Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: danngoc trong 19 Tháng Chín, 2007, 11:03:35 PM



Tiêu đề: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: danngoc trong 19 Tháng Chín, 2007, 11:03:35 PM
Lời mào đầu:
Không phải là lời giới thiệu mà chính là lời mào đầu.

Chuyện các chuyên gia Liên xô đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu sát cánh cùng các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ lâu đã không còn là bí mật, tuy vẫn không được công bố chính thức. Trên trang web vietnamnews.ru có đăng nhiều thông tin về những chuyên gia quân sự Liên xô và có cả bài viết về sự giúp đỡ của Liên xô thành lập Binh chủng Tên lửa phòng không của Việt nam. Tôi dịch bài viết "Cuộc chiến trên bầu trời Việt nam" này từ trang web đó để giới thiệu với các bạn như là một tư liệu mà theo tôi là đáng tin cậy.

Bài viết thể hiện quan điểm của trang vietnamnews.ru nên tôi cố gắng giữ quan điểm đó khi dịch.

Trung DN


CUỘC CHIẾN TRÊN BẦU TRỜI VIỆT NAM

Năm 1965, do không quân Mỹ tăng cường ném bom xuống miền Bắc Việt nam, lãnh đạo Việt nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) đã yêu cầu Liên xô giúp đỡ. Ở VNDCCH đã thành lập ra Đoàn cố vấn quân sự Liên xô (ĐCVLX), ban đầu thì chỉ có lực lượng Phòng không, sau đó thêm cả phi công, lính thủy, lính tăng, nhân viên y tế. Trưởng đoàn ĐCVLX qua từng thời kỳ là Thiếu tướng Đzưza A.M. (tháng 4/65 đến 9/65), Thiếu tướng Belốp G.A. (9/65 – 10/67), Thượng tướng không quân Abramốp V.N. (10/67 – 12/6, Trung tướng pháo binh Stolnhikốp B.A. (12/68 – 12/70), Thiếu tướng Maximenko N.K. (12/70 – 12/75) và Thượng tướng Khiupenen A.I. (12/72 – 01/75).

Sự ra đời của Bộ đội phòng không Việt nam
Không quân Mỹ bắt đầu ném bom lãnh thổ Việt nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1964 sau sự kiện ở Vịnh Bắc Bộ có một số tàu nhỏ của Việt nam dường như đã tấn công tàu sân bay của Mỹ. Cho đến tận ngày nay, sự kiện Vịnh Bắc bộ vẫn được coi là cái cớ để bắt đầu ném bom miền Bắc nhằm phá hủy các cơ sở sản xuất cung cấp cho cuốc chiến tranh du kích ở miền Nam Việt nam. Vào thời kỳ đầu của cuộc ném bom phá hoại này, Việt nam chỉ có thể đánh trả bằng pháo cao xạ tầm thấp.
Tháng 7 năm 1965, ở Việt nam đã thành lập tiểu đoàn 63 (Chỉ huy trưởng Mozaev B.I.) và tiểu đoàn (Chỉ huy trưởng Ilinykh F.P.) Đoàn 236 Bộ đội Tên lửa phòng không Việt nam. Các chuyên gia quân sự Liên xô đã đào tạo bộ đội tên lửa Việt nam ngay tại các cơ sở ở trung đoàn và ngay tại trận địa theo nguyên tắc “Cứ làm như tôi” và giảng dạy tại các trường Đại học quân sự. Khi các chiến sĩ Việt nam đã tiếp thu được kỹ thuật sử dụng thì vai trò cả các chuyên gia Liên xô lại chuyển sang cố vấn ngay tại chiến trường và đào tạo lớp cán bộ mới những kỹ thuật luôn luôn được cải tiến hoàn thiện tại các Viện nghiên cứu và thiết kế ở Liên xô.
Ngày 24 tháng 7 năm 1965, cả hai tiểu đoàn vào vị trí chiến đấu. Khoảng 14h00 trên màn hình rada xuấ́t hiện hai chấm sáng lớn. Đó là 4 chiếc “Con Ma” bay thành từng cặp hai chiếc một. Đúng 14h25, trung úy Konstatinov V.M nhấn nút “Phóng” cả hai kênh. Quả tên lửa thứ nhất hạ ngay chiếc máy bay. Quả thứ hai lao vào chiếc máy bay đang rơi. Tiểu đoàn thứ hai cũng hạ ngay tại chỗ hai chiếc “Con Ma” kia. Theo quyết định của Hồ Chủ tịch, ngày đó đã trở thành Ngày truyền thống của Bộ đội Tên lửa Quân đội Nhân dân Việt nam.

Kỹ thuật quân sự của Liên xô và Mỹ sử dụng ở Miền Bắc Việt nam
Trên vùng trời bắc Việt nam, không quân Mỹ đã sử dụng các loại máy bay chiến đấu sau: Máy bay ném bom chiến lược B-47 và B-52, máy bay tiêm kích –ném bom F-105, máy bay cường kích cất cánh trên tàu sân bay A-4D, A-4F, A-6A và A-6D, máy bay tiêm kích F-5, F-8, F-4C (Con Ma) và F-111 (cánh cụp cánh xòe), máy bau do thám PB-66, SR-71, 8E-992, RF-101, PA-5C, máy bay không người lái BQM-34, máy bay tạo nhiễu RB-47, EB66, KC-135, OV-10, O-2A và các máy bay chuyên dụng khác Á-130 và L-19.
Nổi tiếng nhất trong số các máy bay tham gia chiến tranh Việt nam là B-52. Cho đến nay ở nhiều quán cà phê vẫn có trong menu món koctail “B-52” mà người ta khi đưa ra uống có lửa đang cháy trong ly. Máy bay này được trang bị từ năm 1955. Thoạt tiên đó là máy bay ném bom chiến lược, tức là chỉ dùng để chở bom hạt nhân, thế nhưng sau khi mấy lần quân Mỹ đã chẳng may đánh rơi vài quả bom hạt nhân ở một vài điểm trên Trái đất rồi thì họ lại cải tạo lại để dùng trong chiến tranh Việt nam. B52 có kích thước lớn, 8 động cơ, có thể mang được rất nhiều bom và được trang bị khí giới đầy đủ nên được mệnh danh là “pháo đài bay”. Các máy bay này có căn cứ tại Guam (Thái bình dương) và Utapao (Thái lan).
Hiện máy bay này vẫn đang được trang bị cho quân đội Mỹ và thỉnh thoẳng vẫn được nhắc đến. Theo báo Military Times, ngày 5 tháng 9 năm 2007, một chiếc B52 do sự nhầm lẫn của quân đội, đã bay suốt dọc lãnh thổ nước Mỹ mà vẫn mang trong mình đầu đạn hạt nhân. Chiếc máy bay này đã xuất phát từ bang Bắc Dakota và hạ cánh ở bang Luisiana, tức là bay suốt hơn ba tiếng đồng hồ và những quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vẫn treo ở cánh máy bay. Hiện nay còn khoảng 90 chiếc máy bay B-52. Tại cuộc triển lãm hàng không mới đây "MAX-2007" hồi tháng 8 năm 2007 cũng có mấy chiếc.
Trang bị của lực lượng phòng không Việt nam: Đại liên cao xạ ЗПУ-1, ЗПУ-2, ЗПУ-4, ЗГУ-1 (vùng núi), ЗПУ ДШКМ 12 ly7, ЗСУ-2 23 ly, ЗСУ-23-4 "Shinka", pháo cao xạ 37 ly, 57 ly, 85 ly, 100 ly, ЗСУ-57-2, ПЗРК "Strela-2М", Tổ hợp tên lửa phòng không СА-75 "Dvina", ЗРК С-75М "Volkhốp", ЗРК "Đesna", "Vônga", bệ phóng tên lửa tự hành ЗРК "Krug" и "Kvadrat" chạy bánh xích. Máy bay tiêm kích Mig-15, Mig-17, Mig-19C toàn bộ do Trung quốc sản xuất, Mig-21 PF và Mig-21 PFM của Liên xô. Trên máy bay được gắn tên lửa “không đối không” loại P-3C có đầu tầm nhiệt dò bằng hồng ngoại.
Hầu hết máy bay Mỹ cất cánh từ tàu chở sân bay đã tiến gần đến bờ biển của Việt nam, vốn trải dài theo biển Nam Trung hoa. Nhiều máy bay xuất kích nhất, cao điểm lên đến 177 lượt mỗi ngày, là từ tàu sân bay “Enterprise”. Năm 1968 chiếc tàu ngầm nguyên tử Liên xô K-10 do thuyền trưởng cấp 2 N.T. Ivanốp chỉ huy, tại Biển Nam Trung hoa đã 13 giờ liền ở độ sâu 50 mét nằm ngay dưới đáy tàu “Enterprise” và đã thực hiện hai cú phóng giả định ngư lôi và khi nổi lên cũng thực hiện cú phóng giả định tên lửa có cánh. Sự việc diễn ra khi có bão nên thiết bị thăm dò siêu âm của tàu chở sân bay không phát hiện ra được. Câu chuyện này đã được phóng viên N. Cherkashốp kể lại tỷ mỷ hồi tháng 4/2007.
Ngay sau khi bị thất bại ban đầu của Mỹ thì cuộc đua công nghệ và kỹ thuật bắt đầu. Quân Mỹ bắt đầu sử dụng tên lửa chống tên lửa loại “Sraik”, rải nhiễu tích cực, máy bay trinh sát không người lái bay ở tầm cao. Các nhóm bay ném bom của Không quân Mỹ đã phân tán ra bằng cách bay giãn cách lớn hơn và sâu hơn, rồi bay ở độ cao rất thấp, thậm chí ở độ cao thấp tới hạn. Chúng cũng rất biết cách sử dụng các “vùng tối” ở các khe giữa các quả núi. Ngoài ra chúng còn dùng bom bi để tiêu hao sinh mạng đối phương và gây nên nhiều cái chết cho dân thường. Đặc biệt nhiều dân thường bị chết nhất là ở chỗ gọi là Khu 4, tức là vùng gần với vĩ tuyến 17 – giới tuyến chia cắt miền Bắc và miền Nam Việt nam. Ví dụ theo như nhân chứng là chỉ huy Tiểu đoàn Tên lửa 41 Ông Bonđarenko I.V., ngày 30 tháng 6 năm 1967, ở vùng núi Tà Mao, Bộ đội phòng không đã hạ được 1 máy bay F-105. Ngay sau đó, vị trí này đã bị ném bom kịch liệt. Nhiều quả bom bi mẹ đã được thả xuống đây, bom bi rơi sang cả ngôi làng gần đó và cả vào vườn trẻ và giết hại rất nhiều trẻ em và người lớn.
Tên lửa “Sraik” được máy bay Mỹ phóng ra và tự tìm mục tiêu là các tổ hợp phóng tên lửa. Tên lửa dò theo sóng vô tuyến của “Đvina” và khi nổ thì tạo ra rất nhiều viên bi để sát thương bộ đội. Để chóng lại “Sraik” đã dùng cách sau: Khi phát hiện ra tên lửa và vẫn để anten phát, người ta dẫn sóng sang hướng khác hoăc hất lên trên rồi ngưng phát sóng. Khi đó tên lửa “Sraik” vẫn dò theo chỗ nào phát sóng mạnh nhất nên bay sang bên hoặc bay lên trên và do bị mất tín hiệu tự dò nên đi trệch mục tiêu. Các chuyên gia quân sự Xô viết và các nhà bác học của nền Công nghiệp quốc phòng Liên xô đã nghiên cứu nhiều biện pháp tăng cường hiệu quả tên lửa phòng không trong các tình huống thực địa xảy ra. Có lẽ chính trong giai đoạn này mà Bộ đội tên lửa Liên xô đã bước một bước tiến dài. Nhờ đó mà Quân dân Việt nam đã hạ được hơn 4 ngàn máy bay Mỹ. Trong chiến tranh cũng đã sử dụng nhiều biện pháp tổ chức, nhiều mưu mẹo quân sự. Ví dụ như quân dân Việt nam đã làm nhiều trận địa giả bằng tre nứa rơm rạ và khéo đến mức mà các phi công Mỹ thả bom vào những chỗ đó và về báo công nhưng thành tích thật.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: danngoc trong 19 Tháng Chín, 2007, 11:06:53 PM
Không quân Việt nam
Lưới lửa của tên lửa và cao xạ dù sao cũng có hạn chế và chỉ có thể gắn liền để bảo vệ ở một số vị trí quan trọng. Vì thế các máy bay tiêm kích được bổ sung vào. Nhờ có thêm cả máy bay tiêm kích mà lực lượng phòng không Việt nam bảo vệ được toàn bộ bầu trời trên lãnh thổ miền Bắc Việt nam.
Trước 1966 trong trang bị của Quân đội nhân dân Việt nam chỉ có Mig-17. Từ tháng 2 năm 1966 thì đối thủ chủ yếu của F4-H (Mỹ) là máy bay siêu thanh Mig-21 F-13 và Mig-21PF-V có trang bị tên lửa hoặc cụm tên lửa không điều khiển 55 ly.
Không quân miền Bắc Việt nam gồm có 4 trung đoàn. Trang bị gồm có Mig 21 và Mig 19 (Trung quốc sản xuất) và vẫn còn cả Mig-17. Các phi công Việt nam đã tiếp thu việc điều khiển Mig-17 và Mig-21 và chiến thuật không chiến rất nhanh chóng. Tỷ lệ tổn thất chỉ tính trong các cuộc không chiến là 1:1,25 giai đoạn đầu và 1:1,8 vào giai đoạn cuối nghiêng về phía các phi công Việt nam. Các phi công Việt nam rất linh hoạt trong các cuộc không chiến, làm rối trí các phi công Mỹ vốn chỉ biết làm theo các hướng dẫn cứng nhắc. Dần dần rồi các phi công Mỹ cũng có kinh nghiệm hơn và điều đó cho phép họ làm giảm tỷ lệ tổn thất ở cuối cuộc chiến.

Kết quả và hậu quả
Nhiều phi công Mỹ đã bị bắt làm tù binh. Nghị sĩ Mỹ McKein, Người sẽ ra tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, đã từng bị bắt và bị giam trong nhà giam ở Hà nội 5 năm rưỡi.
Đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 11 năm 1970, lực lượng biệt kích Mỹ dùng trực thăng đổ bộ vào một trại giam tù binh ở Sơn Tây cách Hà nội 40 km. Trong traijlucs đó không còn tù binh nào cả. Có thể là phía Việt nam đã biết trước và di chuyển tù binh đi rồi.
Chiến tranh phá hoại của Mỹ đã gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân của Việt nam. Nhiều thành phố bị phá hủy. Tuy vậy hệ thống điều hành đất nước và quân đội vẫn rất hiệu quả. Năm 1972, cuộc chiến tranh trên bầu trời lại bước vào giai đoạn mới, nhưng lại rất ngắn. Ý đồ của Mỹ trong chiến dịch này là sẽ ném bom nhiều và mạnh hơn trước các thủ đô của VNDCCH và các trung tâm các tỉnh để nhằm tiêu diệt hệ thống điều hành và bắt lãnh đạo VNDCCH phải chấp nhận hòa bình theo những điều kiện có lợi cho Mỹ. Tháng 12 năm 1972 là đỉnh điểm của cuộc chiến trên bầu trời Việt nam. Tình báo Việt nam đã biết trước được kế hoạch dự kiến rầm rộ này. Người ta biết được là Mỹ sẽ sử dụng 800 máy bay chiến đấu. Mỹ bắt đầu cuộc chiến này vào ngày 18 tháng 12 và kết thúc vào ngày 29 tháng 12. Tổn thất trong mấy ngày đó là 81 máy bay. Trong hơn 1000 lượt bay, không quân Mỹ đã mất 34 chiếc(B-52 - ND).
Ngày 30 tháng 12, do bị tổn thất nặng nề, Mỹ buộc phải ngưng chiến dịch này. Kết quả là ngày 27 tháng giêng năm 1973 tại Pa-ri đã diễn ra việc ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt nam”. Quân Mỹ phải rút khỏi Việt nam, để mặc cho chính quyền bù nhìn tự giải quyết nốt cuộc chiến.
Số liệu khoảng chừng về những máy bay Mỹ đã bị hạ ở Việt nam:
- Cao xạ 2568 (60%)
- không quân 320 (9%)
- Bộ đội tên lửa 1293 (31%)
Nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Việt nam nhưng cố chạy sang Thái lan hoặc bay ra biển đã không được tính vào đây.
Tổng cộng Liên xô đã cung cấp cho Việt nam 95 tổ hợp tên lửa CA-75 “Dvina” và 7658 quả tên lửa. Trong suốt thời kỳ chiến tranh ở Việt nam đã có hơn 6 ngàn tướng lĩnh và sĩ quan và khoảng 4,5 ngàn binh sĩ và hạ sĩ quan Xô viết phục vụ tại Việt nam. Trong thời gian công tác, họ đã phải vượt qua khí hậu nóng nực, độ ẩm cao, nhiều thử thách tinh thần và thể chất. Nhiều người trong số họ đã được nhận được phần thưởng cao quý của Chính phủ Liên xô và Việt nam. Tổn thất về người là 13 người. Ngoài ra còn có 2 thủy thủ Nga của tầu buôn chở hàng đến Việt nam đã bị giết hại. Cần phải ghi nhận là nhờ những hành động rất chuyên nghiệp của Đại diện Thương vụ Liên xô tại Việt nam và cố gắng của các cán bộ Bộ Ngoại giao mà ta đã buộc phía Mỹ phải nhận trách nhiệm về cái chết của hai thủy thủ dân thường này. Chính phủ Mỹ đã phải bồi thường cho gia đình các nạn nhân suốt đời.
Hiện nay các cự chiến binh Việt nam đang sinh hoạt trong “Tổ chức xã hội liên khu vực của các cự chiến binh Việt nam do ông N.N. Kolesnik làm chủ tịch.
Duyệt trang Web này là ông N.N. Kolesnik. Chi tiết hơn về sự giúp đỡ Việt nam của các chuyên gia quân sự Liên xô trong lĩnh vực Phòng không đã nêu trong quyển sách “Cuộc chiến tranh ở Việt nam – Chuyện xảy ra như thế nào (1965-1973) / Tập thể tác giả - Matxcơva: NXB “Examen”, 2005.
Trang Web này đã trích dẫn một số ví dụ và bức ảnh sau từ quyển sách này.
 


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: dongadoan trong 19 Tháng Chín, 2007, 11:24:00 PM
@danngoc: Anh chuyển topic này của chú về đây cho tiện thảo luận! Với lại, bài của chú lấy từ đâu thì phải ghi nguồn vào chứ!


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: danngoc trong 20 Tháng Chín, 2007, 06:34:51 AM
Ua, bài viết trước của em có ghi nguồn mà!


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: dongadoan trong 20 Tháng Chín, 2007, 11:23:47 PM
Nguồn đầu tiên từ vietnamnews.ru thì anh biết rồi, nhưng theo bài đầu tiên chú post thì bài này do mem TrungDN dịch, mem này không có trong list thành viên của quansuvn.net nên anh nghĩ anh ta đã post ở đâu đó!
Thôi, giờ mới đến thắc mắc đây!
Trên vùng trời bắc Việt nam, không quân Mỹ đã sử dụng các loại máy bay chiến đấu sau: Máy bay ném bom chiến lược B-47 và B-52, máy bay tiêm kích –ném bom F-105, máy bay cường kích cất cánh trên tàu sân bay A-4D, A-4F, A-6A và A-6D, máy bay tiêm kích F-5, F-8, F-4C (Con Ma) và F-111 (cánh cụp cánh xòe), máy bau do thám PB-66, SR-71, 8E-992, RF-101, PA-5C, máy bay không người lái BQM-34, máy bay tạo nhiễu RB-47, EB66, KC-135, OV-10, O-2A và các máy bay chuyên dụng khác Á-130 và L-19.
---------------------------------------------------------------------
  Bài viết này liệt kê khá đầy đủ các loại máy bay mà Mỹ đã dùng ở VN, tuy nhiên có một số sai sót (không hiểu do người viết hay do người dịch?), ví dụ:
- Máy bay ném bom liệt kê thiếu B-57, loại này có tần suất hoạt động rất lớn ở VN.
- PA-5C ? Đây có lẽ là sai sót trong phiên âm của người dịch, chắc là loại RA-5C vì chữ R trong tiếng Nga viết là P.
- Loại 8E-992 là loại máy bay nào nhỉ? Chịu!

Trang bị của lực lượng phòng không Việt nam: Đại liên cao xạ ЗПУ-1, ЗПУ-2, ЗПУ-4, ЗГУ-1 (vùng núi), ЗПУ ДШКМ 12 ly7, ЗСУ-2 23 ly, ЗСУ-23-4 "Shinka", pháo cao xạ 37 ly, 57 ly, 85 ly, 100 ly, ЗСУ-57-2, ПЗРК "Strela-2М", Tổ hợp tên lửa phòng không ЗРК С-75М "Volkhốp", ЗРК "Đesna", "Vônga", bệ phóng tên lửa tự hành ЗРК "Krug" и "Kvadrat" chạy bánh xích. Máy bay tiêm kích Mig-15, Mig-17, Mig-19C toàn bộ do Trung quốc sản xuất, Mig-21 PF và Mig-21 PFM của Liên xô. Trên máy bay được gắn tên lửa “không đối không” loại P-3C có đầu tầm nhiệt dò bằng hồng ngoại.
-----------------------------------------------------------------------
  Đoạn này cũng có chỗ sai:
- Tên lửa ЗРК "Krug" hay còn gọi theo kiểu Mỹ là SA-4 Ganef chưa bao giờ có trong biên chế của lực lượng PK Việt Nam.
- Loại Kvadrat  hay SA-6 Gainful thì trong KCCM cũng chưa có, nó vào VN sau này nhiều! 
- Trong số các loại tiêm kích của VN thì liệt kê thiếu loại MiG-21 F-13 Fishbed-C dù đoạn sau có nhắc tới.
- Lực lượng cao xạ VN (chỉ tính quân chủ lực) còn sử dụng khá nhiều pháo 88mm, 90mm mà ở đây không nhắc tới.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: danngoc trong 21 Tháng Chín, 2007, 08:22:18 AM
Em sẽ hỏi tác giả về các sai sót này. Hay hôm đó thằng Dũng Cá Chuồn hỏi đi ! Excoxet đâu rồi?


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: chiangshan trong 21 Tháng Chín, 2007, 07:54:24 PM
Chắc nhầm B-57 với B-47 đấy ạ. Bài này còn liệt kê thiếu 1 loại rất quan trọng là EC-121, và nhầm KC-135 từ máy bay tiếp dầu sang tạo nhiễu.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: baoleo trong 24 Tháng Chín, 2007, 01:14:24 PM
Các bác có tư liệu về quân ta sang Nga học điều khiển tên lửa hồi chống Mỹ không?
Tớ chỉ biết (không qua sách) là trước năm 1972, quân ta sang học ở Quy-bi-xép về SAM-2. Gần doanh trại có cái hồ tự nhiên để cấp chiến sỹ tắm giặt. Không hiểu do có chất O hay Gơ chảy xuống mà ai bị ghẻ sau khi tắm đều khỏi hết. Lính ta đặt cho biệt danh là "hồ thuốc ghẻ".
Còn năm 1972, 2 tiểu đoàn ta sang Nga học Sam-3. Đi tầu từ Bằng Tường-TQ sang. Trong đó lính Bách khoa chiếm đa số. 2 tiếu đoàn này về nước thì đã xong trận ĐBP trên không (Nói thêm là lúc ấy SAM-3 cũng vẫn đang còn trên biển). Chiến lợi phẩm lính Bách khoa đem về là rất nhiều quân phục Nga có khuy đồng vang óng.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 29 Tháng Chín, 2007, 03:14:16 PM
2 tiếu đoàn này về nước thì đã xong trận ĐBP trên không (Nói thêm là lúc ấy SAM-3 cũng vẫn đang còn trên biển).

Hồi trước bên ttvn thấy có bác nói sách của PKKQ chép là trung đoàn này nhân lực về cuối tháng 10.1972 còn khí tài về bằng tàu hỏa cuối tháng 11, tập kết tại Kép hay Phúc Yên gì đấy nhưng không có đủ thời gian triển khai.

Cũng có bác nói là quân về trước nhưng chỉ ngồi nhìn SAM 2 tung hoành vì tàu thủy LX chở SAM 3 không thể vào HP vì thủy lôi phong tỏa.

Nhiều nguồn nói là LX rất ngại chuyển khí tài loại hiện đại cho VN qua ngả TQ, vì sợ trộm bí mật v.v., chủ yếu tự chuyển bằng máy bay hay tàu thủy. Không rõ cụ thể trường hợp này thế nào.

Đạn SAM 2 LX viện trợ gấp cho VN trong đợt 12.72 đi bằng tàu hỏa qua TQ đến Bằng Tường thì sách mình ghi rất rõ rồi.


Tiêu đề: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Chín, 2007, 03:29:50 PM
Quảng cáo trước tí(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/71.gif):
"... Ngày 5 tháng 12, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 277 loại Pê-trô-ra (SAM 3) về tới Hà Nội, đóng quân tại Vân Nội, Vân Trì, Đông Anh, Hà Nội. Tại đây trung đoàn đã củng cố lại tổ chức, sắp xếp lại cán bộ, quán triệt nhiệm vụ chuẩn bị trận địa, chờ vũ khí, khí tài về là triển khai chiến đấu bảo vệ Hà Nội.
..."


Mời các bạn đón đọc ở Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không 1965 - 2005 (http://"http://www.quansuvn.net/index.php?topic=96.0") (http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/1.gif)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:22:50 PM
Ông cụ với huy hiệu kỉ niệm chiếc máy bay thứ 400 cũa Mỹ bị bắn cháy ở miền Bắc.

Vật liệu làm chiếc huy hiệu cũng là vỏ nhôm của chiếc F-4 xấu số này.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:27:47 PM
Hai cụ bên cạnh quả đạn SA-2.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:34:15 PM
Theo lời kể của các cụ: Hồi đó ở MB có khoảng 70-80 trận địa tên lửa được dân quân chuẩn bị sẵn trước nhiều tháng, thậm chí vài năm và được nguỵ trang rất tốt. Ngoài ra còn có hàng trăm "hàng trăm" trận địa giả.

Việc triển khai chiến đấu chỉ được phổ biến vị trí trước vài giờ.

Ngay sau khi bắn phải cơ động ngay đi trận địa khác cách nhau cả 50-60 km.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:38:21 PM
Việc xuất hiện của SA-2 làm Mỹ hoàn toàn bất ngờ.

Trườc đó máy bay Mỹ hoạt động chỉ dãn cách khoảng 25-30m nên trong giai đoạn đầu có trận chỉ với một quả đạn được phóng đi mà hai máy bay Mỹ bị rớt.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:43:58 PM
Có trận bắn cháy một chiếc F-105, viên phi công nhảy dù rơi ngay gần cửa chỉ huy của các cụ. Qua khe các cụ nhìn rất rõ nhưng không thể có mặt để "chất vấn" đối thủ. Sự có mặt của các cụ ở miền Bắc phải tuyệt đối bí mật, không chỉ đối với phi công Mỹ mà ngay cả với dân thường.





Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:49:17 PM
Trong thời điểm khó khăn nhất LX phải vận chuyển TL bằng đường biển trên các tàu "thương mại". Họ chỉ được hạm đội TBD hộ tống tới cửa vịnh Bắc Bộ.

Sau đó họ phải hành trình một mình vào Hải Phòng hoặc Quảng Ninh.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ov10 trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:52:10 PM
Họ luôn bị tầu tuần tra và máy bay của HQ Mỹ hộ tống một cách thô bạo.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: leopard trong 28 Tháng Mười Một, 2007, 11:51:37 AM
Hôm nay đọc bài LS E 276 của bác triumf, có rất nhiều tư liệu về lính ta sang Nga học tên lửa.
Mình rất cảm ơn về tư liệu này.
Trước đây mình cũng có post bài hỏi về đề tài này, vì mình có người nhà ở trong số đi học đó. Anh ấy đi học thời Sam 2, chứ ko phải Sam 3 như E276. Bác triumf có tư liệu về thời ấy ko??


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 12 Tháng Tám, 2008, 01:07:58 PM
Vừa tìm thấy một ít ảnh các chuyên gia tên lửa LX ở ta hồi ấy:

http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/oldfoto.html (http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/oldfoto.html)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/may_1965.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Nguyen_Duy_Trinh.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/belov9.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/004-2.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/51(6).jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/49(5).jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 12:27:10 PM
Hôm nay đọc bài LS E 276 của bác triumf, có rất nhiều tư liệu về lính ta sang Nga học tên lửa.
Mình rất cảm ơn về tư liệu này.
Trước đây mình cũng có post bài hỏi về đề tài này, vì mình có người nhà ở trong số đi học đó. Anh ấy đi học thời Sam 2, chứ ko phải Sam 3 như E276. Bác triumf có tư liệu về thời ấy ko??


Tôi học khoá 12 khoa Hoá, Đại học tổng hợp Hà nội, tốt nghiệp năm 1971. Tháng 9, 1970, bước vào năm thứ tư (năm cuối) có đợt tuyển đi bộ đội. Phần đông vào lực lượng phòng không. Một số được gởi sang Liên Xô học SAM-3 Petrora. Họ được gửi tới thành phố Baku để học lý thuyết và làm quen với thiết bị phóng. Sau đó được đưa lên phía bắc Liên Xô, nước Ladvia (một trong 3 nước nằm trong khu vực Pribaltik: Lidva, Ladvia, Estonia) để bắn đạn thật. Sau khi học xong bắn đạn thật, mọi người quay về Baku học tiếp và sau đó lên tàu trở về Việt nam.
Tháng 10-72, họ về đến Hà nội và đóng quân ở Đông Anh và Thanh trì, còn tên lửa chuyển theo đường bộ. (Các nhóm khác tôi không rõ họ có về cùng hay không)
Chuyện tên lửa về Việt nam muộn cũng có những lý do tế nhị. Sau khi Nixon sang thăm Trung Quốc (2-72) và Liên Xô (5-72) thì quan hệ của Việt nam với hai nước đàn anh cũng không xuôi chèo, mát mái. Thực ra từ 1969 viện trợ quân sự cho Việt nam giảm dần. Sau cuộc bắt tay với Mỹ, cả hai nước cũng có những nhân nhượng đáng kể với Mỹ. Thí dụ Liên Xô không cung cấp các vũ khí tấn công hạng nặng cho Việt nam, rồi Trung Quốc cũng có những cử chỉ tương tự để ép chúng ta trong vấn đề đàm phán ở Paris.
Ngày 23-12-72, trong chiến dịch Linebacker II, phía Việt nam chỉ còn vài chục quả tên lửa, một số có thể đưa từ khu 4 về, nhưng nếu đánh lâu dài thì không đủ, do vậy Liên Xô đã tính đến cầu hàng không tên lửa đưa sang Việt nam. Sau đó bằng đường bộ qua Trung Quốc, SAM3 về đến Bằng Tường ngày 1-1-1973, là ngày Nixon tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt nam.
Chuyện tế nhị như vậy đó!
Liên Xô trước đây chở SAM-2 qua đường sắt Trung Quốc đến Việt nam, nên họ cũng chẳng ngại chuyện lộ bí mật với Trung Quốc đâu.
Không có chuyện chở tên lửa bằng đường biển thời gian đó vì cảng Hải Phòng, từ 8-5-72 bị thuỷ lôi phong toả, và tàu Nga đi đường biển bị Hạm đội 7 Mỹ đe doạ, rất nguy hiểm.

Bạn có thể gọi theo số máy (04) 8231534 để hỏi ông Thảo, người đi chuyến đó để biết chi tiết



 

    


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 14 Tháng Tám, 2008, 03:43:55 PM

Ngày 23-12-72, trong chiến dịch Linebacker II, phía Việt nam chỉ còn vài chục quả tên lửa, một số có thể đưa từ khu 4 về, nhưng nếu đánh lâu dài thì không đủ, do vậy Liên Xô đã tính đến cầu hàng không tên lửa đưa sang Việt nam.

Dạ bác cho tôi hỏi thông tin còn có mấy chục quả này muốn côn phơm thì phải gọi điện cho ai ạ?  ???


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 03:54:39 PM
Dạ bác cho tôi hỏi thông tin còn có mấy chục quả này muốn côn phơm thì phải gọi điện cho ai ạ? 

Bạn Altus ơi

Vấn đề đạn tên lửa trong 12 ngày đêm đánh B52
Trần Long - Tạp chí lịch sử quân sự
Xem: Bí mật các cuộc không kích Bắc Việt nam

Khi trận "Điện Biên Phủ trên không" kết thúc, có người đã thở phào mà thốt lên: Thật là may! Nếu như các đêm 22, 23 và 24 tháng 12 Mỹ vẫn duy trì cường độ đánh phá bằng B52 như mấy đêm trước đó (18 - 20) thì ta biết lấy đạn tên lửa đâu ra mà chống chọi? Cách hiểu như vậy phải chăng trong kết cục của trận "Điện Biên Phủ trên không", phần thắng thuộc về ta ở một chừng mực nào đấy có yếu tố may mắn?
Như chúng ta đều biết, chuyện thiếu đạn tên lửa trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 đối với ta là có thực và việc giảm cường độ đánh phá và tần suất oanh kích của B52 vào Hà Nội trong các ngày 22, 23 tháng 12 của địch là một tất yếu, mặc dù nó nằm ngoài ý định ban đầu của Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) cũng như Lầu Năm Góc. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là việc B52 "lảng xa" Hà Nội đã giúp ta giải quyết vấn đề thiếu đạn tên lửa.
Để chuẩn bị cho trận "Điện Biên Phủ trên không" chúng ta đã có một quá trình chuẩn bị tương đối toàn diện, một thế trận tương đối vững chắc đã sẵn sàng. Song phải qua đêm 18 tháng 12, thì khái niệm về một cuộc tập kích lớn bằng B52 vào Hà Nội mới được thực tế làm sáng tỏ. Có những vấn đề phát sinh vượt quá dự tính của ta mà vấn đề thiếu đạn tên lửa là một thí dụ.
Thực ra thì vấn đề đạn tên lửa là một trong những vấn đề được quan tâm nhất của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Trước khi bước vào chiến dịch, nhiều cán bộ, công nhân có tay nghề cao của xưởng A31 được tăng cường xuống 2 tiểu đoàn chuyên lắp ráp đạn tên lửa. Đội ngũ này đã không quản ngày đêm mày mò cùng đơn vị tìm biện pháp khôi phục, sửa chữa và lắp ráp đạn cùng một số thiết bị khí tài khác. Các tiểu đoàn kỹ thuật đều được huấn luyện về cách lắp ráp đạn ban đêm, lắp ráp ở trận địa dã chiến, lắp ráp trong điều kiện bị oanh kích… Một số khí tài hỏng đều được cán bộ kỹ thuật của ta và chuyên gia Liên Xô kịp thời sửa chữa. Tại xưởng A31, một số lượng tương đối lớn đạn quá thời hạn sử dụng, đạn hỏng được dồn dịch và khôi phục trở lại làm tăng thêm lượng dự trữ cho các đơn vị. Cho đến trước ngày 18 tháng 12, ở Hà Nội và Hải Phòng bình quân mỗi tiểu đoàn tên lửa đều có hơn 2 cơ số đạn với hệ số kỹ thuật bảo đảm 100% (trong khi hệ số kỹ thuật của pháo phòng không chỉ đạt 95% và của radar là 96,5%). Mặc dù công tác dự phòng đã được triển khai khá chu đáo song mới chỉ qua một đêm, tín hiệu về "cơn sốt đạn tên lửa" đã được phát ra. "Giữ đạn đánh B52", "Dành đạn cho B52" không còn là khẩu hiệu nữa mà trở thành mệnh lệnh từ sau đêm 18 tháng 12. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chỉ "dành đạn tên lửa để đánh B52", các tiểu đoàn vẫn không thoát khỏi tình trạng khan hiếm đạn. Ngay từ sáng 19 tháng 12 những chiếc xe chuyên dụng TZM đã đổ xô lao đến các kho, bãi lắp ráp đạn. Chuyện tranh cãi, muốn giành đạn nhiều cho đơn vị mình ở các kho bãi; chuyện “cháy túi" bắn đến quả đạn cuối cùng tại các trận địa không còn là chuyện hãn hữu, cá biệt. Cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Hai ca sản xuất suốt ngày đêm, có được quả đạn nào lập tức được đưa ngay xuống các trận địa. "Cơn sốt đạn" không những không thuyên giảm mà tiếp tục tăng cao vào các đêm 19 và 20. Đã có lúc có người nghĩ đến những đêm tiếp theo mà lòng đầy lo lắng.
Tình trạng thiếu đạn tên lửa xảy ra và lan nhanh bởi nhiều lý do. Trước hết chúng ta chưa dự đoán đầy đủ quy mô lớn của trận tập kích chiến lược với số lượng B52 tham chiến như vậy. Theo lời mô tả của viên đại uý phi công Mỹ Rô-bớt Vôn-phơ đăng trên tạp chí Air Forces - 1977 thì đêm 18 tháng 12 "đàn voi con" bao gồm 67 chiếc B52 nối đuôi nhau dài tới 70 dặm ầm ầm kéo vào Hà Nội. Cường độ đánh phá cũng đạt tới mức kỷ lục: đêm 18 có 90 lần chiếc tập kích liên tiếp 3 đợt vào hầu hết các mục tiêu quan trọng ở Hà Nội. Ngày 19 có 87 lần chiếc và ngày 20 tới 93 lần chiếc được huy động. Máy bay địch bay vào ngày càng đông, nhưng do thiếu kinh nghiệm trong trận đầu dẫn đến bắn trượt, bắn hỏng cộng với việc sử dụng đạn tên lửa có phần phung phí ở một vài đơn vị đã góp phần dẫn đến việc khan hiếm đạn. Điều này biểu hiện rõ nhất trong đêm 18 và 19 là những đêm mà ta sử dụng số lượng đạn tên lửa lớn trong khi chỉ bắn rơi 3 chiếc B52 (đêm 18) và 2 chiếc B52 (đêm 19).
Đúng vào lúc tình trạng khan hiếm đạn tên lửa đang trở nên nghiêm trọng thì cường độ đánh phá của B52 đột nhiên giảm hẳn. Đêm 21 chỉ có 1 đợt 24 chiếc đánh vào Bạch Mai, An Dương, Giáp Bát, Văn Điển. Các đêm 22, 23 và 24, máy bay B52 dường như lảng xa Hà Nội. Phải chăng "hiện tượng" trên đã giúp ta khắc phục được tình trạng khan hiếm đạn tên lửa như một số người lầm tưởng. Khách quan mà xem xét thì việc kẻ địch giảm dần tần suất và cường độ oanh kích bằng B52 và ngừng ném bom vào ngày Nô-en phần nào cho ta có thêm điều kiện thuận lợi để củng cố trận địa và lực lượng, trong đó có vấn đề tạo thêm nguồn đạn cho tên lửa. Nhưng nguyên nhân chính của việc chặn đứng được tình trạng khan hiếm đạn tên lửa là do ta đã kịp thời tìm ra những "phương thuốc" hữu hiệu và triển khai nó một cách tích cực. Bên cạnh việc động viên phát huy tối đa công suất của các dây chuyền lắp ráp đạn tên lửa và thực hiện nghiêm túc chỉ lệnh "Chỉ dành đạn tên lửa cho B52", sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả, cơ quan chỉ huy chiến lược còn kịp thời điều chỉnh, sắp xếp bố trí lại lực lượng. Số đạn tên lửa dự trữ được khẩn trương chuyển từ Thanh Hoá ra chi viện cho Hà Nội. Hai tiểu đoàn tên lửa (71 và 72) được điều từ Hải Phòng lên án ngữ phía đông bắc. Ba tiểu đoàn (87, 88, 89) thuộc trung đoàn 274 được điều từ Quảng Trị ra bố trí ở hướng đông nam và tây nam Hà Nội. Đến ngày 26 tháng 12, Hà Nội đã có 84 bệ phóng với đầy đủ cơ số đạn theo quy định. "Cơn sốt" đã bị đẩy lùi, bộ đội tên lửa đã có "của ăn" và một ít "của để" không còn phải lo "cháy túi"; bình tĩnh, tự tin bước vào đánh đòn quyết định đêm 26 tháng 12 năm 1972.
Như chúng ta đều biết, theo ý định ban đầu của Bộ chỉ huy liên quân Mỹ thì chiến dịch Linebacker II được thực hiện trong 3 ngày với phương châm "đánh thật mạnh, thật nhanh, gặt hái thắng lợi trước Nô-en 1972". Nhưng sau khi phân tích và nhận thấy rằng "Hà Nội, Hải Phòng là một trong số các khu vực có lưới lửa phòng không khủng khiếp nhất trên thế giới" thì một kế hoạch dài ngày hơn đã được vạch ra và thông qua. Theo kế hoạch này thì hoàn toàn không có vấn đề hạ cường độ và tần suất oanh kích trong các ngày từ 22 - 24. Vậy điều gì đã xảy ra đối với SAC kể từ sau đêm 20? Và vì sao từ đêm 22 tháng 12, B52 lại cố tình "lảng xa" Hà Nội? Thực tế đã cho một câu đáp án và đến mức không thể chịu nổi. Những phi công còn sống sót thừa nhận: "Ngày 20 tháng 12 chứng kiến nỗ lực phòng thủ mãnh liệt nhất của Bắc Việt Nam chống lại các máy bay B52 và đó là một ngày tổn thất cao nhất của chiến dịch Linebacker II. Sự thật đúng như vậy? Đêm 20 rạng sáng 21, địch tung vào Hà Nội nhiều B52 nhất (93 lần chiếc) cũng chính là đêm B52 bị bắn rơi tại chỗ nhiều nhất: 4 chiếc. Đêm 21 có một đợt 24 chiếc vào đánh phá thì 3 chiếc bị bắn rơi tại chỗ. Hãng thông tấn AP bình luận: “Nếu B52 cứ bị bắn rơi theo nhịp độ như thế này thì chẳng bao lâu nữa các loại máy bay này sẽ bị diệt chủng”. Mức thiệt hại trong ba ngày đầu của chiến dịch Linebacker II đã vượt quá mức tưởng tượng của SAC cũng như Lầu Năm Góc. Nó không chỉ là vấn đề số máy bay B52 bị bắn rơi mà còn là vấn đề tinh thần hoang mang dao động của giặc lái. Từ sau đêm 20, tại các căn cứ B52, tinh thần phi công khủng hoảng đến mức suy sụp. Hiện tượng phản chiến đã xuất hiện bằng các hình thức cáo ốm, từ chối không nhận nhiệm vụ hoặc cao hơn nữa là viết đơn phản kháng như hành động của Mai-cơn Hếch - một phi công từng có 262 lượt bay chiến đấu ở Đông Dương. Rồi thì những cuộc đấu tranh đòi thay đổi chiến thuật, những bức thư phản chiến bay về nước, thậm chí được gửi cho một số nghị sĩ quốc hội. Các câu lạc bộ sĩ quan ở Guam và Utapao trở thành những nơi thổ lộ và trút tâm trạng thất vọng, sợ hãi của giặc lái B52.
Trước một thực trạng như vậy, việc giảm cường độ và tần suất oanh kích từ sau ngày 21 và việc B52 lảng ra xa Hà Nội từ sau ngày 22 là điều tất yếu. Thứ nhất, SAC không còn đủ sức để tiếp tục cuộc đấu trí, đấu lực ở cường độ cao như 3 ngày đầu của chiến dịch; hơn nữa số lượng B52 bị bắn rơi quá lớn đã không cho phép SAC tiếp tục đi nước cờ phiêu lưu, mạo hiểm. Họ sợ rằng "nếu B52 cứ rơi với tốc độ như thế này thì sau 2 tuần lễ sẽ không còn máy bay B52 ở Đông Nam Á để chiến đấu nữa". Thứ hai, SAC rất cần có thời gian để trấn an bọn giặc lái và điều quan trọng hơn là để tổ chức rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho một trận đánh mới dữ dội hơn, ác liệt hơn, hòng "đánh nốc ao đối phương", buộc ta phải trở lại bàn hội nghị trên thế yếu và sửa đổi lại văn bản hiệp định đã thoả thuận có lợi cho Mỹ và Sài Gòn. Thực tế cho thấy sau lễ Nô-en, chiến thuật oanh kích của B52 đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên SAC cũng không tài nào xoay chuyển được tình thế. Theo tạp chí Air Forces (số 7-1977) thì "tới ngày 25 tháng 12 khi số B52 bị rơi cao tới mức không thể chấp nhận được, lúc đó Mỹ mới nghiên cứu tới việc phối hợp đánh vào đối thủ chính đã diệt B52, đó là tên lửa SAM".
Tóm lại, tình trạng khan hiếm đạn tên lửa trong 3 ngày đầu tiên của chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972 là có thực. Nó đã đạt tới đỉnh điểm vào đêm 20 rạng ngày 21. Việc ta chặn đứng được tình trạng trên không phải hoàn toàn nhờ vào việc giảm cường độ và tần suất oanh kích của B52 trong 3 ngày tiếp theo đó mang lại. Thực ra thì không hẳn như vậy, các chiến lược gia Hoa Kỳ không phải không nhận ra điều đó khi điều chỉnh kế hoạch. Họ muốn "làm tới" nhưng "lực bất tòng tâm". Họ hiểu cái giá phải trả như thế nào nếu như cứ duy trì cường độ oanh kích như các ngày 18, 19 và 20 tháng 12. B52 bị bắn rơi quá nhiều; tinh thần giặc lái (linh hồn của các đợt oanh kích) bị suy sụp, hoang mang thì thử hỏi làm sao Linebacker II lại có thể diễn ra suôn sẻ như ý muốn của các tác giả của nó.

________________
Bạn Altus ơi,
Tháng 12-1989, nhân kỷ niệm 17 năm trận "Điện Biên Phủ trên không", báo Nhân Dân có đăng một loạt bài nói về việc thiếu tên lửa vào đêm 23-12-72 và coi như một sự trùng hợp với việc  Mỹ giảm cường độ ném bom B52. Bài báo nói, Liên Xô đã tính đến việc lập cầu hàng không tiếp vận cho Việt nam. Đồng thời phía ta cho gọi những tiểu đoàn tên lửa đóng ở khu 4 cấp tốc kéo về Hà nội. Tôi nhớ lúc đó các bến phà khu 4 ưu tiên hàng đầu cho các xe tên lửa. Vì vậy đến 26-12 ta mới có đủ số đạn để mạnh tay chiến đấu.
Còn chuyện Liên Xô chở đạn cho SAM-2 bằng tàu hoả qua Trung Quốc thì tôi không biết, nhưng chắc chắn SAM-3 đến Bằng Tường vào ngày 1-1-1973, đúng lúc Nixon chấm dứt ném bom Bắc Việt nam.
 


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: OldBuff trong 14 Tháng Tám, 2008, 04:12:38 PM
@ bác ngao5 đi học tên lửa ở Baku rồi về được phân vào đoàn nào ah?

@ altus: cái trang nhat-nam.ru mà đồng chí tải hình có khá nhiều ảnh tư liệu về việc chuyên gia bạn giúp xây dựng mấy phân đội đầu tiên của H36.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 14 Tháng Tám, 2008, 04:17:24 PM
@ bác ngao5:

Thế lúc nào rảnh bác đọc mấy thông tin thống kê của bác dongadoan

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=603.msg13436#msg13436 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=603.msg13436#msg13436)

rồi bác cho vài bình luận được không ạ?

Tôi nghĩ cần phân biệt rạch ròi chuyện thiếu đạn đã lắp và thiếu đạn chung chung. Theo số liệu của bác dongadoan thì ta không hề thiếu đạn trong kho, chỉ có mấy hôm đánh to thì lắp đạn không kịp thôi. LX lập cầu hàng không làm gì nếu đạn C-75 vẫn còn nằm ở Bằng Tường? Vụ kéo đạn từ quân khu 4 ra có giúp được gì nhiều hay không thì cũng theo số liệu của bác dongadoan, chưa có cơ sở.

Trích dẫn
@ altus: cái trang nhat-nam.ru mà đồng chí tải hình có khá nhiều ảnh tư liệu về việc chuyên gia bạn giúp xây dựng mấy phân đội đầu tiên của H36.

Vâng, cái forum ở đấy cũng rất hay.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: OldBuff trong 14 Tháng Tám, 2008, 04:22:04 PM
Để lúc nào rảnh tớ xin phép admin nhat-nam.ru cho phép tải ảnh và chuyển dịch một số bài ký tiêu biểu về bên này.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 04:52:57 PM
Bạn Altus ơi

Xem BỘ ĐỘI TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG 1965 - 2005
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2005


"Tại Hải Phòng, máy bay hải quân áp dụng thủ đoạn bay vẹt vào đánh mục tiêu. Tiểu đoàn 72 Trung đoàn 285 bằng 2 tên lửa đã bắn rơi một chiếc F4 vào lúc 22 giờ 22 phút. Đến 0 giờ 10 phút tiểu đoàn tên lửa 83 Trung đoàn 238 bằng một quả đạn lại bắn rơi một chiếc F4 nữa.
Trong lúc tin chiến thắng đang dồn dập báo về sở chỉ huy Quân chủng thì một tin không vui từ sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 báo lên: Tiểu đoàn 77 và tiểu đoàn 94 hết đạn
".
Tại tiểu đoàn kỹ thuật 80 Trung đoàn 257, được sự chỉ đạo trực tiếp của Trung đoàn phó Vũ Ninh và các cán bộ kỹ thuật sư đoàn, Quân chủng, tiểu đoàn đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất đạn chưa từng thấy. tiểu đoàn trưởng Vương Toàn Tước và tiểu đoàn phó Nguyễn Huy, mặt mày hốc hác, vì đã gần ba đêm không được ngủ, cùng anh em nghiên cứu cải tiến rút gọn từng công đoạn đưa năng suất từ 10 đến 12 quả ngày lên 24 đến 26 quả ngày đêm để bảo đảm đạn cho các đơn vị hoả lực chiến đấu.

"Cho đến rạng sáng ngày 21 tháng 12, đạn tên lửa đã được bổ sung hơn 20 quả cho các tiểu đoàn hoả lực, nhưng tình trạng thiếu đạn của các tiểu đoàn hoả lực vẫn là vấn đề nan giải nhất".



Năm 1972 tôi là người chứng kiến nhiều tên lửa bắn lên đêm đầu tiên và đêm thứ hai (18 và 19-12), con số đêm hôm đầu cả Miền Bắc lên đến hàng trăm quả. Sáng 19-12. tướng Phùng Thế Tài đến Chùa Trầm (bơi đặt Sở chỉ huy) với sự tức giận vì hiệu quả kém, bắn khá nhiều tên lửa, ông văng: "Bắn thế này thì lấy… gì mà bắn tiếp(!)".
Lúc đó trong kho còn tên lửa, nhưng không phải là  tốt cả 100% (nhiều thứ phải tận dụng). Là người đánh trận có kinh nghiệm, ông Tài phải tính đến cuộc chiến kéo dài hàng tháng, chứ lúc đó ông cũng không biết cuộc chiến chỉ kéo dài 12 ngày thôi. Vì thế ông phải lo kiếm cho đủ đạn để chiến đấu lâu dài.
Bạn cứ tính xem một ngày đêm lắp được 26 quả (maximum) đối với đánh B52 được mấy phút?
Việc SAM-3 về VN theo "kế hoạch" nhưng bị chậm trễ vì những chuyện "tế nhị" với Liên Xô và Trung Quốc, nhưng để đưa vào chiến đấu không phải ngay tức khắc được, trong khi các bệ S-75 đang là vũ khí truyền thống của bộ đội tên lửa. Do vậy cần ngay đạn cho SAM-2  đủ để dự trữ đánh lâu dài.
Cái lo đó là hoàn toàn có cơ sở, chứ nếu biết chỉ đánh 12 ngày thôi thì tình hình lại khác.
 

 






Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:10:19 PM
LX lập cầu hàng không làm gì nếu đạn C-75 vẫn còn nằm ở Bằng Tường

 Bạn xem kỹ những gì tôi viết trước đây. Tôi không nói  đạn C-75M lúc đó đang nằm ở Bằng Tường. SAM-3 cũng chưa có mặt ở Bằng Tường

Toàn bộ SAM-3 (đạn C-125 + bệ phóng) từ Khabarovsk (Nga) chở bằng tầu hoả qua Trung Quốc nếu đi nhanh phải mất 5 ngày, tức là nó phải xuất phát từ Khabarovsk trước ngày 26-12-72 để đến được ga  Bằng Tường ngày 1-1-1973.
Từ 21-12-72 Việt nam bắt đầu lo thiếu đạn, nhưng đến đêm 23-12-72 thực sự sẵn sàng chiến đấu chỉ còn vài chục quả, tôi nhớ không chính xác là 23 quả nằm trên bệ)
Liên Xô lo thiếu đạn tên lửa với tốc độ bắn nhiều như mấy ngày đầu sợ rằng  chở bằng tàu hoả không kịp, "phải tính đến" (xin nhớ là tính đến phương án như lời bài báo) đưa ngay sang bằng máy bay, để bổ xung, vì lắp ráp ở Việt nam cũng không kịp với tốc độ cuộc chiến.

     


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:18:29 PM
Tham khảo thêm để biết về "đạn" của ta trong kho


Câu hỏi: Câu hỏi 7: Trong chiến dịch 12 ngày đêm, tình trạng thiếu đạn tên lửa khá trầm trọng. Chúng ta đã khắc phục ra sao
--------------------------------------------------------------------------------
 
Trả lời:
Đáp: Chiến dịch đánh trả cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng là một trận đánh lớn, dài ngày, đương nhiên nhu cầu tiêu thụ đạn rất lớn, nhất là đạn tên lửa SAM2. Trong nhiệm vụ đánh B52, theo quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thì "lực lượng chủ yếu đánh B52 là tên lửa và không quân. Tên lửa là chủ yếu nhất”. Phần lớn gánh nặng đánh thắng pháo đài bay Mỹ dồn lên vai bộ đội tên lửa. Vì vậy, vấn đề làm sao có đủ đạn tên lửa để chiến đấu trở thành một đòi hỏi hết sức. gắt gao.

Sự viện trợ của Liên Xô cho ta về vũ khí phòng không, trong đó có đạn SAM2 về sau có phần hạn chế. Vì lẽ đó chúng ta phải tận dụng số lượng đạn "tồn kho". Sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ( 1965 -1968), bộ đội tên lửa ta còn khoảng vài ngàn quả đạn. Một phần trong số đó đã được lắp ráp và nạp nhiên liệu để sẵn sàng chiến đấu nhưng chưa dùng tới. Năm tháng trôi qua, thời hạn sử dụng của đạn không còn. Anh em ta thường gọi đó là những viên đạn "quá đát"
Một điều đáng nói nữa là tốc độ lắp ráp đạn tên lửa còn chưa đảm bảo yêu cầu cho một chiến dịch lớn.,

Vào những đêm tháng 12 năm 1972, có tiểu đoàn hỏa lực đã rơi vào tình trạng giữa chừng "trắng bệ", nghĩa là trên các bệ phóng không còn đạn, trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào. Anh em lái xe chở đạn cực kỳ dũng cảm, chầu chực ở các bãi lắp ráp, được quả nào là tranh thủ vượt đạn bom lao về đơn vị. Đạn về đến nơi, lập tức được nạp vào bệ phóng, chưa ấm chỗ đã lao đi tìm diệt B52. Các tiểu đoàn hỏa lực thỉnh thoảng lại nhận được chỉ thị qua điện thoại từ trung đoàn: "Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo” Giữa đêm 20 tháng 12, tình trạng căng thẳng đến nỗi từ Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã gọi điện chỉ thị Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân phải tìm mọi cách giải quyết đủ đạn cho các tiểu đoàn tên lửa.

Khó khăn to lớn như vậy, bộ đội ta đã khắc phục bầng cách nào?

Xin nêu mấy biện pháp chủ yếu sau đây:

1. Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu quyết định: "Tên lửa chỉ được dành để đánh B52"; "Điều gấp đạn tên lửa từ Quân khu 4 ra tăng cường cho Sư đoàn Phòng không Hà Nội .

2. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho các đơn vị tên lửa phải "hết sức tiết kiệm đạn”. Thí dụ lẽ ra đánh 3 quả để bảo đảm xác suất tiêu diệt máy bay thì chỉ đánh 2 quả. Yêu cầu các tiểu đoàn trưởng phải cân nhắc trước khi hạ lệnh phóng, không chắc ăn thì không đánh.

3. Cải tiến và nâng cao năng suất tổ chức lắp ráp đạn tên lửa ở các tiêu đoàn kỹ thuật.

4. Phục hồi những viên đạn quá thời hạn sử dụng.

(Hai biện pháp 3 và 4 được thực hiện từ trước khi xảy ra trận đánh 12 ngày đêm)

Đầu tiên, xin nói về những viên đạn quá tuổi: theo quy định của quân đội các nước trên thế giới, đạn quá thời hạn sử dụng, nếu không có biện pháp "kéo dài tuổi thọ" thì nhất thiết phải hủy, bởi vì nếu đem ra chiến đấu sẽ không an toàn.
Kéo dài niên hạn cho đạn tên lửa là một việc hết sức phức tạp, chúng ta không có kinh nghiệm. Nhưng trong hoàn cảnh của một đất nước nghèo, thiếu thốn mọi thứ, lẽ nào quân đội ta lại để cho hàng ngàn quả đạn như thế bị hủy bỏ.
Rồi "cái khó làm ló cái khôn", dựa vào tài liệu của quân đội bạn, cán bộ kỹ thuật ta đã đi sâu nghiên cứu và đã thực hiện thành công "quy trình lắp ráp ngược", tức là làm ngược lại quá trình lắp ráp.

Trước hết là lấy hết nhiên liệu ra, rửa sạch các khoang chứa, sấy thật khô, rồi dùng thiết bị đặc biệt kiểm tra độ chịu đựng áp suất cao của từng khoang. Tiếp theo là tháo rời tầng đuôi, đầu đạn, cánh lái, xếp gọn tất cả vào thùng, xong cặp chì lại y như mới (Chú thích: việc kéo dài tuổi thọ cho đạn tên lửa được thử nghiệm thành công tại một tiểu đoàn kỹ thuật, ở Hà Nội, sau đó thực hành rộng rãi ở nhiều nơi. ).

Bằng cách ấy, ngành Kỹ thuật tên lửa phòng không đã kéo dài tuổi thọ cho toàn bộ số đạn "quá đát" nói trên thêm được 48 tháng, có nghĩa là mỗi viên đạn "thọ" thêm 4 năm. Các cán bộ chiến sĩ tài giỏi của ngành Kỹ thuật tên lửa chúng ta đã làm sống lại và trả về cho Tổ quốc hàng ngàn viên đạn SAM2, một tài sản rất lớn.

Quý hóa vô cùng. Chính những quả đạn ấy đã góp phần bắn rụng pháo đài bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng những đêm cuối tháng 12 năm 1972.

 

Về tình trạng lắp ráp chậm:

Khi chuyển từ Liên Xô sang, các quả đạn tên lửa đều ở trạng thái tháo rời. Từng bộ phận đều được sắp xếp gọn gàng trong những thùng kín. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật, thường gọi là "Tiểu đoàn 5", lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện và vô tuyến điện đầy đủ, xong nạp chất đốt, trước khi chuyển đến các tiểu đoàn hỏa lực. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tốc độ lắp ráp của các tiểu đoàn 5 nói chung đã phục vụ được yêu cầu chiến đấu lúc ấy.

Nhưng, để đối phó với cuộc tiến công ồ ạt của không quân chiến lược Mỹ, kéo dài nhiều ngày đêm như trong chiến dịch B52 Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng, trong điều kiện các công đoạn lắp ráp được tiến hành ở nhiều dịa điểm phân tán cách xa nhau (Chú thích: Bố trí các bãi lắp ráp đạn tên lửa ở xa nhau là để giảm tổn thất nếu bị Mỹ ném bom.), thì tốc độ lắp ráp bình thường như trước không thể nào đáp ứng nổi. Vấn đế đặt ra là phải cải tiến quy trình. thao tác, để làm sao trong một ngày đêm có thể cung cấp được một số lượng đạn tên lửa nhiều hơn.

Trước kia, để lắp ráp một quả đạn, theo quy trình cũ các chiến sĩ phải mất rất nhiều thời gian. Qua nhiều ngày đêm cùng anh em trong đơn vị tìm tòi, Tiểu đoàn trưởng kỹ thuật Dương Quảng Châu, người anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, đã đề ra sáng kiến mới: nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, được Tư lệnh Binh chủng Đoàn Huyên và Cục trưởng Kỹ thuật Quân chủng Lương Hữu Sắt rất hoan nghênh và đã sớm cho tiến hành thử nghiệm ngay tại tiểu đoàn kỹ thuật của Dương Quảng Châu, ở Hải Phòng. Kết quả thành công tốt đẹp: năng suất lắp ráp đạn trong một ngày đêm tăng lên gấp đôi. . .

Thế mà khi bước vào chiến dịch, trước sức "ngốn" đạn ngoài mức dự kiến, các tiểu đoàn kỹ thuật của Hà Nội lại bị một phen lúng túng, không sao bảo đảm cung cấp đủ đạn cho các tiểu đoàn chiến đấu, như đã nói ở trên.

Cục Kỹ thuật Quân chủng được lệnh: tăng gấp lực lượng chuyên môn cho các tiểu đoàn 5, để cho mỗi tiểu đoàn có thêm một dây chuyền lắp ráp. Mỗi dây chuyền lại còn được bổ sung quân số để tăng ca, tăng kíp, giúp cho cán bộ chiến sĩ có điều kiện thay nhau làm việc và nghỉ ngơi. Tuy thế, cường độ làm việc ở các tiểu đoàn 5 vẫn vô cùng căng thẳng. Các trận địa hỏa lực từng giờ từng phút đang chờ đạn của Tiểu đoàn 5. Ai nấy đều gầy rộc đi, mắt trũng sâu, thâm quầng vì mỏi mệt và thiếu ngủ.

Cục Hậu cần Quân chủng liền cho mở kho, xuất đường, sữa, thịt hộp, lương khô... vốn là tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ đi B để bồi bổ sức khỏe cho các anh em các tiểu đoàn kỹ thuật. Cả những viên thuốc làm dịu thần kinh, chống cơn buồn ngủ cũng được gửi đến tận tay chiến sĩ.

Nhờ những biện pháp tích cực nói trên, tình trạng lắp ráp đạn không theo kịp yêu cầu chiến đấu đã cơ bản được giải quyết

Còn việc bắn tiết kiệm đạn, bộ đội tên lửa đã thực hiện ra sao?.

Trước hết xin nêu một dẫn chứng: ở Tiểu đoàn 57 trong trận đánh hồi 5 giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21, khi từng tốp B52 đang nối tiếp nhau bay vào thì trên các bệ phóng chỉ còn 2 quả đạn. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Văn Phiệt được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dàn ngày 3-9-1973. Đến năm 1999 là Trung tướng, Phó Tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân.) hạ quyết tâm đánh "quả một", nghĩa là mỗi lần dùng một quả.

5 giờ 09 phút, quả thứ nhất rời bệ, hạ 1 chiếc B52.

5 giờ 19 phút, quả thứ hai, quả đạn cuối cùng trên các bệ phóng, vút lên, hạ thêm 1 B52 nữa. Chiếc này rơi xuống gần Núi Đôi, Vĩnh Phú.

Thế là trong tình hình khan hiếm đạn, bộ đội tên lửa ta đã phải bắn từng phát một và đã lập chiến công kỳ diệu "mỗi viên đạn một quân thù". Đặc biệt ở đây "quân thù" là những siêu pháo đài bay.

Còn những thí dụ khác cũng không kém phần lý thú:

Đêm 26 tháng 12, Tiểu đoàn 79 cũng chỉ bằng một quả đạn đã hạ tại chỗ 1 chiếc B52 rơi ở Sơn La.

Riêng ở Tiểu đoàn 77 đã diễn ra ba trận đánh xuất sắc. Hồi 4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã cho phóng 2 quả, hạ 1 B52 rơi ở xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Đêm sau, 20 tháng 12, lúc 20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 lại hạ thêm 1 B52 nữa rơi ở Vạn Thắng, Ba Vì, cũng bằng 2 quả đạn. Sau đó đến 5 giờ sáng, Tiểu đoàn trường Văn lại cho phóng tiếp 2 quả đạn cuối cùng, diệt thêm 1 B52 nữa, rơi xuống thị xã Phúc Yên.

Như lời của một viên tướng không quân Mỹ, do hãng UPI phát đi từ Băng Cốc hồi giữa tháng 11 năm 1972, nói rằng: "Nếu Bắc Việt bắn rơi được một chiếc B52 trị giá 9 triệu đô-la này mà có bằng cớ, chúng ta coi như họ đánh chìm được một tàu chiến Mỹ", thì chỉ riêng Tiểu đoàn 77, với chiến công bắn rơi tại chỗ 3 chiếc B52, đã đạt được ý nghĩa "đánh chìm" 3 tàu chiến Mỹ, mà chỉ bằng 6 quả đạn tên lửa SAM2 (Chú thích: Tiểu đoàn 77, thuộc Trung đoàn H57, bắn rơi 4 B52 (có 3 chiếc rơi tại chỗ) được phong danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973.).

Sau đêm Nô-en, vào chiều 26 tháng 12, giữa thanh thiên bạch nhật bỗng thấy vút lên một vệt khói dài. Tên lửa của đơn vị nào bắn đây? Sao lại dám vi phạm mệnh lệnh của Bộ "chỉ dành tên lửa để đánh B.52"? (B52 vào Hà Nội chỉ có bay đêm). Thì ra đó là Tiểu đoàn 72 thuộc Trung đoàn H85 của Hải Phòng mới được điều lên tăng cường cho Thủ đô. Do "chân ướt chân ráo" chưa nắm vững quy định, khi phát hiện một tốp F4 lao vào Hà Nội, bất chấp khả năng địch sẽ đánh trả đũa, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt vẫn quyết định phóng đạn. Một chiếc F4 rơi tại chỗ . Nhở chiến công này, Tiểu đoàn 72 được cấp trên miễn tội.

Dường như để "tạ lỗi", đêm 27, vào lúc 23 giờ, Tiểu đoàn 72 đã đánh một trận thật xuất sắc, cũng bằng 2 quả đạn, quật ngã một pháo đài bay giữa lòng Hà Nội. Xác của chiếc B52 rơi ngay xuống đường Hoàng Hoa Thám và giữa làng hoa Ngọc Hà, chỉ cách trung tâm Quảng trường Ba Đình không đầy 600 mét. Một nhà nhiếp ảnh đã chớp thời cơ, thu được hình ảnh chiếc pháo đài bay đang bùng cháy giữa trời đêm. Tấm ảnh thật đẹp, được ca ngợi như là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có.

Năm 1973, ông Xô-lô-rép, Đại tá chuyên gia Phòng không Liên Xô nói với chúng tôi: "Việt Nam nghèo nên phải đánh theo cách của con nhà nghèo, nhưng Việt Nam vẫn thắng, bởi vì các bạn Việt Nam rất thông minh, rất sáng tạo”. Gần đây, một nhà chiến lược Mỹ nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nếu dân tộc Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chắc chắn Việt Nam đã bị khối lượng sắt thép khổng lồ của chúng tôi đè bẹp. Nhưng vì dân tộc Việt Nam thông minh quá nên Mỹ đã chịu thua".

Việc bộ đội phòng không khắc phục muôn vàn khó khăn để có đủ đạn tên lửa đánh thắng B52 Mỹ, suy ra, cũng là từ cái đầu óc sáng tạo của người Việt Nam chúng ta vậy.

Có điều rất đáng tiếc là giá như hồi ấy, bộ đội tên lửa ta có được thêm nhiều đạn hơn, được bắn theo qui tắc xạ kích, được "đánh bồi", "đánh nhồi", mỗi lần bắn thêm vài ba quả, thì kết quả bắn rơi B52 chắc sẽ còn lớn hơn nhiều.

Nguồn: "Điện Biên Phủ trên không" - chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam - Tác giả : Lưu Trọng Lân, nguyên là Phó trưởng phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân
 



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 14 Tháng Tám, 2008, 07:02:12 PM
Vâng , bây giờ tôi hiểu ý bác là "vài chục quả" là bác nói đạn đã lắp, sẵn sàng chiến đấu, chứ không phải là toàn bộ vốn đạn tên lửa của toàn quân. Thế thì tôi nhất trí cao ạ.

Vây còn vụ điều đạn và khí tài từ QK 4 ra HN đã giúp thay đổi cục diện thì quan điểm của bác thế nào ạ?


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 15 Tháng Tám, 2008, 12:28:19 PM
Vâng , bây giờ tôi hiểu ý bác là "vài chục quả" là bác nói đạn đã lắp, sẵn sàng chiến đấu, chứ không phải là toàn bộ vốn đạn tên lửa của toàn quân. Thế thì tôi nhất trí cao ạ.

Vây còn vụ điều đạn và khí tài từ QK 4 ra HN đã giúp thay đổi cục diện thì quan điểm của bác thế nào ạ?



Năm 1972, tôi về làm việc tại Viện Vật Lý, đóng ở Nghĩa Đô, và cơ quan cử 6 thanh niên tự vệ ở lại bảo vệ Viện. Trong số đó có tôi. Đây là bức hình chụp 15 giờ 30 ngày 26-12-1972 nhóm chúng tôi (thiếu 3 người nữa: Trực, Tân, Khuông)
(http://i532.photobucket.com/albums/ee328/ngao5/DangVuMinh1972.jpg)
Từ trái sang: Phạm Đình Tỵ, Đặng Vũ Minh, ngao5 (tôi), Ngô Quang Tấn (chỉ huy).
Ông Đặng Vũ Minh, nay là uỷ viên TW Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học công nghệ Quốc hội.
Phải sống trong những ngày đó, các bạn mới hiểu được tâm trạng con người. Chính vì vậy tôi cũng mất nhiều công tìm hiểu vụ Linebacker từ những năm 1972. Thêm nữa, năm 1970, vào năm thứ tư; bạn học cùng lớp khoá 12 Khoa Hoá học Đại học Tổng hợp nhập ngũ và phần đông vào PKKQ, một số được đưa sang LX học SAM3. Những người này kể cho tôi nghe nhiều chuyện về tên lửa, bản thân họ là sĩ quan chỉ huy SAM2 ở khu 4.
Trở lại câu chuyện đạn tên lửa: Từ năm 1969 LX và Trung Quốc giảm viện trợ quân sự cho Việt nam. Tên lửa Việt nam (đã có) được chứa trong các kho thí dụ: Kim Bôi (Hoà Bình) Ba Khe (Nghĩa Lộ)v.v… một số được đưa vào khu 4 và vào miền Nam qua đường HCM. Trên thực tế, từ 1968 sĩ quan Nga đã đi cùng các đơn vị tên lửa của chúng ta đến tận Vĩnh Linh.
(http://i532.photobucket.com/albums/ee328/ngao5/belov12.jpg)
(http://i532.photobucket.com/albums/ee328/ngao5/belov13.jpg)
Ảnh: Sĩ quan Nga cùng các tiểu đoàn tên lửa vào Quảng Bình-Vĩnh Linh
Trong những ngày thiếu đạn như thế trông chờ vào:
1) Cầu hàng không (nếu có) chở đạn SAM-2 (chứ không phải SAM-3) từ LX sang
2) SAM-3 về kịp
3) Lắp ráp đạn tên lửa
4) Đạn tên lửa từ Quảng Bình, Vĩnh Linh và miền "tây Quảng Bình" (một cách gọi tránh đất Lào giáp Quảng Bình)

Phương án 1:
Cầu hàng không chưa thấy và chắc cũng khó khăn vì phải sử dụng sân bay Trung Quốc để hạ cánh. Trong bối cảnh LX, TQ có "những thoả thuận độc ác" (Xã luận Báo Nhân Dân, ngày 5-5-1972) với Mỹ thì phương án này khó khả thi.
Phương án 2: SAM-3 về kịp. Chỉ có những vị lãnh đạo quân sự cao cấp của ta mới trả lời được câu hỏi: vì sao những người học SAM-3 về Việt nam từ tháng 10 mà vũ khí lại về muộn hơn? Không những muộn mà lại về "vừa vặn đúng lúc Nixon chấm dứt nứm bom Bắc Việt nam".
Phương án 3: Lắp ráp đạn: với tốc độ chừng 20 quả/ngày đối với cuộc đánh nhau với B52 quả là quá khiêm tốn
Phương án 4: Tên lửa từ QB-VL đưa về, theo báo Nhân Dân, 12-1989 viết có những đơn vị phải di chuyển từ đó về HN tới 600 km. Các bạn nên hình dung thời chiến di chuyển tên lửa 600 km là một kỳ công: phải đi đêm, ban ngày cất giấu….
Theo tôi hiểu cả hai phương án 3, 4 là hiện thực (real) cung cấp đạn cho chúng ta bổ xung kịp trong 2 ngày nghỉ Noen (24-25 tháng 12-72)

Nếu Nixon (tôi giả định thế) kéo dài ném bom thì tình hình sẽ ra sao? Lúc đó chúng ta sẽ được biết hai anh cả Liên Xô Trung Quốc sẽ xử thế với Việt nam ra sao?

 


   




 


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: tuaans trong 15 Tháng Tám, 2008, 12:33:51 PM
Bác cứ giả định làm gì! Nó thế rồi mà.

Các bác có biết cái bãi ráp tên lửa của LX hiên ngang giữa đồng ở Hưng Yên không nhỉ?  ;D

Đúng là cuộc chiến có lắm trò buồn cười!


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: Triumf trong 15 Tháng Tám, 2008, 12:45:01 PM
LX lập cầu hàng không làm gì nếu đạn C-75 vẫn còn nằm ở Bằng Tường

 Bạn xem kỹ những gì tôi viết trước đây. Tôi không nói  đạn C-75M lúc đó đang nằm ở Bằng Tường. SAM-3 cũng chưa có mặt ở Bằng Tường

Toàn bộ SAM-3 (đạn C-125 + bệ phóng) từ Khabarovsk (Nga) chở bằng tầu hoả qua Trung Quốc nếu đi nhanh phải mất 5 ngày, tức là nó phải xuất phát từ Khabarovsk trước ngày 26-12-72 để đến được ga  Bằng Tường ngày 1-1-1973.
Từ 21-12-72 Việt nam bắt đầu lo thiếu đạn, nhưng đến đêm 23-12-72 thực sự sẵn sàng chiến đấu chỉ còn vài chục quả, tôi nhớ không chính xác là 23 quả nằm trên bệ)
Liên Xô lo thiếu đạn tên lửa với tốc độ bắn nhiều như mấy ngày đầu sợ rằng  chở bằng tàu hoả không kịp, "phải tính đến" (xin nhớ là tính đến phương án như lời bài báo) đưa ngay sang bằng máy bay, để bổ xung, vì lắp ráp ở Việt nam cũng không kịp với tốc độ cuộc chiến.

     
Trích từ cuốn "Lịch sử Trung đoàn tên lửa phòng không 276" - Trung đoàn tên lửa SAM-3 đầu tiên:
"Cuối tháng 8 năm 1972, ban chỉ huy trung đoàn đã gửi thư tay qua tùy viên quân sự báo cáo về Quân chủng nói rõ tính năng, đặc điểm của loại tên lửa C-125 để Bộ tư lệnh Quân chủng có ý định sử dụng hỏa lực trước khi đơn vị hành quân về nước.
Theo dõi sát diễn biến đàm phán ở Hội nghị Pa-ri, lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn thường xuyên giáo dục bộ đội tinh thần sẵn sàng về nước tham gia chiến đấu. Giờ đây, vừa hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện chuyển binh chủng với kết quả bắn đạn thật đạt thành tích xuất sắc; cán bộ chiến sĩ càng háo hức về nước lập công. Số cán bộ đã sử dụng tên lửa C-75 gặp nhiều khó khăn trong những ngày đầu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai lại càng nung nấu ý chí chiến đấu và quyết thắng. Với tính năng ưu việt của tên lửa C-125, họ tin chắc sẽ có dịp đánh thắng các thủ đoạn chiến thuật mới của địch, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay Mỹ.
Đảng ủy trung đoàn ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị hành quân về nước. Các yêu cầu đảm bảo an toàn cho người và trang bị kỹ thuật trong hành quân, tuyệt đối giữ bí mật về nhiệm vụ và kết quả học tập được đặt lên hàng đầu trong công tác lãnh đạo. Đảng ủy cũng chỉ ra: Trung đoàn phải nhanh chóng cùng bộ phận trong nước kiện toàn tổ chức đưa đơn vị vào nền nếp. Công tác tư tưởng lúc này là tiếp tục xây dựng và củng cố ý chí, quyết tâm chiến đấu ngay từ những ngày đầu ra quân.
Ngày 4 tháng 12 năm 1972, toàn trung đoàn lên xe lửa rời Ba-cu – A-zéc-bai-dan về nước. Tối ngày 18 tháng 12 năm 1972, tàu vượt qua biên giới Việt – Trung về đến Bắc Giang và dừng lại ở Kép, vì cầu Bắc Giang mới bị đánh hỏng. Cũng đúng đêm ngày 18 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ mở đợt tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội và Hải Phòng.
Ở thời điểm tàu dừng bánh, máy bay địch đang quần lượn đánh phá nhiều địa điểm, trong đó có sân bay Kép, ga Kép.
Thủ trưởng trung đoàn lệnh cho bộ đội rời khỏi tàu, nhanh chóng sơ tán người và hành lý ra xa các mục tiêu địch có thể đánh phá tiếp. Trong đêm tối, toàn trung đoàn khiêng vác toàn bộ hành lý, sơ tán vào làng Vỹ Liệt, cách ga Kép 5km.
Trong lúc đó, cán bộ trung đoàn vào sở chỉ huy Sư đoàn 375 tại Hữu Lũng báo cáo về Quân chủng và xin chỉ thị.
Thủ trưởng Sư đoàn 375 điều xe đưa trung đoàn trưởng và chính ủy Trung đoàn 276 về Quân chủng báo cáo tình hình và nhận lệnh mới.
Hai đồng chí trung đoàn phó Nguyễn Đình Ái và Quách Hải Lượng ở lại tổ chức cho bộ đội trú quân. Những đồ đạc hành lý nặng chưa cần thiết cho sinh hoạt và chiến đấu được tập trung thành kho, gửi lại địa phương, đồng thời tổ chức cho bộ đội quay ngược lên Đồng Đăng để nhận vũ khí, khí tài (vũ khí, khí tài đi sau).

...

Tại sở chỉ huy Quân chủng, sau khi nghe đồng chí Phạm Sơn, trung đoàn trưởng và Nguyễn Khắc Chuẩn, chính ủy trung đoàn báo cáo kết quả học tập và hành quân an toàn về nước, đồng chí Hoàng Phương, Chính ủy Quân chủng biểu dương trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ mà Quân chủng và Bộ Quốc phòng giao cho, đồng thời lệnh cho trung đoàn khẩn trương triển khai chiến đấu trong đội hình Sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội.
Nhiệm vụ của Trung đoàn 276 là hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị trong sư đoàn và các lực lượng phòng không địa phương bảo vệ hướng đông – đông nam và đông bắc Hà Nội. Trước mắt, đơn vị phải nhanh chóng tiếp nhận vũ khí, khí tài và cơ động về các trận địa đã chuẩn bị sẵn quanh Hà Nội.
Trung đoàn thiết lập một sở chỉ huy nhẹ tại bản Nga do trung đoàn phó Nguyễn Đình Ái trực tiếp chỉ huy điều hành việc tiếp nhận vũ khí, khí tài. Trong hai đêm, trung đoàn đã nhận xong 3 bộ khí tài tại ga Đồng Đăng và tổ chức sơ tán về Lộc Bình – Lạng Sơn đảm bảo an toàn. Ba tiểu đoàn còn lại nhận tại ga Đa Phúc. Trong thời gian bộ phận huấn luyện chuyển binh chủng tại Liên Xô, bộ phận ở trong nước của trung đoàn cũng hoàn thành một khối lượng lớn công việc như ổn định biên chế tổ chức, tiếp nhận tân binh, triển khai huấn luyện chuẩn bị cơ sở vật chất hậu cần, xây dựng các trận địa, tạo điều kiện cho trung đoàn khi về nước bước vào chiến đấu được ngay.
Thủ trưởng Sư đoàn phòng không 361 chỉ thị: Tiểu đoàn nào, bộ phận nào nhận xong vũ khí, khí tài, nhanh chóng tổ chức hành quân về chiếm lĩnh trận địa. Toàn bộ công việc trên đã diễn ra hết sức khẩn trương trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972. Ban ngày máy bay chiến thuật đánh phá, ban đêm máy bay B-52 rải thảm, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 276 bất chất hiểm nguy, triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ mong sớm được phóng đạn đánh địch.
Thời gian đầu, sở chỉ huy trung đoàn bố trí ở Tây Mỗ. Ban chỉ huy trung đoàn chỉ đạo cho các cơ quan và đơn vị: Tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến đấu trước. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Khắc Cần và chính trị viên Nguyễn Văn Sang, tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai chiến đấu ở trận địa Bắc Hồng, Đông Anh. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Trọng Đào, tiểu đoàn 170 đã kéo vũ khí, khí tài về triển khai ở chân núi Dõm, xã Phù Linh (huyện Đa Phúc cũ). Các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật đã nhanh chóng triển khai một dây chuyền lắp ráp 4 quả đạn và kiểm tra hiệu chỉnh, đảm bảo các tham số kĩ thuật, sau đó bàn giao cho tiểu đoàn 169.
Khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, lưới ngụy trang vừa kéo lên che đậy vũ khí, khí tài thì chiến dịch phòng không đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972 kết thúc.
Các tiểu đoàn khác triển khai chậm hơn nhưng đều chưa nhận được đạn. Hai tiểu đoàn 166, 167 đang còn ở Lộc Bình, Lạng Sơn. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Trên miền Bắc, chiến tranh kết thúc.
Quân và dân miền Bắc đã lập nên kỳ tích chói lọi trong lịch sử dân tộc: Đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác.
Trong niềm hân hoan đón mừng chiến thắng của dân tộc, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 276 ai cũng nuối tiếc đã không kịp phóng đạn đánh vào những chiếc máy bay cuối cùng của địch trên bầu trời Hà Nội. Nhiều người đã thốt lên: Nếu như đạn về đồng bộ với vũ khí, khí tài thì trung đoàn đã phát huy được hỏa lực tham gia những trận đánh cuối cùng bảo vệ bầu trời Hà Nội."


http://www.quansuvn.net/index.php?topic=683.0 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=683.0)



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Tám, 2008, 08:59:51 PM
Phương án 3: Lắp ráp đạn: với tốc độ chừng 20 quả/ngày đối với cuộc đánh nhau với B52 quả là quá khiêm tốn

Sau ngày 20/12, tại khu vực HN -HP có 3 tiểu đoàn kỹ thuật lắp đạn. Công suất mỗi tiểu đoàn 24 quả một này đêm. Tổng cộng ít nhất cũng phải được 60 quả một ngày đêm.

Trích dẫn
Phương án 4: Tên lửa từ QB-VL đưa về, theo báo Nhân Dân, 12-1989 viết có những đơn vị phải di chuyển từ đó về HN tới 600 km. Các bạn nên hình dung thời chiến di chuyển tên lửa 600 km là một kỳ công: phải đi đêm, ban ngày cất giấu….
Theo tôi hiểu cả hai phương án 3, 4 là hiện thực (real) cung cấp đạn cho chúng ta bổ xung kịp trong 2 ngày nghỉ Noen (24-25 tháng 12-72)

Nhiều cái bác đọc vậy mà chưa chắc đã vậy. Chắc vì phải di chuyển kỳ công như thế cho nên mãi đến tối 28/12, đạn từ QK4 mới ra đến HN bác ạ.



Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: ngao5 trong 15 Tháng Tám, 2008, 09:36:41 PM
Phương án 4: Tên lửa từ QB-VL đưa về, theo báo Nhân Dân, 12-1989 viết có những đơn vị phải di chuyển từ đó về HN tới 600 km. Các bạn nên hình dung thời chiến di chuyển tên lửa 600 km là một kỳ công: phải đi đêm, ban ngày cất giấu….
Theo tôi hiểu cả hai phương án 3, 4 là hiện thực (real) cung cấp đạn cho chúng ta bổ xung kịp trong 2 ngày nghỉ Noen (24-25 tháng 12-72)


Nhiều cái bác đọc vậy mà chưa chắc đã vậy. Chắc vì phải di chuyển kỳ công như thế cho nên mãi đến tối 28/12, đạn từ QK4 mới ra đến HN bác ạ.


Đúng là tôi đọc báo Nhân Dân, và tôi cũng không tiện nêu ra những điều tôi biết, thí dụ các đơn vị tên lửa phải thu xếp khí tài, chuyển vận về và cũng không phải lúc nào đi đường cũng xuôi chiều mát mái. Báo nói con số 500-600 km bạn đừng nghĩ rằng là khoảng cách  từ Huế đến Hà nội. Họ từ Lào về đấy. Các xe chở tên lửa phải đi vòng vèo, đường xá xấu, nhiều bến phà… Tuy nhiên những tên lửa từ Thanh Hoá, Nghệ an  bắc Quảng Bình đã về kịp đấy!

 


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Tám, 2008, 10:03:31 PM
Tuy nhiên những tên lửa từ Thanh Hoá, Nghệ an  bắc Quảng Bình đã về kịp đấy!

Tôi rất quan tâm chuyện này. Vậy bác có thể cho biết đó là đơn vị nào, về đến HN chính xác ngày nào, mang về được bao nhiêu đạn, tham gia chiến đấu từ ngày nào không ạ?


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: longtt88 trong 16 Tháng Năm, 2012, 09:48:26 AM
Hồi ức CỦA CỰU BINH LIÊN XÔ VỀ VIỆT NAM

http://www.youtube.com/watch?v=2r6NTYCla6Y


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Bảy, 2013, 01:45:14 PM
Một bộ ảnh kỷ niệm của những năm 196x. Chủ nhân bộ ảnh là sỹ quan tên lửa Shelomytov Ghennady Yakovlevitch, nguồn đăng "nhat-nam.ru" (http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/oldfoto47.html).

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-1.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-6.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-5.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-8.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-24.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-25.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-37.jpg)

.......

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-38.jpg)
Ngoài cùng bên phải, nghệ sỹ Mai Châu.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Hai, 2014, 06:58:36 PM
Trích "Việt Nam - không thể nào quên"

Đảm bảo đo lường và sửa chữa vũ khí - cơ sở của sự sẵn sàng chiến đấu và tính hiệu quả của tổ hợp tên lửa phòng không

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Bannikov.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Bannikov.jpg.html)

Trung tá Bannikov Evgheny Kuzmitch

Sinh ngày 21 tháng 8 năm 1945 tại Belarus.

Năm 1963 tốt nghiệp trường phổ thông tại thành phố Pinsk và vào học Trường Cao đẳng Kỹ thuật VTDT Phòng không Minsk, tốt nghiệp 1968. Bắt đầu phục vụ tại Ural, là kỹ sư vũ khí tên lửa tại đơn vị quân đội 31768 tại thành phố Kystym. Sau đó ông phục vụ trên các cương vị khác nhau tại Phòng Thí nghiệm đo lường thiết bị kỹ thuật số 184 và đơn vị quân dội 03311 thuộc Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 4 QCPK. Năm 1982 tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật VTDT PK Quân sự Kharkov mang tên nguyên soái Liên Xô L.A.Govorov. Năm 1992 chuyển ngạch dự bị theo độ tuổi trên cương vị chỉ huy trưởng đơn vị quân đội 03311. Hiện nay làm việc trên cương vị Trưởng phòng Thiết kế TSKB "Transmash" tại thành phố Ekaterinburg. Đã biệt phái công tác tại Việt Nam từ tháng 12 năm 1973 đến tháng 5 năm 1974 và từ tháng 1 năm 1975 đến tháng 6 năm 1975.

Đã được tặng thưởng huy chương "Chiến công" và nhiều huy chương khác do quá trình phục vụ quân dội và huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.


Những ấn tượng đầu tiên về chiến tranh ở Việt Nam của tôi và những đau khổ của nhân dân Việt Nam hằn vào tâm trí tôi khi các học viên Việt Nam tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật VTDT PK Minsk, nơi tôi học giai đoạn 1963-1968, chuẩn bị về Tổ quốc nghỉ phép. Hồi đó theo sáng kiến của tổ chức Đảng và Đoàn Komsomol trong nhà trường, đã tổ chức quyên góp tiền để mua quà tặng những đứa trẻ và các thành viên trong gia đình các bạn Việt Nam. Tôi bây giờ cũng không còn nhớ được chính xác đã mua những quà gì, nhưng trong đó có kẹo bánh cho trẻ con. Và khi người lãnh đạo nhóm học viên Việt Nam lên đáp từ run giọng mà nói rằng không phải tất cả những đứa trẻ của họ sẽ được biết vị ngọt của kẹo, thì trong gian hội trường lớn nơi diễn ra cuộc tiễn đưa trọng thể, không ai có thể hững hờ. Tất cả đều hiểu rằng các bạn học Việt Nam của chúng tôi, những người mà chúng tôi biết rất rõ, trở về nơi ấy, nơi đang diễn ra cuộc chiến tranh đẫm máu có sử dụng chính những tổ hợp TLPK S-75 mà chúng tôi được học.
 
Kinh nghiệm sử dụng Binh chủng TLPK thuộc QCPK Quốc gia tại Việt Nam được nghiên cứu và phân tích khá tỉ mỉ tại các cơ sở đào tạo cao đẳng đại học của QCPK, trong đó có Cao đẳng Kỹ thuật VTDT PK Minsk, với tư cách là một trong các trường đào tạo quân sự đầu đàn của Bộ đội Phòng không Quốc gia. Thông tin truyền qua các bản tin nội bộ và trở thành đề tài nghiên cứu được quan tâm của đội ngũ giảng viên tại Khoa Chiến thuật, sau đó là đề tài thảo luận tại các giờ seminar với các học viên. Chúng tôi chân thành vui mừng trước những thành công của các trận đánh PK đầu tiên, đau buồn chia sẻ với những tổn thất trong chiến đấu khi xuất hiện tên lửa chống radar Mỹ kiểu "Shrike". Các thủ đoạn chiến thuật của máy bay địch được nghiên cứu kỹ lưỡng, các biện pháp có thể đối phó với đạn chống radar, các đặc điểm tiến hành trận đánh PK trong điều kiện bị địch gây nhiễu tích cực quy mô lớn được mang ra thảo luận sôi nổi. Đặc biệt người ta quan tâm đến việc cải tiến các đặc tính kỹ thuật của tổ hợp S-75, nâng cao hiệu quả của nó. Mà hiệu quả xạ kích sau những thắng lợi vô diều kiện giai đoạn đầu đang sa sút. Không quân Mỹ ngừng bay theo đội hình chặt chẽ trên độ cao trung bình, chúng bắt đầu tích cực gây nhiễu, dùng các phương pháp khác nhau vượt qua hệ thống PK ở các độ cao thấp và chia thành các tốp chuyên nhiệm chế áp tổ hợp TLPK. Trên các máy bay của Hoa Kỳ đã lắp đặt các bộ chỉ thị phát ra thinh không lệnh vô tuyến (RPK) xác nhận cuộc phóng đạn tên lửa và bắt đầu chuyến bay có điều khiển của nó. Trong trường hợp này phi công của các máy bay KQ chiến thuật và KQHQ trên hạm được quy định thực hiện các thao tác cơ động tránh tên lửa mà thường dẫn đến việc phá vỡ sự kiểm soát đường bay của nó. Thực tế theo những người chứng kiến thì các phi công Mỹ khi nhận được tín hiệu như vậy thường bỏ qua chỉ dẫn mà chỉ làm mỗi động tác bung dù, sau khi nhìn thấy "điếu xì-gà" nặng 2 tấn của trái đạn TLPK đang vun vút lao tới họ. Còn trên mặt đất người ta đã nóng lòng chờ đợi họ từ lâu....  

Khi tiến hành các hoạt động chiến đấu dường như không bao giờ thể hiện nguyên tắc "mỗi tác động đều sinh ra phản tác động". Chúng tôi được dạy trong trường rằng việc gây nhiễu hiệu quả trên kênh ngắm của tên lửa trong các điều kiện có liên lạc vô tuyến trực tiếp giữa đài điều khiển tên lửa (SNR) và đạn tên lửa là có xác suất tin cậy nhỏ. Nhưng cuộc sống có những điều chỉnh của nó. Kẻ thù đã xác định thành công dải tần số của máy hỏi-đáp vô tuyến của tên lửa và tại một trong các cuộc không kích vào Hà Nội, chúng đã gây nhiễu xung-hỏi đáp rất mạnh vào kênh điều khiển đó. Kết quả thật bi đát đối với tổ hợp TLPK. Trên thực tế hầu như tất cả các quả đạn với đầu chiến đấu cùng thùng nhiên liệu và chất ô-xy hóa nguyên vẹn đã mất điều khiển và lao xuống đất và gây sát thương đáng kể cho chính đối tượng được bảo vệ. Phia Việt Nam thậm chí đã nghi ngờ chất lượng các tên lửa do Liên Xô cung cấp. Điều đó cùng với các thất bại khác đã được mổ xẻ phân tích kỹ bởi các chuyên gia quân sự Xô Viết tại Việt Nam cũng như tại Liên Xô. Kết quả là đã thay đổi dải tần số và công suất của đèn magnetron khối FR-15 của đạn tên lửa và tiến hành một loạt biện pháp nâng cao khả năng kháng nhiễu của đài điều khiển.

Việc hạ thấp giới hạn dưới của vùng diệt mục tiêu của tổ hợp TLPK đã buộc máy bay địch phải chuyển sang các độ cao cực thấp nơi hệ thống PPK của bộ đội PK Việt Nam đang nóng lòng chờ đợi chúng. Các phương pháp đối phó với đạn chống radar cũng đã được phát triển, dẫn tới việc giảm mạnh mức độ tổn thất cho đội ngũ quân nhân bộ đội TLPK. Toàn bộ những biện pháp này và các biện pháp khác nữa đã giúp phục hồi tính hiệu quả của tổ hợp và tiếp tục cuộc chiến đấu của QDNDVN với máy bay của bọn xâm lược.

Tổn thất của Không lực Mỹ tại Việt Nam tăng lên và ngày càng trở thành lớn đến mức không chấp nhận nổi với Hoa Kỳ. Chiến thắng của bộ đội PK nước Việt Nam nhỏ bé trước sức mạnh quân sự của máy bay Hoa Kỳ, có sử dụng chính tổ hợp TLPK mà chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng, gây cho chúng tôi, các học viên của một trường quân sự bộ đội PK, niềm tự hào chính đáng. Nhưng niềm sung sướng đặc biệt dấy lên trong chúng tôi là khi được tin tên lửa PK của chúng tôi đã bắn hạ chiếc máy bay ném bom chiến lược đầu tiên của Mỹ, chiếc "pháo đài bay" B-52 lừng danh và không thể với tới. Như sau này đã biết, đó chỉ là bước khởi đầu. Trong thời gian chỉ một chiến dịch không kích ồ ạt của máy bay Mỹ từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, trên bầu trời Hà Nội đã có 81 máy bay địch bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52, điều đó buộc ban lãnh đạo Mỹ từ chối tiếp tục chiến dịch.

Đối với chúng tôi, những sĩ quan binh chủng TLPK trong tương lai, điều đó thật thú vị nhưng vẫn còn ở xa. Liệu hồi đó tôi có biết được rằng với cuộc chiến tranh ấy, với đất nước ấy tôi sẽ còn phải làm quen gần gụi hơn nữa hay không ?

Thật bất ngờ tôi nhận được đề nghị "thật nhanh chóng, cỡ khoảng 6 tháng", đi công tác biệt phái đến đất nước có khí hậu nóng ẩm này vào năm 1973, khi tôi đang phục vụ trên cương vị trưởng ban sửa chữa và tiêu chuẩn hóa Trạm Kiểm tra- Thử nghiệm (KIPS) của Phòng Thí nghiệm đo lường thiết bị kỹ thuật 184 của TDQ PK số 4. Cần phải khôi phục lại trang bị kỹ thuật sau các trận đánh tháng 12 năm 1972 mà trong đó máy bay Mỹ phải chịu những tổn thất khủng khiếp và Hoa Kỳ buộc phải rút khỏi Việt Nam. Nhóm chuyên gia sửa chữa và tiêu chuẩn hóa của trạm KIPS và phương tiện đo lường được thành lập từ các cơ quan đo lường của các binh đoàn PK khác nhau. Trong thành phần của nó có các đại diện của Bộ Tham mưu Phòng không, Phòng Thí nghiệm trang thiết bị đo lường Liuberetskaia, các chuyên gia đo lường từ Bacu, Kiev, Minsk và Sverdlovsk. Lãnh đạo nhóm là sĩ quan Bộ Tham mưu Phòng không Trushkin Oleg Ivanovitch. Thủ tục chuẩn bị cho đội ngũ quân nhân của nhóm đi công tác biệt phái theo đúng tiêu chuẩn - tiêm chủng, hướng dẫn và trò chuyện ở các mức độ khác nhau, lên đến tận BCHTU Đảng CS Liên Xô. một bộ phận nhóm công tác sẽ đến Việt Nam bằng đường biển để hộ tống hàng hóa là các trang bị, công cụ đo lường, các dụng cụ đặc chủng và phụ tùng thay thế. Trong các hòm hàng đó, theo lời khuyên của các đồng chí có kinh nghiệm hơn, đã lèn vào các hộp cá trích, đường đen, xúc xích sấy khô và tất nhiên thuốc lá "Thủ đô". Hơn nữa, chúng tôi còn phải đón Năm Mới ở Việt Nam. Sau này mới rõ rằng tất cả những món tuyệt vời ấy đã đến rất kịp thời, dù việc giữ chậm nó đến 30 tháng 12 có làm tất cả chúng tôi hơi lo lắng.

