quả của cuộc chiến tranh trong những điều kiện lịch sử nhất định. ở đây, lịch sử quân sự nghiên cứu các nguyên nhân và điều kiện kinh tế, xã hội làm nẩy sinh các cuộc chiến tranh; nghiên cứu đặc điểm, tính chất và quan trọng nhất là tìm ra bản chất, quy luật các cuộc chiến tranh đó, xác định cụ thể giai cấp nào, lực lượng xã hội nào tham gia vào chiến tranh; làm sáng tỏ ý đồ xâm lược của kẻ xâm lược, các kế hoạch và phương thức tiến hành chiến tranh, tương quan lực lượng các bên, quá trình diễn biến các hoạt động quân sự, những chiến dịch, những trận đánh lớn; kết quả và ý nghĩa chính trị, quân sự các cuộc chiến tranh đó với lịch sử. . .

Vì chiến tranh là một hiện tượng xã hội, do đó nghiên cứu lịch sử chiến tranh không dừng lại ở việc khảo sát những yếu tố đơn thuần về quân sự, không cắt rời máy móc các hoạt động quân sự ra khỏi những mối liên hệ khăng khít với nền kinh tế - xã hội, với yếu tố chính trị, tư tưởng, văn hóa. Đối với khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, cần nắm vững và giải quyết mối liên hệ khăng khít giữa cách mạng và chiến tranh, chiến tranh và cách mạng. Có như thế mới khám phá được quy luật phát triển của các cuộc chiến tranh, mới tìm hiểu rõ được bản chất, cội nguồn của sức mạnh giữ nước, cũng như nguyên nhân thành bại trong các cuộc chiến tranh.

- Lịch sử nghệ thuật quân sự là lịch sử quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự trên cả ba lĩnh vực của đấu tranh vũ trang là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong từng cuộc chiến tranh, ở từng thời đại và trong suốt quá trình phát triển lịch sử.
 
Nghệ thuật quân sự xuất hiện đồng thời với chiến tranh, nghĩa là ở Việt Nam nghệ thuật quân sự bắt đầu hình thành từ cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên: cuộc kháng chiến công Tần (thế kỷ III Tr.CN). Việt Nam có một nền quân sự độc đáo, mang sắc thái riêng; đó là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Từ rất sớm, dân tộc Việt Nam đã biết đánh và biết thắng những kẻ thù lớn mạnh hơn mình. Tài thao lược, nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển qua các thời đại theo yêu cẩu của chiến tranh giữ nước và đạt đến đỉnh cao trong các cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ xâm lược.

1, Đó là các cuộc chiến tranh: Chống Tần (thế kỷ III Tr.CN), chống Triệu (thế kỷ II Tr.CN), chống Đông Hán (42-44), chống Lương (545-550), chống Tuỳ (602), hai lần chống Nam Hán (931 và 938), hai lần chống Tống (981 và l075-l077), ba lần chống Nguyên - Mông (1258, 1285 và 1288), chống Minh (1406-1407), chống Xiêm (1784-1785), chống Thanh (1788-1789), hai lần chống Pháp (1858-1884 và 1945-1954), chống Mỹ (1954-1975), chống chiến tranh xâm lược ở hai đầu biên giới phía Bắc và Tây-nam (1978-1979). 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:16:34 PM

Nghiên cứu lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghiên cứu từng trận chiến đấu lớn, từng chiến dịch, từng chiến lược quân sự cụ thể, để từ đó nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự trong từng cuộc chiến tranh, ở từng thời đại và trong cả tiến trình lịch sử quân sự của dân tộc.

Nghiên cứu lịch sử nghệ thuật quân sự 4 - LSQS VN tập 1 cũng cần làm sáng tỏ sự phụ thuộc của các phương thức và hình thức đấu tranh vũ trang vào trình độ sức sản xuất, kết cấu chính trị, kinh tế, xã hội vào điều kiện địa lý. Đặc biệt khi nghiên cứu lịch sử đấu tranh vũ trang của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cần nêu rõ những vấn đề về đường lối quân sự của Đảng - yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại trong đấu tranh vũ trang, các chiến dịch và những trận đánh lớn.  Lịch sử tổ chức quân sự là quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang, của quân đội (các quân chủng, binh chủng, đơn vị, nhà trường, cơ quan chỉ huy, ngành nghiệp vụ. . .) trong các thời đại và thời kỳ lịch sử khác nhau.

Ở Việt Nam, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang đã có tổ chức quân đội sơ khai. Tuy còn là những đội quân chưa được hoàn bị trên nhiều lĩnh vực, nhưng đến cuối thế kỷ III Tr. CN quân đội đó là lực lượng vũ trang nòng cốt trong kháng chiến chống quân Tần xâm lược. Sự phát triển của lực lượng vũ trang, của quân đội các triều đại, thời kỳ ở nước ta có những bước thăng trầm phụ thuộc vào quá trình phát triển của nhà nước, các triều đại.

Dưới thời trung đại, trong giai đoạn phục hưng đất nước, nhất là các triều Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ, quân đội được tổ chức chính quy, tinh nhuệ với quốc sách “Ngụ binh ư nông”, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng quân đội với nhiệm vụ phát triển kinh tế.

Quân đội Việt Nam thời hiện đại là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, chiến đấu vì nhân dân và được nhân dân tin yêu tặng cho danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là quân đội eáeh mạng mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.  Lực lượng vũ trang thời đại Hồ Chí Minh là lực lượng vũ trang nhân dân, với hệ thống tổ chức ba thứ quân, được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
 
Nghiên cứu lịch sử tổ chức quân sự là tìm ra những quy luật về tổ chức lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng của các nhà nước qua các thời kỳ lịch sử; tìm hiểu mối liên hệ giữa hình thức tổ chức lực lượng trực tiếp chiến đấu với tổ chức chỉ huy và bảo đảm chiến đấu; giữa các quân chủng, binh chủng; giữa nền kinh tế đất nước với khả năng tổ chức trang bị kỹ thuật quân sự; vạch ra vai trò của các thứ quân, những đặc điểm về cơ cấu tổ chức, hệ thống giáo dục, huấn luyện, tổ chức chỉ huy các cấp và những hoạt động của nó trong thời bình và thời chiến . . .

- Lịch sử tư tưởng quân sự là lịch sử hình thành và phát triển hệ thống quan điểm về quân sự và các vấn đề liên quan đến quân sự của các nhà quân sự, các giai cấp, chính đảng trong lịch sử. Tư tưởng quân sự Việt Nam hình thành trong quá trình đấu tranh chống sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, đặc biệt được phát triển phong phú từ khi Đảng Cộng sản ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thời trung đại, nước ta xuất hiện những tư tưởng quân sự nổi tiếng như tư tưởng quân sự Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trải, Lê Thánh Tông, Quang Trung - Nguyễn Huệ... Trong thời hiện đại, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là hạt nhân của tư tưởng và đường lối quân sự của Đảng ta, đỉnh cao phát triển của tư tưởng quân sự dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đó kết hợp nhuần nhuyễn việc kế thừa và hấp thụ tinh hoa quân sự của dân tộc và thế giới với việc vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng, học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lêmn vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đó là ngọn cờ bách chiến bách thắng của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới, là ánh sáng soi đường cho chúng ta trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng quân sự có nội dung rộng lớn, mang tính toàn : diện và tổng hợp cao. Nó không chỉ đề cập đến lĩnh vực quân sự mà gồm có mọi hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại có liên quan tới quân sự. Do đó, nghiên cứu lịch sử tư tưởng quân sự không chỉ giới hạn trong việc xem xét quá trình tổ chức, chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, mà còn phải có cái nhìn bao quát từ mục đích chính trị, an ninh - quốc phòng, đến an dân, trị quốc, giữ nước, cả trong thời chiến và trong thời bình. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng quân sự phải làm rõ nội dung, bản chất, đặc trưng của các quan điểm , học thuyết quân sự. . .

- Lịch sử kỹ thuật quân sự là lịch sử ra đời và phát triển kỹ thuật quân sự, bao gồm vũ khí, các phương tiện trang bị kỹ thuật của lực lượng vũ trang. Vũ khí, kỹ thuật quân sự Việt Nam ra đời sớm chủ yếu do nhu cầu đánh giặc giữ nước.  Nó trải qua một quá trình phát triển từ thô sơ đến hiện đại, từ bạch khí đến hoả khí. Vũ khí trong các cuộc chiến tranh nhân dân chủ yếu do nhân dân tự chế tạo, trang bị. Đối với vũ khí kỹ thuật quân sự thời hiện đại, trong 30 năm chống Pháp và chống Mỹ, một phần do quân đội ta tự chế tạo và trang bị, một phần lấy được của địch, phần quan trọng được các nước xã hội chủ nghĩa anh em chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc viện trợ những loại tương đối hiện đại và hiện đại.

Sự phát triển của kỹ thuật quân sự gắn liền với sự phát triển của trình độ sản xuất và trí tuệ con người. Nghiên cứu lịch sử kỹ thuật quân sự luôn luôn đặt trong mối quan hệ của nó với trình độ sản xuất xã hội, giữa con người và vũ khí, giữa kỹ thuật và chiến thuật, giữa cơ sở vật chất kỹ thuật với sự phát triển của nghệ thuật quân sự. . .

Trên đây là những nội dung cơ bản của lịch sử quân sự Việt Nam. Làm rõ những vấn đề đó trong tiến trình lịch sử dân tộc là nhiệm vụ của sử học quân sự nước ta. Các nội dung đó có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, nằm trong một thể thống nhất. Nghiên cứu Lịch sử quân sự Việt Nam qua các thời đại cũng nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản nói trên; qua đó tìm hiểu những quy luật hoạt động quân sự của dân tộc ta và rút ra những bài học thiết thực phục vụ hiện tại và tương lai.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:21:23 PM


2. Sử học quân sự nước ta và yêu cầu đặt ra dối với bộ Lịch sử quân sự Việt Nam

Việt Nam là một dân tộc có truyền thống và tư chất quân sự đặc biệt, đáng tự hào. Đó là một báu vật của tổ tiên, được hun đúc và lưu truyền qua bao thế hệ. Lịch sử quân sự Việt Nam để lại nhiều bài học quý giá, “là kho báu được đổi bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ của biết bao thế hệ người Việt Nam ta để lại cho đời sau”. Vì thế, từ trước đến nay giới sử học trong nước cũng như ngoài nước rất quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học được công bố. Vì lịch sử quân sự là một nội dung quan trọng, nổi bật trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc nên hầu hết các ấn phẩm lịch sử lớn khi viết về lịch sử Việt Nam đều có đề cập đến truyền thống quân sự, đến các sự kiện và tiến trình hoạt động quân sự.

Các sử gia phong kiến Việt Nam, với lòng tự hào dân tộc sâu sắc đã viết nên những tác phẩm về lịch sử dân tộc có đề cập đến từng mặt của lịch sử quân sự trong các triều đại.  Rất tiếc trải qua các cuộc binh lừa hiểm nguy, nhiều bộ sử quý đã bị thất truyền. Những công trình lịch sử lớn còn lại như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn cùng với các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Ngô Thì Sỹ, v.v… là những công trình nghiên cứu, tổng kết lịch sử quý hiếm vừa thể hiện quan điểm của các sử gia phong kiến, vừa cung cấp rất nhiều sử liệu về lịch sử quân sự dân tộc ta.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, giới sử học đã lần lượt công bố rất nhiều công trình khoa học lịch sử, nhiều tác phẩm sử học, trong đó phản ánh từng khía cạnh khác nhau của lịch sử quân sự. Các công trình nghiên cứu đó đề cập đến lịch sử dân tộc nói chung, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước, các trận đánh lớn hoặc các danh nhân quân sự, các anh hùng dân tộc Việt Nam. Những bộ lịch sử lớn được xuất bản như Lịch sử Việt Nam (2 tập) do Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện, các bộ Giáo trình lịch sử Việt Nam của Đại học Tổng hợp và Đại học Sơ phạm Hà Nội..., đều là những công trình thông sử có đề cập đến nội dung và truyền thống quân sự - truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Nhiều công trình chuyên khảo về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh lớn trong lịch sử được xuất bản như Kháng chiến chống Tống, Kháng chiến chống Nguyên - Mông, Khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, Cách mạng Tây Sơn Thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, 80 năm chống Pháp, Chống xâm lăng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp và Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Những danh nhân đã và đang được quan tâm nghiên cứu như các anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh v.v..
 
Nhiều nhà sử học Việt Nam đã có đóng góp lớn trong việc nghiên cứu v ề truyền thống quân sự anh hùng của dân tộc.  Giới sử học nước ngoài như ở Trung Quốc, Pháp, Nga, Mỹ, Anh, Nhật Bản, v.v. trên những quan điểm và mục đích khác nhau đều đã nghiên cứu và công bố một số công trình lịch sử Việt Nam, về các cuộc chiến tranh và một số nhân vật quân sự tiêu biểu của Việt Nam.

Nhiều nhà sử học nước ngoài tìm hiểu để trả lời câu hỏi lớn: Tại sao dân tộc Việt Nam có sức sống mãnh liệt và có truyền thống quân sự đặc biệt như vậy? Tại sao một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam lại có thể chiến thắng những kẻ thù to lớn và hùng mạnh?
 
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam từ khi thành lập (1981) đã trở thành cơ quan khoa học đầu ngành, chỉ đạo và triển khai biên soạn các công trình tổng kết chiến tranh và nghiên cứu lịch sử quân sự. Khoa học lịch sử quân sự Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong công tác nghiên cứu lịch sử quân sự dân tộc, đặc biệt là giai đoạn 30 năm chiến tranh cách mạng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử và tổng kết hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã được công bố. Những bộ lịch sử quan trọng như Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (6 tập), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (2 tập), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 (9 tập) đang được hoàn thành, Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam (2 tập), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (2 tập), Giáo trình Lịch sử quân sự (5 tập), những công trình chuyên khảo như Nghệ thuật quân sự Việt Nam cổ - trung đại (2 tập), Kế sách giữ nước thời Lý - Trần, Lịch sử chiến thuật phục kích (1945-1975), cùng hàng trăm bộ lịch sử quân sự các ngành, các quân, binh chủng, các địa phương và đơn vị đã được xuất bản.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:23:18 PM

Ngoài những công trình nói trên, tạp chí Lịch sử quân sự thuộc Viện Lịch sử quân sự Việt Nam từ năm 1982 đến nay đã công bố nhiều chuyên luận khoa học về truyền thống quân sự. Rất nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự đã được nghiên cứu, trao đổi. Những năm qua, nhiều nội  dung của lịch sử quân sự được nghiên cứu sâu sắc hơn. Các cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức, nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và cấp cơ sở được triển khai và công bố. Nguồn sử liệu phong phú và đa dạng. Sự giao lưu và hợp tác khoa học giữa các cơ quan chuyên trách và các nhà nghiên cứu sử học được tiến hành thường xuyên và có hiệu quả.

Ngành khoa học lịch sử quân sự đã khẳng định vị trí của mình, có những bước tiến toàn diện, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao; góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử, bảo vệ chân lý, đấu tranh chống những luận điệu sai trái, tăng cường hiểu biết lịch sử, bồi dưỡng tư duy chính trị - quân sự. . .

Công tác nghiên cứu về lịch sử quân sự, về truyền thống quân sự Việt Nam ngày càng được xúc tiến mạnh mẽ và trở thành một nhu cầu nhận thức của xã hội.  Trong giai đoạn đất nước đổi mới, những bài học lịch sử càng trở nên quan trọng và càng cần thiết phát huy tinh thần dân tộc cũng như những truyền thống lao động, chiến đấu dũng cảm và sáng tạo của nhân dân ta. Truyền thống quân sự luôn luôn là mềm tự hào to lớn của dân tộc. Lịch sử không lặp lại nhưng nghiên cứu lịch sử là để nhận thức lịch sử theo dòng phát triển của nó, phát hiện những quy luật, lấy đó làm nền tảng để hướng tới  tương lai .

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử dân tộc nói chung, về từng cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước, từng danh nhân quân sự hoặc từng mặt nào đó thuộc lĩnh vực hoạt động quân sự trong các giai đoạn nhất định của lịch sử dân tộc.
Tuy nhiên, những công trình đã được công bố, chủ yếu mới đi sâu vào các lĩnh vực chuyên biệt và chủ yếu là các công trình có tính chất giới thiệu theo phương pháp miêu tả, chưa có điều kiện đi sâu phân tích những bài học kinh nghiệm lịch sử và đặc biệt, chưa có một công trình nào đề cập đến toàn bộ lịch sử xây dựng lực lượng và đấu tranh quân sự ở nước ta trong hơn hai chục thế kỷ qua với tư cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập hoàn chỉnh.

Công tác nghiên cứu lịch sử quân sự đã có nhiều cố gắng và thành tựu, song mới chỉ tập trung vào hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, lịch sử quân đội nhân dân, sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ thuật chiến dịch. Nhiều vấn đề lớn trong lịch sử quân sự dân tộc qua các thời đại như học thuyết quân sự Việt Nam, lịch sử nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự, vấn đề quốc phòng trong lịch sử, v.v. mới bắt đầu được triển khai.  Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được về lịch sử quân sự, với khả năng hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các ngành, cơ quan và các nhà khoa học trong và ngoài quân đội được sự đồng ý của lãnh đạo Bộ Quốc phòng và các cơ quan quản lý khoa học nhà nước, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử quân sự Việt Nam - lịch sử hoạt động quân sự của dân tộc qua các thời đại, từ buổi đầu dựng nước cho đến thời hiện đại. Phương hướng cơ bản chỉ đạo công tác nghiên cứu, biên soạn là vận dụng mọi phương pháp khoa học, kế thừa và phát huy những thành tựu đã có để đạt được một công trình  khoa học lịch sử với những mục tiêu chủ yếu sau đây:

1. Nghiên cứu và biên soạn một cách tổng thể, có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh lịch sử quân sự Việt Nam từ xưa đến nay, phản ánh một cách có chọn lọc những thành tựu khoa học mới nhất ở trong và ngoài nước về lịch sử quân sự dân tộc, bao gồm cả khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nội chiến và chiến tranh chinh phạt, trong đó chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Bộ sách sẽ đề cập và phân tích những yếu tố tạo nên sức mạnh giữ nước Việt Nam, về truyền thống văn loá - văn minh, về cơ sở chính trị , kinh tế và xã hội của nhà nước, về tổ chức quân sự, kỹ thuật quân sự, về chiến tranh và nghệ thuật quân sự, về tư tưởng và lý luận quân sự Việt Nam.

2. Nghiên cứu lịch sử quân sự dân tộc qua các bước thăng trầm suốt chiều dài lịch sử, tìm hiểu mối quan hệ giữa dựng nước và giữ nước, chính trị - kinh tế và quân sự, chiến tranh và quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang gìn giữ hoà bình và chiến đấu chống ngoại xâm, về kế sách giữ nước trong từng thời kỳ nhằm cung cấp các yếu tố và dữ kiện để làm sáng tỏ nội dung tư tưởng và quá trình hình thành, phát triển của trường phái quân sự Việt Nam qua các thời đại. Từ thực tiễn lịch sử rút ra những quy luật, những bài học lịch sử nhằm đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng sức mạnh quốc phòng và an ninh của thời kỳ hiện tại cũng như trong tương lai.

3. Nêu rõ truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc ta, góp phần vào sự nghiệp phổ biến và giáo  dục lịch sử, nâng cao tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức độc lập tự chủ và trách nhiệm của mỗi người đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

4. Khai thác, tập hợp làm phong phú sử liệu, xây dựng một cơ sở tư liệu lâu dài cho khoa học hếch sử và các khoa học khác có liên quan.  Bộ Lịch sử quân sự Việt Nam là một bộ sách phổ cập, một công trình nghiên cứu khoa học cơ bản, nhằm phục vụ rộng rãi các cơ quan nghiên cứu, nhà trường, các nhà khoa học và đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước.

Bộ sách gồm 14 tập, với những nội dung chủ yếu mỗi tập như sau:



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 11:28:45 PM
- Tập 1: Lịch sử quân sự Việt Nam: buổi đầu giữ nước, đề cập đến những hoạt động quân sự của người Việt cổ trong giai đoạn đầu của lịch sử quân sự Việt Nam: giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương.

- Tập 2: Lịch sử quân sự Việt Nam: thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (từ 179 Tr. CN đến 938), là lịch sử quân sự dân tộc giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, kể từ sau thất bại của An Dương Vương đến chiến thắng Bạch Đằng (938).

- Tập 3: Lịch sử quân sự Việt Nam: các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý (thế kỷ X-XII), đề cập đến toàn bộ nội dung lịch sử quân sự giai đoạn đầu thời kỳ độc lập, thế kỷ X-XII từ thời Ngô đến thời Lý; trong đó có sự nghiệp dẹp loạn của vua Đinh và lịch sử hai cuộc kháng chiến chững Tống do Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt lãnh đạo.

- Tập 4: Lịch sử quân sự Việt Nam: thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), là lịch sử quân sự trong một giai đoạn oanh liệt của dân tộc với kế sách giữ nước tiến bộ, những thành tựu trên lĩnh vực quân sự, những chiến công oai hùng của nhân dân ta trong ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông và những tư tưởng quân sự trong giai đoạn lịch sử này.
 
- Tập 5: Lịch sử quân sự Việt Nam: thời Hồ - Lê Sơ (thế kỷ XV), đề cập toàn bộ lịch sử quân sự dân tộc từ thời Hồ đến Lê Sơ (thế kỷ XV), trong đó có lịch sử cuộc kháng chiến chống Minh thời Hồ, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV, về những vấn đề quốc phòng - quân sự giai đoạn Lê Sơ.

- Tập 6: Lịch sử quân sự Việt Nam: từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, là lịch sử quân sự dân tộc trong gần ba thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, bao gồm những hoạt động quân sự trong giai đoạn xuất hiện các phe phái phong kiến với những cuộc chiến tranh giành quyền lực và khởi nghĩa nông dân chống phong kiến ở nước ta.

Tập 7: Lịch sử quân sự Việt Nam: sự nghiệp quân sự của Tây Sơn - Nguyễn Huệ (cuối thế kỷ XVIII), thể hiện toàn bộ sự nghiệp quân sự của Tây Sơn - Nguyễn Huệ trong quá trình đánh tan thù trong giặc ngoài, bao gồm cả phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn và hai cuộc kháng chiến chống Xiêm (1784- 1785) và chống Thanh (1788- 1789).

- Tập 8: Lịch sử quân sự Việt Nam: từ đầu thế kỷ XIX đến 1896, giải trình lịch sử quân sự giai đoạn từ đầu thế kỷ XIX đến 1896, tức từ khi triều Nguyễn thành lập đến khi phong trào Cần Vương thất bại. Lịch sử quân sự giai đoạn này bao gồm những hoạt động quân sự dưới triều Nguyễn và phong trào chống thực dân Pháp xâm lược trong nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam.

- Tập 9: Lịch sử quân sự Việt Nam: từ 1897 đến Cách mạng Tháng Tám 1945, bao gồm những hoạt động quân sự của dân tộc trong giai đoạn từ khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta (1897) đến Cách mạng Tháng Tám 1945, trong đó gồm những phong trào chống đế quốc và phong kiến, sự xuất hiện tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quá trình xây dựng lực lượng và đấu tranh vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến tới thắng lợi rực rỡ của Cách mạng Tháng Tám.

- Tập 10: Lịch sử quân sự việt Nam: kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), gồm lịch sử quân sự từ sau Cách mạng Tháng Tám, giai đoạn cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), trong đó gồm tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng về tiến hành chiến tranh nhân dân chống xâm lược xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bước trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam, các giai đoạn phát triển và nghệ thuật quân sự trong kháng chiến thần thánh của dân tộc ta.

- Tập 11: Lịch sử quân sự Việt Nam: cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), thể hiện nguồn gốc, tiến trình của cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bước phát triển rực rỡ của nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam, những chiến công oanh liệt của quân và dân ta, nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

- Tập 12: Lịch sử quân sự Việt Nam: một số vấn đề quân sự từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Từ diễn biến của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập XII sẽ đúc kết, lý giải những vấn đề quân sự nổi bật, như quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, vấn đề binh khí - kỹ thuật quân sự, xây dựng hậu phương chiến tranh, tư tưởng, đường lối quân sự, phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong giai đoạn này.

- Tập 13: Lịch sử quân sự việt Nam (1975-2000), gồm những hoạt động quân sự của quân và dân ta từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến năm 2000, trong đó có cả cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, một số vấn đề quốc phòng - an ninh và quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp đổi mới cùng những hoạt động quân sự nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Tập 14: Tổng luận về lịch sử quân sự Việt Nam. Từ thực tiễn hoạt động quân sự của dân tộc ta từ xưa đến nay  đúc kết những đặc Trưng lớn của Lịch sử quân sự Việt Nam trên tất cả lĩnh vực tổ chức và hoạt động quân sự, rút ra những quy luật của lịch sử quân sự, những quan điểm và tư tưởng quân sự, những bài nọc (kể cả những bài học thành công và bài học thất bại), những cơ sở và cội nguồn của sức  mạnh quân sự Việt Nam trong lịch sử khởi nghĩa chiến tranh chống xâm lược . . . 


*
*         *

Dân tộc Việt Nam là một đần tộc anh hùng, một dân tộc có truyền thống quân sự vẻ vang. Lịch sử quân sự Việt Nam chứa đựng những nội dung phong phú và hấp dẫn, đã để lại những kho tàng kinh nghiệm vô giá, những bài học lớn cho hiện tại và tương lai. Nghiên cứu làm sáng rõ những nội dung chủ yếu của lịch sử quân sự Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng của sử học, đòi hỏi tập trung trí tuệ của nhiều người, nhiều cơ quan và nhiều ngành khoa học. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đang cố gắng đóng góp sức mình để cùng giới sử học cả nước hoàn thành tốt nhiệm vụ sử học to lớn này.

Bộ Lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập) sẽ được hoàn thành và xuất bản từ nay (1999) và những năm tiếp sau, là kết quả của sự hợp tác khoa học giữa Viện Lịch sử quân sự Việt Nam với nhiều cơ quan nghiên cứu và nhiều nhà sử học trong nước, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng khoa học Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng do Trung tướng Thứ trưởng Trần Hanh làm chủ tịch.

Nhân dịp tập 1 ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và các tác giả chân thành cám ơn Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu và các cơ quan chức năng đã chỉ đạo, tạo điều kiện và động viên trong quá trình xây dựng bộ sách; cám ơn các nhà khoa học trong và ngoài quân đội đã và đang tham gia đóng góp cùng chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu; cám ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã nhiệt tình cộng tác trong việc xuất bản bộ sách này.

Vui mừng trước kết quả bước đầu của việc xuất bản tập 1 bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, với nhiều công phu nghiên cứu biên soạn theo đúng kế hoạch, mục đích, yêu cầu, phương pháp tiếp cận và nội dung khoa học, chúng tôi vẫn thấy rằng, tập này cũng như các tập khác của bộ sách khó tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Rất mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các nhà sử học, của bạn đọc gần xa để chúng tôi sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tốt hơn trong lần tái bản và rút kinh nghiệm khi nghiên cứu, biên soạn những tập tiếp theo.


                                                                                                                                                  Hà Nội, tháng 10 năm 1999
                                                                                                                                              VIỆN LịCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 11:37:20 PM


THỜI HÙNG VƯƠNG - AN DƯƠNG VƯƠNG. NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC. SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC BẢO VỆ CỘNG ĐỒNG VÀ LÃNH THỔ
.

I. VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THUỶ. QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH Ý THỨC BẢO VỆ CỘNG ĐỒNG


Trên địa cầu, lãnh thổ Việt Nam nổi lên như một bao lơn lài rộng ở góc Đông Nam của đại lục châu Á, nhìn ra Thái bình Dương mênh mông, có thế đứng vững chãi : núi tựa núi, sông hoà sông, biển liền biển, với bao nước láng giềng gần xa, thêm vào đó là chế độ gió mùa và hoạt động của các dòng hải ưu giúp cho sự tiếp xúc về mặt tự nhiên và văn hoá diễn ra nạnh mẽ sôi động.

Về địa hình, lãnh thổ Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển địa chất phức tạp, lâu dài. Sau những vận động tạo núi thuộc cuối đại trung sinh cụ thể là vận động tạo núi Hymalaia (cách ngày nay chừng 5 triệu năm), bộ mặt lãnh thổ nước ta căn bản như ngày nay mới tương đối định hình. Trong khoảng đầu kỷ thứ ba, lãnh thổ nước ta có dạng một bán bình nguyên rộng lớn.

Sang cuối kỷ thứ ba do vận động nâng lên của vỏ trái đất, bán bình nguyên cổ ấy được cải biến thành một xứ núi đồi trùng điệp với những nếp gãy khổng lồ, ở đó hình thành các dòng sông lớn chảy dọc theo hướng Bắc Nam hay hướng Tây Bắc - Đông Nam. Tiếp đó, những trận mưa lớn đã mang bồi tích của lũ từ núi xuống cùng trầm tích của biển do những lần biển tiến đưa vào, san lấp phẳng dần tạo ra các đồng bằng phì nhiêu nằm giữa núi và biển, trong đó hai châu thổ, lớn nhất là châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long được hình thành cách ngày nay chừng 5000 đến 4000 năm.  Sự tương phản giữa núi rừng, châu thổ và biển cả tạo cho thiên nhiên Việt Nam sự thống nhất trong đa dạng.

Nhìn bao quát, thiên nhiên Việt Nam nổi lên những nét lớn:

Nằm trọn trong vòng đai nhiệt đới, nhưng nước ta lại không phải là một nước nhiệt đới đơn thuần. Trên lãnh thổ nước ta có nhiều loài cây, con sinh sống phản ảnh một sự cực  kỳ phong phú về giống loài, song lại khá ít về số lượng ở từng loài. Tính chất phổ tạp này có ảnh hưởng rất lớn tới phương thức kiếm sống của người xưa và đồng thời cũng là một điểm cần hết sức chú ý khi định hướng chuyên canh đại trà cây trồng cũng như phát triển chăn nuôi đàn gia súc trong chiến lược phát triển kinh tế ngày nay.

Nước ta có lượng mưa vào loại cao trên thế giới với 1500mm/năm, song lại không trải đều, có 85% lượng mưa cả năm được tập trung trong mấy tháng mùa mưa. Hiện tượng này đã gây ra lũ lụt, hạn hán, khiến con người phải tốn nhiều công sức để điều tiết, khắc phục. Nguồn nước dồi dào tạo ra mạng lưới sông ngòi, hệ thống đầm, hồ, ao dày đặc. Cứ khoảng 20 km đường bờ biển lại có một cửa sông lớn và vô số lạch nhỏ khác và cứ trên 1 km2 đất đai lại có 1 km dòng chảy, cùng với 3.260 km đường bờ biển với nhiều vũng, vịnh thông ra biển Đông. Đặc điểm này đã khiến nước ta được mệnh danh là một xứ sở nước. Thật vô cùng đặc sắc và chí lý khi nước cùng với đất tạo ra khái mềm đất nước trong ý mềm quê hương, Tổ quốc của người Việt Nam.

Hệ thống , sông ngòi dày đặc chuyển tải một lượng nước khổng lồ mang theo phù sa màu mỡ bồi đắp cho miền thấp và mở rộng đất đai ra biển tạo cho đất một độ phì lớn và dưới nước đầy các loài thuỷ sinh phong phú.

Lòng đất và thềm lục địa nước ta chứa nhiều tài nguyên, khoáng sản có giá trị kinh tế cao như than, dầu lửa, khí đốt, sắt đồng, thiếc, chì, kẽm, rôm... Trong đó có những khoáng sản có ý nghĩa và vị trí to lớn như: đồng, sắt. . . , tạo ra những cuộc cách mạng công cụ của người xưa.

Có thể nói, sự hình thành, vận động và biến đổi tự thân, cùng với sự tác động của con người đã tạo cho địa hình và thiên nhiên Việt Nam bộ mặt ngày nay với đầy đủ tính đa dạng và phức tạp của một xứ nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, khiến cho con người sống ở đây vừa được hưởng những điều kiện thuận lợi ưu ái, vừa phải chịu đựng và vượt lên những khó khăn, tai hoạ, lo âu . . . , để lại dấu ấn sâu đậm trên con người, trong con người và cuộc sống của người Việt Nam.
 
Cổ nhân học và khảo cổ học nghiên cứu về con người và các nền văn hoá xưa đã tập hợp được nhiều tư nếu và bằng chứng khoa học cho thấy từ hàng phục vạn năm nay trên lãnh thổ Việt Nam đã có con người sinh sống. Thế hệ đổi thay nối tiếp thế hệ, văn hoá đổi thay nối tiếp văn hoá, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của con người, xã hội và tự nhiên đan xen vào nhau, tác động lên nhau, hoà nhập vào nhau, tạo ra bức tranh lịch sử của một quốc gia thống nhất - đa tộc, một nền văn hoá thống nhất - đa dạng của dân tộc Việt Nam.  Cho đến nay, những hiểu biết của chúng ta về giai đoạn sinh thành và thời thư ấu của con người trên lãnh thổ nước ta vẫn còn ít ỏi.

Trong các hang động Thẩm Khuyên và Thẩm Hai (huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn) chúng ta đã tìm được 10 chiếc răng hoá thạch của người vượn Hom erectus trong lớp trầm tích màu đỏ chứa xương cốt các động vật hoá thạch có niên đại trung kỳ cánh tân, cách ngày nay chừng 50 vạn năm với phức hệ voi răng kiếm - đười ươi - gấu tre (stegodon - Po ngo - Ailuropoda) điển hình cho khu vực Hoa Nam và Bắc Việt Nam. Những con người đang hình thành về mặt thể chất và trí lực này sinh sống ra sao ? Họ kiếm ăn bằng cách nào ?  Chúng ta chưa biết rõ vì chưa tìm được công cụ lao động của họ.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 11:41:35 PM
Công cụ bằng đá của người vượn tìm thấy trên đất nước ta lần đầu tiên vào năm 1960, ở núi Đọ (huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá) - một quả núi không cao nằm sát bờ hữu ngạn sông Chu, nơi sông này hợp nguồn với sông Mã có chứa những mạch đá và tảng đá ba dan phong phú nằm lộ thiên.  Người xưa đã đến đây chọn lọc, thu lượm những hòn đá thích hợp để chế tạo ra công cụ tại chỗ. Trong số hàng vạn mảnh đá có vết ghè đẽo, đã tìm thấy một số công cụ có hình dáng ổn định, được ghè đẽo công phu. Đó là các rìu tay (Bản vẽ 1, hình 1) dùng để bổ, chặt, mổ, xẻ, các dao nạo để róc thịt thú vật những trôp-pơ dùng để chặt... Những công cụ đá thô sơ dạng này còn thấy ở một số nơi khác như ở núi Quan Yên, núi Nuông cách núi Đọ không xa và xa hơn là ở các địa điểm Hàng Gòn, Dầu Giây trong vùng Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai. Sự nổi trội về lượng của loại hình công cụ chặt và trớp-pơ này với kỹ thuật ghè thô nói lên những khác biệt địa phương nhất định, phản ánh lối sững săn bắt, hái lượm ở vùng nhiệt đới với ưu thế sử dụng công cụ tre gỗ được tạo ra nhờ những trôp-pơ bằng đá.

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv1.jpg?t=1228496854)

Về các mặt hình thái, tập tính và tổ chức đời sống, các người vượn này còn tiếp thu rất nhiều tập tính ở tổ tiên họ, nổi trội lên là tính bầy đàn thể hiện khá đậm.

Tính cộng đồng, ý thức cộng đồng của người nảy sinh từ tính bầy đàn được hình thành, nâng cao và hoàn chỉnh dần trong quá trình phát triển dài lâu của loài người.

Tính cộng đồng vốn là bản năng cố hữu của con người và con người vốn là một loài sinh vật yếu trung ngôn ngữ tiếng Việt từ con người tự nó đã nói lên bản chất của nó. Người cũng chỉ là một con trong vô vàn con vật khác, song nhờ lao động mà con đã trở thành người và trong con người ít nhiều vẫn còn lại phần con) sống trong thế giới tự nhiên mà ở đó cạnh tranh giữa các loài để tồn tại là quy luật khách quan và tự nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái và sự hài hoà của tự nhiên. Trong quá trình đấu tranh để phát triển và hoàn thiện mình, nhờ lao động và hợp quần, con người trở thành một sinh vật mạnh, siêu mạnh - một sinh vật xã hội - khác về chất so với các sinh vật khác.

Để tồn tại được giữa thiên nhiên hoang dã với núi cao vực sâu rừng rậm đầy thú dữ như hổ, báo, lợn rừng, gấu, voi...  người vượn Thẩm Khuyên, núi Đọ... hẳn phải hợp quần thành sức mạnh để kiêm ăn, tự vệ.

Bước chuyển từ tổ chức bầy đàn của người vượn sang tổ chức cộng đồng của xã hội nguyên thuỷ được xem như một mốc lớn biến đổi về chất, cả về mặt thể chất người cũng như về mặt văn hoá - xã hội.

Trong hang Thẩm Hòm (Quỳ Châu - Nghệ An) đã tìm được ba chiếc răng của người cổ hoá thạch có nhiều nét Sapiens hoá (tức nét của người khôn ngoan) cùng với xương răng hoá thạch của quần động vật tiêu biểu thời Cánh tân là voi răng kiếm, đười ươi và gấu tre, cùng một vài mảnh đá thạch anh có vết vỡ dường như công cụ của người cổ ở đây. Có thể xem người Thẩm Khuyên thuộc dạng người vượn cuối cùng đã từng sống trên đất nước ta.

Trong kh đó, ở hang Hùm (Lục Yên - Yên Bái) lại tìm được răng người có nhiều đặc điểm của Hom sapiens (người khôn ngoan, tức người hiện đại) trong lớp trầm tích thuộc đầu hậu kỳ Cánh tân. Phải chăng người hang Hùm là đại diện H.sapiens đầu tiên sống ở đây? Vết tích người hiện đại chân chính được tìm thấy trong lớp trầm tích vàng có tuổi Cánh tân muộn hơn ở hang Kéo Lũng (Bình Gia - Lạng Sơn).  Đó là một dãy răng hàm của một xương hàm và một mảnh xương trán người. Nhưng ở đây cũng chưa tìm ra công cụ của họ.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:11:19 AM


Năm 1972, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trong các hang thuộc thung lũng Thần Sa (Võ Nhai, Thái Nguyên) hai địa điểm thuộc văn hoá hậu kỳ đá cũ là hang Miệng Hổ và phang Nà Khù. Tiếp đó, cũng trong thung lũng này còn tìm được một di chỉ đá cũ quan trọng khác có tuổi địa chất cuối cánh tân. Đó là mái đá Người. Trong lớp đất sớm nhất nằm ở độ sâu 1,15m đến 1,35m, có màu vàng nhạt cũng như trong lớp văn hoá các hang Miệng Hổ và Nà Khù đã tìm được những công cụ nhỏ được tách ra từ những hòn cuội thuộc loại đá silíc, đá sửng hay đá quăcdít. Phần lớn chúng là những mảnh tước có cả những phiến tước dài được ghè đẽo tu chỉnh cẩn thận tạo ra các rìa sắc, mũi nhọn. Đó là các nạo có rìa lưỡi cong lồi hoặc cong lõm, các mũi nhọn có hình tam giác ở giữa có sống nổi. Cũng ở lớp này còn có một số công cụ làm từ hòn cuội lớn, gia công giống như các công cụ cuội tìm thấy ở lớp trên và trong các văn hoá cuội sau này. Lớp văn hoá này đại diện cho một dạng văn hoá mảnh tước lần đầu tiên phát hiện được ở Việt Nam có mền đại khoảng 23 nghìn năm về tước. Chủ nhân văn hoá Người đã săn bắt động vật thuộc các giống loài hiện đại như lợn rừng, bò rừng, nhím, khỉ... 

Nằm trên lớp dăm đá vôi phủ lên lớp văn hoá mảnh tước ở dưới, là lớp văn hoá chứa các công cụ mang một truyền thống kỹ thuật khác và có diện mạo tương tự như văn hoá Sơn Vi - một văn hoá hậu kỳ đá cũ khác, nổi tiếng lần đầu tiên được các nhà khảo cổ học Việt Nam xác định và phân lập Văn hoá Sơn Vi có địa bàn phân bố rất rộng ở miền Bắc nước ta. Dấu vết của nó tìm thấy trên các đồi gò thềm sông miền trung du như Lâm Thao (Phú Thọ), Lục Ngạn (Bắt Giang), Nghĩa Đàn (Nghệ An) hay miền núi dọc sông Thao từ Lào Cai đến Yên Bái, trong các hang động đá vôi ở các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, uảng Bình...  Người Sơn Vi dùng công cụ được chế tác từ các hòn cuội nguyên được ghè đẽo ở na cạnh với các loại hình tiêu biểu.  Đó là các công cụ chặt có rìa lưỡi ngang (tức ở cạnh hẹp viên cuội), rìa lưỡi dọc hay rìa lưỡi chéo. Công cụ chặt có mũi nhọn... (Bản vẽ 1 – hình 2) còn được dùng như một loại vũ khí.  phân tích các tàn tích động, thực vật thu lượm được trong các di tích văn hoá Sơn Vi, chúng ta được biết người Sơn Vi đã săn bát các loại động vật như trâu bò, lợn rừng, hoẵng, nhím, khỉ... là những loài động vật sống ở một không gian thoáng dáng, những bãi cỏ và những rừng cây thưa thân bụi. Tại hang Phúng Quyền (Hoà Bình) các nhà khảo cổ học đã tìm thấy mảnh hàm trên của một con gấu tre đã bị đập vỡ và có cả vết lửa cháy. Cũng vậy, tại hang Kéo Lựng cũng tìm thấy một số sọ lợn, hưu: gấu tre đã bị vát mất phần sọ não; chúng tỏ người thời này đã săn bắt cả những loài thú lớn, mạnh và dữ. Đối tượng thức ăn và phương thúc tổ chức kiêm sông bằng săn bắt đòi hỏi một tổ chức chặt chẽ và một sự phôí hợp ăn ý mạnh mẽ. Điều đó giúp thêm một buộc củng cố và nâng cao ý thức bảo vệ cộng đồng trong ý thức cộng đồng chung rộng diễn ra trong một thời gian dài hàng vạn năm dựa vào các mền đại C4 của lớp khởi chuyển sang văn hoá Sơn Vi ở Mái đá Ngầm là 23.000 +200 năm cách ngày nay, ở hang Phúng Quyền là 18.390 + 125 năm cách ngày nay, ở lớp đáy hang Con Moong (vườn quốc gia Cúc Phương, Thạch Thành, Thanh Hoá) là 11.755 + 75 năm cách ngày nay.  Dấu tích văn hoá ở hang Con Moong cũng như một số hang động khác như Động ean (Hoà Bình), Mái đá Điều thanh Hoá) có tầng văn hoá dày chứa các lớp văn hoá nói lên sự phát triển liên tục từ văn hoá Sơn Vi lên văn hoá Hoà Bình.

Văn hoá Hoà Bình được mệnh danh là văn hoá thung lũng vì môi trường sống chủ yếu của người thời đó là ở trong các hang động và kiếm ăn trong các thung lũng miền núi, họ để lại dấu vết của mình trong hàng trăm di tích thuộc các tỉnh Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá qua Nghệ An, Hà ĩ nh cho tới các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị. . .

Cũng như những công cụ thuộc văn hoá Sơn Vi, những công cụ văn hoá Hoà Bình đều làm bằng đá cuội. Song về kỹ thuật chế tạo và loại hình đã có sự tiến bộ đáng kể. Người Hoà Bình thường ghè từ một mặt viên cuội bằng những nhát ghè quanh rìa hướng vào tâm tạo ra những công cụ hình ớ a, hình bầu dục, hình hạnh nhân... Bằng kỹ thuật bẻ cuội họ đã tạo ra công cụ gọi là rìu ngắn. Người Hoà Bình eòn dùng kỹ thuật bổ pha hòn cuội thành những lát mỏng tạo ra các công cụ cắt sắc bén. Đặc biệt người Hoà Bình đã biết kỹ thuật mài tạo lưỡi sắc cho công cụ mà sự phổ biến của kỹ thuật mới này đã có mặt ở 77 trong số 119 di tích Hoà Bình đã được phát hiện.

Người Hoà Bình sống trong môi trường có những thay đôi, ở đó khí hậu đã trở nên nóng và ẩm, các loại nhuyễn thể sống ở cạn cũng như dưới nước sinh sản rất mạnh, trở thành đối tượng thu lượm làm thức ăn của người nguyên thuỷ, trong khi họ vẫn tiếp tục lượm hái thực vật và săn bắt các loài động vật như chủ nhân các văn hoá trước đó vẫn làm, trong đó có các thú lớn như voi, tê giác, trâu, bò rừng bằng các vũ khí thô sơ (13ản vẽ 1, h.3. h.5). Điều đáng chú ý là trong thành phần thức ăn của họ ngày càng có nhiều phế thải là xương răng các loài thú nhỏ tinh khôn nhanh nhẹn như cầy, cáo, thỏ, chồn, sóc, cũng như các loài chim như ngỗng, gà... săn bắt được nhờ phát minh ra cung tên (Bản vẽ 1, hình.4).




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:12:24 AM


Trong bộ công cụ lao động và chế biến thức ăn của người Hoà Hình xuất hiện các loại hình công cụ tồn tại đã khá phổ biến như những lưỡi cuốc đá, những bàn nghiền, chày nghiền thức ăn chứa tinh bột. Đã tìm thấy phấn hoa của họ rau đậu (Leguminosae) ở một số hang dộng như Thẩm Thương (Lai Châu), Sũng Sàm (Hà Tây) đó là những tín hiệu nói lên khả năng ra đời của nền nông nghiệp sơ khai từ trong lòng văn hoá Hoà Bình.

Văn hoá loà lình thực sự là một văn hoá mang tầm cỡ thời đại, tồn tại và phát triển ở khúc chuyển lịch sử, khúc chuyển thời đại, từ thời đại đá cũ sang và vào dầu thời đại đá mới; từ kinh i.ế khai thác sang kinh tế sản xuất, một bước nhảy vọt có ý nghĩa cách mạng trong đời sống con người, diễn ra cách ngày nay trên mười nghìn năm.

Những thay đổi trong đời sống kinh tế này phản ánh vốn tri thức của người Hoà Bình được mở rộng. Đã có sự hiểu biết khá sâu sắc về tập tính các loài cây: con. Sự nhân lên, trao truyền, làm phong phú những hiểu biết, những kinh nghiệm làm ăn này là tiền đề cho sự tiếp tục phát triển tiến lên, tạo ra một hướng khác giúp vào tăng cường ý thức cộng đồng, ý thức về nghĩa vụ duy trì, bảo vệ và phát triển cộng đồng của người Hoà Bình.

Dường như cùng một lúc tồn tại với văn hoá Hoà Bình cổ điển, tại vùng núi đá vôi Bắc Sơn thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên, một nền văn hoá đầu thời đại đá mới khác đã ra đời và phát triển mang tên văn hoá Bắc Sơn bắt nguồn từ dạng văn hoá cuội hạch pha lẫn cuội mảnh như thấy ở lớp trên Mái đá Ngầm. Văn hoá Bắc Sơn có nhiều điểm gần gũi với văn hoá Hoà Bình về nhiều phương diện như đặc điểm cư trú, phương thức kiếm sống, kỹ thuật ehế tác và loại hình công cụ. . . , cùng thuộc dòng truyền thống công cụ cuội. Tuy nhiên, văn hoá Bắc Sơn có những nét đặc Trưng riêng như kế thừa đậm nét truyền thống kỹ thuật mảnh ở sự tồn tại phổ biến của cuốc và rìu mài lưỡi, đặc biệt là của loại công cụ độc đáo làm bằng hòn cuội dài mỏng dẹt trên rìa cạnh dọc của viên cuội có vết lõm đôi song song được gọi ỉa “dấu Bắc Sơn” được bảo lưu lâu dài, có mặt trong nhiều di tích khảo cổ học thuộc đầu thời kỳ kim khí.

Biển tiến Holocen trùng với mực nước biển dâng cực đại cao hơn mặt nước biển ngày nay khoảng 4m vào thời điểm cách đây khoảng 6.000 năm, làm tràn ngập một vùng lãnh thổ khá rộng ven bờ khiến người Hoà Bình eo thể tiếp cận với biển khơi, bằng chứng của sự kiện đó là những mảnh ngao sò nước mặn có mặt trong nhiều di chỉ Hoà Bình như Mộc Long, Hang Đắng, Con Mang... Theo đà đồng bằng dần hình thành, một bộ phận của cư dân Hoà Bình đã tràn xuống sát biển khai thác đồng bằng, tìm kiếm hải sản. Tại đây, trong điều kiện ban đầu đồng bằng còn hoang sơ lầy ngập, sông nước mênh mông, truyền thống khai thác thuỷ sản của người Hoà Bình được mở rộng và phát huy mạnh mẽ, để lại dấu ấn sâu đậm trong sinh hoạt qua các đống rác bếp tạo thành các đồi vỏ liền khổng lồ như ở Đa Bút, Bản Thuỷ (Thanh Hoá), qua sưu tập phong phú chì lưới và xương cá biển ở di chỉ Gò Trũng thanh Hoá). Từ đó đã hình thành một văn hoá mới - văn hoá Đa Bút. Phương thức sống của người Đa Bút được mở rộng và dần hình thành một hướng mới ngày một phát triển mạnh mẽ - nghề nông tạp canh, dần phát huy thế mạnh của mình, được minh chứng bằng một tập hợp phong phú các loại cuốc đá, rìu đá được mài ở lưỡi và được mài rộng ra dần khắp bề mặt công cụ. Văn hoá Đa Bút thuộc giai đoạn đá mới phát triển eo niên đại khoảng 7.000 đến 5.000 năm cách ngày nay.

Cùng một bình tuyến với văn hoá Đa Bút song có mến đại sớm muộn hơn nhau ít nhiều có các văn hoá Cái Bèo (Quảng Ninh), Quỳnh Văn (Nghệ An) và dạng di tích Bàu Dủ (Quảng Nam) là những văn hoá hay nhóm di tích văn hoá, phân bố ở ven biển và đảo ven bờ, lấy thu lượm và đánh bắt hải sản làm hoạt động kinh tế chính. Họ sử dụng những công cụ ghè đẽo thô sơ hoặc một chút công cụ mài mang bóng dáng của văn hoá Hoà Bình. Tất nhiên là có những công cụ dặc Trưng riêng cho mỗi văn hoá được quy định bởi những khác biệt về môi trường sống và phương thức sinh hoạt, ví như công cụ có dạng bàn là của văn hóa Quỳnh Văn.

Trước đồng bằng lầy lội. sông nước mênh mông và biển cả rộng xa tít chân trời, trên con đường mưu cầu một cuộc sống dễ chịu hơn, phong phú hơn, con người của các văn hoá này đã phải đối mặt với những thử thách mới, đòi hỏi một thế ứng xử mới, một sự cố kết mới. Từ đó ý thức cộng đồng, sự che đỡ, hỗ trợ bảo vệ lẫn nhau của từng thành viên và của cả cộng đồng được đề cao, được tăng cường và được nâng lên một bước.

Thời điểm 4.000 năm cách ngày nay, lại hiện lên như một mốc son lịch sử mới, con người đã có mặt hầu như ở mọi miền đất nước, cố kết thành những nhóm tộc khác nhau để lại những nền văn hoá khác nhau mà trong đó đồng bằng dường như là nơi tụ hội tộc người, sức mạnh và tinh hoa văn hoá của họ.

Lúc này cư dân sững ở vùng núi dường như đã đi hết một vòng xoáy ốc phát triển của họ. Ky thuật ghè đá và kinh tế khai thác đã tới đỉnh cao. Kỹ thuật mài đá và kinh tế sản xuất đã ra đời, song thế mạnh của nó còn ở dạng tiềm năng.  Dân số mở ra và miền dết mới cũng mở ra. Để tháo gỡ những khó khăn, tận dụng những cư may, phát huy những thuận lợi, đại bộ phận họ đã rời bỏ núi rừng để lập quê hương mới.  Số ở lại tiếp tục làm ăn sinh sống theo lối sống cũ, tập tục cũ trong khi cái mới được tiếp thu, triển khai chậm chạp, ngập ngừng. Điều đó phản ảnh trong các di tồn vật chất thường tìm được trong lớp văn hoá trên cùng của các di tích hang động Hoà Bình - Bắc Sơn. ở đó, bên cạnh những di vật mới như những mảnh của đồ gốm vặn thừng và văn khắc vạch, những rìu đá có vai hay tứ giác mài nhẵn, những vòng trang sức đá thanh mảnh bằng đá ngọc - sản phẩm của tiếp thu kỹ thuật hay giao lưu văn hoá . . . , còn thấy không ít những công cụ đá ghè mang bóng dáng Hoà Bình - Bắc Sơn. Cũng gặp một số ít di tích có bộ mặt thuần hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí ở vùng núi như Mai Pha, Ba Xã (Lạng Sơn), Lò Gạch Hà Giang), Ngòi Nhủ (Lao Cai), Sập Việt (Sơn La), Minh Cầm (Quảng Bình)...




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:14:13 AM


Trong lúc đó, cùng thời gian đó, ở vùng cao châu thổ sông Hồng, ở các lưu vực sông Mã, sông Cả, các đồng bằng duyên hải miền Trung, trên Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và rìa cao đồng bằng sông Cửu Long hình thành các văn hóa khác nhau với nhiều nét tương đồng phản ánh mối quan hệ qua lại nhiều chiều, nhiều kiểu ở các mức độ khác nhau.

Lan toả, phân chia, đan xen là xu thế phát triển văn hoá của giai đoạn lịch sử bản lề này. .

Trung du và đồng bằng cao lưu vực sông Hồng có văn hoá Phùng Nguyên với đồ gốm mịn áo đỏ, có hoa văn trang in khắc vạch đối xứng, công cụ rìu đục hình tứ giác nhỏ nhắn, vòng trang sức thanh mảnh với các đường ren nổi bằng đá ngọc... tồn tại bên cạnh nhóm di tích Gò Con Lợn phong Châu, Phú Thọ) với đồ gốm thô bở, rìu cuốc đá có vai.  Vùng duyên hải và các đảo ven bờ Quảng Ninh, Hải Phòng, có văn hoá Hạ Long nổi lên với đồ gốm xốp hoa văn trang trí đắp nổi hay trổ lỗ cùng các rìu bôn có nấc. Bên cạnh là nhóm di tích Tràng Kênh mang diện mạo của văn hoá Phùng Nguyên lấn biển.

Đồng bằng sông Mã có nhóm di tích Cồn Chân Tiên - Bái Man với đặc Trưng văn hoá tiêu biểu là các đồ gốm có miệng bẻ cong mỏng vát nhọn có hoa văn trang trí các vòng tròn trổ lỗ giới hạn bởi các đường khắc vạch, rìu tứ giác dài có mặt cắt hình chữ nhật bằng đá ba dan, cùng các rìu bôn tứ giác và vòng trang sức bằng đá ngọc mang bóng dáng Phùng Nguyên.  Bên cạnh đó, ở vùng duyên hải huyện Hậu Lộc lại tồn tại một nền văn hoá riêng, mang tên văn hoá Hoa Lộc với đặc Trưng nổi lên là những lưỡi cuốc lớn có vai bằng đá, đồ gốm với các loại hình độc đáo là những hình nồi có vành miệng rộng hình đa giác, hoa văn in mép miệng vỏ sò, những khuyên tai bằng đất nung, những con dấu, con lăn in hoa Lưu vực sông Cả có nhóm di tích Thạch Lạc (một loại hình địa phương của văn hoá Bàu Trỏ) mà đặc trưng văn hoá tiêu biểu cho nó là gốm áo đỏ hoa văn khuông nhạc, vạch,  không hay lượn sóng tạo bằng que nhiều răng, đồ đá có rìu cuốc có vai hay chữ nhật có số lượng gần tương đương nhau  và đều có mặt cắt ngang hình bầu dục.

Xen vào đó là di tích Rú Ta (Diễn Châu) với rìu đá hình tứ giác nổi trội; là di tích Lèn Hai Vai mà đồ gốm ở đây lại mang bóng dáng gốm văn hoá Hoa Lộc.  ở bình tuyến văn hoá này trên cao nguyên Tây Nguyên tồn tại văn hoá Biển Hồ (Gia Lai). Chủ nhân văn hoá này ưa dùng rìu đá có vai, trong đó có những rìu dáng răng trâu gợi mối liên hệ nguồn gốc với văn hoá Bàu Trỏ vùng Quảng Bình, có tục chôn người chết trong các nồi hay chum gốm.  trong khi đó ở vùng Đắc - Lấp (Đắc Lắc) lại tồn tại một nhóm di tích khác với đặc trưng nổi nét là những rìu đá hình tứ giác.

Trong lưu vực sông Đồng Nai tồn tại nhóm di tích Cầu Sắt Bình Đa với những nét văn hoá độc đáo thể hiện ở sự tồn tại dường như tuyệt đối của rìu có vai ở những công cụ gặt bằng đá hình bán nguyệt lưỡi cong. ở loại dụng cụ âm nhạc là những thanh đàn đá kiểu tư-rơng Tây Nguyên. Đồ gốm có chậu, nồi, bát, có xưởng gốm khá mịn, áo đỏ hoặc đen, cốc bát chân cao thành mỏng được chế tạo từ đất sét trắng.  Đây là nhóm di tích chủ đạo phân bố rộng khắp lưu vực sông Đồng Nai. Trong khi đó ở hạ lưu của nó và ở vùng sông Vàm Cỏ lại tồn tại nhóm di tích An Sơn - Rạch Núi (Long An) lấy rìu tứ giác đá và cà rằng làm tiêu biểu...

Từ phác thảo bức tranh văn hoá đa sắc đó, nổi lên tổ hợp di vật mang tính đại đồng chung là: gốm đáy tròn văn thừng, hoa văn trang trí khắc vạch kỷ hà, rìu cuốc đá mài nhẵn; đồ trang sức là những vòng tay khuyên tai có mặt cắt bản vòng hình chữ D hay hình tam giác cân, phản ảnh lối sống và tâm lý thẩm mỹ của cư dân lấy nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu hay chủ đạo. Mảng màu văn hoá chủ đạo này tụ đậm ở đồng bằng, nhất là ở các châu thổ lớn, phản ảnh hướng đi và tốc độ phát triển của cuộc “Cách mạng đá mới” ở nước ta.

Cuộc cách mạng này đã cuốn hút các nhóm cư dân, hội nhập các dòng văn hoá, thâu hoá sức mạnh và tinh hoa văn hoá của họ về đồng bằng - cái nôi sinh thành của các nền văn minh cổ đại trên đất nước ta.

Nhập cuộc vào miền đất mới đầy hấp dẫn song cũng rất khác lạ này và để trụ lại được ở đây, rõ ràng các nhóm cộng  đồng cư dân khác nhau này muốn hay không, cũng đều phải chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi cung cách sống, lựa chọn cách ứng xử mà muốn làm được những việc đó thì mỗi cá nhân hay từng gia đình đều không thể tự mình bươn chải nổi mà cần có sự hợp lực của cả cộng đồng, đầu tiên là trong các cộng đồng tộc nhỏ - công xã thị tộc, rồi đến sự gắn kết giữa các cộng đồng đồng tộc có chung nguồn gốc . Và vì lợi ích phát triển chung mà các cộng đồng khác tộc sống xen kẽ gần nhau liên kết lại thành các công xã - láng giềng. Cứ như vậy, theo thời gian mà khối cộng đồng ngày một mở rộng ra, ý thức bảo vệ cộng đồng cũng được đổi mới và nâng cao không ngừng. Từ đó ý thức bảo vệ cộng đồng ngày càng trở nên sâu sắc hơn, phương thức bảo vệ cộng đồng càng trở nên phong phú và hữu hiệu hơn trở thành mặt hữu cư, khách quan tất yếu của đời sông ở mọi xã hội, mọi thà đại.

Vậy là từ hàng chục vạn năm nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã có và luôn có con người sinh sống. Vết tích của họ còn để lại trong các nền văn hoá khảo cổ nguyên thuỷ, phản ảnh cuộc sống lao động và đấu tranh đầy gian lao, vất vả, song cũng đầy ý nghĩa.

Rừng rậm được phát quang. Thú dữ được săn trừ...
Cây củ được trồng tỉa. Vật nuôi được chăn thả... 
Đồng đất được khai phá. Làng bản được dựng lên...
Bộ mặt quê hương buổi đầu được tạo dựng, chấm phá.
 

Những chiến công thầm lặng đó, nhờ ý thức cộng đồng cùng ý thức đấu tranh bảo vệ cộng đồng đã tạo tiền đề, cư sở và điều kiện thuận lợi để các cộng đồng người, các tộc người kế tiếp, tiếp tục sứ mạng lịch sử tạo dựng nền tảng văn minh cho sự hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:20:33 AM
II. NƯỚC VĂN LANG – ÂU LẠC. SỰ HÌNH THÀNH CỦA NHÀ NƯỚC, VẤN ĐỀ CƯƠNG VỰC LÃNH THỔ,
CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÀ THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI

Sau khi trải qua quãng đường dài hàng chục vạn năm của thời đại đồ đá, tổ tiên ta đã biết đến kỹ thuật luyện kim đúc đồng, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ dựng nước và giừ nước đầu tiên của dân tộc. Bước ngoặt lịch sử đó diễn ra cách ngày nay trên dưới 4.000 năm, mà trong ký ức của dân tộc còn giữ lại được nhiều đường nét cư bản, nhiều kỷ niệm về cái thuở ban đầu thuần phác, hồn nhiên, gian lao và anh dũng đó, được huyền thoại hoá trong các câu chuyện thần kỳ về dòng giống Rồng Tiên, về Sơn Tinh - Thủy Tinh, về Thánh Gióng trừ phá giặc Ân, về Vua Hùng dạy dân trồng lúa, những sự tích về trầu cau, bánh dày bánh chưng. . .

Những mảnh rời vỡ của lịch sử dựng nước đó còn được bảo lưu trong nhiều tập tục, nhiều sinh hoạt văn hoá cổ truyền của nhân dân, được phục nguyên lại ngày một chính xác hơn, đầy đủ hơn bằng chính lịch sử được vật chất hoá và lưu truyền lại tới ngày nay và đã được khảo cổ học phát hiện.  Bởi lẽ đó, chỗ dựa chính cho việc xem xét, phân tích những tiền đề lịch sử dẫn tới sự hình thành của nhà nước sớm nhất trong lịch sử nước ta - nhà nước Văn Lang - Âu Lạc thành là những chứng tích khảo cổ học (xem bảng 1)

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng1.jpg?t=1228657868)
(http://[/center][center][img]http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng2.jpg?t=1228658201)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:22:30 AM


1. Phát triển và chuyên hoá sản xuất:

Từ bảng dẫn giải những chứng tích khảo cổ học trên cho thấy: Con người từng bước mở rộng không gian sống của mình bằng cách bám sát và tận dụng hoàn cảnh tự nhiên thay đổi (biển rút, hình thành các châu thổ rộng lớn...), nhờ những tiến bộ kỹ thuật đã đạt được. Trong cuộc đấu tranh khắc phục và hoà điệu với tự nhiên, con người đã có trong tay những công cụ sắc bén hơn. Bên cạnh những cây rìu, lưỡi cuốc đá, đã xuất hiện những nông cụ mang tính cách mạng.  Đó là những lưỡi cày kim loại bằng đồng thau, liềm, nhíp bằng đồng rồi bằng sắt.

Hàng trăm lưỡi cày đồng thau đựng trong một chiếc trống đồng tìm thấy gần đây (1982) ở Mả Tre (Cổ Loa) và hàng trăm lưỡi cày đồng khác có mặt từ thượng nguồn sông Hồng (Lào Cai) đến bờ sông Nhật Lệ (Quảng Bình) cùng với vết tích nhiều xương răng trâu bò nhà, tượng trâu bò tìm được trong nhiều di chỉ khảo cổ học... Con trâu - cái cày, hình tượng trung tâm của bức tranh đồng quê còn được phản ánh cả trong tập tục chôn cất người chết. Trong ngôi mộ thạp ở Vạn Thắng (Phú Thọ) đã tìm thấy lưỡi cày đồng hình tam giác có dáng rất chắc khoẻ cùng với răng loài trâu bò nói lên phương thức canh tác dùng cày và sức kéo gia súc đã là phương thức canh tác nông nghiệp phổ biến và chủ yếu của người Việt cổ.

Nhờ đất đai phì nhiêu, “đất Giao Chỉ rất là tốt, nhiều màu mỡ v.v...”, được sử sách cổ của Trung Quốc ghi lại như sách Phiên Ngung tạp ký của Trịnh Hùng đời Đường, Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống..., nhờ nước và ánh sáng dư thừa, cây lúa cho năng suất cao, có thể cấy trồng hai vụ. Tài liệu khảo cổ học đã phát hiện ra vết tích vỏ trấu trong khu mộ táng Làng Vạc. Kết quả phân tích của các nhà chuyên môn nông sinh học (Nguyễn Xuân Hiển, 1981) cho biết, có khả năng đó là những hạt lúa chiêm . . . Kỹ thuật canh tác mới đưa năng suất nghề trồng lúa nước lên cao, có thể tạo ra sản phẩm dư thừa, có thể nuôi sống một số người làm thêm hoặc làm chuyên những công việc khác.

Đó là tiền đề cho việc tách một số ngành thủ công khỏi nông nghiệp. Có thể thấy những biểu hiện đầu tiên của quá trình đó ngay từ giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên - tức giai đoạn đầu của thời kỳ Hùng Vương - qua sự xuất hiện nhiều kiểu loại đồ gốm mang tính nghệ thuật cao, được tạo dáng mỏng đều trên bàn xoay, được nhúng quét một lớp nước bột sét pha màu đỏ tạo ra lớp áo mịn bóng, trên đó khắc vẽ trang trí những đồ án hoa văn hình học đối xứng. Đó là sự xuất hiện hàng loạt những địa điểm khảo cổ học về nơi chế tạo công cụ sản xuất hay đồ trang sức bằng đá.

Những trung tâm đúc đồng lớn như Làng Cả (Phú Thọ), Cổ Loa (Hà Nội) . . . ra đời. Nghệ thuật pha chế tỷ lệ hợp kim đã tạo ra các sản phẩm có tính năng, công dụng thích hợp, giá trị kỹ thuật và nghệ thuật đều ở đỉnh cao thời đại.

Nghề rèn đúc kim loại sắt cũng ra đời trong văn hoá Đông Sơn và ngày càng phát huy được tác dụng mạnh mẽ.  Ở Gò Chiền (Thú Thọ) đã tìm thấy vật phẩm ôxyt sắt có tỷ lệ Fe2o3 lớn, được tạo ra trong lò luyện quặng hoàn nguyên. ở các địa điểm khác như Chiền Vậy, Vinh Quang (Hà Tây) đã tìm thấy nhiều quặng sắt và rỉ sắt. ở Vinh Quang còn gặp cả một đoạn ống bể mà ở đầu còn dính rỉ sắt.  Vết tích luyện sắt còn thấy ở Đồng Mỏm (Nghệ An), ở Xuân Giang (Hà Tĩnh)...

Hàng trăm chiếc trống, thạp, thố, bình, âu, lọ bằng đồng to đẹp hoa mỹ được người thợ đúc Đông Sơn chuyên nghiệp, tài ba giàu kinh nghiệm tạo ra. Đó là những sản phẩm có giá trì cao về vật chất và tinh thần, về kỹ thuật và nghệ thuật.  Một trống đồng có thể đổi được hàng trăm, nghìn con trâu bò. Người nào có được hai hay ba trống đồng là có thể “tiếm hiệu xưng vương” (Minh sử- quyển 212) .

2. Phân chia giàu nghèo và phân hoá xã hội:

Tài liệu khảo cổ học không cho biết nhiều về các thủ đoạn biến sản phẩm thừa của xã hội thành tài sản riêng của tầng lớp người nào đó, song nó lại khẳng định một cách chắc chắn sự hiện diện của bất bình đẳng tài sản giữa các thành viên  hay nhóm thành viên của cộng đồng cư dân Đông Sơn.  Điều đó có thể nắm bắt được qua phân tích tư liệu các mộ táng Đông Sơn.

Xã hội Đông Sơn là một xã hội của người Việt cổ - một xã hội đã qua mà sự hiện hữu của nó chỉ còn có thể nắm bắt được qua lưu ảnh của nó trong các tài liệu khảo cổ học và được ảnh xạ qua các văn hoá truyền thống nối tiếp của nhiều cộng đồng tộc người sống trên đất nước Việt Nam hiện nay.

Do vậy, để phân định được các lớp người khác nhau về thân phận, về tài sản trong xã hội Việt cổ thời nước Văn Lang - Âu Lạc, có thể tìm đến các ghi ghép, dù là tản mạn và rời rạc trong các thư tịch cổ, hoặc tìm đến các bằng chứng dân tộc học sống động.  Trong thư tịch cổ như Quảng Châu ký (thế kỷ V) có thể thấy nhiều loại người khác nhau: “Người cày ruộng” và “người ăn ruộng”.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:24:44 AM


Tư liệu dân tộc học cung cấp những bằng chứng sống động hơn về sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn trong xã hội qua sự khác biệt về cách ăn ở, trang phục, về nghi lễ ma chay...
 
Ở người Cà Tu, xã hội được chia ra bốn loại: Kavan (giàu), kapoh (khá giả), pơpăng (đủ ăn) và haul nghèo). Các xã hội người Ê Đê, Hrê, Xtiêng đại thể cũng có bốn loại người như vậy. Trong xã hội người Xtiêng kẻ tôi tớ là người không có chút tài sản nào. Người nghèo là những thành viên của gia đình thiếu ăn đến 8-9 tháng trong năm.  Trong khi đó người giàu, có nhà lại có tới 100 con trâu, 4 bộ chiếng lớn, 11 bộ chiếng nhỏ, 27 ché Sleng (đắt tiền), 8 ché Kri và 50 tôi tớ. . .

Trở lại nguồn tư liệu khảo cổ học - chỗ dựa chính để phục dựng bộ mặt xã hội thời Đông Sơn, tức xã hội thời nước Văn Lang - Âu Lạc.

Hiện chúng ta không có trong tay những tư liệu về nhà ở nói lên sự khác biệt của các tầng lớp trong xã hội. Những khúc gỗ, đoạn cây có vết chặt, đẽo, đục, gọt tìm được khi khai quật di tích Đông Sơn, chỉ cho hay về một loại nhà sàn đơn sơ. Trên trống đồng có khắc hình những ngôi nhà sàn mái cong to rộng, và những ngôi nhà mái tròn nhỏ hơn.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng3.jpg?t=1228497833)


Về cách ăn mặc cũng vậy, ngoài những trang phục áo mũ lông chim mặc trong ngày hội thì tượng người phụ nữ đúc trên những chuôi kiếm hay dao găm đồng Đông Sơn gợi lên cách trang phục của người quyền quý: đầu đội khăn tết thành bông hoa nhiều cánh, áo váy dài có hoa văn trang trí đẹp thắt bao đầu múi được thêu hoa văn, mặc yếm và đeo chuỗi hạt trang sức trên cổ... chỗ dựa chính để nhận biết sự phân hoá tài sản và xã hội là tư liệu về các ngôi mộ táng thời Đông Sơn.

Nổi lên trong số những bãi mộ đất có ở khắp mọi nơi, là những ngôi mộ mà người chết được chôn trong các thạp đồng hay trống đồng sang trọng to lớn. Những ngôi mộ này hẳn thuộc tầng lớp giàu sang trong xã hội.

Giàu nghèo, sang hèn là hai thái cực mà giữa chúng có vô vàn những điểm chuyển tiếp, hơn nữa khái niệm này được hiểu cũng rất đa dạng và rất cụ thể ở từng xã hội, từng thời đại nhất định. Đối với xã hội Đông Sơn - một xã hội mà ở đó đồ đồng đã phát triển rực rỡ, đồ sắt phát huy sức mạnh ưu việt của nó như một ma lực, trong xã hội này, người nào có trong tay những trống thạp hoa mỹ, những vũ khí bằng sắt sắc bén như kiếm, dao găm... hẳn là những người thuộc tầng lớp giàu sang có quyền thế. Còn người nào khi chết chỉ được bó chiếu, chôn theo một hai chiếc nồi, bát bằng gốm; thảng hoặc có được thêm đôi vòng tai đá..., hẳn là những người nghèo khó, thậm chí có nhiều mộ táng trong khu mộ không có một đồ tuỳ táng nào chôn theo, hẳn thuộc về hạng người còn hèn kém hơn.

Đối với những ngôi mộ mà đồ tuỳ táng là những vật thông thường với số lượng không nhiều lắm: dăm ba hiện vật bằng đồng thau, một hai công cụ sắt, vài đôi vòng trang sức bằng đá hay thuỷ tinh. . . có thể xem như mộ táng của những người thuộc tầng lớp trung lưu.
Bảng 2 phân tích 714 ngôi mộ có niên đại Đông Sơn ở năm khu mộ nổi tiếng là Thiệu Dương, Đông Sơn (Thanh Hoá), Làng Cả (Phú Thọ), Vinh Quang (Hà Tây) và Làng Vạc nghệ An).
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 12:29:23 AM
Có thể thấy những ngôi mộ nghèo có số lượng nhiều hơn cả chiếm 51,9% tổng số các mộ được phân tích; thứ đến là những ngôi mộ mà chủ nhân của chúng đại đa số là những người bình dân, những thứ dân được thư tịch cổ gọi là lạc dân, là han chiếm tỷ lệ đáng kể 41,4%. Những ngôi mộ giàu chôn théc nhiều đồ đồng, đồ sắt trong đó các đồ đồng sang trọng như trống, thạp, thố, bình, lọ, âu muối, tượng. . . thường  chiếm tỉ ệ nhỏ 6%. Diện mạo chung nổi lên vẫn là những  ngôi mộ đơn giản.

Tiến thêm một bước trong việc tìm hiểu hiện trạng phân hoá xã hội, có thể phân tích bộ đồ tuỳ táng từ góc độ xét theo tính năng công dụng của chúng để phần nào biết  thêm đươc thân phận và vị trí xã hội của chủ nhân chúng (xem bảng 3).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng4.jpg?t=1228658292)
Bảng 3 cho thấy những ngôi mộ không có đồ tuỳ táng hay chỉ có đồ dùng sinh hoạt mà tuyệt đại đa số là những đồ đựng thông thường bằng gốm chiếm tới 53,6% tổng số mộ. Những ngôi mộ có chôn theo công cụ sản xuất bằng đồng hay bằng sắt chỉ chiếm 11%. Điều đó nói lên nhiều hơn về tình trạng đồ kim loại  còn quý, người xưa không dễ dàng để bao giờ cũng chôn theo cho người chết, hơn là về tình trạng tách rời sản xuất của chủ nhân chúng. Những ngôi mộ có chôn vũ khí cùng các đồ vật khác chiếm tỷ lệ đáng kể (34,5%). Điều đó cho thấy vũ khí có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với đời sống  con người, đồng thời cũng nói lên xung đột xã hội, chiến tranh nhằm hợp nhất hay mở rộng đất đai hay để tự vệ hoặc tiến công đánh trả kẻ thù từ ngoài tới, đã trở thành hiện tượng đáng quan tâm của xã hội.

Bảng 3 còn cho thấy, đối với từng di tích cụ thể trong từng khu vực và ở từng giai đoạn cụ thể thì kết cấu và tỷ lệ của từng loại mộ phân theo tính chất đồ tuỳ táng có khác nhau. Ở các di tích mang ý nghĩa trung tâm của cả cộng đồng như di tích Làng Cả thì tình trạng phân hoá tài sản, phân tán xã hội diễn ra sâu sắc hơn.
 
Tỉ lệ các ngôi mộ có chôn theo vũ khí ở từng khu mộ có niên đại sớm muộn theo thời gian, phản ảnh mức độ căng thẳng của hiện trạng xã hội cũng tăng Nghiên cứu các bộ sưu tập đồ đồng thau ở một số điểm nổi tiếng và tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn cho thấy một bức tranh tổng quát về xã hội Đông Sơn ở khía cạnh tập trung và gia tăng giàu có, cũng như ở góc độ mâu thuẫn xung đột xã hội, có thể được trình bày tóm tắt trong bảng thống kê dưới đây:



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:05:27 PM


(http://s468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/?action-view&current=Bng4-1.jpg)
Nhìn chung, lượng vũ khí bằng đồng thau vẫn chiếm tỷ lệ cao ở hầu hết các di tích này, riêng ở Làng Vạc tỷ lệ vũ khí có phần thấp hơn. Điều đó được giải thích phần nào do vị trí của địa điểm này nằm khá xa cách các trung tâm của đồng bằng sông Lam và sâu vào vùng trung du đồi gò giáp núi, nơi mà các thế lực bành trướng khó vươn tới.

Đồ dùng sang trọng như trống, thạp, thố, bình, âu...  chiếm tỷ lệ đáng kể, đặc biệt ở các địa điểm mang ý nghĩa trung tâm như Làng Cả, Đông Sơn, Làng Vạc là những nơi sống tập trung tầng lớp quý tộc, các thủ lĩnh lớn của cả nước hay của một vùng rộng. Càng về cuối thời Đông Sơn, ở các trung tâm này, lượng đồ tuỳ táng sang trọng trong đó có di vật ngoại lai hay mô phỏng ngoại lai cũng tăng nhiều.
 
Tóm lại, từ những tư nếu vừa trình bày trên có thể thấy, sự phân hoá đã diễn ra trong xã hội Đông Sơn. Trước tiên và rõ ràng hơn cả là sự phân hoá tài sản, phân cực giàu sang, hèn kém. Từ khối cộng đồng cư dân khá thống nhất hình thành trong các thời kỳ tiền Đông Sơn, phát triển dần đến giai đoạn Đông Sơn đã phân hoá thành ba lớp người cư bản: lớp người giàu sang quyền quý, lớp dân tự do - các thành viên công xã có mức sống trung lưu và lớp người bị bóc lột.
 
Trong chuyện Bánh dày bánh chưng, tác giả Lĩnh Nam chích quái cho biết “Đồng bộc nô tỳ cày bằng lửa, trồng bằng dao”.  Điều đó nói lên tầng lớp nô tỳ ngoài phận sự phải làm việc hèn hạ trong nhà chủ, còn phải tham gia lao động trực tiếp làm ra của cải cho chủ. Như vậy là, trong xã hội Đông Sơn đã tồn tại quan hệ bóc lột nô lệ cả trong lĩnh vực sản xuất, dù rằng họ không phải là lực lượng lao động xã hội chủ yếu.
 
Điểm nổi bật và chung nhất của hiện trạng phân hoá xã hội trong xã hội Đông Sơn là, do những điều kiện lịch sử nhất định quy định, sự phân hoá đó diễn ra không thật sâu sắc Sự cách biệt giữa các tầng lớp xã hội không lớn lắm, nhất là ở giai đoạn đầu “thời Hùng Vương, vua tôi cùng đi cày, cha con cùng tắm chung một dòng”. Tài liệu khảo cổ học cũng cho hay, không gặp những mộ tuẫn táng nô lệ.

Về đại thể, những ngôi mộ giàu có vẫn được chôn theo cả công cụ sản xuất bên cạnh các đồ vật sang trọng. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ các loại mộ có thể thấy loại mộ nghèo chiếm tới 51% tổng số các ngôi mộ. Trong năm khu mộ táng văn hoá Đông Sơn quan trọng có thể thấy sự bần cùng hoá xã hội như một xu thế diễn ra tất yếu và sự cách biệt về thân phận cũng được xác lập rõ ràng. Điều đó được minh hoạ thêm bằng hiện trạng phân bố các mộ táng ở khu mộ Làng Cả. Ở khu mộ này có riêng hẳn một vành đai ngoại vi giành cho người khốn khó mà trong ngôi nhà của họ ở làng ma này không có lấy một đồ vật tuỳ thân nào. Đây là một bằng chứng nói lên sự phân hoá xã hội của người kinh kỳ Làng Cả, vùng đóng đô của các vua Hùng không chỉ dừng lại ở mức hình thành các tầng lớp người khác nhau mà đã đạt tới mức sự khác nhau được quy cách hoá thành chuẩn mực nhất định, phản ánh trong xã hội đang dần hình thành nên các giai cấp đối kháng đầu tiên.  Tuy sơ khai song cũng đủ nảy sinh nhu cầu cần phải có một bộ máy quyền lực công ra đời. Bộ máy này, ngoài các chức năng kinh tế - xã hội, còn có chức năng điều tiết các mối quan hệ, các mâu thuẫn, các quyền lợi đối lập nhau của các tầng lớp dân cư khác nhau trong một cộng đồng thống nhất.

3. Tổ chức xã hội:

Quá trình phân hoá xã hội diễn ra trên cư sở sức sản xuất phát triển cao dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong thể chế xã hội với những quan hệ tương ứng của nó được phản ánh trong tổ chức gia đình - làng xã, liên làng xã (bộ, bộ chủ nước) cùng những mối quan hệ của chúng.

Trong giai đoạn Phùng Nguyên, tương ứng với giai đoạn đầu của thời kỳ Hùng Vương, sự chênh lệch về đồ tuỳ táng biểu hiện trong khu mộ táng Lũng Hoà (Vĩnh Phú) với ngôi mộ số 9... có qua đá và các hạt trang sức bằng đá ngọc chôn theo, sự hiện diện của pho tượng đá đàn ông ở di chỉ Văn Điển (Hà Nội) được xem như dấu hiệu của sự ra đời chế độ phụ hệ. Sang giai đoạn Đông Sơn - cuối thời Hùng Vương - thời An Dương Vương có thêm nhiều bằng chứng để nói về bước chuyển sang phụ hệ đó.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:09:05 PM


Tại khu cư trú Đông Sơn đã phát hiện được các nền nhà có diện tích nhỏ khoảng 9m2 và những nền nhà mà số lượng và cách bố trí các hàng lỗ cột trên đó cho hay quy mô của nhà có diện tích rộng tới 72m2.

Tư liệu mộ táng cũng gợi lên những suy nghĩ đáng chú ý.  Trong ngôi mộ số 1 khu mộ núi Nấp (Thanh Hoá) đã phát hiện được 2 bộ xương, một của người đàn ông trạc 50 tuổi, một của phụ nữ trạc 30 tuổi được táng chồng lên nhau. Bộ xương người đàn ông nằm trên. Đồ tuỳ tảng ngoài công cụ vũ khí bằng đồng như rìu, giáo đáng chú ý là chiếc ấn bằng ngà khắc chữ Tỷ (chữ Hán) và chiếc lược ngà có 6 răng. Hai bộ xương được định chủng thuộc loại hình Inđônêdiêng mà người đàn ông có thể là một thủ lĩnh địa phương được phong chức vị. Cũng trong khu mộ này, ở ngôi mộ số 2 có xương một người đàn ông trạc 30-40 tuổi chôn cùng một huyệt với 4 cá thể khác trong đó có một trẻ em. Mộ còn chôn theo trống, thạp và nhiều đồ đồng khác, chứng tỏ chủ nhân của nó cũng thuộc lớp người có quyền thế. Mộ số 2 có chôn tới năm cá thể này có khả năng là mộ chôn riêng giành cho mỗi gia đình mà người chết lần lượt được táng chung trong một hố. Ở các khu mộ táng khác như Thiệu Dương, Quỳ Chữ. . . cũng gặp trường hợp có mộ táng chồng và là những cặp đôi nam nữ.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv2.jpg?t=1228658910)
Các tài liệu về nhà ở của người sống, mộ địa của người chết đã bổ sung cho nhau góp vào soi sáng tổ chức đơn vị xã hội cư sở có nhiều khả năng là gia đình phụ hệ. Hướng tìm tòi này còn được bổ sung bằng các truyền thuyết thời Hùng Vương như Sơn Tinh - Ngọc Hoa, Chữ Đồng Tử - Tiên Dung, Trầu Cau . . . cũng như những con số điều tra về hộ khẩu vào đầu thời Bắc thuộc cho thấy ở quận Giao Chỉ bắc Bộ) trung bình mỗi hộ có tám người, ở quận Cửu Chân (bắc Trung Bộ) trung bình mỗi hộ có khoảng 4-5 người (Tiền Hán thư - Địa lý chí - quyển 28 hạ) . Thêm vào đó, ngôi thủ lĩnh - Khun (Hùng) được truyền cho con trai theo chế độ thế tập.

Các gia đình phụ hệ này không cư trú độc lập thành một khu riêng biệt mà sống chung với nhau trong một chạ, ban đầu thường do một dòng họ lập nên.

Một vấn đề nảy sinh cần được soi sáng là phải chăng các khu cư trú thời Đông Sơn là địa bàn sinh tụ của một thị tộc, một dòng họ hay gồm nhiều gia đình từ nhiều thị tộc dòng họ khác nhau họp thành?

Tài liệu hiện biết từ các khu cư trú Đông Sơn, chưa cho những bằng chứng tin cậy về tính đa hợp của chúng. Tính lô gích của lối cư trú đa hợp này có thể thấy rõ hơn qua tư liệu mộ táng thời ấy. Ví như ở Đọi Sơn (Hà Nam), núi Nấp (Thanh Hoá). Đó là những khu mộ táng thuộc về cùng một văn hoá, thậm chí một giai đoạn văn hoá. Các đồ tuỳ táng chôn trong các ngôi mộ ở đây đều giống nhau, song chủ nhân chúng lại không cùng huyết thống, cùng sắc tộc. Phân tích các cốt sọ còn định chủng được cho thấy ở núi Nấp có 13 sọ thuộc loại hình Inđônêdiêng và 6 cốt sọ thuộc loại hình Đông - Nam á. Ở Đọi Sơn có hai sọ Inđônêdiêng và hai sọ Đông - Nam á (Nguyễn Lân Cường, 1984).

Đáng chú ý là trong quá trình diễn biến nhân chủng chuyển hoá loại hình này, đã xảy ra hỗn chủng theo xu thế giảm đen và giảm thô. Loại hình Inđônêdiêng vẫn tồn tại đậm đà trong cư dân Đông Sơn song càng ra phía bắc và càng muộn về sau thì yếu tố vàng càng đậm, loại hình Đông - Nam Á vượt trội lên. Điều đó phản ánh quá trình cộng cư đan xen tộc người diễn ra mạnh mẽ vào giai đoạn Đông Sơn muộn và hậu Đông Sơn.

Xét về mặt xã hội thì sự khác nhau về thể hình này mách chỉ rằng đó không phải là những người cùng thuộc về một dòng họ mà là từ các thị tộc bộ lạc thậm chí các bộ tộc khác nhau cùng họp lại, cùng cộng cư bên nhau. Quá trình chung sống, cùng có chung một số phận này đã tạo ra cho họ có cùng một lối sống biểu hiện ở những nét văn hoá chung.  Chính trong các điều kiện lịch sử này mà các sắc tộc, các nhóm ngôn ngữ cũng dần tác động lên nhau, hoà nhập vào  nhau để tạo thành một cộng đồng thống nhất.

Quá trình thống nhất của văn hoá Đông Sơn - một sự thống nhất trong đa dạng, thoáng, mở, xét về mặt xã hội cũng là quá trình định hình cương giới, hình thành các tổ chức thang bậc xã hội qua các mức: kẻ (chạ) - bộ - bộ chủ - nước mà trong đó kết cấu làng - nước là xuyên suốt và lối ứng xử “sống ở làng sang ở nước” đã đi vào tâm thức người Việt.

Truyện Họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái chép về cương vực nước Văn Lang như sau:

“Âu Cơ và 50 con lên đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới hồ Động Đình, nam tới nước Hồ Tôn. Chia nước làm 15 bộ”1.

1  Theo Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chính quái, Nxb.  Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr. 23.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:11:22 PM


Rõ ràng đó không phải là cương vực nước Văn Lang, cũng khó nói đó là cương vực nước âu Lạc rộng lớn hơn, sau khi An Dương Vương hợp nhất Văn Lang vào khối liên minh Tây Âu của mình.

Tuy nhiên việc chỉ định tiếp theo về vị trí của 15 bộ trong phạm vi miền Bắc nước ta từ Quảng Bình trở ra lại rất đáng chú ý, bởi lẽ cương vực đó khá phù hợp với vị trí phân bố của văn hoá Đông Sơn giai đoạn sớm và giai đoạn phát triển. Tuy nhiên ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn cực thịnh (khoảng thế kỷ thứ ba đầu thế kỷ thứ hai trước công nguyên) văn hoá Đông Sơn mang những sắc thái mới, phạm vi ảnh hưởng và mối giao lưu văn hoá được mở rộng, rõ rệt nhất là với thế giới Bách Việt vùng Giang Nam . Trong bộ di vật đồng Đông Sơn, yếu tố vùng cao (Âu) được khắc hoạ rõ nét lưỡi cày đồng hình tim, dao găm chắn tay ngang, rìu xéo hình bàn chân, trống đồng Đông Sơn (dòng thân choãi...). Những loại hình di vật này cũng gặp đồng bộ hay đơn loại trong các địa điểm Thạch Trại Sơn, Lý Gia Sơn, A Chương Trại (Vân Nam), Phổ Đà Oa Cái Lĩnh, La Bạc Loan (Quảng Tây)... Do vậy trong một chừng mực nào đó, có thể xem một phần đất phía đông nam tỉnh Vân Nam; tây nam và nam tỉnh Quảng Tây và tây nam tỉnh Quảng Đông là nằm trong cương vực hay phạm vi ảnh hưởng qua lại của vương quốc Âu Lạc.

Dù sao thì địa bàn trung tâm của văn hoá Đông Sơn (cũng là của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc) là vùng trung du và đồng bằng Bắc Việt Nam nơi đất đai phì nhiêu, cư dân dân đông đúc, giao thông thuận tiện, kinh tế văn hoá có điều kiện phát triển nhanh, văn minh chớm nở sớm (bản vẽ 2. Sơ đồ phân bố các di tích Đông Sơn ở Việt Nam).

Về kết cấu xã hội có thể nói, tổ chức làng (kẻ, chạ) là hình ảnh thu nhỏ giản đơn của tổ chức nước và ngược lại, nước là hình ảnh mở rộng cao nhất và tinh tế nhất của tổ chức làng.

Các khu cư truông Sơn được xem như những đơn vị tổ chức xã hội cư bản - những công xã nông thôn, láng giềng.  Các khu đó thường tập trung không xa lắm, họp thành một cụm trong đó nổi lên vài di tích trung tâm, ở đó thường có vết tích nghề thủ công chuyên như đúc đồng, rèn sắt, chế tạo đồ trang sức . . . , ở đó có mặt nhiều di vật nhập ngoại từ các vùng bên trong hay từ ngoại bang đưa tới, nổi lên mối quan hệ rộng rãi do vị trí trung tâm của mình.

Trong sử sách và truyền thuyết có nhắc đến chia nước Văn Lang thành 15 bộ. Vậy trong thực tế lịch sử, có tồn tại các bộ như một tổ chức xã hội cấp hai - cấp trên làng không?  Để soi sáng vấn đề này, có thể lấy hai khu vực là vùng ngã ba Hạc Trì và ngã ba Đáy - Nhuệ để xem xét.

Được biết rằng, ngay từ thời Phùng Nguyên ở đây đã hình thành hai loại hình văn hoá địa phương: loại hình Gò Bông (Phú Thọ) và loại hình Chùa Gio Hà Tây).

Đến thời Đông Sơn ở hai khu vực này phân bố dày đặc các di tích. Vùng ngã ba Hạc, đó là các di tích Thanh Đình, Gò Ré, Gò Tôm, Gò Mã Lao, Làng Cả... trong đó Làng Cả nổi lên như một trung tâm mà các đặc trưng văn hoá của nó có thể lấy làm điển hình tiêu biểu cho một loại hình văn hoá địa phương hẹp hơn mang tên loại hình Làng Cả (Trịnh Sinh và Nguyễn Thị Chịch, 1977). Còn vùng ngã ba Đáy - Nhuệ vùng quanh Nhổn hình thành một cụm di tích Đông Sơn khác bao gồm các di tích Phượng Cách, Hoàng Ngô, Vinh Quang, Chiền Vậy... mang đặc điểm của loại hình Đường Cồ.

Qua đó thấy rằng, đây là các khu cư trú của các bộ lạc khác nhau có quan hệ thân thuộc gần xa. Trong mỗi vùng này nổi lên một trung tâm được xem là nơi ở của thủ lĩnh bộ lạc hay người đứng đầu bộ mà sử sách gọi là Lạc tướng, với bộ máy quản lý điều hành của nó. Tổ chức xã hội cấp bộ này rõ ràng có thể so sánh với tổ chức mường trong các xã hội của người Mường, người Thái trước Cách mạng Tháng Tám. Tổ chức này trực tiếp điều hành các công xã nhỏ phụ thuộc. Nó có vị trí và vai trò quan trọng trong việc nắm và khiến đám dân cư trong phạm vi bộ, ở đó quan hệ thân tộc và sắc tộc thể hiện qua đặc điểm văn hoá rõ ràng vẫn còn rất đậm đà.
 
Các tư liệu tổng hợp về vàn học dân gian, ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, nhân chủng học và lịch sử thành văn cho thấy có nhiều khả năng sẽ tìm ra được ranh giới và khu vực của các bộ (lạc) xưa đó. Ví như khu vực Văn Giàng có bộ lạc Trâu, Thuận Thành (Hà Bắc) có bộ lạc Dâu, Việt Trì có bộ lạc Chim... (Trần Quốc Vượng, 1996).

Với các đặc điểm địa phương của văn hoá Đông Sơn có thể nghĩ đến một tổ chức liên bộ với một bộ chủ đứng đầu trước khi hình thành quốc gia thống nhất. Hiện chưa có nhiều chứng cứ để xét đoán vấn đề này, song có thể cho rằng ở mỗi một trong ba lưu vực sông đó đã từng cư trú không phải chỉ có một bộ lạc. Thư tịch và truyền thuyết không hề nhắc tới tổ chức cấp vùng, phải chăng điều đó được cắt nghĩa bằng kết cấu xã hội truyền thống của người Việt, kết cấu làng - nước với vị trí cư tầng của làng, vị trí liên kết chùm phủ của bộ mà khi hình thành quốc gia thì bộ được mở rộng, được gắn kết ở mức độ cao hơn để thành nước.

Tuy nhiên lịch sử cho thấy, sau khi xâm chiếm được vương quốc Âu Lạc, kẻ xâm lược đã chia cắt đất nước thành các quận để cai trị. Việc chia quận này nếu không dựa vào một tổ chức cũ có sẵn, thì ít ra cũng dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội, tập tục và lối sống của từng vùng theo chính sách “dĩ kỳ cố tục trị”.

Nhìn lại quá trình phân hoá xã hội, chúng ta thấy xã hội Văn Lang vào cuối thời Hùng Vương cũng như xã hội Âu Lạc thời An Dương Vương ngắn ngủi tiếp liền đó đã “không còn là xã hội nguyên thuỷ với sự thống trị của quan hệ huyết thống và sự bình đẳng về mọi mặt của những thành viên cộng đồng nữa. Giàu nghèo, sang hèn, bất bình đẳng xã hội đã xuất hiện; xã hội đã mang dấu ấn của xã hội có giai cấp sơ kỳ với những nét đặc trưng của hình thái Á châu. Tầng lớp dân tự do là thành viên của công xã nông thôn tuy bị bóc lột nhưng vẫn bảo tồn được nhiều quan hệ bình đẳng trong kinh tế xã hội. Tầng lớp thống trị đã vượt lên trên xã hội, nhưng chưa tách hẳn khỏi nhân dân và mức độ bóc lột chưa gay gắt. Tầng lớp nô tỳ bị bóc lột nặng nề hơn nhưng chỉ là tầng lớp thứ yếu trong xã hội. Đó là bức tranh khái quát về cư cấu xã hội... có thể phác hoạ trên cư sở tư liệu và sự hiểu biết hiện nay”1.

1. Phan Huy Lê - Chử Văn Tần: Xã hội thời Hùng Vương, in trong Hùng Vương dựng nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, T4, tr. 252.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:13:02 PM


4. Sự hình thành và phát triển nhà nước:

Nhờ những chuyển biến mang tính chất cách mạng trong sản xuất nông nghiệp, trong kỹ thuật luyện kim và chế tác kim loại đồng, sắt, sức sản xuất đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình xuất hiện sự phân công lao động xã hội quy mô lần thứ hai, tạo đà mở rộng mối quan hệ giao lưu mang tính chất thương mại trong ngoài. Những thay đổi trong kinh tế đó đã tạo ra những chuyển biến trong xã hội gây ra sự phân cực phân hóa giàu nghèo, tạo ra sự phân hoá sang hèn. Mức độ phân hoá chưa cao song lại là tiền đề cần thiết thúc đẩy sự ra đời của nhà nước. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới đòi hỏi một bộ máy điều tiết chung để giải quyết những yêu cầu mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh.

Theo chân biển rút, lúc này con người đã xuống đồng bằng thấp, chiếm lĩnh và bước đầu khai phá nó. Thiên nhiên ở đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập: vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt, vừa ưu đãi vừa thử thách. Để trụ vững và mở rộng không gian sinh tồn của mình, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh khai phá đất hoang, đẩy lùi rừng rậm, chống lũ lụt hạn hán, phát triển nghề nông trồng lúa nước, bảo đảm đủ nước cho cây trồng, đòi hỏi con người cần phải chung sức bền lòng, dày công, kiên định; cần liên kết trong một tổ chức và cần có một tổ chức để điều hành công việc chung. Đó là yêu cầu bức thiết và đó cũng là tiền đề thúc đẩy sự ra đời  sớm của nhà nước vào cuối thời Hùng Vương mà một trong các chức năng quan trọng và nổi bật của nó là tổ chức những công trình công cộng (C.Mác).

Chức năng tổ chức và huy động dân cư đắp đê phòng lụt có chứng tích là dấu vết một đoạn đê cổ có trước thời Bắc thuộc phát hiện được ở Cổ Loa và sự ghi nhận trong thư tịch.  Chức năng điều tiết nguồn nước sông vào đồng ruộng của các công xã bằng cách tổ chức đào đắp những kênh mương để dẫn nước, tưới nước được phản ảnh trong sách An Nam chí lược chép từ sách Giao Chỉ thành ký (Giao Châu ngoại vực ký): “Tưới ruộng theo nước triều lên xuống”, tất nhiên là phải bằng kênh dẫn dù là còn thô sơ. Những lưỡi mai, cuốc bằng đá bằng đồng, bằng sắt tìm được ở khắp nơi trong địa vực văn hoá tiền Đông Sơn và Đông Sơn góp thêm minh chứng cho hoạt động lao động công cộng này.

Khi tổ tiên ta bước vào thời kỳ dựng nước, cũng là lúc cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả lao động và xây dựng sáng tạo được đặt ra đồng thời và cũng không kém phần bức thiết.  Bởi lẽ nước ta ở vào một vị trí mang tính tiếp xúc, là nơi gặp gỡ của nhiều luồng giao lưu tự nhiên và văn hoá. Nơi quần tụ nhiều loại cây con cung cấp những sản vật quý hiếm như sừng tê, ngà voi, ngọc trai, trầm hương, quít, vải... là những đặc sản hấp dẫn, gợi sự thèm muốn, trở thành vừa là đối tượng, vừa và động cư của những cuộc xâm lược cướp bóc. 
Về mặt này - mặt xung đột vũ trang gia tăng - tài nếu khảo cổ học cho thấy một hiện tượng đáng chú ý. Sự phát triển về mặt số lượng của vũ khí từ chỗ dưới 3% tổng số hiện vật ở thiên niên kỷ 2 đầu thiên niên kỷ 1 trước công nguyên, đã tăng vụt lên tới trên 60% tổng số di vật ở nửa sau thiên kỷ 1 trước công nguyên. Hơn thế, vào giai đoạn Đông Sơn nhiều loại vũ khí mới bằng đồng thau ra đời như dao găm, kiếm ngắn, mũi tên ba cánh, nỏ, chông củ ấu... nhiều phương tiện phòng hộ xuất hiện như tấm che ngực, bao tay bằng đồng, khiên mộc bằng da . . . Hiện tượng khảo cổ học trên chứng tỏ vào cuối thời Hùng Vương và thời An Dương Vương, con người và xã hội đã trải qua những biến động lớn lao. Chiến tranh trở thành hiện tượng quyết liệt và phổ biến được thể hiện thành các cuộc xung đột bên trong và chống xâm lược bên ngoài.

Xung đột bên trong phản ảnh quá trình hợp nhất đất đai, liên kết tộc người thành quốc gia dân tộc. Điển hình là cuộc chiến tranh Hùng - Thục kéo dài nhiều năm và kết thúc bằng sự hợp nhất giữa hai tộc Lạc Việt và Âu Việt.

Trước cuộc chiến tranh vĩ đại của người Việt chống sự xâm lược bành trướng của đế chế Tần được thư tịch cổ của chính người Trung Hoa nói đến Sử ký của Tư Mã Thiên (thế kỷ I trước công nguyên), Hoài Nam tử của Lưu An (thế kỷ II Tr.CN) thì ngoài ra còn từng có những cuộc chiến tranh tự vệ quy mô nhỏ khác được phản ánh trong nhiều truyền thuyết chống các thứ giặc như “giặc man”, “giặc Mũi đỏ”, “giặc Ân”  mà nổi bật là truyện Thánh Gióng, ngợi ca sức mạnh và tinh thần chiến đấu ngoan cường của cư dân Văn Lang trong buổi đầu dựng nước:

“Yêu cầu tự vệ chững ngoại xâm cùng với yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp, đã có tác động rất mạnh vào quá trình hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhà nước đó ra đời có phần sớm hơn điều kiện chín muồi của sự phân hoá xã hội và bên cạnh chức năng thống trị, bóc lột, còn phải đảm đương hai chức năng công cộng quan trọng là xây dựng các công trình thuỷ lợi và tổ chức cuộc chiến đấu chống ngoại xâm”1.

1. Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, T.l, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 140.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:14:19 PM


Theo Việt sử lược, nước Văn Lang được thành lập vào đời Trang Vương nhà Chu (696-681 Tr.CN). Ghi chép này có phần phù hợp với tư liệu khảo cổ học ở giai đoạn đầu của văn hoá Đông Sơn khi các đặc trưng cư bản của văn hoá Đông Sơn trong đó có các loại hình vũ khí đã xuất hiện và có mặt đầy đủ. Trong tình thế, trong bối cảnh xã hội như vậy, tổ chức nhà nước đã xuất hiện tuy còn đơn sơ.

Một trong những đặc trưng cư bản của nhà nước là bộ máy quyền lực được thể hiện ở các mặt quan trọng như bộ máy hành chính, lực lượng vũ trang thường trực, luật pháp...  Về bộ máy hành chính với hệ thống quan chức của nó đã được ghi chép sơ sài trong thư tịch và được lưu ảnh trong ký ức dân gian qua truyền thuyết, có thể thấy được ba cấp độ quan chức tương ứng với ba cấp của bộ máy cai trị.

Đứng đầu các kẻ chạ, các làng xã là các bồ chính. Đó là các chức dịch nhỏ ở các cư sở được sách gọi là trăm quan. Bồ chính hay pôtrơring là những già làng có kinh nghiệm sống, có uy tín được kính nể như bố mẹ. Uy quyền của họ ngày càng tăng nhờ giàu sang và nhờ có chức quyền. Trước Cách mạng Tháng Tám, ở một số vùng nông thôn nước ta, người đứng đầu một tổng gọi là bồ đình.
Ở các bộ có các Lạc tướng đứng đầu, cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Lạc tướng vốn là các tù trưởng bộ lạc chuyển hoá mà thành. Họ có các trưởng tá và đội thân binh giúp việc cai quản và bảo vệ.

Trên hết là bộ máy trung ương do Hùng Vương đứng đầu và các Lạc hầu giúp việc cùng đội thân binh làm nhiệm vụ bảo vệ. Danh hiệu Hùng có lẽ là một từ Hán phiên âm một từ Việt cổ có âm nghĩa gần với những từ như Kun, Thun của người Mường, người Thái chỉ người tù trưởng, thủ lĩnh đứng đầu một mường lớn.

Tính chất của lực lượng vũ trang cũng là một đặc điểm quan trọng để xem xét quá trình và mức độ hình thành hay hoàn chỉnh của một nhà nước. Vấn đề này sẽ được đề cập cụ thể trong chương sau. Ở đây chỉ xin nhấn mạnh rằng qua phân tích các nguồn tư liệu khảo cổ học cho thấy lúc này đã hình thành một lực lượng vũ trang chuyên với tổ chức và trang bị tương ứng cùng với tổ chức dân binh tạo thành sức mạnh vũ trang toàn dân được manh nha, có những tiền đề để tiếp tục phát triển và hoàn thiện ở các thời kỳ lịch sử tiếp theo.
Những dấu hiệu khác của nhà nước như luật pháp, thuế khoá . . . hiện chưa được tài liệu khảo cổ soi sáng.

Tuy nhiên, các hiện tượng đó cũng được gợi ra, được ghi lại trong thư tịch nói về việc Mã Viện tâu lên vua Hán về những điều khác biệt của luật người Việt so với luật người Hán, nói về hiện tượng Lạc hầu “ăn ruộng” hẳn muốn nói dện các lạc hầu được hưởng bổng lộc của vua Hùng qua việc thu lợi từ nguồn ruộng đất được cấp phát.

Từ những tài liệu vừa được trình bày ở trên cho thấy, xã hội Việt cổ mà văn hoá Đông Sơn phản ánh và được đánh dấu trong tâm khảm của nhân dân qua các truyền thuyết, các huyền thoại về thời dựng nước hay được le lói ít nhiều trong các đoạn thư tịch cổ, xã hội đó đã trải qua một thời kỳ quá độ kéo dài ngót một thiên niên kỷ mà trên quãng đường dẫn tới văn minh hình thái nhà nước ở chặng đầu và chặng cuối bộ mặt xã hội Đông Sơn này không giống nhau, có chuyển hoá tiệm tiến và có chất biến.