Bản thân chuyến bay dài cũng rất mệt mỏi. Chiếc IL-18 cần cù bay suốt ngày đêm đưa chúng tôi từ Moskva đến Hà Nội. Các điểm đỗ tạm là Tashkent, Karachi, Calcutta, Rangoon, Vientiane. Ấn tượng tích lại theo mức độ xa Moskva. Ban đầu đối với một người Xô Viết rất kỳ lạ là đồ uống các loại ở "Duty shops" tại Karachi. Sau đó là mùi vị nóng bỏng, mùi cỏ cây nồng gắt lạ lùng miền nhiệt đới và rong biển trong không khí tời đêm Calcutta, đàn voi lấm đầy bụi dưới cánh bay đang hạ thấp khi chúng tôi bay đến gần Rangoon. Hơi thở của chiến tranh ta đã cảm thấy tại Viên-chăn, nơi trên đường băng cạnh cảng hàng không có những chiếc máy bay quân sự Mỹ đang cất cánh, hạ cánh. Và cuối cùng là Việt Nam. Sáng sớm, thảm xanh phía dưới phản chiếu ánh mặt trời đang lên. Như sau này được biết đó là những cánh đồng lúa đầy nước tỏa sáng. Máy bay hạ cánh tại sân bay Gia-Lâm, hơi mát buổi sớm mai và toàn bộ hương vị ẩm ướt kỳ lạ của có cây miền nhiệt đới.

Hà Nội đương nhiên làm sửng sốt con người Xô Viết chất phác. Đặc biệt là việc tổ chức di chuyển trên đường giao thông. Trong dòng chảy dày đặc của những chiếc xe đạp, liên tục nhấn còi, khéo léo không chạm vào mọi người, những chiếc ô tô vẫn di chuyển bình thường. Những chiếc mũ rơm hình nón cụt đặc trưng trên đầu những người phụ nữ, nhũng người đạp xích-lô, rất nhiều quân nhân quân phục màu xanh đội mũ cối - tất cả để lại ấn tượng không thể phai nhòa. Hậu quả đặc biệt của những trận ném bom xuống thành phố này chúng tôi không nhận ra ngay lập tức. Dẫu sao từ lúc có các cuộc ném bom ồ ạt đến nay đã nhiều thời gian qua đi và các đống đổ nát đã được dọn dẹp. Ngoài ra, như sau này được biết, hậu quả của các cuộc ném bom "rải thảm", do đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, sẽ rất nhanh chóng, chỉ trong đúng có một vài ngày đã làm cỏ cây mọc lên như vũ bão. Hơn nữa khi quan sát chăm chú các bãi trống trong quang cảnh xây dựng thành phố, nhất là ở vùng phụ cận, có thể hiểu rằng cách đây không lâu thành phố đã phải chịu một cuộc chấn động lớn.

Trong khi chờ đợi hàng đường biển gồm có các thiết bị đo và máy móc phụ tùng các loại chúng tôi được bố trí ở KS Kim Liên, một tổ hợp khách sạn cho các chuyên gia nước ngoài tại Hà Nội. Có một cuộc số cuộc gặp chính thức với phía Việt nam bàn công tác tổ chức, hướng dẫn diễn ra tại sứ quán của chúng ta. Được biết chúng tôi sẽ làm việc tại cơ sở sửa chữa A-31 phía bắc Hà Nội, làm việc tại đó cũng sẽ có nhóm các nhà công nghiệp về công tác sửa chữa và hiện đại hóa tổ hợp TLPK. Một số ngày chờ đợi bắt buộc đó dường như không đủ để chung tôi kụp thích ứng khí hậu và làm quen với Hà nội. Điều kiện sinh hoạt thường nhật tại Kim Liên như sau này chúng tôi hiểu, thuộc loại khá tiện nghi theo quan niệm ở đây. Các căn hộ cho hai người có nền lát đá. Cửa sổ không có kính mà chỉ che phủ bằng những cánh chớp, trong điều kiện mùa đông khi nhiệt độ xuống +10 độ C thật ra không được tiện nghi lắm. Bởi vậy trong đêm đầu tiên tại Hà Nội chúng tôi hiểu rằng cần có trên giường những tấm chăn bông. Nhiệm vụ của những chiếc màn đã được sáng tổ ngay khi ta nhìn thấy khá nhiều loại sâu bọ bay và trườn bò khắp nơi. Còn tai thì cần phải nút kỹ nếu không muốn hằng đêm bạn tỉnh giấc toát mồ hôi lạnh vì tiếng ve sầu kêu nghe như tiếng cưa vòng.  

Tại Kim Liên ngoài các chuyên gia Xô Viết còn có một số nhóm thuộc các nước trong phe XHCN. Tôi nói chuyện này vì có một tình huống khá tức cười rất hay xảy ra, đó là các đại diện các nước anh em, khi kỷ niệm một ngày lễ nào đó, thường vi phạm quy tắc sinh hoạt ban đêm mà hát vang bài Kachiusa bằng tiếng Nga. Sáng hôm sau, lời than phiền của bộ phận phục vụ lại đổ xuống đầu các chuyên gia Liên Xô, và trưởng nhóm chúng tôi lại phải đi dàn hòa.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Hai, 2014, 06:07:53 PM
Nhưng ấn tượng thì vẫn là ấn tượng và chúng tôi đến đất nước này vì những nhiệm vụ khác. Ngay sát trước Năm Mới, các thùng hàng chứa dụng cụ làm việc của chúng tôi, được gửi đường biển, đã đến cảng Hải Phòng, và chúng tôi được báo rằng đã đến lúc phải tới nơi làm việc tại A-31 (A ba mốt) và các địa điểm làm việc sẽ bị đảo lộn. Cơ sở sửa chữa A-31 nằm tại một vùng trung du đẹp đẽ phía bắc Hà Nội khoảng 50km. Nói riêng thì cơ sở này khó có thể gọi là một cơ sở sửa chữa theo quan niệm của chúng tôi ở Liên bang. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong số các tòa nhà lớn ở đây chỉ có tòa nhà chỉ huy và một tòa nhà nhỏ là không có cửa sổ, trong đó, theo lời kể của những người lớn tuổi, hồi xưa đã có thời giam giữ phi công tù binh Mỹ. Thay vì các nhà ở và phân xưởng sản xuất, người ta xây dựng những dãy nhà 1 tầng nhỏ. Bốn bức tường xây bằng gạch, cửa sổ chớp không có kính, mái lợp ngói, trần căng bạt. Trong các dãy nhà một tầng để ở có những chiếc giường có màn, tủ để quần áo, ghế dài, và phích nước sôi. Tất cả các tiện nghi khác ở bên ngoài. Đứng riêng từng chỗ một là nhà ăn một tầng, nhà chiếu phim một tầng, nhà tắm giặt một tầng, nhà sinh hoạt đoàn thể 1 tầng. Bộ phận phục vụ ở trong một ngôi nhà 1 tầng riêng, có điều kiện sinh hoạt ở mức thấp hơn.  

Các đồng bào trong nhóm các nhà công nghiệp dưới sự chỉ huy của Ivan Petrovitch Shavkun vui mừng đón chúng tôi và hỗ trợ mọi việc trong công tác lắp đặ trang thiết bị. Mà trong công tác đó. việc trang bị các vị trí làm việc và làm quen với các bạn Việt Nam mà chúng tôi sắp phải cùng làm việc cũng mất vài ngày. Tầm quan trọng của công việc sắp tới thật khó đánh giá hết. Trạm KIPS được thiết kế làm nhiệm vụ kiểm tra trước khi phóng, hiệu chỉnh và chuẩn bị tên lửa để sử dụng các tổ hợp TLPK S-75 vào chiến đấu. Tất cả các mạch điện điều khiển của động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng , ngòi nổ vô tuyến, mạch nổ của đầu chiến đấu của quả đạn, tham số của các khí cụ điều khiển vô tuyến và máy ngắm vô tuyến FR-15, cơ cấu tự lái AP-75 cần làm việc hoàn hảo và phù hợp hoàn toàn với các tham số của đài điều khiển. Trong trường hợp dù chỉ có một độ lệch nhỏ nhất so với các yêu cầu trên, hiệu quả diệt mục tiêu của tổ hợp S-75 sẽ giảm sút mạnh và nói chung thường dẫn đến mất tác dụng. Nói khác đi, kết quả sử dụng tổ hợp S-75 đối phó lại máy bay địch sẽ phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng chuẩn bị tên lửa bằng trạm KIPS. Bởi vậy việc chuẩn bị các vị trí công tác và khí cụ kiểm tra được tiến hành rất kỹ lưỡng.

Tất cả các chuyên gia của nhóm đều có kinh nghiệm vững chắc về sửa chữa và kiểm tra khí cụ đo-kiểm và phương tiện đo lường tại các đơn vị quân sự của quân đôi chúng ta. Nhưng ở đây nhiệm vụ lại khác về cơ bản. Và không phải chỉ vì cần khôi phục lại trang bị kỹ thuật bị hư hại trong chiến đấu. Làm gì đây với những búi dây xanh lét vì ẩm, những tổ chuột trong các khối, sự ăn mòn các ống dẫn sóng và cáp cao tần, các bộ biến đổi điện áp bị đảo từ và những sự khó chịu khác mà ở Liên bang không xảy ra. Các biến áp điện áp cao phải thay thế một trăm phần trăm sang phiên bản nhiệt đới và chúng tôi đã sẵn sàng cho điều đó. Lại còn việc tham số tần số của các thiết bị và các tham số đặt ra của tuyến cao tần ở đây là khác, các kỹ năng thực tế điều hưởng và kiểm tra chúng cần phải nắm được ngay tại chỗ. Như vậy phải có công tác phục hồi, sửa chữa chuyên sâu, và thực sự thay đổi điều hưởng hoàn toàn cho thiết bị. Đồng thời hiểu rằng cần phải có một số lượng phụ tùng mà ở đây chẳng ai cho chúng tôi cả, đành hài lòng với những gì đã mang theo mà thôi. Thậm chí đã có nghi ngờ chuyện trong 5 tháng thực sự chúng tôi có xử lý được toàn bộ khối lượng công việc hay không. Nhưng có gì làm đây, rõ ràng cần hoàn thành nhiệm vụ được giao và hãy bắt tay làm việc với mức nhanh nhất có thể.  

Cuộc sống lao động hàng ngày đã bắt đầu. Dù cho các hoạt động chiến đấu tích cực đã chấm dứt, vẫn đều đặn có các chỉ thị trong trường hợp máy bay địch không kích. Mặc dù xác suất của việc này không lớn, ban đầu việc này cũng gây ra một chút cáu kỉnh nhất định trong công việc. Cần phải quen với việc đảo lộn công việc nhanh chóng, tiến hành các biện pháp bảo quản những dụng cụ đo-kiểm quý giá nhất và sơ tán nhanh chóng vào các hầm trú ẩn mà phía Việt Nam đã chuẩn bị cho. Rồi thì cảm giác nguy hiểm lùi dần, cả nhóm lại trở về nhịp điệu lao động thông thường.

Một phần các trạm kiểm-thử thu gom từ các phân đội tác chiến. Các trạm KIPS này dù rất không đồng bộ và không hoàn toàn ở trong trạng thái tốt vẫn tham gia làm việc cùng các khẩu đội chiến đấu và vẫn "sống". Những vấn đề cơ bản với chúng liên quan đến tình trạng tồi tệ của các đường cáp cao tần là cáp "Hỏi" và "Đáp". Để đưa độ nhụt và hệ số sóng chạy của các đường cáp quan trọng này về trạng thái thích hợp, cần liên kết lại các đầu chia cao tần của chúng. Đó là một công việc tỉ mẩn mướt mồ hôi đòi hỏi đạt chất lượng cao và không phải ai cũng có thể làm được. Còn nhiều hư hỏng khác nhưng chúng không gây ra những vấn đề nghiêm trọng đặc biệt. Mà chỉ với những trạm ấy thôi thì công việc cũng còn dễ chịu hơn so với việc đề ra là phải giữ gìn bảo quản và vẻ bề ngoài ở trong tình trạng bình thường. Đó chỉ là vẻ bề ngoài. Các trạm được bảo quản ở đâu đó trong các thung lũng có điều kiện độ ẩm cao, hàng năm trời không bật lên sử dụng, nay ngay một lúc áp chúng vào điện thế cao là không thể. Vậy nên trong vài ngày cần theo đúng trình tự. Tất cả các khối được lấy ra khỏi trạm, ban đầu sấy nắng sau đó sấy bằng súng nhiệt cho đến khi nào còn chưa đưa được trở kháng cách ly xuống mức cần thiết nhỏ nhất. Cũng phải sấy khô các búi dây sâu trong cabin y như vậy, Chỉ sau đó mới bắt tay vào kiểm tra và sửa chữa.

Để khỏi làm độc giả chán ngán về những chuyện chuyên môn thuần túy thêm nữa, tôi chỉ nói rằng chúng tôi phải làm việc từ sáng cho đến tối mịt. Công việc chỉ ngừng tạm vì ở chỗ các bạn Việt Nam có thời gian nghỉ nhiệt đới từ 12 giờ đến 16 giờ - "giờ nhiệt đới". Trong thời gian đó tất cả tắt nguồn, đóng máy và thiếp đi đến chiều. Điều đó dĩ nhiên làm lạc nhịp điệu nhưng cần phải dung hòa với những truyền thống dân tộc như thế.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Hai, 2014, 04:56:38 PM
Sau gần một tháng làm việc căng thẳng, gắn với sự mệt mỏi thông thường còn là nỗi buồn nhớ Tổ quốc. Tình cảm chưa biết đến đó trước đây nay đặc biệt hay thể hiện ra vào các buổi tối trước khi đi ngủ. Ta nhớ đến gia đình, lũ trẻ, nếp sống quen thuộc, và đó là quê hương thân thương đang ở quá xa xôi với ta. Thỉnh thoảng tình cảm ấy trở nên mãnh liệt đến mức ta bắt đầu tính xem cần phải đi bộ bao lâu, chẳng hạn qua dãy Hymalaya, để về đến Tổ quốc. Và khi đó thì trưởng nhóm Oleg Ivanovitch Truskin, cảm nhận sâu sắc tâm trạng của độ ngũ cán bộ, anh gãi gáy mà rằng:

- Này, các cậu, cũng đến lúc nghỉ ngơi một chút rồi! - và anh về Hà Nội xin một chuyến đi biển. Các chuyến đi nghỉ ấy là cần thiết còn vì bác sỹ quân y đi theo đoàn, thường xuyên chăm lo sức khỏe cán bộ chiến sĩ, đã nhận thấy có hiện tượng nổi hạch, cùng các hiện tượng khác do khí hậu nhiệt đới và anh khẩn khoản đề nghị đi tắm biển.

Cần phải nói rằng các chuyến đi biển ra vịnh Hạ Long để lại những ấn tượng cực kỳ dễ chịu. Đó là một nơi tuyệt đẹp như thiên đường. Mùi cỏ cây thơm ngất ngây và biển thì ấm áp. Vịnh không sâu, được mặt trời sưởi ấm, có vô vàn hòn đảo màu xanh thắm, hay đúng hơn là những ghềnh đá nhô lên khỏi mặt nước một cách ngoạn mục. Những chiếc thuyền đinh chậm rãi trườn qua những ghềnh đá ấy. Như sau này được biết, dân chài làm nghề đánh bắt cá, sống trực tiếp trên những chiếc thuyền lớn kia cùng với gia đình mình. Làn đầu tiên chúng tôi được tận mắt nhìn thấy thủy triều lên và xuống như thế nào. Bề rộng của dải vịnh làm ta sửng sốt: buổi sáng bạn phát hiện ra mặt nước mà tối qua còn vỗ vào dải tường kè bờ bỗng nay rút ra xa cách đến 300 m, để lại một bồn trũng ngấm đầy nước chứa những con tôm và những chú cua nhỏ. Lũ trẻ con rải rác khắp bồn trũng, đi bắt những sinh vật này rất thành thạo.  

Đồ ăn theo kiểu mùa hè, nước biển, và không khí đã có tác động dễ chịu đến các cơ quan trong cơ thể. Sau vài ngày ở trong góc thiên đường ấy, da đã sạch, sự căng thẳng thần kinh đã chùng xuống và chúng tôi lại sẵn sàng bắt tay vào lao động. Ngoài những chuyến đi biển nghỉ ngơi còn những chuyến đi có tính cách tham quan, chủ yếu là đến những địa điểm lịch sử, các điểm hành hương tôn giáo. Đó là những chuyến đi về quê hương Hồ Chí Minh, đi thăm "Chùa Hương" và các địa điểm khác. Từ các chuyến đi trên đã để lại rất nhiều ấn tượng.

Những ngày nghỉ chủ yếu diễn ra ở Hà Nội, vừa giao du với các đồng bào thuộc các nhóm khác vừa tìm hiểu cuộc sống và sinh hoạt thường ngày của các thị dân sở tại trong các cuộc đi bộ dạo quanh phố phường. Cũng không quên nghó nghiêng các "cửa hàng ngoại giao", các bách hóa tổng hợp và các quầy hàng nhỏ. Phải tính đến các món lưu niệm và quà tặng cho người thân và gia đình. Thêm nữa công việc cũng đã dần đến hồi kết. Vào tháng 4, cái mát lạnh của mùa đông khi ta ngủ trong chăn bông và đội mũ ấm, nay đã thay bằng cái nóng nực đang tăng lên. Mà để tránh nó thật không đơn giản. Máy điều hòa không khí ở xưởng A-31 thì không có. Chống nóng chỉ có quạt và tắm nước lạnh mà thôi. Tuy nhiên khi ngủ bật quạt thì dù trời rất oi bức nhưng nhiều người lại bị cảm lạnh.

Càng gần đến ngày kết thúc đợt công tác biệt phái, cảm giác nóng ruột vì chuyến gặp gỡ sắp tới tại Tổ quốc càng trở nên cồn cào. Trong khi trưởng nhóm làm tài liệu tổng kết công tác của chúng tôi và  viết báo cáo kết quả cho phía Việt Nam, những người còn lại đi mua quà cho gia đình và người thân. Chuyện này cũng không đơn giản vì chuyến công tác chẳng giúp chúng tôi tích lũy được món tiền đặc biệt nào. Những lựa chọn đối với đất nước còn nghèo này cũng rất hạn chế. Chủ yếu chúng tôi mua những sản phẩm thủ công, các bức tranh và tượng nhỏ này nọ, các món lưu niệm đơn giản làm bằng bạc, tơ lụa trung quốc cho vợ may áo dài, v.v. Một vấn đề lớn là phải chuyển một cách toàn vẹn không suy xuyển những tảng san hô mỏng mảnh dễ vỡ mua được ở Hạ Long. Dù vậy những lo toan ấy không thể làm ta quên đi tình cảm xao xuyến đặc biệt chờ đón cuộc trở về quê nhà.
    
Chúng tôi trở về trên chính chiếc IL-18 ấy. Tâm trạng mọi người rất phấn chấn. Chuyến bay này lưu lại trong ký ức đặc biệt bởi một chuyện là các chuyên gia Xô Viết làm khó cô tiếp viên trẻ với đòi hỏi mang nước đến không phải vì muốn uống mà vì cô ta diện chiếc váy ngắn.... Còn Tashkent tiếp đón chúng tôi bằng thái độ phục vụ dễ chịu và quen thuộc khiến ta lập tức hiểu rằng mình đã ở nhà. Tại Sheremetievo đương nhiên mọi thứ lại theo kiểu khác, Người ở Moskva được người thân, bạn bè, con trẻ đón chào. Những người ở nơi khác như tôi cũng được vợ ra đón. Cần phải nói rằng việc thích nghi khi trở về Moskva khó khăn hơn ở Hà Nội. Có cả trường hợp một người trong số chúng tôi đã ngất khi ở khách sạn. Bản thân tôi nếu không nhờ sự giúp đỡ của vợ cũng không thể đi bộ qua đường một cách an toàn hoặc lao vào ô cửa đi mà không chạm đầu vào dầm cửa. Tuy nhiên chẳng mấy chốc mọi chuyện qua đi, sau vài ngày loanh quanh các cửa hàng "Bạch Dương" ở Moskva, tôi cùng vợ về nhà và cuộc sống quay lại vòng quay thường lệ.

Chuyến công tác thứ hai tại Việt Nam không khác gì mấy so với chuyến đầu tiên. Nếu như không tính đến việc mặc dù đã chính thức chấm dứt chiến tranh, tình hình thực tế tại đất nước này còn gay gắt hơn do QDNDVN tiến hành một chiến dịch giải phóng Miền Nam Việt Nam. May mắn thay, chiến dịch này đã diễn ra thắng lợi, đất nước thống nhất trong một quốc gia duy nhất. Vai trò của LBXV, của vũ khí của chúng ta, của các chuyên gia quân sự Xô Viết trong chiến thắng này khó mà đánh giá hết.

Ekaterinburg, năm 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Ba, 2014, 02:23:30 PM
Trích "Việt Nam - không thể nào quên"

Bộ đội radar canh trời Việt Nam

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Antipin.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Antipin.jpg.html)

Trung tá Antipin Valentin Pavlovitch

Sinh ngày 4 tháng 4 năm 1932 tại thành phố Magnitogorsk.
Năm 1951 tốt nghiệp ĐH Bách Khoa Ural, năm 1956 - Trường Kỹ thuật VTĐT Gorky thuộc bộ đội Phòng Không.
1956 - 1958 - kỹ thuật viên đại đội Kỹ thuật VTĐT.

1958 - 1963 - học ĐH Kỹ thuật Vô tuyến Điện tử Quân sự Kiev mang tên nguyên soái KQ A.I.Pokryshkin (KVIRTU; КВИРТУ ПВО - Киевское высшее инженерное радиотехническое училище ПВО имени маршала авиации А. И. Покрышкина).

1963 - 1977 - sĩ quan phụ trách hướng tác chiến VTDT bộ tham mưu tập đoàn quân PK 40.
Từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 12 năm 1965 - tham gia chiến đấu tại Việt Nam.
1977 - 1980 - giảng viên  ĐH Kỹ thuật Vô tuyến Điện tử Quân sự Kiev (KVIRTU).
1980 - 1988 - trưởng khoa trường Không quân.

Sau khi chuyển ngạch dự bị năm 1988 tham gia công tác nghiên cứu khoa học và công tác xã hội.
Hiện sống tại Kiev.

Đã được tặng thưởng các huy chương "Chiến công", các loại huy chương khác do quá trình phục vụ quân đội, và huy chương "Hữu nghị" của Nhà nước Việt Nam".


Vào đầu tháng 3 năm 1965, chủ nhiệm ngành VTDT tập đoàn quân PK 40 đại tá V.P.Kraighel tiến hành chuẩn bị cho cuộc tập huấn tại SCH tiểu đoàn VTDT ở thành phố Nizhny Taghil. Đề tài có tính thời sự đối với tất cả các binh chủng bộ đội PK, nó liên quan đến việc hoàn thiện vũ khí VTDT để hoạt động trong môi trường phức tạp và có nhiễu.

Lãnh đạo tập huấn là kỹ sư trưởng TDQ đại tá B.A.Batushkin, một sỹ quan rất hiểu biết, có nhiều kinh nghiệm bám bắt mục tiêu, vì ông từng phục vụ một thời gian dài ở thành phố Baku.

Tại cuộc tập huấn có mặt tư lệnh TDQ trung tướng N.K.Grishkov. Cuối đợt tập huấn ông đến bên tôi hỏi, liệu tôi có thể sử dụng những cải tiến đang được đề nghị của trang bị kỹ thuật tác chiến trong hoàn cảnh chiến đấu và thử nghiệm chúng trong môi trường thực hay không. Tôi trả lời rằng tôi không nghi ngờ tính hiệu quả của chúng. Và tôi nghĩ rằng cuộc nói chuyện này không đơn giản.

Ngày hôm sau có điện tín gọi tôi tới bộ tham mưu TDQ. Khi đến nơi người ta thông báo tôi có 3 ngày chuẩn bị để sẵn sàng đi một chuyến công tác đặc biệt tại một đất nước có khí hậu nóng ẩm.

Tiễn nhóm chúng tôi ra nhà ga đi Cheliabinsk có Phó tư lệnh TDQ thiếu tướng I.M.Gurinov, hiệu trưởng trường Quân Y đại tá Gaiderov. Vợ tôi bay từ Kiev đến tiễn tôi, nhưng chỉ kịp khi chuyến tàu hỏa khởi hành.

Tại Cheliabinsk chúng tôi nhập vào nhóm đi sau làm một đoàn tàu có các trang bị kỹ thuật "đã qua chiến đấu" tại trường bắn Kapustin Yar.

Ngày 8 tháng 4 đoàn tàu thành lập xong, chúng tôi đi về phía đông, qua Trung quốc để đến Việt Nam. Tại ga Zabaikal người ta cho chúng tôi đổi sang thường phục, đồng thời đoàn tàu được đổi trục bánh xe vì chiều rộng trục bánh xe đường sắt Trung quốc khác chúng ta một chút. Đi tiếp, ngày hành trình thứ 4 chúng tôi đã đến Bắc Kinh. Tại đây người ta tiếp đón chúng tôi rất tốt, trong hiệu ăn có rất nhiều món ăn ngon Trung quốc. Cả chúng tôi, cả người Trung quốc khi ăn trưa cùng nhau đều bày tỏ mong muốn tiếp tục tình hữu nghị của chúng ta.

Ngày 16 tháng 4 chúng tôi qua biên giới Việt nam và có mặt ở Hà Nội. Thiết bị kỹ thuật phải bốc xuống trong điều kiện ban đêm, sau đó chở chúng vào trung tâm huấn luyện trong rừng rậm.

Tại Việt Nam điều làm chúng tôi sửng sốt là các loại thảo mộc dị thường, các khóm cây và các cây ăn quả. Nhưng điều không quen nhất là cái nóng, nhiệt độ hơn +37 độ, độ ẩm lớn hơn 90%. Trong ngày phải tắm 2 lần nếu không mồ hôi sẽ dày vò bạn.

Trên mỗi giường ngủ đều có mắc một chiếc màn tránh muỗi, nước uống phải đun sôi hoặc dùng nước quả đóng chai, thức ăn trong nhà ăn thì khá và trả bằng tiền đồng.  

Những vấn đề đầu tiên đặt ra với tôi là làm quen với các nhiệm vụ trước mắt đặt ra cho các chuyên gia quân sự Xô Viết, và nắm vững tiếng Việt đẻ lên lớp dạy học.

Phần lớn các sĩ quan trong giai đoạn đầu thành lập là thuộc tập đoàn quân PK 40, bởi vậy giao tiếp với họ rất dễ dàng. Gắn như hình với bóng với mỗi chuyên gia chúng ta là một phiên dịch viên, ban đầu người ta chuẩn bị tài liệu với họ, sau đó các chuyên gia Việt Nam dịch chúng.

Cấu trúc chỉ huy sau đây được hình thành trong giai đoạn đầu thành lập binh chủng TLPK và binh chủng radar QDND Việt Nam:
- Trưởng đoàn chuyên gia  QS cho quân chủng PK và KQ QDNDVN đại tá A.M.Dzyza;
- Kỹ sư trưởng đoàn chuyên gia  QS cho quân chủng PK và KQ QDNDVN thiếu tá L.F.Kushnar;
- Hiệu trưởng Trung tâm Huấn luyện thứ nhất (binh chủng TLPK tổ hợp S-75) đại tá M.N.Tsygankov;
- Phó chính trị đại tá M.F.Barsutchenko;
- Kỹ sư trưởng - thiếu tá N.A.Meshkov;

- Hiệu trưởng Trung tâm Huấn luyện thứ hai (binh chủng TLPK tổ hợp S-75) đại tá N.V.Bazhenov;
- Phó chính trị đại tá I.I.Smirnov;
- Kỹ sư trưởng - thiếu tá A.V.Zaika;

- Hiệu trưởng Trung tâm Huấn luyện thứ ba (binh chủng radar, P-35, PRV-11, P-12NP) trung tá P.I.Vasin;
- Kỹ sư trưởng - đại úy V.M.Kostriko;
- Lãnh đạo nhóm radar P-35 - thiếu tá L.V.Shuvatkin;
- Lãnh đạo nhóm radar PRV-11 - đại úy V.P.Antipin;
- Lãnh đạo nhóm radar P-12NP - đại úy I.M.Radtchenko.

Những nhiệm vụ đầu tiên phải giải quyết là dạy lý thuyết cho các chuyên gia Việt Nam theo giáo trình kỹ thuật và huấn luyện chuyên ngành trên trang bị của bộ đội VTDT (binh chủng radar). Đồng thời chúng tôi cũng phải giúp đỡ binh chủng TLPK và KQ tiêm kích.

Ban đầu công việc mang đặc trưng của mối quan hệ tương hỗ thận trọng với Bộ chỉ huy Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng Trung quốc mà coi chúng tôi là lũ đã bị tư sản hóa. Cần phải bằng sự làm việc can đảm, xử sự chân thành cởi mở để thay đổi quan niệm ấy. Và chúng tôi đã chứng minh cho người Việt thấy chúng tôi có thể làm việc lâu dài với gánh nặng thể lực lớn khi triển khai và thu hồi vũ khí, cũng như lúc ngoài giờ làm việc, khi chơi thể thao, đá bóng và đánh bóng chuyền. Dần dần ý kiến về chúng tôi cũng thay đổi.

Thời hạn đào tạo trên trang bị kỹ thuật phải rút ngắn bởi vì máy bay Mỹ đang tiến hành các cuộc ném bom liên tục nước VNDCCH.

Vào tháng 6 đại sứ Liên Xô tại VNDCCH I.S.Sherbakov đến thăm trung tâm chúng tôi, ông đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa lớn lao của hoạt động chiến đấu của chúng tôi trên các trận địa và số lượng các máy bay bị bắn rơi để tiếp tục cải thiện quan hệ ngoại giao và hữu nghị với VNDCCH.

Bộ Chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam quyết định thành lập và triển khai từ biên chế Trung tâm huấn luyện thứ Nhất hai tiểu đoàn tên lửa PK số 63 và 64 của trung đoàn TLPK 236. Nhóm chúng tôi hoạt động tích cực trong việc tổ chức liên lạc với trung đoàn, triển khai và diều chỉnh đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu P-12.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965 các tiểu đoàn đã xạ kích tác chiến, bắn rơi 3 máy bay F-4C (số 399, 400, 401 theo thống kê của BCH VN). Từ mảnh xác các máy bay bị bắn rơi người ta đã làm các huy hiệu kỷ niệm tặng cho toàn bộ các chuyên gia quân sự Xô Viết tham gia trận đánh đó. Các tiểu đoàn được tặng cờ danh dự, đội ngũ quân nhân các tiểu đoàn 63 và 64 được tặng thưởng nhiều huân huy chương của VNDCCH,

Rất nhiều thời gian được giành cho công tác tổ chức TTLL với các phân đội và truyền thông tin từ radar P-35 tới các SCH.

Do các phi công Việt Nam đã bắt đầu các hoạt động chiến đấu, người ta đã gọi một số sĩ quan thuộc nhóm chúng tôi dẫn đầu là V.M.Kostriko đến sân bay Kép để điều chỉnh các máy hỏi mặt đất và máy đáp trên máy bay. Khi kết thúc công việc, tôi tiến hành một số tiết giảng dạy cho các kỹ thuật viên, những người phải khai thác thiết bị này, trong sự có mặt của đại tá A.M.Dzyza, ông đã có nhận xét tốt về công tác của chúng tôi.  
...........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Ba, 2014, 08:46:41 PM
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Antipin2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Antipin2.jpg.html)
Đại úy Antipin và con trâu đã cứu ông khỏi hoạn nạn

Tới giữa những năm 196x vào lúc người Mỹ phóng tay vào cuộc xung đột vũ trang chống lại Việt Nam, Liên Xô có nhiều đài radar khác nhau, trong đó có: đài đo xa dải sóng mét P-12 và P-14, các tổ hợp radar gồm cả máy đo xa là P-35 và máy đo cao PRV-11 dải sóng xăng-ti-mét, đài đo xa chiều cao thấp P-15, các đài đo tọa độ 3 chiều: loại di động dải sóng xăng-ti-mét kiểu "Pamir" và các đài radar chuyên dụng khác.

Khi xử lý thông tin người ta dùng phương pháp thủ công thể hiện thông tin về các mục tiêu lên trên các tiêu đồ tại các SCH. Việc truyền số liệu về các SCH để tập hợp thông tin, cũng như để chỉ thị mục tiêu và dẫn đường cho các khí tài chủ động PK được tiến hành qua các phương tiện liên lạc vô tuyến sóng ngắn và sóng cực ngắn, các phương tiện tiếp sức vô tuyến có nhiệm vụ tăng tầm hoạt động của liên lạc vô tuyến và các kênh liên lạc hữu tuyến.

Để thực hành chiến đấu người ta đưa vào Việt Nam các đài radar P-12, P-35, PRV-11.

Khi huấn luyện cho các chuyên gia Việt nam và thực hành sử dụng khí tài trong chiến đấu, có nhiều nhiệm vụ phi tiêu chuẩn cần phải giải quyết. Trước hết đó là rào cản ngôn ngữ. Bởi vậy nguyên tắc sư phạm chủ chốt của quá trình đào tạo là - "hãy làm giống như tôi!". Điều đó có nghĩa là người thày dạy phải cần phải có làm chủ một cách thiện nghệ tất cả các phương pháp thực tế sử dụng các khả năng của khí tài, biết phát hiện và loại trừ các hỏng hóc.  

Một trong các nhiệm vụ quan trọng - làm sao cho khí tài radar đảm bảo được điều kiện đạt đến sự chỉ huy ổn định các hoạt động tác chiến của các phương tiện PK trong cuộc chiến với kẻ địch cụ thể: các mục tiêu bay thấp, mục tiêu nhóm, mục tiêu tốc độ siêu âm có sử dụng nhiễu các loại. Sự đa dạng của dải tần số radar khi bao quát khu vực hoạt động của chúng giúp tiến hành công việc trong các điều kiện kẻ địch áp dụng nhiễu tích cực.

Radar chỉ có thể đối phó với tốc độ cao của máy bay bằng cách cắt ngắn thời gian trong tất cả những công đoạn sau: đưa trạm vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, truyền số liệu mục tiêu. Khi áp dụng ở Việt nam những cải tiến kỹ thuật nhỏ, chúng tôi đạt được khả năng bật nhanh radar, cái mà người ta gọi là "chế độ bật khẩn cấp".

Việc rút ngắn thời gian truyền số liệu phụ thuộc trình độ huấn luyện các trắc thủ radar ở phương pháp thủ công. Để nâng cao mức độ huấn luyện, trên radar P-35 có máy giả lập mục tiêu, nó cho phép trong lúc tạm yên giả lập tình hình trên không trên màn hình radar. Tuy vậy bộ giả lập này không có trên máy đo cao PRV-11 làm việc trong tổ hợp đồng bộ với máy đo xa của P-35. Phải làm việc rất nhiều mới có thể sử dụng bộ giả lập của P-35 để huấn luyện cho các trắc thủ PRV-11, để làm điều đó thì hình khai triển màn hiển thị P-35 quay 90 độ được đưa sang màn hình hiển thị của máy đo cao. Sau đó các trắc thủ P-35 và PRV-11 có thể bám cùng một mục tiêu khi thao luyện đồng thời.

Sự ổn định của công tác chỉ huy các phương tiện PK phụ thuộc sự ổn định của hệ thống truyền số liệu từ radar về các SCH và trận địa bố trí các phương tiện hỏa lực PK chủ động. Tôi đề nghị và thường xuyên xử lý việc truyền số liệu mục tiêu không phải vào hệ tọa độ sẵn có của radar mà vào hệ tọa độ của mạng lưới PK, thống nhất đối với tất cả các phân đội trong hệ thống PK. Đồng thời việc truyền số liệu được nhân đúp, chuyển đồng thời đến các SCH cũng như tới các trận địa hỏa lực.

Tất nhiên trong quá trình chiến đấu đã có những sai sót nghiêm trọng. Do kiến thức nhận dạng kém của các trắc thủ radar Việt Nam, có tiểu đoàn TLPK không được cảnh báo về máy bay phe mình, máy bay ta đã bị họ dùng tên lửa bắn rơi. Sau sự cố này tất cả các trắc thủ Việt Nam đã phải có các giờ học nghiên cứu đặc điểm khai thác thiết bị này, từ đó về sau các sự cố bi thảm như vậy đã không xảy ra nữa.

Nhờ lao động cần mẫn hàng ngày, chúng tôi đã chứng minh cho BCH QDNDVN tính hiệu quả của các khí tài PK được cung cấp, với mỗi máy bay Mỹ bị bắn rơi trong năm 1965 các tiểu đoàn TLPK trang bị tổ hợp S-75 đã tiêu thụ trung bình 1,8 đạn, đó là một chỉ số được coi là rất tốt.

Trong vòng 4 tháng tôi đã nắm được một tập hợp từ Việt cơ bản đủ để có thể tiếp tục giảng dạy mà không cần phiên dịch.

Quan hệ với nhân dân địa phương cũng rất thân thiện, họ luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi trong mọi trường hợp,bảo vệ chúng tôi tránh các cuộc oanh kích.

Một lần người ta cử tôi xuống gấp 1 tiểu đoàn để xây dựng hệ thống nhận dạng. Đại tá Dzyza cho mượn xe ô tô của ông. Trên đường có một đoạn nước ngập lớn vì một cơn mưa rào vừa qua. Con đê liền kề bị máy bay Mỹ ném bom và con sông nhỏ nước vào tràn bờ. Tài xế quyết định phóng xe qua chướng ngại nước này mà kết quả là xe bị sa lầy. Một người nông dân đang làm việc trên đồng nhìn thấy, ông đánh con trâu của mình lên bờ và kéo xe ô tô. Tôi đã chụp ảnh kỷ niệm với vị cứu tinh của chúng tôi.

Vài tuần trước khi về Liên Xô, người ta mời chúng tôi tới trụ sở Chính phủ VNDCCH, họ cám ơn vì chúng tôi đã giúp đỡ họ, mỗi người về Liên Xô đều được tặng một huy chương Hữu Nghị và bằng chứng nhận của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Chúng tôi cất cánh rời Việt nam từ sân bay Gia Lâm. Đến tiễn chúng tôi có Hiệu trưởng Trung tâm huấn luyện trung tá Sắt và một sĩ quan Bộ TTM QDNDVN. Đó là một cuộc chia tay ấm áp tràn đầy tình hữu nghị mà còn lưu lại mãi trong tâm trí tôi.

Năm 2005 tướng Lương Hữu Sắt, lúc này đã giữ trọng trách Thứ trưởng Quốc phòng (?) phụ trách trang bị đã viết cho tôi một bức thư trong đó ông viết rằng những chuyên gia quân sự đầu tiên cho đến giờ vẫn đang sống trong trái tim của các CCB Việt Nam.

Kiev, năm 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Tư, 2014, 12:13:06 AM
Chuyến hành quân chiến đấu đầu tiên tới bờ biển Việt Nam

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo.jpg.html)

Thượng sỹ hải quân Kurilo Evgheny Konstantinovitch

Sinh ngày 20 tháng 1 năm 1947 tại làng Bezvodnoie, huyện Volkovysennoie, tỉnh Grodno, Cộng hòa Xô Viết XHCN Belorussia.
Tốt nghiệp phổ thông năm 1963.
Từ năm 1963 làm việc tại đơn vị hòm thư 79 thuộc thành phố Sverdlovsk.
Tháng 11 năm 1966 được gọi phục vụ quân đội từ khu đội Kirov thành phố Sverdovsk.
Đầu tiên phục vụ tại đảo Russky đơn vị quân đội 70024, tại trường vô tuyến điện theo chuyên ngành điện đài viên OSNAZ, sau đó được phái đến đơn vị quân đội 20858.
Đã được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở biển Nam Trung Hoa từ ngày 01.07.1967 đến 03.12.1969 trong lãnh hải Việt Nam.
Là chiến sĩ ưu tú của Hải quân Xô Viết. Chuyên viên hạng 1. Sau khi giải ngũ thôi phục vụ Hải quân đã làm việc tại nhà máy "Elektroavtomatika" và các xí nghiệp khác nhau tại thành phố Sverdlovsk.
Hiện tại là người hưu trí.


Trong thời gian tôi phục vụ quân đội từ tháng 7 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969, tôi đã có 5 chuyến hành quân chiến đấu trên biển. Ai chưa quen với thuật ngữ hàng hải thì hải hành - đó là chuyến đi biển dài ngày (trong trường hợp của chúng tôi thì là gần 5 tháng) nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu theo kế hoạch. Những chuyến hải hành đầu tiên diễn ra dưới cờ hiệu tàu khảo sát hải văn, còn từ năm 1968 là dưới cờ Hải quân Xô Viết.

Những nhiệm vụ chủ yếu đặt ra với đội ngũ quân nhân chúng tôi là giám sát các mục tiêu trên không và trên biển của Hoa Kỳ đang tham gia các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Số liệu của chúng tôi được Bộ chỉ huy Việt Nam sử dụng để kịp thời cảnh báo cho nhân dân về các cuộc không kích của kẻ thù. Qua đó biết được số lượng, kiểu loại, các thủ đoạn chiến thuật mà các máy bay tham gia không kích có thể áp dụng.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-2.jpg.html)
Vị trí các TSB Mỹ khi hoạt động quân sự chống Việt Nam giai đoạn 1964-1973, các hướng tấn công chủ yếu của máy bay cường kích xuất phát từ các TSB. Máy bay B-52 bay qua đầu tàu trinh sát "Deflektor".
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Tư, 2014, 07:06:44 PM
Chuyến đi biển làm nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên tôi còn nhớ mãi, trước khi vào quân đội tôi chưa bao giờ thấy biển.

Công tác chuẩn bị cho chuyến đi theo đúng kế hoạch và rất kỹ lưỡng: bổ sung nhiên liệu và nước, thực phẩm và các loại vật chất khác nhau, kiểm tra sự làm việc của các trang thiết bị trên tàu trong các chế độ.

Trong chuyến hành quân đầu tiên, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ của mình trên tàu khảo sát hải văn "Deflektor" có chiều dài 70.8m, rộng 8.40m, nạp 180 tấn dầu diesel, 80 tấn nước và 5 tấn thực phẩm. Sau khi xuống tàu, tôi cảm thấy chếnh choáng nhẹ, dù tại vịnh Sừng Vàng nơi có bến cảng của chúng tôi chẳng hề quan sát thấy có sóng. Trước khi xuất bến làm nhiệm vụ, đô đốc Sotnhikov (tư lệnh lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm 38) đến tiễn chúng tôi, chúc mọi người hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, đồng thời tìm hiểu - ai không muốn hoặc sợ đi biển. Nhưng chúng tôi không ai chùn bước, mà cũng không thể hành động khác.

Ở trên tàu tôi được trao số tác chiến P-9-2 và cuốn tài liệu "Số tác chiến", mô tả các hành động của tôi trong các trường hợp: báo động chiến đấu, báo động hóa học, báo động hỏa hoạn và tất cả các chương trình hoạt động trên tàu.

Tôi vẫn nhớ cảnh di chuyển trên thang tàu - luôn luôn chạy, học điều lệnh tàu và thiết bị trên tàu, hàn lỗ thủng và học nằm lòng các hướng dẫn đảm bảo cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của con tàu.

Ban chỉ huy tàu ngay từ ngày đầu tiên đã rất quan tâm chăm sóc đám thủy thủ còn non nớt là chúng tôi. Từ phía các quân nhân kỳ cựu chúng tôi cũng thấy được sự thông cảm và giúp đỡ, điều duy nhất - họ ám chỉ một cách ranh mãnh: anh thấy trên biển thế nào khi tàu lắc, anh sẽ vượt qua "bệnh đi biển" ra sao... Tôi dĩ nhiên rất tò mò muốn trải nghiệm, mặc dù chưa hề biết gì về "bệnh đi biển".  

Cơn bão biển đầu tiên chúng tôi gặp phải là "Gloria". Chính ở đây mà tôi hiểu được thế nào là "bệnh đi biển", nhưng có một thực tế là chỉ sau 3 ngày đêm tôi đã miễn nhiễm với say sóng và không còn cảm giác buồn nôn. Tất cả các chuyến đi biển tác chiến sau này đều diễn ra trong tình trạng sức khỏe của tôi hoàn toàn tốt.

Mỗi khi xuất bến hành quân chiến đấu từ vịnh Sừng Vàng ra biển Nhật Bản, máy bay trinh sát cảnh giới tầm xa P-3 "Oriol" của Mỹ đều quần đảo trên đầu chúng tôi. Sau khi máy bay quần đảo lại đến việc suốt 6-8 giờ sau luôn có hoặc một tàu kéo hoặc một tàu phụ trợ của Hải quân Hoa Kỳ bám theo chúng tôi, và cứ như vậy trong suốt thời gian tàu chúng tôi bơi trên biển.

Một phiên (ca) trực chiến kéo dài 6 giờ, sau đó là 6 giờ nghỉ ngơi, nghỉ xong lại bước vào phiên trực. Thời gian làm nhiệm vụ chủ yếu là tại biển Nam Trung Hoa, nó diễn ra trong điều kiện nóng nực kinh người rồi bản thân các thiết bị mà chúng tôi sử dụng cũng bức xạ nhiệt lớn. Chẳng hề có quạt thông gió hoặc buồng tắm nước biển có vòi hoa sen.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-1.jpg.html)
TSB Mỹ Forrestal trong chiến tranh Việt Nam

Nghề đi biển - đó không phải nghề dành cho những kẻ bạc nhược, nhất là khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện dông bão, tàu bị đóng băng và các điều kiện phức tạp khác. Ở đây đặc biệt thể hiện tinh thần chiến đấu, tình đồng đội, sự giúp đỡ lẫn nhau, tính gắn kết của tập thể. "Không ở đâu có sự công bằng như vậy khi đối mặt với cuộc sống và cái chết, giống như ở các kíp thủy thủ tàu ngầm và tàu mặt nước, ở đó hoặc tất cả chết hoặc tất cả chiến thắng", - nhà văn thủy thủ tàu ngầm Gadzhiev viết như vậy.

Khi nhớ lại đời phục vụ không dễ dàng của mình, bạn sẽ hiểu tình bạn chiến đấu và sự gắn kết keo sơn đã giúp ta vượt qua được mọi khó khăn trong chiến dịch đi biển.  Sự giúp đỡ lẫn nhau là truyền thống của những người đi biển. Trong một chuyến đi biển, nước ngọt sắp cạn. Ở trên mặt nước mà thiếu nước... Trên tàu lại không có thiết bị lọc nước mặn, dự trữ nước ngọt chưa kịp bổ sung, phải rình đón các tàu dân sự của quân mình. Một trong số đó là tàu chở dầu "Aniva" đã đến gần tàu chúng tôi truyền nước ngọt - đó là cuộc gặp gỡ rất đỗi vui mừng của các thủy thủ Soviet. Vì chuyện đó mà thuyền trưởng của chúng tôi đã cám ơn bằng cách chuyển cho đội thủy thủ tàu chở dấu một số hòm cá Vobla và rượu vang.

Mỗi thuyền viên trên tàu đều hiểu rằng mình đang đối đầu với một đối thủ hùng mạnh được trang bị kỹ thuật cực tốt, vì thế bằng việc thi hành nghĩa vụ của mình một cách trung thực tất cả cố gắng trao cho nước Việt nam đang chiến đấu lượng thông tin tối đa về các tàu chiến và máy bay Hoa Kỳ.

Hải quân Mỹ có 22 tàu sân bay, phần lớn trong số đó đã hoạt động trong chiến tranh tại Việt Nam trong thành phần Hạm đội 7 hải quân Hoa Kỳ.

Các TSB Ham đội 7 mà tôi cùng các đồng đội của mình đã theo dõi và trinh sát là: "Enterprise" chạy bằng năng lượng nguyên tử, "Constellation", "Ticonderoga", "Kitty Hawk", "Bon Homme Richard", "Coral Sea", "Midway", "Forrestal", "Oriskany".


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2014, 10:13:30 PM
Các TSB luôn có một đội hộ tống đáng tin cậy: 1-2 tàu ngầm, tuần dương hạm hoặc frigate, 1-2 khu trục hạm, cũng như trên boong TSB có các máy bay loại "Tracker" S-2 - làm nhiệm vụ phát hiện tàu ngầm và trinh sát. Cuộc gặp gỡ các TSB mà từ đó bom được mang đi ném xuống Việt Nam, diễn ra đầu tiên trong thinh không vô tuyến điện.

Các mệnh lệnh điều phối của các TSB cho cất cánh và hạ cánh máy bay được thu bắt trên các thiết bị phù hợp, các thiết bị này lắng nghe trao đổi giữa các phi công trong suốt quá trình chúng thi hành nhiệm vụ tác chiến, trong đó thu được rất nhiều thông tin về chiến thuật sử dụng máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ.

Radar dẫn đường và radar hỏa lực của tất cả các loại tàu cũng bị nghe lén. Đài vô tuyến của chúng tôi xác định chính xác các tham số kỹ chiến thuật của các radar trên các mục tiêu mặt nước, mục tiêu dưới mặt nước và mục tiêu trên không trong vòng bán kính 400 dặm.

TSB hạt nhân xung kích "Enterprise" mang theo nó 100-120 máy bay F-4 "Phantom", A-4 "Skyhawk", A-6A "Intruder", F-8 "Crusader". Còn xa tàu chúng tôi, nó đã bị vô tuyến tầm phương xác định cách 2-5 ngày trước khi phát hiện được nhau bằng quan sát thị giác (tùy thuộc vào hệ thống trên TSB là hệ thống như thế nào).

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-3.jpg.html)
S-2 Tracker chụp từ tàu trinh sát "Deflektor"

Các TSB xung kích nằm trong thành phần Hạm đội 7 Mỹ được phái tới bờ biển Đông Dương từ năm 1964, rất lâu trước khi chính thức đưa lục quân và không quân chiến thuật Mỹ vào Nam Việt Nam. Ban đầu máy bay trên TSB tiến hành trinh sát các mục tiêu trên bờ của các nước Đông Dương, yểm trợ không thường xuyên cho quân đội Sài gòn. Tháng 8 năm 1964 dưới âm mưu khiêu khích đổ lỗi cho các xuồng phóng lôi VNDCCH tấn công khu trục hạm Mỹ "Maddox" và "Turner Joy", các máy bay thuộc các TSB "Ticonderoga" và "Constellation" đã tấn công lần đấu các mục tiêu trên lãnh thổ VNDCCH. Thực chất đó là hành động gây áp lực lên chính quyền VNDCCH không cho họ hỗ trợ những người yêu nước Nam Việt nam.

Tiếp theo các TSB và máy bay của chúng là lực lượng xung kích chủ chốt duy trì các hoạt động chiến tranh cho đến năm 1973. Hầu hết các TSB đều hoạt động trong vịnh Băc Bộ để ném bom VNDCCH, 2-3 TSB hoạt động trong biển Nam Trung Hoa gần bờ biển Nam Việt Nam để ném bom oanh tạc khu vực đó.

Máy bay trên TSB chủ yếu là các loại: F-4 "Phantom", A-4 "Skyhawk", A-6A "Intruder", F-8 "Crusader", A-7 "Corsair", S-2 "Tracker". Chúng đều là cường kích, trừ S-2 "Tracker" là máy bay chuyên dụng phát hiện tàu ngầm. Việc mỗi TSB thường xuyên có từ 75-90 máy bay và 1,4 kíp bay cho mỗi chiếc đã cho phép người Mỹ duy trì mức độ sử dụng máy bay khá cao và tiến hành được 100-120 phi vụ xuất kích từ một TSB trong một ngày đêm.

Rất thú vị khi ta quan sát toàn bộ các máy bay cất cánh khỏi TSB trong vòng 40-50 phút. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho máy bay hạ cánh, TSB thường xuyên di chuyển vị trí trên những khoảng cách không lớn.

Các cuộc không kích xuống các mục tiêu tại VNDCCH được tiến hành bởi máy bay từ các TSB thuộc Hải quân, máy bay thuộc Không quân Chiến thuật, và máy bay ném bom chiến lược B-52. Các chuyến bay của máy bay diễn ra trong điều kiện các phương tiện PK hoạt động khá hiệu quả, vì vậy máy bay Mỹ đã hứng chịu tổn thất nặng nề. Trung bình một tháng mỗi TSB xung kích thấy thiếu mất 10-15 máy bay. Sau này do tăng cường áp dụng các biện pháp trinh sát, gây nhiễu tích cực lên các khí tài PK mà tỷ lệ tổn thất đã giảm xuống một chút.

Máy bay của TSB thực hiện các phi vụ chiến đấu cả vào ban đêm. Có khả năng bay đêm trong thời tiết xấu là cường kích A-6A "Intruder". Tuy vậy trong suốt chiến tranh máy bay các loại khác cũng đã tấn công xuống các con đường xe chạy miền núi được bảo vệ yếu. Các cuộc ném bom đon lẻ ban đêm của máy bay A-6A thực hiện bằng thiết bị dẫn đường vô tuyến và radar ngắm bắn trang bị trên khoang máy bay. Cường kích "Skyhawk" A-4 tiến hành ném bom trực quan có sử dụng bom phát sáng và thiết bị chiếu sáng gắn trên máy bay. Thường huy động 2 đến 3 máy bay hoạt động trong các điều kiện như trên. một chiếc làm nhiệm vụ chiếu sáng mục tiêu, các chiếc còn lại ném bom. phóng rốc két và sử dụng các vũ khí khác có trên máy bay.  

Mặc dù tính chất phức tạp của các chuyến bay và việc ném bom đêm, nhất là trong điều kiện địa hình miền núi của lãnh thổ VNDCCH, các máy bay của TSB đã thực hiện khoảng 30% số phi vụ trong điều kiện trời tối, khi tính toán có thể thấy hiệu quả ném bom xuống các phương tiện giao thông theo đoàn là khá cao, còn hiệu quả của các phương tiện PK thuộc hệ thống PK VNDCCH có thấp hơn.

Phương tiện quan trọng duy trì tình thần chiến đấu của phi công các náy bay hoạt động chống VNDCCH, theo ý kiến BCH Mỹ chính là hoạt động cứu hộ do họ tổ chức trong vịnh Bắc Bộ để cứu kíp lái các máy bay bị bắn rơi. Bằng các chỉ dẫn thích hợp cho các phi công, họ chỉ thị để áp dụng các biện pháp sao cho trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng hướng các máy bay bị thương ra phía biển và nhảy dù trên mặt nước. Phi công có bè tự động làm việc đảm bảo cho anh ta nổi trên mặt biển, có máy phát vô tuyến phát tín hiệu định vị gọi phương tiện cấp cứu. Phương tiện đó gồm có máy bay cứu hộ, trực thăng và tàu cứu hộ. Một phần trực thăng cứu hộ hoạt động xuất phát từ TSB, số khác từ các frigate và khu trục hạm.  

Hệ thống cứu hộ phi công của Hạm đội 7 hoạt động trên toàn bộ mặt nước vịnh Bắc Bộ và vào sâu lãnh thổ VNDCCH 5 dặm.

Tổng kết của BCH Mỹ về chiến tranh Việt Nam không chỉ ghi nhận mặt tích cực của các TSB. Các chuyên gia hải quân Mỹ cho rằng nhược điểm chủ yếu của các TSB xung kích là giá thành khai thác lớn và sự khó khăn trong việc đảm bảo cho hoạt động của chúng. Một TSB xung kích trong tình trạng không bổ sung vật chất, nước uống, thực phẩm có thể duy trì hoạt động tự chủ trong 90 ngày đêm. Tuy nhiên kinh nghiệm tham gia các chiến dịch quân sự của TSB "Midway" trong khoảng thời gian sáu tháng rưỡi cho thấy nó đã 48 lần bổ sung vật chất dự trữ trên biển, có nghĩa cứ 4-5 ngày một lần tiếp tế, nó đã nhận 8500 tấn đạn dược, gần 60000 tấn nhiên liệu tàu biển và 38000 tấn nhiên liệu máy bay cũng như 1200 tấn hàng khác. Kíp thủy thủ TSB (4200 người) đòi hỏi 9 tấn đồ ăn mỗi ngày đêm.

Phần lớn các tin tức tôi xử lý được lấy từ các băng ghi âm các cuộc đàm thoại của các quân nhân trên các máy bay trong quá trình hoạt động tác chiến. Các điện đài viên của chúng tôi thường xuyên chặn nghe các cuộc đàm thoại của các phi công máy bay B-52 đang thực hiện chuyến bay từ đảo Guam, Okinawa, Thái Lan. Công tác giải nghĩa bổ sung cũng được ban chỉ huy tàu chúng tôi tiến hành. Các dữ liệu số được lấy từ các tạp chí "Quân sự nước ngoài" những năm 1971-1972.

Ngoài việc thi hành nhiệm vụ trực tiếp, ngoài giờ trực chúng tôi xem phim, chơi các trò chơi trên bàn, khi thời tiết tốt thì ngắm cảnh biển và câu cá.  


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Năm, 2014, 03:01:00 PM
Khi vào đến biển Nam Trung Hoa, lũ cá heo luôn bám theo chúng tôi. Chúng tôi bật nhạc trên boong thượng và cá heo bám sát mũi tàu chúng tôi rất lâu. Cá mập cũng thường xuyên đi theo tàu chúng tôi, đặc biệt khi tàu thả trôi. Đồ ăn thừa chúng tôi quẳng xuống biển và lũ cá mập "lượn vòng số 8" quanh tàu chúng tôi. Người ta đánh bắt cá mực sau khi mặt trời lặn. Người ta thả từ lan can trên boong thượng xuống những chiếc bóng đèn thông thường và dưới ánh sáng đèn lũ mực nhảy tanh tách. Chúng tôi bắt mực bằng loại vợt thông thường, không phải câu mà là xúc thì đúng hơn, chỉ trong vòng có 20 phút và với tất cả thành viên thủy thủ đoàn - thật là một món tuyệt vời.

Chúng tôi nhớ mãi cảnh câu cá đầy thú vị ở biển Nam Trung Hoa. Người ta câu được những con cá thu bằng cách thế này - treo miếng thịt vào lưỡi câu, mẩu bánh mì vào dây vải dài 20-25m, trong khoảng một giờ, toàn kíp thủy thủ ai cũng có cá tươi.  

Trên Thái Bình Dương có rạn san hô "Paracells". Tại đây chúng tôi thay quần áo bơi nhẹ rồi tha hồ nhào lộn tắm biển và lấy những mảnh san hô kỳ lạ mà chưa bao giờ được nhìn thấy. Sau đó ta thả chúng vào bình chứa có clo, chúng trở nên trắng toát đẹp đến mê hồn. Thế là ta có được những món trang sức mỹ nghệ tuyệt diệu.

Trong một cuộc hành quân chúng tôi ở đúng điểm "đứt gãy Marian". Ban chỉ huy tàu cho phép thủy thủ đoàn tắm biển. Chúng tôi thả thuyền cao su, áp dụng tất cả các biện pháp đề phòng. Nước đại dương phía trên thì ấm. Nhưng nếu ta lặn xuống dưới sâu 2-3 m, nước buốt lạnh. Thật sảng khoái khi biết rằng dười thân mình ta là 12 ngàn mét nước. Nhưng cuộc tắm táp này không kéo dài lâu, thủy thủ trực trên cầu điều hướng phát hiện rắn biển. Khẩu lệnh ban ra "Tất cả lên tàu!" thế là cuộc tắm biển chấm dứt. Bác sĩ trên tàu chúng tôi, thượng úy Granovsky cho biết lũ rắn biển đó cực độc.

Một cảnh tượng mãn nhãn không sao quên được - đó là ngắm chòm sao "Thập tự Phương Nam", người ta chỉ có thể nhìn thấy nó khi ở bán cầu Nam của Trái đất. Khi trời quang và ban đêm thời tiết tốt, ngắm nhìn nó thật vô cùng thích thú. Các thuyền trưởng nói rằng chòm sao này được dân cướp biển rất sùng bái.

Tôi nhớ đến một cuộc gặp gỡ trong vịnh Bắc Bộ vào ngày 9 tháng 5 năm 1968. Đi qua cách chúng tôi khoảng 2-3 kabelt là TSB Mỹ "Kitty Hawk", họ bật tiếp xúc vô tuyến trên boong tàu và nói bằng một giọng Nga trọ trẹ: "Chào các anh bạn trên tàu thủy thân mến! Chúc mừng các cậu nhân Ngày Chiến thắng!". Thuyền trưởng của chúng tôi cũng chúc mừng lại họ.

Sau đó một chiếc trực thăng từ TSB bay tới, lượn trên đầu chúng tôi chụp ảnh và thả một trái pháo khói, Cạnh trái pháo khói là một vật gì đó quấn trong một màng bọc, hóa ra đó là một hộp cát-sét có nhạc và những bài hát, trên đó ghi dòng chữ: "Tặng các thủy thủ Xô viết món quà của các phi công tư bản chủ nghĩa!".

Dù chúng tôi có ý thức hệ khác nhau nhưng con người vẫn là con người và chúng tôi chúc mừng nhau với sự hiểu biết.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-5.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-5.jpg.html)
Thuyền trưởng "Deflektor" thiếu tá hải quân Valery Nikolaevitch Voroshilov trao bằng chứng nhận đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong vịnh Bắc Bộ cho thủy thủ trưởng thượng sỹ Evgheny Kurilo


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2014, 06:47:55 PM
Thật dễ chịu khi được ngắm biển lặng với tất cả những vẻ đẹp của nó nhưng không phải lúc nào biển cũng như vậy. Thỉnh thoảng biển lại nổi loạn, những con sóng cao đến 15 m nối tiếp nhau trùm lên con tàu; bão biển kèm theo gió mạnh và mưa; hay khi vào mùa lạnh - con tàu bị đóng băng. Trong trường hợp đó mỗi thủy thủ phải hành động một cách hợp lý và chuẩn xác để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong hoàn cảnh nguy hiểm, không mạo hiểm mạng sống và chinh phục được tự nhiên. Việc di chuyển trên boong chỉ có một số giới hạn các quân nhân, các đai lưng bảo hiểm mà chúng tôi đeo được gắn vào cáp và việc di chuyển chỉ thực hiện dọc theo đường cáp.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-4.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-4.jpg.html)
Khu trục hạm số hiệu 805 của Mỹ đi hộ tống TSB

Với lòng kính trọng, tôi nhớ đến những người mình đã tiếp xúc trong quá trình phục vụ, họ đã thể hiện sự bền bỉ và bản lĩnh tự chủ trong các điều kiện nặng nề. Đó là thuyền trưởng thiếu tá hải quân Valery Nikolaevitch Voroshilov, trọ lý chính dại úy hải quân Khoroshikh, thuyền phó chính trị V.Kudlas, các hoa tiêu Beketov và Dolghikh, trưởng ngành VTĐ đại úy hải quân Agafonov, kỹ sư VTĐ chuẩn úy hải quân Yavorchukh, các trung sỹ hải quân P.Saburov và S.Sitnikov, thủy thủ trưởng A.Kamenev, các trung sỹ hải quân N.Sandakov và N.Gubkin, đội trưởng đội thủy thủ N.Parpeikin cùng nhiều thủy thủ khác mà cấp bậc của họ tôi đã quên, - Anashkin, P.Kasper, A.Kolomitshev. R.Zakirov. A.Ashmarin.

Tôi muốn ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Chính phủ với công việc phục vụ của chúng tôi. Năm 1965 Chủ tịch đoàn chủ tịch Soviet tối cao Liên Xô N.Podgorny đến Vladivostok, khi người ta báo cáo cho ông biết về các nhiệm vụ mà các tàu trinh sát của lữ đoàn 38 thực hiện thì ông rất hài lòng và hỏi bộ chỉ huy lữ đoàn xem còn những vấn đề nào chưa được giải quyết. Do đồ ăn chưa phải là thứ tốt nhất, N.V.Podgornyi đã giúp đỡ để chuyển cho chúng tôi khẩu phần ăn của thủy thủ tàu ngầm.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kurilo-6.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kurilo-6.jpg.html)
Các thủy thủ hạ sĩ quan và chiến sĩ trong đội VTĐ của tàu trinh sát "Deflektor"

Cuối chiến dịch một con tàu khác đến thay phiên chúng tôi với cùng nhiệm vụ như vậy. Sau khi về đến bến cảng căn cứ kết thúc chuyến đi biển, chúng tôi đi nghỉ ở nhà an dưỡng, sau hai tháng chúng tôi lại lên đường thực hiện chiến dịch đi biển kế tiếp.

Ekaterinburg năm 2008.
   


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2014, 01:08:54 AM
(nhat-nam.ru)

Vadim Petrovitch Shcherbakov

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Scherbakov.jpg)

AI TRONG SỐ HỌ HIỂU ĐƯỢC CÂU HỎI VỀ CUỘC SỐNG VÀ CÁI CHẾT ĐỐI VỚI TÔI

Tôi tốt nghiệp trường kỹ thuật-quân sự Enghel thuộc bộ đội PK quốc gia năm 1963. Tôi đã viết báo cáo thể hiện mong muốn phục vụ ở Ngoại Baikal, nhưng lại nhận lệnh đến phục vụ ở quân khu phòng không Moskva. Tại quân đoàn PK Bryansk, trung đoàn TLPK Bryansk 260.

Tại trung đoàn người ta giao tôi chỉ huy trung đội bệ phóng, mặc dù tôi không học bệ phóng, mà học đài điều khiển đạn tên lửa, và đã thực hành quân sự về chuyên ngành đó. Nhưng thực sự tôi không có thời gian để kịp buồn về chuyên môn, khi chỉ một vài ngày sau tôi được giao một nhiệm vụ mới - sỹ quan điều khiển.

Mặc dù không ở Zabaikal, nhưng lần đầu tiên tôi phải sống trong các lều dã chiến: doanh trại không có, các công trình cho cán bộ lỹ thuật làm việc cũng không nốt - một tình huống điển hình với các xạ thủ tên lửa PK. Tuy nhiên, không có sự giảm nhẹ chất lượng nào trong huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Thời gian trôi qua nhanh chóng. Kiến thức lý thuyết học được trong trường, đã được bổ sung thêm hàng chồng kỹ năng làm việc hàng ngày trên xe máy thiết bị kỹ thuật. Những "Quy tắc xạ kích" mà ban đầu bạn cần thuộc lòng như là "Cha của chúng tôi", từ một tập hợp các quy định phải thực hiện bắt buộc, không ngờ lại biến thành một thuật toán nội bộ đầy ý nghĩa và hình mẫu tương tác với trang bị kỹ thuật.

Phần vật chất của đống sắt thép lạnh lẽo và các khối điện tử réo ù ù đã trở thành một sinh vật sống ngoan ngoãn vâng lời, nó có thể bị bệnh hoặc thất thường như một đứa trẻ nhỏ, mà khi tâm trạng tốt nó đặt vào đôi mắt và đôi tay của tôi một sức mạnh làm tinh thần ta choáng ngợp - tôi đã trở thành người giám hộ của bầu trời.

Mũi tên thép không biết thương xót chỉ chờ đợi chuyển động của ngón tay tôi khi phóng nó đi. Và sau đó nó sẽ giận dữ trượt khỏi bệ thép trong màn lửa mà lao vút lên trong con đường đầu tiên và cuối cùng của nó, dùng chiếc ô chết chóc hình thành từ hàng ngàn mảnh đạn để cắt đứt chuyến bay của một ai đó.

Điều đó sẽ là thế nào? Không có gì quan trọng  - sẽ không có nghi ngờ trong lựa chọn của tôi. Hồi đó với tôi dường như là thế...

Vào mùa hè năm 1965 có một nhóm khá lớn các thợ cả và kỹ sư từ nhà máy sản xuất trang bị kỹ thuật của chúng tôi đến tiểu đoàn. Họ mang theo rất nhiều các hòm tiêu chuẩn niêm phong kín và đủ kiểu dụng cụ. Các cán bộ công nhân nhà máy, phân chia theo các đội, không nói câu nào thừa, họ bóc phần vật chất của chúng tôi ra tháo rời thành các khối riêng biệt và bắt tay làm một cách có phương pháp và tỉ mỉ công việc nâng cấp, họ thay đổi những khối không cần thiết - đã lỗi thời, bằng những khối cần thiết - những khối mới.

Vì tất cả các sỹ quan đều phải (theo phần thiết bị mình phụ trách) tham gia vào quá trình hoàn thiện này, chúng tôi nhanh chóng nhận ra rằng từ tổ hợp S-75 của chúng tôi người ta đang chế ra một "phiên bản nhiệt đới". Có lẽ nay thì ở loanh quanh Bryansk nhưng một ngày nào đó sẽ là vùng nhiệt đới, nhưng nó sẽ không xảy ra sớm thế này - điều đó thì chúng tôi tin chắc. Và người ta biết rõ tổ hợp S-75 trong phiên bản nhiệt đới này rất mạnh và sẽ rất hữu ích ở đâu và cho ai ngay bây giờ.

Những linh cảm đầu tiên đã phát sinh như thế, rằng tập thể quân nhân của chúng tôi sẽ đến vùng nhiệt đới (và có lẽ sẽ sớm - công nhân nhà máy đã hoàn thành công việc, họ đang thu dọn trở về). Phải nói thêm, việc tham gia công tác cải tiến là rất hữu ích, từ các cán bộ công nhân nhà máy chúng tôi học được rất nhiều điều về phần vật chất thiết bị của mình, những điều thậm chí chưa hề được viết bằng chữ nhỏ trong "Giới thiệu và Chỉ dẫn về phần vật chất của trang thiết bị". Sau này những hiểu biết trên rất có ích ...

Đầu năm 1966 , trung đoàn trưởng V.Fedorov và trung đoàn phó của ông được triệu tập khẩn đến trụ sở bộ tham mưu quân đoàn. Họ vắng mặt một vài ngày, khi về ngay lập tức tổ chức một cuộc họp với tất cả các sĩ quan cán bộ của trung đoàn, trong đó họ thông báo rằng chuyến đi của họ không chỉ giới hạn ở việc đến trụ sở quân đoàn và trung đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ trợ giúp quốc tế cho các lực lượng vũ trang nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đào tạo huấn luyện các chuyên gia đủ khả năng sử dụng các hệ thống tên lửa PK S-75 với đầy đủ các khả năng tác chiến. Việc giảng dạy và huấn luyện cho các chuyên gia Việt Nam sẽ được thực hiện trực tiếp bởi đội ngũ quân nhân trung đoàn ngay tại Việt Nam. (Vậy là vấn đề miền nhiệt đới đã trở thành hiện thực).

Trung đoàn trưởng nhấn mạnh rằng trung đoàn 260 Bryansk phải thực hiện nhiệm vụ quan trọng này của chính phủ một cách tốt đẹp nhất và ai còn nghi ngờ khả năng của mình có thể không cần tham gia vào công việc này, và ở lại căn cứ cơ bản. Ở Việt Nam đang có chiến tranh, trong chiến tranh bất cứ điều gì đều có thể xảy ra. Thậm chí có thể hy sinh chứ không chỉ là bị thương nhẹ.

Người ta bắt đầu lập danh sách những người sẽ tham gia "chuyến công tác ở miền nhiệt đới". Tôi không nhớ có ai từ chối ở tiểu đoàn mình, mặc dù tại các phân đội khác đều có những trường hợp như vậy. Không ai bị ép uổng. Chúng tôi tất cả đều tình nguyện, nhưng nếu chỉ theo nguyện vọng không thôi thì ít, khi người ta tính đến kinh nghiệm thực tế, khả năng làm việc tốt không chỉ của bản thân mình, mà cả khả năng dạy cho những người lần đầu tiên nhìn thấy một khí tài kỹ thuật phức tạp như vậy. Mà là dạy trong một thời gian rất ngắn. Chiến tranh sẽ không chịu chờ đợi.

Bây giờ, sau gần 40 năm, tôi nhớ lại thời điểm đó và nghĩ rằng - chúng tôi đã đi đến đó để dạy người khác chiến đấu, trong khi bản thân họ không hề có kinh nghiệm chiến đấu. Chúng tôi đến vào thời mà tổ hợp tên lửa PK S-75 của chúng tôi đã được sử dụng gần một năm tại Việt Nam và từ lâu đã không còn là một bất ngờ với các phi công Mỹ. Phi công Mỹ chiến đấu trên những chiếc máy bay hoàn hảo (ở thời điểm đó), họ đã có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu, biết kỹ lưỡng và tường tận chiến trường, có vũ khí hùng mạnh và có ưu thế số lượng vượt trội (ở VNDCCH nói chung không có gì có thể đối chọi lại trên không). Máy bay thời đó trở thành con át chủ bài xung kích trong bất kỳ chiến dịch mặt đất nào, nó đảm bảo các thắng lợi chiến thuật và chiến lược (kể cả cho đến ngày nay người Mỹ vẫn không chỉ giữ phương pháp sử dụng không quân này trong các cuộc xung đột vũ trang, mà còn liên tục cải tiến hoàn thiện).

Trung đoàn của chúng tôi được chuyển tới Việt Nam bằng máy bay. Gần đó, ở trong rừng, trước khi chúng tôi đến, người ta đã trang bị đặc biệt cho trung đoàn của chúng tôi trung tâm đào tạo thứ 4. Tất cả mọi thứ đều được xây dựng bằng tre nứa, người Việt Nam dựng lên các công trình đó ngay trước mắt chúng tôi. Ở đây chúng tôi có một tháng rưỡi để tiến hành các tiết học lý thuyết có sử dụng làm tài liệu giảng dạy trực quan các bộ phận của tổ hợp bị hư hỏng trong chiến đấu được thu thập về (tất nhiên cũng không phải là hoàn toàn như vậy, nhưng phù hợp để làm giáo cụ trực quan). Được người ta chọn vào nhóm các sĩ quan điều khiển Việt Nam mà tôi phải tổ chức lên lớp là những người hiểu biết nhất về mặt kỹ thuật, có kiến thức tốt về kỹ thuật vô tuyến. Sự siêng năng đặc biệt và tinh thần yêu lao động mà họ thể hiện trong quá trình nghiên cứu trang bị khí tài và công tác chiến đấu trên khí tài (chí hướng rõ rệt, lòng khao khát và sự kiên trì được người Việt Nam thể hiện khi học tập, tôi chưa bao giờ gặp trước đây, kể cả sau này cũng vậy), mặc dù có một số khó khăn trong vấn đề phiên dịch, đã đem đến cho họ kết quả sau một thời gian ngắn phân bổ cho khóa học lý thuyết tại trung tâm đào tạo, bằng các nỗ lực chung chúng tôi đã hoàn tất chương trình đào tạo. Đến thời điểm này, từ Liên bang tổ hợp khí tài mới đã được chuyển tới (chuyển trực tiếp từ nhà máy, với những cải tiến mà tôi đã biết). Với tổ hợp này chúng tôi cần phải hoàn chỉnh các kỹ năng thực hành, nhưng không phải ở trung tâm huấn luyện mà là trên các trận địa chiến đấu, đối tượng là các mục tiêu thực tế (chứ không phải mục tiêu giả).

Người ta xác định cho chúng tôi một trận địa gần Hà Nội, trận địa cần bảo vệ từ trên không, nằm trên một trong những đường bay mà máy bay ném bom Hoa Kỳ thường xuyên sử dụng để thực hiện các cuộc không kích đều đặn của họ. Hà Nội chỉ được bảo vệ một phần, các hệ thống tên lửa phòng không không đủ để hoàn toàn kiểm soát và bảo vệ bầu trời ở các độ cao lớn, tại các độ cao nhỏ nhiệm vụ bảo vệ giành cho pháo phòng không, và người Mỹ cố gắng thực hiện các vụ ném bom mà không sa xuông khu vực hỏa lực phát huy hiệu quả. Trận địa của chúng tôi ở các độ cao thấp cũng được bảo vệ bởi các đơn vị pháo phòng không. Sau khi triển khai tổ hợp trên vị trí chiến đấu lập tức chúng tôi thấy rõ rằng việc tiến hành các hoạt động chiến đấu gần như thiếu sự chuẩn bị số liệu cơ bản về những độ cao thấp hạn chế các khả năng chiến đấu của chúng tôi. Phải làm việc toát mồ hôi để tính góc cấm theo bản đồ địa hình, vì đơn giản là không thể cũng như không có thời gian khảo sát chụp ảnh đo đạc lại địa hình.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2014, 12:00:24 AM
Nói chung việc quét định vị các vệt sáng màn hiển thị do địa vật cố định và địa hình đồi núi thông qua phát sóng là vô cùng nguy hiểm, khi phát sóng lên không trung chúng tôi sẽ ngay lập tức chịu chế áp hoặc trong trường hợp tốt nhất với chúng tôi thì người Mỹ sẽ thay đổi đường bay không kích.

Lần xạ kích đầu tiên (hai đạn bị mất) đã cho thấy các phi công Mỹ biết lợi dụng khôn ngoan địa hình khu vực lân cận và khi thực hiện thao tác tránh tên lửa họ ẩn đằng sau các ngọn núi cao che khuất tầm quét của chúng tôi. Vì vậy chúng tôi đã phải từ bỏ mong muốn tấn công ở cự ly tối đa có thể.

Quá trình xạ kích bị kéo dài. Phi công hoặc có đủ thời gian quan sát quả đạn tên lửa theo vệt bay của nó từ cự ly đáng kể, hoặc anh ta được cảnh báo bởi thiết bị điện tử lắp đặt trên máy bay để xác định sự chiếu xạ của đài điều khiển tên lửa của chúng tôi, báo cho anh ta biết tổ hợp tên lửa PK bắt đầu làm việc chống lại anh ta.

Đám mây bụi hình thành khi quả đạn tên lửa phóng lên, ngay lập tức chỉ điểm vị trí tiểu đoàn chúng tôi triển khai. Kết luận tự rút ra thật rõ ràng - cuộc tấn công phải diễn ra bất ngờ và trong thời gian đủ ngắn. Cần phải chế ngự mong muốn tự nhiên không cho phép đối thủ nguy hiểm tới gần mình, còn khi đã bắt đầu tấn công, phải hành động nhanh chóng và chính xác khi mà ta biết rằng cơ hội thứ hai không ai cho ta cả. Chúng tôi thay đổi trận địa và trận đánh thứ hai đã đạt kết quả. Chúng tôi bắt đầu thu được kinh nghiệm chiến đấu cho mình như vậy đấy.

Tôi đấu tranh không phải với chiếc máy bay, mà là với người lái nó. Tôi không có lòng căm thù anh ta, như các đồng chí Việt Nam của tôi. Có lẽ bởi vì giờ đây chết dưới mưa bom không phải những người thân và bạn bè của tôi, như với những người đang sát cánh với tôi. Có lẽ vì những đêm nhiệt đới này cháy đỏ lửa napalm không phải các thị trấn và làng mạc của tôi. Và nói chung, chiến tranh diễn ra ở một đất nước khác và cách xa mái nhà của tôi.

Nhưng tôi cũng nhận thức được rằng người phi công Mỹ không quan tâm chuyện bây giờ anh ta sẽ ném bom trúng xuống đầu ai - phía dưới tất cả đều là những kẻ thù và anh ta có mặt ở đây để giết chết những kẻ thù mà anh ta không quen biết, những nạn nhân mà trong thực tế không bao giờ và chẳng làm gì xúc phạm đến cá nhân anh ta. Cách xa nhà mình, ở một đất nước xa lạ với anh ta, khi anh ta ném xuống mặt đất những quả bom của mình, có lẽ anh ta tin chắc rằng anh ta giết người để làm cho thế giới tốt đẹp hơn, hoặc có thể là anh ta đơn giản là chỉ làm công việc của mình, công việc mà anh ta được trả tiền rất khá.

Khi anh ta xuất hiện, tôi không hề biết tên anh ta, không biết anh ta từ đâu đến, bao nhiêu tuổi, đã kết hôn hay còn độc thân. Cũng không biết anh ta thuộc dân tộc nào. Tương tự như vậy, đối thủ của tôi sẽ không làm rối đầu óc mình bởi những kiến thức vô dụng. Anh ta chỉ biết về tôi, thứ cần để mang lại cho anh ta chiến thắng và chiến thắng - đó chính là cuộc sống của anh ta: tôi nhìn thấy anh ta hay không, thì khoảng cách đó tôi nhất định sẽ vượt qua để tóm được anh ta, sao cho anh ta không thể né tránh, dù cho anh ta có cơ động ngoặt gấp ra sao. Và tôi biết về anh ta: rằng anh ta rất cảnh giác và sẵn sàng lảng tránh, còn khi đã nhận ra tôi hay cảm nhận được mối nguy, anh ta sẽ ngay lập tức tấn công. Khi nhìn vào màn hiển thị của mình, tôi tưởng như nhìn thẳng vào bộ mặt anh ta rất gần, như là tôi đang thở vào cổ anh ta, cảm thấy được mọi di chuyển của anh ta, cảm nhận được anh ta đang làm gì hiện tại trong cabin điều áp đóng kín khi bay trên tấm thảm xanh rì của rừng rậm nhiệt đới và chờ đợi. Chờ đến khi thần kinh của anh ta sụp đổ hoặc sự tự tin hiên ngang vút lên cao.

Và khi điều đó xảy ra - tất cả chấm hết! Này chàng trai, cậu là bạn của tôi! Phóng! Và... cho đến khi được đón trên mặt đất (nếu cậu may mắn bung dù thoát kịp khỏi chiếc máy bay đang quay cuồng cắm xuống, nếu những người đầu tiên cậu gặp là người của các cậu thuộc nhóm cứu hộ, mà không phải những người nông dân Việt Nam lăm lăm cây cuốc ... thôi thì cứ cho là cậu gặp may đi). Và không có gì thuộc về thù hằn cá nhân. Hôm nay không phải là ngày của cậu. Và cũng có thể xảy ra chuyện như vậy nếu không phải ngày của tôi ... Mọi chuyện sẽ không đơn giản như vậy. Chiếc "Thud" (F-105 Thunderchief) này có thể không phải chỉ là một. Nó có thể là một trong những chiếc đánh lạc hướng tôi, trong khi đó một đối tác ngang tàng của cặp "Chồn hoang" (loại máy bay hiện đại hóa F-105G, được thiết kế đặc biệt để tiêu diệt các trận địa TLPK), đang cắn mồi chiến thắng sẽ gửi đến cho tôi người khách khủng khiếp của mình, hắn sẽ tìm ra đường đến tôi nương theo chùm tia chiếu xạ của tôi. Hiểu - nhưng ai trong số họ - hiểu được vấn đề cuộc sống và cái chết đối với tôi.

Sau khi tổ hợp S-75 xuất hiện tại Liên Xô, ở Hoa Kỳ bắt đầu phát triển loại vũ khí có khả năng phá hủy các hệ thống tên lửa PK. Kết quả là vào năm 1965 Hoa Kỳ đã có khả năng sản xuất hàng loạt tên lửa hàng không AGM-45 (Shrike) tự dẫn đường theo bức xạ của đài radar điều khiển hệ thống tên lửa PK S-75. Đầu đạn được tăng cường của loại tên lửa chống radar này có khả năng phá hủy không chỉ trực tiếp nguồn bức xạ - hệ thống ăng-ten, mà còn tất cả các thiết bị khác trong vòng bán kính 20 mét, còn trong phương án chỉ điểm, đầu đạn nạp phốt pho trắng làm nhiệm vụ chỉ thị mục tiêu chính xác vị trí đặt tổ hợp TLPK. Do đó vị trí TLPK được chỉ điểm như vậy ngay lập tức phải hứng chịu một cuộc tấn công lớn bằng bom phá hoặc bom napalm.

Các nguyên tắc dẫn đường của loại tên lửa này nằm ở chỗ nó tự thân có thể xác định được dòng tối đa của bức xạ điện từ trong biểu đồ định hướng của đài điều khiển tên lửa PK và bay bám theo hướng này, trong trường hợp nguồn bức xạ biến mất nó ghi nhớ hướng sau cùng và vẫn tiếp tục bay. Rất khó phát hiện đối với SAM và có tốc độ bay rất lớn, nó được phóng từ cự ly khoảng 50 km, trong vòng chưa đầy một phút có thể bắn tới vị trí SAM.

Tên lửa này đặt bước khởi đầu cho sự phát triển một lớp phương tiện mới nhằm đối phó và chế áp hỏa lực các tổ hợp tên lửa phòng không. Trong giai đoạn đầu tiên ứng dụng tại Việt Nam, khi các chuyên gia Liên Xô chưa tìm thấy "điểm yếu" của tên lửa này, nó là phương tiện hiệu quả chế áp các dần SAM. Việc xác định các điểm yếu đó phải trả bằng mạng sống và máu của các chuyên gia chúng tôi.

Dừng đường bay của "Shrike" thì chúng tôi không có khả năng, nhưng nhận thức về cách đối phó với "Shrike" thì xuất phát từ khóa học "hệ thống điều khiển tự động" khi còn học trong trường. Dể tự dẫn đường được với "Shrike" cần có sự hiện diện liên tục của tín hiệu lỗi, mà hệ thống dẫn đường của nó khi sửa và xác định hướng bay sẽ "cố gắng" vô hiệu hóa và hướng dẫn chính xác cho quả đạn tên lửa đánh trúng đến mục tiêu. Nếu ta tắt bức xạ radar, tín hiệu lỗi cần thiết cho hệ thống tự dẫn đường làm việc sẽ mất và sai lệch so với mục tiêu liên tục tăng.

Và nếu chúng ta "kéo" "Shrike" lệch hướng trước khi tắt bức xạ, di chuyển cực đại của biểu đồ định hướng (quả đạn được định hướng bay theo cực đại này) bằng cách đảo ăng-ten, độ lệch mục tiêu sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Chúng tôi bắt đầu cuộc đấu tranh của mình với "Shrike" như vậy đấy, điều chính yếu là không được bỏ lọt thời điểm phóng của nó, khi trên màn hiện sóng từ vệt mục tiêu tách ra một điểm nhỏ và bắt đầu rời xa nó với tốc độ rất nhanh. Cần phải bắt được điểm này và khi biết rằng nó đang bám sát theo mình, chỉ cần dẫn lệch nó đi một chút rồi khi đảm bảo rằng nó đã hiểu được chuyển động của chúng tôi dẫn nó đi nữa và nữa, sau đó thì biến mất, tắt phát xạ.

Thực hiện những thủ thuật như vậy trong tình huống chiến đấu, khi biết rằng mỗi giây qua cái chết đến gần ban thêm một cây số, rằng bạn không có nhiều hơn 20-30 giây, bạn không được mắc sai lầm, và đó là cơ hội duy nhất, không có cái thứ hai - đòi hỏi một sự tự chủ bằng thép, sự điềm tĩnh và tay nghề vô cùng cao cường. Trắc thủ bám sát bằng tay trong khẩu đội chiến đấu của tôi - Trung sĩ Piot Golubka - vì các hoạt động chiến đấu thắng lợi tại Việt Nam đã được trao tặng huân chương "Cờ Đỏ".

Thời hạn chuyến công tác của chúng tôi chấm dứt vào tháng mười một và chúng tôi mang tâm hồn thanh thản trở lại Liên bang.

Nhiệm vụ đặt ra trước chúng tôi đã được hoàn thành. Các khẩu đội Việt Nam được huấn luyện đã giữ sạch thành công bầu trời đất nước họ, mặc dù đến ngày chiến thắng vẫn còn 9 năm nữa, song chúng tôi tin tưởng rằng ngày đó chắc chắn sẽ đến.

***

Rời Việt Nam, thượng úy Vadim Shcherbakov để lại 11 chiếc "Thần sấm" bị bắn rơi (đó là chỉ tính những chiếc chính thức được liệt kê và xác nhận của Bộ chỉ huy VNDCCH, 7 quả đạn "Shrike" bị gạt khỏi trận địa và các học trò Việt Nam của mình, những người sẽ tiếp tục đếm những chiếc máy bay bị bắn rơi.

Ông mang theo mình kinh nghiệm chiến đấu thu lượm được, kỷ niệm nồng ấm những người Việt Nam tận tâm yêu lao động, và một mảnh nhỏ xác chiếc máy bay bị ông bắn rơi.

Và chờ ông ở nhà là Victoria - cô con gái sinh ra khi ông còn đang trong chuyến công tác ở vùng nhiệt đới này ...

Do tham gia chiến đấu và trợ giúp hiệu quả cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo Sắc lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao ngày 23/01/1967 "Vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng khi thực hiện nhiệm vụ của chính phủ Liên Xô" thượng úy Vadim Shcherbakov đã được trao tặng Huân chương Lenin.

Các báo cáo chi tiết về quá trình ông chiến đấu tại Việt Nam đã được tính đến trong các phiên bản mới của Quy tắc bắn tổ hợp TLPK S-75.

Từ 1968 đến 1972 - đại úy Shcherbakov VP - học viên Học viện Phòng thủ không gian-vũ trụ mang tên G.K.Zhukov.
Sau khi tốt nghiệp ông phục vụ trong các đơn vị phòng không ở Primorye, Odessa, GSVG, Ba Lan, Trung Á trên các cương vị :
tiểu đoàn trưởng S-75, trưởng ban tác chiến, sĩ quan quân báo ban phòng không Đại bản doanh TTLPK, trực ban tác chiến SCH PK và KQ.

Tái bút:
Nikolai Nikolaievich, chúc buổi tối tốt lành! Theo yêu cầu của anh, tôi xin thông báo : ảnh của tôi thời đó không có. Sĩ quan dẫn đường người Việt Nam mà tôi đào tạo tên là Tuân. Từ ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng (từ 3 tháng 3 - 3 tháng 11 năm 1966) làm việc cùng tôi là trắc thủ bám sát bằng tay : Trung sĩ Piotr Golubka (khẩu đội trượng khẩu đội trắc thủ), được trao tặng Huân chương Cờ Đỏ; hạ sĩ V.Melnychuk, hại sĩ Tertychny, hạ sĩ Prokhorov. Tất cả đều được trao tặng Huân chương Sao Đỏ.

Melnychuk sống tại thành phố Lviv ở Ukraine. Những người còn lại - Tôi không biết. Các ngày có xạ kích theo thời gian tôi đã quên, ngoại trừ một ngày - 22 tháng 7 năm 1966. Vào ngày này, chúng tôi đã bắn rơi hai chiếc F- 105, ngày đó con gái tôi chào đời. Trong các trận đánh chỉ tính riêng khẩu đội chúng tôi đã bắn rơi sáu người Mỹ. Đây là hai tháng đầu tiên. Còn 5 chiếc nữa - bắn rơi trong đội hình có các khẩu đội Việt Nam (trong chiến đấu khi phóng đạn, tôi ngồi trong cabin "U" bên cạnh người sĩ quan điều khiển Việt Nam).

Cuộc chiến đấu với Shrike được hoàn thiện liên tục. Phóng tên lửa ở cự ly tối thiểu. Sau khi quả đạn đầu nổ thì quay gấp hệ ăng-ten lên trên và sang một bên. Điều này cho phép chúng tôi lái Shrike bay lệch khỏi hướng đúng. Tổng cộng tại trận địa của chúng tôi đã gạt được 7 phát Shrike. Quả đạn đầu tiên làm hỏng kabin "U", các quả đạn còn lại bay sượt qua. Nếu có những câu hỏi khác nữa, tôi xin vui lòng trả lời - V.P.Shcherbakov.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2014, 08:34:34 PM
(nhat-nam.ru)

Album kỷ niệm của thành viên tham dự trận đánh tên lửa phòng không đầu tiên ngày 24.07.1965, trắc thủ bám sát bằng tay tiểu đoàn 64 Valery Pavlovich Malyga

Trung sĩ Malyga Valery Pavlovich

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga5.jpg)

27.04.1944 - 06.02.2013.
Sinh ngày 27 tháng 4 1944 tại làng Schetnevo, huyện Dmitrov, tỉnh Moskva. Mẹ - Malyga Ekatherina Ivanovna, nghề nghiệp y tá. Cha - Pavel Gavrilović Malyga làm nghề đầu bếp.
Năm 1949 gia đình chuyển đến thành phố Stalino (bây giờ là Donetsk), nơi cha ông đã sống cho đến những ngày cuối cùng.
1951 - 1960 học trung học trường số 118. Trong đám bạn bè luôn luôn là một thủ lĩnh, người cổ vũ phong trào. Rất yêu thích bóng đá, bóng chuyền.
Sau khi tốt nghiệp trung học cha tôi mơ ước trở thành thuyền trưởng. Vào trường hàng hải, nhưng không vượt qua được kỳ thi tuyển. Tình yêu với biển vẫn được ông gìn giữ suốt đời. Rất yêu cảnh biển và tàu.
Năm 1961 ông vào làm công nhân khai thác tại Cục quản lý hầm mỏ "Petrovskoie".
Từ 1963 - 1965 phục vụ trong quân đội Liên Xô tại quân khu Urals.

Từ 1965 - 1966 tham gia chiến đấu tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nhóm chuyên gia quân sự Soviet của trung đoàn TLPK đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam. Tham gia trận đánh đầu tiên của bộ đội tên lửa PK ngày 24,7.1965. Đã được trao tặng huy chương "Dũng cảm", "Kỷ niệm hai mươi năm chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại" và huy chương "Hữu nghị" của Việt Nam. Quá trình phục vụ tại Việt Nam đã để lại dấu ấn trên toàn bộ cuộc sống sau này của cha tôi. Ông thường nhớ về các đồng chí và thời gian khó khăn ở Việt Nam.

Năm 1973, ông lập gia đình, và năm 1974, sinh ra tôi.
Từ 1978 - 1980  học tập tại trường kỹ thuật Mỏ ở thành phố Donetsk, khi tốt nghiệp được trao bằng chứng nhận thợ cả hầm mỏ.
Từ 1961 - 1991 làm việc tại Cục Quản lý hầm mỏ "Petrovskoie". Cha rất thích đọc sách. Ông chủ yếu đọc các sách về đề tài quân sự, hồi ký, tiểu thuyết tư liệu. Yêu thích điện ảnh. Thích những phim hài thời trước "Chuyến bay sọc dưa", "Các quý ông thành đạt". Một trong những bộ phim yêu thích nhất là "Mùa xuân trên đường phố Zarechnoj".
Cha qua đời ngày 02.06.2013 và được chôn cất tại nghĩa trang "Petrovskoe-2" ở Donetsk.
Trong tâm trí của tôi, cha luôn luôn là con người trung thực, trung thành và rất yêu thương con người.

Irina Valerievna Tkachenko (Malyga)
Donetsk, tháng 2 năm 2014


(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga1.jpg)
Khẩu đội chiến đấu kabin U - các chiến sĩ tên lửa-thiện xạ binh nhất trắc thủ Piotr Zalipsky, đại úy Rudolf Ivanov, thượng úy Vladislav Konstantinov, các binh nhất Valery Malyga, Yuri Papushov

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga2.jpg)
Cuộc gặp mặt của những người tham gia trận đánh đầu tiên tại Kiev 47 năm sau - ngày 24 tháng 7 năm 2012.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga4.jpg)
Con gái Irina và cháu gái Lisa

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga6.jpg)
Nhóm chuyên gia quân sự tiểu đoàn hỏa lực 63, trung đoàn TLPK 236 QDNDVN

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga7.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga8.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga9.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga10.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga11.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga12.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga13.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga14.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga15.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga16.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga17.jpg)

Vài trang nhật ký
(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga18.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga19.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Malyga20.jpg)
Các thành viên tham gia trận đánh đầu tiên của TLPK cùng Đại sứ đặc mệnh toàn quyền CHXHCNVN tại Ukraina Hồ Đắc Minh Nguyệt ngày 24.07.2012 tại Kiev.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2014, 11:38:32 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Vodorez.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Vodorez.jpg.html)

Đại tá Vodorez Leonid Fedorovich

Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1931 tại thành phố Izium tỉnh Kharkov. Năm 1949 tốt nghiệp Câu lạc bộ Hàng không Kharkov khóa phi công và nhập học trường hàng không quân sự của các phi công tiêm kích Borisgleb mang tên V.P.Chkalov, tốt nghiệp năm 1952.

Phục vụ quân đội tại quân khu Ural với tư cách phi công, phi công chính, sĩ quan tùy tùng phi đội, phó tham mưu trưởng trung đoàn, trợ lý chính chủ nhiệm hướng lực lượng phi công tiêm kích - hoa tiêu chính Sở chỉ huy quân đoàn và binh đoàn.  

Từ 1977 đến 1984 - phó tham mưu trưởng về chỉ huy tác chiến - chủ nhiệm sở chỉ huy binh đoàn PK quốc gia.
Năm 1977 là học viên Học viện Chỉ huy quân sự bộ đội PK mang tên G.K.Zhukov.

Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1965 được cử đi công tác Việt Nam với cương vị chuyên gia chỉ huy tác chiến bộ đội PK và KQ, tham gia vào các hoạt động chiến đấu. Do hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của chính phủ Liên Xô tại VNDCCH ông được tặng thưởng đồng hồ vàng của Nguyên soái Liên Xô Malinovsky và được nhắc tên cám ơn trong nhật lệnh.

Được tặng thưởng huân chương "Vinh dự" và mười hai huy chương, trong đó có huy chương Hữu Nghị và huy hiệu "Chiến sĩ Quốc tế". CCB bộ đội PK Liên Xô. Từ 1980 đến 1983 tham gia thực hiện nhiệm vụ của chính phủ tại nước CH Nhân dân Arab Libi XHCN Giamihyria (Libia).

Năm 1984 ra khỏi hàng ngũ quân thường trực bộ đội PK Liên Xô và chuyển sang ngạch dự bị.



CHUYẾN CÔNG TÁC BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ĐẤY

Vào tháng 3 năm 1965 tôi đang phục vụ tại quân đoàn PK Cheliabinsk với cương vị hoa tiêu SCH - trợ lý chủ nhiệm hướng LLKQ tiêm kích.

Có một nhiệm vụ đặt ra cho kíp trực là dẫn đường cho một số lượng lớn các máy bay vận tải quân sự bay từ Tây sang Đông. Mà các máy bay được đánh dấu đặc biệt quan trọng. Tại SCH quân đoàn để lãnh đạo có mặt kíp trực tăng cường do trung tướng Savinov Fedor Ivanovich dẫn đầu.

Chuyến bay diễn ra trong chế độ im lặng vô tuyến hoàn toàn. Lập tức chúng tôi đoán ra hạm đội hàng không này di chuyển về đâu. Qua vài ngày tới chủ nhật có lệnh gọi tôi lên ban tham mưu quân đoàn gặp tướng Savinov. Ông tướng giao nhiệm vụ khẩn trương chụp ảnh trong quần áo dân sự và sáng sau phải có mặt ở bộ tham mưu tập đoàn quân tại thành phố Sverdlovsk. Không mang theo đồ đạc, quần áo là loại quân phục thường ngày. Buổi tối tôi đáp tàu Chelyabinsk-Sverdlovsk. Trên tàu tôi gặp hoa tiêu trưởng trung đoàn KQTK trung tá Bandurkin Vladimir Fedorovich cũng đi tới Sverdlovsk với cùng nhiệm vụ như vậy.  

Buổi sáng tại phòng khách tư lệnh binh đoàn tôi gặp một số sĩ quan các binh chủng khác nhau (tên lửa PK, radar, TTLL). Sĩ quan tùy tùng theo họ gọi từng người một vào phòng. Trong phòng chỉ có một mình trung tướng Grishkov. Ông mời ngồi bên cạnh và nói chuyện nhẹ nhàng cởi mở. "Thiếu tá Vodorez, - tư lệnh nói, - bản thân cậu chắc cũng hiểu chỉ có người xứng đáng với niềm tin tuyệt đối mới có thể đến đất nước đó. Tôi không muốn nói chuyện không hay, nhưng tiếc rằng trong chúng ta có những kẻ hèn nhát. Khi phục vụ thì nói những lời to tát về lòng yêu nước, tinh thần quốc tế mà thực tế chỉ là cây củi mục. Đấy, có một trung đoàn trưởng TLPK thuộc tập đoàn quân chúng ta, anh chàng kiên quyết từ chối chuyến công tác của chính phủ đến VNDCCH mà chẳng đưa ra được lý do nào. Tôi không muốn dọa cậu, nhưng chúng tôi phải đặt vấn đề loại cậu ta ra khỏi LLVT Soviet". Và ông hỏi gia đình tôi thế nào. Tôi đáp: "Vợ và hai con gái tôi, một cháu 8 tuổi một cháu 10 tuổi". Ông tướng nói nếu có bất cứ khó khăn gì hãy bảo vợ cậu gọi điện cho tôi, rồi ông cho số điện thoại. "Cậu hãy nói với vợ là đi thao trường huấn luyện 6 tháng". Nói đến đó rồi chúng tôi chia tay....

Chiều tối, 10 người chúng tôi bay đi Moskva. Tại sân bay Domodievo một trung tá quân y đón chúng tôi, một chiếc xe buýt đưa chúng tôi đến BTTM LLPKQG, đến thẳng phòng khách của TTMT Bộ đội PK, thượng tướng Tsyganov. Người ta giới thiệu cho chúng tôi Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Soviet tại VNDCCH đại tá Dzyza Aleksandr Matveevitch - Phó tư lệnh quân đoàn PK Rostov và tuyên bố tất cả chúng tôi là trưởng các nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại VNDCCH theo các chuyên ngành như sau:
- trung tá Levitsky G.A. - chuyên gia tham mưu tác chiến, tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia;
- thiếu tá Kushnar L.F. - chuyên gia sử dụng khí tài tác chiến, kỹ sư trưởng;
- thiếu tá Vodorez L.F. - chuyên gia chỉ huy tác chiến bộ đội PK và KQ QDNDVN;
- trung tá Vasin P.I. - chuyên gia binh chủng radar;
- trung tá Uzlenkov A.I. - chuyên gia hậu cần;
- trung tá Bandurkin V.F. - chuyên gia huấn luyện hoa tiêu dẫn đường KQTK;
- đại úy Fokeev L. - chuyên gia-kỹ sư TLPK;
- đại úy Kostriko V.M. - chuyên gia-kĩ sư binh chủng kỹ thuật vô tuyến điện (bộ đội radar);
- Grammov A.I. - chuyên gia TTLL.

Tại BTTM bộ đội PKQG phụ trách công tác chuẩn bị cho các chuyên gia và kỹ thuật viên là:
- thượng tướng Tsyganov;
- trung tướng Konstantinov;
- trung tướng Godun;
- trung tướng Uvarov, tư lệnh bộ đội TLPK;
- trung tướng Beregovoy. chủ nhiệm radar bộ đội PKQG;
- thiếu tướng Bashilov - hoa tiêu trưởng và một số tướng lĩnh, sĩ quan khác, các chủ nhiệm ban ngành LLPK Quốc gia.

Người ta chuẩn bị cho tất cả rất tỉ mỉ và kỹ lưỡng. Các tin tức sau được thu thập: các thông tin mới nhất của TASS, tình hình tại VNDCCH, các thông tin tình báo về các chuyến bay của máy bay Mỹ trên lãnh thổ VNDCCH, vị trí của các TSB trong vịnh Bắc Bộ, tính năng kỹ chiến thuật của các máy bay tiêm kích KQ Mỹ.

Mỗi người chúng tôi theo chuyên ngành làm quen với danh sách các sĩ quan Việt Nam đã học tập tại các cơ sở đào tạo và học viện quân sự của LLVT Liên Xô: ai đã kết thúc học tập và ai đã được gọi về VNDCCH vì tình hình chiến sự tại Việt Nam. Học viện Chỉ huy Quân sự tại VNDCCH đã bị giải tán. Đội ngũ sĩ quan đã được cử ra mặt trận. Các giáo viên Soviet cùng gia đình đã được gửi về Tổ quốc tại Liên bang. Còn lại chỉ một giảng viên PPK là đại tá Semenov. Chiếm ưu thế trong đất nước là một nhóm lớn thân Trung quốc, được sử dụng trong QDNDVN.

Trong quân đội thiếu điều lệnh, nguyên tắc một chỉ huy bị vi phạm. Tất cả mệnh lệnh chỉ có thể ban ra sau khi có thỏa thuận với các chính ủy. Chính ủy ở khắp nơi - từ cấp phân đội nhỏ đến cấp cao trong quân đội. Việc học chính trị diễn ra hàng tháng. Về cơ bản nó là việc học tập các trước tác của Mao Trạch Đông. Các chuyên gia từ CHND Trung Hoa - chủ yếu là các chính trị viên. Đội ngũ sĩ quan đã qua đào tạo tại Liên Xô không có tiếng nói trong phục vụ cũng như trong cấp bậc quân sự.

Người ta bố trí chúng tôi trong nhà khách thuộc khu vực SCHTT bộ đội PKQG, Hàng ngày chúng tôi đều gặp gỡ bộ chỉ huy, sau bảy ngày chúng tôi đã sẵn sàng bay đi. Tuy nhiên chuyến bay bị trì hoãn. Sau đó chúng tôi mới biết máy bay vận tải quân sự chở khí tài và hàng hóa của chúng tôi không được phép bay qua không phận CHND Trung Hoa.

Sang ngày thứ 8 đại tá Dzyza từ Việt Nam bay về, Người ta lập tức đưa chúng tôi tới kho hậu cần tại Moskva của Bộ Quốc phòng. Tại đây chúng tôi thay sang đồ dân sự hợp mốt. Chúng tôi chọn quần áo cho mình theo ý thích: áo khoác ngoài, âu phục nguyên bộ, áo sơ-mi trắng, giày hợp mốt, mũ và cà-vạt, tất cả là đồ CHDC Đức. Quần áo làm việc người ta không đưa. Quân phục thay ra sau này chúng tôi đưa về nhà. Ông tướng quân nhu đích thân kiểm tra từng người và cho lệnh "chấp thuận".

Ngày hôm sau người ta đưa chúng tôi đến UBTU DCSLX, tại đây mỗi người chúng tôi được đưa vào một căn phòng tối có chiếc đèn bàn chiếu sáng, trao lại thẻ đảng, ký tên, đứng dậy lặng lẽ đi ra không hỏi han trò chuyện. Sau đó người ta cho tất cả về nhà như trước mỗi lần có nhiệm vụ đặc biệt. Việc thăm viếng vì công việc được giải quyết nhưng người ta chẳng nói với ai về chuyến công tác sắp tới. Ba ngày sau điện báo gọi chúng tôi về lại Moskva. Sau khi xác định tình hình, người mới cả chục người chúng tôi đến Hội đồng Quân sự Bộ đội Phòng không Quốc gia. Khai mạc Hội đồng Quân sự là Nguyên soái trưởng KQ Sudets. Gian phòng lớn đầy các sĩ quan tướng lĩnh, những người chịu trách nhiệm đối với mỗi người trong chúng tôi. Chúng tôi lần lượt báo cáo sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ. Hội đồng Quân sự phê chuẩn tất cả chúng tôi đi công tác biệt phái tại VNDCCH. Ngày hôm sau đến lượt Hội đồng Quân sự Tổng cục 10 Bộ TTM Các LLVT Liên Xô. Quá trình buổi họp diễn ra tương tự. Trong gian lớn chỉ có một loại tướng - các ủy viên HDQS. Dẫn dắt phiên họp là Chủ nhiệm Tổng cục 10 thượng tướng Digaev. Họ nhất trí chuẩn y tất cả chúng tôi. Tại phòng tài chính họ trao công tác phí cho chúng tôi là 75 nhân dân tệ.

Ngày 8 tháng 4 sau khi nhận hộ chiếu ngoại giao, chúng tôi có mặt tại sân bay Shemeretievo, đăng ký chuyến bay Tu-104 Moskva - Bắc Kinh. Tại hiệu ăn mọi người tiêu nốt những đồng rúp Soviet cuôi cùng, rồi tất cả lên máy bay. Tôi vẫn còn 21 rúp, số tiền đó sẽ có ích cho tôi khi công tác trở về. Ngoài chúng tôi ra, bay cùng còn có một nhóm các nhà khai thác mỏ, các nhà địa chất, các sĩ quan gìn giữ hòa bình ở vĩ tuyến 17 người Ba Lan, các công dân Trung quốc. Lần hạ cánh đầu tiên là ở Novosibirsk, sau đến Irkutsk, tại đó có kiểm tra hải quan, tiếp theo chúng tôi qua Baikal, CHND Mông Cổ, cuối cùng chúng tôi tiếp đất ở sân bay khu vực Bắc Kinh.

Khi nhớ lại những năm đó thì tất cả các chuyên gia quân sự chúng tôi đều còn trẻ, các nữ chiêu đãi viên ngắm một số người và hỏi: các bạn đi đâu, làm gì? Chúng tôi trả lời: chúng tôi là các nhà khai mỏ, nhà địa chất, chúng tôi đi làm, Họ cười: "Thợ mỏ thường không cắt đầu "bốc" như thế này đâu!"

Tại Bắc Kinh chúng tôi "hạ thổ", chẳng có ai. Một chiếc xe buýt lại gần, bốc các hành khách Trung quốc. Sau đó một chiếc "Pobeda" đen tiến đến gần, một người bước từ trong xe ra đi khập khiễng anh ta là phiên dịch của tùy viên quân sự tại CHND Trung Hoa, anh chào và dẫn chúng tôi vào gian lớn nhà ga hàng không, ở đây trống không vắng người. Chúng tôingồi xuống sau bàn chờ đợi mà chẳng biết chờ gì. Bàn chất đầy sách báo chính trị Trung quốc và Albania bằng tiếng Nga. Chúng tôi chỉ liếc xéo mà không cầm lên tay theo đúng lời dặn của lãnh đạo. Một cô gái Trung quốc hiện ra, bưng khay chứa những tách trà xanh, mời thuốc. Trà thì chúng tôi uông còn thuốc thì không đụng đến. Xe buýt của sứ quán đã đến, chúng tôi cùng các kỹ sư mỏ, các nhà địa chất lên xe và được chở về Bắc Kinh, họ bố trí cho chúng tôi ở khách sạn "San-Chiao". Đồ đạc để lại sân bay. Vào thành phố còn 60km nữa. Suốt dọc đường vào thủ đô chúng tôi không thấy bóng dân cư. Những ngôi nhà 4 tầng màu xám kiểu nhà "Khrusev" của chúng ta. Cảnh vật mờ mịt và ảm đạm. Người ta chở chúng tôi về khách sạn, bố trí ở hai phòng có bồn tắm và điện thoại, sau một lúc họ mời tất cả chúng tôi xuống ăn tối tại hiệu ăn. Trong gian phòng lớn của hiệu ăn không thấy có khách. Hai bàn được các chiêu đãi viên nam phục vụ. Đồ ăn Trung quốc nổi tiếng là cần rất nhiều đĩa. Bánh mì không có, thịt, cơm, một số đồ ăn lỏng dạng đặc biệt, những tô lớn bốc khói thơm. Hai chiêu đãi viên nam liên tục rót bia và nước dứa ép vào ly. Bữa ăn kéo dài đã một giờ mà vẫn chưa thấy hết đồ ăn. Chúng tôi xin trưởng đoàn cho phép mua một chai cô-nhắc Tàu ở trên bàn. Được "đồng ý", chúng tôi ăn tối vui vẻ hẳn lên. Bữa tối kéo dài thêm một giờ nữa. Tất cả đã được hãng "Aeroflot" trả tiền.  

Sáng hôm sau ăn sáng xong chúng tôi nhẹ nhõm ra sân bay. Một chiếc Il-14 chờ sẵn, chỉ có nhóm của chúng tôi bay. Đồ đạc người ta đã bốc lên. Kíp bay đã có mặt, nữ chiêu đãi viên mang theo bình trà đựng nước. Tiện nghi trên máy báy Trung quốc thiếu thốn, kẹo caramen cũng không, chỉ có kẹo cao su. Chặng hạ cánh đầu tiên là ở sân bay Vũ Hán (Wuhan; Ухань). Chúng tôi lại ăn nhiều đĩa chứa đồ ăn Trung quốc. Rồi chúng tôi bước ra sân thượng hút thuốc. Không thấy bóng ai cả, chỉ vài người Trung quốc nhìn qua hàng rào thép, trỏ ngón tay về phía chúng tôi. Chặng dừng thứ hai ở sân bay Nam Ninh. Lại món ăn Trung quốc. Chúng tôi đề nghị cho ăn món Âu, họ nấu cho chúng tôi súp bắp cải, khoai tây chiên và trà. Chúng tôi bay đến Hà Nội, chặng bay này thời tiết cực xấu. Chuyến bay diễn ra trong mây, thỉnh thoảng lại rơi xuống "ổ gà" không khí loãng, trên đầu các cánh rừng rậm nhiệt đới và mặt nước của thung lũng Hà Nội. Máy bay hạ cánh tại sân bay dã chiến khu vực Hà Nội, rồi lập tức lăn ngay vào hầm chứa có ngụy trang. Đón chúng tôi là đoàn bộ chỉ huy Việt Nam dẫn đầu là đại tá phó tư lệnh PKKQ Đỗ Đức Kiên và các phiên dịch Ngoan và Diệu. Tất cả mặc quân phục không quân hàm và đội mũ sắt.  Xe buýt chở chúng tôi về địa điểm ngoại vi Hà Nội - làng Kim Liên, vào khách sạn nơi chúng tôi bắt đầu cuộc sống mới.  

Khách sạn là tòa nhà lớn 3 tầng, tầng 1 và 3 đầy chật các chuyên gia chính trị viên Trung quốc. Chúng tôi ngụ tại tầng 2 trong 6 phòng đôi. Tôi ở cùng trung tá Levitsky Gleb Aeksandrovich. Giường ngủ có màn chống muỗi, có một chiếc bàn nhỏ, hai tủ đựng đồ. Ngoài hành lang có tủ lạnh chứa nước lạnh đã đun sôi. Cả hai chúng tôi đều xác định là "tham mưu".

Vào lúc 5 giờ sáng chúng tôi nghe tiếng Quốc tế ca, hòa nhịp với bài thể dục của các chuyên gia Trung quốc. Bỗng từ đâu sau rặng cây xuất hiện 2 chiếc cường kích Mỹ bay tốc độ cao ập đến. Còi báo động rú lên, chúng tôi nghe tiếng kẻng báo động gõ vào thanh ray. Sau đó là một cuộc xạ kích loạn xạ bằng tất cả các loại súng bộ binh. Tất cả các "đồng chí" Trung quốc nhanh chóng chạy vào hầm trú ẩn cố định ở trong sân trước của khách sạn. Từ ban-công chúng tôi thấy họ nhìn từ đó ra, Người Trung quốc trong đó nhiều đến nỗi cho đến tận cuối đợt công tác của mình chúng tôi chẳng có dịp nào sử dụng được hầm trú ẩn ấy.

Một trường hợp tương tự khác xảy ra với tôi sau đó vài ngày. Tôi ra tiệm hớt tóc gần khách sạn, trong khi chờ đến lượt mình tôi thấy ở tiệm còn có 2 chuyên gia Trung quốc. Bỗng còi báo động vang lên, một cặp cường kích xuất hiện, tiếp theo là tiếng bom nổ, tiếng súng bắn. Hai người khách này chạy biến đi nhanh như gió thổi. Còn lại anh thợ cắt tóc và tôi. Anh nói với tôi: "Đồm trí, chạy đi!" Tôi đáp: "Chạy đi đâu,  máy bay nó đã bay đi đằng nào rồi còn đâu?" Thông báo về các cuộc tấn công của máy bay Không lực Mỹ và các cuộc ném bom đến trễ 5 phút. Và chẳng lần nào tôi kịp chạy khi có các cuộc ném bom và bắn phá. Lập tức tôi hoặc thả người hoặc nhảy xuống một hố cá nhân chuyên dụng nếu nó còn trống. Nó được trang bị khắp nước Việt Nam. Ban đầu nó có vẻ không thuận tiện cho chúng tôi: hẹp và nhỏ, nhưng ưu thế của nó nằm ở chỗ khi có vụ nổ mạnh nó không sụp đổ và có xác suất bị đánh trúng thấp. Để đào công sự, giao thông hào, lô-cốt, ụ súng cần có diện tích lớn và phải được ngụy trang kỹ lưỡng. Còn tại Việt Nam mọi thứ đều đắt đỏ và phải tiết kiệm, người ta thận trọng với mọi thứ nhất là đất đai. Người Việt Nam thường nói với tôi tấc đất tấc vàng và câu đó lặp đi lặp lại ở bất kỳ hoàn cảnh nào.
.....


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2014, 07:52:45 PM
Hàng ngày trừ thứ hai các đại diện bộ chỉ huy PKKQ QDND Việt Nam đến thăm chúng tôi, trong khu vực SCHTT, tại nơi này người ta phân cho chúng tôi một khu căn cứ riêng có các phòng học-riêng biệt. Thường xuyên phục vụ chúng tôi là 2 đến 3 phiên dịch Ngoan lớn, Diệu, Ngoan nhỏ. Các đại diện bộ chỉ huy PKKQ QDNDVN liên hệ với chúng tôi để xin các lời tham vấn cần thiết. Lời tham vấn cần phải thận trọng, có cơ sở, có thể một số không có ngay mà cần trao đổi đánh giá trong nhóm đã. Có vẻ những lời tham vấn của chúng tôi đã được mang đi kiểm tra cùng với "đồng chí anh lớn". Có sự hoài nghi, cần phải nhắc lại vài lần, nối lại các cuộc gặp gỡ. Tất cả những đề nghị của chúng tôi, chúng tôi đều ghi lại trong những cuốn sổ mật, đặt trong các cặp chuyên dụng, đóng dấu niêm phong của người phiên dịch, chỉ sau đó mới mang chúng đến bộ phận cơ yếu của SCHTT. Các thủ trưởng và phiên dịch Việt Nam cũng ghi chép như vậy.

Thường xuyên có mặt trong phòng với chúng tôi là phó tư lệnh PKKQ đại tá Đỗ Đức Kiên. Ông ấy học ở Liên Xô và biết tiếng Nga tốt, có tri thức rộng về mặt quân sự, là người có tư tưởng thân Nga. Ban đầu bị thất sủng, sau đó ông coi sóc việc xây dựng binh chủng TLPK thuộc QC PKKQ. Nhiều trưởng đơn vị và chủ nhiệm ngành biết tiếng Nga tốt nhưng không bao giờ nói chuyện trực tiếp mà chỉ qua phiên dịch. Đã có trường hợp khi không có phiên dịch thì có nghĩa sẽ không ai nói chuyện. Nói gì cũng phải rất thận trọng và suy nghĩ kỹ.

Thứ hai hàng tuần đoàn chuyên gia quân sự chúng tôi tập trung toàn thể ở Đại sứ quán Liên Xô tại VNDCCH. Chúng tôi đánh giá tất cả những lời tham vấn đưa ra với trưởng đoàn đại tá Dzyza A.M.. sau đó ông chuyển chúng cho tùy viên quân sự tướng Ivanov. còn những vấn đề quan trọng hơn thì ông báo cáo đại sứ của chúng ta tại Việt Nam ông Ilya Sergheevitch Serbakov. Tất cả những khuyến nghị được bộ chỉ huy Việt Nam tiếp nhận, cũng được đưa vào sổ nhật ký đặc biệt tại Đại sứ quấn Liên Xô tại VNDCCH.  

Trong giai đoạn đầu chúng tôi ở đây, phía Việt Nam không quan tâm chuyện tham vấn ý kiến với nhóm chúng tôi, tất cả sáng kiến đều xuất phát từ chúng tôi. Phía Trung quốc muốn phá hoại tình hữu nghị của chúng ta với phía Việt Nam. Người Trung quốc nói với phía Việt Nam: "Chúng tôi đây - mới là anh em chân chính của các bạn, chúng tôi giúp đỡ các bạn về mọi mặt - tư tưởng cũng như vũ khí. Chúng tôi ngủ trên chiếu cói rải trên nền nhà, ăn cùng các bạn cùng một loại đồ ăn. Người Nga cho các bạn các trang bị kỹ thuật cũ kỹ, không có khả năng chiến đấu với máy bay Mỹ, họ ngủ trên giường, ăn loại thức ăn khác, lại còn theo đức tin khác nữa".

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Vodorez-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Vodorez-2.jpg.html)
Chủ nhiệm trung tâm huấn luyện số 2 đại tá Nikolai Vasilevich Bazhenov (trái) và trưởng đoàn chuyên gia quân sự TLPK đại tá Aleksandr Matvervich Dzyza. Hà Nội năm 1965.

Đại tá Dzyza báo cáo đại sứ về thái độ tiêu cực đối với đoàn chuyên gia chúng tôi và đề nghị bộ chỉ huy Việt Nam các cuộc gặp gỡ làm việc chung. Nhưng chúng tôi chỉ có thể gặp các nhân vật cấp hai hoặc các phiên dịch viên, những người luôn trả lời rằng bộ chỉ huy bận và không thể đến gặp. Chúng tôi đề nghị Đỗ Đức Kiên tổ chức các cuộc họp như thế, và ngày hôm sau ông ấy có mặt ở chỗ chúng tôi cùng một nhóm sĩ quan đeo quân hầm quân hiệu chỉnh tề trên quân phục.

Moskva yêu cầu phải nhanh chóng xây dựng các binh chủng KQ và PK tại VNDCCH. Đầu tiên chúng tôi đề nghị - hãy xây dựng khung lữ đoàn và trung đoàn cho các đơn vị TLPK. Người Việt Nam đề nghị chờ trả lời. Hai ngày sau thì có câu trả lời tiêu cực liên quan đến việc đất nước vừa cải cách ruộng đất, cán bộ cần phải lấy từ dân cày nghĩa là từ nông dân. Khi đó chúng tôi đề nghị xây dựng những tiểu đoàn TLPK độc lập, điểu hành trực tiếp từ SCHTT, cấu trúc này đã được phê chuẩn.

Sau vài cuộc họp và chuyển giao các khuyến nghị, người ta đã quyết định thành lập 2 trung tâm huấn luyện bộ đội TLPK. Một trung tâm tại Hà Nội và một tại Hải Phòng, cũng như một trung tấm huấn luyện bộ đội radar, trong đó có nhóm hoa tiêu - các sĩ quan dẫn đường phi công tiêm kích. Và khi các đoàn tàu đường sắt tới nơi cùng các khí tài của tổ hợp TLPK, các xe máy kỹ thuật, các quả đạn tên lửa, các tài sản trang bị, các chuyên gia, thái độ đối với chúng tôi đã thay đổi theo chiều hướng tốt lên. Cán bộ chiên sĩ QDNDVN, toàn bộ đoàn chuyên gia quân sự, nhóm chúng tôi, hằng đêm đều đi bốc dỡ khí tài. Quá trình bốc xếp diễn ra thế nào tôi sẽ không kể chi tiết, tôi chỉ nói rằng, đó là quá trình rất nặng nề, chiến sĩ Việt Nam rất đuối sức, họ ăn uống kém (ăn cơm và uống trà), bánh mì thì không có. Đoàn chuyên gia quân sự của chúng tôi bốc dỡ tức thì, chủ yếu là tổ hợp S-75 và đạn tên lửa, trong cái nóng nực có độ ẩm cao, làm ví dụ cho các quân nhân Việt Nam, chúng tôi làm việc không hề kêu ca, vừa làm vừa cười đùa, như chỉ có người Nga mới làm được như vậy.....Chuyên gia dạy thực hành, một người Ukraine nói rằng, tại buổi hướng dẫn ở Tổng cục 10 BTTM CLLVTLX, tướng Sidorov nói với những người lính: "Các anh sẽ được chăm sóc tốt tại VNDCCH, 2 ngàn calori, giá 3 đồng Việt nam". Người lính hỏi lại: "Đồng chí tướng quân, thế thì tốt quá, ca-lo có rất nhiều, nhưng nếu quy ra cháo đặc thì sẽ là bao nhiêu ạ?" Tất nhiên đấy là một chuyện đùa.

Tổ hợp và các xe khí tài nguồn được đưa thẳng vào rừng rậm, tới các trung tâm huấn luyện. trung tâm huấn luyện TLPK thứ nhất do đại tá Tsygankov Mikhain Nikolaevich chỉ huy. Phó chính trị là trung tá Barsuchenko Mikhain Fedorovich, tham mưu trưởng là thiếu tá Egorov. Kỹ sư trưởng là thiếu tá N.A.Meshkov.

Cuối tháng 4 năm 1965 đoàn chuyên gia quân sự bắt tay vào các giờ học huấn luyện chuẩn bị cho tổ hợp TLPK đi vào tác chiến. Đã thành lập hai tiểu đoàn TLPK sẽ là hạt nhân của trung đoàn TLPK sau này. Ban đầu các chuyên gia Việt Nam học trên các tổ hợp huấn luyện của trung tâm. Nhiệm vụ đưa chúng sang SSCD là rất phức tạp. Để chuẩn bị khí tài, nhóm chúng tôi đã cắt cử về trung tâm: kỹ sư trưởng thiếu tá Kushnar Leonid Fedorovich, kỹ sư đại úy L.V.Fokeev. Sau 2 tuần tổ hợp đã sẵn sàng chiến đấu. Chuẩn bị đạn tên lửa là nhóm dưới sự dẫn dắt của thiếu tá Bogdan. Chỉ huy tiểu đoàn đầu tiên là trung tá B.X.Mozhaev, chỉ huy tiểu đoàn thứ hai - trung tá F.P..Ilinykh.

Sau khi thăm mộ số đơn vị PPK và radar thuộc quân chủng PKKQ, chúng tôi được biết chắc chắn không có các SCH thường trực. Có những tấm bảng đen vẽ bằng phấn mô tả mạng lưới phòng không cũ. chúng tôi xem xét SCHTT QC PKKQ, ở đây trang bị tốt hơn một chút. Có bàn dẫn đường KQTK, phủ phim mỏng trong suốt (mica), ngoài ra chẳng có gì hơn. Lập tức chúng tôi khuyến nghị trang bị đầy đủ đồng bộ cho Sở chỉ huy Trung tâm QC Phòng không và Không quân. Và để tập trung hóa chỉ huy các tiểu đoàn TLPK sắp tới cần xây dựng và trang bị một SCH trung đoàn TLPK. Những lời cố vấn này đã được tiếp nhận tức thì không tranh cãi.

Toàn bộ trách nhiệm trang bị các SCH đồng chí trưởng đoàn chuyên gia đặt lên vai tôi. Tại Kim Liên tôi có riêng một phòng sử dụng (trong đó có toàn bộ tài sản của tôi), dưới quyền còn 2 sĩ quan Việt nam, một thượng úy một thiếu úy, một chục người lính và phiên dịch viên tên Diệu. Để làm bảng tiêu đồ cần có gỗ cứng và bền chắc, lập tức người ta cử anh thiếu úy và nhóm lính vào vĩ tuyến 17 lấy gỗ hồng sắc. Sau vài tuần bảng đã sẵn sàng lên khung. Xưởng trưởng xưởng sửa chữa tiểu đoàn TLPK đại úy Tiurin chế tạo các đai ốc và vít để cố định thủy tinh hữu cơ lên khung. Cắt thủy tinh hữu cư bằng dao cắt kính thông thường (thủy tinh hữu cơ dày 3, 5, 10mm). Đích thân tôi chỉ dẫn cắt như thế nào. giữ mũi dao ra sao, góc đặt bao nhiêu. Không có kinh nghiệm "đồm trí" làm vỡ thủy tinh hữu cơ nhưng sau đó đã làm chủ được chuyên môn cắt kính. Đặc biệt khó khăn vì không có phiên dịch, nhưng trong khi làm việc chúng tôi đã hiểu nhau. Lập tức chúng tôi vạch lên các tiêu đồ các mạng lưới, các góc phương vị, các hình vẽ, các đường chu vi, các bản đồ, các tuyến, các vùng diệt mục tiêu v.v.  

Để khen ngợi cũng cần phải nói rằng các chiến sĩ Việt Nam rất cố gắng, họ viết và vẽ rất cản thận và rất đẹp trên thủy tinh hữu cơ. Sau một tuần lễ, SCHTT đã được trang thiết bị hoàn toàn đầy đủ đúng quy mô.  

Giai đoạn thứ hai cần khẩn trương xây dựng SCH trung đoàn tên lửa. Chúng tôi chọn một điểm cao khô ráo gần Hà Nội. Bây giờ thì bộ chỉ huy PKKQ không phải nài nỉ gì lắm nữa và họ đáp ứng các khuyến nghị của chúng tôi một cách tích cực không hề nghi ngờ hay có băn khoăn gì về chúng tôi vì họ đã thấy "đồng chí anh" là thế nào và ai mới là "anh em chân chính". Và tôi cùng đại tá Dzyza, đại tá Đỗ Đức Kiên, phiên dịch Diệu theo con đê cũ đi qua thung lũng Hà Nội, tới nơi sẽ là SCH tương lai của trung đoàn TLPK. Dù đến đâu thì khắp nơi chúng tôi cũng thấy toàn phụ nữ, đội những chiếc mũ rom hìn nón cụt, đứng gần như ngập nước đến thắt lưng dưới ánh mặt trời thiêu đốt trên những cánh đồng, trồng lúa thẳng hàng. Chẳng hề nhìn thấy đàn ông. Sau này khi tôi hỏi nhiều lần lúc gặp họ rằng đàn ông đi đâu, chỉ có một câu trả lời: "Ra trận". Tất nhiên chúng tôi hiểu rằng VNDCCH đang hỗ trợ bằng tất cả sức lực và của cải cho MTDTGPMNVN và từ chối nhu cầu về tất cả cho bản thân. Người già và trẻ em ở VNDCCH rất nhiều, Tất cả đều làm việc, giúp đỡ cha mẹ, giúp đỡ quốc gia, học tập. Khi chúng tôi đi trên những con đường Việt Nam, trẻ em luôn luôn chạy theo chúng tôi và hét vang: "Liên Xô!", nghĩa là người Soviet.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến nơi, địa điểm chọn tốt, khô ráo. Chẳng ai tưởng tượng ra được. Cách không xa có một xí nghiệp gạch nhỏ, nơi có hàng chồng gạch xếp kiêu. Cách một cây số rưỡi - một ngôi chùa lớn. Đại tá Đỗ Đức Kiên không quên tôi đã hỏi về chuyện SCH dự bị. Chúng tôi đến gần đó. "Đây giới thiệu với anh SCH dự bị. Chỉ có điều anh đừng ngạc nhiên là các chuyên gia Trung quốc đang làm việc tại đây". Chúng tôi được phép vào chùa. Trong gian rất ít cán bộ, chỉ thấy các bảng tiêu đồ trang bị sơ sài giống như tại SCHTT. Sau các bức tượng là các hiệu thính viên ngồi cùng chiếc máy VTD, không đeo quân hàm quân hiệu, không biết là người Trung quốc hay người Việt Nam. Sau đó khi đã lên ô tô trên đường về Hà Nội, đại tá Đỗ Đức Kiên nói rằng cơ sở ấy sẽ không được trang bị, đó không phải là thẩm quyền của chúng tôi. Chúng tôi không khi nào còn đến đấy nữa cho đến hết cả chuyến công tác biệt phái này. Tại đó sáng kiến của chúng tôi người ta không cần.

Và đây, 5 giờ sáng một chiếc ô tô con cùng đồng chí thượng úy và phiên dịch viên Diệu đến khách sạn đón tôi.Tôi chạy vội xuống nhà ăn lấy chiếc bánh mì xăng-uých - một chiếc bánh mì trắng nhỏ giá 5 xu kẹp pate gan lợn (đồ ăn chúng tôi được phục vụ theo yêu cầu nhưng vẫn đích thân trả tiền) Chúng tôi chất lên một két nước chanh thay cho nước uống thường (vì nóng quá!). Sau đó bác tài cắm cái ống tre vào mồm, rít hai-ba lần, chiếc điếu cày kêu sòng sọc, rồi chúng tôi theo con đê cũ đi đến nơi đang xây dựng.

Chưa tới công trình chúng tôi đã nhìn thấy trên một quả đồi lá cờ đỏ và tiếng hát đồng ca giàu nhịp điệu. Điều làm tôi ngạc nhiên là một nửa hố móng lớn đã làm xong mà chẳng có phương tiện kỹ thuật gì cả, còn phía dưới rảo bước theo nhau gánh những sọt đất - toàn là các cụ già và thiếu niên. Chúng tôi cùng viên thượng úy và phiên dịch viên Diệu đứng dưới gốc đa trò chuyện hút thuốc. Một người nông dân vai khoác chiếc cày gỗ, mặc áo màu nâu sồng ướt đẫm mồ hôi, quần xắn cao, chân trần, có lẽ vừa trèo lên từ cánh đồng lúa đầy nước. Đến sát tôi, ông ta đưa tay véo các bắp thịt trên tay chân và ngực tôi. Tôi nói với ông ấy: "Tiao, đồm trí" (Chào, đồng chí) và chìa cho ông hộp thuốc lá. Ông vui mừng vì "Liên Xô" bắt tay ông và mỉm cười. Sau khi nhón một điếu thuốc, ông gài nó vào sau vành tai rồi đáp "Tiao". Buổi tối khi chúng tôi về đến Kim Liên, người phiên dịch nói với tôi: "Đồng chí Vodorez, bác nông dân mà anh gọi là đồng chí ấy. đối với chúng tôi không phải là đồng chí. Với chúng tôi - đồng chí là các đảng viên. công nhân, quân nhân và cán bộ nhà nước". Tôi trả lời cậu ta rằng đối với chúng tôi toàn thể nhân dân lao động, toàn thể giai cấp vô sản thế giới đều là đồng chí. Và đương nhiên tôi hiểu ảnh hưởng này từ đâu tỏa ra và sự rèn giũa hệ tư tưởng từ "người anh lớn" là cực kỳ mạnh. Chúng tôi thấy những sĩ quan học tập ở Liên Xô về, trung thành với chúng tôi, bị thất sủng ra sao. Từ khi có mặt đoàn cố vấn và chuyên gia quân sự tại VNDCCH tình hình của họ mới được cải thiện bước đầu. Nhiều người trong số họ được đưa trở lại hàng ngũ QDNDVN, được khôi phục cấp hàm và chức vụ.  

Khi bắt đầu sự hợp tác hiệu quả về xây dựng QC PKKQ, đại tá Đỗ Đức Kiên đến ở hẳn tại Kim Liên. Sáng sáng ông dậy rất sớm, tập thể dục trong tiếng nhạc "Chiều Moskva", sau đó nếu rảnh ông tới chỗ chúng tôi và chúng tôi cùng nhau thảo luận những vấn đề chúng tôi quan tâm.

Trong các phát biểu của mình tôi không nói rằng KQ Mỹ ngày càng tăng cường và thường xuyên đánh phá các trung tâm chính trị-công nghiệp của Hà Nội, Hải Phòng và một loạt thành phố và cơ sở khác. Đủ loại cỡ pháo PK đánh trả các cuộc không kích của KQ Mỹ. Mỗi buổi sáng số máy bay Mỹ bị tiêu diệt được đánh dấu công khai trên tấm bảng ở Kim Liên. Các mảnh xác máy bay bị bắn rơi được trưng bày giữa quảng trường trung tâm Hà Nội và các thành phố khác. Dân địa phương tích cực tham gia tìm kiếm và thu thập các mảnh xác máy bay bị bắn rơi.

Và khi đoàn tàu đường sắt chở hệ thống TLPK và các trạm radar của binh chủng kỹ thuật vô tuyến điện tử cùng đội ngũ quân nhân về đến nơi, người ta tổ chức thêm một trung tâm huấn luyện thứ hai của binh chủng TLPK tại Hải Phòng. Chủ nhiệm trung tâm này là đại tá N.V,Bazhenov, đại tá I.I.Smirnov được bổ nhiệm phó chủ nhiệm về chính trị. Để đào tạo các chuyên gia radar tại khu vực Hà Nội cũng tổ chức một trung tâm huấn luyện. Thiếu tá Popov được giao chủ nhiệm trung tâm. Sĩ quan phụ trách là trung tá Vasin Pavel Ivanovich, từ nhóm chúng tôi được biệt phái sang chịu trách nhiệm về công tác đào tạo các chuyên gia cho binh chủng radar của nước VNDCCH. Chịu trách nhiệm đào tạo kỹ thuật về các đài radar là đại úy V.M.Kostriko và đại úy Valentin Antipin, anh ấy đã nắm vững tiếng Việt một cách hoàn hảo và đã tiến hành các giờ giảng dạy trực tiếp không cần phiên dịch viên.

Nhóm hoa tiêu dẫn đường xây dựng rất phức tạp và khó khăn. Theo hiệp định Geneve 1954 thì tại VNDCCH không có KQ. Phía Việt nam thực hiện quyết định này một cách không chê vào đâu được, hậu quả là chẳng có đội ngũ khung cán bộ hàng không: các phi công cũ, các cựu hoa tiêu và các kỹ thuật viên hàng không khác bị thải hồi. Người ta tập hợp các ứng cử viên mới: các học viên có trình độ học vấn từ lớp 8 đến lớp 10. Nhiệm vụ huấn luyện hoa tiêu dẫn đường đặt lên vai các chuyên gia quân sự Soviet trong nhóm chúng tôi: hoa tiêu trưởng trung đoàn KQTK quân đoàn PK 19 Baldurkin Vladimir Fedorovich và các hoa tiêu dẫn đường đại úy Masiughin, thượng úy Vladimir Dumchenko, họ là các chuyên gia hạng nhất. Để giữ bí mật, hai chuyên gia này được đưa vào nhóm các chuyên gia bộ đội TLPK với tư cách các sĩ quan tiếp nhiên liệu cho đạn tên lửa.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Sáu, 2014, 09:05:46 PM
Để viết trích yếu cần có sách. Tôi tìm được một cuốn sách loại không phải tài liệu mật "Tự lái máy bay một chỗ ngồi". Cuốn này tôi kiếm được ở hiệu "Sách Quân sự" tại Moskva trước khi bay đi. Toát yếu được ghi theo trí nhớ. Công tác dẫn đường thực tế được thực hành theo kiểu "sách vỡ lòng" (thiết bị tập luyện) với sự trợ giúp của các mô hình. Tiếp theo toàn bộ quá trình giảng dậy huấn luyện được tiến hành thực thụ trên IKO (VIKO) - các màn hiển thị nhìn vòng. Các chuyên gia Soviet về hoa tiêu dẫn đường đã xử lý tốt công việc, sau ba tháng nhóm được giải thể.

SCH trung đoàn TLPK được xây dựng nhanh chóng. Tại nhà máy luyện kim Việt-Xô ở khu vực Hà Nội, công nhân đã dùng thép chữ T chuẩn bị được một ngôi nhà khung lắp ghép. Người ta chở nó đến nơi, đặt lên nền móng, xây tường bao bằng gạch, lèn đất chặt. Xung quanh và phía trên người ta trồng các vật sống ngụy trang như cây chuối và cây sắn. 

Đã lắp đặt xong hoàn toàn trang thiết bị bên trong SCH, kéo rải dây hữu tuyến và liên lạc vô tuyến với các phân đội hỗ trợ và hai tiểu đoàn TLPK lâm thời. Aleksandr Ivanovich Grammov đã cố gắng hết sức trong công tác trang bị thông tin liên lạc cho SCH.

Bây giờ các tiết học đã được tiến hành tại tất cả các trung tâm huấn luyện. Còn tình hình thì ngày càng nóng bỏng, máy bay KQ Mỹ vẫn ngày càng càn rỡ. Các cuộc không kích ngày càng lớn hơn và dồn dập hơn được lặp đi lặp lại với Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành khác cả ngày cũng như đêm. Các giờ giảng chiến thuật của Đoàn chuyên gia quân sự được tiến hành trong chế độ tăng cường.

Không quân Mỹ tăng cường không kích nhằm trinh sát và tấn công các mục tiêu bằng các loại máy bay F-105, RF-4, F-4, A-6D và các loại máy bay khác, sử dụng các loại hỏa tiễn "Shrike", "Bulpup", ném các loại bom phá, bom từ trường, bom bi. Các chuyến bay thực hiện bằng phương pháp phóng bằng thoi phóng từ các TSB trong vịnh Bắc Bộ và căn cứ KQ "Utapao" tại Thái Lan.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Vodorez-3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Vodorez-3.jpg.html)
Phân công buổi sáng tại trung tâm huấn luyện số 1 tháng 6 năm 1965. Chủ nhiệm trung tâm 1 M.N.Tsygankov trước hàng quân.

Khi đi tới Hội đồng quân sự từ Moskva, TTL bộ đội PKQG Nguyên soái KQ V.A.Sudets lưu ý rằng sẽ có một kíp rưỡi các chuyên gia quân sự Soviet đã qua xạ kích bắn đạn thật tại trường bắn quốc gia Kapustin Yar đang đi đến VNDCCH. Nếu hoàn cảnh đòi hỏi họ sẽ phải đích thân tiến hành các hoạt động chiến đấu. Vì vậy đã có yêu cầu ngăn chặn những chuyến bay không bị trừng phạt của kẻ xâm lược. Vấn đề được tháo luận với Đại sứ tại Việt Nam I.S.Scherbakov và giải pháp được chuyển lên chính phủ VNDCCH. Người ta khẩn trương thành lập từ Đoàn chuyên gia quân sự Soviet hai tiểu đoàn TLPK lâm thời cơ động để trực tiếp chiến đấu. Để bảo vệ hệ thống TLPK người ta điều động hai đại đội PPK. Các SCH thuộc tất cả các binh chủng về cơ bản đã trang bị xong, sẵn sàng chỉ huy tác chiến và hiệp đồng tác chiến. Bây giờ trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị của các khẩu đội tác chiến và các chuyên gia các trung tâm huấn luyện là các chuyên gia quân sự Soviet thường trực, còn nhiệm vụ chiến đấu đánh trả kẻ thù trên không là của các tiểu đoàn TLPK lâm thời cơ động.   

Vậy là vào buổi trưa ngày 24 tháng 7 năm 1965, các máy bay của KQ Mỹ bị bắn rơi gồm có: 1 chiếc F-4C và 2 chiếc F-105. Một chiếc "Con Ma" bị bắn trúng và cố gắng bay về phía căn cứ Utapao Thái Lan, nhưng do bị thương nặng quá nên đã rơi xuống cánh rừng rậm bên kia sông Hồng.

"Trinh sát viên" thiếu tá Solomatin Nikolai Stepanovich lên đường bơi vượt sông tới chỗ máy bay rơi. Do cạn nhiên liệu máy bay không bị nổ mà vẫn nguyên vẹn, phi công chết gục trong buồng lái, đầu vỡ nát, Sau khi thu bảng kẹp bản đồ bay và các tài liệu, thiếu tá quay về với nhóm chúng tôi.

Hai kỹ thuật viên máy bay thuộc trung tâm huấn luyện 1, trước đây phục vụ trong KQ Soviet, đã tháo dỡ máy bay, đóng gói vào các hòm đạn tên lửa PK. Nông dân phát rừng mở đường và kéo các thùng hàng. Sau đó chúng được chở xuống cảng Hải Phòng, bốc xuống hầm tàu hàng, phủ gạo lên và chở về Liên bang. Hoạt động này diễn ra rất bí mật, tránh tai mắt của "người anh lớn".

Một lần tại SCH trung đoàn TLPK thứ nhất xảy ra một trường hợp thế này. Đang trong giờ ăn trưa, các tiêu đồ viên Việt Nam đi sang SCHTT dự bị. Bất ngờ chuông điện thoại réo. Trung đội trưởng thiếu úy Hùng sau khi chộp ống nói im lặng lắng nghe chăm chú, lúc này phiên dịch viên không có mặt. Cậu ta nói với tôi: "U-2!" và đánh dấu lên tiêu đồ.

Đúng lúc đó mấy chiếc xe ô tô đi vào trên một xe có đại tá Dzyza, đại tá Tsygankov, trung tá Barsuchenko còn trên chiếc xe kia là tư lệnh PKKQ Phùng Thế Tài cùng chính úy và người phiên dịch. Tôi báo cáo tư lệnh tình huống xuất hiện máy bay trinh sát chiến lược U-2 trên độ cao 19 000m, bay ở tốc độ 900 - 1000km/giờ.

Tư lệnh ngồi xuống bàn và trao đổi với chính ủy, làm gì bây giờ. Chính ủy im lặng. Đại tá Tsygankov báo cáo 2 tiểu đoàn triển khai trên cánh đồng lúa, liên lạc không ổn định. Đại tá Dzyza quay sang Phùng Thế Tài: "Đồng chí tư lệnh, ý kiến của đồng chí thế nào?"

Chúng tôi cần quyết định xuất phát từ ông ấy. Chính ủy cũng vẫn im lặng và rồi hỏi gì đó phó chính ủy. Mục tiêu vẫn đang bay, thay đổi hướng với nhiều góc khác nhau. Nghĩa là chiếc máy bay đó - máy bay trinh sát không người lái được điều khiển từ máy bay - mẹ và sắp sửa đi thoát không bị trừng phạt.

Lúc đó đại tá Dzyza bèn cho lệnh trực tiếp không mật ngữ tới các tiểu đoàn trưởng TLPK: "Mozhaev và Ilinykh, bắn!"... Tất cả chúng tôi những người đang ở SCH chết lặng, nhìn ra khung cửa đi mở toang và thấy hai quả đạn nối tiếp nhau phóng lên như thế nào. Quả đạn đầu tiên làm chiếc máy bay trinh sát lao chúi xuống, từ nó bung ra những mảnh cháy bốc khói. Quả đạn thứ hai nổ bùng dưới đám mảnh trắng. Tâm trạng trong lòng hai vị tư lệnh và chính ủy thế nào tôi không biết nhưng các quân nhân Việt Nam đang có mặt tại SCH vô cùng mừng rỡ trước những kết quả làm việc đầu tiên của tổ hợp TLPK. Từ SCHTT dự bị những người lính Việt Nam và Trung quốc chạy đến ôm chầm lấy chúng tôi, bắt tay và hô: "Liên Xô!".

Ngày hôm sau xem xét các mảnh xác thu thập được người ta phát hiện ra chiếc máy bay trinh sát đó không phải là U-2 mà là máy bay KNL BQM-34A. Phim máy ảnh của nó đã bị nóng chảy hết.

Một thời gian sau buổi trưa tôi và thiếu úy Hùng đi sang trung tâm huấn luyện binh chủng radar để lắp đặt bổ sung một số bàn tiêu đồ và bảng. Chúng tôi được bố trí ở trong dãy nhà 1 tầng và miệt mài làm việc. Gần đấy có một nhà máy thuốc súng. Còi "báo động phòng không" lại rú lên. Một tốp máy bay Mỹ xếp đội hình vòng tròn lần lượt ném bom nhà máy. Quân nhân Việt Nam ẩn nấp trong các giao thông hào và hầm. Tôi tiếp tục làm việc và nhìn xem máy bay cắt bom. Những người lính gọi tôi ra hầm trú ẩn. Tôi đáp: "Chiến tranh đang diễn ra. Cần phải làm việc, phải chiến đấu". Sau khi có còi báo yên, họ đến mời tôi ăn dứa. Rồi tới một giờ nghỉ trưa. Thiếu úy Hùng nói: "Cần phải nghỉ ngơi. Bác Hồ đã dạy như vậy, vì cuộc chiến đấu còn lâu dài, phải giữ gìn và tăng cường sức khỏe". Nhớ lại trường hợp trên, tôi thấy ghen tị với sự bình thản của họ.

Buổi tối tôi đi "hóng gió". Trên đường trở về tôi không bật được đèn bão và tôi đi qua cánh đồng dứa về ngôi nhà một tầng nơi một người lính đang tìm tôi. Nhìn thấy tôi cậu ta lo lắng bảo: "Ở đó rất nhiều rắn đi trên đó rất nguy hiểm". Sau đó để ghi nhớ chuyện này người ta tặng cho tôi một bộ da rắn nhồi đầy hạt thóc.

Khi về Kim Liên chúng tôi thường gặp và chào hỏi các chuyên gia Trung quốc trong nhà ăn. Sau những lần xạ kích thành công của các chuyên gia quân sự Soviet vào máy bay Mỹ, thái độ của họ với chúng tôi thay đổi hẳn. Tôi không nhớ ngày nào nhưng một lần đại tá Dzyza đến SCH mời tôi về Kim Liên: "Khẩn trương tắm rửa, thay quần áo, chúng ta sẽ tới đại sứ quán Trung quốc dự buổi tiếp tân mừng ngày thành lập Hồng quân Trung Hoa". Nhóm chúng tôi được tùy viên quân sự CHNDTH và nhóm các chuyên gia CHNDTH và VNDCCH đón tiếp. Sau đó người ta mời tham dự bữa tối trọng thể, trong đó chúng tôi được mời ngồi cùng bàn với các chuyên gia Liên Xô khác, các chuyên gia Trung quốc, Việt nam. Mọi người nâng cốc chúc tụng nhau: "Vì tình hữu nghị, vì sự hợp tác!" Buổi gặp gỡ diễn ra trong không khí hữu nghị và nồng nhiệt.

Tôi sẽ không miêu tả những chuyện nhỏ nhặt hàng ngày trong đời sống chiến đấu trên đất Việt nam, nhưng kể cả cái nóng oi nồng ngột ngạt vì độ ẩm cao, kể cả bệnh sốt nhiệt đới, bệnh lỵ amib, bệnh lên nhọt độc, viêm rễ thần kinh, nạn ruồi muối, chuyện nước lạnh phải đun sôi 2 lần, không gì có thể bẻ gẫy sức lực và ý chí của các chuyên gia quân sự Soviet.

Bệnh viêm rễ thàn kinh có tiền sử từ lâu bỗng bùng lên dữ dội với chủ nhiệm trung tâm huấn luyện số 1 Mikhain Nikolaevich Tsygankov, theo chuyến máy bay đầu tiên người ta đưa ông về Liên Xô vào viện quân y chữa trị, thay ông làm chủ nhiệm là trung tá Barsuchenko Mikhail Fedorovich. Phải cấp cứu khẩn cấp tại bệnh viện Việt-Xô ở Hà Nội do bệnh lỵ amib là trung tá Levisky Gleb Aleksandrovich. Do nóng và gió lùa mà nhiều chuyên gia quân sự Soviet bị cảm.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Sáu, 2014, 06:56:00 PM
Tháng 8 năm 1965 trôi qua. Các tiết dạy ở các trung tâm huấn luyện đã kết thúc. Tôi cùng nhóm chuyên gia quân sự Soviet ở trung tâm huấn luyện binh chủng radar đi nghỉ mát ở Tam Đảo, nơi đây là vùng núi có khí hậu ôn hòa nằm ở độ cao 1910 m, cạnh một thác nước lớn. Một ngày đêm trôi qua, sáng hôm sau một chiếc "Volga" đen đưa tôi và bí thư sứ quán về Hà Nội gặp tùy viên quân sự tướng Ivanov. Tôi cùng đại tá Yangalov sĩ quan Bộ Tổng tham mưu Bộ QP Liên Xô được lệnh đến nơi xảy ra trận đánh ngày 21 tháng 8 với máy bay Mỹ của 2 tiểu đoàn tên lửa Xô-Việt. Chúng tôi cần nghiên cứu mô tả lại diễn tiến trận đánh. Chúng tôi đi xe đến đó cùng phiên dịch viên Diệu. Cậu ta khuyên chúng tôi nên đi đêm cho an toàn nhưng chúng tôi không chịu.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Vodorez-4.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Vodorez-4.jpg.html)
Các chuyên gia trung tấm 1 và các phiên dịch viên Việt Nam, tháng 6 năm 1965.

Tại thực địa chúng tôi gặp viên đại đội trưởng đại đội PPK bảo vệ tên lửa. Anh chỉ cho chúng tôi thấy 2 tiểu đoàn tên lửa bố trí ở điểm nào gần chân núi Vinh, vùng bảo vệ của PPK triển khai thế nào, anh cũng kể lại trận đánh diễn tiến ra sao. Trận địa của phía Việt Nam chọn không tốt, quá gần núi chỉ cách núi 8 đến 12 km. Nửa sau của ngày hai cặp RF-101 và F-4 bay tới từ sau núi. Các tiểu đoàn TLPK ở trong chế độ im lặng cho các máy bay trinh sát bay qua trên trận địa. Một lúc sau từ độ cao trung bình ở tốc độ bay lớn 2 tốp F-4 và F-105 đông đảo xuất hiện, bay thành thê đội kế tiếp kề sát nhau. Như các chiến sĩ tên lửa nói lại, họ phóng đạn gần như "tức thì". Trận đánh rất ngắn ngủi. Đội hình chiến đấu của các máy bay bị phá vỡ. Trên không trung là cả một sự rối loạn kinh hoàng. Trong trận đánh này đã có 18 máy bay KQ Mỹ bị bắn rơi, tiêu thụ 22 đạn tên lửa. Sau trận đánh các tiểu đoàn TLPK lập tức chuyển vào rừng. Tại vị trí trận địa cũ người ta dựng các mô hình tên lửa bằng tre. Người ta để lại bảo vệ một đại đội PPK. Chiều tối một chiếc trinh sát bay qua trận địa trên độ cao lớn. Sáng 22 tháng 8 từ sau núi một tốp máy bay KQ Mỹ (tốp có khoảng 20-30 chiếc) bay thânh các thê đội ở độ cao nhỏ tốc độ lớn tấn công xuống các trận địa giả. Cuộc không kích chia làm hai giai đoạn. Tất cả sôi sục, gầm rú, cháy đỏ. Chúng quăng xuống trận địa vài trăm "Shrike", "Bullpup", bom phá, bom từ trường và bom bi. Mặt đất trở thành những hố sâu dày đặc. Bộ đội Việt Nam của đại đội PPK nấp trong công sự khi bị ném bom. Các trận địa giả bị hủy diệt hoàn toàn. Hai khẩu cao xạ 100 ly cũng bị trúng đạn hư hỏng không dùng được. Vài chiến sĩ Việt Nam bị thương nhẹ.

Sau khi thu thập một số chiến lợi phẩm (mảnh, bom bi chưa nổ, thuốc bom) và uống trà trong lán của đại đội trưởng PPK, chúng tôi lên đường về sứ quán ở Hà Nội. Đi trên đường mới được vài km chúng tôi thấy một chiếc F-105 bay sạt trên đầu theo chúng tôi. Rời xe, chúng tôi bổ vào sau một khóm cây lớn ẩn nấp mà không nhận thấy dưới khóm cây có một túp nhà. Sau khi phóng một loạt rốc-két xuống mặt đường, chiếc F-105 bay về phía đồng lúa. Trong nhà nghe tiếng báo động và tiếng nói chuyện lo sợ. Phiên dịch viên nói rằng những người nông dân vì chúng tôi mà lo lắng cho căn nhà của họ. Để không làm dân lành phải gặp nguy hiểm chúng tôi lập tức lên đường.

Ngày 1 tháng 9 chúng tôi được Thủ tướng VNDCCH mời dự lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh. Người ta mời cả đoàn Trung quốc, CHDCND Triều tiên, CHND Mông Cổ. Tiệp Khắc và các quốc gia khác.

Đoàn chính phủ từ Liên bang Xô Viết không sang nên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại VNDCCH I.S.Scherbakov thành lập một đoàn đại biểu từ các cán bộ sứ quán và các đại diện thuộc nhóm chuyên gia quân sự Soviet chúng tôi và ông dẫn đầu đoàn.

Tất cả chúng tôi đang ở vị trí làm việc, vì thế đại tá Dzyza đã tập hợp chúng tôi rất nhanh theo kiểu quân sự. Về tới Kim Liên, chúng tôi thay quần áo rồi lên xe tới Nhà Quốc hội.

Phố xá chật cứng người không thể lách qua nổi, Công An mặc trang phục đại lễ dẹp đường cho chúng tôi đi đến Nhà Quốc hội. Người dân chào đón chúng tôi và hô lớn: "Liên Xô! Liên Xô!", họ vẫy tay, kéo tay, bắt tay chúng tôi.

Tại phiên họp trọng thể trong gian hội trường lớn người ta bố trí bên phải là đoàn đại biểu lớn của CHND Trung Hoa, ở giữa là đoàn đại biểu nhỏ của chúng tôi, bên trái là đoàn đại biểu đông đảo của Việt nam - các nhà hoạt động Nhà nước, các đảng viên, cán bộ tổ chức, quân nhân. Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng đọc diễn văn.

Sau đó đến buổi trình diễn một vở opera bằng ba thứ tiếng: Trung, Việt, Nga. Sau khi nghỉ giải lao ngắn người ta mời các đoàn đại biểu vào các phòng khác nhau dự chiêu đãi trọng thể. Chúng tôi ăn tối theo kiểu tiệc đứng. Đoàn chúng tôi cùng chỗ với các chuyên gia CHDCND Triều Tiên.

Phạm Văn Đồng nâng cốc hướng về nhóm chúng tôi chúc mừng bằng tiếng Việt. Ông nói: "Chúc mừng các đồng chí nhân dịp 20 năm nhân dân Soviet chiến thắng quân xâm lược Nhật Bản. Tôi chúc các đồng chí sức khỏe và thành công trong công cuộc xây dựng xã hôi Cộng sản!" Phiên dịch viên chuyển ngữ "xã hội xã hội chủ nghĩa". Ông sửa lại bằng tiếng Nga: "xã hội Cộng sản chủ nghĩa".

Ngày 5 tháng 9 bộ chỉ huy PKKQ triệu tập tất cả các chuyên gia quân sự Soviet hết hạn công tác biệt phái. Trong khung cảnh trọng thể tát cả chúng tôi được trao huy chương Hữu Nghị.

Tư lệnh QC PKKQ Phùng Thế Tài trong bài phát biểu của mình nhấn mạnh: "Lịch sử sự hợp tác kỹ thuật quân sự Xô-Việt bắt đầu từ những năm 1950 sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai đất nước chúng ta. Chúng tôi cám ơn Liên bang Xô Viết và đồng chí Stalin Iosif Vissarionovich người khi ấy đã giúp đỡ chúng tôi và cho chúng tôi 100 cỗ pháo PK làm cơ sở xây dựng bộ đội PK Việt Nam".

Ngày 7 tháng 9 nhóm nhỏ chúng tôi đáp máy bay Il-18 trở về Tổ quốc.

Thành phố Ekaterinburg, tháng 4 năm 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Sáu, 2014, 10:29:40 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kushnar-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kushnar-1.jpg.html)

Đại tá Kushnar Leonid Fedorovitch

Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1928 tại làng Staryi Saltov huyện Vonchansky tỉnh Kharkov.
1947-1950 - học viên trường pháo cao xạ Cờ Đỏ Zhitomir.
1950-1951 - bộ đội PKQG - trung đội trưởng PPK.
1951-1952 - trường kỹ thuật vô tuyến điện tử Gorky - trưởng phòng thí nghiệm.
1952-1958 - học viện VTDT PK mang tên Nguyên soái pháo binh Liên Xô L.A.Govorov (thành phố Kharkov) - học viên.
1958-1965 - bộ đội PKQG - đại đội trưởng đại đội KTVTDT thuộc tiểu đoàn TLPK, chỉ huy phó - kỹ sư trưởng trung đoàn TLPK, chỉ huy phó - kỹ sư trưởng lữ đoàn TLPK.
Tháng 4 năm 1965 - tháng 4 năm 1966 - tham gia vào các hoạt động chiến đấu tại VNDCCH trên cương vị chuyên gia quân sự bên cạnh kỹ sư trưởng binh chủng TLPK QC PKKQ QDNDVN với các cấp bậc thiếu tá - kỹ sư, trung tá - kỹ sư.
1966-1976 - bộ đội PKQG - kỹ sư trưởng quân đoàn PK.
1976-1978 - Cộng hòa Cuba - cố vấn kỹ sư trưởng quân đội nhân dân Cuba.
1978-1979 - bộ đội PKQG - phó chủ nhiệm bộ đội TLPK - trưởng ban tên lửa-pháo PK quân đoàn PK.
1979 - chuyển ngạch dự bị.
Từ trần ngày 17 tháng 2 năm 2008, chôn cất tại Kharkov.
Được tặng thưởng các huân chương Cờ Đỏ, Sao Đỏ và nhiều huy chương, trong đó có huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.



HỒI ỨC VỀ CHIẾN TRANH TẠI VIỆT NAM

Chuyện đó bắt đầu như thế nào

Tháng 1 năm 1965 một nhóm sĩ quan lữ đoàn TLPK 37 dẫn đầu là lữ đoàn trưởng đại tá Zherdev Aleksei Ivanovich được gọi đến bộ tổng tham mưu lực lượng PKQG.

Tổng tư lệnh bộ đội PK nguyên soái không quân V.A,Sudets giao nhiệm vụ. Ông nói rằng ban lãnh đạo Bắc Việt Nam đề nghị ban lãnh đạo Liên bang Soviet giúp đỡ đánh trả sự xâm lược của Hoa Kỳ, và chính phủ chúng ta đã quyết định giúp đỡ. "Nhiệm vụ của chúng ta: thành lập một cụm phương tiện PK nhằm bảo vệ không phận Bắc Việt Nam. Nhiệm vụ này tôi giao cho các anh, để các anh cùng các sĩ quan bộ tham mưu soạn thảo kế hoạch lập một nhóm như vậy trên cơ sở lữ đoàn các anh và trong thời hạn sớm nhất phải có mặt tại nơi đóng quân. Phải chính xác, nhanh, chất lượng. Thời hạn - hai ngày. Sau thời gian đó các anh phải báo cáo kế hoạch của mình".

Nhiệm vụ rất rõ ràng và chúng tôi chỉ có việc bắt tay thực hiện. Trong nhóm của tôi có các chuyên gia tham mưu, hậu cần, các kĩ sư ban khí tài tên lửa đứng đầu là tôi, các kỹ thuật viên thông tin liên lạc, vận tải. Tổng tư lệnh cho chúng tôi quyền được yêu cầu bất cứ phòng ban nào trong bộ tham mưu giúp đỡ. vì chúng tôi là các đại diện của binh chủng TLPK nên chúng tôi tất nhiên tìm sự giúp đỡ ở tư lệnh binh chủng TLPK. Tư lệnh kết nối chúng tôi với cấp phó của ông trung tướng S.F.Vikhor, người ngoài bản thân còn cho cả các sĩ quan của mình giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi cần sự giúp đỡ trước hết từ các chuyên gia vận tải đường sắt và nói chung là về vấn đề di chuyển nơi đóng quân của khí tài xe máy quân sự.

Công việc sôi sùng sục. Trong những ngày ấy chúng tôi cố gắng giải quyết các vấn đề sau:
1. Thành phần cụm bộ đội PK.
2. Đường vận chuyển và việc chuyển quân (khí tài xe máy tổ hợp TLPK, đạn, máy bay, cán bộ chiến sĩ).
3. Đặc điểm di chuyển trên đất Trung quốc, và đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam, vì ở đó chiều rộng trục bánh xe khác và tại biên giới Việt Nam cần tổ chức bốc trung chuyển hàng, điểm bốc trung chuyển.
4. Trinh sát thực địa trên lãnh thổ Việt Nam.

Tất cả những vấn đề trên cần phải đưa ra dưới dạng sơ đồ, bản đồ, các bản miêu tả và sau hai ngày chúng tôi đã báo cáo chúng trước bộ tư lệnh bộ đội PKQG.

Sau khi tiếp thu các nhận xét và có bổ sung chỉnh sửa nhất định, đề xuất của chúng tôi đã được phê duyệt, chúng tôi bắt đầu thi hành kế hoạch.

Đương nhiên một trong những vấn đề cơ bản là thành phần cụm PK. Tóm lại đã quyết định thành lập cụm bộ đội với thành phần như sau:
- lữ đoàn với 12 tiểu đoàn TLPK và 3 tiểu đoàn kỹ thuật đảm bảo;
- bổ sung cho lữ đoàn 1 tiểu đoàn radar;
- hai trung đoàn không quân tiêm kích phối thuộc lữ đoàn.

Các khí tài của bộ đội TLPK và bộ đội radar đóng quân trên lãnh thổ Việt Nam, còn các trung đoàn KQTK theo thỏa thuận với CHND Trung Hoa sẽ bố trí trên lãnh thổ của họ, gần với biên giới Việt Nam hơn.

Chương trình nghị sự trong ngày còn nổi lên vấn đề trinh sát thực địa. Đã quyết định lấy 10 người nhóm chúng tôi đầu tháng 2 bay tới Việt nam để tại thực địa chọn trận địa cho bộ đội radar, các tiểu đoàn tên lửa và các trung đoàn KQ. Chuyến bay ấn định vào khoảng từ ngày 1-2 thâng 2 năm 1965. Chúng tôi thay sang quần áo dân sự, chuẩn bị đồ đạc đi đường, hôm trước khi bay chỉ huy cho chúng tôi về nhà đến 18:00, sáng hôm sau 6:00 chúng tôi bay.

Tôi trả phép tầm khoảng 17:00, đi vào phòng nơi chúng tôi ở cùng chỉ huy và thấy ông đang sải bước trong phòng với vẻ tức giận. Ông buông ra từng tràng chửi bới, chửi trời, chửi đất và đủ mọi hướng. Tôi sửng sốt và hướng về ông gọi theo tên họ (chúng tôi vẫn thường giao tiếp với nhau như vậy sau giờ làm):

- Aleksei Ivanovich, có chuyện gì vậy?

Còn ông đáp rằng tất cả hỏng bét, người Trung quốc (những người nào thì tôi sẽ không nêu chính xác) từ chối phương án của chúng tôi. Họ không muốn cho bộ đội của chúng ta, và đặc biệt người của chúng ta (anh hãy nhớ điều đó) đi qua đất họ vào Việt Nam. Họ đề nghị như sau: các anh hãy chuyển khí tài cho chúng tôi, chúng tôi sẽ gửi chúng cho người Việt Nam, và tại đó chính chúng tôi sẽ dạy họ sử dụng. Đương nhiên chính phủ chúng ta không đồng ý với phương án này.

Sự việc nằm ở chỗ đây là giai đoạn đối đầu của chúng ta với Trung quốc  Quan hệ rất phức tạp và chúng tôi những công dân bình thường không thể lường được. Tình hình đó được phản ảnh ngay tại Việt Nam: chiến tranh kéo dài nhiều năm, số nạn nhân ở cả hai phía đều rất lớn, kinh tế bị tàn phá và nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa.

Ngày hôm sau, sau chuyến bay bất thành, tại bộ tham mưu người ta thông cảm với chúng tôi, đặt vé máy bay cho chúng tôi về thành phố Cheliabinsk quê hương và chúng tôi mặc đồ dân sự trang trọng về nhà. Giai đoạn đầu của công cuộc giúp đỡ những người anh em Việt Nam của tôi đã kết thúc như vậy đấy.

Chuyến bay tới thành phố Rồng Bay (Thăng Long)

Giữa tháng 4 năm 1965 một nhóm 9 sĩ quan được gọi tới BTTM Bộ đội PKQG. Đó là những người sau: Kushnar Leonid Fedorovich, Vasin Pavel Ivanovich, Baldurkin Vladimir Fedorovich, Kostriko Vladislav Mikhailovich, Uzlenkov Aleksandr Yakovlevich, Gromov Aleksandr Ivanovich, Fokin Lev Mikhailovich, Levitsky Gleb Aleksandrovich, Vodorez Leonid Fedorovich.

Nhiệm vụ đặt ra cho chúng tôi: chuẩn bị đề xuất về việc điều chuyển hai hệ thống tên lửa PK và toàn bộ khí tài vật chất còn lại đến Việt Nam để hình thành hoàn chỉnh hai trung tâm huấn luyện.

Để phục vụ đào tạo huấn luyện chúng tôi cần tinh giản tối đa quân số đoàn chuyên gia của mình sao cho đáp ứng các tiết giảng dạy đội ngũ quân nhân Việt Nam.

Vậy là bằng con đường thương lượng lâu dài, phía Việt Nam đã đàm phán thành công với phía Trung quốc để họ đồng ý với phương án sau: chúng ta (Liên bang Soviet) sẽ cung cấp khí tài và một số lượng xác định các giảng viên đào tạo đội ngũ quân nhân Việt Nam, và không trực tiếp tham gia chiến đấu.

Trên cơ sở quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tại Việt nam đã thành lập Đoàn chuyên gia quân sự Soviet, đoàn này sẽ bắt tay thành lập các trung tâm huấn luyện, chuẩn bị khí tài và đội ngũ quân nhân của chúng ta. Ban đầu chuyên gia về binh chủng TLPK của chúng ta đại tá Dzyza Aleksandr Matveevich đến Việt Nam. Ông từng lãnh đạo trung tâm đào tạo tại thành phố Kubinka, tại đó người ta dạy chuyển loại các chuyên gia-chiến sĩ tên lửa của chúng ta từ hệ thống S-25 sang hệ thống S-75. Sẵn có kinh nghiệm, ông lãnh đạo việc thành lập các trung tâm huấn luyện tại Việt nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhóm chúng tôi sau khi chuẩn bị các hoạt động trên (đã có kinh nghiệm từ hồi tháng 1), cần phải bay đến VNDCCH vào quãng các ngày 20 tháng 4. Tôi được cử làm trưởng nhóm. Chúng tôi bay kịp thời, sau hai ngày đêm đã tới Bắc Kinh, tại đó trợ lý tùy viên quân sự tại CHNDTH ra đón. Người ta bố trí chúng tôi ở khách sạn "Pioneer" giữa trung tâm Bắc Kinh. Quan hệ tốt nhưng thận trọng và cảnh giác. Chúng tôi nán lại Bắc Kinh gần một tuần, trong thời gian đó diễn ra việc xác định thanh khoản của chúng tôi. Người ta đưa cho chúng tôi 75 tệ để chi tiêu hàng ngày, nhưng tiền khách sạn rồi tiền ăn chẳng ai lấy, dù trợ lý đại sứ đã nói cứ để chúng tôi trả tiền. Tóm lại người Trung quốc từ chối lấy tiền. Trong thời kỳ ấy, người Trung quốc vẫn tỏ thiện cảm với chúng tôi, nhưng liên tục rủa xả ban lãnh đạo chính trị của chúng ta, gọi họ là những kẻ tư bản chủ nghĩa, phản bội lại tư tưởng của chủ nghĩa Marx. Họ ném vào chúng tôi tất cả các loại truyền đơn có thể ném, trong đó mạt sát ban lãnh đạo của chúng ta.

Chúng tôi đi dạo trên quảng trường chính ở Bắc Kinh, ghé vào Bách hóa Tổng hợp mua kính râm, diêm, bút máy và những đồ vặt vãnh khác. Chúng tôi thấy người dân Bắc Kinh ăn mặc đồng nhất, đon điệu và nghèo nàn: áo vét và quần dài đều màu xanh lam. Ấn tượng chung là không vui vẻ. Cuối cùng thì cuối tuần người ta cũng bố trí được cho chúng tôi đi Hà Nội.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Sáu, 2014, 12:10:18 AM
Chúng tôi bay tới phi trường Gia Lâm Hà Nội vào giữa trưa ngày 30 tháng 4. Trời nắng nóng. Đón chúng tôi là cả một đoàn đông đủ, trong đó có đại tá Dzyza, phó tùy viên quân sự tại VNDCCH, phía Việt Nam có phó tư lệnh PKKQ đại tá Đỗ Đức Kiên và nhiều đồng chí khác. Cuộc đón tiếp rất hữu nghị. Sau đó chúng tôi đi về Kim Liên cửa ô Hà Nội, tại đó có một khách sạn, họ bố trí cho chúng tôi ở theo các phòng. Tôi nhận được một phòng riêng, lập tức vào tắm rồi đi nằm nghỉ.   

Buổi tối đại tá Dzyza họp chúng tôi tại khách sạn, làm quen kỹ hơn với chúng tôi, khái quát đặc điểm tình hình, kể vắn tắt về các sự kiện gần nhất, cho biết ngày mai sẽ có cuộc gặp tư lệnh PKKQ QDNDVN.

Cuộc gặp với tư lệnh PKKQ Phùng Thế Tài và đoàn tùy tùng của ông diễn ra trong một căn phòng bộ tham mưu, ở đây họ cũng bố trí cho chúng tôi vài phòng làm việc không xa khách sạn. Cuộc gặp gỡ diễn ra đầm ấm nhưng vẻ ngoài của họ khiến chúng tôi ngạc nhiên. Nếu như tại sân bay Gia Lâm Đỗ Đức Kiên vận âu phục lịch sự ra đón chúng tôi, hơn nữa ông còn nói tiếng Nga rất tốt (ông từng tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng Tham mưu của chúng ta), thì tư lệnh và nhóm vây quanh ông lại ăn mặc khá bản địa (quần rách vá, áo sơ mi không là). Sau cuộc gặp chúng tôi hỏi các đồng chí đến trước rồi hỏi cậu phiên dịch rằng sự hóa trang đó có ý nghĩa gì. Họ trả lời chúng tôi đó là những người ủng hộ cho vẻ bề ngoài thể hiện được xuất thân giai cấp vô sản của mình, họ là những người thân Trung quốc cuồng nhiệt. Tiếc thay "những người vô sản" ấy trong tương lai sẽ làm chúng tôi mất khá nhiều xương máu.

Sau cuộc gặp chúng tôi làm quen với những người được chúng tôi bảo trợ, những người mà chúng tôi sắp phải làm việc cùng họ. Người đồng chí của tôi, người mà tôi cần phải huấn luyện cách làm việc với khí tài mới và làm quen với tài liệu mới, là kĩ sư trưởng binh chủng TLPK, thiếu tá Dục. Cử đến phụ việc cho chúng tôi là một phiên dịch viên xuất sắc, đồng chí Hùng. Đó thực sự là một con người bằng vàng. Anh ta nắm vững tiếng Nga một cách hoàn hảo và là một đồng chí rất tốt.

Khi đến VNDCCH tôi đã báo cáo đại tá Dzyza về thành phần của nhóm, tôi nói rằng tại BTTM LLPKQG người ta cử tôi làm nhóm trưởng và bây giờ tôi xin giả lại sứ mệnh ấy bởi vì phần lớn các đồng chí trong nhóm phải làm việc trên các hướng riêng. Đáp lại Dzyza cười phá lên, ông nói rằng "vậy thì công việc sẽ không chạy, cậu cứ tiếp tục làm trưởng nhóm, vì tôi, ngoài cậu ra, còn khối việc". Ông nói thêm rằng "chỉ có hai người trong nhóm không làm các công việc kỹ thuật, những cậu còn lại đều là đội ngũ kỹ thuật của cậu, vậy cậu hãy lãnh đaoh họ đi. Nếu có việc gì cần tôi giải quyết - cậu cứ báo cáo tôi chúng ta sẽ cùng giải". Vậy là cho đến cuối phiên công tác đặc biệt tôi vẫn là trưởng nhóm này.

Công việc của tôi với kĩ sư trưởng bắt đầu bằng việc làm quen với những gì mà lúc đó họ đang có. Tiếc rằng chẳng có gì. Thiêu tá Dục có một người cấp phó (ông gọi anh ta như vậy) là đại úy Nguyện. Những người khác khi ấy chúng tôi đang chọn, nhưng dẫu sao trong 2-3 tháng đầu chẳng nên mong đợi gì ở họ vì họ còn phải trải qua đào tạo tại trung tấm huấn luyện. Đại úy Nguyện đã tốt nghiệp trường quân sự Minsk của chúng ta, anh nắm vững ngôn ngữ của chúng ta, vì vậy anh đang ở đúng chỗ. Những người còn lại vẫn đang còn trong dự thảo kế hoạch.

Đại tá Dzyza cho chúng tôi vài ngày làm quen với tình hình. với các đồng chí sẽ cùng công tác nhưng đồng thời cũng đạt nhiệm vụ tìm hiểu và nghiên cứu địa điểm bốc dỡ hàng hóa khí tài, Cùng với Dục và các kĩ sư của mình chúng tôi đi ra ga đường sắt để xác đinh vị trí tiếp nhận đoàn xe lửa, nơi dỡ hàng, hệ thống chiếu sáng sân dỡ hàng, chiếu sáng các đoàn tàu. Thực tế là toàn bộ công việc diễn ra về đêm vì thế cần tính đến mọi phương án. Sau đó cần xác định địa điểm trung gian nơi đặt khí tài trước khi đưa nó đến điểm triển khai cuối cùng.

Trong giai đoạn đó xảy ra một trường hợp khá kỳ quặc. Một lần một đồng chí của Dục ghé vào bộ tham mưu, ông giới thiệu đó là kĩ sư trưởng lực lượng PPK. Nhân thể phải nói rằng thời đó QDNDVN được trang bị các phương tiện PK khá tốt kiểu ZPU, IZP 37mm, 57mm, 100mm. Chúng đã chiến đấu với máy bay Mỹ nhưng kết quả còn khiêm tốn. Từ những cuộc không kích đầu tiên năm 1964 cho đến lúc này PPK đã bắn rơi được hơn 380 máy bay. Chiếc máy bay đầu tiên của Mỹ bị PPK bắn rơi vào ngày 5 tháng 8 năm 1964. Sau khi làm quen kĩ sư trưởng tò mò muốn hỏi tôi có biết nhiều về PPK hay không. Vì đây là cuộc nói chuyện thông thường nên tôi trả lời tôi đã tốt nghiệp trường PPK, đã phục vụ trong nhiều đơn vị PPK, tất cả các hệ thống họ hiện đang có tôi đều biết. Và thế là tôi rơi vào tròng. Liếc mắt trao đổi với Dục xong, người kĩ sư trưởng PPK nói rằng họ có những vấn đề nghiêm trọng với khí tài của các khẩu đội PPK 100mm và họ không thể tự mình giải quyết được. Đại loại tất cả đều làm việc tốt nhưng đài dẫn bắn SON hướng về một phía còn pháo thì lại hướng về phía kia, vì vậy không thể bắn có ngắm máy và họ buộc phải cho nhiều khẩu đội bắn theo kiểu dựng lưới lửa cản. Liệu tôi có thể xuống chỗ đại đội pháo và xem giúp vấn đề nằm ở đâu hay không. Dục cũng xin tôi đi xem. Tôi nói với các đồng chí của mình rằng tôi sẽ đi xuống chỗ đại đội PPK và thế là chúng tôi lên xe đi. 

Đại đội pháo nằm ở ngoại thành Hà Nội, chúng tôi xuống đến nơi rất nhanh, nối nguồn, bật máy, vận hành và tôi thật sự thấy mọi chuyện không ổn, không có sự đồng bộ. Chúng tôi bắt đầu kiểm tra, mặc dù theo kinh nghiệm sử dụng PPK tôi đã phần nào đoán được bệnh. Tôi hỏi mượn dụng cụ đo-kiểm, bắt đầu tiến hành đồng bộ hóa và phát hiện ra dụng cụ kiểm tra có sai số lớn đến 50%. Tất nhiên với những dụng cụ như thế mà không có kinh nghiệm nhất định thì khó mà làm việc được. Dẫu sao tôi cũng đã chỉnh được khí tài và nói với viên kĩ sư trưởng rằng cần khẩn trương kiểm tra lại thiết bị đo-kiểm (KIA). Nhân thể tôi hỏi đại đội trưởng lần cuối cùng anh ta kiểm tra dụng cụ là khi nào. Anh ta đáp đó là khi còn Liên-Xô (các chuyên gia Soviet) ở đây, và họ cho rằng dụng cụ đo vẫn đúng vì kim trên các đồng hồ đo vẫn chuyển động và chỉ vào một cái gì đó.

Chúng tôi trở về bộ tham mưu, nhưng chuyện này làm tôi nghĩ đến việc có những thiếu sót trong công tác đào tạo của chúng ta - đây là một trường hợp. Thứ hai là cần khẩn trương trang bị một phòng thí nghiệm để kiểm định thiết bị đo kiểm. Tôi hỏi Dục xem họ có các phòng thí nghiệm như vậy không. Ông trả lời là không, chỉ trước kia khi có chuyên gia của chúng ta ở đây. Dĩ nhiên Dục biết rõ mọi chuyện vì bản thân ông từng phục vụ trong lực lượng PPK. Lúc đó tôi trực tiếp yêu cầu ông ngày hôm sau khẩn trương tìm phòng triển khai phòng thí nghiệm trước khi khí tài về đến nơi. Buổi tôi đại tá Dzyza ghé vào chỗ tôi và hỏi tại sao tôi lại đi xuống chỗ đại đội PPK. Tôi kể cho ông nghe mọi chuyện và nói rằng kĩ sư trưởng PPK đề nghị tôi đi giúp ông ta. Thay vì khen ngợi, Dzyza mắng tôi như cha mắng con và nói: "Ai bắt cậu thò lưỡi ra, sao lại nói cậu biết PPK? Cậu đến đây để làm việc với khí tài của binh chủng TLPK, vậy thì làm việc đó đi, đừng có phá hợp đồng đã ký chứ". Rốt cuộc ông vẫn là một con người tốt bụng và trung thực, ông nói "nếu cậu có thể làm một việc tốt thì hãy làm đến cùng. Ngày mai hãy trao đổi với Dục và có thể với cả kĩ sư trưởng PPK, hãy khuyên ông ta qua bộ chỉ huy của mình đề nghị chúng ta cho gọi lại từ Liên bang các chuyên gia PPK, còn bản thâu cậu hãy nói vì bận việc nên không thể quan tâm đến những vấn đề ấy nữa, vì khi khí tài sắp về phải suy nghĩ và xác định xem triển khai nó ở đâu và như thế nào". Ngoài ra ông còn nói rằng phải có ai đó trong số các chuyên gia của chúng tôi phụ trách việc lập kế hoạch di chuyển của các đoàn tàu, cử đến biên giới với Trung quốc để tiếp nhận khí tài của chúng ta, giúp đỡ độ ngũ quân nhân chúng ta trong việc tổ chức và tiến hành dỡ tải sang các đoàn tàu Việt Nam. Tôi nói rằng lo các vấn đề ấy có tôi, Vasin, Gromov, Fokeev và Vodorez và đề xuất mình, nhưng đại tá Dzyza nói rằng tôi "có rất nhiều việc phải làm ở đây khi bốc hàng". Ông quyết định phái L.M.Fokeev và L.F.Vodorez đi lo việc trung chuyển hàng ở biên giới.     
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Sáu, 2014, 09:00:42 PM
Ngày hôm sau tôi cử các đồng chí có tên lên biên giới sau khi thông báo sơ bộ nhiệm vụ của họ rồi bản thân mình thì vào bộ tham mưu. Tại đây Dục và kĩ sư trưởng PPK đang chờ tôi, tôi yêu cầu kĩ sư trưởng làm đơn xin các chuyên gia PPK thông qua BCH của mình, về phần chúng tôi sẽ giúp gửi đơn sao cho nhanh chóng nhất. Về phần mình thì tôi buộc phải từ chối tham gia vì bận việc. Các đồng chí cùng chung vũ khí cám ơn tôi vì đã tư vấn, kĩ sư trưởng đi thảo đơn, còn tôi và Dục bắt tay vào việc bàn kế hoạch tìm nơi đặt phòng thí nghiệm KIA và kho chứa thiết bị đồng bộ, đạn tên lửa và các trang bị khác sắp về đến nơi rồi.

Việc tìm kiếm địa điểm cho phòng thí nghiệm và khí tài đồng bộ xem ra không đơn giản, vì điều kiện khí hậu tại Việt Nam, đặc biệt khi mùa mưa, không chỉ là tồi tệ mà còn là siêu tồi tệ, theo thời gian ngay cả các khí tài đang được bảo quản cũng không còn có thể chịu đựng được thời tiết. Chỉ có duy nhất một thứ vẫn ngoan cường đương đầu với khí hậu này - đó là những chuyên gia Soviet chúng ta. Đôi khi ngay cả những người Việt Nam cũng ngạc nhiên trước sức chịu đựng của những con người chúng ta. Đối với họ người Liên Xô là đối tượng để học tập. Và đã đến lúc chúng tôi phải chứng minh điều đó.

Để chọn phòng thí nghiệm tôi mang theo mình các dụng cụ mà quan trọng nhất là dụng cụ đo độ ẩm (psychrometre), bởi lẽ vấn đề cơ bản là độ ẩm ghê sợ. Ví dụ trong rừng rậm nhiệt đới nó có thể lên đến 99% đến mức khi chúng tôi về đến nhà thì cả người cho đến chiếc quần lót bên trong cũng ướt đẫm.

Sang ngày thứ ba nỗ lực của chúng tôi đã đạt kết quả: chúng tôi tìm ra địa điểm cho phòng thí nghiệm. Các địa điểm khác xác định nhanh hơn nhiều và bây giờ đến việc chở đồ từ phòng thí nghiệm đến. Đó là một ngôi nhà nhỏ dưới tán một cái cây lớn, nằm ở khoảng rừng thưa, xung quanh có một hàng rào nhỏ. Người ta cho chúng tôi đến đó, chúng tôi kiểm tra thấy rằng nhà có tường 2 lớp (để giảm độ ẩm), được chiếu sáng tốt, được cấp điện, độ ẩm thuộc loại cho phép. Nói chung là có tất cả những thứ ta cần. Đi cùng chúng tôi có trưởng phòng thí nghiệm tương lai thiếu tá Dục, A.I.Gromov và một số đồng chí khác. Tất cả đều hài lòng và khi có mặt ở đây chúng tôi lập tức xác định phải chở đến đây máy móc phòng thí nghiệm, trong khi đó vạch ra kế hoạch trang bị bổ sung để có thể làm việc. Cần có bàn vẽ, giá để tài liệu và các trang bị khác. Trưởng phòng thí nghiệm tương lai cần lo những việc này. Chúng tôi báo cáo BCH Việt Nam nhưng Đỗ Đức Kiên chỉ cau mày không nói gì. Suốt ngày hôm sau tôi và Dục nóng lòng chờ đợi kết quả mà không thấy. Chỉ đến tối Đỗ Đức Kiên ghé phòng chỗ chúng tôi và ông mỉm cười chúc mừng đề xuất của chúng tôi về tòa nhà đặt phòng thí nghiệm đã được giải quyết một cách tích cực. Sau đó vừa cười ông vừa hỏi chúng tôi có biết gì về ngôi nhà này không. Chúng tôi tất nhiên nói rằng mình không biết. Khi đó ông cười nói rằng đó là nhà nghỉ ngoài thành phố của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch nói rằng nếu ngôi nhà ấy cần cho chiến thắng thì hãy lấy nó đi và hãy trang bị cho nó để đặt phòng thí nghiệm ở đây.

Vậy là chúng tôi đã hoàn thành một trong các nhiệm vụ đặt ra. Sau đó với sự giúp đỡ của chúng tôi các đồng chí Việt nam đã làm được một phòng thí nghiệm xuất sắc, trang bị các dụng cụ máy móc vừa mang từ Liên Xô tới, họ đào tạo được các chuyên gia tốt chọn ra từ các trung tâm huấn luyện và các tiểu đoàn. Về nguyên tắc vấn đề với KIA bây giờ không còn nữa. Thật ra thì trước tiên chúng tôi làm công tác kiểm tra KIA của PPK, vì các khí tài của chúng tôi trong giai đoạn đầu tiên còn chưa đến hạn đo kiểm. Khi các đại diện về tiêu chuẩn hóa PTN từ Moskva đến, kiểm tra KIPS họ nói rằng ngay cả ở Liên Xô cũng ít gặp các phòng thí nghiệm được trang bị tốt như vậy.

Cần phải nói rằng chúng tôi đã thực hiện được lời hứa về PPK. Sau môt tháng có 2 chuyên gia khí tài PPK đến với chúng tôi từ kho vũ khí Kiev. Họ đến theo lệnh từ sứ quán và nói rằng người ta phái họ đến chỗ tôi vì tôi là người đã có sáng kiến để họ có mặt tại đây; cũng vì tại LLPPK không có đại diện của họ nên họ được ghép vào với chúng tôi dưới quyền của tôi. Tôi bố trí họ ở Kim Liên, giới thiệu họ với kĩ sư trưởng PPK và họ bắt đầu làm việc. BCH PPK cám ơn chúng tôi vì đã cộng tác hỗ trợ.

Vậy là cuộc phiêu lưu đầu tiên của tôi như đại tá Dzyza bảo tôi đã kết thúc tốt đẹp. Công việc tiếp tục. Những ngày này chúng tôi đang thực hiện việc đào tạo cho nhóm cán bộ Cục kỹ thuật binh chủng TLPK, đến lúc đo chưa hình thành hoàn toàn, nhưng chúng tôi vẫn giới thiệu với họ cấu trúc ban kỹ thuật tên lửa của lữ đoàn, tập đoàn quân, dùng các sơ đồ chỉ ra cho họ tổ chức của bộ phận kỹ thuật tên lửa của các đơn vị, các tập đoàn quân. Về nguyên tắc tôi không đưa ra cho họ cấu trúc ban kỹ thuật tên lửa của các trung đoàn chúng ta bởi vì tôi cho rằng hệ thống kỹ thuật tên lửa cấp trung đoàn của chúng ta là chưa hoàn thành về mặt tổ chức, chỉ cấp lữ đoàn mới là cấp tiêu biểu của chúng ta theo quan điểm của tôi.

Khi tiến hành các giờ học với các sĩ quan, tôi chỉ ra trên các sơ đồ tôi vẽ tổ chức của ban kỹ thuật tên lửa. Cần phải trao cái cần trao để họ trong các trung đoàn tùy theo mức độ tổ chức đơn vị mà lấy làm cơ sở cấu trúc ban kỹ thuật tên lửa cấp lữ đoàn, xem xét vấn đề thành lập các xưởng kỹ thuật của trung đoàn, trang bị của nó. Tất nhiên ở đây chúng tôi đề xuất cấu trúc của mình, nhưng xét đến mong muốn của họ, chúng tôi đề xuất cả kinh nghiệm xưởng kỹ thuật PPK. Điều này sẽ làm phong phú công tác tiếp theo về mặt hoàn thiện tất cả các phân đội này. Cần nói rằng ở các đồng chí Dục và Nguyện tôi tìm thấy sự đồng điệu trong các vấn đề phương pháp làm việc sáng tạo. Họ luôn cố gắng ủng hộ những sáng kiến hợp lý trong việc giải quyết các vấn đề đã chín muồi. Tôi đã giải quyết và thực hiện thành công trong cuộc sống nhiều tư tưởng và ý định nảy sinh ở tôi trong quá trình tôi là chỉ huy đài điều khiển tên lửa, kỹ sư trưởng trung đoàn, lữ đoàn và những ý tưởng mà tôi không thể thực hiện kịp thời do những sự bảo thủ nhất định của chúng ta. Ở đây chúng tôi cùng nhau có thể làm tốt hơn ở chỗ chúng ta vì mọi thứ bắt đầu từ đầu. Trong thời gian này tôi đã sinh ra ý tưởng xây dựng căn cứ sửa chữa di động (PRB) ở quy mô binh chủng TLPK, ý tưởng được Dục và Nguyện ủng hộ nhưng khi ấy hãy còn là ý tưởng. Đi trước thời gian tôi phải nói rằng chúng tôi đã thực hiện được ý tưởng ấy. Đó là sau các trận đánh năm 1965, đầu năm 1966 tôi tập hợp được khá đủ tài liệu để dù còn bận rộn, tôi vẫn lập được cấu trúc PRB, trình bày với các đồng chí của mình và các đồng chí Việt Nam. Cùng với một chút chỉnh sửa theo góp ý, tôi gửi đề xuất về Moskva. Tất nhiên tôi không chờ đợi sẽ nhận được phê chuẩn về PRB trong thời gian tôi công tác ở Việt Nam. Nhưng thật vui mừng cho tôi, sau một năm rưỡi tôi gặp người thay thế tôi tại Việt Nam - kỹ sư trưởng TLPK (theo tôi nhớ là đại tá V.I.Sherstobitov). Ông kể rằng họ đã nhận được PRB này và đã tính toán thành phần của nó. Do tôi vẫn còn giữ được bản miêu tả về nó, hóa ra nó chính là đứa con tôi sinh ra với những thay đổi không đáng kể. Có thông tin rằng căn cứ tương tự như vậy cũng đã được sử dụng ở Ai Cập. 
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2014, 07:40:36 AM
Trong những ngày 10 của tháng 5 khí tài bắt đầu về tới. Khối lượng chủ yếu đưa về đầu mối đường sắt Hà Nội, nơi mà đại tá Dzyza giao trách nhiệm chỉ huy bốc dỡ cho tôi. Số khí tài này được trang bị cho trung tâm huấn luyện 1. Dồn về đây là các đoàn tàu chở tổ hợp TLPK, đạn tên lửa, xe TZM, trang bị hậu cần và TTLL, trang bị cho PTN. Khí tài cho trung tâm huấn luyện số 2 về ga Trại Cau, trung tâm huấn luyện có kế hoạch triển khai cách đó 20 km. Hai chuyên gia từ nhóm chúng tôi cũng được phái lên đó để giúp đỡ.

Sự khó khăn của công tác bốc dỡ nằm ở chỗ phải bốc dỡ ban đêm để tránh máy bay đối phương tấn công. Người ta cử gần 100 chiến sĩ QDNDVN và phiên dịch viên giúp chúng tôi. Phương tiện vận tải được cho dỡ hàng vào khoảng 21 giờ đêm giờ Hà Nội. Công việc phải ngừng trước 5 giờ sáng, trước bình minh. Dọc theo 2 bên đoàn tàu người Việt nam xếp thành hàng, chuyển sang xe buýt các chiến sĩ của chúng ta đến cùng khí tài. Chiếu sáng được định hướng sao cho khó có thể nhìn thấy nó từ phía trên xuống. Nhưng dù sao cũng vẫn thấy vẻ căng thẳng trên mặt các chiên sĩ Việt Nam.

Để cắt nghĩa ta tạm dừng chốc lát trên một số đặc điểm của QDNDVN. Trong QDNDVN thời đó khái niệm thống nhất chỉ huy (một thủ trưởng) là không có.  Các chính ủy có quyền rất lớn và trong một số trường hợp có thể hủy lệnh của người chỉ huy. Cấp dưới có thể phán xét mệnh lệnh của người chỉ huy và không bắt tay thi hành mệnh lệnh đó. Và do thời kỳ này Việt Nam chịu ảnh hưởng rất mạnh của Trung quốc, nên theo lẽ thường người ta hay bổ nhiệm các chính ủy có khuynh hướng thân Trung quốc, họ tuyên truyền chống Liên Xô vô cùng mạnh mẽ, tiếp theo là chống chính chúng tôi, các quân nhân, họ khẳng định chúng tôi đã hồi sinh chủ nghĩa tư bản và những điều tương tự. Thêm vào đó dưới tác động của Trung quốc, Việt Nam đã triệu hồi từ Liên Xô về tất cả các công dân Việt Nam đang học tập và làm việc ở đây. Trên đất nước mình những người ủng hộ Liên Xô bị theo dõi, bị mất các cương vị phụ trách của họ. Ví dụ đại tá Đỗ Đức Kiên người tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tham mưu của chúng ta, một chuyên gia xuất sắc, bị cách bỏ chức vụ. Chỉ khi nổi lên vấn đề xây dựng binh chủng TLPK và cần một con người hiểu biết, một chuyên gia nắm vững tiếng Nga, người ta mới bổ nhiệm ông ta làm phó tư lệnh PKKQ và người giám hộ chúng tôi.  