Những dấu hiệu, những đặc điểm của thời kỳ quá độ này được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác phân tích một cách toàn diện theo một lô gích biện chứng chặt chẽ và phương pháp lịch sử xít xao, có thể hiểu như những hiện tượng phổ biến hay những đặc thù riêng của mỗi xã hội khi bước vào văn minh.

Gần đây khi nghiên cứu lịch sử cổ đại các nước ở khu vực Đông Nam Á, một số học giả nước ngoài (Tong En gheng 1992, C.Higham 1989...) cũng chú ý tới những đặc thù phương Đông, đã có công bóc tách và khái quát những đặc thù đó thành nội hàm của một giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại - một thời kỳ quá độ riêng biệt nằm giữa xã hội không giai cấp và xã hội có giai cấp. Tổ chức xã hội đó được gắn với một khái niệm, được gọi bằng một cái tên Chiefdom mà qua tiếng Việt có thể tạm gọi là tù trưởng quốc hay thủ lĩnh quốc.
Đối chiếu với những tiêu chuẩn chung của xã hội dạng này như: lao động công ích, phân hoá xã hội thành giàu nghèo, sang hèn, thương mại, chiến tranh... có thể dễ dàng nhận ra xã hội thời Hùng Vương - An Dương Vương, nói cách khác khi xã hội Đông Sơn này mang đầy đủ những đặc trưng cư bản của xã hội thủ lĩnh quốc, song có những đặc điểm khiến nó cuối cùng không còn dừng lại ở mức phát triển này nữa.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:17:25 PM


Nhìn một cách khái quát, những nét tù trưởng quốc của xã hội Đông Sơn được thể hiện:
Về mặt kinh tê. Đã có những chuyên hoá nhất định trong các ngành sản xuất cư bản và quan trọng. Hoạt động thương mại không còn là trao đổi ngẫu nhiên mà đã được kích thích bởi quan hệ thị trường. Đơn vị sản xuất cư sở là các gia đình nhỏ, song đã có những liên kết tự nhiên và tất yếu giữa các gia đình và các công xã thông qua các tổ chức quản lý của xã hội để tiến hành các hoạt động công ích, phục vụ nhu cầu chung.
Về mặt xã hội: Quan hệ thân tộc vẫn ở vị trí trội vượt bên cạnh quan hệ láng giềng. Xung đột và chiến tranh đã trở nên thường xuyên hơn và không còn chỉ là do hằn thù hay do vi phạm những điều cấm kỵ, vi phạm những tập tục của nhau mà nguyên nhân chính được tìm ở các động cư kinh tế - xã hội chi phối.
Về mặt chính trị: (tức bộ máy quản trị xã hội) đã bỏ xa cái tổ chức được điều hành bởi thủ lĩnh và hội đồng già làng với tổ chức dân binh khi có biến mà xã hội đã được vận hành bởi một tổ chức mà ở đó người thủ lĩnh cai trị không chỉ bằng uy tín và tài năng mà còn bằng uy quyền áp đặt cưỡng chế và thông qua các cá nhân thân tộc được liên kết theo thứ bậc và quyền hạn của mình cũng như thông qua tổ chức thân binh như lực lượng bảo vệ các nhóm quý tộc này.
Tuy nhiên ở nửa sau của sự phát triển văn hoá Đông Sơn, xã hội đã vượt qua khuôn khổ của xã hội tù trưởng quốc do có những sự biến tạo ra tình thế mới dẫn đến những kết cục mới, đưa xã hội Đông Sơn vượt qua giai đoạn quá độ tất yếu để bước vào xã hội giai cấp với những đặc điểm riêng của mình.
Quá trình hình thành và phát triển nhà nước cổ đại của người Việt được sơ đồ hoá như sau (xem bảng 5).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng5.jpg?t=1228659401)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:19:26 PM


III. NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG


Văn minh sông Hồng, văn minh Đông Sơn hay văn minh Việt cổ đều có chung một nội dung phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước buổi đầu của dân tộc Việt Nam nhìn từ góc độ địa lý nhân văn, khảo cổ học hay lịch sử tộc người.  Về thời kỳ lịch sử này, tổ tiên ta từ xưa đã sớm nhận ra nền văn hiến được dựng xây lâu đời, hào quang văn minh toả sáng. Nguyễn Trải trong Bình Ngô Đại Cáo đã tuyên bố long trọng, khẳng định đanh thép:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc - Nam cũng khác”...


Còn Vũ Quỳnh trong lời tựa sách Lĩnh Nam chích quái đã khái quát: “Nước ta khởi đầu từ Hùng Vương đã khá văn minh. Núi non kỳ lạ, đất đai linh thiêng, nhân dân anh hào, chuyện tích thần kỳ, thường thường vẫn có...”.

Bằng cảm quan của tâm thức sâu thẳm, của tâm linh huyền diệu, tác giả đã tái hiện nên bức tranh thoáng nhìn có phần nhuốm màu, đượm vẻ thần tiên, song đã làm nổi lên được cái thực chất của bước chuyển mình của dân tộc; những đổi thay to lớn của đất nước, xã hội và con người trong khí thế hào hùng tiến vào văn minh.

Núi sông, đất đai, bờ cõi, không gian sống này của thời các Vua Hùng quả đã khác xưa lắm lắm. Đầm lầy đã được phủ lên màu xanh của lúa. Rừng rậm lùi xa, xóm làng, đồng ruộng, bến sông cứ mở rộng, trải dài mãi mãi... Một cuộc đổi đời thực sự như vậy há chẳng phải là điều kỳ lạ, linh thiêng?

Và cái sức mạnh tạo ra sự đổi thay kỳ lạ đó, tạo ra bộ mặt văn minh đó chính là nhân dân anh hào đã lớn lên lẫm liệt trong khí thiêng sông núi - cái khí thiêng do chính con người tạo ra bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu đào, nó được hoà nhập trở lại vào họ, tạo ra những điều thần kỳ. 

Bức tranh lịch sử, bộ mặt văn minh buổi đầu dân tộc được khôi phục lại bằng ký ức và suy tưởng đó, đã phần nào phản ảnh được sự thật, đáp ứng được tình cảm của nhân dân ta hướng về cội nguồn, ngưỡng mộ thành kính tiên liệt.
 
Chỉ đến ngày nay, cùng với ý thức dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ, lịch sử nhiều nghìn năm được động viên góp vào đổi mới đất nước, chấn hưng dân tộc, những giá trị, những chuẩn mực chứa đựng trong di sản văn hoá được khai thác, bảo tồn và phát huy, văn minh Việt Nam thời dựng nước đầu tiên được dựng lại ngày một chính xác hơn, đầy đủ hơn. Câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. . .” như kim chỉ nam chuẩn xác, định hướng cho những tìm tòi về cội nguồn dân tộc, phục dựng văn minh.
Quá trình hình thành và diễn biến của nền văn minh sông Hồng được phục dựng chủ yếu trên các cứ liệu khảo cổ học thu thập được có không gian phân bố và thời gian tồn tại được thư tịch cổ và truyền thuyết gọi là nước Văn Lang đời các Vua Hùng và nước Âu Lạc đời vua Thục.

Các mạch văn hoá khởi đầu chảy từ các văn hoá Hoà Bình và hậu Hoà Bình hình thành các nguồn hợp tiếp theo qua các văn hoá hậu kỳ đá mới được ngưng kết lại trong văn hoá Phùng Nguyên - nhân lõi đầu tiên và điểm xuất phát của văn minh sông Hồng.

Văn hoá Phùng Nguyên có niên đại khởi đầu khoảng 4000 năm cách ngày nay, có địa vực phân bố chủ yếu là các tỉnh thuộc trung du và đồng bằng cao sông Hồng lan rộng ra cả ven biển và toả xa xuống phía nam. Các di tích Phùng Nguyên thường có quy mô rộng (hàng vạn mét vuông) tầng văn hoá dày (trên một mét) chứng tỏ mật độ dân cư đông đúc và cư trú lâu dài ổn định của cư dân nông nghiệp mà chứng tích của hoạt động kinh tế này là bộ công cụ bằng đá đồ sộ và phong phú cùng với vết tích nhiều hạt lúa gạo tìm được. Bước đầu đã có sự chuyên hoá một số nghề thủ công: làm đá, nung gốm. Vết tích sử dụng và chế tạo kim loại đã thấy ở nhiều nơi (ít ra là ở 11 địa điểm). Tài năng kỹ thuật và nghệ thuật đạt đỉnh cao biểu lộ trên các đồ trang sức tinh tế bằng đá, những đồ gốm có hoa văn trang trí, cân xứng, mềm mại, hài hoà.  Đặc điểm của tư duy mỹ cảm của người Phùng Nguyên là phản ánh thế giới khách quan một cánh ước lệ, không chuộng chi tiết, tỉa tót mà chú trọng làm bật cái thần, cái sống động có thể thấy qua các tượng đầu gà bằng đất nung ở Xóm Rền (Phú Thọ), tượng người đàn ông bằng đá ở Văn Điển (Hà Nội)...




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:21:12 PM


Theo dõi quá trình hình thành và phát triển các văn hoá tiền Đông Sơn và Đông Sơn có thể nhận ra những nét đặc Trưng cư bản của các nền văn hoá này là đều có khởi nguồn từ văn hoá Phùng Nguyên. Từ hình dáng công cụ, vũ khí, đồ trang sức và nghệ thuật đều được tạo lập từ thời Phùng Nguyên, chúng chỉ được đa dạng về kiểu loại và chất liệu ở các giai đoạn sau.

Từ khoảng thế kỷ XIII-VIII trước công nguyên, trên địa bàn văn hoá Phùng Nguyên và các văn hoá ở bình tuyến Phùng Nguyên kế tiếp nhau phát triển thành các văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun ở vùng sông Hồng, Bái Man, Quỳ Chữ ở vùng sông Mã và Rú Cật, Rú Trăn ở vùng sông Lam.

Tiếp tục phát triển truyền thống Phùng Nguyên, một trong những đặc trưng quan trọng của các giai đoạn kế liền trước Đông Sơn là sự phát triển bùng nổ của kỹ thuật luyện kim đồng thau và kỹ thuật đúc chế đồ đồng thau.

Nhân tố mới, thể hiện cuộc sống sôi động, mạnh mẽ phóng khoáng, bám trụ vững chắc và mở rộng không gian sinh tồn xuống miền châu thổ sông nước mênh mông được in dấu trên đồ gốm với các hoa văn khuông nhạc cuộn sóng.  Văn hoá Gò Mun lại thể hiện sự nhân lên và trở về với truyền thống Phùng Nguyên ban đầu được nhận biết qua hàng loạt di vật và nhất là qua hoa văn biểu trưng.
 
Ý nghĩa tạo nền cho văn minh sông Hồng ra đời của các văn hoá tiền Đông Sơn này thể hiện ở tiến bộ kỹ thuật, ở sự chọn lọc, xác lập và góp mới những yếu tố văn hoá, biến chúng thành đặc điểm, thành truyền thống văn hoá phản ánh tính cách và sở đắc chung, định hình những thói quen lao động, tâm lý, thẩm mỹ của một cộng đồng người phát triển đang đi vào ổn định.

Văn hoá Đông Sơn - Hiện thân của văn minh sông Hồng

Những tiền đề vật chất xã hội được chuẩn bị từ các giai đoạn trước, nay trong hoàn cảnh sống và các mối giao tiếp mới đã được phát huy mạnh mẽ tạo ra diện mạo Đông Sơn với những đường nét hết sức phong phú, đa sắc và độc đáo thể hiện sự đổi thay chất biến trong toàn bộ đời sống của người Việt cổ.

Người Đông Sơn lúc này đã cư trú trên mọi địa hình trong nhiều vùng sinh thái khác nhau trải rộng từ vùng núi phía Bắc đến vùng sông Gianh.

Chính do đặc điểm cư trú trong các vùng sinh thái khác nhau cộng với những khác biệt về sắc tộc và tốc độ phát triển của từng nhóm tộc cụ thể đã tạo ra sự khác biệt vùng, sự khác biệt địa phương của văn hoá Đông Sơn ở ba trung tâm sông Hồng, sông Mã và sông Lam.
Nét độc đáo của loại hình Đường Cồ vùng sông Hồng thể hiện ở đồ gốm có chất lượng chế tác cao, gốm mịn màu trắng ngả xám hoặc phớt hồng được trang trí hoa văn thừng dập thành mắt võng hoặc ấn lõm nhăn hình tổ ong, đồ đồng có lưỡi cày hình tim, dao gặt hình vỏ trai, rìu lưỡi xéo gót vuông, giáo lao họng ngắn rìa lưỡi lượn. . . Trong khi đó, ở loại hình Đông Sơn vùng sông Mã nét riêng lại thể hiện ra ở đồ gốm thường có áo đỏ, lưỡi cày hình chân vịt, rìu lưỡi xéo gót tròn, giáo lao họng dài bản lưỡi rộng hình tam giác có rãnh thoát máu. Còn ở loại hình Làng Vạc vùng sông Lam, cư dân ở đây lại ưa chuộng dùng đồ gốm có áo nâu sẫm, lưỡi cày đồng vai ngang, vòng trang sức đồng có đính các chuông nhạc...  Song tính thống nhất Đông Sơn được thể hiện tập trung ở bộ vũ khí bao gồm những rìu lưỡi xéo, dao găm có đốc hình củ hành, ở những trống, thạp, thố đặc sắc...

Từ những di tồn vật chất đúc kết lại hình thành những đặc Trưng cư bản của văn hoá Đông Sơn có thể nhận ra những đặc điểm và giá trị tiêu biểu của nền văn minh sông Hồng.  Các di tồn vật chất nói lên sự vận động chất biến của văn hoá Đông Sơn thể hiện ở sự xuất hiện một loạt những sản phẩm mới, những loại hình di vật mới bằng đồng, bằng sắt, cho thấy nền văn minh sông Hồng được hình thành và phát triển trên cư sở cuộc cách mạng luyện kim diễn ra như kết quả phát triển nội tại tất yếu của những thành tựu kỹ thuật mà những thế hệ, những lớp lớp cư dân ở đây kế tiếp sáng tạo và giành được.

Những thế hệ cư dân thời Hùng, thời Thục, khi họ nấu chảy kim loại, cũng là lúc họ từng bước đúc nên nền văn minh sông Hồng.
Bằng những công cụ tiên tiến có hiệu suất cao, với những kinh nghiệm làm ăn lâu đời được đúc kết lại, người dân Lạc, dân Âu, tuy không rời bỏ nền kinh tế khai thác mà lúc này đối tượng đánh bắt, thu hái vẫn còn rất phong phú dồi dào, dễ kiếm, đã tập trung sức vào canh tác nông nghiệp, đưa kỹ thuật trồng lúa nước đạt tới đỉnh cao của thời đại, hình thành phức hợp kỹ thuật canh tác tiên tiến: Thuỷ lợi - cày kim loại - sức kéo trâu bò - cấy trồng hai vụ. Ngoài lúa, người thời đó còn trồng rau quả như bầu bí, đỗ, cà, dưa hấu, trám, nhãn, vải, na, cau, dưa. . . mà vết tích của chúng được các nhà khảo cổ học phát hiện ở nhiều nơi, trong nhiều di tích tiền Đông Sơn, Đông Sơn.

Trong nền nông nghiệp trồng lúa nước, thì nước nổi lên như một yếu tố quan trọng, một biện pháp kỹ thuật hàng đầu Người xưa đã biết đắp đê để ngăn chặn lũ. Vùng Đông Anh - Cổ Loa đã phát hiện được dấu tích một đoạn đê cổ có trước thời Bắc thuộc. Họ cũng biết lợi dụng thế nước cao thấp để đưa nước vào tưới ruộng theo nước triều lên xuống (được ghi trong Giao Chỉ thành ký, được dẫn lại trong An Nam chí lược đời Trần). Bảo đảm cho cây lúa đủ nước để sinh trưởng quả là một việc làm đầy gian lao vất vả. Khi gặp hạn hán phải đưa nước vào ruộng để chống hạn, khi mưa bão quá nhiều gây ngập lụt, cần tiêu nước chống úng, tất cả đều cần đến sự có mặt của các con kênh mương nhân tạo và điều đó chỉ có thể thực hiện nhờ sự hiệp lực chung của nhiều gia đình, nhiều làng xóm, dưới sự điều hành chung của bộ máy quyền lực công.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:27:22 PM

Như vậy là, nước ảnh hưởng quyết định đôi với lúa nước, một loại cây lương thực chính của cư dân thời đó; đồng thời nước cũng cung cấp nguồn đạm thuỷ sản dồi dào cùng nhiều sản vật quý hiếm khác như ngọc trai - đồi mồi. . . Nước còn là không gian nối liền các làng xã lại với nhau và với các miền đất xa xôi trong khu vực. Định tính sông nước này của nền văn minh sông Hồng đã có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt đời sống của cư dân Văn Lang, Âu Lạc. Từ những sinh hoạt vật chất hàng ngày như ở, ăn, mặc, đi lại đến những phong tục tập quán tín ngưỡng, lễ hội, tâm lý, ý thức đều dựa trên nền tảng của nông nghiệp lúa nước, là sản phẩm và là hiện thân của xã hội nông nghiệp.

Bức tranh văn hoá toàn cảnh này hiện lên đậm đà độc đáo ở mọi mặt của đời sống.

1. Về ở:

Nổi bật lên là cách chọn đất định cư của người Việt cổ.  Họ thường chọn nơi vừa thuận lợi cho đi lại làm ăn, lại vừa an toàn cho cuộc sống. Thế đất đó thường là có sông suối bọc quanh, có đồi gò che chở (như ở Làng Cả, Đông Sơn, Làng Vạc Cổ Loa... những trung tâm cư trú của người thời Đông Sơn).

Sách Lĩnh Nam chích quái có chép việc dựng hàng rào gỗ (mộc sách) để bảo vệ nơi ở thời Hùng Vương. Cách phòng ngự truyền thống của các làng người Việt là trồng tre gai thành luỹ quanh làng. Lưu An tác giả sách Hoài Nam tử (thế kỷ II Tr.CN) có nhận xét “Bách Việt không có thành quách thôn ấp. Họ ở trong vùng lau trúc, bên bờ sông giữa rừng tre”. Luỹ tre xanh đã trở thành biểu tượng làng quê của người Việt, một kiểu làng trại , “làng chiến đấu” hết sức độc đáo. Qua những đám gỗ cọc, cột tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn qua hình khắc ngôi nhà trên trống đồng có thể thấy ngôi nhà của cư dân Đông Sơn là nhà sàn rất thích hợp với điều kiện ở trên thế đất dốc, sống giữa cây rừng, nước lội. . .

2. Về ăn uống:

Lương thực chủ yếu của người thời Hùng Vương - An Dương Vương là lúa gạo 1, trong đó gạo nếp được dùng phổ biến 2. Bữa ăn truyền thống của cư dân Đông Sơn là cơm-rau-cá. Đồ ăn được chế biến thích hợp cho từng dạng sinh hoạt: bánh dày, bánh chưng cho các ngày lễ tết. Bỏng rang, cơm nắm, cơm lam cho những cuộc đi săn thú rừng hay hành quân chiến đấu . . .

3. Về trang phục:

Về đầu tóc, phổ biến là lối cắt tóc ngắn ngang vai 3 và búi tóc sau gáy 4  đôi khi cũng thấy hình người tết tóc hoặc buộc tóc thành đuôi sam, thả dài sau lưng hay vấn cuộn trên đỉnh đầu. Các tài liệu đều phản ánh lối ăn mặc giản dị của người Đông Sơn: ở trần, đóng khố, đi chân đất. Sự trang điểm ở người phụ nữ, nhất là những phụ nữ thuộc lớp người quyền quý có phần cầu kỳ sang trọng hơn: Khăn, yếm, áo, váy, thắt lưng đều được thế hiện trên chuôi cán dao găm hay kiếm ngắn cùng với mũ, váy lông chim được hoá trang thấy ở mọi lớp người trong ngày hội, khảo cổ học còn phát hiện ra những tấm đồng che ngực hình vuông hay hình chữ nhật uốn cong có vòng khuyên hay lỗ buộc trên mặt trang trí hoa văn người chèo thuyền, cặp cá sấu, chồn cáo điển hình của nghệ thuật Đông Sơn, những bộ khoá thắt lưng hình tượng rùa hay chim . . . có thể đó là võ phục của các thủ lĩnh.

4. Về giao thông:

Phương tiện giao thông quan trọng nhất của người Đông Sơn là thuyền, ghe, bè, mảng. Con thuyền còn là phương tiện cư động chiến đấu rất quan trọng. Đời sống sông nước và hình ảnh con thuyền đã đi vào tâm thức, trở thành đối tượng phản ánh của nghệ thuật hay trở thành vật thiêng đưa xác và hồn người chết về thế giới cội nguồn của họ.

Nếu như thuyền gắn với sông nước thì voi gắn với đời sống núi rừng. Người Đông Sơn đã thuần dưỡng voi để chuyên chở. Hình voi chở trên lưng chiếc trống đồng trang trí trên cán dao găm Làng Vạc đã nói lên điều đó. Voi còn được người Đông Sơn và tổ tiên ta sau này sử dụng trong chiến trận. Sử sách đều nhắc đến những con voi đầy dũng mãnh và nghĩa cử của Bà Trưng, Bà Triệu, của đức Thánh Trần Hưng Đạo trở thành con vật thiêng, được khắc hoạ trên qua đồng của người Đông Sơn, đắp thành tượng voi chầu ở các cổng đình làng người Việt. Thêm vào đó, trong một chừng mực nhất định thì ngựa chắc hẳn cũng đã được sử dụng trong giao thông hay trong trận mạc.

1.   Nhiều hạt thóc, vỏ trấu tìm được ở các di chỉ như Đồng Vông, Xuân Kiểu, Đồng Đậu, Từ Sơn, Đồng Dền, Gò Mun, Gò Chiền, Chợ Ghềnh, Trung Màu, Chiền Vậy, Làng Cả, Đồng Tiến, Làng Vạc . . .
2. Khảo cổ học đã tìm được nhiều mảnh chõ vỡ và cả chõ nguyên, thấy ở nhiều di chỉ như An Đạo, Đông Sơn, Đồng Tiến, Làng Vạc . . .
3. Lối để tóc này thể hiện ở các tượng trên nắp thạp Đào Thịnh, hình người khắc trên trống đồng.
4. Hình người trên các thuyền ở trống Làng Vạc - Đồi Ro - tượng người trên muôi đồng Việt Khê.
Hình tượng người Việt cổ cắt tóc ngắn ở trần đóng khố, đi chân đất đã gây ấn tượng mạnh mẽ với người phương Bắc, như một cái gì đó thô, thấp, gần với hoang dã. Song nó lại rất thích hợp với điều kiện tự nhiên môi trường khí hậu, sinh hoạt và chiến đấu của người thời đó. Cắt tóc ở trần, đóng khố đi chân đất rất tiện cho việc bơi lội dưới nước, hoạt động và chiến đấu trên mặt nước.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:30:49 PM


Nền văn minh Đông Sơn phát triển rực rỡ, độc đáo, có sức sống mãnh liệt, được thể hiện cực kỳ phong phú và đa dạng trên mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần.

Về phương diện thẩm mỹ từ những cảm xúc và sự thể hiện cái đẹp của người Đông Sơn nổi lên cái trau chuốt, cái tinh tế qua các hoa văn hình học đôi xứng hài hoà trên đồ gốm và đồ đồng, ở đó các đường nét hay nền móng của trang trí đều được thể hiện rất tỉ mỉ, tinh tế. Cảnh vật và sinh hoạt sống động của con người khắc hoạ trên đồ đồng lớn, các bức tượng tròn Đông Sơn được phác dựng đại thể về khối hình, song các chi tiết được nhấn mạnh ở những bộ phận, những vị trí mà nghệ thuật cho là đắt nhất, nhằm nêu bật cái bản chất, cái thần thái tàng ẩn trong đó.

Các pho tượng người tạc trên chuôi dao, kiếm đều có chung một phong cách thể hiện là người đứng thẳng, hai mắt mở to, hai tay chống nạnh, hai tai đeo vòng lớn trễ vai.  Tượng người Gò Mun được tạc ở tư thế ngồi xổm bó gối đầu hơi nghiêng toát lên cái nội tâm của nhân vật đang trầm tư suy ngẫm. Tượng người thổi kèn trên cán muôi đồng Việt Khê được làm nổi lên cái hình bóng chung, bàng bạc của một đêm trăng nước mênh mang...

Nghệ thuật tạo dáng và cách chọn màu cũng nói nhiều đến tính cách của người sáng tạo ra chúng.

Điểm lại toàn bộ đồ vật mà chủ nhân văn minh sông Hồng tạo ra, chúng ta nhận ra cái độc đáo thấm đậm một cảm xúc thẩm mỹ chung là cái mềm mại dịu nhẹ và trầm đọng sâu lắng biểu hiện qua những vòng trang sức bằng đá quý ở đó sản phẩm được tạo ra có hình dáng thanh thoát với các gam màu nhã, dịu nhẹ, xanh lơ, trắng ngà, xanh lá mạ, vàng nhạt...

Cũng vậy, những bình vò bát đĩa, những đồ đựng nói chung dù là bằng gốm hay bằng đồng thì dáng chung của chúng đều tròn trịa, ít những đường gãy góc, những mảng đắp nổi gồ ghề. Nhìn chung nhịp nhàng và cân xứng là hai mẫu số chung của mô hình thẩm mỹ Đông Sơn.

Nhạc cụ đào được hay được khắc hoạ trên đồ đồng Đông Sơn như cồng, chiếng, sênh, phách, chuông, đèn, sao. . . đặc biệt là trống đồng đều là những dụng cụ truyền tín hiệu hành động hay tạo ra sự hưng phấn được cuốn hút vào sinh hoạt cộng đồng như nhảy múa, ca hát, hò reo...

Những nhạc cụ này chứa rất nhiều nét riêng phản ánh tâm lý, mỹ cảm, tính cách riêng của chủ nhân chúng.

Có thể tìm thấy nhiều phong tục, tập quán, tín ngưỡng, trò chơi, lễ hội còn in dấu trên các đồ vật của người Đông Sơn.
Xăm mình giống loài thuỷ quái là xuất phát từ nhu cầu cuộc sống luôn tiếp xúc với nước, ở đó có nhiều con vật hung ác như cá sấu, thuồng luồng, rắn. . . nhằm tránh sự làm hại của chúng. Vết tích xăm mặt, xăm trán còn thấy trên một số chuôi tượng dao găm. Và dần trở thành một tiêu chí đẹp, mạnh mẽ của người Việt Cổ. Tục nhuộm răng đen, cũng như tục ăn trầu, hàm chứa một chuẩn mực đạo đức ứng xử của con người trong giao tiếp.

Các tập tục sinh hoạt cộng đồng khác như đánh cồng, giã cối hát đối, bơi thuyền, đâm trâu, đánh trống đồng. . . cũng được phản ánh đậm nét trên trống đồng Đông Sơn.

Có những tập tục phản ảnh tư tưởng căn bản của người Việt cổ về cách nhận thức và ứng xử với cái sông và cái chết.  Từ quan sát sự sống của bản thân và vạn vật xung quanh, ở người Việt cổ đã nảy sinh, dần hình thành một quan niệm biện chứng thô sơ về sự hình thành, vận động và phát triển của sự vật với sự kết hợp và tách biệt của hai mặt đối lập: Đất-trời, Nước-Lửa, Đêm - Ngày, Mưa-Nắng, Đực-Cái được cô đúc lại trong ý niệm phồn thực và được thể hiện ra ở vô vàn các hiện tượng cụ thể khác nhau: từ những linga-yoni bằng đất nung tìm được ở di chỉ Mả Đống (Hà Tây) đến những cặp tượng nam nữ giao hợp trên nắp thạp Đào Thịnh; từ những cặp lồng -yoni, những cặp hưu, nai, chồn, cáo đực-cái nối đôi trong vòng quay trời đất đến trò chơi chồng nụ - chồng hoa, khoèo chân ngoắc tay dưới nhịp trống được khắc hoạ trên mặt trống đồng...
 
Ý thức về giống nòi, về cộng đồng được thể hiện thành tín ngưỡng sùng bái tổ tiên và những người đã khuất; lo tang ma chôn cất chu đáo, lo mồ yên mả đẹp, coi đó là nơi đất thiêng được các thế hệ con cháu sau chăm nom cẩn trọng, tục tảo mộ hằng năm của dân ta là biểu hiện lòng sùng kính đó.
 
Sùng kính, tôn thờ những anh hùng văn hoá, anh hùng chiến trận cũng làm nên nét đặc sắc của tín ngưỡng thời Văn Lang - Âu Lạc. Sơn Tinh, Gióng, Cao Sơn, Quý Minh, Cốt Tung... được thần thoại hoá. Những Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Nành. . . tên gọi gợi lên công lao của họ trong sản xuất nông nghiệp, trong việc tìm ra và thuần hoá các cây con mới, được tôn thờ ở khắp nơi.

Đời thường với những con người và cảnh vật đậm đà sắc thái đồng quê, trong tâm linh người Đông Sơn đã được khác hoạ, tô phóng thành những biểu tượng riêng cho từng mặt hay trọn vẹn cho cả cái đời thường đó.

Chim lạc - hay con cò - một loại chim nước kiếm ăn theo đàn rợp bóng trên mặt đầm hay đơn chiếc bên bờ ao - được khắc hoạ ở vị trí trang trọng trên mặt trống đồng, được nghệ nhân Đông Sơn chọn làm biểu tượng cho thấy đức tính chuyên cần làm ăn, chịu đựng lam lũ cốt giữ tiếng ở đời, sống sao cho trong sạch , thanh cao.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:32:10 PM

Cá sấu một loại vật dũng mãnh vẫy vùng làm chủ nơi sông nước được cách điệu thành con giao long, hoá thân vào con thuyền để nâng đỡ các chiến binh đang ngồi trên đó, hoặc cuộn chầu từng đôi dưới mũi thuyền (như ở thạp Đào Thịnh) hoặc được thể hiện từng cặp trên bốn góc tấm đồng che ngực hàm súc sức mạnh siêu nhiên che chở và nâng đỡ, hỗ trợ con người chiến thắng kẻ thù. Sau này cá sấu được hoá thân thành con rồng - rồi thành biểu tượng tổ tiên khai sinh ra dòng giống người Việt.

Có thể phân tích hình ảnh nhiều loài vật thân quen được phản ảnh trong các tác phẩm nghệ thuật của người Đông Sơn như cóc, rùa, rắn, voi, hổ... để tìm ra biểu tượng của từng mặt đời thường, đã được siêu nhiên hoá trong đời sống tâm linh.

Ở trên, văn minh sông Hồng đã được phản ảnh cái định tính cư bản của nó là một nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng, mọi hoạt động của đời sống gắn liền với nước, đậm đà chất sông nước cùng với sắc thái núi và sắc thái biển, tạo ra tính đa dạng cho nền văn minh này.

Môi trường sinh thái với nền kinh tế then chốt và bao trùm đó đã tạo cho nền văn minh sông Hồng một diện mạo riêng độc đáo, xét về mặt xã hội. Đó là nền văn minh thôn dã - nền văn minh nông nghiệp xóm làng, dựa trên cư cấu công xã nông thôn kiểu châu Á, ở đó xã hội phân hoá chưa sâu sắc, nhà nước sơ khai đã xuất hiện. Với chức năng hên kết các làng xã trong tổ chức khai hoang, làm thủy lợi và đấu tranh giữ gìn, củng cố và mở rộng đất đai.

Những công xã nông thôn trong tiếng Việt cổ được gọi là kẻ, chạ, chiếng... là một tổ chức xã hội bao gồm một số gia đình đồng tộc và khác tộc, một dạng làng - họ , nắm sở hữu ruộng đất công xã chung và có quyền tự trị rộng lớn. Song do những nhu cầu kinh tế - xã hội trên, họ tự nguyện liên kết và được liên kết lại với nhau trong một cộng đồng rộng lớn hơn hình thành các liên làng, siêu làng mà sau này được gọi là tổng. Cứ lần lượt như vậy, các tổ chức liên kết rộng lớn hơn hình thành và bao trùm lên tất cả là cộng đồng quốc gia. Gia đình vừa là đơn vị kinh tế cư sở quan trọng, vừa là tế bào hạt nhân của tổ chức xã hội.

Thế kết hợp của kết cấu xã hội nhà - làng - nước này mang hình bóng của xã hội Việt cổ truyền được phóng dọi lên từ kết cấu xã hội của văn minh sông Hồng qua vết tích những ngôi nhà Đông Sơn còn lại và dựa vào kiểu liên kết chùm - thang bậc của các di chỉ cư trú thời Đông Sơn.
 
Trong các làng xóm thời Đông Sơn, vết tích văn hoá mà chủ nhân nó để lại cho thấy kết cấu dân cư và nội dung cuộc sống ngày càng trở nên phong phú hơn, phức tạp và đa dạng hơn. Điều đó được tạo ra không chỉ bởi các nhân tố văn hoá của các nền văn hoá bản địa bên trong mà còn hội nhập tiếp nhận và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá của các nền văn minh gần xa.

Trống đồng Đông Sơn, nghệ thuật Đông Sơn toả sáng khắp khu vực Đông Nam Á Vành chim Lạc trên trống Đông Sơn được mô phỏng và được trang trí trên vai bình gốm văn hoá Bản Chiếng (Thái Lan). Dao găm chuôi tượng người Đông Sơn tìm được trong mộ ở Thụ Mộc Lãnh, Hồ Nam (Trung Quốc)... hẳn là bằng trao đổi mà có.

Và sức hút của văn hoá Đông Sơn cũng cực kỳ mạnh mẽ.  Chủ nhân văn hoá Đông Sơn ưa chuộng đồ trang sức bằng thuỷ tinh và đá quý của văn hoá Sa Huỳnh (Nam Trung Bộ Việt Nam), của thế giới Tây và Nam Á. Khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai hình trái lê có ba mấu nhọn đặc trưng của văn hoá Sa Huỳnh có mặt ở Xuân An (Hà Tĩnh), ở Làng Vạc (Nghệ An) . . . Điều quan trọng ở đây là chủ nhân văn minh sông Hồng đã biết “Đông Sơn hoá”, bản địa hoá các yếu tố văn hoá nhập ngoại, chuyển hoá chúng, nhuần nhuyễn chúng với các yếu tố văn hoá nội sinh làm phong phú thêm bộ mặt văn hoá Việt cổ.
 
Có thể nhận ra dấu ấn “Đông Sơn hoá” trên rất nhiều di vật. Chiếc búa chiến bằng đồng có lỗ tra cán, một vũ khí điển hình của cư dân đồng cỏ Á - Âu trong thời đại kim khí đã có mặt trong khu mộ táng Làng Vạc được Đông Sơn hoá bằng các hoạ tiết vòng tròn xoắn ốc thành hình chữ S. Những lưỡi qua đồng có hoa văn trang trí hình cá sấu, hình chim nước, hình voi, hổ... ở Núi Voi, Đông Sơn. Chiếc liềm đồng ở Đá Đỏ (Sơn La)...

Phong cách nghệ thuật tả thực của văn hoá Điền với các đề tài người thú đầu sức rất dữ dằn qua lăng kính nghệ thuật Đông Sơn được thể hiện ít “căng” hơn, nhẹ nhàng hơn qua cảnh hổ vồ mồi trên nắp thạp Vạn Thắng. Dù có tiếp thu chất tả thực thì nghệ nhân Đông Sơn cũng chỉ đưa vào, tạo cái hình bóng mà thôi để làm nổi lên cái thần thái mà nghệ nhân muốn diễn tả.

Có thể dễ dàng nhận ra điều này qua hình ảnh người múa được thể hiện trên mặt trống Quảng Xương (Thanh Hoá). Sự bay bổng của tâm hồn người múa siêu nhập vào cõi tâm linh được thể hiện ở đường cong vút của thân thể với chân co, bước duỗi và tấm khoác choàng lật hẳn sang một bên làm lộ đường cong cơ bắp của chân tay.
 
Nhiều yếu tố của văn hoá Hán cũng được Đông Sơn hoá rất nhuần nhuyễn. Ví như chiếc chậu đồng, trong lòng đáy chậu đúc nồi đôi cá chép “song ngư”, nhưng khi chậu được đặt úp miệng xuống, thì chậu lại mang dáng trống với những hoa văn trang trí rất Đông Sơn của nó...

Tính mở của văn minh sông Hồng đã tạo cho nó một sức sống mạnh mẽ, phát triển ổn định trong nhiều thế kỷ và luôn được đổi mới, được tiếp thêm sức mạnh tạo ra những hằng số làm thành bản sắc văn hoá Việt.  Nhìn từ tụ điểm thời gian và xét trong mối tương quan khu vực rộng lớn, thì văn minh sông Hồng thấm đượm, tràn đầy nhất anh hùng ca thời đại. Hào khí Đông Sơn hun đúc và chứa đựng trong nó lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của người Việt cổ toát ra trên nhiều mặt của đời sống lúc ấy.  Bộ vũ khí đồng sắt đồ sộ với nhiều hình loại phong phú, số lượng không kém bộ công cụ sản xuất phản ánh cuộc sống sôi động, đầy biến động. Nhu cầu phải thường xuyên đấu tranh chống lại mọi mưu đồ xâm lược và đe doạ từ bên ngoài đã tạo ra ở người Việt truyền thống giữ nước dẻo dai, mạnh lẽ kiên cường, tạo thành mặt hữu cơ của truyền thống dựng nước và giữ nước gắn liền với nhau suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Người anh hùng làng Gióng là hình tượng dân tộc Việt Nam trưởng thành nhanh chóng, vừa tự ý thức được về mình thì hai vai đã gánh nặng hai nhiệm vụ làm ăn và đánh giặc. Đó là hai mặt cư bản nhất trong cuộc sống của nhân dân ta.

Giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc là một thời kỳ lịch sử hết sức trọng yếu, ở đó đã nảy nở nền văn minh sông Hồng, đã ra đời một hình thái nhà nước sơ khai. Chính trong thời kỳ này nhiều giá trì văn hoá, nhiều yếu tố văn hoá tạo thành truyền thống, thành bản sắc văn hoá Việt Nam được hình thành, đồng thời diễn ra quá trình hình thành ý thức dân tộc, xây dựng nên nền tảng văn hoá Việt Nam, nền tảng dân tộc Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:34:53 PM


IV. SỰ HÌNH THÀNH BƯỚC ĐẦU BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC, NHỮNG YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC.
QUÁ TRÌNH Ý THỨC DÂN TỘC.

1. Bản sắc văn hoá và những yếu tố truyền thống trong cộng đồng dân tộc:

Nhìn nhận và khái quát lại những giá trị, những đặc điểm tiêu biểu của nền văn minh sông Hồng có thể thấy bức tranh tổng quát về quá trình hình thành văn hiến, quốc gia, dân tộc Việt Nam diễn ra trong những điều kiện lịch sử đặc thù về đấu tranh khắc phục những bất lợi của thiên nhiên về lũ lụt hạn hán để phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước nhiệt đới, về đấu tranh chống lại sự đe doạ xâm lược, môi hiểm hoạ xâm lược thường xuyên từ ngoài để bảo vệ đất đai quê hương và cuộc sống. Cuộc đấu tranh đó đòi hỏi một sự liên kết, chung sức hành động vì cái chung, vì lợi ích cộng đồng của mọi nhóm tộc, có chung số phận và cùng chung sống trên dải đất này.

Quá trình hình thành dân tộc cũng là quá trình hình thành và nâng cao ý thức dân tộc. Ý thức dân tộc thể hiện trước hết ở ý thức về một lãnh thổ chung, ý thức về sự cần thiết và cốt tử phải bảo vệ cái không gian sinh tồn của cộng đồng và cho toàn cộng đồng. ý thức dân tộc còn thể hiện ở ý thức về một cội nguồn chung, một gốc ngôn ngữ chung, một nền văn hoá vật chất và tinh thần chung. ý thức dân tộc xem như là cái thần thái, cái thần sắc dân tộc, ý thức về độc lập dân tộc, về tự chủ của đất nước có chủ quyền.

Lòng yêu nước, tình đoàn kết gắn bó là cư sở sức mạnh cho sự bảo tồn và phát triển dân tộc.  Ý thức dân tộc và lòng yêu nước đã thấm sâu vào mọi hoạt động, hướng dẫn mọi hành vi ứng xử của con người trong những hoàn cảnh sống cụ thể, tạo ra những giá trị văn hoá mang màu sắc riêng, hình thành hệ giá trị phản ánh bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc.

Bản sắc văn hoá là những nét văn hoá riêng làm thành hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem là phù hợp và thích hợp với dân tộc đó và được vận hành trong cuộc sống nhằm thoả mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc trong nền cảnh lịch sử tương ứng và phù hợp. Trong bản sắc văn hoá dân tộc chứa đựng tính nhân loại, tính khu vực và tính tộc. Tính nhân loại và tính khu vực của văn hoá được đa dạng hoá, được biến đổi và được kết hợp với cái riêng dân tộc và dân tộc đó sáng tạo ra trong những hoàn cảnh lịch sử riêng của mình. Tất cả những cái đó làm thành bản sắc văn hoá dân tộc, chứ bản sắc dân tộc không phải chỉ là những cái gì riêng của dân tộc đó nghĩ ra, làm ra. Như vậy có thể hình dung bản sắc dân tộc của văn hoá như một vòng chính tâm đa sắc, hội kết và chiết xuất muôn vàn vòng sáng đa sắc của văn hoá nhân loại.

Bản sắc văn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử. Nền văn hoá đó, mà những yếu tố làm thành bản sắc luôn được tuyển chọn và chắt lọc, luôn được đổi mới, thêm giàu có và đầy sức sống, phát triển, vươn lên không ngừng.

Văn hoá Việt cổ ở buổi sinh thành và ấu thơ, mang ý nghĩa là nền tảng giá đỡ và bệ phóng cho sự cất cánh của dân tộc và văn hoá ó các thời kỳ lịch sử tiếp theo. Bởi vậy, tìm về cội nguồn và nhận ra cái cốt lõi đầu tiên của bản sắc văn hoá Việt Nam là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết nhằm kế thừa, bảo vệ, đổi mới và phát huy những tinh hoa; đẩy lùi, loại bỏ những cái lạc hậu, thiếu văn hoá, thực hiện được chức năng làm nền và định hướng cho cách ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, hành vi...) của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong quan hệ với mình, với người, với xã hội và với tự nhiên 1.

Ở bên trên đã chỉ ra cái trường lịch sử, tức môi trường tự nhiên và nền cảnh xã hội, trong đó hình thành các đặc Trưng văn hoá tạo thành bản sắc văn hoá của nền văn minh Việt cổ thời kỳ Đông Sơn, khi ấy đời sống, lẽ sống được người Việt cổ hiểu rất hồn nhiên, nôm na, nhưng cũng thật bản chất, chính xác súc tích và sâu sắc được diễn tả qua ngôn từ đời thường rất ngắn gọn thể hiện hai mạch sống cư bản: việc làm ăn (lao động sản xuất, hoạt động kiếm sống nói chung) và cách ăn ở (nếp sinh hoạt, cách ứng xử, đấu tranh, các quan niệm đạo đức tâm lý, thẩm mỹ, tâm linh...), trong đó làm và ăn được chú ý trên hết, quán xuyến hết thảy.

1 Hà Văn Tấn: Bản sắc văn hoá Việt cổ in trong Văn hoá -  phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995, tr. 28.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:37:03 PM


Dựng nghiệp trên một không gian sống rộng lớn và đa dạng với trung tâm hoạt động và hưng khởi là miền đồng bằng sông nước mênh mông tựa núi và tiếp biển. Không gian sinh tồn đặc sắc đã đào luyện nên tính cách, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng cõi bờ với hướng chảy dọc theo các mạch đồng bằng ven biển. Màu nâu của nón áo và đồng đất cùng với màu xanh của đồng lúa và tre làng đã tạo nên sắc thái độc đáo của văn hoá nông nghiệp - xóm làng Việt.
 
Những chứng tích khảo cổ học về nhà ở và mộ táng, cùng   với những tài liệu về công điền, về tổ chức làng xã sau này cho thấy vị trí của gia đình như một tế bào xã hội và như một đơn vị sản xuất cư bản. Chính mối quan hệ giữa quyền sở hữu ruộng đất thuộc về làng xã và quyền sử dụng ruộng đất thuộc về cá nhân và gia đình là cư sở và là động lực cho phát triển sản xuất suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành cung cách làm ăn, cách thức tổ chức và truyền thống trong sản xuất nông nghiệp nước ta, mà ngày nay chúng ta đang khai thác và phát huy sức mạnh của kinh tế gia đình.

Nhìn sang lĩnh vực thủ công nghiệp, một hiện tượng nổi lên và bao trùm là các lò thủ công tràn ngập trong các xóm làng nông nghiệp, các làng nghề hoà nhập quyện chặt vào các làng nông. Nền kinh tế tự cấp tự túc phát triển còn ở mức thấp khiến dường như mọi người, mọi gia đình có thể làm ra những đồ dùng tối thiểu dùng cho cuộc sống bản thân và gia đình trong các lúc nông nhàn. Nền kinh tế phụ gia đình này nột thời đã là sự hợp lý, cân bằng hài hoà trong việc điều tiết sức lao động xã hội. Song mặt khác, lại làm chậm lại tốc độ chuyên hoá sản xuất và phân công lao động xã hội lần thứ hai, khiến kinh tế hàng hoá thị trường ra đời muộn và kém phát triển. Trong những nghề thủ công truyền thống được hình thành từ thời Đông Sơn phải kể đến nghề đúc đồng, khắc gỗ, chạm đá, nơi mà óc sáng tạo và bàn tay tài hoa của nghệ nhân Đông Sơn được thể hiện rõ nlất. Đây cũng là một mặt, một khía cạnh quan trọng thể hiện tính trí tuệ cao của văn hoá Việt cổ. Tính trí tuệ trong văn hoá hay cũng có thể nói văn hoá trí tuệ, là một nền văn hoá có sức sống, sức vươn lên mãnh hệt, một nền văn hoá có tầm cỡ hay nói cách khác là ở vị trí tiên tiến của thời đại. Kỹ thuật và nghệ thuật trống đồng Đông Sơn là biểu hiện của trí tuệ Việt, đã toả sáng vùng trời Đông Nam Á, góp tạo nên cho nền văn hoá Việt Nam nổi tiếng vì sự bao dung và trí tuệ 1.
 
Sắc thái trí tuệ Việt của văn hoá dân tộc được thể hiện chói lọi nhất trong sự nghiệp chiến đấu, giữ nước. Trong lĩnh vực này thuật giữ nước của người Đông Sơn cũng thật đặc sắc tài ba. Bộ vũ khí Đông Sơn với những lưỡi rìu chiến cong vút những thanh kiếm ngắn, lưỡi dao găm chắc khoẻ, những mũi lao sắc nhọn đủ kích cỡ được tra lắp những cán bằng cây song nhẹ, chắc, bền, dẻo, những mũi tên đồng ba cánh hình múi khế... đã mách chỉ sở trường đánh gần, tài cung nỏ của chủ nhân nó.

Cũng vậy, đời sống sông nước cùng với những con thuyền chiến, thuyền đồng lại nói lên tài đánh thuỷ của người Việt cổ giỏi bơi lội, thạo dùng thuyền. Vị thế và cảnh quan thiên nhiên đất nước cũng như bối cảnh xã hội khách quan tồn tại bên cạnh một nước lớn, một đế chế đang có xu hướng bành trướng mạnh mẽ đã khiến người Đông Sơn, người Việt cổ có thể khai thác, tận dụng thế mạnh thiên nhiên hiểm yếu, rừng rậm, khe vực, đầm lầy... dùng chiến thuật bất ngờ, đánh du kích; huy động sức mạnh và dựa vào sức mạnh toàn cộng đồng để chống lại sức mạnh to lớn gấp bội của đối phương.

Bộ đồ tuỳ táng và nghi thức mai táng trong các ngôi mộ Đông Sơn cho ta thấy công cuộc dựng nước và giữ nước, lao động và chiến đấu thấm đậm và nhuần nhuyễn vào nhau tạo thành nếp sống của người Đông Sơn, từ già, trẻ, gái, trai là mầm mống hình thành chiến tranh nhân dân. Trong lĩnh vực nghệ thuật quân sự, thành Cổ Loa có thể coi như hiện thân của tài trí Việt cổ, sự hội tụ và kết hợp nhuần nhuyễn của hai thế mạnh Núi - Âu, tài cung nỏ và Nước - Lạc, thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền.

Năng lực trí tuệ của người Đông Sơn được thể hiện trong vũ trụ quan của họ, trong đó vũ trụ gồm ba tầng và bốn thế giới được thể hiện trên trống Đông Sơn. ở đó, tầng trên là Trời, bầu trời, Nhiên giới hay Thiên giới được tượng trưng bằng mặt trời ở chính giữa và nổi cao trên mặt trống. Tầng giữa là mặt đất, Trần giới hay Nhân giới, ở đó người và sinh vật cạn được thể hiện trên các vành hoa văn tả thực trên mặt trống. Tầng dưới là Nước và lòng đất, thuỷ giới, âm ty. Nước được biểu hiện qua hình ảnh con thuyền lướt trên tang trống và thế giới âm là ảnh xạ lộn ngược của thế giới Trần... của cải sống với những hình ảnh như cảnh đâm trâu...

Mặt trống Đông Sơn còn thể hiện quan niệm về dịch chuyển có thể coi là hệ thông triết học - biểu tượng của người Việt cổ trong đó hai mặt đối lập của sự vật liên tục vận động và chuyển hoá lẫn nhau. Từ đây còn có thể nhìn thấy tri thức về lịch nông của người Đông Sơn với sự chuyển hoá của hai mùa lạnh - nóng, khô- mưa, Đông Xuân - Hè Thu qua các cặp biểu tượng hưu , chim . . . Tất cả cho thấy trí tuệ và năng lực sáng tạo là động lực tạo ra sự phồn vinh và phát triển lâu bền của quốc gia.

Nhưng thành tựu cơ bản nhất, di sản quý giá nhất mà người Đông Sơn đã để lại cho hậu thế là ở chỗ người Đông Sơn đã tạo lập được, đã định hình được những đường nét lớn, cư bản của một nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc, bản sắc Việt, mà ở đó cái thần của nền văn hoá được hun đúc từ hệ thống những giá trị, những bản tính, những phẩm chất, những tính cách, những truyền thông về đức tính kiên nhẫn, cần cù lao động, kiên định, kiên trì, nhẫn nại, chịu đựng gian khó khi phải đối mặt với một thiên nhiên hà khắc, dữ dằn, lắm lũ lụt, nhiều hạn hán tàn phá mùa màng, nơi ở.  Cũng như nhẫn nại chịu đựng áp bức, chờ thời cư vùng lên tự giải phóng.

1  Theo F.Childe: Bài phát biểu tại Hội thảo phương pháp luận về văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:40:11 PM


Mặt khác của tinh thần kiên nhẫn là thái độ kiên quyết, ý chí kiên cường. Bền bỉ, kiên cường khắc phục thiên nhiên bằng cách ra sức đắp đê khơi mương, làm mới lại những cái bị tàn phá nhằm có được những vụ mùa bội thu. Dẻo dai kiên quyết chống lại kẻ thù giành lại độc lập tự do. Chữ kiên còn thể hiện ở tấm lòng kiên tâm, kiên trung, trung thành một lòng một dạ không thay đổi. Người xưa đã lấy hình tượng con rùa và con cóc để biểu trưng cho đức tính kiên đó (cóc trên các trống đồng Đông Sơn, rùa trên các khoá đai lưng ở Làng Cả, Làng Vạc...). Đức tính kiên thể hiện lòng tự tin, mà lòng tự tin lại được xây dựng trên cư sở ý thức được sức mạnh của bản thân mình. Tính cách kiên của người Đông Sơn được sản sinh ra trên cơ sở sức mạnh của một nền văn hoá có trình độ phát triển cao, sức chịu đựng lớn, sự hồi sinh mau lẹ.

Tinh thần tập thể, tính cộng đồng được gói lại trong chữ công và được mở ra ở hai vế cư bản: Công cộng và công ích.  Từ đó ánh lên vẻ đẹp của tâm hồn Việt Nam, đọng lại trong hai tiếng trách nhiệm. Đức tính này được tạo ra do nhu cầu khách quan của cuộc sống. Sở hữu chung về ruộng đất và tổ chức làng - xã đã liên kết con người lại với nhau. Nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước đòi hỏi phải tuân thủ sít sao tính thời vụ, từ khâu làm đất đến khi thu hoạch; không thể để chậm trễ, ách tắc ở khâu nào. Cây lúa nước cần nước đủ, không thiếu, không thừa. Muốn vậy phải có biện pháp chống úng, chống hạn, đòi hỏi sức lực của nhiều gia đình, của cả làng.

Cũng vậy, việc chống lại một đối tượng lớn mạnh thường xuyên đe doạ xâm lấn đòi hỏi sức mạnh của cả cộng đồng. Gánh vác việc công là bổn phận, là nghĩa vụ tự giác của mỗi người dân. Trong bối cảnh sống như vậy thì cái cộng đồng bao giờ cũng là tiền đề cho cái cá thể. Từ đó, cái nghĩa vụ, cái vị tha được nhấn mạnh, được đề cao trước cái vị kỷ, ý niệm sống ở làng..., một miếng giữa làng... trở thành thang bậc giá trị trong chuẩn mực ứng xử của người Việt Nam chắc hẳn có cội rễ từ thời dựng nước đầu tiên. Người Đông Sơn đã lấy hình ảnh con cò, đàn cò làm biểu tượng cho lối sống này. Đàn cò được cách điệu thành đàn chim lạc nối tiếp nhau bay quanh mặt trời; con bay, con đậu kiếm ăn trên các cánh đồng.

Dĩ nhiên ở khía cạnh này, con cò còn tượng trưng cho nhiều phẩm chất khác nữa như tính chuyên cần, lối sống thanh bần pha chút lam lũ nhưng thanh cao... Hẳn cũng vì vậy mà hình tượng con cò còn được khắc hoạ nhiều nhất với nhiều dáng vẻ sinh động nhất, đậm đà nhất trong nghệ thuật Đông Sơn mà chúng ta dễ dàng nhận ra.

Lòng nhân ái, khoan dung, sống rộng bụng, có tình nghĩa là truyền thống quý báu của nhân dân ta. Nhân hậu, nhân ái bao dung với người thân trong nhà, trong họ, ngoài làng, ngoài nước. Lấy khoan sức dân làm gốc của phép trì nước.  Khoan hoà, khoan dung với kẻ thù, kẻ chống đối một khi họ đã quy thiện. Tính nhân bản này có cội rễ sâu xa, nảy sinh từ tính ôn nhu của người làm nông trồng lúa nước hẳn đã được hình thành từ thời Đông Sơn. Chính ở nơi đồng đất mà cái công việc làm ăn đầy vất vả và nhiều éo le này, cái thực tiễn ba tháng trồng cây không bằng một ngày trông quả này, khiến con người luôn sống trong thấp thỏm lo âu. Cái sầu bi, cái hoạ “nước lụt thì lút cả làng” này không chỉ ập đến với riêng ai, đã khiến con người ý thức được phải đùm bọc lẫn nhau. Có thể nói, chính cái hoạ đồng lần này đã làm nảy sinh trong con người đòng vị tha, nhân đức.

Tính mềm dẻo, lối ứng xử linh hoạt, không câu nệ cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh sống của người Đông Sơn. Cái thiên nhiên đa dạng mà sự chinh phục được nó con người đã phải đổ bao mồ hôi, tốn bao tâm trí, mỗi tấc đất có giá trị như mỗi tấc vàng, khiến con người phải triệt để tận dụng nó để làm ra của cải, trồng cấy mọi thứ cây có thể trồng, xen canh tăng vụ trồng đỗ bên ngô, đưa cây lúa lên nương, xuống đầm thụt.  Lúa trồng hai vụ gọi là lúa Giao Chỉ (Dị vật chí của Dương Phù đời Đông Hán thế kỷ I sau công nguyên).

Về mặt bối cảnh xã hội, người Việt cổ sống bên cạnh một nước lớn có nền văn minh rực rỡ. Để tồn tại, để giữ được cái Ta dĩ nhiên người Việt phải có thái độ ứng xử linh hoạt.  Không thể cứng khi cần mềm, không thể bài khi cần nhập.  Nhún nhường hay vay mượn không phải lúc nào cũng là biểu hiện của thế yếu lực kém. Trái lại nhiều khi lại nói lên cái mạnh. Mạnh và nhờ thông minh chấp nhận nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích. Mạnh và có bản lĩnh để tiếp thu có chọn lọc làm giàu thêm vốn liếng của mình. Từ thực tiễn cuộc sống đó đẻ ra nghệ thuật ứng xử linh hoạt, lối tư duy vừa “hằng” vừa “biến”, khả năng thích ứng vô hạn, hành động theo phương châm “nước chảy đá mòn”, “nhu đạo thắng cương cường”. Con rắn - biểu tượng của Nước cũng được người Đông Sơn lấy làm biểu tượng cho bản sắc hoạt này của họ.

Người Đông Sơn đã tạc tượng những đôi rắn quấn nhau miệng đỡ lấy chân voi, hoặc chân hổ, tạo thành chuôi dao găm được các chiến binh Đông Sơn mang bên người như một vũ khí tự vệ, như một thứ bùa hộ mệnh.

Triết lý dung hợp được biểu hiện trong chữ hoà cũng góp tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam. Khi trở thành dân tộc, người Việt cổ vốn là một cộng đồng nhỏ bé so với và ở bên cạnh một nước lớn mạnh. Nhưng nhờ lòng yêu quê hương tha thiết mảnh đất đã phải tạo bằng mồ hôi và xương máu để có được đã khiến người Việt sớm có được tinh thần độc lập, ý thức tự cường, tự khẳng định cái Ta, tự tạo cho mình một chỗ đứng dưới bầu trời.
 
Xuất phát từ ý thức đó, trong bối cảnh lịch sử đó, người Việt cổ đã tìm mọi cách để tạo sức mạnh cho mình, đã thâu tóm mọi cái hay của người, “hoà” để mạnh mà không tan, va đập mà không vỡ cũng như đã đồng tâm hiệp lực trong lao động, đoàn kết trong đấu tranh chống xâm lược. Biết nhân nhượng để tránh thương vong, giữ hoà khí để “hoà cả làng” . . . Trong tinh thần Việt, tính hoà đồng làm nhạt nhoà cái Một và cái Một ở đây mang trong chính bản thân nó sự đa dạng. Tôi chỉ là tôi khi tôi là người dân của làng và trước hết là người dân của làng. Vậy cái một của sự hoà đồng là cái một cảm tính. Nó chính là tài sản tinh thần thuần Việt, là sợi dây gắn kết cộng đồng thành một thể hoà đồng. Cá nhân hoà quyện vào cộng đồng tạo thành sức mạnh, khi làng nước có việc, quốc gia hữu sự. Có thể nói tư duy dung hoà chi phối toàn bộ văn hoá truyền thống Việt Nam 1.

1  Theo Hà Văn Tấn (chủ biên): Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994. 




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:54:24 PM


Vốn có bản lĩnh và ý chí tạo lập cho mình một nền văn hoá có sức sống mạnh mẽ, tràn đầy trí tuệ lại được tư tưởng Hoá dắt dẫn, người Việt đã tạo được một biệt tài riêng, một tính cách riêng độc đáo là biết biến cái của người thành của mình. Đó cũng chính là tính mở của văn hoá Việt.
 
Dũng cảm cũng là một phẩm chất, một tư chất Việt. Phẩm chất này được nảy sinh trong những bối cảnh tự nhiên và xã hội đã phân tích ở trên. Thời đại Đông Sơn là thời đại mà nhiều cộng đồng người trong khu vực chuyển mình thành giai cấp, thành quốc gia - dân tộc.

Quốc gia không phải là một cộng đồng văn hoá tự nhiên, mà là một cộng đồng quyền lực chỗ dựa chủ yếu của quyền lực là sức mạnh quân sự.  “Chiến tranh là biện pháp thường dùng để mở rộng hay bảo vệ biên giới vì lợi ích quốc gia”1 và quân sự là lĩnh vực ưu tiên của mỗi quốc gia. Sức mạnh quân sự được thể hiện ở cả hai mặt vật chất và tinh thần: vũ khí, kỹ thuật quân sự và lòng dũng cảm, mưu lược. ở người Đông Sơn cả hai mặt của sức mạnh đó đều thể hiện rất rõ và cái nọ bổ sung, nói cho cái kia.

 Nét đặc sắc trong văn hoá chiến đấu của người Việt là vai trò không mờ, kém của người phụ nữ, người Mẹ được đề cao trong xã hội Việt cổ truyền. Ngay từ thời kỳ Đông Sơn, hình tượng người phụ nữ đã được tạc lên chuôi kiếm - biểu tượng quyền uy của thủ lĩnh. Chỉ có thể giải thích chân xác hiện tượng này bằng cách tìm hiểu những yếu tố khách quan dẫn đến hình thành nguyên lý đó. Yếu tố khách quan quyết định đặt người phụ nữ vào địa vị cao, xứng đáng chính là ở năng lực làm ra giá trị cuộc sống của họ (không kể năng lực sáng tạo ra chính bản thân con người). Cái năng lực sáng tạo ra của cải vật chất - nguồn năng lượng sống của họ cũng rất đáng kể, rất to lớn. Trong xã hội nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, ở ngay khâu sản xuất, cùng với nam giới tham gia vào việc cày bừa, vỡ đất, đắp đập, tát nước... Còn lại ở các công việc khác, các công đoạn khác từ chăm sóc, làm cỏ cho lúa, gặt hái đến chế biến, bảo quản lương thực... ở đấy lao động của phụ nữ nổi trội và quán xuyến tất cả. Cái thực tế mà xã hội cổ truyền thừa nhận “của chồng công vợ”  đã tự nó nói lên vai trò không thể coi nhẹ của người phụ nữ trong quan hệ kinh tế.

Nguyên lý Mẹ đã ăn sâu trong tâm trí và biểu hiện thành các chuẩn mực trong ứng xử ngoài đời. Khái niệm Mẹ, cái được dùng để chỉ những cái lớn lao,vô tận, nổi trội lên trong biển rừng của cái đồng dạng. Những con sông lớn, con đường lớn, rễ cây lớn, ngón tay lớn... đều được gọi là sông cái, đường cái, rễ cái, ngón cái và công lao sinh thành, dưỡng dục của người Mẹ được ví như nước trong nguồn chảy ra vô tận. . . 

Tóm lại, đi vào lớp văn hóa đầu tiên - lớp văn hoá thuộc văn minh sông Hồng - cho thấy người Việt cổ thời Đông Sơn đã tạo được một phổ sắc văn hoá mà nhiều sắc màu trong đó “góp phần xác định tính chất và truyền thống của nhân dân Việt Nam, bản lĩnh và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.  Nó chứng tỏ, trong linh vực của mình, những đức tính cổ truyền của nhân dân Việt Nam là cần cù, dũng cảm, sáng tạo có sức sống mãnh liệt, có tinh thần tập thể trong lao động và đoàn kết trong chiến đấu chống ngoại xâm v.v..”2.  Đó là những mặt tất, mặt mạnh của văn hoá Việt cần nhấn mạnh, cần đề cao, cần phát huy. Song như vậy không có nghĩa là trong những hằng số văn hoá Việt cổ truyền mà nhiều yếu tố của nó được hình thành từ buổi đầu dân tộc, không có mặt hạn chế, mặt yếu kém, phổ sắc văn hoá chỉ có màu hồng mà không có màu xám nhạt.

Bởi lẽ, mọi sự vật trong thế giới này đều không đứng yên mà luôn vận động, hai mặt đối lập của nó đều luôn chuyển  hoá lăn nhau, mọi cái tồn tại đều có giới hạn của nó, hụt thiếu hay quá đi đều có khả năng dẫn tới chưa là nó hay không còn là nó nữa. Vấn đề ở chỗ phụ thuộc vào cách nhìn nhận (biện chứng hay máy móc) và vào khả năng điều tiết của con người (nắm được, làm theo quy luật hay chủ quan duy ý chí). Và khi nhận định một hành vi ứng xử, một phẩm chất hay một tính cách tồn tại ở một cộng đồng người nào đó thông qua các thành viên của mình, cần phải xem cái đó là hiện tượng phổ biến ở số đông người hay không. Ví như, đức tính cần cù kiên nhẫn của người Việt, tự nó không thể đẻ ra tính nhu nhược, an phận thủ thường, cam tâm... cùng lắm tính nhẫn nại ở một khía cạnh nào đó cũng chỉ là biểu hiện của sự kiềm chế, cố chịu nhẫn nhục để chờ thời cơ. Trong một con người hay một bộ phận nào đó của cộng đồng có thể có đức tính yếu hèn này, song người Việt Nam nói chung là một dân tộc kiên cường, bất khuất. Nếu khác đi hẳn dân tộc đó đã bị đồng hoá, diệt vong.

Lễ hội, giỗ tết là một phong tục đẹp để tưởng nhớ tổ tiên, suy tôn những người anh hùng. Song cúng bái tràn lan, sùng bái mọi thứ... lại là biểu hiện của mê tín dị đoan, một hoạt động mê hoặc, làm cho tâm thức con người u tối, tốn kém thời gian và tiền của vô ích, cần bài trừ.

Cũng vậy, tính dung hoà là giá trị căn bản của văn hóa Việt Nam, nó giúp làm giàu và mạnh cho nền văn hoá và cho dân tộc. Bản tính này cũng dễ dẫn tới thoả hiệp, ba phải, khiến con người trong những trường hợp cụ thể cần tỉnh táo, thận trọng, cảnh giác, phải biết đề phòng cũng như biết điều tiết đúng mức.

Tuy nhiên, cùng cần chỉ ra những mặt yếu, mặt hạn chế do hoàn cảnh và điều kiện khách quan hạn chế của lịch sử đem lại và để lại.

1.  Nguyễn Tấn Đắc: Văn hoá và thếgiới ngày nay, in trong Phương pháp luận về vai trò của vặn hoá trong phát triển, Nxb.  Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
2. Trường Chinh: Bài nói tại Hội nghị kỷ mềm 10 năm ngày hành lập Viện Khảo học, Tạp chí KCH, số 4, 1978.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:57:32 PM


Nếu như tính cộng đồng là sức mạnh của văn hoá Việt, thì ở một mặt nào đó nó cũng mang tính hạn chế, không có sự kích thích cá nhân sáng tạo mạnh mẽ trong sản xuất vật chất, hạn chế phát triển nhân cách, cá nhân bị chìm đi không kích thích phát triển cá tính, hạn chế tự do và dân chủ trong sinh hoạt cộng đồng 1.

Nền văn hoá nông nghiệp ngàn đời đã để lại dấu ấn trong tác phong sinh hoạt lề mề không quý trọng thời gian “tháng giêng là tháng ăn chơi. . .” còn gặp khá phổ biến hiện nay có nguyên nhân sinh thành trong môi trường tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế của một xã hội trồng lúa nhiệt đới; cảnh thanh bình của đồng quê, những chu kỳ nghỉ của sản xuất, những dịp nông nhàn mà kinh tế phụ lại ít phát triển, cách thức tiến hành cũng không đòi hỏi khẩn trương, chuẩn xác về thời gian . . .

Phép vua thua lệ làng, là chuẩn mực ứng xử của nền dân chủ xóm làng, một thời đã giữ an bình cho người dân. Hẳn không mấy thích hợp vời công cuộc đổi mới ngày nay, cần phải có pháp luật, một sự quy định tối thiểu của phẩm chất mà mọi người nhất thiết phải tuân theo 2, cần khắc phục tâm lý cục bộ, họ ta, làng ta nảy sinh do tính tương đối dốc lập, khép kín của các làng xã cổ truyền; cần đặt lệ làng trong phép nước, dưới phép nước...

Trên đây là những phổ sắc văn hóa nổi rõ làm thành hệ giá trị của văn hoá Việt cổ thời dựng nước và giữ nước đầu  tiên của dân tộc. Chúng được hội kết và toả sáng, được tô đậm hay pha loãng trong suốt quá trình vận động, từ khi chỉ là những yếu tố manh nha, tới lúc đã định hình vững chắc, thành truyền thống, thành cư sở của sức mạnh dân tộc, sức mạnh quân sự, của trí tuệ và ý chí con người Việt Nam.  Có thể chỉ ra những yếu tố đang trở thành truyền thống hay bước đầu đã định hình thành truyền thống tạo thành sức mạnh quân sự, sức mạnh giữ nước của người Việt thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương. Đó là:

Truyền thống thượng võ. Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã thường xuyên chú ý rèn luyện thể lực, ý chí và trí tuệ qua các môn đấu cổ truyền như: vật cổ truyền, đua thuyền, bắn súng, nỏ, đâm trâu... được lưu ảnh lại qua những bộ lẫy nỏ bằng đồng, kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc, qua hình khắc thuyền đua lướt nhẹ, người chèo khẩn trương sôi nổi trên các trống đồng Đồi Ro, Làng Vạc. . . Cảnh người đang vung rìu xéo đồng chém vào đầu con trâu bị buộc vào một cột được khắc hoạ trên thân trống đồng Đông Sơn dòng núi tìm thấy ở A Chương Trại (huyện Quảng Nam, Vân Nam), tục này còn tồn tại ở đồng bào Tây Nguyên và còn bảo lưu trong tục cướp búa đánh đầu trâu của người dân xã Chí Tiên (huyện Thanh Ba - Phú Thọ). Những lễ hội vũ trang mừng chiến thắng của người Đông Sơn được khắc hoạ trên nhiều trống đồng.  Rồi chuyện về nồi Hầu, một đô vật nổi tiếng, một tướng giỏi của Vua Thục, đã giật giải nhất về thi võ. Và đẹp đẽ xiết bao hình ảnh người dũng sĩ làng Gióng có sức khoẻ vô biên nhổ phăng từng đám tre ngà quất xuống đầu giặc Ân...  Kiếm sống và bảo vệ cuộc sống, săn bắt thú rừng và đánh giặc trong điều kiện núi non hiểm trở, khe vực cheo leo, cư động khó khăn... Tận dụng hoàn cảnh đó, người dân sống ở vùng cao đã phát huy sở trường mai phục, dùng cung nỏ tấn công bất ngờ kẻ địch.

Cuộc đụng độ và thử thách sống còn đầu tiên của người Việt với quân xâm lược nhà Tần được thư tịch của chính người Trung Hoa ghi lại cho thấy ý chí chiến đấu kiên cường và tài thao lược của người Việt, họ đã bỏ vào rừng, họp nhau chọn bầu người tuấn kiệt làm thủ lĩnh, đêm đêm xuất quân tấn công bất ngờ vào đồn giặc, thể hiện nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, tập trung sức mạnh tối đa và lợi dụng yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi trong một trận đánh cụ thể.

Truyền thống toàn dân đánh giặc, trẻ già, trai gái đều vũ trang, biến công cụ ngày thường thành vũ khí chiến đấu.  Truyền thống này được khắc hoạ rõ nét, như một hiện tượng phổ biến qua tục mai táng của người Đông Sơn: người chết không kể là người giàu sang hay nghèo khổ, già hay trẻ, nam hay nữ đều thường được chôn theo các vũ khí tuỳ thân. Hình ảnh toàn dân tham gia đánh giặc hay nói bằng ngôn ngữ hiện đại “chiến tranh nhân dân” được minh hoạ bằng thành phần đội quân của Gióng từ người nông dân cầm vồ, người kiếm cá vác cần câu, trẻ mục đồng cưỡi trâu cầm khăng. . .  Truyền thống thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền, tài bơi lội của người Việt cũng được hun đúc từ thời Hùng Vương. Có thể nhận biết qua hình ảnh các thuyền chiến, chở các chiến binh vũ trang, từng đoàn lướt trên sông nước, có cội rễ từ tập quán sống của người Việt vốn là “dân quen ở nước”, đóng khố không mặc quần, để tiện bơi lội, tay áo ngắn mà xắn lên để tiện việc chèo thuyền. “Người Việt còn dùng thuyền trong việc săn bắt thú rừng qua hình ảnh con chó chạy đón đầu đàn hưu và đoàn người đứng trên thuyền giơ cao tay hò reo xua đuổi được khắc trên nhiều chiếc rìu đồng Đông Sơn. Hoài Nam Vương Lưu An (thế kỷ II Tr.CN) còn ca ngợi “Người Việt thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền”. Phương tiện chiến đấu như thuyền bọc đồng, thuyền đồng của Lạc Vương và bộ vũ khí chiến đẩu gồm nỏ tên, lao đồng với số lượng lớn và vượt trội các loại hình vũ khí khác như giáo mác, dao, kiếm...  cũng mách chỉ về sở trường đánh thuỷ của người Việt thời Hùng.

Đó là những yếu tố nổi bật, nói lên nghệ thuật chiến đấu của người Việt cổ.

1.  Đình Quang: Văn học nghệ thuật và việc xây dựng con người mới, in trong Văn hoá phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.
2.   Cao Xuân Phổ: Văn hoá trong phát triển. Vân đề phẩm chất cuộc sông, in trong Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:59:26 PM


Sức mạnh giữ nước của người Việt cổ còn thể hiện ở tài kết hợp giữa làm ăn và đánh giặc và đã trở thành truyền thống, thành quy luật đấu tranh trong dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bộ vũ khí Đông Sơn đồ sộ, cực kỳ phong phú và đa dạng phản ảnh cuộc sống binh đao, gian truân nhưng hào hùng của dân tộc ở thuở xây nền văn hiến đầu tiên. Truyền thống đó được hun đúc từ thực tiễn lịch sử, đất nước ta đã trải qua quá nhiều binh lửa chiến tranh, thời gian chống giặc ngoại xâm và chống đô hộ nước ngoài lên đến trên 12 thế kỷ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử 1.


Chống xâm lược bằng đấu tranh vũ trang như vậy là quá đỗi trường kỳ và gian lao. Song đấu tranh chống đồng hoá về văn hoá cũng không kém gian truân, đòi hỏi nhiều tâm lực và trí tuệ, khôn khéo và mềm dẻo. Trước khi có cuộc tiếp xúc trực tiếp và cưỡng bức với văn hoá Hán, cư dân Đông Sơn đã có mối giao lưu rộng rãi với các tộc láng giềng gần xa. ảnh hưởng của văn hoá Điền và thế giới đồng cỏ vào qua con đường sông Hồng, từ thế giới Bách Việt vùng Giang Nam vào qua đường biển... Nhiều yếu tố văn hoá ngoại, nổi lên là vũ khí kỹ thuật quân sự tiên tiến đã được tiếp thu hay đã được Đông Sơn hoá khiến văn hoá này càng thêm phong phú, đa dạng. Bên cạnh kiếm ngắn chuôi tượng kiểu núi Nưa, có kiếm ngắn kiểu Thạch Trại Sơn, tìm thấy ở Thái Nguyên, ở Hà Giang và kiếm hai lưỡi, chuôi ghép, đốc hình chỏm cầu lõm tìm thấy nhiều trên địa bàn người Tây Âu ở Quảng Tây...  cũng thấy ở Núi Đèo (Hải Phòng) với các hoa văn trang trí độc đáo được làm bằng đồng, hay những lưỡi kiếm sắt cùng loại Những mũi tên đồng Cổ Loa ba cạnh có trụ là sự phát triển của loại tên đá ba cạnh đã có mặt trong các địa điểm văn hoá Phùng Nguyên và Đồng Đậu, kết hợp với lối xẻ cánh của tên đồng của thế giới đồng cỏ Â - Âu.
 
Do hạn chế của điều kiện lịch sử, nước vừa dựng, mới củng cố đã phải đương đầu với hiểm họa ngoại xâm, nên người Việt thời Đông Sơn chưa có dịp đẩy mạnh công cuộc hướng ngoại của mình, mà chỉ có nhiều dịp hơn để nhanh chóng cải tiến những cái từ ngoài nhập vào. Dù sao ở đây cũng loé lên tinh thần ham hiểu biết, có trí tiếp thu sàng lọc để bảo vệ và phát triển văn hoá, nói lên “sức mạnh của văn hoá mở” luôn đổi mới của họ. Đó là những yếu tố nói lên trí tuệ Việt trong đấu tranh giữ nước.  Còn nhiều yếu tố tinh thần khác góp phần tạo thành sức mạnh quân sự của người Việt thời lập quốc Văn Lang - Âu Lạc.

Những dực tính quý báu như kiên cường, bất khuất, bền bỉ, dẻo dai đã giúp cho người Việt có thể đánh thắng kẻ thù nham hiểm, hung ác và mạnh hơn mình gấp nhiều lần. ý thức uống nước nhớ nguồn, sùng kính những người anh hùng có công với nước, với dân, làm tăng thêm trách nhiệm bảo vệ và tiếp nối sự nghiệp của các thế hệ đi trước.

Lòng khoan dung, chỉ muốn tự tồn trong thái bình, chấp nhận hy sinh để tự tồn, có sức mạnh, biết dùng sức mạnh nhưng không say sức mạnh, không cuồng tín sức mạnh và nhất là biết tha thứ không hiếu sát khi kẻ địch đã quy thiện.  Điều đó chỉ làm tăng thêm cái đại nghĩa của cuộc chiến đấu mà người Việt cổ buộc phải chấp nhận vì sự tồn vong của mình.

Một trong những sức mạnh tinh thần quyết định mọi thắng lợi của công cuộc dựng nước và giữ nước của người Việt là truyền thống đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động để vượt lên mọi thách đố của hoàn cảnh. Tinh thần đoàn kết cộng đồng biểu hiện tập trung và cao nhất ở sự hoà hợp, hợp nhất giữa các nhóm tộc Âu Việt là Lạc Việt, giữa hai bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt thành quốc gia Âu Lạc trong cuộc kháng chiến chống Tần. Cột đá thề mà vua Thục dựng trên núi Nghĩa là biểu tượng cho sự đoàn kết nhất trí, cho sự tiếp nối sự nghiệp nhà Hùng.

Tính mở, tính dung hoà của văn hoá Đông Sơn được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh gian khổ lâu dài, luôn có những thách đố đã sản sinh ra những con người Đông Sơn tình cảm đùm bọc, hợp quần sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau. Tính dung hoà này được vật chất hoá và để lại dấu ấn trong nhiều hiện vật mà sắc tộc của chúng có thể dễ dàng nhận ra như đã thấy ở trên . . .

Từ phổ sắc văn hoá đa dạng và độc đáo đã nổi lên những nét đậm tạo thành những truyền thống quý báu là nền tảng sức mạnh trong suốt tiến trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Hệ giá trị văn hoá này, những truyền thống văn hóa tốt đẹp này được nảy sinh và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ nhờ ý thức cộng đồng, tinh thần dân tộc sớm nảy nở thấm sâu chi phối và tác động mạnh mẽ vào mọi hoạt động của đời sống cộng đồng. Nắm vững tiến trình và những đặc điểm hình thành ý thức dân tộc sẽ nhận chân được quá khứ dân tộc, sức mạnh dân tộc, động viên được quá khứ tham gia vào công cuộc đổi mới hôm nay.

1. Phan Huy Lê: Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1990, Tr.23. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 10:02:02 PM

2. Quá trình hình thành ý thức dân tộc:

Ý thức dân tộc là phản ánh của tồn tại dân tộc mà tồn tại dân tộc là một thực thể xã hội khách quan, ở đó cộng đồng tộc người có ý thức về cùng chung một nguồn gốc, cùng chung một số phận, một vận mệnh sinh tồn, tự nguyện cố kết lại với nhau cùng tạo ra một lãnh thổ sống chung, sử dụng một ngôn ngữ giao tiếp chung, xây dựng một bộ máy quản lý xã hội nhà nước chung để trước hết thực hiện chức năng điều phối những lợi ích kinh tế chung, bảo vệ sự sống, sự bình an chung của mọi người trong cộng đồng cũng như nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần chung, thể hiện trong một nền văn hoá chung, phản ảnh tâm lý và ý thức chung của cộng đồng.
Đó là những mặt mạnh cư bản tạo ra diện mạo dân tộc của một cộng đồng người trong lịch sử và ý thức dân tộc cũng được hình thành, nảy nở hoàn thiện và ảnh hưởng đến từng mặt cư bản đó của dân tộc...  ý thức dân tộc thể hiện trước hết ở ý niệm về cùng chung một nguồn gốc, có cùng dòng máu, giống nòi, tổ tiên mà ý niệm về dòng giống được hình thành trên cư sở ý niệm về Đực - Cái, về sự giao hoà giữa cặp đôi sinh ra con người được nhân lên, được tiếp nối nhau sinh hoá mãi mãi.

Cư dân Đông Sơn là kết quả của sự hoà huyết giữa hai nhóm loại hình nhân chủng Inđônêdiêng và Nam Á với xu thế vàng hoá ngày càng tăng thể hiện ra ở các nhóm tộc khác nhau mà sử sách và truyền thống dân gian gọi là các (15) bộ lạc thời Hùng Vương sau này, cùng một số thành phần tộc người khác tập hợp thành hai nhóm cộng đồng cư dân chính là Âu Việt và Lạc Việt để đến thời vua Thục được hợp nhất lại thành cư dân Âu Lạc. Trong kho tàng văn học dân gian phong phú của nhiều dân tộc nước ta có nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc các dân tộc. Truyện Quả bầu mẹ của người Xá, truyện Đẻ đất, đẻ nước của người Mường... đều nói về nguồn gốc chung của mình và đều coi nhau là anh em một nhà, mặc dù sự thế xoay vần, vạn vật đổi thay, hoàn cảnh sống cụ thể khác dần đi. Cơ sở nảy sinh ý niệm chung về nòi giống đó là do các dân tộc nước ta đã cùng chung sống lâu đời trong một môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn giống nhau, gặp cùng một cảnh ngộ, có chung một số phận...  Những cái đó đã làm tăng tính cộng đồng, tình thân ái, và nghĩa đồng bào được coi là chuẩn mực cao nhất trong quan hệ ứng xử của họ. ở đây, một lần nữa gặp lại lối ứng xử rất Việt, rất phương Đông khi mà quan hệ xã hội được xem là sự mở rộng của quan hệ gia đình.

Và đẹp biết bao tình nghĩa đó được khái quát qua hình ảnh được thể hiện thành dân ca:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Dẫu rằng khác giông nhưng chung một giàn”.
rồi:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”...

Đó là cơ sở sớm nở tình yêu nước nồng nàn của nhân dân ta.

Ý niệm dân tộc được thể hiện ở ý niệm về một lãnh thổ chung được nảy sinh trên cư sở ý niệm về địa vực cư trú vùng kiếm sống chung (ý niệm về vùng kiếm ăn riêng này là ý niệm bản năng tự nhiên đã có ở nhiều loài động vật) được nhận thức nâng cao. Bởi lẽ, ý thức về lãnh thổ không đơn thuần là ý niệm về không gian cư trú và kiếm sống thô phác mà lãnh thổ ở đây được hiểu là vùng đất đã có sự đổ công sức mồ hôi và cả xương máu để tạo ra, cải biến và làm phong phú nó, biến nó thành trường sinh thái tự nhiên - xã hội, thành không gian văn hoá.
 
Cuộc chinh phục các đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả của các nhóm cư dân thời Phùng Nguyên - Đông Sơn đầy gian lao vất vả, hiểm nguy, kéo dài nhiều thế kỷ đã hun đúc ở họ ý thức về lãnh thổ, về miền đất thiêng, ở đó con người sống, lao động xây dựng mềm vui và hạnh phúc. Ý thức về lãnh thổ và bảo vệ lãnh thổ cũng là mặt quan trọng thể hiện lòng yêu nước sớm nở của nhân dân ta.  Ngôn ngữ là một đặc điểm quan trọng của tộc người. Tuy nhiên, ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ quốc gia lại được hình thành trong quá trình hình thành quốc gia; mà quốc gia lại thường mang tính đa tộc. Quốc gia Văn Lang, Âu Lạc được xác định là quốc gia đa tộc, hiện chưa rõ cư dân Âu Lạc nói ngôn ngữ cụ thê nào? Họ có tiếng nói dùng để giao tiếp chung hay không? Ngôn ngữ học mới chỉ cho biết, người Việt cổ hay cư dân Đông Sơn, tức khối cư dân cư bản của nước Âu Lạc, nói một ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Môn-Khơme (Nam Á) và Tày-thái, có sự dung hợp nhiều yếu tố ngôn ngữ khác.

Như trên đã cho thấy, ý thức cộng đồng và ý thức bảo vệ cộng đồng đã nảy nở sớm trong những hoàn cảnh đặc thù của đấu tranh khắc phục tự nhiên và đấu tranh xã hội, là nhân tố quan trọng thúc đẩy hình thành sớm quốc gia, dân tộc. Và Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc đã ra đời thể hiện ý thức dân tộc đã phát triển ở mức độ cao, đồng thời ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia được xem như là ý thức thường trực và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người. Điều này có thể tìm thấy trong Đại Việt sử lược - tác phẩm sử học xưa nhất của nước ta - đoạn nói về quan hệ của Văn Lang với nước Việt của Câu Tiễn (505-465 Tr.CN) cho biết chính Câu Tiễn đã có lần sai sứ giả xuống dụ vua Hùng thần phục, nhưng bị vua Hùng cự tuyệt. Thái độ kiên quyết chối bỏ ách thống trị ràng buộc của ngoại bang, không chấp nhận bộ máy cai trị áp đặt từ ngoài, không cam chịu để lãnh thổ bị sáp nhập . . . được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống Tần của người Tây Âu, Lạc Việt, rồi chống Triệu của nhân dân âu Lạc và được tiếp nối ở những thế hệ người Việt tiếp theo mà cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với lời tuyên thệ long trọng và đanh thép :
 
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. . .



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 10:04:28 PM

Nói lên ý thức dân tộc đã hình thành vững chắc từ rất sớm, coi độc lập, tự chủ là phẩm giá cao quý nhất của người Việt Nam.
Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời đáp ứng những nhu cầu của xã hội trong việc tổ chức xây dựng những công trình công cộng như đắp đê, đào kênh, vì những lợi ích kinh tế.
 
Lúc này quan hệ trao đổi kinh tế, buôn bán đã được triển khai trong phạm vi cả nước. Những lò thủ công chuyên đã cung cấp sản phẩm rộng rãi cho nhiều miền và cùng nhập nguyên liệu từ nhiều nơi trong nước về. Một bằng chứng hiển nhiên nói lên quan hệ thị trường đã mở rộng ra phạm vi cả nước là sự có mặt của những lưỡi dao găm, những mũi giáo đồng gãy hỏng thuộc loại hình văn hoá Đông Sơn vùng sông Mã, mảnh trống đồng thuộc dòng trống Đông Sơn vùng cao bên cạnh hàng trăm đồ đồng hỏng nát do sử dụng hay đúc lỗi và nhiều đồ đồng nguyên mới đúc chưa sử dụng hay đã sử dụng, cùng nhiều mảnh đồng, thỏi đồng được chứa trong chiếc trống đồng Đông Sơn đẹp (trống Cổ Loa) phát hiện ở địa điểm Mả Tre trong khu vực thành Cổ Loa được chôn dấu trong lòng đất có lẽ do một biến động xã hội to lớn nào đó.

Đó là sản phẩm, nguyên vật liệu của một lò thủ công đúc đồng thuộc trung tâm đúc đồng lớn của kinh đô Âu Lạc.  Việc thu gom những đồ đồng hỏng nát để đúc lại, một mặt nói lên truyền thống tiết kiệm của người Đông Sơn, mặt khác chứng tỏ quan hệ thương mại đã có phạm vi hoạt động tầm quốc gia.

Quan hệ trao đổi rộng rãi còn thể hiện ở sự thống nhất những đơn vị đo lường chung qua bằng chứng về sự phát hiện ở nhiều nơi: Đào Thịnh (Yên Bái), Làng Cả (Phú Thọ), Đông Sơn (Thanh Hoá) những quả cân bằng đồng có hình dáng kích cỡ giống nhau có niên đại thời Đông Sơn.

Những quan hệ kinh tế vừa nêu trên càng củng cố thêm ý thức về cộng động dân tộc đã nảy nở trước đó.  Ý thức dân tộc đang hình thành có xu hướng đi vào định hình, ổn định được thể hiện tập trung trong bản sắc dân tộc của văn hoá.

Chỉ xét riêng trên bình diện phong tục ở khía cạnh hình thức bên ngoài của con người là linh vực mà tổ tiên ta thời dựng nước đầu tiên chú trọng để phân biệt mình với người.  Cái răng, cái tóc là góc con người. Răng đen, tóc dài là Ta, người Việt cổ, để khác với răng trắng, răng bịt vàng, tóc tết đuôi sam là người khác tộc, khác ta. Răng đen thì đã thấy trong nhiều ngôi mộ Đông Sơn như ở Châu Can, Thiệu Dương... (Nguyễn Lân Cường, 1996), tóc dài xoã sau lưng  thấy trên các bức tượng của thạp Đào Thịnh, nhiều nhất là ở  hình người nhảy múa khắc trên các trống đồng Đông Sơn, tóc dài cuốn sau gáy như ở tượng người cõng nhau thổi khèn tìm được ở khu mộ Đông Sơn. . .

Tinh hoa dân tộc, ý thức dân tộc mạnh mẽ nhất được vật thể hoá qua hình tượng trống đồng, trên đó những mặt cư bản của đời sống người Việt cổ được thể hiện: lao động, chiến đấu, yêu đương, giải trí, đua tài, lễ hội, vui chơi. . . và bao trùm lên tất cả của ngôn ngữ trống đồng là khát vọng một cuộc sống tự do, thanh bình. Đó là biểu hiện lòng tự tôn của một cộng đồng người đã tự ý thức về mình, về sức mạnh và khả năng vươn lên làm chủ cuộc đời mình. Kẻ địch đã nhận ra vật cản đáng ngại trên bước đường bành trướng bá chủ thiên hạ của chúng và rắp tâm tiêu diệt bằng cách ra sức thu vét trống đồng của người Việt đem phá bỏ đúc thành tượng ngựa như Mã Viện đã làm sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng.

Với ý nghĩa là biểu trưng của tâm hồn và ý chí người Việt, trống đồng được cất dấu, được bảo vệ, được lưu truyền ngàn đời qua nhiều thế hệ mãi mãi về sau và để tỏ thái độ phản kháng, người Việt đã nấu chảy tiền của kẻ thống trị để đúc trống mới, to đẹp hơn. Nền văn hoá trống đồng nổi lên đặc sắc như một nền văn hoá của một dân tộc mạnh, có sức sống mãnh liệt được nuôi dưỡng bằng lòng yêu nước thiết tha và ý thức tự hào dân tộc sâu sắc.

Chúng ta đã dõi theo những hoạt động, những thành tựu, những chiến công của nhân dân ta trong thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Những dấu vết lịch sử còn để lại trong lòng đất đọng lại trong tâm khảm người dân, lưu giữ lại trong các sinh hoạt văn hoá truyền thống, ghi chép lại trong sách sử cho thấy, đây là một thời kỳ hết sức quan trọng trong lịch sử đất nước và dân tộc, thời kỳ mà cộng đồng người chuyển mình thành quốc gia, dân tộc, định hình những tính cách, những phẩm chất cư bản nhất của dân tộc.

Những phẩm chất, những tính cách đó được hình thành từ những giá trị, những đặc điểm của nền văn minh sông Hồng, nền văn minh được chuẩn bị và được tạo tiền đề ra đời qua những thành tựu lao động và đấu tranh đầy gian khổ và sáng tạo của tổ tiên chúng ta sinh sống ở đây, tại chỗ, ngay trên mảnh đất này từ hàng chục vạn năm về trước, từ khi những lớp người nguyên thuỷ đầu tiên kiếm sống và bảo vệ cuộc sống mới chỉ bằng những chiếc rìu tay bằng đá, những cây gậy vót nhọn đầu thô sơ cho đến khi những thế hệ tiếp theo biết mài đá làm cho công cụ và vũ khí sắc bén hơn, biết trồng trọt chăn nuôi để tự làm ra sản phẩm nuôi sống mình.
 
Đến thời điểm cách ngày nay khoảng 4000 năm, lúc con người mở mang nông nghiệp ở vùng đồng bằng và biết đúc đồng, cải tiến công cụ và vũ khí thì bước chuẩn bị đã được hoàn thành, đưa đất nước và dân tộc tiến vào văn minh, xây dựng văn hiến, trên cư sở nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, với kết cấu xã hội nhà - làng - nước. Ở đó, bộ máy quản lý và điều hành xã hội - tức nhà nước - đảm đương những chức năng chủ yếu là tổ chức các công trình công cộng trị thuỷ để phát triển sản xuất và đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ và phát triển đất nước.

Công cuộc lao động và đấu tranh đầy gian lao và sáng tạo đó đã hun đúc nên những tính cách và phẩm giá cao quý của người Việt Nam: cần cù, bền bỉ, dũng cảm, kiên quyết, bao dung, tình nghĩa, vị tha, khoan hoà, thông minh, hiếu học...  là cơ sở sức mạnh tinh thần cùng với những thành tựu trong lao động, xây dựng cuộc sống và đấu tranh bảo vệ cộng đồng  và quốc gia tạo thành một nền tảng, một giá đỡ và bệ phóng vững chắc cho sự cất cánh của dân tộc mà ở đó nảy nở những tài hoa, những trí tuệ, tài ứng xử trong dựng nước và giữ nước.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:24:03 AM


CHƯƠNG II

TỔ CHỨC QUÂN SỰ - VŨ KHÍ - TRANG BỊ
GIAI ĐOẠN HÙNG VƯƠNG – AN DƯƠNG VƯƠNG

I. CÁC TỔ CHỨC QUÂN SỰ, SỰ HÌNH THÀNH
QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VĂN LANG – ÂU LẠC 


1. Những tài liệu khảo cổ học xác thực, tài liệu văn tự quý hiếm, tài liệu văn học dân gian phong phú, tài liệu dân tộc học sống động có liên quan đến thời đại Hùng Vương - An Dương Vương đều ít nhiều toát lên một ý chung rằng, ở vào thời này, chiến tranh là hiện tượng phổ biến, đặc biệt là ở các giai đoạn sau.

Một hiện tượng dễ nhận biết khi nghiên cứu các di vật khai quật được từ trên 400 di tích thuộc các giai đoạn phát triển khác nhau của thời đại Hùng Vương - An Dương Vương là sự phát triển đáng ngạc nhiên của số lượng và loại hình vũ khí. Trong hơn 50 di tích văn hoá Phùng Nguyên - giai đoạn mở đầu thời dựng nước, đã được khảo sát, khai quật, vũ khí chỉ chiếm một tỷ lệ rất không đáng kể, thường không quá 2% trên tổng số di vật thu lượm được. Cũng cần nói thêm rằng, trong các di tích thuộc các văn hoá khảo cổ cùng bình tuyến Phùng Nguyên ở lưu vực sông Mã, sông Cả hoặc ở vùng miền núi phía Bắc đất nước, cũng hầu như không tìm thấy một toại vũ khí nào.
Loại hình vũ khí giai đoạn này còn đơn giản, chỉ là vài ba mũi tên, mũi lao bằng đá hay bằng xương. Cư dân Phùng - Nguyên đã biết đến kỹ thuật luyện kim đồng thau, nhưng một mặt, kim loại còn đang rất hiếm quý chưa được sử dụng rộng rãi trong đời sống; mặt khác, chắc hẳn, nhu cầu sử dụng những vũ khí chiến đấu có khả năng sát thương lớn trong những trận chiến giữa người với người còn chưa trở nên bức thiết, nên người Phùng Nguyên chưa sản xuất và sử dụng vũ khí bằng kim loại.

Giai đoạn phát triển tiếp theo của Nhà nước Văn Lang được phản ảnh qua văn hoá khảo cổ Đồng Đậu - Gò Mun, tồn tại trong khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ VII Tr.CN. Bức tranh về vũ khí lúc này đã có những thay đổi đáng kể về số lượng (chiếm khoảng 20% tổng số đồ đồng) và đặc biệt là về chất lượng cũng như chủng loại. Không phải ngẫu nhiên mà ngay khi đồ đồng trở nên phổ biến thì nó đã được sử dụng tích cực trong chế tạo vũ khí như vậy. Tính ưu việt của loại nguyên liệu mới này lập tức được người Lạc Việt nhận biết và sử dụng để phục vụ cho một trong những hoạt động trọng yếu lúc này của họ là chiến đấu giữ đất, giữ làng, bảo vệ thành quả lao động. Việc một nguyên liệu mới, kỹ thuật mới không dễ kiếm, dễ làm như hợp kim đồng thau lại được sử dụng ngay một cách phổ biến trong lĩnh vực “quân khí” đã cho thấy phần nào đòi hỏi bức thiết của chiến tranh thời kỳ này.

Ở giai đoạn này người ta vẫn còn dùng vũ khí bằng đá  nhưng rất hãn hữu. Nhưng vũ khí bằng xương lại có chiều  hướng gia tăng đặc biệt trong giai đoạn văn hoá Đồng Đậu.  Phải chăng vũ khí bằng đồng chưa đủ nhiều để đáp ứng nhu cầu chiến đấu tăng nhanh khiến họ phải dùng thêm cả đồ xương?

Tuy nhiên, nếu đặt vũ khí các loại trong mối tương quan với tổng thể di vật thu lượm được trong giai đoạn này, chúng ta sẽ thấy vũ khí mới chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, mặc dù so với giai đoạn Phùng Nguyên đã là một bước tiến vượt  bậc, khoảng trên dưới 20%. Đồ đá chiếm trên 70% bộ di vật mà trong đó tuyệt đại đa số là công cụ lao động và đồ trang sức - vật dụng của cuộc sống sản xuất yên ổn. Dù vậy, vẫn có thể nói được rằng, đời sống xã hội của người Đồng Đậu - Gò Mun đã bất ổn hơn so với người Phùng Nguyên.
 
Thực tế là, đi liền với những tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật luyện kim - kỹ thuật đúc nên mọi nền văn minh cổ đại, - của cải đã gia tăng, dân số phát triển, nhu cầu mở rộng đất đai cư trú và sản xuất. Đây là những yếu tố làm gia tăng những cuộc chiến tranh cướp bóc, xâm lược và chống xâm lược. Đương nhiên, vũ khí không chỉ dùng trong chiến trận, mà còn dùng trong săn bắn. Nhưng chúng ta không thấy có sự khác biệt đáng kể nào trong phương thức sống giữa cư dân Đồng Đậu - Gò Mun với cư dân Phùng Nguyên. Họ đều sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Săn bắn chỉ là hoạt động kinh tế phụ trợ. Để săn bắn chim thú thì các vũ khí, phương tiện thô sơ như bẫy, lưới cung tên bằng tre, gỗ vẫn rất hữu hiệu và dễ kiếm. Nếu không nhằm vào mục tiêu sống còn cho sự tồn tại và phát triển của gia đình, thị tộc - làng nước mình, không chắc người ta đã dám sử dụng một tỷ lệ đáng kể kim loại đồng thau cho sản xuất vũ khí như vậy vào giai đoạn chưa thể nói tới sự dư thừa của thứ vật nếu nhân tạo này.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:26:48 AM


Sự ưu tiên dành thứ nguyên liệu mới này cho sản xuất vũ khí còn được đẩy lên cao độ ở giai đoạn sau, giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Tỷ lệ vũ khí trong các địa điểm Đông Sơn thường chiếm trên 50% tổng số di vật. Đây là đặc điểm đáng chú ý của văn hoá Đông Sơn mà không phải nền văn hoá đồng thau đương đại nào cũng có. Hiện tượng đột biến về tỷ lệ vũ khí này bắt đầu xảy ra vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI Tr.CN. Mối quan hệ giữa tỷ lệ vũ khí và tình hình xung đột vũ trang còn được biểu hiện khá sinh động, cụ thể ở sự khác biệt của tỷ lệ này giữa các kha vực địa lý khác nhau. Như đã giới thiệu qua ở chương trên, tỷ lệ vũ khí cao nhất gặp ở các địa điểm văn hoá Đông Sơn trên lưu vực sông Hồng - ví dụ, Vinh Quang - 63,5%, Làng Cả - 64,1%. Ở lưu vực sông Mã tỷ lệ này là 50,5% ở Đông Sơn, 57,8% ở Thiệu Dương . Trong khi đó ở một trung tâm lớn của lưu vực sông Cả, tỷ lệ này chỉ có 24% (Làng Cả). Rõ ràng rằng, xung đột vũ trang xảy ra gay gắt hơn cả ở- vùng lưu vực sông Hồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí, vai trò lịch sử của trung tâm sông Hồng trong buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bởi lẽ đây là trung tâm đầu não của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, nơi diễn ra cả những cuộc xung đột, đấu tranh nội bộ nhằm thiết lập một nhà nước thống nhất, cả những cuộc đấu tranh chống xâm lược từ bên ngoài, trước hết là từ phương Bắc, để bảo vệ quyền độc lập, tự chủ của mình.

Ở lưu vực sông Lam, điển hình là địa điểm Làng Vạc, nằm cách xa các trung tâm xung đột gay gắt lại có vị trí hiểm yếu, núi sông che chở, có lẽ ít chịu tác động của các cuộc chiến tranh hơn.

Sự phát triển của vũ khí ở giai đoạn này không chỉ phản ánh bằng số lượng mà còn bằng sự phong phú về kiểu loại, hình dáng. Ngoài sự phát triển tiếp tục các loại hình vũ khí đã có từ các giai đoạn trước như mũi tên, giáo, lao, còn ra đời loạt vũ khí mới như rìu chiến, dao găm, đoản kiếm, hộ tâm phiến, khiên mộc... Ngay những vũ khí truyền thống như cung, nỏ, giáo lao cũng được cải tiến và đa dạng hoá hơn nhiều. Vũ khí bằng đồng đã đủ nhiều để thay thế cơ bản cho vũ khí bằng các chất liệu khác như đá, xương - những loại vũ khí mất nhiều công chế tạo mà giá trị sử dụng lại không cao.  Vũ khí và chiến tranh, xung đột vũ trang là những cặp bài trùng. Căn cứ vào tình hình phát triển của vũ khí chúng ta có thể nhận biết được sự phát triển ba giai đoạn, phản ánh mức độ xung đột vũ trang trong thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta. Giai đoạn mở đầu, ở khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II Tr. CN, những cuộc xung đột xã hội còn rất mờ nhạt, những cuộc chiến tranh chống xâm lược dường như chưa xuất hiện. Giai đoạn thứ hai kéo dài từ khoảng nửa cuối thiên niên kỷ II Tr. CN đến hết 1/3 đầu thiên niên kỷ I Tr.CN. Lúc này cuộc sống ở các làng xóm nông nghiệp đã không còn hoàn toàn yên bình. Những cuộc xung đột vũ trang đã xuất hiện và càng về cuối càng trở nên phổ biến hơn. Nhưng xung đột, chiến tranh chỉ thực sự gay gắt vào giai đoạn thứ ba, giai đoạn cuối, bắt đầu từ khoảng thế kỷ VII Tr.CN trở đi.

Tài liệu khảo cổ học nêu trên góp phần soi sáng đồng thời với các nguồn tài liệu khác. Trước hết là nguồn tài liệu thư tịch cổ. Trong một số sách sử Trung Quốc cổ có thể tìm thấy vài ghi chép về mối quan hệ giữa các vương triều Trung Quốc với khối cư dân Bách Việt, trong đó có Lạc Việt, Âu Việt.  Đáng chú ý nhất là những bộ sách trong Nhị thập tứ sử, đặc biệt là bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, sử gia đời Hán. Trong Sử ký có chép: “Vua Nghiêu sai Hy Thúc đến ở Nam Giao” tức Giao Chỉ theo Khổng An Quốc chú Sử ký), hoặc còn chép:

“Vua Chuyên Húc Cao Dương... đến Giao Chỉ ở phương Nam”, hoặc lại chép: “Vua Thuẫn đi phủ dụ đất Giao Chỉ ở Phương Nam”. Sách Thượng thư đại truyện của Phục Thắng đời Hán được dẫn trong thuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên đời Bắc Nguỵ, thì chép: “ Vua Nghiêu từng vỗ yên đất Giao Chỉ ở phương Nam”. Hai sách này đều chép truyện dâng chim trĩ của bộ thuộc Hùng Vương cho Chu Vương. Sách Thượng thư đại truyện ghi: “Đời Thành Vương nhà Chu ở nam Giao Chỉ có nước Việt Thường dùng nhiều lớp thông ngôn đến hiến chim trĩ trắng”. Sử ký chép cụ thể hơn: “Năm Tân Mão thứ 6 (1110 Tr.CN) đời vua Thành Vương nhà Chu, phía nam bộ Giao Chỉ có họ Việt thường qua ba lần sứ dịch, dâng chim trĩ trắng”. Các sách khác như Trúc thư kỷ niên (thế kỷ thứ IV), Hậu Hán thư Nam man truyện, An Nam chí nguyên cũng có chép truyện dâng chim trĩ tương tự.

Những ghi chép nêu trên trong các sách sử cổ Trung Quốc, tuy không trực tiếp nói đến hành động xâm lược, những trận chiến, nhưng cũng hé mở cho thấy mối bang giao không bình đẳng, ẩn chứa bạo lực của kẻ mạnh. Sự “đến ở Nam Giao” của Hy Thúc do vua Nghiêu sai phái, sự “vỗ yên đất Giao Chỉ” hay hành động họ Việt Thường của nước Văn Lang phải lặn lội ngàn dặm cống cho Chu Thành Vương chim trĩ trắng. . . không thể không kèm theo hoặc là kết quả của những hành động bạo lực, ép buộc. Thực chất này đã được ghi chép một cách thẳng thắn hơn trong một số sách do các sử gia phong kiến người Việt biên soạn (sẽ xin nhắc tới một số ở dưới). Cuộc xâm lăng đầu tiên của phương Bắc vào đất Việt được chính thức ghi chép trong sử sách Trung Quốc là cuộc chinh phạt của Tần Thuỷ Hoàng.