Bắt đầu công tác dỡ hàng. Các chiến sĩ chúng ta nhanh chóng vào việc và qua phiên dịch yêu cầu người Việt Nam đến giúp. Tới lượt dỡ bệ phóng. Để làm việc này người ta điều thêm các cầu phụ trọng lượng 100kg. Người của chúng ta đề nghị người Việt Nam bôc nó lên khỏi sân ga. Hai người đi đến hai bên phải trái của cầu phụ theo khẩu lệnh "một, hai, ba" gắng nhấc chiếc cầu nhưng nó không hề nhúc nhích. Hai người nữa đến cùng làm nhưng chiếc cầu phụ vẫn nằm yên. Khi đó hai chiến sĩ bệ phóng của chúng ta đi đến, lễ phép nhờ người phiên dịch bảo họ đứng sang một bên. Hai chiến sĩ nhẹ nhàng nhấc nó lên mang qua sân ga tới vị trí. Tất cả các chiến sĩ Việt Nam trên sân ga sững sờ, sau đó như thể theo khẩu lệnh họ rào rào vỗ tay, hô: "Ura! Bravo!" (đương nhiên bằng tiếng của họ), họ vui vẻ trao đổi với nhau về sự việc.

Tôi cùng phiên dịch viên Hùng quan sát cảnh tượng trên và hỏi cậu ta họ nói cái gì thế? Hùng mỉm cười dịch cho tôi nghe như sau. Họ nói: "Đấy bọn tư bản Soviet là thế đấy! Chúng ta phải học tập họ làm việc, sao cho bắn rơi bọn Mỹ cũng nhanh như vậy!" Và chính Hùng cũng vỗ tay và hô tán thưởng cùng với họ. Tôi cảm động đến nỗi nước mắt chực trào ra mí mắt. Điều kỳ diệu đã xảy ra như thể có một tia lửa thần xuyên qua tất cả. Thái độ mọi người thay đổi, vẻ căng thẳng u ám biến mất. Người Việt Nam cảm thấy đến với họ không phải bọn tư bản nào đó mà là những chàng trai công-nông cũng như họ, không như nhiều chính ủy đã nhồi nhét đầu óc họ. Hàng ngũ của họ sống động hẳn lên, giờ thì họ không đợi lệnh của chúng tôi qua các phiên dịch viên nữa, họ chủ động đến giúp chúng tôi, cố gắng bằng sức lực nhỏ bé của mình góp phần bốc dỡ khí tài, đôi khi do không biết cách họ lại làm phiền chúng tôi. Nhưng điều đó chỉ làm tăng khí thế chung. Các cậu trai của chúng ta chỉ cười khi có ai đó trong số họ lầm lẫn, họ vui vẻ hô: "Không sao, không sao, đồm trí!" (chúng tôi đã học thuộc lòng từ tiếng Việt tốt đẹp này "đồm trí" - giống như từ "tovarits" của chúng ta).

Việc dỡ hàng tiếp tục. Tới trước 5 giờ khí tài đã kịp thời ra tới tuyến trú ẩn trung gian. Tôi muốn nhấn mạnh cảnh tượng này như một sự kiện không quan trọng (sự kiện thông thường) trong giai đoạn đầu sự cộng tác chung của chúng tôi - sự hỗ trợ nhau trong lúc bốc hàng qua cầu phụ - về tổng thể là hiện tượng làm nảy sinh tình hữu nghị giữa hai dân tộc và hai quân đội. Sự cộng tác tiếp theo của chúng tôi trong thời gian học tập tại các trung tâm huấn luyện, trong các điều kiện chiến tranh với kẻ xâm lược ngang ngược chỉ củng cố thêm tình hữu nghị ấy mặc dù có sự chống đối lâu dài của một số kẻ thân Trung quốc.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2014, 07:50:54 PM
Buổi ban đầu và quá trình đào tạo

Trung tâm huấn luyện thứ nhất được hình thành từ các sĩ quan chiến sĩ quân đoàn PK độc lập số 4 mà bộ tham mưu đóng tại Sverdlovsk. Cần xác định rằng trong một số nguồn vì những lý do không rõ ràng mà người ta ghi danh việc thành lập nó cho quân khu (PK) Moskva.

Được bổ nhiệm lãnh đạo trung tâm là đại tá Tsygankov Mikhail Nikolaevich, phó chỉ huy về chính trị - trung tá Barsuchenko Mikhail Fedorovich, kũ sư trưởng - thiếu tá Nikolai Meshkov. Tôi xin bổ sung rằng chính từ tập đoàn quân PK này người ta đã chọn ra một nhóm sĩ quan để chuẩn bị cho Cục kỹ thuật binh chủng TLPK QDNDVN.

Trung tâm thứ nhất bố trí cách 40km phía nam Hà Nội trên bờ một con sông nhỏ. Trận địa TLPK triển khai trong vòng rừng cây cà phê. Khi chuẩn bị địa điểm đặt khí tài đã phải chặt bớt cây, chúng tôi rất tiếc vì phải làm mất một cảnh đẹp như vậy. Tại nơi đặt nhà ở, lớp học người ta xây dựng những ngôi nhà nhỏ bằng tre, mái lợp lá cọ và trồng chuối. Trang bị đủ toa-let, phòng tắm, nhà ăn.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/foto-18-1-66-2.jpg)
Sau lễ trao phần thưởng của chính phủ Soviet cho các chuyên gia quân sự tiểu đoàn 62 trung đoàn TLPK 236 QDNDVN. Ảnh của trung tá Chernetsov. Ảnh chụp ngày 18 tháng 1 năm 1966, thị xã Hà Đông, Việt Nam.
Hàng ngồi từ trái sang phải: 5- thiếu tướng G.A.Belov; 6- đại tướng BTQP Võ Nguyên Giáp; 7- đại sứ Liên Xô I.S.Scherbakov.


Trung tâm huấn luyện thứ hai hình thành từ các sĩ quan chiến sĩ quân khu PK Baku. Chủ nhiệm trung tâm là đại tá Nikolai Vasilevich Bazhenov, phó chính trị - đại tá Ivan Ivanovich Smirnov, kĩ sư trưởng - đại úy (sau là thiếu tá) Anatoly Borisovich Zaika. Trung tâm huấn luyện bố trí cách thị trấn Trại Cau 20km sâu trong rưng đại ngàn nhiệt đới. Lớp học và các công trình khác được trang bị giống như ở trung tâm số 1. Ưu điểm duy nhất chỉ là trận địa được che chở rất tốt bởi các cây cao, phủ kín các dây leo rậm rạp đến mức ánh nắng chỉ có thể xuyên qua tán lá một cách yếu ớt. Thời gian đầu các chuyên gia chúng ta rất khó quen với không khí của rừng nhiệt đới, vì không khí rất đậm đặc và phả ra đủ thứ mùi có thể và bốc hơi rất mạnh làm váng cả đầu. Sau khi trang bị xong các trung tâm, công tác đào tạo bắt đầu vì thời gian rất gấp.

Thời gian biểu một ngày như sau: dậy lúc 5:00, 5:30 - ăn sáng, 6:00 đến 12:00 - học, từ 12 đến 14 giờ, khi trời nóng nực - nghỉ ăn trưa và nghỉ trưa; từ 14:00 đến 17:30 - tiếp tục học, 18:00 - ăn tối, từ 20:00 đến 22:00 - tự học.  

BCH QDNDVN đã dồn nhiều công sức cho việc tổ chức các trung tâm. Các trung tâm vừa mới thành lập nằm dưới sự kiểm soát của tư lệnh PKKQ đại tá Phùng Thế Tài và chủ nhiệm TLPK Nguyễn Tuyên. Người giám hộ bộ đội TLPK là phó tư lệnh PKKQ đại tá Đỗ Đức Kiên, ông có quan hệ rất chân tình với các chuyên gia quân sự Soviet, luôn nghiên cứu kỹ đáp ứng các nhu cầu của chúng ta. Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm trận địa một tiểu đoàn TLPK, người rất quan tâm theo dõi sự hình thành một thành phần vũ trang mới của QDNDVN - binh chủng TLPK.

Những lực lượng ưu tú nhất của nhân dân Việt Nam đã được gọi vào thành phần các trung tâm huấn luyện. Về đây cơ bản có các chuyên gia như sau:
 - trước hết, các công dân biết tiếng Nga, đã học tại các cơ sở đào tạo của chúng ta;
- những người đã tốt nghiệp hoặc đang học tập tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam về các chuyên ngành điện và vô tuyến điện tử;
- những người đã tốt nghiệp từ lớp 8 phổ thông trung học trở lên.

Như chúng ta thấy, thành phần nhân lực được lựa chọn rất nghiêm túc, đảm bảo khả năng trong thời hạn ngắn có thể tiến hành đào tạo một cách có chất lượng để họ trở thành các chuyên gia-chiến sĩ tên lửa. Mà thời hạn thì rất khắc nghiệt - 4 tháng, bạn phải trở thành một chuyên gia của binh chủng tên lửa. Mà xe máy khí tài của binh chủng tên lửa PK - đó không còn phải là chiếc xe ô tô đương đại nữa. Đương nhiên khi là các chàng trai mới rời khỏi luống cày, trong số các xe máy khí tài thì ngoài chiếc xe đạp máy cá nhân và xe trâu kéo, họ chưa từng nhìn thấy cái gì khác, nhưng khi có học vấn tương đối đủ thì điều chủ yếu là họ phải có khát vọng làm chủ khí tài phức tạp tinh vi này để giành chiến thắng, sẵn sàng làm tất cả để trở thành người lính thông minh và can đảm của binh chủng TLPK.

Mỗi chuyên gia của chúng tôi được kèm theo các phiên dịch viên, điều này có ý nghĩa lớn trong việc thiết lập sự thông hiểu lẫn nhau. Nhưng ban đầu các phiên dịch viên gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề dịch văn bản của chúng ta. Nhiều người trong số họ chưa quen với các thuật ngữ kỹ thuật, bởi vậy trước tiên phải dạy họ các thuật ngữ kỹ thuật để họ chuyển tải đến các học viên cho chính xác. Ngoài ra ở nước họ thời kỳ ấy đang là cao trào đấu tranh chống "chủ nghĩa thế giới" (cũng như ở nước ta đã từng có thời như vậy), đo đó họ đòi hỏi tất cả phải dịch sang ngôn ngữ nước họ, điều mà không phải lúc nào cũng thành công.

Tôi sẽ dẫn ra một ví dụ như vậy. Chúng ta có (sẽ phải nói cho trung thực) bộ thuật ngữ vô tuyến điện tử dựa trên Anh ngữ. Do đã quen với nó nên nhiều từ chúng ta sẽ không dịch nó sang tiếng Nga mà tiếp nhận từ như tiếp nhận một chi tiết hoặc sơ đồ nào đó. Ví như từ tiếng Anh "bộ đa dao động" được chúng ta lập tức hình dung như một sơ đồ VTD gồm có 2 đèn, 2 tụ bù và 4 điện trở, nghĩa là đối với chúng ta đó là từ nguyên tố, cứ như người ta nói với chúng ta cái rìu - nó đó và nó chính là cái rìu. Tóm lại chúng ta nhận được những nghịch lý từ các bản dịch như thế đấy. Tiếc thay nhiều giảng viên của chúng ta (thậm chí cả bây giờ) không phải lúc nào cũng biết chính xác việc dịch từ tiếng Anh sang tiếng Nga, hơn nữa các phiên dịch viên rất khó giải thích ý nghĩa của chúng. Chính vì thế phải viết những bản dịch lớn, đúng nghĩa là lắm lời chiếm mất một nửa hay cả một trang. Tôi viết chuyện này là để độc giả hiểu vấn đề khó khăn đó lớn đến thế nào trong giai đoạn đầu, khi mà chúng tôi chưa tìm ra cách giải quyết nó.  

Việc huấn luyện tiến hành theo các nhóm chuyên gia, trong mỗi nhóm có hai khẩu đội tác chiến. Giờ học lý thuyết thực hiện trong các lớp tranh tre, giờ thực hành - trên khí tài chiến đấu. Tải dồn xuống đối với cả giảng viên lẫn học viên, như chúng ta thấy là vô cùng nặng nề, đặc biệt khi tính đến khí hậu nơi chúng tôi đang sống. Nhưng có gì mà người lính Nga không chịu đựng được nếu như Tổ quốc cần điều đó. Như tôi đã nói thời hạn huấn luyện các khẩu đội dự kiến ban đầu là 4 tháng, nhưng thực tế cuộc sống và tình hình mặt trận trên không đòi hỏi phải rút ngắn thời hạn, tăng mạnh cường độ đào tạo. Người ta đã rút thời hạn xuống còn 2 tháng rưỡi. Máy bay Mỹ vẫn ngang nhiên hoành hành và chúng tôi phải đẩy nhanh quá trình đào tạo.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Sáu, 2014, 12:48:51 AM
Trận đánh tiêu diệt đầu tiên

Vào một trong những ngày tháng 6, tôi cùng nhóm của mình và các sĩ quan phòng kỹ thuật binh chủng TLPK dẫn đầu là đồng chí Dục đi xuống trung tâm huấn luyện thứ nhất để dạy học thực hành về công tác tiến hành bảo trì thường xuyên hàng tháng tổ hợp TLPK. Trong ngày đó tại trung tâm huấn luyện cũng có kế hoạch làm công tác này và tôi muốn để các sĩ quan phòng kỹ thuật BC TLPK xem và trực tiếp tham gia vào công tác đó.

Chủ nhiệm trung tâm huấn luyện đại tá M.N.Tsygankov được báo trước, chúng tôi đến ngay trước khi bắt đầu giờ học và bắt tay vào công việc. Dẫn giờ học là kĩ sư trưởng trung tâm thiếu tá N.Meshkov, chúng tôi cùng nhóm của mình ghép vào và làm việc rất hiệu quả cho đến giờ ăn trưa thì bỗng còi hú và tiềng báo động PK vang lên. Quân nhân chạy ra hầm trú ẩn, tôi với Dục chạy ra đám lau sậy rậm rạp. Cuộc không kích kéo dài 40 phút, sau đó tất cả tập trung tại vị trí làm việc nhưng giờ học phải ngừng, vì phải kiểm tra các nơi bị oanh tạc. Rất may cuộc không kích không hiệu quả lắm, do ngụy trang tốt mà các cú đánh chủ yếu trút xuống các lớp học, các phòng ở của chúng tôi, khí tài không hề hấn gì và một phần nhà ở và nhà ăn còn giữ được. Tổn thất về người trong đội ngũ quân nhân là không có. Nhưng nhịp điệu cuộc sống dĩ nhiên đã bị phá vỡ.

Ngay trước lúc đó chủ nhiệm BC TLPK thượng tá Nguyễn Tuyên cũng đã đến, chúng tôi tập trung trong phòng của đại tá Tsygankov: chủ nhiệm TLPK, kỹ sư trưởng PKT TLPK, tôi, Meshkov và bắt đầu đánh giá tình hình vừa xảy ra. Lúc đầu mọi người quyết định trung tâm huấn luyện phải chuyển đến nơi an toàn hơn. Các đồng chí Việt Nam nhất trí và hứa trong vài ngày tới sẽ giải quyết chuyện này. Sau đó đại tá Tsygankov tức giận chửi rủa người Mỹ và ông chia sẻ cho tôi ý tưởng khi nói rằng hay là ta nên chuyển hệ thống TLPK huấn luyện thành hệ thống chiến đấu để đánh trả bọn Mỹ. Tôi đáp rằng về nguyên tắc tôi không phản đối song điều đó phá vỡ tiến trình đào tạo, hơn nữa người của chúng ta rất ít. Và tôi nhắc Tsygankov nhớ rằng thật là uổng phí khi chính phủ chúng ta không đạt được phương án tháng 1. Nhưng ý tưởng về việc thành lập hệ thống chiến đấu cho TLPK thì vẫn còn lại. Tôi nói cần phải suy nghĩ vì chúng tôi có thể bổ sung một phần đội ngũ bằng các sĩ quan và chiến sĩ Việt Nam đang được đào tạo. Về tổng thể chúng tôi đã bàn bạc, song vì thực tế bản thân chẳng thể quyết định được gì nên tôi cùng các kĩ sư của mình đáp xe về Hà Nội mà lòng nặng trĩu.   

Khi chúng tôi trao đổi cùng Tsygankov, không ai để ý đến sự có mặt của các đồng chí Việt Nam: phiên dịch trong phòng lúc ấy không có mặt, tôi biết Dục không biết tiếng Nga, hơn nữa ông lúc đó đang trao đổi gì đó với chủ nhiệm BC TLPK. Bởi thế tôi cho rằng chẳng ai trong số họ để ý đến cuộc nói chuyện của tôi với Tsygankov. Nhưng té ra chủ nhiệm TLPK thượng tá Nguyễn Tuyên dù diễn giải bằng tiếng Nga kém nhưng hiểu cuộc nói chuyện ít nhất là trên ý nghía của nó. Khi về đến Hà Nội tôi báo cáo đại tá Dzyza về cuộc không kích xuống trung tâm số 1, tôi nói rằng cần khẩn trương giải quyết vấn đề chuyển chỗ cho nó, vấn đề này chúng tôi đã sơ bộ thảo luận với chủ nhiệm TLPK QDNDVN thượng tá Tuyên. Sau một ngày đại tá Dzyza gọi tôi đến và ông nói bốp vào mặt tôi: "Leonid Fedorovich, cậu lại xông vào một cuộc phiêu lưu đấy hả?" Ông, tất nhiên, nói về trường hợp xảy ra với PPK. 

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kushnar-3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kushnar-3.jpg.html)
Trong một lần trinh sát thực địa chọn trận địa chiến đấu, Bên phải là trung tá Leonid Fedorovich Kushnar. Năm 1966.

Nhân thể tôi xin nhắc lại hai chuyên gia của chúng tôi thời ấy đã hoạt động rất có kết quả và sửa được các cỗ pháo PK 100 ly, bây giờ chúng đã có thể xạ kích được qua máy ngắm.

Ban đầu tôi sửng sốt không hiểu đại tá Dzyza nói đến chuyện gì. Ông tiếp tục nói rằng tôi với Tsygankov nói chuyện thế nào về việc chuyển tổ hợp TLPK huấn luyện sang chiến đấu rồi cả những chuyện khác liên quan. Tôi hỏi ông từ đâu mà ông biết chuyện ấy. Còn ông nói rằng thượng tá chủ nhiệm bộ đội TLPK Nguyễn Tuyên đã báo cáo tất cả với tư lệnh PKKQ đại tá Phùng Thế Tài, ông này lại báo cáo BTQP đại tướng Võ Nguyên Giáp và cỗ máy đã khởi động. Họ hướng tới đại sứ của chúng ta tại Việt Nam I.S,Scherbakov với đề nghị xin được cung cấp các bộ khí tài TLPK mới.

Dĩ nhiên tôi buộc phải nói rằng cuộc trao đổi này là có, nhưng tôi nhắc đại tá Dzyza rằng hồi tháng 1 người ta đã từ chối chúng ta yêu cầu cung cấp các tổ hợp trên. Vì thế tôi nói cứ để họ thương lượng với người Trung quốc để người Trung quốc cho phép (Liên Xô) cung cấp các hệ thống TLPK cùng với đội ngũ quân nhân.

Vậy là các cuộc đối thoại quay như chong chóng, sau một ngày người ta gọi tôi và Tsygankov đến sứ quán, đại sứ lại nói chuyện với chung tôi, ông cho biết đã có thỏa thuận về việc cung cấp các hệ thống TLPK tới Việt Nam, nhưng với số lượng đội ngũ quân nhân tối thiểu. Vì vậy nhiệm vụ của chúng tôi trong vòng một ngày phải nghĩ ra số lượng tối thiểu quân nhân để phục vụ một tiểu đoàn và báo cáo lên. Dĩ nhiên chúng tôi mừng rỡ vì chuyện này và vừa ra khỏi sứ quán lập tức suy nghĩ đến các tính toán cần thiết. Chúng tôi xuống trung tâm 1, mời Meshkov và các sĩ quan khác rồi bắt đầu tính toán làm sao với số người ít nhất của mình có thể hoàn thành nhiệm vụ đó. Tính đi tính lại chúng tôi đang có một phần các học viên Việt Nam đang được đào tạo, để bổ sung họ vào các khẩu đội của chúng tôi, cuối cùng thì chúng tôi dừng lại ở con số 39 lính và sĩ quan Soviet, ít hơn thì chúng tôi không đồng ý. Số trên bằng khoảng một nửa biên chế thời bình của chúng tôi ở Liên bang - 75 người. Chúng tôi báo cáo Dzyza, ông - báo cáo đại sứ và tất cả quá trình này đã tiến triển dù người Trung quốc cắt giảm xuống còn 36 người cho một tiểu đoàn.

Trung tâm huấn luyện được khẩn trương chuyển về ngoại vi Hà Nội, thị xã Hà Đông, nơi đội ngũ quân nhân và trang bị khí tài được triển khai giữa các công trình xây dựng và cây xanh. Thời gian này người Mỹ chưa ném bom Hà Nội, bởi vậy chúng tôi cho rằng ở đây trung tâm sẽ làm việc bình yên hơn. Vấn đề khí tài với biên chế nhân lực rút ngắn đã được giải quyết, các tổ hợp TLPK bắt đầu được chuyển đến cho chúng tôi rất nhanh chóng.

Trong 10 ngày đầu tiên của tháng 6 năm 1965 đã giải quyết xong việc thành lập một trung đoàn mới, trung đoàn TLPK tác chiến của Việt Nam. Trung đoàn mang số hiệu 236, trung đoàn trưởng là chủ nhiệm trung tâm đại tá M.N.Tsygankov, kĩ sư trưởng - thiếu tá N.A.Meshkov. Họ bắt tay vào chuẩn bị cho hai tiểu đoàn hỏa lực (63 và 64) xuất kích ra các trận địa chiến đấu. 

Và đây, trong những ngày 20, cả hai tiểu đoàn đã sẵn sàng. Tiểu đoàn trưởng 63 là trung tá Mozhaev B.S., tiểu đoàn 64 - trung tá Ilinykh F.P. Bởi lẽ nhiệm vụ đặt ra là cực kỳ quan trọng, để giúp đỡ hai tiểu đoàn này trong công tác chuẩn bị đã huy động đội ngũ ban kỹ thuật tên lửa của trung đoàn đứng đầu là kĩ sư trưởng trung đoàn Meshkov và nhóm chuyên gia chúng ta bên cạnh kĩ sư trưởng Phòng kỹ thuật BC TLPK QDNDVN mà đứng đầu là tôi. Tôi chuẩn bị cho tiểu đoàn 63, Meshkov - tiểu đoàn 64.

Trong đêm 22 sang ngày 23 tháng 7 các đơn vị bắt đầu di chuyển ra trận địa và tới trước bình minh đã chiếm lĩnh xong vị trí. Trận địa của tiểu đoàn TLPK 64 cách chúng tôi 10 - 12 km. Các tiểu đoàn TLPK triển khai khí tài, kiểm tra thiết bị - thiết bị hoạt động ổn định. Khi phát sóng lên không trung đơn vị phát hiện được nhiều máy bay, nhưng chúng không đi vào vùng phóng của chúng tôi. Vài lần chúng tôi tắt thiết bị vì trong cabin rất nóng. Tôi ngồi trong cabin "U" cạnh tiểu đoàn trưởng TLPK Mozhaev, lúc thì nhìn lên màn VIKO, lúc nhìn sang màn hình của sĩ quan điều khiển. Căng thẳng không thể tưởng tượng, bỗng vài phút sau lần bật máy kế tiếp, sĩ quan điều khiển V.M.Konstantinov báo cáo tiểu đoàn trưởng có mục tiêu. Mục tiêu khá lớn, như sau này được biết đó là hai tốp bốn chiếc máy bay. Lúc 14:25 mục tiêu được chuyển vào chế độ bám sát tự động (AC), tiếp theo là khẩu lệnh của tiểu đoàn trưởng Mozhaev "Phóng!", các quả đạn với gián cách 15 giây nối nhau lao lên phía mục tiêu. Mục tiêu bị tiêu diệt, cả hai máy bay bị bắn rơi bằng hai quả đạn. Tôi ra khỏi cabin người đẫm mồ hôi, mặc dù trời vô cùng nóng nực song tôi có cảm giác như thể mình đang ở trên một con phố mát rượi. Tất cả mọi người có mặt trên trận địa nhảy lên reo hò, ôm chầm lấy nhau, chúc mừng chiến thắng lẫn nhau. Thật dễ chịu khi thấy được niềm vui ngay từ loạt đạn đầu thành công như thế.

(http://nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/divizion1965-2.jpg)
Tiểu đoàn của thiếu tá Boris Stepanovich Mozhaev (tiểu đoàn 63 trung đoàn 236) trước khi hành quân đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên, 21.07.1965.
Ảnh của đại tá Vladislav Mikhailovich Konstantinov.


Tiểu đoàn 64 cũng bắn rơi tại chỗ một máy bay, chiếc trúng đạn thứ hai gượng bay được qua biên giới sang Lào, số phận của chiếc này không thấy ai viết đến ở đâu cả, và người Việt Nam không tính đến nó. Thực tế là khi thực hiện các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh (4 lời giáo huấn của Người - Cần, Kiệm, Liêm, Chính) họ không bao giờ không xào nấu tô vẽ và chúng tôi cũng phải chịu tình trạng này ở một mức độ nào đó. Họ đếm các máy bay bị bắn rơi một cách rất thận trọng và nếu không tìm thấy trên mảnh xác số hiệu máy bay thì họ không coi là nó bị bắn rơi. Dẫu sao tôi vẫn tính điểm chiếc máy bay ấy và một thời gian sau qua các trinh sát viên của chúng ta có điều kiện tiếp cận các tài liệu thẩm vấn tù binh phi công Mỹ, tôi biết rằng chiếc máy bay đó cũng bị bắn rơi và phi công nhảy dù trên lãnh thổ Lào, được nhóm tìm kiếm-cứu hộ Mỹ cứu thoát. Bị thương nặng ở cột sống, anh ta được gửi sang Úc điều trị. 

Sau loạt phóng đạt kết quả tốt như vậy, chúng tôi chúc mừng trung đoàn trưởng đại tá Tsygankov, ông đã kịp có mặt tại tiểu đoàn, chúng tôi lên xe về Hà Nội. Ngày hôm đó - ngày 24 tháng 7 năm 1965 - đã đi vào lịch sử Việt Nam. Theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày này hàng năm trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Tên lửa Phòng không.

Ngày hôm sau tiểu đoàn lại gọi lên cho tôi thông báo rằng một bệ phóng bị hư hỏng và họ không thể nào sửa chữa được nó bằng lực lượng tại chỗ của mình. Và tôi chưa nói rằng do địa hình địa vật phức tạp của trận địa tiểu đoàn TLPK 63, chúng tôi chỉ triển khai tác chiến trong trận đánh đầu tiên được 3 trong số 6 bệ phóng. Tôi nhanh chóng sắp xếp, mang theo một kỹ thuật viên bệ phóng rồi phóng xe xuống tiểu đoàn. Thời gian khởi hành sớm nên 10 giờ chúng tôi đã có mặt tại thực địa, và ở đó lại có thêm niềm vui. Trong khi chúng tôi đang đi trên đường họ đã bắn rơi thêm một máy bay bằng một quả đạn. Máy bay bay trên độ cao 21 km, chấm mục tiêu rất nhỏ, nhưng nó vẫn cứ bị bắn rơi. Đó là một chiếc do thám KNL BQM-72A.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Sáu, 2014, 11:59:12 PM
Chúng tôi lấy sơ đồ, đi ra chỗ bệ phóng bố trí dưới lưới ngụy trang trong bóng râm và tìm nguyên nhân hư hỏng. Chúng tôi đã tìm thấy và chỉ vừa kết thúc sửa chữa thì trắc thủ cabin "U" chạy đến nói rằng SCH trung đoàn thông báo: một tốp máy bay lớn đang bay đến trận địa chúng tôi, mọi người cần phải ẩn nấp, tắt tất cả máy móc thậm chí cả việc liên lạc, đại khái như vậy. Chúng tôi đang ngồi và cứ ngồi như vậy dưới bệ phóng, trong lúc những chiếc máy bay lao qua đầu chúng tôi ở độ cao 300-500m. Dĩ nhiên thật may cho chúng tôi là chúng bay ở độ cao thấp như vậy nhưng chỉ bắt đầu trút bom ở phía trước cách chúng tôi 7-10km. PPK lúc này làm việc rất tốt vì cả PPK cỡ nòng nhỏ và súng máy PK cũng có tất cả các cơ hội tính sổ với lũ kền kền này. Các cuộc không kích diễn ra làm 3 đợt, kéo dài khoảng 40-50 phút, dù với chúng tôi nó như thể vô tận. Rồi mọi thứ yên dần, điện đài nhận tin từ SCH lệnh "Báo yên, lên đường!". Một lần nữa trong đời tôi lại thêm tin vào câu cách ngôn "nỗi khiếp sợ có đôi mắt rất to" (tôi đã nghiệm thấy điều này trong các vụ bị ném bom thời Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại). Đội ngũ quân nhân trong đúng một nửa giờ đã thu hồi khí tài, tập hợp đoàn xe máy và phóng như bay đến trận địa dự bị trong rừng.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/5(44).jpg)
Bác Hồ đến thăm trận địa của tiểu đoàn 61 trung đoàn 236 (chỉ huy Hồ Sĩ Hưu và I.K.Proskurin) ngày 26 tháng 8 năm 1965, sau trận đánh mà tiểu đoàn phóng 3 đạn diệt 4 máy bay Mỹ.

Sau một lúc, chủ nhiệm TLPK Tuyên, kỹ sư trưởng Dục, phiên dịch viên tới chỗ chúng tôi, họ hỏi chúng tôi cảm giác thế nào và chúng tôi "lễ phép" trả lời. Chúng tôi hỏi họ phía trước bị ném bom là cơ sở nào. Chủ nhiệm TLPK cười phá lên và đề nghị chúng tôi cùng đến đó. Khi chúng tôi đến nơi thì thấy khu vực tại đó các hệ thống TLPK bị ném bom...là hệ thống bằng tre. Người Việt Nam trong vài ngày đã dựng lên hai trận địa giả, họ làm các ma-két cabin, bệ phóng, đạn, từ gỗ mà chủ yếu là tre, cót, giấy bồi, sơn tất cả theo màu tổ hợp TLPK, ngụy trang, nhưng sao cho từ trên không có thể nhìn thấy chúng, bao quanh các trận địa của chúng tôi và các trận địa giả là một cụm bộ đội PPK và súng máy PK lớn (đến 9 trung đoàn), vì mục tiêu bay ở độ cao thấp nên chúng gào rú khủng khiếp như vậy, có 9 máy bay bị bắn rơi và một tuần lễ sau trận đánh này người ta không thấy bóng máy bay xuất hiện trên không. Sau khi tận mắt thấy, chúng tôi đi về khách sạn mà trong lòng vô cùng thỏa mãn, chúng tôi lăn ra ngủ mê mệt cả ngày giống như tất cả những người khác đã tham gia trận đánh.

Một ngày sau chúng tôi nghe radio (chúng tôi đã mua máy thu thanh "Spidola" có băng sóng ngắn và cực ngắn) và nghe người Mỹ đưa tin như sau. Họ thông báo cho cả thế giới rằng "... tại Việt Nam hai máy bay đã bị các hệ thống SAM-2 Soviet bắn rơi (họ gọi tổ hợp TLPK S-75 "Dvina" của chúng ta như vậy), còn chúng tôi đã ném bom trả đũa tiêu diệt hai hệ thống TLPK". Chưa quá 2 tiếng sau, đài Nhật tuyên bố người Mỹ nói láo, vì TLPK đã bắn rơi 4 chứ không phải 2 máy bay, còn họ đã ném bom tiêu diệt trận địa TLPK toàn các mô hình đồng thời mất thêm 9 máy bay nữa. Vậy là thinh không tràn đấy những lời cãi lộn còn chúng tôi cứ tiếp tục lao động.

Trận đánh này làm chúng tôi cùng các bạn Việt Nam phải nghĩ đến việc cải tiến hoàn thiện đội hình chiến đấu cho các tiểu đoàn. Tiểu đoàn TLPK - đó không phải là các khẩu đội PK lúc nào muốn là có thể nhanh chóng chuyển sang trận địa khác được ngay mà là hệ thống để thu hồi phải mất 40-60 phút. Cũng vì số tiểu đoàn còn ít nên việc thành lập cụm TLPK để yểm trợ cho nhau là chưa thể. Do đó sau cả một thời gian dài suy tính, phương án "phục kích" đã được chọn. Nó có nghĩa là 1 hoặc 2 tiểu đoàn TLPK được bí mật triển khai trên tuyến đường bay nhiều khả năng của không quân địch, phóng đạn tiêu diệt mục tiêu, rồi khẩn trương thu hồi khí tài chuyển sang trận địa khác đã chuẩn bị từ trước. Việc này không được tiêu tốn quá một giờ đồng hồ nếu không sẽ bị địch ném bom. Chiến thuật trên bản thân nó đã tự chúng tỏ tính đúng đắn, và nếu thực hiện tốt sẽ gần như không có tổn thất.

Có một trường hợp thế này xảy ra ngày 7 tháng 11 năm 1965, chúng tôi cùng các bạn Việt Nam đang kỷ niệm ngày lễ thì người cần vụ chạy đến báo một tiểu đoàn đã bị tiêu diệt. Tiểu đoàn TLPK này làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng, ngày hôm trước nó vừa bắn rơi 2 chiếc A-4D nhưng sau đó không chuyển trận địa. Bất ngờ từ phía biển, ở độ cao cực thấp trên đỉnh sóng, bọn cường kích lẻn vào. Các chiến sĩ PPK bảo vệ tiểu đoàn cũng bỏ lỡ mục tiêu và tiểu đoàn đã bị tiêu diệt trên thực tế. Khi chúng tôi xuống đến nơi thì chứng kiến một bức tranh kinh khủng, ngay cả cabin "U" cũng bị đánh chổng vó lên trời. Rất nhiều cán bộ chiến sĩ hy sinh. Trước đó tiểu đoàn vừa được kiện toàn bổ sung quân số toàn bộ các quân nhân Việt Nam. Sau sự cố trên khuyến cáo chuyển trận địa sau mỗi trận đánh được thực hiện răm rắp không phải bàn cãi nhắc nhở gì nữa và những tổn thất như vậy không còn xảy ra.

Theo mức độ khí tài về đến nơi, người ta biên chế thêm một trung đoàn nữa. Tiến trình đào tạo chia làm 3 giai đoạn:
- giai đoạn 1 - học lý thuyết và thực hành tại trung tâm huấn luyện;
- giai đoạn 2 - khi các tổ hợp TLPK của chúng ta bắt đầu tới, chúng tôi bổ sung học viên cho các tiểu đoàn và thành lập các kíp chiến đấu kép. Trong giai đoạn này người Việt Nam cùng chiến đấu với chúng tôi và làm chủ vũ khí khí tài;
- giai đoạn 3 - tại tiểu đoàn chỉ còn lại các kíp chiến đấu Việt Nam. Các đồng đội của chúng ta tại tiểu đoàn, đặc biệt trong khi diễn ra trận đánh, không có mặt. Tại mỗi tiểu đoàn TLPK chỉ còn 7-8 chuyên gia Soviet, nhưng họ thường nằm cách xa tiểu đoàn 2-3km và chỉ được huy động làm công tác bảo trì thường xuyên và trợ giúp sửa chữa khuyết tật.

Khai thác và sửa chữa khí tài trong điều kiện chiến đấu

Theo mức độ những thành công của chúng ta, người Mỹ buộc phải thay đổi chiến thuật. Họ đề ra kế hoạch thực hiện các đòn mật tập vào các tiểu đoàn TLPK, áp dụng công kích ở độ cao thấp, hoàn thiện thao tác cơ động chống TLPK, trên máy bay của họ lắp thiết bị cảnh báo đã vào vùng chiếu xạ của tổ hợp TLPK và cảnh báo việc phóng đạn TLPK, sử dụng phổ biến tất cả các loại nhiễu tích cực có thể có, bắt đầu sử dụng tên lửa "Shrike" - một loại tên lửa không-địa tự dẫn, những điều đó bắt buộc chúng ta phải tìm cách đối phó, trước hết là bằng trí tuệ.

Tổ hợp TLPK S-75 "Dvina" của chúng ta theo đặc tính kĩ-chiến thuật đảm bảo tiêu diệt mục tiêu ở các độ cao từ 1 đến 23 km, mà người Mỹ thì bắt đầu chuyển sang bay ở độ cao 300 - 500 m. Tất nhiên ở độ cao này thì PPK tiêu diệt chúng tốt, nhưng cần phải hoàn thiện tổ hợp. Đã có đề nghị gọi các đội sản xuất ngành công nghiệp quốc phòng tới đây để chỉnh sửa tổ hợp TLPK. Chúng tôi chuẩn bị khu vực để chỉnh sửa tổ hợp và cùng nhau chuẩn bị địa điểm, trang thiết bị, nhân lực cho xưởng sửa chữa.

Trong mỗi một trung đoàn mới thành lập, xưởng sửa chữa được xây dựng theo cấu trúc các trung đoàn của chúng ta, lấy quân từ số các học viên đã qua đào tạo, các thợ lành nghề về cơ khí được động viên từ hệ thống dân sự. Các xưởng cơ khí trong phạm vi bộ đội TLPK (binh chủng) người ta cũng tuyển chọn theo nguyên tắc ấy. Xưởng của binh chủng TLPK ngay lập tức tham gia vào các cải tiến đặc biệt là về mặt cơ khí. Các bên đã ký thỏa thuận là người Việt Nam sẽ không trao cho người Trung quốc các sơ đồ chỉnh sửa cải tiến và quy trình thực hiện các cải tiến đó. Nhưng tiếc thay chẳng có gì như vậy được thực hiện. Chuyên gia của chúng ta vừa rời xưởng nơi hoàn thiện cho tổ hợp TLPK, thì người Trung quốc liền đến và chụp ảnh toàn bộ những thay đổi trong sơ đồ, nghiên cứu các chi tiết. Bản thân tôi cũng chạm trán với họ, khi tôi quyết định kiểm tra xem công việc tiến triển đến đâu. Các chuyên gia của chúng ta đã đi khỏi, tôi đến muộn hơn, người Trung quốc được báo trước và chúng tôi chạm trán họ ở của ra của xưởng. Họ tới trên chiếc Gaz tải của chúng tôi, bảy người, mặc quân phục Việt Nam. Tôi hỏi người phiên dịch Ivan của chúng tôi (cậu ta mới thay Hùng không lâu), xem họ là ai và họ đi đâu, còn cậu ta thật tình nói với tôi: "Đó là những người Trung quốc, họ đến xem thợ cả của các anh làm gì ở đây". Nhưng cậu ta nói đến đấy thì người tài xế ngắt lời cậu ta rằng ông ta cũng phải đi gặp mặt gì đó rồi im bặt, tôi cảm thấy rất khó chịu.

Tài xế của tôi khoảng 40-45 tuổi, là lái xe rất có kinh nghiệm và rất kiệm lời, sau này tôi biết ông ta là nhân viên an ninh, có cấp bậc khá cao. Ông ta có thái độ rất tốt với tôi, ông ta bảo vệ tôi, nhưng như về sau tôi biết, ông ta không cho phép các phiên dịch viên nói những câu thừa.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Sáu, 2014, 09:46:23 PM
Cậu phiên dịch mới, vừa tốt nghiệp khóa tiếng Nga cách đây không lâu, đề nghị chúng tôi gọi ngay cậu ta là Ivan. Cậu rất yêu nước Nga, yêu nền văn học của chúng ta, cậu đọc thuộc lòng Pushkin, đặc biệt yêu thích Nekrasov, yêu trường ca "Đường sắt" của nhà thơ này. Cậu thể hiện với chúng tôi một tình yêu và lòng kính trọng sâu sắc, bản thân cậu là người tộc Việt (vì vậy mà tên nước là Việt Nam), vóc người cậu cao hơn những người Việt Nam khác, cậu đẹp theo kiểu của mình, trông cậu giống người Indonesia nhiều hơn. Khi chúng tôi ngồi riêng với nhau, cậu kể tôi nghe nhiều chuyện về lịch sử Việt Nam, về người Việt cổ. Bây giờ tại Việt Nam chủ yếu là người Kinh, tộc đó đến đất này muộn hơn. Nhưng về chuyện này thì cần phải viết riêng.

(http://f3.s.qip.ru/047Mdd.jpg)
Bố trí tổ hợp trên trận địa.

Giai đoạn tiếp theo - đấu tranh với "Shrike". Sau khi nghiên cứu nó (nó rớt xuống không nổ và các chuyên gia của chúng tôi khảo sát nó) thì biết rằng đầu tự dẫn của nó được điều chỉnh theo các tần số của chúng tôi (tần số của đài dẫn bắn SON với PPK, tần số của đài điều khiển SNR đối với tổ hợp TLPK), theo tín hiệu riêng của chúng mà lao thẳng vào chúng. Nhiệm vụ khá đơn giản: kịp thời nhận ra việc phóng đạn "Shrike" từ máy bay. Trên các màn hình của các đài radar nó thể hiện như một chấm tách ra từ mục tiêu. Sau đó mọi việc là đơn giản, cần phải quay ăng-ten lên trên và sang bên, rồi tẳt máy phát, và quả đạn "Shrike" bay trong ánh sáng trắng, rất rõ ràng. Như vậy là theo khuyến nghị của chúng tôi, bộ đội PPK và TLPK đã gần như hoàn toàn tránh được các trương hợp bị nó đánh trúng, nhưng trước đó khi chúng tôi đến, đã có một đài SON-4 của PPK 100 mm bị tiêu diệt, sau đó một cabin "P" của một trong các tiểu đoàn TLPK bị đánh hỏng.

Cuộc đấu tranh tiếp theo trở nên khó khăn hơn do các loại nhiễu được áp dụng rất mạnh mẽ. Về mặt này thì tổ hợp S-75 "Dvina" có khả năng bảo vệ chống nhiễu kém. Vì thế chúng tôi phải tìm tất cả các biện pháp khả dĩ để tiến hành chiến đấu trong các điều kiện của cuộc chiến tranh điện tử. Chúng tôi khuyến nghị các kíp chiến đấu sử dụng các chế độ làm việc khác nhau của đài điều khiển (ARU, RRU, MARU, MPV, "vuốt phẳng", kích nổ đầu đạn theo lệnh K3 trong chế độ ADA), các phương pháp dẫn đạn TLPK có điều khiển sử dụng tối đa chế độ làm việc thụ động của các kênh mục tiêu của đài điều khiển, chọn ghép đạn theo công suất máy hỏi và độ nhạy của bộ thu tín hiệu kíp nổ vô tuyến và v.v...

(http://f3.s.qip.ru/047Mdg.jpg)
Nguyên tắc làm việc của tổ hợp.

Rõ ràng các khuyến nghị trên là có kết quả, nhưng hiệu quả phóng đạn của chúng tôi đã giảm. Nếu như trong các trận đánh đầu tiên lượng tiêu thụ đạn không quá 1-1,5 đạn cho một mục tiêu, thì giờ đây nó đã tăng lên. Thoạt đầu trong các điều kiện xạ kích thông thường, hiệu quả của tổ hợp TLPK S-75 "Dvina" của chúng ta với lượng tiêu thụ 3 đạn được tính là 93%, nay theo mức độ nhiễu nặng nhẹ mà nó đã giảm đi đáng kể. Thực tế khi tính toán độ tiêu thụ đạn ở trường bắn của chúng ta, về chủ yếu điều kiện là không có nhiễu. Nói thẳng thắn thì thời ấy chúng ta không nghiên cứu nhiều về vấn đề này, nhưng theo mức độ phát triển của khí tài mà các nhà thiết kế của chúng ta đã tìm ra lối thoát và chế tạo hệ thống S-75 "Volkhov", có khả năng chuyển tự động tấn số máy phát. Hệ thống TLPK này bắt đầu được trang bị cho các đơn vị của chúng ta, người Việt Nam tốt nghiệp trường TLPK của chúng ta biết điều đó và nỗ lực xin chúng ta gửi cho họ "Volkhov", nhưng chúng tôi không thể làm điều đó vì quan hệ với Trung quốc, chúng tôi không muốn tiết lộ cho họ bí mật của mình. Tất nhiên nếu cung cấp cho Việt Nam "Volkhov" rồi sau đó S-125, chiến tranh sẽ kết thúc sớm hơn nhiều.

(http://f3.s.qip.ru/047MXJ.jpg)
S-75M "Volkhov"

Trong hoàn cảnh hiện tại tôi đề xuất với đại tá Dzyza phương án điều chỉnh tấn số trước cho máy phát và xuất kích thành cặp 2 tiểu đoàn. Một tiểu đoàn làm việc trên tần số cũ, xử lý mục tiêu bị nhiễu, nhưng qua đường liên lạc báo tọa độ cho tiểu đoàn TLPK thứ 2, tiểu đoàn này làm việc ở tần số khác và sẽ phát sóng khi mục tiêu vào vùng hỏa lực phát huy. Nó sẽ bật máy, mục tiêu sẽ hiện ra không nhiễu, tiểu đoàn sẽ bắn rơi nó và rời trận địa. Bằng cách đó sẽ giải quyết được vấn đề nhiễu tích cực. Cho đến lúc đó đã có 3 trung đoàn được triển khai và chiến thuật này đã mang đến cho chúng tôi thành công. Nhưng...vấn đề phụ thuộc vào việc có cho phép điều chỉnh hay không. Thực tế thì tần số tổ hợp TLPK được đóng dấu không chỉ mật mà còn siêu mật, dấu "K". Những tần số này chỉ có ở tập đoàn quân, dưới các đơn vị cơ sở không được phép lưu trữ, còn chúng tôi, các kĩ sư trưởng của các trung đoàn, lữ đoàn, định kỳ được mời đến tập đoàn quân, vào phòng mật ngồi, học thuộc lòng các dữ liệu này và nếu ai lỡ miệng - sẽ vào "chuồng sắt" ngay. Bởi vậy để tôi có thể điều chỉnh tổ hợp TLPK sang tần số khác cần có sự cho phép chính thức từ Moskva. Người ta làm đề nghị, vài tuần sau câu trả lời tích cực đã tới, còn tôi xuống các tiểu đoàn TLPK đã được chúng tôi chọn để điều chỉnh tần số mới cho họ. Công việc này rất tốn công sức, đôi khi mất rất nhiều thời gian. Bằng cách này, một lần nữa hiệu quả xạ kích của tổ hợp TLPK lại được nâng lên.

(http://f3.s.qip.ru/047Mdh.jpg)
Đội hình hành quân của tổ hợp "Volkhov" S-75M

Công tác bảo dưỡng thường xuyên tiến hành đều đặn theo chỉ dẫn khai thác (IE), dù trong thời chiến thường có gián đoạn. Nhưng chúng tôi tiến hành thành hệ thống một loạt phép kiểm tra, thử nghiệm trong các điều kiện của mình. Ví dụ sau khi tiến hành kiểm tra chức năng theo IE, chúng tôi kiểm tra mở rộng các chức năng. Nếu đơn vị đã ra trận địa thì chúng tôi tiến hành huấn luyện từ chiều tối khoảng 18 giờ cho đến nửa đêm, kiểm tra bổ sung và các tham số cơ bản. Bắt đầu từ 3-4 giờ đêm lại chuẩn bị khí tài để chiến đấu, sưởi ấm khí tài khoảng một đến một giờ rưỡi. Các công tác bảo dưỡng tuần, tháng, nửa năm tiến hành tại vị trí chuẩn bị trước, được bảo vệ, tranh thủ khi trời mưa hoặc những lúc ngừng khác giữa các trận đánh.

Việc sửa chữa khí tài với chúng tôi là đặc biệt quan trọng, bởi vì khi khai thác trong các điều kiện khí hậu khắc nghiệt và do tổn thất trong quá trình chiến đấu, nhiều bộ khí tài đã hư hỏng. Để sửa chữa tại mỗi trung đoàn đã thành lập các xưởng kỹ thuật được trang bị tốt, có đội ngũ cán bộ và thợ được tuyển chọn kỹ càng. Tới thời kỳ này các xưởng sửa chữa tại các trung đoàn số 1 và số 2 đã hoạt động tốt. Trong các trung đoàn này, nhiều tiểu đoàn đã bị trúng bom và phải chịu những thương tổn quy mô lớn và nặng.

Trong giai đoạn này công tác sửa chữa cơ bản do các xưởng kĩ thuật trung đoàn tiến hành, công việc rất nhiều. Chẳng hạn họ đã sửa chữa được 2 đài điều khiển, 5 bệ phóng, từ 6 bệ bị đánh hỏng nặng họ đã ghép lại được hai bộ, sửa chữa 5 bộ PR-11A. Đó mới là một tập ví dụ nhỏ. Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị xưởng sửa chữa của QC PK. Tham gia tích cực vào công việc của các xưởng kĩ thuật trung đoàn có các chuyên gia chúng ta dưới trung đoàn, nhóm chuyên gia PKT bên cạnh kĩ sư trưởng binh chủng TLPK, Sự tham gia của chúng tôi nhiều nhất là trong việc sửa chữa thiết bị vô tuyến điện tử, bởi vì phần cơ khí thì các chuyên gia Việt Nam xử lý rất tốt.
...........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Sáu, 2014, 11:17:54 PM
Cùng với các hoạt động tại binh chủng, nhóm chúng tôi tích cực tham gia các tiết học trao đổi kinh nghiệm, các cuộc họp, các buổi tổng kết và các hoạt động khác. Hỗ trợ tôi mạnh mẽ trong các hoạt động này có kĩ sư trưởng Dục, các cấp dưới của ông, đặc biệt là đại úy Nguyện.

Các buổi hội họp-thảo luận diễn ra không ít hơn 2-3 lần trong 1 tháng, chủ yếu khi trời mưa. Thông thường người ta mời đến các tiểu đoàn trưởng TLPK, các khẩu đội trưởng, các sĩ quan dẫn đường, các chuyên gia khác khi cần thiết. Tôi thường mào đầu rồi đến Dục tiếp tục, rồi các kĩ sư trưởng các trung đoàn, sau đó tất cả mọi người tham gia đều phát biểu, họ có các đề nghị, các câu hỏi, các nhận xét đánh giá v.v...

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Zaicev005.jpg)
Tại một trận địa pháo PK ở tỉnh Nam Định, năm 1965.

Tôi dẫn ra một trường đoạn trong cuộc họp tổng kết 6 tháng năm 1965 hồi tháng 10, tại đó có mặt tư lệnh PKKQ đại tá Phùng Thế Tài. Bản báo cáo của tôi nằm trong số nhiều bản báo cáo, trong đó tôi nêu ra số máy bay bị bộ đội TLPK bắn rơi thời gian qua. Sau đó chủ nhiệm TLPK phát biểu, nhưng số máy bay bị bắn rơi theo ông ấy nhỏ hơn số liệu của tôi 3 chiếc. Vấn đề là tôi là người tiến hành thống kê số máy bay bị rơi, sơ liệu qua ban tác chiến của chúng tôi sẽ chuyển về Moskva. Số thống kê của tôi lấy từ màn hiển thị của các sĩ quan điều khiển, vì thời đó các chuyên gia của chúng tôi tiến hành các trận đánh cùng các bạn Việt Nam. Người Việt Nam thống kê theo số hiệu máy bay. Nảy sinh vấn đề ai đúng. Người ta gọi một tiểu đoàn trưởng mà không thấy, trung đoàn trưởng báo cáo viên tiểu đoàn trưởng đến chậm một chút và anh ta sẽ phải có mặt. Năm phút sau tiểu đoàn trưởng người đầy bùn đất lên tuyên bố, miệng cười hết cỡ rộng đến tận mang tai. Anh ta báo cáo rốt cuộc đã tìm ra 3 chiếc máy bay còn thiếu, những chiếc mà tôi nói đến và đặt lên bàn mảnh xác chứa số hiệu máy bay. Hóa ra những chiếc máy bay mà họ bắn rơi đã đâm đầu xuống một đầm lầy trên núi Ba Vì. Tiểu đoàn TLPK đóng cách không xa dãy núi, bảo vệ một cây cầu bắc qua một con sông, cắt ngang con đường ô tô chính nối Bắc và Nam Việt Nam. Dãy núi có 3 đỉnh, giữa chúng là một cái đầm. Các nhóm tìm kiếm đã không đến đó vì địa điểm này ở đây được coi là đáng nguyền rủa. Chỉ có một ông già có lẽ là người vô thần đồng ý dẫn những người lính đến đầm lầy. Ở đó họ đã nhìn thấy những chiếc máy bay rơi. Nhờ có tời, họ kéo xác máy bay lên và thả xuống núi, rồi các chiến sĩ vui mừng đi đến dự họp.

Một trong các diễn giả thông báo một số tin tức thu được từ các tù binh phi công. Trả lời câu hỏi họ nhận thấy các đường đạn tên lửa bay tới mình thế nào, họ đáp rằng họ nhận ra theo màu sơn bạc của quả đạn. Họ phát hiện ra tên lửa khi nó bay gần tới mình ở cự ly 2 dặm (3,2 km), tốc độ tên lửa khá lớn, 600 km/giờ, lớn hơn tốc độ của F-105, F-8 và các loại máy bay khác. Nếu nhận ra nó đang bay đến cũng có những trường hợp có thể tránh được. Xét tên lửa theo tham số, đạn tên lửa có thể bay đến máy bay trong khoảng 8-10 giây. Để tránh đạn cần: 1 giây suy nghĩ, 2 giây để phản ứng, 6-8 giây để cơ động. Nếu tên lửa lao thẳng đến, thời gian bay tới là 4-5 giây, việc tránh nó là không kịp (ý kiến trả lời của phi công Mỹ Denis Anton Moore). Các phi công Mỹ khi thảo luận chuyện này, thống nhất rằng để tránh tên lửa cần bay thấp hơn 1000 m, tốt nhất là ở độ cao 300-500 m. Tại độ cao lớn tầm quan sát nhìn vòng tốt hơn nhưng việc phát hiện đạn tên lửa do nhiều yếu tố khác lại khó hơn. Căn cứ vào quả tên lửa đang bay không thể nào xác định chính xác trận địa của tiểu đoàn TLPK, mà chỉ xác định được khu vực. Do đó người Mỹ cần trinh sát bổ sung. Sai số khi ném bom ở các độ cao nhỏ là 400-600 m.

Không hề nghịch lý, nhưng các chỉ số đã cho chúng tôi đi đến một loạt quyết định quan trọng. Chẳng hạn chúng tôi bắt đầu sơn lại đạn tên lửa theo màu ngụy trang và xin người của ta cấp đến đây các quả đạn có màu sơn bảo vệ. Chiến thuật "phục kích" đã thuyết phục được chúng tôi, vì lẽ trong khi người Mỹ tiến hành trinh sát bổ sung tiểu đoàn TLPK, ta có thể rời đi chỗ khác, bởi vậy người ta nghĩ ra nhiều biện pháp tăng tốc quá trình triển khai-thu hồi. 

Cuối cùng đại tá Phùng Thế Tài phát biểu. Ông cám ơn tất cả vì đã chiến đấu hiệu quả và nói:
 - số phi vụ ban ngày là 1135, ban đêm là 308, cuối tháng 10 giảm xuống còn 143. Hoạt động của KQ ban đêm rất loạn xạ;
 - hiểu quả của PPK tăng lên vì bộ đội tên lửa đã dồn máy bay xuống tầng thấp, mà tại các độ cao này PPK hoạt động thành công hơn;
 - từ 24 tháng 7 cho đến nay (cuối tháng 10 năm 1965), binh chủng tên lửa đã hạ được 41 máy bay;
 - tiêu thụ đạn để bắn rơi một máy bay là 1,8 đạn.

Nhưng ông chỉ ra một loạt vấn đề trong thống kê của chúng tôi:
 - không tiến hành công tác bảo dưỡng định kỳ nghiêm ngặt nên nhiều xe máy khí tài đã hư hỏng, không làm việc;
 - phối hợp thông tin không chính xác giữa các binh chủng, hậu quả là ngày 7 tháng 10 bộ đội TLPK đã bắn rơi 1 máy bay An-2 của chúng ta, đến cuối tháng lại bắn rơi một chiếc MiG-17;
 - có trường hợp huấn luyện chiến đấu không đạt, đặc biệt trong vấn đề xác định hướng - có sai số đến 300, hậu quả là một tiểu đoàn TLPK bỏ lỡ mục tiêu, còn tiểu đoàn khác - đưa đạn tên lửa rơi xuống đất.

Tiếp theo tôi sẽ không liệt kê ra tất cả, bởi vì tư lệnh nói đến gần một giờ. Như ta thấy, các cuộc họp của chúng tôi đã mang lại kết quả: chúng tôi và các học trò của mình đã làm giàu thêm kinh nghiệm cho bản thân, mà điều chủ yếu là kinh nghiệm làm việc trong các điều kiện chiến đấu, điều này vô cùng quan trọng không chỉ với chúng tôi mà còn cả với các bạn Việt Nam. 
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Sáu, 2014, 11:38:09 PM
Các trận đánh với lũ kền kền trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng

Tới tháng 10 năm 1965 chúng tôi đã huấn luyện và đưa vào chiến đấu ba trung đoàn TLPK. Trung đoàn thứ hai được hình thành trên cơ sở trung tâm huấn luyện thứ 2. Đại tá N.V.Bazhenov được trao nhiệm vụ chỉ huy trung đoàn, kĩ sư trưởng trung đoàn - thiếu tá A.B.Zaika. Trung đoàn mang số hiệu 238 này tiến hành trận chiến đầu tiên của mình ngày 20 tháng 9 năm 1965. Trong ngày này tiểu đoàn TLPK 83 dưới sự chỉ huy của thiếu tá G.S.Ryzhik đánh 3 trận bắn rơi 3 máy bay. Tổng hợp kết quả những trận đánh đầu tiên của trung đoàn là đã bắn rơi 10 máy bay.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/49(5).jpg)
Sau khi trao các phần thưởng của Tổ quốc. Trên ảnh từ trái sang phải, hàng 1: Bí thư TUDCS Liên Xô D.F.Ustinov, bộ trưởng QP VNDCCH đại tướng Võ Nguyên Giáp, UVBCT DCS Liên Xô Shelepin А.N., đại sứ Liên Xô tại VNDCCH Sherbakov I.S., thượng tướng Tolubko V.F., trung đoàn trưởng trung đoàn TLPK 238 QDNDVN thượng tá Hội, chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật Ủy ban Nhà nước về liên lạc kinh tế đối ngoại trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Sergeychik M.A., phó tư lệnh quân chủng PKKQ QDNDVN phụ trách binh chủng tên lửa đại tá Đỗ Đức Kiên, trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại Việt Nam thiếu tướng Belov G.А., phó trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet đại tá Bоrisenko М.Е., phó trung đoàn trưởng trung đoàn TLPK số 1 trung tá Barsuchenko М.F. Ảnh chụp tại Hà Nội tháng 1 năm 1966. Gửi ảnh: N.N.Kolesnik.

Trung đoàn thứ 3 số hiệu 285 thành lập cuối tháng 10 năm 1965, chỉ huy trung đoàn là đại tá K.V.Zavadsky. Theo mức độ hình thành các trung đoàn, ban đầu với đội ngũ quân nhân hỗn hợp, họ tham gia ngay vào hoạt động chiến đấu.

Tôi muốn dừng lại ở một trong các trận đánh trên vùng trời Hà Nội.

Các thành phố lớn nhất Bắc Việt Nam là Hà Nội - thủ đô nước VNDCCH và Hải Phòng - hải cảng chính của nước cộng hòa. Lẽ tự nhiên để bảo vệ chúng trước hết phải sử dụng bộ đội TLPK, dù khi cần thiết, khi có thông tin về cuộc tấn công các đối tượng khác trên đường di chuyển của máy bay, người ta vẫn tổ chức phục kích, nhưng sau đó các tiểu đoàn TLPK phải trở về ngay khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Ở đây các cụm bộ đội được xây dựng thành các cơ sở, dù mỗi tiểu đoàn TLPK đều có 3-5 trận địa dự bị, trong trường hợp nổ súng đánh địch và bắn rơi máy bay, mỗi tiểu đoàn đều di chuyển ngay sang trận địa dự bị như trong trường hợp phục kích. Cụm bộ đội TLPK này được bảo vệ bởi hỏa lực PPK rất mạnh đủ các cỡ nòng hiện có trong QDNDVN, người ta cũng huy động cả các máy bay tiêm kích MiG-17 Việt Nam cho việc này.  

Chạy qua giữa Hà Nội và Hải Phòng là một trong các đường giao thông chính của đất nước - đường số 5. Khoảng cách giữa các thành phố này là 107 km, nhưng trước cửa ngõ vào Hà Nôi, con sông Hồng - tuyến đường thủy lớn nhất Việt nam, chia cắt chúng. Bắc ngang qua sông là cây cầu Long Biên rất đẹp, dài 1800 m - một trong những cây cầu dài nhất ở Đông Nam Á, vốn được người Pháp xây dựng. Người Mỹ đã từ lâu mài nanh giũa vuốt lăm le nuốt chửng cây cầu, họ cố gắng lao vào Hà Nội nhưng đi chưa hết đoạn bán kính 50 km đã quay trở lại, như thể họ cảm thấy ở đó người ta không chào đón họ. Dẫu sao đến đầu tháng 10 họ đã quyết định không kích Hà Nội, chủ yếu là đánh phá cây cầu. Cơ quan trinh sát đã báo cáo về ý đồ của người Mỹ, và chúng tôi bắt đầu tăng cường đội hình chiến đấu của binh chủng TLPK và PPK quanh Hà Nội và đặc biệt ở khu vực cây cầu Long Biên.

Cuộc không kích đầu tiên cây cầu Long Biên của người Mỹ diễn ra ngày 5 tháng 11 năm 1965, nhưng cây cầu không hề hấn gì. Các phân đội TLPK đã bắn rơi 3 máy bay và các đại đội PPK bắn rơi một số máy bay khác. Nhưng người Mỹ không dừng lại ở đó.

Cuộc không kích thứ 2 diễn ra ngày 17 tháng 11, cây cầu hư hại một chút, một phần dàn thép cầu bị phá hủy, nhưng đồng thời người Mỹ mất 4 máy bay bị bộ đội TLPK bắn hạ.

Cuộc không kích thứ 3 thực hiện ngày 1 tháng 12 với tổn thất 5 máy bay. Có nhiều hư hại nhưng những người thợ lành nghề Việt Nam sau đúng một ngày đêm đã khôi phục cây cầu. Các cuộc không kích về cơ bản do máy bay F-105 tiến hành dưới sự yểm trợ của các tiêm kích F-4 mà PPK đã tiêu diệt dễ dàng vì chúng hạ xuống độ cao thấp thành các mục tiêu ngon xơi. Tôi đã nhiều lần, trước và sau đó, phải có mặt khi xạ kích, trong cabin "U" bên cạnh người tiểu đoàn trưởng TLPK và quan sát trên các màn hình các máy bay bị bắn rơi.

Nông dân và các nhóm tìm kiếm đã bắt tù binh nhiều phi công Mỹ, có một trường hợp xảy ra gần Hà Nội khiến tôi xúc động sâu sắc. Bộ đội TLPK của chúng tôi bắn rơi một trong nhiều chiếc F-105, phi công nhảy dù nhưng do va chạm quá mạnh khi tiếp đất nên anh ta đã chết. Sau trận đánh khi người ta tìm thấy anh ta, chúng tôi đến nơi anh ta rơi xem xét. Một chàng trai tầm 25-27 tuổi, rất lực lưỡng, cao đến 2 m nằm đó...nhưng tôi không muốn gọi hắn là con người. Và tôi thầm nghĩ, tại sao cậu lại bay đến đây, đến đất nước cùng cực vì đau khổ này, bắn giết những con người vô tội, tàn phá những túp lều nghèo nàn của họ. Phải chăng ở Mỹ cậu không có mấy việc để làm? Và tôi cay đắng nhớ lại thời thơ ấu đói khát của mình, khi mà trong thời kỳ phát-xít chiếm đóng, bọn SS đẫy đà vì chén bánh mì của chúng tôi, đã xua chúng tôi, những đứa trẻ mới lớn, đi thu hoạch lúa mì trên những cánh đồng lạnh giá chết chóc, rồi tôi nghĩ rằng bọn phát-xít ở đâu cũng luôn luôn là phát-xít.

Cụm Hải Phòng cũng gần giống như cụm PK Hà Nội, nhưng hơi lùi một chút về phía nam, vì nó bảo vệ các cây cầu bắc qua 2 con sông nhỏ cắt ngang đường số 5. Mặc dù cụm có những phương tiện PK rất mạnh, việc loại trừ tuyệt đối sự xâm nhập của máy bay tới các cây cầu là không thể, dù các máy bay tiêm kích-bom không gây dược những hư hại lớn, nhưng trong những khoảng thời gian nhất định, khi diễn ra công tác sửa chữa, việc qua lại cầu bị đình trệ. Vì thế người ta phải xây dựng các cầu phao. Một trong những cầu phao thường xuyên mở để qua lại, chiếc thứ hai luôn ở mức sẵn sàng số 1. Cần nói rằng Liên bang Soviet không chỉ cung cấp tới VNDCCH những tổ hợp TLPK mà còn cả trang thiết bị cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, trong số đó có các cầu phao. Tại đó cũng có các chuyên gia của chúng ta, nhưng công việc chủ yếu lắp dựng cầu phao do người Việt Nam đảm nhiệm. Xin nói thêm, tôi không ít lần đã sử dụng những chiếc cầu phao nói trên, dù việc đi qua nó đặc biệt không tiện nghi hay dễ dàng gì - bạn đi như thể trên cái đu. Tôi nhớ nhất chuyến sau cùng qua cầu phao sông Hồng.

Vào 10 ngày cuối của tháng 4 năm 1966, nhóm chuyên gia quân sự Soviet bên cạnh kĩ sư trưởng binh chủng TLPK QDNDVN đến thay phiên đã tới chỗ chúng tôi. Tôi cùng ông lên xe đi làm quen với các trung đoàn TLPK, trong đó có đơn vị ở Hải Phòng. Khi trở về Hà Nội, lúc gần đến cầu qua sông Hồng thì chúng tôi gặp phải một trận oanh tạc. Chúng tôi nhanh chóng ra khỏi ô tô, chạy tới giao thông hào nhưng người Việt Nam đào chúng theo kích cỡ thân thể của mình nên chúng tôi không chui xuống được. Chúng tôi ngồi trên bờ giao thông hào, và người đồng nghiệp của tôi nói: "Tôi vừa mới đến mà đã thấy trước sự nguy hiểm cho tính mạng từ nay trở đi rồi, còn với anh chuỗi ngày lê thê chán ngán này thật chẳng đi đến đâu!". Nhưng may mắn là các chiến sĩ TLPK của chúng ta đã đánh lui cuộc không kích một cách nhanh chóng, dẫu cho đường vào cầu đã hư hại và phải đi qua cầu phao sang sông, mà sông Hồng thì rộng, chúng tôi bị lắc lư rất lâu do tốc độ qua cầu phao rất thấp.  

Lần chạm trán cuối cùng với các cuộc ném bom bắn phá của người Mỹ đã kết thúc như vậy, mà nếm trải chúng ở Việt Nam thì không phải là ít. Khi rơi vào các cuộc ném bom, tôi luôn luôn nghĩ đến "kinh nghiệm" làm sao ẩn nấp tránh bom của máy bay phát-xít. Thời tơ ấu tôi sống ở Seversky Donets (làng Staryi Saltov), và khi ngày 23 tháng 2 năm 1943 chúng tôi được giải phóng khỏi ách phát-xít, từ tháng 2 đến tháng 5 tuyến mặt trận đi qua Seversky Donets, làng chúng tôi bị ném bom gần như hàng ngày, do qua sông có hai cây cầu cùng con đê chắn mà chiều dài tổng cộng không nhỏ hơn cây cầu ở Hà Nội. Chúng tôi sống không xa các cây cầu và thường xuyên phải sông trong hầm trú ẩn lạnh giá và ẩm ướt. Bởi vậy tôi cảm thấy hoàn toàn sống động việc nhắc lại thời thơ ấu tại Việt Nam. Nhưng độc giả hãy tha thứ cho tôi phút "tình cảm" này, vì ký ức về cuộc sống đã qua - đó cũng là cuộc sống.

Trong nửa sau tháng 10 năm 1965 bắt đầu có các cuộc do thám của máy bay KNL BQM-34A trên bầu trời Hải Phòng. Đó là dấu hiệu chuẩn bị từ phía Mỹ cho một đợt không kích quy mô lớn. Trinh sát mặt đất cũng khẳng định ý đồ này. Các chiên sĩ TLPK tăng cường theo dõi không phận và ngày 20 tháng 10 một quả đạn tên lửa của chúng ta đã vít cổ một máy bay do thám KNL BQM-34A khi nó vừa xuất hiện trên vùng trời thành phố. Đó là chiếc máy bay đầu tiên bị binh chủng TLPK bắn hạ trên bầu trời Hải Phòng. Bảo vệ mục tiêu Hải Phòng là các tiểu đoàn của trung đoàn TLPK 238 (trung đoàn thứ 2). Ngày 5 tháng 11 vào hồi 14 giờ bắt đầu cuộc ném bom đầu tiên xuống cầu Lai Vu trên đường phía Hà Nội, sau khi mở đầu cuộc xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Tại đây nhóm TLPK của chúng ta đã hoạt động, tiêu diệt 3 mục tiêu, không cho chúng ném bom phá hoại cầu.  

Tiếc thay như tôi đã nói ở trên, ngày 7 tháng 11 tại đây, một tiểu đoàn TLPK gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, đó là tiểu đoàn sau khi bắn hạ mục tiêu vẫn ở nguyên trận địa cũ. Trong tháng 11 KQ Mỹ đã vài lần cố gắng xuyên phá vào các mục tiêu của Hải Phòng, đặc biệt chúng lao đến khu vực cảng và căn cứ xăng dầu chiến lược nhưng không đạt được thành công thực sự nào.

Đặc điểm làm việc của hệ thống TLPK của chúng ta thời kỳ này là đối phương bắt đầu sử dụng rộng rãi nhiễu tích cực và tiêu cực. Từ trên các hàng không mẫu hạm, người Mỹ gây nhiễu tạp rất mạnh khiến màn hình của các trắc thủ gần như tê liệt. Các cuộc không kích chủ yếu thực hiện bằng các máy bay tiêm kích-bom trên hạm - kiểu A-4D, cường kích hạm - A-6. Theo sự cho phép từ Moskva, chúng tôi đặt lại tần số các máy phát, tình thế được cải thiện và hiệu quả của bộ đội TLPK tăng lên, đến giữa tháng 12 đã có 15 máy bay bị tiêu diệt, bộ đội PPK bắn rơi cũng không ít và cường độ của các cuộc không kích cũng đã giảm.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Sáu, 2014, 12:16:05 PM
Cuộc gặp năm mới 1966

Trước năm mới, một đoàn đại biểu có tên tuổi từ Liên Xô đã tới Việt nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Ủy viên Bộ Chính trị UBTU ĐCSLX A.N.Shelepin, trong đoàn có D.F.Ustinov, thượng tướng V.F.Tolubko và các yếu nhân khác. Người ta triệu tập các đại diện đoàn chuyên gia quân sự Soviet về sứ quán, rại đây sẽ tổ chức cuộc gặp mặt các thành viên đoàn đại biểu. Trong phát biểu của mình, A.N.Shelepin đánh giá cao công tác của chúng tôi và tuyên bố rẳng Trung ương Đảng chăm chú theo dõi diễn tiến các sự kiện ở đây, và kết luận ông chúc tất cả chúng tôi tiếp tục đạt được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp quan trọng của mình.

Sau đó đại tá Dzyza đọc danh sách những người được tặng thưởng, chúng tôi ở lại gian lớn, số còn lại chuyển sang gian khác. D.F.Ustinov trao phần thưởng. Trong số được tặng thưởng có các sĩ quan nhóm chuyên gia quân sự phòng kỹ thuật binh chủng tên lửa PK, gồm cả tôi, người ta trao cho tôi huân chương Sao Đỏ. và tuyên đọc quyết định phong quân hàm "trung tá" trước thời hạn. Gian bên cạnh người ta chuẩn bị sâm-panh, chúng tôi rót đầy các cốc lớn. Sau một lúc các thành viên đoàn đại biểu dẫn đầu là A.N.Shelepin đi vào phòng chúc mừng chúng tôi một cách ngắn gọn, và chúng tôi nâng cốc uống cạn.

Cùng đoàn đại biểu Đảng Chính phủ đến Hà Nội là một chiếc máy bay chở đầy quà cho chúng tôi. Mỗi người được trao một gói quà: các sĩ quan cao cấp - gói số 1, các sĩ quan cấp dưới - gói số 2, hạ sĩ quan phục vụ quá hạn và chiến sĩ nghĩa vụ - gói số 3. Có cả một loại quà riêng, trong đó một người được 4 kg bánh mì đen. Bánh mì đen, cá trích và nước lạnh đối với chúng tôi là cả niềm mơ uớc mà cuối cùng đã tới.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kushnar-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kushnar-2.jpg.html)
Đi chơi Hà Nội trong những giờ nghỉ hiếm hoi. Bên phải là L.F.Kushnar, năm 1966.

Quà được trao ngày 31 tháng 12 hôm trước Năm Mới. Năm Mới, các bạn Việt Nam tại PKT binh chủng TLPK tổ chức cho chúng tôi một vũ hội đón năm mới. Thay cho cây thông là cây đào trang điểm những trái đào thật lẫn trái đào trang trí. Vũ hội diễn ra vui vẻ, có biểu diễn của các nghệ sĩ, có pháo bông, sau đó gần sáng chúng tôi ra công viên Hà Nội dạo chơi, bởi vì trước buổi sáng khi trời mới hửng lên một chút vẫn có thể nghỉ ngơi chút ít tránh cái nóng.  

Công việc hàng ngày lại tiếp tục trôi đi, các cuộc không kích của máy bay, các trận đánh, các buổi tập tại các trung đoàn, các trung tâm huấn luyện, theo các tổ hợp TLPK mới đến - người ta thành lập thêm các trung đoàn mới. Đến cuối kỳ công tác chúng tôi đã thành lập được 4 trung đoàn TLPK. Trung đoàn thứ 4 - trung đoàn TLPK 274 dưới sự chỉ huy của đại tá V.V.Fedorov, ngày 29 tháng 4 năm 1966, ngày chúng tôi trở về, đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 1000 trên bầu trời tỉnh Bắc Thái.

Trong thời gian từ 30 tháng 4 năm 1965 đến 30 tháng 4 năm 1966, binh chủng TLPK QDNDVN, được đoàn chuyên gia quân sự Soviet đầu tiên xây dựng, đã hạ được 603 máy bay Mỹ. Suốt những năm chiến tranh đây là số lượng máy bay Mỹ bị bắn rơi nhiều nhất bởi LLTLPK. Chúng tôi có những trường hợp, trong đó một tiểu đoàn TLPK bằng một quả đạn đã bắn hạ địch như sau: 2 máy bay có 5 trường hợp, 3 máy bay có 1 trường hợp.

Tôi còn nhớ một mảnh đời thời đó. Vào đầu tháng 4 năm 1966, một ủy ban đại diện đến Việt Nam, đoàn do phó tư lệnh bộ đội TLPK trung tướng S.F.Vikhor dẫn đầu. Nhiệm vụ của ủy ban chủ yếu là nghiên cứu các hoạt động chiến đấu của binh chủng TLPK mới thành lập của QDNDVN, phân tích kết quả xạ kích, các nguyên nhân thất bại, sự khó khăn trong cuộc đấu tranh chống nhiễu, độ tin cậy trong khai thác của khí tài. Đồng thời, trung tướng quan tâm đến các điều kiện sống hàng ngày, điều kiện đảm bảo cho đoàn chuyên gia quân sự Soviet. Các thành viên ủy ban đi thăm các trung tâm huấn luyện, thăm một loạt các tiểu đoàn. Họ có nhiều buổi trò chuyện với kĩ sư trưởng của các trung đoàn, đặc biệt là trao đổi với các trung đoàn trưởng và tiểu đoàn trưởng. Nhưng được gọi nhiều nhất là tôi, vì thời gian này đại tá Dzyza đi nghỉ phép, tôi phải báo cáo thay cho cả ông và cho bản thân tôi. Cùng với các công việc hàng ngày còn phải viết báo cáo theo yêu cầu của S.F.Vikhor về một loạt các vấn đề mà ông liệt kê ra. Ông thông báo cho tôi 2 tin: chúc mừng vì được nhận huân chương Cờ Đỏ - do thành tích tổ chức PKT BC TLPK QDNDVN, vì các thành công trong chiến đấu, và chúc mừng về việc được bổ nhiệm làm kĩ sư trưởng quân đoàn PK 19 (thành phố Chelyabinsk). Huân chương thì ông nói không mang theo vì tháng tư cậu sẽ được về nhà. Đề nghị của đại tá đoàn trưởng về việc giữ tôi lại làm thêm một nhiệm kỳ thứ hai nữa không được chấp thuận, vì ở quân đoàn đã 3 tháng nay không có kĩ sư trưởng, và còn vì công tác ở đây đã nóng bỏng lắm rồi. Vậy nên, trung tướng tư lệnh BC TLPK nói, cậu hãy chuẩn bị sẵn sàng mà bay về.

Ủy ban đã về nước, nhóm chúng tôi kết thúc công việc của mình với đội ngũ quân nhân PKT BC TLPK QDNDVN. Trước khi bay đi, bộ chỉ huy QDNDVN và đại diện sứ quán đã tập hợp chúng tôi lại, cám ơn vì sự phục vụ xuất sắc, trao tặng mọi người huy chương Hữu Nghị và bằng chứng nhận của thủ tướng VNDCCH, chúc thượng lộ bình an.

Chúng tôi bay ngày 30 tháng 4 và mồng 1 tháng 5 đã có mặt ở nhà, bởi vì chúng tôi bay bằng chuyến bay đặc biệt, chuyến bay này nhanh chóng đưa chúng tôi về nhà qua vài chặng đỗ để bơm dầu bổ sung. Tháng 5 với niềm vui lớn được gặp những người thân, gặp lại gia đình yêu quý.

Thành phố Kharkov, năm 2007.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Sáu, 2014, 10:05:38 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Konkin.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Konkin.jpg.html)

Đại tá Konkin Viktor Konstantinovitch

Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1928 tại thành phố Bodaibo nước CH XHCNXV tưh trị Yakutia;
1944 - 1947: trường chuyên nghiệp pháo binh, học viên;
1947 - 1950: trường PPK Tomsk, học viên;
1950 - 1959: quân chủng PK, trung đội trưởng, chủ nhiệm huấn luyện thể chất, khẩu đội trưởng trung đoàn PPK;
1959 - 1963: học viện chỉ huy quân sự QCPK (thành phố Kalinin), học viên bổ túc;
1953 - 1969: quân chủng PK, tiểu đoàn trưởng TLPK. trung đoàn phó TLPK;
Từ tháng 2 năm 1969 đến tháng 1 năm 1970: trưởng nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 QDNDVN;
1970 - 1974: quân chủng PK, trung đoàn trưởng TLPK;
1974 - 1980: học viện Bách Khoa Kharkov, phó trưởng khoa quân sự;
1980 - chuyển ngạch dự bị;
1980 - 1989: học viện hàm thụ Bách Khoa Ukraina (thành phố Kharkov), kĩ sư trưởng;
Được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ, huân chương "Chiến Công" hạng 3 của Việt Nam, nhiều huy chương, trong đó có huy chương "Hữu Nghị" của Việt Nam, huy chương "Đoàn Kết" của Tiệp Khắc.
Hiện sống tại Kharkov.


MỘT QUẢ ĐẠN - MỘT MÁY BAY

Năm 1968, tháng 8, ngày chủ nhật, mọi người tập hợp kỉ niệm ngày tôi tròn 40 tuổi. Mời khách dự lúc 14 giờ, trải bàn ăn, bày biện...bỗng gần 12 giờ liên lạc viên từ ban tham mưu trung đoàn chạy tới thông báo tôi được lệnh có mặt tại ban tham mưu trung đoàn với quân phục đầy đủ, nhận vũ khí cá nhân, tới Lvov, tại đó sẽ nhận vé máy bay đi ngay Kiev.

Vậy là thay cho chiếc bàn tiệc ngày sinh nhật, tôi có mặt tại sân bay quân sự tỉnh Kiev, chờ tôi tại đây là đội ngũ cán bộ lữ đoàn TLPK mới thành lập. Sau khi bốc khí tài và toàn bộ quân nhân lên 6 chiếc An-12, tư lệnh tập đoàn quân PK thượng tướng Anh hùng Liên Xô Aleksandr Ivanovitch Pokryshkin. thông báo người ta điều động chúng tôi đến thành phố Ostrova nước CH Tiệp Khắc để giải quyết nhiệm vụ đặc biệt.

Tháng 11 năm 1968 lữ đoàn trở lại Tổ quốc và giải thể, tôi được cho đi phép. Kết thúc kỳ phép, người ta gọi tôi đến Hội đồng Quân sự TDQ PK, xem xét vấn đề phái tôi đi công tác nước VNDCCH với cương vị trưởng nhóm chuyên gia quân sự tại trung đoàn TLPK QDNDVN.

Việc chuẩn bị nhóm chuyên gia này diễn ra tại các phòng ban của Bộ TTM QD Liên Xô. Ở đây tôi làm quen lần đầu với các sĩ quan thuộc nhóm chúng tôi: trưởng đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu (SRtS), sĩ quan điều khiển, các kĩ thuật viên toàn bộ các hệ thống đài điều khiển SNR, kĩ sư thiết bị phóng, trưởng trạm điện diesel, sĩ quan ban quân khí trung đoàn và bác sĩ.

Tại Moskva người ta giới thiệu cho tôi làm quen với tình hình quân sự ở VNDCCH, điều kiện sống sắp tới, thay trang phục dân sự và phái đi VNDCCH trên các máy bay quân sự.

Chuyến bay của chúng tôi khởi hành ngày 7 tháng 2 năm 1969 là chuyến bay cuối cùng được phép qua không phận nước CH Nhân dân TH. Ở sân bay Bắc Kinh hai người lính cầm súng đón và đi kèm chúng tôi. Điều đó giống hệt một cuộc bắt giữ không tuyên bố, bởi vì chúng tôi không được phép tách nhóm, thậm chí đi toalet cũng có một người lính cầm súng đi theo. Khi bay từ Bắc Kinh đến thành phố giáp giới gần nhất với VNDCCH, những người lính vũ trang kèm sát chúng tôi, họ hát bài hát Mao Trạch Đông bằng một thứ tiếng Nga trọ trẹ.

Tại Nam Kinh lần đầu tiên chúng tôi được nếm món ăn Trung quốc. Tất cả ngồi sau chiếc bàn tròn, mỗi chiếc đĩa được đặt ở giữa bàn. Trong khi chúng tôi đang còn tưởng tượng, có lấy hay không lấy miếng ăn trên chiếc đĩa vừa mang đến, nó đã biến mất và một chiếc đĩa khác được thế vào chỗ đó. Cứ như vậy chúng tôi rời khỏi bàn ăn mà vẫn đói.

Cảng hàng không Hà Nội đón chúng tôi bằng những chiếc hố bom trên đường băng, những tòa nhà bị phá hủy, còn khi đi xe về khách sạn ta thấy về phía rãnh nước hai bên đường những chiếc ô tô bị phá hủy. Hà Nội là một thành phố tiền duyên, thường xuyên nghe tiếng còi báo động máy bay Mỹ không kích.

Khi ở trong lãnh địa sứ quán Liên Xô tại VNDCCH chúng tôi thuộc quyền các nhân viên sứ quán và các sĩ quan TLPK. Đại sứ Liên Xô Ilya Sergheevitch phát biểu trước chúng tôi. chúng tôi được giới thiệu tỉ mỉ về tình hình chính trị tại khu vực này, được thông tin về sự trợ giúp kinh tế và quân sự từ phía Liên Xô và CHND TH. Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet cho BC TLPK thiếu tướng Stuchilov Aleksandr Ivanovitch đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp đỡ các chiến sĩ Việt Nam trong công tác huấn luyện và sử dụng đúng đắn tổ hợp TLPK.

Chúng tôi được tạo cơ hội tham gia Lễ mừng Năm Mới theo lịch phương đông. Nhân dịp này tư lệnh PKKQ QDNDVN tổ chức tiệc tiếp khách. Mọi người được bố trí đứng quanh những chiếc bàn bày biện trọng thể. Sau những đợt nâng cốc chúc mừng chính thức, tất cả được mời sang gian chiếu phim nơi cho phép được hút thuốc. Sau buổi tiếp tân tôi được biết món nhắm đắt nhất và ngon nhất mừng năm mới được làm từ thịt cầy. Vậy là lần đầu tiên chúng tôi được nếm món bánh rán nhân thịt cầy.

Năm mới tại Việt Nam - ngày lễ lớn nhất. Trong ngày này mọi người đều gắng về với quê nhà. Tại Hà Nội ta không hiếm gặp bức tranh sau: những người đạp xe đạp đi trên đường phố (thời đó là dạng giao thông duy nhất) và họ chở theo trên pooc-ba-ga đằng sau xe những chiếc lồng trong đó có nhốt chó.  

Kết thúc những buổi huấn thị ở sứ quán và khu "B" người ta đưa chúng tôi đến nơi ở cố định, nơi chúng tôi sẽ phải sống ở đó gần một năm. Nhà ở của chúng tôi như thế nào và nó nằm ở đâu? "Nhà" của chúng tôi được xây dựng đặc biệt ở cách 12 km về phía nam Hà Nội trên đất một ngôi chùa. "Nhà" - giống một nhà chứa cỏ, làm bằng tre, nền đất sét đắp và mái lợp lá chuối. Trong nhà người ta đặt cho mỗi người một chiếc giường gỗ có màn chống muỗi. Công trình tương tự có ở tất cả các tiểu đoàn TLPK.  

Nhóm được sự chăm nom của một tổ phục vụ gồm 3 phiên dịch viên, 2 lái xe, một đầu bếp. Tập thể nhỏ này nằm dưới sự chỉ huy của 1 thiếu úy 37 tuổi tên là Liên. Tiền ăn hàng tháng chúng tôi trả là 210 đồng (109 rúp theo tỷ giá thời bấy giờ). Đồ ăn chủ yếu mua tại cửa hàng của sứ quán. Với các nhân viên tổ phục vụ ngay từ ngày đầu tiên chúng tôi đã thiết lập được mối quan hệ rất nồng ấm hữu nghị.

Ngày hôm sau trung đoàn trưởng trung đoàn TLPK 263 thiếu tá Tạ Lộc đến chỗ chúng tôi và mời đi thăm SCH trung đoàn tại đó chúng toi làm quen với các sĩ quan Việt Nam. Qua họ chúng tôi biết trung đoàn thành lập năm 1967 và đã qua đào tạo tại Liên Xô. Tháng 2 năm 1968 mọt phần sĩ quan chiến sĩ được điều động sang các trung đoàn khác, thế vào đó là số quân bổ sung mới. Trong năm 1968 trung đoàn nổ súng 16 lần, phóng 24 đạn mà không trúng mục tiêu. nhóm chuyên gia quân sự Soviet làm việc tại trung đoàn trước khi chúng tôi đến đã trở về Liên Xô, bị ức chế về tinh thần rất mạnh.

Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho chúng tôi - minh oan cho khí tài của chúng ta trước các chiến sĩ Việt Nam. Để làm điều này trước tiên chúng tôi kiểm tra tình trạng khí tài ở các tiểu đoàn TLPK. Chuyến thị sát đầu tiên tại một tiểu đoàn TLPK khẳng định sự phỏng đoán của chúng tôi - khí tài không ở trong tình trạng sẵn sàng sử dụng để chiến đấu. Chúng tôi tiếp tục đổ mồ hôi cần mẫn đưa khí tài về trạng thái đúng đắn cần phải có, hướng sự quan tâm của các sĩ quan Việt Nam đặc biệt tập trung vào các tham số xác định tính sẵn sàng chiến đấu. chúng tôi không rời khỏi các tiểu đoàn chừng nào mà toàn bộ các tổ hợp chưa đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật. Thỉnh thoảng phải ngủ đêm ở dưới các tiểu đoàn. Trường hợp này cần thuyết phục các sĩ quan Việt Nam và các phiên dịch viên về sự cần thiết hoàn thành công việc. Chúng tôi nhận thức rất rõ ràng rằng, mỗi giờ không sẵn sàng của một tiểu đoàn cụ thể sẽ làm giảm sự SSCD của bản thân trung đoàn và toàn bộ hệ thống PK VNDCCH.

Dần dần khí tài của các tiểu đoàn đã được điều chỉnh về dạng thích hợp trên tất cả các tham số. Kết thúc công tác trên tôi cùng kĩ sư trưởng nhóm chúng tôi thiếu tá V.I.Korolev báo cáo kết quả và đề xuất lên trung đoàn trưởng thiếu tá Tạ Lộc và thống nhất vấn đề tiến hành các giờ tập huấn bổ sung cho các sĩ quan dưới các tiểu đoàn về sử dụng khí tài trong chiến đấu. Ngoài việc chuẩn bị khí tài, còn nảy sinh vấn đề sử dụng chúng đúng đắn khi phóng đạn. Để làm điều đó tôi xin trung đoàn trưởng cho xem các tài liệu về các lần phóng đạn năm 1968.

Sau khi nhận được những thông tin cần thiết và phân tích chúng, tôi rút ra kết luận đạn phóng trong những điều kiện như vậy không thể nào trúng mục tiêu. Các sai lầm thô thiển chủ yếu như sau:
- sự không tương thích trong định hướng giữa cabin U và bệ phóng;
- đạn phóng lên mục tiêu đang bay ở các tham số giới hạn, có nghĩa là ở các mức chuyển vị góc rất lớn;
- đạn phóng vào đối tượng đang đi ra khỏi vùng tiêu diệt mục tiêu.

Sau khi phân tích xong tình trạng xạ kích, theo yêu cầu của tôi, trung đoàn trưởng tập hợp các tiểu đoàn trưởng và các sĩ quan điều khiển, trong cuộc họp tôi xem xét từng lần phóng đạn có phân tích nguyên nhân không thành công.

Trước sự hài lòng và vui vẻ của các chiên sĩ Việt Nam, sự cộng tác chung của chúng tôi đã tỏ ra không uổng phí: ngày 6 tháng 4 năm 1969 báo "Pravda" thông báo tại VNDCCH một máy bay Mỹ đã bị hạ gần Hà Nội.

Ngày 5 tháng 4 năm 1969 từ SCH trung đoàn người ta thông báo cho chúng tôi về chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi. Nhóm nhỏ chúng tôi lên xe xuống tiểu đoàn, xác định tất cả các số liệu về xạ kích (máy bay bị hạ bằng một quả đạn) và sau một giờ thì chúng tôi xem được các mảnh xác của chiếc máy bay này. Vậy là bảng thống kê các máy bay bị bắn rơi đã được khai mở và cùng với nó là việc trả lại sự tin tưởng vào tính xác tín trong hoạt động của tổ hợp TLPK.

Ngày 27 tháng 4 tiểu đoàn 56 vừa bắn rơi 1 máy bay ngày 5 tháng 4 lại khẳng định khả năng tác chiến của mình và thể hiện sự khéo léo trong sử dụng khí tài chiến đấu - bắn rơi chiếc máy bay thứ hai, tiêu thụ đúng một quả đạn. Mảnh xác máy bay rơi vào khu dân cư may mà không có ai bị thương. Toàn bộ nhóm chúng tôi một giờ sau đã có mặt ở nơi máy bay rơi, chúng tôi thấy những khuôn mặt vui mừng của người dân địa phương, họ chào mừng chúng tôi bằng cách hô: "Liên Xô! Liên Xô!"

Vài ngày sau một tiểu đoàn phóng đạn vào một máy bay Mỹ, do sai sót đạn rơi xuống nhà dân. Đạn nổ làm 2 người chết và 4 người bị thương. Bộ chỉ huy QC PKKQ điều tra trường hợp này. Kết luận - lỗi không phải của đội ngũ quân nhân.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Vanukov28.jpg)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Vanukov29.jpg)
Thiếp chúc mừng Năm Mới 1969 của Hồ Chủ tịch tặng các chuyên gia QS Soviet, ảnh của chuyên gia Vaniukov Mikhail Alekseevich.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Sáu, 2014, 01:03:56 PM
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Konkin-3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Konkin-3.jpg.html)
Sau khi kiểm tra SSCD một tiểu đoàn, các khuôn mặt đều vui vẻ. Ở giữa là trưởng nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 V.K.Konkin, tháng 10 năm 1969.

Ngày 11 tháng 5 năm 1969, vẫn còn gần với Ngày Chiến thắng, tập thể tiểu đoàn 43 lại chuyển lên một món quà nữa - khai mở bảng thống kê máy bay bị bắn rơi của mình. Thêm một tiểu đoàn lấy lại được lòng tự tin vào sức lực bản thân và khẳng định độ tin cậy của tổ hợp TLPK của chúng ta. Chiếc máy bay bị hạ cũng bằng đúng 1 quả đạn, dù quy tắc xạ kích dự kiến phóng 3 đạn.

Tháng 8 là tháng đạt kết quả bắn rơi máy bay tốt nhất.
Ngày 10 tháng 8, một kíp chiến đâu tiểu đoàn 44 mở bảng vàng chiến công bắn rơi máy bay đâu tiên của mình trong năm 1969, khi họ hạ một máy bay trên độ cao 400 m bằng 2 quả đạn, cả 2 quả đều nổ trúng mục tiêu.  

Ngày 14 tháng 8 tập thể quân nhân tiểu đoàn 43 lần thứ hai tiếp tục khẳng định khả năng chiến đấu của mình và sự khéo léo của kíp chiến đấu. Hồi 4 giờ 36 phút bằng 1 quả đạn họ hạ một máy bay. Thời gian buổi sáng sớm cũng không làm cho tập thể các chiến binh thiện nghệ của tiểu đoàn bị bất ngờ.

Ngày 27 tháng 8 các chiến sĩ tiểu đoàn TLPK 56 của trung đoàn lần thứ ba khẳng định công tác tư vấn chính xác và có sự hiệp đồng chặt chẽ của các sĩ quan chuyên gia Liên Xô đã mang đến hiệu quả cao. Tiêu thụ một quả đạn, tiểu đoàn bắn rơi một máy bay Mỹ.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Vanukov25.jpg)
Các cựu chuyên gia QS Soviet (từ trái sang phải): M.A.Vaniukov, S.A.Variukhin, V.K.Konkin tại quảng trường Tòa Thị chính Hà Nội, ngày 02 tháng 1 năm 2009.

Tôi muốn nhấn mạnh một điểm đặc thù. Khi tiến hành các giờ phân tích xạ kích, trong trò chuyện với các tiểu đoàn trưởng tôi luôn nhắc họ về quy tắc bắn đã dự trù tiêu thụ đạn trong các điều kiện khác nhau. Các tiểu đoàn trưởng đồng ý với ý kiến của tôi, đồng thời họ cũng nại lý do dự trữ đạn của họ không đủ để đáp ứng yêu cầu của quy tắc xạ kích.

Tôi muốn dừng lại chi tiết hơn ở chiếc máy bay bị hạ sau cùng. Máy bay bị bắn rơi lúc 7 giờ sáng, 9 giờ thì trung đoàn trưởng Tạ Lộc đến chỗ chúng tôi với một lẵng hoa hồng. Theo lời trung đoàn trưởng lẳng hoa này do Chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh gửi tặng - phần thưởng lớn nhất của vị Chủ tịch nước. Chúng tôi thật vui khi được nhận một phần thưởng như thế. Cá nhân tôi càng vui hơn khi được nghe từ trung đoàn trưởng Tạ Lộc nói rằng chiếc máy bay vừa bị bắn rơi là món quà mừng sinh nhật tôi. Ngày hôm sau - 28 tháng 8, là ngày tôi tròn 41 tuổi.

Tôi không thể hình dung chỉ vài ngày sau, ngày 3 tháng 9 năm 1969 hồi 9 giờ 47 phút Bác Hồ huyền thoại sẽ ra đi rời khỏi cõi trần, nhân dân kính yêu gọi Người như vậy - Bác Hồ. Chủ nhiệm chính trị trung đoàn đại úy Tiềm báo tin buồn với chúng tôi. Nhân danh nhóm tôi chia buồn với ban chỉ huy và đội ngũ quân nhân trung đoàn về tổn thất lớn lao này. Lúc 13 giờ ngày hôm ấy tổ trưởng phục vụ QC PKKQ cũng đến chỗ chúng tôi và chúng tôi chia buồn cùng anh ấy về việc Hồ Chí Minh từ trần.

Ngày hôm sau toàn thể nhóm chúng tôi đáp xe đến SCH trung đoàn trực tiếp chia buồn với BCH trung đoàn về việc vị Chủ tịch nước kính yêu từ trần.

Ngày 7 tháng 9 toàn bộ các chuyên gia QS Soviet trong đó có nhóm chúng tôi tham gia lễ tang vị Chủ tịch. Quảng trường trước cửa Nhà QH ở Hà Nội phủ một màu tang và chật cứng người. Thi thể được tẩm ướp và đặt trong lồng kính của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong Nhà QH. Đa số nhân dân đi qua quảng trường cạnh bức chân dung khổng lồ của Hồ Chí Minh, chỉ có các đoàn đại biểu đi quanh quan tài kính. Cá nhân tôi có vinh dự đứng trong hàng danh dự túc trực cạnh quan tài, trong đó dưới lớp kính có đặt đôi "dép" của Chủ tịch. "Dép" - đó là thứ cắt ra từ lốp cao su ô tô, bện kiểu lưới có quai đeo. Cả đất nước đi những đôi dép như vậy kể cả vị Chủ tịch nước.

Ngày hôm sau toàn nhóm chuyên gia QS Soviet tại trung đoàn đi xe về Hà Nội ghi sổ tang tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa từ trần.

Đoàn đại biểu chính thức do Chủ tịch HDBT A.N.Kosyghin dẫn đầu bay đến dự lễ tang chỉ một ngày. Chúng tôi, các chuyên gia QS Soviet dự tính sẽ được gặp A.N.Kosyghin nhưng....lãnh đạo không tìm được thời gian thích hợp.

Trước 7 tháng 9 ban lãnh đạo Đoàn CGQS Soviet tại VNDCCH đã tiến hành tổng kết. Nhóm chuyên gia trung đoàn của chúng tôi được bầu là tập thể xuất sắc nhất. Trưởng Đoàn chuyên gia QS Soviet tại VNDCCH trung tướng Stolnikov Boris Aleksandrovich thông báo nhóm chúng tôi được tặng cờ luân lưu và bằng danh dự. Tại cuộc họp này đại sứ Liên Xô tại VNDCCH I.S.Scherbakov thông báo nhóm của trung tá Konkin được ghi tên trong Sổ Vàng sứ quán và được tặng bằng danh dự của sứ quán. Tấm bằng chứng nhận này tôi còn giứ đến tận bây giờ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1970 BCH QC PKKQ QDNDVN tổ chức buổi tiếp khách nhân dịp hai nhóm chuyên gia QS chúng tôi về nước. Mỗi cá nhân chuyên gia đều được tặng huy chương của chính phủ VNDCCH, bằng cảm ơn và quà lưu niệm. Tôi được tặng thưởng huân chương "Chiến Công" hạng 3.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Konkin-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Konkin-1.jpg.html)
Xem xét món "quà lưu niệm" - trái bom bi kiểu "quả dứa". V.K.Konkin, năm 1969.

Chính phủ Soviet ghi nhận chiến tích của chúng tôi tại VNDCCH. Thiếu tá Korolev Vadim Ivanovich, đại úy Rudenko Aleksandr Aleksandrovich, các thượng úy: Alenov Mikhail Borisovich, Badianov Nikolai Vasilevich, Gordienko Aleksandr Nikolaevich, Krivadetchenkov Ivan Nikiforovich, Tretyakov Viktor Vasilevich, trung úy Bundzyak Andrei Andreyevich, thượng sĩ chuyên nghiệp Sokur Vasily Aleksandrovich - tất cả được đề nghị nhận tặng thưởng của chính phủ huân chương Sao Đỏ. Tôi được đề nghị tặng huân chương Cờ Đỏ, chiếc huân chương tôi nhận được năm 1970.

Thành phố Kharkov năm 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Sáu, 2014, 04:38:57 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skoriak-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skoriak-1.jpg.html)

Trung tá Skoriak Valery Vasilevich

Sinh ngày 7 tháng 5 năm 1941 tại thành phố Lida tỉnh Grodno nước CHXHCNXV Belarus;
Năm 1961 tốt nghiệp trường quân sự Odessa;
Từ 1961 – 1969: trung đội trưởng trung đội bệ phóng S-75;
Năm 1969 tốt nghiệp Học viện kỹ thuật VTDT Pháo binh. thành phố Kharkov;
Từ 1969 – 1972: kỹ sư ban vũ khí tên lửa;
Từ 30.01 – 20.12.1970: công tác biệt phái tại Việt Nam;
Từ 1972 – 1975: tiểu đoàn phó kỹ thuật tiểu đoàn TLPK S-200;
Từ 1975 – 1977: chủ nhiệm ngành lữ đoàn cơ động;
Từ 1977 – 1987: đại diện quân sự, phó trưởng đoàn đại biểu quân sự;
1979: công tác biệt phái tại Lybia;
Rời quân ngũ từ 1987.
Được tặng thưởng nhiều huy chương do quá trình phục vụ quân đội và huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.



VIỆT NAM – TÌNH YÊU CỦA TÔI, NỖI ĐAU CỦA TÔI

Việt Nam – quê hương thứ hai của tôi. Thực tế này diễn ra ngoài ý muốn chủ quan của tôi.
Tại Việt nam tôi thực hiện nhiệm vụ của BCH trợ giúp quốc tế cho các chiến sĩ QĐND Việt Nam, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1970, còn từ 2003 đến 2007 trong các chuyến đi riêng tôi đã 4 lần cùng 1 lần trong thành phần đoàn đại biểu Hội Hữu nghị Sô-Việt chi hội Sverdlovs, có mặt ở Việt Nam.

Tôi đã có mặt trong những chuyến du lịch ở nhiều đất nước khác nhau: Phần Lan. Đức, Hung, Tiệp, năm 1979 thi hành nhiệm vụ quốc tế tại Lybia. Ấn tượng rất nhiều nhưng Việt Nam là đất nước duy nhất mà đến đó tôi như được về với quê hương ruột thịt của mình. Sau khi thăm đất nước này 6 lần, tôi vẫn sẵn sàng bay đến Việt Nam vì tôi thấy ở đấy như ở trong ngôi nhà thân thiết của cha mẹ mình (như nhà tôi ở Ukraina).

Tôi đã tìm hiểu tại sao ở mình lại nảy sinh một tình cảm như thế.

Thứ nhất, thiên nhiên ở đây rất diễm lệ, trên cạn cũng như trên biển đều tuyệt đẹp. Tất cả những điều đó không mô tả được mà cần phải thấy tận mắt. Mỗi lần ở Việt Nam tôi lại nhận ra một cái gì đó mới mẻ. thú vị của đất nước này. Thứ hai, trên mảnh đất Việt Nam những người bình thường đều nhớ “Liên Xô” – đó là những chuyên gia quân sự Soviet, đến trợ giúp trong những năm chiến tranh khó khăn ác liệt (1960 – 1975). Giao tiếp với những người Việt nam yêu lao động, bạn sẽ hiểu sự chân thành và tốt bụng của họ.

Sự làm quen với đất nước tuyệt vời đó đã bắt đầu như thế nào.

Năm 1969 tôi tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Vô tuyến điện tử Pháo binh tại Kharkov. Sau một số chậm trễ trong việc đề xuất tôi vào chức vụ theo chuyên ngành đào tạo ở học viện, dù sao tôi cũng được bổ nhiệm vào cương vị kỹ sư thiết bị phóng thuộc ban quân khí đơn vị cũ.

Đơn vị tôi đóng quân cách Sverdlovsk 15 km, đã trải qua chặng đường chiến đấu vinh quang: Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, tham gia chiến tranh Triều Tiên thập kỷ 50, năm 1960 bắn rơi chiếc máy bay-do thám của phi công Powers. Tôi bắt đầu phục vụ ở đơn vị này từ năm 1963, Ban chỉ huy đơn vị gồm - các đại tá E.E.Poluektov, L.S.Padukov, N,M,Pozdnyakov, I,S,Repin - là các sĩ quan cựu chiến binh tiền tuyến có khả năng đòi hỏi và chăm lo cho các sĩ quan. Mỗi sĩ quan nếu xứng đáng đưa lên cương vị cao hơn đều được đề bạt kịp thời. Sau khi lứa sĩ quan chỉ huy cũ nghỉ, một số truyền thống tốt đẹp bị quên lãng. Ban quân khí của đơn vị là một tập thể kĩ sư hạng cao, và tôi có dịp hoàn thiện kiến thức của mình về nhiều vấn đề.

Khi phái người đi công tác Việt Nam, ban cán bộ thường chọn sơ bộ hai ứng cử viên cho cùng một chức vụ để đảm bảo độ tin cậy - người chính và người thay thế. Tháng 12 năm 1969 tôi được chọn là người thay thế, Do bệnh tật của sĩ quan ứng cử viên chính, tôi trở thành người đi công tác.

Nói chung tôi có duyên với vai phụ, năm 1979 tôi cũng là người thay thế, song do một số nguyên nhân, tôi lại đi biệt phái Lybia thay cho sĩ quan ứng cử viên chính.

Tại HDQS TDQ PK 40, tướng I.M.Gurinov hỏi thời hạn thăng quân hàm của tôi đã qua chưa, tôi trả lời đã quá hạn. Tư lệnh TDQ có quyền phong quân hàm theo niên hạn cho các sĩ quan sơ cấp, vì vậy tôi đã đến Việt Nam với quân hàm đại úy. Tôi biết ơn tư lệnh về điều này.

Trong 10 ngày tháng 1 năm 1970 tôi trải qua đợt tập huấn ở một trong các phòng ban của BTTM. Bác sĩ hướng dẫn tôi không nên uống nước lạnh, để tránh phát ban cần tắm hai lần trong ngày. Tôi được tiêm chủng tránh viêm não, tác nhân truyền bệnh này ở Việt Nam là muỗi. Người ta nói với chúng tôi rằng đã có những sĩ quan đầu tiên vướng căn bệnh này, một đại tá, một thượng úy bị gửi về Liên bang trong trạng thái bị bệnh trầm trọng.

Không lâu trước chuyến đi, năm 1968, tôi sinh cháu gái Marina, nhưng tôi và vợ tôi đã phản ứng với chuyến công tác biệt phái này một cách bình tĩnh.

Thời điểm thú vị nhất, gắn với công tác chuẩn bị cho chuyến đi diễn ra vào tháng 1 năm 1970. Có 25 sĩ quan được cử đi cùng đợt với tôi. Người ta đưa chúng tôi đến một kho quân nhu nào đó, thay sang quần áo dân sự, mà trang phục quần áo và giày của tất cả đều giống hệt nhau cả về màu sắc lẫn kiểu may. Khi 26 sĩ quan mặc đồ mới, như những anh em sinh đôi xuất hiện tại phi trường Sheremechievo, điều đó gợi nên sự tò mò của những người xung quanh. Giữa cái lạnh giá 30 độ âm, tất cả đội những chiếc mũ, mặc những chiếc áo khoác giống hệt nhau, đứng cùng nhau, y hệt những tay thám tử trong các bộ phim trinh thám Mỹ.  

Chuyến bay theo hành trình Moskva-Dushanbe-Karachi-Calcutta-Vientiane-Hà Nội, thực hiện bằng chuyến bay thương mại trên máy bay Il-18 và kéo dài 22 tiếng đồng hồ. Khi tiếp đất ở Karachi (Pakistan), chúng tôi ra khỏi máy bay và ngửi thấy một mùi hoa lạ nào đó - kỳ hoa dị thảo các nước phương đông. Mùi hương đó cũng rất đặc trưng ở Việt Nam: đồ đạc đem từ đó về không mất mùi sau cả vài tháng.

Khi đỗ ở Calcutta người ta cho chúng tôi ăn ở phi trường rất tốt. Khi nhìn những người Ấn đi ngang qua sân bay, chúng tôi hiểu nhiều người ở đây rất nghèo khổ mà hầu như ai cũng tươi cười, chắc chắn họ là những người lạc quan.

Khi bay tới Hà Nội thời tiết ở đây rất đẹp, nhiệt độ là 25 độ dương. Lập tức người ta chở chúng tôi về sứ quán, sau đó về khách sạn, khu vực làng Kim Liên.

Vào tháng 1 năm 1970, trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet là tướng B.A.Stolnikov, trưởng đoàn chuyên gia về TLPK bên cạnh QC PKKQ là đại tá V.A.Gude, phó trưởng đoàn chính trị là đại tá A.T.Trombatchev.

Tôi được gửi đến ban kĩ thuật-tên lửa bên cạnh BCH QC PKKQ. Trưởng nhóm là CCB Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đại tá Dyurich. Sau này người lãnh đạo nhóm là trung tá V.V.Smanenko. Nhiệm vụ của tôi là kiểm tra mức sẵn sàng chiến đấu của thiết bị phóng của tổ hợp S-75.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skoriak-6.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skoriak-6.jpg.html)
Nhóm kĩ sư tên lửa đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại QC PKKQ. Hàng thứ 2 từ phải sang, người thứ 2 là đại tá Duyrich, người thứ 3 từ phải sang là V.V.Skoriak. Hà Nội, 23 tháng 2 năm 1970.

Những nhiệm vụ cơ bản của nhóm kĩ thuật QC PKKQ:
- kiểm tra tình trạng kĩ thuật và mức độ SSCD của các tiểu đoàn kĩ thuật;
- giám sát công việc và chất lượng sửa chữa khí tài và trang bị vũ khí của xưởng sửa chữa A-31;
- loại trừ những hư hỏng phức tạp trên khí tài tác chiến;
- trợ giúp hoàn thiện huấn luyện các kíp chiến đấu;
- tiến hành các tiết tập huấn với các chuyên gia Việt Nam thuộc BTM PKKQ, cũng như các chuyên gia quân sự Soviet tại cấp trung đoàn về các đặc điểm của những cải tiến đã thực thi và khai thác khí tài trong các điều kiện khí hậu nóng ẩm;
- giúp đỡ khôi phục các tổ hợp TLPK bị hư hại trong thời gian máy bay Mỹ ném bom;
- phối hợp cùng chuyên gia Việt Nam thuộc PKT QC PKKQ tiến hành đánh giá xạ kích, phân tích lý do rơi đạn và các hoạt động khác, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả các tổ hợp TLPK.

Tập thể nhóm kỹ sư tên lửa được tuyển chọn từ các phân đội PK ở khắp mọi miền Liên bang Soviet. Các ứng viên đi làm nhiệm vụ trợ giúp QTVS cho Việt Nam được lựa chọn kỹ lưỡng nhưng cũng có trường hợp nhầm lẫn. Trong tập thể chúng tôi có một kĩ sư đến từ Irkutsk, hoạt động của anh ta không xứng đáng với danh hiệu sĩ quan, theo yêu cầu của ban kĩ thuật anh ta bị đuổi về Liên Xô trong 24 giờ. Tóm lại - đây là trường hợp duy nhất và trong các điều kiện chiến đấu không có bất cứ một quan hệ không hữu nghị nào.

Lãnh đạo nhóm và toàn thể BCH cấp trên đều cố gắng giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm đảm bảo những điều kiện tốt đẹp nhất để giải quyết nhiệm vụ chiến đấu.

Không phải tất cả các tiểu đoàn TLPK của QC PKKQ Việt Nam đều tin vào sự sẵn sàng xạ kích một trăm phần trăm của khí tài, còn một số tiểu đoàn TLPK đơn giản là không muốn chiến đấu. Nhiệm vụ của các chuyên gia QS Soviet nhóm kĩ thuật tại QC PKKQ quy về những điểm sau:
- phát hiện những khiếm khuyết trong công tác chuẩn bị khí tài tác chiến;
- giúp đỡ loại trừ các khiếm khuyết này;
- ra quyết định cuối cùng về sự sẵn sàng tiến hành hoạt động chiến đấu;

Thường xuyên kiểm tra SSCD - nghĩa là cuộc sống trên bốn bánh ô tô, những chuyến đi thường xuyên, phiên dịch viên và tổ phục vụ cũng đi theo cùng chúng tôi, cuối xe buyt chất chăn chiếu, đồ uống, nước trái cây "uống đi - tôi không muốn". Trên đường chúng tôi giải trí bằng trò "thằng ngố Tàu", một trò chơi bài giống kiểu bài đầm Preferans tính điểm ở Nga.

Các nhóm chuyên gia quân sự cấp trung đoàn của chúng ta tất nhiên đóng vai trò rất lớn, khi tình trạng trang bị khí tài ở mức tốt, cuộc kiểm tra của chúng tôi kéo dài không quá 3 giờ, và chúng tôi đưa ra kết luận về mức độ sẵn sàng xạ kích của tiểu đoàn.

Có những nhóm chuyên gia QS Soviet cấp trung đoàn không thể đạt được sự thông hiểu nhau minh bạch với BCH Việt nam, đôi lúc không do lỗi của họ. Nguyên nhân là việc tuyển chọn đội ngũ quân nhân tiểu đoàn thuần túy dân tộc Hoa, điều này gây khó khăn cho công việc và sự không mong muốn chiến đấu của một số phân đội.

Mỗi người trong nhóm kĩ sư tên lửa chúng tôi đều hiểu rất rõ về hệ thống của mình, những tham số nào cần phải kiểm tra thường xuyên, những tham số nào ổn định, những tham số nào vì lý do này hay lý do khác sẽ mang đặc điểm không ổn định. Vì vậy sau kết luận của chúng tôi về sự sẵn sàng của tiểu đoàn với các hoạt động chiến đấu, qua một hai ngày người ta gọi điện báo rằng tiểu đoàn không SSCD vì những tham số nào đấy vượt giới hạn, thì các chuyên gia chúng tôi ở Hà Nội có thể kết luận: đó là lỗi của khí tài hay lỗi của con người, người đó đưa dung sai của một tham số SSCD nào đó vượt quá mức, và thực tế đã có chuyện như vậy.  
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Sáu, 2014, 10:27:11 PM
Tại 1 tiểu đoàn (số hiệu tôi không còn nhớ) bố trí cách Hà Nội 70 km về phía đông- bắc có 1 trường hợp phóng đạn không tưởng, khi điện áp từ nguồn bên cạnh đánh thông vào khối thuốc phóng quả đạn tên lửa, và quả đạn phóng đi ở góc ngẩng 2-5 độ, Khi chúng tôi đến điều tra, thì mọi người đã rất kinh ngạc thấy BCH tỏ ra quan tâm không phải với sự cố phá hoại, mà là đạn tên lửa đã vượt quá các đặc tính kỹ-chiến thuật. Thường khi phóng đạn, khối động cơ chứa thuốc phóng sẽ cắt tầng rơi xuống ở cự ly dưới 5 km. Trường hợp này, đạn xuyên qua một bờ đất 3 mét, bật trở ra khỏi bệ phóng bên cạnh, rơi xuống đât ở cự ly 5,5 - 6 km.

Tham gia phân tích các trường hợp đạn rơi là trách nhiệm của chúng tôi. Tại tỉnh Thanh Hóa, ở một tiểu đoàn TLPK, người ta cho chúng tôi một câu hỏi, tại sao giới hạn xa của vùng diệt mục tiêu của đạn V-750 là 42 km, mà quả đạn sau khi phóng lại tìm thấy cách đó 120 km. Lại phải giải thích nguyên lý lái tàu lượn và các dòng không khí, chúng tôi chỉ ngạc nhiên trước vấn đề tại sao đạn không tự hủy. Không có chuyện gọi nhóm chúng tôi đến điều tra cụ thể về trường hợp này.

Các chính ủy đóng vai trò chủ chốt trong việc ra các quyết định quan trọng. Các cuộc họp toàn thể tại các tiểu đoàn Việt Nam đóng vai trò không kém phần ý nghĩa. Các cuộc họp toàn thể được gọi theo tiếng Việt là "phi bình", nghĩa là phê phán, một người lính thường có thể phê phán bất kỳ vị chỉ huy nào tại cuộc họp đó. Cuộc họp kéo dài không ít hơn 2 ngày, mỗi người phát biểu vài lần. Nghị quyết của cuộc họp là đạo luật với tất cả mọi người. Thỉnh thoảng chúng tôi đến đúng dịp cuộc họp đang diễn ra, họ nhã nhặn điều chúng tôi ngược về Hà Nội và nói: "Các anh đến làm gì, lẽ nào các anh không biết chúng tôi đang họp phi-bình?".

Tiếc thay, khái niệm giữ bí mật quân sự tại Việt Nam không tồn tại, quyển sách mà ở nước ta đóng dấu "mật" hoặc "tuyệt mật", nằm lẳng lặng trong một góc cabin đài điều khiển nào đó hoặc lăn lóc trong một gian nhà một tầng mà chẳng có ai bảo vệ nó. Tại Liên bang Soviet khi làm mất dẫu chỉ một trang trong sách mật, người sĩ quan sẽ bị đuổi khỏi quân đội hoặc tệ hơn thì ra tòa án binh.

Các giờ học về công tác chuẩn bị kĩ thuật được tiến hành đều đặn tại nơi ở của BCH QC PKKQ Việt Nam. Tôi tiến hành giờ tập huấn với "đồm trí" Hôm, người đã tốt nghiệp trường Bách Khoa Hà Nội, một con người tốt bụng. Tôi cùng anh mất khá nhiều thời gian nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm lên các nút riêng biệt của bệ phóng SM-63-II. Đã ban hành một số khuyến nghị về vấn đề này tại tiểu đoàn TLPK.

Xuất sắc nhất trong số các phiên dịch viên là Tịnh, một người rất hiểu biết và thiện tâm.

Các giờ tập huấn với các chuyên gia quân sự Soviet cấp trung đoàn là về các vấn đề sau:
- bản chất vật lý của các cải tiến khí tài;
- hư hỏng đặc trưng của các thiết bị điện tử trong điều kiện khí hậu nóng ẩm;
- nguyên tắc định hướng bệ phóng theo "phương pháp Việt nam" với sự trợ giúp của la bàn và máy ngắm hỗ trợ từ cabin "P";
- phân tích nguyên nhân rơi đạn;
- tổ hợp các biện pháp để nâng cao hiệu quả xạ kích.

Cần nói rằng hiệu quả hệ thống PK sẽ cao hơn nhiều nếu đánh trả đối phương trên đường không người ta sử dụng các hệ thống có mặt bằng khác nhau: tổ hợp TLPK S-75, S-125, máy bay, PPK và súng máy PK. Hiệu quả của chúng chỉ có được trong sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ.  

Cần nhấn mạnh rằng khí tài phải hoạt động ở khá xa ngoài giới hạn cho phép của đặc tính kỹ-chiến thuật. Độ ẩm của không khí biển là 90 - 100%, nhiệt độ của các khối điện tử của bệ phóng SM-63-II bị duy trì trong vòng 65 - 75 độ không dưới 6 tháng trong năm, những điều kiện khai thác như vậy làm giảm đáng kể trở kháng cách ly của các máy điện. Trên thiết bị phóng, các động cơ điện Mi-41, Mi-42, các bộ khuếch đại kiểu máy điện EMU-25Az, EMU-50Az bị hỏng chỉ sau 1,5 - 2 năm sử dụng. Rơ-le phân cực R-4 và khuếch đại U-68 cũng hư hỏng.

Các nút và các chi tiết được thay thế, dĩ nhiên sau khi nguyên nhân hư hỏng được tìm ra. Bộ khuếch đại U-68 bị thay thường xuyên mà người ta không hiểu nguyên nhân hư hỏng là do bộ khuếch đại kiểu máy điện không làm việc. Việc xây dựng các nút mới có độ tin cậy cao hơn thì không có thời gian.

Trong các điều kiện sử dụng khắc nghiệt, tổ hợp TLPK S-75 tỏ ra khá tin cậy, việc phải ngừng xạ kích do hư hỏng khí tài chiến đấu ít khi xảy ra.

Đã hai lần chúng tôi xuống xưởng sửa chữa A-31, nơi kiểm tra chất lượng sửa chữa khí tài chiến đấu bị trúng bom máy bay Mỹ.

Toàn bộ khí tài tham gia chiến đấu tại Việt Nam đều xuất phát từ Liên Xô: đó là súng máy, pháo, máy bay, xe tăng, vũ khí cá nhân, tổ hợp TLPK và những loại khác nữa. Có lần người phiên dịch trỏ cho tôi chiếc điện đài do Trung quốc cung cấp và nói: "Xem này -"Trumkok" (nghĩa là của Trung quốc). Tôi tháo cái mác ra và nói: "Bây giờ xem đi - "Liên Xô" nhé (nghĩa là đồ Soviet). Anh cười phá lên.

Trong đời sống thường nhật, thái độ của người Việt Nam đối với chúng tôi rất tốt, ngoại trừ hãn hữu một vài chỉ huy quân sự có tinh thần thân Trung quốc, không muốn thừa nhận phần trợ giúp lớn nhất là từ Liên bang Soviet. Quả thực, những sự kiện khét tiếng năm 1979 đã cho họ thấy ai mới là người bạn số 1 của họ.

Các phi công và lính PK Trung quốc không tỏ ra xuất sắc trong các tình huống chiến đấu, nhưng sau đó ở Hà Nội họ đi lại hiên ngang với "tình cảm hãnh diện về phẩm chất của bản thân", họ mặc những chiếc sơ-mi trắng, trên túi áo mỗi người có chân dung Mao Trạch Đông với ngọn đuốc hồng soi đường chỉ lối.

Thỉnh thoảng trong những phút yên tĩnh giữ được tại Hà Nội, chúng tôi đi xem những cuộc hòa nhạc chung Sô-Việt, tại đó tất cả các bài hát đều được hát lên bằng tiếng Nga và đều được tán thưởng vì sự trình diễn xuất sắc. Như thể trong một vài giờ đồng hồ ta được trở về Tổ quốc ở Liên bang Soviet.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skoriak-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skoriak-2.jpg.html)
Trước khi xuống trung đoàn TLPK QDND Việt Nam, đang đứng chân bảo vệ Hải Phòng, tháng 7 năm 1970.

Một lần chúng tôi đi xem ở nhà hát Nhạc-Vũ kịch. Chúng tôi được thấy cảnh tượng rất hoành tráng, có gì đó giống như kiểu ba-lê của chúng ta - các vũ công luân phiên trong những cảnh "câm", khi mà để thuyết minh chủ đề, hành động lặng đi trong vài phút và các diễn viên đứng bất động hoàn toàn. Trình độ nghệ thuật của họ đạt đến mức cực cao.

Ở đây có những ngày lễ lớn như sau: Năm Mới, Năm Mới theo lịch phương đông, ngày 23 tháng 2, ngày 1 tháng 5, ngày 7 tháng 11. Tại các buổi tối chiêu đãi gần như luôn có mặt: đại sứ Liên Xô tại VNDCCH I.S.Scherbakov, trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet tướng B.N.Stolnikov: các sĩ quan gọi ông là "bố" Stolnikov, tại các buổi tối tiếp tân ông luôn thích ở trung tâm mọi sự chú ý và đóng vai chủ trì bữa tiệc.  

Chúng tôi được tạo điều kiện 3 ngày nghỉ ngơi ở khu nghỉ mát Hạ Long, đó là những hòn đảo nhỏ trên biển, nước tinh khiết và những món ăn tuyệt vời từ cá. Dân chài lưới cả đời lênh đênh trên biển, chỉ thỉnh thoảng họ mới cặp vào các đảo nhỏ - mái nhà ruột thịt của họ.

Để mua hàng chúng tôi phải dạo "hiệu buôn sứ quán" ở Hà Nội, tại đó có đủ loại hàng hiếm: trứng cá đỏ và đen, tôm đóng hộp, cá tầm sao và cá chiên, rượu cô-nhắc Armenia. Tất nhiên toàn bộ những thứ đó chúng tôi chỉ mua trong dịp bày bàn tiệc ngày lễ.

Trong các ngày sinh nhật và ngày lễ, ban đầu chúng tôi tăng cường thêm loại đồ uống của Việt Nam "Lia Moi" (Lúa Mới). Vì trong thời 1970 chất lượng rượu còn tồi nên bắt đầu sinh ra chứng đau bao tử, chúng tôi phải chuyển sang dùng đồ xuất khẩu của mình là loại "Pshenitchnyi", sau này người ta chuyên chở đến những hòm cô-nhắc Armenia giá vừa phải như "Erevan" và "Yubileynyi". Không có ai lạm dụng, bản thân cái nóng 40 độ C đã là rơ-le hạn chế tự nhiên.

Tiền bạc cho các sĩ quan ở Việt Nam thấp hơn khá nhiều so với các cố vấn quân sự của chúng ta ở Cuba, Syria, Ai Cập, Algerie và các nước châu Phi khác. Ở những nơi đó một cố vấn quân sự sau một năm làm việc tại chỗ kiếm được tiền đủ tậu xe "Volga", còn các chuyên gia quân sự Soviet tại Việt Nam chỉ kiếm được nửa chiếc "Zaporogie".

Ham muốn tự nhiên của đàn ông là được giao tiếp với giới nữ, trong trường hợp với các cô gái Việt Nam thì sẽ không tìm được sự thỏa mãn, dù cả hai bên đều có mối quan tâm đến nhau. Các sĩ quan an ninh Việt Nam luôn giám sát đội ngũ nhân viên nữ phục vụ, và nếu xảy ra "Tai họa", lập tức "nữ tội phạm" được gửi ra bộ phận chiến đấu của quân dội ngay, còn anh chuyên gia quân sự chúng ta - về nhà, về Liên bang. Trên mặt sau tấm huy chương Hữu Nghị của Việt Nam không khắc ghi chữ gì, còn chúng tôi đùa tếu rằng khi mình được quay về Liên bang, ở đó người ta sẽ đề: "Vì đã nhịn dục".

Có nhiều chuyện thú vị về vấn đề này nhưng tôi sẽ chỉ kể một chuyện. Chúng tôi sống ở tầng 2 khách sạn "Kim Liên" Hà Nội. Trong một ngày nghỉ các sĩ quan của chúng ta thảo luận: cần phải sang chơi thăm các bạn nữ người Lào, vì trong trường hợp này không có kỷ luật - không như với các cô Việt Nam. Các đại diện của "Chính phủ Lào lưu vong" sống ở tòa nhà bên cạnh, trong số họ có một số nữ phải nói là gây được thiện cảm.

Hai sĩ quan chuyên gia của tiểu đoàn kỹ thuật, đi hẹn hò. Với vốn từ tiếng Việt không nhiều hơn một trăm từ, để diễn tả tình yêu thì quả là thú vi. Các cô gái đứng trên ban công lộ thiên, khúc khích cười rất bí ẩn., cảnh đó kéo dài 5 - 10 phút. Sau đó hai chàng Lào trẻ đi ra nói bằng một thứ tiếng Nga rất sõi: "Các cậu cả ơi, ở đây các cậu chẳng kiếm được gì đâu",.. Họ từng học 5 năm ở trường quân sự Krasnodar. Khi các "chú rể" trở về kể chuyện, tất cả chúng tôi phá ra cười ngặt nghẽo.

Cuộc sống thường nhật đầy rẫy đủ loại sự kiện, từ thông thường, không đáng chú ý đến sự kiện quan trọng, đôi khi là bi thảm.

Một sĩ quan đã tham gia bắn rơi những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bằng tổ hợp S-75, nói với tôi rằng các chuyên gia quân sự Soviet lứa đầu tiên là những người thiện chiến nhất, còn chúng tôi những người đến sau không xứng đáng như vậy. Điều đó dĩ nhiên là vô lý. Trong mỗi giai đoạn chiến tranh người ta thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu khác nhau, không ai có thể biết được khi nào và ở đâu bạn sẽ gặp nguy hiểm.

Trong thời gian tôi công tác ở đây, ngày 29 tháng 4 năm 1970, kíp trưởng kíp phụ trách trạm điện diesel trung đoàn TLPK 237 QDNDVN hạ sĩ Garkusha Vladimir Ivanovich đã lìa đời vị vết thương quá nặng. Vào ngày thứ 7 11 tháng 4 năm 1970 anh cầm cuốc cuôc phải một quả bom bi chưa nổ lẫn dưới mặt đất. Bom nổ. Các thầy thuốc dồn hết nỗ lực để cứu sống anh, các chuyên gia quân sự hiến máu, nhưng tiếc thay không cứu nổi chàng trai trẻ. Trung sĩ V.I.Garkusha được truy tặng huân chương Sao Đỏ và chính phủ VNDCCH truy tặng huân chương "Chiến Công" hạng III.

Sự kiện đáng nhớ khác là mưu toan của người Mỹ giải thoát các tù binh chiến tranh của họ tại khu vực Sơn Tây ngày 21 tháng 11 năm 1970. Trại tù binh Mỹ nằm chỉ cách dãy nhà ở 1 tầng của các sĩ quan chúng ta làm việc tại xưởng A-31 hơn trăm mét. (Nhân chứng kể cho tôi nghe sự kiện này là thiếu tá V.P.Katughin, đồng sự của tôi tại đơn vị quân đội 03311).  

Để thu hút sự chú ý của PK Bắc Việt Nam khỏi ý định thật giải thoát tù binh của họ, người Mỹ tiến hành không kích ồ ạt vùng phụ cận Hà Nội. Có 10 -12 máy bay tham gia không kích. Tham gia chiến dịch giải thoát phi công tù binh là các lính dù đã được huấn luyện kĩ lưỡng. Tám trực thăng hạ cánh xuống khu vực trại. Trong vòng 30 - 40 phút diễn ra cuộc bắn nhau giữa lính Mỹ và quân cảnh vệ có sử dụng lựu đạn. Tổn thất của đội cảnh vệ không đáng kể vì sau khi chạm súng một thời gian ngắn họ đã ẩn nấp hết.

Toán đánh chiếm đã làm chủ trại tù, nơi lẽ ra phải tìm thấy các tù binh phi công nhưng hóa ra chẳng có ai. Một tuần trước chiến dịch người Việt Nam đã chuyển họ vào hang núi. Đội đổ bộ bằng trục thăng của Mỹ trở về Thái Lan công cốc.

Các chiến sĩ tình báo Việt Nam vẫn luôn luôn hoạt động ở trình độ rất cao, còn người Mỹ đêm ấy mất ở gần Hà Nội 4 chiếc máy bay.

Từ những phiên dịch viên Việt Nam vốn được biết nhiều hơn tất cả mọi người về mọi vấn đề, chúng tôi nghe được chuyện năm 1970 người Mỹ gửi tới chính quyền Việt Nam DCCH câu hỏi: họ có thể giải thoát các tù binh phi công của mình với những điều kiện nào? Câu trả lời là thế này:"Các anh gây thiệt hại cho Việt Nam 10 tỷ đô-la, hãy đặt tiền lên bàn, toàn bộ tù binh của các anh sẽ được thả sạch". Dẫu sao cuộc trao đổi đó có thể đã xảy ra, đáng ngờ chăng chỉ là số tiền thể hiện hậu quả cuộc xâm lược của Hoa Kỳ. Cũng thật đáng ngạc nhiên là ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ hôm nay thuộc Đảng Cộng hòa, cựu tù binh phi công chiến tranh Mắc-Kên, lại có thể được trả tự do.

Một số sự kiện khác: năm 1970 đến thăm Việt Nam có phi công-nhà du hành vũ trụ Liên Xô, hai lần Anh hùng Liên bang Soviet P.R.Popovich, nhà thơ Evgheny Dolmatovsky, nhà văn Yuri Rytkheu. Đến đây biểu diễn còn có các đoàn xiếc từ Leningrad và đoàn dân ca Sibir.

(http://cs417029.vk.me/v417029514/2f78/pMepW6JLSn0.jpg)
E.Dolmatovsky tại Berlin năm 1945
...........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2014, 12:41:21 AM
Khu chiến 4

Năm 1970, nhóm kĩ sư tên lửa đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại QC PKKQ thăm khu vực phía nam thành phố Vinh ba lần:
- tháng 3 và tháng 4 - có mặt tại trung đoàn TLPK 275 QDNDVN, khôi phục tiểu đoàn 68 sau khi trúng bom, kiểm tra SSCD các trung đoàn TLPK 275 và 238 QDNDVN;
- tháng 10 kiểm tra SSCD các tiểu đoàn thuộc trung đoàn TLPK 275 và 238 QDNDVN;
- tháng 12 trợ giúp trung đoàn TLPK 238 QDNDVN huấn luyện kĩ thuật để bắn rơi máy bay B-52.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skoriak-4.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skoriak-4.jpg.html)

Tôi có mặt trong hai chuyến đi: tháng 3-4 và tháng 10. Tháng 12 tôi hết thời hạn công tác biệt phái, các chuyến đi chỉ đến các trung đoàn TLPK đứng chân bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia quân sự Soviet, phần lớn chiến sự trên lãnh thổ VNDCCH giai đoạn 1969 - 1971 diễn ra ở phía nam thành phố Vinh, nơi người ta gọi là khu 4.

Tất cả các đối tượng cầu, phà, cầu phao, đê đập, nơi tập trung đông người, xe ô tô chở người, tổ hợp TLPK đều bị ném bom.

Chiến tranh - đó là một trò xảo trá, thật khó nói ai khó hơn ai trong chiến tranh. Những người từng trải qua địa ngục ấy thường kiệm lời hoặc kể về các khó khăn trong chiến tranh một cách bình thường, như thể đó là những công việc hàng ngày vẫn làm.  

Một số nhà báo khi tới thành phố Vinh, sau khi nhìn thấy sự điêu tàn của thành phố này thường phóng bút viết ngay bài báo của mình rồi khẩn trương về Hà Nội. Họ không có mong muốn đi tiếp về phía nam.

Không thể nói tất cả đều như vậy. Tôi biết những nhà báo từng viết phóng sự từ khu vực vĩ tuyến 17 và Lào, mạo hiểm mạng sống để khai thác những tư liệu hay. Họ thậm chí còn mang theo món lương khô của người Mỹ mà họ thết các sĩ quan của chúng tôi tại các tỉnh phía nam nước VNDCCH.

Trong số các nhà báo nước ngoài làm việc ở khu vực vĩ tuyến 17 và ở Nam Việt Nam có nhà báo nữ Ba Lan Monika Varnenska, những bài phóng sự xuất sắc của bà được tập hợp trong cuốn sách "Khu Bốn" (Nhà xuất bản "Tiến Bộ", năm 1970).

Vào tháng 3-tháng 4 năm 1970, đoàn chúng tôi đi tất cả 8 người do đại tá Duyrich lãnh đạo, đã ở khu vực này 2 tháng, chuyến đi rất thú vị và hiệu quả.

Xuất hành từ thành phố Vinh đầu tháng 3 đi xuôi hướng nam, sau một tiếng rưỡi chúng tôi gặp phải trận bom, người Mỹ ném bom cầu phao trên đường chúng tôi sắp đi tới. Rất may là chúng tôi còn cách bến khoảng 1 km. Ẩn nấp sau các bụi cây ven đường, chúng tôi vừa quan sát xem những chiếc F-105 trút hết bom thế nào, sau đó chúng tôi đi tiếp theo đường vòng.

Khi có mặt ở tiểu đoàn TLPK 68 vừa thương vong do trúng bom Mỹ, dù chỉ đứng cách khí tài chiến đấu 5 - 10 mét chúng tôi cũng không phát hiện ra, điều đó chứng tỏ công tác ngụy trang rất tốt. Tiểu đoàn trưởng đón chúng tôi, và chúng tôi đi vào trận địa tại đó triển khai 3 bệ phóng.Vì các bệ và đạn chất đầy lá dừa và tre, tôi làm nhận xét qua phiên dịch với khẩu đội trưởng khẩu đội bệ phóng: "Cánh lái đạn tên lửa của các anh bị kẹt". Anh ta trả lời: "Đạn tên lửa của các anh rất đáng tin cậy, chúng tôi chưa có trường hợp nào kẹt bánh lái".    

Việc khôi phục khí tài của tiểu đoàn TLPK 68 tiến hành từ 16:00 đến 24:00, thời đó trong khoảng này bọn Mỹ ít khi ném bom, các biện pháp an toàn như vậy được các bạn Việt Nam và các sĩ quan nhóm chuyên gia quân sự cấp trung đoàn tại trung đoàn TLPK 275 QDNDVN bỏ nhỏ cho chúng tôi biết.

Việc sửa chữa các bệ phóng SM-63-II thực hiện bằng phương pháp khối. Trong rừng có rất nhiều bệ phóng, các bệ này có 2-3 thiết bị điện tử hỏng, các khối còn lại được sử dụng để khôi phục khí tài. Khi gặp các hư hỏng trong điều kiện dã chiến việc sửa chữa phục hồi là không thể.

Công tác khôi phục kết thúc theo khẩu lệnh của đại tá Duyrich, ông không nhìn đồng hồ, ông nhìn - xem khi nào người Việt Nam kiệt sức cuối cùng lăn ra ngủ, khi đó tiếp theo sẽ là khẩu lệnh "Khet-lam-vek", nghĩa là hết việc để làm. Dĩ nhiên các quân nhân Việt Nam thua kém các chuyên gia quân sự Soviet về sức chịu đựng.

Các chuyên gia Việt Nam cho thấy các bệ phóng ở trong rừng nhiệt đới một thời gian dài, họ mở nắp bộ giảm tốc và chỉ vào phần trên chi tiết truyền động đã bị gỉ sét. Tôi giải thích cho họ rằng người ta không cho phép đổ dầu mỡ vào quá 2/3 thể tích hộp số, nếu rót thêm thì khi chịu tải trọng lớn động cơ điện sẽ nhanh chóng hư hỏng; để tránh gỉ sét, cần định kỳ quay bệ phóng theo góc phương vị và góc tà. Phải giải thích rõ điều đó vì nghị quyết của các cuộc họp toàn thể "phi-bình" đã quyết cho đầy ự dầu mỡ vào hộp giảm tốc.

Chúng tôi kết thúc việc sửa chữa và điều chỉnh khí tài quãng 12 hoặc 15 tháng 4. Ngoài sửa chữa chúng tôi còn kiểm tra SSCD hai tiểu đoàn TLPK của trung đoàn 275 BC TLPK QDNDVN.

Một trong các tiểu đoàn của trung đoàn 275 sau cuộc kiểm tra của chúng tôi, ngày 10 tháng 4 năm 1970 đã bắn rơi một máy bay do thám KNL BQM-34A (hoặc 72A) số hiệu 3337 (theo thống kê của người Việt Nam). Toàn thân máy bay để giảm phạn xạ radar được làm bằng chất dẻo, trừ động cơ. Người Việt Nam mang đến đoạn phim chụp dài 30 mm, trên đó ghi không ảnh địa hình. phim này thường được tráng ngay trên máy bay. Mảnh chất dẻo và mảnh phim lấy từ chiếc máy bay này khi trở về nước Nga tôi đã trao tặng viện bảo tàng chiến tranh Afghanistan "Shuravi" để trưng bày kỷ niệm chiến tranh Việt Nam.

Máy bay KNL được phóng từ máy bay mẹ DC-130 "Hercules", cũng như từ các tàu chiến Mỹ trong vịnh Bắc Bộ, sau khi kết thúc chuyến bay nó đáp xuống mặt nước, sau khi nạp liệu bổ sung nó lại sẵn sàng để sử dụng tác chiến. Độ dài đường bay hay sử dụng là 330 - 350 km, độ cao bay đến 20 km, bề rộng dải chụp được không ảnh là 2 km.

Việc điều khiển máy bay thực hiện bằng thiết bị lập trình sẵn gắn trên máy bay hoặc bằng lệnh vô tuyến. Do các máy bay KNL sử dụng độ cao bay thấp và trung bình, việc theo dõi sát nó trên nền địa vật bằng các phương tiện của tổ hợp TLPK là khó khăn.

BCH các LLVT Hoa Kỳ giành kinh phí khá lớn cho việc hoàn thiện các phương tiện bay trinh sát KNL, vì họ cho rằng toàn bộ các thông tin trinh sát trong thời gian thực sẽ được truyền đến các trạm giải mã thông tin.

Trên các phương tiện trinh sát KNL khác người ta lắp đặt thiết bị trinh sát là các hệ thống laser, tia cực tím, tia hồng ngoại, radar quét cạnh.

Sau khi kiểm tra xong hai tiểu đoàn của trung đoàn TLPK QDNDVN số 275, chúng tôi kiểm tra thêm 2 tiểu đoàn TLPK thuộc trung đoàn TLPK 238 QDNDVN.

Ngày thứ 3 lưu lại tại tại trung đoàn TLPK 238, lúc gần 10 giờ, ở cách trận địa hỏa lực vài trăm mét, chúng tôi quan sát thấy một quả Shrike phóng vào phía một tiểu đoàn TLPK. Người chiến binh mặt trận dầy dạn đại tá Duyrich ra lệnh: "Làm gì há hốc mồm ra thế, vào hầm ngay!" Ngay cạnh đó có các tăng-sê. Tiểu đoàn TLPK không chỉ biết gạt được Shrike, họ còn khóa được mục tiêu khác, một chiếc A-6A bị bắn rơi. Trong cùng ngày tiểu đoàn khác hạ một chiếc F-4.

Trong thời gian lưu trú dịp tháng 3-4 năm 1970 trên lãnh địa các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình của khu 4, chúng tôi di chuyển theo các con đường số 9, 12, 22 và khu vực vĩ tuyến 17, vài lần do lạc mà chúng tôi đi sang lãnh thổ Lào. Phiên dịch viên nói rằng tại các địa điểm này đã bị đối phương thả chất độc hóa học.

Bọn Mỹ sử dụng chất độc hóa học tại Quảng Bình bắt đầu từ tháng 4 năm 1966. Chúng rải chất làm trụi lá ("chất da cam"), để diệt lá rừng già nhiệt đới, Sau đó sẽ dễ hơn trong việc theo dõi sự di chuyển của bộ đội Bắc Việt Nam và hàng hóa quân sự trên "đường mòn Hỗ Chí Minh". Kết quả là bọn yankee đã đầu độc một vùng rộng lớn bằng chất dioxin là chất độc hóa học rất bền vững. Bị thương tổn không chỉ thảm thực vật và các loài động vật mà cả con người nữa.

...Sau khi từ Việt Nam trở về, tôi sinh một cháu trai đau ốm: chẩn đoán chứng "fenixetonuria", ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ và thể chất của cháu, cháu là một người tàn phế nhóm I. Về nguyên nhân phát sinh bệnh này có 2 luồng ý kiến tranh cãi: di truyền hoặc tác động xấu của môi trường xung quanh lên cha hoặc mẹ đứa bé.

Tôi nghiêng về giả thuyết thứ 2. Khi tôi cùng con trai mình đến khám tại Viện Khoa học Bà mẹ và Trẻ sơ sinh, bác sỹ PTS Y khoa Merzlyakova đặt câu hỏi đầu tiên là có phải tôi nhiễm độc trong quá trình phục vụ hay không. Tôi khẳng định thực tế này, nhưng lúc đó chưa có cơ hội nói ra tôi dính nó ở đâu.

Có thể dẫn ra các bằng chứng khác về khả năng chất độc hóa học có ảnh hưởng lên các cơ cấu sinh học của tôi. Năm 1968 (trước khi đi Việt Nam), tôi đã sinh một cháu gái khỏe mạnh, tốt nghiệp xuất sắc phổ thông và đại học. Sau khi ở Việt Nam về và khám kiểm tra thể lực, các bác sĩ đa khoa quân y nói rằng chức năng thận của tôi đã bị hư hại, và trong nhiều năm trước 2006 đã cho biết về mình như vậy. Chất độc hóa học bị dùng phổ biến nhất ở Việt Nam có chứa chất dioxin, ảnh hưởng đến tính di truyền, phá hoại thận và gan (nghiên cứu của các chuyên gia độc lập của Trung tâm Nhiệt đới tại Hà Nội khẳng định điều này).

Tôi không thể chứng minh lẽ phải của mình về vấn đề này. Quốc gia và các công ty hóa chất chẳng được lợi gì trong việc thừa nhận lỗi của mình và bồi thường cho những người bị hại.

Tạp chỉ "Quân sự nước ngoài" số 5 ngay từ tháng 5 năm 1971 đã viết về chiến tranh ở Việt Nam như sau: "Cuộc chiến tranh hóa học đã diễn ra trên quy mô lớn, chỉ trong 2 năm gần đây Không lực Mỹ đã rải chất độc hóa học trên diện tích hơn 18 ngàn km vuông. Trong đó 850 ngàn người đã nhiễm độc, hàng trăm người đã chết".

Những đứa trẻ như thế nào đã sinh ra ở trong số 850 ngàn người Việt Nam bị nhiễm chất độc trên, mà đa số sống tại khu vực vĩ tuyến 17 tại các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội tháng 10 năm 2007 mà tôi đến thăm, đã chứng tỏ.  

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skoriak-5.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skoriak-5.jpg.html)
V.V.Skoriak trong một chuyến kiểm tra SSCD thiết bị phóng S-75 cách Hà Nội 80 km.

Các quân nhân Mỹ tình cờ rơi vào vùng rải chất độc hóa học, sau khi trở về Mỹ cũng sinh ra những đứa trẻ thiểu năng về trí tuệ và thể chất. Chính quyền Việt nam và các quân nhân Mỹ đều không thể chứng minh với các công ty hóa chất về tác hại của việc họ áp dụng các chất độc hóa học.

Để chữa bệnh cho con trai tôi đã tiêu tốn những món tiền khổng lồ. Lời kêu gọi của tôi năm 1996 về việc xin trợ giúp gửi tới các cấp thẩm quyền khác nhau ở Bộ QP đã không thu được kết quả. Bộ QP không phủ nhận rằng ở khu vực vĩ tuyến 17 nơi tôi từng sống, chất độc hóa học đã được sử dụng, họ đồng cảm và từ chối giúp đỡ vì không có nguồn tài chính giành cho những mục đích này.    

Chỉ có tổ chức CCB Afghanistan thành phố Ekaterinburg giúp đỡ, họ giúp tôi được một món tiền nhỏ và tôi biết ơn họ vì họ đã ra tay giúp trong thời kỳ khó khăn đối với tôi.

Không khắc nghiệt như thế, chuyến công tác biệt phái đến Việt nam cũng tác động không vui đến các mối quan hệ trong gia đình tôi. Tháng 8 năm 1970, một chuyên gia quân sự của chúng tôi đến từ Nizhny Taghil là đại úy V.Mitenkov do bị bệnh đã buộc phải rời Việt nam. Vợ tôi (cô ấy đã qua đời năm 2003) thời ấy ở Nizhny Taghil, và tôi chuyển quà cho vợ và bà cô. - rễ nhân sâm, một món hàng rất hiếm thời bấy giờ. Mitenkov trao quà rồi không hiểu sao nói với vợ tôi rằng bên ấy tôi không buồn đâu vì đã gặp được một cô trình dược viên cấp phát thuốc người địa phương. Khi tôi trở về và người tôi bắt đầu phát ban vì chức năng thận bị hủy hoại, vợ tôi gắn chuyện đó với "những cuộc phiêu lưu tình ái" của tôi ở Việt Nam. Hoàn cảnh ấy đã gây phiền não cho cuộc sống gia đình của tôi vài năm, khi mọi việc còn chưa sáng tỏ. Thường có những "đồng chí" cùng phục vụ như vậy đấy. Trong câu chuyện này Việt Nam đương nhiên không có lỗi, nhưng khi tôi hồi tưởng về nó, bất giác chuyện đó lại hiện lên trong ký ức.
..............


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: huyphongssi trong 21 Tháng Sáu, 2014, 06:32:27 PM
Bổ sung cùng anh qtdc 1 số tài liệu tổng kết chiến đấu của bộ đội tên lửa phòng không trên chiến trường VN do chuyên gia LX lập và báo cáo về tổng hành dinh ở Mát:

Kết quả xạ kích của Bộ đội tên lửa phòng không QĐNDVN (đã giải mật)  
(http://funkyimg.com/i/J587.jpg)
Bảng này nêu kết quả xạ kích trong các năm 1965-1966 khi dùng đạn tên lửa 11D mang ngòi nổ vô tuyến "Schmel" của tổ hợp SA-75 "Dvina" (vùng diệt: độ cao từ 0,5km - 27km, cự li từ 10km tới 34km) diệt các mục tiêu bay không người lái, mục tiêu bay cơ động và mục tiêu bay trong nhiễu theo các phương pháp bắn (lái đạn) tự động và tay quay.

Phần dưới là phân bổ tỉ lệ mục tiêu bị diệt trong các khoảng độ cao bay.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: huyphongssi trong 21 Tháng Sáu, 2014, 06:42:33 PM
Chiến thuật công kích trận địa TLPK (của máy bay Mĩ)
(http://funkyimg.com/i/J588.jpg)
1 tốp bay thấp nghi binh gây nhiễu để thu hút đài điều khiển TLPK cho tốp khác bay thấp dưới vùng diệt của tên lửa xốc tới đánh trộm từ hướng núi.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2014, 07:15:08 PM
Cám ơn huyphongssi đã hỗ trợ đúng lúc. Đ/c vắng lâu quá làm bác phicôngtiêmkích hỏi thăm mãi. Phải nói chúng ta chịu ơn LX rất nhiều trong KCCM, đồng thời họ cũng phải cám ơn ta khá nhiều vì đã sử dụng hiệu quả khí tài của họ, giúp họ thử vũ khí và nâng cao chất lượng khí tài. Rất nhiều chuyên gia TLPK Soviet là người Ukraina, tiếc rằng bây giờ họ lại xung khắc nhau.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2014, 09:32:46 PM
Cuộc sống thường ngày ở khu 4 cũng giống như cuộc sống thường ngày trên toàn Việt Nam, nó rất thú vị, ta sẽ rất hài lòng khi giao tiếp với những người Việt nam, lòng tốt và sự chân thành của họ làm ta hởi lòng hởi dạ. Những người Việt nam chất phác thường hỏi thăm sức khỏe, hỏi bạn bao nhiêu tuổi, từ đâu đến, các bạn có nhiều con không, họ ngạc nhiên sao chúng tôi ít con thế (thời đó ở nước họ một gia đình bình thường có không dưới năm đứa con).

Người nông dân Việt Nam rất yêu lao động, họ làm đất để gieo mạ trồng lúa. họ buộc phải cắm chân xuống nước đến đầu gối lao động dưới ánh mặt trời nóng bỏng. Chăm cho lúa lớn lên hoặc trái cây để đem bán, họ phải tự mang chúng đi qua khoảng cách rất xa hoặc chuyển chúng qua sông bằng phương tiện vận tải đường sông để tiện buôn bán.

Khi qua sông, lúc chúng tôi bơi trên một chiếc thuyền buồm cỡ trung, một sĩ quan của chúng tôi (anh là người biết tiếng Việt khá nhất trong nhóm) thử nâng chiếc đòn gánh gánh 2 sọt quả mà những người phụ nữ Việt nam vẫn gánh. Khi làm điều đó anh chỉ có thể đi được không quá 5 mét (trọng lượng bản thân của anh 55 kg, còn những người phụ nữ Việt nam không quá 40 kg), mà người phụ nữ Việt Nam phải gánh gánh nặng đó đi xa vài km.

Thiên nhiên trong rừng già rất thú vị: dây leo, những bụi cây không thể đi qua, những cây cọ rất đẹp thân cành mảnh. Ở Việt nam chúng tôi nhìn thấy những sinh vật rất lạ với chúng tôi - những con kỳ đà khổng lồ (nà chúng tôi nghĩ là cá sấu). Quan sát bức tranh thiên nhiên hoang dại, khi một người dân địa phương cắt đầu rắn và uống cạn máu nó. Chúng tôi ngủ trong những ngôi nhà sàn một tầng, dưới màn chống muỗi, với những chiếc đèn dầu hỏa. Đêm đầu tiên tôi tỉnh dậy vì tiếng chí chóe kinh khủng. Khi thắp đèn lên chúng tôi nhìn thấy trong những chiếc màn của mình những con chuột đang liếm chân và rít nghe khủng khiếp. Phiên dịch viên nói đừng sợ, chúng không tấn công đâu. Tiếp theo rồi chúng tôi cũng quen nhau. Tôi hỏi phiên dịch viên: tại sao họ không diệt chúng đi, anh ta đáp điều đó bị cấm, khi mất mùa, chuột cũng là loại "thức ăn dự trữ".

Để giải trí món thú vị nhất với các sĩ quan là xem phim "Người nữ tù Kavkaz", mọi người thuộc lòng bộ phim ấy.

Trong thời gian lưu trú tháng 3-4 năm 1970, các tiểu đoàn mà chúng tôi kiểm tra đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ. Đại tá Duyrich khi trở về Hà Nội đã viết đề nghị tặng huân chương Sao Đỏ cho tất cả những ai tham gia nhóm. Tiếc thay đề nghị này bị gạt bỏ. Phiên dịch viên Tịnh nhận thấy sự bất công trên bèn hỏi: "Đồm trí Valery, tại sao trung tá L. và đại tá A. nói chung chưa hề có mặt ở khu 4 mà đề nghị tặng huân chương cho họ lại được chấp thuận, còn các anh đã đi lần thứ hai sao lại không được tặng thưởng?" Tôi tất nhiên trả lời bằng một câu đùa rằng ở Liên bang người ta đã vét sạch huân chương.  

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Skpriak-3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Skpriak-3.jpg.html)
Trên đường đi khu 4 tháng 10 năm 1970, dừng chân nghỉ gần Thanh Hóa. từ trái sang phải: 1-V.V.Skoriak; 4-V.Mokriak; 6-Shmanenko.

Chuyến đi thứ hai tháng 10 năm 1970 cũng với thành phần 6 người (nhóm trưởng là trung tá V.V.Shmanenko) diễn ra bình thường. những trận ném bom vẫn tiếp diễn hàng ngày, nhưng sự kiện bắn rơi máy bay khi chúng tôi ở đó thì không có. Chúng tôi kiểm tra SSCD hai tiểu đoàn TLPK rồi trở về Hà Nội. Trong chuyến công tác này chúng tôi đã viếng thăm làng Kim Liên nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 19 tháng 12 năm 1970 kết thúc hạn công tác biệt phái của tôi, vẫn theo tuyến hành trình bay cũ tôi trở về Tổ quốc.

Vẫn lưu lại trong ký ức tôi hình ảnh những người lãnh đạo nhóm Duyrich và V.V.Shmanenko, các sĩ quan của nhóm V.Mokriak, O.Sokolov, I.Novitchikhin và các bạn chiến đấu trung thành khác, tiếc thay tôi không còn nhớ được họ tên của tất cả.

Tôi nghĩ rằng những người Việt Nam ngay thẳng sẽ nhớ mãi người Soviet trong những năm khó khăn đã tới giúp đỡ họ như thế nào. Tôi muốn cho ban lãnh đạo Việt Nam ở mọi thời nhớ rằng nước Nga luôn là bạn với nhân dân Việt Nam tuy xa xôi về địa lý nhưng lại gần gũi về tâm hồn.

Tiếc thay con người thực sự chưa hoàn thiện và không thể đảm bảo một cuộc sống hòa bình không có chiến tranh trên Trái Đất. Số mệnh của những người trung thực và lương thiện là đứng về phía các dân tộc và quốc gia, đang tiến hành cuộc đấu tranh cho Tổ quốc của mình, cho sự công bằng. Tôi tự hào vì trong năm 1970 mình đã có dịp làm nghĩa vụ quốc tế tại VNDCCH, đất nước đấu tranh vì độc lập và thống nhất quốc gia, chống lại một đế quốc hùng mạnh như Hoa Kỳ.

Những vấn đề tiếp theo của sự sinh tồn của con người không nằm ở môi trường xung quanh, mà chủ yếu nằm ở trong chính con người - nó không thể đấu tranh với những tư tưởng và hành động tiêu cực của chính mình. Chúng ta đang đi đến quá trình tiến hóa vĩ đại nhất của nhân loại, khi mỗi người học được cách chiến đấu với bản thân, khi thực hiện trong đời sống chỉ những gì mà các dân tộc trên hành tinh của chúng ta chấp nhận.

Việc thi hành chính sách bành trướng xâm lược của Hoa Kỳ có thể dẫn đến thảm họa toàn thế giới. Không ai trong giới cầm quyền nước này chịu trách nhiệm về cuộc ném bom Hiroshima và Nagashaki, cái chết của hàng triệu người Việt Nam và Lào trong cuộc chiến tranh 1964 - 1975, về sự áp dụng chất độc hóa học và bom napalm. Việc khơi dậy cuộc chiến tranh toàn cầu có sử dụng những thành tựu mới nhất trong lĩnh vực vũ khí sẽ dẫn đến cái chết của hàng triệu người chẳng hề có lỗi lầm gì.

Chính trị - đó là một không gian chiến trường phi lý. Ví dụ có thông tin rằng: 35% người Mỹ ủng hộ chiến tranh ở Irak và Afghanistan. Nếu ý kiến này là đúng đắn, có nghĩa là những con người đó sẵn sàng gửi con em ruột thịt của mình tham gia chiến tranh. Nhưng khi người ta đánh nhau tại những đất nước này, tiếc thay, đó lại là con cái của những người xuống đường phản đối chiến tranh ở Irak và Afghanistan.

Tháng 9 và tháng 10 năm 2007 trong chuyến thăm Việt Nam, chúng tôi đã gặp gỡ các CCB chiến tranh Việt Nam ở các thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ở những thành phố đó tôi đã gặp những người lãnh đạo và các nhà hoạt động của tổ chức Hữu nghị "Nước Nga trong tâm hồn tôi". Đứng đầu tổ chức xã hội này là một phụ nữ xuất sắc Nguyễn Quỳnh Hương (TTX Việt Nam), Thu Hương (Ria Novosti) và Cường (thành phố HCM).

Nhịp độ phát triển kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam trong 40 năm gần đây cao hơn nhiều so với nước Nga, Nhiều ngôi nhà đẹp được xây dựng ở các tỉnh, người ta đã xây dựng những khách sạn hiện đại và những đường ô tô tuyệt vời, mọi người xung quanh đều nói đến những thay đổi lớn lao trong cuộc sống của nhân dân Việt Nam.

Cầu chúc hòa bình và hạnh phúc cho người, nước Việt Nam không thể nào quên của tôi!

Thành phố Ekaterinburg, năm 2008.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: huyphongssi trong 22 Tháng Sáu, 2014, 12:13:51 PM
Báo cáo phân tích quá trình chiến đấu của Bộ đội TLPK QĐNDVN (Анализ боевых действий ЗРВ Вьетнаской Народной Армии) do đoàn công tác cấp cao của LX (Trưởng đoàn: trung tướng công binh G.Legasov; thành viên: trung tướng công binh I.Grebenikov - Cục phó Cục Vũ khí trang bị kĩ thuật Quân chủng PK, trung tướng pháo binh M.Uvarov - Tư lệnh Binh chủng TLPK thuộc QCPK, đại tướng không quân G.Baidukov - Chủ nhiệm Tổng cục 4 BQP) lập ngày 21-6-1966 và được đại tướng N.Tsyganov - Tổng tham mưu trưởng Quân chủng PK LX duyệt ngày 22-6-1966.
(http://funkyimg.com/i/J58b.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: huyphongssi trong 22 Tháng Sáu, 2014, 12:30:07 PM
Khả năng bắn hạ mục tiêu bay cơ động tránh tên lửa. Đồ thị trên cho thấy mục tiêu cơ động tránh đạn bằng cách thay đổi độ cao trong mặt phẳng đứng. Đồ thị dưới cho thấy mục tiêu cơ động tránh đạn bằng cách thay đổi cự li và hướng bay trong mặt phẳng ngang.

(http://funkyimg.com/i/J58e.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Sáu, 2014, 09:30:02 PM
Số liệu các trận đánh đầu tiên tính từ trận đầu 24.7.1965 e236
(http://funkyimg.com/i/J5ZY.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 12:06:51 AM
Tháng 8, 9/1965 e236
(http://funkyimg.com/i/J5ZZ.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 12:10:42 AM
Tháng 11, 12.1965 e236 và e238
(http://funkyimg.com/i/J612.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 12:12:17 AM
Tháng 12.1965 e238
(http://funkyimg.com/i/J613.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 12:18:03 AM
Bắn không thành công mục tiêu cơ động trên độ cao thấp. Mất mục tiêu trên nền (nhiễu) địa vật (phân tích trận 23 tháng 3 năm 1966, mục tiêu là máy bay trinh sát RF-101).
(http://funkyimg.com/i/J61a.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 12:54:32 AM
Tổng kết xuất bản năm 1968
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/7364849.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/7364849.jpg.html)

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/73648511.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/73648511.jpg.html)

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/73648361.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/73648361.jpg.html)

Đặc tính kỹ-chiến thuật
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/7364838.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/7364838.jpg.html)

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/7364840.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/7364840.jpg.html)

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/73648531.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/73648531.jpg.html)

Đạn V-750V
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/8567132.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/8567132.jpg.html)

Ngòi "Shmel"
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/8834614.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/8834614.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 01:05:45 AM
Phân tích và thống kê xạ kích các trận 2 tháng 6 và 31 tháng 5 năm 1966
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/7364998.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/7364998.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 02:16:50 AM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo1.jpg.html)

Thiếu tá Todorashko Valentin Ivanovich

Sinh ngày 7 tháng 10 năm 1936 tại tỉnh Odessa, Ukraina;
Năm 1959 tốt nghiệp trường pháo binh Odessa;
Từ 1959 đến 1960 - chỉ huy trung đội bệ pháo 100 mm trung đoàn pháo binh cận vệ 244, thành phố Reutovo;
Từ 1960 đến 1965 - kỹ thuật viên RPK (bộ phát lệnh vô tuyến) tổ hợp S-75;
Tham gia chiến đấu tại VNDCCH từ 16 tháng 4 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966 trong thành phần nhóm chuyên gia quân sự Soviet về hệ thống RPK của tổ hợp S-75;
Từ 1966 đến 1970 - giảng viên trường tên lửa PK mang tên Enghel;
Từ 1970 đến 1983 - giảng viên trường chuyên gia sơ cấp, thành phố Sverdlovsk;
Rời quân ngũ năm 1983.
Được tặng thưởng 1 huân chương Sao Đỏ, 8 huy chương trong quá trình phục vụ và huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.



DƯỚI BẦU TRỜI VIỆT NAM

Cuối năm 1964, trung đoàn trưởng đại tá cận vệ Mikhailov đề nghị tôi tham gia thực hiện nhiệm vụ chính phủ trao. Tôi đồng ý và tháng 1 năm 1965 được phái đến thành phố Sverdlovsk, tại đó đã có một nhóm lớn quân nhân tập trung. Người ta chọn ra 7 sĩ quan và ủy nhiệm cho chúng tôi: đến thành phố Baku, nhận khí tài quân sự tại "Arsenal", kiểm tra mức độ SSCD của nó trên trường bắn và chuẩn bị vận chuyển.

Nhóm chúng tôi gồm:
- nhóm trưởng thiếu tá N.Meshkov, ông là kĩ sư tại trung đoàn TLPK;
- đại đội trưởng đại đội kĩ thuật VTDT đại úy R.Ivanov;
- sĩ quan dẫn đường cabin điều khiển (cabin "U") thượng úy V.Konstantinov;
- kĩ thuật viên hệ thống tọa độ thượng úy V.Shelestov;
- kĩ thuật viên hệ thống xử lý lệnh thượng úy B.Kolesnik;
- kĩ thuật viên cabin thu-phát thượng úy V.Pustovoitov;
- và người phục vụ tận tụy của bạn, kĩ thuật viên hệ thống máy phát lệnh vô tuyến thượng úy V.Todorashko.

Chúng tôi nhận khí tài đã được cải tiến để hoạt động trong các nước khí hậu nóng. Mọi người đoán ra được người ta sẽ cử mình đi đâu, vì đã biết cách đây không lâu - ngày 5 tháng 8 năm 1964, máy bay Mỹ bắt đầu dội bom nước VNDCCH.

Ngày 5 tháng 4 năm 1965 sau khi thử nghiệm trong các điều kiện khác nhau trên trường bắn, khí tài vừa nhận được chất lên sân ga và chúng tôi chở nó về thành phố Chelyabinsk. Tại đây người ta thành lập một đoàn tàu hỏa chở khí tài và đội ngũ quân nhân. Chẳng bao lâu chúng tôi lên đường.

Chúng tôi tới ga Zabaikal nằm trên biên giới với CHNDTH. Tàu dừng ở đây. Chúng tôi thay sang trang phục dân sự, đoàn tàu được thay trục bánh xe, vì bề rộng trục bánh xe đường sắt ở Trung quốc khác chúng ta một chút.

Sau 4 ngày đêm đi liên tục, chúng tôi đã tới Bắc Kinh. Tàu dừng khi đã 8 giờ sáng. Người ta tiếp đón chúng tôi rất tốt, thết chúng tôi các món ăn ngon Trung quốc. Mong muốn hữu nghị tăng cường quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa Liên Xô và CHNDTH thể hiện rất rõ.

Sau đó chúng tôi đi tiếp - tới biên giới với Việt Nam. Chúng tôi dừng chân tại ga Bằng Tường. Lại trung chuyển khí tài, vì trục bánh xe tàu hỏa ở Việt nam còn hẹp hơn so với ở Trung quốc. Người ta hướng dẫn tự xử trí trong trường hợp máy bay Mỹ tấn công, vì chúng thường xuyên dội bom nhánh đường sắt này.

Ngày 16 tháng 4 năm 1965, chúng tôi an toàn vượt biên giới Việt nam-Trung quốc và đến Hà Nội mà không xảy ra sự cố gì. Khí tài của chúng tôi được bốc dỡ và chở ngay vào rừng rậm, tới trung tâm huấn luyện, còn chúng tôi được xe buyt chở ban đêm tới đó và bố trí chỗ ngủ.

Chủ nhiệm trung tâm huấn luyện thứ nhất là đại tá Tsygankov, phó chính trị của ông - trung tá Barsuchenko, tham mưu trưởng là thiếu tá V.Egorov, kĩ sư trưởng của trung tâm - thiếu tá N.Meshkov.

Bắt đầu giai đoạn hoạt động chuẩn bị mở lớp cho các chuyên gia Việt Nam, tới 1 tháng 5 mọi việc đã sẵn sàng. Các buổi học thực hành qua phiên dịch, Người phiên dịch của tôi là tavarits (theo tiếng Việt là "đồm trí") Trần Phúc Cận. Tôi giảng theo tài liệu, chỉ dẫn, thực hiện thao tác này hay kia như thế nào, còn anh ấy phiên dịch, các học viên thì cắm cúi ghi chép. Cứ như vậy 12 giờ trong một ngày. Sau khi chúng tôi giảng, họ còn 2 giờ tự học. Hoàn cảnh chiến tranh tại Việt Nam thời đó đòi hỏi như vậy.

Chương trình giảng dạy dự tính gồm 3 tháng. Chúng tôi phải sống và dạy các bạn Việt Nam trong những điều kiện mà bản thân chưa từng trải qua. Cái nóng 35-45 độ, độ ẩm rất cao. Hai-ba tháng không nhận được thư nhà, hồi âm cũng vậy. Ngoài ra còn đủ thứ bệnh. Bác sĩ đương nhiên áp dụng mọi biện pháp, nhưng không phải bệnh nào cũng chữa được dễ dàng, một số bệnh nhân phải đưa về nhà, các chuyên gia mới sang thay họ.

Trong các cabin, khí tài bị hâm nóng tới mức nhiệt kế trỏ tới 60 độ. Những điều kiện khó khăn như vậy chúng tôi phải chịu đựng trong hai tháng rưỡi, trong khi thời hạn đào tạo chỉ có 3 tháng.

Thực tế từ ngày đầu chúng tôi có mặt ở VNDCCH, đài Tiếng nói Hoa Kỳ đã tuyên bố hệ thống TL SAM đã được đưa tới Việt Nam, việc sử dụng nó phải chờ sau 3 tháng. Và người Mỹ bắt đầu tìm kiếm chúng tôi. Tuy nhiên công tác ngụy trang kỹ tới mức phát hiện ra đơn vị huấn luyện thôi cũng là cả vấn đề. Các khẩu đội PK bảo vệ chúng tôi, họ được lệnh chỉ nổ súng khi trung tâm bị đe dọa trực tiếp.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Konkin4.jpg)
Ngôi nhà đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 ở trong gần 1 năm ở ngoại thành Hà Nội, năm 1969 ảnh của V.K.Konkin.

Khi thấy rằng dù sao trung tâm ở địa điểm này cũng không an toàn, chúng tôi liền được chuyển đến khu vực gần thủ đô nước VNDCCH. Như chúng ta biết, tổng thống Mỹ có lệnh: không ném bom trong vùng bán kính 60 km quanh Hà Nội. Tại đó chúng tôi tiếp tục dạy các chiến sĩ tên lửa Việt nam. Tới thăm trung tâm có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bộ trưởng QP Võ Nguyên Giáp, trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet tướng G.Belov. Nhiệm vụ đặt ra: chuẩn bị khí tài quân sự để tiến hành chiến đấu, từ chính các bộ khí tài mà chúng tôi đang dùng để huấn luyện người Việt Nam. Đại tá Tsygankov, người chỉ huy của chúng tôi có nghĩa vụ thi hành mệnh lệnh này trong thời hạn rất căng thẳng. Có rất nhiều điều liên quan đến mức độ sẵn sàng chiến đấu, thứ nhất - uy tín của khí tài quân sự nước nhà, mà điều chủ yếu - cuộc sống của rất nhiều con người. Bởi vậy mỗi người trong chúng tôi phải điều chỉnh khí tài của mình sao cho độ lệch các tham số nằm trong giới hạn "0", nghĩa là tuyệt đối chính xác, phải không dính một chút sai số nào. Người ta thành lập 2 tiểu đoàn tên lửa - 63 và 64, mà BCH giao nhiệm vụ: hành quân đêm tới trận địa cách Hà Nội 30 km về phía tây nam.

Đội ngũ chiến đấu trên khí tài này - các chuyên gia Soviet và các quân nhân Việt nam mà họ đào tạo. Trận địa đã được chuẩn bị sẵn về mặt công binh công trình. Khi chúng tôi triển khai, nông dân Việt Nam giúp ngụy trang đội hình chiến đấu - họ trồng chuối, đắp bao cát che chắn cho khí tài, thậm chí đào cả chiến hào trong trường hợp bị địch ném bom và v.v. Tới trước khi trời dáng chúng tôi đẫ sẵn sàng chiến đấu. Công tác ngụy trang tốt đến mức các phi công Mỹ không thể phát hiện ra chúng tôi.

Hai tiểu đoàn 63 và 64 của trung đoàn TLPK 236 QDNDVN đã được triển khai. Tôi ở trong thành phần tiểu đoàn 63, tiểu đoàn trưởng - trung tá B.Mozhaev. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 64 là trung tá F.Ilinykh.

Tôi sẽ nhắc tên một loạt bạn chiến đấu của mình: đại đội trưởng kĩ thuật VTDT đại úy V.Brusnikin, đại đội trưởng đại đội bệ phóng đại úy E.Voronin; các kĩ thuật viên: cabin "P" - thượng úy V.Pustovoitov, hệ thống tọa độ - thượng úy V,Shelestov, hệ thống SVK (xử lý lệnh) - thượng úy B.Kolesnik,; cũng như toàn bộ các chiến sĩ Việt Nam ở mỗi hệ thống - 4 kíp chiến đấu trong trung đoàn. Sĩ quan điều khiển cabin "U" là thượng úy V.Konstantinov, các trắc thủ "E", "V", và "D" ("E" - góc tà, "V" - góc phương vị, và "D" - cự ly đến máy bay) tương ứng - V.Timchenko, A.Bondarenko; Yu.Papushov. Chỉ thị mục tiêu nhận được từ đài trinh sát mục tiêu SRtS, do binh nhất V.Kubushev quản lý. Đưa tình huống trên không (tình báo) lên màn VIKO là tiêu đồ viên Musikhin. Công tác chiến đấu to lớn nhằm bảo đảm triển khai các bệ phóng cho trận đánh và chuẩn bị đạn tên lửa để phóng do đại đội trưởng đại đội bệ phóng đại úy Voronin tiến hành cùng các kíp trưởng kíp bệ đạn A.Zylkov và A.Shumbar và các cấp dưới như: M.Konoplev, A.Ponavichuk, P.Melnikov, A.Kosarev, I.Agalakov, Alakhin, Penye, Kandilov, Maksimov, G.Samoilov. Trong cabin "P" bảo đảm nguồn nuôi cho cả hệ thống là trung úy Kobylkov. Đường liên lạc sẽ qua loa phóng thanh truyền đến cabin "U" các báo cáo sẵn sàng làm việc, sẵn sàng chiến đấu. Cùng sát cánh với tôi trong cabin RPK là học trò của tôi, đồng chí Nguyễn Đình Khoan, anh là một sĩ quan và kỹ thuật viên tốt, ngoài anh còn 3 kĩ thuật viên nữa. Các đồng chỉ huy các tiểu đoàn 63 và 64 về phía Việt Nam là các đại úy Nguyễn Văn Thân và Nguyễn Văn Ninh. Đồng vị trí của thượng úy V.Konstantinov là trung úy Lê Đình Chi, còn đồng vị trí của thươngi úy O.Bondarev - sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 64, - trung úy Phạm Trương Uy, Anh hùng Quân đội tương lai của QC PKKQ QDNDVN.

Thời nay, nhiều thao tác kể trên đã được các hệ thống máy tính điện tử thực hiện. Còn hồi đó về cơ bản vẫn là yếu tố con người: kíp chiến đấu tính toán thế nào đạn tên lửa sẽ bay như thế.

Tình hình trên không cũng không kém phần phức tạp. Thích hợp nhất với chúng tôi là khai hỏa bắn máy bay vào cuối ngày, để còn kịp thay đổi trận địa một cách bí mật sau khi xạ kích. Trời tối đặc biệt tiện cho chúng tôi thu xếp công việc. Ban ngày không thể không làm lộ mình vì một lý do nào đó. Trong vịnh Bắc Bộ thường xuyên có 3 TSB Mỹ, các máy bay xuất phát từ sàn bay các TSB đó cất cánh và tới không phận Việt Nam chỉ mất 5-10 phút. Nếu chúng phát hiện ra chúng tôi, cán cân sẽ nghiêng về phía chúng. Đặc biệt nếu cuộc oanh tạc tiến hành trên các độ cao khác nhau, từ nhiều hướng khác nhau. Tất nhiên có thể phóng đạn ban ngày, bắn rơi 1-2 máy bay, nhưng khi đó những chiếc máy bay ném bom còn lại sẽ "là phẳng" tiểu đoàn tên lửa khỏi mặt đất. Bởi vì trận địa của chúng tôi chỉ có pháo PK bảo vệ.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965 tình hình trên không đã sắp đặt để chúng tôi lần đầu tiên phải chiến đấu chống máy bay Mỹ tại Việt Nam bằng tổ hợp TLPK.

Từ sáng sớm đã thấy nhiều máy bay bay qua, từ xa vẳng lại tiếng gầm của các cuộc ném bom. Chúng tôi báo động toàn tiểu đoàn. Tất cả các hệ thống làm việc đúng đắn. Bỗng vang lên mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng trung tá B.Mozhaev: "Mục tiêu nhóm, - tiêu diệt!" Sĩ quan điều khiển V.Konstantinov phát hiện một tốp mục tiêu máy bay đối phương. Chỉ huy đại đội VTDT V.Brusnikin kiểm soát công việc của tất cả các kíp chiến đấu. Khi các trắc thủ bắt được mục tiêu đi đầu, ban đầu họ bám sát bằng tay, sau đó chuyển sang chế độ bám sát tự động. Và khi mục tiêu tiến tới giới hạn vùng tiêu diệt, V.Konstantinov lần đầu tiên ấn nút "Phóng" trên lãnh thổ Việt Nam.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Konkin3.jpg)
Một trận địa TLPK bị trúng bom Mỹ năm 1969, ảnh của chuyên gia V.K.Konkin

Quả đạn gầm lên khởi động rồi rời bệ lao vút tới mục tiêu. Sau 6 giây, anh ấn nút "phóng" trên kênh thứ hai. Cả hai quả đạn đều tới mục tiêu, tiêu diệt 2 máy bay. Tiểu đoàn 64 bên cạnh cũng bắn rơi 1 máy bay. Trong số 4 cỗ máy quân sự của đối phương, 3 chiếc đã kết thúc đường bay của mình trên bầu trời Việt Nam. Chiếc thú 4 biến đi đâu không ai biết. Một phi công bị bắt làm tù binh.  

Đạn tên lửa PK phóng lên được người Việt nam gọi là cú phóng của con rồng lửa. Sau khi những chiếc máy bay bị tiêu diệt, tất cả đều hét vang "Ura!" và ôm chầm lấy nhau - cả các bạn Việt Nam và chúng tôi. Trận xạ kích này diễn ra gần thị trấn Ba Vì, Sơn Tây, cách Hà Nội 50 km, ngày 24 tháng 7 năm 1965 hồi 14 giờ 25 phút.  

Chúng tôi nhanh chóng thu hồi khí tài và chuyển sang trận địa mới, còn tới sáng hôm sau lại đã sẵn sàng chiến đấu.

Các bạn Việt Nam đã chuẩn bị từ trước các mô hình khí tài từ các tấm ván, các vật liệu khác, bố trí chúng như thể tiểu đoàn vẫn đóng tại vị trí cũ. Người Mỹ hơn 10 ngày không bay trên lãnh thổ Việt Nam nữa để tìm hiểu xem - ai đã bắn rơi máy bay của họ. Sau khi trinh sát, họ quay lại oanh tạc trận địa đó, và các chiến sĩ PK Việt Nam bắn rơi thêm 5 máy bay nữa.

Mặc dù bọn Mỹ thay đổi chiến thuật không kích, chúng tôi vẫn tiêu diệt được chúng và giữ được sự SSCD của các tiểu đoàn. Trong các điều kiện đơn giản hơn, ít phức tạp hơn, chúng tôi dạy các chiến sĩ tên lửa Việt nam tự mình khai hỏa vào các mục tiêu, nhưng mỗi người trong chúng tôi đều sát cánh bên họ và sẵn sàng trong bất kỳ giây phút nào hoạt động một cách không sai sót.  

Chúng tôi đã chứng minh được khí tài chiến đấu của mình rất tin cậy và hiệu quả. Về nguyên tắc, không phủ nhận thực tế này, có người trong số các bạn Việt Nam vẫn cho rằng Trung quốc giúp đỡ mình nhiều hơn Liên bang Soviet. Chúng tôi thuyết phục các bạn Việt Nam rằng khí tài tên lửa - đó là vũ khí tập thể, và thắng lợi của một trận đánh phụ thuộc vào từng trắc thủ. Và không chỉ thành công của trận đánh, các thành tố quan trọng của công tác chung - chuẩn bị đạn tên lửa, cơ động tác chiến các quả đạn tên lửa mới, đã sẵn sàng phóng tới trận địa. Sau khi phóng đạn, các khẩu đội bệ phóng với sự giúp đỡ của các xe vận chuyển-nạp đạn cần phải nạp đạn mới cho các bệ phóng, nhanh chóng chuẩn bị bệ đạn để phóng và rút đi vào nới trú ẩn.

Sau một thời gian, thiếu tá N.Solomatin nói cho chúng tôi biết chúng tôi đã bắn rơi 3 máy bay "Con Ma". Anh đã ở trong rừng và đã nhìn thấy máy bay rơi ở vài nơi.  

Tháng 8 năm 1965, các tiểu đoàn 63 và 64 của chúng tôi nhận nhiệm vụ mới: hành quân và triển khai ở phía nam Thanh Hóa, máy bay Mỹ bay nghênh ngang ở đây mà không bị trừng phạt. Tiểu đoàn 63 của chúng tôi phóng 5 đạn vào 2 mục tiêu. Hai máy bay bị tiêu diệt, chúng tôi chỉ còn một quả đạn dự trữ. Chúng tôi đã hạ hai máy bay A-6A - cường kích hạm của Hoa Kỳ xuất phát từ TSB "Midway". Hành quân trở về sau trận đánh, chúng tôi lại triển khai gần Hà Nội.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Kargin-6.jpg)
Nghỉ ngơi tại Tam Đảo, ảnh của B.Ph.Karghin, trung đoàn TLPK đầu tiên.

Khi các kíp chiến đấu Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ tổ hợp S-75, có quyết định giữ lại một phần các chuyên gia của chúng ta ở dưới các tiểu đoàn, một bộ phận khác được cử đến trung tâm đào tạo mới để huấn luyện chuẩn bị cho các trung đoàn tên lửa mới của Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, người ta chọn ra 5 sĩ quan gồm: V.Konstantinov, B.Kolesnik, V.Shelestov và tôi. Trước khi chuyển chúng tôi đến trung tâm huấn luyện, người ta cho chúng tôi một tuần lễ nghỉ ngơi tại địa điểm nghỉ mát trên dãy núi Tam Đảo, nằm cách phía bắc Hà Nội 100 km. Đỉnh núi này có cao độ khoảng một ngàn mét, đường ô tô ngoằn nghoèo dẫn lên đỉnh. Trên đỉnh có các nhà nghi nhỏ. Trên chiều cao 1 km trời không nóng như ở dưới. Bạn thường mở cửa sổ ra, cởi trần đến thắt lưng, mây mát lạnh ùa vào chạm ngực bạn....

Sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi lên đường đến trung tâm huấn luyện mới, đặt trong rừng rậm. Ở trung tâm này phiên dịch của tôi là tavarits Trương Văn Tạ, hay đơn giản là đồng chí Tạ. Sau 3 tháng học hành căng thẳng, các kíp chiến đấu tên lửa Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi cũng cảm thấy an tâm hơn trong các điều kiện chiến đấu.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2014, 10:04:19 PM
Chẳng bao lâu tiểu đoàn chúng tôi và các phân đội khác nhận nhiệm vụ: chiếm lĩnh các trận địa bảo vệ không phận Hà Nội trước các cuộc không kích của không quân Mỹ. Chúng tôi ở tại vị trí này vài tháng.

Vào tháng 1 năm 1966 một đoàn đại biểu đảng-chính phủ Soviet đến thăm trận địa chiến đấu của chúng tôi do A.N.Shelepin dẫn đầu. Trong thành phần đoàn có bí thư TU ĐCS Liên Xô Đ.Ph.Ustinov và tư lệnh bộ đội tên lửa chiến lược Liên Xô thượng tướng V.Ph.Tolubko. Họ đánh giá cao hoạt động chiến đấu của chúng tôi ở Việt Nam, chúc mừng Năm Mới 1966 chúng tôi và trao các phần thưởng của chính phủ cho sự dũng cảm và thành tích chiến đấu. Tôi được tặng huân chương Sao Đỏ vì đã tham gia tiêu diệt 8 máy bay Mỹ trong đội hình tiểu đoàn 63 trung đoàn TLPK 236 QCPK của nước VNDCCH. A.N.Shelepin trao phần thưởng. Tại thời điểm này tôi vừa tròn 29 tuổi. Tôi nhớ đến cha, Todorashko Ivan Timopheevich, người tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và hy sinh tháng 8 năm 1944 tại Moldavia. Ngày hy sinh, cha tôi cũng vừa tròn 29 tuổi.  

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo3.jpg.html)
Sau khi trao huân chương ngay tại trận địa của tiểu đoàn 63, bên trái là thượng úy Todorashko.

Chúng tôi phải chiến đấu trong các điều kiện khác nhau. Một lần vào nửa sau tháng 2 năm 1966 người ta chuyển chúng tôi từ Hà Nội xuống gần Hải Phòng, thành phố cảng đóng vai trò lớn trong việc đảm bảo cho Việt Nam tất cả những gì cần thiết. Chúng tôi bảo vệ thành phố cảng này và thường xuyên thay đổi trận địa. Một lần chúng tôi phóng đạn vào máy bay trong điều kiện sương mù dày đặc. Chiếc máy bay Mỹ bị chúng tôi bắn rơi bằng hai quả đạn, máy bay rơi xuống biển. Người ta không tính chiếc máy bay đó là do tiểu đoàn chúng tôi tiêu diệt, bởi vì khi đạn trúng mục tiêu, vì trời sương mù dày nên không quan sát thị giác được sự kiện máy bay rơi xuống biển.

Chúng tôi đóng quân bảo vệ bầu trời Hải Phòng đến cuối tháng 4 năm 1966. Từ thành phần đoàn chuyên gia Soviet đầu tiên đến Việt nam tháng 4 năm 1965 (100 người), nay chỉ còn 5 sĩ quan chưa có người từ Liên bang sang thay phiên. Khi người thay thế đến, chúng tôi trao hệ thống của mình vào những đôi tay đáng tin cậy và trở về thủ đô nước VNDCCH. Tại Hà Nội, tư lệnh QC PKKQ đại tá Phùng Thế Tài tiếp chúng tôi. Người ta tặng huy chương Hữu Nghị của chính phủ Việt Nam cho chúng tôi, tặng quà lưu niệm. Tại tiệc chiêu đãi người ta thết chúng tôi món mằn thắn, lần đầu tiên chúng tôi được nếm trong suốt thời kỳ lưu trú ở Việt Nam. Thật khó khăn phải chia tay các bạn Việt Nam, đã kề vai sát cánh chiến đấu cùng nhau, bảo vệ bầu trời Việt nam nóng bỏng trong chiến tranh. Chuyến công tác của chúng tôi tại Việt Nam kết thúc sau 13 tháng và 4 ngày. Chúng tôi chia tay, trao tặng nhau những bức ảnh kỷ niệm, và ngày 10 tháng 5 năm 1966, từ trên máy bay, chúng tôi cất cánh rời phi trường Việt nam bay đi Trung quốc.

Thời tiết xấu, máy bay chúng tôi đáp xuống Vũ Hán. Chúng tôi ngủ qua đêm tại đây trong khách sạn, và sáng ngày 11 bay đi Bắc Kinh. Tại đây chúng tôi phải giết thời gian trong sứ quán Liên Xô cho đến ngày 16, vì trong suốt những ngày đó cạnh sứ quán liên tục diễn ra bạo động do hồng vệ binh tổ chức. Chỉ tới sáng 16 chúng tôi mới có cơ hội rời CHNDTH và ngày hôm đó đã bay về tới Moskva.

Tại thủ đô người ta bố trí chúng tôi ở khách sạn Bộ QP Liên Xô. Chúng tôi có 5 người: đại úy R.Ivanov, các thượng úy V.Konstantinov, B.Kolesnik, V.Shelestov và tôi. Vài ngày ở Bộ QP, chúng tôi kể lại chiến thuật của máy bay Mỹ và hoạt động chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa S-75 tại Việt Nam. Sau đó người ta cho chúng tôi về nhà 2 tuần lễ, rồi mỗi người khi hết phép phải có mặt tại đơn vị của mình.

Khi trở về đơn vị tại thành phố Ufa tôi được nhận phép 2 năm 1965-1966 - 88 ngày. Khi tôi sang Việt nam, con trai tôi mới được hai tuổi rưỡi, bây giờ cháu đã gần 4 tuổi, cuộc gặp gỡ thật cảm động và vui mừng. Cả gia đình tôi ban đầu đi nghỉ tại Odessa chỗ mẹ ruột tôi, sau đó đến thành phố Baksan tại Kavkaz nơi mẹ vợ tôi ở.

Sau khi hết phép tôi nhận nhiệm vụ tiếp tục phục vụ tại trường tên lửa PK Enghel. Sau đó từ tháng 2 năm 1970 đến khi chuyển ngạch dự bị ngày 26 tháng 10 năm 1983 tôi phục vụ tại Sverdlovsk. Trong năm đó tôi được nhận cương vị người đặt hàng ban 161, thủ trưởng ban là đại tá Buev Evgheny Mikhailovich. Cho đến giờ tôi vẫn đang làm việc tại xí nghiệp danh tiếng "Vektor" ở ban 100.

Suốt nhiều năm qua tôi thường nhớ về Việt Nam, tôi kinh ngạc trước sự kiên cường và lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam. Tôi không giấu rằng đôi khi mơ chỉ một chuyến trở về Việt nam, nay đã là nước CHXHCNVN, thăm lại mảnh đất tuyệt vời, thăm những con người kỳ diệu của nó trong thời bình, gặp gỡ các bạn chiến đấu, mà cùng họ tôi đã bảo vệ bầu trời của đất nước phải chịu sự xâm lược tàn bạo của kẻ thù.

Và rồi sau 40 năm tôi lại có hạnh phúc được đứng trên mảnh đất Việt Nam. Đó là mừa thu năm 2007. Chuyện là ở thành phố Ekaterinburg có hội hữu nghị Nga-Việt hoạt động, lãnh đạo hội là Mikhail Anatolievich Morozov, phó của anh là Anatoly Viktorovich Davydov. Các thành viên của hội là các CCB tại Việt Nam, trong đó có tôi. Nhiều người đã đến Việt nam, giờ đây họ mời tôi đến thăm đất nước xa xôi nhưng thân thiết và gần gũi này, gặp gỡ những người mà chúng tôi đã đào tạo và cùng chiến đấu chung. Tôi rất muốn tận măt mình nhìn thấy CHXHCNVN đã đạt được những thành tựu gì trong những năm hòa bình từ 1975 đến nay.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Konkin5.jpg)
Hà Nội 15 tháng 5 năm 1969 từ trái sang: trung tá V.K.Konkin trưởng nhóm CGQS cấp trung đoàn tại e TLPK 263, e trưởng 263 Tạ Lộc, chủ nhiệm chính trị đoàn CGQS Soviet tại VNDCCH đại tá E.I.Polivaiko đến thăm nhóm chuyên gia tại e 263.

Nhóm chúng tôi có 4 người: Davydov Anatoly Viktorovich - trưởng đoàn, hội viên Skoriak Valery Vasilevich, tôi và Skipina Marina Valerievna - bác sĩ của bệnh viện CCB chiến tranh tỉnh Sverdlov. Chúng tôi nhận được visa từ tiến sĩ luật Lê Quý Quỳnh - tổng lãnh sự Việt Nam tại Ekaterinburg. Tiền đi du lịch chúng tôi có. Một chủ doanh nghiệp Việt Nam tại Ekaterinburg đồng chí Hoàng Văn Vinh đã trao tặng riêng cho tôi 30 ngàn rúp. còn các thành viên khác trong đoàn được tài trợ cho chuyến đi từ giám đốc nhà máy luyện kim Nizhny-Serghinsky Vladimir Ivanovich Butenko và giám đốc bệnh viện đa khoa tâm thần cho CCB chiến tranh tỉnh Sverdlov Viktor Sergheevich Bashkov.

Ngày 24 tháng 9 chúng tôi bay từ sân bay Koltsovo đến Domodievo, từ sân bay đó buổi tối chúng tôi bay "Boeing-777" tới Việt nam, hạ cánh tại thành phố Hồ Chí Minh - vốn là Sài Gòn cũ. Chuyến bay không dừng đỗ trung gian kéo dài 10 tiếng 30 phút.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, người tổ chức cuộc gặp gỡ tích cực nhất là Cường đã chờ đón chúng tôi, anh là thành viên của diễn đàn "Nước Nga trong tâm hồn tôi". Người ta chở chúng tôi về khách sạn, rồi giới thiệu chương trình: ngày 25 tháng 9 - gặp gỡ tại diễn đàn, ngày 26 - gặp gỡ các CCB Việt Nam, ngày 27 - đi thăm sông Mêkông, thăm rừng nhiệt đới, còn ngày 28 tháng 9 chúng tôi bắt đầu lên đường du lịch tới Hà Nội và đi qua 1500 km với 3 điểm dừng chân ở 3 thành phố.

Tại diễn đàn "Nước Nga trong trái tim tôi" có mặt nhiều người Việt Nam, mà 15-20 năm trước đã học tập ở Liên bang Soviet. Cuộc gặp gỡ diễn ra rất thú vị và dễ chịu. Tại buổi tiệc người ta thết các món ăn Việt Nam, nhiều người hát những bài hát Nga, họ trao tặng quà cho nhau. Chúng tôi tặng những món quà lưu niệm vùng Ural.

Ngày hôm sau chúng tôi giao lưu với các CCB chiến tranh Việt Nam. Người ta cám ơn chúng tôi vì sự giúp đỡ không vụ lợi trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ, những người có mặt kính cẩn đứng dậy giành một phút mặc niệm những ai đã hy sinh đời mình cho Việt Nam. Một CCB đáng kính của Việt Nam, nhà văn quân đội Lưu Trọng Lân tặng cho mỗi người chúng tôi cuốn sách của mình: "Nhớ về trận Điện Biên Phủ trên không".

Trong bữa ăn tối thân mật, chúng tôi chia sẻ với nhau hồi ức, những tấm ảnh lưu niệm, nâng cốc vì tình hữu nghị giữa hai nhân dân, hai đất nước chúng ta. Người phiên dịch tại cuộc gặp gỡ là Cường. con trai thiếu tướng Trần Chí Cương, người tổ chức vận chuyển đạn tên lửa Soviet vào Việt Nam trong những năm chiến tranh. Thiếu tướng Trần Chí Cương trao tặng tôi và Valery Vasilevich Skoriak huy hiệu "Bộ đội TLPK QC PKKQ Việt Nam" vì đóng góp của chúng tôi vào nền quốc phòng Việt Nam. Chúng tôi cảm nhận được sự chân thành sâu sắc và sự nồng ấm của tình anh em  trong thái độ của các CCB Việt Nam với chúng tôi, các CCB Soviet trong chiến tranh Việt Nam. Những cuộc gặp gỡ như vậy người ta sẽ không bao giờ quên.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Mozhaev_Than1.jpg) (http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Mozhaev_Than2.jpg)
Bức ảnh lưu niệm của đồng tiểu đoàn trưởng thiếu tá B.Mozhaev, người chỉ huy bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên ngày 24/7/1965 bằng tổ hợp S-75 mở ra trang vàng của BC TLPK Việt Nam, tặng tiểu đoàn trưởng 63 Nguyễn Văn Thân.