Sách Hoài Nam tử của Lưu An kể tuy ngắn gọn, nhưng cũng khá đầy dủ về cuộc chiến này. Sách Sử ký của Tư Mã Thiên cũng ghi sự kiện tương tự. Cuộc chiến tranh này kéo dài đến hơn 10 năm, tổn hao rất nhiều sức người, sức của và kết thúc bằng sự đại bại của quân Tần. Những cuộc xâm lăng của người phương Bắc vào Âu Lạc kể tử khi An Dương Vương thay thế Hùng Vương, trở nên thường xuyên hơn, như các sách sử cổ của Trung Quốc đã nói tới.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:27:44 AM


Các tài liệu thư tịch do người Việt biên soạn tuy ra đời muộn hơn các thư tịch Trung Quốc cổ nêu trên rất nhiều, nhưng lại được các soạn giả tra cứu cẩn thận các tài liệu cổ của Trung Quốc, kết hợp với những truyền thuyết dân gian và nhãn quan dân tộc, nên cũng đáng tin cậy và có giá trị khảo cứu. Về tình hình chiến tranh ở thời Văn Lang - Âu Lại, có thể tìm thấy ít nhiều ở các bộ biên niên sử chính thống, ở một số sách biên soạn tập hợp truyện dân gian, thần phả. Việt sử lược - bộ sử biên niên xưa nhất của nước ta, có thể được biên soạn vào thời Trần, ngoài chép truyện họ Việt Thường cống chim trĩ trắng tương tự sách sử Trung Quốc còn nói đến việc “Việt Vương Câu Tiễn (505 - 465 Tr.CN) đã sai sứ tới dụ, Hùng Vương chống cự lại”. Đại Việt sử ký toàn thư, ghi rằng, đời Thành Vương nhà Chu (1063 - 1026 Tr.CN) lần đầu nước Việt sang thăm nhà Chu dùng chim trĩ trắng để triều cống. Truyện cống chim trĩ trắng cho Thành Vương nhà Chu còn thấy trong Dư đia chí, Cương mục... Các cuộc chiến tranh chống quân Tần, chống Triệu Đà đều được ghi chép lại trong các bộ sách sử của ta.

Khi nghiên cứu thời đại Hùng Vương - An Dương Vương các nhà nghiên cứu đều chú ý đến hay tập truyện được biên soạn vào thế kỷ XIV - XV là Việt Điện u linh và Lĩnh Nam chích quái. Mặc dù những truyện được chép trong hai tập sách này mang nhiều tính chất hoang đường nhưng không thể phủ nhận ý nghĩa phản ánh lịch sử ở chửng mực nhất định của chúng. ở dây chúng ta lại gặp truyện cống chim trĩ trắng chứng tỏ mối quan hệ với phương Bắc của Hùng Vương vào khoảng cuối thiên niên kỷ II Tr.CN. Mối bang giao sớm hơn với phương Bắc được kể đến trong truyện Họ Hồng Bàng qua cuộc tuần du xuống phương Nam của Đế Lai - vị vua trị vì đất Trung Quốc lúc đó. Theo lời kể thì cuộc tuần du đã gây bao nỗi nhọc nhằn khổ cực cho người dân phương Nam.  Nghĩa là, tuy chưa gây chiến xâm lược nhưng đã có cướp bóc, sách nhiễu. Phải chăng đây là những dấu hiệu mở đầu cho những cuộc xâm lăng thực sự xảy ra ngày càng nhiều hơn vào giai đoạn cuối thời Hùng Vương và đặc biệt gay gắt vào thời An Dương Vương. Trong Lĩnh Nam chích quái có truyện Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân ở thời Hùng Vương thứ 6, có truyện Lý Ông Trọng được An Dương Vương đem tiến cho Tần Thuỷ Hoàng để hoà hoãn, có truyện rùa vàng kể chuyện xây thành Cổ Loa và chiến tranh Thục Phán - Triệu Đà Trong Việt Điện u linh có truyện về cuộc chiến tranh giữa Sơn Tinh - Thuỷ Tinh vì nàng công chúa con vua Hùng thứ 18...

Số truyền thuyết được ghi nhận trong các cuốn sách nêu trên thực tế chỉ là một phần rất nhỏ trong kho tàng truyện dân gian về thời Hùng Vương - An Dương Vương đã và đang lưu truyền trong nhân dân ta, đặc biệt là nhân dân vùng đất trung tâm quốc gia Văn Lang - Âu Lạc xưa kia. Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đã tổng kết rằng, trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, số truyện cổ tích lịch sử có liên quan đến thời Hùng Vương - An Dương Vương chiếm tỷ lệ cao. Và điều cần nhấn mạnh ở đây là, trong số những truyền thuyết đó, thì những truyền thuyết về xung đột, về chiến tranh lại chiếm vị trí hàng đầu. Đó là những truyện về các thần tướng như Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn Thánh và vô vàn bộ tướng của họ như Nguyễn Cận, Cốt Trung, Cả Viêm, Cao Sơn, Quý Minh, Giang Công, Mang Công v.v. . Đó là truyện về các con vua Hùng cùng đánh giặc như Lang Bút, Lang Mao, Lang Lôi. Đó cũng là những truyện về các tướng tá giúp An Dương Vương xây thành, đánh giặc. Thống kê sơ bộ, đã có hàng trăm truyền thuyết về Tản Viên và các bộ tướng của ông. Về Thánh Gióng đánh giặc Ân riêng trong phạm vi Hà Nội đã tìm thấy rất nhiều qua các thần tích, thần phả, truyền thuyết địa phương (Gia Lâm, Đông Anh). ở Vĩnh Phú cũ) đã thống kê (chưa thật đầy đủ) được gần 600 thần tích ngọc phả và hàng ngàn truyền thuyết về thời Hùng Vương, mà trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là truyền thuyết có nội dung ca ngợi tinh thần thượng võ, chiến đấu ngoan cường chống ngoại xâm.

Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài liệu khảo cổ học, truyền thuyết dân gian, tín ngưỡng lễ tục... về thời Hùng Vương - An Dương Vương nói không và về tình hình xung đột vũ trang, chiến tranh nói riêng, chúng ta thấy những sự trùng hợp đầy ý nghĩa. Trước hết là sự trùng hợp về không gian : Phạm vi phân bố cũng như mật độ phân bố các di tích khảo cổ thuộc thời đại này cũng là phạm vi phân bố và mật độ phân bố các truyền thuyết, tín ngưỡng lễ tục về thời đại đó Về mặt thời gian, nếu như qua tài liệu khảo cổ - tình hình phát triển vũ khí, biết rằng vào khoảng đầu thiên niên kỷ I Tr.CN - xung đột vũ trang bắt đầu phát triển, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh vào vài thế kỷ sau đó và đạt đến đỉnh cao vào khoảng những thế kỷ IV - III Tr.CN, thì tài liệu truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ tục cũng cho thấy một bức tranh tương tự. Phần lớn các tướng tá phò trợ Hùng Vương đánh giặc xuất hiện từ đời Hùng Vương thứ 6 trở đi, nhưng nhiều nhất vẫn là sự tích về các tướng sĩ và các trận đánh xảy ra vào thời Hùng Vương 18- nghĩa là vào khoảng thế kỷ IV - III Tr.CN. Thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam cũng cho biết về cuộc xung đột giữa Hùng Vương và Thục Phán.  Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng đời Minh, chép theo sử cũ rằng: “Lạc Vương đã truyền được 18 đời thì bị Thục Vương diệt”. Những sách khác như Quảng Châu ký dẫn trong Sử ký sách dẫn, Giao Châu ngoại vực ký dẫn trong Thuỷ kinh chú, Nam Việt chí dẫn trong Cựu Đường thư đều nói đến việc Thục Vương đánh bại Hùng Vương, tuy không nhắc đến niên đại Hùng Vương 18. Sách Việt sử lược ghi rõ hơn: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép “Giáp Thìn, năm thứ 1 (257 Tr.CN) (Chu Noãn Vương năm thứ 58) vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương.. .”.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:55:53 AM


Tìm hiểu tính chất của các cuộc chiến tranh ở thời Hùng Vương - An Dương Vương qua tài liệu thư tịch và truyền thuyết tín ngưỡng dân gian, có thể nhận ra rõ ràng hai loại chiến tranh đã xảy ra ở thời kỳ này là chiến tranh chống ngoại xâm và xung đột vũ trang nội bộ.

Nếu không tính đến những mối bang giao bất bình đẳng giữa nước Văn Lang với các vương triều phong kiến hùng mạnh phương Bắc ở vào giai đoạn đầu thời Hùng Vương dựng nước khiến dân Văn Lang phải nhiều phen điêu đứng phục dịch, cống nạp cho Bắc triều, thì cuộc chiến tranh chống xâm lược quy mô đầu tiên được ghi chép trong sử sách là cuộc kháng chiến chống quân Tần ở gần cuối thế kỷ thứ III Tr.CN.  Các sách sử cổ Trung Quốc như Hoài Nam tử, Sử ký đều chép sự kiện này tương tự như nhau, chủ yếu kể về sự động binh của nhà Tần, những khó khăn gian khổ của quân Tần vấp phải khi tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, sự chống trả quyết liệt và khôn ngoan của người Việt - bao gồm các tộc Bách Việt, trong đó có cả Lạc Việt, Âu Việt và cuối cùng Tần phải rút quân sau hơn 10 năm đánh nhau mà không đạt được mục đích mở rộng đất đai về phía Nam của đế chế Tần. Tuy nhiên, cũng còn những điểm chưa thật rõ về việc quân Tần đánh vào đất Văn Lang của người Lạc Việt như thế nào. Vấn đề này chúng ta sẽ bàn kỹ ở chương sau.

Cuộc chiến tranh chống ngoại xâm lớn thứ hai được nói đến trong các tài liệu thư tịch và đặc biệt in đậm trong ký ức nhân dân trải nghìn đời nay thông qua các truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian, các lễ nghi, tục hèm là cuộc kháng chiến chống quân Triệu Đà thời Thục An Dương Vương - Âu Lạc.

Sự thực có phải suốt 2000 năm nước Văn Lang - Âu Lạc, tổ tiên ta chỉ phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm như vậy? Chắc hẳn là không. Mặc dù các tư nếu sử sách cổ hầu như không ghi chép gì, ngoại trừ truyện về Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân được sưu tập vào Lĩnh Nam chích quái, chúng ta vẫn có thể khẳng định như vậy nếu như đi sâu khai thác tài liệu văn hoá dân gian. Qua những tài liệu này chúng ta biết được rằng cư dân Văn Lang đã phải đương đầu với nhiều thứ giặc khác nhau như “giặc mũi đỏ”, “giặc Hồ Tôn”, “giặc Man”, “giặc Hồ Quảng”, “giặc Hồ Xương”, dặc biệt là “giặc Ân".

Có ý kiến cho rằng những thử giặc này là phản ánh những cuộc xung dột vũ trang giữa các bộ lạc, bộ tộc gần gũi với nhau về vị trí địa lý, về văn hoá, tộc người để tiến tới hợp nhất trong một quốc gia chung, một dân tộc Việt chung ở những trung tâm Văn Lang như trung tâm Ba Vì - Bạch Hạc - Việt Trì hay trung tâm Sóc Sơn - Trâu Sơn từ nhiều hướng khác nhau, khi thì tử phía Bắc xuống, khi thì từ hướng biển Đông vào, khi thì từ phía Nam lên. Và chúng xuất phát từ những căn cử khá gần, ví như, theo thần tích thôn Hà Lồ (Đông Anh, Hà Nội) thì cánh quân giặc Ân do tướng Thạch Linh chỉ huy khởi binh từ khu vực Bắc Giang. Trong khi đó, theo tài liệu thư tịch, trong suốt thời Hùng Vương - An Dương Vương không thấy nói đến sự tồn tại của một tộc người, một nhà nước sơ khai nào khác ở cận kề với nước Văn Lang - Âu Lạc, trùng với địa phương xuất binh của các đám giặc được ghi nhận trong truyền thuyết. Thêm vào đó, các tài liệu khảo cổ học chỉ cho thấy có sự tồn tại của những loại hình địa phương của một nền văn hoá khảo cổ thống nhất - văn hoá Đông Sơn.

Nhưng dẫu sao thì cũng chưa đủ cư sở để khẳng định dứt khoát tính chất xung đột nội bộ của các cuộc chiến tranh đó.  Không loại trừ khả năng trong đó bao gồm cả những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, cả những cuộc đấu tranh nội bộ. Xét về nhiều mặt, chí ít cũng có thể xếp cuộc chiến tranh chống giặc Ân vào loại chiến tranh chống ngoại xâm, rất tàn ác thâm độc (bắt dân cho ngựa đá ăn cỏ, ngựa không ăn thì giết - một chi tiết trong các truyền thuyết, thần tích phổ biến ở vùng Hà Nội), âm mưu xâm chiếm, nô dịch nước Văn Lang.  Đây quyết không thể là những bộ tộc láng giềng, gần gũi của Hùng Vương muốn thông qua bạo lực chiến tranh để làm cho lãnh thổ được quy về một mối, cùng hợp lực chống thiên tai phát triển sản xuất và chống giặc ngoại xâm phương Bắc đã từ lâu bị trung tâm văn minh sông Hồng trù phú với nhiều của ngon vật lạ hấp dẫn (đây chính là một trong những lý do khiến quân Tần mở cuộc viễn chinh xuống đất Bách Việt vào thế kỷ III Tr.CN như sánh Hoài Nam tử thuật lại). Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân ta lại tôn vinh Thánh Gióng thành Anh hùng dân tộc, biểu tượng của truyền thống đánh giặc giữ nước hào hùng của dân tộc.

Thêm nữa, khảo cổ học đã cung cấp những chứng cứ xác thực về mối giao lưu sớm giữa văn hoá Phùng Nguyên với văn hoá Ân - Thương vùng Trung Nguyên - Trung Quốc qua sự có mặt của những chiếc nha chương - loại sản phẩm đặc thù của văn hoá Trung Nguyên, trong một số di tích Phùng Nguyên có niên đại khoảng thế kỷ XVII - XIV Tr.CN. Chiếc qua đá tìm thấy trong mộ ở địa điểm Lũng Hoà rất giống những qua Ân - Thương vùng Trung Nguyên. Phải chăng giặc Ân trong truyền thuyết Thánh Gióng, là nhà Ân - Thương vùng Trung Nguyên này. Theo sử Trung Quốc, triều đại Thương - Ân được bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVII - XVI và kết thúc vào thế kỷ XI Tr.CN.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:57:23 AM


Trên cơ sở tài liệu thư tịch, văn hoá dân gian và khảo cổ học, chúng ta còn thấy khá rõ những cuộc chiến mang tính chất xung đột nội bộ thực sự. Việt sử lược chép rằng: “ Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 - 682 Tr.CN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. . .  truyền được 18 đời đều gọi Hùng Vương”. Bộ Gia Ninh, theo Cựu Đường thư, Địa lý chí, là huyện Gia Ninh. cũng là Phong Châu hạ thuộc quận Giao Chỉ thời Tuỳ, mà Phong Châu cũng theo sách này, được định vị ở Tây - Bắc An Nam, “sở trị là Gia Ninh”, và theo Thông điển thì “ Phong Châu là nước Văn Lang xưa”.

Lộ Gia Ninh hay đất Phong Châu - Văn Lang chính là địa bàn gốc của Hùng Vương. Tại đây phân bố dày đặc các di tích văn hoá khảo cổ từ Phùng Nguyên qua Đồng Đậu, Gò Mun, đến Đông Sơn, là trung tâm phát triển văn hoá sớm nhất và cao nhất trong mối tương quan so sánh với các trung tâm Đông Sơn khác ở lưu vực sông Mã và sông Cả Người được gọi là “dị nhân” ở đây chính là thủ lĩnh bộ lạc Văn Lang, giàu có nhất, hùng mạnh nhất đã dùng sức mạnh, kể cả bạo lực chiến tranh, “áp phục” các bộ lạc láng giềng, thiết lập dần nhà nước sơ khai do mình đứng đầu - “Tự xưng là Hùng Vương”. Ở đây tính chất đấu tranh nội bộ của cuộc chiến tranh được biểu lộ rõ; Cuộc chiến tranh không mang tính chất một mất một còn, xâm lược tiêu diệt, mà chỉ là “áp phục” - vừa dụ vừa đánh, đánh để dụ. Mục tiêu là hoà hợp chứ không phải tiêu diệt áp bức. Nó khác nhiều so với các cuộc chiến tranh chống Tần, Triệu hay Ân kể trên.

Niên đại thời Chu Trang Vương - khoảng đầu thế kỷ VII trước công nguyên cũng là phù hợp với niên đại của giai đoạn vũ khí bắt đầu tăng mạnh, tức ửng với giai đoạn văn hoá Đồng Đậu - Gò Mun. Lúc này là lúc vũ khí bằng đồng đã phát triển và tỷ lệ vũ khí tăng vượt từ trên dưới 1% ở giai đoạn trước, lên tới trên 20%.

Cuộc chiến tranh mang tính chất xung đột nội bộ nữa được ghi dấu khá đậm nét trong sử sách và đặc biệt là trong ký ức bền bỉ của nhân dân là cuộc chiến tranh Hùng - Thục.  Vậy là chiến tranh đã là hiện tượng thường xuyên xảy ra ở thời đại Hùng Vương - An Dương Vương, nhất là vào giai đoạn sau, từ khoảng giữa thiên niên kỷ I trước công nguyên trở đi. Việc xem xét kỹ tình hình chiến tranh và tính chất của các cuộc chiến tranh đó, là cơ sở để chúng ta bàn tiếp đến vấn đề tổ chức lực lượng vũ trang ở thời đại này.

2. Khi xem xét các tổ chức quân sự - những lực lượng tiến hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm cũng như xung đột nội bộ suốt thời gian Hùng Vương - An Dương Vương, các nhà nghiên cứu đã khá thống nhất trong việc đánh giá cao vai trò của dân binh - thành viên công xã vũ trang. Đánh giá này là phù hợp với những tài nếu, tuy ít ỏi và đa phần là gián tiếp, chúng ta có được hiện nay.
Trước hết hãy tìm hiểu tài liệu khảo cổ học.

Khảo cổ học coi tài liệu mộ táng có giá trì đặc biệt trong nghiên cứu tình hình xã hội đương đại. Thân phận chủ nhân mộ được phản ánh khách quan qua cách thức mai táng, số lượng và loại hình đồ tuỳ táng, qua mối tương quan so sánh giữa các mộ, khu mộ với nhau.
Ở giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương mộ táng phát hiện được còn ít. Khu mộ táng Lũng Hoà thuộc văn hoá Phùng Nguyên là một trong số rất ít đó. Qua tập tục mai táng có thể thấy rằng, chủ nhân các ngôi mộ đều là thành viên công xã sống trong một xã hội bình đẳng và yên ổn về cư bản. Mọi người đều phải lao động sản xuất (đều chôn theo công cụ lao động), đều có nếp sống sinh hoạt như nhau (ăn uống, nấu nướng bằng đồ gốm, trang điểm bằng những vòng tay, hạt chuỗi đá - các mộ đều có chôn theo bình, nồi, bát gốm, hạt chuỗi, vòng tay đá), đều có tín ngường, tập tục như nhau (đều chôn theo xương hàm lợn, 3 “chạc” gốm, hướng mộ đầu quay hướng đông - nam...), hầu hết các mộ đều không chôn theo vũ khí, trừ một mộ có vũ khí lại là một thứ vũ khí lạ - một chiếc qua đá, loại sản phẩm đặc Trưng của vùng Trung Nguyên (Trung Quốc). Ngôi mộ có vũ khí này không có gì đặc sắc, khác biệt so với các mộ khác. Vì vậy, không thể coi chủ nhân mộ là thủ lĩnh quân sự hoặc thuộc loại chiến binh đặc biệt nào đó. Sự hiện diện của chiếc qua loại hình thời Ân - Thương này ở đây chỉ mang ý nghĩa như một thứ vật “kỷ niệm” ghi nhớ một sự kiện đặc biệt nào đó mà chủ nhân ngôi mộ từng trải qua. Có thể là sự kiện tham gia đánh đuổi giặc Ân chăng ? Xin nhớ là Lũng Hoà nằm liền kề phía Bắc khu vực đậm đặc truyền thuyết và các di tích về Thánh Gióng. Có thể khẳng định rằng qua tài liệu mộ táng Lũng Hoà ta chỉ thấy vai trò người lao động nông nghiệp, sống định cư là nét chủ đạo của thân thế chủ nhân các ngôi mộ này.

Ta có thể hiểu rằng, như vậy là khi có biến - tức là khi có những cuộc xung đột giữa các thị tộc, bộ lạc - một hiện tượng không thể thiếu đối với lịch sử bất cứ dân tộc nào trong giai đoạn dân chủ quân sự và hình thành nhà nước sơ khai, hay những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm (nhất thời như chống giặc Ân chẳng hạn), thì mọi người dân công xã đều biến thành chiến binh tham gia chiến đấu. Hết xung đột, hết giặc lại trở về sản xuất bình thường. Hình ảnh những dân binh như thế được nói đến rất nhiều, rất sinh động trong các truyền thuyết về Thánh Gióng đánh giặc ân mà chúng tôi sẽ trở lại nói kỹ hơn ở dưới.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:58:23 AM


Như đã trình bày, đến giai đoạn văn hoá Đồng Đậu - Gò Mun, đã có sự phát triển vượt bậc của vũ khí, tỷ lệ vũ khí đã tăng khoảng 20% trên tổng số di vật. Tỷ lệ này phản ánh nhu cầu xã hội về đấu tranh vũ trang tăng lên. Rất tiếc là chúng  ta không có được hình ảnh cụ thể của các chiến binh thời này thông qua tài liệu mộ táng. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học chưa phát hiện được một khu mộ địa nào thuộc giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, mới chỉ tìm thấy một vài ngôi mộ lẻ, lẫn trong di chỉ cư trú. Các ngôi mộ này đều chôn cất rất sơ sài, không có đồ tuỳ táng hoặc rất nghèo nàn, phần lớn chỉ có đồ gốm, đồ trang sức đá cùng chưa nhiều, vũ khí bằng đồng lại càng hiếm. Chúng ta chờ đợi những phát hiện mới để bổ sung tư liệu, soi sáng các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề lực lượng vũ trang trong giai đoạn này.

Đến giai đoạn văn hoá Đông Sơn - giai đoạn phát triển cao của thời đại Hùng Vương - An Dương Vương, ta gặp một bức tranh khác hẳn. Phần lớn tài liệu dể nghiên cứu giai đoạn này được khai thác từ loại hình di tích mộ táng. Riêng khía cạnh lực lượng vũ trang chúng ta có thể rút ra được khá nhiều thông tin quan trọng.

Điều dễ nhận thấy trước hết chính là sự phổ biến của vũ khí trong bộ đồ tuỳ táng. Nếu như ở giai đoạn Phùng Nguyên, tại khu mộ Lũng Hoà chỉ duy nhất một mộ có một vũ khí (chiếm 8% so với tổng số mộ được phát hiện) thì đến Đông Sơn, tỷ lệ này thấp nhất cũng là trên 20%, đặc biệt các khu mộ vùng sông Mã tỷ lệ này lên tới trên 50%. Tỷ lệ này sẽ còn cao hơn nữa nếu ta không tính đến số mộ hoàn toàn không có đồ tuỳ táng chôn theo. Chủ nhân các ngôi mộ này hẳn phải là những người có liên quan dện việc binh đao ở những mức độ khác nhau.

Sự khác nhau này được phản ánh qua sự có mặt của hai loại mộ có chôn theo vũ khí là loại mộ chỉ chôn theo vũ khí và loại mộ chôn theo cả vũ khí, cả công cụ sản xuất. Theo thống kê ở một số khu mộ Đông Sơn tiêu biểu như Vinh Quang, Phú Lương, Làng Cả (lưu vực sông Hồng), núi Nấp, Đông Sơn. Thiệu Dương (lưu vực Sông Mã), Làng Vạc (lưu vực sông Cả), tương quan số lượng giữa hai loại này ở các khu vực là không như nhau. Ở lưu vực sông Hồng, mộ chỉ chôn theo vũ khí có tỷ lệ cao hơn hẳn mộ chôn theo cả vũ khí và công cụ lao động (27,4/5,8% ở Vinh Quang; l9,4/2,7% ở phú Lương; 10/4% ở Làng Cả). Trong khi đó, ở khu vực sông Mã và sông Cả tỷ lệ này là gần tương đương (11,8/22,7% ở Núi Nấp; 19,8/21,5% ở Thiệu Dương; l0,6/15% ở Làng Vạc).

Có nhiều khả năng chủ nhân những ngôi mộ vừa chôn theo vũ khí vừa chôn theo công cụ lao động là những dân binh. Họ là những thành viên công xã gắn bó với lao động sản xuất và chỉ trở thành chiến binh tạm thời khí cần thiết.  Cũng có thể tập quán chôn theo người chết vũ khí, dù người đó không phải là chiến binh là một biểu hiện của nếp sống “vũ trang toàn dân” hay thế ứng xử của con người trong một xã hội mà chiến tranh, xung đột vũ trang xảy ra thường xuyên. Còn những ngôi mộ chỉ chôn theo vũ khí phải chăng là mộ của những chiến binh chuyên nghiệp. Vấn đề này chúng ta sẽ trở lại sau.

Đương nhiên cũng không đơn giản cho rằng chỉ những người có chôn theo vũ khí và công cụ lao động mới là dân binh. Dân binh còn có thể bao gồm cả những chủ nhân các ngôi mộ nghèo, không chôn theo đồ tuỳ táng hoặc chỉ chôn theo ít đồ gốm, đồ đá đơn giản. Số này, theo thống kê, chiếm tỷ lệ đáng kể - khoảng trên dưới 50% tổng số mộ, đặc biệt ở địa điểm Làng Cả, chiếm tới trên 80% đồ đồng, bao gồm cả vũ khí là những đồ vật quý, không phải ai cũng có thể dùng để chôn theo người chết. Đa số tầng lớp người nghèo trong xã hội không thể có khả năng này. Rất có thể những dân binh này khi chết chỉ được chôn theo những công cụ và vũ khí thô sơ làm bằng tre, gỗ mà thời gian đã huỷ hoại. không còn đến nay nữa.

Các nhà nghiên cứu còn chú ý đến một hiện tượng khá phổ biến trong các khu mộ Đông Sơn là không có sự phân biệt rạch ròi về tuổi tác và giới tính của chủ nhân các mộ có chôn theo vũ khí. Ví như ở khu mộ Núi Nấp thanh Hoá), không phân biệt mộ nam hay nữ, đều chôn theo đủ loại vũ khí như nhau (rìu, giáo, dao găm...). Thậm chí trong mộ một bé gái chửng 13 tuổi cũng thấy chôn theo giáo đồng. Các khu mộ khác như Vinh Quang, Châu Can, Hà Tây)... cũng có tình hình tương tự.

Tính chất “vũ trang toàn dân” còn có thể nhìn thấy trên hoa văn trang trí trống, thạp đồng - những đồ đồng tuyệt mỹ nhất, điển hình nhất của văn hoá Đông Sơn. Trên mặt những chiếc trống đẹp nhất như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa... đều có khắc họa cảnh sinh hoạt dời thường và cảnh lễ hội của cư dân Đông Sơn với những cặp trai gái giã gạo, cảnh làm việc, chơi đùa trong những căn nhà mái tròn hay mái cong hình thuyền, cảnh dàn trống có người ngồi đánh, những hàng người mặc áo, mũ hoá trang tay cầm nhạc cụ nhảy múa... Và chính ở đây, ta lại bắt gặp những chiến binh tay cầm vũ khí đi hoà vào dòng người của nhịp sống lao động hoà bình ấy.  Tất cả họ, không phân biệt người nhảy múa cầm nhạc cụ hay cầm vũ khí đều phục trang như nhau, chứng tỏ giữa họ không có sự cách biệt nào. Những chiến binh cầm vũ khí này cũng chính là thành viên công xã - là những dân binh. Sự hoà nhập giữa họ khiến ta có cảm giác rằng, tất cả họ đều có thể hoặc là các nhạc công, vũ công hoặc là các chiến binh tuỳ thuộc vào sự “phân vai” của người trưởng trò đám rước trong ngày lễ hội này. Đơn giản bởi vì trong thực tế họ vừa là dân vừa là lính.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 11:59:25 AM


Một chi tiết cũng đáng để ta chú ý là trong hàng người vừa quân vừa dân này, người chiến binh cầm vũ khí thường được xếp đi đầu trên trống Ngọc Lũ, đi đầu đoàn sáu người là người cầm giáo, ngọn giáo chúc xuống, cán giáo có trang trí lông chim. Tiếp sau người chiến binh này là những người xoè tay múa, người thổi kèn, rung chuông... Trên trống Cổ Loa 1, đi đầu đoàn sáu người là hai người cầm giáo trong tư thế tương tự như người cầm giáo trên trống Ngọc Lũ. Đi sau họ là bốn người hoặc múa, hoặc thổi khèn... Trên trống Hoàng Hạ, trong nhóm sáu người lại có tới năm người cầm vũ khí, chỉ có một người thổi khèn đi giữa. Rõ ràng là vai trò của chiến binh - dân binh được xã hội đề cao. Họ là thành phần không thể thiếu trong đám rước, lễ hội. Hơn thế họ còn được đứng ở vị trí dẫn đầu và có khi còn chiếm đa số trong đoàn người. Đây quả là những bằng chứng cụ thể của nếp sống luôn phải đối mặt với chiến tranh. Để có được cuộc sống yên vui mỗi người dân trước hết phải biết cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ làng quê, đất nước mình. Nguồn gốc sâu xa của truyền thống toàn dân đánh giặc là bắt nguồn từ đây.

Tài liệu khảo cổ học về lực lượng dân binh được củng cố thêm bởi những tư liệu văn hoá dân gian. Hãy bắt đầu bằng việc xem xét các truyền thuyết về Thánh Gióng.

Các truyền thuyết về Thánh Gióng, thực tế là rất nhiều chứ không phải là chỉ có một truyện đã được các nhà nho xưa sưu tập vào sách Lĩnh Nam chích quái và đi kèm theo đó là các tín ngưỡng, hội lễ liên quan đến sự tích này, kể từ lúc Gióng còn là đứa trẻ trong nôi đến khi vụt lớn cưỡi ngựa sắt xông pha nơi chiến địa và cả về những người theo Thánh Gióng đánh giặc ở chi tiết nào ta cũng thấy thấm đẫm tinh thần toàn dân đánh giặc, cũng cảm nhận rõ vai trò chủ đạo, quan trọng nhất, nổi bật nhất của nhân dân trong cuộc chiến này.

Thứ nhất là việc dân làng cung cấp cơm cà và vải vóc cho chú bé Gióng. Nhờ có cơm cà, quần áo của làng mà Gióng lớn lên như thổi, sức mạnh phi thường. Đây là hình ảnh ẩn dụ nhưng rất sinh dộng và chuẩn xác của sự hình thành và phát triển của lực lượng dân quân công xã. Chỉ có lực lượng này mới có thể vụt lớn nhanh đến vậy. Bởi họ là toàn thể thành viên công xã, ngày thường thì lao động sản xuất gắn bó với ruộng đồng, nhưng khi có chiến tranh, tất cả có thể bỏ cày cuốc, cầm giáo lao, cung nỏ tham chiến dưới sự chỉ huy của chính thủ lĩnh bộ lạc mình, hoặc được đặt dưới quyền chỉ huy chung của một vị tổng chỉ huy - trong trường hợp này là của Gióng.

Theo thần tích thôn Hà Lỗ (Đông Anh, Hà Nội) hai anh em ruột Dực và Minh ở trang Hà Lỗ đã đem đội quân của mình đến đặt dưới sự chỉ huy của Gióng. Đội dân binh này hoàn toàn do dân cung cấp cơm ăn, áo mặc và cả vũ khí.  Nhà nước có thể cung cấp phần nào, nhưng không đủ, vẫn phải dựa vào dân là chính (vua cấp cho Gióng ngựa sắt, roi sắt, nhưng chỉ dùng một lúc là gãy, phải thay bằng roi tre).  Thứ hai là thành phần đội quân cùng Gióng đánh giặc. Ngoài sự có mặt của các tướng giỏi, đã từng đánh thắng các thứ giặc khác như Lý Tiến người ở trấn Tiền Ngư trên bờ sông Tô Lịch thần tích thôn Đông Thuận và Tây Hồ chi) hai anh em Dực - Minh (thần tích thôn Hà Lỗ), Trần Quốc ở làng Phù Đổng, Trần Đô Thống người thôn Phù Dực (Gia Lâm)... cùng đội dân binh của mình, còn có mặt đông đảo quần chúng nhân dân - lão nông đập đất trồng cà, người câu cá đám trẻ chăn bò...

Những gương mặt quần chúng này được đánh giá cao và in dấu sâu đậm trong ký ức nhân dân.  Ông lão đập đất trồng cà trên cánh đồng Đường Ghềnh ở thôn Trung Mầu (gần thôn Phù Đổng) thấy đoàn quân Thánh Gióng đi đánh giặc qua liền bỏ việc, vác vồ chạy theo đoàn quân và lập được công lớn, được nhân dân tưởng nhớ công lao đặt tên cho là ông Đường Ghềnh và cho phối hưởng với chính Thánh Gióng ở đền Thượng. Đám trẻ chăn bò đang thả bò chơi trò đánh trận với những bông lau làm cờ, thấy quân Gióng đi qua cũng buộc bò cầm cả cờ lau chạy theo đoàn quân. Người câu cá bên sông cũng vác cần câu chạy theo đoàn quân ... Những nhân vật này được ghi nhớ trong các ngày hội Gióng diễn ra hàng năm tại làng Phù Đổng.  Trong ngày hội, bao giờ cũng có hai toán người ăn mặc khác nhau. Toán áo đỏ đại diện quân chính quy, còn toán áo đen là gồm những dân thường tình nguyện - trẻ chăn bò, người đi câu, người thợ săn...

Ở các địa phương khác của Phú Thọ, Vĩnh Phúc trong các truyền thuyết đánh giặc Ân, ta cũng gặp những nhân vật đánh giặc mang tính chất dân binh. Đó là Nguyễn Cân ở Lâm Thao, Cất Tung ở Yên Lãng, Cả Viêm ở Lập Thạch, Đinh Thiên Tích ở Tam Dương. . . Mặc dù các vị này đều được phong tướng, nhưng qua một vài chi tiết ta lại thấy các vị rất dân giã. Ví như Cốt Tung Đại Vương đã nhấc bổng một tảng đá lớn ném về phía giặc để chặn đường tiến của chúng.  Hơn nữa, các vị tướng này chẳng bao giờ được giới thiệu là có nguồn gốc xuất thân cao sang. Họ chỉ thường dược cho là có thần linh phụ trợ nên tài giỏi khác thường và được nhân dân tôn vinh nhờ chiến công đánh giặc của mình. Còn việc phong tặng danh hiệu, tôn xưng là Thánh, là Đại Vương là việc làm của những người đời sau cả.

Có thể nói rằng, trong mọi truyền thuyết có nội dung về chiến tranh, ta đều có thể nhận ra vai trò của nhân dân, của lực lượng vũ trang nhân dân - dân binh, qua những hình thức biểu hiện khác nhau. Ở truyền thuyết Thánh Gióng nêu trên, như đã thấy, là thông qua hình ảnh chú bé Gióng vụt lớn nhờ sự nuôi dưỡng bình dân (cơm cà) của dân làng công xã, là sự góp mặt của những người dân bình thường đang làm những công việc bình thường của mình hoặc dẫu có là các tướng linh thì cũng là những người xuất thân từ nhân dân lao động.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:00:36 PM


Trong các truyền thuyết khác, ta cũng gặp một số cách thể hiện tương tự. Hãy xét tiếp đến những truyền thuyết xung quanh Tản Viên - Sơn Tinh và các bộ tướng của ông giúp Hùng Vương đánh giặc, chủ yếu là “giặc Thục”. 

Như đã trình bày ở trên, truyền thuyết về Tản Viên và các bộ tướng của ông chiếm số lượng lớn nhất và phổ biến rộng nhất trong số truyền thuyết về thời Hùng Vương - An Dương Vương. Điều chúng tôi muốn chú ý đến ở đây là số lượng các bộ tướng . Qua hàng trăm truyền thuyết - thần tính sưu tập được từ khắp nơi, chúng ta thấy, ngoài một số ít vị thần tướng được thờ phụng ở nhiều nơi như Cao Sơn, Quý Minh, còn rất nhiều bộ tướng được thờ phụng trong phạm vi hẹp một làng hay vài làng như Giang Công, Khê Công, Mang Công (được thờ ở làng Ninh Mỹ huyện Hải Hậu, làng Đông Phù huyện Mỹ Lộc, Nam Định), Cửa Cống Đại Vương ((làng Cát Trung, huyện Trực Ninh, Nam Định), Cửa trước Đại Vương, Cửa sau Đại Vương (làng An Khê, Quan Nha, huyện Duy Tiên, Hà Nam), Phạm Hoẵng (làng Sơn Đồng, huyện Quỳnh Côi, Thái bình), v.v... Thấy rõ là các bộ tướng này là các thủ lĩnh quân sự địa phương. Họ có thể là tù trưởng, tộc trưởng, hoặc chỉ là người có tài võ lược, có sức khoẻ hơn người, đứng ra tập hợp nhân dân và trở thành chỉ huy chính đội quân dân binh vừa mới được thành lập khi nguy cư ngoại xâm tới gần.

Trong các truyền thuyết thường có chi tiết nói rằng các vị tướng mới này trở về làng quê mình để chiêu tập quân binh lập đội đi diệt giặc (Truyện tướng Bảo Công, truyện Cao Sơn, Quý Minh đánh Thục ở Phú Thọ). Đội quân này trước hết chiến đấu bảo vệ làng quê mình (nhiều thần tích kể về các trận đánh do viên tướng chỉ huy diễn ra ngay tại địa phương, như thần tích xã Xa Thúc, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc là một ví dụ), sau là phối thuộc với quân Tản Viên đi đánh giặc ở các nơi khác như thần tích Làng Chanh huyện Tùng Thiện, Hà Tây kể về viên bộ tướng đi đánh giặc Thục ở cửa Thần Phù, hay thần tích thôn Hạnh Đàn, huyện Thạch Thất, Hà Tây (kể về hai viên tướng đi đánh giặc ở vùng sông Mã...).

Cũng như truyện Thánh Gióng, trong các truyện về Tản Viên, các bộ tướng của Tản Viên và ngay cả chính Tản Viên cũng đều được kể là những người có nguồn gốc xuất thân bình thường. Các thần tích chỉ chú trọng đề cao công lao đánh giặc của các vị thần tướng được thờ phụng, mà không mấy khi nói rõ nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội của họ. Ví như thần tích đền Thánh Mẫu ở xóm Lăng Xương, xã Lăng Xương, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (cũ) chép rằng Tản Viên là con một người họ Nguyễn ở động Lăng Xương thuộc đất Giang Ninh xưa. Truyền thuyết về Tản Viên ở vùng chân núi Ba Vì còn kể chuyện Tản Viên lúc còn trẻ tuổi, ngày ngày phải cùng mẹ vượt sông từ động Lăng Xương sang bên chân núi Ba Vì để kiếm củi, làm nương.

Hình ảnh đông đảo nhân dân, những người có thân phận bình thường tham gia đánh giặc và nổi lên như là đội quân chủ lực còn được thể hiện ở những mô típ khác. Ví dụ, truyền thuyết ở làng Sơn Vi (Phú Thọ) kể về chiến công đánh giặc của một người địa phương. Người này đã cùng đội quân cá (thuồng luồng, cá kình, cá ngạc...) của mình đánh đắm 3.000 chiến thuyền của quân Thục trên sông Hồng - Sông Đà. Có thể hiểu “đội quân cá” này là đội quân gồm những người dân bình thường.

Cho tới thời An Dương Vương, khi mà những đội quân thường trực, chuyên nghiệp đã phát triển khá quy mô thì hình ảnh những đội dân binh vẫn còn được nói tới một cách trân trọng trong các truyền thuyết. Những tướng quân lừng danh như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Noa Cả đô uý, Lý Ông Trọng v.v.., xét “lý lịch” thì họ cũng chỉ là những người dân thường. Cao Lỗ đã từng là đô vật, Nồi Hầu quê ở Hương Canh có nghề nặn nồi đất và chính dân làng đã chu cấp cho ông đi kinh đô thi thố tài năng, Lý Ông Trọng người làng Chèm to khoẻ khác thường, tính tình hung dữ. . .

Cũng cần nói thêm, hẳn không khỏi có những mối nghi ngại khi sử dụng tài nếu truyền thuyết. Thực ra các nhà nghiên cứu đã nhiều lần phân tích đầy sức thuyết phục về giá trị sử liệu của truyền thuyết dân gian, đặc biệt đối với những giai đoạn lịch sử chưa có chữ viết như thời Hùng Vương - An Dương Vương. Chúng ta tán đồng với quan điểm này. Có thể thấy, trong các truyền thuyết lịch sử bao giờ bên trong vỏ bọc hoang đường thần thoại cũng chứa đựng cốt lõi chân thực của những sự kiện, những vấn đề lịch sử. Chúng ta có đủ cư sở dể tin rằng, một phần cái cốt lõi trong những truyền thuyết về chiến tranh thời Hùng Vương - An Dương  Vương nêu trên chính là phản ánh sức mạnh nhân dân, sức mạnh của lực lượng dân binh trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược và xung dột nội bộ luôn xảy ra ở thời kỳ đó.
 
Để tìm hiểu vấn đề dân binh thời Hùng Vương - An Dương Vương, ta còn có thể tìm kiếm tài liệu thư tịch tuy là rất ít ỏi và cũng là những ghi chép của người đời sau về những sự kiện xảy ra muộn hơn khiến ta phải dùng đến phương pháp “hồi cố” để suy xét.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:01:45 PM


Sớm hơn cả có lẽ là một đoạn ghi chép trong Sử ký và Hán thư về việc Giám cư ông hàng phục được 40 vạn người Âu Lạc trong cuộc chiến tranh Hán -Nam Việt vào khoảng thế kỷ II - I Tr.CN. Hán thư đã gọi những người Âu - Lạc này lúc thì là “ Âu Lạc binh” lúc thì là “Âu Lạc dân”. Như vậy, ta có thể coi họ là dân binh Âu Lạc, hoặc chính xác hơn có lẽ phần đông trong số họ là dân binh, chỉ một số nhất định thực sự là “Âu Lạc binh”.

Trường hợp sau đây có thể bổ sung cho suy luận này. Đây là đoạn văn chép trong Thuỷ kinh chú kể về sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhân ở Ích Châu có loạn, Viện tấu xin với nhà Hán .  đem quân di dẹp. Tâu rằng “Đi từ Mê Linh ra Bôn-cô để đánh Ích Châu, tôi đem hơn vạn người Lạc Việt, có hơn 3.000 người tập quen chiến đấu... Có thể hiểu trong số một vạn người Lạc Việt bị sung vào đội quân viễn chinh của Viện, chỉ có 3.000 là lính chuyên nghiệp (đã tập quen chiến đấu), số còn lại đều chỉ là dân binh, mới được tuyển mộ. Đương nhiên đây là chuyện xảy ra sau thời An Dương Vương tới hơn hai  thế kỷ, nhưng dù sao cũng là một gợi ý. Vả lại cơ cấu lực lượng vũ trang và lối tuyển mộ binh lính khi lâm sự nhằm chủ yếu vào dân đinh làng xã tương tự đã trở thành “quốc sách” trong suốt thời nhà nước phong kiến ở ta.

Điều này đã được Phan Huy Chú tổng kết trong Lịch triều hiên chương loại chí. Trong phần bàn về Binh chế chí, viết: “Binh chế nước Việt ta trước kia không tra cứu được. Từ nhà Đinh nhà Lê đặt nước thì mới chia ra đại khái.... còn quân ở ngoại thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên binh vẫn được đủ mà không phải tiêu phí nhiều...”. Ở một đoạn khác, Phan Huy Chú dẫn lời bình của Ngô Sĩ Liên nói về việc mộ binh thời vua Đinh: “Có lẽ bấy giờ nông và binh chưa chia nhau, còn là  khi có việc thì gọi ra, khi xong việc lại giải tán về đồng ruộng...” Chính sách “ngụ binh ư nông” được áp dụng triệt để ngay từ buổi đầu độc lập như thế ắt hẳn đã có nguồn gốc sâu xa từ buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Như vậy là, từ những nguồn tài liệu khác nhau, chúng ta có thể khẳng định rằng. cư sở của lực lượng vũ trang thời Hùng Vương- An Dương Vương về mặt số lượng là dân binh.  Chúng ta cũng có thể sơ bộ hình dung được cư cấu tổ chức và cách thức hoạt động của lực lượng dân binh này. Tham gia vào lực lượng này có thể là mọi thành viên công xã có khả năng cầm vũ khí chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu. Ta đã thấy trong các truyền thuyết, những hoạt động lễ hội về Thánh Gióng sự có mặt của đủ mọi thành phần, kể cả lũ trẻ chăn bò, ta lại cùng thấy trong số các tướng lĩnh, những người có công đánh giặc được thờ phụng có không ít là phụ nữ (như Ngọc Hoa công chúa, Nguyệt Cơ công chúa, Mỹ Nương, A Nương, Lúa Nương...).

Và, chắc chắn hơn nữa là hiện tượng vũ khí được dùng làm đồ tuỳ táng không chỉ cho nam giới mà còn cho cả phụ nữ, kể cả các em gái. Thành phần như vậy tất có cách thức tổ chức và hoạt động rất linh hoạt: giặc đến thì đánh, có thể tự động nhập vào hàng ngũ, vũ khí có gì dùng nấy. Hình ảnh bác nông dân đang đập đất, ông lão đang câu cá thấy đoàn quân đánh giặc ân rầm rập chạy qua thì người vác vồ, người vác cần câu nhập vào đoàn quân đó mà đi đánh giặc là một biểu hiện sống động của hoạt động của dân binh. Tuy nhiên, bên cạnh đó ta vẫn thấy bóng dáng của một đội dân binh có tổ chức chặt chẽ hơn. Đội này đương nhiên cũng chỉ hình thành khi có chiến tranh, bao gồm những trai tráng khoẻ mạnh, có sự tuyển mộ nhất định và được đặt dưới sự chỉ huy của thủ lính bộ lạc hay bộ tộc hoặc người tài giỏi dược bầu chọn. Thành phần các đội dân binh mang tính địa phương chặt chẽ, nghĩa là được tuyển mộ trong phạm vi từng làng xã (công xã) nhất định
.
Ta đã thấy truyền thuyết kể về tướng Bảo Công lấy 300 người ở Ma Khê, quê vợ (nay thuộc Cẩm Khê, Phú Thọ) lập thành một đội quân đi theo Tản Viên đánh Thục ở Lang Châu (?), hay Đại Hải đem 150 người ở Vịnh Hương quê mẹ (nay thuộc Lâm Thao, Vĩnh Phú) theo Tản Viên đánh Thục... Như vậy là tổ chức và chức năng của đội dân binh này đã được nâng lên một bước: không phải tự động gia nhập đoàn quân mà đã được chiêu tập hẳn hoi, không phải chỉ chống giặc tại chỗ mà còn được điều động đến những nơi khác theo sự điều hành, chỉ huy chung của bộ máy trung ương, ví như của Tản Viên, người thay mặt Hùng Vương thống soái toàn bộ cuộc chiến chống Thục.

Chúng ta cũng biết rằng, những con số 300 người, 150 người, thậm chí còn có những con số chính xác hơn - 205 người (của trang Dị Nậu) hay 307 người (của trang Thượng Nông) theo Hiển Công và Bạch Thạch cùng Tản Viên đánh Thục ở Mộc Châu - được sung vào các đội dân binh là những con số phiếm chỉ của truyền thuyết. Nhưng điều làm chúng ta phải lưu ý là, những truyền thuyết trong đó xuất hiện những đội dân binh được các tướng lĩnh mộ tại làng xã quê hương với quân số cụ thể như vậy, gần như chỉ tập trung vào thời Hùng Vương 18 tức vào giai đoạn cuối nước Văn Lang, thời kỳ mà bộ mặt kinh tế - xã hội Văn Lang ở vào độ phát triển rực rỡ nhất và chiến tranh thì trở nên thường xuyên hơn, quyết liệt hơn. Rõ ràng đây không phải sự ngẫu nhiên tuỳ hứng của truyền thuyết. Sự thật lịch sử được phản ánh trong hiện tượng này chính là sự phát triển cao hơn, có tổ chức hơn của lực lượng dân binh ở vào giai đoạn cuối so với những giai đoạn phát triển trước đó của nhà nước Văn Lang.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:02:58 PM


3. Việc khẳng định vai trò to lớn của dân binh - lực lượng tham chiến quyết định trong các cuộc chiến tranh thời Hùng Vương - An Dương Vương, việt khẳng định truyền thống vũ trang toàn dân.ri, chiến tranh nhân dân độc đáo của lịch sử quân sự 4000 năm vẻ vang của dân tộc ta đã được phôi thai xác lập từ những buổi đầu dựng nước như thế không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại, vai trò, ý nghĩa của lực lượng vũ trang chuyên nghiệp - quân đội thường trực ở thời kỳ lịch sử đó. Bởi vì, như chúng ta đều biết, quân đội thường trực là công cụ bạo lực không thể thiếu đối với bất kỳ nhà nước nào, dù đó là nhà nước đặc thù - nhà nước của phương thức sản xuất Châu Á như nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể phủ nhận được bởi vì sự tồn tại của nó là có thực, đặc biệt chắc chắn và rõ ràng vào thời An Dương Vương dựng nước Âu Lạc.

Trước tiên phải nhắc tới cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của người Việt. Theo sự khảo cứu của các nhà sử học thì đế quốc Tần đã tiến đánh đất Bách Việt, trong đó có Âu Việt và Lạc Việt. Người Việt đã kiên trì chống trả trong hơn 10 năm với lối đánh sở trường “ngày trốn vào rừng, đêm ra đánh”, “cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng” nên đã “đại phá quân Tần, giết được Đồ Thư (quân Tần) thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người” (Hoài Nam tử).  Sự kiện đại thắng đế chế Tần là sự thật lịch sử, đã được các nhà chép sử Trung Quốc gần như cùng thời với các sự kiện đó ghi nhận trong những bộ sử đầy uy tín như Sử ký, Hoài Nam tử và muộn hơn một chút là Tiền Hán thư. Đế chế Tần là nhà nước phong kiến tập quyền hùng mạnh, có quân đội tinh nhuệ thiện chiến từng đánh đông dẹp bắc cũng là sự thật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kỳ tích thắng Tần của người Việt. Về điều này chúng ta sẽ trở lại bàn kỹ ở chương sau. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói qua về lực lượng vũ trang chống Tần. Có người dựa vào những điều viết trong Hoài Nam tử nêu trên để cho rằng người Việt đánh Tần bằng lực lượng dân binh. Sự suy luận này là đúng nhưng chưa đủ. Bởi vì, đã đành rằng dân binh là lực lượng quyết định về mặt số lượng, nhưng nếu không có những tướng giỏi thao lược, không có những đội quân thường trực đã quen chiến đấu, làm nòng cốt tổ chức những trận chiến quyết định, thì làm sao có thể đánh bại được một đội quân lớn mạnh và đầy tham vọng đến như vậy. Việc chọn người tuấn kiệt lên làm tướng cũng đã được nói rõ trong các sách sử nêu trên. Và theo các nguồn sử liệu khác thì người tuấn kiệt được chọn làm tướng đó là An Dương Vương Thục Phán, thủ lĩnh của người Âu Việt lúc bấy giờ. Quân đội thường trực của Thục Phán đã phát triển và lớn mạnh cùng với cuộc kháng chiến chống Tần. Và rồi sau đó, nhân đà thắng lợi, An Dương Vương đem quân thẳng vào đất Văn Lang, đánh đổ Vua Hùng, lập nên nhà nước Âu Lạc. Thủy Kinh chú dẫn theo Giao Châu ngoại vực ký kể về sự kiện này như sau: “... Sau con vua Thục đem  quân ba vạn đến đánh Lạc Vương, Lạc hầu và áp phục các Lạc tướng. Con vua Thục nhân xưng là An Dương Vương”. . .  Những ghi chép tương tự như vậy còn thấy trong Sử ký sách ẩn dẫn lại của Quảng Châu ký: “Sau con vua Thục đem binh đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở huyện Phong Khê”... Theo truyền thuyết thì lực lượng quân đội của nhà Thục dùng để đánh Hùng Vương còn quy mô hơn nhiều:Thục Phán đã thống lĩnh năm đạo quân gồm hàng vạn người tiến vào đất Văn Lang đánh diệt Hùng Vương rồi lên ngôi vua, lập nước Âu Lạc.

Sau khi chiếm được đất Văn Lang, lên ngôi vua, An Dương Vương đã tiến hành xây ngay thành Cổ Loa. Thành Cổ Loa được người Trung Quốc (trong Quảng Châu Ký, thế kỷ V) đánh giá ngang bằng các thành của các nước Tề, Sở, Vệ Trịnh thời Đông Chu. Chỉ riêng sự kiện An Dương Vương xây được thành có quy mô như thế ngay giữa đất của kẻ bại trận, cũng đủ thấy ông vua này đã có trong tay một lực lượng quân đội thường trực mạnh đến thế nào. Qua truyền thuyết xây thành ta thấy sự chống đối cũng rất quyết liệt: thành xây mãi không xong do “tinh khí con vua đời trước” và ma quỷ làm hại, An Dương Vương phải hao tâm tổn sức ra tay diệt trừ. Lực lượng làm công việc này hẳn phải là quân đội thường trực của An Dương Vương.

Thành xây xong tất phải có một lực lượng quân thường trực không nhỏ trấn giữ, bảo vệ. Đội quân này vào thời bình làm chức năng đàn áp nhân dân, bảo vệ bộ máy thống trị, vào thời chiến (cuộc chiến tranh chống Triệu Đà) trở thành ltrc lượng chiến đấu chủ chốt.
Truyền thuyết Cổ Loa kể nhiều về hoạt động luyện quân, tập trận đánh thủy, đánh bộ, luyện bắn cung nỏ. . . của đội quân thường trực này. Tài nghệ dùng cung nỏ của quân đội An Dương Vương không chỉ được biết qua các truyền thuyết dân gian, mà còn được ca ngợi trong sử sách. Việt kiệu thư chép:” Man động xưa ở nước Nam Việt (tức nước Âu Lạc khi đã bị Triệu Đà chiếm) thời Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ thì lại càng giỏi lắm, mỗi phát tên xuyên qua hơn chụt người, Triệu Đà sợ lắm”. Việt sử lược chép: “Lúc bấy giờ An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ làm được nỏ Liêu Châu mỗi lần giương nỏ bắn được 10 phát tên, dạy được một vạn quân lính”. Những điều được kể trong truyền thuyết, được chép trong sử sách đó lại được chứng thực bằng phát hiện kho tên đồng hơn vạn chiếc ở Cầu Vực sát khu thành ngoại Cổ Loa.  Đây là kho tên đồng mới được sản xuất, chưa qua sử dụng.  Hẳn chúng được sản xuất tập trung trong một quân xưởng ngay tại Cổ Loa và để cung cấp cho đội quân thường trực trong thành. Và để có thể sử dụng được loại “thần nỏ” bắn một phát ra 10 mũi tên lớn như tên thấy trong kho Cầu Vực, phải có đội quân chuyên nghiệp được huấn luyện cẩn thận.  Vậy thì rõ ràng là một vạn quân lính được dạy dùng nỏ liễu được nói đến trong Việt sử lược phải là đội quân chuyên nghiệp, quân thường trực của An Dương Vương.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:03:45 PM


Đó là quân đội thường trực của nhà nước Âu Lạc. Vậy ở giai đoạn nước Văn Lang, lực lượng vũ trang chuyên nghiệp này đã ra đời chưa?
Qua các truyền thuyết Hùng Vương, như đã trình bày, chúng ta nhìn thấy hình ảnh về cuộc chiến tranh nhân dân, về lực lượng dân binh rất đậm nét. Tuy nhiên, nếu đi sâu khai thác, phân tích các nguồn tài liệu hiện biết, chúng ta cũng lại thấy được hình dáng hiện rõ dần của lực lượng vũ trang thường trực Hùng Vương theo tiến trình hình thành và phát triển nhà nước sơ khai Văn Lang.

Chúng ta hãy bắt đầu từ tài nếu văn tự viết về thành Văn Lang. Trong Đại Nam nhất thông chí có đoạn chép:

“Thành cổ của Kinh Dương Vương: ở sau chùa Hoa Long, thôn Việt Trì, huyện Bạch Hạc, có một gò đất tương truyền là nền thành cũ, xét Đại Thanh nhất thông chí chép rằng, cung Lạc Vương (chữ Lạc trong sách Thuyết Phu chép là Hùng) ở địa phận Châu Tam Đái. Lại xét Sử ký chép: “Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu và cho rằng: “nay là huyện Bạch Hạc”. Cứ như thế thì chỗ này ngờ là nền cung điện cũ của Hùng Vương, mà tục truyền lầm là thành của Kinh Dương Vương”.

Sách Sơn Tây tỉnh chí, mục Cổ tích, chỉ ra vị trí của thành Kinh Dương Vương như Đại Nam nhất thông chí, nhưng không đặt vấn đề nghi vấn chủ nhân thành này.  Sách An Nam chí (nguyên) chép: Thời Chu xưa, Giao Chỉ có Lại Vương xây thành Văn Lang.

Ngoài vài tài liệu trên, nhưng thư tịch Trung Quốc và Việt Nam cổ xưa hơn đều không chép gì về tòa thành ở vị trí sau chùa Hoa Long của Kinh Dương Vương hay Hùng Vương, mà chỉ như Đại Nam nhất thông chí dẫn Sử ký, nhắc đến Phong Châu (mà trung tâm là Bạch Hạc - Việt Trì) như là bản bộ nơi đóng đô của cả 18 đời Hùng Vương. Chúng ta không rõ: Sơn Tây tĩnh chí và An Nam chí nguyên dựa vào đâu để viết về thành Văn Lang như vậy. Riêng Đại Nam nhất thông chí thì hẳn dựa vào truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Song cũng không biết cụ thể truyền thuyết đó là truyền thuyết nào. Bởi vì ngày nay trong kho tàng truyền thuyết dân gian Vĩnh Phú (cũ) cũng có chuyện thành của Hùng Vương, nhưng không được gọi là “thành Văn Lang” mà gọi là “thành Phong Châu. Trong truyện này không thấy nói đến địa danh chùa Hoa Long và nền thành cũ ở sau chùa, mà lại kể ra hàng loạt địa danh có liên quan tới các hoạt động của triều đình Hùng Vương như đồi Tháp Lọng (nơi các Lạc hầu làm việc), Thậm Thình (nơi giã gạo cho vua), Tiên Cát (nơi vợ vua ở và tổ chức kén rể), đặc biệt lại có cả địa danh Cẩm Đội là nơi các tướng đóng quân, rèn tập binh sĩ, luyện bắn cung nỏ... Nhưng trong truyện lại không nhắc gì đến việc xây thành hay địa danh có liên quan đến thành lũy.  Trong hàng trăm truyền thuyết về thời Hùng Vương ngày nay đã sưu tầm được từ khắp vùng đồng bằng - trung du Bắc Bộ, cũng không tìm được truyền thuyết nào kể chuyện xây thành tương tự như truyện về thành Cổ Loa của An Dương Vương sau này. Thực tế thì đã trải gần 40 năm kể từ khi phát hiện di chỉ Phùng Nguyên, dấu chân các nhà khảo cổ học đã in dầy trên khắp miền đất tổ,đặc biệt là ở ngã ba Bạch Hạc - Việt Trì, nhưng vẫn chưa tìm thấy dấu tích một bức tường thành xây kiên cố nào. Song, mặt khác, họ lại tìm thấy đầy đủ chứng cứ để xác minh cốt lõi sự thật lịch sử của các truyền thuyết dân gian về thời Hùng Vương,đặc biệt là về “thành Phong Châu”. Không có gì phải nghi ngờ khi khẳng định khu vực Bạch Hạc - Việt Trì là một trong những trung tâm quan trọng bậc nhất của thời đại Hùng Vương - An Dương Vương. Tại đây đã phát hiện được di tích Làng Cả nổi tiếng. Riêng địa danh “Làng Cả” cũng đã cho ta cảm nhận được vị trí đứng đầu - vị trí kinh đô của mảnh đất này thuở xa xưa cách nay đến gần 2500 năm.

Như vậy là cả ba nguồn tài liệu, trước hết là khảo cổ học và văn học dân gian, sau là một phần lớn tài liệu thư tịch, đều thống nhất chỉ ra vị trí đóng đô của Hùng Vương là đất Phong Châu, nhưng đây là “kinh đô” không có thành xây kiên cố như thường gặp ở kinh đô các quốc gia cổ đại khác trên thế giới. Đại Nam nhất thông chí đã đúng khi không chỉ nghi ngờ sự tồn tại của thành lũy thời Kinh Dương Vương mà còn cho rằng, những dấu tích “tương truyền là thành ở Bạch Hạc - Việt Trì”, đó cũng không phải là dấu tích thành của Hùng Vương mà là nền cung điện cũ của Hùng Vương, tức chỉ là dấu tích của trị sở - bản bộ - nơi đóng đô của Hùng Vương mà thôi. Tuy nhiên, nói rằng không tìm thấy thành xây kiên cố ở nơi Hùng Vương đóng đô không có nghĩa là “thành Phong Châu” không có những công trình phòng thủ.
 
Ở vào những giai đoạn cuối Hùng Vương, chiến tranh xảy ra thường xuyên và ác liệt: kinh đô này phải là đối tượng đánh phá trước hết của các lực lượng đối địch. Việc tạo dựng những công trình phòng thủ là yêu cầu khách quan, hết sức cần thiết. Rất có thể “thành Phong Châu” được bảo vệ bằng những bức tường thành bằng lũy tre rào gỗ như đã được nhắc đến đây đó trong các thư tịch cổ. Ví như trong Truyện bánh chưng ở Lĩnh. Nam chích quái nói đến việc các tướng dựng một sách (hàng rào gỗ) để phòng thủ; trong một số thư tịch cổ Trung quốc nhắc đến việc ở ta dân trồng nhiều tre gai làm lũy không thể công phá được. Truyền thống dùng các vật liệu nhẹ như tre, nứa, gỗ, rơm rạ để xây dựng các công trình kiến trúc dân dụng của người Lạc Việt, chắc cũng được áp dụng cả cho các loại công trình kiến trúc quân sự.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:04:47 PM


Như vậy, dù sao chúng ta cũng không tận mắt nhìn thấy thành xây kiên cố ở thời Văn Iang. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là đã phủ nhận sự vắng mặt của lực lượng quân đội thường trực ở thời Hùng Vương. Có những bằng chứng khác để tìm hiểu vấn đề này.
Phân tích các tài nếu hiện có, chủ yếu là tài liệu khảo cổ học,về thời Hùng Vương, có thể bước đầu phác thảo lịch sử hình thành quân đội thường trực Văn Iang đại thể trải qua một vài giai đoạn như sau:

Ở giai đoạn đầu thời đại các vua Hùng dựng nước, ứng với nền văn hóa sơ kỳ đồng thau Phùng Nguyên. kéo dài trong khoảng một thiên niên kỷ - từ cuối thiên niên kỷ III đến gần cuối thiên niên kỷ II Tr.CN, chưa tìm thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ có sự tồn tại của một lực lượng vũ trang chuyên nghiệp. Trong bộ di vật rất phong phú của văn hóa Phùng Nguyên chỉ gặp rất ít mũi tên, mũi lao bằng đá (tỷ lệ vũ khí chỉ chiếm không tới 2% tổng số di vật). Chiến tranh, xung đột bộ lạc còn là nhưng hiện tượng xa vời đối với cư dân nông nghiệp Phùng Nguyên. mặc dù vào thời kỳ này ngay trên địa bàn cư trú chủ yếu của người Phùng Nguyên hoặc cách không xa đó lắm, còn có những bộ tộc không phải Phùng Nguyên sinh sống.
 
Có khả năng mầm mống của lực lượng vũ trang thường trực đã xuất hiện vào giai đoạn thứ hai - ứng với nền văn hóa trung kỳ - đầu hậu kỳ đồng thau Đồng Đậu - Gò Mun, kéo dài từ khoảng những thế kỷ cuối thiên niên kỷ II đến vài thế kỷ đầu thiên niên kỷ I Tr.CN. Trong giai đoạn này đã xuất hiện những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực quân sự. Số lượng vũ khí chủ yếu là vũ khí đồng thau, tăng lên hơn hẳn so với giai đoạn đầu (từ chưa đến 2% lên 20%). Điều này phản ánh sự gia tăng nhanh chóng của chiến tranh xung đột giữa các bộ lạc láng giềng trong quá trình hòa hợp. liên kết giữa cán bộ lạc để tiến tới hình thành liên minh bộ lạc mang bản chất của một nhà nước sơ khai và cũng còn cả những cuộc chiến tranh chống xâm lược.
 
Chính những cuộc chiến tranh chống xâm lược này lại là tác nhân đẩy nhanh quá trình liên kết trên. Dưới tác động của cả các cuộc chiến tranh xung đột buộc các thủ lĩnh bộ lạc phải chú trọng hơn đến lực lượng vũ trang của mình. Trong hoàn cảnh này, thủ lĩnh bộ lạc đã thấy cần thiết thường xuyên có bên mình một lực lượng vũ trang mang tính thường trực hơn, thông thạo chiến đấu hơn dể sẵn sàng đối phó khi bị tấn công bất ngờ và cũng để dễ bề tiến hành các cuộc cướp bóc chinh phục bên ngoài.  Một kiểu tổ chức vũ trang đơn giản, manh nha của đội thân binh sau này, có thể đã ra đời như vậy. Thành phần đội quân này có thể gồm những người thân cận, họ hàng đồng tộc hoặc thành viên công xã xuất thân của thủ lĩnh bộ lạc và cả những thuộc hạ của thủ lĩnh.
 
Trong các truyền thuyết về chiến tranh thời Hùng Vương, thường gặp chi tiết về hai anh em hay bố con, hoặc vợ chồng cùng tham gia chiến đấu, phải chăng là phản ánh phần nào thành phần lực lượng vũ trang kiểu này và cả lực lượng đội thân binh sau này nữa.

Vấn đề trang bị vũ khí ở giai đoạn này như thế nào cũng cần bàn đến. Tài liệu khảo cổ học cho thấy tương đối rõ (tất nhiên không thể là đầy đủ) tình hình về số lượng và loại hình vũ khí giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun. Mặc dù lúc này đã có sự phát triển đột biến của đồ đồng thau nói chung, vũ khí đồng thau nói riêng, nhưng nhìn chung đồ đồng vẫn là quý hiếm, không phải mọi thành viên công xã đều được sử dụng chúng. Vũ khí đồng thau cũng vậy, chưa thể đủ để cung cấp cho đông đảo dân binh được. Chỉ có một số ít nhân vật quan trọng như thủ hnh hay chỉ huy... và loại chiến binh đặc biệt, khác những chiến binh - dân binh bình thường mới được trang bị vũ khí đồng thau. Trong các loại hình vũ khí đồng thau ở giai đoạn này, ta bắt gặp với số lượng ít những ngọn giáo lớn bên cạnh số nhiều những mũi tên, mũi lao nhọn đầu đơn giản (tỷ lệ này là khoảng 1/9). Những ngọn giáo lớn nhìn khá “bề thế”, có lẽ được dành cho các thủ lĩnh, trở thành biểu tượng quyền uy chỉ huy của những thủ lĩnh này. Còn lao, tên được cung cấp rộng rãi hơn cho những chiến binh đặc biệt trong các đội gia binh của thủ lĩnh. Trong lúc đó thì dân binh khi vào trận, hẳn vẫn sử dụng những vũ khí thông thường làm từ tre, gỗ, (gậy tre, vồ gỗ, cung bắn tên vót bằng tre hoặc bằng xương thú... như truyền thuyết đã kể, tài liệu khảo cổ học đã chứng minh).

Đương nhiên, chưa thể coi tổ chức vũ trang đơn sơ kiểu đội gia binh như nêu trên là một hình thức quân thường trực của nhà nước Văn Lang. Lúc này nhà nước đó chưa hình thành, nhưng quá trình liên kết các bộ lạc đang được đẩy mạnh tạo điều kiện để đến đầu giai đoạn sau, thủ lĩnh bộ Gia Ninh - một trong khoảng 15 bộ, cùng tồn tại thời đó, áp phục các bộ lạc khác để tự xưng là Hùng Vương, lập nước Văn Lang, như sử sách cổ đã chép. Thủ lĩnh bộ Gia Ninh hằn phải mạnh hơn các bộ lạc khác. Có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh đó.

Trong đó không thể thiếu yếu tố quân sự: Có thể thủ lĩnh bộ Gia Ninh đã có được một lực lượng vũ trang có tổ chức hơn, thạo chiến đấu hơn và được trang bị vũ khí tốt hơn.  Có thể nói mà không sợ quá sai rằng, lực lượng vũ trang giúp “dị nhân” bộ Gia Ninh xưng vương chính là tiền thân của quân đội thường trực của nhà nước Văn Lang sẽ ra đời ở giai đoạn sau.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:06:03 PM

Giai đoạn thứ ba: giai đoạn hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang, ứng với giai đoạn sớm và giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn, kéo dài trong khoảng hơn nửa thiên niên kỷ, từ khoảng thế kỷ VIII-VII đến thế kỷ III Tr.CN. Đây là giai đoạn phát triển bước ngoặt trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử lực lượng vũ trang chuyên nghiệp nói riêng ở buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Lực lượng vũ trang chuyên nghiệp đã dần dần hình thành cùng với sự hình thành và phát triển của nhà nước Văn Lang. Bước khởi đầu của quá trình này xảy ra vào khoảng thế kỷ VIII-VII Tr.CN cùng với sự kiện được chép trong Việt sử lược: “... ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang...”. Quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước Văn Lang được ghi dấu bằng sự nở rộ của văn hóa Đông Sơn. Những thay đổi căn bản diễn ra trong mọi linh vực đời sống kinh tế - xã hội cư dân Văn Lang trong đó linh vực quân sự chiếm một vị trí đáng kể.

Hùng Vương trước hết nhờ bạo lực áp phục các bộ lạc khác, lập nên nhà nước sơ khai của mình. Công cụ bạo lực của Hùng Vương, hay nói đúng hơn là nòng cốt của lực lượng vũ trang của thủ lĩnh bộ Gia Ninh, như đã nói ở trên, có thể là một kiểu tổ chức vũ trang có tính chất thường trực ở mức độ nào đó và chắc là phải mạnh hơn, giỏi hơn lực lượng vũ trang của các bộ lạc khác. Khi xảy ra xung đột, với lực lượng dân binh như nhau, nhưng thủ lĩnh bộ Gia Ninh lại có đội quân có tính tổ chức cao hơn, quen chiến đấu hơn làm nòng cốt, nên đã giành được thắng lợi. Sau khi đánh thắng, xưng vương, lập nước, trước yêu cầu giữ nước, sẵn sàng đối phó với sự chống đối của các bộ lạc thua trận và đối phó vời những cuộc xâm lặng từ bên ngoài mỗi lúc một nhiều hơn, quyết liệt hơn, lẽ đương nhiên Hùng Vương càng phải tăng cường củng cố, phát triển công cụ bạo lực này. Lực lượng vũ trang thường trực của Nhà nước Văn Lang chính thức ra đời và ngày càng phát triển theo đà phát triển của công cuộc dựng nước và giữ nước.

Dù sao những nhận định trên cũng mang nhiều tính chất suy luận lôgic, cần được chứng minh và có thể chứng minh được bằng những tài liệu hiện biết.

Tính chất chuyên nghiệp của lực lượng vũ trang được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau như vũ khí, trang bị quân sự, tổ chức quân đội, chế độ tuyển quân, nuôi quân, luyện quân, v.v. . Đối với đội quân thường trực của những nhà nước cổ đại, tồn tại cách chúng ta hàng mấy nghìn năm, khi chưa có văn tự, như Nhà nước Văn Lang, thì biểu hiện có thể nhận biết được rõ hơn cả là ở phương diện vũ khí, trang thiết bị quân sự - tài liệu chủ yếu do khảo cổ học cung cấp.  Tài liệu khảo cổ học cho thấy khá cụ thể bước phát triển nhảy vọt trong lĩnh vực vũ khí, trang thiết bị quân sự của người Lạc Việt thông qua bộ vũ khí đồng thau Đông Sơn và những hình ảnh được khắc họa trên trống, thạp Đông Sơn.  Vũ khí ở giai đoạn này không chỉ tăng tiến đến mức đáng ngạc nhiên về số lượng mà còn trở nên rất phong phú, đa dạng về loại hình. Cho đến nay chúng ta đã biết đến trên 10 chủng loại vũ khí khác nhau gồm cả vũ khí tấn công, cả vũ khí phòng thủ. Mỗi chủng loại lại có thể phân thành mộl số kiểu loại khác nhau. Giữa vũ khí và tổ chức quân đội bao giờ cũng có mối tương quan đồng chiều. Nói cách khác, vũ khí trang bị quân sự là tấm gương phản ánh trình độ, chất lượng quân đội. Phân tích bộ vũ khí Đông Sơn kết hợp so sánh, đối chiếu với những hình ảnh sống động diễn tả những chiến binh Đông Sơn được khắc họa trên trống, thạp có thể làm rõ vấn đề tính chất lực lượng vũ trang Văn Lang.

Theo thống kê sơ bộ, trong bộ vũ khí Đông Sơn đã được nghiên cứu phân loại kỹ, thì phổ biến hơn cả là giáo, lao, dao găm, tên. Cũng cần kể vào đây những chiếc rìu, loại di vật chắc chắn mang hai chức năng - vừa là công cụ vừa là vũ khí.  Sự phổ biến này được minh họa thêm bằng những hình khắc trên trống, thạp Đông Sơn: binh sĩ cầm giáo là hình ảnh thường thấy nhất, chiếm số lượng đông hơn cả, sau đó là đến các binh sĩ cầm rìu, lao, cung tên. Riêng dao găm lại không có sự đồng bộ như vậy, mới chỉ thấy một vài trường hợp chiến binh cầm dao găm trang trí trên trống, thạp và rõ ràng nhất là bốn người đàn ông đeo dao găm bên hông trong bốn cặp tượng trên nắp thạp Đào Thịnh. Cũng có thể nói thêm về những chiếc lá chắn được khắc họa khá phổ biến trên hoa văn trống, thạp. Chúng thường được cầm trong tay trái của những chiến binh cầm rìu, lao, có khi cả dao găm, nhưng lại gần như không gặp trong bộ di vật Đông Sơn, trừ trường hợp tấm mộc bằng da tìm thấy trong mộ Việt Khê (Hải Phòng).  Cũng có thể coi nó là vũ khí thông dụng bởi vì chúng khó có thể tồn tại đến tận ngày nay khi được làm bằng những vật liệu dễ bị phân hủy như gỗ, rơm, cỏ bện... Những loại vũ khí còn lại như kiếm ngắn, qua, đinh ba, dao chiến, tấm che ngực có số lượng ít trong bộ sưu tập và cũng rất ít thấy được thể hiện trên hoa văn hình người vũ trang, trang trí trống, thạp Đông Sơn.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:07:41 PM


Từ những tài liệu thực tế như thế, có thể đưa ra nhận xét rằng: giáo, lao, rìu và cung tên là những vũ khí thông dụng, được đa số binh lính sử dụng. Nói đúng hơn là chúng được trang bị đến từng người lính một cánh đồng loạt (có hình khắc một nhóm bốn người đều cầm giáo trên mặt trống Hoàng Hạ, nhóm ba người cầm giáo trên thuyền trống Cổ Loa 1...). Còn kiếm ngắn, tấm che ngực, một số dao găm, rìu chiến chế tạo tinh xảo, hoàn mỹ được dành riêng cho hàng ngũ các thủ lĩnh, các vị chỉ huy. Đã thấy hình ảnh một vị chỉ huy đeo kiếm ngắn, ngồi tách riêng trong tư thế cầm dùi đánh trống chỉ huy trận đánh khắc họa trên chiếc thạp Đông Sơn tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương. Hoặc việc tìm thấy một thanh kiếm có nguồn gốc ngoại lai trong mộ Việt Khê (Hải Phòng). Chủ nhân mộ là một quý tộc rất giàu, một vị thủ lĩnh lớn nên khi chết đã được chôn theo nhiều của cải (trên 100 đồ tùy táng trong đó đồ đồng chiếm 90% tổng số).  Cây kiếm ngắn có nguồn gốc nhập ngoại càng chứng tỏ sự hiếm quý và biểu tượng quyền lực của loại vũ khí này.  Cũng cần ghi nhận rằng, những vũ khí thông dụng (giáo, lao, rìu, cung tên...) cũng có thể là vũ khí được đội ngũ dân binh sử dụng. Nhưng có lẽ họ phải là những dân binh tương đối đặc biệt, phần nào đã được chuyên môn hóa (được huấn luyện ở mức độ nào đó, được “ghi danh” kiểu như dân binh thường trực... chẳng hạn). Họ sẽ trở thành những chiến binh thực thụ khi có chiến tranh và là nòng cốt của lực lượng dân binh của làng xã. Vị trí luôn dẫn đầu các đoàn người trong đám rước - sinh hoạt lễ hội của những chiến binh cầm giáo trang trí trên trống thạp Đông Sơn hẳn không phải là sự sắp đặt ngẫu hứng mà là phản ánh vai trò đặc biệt của họ trong sinh hoạt làng xã lúc bấy giờ.

Một nhận xét nữa. Khi xem xét bộ vũ khí Đông Sơn, các nhà nghiên cứu đã nhận ra sự giống nhau gần như hoàn toàn của những di vật cùng loại hình tìm thấy ở những địa điểm khác nhau, đặc biệt rõ ở những loại hình được coi là đặc trưng khu vực, chứng tỏ chúng đã được sản xuất trong cùng một lò đúc. Ví như loại giáo có họng, mặt cắt lưỡi hình thoi biến dạng đặc trưng cho khu vực sông Hồng, loại giáo có chuôi tra cán đặc trưng của khu vực sông Mã, các loại dao găm được sản xuất với số lượng đặc biệt nhiều ở khu vực Làng Vạc (sông Cả) . Hiện tượng này chưa thật đủ để có thể nói về sự tồn tại của những “quan xưởng” như trường hợp kho tên đồng Cầu Vực Cổ Loa) ở giai đoạn sau - giai đoạn nước Âu Lạc. Nhưng việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau chuyên dùng cho chiến tranh ở một số trung tâm luyện kim như thế cũng không thật thỏa đáng khi quy nó cho các lò đúc của cá nhân hay thậm chí của từng công xã và chỉ nhằm phân phát cho các thành viên công xã để tự vệ. Chúng phải được sản xuất trong những trung tâm luyện đúc đồng của khu vực tầm cỡ bộ lạc trở lên và sản phẩm được làm ra trước hết không phải để cấp phát, trao đổi cho các thành viên bộ lạc - các Lạc dân mà là để cung cấp cho những lực lượng vũ trang ít nhiều mang tính thường trực của bộ lạc và cũng còn được phát tán đến những khu vực khác, bộ khác bằng con đường quân sự hoặc có mục đích quân sự.

Một khía cạnh khác có thể rút ra từ hoa văn trang trí trên trống, thạp Đông Sơn là tính chất ổn định tương đối của trang bị, vũ khí, tổ chức biên chế đội ngũ chiến binh trên các chiến thuyền: mỗi thuyền thường có các bộ phận chiến binh đánh tầm xa (cung nỏ), tầm trung (lao), tầm gần (rìu, giáo); lính cung nỏ bao giờ cũng đứng trên đài cao, đứng đầu mũi thuyền là một chiến binh cầm rìu tay phải, cầm mộc tay trái có sự phân công trách nhiệm, chuyên môn hóa giữa lính chiến đấu và lính chèo thuyền... Điều này chứng tỏ tính chất chuyên nghiệp khá rõ của quân đội Văn Lang.

Một lực lượng vũ trang có hệ thống tổ chức phân cấp giữa lính và các cấp chỉ huy dược trang bị theo quy chế nhất định, binh lính được trang bị vũ khí đồng loạt do một vài trung tâm luyện đúc đồng có thể do nhà nước quản lý cung cấp, biên chế đội ngũ chiến binh theo chức năng nhiệm vụ và tính năng tác dụng của từng loại vũ khí một cách khá thống nhất, ổn định... như thế có nhiều khả năng là một đội quân thường trực .

Hãy phân tích thêm tài liệu mộ táng Đông Sơn. Trong bảng phân loại mộ táng Đông Sơn theo tính năng đồ tùy táng (Bảng 3), có thể thấy loại mộ chỉ chôn theo vũ khí chiếm tỷ lệ khá đáng kể: Vinh Quang 27,4%, Phú Lương 19,4%, Núi Nấp 31,8 % (trên tổng số mộ) . . . , có nhiều khả năng đây là mộ của những chiến binh chuyên nghiệp. Để làm rõ thêm vấn đề này, xin đưa ra đây bảng thống kê mộ táng có chôn theo đồ tuy táng ở một số khu mộ Đông Sơn điển hình thuộc ba khu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả (để tránh ảnh hưởng của yếu tố mức độ phân hóa xã hội khác nhau, nên chúng tôi không đưa vào bảng thống kê này những mộ nghèo, không chôn theo đồ tùy táng).

Bảng phân loại này cho thấy, tỷ lệ mộ chỉ chôn theo vù khí ở các khu mộ khu vực sông Hồng nói chung là cao hơn cả, sau đó đến khu vực sông Mã. Khu vực sông Cả thấp hơn hẳn.  Tỷ lệ này còn phụ thuộc một phần vào mền đại sớm muộn của khu mộ. Khu mộ Iàng Cả, Vinh Quang thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn. Trong ba khu mộ ở lưu vực sông Mã, khu mộ Thiệu Dương có niên đại sớm hẳn. Có thể giải thích được hiện tượng này. Như đã rõ, khu vực sông Hồng là trung tâm quan trọng nhất của văn hóa Lạc Việt, là bản bộ của Hùng Vương: Làng Cả là trung tâm của khu vực, là trị sở của Nhà nước Văn Lang ở giai đoạn phát triển cuối cùng. Ở đây sự phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ hơn cả. Mặt khác, khu vực này cũng là nơi hứng chịu đầu tiên và nhiều nhất những cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống. Công cụ bạo lực mạnh là diều cần thiết đối với Nhà nước Văn Lang lúc này. Trong tình cảnh như thế, dội quân thường trực phải được phát triển mạnh. Những quân nhân chuyên nghiệp này hẳn phải chiếm tỷ lệ đáng kể trong thành phần cư dân Làng Cả. Và do đó mộ của họ cũng chiếm tỷ lệ cao như ta đã thấy. Còn Làng Vạc, tuy cũng là một trung tâm phát triển cao của văn hóa Đông Sơn, nhưng lại ở rất xa về phía nam, trong một vùng có địa hình thuận lợi cho việt phòng thủ. tránh xa được những cuộc chiến tranh xâm lược. Do vậy nhu cầu dối với lực lượng vũ trang thường trực không cấp thiết và thường xuyên, quân số không cần đông đảo như các trung tâm sông Hồng, sông Mã.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:11:09 PM


Ở khu vực sông Mã, tỷ lệ mộ chí chôn theo vũ khí tăng dần theo thời gian. Xu thế đó cũng phù hợp với tình trạng chiến tranh xung đột ngày càng gia tăng và từ đó kéo theo sự gia tăng cua lực lượng vũ trang chuyên nghiệp.

Bây giờ hãy xem tài liệu văn tự nói gì về lực lượng vũ trang thời Hùng Vương.

Đại Việt sứ ký toàn thư kể rằng: “... Trước kia vua (An Dương Vương) nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng tướng mạnh, vua bị thua mãi.  Hùng Vương bảo vua rằng ta có sức thần, nước Thục không sợ ư? Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mèm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương”.

Sách Phiên Ngung tạp ký được dẫn lại trong Vân đài loại ngữ thì chép “đất Giao Chỉ... xưa kia có quân trưởng gọi là Hùng Vương, tướng văn là Hùng hầu, tướng võ là Hùng tướng”.

Còn Lĩnh Nam chích quái lại kể rõ Hùng Vương sau khi được tôn lên làm vua đã “chia các em ra cai trị, đặt lại các em làm tướng văn, tướng võ, văn là Lạc hầu, võ là Lạc tướng...”.  Nếu dựa vào những điều ghi chép đó thì có thể cho rằng Hùng Vương đã thực sự có “binh hùng tướng mạnh”, có quân đội thường trực đặt dưới sự chỉ huy của các lạc tướng tài giỏi.  Cũng như các nhà nghiên cứu đã phân tích, thực tế không hẳn như vậy. Nhiều phần là do những người đời sau đã đem tư duy phong kiến đương đại của mình gắn cho xã hội Hùng Vương. Lạc tướng, Hùng tướng, theo Giao Châu ngoại vực ký dẫn ở Thủy kinh chú, Quảng Châu ký..., là người đứng đầu các đơn vị hành chính tương đương với huyện thời thuộc Hán sau này. Vai trò đứng đầu các huyện của Lạc tướng còn thấy rõ ở thời Hai Bà Trưng (Hai Bà Trưng là con Lạc tướng,  huyện Mê Linh, Thi Sách là con Lạc tướng huyện Chu Diên).  Tuy thế, nếu gọi Lạc tướng là tướng võ cũng không sai, bởi vì như ta thấy, họ trước hết là thủ lĩnh quân sự. Nhưng đương nhiên, dưới trướng của họ là đội quân nào thì lại là việc cần bàn.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng6.jpg?t=1228713004)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:12:25 PM

Hùng Vương. nhưng cũng không nên phủ nhận hoàn toàn cái nhân lõi sự thực lịch sử hàm chứa trong đó. Chúng ta có nhiều tài liệu xác thực để nhận dình rằng tiềm lực quân sự của Thục An Dương Vương là khá mạnh (có ba vạn quân đánh vào đất Văn Lang, cướp ngôi Hùng Vương). Thục Phán là tướng tài lược suy tôn thống lĩnh các đội quân người Việt chống Tần trong cuộc chiến tranh 10 năm (gần cuối thế kỷ III Tr.CN). Đó là vài nét cơ bản về đội quân mà Hùng Vương  phải đối mặt. Theo truyền thuyết thì cuộc chiến tranh Hùng - Thục diễn ra rất dai dẳng. Hai bên đánh nhau ở khắp nơi và kết cục bao giờ quân Hùng Vương do tướng Tản Viên thống lĩnh chỉ huy, cũng thắng lớn. Chỉ mãi sau Vua Hùng mới theo lời khuyên của Tản Viên mà nhường ngôi cho Thục Phán. Như thế nghĩa là đội quân của Hùng Vương còn mạnh hơn cả đội quân của Thục Vương nữa! Đã đành rằng người Lạc Việt vẫn giỏi huy động toàn dân đánh giặc, trông vào lực  lượng dân binh là chính, nhưng dẫu sao cũng phải có những đội quân chuyên nghiệp, tinh thông võ nghệ làm nòng cốt mới đánh thắng được đối phương không chỉ mạnh mà còn có những sở trường, sở đoản và những yếu tố thiên thời địa lợi tương tự (lối đánh “du kích” thời chứng Tần chẳng hạn, hoặc vũ khí của quân đội Hùng Vương về cư bản giống của Thục Vương, cả hai đều thạo cung nỏ...).

Theo truyền thuyết, đội quân thường trực Hùng Vương ở thành Phong Châu thường xuyên rèn tập ở khu đất có tên là Cẩm Đội (nay là xã Thụy Vân huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ).

Đến đây có thể tạm hình dung quá trình hình thành quân đội thường trực của Nhà nước Văn Lang diễn ra đại thể như sau: lúc đầu đội quân thường trực này chính là đội thân binh của thủ lĩnh bộ Văn Lang, đã giúp Hùng Vương áp phục 14 bộ lạc khác (các bộ sách sử Việt Nam và Lĩnh Nam chích quái đều chép rằng nước Văn Lang gồm 15 bộ, bộ Văn Lang là đô của nước Văn Lang). Sau khi đã làm chủ liên minh bộ lạc nhà nước Văn Lang, Hùng Vương đương nhiên phải duy trì dội quân thường trực này, dùng nó làm công cụ bạo lực bảo vệ chính thể non nớt của mình, chống lại mọi sự chống đối của các bộ lạc thua trận. Sự chống đối này có lẽ là không ít bằng chứng, như đã thấy, là sự gia tăng đột biến lên gấp hai, thậm chí đến ba lần giai đoạn hai của số lượng và loại hình vũ khí trong hầu hết các di tích Đông Sơn vùng sông Hồng, sông Mã.

Vào thời gian này, tồn tại song song với lực lượng quân thường trực ở bộ Văn Lang - đô của Hùng Vương mà bây giờ không chỉ đóng vai trò đội quân của bộ lạc như trước, mà còn có vai trò của quân đội nhà nước trung ương, là những đội thân binh của thủ lĩnh các bộ (lạc) khác. Những đội quân này hẳn không đông. Bởi vì. thứ nhất, do phân hóa xã hội và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội không sâu sắc tầng lớp thống trị ở cả trung ương và địa phương không cần thường xuyên nắm trong tay một lực lượng quân sự quá lớn; thứ hai, đối với địa phương - các bộ (lạc) trong liên minh, nhà nước trung ương hẳn không khuyến khích, thậm chí phải ngăn chặn, hạn chế sự phát triển của chúng, đề phòng sự chống đối. Về nguyên tắc, đội quân thường trực trung ương (ở “thành Phong Châu) cũng như ở các bộ, đều được dặt dưới quyền thống lĩnh tối cao của Hùng Vương. Nhưng thực tế, lúc đầu có lẽ Hùng Vương chỉ nắm chắc được đội quân ở bộ Văn Lang của mình, quân các bộ do thủ lĩnh, các Lạc tướng nắm quyền chỉ huy, có thể dưới danh nghĩa “nhà nước” đại diện cho “nhà nước”. Khi có chiến tranh những đội quân này mới có thể được đặt dưới sự chỉ huy chung, thực sự của quân trưởng - Hùng Vương. .

Dần dần, một mặt, nhờ sự liên minh giữa các bộ lạc đã đem đến những kết quả phát triển khả quan trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, mặt khác cũng nhờ vào những nỗ lực củng cố Nhà nước tập quyền của Hùng Vương: truyện Bánh Chưng ở Lĩnh Nam chích quái kể chuyện Hùng Vương nhường ngôi cho con út Lang Liêu, “anh em 21 người đều được chia giữ các nơi phiên trấn, tụ tập bộ đảng mà thành phiên quốc”. Hay trong chuyện Họ Hồng Bàng cũng nhắc tới chính sách “chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ”. . . (nghĩa là dùng người họ hàng dòng tộc trấn giữ các địa phương để dễ bề cai trị), mà liên minh các bộ (lạc) trở nên cố kết chặt chẽ, nhà nước Văn Lang ngày càng được củng cố vững vàng. Đồng thời do nhu cầu chống ngoại xâm ngày càng trở nên bức thiết, nhất là ở thời kỳ cuối (những thế kỷ IV-III Tr.CN), đội quân thường trực của nhà nước sơ khai này đương nhiên phải được gia tăng về số lượng và mở rộng thành phần. Lúc này, lực lượng vũ trang thường trực của nhà nước Văn Lang trấn giữ ở “thành Phong Châu, ngoài những trai đinh bộ Văn Lang, còn có trai đinh từ các bộ khác nữa.  Trong khi đó, ở các trung tâm của từng bộ hay khu vực (như trung tâm Vinh Quang ở khu vực đồng bằng cao lưu vực sông Hồng, trung tâm Đông Sơn, Thiệu Dương ở lưu vực sông Mã...), cũng có mặt những đội quân thường trực có quy mô nhỏ hơn, thành phần binh lính có thể hẹp hơn - tuyên từ chính các trang ấp quanh vùng, đặt dưới quyền của thủ lĩnh quân sự khu vực. Đây là lực lượng rất quan trọng: khi có chiến tranh họ sẽ là những người trực tiếp lãnh đạo dân binh đánh giặc.

Căn cứ vào những tài liệu đã biết, các nhà nghiên cứu đã xác định cư cấu ba cấp của bộ máy chính quyền nhà nước Văn Lang. Cơ cấu tổ chức quân sự thời này cung có những cấp bậc tương đương.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:14:23 PM


- Ở bộ máy trung ương (đứng đầu là Hùng Vương, với hệ thống các Lạc hầu giúp việc diều hành bộ máy) có lực lượng quân đội quốc gia, có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền trung ương, thực thỉ các mệnh lệnh của chính quyền trung ương.  Đây là tổ chức quân sự mang tính chuyên nghiệp cao nhất trong các tổ chức quân sự thời nhà nước sơ khai Văn Lang.  Nó vốn xuất thân từ lực lượng vũ trang khá mạnh của bộ chủ Gia Ninh (Văn Lang), đặt dưới sự chỉ huy của Hùng Vương.  Lúc đầu nó vẫn mang đậm tính chất của một tổ chức quân sự bộ lạc. Về sau, tính bộ lạc giảm dần, thay thế vào đó là tính chất quốc gia, trở thành công cụ bạo lực đắc lực của chính quyền trung ương (tỷ lệ mộ chôn theo vũ khí ở Làng Cả, như đã giới thiệu, là gần 47%, cao nhất trong số các khu mộ Đông Sơn đã biết).

- Bên dưới bộ máy trung ương là bộ máy chính quyền địa phương, tương ứng với các bộ (tương đương với huyện sau này) có đội quân thường trực của mình hiện diện ở những trung tâm vùng bộ). Đội quân này mang dậm nét tính chất tổ chức quân sự bộ lạc. Nó được đặt dưới sự chỉ huy của Lạc tướng, thực thi các nhiệm vụ của bộ máy chính quyền địa phương dưới danh nghĩa là đại diện của nhà nước trung ương ở địa phương. Tính chuyên nghiệp và quân số của những dội quân này có lẽ phụ thuộc khá nhiều vào tình trạng chiến tranh xung đột ở từng vùng. Ví như trung tâm Vinh Quang của vùng đồng bằng cao của lưu vực sông Hồng là nơi chiến tranh xảy ra thường xuyên và gay gắt không kém mấ so với thành đô Văn Lang (Làng Cả), thì đội quân thường trực này hẳn là mang tính chuyên nghiệp cao và có quân số đông gần tương đương (tỷ lệ mộ chí chôn theo vũ khí ở đây là trên 43% chỉ kém Làng Cả chút ít). Còn xa hơn về phía Nam, ở lưu vực sông Mã, tỷ lệ này chỉ chiếm trên dưới 25%, xa hẳn về phía Nam - ở trung tâm Làng Vạc, tỷ lệ chỉ còn trên 11%. Tỷ lệ này có thể phản ánh phần nào tính chất thường trực và quân số quân thường trực ở các bộ ở càng xa về phía Nam - xa nơi chiến sự ác liệt, thì đội quân thường trực địa phương càng nhỏ. tính chuyên nghiệp càng giảm.
 
- Dưới cùng, giữ vai trò bộ máy hành chính cư sở là tổ chức công xã. Lực lượng vũ trang ở đây chính là dân binh.  Đây là tổ chức quân sự rộng rãi nhất, đông đảo nhất, là lực lượng tham chiến chủ yếu trong mọi cuộc chiến tranh xung đột Họ là dân công xã, gắn bó với sản xuất và chỉ trở thành lính khi có chiến tranh. Mà như đã được phản ánh qua các truyền thuyết, khi chiến tranh xảy ra thì mỗi người dân công xã đều có thể tham gia chiến đấu. không phân biệt già trẻ, gái trai. Tổ chức, biên chế của lực lượng quân sự này là rất đông và đơn giản. Có thể là những đội quân được tập hợp lại dưới sự chỉ huy của người đứng đầu công xã, có nhiệm vụ bảo vệ trước hết là làng xã mình, khi cần thì trở thành một bộ phận của lực lượng quân sự chung của bộ, của nhà nước, được đặt dưới quyền điều phối của Lạc tướng hay những tướng lĩnh cấp liên minh, nhà nước trung ương. Cũng có khi chỉ là những đội quân tự phát tập họp lại dưới quyền chỉ huy của những người khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, cùng nhau tham gia chiến đấu chống ngoại xâm. Vũ khí. trang thiết bị quân sự và công tác hậu cần cho dân binh hoàn toàn do dân binh hay công xã tự lo và thường là rất thô sơ, tùy tiện - có gì dùng nấy.

Sức mạnh của quân đội Văn Lang là sự kết hợp giữa một bên là lực lượng quân thường trực số lượng ít nhưng được trang bị vũ khí đồng thau sắc bén và có kinh nghiệm chiến đấu với một bên là lực lượng dân binh trang bị vũ khí thô sơ, không quen chiến đấu, nhưng lại có số lượng đông đảo và có thừa lòng dũng cảm và quyết tâm chống kẻ thù, bảo vệ cuộc sống và những thành quả lao động của mình. gia đình và làng xóm quê hương. Tổ chức đơn vị chiến đấu gồm đa số là dân binh với một số ít quân thường trực làm nòng cốt. có vai trò chỉ huy, hướng dẫn là tổ chức đơn vị chiến đấu phổ biến ở thời Hùng Vương. Trong thư tịch, truyền thuyết khó tìm ra hình ảnh của đội quân thường trực thiện chiến, “đánh đông dẹp bắc”, nhưng lại thường gặp những đội quân dân binh do một vài tướng tài chỉ huy.

Lực lượng vũ trang Văn Lang dường như từ rất sớm đã hình thành hai bộ phận cơ bản là quân bộ và quân thủy. Về các tổ chức quân sự giai đoạn Hùng Vương dựng nước còn rất nhiều vấn đề phải bàn, phải tranh luận, nhưng riêng sự hiện diện của lính đánh bộ và lính đánh thủy thì hầu như được khẳng định rồi. Nói được như vậy chính là nhờ vào những “tấm ảnh chụp” nguyên mẫu hết sức hiện thực và trung thành mà tổ tiên đã gửi lại cho hậu thế chúng ta bằng cách khắc họa lên trên những chiếc trống, thạp Đông Sơn tuyệt vời nhất.

Mô típ phổ biến nhất trong những băng hoa văn tả cảnh sinh hoạt mang phong cách hiện thực trang trí trên các trống, thạp lớn được nhiều nhà nghiên cứu định tuổi vào thế kỷ III-V, thậm chí VI - Tr.CN, là hình những chiến binh vũ khí nắm trong tay hay đeo bên hông. Những chiến binh này hoạt động ở hai môi trường cảnh quan phân biệt rõ ràng: trên mặt đất và trên mặt nước. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra mặt đất qua hình ảnh những đoàn người vừa đi, vừa múa nhảy bên cạnh những nếp nhà mái cong, mái tròn, cảnh giã gạo, gõ trống... dưới ánh mặt trời tỏa sáng trên mặt trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa. Bản Thậm... những chiến binh tay cầm vũ khí di lẫn trong những đoàn người này. Mặc dùhọ không trong tư thế chiến đấu, nhưng sự hiện diện của họ ở đây mà như đã nêu, gần như bao giờ cũng dẫn đầu, nó.i rõ vai trò giừ đất, giữ làng vô cùng quan trọng của họ. Thực tế thì mục tiêu của các cuộc chiến tranh, xung đột thời Văn Lang - Âu Lạc chủ yếu là vì đất, chiếm đất, thắng bại được y đánh giá bằng số đất đai thu được hay mất đi là chính, nghĩa là kết cục của chiến tranh được giải quyết ở trên bộ. Các vấn đề quân sự do đó cũng được giải quyết trên bộ là cơ bản và binh lính Văn Lang cũng đánh bộ là chính. Tuy nhiên, xét theo nhiều khía cạnh thì vai trò của đánh thủy, quân thủy cũng rất đáng chú ý.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:15:26 PM


Nếu như người nghệ sĩ Đông Sơn đã thể hiện tầng trời và tầng đất rất đạt bằng hình mặt trời và cảnh sinh hoạt của con người trên mặt trống, nắp thạp, thì họ cũng đã chọn được cách thể hiện tầng nước rất điển hình bằng những con thuyền như đang lướt sóng và xen kẽ vào đó là những con chim thuộc giống ưa nước như cò,vạc, bồ nông trên phần tang trống, thân thạp. Phần lớn người trên thuyền trang trí ở những trống sớm là những chiến binh vũ khí trong tay: trừ những người chèo thuyền mà ta cũng có quyền đoán rằng họ là lính chuyên chèo thuyền và người đánh thắng có lẽ là người chỉ huy nhịp chèo. Phân tích hình dáng và động tác của những chiến binh trên thuyền. có thể nhận ra rằng. một vài người trong số họ đang trong tư thế chiến đấu. Đặc biệt rõ là những lĩnh cung nỏ: có người trong tư thế đứng cầm cung giơ ra trước mặt mũi tên han đã được bắn đi nên không còn thấy trên cung nưa (trống Ngọc Lũ), có người đứng lom khom trước mặt có một chiếc nỏ dược đặt trên bệ đỡ, một mũi tên rất lớn đã nằm ở vị trí sẵn sàng phóng đi (trống Hoàng Hạ).

Những chiến binh cầm giáo, lao. rìu thường thấy trong tư thế chuẩn bị chiến đấu: những người cầm giáo thì đứng mũi giáo tuy để chúc xuống nhưng cũng trong vị thế dễ đâm đối phương ở trước mặt, có chiến binh cầm cả lao, cả giáo. Chiến binh cầm rìu ngồi sát đầu mũi thuyền dường như đang chờ thời cơ đánh giáp lá cà. Cảnh chiến đấu của quân thủy như thế còn được bổ sung thêm vài chi tiết nhỏ và không phổ biến nhưng rất “đắt: trên mỗi thuyền ở tang trống Miếu Môn II có hai chiếc lao cắm vào ván thuyền và không có ai cầm hay đứng sát cạnh, có thể là lao của đối phương phóng sang chăng?

Cũng có ý kiến cho rằng, những chiếc thuyền trên trống, thạp là thuyền buôn vượt biển đem những đồ đồng quý là trống, âu... đi buôn bán ở những miền đất lạ xa xôi; có ý kiến lại cho đây là những chiếc thuyền đưa linh hồn sang thế giới bên kia hoặc là thuyền trong ngày hội bơi chải. Những ý kiến này đều có thể đúng, nhất là đối với hình thuyền trên các loại trống muộn. Điều này chúng ta không bàn tới ở đây. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là những thuyền trên trống sớm chắc chắn thể hiện những chiến binh đánh thủy đang trong tư thế chiến đấu hoặc sẵn sàng chiến đấu. Họ có thể đang chiến đấu chống quân xâm lược. Cũng có thể họ là những chiến binh thạo thủy chiến có nhiệm vụ tháp tùng những chiếc trống quý được đem đi buôn bán trao đổi ha cũng có khi là vật báu Hùng Vương gửi tặng cho vua chúa một nước láng giềng nào đó, và họ luôn phải sẵn sàng chiến đấu chống giặc cướp (trống Đông Sơn đã tìm thấy rộng rãi ở miền Nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Rõ ràng con đường thông thương thuận tiện nhất trong khu vực là đường thủy).

Như vậy là chúng ta đã gần như được nhìn tận mắt những chiến binh đánh thủy và những trận thủy chiến của họ với cách thức bài binh bố trận khá thống nhất, chặt chẽ và hợp lý chứng tỏ trình độ chuyên nghiệp dã khá cao của họ.
 
Truyền thống thạo thủy chiến của lực lượng vũ trang Văn Lang hình thành và phát triển như là một tất yếu lịch sử. Người Lạc Việt cũng như tổ tiên của họ đều tụ vào ở khu vực nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, độ ẩm cao, sông ngòi, đầm hồ ken dày. biển cả bao bọc. Do vậy, nếp lam làm, ăn ở, sinh hoạt của họ bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với sông nước. Đặc điểm này đã được nhắc đến trong các thư tịch cổ. Hoài Nam tử chép: “từ miền Nam Cửu Nghi người ta làm việc trên cạn ít, làm việc dưới nước nhiều, nên dân vẽ mình cho giống loài lân trùng”. Khu vực được nhắc đến ở đây chính là đất Giao Chỉ của người Lạc Việt. Sông ngòi là mạch máu giao thông, thuyền bè là phương tiện chuyên chở, thông thương gần như là duy nhất nếu không nói đến việc gánh vác trực tiếp trên tay, trên vai người. Chúng ta chưa tìm thấy dấu vết nào chứng tỏ tổ tiên ta đã làm và sử dụng loại xe có bánh do súc vật kéo như đã từng rất phổ biến ở Trung Quốc cổ đại, đặc biệt là trong các cuộc chiến tranh ở thời Xuân Thu Chiến Quốc có niên đại cơ bản tương đương với thời Hùng Vương dựng nước, giai đoạn nước Văn Lang. Và trong chiến tranh, quân đội Văn Lang cũng không dùng chiến xa mà chỉ dùng thuyền làm phương tiện cơ động của mình.

Thuyền bè có vai trò quan trọng như vậy nên nó đã được người Đông Sơn dùng làm môtip trang trí chủ đạo trên những đồ đồng cực quý và là biểu trưng của sự giàu sang và quyền uy của tầng lớp vua chúa - những trống thạp đồng.

Theo thống kê sơ bộ 44 chiếc trống Đông Sơn điển hình có niên đại sớm hơn cả đã tìm thấy ở việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia thì có tới 39 chiếc có trang trí hình thuyền trên tang, trong khi đó chỉ có 12 chiếc có trang trí vành hoa văn hình người và cảnh sinh hoạt tả thực trên mặt. Và như vậy thì huyền được sử dụng nhiều trong chiến đấu cũng là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, không phải thuyền nào được khắc họa trên trống. thạp cũng là thuyền chiến với dấu hiệu là chở theo những chiến binh có vũ khí bên mình. Chỉ có 9 trong số 39 trống kể trên là có loại thuyền chiến mà chúng ta đang quan tâm. Và đáng chú ý là trong số 9 chiếc này, thì đã có tới 7 chiếc phát hiện được trên địa bàn cư trú của con dân vua Hùng, là tác phẩm của những nghệ nhân đúc đồng Văn Lang. Phải chăng điều này phản ánh một thực tế là, đối với lực lượng vũ trang Văn Lang, vai trò của quân thủy và thủy chiến có phần quan trọng hơn đối với các tộc người khác trong khu vực. Song clù có quan trọng đến đâu thì nó cũng vẫn là một bộ phận không tách rời của lực lượng quân bộ. Thủy chiến cũng chỉ là một phần của cuộc chiến trên bộ.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:22:15 PM

Hình ảnh chiến binh trên bộ còn gặp trong hoa văn trang trí phần lưng những chiếc trống đẹp nhất, đa phần có niên đại sớm nhất. Trong số 44 chiếc được thống kê nêu trên, chỉ có 9 chiếc thuộc loại này và 8 trong số 9 chiếc đó được tìm thấy ở Việt Nam, trong cương vực nước Văn Lang ngàn xưa.