Ngày hôm sau người ta đưa chúng tôi đi xe buyt hạng nhẹ đến sông Mê-kông. Từ TP HCM chúng tôi đi về phía nam trên một con đường asphalt chất lượng rất tốt. Suốt 1 giờ rưỡi trên đường đi chúng tôi không hề nhìn thấy ở đâu có cảnh hoang tàn do các trận ném bom. Đất nước này đã hoàn toàn hồi phục. Tất cả đều được xây dựng mới. Hai bên đường san sát các cánh đồng lúa, hồ nước, thiên nhiên tươi đẹp, đặc biệt là phương Nam. Thường giữa cánh đồng lúa ta gặp một đám ma, những ngôi mộ. Tôn giáo tại Việt Nam là đạo Phật, theo đức tin này thì người ta chôn người chết gần nhà. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sau 3 năm các ngôi mộ đó được bật lên, người ta thu nhặt xương cốt người chết, rửa sạch rồi cải táng.

Trên sông Mê-kông chúng tôi xuống phà qua bờ đối diện, trên các cù lao giữa dòng có rất nhiều nơi để nghỉ ngơi. Tại đó - là một bảo tàng và công viên kỳ hoa dị thảo. Dòng sông đầy ắp nước chảy qua 5 quốc gia.

Chúng tôi đi sâu vào rừng bằng xuồng máy theo các con kênh. Một chuyến du lịch khám phá và tìm hiểu. Chúng tôi dừng lại trong một ngôi làng, thích thú làm quen với đời sống của dân cư nông nghiệp. Trong rừng cây mọc nhiều nhất là dừa. Quả dừa trên những cây cao nhiều đến mức tự rơi xuống đất. Sau đó mầm cây đâm chồi và chẳng bao lâu những cây dừa mới lại lên xanh. Người dân ở làng quê được nuôi sống bằng chính những tặng vật của rừng này - gần nhà ở là những đống vỏ dừa. Chúng tôi rất thích nước dừa mát lạnh. Trên xuồng máy chúng tôi lại quay về.

Tiếp theo là một cuộc rong ruổi đường bộ đón chờ chúng tôi. Ngày hôm sau chúng tôi khởi hành trên một chuyến xe buyt du lịch. Sau 9 giờ chúng tôi lại dừng chân ở thành phố Nha Trang.

Chúng tôi dừng ở Nha Trang 2 ngày. Ở đây rất nóng và ẩm, mặc dù thành phố nằm ngay trên bờ vịnh của Biển NTH. Sai lầm là chúng tôi không tắm biển và phơi nắng. Sau 2 ngày đi đường vào buổi tối chúng tôi đến thành phố Hà Tĩnh. Chuyến đi thật kinh khủng. Suốt đêm cơn bão nhiệt đới "Lekima" bám theo chúng tôi. Suốt 10 tiếng rưỡi chúng tôi đi xuyên màn mưa dày đặc. Chúng tôi có mặt ở Hà Tĩnh đúng lúc cơn cuồng nộ của thiên nhiên sôi sục. Bão phá sập nhiều ngôi nhà của nông dân, các công trình xây dựng, các cánh đồng lúa. Tại khách sạn "Nika", nơi chúng tôi trọ, các khung cửa sổ bị bão giật tung, còn trong thành phố các cây dừa vốn quật cường trước gió mạnh cũng bị đốn ngã ngổn ngang, hoặc bị gió giật xơ xác. Vài lần điện bị ngắt.

Tiếp đón chúng tôi tại thành phố là chủ tịch hội hữu nghị "Việt-Nga" Nguyễn Xuân Tình. Đây là một tỉnh rất giàu khoáng sản, dù chủ yếu phát triển về nông nghiệp. Bản thân thành phố nằm trên một bờ vịnh, các dãy núi từ phía tây kéo xuống phía thành phố.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo8.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo8.jpg.html)
Trong bảo tàng thi hào Nguyễn Du tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Chương trình tại Hà Tĩnh do hội hữu nghị "Việt-Nga" tổ chức. chúng tôi thăm bảo tàng nhà thơ Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Du. Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Tĩnh Hà Văn Chiêm tổ chức một buổi gặp gỡ. Các nhà doanh nghiệp phát biểu ý kiến, bày tỏ mong muốn hợp tác với tỉnh Sverdlov vốn phát triển về công nghiệp của chúng ta. Chiều muộn, chúng tôi chia tay thành phố Hà Tĩnh mến khách và khởi hành đi thủ đô nước CHXHCNVN.

Chúng tôi tới Hà Nội hồi 5 giờ rưỡi sáng. Người ta bố trí cho chúng tôi ở khách sạn "Memory". cũng như tại TP HCM, nhiều người dân của đô thị lớn này đi xe gắn máy, dù cũng có nhiều xe hơi. Tại Hà Nội hôm nay có 5 triệu người sống. Người ta nói với tôi là năm 1975 Việt Nam có 40 triệu người, còn năm 2005 đã là 85 triệu dân. Và đó là trong điều kiện mỗi gia đình có không quá 2 con.

Trong 30 năm tại thủ đô CHXHCNVN đã có nhiều tòa nhà mới được xây dựng, trong đó có nhiều nhà cao tầng. Chúng tôi mua bản đồ thành phố, đánh dấu vị trí khách sạn của chúng tôi và đi thăm các danh thắng. Chúng tôi đến Hồ Hoàn Kiếm. Truyền thuyết kể rằng có một con rùa lớn sống trong hỗ này. Nhà cầm quyền Việt Nam thời cổ nhận được từ rùa một thanh kiếm. để chiến đấu chống các kẻ thù tấn công đất nước. Ông chiến thắng mọi kẻ chiếm đóng và khi kẻ thù sạch bóng, ông đến chơi hồ, Con rùa nói với nhà cầm quyền: "Ngươi đã chiến thắng mọi kẻ thù, hòa bình đã đến, hãy trả lại thanh kiếm cho ta". Nhà cầm quyền đã trả lại thanh kiếm cho rùa thần bằng cách ném thanh kiếm xuống hồ.

Ngày 6 tháng 10 người ta đưa chúng tôi đến thăm danh thắng nổi tiếng, viên ngọc của Việt nam - vịnh Hạ Long. Nói ngắn gọn, một ngày có thể tóm gọn trong vài câu: từ Hà Nội đi xe một tiếng rưỡi về phía đông-nam, tới khu nghỉ mát, bốn giờ chơi ở đó, đến tối thì quay về. Nhưng không biết bao nhiêu ấn tượng chúng tôi đã thu được trong thời gian ấy! Ở đây người ta xây rất nhiều khách sạn, trong đó có cả những khạch sạn trang nhã nhất. Chúng tôi đi tàu du lịch dạo chơi trên vịnh, nhìn ngắm hằng hà sa số những ghềnh đá thần thoại nổi lên trên mặt nước, ngắm cảnh đẹp vô cùng lộng lẫy xung quanh...Cái nóng 35-40 độ nhưng chịu được.

Kế hoạch hoạt động đặt trước tại Hà Nội như sau:
Ngày 7 tháng 10 hồi 9 giờ sáng - thăm làng tơ lụa Vạn Phúc nổi tiếng ở ngoại ô thủ đô; sau khi ăn trưa - dạo phố Hà Nội mua quà lưu niệm; vào lúc 18 giờ gặp các thành viên diễn đàn "Nước Nga trong tâm hồn tôi", ăn tối.

Ngày 8 tháng 10 - đi thăm nơi đóng quân trước đây của tiểu đoàn tên lửa 63 tại Ba Vì, tỉnh Sơn Tây; thăm gia đình CCB Việt Nam Trương Văn Tạ, phiên dịch viên của tôi hồi xưa. Tham gia các hoạt động này có các CCB trung đoàn TL 236 cùng BCH sư đoàn. Sau khi ăn trưa đi thăm triển lãm của bảo tàng PKKQ Việt Nam; gặp ban lãnh đạo bảo tàng và BCH sư đoàn PK 361, ăn tối tại sư đoàn.

Ngày 9 tháng 10 lúc 8 giờ sáng - gặp các CCB có sự tham gia của giới truyền thông; sau buổi trưa gặp giám đốc Viện Châm cứu; buổi tối gặp ban biên tập báo "Tiền Phong". Tất cả các hoạt động này được báo chí và truyền hình đưa tin.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Sáu, 2014, 01:24:12 AM
Vậy là ngày 7 tháng 10 người ta thân ái đưa chúng tôi xuống làng cổ Vạn Phúc danh tiếng ở tỉnh Hà Đông, cách Hà Nội 15 km. Trong ngôi làng này có hẳn một nhà máy dệt lụa, rất nhiều cửa hàng, bán đủ các loại sản phẩm tơ lụa khác nhau, cũng như những bức tranh thêu bằng lụa. Rất hay và rất đáng quý. Đó có thể nói là làng Khokhloma (một làng nổi tiếng ở Nijnigorod, Nga, nổi tiếng từ thế kỷ 17 như là một trung tâm mỹ nghệ dân gian vẽ sơn trên gỗ của nước Nga) về lụa của Việt Nam. Mua xong quà tặng cho người thân chúng tôi quay về Hà Nội.

Buổi tối chúng tôi có mặt tại diễn đàn "Nước Nga trong tâm hồn tôi". Tại đó đã tập hợp rất nhiều người Việt Nam, đã tốt nghiệp các trường đại học ở nước ta. Tất cả họ ở mức độ nào đó đều biết tiếng Nga và văn học Nga. Ngày hôm đó tôi vừa tròn 71 tuổi. Họ nồng nhiệt chúc mừng sinh nhật tôi, họ tặng quà và một bó hoa lớn. Nhưng trong những lời chúc mừng này có gì đó bí ẩn, chưa nói hết. Hóa ra tất cả đang chờ đợi một người nữa đang đến. Và đây con người đó xuất hiện cùng một bó hoa. Từ xa ban đầu tôi chưa nhận ra đó là ai. Nhưng khi anh đến gần hơn tôi vui mừng nhận ra Nguyễn Đình Khoan, người tôi đã đào tạo trong thời gian chiến tranh, và tôi đã cùng anh vai kề vai, ngồi trong cabin RPK, khi diễn ra trận đánh đầu tiên. Đó là ngày 24 tháng 7 năm 1965. Tôi cùng anh đã đảm bảo cho việc điều khiển đạn tên lửa cho đến lúc nó phát nổ khi gặp mục tiêu máy bay Mỹ. Bây giờ anh cũng là cựu chiến binh-chiến sĩ tên lửa như tôi. Đối với hai chúng tôi cuộc gặp gỡ sau hơn 40 năm thật là một bất ngờ dễ chịu. Chúng tôi nồng nhiệt ôm ghì lấy nhau, hôn nhau như những người bạn gần gũi thân thiết nhất, vui mừng vì cả hai vẫn còn sống và đã có may mắn nếm trải một giây phút hân hoan đến vậy với chúng tôi.  Chúng tôi hồi tưởng lại những cảnh tượng chiến tranh đã qua, nhớ đến những người bạn chiến đấu của mình, nói về cuộc sống hạnh phúc sau chiến thắng bọn xâm lược Mỹ. Nguyễn Đình Khoan tặng tôi bức ảnh toàn thể gia đình mình. Người ta quay video rất nhiều cảnh của chúng tôi.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo7.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo7.jpg.html)
Những người bạn chiến đấu: Todorashko và Nguyễn Đình Khoan.

Tại diễn đàn, mọi người nâng cốc chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta, chúc nước Nga, chúc Việt Nam, chúc LLVT nước CHXHCNVN, đang ngày đêm nâng cao cảnh giác bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước. Tiếp theo nhiều người hát những bài hát Nga, Tuyết Hằng Tú biểu diễn cảm động đến mức mọi người lặng đi. Các bạn Việt Nam rất thích những bài hát Nga, đặc biệt là "Kachiusa", "Chiều Moskva", cũng như những bài hát quân đội, - "Đồng hương" và những bài hát khác. Chúng tôi đưa cho các bạn thành viên diễn đàn xem những bức ảnh chụp thời chiến tranh. Thật vui vì được ở trong không khí chân thành thắm tình hữu nghị như vậy. Cuộc giao lưu này chứng tỏ bằng sự giúp đỡ vô tư của mình cho Việt Nam những năm chiến tranh khó khăn, đất nước ta đã chinh phục được tâm hồn các công dân của nó.

Ngày hôm sau một chiếc xe buyt từ bộ tham mưu sư đoàn PK 361 tới khách sạn "Memory" nơi chúng tôi nghỉ. Cuộc gặp với các sĩ quan Việt Nam bắt đầu. Họ xếp chúng tôi lên vị trí trang trọng, thết nước chè xanh. PTL QC PKKQ QDNDVN thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải, qua lời người phiên dịch, giới thiệu các CCB VN đã tham gia trận đánh để đời đầu tiên với KQ Mỹ. Đó là:

- Phạm Trương Uy: thiếu tướng AHLLVT VN, CCB BC TLPK, nguyên sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 64;
- Nguyễn Văn Thân: nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 63;
- Lã Đình Chi: nguyên sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 63;
- Nguyễn Văn Thực: trung tướng, AHLLVT VN, nguyên tiểu đoàn trưởng;
- Hùng: CCB BC TLPK;
- Nguyễn Đình Khoan: trắc thủ RPK.

Cùng có mặt là Quách Hải Lượng - trưởng nhóm phiên dịch quân sự trong chiến tranh, trong nhóm đó có Trần Phúc Cải và Trương Văn Tạ.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo10.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo10.jpg.html)
Cùng gia đình người bạn chiến đấu-phiên dịch viên Trương Văn Tạ.

Đồng chí Phạm Trương Uy trao tặng quà cho tôi và Skoriak với tư cách là các CCB, còn phiên dịch viên quân sự trong thời chiến Quách Hải Lượng chép và trao cho tôi danh sách các chuyên gia QS Soviet làm việc tại Việt Nam giai đoạn 1965-1966.

Chúng tôi tặng các CCB VN mô hình thu nhỏ quả đạn tên lửa bằng đuya-ra, - mô hình của chính quả đạn được phóng lên bắn rơi máy bay Mỹ trong trận đánh đầu tiên. Tại cuộc gặp này, PTL QC PKKQ thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải nhấn mạnh: "Chúng tôi luôn giữ trong trái tim mình tình cảm đặc biệt và lòng biết ơn sâu sắc đối với các bạn Liên Xô và Nga vì sự giúp đỡ lớn lao trong chiến tranh chống xâm lược Mỹ. Hôm nay chúng tôi chân thành chào mừng các bạn chiến đấu người Nga đến thăm".

Trên đường tới trận địa TL cũ chúng tôi ghé vào ngôi làng nơi gia đình người phiên dịch thời chiến tranh Trương Văn Tạ của tôi sinh sống. Khi chúng tôi bước xuống khỏi chiếc xe buyt nhỏ, đón chúng tôi là bà quả phụ Trương Văn Ta, bà Nguyễn Thị Tuyên và các con của mình - con trai út Trương Văn Tá, con trai lớn Trương Quang Ninh, hiện là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 61, con gái cả Trương Thị Hà. Chúng tôi vào nhà, mỗi người thắp 3 ngọn nến tưởng niệm người bạn chiến đấu đã qua đời năm 2002. Trên tường treo một bức hình lớn của Trương Văn Tạ. Bà quả phụ gỡ bức ảnh xuống trao cho tôi làm kỷ niệm. Bà cũng trao cho tôi một món quà của gia đình mình. Bà Nguyễn Thị Tuyên nhập đoàn với chúng tôi, chúng tôi cùng nhau đi ra trận địa chiến đấu.

Tại nơi triển khai năm 1965 của tiểu đoàn 63, bằng một loạt phóng đạn bắn rơi 2 máy bay Mỹ, nguyên tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thân chỉ chỗ đặt các bệ phóng và cabin trên trận địa tên lửa. Cảm xúc tràn ngập tâm hồn tôi. Có thể nói, đằng sau là cả một cuộc đời. Tôi lại đi trên mảnh đất nóng bỏng này, hồi tưởng lại chuyện đã xảy ra 42 năm trước. Chúng tôi xem xét trên tấm bản đồ cũ vị trí đặt khí tài được giao phó và nhớ lại chi tiết trận đánh lịch sử ngày 24 tháng 7 năm 1965. Trận đánh này thật sự có ý nghĩa lịch sử, nó trở thành cơ sở, thành điều tiên tri về sự khởi đầu thất bại của KQ Mỹ, ví dụ đầy khích lệ cho những người yêu nước Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống quân đội Mỹ. Trên trận địa nổi tiếng này rất nhiều khoảnh khắc đã được ghi lại, truyền hình cũng tiến hành cuộc phỏng vấn của mình. Tôi cùng người bạn Nguyễn Đình Khoan của mình chụp ảnh kỷ niệm ngay trên đài quan sát. Truyền hình Việt Nam quay một bộ phim ngắn bên cạnh các dãy chiến hào cũ nơi các CCB và các quân nhân tập trung.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo6.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo6.jpg.html)
Tại trận địa cũ của tiểu đoàn 63

Chúng tôi có mặt tại ngôi làng nơi có dựng một đài kỷ niệm hình quả tên lửa đang bay vút lên cao, ghi nhớ trận đánh thắng lợi đầu tiên của bộ đội TLPK VN. Chúng tôi chụp ảnh bên đài kỷ niệm. Đúng lúc đó các cháu học sinh quàng khăn đỏ ở ngôi trường cạnh đó quan sát chúng tôi. Chúng tôi gọi các cháu và chụp ảnh thêm một lần nữa với các cháu. Niềm vui của các cháu học sinh phổ thông là không giới hạn!

Buổi tối đoàn chúng tôi được mời chiêu đãi. Bữa tiệc tổ chức tại bộ tham mưu QC PKKQ ở Hà Nội. Người ta nói rất nhiều lời cảm ơn nồng nhiệt, trao tặng quà, phong bì có tặng thưởng bằng tiền. Phó tư lệnh tặng đồng hồ cho tôi và Valery Skoriak.

Tại Bảo tàng PKKQ người ta cho chúng tôi xem bức tranh toàn cảnh phản ánh trận đánh lịch sử trong thời gian Mỹ ném bom ồ ạt xuống Hà Nội tháng 12 năm 1972. Khi đó 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó có 34 B-52. Sau trận đánh này Hoa Kỳ chấm dứt xâm lược chống VNDCCH và nối lại thương lượng. Năm 1975 Nam Việt Nam được giải phóng và một quốc gia duy nhất được tạo ra - Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 8 tháng 10 người ta mời chúng tôi đến gặp gỡ tại BBT tờ báo "Tiền Phong" của thanh niên. Tổng biên tập là nhà thơ Dương Kỳ Anh. Anh chào mừng chúng tôi và giới thiệu những người tham gia buổi gặp. Qua lời anh chúng tôi hiểu rằng vào đầu những năm 1970 anh phục vụ ở tiểu đoàn TLPK 61 mà tiểu đoàn trưởng hiện nay là Trương Quang Ninh, con trai của phiên dịch viên Trương Văn Tạ của tôi.

Đại diện báo chí và truyền hình cũng được mời tới dự cuộc gặp gỡ này. Chúng tôi kể về chuyến đi Việt Nam của mình, chuyện chúng tôi gặp mưa lớn thế nào, hậu quả của cơn bão nhiệt đới "Lekima", về chuyến đi tới địa điểm các trận địa chiến đấu cũ. Còn người bạn chiến đấu của tôi CCB PKVN Nguyễn Đình Khoan, kể về các ấn tượng của mình, về tình bạn chiến đấu của chúng tôi, về cuộc chiến đấu chống bọn xâm lược Mỹ, anh nồng nhiệt cảm ơn sự giúp đỡ vô tư của chúng ta. Nhân danh các CCB VN người ta trao cho tôi một album ảnh. Tại cuộc gặp này có toàn bộ gia đình người phiên dịch Trương Văn Tạ của tôi. Con gái lớn của ông, Trương Thị Hà hát bài hát của chúng ta "Địa chỉ của tôi - Liên bang Soviet" bằng tiếng Nga. Kết thúc buổi gặp gỡ chúng tôi chụp ảnh kỷ niệm.

Trong ngày hôm đó còn một cuộc gặp gỡ nữa - tại Viện Châm cứu do giáo sư nổi tiếng Nguyễn Tài Thu lãnh đạo. Tại viện này người ta đã chữa trị thành công nhiều bệnh trong đó có bệnh nghiện rượu. Các bệnh nhân chỉ phải trả một ít tiền còn lại là miễn phí. Người ta đưa chúng tôi qua các phòng ban, cho xem dụng cụ và tất cả mọi thứ cần thiết dùng chữa bệnh.Skipina Marina Valerievna - bác sĩ bệnh viện CCB chiến tranh tỉnh Sverdlov nói rằng trường phái châm cứu Tring quốc và Việt Nam là xuất sắc nhất thế giới, có thể mời các chuyên gia Việt Nam sang hoặc gửi các bác sĩ của chúng ta sang đây học tập. Cô ấy trao đổi vấn đề này với Phó Giám đốc Viện Châm cứu và nhận được câu trả lời rằng việc này có thể giải quyết được. Cuộc đi thăm Việt Nam của chúng tôi đến đây kết thúc.

Tôi muốn nhấn mạnh và nêu lên những vấn đề như vậy vốn chỉ bây giờ trong thời bình mới có điều kiện suy nghĩ thấu đáo. Có thể nói tiểu đoàn 63 ruột thịt của tôi, sau khi 5 sĩ quan Soviet về nhà ngày 10 tháng 5 năm 1965, trong suốt thời gian chiến tranh đã bắn rơi 32 máy bay, bắt tủ binh 12 phi công Mỹ, đã phóng hơn 100 quả đạn tên lửa. Còn toàn bộ BC TLPK trong thời gian chiến tranh từ 1964 đến 1974 đã bắn rơi 1293 máy bay Mỹ trong đó có 54 B-52.

Có thể làm tổng kết sơ bộ thời kỳ 5.8.1964 đến 31.12.1972. Trong thời gian đó đã có 4181 máy bay Mỹ bị bắn rơi, cụ thể PPK bắn rơi 2568 chiếc (60%), KQTK bắn rơi 320 (9%), TLPK bắn rơi 1293 (31%). Trong số đó B-52 có 54 chiếc, 90% B-52 bị TLPK bắn rơi.

Tại sao Hoa Kỳ chịu thất bại ở Việt Nam? Tôi nghĩ rằng có thể trả lời như sau.
- Thứ nhất, cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam và sự giúp đỡ vô tư của chúng ta.
- Thứ hai, trong hoàn cảnh chiến đấu người Việt Nam đã biểu lộ những phẩm chất quý giá như sự kiên cường, sức chịu đựng dẻo dai, sự mưu trí, tài thao lược.
- Thứ ba, chúng ta đã biết cách dạy người Việt Nam làm việc và chiến đấu bằng khí tài phức tạp của chúng ta, áp dụng khí tài thành công vào hoạt động chiến đấu.
- Thứ tư, điều chủ yếu nhất trong cuộc đấu tranh này là yếu tố tinh thần, việc huấn luyện tâm lý-tinh thần đã đạt đến trình độ cao.

Tôi cám ơn số phận đã gắn bó tôi với Việt Nam, cho tôi những người bạn chiến đấu trung thành, và chúng tôi đã biết cách gặp nhau sau nhiều năm ở trong hoàn cảnh thời bình, không có chiến tranh.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo9.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo9.jpg.html)
Chụp ảnh cùng các em học sinh phổ thông bên tượng đài kỷ niệm trận đầu đánh thắng của bộ đội TLPKVN ngày 24 tháng 7 năm 1965

Tất cả chúng tôi cảm ơn TLS CHXHCNVN tại Ekaterinburg Lê Quý Quỳnh. Sau khi từ Việt Nam trở về, anh mời chúng tôi đến thăm hỏi. Chúng tôi kể về chuyến đi của mình, chúng tôi được mời làm khách danh dự tại Lễ mừng Năm Mới theo Âm lịch - ngày 7 tháng 2 năm 2008. Theo tiếng Việt, Năm Mới được gọi là "Tết". Rồi ngày 3 tháng 2 chúng tôi được mời dự Tết tổ chức ở khách sạn "Bắc Kinh" tại Ekaterinburg.

Tổ chức CCB vùng của chúng tôi đóng trung tâm ở thành phố Ekaterinburg nằm trong thành phần "Tổ chức xã hội liên vùng CCB chiến tranh Việt Nam". Trong tổ chức của chúng tôi có toàn bộ các CCB vùng Ural đã chiến đấu ở Việt Nam trong các thời kỳ khác nhau. Tôi được bầu là phó chủ tịch tổ chức của chúng tôi. Chúng tôi sẽ ủng hộ và giúp đỡ tất cả các CCB.

Tôi nghĩ rằng chuyến đi thăm Việt Nam của chúng tôi và cuộc gặp gỡ các CCB VN cho thấy chúng tôi cần tích cực hơn nữa trong công tác vận động tuyên truyền giới trẻ của mình tình yêu Tổ quốc, lòng tự hào về LLVT của đất nước và trở thành người chiến sĩ quốc tế chân chính.

Ekaterinburg, năm 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Sáu, 2014, 02:36:15 PM
(nhat-nam.ru)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Boshnyak1.jpg)

Chúng tôi bảo vệ nền độc lập của Việt Nam

Boshnyak Yury Mikhailovich

Boshnyak Yuri Mikhailovich, thượng tướng pháo binh, cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ quân đội, Phó Tiến sỹ Khoa học Quân sự, Phó Giáo sư.

Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1928 tại thành phố Balashov, tỉnh Tambov. Tháng 11 năm 1946, nhập học Trường Cao đẳng Hải quân thuộc hạm đội Thái Bình Dương mang tên đô đốc S.O.Makarov. Sau khi tốt nghiệp tháng 11 năm 1950 phục vụ trên các tàu chiến của hạm đội Thái Bình Dương và Baltic, từ tháng 2 năm 1955 - là đại đội phó rồi đại đội trưởng đại đội PPK thuộc trung đoàn PPK LLPK hạm đội.

Năm 1958 vào học Học viện Chỉ huy PK Quân sự, và tốt nghiệp năm 1962. Sau khi tốt nghiệp học viện được bổ nhiệm phó chỉ huy trung đoàn tên lửa PK. Từ tháng 3 năm 1963 - chỉ huy trung đoàn TLPK.

Từ tháng Tư 1967 đến tháng 3 năm 1968 công tác biệt phái tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên cương vị chuyên gia cố vấn cho trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa PK QDNDVN - trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô cấp trung đoàn. Năm 1970 tốt nghiệp Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu các Lực lượng vũ trang Liên Xô, sau khi tốt nghiệp được bổ nhiệm tham mưu trưởng - phó tư lệnh thứ nhất quân đoàn phòng không độc lập.
 
Phục vụ tiếp tục trong các lực lượng vũ trang cho đến năm 1981 trên các cương vị tham mưu và chỉ huy đến vị trí tư lệnh quân đoàn phòng không độc lập. Giai đoạn 1970-1971 chỉ huy 1 sư đoàn PK (S-125, "Shilka") tham gia cuộc xung đột quân sự tại Ai Cập.

Năm 1981, ông được bổ nhiệm Giám đốc Học viện chỉ huy Phòng không Quân sự (Học viện Phòng không và Phòng thủ Vũ trụ) mang tên Nguyên soái Liên Xô G.K.Zhukov.

Chuyển ngạch dự bị tháng 9 năm 1985 từ cương vị Giám đốc Học viện (thay thế ông là thượng tướng pháo binh A.I.Khiupenen, phục vụ ở Việt Nam năm 1972-1975 trên cương vị Trưởng đoàn chuyên gia và cố vấn quân sự Soviet tại Việt Nam) và tiếp tục làm việc cho đến tháng 10 năm 2004  trên tư cách Giám đốc Bảo tàng Quốc gia hợp nhất Tver (mất ngày 30 tháng 10 năm 2004 vì tai nạn giao thông).

Ông đã được trao tặng hai huân chương Cờ Đỏ, các huân chương Lao động Cờ đỏ, "Phục vụ Tổ quốc trong Lực lượng vũ trang Liên Xô" bậc II và III, huân chương của nước VNDCCH "Chiến Công" hạng III và 18 huy chương, trong đó có huy chương Hữu nghị của nước VNDCCH.


Tác giả của những dòng này trong thời gian 1967-1968 đã công tác tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá trình đó tác giả đã tiến hành ghi chép (không thường xuyên). Trong hồi ức của mình, tôi chỉ dựa vào các ghi chép này, mà không sử dụng bất kỳ tài liệu lưu trữ nào.

Ngày nay ít người biết rằng trước Chiến tranh Thế giới thứ Hai Đông Dương là một thuộc địa của Pháp. Sau sự thất bại trước quân du kích Việt Nam tại Điện Biên Phủ năm 1954 người Pháp từng bước chuyển giao các chức năng lãnh đạo Việt Nam của họ cho người Mỹ. Đến đầu thập niên 60, có hai hệ thống: một phía, đó là miền Nam Việt Nam, thực sự là một đất nước vệ tinh của Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt Nam), Bắc Việt Nam đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.

Người Mỹ sử dụng mọi cơ hội để hỗ trợ chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại Bắc Việt Nam. Lãnh đạo miền Bắc Việt Nam, đến lượt mình, đặt nhiệm vụ thống nhất toàn bộ đất nước và phải nói rằng, tới đầu thập kỷ 60-70 họ đã khá thành công trong việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, người Mỹ không muốn chấp nhận sự mất mát căn cứ chiến lược của mình, đó là miền Nam Việt Nam, và đầu tháng 8 năm 1964 họ gây ra cái gọi là "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", khi tàu của Mỹ được cho là hoặc bị cố ý hoặc không cố ý (bây giờ điều đó không quan trọng) tấn công bởi các tàu phóng ngư lôi cao tốc VNDCCH. Kết quả là, ban lãnh đạo Hoa Kỳ quyết định bắt đầu từ ngày 05 tháng 8 năm 1964 tiến hành các cuộc ném bom VNDCCH, ban đầu là các vùng riêng biệt, sau đó từ năm 1965 thì ném bom gần như toàn bộ lãnh thổ nước VNDCCH.

Đương nhiên, khi có trong tay một lực lượng không quân-hải quân cực kỳ hùng mạnh với các sân bay quân sự trên mặt đất ở Nam Việt Nam và Thái Lan, cũng như các cơ sở đóng trên các tàu sân bay Hoa Kỳ, người Mỹ bắt đầu đạt được kết quả rất khả quan trong việc chế áp sức mạnh quân sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và chính phủ Bắc Việt Nam buộc phải yêu cầu sự giúp đỡ từ phía Liên Xô trong công cuộc tổ chức phòng thủ. Chính phủ của chúng ta đáp ứng yêu cầu của ban lãnh đạo VNDCCH, khẩn trương gửi tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hệ thống tên lửa PK S-75 phiên bản đầu tiên, tuy nhiên, đã được hiện đại hóa một phần, được sử dụng rất thành công trong cuộc chiến đấu đẩy lùi các cuộc tấn công không quân của Mỹ. Đó là sự áp dụng lớn nhất một hệ thống phòng không hiện đại kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, nhằm chống lại không quân hiện đại. Đến năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có hơn bảy trung đoàn được trang bị hệ thống tên lửa PK S-75.

Phải nói rằng sự nhiệt tình trong giới chúng tôi, các quân nhân, đặc biệt là các sĩ quan QCPK, là khá cao, chúng tôi trên từng mức độ khác nhau, đều mong muốn tham gia vào các hoạt động chiến đấu tại Việt Nam. Tôi nhớ một lần (tôi lúc đó chỉ huy một trung đoàn tên lửa PK quân khu PK Moskva) đã tập hợp trung đoàn (hay đúng hơn là một số đại diện độc lập của trung đoàn, vì trung đoàn bao gồm các tiểu đoàn tên lửa phòng không (zrdn), trực chiến tại các cự ly cách trung tâm từ 30 đến 40 km), và chúng tôi đã làm đơn gửi lên Hội đồng Quân sự QK, yêu cầu phái chúng tôi đi tham gia bảo vệ bầu trời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là năm 1966. Tiếp đến là một khoảng lặng, không ai động đến chúng tôi, không ai gọi chúng tôi đi đâu, không ai trả lời, nhưng đâu đó vào cuối năm 1966 hoặc đầu tháng Giêng năm 1967, tôi được triệu tập đến BTM QKPK Moskva và người ta hỏi tôi có muốn đi Việt Nam không. Tôi nói: "Vâng, tất nhiên". Người ta giải thích rõ hơn: "Làm chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không". Tôi nói: "Tất nhiên, tôi rất vui, được đi cùng trung đoàn của mình". Và người ta nói với tôi: "Không, anh không đi cùng trung đoàn của mình, anh đến một trung đoàn đang ở sẵn đó. Thay người chỉ huy cũ".

Ít người bây giờ biết rằng gửi người ra nước ngoài - đó là một hoạt động nhân sự khá khó khăn thời trước, trong đó, có lẽ, các cơ quan cán bộ chỉ có tầm quan trọng thứ cấp (ít nhất là ở thời điểm đó). Ở đây, vai trò quyết định thuộc về các nhân viên của Ủy ban Trung ương Đảng, trong đó có bộ phận hành chính, họ kiểm tra và cho phép hoặc không cho phép ra nước ngoài bất kỳ ai, cũng như một anh chỉ huy trung đoàn tên lửa PK. Quyết định gửi đi nước ngoài thực hiện theo một số bước sau: Bước đầu tiên - đó là các cơ quan cán bộ, được sự cho phép của các cấp chỉ huy thích hợp và các tư lệnh chọn ra một số người, sau đó những người này được giới thiệu tới Tổng cục 10 Bộ Tổng Tham mưu, nơi chịu trách nhiệm gửi tất cả những ai đi nước ngoài, và cuối cùng người được lựa chọn sẽ được đưa tới phỏng vấn với các cơ quan hành chính của Trung ương Đảng. Thời kỳ đó, theo ý kiến của tôi, lãnh đạo bộ phận này của Trung ương Đảng là Savinkin, nhưng tôi trước khi được đề bạt vào cương vị tư lệnh quân đoàn Phòng không độc lập số 14 không được gặp ông, mà tất cả các cuộc trò chuyện của tôi kết thúc hoặc ở cấp độ của người hướng dẫn bộ phận hoặc ở cấp độ người đầu ngành (khi đó là Anatoly Evghenevich Volkov, người biết tôi, và tôi cũng biết ông khá rõ, nói chung tôi rất kính trọng ông) hoặc ở cấp độ phó giám đốc bộ phận thuộc các cơ quan hành chính, người mà tôi chỉ được gặp khi được bổ nhiệm lên các chức vụ cao hơn.

Theo tôi nhớ, khi phái tôi đi Việt Nam, tôi được gặp Alexander Nikolaevich Soshnikov. Hầu như tất cả các nhân viên của ban này là các cán bộ chính trị quân sự và tất cả tự coi mình là những người hiểu biết nhất trong mọi lĩnh vực, nghĩa là tất nhiên hầu hết trong số họ phản ánh về thực chất con đường công tác chính trị. Vi vậy Soshnikov (hồi đó tôi có quan hệ khá bình thường với anh ta) đã nói với tôi rằng, về Boshnyak "không thể có chút nghi ngờ nào, chúng tôi ngay từ đầu đã "đồng ý" anh". Muộn hơn một chút, 18 năm sau, Soshnikov là một trong những kẻ thù phản đối tôi ác nhất, anh ta đã làm hết sức mình phá hoại con đường phục vụ tiếp tục của tôi.

Vậy là khoảng giữa tháng Ba, tất cả các lựa chọn đã xong, tôi đã biết mình sẽ được bổ nhiệm về trung đoàn nào - đó là trung đoàn tên lửa PK thứ 5. Bộ phận chủ yếu các sĩ quan phục vụ trong các trung đoàn tên lửa phòng không ở VNDCCH là các chuyên gia, trợ giúp kỹ thuật và chiến thuật trên một mức độ lớn ở cấp trung đoàn. Khaongr đầu những ngày 20 trong tháng, chúng tôi được "mời" ngay lập tức đến sân bay "Chkalovsky", thay trước sang quần áo dân sự, từ đó đêm 24 tháng 3 năm 1967 chúng tôi bay đi trên máy bay IL-18.

Có một số khó khăn trên đường đi. Đầu tiên chúng tôi không xuống được Irkutsk, mà phải quay lại Omsk, ngủ qua đêm ở đây, rồi bay trở lại Irkutsk, lần này thì hạ cánh an toàn, ăn trưa, lên xe buýt đi thăm xung quanh thành phố, xem phim, rồi quay về. Vào ban đêm, chúng tôi đi tìm kiếm nhóm trưởng của chúng tôi (Pavel Fedorovich Shikul đi đâu đó thăm một người quen). Buổi sáng, chúng tôi tìm thấy anh, và tất cả đã bay đi cùng nhau. Ngày 26 Tháng 3 năm 1967 chúng tôi hạ cánh xuống Bắc Kinh.

Chúng tôi gặp các Hồng vệ binh và những người tạo phản, mà trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, thậm chí họ không hề gây ầm ĩ, hơn nữa, họ cũng không nhạo báng chúng tôi (trong giai đoạn lịch sử được mô tả đã xảy ra sự đổ vỡ nghiêm trọng trong mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc). Dọc theo đường băng bê tông chăng một khẩu hiệu lớn "Đả đảo bọn Sa hoàng mới của Nga tại điện Kremlin!" Và nhiều khẩu hiệu tương tự. Từ mọi góc độ, nhìn chúng tôi là những chân dung Mao Trạch Đông nhìn đẹp như tranh vẽ, luôn luôn cầm một cuốn sách đỏ.

Vào buổi tối, chúng tôi cất cánh từ Bắc Kinh và lúc 20 giờ hoặc khoảng đó theo giờ Moscow đã đáp xuống sân bay Nội Bài. Đón chúng tôi ở đó là tướng Kislyansky, trưởng đoàn chuyên gia binh chủng tên lửa phòng không Liên Xô tại Việt Nam, người ta đưa chúng tôi đến "Kimliên" (khách sạn quốc tế tại Hà Nội), và chúng tôi đi ngủ. Vào buổi sáng chúng tôi lên xe đến đại sứ quán, tại đó có bộ tham mưu đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Người ta đưa cho chúng tôi 200 đồng Việt Nam, và chỉ khi đó chúng tôi mới phát hiện ra rằng, làm việc tại VNDCCH hoàn toàn không phải là miễn phí! Hơn nữa, chúng tôi được biết tiền lương của chúng tôi ở Liên bang hoàn toàn được để cho các bà vợ chúng tôi, còn ở đây chúng tôi sẽ nhận được nhiều tiền lương hơn, trong đó một phần tiền đồng có thể được sử dụng cho bản thân và một phần có thể được ghi trên cái gọi là "tấm séc có sọc màu xanh lơ" . Trên thực tế, tôi phải nói rằng trong nền giáo dục ngày hôm nay cho giới trẻ, điều đầu tiên người ta sẽ hỏi mình được thanh toán bao nhiêu, nền giáo dục đó không tương ứng với nền giáo dục mà chúng tôi có được trong những năm tháng đáng tự hào trên.

Vậy là, nhóm 16-18 người bay cùng với tôi đã được phân phối vào các đơn vị khác nhau, bao gồm cả bộ tham mưu của trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Tôi đến trung đoàn, mà lãnh đạo nhóm chuyên gia của nó tại thời điểm này là Đại tá Ivan Iosifovich Pevnyi (tôi không thể nhớ nơi ông phục vụ trước đó), ông lớn hơn tôi ít nhất mười tuổi, gây cho tôi ấn tượng một ông già khá nát. Đặc điểm đội ngũ sĩ quan của chúng tôi trong thời gian đó là không ai có quyền ở Việt Nam hơn một năm, tức là nếu một người thiếu chỉ một vài ngày nữa thì kết thúc một năm, người ta sẽ bằng mọi cách trục xuất anh ta về càng nhanh càng tốt. Điều này liên quan đến một thực tế là khi bạn ở Việt Nam hơn một năm, sẽ có những đạo luật tài chính nào đó tác động, sẽ phải chi trả công tác phí nhiều hơn. Để không phải làm điều này, người ta xếp đặt chuyến công tác chỉ trong vòng một năm. Vậy là, họ đưa tôi đến một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Bắc Ninh, nơi trung đoàn của chúng tôi đóng quân.

Thời gian này, đại sứ nước ta ở VNDCCH là Shcherbakov, một người mà chúng tôi ít khi được gặp. Ông, về cơ bản, chỉ đọc trước mặt chúng tôi các loại báo cáo và sự giao tiếp không gây cho tôi ấn tượng gì đặc biệt. Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô thời điểm đó là tướng Belov, người không nghi ngờ gì, có nguyên tắc rất cứng rắn và tác phong điều lệnh cứng nhắc, nhưng không may, giống như bất kỳ viên chỉ huy lục quân nào, ông không hiểu biết về các binh chủng trong QC phòng không. Ông đến Việt Nam trên cương vị một chỉ huy sư đoàn. Về Belov người ta hay kể một câu chuyện tiếu lâm khá buồn cười, khi ông đang đứng tại sân bay Nội Bài giữa một cuộc đột kích của máy bay Mỹ và nhìn thấy tên lửa của chúng ta bay vọt qua máy bay đối phương như thế nào, ông kêu lên: "Đấy chúng nó sẽ lại nói với tôi một lần nữa về những loại nhiễu nào đó, mà có nhiễu quái quỉ gì đâu, trời trong vắt thế kia cơ mà". Nhưng với tư cách một nhà tổ chức, không nghi ngờ gì nữa, ông đã thực hiện tốt chức năng của mình.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/pic/Belov.jpg)
Tháng 8 năm 1965 người tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, nhà chỉ huy binh chủng hợp thành, mà không phải là chuyên gia PK, thiếu tướng G.А.Belov được cử đến Việt Nam làm trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet, bởi vì thời điểm ấy ban lãnh đạo quân sự Soviet không loại trừ khả năng Mỹ sẽ đổ bộ quân đội xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam và chiến sự sẽ diễn ra tiếp tục với sự áp dụng các lực lượng lục quân từ cả hai phía.

Nhân vật nổi bật nhất đối với chúng tôi là Kislyansky Vasily Semionovich, mà tôi may mắn được gặp gỡ cả về sau, gần như đến hết đời phục vụ quân đội của tôi năm 1985. Thông minh, nắm vững công việc của mình, là một chiến sĩ tên lửa có đầu óc, một con người hoàn toàn tự chủ và hiểu biết, là người mà người ta rất hài lòng được cùng phục vụ. Những người còn lại tôi không nhớ, nhưng trong mọi trường hợp, đó là nhóm đầu tiên các lãnh đạo và các đồng chí cấp trưởng của tôi, mà tôi phải làm việc cùng tại VNDCCH, họ tạo cho tôi ấn tượng rất tốt. Tiếc rằng không thể nói gì, về những người thay thế họ. Vậy đấy, tôi đã đến trung đoàn của tôi, đã làm quen với viên chỉ huy trung đoàn, tên là Hoan (trước khi gặp tôi anh ta đã kịp học đâu đó tại Liên Xô). Tôi phải nói rằng, việc kiện toàn đội ngũ nhân sự các tiểu đoàn tên lửa phòng không với tư cách các đơn vị kỹ thuật phức tạp nhất đã được thực hiện chủ yếu bằng những người Việt Nam, học ở Liên Xô, thường là, trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Và như vậy, điều hoàn toàn tự nhiên là làm việc trong các tiểu đoàn này, là những con người hiểu biết nhất về phương diện kỹ thuật và kiến thức tiếng Nga. Hơn nữa, gần như tất cả các tài liệu về kỹ thuật vận hành và bảo dưỡng đều được viết bằng tiếng Nga. Chúng tôi, các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã cố gắng để dạy ngôn ngữ cho họ và cũng có một ít thành công - người thì nhiều hơn, người thì ít hơn.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Sáu, 2014, 12:28:14 AM
Nhân vật nổi bật nhất đối với chúng tôi là Kislyansky Vasily Semionovich, mà tôi may mắn được gặp gỡ cả về sau, gần như đến hết đời phục vụ quân đội của tôi năm 1985. Thông minh, nắm vững công việc của mình, là một chiến sĩ tên lửa có đầu óc, một con người hoàn toàn tự chủ và hiểu biết, là người mà người ta rất hài lòng được cùng phục vụ. Những người còn lại tôi không nhớ, nhưng trong mọi trường hợp, đó là nhóm đầu tiên các lãnh đạo và các đồng chí cấp trưởng của tôi, mà tôi phải làm việc cùng tại VNDCCH, họ tạo cho tôi ấn tượng rất tốt. Tiếc rằng không thể nói gì, về những người thay thế họ. Vậy đấy, tôi đã đến trung đoàn của tôi, đã làm quen với viên chỉ huy trung đoàn, tên là Hoan (trước khi gặp tôi anh ta đã kịp học đâu đó tại Liên Xô). Tôi phải nói rằng, việc kiện toàn đội ngũ nhân sự các tiểu đoàn tên lửa phòng không với tư cách các đơn vị kỹ thuật phức tạp nhất đã được thực hiện chủ yếu bằng những người Việt Nam, học ở Liên Xô, thường là, trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Và như vậy, điều hoàn toàn tự nhiên là làm việc trong các tiểu đoàn này, là những con người hiểu biết nhất về phương diện kỹ thuật và kiến thức tiếng Nga. Hơn nữa, gần như tất cả các tài liệu về kỹ thuật vận hành và bảo dưỡng đều được viết bằng tiếng Nga. Chúng tôi, các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã cố gắng để dạy ngôn ngữ cho họ và cũng có một ít thành công - người thì nhiều hơn, người thì ít hơn.

Thời điểm khi tôi đến, hệ thống mà với mỗi trung đoàn tên lửa phòng không ra đời thì từ Liên bang lại cử đến thành phần cơ bản các chàng trai Soviet chúng ta. nay đã ngừng hoạt động. Những cuộc không kích đầu tiên của kẻ thù thì các chàng trai của chúng ta ngồi trên các vị trí cơ bản của họ trong kíp chiến đấu, sau đó từ lần thứ hai và thứ ba thay thế họ theo nghĩa đen là các chàng trai Việt Nam, và sau một vài trận đánh, những người lính của chúng ta, các hạ sĩ quan và sĩ quan dần dần giảm xuống và rời khỏi trung đoàn, cuối cùng trong các trung đoàn chỉ còn lại lúc đầu là một nhóm nhỏ cấp tiểu đoàn, sau đó nhóm chuyên gia cấp tiểu đoàn cũng bị loại bỏ, và chỉ có một nhóm chuyên gia cấp trung đoàn. Tôi là lãnh đạo một nhóm cấp trung đoàn như vậy. Trong thành phần nhóm cấp trung đoàn này, ngoài tôi, viên chỉ huy trung đoàn, các chuyên gia hệ thống vô tuyến điện tử, còn các đại diện để bảo dưỡng trang thiết bị phóng, các bác sĩ, một số thành viên khác, tất cả trong vòng 10-14 người, không hơn. Chúng tôi sống, thường là trong các ngôi nhà riêng biệt, trong mọi trường hợp, tôi, cũng như người chỉ huy trung đoàn, đều ở trong những bungalo (ngôi nhà một tầng) hoàn toàn riêng biệt (như chúng tôi vẫn gọi chúng như thế), các chàng trai còn lại của chúng ta sống trong các nhà kho khác - tương tự như các bungalo. Đó là khía cạnh thuần túy tổ chức về cuộc sống của chúng tôi. Tại các ngôi làng nơi mà chúng tôi đóng quân, không có khái niệm nào về những "chuyện thần kỳ" như đường ống dẫn nước hay hệ thống thoát nước, tất cả nằm ở mức độ gần như người Neanderthal. Nhà vệ sinh, ví dụ, là một lỗ nhỏ, được bao quanh bởi vài tàu lá chuối. Nước rất bẩn và đầy các loại giun.

(http://www.karavan.tver.ru/html/n714/11.jpg) (http://www.karavan.tver.ru/html/n714/12.jpg)
Yu.M.Boshniak trong thời gian ở Việt Nam, 1967-1968.

Tất nhiên, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn. Nhưng, sự thật, tồn tại cùng với mỗi nhóm chuyên gia cấp trung đoàn, có 1 nhóm phục vụ, nhóm có một số xe do tài xế Việt Nam điều khiển, cũng như một số người lo nấu ăn chuyên cho chúng tôi và mua thực phẩm. Họ lấy của chúng tôi một số tiền, khoảng một phần ba số tiền nhận được của chúng tôi, chúng tôi đã trả tiền để được phục vụ và nói chung, được nuôi ăn khá tốt, món ăn đa dạng và ngon. Vấn đề này vậy là đã được giải quyết.

Vào thời đó, khi chúng tôi xuống kiểm tra tại các tiểu đoàn, thường vào ban đêm, ngoài những thứ khác, người ta đưa cho chúng tôi một thứ gọi là lương khô, hay chính xác hơn, đó là "lương ướt", bao gồm một, hai, ba chai bia hoặc một số đồ uống khác, bởi vì khát - đó là vấn đề lớn nhất không ngừng dày vò chúng tôi ở Việt Nam. Chúng tôi buộc phải liên lạc với Hà Nội bằng cách sử dụng cầu qua sông Hồng, gọi là cầu "Long biên", được xây dựng dưới sự chỉ đạo của viên kỹ sư nổi tiếng Eiffel. Chỉ có thể đi xe ban đêm qua cây cầu này. Nó bị ném bom rất sớm, và trong thời gian tôi ở đây, nó đã bị phá hủy hai hoặc ba lần. Việc qua lại cây cầu này diễn ra rất thường xuyên, xin nói thêm, đó là một cách rất nguy hiểm, đến mức thà ngồi ẩn nấp dưới trận ném bom còn an toàn hơn là qua sông trên một số nhịp trải ra một cách đáng ngờ, qua những nhịp đó chiếc xe ô tô di chuyển giống như đang làm trò tung hứng cân bằng trong rạp xiếc.

Từ giây phút đầu tiên lưu trú trên mảnh đất Việt Nam, chúng tôi hiểu rõ rằng nhiệm vụ chính của chúng tôi - ngăn chặn các cuộc tấn công xuống các mục tiêu mà trung đoàn chúng tôi bảo vệ. Trung đoàn của tôi bảo vệ hướng Đông Bắc Hà Nội, cũng như hướng bay vào sân bay chính thời ấy của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - sân bay Nội Bài, còn chức năng cơ bản trực tiếp phòng thủ nó thuộc về trung đoàn TLPK thứ 4, nơi Pavel Fedorovich Shikula đến đó. Điều đầu tiên chúng tôi phải nghiên cứu và phân tích - tất nhiên là kẻ thù. Phải nói rằng máy bay Mỹ có khác biệt rõ rệt trong tính chất hành động, đó là máy bay của Không quân và máy bay của Hải quân, tức là máy bay trên hạm. Không lực Mỹ chủ yếu đóng quân trên mặt đất ở các căn cứ tại miền Nam Việt Nam và Thái Lan, các máy bay tấn công chủ yếu hoạt động chống lại chúng ta - là máy bay F-105. Đồng thời ở các vùng biển Bắc Việt Nam liên tục có 2-3 tàu sân bay hoạt động, chúng thay phiên nhau. Trên các TSB đó có các máy bay trên hạm. Khoảng 200-220 máy bay hải quân trên hạm thường xuyên tham gia các cuộc tấn công xuống các mục tiêu ở nước VNDCCH. Chủ yếu là các máy bay A-4, F-4, A-6 và vài loại khác.

Cần nói rằng gần như tất cả các cuộc không kích của Mỹ được thực hiện dưới sự bảo vệ của máy bay gây nhiễu chuyên dụng EB-66. Trên thực tế, nhiễu vô tuyến thì chúng tôi, tất nhiên, đã được nghiên cứu trong các trường chuyên nghiệp quân sự và các học viện. Nhưng, phải thẳng thắn thú nhận, lần đầu tiên tôi thấy nhiễu thực sự chỉ ở Việt Nam. Có lẽ phát ngôn thế này có vẻ không được yêu nước cho lắm, nhưng tôi phải nói rằng, nhiều năm sau đó, trong khi tôi gần 20 năm sau khi lưu trú tại Việt Nam mới chuyển ngạch phục vụ, tôi chưa bao giờ thấy tại các trường bắn của chúng ta một môi trường bị gây nhiễu tương tự, đó là hối tiếc lớn của tôi. Những loại nhiễu mà chúng tôi tự chuẩn bị cho nó, trên một mức độ lớn hơn, để chống lại chúng các tổ hợp của chúng ta có hệ thống bảo vệ đặc biệt - đó là nhiễu thụ động, áp dụng trong những năm chiến tranh thế giới II. Còn chống lại các hệ thống tên lửa PK của chúng tôi ở đây, kẻ thù sử dụng chủ yếu là nhiễu chủ động.

Trên thực tế, hệ thống S-75, đặc biệt là các phiên bản đầu tiên, có ba kênh thông tin vô tuyến:
- kênh thứ nhất: được gọi là kênh mục tiêu (năng lượng điện từ được bức xạ, phản xạ lại từ máy bay và trở về dưới dạng tín hiệu phản xạ);
- kênh thứ hai: kênh trả lời (tín hiệu đặc biệt sẽ được gửi đến quả đạn tên lửa, quả đạn trả lời bằng một tín hiệu xác định);
- kênh thứ ba: kênh điều khiển vô tuyến, gửi các bức xạ xác định để điều khiển quả đạn tên lửa. Việc áp dụng tổng hợp chế áp VTDT như vậy gây ra vấn đề xấu, thay vì chờ đợi một quả đạn chúng tôi tiêu diệt một máy bay, thì nay ban đầu phải mất 5-6 quả đạn, sau đó là 8-9 quả thậm chí 15 đạn mới bắn rơi một máy bay kẻ thù! Mà như thế vẫn chưa phải đã hết chuyện. Vấn đề là hệ thống điều khiển đạn tên lửa, cũng như tất cả các hệ thống, đều có lỗi của mình, có sai số riêng, có biên độ phân tán riêng. Các phi công Mỹ lợi dụng rất tốt tất cả những điều đó, đặc biệt các phi công hải quân.

Nói chung tôi phải thừa nhận rằng mình đặc biệt ấn tượng với trình độ huấn luyện của các phi công hải quân trên hạm, họ chắc chắn thuộc lớp phi công có phẩm hạng cao nhất, họ có những cuộc không kích phi thường, tính ra không phải hàng trăm mà là hàng ngàn giờ. Họ sử dụng rất khéo léo các loại động tác cơ động, bao gồm cơ động theo chiều cao, cơ động trong thành phần tốp bay, chiếc này cơ động so với chiếc kia, cơ động xung quanh trục dọc của chính nó, bằng cách thay đổi bề mặt phản xạ, làm cho các tín hiệu phản xạ bị xung hóa mà trở thành không liên tục. Tất cả những điều này kết hợp với màn nhiễu tổng thể rất thường xuyên tạo ra tình huống hầu như không thể khai hỏa được vào mục tiêu. Đó là lý do tại sao cho đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng ngay cả với số lượng tổn thất máy bay Mỹ mà người Mỹ ghi nhận, khoảng 1.000 máy bay, đó vẫn cứ là chiến thắng cực kỳ lớn lao của vũ khí của chúng ta và khả năng của người Việt Nam biết sử dụng tốt các loại vũ khí này, và, tất nhiên, cũng là chiến thắng của các chuyên gia chúng ta. Khi thực hành tác chiến, chúng tôi sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau, ví dụ, phát sóng chỉ trong những khoảng thời gian ngắn nhất để phát hiện mục tiêu, phóng đạn tên lửa trúng mục tiêu và sau đó tắt sóng ngay. Điều này đã được chứng minh bởi thực tế là tới thời điểm tôi đến Việt Nam, người Mỹ đã sử dụng rất rộng rãi các phương tiện chế áp tích cực hệ thống TLPK: đáp trả sự chiếu xạ vừa bắt đầu của hệ thống tên lửa phòng không, máy bay sẽ phóng đạn tên lửa kiểu "Shrike" bay theo cánh sóng bức xạ, đánh trúng trước hết cabin thu phát "P".

Ngoài ra, tới thời điểm chúng tôi đến Việt Nam ngườu ta đã lắp đặt trên một số tổ hợp, còn tới lúc tôi ra đi, họ đã hoàn toàn lắp đặt xong, thiết bị phụ trợ ngắm mục tiêu đặc biệt trên cabin "P", cho phép hướng cabin vào mục tiêu nhờ trợ giúp của của các kính ngắm quang học thông thường. Sau này, tại Ai Cập, tôi đã gặp những cải tiến hơn nữa của hệ thống tên lửa PK của chúng ta, được trang bị thiết bị có tên gọi "KARAT" - một hệ thống dẫn đường truyền hình. Tôi mang từ chuyến đi của mình đến Việt Nam, và sau này ở Ai Cập, một niềm tin rất rõ ràng rằng chúng ta bắt buộc phải sử dụng các hệ thống dẫn đường khác nhau, nhằm không chỉ sử dụng một mình radar để xác định tọa độ mục tiêu và dẫn đường đạn tên lửa, mà sử dụng tất cả các phương pháp định vị có thể, bao gồm cả quang tuyến, cả truyền hình, và hồng ngoại.

Tôi phải thừa nhận rằng ngay sau khi tôi có mặt ở Việt Nam, tôi phải đối đầu với một vấn đề không mong muốn - sự chưa sẵn sàng của bản thân để đánh bại kẻ thù. Và hôm nay, tôi đã thấu hiểu và thấm thía nghiền ngẫm hành động của quân đội chúng ta hồi tháng 6 năm 1941, bạn có thể thấy vô cùng rõ rệt rằng nhiều chỉ huy và tư lệnh các cấp khác nhau của chúng ta đã không được chuẩn bị tâm lý cho việc đối chọi lại cuộc tấn công thắng lợi quy mô lớn của kẻ thù. Tôi phải nói rằng đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Trước hết cần phải chuẩn bị cho các cấp chỉ huy và quân đội trước sự phát triển KHÔNG THUẬN LỢI của các sự kiện trong điều kiện chiến tranh! Tôi hiểu rằng không phải tất cả mọi người đều hiểu điều đó, và không phải ai cũng thích nó, đặc biệt là tất cả các loại tư tưởng gia về ý thức hệ của chúng ta, các cán bộ chính trị và những người khác, họ hoàn toàn không có khả năng hiểu rằng chiến tranh - đó là hành động của cả hai bên, chứ không chỉ là một bên. Đó là hành động đối ứng, trong đó mỗi bên đều tính đến sự thành công của mình và sự thất bại của kẻ thù.

Vì vậy, điều đầu tiên tôi gặp ở Việt Nam, đó là cả một dải thất bại ban đầu. Tôi nhớ tháng Tư hầu như không có thành công nào. Theo tôi nhớ, chỉ có một trận đánh thành công, do một trong những tiểu đoàn của trung đoàn thực hiện. Các trận đánh khác đều thất bại. Và tôi phải nói với bạn rằng, hoàn toàn có thể, dựa trên những thất bại này, mà buông xuôi tay. Và chỉ có khả năng tốt của những con người của chúng ta trước sự cải hoán tâm lý, của các chuyên gia hàng đầu như Victor Frolov, Alyosha Deshiovykh và những chàng trai khác, những người làm việc cùng với tôi trong nhóm chuyên gia cấp trung đoàn, khả năng đó mới cho chúng tôi cơ hội để thu thập và phân tích nguyên nhân các thất bại của chúng tôi. Và họ giải thích rằng bọn Mỹ đã không ngồi yên, chúng đã nghiên cứu các thành công trong hoạt động của chúng tôi và có biện pháp quyết liệt giảm bớt những thành công ấy. Tính phức tạp của tình hình nằm ở chỗ, vào mùa xuân năm 1967 các cuộc tấn công của máy bay Mỹ xuống các mục tiêu chúng tôi bảo vệ đã tăng lên đáng kể. Những cuộc tấn công này trùng với những nỗ lực gia tăng của người Mỹ trong các vấn đề chiến tranh điện tử với các phương tiện chiến đấu của bộ đội phòng không VNDCCH.

Rất nhiều chuyên gia quân sự của chúng tôi, bao gồm cả người sau này trở thành tướng Nikolai Andreyevich Rudenko, đã buộc phải phát triển về nguyên tắc các quy tắc xạ kích mới, hoàn toàn khác với những gì chúng ta đã nghiên cứu trong các trường quân sự và các học viện. Hóa ra, những nguyên tắc kia, chỉ thích hợp cho môi trường hòa bình và chỉ cho phép bắn trúng những gã đơn độc-đau khổ như chiếc máy bay U2 của Powers trên bầu trời Urals, nay hoàn toàn không hữu ích gì đối với máy bay Mỹ trên bầu trời Việt Nam. Nhiều thủ pháp chiến thuật mới thú vị, chẳng hạn như thay đổi thường xuyên các trận địa tiểu đoàn TLPK, đảm bảo những phương án tối ưu nhất trong ứng dụng chiến đấu binh chủng tên lửa PK. Có lẽ vấn đề khó khăn nhất nhưng cũng thú vị nhất xét từ quan điểm chiến thuật, là việc xây dựng vào tháng 7 năm 1967 cái gọi là "cụm PK Hải Dương" (Hải Dương - một địa điểm nằm ở khoảng giữa Hà Nội và Hải Phòng).

Do sự gia tăng của các cuộc không kích của máy bay Hoa Kỳ, để bảo vệ đoạn đường rất quan trọng và các đối tượng nằm dọc con đường, người ta đã hợp nhất sự nỗ lực của hai trung đoàn pháo phòng không và một trung đoàn tên lửa phòng không (trung đoàn của tôi). Ở đây còn có sự hiệp đồng với lực lượng không quân tiêm kích đóng tại sân bay Nội Bài. Lãnh đạo cụm quân này là tư lệnh bộ đội TLPK và PPK Việt Nam Đỗ (Đoàn?) Huyên. Tất nhiên, kết quả là tích cực, nhưng tại cụm quân trên, chúng tôi đã mất hai tiểu đoàn, mà một trong số đó (tiểu đoàn TLPK số 2) ngày 12 tháng 7 năm 1967 đã trúng nhiều trái bom ném từ máy bay, trong đó trúng cả cabin "U", làm 12 người hy sinh cùng một lúc. Thật không may, phiên bản đầu tiên của S-75 không cơ động, và tổng công trình sư thiết kế Bunkin của chúng ta vẫn tiếp tục tạo ra một tổ hợp nặng nề cồng kềnh. Điều đó liên quan đến cả các hệ thống của binh chủng kỹ thuật VTĐT. Mặc dù vậy, trung đoàn có 4 tiểu đoàn của tôi trong năm 1967 vẫn thực hiện 85 lần di chuyển trận địa các tiểu đoàn. Tôi vẫn còn một số tài liệu, cho thấy tính hiệu quả của hệ thống tên lửa phòng không trên bầu trời Việt Nam trong những khoảng thời gian nhất định. Ví dụ, đánh giá hoạt động trong quý 1 năm 1967: binh chủng tên lửa PK đánh 117 trận, phóng 235 đạn tên lửa, bắn rơi 34 máy bay (khoảng 7 tên lửa bắn rơi 1 máy bay), bắt tù binh 13 phi công.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Sáu, 2014, 07:21:45 PM
Đây là dữ liệu tháng 5 năm 1967, giai đoạn cuộc chiến đấu có cường độ cao nhất. Bảy trong số tám trung đoàn chiến đấu có kết quả:
- Trung đoàn 1: bắn rơi 11 máy bay, tiêu thụ 105 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 3: bắn rơi 5 máy bay, tiêu thụ 20 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 4: bắn rơi 1 máy bay, tiêu thụ 21 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 5: bắn rơi 6 máy bay, tiêu thụ 51 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 6: bắn rơi 3 máy bay, tiêu thụ 33 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 7: bắn rơi 2 máy bay, tiêu thụ 16 đạn tên lửa;
- Trung đoàn 8: bắn rơi 3 máy bay, tiêu thụ 41 đạn tên lửa.
Như vậy, mức tiêu thụ bình quân cho 1 máy bay bị bắn rơi là khoảng 10 đạn.

Trong tháng 6 năm 1967 tôi có các dữ liệu sau: tiêu thụ 169 tên lửa, bắn rơi 12 máy bay địch (khoảng 14 tên lửa cho một máy bay bị bắn rơi).

Dữ liệu cho tháng bảy (7 trung đoàn tham gia chiến đấu)
- Trung đoàn 1: tiêu thụ 40 đạn tên lửa, bắn rơi bốn máy bay;
- Trung đoàn 3: 15 tên lửa, 1 máy bay;
- Trung đoàn 5: 20 tên lửa, 2 máy bay.
Các trung đoàn khác đã không bắn hạ được bất kỳ máy bay nào, mặc dù mỗi trung đoàn trong số họ đã tiêu thụ 15-20 tên lửa, tổng cộng chỉ trong tháng Bảy đã tiêu thụ 130 đạn (18 tên lửa cho một chiếc máy bay bị bắn rơi).

Trong tháng 8 năm 1967 TLPK bắn rơi 23 máy bay và bắt sống chín phi công, tiêu thụ 199 quả đạn. Đây là những dữ liệu chung cho toàn bộ năm 1967: 1160 lần bộ đội TLPK xạ kích, phóng khoảng gần 2.000 đạn tên lửa, bắn rơi 400 máy bay (hơn 100 so với cả hai năm 1965 và 1966). Tuy nhiên, các cuộc tấn công của máy bay Mỹ trong năm 1967 được ghi nhận lớn hơn 4 lần so với cả hai năm 1965-1966. Không quân tiêm kích VNDCCH bắn rơi hơn 100 máy bay địch.

Điều này cho phép, bằng một số cách, so sánh hiệu quả của KQTK và BC TLPK (KQTK về cơ bản đóng quân chỉ ở các sân bay Kép và Nội Bài, tức là cả 2 trung đoàn KQTK đã tham gia chiến đấu). Cản trở hoạt động chiến đấu là hiện tượng một số lượng lớn đạn tên lửa bị rơi, dẫn đến đánh trúng nhiều người dân. Ví dụ, trong 8 tháng rưỡi năm 1967 với tổng tiêu thụ khoảng 1.000 đạn tên lửa, có đến 5% số trên rơi vào các khu vực tương đối đông dân cư của Việt Nam làm 55 người thiệt mạng và hơn 50 người bị thương, hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy. Đặc biệt một số lượng lớn đạn tên lửa bị rơi là ở trung đoàn 3 (trung đoàn Hải Phòng), trung đoàn 1 (trung đoàn Hà Nội) và trung đoàn 5. Tôi tin rằng lý do chính dẫn đến rơi đạn là do tới thời gian này người Mỹ đã tìm được cách gây nhiễu vào kênh trả lời, kênh điều khiển vô tuyến đạn tên lửa của chúng ta.

Ngoài những hoạt động chiến đấu thuần túy, đôi khi những hạn chế liên quan đến quan hệ với Trung quốc cũng gây thêm cho các chuyên gia quân sự Liên Xô những khó khăn thường nhật. Thực tế là ở Việt Nam thời điểm đó có một số lượng rất lớn các chuyên gia của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sang làm việc, và khi tính đến quan hệ song phương hai quốc gia đang rất căng thẳng của chúng ta, chúng tôi thường xuyên gặp phải các biểu hiện không thân thiện và thậm chí xúc phạm công khai của phía Trung Quốc. Chúng tôi, đến lượt mình, bắt buộc phải tuân thủ một sự kiềm chế nhất định, không rơi vào cái bẫy khiêu khích. Điều này, tất nhiên rất khó khăn trong những điều kiện lúc ấy. Tôi nhớ nhiều lần đến Hà Nội, đều gặp những nhóm lớn người Trung Quốc bắt đầu "dàn đồng ca", có thể nói, như khạc nhổ về phía chúng tôi. Chúng tôi đi trên xe ô tô, do đó, những cử chỉ dè bỉu này không có ý nghĩa gì, nhưng tất nhiên chúng làm chúng tôi rất khó chịu.

Chính quyền Việt Nam rất quan tâm đến chúng tôi, mặc dù không phải luôn luôn vồ vập chào đón (các mối quan hệ Việt-Trung và Trung-Xô ngăn cản). Mỗi trung đoàn (nhóm các chuyên gia Liên Xô) được giao cho một tỉnh (như vùng (oblast) của chúng ta). Ban lãnh đạo tỉnh nơi chúng tôi đóng quân đã giúp đỡ chúng tôi bằng nhiều cách, sắp xếp tổ chức các ngày lễ cho chúng tôi, xin nói thêm là khá thường xuyên. Bảo trợ nhóm của tôi là tỉnh Hà Bắc, mà bí thư thứ nhất tỉnh ủy là ông Lê Quang Tuấn, một con người hòa đồng và thông minh, người kể chuyện rất thú vị.

Tôi nhớ một lần bí thư Lê Quang Tuấn mời chúng tôi đến chào mừng kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười. Bàn tiệc được bày biện rất phong phú và các cô gái thuộc đoàn văn công tỉnh được mời đến. Tôi phải nói rằng các cô gái ở Việt Nam rất đẹp, đặc biệt là các cô lai (lai Pháp) và các chàng trai đang đói của chúng tôi không phải chỉ ăn và uống, họ còn ngấu nghiến bằng mắt những người đẹp. Khi mà tôi, theo thói quen của người Nga, cố gắng mời họ đến bàn, hành động đó gây ra sự phiền phức và hiểu lầm. Hóa ra, những món ăn trên bàn của chúng tôi, bản thân người Việt Nam không có cách nào có thể kiếm được, và tất cả những gì trên bàn của chúng tôi được chuẩn bị dành riêng cho chúng tôi.

(http://www.hubara-rus.ru/foto/13.jpg)
Yu.M.Boshniak, giai đoạn sau Việt Nam, tư lệnh sư đoàn PK đặc nhiệm số 28 tại Ai Cập năm 1971 (thứ hai hàng ngồi từ phải sang)

Giai đoạn đầu tiên của tôi ở Việt Nam (đó là khoảng gần cuối tháng 6 năm 1967), ở ban lãnh đạo văn phòng Trưởng đoàn Cố vấn quân sự tại Việt Nam có các sĩ quan có lương tâm, luôn cố gắng giúp chúng tôi trong tất cả các vấn đề và mong muốn của chúng tôi. Dù không thật đầy đủ, nhưng họ luôn luôn giúp chúng tôi. Sau đó, vào cuối mùa hè năm 1967 nhóm của tướng Abramov tới thay thế, trong đó có một số sĩ quan tin rằng tất cả mọi thứ có trước họ, phải "vứt bỏ và quên đi". Họ coi mình như người quy định các phương pháp hoạt động chiến đấu mới, mà không tính đến kinh nghiệm của chúng tôi hoặc thậm chí còn chối bỏ nó. Mặc dù tướng Abramov, cũng cần phải thừa nhận, là một con người rất thông minh và có học thức. Nhưng thật không may, đại tá Kulbakov, người đến cùng nhóm của tướng Abramov và được bổ nhiệm làm trưởng nhóm chuyên gia phòng không quân đội Liên Xô tại Việt Nam, không luôn luôn hiểu đúng tình hình mình đang ở trong đó. Điều này, tất nhiên, làm phức tạp thêm mối quan hệ của chúng tôi, mặc dù nó không phải là yếu tố quyết định đến công việc của chúng tôi.

Tôi muốn nhớ lại với lòng biết ơn lớn lao các bạn bè của tôi trong trung đoàn, họ đã giúp tôi bằng mọi cách có thể trong việc tổ chức bảo dưỡng khí tài, tổ chức huấn luyện chiến thuật. Đó là Veniamin Pen'kov, Vasily Baranovsky, Lionya Nebogatikov, Sasha Gorokhlinsky, Victor Frolov, người đã thể hiện lòng can đảm trong cuộc chiến đấu loại bỏ các hư hại nghiêm trọng, Alexei Deshevykh, Yuri Kozlov, Alexei Bogomolov, Victor Shershevitsky và nhiều người khác. Tổng tư lệnh Bộ đội Phòng không Quốc gia Nguyên soái Liên Xô Batitsky đánh giá rất cao hoạt động của các chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Tôi thậm chí còn nhớ, ông đã ban hành một mệnh lệnh, theo đó tất cả những ai đã đến Việt Nam được ưu tiên số một trên con đường thăng tiến, với tư cách những quân nhân đã có kinh nghiệm chiến đấu. Tôi, đến lượt mình, gần như cưỡng bức vào nhập học Học viện Bộ Tổng tham mưu, sau khi tốt nghiệp được thăng tiến đáng kể. Tuy nhiên, mệnh lệnh này của Tổng tư lệnh cũng sớm bị lãng quên và những người đã thu được những kinh nghiệm vô giá về chiến tranh hiện đại, thật không may, đã bị chính sách cán bộ theo thị trường vứt bỏ, chính sách ấy được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống nhiều hơn là sử dụng đội ngũ cán bộ từ "Việt Nam" thử lửa về.

Cần phải nói rằng ban lãnh đạo đất nước, Bộ Quốc phòng đối xử với chúng tôi rất nồng ấm. Năm 1967 và đầu năm 1968 được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười và kỷ niệm 50 năm thành lập lực lượng vũ trang của chúng ta (ở đây đề cập đến ngày 7 tháng 11 năm 1967 và ngày 23 tháng 2 năm 1968). Tất cả chúng tôi nhận được những món quà khá tuyệt vời thời gian đó từ Bộ Quốc phòng, từ Chính phủ của chúng ta, và tất cả chúng tôi, tất nhiên, rất hài lòng vì thái độ ấm áp, chân tình thể hiện với chúng tôi.

Tất cả mọi thứ trong thế giới này rồi cũng đi đến kết thúc. Đâu đó giữa tháng 3 năm 1968 tôi được lệnh chuyển giao nhóm cố vấn trung đoàn của mình cho một đồng chí mới từ Liên Xô đến thay phiên và lên đường về nhà. Trong thời kỳ ấy các chuyến máy bay trực tiếp giữa Việt Nam và Liên Xô rất ít (người ta phải bay qua đường phía nam, Trung Quốc không cho phép máy bay của chúng tôi bay qua lãnh thổ họ), và đầu tiên chúng tôi phải bay trên máy bay của Trung Quốc tới Quảng Châu, sau đó từ Quảng Châu tới Bắc Kinh trên chuyến máy bay Trung Quốc tiếp theo, và chỉ từ Bắc Kinh chúng tôi mới bay trên máy bay Soviet bay về Liên Xô. Ở Trung Quốc, chúng tôi gặp, như bạn đã biết, thái độ rất không thân thiện của phía Trung Quốc đối với chúng ta, mặc dù không có hành động khiêu khích cụ thể nào. Chúng tôi gặp gỡ ở đây với các quan điểm rất thú vị trong ban lãnh đạo địa phương, với tệ sùng bái tuyệt đối Mao Trạch Đông, được phục vụ các món ăn Trung Quốc, mà ví dụ như ở Quảng Châu nơi chúng tôi phải ngủ đêm đến 4 ngày (do không có chuyến bay đến Bắc Kinh). Chuyến du lịch nhỏ này trên đường về nhà là một ấn tượng không thể nào quên, vô cùng sống động trong cả cuộc đời.

Ngay sau khi về tới Liên bang tôi được mời tới gặp Tổng Tham mưu trưởng Phòng không, tướng Sozinov, một trong những người thông minh nhất trong nhóm tùy tùng xung quanh Batitsky, người đề nghị tôi đến báo cáo với TTL PKQG tất cả các kết luận mà tôi rút ra từ chuyến đi công tác Việt Nam của mình. Tôi nhớ khi tôi thử báo cáo Sozinov những gì tôi muốn báo cáo với Tổng tư lệnh, và nói Việt Nam đã thuyết phục tôi rằng hệ thống phòng không bất khả kháng không bao giờ có, Sozinov liền ngắt lời tôi, "Cậu tốt nhất đừng nói thế với Tổng tư lệnh". Nhưng, dù sao tôi vẫn báo cáo TTL và TTL tiếp nhận nó, tôi nghĩ rằng, khá điềm tĩnh, thậm chí không phản đối. Thứ hai, tôi báo cáo với Tổng tư lệnh, rằng hệ thống phòng không, được chúng ta xây dựng tại Việt Nam, được định hướng chiến đấu với những phương tiện không kích trên của đối phương, chống lại những ai CÓ THỂ chiến đấu, mà không chống lại những ai mà ta PHẢI chiến đấu, nghĩa là tiểu đoàn trưởng TLPK buộc phải bắn vào mục tiêu mà nó có thể bắn, mà không phải là mục tiêu nó phải bắn trước tiên. Điều này nói lên RẰNG các phương tiện tấn công đường không, xét từ quan điểm chế áp hệ thống vô tuyến điện tử của bộ đội tên lửa phòng không, đã chứng tỏ nó mạnh hơn. Thứ ba, tôi nói rằng, ở Việt Nam, tôi thích hệ thống hiệp đồng hợp lý giữa bộ đội tên lửa PK và KQTK. Hoạt động diễn ra theo vùng hoặc theo thời gian, nghĩa là nếu bây giờ KQTK đang làm việc thì bộ đội tên lửa PK có lệnh cấm tiến hành chiến sự. Tôi hiểu rằng xét trên quan điểm tính hiệu quả của việc sử dụng trong chiến đấu các lực lượng và phương tiện hoạt động, nó là bất hợp lý, nhưng dù sao tất cả những kinh nghiệm tiếp theo trong đời phục vụ của tôi đã chỉ ra rằng hiệp đồng trong hệ thống phòng không cần phải đúng như vậy.  

Thứ tư, tôi báo cáo với Tổng tham mưu trưởng PK và Tổng tư lệnh PK, rằng hệ thống chiến tranh điện tử mà người Mỹ sử dụng, vượt cao hơn nhiều so với tất cả các khả năng thao trường của chúng ta. Nhưng, bất chấp thực tế là TTL và Tổng tham mưu trưởng nhận thức rất đúng những nhận xét của tôi, cho đến cuối đời phục vụ của mình (tôi hoàn thành nó vào năm 1985), tôi đã không nhìn thấy bất cứ điều gì giống với những thứ tôi nhìn thấy tận mắt vào năm 1967: ở các thao trường cũng không, ở các điểm đóng quân thường xuyên cũng không. Tiếc thay, trong vấn đề này, chúng ta tụt hậu về cơ bản so với người Mỹ.

Vâng, có lẽ điều quan trọng nhất có liên quan đến ngày hôm nay là: cá nhân tôi hồi đó và cả bây giờ hoàn toàn tin rằng bộ đội phòng không phải là một quân chủng lực lượng vũ trang hoàn toàn riêng biệt, mà nhiệm vụ thích hợp của nó là đáp ứng trọn vẹn nhất các lợi ích quốc gia và chính trị của chúng ta. Dù sao, đó là thành tựu lớn nhất của đất nước ta, khi trong những năm 195x, chúng ta đã xây dựng được một quân chủng lực lượng vũ trang - Bộ đội Phòng không Quốc gia và bắt đầu phát triển nó bằng mọi cách, tạo ra một hệ thống có sức hàm chứa cao nhất, có hiệu quả lớn nhất, có khả năng đối phó với phương tiện tấn công đường không, và tiếp đó là phương tiện tấn công từ không gian vũ trụ của kẻ thù. Và tôi cho đến bây giờ vẫn rất tiếc rằng, để phục vụ lợi ích của những quan điểm không được hợp lý lắm của một số nhà lãnh đạo riêng biệt của Nhà nước và Lực lượng Vũ trang, mà đôi khi công khai ủng hộ những khao khát đầy tham vọng của một số vị tư lệnh chưa xa, hệ thống phòng không của chúng tôi trên một mức độ lớn đã phải trải qua công cuộc tái cấu trúc, một sự "rút ngắn" kỳ dị, một sự cắt giảm, mà hôm nay chúng ta không còn có thể tự hào về tính độc nhất vô nhị và khả năng của nó trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia của đất nước chúng ta.

Tôi tin tưởng chắc chắn - Bộ đội Phòng không Quốc gia cần phải tồn tại, như một hệ thống, như một quân chủng Lực lượng Vũ trang.

Trích từ sách của Yu.A.Stepanova "Ông nội tôi - Tướng Boshnyak", Học viện Quân sự Phòng thủ Không gian-Vũ trụ mang tên G.K.Zhukov, Khoa Phòng không. Tver, năm 2007.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Sáu, 2014, 10:12:44 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kazakov.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kazakov.jpg.html)

Đại tá Kazakov Rim Aleksandrovich

Kazakov Rim Aleksandrovich, đại tá về hưu. Sinh ngày 11.11.1938 tại thành phố Margelan tỉnh Ferghana.
Năm 1959 tốt nghiệp trường kỹ thuật hàng không quân sự Irkutsk và được điều động đến trung đoàn TLPK 260 Bryansk thuộc QKPK Moskva QCPKQG.
Từ tháng Tư 1966 đến tháng 1 năm 1967 trong biên chế trung đoàn, ông tham gia chiến đấu tại Việt Nam, trên cương vị sĩ quan điều khiển trung đoàn TLPK 274 QDNDVN. Đã bắn hạ 4 máy bay Mỹ.
Từ năm 1967 đến năm 1972 học viên Học viện Chỉ huy Quân sự QCPK Quốc gia tại thành phố Kalinin.
Từ năm 1972 đến năm 1975 Tham mưu trưởng trung tâm kỹ thuật VTDT QC Phòng thủ Tên lửa-Không gian Vũ trụ tại Sevastopol.
Từ năm 1975 đến năm 1985 Chủ nhiệm trung tâm kỹ thuật VTDT, sau đó là TMT một đơn vị quân đội tại thành phố Mukachevo.
Từ năm 1985 đến năm 1989 Chủ nhiệm Quân báo Sư đoàn Phòng không QKPK Moskva.
Được tặng thưởng huân chương "Cờ Đỏ" và 12 huy chương trong đó có "Dũng cảm trong chiến trận" và huy chương Việt Nam "Hữu nghị".



Đánh trận là các chuyên gia thực thụ

Trên cương vị sĩ quan điều khiển tôi đã trực tiếp chiến đấu chống máy bay Mỹ trong thành phần trung đoàn tên lửa PK Bryansk 260 vào năm 1966. Trong thời giàn chiến đấu trung đoàn đã phóng đạn 43 lần và tiêu diệt 25 máy bay địch. Kết quả khá cao. Tuy nhiên, sẽ sai lầm nếu đánh giá kết quả này chỉ như những phép thống kê hoàn toàn số học, bởi vì khi so sánh số lượng những cuộc không kích của máy bay địch và xạ kích từ phía chúng tôi sẽ khẳng định được hiệu quả cao trong sử dụng tiểu đoàn TLPK cần có điều kiện, mà chính đó là - tính chuyên nghiệp cao của các chiến sĩ tên lửa phải va chạm với những thực tế làm giảm khả năng chiến đấu của chúng ta, và đôi khi loại trừ việc xạ kích mục tiêu. Điều này sẽ được nói đến dưới đây.

Mặc dù tôi ở trên cương vị sĩ quan điều khiển khá đủ thời gian và đã có kinh nghiệm bắn đạn thật trên thao trường, khi giảng dạy cho người khác, bản thân tôi cũng phải học lại, bởi vì chúng tôi được chuyển giao khí tài quân sự phiên bản trước, mà thực tế lại tỏ ra linh hoạt hơn và không thể đoán trước: từ những điều kiện thời tiết không thể chịu nổi đến tính chuyên nghiệp rất cao của các phi công Mỹ.

Tôi cho là thiển cận câu chuyện thực tế là đã vài tháng các chiến sĩ tên lửa Liên Xô chiến đấu ở Việt Nam, mà kinh nghiệm chiến đấu của các trung đoàn đầu tiên vẫn phủ tấm màn bí mật. Thông tin thực mà trực tiếp tôi nghe được chỉ khi tôi có mặt ở Việt Nam thay vì phải được chuẩn bị để đối phó với chiến thuật của máy bay Mỹ.

Đương nhiên, cuộc đối đầu giữa SAM và máy bay dẫn đến sự cải thiện các kỹ thuật chiến đấu từ cả hai phía. Hưng phấn của các trận phóng đạn thắng lợi đầu tiên đã trôi qua nhanh chóng, và bây giờ đến lúc diễn ra các cuộc tìm kiếm và trả thù. Việc sử dụng tổ hợp TLPK đã tước đi của người Mỹ khả năng sử dụng máy bay ở các độ cao trung bình và lớn. Chiến thuật của họ là chuyển sang sử dụng các độ cao thấp và cực thấp, thường là nhỏ hơn 2000 m.

Trong các điều kiện như vậy, do địa hình phức tạp (đồi núi), các màn hiển thị của radar (đặc biệt là góc tà), bị chèn đầy tín hiệu phản xạ địa vật, trên nền nhiễu địa vật đó mục tiêu thường xuyên bị chìm lấp hoặc đơn giản là biến mất. Việc bám sát chính xác mục tiêu của trắc thủ để đảm bảo đánh trúng mục tiêu vậy là bị phá vỡ. Trên nền phản xạ địa vật cường độ cao, ta có thể dễ dàng nhầm lẫn với một mục tiêu đang biến mất, còn việc sửa lỗi trong điều kiện thiếu thời gian tương đương với việc ngắt xạ kích.

(http://www.seaforces.org/usnair/VA/Attack-Squadron-55-Dateien/image096.jpg)
A-4F Skyhawk (VA-55 / CVW-21 / CVA 19) phóng AGM-45 Shrike

Trong hoàn cảnh như vậy, điều quan trọng với kíp chiến đấu là vừa giữ bình tĩnh, duy trì tốc độ chuyển vị đã định của ăng-ten và mục tiêu, như thường thể hiện. Hành động tiếp theo là nhanh chóng bắt mục tiêu và đảm bảo độ chính xác trong bám sát mục tiêu. Hệ thống MARU (мгновенной автоматической регулировки усиления - điều chỉnh độ khuếch đại tự động tức thời) làm giảm đáng kể mức nhiễu, nhưng hiện tượng vẫn tồn tại.

Tất cả các công việc thực hiện trong chế độ bám sát bằng tay, không thể nói gì về chế độ tự động.
Lịch sử của tất cả các cuộc xung đột quân sự những năm gần đây cho thấy một sự thay đổi trọng tâm của cuộc đấu tranh trong lĩnh vực đối kháng điện tử, được thể hiện rất đầy đủ ở Việt Nam. Tôi xin nói ngay là không phải chuyện đối đầu với nhiễu thụ động, tuy nhiên cường độ của nhiễu chủ động tăng lên ngay trước mắt từ một dải hẹp linh động đến những vệt sáng chói lòa chiếm 50% màn hình hiển thị. Ứng dụng nhiễu được thực hiện từ các máy bay hoạt động trong tốp không kích, cũng như từ các máy bay gây nhiễu chuyên dụng loại EB-6A, lảng vảng ở khoảng cách 60-120 km bên ngoài vùng hoạt động của không quân Việt Nam. Môi trường gây nhiễu thực, không giống như định nghĩa từ máy mô phỏng, nó phức tạp hơn nhiều. Việc tách mục tiêu trên nền nhiễu là không thể.

Kết quả là, trong các điều kiện có đối kháng nhiễu, ít nhất là với tôi, không thể tiến hành chỉ một lần phóng đạn. Các tần số thay thế trên tổ hợp thì không được dự phòng.

Một trong các cách để bắn vào nguồn gây nhiễu là sử dụng phương pháp "ba điểm" chỉ có thể khẳng định khi tồn tại trên phương diện lý thuyết, bởi vì tâm dải nhiễu không thể phân biệt được.

Trong cuộc đối đầu với SAM người Mỹ sử dụng rộng rãi tên lửa chống bức xạ "không đối đất" loại "Shrike" tự dẫn theo bức xạ của đài bám sát. Vì bề mặt phản xạ thấp việc phân biệt trên màn hình quả đạn đang bay là không thể. Cơ hội duy nhất được trao, chỉ một cơ hội thôi, khi điều kiện thuận lợi, tại thời điểm phóng Shrike trên màn hiển thị 5 km đường quét qua biến đổi ngắn hạn, dạng của nó là một điểm tách ra từ mục tiêu đang bị theo dõi.

Nếu cú phóng "Shrike" từ chiếc máy bay đang bị bắn đã xác định được, nhiệm vụ của sĩ quan điều khiển là so sánh tốc độ bay của các quả đạn tên lửa (ở "Shrike" tốc độ này là cao) và cự ly tương hỗ của đạn tên lửa đến mục tiêu, anh ta phải đưa ra quyết định bỏ bám sát mục tiêu đang xạ kích hay tiếp tục dẫn đạn gặp mục tiêu. Nhưng vì "Shrike" bay một cách vô hình, vấn đề phải giải quyết bằng giác quan thứ sáu, mà đôi khi, tiếc thay, lại chơi khăm ta. Làm việc trong chế độ phát hiện và bám sát mục tiêu với bức xạ lâu dài trên ăng-ten mà không phóng tên lửa, tổ hợp TLPK cực kỳ dễ trúng "Shrike". Do đó, vì lý do an toàn, chúng tôi buộc phải định kỳ bỏ bám sát mục tiêu bằng cách quay ăng-ten sang bên cùng với việc chuyển hướng tiếp theo của các máy phát một cách tương đương, nhờ vậy đem lại cho "Shrike" hướng di chuyển sai. Và mặc dù "Shrike" được trang bị một bộ nhớ, nhưng một cách đơn giản như vậy đảm bảo rất nhiểu cho sự sống còn của tổ hợp.

Chắc chắn, tất cả những điều đó làm giảm mạnh khả năng chiến đấu của chúng tôi, nhưng nếu không có những biện pháp này, nói chung mọi chuyện có thể dẫn đến số không.

Đây là những yếu tố mà trên nền của chúng, các kíp chiến đấu phải hoạt động.
Tôi không thể bỏ qua một số khía cạnh khác ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động chiến đấu và kết quả xạ kích. Ví dụ, trong tay người sĩ quan điều khiển sẵn sàng để phóng thường xuyên nhất có không quá 4 quả đạn tên lửa thay vì 6 đạn.

Điều này liên quan đến việc lựa chọn trận địa nằm ngoài thẩm quyền các chuyên gia Liên Xô, còn việc triển khai một tiểu đoàn được cấp diện tích đất rất hạn chế. Vậy là, thực tế từ trước tôi đã bị hạn chế chỉ bắn không quá 2 mục tiêu.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Shelomytov-49-big.jpg)
Các CCB trung đoàn Cờ Đỏ 260 Briansk từng tham gia chiến đấu tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trung đoàn 11/8/2006. Thứ 2 từ trái sang Rim Kazakov, tiếp theo là Volodin, Serebriansky N., Shelomytov G.Ya., Мikhailov Е., Tsvetkov I., Semionov О.

Trong cuộc không kích cụ thể kiểu này thường là không sử dụng tiếp đạn bệ phóng, bởi vì đòn oanh tạc trả thù bằng bom-tên lửa sẽ lập tức giáng xuống tiểu đoàn, hoặc người Mỹ tiến hành trinh sát bổ sung còn tiểu đoàn sẽ chuyển trận địa trong thời gian đó.

Cũng có khi xảy ra các sự kiện, ví như đại diện bộ chỉ huy Việt Nam, do nhiều nguyên nhân độc lập khác nhau, ra điều kiện liên quan đến những hạn chế xạ kích trong một số cung xác định và ở những độ cao xác định, điều đó tương đương với việc cấm bắn. Vậy là, các phương pháp đối kháng mà kẻ thù áp dụng không chỉ cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của tiểu đoàn, mà còn làm giảm đáng kể xác suất tiêu diệt mục tiêu, đòi hỏi có sự điều chỉnh nhất định trong hành động của chúng tôi.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Sáu, 2014, 06:53:28 PM
Dưới dạng vắn tắt có thể đưa ra công thức "phát sóng-bắt mục tiêu-phóng đạn" trong các điều kiện thời gian rất eo hẹp và đồng thời tạo ra tình trạng thiếu thời gian phản ứng đáp trả tương ứng của phi công lái máy bay. Đương nhiên, chúng tôi được định hướng theo các chân lý thông thường của "Hướng dẫn hoạt động chiến đấu", khi đỉnh cao tài nghệ được coi là làm sao có thể phát hiện sớm mục tiêu và tiếp theo tiêu diệt chúng phù hợp với mức độ tách các kênh điều khiển đạn tên lửa, bắt đầu từ ranh giới xa của vùng diệt mục tiêu. Tuy nhiên, trên thực tế, các cố gắng tiêu diệt mục tiêu tại ranh giới xa của vùng diệt mục tiêu có thể đảo chiều, bởi việc máy bay đột ngột quay 180 độ và đúng trong vài giây tính ttoán sẽ ra khỏi vùng tiêu diệt, hoặc không bay vào vùng đó. Một thái cực khác - tạo khả năng cho máy bay vào sâu vùng tiêu diệt, cũng đôi khi kết thúc mà không đạt kết quả, vì trong trường hợp này, máy bay phát triển tốc độ tối đa bằng cách bật tăng tốc, chọc thủng giới hạn gần của vùng tiêu diệt, trong khi tên lửa còn chưa vào quỹ đạo.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/21-big.jpg)
Thượng úy Shelomytov G.Ya. (hàng đứng thứ 3 trái sang) thuộc trung đoàn PK Cờ Đỏ 260 Briansk và các sĩ quan Việt Nam đại đội bệ phóng trung đoàn TLPK 274 QDNDVN. Hàng đứng: 1 từ trái sang trung úy Thao, 2 từ phải sang trung úy Nguyễn Văn Loa. Hàng ngồi ngoài cùng bên trái là trung úy Mẫn. Tháng 5 năm 1966.
Ảnh từ album cá nhân của thiếu tá Shelomytov Ghennady Yakovlevich.


Cuối cùng việc phát sóng là hợp lý và đủ để phát hiện mục tiêu và chuyển nó vào chế độ bám sát ở cự ly không quá 40 km.

Nhiệm vụ của người sĩ quan khi đó rút lại là, chọn thời điểm phóng đạn sao cho đảm bảo đạn gặp mục tiêu trong các giới hạn vùng tiêu diệt, mà bây giờ đã thu hẹp đáng kể. Tiện thể phải nói, sự kiện phản ứng của phi công trước cú phóng đạn tên lửa dẫn đến kết luận về việc phi công được báo hiệu về sự phóng đạn, sau đó dẫn đến ý tưởng giáp giới với sự phiêu lưu - bật ăng-ten truyền lệnh trên thân đạn trong chế độ bức xạ mà không thực sự phóng tên lửa (được gọi là phóng giả).

Rõ ràng, các tín hiệu chủ chốt như vậy được phi công tiếp nhận như là sự thể hiện quả đạn tên lửa đang bay, điều đó làm cho việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của tổ lái máy bay trở nên khó khăn. Tất nhiên, hành động như vậy được quyết định chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, khi việc xạ kích vì một số lý do là không thể hoặc không hiệu quả.

Tôi muốn lưu ý bằng một dòng đặc biệt, rằng các hoạt động chiến đấu được tiến hành trong các điều kiện cực kỳ khó khăn của khí hậu nhiệt đới. Tôi nói điều này không chỉ vì chúng tôi hàng giờ chôn mình bế tắc trong một cái lồng kim loại, nơi mà nhiệt độ đôi khi đạt đến +70 độ C, mà còn bởi vì do nguyên nhân này khí tài thường xuyên hỏng hóc, điều đó đòi hỏi tinh thần trách nhiệm rất cao và tạo thêm căng thẳng cho kíp chiến đấu.

Nhiều hay ít thì giấc ngủ bình thường của chúng tôi thường không quá bốn giờ.

Một trong những nhiệm vụ chính của chúng tôi khi ở Việt Nam là huấn luyện các kíp chiến đấu quân đội Việt Nam. Ảnh hưởng tự nhiên của rào cản ngôn ngữ thể hiện trên tốc độ dạy học, dấy lên mối nghi ngờ về mức độ giáo dục phổ thông của các kíp chiến đấu Việt Nam. Tuy nhiên, phải tôn vinh các đồng chí Việt Nam bởi họ đã làm chủ thành công vũ khí được tin cậy giao phó, khi họ luôn ở bên cạnh không thể tách rời. Cùng với hoạt động chiến đấu thực sự, chúng tôi thường xuyên tiến hành huấn luyện có sử dụng các thiết bị mô phỏng, sau khi đã nắm vững một tập hợp các cụm từ tiếng Việt cần thiết. Rào cản tâm lý của những cú phóng đạn đầu tiên chúng tôi đã vượt qua cùng nhau - tôi nhấn nút "Phóng", còn người sĩ quan điều khiển Việt Nam nhấn nút đó sau khi tên lửa đã phóng, dường như đôi khi để không còn nghi ngờ về điều đó.

Và điều cuối cùng tôi học được cho bản thân mình: tôi không nghĩ có thể quen với sự nguy hiểm đến mức mà việc bỏ sót nó bị yếu đi, nhưng vẫn còn một sự khác biệt lớn giữa những cảm giác ấy - khi bạn tham gia tích cực vào công việc và trong tình huống thiệt hại gây ra do kết quả đòn tấn công tên lửa-bom, làm bạn mất thông tin về tình hình, còn nhóm máy bay đột phá vào được đang ở trên đầu mình, ngay trong vùng tiêu diệt (trong "phễu"), và thực hiện công việc của chúng. Trong những điều kiện hoàn toàn mất sức đề kháng, thậm chí việc thông báo qua đường liên lạc tăng âm với các cabin bên cạnh sẽ làm giảm tải sự căng thẳng.