Những chiến binh này được khắc họa rất giống nhau: cùng mặc váy tỏa rộng, đầu dội mũ lông chim và được trang bị phổ biến mộc và rìu chiến hoặc mộc và giáo. Cá biệt có người hai tay cầm hai loại vũ khí tấn công khác nhau là rìu và giáo, có người lại chỉ cầm mộc. Tất cả họ đều trong tư thế đang đi, hai chân đặt so le, tay trước tay sau, nhưng lại đi trong một cái khung khá hạn hẹp: lưng trống được chia thành sáu hoặc tám ô chữ nhật, trong mỗi ô thường có từ một đến ba người, đa số là có hai người. Rất khó đoán định những chiến binh này đang ở đâu.
 
Có ý kiến cho rằng lưng trống là biểu hiện của tầng thứ tư - tầng địa ngục trong quan niệm vũ trụ bốn tầng của người Đông Sơn. Nếu xét về vị trí của lưng trống, nằm ở tầng thứ ba sau mặt trống - tầng trời và tầng mặt đất, tang trống - tầng dưới nước, thì xem ra có thể có lý. Thế nhưng có phải vậy không thì chưa thể khẳng định được bởi vì chưa có đủ bằng chứng thuyết phục . Ở những vị trí tương tự trên nhiều trống Đông Sơn khác, có niên đại muộn hơn chút ít so với 8 trống Việt Nam kể trên, là hình người nhảy múa, chơi trò chơi học hình, bò đứng một cách hiền lành. Khó mà coi tất cả cảnh đó, người đó đang ở dưới địa ngục. Vấn đề còn cần tìm hiểu thêm, ở đây chỉ cần ghi nhận những người có vũ khí là chiến binh đánh bộ, chủ yếu là chiến binh của nước Văn Lang. Việc đặc tả họ như thế rõ ràng là để đề cao vai trò của họ. Những chiến binh được trang bị đầy đủ như họ không eo trong số những chiến binh đi lẫn trong đám rước hội hè trên mặt trống, gặp rất ít trên những chiến thuyền. Đa số họ lại cầm trong tay phải cây rìu chiến gót vuông (một số gót tròn) - mà như đã biết, chúng ta đã phát hiện được một số rìu gót vuông có trang trí đẹp, có thể có chức năng như những quyền trượng. trong di tích Đông Sơn.  Từ một số ghi nhận đó có thể kết luận rằng, họ là những chiến binh quan trọng, những người chỉ huy, chí ít cũng là những chiến binh chuyên nghiệp, có thể thuộc đội quân “cấm vệ” của nhà vua.

Tóm lại, ở vào giai đoạn ba thời đại Hùng Vương dựng nước, tức giai đoạn hình thành Nhà nước sơ khai Văn Lang, quân đội quốc gia Văn Lang đã dần dần thành hình. Đây là một quá trình phát triển từ thấp đến cao kéo dài trong khoảng 400-500 năm, nếu không tính đến những tiền đề đã xuất hiện từ những giai đoạn trước đó.

Cơ cấu tổ chức quân sự Nhà nước Văn Lang bao gồm hai thứ quân cư bản: quân thường trực và dân binh. Xu hướng phát triển chung của lực lượng vũ trang Văn Lang là ngày càng gia tăng số lượng và chất lượng đội quân chuyên nghiệp, bên cạnh đó, tiếp tục duy trì và phát triển lực lượng dân binh. Sự kết hợp, có lẽ mang tính tự nhiên, tự phát là chính giữa lực lượng dân binh có ưu thế tuyệt đối về số lượng và quân thường trực có ưu thế về vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu, đã phát huy dược thế mạnh của cả hai thứ quân, tạo ra sức mạnh chung cho lực lượng vũ trang Văn Lang.

Cơ cấu quân đội quốc gia Văn Lang tuy có phân thành hai bộ phận - quân bộ và quân thủy, nhưng thực chất không hình thành hai binh chủng lục quân và thủy quân độc lập.  Nói đến quân thủy là chủ yếu nói đến một hình thức chiến dấu đặc biệt của quân bộ - đánh bằng thuyền có khi chỉ hành quân bằng thuyền và chỉ là một mảnh, một cuộc giữa trận chiến chung diễn ra chủ yếu ở trên bộ. Tuy nhiên. tài liệu cho thấy, những chiến binh trên thuyền, nhất là những thuyền lớn. thường mang tính chất chuyên nghiệp rõ rệt hơn, đông đảo hơn chiến binh chỉ thuần túy đánh bộ.

Nhìn chung, trình độ quân sự - về cả tính chuyên nghiệp của đội quân thường trực, về cả vũ khí trang bị . . . của lực lượng vũ trang Văn Lang ở giai đoạn cuối (thế kỷ III Tr.CN) không khác lắm so với lực lượng quân đội của An Dương Vương. Sự thay thế Hùng Vương bằng An Dương Vương, nước Văn Lang thành nước Âu Lạc, chủ yếu là sự thay thế bộ máy chính quyền trung ương, còn ở cư tầng kinh tế - xã hội, thành phần dân cư dường như không có sự biến đột ngột nào.  Tài liệu khao cổ học khu vực Cô Loa, từ dấu tích của ba lớp tường thành xây đắp kiên cố, cho thấy rõ điều đó. Các nhà nghiên cứu đã có lý khi gọi An Dương Vương là “Hùng Vương thứ 19”.

Điều làm cho một số nhà nghiên cứu yên tâm khi nói đến lực lượng vũ trang thường trực - quân dội quốc gia ở thời nước Âu Lạc hơn ở thời nước Văn Lang, dù là ở giai đoạn cuối trước hết là sự hiện diện của di tích thành Cổ Loa, bên cạnh đó là kho mũi tên đồng Cầu Vực, là những tài nếu thư tịch và truyền thuyết đã trình bày ở trên. Sẽ rất đúng khi danh giá cao lực lượng quân đội quốc gia Âu Lạc hơn quân đội quốc gia Văn Lang, nhưng lại chưa thỏa đáng khi hạ thấp quá lực lượng quân đội thường trực của Hùng Vương 18, cho rằng ở thời Nhà nước Văn Lang, chưa ra đời một lực lượng quân sự chuyên nghiệp thực sự nào.

Tất nhiên, so với đội quân thường trực Văn Lang, thì quân dội quốc gia Âu Lạc có những bước tiến nhất định.

Trước hết là ở phương diện số lượng. Theo những sách sử cổ Trung quốc như Giao Châu ngoại vực ký dẫn trong Thuỷ kinh chú, hoặc Nam Việt chí dẫn trong Cựu Đường thư, riêng đội quân kéo vào đất Văn Lang dành bại Lạc Vương, Lạc hầu đã đông tới ba vạn. Đội quân này lại nổi tiếng về tài dùng cung nỏ - tính chuyên nghiệp cao. Và cái hơn thấy rõ hơn cả là tòa thành xây kiên cố, loại hình kiến trúc quân sự thời Văn Lang chưa có. Song cũng cần tính đến yếu tố truyền thống địa phương khi so sánh trình độ phát triển nói chung, trình độ quân sự nói riêng giữa các tộc người khác nhau.

Rất có thể người lạc Việt không có truyền thống xây thành đất đắp kiên cố mà chỉ dùng lũy tre, rào gỗ để “rào làng chiến đấu” hơn nữa, người Lạc Việt lại thường chọn lối “đánh du kích” bỏ ruộng vườn nhà cửa trốn vào rừng, đêm ra đánh” như Hoài Nam tử đã nhận xét chứ không thường dùng lối đánh dàn trận, giữ thành như tộc Hán ở Trung Nguyên (Trung quốc). Cách đánh của người Lạc Việt thực tế là rất hiệu quả, do vậy mà đã được dân tộc ta giữ gìn và phát huy  từ đời này sang dời khác trải qua mấy nghìn năm, góp phầnvào vô vàn những thắng lợi phi thường trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 09:40:24 PM

II. VŨ KHÍ VÀ TRANG BỊ QUÂN SỰ GIAI ĐOẠN
HÙNG VƯƠNG – AN DƯƠNG VƯƠNG

Xưa kia, khi vũ khí và trang bị quân sự còn chưa trở thành món hàng đắt giá, đắt khách trong các thương vụ quốc tế thì chúng thực sự là biểu thị vật chất khách quan,trung thực cho tình hình và trình độ quân sự của cộng đồng người sở hữu chúng. Xã hội giành ưu tiên những phát minh, sáng chế mới nhất, tiến bộ nhất, ví như phát minh ra kim loại đồng thau ở cuối thời kỳ tiền sử, cho chế tạo vũ khí mà không phải để chế tạo công cụ lao động và các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, là một xã hội bất ổn, chiến tranh thường xuyên xảy ra. Xã hội Văn Lang - Âu Lạc là một xã hội như vậy. Các loại hình vũ khí, đồ quân dụng và mối tương quan về số lượng giữa chúng là những tiêu chí quan trọng góp phần nghiên cứu nghệ thuật, tổ chức và kỹ thuật quân sự. Chất lượng vũ khí cũng phản ánh một phần đáng kể trình độ phát triển của lực lượng vũ trang.

Khả năng phản ánh khách quan của vũ khí, trang bị quân sự đặc biệt có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử quân sự thời Hùng Vương - An Dương Vương. Bởi vì, tài liệu văn tự phản ánh xã hội đó nói chung, về quân sự nói riêng, thật vô cùng hiếm hoi, phần lớn lại không rõ ràng và không trực tiếp đề cập đến những vấn đề chúng ta quan tâm. Thông qua các tài liệu khảo cổ học, chúng tôi cố gắng phân tích một cách cụ thể và toàn diện các loại vũ khí và trang bị quân sự, giới thiệu từng loại hình, sự ra đời, phát triển của chúng vàvấn đề chế tạo vũ khí. Trên cư sở phân tích vai trò, tác dụng của từng loại vũ khí, về mối tương quan giữa các loại vũ khí sẽ bước đầu tìm hiểu nội dung và những vấn đề liên quan đến lịch sử quân sự giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương.

A. VŨ KHÍ

Vũ khí thời Hùng Vương - An Dương Vương khá phong phú và đa dạng. Ở giai đoạn đầu (ứng với văn hóa Phùng Nguyên) nếu không kể những vũ khí bằng tre, gỗ là chủ yếu mà cho đến nay, do điều kiện tự nhiên không còn được bảo lưu trong các di tích khảo cổ học, có thể nhận thấy vũ khí còn hiếm và chỉ được làm bằng đá. Giai đoạn thứ hai (ứng với văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun) xuất hiện vũ khí làm bằng xương và đặc biệt là vũ khí đồng thau. Về số lượng và loại hình, vũ khí giai đoạn này là một bước tiến xa so với giai đoạn đầu.
 
Nhưng chỉ tới giai đoạn ba (văn hóa Đông Sơn) mới diễn ra sự bùng nổ thực sự trong lĩnh vực sản xuất và sử dụng vũ khí. Vũ khí đồng thau phát triển vượt bậc, thay thế gần như hoàn toàn vũ khí đá và xương. Đến giai đoạn phát triển cao của văn hóa Đông Sơn đã xuất hiện thêm một ít vũ khí bằng sắt.

Về cơ bản, thời đại Hùng Vương - An Dương Vương là một tiến trình phát triển nội sinh liên tục từ thấp lên cao kết hợp những yếu tố giao lưu văn hóa xa gần ở những mức độ khác nhau. Điều này được phản ánh qua lịch sử phát triển vũ khí.

Dưới đây là các loại hình vũ khí được sản xuất và sử dụng ở thời đại Hùng Vương - An Dương Vương được phân loại theo khoảng cách tác động:

 l. Vũ khí đánh xa (cung tên, nỏ, lao);

2. Vũ khí đánh gần giáo, rìu, dao găm, qua, kiếm...); 3- Vũ khí phòng hộ hộ tâm phiến, khiên, mộc...).

VŨ KHÍ ĐÁNH XA

1. Mũi tên.

Mũi tên là một bộ phận hợp thành của cung, nỏ - loại vũ khí đánh xa quan trọng bậc nhất trong hệ thống vũ khí thô sơ trước khi hỏa khí xuất hiện. Bộ phận thân cung nỏ được làm chủ yếu từ tre, gỗ - những vật liệu dễ bị hủy hoại theo thời gian. Do vậy, giới thiệu về cung nỏ thời Hùng Vương - An Dương Vương chủ yếu là nói về những mũi tên còn được bảo lưu tốt trong các di tích khảo cổ học nhờ được làm từ những vật liệu bền hơn như đá, xương, kim loại.

Những mũi tên phát hiện được trong các di tích văn hóa thuộc giai đoạn đầu thời kỳ Hùng Vương chủ yếu được làm bằng đá. Tuy số lượng ít, tỷ lệ so với tổng số đồ đá rất thấp, nhưng chúng có mặt tương đối rộng rãi. Trong số sáu địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên chọn tương đối ngẫu nhiên để làm thống kê, đã có năm địa điểm tìm thấy mũi tên đá một địa điểm chưa tìm thấy có thể do mới được khai quật diện nhỏ (xem Bảng).

Các mũi tên đá được chế tác đơn chiếc không theo một quy chuẩn chặt chẽ nào. Chúng khá đa dạng về kích thước, chiều dài từ 2,3 cm đến 5,6 cm, cá biệt có chiếc dài đến 7cm, chiều rộng trong khoảng từ 1-3 cm, chiều dày khoảng 0,2 - 0 3 cm.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 09:43:41 PM

Về hình dạng, đa số tên có hình lá thon dài, dọc thân có đường sống nổi nhẹ ở cả hai hoặc chỉ ở một mặt, tạo cho mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt hoặc hình tam giác hay gần hình bầu dục dẹt. Rìa cạnh hai bên thân tên được mài sắc, mũi nhọn, phần phình rộng nhất của thân nằm sát nơichuyển tiếp từ thân sang chuôi tên. Chuôi thường ngắn, chỉ làm để dễ nối vào đoạn đuôi tên bằng tre, gỗ (Bản vẽ 3, h.1, 4).  Một số tên có phần thân tương tự như trên, nhưng không có đoạn chuôi. Toàn thân tên được mài nhẵn, cạnh đáy được mài phẳng để có thể kẹp chặt vào đoạn đuôi dài bằng tre, gỗ (Bản vẽ 3, h.2, 4). Một loại tên khác hẳn hai loại kể trên là tên ba cạnh, mặt cắt ngang thân hình tam giác đều. Ba mặt tên được mài nhẵn, rìa cạnh sắc, giữa phần thân và chuôi tên không có sự tách biệt rõ ràng, thường phần đầu mũi tên nhọn sắc và dài hơn phần đuôi tên (Bản vẽ 3, h.6, 7). Loại tên đá này còn tồn tại đến giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun với hình dạng giống liệt, tuy là rất hiếm gặp. Có thể coi loại tên ba cạnh bằng đá này là tiền thân của các loại tên ba cạnh bằng đồng phổ biến trong văn hóa Đông Sơn.

Ở giai đoạn phát triển tiếp theo - giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, vũ khí mũi tên tiếp tục phát triển, gia tăng về số lượng, loại hình. Sự thay đổi đáng kể nhất diễn ra trong lĩnh vực vật liệu chế tác mũi tên. Nếu ở giai đoạn trước mũi tên đá chiếm vị trí độc tôn thì đến đây mũi tên đá gần như mất hẳn, thay vào đó là rất nhiều mũi tên xương và đồng thau.
 
Mũi tên đá Đồng Đậu - Gò Mun thuộc loại mũi tên ba cạnh, mặt cắt ngang thân hình tam giác đều. Về cơ bản giống với mũi tên đá ba cạnh của giai đoạn Phùng Nguyên, nhưng hình dáng có phần chỉnh hơn, phần đầu mũi ngắn hơn phần chuôi, chuôi thon nhỏ hơn phắn đầu mũi. Toàn thân tên được mài nhẵn, các rìa cạnh sắc, mũi nhọn. Tên được làm bằng loại đá cứng màu xanh đen. Tên có chiều dài khoảng 4 cm, nơi rộng nhất khoảng 1 cm bản vẽ 3, h.5). Hiện nay mới biết một chiếc tên đá loại này ở địa điểm Đồng Đậu.

Dưới đây là bảng thống kê phân loại các mũi tên đá phát hiện được ở một số di tích Phùng Nguyên:

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng7.jpg?t=1228747639)

Mũi tên xương cho đến nay cũng mới chỉ tìm thấy ở địa điểm Đồng Đậu và cũng phân bố chủ yếu ở lớp văn hóa giai đoạn Đồng Đậu, lớp văn hóa Gò Mun có rất ít. Các mũi tên xương đa số được chế tạo từ những đoạn xương ống lớn. Với kỹ thuật chặt, chẻ và mài, người ta đã tạo ra được các hình dạng mũi tên khác nhau. Nhờ đặc tính của xương ống – có thớ dài, dễ chẻ tách, không cứng rắn như đá nhưng vẫn đủ độ cứng cần thiết, cũng có thể mài nhẵn, các mũi tên xương thường có kích thước lớn hơn mũi tên đá, đặc biệt là về chiều dài. Nhiều mũi tên dài đến 9 cm - 10 cm, chiều rộng thân tên xê dịch trong khoảng từ 0,5 cm – 1cm. Có lẽ đo xương là vật liệu tương đối dễ kiếm và chế tác tương đối dễ, nên nhiều mũi tên được chế tác không thật cẩn thận, chau chuốt, nhiều chiếc trên thân còn giữ nguyên vết lõm của ống xương, đa số mũi tên, tuy được mài toàn thân, nhưng vẫn không mài hết những vết lồi lõm do kỹ thuật đẽo gọt tạo ra.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 09:46:50 PM


Hình dạng mũi tên xương rất khác những mũi tên đá kể trên. Chúng thường có hình thuôn dài, hai đầu nhọn, phần chuôi thu nhỏ hơn phần thân, mặt cắt ngang cả thân và chuôi thường giống nhau - hoặc hình tròn hoặc bầu dục dẹt hơi lõm vào ở một phía (vết lõm của xương ống) . Căn cứ vào hình dáng thân và chuôi, có thể phân các mũi tên xương thành hai loại: loại thân - chuôi không phân biệt và loại thân chuôi phân biệt rõ. Trong mỗi loại lại có thể phân thành một số kiểu theo mặt cắt ngang thân, chuôi. Dưới đây là bảng thống kê phân loại mũi tên xương thu được trong cuộc khai quật địa điểm Đồng Đậu giúp ta hình dung mối tương quan giữa các loại, kiểu tên xương (bản vẽ 3, h.8, 9, 10).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng8.jpg?t=1228747514)
Mũi tên xương tuy dễ chế tác hơn và có lợi thế hơn vềchiều dài so với mũi tên đá, nhưng lại thua mũi tên đá ở độ xuyên thủng do chất nếu xương nhẹ, xốp hơn, đầu mũi và rìa cạnh không thật nhọn sắc. Tính năng, tác dụng của mũi tên xương có lẽ không hơn gì những mũi tên tre, gỗ, ngược lại, có khi còn kém những mui tên được làm từ tre già, gỗ cứng. Có lẽ vì vậy mũi tên xương không phổ biến rộng rãi. Sự nở rộ của mũi tên xương ở một địa điểm duy nhất (Đồng Đậu) là một ngoại lệ mà chúng ta cần tìm hiểu thêm sau này.

Như vậy, sự xuất hiện của mũi tên xương trong giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, ngoài ý nghĩa gia tăng số lượng vũ khí và tạo nên một nét đặc thù của địa điểm khảo cổ học Đồng Đậu, chưa phải là hiện tượng đánh dấu bước phát triển tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực kỹ thuật chế tạo và sử dụng vũ khí của cư dân giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương. Vai trò đó thuộc về những vũ khí đồng thau nói chung, mũi tên đồng nói riêng.

Mũi tên đồng thuộc loại vũ khí xuất hiện sớm nhất và phổ biến hơn cả trong số đồ đồng giai đoạn văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun.
Về loại hình, mũi tên đồng Đồng Đậu - Gò Mun là sự phát triển kế tục loại hình tên đá ở giai đoạn Phùng Nguyên. Đại đa số chúng thuộc nhóm mũi tên có chuôi, chỉ một vài chiếc thuộc nhóm tên không có chuôi. Chi tiết phân biệt rõ nhất với mũi tên đá là ở phần đuôi cánh thân tên. Thân tên đá hình tam giác với cạnh đáy gần như bằng, hai góc đáy lượn cong, còn thân tên đồng cũng có hình tam giác nhưng cạnh đáy không phẳng do hai cạnh bên được kéo dài xuôi xuống tạo thành hai cánh cân đối như cánh én. Với hình dáng mới này, mũi tên đồng có khả năng giảm lực cản của gió trong khi bay và có sức xuyên thủng lớn hơn. ở giữa thân những mũi tên này có đường sống nổi chạy dọc từ đầu mũi đến khoảng 1/2 chiều dài thân thì chẽ ra thành hai đường sống chạy xiên cho đến đầu hai cánh. Kỹ thuật tạo sống nổi này làm cho mũi tên cứng chắc mà vẫn đảm bảo yêu cầu đầu mũi nhọn và hai rìa cạnh mỏng sắc. Phần chuôi tên đúc liền với thân tên, thường hẹp bản, dẹt và kéo dài gần tương đương chiều dài thân, mặt cắt ngang chuôi thường hình chữ nhật dẹt (Bản vẽ 4, h.1,2).

Cũng có một số mũi tên có hình dáng, cấu trúc gần như giống liệt những mũi tên đá đã gặp trong giai đoạn trước. Đó là những mũi tên có thân hình tam giác, cạnh đáy gần phẳng, hai góc đáy lượn cong, không kéo dài thành cánh nhọn như loại tên trên. Có những chiếc có hình như chiếc lá, cuống lá - chuôi tên nhỏ, dài, mặt cắt hình tròn. Sống lá nổi rõ chạy dọc từ đầu mũi xuống đến cạnh đáy ở cả 2 mặt. Có chiếc sống nổi chỉ ở một mặt, mặt kia, sống nổi chỉ chạy từ mũi đến khoảng 1/3 thân thì chuyển thành đường rãnh lõm chạy dọc tiếp xuống đến cạnh đáy (Bản vẽ 4, h.3, 4).




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 09:54:02 PM

Tài liệu khai quật ở địa điểm Đồng Đậu cho thấy rằng, loại tên hình lá này tồn tại chủ yếu ở lớp Đồng Đậu - lớp có niên đại sớm hơn, và hầu như mất hẳn ở giai đoạn Gò Mun.  Mũi tên cánh én đã phổ biến ngay từ giai đoạn Đồng Đậu, đến giai đoạn Gò Mun thì chiếm địa vị độc tôn. Rõ ràng người Đồng Đậu - Gò Mun đã có sự thử nghiệm và lựa chọn trong việc sản xuất và sử dụng mũi tên. Loại mũi tên có nguyên mẫu là mũi tên đá của giai đoạn Phùng Nguyên đã dần được thay thế hoàn toàn bằng loại mũi tên cánh én có nhiều ưu điểm hơn.
Nhìn chung, kích thước tên đồng nhỏ hơn mũi tên đá. Đa số chúng có chiều dài dưới 4cm (kể cả chuôi), chiều rộng giữa hai đầu cánh xê dịch trong khoảng từ 1cm - 1,5 cm, độ dày ở sống thân khoảng 0,25 cm - 0,40 cm, chuôi rộng khoảng trên dưới 0,5 cm, dày khoảng 0,2 cm. Mũi tên nhỏ đáp ứng yêu cầu tiết kiệm kim loại tất yếu được đặt ra vào thời điểm kim loại còn là nguyên liệu hiếm quý như giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun.

Tình hình mũi tên đồng ở giai đoạn này được thể hiện ở bảng thống kê phân loại tên đồng trong hai cuộc khai quật địa điểm Đồng Đậu năm 1969 và 1984:
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng9-1.jpg)
Như vậy, rõ ràng là mũi tên đồng Đồng Đậu - Gò Mun còn khá đơn giản và ít kiểu loại. Tên đồng chỉ thực sự phát triển đa dạng ở giai đoạn văn hóa Đông Sơn.
Theo tài liệu hiện biết, cho đến nay số tên đồng Đông Sơn sưu tập được đã lên tới con số hơn một vạn chiếc. Trong đó tập trung chủ yếu ở kho tên đồng Cầu Vực (Cổ Loa), khoảng gần một vạn chiếc. Ngoài ra tên được tìm thấy rải rác trong các địa điểm khác như ở Thiệu Dương, Đông Sơn, Núi Nấp (Thanh Hóa), Vinh Quang (Hà Tây), Mả Tre (Cổ Loa)... số lượng nói chung không nhiều. Có lẽ vì mũi tên là loại vũ khí sử dụng một lần, bắn đi là mất, nên sự có mặt ít không phản ánh đúng vai trò của chúng trong đời sống của chủ nhân cácdi tích khảo cổ đó. Sự có mặt của một kho tên đồng thuộc loại giàu có nhất thế giới ở Cổ Loa, sự hiện diện phổ biến của những chiến binh dùng cung, nỏ được khắc họa trên các đồ đồng Đông Sơn, những tài liệu thư tịch và truyền thuyết ca ngợi tài dùng cung nỏ của người Lạc Việt - Âu Việt cho phép chúng ta khẳng định vai trò to lớn của vũ khí mũi tên thời này.

Mũi tên đồng Đông Sơn được phân thành hai nhóm lớn căn cứ vào cách thức tra cán tên - nhóm tên có chuôi tra cán và nhóm tên có họng tra cán. Mỗi nhóm lại bao gồm một số loại được phân biệt chủ yếu ở hình dáng phần thân tên.  Nhóm tên có chuôi rất phát triển về số lượng và đa dạng về loại hình. Đây là nhóm mũi tên thể hiện quá trình phát triển kế thừa truyền thống tên đá - đồng của những giai đoạn trước, đồng thời cho thấy rõ xu hướng phát triển ngày càng hoàn thiện về mặt kỹ thuật của loại hình vũ khí đánh xa quan trọng này.

Trong nhóm tên kể trên có loại hình tên cánh én gần như giống liệt loại tên cánh én phổ biến ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun: thân tên hình tam giác cân có hai cạnh bên kéo dài tạo thành hai cánh nhọn như cánh én, giữa thân có đường sống nôi chạy dọc, đôi khi không rõ làm cho mặt cắt ngang thân tên không có hình thoi dẹt mà lại có hình bầu dục dẹt.  Chuôi tên thường dài bằng hoặc dài hơn thân tên, mặt cắt chuôi thường có hình gần viên phân, chứ không có hình chữ nhật dẹt như chuôi tên Đồng Đậu - Gò Mun. (Bản vẽ 4, h.7, 8).

Kích thước tên cánh én Đông Sơn thường tương đương với cỡ tên cánh én lớn của giai đoạn trước: dài trung bình 4 cm, khoảng cách giữa hai đầu cánh én là trên 1,5 cm, chuôi dài gần 2 cm, rộng khoảng 0,4 cm.

Loại tên cánh én có trụ là một biến tướng của loại tên cánh én đơn giản nêu trên. Thân tên cũng có hai cánh nhọn nhưng đường sống dọc giữa thân đặc biệt phát triển thành đường nổi rõ như trụ giữa kéo dài từ đầu mũi tên thẳng đến hết thân, nối liền xuống đến chuôi tên. ở khoảng giữa chuôi có một đoạn phình rộng tạo nên gờ nổi. Kiểu gờ nổi này thường thấy có ở phần chuôi của những mũi lao bằng xương ở Đồng Đậu. Có thể đây là biểu hiện của sự kế thừa. Tuy nhiên, loại tên này không được sử dụng phổ biến ở giai đoạn Đông Sơn. Kích thước loại tên này tương đối lớn. Một chiếc còn nguyên phát hiện được ở địa điểm Chiền Vậy (Hà Tây) có chiều dài 4,9 cm, quãng cách giữa hai đầu cánh én là 1,3 cm, chuôi tên dài 2,7 cm (Bản vẽ 4, h.6).

Loại tên hình lá có trụ, có chuôi, có phần thân tên tương tự loại tên hình lá giai đoạn trước. Giữa thân có đường sống dọc ở cả hai mặt, tạo cho mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt.  Chỗ nối giữa thân và chuôi là một đoạn hình nón cụt, cạnh bé nối liền với cạnh đáy thân tên, cạnh lớn gắn với đầu chuôi tên. Tất cả cán bộ phận của tên được đúc liền. Hiện tại mới biết đến một chiếc duy nhất phát hiện được ở vùng Thanh Hóa. Tên có kích thước: dài 7,4 cm, riêng đoạn trụ nón cụt dài 0,7 cm, chuôi dài 3,4 cm, nơi rộng nhất trên thân 1,2 cm (Bản vẽ 4, h.5).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 09:55:31 PM


Ba loại tên nêu trên đều thuộc loại tên thân dẹt, chỉ có hai cánh, thể hiện rõ mối dây liên lạc với loại hình tên đồng giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun. Mặc dù chúng đã có những cải tiến nhất định như thêm phần thân trụ hay cổ trụ, kích thước mũi tên nói chung lớn hơn, nhưng dường như những cải tiến này không hiệu quả lắm, nên chúng không được sử dụng rộng rãi và không trở thành những loại tên có thể nằm ở vị trí trung gian trên con đường hình thành loại tên Đông Sơn điển hình. Đó là các loại tên ba cạnh. Tên ba cạnh không có đoạn chuôi kéo dài, mới chỉ gặp hai chiếc. Tên có phần thân hình khối ba mặt phẳng tạo mặt cắt ngang thân hình tam giác đều, tương tự thân tên đá ba cạnh ở giai đoạn Phùng Nguyên.

Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, tên đồng rất phát triển, nhưng không có loại tên đồng nào tiếp thu hình dáng của tên đá ba cạnh. Tên ba cạnh của giai đoạn này vẫn chỉ là tên đá và số lượng rất hiếm. Tên đồng ba cạnh hiện mới thấy xuất hiện ở giai đoạn Đông Sơn. Tên ba cạnh loại này không có phần chuôi kéo dài, ở cuối thân chỉ hơi bóp vào. Toàn thân tên dài 3 cm - 4 cm, mỗi cạnh thân rộng 0,7 cm (Bản vẽ 4, h.9).

Tên ba cạnh có trụ, có phần thân tương tự loại trên, nhưng ở cuối có thêm đoạn trụ hình khối tam giác đều, mỗi cạnh tam giáp trụ hẹp hơn cạnh thân một chút: cạnh thân 0,9 cm, cạnh trụ 0,7 cm. Toàn thân tên dài 3,1 cm. Đây là chiếc tên duy nhất thuộc loại này được tìm thấy trong văn hóa Đông Sơn (Bản vẽ 4, h.14).

Loại tên ba cạnh có trụ có chuôi, xét tổng thể, là gần hơn cả với loại tên điển hình của giai đoạn Đông Sơn. Tên có phần thân giống với thân tên ba cạnh trên, phần trụ của loại tên này ngắn và nhỏ hơn và chỗ khác căn bản là ở tên này có phần chuôi dài, đúc liền với thân và trụ tên. Một chiếc tên còn nguyên tìm thấy ở địa điểm Chính Giáp (Thanh Hóa) có chiều dài đến 10,1 cm, trong đó phần thân dài 3,2 cm, trụ - 0 8 cm, chuôi 6,1 cm. Những mũi tên cùng loại khác có kích thước nhỏ hơn chút ít. (Bản vẽ 4, h. 11) .

Cả ba loại tên ba cạnh kể trên đều có dáng chắc khỏe, có khả năng xuyên giáp lớn. Loại tên ba cạnh có trụ, có chuôi hình dáng khá chỉnh, đáp ứng tốt những yêu cầu kỹ thuật - nhọn sắc, thon dài và đủ độ nặng, độ cứng khiến tên có thể bắn xa, hướng trúng đích và khả năng xuyên thủng, gây sát thương lớn.

Nhưng người Đông Sơn không dừng lại ở đây, họ còn phát minh ra loại tên phức tạp hơn, một số ý kiến cho rằng đó là kết quả của sự dung hợp giữa truyền thống tên ba cạnh xuất hiện từ mũi tên đá Phùng Nguyên với truyền thống tên có cánh của cư dân vùng đồng cỏ Á - Âu. Đó là loại tên ba cạnh có trụ, có cánh, có chuôi.

Loại tên ba cạnh có trụ, có cánh, có chuôi được tìm thấy với một kho lớn, gần một vạn mũi tên chưa được sử dụng.  Trọng lượng của kho tên này lên tới gần 100 kg. Kho tên phát hiện được ở khu Cầu Vực, sát chân vòng thành ngoài thành Cổ Loa, trung tâm kinh tế - chính trị - quân sự của quốc gia Âu Lạc, do vậy loại mũi tên này còn được gọi là mũi tên Cổ Loa. Loại tên này còn xuất hiện ở các địa điểm Đông Sơn khác thuộc lưu vực sông Hồng (Mả Tre, Đồng Vông, Quỳnh Xá...), ở lưu vực sông Mã cũng có nhưng hiếm.

Như cách gọi, loại tên này phân biệt với các loại tên khác ở sự có mặt của bốn yếu tố - ba cạnh, ba cánh, trụ thân và chuôi. Hình dạng của các thành phần này có những khác biệt nhất định tạo nên tính đa dạng cho loại mũi tên này. Đã biết tới ít nhất là bốn kiểu khác nhau. Trong kho tên đồng Cổ Loa phổ biến hai kiểu rất đẹp (có hàng nghìn chiếc).

Kiểu thứ nhất có trục thân hình trụ, mặt cắt ngang thân hình tròn, ba cánh hẹp bản nhô ra từ trục thân, bố trí ở ba vị trí cách đều nhau, mép cánh sắc, thẳng xuôi theo chiều dọc thân, có khi lại hơi cong khum, cổ tên có trụ kép, trên to dưới nhỏ, chuôi đúc liền với cổ trụ dưới, mặt cắt ngang thân chuôi hình bầu dục hay tam giác hoặc lăng trụ (Bản vẽ 4, h.13).
 
Kiểu thứ hai - khác kiểu thứ nhất ở chỗ trục thân hình trụ tam giác đều mặt cắt ngang thân hình tam giác đều với các cạnh hơi cong khum, ba cánh có bản rộng hơn một chút, rìa cánh sắc và thẳng; cổ trụ đơn, cao tương đương chiều cao của haitầng cổ trụ kiểu thứ nhất; chuôi tên dài có mặt cắt ngang thân hình tam giác (bản vẽ 4, h.12).

Kích thước những mũi tên Cổ Loa thường lớn, chiều dài thân xê dịch trong khoảng 3 cm - 5 cm, chuôi có chiều dài gần tương đương hoặc dài hơn, khoảng 4 cm - 5 cm, đường kính trục thân hay cạnh tam giác đều của trục thân khoảng 0 7 cm - 0,8 cm, bản cánh rộng khoảng 0,2 cm - 0,3 cm.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:01:35 PM


Có thể nói, tên Cổ Loa có cấu tạo hoàn chỉnh, sắc bén, chắc chắn. Theo tính toán, để phóng tên đi ở tình trạng tốt nhất cần nối thêm vào tên đoạn chuôi bằng tre dài từ 0,8 m - 1m. Chỉ một chi tiết đó cũng đủ thấy mũi tên đồng Cổ Loa có quy mô và khả năng xuyên thủng, sát thương của nó lớn đến thế nào. Truyền thuyết về nỏ thần của An Dương Vương, những điều ghi chép trong thư tịch cổ ca ngợi công dụng của cung tên trong tay người Việt (“mỗi phát tên xuyên qua hơn chục người...” Việt kiệu thư v.v...) rõ ràng đã phản ánh sự thật này.

Một điểm mới nữa trong lĩnh vực sản xuất và sử dụng tên đồng của người Đông Sơn là xuất hiện nhóm tên có họng tra cán. Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun chưa gặp loại tên này. Nếu không kể kho tên đồng Cổ Loa làm cho loại tên đồng ba cạnh có trụ, có cánh, có chuôi chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt số lượng so với các loại tên khác,thì những loại tên có họng tra cán, ngay từ đầu giai đoạn Đông Sơn đã trở thành một trong những loại tên phổ biến rộng rãi ở mọi khu vực từ sông Hồng đến sông Mã, sông Cả.

Các loại tên trong nhóm tên có họng tra cán phân biệt nhau chủ yếu ở hình dáng thân. Loại tên tam giác gồm những chiếc có đường sống nổi chạy dọc suốt từ chóp mũi đến gần sát phần chuôi, tạo mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt, trên mặt thân, nơi phình rộng nhất thường trổ hai lỗ thủngđối xứng nhau qua đường sống thân. Họng tên có mặt cắt ngang hình bầu dục hay hình thoi, thân họng ngắn (Bản vẽ 4, h.10). Loại tên có rìa cánh cong lượn ít gặp hơn loại trên và mới thấy ở vùng sông Mã. Rìa cánh của loại tên này không chạy thẳng mà lại được lượn cong làm cho hai cánh tên lộ rõ.  Có thể có hoặc không có lỗ thủng ở hai cánh. Giữa thân vẫn có đường sống nổi chạy dọc hai mặt thân, làm mặt cắt ngang thân có hình thoi dẹt. Họng ngắn, mặt cắt ngang hình bầu dục hay hình thoi (Bản vẽ 4, h. 10). Loại tên hình lá có đặc điểm là mũi tên và hai góc đáy thân lượn tròn, còn các chi tiết khác tương tự các loại tên có họng tra cán nêu trên.  Chúng là hình ảnh thu nhỏ của các giáo, lao cùng loại.

Kích thước trung bình của các tên loại này như sau: chiều dài chung khoảng trên dưới 5,5 cm, bề ngang rộng nhất khoảng gần 2 cm, riêng họng dài 1,5 cm đến 2 cm, đường kính lớn miệng họng khoảng gần 1 cm.

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng10.jpg?t=1228748311)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv4.jpg?t=1228748447)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:03:13 PM


Bản thân mũi tên chưa tạo thành một loại vũ khí hoàn chỉnh. Nó mới chỉ là một phần của bộ vũ khí cung - nỏ. Trongcác cuộc khai quật khảo cổ chưa tìm thấy dấu vết thực của bất cứ chiếc cung nỏ nào. Chúng ta chỉ nhìn thấy chúng qua hình ảnh được khắc họa trên một số trống, thạp đồng Đông Sơn. Những chiếc cung nỏ này có cấu tạo hết sức đơn giản và cũng không khác gì những chiếc cung vẫn đang được đồng bào các dân tộc ít người ở nước ta, như dân tộc Mường sử dụng. Những chiếc cung này được thể hiện rất thống nhất, bao gồm hai bộ phận - phần cánh cung là một đường cong và dây cung - đoạn thẳng nối hai đầu cánh cung. Nhìn chung các cây cung đều có hình chữ D, cạnh đứng của chữ D - tức dây cung luôn quay về phía người bắn cung - vị trí hoàn toàn hợp lý, dù cây cung có được đặt ở vị trí nào - cầm trên tay, đặt trên bệ tì hay để đứng dưới đất, trước mặt cung thủ...  Cũng cần nói thêm rằng, những hình cung không được cầm trên tay mà lại được tì xuống bệ, giá đỡ, được các nhà nghiên cứu coi là nỏ. Những mũi tên được thể hiện cùng với những chiếc nỏ này thường rất lớn. Ví như bốn trong số sáu hình người bắn cung trên sáu thuyền của trống Hoàng Hạ được thể hiện trong tư thế sử dụng cung - nỏ đặt trên bệ với mũi tên rất lớn (bản vẽ 4, h.17).

So với cung, nỏ có cấu tạo phức tạp hơn, ở vào trình độ phát triển cao hơn. Truyền thuyết Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái kể chuyện tướng Cao Lỗ theo lệnh của An Dương Vương chế tạo “Linh quang kim quy thần cơ” có lẫy nỏ làm từ vuốt thăn rùa vàng, nhờ nỏ thần mà đánh tan quân tướng Triệu Đà. Chuyện rùa vàng cho vuốt tất nhiên là hư nhưng chuyện “nỏ thần” thì có thể lại là thực. Ở trên chúng ta đã nói tới những ghi chép trong các sách cổ ca ngợi tài cung nỏ của người Việt đặc biệt là dân Âu Việt của An Dương Vương.
Về nỏ, sách Tam Tài đồ hội do Vương Kỳ nhà Minh (Trung Quốc) soạn có nói đến các máy nỏ thời cổ như loại tam cungsàng nỗ, nhị cung sàng nỗ, thần tý sàng nỗ... Loại nhị cung sàng nỗ có hai cánh cung, có trục để giương nỏ vì cánh nỏ rất cứng, không giương trực tiếp bằng tay được. Loại nỏ này một phát bắn được đồng thời năm mũi tên qua một cái ống như kiểu nòng súng. Có thể nỏ của An Dương Vương cũng tương tự như thế. Có ý kiến cho rằng cung thủ đứng trên sạp cao của một trong số sáu chiếc thuyền ở tang trống Hoàng Hạ đang trong tư thế đạp chân vào giá nỏ để giương dây (Bản vẽ 4, h. 16). Khảo cổ học còn cung cấp một bằng chứng hùng hồn hơn, xác thực hơn cho sự tồn tại của máy nỏ thời Đông Sơn.  Đó là phát hiện những chiếc lẫy nỏ Làng Vạc khá nguyên vẹn, còn đầy đủ các bộ phận hợp thành.

Chiếc lẫy nỏ này gồm bốn bộ phận đúc rời được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ. Bốn bộ phận gồm: hộp lẫy rỗng hình chữ nhật,một đầu vát, miệng hộp có rãnh đặt tên và khấc để giữ dây cung; lẫy cong để tiện bóp cò; hai bộ phận còn lại là 2 thanh đồng dùng để đưa dây cung vào khấc hãm (Bản vẽ 3, h. 1 1).

Tài liệu dân tộc học - điều tra vùng Cổ Loa cũng cung cấp cho ta một số thông tin quanh những chiếc “nỏ thần” của An Dương Vương. Theo người Cổ Loa kể, trước đây người ta đã đào được ở chân thành khu vực Chợ Sa một cái ống đồng dài khoảng 0,5m, hai đầu bịt kín, dọc thân trổ lỗ như lỗ cây sáo Phải chăng ống đồng này là một bộ phận của chiếc nỏ.  Trước Cách mạng Tháng Tám ở Cổ Loa co tục rước nỏ thần.

Chiếc nỏ được làm bằng giấy, giữa thân nỏ để một cái ngáng bằng gỗ trên thân dùi nhiều lỗ, mỗi lỗ để một mũi tên, tượng trưng cho máy nỏ An Dương Vương một phát bắn đi nhiều mũi tên. Cái ngáng tượng trưng bằng gỗ này có những nét tương đồng với ống đồng nói trên*
Đương nhiên, từ những tài liệu nêu trên ta chưa thể phục dựng được chính xác cái “nỏ thần” đã làm giặc ngoại xâm phải khiếp vía của người Âu Lạc, nhưng cũng đã đủ để khẳng định sự tồn tại thực sự của loại vũ khí đánh xa lợi hại này của tổ tiên ta thời dựng nước.

2. Lao

Nói cho chính xác thì lao là vũ khí đánh tầm trung. Nó được sử dụng bằng cách phóng. Về mặt loại hình, chiếc lao ở giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương tương tự như giáo và một số loại mũi tên. Trừ một số loại hình đặc trưng riêng cho từng loại vũ khí, lao, giáo, mũi tên được phân biệt trước hết ở kích thước: lớn nhất là giáo (thường có chiều dài từ 15cm trở lên, có một số trường hợp có thể ngắn hơn chút ít, khoảng trên 13 cm), nhỏ nhất là tên (có chiều dài dưới 7 cm).  Lao thuộc cỡ trung bình, nằm giữa giáo và tên dài từ 7 cm đến dưới 13- 15 cm.

 Cũng như tên, trong giai đoạn đầu thời Hùng Vương mới tìm thấy rất ít mũi lao. Đây đó trong một vài địa điểm văn hóa Phùng Nguyên có tìm thấy một hai chiếc mũi nhọn bằng đá nhưng chúng thực sự chỉ là những chiếc dùi thông thường, không phải là vũ khí. Những mũi lao thực sự chỉ xuất hiện vào giai đoạn Phùng Nguyên muộn và không phải làm bằng đá mà làm bằng xương. Tuy nhiên, sự xuất hiện này cũng mang tính cá biệt, tức là mới chỉ gặp ở một địa điểm duy nhất - địa điểm Đồng Đậu (Vĩnh Phúc). Chúng đều được chế tạo bằng mảnh xương ống nhờ những kỹ thuật chẻ tách, cưa, mài, nghĩa là những kỹ thuật dùng trong chế tác đồ đá Toàn thân lao được mài nhẵn, có khi đến nhẵn bóng.  Có loại lao 1 ngạnh (bốn chiếc) và lao hai ngạnh (một chiếc) (Bản vẽ 5, h.1, 2). Các ngạnh đều nằm xuôi theo thân, dài từ 1-2 cm, thân lao thường dẹt, mặt cắt ngang thân hình bầudục, có khi hơi khuyết ở một mặt - dấu vết của ống xương. Mũi lao được mài nhọn. Chuôi lao ngắn được mài vát đều hai bên nhỏ lại hơn bề rộng thân. Giữa thân và chuôi bao giờ cũng có phần gờ nổi tạo thuận tiện cho việc buộc thêm cán.  Kích thước trung bình của lao ngạnh: dài 10cm, nơi rộng nhất trên thân 1,2 cm, dày thân 0,8 cm, gờ nổi ở cuối thân rộng 1,6 cm, chỗ ngạnh nhô ra cách đầu mũi bằng 1/2 hay 1/3 chiều dài toàn thân lao.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:05:05 PM


Các mũi lao không có ngạnh bằng xương còn lại có hình dáng tương tự những mũi tên xương, chỉ khác là có kích thước lớn hơn: dài trên 10 cm, rộng thân trên 1 cm. Hai đầu lao đều được vót và mài nhọn, không có sự phân biệt rõ rệt giữa thân và chuôi. Loại lao xương không ngạnh này đặc biệt phát triển trong giai đoạn tiếp ngay sau - giai đoạn Đồng Đậu ở tại chính địa điểm Đồng Đậu.

Phải nói rằng, tuy lao đã có mặt từ giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, nhưng số lượng còn ít và mới chỉ có lao làm từ xương thú. Đến giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, lao đặc biệt phát triển, chiếm vị trí gần tương đương với mũi tên và cùng với tên trở thành loại vũ khí chủ yếu của giai đoạn này.  Lúc này ngoài lao xương còn gặp cả lao đá và lao đồng.  Lao đá gặp rất ít. Trong số sáu địa điểm được chọn làm thống kê, chỉ có một địa điểm tìm thấy hai chiếc. Chiếc còn tương đối nguyên, chỉ bị gãy một phần chuôi, là một mũi lao cỡ trung bình, có phần thân dẹt, mặt cắt ngang thân hình bầu dục dẹt, giữa dày, mỏng dần ra hai bên rìa cạnh, rìa cạnh sắc, mũi lao nhọn. Giữa thân lao, ở cả hai mặt có đường sống nổi chạy dọc từ đầu mũi xuống gần hết chiều dài thân.  Chuôi lao nhỏ hơn thân, mặt cắt ngang hình chữ nhật dẹt.

Lao được làm từ loại đá hạt mịn, cứng và được mài nhẵn bóng. phần còn lại toàn thân - chuôi lao dài 6, làm, rộngngang thân 2,7 cm, dày 0,25 cm (Bản vẽ 5, h.8). Lao xương đặc biệt phát triển ở giai đoạn Đồng Đậu.

Trong hai cuộc khai quật (1969 và 1984) tại địa điểm Đồng Đậu đã phát hiện được trên 30 chiếc, trong đó chỉ có một chiếc lao có ngạnh. Cũng như trước, lao được làm từ những đoạn xương thú lớn, bằng cách chặt chẻ, gọt và mài nhẵn toàn thân. Hình dáng các mũi lao cơ bản giống nhau: thân thon dài, hai đầu đều vót nhọn, mặt cắt ngang thân hình tròn hoặc bầu dục dẹt khuyết một mặt - dấu vết của ống xương. Một số chiếc giữa thân và chuôi có sự phân biệt tương đối rõ ràng - thân dài, chuôi ngắn và nhỏ hơn (bản vẽ 5, h.3).  Những chiếc khác giữa thân và chuôi không có sự phân biệt rõ, cả chiếc lao có hình một mũi nhọn hai đầu. Kích thước phổ biến là: dài toàn bộ trên 10 cm, có chiếc dài đến 14 cm, chỗ rộng nhất trên thân khoảng 1 cm-1,5 cm (Bản vẽ 5, h.4).  Những mũi lao đồng xuất hiện lần đầu tiên vào giai đoạn văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun. Và cũng như những đồ đồng khác ở giai đoạn này, lao đồng còn mang những yếu tố của các loại vũ khí tiền thân như mũi tên, mũi nhọn đã từng có mặt từ giai đoạn trước, hoặc phỏng theo hình dáng của những mũi lao bằng xương trong cùng giai đoạn.

Căn cứ vào cách tra cán và một số đặc điểm hình dáng và chi tiết đặc biệt, có thể phân các mũi lao đồng đã biết thành hai nhóm cư bản với một số loại hình sau.

Nhóm lao có chuôi đặc gồm hai loại. Loại lao hình lá có hình dáng hệt như một chiếc lá có cuống nhỏ. Sống lá nổi rõ chia thân lao ở cả hai mặt thành hai phần bằng nhau, tạo cho mặt cắt thân gần hình thoi dẹt, mũi nhọn. Phần chuôi nhỏ, dài ngắn linh hoạt, mặt cắt ngang có khi hình tròn, có khi hình vuông. Bản lá - thân lao có chiếc thon dài, có chiếc hơi rộng, bè, mập. Những mũi tên hình lá tương tự lao hìnhlá Chúng được phân biệt chủ yếu ở kích thước. Có thể xếp những “chiếc lá” có chiều dài trên 7,8 cm, chiều rộng khoảng gần 3 cm trở lên, dày ở sống lá khoảng trên dưới 1 cm là những mũi lao (Bản vẽ 5, h.5, 6). Số lượng loại lao này không nhiều, và khó nắm được con số chính xác vì đa số bị gẫy, không còn nguyên vẹn, lại rất giống những mũi tên đồng dạng, nên dễ lẫn lộn với mũi tên khi phân loại.

Loại lao hình mũi nhọn chuôi đặc, chuôi và thân thường không phân biệt rạch ròi. Đặc điểm chung của loại lao này là hình dáng đơn giản, thân thon dài, mũi nhọn, toàn thân và chuôi đều đúc đặc. Có những chiếc cả hai đầu cùng nhọn giống như một kiểu lao xương đã nhắc đến ở trên. Có những chiếc giữa thân và chuôi có khấc để phân biệt. Thân lao thường có mặt cắt ngang hình tròn, đôi khi có hình vuông hay hình bầu dục. Những chiếc lao mũi nhọn này thường có chiều dài trên dưới 11 cm, có chiếc đến trên 15 cm, đường kính nơi rộng nhất của thân khoảng trên dưới 1 cm. Kích thước như thế tạo cho lao có dáng nhỏ, dài, thích hợp với việc phóng, ném. Vì vậy, dù có chiếc dài trên 15 cm vẫn có thể xếp vào loại lao, không phải là giáo (bản vẽ 5, h.7, Bản vẽ 7, h.1).

 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:13 PM


Nhóm lao có họng tra cán gồm hai loại là lao có họng thân thẳng hình dùi và lao có họng, có ngạnh.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv5.jpg?t=1228748979)
Loại lao thân thẳng hình dạng đơn giản, tương tự như loại lao mũi nhọn kể trên, chỉ khác ở phần họng tra cán và thân đúc rỗng. Mặt cắt thân hình tròn, họng ăn sâu vào khoảng nửa thân lao. Có chiếc phần nửa thân dưới phía họng tra cán mặt cắt ngang hình tròn, nhưng nửa thân đằng mũi lại có hình đa giác đều. Nhiều chiếc lao loại này có kích thước khá lớn, dài đến 14 cm-15 cm, đường kính họng lao trên 2 cm (bản vẽ 7- h.4). Lao có họng thân thẳng và lao hình mũi nhọn thân đặc chiếm đa số áp đảo trong gia đình những chiếc lao đồng giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun.

Loại lao có họng có ngạnh mới chỉ phát hiện được một chiếc ở địa điểm Đồng Đậu. Lao có một ngạnh thẳng và khá dài, không ngắn như ngạnh lao xương, thân ngạnh dẹt, mũi tù. Thân lao chia hài phần rõ rệt: phần họng tra cán ngắn, rỗng, mặt cắt ngang thân hình thoi lên đến gần mũi thì chuyển thành hình bầu dục, mũi nhọn. Toàn thân lao dài 11 làm (riêng họng dài 3 cm). Chiều rộng thân 0,6 cm, họng rộng 1,6 cm, ngạnh dài 3 cm, dày 0,5 cm (Bản vẽ 5, h.9). Lao có ngạnh bằng đồng này cơ bản giống loại lao xương một ngạnh. Nhiều khả năng lao đồng có ngạnh được làm phỏng theo những chiếc lao xương cùng loại.

Trong các địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, bên cạnh những chiếc lao còn nguyên vẹn hay mới sứt gẫy nhưng còn khả năng nhận ra hình dạng để phân loại, vẫn còn một số lượng không nhỏ những hiện vật được xếp vào loại hình mũi nhọn, có cả loại mũi nhọn thân đặc, cả loại mũi nhọn thân rỗng (có họng tra cán) . Nhiều khả năng phần lớn chúng là phần mũi của những chiếc lao thân thẳng, mũi nhọn. Tình hình này cũng đúng với bộ vũ khí lao - mũi nhọn xương đã phát hiện được ở địa điểm Đồng Đậu và những mũi nhọn xương phân bố lẻ tẻ trong một số địa điểm khác như Thành Dền (Vĩnh Phúc), Gò Mun (Phú Thọ).

Do vậy, khi làm thống kê các loại hình vũ khí, phải tính đến sự có mặt của những chiếc mũi nhọn này. cũng có nhà nghiên cứu mạnh dạn xếp toàn bộ những mũi nhọn này vào loại hình lao mũi nhọn. Dưới đây là bảng thống kê số lượng lao và mũi nhọn bằng đồng ở sáu địa điểm thuộc giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:13:42 PM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng11.jpg?t=1228749189)
Giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời Hùng Vương - An Dương Vương - xuất hiện những chiếc lao Đông Sơn.  ở giai đoạn này lao vẫn là loại vũ khí được tiếp tục phát triển và phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên nếu đặt trong mối tương quan và so sánh với các loại hình vũ khí khác cùng thời thì nó không còn đứng ở thứ hạng cao về mặt số lượng như trong giai đoạn trước nữa. Trong giai đoạn Đông Sơn, lao đã nhường vị trí cho giáo.

Về mặt loại hình, lao Đông Sơn có những thay đổi căn bản. Những loại lao chủ đạo của Đồng Đậu - Gò Mun đã mất hẳn, thay thế cho chúng là những loại lao có họng tra cán, phần thân có bản rộng, hình dáng cân đối, hoàn chỉnh, ổn định.

Căn cứ vào hình dáng thân, họng tra cán có thể phân chia lao có họng tra cán thành một số loại như sau:

Lao lưỡi hình tam giác là những chiếc lao có phần thân lưỡi hình tam giác cân dài, hai cạnh bên thẳng hoặc hơi cong  lõm, na cạnh dưới, phần chuyển xuống họng thẳng xiên hoặc hơi cong lõm vào, đôi khi hơi lồi. Giữa thân, ở cả hai mặt có đường sống nổi rõ chạy dọc từ đầu mũi xuống đến chuôi, mặt cắt ngang thân hình thoi. Đôi khi đường sống không nổi rõ, tạo mặt cắt ngang thân hình bầu dục dẹt.
 
Hai cánh lao khá đa dạng; có kiểu góc cánh là góc gần nhọn, cánh xòe rõ, có kiểu góc cánh là góc tù, cánh không xòe rộng. Lỗ thủng ở cánh thường chỉ thấy ở những chiếc lao có họng dài. Lỗ cánh hình chữ nhật, nằm đối xứng nhau qua trục sống thân. Nhìn chung lao ít được trổ lỗ cánh hơn giáo.

Họng lao chia hai loại - loại họng dài (có chiều dài khoảng gần 1/2 chiều dài toàn thân lao) và loại họng ngắn (chiều dài chiếm khoảng 1/3 chiều dài toàn thân lao). Mặt cắt ngang họng cũng khá đa dạng - có thể là hình tròn, gần tròn, hình thoi. Đường kính miệng họng thường lớn hơn đường kính họng chỗ tiếp nối với thân. Họng còn ăn sâu lên cao trên thân, dọc theo đường sống thân và càng lên cao càng thu hẹp. Yếu tố kỹ thuật này làm cho việc tra cán thuận tiện (Bản vẽ 6, h.2, 3).

Kích thước trung bình của những lưỡi lao loại này là dài 9 cm-ll cm, rộng (ngang cánh) trên dưới 3 cm, họng dài trên 4 cm đối với loại lao họng dài) và dưới 3 cm (đối với loại lao họng ngắn), họng rộng từ 1cm-1,6 cm.

Lao lượn là loại lao có rìa hai cạnh bên thân lao lượn cong ở phần gần nơi chuyển tiếp từ thân sang họng, tạo ra hai cánh xòe rộng, góc cánh là góc nhọn. Mặt cắt ngang thân lao có hình thoi do hai mặt thân có đường sống nổi chạy dọc suốt từ mũi đến họng. Đa số những chiếc lao loại này có phần họng ngắn (chiều dài họng chiếm chưa tới 1/3 chiều dài toàn thân lao). Mặt cắt và chiều sâu họng cũng tương tự như loại lao trên. (Bản vẽ 6, h. 4).

Kích thước trung bình: dài 8 cm-11 cm, cánh rộng từ 3 cm-4 cm, họng dài 2 cm-3 cm, họng rộng khoảng dưới 1,5 cm.Lao lưỡi hình lá cũng có phần thân hình tam giác cân dài, nhưng các góc không nhọn mà lượn cong tạo cho thân lao có hình dáng như chiếc lá dài, hẹp. Giữa thân vẫn có đường sống nổi làm mặt cắt thân có hình thoi dẹt. Họng lao hình ống trụ, miệng họng hơi rộng hơn bên trên. Có kiểu lao họng dài, có kiểu lao họng ngắn. (Bản vẽ 6, h.4, Bản vẽ 7, h.2, 3).  Kích thước trung bình của loại lao này cũng tương tự các loại khác: dài từ 8 cm-lo cm, cánh rộng 2 cm-3 cm, họng ngắn dài 2 cm-3 cm, họng dài 4 cm-4,5 cm, họng rộng từ 1,2cm - 1,7 cm.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:19:47 PM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv6.jpg?t=1228749379)
Lao có cánh cũng thuộc nhóm lao có họng tra cán, thân lao hình tam giác có cánh tương tự như mũi tên có cánh được phóng to lên. Giữa thân có đường sống dọc nổi rõ. Họng dài (chiếm 1/2 hay hơn 1/2 chiều dài chung), hình ống, miệng họng hơi rộng hơn ở bên trên, mặt cắt họng gần tròn hay bầu dục. Toàn thân lao cứng, khỏe, sắc, sức sát thương lớn. Loại lao này phát hiện được chưa nhiều (Bản vẽ 8, h.1).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv7.jpg?t=1228749521)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:24:09 PM

Kích thước trung bình của lao: dài 12 cm-13 cm, cánh rộng 3 cm-4 cm, riêng họng dài 6 cm-7 cm, miệng họng rộng 2 cm-2,5 cm.

Có thể đưa vào loại lao có cánh một chiếc lao đặc biệt mới tìm thấy ở địa điểm Việt Khê (Hải Phòng). Lao có hình tương tự chữ A, hai cạnh bên thẳng kéo dài đến chóp cánh. Chia đôi chữ A thành hai nửa đều nhau là trục thân hình tam giác cao gầy, cạnh đáy tam giác là miệng họng, đỉnh tam giác là đầu chóp mũi lao. Hai chóp cánh nằm ở vị trí ngang 1/5 trục thân tính từ đáy lên. Gạch nối chóp cánh với trục thân ở điểm cách đáy trục hơn 1/2chiều dài chung tạo thành hai cánh lao dài, nhọn chạy xuôi theo thân. Kích thước của chiếclao duy nhất mới được tìm thấy như sau: chiều dài chung 10cm, rộng ngang hai đầu cánh 4cm, dài họng (tính đến điểm nối ra đầu cánh) 4,5cm, miệng họng rộng 1,8cm (Bản vẽ 7, h.5).  Loại lao có chuôi tra cán. Ngoại trừ loại mũi lao được dùng làm đồ minh khí, đúc mô phỏng những chiếc lao phổ biến vừa giới thiệu ở trên bằng kỹ thuật đúc một mang làm cho các lưỡi lao đều không có họng, mỏng dẹt, một mặt phẳng, mặt kia lồi lên tạo mặt cắt ngang thân hình 1/2 bầu dục dẹt, chuôi đặc, mặt cắt ngang cũng hình 1/2 bầu dục dẹt, đã phát hiện được khá nhiều ở các địa điểm Đông Sơn thuộc lưu vực sông Mã (Đông Sơn, Thiệu Dương, Núi Nấp...) chúng ta còn gặp, tuy rất hiếm, những mũi lao có chuôi.

Đây là những chiếc lao hình dáng khá đặc biệt, chưa tìm thấy một loại hình tiền thân nào ở các giai đoạn phát triển trước. Toàn thân lao có hình tương tự cái ngòi bút rộng bản, giữa thân và chuôi không có sự phân biệt rõ ràng, từ chỗ phình rộng nhất (đo được 4 cm) nằm ở khoảng 1/3 chiều dài lao tính từ mũi xuống, chuôi lao bắt đầu được thu hơi nhỏ lại, cạnh đáy chuôi còn rộng 2,5 cm. Giữa thân ở một mặt có đường sống nổi rõ chạy dọc suốt từ đỉnh mũi xuống đến đáy chuôi, mặt kia phẳng. Toàn thân lao có dáng cong khum dẹt, mặt cắt ngang thân, chuôi đều có hình chữ V. Những chiếc lao nguyên vẹn thuộc loại này tìm thấy trong mộ thuyền Việt Khê, đo được các kích thước: dài chung 14 cm, rộng nhất ngang thân 4 cm, rộng đáy chuôi 2,5 cm, dày 0,4 cm. Loại lao này được tìm thấy rải rác ở một vài địa điểm thuộc lưu vực sông Hồng, các khu vực khác chưa tìm thấy (Bản vẽ 7, h.6).

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn còn đặt dấu hỏi cho chức năng vũ khí lao của loại hình hiện vật này.

Bảng thống kê trên cho thấy rõ sự khác biệt giữa các vùng cư trú của cư dân Hùng Vương - An Dương Vương qua việc sản xuất và sử dụng lao đồng. Vùng lưu vực sông Hồng, lao chiếm số đông, loại hình phong phú. ờ lưu vực sông Mã cũng tồn tại hầu hết các loại hình lao như lưu vực sông Hồng, nhưng về số lượng thì ít hơn hẳn. Còn ở lưu vực sông Cả mới chỉ tìm thấy một loại hình và số lượng cũng rất ít.
Ở giai đoạn phát triển muộn của văn hóa Đông Sơn còn xuất hiện mũi lao bằng sắt tuy rất hiếm. Cho tới nay mới tìm thấy một chiếc lao sắt ở địa điểm Bái Tê (Thanh Hóa). Hình dáng lao đơn giản như là một thỏi sắt dài, phần mũi có tiết diện vuông, đầu mũi nhọn, phần thân gần họng và họng có tiết diện tròn, đường kính họng gần 4 cái.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng12.jpg?t=1228749802)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:29:48 PM


Cho đến nay chúng ta chưa tìm thấy một chiếc lao gồm đầy đủ cả hai bộ phận - mũi kim loại và cán bằng gỗ hoặc tre trong các di tích Đông Sơn, nhưng có thể nhìn thấy chúng rõ ràng trên hoa văn trang trí trống đồng. Trên hoa văn trốngđồng Ngọc Lũ có một chiến binh đứng trên thuyền, một tay cầm cây giáo có cán dài, tay kia cầm một cây lao cán ngắn hơn hẳn, mũi lao thuộc loại lao có cánh. (Bản vẽ 8, h.3). Trên trống sông Đà, có hình một chiến binh ngồi trên thuyền, hai tay giữ chiếc lao dựng đứng, mũi chĩa lên trời, ở trước mặt.  Cây lao cao hơn đầu người ngồi cầm nó một ít, (Bản vẽ 8, h.2). Mũi lao thuộc loại lao lưỡi tam giác rất phổ biến. Loại lao lưỡi tam giác có cán ngắn còn thấy trong tay những chiến binh ngồi ở đầu các con thuyền trang trí trên thạp Hợp Minh (Yên Bái). Trên trống Hoàng Hạ, trống Bản Thêm cũng có những người cầm lao tương tự, nhưng không ở trên thuyền mà là đang đi trên mặt đất. Sự phổ biến của lao lưỡi tam giác hơn lao cánh én trong hoa văn đồ đồng dường như phản ánh đúng thực tế.

Lao là vũ khí đánh tầm trung. Nó giống tên ở chỗ chỉ sử dụng được một lần, ném đi là mất, nhưng lại không cư động, tiện dụng bằng tên vì rõ ràng nó cồng kềnh hơn, người ta chỉ có thể cầm theo người 1 đến 2 chiếc, chứ không thể đeo theo cả nắm như tên. Có lẽ trong thực tế, lao được sử dụng không phổ biến bằng cung tên. Hoa văn trống đồng cho ta một gợi ý để xem xét vị trí của lao trong thực tế chiến đấu. Người cầm lao có cánh trên trống Ngọc Lũ có một điểm đáng chú ý là không chỉ cầm một thứ vũ khí là lao ở tay phải mà tay trái còn cầm thêm một cây giáo có cán dài. Phải chăng như thế có thể hiểu, lao sẽ là vũ khí được sử dụng trước (cầm ở tay phải, trong tư thế mũi lao hướng lên trên có thể ném đi ngay) sau khi đã ném lao đi rồi thì chiến binh sẽ chiến đấu bằng giáo ở tầm gần.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv8.jpg?t=1228750134)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:31:38 PM


VŨ KHÍ ĐÁNH GẦN

So với vũ khí đánh xa, vũ khí đánh gần phong phú hơn hẳn về số lượng, chủng loại; bao gồm giáo, dao găm, kiếm, qua, rìu chiến, dao chiến.

1. Giáo.

Cũng như mũi tên nhọn, lịch sử của ngọn giáo thời Hùng Vương- An Dương Vương được bắt đầu từ giáo đá Phùng Nguyên. Giáo đá ở giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương này còn rất hiếm. Trong số sáu địa điểm được chọn làm thống kê, có hai địa điểm tìm thấy giáo đá là Phùng Nguyên và Lũng Hòa. . . Cả năm mũi giáo phát hiện được trong hai địa điểm này đều bị gẫy, không chiếc nào nguyên vẹn, nhưng cũng có thể phục dựng được hình dáng cư bản.

Có thể có hai kiểu khác nhau chút ít. Kiểu thứ nhất có dạng hình ngòi bút máy, phần phình rộng nhất trên thân nằm ở vị trí khoảng 1/3 chiều dài chung tính từ đầu mũi xuống, từ đây hai cạnh rìa được mài vát mạnh tạo thành phần mũi nhọn. Cũng từ đây, hai cạnh bên được mài vát nhẹ xuống dần đến đáy giáo, tạo ra phần chuôi. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi chạy dọc suốt từ mũi đến hết chuôi, tạo mặt cắt ngang hình thoi.
 
Đa số mảnh giáo phát hiện được thuộc kiểu giáo thứ hai, giáo có phần thân dài, hai cạnh bên gần như song song nhau, chỉ đến gần mũi mới thu nhỏ mài vát tạo thành mũi nhọn tù. Thân giáo ở giữa dày, mài dần ra hai rìa cạnh, tạo mặt cắt ngang thân hình thoi.  Phần chuôi giáo bị gẫy cả nên không biết hình dạng ra sao.  Kích thước giáo cũng không đo chính xác được. Đa số chúng có chiều rộng bản lưỡi trên dướị_3 cm, có chiếc phần mũi còn lại đo được chiều dài là 7 cm. Phần lớn được làm từ loại đá xanh đen hạt mịn, cứng, loại đá thường dùng làm công cụ lao động, toàn thân được mài nhẵn. (Bản vẽ 8, h.4, 5).

Dòng giáo đá không được tiếp tục phát triển ở các giai đoạn tiếp sau. Trong số sáu địa điểm thuộc giai đoạn Đồng Đậu Gò Mun chọn làm thống kê, chỉ có địa điểm Đồng Đậu tìm thấy hai chiếc giáo đá có hình dáng tương tự như giáo đá Phùng Nguyên. Còn đến giai đoạn Đông Sơn thì giáo đá mất hẳn.

Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, đặc biệt ở giai đoạn Đồng Đậu , tại di tích khảo cổ Đồng Đậu (Vĩnh Phúc), có hiện tượng đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của vũ khí xương, nhưng không tìm thấy những mũi giáo trong số đó. Thế nhưng. do một sự may mắn tình cờ, trong một địa điểm thuộc văn hóa Gò Mun lại phát hiện được hai mũi giáo gỗ. Cả hai đều không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn còn nhận dạng được.  Chúng thuộc loại giáo có thân lưỡi hình tam giác cân, mũi kéo dài, nở dần về phía đáy thân, hai cánh giáo lượn cong (giáo hình búp đa), thu nhỏ dần về phía dưới tạo thành phần chuôi liền thon nhỏ. Mặt cắt thân hình bầu dục dẹt. Chiều dài còn lại của giáo đo được khoảng 10 cm, chiều dài chuôi chiếm khoảng gần 1/3 chiều dài chung. Mũi giáo này cũng cần được lắp vào cán có đoạn cổ hình ống như ống tre. Phát hiện này khẳng định thêm vai trò của tre, gỗ trong đời sống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên.

Giáo bằng đồng ở thời Đồng Đậu - Gò Mun còn khá hiếm.  Trong sáu địa điểm được chọn làm thống kê, mới phát hiện được tám chiếc hầu hết đã bị gẫy, chỉ còn lại một phần thân, chuôi. Vì vậy không phân loại được đầy đủ. Dựa vào những mảnh còn lại, có thể phân thành hai loại chính - loại có họng tra cán và loại có chuôi tra cán.

Loại có họng tra cán có thể lấy những chiếc giáo còn tương đối đầy đủ các bộ phận, phát hiện được ở địa điểm Gò Mun (Phú Thọ) làm tiêu biểu. Thân giáo hình tam giác dài, bản lưỡi khá rộng, chỗ phình rộng nhất tính từ miệng họnglên, chiếm khoảng 1/3 chiều dài chung. Sự chuyển tiếp từ điểm phình rộng nhất xuống đầu họng không thật gầy gọn như sẽ thấy ở giáo Đông Sơn. Họng ngắn, chiều dài họng chiếm khoảng hơn 1/4 chiều dài chung, mặt cắt ngang họng hình bầu dục gần tròn. Nhìn chung thân giáo có hình tương tự búp đa nên các nhà nghiên cứu gọi loại giáo này là giáo búp đa. Kích thước: dài chung khoảng từ 18 cm - 22 cm, rộng nhất trên thân trên dưới 5 cm, riêng họng dài khoảng 5 cm - 6 cm, rộng khoảng 2 cm (Bản vẽ 9, h.1, 2). Đa số các mảnh giáo phát hiện được ở các địa điểm cùng giai đoạn có thể xếp vào loại giáo có họng này.

Loại giáo có chuôi tra cán có số lượng ít hơn và không còn chiếc nào nguyên vẹn. Từ một vài mảnh gầy có thể nhận biết được phần lưỡi giáo hình lá, mặt cắt ngang hình thoi dẹt, chuôi giáo nhỏ, đặc, mặt cắt ngang hình tròn hay nửa hình tròn. Kích thước nhỏ, chiều dài chung không rõ - chiều rộng thân (phía gần mũi) chỉ khoảng 1,5 cm, chiều dày sống thân 0,5 cm.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:36:56 PM


Đến giai đoạn Đông Sơn, giáo thực sự bước vào thời kỳ phát triển bùng nổ. Từ vài chiếc ở giai đoạn Đồng Đậu – Gò Mun, lên đến hàng trăm chiếc ở giai đoạn Đông Sơn . Từ một hai kiểu loại đơn điệu thời Đồng Đậu - Gò Mun, phát triển thành năm, mười kiểu loại giáo thời Đông Sơn. Từ vị trí thứ yếu trong giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, giáo trở thành vũ khí chủ đạo trong giai đoạn Đông Sơn. Giáo trở thành loại di vật tìm thấy nhiều nhất trong phần lớn các di tích văn hóa Đông Sơn điển hình. Tại địa điểm Đông Sơn (Thanh Hóa), riêng cuộc khai quật năm 1969-1970 đã tìm thấy 32 chiếc, còn tính sơ bộ các cuộc khai quật trước đó cũng đã thu thập được trên 60 chiếc. Tại địa điểm Thiệu Dương (Thanh Hóa), riêng cuộc khai quật năm 1960 đã thu được 75 chiếc, chiếm đến 57% tổng số vũ khí đồng thau tìm thấy trong đợt khai quật này.

Cuộc khai quật năm 1977 tại Làng Cả (Phú Thọ) thu được 62 giáo, chiếm 62% tổng số vũ khí của cả cuộc khai quật. Tỷ lệ trên dưới 50% trên tổng số vũ khí của giáo là tỷ lệ thường gặp ở các cuộc khai quật các di tích Đông Sơn, có lẽ chỉ trừ địa điểm Làng Vạc ở lưu vực sông Cả. Ở di chỉ này, trong cuộc khai quật năm 1980, giáo chỉ phát hiện được bốn chiếc, chiếm gần 6% tổng số vũ khí thu được.
Cũng như cách phân loại mũi tên, mũi lao, căn cứ vào phương thức tra cán có thể phân chia giáo Đông Sơn thành hai nhóm - nhóm giáo có họng tra cán và nhóm giáo có chuôi tra cán. Trong mỗi nhóm, dựa vào hình dạng thân, chuôi họng hay một vài nét đặc Trưng để phân chúng thành các loại kiểu, phụ kiểu khác nhau.

Nhóm giáo có họng tra cán chiếm ưu thế áp đảo so với nhóm giáo có chuôi tra cán. Tuyệt đại đa số giáo Đông Sơn thuộc nhóm này. Có thể phân chúng thành bơn kiểu cơ bản. Loại giáo lưỡi hình tam giác có đặc điểm chung là có phần thân hình tam giác cân dài, hai cạnh bên thường thẳng hay hơi cong. Giữa thân ở cả hai mặt giáo có đường sống nổi, có khi nổi thành gờ, chạy dọc từ đầu mũi đến đầu họng, tạo cho mặt cắt ngang hình thoi dẹt. Cánh giáo thường có hai hoặc bốn lỗ hình chừ nhật nhỏ nằm đối xứng từng đôi qua sống thân. Họng giáo hình ống tròn, miệng hơi nở rộng, mặt cắt ngang hình tròn. Có kiểu giáo lưỡi hình tam giác họng dài, chiều dài họng chiếm trên 1/3 đến gần 1/2 chiều dài chung. Kiểu giáo họng dài này đặc biệt phổ biến ở lưu vực sông Mã. Trong khi đó kiểu giáo lưỡi tam giác họng ngắn, 1 chiều dài họng chiếm dưới 1/3 chiều dài chung, lại phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Hồng.

Kích thước phổ biến thường gặp của giáo họng dài biến thiên trong khoảng khá rộng: chiều dài chung từ 21 cm -30 cm, cánh rộng từ 4 cm-6 cm, họng dài 7 cm- 10 cm, họng rộng trên dưới 2 cm (Bản vẽ 9, h.3).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv9.jpg?t=1228750505)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:44:07 PM
Kiểu giáo lưỡi tam giác họng ngắn thường có kích thước nhỏ hơn kiểu trên và ở cánh thường không có lỗ (Bản vẽ 10 h. 1).

Loại giáo rìa lưỡi lượn. Thuộc vào loại này là những chiếc giáo có phần rìa lưỡi cong võng vào ở phần sát đáy lưỡi, tạo nên hai cánh xòe rộng. Hai rìa cạnh đáy lưỡi đoạn nối từ đầu cánh vào đầu họng cong lõm. Đầu cánh nhô ra như hai mấu nhọn. Cánh có thể có cặp lỗ rãnh đối nhau qua trục thân, có thể không có lỗ rãnh. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi, tạo cho mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt.  Họng hình trụ tròn, miệng họng hơi loe. Có kiểu giáo rìa lưỡi lượn họng dài, chiều dài họng chiếm gần 1/3 chiều dài chung, tập trung chủ yếu ở lưu vực sông Mã tuy số lượng không nhiều. Có kiểu giáo rìa lưỡi lượn họng ngắn, chiều dài họng chiếm chưa tới 1/4 chiều dài chung, phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Hồng (Bản vẽ 9, h.4, Bản vẽ 10, h.3).

Loại giáo lưỡi hình lá gồm những chiếc giáo có lưỡi cơ bản cũng là hình tam giác cân, nhưng các góc tam giác lượn cong. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi, tạo mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt. Hai cánh có lỗ nằm đối xứng qua sống thân. Có chiếc không có lỗ cánh. Họng thường dài, mặt cắt ngang họng hình tròn, miệng họng hơi loe rộng hơn bên trên. Phần lớn loại giáo này tập trung ở lưu vực sông Mã, ở các vùng khác ít gặp.

Kích thước trung bình của chúng như sau: dài chung khoảng 21 cm, cánh rộng 4 cm, họng dài trên 8 cm, đường kính họng xấp xỉ 2 cm (Bản vẽ 10, h.5).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv10.jpg?t=1229092901)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:50:14 PM


Trong khi ở lưu vực sông Mã phổ biến rộng rãi loại lao hình lá kể trên thì ở lưu vực sông Hồng, đặc biệt là ở vùng núi lại có mặt tương đối phổ biến một dạng giáo lưỡi hình lá có những đặc điểm khác. Theo hình dạng có thể xác định rằng chúng được bắt nguồn từ loại giáo búp đa ở Gò Mun, giáo búp măng kiểu Yên Hưng (Yên Bái). Tuy cho đến nay mới phát hiện được chín chiếc, nhưng tính đa dạng của chúng thể hiện rất rõ. Chúng chỉ có chung đặc điểm là có góc đáy thân lượn cong, hai cánh không nhô rõ ngoài đặc điểm chung cho mọi loại giáo là có sống nổi dọc giữa thân, mặt cắt ngang hình thoi dẹt, còn hình dáng chung của bản lưỡi không hoàn toàn giống nhau.

Có tới bốn kiểu thân hình lá khác nhau. Có kiểu thân tương đối mập, họng hình ống, mặt cắt ngang hình tròn; có kiểu bản lưỡi hẹp, đầu mũi nhỏ, dài, họng ngắn, mặt cắt ngang hình thoi; có kiểu thân như hình chiếc ngòi bút, họng ngắn, miệng họng hơi loe, mặt cắt ngang hình bầu dục; có kiểu bản lưỡi hẹp đều từ sát họng lên gần đầu mũi hai rìa cạnh mới thu xiên vào tạo thành mũi nhọn, chuôi ngắn, chiếm 1/4 chiều dài chung, hình ống nhỏ, mặt cắt ngang hình tròn (Bản vẽ 6, h.5, Bản vẽ 10, h.2, 4).

Kích thước loại giáo này rất Khác nhau. Chiếc ngắn nhất, dài 21 cm, chỗ rộng nhất trên thân đến 6 cm, họng dài 4,5 cm, đường kính họng 3,3 cm. Chiếc dài nhất dài 30,2 cm, chỗ rộng nhất trên thân 4 cm, họng dài 5,5 cm, mặt cắt họng hình thoi các cạnh là 2,5 cm x 1,4 cm.

Loại giáo lưỡi hình lá họng xẻ đuôi cá. Đặc điểm nổi bật nhất của loại giáo này là có phần họng dài, miệng họng xẻ hình đuôi cá. Thân giáo tương đối ngắn, chiếm khoảng 1/2 chiều dài chung, các góc đáy và mũi lượn cong, mặt cắt ngang thân hình thoi. Họng hình ống, mặt cắt ngang hình bầu dục.

Cho đến nay mới tìm thấy tám chiếc loại này và đều phân bố ở vùng lưu vực sông Hồng. Kích thước trung bình của cácctiáo này như sau: dài chung 18,5 cm, cánh rộng 3,6cm, họng dài 7 cm, miệng họng 2 cm x l cm (Bản vẽ 11, h.3).

Nhóm giáo có chuôi tra cán hình dáng thân, chuôi phân biệt hẳn với các loại giáo có họng giới thiệu ở trên. Chúng có phần thân hẹp, dài, hai cạnh bên chạy gần như song song nhau phần lớn chiều dài thân, chỉ đến gần mũi mới thu lại tạo mũi nhọn và dưới đáy hài cạnh bên chạy vát vào thân chuôi. Giữa thân, ở hai bên mặt có đường sống to nổi rõ chạy từ đầu mũi đến chuôi. Thân giáo giống như hình lá mía.  Phần phình rộng trên thân rất mờ nhạt và có đến hai chỗ hơi phình ra: một chỗ ở gần phía mũi (cách đầu mũi khoảng 1/3 chiều dài chung), một chỗ ở phần thân chuyển xuống chuôi.  Mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt. Chuôi giáo ngắn, đặc, mặt cắt ngang hình vuông hoặc bầu dục, chiều dài chuôi bằng khoảng 1/5 đến 1/7 chiều dài chung. Thân giáo có một hoặc hai lỗ cánh hình chừ nhật dài.

Kích thước của giáo đo được: dài chung tử 15 cm - 38,5 cm, thân rộng từ 4 cm - 5,8 cm, chuôi dài từ 3 cm - 6 em, rộng khoảng 1,2 cm -1,5 cm (Bản vẽ 11, h.1).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng13.jpg?t=1229093320)

Trong văn hóa Đông Sơn đã xuất hiện giáo sắt, tuy số lượng còn rất hạn chế. Cho đến nay mới tìm thấy 12 chiếc, phân bổ rải rác ở cả ba lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả, như ở Vinh Quang, Mả Tre (lưu vực sông Hồng) Đông Sơn, Mả Chùa, Bản Tê... (lưu vực sông Mã), Đồng Mỏm (lưu vực sông Cả) . . .

Loại hình giáo sắt tương tự như giáo đồng thuộc loại có họng tra cán. Có thể lấy chiếc giáo sắt tìm thấy ở Đông Sơn làm ví dụ. Lưỡi giáo hình tam giác cân dài, hẹp, độ- xiên của hai cạnh bên ít làm cho bản lưỡi gần như rộng bằng nhau từ đáy lên đến gần đầu mũi. Mũi vát nhọn đột ngột, sống giữa thân không rõ (có thể do giáo bị rỉ sù sì, không quan sát được). Chuôi đúc liền thân, hình trụ rỗng, nở rộng về phía miệng họng. Họng chỉ ăn sâu đến hết phần chuôi cán giáo.

Toàn giáo dài 19,5 cm, họng dài 7,5 cm, thân rộng 2,8 cm, đường kính họng 1,2 cm bản vẽ 11, li.4). Riêng chiếc giáo sưu tầm được ở Cương Hà được làm bằng kim loại đồng-sắt tiếp hợp: chuôi đồng, lưỡi sắt, toàn thân dài 22 cm, đường kính họng chuôi xấp xỉ 1 cm.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:52:50 PM


Có thể nói, giáo là loại vũ khí được người thời đại Hùng Vương - An Dương Vương sử dụng nhiều hơn cả. Điều này không chỉ được chứng minh bằng những số hếu đã phân tích ở trên, mà còn được chứng mình qua việc quan sát hoa văn trang trí trên trống, thạp đồng. Trong số những chiến binh - những người cầm vũ khí thể hiện trên các trống, thạp có niên đại sớm, số chiến binh cầm giáo là thường gặp hơn cả. Trên mặt trống Ngọc Lũ, trong hai nhóm người đi thành hàng chỉ có một người chắc chắn cầm vũ khí thì đó là cây giáo, cán dài có trang trí tua hoặc lông chim. Trên các thuyền khắc họa trên tang trống Ngọc Lũ, mỗi thuyền có ba, bốn người cầm vũ khí thì thường thấy hai người cầm giáo, những người kia chia.. nhau người cầm cung, người cầm rìu.
 
Trên mặt trống Cổ Loa I, trong mỗi nhóm người đi thành hàng, có hai người cầm vũ khí đi đầu thì cả hai đều cầm giáo. Trên mặt trống Hoàng Hạ, trong nhóm sáu người đi thành hàng, có bốn người cầm vũ khí thì cả bốn đều cầm giáo. Những chiếc giáo này có cán hơi ngắn nên có người gọi là lao.

Nhưng nếu ta chấp nhận quy ước thể hiện những hình tượng nhất định thường là nhất quán trong phạm vi một truyền thống, một thời đại, thì có thể nói, trong trường hợp này người Đông Sơn thể hiện chiếc giáo chứ không phải lao. Bởi vì, ở những chỗ khác, vũ khí chắc chắn là giáo (có cán dài) luôn được cầm trong tay trái mũi chúc xuống. Đôi chỗ chiến binh được trang bị hai thứ vũ khí là lao và giáo thì giáo được cầm ở tay trái, lao nắm trong tay phải. Những người trên trống Hoàng Hạ đều cầm vũ khí bằng tay trái trong tư thế mũi chúc xuống nên có thể xác định rằng họ đang cầm giáo. Những hình ảnh chiến binh cầm giáo có thể kể ra nhiều nữa. Tiếng rằng nhiều phần hoa văn trên các trống, thạp đã bị mất hay mờ quá nên việt thống kê, phân loại vũ khí trong tay các chiến binh được in hình trên đó chưa làm được đầy đủ.

Hình ảnh trên trống đồng cũng cung cấp thêm tài liệu khẳng định ưu thế của loại giáo có lưỡi hình tam giác cân.  Đại đa số các mũi giáo được khắc họa cùng một kiểu lưỡi hình tam giác cân, mũi nhọn, có họng tra cán (Bản vẽ 7, h.7, 8).

Cán giáo dài và được trang trí thống nhất kiểu tua. Giáo thường dài hơn chiều cao người lính cầm nó, có khi hơn đến 1,5 lần. Hiện tượng sử dụng cán giáo dài và có trang trí như thế được chứng thực bằng tài liệu thu được từ mộ thuyền Việt Khê. Trong mộ này đã tìm thấy tám chiếc giáo còn cả cán bằng gỗ. Đây là một trường hợp hãn hữu, rất ít khi gặpđược. Đa số cán giáo đã bị gậy hỏng, chỉ còn hai chiếc cán tương đối tốt có thể nghiên cứu được. Hai chiếc còn nguyên chiều dài đo được là 2,37m và 2,35m. Cả hai cán đã bị khô tóp lại, đường kính còn đo được như sau: chỗ nhỏ nhất là 0,9 cm và 0 8 cm, chỗ rộng nhất là 1,55 cm và 1,45cm. Phần đầu tra vào họng lưỡi được gọt vát nhọn dài 10 cm. Toàn cán giáo được sơn bóng mầu vàng đen, trang trí bằng những đường vòng tròn cách đều nhau, chia cắt thành những đốt như đốt trúc. Ở gần chỗ tra lưỡi có những vệt vòng tròn xít nhau, có thể là dấu vết của dây mây buộc cán cho chắc. Cán giáo được làm từ loại cây có thớ dọc, dẻo dai như loại cây mây hay song.  Chức năng tấn công ở tầm gần với động tác cơ bản là đâm của giáo được biểu thị sống động trên hoa văn trang trí trống, thạp Đông Sơn. Hầu như trên chiếc thuyền nào của những trống có niên đại sớm như trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, cũng có cảnh hành hình tù binh, cá biệt có thuyền có hai cảnh hành hình như thế. Tù binh dường như lõa thể, ngồi bệt trên sàn thuyền, hai tay bị trói ra sau. Đầu hoặc vai của họ bị đâm bằng một ngọn giáo lớn đang được nắm chắc trong tay chiến binh vừa chiến thắng.

Cấu tạo hai bộ phận - phần mũi kim loại sắc bén, dễ xuyên thủng, và phần cán dài bằng gỗ làm tăng sức nặng và lực tác dụng cho mũi giáo, là cấu tạo hợp lý. Cũng là hợp lý khi người Đông Sơn đã chọn loại giáo có họng tra cán làm loại hình giáo chủ đạo. Nhờ phần họng thường ăn sâu lên thân, có khi ăn đến gần đầu mũi và có hình chóp, miệng họng hơi loe, càng lên trên càng thu hẹp lại, làm cho cán giáo tra vào phần mũi giáo được chắc chắn hơn và chính phần mũi kim loại cũng trở nên cứng hơn do có thêm lõi của đoạn đầu cán tra vào.

Loại giáo có chuôi tra cán rõ ràng không có được những ưu thế này. Và đương nhiên nó không được chú ý phát triển nữa. Trước khi chuyển sang một loại vũ khí đánh gần khác, xin dừng lại để giới thiệu một loại vũ khí có nhiều nét tương tự giáo, lao. Đó là đinh ba. Cho tới nay mới phát hiện được một chiếc duy nhất ở khu mộ táng Gò De (Phú Thọ). Đinh ba còn gần như nguyên vẹn, hình dáng rất chỉnh, gồm: phần họng tra cán hình nón cụt, cạnh đáy 2,2 cm, cạnh trên 1,4cm, cao 4cm, mặt cắt ngang họng hình tròn; phần thân chia thành ba nhánh thẳng chĩa lên trên, hai nhánh bên hợp thành chữ U, đầu mũi nhọn eo ngạnh nhỏ ở mặt trong, nhánh giữa có phần đầu mũi hình mũi tên cân đối. Ba nhánh có kích thước tương tự nhau, dài (tính từ đầu họng) 13,8 cm, mặt cắt ngang hình bầu dục, chiều rộng 2 cm (ở phần đáy chữ U) (Bản vẽ 11, h.2).



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:58:52 PM


Đinh ba có thể sử dụng để ném như lao hoặc đâm như giáo.  các giai đoạn phát triển trước chưa thấy xuất hiện một kiểu đinh ba kim loại nào, trong nhóm vũ khí bằng đá, bằng xương cũng hoàn toàn không gặp. Phải chăng có thể tìm thấy một chút gợi ý trong loại hình lao có ngạnh bằng xương, bằng đồng ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun đối với sự ra đời của chiếc đinh ba Đông Sơn này? Điều rõ ràng là người Đông Sơn không có sở trường dùng đinh ba.

Sự quá hiếm hoi cũng như sự hoàn chỉnh và đẹp đẽ của nó khiến chúng ta có thể nghi ngờ về nguồn gốc bản địa của loại vũ khí này. Tuy nhiên, đinh ba lại được trang trí hoa văn phong cách Đông Sơn (vòng tròn đồng tâm và vạch răng lược), điều đó chứng tỏ vũ khí này dù sao cũng được “Đông Sơn hoá” phần nào rồi.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv11.jpg?t=1229093776)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:45 PM


2. Rìu chiến

Rìu trước hết là công cụ lao động, nhưng không phải chỉ  có vậy rìu còn thường được dùng làm vũ khí. Tuy nhiên, ở đây không giới thiệu toàn bộ các loại rìu đã được cơ dân Hùng Vương - An Dương Vương chế tạo và sử dụng trong suốt gần 2000 năm dựng nước và giữ nước. Phải khẳng định rằng phần lớn các loại rìu là công cụ sản xuất, không chỉ được dùng làm vũ khí trong những trường hợp bất thường.  Nhưng bên cạnh đó cũng có một vài loại rìu mà xét về hình dáng, kích thước có thể thấy, ngoài mục đích công cụ, chúng còn được chế tạo làm vũ khí. Hơn nữa, trong số đó còn có loại rìu được làm trước hết để phục vụ chiến đấu, dùng làm vũ khí mà thường được gọi là rìu chiến.

Ngoài những loại rìu chiến với số lượng không nhiều chắc chắn được đưa vào bộ sưu tập vũ khí Hùng Vương - An Dương Vương, còn có thể đưa vào đây cả nhóm rìu hình lưỡi xéo loại di vật được coi là loại vũ khí độc đáo nhất thời đại này. Sự sắp xếp này trước hết nhờ vào sự có mặt phổ biến của những chiến binh được vũ trang bằng những chiến rìu xéo các kiểu khắc họa trên các trống, thạp Đông Sơn. Giáo và rìu xéo là những loại vũ khí gặp nhiều nhất trong hoa văn trang trí trên trống, thạp Đông Sơn có niên đại sớm.

Rìu chiến chỉ ra đời vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn, còn rìu xéo đã xuất hiện từ trước đó, vào giai đoạn văn hóa Gò Mun, nếu như ta không tính đến chiếc rìu đá lưỡi lệch, có thể xem là tiền thân của dòng rìu xéo, phát hiện được ở di chỉ Đoan Thương có niên đại tương đương Phùng Nguyên.  Rìu xéo Gò Mun mới chỉ tìm thấy một chiếc nguyên vẹn ở chính địa điểm Gò Mun (Phú Thọ). Thoạt nhìn nó giống như một chiếc rìu xéo cân, bị gậy mất một bên mũi. Mũi rìu hơi chúc và kéo dài hơn mũi rìu bình thường. Gót hơi lượn tròn.

Chuôi họng và thân lưỡi rìu không phân biệt rõ, rìa lưỡi ít cong. Rìu có quy mô nhỏ: cao (tính từ miệng họng đến rìa lưỡi giữa thân) 7,5 cm, rộng miệng họng 3,7 cm, lỗ họng ăn sâu 4,8 cm, dài . họng 1,8 cm. (Bản vẽ 12, h.I). Ngoài ra, ở các di tích thuộc văn hóa Gò Mun còn gặp những mảnh mũi rìu, trong đó có những mũi kéo dài - kiểu mũi của rìu xéo. Như vậy rìu xéo trong văn hóa Gò Mun còn hiếm, nhưng không phải là hiện tượng cá biệt. Điều này giải thích hiện tượng phát triển đột biến của loại công cụ - vũ khí rìu xéo ở giai đoạn Đông Sơn. Đây là một đặc trưng độc đáo, riêng có của văn hóa Đông Sơn.

Cho đến nay, trong bộ di vật đồng Đông Sơn đã có tới hàng trăm chiếc rìu xéo. Căn cứ vào hình dạng gót, thân, mũi, rìa lưỡi, có thể phân chia thành các loại, kiểu khác nhau.

Loại rìu xéo gót vuông có đặc trưng nổi bật, như tên gọi, là gót lưỡi vuông. Bản lưỡi nhìn chung có dáng hình thang vuông, cạnh đáy thẳng hay hơi cong, cạnh bên phía gót thẳng tạo với cạnh đáy một góc vuông, cạnh bên phía mũi thẳng xiên theo chiều từ trái sang phải, cạnh trên nối từ đầu mũi đến chân họng cong lõm tạo cho mũi rìu cong hất lên. Họng thẳng, vai xuôi, bản lưỡi rộng, làm cho rìu eo dáng như một chiếc hia. Mặt cắt ngang họng hình lục giác đều, họng ăn sâu đến quá 1/2 chiều cao bản lưỡi (Bản vẽ 12, h.2, bản vẽ 13, h.3, 5).

Kích thước trung bình đo được từ một số chiếc rìu gót vuông như sau: dài 8,2 cm, rộng lưỡi 9 cm, dài họng 2,8 cm, lỗ họng 2,8 cm x 1,2 cm. Những chiếc vào loại lớn nhất như chiếc rìu ở Làng Cả có chiều dài 12cm, rộng lưỡi 15,7cm, họng cao 3,8 cm.

Một số chiếc rìu gót vuông được trang trì hoa văn thường là cảnh chó đón đầu hưu, người và thuyền kết hợp với hoa văn Ô trám lồng hay hình hồi văn (Bản vẽ 12, h.7).




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:03:40 PM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv12.jpg?t=1229094084)
Loại rìu xéo hình bàn chân có thể coi là loại hình trung gian giữa gót vuông và gót tròn, nhưng vẫn nghiêng nhiều hơn về phía gót vuông và thấp. Có kiểu bản lưỡi dài giống như hình bàn chân, có kiểu bản lưỡi ngắn trông giống như hình chiếc ủng ngắn mũi (Bản vẽ 12, h.4, 6).
Số đo trung bình của một số chiếc như sau: lưỡi rộng 9,5 cm, cao 8,4 cm, riêng họng dài 3,4 cm, kích thước lỗ họng 3,8cm x I,6cm. Kiểu rìu hình bàn chân thân ngắn có quy mô nhỏ hơn. Số đo trung bình như sau: rộng 7,4 cm, dài (cả họng) 7,0 cm, riêng họng dài 2,9 cm, rộng 3,3 cm.

Loại rìu xéo gót tròn là loại rìu xéo tìm thấy nhiều nhất. Chúng tập trung đậm đặc nhất trong một số địa điểm Đông Sơn điển hình ở vùng sông Mã. Riêng tại địa điểm Thiệu Dương và Đông Sơn đã phát hiện được tới 176 chiếc trong tổng số 208 chiếc của cả lưu vực sông Mã. Ở lưu vực sông Hồng cũng tìm được khá nhiều. Theo thống kê chưa đầy đủ thì số lượng loại rìu này đã lên tới 259 chiếc (Bản vẽ 13, h. 1, 4).  Nhưng nhiều chiếc có kích thước nhỏ (dài chung dưới 5 cm, lưỡi rộng dưới 6 cm) có thể coi là rìu minh khí, không có tác dụng thực tế như một thứ công cụ hay vũ khí (Bản vẽ 13, h .2). Mặt khác, trong số rìu loại này, lại có một số chiếc lớn, có hoa văn trang trí đẹp.

Nhiều khả năng chúng được dùng như vũ khí hoặc dùng trong nghi lễ, hoặc có tư cách như một thứ quyền trượng (Bản vẽ 14, h.1, 2).




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:06:10 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv13.jpg?t=1229094262)
Loại rìu xéo gót nhọn xếp hàng thứ hai về số lượng, sau rìu xéo gót tròn. Chúng tập trung ở lưu vực sông Hồng là chủ yếu Đặc điểm chung là gót nhọn, nhưng không phải đều nhọn giống nhau. Có kiểu nhọn tù, có kiểu gót nhọn mũi tù, có kiểu cả gót và mũi đều nhọn (bản vẽ 12, h.3, 5).

Phần lớn những chiếc rìu loại này có kích thước trung bình nhỏ. Số đo trung bình của trên 80 chiếc như sau: dài chung 5,5 cm - 5,8 cm, rộng lưỡi 5,9 cm-6 cm, dài họng 2 cm-2,7 cm, rộng họng 3,1 cm - 3,3 cm. Những chiếc rìu có kích thước nhỏ như thế này khó thực hiện được chức năng chặt, bổ. Có lẽ chúng được dùng chủ yếu trong các thao tác đẽo gọt, chẻ tách gia công đồ tre, nứa, gỗ.
 
Tuy nhiên, khi được tra cán kiểu cán kép, gồm cả chuôi gỗ lẫn cán gỗ, thì lực của rìu sẽ được tăng lên, đáng kể và cũng không loại trừ nó cũng được dùng để chặt bổ trong sản xuất và cả trong chiến đấu khi cần.  Loại rìu chiến có hình dáng đặc biệt. Thuộc loại này là những chiếc rìu có hình dạng không bình thường, kích thước của chúng thường lớn, dùng làm vũ khí thích hợp hơn dùng làm công cụ. Có thể nhắc tới hai kiểu dáng khác nhau: kiểu rìu chiến lưỡi xòe cân và kiểu rìu chiến lưỡi xéo.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:25 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv14.jpg?t=1229094516)
Rìu chiến lưỡi xòe cân khá đa dạng. Chiếc tìm thấy ở Đào Thịnh được coi là tiêu biểu nhất cho kiểu rìu chiến hình khánh. Lưỡi rìu rất rộng (gấp gần năm lần chiều rộng họng), rìa lưỡi cong võng xuống, hai vai cong lõm, kéo dài cân đối, hai đầu cánh cong lõm vào. Họng rìu thẳng, tương đối dài, mặt cắt ngang hình gần bầu dục. Kích thước như sau: dài toàn rìu 14 cm, rộng lưỡi 19,5 cm, dài họng 6 cm, rộng họng 4 cm, họng chỉ ăn sâu đến ngang vai. Ở Xuân An cũng tìm thấy một hiếm có hình gần giống như thế, nhưng cỡ nhỏ hơn nhiều và trên lưỡi có trổ lỗ chốt hãm. Một kiểu hình khánh khác gặp ở chiếc rìu Yên Hưng (Yên Bái). Rìu có rìa lưỡi cong tròn đều không võng giữa như rìu Đào Thịnh, hai vai xuôi, đầu cánh nhọn tù, họng có chốt hãm, mặt cắt ngang hình lục giác chuyển sang hình chữ nhật. Kích thước rìu tương đối nhỏ: dài chung (đã bị gậy một đoạn họng) 7,2 cm, rộng lưỡi 9,4 cm, rộng họng 2,7 cm. Những rìu chiến lưỡi cân xứng tương tự còn tìm thấy ở một số nơi khác như Việt Tiến (Phú Thọ), Hà Đông. . . (Bản vẽ 15 , h. 1, 2) .

Rìu chiến lưỡi xéo mới phát hiện được vài chiếc. Có hai kiểu khác nhau. Chiếc rìu tìm thấy ngẫu nhiên ở bờ sông Đáy - Hà Đông là điển hình của rìu chiến lưỡi xéo, gót nhọn kéo dài hớt lên, mũi hớt. Rìa lưỡi cong, cung lưỡi rất dài. Hai vai rìu cong lõm. Họng đứng, mặt cắt ngang hình lục giác bẹt. Giữa thân có chốt hãm. ở chuôi có trang trí hoa văn vạch. Kích thước: dài chung 17,5 cm, rộng lưỡi 27 cm, dài họng 8 cm, rộng họng 5,8 cm (Bản vẽ 15, h.3).




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:13:53 PM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv15.jpg?t=1229094770)
Chiếc rìu Việt Khê là đại diện cho kiểu rìu chiến lưỡi xéo thứ hai. Rìu có hình khá lạ. Gót rìu tròn, thấp, lưỡi kéo dài, mũi hất ngược lên. Họng rìu bị gậy gần hết nên không hoàn toàn biết rõ hình dáng và kích thước phần họng. Phần họng còn lại cho thấy họng rìu hơi ngả ra phía gót, mặt cắt ngang hình bầu dục. Gần chỗ tiếp giáp giữa họng và thân lưỡi rìu có một vành đai hình bầu dục lồi ra hai phía trước - sau như hai cái mấu. Kích thước: dài chung còn lại) 6,8 cm, rộng lưỡi 15,2 cm, họng rộng 3 cm (Bản vẽ 13, h.6).

Ngoài hai chiếc vừa miêu tả ở trên, còn tìm thấy một vài chiếc kiểu tương tự ở Sơn Tây, ở Xuân An...

Dưới đây, là bảng thống kê phân loại sơ bộ các loại rìu lưỡi xéo và rìu chiến Đông Sơn, loại rìu có nhiều khả năng được dùng làm vũ khí nhất. Tất nhiên cũng cần nhắc lại rằng, không phải tất cả chúng đều được dùng làm vũ khí.  Những chiếc quá nhỏ có khi chỉ là đồ minh khí, làm mô phỏng những chiếc lớn để chôn theo người chết. Những chiếc nhỏ và trung bình chủ yếu được dùng làm công cụ lao động. Chỉ những chiếc lớn có khả năng bổ và chặt, chắc chắn mới là những rìu chiến.

Ở trên chúng ta mới nói đến phần lưỡi rìu mà chưa nói đến một chiếc rìu hoàn chỉnh gồm hai bộ phận không tách rời là lưỡi và cán. Toàn bộ rìu xéo Đông Sơn đều có họng tra án, lỗ họng bao giờ cũng có hình nêm ăn sâu hết chiều dài họng và một phần chiều cao thân lưỡi đảm bảo cho cán chắc chắn. Khá nhiều chiến rìu còn có chốt hãm để cán khỏi bị tụt khi sử dụng. Mặt cắt họng luôn có hình bầu dục hay lục giác bẹt, nghĩa là cán tra trực tiếp vào lưỡi rìu luôn dẹt chứ không tròn.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:20:48 PM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng14.jpg?t=1229095023)
Rìu xéo Đông Sơn được tra cán như thế nào? Hiện chưa tìm thấy một chiếc rìu cán nào trong các di tích Đông Sơn để có thể trả lời chính xác câu hỏi này. Nhưng bằng vào một số tài liệu gián tiếp cũng như những phân tích kỹ thuật, có thể tìm ra lời giải đáp.

Hình ảnh những chiến binh cầm rìu khắc họa trên trống Đông Sơn là một trong số những tài liệu đó. Trên các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Miếu Môn, Bản Thềm đều có những hình ảnh này. Những chiếc rìu trong tay họ được thể hiện khá thống nhất. Cán tương đối dài, lưỡi phần lớn thuộc nhóm rìu lưỡi xéo (trừ chiếc rìu trên trống Bản Thềm có lưỡi xòe cân hình khánh). Điều đáng quan tâm ở đây là ở đầu cán, bên trên họng lưỡi rìu thường, có một đoạn nhô cao, hình gần chữ nhật đứng, đầu trên vát, đôi khi có hình gần tam giác, đầu trên vát về hai phía tạo thành hình chữ V lồi. Chiều dàicủa những đoạn nhỏ này xấp xỉ chiều rộng lưỡi rìu. Rõ ràng đây không phải chi tiết trang trí như kiểu trang trí tua lông chim hay hình đầu chim thường thấy ở đầu cán giáo, lao.  Nhiều khả năng nó thể hiện phần nhô lên của chuôi tra trực tiếp vào họng lưỡi. Lưỡi rìu được tra cán cầm một cách gián tiếp thông qua cái chuôi này (Bản vẽ 25, h.2, 4).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv25.jpg?t=1229095202)




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:22:48 PM


Theo những phân tích về mặt kỹ thuật thì cách tra cán rìu gián tiếp này có nhiều ưu điểm và là cách tra cán tối ưu đối với những lưỡi rìu có họng tra cán dọc như những loại rìu đồng Đông Sơn. Bằng cách tra cán này, rìu có khả năng chịu lực lớn. Bởi vì lực tác động và phản lực đều nằm trên trục thẳng (lực trực đối), nên không bị tản ra xung quanh. Mặt khác, cũng nhờ vậy mà khi chịu lực lớn, lưỡi rìu không dễ bị phá vỡ, cán cầm không dễ gẫy và tay cầm ít bị giật nảy.  Chuôi tra trực tiếp vào họng lưỡi thường là bằng gỗ, cũng có thể bằng tre cật già. Một số chiếc rìu Đông Sơn được phát hiện còn có dấu vết của chuôi gỗ bên trong họng. Theo cách tra cán của rìu xéo Đông Sơn thì chuôi gỗ là phần chịu lực lớn. Đồng thời nhờ phần chuôi gỗ mà rìu được tra vào cán cầm dễ dàng, chặt chẽ hơn. Chuôi gỗ được xuyên qua lỗ mộng trổ trên đầu cán. Cách tra cán này không chỉ tạo được sức chịu lực lớn mà còn rất tiện lợi và cơ động cho các chiến binh: trên đường hành quân hoặc khi chưa dùng đến, họ có thể chưa tra cán cầm cho rìu mà bó chúng lại thành một bó gọn gàng. Khi vào trận, chiến binh chỉ việc xâu chuôi qua lỗ mộng cán rồi gõ cho chặt lại là đã có trong tay cây rìu chiến lợi hại. Sự gọn nhẹ của quân trang, quân dụng là một yếu tố góp phần nâng cao khả năng cơ động cho quân đội. Đối với quân đội thời Hùng Vương - An Dương Vương có lối đánh du kích là chủ yếu thì tiêu chuẩn gọn nhẹ này càng có ý nghĩa.

Khi bàn về cây rìu chiến Đông Sơn, các nhà nghiên cứu còn quan tâm phân tích chiều dài cán cầm. Muốn tạo được lực tác động lớn không chỉ cần sức nặng của rìu mà quan trọng hơn là tạo được động lượng lớn. Động lượng được tính theo công thức M=m.v; m là khối lượng vật tác động, ở đây là cả lưỡi và cán rìu; v là vận tốc quay. Một trong hai yếu tố tác động đến vận tốc quay v là chiều dài cánh tay đòn, ở đây là chiều dài cán rìu. Như vậy cán rìu dài sẽ làm tăng lực tác động của rìu.
 
Đối với rìu Đông Sơn thường có kích thước nhỏ, trọng lượng không lớn lắm, kể cả đã cộng thêm sức nặng của chuôi và cán, thì việc dùng cán dài là cần thiết. Như đã thấy trên các trống, thạp, cán rìu trong tay các chiến binh thường dài.  Rìu chiến là vũ khí đánh gần, thường được chiến binh sử dụng cùng với tấm mộc. Hình ảnh chiến binh tay phải cầm rìu vung ra sau, tay trái cầm mộc che trước mặt thường gặp trên trống, thạp. Vị trí chủ công của nó được thể hiện ở hình ảnh những chiến binh cầm rìu giơ ra trước mặt, ngồi đầu mũi các chiến thuyền khắc họa trên tang trống Đông Sơn. Cùng là vũ khí đánh gần nhưng so với giáo thì rìu chiến là vũ khí đánh gần hơn. Có lẽ vì vậy nó cần đến sự trợ giúp của tấm mộc che hơn. Phần lớn chiến binh cầm rìu có kèm theo cầm mộc (trừ trường hợp những người ngồi đầu mũi thuyền, hai tay nắm cây rìu đặt đứng trước mặt). Trong khi đó, người cầm giáo thường không thấy cầm mộc.

Nghiên cứu kỹ lưỡng cấu tạo lưỡi rìu và cách tra cán còn thấy được tính độc đáo, lợi hại của loại vũ khí này. Ở lưỡi rìu đáng chú ý là phần rìa lưỡi. Rìa lưỡi rìu xéo cơ bản là dài, hoặc rìu chiến hình khánh là rìu lưỡi cân, nhưng phần rìa lưỡi cũng được kéo dài đặc biệt, thường dài gấp đôi gấp ba chiều rộng họng. Rìa lưỡi được cấu tạo từ hai phần khác nhau: phần rìa lưỡi ở giữa, thẳng họng xuống, thường có tỷ số góc lưỡi lớn, tức rìa lưỡi tày, còn phần đầu mũi và phần gót thì góc lưỡi nhỏ, lưỡi sắc hơn rìa lưỡi ở giữa. Như thế, lưỡi rìu xéo có thể vừa thực hiện chức năng chặt, bổ (dùng phần rìa giữa lưỡi) vừa thực hiện chức năng cắt, chém. Một số chiếc rìu có phần mũi kéo dài và nhọn hoặc hất cong ngược lên có thể còn kiêm cả chức năng đâm, móc. Cách tra cán rìu cũng góp phần làm cho rìu xéo thực hiện được các chức năng khác nhau. Một số chiếc rìu khắc họa trên trống, thạp cho thấy góc hợp bởi chuôi và cán rìu nhỏ hơn 90 độ, nghĩa là phần rìa lưỡi ở phía mũi có thể được tác động như con dao lưỡi thẳng dùng để chém. Rõ ràng rìu chiến lưỡi xéo là loại vũ khí phổ biến, quan trọng và độc đáo của quân đội thời Hùng Vương - An Dương Vương.

3. Dao găm

Dao găm là loại vũ khí chiến đấu và tùy thân được cư dân Hùng Vương - An Dương Vương ưa chuộng. Đến nay đã sưu tập thống kê phân loại được 230 dao găm Đông Sơn phân bố khắp mọi địa bàn cơ trú của người Đông Sơn. Tuy nhiên, cũng như các loại hình vũ khí khác, dao găm không được phát triển và phổ biến như nhau ở các khu vực khác nhau. Vùng phát triển nhất của dao găm chính là lưu vực sông Cả, nói chính xác hơn là ở trung tâm làng Vạc (Nghệ An). Hơn 1/2 số dao găm Đông Sơn được tìm thấy tại đây.  Tiếp sau là lưu vực sông Mã, các khu di chỉ - mộ táng Đông Sơn, Thiệu Dương, Núi Nấp... cung cấp cho bộ sưu tập dao găm Đông Sơn hàng chục chiếc. Tại lưu vực sông Hồng, dao găm phân bố có phần thưa thớt hơn, dàn trải hơn.

Cũng cần nói thêm rằng, các giải đoạn trước Đông Sơn, người Lạc Việt chưa sản xuất và sử dụng loại vũ khí này. Ở giai đoạn Gò Mun mới có mặt một loại dao dùng trong sinh hoạt. Dao được làm từ một thanh đồng mỏng (dày 0,2 cm), hình gần chữ nhật dài, chỗ rộng nhất của bản lưỡi nằm ở khoảng giữa, thu hẹp lại về phía mũi và chuôi. Dao có họng lắp cán hình bầu dục hở. Điều đáng chú ý là ở một số chiếc cả hai bên rìa lưỡi đều được mài sắc. Đây là điểm tương tự duy nhất với dao găm của giai đoạn Đông Sơn.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:26:17 PM


Phần lớn dao găm có phần lưỡi giống nhau. Sự khác biệt chủ yếu ở phần cán. Căn cứ vào hình dạng cán, có thể phân chia dao găm Đông Sơn thành năm loại chính.

Loại dao găm cán hình chữ T. Dao găm cán chữ T điển hình, có những đặc điểm như sau: lưỡi hình lá tre cân đối, mặt cắt ngang hình bầu dục dẹt, hai rìa lưỡi hơi cong vồng, chắn tay không phát triển, chỗ tiếp nối giữa đáy lưỡi và chuôi có đường gờ, hai đầu đường gờ uốn cong hình sừng trâu nhô nhẹ ra hai bên. Cán hình chữ T, có phần phân loe ôm khít đáy lưỡi thân chữ T thu gọn ở đoạn giữa, tiết diện ngang hình gần tròn, đến khoảng 1/3 chiều dài cán thì thân chữ T lại loe mạnh tạo thành nét ngang chữ T- đốc dao. Đốc dao hình thuẫn, mặt cắt ngang hình bầu dục. Lưỡi dao tương đối rộng bản, mũi nhọn tù, hai rìa cạnh sắc. Kích thước trung bình của loại gao găm này đo được: dài chung 22 cm, chỗ rộng nhất trên thân 3,6 cm, cán dài 8,1 cm, giữa thân cán rộng 1,5 cm, kích thước đốc cán: 3,7 x 1,4 x 1,4cm (Bản vẽ 16, h.1, 3). Trên những chiếc dao găm loại này thường không có hoa văn trang trí.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv16.jpg?t=1229095539)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:28:22 PM


Loại dao găm cán hình củ hành có phần lưỡi và chắn tay cơ bản giống loại trên, nghĩa là có lưỡi hình lá tre, mặt cắt ngang thân hình bầu dục dẹt, chắn tay gần như không có, giữa đáy lưỡi và cán có gờ, hai đầu xoắn hình sừng trâu hơi chờm ra hai bên. Đặc điểm riêng nằm ở phần cán. Nhìn thẳng, cán dao có hình gần như con dấu ngày nay thường dùng: phần thu nhỏ nhất của cán nằm gần sát chỗ tiếp nối giữa đáy lưỡi và cán, từ đây thân cán nở rộng dần, đến gần đốc thì phồng lên như hình củ hành, trên thân “củ hành” có từ một đến ba hàng lỗ hình chữ nhật dài trổ dọc theo thân.  Đốc là một chóp hình trụ tròn nhỏ (Bản vẽ 17, h.1, 2, 3).  Kích thước trung bình của một số dao găm cán củ hành ở lưu vực sông Hồng và sông Mã đo được như sau: dài chung 20,0 cm, rộng lưỡi 4,5 cm, dài chuôi 9,9 cm, phần đốc nhô cao 6,6 cm, đường kính khoảng lcm, chỗ “củ hành” phình rộng nhất khoảng dưới 3 cm, dày lưỡi khoảng 0,4 cm, (ở phần đáy lưỡi) và 0,2 cm (ở phần đầu lưỡi).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv17.jpg?t=1229095671)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:30:36 PM


Dao găm cán củ hành, ngoài hàng trổ lỗ chữ nhật dọc ở  cán, không thấy trang trí gì thêm. Cùng với sự phổ biến rộng  rãi, đặc biệt ở trung tâm làng Vạc, sự đơn giản về mặt trang  trí cho ta thấy tính chất thực dụng căn bản của loại dao găm 1 này.

Loại dao găm có chắn tay, có hai kiểu khác nhau: chắn tay vểnh và chắn tay thẳng. Chiều dài chắn tay rộng hơn cạnh đáy thân lưỡi, nó không cong úp xuống đáy lưỡi mà lại cong ngửa lên. Chuôi hình trụ hơi loe ra ở phía đầu cán, cán không có đầu đốc, mặt cắt ngang cán hình bầu dục. Lưỡi dao hình lá tre. Trên lưỡi và cán đều có hoa văn trang trí phong cách khác Đông Sơn. Người ta đã tìm thấy một vài thiếc tương tự ở vùng đông nam Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Hồng Kông). Có nhiều khả năng hai chiếc dao găm chắn tay vểnh ở Đông Sơn đã xuất hiện ở đây thông qua con đường giao lưu văn hóa giữa hai khu vực. (Bản vẽ 16, h.2).  Kích thước đo được: dài chung khoảng 26 cm, lưỡi rộng 4cm, cán dài 10 cm, đầu cán rộng 2,5 cm.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv18.jpg?t=1229095777)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:34:57 PM

Loại có chắn tay thẳng phổ biến hơn loại trên. Chúng phân bổ chủ yếu ở lưu vực sông Hồng.  Đặc điểm chung nhất của dao găm loại này là có chắn tay thẳng ngang, đoạn nhô ra khỏi đáy lưỡi về hai phía khá rộng, có khi tới gần 2 cai. Phần lớn cán của loại dao găm này có hình ống trụ, ở khoảng giữa bóp vào, loe dần về hai đầu. Có  chiếc có đốc cán, có chiếc không. Phần lưỡi đa dạng hơn, có  thể phân thành một số kiểu lưỡi khác nhau: lưỡi hình tam 1 ‘ giác cân hai cạnh bên thẳng; lưỡi tam giác nhưng hai rìa lưỡi ‘. . ‘ uốn lượn một nhịp hay hai nhịp; lưỡi tam giác cân mũi kéo  dài, hẹp ngang , có sống giữa thân nổi mờ. . .  Loại dao găm này thường có trang trí hoa văn, đặc biệt là những chiếc có lưỡi uốn lượn. Hoa văn trang trí nhiều ở cán, trên bản lưỡi trang trí thưa hơn (bản vẽ 18, h.2, 3).
Loại dao găm cán tượng. Đây là loại dao găm được chế tác cầu kỳ hơn cả. Đến nay đã phát hiện được gần 20 chiếc.  Phần lớn được tìm thấy ở lưu vực sông Hồng. ở lưu vực sông Mã mới chỉ sưu tập được hai chiếc, còn ở lưu vực sông Cả, riêng tại làng Vạc đã tìm thấy 8 chiếc. Có hai loại cán tượng - cán tượng người và cán tượng động vật.

Dao găm cán tượng người chiếm đa số trong loại dao găm cán tượng. Về cơ bản, phần lưỡi và chắn tay của loại này giống như loại dao găm cán chữ T và cán hình củ hành, kích thước cũng tương tự. Điểm khác nằm ở phần cán. Những tượng người được dùng làm cán dao có tính tả thực cao. Mỗi tượng đều có đủ cả mặt mũi, tai to đeo khuyên, đầu đội khăn, cổ đeo vòng; hai tay khuỳnh rộng, duy chỉ có phần chân được đúc liền thành một khối, đóng khố hay mặc váy chùm kín chân. Phần lớn là tượng đàn ông và cũng đeo đồ trang sức như tượng nữ, cũng thể hiện tóc dài, đội khăn, chỉ khác là họ ở trần đóng khố, còn tượng nữ thì mặc áo bó, váy dài quét đất. Nhìn chung phong cáchtạo tượng rất thống nhất (Bản vẽ 18, h. 1).

Dao găm cán tượng động vật là sản phẩm độc đáo của trung tâm làng Vạc lưu vực sông Cả, các vùng khác chưa tìm thấy chiếc nào. Ngay tại làng Vạc thì số lượng dao găm cán tượng động vật phát hiện được cũng rất ít - chỉ có ba chiếc trong số 130 chiếc dao găm các loại.

Cả ba chiếc đều có phần lưỡi hình lá tre, không có chắn tay hay có chắn tay cong xoắn hai đầu. Mặt cắt lưỡi hình bầu dục dẹt. Kích thước ba chiếc thuộc loại nhỏ và loại trung bình, chiều dài chung từ 13,6 cm - 27,5 cm (Bản vẽ 16, h.4).  Những chiếc dao găm có chắn tay thẳng, rìa lưỡi uốn lượn trang trí hoa văn đẹp, những dao găm cán tượng đều là những vũ khí mà ý nghĩa thực dụng phải nhường bước cho ý nghĩa tinh thần - dùng trong lễ nghi, biểu Trưng cho sự giàu sang, quyền uy. . . Tỷ lệ thấp của chúng trong loại hình vũ khí này, càng tỏ rõ tính chất hiếm quý của chúng. ở một số chiếc trong nhóm dao găm sang trọng này còn gặp một số yếu tố giao lưu văn hóa với vùng Trung Nguyên, vùng Điền Trì (Trung Quốc).

Những chiếc dao găm cán chữ T, cán hình củ hành chiếm tới trên dưới 80% tổng số dao găm Đông Sơn sưu tập được.  Đây là những chiếc dao găm hình dáng đơn giản, cấu tạo các bộ phận hợp lý tạo sự thuận tiện và hiệu quả trong sử dụng.  Đối tượng sử dụng những dao găm này rộng rãi hơn loại dao găm trang trí cầu kỳ, hình dáng phức tạp kể trên. Tuy nhiên, cũng không thể so sánh được với sự phổ thông của cung tên, giáo, lao.

Điều này cũng đã được các nghệ nhân đúc trống, thạp đồng Đông Sơn ghi lại một cách khách quan trên hoa văn trang trí. Những chiến binh ở đây rất ít được trang bị dao găm. Trước hết ta thấy dao găm dắt ở lưng người đàn ông trong cặp tượng trên nắp thạp Đào Thịnh. Trên trống sông Đà có hình một chiến binh tay phải cầm một vật nhọn, lưỡi hình tam giác, không có cán dài - có thể là một chiếc dao găm. Trên thân trống Khai Hóa cũng có hình ảnh tương tự.  Nói chung, các dao găm thể hiện trên trống mang tính ước lệ.  cao, khó xác định thuộc loại dao găm nào. Nhưng dao găm dắt lưng bốn người đàn ông trong bốn cặp tượng trên nắp thạp Đào Thịnh thì lại hoàn toàn tả thực. Cả bốn con dao.  găm đều giống nhau và đều thuộc loại có cán chữ T - một trong những loại dao găm phổ biến nhất trong bộ sưu tập dao găm Đông Sơn.

Hình ảnh con dao găm ở những bức tượng này còn choé chúng ta biết rằng, dao găm là thứ vũ khí tùy thân rất quan trọng của người Đông Sơn. Nó như một vật bất li thân của mỗi người, ít nhất cũng là của mỗi người đàn ông trưởng  thành, những “đại hoàng nam” - lực lượng tham gia chiến đấu chủ yếu. Chúng ta cũng đã thấy một vài chiến binh cầm dao găm trong tư thế sẵn sàng chiến đấu: tay phải cầm dao găm vung ra phía sau, tay trái cầm mộc che đỡ phía trước mặt được khắc họa trên trống sông Đà, Khai Hóa kể trên.
 
Bảng thống kê trên đây tuy chưa thật đầy đủ nhưng có thể giúp chúng ta hình dung được một cách tương đối về mối tương quan số lượng giữa các loại hình gao găm và sự phân bố của từng loại ở những khu vực khác nhau.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng15.jpg?t=1229096219)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:41:24 PM

4. Kiếm ngắn.

Kiếm Đông Sơn có hình dạng giống dao găm, chỉ khác ở kích thước. Theo sự phân loại chung, những dao găm dài 40cm trở lên được xếp vào loại hình kiếm. Tuy nhiên cũng có mấy trường hợp kiếm dài dưới 40 cm.Theo tiêu chuẩn này, trong bộ sưu tập di vật Đông Sơn đồ sộ, mới chỉ chọn ra được 10 chiếc có thể gọi là kiếm ngắn. Chúng cũng được phân loại giống như dao găm, thuộc ba loại hình.

Loại kiếm có chuôi chữ T gồm ba chiếc. Có thể lấy chiếc kiếm còn nguyên vẹn tìm thấy ở làng Vạc làm ví dụ. Kiếm có hình dáng như một con dao găm có cán chữ T lớn. Lưỡi thuôn hình lá tre, rìa cạnh hơi cong vồng, sắc, mặt cắt thân lưỡi hình bầu dục dẹt, chỗ dày nhất ở giữa thân dày 0,7 cm. Chắn tay có hai đầu uốn xoắn sừng trâu, nhô nhẹ sang hai bên đáy  lưỡi. Chuôi kiếm tương đối to, mặt cắt ngang hình bầu dục. ...  Dọc thân chuôi kiếm rỗng, có chất hãm hình tam giác nhỏ  nằm giữa thân chuôi, gần gờ chắn. Kích thước đo được: dài chung 43,5 cm, rộng lưỡi 5,8 cm, dài chuôi 18,3 cm, rộng giữa thân chuôi 3 cm, đốc rộng 6,5 cm (Bản vẽ 19, h. 1).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv19.jpg?t=1229096453)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:46:27 PM


Loại kiếm có chắn tay thẳng tương tự như dao găm có chắn tay thẳng về hình dáng, mới chỉ tìm thấy hai chiếc, đều là phát hiện ngẫu nhiên ở vùng núi lưu vực sông Hồng. Chiếc phát hiện được ở Thái Nguyên rất đẹp. Bản lưỡi rộng, hai rìa cạnh lượn hai nhịp, giữa lưỡi phình rộng và gẫy góc, giữa thân lưỡi có đường sống nổi rõ, mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt. Chắn tay thẳng ngang, dài, chờm rộng ra khỏi đáy lưỡi mỗi bên đến 1,6 cm. Chuôi kiếm hình trụ bốn cạnh, tiết diện hình thoi. Chuôi thon nhỏ, loe nhẹ ở hai đầu. Đốc mỏng dẹt, tiết diện hình thoi với các góc cong. Kiếm được trang trí ở cả lưỡi mặt trên chắn tay, chuôi, đốc. Môtíp trang trí là những hình chữ S biến thể - hoa văn đặc Trưng Đông Sơn (Bản vẽ 20, h. 2).  Chiếc kiếm này thuộc loại ngắn trong số các kiếm ngắn Đông Sơn. Chiều dài chung 32 cm, rộng nhất trên thân lưỡi 9,2 cm, dài chuôi 8,7 cm, rộng giữa thân chuôi 2,5 cm, rộng đốc 6,4 cm, chắn tay dài 13,4 cm.

Loại kiếm cán tượng đã biết tới năm chiếc, đều ở lưu vực sông Mã. Đây là những chiếc kiếm có độ dài đạt tiêu chuẩn hơn cả. Trừ một chiếc gầy, bốn chiếc còn lại tương tự như nhau. Điển hình nhất là chiếc kiếm ngắn Núi Nưa (Thanh Hóa). Chiếc kiếm này gần như đồng dạng với chiếc dao găm cán tượng đã nói đến ở trên. Lưỡi kiếm hình lá tre dài, hẹp ngang, mặt cắt ngang hình bầu dục dẹt. Chuôi kiếm là tượng một phụ nữ áo váy chỉnh tề được tạo tác với phong cách giống hệt phong cách tượng cán dao găm, chỉ khác ở một vài chi tiết: tay ít khuỳnh hơn, khăn tóc búi ngược hình nấm, cổ đeo ít hạt chuỗi hơn.  Phần chắn tay - gấu váy chùm kín chân của tượng phụ nữ chuôi kiếm, về cơ bản nó giống như chắn tay dao găm cùng loại, hai đầu chắn chỉ cong cụp vào mà không vặn xoắn (Bản vẽ 19, h.3). Kích thước như sau: chiều dài chung 52 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi 5,4 cm, chuôi dài 19 cm.

Sự hiếm hoi của kiếm dù chỉ là kiếm ngắn, trong đó có những chiếc rất gần dao găm trong các bộ sưu tập vũ khí Đông Sơn được sự phụ họa của hoa văn trang trí trên trống, thạp Đông Sơn. Trong số rất nhiều chiến binh được khắc họa, không thấy một ai được trang bị loại vũ khí này.

Rải rác trong vài địa điểm Đông Sơn đã phát hiện được một hai chiếc kiếm thực sự, nhưng chúng đều có nguồn gốc ngoại lai. Chiếc kiếm còn nguyên vẹn phát hiện trong mộ thuyền Việt Khê (Hải Phòng) dài 48, 2 cm, lưỡi rất dài, chuôi ngắn (dài chuôi gần bằng 1/5 chiều dài chung), thân lưỡi có đường sống nổi, mũi rất nhọn, chuôi rỗng hình ống trụ, hơi loe dần về phía đầu đốc. Đốc kiếm mỏng dẹt, chắn tay không kéo dài hơn cạnh đáy, nhưng có chiều rộng lớn hơn bề dày đáy lưỡi, tiết diện lá chắn hình thoi (Bản vẽ 20, h. 1). Ở Đông Sơn (Thanh Hóa) tìm thấy một chiếc kiểu tương tự, dài 60 cm, lưỡi rộng 4,5 cm, trên cán có hai khuyên tròn. Đây là những chiếc kiếm cùng loại kiếm được giới quý tộc Chiến Quốc (Trung Quốc) sử dụng phổ biến.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv20.jpg?t=1229096739)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:49:58 PM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng16.jpg?t=1229096961)
Như vậy có thể nói, về cơ bản người Đông Sơn không có truyền thống chế tạo và sử dụng kiếm. Một số ít kiếm ngắn Đông Sơn mà sự ra đời của chúng có thể có ảnh hưởng văn hóa vùng Trung Nguyên, vẫn mang đậm phong cách bản địa, khó tách chúng khỏi tổ hợp dao găm truyền thống.

Cũng cần nói thêm về những con dao găm và kiếm sắt đã có mặt trong một vài di tích Đông Sơn muộn, với số lượng rất . ít Hiện mới tìm thấy một con dao găm lưỡi sắt cán đồng và một con dao hoàn toàn bằng sắt. Hình dáng tương tự dao găm đồng. Vì bị gẫy nên không đo kích thước được. Kiếm sắt  phát hiện được nhiều hơn, nhưng thường bị gãy, rỉ khó phục dựng nguyên dạng. Chúng có phần mũi nhọn, rìa lưỡi rộng  một bên sắc sống hơi dày, mặt cắt ngang lưỡi hình tam giác, có chuôi tra cán. Kích thước biến thiên trong khoảng dài 60 - 90cm, lưỡi rộng 2 cm - 4 cm. Kiếm được tìm thấy chủ yếu ở vùng sông Mã. Mười trong số 20 chiếc đã biết đến nay, phát hiện được ở địa điểm Đông Sơn (Thanh Hóa). Ở lưu vực sông Hồng tìm thấy bốn chiếc, lưu vực sông Cả một chiếc.

5. Dao chiến
 
Chiếc dao chiến đầu tiên thuộc giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương , cũng là chiếc dao chiến đầu tiên của loại hình vũ khí này trong lịch sử vũ khí dân tộc, được tìm thấy ở địa điểm Đồng Đậu (Vĩnh Phúc). Đây cũng là chiếc duy nhất đã biết trong cả giai đoạn văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun. Rất may là nó được phát hiện trong trạng thái nguyên vẹn, chỉ bị rỉ nhiều. Có người gọi nó là búa, có người gọi nó là đao phạng. Thân dao là một khối gần hình chữ nhật dẹt, rìa lưỡi nằm dọc thân, uốn lượn và rất sắc. Sống dao là họng tra cán, cũng nằm dọc thân, gần như song song với rìa lưỡi nhưng không uốn lượn giống rìa lưỡi. Mặt cắt ngang họng hình gần tròn. Một đầu dao cong vồng lên, đầu kia vát choãi thẳng từ đầu họng đến đầu mũi dưới. Dao khá nặng và kích thước vào loại lớn: dài 16,6 cm, rộng 6,9 cm, dày thân 0,4 cm (Bản vẽ 22, h.4).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:53:06 PM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv21.jpg?t=1229097148)
Dao chiến Đông Sơn tuy phong phú hơn trước, nhưng so với các loại vũ khí Đông Sơn khác thì cũng thuộc loại hiếm.

Chúng phân bố rải rác trong một số di tích Đông Sơn lưu vực sông Hồng, chủ yếu ở vùng núi, số lượng ít, kiểu dáng không giống nhau. Tất cả mới tìm thấy dăm chiếc nhưng thuộc ba loại hình khác nhau. Loại một gồm hai chiếc có hình dạng gần như dao thái phở. Bản lưỡi gần hình thang, đáy dài là rìa lưỡi, gần thẳng, sắc; đáy nhỏ là sống dao, rìa sống dao cũng mài vát hai bên tạo thành rìa khá sắc; một cạnh bên dáng hơi khum là mũi dao, cạnh bên kia bị hòa lẫn vào với họng tra cán. Họng tra cán nằm xiên tạo với cạnh sống dao một góc tù, mặt cắt họng hình bầu dục. Kích thước như sau: dài thân lưỡi 12cm-14 cm; rộng bản lưỡi 5,7 cm-6,3 cm, họng dài 11 cm - 11,6 cm, rộng họng 3,3 cm - 3 cm, đoạn họng nhô ra khỏi thân lưỡi dài 4,3 cm - 3,2 cm. (Bản vẽ 21, h.2).
 
Loại hai mới phát hiện được một chiếc. Loại này giống con dao thái phở hơn. Bản lưỡi hình thang vuông, đáy dưới là rìa lưỡi, đáy trên là sống dao mà khoảng 2/3 chiều dài của nó đã bị họng tra cán đè lên, một bên phía mũi vát chéo tạo với cạnh đáy - rìa lưỡi một góc nhọn tù, cạnh đáy phía gót chạy thẳng tạo với cạnh đáy - rìa lưỡi và trục họng những góc vuông. Họng tra cán nằm ngang, song song với đường rìa lưỡi mặt cắt họng hình bầu dục. Kích thước: lưỡi dài 13,4cm, rộng 8,1 cm, họng dài 9,7 cm, rộng 3,3 cm, ở miệng họng thu nhỏ lại ít nhiều về phía trên, phần họng nhô khỏi bản lưỡi 2 cm (Bản vẽ 21, h.1).

Dao chiến loại ba tìm được hai chiếc. Chiếc tìm thấy ở Sơn La có hình tương tự lưỡi mã tấu. Họng dao không phân biệt rõ với bản lưỡi, phần miệng họng chỉ hơi nhô ra một chút. Rìa lưỡi dao rất dài và cong lồi, mũi dao là một góc tù hơi hớt cao tạo bởi đường rìa lưỡi và đường sống lưỡi. Lỗ họng có mặt cắt hình bầu dục dẹt. Dao dài 19 cm, bản lưỡi rộng 9,7 cm, cung rìa lưỡi 19,6 cm (Bản vẽ 21, h.4). Một biến dạng của loại dao này tìm thấy ở Lào Cai. Chiếc này khác chiếc trên ở chỗ rìa lưỡi thẳng hơn, gót lưỡi tròn hơn. Các loại dao chiến này có đôi nét gần gũi với con dao phạng Đồng Đậu. Điều này thể hiện chủ yếu ở kiểu họng tra cán nằm dọc thân lưỡi, bản lưỡi tương đối rộng, rìa lưỡi dài.  Có thể dao phạng Đồng Đậu là khởi nguồn cho dao chiến Đông Sơn.

Hình dạng, vị trí họng tra án đã chỉ ra cách thức tra cán cho các dao chiến Đồng Đậu - Đông Sơn. Cán sẽ nằm hoàn toàn song song với rìa lưỡi hoặc hơi xiên, trục cán hợp với trục lưỡi thành một góc tù (trường hợp dao chiến Đông Sơn loại một). Dao chiến có chức năng chính là chặt, chém và có thể cả bổ nữa. Các lưỡi dao đều to nặng và chắc, khi được lắp thêm cán dài, lực tác động của chúng sẽ tăng lên. Như vậy tác dụng của dao chiến tương tự rìu chiến. Người Đông Sơn đã chọn rìu chiến để trang bị cho quân đội của mình là chính mà không mấy mặn mà với dao chiến. Chúng ta chưa thấy bóng dáng dao chiến làm bạn đồng hành với các chiến binh được khắc họa trên các trống, thạp Đông Sơn. .


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 10:55:34 PM


6. Qua
 
Qua là một loại vũ khí đánh gần rất phổ biến ở Trung Quốc thời cổ đại, từ thời Ân - Thương cho đến thời Hán (từ thế kỷ XVII - XVI Tí. CN đến những thế kỷ đầu Công nguyên). Ở Việt Nam cũng đã tìm thấy những chiếc qua trong khung niên đại về cơ bản tương đương với niên đại qua Trung Quốc.
 
Chiếc qua có tuổi già nhất hiện được biết ở Việt Nam là chiến qua đá Lũng Hòa, một di tích thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên. Nó được tìm thấy trong mộ, còn gần như nguyên vẹn. Chiếc qua đá này thuộc loại qua mà thân và cán nằm trên cùng trục dọc. Chỗ tiếp nối giữa thân và cán có nhô ra hai mấu nhỏ đối xứng nhau qua trục thân. Hai cạnh bên thân gần như song song nhau, đến gần mũi cùng vát xiên vào, tạo thành đỉnh mũi nhọn. Giữa thân, ở cả hai mặt, có đường sống nổi, chạy dọc từ đỉnh mũi xuống gần cán, hai bên sống nổi, mặt thân được mài hơi võng xuống, hai cạnh bên thân được mài vát cân, tạo rìa cạnh sắc, mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt với bốn cạnh hơi lõm vào. Cán có bề rộng tương đương bề rộng thân, giữa dày, mỏng dần sang hai bên rìa tạo mặt cắt ngang cán hình bầu dục dẹt. Kích thước qua như sau: dài chung 21 cm, rộng thân 5 cm, dày sống thân 0 7em, cán dài 8,2 cm, dày 0,9 cm. (Bản vẽ 21, h.5).

Qua được làm từ loại đá mềm, trên thân chưa thấy dấu vết sử dụng. Có thể chiếc qua này không phải là đồ thực dụng mà chỉ là đồ minh khí. Sự quá hiếm của qua không phải chỉ trong di tích Lũng Hòa, mà còn trong cả văn hóa Phùng Nguyên nói chung làm ta phải đặt câu hỏi về nguồn gốc và chức năng của nó. Trong số sáu địa điểm Phùng Nguyên được chọn làm thống kê, chỉ có duy nhất địa điểm Lũng Hòa có qua và tại đây cũng chỉ tìm thấy duy nhất một chiếc vừa giới thiệu ở trên. Diện tích khai quật ở Văn Điển và nhất là ở địa điểm Phùng Nguyên (Phú Thọ) rất lớn, vì vậy có thể loại trừ tính ngẫu nhiên của hiện tượng hoàn toàn thiếu vắng lưỡi qua ở đó. Chiếc qua Lũng Hòa lại được trân trọng đặt phía trên đầu người chết. Về hình dáng, qua Lũng Hòa tương tự những qua đá có niên đại tương đương Phùng Nguyên ở Quảng Đông (Trung Quốc).

Từ những tình tiết nêu trên, có thể đoán định rằng, chiếc qua Lũng Hòa không phải vũ khí bản địa, nó xuất hiện ở đây thông qua con đường giao lưu, tiếp xúc, hoặc nếu nó được làm tại chỗ thì cũng dưới ảnh hưởng của văn hóa láng giềng. Nó là vật hiếm quý đối với người Lũng Hòa - Phùng Nguyên. Cũng không loại trừ khả năng nó là vật “kỷ niệm” của chủ nhân ngôi mộ, sinh thời đã từng tham gia chiến đấu chống kẻ thù từ phương Bắc tới - những người có truyền thống sử dụng qua làm vũ khí.

Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, lưỡi qua đã trở nên phổ biến hơn, đặc biệt đã xuất hiện cả qua đồng. Về cơ bản chúng có hình dáng tương tự qua đá Lũng Hòa: thân và cán cùng nằm trên một trục dọc, giữa thân và cán có khấc phân biệt, giữa thân có khoan một lỗ thủng tròn, mặt cắt thân, cán đều hình bầu dục dẹt. Ngay cả kích thước cũng không khác. Một chiếc đã gẫy mất một ít, phần còn lại đo được: dài chung 19 cm, cán dài 12,1 cm, rộng 4,8 cm, thân dài 6,9 cm, rộng 5,25 cm, dày 1 cm. Lưỡi qua được làm từ phiến thạch mầu đen xám, mềm.

Có thể nói, từ Phùng Nguyên sang Đồng Đậu - Gò Mun, lưỡi qua đá không có sự thay đổi, cải tiến đáng kể nào. Đáng chú ý là lưỡi qua thường được làm bằng loại đá mềm, dễ gầy vỡ theo thớ. Có vẻ như chúng vẫn ít thực hiện chức năng thực dụng.
Những lưỡi qua đồng đã được tìm thấy cho tới nay đều có niên đại từ Gò Mun trở về sau. Chiếc qua còn nhìn rõ hình dáng hơn cả được tìm thấy trong tầng văn hóa địa điểm Đồi Đà (Hà Tây). Lưỡi qua này được cấu tạo từ hai bộ phận là thân và cán. Thân hình gần tam giác, mũi bằng, rìa lưỡi dưới cong lồi, trên thân phần giáp chuôi có hai lỗ trổ hình chừ nhật, dài hẹp nằm nối tiếp nhau, về phía rìa lưỡi có một lỗ tròn. Mặt cắt ngang’ thân hình bầu dục dẹt, hai đầu nhọn.

Cán ngắn, giữa trổ lỗ chữ nhật dài theo trục dọc cán. Qua thuộc cỡ nhỏ, toàn lưỡi qua đo được chiều dài là 8 cm, bản lưỡi qua rộng nhất là ở đáy thân, chỗ tiếp giáp với cán 3 cm. Cán có mặt cắt ngang hình chữ nhật dẹt, dài 1,7 cm, rộng 1,7 cm, dày 0,3 cm. Trục thân và trục cán không nằm thẳng hàng mà hợp với nhau thành một góc tù. Loại hình qua này gặp phổ biến hơn ở giai đoạn Đông Sơn 1 (Bản vẽ 21 , h. 3).
 
Cho tới nay mới phát hiện được hơn 10 lưỡi qua có niên đại Đông Sơn. Chúng phân bố rải rác ở lưu vực sông Hồng (Thanh Đình, Đồi Đà, Yên Hưng, Sơn Tây...), lưu vực sông Mã (Đông Sơn, Núi Voi...).

1. Phần lớn những chiếc qua tìm thấy trong văn hoá Đông Sơn đã được phân loại, giới thiệu trong cuốn Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đông thau ở Việt Nam của Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh. Ở đây chỉ xin nhắc lại một số nét chính.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 11:00:15 PM


Căn cứ vào cấu tạo thân, cán, có thể phân chia chúng thành ba loại chính: loại qua có thân ngang và cán chuôi; loại qua có thân ngang và thân dọc, không có cán; loại qua có đầy đủ ba bộ phận thân ngang, thân dọc và cán. Sau đây sẽ giới thiệu chi tiết hơn về từng loại.

Loại qua có thân ngang và cán với hai kiểu khác nhau.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv22.jpg?t=1229097554)
Kiểu thứ nhất - trục thân ngang và trục cán nằm trên một đường thẳng. Kiểu này mới tìm thấy một chiếc ở Hòa Bình. Thân ngang trông khá giống hình lưỡi dao găm có hai cạnh bên (rìa lưỡi) thẳng, có đường sống dọc ở giữa hai mặt thân, kéo từ mũi xuống quá 1/2 chiều dài thân, mũi nhọn, mặt cắt ngang thân hình thoi rất dẹt, hai đầu nhọn. Trên thân có trổ một lỗ tròn. Giữa thân và cán có đường gờ phân cách. ở phần đáy thân sát đường gờ, trổ hai lỗ thủng chữ nhật nhỏ nằm đối nhau qua trục thân dùng để xâu dây, buộc cán. Cán hình chữ nhật, đầu cán hình tim. Có trang trí hình người và mặt người trên cán, thân. Kích thước: dài chung 18,2 cm, riêng dài cán 5,9 cm, rộng đáy thân (nơi rộng nhất trên thân) 7 cm, rộng cán 4,25 cm. Về cấu tạo và hình dáng, kiểu qua này khá giống những qua đá Phùng Nguyên - Đồng Đậu đã giới thiệu ở trên. (Bản vẽ 22, h.1).

Kiểu thứ hai - qua có thân ngang và cán nhưng trục thân và trục cán không nằm trên cùng một đường thẳng, mà hợp với nhau thành góc tù. Đã có ít nhất năm chiếc kiểu này được giới thiệu, điển hình là những chiếc tìm thấy ở Thanh Đình (Phú Thọ), Yên Hưng (Yên Bái). Đặc điểm của chúng là có cán rất nhỏ, hình tứ giác có hai góc vuông ở rìa dưới (cạnh đáy) . Thân lưỡi hình tứ giác kéo dài, rìa cạnh trên hơi cong võng, rìa dưới thẳng, cạnh bên nhỏ (mũi qua) vát nhẹ , cạnh bên lớn (đáy thân) đặc biệt kéo dài, chuẩn bị cho sự ra đời của bộ phận thứ ba là thân dọc của qua (Bản vẽ 22, h.2).  Trên thân không có trang trí, có trổ một lỗ tròn nhỏ, trên cán có chiếc trổ lỗ chữ nhật dài, dọc theo trục cán, có chiếc có hoa văn dải chữ S hay hoa văn trong khung chữ nhật.

Kích thước cỡ lớn (chiếc qua Thanh Đình) đo được: chiều dài rìa lưỡi trên 19 cm, rìa lưỡi dưới 23 cm, đường đáy thân 10 2 cm, cạnh mũi 3,5 cm, cán hình thang vuông, đáy lớn 3,4 cm, đáy nhỏ 1,9 cm, cao 3,9 cm (Bản vẽ 23, h.1).



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 11:06:54 PM


Loại qua có thân ngang và thân dọc, không có cán. Kiểu này dã biết đến ít nhất hai chiếc: ở Sơn Tây một chiếc nguyên vẹn, ở Hà Đông một mảnh thân. Chiếc qua Sơn Tây có thân ngang hình tứ giác kéo dài, cạnh phía mũi xiên vát tương tự mũi loại qua trên, cạnh nối liền với thân dọc không rộng hơn cạnh mũi bao nhiêu. Giữa thân ngang và thân dọc không có gờ hay dấu hiệu gì ngăn cách, thân dọc được tạo thành nhờ sự kéo dài và chuyển hướng của thân ngang. Rìa lưỡi dưới của qua có hình cung, cong lõm vào. Sát rìa cạnh bên ngoài của thân dọc trổ ba lỗ tròn để buộc dây. Trên thân ngang trang trí những đường chỉ chạy song song nhau thành khung, giữa khung có hình một con thú. Kích thước: dài lưỡi đường gấp khúc, góc hợp giữa rìa lưỡi thân ngang và na lưỡi thân dọc gần là góc vuông, rìa thân dọc chỉ hơi choãi ra một chút.

Cán qua Đồi Đà cũng ngắn chỉ bằng 1/2 những qua kia, ở giữa có một lỗ chữ nhật nằm dài theo trục cán, ở đầu cán có một lỗ tròn nhỏ. Dọc rìa ngoài thân dọc có hàng lỗ buộc dây gồm ba lỗ, lỗ thứ tư nằm ở vị trí cuối thân lưỡi ngang chuyển sang cán, nơi này ở những qua kia là bộ phận cánh. Trục thân ngang và trục cán gần như nằm trên một đường thẳng, gợi nhớ tới kiểu qua có niên đại sớm chỉ có hai bộ phận là thân ngang và cán nằm thẳng hàng (Bản vẽ 23, h.3).  Qua loại này rõ ràng là sự cải biến tiến bộ, hoàn thiện hơn cả. Nhờ có sự kéo dài của rìa lưỡi tác dụng suốt từ đầu mũi thân ngang đến đầu cuối thân dọc, mà chức năng bổ-chém của qua có hiệu quả hơn, độ sát thương lớn hơn. Nhờ cấu tạo ba thành phần được bố trí hợp lý, lưỡi qua có thể tra vào cán cầm bằng gỗ hay tre được chắc chắn, dễ dàng: cán lưỡi được xâu qua lỗ mộng trổ trên đầu cán cầm, rìa dọc của thân dọc dựa khít vào thân cán cầm và những lỗ trổ trên rìa lưỡi dọc giúp cho việc dùng dây buộc chắc lưỡi qua vào cán cầm.

Cách lắp cán lưỡi qua có thể thấy rõ qua những hình khắc trên đồ đồng cổ đại Trung Quốc. Bao giờ trục thân lưỡi ngang của lưỡi qua cũng nằm ở vị trí vuông góc hoặc gần như vuông góc với trục cán cầm. Cán này rất dài, gấp 1,5 hoặc 2 lần chiều cao thân người cầm nó. Cánh lắp cán này khẳng định chức năng gây sát thương bằng lực bổ - chặt - chém của qua, khác với chức năng đâm của giáo và tương tự như chức năng của rìu chiến. Ngoài ra qua còn có thêm những tác dụng khác nữa nhờ vào phần mũi nhọn và rìa lưỡi kép của thân ngang. Chức năng của qua đa dạng hơn chức năng của giáo, rìu chiến.

Ở việt Nam Chưa phát hiện được một chiếc qua còn lắp cán nào. Trong số các chiến binh khắc họa trên đồ đồng Đông Sơn cũng không thấy ai cầm vũ khí này. Tuy nhiên, cũng có nhà nghiên cứu cho rằng, trên con thuyền khắc ở tang trống Ngọc Lũ có người cầm qua, nhưng đa số ý kiến cho đó là người cầm rìu.

Từ những tài liệu nêu trên, có thể rút ra nhận xét rằng, qua đã có một quá trình phát triển từ thấp lên cao, từ những chiếc qua đá cấu tạo giản đơn thời Phùng Nguyên - đến những qua đồng cấu tạo đầy đủ hoàn chỉnh của thời Đông Sơn, nghĩa là có quá trình phát triển nội tại trong lòng văn hóa thời Hùng Vương - An Dương Vương. Tuy nhiên cũng không thể bỏ qua ảnh hưởng đáng kể của văn hóa vùng Trung Nguyên (Trung Quốc) đến quá trình phát triển đó.
 
Các nhà nghiên cứu đã đúng khi một mặt thừa nhận ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc; mặt khác, nhấn mạnh đến tính bản địa hoặc bản địa hóa, như có người nhận xét, của quá trình ra đời và phát triển loại hình vũ khí này trong văn hóa Lạc Việt. Tính bản địa được thể hiện rõ ở đặc điểm hoa văn trang trí trên qua đồng. Đó là những họa tiết chữ S, những hình thú có tại địa phương như chim, voi, cá sấu, hổ...  Hơn nữa những con thú này được thể hiện một cách hiền lành khác hẳn phong cách hung dữ của thú trang trí trên đồ đồng văn hóa láng giềng phía Bắc như Thạch Trại Sơn, (Vân Nam, Trung Quốc).



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 10:32:12 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv23.jpg)

VŨ KHÍ PHÒNG HỘ

1. Tấm che ngực.

Tấm che ngực, hay còn gọi là hộ tâm phiến, xuất hiện lần đầu trong bộ vũ khí giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương vào thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Chúng không phổ biến bằng các loại vũ khí tấn công như giáo, lao, tên, rìu, nhưng cũng không phải là quá hiếm. Theo tài liệu hiện biết thì đã tìm thấy 30 chiếc, phân bố ở lưu vực sông Mã và lưu vực sông Hồng, ở lưu vực sông Cả chưa tìm thấy tiêu bản nào. 
Căn cứ vào hình dáng, các tấm che ngực Đông Sơn được chia thành hai loại - loại hình chữ nhật: năm chiếc và loại hình vuông: 22 chiếc. Còn 3 chiếc không rõ hình dạng, không phân loại được.
 
Tấm che ngực hình chữ nhật. Có năm chiếc thuộc loại này .  Chúng có hình dạng và hoa văn trang trí cơ bản giống nhau, đều là những tấm đồng hình chừ nhật dày khoảng 0, lcm, đa  số phẳng, chỉ có một chiếc cong. Bốn quai được gắn đối nhau  ở bốn vị trí tương tự: cách rìa cạnh ngang và rìa cạnh dọc gần  nhất khoảng 1/4 chiều dài và chiều rộng tấm đồng. Quai có  hình bán nguyệt, nổi khum hình mui thuyền. Kích thước trung bình của năm chiếc loại này đo được là: dài 31,1 cm,  rộng 13,3 cm, dày 0,1cm. Một mặt hộ tâm phiến để trơn, phẳng, mặt kia thường trang trí hoa văn mang phong cách Đông Sơn điển hình bản vẽ (24, h. 1).
 
Trong một số địa điểm Đông Sơn như xóm Gấm, Kim Đường (Hà Tây) còn tìm thấy tấm che ngực hình chữ nhật bằng gỗ, chiều dài 30 cm, rộng 15-20 cm, dày 0,9-1,5 cm.
 
Tấm che ngực hình vuông. Loại hộ tâm phiến này không chỉ khác loại trên ở hình dáng - vuông chứ không phải chữ nhật, mà còn khác ở bộ phận buộc dây - không có quai đeo mà đơn giản chỉ xuyên lỗ buộc dây. Hoa văn trang trí trên các hộ tâm phiến loại này cũng khác, mặc dù cũng vẫn là  những hoa văn rất Đông Sơn.

Cho đến nay đã tìm thấy trên 20 chiếc loại này, đặc điểm chung là có hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 13- 15 cm , dày 0,1 cm. Bốn góc có bốn lỗ hay 4 cặp lỗ buộc dây. Lỗ hình tròn, nhỏ, đường kính 0,3 cm. Một mặt để trơn, mặt kia trang trí hoa văn.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 10:37:31 PM

Hoa văn chủ đạo, chiếc nào cũng có là hoa văn hình chữ X bố trí ở chính giữa phiến. Những hoa văn ở xung quanh có thể khác nhau, có khi là những vành hoa văn hình : học hay động vật lần lượt bao quanh chữ X, có khi là những nhóm bố trí rời thành từng mảng đối xứng nhau.  Những hộ tâm phiến hình vuông còn gần nguyên vẹn đã sưu tầm được ở Ninh Bình, phát hiện được trong mộ Đông Sơn ở Đại Trạch (Bắc Ninh), Mả Mè (Thanh Hóa)... (bản vẽ 24, h.2, 3).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv24.jpg?t=1229182518)

Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến đề tài trang trí khá nhất quán trên các hộ tâm phiến này. Đó là những hoa văn thể hiện những cặp cá sấu - những con vật sống dưới nước, có sức mạnh đặc biệt, đó còn là những hình người chèo thuyền - thể hiện lối sống gắn bó với sông nước của chủ nhân những hộ tâm phiến này. Có thể những con cá sấu được các chiến binh Đông Sơn lấy làm biểu tượng cho sức mạnh và là con vật hộ mệnh thiêng liêng của mình.

Trước kia từng có những ý kiến cho rằng những tấm đồng mỏng có trang trí hoa văn này được dùng để đính trên váy áo phụ nữ với ý nghĩa trang trì thuần túy. Nhưng dần dần, với những tài liệu mới phát hiện, các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò của vũ khí phòng hộ - những tấm che ngực. Những hộ tâm phiến tìm thấy trong các ngôi mộ Đông Sơn ở Thiệu Dương, Lật Phương. . . có kích thước lớn, có chiếc hơi cong khum, chứng tỏ chúng là những tấm che ngực thì phù hợp hơn là đồ trang sức trên quần áo. Ví như, với kích thước 30x13 cm, hộ tâm phiến Thiệu Dương là một vật chắn bảo vệ hữu hiệu cho cả phần ngực của người chiến binh trước sức tấn công của những giáo, lao và mũi tên của đối phương.

Đương nhiên không phải chiến binh nào cũng được trang bị vũ khí phòng hộ này. Với số lượng ít, với lối chế tạo cùng hoa văn trang trí đẹp đẽ, hộ tâm phiến hẳn được dành cho những chỉ huy, thủ lĩnh là chính.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 10:59:50 PM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng17.jpg)
2. Lá chắn (mộc).

Chúng ta biết đến sự tồn tại của loại vũ khí phòng hộ này ở thời Hùng Vương - An Dương Vương chủ yếu nhờ những hình khắc trên trống, thạp Đông Sơn. Trên hầu hết những chiếc trống có mến đại sớm được trang trí hoa văn tả thực như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Miếu Môn... đều tìm thấy những chiến binh cầm mộc trong tay. Họ được khắc họa đông đảo nhất ở phần lưng trống. Lưng trống Ngọc Lũ chia thành sáu ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai người đều tay cầm rìu, tay cầm mộc. Lưng trống Hoàng Hạ cũng chia sáu ô mỗi ô có hai người cầm rìu và mộc tương tự Ngọc Lũ. Trống Miếu Môn II, ở lưng có tám ô trong đó có năm ô, mỗi ô có một người cầm rìu và mộc, một ô có người một tay cầm mộc, một tay,.  xòe múa. .

Trên những chiến thuyền khắc trên tang trống, cũng có một số người cầm mộc. ở trống Hoàng Hạ, người ngồi ở mũi thuyền cầm mộc, tay kia cầm rìu hoặc cầm giáo. Trên thuyền ở tang trống bản Thôm cũng có người cầm mộc. Nhưng có lẽ chiến binh có vũ trang lá chắn đứng trên thuyền được khắc họa rõ ràng hơn cả là trên thạp Đào Thịnh.

Những lá chắn trong tay các chiến binh đứng trong các Ô chừ nhật ở phần lưng các trống đồng có hình dạng cơ bản giống nhau. Chúng được thể hiện thành những hình chữ nhật đứng, rìa cạnh ngoài có hai nét vạch thẳng song song, trên mặt là những đoạn vạch ngang song song phủ gần hết chiều dài, trừ hai đầu. Đầu trên có tua kéo dài, có chiếc có cả mào nhô lên, đầu dưới hơi vát xiên, khắc hình hồi văn.  Những lá chắn này bao giờ cũng có chiều dài hơn hẳn chiều cao thân người. Vị trí tay cầm ở thấp, gần phía đầu dưới (Bản vẽ 25, h.2).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv25.jpg?t=1229182788)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:01:26 PM


Những lá chắn trên tay chiến binh ở thuyền trên thạp Đào Thịnh được thể hiện không giống như trên. Chúng gồm hai phần: phần dưới - thân lá chắn, hình chữ nhật dài, nửa ‘ đầu thu nhỏ chiều dài bằng khoảng chiều cao thân người, phần trên có hình như chiếc lông chim hay bông lau cắm vào phần thân dưới, kéo dài vút lên cao, chiều dài gấp rưỡi, gấp đôi chiều dài phần dưới. Đây là bộ phận trang trí của tấm lá chắn, tương tự như vật trang trì trên đầu người cầm nó (Bản vẽ 25, h. 1).

Điều dễ nhận biết là tính ổn định, nhất quán trong cách sử dụng lá chắn. Lá chắn gần như lúc nào cũng đi kèm với rìu chiến. Trường hợp sử dụng cùng với giáo, lao là rất hiếm và cũng không thật rõ ràng. Lá chắn bao giờ cũng được cầm trong tay trái người chiến binh và bao giờ cũng ở vị trí trước mặt. Đây là cách cầm và vị trí hoàn toàn thích hợp với chức năng phòng hộ của loại vũ khí này. Trong một vài trường hợp, như trên lưng trống sông Đà, không thấy chiến binhcầm rìu hay cầm một thứ vũ khí nào khác, nhưng tay trái thì vẫn cầm mộc giơ ra phía trước, còn tay phải vẫn ở vị trí phía sau, xòe ra như múa hay cầm vật hình đầu chim.

Ngược lại, có một số trường hợp lại chỉ thấy chiến binh cầm rìu mà không có mộc kèm theo. Dù sao những sự thiếu đồng bộ này cũng không phổ biến, có thể coi là những ngoại lệ.  Quan sát kỹ những hoa văn trên mặt, tang, lưng trống, chúng ta còn có thể rút ra nhận xét rằng, trên mặt trống không có hình chiến binh cầm mộc. Chủ đề chính trang trí trên mặt trống là cảnh sinh hoạt và lễ hội của cơ dân Đông Sơn. Còn trên tang và lưng trống, không khí chiến đấu rõ rệt hơn. Những chiếc lá chắn xuất hiện chính trong khung cảnh sẵn sàng chiến đấu này khẳng định vai trò của chúng là một loại vũ khí phổ biến và quan trọng trong tay các chiến binh Đông Sơn.

Lá chắn của chiến binh Đông Sơn được chế tạo từ loại vật liệu nào? Chúng ta hầu như không có tài liệu vật thật để trả lời đầy đủ chắc chắn câu hỏi này. Một bằng chứng duy nhất, tuy xung quanh nó còn đầy nghi vấn, là tấm da thuộc tìm thấy trong ngôi mộ thuyền Việt Khê nổi tiếng.

Đây là một miếng da hình chữ nhật không còn nguyên vẹn. Kích thước tấm da đo được: dài 90 cm, rộng 40 cm. Bề mặt tấm da được sơn hai lớp mầu đen, trang trí bốn cặp hoa văn vòng tròn đồng tâm, vẽ bằng sơn mầu đỏ gạch và xám.  Đường kính vòng ngoài cùng 19 cm. ở giữa các vòng tròn có một núm kim loại đường kính 7,4 cm. Miếng da có hình hơi cong khum, kích thước tương đối lớn, có thể dùng làm lá chắn khá thích hợp. Các nhà nghiên cứu còn chú ý đến hiện tượng khá trùng hợp giữa tấm da Việt Khê và hình khắc trên thạp Đào Thịnh. Trên thạp Đào Thịnh gặp một hình lá chắn chữ nhật, trên mặt trang trí 3 vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến, phần nào gần gũi với hoa văn trên tấm da Việt Khê vừa nêu trên. Sự trùng hợp này cho phép ta vững tin hơn vào chức năng lá chắn của tấm da Việt Khê.

Cũng cần nói thêm rằng, có lẽ phần lớn lá chắn Đông Sơn được làm từ những vật liệu hữu cơ dễ bị tiêu hủy theo thời gian như gỗ, tấm đan hay bện bằng tre nứa, rơm cỏ. Đây là những vật liệu rất sẵn và dễ tạo tác. Phải chăng, những lá chắn có những đoạn ngang song song trên bề mặt trong tay các chiến binh khắc họa trong các ô chữ nhật ở lưng các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Miếu Môn... là phản ánh phần nào chất liệu như thế của chúng?

Còn có thể kể đến một loại vũ khí phòng vệ khác. Đó là những mũi chống hình củ ấu bốn mũi có ngạnh sắc tìm thấy  gần đây trong khu mộ táng Đông Sơn ở thị xã Lào Cai.
 
B. NHỮNG TRANG BỊ QUÂN SỰ KHÁC

Ngoài vũ khí, quân đội còn cần đến những trang thiết bị quân sự khác, từ các phương tiện cơ động, thông tin liên Lạc, chỉ huy đến những đồ dùng cá nhân như mũ, nón, giầy, dép, áo quần . . . Cũng như vũ khí, các trang bị quân sự này mang đậm tính chất địa phương, tộc người và tính thời đại.

  Trang bị quân sự giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương hẳn còn rất đơn giản và về cơ bản chưa phân biệt rạch ròi với các trang bị, đồ dùng sinh hoạt thường ngày của nhân dân. Ví như về quần áo, trang phục, không thấy có sự phân biệt nào giữa những chiến binh cầm vũ khí và những người cầm nhạc khí hay xòe tay múa khắc trên các mặt trống đồng.

Còn những chiến binh trên thuyền ở tang trống hay đứng trong các ô chữ nhật ở lưng trống, ăn mặc có khác nhau đôi chút, nhưng cơ bản vẫn là những người cởi trần đóng khố, người trên thuyền thì khố ngắn, người trong ô thì khố dài, hai vạt tỏa rộng tương tự như vạt khố, váy dài của người  nhảy múa trên mặt trống. Trong trang phục của các chiến binh này, phần đầu tóc được đặc biệt chú ý thể hiện, thường là rườm rà phức tạp hơn hẳn phần áo quần. Ở đây chúng ta không bàn về ý nghĩa của cách trang trí đầu tóc có tua hình bông lau, lông chim hay đầu chim, mà chỉ ghi nhận mối quan tâm đặc biệt đó trong sự so sánh với điều quy định đầu tiên về trang phục cho quân đội chính quy của nhà nước thời kỳ đầu nhà Đinh là binh lính đều phải đội mũ “tứ phương bình đính”, nghĩa là phần đầu tóc vẫn là chỗ được quan tâm làm cho thống nhất, đồng nhất trước tiên.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:05:25 PM


Chúng ta cũng không có tài liệu nào khác, ngoài 30 mảnh hộ tâm phiến đã biết, để nói về những bộ võ phục của các chiến binh Đông Sơn. Chỉ biết rằng những hộ tâm phiến này được sử dụng bằng cách xâu dây qua quai hay lỗ để đeo hay buộc. Mặt sau tấm che ngực hình chừ nhật rất đẹp tìm thấy trong mộ ở Thiệu Dương còn dính mẩu vải chứng tỏ nó đã được buộc bên ngoài áo. Có thể nghĩ rằng, chiến binh Đông Sơn, thậm chí cả các thủ lĩnh, tướng lĩnh cũng không có võ phục. Họ có thể ăn mặc như thường dân, khi vào trận mới đeo thêm tấm che ngực và cũng chỉ một số tướng lĩnh, chỉ huy mới được đeo và mới có mà đeo.

Một sự “đồng phục” nữa của chiến binh Đông Sơn, không phân biệt với dân thường, là tất cả đều đi chân không. Trên các hình khắc hay tượng tròn, đều thể hiện những đôi chân trần.

Lối ăn mặc giản dị, gọn nhẹ như thế của cả dân và binh Đông Sơn trước hết là do điều kiện tự nhiên môi trường quy định. Nó phù hợp với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều rừng rậm, sông ngòi chằng chịt.
 
Dần dần cách ăn mặc này trở thành thói quen, truyền thống của dân tộc. Đến tận thế kỷ X, vua Lê Hoàn cũng còn cởi trần đóng khố, như nhận xét của Sứ thần nhà Tống.
 
Vậy thì ở thời Hùng Vương - An Dương Vương trang phục - võ phục của binh lính, tướng tá, thủ lĩnh hẳn cũng chỉ đến vậy, đúng như đã được các nghệ nhân Đông Sơn thể hiện trên các sản phẩm đồ đồng của mình. Đương nhiên cũng có những ngoại lệ. Một số dân và  binh trong giới quý tộc giàu có, vào những dịp nhất định có thể mặc trang trọng, rườm rà hơn.
 
Tượng người ở một số cán  dao găm cho ta thấy hình ảnh cụ thể về họ. Trong số đồ đồng.  Đông Sơn đã tìm thấy một số khóa thắt lưng chế tạo khá cầu  kỳ, đẹp đẽ. Chúng đều được trang trì hoa văn, tượng rùa hoặc đeo thêm cả lục Lạc. Hiện chưa có cơ sở để gắn nó với những bộ lễ phục hay võ phục, vì vậy chỉ nêu ra đây để tham khảo.
 
Trang bị quân sự quan trọng hơn cả ở giai đoạn này phải kể đến phương tiện đảm bảo tính cơ động cho quân đội, đó là  thuyền bè. ở các phần trên chúng ta đã chửng minh rằng, phương tiện giao thông thuận tiện nhất, thông thường nhất và quan trọng nhất của người Lạ Việt - Âu Việt là thuyền, rằng trong cơ cấu quân đội đã hình thành hai thứ quân là quân bộ và quân thủy, mặc dù giữa hai bộ phận không có sự tách bạch rạch ròi. Thuyền bè được coi là phương tiện chuyển quân, chuyên chở lương thảo, và cũng không hiếm trường hợp thuyền tham gia những trận thủy chiến. Cứ nhìn những chiến binh lúc nào cũng lăm lăm vũ khí trong tay, đứng hay ngồi trên cả mấy chục chiếc thuyền khắc trên tang trống hay thân thạp Đông Sơn, ta cũng phần nào thấy được vai trò “thuyền chiến” của chúng.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv26.jpg?t=1229184247)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:07:29 PM
Các nhà nghiên cứu đã dựa chủ yếu vào các hoa văn trên đồ đồng Đông Sơn và một số di tích khảo cổ khác để tìm hiểu  về thuyền bè giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương. Dựa vào hình ảnh hàng trăm chiến thuyền được khắc họa trên các trống, thạp và trên một số chiếc rìu “nghi trượng”, kết hợp với những tài liệu về chính con thuyền như gặp ở Ngũ Thái (Hà Bắc) và mộ quan tài hình thuyền, có thể sơ bộ phân chia chúng thành ba loại theo hình dạng và quy mô.

Loại nhỏ và đơn giản hơn cả là thuyền độc mộc và thuyền thúng. Chính những chiếc quan tài hình thuyền thuộc văn hóa Đông Sơn phát hiện được phổ biến ở vùng trũng đồng bằng sông Hồng đã cho biết cụ thể phần nào hình dạng những chiến thuyền độc mộc thời ấy. Có thể lấy chiếc quan tài hình thuyền lớn ở Việt Khê làm ví dụ. Quan tài được làm từ một thân cây gỗ rất lớn, đường kính tới gần 1 m, được khoét rỗng hình lòng máng, sâu từ 0,24-0,34 m, bên ngoài chỉ đẽo vạt sơ qua, hai đầu bịt bằng hai tấm ván dày có rãnh hoặc chốt hãm, đầu lớn rộng 0,77 m đầu nhỏ rộng 0,57 m.  Quan tài có hình dáng như một chiếc thuyền độc mộc dài 4,76 m (bản vẽ 26, h.3). Phần lớn quan tài hình thuyền Đông Sơn có chiều dài trên dưới 2 m, đường kính khoảng 0,50 m, nhưng chắc những chiếc thuyền độc mộc được những chủ nhân những mộ này sử dụng lúc sinh thời phải có quy mô lớn hơn. Đo theo luật tương quan những chiếc thuyền độc mộc khắc trên trống đồi Ro, làng Vạc, các nhà nghiên cứu đã cho rằng, những thuyền đó có chiều dài ít nhất là 3 m, dài nhất tới 10 m, trung bình là 6-7 m.

Loại thuyền độc mộc đơn giản này hiện vẫn còn được đồng bào miền núi sử dụng để đi lại trong phạm vi hẹp, chở được chừng vài ba người và hàng hóa nhẹ.

Có ý kiến nhận xét rằng, một vài chiếc thuyền khắc họa trên vài chiếc rìu phát hiện được ở vùng sông Mã thuộc loại thuyền thúng (Bản vẽ 26, h.1, 2).

Thuyền thúng được đan bằng tre, sơn, trít nhựa cây, sơn ta để chống thấm nước.. Thuyền có thể có hình bầu dục, chỉ chở được tối đa ba người. Khảo cổ học chưa phát hiện được một chiếc thuyền nào kiểu này, nhưng lại biết rất rõ sự phát triển của nghề đan lát ở thời Hùng Vương - An Dương Vương qua hàng loạt dấu phên đan kiểu lóng mốt, lóng đôi tìm thấy trong mộ  táng, dưới đáy đồ gốm.

Nghề sơn ta cũng đã được người Đông Sơn sử dụng thành thạo. Những đồ sơn đẹp, kỹ thuật khá cao đã tìm thấy ở các mộ thuyền Việt Khê, Minh Đức. . . Nếu thuyền độc mộc được sử dụng nhiều ở vùng núi độ  dốc cao, nhiều thác thì thuyền thúng chủ yếu được dùng ở các vùng sông nước có dòng chảy êm đềm hơn và phạm vi hoạt động hạn hẹp hơn. Tuy nhiên, khi cần thì cả thuyền độc mộc, cả thuyền thúng đều có thể tham gia đánh trận được. Đó là chưa kể có những trường hợp, đặc biệt là với lối đánh du kích, thì những loại thuyền nhỏ có tính cơ động, gọn nhẹ và đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ, lại đắc dụng hơn.
 
Trên những trống, thạp Đông Sơn có niên đại tương đối sớm có trang trí hoa văn hiện thực như Cổ Loa, Miếu Môn, sông Đà... khắc họa những chiếc thuyền thuộc loại lớn hơn.

Đây không còn là những chiếc thuyền độc mộc nữa mà đã là những chiếc thuyền ghép ván có cấu tạo phức tạp, bao gồm cả chèo lái ở đuôi thuyền, một số trường hợp ở đáy thuyền có một hoặc hai tấm ván để giữ thăng bằng cho thuyền.
 
Chiều dài của thuyền loại này có thể từ 10 - 15 m . Đó là những đặc điểm chung, nếu đi vào chi tiết thì thấy chúng rất đa dạng, khó tìm thấy những chiếc giống hệt nhau, kể cả những thuyền khắc họa trên cùng một trống, thạp.
Có thể nêu vài ví dụ về loại thuyền này.

Thuyền trên trống Cổ Loa I: thuyền cong hình cánh cung. Đầu thuyền vươn cao có chạm khắc hình đầu chim quay mỏ về phía lòng thuyền. Đuôi thuyền có một cây cộtcắm hơi xiên. Mái chèo có vai trò cầm lái ở đuôi thuyền rất lớn, bản rộng do một người đứng điều khiển. Đầu mũi cũng có một mái chèo nhưng nhỏ hơn và ngắn hơn mái chèo sau nhiều, cũng do một người đứng chèo. Ngay trên mái chèo trước, nhưng ở dưới đáy thuyền nhô ra một tấm ván nhỏ, thân thuyền ghép ván biểu hiện bằng những vạch xiên ngắn song song (Bản vẽ 27, h.1).

Thuyền trên trống Miếu Môn II có phần thân thuyền mập hơn thuyền Cổ Loa, trông bề thế vững chắc hơn nhưng có lẽ ngắn hơn thuyền Cổ Loa. Thân thuyền ghép ván được biểu hiện bằng những nhóm vạch ngang, dọc xen kẽ. Đầu và đuôi thuyền hơi cong, đều có hình đầu chim. Ở đây không thấy những mái chèo cầm lái ở đuôi và đầu thuyền do người đứng chèo, thay vào đó chỉ là những người ngồi chèo bình thường, mái chèo nhỏ. Nhưng ở thuyền này bộ phận ván quạt nước và giữ thăng bằng lái rất được chú ý thể hiện ở đáy thuyền, ngay dưới chỗ người chèo đầu thuyền ngồi và ở phía đuôi thuyền (Bản vẽ 27, h.3).

 Thuyền trên trống bản Thôm có dáng khá thẳng, không cung hình cung như những thuyền kể trên. Không thấy ai chèo thuyền.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:12:12 PM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv27.jpg?t=1229184678)
Thuyền trên trống Miếu Môn I khác những thuyền trên ở chỗ có đầu và đuôi kép. Phần đuôi kép có thể chỉ là sự trang trí (?), nhưng phần đầu kép rõ ràng có vai trò thực dụng: đầu trước kéo rất dài, chiếm 1/5 chiều dài cả thuyền, một chiến binh cầm rìu ngồi ở cuối, sát với chỗ đầu đao cong vút của đầu sau, tựa lưng vào vách đầu đó. Mái chèo lái ở đuôi thuyền rất lớn (Bản vẽ 27, h.2).

Thuyền trên thạp Đào Thịnh có chiếc cong hình cung không cân đối - phía mũi độ cong lớn hơn phía đuôi. Đầu và đuôi đều trạng trí lông .chim cao vút. . Có người cầm chèo mái đứng lái ở đuôi thuyền. Mái chèo này được thể hiện dài và lớn. Đằng mũi không có mái chèo như một số thuyền khác  (bản vẽ 28, h.3).

Căn cứ vào những hình người có mặt trên thuyền có thể nhận xét rằng chúng đã được dùng cả trong thời bình và thời chiến. Có những thuyền chỉ có người ăn mặc sơ sài ngồi chèo, dầm chèo nhỏ (như thuyền Miếu Môn II), có thể hiểu rằng họ đang đi lại ,chuyên chở, làm ăn bình thường trên sông nước hoặc đang tham gia vào một ngày hội nào đó của làng xã (trên đầu đều đội mũ hóa trang lông chim). Có những thuyền thành phần người đa dạng: có người chèo thuyền, có người đứng xòe tay như múa, không cầm vũ khí, có những người cầm vũ khí (thuyền trống Miếu Môn II, thạp Đào Thịnh). Có những thuyền, người cầm vũ khí chiếm số lượng áp đảo (thuyền trống bản Tham, Cổ Loa I).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:14:41 PM


Loại thuyền lớn nhất, có thể gọi là thuyền chiến được khắc họa trên những chiếc trống Đông Sơn đẹp nhất như trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, thạp đồng Việt Khê, Hợp Minh. . .

Đặc điểm nổi bật của loại thuyền chiến này là sự có mặt của bộ phận đài cao - vọng lâu, có thể là nơi giành cho người chỉ huy hoặc là đài quan sát và chắc chắn nhất là vị trí chiến đấu của những lính cung nỏ. Các loại thuyền khác không có bộ phận vọng lâu này. Thuyền ghép ván có chiều dài, tính theo luật tương quan, có thể tới trên 20m.

Đầu và đuôi thuyền bao giờ cũng có cấu tạo phức tạp, có khi rất rối. Mái chèo lái ở duỗi thuyền lớn do một người đứng hoặc ngồi điều khiển. Phía mũi thuyền có từ 1-2 cái mỏ neo (?) thả dài. Có người cho đây là mái chèo lái đằng mũi, nhưng có lẽ không phải vì không thấy ai giữ mái chèo cả.
 
Trên thuyền không có người chèo thuyền, chỉ có một người bắt lái ở đuôi thuyền, có lẽ thuyền chạy bằng buồm. Sự bài binh bố trận trên thuyền khá là thống nhất và hợp lý chứng minh thêm cho tính chất quân sự của loại thuyền này. Có thể nêu ra vài ví dụ.  Sáu thuyền trên tang trống Ngọc Lũ cơ bản giống nhau, chỉ khác vài chi tiết. Thân thuyền ghép ván cong cánh cung đều ván ghép được thể hiện bằng những nhóm vạch ngang dọc xen kẽ. Đầu thuyền cấu tạo rối rắm khó tả, đuôi kép uốn cao, trang trí hình đầu chim, cắm lông chim. Mái chèo lái đằng đuôi rất lớn, rộng bản, người đứng hoặc ngồi chèo trong tư thế gắng sức.
 
Sạp lầu - vọng lâu bố trí ở phần nửa sau thân thuyền, có khi gần giữa, có khi lui về phía đuôi thuyền. Vọng lâu cao chừng trên 1,5 m. Trên sạp vọng lâu có từ 1 -2 người đứng, bao giờ cũng có một người stí dụng cung tên hoặc nỏ. Dưới sạp cất giữ đồ đồng quý như trống, bình đồng. Ở giữa thuyền hoặc lùi về phía mũi là vị trí của người đứng đánh trống da(?) và chiếc trống da được đặt nằm ngang trên một hệ thống cọc, đỡ cao ngang ngục hoặc ngang mặt người đánh. Tay trái của người này đặt trên mặt trống, tay phải giơ ra sau nắm đầu một tù binh bì trói ngồi bệt trên sàn thuyền.
 
Ở sát mũi thuyền là một chiến binh ngồi, hai tay cầm rìu xéo giơ lên phía trước. Sau anh ta có khi có chiến binh đứng tay cầm giáo, có khi không. Cũng như vậy, phía sau người đánh trống da, có khi có thêm một chiến binh cầm giáo, lao hành thích tù binh cùng với người đánh trống, có khi không (bản vẽ 28, h.2).
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv28.jpg?t=1229184779)



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:16:32 PM


Thuyền trên trống Hoàng Hạ có thân ghép ván tương tự  thuyền Ngọc Lũ nhưng ít cong hơn. Đuôi và đầu thuyền uốn cong trang trí hình đầu chim. Mái chèo lái ở đuôi thuyền rộng bản, dài. Ở đầu thuyền có hai mỏ neo  thả dài từ đáy xuống. Sạp vọng lâu cao chừng 1,5 m vừa bằng chiều cao một người đứng trong đó. Trên vọng lâu có một người điều khiển nỏ. Giữa thuyền cũng là hình trống da và người đánh trống tay trái, tay phải nắm đầu tù binh ngồi phía sau. Ở đây không có chiến binh cầm rìu ngồi ở mũi thuyền, chỉ có hai người đứng tay trái đều cầm lao, tay phải cầm rìu xéo hoặc cầm gậy (Bản vẽ 28, h. 1).

Như vậy, trên các thuyền chiến, trừ người ngồi cuối thuyền bẻ lái, những người còn lại đều là chiến binh cầm vũ  khí hoặc người chỉ huy đánh trống thúc trận. Tính chất thuyền chiến của loại thuyền lớn này là rõ ràng. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng những chiếc thuyền chiến thể hiện trên các trống, thạp này đang tham gia vào một ngày lễ hội lớn nào đó, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì các thuyền chiến này bang tham gia “duyệt binh”, phô diễn sức mạnh và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của mình.

Bởi vì, như đã thấy, phần lớn những chiến binh trên thuyền và ngay cả chiến thuyền cũng đều có trang sức rườm rà ở phần đầu: đầu các chiến binh đội mũ trang trí hình đầu chim hay lông chim có tua. Đầu và đuôi thuyền cũng vậy. Và sự có mặt của những chiếc trống, âu bên dưới vọng lâu cũng là điều cần chú ý và đã có ý kiến cho rằng đây là những thuyền buôn đem đồ đồng quý vượt biển đi trao đổi buôn bán với các nước láng giềng.  Những giả thiết ấy đều có thể đúng, nhưng dù thế nào thì tính chất thuyền chiến của chúng là rõ ràng.

Ngoài phương tiện thuyền, chúng ta chưa có bằng chứng nào chứng tỏ quân đội Hùng Vương và có lẽ cả quân đội An Dương Vương, sử dụng chiến xa và ngựa chiến. Tài liệu di cốt động vật trong các di tích giai đoạn này hầu như không có xương ngựa. Cũng không thấy bóng dáng những đoàn kỵ binh trong các truyền thuyết chiến tranh thời Hùng Vương - An Dương Vương, ngoại trừ con ngựa sắt của Thánh Gióng và con ngựa của An Dương Vương cùng Mỹ Châu chạy trốn khi thua trận.
 
Gần đây đã phát hiện được trong khu mộ táng ở thị xã Lao Cai những mảnh đồng có hoa văn dùng để trang trí đầu các con ngựa chiến của tướng lĩnh. Phát hiện này cùng với phát hiện các khâu đeo vũ khí bằng đồng trong một số địa điểm văn hoá Đông Sơn như Đông Sơn, Vinh Quang, Lào Cai... đã hé mở khả năng dùng ngựa trong chiến trận từ thời Hùng Vương - An Dương Vương.
 
Đối với phương tiện chiến xa - thứ trang bị quân sự khá phổ biến trong các đội quân phương Bắe, cũng có tình hình tương tự. Có thể nói quân đội Hùng Vương - An Dương Vương không có truyền thống sử dụng chiến xa và kỵ binh. Thực tế thì môi trường sống của người Lạc Việt - Âu Việt không tạo điều kiện để quân đội phát triển theo hướng này.

Tuy nhiên, chúng ta lại có cơ sở để nói đến sự tham gia của những súc vật đặc trưng của vùng nhiệt đới - voi và trâu, vào lĩnh vực giao thông nói chung, trong đó không loại trừ khả năng tham chiến.
 
Đã tìm thấy tượng voi thồ trống đồng được tạc trên cán dao găm đồng ở địa điểm làng Vạc. Có lẽ voi đã được thuần dưỡng từ lâu trước đó. Xương voi đã tìm thấy ở một số địa điểm như Đồng Đậu, Đông Sơn, Chiền Vậy, Đình Tràng, Đường Mẩy. . .
 
chưa phát hiện được những chứng tích cụ thể về việc dùng voi trong trận mạc ở thời Hùng Vương - An Dương Vương, nhưng hẳn ai cũng biết đến tài sử dụng voi trận của Hai Bà Trưng trong nửa đầu thế kỷ I. Thực tế này cho phép ta ngh đến khả năng dùng voi trận của tổ tiên những vị nữ anh hùng dân tộc này, tức là những Lạc tướng từ thời Hùng Vương - An Dương Vương lập quốc.

Những phương tiện thông tin liên Lạc, truyền mệnh lệnh chiến đấu, thúc quân, thu quân... đối với mỗi trận đánh đều rất quan trọng. Chúng ta không biết hết những phương tiện đã được quân đội Hùng Vương - An Dương Vương sử dụng. Nhưng ít nhất thì qua tài liệu khảo cổ và thư tịch cổ cũng có thể biết chắc sự góp mặt trong đó của trống da và trống đồng.  Ở trên đã giới thiệu về các loại thuyền của người Đông Sơn (ở các giai đoạn sớm hơn - Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun chưa có tài liệu cụ thể cho phép nói về vấn đề này). 

Trên nhiều chiến thuyền loại lớn và trên tất cả các chiến thuyền, đều có hình trống nhỏ đặt nằm ngang trên bộ cọc - giá đỡ, trước mặt một người đứng đánh trống. ở đây có lẽ người ta đánh trống không phải để giữ nhịp chèo (trên thuyền không có người chèo) là chính, mà chính là để ra hiệu lệnh chiến đấu, đốc thúc binh sĩ, tạo khí thế và sự hiệp đồng chiến đấu, đồng thời tạo thanh thế, uy hiếp đối phương.

 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:18:55 PM


Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều chức năng, công dụng của trống đồng trong đời sống cư dân Đông Sơn, trong đó có chức năng quân sự. Một số sách Trung Quốc cổ như Tùy thư - Địa lý chí, chuyện Man di trong Tống sử có nhắc đến việc người phương Nam dùng trống đồng khi đánh nhau.  Truyền thống dùng trống đồng trong chiến đấu của dân tộc ta còn được gìn giữ mãi đến sau này. Trong Kiên văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã dẫn lại bài thơ Sứ hoàn cảm sự (cảm tưởng sau khi đi sứ về) của sứ nhà Nguyên sang nước ta thời Trần Nhân Tông là Trần Cương Trung, trong đó có câu thơ được dịch ra như sau:

“ánh lóe gươm sắt, lòng thêm đắng
Tiếng rộn trống đồng, tóc đốm hoa”.

Khí thế trận đánh được biểu hiện ở tiếng trống đồng rộn  rã, thúc giục binh sĩ xông lên tiêu diệt kẻ xâm lược, làm cho quân thù khiếp vía, kinh hồn. Nay chỉ nghe thấy tiếng trống đồng đã thấy sợ bạc cả tóc.

Cho tới nay, trên địa vực phân bố văn hóa Đông Sơn đã phát hiện được trên 100 trống đồng được coi là do chính người Đông Sơn sản xuất và sử dụng, không kể gần 100 chiếc trống minh khí. Chúng có mặt ở cả ba khu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Trong đó những trống Đông Sơn sớm, tiêu biểu và đẹp nhất chủ yếu phân bố ở lưu vực sông Hồng.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv29.jpg?t=1229185090)



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 11:39:34 PM

Trống Đông Sơn còn được tìm thấy ở các vùng đất khác, ngoài Việt Nam như miền nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, lnđônêxia... Nhưng không ở đâu trống Đông Sơn lại phân bố dày đặc như ở Việt Nam và cũng không nơi đâu tìm thấy nhiều trống đẹp nhất, sớm nhất như ở Việt Nam. Có thể nói, Việt Nam là quê hương của trống Đông Sơn (Bản vẽ 29, h.1, 2).  Trống đồng đã gắn bó bao đời với người Lạc Việt, đã trở thành vật biểu Trưng cho tinh thần, khí phách, sức mạnh của cộng đồng. Hẳn là bởi vậy mà sau này, để thực hiện chính sách đồng hóa, tiêu diệt tinh thần dân tộc của người Lạc Việt, viên quan đô hộ Mã Viện đã ráo riết thu gom trống đồng để phá hủy.

Lúc này chúng ta chưa thể trả lời được một cách đầy đủ, chính xác câu hỏi: bắt nguồn từ đâu, vì những lý do nào mà trống đồng lại trở nên linh thiêng đến vậy đối với cơ dân Lạc Việt. Nhưng có thể nói chắc chắn rằng, vai trò trống chiến - trống trận của trống Đông Sơn phải nằm trong số những lý do quan trọng nhất đó.

Cùng với trống, một phương tiện truyền tin khác trở thành truyền thống đã xuất hiện từ thời Đông Sơn là những chiếc tù và làm bằng vỏ ốc biển hay bằng sửng trâu mà có thể hình ảnh của nó được khắc hoạ trong tay một chiến binh trên thân trống bản Thôm (Sơn La).

*

*       *

Từ những tài liệu hiện biết tuy còn rất ít về vũ khí và trang bị quân sự thời Hùng Vương - An Dương Vương, có thể nêu lên một số nhận xét như sau:

1. Về tình hình và đặc điểm vũ khí - trang bị quân sự trong các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu , Gò Mun - Đông Sơn.

Ở giai đoạn đầu - giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, vũ khí còn hiếm và thô sơ. Hiện mới chỉ gặp ở đây đó trong một số di tích một vài mũi tên bé nhỏ, vài mảnh lao, giáo, qua...  Tất cả đều được làm từ vật liệu duy nhất là đá. Vào thời văn hóa Phùng Nguyên, kỹ thuật chế tác đá đã đạt tới đỉnh cao của nghề thủ công chế tác đồ đá tiền sử, với việc sử dụng và kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp ghè, đập, cưa, khoan, mài, đánh bóng... Các phương pháp này đã được người Phùng Nguyên sử dụng để làm ra những vũ khí đá cho mình.

Dưới đây là bảng thống kê các loại vũ khí đá tìm thấy trong sáu địa điểm khác nhau, trong đó có những di tích Phùng Nguyên điển hình đã được khai quật diện rộng.  Từ những tài liệu thu được ở hàng chục di tích văn hóa Phùng Nguyên đã được điều tra, khai quật và một phần được phân loại qua bảng thống kê trên, có thể nhận xét về đặc điểm vũ khí ở giai đoạn này như sau:

- Về số lượng rất ít. Tỷ lệ vũ khí so với tổng số đồ đá cao nhất cũng chỉ là 1,2%, thấp nhất là 0%, trung bình là 0,57%.

- Về loại hình, phần lớn vũ khí có kích thước nhỏ, phổ biến nhất là mũi tên, các loại vũ khí khác như mũi nhọn, mũi lao, giáo, qua ít gặp.

- Tất cả vũ khí được làm bằng đá. Kỹ thuật chế tác đạt đến trình độ cao của kỹ nghệ chế tác đá thủ công.

- Chức nàng chính của vũ khí giai đoạn này là dùng trong săn bắn và tự bảo vệ trước thú rừng, chưa nhằm mục tiêu quân sự.

Ở giai đoạn tiếp theo - giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun tình hình vũ khí đã có những thay đổi đáng kể. Bên cạnh vũ khí đá có thêm vũ khí xương và đặc biệt là sự xuất hiện và phát triển đột biến của vũ khí đồng thau. Điều này được minh họa bằng các bảng thống kê ở sáu địa điểm trong một số đợt khai quật (xem bảng 19, 20, 21).
 
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng18.jpg)
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:02:31 AM


(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng19.jpg?t=1229187706)
Các bảng thống kê cho thấy, vũ khí đá có mặt trong giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun tương tự như vũ khí đá giai đoạn trước, nhưng số lượng giảm đi rõ rệt. Trong khi đó, vũ khí xương có sự phát triển mạnh, tuy không mang tính phổ biến chung cho mọi địa điểm, mà tập trung vào một địa điểm.

Kỹ thuật chế tạo vũ khí đá không khác gì giai đoạn trước. Vũ khí xương cũng được chế tạo bằng các phương pháp như với vũ khí đá: các đoạn xương thú lớn được chẻ, chặt đẽo cho thành hình rồi dùng kỹ thuật gọt, mài để hoàn chỉnh.

Vũ khí bằng đồng vừa mới chính thức xuất hiện đã nhanh chóng phát triển, chiếm lĩnh vị trí chủ đạo. Tính ưu việt của vật liệu mới - đồng thau, đã nhanh chóng chinh phục người Đồng Đậu - Gò Mun, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo vũ khí.

Bằng phương pháp đúc có thể chế tạo nhanh chóng hàng loạt sản phẩm giống nhau theo khuôn mẫu đã định sẵn. Tài liệu khảo cổ học và các khoa học liên quan khác đã khẳng định, đồ đồng nói chung, vũ khí đồng nói riêng ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun được đúc bằng khuôn hai mang từ hợp kim đồng - thiếc.

Những mảnh khuôn đúc mũi tên, mũi nhọn đã tìm thấy ở các địa điểm khác nhau như Đồng Đậu, Đồng Dền, Đồng Lâm... Đặc biệt ở địa điểm Thành Dền đã phát hiện được gần 40 mảnh khuôn đúc trong đó có khuôn đúc giáo, lao ngạnh, mũi nhọn. Địa điểm Thành Dền là một trung tâm đúc đồng quan trọng nhất giai đoạn văn hóa Đồng Đậu ta đã biết được cho đến nay. Ở địa điểm Đồng Đậu, nơi đã gặp cả loại khuôn đúc liền một lúc hai mũi tên cánh én, đã phát hiện dấu tích một lò nấu đồng khá lớn.  Lò đắp bằng đất sét có thể cao tới 1 m, đường kính lòng lò 0 15 m, đường kính cả thân lò đến 0,55 m.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:05:22 AM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng20.jpg?t=1229187845)
(http://)
Khuôn đúc giai đoạn này thường làm bằng đá cát, một số làm bằng đất nung. Khuôn có hai mang, kỹ thuật tạo khuôn đã đạt đến những tiêu chuẩn cần thiết, đảm bảo cho các mẻ đúc thành công. Các khuôn có quy mô nhỏ, hai mang giáp khít, có đậu ngót và đậu róc bố trí hợp lý. Cả khuôn thường có hình khối bầu dục hoặc gần tròn với hai đầu mài bằng.
 
Vật đúc được khoét lõm ở mặt trong của mỗi mang khuôn.  Các khuôn đá đều được mài nhẵn, chế tác cẩn thận. Một mang của khuôn đúc hai mũi tên ở địa điểm Đồng Đậu có kích thước: dài 7,2cm, rộng 4,4 cm, dày 2,3 cm (Bản vẽ 30, h.1).  Hợp kim dùng để chế tạo đồ đồng, cả công cụ và vũ khí, giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun là hợp kim đồng thiếc (Cu+Sn).
 
Kết quả phân tích hơn 50 mẫu đồng lấy từ các loại hình di vật khác nhau, trong đó có các loại mũi tên, mũi lao, mũi nhọn thuộc giai đoạn pha chế theo một tỷ lệ ổn định và đạt đến mức lý tưởng: đồng chiếm trên dưới 80%, thiếc - trên dưới 15%. Với tỷ lệ này, hợp kim đồng trở nên cứng rắn phù hợp với yêu cầu chế tạo các loại công cụ và vũ khí cần đến độ sắc bén của rìa tác dụng.

Về loại hình, bên cạnh sự phát triển tiếp tục của những vũ khí cỡ nhỏ - mũi tên, mũi nhọn, lao, ở giai đoạn này đã bắt đầu chế tạo được những vũ khí lớn hơn như giáo, dao chiến, tuy rằng chúng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (giáo 40%, dao chiến 1% trong tổng số vũ khí đồng thau) .  .. Từ những sốhệu trên có thể nhận xẹt về đặc điểm vũ khí ở giai đoạn này như sau:

Về số lượng: bảng thống kê dưới đây (Bảng 22) cho thấy vũ khí đã tăng lên đáng kể so với giai đoạn đầu.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:12:06 AM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng22.jpg?t=1229188080)
Như vậy, tỷ lệ vũ khí nơi cao nhất đã lên đến 31,48%, thấp nhất cũng là 4,51%, trung bình là 16, 28%, gấp gần 30 lần giai đoạn trước? Tuy nhiên đã có sự phát triển không đều về mặt số lượng vũ khí giữa các địa điểm, quãng cách về số lượng giữa địa điểm nhiều nhất và ít nhất tới hơn bốn lần.  Quãng cách này sẽ giảm hẳn ở giai đoạn sau.

- Về loại hình, vũ khí có kích thước nhỏ vẫn chiếm ưu thế, gồm mũi tên, lao, mũi nhọn. Những loại vũ khí lớn hơn như giáo, dao chiến đã phổ biến hơn có thể xem là chuẩn bị .  cho sự bùng nổ của loạt vũ khí có quy mô lớn chiếm ưu thế ở giai đoạn sau.

- Về chất liệu và kỹ thuật chế tạo, vũ khí giai đoạn này được chế tạo từ ba loại vật liệu khác nhau là đá, xương, đồng.

Hiện tượng này phản ánh tính chất bản lề của giai đoạn: cả về số lượng, loại hình và chất liệu vũ khí một mặt vẫn bảo lưu một số yếu tố của giai đoạn trước, mặt khác đã manh nha những yếu tố của giai đoạn sau. Bên cạnh kỹ thuật chế tác vũ khí tương tự giai đoạn trước, đã xuất hiện kỹ thuật mới - kỹ thuật luyện kim - đúc đồng. 60 % vũ khí ở giai đoạn này được chế tạo từ vật liệu mới.

- Vũ khí giai đoạn này có lẽ đã được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, trong đó, mục đích quân sự đóng vai trò ngày càng quan trọng và chính yếu, đặc biệt là đối với vũ khí bằng đồng thau.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv30.jpg?t=1229188286)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:20:48 AM

Sự “bùng nổ” của vũ khí - trang bị quân sự thời đại Hùng Vương - An Dương Vương dựng nước diễn ra ở giai đoạn cuối - giai đoạn văn hóa Đông Sơn.

Ở giai đoạn này, vũ khí đá và xương đã mất hẳn vai trò, vũ khí đồng thau thay thế gần như hoàn toàn. Nhưng không  phải vì thế mà số lượng và tỷ lệ vũ khí giảm đi, ngược lại, nó đã tăng cao đến mức đáng kinh ngạc. Dưới đây là bảng thống kê phân loại số vũ khí thu thập được trong một số cuộc khai quật ở sáu điểm văn hóa Đông Sơn tiêu biểu (xem Bảng 23). 

Bảng thống kê cho thấy, tỷ lệ vũ khí cao nhất ở địa điểm Vinh Quang (theo tài liệu khai quật hố III năm 1967) lên tới 74,4%. Tỷ lệ thấp nhất ở làng Vạc (tài liệu khai quật năm 1980) cũng là 27,l%. Tỷ lệ trung bình của sáu địa điểm tính được là 47,4%, tăng hơn tỷ lệ trung bình của sáu địa điểm Đồng Đậu - Gò Mun gần ba lần. Tình hình phân bố vũ khí ở các địa điểm nhìn chung không chênh lệch nhiều, tỷ lệ xê dịch trong khoảng trên dưới 50%.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng23.jpg)
Về mặt loại hình, vũ khí giai đoạn Đông Sơn cũng có sự phát triển mạnh mẽ. Trước hết là sự đa dạng, phong phú của các chủng loại vũ khí. Bên cạnh những loại vũ khí nhỏ phổ biến từ giai đoạn trước như mũi tên, lao, nay tiếp tục được sử dụng đã xuất hiện những loại hình vũ khí mới có kích thước lớn hơn, tính năng, tác dụng cao hơn như dao găm, rìu chiến, rìu xéo, kiếm ngắn.

Sự đa dạng còn thấy ở ngay bên trong mỗi chủng loại vũ khí được phản ánh qua sự có mặt của nhiều loại hình, nhiều kiểu dáng. Những loại vũ khí được người Đông Sơn sử dụng nhiều nhất là giáo, rìu xéo, cung tên nỏ, dao găm. Song không phải người Đông Sơn ở các trung tâm khác nhau thuộc lưu vực các sông Hồng, Mã, Cả có thói quen, sở trường sản xuất và sử dụng các loại vũ khí như nhau. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra rõ ràng tính thống nhất trong đa dạng Đông Sơn qua bộ vũ khí hết sức phong phú của nó.

Về loại hình các trang bị quân sự, nếu như ở các giai đoạn sớm chúng ta chưa có tài liệu để tìm hiểu, thì ở giai đoạn này đã có thể khẳng định chắc chắn sự phổ biến của các loại thuyền được sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là những loại thuyền lớn - thuyền chiến. Bên cạnh đó là những trang bị khác như trống đồng, trống da được sử dụng với tư cách là trống trận, trống chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:23:08 AM


Về kỹ thuật sản xuất, hầu hết vũ khí Đông Sơn được chế tạo bằng đồng thau. Kỹ thuật luyện kim, đúc đồng Đông Sơn là một bước tiến vượt bậc so với giai đoạn trước. Chính những chiếc trống, thạp rất lớn, rất đẹp, đòi hỏi tay nghề điêu luyện là sản phẩm của những người Lạc Việt ở giai đoạn này. Với những sản phẩm có trình độ cao, họ xứng đáng được tôn vinh là bậc thầy của kỹ nghệ luyện kim thủ công không phải chỉ ở thuở ấy mà cho đến tận ngày nay. Đối với họ việc luyện đúc các loại vũ khí, dù là những loại rìu nghi trượng có trang trì hoa văn tinh tế, những chiến dao găm cán tượng người, tượng thú. . . đã trở thành bình thường. Phương pháp đúc bằng khuôn hai mang là phương pháp được sử dụng để chế tạo các loại vũ khí khác nhau (trừ hộ tâm phiến, có lẽ được đúc bằng khuôn một mang).

Đến nay đã phát hiện được nhiều khuôn, mảnh khuôn bằng đá hay bằng đất nung dùng để đúc rìu, giáo, dao găm, kiếm ngắn (Bản vẽ 30, h.2, 3).

Qua cấu tạo khuôn có thể biết được rằng, người Đông Sơn đã nắm vững những nguyên lý cơ bản về đúc kim loại, về tính chất lý hóa của hợp kim. Bao giờ khuôn cũng có đậu róc và đậu ngót có khấc giáp khuôn và kẹp chặt hai mang chống sức ép của nước kim loại trong khuôn.

Qua những mảnh khuôn đúc vỡ bằng đất nung, chúng ta có thể thấy, khuôn đúc loại này đã được chế tạo rất cẩn thận, đáp ứng tốt các yêu cầu kỹ thuật cần có đối với loại khuôn đúc sử dụng nhiều lần. Khuôn đúc chuôi kiếm tìm thấy ở địa điểm làng Cả là một loại khuôn như vậy. Nó được tạo từ hai lớp - lớp trong đắp bằng đất sét trộn nhiều than trấu dày 5-7mm. Nhờ có lớp này, khuôn đúc chịu được nhiệt độ cao, khi róc nước đồng, khí thoát nhanh, tránh cho vật đúc bị lỗ rỗ, lớp ngoài đắp bằng đất sét pha cát luyện kỹ.

Kỹ thuật tạo hợp kim để đúc đồng giai đoạn này có sự phát triển đáng kể. Bên cạnh hai thành phần cơ bản là đồng và thiếc được sử dụng phổ biến ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, đã xuất hiện thành phần cơ bản thứ ba, đó là chì. Có thể nói, đặc điểm hợp kim đồng thau Đông Sơn là hợp kim ba thành phần đồng, thiếc, chì. Đây là một sáng tạo quan trọng của thợ đúc Đông Sơn. Hợp kim có chì có nhiều ưu điểm: dễ nóng chảy, dẻo, dễ điền đầy vào các chi tiết vật đúc. Mặt khoe, sự có mặt của thành phần kim loại thứ ba đã mở rộng hơn nguồn nguyên liệu, tạo ra được nhiều nguyên liệu cung cấp cho các lò luyện kim - đúc đồng, đáp ứng nhu cầu rất lớn và ngày càng tăng của xã hội đối với các loại đồ đồng, đặc biệt là nhu cầu về vũ khí.

Hợp kim đồng - thiếc với tỷ lệ lý tưởng sáu đồng- mộtthiếc) là hết sức phù hợp cho chế tạo các công cụ, vũ khí cần độ cứng và sắc bén của rìa lưỡi, mũi nhọn. Người Đông Sơn cũng nắm vững nguyên tắc này và tiếp tục truyền thống luyện kim đúc đồng của người Đồng Đậu - Gò Mun, chế tạo  nhiều vũ khí từ hợp kim hai thành phần đồng - thiếc. Ngay khi cần sử dụng hợp kim ba thành phần cơ bản đồng, thiếc, chì, để chế tạo vũ khí, người ta cũng có ý thức tăng hàm lượng thiếc để đảm bảo độ cứng, sắc cho sản phẩm.

Cho đến nay, chưa có nhiều tài liệu để tìm hiểu về trung tâm sản xuất đồ đồng nói chung, vũ khí đồng nói riêng ở giai đoạn Đông Sơn.

Chúng ta chưa tìm thấy những lò luyện kim - đúc đồng có tầm cỡ kiểu như “quan xưởng” hay những làng nghề đúc đồng nào, mặc dù biết chắc rằng nếu không có những tổ chức sản xuất quy mô như vậy thì không thể có những chiếc trống, thạp đồng Đông Sơn. Tuy nhiên chúng ta đã tìm thấy những bằng chứng về nghề luyện kim - đúc đồng bản địa qua sự tồn tại khá phổ biến của các loại khuôn đúc, nồi nấu, róc đồng và một vài dấu tích có thể là lò đúc đồng nhỏ.

Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, có thể khẳng định chắc chắn về một trung tâm đúc đồng là Thành Dền (Mê Linh- Vĩnh Phúc). Sang giai đoạn này, bằng những chứng cứ gián tiếp có thể nói đến những trung tâm đúc đồng quan trọng như làng Cả (Phú Thọ), Cổ Loa (Hà Nội), làng Vạc (Nghệ An) . . .

Tại khu mộ táng làng Cả đã tìm thấy một ngôi mộ lớn mà đồ tùy táng là những dụng cụ đúc đồng (khuôn đúc rìu, cán dao găm, chuông, giáo và nồi nấu róc đồng) cùng với những vũ khí và đồ đồng khác. Chủ nhân ngôi mộ này hẳn là một thợ đúc đồng giàu có, có thể là thợ cả có địa vị như quý tộc.

 Tại Cổ Loa, đã tìm thấy những kho cất giấu đồ đồng lớn, đặc biệt đáng chú ý là những đồ đồng trong kho này phần lớn mới được chế tạo, chưa qua sử dụng. Có nhiều tiêu bản nguyên dạng sau khi nung, chưa được gia công tu sửa.  Kho tên đồng Cầu Vực có gần một vạn chiếc tên cùng loại rõ ràng đã được sản xuất hàng loạt tại một trung tâm, trọng lượng cân được tới gần 100 kg.




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:25:05 AM


Kho đồ đồng Mả Tre với gần 200 hiện vật đồng các loại (về công cụ có lưỡi cày, cuốc, xẻng, nhíp..., vũ khí có rìu xéo các loại giáo, dao găm, mũi tên) đặt trong một chiếc trống Đông Sơn cỡ lớn. Riêng lưỡi cày đã có gần 100 chiếc thuộc cùng một loại hình - loại hình lưỡi cày Cổ Loa. Những mũi tên tìm thấy ở đây cùng loại hình với gần một vạn mũi tên đồng ở Cầu Vực.

Việc phát hiện các kho đồ đồng, đặc biệt là kho tên đồng Cổ Loa cho phép khẳng định về sự tồn tại của những “quan xưởng” ở tại thành đô - trung tâm chính trị - kinh tế Cổ Loa của nhà nước âu Lạc.

Ngoài những “quan xưởng”, những trung tâm luyện kim đúc đồng lớn nằm trong các trung tâm chính trị - kinh tế quan trọng của nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc giai đoạn muộn kể trên, ở những trung tâm vùng, khu vực hay những cụm cơ dân tập trung của từng bộ (có 15 bộ theo th ư tịch, truyền thuyết) hẳn cũng có những lò luyện kim - đúc đồng quy mô nhỏ, sản xuất công cụ và vũ khí cung cấp cho dân địa phương.

Người Đông Sơn còn chế tạo được vũ khí bằng sắt. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của một số trung tâm luyện sắt, chế tạo đồ sắt như trung tâm Xuân Giang (Hà Tĩnh), Đồng Mỏm (Nghệ An), Vinh Quang (Hà Tây), Cổ Loa (Hà Nội).
 
Sắt được luyện từ quặng bằng phương pháp hoàn nguyên. Từ đó dùng phương pháp rèn hoặc đúc để chế tạo công cụ, vũ khí. Người Đông Sơn đã biết đến sắt, sử dụng đồsắt muộn nhất cũng vào khoảng thế kỷ IV Tr.CN, lúc đầu là công cụ, sau đó là vũ khí. Nhưng vũ khí sắt chỉ phổ biến ở giai đoạn muộn, khoảng một, hai thế kỷ trước Công nguyên trở về sau.

Sự phát triển ngày càng lớn về số lượng, sự phong phú về loại hình và phổ biến về địa bàn phân bố... giúp ta khẳng định chức năng phục vụ chiến tranh là chủ yếu của vũ khí thời Đông Sơn.
 
Nếu không vì chiến tranh để bảo vệ lãnh thổ và cuộc sống, có thể người ta không cần dành một tỷ trọng quá lớn đồ đồng - loại chất liệu rất quý hiếm ở thời đó đến vậy cho vũ khí. Bên cạnh đó, ở giai đoạn muộn còn dùng cả vũ khí sắt, những vũ khí có tính sát thương cao. Cư dân Đông Sơn là cư dân nông nghiệp lấy sản xuất lúa nước làm cơ sở chủ đạo. Đối với họ, săn bắn chỉ chiếm vai trò phụ trợ, thứ yếu. Do vậy vũ khí kim loại được sản xuất nhiều không phải để đáp ứng nhu cầu săn bắn. Các tài liệu khác, như đã giới thiệu ở trên, cũng cho thấy tính chất bất ổn, đầy biến động kể cả những cuộc đấu tranh nội bộ giữa các tộc, bộ tộc trong quá trình hình thành một nhà nước sơ khai và những cuộc chiến tranh chống kẻ thù từ bên ngoài xâm phạm bờ cõi ở giai đoạn cuối thời Hùng Vương - An Dương Vương. Đó là những yêu cầu khách quan dẫn đến sự phát triển của vũ khí, trang bị quân sự. . .
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng24-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:31:40 AM

2. Lịch sử ra đời và phát triển của vũ khí và các trang bị quân sự giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương diễn ra theo quy luật phát triển từ ít đến nhiều về số lượng, từ thấp đến cao về chất lượng, từ đơn điệu đến đa dạng, phong phú về loại hình.

Trước hết là sự thay thế ngày một tốt hơn của nguyên liệu chế tạo vũ khí. Bản thống kê dưới đây tổng hợp số liệu từ 18 điểm thuộc ba giai đoạn phát triển sớm, giữa, muộn đã chọn thống kê ở trên.