Khi đánh giá công việc của các đồng chí của mình tại Việt Nam, tôi không ngại tỏ ra khiếm nhã khi khẳng định rằng, dù sao đi nữa, chúng ta chính là những chuyên gia thực thụ trong nghề nghiệp của mình và đã thực hiện một khối lượng công tác khổng lồ trong việc tìm kiếm những phương pháp hiệu quả nhất, đấu tranh với một đối thủ không kém chuyên nghiệp hơn. Đóng góp lớn vào cuộc đấu tranh thắng lợi của Quân đội nhân dân Việt Nam chống máy bay Mỹ có tất cả các đồng đội cùng trung đoàn của tôi và trước hết là người chỉ huy trung đoàn, cựu chiến binh (Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại) Đại tá Vladimir Vasilevich Fedorov, các chỉ huy tiểu đoàn S.Vorobyov, I.Volodin, I.Pozhidaev, Samorukov và tất nhiên các sĩ quan điều khiển V.Shcherbakov, Yu.Kulkov, Romaniuk.

Trong quá trình chuẩn bị khí tài và phóng đạn chiến đấu, các kíp chiến đấu đã thể hiện trình độ phối hợp cao, khả năng nhanh chóng tìm ra và loại bỏ sai sót. Không có trường hợp nào mà khi có báo động và trong quá trình cuộc không kích tiểu đoàn bị mất sự sẵn sàng chiến đấu.

(http://evzrku.ucoz.ru/gal_cherb_1/cherb_3.jpg)
Hoàn thành nhiệm vụ quốc tế và trở về bế con gái sinh ra khi đang chiến đấu ở Việt Nam: sĩ quan điều khiển Vadim Scherbakov tiểu đoàn 2 trung đoàn TLPK Cờ Đỏ 260 Briansk (tại Việt Nam là sĩ quan điều khiển trung đoàn TLPK 274) và con gái Viktoria.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh đến kỹ thuật viên hệ thống tọa độ, thượng úy N.V.Serebryansky và chỉ huy đại đội bệ phóng thượng úy G.Ya. Shelomytov. Kỹ thuật viên cabin thu-phát bị chấn thương trong một thời gian đã được trung sĩ Ganja thay thế thành công.

Các yêu cầu đặc biệt cao đối với kíp chiến đấu cabin điều khiển, được đảm bảo hoàn toàn bởi các chiến sĩ nghĩa vụ quân sự, họ thực hiện nhiệm vụ của các trắc thủ bám sát bằng tay. Bởi lẽ chính là phụ thuộc vào kỹ năng của họ, mà quả đạn tên lửa có được đảm bảo gặp mục tiêu ở điểm đã định hay không.

Trắc thủ cự ly trung sĩ Vladimir Prokhorov sau đó được biệt phái sang một tiểu đoàn của trung đoàn khác. Vì thực hiện thành công nhiệm vụ chiến đấu, anh ấy được tặng thưởng huân chương "Sao Đỏ". Thể hiện mình là các học trò tốt là các trắc thủ bám sát bằng tay Việt Nam trung sĩ Long, các binh nhì Giáp, Bằng, và người được tôi bảo trợ - sĩ quan điều khiển thiếu úy Trung. Trong chiến đấu, họ đã hành động như chúng tôi dạy họ.

Thành phố Solnechnogorsk, năm 2005.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2014, 07:45:38 AM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kolesnikov.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kolesnikov.jpg.html)

Thiếu tá Kolesnikov Anatoly Ivanovich

Sinh ngày 6 tháng 7 năm 1936.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 1954 nhập học Trường Thông tin Hàng không Quân sự Kharkov, tốt nghiệp năm 1957.
Sau khi tốt nghiệp được điều đi phục vụ tại Rumania trong thành phần Tập đoàn quân độc lập số 1 Các LLVT Liên Xô.
Phục vụ trên các cương vị trung đội trưởng, chủ nhiệm trinh sát PK, phó đại đội trưởng về chính trị đại đội xe, phó tiểu đoàn trưởng về chính trị, hướng dẫn viên trưởng về công tác tổ chức đảng phòng chính trị Lữ đoàn PK cận vệ huân chương Suvorov hạng III số 145, bí thư đảng lữ đoàn.
Từ tháng 9 năm 1966 đến tháng 7 năm 1967 tham gia chiến đấu tại VNDCCH trên cương vị giảng viên chính các kíp chiến đấu đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu (SRtS), sau đó là chủ nhiệm trinh sát tiểu đoàn TLPK 41, tiểu đoàn trưởng - trung tá I.V.Bondarenko.
Năm 1977 tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Kirghizia mang tên 50 năm Liên bang CHXHCN Xô Viết.
Do thực hiện thành công nhiệm vụ của người lính trợ giúp quốc tế cho Việt Nam, được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ, huy chương Hữu Nghị của chính phủ Việt Nam và 11 huy chương khác, trong đó có huy chương của Rumania.
Thành viên tham dự Hội nghị toàn quân các bí thư tổ chức Đảng lần thứ 5 tại Moskva năm 1975.



Chuyến công tác đặc biệt tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tháng 7 năm 1966 tiểu đoàn cận vệ chúng tôi tổ chức bắn đạn thật tại trường bắn Ashuluk. Khi bắn xong chúng tôi có mặt ở Frunze tại ga Pishpek, các cô vợ đón chúng tôi mắt đẫm lệ báo tin một phần các sĩ quan tiểu đoàn chúng tôi sẽ được cử đến Việt Nam.

Tình hình trong tiểu đoàn khá căng thẳng, mọi người chờ đợi - ai phải đi?
Theo lệnh của Lữ đoàn trưởng đại tá D.P.Pavlushenko, người ta gọi chúng tôi - thiếu tá L., thượng úy B., trung úy A.A.Abdul và tôi lên ban tham mưu lữ đoàn, tại đó họ thông báo chúng tôi được phái đi công tác nước ngoài tại một đất nước có khí hậu nóng và ẩm. Có cả các sĩ quan từ các tiểu đoàn khác nữa. Đại úy N.S.Chernov, người thứ hai họ tên tôi không còn nhớ, từ chối ngay lập tức, viện cớ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân nhân trên lãnh thổ Liên bang Xô Viết,

Khi qua ủy ban y tế người ta làm cho chúng tôi các cuốn sổ y bạ mới. Trong thời gian đó các sĩ quan L. và B. sử dụng quan hệ để không đi công tác: vợ L. làm việc ở trường Y - anh ta được phát hiện bị suy tim (sau đó anh còn phục vụ tiếp 28 năm nữa), còn vợ của B làm thư ký ban chấp hành thành phố - anh này bị người ta phát hiện loét dạ dày (với chẩn đoán này anh còn phục vụ đến năm 1988). Vậy là đã rõ ai là ai.

Còn trong các cuốn sổ y bạ của chúng tôi, tại tất cả các mục ghi thông số, người ta chỉ đánh độc một câu:"Thích hợp phục vụ ở lãnh thổ có khí hậu nóng và ẩm".

Sau này mới biết người ta lấy tôi làm dự bị. Người sĩ quan được chuẩn bị đi công tác, trước mắt các đại diện từ Moskva đến, ngay tại một hiệu ăn ở Dushanbe, đã uống rượu say khướt. Vì chuyện đó người ta gạch tên anh khỏi danh sách đi thực hiện nhiệm vụ của chính phủ.

Cuối tháng 7 người ta gọi tôi đến ban tham mưu lữ đoàn trao công vụ lệnh - tôi nằm trong danh sách trung tâm huấn luyện tại Dushanbe để tiếp tục đi tới VNDCCH. Chỉ huy trung tâm của chúng tôi là đại tá A.D.Yaroslavtsev, tham mưu trưởng trung tá I.I.Katyshev.

Tại Dushanbe tôi được bổ nhiệm giảng viên chính huấn luyện các kíp chiến đấu đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu, giảng viên - đồng đội cùng lữ đoàn 145 của tôi Semiorkin V.N.

Bắt đầu công tác chuẩn bị dồn dập các dự thảo kế hoạch, giáo án, để giảng dạy trong tương lai cho các kíp chiến đấu đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Giáo án được biên soạn sao cho đơn giản dễ hiểu hơn với các đồng chí Việt nam vì phải làm việc thông qua phiên dịch. Đại tá chủ nhiệm khoa trường cao đẳng quân sự trò chuyện và kiểm tra kiến thức của chúng tôi, ông nói rằng trước đây ông từng là giảng viên mà không biết những điều chúng tôi hiện nay biết, - trình độ được đào tạo và kiến thức chúng tôi có là rất cao.

Chẳng hề có chút gì giữ bí mật, cả thành phố Dushanbe biết rằng đang diễn ra công tác chuẩn bị để phái chúng tôi đi Việt Nam.  

Sau những biện pháp nhất định, những mũi tiêm chủng đủ loại mà người ta chẳng làm cho tôi được việc nào, bởi vì tôi có mặt muộn hơn những người khác, họ cho chúng tôi thay sang thường phục và mọi người trông giống nhau đến nỗi chẳng nhận ra ai.

Tôi muốn nói riêng về công tác của các sĩ quan phụ trách cán bộ. Khi chuẩn bị và hoàn tất hộ chiếu họ gắn nhầm ảnh của tôi lên hộ chiếu của một đồng chí khác, ảnh của anh ấy - vào hộ chiếu của tôi, vì thế mà xảy ra một chút chậm trễ trong việc cử chúng tôi đi. Hộ chiếu thì người ta đưa từ Moskva lại, còn các đồng chí của tôi thì đã được mời lên máy bay. Tiếp theo, năm 1970, sau Việt Nam, tôi thi đầu vào Trường Đảng cao cấp, mức để xét là "8" thì tôi chỉ được "7". Ban cán bộ thậm chí còn không kê chuyến công tác Việt Nam của tôi và tấm huân chương Sao Đỏ. Khi ấy tôi không sử dụng bất cứ mánh nào, dù với kết quả thi tích cực người ta cần ghi danh cho tôi vào trường mà không cần xét tuyển, bởi vì tôi vào học hệ tại chức. Lần nữa vào năm 1977 khi vào một trường cao đẳng quân sự tại Kiev, do tưởng tượng hay quả thực "đãng trí", như sau này trưởng ban cán bộ thiếu tá N.Andrianov giải thích cho tôi, người ta không gửi giấy tờ cho tôi vào trường. Rặt những chuyện đen đủi.

Vậy là ngày 14 tháng 9 năm 1966 chúng tôi đáp máy bay Il-18 đến Irkutsk, còn ngày 15 tháng 9 năm 1966, máy bay của chúng tôi trực chỉ Bắc Kinh. Khi máy bay qua biên giới quốc gia kíp bay thông báo rằng chúng tôi đã ở trên lãnh thổ quốc gia nước ngoài. Tất cả nhoai người tới các ô lấy sáng, nhưng tất nhiên, mỗi người dều đeo đuổi ý nghĩ của mình, về điều - chúng ta bay đi đâu và phía trước chuyện gì đón đợi chúng ta,

Tại cảng hàng không Bắc Kinh người ta đón tiếp chúng tôi khá trọng thể: các đại diện ngoại giao, các đội viên thiếu nhi và đoàn viên thanh niên cộng sản Trung quốc.  

Sau đó người ta mời chúng tôi vào hiệu ăn trong ga hàng không, tại đó người ta bày biện bàn ăn đủ thứ đồ ăn và đồ uống. Công tác phục vụ đạt trình độ rất cao. Người ta nói những lời hữu nghị, nâng cốc chúc mừng. Mọi thứ thân thiện đến nỗi trong tương lai sẽ chẳng có gì tồi tệ. Nhưng vào tháng 1 năm 1967, nhóm thứ hai của trung tâm chúng tôi bay đến, thậm chí người ta còn không cho họ xuống máy bay.

Sau khi rời hiệu ăn chúng tôi đi trồng cây hữu nghị chúc phúc cho nhân dân Trung quốc và trang trí cho khu vực sân bay.

Chúng tôi bay từ Bắc Kinh tới Hà Nội, tới sân bay Gia Lâm lúc khoảng 22:30. Khi chúng tôi ra khỏi máy bay, việc đầu tiên là muốn cởi áo khoác và cà-vạt và uống gì đó, bởi vì dù vào ban đêm không khí ngột ngạt đến không thở được. Tại sân bay trời tối như hũ nút, cuộc nói chuyện diễn ra bằng giọng thầm thì, không ai gọi theo cấp bậc mà chỉ gọi theo tên cha (họ). Chúng tôi rất ngượng mồm khi gọi Chủ nhiệm trung tâm đại tá Yaroslavtsev Aleksei Dmitrievich theo tên và họ, nhưng sau đó thì cũng quen.

Người ta đưa chúng tôi lên xe buyt rồi chở chúng tôi đi một hướng lạ. Trên các xe buyt cấm hút thuốc, bật diêm và dùng bật lửa. Một số đồng chí như thỉnh thoảng vẫn xảy ra, phớt lờ quy định ấy. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy những chớp đạn pháo lóe lên từ xa, người ta dừng xe buyt và yêu cầu mọi người ra khỏi xe, ẩn nấp trong mương nước ven đường, chủ nghĩa lãng mạn chấm dứt tại đây, mọi người lặng ngắt, không còn ai muốn hút thuốc nữa. Chỉ bây giờ tất cả mới hiểu họ đến đây không phải để đi dạo, mà tới một đất nước nơi người ta đang chiến đấu.

Chúng tôi đi trong bóng tối mịt mùng rất lâu trên những con đường nhiều ổ gà, sau đó qua cửa sổ xe buyt chúng tôi thấy những cánh rừng xấu xí ở hai bên. Chúng tôi đến nơi trời gần sáng. Các đồng chí Việt nam đốt đuốc đón chúng tôi, tạo thành một hành lang để chúng tôi đi theo và đáp lại lời chào mừng.

Sau đó bắt đầu màn biểu diễn - nghi lễ giết một con rồng tượng trưng. Đó là một màn biểu diễn dàn cảnh nghệ thuật đẹp, nói về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, tất nhiên kết thúc bằng chiến thắng của cái thiện - con rồng bị lật nhào. Tất cả rất hài lòng và vỗ tay nồng nhiệt cổ vũ các nghệ sĩ.

Sau đó người ta đưa chúng tôi phân tán về nơi nghỉ trong các ngôi nhà 1 tầng. Đó là những công trình xây dựng lạ thường - không cửa sổ và cửa đi, thay vào đó là các tấm mành. Giường đã được thu dọn trải chăn, gối và đệm nhồi rơm. Tất cả ẩm đến mức chúng tôi nghĩ chúng vừa được hơ sau khi giặt. Sau đó người ta mời chúng tôi đi ăn điểm tâm sáng, và chúng tôi nhìn thấy rừng nhiệt đới thực sự: cây cao, dây leo chằng chịt, chim hót vang, ve kêu inh ỏi không dứt.

Sau vài ngày chúng tôi được đưa về lại Hà Nội, tới trung tâm huấn luyện Hà Đông (cách Hà Nội 8 km).

Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng khi chúng tôi tới Hà Đông, ra khỏi xe buyt và đi trên lãnh địa trung tâm thì nhìn thấy 2 cabin "P", trúng tên lửa "Shrike". Quả đạn "Shrike" rơi trúng 1 cabin phát nổ, sau đó cabin trông giống như một bông hoa bị dày xéo, còn cabin thứ 2 trông như chiếc lồng gà. Có thể hình dung được tâm trạng của mọi người. Một kỹ thuật viên cabin "P" sau những gì nhìn thấy, nói rằng anh ta sẽ không vào cabin "P" trên trận địa chiến đấu. Người ta lập tức gửi trả anh ta về Liên bang. Đó là thiếu sót của các đồng chí của chúng tôi được lựa chọn làm ững cử viên cho chuyến công tác đặc biệt.  

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kolesnikov3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kolesnikov3.jpg.html)
Đội ngũ trung tâm huấn luyện số 8 năm 1966 tại Việt Nam

Chúng tôi được bố trí ở trong những ngôi nhà gạch, mái lợp ngói: thay cho cửa sổ cửa đi người ta treo những tấm mành, còn trên những đường dây tách riêng cấp điện chiếu sáng, những con chuột to tướng chạy như chạy vũ trang. Đặc biệt lũ chuột này quấy rầy chúng tôi hằng đêm - tiếng chí chóe, sột soạt, tiếng cắn nhau ẩu đả thực sự của chúng không cho người ta ngủ. Lại thêm báo động....sau vài ngày bắt đầu có sự quen khí hậu, nhiều người da nổi sần mưng mủ, mà các bác sĩ của chúng tôi Shikas và Spirande dùng kéo cắt và dán cao lên. Bức tranh vừa nặng nề khó chịu vừa buồn cười, vì tất cả giống như những con ngựa khoang hoặc như những thổ dân Dalmatia, nhưng đấy là tiện thể nói thêm. Tất nhiên bạn sẽ không mô tả tất cả những đặc điểm của cuộc sống và sinh hoạt thường nhật ở chỗ chúng tôi.

Sự nghiệp lao động của chúng tôi trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bắt đầu như thế đấy.

Ban tham mưu hình thành, kíp giảng viên được gắn với các kíp chiến đấu nhất định theo các hệ thống, và bắt đầu các buổi lên lớp 4-6 giờ mỗi ngày. Các đồng chí Việt Nam có thái độ rất tỉ mỉ và thận trọng với các giờ học, họ xem giáo trình rất cặn kẽ, dùng bút chì màu gach chân những điều quan trọng.

Tôi tiến hành giảng tổng quát về radar cho các cấp chỉ huy thuộc trung đoàn, tại đó người ta ra câu hỏi tối mắt tối mũi.... về bề mặt phản xạ của mục tiêu, yêu cầu đối với trận địa mà trên đó đài radar được triển khai, tại sao đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu lại không nhìn được qua núi, hay là đài tồi? Đặc biệt chính ủy trung đoàn ra những câu hỏi rất khiêu khích. Khi tôi chia sẻ chuyện này với kỹ sư V.B.Osipov, anh nói rằng ban đầu người Việt Nam đều dồn cho mọi người những câu hỏi như vậy. Họ trong thời gian đầu có vẻ như khảo cứu các chuyên gia của chúng ta và kiểm tra trình chuẩn bị của chúng ta. Họ hỏi một và chỉ một câu hỏi đó vài lần, chăm chú nghe trả lời và so sánh người giảng viên khác trả lời câu hỏi đó thế nào.  

Chúng tôi nhận thấy có ai đó cậy vali của chúng tôi khi chúng tôi đi dạy. Một lần vì chuyện đó mà xảy ra xung đột nhỏ: khi Osipov bắt gặp một anh nhân viên dọn phòng, đang quét dọn trong các phòng chúng tôi, trong khi đang có giờ lên lớp, anh gay gắt thể hiện sự không hài lòng. Sau chuyện đó không thấy anh dọn phòng xuất hiện ở chỗ chúng tôi nữa.

Những ngày học trôi nhanh trong chế độ bình thường, và tất nhiên các giờ học bị ngắt quãng khi bắt đầu có các cuộc không kích vào Hà Nội. Chúng tôi thường xuyên quan sát thấy máy bay Mỹ quay cuồng trên bầu trời Hà Nội thế nào, chúng ném bom, do bom nổ mà đất dưới chân rùng rùng chuyển động như cơn địa chấn. Khi quan sát cảnh đạn nổ của các cỗ pháo PK 57mm, chỉ huy bắn bằng đài dẫn bắn pháo SON-9, chúng tôi chẳng hiểu tại sao đạn toàn nổ vuốt đuôi mục tiêu. Tất cả chúng tôi đều tức giận không hiểu tại sao lượng ngắm đón lại nhỏ như vậy.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kolesnikov1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kolesnikov1.jpg.html)

Chúng tôi được lệnh phải mang mũ sắt, nhưng không phải tất cả đều thực hiện điều đó: thỉnh thoảng người ta quên lấy mũ sắt lên lớp, bỏ lại mũ sắt ở nhà ăn, bỏ quên trong lớp, v.v. Nhưng khi sau một cuộc không kích mảnh bom xuyên thủng mái nhà, các lớp trần, rơi xuống cạnh người trực ban, chẳng ai quên hay bỏ lại mũ sắt ở đâu đó nữa.

Đặc biệt chúng tôi không nghĩ về giờ rảnh rang trong ngày học, bởi vì những ngày học luôn rất căng thẳng, chủ yếu - dạy, chuẩn bị lên lớp, ăn tối, ngủ. Thỉnh thoảng người ta chở đến đội chiếu phim, đoàn văn công QDNDVN cũng đến biểu diễn chỗ chúng tôi.

Một lần lúc 5 giờ sáng người ta dựng chúng tôi dậy, lùa lên xe buyt, chở đi vài cây số rồi đổ xuống một đoạn cây cối rậm rạp nào đó, không giải thích gì. Họ luôn có những cái kỳ lạ  như vậy, Bữa sáng, bữa trưa họ đều chở đến chỗ đoạn cây cối này, còn đến 17:00 khi người Mỹ ngừng các chuyến bay họ lại chở chúng tôi quay về Hà Đông. Cứ vậy đâu khoảng 3 ngày liền, chính xác tôi không nhớ. Sau đó người ta nói với chúng tôi rằng chúng tôi sẽ lên xe chuyển sang khu chung cư của một trường đại học ở Hà Nội. Rồi thì không hiểu tại sao họ lại dồn chúng tôi lên xe buýt, chở ngược vào trong núi, chỗ đóng quân đầu tiên trong rừng nhiệt đới. Sau này mới biết được khi các phiên dịch viên thì thầm với chúng tôi rằng. sắp có cuộc ném bom trung tâm chúng tôi, còn tòa chung cư nơi chúng tôi dự định được chuyển sang nay đã bị ném bom tàn tành. Điều đó nói lên, các đồng chí "cơ quan đặc biệt" và cơ quan bảo vệ Việt Nam đã không ăn phí bánh mì.

Trong rừng các giờ học vẫn tiếp tục theo chế độ cũ, chỉ khác một phần tiết học chuyển sang thực hành - học trên khí tài. Ở đây lập tức thể hiện sự bền bỉ, ham hiểu biết và khát khao kiến thức của người Việt Nam. Điều kiện học rất khắc nghiệt: trong lớp học được xây dựng bằng tre nứa, không có một cửa sổ, cửa đi nào, ở giữa phòng - một đống lửa đốt lên để sưởi. Chúng tôi mặc bành-tô và cảm thấy vẫn còn không dễ chịu, còn người Việt Nam chỉ mặc độc chiếc áo va-rơi, chân đi dép "không lùi bước" (loại dép đi trên bãi biển, làm bằng lốp cao-su ô tô). Nhưng họ yên lặng ngồi chăm chú lắng nghe. Bạn đang giải thích tài liệu nào đó, có vẻ ai cũng hiểu cả, bỗng sau đó một cánh tay giơ lên và người lính nói: "Anh kể chúng tôi nghe rất hay, nhưng xin hãy nhắc lại thêm một lần nữa". Và như vậy tiếp gần cả nhóm, khi mà họ còn chưa thuộc nằm lòng.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2014, 12:58:00 AM
Chúng tôi được cho ăn uống rất tốt: súp từ thân chuối, gạo, giò nạc, thịt lợn, thịt nghé, gà mái và nước khoáng Soviet xịn bormozhin.

Kỷ niệm 49 năm CM Tháng Mười và Năm Mới 1967 được làm rất trọng thể. Dịp Năm Mới chúng tôi nhận được quà của BQP Liên Xô, của Nguyên soái R.Ya.Malinovsky, trong đó có đồ uống, thức ăn, và hay nhất, có bánh mì đen chính hiệu.

Một lần vào sáng sớm, tiếng ồn và tiếng cành cạch giống như tiềng đạn súng tự động đánh thức chúng tôi, lập tức chúng tôi phóng khỏi bungalo (nhà 1 tầng) và thấy nhà ăn của mình đang cháy. Tiếng lách cách vang lên do tre và nứa làm mái và tường nhà ăn bị cháy.....Ngày hôm đó bữa sáng chậm hơn bình thường và không có ca-cao - trong lúc dập đám cháy và hốt hoảng chung, phó chính trị trung tâm trung tá V.A.Krupnov cùng với một đồng chí nhìn thấy một thùng tướng đựng chất lỏng (trông màu không được sáng lắm), họ tóm lấy nó và lấy đà tưới chất lỏng chứa bên trong lên đống lửa. Sau đó mới biết rằng đó là ca-cao chuẩn bị cho bữa sáng. Người đầu bếp Việt Nam chỉ kịp kêu: "Kaka! Kaka!" (Kakao!), nhưng đã muộn - "kaka" đã thăng thiên lên mái.

Trong giờ rảnh, một số đồng chí chúng tôi thích đánh đu trên dây leo treo nhằng nhịt khắp nơi, làm người Việt Nam nghi ngại ra mặt, và khi đại úy Duzhkov ngã bị thương ở tay, ngay ngày hôm sau, tất cả dây leo quanh bungalo của chúng tôi bị cắt sạch.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kolesnikov2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kolesnikov2.jpg.html)
Trên trận địa chiến đấu của tiểu đoàn 41 năm 1967

Vào đầu tháng 2 người ta mời chúng tôi đến đón Năm Mới theo Âm lịch, tại đó có rất nhiều ời nói cảm ơn gửi đến Liên bang Soviet và các chuyên gia quân sự Liên Xô vì sự trợ giúp trên tình anh em cho nhân dân Việt Nam.

Sau một thời gian nhất định người ta lại chuyển chúng tôi về Hà Đông, tiếp tục các giờ dạy lý thuyết cho các đồng chí Việt Nam. Các kíp chiến đấu của các đại đội bệ phóng, đại đội kỹ thuật vô tuyến điện tử, các kíp chiến đấu của đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu được thành lập. Tháng 1 thêm các đồng chí của chúng tôi từ Liên bang Soviet đến để làm việc thực tế trên khí tài.

Tháng 3 - tháng 4 người ta phái chúng tôi ra trận địa chiến đấu để huấn luyện thực hành cho các kíp tác chiến. Nhiệm vụ đề ra - dạy trong tình huống chiến đấu, quan sát tình huống trên không mà không cho đài phát sóng, chưa nói về chuyện xạ kích chiến đấu.

Chúng tôi dạy các kíp tác chiến trinh sát tình hình trên không, bắt và bám sát mục tiêu, báo cáo tiểu đoàn trưởng về tình báo trên không. Sau khi huấn luyện thực hành, tiểu đoàn TLPK 41 được thành lập, tiểu đoàn trưởng là Bondarenko Igor Vladimirovich, chỉ huy Việt Nam là đại úy Thành. Thành phần kíp chiến đấu đài trinh sát chỉ thị mục tiêu có: - tôi, với tư cách chủ nhiệm trinh sát tiểu đoàn, đài trưởng - trung sĩ Letshenko và đài trưởng đài trinh sát chỉ thị mục tiêu Việt Nam - Mạo, những người khác tôi không nhớ.

Đội ngũ quân nhân tiểu đoàn lên xe buyt đến một ngôi làng, nơi chúng tôi phải tiếp nhận tổ hợp S-75 và chuyển giao cho các đồng chí Việt Nam. Khi tiếp nhận đài P-12 MP đồng chí Mạo và đội ngũ quân nhân của anh ta kiểm tra đến từng cái vòng đệm cuối cùng. Nếu nhu thiếu một con ốc nhỏ, một cái đai ốc con, thì được coi là bình thường. Nhưng nếu trong hòm hàng đóng gói thiếu một chi tiết nào đó, tất cả sẽ được ghi chú rõ trong bảng kiểm kê, trong biên bản và được báo cáo lên ban lãnh đạo tiểu đoàn. May thay không có khiếm khuyết gì lớn.

Ở đây đã suýt xảy ra một trường hợp nghiêm trọng có thể làm gẫy và phá hủy ăng-ten của đài. Tôi đang ở trong cabin vừa truyền đạt và chỉ các phụ kiện, còn đài trưởng Mạo, sau khi cùng lắp ráp, chỉ huy việc nâng ăng-ten lên tư thế làm việc. Bỗng tôi thấy có gì như linh tính mách bảo tôi, tôi ra khỏi cabin và trông thấy việc nâng ăng-ten đã diễn ra cùng với sự vi phạm thô bạo chỉ dẫn về lắp ráp và đưa ăng-ten vào tư thế làm việc.

Trên đỉnh cột ăng-ten có một vấu đặc biệt dùng để gắn móc tời, trên động cơ điện có một con ốc vòng, được dùng để nâng chỉ cột ăng-ten. Nếu tời được gắn vào con ốc vòng của động cơ điện, thì khi nâng ăng-ten để ráp trong  một tư thế nhất định, chưa kể đến một trọng lượng như thế, nó sẽ bị gãy và ăng-ten sẽ rơi, Sau đó sẽ không phục hồi được nó nữa. Vậy là lập tức tôi nhìn thấy móc tời được gắn vào con ốc vòng của động cơ điện và người ta nâng ăng-ten lên đã được nửa mét cách mặt đất. Tôi ra lệnh cho toàn kíp chiến đấu đưa tay ra đỡ lấy ăng-ten, còn người đang đứng tời thì tôi ra lệnh hạ sản phẩm xuống. Chúng tôi kê giá vào, chuyển móc gắn sang vấu lồi, và sau đó nâng được ăng-ten an toàn lên trong tư thế làm việc.

Sau trường hợp này tất nhiên là có ầm ĩ nhất định, đài trưởng Mạo nói qua phiên dịch rằng "đàn trí Kolesnikov ác". Tôi trả lời rằng tôi không ác, và giải thích nếu ăng-ten bị rơi và hư hỏng, nghĩa là chúng ta sẽ mất sự SSCD trong một thời gian dài.

Suốt thời gian chúng tôi ở trong ngôi làng này, những người dân địa phương tốt bụng, đầy thiện ý vây quanh chúng tôi, họ mời chúng tôi uống trà, cho chúng tôi rau, hoa quả, cố gắng sờ vào tay và vai chúng tôi. Phần mình, chúng tôi cho họ những viên đường, kẹo, tóm lại, khung cảnh giao tiếp rất thân thiện. Đặc biệt những đứa trẻ rất hài lòng khi chúng tôi cho phép các cháu trèo lên xe buyt, ngồi một lúc trên xe. Không thể truyền đạt được vẻ mặt của bọn trẻ và những người lớn vì tò mò mà thỏa mãn thế nào khi được đi lòng vòng trên xe buyt.

Rồi sau khi lắp đài, công tác đào tạo thực hành bắt đầu. Tại một buổi tập huấn, chúng tôi nhận thấy ở phương vị "0" một mục tiêu đang đi tới tiểu đoàn chúng tôi. Trên IKO (màn hiển thị quét vòng) lóe lên một đốm mục tiêu nào đấy, ngay lập tức được báo cáo tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng tức khắc ra lệnh quay ăng-ten cabin "P", tắt máy phát và sau một khoảng thời gian ngắn vang lên tiếng va đập khô khốc của quả đạn "Shrike" phát nổ. Có hai lần xảy ra trường hợp như thế.

Sau những biện pháp nhất định, tiểu đoàn chúng tôi chiếm lĩnh trận địa hỏa lực, và chúng tôi bắt đầu nóng lòng chờ đợi gây phút phóng đạn chiến đấu vào các mục tiêu trên không. Sự kiện này xảy ra ngày 21 tháng 6 năm 1967 - tiểu đoàn 41 chúng tôi bắn rơi 2 máy bay Mỹ: một tiêm kích F-105 và một cường kích A-6A.

Rồi thì tiếp tục những cuộc chuyển trận địa liên hồi, di chuyển bằng xe, qua cầu phao, vậy là tiểu đoàn đã ở trong dãy Tam Đảo, trong cái gọi là chiến thuật "phục kích". Các đồng chí Việt Nam không phải lúc nào cũng đồng ý với các đề xuất của chúng tôi về việc triển khai tiểu đoàn ngay sau khi hành quân bở hơi tai: "Các anh chỉ đến đây 6-12 tháng, còn chúng tôi nếu làm việc với nhịp độ như vậy sẽ không trụ được quá 6 tháng".

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Todo2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Todo2.jpg.html)
Trong rừng. Năm 1965.

Điều kiện làm việc trên đài thật kinh khủng - nhiệt độ đến 60 độ C. Chúng tôi ngồi trực chỉ mặc độc chiếc quần đùi với chiếc khăn (thấm mồ hôi) trên cổ, người ướt đẫm mồ hôi. Đã có hiện tượng hăm da, may mắn cho tôi là bà vợ gửi cho 18 tuyp kem trẻ em, chúng cứu cả kíp chiến đấu khỏi hiện tượng khó chịu này.

Những cơn mưa rào nhiệt đới, ruồi, muỗi, cái nóng không chịu nổi ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của chúng tôi, nhưng dẫu sao đội ngũ quân nhân vẫn thi hành một cách xứng đáng tất cả mọi nghĩa vụ được giao phó cho mỗi chuyên gia của chúng ta.

Đã đến lúc phải trao cần điều khiển cho người Việt Nam. Việc kiểm tra chức năng đài diễn ra 7 buổi sáng và chúng tôi đã làm tròn trách nhiệm, tiếp theo người ta đưa chúng tôi ra khỏi trận địa hỏa lực về nơi an toàn. Một lều dã chiến được triển khai làm chỗ nghỉ ngơi gần đài, trong lều có các màn chống muỗi.

Một lần 3 máy bay Mỹ từ sau dãy Tam Đảo bay đến tiểu đoàn chúng tôi. Lệnh truyền: "Vào vị trí chiến đấu!", đạn được phóng lên. Một trong những máy bay F-105 bị bắn rơi, hai chiếc khác bắt đầu oanh tạc tiểu đoàn. Mảnh bom phạt trúng cabin "P", nhưng đòn đánh chính lại giáng xuống vị trí kíp chiến đấu ZPU-4, PPK 37mm và xuống kho nhiên liệu dầu mỡ, trong đó một số thùng bị nổ. Điều này thu hút các phi công Mỹ khỏi trận địa chính của tiểu đoàn.. Lệnh truyền: "Tắt đài! Tát cả vào hầm trú ẩn!". Sóng nổ giật tung cửa cabin "U", quật ngã cùng với nó là tiểu đoàn trưởng trung tá Bondarenko. Bom bi đánh trúng làm bị thương binh nhất trắc thủ máy bám sát bằng tay Mikhail Boletsky, người chơi đàn bai-an cừ khôi của chúng tôi. Không có ai khác bị thương. Ngay sau khi máy bay rút đi lệnh truyền thu hồi khí tài. Tôi xin nói, mọi tiêu chuẩn về thu hồi khí tài đều vượt mức, còn tiểu đoàn đã trú ẩn dưới tán lá cây, không xa trận địa vừa bỏ lại. Trong số các quân nhân PPK Việt Nam có một số hy sinh và bị thương. Số bị thương, tất nhiên, được sự trợ giúp y tế của bác sĩ và y tá của chúng tôi.

Ngày hôm sau tại nơi tiểu đoàn tôi triển khai hôm qua có 5 máy bay Mỹ quần đảo và ném bom, nhưng chúng tôi đã không còn ở đấy. Khi trận bom kết thúc các đồng chí của tôi muốn đi tới đó xem kết quả trận bom ra sao nhưng người Việt Nam không cho phép. Sau này người phiên dịch nói với tôi rằng ở chỗ đặt đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu của tôi là một hố bom khổng lồ.

Sau trận bom này người ta gọi tôi về Hà Nội tới bộ tham mưu gặp trưởng đoàn chuyên gia TLPK tướng V.S.Kisliansky. tại đó người ta cho biết ở nhà tôi có chuyện lớn và tôi được đặc cách về Liên bang. Vài ngày sau người ta cho tôi về Hà Nội, bố trí ở khách sạn "Kim Liên". Tại đây tôi ở suôt cả tuần vì phía Trung quốc không cho phép bay qua đất nước họ.

Tôi muốn hồi tưởng bằng những lời tốt đẹp về người trung đoàn trưởng Shilov, đại úy Nemtsov, những người đã đến khách sạn thăm tôi và cám ơn vì đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, trao cho tôi bằng chứng nhận ghi công và huy chương Hữu Nghị từ chính phủ Việt Nam.

Sau khi được phép bay, trong thành phần một nhóm nhà ngoại giao, chúng tôi bay từ Hà Nội tới Nam Kinh vào buổi chiều. Sáng hôm sau chúng tôi lại cất cánh và chỉ đỗ tạm ở một thành phố (tôi không nhớ tên), tại đó người ta cho chúng tôi ăn trưa, rồi chúng tôi lại bay tới Bắc Kinh.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kolesnikov4.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kolesnikov4.jpg.html)
Một trong những PA trận địa hỏa lực của tiểu đoàn. Đứng cạnh bệ phóng trong "trang phục hàng ngày" là thượng úy A.I.Kolesnikov. Năm 1967.

Ở đây tôi muốn dừng lại đề cập đến không khí trong thời gian mà quan hệ với các công dân Soviet, - ta chỉ cảm thấy sự thù địch, khó chịu. Radio ra rả suốt 24 giờ. Tôi bị giữ lại trong sân bay Bắc Kinh những hai ngày - cũng do những nguyên nhân nào đó. Tại khách sạn nữ phiên dịch cảnh báo nghiêm khắc chúng tôi không được động vào bất cứ cái gì, không được làm rơi hay đánh vỡ thứ gì. Thái độ với chúng tôi cực kỳ khác khi chúng tôi bay đến Hà Nội. Trên sân nhà ga hàng không có viết hàng chữ lớn: "Chúng ta hãy đập nát những cái sọ chó má của bọn lãnh đạo Soviet".

Khi bay từ Bắc Kinh đến Irkutsk, người ta trao cho chúng tôi những cuốn Mao tuyển và huy hiệu có chân dung ông ta. Suốt 4 giờ bay diễn ra một cuộc hòa tấu có các điệu múa (trên lối đi giữa các hàng ghế), có những tiếng hô ca tụng Mao, ca ngợi sự vĩ đại của ông và những phẩm chất khác.

Tại Moskva người ta nghe báo cáo của tôi về công tác của các kĩ thuật viên chúng ta trong các điều kiện khí hậu nóng ẩm, cũng như về tình trạng công việc thuộc phần trách nhiệm của tôi, và tình hình chung tại các khu vực chiến sự ở Việt Nam.

Tôi đáp tàu về nhà ở thành phố Frunze. Trên sân ga vợ tôi cho tôi biết tôi đã mất người yêu quý nhất - mẹ tôi. Bà ra đi ở tuổi 67. Khi tôi lên đường đến Việt Nam, bà đã khóc như thể cảm thấy rằng hai mẹ con chúng tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy nhau. Chuyến đi của tôi đến Việt Nam đã làm cho sức khỏe của bà suy sụp. Chuyến công tác của tôi đã kết thúc một cách buồn thảm như vậy đấy.

Dù sao bạn sẽ không viết hết những gì đã thấy, đã cảm, đã chịu đựng. Và bạn sẽ than rằng chính quyền của chúng ta không đánh giá đúng sự gan dạ và lòng tận tụy của những người lính và sĩ quan của mình đã không tiếc công, tiếc sức khỏe, khi thực hiện nhiệm vụ của chính phủ.

Thành phố Ekaterinburg, tháng 2 năm 2008.
   


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2014, 10:18:45 PM
Tập thể tác giả. Xạ kích tác chiến của các tiểu đoàn TLPK. Phân bố máy bay bị bắn rơi theo loại//Xạ kích tác chiến của các tiểu đoàn TLPK SA-75M "Dvina" tại Việt Nam 1965-1967. Văn phòng Tổng tư lệnh QC Phòng không Quốc gia LBCHXHCNXV - Nhà xuất bản Quân sự, Moskva, 1968, trang 128.

(http://img163.imageshack.us/img163/5280/boevyestrelbyzenitnyhra.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2014, 11:04:08 PM
Tập thể tác giả. Xạ kích chiến đấu của các tiểu đoàn TLPK. Đặc điểm chung của các kết quả xạ kích chiến đấu // Binh chủng TLPK trong chiến tranh tại Việt Nam và tại Viễn Đông (trong giai đoạn 1965–1973) / Bộ TTM QC PK Liên Xô; Chủ trì chung thượng tướng pháo binh I. М. Gurinov. — М.: NXB Quân sự BQP Liên Xô, 1980.
(http://img.archive.today/rfHAV/0744a1fab668ac2f46432e7c13c5c2263e35da53.jpg)

(http://img.archive.today/caoIK/0e6a7d324853ae90d47bf16537b6c15aaabffcdd.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2014, 11:41:46 PM
Tập thể tác giả. Hoạt động chiến đấu của BC TLPK QDNDVN. Kết quả xạ kích // Hoạt động chiến đấu của BC TLPK QDNDVN chống Không quân chiến lược Hoa Kỳ tháng 12 năm 1972. / Văn phòng TTL QCPK Liên Xô. — М.: NXB Quân sự, 1973.
(http://img.archive.today/zDsfh/2412b83c2ebf485ab6e1d3f5b8e2f7df86797a9f.jpg)

(http://img.archive.today/dlGeb/2fb1d68a06a04611cb6caf3c8d9b2c47e0b09a90.jpg)

(http://img.archive.today/nakdC/2af4d2c4934fa7e3b23ffd65f2a31babbcefcd43.jpg)


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Bảy, 2014, 08:26:04 PM
Tập thể tác giả. Hoạt động chiến đấu của QC PKKQ QDNDVN chống Không quân chiến lược Hoa Kỳ tháng 12 năm 1972. — М.: NXB Quân sự, 1976.

KẾT LUẬN

1. Hoạt động tác chiến của máy bay Mỹ tháng 12 năm 1972 diễn ra với mục đích cực kỳ cương quyết: bẻ gãy tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam, buộc chính phủ VNDCCH phải ký thỏa thuận chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam theo các điều kiện thuận lợi cho Hoa Kỳ. Để đạt được những mục tiêu này, bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã lên kế hoạch kỹ lưỡng từ trước và tiến hành chiến dịch đường không "Linebacker-2". Trong chiến dịch này không quân chiến lược được sử dụng rộng rãi với tư cách lực lượng tấn công chính. Nó được sử dụng chủ yếu vào ban đêm với công tác đảm bảo được tổ chức một cách chu đáo.

Chiến dịch đường không kéo dài 12 ngày. Tham dự có khoảng 190 máy bay ném bom chiến lược B-52 và hơn 800 máy bay chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay Mỹ. Trong thời gian chiến dịch đã diễn ra 33 trận không kích quy mô lớn, trong đó có 17 trận - bằng không quân chiến lược, thực hiện 2814 phi vụ, 594 trong số đó - thuộc về máy bay ném bom chiến lược B-52.

Các lực lượng tham gia vào chiến dịch không kích được sự hỗ trợ của hạm đội 7 Mỹ.
Một trong những điểm đặc trưng của chiến dịch đường không là việc tấn công các mục tiêu quan trọng sống còn của VNDCCH được lên kế hoạch diễn ra đồng thời với việc chế áp bằng hỏa lực các trận địa của binh chủng TLPK, binh chủng kỹ thuật VTDT, các sân bay căn cứ của QC Phòng không và Không quân QDNDVN, thực hiện trên một quy mô chưa từng thấy hoạt động chế áp điện tử các phương tiện chiến đấu của BC TLPK, BC VTDT và TTLL.

Máy bay của KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay được sử dụng để tự tổ chức tấn công cũng như đảm bảo cho không quân chiến lược (45% lực lượng). Nó hoạt động vừa dưới dạng ồ ạt quy mô lớn vừa dưới dạng các tốp chiến thuật nhỏ - chủ yếu vào ban ngày và trên toàn bộ lãnh thổ VNDCCH, máy bay trên TSB - chủ yếu hoạt động ban đêm tại các khu vực ven biển.

2. QC Phòng không và Không quân QDNDVN, bất chấp sự thống trị trên không của máy bay Mỹ, bất chấp hoạt động chiến tranh điện tử do các máy bay hiện đại của Mỹ tiến hành, họ đã cùng với các lực lượng phòng không của dân quân tự vệ buộc Mỹ phải từ bỏ việc tiếp tục chiến dịch không kích. Hoa Kỳ đã không đạt được mục tiêu của chiến dịch đường không.

3. Các hoạt động chiến đấu của QC Phòng không và Không quân QDND với máy bay Mỹ chỉ ra rằng công tác tổ chức phòng thủ đường không, chỉ huy bộ đội, sự sẵn sàng chiến đấu của họ, cũng như công tác huấn luyện tác chiến và chiến dịch, được thực hiện ở Việt Nam dựa trên khuyến nghị của các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã chứng tỏ tính đúng đắn của nó. Hệ thống phòng thủ đường không của nươc VNDCCH đã thể hiện sự đáp trả mạnh mẽ cuộc xâm lược của Mỹ. Về cơ bản điều đó đã được xác định trước bằng việc xây dựng tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một hệ thống phòng không khá hiện đại được trang bị các tổ hợp TLPK, các máy bay-tiêm kích và các phương tiện vô tuyến điện tử do Liên Xô sản xuất, còn đội ngũ quân nhân của nó được các chuyên gia quân sự Liên Xô đào tạo. Các khí tài quân sự radar, tên lửa phòng không, máy bay chiến đấu được cung cấp từ Liên Xô cho các lực lượng Phòng không và Không quân QDNDVN cho thấy chất lượng chiến đấu và độ tin cậy cao khi hoạt động chống các máy bay hiện đại và tất cả các phương tiện chế áp hệ thống phòng không mà đối phương sử dụng. BTL QC PKKQ QDNDVN đánh giá cao những phẩm chất chiến đấu của khí tài Liên Xô.

4. Đóng vai trò chính trong việc phá vỡ các cuộc tấn công của máy bay Mỹ là BC Tên lửa Phòng không QDNDVN.
Các nguyên tắc được áp dụng trong QC PKKQ QDNDVN về tổ chức bảo vệ các trung tâm hành chính, chính trị và công nghiệp quan trọng nhất, huấn luyện và đào tạo các đơn vị và phân đội tên lửa phòng không đã chứng minh sức sống và hiệu quả khá cao của nó. Các yêu cầu về bố trí các tiểu đoàn tên lửa phòng không trên những khoảng cách xa nhau nhất định để đảm bảo yểm trợ lẫn nhau trong một hệ thống hỏa lực thống nhất đã được khẳng định. Tuy nhiên, khả năng chiến đấu của binh chủng tên lửa phòng không về các trận đánh tháng Mười Hai đã không được tận dụng tối đa do các thiếu sót trong chỉ huy chiến đấu, công tác đảm bảo đạn tên lửa yếu và do mức độ được huấn luyện chuẩn bị chưa đủ của các kíp chiến đấu một số đơn vị thuộc BC TLPK. Khuyền nghị của Quy tắc xạ kích BC TLPK không phải lúc nào cũng được tuân thủ.

5. Trong cơ sở của ứng dụng chiến đấu KQTK QDNDVN đã thể hiện rất rõ ràng những luận điểm của học thuyết quân sự về chiến tranh nhân dân - giành chiến thắng bằng lực lượng nhỏ. Xuất phát từ các nguyên tắc này, BTL Quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN đã không thực hiện các biện pháp hiệu quả để tận dụng tối đa các khả năng chiến đấu của KQTK và sử dụng nó với những mục đích quyết định. Vì thế, người Mỹ đã vô hiệu hóa các căn cứ không quân chính yếu của KQTK tương đối dễ dàng và làm giảm số lượng các các nhóm đảm bảo. Mặc dù hoạt động của KQTK QDNDVN mang tính chất hạn chế, nó vẫn góp phần vào việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao cho QC Phòng không và Không quân QDNDVN.
Trong các trận chiến tháng Mười Hai với máy bay Mỹ, tham gia chủ yếu là các phi công máy bay tiêm kích MiG-21. Các trận không chiến cho thấy phẩm chất chiến đấu cao của máy bay MiG-21 và khả năng của nó trong việc tiến hành đấu tranh thành công với các phương tiện tấn công đường không hiện đại.

6. BC KTVTĐT trang bị vũ khí radar cơ bản do Liên Xô sản xuất, đã đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu cho QC Phòng không và Không quân QDNDVN. Sự đúng đắn của các quan điểm của chúng ta về việc sử dụng tích hợp các radar thuộc các dải tần số khác nhau trong thành phần các tiểu đoàn và đại đội KTVTĐT, mà về tổng thể đã đảm bảo sự ổn định của hệ thống radar trong các điều kiện kẻ thù sử dụng nhiễu kết hợp rất mạnh, đã được khẳng định.
Đồng thời kinh nghiệm quá trình chiến đấu cho thấy các đài radar P-12 và P-35 có khả năng chống nhiễu kém, còn ứng dụng chúng trong các điều kiện nhiễu kết hợp rất mạnh, là không hiệu quả.

7. Trong các điều kiện của chiến tranh hiện đại, khi các cơ quan chỉ huy, các trận địa của BC TLPK và BC KTVTDT, cũng như các sân bay phải chịu các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của đối phương, những hoạt động nhằm đảm bảo khả năng sinh tồn cao của quân đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tính phù hợp của việc phân tán máy bay, xây dựng các hầm trú ẩn bằng bê tông cốt thép cho máy bay,  trang thiết bị về mặt công binh công trình cho các trận địa chủ chốt của các tiểu đoàn tên lửa phòng không và các phân đội radar, ngụy trang các công trình thuộc hệ thống dự bị và các trận địa giả, tổ chức phòng thủ đường không và phòng thủ mặt đất cho các sở chỉ huy, trận địa, sân bay, đã được khẳng định.

Kinh nghiệm chiến đấu cho thấy để khôi phục sửa chữa các khí tài hư hỏng trong các trận đánh thì cần phải xây dựng trong quân chủng lượng dự trữ các yếu tố dễ bị tổn thương nhất của tổ hợp tên lửa phòng không, các đài radar và khí tài hàng không. Trên các sân bay cần phải có nguồn dự trữ vật liệu xây dựng và các đội công nhân để khôi phục các sân bay bị phá hủy.

Dự trữ tên lửa, đạn dược, nhiên liệu và các nguồn lực đảm bảo kỹ thuật-hậu cần khác tại các trận dịa phóng của các tiểu đoàn TLPK và các sân bay phải được xây dựng đủ về số lượng có tính đến cường độ dự kiến của quá trình chiến đấu.

Khuyến nghị của các chuyên gia quân sự Liên Xô về công tác chiến đấu của các kíp tác chiến BC TLPK và BC KTVTĐT trong các điều kiện kẻ thù sử dụng nhiễu kết hợp mạnh mẽ và đạn chống bức xạ radar "Shrike" đã chứng tỏ là hoàn toàn hợp lý.

Khi nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh tại Việt Nam, cần lưu ý rằng cuộc chiến tranh này có những đặc điểm riêng của mình và không phản ánh hoàn toàn đầy đủ sự phức tạp và tính năng động của các hoạt động tác chiến, có thể phát sinh trong trường hợp xảy ra chiến tranh chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Vì vậy, để học tập kinh nghiệm cần phải có thái độ tiếp cận sáng tạo.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Bảy, 2014, 09:50:58 PM
Trích "Chiến tranh tại Việt Nam - cái nhìn qua năm tháng..." (hội thảo năm 2000)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/pic/Zaika.jpg)

Đại tá Zaika Anatoly Borisovich

Zaika Anatoly Borisovich, Đại tá. Sinh ngày 06/07/1928 tại thành phố Volchansk, Ukraine.
Ông đã tốt nghiệp trường pháo binh Cờ Đỏ Sumsk.
Năm 1958 ông tốt nghiệp Học viện kỹ thuật vô tuyến điện tử pháo binh Kharkov mang tên Nguyên soái pháo binh L.A.Govorov. Phục vụ tại các quân khu PK Baku, sau đó là Moskva trên các cương vị khác nhau.
Từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966 tham gia chiến đấu tại Việt Nam trên cương vị kỹ sư trưởng Trung tâm đào tạo thứ 2, sau đó là trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô cấp trung đoàn tại trung đoàn TLPK 238 QDNDVN.
Ông kết thúc đời phục vụ năm 1980 trên cương vị giám đốc căn cứ phục hồi-sửa chữa thuộc Bộ đội PK quốc gia.
Được tặng thưởng các huân chương "Cờ Đỏ", "Phục vụ Tổ quốc trong Lực lượng Vũ trang" hạng III và nhiều huy chương, trong đó có huy chương "Hữu nghị" của Việt Nam.
Từ trần ngày 02/06/2001 tại thành phố Balashikha.



Hoạt động chiến đấu của trung đoàn TLPK trong các điều kiện thành lập và đào tạo của nó tại giai đoạn đầu phát triển binh chủng TLPK QĐNDVN

Đại tá A.B.Zaika là một người đàn ông can đảm và tài năng, một nhà chỉ huy giỏi. Những người phục vụ với ông trong những năm khác nhau vẫn nhớ cái nhìn thông minh pha chút láu lỉnh và sự thiện chí của ông. Mùa xuân năm 2001, Anatoly Borisovich đang chuẩn bị cho chuyến đi đến Việt Nam trong thành phần một phái đoàn cựu chiến binh Liên Xô trong chiến tranh Việt Nam, nhưng căn bệnh âm ỉ và cái chết đột ngột đã ngăn cản chuyến đi ấy ...

Trung đoàn tên lửa phòng không 238 của Quân đội nhân dân Việt Nam bước vào chiến đấu; mà chưa trải qua khóa đào tạo đầy đủ. Giảng dạy họ là các chuyên gia Quân khu Phòng không Baku. Đó đa số là những sĩ quan và binh sĩ đang tại ngũ, và hai-ba sĩ quan giáo viên trường PK Ordzhonikidze. Thay vì học tập theo chương trình đào tạo một năm, trung đoàn mới qua ba tháng đào tạo đã được lệnh xuất kích ra trận địa chiến đấu với nhiệm vụ tiến hành tác chiến và tiếp tục đào tạo các chuyên gia Việt Nam trong điều kiện chiến đấu.

Hầu như trên thực tế không có tiểu đoàn nào, trung đoàn nào bằng lực lượng các chuyên gia Việt Nam đến thời điểm đó có khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Đã quyết định thành lập từ số các chuyên gia Liên Xô trong từng tiểu đoàn các kíp chiến đấu rút gọn quân số 35-40 người. Công việc này dễ dàng, tương đối dễ dàng, nếu chỉ để xác định quân số, nhưng lấy đâu ra những con người sống với các kỹ năng cần có đây? .. Tuy nhiên, Moscow hưởng ứng ngay lập tức. Đúng trong vài ngày dự định các chuyên gia có trình độ cao đã bay tới, còn theo sau họ là bộ phận vật chất kỹ thuật. Vũ khí trang bị để thành lập đã lên đường trong tháng Tám. Tháng Chín, tất cả các tiểu đoàn đã ở trên trận địa chiến đấu. Việc xuất kích lên trận địa thực hiện tuần tự theo mức độ sẵn sàng. Khối lượng công việc đã tiến hành thật vô cùng lớn lao.

Trong thời hạn gấp rút chúng tôi chuẩn bị các tổ hợp tên lửa SAM, tiến hành thao luyện hiệp đồng các kíp chiến đấu. Đồng thời vẫn không ngừng công tác giảng dạy đào tạo cho các đồng chí Việt Nam.

Lãnh đạo công tác tổ chức thành lập trung đoàn về phía các chuyên gia Liên Xô là: Đại tá (từ tháng 10 mang quân hàm tướng) Bazhenov Nikolai Vasilevich - Trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô, thiếu tá Zaika Anatoly Borisovich - kỹ sư trưởng đoàn chuyên gia, Đại tá Smirnov Ivan Ivanovich - Phó chỉ huy về chính trị.

Kinh nghiệm lớn lao của công tác tổ chức của tướng Bazhenov N.V. đã có ảnh hưởng mạnh - ông là người từng tham gia Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.

Về phía Việt Nam, trung đoàn được lãnh đạo bởi đồng chí Thượng tá Hội - người có lẽ là CCB của tất cả các cuộc chiến tranh giải phóng mà nhân dân Việt Nam tiến hành. Đồng chí Hội là một con người có học vấn cao, điềm tĩnh và dày dạn, một con người thực tế, thường xuyên hoàn thiện kiến thức của mình. Ông đã khéo léo thiết lập quan hệ làm việc tốt với các chuyên gia Liên Xô, và vì lẽ chúng tôi cũng hướng tới điều này, nên những mối quan hệ như thế được thiết lập tương đối nhanh chóng. Đó là công việc đầu tiên và có lẽ cũng là một trong những công việc cấu thành chính yếu thành công của một tập thể đa quốc gia. Kỹ sư trưởng phía các chuyên gia Việt Nam là đồng chí Ngọc - một chuyên gia có trình độ cao, tốt nghiệp một trong những trường bách khoa ở Moscow, nắm vững tiếng Nga, điều mà về tổng thể đã giúp ông nhanh chóng làm chủ tổ hợp tên lửa phòng không. Bộ phận sĩ quan còn lại của trung đoàn tương đối hiểu biết, nhiều người nắm vững tiếng Nga, vì từng học tập tại Liên Xô, một số người trong số họ đã có kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

BCH QDNDVN đã thực hiện được một khối lượng lớn công tác tổ chức. Các đơn vị mới thành lập nằm dưới sự giám sát thường xuyên của Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân đồng chí.Lê Văn Tri. Người phụ trách binh chủng tên lửa PK là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân Việt Nam đồng chí Đỗ Đức Kiên. Ông có thái độ rất thân thiện đối với các chuyên gia Liên Xô, luôn luôn thấu hiểu các nhu cầu của chúng tôi không chỉ về quân sự, mà còn là cuộc sống thường ngày. Đến thăm bộ đội TLPK có đồng chí Hồ Chí Minh, đồng chí Tổng tham mưu trưởng QDNDVN và nhiều nhà chỉ huy quân sự khác. Họ nói về tầm quan trọng của sự hợp tác chính trị, ngoại giao và quân đội giữa hai nước chúng ta.

Trong chuyến thăm đầu tiên của mình tới Trung tâm Đào tạo Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam I.S.Shcherbakov khi nói chuyện với các nhân viên của Trung tâm, cho biết: "Hoạt động chiến đấu của các bạn trên các trận địa, số lượng máy bay bị bắn rơi, các mối quan hệ công tác cụ thể với các binh sĩ Việt Nam sẽ là hòn đá tảng để cải thiện quan hệ chính trị, ngoại giao hữu nghị với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".

Tôi nghĩ rằng binh lính và sĩ quan của chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách xuất sắc.

Tôi muốn nhớ lại bằng những lời tốt đẹp về tướng Dzyza Alexander Matveyevich, người lãnh đạo trong giai đoạn đó công tác tổ chức mọi mặt để hình thành nên binh chủng TLPK của VNDCCH từ phía Liên Xô. Đó là một người đàn ông thông minh, có kiến thức phong phú, nhạy cảm, một vị chỉ huy có kinh nghiệm và đòi hỏi cao.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Dzyza1969.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Dzyza1969.jpg.html)
Hội đồng Quân sự QK Phòng không Moskva tiếp các vận động viên đội khúc côn cầu CLBTDTTTU QĐXV vô địch cúp các đội vô địch quốc gia châu Âu năm 1969. Tướng A.M.Dzyza hàng ngồi thứ 7 từ trái sang.

Các đặc điểm ứng dụng hệ thống tên lửa phòng không ở giai đoạn đầu tiến hành các hoạt động chiến đấu
 
Chiến thuật sử dụng SAM thời gian đầu như sau:
Sau khi tiến hành các công tác bảo trì thường xuyên cần thiết, các tiểu đoàn xuất kích ra các trận địa chiến đấu từng đơn vị một dưới sự bảo vệ của các đại đội pháo PK, tức là tạo ra được một nhóm hỗn hợp khác nhau về số lượng tùy thuộc vào tầm quan trọng của các mục tiêu được bảo vệ hoặc tầm quan trọng của nhiệm vụ phải thực hiện. Đối với vấn đề này đã chuẩn bị trước, đã dự kiến tất cả các biện pháp ngụy trang, giữ bí mật sự di chuyển và chiếm lĩnh trận địa. Chiến thuật này cho kết quả tích cực. Nó che được con mắt trinh sát đường không của người Mỹ, tạo cơ hội giáng đòn tấn công hiệu quả bất ngờ vào nhóm đường không, giữ chúng trong trạng thái căng thẳng liên tục, buộc chúng phải tiêu tốn nhiều lực lượng, phương tiện để trinh sát và đảm bảo thực thi chiến dịch đường không, tức là trên thực tế khả năng chống trả của hệ thống PK nước VNDCCH đã được tăng lên.

Chiến thuật phục kích được sử dụng khá nhiều. Tham gia phục kích có nhóm hỗn hợp cũng như các tổ hợp SAM đơn lẻ. Trận địa phục kích được bố trí sắp xếp gần các đối tượng thường hứng  chịu các cuộc tấn công của máy bay Mỹ hoặc trên các tuyến đường bay nhiều khả năng của máy bay địch. Đôi khi đó là một cái bẫy phục kích. Ý nghĩa của chúng như sau: bí mật xây dựng một cụm pháo phòng không rất mạnh. Tổ hợp SAM gắn với cụm này, sẽ khai hỏa khi mục tiêu xuất hiện và sau khi kết thúc trận đánh ngay lập tức rời trận địa, được ngụy trang như là vẫn đang hoạt động. Cụm PK nằm im chờ đợi, và thường xuyên, sự chờ đợi là không vô ích.

Không quân Mỹ sử dụng tất cả các phương pháp có thể để tiêu diệt các tổ hợp SAM và đó là mục tiêu chính yếu. Sự báo thù là vô cùng khốc liệt. Bão lửa bủa vây các máy bay tấn công ở độ cao thấp. Hai hoặc ba máy bay bị bắn rơi, đôi khi nhiều hơn. Các xạ thủ phòng không tự hào với trận đánh nếu nó thành công. Nó không chỉ gây thiệt hại vật chất cho máy bay Mỹ, mà còn cả sự tổn thất về tinh thần và tâm lý. Những cuộc tấn công như vậy các phi công còn nhớ rất lâu.

Tôi dẫn ra một ví dụ về đánh phục kích. Trước khi bắt đầu các cuộc không kích, máy bay-trinh sát hiệu chỉnh xuất hiện phía trên các ngọn núi của miền Bắc Việt Nam, nó được bảo vệ bởi máy bay tiêm kích, nó cất cánh bay sang từ Thái Lan. Ngoài việc chỉ huy các chuyến bay của máy bay Mỹ, nó còn thực hiện gây nhiễu chủ động. Tóm lại, nó làm cho tất cả vô cùng tức tối. Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân VNDCCH giao nhiệm vụ cho trung đoàn TLPK 238 phục kích. Ban đầu nhiệm vụ này dường như là một sự phiêu lưu không tưởng. Nhưng lòng quyết tâm, ý chí, niềm tin vào sức mạnh của mình đã chế ngự mọi khó khăn. Các đồng chí Việt Nam đi thực địa trinh sát, tìm thấy một cao nguyên nhỏ, trên đó rất khó khăn mới có thể bố trí được đại đội kỹ thuật vô tuyến điện tử và hai hoặc ba bệ phóng. Các cabin của đại đội KTVTDT đặt sát nhau dưới một cây to khá rậm rạp nhiều cành.

Các bệ phóng có đạn tên lửa đứng dưới tán cây trên các cự ly tối thiểu. Họ giấu mình và chờ đợi. Chờ đợi rất lâi. Nhưng chờ được và họ đã bắn hạ chiếc máy bay ấy!

Sau những chiến thắng đầu tiên, tương đối dễ dàng, bắt đầu cuộc chiến đấu với sự thành công hoán đổi nhau. Người Mỹ không ngủ mơ.

Họ phát triển các đòn tấn công thọc sâu xuống các tiểu đoàn, bắt đầu áp dụng thành công việc tấn công ở các độ cao thấp, trên máy bay của họ xuất hiện thiết bị cảnh báo vào vùng phát sóng của tổ hợp SAM, báo hiệu đạn tên lửa đã phóng lên, họ gây nhiễu tích cực hoàn thiện các thao tác cơ động chống đạn tên lửa. Sử dụng tên lửa tự dẫn "Shrike". Bắt đầu cuộc đấu trí từ người lính-trắc thủ bám sát bằng tay, sĩ quan điều khiển, người chỉ huy tiểu đoàn xạ kích, cho đến các nhà phát triển thiết kế khí tài ở các viện thiết kế trung ương.

Trong những trường hợp này, các yếu tố sau trở thành quyết định:
1. Kinh nghiệm và kỹ năng của người xạ kích, sức chịu đựng và lòng can đảm của anh ta.
2. Kỹ năng của người sĩ quan điều khiển, sự điềm tĩnh và tính thống nhất trong hiệp đồng của toàn thể kíp chiến đấu các trắc thủ bám sát bằng tay của anh ta.
3. Kỹ năng và tính thống nhất trong hiệp đồng của các kíp chiến đấu các đại đội kỹ thuật VTDT cùng đại đội bệ phóng.

Đó là những yếu tố cấu thành cơ bản của kỹ năng chiến đấu và kinh nghiệm chiến đấu. Tôi muốn qua một vài ví dụ cho thấy đặc điểm hoạt động của các tổ hợp SAM và kỹ năng của một số xạ thủ-chỉ huy.
 
Để bảo vệ cây cầu đường sắt qua sông Hồng trong khu vực thành phố Hải Dương, đã thành lập một cụm PPK khá mạnh, mà một tiểu đoàn TLPK của chúng tôi hoạt động trong thành phần cụm đó. Công tác chiến đấu tại tiểu đoàn diễn ra không ổn. Điều đó gây ra mối lo ngại của bộ tư lệnh Việt Nam và làm phiền cả chúng tôi. Khi kiểm tra mới thấy cần phải thay người chỉ huy xạ kích. Là một sĩ quan hiểu biết, được đào tạo tốt, nhưng trong tình huống chiến đấu bị hoảng loạn, điều đó truyền sang toàn thể kíp chiến đấu và không tạo điều kiện cho mọi người làm việc một cách tự tin.

Chúng tôi khẩn trương thay người. Thực tế không có sự lựa chọn. Chỉ căn cứ kinh nghiệm. Lựa chọn dừng lại ở đại úy Yuri Petrovich Bogdanov. Anh ta hoàn toàn chỉ tập trung vào công việc chiến đấu và bắt tất cả kíp chiến đấu hoạt động một cách tập trung, với toàn bộ sức lực.

Trong ba ngày tiểu đoàn bắn rơi 5 máy bay. Đó, bạn đã thấy một ví dụ cắt nghĩa thế nào là xạ thủ tốt. Đối với tiểu đoàn đó là tất cả! Tiếp theo, số lượng các chiến thắng của tiểu đoàn này lớn lên. Tiểu đoàn đã bước vào guồng xoay hoạt động chiến đấu bình thường. Vì các trận đánh trên mà đại úy Bogdanov được đề nghị tặng thưởng cao và được trao huân chương "Sao Đỏ" thứ hai. Các thủ trưởng của chúng tôi vốn hà tiện khen thưởng. Nhưng thực chất không nằm ở đó. Sau này, khi đã trở về Liên bang, Bogdanov Yu.P. chỉ huy lữ đoàn, quân đoàn, tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tham mưu, công tác tại Bộ Tổng tham mưu.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Bảy, 2014, 03:10:59 PM
Đây là một ví dụ khác: Chúng tôi bị quấy nhiễu ghê gớm bởi các đòn tấn công vào các tiểu đoàn từ các độ cao thấp. Bắc Việt Nam - đó là một khu vực địa lý tương đối nhiều đồi núi, cộng thêm các thung lũng sông, vì vậy mà nó tạo ra vô số cơ hội cho các máy bay địch tiếp cận bí mật trận địa chiến đấu. Thiếu tá Tereshchenko A.G. bố trí một người lính cùng chiếc điện thoại nằm trên hướng phía nam nguy hiểm nhất của một ngọn đồi. Lệnh duy nhất: "Đừng bỏ qua đường bay không kích hướng này! Phát hiện - gọi điện ngay! Ống nghe dán chặt vào tai!". "Áp chặt ống nghe vào tai" lệnh ấy liên quan đến cả một người lính khác, ngồi trong cabin "U" bên cạnh người chỉ huy tiểu đoàn.

Vào thời điểm khi tiểu đoàn chuẩn bị để bắn vào các mục tiêu đang tiếp cận từ phía bắc, báo cáo của quan sát viên truyền về: "Mục tiêu bên cạnh, đang tiến đến tiểu đoàn từ hướng Nam!" Tiếp theo ăng-ten ngay lập tức đảo ngược, tìm kiếm, phát hiện, bắt mục tiêu, phóng đạn. Mục tiêu đã bị tiêu diệt. Một lần nữa đảo gấp hướng ăng-ten và đủ thời gian để bắn mục tiêu xông đến từ phía bắc. Tất nhiên, trường hợp này có sắc thái của sự kì quặc gây tò mò, nhưng nó đem lại lợi ích, mặc dù chỉ trong một trường hợp nhất định. Tôi dẫn nó ra vì trong trận chiến tất cả các phương pháp đều tốt nếu mang lại chiến thắng. Trận đánh đặc trưng mà tiểu đoàn 2 của chúng tôi tổ chức dưới sự chỉ huy của Trung tá Lyakishev I.A. diễn ra ngày 17 tháng 10 năm 1965. Trận địa của tiểu đoàn ở chân đồi, góc đóng, đặc biệt từ hướng Bắc, là khá lớn, công trình công binh đảm bảo thì không được trang bị, chỉ có một khe núi để đội ngũ quân nhân trú ẩn. Tiểu đoàn phát hiện mục tiêu ở phía Bắc và đã sẵn sàng khai hỏa vào nó. Các máy bay ở độ cao thấp từ hướng Nam tấn công hoàn toàn bất ngờ. Trạm Diesel bốc cháy, cả cabin "RV", ba quả đạn hư hỏng và chừng ấy bệ phóng. Đài SNR chịu thiệt hại (đài dẫn đường đạn tên lửa). Trong một số người đã xảy ra sự hoảng sợ - họ chạy trốn, có thể nói như vậy, vào trong thảo nguyên. Nhưng không phải tất cả đều chạy.

Theo lệnh của người chỉ huy là đại úy Petrov Yu.K, đài SNR đã được khôi phục, người ta dập tắt đám cháy trong cabin "RV", chuẩn bị được hai bệ phóng. Đúng sau vài phút tiểu đoàn lại sẵn sàng chiến đấu bằng hai kênh. Họ phát sóng và thấy các máy bay đối phương đang bay từ phía Bắc. Đại úy Petrov Yu.K. không hề bối rối và anh khai hỏa. Tiểu đoàn bắn rơi hai máy bay. Người Mỹ từ chối tiếp tục các nỗ lực tiếp tục tấn công tiểu đoàn.

Trong trận đánh này, binh nhì Vitaly Smirnov tử thương. Đây là một ví dụ để các bạn thấy, chúng ta đã đào tạo các đồng chí Việt Nam trong các điều kiện nào.

Sau khi thực hiện những trận đánh đó và nhiều trận đánh tương tự khác, các đồng chí Việt Nam cảm nhận được hương vị của chiến thắng và mong muốn tự mình chiến đấu. Điều đó rất đáng khen ngợi và chúng tôi cũng mong mỏi như thế, nhưng thực tế công tác chiến đấu và ý thức lành mạnh mách bảo vẫn còn nhiều thiếu sót. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân VNDCCH cùng ban lãnh đạo của chúng tôi quyết định rằng việc đào tạo các chuyên gia đại đội bệ phóng được xem là về cơ bản đã kết thúc và cho phép họ làm việc tự chủ, sau khi để lại để trợ giúp một sĩ quan-bệ phóng quyền đại đội trưởng.

Quyết định về đại đội KTVTDT như sau: các kỹ thuật viên hệ thống, các trắc thủ về cơ bản đã được chuẩn bị để khai thác đài SNR, được chuẩn bị còn kém đối với công tác sửa chữa, đặc biệt là những thiệt hại phức tạp xảy ra trong chiến đấu. Xạ thủ, sĩ quan điều khiển, trắc thủ bám sát bằng tay được chuẩn bị để tiến hành các hoạt động chiến đấu trong tình huống đơn giản.

Để hỗ trợ tiến hành tác chiến và hoàn tất việc đào tạo, sẽ để lại trong đại đội KTVTDT một kíp chiến đấu rút gọn gồm; xạ thủ - chỉ huy xạ kích - trưởng nhóm chuyên gia Liên Xô bên cạnh tiểu đoàn trưởng QDNDVN, các kỹ thuật viên tất cả các hệ thống và hai hoặc ba trắc thủ bám sát bằng tay. Tổng quân số tại tiểu đoàn được xác định trong khoảng 11-13 người, cộng với các chuyên gia tiểu đoàn kỹ thuật và trung đoàn. Tổng cộng bên cạnh trung đoàn cần phải có nhóm chuyên gia quân số 50-60 người hoạt động.

Quyết định này được đưa ra vào cuối tháng 10 năm 1965. Thủ trưởng nhóm này được chỉ định là tôi. Tất cả những người không có trong thành phần của nhóm nay chuyển đến Kim-liên nóng lòng mong đợi chuyến bay đặc biệt về Tổ quốc. Còn công việc với trung đoàn vẫn tiếp tục diễn ra với cùng một tốc độ và với cùng những nhiệm vụ như cũ. Trước mắt chúng ta các chuyên gia Quân đội nhân dân Việt Nam đang lớn dần. Theo mức độ trưởng thành của các kỹ năng của họ mà giảm dần số lượng người của chúng ta. Ngồi sau cần điều khiển là các trắc thủ bám sát bằng tay của Việt Nam, sau đó đến sĩ quan điều khiển. Đây đã là giai đoạn làm việc cuối cùng của chúng tôi. Nó kết thúc vào tháng Tư năm 1966. Những người sau cùng rời vị trí chiến đấu của tiểu đoàn là sĩ quan điều khiển và chỉ huy xạ kích. Tại trung đoàn chỉ còn lại nhóm chuyên gia quân sự Soviet khoảng 10 người để hỗ trợ trong việc sửa chữa, khai thác tổ hợp và nhiều chuyện khác, đôi khi không thấy trước trong tình huống chiến đấu.

Trong một bài tổng quan ngắn gọn thế này về hoạt động của trung đoàn, không thể soi rọi tất cả các trang thú vị của cuộc chiến đấu đã qua; đã không nhắc lại được tên họ của một ai đó, chiến công oanh liệt hay lao động quân sự vẻ vang nào đó. Còn chưa nói được lời nào về công việc tuyệt vời của các chuyên gia tiểu đoàn kỹ thuật, đứng đầu là Trung tá Ivanov N.I. Vì điều này, tôi xin nhận lỗi trước các đồng chí. Để kết lại, tôi muốn dẫn ra hướng dẫn của Bộ chỉ huy Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam về chiến thuật hành động của lực lượng phòng không, để ra tại một trong những cuộc họp của khối cán bộ chỉ huy, có sự tham dự của các lãnh đạo đoàn chuyên gia Liên Xô.

Tôi nghĩ rằng điều này trước hết là để cho chúng ta hình dung rõ ràng hơn cả chiến lược và chiến thuật hoạt động của QC PKKQ Quân đội nhân dân Việt Nam vào thời điểm đó.
1. Quân thù rất mạnh, vì vậy cần phải hành động theo tinh thần lấy yếu chống mạnh. Với chiến thuật này, chúng ta có thể đánh bại đối thủ và liên tục phát triển lực lượng. Về cơ bản phải duy trì mối quan tâm thường xuyên và toàn diện cho việc bảo tồn lực lượng hiện có.
2. Chuẩn bị cho trận đánh một cách kỹ lưỡng và chỉ đánh khi chắc thắng. Để làm điều này, phải sử dụng các chiến thuật của chiến tranh du kích.
Chiến thuật của chiến tranh du kích cần phải linh hoạt: lúc thì tập trung, lúc thì phân tán - có khả năng sử dụng đơn lẻ trên các hướng riêng biệt không liên quan đến nhau.
3. Các trận địa chiến đấu chiếm lĩnh cung tròn xạ kích toàn vòng, cũng như cung xạ kích trên một hướng. Đại đội bệ phóng xuất kích ra trận địa đôi khi không trong biên chế đầy đủ. Sau trận đánh, tiểu đoàn phải nhanh chóng rời trận địa chuyển sang nơi trú ẩn.
4. Cơ động đến mức tối đa có thể các tổ hợp SAM. Hành quân, triển khai và thu hồi cần phải bí mật và nhanh chóng và nên thực hiện phần lớn vào ban đêm.

Đồng thời cũng không bỏ qua các nhiệm vụ sau đây:
a) Tiêu diệt nhiều máy bay địch nhất trong khả năng có thể;
b) Bảo vệ chắc chắn các mục tiêu cơ bản, giữ gìn tối đa lực lượng của mình;
c) Tăng cường lực lượng bằng cách nâng cao kỹ năng chiến đấu.

Nếu quay trở lại với các ví dụ về các hoạt động chiến đấu đã trình bày trước đây, thì tất cả các dấu hiệu chiến thuật sử dụng binh chủng TLPK trong chiến đấu phù hợp một cách chính xác với các yêu cầu đã nêu ở trên. Nếu nghiên cứu sâu hơn, chúng ta có thể mạnh dạn kết luận rằng chiến lược này và chính sách của một quốc gia yếu hơn trong cuộc chiến chống lại một quốc gia hùng mạnh hơn, cuối cùng đã mang lại chiến thắng. Bằng chính những điều đó tôi muốn phản bác lại một số đồng chí, đã tuyên bố vô căn cứ rằng người Việt Nam đã chiến đấu bằng số lượng, mà không phải bằng kỹ năng.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Zaika-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Zaika-1.jpg.html)
Kết quả chiến đấu của các chỉ huy xạ kích trung đoàn TLPK 238 QDNDVN từ 20.9.1965 đến 17.4.1969

Các vấn đề cơ bản của chiến thuật sử dụng BC TLPK được phía Việt Nam phát triển. Chúng tôi giúp họ một số chi tiết ở một số chỗ.

Chiến thuật này là hoàn toàn hợp lý. Nó vẫn còn tiếp tục phát triển. Khi đã xây dựng được cụm TLPK đủ mạnh xung quanh Hà Nội, khi đó nó không phải là một tạo vật cứng nhắc. Tất cả các thủ pháp chiến thuật đã soạn thảo trước đây được áp dụng hàng ngày. Nhóm liên tục di chuyển, tăng cường lúc thì trên hướng này, lúc thì trên hướng khác, tổ chức phục kích cũng như vậy.

Bình luận về bảng trên.
Chúng tôi dừng lại trước tiên trên các trận đánh, khi mục tiêu đi vào vùng phóng, nhưng không bị bắn hạ. Đó là ba cuộc xạ kích vào các máy bay trinh sát KNL ngày 30.10.65 của Trung tá Lyakishev I.A., ngày 3 và 4 tháng 3 năm 1966 kỹ sư đại úy Petrov Yu.K. Nguyên nhân chính là việc ấn định không đúng số đạn tên lửa để xạ kích: Cả hai đều cố gắng bắn trúng mục tiêu với một đạn tên lửa, mặc dù hôm trước mỗi một trong các chỉ huy xạ kích (I.A.Liakishev hôm 18.10.65, còn Petrov Yu.K. 13.01.66) đều bắn rơi các máy bay trinh sát KNL BQM của mình bằng hai đạn tên lửa. Nhưng chúng ta không kết án họ quá gay gắt.

Chúng tôi đã cẩn thận phân tích các cuộc xạ kích trên thời đó với việc cùng xây dựng biểu đồ: Tính thời gian chuẩn bị đạn tên lửa, với việc xác định vùng phóng, vùng tiêu diệt và, tất nhiên, tính đến cả tình hình chiến đấu.

Trong tất cả các trường hợp này, tình hình trên không khá phức tạp, nó áp đặt các điều kiện của mình và những người chỉ huy xạ kích để bảo hiểm nhiệm vụ đã giữ các quả đạn còn lại làm dự trữ. Trong ba trường hợp các trận đánh không thành công còn lại, xảy ra với các máy bay chiến đấu, những lý do chính là:
1. Nhiễu chủ động rất mạnh bao phủ hoàn toàn màn hình trong cung tới 60 độ.
2. Máy bay địch thực hiện thành công thao tác cơ động tránh tên lửa. Cần nói rằng các thủ đoạn chiến thuật của máy bay Mỹ liên tục được hoàn thiện từ trận này sang trận khác, từ phi vụ này sang phi vụ khác. Đằng sau cần lái những khí tài hàng không mới nhất không phải "nhửng thằng nhãi ranh dễ ăn đòn".
3. Lỗi của người chỉ huy xạ kích về xác định các yếu tố xuất phát để tác chiến: vùng phóng, thời điểm phóng đạn, ấn định số lượng đạn để tiêu diệt mục tiêu, và nhiều yếu tố mà người không tham gia vào trận đánh dễ dàng phát hiện, nhưng là những lỗi thường không thể tránh khỏi trong quá trình trận đánh.
4. Yếu tố con người
Đây là sự quá tải về thể chất và tâm lý của các kíp tác chiến và kết quả là có các lỗi nhỏ trong hoạt động chiến đấu, được tích lũy và phát triển thành những lỗi lớn.
Cần lưu ý rằng về lý do này thì chúng tôi không có những rắc rối lớn, nhưng một số sắc thái riêng biệt thì đã xảy ra.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Bảy, 2014, 11:21:58 PM
Khi phân tích hoạt động chiến đấu của những người chỉ huy xạ kích, tôi đã nói chi tiết về các trận đánh không thành công, còn bây giờ tôi sẽ nói về những thành công:
- Thiếu tá Tereshchenko A.G. đánh 11 trận bắn rơi 10 máy bay;
- Thiếu tá Ryzhik G.S. - 9 trận - 8 máy bay;
- Đại úy Bogdanov Yu.P. - 10 trận - 8 máy bay;
- Thượng úy Tikhomirov V.S. - 6 trận - 5 máy bay.
Trên thực tế, mỗi máy bay bị bắn rơi họ chi tiêu thụ một quả đạn tên lửa.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Zaika-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Zaika-2.jpg.html)

Một số giải thích:
Giai đoạn đầu tiên là gì?
Ở giai đoạn đầu tiên trong tiểu đoàn TLPK chỉ có các chuyên gia quân sự Liên Xô từ người lính đến tiểu đoàn trưởng-chỉ huy xạ kích là những người tiến hành công tác chiến đấu. Các tiểu đoàn hỏa lực hình thành từ các chuyên gia Liên Xô có quân số 45 người. Biên chế này hoàn toàn đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Đồng thời cũng diễn ra quá trình đào tạo các đồng chí Việt Nam, được đưa dần dần vào công tác chiến đấu. Giai đoạn đầu tiên tại trung đoàn TLPK 238 bắt đầu vào tháng Tám và kéo dài cho đến tháng 11 năm 1965.

Giai đoạn thứ hai - từ tháng 11 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966.
Trung đoàn còn khoảng 50 chuyên gia Liên Xô, khoảng 9-11 chuyên gia tại mỗi tiểu đoàn hỏa lực. Bốn chuyên gia ở tiểu đoàn kỹ thuật. Thuộc quyền quản lý của trung đoàn là một nhóm sửa chữa nhỏ và một bác sĩ.

Trong tiểu đoàn hỏa lực: người chỉ huy xạ kích - nhóm trưởng, sĩ quan điều khiển, một trắc thủ bám sát bằng tay - chiến sĩ, các kĩ thuật viên hệ thống, chỉ huy đại đội bệ phóng, trắc thủ đài SRtS (đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu) - lính. Như bạn thấy, công tác chiến đấu của đại đội bệ phóng đã hoàn toàn được chuyển sang tay các đồng chí Việt Nam. Đã có hai trắc thủ máy bám sát mục tiêu bằng tay là người Việt Nam.

Trong giai đoạn thứ hai, trước các chuyên gia quân sự Liên Xô đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
1. Tiến hành chiến đấu mà không hạ thấp yêu cầu do quân số nhỏ.
2. Duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường trực cho hệ thống tên lửa PK bao gồm cả đại đội bệ phóng.
3. Hoàn thành công tác đào tạo hoạt động chiến đấu cho các đồng chí Việt Nam.
Tất cả các nhiệm vụ đặt ra đã được giải quyết thành công. Vào cuối tháng Tư năm 1966, các đồng chí Việt Nam đã nắm vững toàn bộ hệ thống các vấn đề chỉ huy quản lý và tiến hành chiến đấu tại các tiểu đoàn hỏa lực và tiểu đoàn kỹ thuật. Tại trung đoàn còn để lại một nhóm chuyên gia 10-11 người.

Tóm lại, để có một bức tranh hoàn chỉnh, tôi muốn nói về điều sau đây. Ở Việt Nam không có trường radar liên tục phủ kín.

Chỉ thị mục tiêu từ Sở chỉ huy Trung tâm LL Phòng không có tính chất rất chung chung. Tại các tiểu đoàn nó thường được coi là sự khởi đầu hoạt động của máy bay Mỹ. Độ trễ của chỉ thị mục tiêu rất lớn. Điều đó làm phức tạp rất nhiều cho công tác chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực.

Tiểu đoàn hỏa lực thường xuyên phải tự mình thực hiện tìm kiếm và phát hiện mục tiêu nhờ sự trợ giúp không chỉ của đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu SRtS (СРЦ - станция П-12) (đài P-12), mà còn cả bằng đài dẫn đường tên lửa.

Lẽ tự nhiên người ta phải quan tâm đặc biệt tới độ tin cậy trong hoạt động của đài trinh sát chỉ thị mục tiêu và kỹ năng nghề nghiệp của các kíp chiến đấu của đài. Chúng tôi đã yêu cầu Moscow gửi tới đây một chuyên gia tốt về đài P-12. Trung úy Bulgakov V.L. đã có mặt cực nhanh, đúng nghĩa đen là vừa bước khỏi cầu thang máy bay đã đi ngay đến các tiểu đoàn hỏa lực. Công tác của anh ấy rất hữu ích và hiệu quả. Sự sẵn sàng chiến đấu của đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu tăng lên mạnh mẽ và rất nhanh, hiệu quả đào tạo các kíp chiến đấu của đài cũng tăng lên.

Độ tin cậy của công tác chỉ thị mục tiêu đã mang đến cho hoạt động chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực hoa thơm trái ngọt của mình. Công tác có chất lượng rất cao của trung úy Bulgakov đã được bộ chỉ huy ghi nhận và đánh giá cao, họ bắt đầu điều động anh tới làm việc ở các trung đoàn khác. Đó là một công việc nặng nhọc, mất ăn mất ngủ mà về sau được ghi công xứng đáng bằng tấm huân chương Cờ đỏ Quân sự và huy chương "Vì lòng dũng cảm".

Và đặc biệt dưới dạng một tổng kết, tôi muốn nói rằng trung đoàn TLPK 238 QĐNDVN trong quá trình hoạt động chiến đấu cho đến cuối chiến tranh, đã bắn rơi gần 360 máy bay địch. Trong những thành quả chiến đấu ấy có sự đóng góp của chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Bảy, 2014, 02:14:36 PM
Trích "Chiến tranh tại Việt Nam, cái nhìn qua năm tháng..." (hội thảo năm 2000)

Trung tướng Vladimir Alekseevich Belousov

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/29c1b2a5-a755-4559-bc3e-c69978b3ef29.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/29c1b2a5-a755-4559-bc3e-c69978b3ef29.jpg.html)


Đặc điểm hoạt động chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa phòng không - phân đội hỏa lực chiến thuật cơ bản của binh chủng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam


Các đồng nghiệp thân mến!
Trung đoàn TLPK S-75 có biên chế 5 tiểu đoàn được thành lập tại Dushanbe, dưới sự chỉ huy của trung tá Vaganov Aleksandr Nikolayevich và ngày 21 tháng 9 năm 1966 chuyển quân đến gần Hà Nội, tại nơi trở thành trung tâm đào tạo thứ 9. Tôi với quân hàm đại úy và ba năm kinh nghiệm phục vụ trong đội hình bộ đội Quân khu Phòng không Moskva, sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Kỹ thuật Vô tuyến Điện tử Pháo binh mang tên Nguyên soái pháo binh Liên Xô L.A.Govorov ở Kharkov. Trong khi chờ nhận trang bị khí tài, tôi giảng một khóa xạ kích đạn TLPK có điều khiển cho đội ngũ cán bộ chỉ huy của trung đoàn Việt Nam, và khi nhận được tổ hợp S-75, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy tiểu đoàn và bắt tay vào công tác tổ chức hiệp đồng tiểu đoàn của mình (tiểu đoàn TLPK Liên Xô 28 người) và tiểu đoàn Việt Nam (trên 100 người).

Tại VNDCCH các chuyên gia của chúng tôi đã có một số kinh nghiệm chiến đấu, sẵn sàng chia sẻ, ngoài ra, chúng tôi làm quen với các tài liệu thẩm vấn các phi công tù binh. Nói vắn tắt, chúng tôi đã được chuẩn bị tốt và đã trả bài sát hạch thành công để được quyền tiến hành tác chiến bảo vệ thành phố Hà Nội.

Kíp chiến đấu Liên Xô của tiểu đoàn tên lửa phòng không phải bắn rơi 1-2 máy bay, sau đó để lại một kíp chiến đấu các chuyên gia quân sự Soviet rút gọn, và ngồi sau cần điều khiển, cho các đồng chí Việt Nam thực tập. Chúng tôi đã bắn rơi hai máy bay và trao lại khí tài cho các đồng chí Việt Nam "bắn"  - tức là đứng đằng sau họ.

Tôi nhớ lại một cuộc xạ kích bắn một chiếc BQM-J134 (máy bay trinh sát không người lái Mỹ). Chuyện đó xảy ra ngày 6 tháng 8 năm 1967. Trận địa hỏa lực nằm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đó là cuộc xạ kích duy nhất ngày hôm đó tại VNDCCH và tờ báo "Sao Đỏ" ngày 7.08.67 cho biết rằng số lượng máy bay Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ nước VNDCCH đã là 2148 chiếc. (Tôi đã có 4 trận xạ kích. Tiêu thụ -. 8 đạn tên lửa).

Xác định các đặc điểm tác chiến:
1. Chiến thuật của máy bay địch. (Tất cả các trận xạ kích diễn ra trong chế độ bám sát bằng tay, trong các điều kiện có nhiễu và địch cơ động cả về chiều cao và hướng).
2. Địch sử dụng "Shrike", điều đó làm giảm xuống tối thiểu cự ly phát sóng, cự ly đưa đạn tên lửa vào chuẩn bị, và gây phức tạp lớn cho công tác của sĩ quan điều khiển, vì để không "vướng bận" "Shrike", cần phải cho hoạt động con lật đật "anten - tương đương" và đảo anten theo phương vị (như thể gạt "Shrike" khỏi chùm sóng).

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Shrike-1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Shrike-1.jpg.html)
Cabin PAA dính hai đạn Shrike

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Shrike-2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Shrike-2.jpg.html)
Vỏ cabin móp do sóng nổ và mảnh đạn Shrike. Ảnh minh họa từ tài liệu "Ứng dụng chiến đấu của binh chủng TLPK (theo kinh nghiệm của bộ đội TLPK Quân đội Nhân dân Việt Nam) do NXB Quân sự BQP Liên Xô xuất bản năm 1968, biên soạn chính là tướng Kisliansky, trưởng đoàn chuyên gia TLPK Liên Xô thời kỳ 1966-1967 và các cộng sự.

3. Sử dụng tối đa khả năng của khí tài, hàng ngày điều chỉnh khí tài (từ 04:00 giờ sáng), các thông số được thiết lập một cách chính xác theo giá trị danh định (mà không nằm trong giới hạn dung sai). Chăm sóc các thông số có liên quan đến độ ẩm cao, nhiệt độ ngoài trời cao và sự làm việc trong thời gian tương đối dài.
4. Đặc điểm hoạt động chiến đấu được xác định theo tính chất chia cắt bất thường của địa hình và sự phản xạ gương từ những cánh đồng lúa, đặc biệt là khi xạ kích các mục tiêu bay thấp ở chế độ "H <1", có nghĩa là trắc thủ "E" (góc tà) liên tục theo dõi để đạn tên lửa không lao xuống đất.
5. Thay đổi thường xuyên các trận địa hỏa lực - gần như sau mỗi lần xạ kích đều phải hành quân sang trận địa mới. Thu hồi, triển khai và hành quân chỉ vào ban đêm.
6. Chuẩn bị dữ liệu ban đầu để yểm trợ các tiểu đoàn lân cận, tức là bắn theo chữ thập trong chế độ "ba điểm" và kích nổ từ mặt đất theo lệnh "K3".
7. Chỉ huy từ SCH trung đoàn chỉ qua radio.
8. Xạ kích (phóng đạn) theo quy tắc thường được thực hiện trong cái gọi là "vùng đảm bảo bắn trúng", nghĩa là cần chờ đợi để máy bay kẻ thù đi vào dải tính toán rất hẹp bên trong vùng diệt mục tiêu. Khi đó bất kỳ động tác cơ động nào cho dù bổ nhào, ngóc lên, ngoặt 90 ° hoặc 180 ° đều không cho phép máy bay địch thoát khỏi quả đạn tên lửa. Địch biết rõ vùng diệt mục tiêu của tổ hợp TLPK của chúng ta - làm chứng cho điều này là lời khai của các tù binh phi công. Vì vậy, thông thường, đường bay đến trước vùng diệt mục tiêu là đường thẳng, còn khi tiếp cận tới gần thì mới cơ động và bật nhiễu cường độ cao.

Phi công, rơi vào cái gọi là "vùng đảm bảo diệt mục tiêu", còn một phương án cứu máy bay - làm sao để có thể tiến đến gần đạn tên lửa hơn nữa và thực hiện một cú bổ nhào gấp. Trong trường hợp này, các lệnh tối đa sẽ truyền đến cánh lái đạn tên lửa - hoặc nó không kịp thực hiện cơ động, hoặc do quá tải mà bị phá hủy (mặc dù dự trữ độ bền đạn tên lửa loại trừ điều đó). Phi công có thể xác định cú phóng đạn tên lửa một cách trực quan hoặc - theo bộ ba mã (tức là theo lệnh điều khiển, truyền tới thân đạn) - trong trường hợp này trên máy bay của phi công đèn báo sẽ cháy sáng và còi hiệu được kích hoạt. Nhưng vào giây nào phút nào trên đường bay của quả tên lửa nó phát nổ - phi công không biết, vì vậy trong tình huống này trận đấu kết thúc, thường là, có lợi cho tiểu đoàn TLPK.

9. Các hoạt động chiến đấu của tiểu đoàn phụ thuộc vào những con người, vào tình trạng tinh thần và thể chất của họ. Với tinh thần trong những năm 1966-1967 mọi thứ đều bình thường, còn tình trạng thể chất - ở đây cũng có những tật về thần kinh, phát ban, nhiễm nấm, khó tiêu, rắn, bọ ve, nhện, v.v... Nhưng cuộc sống nhanh chóng buộc ta phải uống nước đun sôi, rửa từ nước trong bình cũng là nước đun sôi, tắm dưới vòi chân đi dép, mà không đi chân đất, v.v.

Tổn thất về người của đội ngũ quân nhân tiểu đoàn TLPK là không có - tất cả trở về nhà an toàn và mạnh khỏe. Trong thời gian chiến đấu các quân nhân ở trong các cabin và đội mũ sắt, còn các chiến sĩ bệ phóng ở trong hầm trú ẩn. Khi hành quân, khi sắp đặt quân nhân theo tình huống, mỗi người được phân phối một nơi trú ẩn, và bất cứ ai cũng biết phải chạy đến đâu, nếu trận ném bom bắt đầu.

Đang chiến tranh thì phải theo kiểu chiến tranh - điều gì cũng có thể xảy ra, nhưng chúng tôi đã thu được kinh nghiệm một cách nhanh chóng. Sau này, kinh nghiệm đó đã có ích cho tôi trong việc huấn luyện các chiến sĩ tên lửa ở Tổ quốc, tiếp đến là ở Ai Cập, nơi mà vào những năm 1970 - 71 tôi chỉ huy một lữ đoàn TLPK S-125. Nhưng đấy lại là một cuộc chiến tranh về sau.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Bảy, 2014, 01:54:09 PM
Trích "Chiến tranh tại Việt Nam, cái nhìn qua năm tháng..." (hội thảo năm 2000)

Trung tá Piotr Andreevich Sharshatkin
Phó tiến sĩ Khoa học kỹ thuật

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Sartsatkin.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Sartsatkin.jpg.html)

Sinh ngày 14.2.1926 tại Poltava, Ukraina.
Sau khi Hồng quân giải phóng Ukraina, học trường kỹ thuật đường sắt Dniepropetrovsk, nhưng chưa tốt nghiệp thì tình nguyện gia nhập quân đội. Nhập ngũ vào tiểu đoàn huấn luyện số 1 trung đoàn bộ binh dự bị 163.
Năm 1948 tốt nghiệp trường sĩ quan pháo binh Dniepropetrovsk, sau tốt nghiệp phục vụ tại một trung đoàn pháo binh ở thành phố Belyi Tserkov với chức vụ trung đội trưởng trinh sát.
Năm 1959 tốt nghiệp Học viện QS KTVTDT pháo binh Govorov tại Kharkov.
Từ 1959 - 1962: làm việc tại Viện Nghiên cứu Khoa học số 2 Bộ Quốc phòng Liên Xô.
Tháng 10.1968 - 8.1969: công tác tại Việt Nam trên cương vị trưởng nhóm chuyên gia tác chiến điện tử (thay trung tá V.S.Kiseliov).
Đã được tặng thưởng 14 huân huy chương trong đó có huân chương Chiến Công và huy chương Hữu Nghị của chính phủ VNDCCH.