Như vậy, ở giai đoạn sớm chỉ có vũ khí đá, số lượng rất ít ở giai đoạn giữa, vũ khí đá chỉ còn chiếm 3,5% (tổng số vũ khí thống kê được trong giai đoạn), xuất hiện vũ khí xương, chiếm 34,4% và vũ khí đồng thau, chiếm tỷ lệ cao nhất - 62%. Đến giai đoạn muộn, vũ khí đá hoàn toàn vắng bóng, vũ  khí xương tụt xuống chỉ còn chiếm 0,4%, trong khi đó vũ khí đồng tăng vọt lên 97,9% và xuất hiện vũ khí sắt với số lượng ít chiếm tỷ lệ 1,7%.

Tính chung cả ba giai đoạn thì vũ khí đồng chiếm tỷ lệ cao nhất - 82,2%, tiếp đó là vũ khí xương, chiếm 12,9%, đá 3,9% và sắt 1%.
Về sự phát triển qua các giai đoạn của loại hình vũ khí, có thể nhận biết phần nào qua bảng thống kê tổng hợp số liệu từ 18 địa điểm thuộc ba giai đoạn phát triển sớm, giữa, muộn đã chọn thống kê ở trên.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bng25.jpg)

Từ những số liệu phân tích trên có thể nhận xét về loại hình vũ khí thời Hùng Vương - An Dương Vương như sau:

- Chủng loại vũ khí tăng theo thời gian từ sớm đến muộn: từ bốn ở giai đoạn sớm, đến sáu ở giai đoạn giữa và tám ở giai đoạn muộn.

- Ở giai đoạn sớm và giữa xuất hiện vũ khí cỡ nhỏ là chủ yếu ở giai đoạn muộn phát triển mạnh nhiều loại vũ khí cỡ lớn hơn.

- Các loại vũ khí tên, giáo, lao là những thứ vũ khí tồn tại lâu dài, phổ biến rộng và ngày càng phát triển. So với tổng số vũ khí thu được thì giáo chiếm tỷ lệ cao nhất, đứng thứ hai là mũi tên, sau đó là lao, rìu xéo, dao găm...
 
Cũng cần lưu ý là, những thống kê trên đây chưa đại diện đầy đủ cho bộ vũ khí mà chúng ta biết chắc chắn là hết sức phong phú thời Hùng Vương - An Dương Vương.
 
Có những loại vũ khí xuất hiện ở các địa điểm khác, nhưng ở 18 địa điểm được làm thống kê lại không có. Ví như ở giai đoạn Đông Sơn, ở một số địa điểm khác đã tìm thấy cả dao chiến, cả qua đồng, nhưng trong sưu tập sáu địa điểm chọn thống kê lại không có. Hơn nữa đối với một số loại vũ khí như lao, đặc biệt là mũi tên, thuộc loại vũ khí dùng một lần, “một đi không trở lại”, có thể khẳng định về số lượng và tỷ lệ của chúng hiện biết chưa phản ánh chính xác số lượng và tỷ lệ thực trong đời sống khi xưa. Ví dụ như số lượng và tỷ lệ mũi tên ở giai đoạn muộn thể hiện trong bảng thống kê không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Kho mũi tên gần một vạn chiếc ở Cầu Vực (Cổ Loa), giúp ta “sửa sai” trong việc đánh giá vai trò của mũi tên trong bộ vũ khí cung-tên-nỏ. 
 
Mặc dù vậy, qua so sánh, đối chiếu các bộ sưu tập vũ khí ở hàng trăm địa điểm thuộc văn hóa thời dựng nước, giữ nước này, có thể thấy các bảng thống kê lấy số liệu từ 18 địa điếm nêu trên đã phản ánh tương đối khách quan tình hình và đặc điểm vũ khí của cả ba giai đoạn. Đương nhiên để có thể nhận diện đầy đủ hơn đặc điểm vũ khí - trang bị quân sự thời Hùng Vương - An Dương Vương, cần kết hợp xem xét toàn bộ những tài liệu đã biết thuộc lĩnh vực này.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:34:49 AM


3. Qua việc thông kê và phân tích số lượng, hình loại vũ khí, có thể nhận thấy, người Lạc Việt - âu Việt đã biệt sử dụng các loại vũ khí. tầm xa (cung, nỏ), tầm trung (lao), tầm gần (giáo, rìu, dao găm, kiêm, qua), vũ khí bảo vệ mình (hộ tâm phiên, mộc) và kết hợp các loại vũ khí đó.

Trong các vũ khí đánh gần, tổ tiên ta ưa dùng nhất là giáo, rìu và dao găm. Tùy từng vùng, từng khu vực (tương đương với bộ, liên bộ) mà loại này hay loại khác chiếm ưu thế hơn. Ví như người ở lưu vực sông Hồng, sông Mã chọn giáo, rìu xéo, còn người lưu vực sông Cả lại chọn dao găm. Dấu ấn địa phương còn bộc lộ ở sự lựa chọn sử dụng các kiểu loại khác nhau trong cùng một chủng loại vũ khí. Điều này thể hiện tính đa dạng của một nền văn hóa thống nhất thời Hùng Vương - An Dương Vương.

4. Số lượng và hình loại vũ khí qua tài liệu khảo cổ học cho ta những hiểu biết tuy mới là bước đầu nhưng khá chắc chắn về cách đánh - nghệ thuật quân sự của người Lạc Việt - Âu Việt thời kỳ dựng nước và trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu tiên.

Đó là quen và giỏi đánh gần, thạo thủy chiến, phát huy sự khéo léo, nhanh nhẹn của con người, coi trọng vũ khí nhưng không hoàn toàn ỷ vào vũ khí. Cách đánh đó phù hợp với trình độ sản xuất, điều kiện địa hình, tập quán lao động và sinh hoạt của cơ dân Lạc Việt - Âu Việt. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của mỗi vùng cơ trú, việc vận dụng cách đánh và việc sử dụng các loại vũ khí giữa các vùng có sự phát triển khác nhau, ngày càng phong phú, đa dạng. Sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa vũ khí - kỹ thuật quân sự với cách đánh nghệ thuật quân sự và lực lượng vũ trang - tổ chức quân sự bắt đầu hình thành, đánh dấu bước phát triển mới, cùng với sự phát triển của trình độ sản xuất và văn hóa của nước ta thời Hùng Vương - An Dương Vương.


CHƯƠNG III
 
THÀNH CỔ LOA
CÔNG TRÌNH QUÂN SỰ KIÊN CỐ
VÀ ĐỒ SỘ NHẤT THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG

 
I.  VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ XÂY DỰNG VÀ CẤU TRÚC THÀNH CỔ LOA

1.Vị trí địa lý

Từ Hà Nội theo quốc lộ 1 đi ngược lên Bắc Ninh, qua cầu Đường rẽ vào quốc lộ số 2 - đường lên Tuyên - Thái (Thái Nguyên - Tuyên Quang) đi chừng khoảng 5 km nữa, nhìn qua phía tay phải, ta sẽ thấy giữa vùng đồng chiêm trũng có một khu đất cao um tùm cây xanh, nổi bật lên giữa những thảm lúa vàng. Đấy là vùng đất Cổ Loa - mà ta vẫn quen gọi thành Cổ Loa, kinh đô cũ của An Dương Vương - công trình quân sự kiên cố và đồ sộ nhất thời mở đầu dựng nước của cha ông ta.

Trên bản đồ hành chính hiện tại, khu thành cũ của An Dương Vương nay là xã Cổ Loa - một xã lớn của huyện Đông Anh, nằm ở ngoại thành phía Bắc Hà Nội có toạ độ địa lý 21,05 vĩ độ Bắc, 105, 50 kinh độ Đông.

 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:40:26 AM


Cổ Loa là xã duy nhất của nước ta có địa giới hành chính hình vuông mỗi cạnh 10 km, tổng diện tích rộng 100 km2, phía Tây Bắc là thị trấn Đông Anh, cạnh đó là các thôn Cổ Dương, Lương Nỗ, Uy Nỗ. Phía Tây giáp các thôn Tiên Dương, Uy Nỗ Thượng. Phía Tây Nam giáp các thôn Tầm Xá, Đông Hội, Xuân Canh. Phía Đông Nam giáp thôn Lý Nhân, Lộc Hà. phía Đông và Đông Bắc giáp các thôn Dục Tú, Gia Lộc, Dục Nội, Lỗ Giao, Lỗ Khê.
 
Cổ Loa được ôm trọn trong lòng của một vùng quần cư đông đúc nổi lên giữa một vùng chằng chịt sông giăng: phía Bắc có sông Cà Lồ, phía Nam có sông Đống, còn sông Hoàng Giang len lỏi quanh chân thành. Trong các dòng sông đó, sông Hoàng là con sông quan trọng nhất. Hoàng Giang - như người đời quen gọi, một từ kép Hán - Việt, còn có tên là sông Thiếp, bắt nguồn từ huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên chảy qua năm huyện: Yên Lãng (Phúc Yên), Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Võ Giàng (Bắc Ninh) vì thế, nó còn được gọi là sông Ngũ Huyện. Khi đến Cổ Loa, sông Ngũ Huyện chuyển vào sông Cầu cũ.

Theo các nhà cổ địa lý, dòng Hoàng Giang - Ngũ Huyện hôm nay, đã bị thu nhỏ lại rất nhiều bởi, xưa nó vốn là một chi lưu của sông Hồng. Khi sông Đống và sông Hồng chuyển dòng xuống phía Nam thì nhiều khúc uốn cong của nó đã bị bỏ rơi, chỉ còn để lại các dấu vết của mình trên những đầm phá quanh vùng.

Về mặt địa hình, Cổ Loa nằm trong vùng “đất cao Tây Bắc” của châu thổ sông Hồng. Ở đây có những gờ hay con trạch cao 13 đến 15m, nằm cạnh những dải đất thấp 5 m thường tụ nước, tạo thành những đầm hồ. Cũng có khi, đó là những khúc sông cũ hình móng ngựa, bị “bỏ rơi” trong quá trình con sông đổi dòng trên bề mặt đồng bằng 1.

Về mặt địa chất, khu vực Cổ Loa nằm trên tầng cuội sỏi của lòng sông Hồng, có chiều dày hàng chục mét. Kết quả những lỗ khoan thăm dò địa chất trong vùng cho biết, đây là một vùng địa hình đá gốc có bề mặt nhấp nhô kiểu đồi gò sót, nhưng nhờ có sự bồi đắp tích cực của hệ thống sông Hồng đã làm cho địa hình trở nên bằng phẳng hơn. Ngoài các đồi gò và Thôm sót cổ, Cổ Loa còn là vùng đất bồi cao của sông Hồng. Nhờ quá trình đắp đê, xây thành nên quá trình bồi tụ phù sa theo lũ đã bị ngăn lại.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bnv31-1.jpg)

1. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Cổ Loa: Cổ Loa - truyền thống và cách mạng, Nxb. Hà Nội, 1988, tr. 10.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:42:58 AM


Về mặt địa lý - lịch sử, nhờ vị trí địa lý thuận lợi của vùng giáp ranh, xen giữa gò cao là những hồ lớn, đầm lầy, với những bãi bồi ven sông... từ xa xưa, Cổ Loa đã là miền đất hấp dẫn con người. Cách đây hơn một vạn năm, con người thời văn hoá Sơn Vi đã để lại nhiều dấu vết của mình ở vùng Đầm Cả. Ngay từ buổi đầu dựng nước, tổ tiên ta đã tụ cư, lập nên những xóm làng đông đúc ở Đồng Vông, Xuân Kiều, Đình Tràng, Đường Mây. . . , một quần thể di tích, có vai trò như một trung tâm có sức quy tụ và ảnh hưởng mạnh mẽ.
Đến thời Hùng Vương, theo thư tịch thì, Cổ Loa là đất thuộc bộ Lạc (hay bộ) Tây Vu. Sau khi An Dương lên trị vì nước Âu Lạc, Cổ Loa trở thành thủ đô của nhà nước Âu Lạc.  Vai trò đó đã bị mất vào khoảng năm 180 trước Công nguyên, sau khi Thục Phán thất bại trước cuộc xâm lược của Triệu Đà.

Thời thuộc Triệu, Cổ Loa là đất thuộc bộ Tây Vu. Thời thuộc Hán, Cổ Loa thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Theo Hậu Hán thư, dân số của huyện Tây Vu gần bằng số hộ của cả quận Cửu Chân.
 
Sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện chia huyện Tây Vu thành ba huyện: Tây Vu, Phong Khê, Vọng Hải. Cổ Loa nằm trong huyện Phong Khê. Đời Tam quốc, huyện Phong Khê đặt thành quận Vũ Bình. Đến thời Tề, đổi thành huyện Bình Đạo, quận Giao Chỉ. Cổ Loa là vùng đất phía Đông của huyện này. Thời Tuỳ - Đường, Cổ Loa vẫn là đất của huyện Bình Đạo, châu Giao.

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền - ông tổ trung hưng vĩ đại nhất của dân tộc ta, đã xưng vương và quyết định đóng đô ở Cổ Loa.

Sang thời Lý , khi Lý Công Uẩn chọn Thăng Long là thủ đô của nhà nước độc lập, Cổ Loa từ đây trở thành một phế tích kinh kỳ. Dưới thời Lý - Trần, Cổ Loa thuộc đất huyện Đông Ngàn, phủ Thiên Đức.

Năm 1469, phủ Thiên Đức đổi thành trấn (hay xứ) Kinh Bắc. Dưới triều Lê - Nguyễn, Cổ Loa vẫn thuộc huyện Đông Ngàn, nhưng thuộc phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Đến năm 1831 khi tỉnh Bắc Ninh được thành lập, Cổ Loa vẫn ở trong phủ, huyện cũ, chỉ có tên tỉnh là thay đổi - Kinh Bắc thành Bắc Ninh.

Năm 1905, khi tỉnh Phúc Yên được thành lập, Cổ Loa bị cắt từ Bắc Ninh qua Phúc Yên, trở thành một tổng của huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.

Trước năm 1945, tổng (xã) Cổ Loa gồm năm thôn: Cầu Cả, Cổ Loa, Mạch Tràng, Sán Giả và Thư Cưu, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.

Sau năm 1945, Nhà nước ta đã hợp nhất đất của ba tổng cũ: tổng Cổ Loa, tổng Uy Nỗ, tổng Xuân Canh lập thành một xã mới có tên là Quyết Tâm. Năm 1960, xã Quyết Tâm nhập vào đất Hà Nội, đến năm 1965 được đổi tên trở lại thành xã Cổ Loa, một trong 23 xã của huyện Đông Anh, thuộc ngoại thành Hà Nội.

Về mặt địa lý - dân cư, trước Cách mạng Tháng Tám, xã Cổ Loa gồm ba làng:
 
- Làng Đông, khu vực xóm Chợ ngày nay;

- Làng Đoài là đất của các xóm Gà, xóm Thượng, xóm Lan Trì;
 
- Làng Chùa gồm chủ yếu là xóm Chùa, xóm Vang và xóm Nhồi.

- Sách Cổ Loa - truyền thông và cách mạng do Ban Chấp hành Đảng bộ xã Cổ Loa biên soạn cho biết, về mặt địa lý dân cư, Cổ Loa có năm đặc điểm:

- Làng xã Cổ Loa từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII là một công xã nông thôn đã có sự phân hoá xã hội sâu sắc, phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đẳng cấp.

- Ruộng đất đã tư hữu hoá, song ruộng công dưới quyền thao túng của hào lý còn nhiều.
- Cổ Loa có chợ, nhưng cơ bản là chợ làng, không có luồng thương mại lớn.

- Chân dung cơ bản của người dân Cổ Loa là người tiểu nông tư hữu.

- Thiết chế quyền lực nông thôn Cổ Loa nằm trong thiết chế chung của nhà nước Việt Nam thời quân chủ.

Dù đã có nhiều đổi thay, qua bao thăng trầm của lịch sử, song người dân Cổ Loa hôm nay vẫn tự hào nhận mình chính là con cháu của những người đã xây dựng nên kinh đô của nhà nước âu Lạc xưa kia.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:50:24 AM

2. Lịch sử xây dựng
 
Công trình phòng thủ vĩ đại, đồng thời cũng là kinh đô của Nhà nước Âu Lạc được xây dựng trên vùng đất Cổ Loa không chỉ tồn tại trong niềm tự hào của nhân dân Cổ Loa, trong truyền thuyết, mà còn được ghi lại trong rất nhiều bộ sử của cả hai nước Việt Nam và Trung Hoa 1.
 
Đầu tiên phải kể đến bộ sử lớn của nhà Hán - Hậu Hán thư - trong mục Giao Chỉ quận chép, Cổ Loa “Đấy là nước cũ của An Dương Vương”. Sau đó, sách Quảng Châu ký cho biết, An Dương Vương “đóng đô ở huyện Phong Khê”. Phong Khê chính là tên cũ của Cổ Loa, tên nôm chính là xóm Gà, được coi là xóm cổ nhất của Cổ Loa.

Sách Nam Việt chí (do Cựu Đường thư - đia lý chí dẫn) viết “Thục cho con làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.  Đất nước đó nay ở phía Đông huyện Bình Đạo. Thành đó có chín vòng, chu vi chín dặm, sĩ thứ đông đúc”.

Thư tịch Trung Hoa ở thế kỷ thứ VI có sách Thuỷ kinh chú xác nhận “Nay ở huyện Bình Đạo hiện còn thấy chỗ cũ cung thành của An dương Vương”.

Còn Tuỳ thư khi kể về cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử đã chép, Lý Phật Tử “đóng đô ở thành cũ của vua Việt”.  Mãi cho đến thế kỷ XIV mới thấy Cổ Loa được nhắc lại trong sách An Nam chí lược của Lê Trắc. Sách này chép “Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ. Có ao cổ. Người trong nước mỗi năm tìm được ngọc châu, dùng nước ao ấy để rửa ngọc thì sắc ngọc tươi đẹp”.

Cũng vào thời kỳ này, bộ sử hiện được coi là cổ nhất của nước ta hiện biết là Đại Việt sử lược chép “Phán đắp thành ở Việt Thường, tự xưng là An Dương Vương”.

Bước sang thế kỷ XV, sử sách cả hai nước ghi chép về Cổ Loa xem ra có phần nhiều hơn, chi tiết hơn.

Trong số thơ tịch Trung Hoa thời kỳ này đáng chú ý là An Nam chí nguyên và Việt kiệu thư. Theo hai sách này “Việt vương thành ở huyện Đông Ngàn, còn gọi là Loa Thành”.  Sách còn giải thích thêm “Vì An Dương Vương đóng đô trên đất người Việt, nên người đời sau gọi thành ấy là Việt vương thành” và sở dĩ “Có tên là Loa Thành, vì thành ấy quanh co hình con ốc” .
 
Ở Việt Nam các bộ sách như : Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí, Lĩnh Nam chích quái... đều ghi chép khá tỉ mỉ.
 
Sách Lĩnh Nam chích quái chép: “Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Nhân vị tổ phụ ngày trước cầu hôn lấy Mỹ Nương là con gái vua Hùng, Hùng Vương không gả cho, bèn mang oán. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, cải tên nước là Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thương…”2.

Sách Đại Việt sử ký toàn thơ ghi rõ cả năm tháng “Giáp Thìn năm thứ nhất [257 Tr.CN]. (Noãn Vương nhà Chu năm thứ 58), Vua đã kiêm tính nước Văn Lang, đổi quốc hiệu làm Âu Lạc... Bấy giờ đắp thành ở Việt Thường, rộng hơn nghìn trượng, như hình trôn ốc nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì là thành rất cao” 3.

Bộ sách địa lý do Nguyễn Trái biên soạn cũng cho biết thêm “Hùng Vương gọi nước là Văn Lang đóng đô ở Phong Châu. Thục gọi nước là âu Lạc đóng đô ở Phong Khê” 4.



1. Dẫn theo Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên - cứu vừa qua và những triển vọng tới, Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4 năm 1969.
2. Vũ Quỳnh-Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá Hà Nội, 1960, tr.57.
3. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thơ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, T. 1, tr. 64.
4. Nguyễn Trái: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.215.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:53:02 AM
Các bộ sách lớn được biên soạn dưới triều Nguyễn như: Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thông chí...  đều có nói tới toà thành do An Dương Vương xây dựng, nhưng căn bản dựa trên tài liệu của Đại Việt sử ký toàn thơ và Lĩnh Nam chích quái.

Tổng hợp tài liệu thơ tịch cổ của cả hai nước, chúng ta có thể có được một số thông tin về lịch sử xây dựng của Loa Thành: Năm 257 Tr.CN, An Dương Vương đã phế bỏ nước Văn Lang của các vua Hùng, lập nên nhà nước Âu Lạc, dời đô từ miền trung du (Phú Thọ ngày nay) xuống miền đồng bằng, chọn Cổ Loa làm quốc đô. Sau khi định đô, ông đã cho xây dựng một toà thành có quy mô lớn, chu vi hơn nghìn trượng, thành có nhiều vòng hình như con ốc nên gọi là Loa Thành. Thành được đắp trong vòng khoảng ba năm, khởi từ năm 257 đến tháng 3 năm Bính Ngọ thứ ba (255 Tr.CN) thì hoàn tất.

Mặc dầu đã được ghi trong hầu hết các bộ sử lớn của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, song không phải quanh sự ra đời của nhà nước Âu Lạc và người đứng đầu của nó là An Dương Vương không còn những vấn đề cần có lời đáp.
 
Những tư liệu Trung Hoa cổ nhất như Giao Châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều chép An Dương Vương là “con vua Thục”. Nhưng đáng tiếc lại không hề cho biết, nước Thục nằm ở đâu? An Dương Vương có xuất xứ như thế nào.  Trong khi đó, thư tịch cổ Việt Nam ghi chép về nước Âu Lạc và An Dương Vương lại khá phong phú. Cả bốn tập sách cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay là Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép tuy nội dung có khác nhau đôi chút nhưng đều có chung một nội dung: nước Âu Lạc bắc giáp Ba Thục, đông giáp hồ Động Đình... và An Dương Vương là người Ba Thục, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, là con của vua Thục thời Chiến Quốc.
 
Người Việt Nam đầu tiên tỏ ý nghi ngờ những gì đã ghi trong sử cũ có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1795-1872). Trong sách Phương Đình địa dư chí ông đã cho toàn bộ ghi chép của sử cũ về An Dương Vương như vậy là sai lầm.  Những nghi vấn của ông dường như đã nhận được sự đồng tình của các sử gia nhà Nguyễn khi soạn thảo bộ Việt sử thông giám cương mục: “Nước Thục, từ năm thứ năm đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 Tr.CN) đã bị Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi, đất Củng, đất Tác và đất Nhiễm Mang, cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy, mà sang đánh nước Văn Lang. 
Dưới thời Pháp thuộc những hồ nghi của Việt sử thông giám cương mục đã nhận được sự hưởng ứng khá nhiệt thành của các học giả cả hai nước Việt - Pháp.

Trần Trọng Kim cho rằng “An Dương Vương Thục Phán không phải là Thục Phán bên Tàu".

Ngô Tất Tố khẳng định: “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục”.

Học giả Pháp - nhà Hán học uyên bác H.Maxpêrô (H.Maspéro) cũng bày tỏ sự hoài nghi về sự có thật của An Dương Vương.
Nhưng đến thập kỷ 50 xuất hiện nhiều nhà sử học bảo vệ cho sự thật của nhà nước Âu Lạc và An Dương Vương dựa trên cơ sở tài liệu và cách giải thích mới.

Thúc Ngọc Trần Văn Giáp dựa vào ngọc phả An Dương Vương đưa ra giả thuyết, nước Thục bị quân Tần diệt, con cháu vua Thục dã chạy từ Ba Thục xuống Quý Châu, Vân Nam vào nước Nam Cương rồi trở thành thủ lĩnh bộ Lạc người Tây Âu ở đây 1.

Học giả Đào Duy Anh đồng ý với ý kiến của Trần Văn Giáp, nhưng lại chứng minh con đường Nam tiến của hậu duệ nhà Thục là xuống vùng Điền Trì, Vân Nam rồi xuôi theo sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm vùng đất Tây Vu - vùng Tây Bắc Bắc Bộ ngày nay. Khi quân Tần xâm chiếm Lạc Việt, ông đã lãnh đạo người Tây Âu và Lạc Việt chống lại quân Tần. Sau đó ông chiếm nước Văn Lang lập nên nước Âu  Lạc 2.


1. Trần Văn Giáp: Một vài ý kiến về An Dương Vương ngọc giản và vấn đề Thục An Dương Vương, Tập san Văn-sử-địa số 28, tháng 5-1957.
2. Đào Duy Anh: Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương, Tạp chí Khảo học, số 3, tháng 12-1969.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 01:02:42 AM
 Hai tác giả Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn dự đoán, An Dương Vương là tù trưởng của bộ Lạc Hướng di cư từ đất Thục xuống phía Nam tự xưng là Thục Vương. Bộ Lạc này đi xuống Quảng Tây rồi vào Bắc Bộ cộng cư với người Tây Âu vốn đã sinh sống lâu đời ở đây. Sau khi lãnh đạo nhân dân chống lại cuộc xâm lược của nhà Tần, ông đã được nhân dân tôn sùng lập ra một nhà nước có tên là Âu Lạc. Cư dân Âu - Lạc gồm hai thành phần Tây Âu và Lạc Việt 1.
 
Năm 1963, Lã Văn Lô công bố truyền thuyết Cẩu chúa cheng vùa (Chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở vùng Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Theo truyền thuyết, Thục Phán là con của Thục Chế, vua nước Nam Cương vùng Cao Bằng có thủ đô là vùng Hoà An. Khi Thục Chế qua đời, con còn nhỏ nên chín chúa ở chín mường kéo về giành ngôi vua. Thục Phán bấy giờ tuy còn ít tuổi nhưng rất thông minh, nhanh  nhẹn đề nghị các chúa cùng mình tranh tài nếu ai thắng sẽ được làm vua. Nhờ có mưu lược nên cuộc thi nào Phán cũng thắng. Cuối cùng các chúa phải thần phục nước Nam Cương. Khi thấy nước Văn Lang suy yếu, Phán đã mang quân đánh chiếm và lập nên Nhà nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa xưng  tự danh hiệu là An Dương Vương 2.

Cuối thập kỷ 60 lại xuất hiện thêm hai giả thuyết mới.
 
Nguyễn Linh sau khi nghiên cứu Hùng Vương ngọc phả và các thần tích, thần phả ở nhiều đền miếu đã đưa ra giả thuyết: Thục Phán không phải là người Ba Thục ở Tứ Xuyên  mà là vua nước Tây Thục của người Ai Lao di ở vùng Vân Nam. Cuối đời Hùng Vương bộ Lạc này đã thôn tính nước Văn Lang lập nên nước Âu Lạc 3.

Gần đây nhất, trong khuôn khổ nghiên cứu thời đại Hùng Vương và An Dương Vương, Nguyễn Duy Hinh đã đưa ra một loạt các lời đáp cho các vấn đề còn tồn nghi.  Sau khi công bố kết quả nghiên cứu công phu nguồn sử liệu Trung Quốc, Nguyễn Duy Hinh cho rằng “nước Âu Lạc là một nước đã tồn tại thực tế trong lịch sử, được sử sách biết đến vào thời gian nhà Tần ở Trung Quốc. Nước ấy có ba tên gọi chính khác nhau: Tây Âu, Tây Âu Lạc, Âu Lạc; ba tên gọi khác nhau đó là do tài liệu của những người khác nhau, gây ra lầm lẫn, thực ra địa bàn chủ yếu của Âu Lạc... nằm ở lưu vực sông Hồng ngày nay 4.


Về nguồn gốc của An Dương Vương, ông giải thích “Chính An Dương Vương là người Lạc Việt cho nên việc An Dương Vương chiếm nước Văn Lang dựng nước Âu Lạc là việc nội bộ người Lạc Việt vì thế cho nên chúng ta thấy xã hội Văn Lang và Âu Lạc không có thay đổi gì do văn hoá cả một một ngoại tộc đến thống trị gây ra” 5.

Cuộc thảo luận để tìm ra lời đáp chân xác cho các câu hỏi quanh nước Âu Lạc và An Dương Vương đang còn tiếp tục.   Song, cũng như những vấn đề quanh thành Cổ Loa, các nhà  sử học Việt Nam hôm nay cũng đã có mẫu số chung. Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía Nam của tộc Bách Việt cộng cư trong khu vực sông Hồng và sông Tây Giang. Hai tộc người này luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Thục Phán có thể là thủ lĩnh liên minh bộ Lạc Tây Âu gồm chín “mường” cư trú trên địa bàn rừng núi phía Bắc nước ta, có thể rộng ra đến Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay.

Trong quá trình phát triển của lịch sử, hai bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt không tránh khỏi mâu thuẫn và đã xây ra xung đột. Trong lúc cuộc xung đột đang diễn ra thì họ đã gặp phải nguy cơ to lớn đó là cuộc xâm lược của đế chế Tần. Trước nguy cơ đó, người Âu và người Lạc đã biết gắn bó với nhau “chọn người tuấn kiệt” lãnh đạo chống kẻ thù chung. Trong cuộc lựa chọn lịch sử này, thủ lĩnh của bộ Lạc Tây Âu là Thục Phán đã giành thắng lợi, lên ngôi vua lập nên Nhà nước Âu Lạc, xây kinh đô Cổ Loa và tự xưng là An Dương Vương.


1.  Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960.
2. Lã Văn Lô: Quanh vấn đề nguồn gốc của An Dương Vương - Thục Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chúa cheng vùa” của đồng bào Tày, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 50-51, tháng 6-1963.
3. Nguyễn Linh: Bàn về nước Thục của Thục Phán, Tạp chí rghiên cứu Lịch sử số 124, tháng 7-1969.
4. Nguyễn Duy Hinh: Bàn về nước Âu Lạc của An Dương vương Tạp chí Nghiên cứu Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12-1969, tr.149.
5. Nguyễn Duy Hinh: Bàn về nước Âu Lạc của An Dương Vương - Tạp chí Nghiên cứu Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12-1969,  Tr 154.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 01:04:59 AM


- Cấu trúc

Truyền thuyết cũng như thơ tịch cổ Việt Nam như Đại việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái đã mô tả “Thành cổ (Cổ Loa) rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành...” 1. Thư tịch cổ Trung Hoa, như đã giới thiệu trên cũng chép, “thành Cổ Loa có chín vòng”, “hình con ốc”. Hiện tại cấu trúc của thành Cổ Loa chỉ còn ba vòng: thành Nội, thành Trung và thành Ngoại theo cách gọi của người Cổ Loa.

 Dưới đây, là cấu trúc cơ bản của thành Cổ Loa hiện còn:

Tường thành

Thành Ngoại là một vòng thành khép kín được đắp nối những gò đồi thiên nhiên lại, nên không có hình dáng rõ ràng. Độ dài của vòng thành khoảng 8000m. Tường thành được đắp có mặt cắt hình thang với chiều cao trung bình từ 3 đến 4m, chỗ cao nhất là gò Cột Cờ - mặt phía Đông Nam thành, cao tới 8m. Bề mặt của tường thành rộng khoảng 12-15m, chân thành rộng 12-20m. Đoạn tường thành còn được bảo quản tốt nhất là đoạn phía cửa Tây, đoạn bị phá nhiều nhất là đoạn thành phía Bắc, trong địa phận hai xã Dục Tú, Dục Nội.
Thành Trung cũng là một vòng tròn khép kín nằm bên trong thành Ngoại. Cũng giống như thành Ngoại, tường thành được đắp theo kiểu nối các đồi gò tự nhiên, đầm ao mà thành. Chu vi thành Trung dài 6500m. Tường thành cao 6-12m, mặt thành rộng trung bình 10m, chân thành rộng 20- 22m. Do cách đắp phải lựa theo địa hình nên vòng thành Ngoại và thành Trung gần sát nhau ở đoạn phía Nam. Tại đây có mở một cửa ra vào gọi là Trấn Nam Môn. Ngay bên trong cửa là chợ Sa và cũng là lối dẫn ta vào thăm thành hôm nay.

Tường thành Trung còn nguyên vẹn nhất trong cả ba vòng thành. Cũng chính nhờ nó còn khá nguyên vẹn nên ta có thể thấy rõ hình dáng của tường thành: mặt phía ngoài dốc đứng, rất khó có thể trèo lên được. Ngược lại, mặt phía trong lại thoai thoải có thể lên xuống rất dễ dàng. Với cấu trúc như vậy, kẻ thù bên ngoài rất khó leo vào, nhưng quân  đội trong thành lại rất dễ dàng vận động lên mặt thành để đánh địch. Ngay dưới chân thành ở phía trong, còn có dấu vết  của một con đường rộng 2 đến 3m. Kết có thể, đây là đường  vận động của quân đội giữ thành đến những nơi cần tăng viện khi bị quân địch tấn công.

Khác hẳn với hai vòng thành bên ngoài, thành Nội có hình chữ nhật khá vuông vức, chu vi khoảng 1650m. Tường thành cao 5m, mặt thành rộng 10m, chân thành rộng 20m. Chung quanh tường thành có 12 ụ đất nhô ra gọi là “hoả hồi”. Hoả hồi được đắp khá cân xứng. Hai cạnh dài, mỗi cạnh có bốn chiếc, hai cạnh ngắn mỗi cạnh có hai chiếc. Hoả hồi cao hơn tường thành khoảng 1 đến 2m, nhô ra từ 10 đến 12m. Trên khu vực thành Nội hiện nay dân cư ở đông đúc, nhiều công trình xây dựng đã phá huỷ nhiều đoạn thành, thậm chí có cả nhà dân xây ngay trên mặt thành. Theo lời người dân Cổ Loa, thì thành Nội, chính là nơi ở của nhà vua và hoàng tộc.

Cửa thành: Số lượng cửa mở ra ở các vòng tường thành khác nhau.

Thành Nội chỉ mở một cửa quay về hướng Nam, trông ra đình Cổ Loa.

Thành Trung mở bốn cửa: Cửa Nam, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Mỗi cửa có một miếu xây trên mặt tường thành - thờ quan coi cổng thành. Riêng cửa Nam nơi hai vòng thành gặp nhau và có lẽ cũng là cửa chính được xây hai miếu ở hai bên.

Thành Ngoại tuy rất dài và rộng cũng chỉ mở ba cửa: cửa Nam, cửa Bắc và cửa Tây Nam. Tuy một số cửa thành Trung và thành Ngoại mở cùng một hướng, nhưng do chu vi khác nhau nên các cửa thành không nằm trên trục thông nhau.  Ngoài tám cửa thành trên, còn có cửa ra bằng đường thuỷ, nên có người gọi là “cửa nước”. Cửa thứ nhất mở ra hướng Đông, nơi nối các dòng chảy trong thành qua cống Cửa Song ra sông Hoàng. Cửa thứ hai dưới chân gò Cột Cờ. Cửa này cắt ngang tường thành Ngoại đưa nước sông Hoàng hoà vào hào thành Ngoại và thành Trung. Đây hẳn là lối ra vào của thuyền bè. Theo nhân dân cho biết, xưa ở đây cũng có xây miếu thờ thần giữ cửa, nhưng miếu đã bị phá.
 
Hệ thông đường sá và cấu trúc trong thành. Do nhà cửa, làng xóm của cư dân ở trong thành dày đặc, cùng với những công trình của thời hiện tại đã làm xoá đi hầu hết dấu vết nên cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống đường sá và cấu trúc nhà cửa, cung điện, dinh thất, công sở. . . bên trong toà thành.

Theo kết quả điều tra của Trường Đại học Tổng hợp: Hiện mới biết rằng lối cửa Bắc và cửa Tây Nam của thành Ngoại với hai cửa Bắc và cửa Tây Nam của thành Trung đều đi theo đường chéo. . . Hai bên đường nối các cửa Bắc còn một số ụ đất, chắc chắn là ụ phòng vệ. Rất may, hệ thống đường thuỷ còn nhận ra được một cách rõ rệt.


1. Vũ Quỳnh- Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr. 59.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 01:06:45 AM


Về việc bố trí cung thất trong thành cho đến nay cũng chưa thể xác định được một cách rõ ràng. Theo nhân dân ở Cổ Loa, thì khu vực đền An Dương Vương hiện nay chính là nơi cung vua, khu vực thành Nội là nơi ở của Hoàng gia. Đình Cổ Loa, còn có tên là đình Ngự triều di quy là nơi vua thiết triều . . .

Rải rác trong thành còn có một số địa danh khác có liên quan tới chức năng quân sự của thành như: dọc Đống Bắn - tương truyền là nơi luyện cung nỏ của quân đội, Ngự Xạ Đài - nơi An Dương Vương ngồi xem quân lính tập bắn cung nỏ, Vườn Thuyền - là nơi thuyền bè neo đậu chuẩn bị luyện tập thuỷ chiến, gò Cột Cờ là nơi treo lá cờ đại của Nhà nước Âu Lạc...

Hệ thống hào ngoài thành. Dưới chân các luỹ thành đều có hào nước để ngăn cản quân địch, nhưng riêng đối với thành Cổ Loa, hào còn là đường giao thông thuỷ quan trọng nối liền các khu vực trong thành và cũng là con đường thoát ra khỏi thành khi có nguy biến.

Hào thành Nội nay đã bị đắp ngăn chia thành các dải ao và ruộng trũng của các hộ dân quanh thành. Hào thành Trung và thành Ngoại nay là những thửa ruộng chiêm, có chiều rộng trung bình từ 20 đến 30m. Đoạn hào ở cửa thành phía Tây còn giữ được khá nguyên vẹn. Vào mùa mưa lũ, các thửa ruộng ngập trắng nước, có thể nhận thấy rõ hơn hình ảnh của hệ thống hào.

Ngoài hệ thống hào nước được đào trong quá trình đắp thành, ở phía Nam và Tây Nam thành Ngoại, những người xây thành đã lợi dụng sông Hoàng làm hào thiên nhiên cho vòng thành Ngoại. Nước từ sông Hoàng cũng được dẫn vào hệ thống hào, đầm trong nội thành với hai cửa thành là cửa Cột Cờ và cửa Đông. Phía cửa Đông, nước sông Hoàng qua hào đổ thẳng vào Đầm Cả. Hai cửa này cũng là nơi hào thành Ngoại và thành Trung gặp nhau. Nước từ thành Trung qua cống Song, đổ vào năm con Lạch chảy vào trong thành, nối với hào thành Nội ở khu vực Vườn Thuyền, trại xóm Vang.

Với hệ thống đường nước mô tả trên, hệ thống hào của thành Cổ Loa như những chi lưu của sông Hoàng. Vào mùa nước, khi mực nước sông Hoàng dâng cao, các lòng hào đều đầy ắp nước. Với chiều rộng từ 20 đến 30 m thuyền bè từ  sông Hoàng có thể vào, ra thành một cách dễ dàng.
 
Truyền thuyết Cổ Loa kể rằng, An Dương Vương thường ngự thuyền rồng đi lại khắp trong thành, duyệt thuỷ quân ở Đầm Cả, ra sông Hoàng xem quân lính tập thuỷ chiến trên sông.
 
Luỹ đất ngoại thành. Rải rác trên các cánh đồng quanh thành Cổ Loa có khát nhiều luỹ đất và gò đống. Truyền thuyết Cổ Loa kể sự tích các gò đất ấy rất thơ mộng: khi An Dương Vương xây thành, Ngọc Hoàng đã cử những nàng tiên xuống gánh đất giúp Vua, nhưng họ phải trở về trước lúc trời sáng. Mải mê làm, mãi đến khi trời sáng mới biết,các nàng tiên đã vội vã vứt bỏ lại quang gánh. Những gò đất quanh thành chính là những gánh đất họ đã làm vương vãi khắp nơi. Những cuộc điều tra của sinh viên Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp trong hai năm 1996-1997 cho ta biết những gò, luỹ mà các “nàng tiên” đã để rơi vãi ấy là một bộ phận không thể thiếu được trong cấu trúc phòng vệ của thành Cổ Loa. Hệ thống gò luỹ ấy được bố trí ở các vị trí sau:

- Phía Bắc thành Ngoại và hai bên đường từ cửa Bắc thành Ngoại vào cửa Tây Bắc thành Trung có các gò như: Đống Chuông, Đống Dân...

- Phía Đông và phía Nam thành Ngoại từ cửa Đông chạy xuống cửa Nam cho đến thôn Mạch Tràng có những ụ đất men theo dòng chảy, như những ụ tác chiến đánh địch trên thuyền.

- Phía Bắc thành Ngoại trên cánh đồng xã Dục Nội ta còn nhận ra khá rõ những gò đất tự nhiên đã được đắp nối lại với nhau thành một hình vòng cung như một luỹ đất tiền vệ cho đoạn phía Bắc thành.
 
- Phía Tây Bắc thành Ngoại có một luỹ đất dài chừng 1 km chạy thẳng góc với tường thành qua các cánh đồng Mả Cư, Đồng Đô, Bãi Đồn. . . Luỹ đất này được đắp khá kiên cố. Cũng ở góc này của thành, ta còn thấy những ụ đất ở khu vực xóm Sắn, xóm Đài Bi...

- Phía Đông có một con luỹ chạy từ cửa Đông men theo sông Hoàng. Con luỹ này đảm nhiệm cả hai chức năng - vừa là con đê ngăn nước sông Hoàng vào mùa mơa lũ gây ngập lụt trong thành, vừa là một luỹ phòng vệ vô cùng lợi hại.
 
Rất nhiều tên gọi của các gò đống này còn mang hình ảnh của các hoạt động quân sự không thể phủ nhận như: gò Đống Bắn, dọc Đống Giáo, (phía Tây Nam, giữa tường thành Trung và tường thành Ngoại), gò Pháo Đài phía Nam thành) . . .




Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 01:08:36 AM

Nghiên cứu hệ thống gò luỹ bên ngoài thành ta thấy, những kiến trúc sơ xây dựng thành Cổ Loa có lẽ đã coi mặt Bắc là một mặt xung yếu, nên đã tăng cường thêm nhiều luỹ phòng vệ ở mặt này. Ngày nay, khi nhìn lại ý tưởng của người xưa, ta thấy nhận định đó hoàn toàn chính xác. Bởi lẽ, phía Bắc thành là những đồng ruộng bằng phẳng, không hề có chướng ngại vật thiên nhiên như mặt phía Đông - có con sông Hoàng làm ngoại hào. Khi kẻ địch tấn công thành ở hướng này, chúng có thể triển khai lực lượng đông đảo một cách dễ dàng. Mặt khác, như sử sách Trung Hoa cho biết, người Việt thạo thuỷ chiến, nên đánh trên bộ dường như không phải là sở trường của quân đội ta thời đó. Có lẽ, chính vì lý do đó mà hệ thống luỹ tiền vệ ở mặt Bắc đã được xây dựng khá công phu.

Với hệ thống cấu trúc như đã mô tả, Cổ Loa quả là một công trình quân sự vĩ đại, không chỉ về mặt quy mô mà còn thể hiện tri thức quân sự hết sức độc đáo của cha ông ta buổi đầu dựng nước và giữ nước.

Cổ Loa là một công trình phòng vệ kiên cố trong điều kiện chưa có hoả khí bắn xa. Nếu như kẻ địch tấn công từ bên ngoài vào, trước tiên chúng sẽ gặp phải đòn đánh phủ đầu từ những luỹ tiền vệ bên ngoài. Qua luỹ tiền vệ này, để tiến vào tới tường thành còn phải vượt qua một khoảng trống lớn. Với tầm bắn của cung nỏ cứng, quân đứng trên tường thành Ngoại có thể ngăn chặn được bước tiến của kẻ thù. Một khi vượt qua được khoảng trống đó, trước mặt kẻ tấn công là hệ thống ngoại hào rộng từ 20 đến 30m. Không thể dễ dàng vượt qua được hào nước này, một khi quân trên mặt tường thành bắn xuống, thuỷ quân với những thuyền nhỏ phục sẵn sẽ lao ra sẵn sàng phối hợp tác chiến. Nếu vượt qua được ngoại hào thì trước mặt chúng là tường thành Ngoại kiên cố, cao từ 8-10m. Vượt qua được thành Ngoại để vào được nơi vua và hoàng tộc ở, kẻ địch còn phải vượt qua hai lớp hào và thành nữa. Đó là chưa kể đến những trận địa được bố trí ở giữa hai lớp thành.

Không chỉ là một căn cứ bộ binh hiểm yếu, Cổ Loa còn là một căn cứ thuỷ quân lợi hại. Sông Hoàng - ngoại hào thiên nhiên của Cổ Loa, đầu trên nối với sông Hồng, đoạn dưới nối với sông Cầu, qua cửa Lục Đầu ở phả Lại có thể đi thẳng ra biển. Nước của hai con sông lớn nhất trên châu thổ đã qua sông Hoàng, đổ vào hệ thống hào rồi chảy ra Đầm Cả mênh mông ở góc Đông Bắc thành. Diện tích mặt đầm có thể chứa hàng trăm thuyền bè. Tại đây có địa danh Vườn Thuyền, dường như đã ghi lại một thời sóng đầm xao động mái chèo của các đoàn thuyền chiến.

Với một hệ thống đường thuỷ được thiết kế tài tình như vậy, thuyền chiến có thể đi lại khắp nơi trong thành và khỉ cần, những đạo quân trong thành có thể dễ dàng ra khỏi thành bằng đường thuỷ. Quân thuỷ từ nơi khác cũng có thể dễ dàng tiếp cứu cho thành nếu thành bị vây hãm.

Do thành được thiết kế, xây dựng kiên cố và độc đáo như vậy cho nên quân của Triệu Đà không có cách nào có thể tấn công được vào thành Cổ Loa, buộc chúng phải sử dụng thủ đoạn “chiến tranh gián điệp” mới có thể làm cho Cổ Loa thất thủ.

Đánh giá công trình quân sự Cổ Loa, trong tác phẩm Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, hai tác giả Hồng Nam và Hồng Lĩnh đã viết: “Thành Cổ Loa thể hiện nghệ thuật tài giỏi của quân và dân Âu Lạc.

Cổ Loa là kinh đô, là một quân trấn, một hệ thống phòng thủ vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu, thể hiện trí thông minh và lòng dũng cảm của tổ tiên ta ngày ấy. Đồng thời Cổ Loa cũng đánh dấu một trình độ phân hoá xã hội và giai cấp cao hơn trước, một chất lượng cao hơn của Nhà nước Việt Nam cổ đại” 1.

Tuy nhiên, không phải tất cả các đoạn đường thành còn thấy hôm nay, đều là hình ảnh trọn vẹn của thành Cổ Loa thời An Dương Vương. Theo An Nam chí nguyên, sau khi nhà Hán đã đặt được ách thống trị trên đất nước ta, Mã Viện đã cho xây dựng cả hai toà thành, cả hai đều được xây trên vết cũ Hai thành đó là Kiên Thành ở huyện Phong Khê và Vọng Hải Thành ở huyện Vọng Hải. Hai huyện này đều do Mã Viện tách từ huyện Tây Vu ra. Kiên Thành mà An Nam chí nguyên nói chính là thành Cổ Loa. Sau Mã Viện, đến thế kỷ X, khi Ngô Quyền giành lại nền độc lập cho đất nước, ông lại chọn Cổ Loa làm quốc đô cho nhà nước và cũng đã cho sửa lại thành, xây dựng cung thất, định lại quan chế...

Để làm sáng tỏ hơn vấn đề này, nhiều đoạn thành đã được cắt được khảo sát, trong đó một đoạn tường thành ở trại xóm Mít, gần gò Cột Cờ. Kết quả cho thấy, đoạn tường thành ở chỗ này có cấu trúc như sau:

Tường thành được đắp trên nền đất laterít, phần đất đắp cao 5m. Từ trên xuống dưới có thể chia làm ba lớp:


1. Hồng Nam và Hồng Lĩnh: Những trang sử vẻ đang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, rí. 60.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 01:13:14 AM
- Lớp 1 (trên cùng): Thành phần đất có sét vàng, sét trắng lẫn với đất laterít. Lẫn trong đất có mảnh ngói ống, đầu ngói . . . .

- Lớp 2: Đất sét có màu xám trắng mịn, lẫn với gạch trang trí hoa văn ô trám lồng, văn thừng. . .
 
- Lớp 3: Đất sét vàng lẫn với đất laterít.

Như vậy, cấu trúc tường thành ở khu vực này không giống với tường thành được cắt ở những nơi khác. Ở đây  không có lớp ngói ống, ngói bản xen giữa tường thành, không có đá tảng kè dưới chân thành. Kết quả phân tích các lớp đất, bào tử phấn hoa và di vật tìm thấy trong các lớp đất, cho phép đoán định rằng: Đầu ngói và ngói ống tìm thấy ở đây đều là di vật của thời Đông Hán.

Vì thế, nên lớp 1 và lớp 2 thuộc thời Đông Hán, lớp thứ 3- lớp dưới cùng cao 0,8 – 1 m có thể là lớp thành được đắp thời An Dương Vương 1.

Điều đó khớp với nhiều thơ tịch đã ghi, do nhận thấy tầm quan trọng và tính chất kiên cố của thành Cổ Loa, nên các thời đại sau vẫn tiếp tục sử dụng nó. Trong quá trình sử dụng đã không ngừng bồi đắp, tôn tạo các tường thành.  Thành Cổ Loa đã thực sự vượt lên trên tầm thời đại của nó.  Quanh thành Cổ Loa hiện vẫn còn một số vấn đề đã được đặt ra rất cần được giải quyết, trong đó có một câu hỏi lớn là :

Đây có phải là toà thành do An Dương Vương xây không?  Người đầu tiên đặt ra câu hỏi này, có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu. Trong một bài thơ chữ Hán của tập Phương Đình mạn hứng ông bày tỏ sự nghi ngờ:

Làm sao đất quận Giao
Lại có thành vua Thục?

 Sau Phương Đình là Ngô Tất Tố. Trong bài: Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục, đăng trên báo Tao Đàn, ông cho rằng, chuyện An Dương Vương là chuyện hoang đường. Theo ông, thành Cổ Loa là do Mã Viện hoặc Ngô Quyền xây 2.
[Vào thập niên 50, học giả Đào Duy Anh đã trở lại Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc. Theo ông, Cổ Loa không có nghĩa là Loa Thành, mà có lẽ chỉ là cách phiên âm kẻ Loa của người Hán. Tên Loa Thành chỉ mới được người Trung Quốc đặt ra từ thời Tống. Toà thành hiện tại là di tích của Kiến Thành do Mã Viện xây dựng cùng với dấu tích cũ của An Dương Vương 3.

  Vào cuối thập kỷ 60, khi nghiên cứu thời đại Hùng vương và An Dương Vương, Phạm Văn Kỉnh cho rằng: Về căn bản, hai vòng thành ngoài của thành Cổ Loa có niên đại trước lúc nhà Hán thống trị nước ta, có những phần được đắp thêm và sửa chữa của thời Hán hoặc những thời đại tiếp sau, chủ yếu là khu vực phía Nam. Còn vòng thành thứ ba có hình chữ nhật, khá cân xứng, có nhiều hồi, theo chúng tôi là được xây dựng sau thời An Dương Vương.

Trong số những người coi toàn bộ di tích tường thành Cổ Loa không phải là của An Dương Vương một cách kiên quyết nhất có lẽ là Đỗ Văn Ninh. ông đã bảo vệ quan điểm của mình với một loạt luận chứng sau:

- Quan hệ giữa ba vòng thành. Vòng thành trong “Kiểu dáng này hoàn toàn mang tính chất Trung Quốc thời Hán”.  Với hai vòng ngoài trông có vẻ sớm hơn “Thế nhưng, những di vật (chủ yếu là ngói) chứa trong tường thành lại chứng minh rằng cả ba vòng thành có cùng niên đại”.

- Niên đại của cả vòng thành trong. Vòng thành trong Cổ Loa không thể có niên đại sớm hơn thời Hán (nói chính xác là sớm hơn Đông Hán).

- Về di vật được dùng để định niên đại cho thành. Di vật tìm thấy chủ yếu trong tường thành là ngói, ngoài ra trong thành còn tìm thấy một số khuôn giếng. “Đó là những hiện vật có tính chất Hán điển hình” chưa hề thấy trong bất kỳ một di chỉ nào “mang đặc trưng văn hoá Việt Nam”.
 
- Về phương pháp đắp thành. Đã tìm thấy có hai lớp đắp thành qua một lát cắt ở xóm Mít, gần gò Cột Cờ. “Gạch ngói hai lớp D và C (lớp trên-TG) là di vật thời Đông Hán”.


1.  Đỗ Văn Ninh: Thành cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983, tí 47-48.    
2.Ngô Tất Tố. Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục, Tao Đàn, ngày 1-4-1939.
2. Đào Duy Anh: Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội, 1957.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:35:56 AM

- Tư liệu về các ngôi mộ gạch. Khai quật ngôi mộ gạch ở khu gò Bãi Mả, đầu thôn Mạch Tràng, đã phát hiện thấy ngói Cổ Loa được chèn vào gạch mộ. Những viên gạch mộ có niên đại “Vĩnh nguyên thập nhất niên trị” (năm 99 sau CN), ‘(vĩnh nguyên thập thất niên trung trị” (năm 105 sau CN), “Vĩnh sơ ngũ niên trung trị đại hình chuyên” (năm 111 sau CN). Như vậy, “Ngôi mộ Mạch Tràng thuộc cùng thời với chúng (ngói Cổ Loa)”.

 Từ các dữ liệu trên, tác giả đã đưa ra năm kết luận:

 - “Thành Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc là toà thành cổ nhất xuất hiện trong lịch sử xây dựng thành luỹ ở Việt Nam”.

 - “Vòng thành trong cùng với tất cả những lớp chứa gạch, ngói ống, ngói bản ở các vòng thành khác đều là sản phẩm của thời Đông Hán”.

- “Phần phía Nam khu vực Cổ Loa là một trọng trấn thời thuộc Hán. Quan cai trị, binh sĩ và cư dân chủ yếu là người Trung Quốc. Mọi kiến trúc đều làm theo phong cách Hán và đã bị tàn phá nặng nề”.

- Lợi dụng địa hình tự nhiên làm cho thành Cổ Loa hiểm trở nhưng tốn không nhiều công sức.

- Nhà ngói, giếng khuôn không phải là đặc điểm kiến trúc thời Âu Lạc, “nhà sàn, cột gỗ, lợp tranh” mới là đặc điểm kiến trúc dân tộc 1.

Khác với Đỗ Văn Ninh, giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng, thành Cổ Loa được đắp từ thời An Dương Vương, nó tiếp tục được sửa sang, cải tạo, đắp thêm suốt thời kỳ thuộc Triệu, thuộc Tây Hán.
 
“An Dương Vương sống vào thời Tần và đầu thời Tây Hán, các vị “vương” của Tây Vu tiếp sau sống vào giữa thời Tây Hán của lịch sử Trung Quốc. Vậy nếu, ở thành Cổ Loa có yếu tố văn hoá Tây Hán xen kẽ vào yếu tố văn hoá Việt thì cũng chẳng có gì là lạ. Dù thế nào đi nữa, khởi thuỷ nó là thành của vua Việt” 2.

     
Tuy hiện đang còn có những ý kiến khác nhau như vậy, song không một ai phủ nhận thành Cổ Loa đã được xây dựng đầu tiên vào thời An Dương Vương và là thủ đô của nhà nước Âu Lạc. Thành Cổ Loa đã được các thời đại sau tiếp tục sử dụng, tu bổ, bồi đắp và cả xây dựng thêm, nhưng không ra khỏi vị trí toà thành của An Dương Vương.

Muốn phân biệt được rạch ròi, đâu là phần thành do An Dương Vương xây, đâu là phần bồi đắp của các thời đại sau cần phải có những công trình khai quật lớn của khảo cổ học và các ngành khoa học khác.

II. NHỮNG PHÁT HIỆN VÀ THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU CỔ LOA TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUÂN SỰ

Trên đây là một số phát hiện mới được quan sát trên mặt đất. Những phát hiện trong lòng đất Cổ Loa càng nhấn mạnh thêm vai trò quân sự của thành.

Phát hiện đầu tiên được coi là có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quân sự của thành Cổ Loa là kho mũi tên đồng Cầu Vực.

Ngày 17-7-1959, trong khi lấy đất làm con đường nối Xưởng phim Việt Nam đang xây dựng với quốc lộ số 2, anh chị em công nhân đã phát hiện được một số lượng lớn mũi tên đồng ở địa điểm Cầu Vực. Nơi phát hiện cách đường 600m, cách cửa thành 300m, cách tường thành phía Đông khoảng 200m. Đống mũi tên nằm trong một hố hình vuông có kích ‘ thước lm x lm, sâu 1m2. Theo báo cáo của Vụ Bảo tồn bảo tàng: “Những mũi tên đồng và các hiện vật thu nhặt được cân nặng 93kg, mỗi kilôgam có chừng 97 mũi tên.

Tính số mũi tên thu nhặt được có đến gần một vạn chiếc gồm đủ các hạng lớn, nhỏ, dài, ngắn. Các mũi tên có thể chia ra làm bảy loại: loại dài nhất là 0,11m, loại ngắn nhất là 0,06m. Các mũi tên đều nhọn, sắc, đầu có ba ngạnh, mỗi ngạnh lại lõm xuống hình lòng máng. Ngoài những mũi tên còn nguyên vẹn được sắp xếp hẳn hoi, còn có một số mảnh tên ước độ một tấc khối, trong đống những mảnh tên vụn, có một cái mũi cũng bằng đồng có thể đoán được là mũi giáo và một số mảnh đồng khác nữa” 3.

Đáng chú ý là “Tới một phần tư số mũi tên đã được sửa chữa thành khí: ba phần tư là mũi tên mới ra khuôn nên chưa được sửa chữa, còn sù sì và có chỗ thiếu chưa nhẵn nhụi thành khí” 4.


1. Đỗ Văn Ninh: Thành cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983, tr. 47-48.
2. Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới, Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12-1966.  
3., 4.  Vụ Bảo tồn bảo tàng: Báo cáo cụ thể về mũi tên đồng tìm thấy ở miền Cổ Loa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 8, tháng 10-1959.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:38:21 AM


Việc phát hiện ra mũi tên đồng Cổ Loa có ý nghĩa rất lớn, bởi nhiều người coi là, nó đã hiện thực hoá truyền thuyết Nỏ thần của An Dương Vương - hay đó chính là những tư liệu vật thật về loại vũ khí đánh xa nổi tiếng của người Việt - cung nỏ, như đã được nói tới trong các thư tịch cổ.  Thêm nữa, ba phần tư số mũi tên tìm thấy ở Cầu Vực là bán thành khí. Do đó, kho mũi tên này không thể là hiện vật mang từ nơi khác tới, nó phải được đúc ngay tại Cổ Loa.
 
Năm năm sau phát hiện kho mũi tên đồng Cầu Vực, trong cuộc điều tra tổng thể khu di tích Cổ Loa, do trường Đại học Tổng hợp tiến hành lại sưu tầm được một chiếc lẫy nỏ bằng đồng do một người dân Cổ Loa tìm thấy trong khi làm đồng. Lẫy được đúc bằng đồng thau có độ cứng cao, cấu tạo hệt như loại lẫy làm bằng xương mà ta thường thấy ở loại nỏ hiện vẫn đang dùng trong dân gian, nhưng kích thước thì lớn hơn nhiều. Căn cứ vào kích thước của lẫy nỏ và trọng lượng của đầu tên, các nhà nghiên cứu cho rằng, chúng khó có thể là lẫy và tên của loại nỏ cá nhân. Có nhiều lý do có thể khẳng định, đây là loại nỏ lớn, thân được đặt trên bệ hoặc trụ, khi bắn phải có nhiều người trương dây.

Với việc phát hiện chiếc lẫy nỏ này, dường như đã mang lại cho chúng ta hình ảnh khá hoàn chỉnh của cây nỏ thần của An Dương Vương.
Cũng trong cuộc điều tra này, đã tiến hành đào thám sát một địa điểm phía Đông Bắc toà thành có tên là Đường Mây, một khu di chỉ cư trú. Trong số những hiện vật đào được ở đây cũng tìm thấy ba đầu tên bằng đồng. Tuy cấu tạo đầu tên Đường Mây cũng chia làm hai phần: phần mũi và phần chuôi, nhưng hình dáng và cấu tạo hoàn toàn khác với đầu tên Cầu Vực. Chiếc thứ nhất có mũi hình lá dẹt, chuôi tròn; chiếc thứ hai là loại đầu tên hai cánh cân, sống nổi cao, chuôi khá lớn so với đầu; chiếc thứ ba hình lá đa nhọn có mặt cắt hình tam giác, chuôi lớn gần bằng chỗ rộng nhất của phần thân. Kích thước các đầu tên đều rất nhỏ, toàn bộ dài 3,5cm - 2,5cm. Người ta có thể dễ dàng nhận ra đây là đầu mũi tên của cung hoặc nỏ cầm trên tay - hay còn gọi là nỏ cá nhân 1.
 
Năm 1982, lại có thêm một phát hiện lớn “... đánh dấu một bước phát triển trong công cuộc tìm hiểu Cổ Loa lịch sử”.

Trong khi canh tác trên cánh đồng màu có tên là Mả Tre - nằm sát phía Tây Nam cửa thành, kẹp giữa hai vòng thành Trung và thành Nội, những người chủ của thửa ruộng này đã  tình cờ phát hiện được một chiếc trống đồng được chôn dưới độ sâu khoảng 0m30 so với mặt đất. Đây là một chiếc trống đồng Đông Sơn thuộc nhóm những trống đẹp nhất. Trống có đường kính mặt là 73,8cm, cao 58cm, nặng 72kg. Điều đặc biệt lý thú chưa từng có trong các phát hiện khảo cổ học từ “ trước đến nay ở nước ta là, bên trong chiếc trống đồng có chứa tới 192 hiện vật, 19,09 kg hiện vật không thể xác định được hình dáng và tên gọi, 950 mảnh đồng vụn. Số hiện vật  chứa trong chiếc trống có nhiều chủng loại khác nhau gồm: nhạc khí, công cụ sản xuất , đồ dùng sinh hoạt, tiền đồng. . .  đặc biệt có một số lượng lớn vũ khí. Tất cả khối di vật kể trên đều được chế tác bằng đồng thau.  Số lượng vũ khí chiếm tới 25,5% so với tổng số hiện vật chứa trong lòng trống, gồm cán chủng loại sau:

- Giáo đồng có 16 chiếc, chia thành hai chủng loại chính: giáo có họng và giáo hình lá mía và sáu phụ loại căn cứ trên những chi tiết của mũi và thân. Chiếc lớn nhất không kể phần mũi bị gậy còn dài tới 33cm.

- Dao găm có bốn chiếc cùng một loại: cán hình chữ T, chắn tay hình sừng trâu, lưỡi có mặt cắt hình tam giác.

- Dao phạng có một chiếc. Đây là loại dao phạng có họng tra cán, nhưng cán bị gãy chỉ còn phần lưỡi.

- Đầu tên bằng đồng có tám chiếc. Cả tám chiếc đều giống những mũi tên đồng đã được phát hiện ở Cầu Vực.

- Rìu lưỡi xéo có 27 chiếc được chia thành sáu loại. 26 chiếc rìu thuộc năm loại là rìu lưỡi xéo - thứ vũ khí độc đáo của thời dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc, chiếc còn lại có kích thước lớn, lưỡi hẹp, rìa lưỡi thẳng, rộng hơn thân và vát chéo về phía gót, họng có mặt cắt hình lục giác, được các nhà khảo cổ học gọi là búa rìu.

Có thể nói, bộ sưu tập vũ khí tìm thấy trong chiếc trống đồng ở Mả Tre là bộ sưu tập vũ khí lớn nhất thời Đông Sơn được để tập trung tại một điểm.

Từ những phát hiện về vũ khí ở Cổ Loa trong những năm qua, nổi lên một số đặc điểm sau:

1. Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên cứu vừa qua và nhũng triển vọng tới, Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12-1966. .  .


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:40:40 AM


- Những loại vũ khí cơ bản nhất của thời đại đồng thau đều có mặt ở Cổ Loa. Vũ khí cận chiến có rìu xéo, dao găm, dao phạng; vũ khí đánh xa có. giáo, lao và cung nỏ.

- Căn cứ vào tỷ lệ hiện vật tìm được có thể đoán định rằng, cung nỏ là loại vũ khí được sử dụng phổ biến nhất. Ngoài cung nỏ cá nhân mang theo người, còn có nỏ lớn của quân đội giữ thành. Kích thước và trọng lượng cũng như sự tập trung một khối lượng lớn đầu tên cho phép dự đoán, rất có thể, một lực lượng đặc biệt chuyên sử dụng cung nỏ lớn đã ra đời .

- Khi nghiên cứu bộ sưu tập vũ khí Mả Tre, các nhà khảo cổ học nhận thấy, giáo loại một tìm thấy khá phổ biến trong các địa điểm khảo cổ học vùng tả ngạn sông Hồng như: Trung Mầu, Đình Tràng, Quả Cảm (Bắc Ninh); giáo loại hai- hình lá mía, tập trung nhiều ở các di chỉ Đông Sơn (Thanh Hoá), làng Vạc (Nghệ An); giáo loại bốn là kiểu giáo đặc trưng cho khu vực miền núi của văn hoá Đông Sơn như: Lào Cai, Yên Bái. Còn dao găm thì hoàn toàn giống với những con dao đã tìm thấy ở các di chỉ Đông Sơn, Làng Vạc. Từ thực tế ấy cho phép ta đoán định: Cổ Loa đã trở thành trung tâm của cả nước trong sự nghiệp giừ nước. Nhân dân mọi miền của nước Âu Lạc: từ miền núi Tây Bắc xuống đồng băng Bắc Bộ, vào đến vùng Thanh - Nghệ xa xôi, đều đã mang về Cổ Loa những thành tựu và kinh nghiệm chế tạo vũ khí bảo vệ đất nước.

- Hầu hết những vũ khí trong bộ sưu tập Mả Tre đều là những hiện vật bị gãy, vỡ: phần lớn các mũi giáo chỉ còn họng hoặc lưỡi, dao găm chỉ còn cán. . . chứng tỏ chúng từng trải qua một quá trình sử dụng lâu dài, những cuộc chiến ác liệt và được gom về các lò đúc quan xưởng để được tái sinh.

- Qua khảo sát bộ sưu tập vũ khí và vị trí phát hiện chúng, có thể nghĩ tới tính chuyên nghiệp của các công xưởng chế tạo vũ khí ở Cổ Loa. Bước đầu, có thể xác định được hai địa điểm đó là : Cầu Vực - nơi chuyên đúc đầu mũi tên bằng đồng và xóm Nhồi là nơi đúc giáo, lao.

Những phát hiện trên cho thấy Cổ Loa, thủ đô của nhà nước Âu Lạc cũng là một căn cứ chiến đấu.
 
III. Ý NGHĨA KHOA HỌC KỸ THUẬT QUÂN SỰ
CỦA THÀNH CỔ LOA

Là một công trình quân sự vĩ đại trong buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc, ý nghĩa khoa học quân sự của thành Cổ Loa được thể hiện trên ba điểm sau:

1. Chọn địa điểm:

Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, việc xác định vị trí xây dựng các công trình quân sự là một công việc có tầm quan trọng đặc biệt, nó không chỉ thể hiện trình độ quân sự mà đôi khi còn quyết định sự thành bại của cuộc chiến.

Cổ Loa ở vị trí khá đặc biệt trong tam giác châu sông Hồng và nằm trong vùng thượng đỉnh của tam giác này. Các nhà địa lý học phân tam giác châu sông Hồng thành ba vùng. Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp. Cổ Loa nằm trong vùng “đất cao Tây Bắc”.

Sự phân chia này xuất phát từ cốt địa hình của Cổ Loa, cao hơn hẳn các vùng còn lại của châu thổ.Nếu như ở đây có mặt của các đường gờ cao tới 13-15m thì độ cao ở vùng giữa và vùng thấp chỉ khoảng 5-6m.  Theo đường chim bay, Cổ Loa cách đỉnh tam giác châu Việt Trì 35km, cách biển khoảng 65 km, sườn phía đông của núi Tam Đảo chỉ cách Cổ Loa có 18 km. Điểm cao này được bao quanh bởi một hệ thống sông ngòi chằng chịt, nối liền với hai dòng sông lớn nhất của châu thổ sông Hồng và sông Đống.

Những yếu tố địa lý trên, đã hội tụ đủ cho Cổ Loa trở thành một cao điểm quân sự lý tưởng thời bấy giờ. Cao điểm này có chỗ dựa vững chắc vào vùng núi đồi trung du - cái nôi của nhà nước Văn Lang, trước khi tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng rộng lớn. Từ điểm cao này, Cổ Loa có thể kiểm soát được toàn bộ vùng đồng bằng thấp ra tới biển. Quân địch nếu tiến vào đất liền theo đường biển sẽ dễ dàng bị phát hiện.
 
Trên thực tế, Cổ Loa là tiền đồn ngăn quân địch thọc sâu vào đất liền. Hệ thống sông ngòi dày đặc quanh điểm cao không chỉ trở thành ngoại hào thiên nhiên vô cùng lợi hại ngăn chân giặc, mà đồng thời cũng là những con đường giao thông thuỷ vô cùng thuận lợi cho việc tấn công kẻ địch, cũng như trong trường hợp cần phải thoát khỏi thành một khi lâm vào thế bị bao vây.

Khi chọn đất để xây dựng công trình quân sự kiên cố như Cổ Loa, cha ông ta đã không chỉ dựa vào vị trí địa lý thuận lợi của nó, mà còn vì đây là một nơi dân cơ đông đúc.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:43:13 AM


Như chúng ta đã biết, vào buổi ấy, đồng bằng Bắc Bộ còn là vùng lầy lội hoang sơ. Vùng Gia Lâm, Du Lâm, Mai Lâm... đều còn là rừng cây. Rừng tre, vầu, rừng nứa còn mọc đầy ven sông Đống. Đất Đình Bảng tới thời Lý vẫn còn là rừng báng... Hà Nội được coi là miền đất ven biển. Cho đến đầu công nguyên, đồng bằng Giao Chỉ “hơi độc còn bốc lên ngùn ngụt”.
 
Vì thế, những người đi khai phá đồng bằng phải cơ trú trên các gò đất cao ven sông - Cổ Loa chính là vùng đất cao đó. Từ Cổ Loa xuôi ra biển, cho đến nay, ta vẫn chưa thấy có dấu vết cư trú rõ rệt của con người buổi ấy.

Những công trình khai quật của khảo cổ học trong gần 30 năm qua cho thấy, nhiều làng xưa xóm cổ đã hình thành, trước lúc nơi đây được An Dương Vương chọn đất xây thành.

Đó là các di chỉ:

- Đồng Vông, di chỉ nằm trên doi đất cao ven sông Hoàng, phía bắc cây cầu dẫn vào chợ Sa. Người Đồng Vông đã định cư, sống bằng nghề nông, đánh cá, săn bắn. Họ là những người chế tác đồ đá toàn thịnh, đặc biệt là đồ trang sức. Đồ gốm đã được chế tác bằng bàn xoay, hoa văn trang trí đặc biệt phong phú. Nhiều chì lưới, bi gốm, dọi xe chỉ, xương động vật.., cho thấy người Đồng Vông là cơ dân ở Cổ Loa lâu đời nhất.

- Di chỉ Bãi Mèn, nằm trên bờ hữu ngạn sông Hoàng, cách Cầu Vực không xa. Người Bãi Mèn sống ở Cổ Loa vào giai đoạn sau người Đồng Vông. Họ cũng sống bằng nghề sông, săn bắt, đánh cá, đã tìm thấy rìu đồng thau và các công cụ sản xuất bằng đồng khác của họ.

- Di chỉ Đình Tràng, nằm trên bờ tả ngạn sông Hoàng, bên ngoài vòng thành ngoại Cổ Loa. Tầng văn hoá di chỉ dày tới 2m - chứng tỏ sự định cơ rất lâu dài của người dân ở khu vực này. Nếu như ở Bãi Mèn, công cụ đồ đồng còn chưa thấy phổ biến, thì ngược lại, ở Đình Tràng đã tìm thấy nhiều rìu đồng lưỡi thẳng, rìu lưỡi xéo, mũi giáo, lưỡi câu, mũi nhọn, nhạc khí. . . Đồ gốm Đình Tràng tuy không được trang trí hoa mỹ như đồ gốm ở giai đoạn trước, nhưng độ cứng thì đã vượt trội.
 
- Di chỉ Đường Mây, nằm trên doi đất cao ven bờ sông Hoàng và ven bờ Đầm Cả, dưới chân thành Ngoại. Ngoài đồ gốm, cuộc khai quật năm 1969 đã tìm được mũi tên đồng, nhiều cục sắt, mảnh hiện vật sắt và đồ đá.

- Ngay trong thành Nội tuy chưa được phép khai quật nhưng tại xóm Thượng, xóm Nhồi đã phát hiện nhiều dấu tích như: rìu đồng, lưỡi cày đồng, mảnh trống đồng có hoa văn người hoá trang lông chim chứng minh sự có mặt của con người vào thời điểm trước lúc thành được xây dựng 1.

Những chứng tích nêu trên chứng minh Cổ Loa đã được con người chọn làm nơi cơ trú suốt từ đầu thời đại đồng thau liên tục cho tới thời đại sắt và các thời kỳ lịch sử tiếp sau.  Chọn vùng đất như thế để xây dựng thành tất nhiên là rất dễ dàng huy động được sức người, sức của không chỉ cho việc xây dựng, mà một khi có chiến tranh xảy ra đã có ngay trong tay một đạo quân đông đảo, gồm những người dân đủ mọi lứa tuổi tham gia chiến đấu, không cần phải tổ chức những đạo quân thường trực đông đảo.

Có thể nói, công trình quân sự Cổ Loa đã được chọn trên hai điều căn bản là: lợi dụng sự thuận lợi về địa hình và không tách rời dân. Đó có thể được coi là những thành tựu về tư tưởng quân sự đầu tiên của dân tộc ta. Tư tưởng đúng đắn đó đã trở thành truyền thống quân sự của dân tộc ta trong suốt mấy nghìn năm lịch sử.

2. Thành tựu về mặt kỹ thuật quân sự:

a.  Một công trình quân sự được quy hoạch và thiệt kế hoàn hảo

Cấu trúc thành Cổ Loa cho thấy, đây là một công trình được quy hoạch rất hoàn hảo. Theo truyền thuyết ở Cổ Loa và qua thư tịch cổ Trung Hoa cho thấy “công trình sư” thiết kế thành Cổ Loa là Cao Lỗ.

Thành được xây dựng trên bờ Bắc sông Hoàng để sử dụng dòng sông này như một đầu mối giao thông quan trọng. Từ đây qua hệ thống chằng chịt sông giăng, có thể tới khắp mọi miền châu thổ và ra biển, đồng thời nó cũng là một ngoại hào thiên nhiên lợi hại.

Nước sông Hoàng trở thành nguồn phong phú cho hệ thống ngoại hào của cả ba vòng thành. Hệ thống đầm hồ trong thành được quy hoạch để trở thành một “quân cảng” có sức chứa hàng trăm thuyền bè. Nếu nhìn trên bản đồ, ta thấy rất rõ “quân cảng” này nằm lọt vào giữa hai vòng thành Trung và thành Nội. Cả bốn mặt đều có tường vây, chỉ có một cửa dẫn vào thành Trung, cửa này được đặt ở ngay “cổ họng” của năm Lạch nước trong lòng thành và chỉ vừa đủ cho thuyền nhỏ ra vào. Một khi cần phải ra khỏi thành bằng đường thuỷ, kẻ địch rất khó phán đoán quân ta sẽ chọn nhánh nào trong năm nhánh của con đường rút này.  Rõ ràng thành được thiết kế khoa học và được bảo vệ một cách cẩn mật.

1. Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới, Tạp chí Khảo chọc, số 3-4, tháng 12-1966  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:45:17 AM


Từ trước tới nay, các nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh vai trò của thành Cổ Loa như một công trình phòng thủ bộ binh kết hợp với thuỷ quân. Nhưng nếu như nghiên cứu quy hoạch Cổ Loa chúng ta sẽ thấy ngược lại. Cổ Loa chính là một căn cứ hải quân và lấy quân thuỷ làm lực lượng tác chiến chủ đạo.
 
Nếu Cổ Loa là một căn cứ phòng vệ lấy bộ binh làm lực lượng tác chiến chủ đạo thì thành Nội là nơi  nhà vua và bộ phận đầu não không thể đặt ở vị trí dịch sát bờ sông như ta thấy, mà phải được đặt ở trung tâm của toà thành. Nhưng trên thực tế, thành Nội lại nằm ở vị trí sátphía Đông Nam của thành. Từ thành Nội ra bờ sông, đoạn này ba vòng thành cách nhau rất gần, như vậy cũng có nghĩa, từ thành Nội ra sông Hoàng không xa. Bản quy hoạch này đã thể hiện rất rõ hai ý đồ quân sự vô cùng sáng suốt: một là, đối phó với hướng tấn công chính của kẻ thù từ hướng Đông Nam theo đường biển vào; hai là, cơ quan đầu não phải được đặt nằm kề với sông Hoàng. Có thể khẳng định, Cổ Loa là một căn cử hải quân. Điều này rất phù hợp với truyền thống “thạo thuỷ chiến” của người Việt mà sử sách Trung Quốc đã từng ghi.

Một chi tiết khác cũng được các nhà nghiên cứu chú ý, có thể Cổ Loa không phải là căn cứ hải quân đơn độc. Trong thần tích Cao Lỗ có một chi tiết là, khi bị An Dương Vương truất quyền ông đã về “bản doanh” của mình ở Đại Than.  Điều đó có nghĩa là, ở Đại Than, Cao Lỗ đã được phép duy trì một đạo quân, chắc chắn là quân thuỷ. Căn cứ này hẳn có nhiệm vụ chặn đánh giặc từ xa và sẵn sàng về kinh đô ứng cứu một khi Cổ Loa có sự cố.

Thực tế lịch sử diễn ra sau đó khẳng định sự phán đoán của Cao Lỗ là hoàn toàn đúng.

Một trong những sáng tạo tuyệt vời khác của người thiết kế thành là, tác giả đã biết tận dụng triệt để các gò đất cao tự nhiên đắp nối liền chúng lại với nhau tạo nên những vòng thành khép kín, nhờ vậy đã tiết kiệm được rất nhiều sức lực lao động của con người và tiền của. Cũng chính vì vậy, mà thành Trung và thành Ngoại uốn lượn tự do không có hình dáng cân xứng và chặt chẽ. Yêu cầu về cái đẹp đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu, mối quan tâm hàng đầu của công trình sơ là tính chất kiên cố của một công trình quân sự.

b. Kỹ thuật xây dựng công trình trên địa hình lầy thụt

Trong kho tàng truyền thuyết Cổ Loa, có một truyền thuyết kể về những gian khó mà An Dương Vương đã gặp phải trong quá trình xây thành.

Sách Lĩnh Nam chích quái chép . . . “vua xây thành ở đất Việt Thường, hễ đắp tới đâu lại lở tới đó, Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng 7 tháng 3 bỗng thấy một cụ già từ phương Đông tới  trước cửa thành mà than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được?” Vua mừng rỡ đón vào trong điện, thi lễ hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tổn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về. Hôm sau vua ra cửa Đông chờ đợi chợt thấy một con Rùa vàng từ phương Đông lại, nổi trên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn rước vào trong thành mời ngồi trên điện, hỏi “vì sao xây thành không được” . Sau đó nhờ thần Thanh Giang giết chết con Gà trắng thành tinh và yêu quái nên “Thành xây nửa tháng thì xong” 1.

Thông qua câu chuyện mà Lĩnh Nam chích quái mô tả chúng ta có thể thấy công cuộc xây dựng thành Cổ Loa của An Dương Vương vô cùng gian khó, trong đó nổi lên hai nguyên nhân căn bản: một là, do xây trên vùng đất nhiều ao hồ, lầy thụt và hai là, những cuộc xung đột bộ Lạc vẫn chưa chấm dứt
.
Hình tượng tinh con Gà trắng phải chăng là hình tượng của các bộ Lạc vùng cao - với biểu tượng là con Gà và các bộ Lạc vùng thấp - với biểu tượng Rùa vàng. Cuối cùng, chính nhờ vào kinh nghiệm và sức mạnh của các bộ Lạc vùng thấp, An Dương Vương đã chinh phục được các lực lượng chống đối và áp dụng kinh nghiệm chống lầy thụt của họ mới có thể thành công trong việc xây thành.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, các cơ quan khoa học như trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Viện Khảo cổ học đều đã tiến hành cắt một số đoạn tường thành để nghiên cứu. Lát cắt ở góc thành Nội của trường Đại học Tổng hợp cho thấy kết cấu tường thành Nội có hai lớp:
- Lớp trên là đất thịt nhẹ pha cát có màu vàng nhạt. Lẫn trong đất là các mảnh sành sứ muộn, thậm chí còn có hiện vật đương đại.

1.  Vũ Quỳnh-Kiều Phúc: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr. 59.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:47:52 AM


- Lớp dưới là đất mịn và chắc, nhưng khác nhau từ trên xuống dưới.

Trên cùng là đất thịt pha đất feralitic màu đỏ, dưới lớp đất này, đất thịt pha sét màu vàng. Dưới cùng là đất thịt bị giây hoá mạnh. Trong lớp đất bùn lầy giây hoá này, ở độ sâu 1m20 phía trong và 1m60 ở phía ngoài đã phát hiện một lớp gốm cứng, màu xám - các nhà khảo cổ học gọi là “gốm Cổ Loa” được rải thoai thoải ra hai phía chân thành. Dưới lớp gốm là một lớp đá tảng hoặc đá cuội trải vững chắc ở bên dưới lớp gốm 1.

Từ mặt cắt này các nhà khảo cổ đã cho chúng ta biết kỹ thuật xây thành như sau: đầu tiên rải một lớp đá tảng hoặc cuội sỏi trên nền đất lầy thụt, bên trên lớp đá này là một lớp gốm cứng màu xám mốc, sau đó dùng đất sét có pha đất đồi feralitic đắp thành tường thành. Với kỹ thuật chống lầy lún như vậy, những bức tường thành đồ sộ của Cổ Loa đã đứng vững gần 2000 năm qua.

Tuy chỉ cắt một đoạn thành Nội, nhưng quan sát ở nhiều điểm trên cả ba vòng thành và cả luỹ ngoài thành, các nhà khảo cổ học cho biết, kỹ thuật xây dựng này đã được áp dụng với tất cả các tường thành. Dưới đây là những địa điểm xuất lộ khác mà ta có thể quan sát được một cách dễ dàng:

- Phía Nam thành dọc theo bờ của con hào cũ.
 
- Hầu hết đoạn tường thành phía Tây Nam đều có đá hộc ở dưới và gốm ở trên.

- Tường thành Trung, đoạn từ phía Nam chạy qua phía Đông men theo bờ đầm có thể nhìn rất rõ dải gốm dày tới 1m.

- Phương pháp chống lầy bằng đá và gốm càng thấy rõ hơn đối với thành Ngoại. ở đoạn thành phía Đông, chạy men theo sông Hoàng, ngược lên Đầm Cả, có thể thấy rất rõ đá nền và gốm lát. Đoạn thành phía Đông dường như đã được đắp rất kiên cố. Bên trên lớp đá, gốm Cổ Loa đã được rải suốt từ lưng chừng ra mãi tới chân thành, v.v...

Ngoài những đoạn tường thành đã kể trên, kỹ thuật xây dựng này còn được áp dụng cho một số luỹ đất bên ngoài thành. Sự có mặt của kỹ thuật rải gốm dưới chân các luỹ khẳng định nó được đắp cùng thời với các tường thành. Như vậy, không ai có thể phủ nhận vai trò của các công trình phòng ngự tiền duyên của thành Cổ Loa.

Có thể nói, đây là một thành tựu kỹ thuật đặc biệt nhất trong xây dựng thành quách quân sự trong lịch sử dân tộc ta.  Những vòng thành Cổ Loa, kể cả thành Nội, mà ta thấy hiện nay, có thể đã được tu sửa nhiều lần sau thời An Dương Vương. Nhưng theo chúng tôi, chúng đã được xây đắp đầu tiên từ thời An Dương Vương.

Cổ Loa xứng đáng là một công trình quân sự đồ độ, một ký công lao động, một sự hội tụ tài trí và thể hiện lòng yêu nước thiết tha của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.

IV. VỊ TRÍ CỦA THÀNH CỔ LOA TRONG SỰ NGHIỆP
GIỮ NƯỚC ĐẦU TIÊN CỦA DÂN TỘC
 
     
Thành Cổ Loa được xây dựng ở trung tâm của nước Âu Lạc, nơi được chọn làm quốc đô nên có vị trí của một quốc thành. Lãnh đạo liên minh Âu - Lạc chống Tần thắng lợi, Thục Phán hợp nhất đất đai của hai bộ tộc là Âu Việt (hay Tây Âu) và Lạc Việt, lập thành quốc gia Âu Lạc.
 
Thục Phán không đóng đô ở trung tâm cũ thuộc vùng núi cao Việt Bắc, Đông Bắc và lưu vực Tả Giang, Hữu Giang thuộc phía Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay, cũng không sử dụng đô thành cũ của triều Hùng ở vùng ngã ba Hạc mà chọn Cổ Loa - một rìa nhọn sâu nhất của vùng trước núi vươn xuống vùng đồng bằng bát ngát vừa mới và còn đang tiếp tục hình thành, mở rộng ra biển - làm nơi trấn trị và điều hành đất nước.
 
Trong ngổn ngang công việc xây dựng kinh đô và phục hưng đất nước, Thục Phán đã sớm nhìn ra sự bức xúc và tầm quan trọng hàng đầu của việc trước mắt phải có ngay một thành trì kiên cố để giữ yên đất nước, trước hết là giừ yên triều chính.

Trước và trong liên minh chống Tần, hai khối, hai cộng đồng tộc người Tây Âu và Lạc Việt - thành phần chủ yếu của cơ dân nước Âu Lạc - đã từng có mối quan hệ mật thiết về nhiều mặt. Xu thế hợp nhất đã khiến hai khối người này hoà đồng vào nhau. Quá trình hoà hợp đó chủ yếu diễn ra êm ả.

1.  Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới, Tạp chí Khảo chọc, số 3-4, tháng 12-1966.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:53:12 AM


Song cũng có lúc gặp thác ghềnh sóng gió như việc thông hiểu gặp trở ngại, hay có những va chạm xung đột vũ trang đã được ghi trong sử sách, hay trong ký ức dân gian, phản ảnh qua truyền thuyết về vua Thục cầu hôn con gái vua Hùng không thành, về các cuộc chiến tranh Hùng - Thục...
 
Cuối cùng, việc hợp nhất trọn vẹn đã diễn ra nhờ sự thúc đẩy của quá trình chiến đấu chống Tần và sau cuộc chống Tần thắng lợi. Sự thống nhất này là đòi hỏi khách quan mang tính tất yếu nhằm mở mang bờ cõi, thúc đẩy kinh tế phát triển và bảo vệ cộng đồng, bảo vệ đất nước mới dựng.

Mặc dù vậy, sự thống nhất đó đã đụng chạm đến địa vị và quyền lợi của một số người thuộc tầng lớp quý tộc ở các bộ Lạc riêng lẻ.  Sự chống đối được hiện ra mờ tỏ qua hiện tượng thành xây bị đổ nhiều lần và cuối cùng phải viện tới thần linh (như trong chuyện kể về sự tích Rùa vàng được ghi trong Lĩnh Nam chích quái) và phải mất ba năm mới hoàn thành. Về mặt này, sự hiện diện của thành quách - cụ thể của thành Cổ Loa - được xem như lá chắn vững chắc, vật cản hữu hiệu ngăn chặn sự gây rối phản loạn của các thế lực chống đối bên trong.

Mặt khác, nhân dân Âu Lạc vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ với biết bao hy sinh gian khổ, trong khi dồn toàn bộ công sức cho chiến đấu đã xây dựng một lực lượng vũ trang mạnh, chiến thắng oanh liệt, tích luỹ được những tri thức và kinh nghiệm chiến đấu có giá trị, đặc biệt là đã ý thức được yêu cầu phải giữ nước, bảo vệ cuộc sống của mình. Trong cuộc chiến tranh, một phần đất đai của liên minh Âu-Lạc đã bị mất và sau khi chiến tranh chấm dứt vẫn còn bị đe doạ về nguy cơ xâm lược từ phía kẻ thù cũ.

Mặc dù tình thế và tương quan lực lượng đã đổi thay, đất nước của “thiên triều’ đã kiệt quệ và mệt mỏi vì những cuộc chiến tranh xâm lược Nam chinh Bắc phạt và những cuộc nội chiến loạn ly bên trong; nhà Tần bị diệt vong, nhà Hán lên thay, đang còn phải lo củng cố địa vị, phục hồi sức mạnh, trấn an đất nước, trước mắt chưa thể tổ chức tiếp các cuộc xâm lược mới để bành trướng lãnh thổ; song vào thời điểm đó, lại xuất hiện các thế lực cát cứ.

Sát nách với nước Âu Lạc là nước Nam Việt mới lập của tập đoàn phong kiến Hán tộc do Triệu Đà cầm đầu. Triệu Đà đã có ý đồ cát cứ ngay từ khi được nhà Tần cử đem viện binh cùng Nhâm Ngao tăng cường cho đội quân xâm lược do Đồ Thư thống xuất (năm 214 Tr.CN). Đội quân này bị cầm chân ở vùng sông Tây Giang trên bước đường tiến sâu vào đất Việt, sau khi đã lấy được phần lớn đất đai của người Tây Âu ở Quảng Tây và người Nam Việt ở Quảng Đông, lập ra ba quận mới là Nam Hán, Quế Lâm và Tượng.
 
Viện binh của Nhâm Ngao - Triệu Đà là đoàn quân tạp hợp gồm những kẻ bị nhà Tần đày đi biên cương trấn giữ vùng đất mới chiếm. Ý đồ cát cứ và bành trướng của tập đoàn Ngao - Đà lần đầu tiên được bộc lộ rõ rệt và mạnh mẽ khi chúng mang danh nghĩa “thiên triều’ mở cuộc xâm lược đầu tiên vào năm 210 Tr.CN, đánh thẳng vào vùng đất cơ trú của người Lạc Việt, mở gọng kìm phía Nam đỡ đòn cho cánh quân chủ lực ở phía Bắc đang bị nguy khốn.

Lúc này, nước Nam Việt chưa ra đời, song Ngao - Đà đã bàn nhau chiếm lấy vùng đất đai trù phú ở lưu vực sông Hồng gộp vào đất đai lưu vực sông Châu để lập thành một quốc gia mạnh. Trong cuộc tiến quân này, Triệu Đà chiếm được một phần đất của người Lạc Việt. Do tương quan lực lượng, liên minh Âu-Lạc buộc phải cắt đất giảng hoà, coi đó là một sự nhượng bộ tạm thời.

Sau khi buộc phải rút quân, Triệu Đà vẫn chưa từ bỏ ý đồ xâm lược; y được Nhâm Ngao bày mưu, xúi giục: “Nhà Tần sẽ mất nước thôi nếu ông biết dùng mưu đánh lấy Thục thì có thể lập được nước đấy” 1.

Do đó, Triệu Đà vẫn nuôi hy vọng, chờ thời cơ. Và thời cơ đó đã đến vào khoảng năm 183-179 Tr.CN, khi Triệu Đà cảm thấy mình đã đủ mạnh, bèn xưng đế, dùng binh lực và của cải chiêu dụ Mân Việt và bắt Tây Âu - Lạc Việt lệ thuộc. Sau đó, Đà đem quân tiến đánh Âu Lạc. Đây là cuộc xâm lược Âu Lạc lần thứ hai của Triệu Đà.

Lúc này thành Cổ Loa đã được xây xong. Mục tiêu của việc xây thành mà vua Thục và các tướng lĩnh của ông theo đuổi là tạo ra một thành luỹ vững chắc, có thể kìm chân và chủ động tiến đánh địch theo kế sách đã định trước.  Việc xây thành Cổ Loa thể hiện quyết tâm giữ nước và tài mưu lược của Thục Phán và các tướng lĩnh của ông.  Thành kiên cố có tác dụng làm yên lòng quân sĩ, tạo ra tâm lý phấn chấn và kích thích lòng dũng cảm của họ.

Các nguồn sử liệu thành văn của nước ta, cũng như củaTrung Quốc không mô tả diễn biến các trận đánh vào kinh đô Âu Lạc của Triệu Đà.

1.  Quốc sử quán triều Nguyễn: Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Văn-sử-địa, Hà Nội, 1960, tr.62  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:56:02 AM

Nhưng các truyền thuyết lưu truyền đến nay cho thấy, trước sự chống trả kiên cường của đối phương, Triệu Đà không thể dùng sức mạnh quân sự mà phải dùng nhiều mưu ma chước quỷ, dùng kế ly gián, chia rẽ Thục Phán với các tướng sĩ của ông và thâm độc hơn, đã dùng kế cầu hôn, cho con trai luồn vào tận dinh luỹ của Thục Phán để dò la và lấy cắp bí mật quân sự, trước hết là “nỏ thần” có sức mạnh kỳ diệu, từng một phen làm khiếp đảm đội quân xâm lược của “thiên triều’ do Ngao - Đà thống lĩnh đánh thọc vào sườn Nam đất Việt trong cuộc chiến tranh lần trước.
 
Rõ ràng, thành Cổ Loa đã phát huy được tác dụng tích cực góp phần bẻ gãy các cuộc tiến công của kẻ thù. Nhưng cuối cùng Cổ Loa vẫn bị thất thủ, không thế quy nguyên nhân thất bại là tư tưởng chỉ đạo tác chiến bị động, dựa vào thành cao, hào sâu để phòng thủ của Thục Phán. Nguyên nhân chính là do Thục Phán đã trúng kế ly gián của kẻ thù, có những việc làm mất lòng tướng sĩ, làm tổn hại đến khối đoàn kết của người Việt.

Trong lịch sử, việc xây thành đắp luỹ, dựng pháo đài phòng thủ là phổ biến đối với mọi quốc gia. Thành luỹ là phương tiện che chắn để bảo toàn lực lượng trước sự tiến công của kẻ thù. Tuỳ từng lúc, từng nơi, nhất là tuỳ vào tài ứng biến của người sử dụng, thành sẽ phát huy được tác dụng hay bị mất tác dụng.

Thành Cổ Loa được xây dựng với quy mô lớn, vững chắc, có vị trí quan trọng trong buổi đầu giữ nước của dân tộc ta. Thành bị mất tác dụng do những sai lầm của Thục Phán và mưu đồ thâm hiểm của kẻ thù. Đây là bài học sâu sắc trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Trong buổi bình minh của thời kỳ đầu đựng nước và giữ nước, thành Cổ Loa là một công trình lao động đồ sộ, biểu thị sự cố kết của dân tộc, khẳng đỉnh vị thế của đất nước. Thành Cổ Loa gắn với những chiến công giữ nước đầu tiên; khởi đầu cho kỹ thuật xây thành và nghệ thuật sử dụng thành trong lịch sử quân sự nước ta.


CHƯƠNG IV

NHỮNG CUỘC CHIẾN  TRANH GIỮ NƯỚC ĐẦU TIÊN: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TẦN
VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG TRIỆU ĐÀ XÂM LƯỢC

I. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẾ CHẾ TẦN VÀ ÂM MƯU MỞ RỘNG
CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC XUỐNG PHÍA NAM

Sau gần 20 thế kỷ, kể từ nhà Hạ - nhà nước đầu tiên của người Hoa được thành lập (khoảng thế kỷ XXI đến thế kỷ VII Tr.CN), tiếp đến Ân - Thương, Tây Chu, Đông Chu (còn gọi là Xuân Thu - Chiến Quốc), đất nước Trung Hoa đã trải lụa thời kỳ “tranh bá đồ vương” khốc liệt.
 
Lục địa Trung Hoa mênh mông thuở ấy bị cắt nát ra như một miếng bánh đa vỡ. Theo sử sách Trung Quốc, đời Tây Chu có tới gần 1000 nước, sau khi thôn tính lẫn nhau đến thời Xuân Thu (770-475 Tr.CN) vẫn còn tới hơn 100 nước.

Trong cuộc chiến hỗn loạn thời Xuân Thu, nhiều nước nhỏ đã bị tiêu diệt, nên khi bước sang thời Chiến Quốc (475-221 Tr.CN) chỉ còn lại bảy quốc gia lớn là : Yên - Tề - Sở - Hàn - Nguỵ - Triệu - Tần.
 
Bảy quốc gia này tiếp tục lao vào cuộc chiến đẫm máu hơn để giành quyền bá chủ thiên hạ. Trong số bảy quốc gia đó, nước Tần là nước ở phía Tây, Lạc hậu hơn so với các quốc gia khác, nhưng từ giữa thế kỷ thứ IV Tr.CN, nhờ thực hiện những cải cách của tể tướng Thương Ưởng  còn gọi là “biến pháp Thương Ưởng” đã tạo ra một động lực mới trong xã hội, làm cho nước Tần dần dần cường thịnh.
Những cải cách của Thương Ưởng có nội dung chính sau:

Về kinh tế, chủ trương khuyến khích phát triển sản xuất, đẩy mạnh khai hoang phục hoá, thừa nhận sự tư hữu về ruộng đất.

Về mặt xã hội, ra lệnh bãi bỏ chế độ công quốc, hạn chế đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc.

Về mặt hành chính, thực hiện cải cách sâu sắc, làm cho đất nước có một thể chế vững chắc dựa trên cơ sở của các đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương: xã, huyện, tỉnh.  Các quan lại trong bộ máy hành chính đều do nhà nước trực tiếp bổ nhiệm, v.v...

Chính nhờ vào những cải cách đó, đến năm 221 Tr.CN, nước Tần đã có đủ sức mạnh tiêu diệt sáu nước, kết thúc cục diện tranh hùng thời Chiến Quốc, thống nhất toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa lập nên nhà Tần - một Nhà nước quân chủ chuyên chế hùng mạnh. Vua Tần là Tần Doanh Chính lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Thuỷ Hoàng đế tức Tần Thuỷ Hoàng.  Sự nghiệp thống nhất Trung Quốc của Tần Thuỷ Hoàng đã được bề tôi ngợi ca “Ngày xưa đất Tần chẳng qúa nghìn dặm, nay nhờ bệ hạ thần linh sáng suốt nên bình định được bốn biển” ... Lần đầu tiên làm nên nghiệp lớn, dựng nên cái công vạn đời...” 1.


1. Tư Mã Thiên Sử ký, Nxb. Văn học, hà Nội, 1998, tr. 46.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 10:02:00 AM


Lãnh thổ của nhà Tần được mở rộng “phía Đông đến biển và đất Triều Tiên; phía Tây đến Lâm Thao; phía Nam đến miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc; phía Bắc lấy Hoàng Hà làm biên giới và men theo âm Sơn đến tận Liêu Đông” 1.
 
Sau khi lên ngôi, Tần Thuỷ Hoàng bắt tay ngay vào việc củng cố chế độ trung ương tập quyền với quyền lực tối thượng trong tay Hoàng đế.

Về mặt đối nội “Bèn chia thiên hạ làm 36 quận, đặt các quan thú, uý, giám, đổi gọi dân là đầu đen...” 2. “thống nhất luật pháp, các cân, phép đo lường, các thạch, trượng thước; trục xe đều đặt dài như nhau, chữ viết cùng lối như nhau” 3.  Song song với việc xây dựng chính quyền trung ương tập quyền, Tần Thuỷ Hoàng cũng đã nhận ra “Thiên hạ đều khổ về việc chinh chiến liên miên. . . muốn được thái bình nghỉ ngơi...”, nên đã cho “thu tất cả binh khí trong thiên hạ tập hợp ở Hàm Dương, đúc làm chuông, giá chuông và mười hai người bằng kim khí mỗi người nặng 1000 thạch, đặt ở trong cung” 4.  Đồng thời, cho thi hành một loạt chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, khuyến khích ngoại thương, mở mang đường sá: “Năm thứ 35 (211 Tr.CN) sau làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng”5.  
 
Nhờ một số chính sách mới, nền kinh tế chẳng những nhanh chóng khôi phục, mà còn phát triển mạnh mẽ. Kinh đô Hàm Dương trở thành thủ đô của đế chế, đồng thời là một trung tâm thương mại phồn thịnh.

Bên cạnh những mặt tích cực, nhà Tần cũng nhanh chóng bộc lộ là một chế độ chuyên chế và bạo ngược. Nghe theo lời tâu của bầy tôi, Tần Thuỷ Hoàng đã ra lệnh “đốt sách vở của trăm nhà”, chôn sống 460 học trò. “Trừ những người làm chức bác sĩ, ai cất giấu Kinh Thi, Kinh Thư, sách vở của trăm nhà thì đều đem đến các quan Thái thú, Thái uý mà đốt đi, hai người dám bàn nhau về Kinh Thi, Kinh Thư thì chém giữa chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ...  Lệnh ban ra trong ba mươi ngày không đốt sách thì khắc vào mặt cho đi thú để xây và canh giữ trường thành 6.  

Để phục vụ cho đời sống xa hoa của vua chúa, khắp nơi đều xây dựng cung thất, phủ đệ “ở Quan Trung số cung đến 300 cái, ở ngoài Quan Trung hơn 400 cái”. “Thuỷ Hoàng ra lệnh : “Trong vòng 200 dặm xung quanh Hàm Dương, 270 cung điện ở đấy có đường phúc đạo và đường ống liền nhau; đem màn trướng, trống chiêng cùng gái đẹp đưa vào các cung không cho xê dịch” 7.

Trong số gần 1000 cung điện đó, nổi tiếng nhất là cung A Phòng. Cung được xây dựng phía Nam sông Vị. Trước khi xây cung, Tần Thuỷ Hoàng đã cho xây một điện dài 500 bộ rộng 50 trượng “có thể ngồi được một vạn người” 8. Để xây dựng công trình đại quy mô này đã phải huy động tới “hơn 70 vạn người chia nhau xây” 9.

Dân cơ trong nước bị xáo trộn rất lớn. Chỉ riêng việc xây “cửa phía Đông nhà Tần” ở bờ biển Đông Hải đã cho “dời ba vạn dân đến Ly ấp, năm vạn nhà đến Vân Dương” 10.

Những luật lệ hà khắc đến quái gở được áp dụng. “Theo phép nhà Tần không được làm hai nghề, làm sai là chết ngay”. Khi vua đến đâu, kẻ nào nói nơi vua ở cũng bị chém đầu. Với những luật lệ như vậy, người phạm tội bị giải về kinh đô đi chật cả đường sá, các nhà tù đầy ắp người. Đó là chưa kể tới hàng trăm vạn tù nhân đã phải đi lao dịch xây dựng cung thất, trường thành, đi canh giữ các vùng đất mới chiếm được.

Sự bạo ngược của Tần Thủy Hoàng được xem như một sở thích, “Nhà vua thích việc hình phạt chém giết để ra uy”.
 
Về mặt đói ngoại, nhà Tần cũng đã nhanh chóng phơi bày bộ mặt đế quốc của nó, qua việc mở những cuộc chiến tranh xâm lược đại quy mô bành trướng mạnh mẽ ra phía ngoài.  Về phía Bắc, năm 215-214 Tr.CN, nhà Tần đem 30 vạn  quân đánh người Hung Nô, chiếm đất phía Nam Hà Sáo, lập ra 34 huyện. Xây Vạn Lý trường thành dài hơn 5000 dặm, kéo dài từ Lâm Thao phía Tây đến Liêu Đông ở phía Đông. Về phía Nam, tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến tranh bình Bách Việt.

Từ phía Bắc, cuộc xâm lược của nhà Tần như một đám mây đen đang hiện ngày một rõ phía chân trời, trôi dần về phương Nam.

Nhân dân các dân tộc phía Nam đứng trước nguy cơ xâm lược của một kẻ thù vô cùng hung bạo.

1., 2., 3., 4., 5. , 6., 7., 8., 9., 10   Sđd, tr 46, 51, 53.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 10:14:57 AM
II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

Thực ra, không phải đến thời Tần Thuỷ Hoàng, người Việt mới đứng trước hoạ xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc.

Một trong những truyền thuyết được ghi trong sách Lĩnh Nam chích quái cho thấy dã tâm xâm lược các nước phương Nam của các thế lực phong kiến phương Bắc đã có từ lâu.

Truyền thuyết kể, vào thời Lạc Long Quân, vua phương Bắc là Đế Lai (?) trong lần chu du xuống phía Nam “thấy hoa kỳ, cỏ lạ chim quý thú hiếm, ngọc ngà, vàng bạc, các thứ đá quý, các cây trầm hương, cùng các sơn hào, hải vật không thiếu thứ gì, khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng. Đế Lai rất thích thú, vui quên trở về. Dân phương Nam khổ vì bị người phương Bắc quấy nhiễu, không được sông yên như xưa...” 1. 

Trong thời Chiến Quốc, phía Nam sông Trường Giang có ba nước là Sở,  Ngô, Việt. Lãnh thổ của ba nước này nằm trong địa bàn cơ trú của người Việt, mà sử sách Trung Quốc thường gọi là Bách Việt. Trong quá trình giao tranh để giành quyền bá chủ thiên hạ, cả ba nước đều có mưu đồ bành trướng xuống phía Nam. Theo sách Sử ký, khởi đầu là nước Sở. Sau khi thất bại trong cuộc tấn công lên Trung Nguyên, vua Sở là Điệu Vương đã cho thi hành những cải cách đất nước của tể tướng Ngô Khởi, nhờ vậy, nước Sở trở nên hùng mạnh. “Kết quả phía Nam bình định Bách Việt, phía Bắc lấy đất Trần, đất Thái, cự tuyệt Tam Tấn, phía Tây đánh Tần” 2.  
 
Nước Ngô và nước Việt cũng đã một thời làm chủ vùng Giang Đông. Năm 473 Tr.CN vua Việt Câu Tiễn diệt được nước Ngô, làm bá chủ cả một vùng đất duyên hải rộng lớn từ Sơn Đông đến Quảng Đông . “Việt Câu Tiễn đã sai sứ tới dụ, Hùng Vương chống cự lại” 3. Sự kiện này, đáng tiếc chỉ được ghi lại vẻn vẹn có vài chữ như vậy.

Mặc dù vậy, có thể khẳng định, cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tần vào đất Bách Việt là sự tiếp nói dã tâm không thành của các thế lực phong kiến trước đó.
 
Kể về cuộc xâm lăng của nhà Tần, cho đến nay các nhà sử học nước ta căn bản vẫn dựa vào sử sách Trung Quốc, trong đó có hai tài liệu quan trọng nhất. Một là sách Hoài Nam tử của Lưu An. Tác giả sách Hoài Nam tử là người được phong đất ở Hoài Nam năm 164 Tr.CN và mất vào năm 122 Tr.CN.
 
Như vậy, thời ông sống chỉ cách cuộc xâm lược của nhà Tần vào đất Bách Việt khoảng nửa thế kỷ. Đất Hoài Nam lại liền kề vôi đất Bách Việt. Do vậy, những ghi chép của ông được coi là nguồn sử liệu có giá trị nhất về sự kiện lịch sử này.  Hai là sách Sử ký của Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên tự là Tử Trường sinh năm 145 Tr.CN. Cha ông là Tư Mã Đàm làm Thái sử lệnh đời nhà Hán. Năm 108 Tr.CN, sau khi cha mất, ông được phong làm Thái sử lệnh. Như vậy, Sử ký được viết vào khoảng cuối thế kỷ II Tr.CN. Sử ký được coi là bộ sử đồ sộ và tác giả của nó được coi là “người cha của sử học Trung Hoa” nên cũng như Lưu An, tài liệu của Sử ký cũng được coi là những tư liệu có độ tin cậy cao.

Sách Hoài Nam tử viết: nhà Tần lại ham sừng tê, ngà voi lông trả, ngọc châu và ngọc cơ của đất Việt, bèn sai thái uý Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm năm đạo quân: một đạo đóng ở đèo Đàm Thành, một đạo đóng giữ ở ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Phiên Nhung, một đạo giữ miền Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dơ Can. Trong ba năm (quân Tần) không cởi giáp dàn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương, để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.quân (Tần) thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người. (Nhà Tần) bèn phát những người bị đày đến đóng giữ 4.

Cuộc xâm lược của nhà Tần vào đất Việt được Tư Mã Thiên chép có nội dung cơ bản giống sách Hoài Nam tử,  nhưng có thêm một số chi tiết rất đáng lưu ý. Sách viết: nhà Tần sai uý Đồ Thư đem quân lâu thuyền xuống Nam đánh đất Bách Việt, sai Giám Lộc đào cừ chở lương để vào sâu đất Việt Người Việt bỏ trốn. (Quân Tần) đóng giữ lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh.  Quân Tần đại bại. nhà Tần bèn sai Uý Đà đem binh đóng giữ đất Việt. Lúc bấy giờ, nhà Tần ở phía Bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía Nam thì mắc họa với người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong.  Trong hơn 10 năm đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau. Kịp khi Tần Thuỷ Hoàng đế băng hà thì cả thiên hạ nổi lên chống 5.


1. Vũ Quýnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá Hà Nội, 1960.
2. Tư Mã Thiên: Sử ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1988, tr. 328.  
3.  Việt sử lược, Nxb. Văn-sử-địa, Hà Nội, 1960, tr. 14.
4.,  Dẫn theo Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1956.
5.,  Tư Mã Thiên: Sử ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1988,


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:31:57 PM
Trong phần Bản kỷ sách Sử ký còn chép thêm:

“Năm thứ 33 (214 Tr. CN) Thuỷ Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải; cho những người đi đày đến canh giữ” 1. “năm thứ 34 (213 Tr. CN) đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây trường thành và đi thú ở đất Nam Việt” 2.
 
Ngoài hai tác giả trên, khoảng cuối thế kỷ I Tr.CN còn có thêm một người nữa là Ban Cố, tác giả của bộ sử Tiền Hán thư đã chép lại bức thơ của Lưu An gửi Hán Vũ Đế, có nhắc  lại sự kiện cuộc chiến của người Việt chống quân Tần: “Thần nghe các cụ phụ lão nói rằng, thời Tần từng sai uý Đồ Thư đánh đất Việt, lại sai giám Lộc đào cừ mở đường. Người Việt  trốn vào núi sâu rừng rậm, không thể đánh được. (Nhà Tần) lưu quân ở lại đóng giữ đất không, lâu ngày sĩ tốt mệt mỏi,  người Việt bèn ra đánh, quân Tần đại bại. (nhà Tần) phát tù bị đày đến đóng giữ” 3.

 Đó là những tư liệu cổ nhất về cuộc kháng chiến chống  Tần của người Việt mà chúng ta có được. Lượng thông tin của ba tác giả có thể có khác nhau, nhưng những nội dung căn  bản thì hầu như cả ba tác giả đều chép khá thống nhất, khẳng định có cuộc xâm lược của quân Tần vào đất Bách Việt cuộc kháng chiến của người Việt đã làm cho quân Tần khốn đốn và thất bại thảm hại.

Từ những dòng sử liệu ngắn ngủi trên, muốn làm sáng tỏ hơn giai đoạn lịch sử này, cần phải trả lời một loạt các câu hỏi như: thời điểm diễn ra cuộc chiến? Địa bàn xảy ra cuộc chiến? Hướng tiến công và diễn biến của cuộc chiến?

Về thời điểm xảy ra cuộc chiến tranh, các nguồn sử liệu trên không chỉ ra một cách cụ thể, song dựa vào các nguồn tư liệu khác ta có thể phán đoán được thời gian xảy ra sự kiện lịch sử này.

Theo Sử ký thì “Trong hơn 10 năm đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi”. Như vậy có nghĩa là, cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tần trên đất Bách Việt kéo dài trong khoảng 10 năm.

Theo sử sách Trung Hoa, Tần Thuỷ Hoàng chết năm 210 Tr.CN, con Thuỷ Hoàng lên ngôi lấy hiệu là Tần Nhị Thế. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết, nước Tần rơi vào tình trạng rối ren, trong triều các đại thần mâu thuẫn, nhiều kẻ âm mưu phản loạn. Bên ngoài chư hầu nổi dậy, nông dân khởi nghĩa khắp nơi, làm cho nền thống trị của nhà Tần lung lay.
 
Trước tình hình đó,  năm 208 Tr.CN, Tần Nhị Thế đã ra lệnh bãi binh ở đất Việt.  Nếu lấy năm nhà Tần ra lệnh bãi binh ngược lên 10 năm  trước khi có lệnh, thì đó là năm 218 Tr. CN.
Cũng dựa vào nguồn sử liệu do Hoài Nam tử và Sử ký ghi chép, ta còn có thêm dẫn chứng xác định năm nhà Tần khởi binh. Theo Sử ký “Năm thứ 33, Thuỷ Hoàng đưa những  người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng  Quận, Nam Hải...”.

Năm thứ 33 nhà Tần là năm 214 Tr.CN. Trong khi đó Hoài Nam tử lại chép, nhà Tần phải mất ba  năm để đào kênh vận chuyển lương thực mới vào được đất Tây Âu. Như vậy, năm quân Tần vào được Tây Âu muộn nhất cũng là năm 217 Tr.CN.


1., 2.,  Tư Mã Thiên: Sử ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1988, tr.48.
3. Theo cuốn sách Quận huyện thời đại chí An Nam của Lê Chính Phủ do Thương vụ quán Trùng Khánh và Thượng Hải ấn hành năm 1944 “Người cầm đầu dân binh Việt đánh quân Tần, giết Đồ Thư là Thục Phán”.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:36:45 PM


Do đó, xác định năm 218 Tr.CN là năm quân Tần phát động cuộc chiến xâm lược Bách Việt là hoàn toàn hợp lý 1.

Địa bàn của cuộc chiến cũng là vấn đề được tranh cãi.  Một câu hỏi được đặt ra là cuộc chiến tranh đó có xảy ra trên đất Việt Nam hay không?

Các nguồn sử liệu đã dẫn trên cho biết, năm 214 Tr.CN, nhà Tần chiếm được đất Lục Lương lập ra ba quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Vị trí của hai quận Nam Hải và Quế Lâm không có gì phải bàn cãi nữa. Quận Nam Hải được xác định là vùng đất Quảng Đông còn quận Quế Lâm là vùng Bắc và Đông tỉnh Quảng Tây Trung Quốc ngày nay. Còn quận Tượng ở đâu? Vị trí của quận Tượng là cốt lõi của vấn đề hên quan tới cuộc kháng chiến chống Tần của nhân dân Văn Lang và Âu Lạc.

Theo dòng lịch sử, bắt đầu phải kể đến những ghi chép  trong hai bộ sử lớn của nước ta là Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục. Cả hai sách này đều coi “quận Tượng là An Nam”. Theo thuyết này, thì quân Tần không những chỉ chiếm được phần đất của nước Âu Lạc mà còn tiến  sâu vào mãi quận Nhật Nam đời Hán (từ Hoành Sơn đến bờ biển Đại Lãnh) . Như vậy, có nghĩa là cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Tần không phải chỉ của người Tây Âu và Lạc Việt mà còn của cả các dân tộc ở phía Nam (vùng Trung Bộ nước ta ngày nay).

Sử gia đầu tiên, từ thế kỷ XIX đã tỏ ý hoài nghi và phê phán thuyết này là nhà sử học Vũ Phạm Khải. Trong Thư bàn về Việt sử - trả lời Tô Trần và Phạm Hữu Nghi - hai sử quan triều đình Nguyễn, ông đã nêu rõ quan điểm của mình:

“Theo như lời chú ấy (sách Tạp lãm) thì Tượng quận thời Tần có hai phần đất ở vùng Lưỡng Quảng, còn một phần ở nước Nam ta. Vậy thì, lẽ nào lại gọi ta là nước? Vả lại, năm đó nước ta thuộc đời vua Thục An Dương Vương năm thứ 44 (214 Tr.CN). Đất nước ta có vua đứng đầu, nước chia 15 bộ. vậy lẽ nào nhà Tần lại đặt quận trên đất nước ta! Đó là điều ngờ thứ nhất” 2.

Sách Hoàn Vũ ký chép: “Sử Lộc đào sông từ Linh Lăng đến Quế Lâm”. Con sông mà Sử Lộc cho đào chỉ đến Quế Lâm. Vậy thì, quân sĩ của Đồ Thư làm sao có thể vượt Quế Lâm mà tiến về phía Nam được? đó là điều ngờ thứ hai” 3.
 
Sau khi phân tích thêm, ông đi đến kết luận “Tượng quận là vùng đất Việt, trong Bách Việt, không phải đất Việt thuộc nước Việt ta. Gọi quận của Tần chẳng qua cũng chỉ ghi chép khống tên gọi, chứ không thể có thực trên vùng đất Việt ta” 4.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng có một số học giả nước ngoài quan tâm tới việc xác định vị trí của quận Tượng.

Người nước ngoài đầu tiên trở lại vấn đề quận Tượng có lẽ là Lôrútxô (L.Aurousseau). Trong tiểu luận tựa đề Những cuộc xâm lược đầu tiên của người Trung Hoa vào Việt Nam, ông coi quận Tượng là Nhật Nam hay bao gồm cả Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Như vậy, có nghĩa là, quân Tần đã tiến vào đất Nhật Nam, sau khi đánh bại cuộc không chiến chống Tần của người Tây Âu - Lạc Việt.

Trái ngược với quan điểm của Lôrútxô, có hai người khác là H.Mátxpêrô (H.Maspéro) học giả người Pháp và Guimei Saeki học giả Nhật Bản. Hai ông đã phân tích rất công phu các tài liệu thư tịch cổ Trung Hoa đi đến kết luận: quận Tượng là miền Tây tỉnh Quảng Tây. Dựa trên sự phân tích vị trí của quận Tượng, hai ông cho rằng, quân Tần chưa hề vào đất Việt ngày nay.


1. Xác định năm 218 Tr.CN là năm Tần phát động culộc chiến tranh xâm chiếm Bách Việt là dựa vào ý kiến của giáo sư Đào Duy Anh. Gần đây, Trương Lao Phương và Hoàng Diễu Chương, tác giả quyển Nam Việt quốc sử (Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1995), có điểm lại các ý kiến khác nhau về niên đại quân Tần bắt đầu tiến đánh Lĩnh Nam như năm 222 Tr.CN (ý kiến của Cừu Trì Thạch), năm 221 Tr.CN (ý kiến của Quách Phỉ và của Aurousseau), năm 219 Tr.CN (ý kiến của Dư Thiên Xí) và năm 218 Tr.CN (ý kiến của Đào Duy Anh). Sau khi phân tích các ý kiến, các tác giả Nam Việt quốc sử cũng kết luận rằng ý kiến của Đào Duy Anh là hợp lý hơn cả.

2., 3., 4., Vũ Phạm Khải : Đông Dương thi văn tuyển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 260-261.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:51:56 PM

Như vậy, cũng có nghĩa là, cuộc kháng chiến chống quân Tần của người Lạc Việt đã không xảy ra 1.

 Sau năm 1954, giới sử học Việt Nam đã bày tỏ sự không nhất trí với các quan điểm của các học giả nước ngoài đối với “cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tần vào Bách Việt”  Người đại diện cho giới sử học Việt Nam bấy giờ là nhà sử học, nhà văn hoá học nổi tiếng Đào Duy Anh. Trong cuốn Lịch sử Việt Nam do ông biên soạn, ông đã dành một chương với nhan đề: Cuộc xâm lược của nhà Tần và cuộc kháng chiến của người Lạc Việt - Sự thành lập nước Âu Lạc. Trong cuốn sách của mình, ông cũng đồng tình với việc xác định vị trí  của quận Tượng không nằm trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng ông cho rằng, quân Tần đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, tấn công vào nước Văn Lang của các Vua Hùng. Ông cho rằng, truyền thuyết Lý Ông Trọng là một tài liệu quan trọng.
 
Về truyền thuyết Lý ông Trọng, sách Lĩnh Nam chích quái chép như sau: “Cuối đời Hùng Vương ở xã Thuỵ Hương (Chèm), huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ có họ Lý tên Thân. Khi đẻ ra rất to lớn, rồi cao đến hai trượng ba thước, tính tình hung dữ, hay giết người, tội ác đáng chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết.

Đời An Dương Vương, Tần Thuỷ Hoàng muốn cất binh đánh ta, An Dương Vương đem Lý Thân đến tiến nhà Tần. Thuỷ Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư lệ hiệu uý.  Khi Thuỷ Hoàng đã lấy được cả thiên hạ, sai Lý Tiến đem quân giữ đất Lâm Thao, uy danh vang dội đến Hung Nô, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải” 2.

Theo ông “Không lẽ bỗng không, trong khi không có sách vở nào nói đến nó mà nhân dân ta lại bằng không tưởng tượng ra mưu xâm lược của Tần Thuỷ Hoàng vào một thời phù hợp với cuộc xâm lược lịch sử của quân Tần vào đất Bách  Việt 3. Vì thế, “mặc dầu chuyện hiến Lý Ông Trọng là  hoang đường, (nhưng) cái nền tảng cho truyền thuyết ấy là mưu xâm lược của nhà Tần vào đất An Dương Vương có thể   là có “4.

 Sau khi mô tả diễn biến cuộc kháng chiến của người Lạc  Việt chống lại quân Tần - dựa theo Hoài Nam tử và Sử ký,  ông đi đến kết luận:

“Như thế là cái cuộc kháng chiến của tổ tiên chúng ta với quân nhà Tần, cuộc kháng chiến mà không  sử gia Trung Quốc nào nói đến, mà các sử gia Việt Nam chỉ  nhắc đến một cách lờ mờ và nói chung chung như là cuộc kháng chiến của tất cả người Bách Việt mà cuối cùng đã thất  bại vì kết thúc bằng sự cát cứ của Triệu Đà, cuộc kháng chiến mà H. Mátxpêrô (H.Maspero) cho là không có, mà Lôrútxô (L.Aurousseau) cho là thất bại, chúng tôi đã chứng minh rằng, nó đã xảy ra thực và kết thúc thắng lợi bằng sự thành lập nước Âu Lạc” 5.

Bước sang thập kỷ 70, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu thời đại Hùng Vương và An Dương Vương do Viện Khảo cổ học chủ trì, các nhà sử học Việt Nam lại trở lại vấn đề quận Tượng. Trong bài báo với nhan đề trên, Nguyễn Duy Hinh cho rằng, toàn bộ sự rắc rối quanh vị trí  của quận Tượng đều xuất phát từ lời chú của Ban Cố trong  sách Hậu Hán thư.
 
Trong lời chú cho bộ sử nổi tiếng này, khi chép về các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp Phố, ông không cho biết các quận này trước thời Hán thuộc đất nào.  Khi nói về quận Tượng ông chỉ ghi “Quận Nhật Nam là quận Tượng thời Tần xưa kia”... Do vậy, “Muốn giải quyết vấn đề quận Tượng phải bắt đầu từ lời chú của Ban Cố” và ông khẳng định “lời chú đó của Ban Cố là không chính xác”.  Sau khi đã sử dụng nhiều tư liệu, đặc biệt là cách gọi tên  các vùng đất mà các triều đại phong kiến Trung Quốc thường đặt cho các vùng chưa chiếm được, ông cho rằng “... quận Tượng - thực tế nó chỉ là một danh từ - vua tôi nhà Tần muốn chỉ đất nước ta thời ấy - một hình thức “giả bản” - chỉ có tên mà không có thật. Và, xác định “Quận Tượng do Tần triều lập này bao gồm hai bộ phận: một bộ phận nằm trên đất quân Tần đã chiếm được khu vực giữa Quý Châu và Quảng Tây và phần chủ yếu của nó bao gồm lãnh thổ nước ta mà quân Tần hết sức muốn chiếm mà không chiếm được và vẫn âm mưu sẽ chiếm” 6.

Ở một đoạn khác, ông Hinh khẳng định “... Thực tế, quân Tần giao chiến ở khu vực Quảng Tây ngày nay và thực tế quân Tần bị bại không chiếm được Bắc Bộ Việt Nam ngày nay” 7.

1. Theo Lịch sử Việt Nam, T.1. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.92-93.
2. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr. 57.
3., 4., Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1956, tr.54.
5. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1956, tr. 58.
6. Nguyễn Duy Hinh: Trở lại vấn đề quận Tượng, Tạp chí Khảo cổ học, số 11, tháng 12-1971, tr.70.
7. Sđd, tr.70.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:57:38 PM


Như vậy, Nguyễn Duy Hinh cũng nằm trong số những học giả không thừa nhận có cuộc kháng chiến chống Tần của người Tây Âu-Lạc Việt trên đất nước ta.

Trái ngược với Nguyễn Duy Hinh và các học giả cùng quan điểm trước ông, cũng trong khuôn khổ nghiên cứu thời  kỳ Hùng Vương và An Dương Vương, hai tác giả Trần Quốc  Vượng và Đỗ Văn Ninh đã tổng kết ý kiến của những nhà khoa học tham gia đề tài nghiên cứu thời kỳ An Dương  Vương, trong một bài báo cáo nhan đề Về An Dương Vương.
 
Bài báo đưa ra ba điều khẳng định:

- Khẳng định thời kỳ lịch sử An Dương Vương là có thật.
   
- Khẳng định thời kỳ lịch sử này là bước tiếp nối của thời  kỳ Hùng Vương.

Điều thứ ba có liên quan trực tiếp đến việc chúng ta đang bàn ở đây.

- Khẳng định có cuộc kháng chiến chống Tần và chống Triệu Đà.

Sau khi nhắc lại những sự kiện được ghi chép trong Hoài Nam tử và Sử ký, hai tác giả đã phân tích: “quân Tần bị khốn đốn ở miền Nam đất Quảng Tây, miền ấy hẳn là thượng lưu Tả Giang và Hữu Giang. Cư dân miền ấy thuộc giống Tây Âu. Miền ấy tương đương với nước Nam Cương của truyền thuyết mà quân trưởng chính là Thục Phán. Việc “cùng nhau đặt người tuấn kiệt” lãnh đạo kháng chiến.chứng tỏ có hội nghị của Nam Cương và Văn Lang, cả hai đều chưa bị Tần đặt làm quận huyện, bầu con người có tài năng độc đáo về cung nỏ lên lãnh đạo cuộc kháng chiến chung. Người đó là Thục Phán. Sau sáu bảy năm cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi” 1.

Năm 1973, một tập thể các tác giả đứng đầu là nhà sử học Văn Tân trong cuốn Thời đại Hùng Vương đã viết: “Theo nhận định của nhiều người gần đây, thì “người tuấn kiệt” được người Việt kháng chiến cử ra làm tướng không phải ai khác, mà chính là Thục Phán. Thục Phán đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần, ông đã đưa người Việt từ chỗ chạy vào rừng núi đến chỗ giết hàng mấy chục vạn quân Tần và cuối cùng đánh bại quân Tần.

Kể từ năm Doanh Chính thống nhất Trung Quốc và xưng là Thuỷ Hoàng đế, đây là lần đầu tiên nhà Tần bị đại bại trong mưu đồ xâm lược. Uy tín của Thục Phán vì vậy lên đến cái đỉnh chót của nó. ông được người Âu Việt và người Lạc Việt thán phục vì tài chỉ huy cuộc kháng chiến và cuối cùng được mọi người tôn lên làm vua để thay Hùng Vương” 2.  Về vấn đề này trong cuốn Lịch sử Việt Nam , sau khi xác định “vị trí của quận Tượng, tác giả cho rằng, cuộc chiến chống quân Tần đã từng xảy ra trên đất Việt Nam ngày nay:

“Tiền Hán thư, phần Bản kỷ về Hán Chiêu Đế (87-74 Tr.CN) lại chép rõ ràng rằng: “Năm thứ năm hiệu Nguyên Phượng (76 Tr.CN) bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”. Quận Uất Lâm là vùng Quảng Tây. Quận Tường Kha ở phía tây quận Uất Lâm và gồm một phần Quý Châu.
 
Sau khi bày tỏ sự tán đồng với khảo cứu của H.Mátxpêrô, tác giả cho rằng “Sự nhầm lẫn quận Tượng với quận Nhật Nam có thể do quận Tượng là một quận phía nam của đế chế Tần, mà quận Nhật Nam cũng là quận phía nam của đế chế Hán và trong năm huyện của quận Nhật Nam lại có huyện Tượng Lâm” 3.

Hơn nữa, sau khi nhà Tần thiết lập ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng cũng như sau khi Triệu Đà chiếm cứ ba quận ấy để cát cứ, nước Âu Lạc vẫn tồn tại với tư cách là một nước độc lập”. Do vậy, “Quận Tượng không thể bao gồm quận Giao Chỉ, Cửu Chân là lãnh thổ nước Âu Lạc, cũng không thể là quận Nhật Nam ở phía nam nước Âu Lạc được” 4.
 
Trên cơ sở xác định vị trí của quận Tượng, tác giả cho rằng, sau khi quân Tần chiếm được lưu vực sông Tây Giang đã không dừng lại ở đó. Trên đà thắng lợi, quân Tần có thể theo Tả Giang và sông Kỳ Cùng tiến vào vùng biên giới phía Bắc và Đông Bắc nước ta ngày nay. Như vậy, cuộc kháng chiến chống Tần của người Bách Việt đã thực sự xảy ra trên đất nước ta mà sử sách đã không ghi chép một cách cụ thể.  Và người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần của người Tây Âu và Lạc Việt chính là Thục Phán. “Thục Phán vốn là một thủ lĩnh của người Tây Âu trên địa bàn phía bắc nước Văn Lang lúc bấy giờ gồm cả một phần Nam Quảng Tây mà trung tâm là vùng Cao Bằng. Sau khi một tù trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống hy sinh, Thục Phán cùng nhiều thủ lĩnh người Tây Âu và Lạc Việt khác đã tiếp tục tổ chức cuộc chiến đấu chống Tần” 5.


1. Trần Quốc Vượng - Đỗ Văn Ninh: Về An Dương Vương, Tạp chí Khảo cổ học, số 7-8, tháng 12-1970, tí. 92.
2., Văn Tân - Nguyễn Linh - Lê Văn Lan - Nguyễn Đổng Chi - Hoàng Hưng: Thời đại Hùng Vương, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr.249.
3., Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn – Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, T.l, tr.193-194.
4. Sđ d T1, tr 193, 194.
5. Sđd T 1, tr. 194.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Mười Hai, 2008, 12:01:36 AM


Một trong những bằng chứng mà tác giả đưa ra để chứng minh quân Tần đã vào đất Việt cũng giống như giáo sư Đào Duy Anh là dựa vào thần tích đình Chèm (Hà Nội) ghi An Dương Vương đánh nhau với Tần Thuỷ Hoàng, muốn “cầu hoà” nên đem Lý Ông Trọng ra hiến để xin bãi binh.

Quan điểm của giáo sơ Đào Duy Anh và các tác giả cuốn Lịch sử Việt Nam đã nhận được sự đồng tình của các tác giả biên soạn cuốn Biên niên sử cổ trung đại Việt Nam do Viện Sử học xuất bản. Sách viết: “Nhà Tần từ Trung Quốc sai viên hiệu uý Đồ Thư đem quân đánh sâu vào đất Lĩnh Nam. Sau khi chiếm được miền đất Lục Lương, đã đặt ra các quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Bắc và Đông Quảng Tây), Tượng (Tây Quảng Tây và Nam Quý Châu), song càng đi sâu vào đất Việt quân Tần bị các tộc người Âu Việt - Lạc Việt chống lại kịch liệt. Người Âu Lạc tạm rút vào rừng núi, tổ chức lực lượng kháng chiến, cử người kiệt tuấn lên làm tướng và tiến hành các cuộc tập kích quân Tần vào ban đêm, kéo dài cuộc đấu tranh trong nhiều năm. Cuối cùng đã đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần giết được viên hiệu uý Đồ Thư” 1.

 “Thục Phán - thủ lĩnh người Âu Việt ở miền núi. Sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, đã thống nhất các tộc người Âu Việt và Lạc Việt lập nên nhà nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, thay thế và phát triển nhà nước Văn Lang của các vua Hùng đóng đô ở Cổ Loa” 2.
   
 Năm 1984, hai tác giả Hồng Nam và Hồng Lĩnh trong cuốn: Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâm lược cũng đã giành mục: Kháng chiến lâu dài chống xâm lược Tần: cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đầu tiên của dân tộc ta để bàn về vấn đề này. Trong cuốn sách này, các tác giả đã khẳng định: “phía Nam ba quận này (Nam Hải - Quế Lâm - Tượng) là nước Văn Lang.  Đến đây thì quân Tần đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của người Việt - cư dân Văn Lang, Âu và Lạc - và đã bị đại bại. Nhà Tần không còn đặt thêm được một quận nào khác ở phía Nam nữa”. Sách còn nói rõ: Chiến trường chủ yếu là; miền núi rừng Việt Bắc và miền Trung du Đông Bắc, bao gồm cả vùng đất phía Nam hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây thuộc Trung Quốc ngày nay, khi ấy thuộc địa bàn của người Âu Lạc 3.

Bộ Lịch sử Việt Nam đã viết: “Nhà Tần sau khi thống nhất toàn Trung Quốc (221 Tr.CN) đã phát 50 vạn quân xâm lược phương Nam... Quân Tần chiếm được một số đất đai của các tộc ở phía nam sông Trường Giang, lập các quận Mân Trung (Phúc Kiến), Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (bắc Quảng Tây), Tượng (tây Quảng Tây, nam Quý Châu) (năm 214 Tr.CN).  Song càng đi sâu vào đất Việt, quân Tần đã bị người Âu Việt, người Lạc Việt anh dũng chống lại. Người Âu Lạc cùng nhân dân các tộc khác tạm rút vào rừng núi. Họ tổ chức lực lượng kháng chiến, cử người kiệt tuấn lên làm tướng và tiến hành các cuộc phục kích quân Tần vào ban đêm. Người Việt kiên trì chiến đấu lâu dài trong hàng chục năm ròng. Hàng chục vạn quân Tần bị tiêu diệt. Chủ tướng của giặc là Đồ Thư cũng bị giết chết” 4.
 
Cho tới nay, dẫu vẫn còn tồn tại những ý kiến khác nhau giữa các nhà sử học, song phần đông đều chấp nhận quan điểm sử học chính thống là: Vị trí của quận Tượng không nằm trên lãnh thổ đất nước ta ngày nay, nhưng quân Tần đã tiên hành cuộc xâm lược vào nước Văn Lang của các vua Hùng và đã bị người Âu Việt và Lạc Việt đánh bại, buộc phải  bãi binh. Người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần thắng lợi chính là Thục Phán. Sau khi đánh bại được cuộc xâm lược của quân Tần, ông đã được người Tây Âu và Lạc Việt tôn lên làm vua, lập nên nhà nước Âu Lạc.

Nhà Tần cho quân tiến xuống Lĩnh Nam, trước hết là đánh vào vùng Bách Việt, nơi cơ trú của cộng đồng các tộc Việt, có chung nguồn gốc, có nền văn hoá riêng rất độc đáo là văn hoá trông đồng. Phần lớn đất đai của người Tây Âu ở lưu vực sông Quế bị nhà Tần thôn tính, quân trưởng của họ là Dịch Hu Tống bị giết. Bộ phận còn lại của người Tây Âu đã liên minh với các tộc anh em khác ở lưu vực sông Tả Giang, Hữu Giang và sông Hồng để tiếp tục chiến đấu. Từ đó, lực lượng chống đối quyết liệt nhất với quân nhà Tần là khối cộng đồng người Việt, nổi bật là khối liên minh Tây Âu - Lạc Việt. 


1., 2. Viện Sử học: Biên niên sử cổ trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr. 15-16.
3. Hồng Nam - Hồng Lĩnh : Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.50.
4. Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, i. 1, tr.73.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Mười Hai, 2008, 12:03:05 AM


Sau khi đào xong Linh Cừ, khiến việc chuyển quân và tải thương dễ dàng hơn, quân Tần nhanh chóng đánh chiếm gần hết vùng Lục Lương, chia đặt quận, huyện , cắt cử quan, quân chiếm giữ và cai trị. Quận Tượng là miền đất xa nhất thuộc địa phận tây và nam Quảng Tây ngày nay phần lớn đã bị quân Tần chiếm đóng. Vùng lưu vực sông Hồng của người Lạc Việt, mặc dù chưa chiếm được, song với tư tưởng bành trướng ngông cuồng, với thủ đoạn và giọng lưỡi kẻ cả, nhà Tần vẫn coi vùng đất này (là miền Bắc Việt Nam) thuộc cương vực của đế quốc Tần.

Cùng với ý kiến cho rằng, sau năm 214 Tr.CN, quân Tần đã thừa thắng tiến sâu vào vùng cư trú của người Tây Âu - Lạc Việt ở lưu vực Tả Giang và có thể đã theo sông Bằng Giang và Kỳ Cùng thọc sâu hơn nữa vào đất Việt. Niên đại 210 Tr . CN của cuộc tiến công của quân Tần vào vùng đồng bằng sông Hồng do Nhâm Ngao và Triệu Đà chỉ huy có thểtin cậy được. Vào thời điểm này, nước Âu Lạc cũng như nước Nam Việt chưa được thành lập. Lúc đó Nhâm Ngao còn sống, y bị ốm và chết vào năm 209 hoặc 208 Tr.CN. Như vậy về danh nghĩa, cuộc tiến công đầu tiên của Triệu Đà vẫn được xem là cuộc xâm lăng của nhà Tần vào vùng đất cơ trú của người Lạc Việt.
Về diễn biến của cuộc kháng chiến, trước hết cần xem hướng tấn công của quân Tần vào Bách Việt đã được sử cũ ghi lại. Sách Hoài Nam tử cho biết, quân Tần tiến đánh Bách Việt theo năm ngả:

- Đạo quân thứ nhất đóng ở Đàm Thành Lĩnh. Đàm Thành Lĩnh nay là Việt Thành Lĩnh ở phía bắc Quảng Tây.

- Đạo quân thứ hai đóng ở ải Cửu Nghi. Ải này nằm phía đông bắc tỉnh Quảng Tây giáp với tỉnh Hồ Nam, nay thuộc huyện Ninh Viễn thuộc Hồ Nam.

- Đạo quân thứ ba đóng ở Phiên Nhung (nay là Quảng Châu), đi theo con đường từ Trường Sa vượt qua dải Ngũ Lĩnh vào Quảng Đông.

- Đạo quân thứ tư đóng ở Nam Dã (nay ở phía nam huyện Nam Khang tỉnh Giang Tây).

- Đạo quân thứ năm đóng ở sông Dư Can nay thuộc đất các huyện Dư Can, Lạc Bình (tỉnh Giang Tây).

Nghiên cứu cách bố trí lực lượng của quân Tần, chúng ta có thể nhận ra được hướng tiến công của chúng trải ra trên một khu vực tiền duyên rộng hàng ngàn kilômét, kéo dài suốt từ miền núi tới miền ven biển. Có thể nói, đây là một trong những cuộc điều quân lớn nhất trong lịch sử quân sự cho tới thời điểm này.

Qua việc bố trí các đạo quân có thể xác định nhiệm vụ của mỗi đạo.

Hai đạo quân thứ nhất và thứ hai tác chiến trên địa bàn các tỉnh miền núi.
 
Ba đạo quân còn lại tác chiến ở khu vực duyên hải kéo dài từ Giang Tây tới Quảng Đông.

Đạo quân thứ tư đóng ở Nam Dã (tỉnh Giang Tây) có thể có nhiệm vụ tiến đánh vùng đất của người Đông Việt ở phía nam tỉnh Triết Giang.
Đạo quân thứ năm đóng ở lưu vực sông Dư Can tiến đánh vùng đất của người Mân Việt. Hai cánh quân này có thể đã gặp thuận lợi nên không thấy sử cũ chép. Sau khi chiếm được vùng đất của các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, nhà Tần đã cho thành lập một quận mới có tên là Mân Trung.

Đạo quân thứ ba xuất phát từ Trường Sa vượt qua Ngũ Lĩnh đánh thẳng xuống Quảng Đông và hội quân ở Phiên Ngung (Quảng Châu). Đạo quân này có nhiệm vụ đánh vào vùng đất của người Nam Việt.

Rất có thể, nếu cánh quân thứ ba gặp sự kháng cự của người Nam Việt, thì ngoài số quân đồn trú để lại trong vùng đất mới chiếm được ở Triết Giang và Phúc Kiến, hai cánh quân thứ tư và thứ năm có thể đã tăng viện cho đạo quân thứ ba theo ngả đường từ Phúc Kiến sang.  Song, ta cũng không thấy sử cũ ghi chép gì về những khó khăn mà cánh quân này gặp phải. Chỉ biết, sau khi chiếm được đất của người Nam Việt, quân Tần đã lập ra quận Nam Hải.
 
Hai đạo quân thứ nhất và thứ hai được tập kết ở Cửu Nghi và Đàm Thành, trên địa phận tỉnh Hồ Nam và khu vực đông bắc của tỉnh Quảng Tây. Sở dĩ quân Tần chọn hướng đột kích vào phía đông bắc tỉnh Quảng Tây vì khu vực này rừng núi không hiểm trở như ở phía bắc và tây bắc. Vả lại, đạo quân ở Phiên Ngung có thể dễ dàng hợp binh tiếp cứu.

 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Mười Hai, 2008, 12:04:13 AM

Việc bố trí lực lượng tiến công cho thấy quân Tần cũng đã lường trước được những khó khăn khi tiến vào vùng đất Tây Âu hiểm trở. Nhìn trên bản đồ có thể thấy, tỉnh Hồ Nam thực sự là một căn cứ quan trọng - nơi tập kết phần lớn đội quân xâm lược quy mô của nhà Tần.
Sở dĩ Hồ Nam được chọn làm điếm tập kết vì đây là một tỉnh lớn, có đồng bằng phì nhiêu, dân cư đông đúc nằm ở phía nam sông Dương Tử. Hồ Nam lại có biên giới với Quảng Đông ở phía đông nam và Quảng Tây ở phía nam. Chọn Hồ Nam làm xuất phát điểm cho cuộc viễn chinh, quân Tần đã có thuận lợi về mọi mặt. Ngoài yếu tố địa lý thuận lợi, nhà Tần còn có thể dễ dàng huy động sức người, sức của cho cuộc chiến tranh.

Kế hoạch tác chiến của quân Tần như vậy, có thể coi là khá hoàn hảo. Đứng trước một kẻ thù có sức mạnh to lớn và ý đồ quân sự xảo quyệt như thế, nếu không chọn một phương án tác chiến thích hợp chắc chắn sẽ bị chúng đè bẹp.  Thực tiễn xảy ra trên chiến trường đã hoàn toàn không giống với những tính toán của quân xâm lược, đặc biệt đối với hai cánh quân phía tây có nhiệm vụ tiến đánh đất đai của người Tây Âu hay Âu Việt vùng Quảng Tây và Lạc Việt ở phía nam.

Lưu An trong Hoài Nam tử, cho biết khó khăn đầu tiên mà hai đạo quân phía tây của quân Tần gặp phải là vấn đề vận chuyển lương thực cho hàng vạn quân lính. Núi rừng hiểm trở, đường sá không có, do vậy, không thể dùng xe tải lương được. Quân Tần buộc phải vận chuyển lương thảo bằng thuyền. Thuyền tải lương tất phải ngược dòng sông Tương.

Sông Tương là một con sông không rộng như Tây Giang, bắt nguồn từ núi Ngũ Lĩnh chảy vào hồ Động Đình. Nhưng ở đầu nguồn sông Tương lại không có đường thông sang sông Ly - con sông chảy vào nội địa tỉnh Quảng Tây. Vì thế nên Đồ Thư đã phải sai viên Ngự sử giám tên Lộc vốn là người Việt, rất am hiểu địa hình vùng đất Lĩnh Nam đào một con kênh nối sông Tương với sông Ly mà Lưu An gọi là “cừ”.
 
Kênh đào này còn có tên là Linh Cừ hay kênh Hưng An. Kênh Hưng An ngày nay vẫn còn chảy, hoà nước của hai con sông Tương - Ly.   Theo Lưu An thì quân Tần phải đào con kênh này trong ba  năm. Sở dĩ, công trình này phải kéo dài, vì vừa đào kênh, vừa phải đối phó với các cuộc tập kích của người Việt, khiến cho “Trong ba năm không cởi giáp, dãn nỏ”. Chỉ với tám chữ mà Lưu An ghi lại cũng đủ cho ta thấy những gian nan mà quân Tần phải đương đầu. Có thể nói, nước của con kênh này sẽ không bao giờ hết vị mặn của mồ hôi và máu của những người lính đã đổ ra phục vụ mưu đồ bành trướng của giai cấp phong kiến thống trị nhà Tần.

 Cuối cùng, với sức lao động to lớn của hàng vạn con  người, con kênh Hưng An cũng đã đào xong. Nước của hai dòng sông Tương và Ly đã hoà dòng. Thuyền của quân Tần từ sông Ly thọc sâu xuống lưu vực sông Tây Giang - địa bàn cơ trú của người Tây Âu. Vượt được Tây Giang, quân Tần đã vượt qua được một “hào nước” tự nhiên to lớn để tiến xuống phía nam.

Với lợi thế hơn hẳn về số lượng và với những đạo quân từng trải trận mạc, dày dạn kinh nghiệm qua các cuộc thư hùng, quân Tần dễ dàng giành được thắng lợi ban đầu. Quân Tần đã giết được một thủ lĩnh người Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng, nhiều thủ linh các bộ Lạc của người Tây Âu và có thể có cả người Lạc Việt, đã không hề run sợ, mà tiếp tục kháng chiến. Để tránh thế địch đang mạnh “người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu cho quân Tần bắt” (Hoài Nam tử). Nhưng “người Việt đều vào rừng không phải là một cuộc chạy trốn vì khiếp sợ. Lưu An đã giải thích lý do cuộc “vào rừng” của người Việt chính là để “cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quânTần”.

Trong đoạn mô tả này Lưu An ghi lại rất rõ hai nội dung. Một là, “cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng’.  Điều này có nghĩa là, người Việt vào rừng để tránh thế giặc mạnh và tổ chức lại lực lượng, bầu ra người tài giỏi lãnh đạo cuộc kháng chiến của mình. Tiếp đó, ông ghi lại cách đánh của người Việt “ban đêm ra đánh quân Tần”. Có thể hiểu là, ban ngày người Việt đã ẩn mình trong rừng sâu, quân Tần không thể phát hiện được. Những đạo quân xâm lược từ phương Bắc tới, có lẽ chưa bao giờ được thấy những khu rừng nhiệt đới đại ngàn với nhiều loại thú hung dữ, thì làm sao có thể liều lĩnh tiến sâu vào rừng, nơi người Việt đang trú ngụ.  Khi màn đêm phủ xuống, từ trong các khu rừng người Việt mới kéo ra tập kích vào các trại lính khiến cho quân địch ăn không ngon, ngủ không yên.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Mười Hai, 2008, 12:06:12 AM

Đối với các đạo quân xâm lược từ xa đến, ngoài phần lương thực do hậu cần chuyên chở đến còn cần phải có một nguồn lương thực bổ sung không kém phần quan trọng là cướp bóc được của người dân địa phương. Do đường sá xa xôi,  lại hiểm trở, nên việc vận chuyển lương thảo vô cùng gian khó. Nguồn lương thực cướp bóc của dân địa phương lại hoàn toàn không được, vì người Việt đã chạy cả vào rừng. Vì thế nên quân Tần đã lâm vào cảnh “lương thực bị tuyệt và thiếu”.

Cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tần vào đất Việt ngày càng bị sa lầy. Theo Sử ký thì dường như cả đất nước của nhà Tần đã bị cuộc chiến tác động. Tất cả các trai tráng đều phải ra trận để bổ sung quân số thiếu hụt. Vì vậy, nhà Tần đã phải huy động cả phụ nữ tham gia vào việc vận tải lương thảo. Tình cảnh cực khổ của chiến trường đã khiến nhiều người không chịu nổi buộc phải tự tử.

Đó là cảnh khủng khiếp mà Tư Mã Thiên đã ghi lại: “Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi, người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau”.
 
Với cách đánh kiên trì và thông minh, người Việt đã đẩy quân Tần vào chỗ “đóng binh ở chỗ vô dụng, tiến không được, thoái không được”, “mắc hoạ với người Việt”.

Trong tình cảnh phía nam quẫn bách như vậy, cuộc xâm lược ở phía bắc cũng không may mắn gì. Các dân tộc ít người ở phía bắc cũng làm cho quân Tần “mắc hoạ với người Hồ”.  Giữa lúc nước Tần ngày một kiệt quệ vì hai cuộc chiến tranh,  thì Tần Thuỷ Hoàng chết. Thiên hạ “khắp nơi nổi dậy  chống”. Nhân cơ hội đó, người Việt đã tập hợp lực lượng, mở  những cuộc tiến công lớn vào đội quân xâm lược của nhà Tần.  Kết quả là, “đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư (quân  Tần) thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người” (Hoài  Nam tử). Tần Nhị Thế buộc phải tuyên bố bãi binh vào năm 208 Tr.CN, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài hơn  10 năm của nhà Tần vào đất Bách Việt và có thể trong hơn  năm năm trên địa bàn của nước Văn Lang - Âu Lạc.

Mặc dù, Lưu An không cho chúng ta biết chi tiết về lực lượng người Việt tham gia trận “đại phá” đưa đến việc kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tần, nhưng qua những dòng ngắn ngủi mà ông ghi lại, chúng ta đều hiểu, lực lượng kháng chiến của quân và dân, được chỉ huy và tổ chức chu đáo mới có thể làm thất bại một lực lượng quân đội đông tới hàng vạn người, cho dù đạo quân đó đang ở trong tình trạng hoang mang, kiệt quệ.

Lực lượng kháng chiến đó – theo truyền thuyết là một liên minh của các bộ Lạc người Việt dưới sự lãnh đạo của một “người kiệt tuấn” là Thục Phán. Chính sự lãnh đạo tài tình của ông, các bộ Lạc Âu Việt - Lạc Việt đã tôn ông lên làm vua, đứng ra thành lập một nhà nước mới - nhà nước Âu Lạc. Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc là thành quả vĩ đại nhất của cuộc chiến tranh chống xâm lược nhà Tần.
 
Nhà sử học Đào Duy Anh đã đánh giá: “Sự thành lập nước Âu Lạc là một sự kiện do tổ tiên chúng ta là người Lạc Việt đã xuất đầu lộ diện trên lịch sử chính là kết quả của cuộc kháng chiến bền bỉ của tổ tiên ta chống quân nhà Tần.  Nó có ý nghĩa trọng đại đối với lịch sử nước ta” 1.


1. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1956.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:24:04 AM

III. THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦN
VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC ÂU LẠC

Về năm tháng ra đời của Nhà nước Âu Lạc, từ trước tới nay sử sách ghi chép không hoàn toàn giống nhau. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết nước Âu Lạc thành lập năm 257 Tr.CN. Lôrútxô (L.Aurousseau) lại chứng minh mãi cho đến năm 210 Tr.CN nước Âu Lạc mới xuất hiện. Nhưng phần đông các nhà sử học căn cứ vào những sự kiện được ghi chép về cuộc kháng chiến chống Tần trong sử sách Trung Quốc cho rằng, năm 208 Tr. CN, khi Tần Nhị Thế tuyên bố bãi binh, là năm Nhà nước Âu Lạc được thành lập. Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc chính là hệ quả của cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi.

Trước cuộc kháng chiến chống Tần, liên minh bộ Lạc Tây Âu của Thục Phán đã có mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang của Hùng Vương.

Mối quan hệ đó dựa trên những nền tảng rất căn bản là chung một tộc người, chung một không gian văn hoá và liền kề về phương diện địa lý.

Có lẽ, cuộc đối đầu lịch sử trước giặc ngoại xâm có quân đông và hung bạo đã thúc đẩy mạnh hơn xu thế hợp nhất hai tộc người Tây Âu và Lạc Việt.

Quá trình hợp nhất giữa hai tộc người này sử sách ghi lại cũng khác nhau. Việt sử lược chép: “Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay” 1.

Nhưng, phần lớn các thần tích, thần phả và truyền thuyết dân gian đều cho rằng, Hùng Vương đã nhường ngôi cho Thục Phán. Truyền thuyết về Thục Phán còn khẳng định, bộ chúa Ai Lao miền núi của nước Văn Lang tên là Thục Phán, cũng là dòng dõi vua Hùng. . . Sự phản ánh của truyền thuyết phần nào phù hợp với thực tiễn lịch sử, như Lưu An đã cho biết người Việt “bầu người kiệt tuấn” lãnh đạo cuộc chiến.

Nhà sử học Đào Duy Anh phân tích tên nước Âu Lạc gồm hai thành tố Âu (Tây Âu, Âu Việt) và Lạc (Lạc Việt). Như vậy sự thành lập nước Âu Lạc không phải là một sự thôn tính, tiêu diệt lẫn nhau giữa hai cộng đồng người cùng chung một tộc, lãnh thổ liền kề, mà chỉ là sự hợp nhất cơ dân, đất đai của hai tộc người anh em. Cũng chính vì thế, mà ngàn đời sau, con cháu của hai tộc người này đều coi Hùng Vương và An Dương Vương là tổ tiên của mình, là những người anh hùng có công lớn trong sự nghiệp dựng nước.

Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, khoảng gần 30 năm (từ năm 208 đến năm 179 Tr.CN) nên toàn bộ kinh tế, xã hội, chính trị chỉ là sự tiếp tục phát triển trên những cơ sở thành tựu đã đạt được của Nhà nước Văn Lang.
 
Đó là một xã hội được xây dựng trên nền tảng của thời đại sắt sớm. Cư dân sống chủ yếu là trồng lúa, săn bắn, đánh cá. Nghề thủ công phát triển mạnh, đặc biệt là nghề đúc đồng. Quan hệ trao đổi buôn bán với nước ngoài và các khu vực trong nước khá phồn thịnh.Một bản sắc văn hoá tinh thần riêng cũng đã hình thành vững chắc với phong tục thuần hậu, thờ cúng tổ tiên, tôn vinh các anh hùng khai sáng, anh hùng trận mạc. Tín ngưỡng nông nghiệp được xem là tín ngưỡng chủ đạo trong sinh hoạt tinh thần của cộng đồng. Mặt trời là Thần chủ, các hiện tượng tự nhiên như mây, mơa, sấm, chớp... cũng được tôn thờ. Việc thờ các biểu tượng của sự phồn thực cũng rất phổ biến.

Nghệ thuật tạo hình với đỉnh cao là trống đồng được coi là kết tinh tinh hoa về văn hoá vật chất và tinh thần của thời đại. Bao trùm mọi lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình là những nội dung tràn đầy tinh thần nhân bản, thể hiện qua nhiều loại hình nghệ thuật như: tượng tròn, phù điêu, mỹ thuật ứng dụng. . .

Chế độ phụ quyền đã được xác lập, nhưng nhân dân vẫn có thói quen tôn trọng phụ nữ. Những sáng tạo văn hoá còn được gán cho các nữ thần. Phụ nữ được đánh giá cao trong sản xuất cũng như trong chiến đấu. Truyền thống này vẫn được tiếp tục trong các thế kỷ sau.

Trong xã hội đã có sự phân hoá giai cấp. Tầng lớp thống trị là các Lạc hầu và Lạc tướng. Lạc dân cày ruộng. Mâu thuẫn giai cấp đã xuất hiện nhưng không gay gắt lắm, tuy nhiên đã có những biểu hiện khác hẳn so với thời kỳ Văn Lang.  Mặc dầu, thời gian tồn tại của nước Âu Lạc vô cùng ngắn ngủi, nhưng đã có những bước phát triển mới trong xã hội của hai cộng đồng người âu và người Lạc, trong khung cảnh của một nhà nước mới.

Trước hết là cương vực nước Âu Lạc giờ đây rộng hơn nước Văn Lang, phía bắc vươn tới sông Tả Giang (tỉnh Quảng Tây) , phía nam giáp với nước Chăm pa.


1. Đào Duy Anh : Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr. 58.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:26:33 AM

Nền kinh tế của Âu Lạc đã có bướt phát triển mạnh với sự ra đời của đồ sắt. Sắt với tính ưu việt của nó đã kéo theo hàng loạt thay đổi trong kinh tế. Các công cụ, dụng cụ bằng đồng dần dần thay thế đồ đá. Nhờ có sắt, nông nghiệp có thêm những công cụ sắc bén để phát triển thuận lợi.  Ý chí quốc thống ngày càng được đề cao. Thủ đô của đất nước được dời từ Phong Châu - miền đồi núi trung du chật hẹp, xuống Cổ Loa - giữa vùng đồng bằng bao la, mầu mỡ đang trong quá trình được khai phá.

Có lẽ do ra đời từ trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm lâu dài và gian khổ trước một kẻ thù đông và mạnh hơn gấp nhiều lần và nguy cơ của các cuộc xâm lược sẽ còn tiếp tục, nên Nhà nước Âu Lạc đã quan tâm đặc biệt đến việc phát triển lực lượng quân sự. Trong thời Âu Lạc, về phương diện quân sự đã có những tiến bộ vượt bậc.

Các thư tịch và truyền thuyết cho thấy, quân đội thường trực của nhà nước đã ra đời, gồm hai lực lượng chính là: quân bộ và quân thuỷ.
Đặc biệt là quân thuỷ. Có thể, quân thuỷ đã có những căn cứ riêng của mình, không chỉ ở kinh đô, mà còn có ở những vùng cửa ngõ đường thuỷ của đất nước, như căn cứ Đại Than của tướng quân Cao Lỗ, phòng thủ vùng Lục Đầu giang. . . Các đạo quân thuỷ thường xuyên được tập luyện. Truyền thuyết Cổ Loa cho biết, An Dương Vương thường xuyên cưỡi thuyền duyệt các đội quân thuỷ. Trên các trống đồng Đông Sơn ta cũng thấy khắc ghi các thuyền chiến, trên thuyền là các chiến binh tay cầm nhiều loại vũ khí. Sát cánh cùng với quân thường trực là lực lượng dân binh của các làng xã. Truyền thuyết Cổ Loa cho thấy sự có mặt của các đạo dân binh trong nhiều trận chiến chống quân Triệu của ông Đống, ông Vực.

Tuy bộ vũ khí cơ bản vẫn là bạch khí, nhưng số lượng vũ khí được chế tạo ngày một nhiều. Ngoài các loại vũ khí truyền thống như giáo, lao, cung, nỏ mũi nhọn, rìu xéo, dao phạng... đã xuất hiện những loại vũ khí mới.

Một số công xưởng chế tạo vũ khí đã được thành lập. Kho mũi tên đồng với hàng vạn chiếc tìm thấy ở Cầu Vực là một bằng chứng rõ rệt.

Một trong những cải tiến vũ khí quan trọng của thời kỳ này là việc sáng chế ra loại nỏ bắn một lần được nhiều phát tên với đầu tên bằng đồng, mà truyền thuyết gọi là “nỏ thần”.  Các đầu tên có ba cánh với một chuôi rất dài để cắm vào cán.  Căn cứ vào kích thước và trọng lượng của đầu tên có thể khẳng định đây không phải là loại đầu tên của cung nỏ bắn bằng tay. Để đưa được đầu tên đi xa chỉ có thể là loại cung nỏ lớn, đặt trên bệ cố định, do nhiều người trương dây, như truyền thuyết đã nói tới loại “nỏ máy”. Chính nhờ có vũ khí lợi hại này, quân và dân Âu Lạc đã đánh tan các đạo quân xâm lược của Triệu Đà trong giai đoạn đầu.

Sau cùng, thay đổi lớn nhất, chứng tỏ sự phát triển về  mọi mặt của Nhà nước Âu Lạc so với nước Văn Lang là sự ra đời của thành Cổ Loa - công trình quân sự lớn nhất đã phát huy vai trò tích cực trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược của quân và dân nước Âu Lạc.


IV. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG TRIỆU ĐÀ XÂM LƯỢC

Trong cuộc bành trướng xuống phía nam, quân Tần đã bị tổn thất nặng nề và bị thất bại trước tinh thần yêu nước của người dân Âu Lạc, nhưng chúng cũng đã chiếm được một vùng đất rộng lớn của người Việt.
 
Trên vùng đất mới vừa chiếm được, chúng lập ra bốn quận là Mân Trung vùng đất thuộc các tỉnh Triết Giang - phúc Kiến ngày nay), Nam Hải vùng đất thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (vùng đất thuộc tỉnh Quảng Tây ngày nay) và Tượng Quận (vùng đất thuộc phía nam tỉnh Quảng Tây và nam tỉnh Quý Châu ngày nay).
 
Chính sách của nhà Tần đối với vùng đất mới chiếm được vô cùng thâm độc. Chính quyền các cấp từ quận đến huyện đều do các võ tướng nắm giữ. Sau khi đã thiết lập được bộ máy cai trị, nhà Tần đã áp dụng chính sách “di dân”, “khẩn thực” đày những người bị tù tội xuống canh giữ và khai khẩn đất đai. Những người này được cho ở lẫn với người Việt để từng bước đồng hoá họ.

Sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết “cả thiên hạ nổi lên chống”. Nhân dân các quận mới thành lập như Mân Trung, Mân Việt đều nổi dậy chống Tần.

Người đứng đầu quận Nam Hải là uý Nhâm Ngao nhân cơ hội này đã bàn với viên huyện lệnh huyện Long Xuyên là Triệu Đà âm mưu cát cứ,biến Nam Hải thành một vương quốc riêng. Trước khi chết, Nhâm Ngao đã cho gọi Triệu Đà về Phiên Ngung bấy giờ là trị sở của quận Nam Hải, viết giấy tờ trao ấn tín, tự ý bổ nhiệm Triệu Đà thay mình cai quản quận Nam Hải. Sau khi có trong tay quyền bính, Đà liền lập tức giữ chặt các cửa ải, đóng cửa tất cả các con đường giao thông từ bắc xuống nam, giết tất cả các quan lại trung thành với nhà Tần, biến quận Nam Hải trở thành một vùng cát cứ của họ Triệu.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:28:47 AM

Năm 206 Tr.CN, nhà Tần bị diệt, Đà nắm ngay thời cơ này lập tức tấn công hai quận Quế Lâm và Tượng. Trong tình thế hết sức hoang mang, quan quân hai huyện đã vội vã đầu hàng. Triệu Đà liền hợp đất ba quận, lập thành nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương.
Đà còn có một danh xưng khác là “Man di đại trưởng lão phu’, lấy vợ Việt, sống theo phong tục của người Việt. Noi theo Đà, tập đoàn quan lại, tướng sĩ, văn nhân người Hán đều lấy vợ Việt, chung sống với người Việt nhằm thu phục nhân tâm, phục vụ cho mưu đồ cát cứ lâu dài của chúng.
 
Sau khi nhà Tần sụp đổ, nhà Hán lên thay. Buổi đầu nhà Hán chấp nhận chính quyền cát cứ của Triệu Đà, nên vào năm 196 Tr.CN đã phái sứ giả là Lục Giả xuống phong cho Triệu Đà là Nam Việt Vương cho phép đi lại, buôn bán với trung nguyên. Triệu Đà bề ngoài tỏ ra thần phục đã dâng biểu tạ tội với Hán Vũ đế, nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm củng cố lực lượng cho mưu đồ cát cứ.

Năm 183 Tr.CN, Triệu Đà tự xưng là Nam Việt Vũ đế thành lập nhà nước riêng, không thần phục nhà Hán. Bắt đầu từ đây mưu đồ bành trướng của Đà ngày một lộ rõ với các cuộc xâm lấn vùng lãnh thổ xung quanh và các nước láng giềng.

Năm 181 Tr.CN, Triệu Đà phát binh vượt núi Ngũ Lĩnh đánh phá mấy quận huyện ở Hồ Nam rồi rút về. Cuộc tây chinh của Đà vào Ngũ Lĩnh ít nhiều nhằm phô trương thanh thế, giữ yên biên giới phía Tây để thực hiện tham vọng chủ yếu của Đà là chinh phục vùng lãnh thổ ở phương nam của người Tây Âu - Lạc Việt mà hoàng đế trước kia của y từng thèm khát xâm chiếm bằng vũ lực. Dã tâm này đã được Nhâm Ngao thổ lộ cùng Triệu Đà: “Nhà Tần sẽ mất nước thôi, nên dùng mưu kế đánh Thục Phán có thể dựng nước được” 1.

Theo sử cũ, vào năm Tân Mão (210 Tr.CN) nhân khi Tần Thuỷ Hoàng mất, Nhâm Ngao và Triệu Đà phát binh xâm lược Âu Lạc. Quân xâm lược đóng quân trải ra một vùng đất khá rộng từ ven sông Cầu (Nguyệt Đức), vùng Tiên Sơn (huyện Tiên Sơn), núi Vũ Ninh (núi Trâu huyện Quế Võ). Như vậy hướng tấn công của quân địch chủ yếu theo đường  thuỷ đúng như dự đoán của Cao Lỗ.

Trên vùng đồng bằng Bắc Ninh, nổi lên một số ngọn đồi - dấu vết còn lại của các cuộc vận động kiến tạo đồng bằng.  Những ngọn đồi này tạo thành hai cụm lớn. Cụm thứ nhất quan trọng nhất là vùng đồi Tiên Du. Trong cụm này có một dải đồi chạy theo chiều tây bắc - đông nam dài tới 4 km, trong đó có các điểm cao: núi Chè cao 127m; núi Bát Vạn cao 98 m. Theo cách nhìn dân gian, chuỗi điểm cao này còn có tên gọi là bà Tồ Cô, bởi núi có hình người đàn bà khoả thân đang nằm ngủ say.

Theo truyền thuyết của người xứ Bắc, bà là vị thần khai sáng ra non sông xứ Bắc. Dải Tồ Cô chia ra thành nhiều nhánh. Nhánh phía nam của nó là đồi Phật Tích cao 83m, phía tây nam của đồi Phật Tích là đồi Lạn Kha cao 55m. Phía bắc và đông bắc là một loạt các cao điểm đơn lẻ khác như núi Bát Vạn, cạnh Bát Vạn là đồi Đông Sơn cao 67m, đồi Long Khám cao 73m, đồi Và cao 52m. Đối diện với đồi Và là đồi Ngũ Huyện. Phía tây bắc núi Chè có hai ngọn đồi nhỏ gần Cổ Loa hơn là núi Bất Lự cao 40m và núi Móng cao 52m. Sau cùng, đứng đơn lẻ ở phía bắc là đồi Lim cao 23m. Đó là vùng cao điểm ngay sát thành Cổ Loa, chỉ cách thành theo đường chim bay non 20 km.

Xa hơn vùng đồi cao Tiên Du là vùng đồi núi Vũ Ninh hay còn gọi là núi Trâu Sơn. Chuỗi cao điểm này chạy dài tới  5 km theo chiều tây bắc - đông nam với các điểm cao từ 80 đến 102 m. Khác với vùng đồi Tiên Du, đến đoạn cuối dải Trâu Sơn mới tách ra thành những điểm cao thấp hơn về hai hướng. Hướng tây nam có núi Yên cao 23m và hai ngọn đồi có tên Từ Phong cao khoảng 23m. phía đông nam là một dải đồi dài 2km có độ cao khoảng 40m.
 
Nằm giữa Trâu Sơn và văn Phong là khúc sông cũ hay là đầm Trát Gian. Dưới chân núi có làng Châu Cầu nay vẫn còn đền thờ Triệu Đà.

Đội quân xâm lược của Triệu Đà xuất phát từ Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay) đi vào nước ta theo đường sông Bạch Đằng và đường hành lang Đông Triều - Chí Linh (con đường này về sau cũng được quân xâm lược Hán sử dụng). Vùng núi Trâu Sơn - Vũ Ninh là vị trí cửa ngõ có tầm quan trọng đặc biệt bảo vệ con đường viện binh và đường rút về. Còn vùng đồi Tiên Du là các điểm cao tiền duyên để tập trung lực lượng tấn công.

Những điểm cao này tuy rất lợi hại, song đối với thực tế của chiến trường vào thời điểm mà đồng bằng Bắc Bộ còn lầy lội hoang sơ và vũ khí chủ yếu là bạch khí thì vai trò, tác dụng của nó cũng chưa nhiều.


1.  Theo Ngô Sĩ Liên : Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972,T1, tr.67.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:36:00 AM
Vào mùa nước, bộ binh giặc không thể ở tất cả trên thuyền, mà phải đóng trên các cao điểm nên rất dễ bị quân thuỷ của Âu Lạc vây hãm. Bộ binh địch chỉ có thể tiến công thành vào mùa khô.

Nhờ khai thác triệt để những điểm yếu của giặc nên quân dân Âu Lạc đã chủ động tiến công chúng trên vùng đồi Tiên Du, làm cho Triệu Đà khốn đốn.

Lực lượng quân sự của nước Âu Lạc bấy giờ khá hùng mạnh. Theo Việt sử lược, quân đội thường trực của An Dương Vương có đến một vạn lính “dạy được một vạn quân lính”, lại “làm được nỏ liệu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên” 1..

Thứ vũ khí thần diệu này được Lĩnh Nam chích quái ghi lại như sau: Sau khi giúp vua xây thành xong, Rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của Thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt đưa cho nhà vua và nói: “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo nghĩ gì nứa”. “Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy” 2.

Cao Lỗ là ai mà được An Dương Vương giao cho trọng trách chế tạo ra loại vũ khí đặc biệt này? Theo thần tích làng Đại Than, huyện Gia Lương, ông quê ở làng Đại Than, châu Vũ Ninh (huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh ngày nay), là con ông Cao Thông và bà Đỗ Thị. ông bà sinh con muộn, nhưng bù vào đã được một cậu con trai, đặt tên là Cao Lỗ. Lớn lên Cao Lỗ là chàng trai khôi ngô, tuấn tú, văn võ song toàn nổi tiếng khắp vùng. Khi An Dương Vương dựng nước Âu Lạc gặp muôn vàn gian khó, nên đã ra sức cầu mong người hiền tài. Biết được tin đó, Cao Lỗ đã từ biệt cha mẹ, làng quê thận yêu, quyết mang tài năng ra giúp nước.

Được Cao Lỗ, An Dương Vương mừng lắm. Vua đã cùng Cao Lỗ lặn lội ngày đêm đi khắp đất nước tìm chỗ định đô và đã chọn Cổ Loa.  Nhà vua tin tưởng giao cho Cao Lỗ toàn bộ công việc chỉ huy quân đội và xây đắp thành luỹ. Ròng rã suốt ba năm trời, ông đã cùng nhân dân và quân sĩ đào hào, gánh đất xây thành. Thành xây xong, ông lại được vua giao cho chế nỏ thần 3.  

Công dụng của loại vũ khí này và tác giả của nó đều đã được sử cũ xác nhận. Theo Việt sử lược: “Lúc bấy giờ An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ, làm được nỏ liễu,  mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên...” 4.  
 
Thư tịch cổ Trung Quốc đã phóng đại hơn về khả năng của loại vũ khí do Cao Lỗ chế tạo “Mỗi phát giết được ba trăm người” (Giao Châu ngoại vực ký), “bắn một phát giết  chết quân (Nam Việt) hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn người”’ (Nam Việt chí), “mỗi phát tên đồng xuyên qua hơn chục người” (Việt kiệu thư).

Hàng vạn mũi tên đồng phát hiện ở Cầu Vực là cốt lõi của lịch sử và chất liệu thật của huyền thoại nỏ thần.  Bên cạnh thành cao hào sâu, vũ khí lợi hại, An Dương Vương còn có những tướng tài và lòng dân yêu nước vô song.
 
Ngoài Cao Lỗ, An Dương Vương còn có Nồi Hầu. Theo thần tích làng Chiêm Trạch (Cổ Loa), Nồi Hầu có tên là Nồi, con trai của một người thợ làm nồi đất ở làng Canh (nay là Tam Canh, Vểnh Phúc) tên là Đào Hoẵng. Năm Nồi 25 tuổi, An Dương Vương mở khoa thi võ kén tướng tài. Dân làng đã cử Nồi đi thi. ông đã giành giải nhất cuộc thi nên được An Dương Vương bổ làm quan của nước Âu Lạc với tước hầu.

Sau khi lấy vợ, ông sinh được hai con trai đặt tên là Đống và Vực. Lớn lên cả Đống và Vực đều được làm quan võ trong triều. Khi cuộc chiến tranh chống Triệu xảy ra, ngoài quân đội chính quy do An Dương Vương ban cấp, Nồi Hầu còn về quê vợ huy động được rất đông dân làng tham gia đánh giặc, tổ chức thành các đội dân binh 5.  
 
Sự tích Nồi Hầu đã loé rạng, hay cũng có thể nói, là sự khởi nguồn cho một truyền thống đánh giặc của dân tộc ta cho tới ngày hôm nay, đó là truyền thống chiến tranh nhân dân. . . 

1. Việt sử lược NXB Văn-Sử-Địa Năm 1960 trang 15
2. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, Tr.60.
3. Thần tích làng Đại Than, Gia Lương, Bắc Ninh, Tư liệu Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Bắc Ninh  
4.  Việt sử lược Nxb. Văn-sử-Địa, Hà Nội, 1960, tr. 15.
5. Theo Thần tích làng Chiêm Trạch, Cổ Loa, Tư liệu Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:42:56 AM


Các nguồn sử liệu, truyền thuyết đã cho biết chiến trường của cuộc kháng chiến chống Triệu không chỉ diễn ra ở quanh thành Cổ Loa, mà còn diễn ra ở vùng núi Tiên Du và núi Trâu. Điều đó có nghĩa là, quân và dân Âu Lạc đã không đợi kẻ thù đến mới đánh, không ỷ vào thành cao hào sâu, mà chủ động tiến công địch tại nơi chúng đóng quân.
 
Dù sử sách không ghi chép, ta vẫn có thể hình dung được những khó khăn của quân xâm lược khi chúng đóng quân trên các điểm cao bốn bề mênh mông nước, lại bị quân thuỷ ta vây chặt bên dưới. Quân Triệu chắc chắn đã phải gặp vô vàn khốn đốn trong việc tiếp tế lương thực cũng như nước sinh hoạt. Người phương Bắc tuy vốn có truyền thống đào giếng giỏi, nhưng trên những ngọn đồi đất faterit khô cằn của vùng đồi Tiên Du, hẳn không dễ có thể đào được giếng. Thuỷ quân giặc cũng khó có thể ứng cứu, một khi đánh thuỷ không phải là sở trường.

“Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự với nhà vua (An Dương Vương), không dám đối chiến” 1.

Chính vì những lẽ đó, quân Triệu Đà sau nhiều lần liều chết tấn công vẫn không thể chinh phục được nước Âu Lạc.  Không thể thắng bằng quân sự, Triệu Đà liền quay sang thực hiện cuộc chiến tranh với những mưu mô quỷ quyệt. Y “xin hoà” . An Dương Vương cả mừng. Sau cuộc hoà đàm, cục diện lãnh thổ được phân định như sau “phía bắc sông Tiểu Giang (sông Đống) thuộc Triệu Đà cai trị, phía nam thì vua cai trị”. Như vậy, một phần phía bắc lãnh thổ Nhà nước Âu Lạc đã bị rơi vào tay nhà Triệu.

Tuy nhiên, tham vọng thôn tính Âu Lạc không chỉ dừng lại tại đó “Không bao lâu Đà cầu hôn”. Thấy rõ những toan tính thâm hiểm của Triệu Đà trong cuộc hôn nhân này, tướng quân Cao Lỗ đã ra sức can ngăn, Nồi Hầu cùng hai con trai cũng khuyên can: “Lòng người khó dò biết, không nên nhẹ dạ cả tin” (thần tích đình Chiêm Trạch). Nhưng An Dương Vương vẫn bỏ ngoài tai mọi lời can gián của các đại thần. “Vua vô tình gả con gái là Mỹ Châu cho con trai Đà là Trọng Thuỷ” 2, thậm chí còn cho phép Trọng Thuỷ sang ở rể tại kinh thành Cổ Loa, theo phong tục ở rể của người Việt.

Buồn bã, Nồi Hầu cùng hai con trai đã “treo ấn từ quan” lui về ở ẩn tại Chiêm Trạch. Tuy vậy, vì Chiêm Trạch không xa Cổ Loa, nên cha con ông vẫn không rời mắt theo dõi kẻ thù.  Bên An Dương Vương nay chỉ còn có Cao Lỗ. Theo truyền thuyết, ông đã cho người theo dõi, giám sát chặt chẽ mọi hành động của Trọng Thuỷ. Thuỷ không được phép đi lại tự do trong thành, không được tới các pháo đài, không được đến nơi chế nỏ, đúc tên. Do sự cảnh giác của Cao Lỗ, Trọng Thuỷ không thể khai thác được bất kỳ tin tức quân sự nào của Âu Lạc. Nếu không nhổ được cái trở ngại - Cao Lỗ, thì mưu đồ cha con Triệu Đà sẽ thất bại.
 
Để loại trừ Cao Lỗ, Đà tìm cách gây chia rẽ, ly gián nội bộ “lấy của cải đút lót quan lại trong triều đình Âu Lạc”. Nghe lời xiểm nịnh của bầy tôi và hẳn là có cả lời nỉ non của con gái yêu, nên An Dương Vương đã phế truất người công thần bậc nhất của quốc gia, vị tư lệnh tối cao của quân dân Âu Lạc, công trình sơ kiệt xuất, nhà phát minh vũ khí thiên tài - Cao Lỗ, đuổi ông ra khỏi thành.

Trước khi rời bỏ kinh thành về đại bản doanh đạo quân thuỷ của mình ở bến Đại Than, ông đã nhắn lại nhà vua : “Giữ được nỏ thần thì giữ được thiên hạ, mất nỏ thần thì mất thiên hạ”.

Sách Việt điện u linh ghi lại cuộc gặp gỡ trong mộng giữa ông và Cao Biền cho thấy phần nào thực chất mối bất hoà giữa ông với quan lại trong triều phải chăng đó là mâu thuẫn giữa người của hai bộ Lạc vùng cao và vùng thấp trong triều đình hợp nhất hai thành phần Âu và Lạc, đã bị kẻ địch lợi dụng khoét sâu. Sách chép, khi Biền hỏi mãi ông mới tiết lộ “An Dương là tinh con “Gà vàng, Lạc hầu là tinh con “Vượn trắng” (đó là hai con vật biểu tượng của cán bộ Lạc vùng cao), còn tôi là tinh con Rồng đá (rồng là vật biểu tượng của các bộ Lạc vùng thấp và sông nước). Gà với Vượn thì hợp nhau mà không hợp với Rồng, nên sinh ra thế” 3.

Sau khi loại bỏ được Cao Lỗ, Trọng Thuỷ đã được tự do đi lại trong thành. Mọi đường đi lối lại, ngõ ngách, công sự phòng vệ, doanh trại quân cơ... Thuỷ đều thông thuộc. Bên cạnh việc chia rẽ nội bộ, diệt người tài, nhiệm vụ quan trọng khác của Thuỷ là làm sao lấy cắp được bí mật của nỏ thần.  Không phải ai khác, mà chính Mỵ Châu quá thơ dại và mù quáng trước tình yêu đã dạy cho Thuỷ cách chế nỏ, sử dụng loại vũ khí này và còn bị Thuỷ “đánh tráo lẫy nỏ thần” thay vào chiếc lẫy giả.


1. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr. 60.
2. Vũ Quỳnh - Kiều Phú : Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr 60.
3.  Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh. Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr.46.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:45:46 AM


Sau khi đã nắm được hầu như toàn bộ bí mật, loại bỏ được các tướng giỏi của Nhà nước Âu Lạc, Trọng Thuỷ vờ xin phép về thăm cha. Lời đề nghị đó dễ dàng được chấp thuận.  Trở về nước, Trọng Thuỷ đã gấp rút trang bị, huấn luyện kỹ thuật cung nỏ cho quân Nam Việt.

Năm 179 Tí.CN, Triệu Đà mang đại quân ào ạt tiến đánh Âu Lạc. Kể lại cuộc tấn công này của Triệu Đà, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đà đem quân đến đánh vua, vua không biết là lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười nói mà rằng: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao”. Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thần thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỹ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phương nam” 1.  
 
 Những sự kiện trên cũng được sử sách Trung Quốc ghi chép. Giao Châu ngoại vực ký chép: “Nam Việt Vương (Triệu Đà) biết là không thể đánh nổi, phải lui quân đóng ở Vũ Nghi (Vũ Ninh)... Việt Vương sai thái tử là Thuỷ hàng phục An Dương Vương, xưng thần để thờ. An Dương Vương không biết Thông tức Cao Thông - Cao Lỗ) là người thần, đối đãi vô đạo. Thông bèn bỏ đi và nói với vua rằng: giữ được nỏ này thì làm vua thiên hạ, không giữ được nỏ này thì mất thiên hạ.  Thông bỏ đi, An Dương Vương có con gái là Mỹ Châu, thấy Thuỷ là người đoan chính giao thông với nhau. Thuỷ hỏi Châu xem cái nỏ của cha. Thuỷ thấy nỏ bèn trộm cưa gẫy nỏ, rồi trốn về báo với Việt Vương. Việt Vương tiến binh đánh.  An Dương Vương đem nỏ ra bắn. Nỏ gẫy nên bị thua. An Dương Vương xuống thuyền chạy ra biển. . .” .

Sách Việt kiệu thư cũng ghi chép sự kiện này cơ bản giống như vậy, nhưng có một vài chi tiết khác “Vua Man - An Dương Vương, có con gái là Lan Châu xinh đẹp, lại giỏi nghề làm nỏ. Triệu Đà sai con sang ở rể, không đầy ba năm, học được phép chế nỏ và phá nỏ. Bèn khiến đi đánh, bắt được vua Man đem về”.

Dù cho có khác nhau về chi tiết, song những nội dung chính của cuộc chiến và kết cục bi thảm của nước Âu Lạc đều được các bộ sử lớn của hai nước chép tương đối giống nhau.

Do đặc điểm phải cô đúc cán sự kiện của chính sử, chúng ta không có được nhiều hơn các chi tiết về cuộc chiến tranh giữ nước của quân và dân Âu Lạc. Nhưng may mắn, một số chi tiết đã được bổ sung bằng nhiều thần tích, thần phả đang được hương khói thờ phụng tại các đền miếu ở các làng quê quanh vùng.

Thần tích làng Chiêm Trạch cho biết: Sau khi chiếm được Cổ Loa, Triệu Đà đã sai người về Chiêm Trạch mang danh lợi ra dụ dỗ cha con Nồi Hầu. Nồi Hầu lớn tiếng chửi mắng quân giặc. Triệu Đà vô cùng tức giận đã mang quân vây kín làng Chiêm Trạch. Ba cha con Nồi Hầu cùng dân làng chống cự quyết liệt với quân Triệu. Nhưng thấy thế không thể nào địch nổi quân giặc đông gấp bội, vợ chồng ông cùng hai con trai là ông Đống, ông Vực đã phá vòng vây chạy về Tam Canh. Quân Triệu đuổi theo, tràn vào làng, hai vợ chồng ông phải giả làm người bán nồi, gánh nồi trốn khỏi Hương Canh trở lại Chiêm Trạch. Khi vợ chồng ông chạy về tới Chiêm Trạch thì cổng làng đã đóng. Nghe tiếng gọi cổng, dân làng không dám mở ngay vì sợ kế gian của giặc, trong lúc đó thì quân giặc đuổi theo đã ập tới. Không chịu để giặc bắt, hai vợ chồng ông đã rút dao tự vẫn. Hai hôm sau, ông Đống, ông Vực từ Hương Canh về tìm cha mẹ, thấy cha mẹ đã chết liền tự vẫn theo 2.

Cuộc kháng chiến chống Triệu cuối cùng đã bị thất bại. Nguyên nhân căn bản là do những sai lầm của An Dương Vương. Trước đây chính ông đã đoàn kết được người Âu và người Lạc tiến hành cuộc kháng chiến bền bỉ chống lại chiến tranh xâm lược nhà Tần - một đế chế hùng mạnh, dẫn tới sự ra đời của nhà nước Âu Lạc, đã từng được sử thần Ngô Thì Sĩ ca ngợi:

“. . . Việc dựng nước đóng đô xây thành, đặt chỗ hiểm, trị kẻ địch, chống kẻ khinh nhờn giặc, lo phòng hoạn nạn, khiến cho hơn 40 năm không phải lo việc canh phòng giặc, trong nước vô sự, có thể nói là bậc có mưu lược dựng nước và giữ nước đấy”.

Cũng chính ông đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc xây dựng một kinh thành vững mạnh, chủ động tiến công đánh tan những đạo quân xâm lược hùng hậu của Triệu Đà trên vùng đồi Tiên Sơn - Vũ Ninh.
 
Nhưng, do không nhận thức được âm mưu đen tối của kẻ thù, ông từng bước mắc mưu dịch, đặc biệt là việc để cho kẻ thù phá vỡ khối đoàn kết nội bộ, khoét sâu mâu thuẫn Âu - Việt, loại bỏ người hiền tài và đánh cắp các bí mật quân sự.
 
Nếu như trước đây, những thắng lợi mà ông giành được, đều gắn với cuộc chiến của nhân dân, thì nay ông lại ỷ vào thành cao, hào sâu, vũ khí lợi hại, tách mình ra khỏi nhân dân, tiến hành một cuộc chiến tranh đơn độc, lấy phòng thủ là cơ sở cho cuộc chiến đấu.


2.  Thần tích đình làng Chiêm Trạch, Cổ Loa, tư liệu Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội.
1.  Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, T.1, tr.66.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:48:09 AM
Vì thế, nên cuộc kháng chiến chống Triệu Đà do ông lãnh đạo đã thất bại. Đất nước ta đã bị rơi vào thảm họa của hơn 1.000 năm Bắc thuộc.

Những việc làm của ông đã bị các sử gia thời phong kiến phê phán: “Nhưng xét về hình tích thắng bại khi lẫy nỏ còn thì quân xâm lược phương Bắc phải tan; lẫy nỏ gãy thì hết đường, chạy về phía Nam. Ngoài cái móng rùa (ý chỉ vũ khí, thần linh) thì việc người đều không dự đến... (trong khi) nước địch ở bên cạnh, đáng ra phải có quy mô luyện binh tuyển tướng, phải có kế hoạch dẹp loạn mưu sự sinh tồn, sao lại dám yên lặng vui chơi, dẫn cừu thù vào nơi cung khuyết, đặt mưu kế giữ biên giới vào cuộc nhàn? Chỉ vì nó có móng rùa. Vì trận thắng nhỏ mà lòng kiêu căng lớn lên, để đến nỗi lứa đôi thành thù địch, nước non Âu Lạc như đẩy bàn cờ ra là hết”.

Nói về nguyên nhân cụ thể dẫn tới sự bại vong, các sử gia thời phong kiến cũng chỉ rõ: “An Dương Vương chỉ cậy sức mạnh của nỏ thần, không sang sửa chính sự có đạo đức, biên giới không đề phòng, quân giặc vào sát cõi mà chưa từng sai một quan tướng, một đạo quân. Đợi đến lúc giặc vào tới quốc đô, vẫn còn muốn giải quyết cơ mưu trong chốc lát, khác nào lửa cháy đến mái nhà vẫn ngồi yên. Mê muội đến thế? Giả sử có thiên tướng thần binh cũng chẳng thể nào đuổi giúp được giặc, huống chi một chiếc móng rùa? 1.

Cuộc chiến tranh chống Triệu Đà thất bại, không chỉ là sự thất bại của Nhà nước Âu Lạc mà còn bắt đầu một chương đen tối cho lịch sử dân tộc ta hơn 1.000 năm sau, như Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án đã bình luận: “Nước ta nội thuộc Trung Hoa từ Hán đến Đường, suy nguyên thủ hoạ chính là Triệu Đà”.

Những lời phân tích và phê phán từ mấy trăm năm trước cũng đã là đầy đủ đối với kết cục bi thảm của Nhà nước Âu Lạc và trách nhiệm của An Dương Vương trước lịch sử.
 
Tuy thất bại, nhưng thành Cổ Loa và cuộc kháng chiến chống Triệu đã để lại cho dân tộc ta một bài học lịch sử sâu sắc. Không có thành cao, hào sâu nào, không có một thứ vũ khí lợi hại nào, mạnh hơn sức mạnh đoàn kết to lớn của nhân dân. Sức mạnh đó có đủ khả năng đánh bại bất kỳ một đạo quân xâm lược nào, cho dù chúng to lớn và hung hãn đến đâu.
 
V. NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA
HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN GIỮ NƯỚC ĐẦU TIÊN
CHỐNG TẦN VÀ TRIỆU

Ngay trong buổi đầu của thời kỳ dựng nước, cha ông ta đã phải trải qua hai thử thách quân sự to lớn và khắc nghiệt  chống lại hai cuộc xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc: Tần và Triệu.
 
Hai cuộc kháng chiến xảy ra ở hai thời điểm khác nhau, kẻ thù khác nhau, hoàn cảnh lịch sử của nước ta trong mỗi thời điểm cũng khác nhau, nên kết cục của các cuộc kháng chiến cũng như những bài học lịch sử cũng khác nhau.

- Về địch: trong cuộc kháng chiến chống Tần, kẻ thù của nhân dân ta là một đạo quân đông đảo của một nước Trung Hoa vừa được thống nhất sau nhiều thế kỷ sát phạt nhau.  Những đội quân vừa ra khỏi cuộc chiến lâu dài hẳn phải là những đạo quân dạn dày kinh nghiệm chiến trường. Kẻ thù huy động một lực lượng lớn chưa từng có để tiến hành cuộc viễn chinh này. Cuộc chiến tranh mà kẻ địch tiến hành kéo dài tới hơn 10 năm.

Trong cuộc kháng chiến chống Triệu, kẻ địch có tiềm lực nhỏ bé hơn nhiều. Năm 206 Tr.CN nhà Tần bị sụp đổ, Triệu Đà - viên quan cai quản quận Nam Hải, lập tức đánh chiếm hai quận Quế Lâm và Tượng thành lập nước Nam Việt. Nước Nam Việt là nhà nước cát cứ của tập đoàn quan lại, tướng tá cũ của nhà Tần, xây dựng trên đất đai chiếm đoạt được của người Việt.

Theo thống kê của chính quyền Tây Hán sau này thì số dân của bốn quận Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô, tức là đất đai của nước Nam Việt cũ chỉ có 71.805 hộ với 390.000 khẩu. Trong khi đó dân số của hai quận Giao Chỉ - Cửu Chân, đất Âu Lạc cũ là 912.250 khẩu.

Như vậy là, khi Triệu Đà phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, dân số của Nam Việt chưa bằng nửa dân số Âu Lạc.

Số lượng quân Triệu tuy không lớn bằng quân Tần, nhưng lợi thế đặc biệt của kẻ thù mới này là, lực lượng quân đội chủ yếu là người Việt. Không những chỉ có lính mà cả một tập đoàn từ Vua đến quan lại, tướng sĩ người Hán nắm giữ chính quyền Nam Việt đều chung sống nhiều năm với người Việt, lấy vợ Việt, theo phong tục Việt, quen với điều kiện khí hậu phương nam.


1. Đại Việt sử ký tiền biên, phần ngoại ký, quyển 1, Nxb. khoa học xã hội, 1997, tr.51.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:53:37 AM


Về mặt địa lý, Nam Việt lại là láng giềng gần gũi với Âu Lạc .

- Về phía ta: khi quân Tần xâm lược, lãnh thổ nước ta lúc đó chưa được thống nhất. Phía bắc là những bộ Lạc của người Tây Âu, phía nam là nước Văn Lang không lớn của các vua Hùng. Lực lượng của ta lúc đó là sự liên minh của hai tộc người Âu và Lạc do yêu cầu của cuộc chiến tranh, chứ chưa phải là một nhà nước thống nhất.

Còn khi Triệu Đà xâm lược nước ta thì Âu Lạc đã là một quốc gia thống nhất, có dân số đông hơn hẳn Nam Việt.
 
- Về đạc điểm của chiến trường: cuộc chiến tranh chống Tần diễn ra chủ yếu ở khu vực rừng núi và trung du phía bắc nước ta. Diễn biến của cuộc chiến cho thấy, không có một chiến trường cụ thể cho hai bên giao chiến.

Cuộc kháng chiến chống Triệu diễn ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nước ngập, sông giăng chằng chịt. Chiến trường là vùng tam giác: Cổ Loa - Vũ Ninh - Tiên Du. Trong đó thành Cổ Loa là một cứ điểm quân sự lớn.

- Về vũ khí trong cuộc chiến tranh: cho đến nay vẫn chưa có tư liệu về những loại hình vũ khí của các bên tham chiến. Chắc chắn vũ khí của địch sử dụng trong cu chiến tranh này có nhiều loại hình phong phú hơn vũ khí của quân và dân Âu Lạc. Bởi người Việt chỉ có các đạo quân nhỏ, lẩn tránh trong rừng, ban đêm mới từ trong rừng sâu ra tập kích vào các trại lính Tần. Như vậy, về phía ta chỉ có thể sử dụng những loại vũ khí gọn nhẹ.

Trong cuộc kháng chiến chống Triệu, vũ khí của quân dân Âu Lạc đã phong phú hơn nhiều, đặc biệt hơn hẳn kẻ thù ở loại nỏ bắn liên hoàn. Theo sử cũ, thì loại vũ khí lợi hại này đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, ngăn chặn có hiệu quả các trận tiến công của kẻ thù vào Cổ Loa.

- Về chọn lựa cách đánh địch: trong cuộc kháng chiến chống Tần, đứng trước thế giặc mạnh “người Việt vào rừng, ở với cầm thú không ai chịu cho quân Tần bắt”. Quân giặc đã tiến vào một vùng đồng không nhà trống, không có cơ dân “đóng binh ở đất vô dụng”. Khi màn đêm buông xuống, các đội quân nhỏ mới từ trong rừng sâu tiến ra, tập kích vào doanh trại giặc “ban đêm ra đánh quân Tần”. Cuộc chiến như vậy kéo dài suốt 10 năm, khi quân giặc lâm vào cảnh “tiến không được, thoái cũng không xong”, người Việt mới tổ chức phản công “hại phá quân Tần và giết được Đồ Thư”.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Triệu, ban đầu quân dân Âu Lạc chủ động tấn công giặc trên vùng núi Vũ Ninh - Tiên Du, khiến cho quân giặc khốn đốn. Nhưng cục diện chủ yếu của cuộc chiến vẫn là quân Âu Lạc phòng thủ trong mộ ttoà thành kiên cố với các vũ khí lợi hại.
 
Tuy quân Triệu Đà không thể hạ thành bằng các cuộc tấn công, nhưng lại sử dụng rất thành công cuộc chiến tranh gián điệp - xin được cầu hôn cho con trai mình là Trọng Thuỷ lấy con gái Thục Vương là Mỵ Châu. Với tư cách là con rể, Thuỷ chẳng những đã biết hết việc bố phòng trong toà thành mà còn có trong tay toàn bộ bí mật của loại vũ khí “thần diệu” nên quân Triệu đã dễ dàng hạ thành Cổ Loa, khiến cho vua phải tự vẫn, đất nước rơi vào tay giặc.

Từ phân tích tình hình địch ta, cục diện và kết quả của hai cuộc chiến tranh, theo cách phân tích của thời đương đại, có thể thấy rất rõ nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tần dưới sự lãnh đạo của Thục Phán và sự thất bại cũng của chính con người đó trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Triệu.

Trong cuộc kháng chiến chống Tần, đứng trước một kẻ thù lớn với số quân đông gấp bội, quân và dân ta đã vận dụng cách đánh vô cùng thông minh và sáng tạo với những đặc điểm chính : tận dụng triệt để địa hình (vào rừng tránh giặc), thực hiện phương châm rời làng, triệt lương giặc (làm cho địch đóng quân ở đất vô dụng). Trong cách đánh, không có một chiến trường cụ thể, khiến quân địch - một đạo quân mạnh có sở trường đánh lớn, không thể tập trung quân đánh tiêu diệt. Quân giặc không biết lực lượng ta ở đâu, nhưng bất kỳ chỗ nào cũng thấy có mặt. Quân ta chỉ sử dụng những đạo quân nhỏ, đêm đêm ra tập kích vào trại giặc, làm cho quân giặc mệt mỏi và lo sợ.

Cuộc chiến đấu chống quân xâm lược nhà Tần đã được tiến hành một cách kiên trì, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng cho cuộc phản công khi thời cơ đến.  Những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần đã đại biểu cho sự đoàn kết thống nhất giữa các cộng đồng người trước hiểm hoạ chung nên đã tập hợp được sức mạnh to lớn của nhân dân đưa cuộc kháng chiến tới thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:55:12 AM


Đại phá quân Tần là một chiến công vĩ đại trong sự nghiệp kháng chiến giữ nước của dân tộc ta chiến thắng này có ý nghĩa to lớn, không chỉ tiêu biểu cho ý chí quật cường của nhân dân ta ngay trong buổi đầu dựng nước và giữ nước, mà còn chứng minh cho chân lý : một nước nhỏ vì quyền sống của mình, khi trên dưới đồng lòng, thông minh và mưu trí, hoàn toàn có thể chiến thắng đại quân xâm lược của nước phong kiến hùng mạnh.
 
Chiến công diệt Tần đã trở thành những viên gạch đầu tiên xây nên truyền thống chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích - lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh của dân tộc ta, trong suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Triệu, khi kẻ địch tấn công, đất nước ta có phần thuận lợi hơn rất nhiều so với cuộc kháng chiến chống Tần. Quân giặc không đông so với quân Tần, tuy có thể có nhiều âm mưu nham hiểm hơn. Nước Âu Lạc bấy giờ đã là một quốc gia mạnh, đông dân, có công trình quân sự Cổ Loa kiên cố, có vũ khí lợi hại, nhưng đã bị thất bại trước cuộc xâm lược của kẻ thù.

Nguyên nhân dẫn đến thất bại cũng đã thấy rất rõ. Thục Phán đã tiến hành cuộc kháng chiến khác hẳn với cuộc chiến tranh chống quân Tần do ông lãnh đạo trước đây. Thay vì tiến hành một cuộc chiến tranh du kích, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, ông đã tự giam mình phòng thủ trong một toà thành quân sự kiên cố, dựa vào vũ khí “tối tân” để chống lại kẻ thù.

Trong khi đó, nội bộ lại không đoàn kết, mối bất hoà giữa những người đã cùng nhau sát cánh chống giặc năm xưa đã xảy ra.  Cuộc sống đế vương đã làm ông ngày càng xa rời quần chúng nhân dân lao động, xa rời những người bạn trung thành, nên đã từng bước rơi vào cạm bẫy của kẻ thù. Cuối cùng, ông đã chuốc lấy thất bại thảm hại, phải nhảy xuống biển tự vẫn.

Bài học lịch sử có thể rút ra từ hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của thời kỳ đầu dựng nước là: một dân tộc dù nhỏ bé vẫn có thể đánh tan được những đạo quân xâm lược hùng mạnh nhất nếu như dân tộc đó biết cùng nhau đoàn kết một lòng, kiên quyết kháng chiến.

Trong cuộc chiến đấu tự vệ cần phải biết vận dụng phương châm “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”, phát động toàn dân đánh giặc, biết tận dụng những điều kiện tự nhiên để biến cái yếu của giặc thành cái mạnh cho mình, phải biết nắm vững thời cơ tấn công địch, giành thắng lợi cuối cùng.

Không có một thành cao hào sâu nào, không có một thứ vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh của toàn dân đánh giặc, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân.

CHƯƠNG V

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ
TRONG BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC

Lịch sử quân sự Việt Nam thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương là một thời gian lịch sử rất dài, thời kỳ xuất hiện và phát triển rực rỡ của nền văn minh sông Hồng, hình thành cương vực lãnh thổ, nhà nước, bản sắc dân tộc, ý thức cố kết và bảo vệ cộng đồng. . .
Cùng với sự phát triển của sản xuất sự hình thành các thiết chế chính trị, xã hội..., các tổ chức quân sự đầu tiên đã xuất hiện. Các loại vũ khí, trang bị quân sự phát triển ngày càng phong phú.
 
Thành Cổ Loa - một công trình quân sự vững chắc và đồ sộ được xây dựng. Chiến tranh xuất hiện. Lịch sử dân tộc ghi những chiến thắng quân sự đầu tiên trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tần và Triệu Đà.
 
Các giá trị và truyền thống quân sự với những bản sắc riêng, hình thành và từng bước phát triển trên cơ sở những giá trị và bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước.

I. CÔNG CUỘC DỰNG NƯỚC VÀ SỰ HÌNH THÀNH
NHỮNG GIÁ TRỊ - TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ

Tiếp nối quá trình và những thành quả lao động, đấu tranh của các lớp cơ dân từ hàng ngàn, hàng vạn năm về trước, thế hệ người Việt Nam thời Hùng Vương - An Dương Vương đã lao động và đấu tranh bền bỉ, dũng cảm, sáng tạo, tạo dựng nên cơ đồ của đất nước với sự hình thành ngày càng rõ nét cương vực lãnh thổ, cộng đồng cơ dân, bản sắc văn hoá...


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:56:40 AM


Bản đồ phân bố các di tích văn hóa Đông Sơn được phát hiện và nghiên cứu thời gian vừa qua cho thấy, vào thời các Vua Hùng dựng nước, bờ cõi nước ta đã trải dài và khá rộng.
 
Từ Hà Giang và các vùng phụ cận ở phía bắc (trong đó nhiều vùng đã nằm ngoài biên giới Tổ quốc hiện nay) vào đến dãy Hoành Sơn ở phía nam; từ vùng rừng núi phía tây, qua miền trung du và đồng bằng các châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Lam... ra đến biển Đông.
Trung tâm của đất nước dần chuyển và ngày càng mở rộng về vùng đồng bằng trù phú với những cánh đồng lúa nước; nhưng vẫn tựa lưng vững chắc vào vùng rừng núi, nơi có thế thiên hiểm và chứa đựng những nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đa dạng, như các thảm thực vật bạt ngàn, các loài động vật quý hiếm (voi, tê giác, chim công, chim sả...), các mỏ (đồng, sắt, chì, thiếc...) trong lòng đất... Đồng thời, hướng ra biển Đông, ít nhất là khoảng một nửa số dân (truyền thuyết trăm trứng) đã xuống biển, tìm đến các vùng duyên hải, các vũng, vịnh giàu nguồn hải sản cá, tôm, ngọc trai, đồi mồi...) làm nơi cơ trú, mở mang sự nghiệp dựng nước.

Một thiên nhiên đa dạng gồm ba vùng sinh thái: rừng núi, đồng bằng và biển khơi, dựa vào nhau và bổ sung cho thau được các lớp cư dân không ngừng khai phá, chinh phục và cải tạo với ý thức ngày càng rõ nét về địa bàn cơ trú của cộng đồng, về cương vực lãnh thổ và cùng với nó là ý thức về chủ quyền và bảo vệ chủ quyền đói với vùng đất và vùng nước đã sản sinh, nuôi dưỡng và trong lao động, khai phá, đã cố kết mỗi thành viên của cộng đồng.

Sinh cơ và lập nghiệp trên đất và nước đó là những con người, những cộng đồng người cùng chung hoặc gần gũi nhau về nguồn gốc, từng gắn bó hoặc liên kết với nhau trong lao động và sinh hoạt. Về chủng tộc, dù là người Inđônêdiêng hay người Nam Á, có lẽ do khi còn sống họ thường ở bên nhau nên khi chết họ cũng được chôn ở gần nhau như những ngôi mộ đã phát hiện được ở Đọi Sơn (Hà Nam), ở Thiệu Dương, Núi Nấp (Thanh Hoá)...

Đó là những con người không cao lớn về tầm vóc, nhưng rất khoẻ mạnh, lanh lợi có thể nhận biết qua cảnh chèo thuyền, bơi chải được hoạ khắc trên trống đồng).
 
Về số dân, ước đoán theo sách Tiền Hán thư, có thể đã lên tới trên dưới một triệu người. Đây là những yếu tố rất quan trọng về số lượng và tố chất con người trong buổi đầu dựng nước, giữ nước và hình thành dân tộc. Song điều quan trọng hơn là sự nảy sinh và phát triển ngày càng mạnh trong mỗi con người và cộng đồng người thời đó ý thức về dân tộc, về đất nước, về sự cần thiết phải xây dựng và gìn giữ cho mình một cơ đồ riêng, hình thành và không ngừng phát triển những bản sắc riêng trong bối cảnh nhiều cộng đồng người đang cùng tiến vào văn minh .

Bước phát triển mới, có ý nghĩa vô cùng lớn lao đã diễn ra khi tổ tiên ta định hướng phát triển cơ bản xuống vùng thấp, ra sức khai phá và chinh phục đồng bằng. Biết bao công sức và mồ hôi của các thế hệ người Việt cổ đã đổ xuống những vùng đầm lầy, đất bãi... bồi đắp nên những cánh đồng màu mỡ, dựng nên những xóm làng ngày càng đông vui.

Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời làm nền tảng cho sự phát triển xã hội về mọi mặt. Đây là một nền nông nghiệp dựa vào thuỷ lợi trước hết là công việc đắp đê ngăn lũ lụt hàng năm mỗi khi mùa mưa đến, mùa nước lên. “Lũ lụt thời lút cả làng”, nên cả làng phải hợp sức lại để đắp đê dọc theo hai bên triền sông ngăn không cho nước lũ vào đồng.
 
Những con đê đồ sộ được bồi đắp từ năm này qua năm khác không chỉ có tác dụng ngăn nước lũ mà đã trở thành một cảnh quan văn hóa rất Việt Nam. Khảo cổ học đã phát hiện vết tích một trong những con đê cổ xưa ở khu vực Cổ Loa, kinh đô nước Âu Lạc.
 
Cùng với việc chống lũ, việc trồng lúa nước còn đòi hỏi người Việt thường xuyên chống hạn, phải đắp bờ giữ nước, đào ao trữ nước, đào mương dẫn nước. . . Những bờ mương, bờ ruộng, bờ vùng - bờ thửa, những ao, hồ liên tiếp do “vết chân ngựa Gióng” là những lưu ảnh về cách làm ruộng, trồng lúa của người xưa. Những công việc đòi hỏi công sức lao động của nhiều người cùng làm, tạo nên những công trình như một hệ thống nối liền với nhau, đòi hỏi và thúc đẩy sự hợp tác, liên kết và gắn kết giữa các gia đình, giữa gia đình với làng xóm và giữa các làng xóm với nhau, hình thành nên và ngày càng cố kết mối liên hệ liên làng, siêu làng...

Tiến xuống miền xuôi, dựng nghiệp ở đồng bằng, người Việt cổ vẫn không rời bỏ hoàn toàn nơi xuất phát là miền núi, nơi cung cấp những nguyên liệu quý hiếm (như đồng, sắt, chì, thiếc...) để chế tạo ra công cụ sản xuất, vũ khí và đồ thờ  cúng; nơi có những cánh rừng bạt ngàn chứa nhiều lâm sản, sinh tồn nhiều động vật quý hiếm . Ngà voi, sửng tê … của xứ Giao Chỉ là sự thèm khát của các ông hoàng, bà chúa phương Bắc; trong khi với người Việt những sản vật ấy chỉ là “vật tiến cống” để giữ mối bang giao, cũng có khi được gọt, mài làm đồ trang sức và “bùa hộ mệnh”.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 12:57:48 AM


Những chiếc “nanh thú” gọt từ ngà voi, được xâu thành chuỗi tìm thấy ở một ngôi mộ thời Đông Sơn tại Núi Nấp (Thanh Hoá) phản ánh điều đó.

Rừng núi còn là căn cứ, mỗi khi giặc ngoại xâm có thế mạnh tràn về các trung tâm tụ cơ ở đồng bằng, người Việt lại rút vào rừng, dựa vào địa thế hiểm trở để tích trữ và xây dựng lực lượng đánh địch, khôi phục đất nước. Lừng núi, vùng cao cũng là “lá chắn” tự nhiên, là phên dậu chở che cho các vùng trung tâm dưới hạ bạn.

Vào thời Hùng Vương - An Dương Vương, đất nước còn có một không gian nước bao la, bờ biển dài hàng nghìn cây số, nhiều đảo và quần đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ. Nguồn hải sản quý hiếm, đặc biệt là ngọc trai, đồi mồi được các thế lực phong kiến phương Bắc rất ham chuộng.
 
Mạng sông ngòi chằng chịt không chỉ bồi đắp phù sa màu mỡ cho vùng đồng bằng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo ra hệ thống giao thông, đường thuỷ, thuận tiện cho giao lưu, trao đổi sản vật giữa các vùng của đất nước, với các nước khác và tiện cho việt cơ động lực lượng, vận chuyển lương thực, phát huy thế mạnh của thuỷ chiến khi đất nước có chiến tranh.
 
Những đặc điểm về địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái trên không gian sinh tồn của người Việt gồm vùng núi, vùng đồng bằng và các vùng nước nối liền và gắn kết với nhau là những yếu tố rất quan trọng cùng với lao động hình thành nên các ngành, nghề kinh tế khá đa dạng và nền văn hoá phong phú, giàu bản sắc của các tộc người, trong đó có những nét đặc sắc về quân sự như tài bơi lặn, giỏi dùng thuyền, thạo thuỷ chiến, quen đánh mai phục, đánh gần, phát huy sự linh lợi, khéo léo của con người và các loại vũ khí sở trường. . . .
Trải qua hàng nghìn năm lao động, đấu tranh bền bỉ và sáng tạo trên không gian sinh tồn đó, tổ tiên ta đã từng bước thoát ra khỏi tình trạng bán khai, tiến vào văn minh, xây dựng văn hiến, hình thành quốc gia, dân tộc.

Những giá trị văn hoá mà tổ tiên ta thời Hùng Vương - An Dương Vương tiếp thu từ các lớp cư dân xa xưa trước hết là nếp sống cộng đồng trong một xã hội mà tổ chức và các mối quan hệ còn thô phác, dựa trên nền tảng sở hữu chung của cộng đồng về không gian sống, về các phương tiện sản xuất cơ bản như đất ruộng, kênh rạch...

Dần dần, cùng với sự phát triển của sản xuất, các yếu tố cộng đồng của xã hội thời nguyên thuỷ mà một thời gian rất dài đã là nền tảng và động lực phát triển của xã hội được thay thế bằng hình thức sở hữu và cách thức sản xuất mới, lấy gia đình làm đơn vị kinh tế và xã hội cơ bản. Do quyền lợi của các cá thể được chú ý hơn, sản xuất được kích thích, phát triển hơn, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều.
 
Sự chênh lệch về của cải, sự khác biệt về giàu nghèo, hưởng thụ xuất hiện. Các già làng, trưởng bản, các tộc trưởng, những người thợ cả ở các lò thủ công. . . , do có ưu thế về phương tiện sản xuất, do có nhiều kinh nghiệm, có uy tín trong cộng đồng, dần dần đã vượt lên trở thành những người giàu có và có uy quyền.

Để mở rộng hơn nữa và để bảo vệ những của cải và quyền lực của mình, những người này đã từng bước làm thay đổi, biến bộ máy quản lý thô phác vì lợi ích cộng đồng của xã hội nguyên thuỷ thành bộ máy riêng phục vụ cho lợi ích và quyền uy của họ.
Hai bộ phận chính yếu của bộ máy đó là tổ chức quản lý xã hội và tổ chức lực lượng vũ trang.

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, trước hết là do yêu cầu khách quan của việc xây dựng, tu bổ các công trình thuỷ lợi và chống ngoại xâm, tính cộng đồng trong xã hội người Việt thời Hùng Vương - An Dương Vương chưa phải đã tan rã hết. Nó vẫn còn lưu giữ, có sức cố kết, tạo nên nguồn sức mạnh tiềm tàng và tiếp tục phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước. . .

Với sự gia tăng dân số và mở rộng, phát triển sản xuất, nhiều điểm dân cư mới hình thành gồm nhiều cá thể, gia đình và dòng  họ khác nhau. Các điểm cơ trú và sản xuất hình thành từ trước, thu hút thêm nguồn nhân lực mới từ các vùng khác đến. Công xã thị tộc biến thành công xã láng giềng với nhiều dòng họ khác nhau.
 
Bên cạnh các tổ chức xã hội được hình thành và cố kết do cùng một dòng họ, một dòng máu, xuất hiện những tổ chức xã hội được phân chia theo lãnh thổ. Các Làng ra đời, gọi theo tên cổ là Chiếng, Chạp.
 
Dưới thời Hùng Vương, làng còn mang đậm nét tính thị tộc, có thể gọi đó là những làng - họ hay làng thị tộc. Các làng nằm trong một khu vực rộng lớn, có quan hệ kinh tế - xã hội và thường xuyên liên hệ với nhau hình thành các siêu làng hay còn gọi là vùng bộ Lạc, sử sách xưa gọi là các bộ nước Văn Lang (có 15 bộ). Bao trùm lên các vùng bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc, trong đó có một vùng trung tâm được gọi là nước, là quốc gia.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 01:01:17 AM

Cơ cấu xã hội khi đã thành quốc gia, thành nước nhà, hình thành một trật tự theo thang bậc: Nhà (gia đình hay gia tộc) - Làng (làng - họ) - siêu làng (bộ) - Nước. Cơ cấu này được hình thành từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, trở thành kết cấu xã hội cổ truyền của nước ta.

Sự phân bố các di tích theo kiểu chùm (gồm hạt nhân và các vệ tinh) và theo trật tự thang bậc của văn hoá Đông Sơn phản ánh điều đó.
Cùng với sự hình thành và cấu trúc mới về dân cơ là tổ chức bộ máy quản trị tương ứng. Người đứng đầu, có chức năng điều hành các làng chạ là “Pôtơrinh”.
 
Trong tổ chức làng, xã của người Việt sau này có nơi gọi chức vụ đó là”chánh tổng”, là “bồ đình”. “Bồ đình” có thể là biến âm của “bồ chính” hay “Pôtơrinh”.
 
Bên cạnh nhân vật chính yếu, có quyền uy nổi bật là bồ chính, Hội nghị các già làng có vai trò đáng kể, nhất là khi cần bàn các việc công ích hay bảo vệ làng chạ. Đứng đầu bộ máy quản lý cấp siêu làng (hay bộ) theo sử sách ghi lại là các “phụ đạo”, còn gọi là “Lạc tướng”.  Đây là những thủ lĩnh có tài võ nghệ thường kiêm chức chỉ huy lực lượng vũ trang. Bao trùm lên cả nước là bộ máy quản trị trung ương gồm các Lạc hầu, người đứng đầu các Lạc hầu được gọi là Thun hay Hùng.

Bộ máy nhà nước còn khá đơn sơ, mang nhiều dấu ấn của tổ chức bộ lạc, nhưng đã khác tổ chức bộ lạc về chất do có chức năng mới, thực chất là tước đoạt một phần giá trị lao động của người dân và trấn áp sự chống đối của họ. Để thực hiện chức năng đó, bộ máy nhà nước, người cầm đầu bộ máy đó cần phải có lực lượng làm nhiệm vụ trấn áp những thế lực chống đối, bảo vệ và mở rộng quyền lợi cũng như quyền lực của tầng lớp quý tộc, đó là lực lượng vũ trang.

Nhìn từ góc độ là lực lượng trấn áp bên trong, sử sách và truyền thuyết thời kỳ này rất hiếm khi ghi lại việc nhà vua đem quân đánh dẹp các cuộc chống đối của cư dân. Chúng ta mới thấy bóng dáng của một vụ “cưỡng chế” dân phải dời đi để vua Thục lấy đất xây thành 1.

Liên kết sự việc này với tình tiết ghi trong truyện Rùa vàng về hiện tượng thành xây xong lại bị đổ, sau nhà vua phải nhờ đến sự trợ giúp của “Rùa thần” việc xây thành mới thành công, chúng ta có thể phỏng đoán về sự phản kháng của dân làng, buộc nhà vua - chính quyền phải cưỡng chế, phải dùng đến sức mạnh có vũ trang.
 
Việc xây thành Cổ Loa với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm sự an toàn cho nhà vua, hoàng tộc và bộ máy phục vụ, bản thân nó đã nói lên sự phân hoá giai cấp khá sâu sắc, mâu thuẫn giữa các tầng lớp cơ dân ngày càng gia tăng trong xã hội Âu Lạc.

Việc xây thành Cổ Loa không chỉ nhằm chống giặc ngoài, mặc dù đây là yêu cầu nổi bật hàng đầu vì cuộc kháng chiến chống quân Tần vừa kết thúc, kẻ thù tạm thời phải bãi binh nhưng vẫn nuôi ý đồ xâm lược và lực lượng của chúng còn mạnh.

Mặt khác, cũng phải thấy rằng tình hình nội bộ xã hội Âu Lạc lúc đó chưa phải là hoàn toàn thái bình, thịnh vượng 2.  Để củng cố địa vị, tăng cường sức mạnh, quyền uy, tầng lớp thống trị cần phải xây thành cao, đào hào sâu, rèn đúc nhiều vũ khí 3, đồng thời phải tuyển mộ nhiều vệ sĩ, mở rộng đội ngũ thân binh thành lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, cần cắt cử các tướng lĩnh 4...

Hình ảnh sinh động chân thực về lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thời Hùng Vương - An Dương Vương được khắc hoạ trên các di vật có cùng niên đại. Đó là hình ảnh đoàn thuyền chiến với các chiến binh tay cầm rìu và người chỉ huy mang dao găm được khắc hoạ trên chiếc thạp Đông Sơn tìm thấy ở Đào Thịnh (Yên Bái). Sinh động hơn là hình khắc đoàn thuyền chiến với đoàn quân đang hân hoan chiến thắng trở về. Mỗi chiến binh đều mang theo vũ khí như rìu chiến, cung tên, dao găm; có chiến binh tay xách thủ cấp kẻ thù; có chiến binh một tay nắm chỏm tóc tù binh, tay kia cầm rìu xéo hoặc dao găm đang vung lên như sắp hạ sát kẻ chiến bại. Ngồi trên các đôn có hình trống đồng là những người chỉ huy với kiếm lệnh chống sau lưng, tay gõ trống giục giã các chiến binh xung trận...


1.  Di chỉ khảo cổ Đường Mây nằm dưới chân vòng thành ngoại Cổ Loa là chứng tích về một làng chạ ở khu vực này thời đó. Truyền thuyết trong dân gian ở xã Liên Hà (làng Quậy) huyện Đông Anh, Hà Nội cho thấy dân làng Quậy vốn là dân Cổ Loa bị dời đi để Vua lấy đất xây thành.
2. Tư Mã Thiên, sử gia thời Tây Hán đã viết về hiện tượng “Âu Lạc đánh lẫn nhau”...3.  Kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc ở Cổ Loa, kho rìu chiến, dao găm ở Hạ Bằng (Hà Tây)...   
4.  Ví dụ như Hoàng Đồng, nguyên là tả tướng của Âu Lạc...  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 01:02:59 AM


Những hình ảnh đó được khắc hoạ trên một chiếc thạp đồng, sản phẩm tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn tìm thấy ở thành phố Quảng Châu (Trung Quốc), trong một ngôi mộ, bên cạnh hài cốt Triệu Văn Đế, cháu đích tôn của Triệu Đà. Chiếc thạp này biết đâu không phải là chiến lợi phẩm mà Triệu Đà cướp được trong cuộc chiến tranh xâm lược Âu Lạc.

Lực lượng vũ trang chuyên nghiệp được tổ chức chặt chẽ, huấn luyện công phu, được rèn luyện, ngày càng thiện chiến trong các cuộc chiến đấu chống xâm lược và là lực lượng nòng cốt trong các cuộc chiến tranh đó. Lực lượng này thường được tập hợp ở xung quanh nhà vua, đồn trú ở kinh đô.

Cho đến nay, chúng ta chưa có những cứ liệu xác thực về lực lượng vũ trang chuyên nghiệp ở các vùng - bộ lạc, các bộ vào thời Hùng Vương - An Dương Vương. Song có thể nói một cách chắc chắn rằng, các tù trưởng, thủ lĩnh liên minh bộ Lạc, các Phụ đạo, Lạc tướng - những người đứng đầu các bộ của nước Văn Lang - Âu Lạc đã nhận thức sự cần thiết và bắt đầu tổ chức ra lực lượng vũ trang để bảo vệ quyền lợi của riêng mình và của cả bộ Lạc. Khi đất nước có ngoại xâm, lực lượng này hẳn sẽ được bổ sung vào đội quân chung đặt dưới sự chỉ huy tối cao của nhà vua.

Xu hướng chuyên môn hoá lực lượng này ngày càng rõ nét. Ở các tổ chức cơ sở của xã hội là các làng chạ, ngay dưới thời phong kiến tự chủ sau này cũng không có lực lượng vũ trang được hưởng lộc công, giúp việc thực hiện các chức dịch (như giữ gìn trị an cho làng xã...).

Tục lệ phổ biến ở các làng xã là cắt đặt trai tráng khoẻ mạnh làm tuần phiên. Ban ngày họ đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương trên ruộng đồng, ban đêm tham gia vào đội tuần tra bảo vệ làng xóm, mùa màng.
 
Ngược thời gian về thời các vua Thục, vua Hùng, lực lượng giữ gìn an ninh ở xóm làng có lẽ cũng tương tự hoặc còn đơn giản hơn, tự nguyện hơn. Song điều có thể khẳng định là các trai làng được cắt cử vào việc tuần phòng đều là những người khoẻ mạnh, xốc vác, được rèn luyện thể lực và tập võ nghệ qua các sinh hoạt của cộng đồng. Khi có biến động, giặc giã, số đinh tráng ở các làng chạ sẽ được tập hợp thành lực lượng chiến đấu tại chỗ, một số được sung vào quân của các Lạc tướng, hoặc quân của nhà vua.
 
Lực lượng vũ trang chuyên nghiệp của nhà vua, của các Lạc tướng hình thành “từ nhân dân”, khi có giặc thì toàn dân tự vũ trang cùng quân đội đánh giặc. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang rộng rãi, tính chất nhân dân của quân đội được thể hiện khá rõ nét ngay từ buổi đầu dựng nước..

Trên nền tảng kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, một số nhân tố và động lực đã cùng tác động và thúc đẩy tạo nên những nét đặc sắc về văn hoá và quân sự ngay trong quá trình hình thành quốc gia dân tộc. Đó là :

- Sự chuyển biến bên trong của xã hội Văn Lang - Âu Lạc tạo nên những thay đổi về chất trong cơ cấu kinh tế, xã hội, từ hình thức nguyên thuỷ sang hình thức văn minh.
 
- Cuộc đấu tranh để cải tạo và hoà đồng với thiên nhiên vô cùng gian khổ, quyết hệt và bền bỉ làm cho con người sớm nhận rõ ý nghĩa của sự hợp quần, sức mạnh của cộng đồng.  Có thể xem đây là sức mạnh nhân hoá do tác động của môi trường tự nhiên.

- Mối đe doạ bị xâm lấn ngày càng trở nên nguy hiểm và thường xuyên. Cuộc đấu tranh kiên cường chống lại hiểm hoạ xâm lược và thôn tính của các thế lực lớn mạnh hơn đòi hỏi con người phải liên kết, đồng lòng hợp sức với nhau tạo nên sức mạnh mới, rộng lớn và mạnh mẽ hơn, đủ sức đánh bại các cuộc tiến công xâm lược, thôn tính của kẻ thù, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ.

Trên thế giới, nhiều vùng châu thổ của các con sông đã trở thành cái nôi của những nền văn minh rực rỡ của nhân loại thời cổ đại. Nhiều nền văn minh được mang tên các dòng sông như văn minh sông Nin (Ai Cập), văn minh Lưỡng Hà (Irắc), văn minh sông Hằng (Ấn Độ), văn minh sông Hoàng (Trung Quốc)...
 
Ở vùng đông nam của đại lục Á châu, cùng trong khoảng thời gian đó đã toả sáng một nền văn minh mà cái nôi của nó cũng ở châu thổ một con sông lớn: Văn minh sông Hồng. So với các nền văn minh nổi tiếng của nhân loại thời cổ đại, các di tồn vật chất văn hoá Đông Sơn được phát hiện ở vùng châu thổ sông Hồng không to lớn, đồ sộ, hùng vĩ về kích cỡ và dáng vẻ bên ngoài, nhưng sâu lắng, gợi lên những xúc cảm nhẹ nhàng, trang nhã, ý nhị, đầy chất thơ.  Đó là một nền văn hoá đầy sức sống với những nét nổi trội là sự bao dung và trí tuệ.

Sức sống mãnh liệt của văn hoá Việt Nam khởi nguồn từ văn hoá Đông Sơn, từ nền văn minh sông Hồng, biểu hiện phong phú, đa dạng trong quá trình lao động và đấu tranh của các lớp cơ dân, chủ nhân sáng tạo của nền văn hoá.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 01:08:55 AM

Ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn, người Việt cổ đã là một tập hợp cư dân khá đông đúc, tăng trưởng nhanh, lan toả rộng, “văn hoá hoá” khá nhanh những vùng đất còn hoang sơ.
 
Trong quá trình lao động và đấu tranh, họ đã gắn bó với nhau, liên kết lại thành cộng đồng cơ dân ngày càng lớn mạnh. Nhờ thiên nhiên đa dạng của vùng nhiệt đới gió mùa, nhờ cuộc cách mạng” trong luyện kim, công cụ sản xuất làm từ nguyên liệu đồng, sắt ngày một tinh xảo, trình độ sản xuất phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều. Việc chế tạo được lưỡi cày đồng, đưa vào sử dụng rộng rãi đã tạo ra bước ngoặt trong nông nghiệp. Kỹ thuật canh tác ngày càng tiến bộ nhờ dùng cày, sức kéo của gia súc, kết hợp với thuỷ lợi và thâm canh tăng vụ. Các nhân tố tự nhiên, kỹ thuật và con người (lao động) kết hợp với nhau thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất, tạo nên cơ sở hạ tầng vững chắc và trên đó vươn lên kiến trúc thượng tầng tương ứng của xã hội Đông Sơn.

Sức sống của văn hoá Đông Sơn còn được tiếp sức, rìuôi dưỡng bởi năng lực tiếp thụ, “ bản địa hoá” những nét đặc sắc của các nền văn hoá khác, không bị mất đi bản sắc riêng, không bị đồng hoá bởi nền văn hoá của các dân tộc khác.

Hình ảnh người chèo thuyền khắc hoạ trên trống Đồi Ro (Hoà Bình) thể hiện tài kết hợp nhuần nhuyễn, phong cách nghệ thuật tả thực chú ý đến từng chi tiết của văn hoá Điền với phong cách nghệ thuật cách điệu, vừa đặc tả, vừa chú ý đến cái “thần” trong văn hoá Đông Sơn.

Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã chú ý đến khả năng và sự tinh tế này của người Việt. John Mc Alister tác giả cuốn sách Người Việt  Nam và cuộc cách mạng của họ xuất bản ở Mỹ năm 1969 đã nhìn thấy sức mạnh của năng lực tiếp biến văn hoá như một giá trị văn hoá truyền thống nuôi dưỡng, tạo nên sức sống bền vững của văn hoá Việt Nam.

Phân tích nguyên nhân tất yếu sẽ dẫn đến chiến thắng của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông cho rằng, thắng lợi được bắt rễ sâu xa từ cội nguồn nội địa, từ khả năng róc những tư tưởng ngoại lai vào cái khuôn đúc truyền thống chính trị dân tộc. Năng lực thích nghi, tiếp thu và cải biến cái nhập ngoại cho thích hợp với điều kiện của mình là một “biệt tài Việt Nam”, một sức mạnh, một giá trị văn hoá truyền thống đã xuất hiện, toả sáng từ thời Đông Sơn.

Song, mặc dù có khả năng đó, yếu tố tạo nên sức sống mãnh liệt, hun đúc nên những giá trị đặc sắc của nền văn hoá Đông Sơn chính là lòng yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của người Việt. Những phẩm chất đó được hình thành, phát triển trong những điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử cụ thể ở buổi đầu dựng nước và giừ nước. .

Lòng yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần cộng đồng bắt đầu nảy nở từ sự gắn bó, yêu quý đất ở, nơi sinh sống; từ tình thương yêu đồng loại, đồng tộc; từ yêu cầu phải hên kết, hợp sức với nhau trong lao động và đấu tranh của các bộ lạc người Việt cổ, ngay từ khi họ còn sống rải rác ở nhiều vùng khác nhau. Khi các tộc người này tiến xuống vùng thấp, khai phá đồng bằng, cộng cơ bên nhau ngày càng đông đúc hơn, quan hệ với nhau ngày càng rộng mở và gắn bó hơn, tình yêu thương trong gia đình, trong họ hàng, giữa những người dân cùng làng và cả cộng đồng cũng được phát triển cao hơn.

Khi yêu cầu của sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, với giặc giã đòi hỏi sự liên kết rộng lớn hơn, đặc biệt là việc xây dựng những công trình thuỷ lợi quy mô lớn, nhu cầu về sự trao đổi nguyên liệu để chế tác công cụ sản xuất và trao đổi sản phẩm làm ra; yêu cầu bảo vệ thành quả lao động và bảo vệ cuộc sống trở nên cấp bách. . . xã hội tiến tới văn minh, hình thành quốc gia, dân tộc, nhà nước, các yếu tố trên dần dần phát triển, tích tụ, hình thành ngày càng rõ nét lòng yêu nước, ý thức dân tộc, những giá trị và bản sắc văn hoá riêng.
 
Đối với người Việt, nét nổi trội nhất là các thành viên đều tự đặt mình trong tập thể, cá nhân được hoà đồng vào những lợi ích chung của cả cộng đồng, ý thức trách nhiệm phấn đấu chocộng đồng luôn luôn là động lực để mỗi cá nhân thể hiện những phẩm chất cao quý đó.
Do đặc điểm hình thành và phát triển, nét đặc sắc trong các giá trị của văn hoá Việt Nam thường được thể hiện tập trung và rõ nét trong các lĩnh vực đấu tranh.

Trước hết là đấu tranh để ngăn ngừa, hạn chế những thiệt hại do thiên tai gây ra. Việc đắp đê, hộ đê, ngăn lũ cần huy động rất khẩn trương và kịp thời sức người và sức của, đòi hỏi sự đồng tâm hiệp lực, tài trí và lòng dũng cảm của mỗi con người và của toàn thể cộng đồng.
 
Cuộc đấu tranh chống các thế lực xâm lược từ bên ngoài càng đòi hỏi phải đồng lòng, hợp sức để đánh bại chiến tranh xâm lược, âm mưu huỷ diệt của kẻ thù và quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:06:12 PM


Mặc dù không có sự tách rời, song ở những thời điểm khác nhau, tính trội của phức hợp những giá trì tinh thần có thể nổi bật, đậm nét hơn trong xây dựng hoặc trong đấu tranh.  Do đặc điểm của lịch sử nước ta là ngay từ buổi đầu dựng nước đã liên tục phải đối phó với hiểm hoạ bành trướng lãnh thổ, chiến tranh xâm lược, âm mưu thôn tính và đồng hoá của các thế lực lớn mạnh ở sát gần, tính trội trong đấu tranh giữ nước thường nổi bật hơn. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc được tôi luyện trong ngọn lửa đấu tranh kiên cường để khẳng định và bảo vệ mình nên mang đậm sắc màu của lửa.

Nó hình thành trong lao động và đấu tranh của mỗi con người và cả cộng đồng, giản dị và tự nhiên như khí trời và ánh sáng, như cơm ăn và nước uống. Nó thấm vào máu thịt, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi khi quân thù xâm phạm, dày xéo đất nước, chém giết đồng bào, do căm giận quân xâm lược, “máu chảy ruột mềm”, người Việt đều nhất loạt vùng dậy, không ai có thể ngồi yên.
 
Song lại do tính ôn nhu của cư dân nông nghiệp, do cuộc sống gắn liền với vùng sông nước, trong nền “văn hoá nước”, lòng yêu nước củangười Việt Nam thường biểu lộ khiêm nhường, bình thản, tĩnh lặng, có phần sâu kín, đi vào nội tâm (khi trời yên biển lặng), song cũng vô cùng quyết liệt mạnh mẽ khi mây đen, hiểm hoạ kéo đến). Nó đã trở thành tính cách Việt, thể hiện trước hết và cụ thể trong văn hoá ứng xử với lũ lụt, hạn hán do “trời” gây ra, với những cuộc chiến tranh tàn khốc do giặc dữ đưa đến.

Nhờ cách ứng xử khôn khéo, vừa “hằng”, vừa “biến”, biết hoà hợp giữa cứng và mềm thành sức mạnh dẻo bền vô hạn, thành sức sống của nền văn hoá, đất nước, dân tộc Việt đã vượt qua biết bao gian nguy, thử thách để tồn tại và phát triển. Cũng nhờ sức sống dồi dào và mãnh liệt đó, sau những lần bị tàn phá dữ dội bởi thiên nhiên, giặc giã, sau những thời gian dài, có khi tới hàng nghìn năm bị đô hộ, bị nguy cơ đồng hoá bởi một nền văn hoá lớn, đất nước lại hồi sinh, nền văn hoá của dân tộc lại được phục hồi nhanh chóng.  “Thương người như thể thương thân” ! Lòng yêu nước, thương người của người Việt được biểu hiện cụ thể, giản dị và dễ thấy nhất ở tình thương người, ở đức nhân ái, bao dung, cảm thông với đồng bào, đồng loại. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Con người sinh ra vốn thiện, có tính hướng thiện.

Tình thương yêu giữa người và người trong cộng đồng người Việt vừa thể hiện bản chất xã hội, nhân văn của con người, vừa là sản phẩm tất yếu của lịch sử dựng nước và giữ nước, xây dựng và đấu tranh chống xâm lược và thiên tai.

Không thương yêu đùm bọc lẫn nhau, “lá lành đùm lá rách” là tự làm mất sức đề kháng, là sự tự huỷ diệt. Tình thương yêu, đùm bọc vốn là lẽ sống của con người trở thành điều kiện thiết yếu để người Việt cổ tồn tại và phát triển.
 
Đức tính nhân từ, rộng bụng, khoan dung tạo nền tảng cho cách đối nhân xử thế, giúp cho quan hệ giữa người và người trongcộng đồng tốt đẹp hơn, làm dịu đi những căng thẳng không cần thiết, giữ được hoà khí, tạo nên sự nhất trí trong cách nhìn nhận vấn đề và xử lý các mối quan hệ. Đức tính đó còn tạo cơ sở cho nghệ thuật ứng xử thu phục lòng người của “bề trên” đối với “kẻ dưới”.

Thương dân và khoan thư sức dân trở thành chính sách của những người điều hành đất nước biệt dựa vào dân, lấy dân làm gộc. Đức tính nhân từ, rộng bụng, khoan dung còn được biểu hiện như một nét đặc sắc trong các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc về mặt đối xử với kẻ thù chiến bại, về nghệ thuật “tâm công”, đánh vào lòng người, đề cao chính nghĩa của ta, làm suy giảm tính hiếu chiến, ý chí xâm lược của địch, làm dịu đi sự căng thẳng, đối đầu, kiến tạo mối quan hệ hoà hiếu với nước lớn sau chiến tranh.

Những chứng tích khảo cổ học thời kỳ văn hoá Đông Sơn cho thấy, không có sự chôn sống kẻ tôi tớ khi ông chủ khuất núi. Trong các hình khắc trên trống đồng Đông Sơn rất hiếm thấy cảnh cưỡng bức hành hạ chiến tù, cũng như trong các truyền thuyết và ghi chép lịch sử thời kỳ này không có cảnh huỷ diệt tàn khốc khi kẻ chống đối thất bại.
 
Trong suốt thời kỳ hình thành quốc gia, dân tộc, ở vào hoàn cảnh luôn luôn phải đối đầu với những thế lực mạnh hơn, lòng nhân ái nảy sinh từ cuộc sống hàng ngày của tổ tiên ta được thể hiện ngay trong cách xử sự với kẻ thù như một kế sách “tâm công”, góp phần đẩy lùi hiểm hoạ. Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn không chỉ là phẩm chất, giá trị cao quý mà đã trở thành nhân tố tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, trong đó có sức mạnh của lực lượng vũ trang qua các thời đại.

 Trí tuệ là năng lực sáng tạo của con người. Nó để lại dấu ấn trên các sản phẩm mà con người, qua lao động đã tạo ra. Nền văn hoá của một tộc người, một dân tộc, gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, phản ánh trí tuệ của dân tộc đó Nó được hình thành, phát triển, đạt trình độ ngang bằng hoặc tiên tiến trong mối tương quan với các nền văn hoá khác. Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù kinh tế chưa phát triển, sinh hoạt vật chất của người dân chưa cao, những sáng tạo vật chất trong lịch sử chưa phải là nguy nga , tráng lệ , . . .  nền văn hoá Việt Nam vẫn được thế giới trân trọng, được xác định là một trong 34 nền văn minh có bản sắc riêng, độc đáo, biểu hiện tập trung và rõ nét nhất ở đời sống tinh thần, lối ứng xử, phong cách giao tiếp . . .



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:08:09 PM


Ngược dòng thời gian, trở về với buổi đầu dựng nước và giữ nước, chúng ta bắt gặp những sản phẩm văn hoá - trí tuệ thời Đông Sơn, nền văn minh sông Hồng. Chủ nhân của nền văn minh đó - người Việt cổ đã hoá thân vào các sản phẩm văn hoá qua những mảnh vụn còn để lại trong lòng đất, trên các trang sử sách, trong lòng người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
 
Trí tuệ Đông Sơn phát sáng trên các vật phẩm mà ta gặp lại. Từ đống trấu (vỏ hạt lúa) tìm thấy ở một vò gốm trong ngôi mộ Làng Vạc được các nhà khảo cổ xác định là lúa chiêm- ánh lên năng lực cải tạo giống lúa theo hướng thâm canh tăng vụ của người Đông Sơn mà nhiều sách sử đời sau đã ghi lại 1.  

Từ trong dòng chảy của nước đồng vào khuôn đúc ở các lò luyện kim Đông Sơn, chúng ta cảm nhận được ở đó sự ngưng đọng, kết tinh trí tuệ của những người thợ đúc tài ba. Họ biết cách pha chế với tỷ lệ thích hợp đồng, thiếc, chì, kẽm để tạo ra một hợp kim tuyệt vời cho phép đúc ra những sản phàm tinh tuý như trống, thạp, bình, âu... nổi tiếng.

Pha trộn một tỷ lệ vừa đủ của thiếc  với đồng, họ đã đúc được những ngọn giáo, mũi tên đủ độ cứng và nhan sắc làm khiếp đảm kẻ thù. Tiêu biểu của nền văn minh Đông Sơn, của trí tuệ Việt cổ là những chiếc trống đồng tinh xảo, hoa mỹ, kỹ thuật đúc và nghệ thuật tạo dáng, trang trí... đạt đến trình độ cao. Bề mặt của mỗi chiếc trống đồng đều phủ đầy hoa văn vừa hài hoà, đẹp mắt, vừa có giá trị như một bộ sử bằng hình ảnh, phản ánh đời sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt của cơ dân Đông Sơn, một cuộc sống tràn đầy sức sống, niềm vui, đầy thi hứng sáng tạo.
 
Chúng ta còn có thể tìm thấy qua hoa văn khắc vẽ trên trống đồng những tri thức phong phú, về nhiều mặt của cơ dân Đông Sơn. Chẳng hạn, vành hoa văn mô tả những đàn chim, hưu nối tiếp nhau bay nhảy xung quanh mặt trời ở vành trung tâm có thể là một bản “nông lịch”, phản ánh chu kỳ lạnh - ấm - nóng - mát của tiết trời đông - xuân - hè - thu, ứng với hai vụ cấy, gặt lúa trong sản xuất nông nghiệp.

Người Việt cổ thường mở hội mừng lúa mới vào mùa thu sau khi thu hoạch vụ mùa. Chim, hưu là những con vật gần gũi với đời sống và lao động sản xuất của họ trong các chu kỳ khí hậu, thời tiết hàng năm. Hưu là con vật sống ở núi, vùng cao, xứ lạnh. Có thể, người Việt cổ đã lấy con vật này làm biểu tượng cho mùa lạnh, cho những sinh hoạt và lao động khi tiết trời chuyển sang đông và xuân. Còn chim Lạc (con cò) là loài chim nước, sống ở vùng thấp, xứ nóng, rất gần gũi với ruộng đồng, có thể đã được chọn làm biểu tượng cho mùa nóng ẩm, mùa hè và thu.

Từ sản phẩm do trí tuệ, kỹ thuật và bàn tay khéo léo tạo ra, trống đồng Đông Sơn đã trở thành một tấm gương thần đối với người Việt cổ. Mỗi khi tiếp cận nó, nhìn vào nó, chiêm ngưỡng nó, nhất là trong các dịp hội hè, tế lễ... người Việt cổ có thể cảm nhận được những nét sinh hoạt, lao động hàng ngày cũng như cuộc sống nội tâm của mình trong đó.

Đối với người Việt cổ, trống đồng đã trở thành một vật thiêng gắn liền với cuộc sống hàng ngày và tâm linh của mỗi người và cả cộng đồng. Khi đem quân vào đất Việt, các thế lực xâm lược dường như đã nhận thấy sự thiêng liêng đó. Sử sách đã ghi lại rằng, Mã Viện ra sức cho người đi thu gom trống đồng để đúc thành gươm, đao, thành cột đồng ghi tên hắn. Không chỉ thôn tính đất Việt, âm mưu và mục tiêu nham hiểm của chúng là thủ tiêu nền văn hoá, đồng hóa người Việt, “nấu chảy” tinh thần Việt. Vừa chiến đấu chống giặc, người Việt vừa chôn giấu, kiên quyết bảo vệ trống đồng, bảo vệ bản sắc văn hoá của mình. Một số trống đồng bị địch thu, phá, bị sứt mẻ, nhưng tính thiêng của nó, biểu tượng tinh thần và những nét đặc sắc của nó trong nền văn hoá dân tộc không những không bị mai một mà vẫn được gìn giữ góp phần rìuôi dưỡng tinh thần quật khởi của người Việt.

Quá trình phát triển nảy sinh nhu cầu dựng nước và gắn liền với giữ nước. Sự hình thành nền văn minh, bản sắc văn hoá của dân tộc đòi hỏi phải giữ gìn những nét tinh hoa, đặc sắc, phải bảo vệ được nền văn hoá đó trước âm mưu thôn tính và đồng hoá của kẻ thù.
 
Mặt khác, tài thao lược, nghệ thuật đánh giặc giữ nước cũng là một bộ phận, một mặt biểu hiện đặc sắc của văn hoá, của trí tuệ dân tộc. Nói cách khác, trong những giá trị, những truyền thống hợp thành bản sắc văn hoá Việt Nam, có cả văn hóa trong dựng nước và văn hoá trong giữ nước. Những di tồn vật chất và tinh thần trong buổi đầu dựng nước, giữ nước phản ánh điều đó.


1.  Sách Thuỷ kinh chú chép: “lúa ở Giao Chỉ chín hai mùa”. Xa hơn về trước, sách Di vật chí của Dương Phù (thế kỷ I) chép: “Lúa ở Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần vào mùa hè và mùa đông”.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:59 PM


II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ.

Cũng như trong xây dựng, con người là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Tinh thần Cv chi), tn tuệ và thể lực hợp thành sức mạnh của con người, quyết định sức mạnh chiến đấu của con người, quyết định sức mạnh chiến đấu, sức mạnh quân sự của một quân đội, một dân tộc. Cả ba yếu tố đều quan trọng, quan hệ mật thiết với nhau.

Tinh thần là yếu tố bao trùm, có tác dụng kích thích, thúc đẩy hành vi của con người. Trong lĩnh vực đấu tranh giữ nước, các yếu tố tinh thần như lòng yêu nước, ý thức về dân tộc, về chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, tinh thần độc lập, tự chủ, tình đoàn kết nhất tn, tình thương yêu đồng bào gìn giữ nòi giống... không chỉ có ý nghĩa cố kết toàn cộng đồng mà còn là nhân tố quyết định việc hình thành và củng cố ý chí, tinh thần dũng cảm, sáng tạo trong suy nghĩ và hành động của từng con người, ở hậu phương cũng như ở mặt trận.

Tài liệu khảo cổ học phản ảnh khá rõ hiện trạng xung đột và chiến tranh trong xã hội Đông Sơn thông qua bộ sưu tập vũ khí với số lượng rất lớn, gồm nhiều chủng loại. Chỉ bằng những hiện vật ấy, chúng ta rất khó nhận biết diễn biến các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và hành vi của con người.  May mắn là, chúng ta còn có được những sử liệu, những đoạn ghi chép của các sử gia nước đối phương, tuy sơ lược, nhưng cũng phản ánh phần nào cuộc chiến đấu, đặc biệt là tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục của người Việt.

Về cuộc kháng chiến chống quân Tần, Lưu An (thế kỷ II Tr.CN) tác giả sách Hoài Nam tử viết: “... Người Việt đều bỏ vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư”.

Chỉ qua một đoạn mô tả rất ngắn như trên, chúng ta có thể thấy tinh thần bất khuất, quyết tâm kháng chiến của người Việt mạnh mẽ biết chừng nào. Họ thà chịu tạm lánh vào rừng sống cùng loài cầm thú chứ quyết không chịu hàng giặc, không chịu kiếp sống nô lệ, làm tôi đòi cho chúng.

Mặt khác, người Việt cũng không cam chịu mất nước. Họ liên kết với nhau, đồng lòng đồng sức cử người tài giỏi ra chỉ huy đánh đuổi giặc, giết tướng giặc, giành lại đất nước.  Ý chí ngoan cường, sự bền bỉ dẻo dai cũng là những yếu tố quan trọng của tinh thần chiến đấu, một thế mạnh của người Việt. Nó là cơ sở để người Việt tìm ra cách đánh thông minh, tránh được mũi nhọn, sự hung hãn ban đầu của địch, làm cho chúng mệt mỏi, sa sút ý chí chiến đấu và nhân thời cơ ấy, sẽ tổ chức phản công đuổi quân giặc ra khỏi bờ cõi.
 
Ban Cố tác giả bộ Tiền Hán thư chép lại bức thơ của Lưu An gửi cho Hán Vũ đế, trong đó có nhắc lại cuộc kháng chiến chống quân Tần của người Việt. Bức thơ có đoạn: “(nhà Tần)... lưu quân lại đóng giữ ở đất không, lâu ngày sĩ tốt mệt mỏi, người Việt bèn ra đánh, quân Tần đại bại”.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến binh và của người Việt cổ còn được thể hiện ở số lượng lớn những vũ khí đánh gần như dao găm, rìu chiến... tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ học. Riêng khu mộ táng làng Vạc đã Phát hiện được 130 chiếc... Đây là những loại vũ khí đánh giáp lá cà, đòi hỏi người sử dụng phải rất dũng cảm, nhanh nhẹn.

Một cách gián tiếp, tinh thần dũng cảm của người Việtcòn được thể hiện ở cảnh đâm trâu khắc hoạ trên trống đồng và cho đến nay vẫn được lưu truyền trong tục cướp búa bổ đầu trâu ở các lễ hội của dân làng Hữu Bổ (Thanh Ba, Phú Thọ).

Điểm quy tụ sức mạnh ý chí, trí tuệ, lòng dũng cảm, sự mạnh mẽ, lanh lẹn là tinh thần, là truyền thống thượng võ được thể hiện , qua hình ảnh các chàng trai Đông Sơn lưng đeo dao găm đang say sưa tiến hành nghi lễ phồn thực được đúc nổi thành cặp đôi trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái).

Sức mạnh tinh thần còn được thể hiện qua hình ảnh vũ hội hoá trang với nhiều người đội mũ lông chim, một tay cầm vũ khí, tay kia cầm nhạc khí vung tay, nhún chân, ưỡn người nhảy múa trong tiếng rộn rã của trống đồng, cồng, chiêng..., qua các cảnh đua thuyền, bơi chải, cảnh săn thú bằng thuyền vây, chó đuổi... khắc hoạ rất tinh tế, sống động trên các trống đồng.
 
Nằm ở vị trí thuận lợi, giữa các luồng giao lưu kinh tế - văn hoá, lại có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, nhiều sản vật quý hiếm, ngay từ buổi đầu dựng nước, đất nước ta đã trở thành mục tiêu nhòm ngó, thôn tính của các thế lực phong kiến bành trướng phương Bắc.

Thiên nhiên, khí hậu ở nước ta có nhiều mặt thuận lợi, song các hiện  tượng bão, lụt, hạn hán cũng rất dữ dằn. Chống giặc ngoại  xâm và xây dựng các công trình thuỷ lợi như đắp đê ngăn nước lụt, chống hạn. . . đòi hỏi sự cố kết và tham gia của cả  cộng đồng, không loại trừ bất cứ thành viên nào. Nó cũng đòi hỏi mỗi thành viên tinh thần tự giác gắn kết với cộng đồng,  thức thường trực, cảnh giác, sẵn sàng đối phó với hiểm họa ngoại xâm và thiên tai, yêu cầu khách quan phải chăm lo rèn luyện thể lực, kỹ năng lao động, chiến đấu, tác phong linh hoạt...


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:13:23 PM


Nếp sinh hoạt cộng đồng hình thành thông qua các nghi lễ, các ngày hội, các trò vui chưi, giải trí, đua tài bắn cung, bơi thuyền... Lao động làm ra của cải để nuôi sống cộng đồng và bản thân, đấu tranh với thiên nhiên và chiến đấu chống giặc ngoại xâm để bảo vệ các thành quả lao động, bảo vệ chủ quyền đất nước gắn chặt với nhau như hai mặt của cuộc sống, như một lẽ tự nhiên, một đòi hỏi tự thân và khách quan để tồn tại và phát triển.
 
Chất phác và hồn nhiên, chủ nhân của văn hoá Đông Sơn đã thể hiện sinh động mối quan hệ hữu cơ đó trong các hoa văn, hoạ tiết khắc hoạ trên trống đồng - một vật thiêng, chứa đựng cả nhân sinh quan và thế giới quan của họ.

Trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, vành hoa văn thứ sáu là một bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh lao động (xay lúa, giã gạo), cảnh lễ hội cầu cho mùa màng bội thu, cảnh đánh trống đồng, cồng, chiếng bắt nhịp cho trai gái hát đối, cảnh trẻ em chưi trò trồng nụ, trồng hoa, cảnh các trai tráng, các chiến binh vũ trang nhảy múa, người vung rìu, người cầm giáo chĩa về phía trước..., cảnh này nối tiếp cảnh kia, bổ sung cho nhau, hoà quyện vào nhau, tạo nên bức tranh sống động về cuộc sống, vừa hùng tráng, vừa trữ tình, khoẻ khoắn.
 
Lao động, sinh hoạt lễ hội, rèn luyện thể lực và kỹ năng chiến đấu hoà quyện vào nhau. Tiếp theo những cảnh miêu tả về lao động và sinh hoạt đời thường - mặt chính của cuộc sống, người Việt cổ thường khắc hoạ ở vị trí trung tâm tang trống (nhìn theo chiều nghiêng) cảnh những đoàn thuyền chiến, vừa chiến thắng, lướt sóng trở về giữa chim bay, cá lượn. Chúng ta dễ dàng nhận thấy, các nghệ nhân - chủ nhân của văn hoá Đông Sơn không khắc hoạ cảnh tượng ác liệt, đẫm máu của cuộc chiến, mà tập trung thể hiện cảnh chiến thắng trở về trong nỗi hân hoan vui mừng. Các tù nhân bị trói ngồi trên thuyền giữa đoàn quân trống giong cờ mở...
 
Đối với người Việt, cuộc sống gồm hai mặt chủ yếu là lao động và chiến đấu không chỉ là hiện thực trên dương gian mà còn siêu thoát đi vào “cõi âm”, đi vào đời sống tâm linh. Họ quan niệm con người sau khi chết vẫn cần có công cụ để lao động, đồ dùng để sinh hoạt, và vũ khí để chiến đấu, tự vệ. Dù là bình dân hay người quyền quý, bộ tuỳ táng chôn theo người chết cũng gồm đủ các loại: một vài công cụ sản xuất, đồ dùng cho sinh hoạt hàng ngày, một vài vũ khí thông thường, giản đơn, vừa có thể dùng làm công cụ sản xuất như rìu lưỡi xéo bằng đồng, mũi lao bằng sắt, cũng có khi ta bắt gặp một tay thước, một mái chèo bằng gỗ... Hiện tượng đó làm nổi lên tính thường trực chiến đấu đã trở thành tiềm thức trong nếp sống, làm thành bản sắc rất Việt Nam trong văn hoá giữ nước của họ.

Người Việt cổ cho rằng có an cơ mới lạc nghiệp. Nhờ cuộc sống thanh bình, yên ổn, đất nước mới được mở mang, thịnh vượng, các gia đình làng xóm mới được sum họp, vui vầy. Khi có những thế lực xâm phạm vào sự thiêng liêng đó, cả cộng đồng, cả người đang sống và người đã chết đều đứng lên đánh giặc. Chiến đấu bảo vệ cuộc sống của cộng đồng, bảo vệ lãnh thổ là nhiệm vụ của mọi cơ dân, bất kể lứa tuổi, nam nữ, địa vị xã hội...

Trong đội quân của Gióng đánh giặc Ân có người cầm vồ, người câu cá, trẻ chăn trâu đang đánh khăng... Đây là những người dân gồm cả người đã lớn tuổi và trẻ em đang lao động, đập đất trồng ngô khoai ở ngoài đồng, đang câu cá ở ven sông và đang vui chưi... Hiện tượng toàn dân tự vũ trang, tự nguyện tham gia đánh giặc giữ làng được thể hiện khá rõ nét trong thể thức mai táng của người Việt thời Hùng Vương, An Dương Vương.
 
Mỗi khu mộ táng thời Đông Sơn được quy tụ như một nghĩa trang của làng, các ngôi mộ có chôn theo vũ khí thường chiếm tỷ lệ từ 1/3 đến 1/2 số ngôi mộ được phát hiện 1. Nhiều ngôi mộ mà người chết là phụ nữ hay ở tuổi vị thành niên cũng được chôn theo vũ khí. Tết cả cho thấy những đường nét cơ bản của đường lôl chiến tranh nhân dân, vũ trang toàn dân đã được hình thành ngay từ thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Trước kẻ thù lớn mạnh hơn, người Việt đã khôn khéo, không đưa lực lượng ra đối đầu trực tiếp, tránh bị tổn thất lớn ngay từ đầu, thậm chí có thể bị tiêu diệt. Người Việt thường tạm lánh vào rừng sâu, bỏ lại làng mạc ruộng vườn, nhưng đã biết làm “vườn không nhà trống” tổ chức đánh du kích, làm cho quân địch bị tiêu hao mệt mỏi, từng bước làm chuyển hoá tương quan lực lượng. Khi phát hiện quân địch đã suy giảm ý chí và tinh thần chiến đấu sẽ nhanh chóng và chủ động chuyển sang phản công, đuổi quân địch ra khỏi bờ cõi. Tư tưởng giữ dân trước rồi mới tổ chức lực lượng giành lại đất sau hình thành khá sớm trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược của người Việt.


1.  Trong khu mộ táng Đông Sơn (khai quật năm 1962) phát hiện 17 trong số 39 mộ, khu mộ táng Thiệu Dương (Thanh Hoá) phát hiện 22 trong số 64 mộ có chôn theo vũ khí.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:15:12 PM


Trí tuệ quân sự Việt còn được thể hiện ở sự vận dụng  linh hoạt nhiều cách đánh mang lại hiệu suất chiến đấu cao.  Đánh du kích là sở trường của cơ dân Đông Sơn, là cách đánh rất linh hoạt chống chiến tranh xâm lược của nước lớn mạnh hơn.

Mọi người dân, bất kể lứa tuổi, giới tính, địa vị xã hội đều có thể đánh du kích, đánh địch ở khắp nơi, không có sự phân tuyến, một chiến trường cụ thể nào và cả nước là chiến trường. Làng, tổ chức cơ sở của Nước không chỉ là một không gian cơ trú, không gian văn hoá, tổ chức sản xuất mà còn là làng chiến đấu khi có giặc ngoại xâm. Được bao bọc và ngăn cách bởi các luỹ tre xanh dẻo dai, gai góc, các ao hồ, đầm nước. . . mỗi làng là một chiến luỹ với lực lượng chiến đấu tại chỗ ngăn chặn quân xâm lược. Khi địch đã tiến sâu vào trong lãnh thổ của đất nước, mỗi làng là một tổ chức chiến đấu ngay trong lòng địch.

Một số sách sử của Trung Quốc đã nhận xét là “Người Việt không có thành quách, họ sống giữa rừng lau trúc bên khe suối”... Không dựa vào thành lũy kiên cố mà dựa vào các làng xã, người Việt chọn cách đánh thích hợp, tổ chức phòng thủ rất linh hoạt để cản phá bước tiến ồ ạt của quân địch, bảo đảm cho bộ máy điều hành đất nước rút lui an toàn, bảo vệ lực lượng, khi thời cơ đến sẽ tổ chức phản công đánh đuổi quân địch.

Những tư liệu khảo cổ học, một số sử liệu và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, bước đầu giúp chúng ta tìm hiểu trí tuệ của người Việt trong lĩnh vực quân sự. Ngay trong buổi đầu dựng nước và giữ nước, biểu hiện tập trung của trí tuệ Việt là tư tưởng coi dân là nguồn gốc của sức mạnh, coi việc giữ dân, bảo vệ dân là mục tiêu chiến đấu, biết tổ chức và phát huy sức mạnh kháng chiến của toàn dân, tiến hành chiến tranh du kích với nhiều cách đánh linh hoạt, phát huy lòng quả cảm và mưu trì của con người...
 
Mặc dù đã xây dựng được những công trình quân sự đồ sộ như thành Cổ Loa, người Việt không coi thành luỹ như một căn cứ đề kháng cố định, không dàn trận địa đối phó với quân địch tiến công ồ ạt. Dựa vào địa hình, lợi dụng yếu tố bí mật, bất ngờ, thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh nhanh rồi rút nhanh để bảo toàn lực lượng. . . là cách đánh sở trường của người Tây  Âu Lạc Việt. Trong cuộc chiến đấu của người Việt dường như không có một chiến trường cụ thể, mà ở đâu cũng là trận địa.

Bất kể ngày hay đêm, trong điều kiện thời tiết nào, dù lực lượng ít hơn, dù chỉ có một người cũng tiến công, tiêu hao và tiêu diệt quân địch, làm cho chúng căng thẳng, mệt mỏi, hàng ngũ rối loạn...

Hoài Nam Vương Lưu An, một sử gia ở thời Tây Hán đã viết về cuộc kháng chiến chống quân Tần của người Việt diễn ra cách thời đại của ông gần nửa thế kỷ như sau: “Trong ba năm (quân Tần) không cởi giáp, dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, phải lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt”1.  

Sách Tiền Hán thư do Ban Cố biên soạn cuối thế kỷ I Tr.CN chép lại bức thơ của Hoài Nam Vương Lưu An gửi Hán Vũ đế, trong đó có đoạn:

“Người Việt trốn vào núi sâu, rừng rậm không thể đánh được.  (Nhà Tần) lưu quân ở lại, đóng giữ nơi đất không, lâu ngày sĩ tốt mỏi mệt. Người Việt bèn ra đánh, quân Tần đại bại”.  Cách đánh du kích linh hoạt và lợi hại làm cho quân địch luôn luôn bị bất ngờ, hao tổn sinh lực, mệt mỏi... cuối cùng buộc phải rút quân, chịu thất bại.

Cách đánh đó trước hết dựa vào sự gan góc, tài trí, sự lanh lợi của người Việt. Nó được phát huy và đạt hiệu quả cao hơn vì người Việt biết dựa vào núi cao, rừng rậm, sông suối, ao hồ ngăn cách, biết lựa thế và chọn thời cơ thuận lợi nhất, bất ngờ nhất, kể cả những lúc trời mưa tầm tã, sương mù dày đặc... để đánh giặc. Nó có khả năng thu hút sự tham gia của mọi người dân, ở mọi lứa tuổi, trên mọi miền của đất nước, có tác dụng tiêu hao, ngăn chặn, kìm giữ quân xâm lược. Đồng thời phối hợp với các đạo quân chính quy thường trực đánh đuổi chúng, khôi phục nền độc lập của đất nước.

Phục kích là cách đánh khá phổ biến của người Việt. Quen thuộc địa hình, người Tây âu, Lạc Việt đã biết lợi dụng những hẻm núi, vực sâu, nơi chỉ có con đường độc đạo, quân địch buộc phải đi qua để phục sẵn, chờ khi quân địch lọt vào trận địa sẽ bất ngờ tấn công bằng cung, tên, lăn đá, lao gỗ...  làm cho quân địch rối loạn hàng ngũ rồi xông ra tiêu diệt.
 
Vùng đồng bằng, các đầm lầy nhiều lau sậy, các làng mạc với các rặng tre, bờ đê... cũng là nơi có thể tổ chức phục kích quân địch. Không chỉ mai phục ở trên bộ, người Việt rất thạo thuỷ chiến, có thể cơ động, phục kích bằng thuyền, tiêu hao tiêu diệt quân địch, triệt các đường tiếp tế lương thảo của chúng.


1. Lưu An - Hoài Nam Tử. Nhân gian huấn, quyển 18.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:17:07 PM


Tập kích cũng là cách đánh sở trường, khá phổ biến và xuất hiện từ sớm trong các cuộc chiến đấu của người Việt.  Một số thư tịch cổ có chung nhận xét là người Việt thường lợi dụng đêm tối mới từ trong rừng ra, đánh (quân Tần). Chiến tranh du kích, cách đánh bằng mai phục và tập kích bất ngờ, đã hên tục quấy rối và tiêu hao lực lượng địch làm cho quân địch lâm vào tình cảnh khốn quẫn, căng thẳng, cuộc chiến tranh của nhà Tần trên đất Việt kéo dài. Hơn 10 năm, “đàn ông phải mặc giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi, phải tự sát, treo cổ trên cây suốt dọc đường. Người chết trông nhau. Kịp khi Tần Hoàng đế băng hà thì cả thiên hạ nổi lên chống”1.

Cách đánh tập kích không chỉ nhằm vào các vị trí đóng quân của địch ở trên bộ mà còn có những trận cơ động tập kích bằng thuyền chiến. Lối đánh gần, đánh giáp lá cà trong các trận tập kích được phát huy dựa vào tinh thần dũng cảm, sự linh lợi, ẩn hiện như “thần” của các chiến binh và tài sử dụng các vũ khí cận chiến của họ.

Các tư liệu và sự phân tích ở trên đã cho thấy văn minh sông Hồng là sáng tạo của cư dân sống ở vùng đồng bằng sông nước. Địa bàn cơ trú chủ yếu của cơ dân Văn Lang là châu thổ sông Hồng, nơi có rất nhiều sông ngòi, đầm hồ, đất xen kẽ với nước, được bao bọc và bị chia cắt bởi các vùng nước. Từ khi sinh ra, con người ở đây đã quen sống với nước, việc đi lại mở rộng phạm vi hoạt động... chủ yếu cũng nhờ nước.
 
Lực lượng vũ trang mới ra đời ở thời Hùng Vương - An Dương Vương có lẽ cũng đã sớm được tổ chức và thích nghi với các hoạt động trên sông nước, dần dần thạo tác chiến bằng thuyền hoặc bằng tài bơi lội ở vùng nước. Do sống bằng nghề nông là chủ yếu, người Việt thường phải bám đất, giữ làng. Giao thông trên mặt nước đã góp phần giao lưu, nối liền giữa các vùng lãnh thổ, từ vùng núi xuống đồng bằng, từ đồng bằng vươn dần ra biển. Các hoạt động chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ lãnh thổ, việc cơ động lực lượng, tiếp tế lương thảo, ngăn chặn quân địch tiến công từ hướng biển vào. phần lớn đã diễn ra ở các vùng sông nước.

Địa hình sông nước, đời sống sông nước, yêu cầu khách quan và những ưu thế của hoạt động trên vùng sông nước làm cho người Việt, đặc biệt là lực lượng vũ trang ngày càng thạo thuỷ chiến.
 
Nhiều hình khắc trên trống đồng Đông Sơn đã thể hiện sinh động các động tác thuần thục, điêu luyện khi chèo thuyền, bơi phải, cảnh các chiến thuyền vừa chiến thắng lướt sóng trở về, trên thuyền là các chiến binh mang vũ khí trong tư thế chiến đấu và các tù binh. . .

Những hiện vật tìm thấy trong các khu mộ táng Đông Sơn cũng phản ánh tài thuỷ chiến của người Việt. Đáng lưu ý là những quan tài gỗ được các nhà khảo cổ phát hiện có hình dáng như những con thuyền có cả mái chèo, cùng với các vũ khí tuỳ táng (lao, rìu, xéo...) là những vũ khí sở trường của quân thuỷ.
 
Có thể những mộ quan tài hình thuyền này là của các chiến binh Đông Sơn từng chiến đấu nhiều năm trên vùng sông nước, cho đến khi chết vẫn gắn bó với nước. Đôi với những chủ nhân của văn hoá Đông Sơn, con thuyền vừa là phương tiện .  đi lại kiếm sống, đồng thời cũng là phương tiện chiến đấu bảo vệ thành quả lao động, bảo vệ cuộc sống của họ.

Một số truyền thuyết lưu truyền trong dân gian vùng ven biển miền Bắc, đặc biệt là ở Hải Phòng kể rằng, Vua Hùng đã cho quân trừ giặc từ đảo Quỳnh Châu (tức Hải Nam ngày nay) đến cướp phá, có lần vua cho đóng thêm thuyền chiến, vượt biển đánh vào tận sào huyệt của chúng.

Thông thạo luồng lạch, tài bơi lội, giỏi dùng thuyền, người Việt sớm tổ chức ra thuỷ binh, ngày càng thạo thuỷ chiến. Đây là một trong những nét đặc sắc trong nghệ thuật tổ chức lực lượng vũ trang và nghệ thuật tác chiến của cha ông ta ở buổi đầu dựng nước và giữ nước.

Cùng với những giá trì về tinh thần, về trí’tuệ, được thể hiện ở ý chí và nghệ thuật quân sự, những giá trị về vật chất trong lĩnh vực quân sự của người Việt cũng rất phong phú, đặc sắc Đó là những yếu tố vật chất cùng với ý chí và tinh thần chiến đấu hợp thành sức mạnh chiến đấu của quân đội, sức mạnh quân sự của quốc gia, như thể lực và kỹ năng chiến đấu của chiến binh, vũ khí và phương tiện chiến đấu của họ. . .

Thể lực và kỹ năng chiến đấu, sự gan góc, dẻo dai, khéo léo linh hoạt của người Việt được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày như săn bắt chim thú trong rừng, lặn bắt cá, tôm dưới nước, được nâng cao ở các cuộc đua tài trong các lễ hội và sinh hoạt cộng đồng.

Những phẩm chất ưu tú của người Việt như sức bền, sự linh lợi, biết tính toán và hành động một cách kịp thời, chuẩn xác, được các tài liệu khảo cổ học chứng thực qua phân tích một số bộ xương trong các mộ táng có chôn theo vũ khí của các chiến binh Đông Sơn. Đó là những người tầm vóc không thật cao lớn (trung bình khoảng 1,60 mét), xương cốt không có những dấu hiệu của bệnh lý. . .  chúng ta cũng có thể nhận biết những phẩm chất ưu tú của họ qua các hình khắc trên di vật bằng đồng thời Đông Sơn như cảnh đua thuyền, đâm trâu, lễ hội vũ trang, cảnh săn bắt hưu nai . . .


1.  Tư Mã Thiên: Sử ký, quyển 12.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:26:38 PM

Sự dẻo dai và tài bơi lặn của người Việt cũng được miêu tả khá sinh động trong các thư tịch cổ.  Vũ khí, phương tiện chiến đấu cùng với con người dẫn tới sự ra đời của lực lượng vũ trang, là một trong những yếu tố quan trọng của sức mạnh quân sự. Sự tinh xảo, lợi hại của vũ khí phản ánh trình độ phát triển của sản xuất đồng thời cũng thể hiện năng lực trí tuệ của người làm ra nó. Vũ khí và phương tiện chiến đấu của người Việt thời Đông Sơn là những di tồn vật chất đa dạng, những di sản văn hoá đặc sắc của nền văn minh sông Hồng. Có thể nói, trong cùng thời gian đó ở khu vực Đông Nam Á chưa nơi nào các sưu tập hiện vật làm nên diện mạo văn hoá có tỷ lệ cao về vũ khí như trong văn hoá Đông Sơn.

Để tìm hiểu trí tuệ của người Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá vật chất, trong đó có kỹ thuật chế tạo và nghệ thuật sử dụng các loại vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu, chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ thuật luyện kim, đúc đồng của người Đông Sơn.

Vào nửa cuối thiên mền kỷ thứ nhất trước công nguyên, kỹ nghệ luyện kim, đúc đồng, chế tạo các công cụ sản xuất và vũ khí bằng kim loại đồng, sắt... của người Đông Sơn đã đạt đến trình độ rất cao. Trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh. . . được đúc chế bằng kỹ thuật và nghệ thuật rất tinh xảo. Vẻ đẹp và sự hoàn mỹ của chúng đã vượt qua không gian và thời gian.

Cùng với kỹ nghệ đúc đồng, kỹ nghệ luyện sắt cũng đã ra đời. Đồ sắt được làm ra bằng cách rèn và đúc. Cuộc cách mạng luyện kim tạo ra bước ngoặt trong sản xuất nông nghiệp. Lưỡi cày đồng, lưỡi cuốc sắt, mai sắt... ra đời giúp cho người Việt có thể vừa thâm canh tăng vụ vừa quảng canh, đưa năng suất lên cao, bảo đảm đủ và còn có dơ thừa lương thực cho xã hội.
 
Sản xuất phát triển dẫn đến những biến đổi ngày càng sâu rộng về quyền lợi (phân chia sản phẩm, phân biệt giàu nghèo) và quyền lực, từ đó xuất hiện ngày càng tăng những vụ xung đột, dẫn tới sự hợp nhất về đất đai, tộc người, sự mở rộng lãnh thổ và chống xâm lấn, bảo vệ lãnh thổ.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang, chế tạo các loại vũ khí, phương tiện chiến đấu trở thành một nhu cầu ngày càng lớn của xã hội. Bộ sưu tập khá đồ sộ về vũ khí thuộc văn hoá Đông Sơn, tỷ lệ của chúng trong số hiện vật được phát hiện ở năm địa điểm khai quật thể hiện qua bảng thống kê dưới đây phản ánh sự phong phú của các loại vũ khí:
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bngnh782-1.jpg)
Chỉ nhìn vào số lượng vũ khí với tỷ lệ từ 50 đến trên 60% tổng số hiện vật bằng đồng chúng ta có thể thấy sự gia tăng của các hoạt động quân sự. Để tồn tại và phát triển, người Việt thời Đông Sơn đã phải vũ trang tự vệ để bảo vệ cuộc sống của mình cũng như phải thường xuyên đấu tranh với thiên tai, lũ lụt.
Công cuộc khai phá, mở mang địa bàn cơ trú và diện tích canh tác từ các vùng rừng rậm núi cao xuống các vùng đầm lầy hoang vu, sông nước mênh mang và chiến đấu chống các thế lực xâm lược, thôn tính lãnh thổ đòi hỏi sự tham gia của cả cộng đồng.
 
Trong lĩnh vực chế tạo và sử dụng vũ khí, bên cạnh những vũ khí chuyên dụng, người Việt đã biết khai thác và và sử dụng rất linh hoạt, kết hợp giữa công cụ sản xuất với vũ khí, biết chế tác những loại công cụ có nhiều chức năng như rìu xéo (gồm nhiều kiểu loại) như giáo, lao, cung, nỏ... vừa có thể săn bắt thú rừng, chặt cây, vừa có thể dùng làm vũ khí chiến đấu.

Thật khó có thể xác định các hiện vật này chỉ có tác dụng là vũ khí, chỉ được dùng trong quân sự, cũng khó có thể gạt bỏ chúng ra khỏi bộ vũ khí, trang bị quân sự của người Việt thời Đông Sơn. Bởi lẽ khi có giặc từ người dân đang cầm vồ đập đất đến em bé đang chơi trò đánh khăng đều xông ra đánh giặc. Họ trở thành dân binh một cách tự nguyện và mọi vật dụng trong tay họ đều có thể trở thành vũ khí. Một lưỡi rìu xéo hàng ngày được dùng để chặt, vót đan lát, một mũi giáo, một chiếc gậy vót nhọn, một mũi tên tre. . . được dùng để săn thú đều có thể sát thương quân giặc. Khi toàn thể cư dân đứng lên chống giặc, mỗi người sẽ tự trang bị cho mình những vũ khí cần thiết, sẽ biến các công cụ sản xuất hàng ngày thành vũ khí. Hơn nữa, do nguyên liệu quý hiếm và việc chế tác đòi hỏi kỹ thuật cao và rất tốn kém, thật khó có thể trang bị vũ khí tinh xảo, chuyên dụng cho tất cả các cơ dân của cộng đồng. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:31:46 PM


Chỉ đến sau này, do sự phát triển của chiến tranh, đặc biệt là của kỹ thuật luyện kim và đúc, các loại vũ khí chuyên dụng mới được chế tạo ngày càng nhiều hơn. Toàn dân đứng lên chiến đấu bằng mọi thứ có trong tay trở thành nét đặc sắc nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Đến nay, chúng ta đã phát hiện được hàng nghìn mũi giáo, mũi lao, mũi tên trong các di tích văn hoá Đông Sơn 1.
Về hình dáng, các vũ khí có mũi nhọn này khá giống nhau, sự khác nhau chỉ ở kích cỡ và ở một vài loại đặc biệt, ví dụ như mũi giáo hình lá mía hẹp và dài có chuôi tra cán hoặc mũi tên đồng ba mặt hình tháp. Một lý do về sự khác biệt cũng phải kể đến là có loại do người Đông Sơn đúc và cũng có loại nhập từ bên ngoài.
Thống kê số lượng, loại hình các loại vũ khí như giáo, lao, mũi tên, dao găm, rìu xéo được phát hiện qua khai quật một số địa điểm cho ta thấy tính năng, tác dụng của từng loại vũ khí trong chiến đấu và cũng qua đó, có thể phân tích, tìm hiểu sở trường, cách đánh của các chiến binh thời Đông Sơn ở các khu vực, các địa hình khác nhau:
 
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Bngnh782-1.jpg)
Giáo là “vũ khí lạnh” thông dụng nhất của các quân đội thời cổ đại. Khởi đầu giáo được dùng để săn bắt muông thú, sau đó mới làm vũ khí chiến đấu. Đồng thời nhờ đặc điểm cấu tạo giáo có thể làm cả hai chức năng đó. Thời Hùng Vương - An Dương Vương, giáo được trang bị cho cả quân bộ và quân thuỷ.
Chúng ta có thể nhận biết điều này qua hình ảnh các chiến binh cầm giáo trên các thuyền chiến và các chiến binh cầm giáo đứng trong các khung ô của thân trống đồng.
Mũi giáo bằng đồng ở các di chỉ văn hoá Đông Sơn khác với vũ khí cùng loại của các nền văn hoá đương đại trong khu vực ở các chi tiết cấu tạo trên bản lưỡi như rìa lưỡi lượn, sống nổi cao, một số có rãnh dài, xẻ thẳng hình chữ nhật, có những lỗ thoát máu để tăng tính sát thương, làm trầm trọng thêm vết thương cho kẻ thù.
Phân tích tỷ lệ về số lượng giữa giáo và lao ở các địa điểm cơ trú của người Việt qua bảng trên, chúng ta còn nhận thấy ở các khu vực thuộc đồng bằng sông Hồng như Làng Cả (Phú Thọ), Phú Lương (Hà Tây) số lượng lao vượt trội so với giáo, thậm chí có nơi như ở Vinh Quang lao giữ vị trí tuyệt đối so với giáo (43/1).
Ởcác địa điểm khác thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả, số lượng giáo lại vượt trội so với lao. Mặc dù số lượng được . phát hiện và so sánh trên mới ở một số địa điểm và ở’ mỗi địa điểm đó, dù các nhà khảo cổ đã khai quật với diện tích tường đối lớn cũng chưa phải đã phát hiện hết, nhưng do ở mỗi khu vực đã khai quật một số điểm khác nhau, số lượng chênh lệch nhau giữa hai loại vũ khí cho thấy nhu cầu sử dụng lao và giáo ở mỗi khu vực không giống nhau.
Vùng đồng bằng sông Hồng mới được khai phá, đất thấp, nhiều đầm lầy, Ô trũng, hệ thống sông ngòi và ao hồ dày đặc thuận tiện cho tác chiến trên mặt nước. Cung, nỏ, lao, tên... được các chiến binh sử dụng thành thạo... phát huy hiệu lực trên chiến trường này. Hình khắc các chiến thuyền trên trống đồng phần nào thể hiện cách đánh của người Việt trong các trận thuỷ chiến. Cung nỏ được bắn từ xa khi thuyền chiến chưa đến sát quân địch. Lao được phóng đi ở tầm gần hơn 2. Khi đã cặp được vào mạn thuyền đối phương, các chiến binh tay rìu tay mộc, hoặc tay dao găm tay mộc nhảy sang thuyền địch giáp chiến.


1.  Chưa kể “kho” mũi tên đồng hàng vạn chiếc được phát hiện ở Cầu Vực thuộc khu vực Cổ Loa. Những mũi tên khác phần lớn được phát hiện trong các mộ táng, ít thấy các di chỉ cư trú. Có lẽ do tên là loại vũ khí “có đi không về”, bắn đi là mất. . . .
2. Trên tang trống Miếu Môn II không thấy hình ảnh người ‘ điều khiển, nhưng có thể nhận rõ mũi lao được phóng đi đã cắ :’.  ngập vào mạn thuyền đối phương.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Mười Hai, 2008, 10:38:03 PM

Ở vùng sông Mã, sông Cả số lượng lao được phát hiện ít hơn vì nó chỉ phát huy tác dụng trong các trận phục kích ở địa hình rừng núi, tác chiến trên mặt nước không phổ biến như ở vùng đồng bằng sông Hồng. Một hiện tượng cũng cần phân tích để làm rõ là trên hình khắc các thuyền chiến của người Việt, số lượng các chiến binh cầm giáo khá đông, trong khi đó rất ít thấy chiến binh cầm lao 1.

Quan sát hình khắc các chiến thuyền trên tang trống, chúng ta có thể nhận thấy các thuỷ thủ có nhiệm vụ chèo thuyền trong quá trình chiến đấu, bảo vệ thuyền khi một số chiến binh đã nhảy sang thuyền đối phương và luôn phải áp sát để các chiến binh này có thể quay trở về thuyền của mình. Những thuỷ thủ này vừa chèo thuyền, vừa tham gia chiến đấu cùng các tay nỏ tiến công địch từ xa 2.  

Các chiến binh khác trực tiếp chiến đấu bằng các loại vũ khí sở trường như giáo - lao hoặc giáo - rìu chiến, giáo - dao găm, giáo - qua. . . được sử dụng khá phổ biến trong chiến đấu tiến công và phòng ngự, số lượng giáo thường chiếm tỷ lệ cao (khoảng 60%) trong các loại vũ khí của chiến binh Đông Sơn.  Vũ khí mũi tên tìm được ở các khu mộ và di chỉ cơ trú không nhiều, nhưng được khắc hoạ rõ nét trên các trống,  thạp đồng.

Đây là loại vũ khí tiến công địch từ xa được sử dụng khá phổ biến của cả bộ binh và thuỷ binh. Mũi tên đồng Đông Sơn có nhiều loại, như tên hình lá hoa hồng, tên hình cánh én, tên ba cạnh... Hình dáng và kiểu cách mũi tên phát  triển từ các loại tên đá, tên xương. . . trước đó. Đặc biệt, mũi tên đồng ba cánh, mặt tên lõm, có trụ chuôi là một cải tiến quan trọng từ mũi tên đá hình thoi ba mặt xuất hiện trên 1.000 năm về trước trong di chỉ văn hoá Phùng Nguyên; đồng thời có tiếp thu một số chi tiết trong mũi tên đồng của người shit, một cơ dân du mục, nổi tiếng về thiện xạ trên các vùng đồng cỏ Á - Âu.

Loại tên đồng Cổ Loa được cơ dân Đông Sơn chế tạo với số lượng lớn (hàng vạn chiếc) trang bị cho cả tay cung và tay nỏ, cả đánh bộ và đánh thuỷ, cả phòng ngự cố thủ và cơ động tiến công.
 
Việc tìm thấy một số lẫy nỏ bằng Đồng có những bộ phận lắp ráp phức tạp ở Cổ Loa, Làng Vạc, Thiệu Dương, Lào Cai là bằng chứng chắc chắn về vũ khí nỏ trong trang bị của các chiến binh Đông Sơn.

Một điểm rất đáng lưu ý là bên cạnh hình khắc những chiếc nỏ trên thuyền chiến là những mũi tên như vừa được bắn đi từ bệ đỡ các “máng nỏ”, mỗi loạt bắn ra nhiều mũi tên. Đây là một phát minh quan trọng, đánh dấu bước tiến mới về kỹ thuật quân sự của người Việt.
 
Sách Việt sử lược chép: “Lúc bấy giờ, An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ làm được nỏ liễu mỗi lần giương nỏ bắn ra được 10 phát tên”. Một số sách sử của Trung Quốc cũng ghi chép về loại vũ khí thần diệu của người Việt: “Bắn một phát giết chết quân (Nam) Việt hàng vạn người” 3.  Loại nỏ lớn này cần nhiều người mới căng được dây hoặc phải được kéo bằng một thiết kế cơ học nào đó mạnh hơn hẳn sức người mới có thể đẩy đi một lúc nhiều mũi tên hoặc một mũi tên to như chiếc lao.

Giả thiết này được chứng minh khi các nhà khảo cổ phát hiện các mũi lao cỡ trung bình (dài 7 đến 10 cm) và hình mũi lao hai cánh trên cây nỏ có bệ tì đặt ở vọng lâu đài chiếc thuyền chiến khắc trên trống đồng Hoàng Hạ.

Tiếp sau giáo, lao và tên, rìu xéo bằng đồng là loại vũ khí độc đáo được sử dụng khá phổ biến (chiếm 30%) số vũ khí trang bị của các chiến binh thời Hùng Vương - An Dương Vương. Nó được phát triển từ những công cụ lao động thông dụng, gần gũi của người Việt.
 
Sự độc đáo về kiểu dáng của loại vũ khí - công cụ này khiến người Trung Quốc thời cổ đại dùng ngay tên gọi của nó để chỉ tộc người sử dụng nó (danh xưng “Việt” có từ thời kỳ này). Có thể coi rìu chiến là “thanh gươm” của người Lạc Việt, một vũ khí lợi hại khi giáp chiến vì có thể vừa bổ, vừa chém nhờ rìa bản lưỡi cong (hoặc thẳng) và nhờ cách tra cán vào tay cầm song song với rìa lưỡi, vừa gọn nhẹ, thích hợp với thể lực người sử dụng, với cách đánh giáp lá cà và cơ động khi chuyển quân.

Qua quá trình sử dụng, một số rìu chiến đã được cải tiến về kiểu dáng như hình bàn chân, mũi thẳng kéo dài, hình ê ke với lưỡi rìu nằm ở phía cạnh dài... Với những chiếc rìu có mũi nhọn và dài, các chiến binh có thể sử dụng để đâm như giáo, lao. Có những chiếc rìu được trang trí hoa văn rất đẹp, thể hiện cảnh bơi thuyền, cảnh săn bắt chim thú... Có thể coi rìu chiến là vũ khí tượng trưng cho người Lạc Việt, cho cộng đồng Lạc Việt và Âu Lạc, không phải là biểu tượng quyền uy của thủ lĩnh.


1.  Hình ảnh chiến binh cầm lao mới phát hiện trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ.
2. Hình khắc một thuyền chiến trên tang trống Ngọc Lũ thể hiện rõ nét một thuỷ thủ chèo thuyền hai tay đã buông lái, chiếc cung trên tay hướng về phía trước, mũi tên đã bắn đi ...
3.  Theo Nam Việt chí.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:17:59 PM
Cũng cần phải kể đến loại rìu hình khánh, rìu xoè cân rìa lưỡi cong, hai đầu mũi nhọn, được sử dụng khi đánh gần, chém, bổ quân địch. Một số vùng cư dân Đông Sơn ở miền núi, do tiếp thu kiểu dáng loại rìu hình mỏ neo trong văn hoá Tấn Ninh (Vân Nam - Trung Quốc), thường đúc loại rìu này.

Dao găm là loại vũ khí tuỳ thân rất được ơa chuộng, là loại vũ khí sở trường khi giáp chiến của người Việt. Cho đến nay, chúng ta đã phát hiện được 230 con với nhiều kiểu loại khác nhau. Đáng lưu ý là loại có bản lưỡi hình lá tre có mặt cắt ngang hình bầu dục dẹt hơi phồng ở giữa, hai rìa sắc và có mũi nhọn, chuôi eo có hình trụ, đốc phình ra có hình mấu tre hay hình củ hành tạo cho thế của tay cầm được vững chắc.

Dao găm của các chiến binh dùng đồng bằng sông Hồng có sự tiếp thu và cải tiến từ loại dao găm vùng Tấn Ninh, với bản lưỡi rộng hơn, hai rìa lưỡi uốn lượn làm cho máu của kẻ địch bị đâm thoát ra mạnh hơn khi mũi dao được rút ra, tăng tính sát thương của vũ khí. Các nhà khảo cổ còn tìm được khuôn đúc loại dao găm này ở Làng Cả (Việt Trì) - kinh đô của nước Văn Lang vào cuối thời Hùng Vương (niên đại tuyệt đối được xác định bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 là 285 + 40 năm Tr.CN.
 
Hình ảnh các chiến binh tay phải cầm dao găm, tay trái cầm mộc mới phát hiện trên hình khắc ở bề mặt thân thạp đồng Đào Thịnh và thân trống đồng Sông Đà.  Số lượng dao găm được phát hiện ở các địa điểm khai quật khảo cổ cũng không nhiều bằng giáo, lao, rìu xéo. Điều đáng lưu ý là các chiến binh vùng đồng bằng sông Hồng ít dùng dao găm như các chiến binh vùng sông Mã, còn vùng sông Cả thì ngược lại. Chỉ riêng khu mộ táng Làng Cả đã phát hiện được 130 dao găm và nhiều khuôn đúc chứng tỏ các con dao tăm này đều được chế tạo tại chỗ.
 
Đối với các chiến binh ở vùng này, dao găm đã trở thành một loại vũ khí sở trường trong các trận phục kích và đánh giáp lá cà sau khi cung nỏ bắn từ xa đã làm rối loạn quân địch là biểu tượng sức mạnh của các chiến binh Làng Vạc, nhiều con dao được đúc, khắc cầu kỳ (nhất là ở phần chuôi) các con vật hung dữ như hổ, báo, voi, rắn . . .

Trong các loại vũ khí đánh gần, kiến ngắn cũng là loại vũ khí được các chiến binh thời Hùng Vương - An Dương Vương sử dụng. Cho đến nay, khảo cổ học mới phát hiện được 10 chiếc, về kiểu loại gần giống như dao găm, sự khác nhau chủ yếu là ở kích cỡ.

Loại dao găm cán có đốc hình thuẫn, lưỡi hình lá mía mới phát hiện được ba chiếc (hai chiếc ở Làng Vạc, một chiếc bị gãy tìm thấy trong đống phế liệu lẫn với các hiện vật khác trong chiếc trống đồng Cổ Loa II ở khu vực Mả Tre). Hai chiếc kiếm ngắn bằng đồng khác có hình giống như dao găm vùng sông Hồng được phát hiện ngẫu nhiên ở Hà Giang và Thái Nguyên.
 
Đáng lưu ý là năm chiếc kiếm có chuôi bằng đồng tìm được ở vùng trung du Triệu Sơn, Thọ Xuân (Thanh Hoá). Chuôi của năm chiếc kiếm này đều đúc tượng người phụ nữ mang khăn áo xiêm bao, đeo vòng trang sức, dáng vẻ ớ nh đạc và quyền quý. Chủ nhân các chiếc kiếm này có thể là các nữ tướng dòng dõi các Lạc tướng có tài cầm quân và chiến đấu anh dũng, mưu trí như nam giới.
 
Những hiện vật quý hiếm đó, phần nào thể hiện được vai trò và truyền thống trong lĩnh vực quân sự của phụ nữ thời Hùng Vương - An Dương Vương. Cây kiếm trong tay các thủ lĩnh còn là biểu tượng của quyền uy. Trên chiếc thạp Đông Sơn tìm thấy trong mộ vua Nam Việt ở Quảng Châu (Trung Quốc) có khắc hoạ hình ảnh cây kiếm Đông Sơn cắm bên bệ ngồi hình trống cùng với viên chỉ huy đang dang tay đánh trống thúc giục đoàn thuyền chiến xông về phía quân thù.

Bên cạnh những loại vũ khí được chế tạo tại chỗ là chủ yếu, chiếm số lượng nhiều nhất, có tính năng, tác dụng và sự lợi hại không thua kém vũ khí của các nước khác, người Việt thời Hùng Vương - An Dương Vương còn biết sử dụng một số loại vũ khí khái như qua đồng (phổ biến ở vùng Trung Nguyên - Trung Quốc); chiếc kiếm chuôi dẹt sản phẩm của người Tây Âu vùng Lĩnh Nam; chiếc giáo lưỡi dài hẹp, họng có gắn vòng khuyên, miệng họng xẻ đuôi cá của cơ dân vùng Vân Nam... Ngoài ra còn một số loại vũ khí bằng sắt được phát hiện như lao, giáo, dao găm, nhiều nhất là kiếm (20 trong số 43 chiếc các loại). Các hiện vật đó cho thấy sự giao lưu và ảnh hưởng giữa các nền văn hóa đã phát triển khá mạnh ở thời kỳ này.

Cùng với vũ khí tiến công, người Việt còn biết làm ra những loại vũ khí dể che chắn khá độc đáo như những tấm mộc bằng gỗ, bằng da hình chữ nhật hay hình cánh cam được khắc hoạ rõ nét trên các hiện vật bằng đồng của văn hoá Đông Sơn. Chiếc mộc duy nhất được tìm thấy trong ngôi mộ  một thủ lĩnh người Lạc Việt ở Việt Khê (Hải Phòng) được làm bằng da, hình chừ nhật, kích thước khoảng 90 x 40 cm hơi cong, lồi. Mảnh da được sơn bằng hai lớp sơn đen, bề mặt trang trí bốn cặp hoa văn vòng tròn đồng tâm vẽ bằng sơn màu đỏ gạch hoặc xám. Khoảng giữa của các vòng tròn có những chiếc núm tròn bằng kim loại, đường kính 7,4cm.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:20:40 PM

Một loại vũ khí phòng thân khác của các chiến binh thời kỳ này là những tấm che ngực bằng đồng hoặc bằng gỗ. Sự độc đáo, tiện dụng của loại vũ khí này là rất gọn nhẹ, không to rộng, nặng nề như những chiếc áo giáp của binh sĩ thời chiến quốc ở Trung Quốc hoặc ở La Mã (châu Âu) . . . Chỉ với một lá đồng cong hình chữ nhật kích thước khoảng 26 x 13cm, hoặc một tấm đồng vuông 1 3 x 1 3 cm úp vào ngực là có thể bảo vệ được phần quan trọng nhất trên cơ thể người chiến binh. Sự gọn nhẹ tạo điều kiện cho các chiến binh vận động thoải mái, linh lợi phù hợp với tác phong chiến đấu nhanh nhẹn của các chiến binh Đông Sơn nhất là trong các trận cận chiến.

Một loại vũ khí phòng hộ khác là những chiếc bao tay, bao chân bằng đồng. Bao tay thường có hình nón cụt rỗng, đôi khi mặt bao có nhiều lỗ thủng hình chữ nhật, có khi được đính thêm những nhạc đồng nhỏ. Bề rộng những chiếc bao này khoảng 7cm. Bao chân lớn hơn (rộng 12 cm, đường kính 9 cm).
 
Những chiếc bao tay, bao chân vừa có tác dụng bảo vệ người chiến binh vừa là vật trang sức xuất hiện ở thời điểm đã có ảnh hưởng của văn hoá du mục 1.  

Đối với các thủ lĩnh, một trang bị biểu thị cho quyền uy là chiếc đai lưng có khoá bằng đồng. Cùng với kiếm, những chiếc khâu dùng để đeo kiếm, đeo dao găm... đai lưng được du nhập từ bên ngoài, không phổ biến với người Việt quen ở trần, đóng khố tiện cho sinh hoạt ở vùng nóng ẩm, nhiều sông nước. Riêng chiếc khoá đai bằng đồng là biểu tượng của quyền uy dã được “Việt hoá” bằng cách tạo hình trang trí các con rùa, chim... là những con vật thân quen.

Cùng với vũ khí, các phương thức và phương tiện vận chuyển lương thảo, cơ động lực lượng vũ trang. . . cũng là một mặt quan trọng thể hiện giá trị và truyền thống quân sự của người Việt.

Trên địa hình rừng núi, nhiều sông suối, thuyền, mảng và voi là phương tiện vận chuyển quen thuộc của cư dân Văn Lang, Âu Lạc trong lao động sản xuất như khai thác lâm sản, đánh bắt cá, đắp đê, làm các công trình thuỷ lợi... Khi chiến tranh xảy ra, ngoài những người được sung vào quân đội những người trực tiếp thân gia chiến đấu, lực lượng đông đảo nhất là những người phục vụ, vận chuyển lương thảo cho quân đội. Các phương tiện và cách thức đi lại, vận chuyển hàng ngày trong sinh hoạt và sản xuất đều được sử dụng phục vụ chiến đấu.

Trên các đồ đồng Đông Sơn, chúng ta có thể nhận ra hình khắc các loại thuyền thúng, thuyền độc mộc, thuyền ghép bằng những tấm ván khá lớn. Đặc biệt là các thuyền chiến có nhiều tay chèo, có bánh lái rẽ nước có thể chở nhiều chiến binh và cơ động nhanh trong chiến đấu.  Voi là con vật có thể thồ được khối lượng hàng lớn ở địa hình rừng núi. Trên cán một chiếc dao găm được phát hiện ở Làng Vạc chúng ta có thể nhận thấy hình khắc con voi, trên lưng voi là một chiếc trống đồng. Nhiều khả năng người Việt cổ đã biết thuần hoá và dùng voi trong chiến trận.

Hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc ở những thế kỷ sau này có thể đã được nối tiếp từ kinh nghiệm sử dụng voi trong  chiến đấu của các chiến binh thời Đông Sơn. Voi xung trận là hình ảnh hùng tráng đầy chất anh hùng ca của người Việt, là nỗi kinh hoàng đối với quân địch khi đi vào đất Việt. Cùng với voi con trâu, con bò - những con vật rất gần gũi với cơ dân nông nghiệp hẳn cũng được sử dụng để kéo xe, thồ hàng cho các chiến binh trong chiến đấu.

Tài liệu khảo cổ học chưa phát hiện được xương ngựa trong các di chỉ văn hoá thời Đông Sơn. Nhưng ở các di chỉ Vinh Quang, Đông Sơn đã phát hiện những khâu đeo vũ khí bằng đồng thường được lắp bên yên ngựa; ở các mộ táng thời Đông Sơn thuộc khu vực Lào Cai phát hiện những mảnh đồng dùng làm vật trang sức ở phần đầu và mặt của con ngựa chiến . . .

Một vài hiện vật đó, cùng với truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đánh giặc ân chứng tỏ người Việt đã biết dùng ngựa trong chiến đấu, tuy không nhiều và không phổ biến như các cư dân ở phương Bắc.

Một mặt quan trọng khác thể hiện trí tuệ của người Việt trong lĩnh vực quân sự là cách sử dụng tín hiệu thông tin và truyền tin. Vào thời cổ đại, những nhạc khí thuộc bộ gõ và bộ hơi như trống, kèn, thanh la, tù và... là những phương tiện truyền tín hiệu khá phổ biến.
 
Quan sát các hình khắc trên trống đồng Đông Sơn, hình ảnh đầu tiên chúng ta có thể nhận thấy là đoàn thuyền chiến đang lướt sóng trong nhịp trống đồng rộn rã. Chiếc trống được kê cao ở vị trí trang trọng, bên cạnh là người cầm dùi đánh trống. Trên thân trống đồng  Bản Thôm, chúng ta còn thấy hình ảnh các chiến binh đang sử dụng chiếc tù và bằng sừng trâu...


1.  Có thể con vật tiêu biểu cho cơ dân du mục trên các đồng cỏ là con ngựa cũng xuất hiện trong khu vực cơ trú của cơ dân Văn Lang - Âu Lạc ở thời điểm này.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:21:49 PM
Số lượng lớn trống đồng được phát hiện và những hình ảnh đó cho thấy trống đồng, trống da, tù và là những dụng cụ truyền tín hiệu thông tin khá phổ biến của người Việt trong sinh hoạt, sản xuất và chiến đấu. Sách Tuỳ thư (Địa lý chí) chép:

“ Muốn đánh nhau thì đánh trống đồng, người đến như  mây. Người có trống gọi là Đô Lão, mọi người đều tự nguyện phục tùng”.

Sự phát triển của các loại vũ khí tiến công, phòng hộ, các loại trang bị, phương tiện chiến đấu và phục vụ chiến đấu phản ánh tình hình hoạt động trong lĩnh vực quân sự của người Việt thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương.
 
Chúng ta cũng nhận biết được trí tuệ, trình độ sản xuất, kỹ thuật chế tác của người Việt qua những loại vũ khí vừa đa dạng, vừa lợi hại, vừa hợp với sở trường, cách đánh của người sử dụng nó. Có con người, có vũ khí mới có lực lượng vũ trang.

Do đó, chúng ta cũng có thể hình dung được trình độ tổ chức, trang bị, khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang thời kỳ đó như thế nào. Vũ khí, phương tiện chiến đấu phát triển làm biến đổi nâng cao sức mạnh, hiệu lực chiến đấu của con người, của quân đội. Chúng ta cũng có thể tìm hiểu tư duy quân sự, cách đánh của người Việt đã hình thành, phát triển, trở thành những giá trị, bản sắc văn hoá, truyền thống quân sựđặc sắc của dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.

Nét tiêu biểu và đặc sắc nhất trong truyền thống quân sự của người Việt là toàn dân chiến đấu. Công cuộc mở đất, mở nước, công cuộc chiến đấu để bảo vệ những thành quả đó trước thiên tai khắc nghiệt và giặc dữ đã sớm cố kết cả cộng đồng, thu hút sự tham gia tự nguyện của tất cả các thành viên trong cộng đồng. Khi nước có giặc, không chỉ có quân đội của vua mà cả dân tộc như trong truyền thuyết Thánh Gióng đã vụt lớn lên, cả nước đều đứng lên chiến đấu. Mỗi làng, chạ, mỗi cụm dân cư là một tổ chức chiến đấu.

Biết dựa vào địa hình, tổ chức chiến đấu một cách linh hoạt, đánh theo kiểu du kích, không dựa vào thành luỹ, phòng tuyến cố định, quen đánh gần, thạo thuỷ chiến, kết hợp giữa mưu mẹo, trí thông minh và sự gan góc, dũng cảm cũng là một nét đặc sắc trong truyền thống quân sự của người Việt...

Gần đây các nhà khảo cổ đã phát hiện những mũi chông hình củ ấu bốn cánh, có ngạnh dài và nhọn bằng đồng ở khu vực thị xã Lào Cai thuộc văn hoá Đông Sơn. Đối với một số dân tộc, chông thường được rắc quanh hào để bảo vệ thành, gây sát thương cho quân địch khi chúng bao vây, tiến công thành. Nhưng ở khu vực Lào Cai, các nhà khảo cổ chưa phát hiện được vết tích thành quách nào.
 
Rõ ràng là người Việt đã rải những mũi chông này ở xung quanh làng bản, trên những hướng quân địch có thể tiến công, nhằm bảo vệ những điểm trọng yếu, nơi ở của các thủ lĩnh. . .

Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược gần đây, ở đâu quân và dân ta cũng vót chông, cắm chông giữ làng, gây khủng khiếp về tinh thần và tiêu hao sinh lực địch.
 
Sự huỷ hoại của thời gian không cho ta thấy được những chiếc chông bằng tre, bằng gỗ từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, nhưng chúng ta cũng có thể đoán định, ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã biết dùng chông để ngăn chặn và đánh giặc.

Đối với người Việt, chông không phải chỉ để giữ thành mà còn để giữ làng, vừa có tác dụng chống thú dữ phá hoại mùa màng trong sản xuất vừa có tác dụng bảo vệ xóm làng, tiêu hao sinh lực địch khi có giặc ngoại xâm. Nó làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho các cư dân trong làng, các dân binh và quân đội của nhà vua cơ động lực lượng, phát triển các cách đánh linh hoạt, lợi dụng địa hình để bí mật, bất ngờ tập kích và phục kích quân địch...

Ở thời kỳ lịch sử này, do những xung đột nội bộ, đặc biệt là trước nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, cha ông ta đã xây dựng nên một công trình quân sự đồ sộ, một căn cứ thuỷ bộ lợi hại, trung tâm của sức mạnh quốc gia là thành Cổ Loa.  Cho đến nay, trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Cổ Loa vẫn là một trong những công trình quân sự quy mô lớn nhất, hùng vĩ nhất, một biểu tượng của sức mạnh và trí tuệ quân sự của dân tộc.

Thất bại của Thục Phán trước cuộc xâm lược của Triệu Đà không phải là do thành Cổ Loa không phát huy tác dụng mà do vua Thục chủ quan trước sức mạnh của vũ khí (nỏ thần) và sự kiên cố của thành luỹ, coi thường mưu ma chước quỷ của địch ăn cắp bí mật quân sự, chia rẽ nội bộ, làm suy yếu khối đoàn kết...), không phát động được cuộc kháng chiến của toàn dân. Sai lầm ấy đã làm cho dân tộc ta bị mất nước, phải liên tục chiến đấu đến hơn 1000 năm mới giành lại được độc lập. Đó là bài học rất sâu sắc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, buổi đầu dựng nước và giữ nước với những thành tựu rực rỡ, được sáng tạo và kết tinh ở bản sắc văn hoá và những giá trị, truyền thống, trong đó có những giá trị, truyền thống đặc sắc về quân sự đã mở đầu và tạo dựng nền móng vững chắc cho dân tộc ta tiếp tục công cuộc xây dựng và đấu tranh, tiếp tục phát triển lên những đỉnh cao mới, những sáng tạo mới trong các giai đoạn  tiếp sau.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:32:11 PM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Cổ Loa: Cổ Loa truyền thông và cách mạng, Hà Nội, 1988.

2. Bảo tàng Hà Bắc: Truyện cổ xử Bắc , Hà Bắc, 1990.

3. Bùi Thiết: Làng xã ngoại thành Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985.

4. Bùi Văn Nguyên: Dấu vết An Dương Vương ở Nghệ An - Tạp chí Khảo cổ học (TCKCH) số 9 ( 10 - 1971) .

5. Cao Xuân Phổ: Văn hoá trong phát triển. Vấn đề phẩm chất cuộc sông. Trong Phương pháp luận về văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

6. Chử Văn Tần: Báo cáo khai quật Đông Sơn 1970, tư liệu Viện Khảo cổ học.

7. Chử Văn Tần và những người khác: Báo cáo khai quật di chỉ Đồng Đậu, 1984, tư liệu Viện Khảo cổ học.

8. F. Childe: Bài phát biểu tại Hội thảo phương pháp luận về văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

9. Diệp Đình Hoa: Vài ý kiên về bài: Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước âu Lạc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (NCLS) số 26 5-l961), số 27 6-1961).

10. Diệp Đình Hoa: Người Việt cổ phương Nam và buổi bình minh của thời dựng nước, Tạp chí KCH số 1 (1978).

 11. Dương Minh: Thử nhận định về những mũi tên đồng phát hiện được ở Cổloa , Tạp chí NCLS số 14 5-1960).

12. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, Quyển thượng, Hà Nội, 1956.

13. Đào Duy Anh: Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội, 1957.

14. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội, 1964.

15. Đào Duy Anh: Góp ý kiên về vấn đê An Dương Vương- Tạp chí KCH số 3,4 (12-1969).

16. Đào Duy Anh: Phát biểu ý kiến về chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam, NCLS số 16 (7-1960).

17. Đào Tử Khải: Vấn đề có chế độ nô lệ hay không có chế độ nô lệ trong xã hội Cổ đại Việt Nam, Tạp chí NCLS số 19 (10- 1960).

18. Đào Tử Khải: Vài ý kiên trao đổi về một số điểm trong bài “Xã hội Việt Nam có trải qua một thời kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ hay không của hai đồng chí Trần Quốc Vượng và Chu Thiên, Tạp chí NCLS số 24 (3-1961).

19. Đại Việt sử ký tiền biên, Ngoại kỷ, Quyển 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

20. Đặng Nghiêm Vạn - Trần Quốc Vượng: Vấn đề An Dương Vương và lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam, Thông báo khoa học Sử học, Trường ĐHTH Hà Nội, 1966.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:34:35 PM

21. Đỗ Văn Ninh: Thành Cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

22. Đỗ Văn Ninh: Chồi Âu Lạc mọc từ gốc Văn Lang, Tạp chí KCH số 3-4 12-l969).

23. Đỗ Văn Ninh: Vấn đề thành thời nước Văn Lang, Tạp chí KCH số 1, 1981.

24. Đội khảo cổ điền dã Việt Nam: Báo cáo sơ bộ cuộc phát quật khu di chỉ đồng thau Thiệu Dương 1961, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

25. Đinh Gia Khánh: Xác định giá trị của truyền thống đối với việc tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương, Tạp chí NCLS số 123, 1969.

26. Đinh Gia Trinh: Về khả năng ra đời của nhà nước trong thời Hùng Vương, Tạp chí KCH số9, 10 (6-1971).

27. Đinh Văn Nhật: Đi tìm quê hương cũ của An Dương Vương Thục Phán, Tạp chí NCLS số 1 (166), 1997.

28. Đình Quang: Văn học nghệ thuật và việc xây dựng con người mới, trong Văn hoá - phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.

29. Ph. ăng ghen: Chống Đuy rinh, Nxb. Sự thật , Hà Nội, 1971.

30. Hà Văn Tấn: Về những chiếc “Nha chương” trong văn hoá Phùng Nguyên, Tạp chí KCH số 2, 1993.

31. Hà Văn Tấn: Bản sắc văn hoá Việt cổ, in trong Văn hoá - phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.

32. Hà Văn Tấn (chủ biên): Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.

33. Hà Văn Tấn: Đào khảo cổ gò Ghê, Gò Dạ và Bãi Dưới - Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1972, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973.

34. Hà Văn Phùng: Văn hoá Gò Mun, Nxb. khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

35. Hà Văn Phùng: Báo cáo khai quật Núi Nấp 1977, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

36. Hà Văn Phùng - Nguyễn Duy Tỳ: Di chỉ khảo cổ học Gò Mun, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982.

37. Hồng Nam và Hồng Lĩnh: Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâmược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.

38. Hoàng Hưng: Thời đại Hùng Vương trong thư tịch xưa, Tạp chí NCLS số 123, 1969.

39. Hoàng Thị Châu: Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ Tạp chí NCLS số 3, 1969.

40. Hoàng Xuân Chinh . Nguyễn Ngọc Bích: Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
 
41 . Hoàng Xuân Chinh - Phạm Lý Hương: Báo cáo khai quật đợt ba di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú) 1969, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

42. Lã Văn Lô: Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chùa cheng vùa” của đồng bào Tày, Tạp chí NCLS số 50, 5-1963, số 51, 6-1963.

43. Lê Văn Lan: Về khái niệm thời Hùng Vương, Tạp chí KCH số 9, 6-1971.

44. Lê Văn Lan - Phạm Văn Kỉnh - Nguyễn Linh: Những vết tích đầu tiên của thời đại đồng thau ở Việt Nam, Nxb.  Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963.

45. Lê Trọng Khánh. Sự chuyển biến từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiêm hữu nô lệ ở Việt Nam, Tạp chí NCLS số 19, 10-1960.

46. Lê Trọng Khánh - Nguyễn Văn Khoả: Gióng - anh hùng bộ lạc hay anh hùng dân tộc, Tạp chí KCH số 3, 1984.

47. Lê Xuân Diệm - Hoàng Xuân Chinh: Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

48. Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, Nxb. Văn hoá - Viện Văn học, Hà Nội, 1960.

49. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thơ, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

50. Ngô Thế Thịnh: Công trình Cổ Loa, Tạp chí NCLS số 2, 1979.
 
51 . Ngô Tất Tố. Nước Nam không có ông An Dương nhà Thục Tao đàn 1-4-1939.

52. Nguyễn Duy Hinh: Trở lại vấn đề quận Tượng, Tạp chí KCH số 11, 12-1971.

53. Nguyễn Duy Hinh: Bàn về nước âu Lạc của An Dương Vương, Tạp chí KCH số 3-4, 1969.

54. Nguyễn Lân Cường: Người cổ Đọi Sơn (Hà Nam Ninh) - trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1984.

55. Nguyễn Lân Cường: Đặc điểm nhân chủng cơ dân văn hoá Đông Sơn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội , 1996.

56. Nguyễn Đức Tùng: Phân tích bào tử phấn hoa ở thành Cổ Loa, Tạp chí KCH số 7-8, 1970.

57. Nguyễn Duy Chiếm - Trần Đình Luyện - Phạm Như Hồ: Tìm vết tích vật chất thời An Dương Vương trong nhóm di chỉ khảo chọc Đường Cồ, Tạp chí KCH số 9-10, 1971.

58. Nguyễn Linh: Bàn về nước Thục của Thục Phán, Tạp chí NCLS số 124,7-1969.

59. Nguyễn Linh: Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng, Tạp chí NCLS số 100, 7-1967.

60. Nguyễn Tấn Đắc: Văn hoá và thếgiới ngày nay, trong “Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

61. Nguyễn Anh Dũng: Chính sách ngụ binh ơ nông các thời Lý, Trần, Lê Sơ, Nxb. Hà Nội, 1981.

62. Nguyễn Đổng Chi: Mấy ý kiên về xã hội thời đại Hùng Vương, Tạp chí NCLS số 123, 6-1969.

63. Nguyễn Giang Hải - Nguyễn Văn Phùng: Nhóm đồ đồng mới phát hiện ở Cổ Loa (Hà Nội), Tạp chí KCH số 3,

64. Nguyễn Khắc Xương: Truyền thuyết Hùng Vương, Vĩnh Phú, 1971.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:39:15 PM

65. Nguyên Khánh Toàn: Về thời kỳ bắt đầu dựng nước: Hùng Vương - An Dương Vương - Văn Lang - Âu Lạc. Vai trò của khảo cổ học trong việc soi sáng những vân đề thuộc giai đoạn ấy, Tạp chí KCH số 1 , 1969.

66. Nguyễn Xuân Hiển: Vỏ trấu làng Vạc, trong Những phát hiện mới về khảo chọc năm 1981.

67. Nguyễn Lương Bích: Một lần nữa chúng tôi nhận định xã hội cổ đại Việt Nam đã có trải qua thời kỳ chiêm hữu nô lệ Tạp chí NCLS số 19, 10-1960.

68. Nguyễn Lương Bích: Lạc Việt, Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc dân là tổ tiên người Việt chúng ta hay là tổ tiên chung của nhiều dân tộc khác, Tạp chí NCLS số 56, 11-1963.

69. Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang - Nguyễn Mạnh Hùng: quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân Hà Nội, 1983.

70. Nguyễn Duy Tỳ: Báo cáo khai quật địa điểm Vinh quang 1964-1967, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

71. Nguyễn Du Tỳ - Trịnh Dương - Nguyễn Thành Trai: báo cáo khai quật “chữa cháy” địa điểm Làng Cả ,1977, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

72. Nguyễn Văn Huyên: Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam, tập T1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

73. Nguyễn Trải: Toàn tập, Dơ đia chí, Nxb. Khoa học xã hội. 1976.

74. Nguyễn Văn Hải - Nguyễn Văn Hùng: Nhóm đồ đồng mới phát hiện được ở Cổ Loa Hà Nội, Tạp chí KCH số 3, 1983.

75. Phạm Đức Mạnh: Qua đông Long Giao (Đồng Nai).  Tạp Chí KCH số 1, 1985.

76. Phạm Minh Huyền - Ngô Sĩ Hồng - Nguyễn Thành Trai: Báo cáo khai quật Làng Vạc 1981 , Tư liệu Viện Khảo cổ học.

77. Phạm Minh Huyền - Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên: Trống Đông Sơn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987.

78. Phạm Như Hồ: Báo cáo khai quật di chỉ Đông Lâm (Hà Bắc), Tư liệu Viện Khảo cổ học.

79. Phạm Huy Thông: 30 năm soi sáng thời các vua Hùng dựng nước, Tạp chí KCH số 3, 1984.

80. Phạm Văn Đồng: Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương (Mồng 10 tháng 3 âm lịch), Tạp chí KCH số 1, 1969.

81. Phạm Văn Kỉnh: Về thời kỳ An Dương Vương và thành Cổ Loa, Tạp chí KCH số 3-4 ,12-1969.

82. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí (Bản dịch năm 1960), Tập IV, Hà Nội.

83. Phan Huy Lê: Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1990.

84. Phan Huy Lê và Chử Văn Tần: Xã hội thời Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, Tập IV, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.

85. Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991.

86. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thông chí, Tập IV, Nxb. Thuận Hoá, 1992.

87. Quốc sử quán triều Nguyễn: Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957-1960.

88. Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội: Phát hiện Cổ Loa 1982, Hà Nội, 1982.

89. Tư Mã Thiên: Sử ký, Nxb. Văn học , Hà Nội, 1988.

90. Thần tích đình Chiêm Trạch, Cổloa, Tư liệu Sở Văn hoá Hà Nội.

91. Thần tích làng Đại Thân, Gia Lương, Bắc Ninh , Tư liệu Sở văn hoá Hà Bắc.

92. Trần Quốc Vượng - Nguyễn Từ Chi: Vua Chủ, Tạp chí KCH số 11-12, 12-1971.

93. Trần Quốc Vượng - Đỗ Văn Ninh: Thời An Dương Vương trong quan hệ với thời Hùng Vương, Tạp chí KCH số 9-10, 1971.

94. Trần Quốc Vượng - Đỗ Văn Ninh: Về An Dương Vương, Tạp chí KCH số 7-8, 12-1970.
 
95. Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960.

96. Trần Quốc Vượng: Cổ Loa, những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới, Tạp chí KCH số 3-4, 12-1960.

97. Trần Quốc Vượng: Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sứ, Sở Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1970.

98. Trần Quốc Vượng: Xứ Bắc ngày xưa - Theo dòng lịch sử, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1996.

99. Trần Quốc vượng: Tìm hiểu truyền thông thượng võ của dân tộc, Nxb. Y học và Thể dục thể thao, Hà Nội, 1996.
 
100. Trần Quốc Vượng: Về danh hiệu Hùng Vương, Tạp chí KCH số 7-8, 12-1970.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:39:48 PM
101. Trần Quốc Vượng: Nhân đẩy mạnh nghiên cứu văn minh thời các Vua Hùng: Về những nhân tố tự nhiên, dân sô, kỹ thuật. ý thức trong văn minh nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí KCH số 2 - 1983.

102. Trần Văn Giáp: Một vài ý kiên về An Dương ngọc giản và vấn đề Thục An Dương Vương, Tập san Văn Sử Địa số28, 5-1957.

103. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.

104. Trịnh Cao Tưởng - Lê Văn Lan: Về những hình người cầm vũ khí trên trông Đông Sơn, Tạp chí KCH số 14, 1974.

105. Trịnh Cao Tưởng - Lê Văn Lan: Rìu lưỡi xéo, một vũ khí độc đáo thời Hùng Vương, Tạp chí KCH số 19, 1976.

106. Trịnh Cao Tưởng - Lê Văn Lan: Ngọn giáo thời dơng nước, Tạp chí KCH số 2-1978.

107. Trịnh Cao Tưởng - Trịnh Sinh: Hà Nội, thời đại đồng và sắt sớm, Nxb. Thăng Long, Hà Nội, 1973.

108. Trịnh Sinh: Âu Lạc và các tộc Việt, Tạp chí KCH số 3, 1996.

109. Trịnh Sinh - Nguyễn Thị Chích: Âu Lạc và các tộc Việt, Tạp chí KCH số 3 - 1996.

110 Trương Hữu Quýnh: Lịch sử Việt Nam có trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ hay không ? Tạp chí NCLS số 19, 10-1960.

111. Trường Chinh: Bài nói tại Hội nghị kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Khảo cổ học, Tạp chí KCH số 4.

112. Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
 
113. Văn Tân (chủ biên): Thời đại Hùng Vương , Hà Nội, 1973.

114. Văn Tân: Vài ý kiến về chế độ chiêm hữu nô lệ ở Việt Nam, Tạp chí NCLS số 13, 4-1960.

115. Văn Tân: Xã hội Việt Nam đã thực sự trải qua thời kỳ chế độ chiêm hữu nô lệ, Tạp chí NCLS số 16, 7-1960.
 
116. Văn Tân: Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc, Tạp chí NCLS số 20, 11-1960.

117. Văn Tân: Xung quanh vấn đề xã hội nước Văn Lang và nước Âu Lạc, Tạp chí NCLS số 28, 7-1961.

118. Văn Tân: Chế độ quân chủ tập quyền trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí NCLS số 110, 5-1968.

119. Viện Khảo cổ học: Hùng Vương dựng nước, Tập I- 1970, Tập lI-1972, Tập III-1973, Tập IV - 1974.

120. Viên Sử học: Biên niên sử cổ trung đại Việt Nam,  Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.

121. Viện Sử học: Đô thị cổ việt Nam, Hà Nội, 1989.

122. Viện Bảo tàng Lịch sử: Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam về ngôi mộ cổ Việt Khê, Hà Nội, 1965.

123. Việt sử lược, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960.

124. Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Tập I-II, Hà Nội, 1974, 1975.
 
125. Vụ Bảo tồn bảo tàng: Báo cáo cụ thể về những mũi tên đồng tìm thấy ở miền Cổ Loa, Tạp chí NCLS số 8, 10-1959.

126. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960.

127. Vũ Phạm Khải: Đông Dương thi văn tuyển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
 
128. Vũ Tuấn Sán: Truyền thuyết về Thánh Gióng, Tạp chí NCLS số 106, 1-1968.

129. R. Despierres: Coloa, capitaze du royaume Aulac, Hanoi 1940.

130. G. Dumoutier: Etude historique ét archéologique sur Coloa, capitale de Láncien royaume d’aulac, Paris, 1893.


- HẾT TẬP 1 -