Nhiệm vụ và vai trò của các nhóm đối kháng vô tuyến điện tử
trong hệ thống phòng không QĐNDVN

Hệ thống tên lửa S-75 tạo nên cơ sở của lực lượng phòng không VNDCCH trong thời kỳ bảo vệ đất nước chống xâm lược Mỹ, nó nằm trong trang bị của các đơn vị PKKQ Quân đội nhân dân Việt Nam. S-75 là một hệ thống kỹ thuật vô tuyến điện tử phức tạp có khả năng tiêu diệt các mục tiêu trên không trong một dải độ cao và phạm vi tốc độ bay rộng của chúng ở cự ly vài chục km.

Theo mức độ trang bị các hệ thống KTVTDT phức tạp cho quân đội của các khối quân sự đối lập nhau giai đoạn những năm 1950 - 60, vấn đề đảm bảo khả năng ổn định trước nhiễu và khả năng chống nhiễu cho chúng ngày càng trầm trọng thêm, nghĩa là vấn đề đối phó với ảnh hưởng của các loại nhiễu khác nhau lên chúng và đảm bảo tính hiệu quả đề ra của các chức năng hoạt động trong những điều kiện, khi mà hệ thống chịu tác động của nhiễu.

Nguyên tắc của radar là cơ sở của các chức năng hoạt động hệ thống TLPK S-75. Tương ứng với điều đó, các dữ liệu về mục tiêu cần để bắn trúng nó, được sản xuất ra như là kết quả của việc chiếu xạ mục tiêu bằng năng lượng điện từ và tiếp nhận phần năng lượng phản xạ từ mục tiêu. Một bất lợi của nguyên tắc này như ta đã biết, đó là đồng thời với năng lượng phản xạ từ mục tiêu ở đầu vào các máy thu của tổ hợp SAM còn lọt vào các tín hiệu khác, có các đặc tính trùng khớp với các tín hiệu phản xạ, trong đó gồm cả tín hiệu nhiễu được tạo ra một cách chủ ý.

Ở giai đoạn tổ hợp S-75 được đưa vào trang bị tại Liên Xô, người ta đã đánh giá khả năng hoạt động của các chức năng hệ thống trong các điều kiện đối kháng vô tuyến chủ động từ phía các đối thủ tiềm năng.

Đã chứng minh được rằng con đường cơ bản đưa nhiễu tới đầu vào các hệ thống thu nhận của tổ hợp SAM là các kênh góc phương vị và góc tà của máy ngắm mục tiêu. Mức độ ý tưởng kỹ thuật và sự phát triển của công nghệ theo thời gian cho phép phía đối phương vũ trang cho máy bay thiết bị gây nhiễu chủ động và thụ động, có khả năng cản trở đáng kể sự làm việc của tổ hợp SAM trong các điều kiện chiến đấu hoặc thậm chí loại trừ khả năng xạ kích và bắn trúng mục tiêu.

(http://www.plam.ru/transportavi/tehnika_i_vooruzhenie_2003_04/pic_18.jpg)
Đài điều khiển SA-75 chiến lợi phẩm của Israel.

(http://www.plam.ru/transportavi/tehnika_i_vooruzhenie_2003_04/pic_15.jpg)
Bệ phóng của tổ hợp SA-75 của quân đội Ai Cập bị Israel thu giữ

Về vấn đề này, phải thừa nhận sự cần thiết áp dụng các biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhiều mặt, loại bỏ hoặc làm suy yếu đáng kể tác động của nhiễu vô tuyến vào sự làm việc trong tác chiến của tổ hợp TLPK.

Bên cạnh những kênh vô tuyến ngắm bắn mục tiêu nêu trên, chịu tác động của nhiễu còn có thể là kênh điều khiển đạn tên lửa. Máy phát kênh (điều khiển) đạn sẽ bức xạ ra năng lượng sau khi phóng đạn. Để đáp lại tín hiệu điều khiển, máy hỏi trên thân đạn sẽ bức xạ một tín hiệu trả lời, theo đó vị trí của quả đạn so với mục tiêu tương ứng sẽ được điều chỉnh.

Công suất của tín hiệu trả lời rất nhỏ, làm cho kẻ thù dễ dàng đối phó một cách hiệu quả với hoạt động bình thường của kênh. Tuy nhiên, do thực tế máy hỏi không bức xạ về phía mục tiêu, nên việc có thể cài đặt một thiết bị gây nhiễu kênh trên đó, và hướng tới tổ hợp SAM, đã được quyết định rằng, xác định các đặc tính của tín hiệu máy hỏi và bằng cách này tạo ra nhiễu có các đặc tính như vậy từ trên máy bay, sẽ hầu như không khả thi. Kênh này được phân loại là có khả năng bảo vệ.

Sử dụng tổ hợp TLPK S-75 trong chiến đấu tại VNDCCH đã mang đến cho các đánh giá sơ bộ những điều chỉnh đáng kể. Với sự khởi đầu việc tiêu diệt một cách hiệu quả các máy bay Mỹ bằng đạn tên lửa của hệ thống S-75, cũng bắt đầu các biện pháp đối kháng vô tuyến điện tử tích cực từ phía người Mỹ. Các kíp chiến đấu lần đầu tiên phải đối mặt với tác động của nhiễu chủ động và thụ động gây ra trên các kênh mục tiêu. Dưới ảnh hưởng của nhiễu trên màn hình các khí tài radar ta quan sát thấy nhiễu dưới hình thức các chớp sáng liên tục, dưới dạng các điểm di động, tương tự với các điểm tín hiệu mục tiêu. Điều này gây khó khăn lớn cho khả năng đánh giá đúng tình hình, thực hành chọn, bám sát và xạ kích mục tiêu và thường là bỏ lọt mục tiêu.

Các kíp chiến đấu có tính đến các khó khăn gặp phải. Dưới sự lãnh đạo của các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã phát triển các phương pháp khác nhau tiến hành tác chiến, để giữ cho hiệu quả tiêu diệt máy bay nằm trong một mức độ đủ cao (theo tiêu chuẩn tiêu thụ đạn tên lửa cho một mục tiêu bị bắn hạ).

Tuy nhiên, vào giữa năm 1967 tổ hợp TLPK S-75 đã bị người Israel chiếm được tại chiến trường Trung Đông. Người Mỹ đã có cơ hội nghiên cứu khám phá tổ hợp này và phát triển các biện pháp bổ sung mới nhằm chế áp nó bằng nhiễu vô tuyến. Trên các máy bay tấn công đã bắt đầu lắp đặt các thiết bị gây nhiễu kênh điều khiển đạn tên lửa, cho đến lúc đó vẫn được coi là có khả năng kháng nhiễu.

Đáp lại lệnh điều khiển đạn tên lửa, mà sĩ quan điều khiển của tổ hợp TLPK đưa ra, trên đầu vào máy thu tổ hợp SAM, cùng với tín hiệu (trả lời) của máy hỏi trên thân đạn còn có một tín hiệu nhiễu công suất lớn. Tên lửa thôi không được điều khiển nữa và bắt đầu rơi xuống đất cách nơi nó được phóng lên một vài km.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Sartsatkin2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Sartsatkin2.jpg.html)
Các chuyên gia TCĐT Soviet tại chiến trường Việt Nam cùng các đồng nghiệp Việt Nam.

Trong những điều kiện này, đã có một số biện pháp được áp dụng nhằm giảm hiệu quả tác động của nhiễu. Đã tăng đáng kể công suất bức xạ của máy hỏi trên thân đạn, sử dụng các phương án và thủ thuật khác nhau đóng mạch máy phát lệnh điều khiển đạn tên lửa.

Tuy nhiên, người Mỹ tiếp tục cải tiến hoàn thiện các phương tiện và phương pháp chế áp bằng nhiễu tất cả các khí tài radar của lực lượng PKKQ QDNDVN. Đây là dịp để nghiên cứu chi tiết không chỉ các phương pháp sử dụng nhiễu, mà còn cả đặc tính bức xạ của thiết bị đối kháng VTDT.

Nhằm các mục đích trên, tháng 5 1968, một nhóm các chuyên gia quân sự Liên Xô với nhiệm vụ phân tích tình hình nhiễu đã được phái đến công tác tại VNDCCH. Dẫn đầu nhóm là Đại tá Victor Sergheevich Kiseliov.

Nhóm này được trang bị một bộ thiết bị, cho phép thu và phân tích các tín hiệu nhiễu trong dải tần số hoạt động của tất cả các khí tài radar của lực lượng Phòng không và Không quân QĐNDVN. Thiết bị, đảm bảo thu nhận các tín hiệu của các phương tiện gắn trên máy bay Mỹ, đã được triển khai trên trận địa trong khu vực có chiến sự cường độ cao.

Trong thời gian nhóm làm việc, đã thu được một số lượng lớn dữ liệu về các đặc tính bức xạ của thiết bị đối kháng VTDT, được sử dụng để đảm bảo tác chiến cho máy bay Mỹ. Kết quả phân tích các tài liệu này được sử dụng để thay đổi linh hoạt các sơ đồ radar nhằm tăng cường tính ổn định kháng nhiễu của chúng và cải thiện các đặc tính chiến đấu trong quá trình đánh trả cuộc không kích khi chỉ huy trận đánh.

Kết quả công việc này đặt cơ sở cho cuốn sách "Chiến tranh vô tuyến điện tử (theo kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội Phòng không và Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam)". Cuốn sách đã và đang được sử dụng như sách giáo khoa trong các trường đào tạo quân sự của LLPK quốc gia.

Sau chuyến công tác của các chuyên gia Liên Xô, thiết bị được trao lại cho các chuyên gia Việt Nam, đã được đào tạo thuần thục dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia hàng đầu của nhóm đối kháng điện tử.

Công việc của nhóm tạo điều kiện gia tăng hiệu quả tiêu diệt máy bay Mỹ, góp phần vào thành công của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại xâm lược Mỹ và củng cố tình hữu nghị với một dân tộc anh em.

Chúng tôi coi việc đã hoàn thành thắng lợi nghĩa vụ quốc tế của mình trong những điều kiện khó khăn của chiến tranh là một vinh dự lớn lao.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Bảy, 2014, 01:17:09 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Boyavlensky.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Boyavlensky.jpg.html)

Đại tá Bogoyavlensky Leonid Anatolyevich

Sinh ngày 3 tháng 10 năm 1941 tại tỉnh Kalinin.
Năm 1952 tốt nghiệp trường quân sự Cờ Đỏ Zhitomir của QCPK. Phục vụ tại TDQ PK độc lập số 14 với chức trách kíp trưởng kíp chiến đấu đại đội KTVTDT.
Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 7 năm 1966 tham gia chiến đấu tại Việt nam trong đội hình trung đoàn TLPK 238 QĐNDVN.
Sau khi tốt nghiệp trường TLPK Minsk thuộc QCPK (năm 1971), phục vụ trên các cương vị kĩ sư trưởng ban vũ khí tên lửa trung đoàn và tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn kỹ thuật trung đoàn TLPK S-200 thuộc quân đoàn PK số 16 QKPK Moskva.
Năm 1979 tốt nghiệp khoa sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Học viện Quân sự Công trình Kỹ thuật Vô tuyến điện tử QCPK tại thành phố Kharkov (АРТИЛЛЕРИЙСКАЯ РАДИОТЕХНИЧЕСКАЯ   АКАДЕМИЯ СОВЕТСКОЙ АРМИИ  затем ВОЕННАЯ ИНЖЕНЕРНАЯ  РАДИОТЕХНИЧЕСКАЯ АКАДЕМИЯ  ПВО имени Маршала Советского Союза Говорова Л.А. которая до 1992 года была в г.Харькове).
Năm 1979 được bổ nhiệm lữ đoàn phó phụ trách vũ khí trang bị lữ đoàn TLPK 72 quân đoàn PK 16 QKPK Moskva.
Từ năm 1987 giữ cương vị trưởng ban kiểm soát vũ khí quân đoàn 1 PK tập đoàn quân PK đặc nhiệm số 1 (1 АРМИЯ ОСОБОГО НАЗНАЧЕНИЯ) QK Phòng không Moskva (МО ПВО).
Được trao tặng huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong LLVT" hạng III và 13 huy chương trong đó có huy chương Hữu Nghị của VNDCCH.



Những người Sibir ở Việt Nam

Những năm 60 thế kỷ trước. Đó là những năm đầy ắp các sự kiện lịch sử đã biết, cả trên thế giới, cũng như trên đất nước chúng ta. Và chúng tôi, các sĩ quan-chiến sĩ tên lửa trẻ của QCPK đi phục vụ tại một đơn vị PK lớn ở Irkutsk (QK Ngoại Baikal) cũng không nằm ngoài lề những sự kiện ấy.

Sư đoàn chúng tôi mang danh hiệu sư đoàn Mukden. Nó nổi danh trong các trận đánh với đạo quân Quan Đông tháng 8 năm 1945., cũng như trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, và chúng tôi tự hào được phục vụ trong một sư đoàn vinh quang như vậy, chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ khu công nghiệp Angara-Irkutsk miền Đông Sibir. Ở đây chúng tôi tận mắt trông thấy những gì trước kia chỉ được học trong SGK: từ nơi lưu đày những nhà cách mạng Tháng Chạp cho đến những Nhà máy Thủy điện khổng lồ - Bratsk và Irkutsk.

Mùa thu năm 1962 tình hình quốc tế đột ngột nóng bỏng - cuộc khủng hoảng Caribbea nổ ra và nhiều người trong chúng tôi viết đơn xin đi Cuba. Nhưng số phận lại sắp đặt theo cách khác. Lò lửa chiến tranh tại Đông Nam Á đã bùng cháy.

Tư tháng 8 năm 1964 Không lực Mỹ bắt đầu các cuộc ném bom có hệ thống nước VNDCCH. Và mùa hè năm 1965 các tổ hợp TLPK có sự trực tiếp tham gia của các chuyên gia quân sự Soviet đã khai mở bảng thành tích bắn rơi máy bay Mỹ.

Tháng 7 năm 1965 từ số các binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan trong thời hạn khẩn trương đã hình thành một tiểu đoàn có biên chế rút gọn. Trung tá Mikhail A. Borisov được bổ nhiệm chỉ huy tiểu đoàn. Để thao luyện chúng tôi được gửi tới thành phố Kyakhta (Cộng hòa Buriatya), bố trí trên biên giới với Mông Cổ. Tại đó ghép với chúng tôi là một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của thiếu tá Ryzhik Gavril Semionovich từ sư đoàn PK Novosibir, và chúng tôi bắt tay vào tập luyện trên cơ sở trường đào tạo các chuyên gia sơ cấp.

Thời gian chuẩn bị được dồn lại đến mức giới hạn. Kế hoạch xạ kích lập ra ban đầu bị gạt bỏ. Sau khi hoàn thành luyện tập chúng tôi phải qua Hội đồng Quân sự Tập đoàn quân của mình. Người ta tìm ra trong số chúng tôi những kẻ "từ chối" vì các lý do khác nhau. Họ lập tức được trả về đơn vị cũ. Cần thừa nhận rằng đường phục vụ tiếp theo của họ bị "hãm lại". Cuối cùng là chuyến bay dài Irkutsk - Bắc Kinh - Hà Nội.

Trong những giờ đầu tiên sau khi tiếp đất, chúng tôi (dẫu sao vẫn coi mình là dân Sibir) vô cùng bất ngờ về khí hậu tại chỗ. Sau khí hậu khô, có tính chất lục địa rõ rệt của vùng Đông Sibir, khí hậu nóng ẩm của Việt Nam đối với chúng tôi ngột ngạt giống như nhà tắm hơi. Đêm đến hơi mát cũng không có.

Rất nhanh chóng, ban lãnh đạo Trung tâm Huấn luyện số 2 thiếu tướng N.V.Bazhenov và thiếu tá A.B.Zaika đã cho chúng tôi biết tình hình về Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam.

Từ đây đi các tiểu đoàn "quân Sibir" số 3 và 4 của chúng tôi được hợp nhất với các tiểu đoàn "quân Baku" số 1 và 2 đã đến đây từ trước, và bây giờ cùng tiểu đoàn kỹ thuật trở thành trung đoàn TLPK 238.

Không có thời gian để tạt ngang tạt ngửa, ngay đầu tháng 9 chúng tôi nhận khí tài từ các đại diện ngành công nghiệp. Việc tiếp nhận khí tài diễn ra không êm ả. Chẳng hạn, với các hệ thống được điều chỉnh lý tưởng của cabin buồng máy, trong cabin điều khiển khi kiểm tra chức năng "sai số" của các kênh điều khiển đạn tên lửa thường xuyên vượt ngoài mức cho phép.

Theo thực chất công việc, không thể đánh giá sự SSCD của đài điều khiển đạn tên lửa theo hướng dẫn thực hành chiến đấu. Quyết định đề ra như sau: trước khi loại bỏ sai sót này, trong dãy kiểm tra các tín hiệu SSCD sẽ đánh giá theo các kết quả kiểm tra tự động cabin buồng máy. Tiểu đoàn trưởng yêu cầu chúng tôi báo cáo với đích thân ông về sự SSCD của các hệ thống. Tiếp theo, đâu khoảng sau 1 tháng, nhờ sự kiên trì của kỹ sư trưởng trung đoàn A.B.Zaika, bằng sức lực của các đại diện ngành công nghiệp, sai sót này đã loại bỏ được.

Ngoài ra hệ thống phát của cabin thu-phát làm việc không ổn định. Nhưng chiến tranh thì phải theo kiểu chiến tranh: mệnh lệnh chỉ có thi hành, miễn bình luận. Hơn nữa tất cả chúng tôi đều có chứng nhận quân sự hạng 1. Tôi và thượng úy S.Kambarov có chuyên ngành liên quan mật thiết - sĩ quan điều khiển cabin chỉ huy (cabin "U").

Vậy là, chúng tôi nhận lệnh: thu hồi khí tài và chuyển quân đến gần thành phố Hải Phòng. Khi khí tài của chúng tôi và các cỗ pháo PK đã sẵn sàng hành quân tới trận địa chiến đấu, tiểu đoàn trưởng lệnh cho tôi đi theo đoàn xe này và thực hành kiểm tra trạng thái khí tài trong thời gian di chuyển. (Đội ngũ quân nhân còn lại của tiểu đoàn chúng tôi đã đến trận địa từ trước).

Trong thời gian hành quân, một khẩu pháo 57mm trong thùng xe bị đổ và đoàn xe bị chậm lại. Người Việt Nam quyết định: không đi tiếp khi chưa trục được khẩu pháo lên. Nhớ đến mệnh lệnh nghiêm khắc của tiểu đoàn trưởng trung tá Borisov về thời hạn có mặt tại trận địa, tôi nỗ lực hết sức thuyết phục các đồng chí Việt Nam để lại khẩu pháo và đi tiếp.

Rồi đến ngày 1 tháng 10 năm 1965 không thể nào quên. Đài điều khiển bật lên, các anten và bệ phóng triển khai về phía vịnh Bắc Bộ. Qua đường liên lạc tăng âm nghe thấy giọng rành rọt, bình thản của Borisov: "Chú ý! Tôi thông báo tình hình trên không. Trong không trung có 12 tốp máy bay địch". Tiếp theo là lệnh: "Tiêu diệt mục tiêu!".

Quả đạn đầu tiên phóng lên chiếc máy bay đi đầu, sau khi bay được 400m, rơi xuống một ngôi làng Việt Nam. Những mái nhà tranh bốc cháy. Trước mắt chúng tôi dân làng, chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em, vội vã rời khỏi ngôi làng nóng bỏng. Bức tranh không dành cho những người yếu thần kinh.

Đối với tiểu đoàn trưởng của chúng tôi, đây là cuộc chiến tranh thứ ba: trước đó là Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại và Chiến tranh Triều Tiên 1950-53.

Chúng tôi lại nghe thấy giọng rõ ràng, nặng trịch của tiểu đoàn trưởng: "Tiếp tục chiến đấu. Tiêu diệt mục tiêu!". Các quả đạn tiếp tục được phóng lên. Hai máy bay cường kích hạm bị tiêu diệt. Chiến thắng đầu tiên.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Bảy, 2014, 10:40:30 PM
Đầu tháng 10 trong một cuộc tấn công bất ngờ của các máy bay cường kích hạm lợi dụng các nếp gấp địa hình, trận địa của tiểu đoàn bị ném bom và oanh tạc bằng rốc-két. Vào lúc đấy, tiểu đoàn trưởng của chúng tôi đang ở trên trận địa phóng. Một trái bom nổ cạnh xe mooc kéo trên đó đang chở đạn. Quả tên lửa phát nổ. Tiểu đoàn trưởng bị thương khá nặng, ông được đưa tới bệnh viện, sau đó chở về Tổ quốc. Do một ý đồ xấu xa nào đó mà loang đi tin đồn ông nhát gan và suýt nữa chạy khỏi Việt Nam. Biết bao nhiêu thử thách dồn lên đầu một con người! Như về sau chúng tôi được biết, ngày hôm đó, trong các cuộc không kích vào VNDCCH có hơn 300 máy bay Mỹ tham gia.
 
Bất kỳ cuộc chiến tranh nào cũng đầy các khoảnh khắc bi thảm. Bộ chỉ huy Không lực Mỹ tại Việt nam cố gắng bằng bất cứ giá nào phá hoại giao thông đường sắt giữa Hà Nội và cảng Hải Phòng, cũng như giữa Hà Nội và các tỉnh phía nam.

Tiểu đoàn chúng tôi với sự bảo vệ mạnh của LL PPK (các đại đội pháo 37mm và 57mm, súng máy PK 2 nòng và 4 nòng) được triển khai không xa thành phố Hải Dương nhằm bảo vệ cây cầu đường sắt. Sau khi triển khai ban đêm, chúng tôi để chuyên gia trực ban lại trong cabin điều khiển rồi đi về nơi nghỉ ngắn (cách trận địa 0,5km).

Sau một lúc chúng tôi nghe thấy tiếng gầm của PPK. Rất nhanh trên đầu chúng tôi xuất hiện vài tốp cường kích hạm trên các độ cao thấp và cực thấp. Sau khi vòng ngoặt, chúng bổ nhào và ném bom. Theo khẩu lệnh của chỉ huy đại đội bệ phóng đại úy Tokmakok Ivan Vasilevich chúng tôi chạy ra trận địa. Một mái dù hình tròn mở ra trên đầu chúng tôi. Chiếc máy bay đã bị đạn PPK bắn hạ. Sau đó cuộc không kích chấm dứt. Chiếc cầu đường sắt bị hư hại. Trong thời gian không kích, không quả đạn nào của chúng tôi rời bệ phóng.

Chúng tôi kiểm tra khí tài. Tất cả các hệ thống đều tốt. Bỗng chúng tôi phát hiện ra tại tất cả các quả đạn nằm trên các bệ phóng, các jack nối của mạch phóng đã bị ngắt. Điểm đặc trưng là trong thời gian không kích trên các màn hình hiển thị đều không thấy có nhiễu. Hơn thế nữa tất cả các lời buộc tội vì đã để cây cầu đường sắt bị hư hại đều đổ dồn lên đầu chúng tôi. Tình trạng cứ ức chế như vậy cho đến khi người Việt Nam tìm ra hai tên gián điệp đã biết cách ngay trước khi xạ kích, lẻn vào ngắt các jack nối mạch thuốc phóng trên quả tên lửa. Họ thanh minh cho chúng tôi và khuyên giữ kín không tiết lộ chuyện này ở bất kỳ đâu. Nhưng cảnh này còn ở lại trong ký ức rất lâu.

Tiếp theo chúng tôi tiến hành các hoạt động chiến đấu dưới sự chỉ huy của đại úy Bogdanov Yuri Petrovich.

Chủ nhiệm Trung tâm huấn luyện thứ 2 của chúng tôi, thiếu tướng Bazhenov Nikolai Vasilevich chỉ huy rất dũng cảm và thông minh. Đó là một ông tướng chiến trận, đã tham gia Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, một nhà chỉ huy nguyên tắc và công bằng.

Với bọn trẻ chúng tôi, ông xử sự như người cha, hiểu chúng tôi ở đây không dễ dàng gì. Tôi nhớ lại một trường hợp.

Chúng tôi triển khai tổ hợp TLPK trên một sân bay bỏ không hoạt động gần vịnh Bắc Bộ. Đó là trận địa được lựa chọn rất tồi. Thực tế chúng tôi không được bảo vệ trước hạm đội TSB Hoa Kỳ: các tiêm kích hạm bay trên độ cao cực thấp là mặt sóng. Ngoài ra bờ biển vịnh Bắc Bộ bị oanh tạc bởi các cỗ hải pháo trên các khu trục hạm và tuần dương hạm của Hạm đội 7 Mỹ.

Và một ngày nắng gắt nóng nực tháng 10 tướng Bazhenov đến chỗ chúng tôi. Chiếc áo sơ-mi và quần dài của ông dính đầy bùn đen, Ông mỉm cười nói: "Vừa phải nghỉ trong mương nước ven đường". Con đường trên đó xe ông chạy bị bắn phá từ trên không. Bằng cách đó các phí công Mỹ mài giũa tài nghệ của mình, không cho phép dẫu một chiếc ô tô chuyển động trên đường.

Khi tới chỗ chúng tôi, Bazhenov tìm hiểu chi tiết tình hình, sau đó chúng tôi nhanh chóng chuyển sang trận địa khác.

Trước chuyến rời Việt Nam trở về Tổ quốc, tướng Bazhenov tỉ mỉ ghi chép lại tất cả những đề nghị và mong muốn các loại: bố trí căn hộ, chuyển nơi phục vụ, xin đi học trường quân sự và các nguyện vọng khác. Phần lớn các yêu cầu đó đã được thực hiện.

Trong khi tác chiến chúng tôi luôn cảm thấy sự sát cánh trên tình đồng đội của các đồng chí của chúng tôi thuộc các tiểu đoàn khác của trung đoàn.

Các chiến sĩ Sibir, các chuyên gia của tiểu đoàn 3 dưới sự chỉ huy của trung tá Ryzhik Gavril Semionovich đã chiến đấu hăng say và hiệu quả.  Ryzhik là một sĩ quan không hề biết sợ hãi, đã kinh qua chiến tranh Triều Tiên 1950-53, ông đã nêu gương quả cảm và can đảm cho cấp dưới. Có thể mạnh dạn nói rằng: người Sibir tại Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xứng đáng. Các chuyên gia tiểu đoàn 1 và 2 ("các chiến sĩ Baku") của trung đoàn chúng tôi (chỉ huy là thiếu tá A.G.Tereshenko và trung tá I.A.Liakishev) đã khéo léo sử dụng kinh nghiệm của mình ở một quân khu PK biên giới. Họ tác chiến và khai thác khí tài chiến đấu rất chuyên nghiệp.

Về sau trung đoàn TLPK 238 QĐNDVN đã được phong danh hiệu "anh hùng".
Với sự ấm áp trong lòng tôi nhớ đến những người bạn chiến đấu của tôi:
đại úy Prusov Ivan,
thượng úy Bulgakov Vladimir Leonidovich,
đại úy Arsiri Anatoly Grigorievich,
đại úy Tokmakov Ivan Vasilevich,
thượng úy Sherbak Ghennady Aleksandrovich,
thượng úy Kambarov Serghey,
thượng úy Porkhun Serghey.

Trong lao động chiến đấu không nhẹ nhàng của mình chúng tôi không bao giờ phân chia "của anh" hay "của tôi". Hư hỏng của khí tài chiến đấu, khuyết điểm trong công tác chiến đấu - đó là nỗi đau đầu chung. Và mỗi người tùy theo khả năng và kiến thức của mình luôn có mặt ở nơi người ta cần giúp đỡ. Kinh nghiệm chiến đấu chúng tôi thu được trong chiến tranh Việt Nam, giúp chúng tôi trên con đường phục vụ lâu dài sau này trong QC Phòng không ở Tổ quốc.

Khi khó khăn thì ta thường nhớ lại: "Ở Việt Nam còn khó khăn hơn nhiều".

Thành phố Vidnoie, tháng 7 năm 2007.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Bảy, 2014, 05:42:48 AM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Korotaev1.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Korotaev1.jpg.html)

Trung tá Korotaev Yuri Anatolyevich

Sinh ngày 17 tháng 12 năm 1938 tại thị trấn Berdiaush huyện Satkin tỉnh Chelyabinsk.
Năm 1961 tốt nghiệp trường cao đẳng quân sự công trình vô tuyến điện tử Minsk thuộc QC Phòng không quốc gia.
1961 - 1968: trưởng ngành 2 hệ thống S-75.
Từ 8 tháng 10 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967 - công tác biệt phái tại VNDCCH.
Từ 1968 - 1969: tiểu đoàn phó phụ trách vũ khí trang bị.
1969 - 1970: trợ lý chính trưởng ban huấn luyện chiến đấu quân đoàn PK 19.
1970 - 1971: tiểu đoàn trưởng TLPK S-75.
1971 - 1972: học viện ngoại giao quân sự.
1972 - 1979: tiểu đoàn trưởng S-200.
1979 - 1984: sĩ quan trực ban SCH TĐQ PK 40.
Chuyển ngạch dự bị, rời quân ngũ năm 1984.
Tặng thưởng huân chương Sao Đỏ vì hoàn thành mẫu mực nghĩa vụ quốc tế ở VNDCCH, 8 huy chương trong quá trình phục vụ quân đội, trong đó có huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.
Từ trần năm 2002 tại Ekaterinburg.



VIỆT NAM, KHU 4

Vào tháng 9 năm 1966 tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn TLPK số 2, người đã tham gia Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, thiếu tá V.V.Kholuyanov bảo tôi rằng sẽ có  chuyến công tác đặc biệt ở một đất nước có khí hậu nóng ẩm, tôi đồng ý, hy vọng sẽ được tới Cuba.

Tại phiên họp Hội đồng Quân sự Tập đoàn quân Phòng không 40 được biết cụ thể hơn: sẽ đi công tác biệt phái tại VNDCCH. Sau này lúc nói chuyện với một thành viên HDQS tôi phát biểu: "Cũng cần phải một lần, nghĩa là, phải chiến đấu". Ông ấy chỉnh tôi: "Phải nói thế này - tôi xin xứng đáng với sự tin cậy của ban chỉ huy".

Thời điểm sang Việt Nam, tôi mang quân hàm đại úy chức vụ trưởng ngành 2 đại đội KTVTDT thuộc một tiểu đoàn TLPK của lữ đoàn TLPK Zlaustovskaya.

Trước khi khởi hành, tại Moskva, ở Tổng cục 10 Bộ TTM QD Liên Xô người ta cho biết tình hình gần đây nhất tại nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa.

Vào đầu năm 1966 chúng tôi bay từ Moskva qua Trung quốc tới Hà Nội. Ra khỏi máy bay xuống sân bay Gia Lâm chúng tôi hiểu ngay mình đang ở trong thời chiến. Trên bầu trời đêm ta thấy lóe lên những ánh chớp đạn và nghe nhiều tiếng nổ rền. Từ sân bay vào thành phố chúng tôi đi trên xe buyt, tuân thủ nghiêm ngặt luật ngụy trang nguồn sáng, chỉ bật đèn gầm soi dưới bánh xe ô tô.

Sau vài ngày ở tại khách sạn khu Kim Liên, giải quyết xong những vấn đề tổ chức, nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn, trong đó có tôi, do người đã tham gia CTVQVĐ trung tá Vasily Grigorievich Baikov dẫn đầu, lên đường xuống phía nam VNDCCH, để thay phiên các đồng chí của chúng tôi đã hết hạn công tác.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Korotaev2.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Korotaev2.jpg.html)
Nhóm chuyên gia tại trung đoàn TLPK 238 QĐNDVN tháng 8 năm 1967

Để đảm bảo độ an toàn cao, việc di chuyển chỉ thực hiện vào ban đêm. Sau 2 đêm chúng tôi mới có thể tới được vị trí của trung đoàn TLPK 238 QDNDVN. Trên quãng đường dài không ít lần chúng tôi phải vượt qua các chướng ngại vật nước, bởi vì do các cơn mưa rào nhiệt đới các dòng suối nhỏ biến thành những dòng sông rộng 50-70m, sâu đến 1,5m.  

Đêm thứ hai trên đường núi, chúng tôi gặp trở ngại do một hố bom lớn tạo ra. Dân địa phương kéo đến giúp đỡ. Trong đêm tối mịt, họ dùng cuốc chim, xẻng, quang gánh và sọt nhanh chống lấp đầy hố bom, khôi phục đường đi. Khi tới địa điểm đã định chúng tôi được ban chỉ huy trung đoàn TLPK 238 và các tiểu đoàn TLPK của trung đoàn chào đón. Các nhiệm vụ chính và tình hình trong khu vực đóng quân của trung đoàn được mang ra thảo luận.

Trung đoàn trưởng trung đoàn 238 là trung tá Hội, phó của ông là thiếu tá Cảnh, kỹ sư trưởng là thiếu tá Ngọc. Họ đều là những người chỉ huy được đào tạo rất chuyên nghiệp, có khá nhiều kinh nghiệm chiến đấu chống trả các cuộc không kích của máy bay Mỹ.

Trung đoàn 238 duy trì chiến thuật đánh "phục kích". Những năm 1966-1967 đó là trung đoàn duy nhất tác chiến trên địa bàn các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Sự yểm trợ từ LL PPK và súng máy PK không có, KQTK QDNDVN không tác chiến trong khu vực này. Vì vậy nhiệm vụ chính bộ chỉ huy trung đoàn 238 đặt ra cho mình - phục kích trong khu vực vĩ tuyến 17, bắn hạ máy bay B-52. Cần nói rằng trung đoàn TLPK 238 đã thực hiện thành công nhiệm vụ đó: từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1967 đã bắn rơi 4 máy bay B-52. Thành tích này dựa trên sự lao động quên mình của các chuyên gia quân sự Soviet và chủ nghĩa anh hùng của các quân nhân các tiểu đoàn TLPK Việt Nam.

Các nhiệm vụ chiến đấu phải thực hiện trong những điều kiện vô cùng nghiệt ngã: ưu thế áp đảo của máy bay Mỹ, do thám trên không và trêm mặt đất liên tục nhằm phát hiện các đơn vị quân đội, khí tài quân sự và trận địa các tiểu đoàn TLPK. Khi các chuyên gia quân sự chúng ta ra trận địa, phải vượt qua rất nhiều cầu, phà, đê đập, cầu phao, là những đối tượng hàng ngày bị ném bom. Độ ẩm và nhiệt độ cao ảnh hưởng mạnh đến tình trạng sức khỏe, gây ra nhiều loại bệnh tật khác nhau, phổ biến nhất là "phát ban".

Các nhiệm vụ cơ bản mà các chuyên gia quân sự Soviet thực hiện trong điều kiện ấy là: đào tạo các chuyên gia Việt nam tiến hành công tác bảo dưỡng thường xuyên trong các thời kỳ khác nhau; huấn luyện các trắc thủ biết cách làm việc trong điều kiện các tình huống chiến đấu khác nhau; phân tích các đặc điểm cơ bản và chiến thuật trong tình huống chiến đấu và đề ra các khuyến nghị phù hợp; sửa chữa loại bỏ các hư hỏng phát sinh trong khai thác hàng ngày, cũng như sau các trận bom dội xuống các tiểu đoàn TLPK.

Toàn bộ hoạt động của các tiểu đoàn diễn ra trong điều kiện bí mật và ngụy trang nghiêm ngặt. Việc chuyển trận địa từ điểm này sang điểm kia chỉ tiến hành ban đêm.

Do hoạt động của các tiểu đoàn TLPK chúng tôi thực hiện gần vĩ tuyến 17, cần mô tả chi tiết hơn tình hình trong khu vực này. Dải đất 50 đến 100 km kề vĩ tuyến 17 gợi nhớ đến dải cận tiền duyên thời CTVQVĐ. Máy bay Mỹ hàng ngày ném bom xuống khu vực này. Không chỉ có các loại bom kích cỡ thông thường được sử dụng, mà còn cả các bom bi mẹ chứa nhiều bom con, bom từ trường, bom nổ chậm, bom napalm.

Để sinh tồn trong các điều kiện đó, toàn thể người dân khu 4 phải chuyển từ nhà trên mặt đất xuống địa đạo. Các trường học, nhà trẻ, bệnh viện và một số xưởng máy phải làm việc trong lòng đất.

Về ban đêm, các toán biệt kích được tung ra từ Nam Việt Nam để phá hoại các mục tiêu khác nhau trên lãnh thổ VNDCCH, vì vậy trong mỗi địa đạo gần giới tuyến đều có vũ khí, đạn, lựu đạn để chiến đấu với biệt kích.

Tháng 4 năm 1966 trên lãnh địa rộng lớn của tỉnh Quảng Bình các máy bay A-6 rải chất độc hóa học, trong thành phần của nó có thạc tín và clo. Dưới tác động của chất độc này lá cây vàng héo và rụng hết khỏi thân cành, rất nhiều cánh đồng cây trồng bị chết. Các phóng sự điều tra của các nhà báo Việt Nam và nhà báo Ba Lan Monika Varnenska tại Nam Việt Nam và khu vực vĩ tuyến 17 cho thấy việc sử dụng chất độc này gây ra cho con người nhiều bệnh nặng, dẫn tới tàn phế, còn ở người già và trẻ em sống trong vùng chất độc hóa học, người ta quan sát thấy hiện tượng nôn ra máu và tử vong (sách"Việt Nam, cuộc chiến tranh hóa học", xuất bản năm 1972.

Việc rải các loại chất độc hóa học khác nhau ở Quảng Bình tiếp tục đến năm 1970, thêm vào đó khunh hướng cơ bản sử dụng chất độc hóa học là không diệt cây cỏ mà tác động đến con người. Hậu quả các cuộc ném bom liên tục thành phố Vinh và Đồng Hới đã hoàn toàn biến hai nơi này thành những đống gạch vụn đổ nát.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Bảy, 2014, 11:14:59 PM
Khi phân tích tình hình trên, ta chỉ có thể lấy làm kinh ngạc. làm thế nào mà nhóm chuyên gia quân sự Soviet của trung đoàn TLPK 238 QDNDVN, ở đây từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967 tránh được tổn thất nhân mạng, làm thế nào những người nông dân Việt Nam có thể vẫn làm mùa vụ tốt, và làm thế nào trong điều kiện có sự trinh sát tổ chức cao cả trên đường không lẫn trên mặt đất từ phía người Mỹ, mà các chiến sĩ tên lửa PK của các tiểu đoàn Việt Nam vẫn có thể chiến đấu.

Thái độ của người Mỹ với sự có mặt của các chuyên gia quân sự Soviet ở đây là khác nhau. Khi chưa tiến hành các hoạt động chiến đấu họ chưa động đến chúng tôi, chỉ cần bắn rơi vài máy bay có người lái thì trận địa tiểu đoàn tên lửa và nơi ở của chúng tôi đều bị ném bom. Vì vậy sau khi bắn rơi máy bay Mỹ, phải di chuyển không chỉ trận địa các tiểu đoàn tên lửa mà còn cả nơi ở của nhóm chuyên gia quân sự Soviet trung đoàn chúng tôi. Người Việt Nam thực hiện rất nghiêm chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảm bảo an toàn cuộc sống cho các chuyên gia quân sự Soviet.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Korotaev4.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Korotaev4.jpg.html)
Kết quả công việc của chúng tôi, năm 1966.

Các tiểu đoàn chuẩn bị trận địa trong các cánh rừng, bí mật đưa khí tài ra trận địa, im lìm chờ thời, trong khi đó cùng đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn thực hành chuẩn bị khí tài một cách kỹ lưỡng, làm công tác bảo dưỡng thường xuyên, nghiên cứu tình báo trên không. Khi tiểu đoàn TLPK đã hoàn toàn sẵn sàng cho trận đánh, bộ chỉ huy Việt Nam đề nghị trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet không mạo hiểm tính mạng của các chuyên gia Soviet, bởi vì nhiệm vụ của mình họ sẽ hoàn thành. Trong thời kỳ này, đa số các cuộc xạ kích chiến đấu được các tiểu đoàn TLPK Việt Nam tự mình tiến hành, không có mặt các chuyên gia Soviet.

Máy bay ném bom chiến lược B-52 được sử dụng để ném bom khu vực vĩ tuyến 17. Căn cứ của chúng - đảo Guam, Okinawa, hãn hữu từ các sân bay quân sự Thái Lan (Utapao). Các máy bay ném bom B-52 lâm trận trong điều kiện có gây nhiễu tích cực, có các máy bay bảo vệ hộ tống. Tải trọng bom lớn của B-52 (27t) cho phép hủy diệt một diện tích rộng lớn bằng bom phá, bom napalm, bom bi.

Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1967 trung đoàn TLPK 238 QDNDVN đã tiến hành các trận đánh liên tục, đồng thời chịu nhiều tổn thất lớn. Trong 4 tiểu đoàn có 3 tiểu đoàn mất sức chiến đấu, một phần ba quân số hy sinh. Tháng 8 năm 1967 chỉ còn một tiểu đoàn còn sức chiến đấu - tiểu đoàn TLPK 82, tiểu đoàn trưởng là đồng chí Lân.

Ngày 13 tháng 8 đang phục kích trong khu vực vĩ tuyến 17, đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu cùng đài điều khiển đồng thời phát sóng, tại cự ly 60km phát hiện một mục tiêu nhóm trên độ cao 10km, bám sát mục tiêu rất tốt, song các trắc thủ không nhận ra cú phóng "Shrike" từ số máy bay cường kích hộ tống và đúng lúc ra quyết định bắn thì đạn "Shrike" nổ, giết chết các trắc thủ trong cabin "U", làm bị thương một số binh sĩ và chỉ huy.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Korotaev3.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Korotaev3.jpg.html)
Nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô tại e TLPK 238 tháng 12 năm 1966

Nhờ nỗ lực của các chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn, sau 3 tuần đã khôi phục được sức chiến đấu cho tiểu đoàn TLPK 82. Tiểu đoàn chiếm lĩnh trận địa chiến đấu cạnh trận địa mà tiểu đoàn đứng chân ngày 13 tháng 8, ngụy trang rất kỹ lưỡng. Sau khi kiểm tra khí tài tiểu đoàn bước vào trực chiến,

Ngày 17 tháng 9 năm 1967 tiểu đoàn phát hiện một mục tiêu nhóm ở cự ly 40km, mặc dù địck sử dụng nhiễu tích cực và nhiễu xung-trả lời, các trắc thủ bám sát bằng tay vẫn bám sát mục tiêu rất chắc. Quả đạn đầu phóng lên ở cự ly 31km, quả thứ 2 - 23km, quả thứ 3 trên bệ phóng ở vào "vùng cấm". Các phi công B-52 lập tức phát hiện cú phóng đạn tên lửa, thiết bị cảnh báo trên máy bay làm việc, vì vậy B-52 lập tức "giải phóng" bừa số bom mang theo và cơ động những cỗ máy cồng kềnh khó xoay trở.

Quả đạn đầu tiên tự hủy, quả thứ 2 nổ trong vùng mục tiêu. Mảnh máy bay tạo thành hiệu ứng một màn nhiễu tiêu cực. Chiếc B-52 bị lửa bủa vây rơi xuống cách khu giới tuyến 20km về phía nam.

Đội ngũ quân nhân tiểu đoàn và người dân địa phương quan sát trận đánh rất vui mừng vì thành công của tiểu đoàn TLPK.

Sau khi bật lại đài điều khiển, phát hiện được các mục tiêu đang lùi xa: ở cự ly 50km là mục tiêu nhóm và cự ly 18km là một mục tiêu đơn. Khi chỉ còn 1 quả đạn, hơn nữa lại "bắn đuổi" thì xác suất là tối thiểu. Nhưng tiểu đoàn trưởng vẫn quyết định bắn mục tiêu đơn. Ngòi vô tuyến của quả đạn kích hoạt ở cự ly 30km, Và dù có độ trượt đáng kể trong các lệnh điều khiển tên lửa, mục tiêu kích thước lớn đã trúng cả một khối lớn mảnh đạn tên lửa. Chiếc B-52 chao đảo, lật từ cánh nọ sang cánh kia, cố lết ra biển và rơi cách bờ biển không xa, Các xuồng cao tốc của Mỹ lao đến nơi rơi máy bay để cứu kíp lái và người dân địa phương chứng kiến điều đó.  

Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn TLPK 82 Lân đã kể cho tôi nghe mọi chi tiết, tôi cũng nhận được sự khẳng định các thông tin này từ trưởng nhóm chuyên gia quân sự Soviet trung đoàn TLPK 238 QDNDVN trung tá Ennhiakov Evgheny Mikhailovich, đến thay thế nhóm chuyên gia quân sự Soviet chúng tôi cuối tháng 9 năm 1967. E.M.Ennhiakov, sau Việt Nam, phục vụ cùng tôi tại lữ đoàn TLPK 57 QC Phòng không trên cương vị TMT lữ đoàn.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Korotaev5.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Korotaev5.jpg.html)
Năm 1967

Từ tháng 10 năm 1967 đến cuối năm 1967 trung đoàn TLPK 238 QDNDVN bắn rơi thêm 2 máy bay B-52. Vì các thành tích chiến đấu tôi được tặng huân chương Sao Đỏ, còn trung tá Ennhiakov Evgheny Mikhailovich - huân chương Cờ Đỏ. Tên họ của các trưởng đoàn chuyên gia quân sự Soviet thiếu tướng N.V.Bazhenov, đại tá V.G.Boikov, trung tá E.M.Ennhiakov được ghi nhớ mãi mãi trong Sổ Truyền thống của trung đoàn TLPK 238 Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vì những kết quả chiến đấu cao mà trung đoàn đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh phong tặng danh hiệu "Anh hùng" cho trung đoàn TLPK 238.

Cuối năm 1967 trung đoàn TLPK 238 QDNDVN bị tổn thất nghiêm trọng về người và khí tài đã được rút khỏi các tỉnh phía nam để tổ chức lại. Trung đoàn nối lại hoạt động chiến đấu ở khu vực vĩ tuyến 17 vào tháng 5 năm 1969.

Thời gian không thể xóa nhòa ký ức về những khó khăn, nguy hiểm phải trải qua của nhóm chuyên gia quân sự Soviet trung đoàn TLPK 238 QDNDVN dưới sự chỉ huy của đại tá V.G.Boikov. Tôi muốn cám ơn các bạn chiến đấu của mình vì sự giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau, đó là Yu.Menshik, V.Igrevsky, A.Popadenko, D.Voitko, V.Pasko, V.Kokarev và những người khác mà tên họ rất tiếc tôi không còn nhớ.

Chúc hòa bình, thịnh vượng cho Việt Nam!

Ekaterinburg, năm 2002.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Bảy, 2014, 12:02:00 AM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Kislisyn.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Kislisyn.jpg.html)

Đại tá Kislisyn Yuri Viktorovich

Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1934 tại thành phố Alma-Ata trong một gia đình công nhân.
1952 - 1955: Trường pháo binh Cờ Đỏ Zhitomir, học viên.
1955 - 1959: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 4 (trước 1955 là tập đoàn quân PK Urals), trung đội trưởng hỏa lực đại đội PPK, trung đội trưởng hỏa lực tiểu đoàn TLPK S-75.
1959 - 1960: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 4, đại đội trưởng đại đội bệ phóng tiểu đoàn TLPK S-75.
1960 - 1965: Học viện quân sự chỉ huy PK, học viên.
1965 - 1967: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 8, tiểu đoàn trưởng S-75.
1967 - 1971: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 8, Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 11, phó trung đoàn trưởng S-75.
Từ 13 tháng 8 năm 1970 đến 1 tháng 8 năm 1971: chuyên gia bên cạnh trung đoàn trưởng TLPK QĐNDVN.
1971 - 1973: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 11, phó lữ đoàn trưởng.
1973 - 1975: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 11, lữ đoàn trưởng.
1975 - 1980: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 11, chủ nhiệm bộ đội TLPK sư đoàn PK quốc gia.
1980 - 1982: Tập đoàn quân PK Cờ Đỏ độc lập số 4, phó chủ nhiệm bộ đội TLPK tập đoàn quân PK quốc gia.
1982 - 1985: CHND Angola, cố vấn tư lệnh lực lượng PK và KQ quốc gia.
1986: chuyển ngạch vì đến tuổi.
1986 - 1991: Viện Đại học Bách khoa Urals, giảng viên chính, chủ nhiệm giáo trình Phòng thủ Dân sự khoa Quân sự Đại học Bách khoa Urals.
1992 - 1995: Làm việc tại các tổ chức thương mại.
1996 - 2001: Trung tâm Phòng thủ Dân sự và Tình trạng Khẩn cấp vùng Urals, chuyên gia đầu ngành phòng hành động Trung tâm vùng Urals Bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga.
Từ 2001 sống tại Kiev.
Từ 2005 đến nay: Hiệp hội Quốc tế Ukraina những người đã tham gia chiến tranh (MU-SUV), phó chủ tịch thứ nhất MUSUV.
Được tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, "Vì phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô" hạng III, huy chương Hữu Nghị của chính phủ VNDCCH và 30 huy chương các loại.



Chạm vào bạn bè mang lại cho ta hạnh phúc...

Chuyện đó bắt đầu như thế nào

Giữa tháng 4 năm 1970 tôi trở về nhà, về Nikolaevsk-na-Amur, từ Komsomolsk-na-Amur, nơi tôi chuẩn bị công tác bắn đạn thật cho một tiểu đoàn trong trung đoàn trên trường bắn của thao trường-huấn luyện của quân đoàn chúng tôi. Số là trung đoàn chúng tôi đóng ở cửa sông Amur bảo vệ cảng Nikolaevsk, cách xa các sân bay quân sự của quân đoàn và TDQ PK hơn 700 km. Chuẩn bị cho các kíp chiến đấu các tiểu đoàn TLPK bắn đạn thật mà lại không có không quân thật tham gia thì hiệu quả thấp. Thêm vào đó, với việc bắt đầu có hoạt động dẫn đường giao thông thủy trên sông Amur, khi các tàu thủy Nhật chở gỗ rừng từ cảng Mago, tất cả radar của trung đoàn đến trước tháng 10 được chuyển sang chế độ "im lặng vô tuyến hoàn toàn", để loại trừ việc giao hội các tần số làm việc của các đài radar chúng tôi. Vị tất điều đó có kết quả khi mà rất nhiều máy bay trinh sát Mỹ thường xuyên quần đảo lúc thì dọc lãnh hải Liên Xô, lúc thì trên lãnh thổ quốc gia. Mọi người còn nhớ sự kiện ngày 1 tháng 5 năm 1960, khi lữ đoàn 57 chúng tôi thuộc TDQ PK Urals (nơi tôi là đại đội trưởng đại đội bệ phóng của một tiểu đoàn) được nâng cấp báo động. Chiếc máy bay trinh sát U-2 đang hướng gần đến các trận địa chiến đấu từ trên độ cao 22 km. Cái kết của câu chuyện này ai cũng đã biết...

Thứ 7 đầu tiên tại cuộc họp chỉ huy trung đoàn, tôi báo cáo tiến trình chuẩn bị bắn đạn thật, rồi bắt tay vào kế hoạch kiểm tra tổng kết giai đoạn huấn luyện mùa đông. Chuông điện thoại bỗng réo vang. Tư lệnh quân đoàn tướng V.M.Melekhov gọi. Theo phản ứng của trung đoàn trưởng, có thể hiểu rằng cuộc nói chuyện không hoàn toàn bình thường, đó không phải cú điện thoại trao đổi công việc hàng ngày. Còn khi một trong các câu trả lời là "chưa chắc anh ấy đã qua được ủy ban y tế để tới một đất nước khí hậu nóng ẩm", thì đã rõ - cần một ứng cử viên sang Việt Nam, hơn nữa lại không phải trên cương vị một chuyên gia bình thường.

Tôi đã từng đọc nhiều tin, thông báo các sự kiện diễn ra ở đất nước ấy nói chung, về hoạt động của bộ đội TLPK nói riêng. Khi còn phục vụ tại Ukraina, lúc nghe phát biểu của các sĩ quan từ Việt Nam về, thực lòng tôi ghen tị với họ. Chúng tôi được giáo dục theo truyền thống chiến đấu vinh quang của các chiến sĩ thời Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, còn từ "quóc tế vô sản" gợi ký ức nhớ đến các sự kiện tại Tây Ban Nha năm 1937. Tôi muốn thử thách mình, và việc được nhìn tận mắt những đất nước xa xôi kỳ lạ cũng không gây phiền nhiễu gì. Trung đoàn trưởng của tôi sắp đến tuổi về hưu, thể chất phục phịch, thêm vào đó phần lớn thời gian ông ấy phục vụ ở Hải quân, ông tình cờ về binh chủng TLPK chỉ sau khi có công cuộc "tái tổ chức và cắt giảm Không quân và Hải quân thời Khrusev". Quyết định đến rất nhanh: "Đồng chí chỉ huy! Hãy cho tôi đi".

Tôi biết rằng tướng Melekhov có những kế hoạch hoàn toàn khác cho tôi, nhưng rõ ràng thời gian và cơ quan cán bộ cấp trên đang thúc ép. Bởi vậy đề xuất của tôi được chấp thuận.

Cuộc họp chấm dứt. Tham mưu trưởng ngồi vào bàn làm nhận xét quá trình phục vụ, cơ quan chính trị - công tác đảng-công tác chính trị. Chủ nhiệm quân y bắt tay chuẩn bị các tài liệu, xác định cần bao nhiêu mũi tiêm chủng và loại tiêm chủng.

Tiện thể nói thêm, những liều tiêm chủng cuối cùng, do hoàn cảnh mà phải thực hiện ở Moskva, trước khi cất cánh bay sang Việt Nam. Còn khi đã làm xong các giấy tờ cần thiết, tôi bay đến bộ tham mưu quân đoàn và tập đoàn quân PK trao đổi với các thủ trưởng cấp trên. Sau những ngày lễ tháng Năm - lại thao trường huấn luyện-giảng dạy (UTP), từ đó tôi được gọi về Moskva, tới ủy ban thẩm tra tư cách tại Tổng cục 10. Lần kế, sau khi cơ quan cấp trên kiểm tra sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao, đáp ứng được sự tín nhiệm, tôi quay về Viễn Đông.

Trong tháng 6 - là các cuộc bắn đạn thật trên trường bắn quốc gia. Tháng 7 tôi được cho đi phép về Ural, nơi gia đình tôi sống, rồi về Alma-Ata, nơi cha mẹ tôi ở. Kỳ phép bị ngắt ngang bởi một bức điện - khản trương có mặt ở đơn vị, bàn giao công việc, chuyển về thuộc quyền điều động của Tổng cục 10 Bộ TTM.

Bước lên những bậc thang máy bay chuyến Alma-Ata - Khabarovsk, tôi đảo mắt ngắm nhìn những đỉnh núi tuyết phủ dãy Zalyi Alatau, đóng khung lấy thành phố, nơi tôi sinh ra, lớn lên, nơi từ đó tôi lên đường vào quân ngũ. Trên sân ga hàng không, vợ tôi và cô con gái nhỏ đứng nép vào nhau. Những người thân yêu của tôi ơi, bao giờ tôi mới được gặp lại? Mà tôi còn có cơ hội hay không...Dẫu sao sắp tới chuyến công tác sẽ diễn ra không phải trên thao trường huấn luyện-giảng dạy, không phải trên trường bắn. Phía trước là Việt Nam - đất nước xa xôi, kỳ lạ, nơi đang có cuộc chiến tranh ác liệt và đẫm máu. Sau vài phút, chiếc Il-62 đã tắm mình trong bầu không khí trên không, ý nghĩ của tôi chuyển sang các công việc và sự kiện sắp đến.

Bàn giao xong công việc ở trung đoàn, cuối tháng 7 tôi có mặt ở Moskva. Tôi có hai tuần để chuẩn bị: nghiên cứu tài liệu, làm quen với các đồng đội trong nhóm cùng đi, hành lý trang bị, rồi ngày 12 tháng 8 trên chuyến bay riêng tuyến Moskva - Karachi - Kalkutta, chúng tôi đi Hà Nội. Sau 22 giờ, thay 3 kíp lái, ngày hôm sau, đúng giữa trưa, chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Hà Nội. Sau khi trao quà và các món đồ của người thân và bạn bè ở Moskva cho các đồng chí đang ở Việt Nam, cuối cùng chúng tôi cũng được phép cởi áo khoác và cravat, mọi người thở phào cảm thấy dễ chịu hơn. Làm quen nhanh với các đồng chí Việt Nam ra đón chúng tôi xong, chúng tôi lên xe về khách sạn "Kim Liên".

Một tuần lễ trôi qua để làm quen với khí hậu, để bén rễ vào hoàn cảnh, gặp các bạn đồng khóa ở học viện - "các thổ dân" Việt nam. Khi làm quen với trưởng đoàn chuyên gia binh chủng TLPK và binh chủng KQ đại tá V.A.Gude, tôi cùng Nikolai Nikolaevich Kotchinov, cũng sang đảm nhiệm cương vị chuyên gia bên cạnh trung đoàn trưởng PK, đề nghị ông phái chúng tôi xuống nơi nào hiện đang "nóng" hơn. Địa điểm kiểu như vậy là vùng Khu 4. Trong số 3 trung đoàn đang đóng ở vùng này, có hai trung đoàn đang còn khuyết chức vụ chuyên gia quân sự Soviet bên cạnh trung đoàn trưởng. Tôi nhận nhiệm vụ tại trung đoàn đang đóng quân ở tỉnh Thanh Hóa, Kotchinov - trung đoàn ở thành phố Vinh.

Hàm Rồng

Thời gian đó trung đoàn TLPK 236 đang đứng chân bảo vệ cầu Hàm Rồng qua sông Mã. Sau 1 vài ngày tôi đến nơi mình tiếp tục phục vụ. Tôi làm quen với các sĩ quan trong nhóm, trình diện BCH trung đoàn. Từ cuộc nói chuyện với ban lãnh đạo trung đoàn, với các sĩ quan của mình, tôi biết trung đoàn nằm trong số những trung đoàn thành lập đầu tiên (theo một cách đánh số khác, nó được ghi là trung đoàn TLPK số 1), thống kê chiến tích của nó là 169 máy bay bị bắn hạ. Nhưng chỉ sau 35 năm tôi mới cầm được trên tay cuốn sách "Chiến tranh Việt Nam (1965-1973) là thế đấy", của các tác giả-kiêm-nhà biên soạn Nikolai Nikolaievich Kolesnik (Chủ tịch Đoàn chủ tịch tổ chức xã hội liên vùng các CCB trong chiến tranh Việt Nam của Nước Nga) và Pozdeev Anatoly Filippovich. Từ hồi ức của N.N.Kolesnik và V.M.Konstantinov mà tôi biết ngày 24 tháng 7 năm 1965, các tiểu đoàn 63 và 64 của trung đoàn đã phóng những quả đạn đầu tiên, tiêu diệt 3 máy bay đối phương. Ngày đó theo Sắc lệnh của Chủ tịch nước VNDCCH được tuyên bố là "Ngày truyền thống Bộ đội Tên lửa Phòng không Quân đội Nhân dân Việt Nam". Đó là màn khởi đầu vinh quang cho bước đường chiến đấu của trung đoàn binh chủng TLPK, nơi tôi sắp tiếp tục phục vụ. Trung đoàn nằm trong thành phần một cụm quân, bảo vệ chiếc cầu có ý nghĩa chiến lược qua sông Mã trên con đường số 1, nối thành phố Hà Nội và Sài Gòn. Trên con đường này và các con đường khác - đường số 7, 9, 12, 22 và các con đường khác nữa (cái gọi là "đường mòn Hồ Chí Minh") qua lãnh thổ Lào, diễn ra công cuộc tiếp tế vũ khí, lương thực, cùng các nguồn vật chất khác cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN). Nỗ lực ngăn chặn đường tiếp vận, máy bay Mỹ oanh tạc phá hủy các cầu, phà, phá hoại đường sá... Trên quãng đường 300 km từ Hà Nội đến thành phố Vinh, không có cây cầu nào, bến pha nào mà không từng bị ném bom. Cây cầu duy nhất chưa bị phá hủy là Hàm Rồng. Tới lúc tôi có mặt, số lượng máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hàm Rồng đã đạt đến con số 99. Trong thời gian chiến tranh người Mỹ đã ném xuống Hàm Rồng hơn 70 ngàn tấn bom, bắn hơn 500 quả tên lửa. Tổng số máy bay bị bắn rơi đến cuối chiến tranh đạt đến con số 106. Chỉ vào tháng 12 (?) năm 1972, sau khi đã chế tạo được và sử dụng vũ khí lade (hệ thống "Pave Way" - "ném bóng vào giỏ"), người Mỹ mới đánh trúng nhịp cầu.

Tìm hiểu một chút lịch sử. Năm km cách thành phố Thanh Hóa, trung tâm của tỉnh cùng tên, từ xa đã nhìn thấy một ngọn núi, tạo hình của nó gợi nhớ đến hình con rồng hướng miệng lên trời. Ở bờ bên kia sông nhô lên ngọn núi Ngọc. Con rồng như thể đang vươn tới Viên Ngọc. Từ đó Hàm Rồng được dịch là "Miệng Rồng". Cây cầu nối các chân ngọn núi. Lúc trời mưa nước sông Mã gào réo lao đi trong rẻo hẹp giữa Miệng Rồng và Núi Ngọc. Thời cổ tiếng réo gào ấy gọi là tiếng gầm của con rồng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lính quân đoàn viễn chinh Pháp đặt chân lên đất Việt Nam. Tháng 2 năm 1947 những người bảo vệ Hàm Rồng cho nổ tung cây cầu treo cũ rồi rút vào rừng tiếp tục cuộc chiến đấu. Sau thảm bại của người Pháp tại Điện Biên Phủ, tới một giai đoạn thanh bình tạm thời, ngày 19 tháng 5 năm 1964 (ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh), một cây cầu thép mới tinh xảo được dựng lên trên dòng sông. Còn đến ngày 5 tháng 8 năm 1965, thay cho tiếng gầm của con rồng là tiếng gầm của những quả bom Mỹ, tiếng nổ của những trái rốc-két. Bắt đầu cuộc xâm lược của Hoa Kỳ chống VNDCCH.

Trong bộ sưu tập ở nhà của tôi còn giữ một chiếc huy hiệu, do những thợ lành nghề ở tỉnh chế tạo từ mảnh xác máy bay Mỹ. Chiếc huy hiệu này, trên nền lá quốc kỳ VNDCCH viền những bông lúa vàng, diễn tả dòng sông, ngọn núi, cây cầu, chiếc máy bay bốc cháy đang lao xuống. Phía dưới khắc con số "3 - 4/4/1965".

Đây là những gì nhà bình luận báo "Pravda" Yuri Zhukov và phóng viên đặc biệt Viktor Sharapov viết về các sự kiện trong những ngày ấy ("Việt Nam 1965"): "đặc biệt ác liệt là những trận giao chiến xảy ra ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 ở tỉnh Thanh Hóa... Theo thông báo của BCH Việt Nam tại đó đã có 47 máy bay bị bắn rơi".

Tôi được dẫn đến gặp sư đoàn trưởng sư đoàn PK 365 (rất tiếc tên ông tôi không còn nhớ), hồi đó làm nhiệm vụ bảo vệ cây cầu Hàm Rồng. Qua câu chuyện của ông tôi biết rằng ngày 3 tháng 4 năm 1965, lúc rạng đông máy bay Mỹ thực hiện không kích xuống cây cầu từ phía vịnh Bắc Bộ, nhưng đã gặp phải lưới lửa mãnh liệt PPK ngăn chặn. Sau khi mất 30 máy bay mà không đạt được gì, không quân Mỹ ngừng không kích. Cảm thấy rằng BCH Hoa Kỳ không từ bỏ ý định của mình và có thể lặp lại ý định ấy, sau khi thay đổi chiến thuật hoạt động, sư đoàn trưởng quyết định - chuyển phần lớn lực lượng sư đoàn sang bờ sông đối diện. Dưới màn đêm che phủ các cỗ pháo được tái triển khai và ngụy trang trên các trận địa hỏa lực mới. Từ rạng sang ngày 4 tháng 4, không quân Mỹ lặp lại cuộc không kích, nhưng từ hướng mà các xạ thủ PK đang chờ sẵn. Tổng kết - thêm 17 máy bay bị bắn rơi và cũng không có kết quả nào đạt được - Hàm Rồng vẫn đứng vững không hề hấn gì. Bộ trưởng QP Hoa Kỳ McNamara quyết định một bước đi tuyệt vọng - ném con cưng của mình vào thi hành nhiệm vụ, đó là một trong những Ace ưu tú nhất của nước Mỹ. Kết cục - chiếc máy bay đâm đầu xuống dòng nước sôi sục của sông Mã, còn phi công trung tá Dalton thì may mắn hơn - các cô gái Việt Nam thuộc lực lượng tự vệ tỉnh đã lôi hắn từ dưới sông lên. Đó là một số chi tiết lịch sử của cây cầu huyền thoại và trung đoàn mà tôi sắp phục vụ.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Bảy, 2014, 12:02:45 AM
Một tuần lễ sau, ngày 26 tháng 8, mọi người tổ chức lễ sinh nhật 36 tuổi của tôi một cách giản dị. Các sĩ quan trong nhóm chuyên gia tặng tôi một cuốn album ảnh do người Việt nam làm. Những công việc thường ngày của quân đội trôi đi đều đặn: huấn luyện, bảo dưỡng thường xuyên, loại bỏ những hỏng hóc phát sinh, trong quá trình đó tiến hành đào tạo các kĩ thuật viên, các trắc thủ của các tiểu đoàn. Một tháng rưỡi cứ trôi qua như vậy. Cuối tháng 9 có lệnh mới đến: trung đoàn 236 chuyển thuộc về cụm PK Hà Nội. Tôi được gọi về Hà Nội gặp trưởng đoàn chuyên gia BC TLPK và BC KQ. Trong cuộc nói chuyện với tôi đại tá V.A.Gude phác họa qua tình hình. Nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 274 vào thay trung đoàn 236, mới tập hợp được một nửa quân số và chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Trung đoàn TLPK 236 chỉ trong tháng 8 đã bắn rơi 2 máy bay KNL 147j.  Do vậy mà BCH nhóm TLPK quyết định: chuyển chúng tôi sang trung đoàn 274 vừa đến. Lại làm quen với đội ngũ phục vụ mới, nhóm phiên dịch viên mới. Phiên dịch viên trưởng Nguyễn Ái Toàn, từng học ở trường công trình TLPK Minsk (MVIZRU), anh nói tiếng Nga rất tuyệt, có vốn hiểu biết đặc biệt, thái độ đối với đất nước ta và với chúng tôi - các chuyên gia quân sự Soviet, rất tôt đẹp. Làm việc với anh rất dễ dàng. Cũng có thể nói như vậy về tất cả các nhân viên đội phục vụ. Tôi nhớ đến các đầu bếp của mình với tình cảm ấm áp trong lòng - họ là những bậc thấy chân chính trong nghề nghiệp của họ. Bất cứ món ăn Nga, món ăn Ukraina nào - đều rất tuyệt, bất cứ khẩu vị nào cũng được đáp ứng. Trong điều kiện rừng rậm và khí hậu nhiệt đới, đó là một yếu tố không kém phần quan trọng.  

Đặc biệt vui vẻ là cuộc gặp ban lãnh đạo trung đoàn TLPK 274 (trung đoàn tên lửa thứ 4). Trung đoàn trưởng là thiếu tá Nguyễn Yên. Những năm 1961 - 1964, ông cùng một nhóm các đồng chí Việt Nam học ở Học viện Quân sự Chỉ huy thuộc Quân chủng Phòng không, nơi tôi tốt nghiệp năm 1965. Các bạn Việt Nam chưa kịp tốt nghiệp - do cuộc xâm lược bắt đầu, họ được gọi về nước. Chúng tôi nhớ lại Học viện Chỉ huy PK (VKA), các giáo viên, thành phố Kalinin tuyệt đẹp. Được bổ nhiệm phó trung đoàn trưởng là cựu tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn của trung đoàn 236, mang danh hiệu "tiểu đoàn anh hùng", thiếu tá Tình, trong thống kê của riêng anh (trên cương vị chỉ huy xạ kích) đã có 38 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Bảng thành tích chiến đấu của trung đoàn TLPK 274 đã có gần 70 máy bay bị bắn rơi.

Lại những công việc thường ngày của quân ngũ trôi qua: dạy, huấn luyện,bão dưỡng theo các định kỳ khác nhau. Nhiệm vụ chính của chúng tôi: duy trì cho các tổ hợp TLPK luôn ở trong trạng thái SSCD, loại bỏ các hư hỏng phát sinh. Việc đi ra các trận địa hỏa lực phải tiến hành ban đêm hoặc sáng sớm. Hoàn cảnh chiến đấu đòi hỏi như vậy. Không phụ thuộc vào việc trên hệ thống nào phát sinh hư hỏng, toàn bộ nhóm chuyên gia đều ra trận địa. Tiểu đoàn TLPK - thành tố hỏa lực cơ bản của BC TLPK, còn tổ hợp TLPK - phương tiện tác chiến tập thể. Bởi vậy công tác chuẩn bị, thực hành chiến đấu, đạt được thành công chỉ có thể bằng nỗ lực tập thể, khi mà ta cảm thấy "cùi chỏ" của đồng đội.

Tôi muốn nói rằng thời kỳ trung đoàn đứng chân bảo vệ Hàm Rồng đã diễn ra khá bình yên. Không quân Mỹ không còn cố gắng kiểm tra độ vững chắc của hệ thống phòng thủ bảo vệ cầu. Hơn nữa ngoài trung đoàn TLPK, các đại đội pháo PK trong thành phần cụm bộ đội PK bảo vệ cầu là các đại đội pháo cao xạ 100 mm, tầm với cao nhất của nó có thể đạt đến gần 12 km. Khắc phục được lưới lửa nhiều tầng như vậy không phải nhiệm vụ dễ dàng. Mặc dù nói một cách cởi mở thì "tay chân ngứa ngáy" đã đưa con số thống kê máy bay bị bắn rơi lên đến con số 100 chiếc. Nhưng xét từ quan điểm chuyên nghiệp, nhiệm vụ chính yếu của Bộ đội PK quốc gia - không cho phép các đòn tấn công của địch giáng xuống các mục tiêu được bảo vệ. Tôi cho rằng nhiệm vụ đặt ra của các trung đoàn 236 và 274 đã được thực hiện thắng lợi.

Vào tháng 3 trung đoàn 274 nhận nhiệm vụ mới - hành quân 150 km tới chiếm lĩnh trận địa khu vực thành phố Vinh.

Đường số 7

Đại tá Voronov Boris Aleksandrovich trong hồi ký của mình "Nhật ký của Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam" ("Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973)", trang 302) đưa ra các sự kiện theo thời kỳ như sau:
- 1965-1966: xây dựng LL Phòng không mạnh và hùng hậu trong quá trình đánh trả các cuộc không kích của máy bay Mỹ;
- 1967-1968: sự căng thẳng lớn nhất của các lực lượng trong quá trình đánh trả các cuộc không kích ồ ạt đường không;
- 1969-1971: đấu tranh với không quân trinh sát Hoa Kỳ và đánh trả các cuộc không kích tại các tỉnh phía nam VNDCCH;
- 1972: đánh trả các đòn tấn công của máy bay xuống các mục tiêu của VNDCCH, trong đó có Hà Nội, Hải Phòng, có sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52.

Bị thảm bại, khi phải chịu những thiệt hại đặc biệt nặng nề trong năm 1967 (1067 máy bay bị hạ), bị những đòn tấn công chí mạng từ những người yêu nước MTDTGPMNVN, giới quân sự Hoa Kỳ dùng mọi lực lượng và biện pháp nhiều mặt có thể để ngăn chặn việc cung cấp mọi thứ cần thiết cho MTDTGPMNVN. Với mục đích đó máy bay Mỹ liên tục giám sát các tuyến đường, dẫn từ khu 4 qua các đèo dốc đường núi trên biên giới với Lào, và các con đường dẫn từ Lào sang MNVN. Máy bay trinh sát thường xuyên quần đảo dọc các tuyến đường, chỉ cần xuất hiện một đoàn xe hoặc thậm chí chỉ một chiếc xe ô tô đơn lẻ, ngay lập tức nhóm máy bay tấn công được gọi đến, tiến hành không kích. Để ngăn trở sự di chuyển của các đoàn xe trong đêm, các máy bay ném bom B-52 trước khi trời tối giáng những đòn tấn công nặng nề xuống những đoạn đường đèo trên các vùng núi ít dân cư. Mạch vận tải bị dừng trong vài giờ. Các chiến sĩ QDNDVN cùng nhân dân địa phương khắc phục hậu quả, lấp các hố bom, mạch vận tải được phục hồi trong sự tuân thủ nghiêm ngặt quy định ngụy trang ánh sáng.

Sau khi chiếm lĩnh trận địa nằm ở khoảng giữa thành phố Vinh và thị trấn Anh Sơn, dọc theo đường số 7, trung đoàn chuyển sang chiến thuật tác chiến "phục kích". Khác với các đường số 9, 12, 22 và các con đường khác, nằm phía nam VNDCCH, gần với vĩ tuyến 17, và trên đó dòng tiếp tế đi vào MNVN, đường số 7 trải từ thành phố Vinh lên tây-bắc đến "Cánh Đồng Chum" trên lãnh thổ Lào. Có lẽ, xét từ quan điểm tiếp vận hàng hóa cho MNVN, con đường đó không phải quá quan trọng. Tại sao trinh sát đường không lại tỏ ra rất quan tâm đến nó?

Trong thời gian 4 tháng tôi thường xuyên gặp các đoàn chiến sĩ đi về phía nam, giống đoàn người leo núi Alp. Họ quàng súng tự động qua cổ, lưng đeo những chiếc ba-lô to, treo trên đó là những đôi giày vải TQ sản xuất, các bao gạo, các đồ để nấu ăn, trên thắt lưng đeo bao đạn, lựu đạn, dao găm. Tóm lại mỗi người mang cả một kho vũ khí-lương thực-đồ dùng. Chi tiết đặc trưng duy nhất trong trang bị của các chiến sĩ - đó là thứ đội trên đầu: khi là mũ cối truyền thống, khi là mũ vải tai bèo, khi là mũ lưỡi trai. Theo dấu hiệu ấy, phiên dịch viên Toan giải thích cho tôi, có thể xác định các chiến sĩ được phái đi đâu làm nhiệm vụ trợ giúp quốc tế vô sản: Lào, Cambodge hay Nam Việt Nam. Máy bay Mỹ đóng căn cứ tại các sân bay các nước Đông Dương, trong các nước đó phong trào GPDT đang phát triển rộng khắp. Lẽ tất nhiên điều đó mâu thuấn với học thuyết của người Mỹ về "các khu vực lợi ích sống còn". Xét ở khía cạnh đó, theo suy nghĩ của tôi, đường số 7 gây nên mối quan tâm nhất định từ cả 2 phía.

Hai tháng trôi qua trong sự làm việc căng thẳng. Các chuyên gia của chúng tôi cùng các kỹ thuật viên các tiểu đoàn điều chỉnh các tham số chiến đấu về tiêu chuẩn danh định, quân nhân các tiểu đoàn hoàn thiện công tác ngụy trang. Các tiểu đoàn trưởng xác định các thẻ xạ kích, các đường tiếp cận bí mật tới các trận địa phóng. Con đường đi dọc thung lũng Nghệ An, đóng khung từ phía bắc và từ phía nam bởi các dãy núi.Nếu không gian về phía Lào hay Vinh lộ rõ, không bị cản trở và có thể xạ kích hoàn toàn bình thường, thì từ phía bắc hay phía nam máy bay có thể bay cực thấp, lợi dụng các khe núi, các nếp gấp địa hình, tiếp cận bí mật, giáng đòn tấn công bất ngờ từ sau các dãy núi xuống trận địa các tiểu đoàn tên lửa.

Một lần - điều đó xảy ra cuối tháng 5 năm 1971, - tổ trưởng phiên dịch Toan tới chỗ tôi báo cáo: "tiểu đoàn 89 phóng hai đạn vào một máy bay Mỹ, cả hai đạn đều rơi". Phải nói rằng đối với chúng tôi đây là 1 trường hợp nghiêm trọng. Hoặc các chuyên gia làm việc sơ suất, hoặc đạn có khuyết tật. Còn một vấn đề khác nữa - đây là đòn giáng mạnh vào uy tín của đất nước và các chuyên gia quân sự Soviet chúng ta. Tập hợp nhóm, trong tâm trạng ảm đạm chúng tôi xuống tiểu đoàn. Thật ngạc nhiên biết dường nào, tại trận địa tiểu đoàn trưởng mỉm cười đón chúng tôi, còn trung đoàn trưởng thì mặt mày rầu rĩ. Thiếu tá Nguyễn Yên cho chúng tôi biết khí tài và đội ngũ quân nhân chẳng có lỗi gì hết. Lỗi là ở kíp chiến đấu tại SCH trung đoàn. Thực chất sự việc như sau. Tiểu đoàn phát hiện một máy bay động cơ hạng nhẹ bay từ phía nam lên trong thung lũng giữa các rặng núi. Nhận lệnh tiêu diệt, tiểu đoàn trưởng phóng lên 2 đạn. Đúng lúc ấy từ SCH sư đoàn có tin báo xuống SCH trung đoàn rằng trong khu vực này có máy bay ta. Sĩ quan phụ trách hướng SCH trung đoàn truyền đạt xuống tiểu đoàn: "Đó là máy bay ta". Tiểu đoàn trưởng ra quyết định lái đạn tránh máy bay. Sĩ quan điều khiển nâng gấp ăng-ten lên phía trên. Quả đạn đầu tiên vọt thẳng lên trên, quả đạn thứ hai không vào được xung cửa-chờ, trong chế độ không điều khiển, theo đường bay đạn đạo vụt qua dãy núi, rơi xuống rừng rậm nhiệt đới. Chiếc máy bay động cơ hạng nhẹ L-18 của Mỹ lần này đúng là gặp may. Uy tín của khí tài và các chuyên gia quân sự Soviet không bị ảnh hưởng. Khi chia tay đồng chí tiểu đoàn trưởng hứa sẽ khôi phục (danh dự) bằng chiếc máy bay địch bị hạ.

Sau một tuần phiên dịch viên Toan mừng rỡ chạy vào bungalo thông báo rằng, vài phút trước chính tiểu đoàn đó đã phóng đạn tiêu diệt một chiếc do thám KNL 147j. Người tiểu đoàn trưởng đã giữ lời. chúng tôi vội vàng xuống thực địa. Cần phải tìm hiểu, đánh giá hoạt động của đội ngũ quân nhân, lập bản đồ báo cáo - tài liệu tương đối bao quát gửi về cho Moskva, về Bộ Tổng tham mưu.

Đại để sự việc diễn ra như sau. Gần 10 giờ sáng các trạm quan sát mắt thường báo về, từ phía Lào dọc theo đường 7, một máy bay KNL bay trên độ cao thấp về phía thành phố Vinh. Trung đoàn nâng cấp báo động. Tiểu đoàn 89 nằm xa nhất về phía tây phát hiện ra chiếc KNL đầu tiên. Tuy nhiên thời gian bay gần đến nơi không cho phép bắn mục tiêu trong chế độ thông thường kể cả trên ranh giới gần của vùng tiêu diệt. Người chỉ huy quyết định - bật đài điều khiển tên lửa trong chế độ "cưỡng bức". Kỹ thuật viên hệ thống phát sử dụng tua-vit đóng rơ-le hiệu thế cao, phát sóng lên không trung, bắt mục tiêu trên máy bám sát tay quay-tự động (RS-AS), phóng một quả đạn - hạ mục tiêu tại biên gần của vùng tiêu diệt. Lúc chúng tôi đến các chiến sĩ của tiểu đoàn cùng người dân địa phương đã thu lượm các mảnh xác còn lại của chiếc máy bay do thám KNL: dù, vật kính máy ảnh, các đoạn thân máy bay.

Kết

Thời hạn chuyến công tác của tôi đã hết. Cuối tháng 7 khi mà sau lưng đã là 11 tháng lưu trú, cùng Viktor Davydov, chuyên gia tiểu đoàn kỹ thuật, phiên dịch viên Toan, chúng tôi có mặt ở trận địa tiểu đoàn kỹ thuật, nằm trên đường 15. Để chiếc xe ô tô và người lái xe ở lại bên rìa một ngôi làng nhỏ, gồm khoảng chục nóc nhà nát nằm trên các cây cọc 3m (nhà sàn), (để tránh rắn và thú hoang), chúng tôi quyết định đi bộ theo con đường nhỏ độc đạo. Chắp tay sau lưng, cúi đấu, vừa đi vừa suy nghĩ mông lung. Viktor và Toan đeo súng tự động, đi đằng sau khoảng 5 mét. Đi được vài mét, tôi ngạc nhiên không thấy các chú bé mà ở đâu cũng gặp chạy ra đón chúng tôi. Ngẩng đầu lên đảo mắt nhìn xung quanh, tôi thấy sau các bụi cây ven đường khoảng hai chục mái đầu trẻ con, những nắm tay nhỏ bé giơ lên và những tiếng hô: "Mi mai bai". Tôi chợt hiểu ra người ta tưởng tôi là tù binh phi công Mỹ. Sau này người ta kể cho tôi biết ở nơi này người dân không nhìn thấy người da trắng từ thời quân viễn chinh Pháp, nhưng họ biết - đất nước đang có chiến tranh với Mỹ...

Giơ tay cao quá đầu tôi hô: "No mi mai bai. Liên Xô", nghĩa là "Không phải phi công Mỹ. Tôi là người Liên Xô!" Thật bất ngờ! Đám đông chật kín bao quanh, lũ trẻ con tóm lấy tay tôi, cố gắng rứt lông trên tay. Theo tín điều của đạo Phật, chạm tay vào người đàn ông khỏe mạnh, lông lá (tôi cao 180 cm) sẽ làm ta cũng cao lớn như thế, còn đụng vào bạn bè sẽ mang lại cho ta hạnh phúc... Chúng tôi muốn nhân dân Việt Nam hạnh phúc và cố gắng giúp đỡ họ, đóng góp sức lực của mình vào sự nghiệp thắng lợi trước kẻ xâm lược.

PS: Sau 11 năm ngày 29 tháng 6 năm 1982 đại tá Kislisyn Yuri Viktorovich cố vấn tư lệnh PKKQ Angola đáp chuyến bay Aeroflot tới đất nước Phi châu xa xôi...

Nhưng đó lạ là một giai đoạn khác của cuộc sống, những ấn tượng khác.

Kiev, 2008.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Bảy, 2014, 11:26:28 PM
Trích "Việt Nam không thể nào quên"

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/Yurin.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/Yurin.jpg.html)

Thiếu tá Viktor Alekseevich Yurin

Sinh ngày 27 tháng 2 năm 1938 tại làng Lyubimovo huyện Dolmatovski tỉnh Kurgan.
Giáo dục quân sự: Trường kỹ thuật quân sự Yaroslavl quân chủng Phòng không năm 1960, khóa sĩ quan trung tâm binh chủng TLPK trong 5 tháng vào năm 1971.
Phục vụ trong lực lượng vũ trang Liên Xô: từ 9.9.1957 đến 19.4.1984.
Các chức vụ đã trải qua:
- học viên từ 09/09/57 đến 19/08/60.
- trung đội trưởng bệ phóng lữ đoàn TLPK 1293 Quân khu PK Cờ Đỏ Baku QC Phòng không 10.10.60 đến 11.02.67.
- đại đội trưởng bệ phóng lữ đoàn TLPK 1293 QKPK Cờ Đỏ Baku QCPK 02.11.67 đến 16.09.75.
- tham mưu trưởng tiểu đoàn kỹ thuật lữ đoàn TLPK 1293 QKPK Cờ Đỏ Baku QCPK 16.09.75 đến 19.04.84.
Nơi đóng quân: Cộng hòa XHCN Xô Viết Azerbaijan.
Tham gia chiến đấu ở Việt Nam: từ 27.05.72 đến 20.01.73.
Được trao tặng Huân chương Sao Đỏ và Huy chương Việt Nam "Hữu nghị".



MẢNH ĐẤT VIỆT NAM NÓNG BỎNG

Năm 60 xa xôi. Chúng tôi, các học viên tốt nghiệp Trường Kỹ thuật quân sự Yaroslav của Lực lượng Phòng không, ngày 01 tháng 5 diễu hành trên quảng trường trung tâm trong đội hình trang trọng. Ở Sverdlovsk lúc này tiểu đoàn TLPK của thiếu tá Voronov đang bắn hạ chiếc máy bay do thám "Lockheed» U-2. Chúng tôi rất tự hào vì tổ hợp tên lửa PK S-75 của chúng ta đã chặn đứng đường bay của tên gián điệp Mỹ Powers.

Sau 12 năm trên bầu trời VNDCCH bằng chính mắt mình tôi nhìn thấy trọn "bộ" Không quân Hoa Kỳ trong hành động: những chiếc cường kích đủ loại, những chiếc máy bay trinh sát, máy bay tiêm kích, máy bay trực thăng, máy bay ném bom chiến lược B-52. Nghiên cứu trực quan cách thức hành động của chúng, tôi nhận ra những nhóm ("Armada") máy bay này gồm có hàng chục máy bay được phân thê đội theo độ cao và tuyến. Vào cuối năm 1971 tôi trở về nơi phục vụ từ thành phố Kosterevo sau năm tháng huấn luyện nâng cao trình độ trên cương vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn TLPK. Sau lưng là một chục cuộc xạ kích trên các trường bắn Ashuluk và Kapustin Yar, nhận các tổ hợp vũ khí mới, thay đổi trận địa phóng, luôn luôn sẵn sàng phóng đạn trực chiến, xây dựng công trình chứa đạn tên lửa ở tuyến sẵn sàng chuyển tiếp, xây dựng các hầm trú ẩn cho KQTK, thu hoạch khoai tây cho các đơn vị trong quân khu, giúp đỡ nền kinh tế quốc dân Liên Xô trong thu hoạch mùa màng ("khẩn hoang"), nhận tân binh từ các vùng khác nhau của Liên bang để bổ sung quân số cho các đơn vị của quân khu.

01.01.1972, đang nghỉ phép, tôi nhận được lệnh có mặt tại ban tham mưu đơn vị để lập các giấy tờ chuẩn bị đi một chuyến công tác đặc biệt.

26.5.1972, một nhóm lớn chuyên gia quân sự Soviet BC PK cất cánh từ Moscow, sau khi hạ cánh tại Tashkent, Bombay, Calcutta, Rangune, Viêng Chăn, ngày 27.5.1972 đã hạ cánh tại Hà Nội. Tại khách sạn Kim liên chúng tôi ở hai ngày, sang ngày thứ ba, người ta cho chúng tôi một xe GAZ-69 để đi tiếp tới quân khu 4, tới phía nam thành phố Vinh.

Trong chiếc com-măng-ca của chúng tôi họ nhét đến sáu người. Không ổn. Tôi bị để lại cùng đống va-li của chúng tôi. Trong khi chờ đợi xe, tôi trải qua một đợt báo động PK ngay tại phòng khách sạn, bởi vì không biết hầm trú ẩn ở đâu, còn chạy dọc hành lang thì không biết lấy ai mà làm ví dụ. Ngày hôm sau tôi được gọi lên gặp Đại tá Pavel Ivanovich Suslov phó trưởng đoàn phụ trách công tác chính trị Đoàn Chuyên gia Quân sự Soviet tại VNDCCH. Ông theo kiểu cha con thân mật, mà không trịch thượng, giải thích tình hình thực tế trong khu vực, cho những lời khuyên về cách tồn tại ở đây, ông bổ nhiệm tôi làm "chính ủy" của nhóm, đồng thời ông viết một lá thư giới thiệu với trưởng nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 QĐNDVN Trung tá Philippov Viktor Ivanovich. Để tăng cường mối quan hệ với người dân địa phương, ông chất cho tôi một lô cặp sách, vở viết, bút chì, mọi loại huy hiệu có thể có, các tạp chí bằng tiếng Việt (quà tặng từ các học sinh trung học của chúng ta tặng các trẻ em Việt Nam). Sau một cuộc tiếp đón nồng nhiệt như vậy ta cảm thấy tâm hồn mình ấm áp hẳn lên.

04/06/72, tôi xuất phát trên một chiếc gazik đi đến nơi đóng quân của trung đoàn TLPk 263 QDNDVN. Sau vĩ tuyến 19 chúng tôi phải đi vào ban đêm, trong rừng rậm. Dưới tiếng gầm rú của máy bay chúng tôi dừng lại; phía trước trên một quỹ đạo cao - có vệt tên lửa hoặc đạn pháo từ phía biển (không nghe thấy tiếng) với giãn cách thời gian khoảng sáu giây. Tôi định hút thuốc, nhưng người phiên dịch cho tôi biết - "không được, kinh nghiệm thời chiến đấy!".

Chiếc xe con soi đường bằng một ngọn đèn nhỏ để trong hộp gắn dưới động cơ (đèn gầm). Đồng chí lái xe Tuyên nhìn thấy những gì - tôi không hiểu. Qua hố sâu người ta đặt hai súc gỗ tròn, di chuyển xe qua rất nguy hiểm, chúng tôi xuống xe, tài xế lái xe đi trên những cây gỗ ấy; tôi cố gắng can thiệp để chiếc xe nhắm đúng trục các cây gỗ tròn, một giọng nói tự tin lại vang lên: "Không cần, kinh nghiệm thời chiến mà". Tất cả mọi thứ trót lọt và ngày 06/06/72, tôi đã có mặt tại nhóm chuyên gia.

Nhóm - đó là trung tá Viktor Ivanovich Filippov, trưởng nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 QDNDVN, người Cossack, cao khoảng 190 cm, cá tính xởi lởi, 34 tuổi, anh đến đây trên cương vị trung đoàn phó một trung đoàn TLPK ở Arkhangelsk. Hiện nay - anh là trung tướng. Thiếu tá Gorokhov Nikolai Mikhailovich - chủ nhiệm ban kỹ thuật tên lửa trung đoàn TLPK Krasnovodsky (từng qua phục vụ tại tất cả các hệ thống), đã tốt nghiệp hàm thụ Học viện, người vùng Volga, cá tính rất mạnh, cực kỳ bình tĩnh, cá nhân anh có thể thâm nhập vào bất kỳ hệ thống nào của tổ hợp TLPK, tìm kiếm sai sót, loại bỏ nó, điều chỉnh về trạng thái chuẩn. Tuổi 34. Filippov thừa nhận khi trò chuyện: "Tôi muốn có một kỹ sư như vậy tại ban kỹ thuật TL trung đoàn mình".

Đại úy Andrei Nikolaievich Chuprin - trưởng ngành 1, sĩ quan dẫn đường lữ đoàn TLPK 128 QKPK Baku, kinh nghiệm về hệ thống của mình không giấu giếm, là người tham công tiếc việc, về bản chất anh không có khả năng phàn nàn về những khó khăn và mất mát của nghề nghiệp. Hòa hợp với bất kỳ tập thể nào, mạnh mẽ như một khối đá, người gốc Kuban. Sau Việt Nam - chỉ huy một tiểu đoàn TLPK, trung tá. Tuổi khoảng 30.

(http://nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Yurin1-2.jpg)
Tại Hà Nội năm 2010. Thiếu tá Yurin hàng thứ 2 bên phải.

Đại úy Ivan Ilyich Sheklein - trưởng ngành II, phục vụ tại CHXHCN Xô Viết Lithuania. Anh là một trong những người được gọi "nhà sáng chế tí hon" từ thời thơ ấu. Một bậc thầy siêng năng, là một trong những người qua điện thoại có thể nói với trắc thủ cần phải làm gì trong cabin máy trên bất kỳ hệ thống nào, để căn chỉnh nó trong dung sai cho phép; anh cũng là một nhiếp ảnh gia, thợ chiếu phim, một tay lái lụa. Tính cách "Bắc Âu"; đừng lo lắng về anh - rất vững vàng không bao giờ bỏ chạy. Có niềm tin vô cùng mạnh mẽ. Tuổi khoảng 30.
Những chuyên gia khác trong nhóm do đã lâu (đã hơn 35 năm) tôi chỉ có thể gọi tên của họ: Thượng Alexander "nhớn" - kỹ thuật viên trưởng cabin "P", trung úy Alexander "bé" - kỹ thuật viên trưởng cabin "A", đại úy Kharin Peter - trưởng đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Thượng úy Gennady - chuyên gia tiểu đoàn kỹ thuật, đại úy Victor - bác sĩ của chúng tôi ("bakhtchi" trong tiếng Việt).

Tập thể tuyệt đối hòa hợp, tôi nhấn mạnh đến điều này bởi vì chúng tôi ở cách xa ban lãnh đạo trung ương Đoàn chuyên gia quân sự Soviet tại Việt Nam, không có ai kiểm soát chúng tôi, không "trợ giúp" mà chúng tôi sống hoàn toàn độc lập. Mỗi tháng một lần đại úy Kharin về Hà Nội, nộp báo cáo về những công việc chúng tôi đã thực hiện, mang về thư từ, thuốc lá, tin tức, vì chiếc đài WEF-202 của chúng tôi không nói bằng tiếng Nga, ngoại trừ 30 phút phát thanh của đài "Atlantic" theo yêu cầu của các ngư dân từ Vladivostok.

Chúng tôi sống trong bungalo, trong đó:
"Tường - là phên tre,
Cửa - là lỗ hổng
Nền đã không mà trần cũng "nhét",
Thay vào đó, cửa sổ là liếp tre ... "

Bungalow - nằm dọc giữa các bóng cây trên một con đập, từ một phía là con kênh rộng khoảng 10 m, nước chảy nhanh và đỏ ngầu, từ phía kia - cánh đồng lúa (theo ý kiến của chúng tôi - đó là đầm lầy). Từ phía "đầm lầy" người ta chôn hai thùng hàng số 2 (thùng chứa cánh lái và cánh ổn định  của đạn tên lửa). Đó là hầm trú ẩn của chúng tôi - 5 người một container, dưới đáy ngập đến mắt cá chân - là nước, nếu ngồi trên mũ sắt, có thể ngồi sát vào nhau trong tình huynh đệ chờ đợi vụ ném bom.

Trong bungalo có thể bố trí cho năm người sống, đồ nội thất - giường gấp và một chiếc bàn đầu giường, chiếu sáng - một chiếc đèn lồng Trung Quốc có chao phản xạ. Ngược lại 180 °, dưới chùm tia laser như thế người ta đọc lại bức thư, người ta nghiên cứu tối nay ăn gì trong nhà ăn - bungalo số ba của chúng tôi, nó là góc đỏ và bệnh xá của chúng tôi. Điều trị chủ yếu là bằng bột phấn rôm trẻ em trộn với streptotsid chứa trong một bình nhựa có "rây" ở nút đậy, và người Trung Quốc "dầu xoa con hổ chữa bách bệnh cùng một lúc" của Trung quốc.

Trên mặt đất dưới chiếc giường gấp - là những chú nhái, gần chục con, chúng im lặng khi con rắn đang bò, và kêu đánh bép một tiếng to khi con rắn bắt đầu nuốt chú nhái. Cái đáng sợ nhất trong bungalo - là lũ kiến, chúng thậm chí trèo cả vào bình đậu phộng treo trên một sợi vào một thanh xà mái, vào một chiếc lọ chứa những mẩu thuốc lá (trong ngày mưa) dúi dưới vỏ cây. Thân cây như thể tồn tại biệt lập với lớp vỏ, và tán cây cứ sống, cứ xanh.

Nhà tắm kiểu Việt - đó là một chiếc lồng chụp chế từ thùng hàng số 1 (thùng chứa tầng 2 đạn tên lửa), khoét sâu xuống mặt đất, nó phải được chứa đầy nước từ cánh đồng lúa để nước lắng xuống, người ta đổ nước vào nồi, đun nóng, và khi những người xuống tiểu đoàn TLPK trở về, họ sẽ lau lưng, họ nói cho tôi biết vậy, ở những chỗ có dấu hiệu phát ban, họ rắc hỗn hợp bột phấn rôm lên những chỗ đó, tránh đụng chạm vì lớp da người ở đó đã bị bong.

Đồ ăn: gạo lẫn sạn, nếu may không nhai phải, bạn có thể giữ được răng; thịt gà già dai nhách, đôi khi có thịt lợn; bánh mì thì rất hiếm: tháng 10 năm 1972 bắt đầu có những chiếc bánh mì nhỏ (ở giữa có gì đó ẩm ẩm), dưới đèn pin soi thì thấy - những con muỗi nhỏ, những mẩu cánh gián, trong súp cũng như vậy.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Filippov1.jpg)
Giữa các trận đánh. Trung tá Filippov cùng các bạn Việt Nam trung đoàn TLPK 263, mùa hè 1972.

Trung tá Filippov bày tỏ sự than phiền của các quân nhân chúng tôi với đội phục vụ. Anh lệnh cho tôi và bác sĩ trước khi ăn trưa phải vớt hết muỗi khỏi xoong nồi trong nhà bếp. Thay vì bánh mì người ta bắt đầu cung cấp cho "lương khô" Trung Quốc - đó là một gói bánh kích thước bằng gói thuốc lá "Kazbek" màu xám xanh, ta chỉ việc dốc nó vào miệng là xong; định kỳ có chuối, đôi khi dứa lát, trà xanh.

Khi nghỉ ngơi, chúng tôi giúp các nhân viên "Văn phòng" phục vụ của chúng tôi bắt tôm dưới đáy kênh, để làm việc này chúng tôi không cần phải lặn ngụp, bạn dùng chân quặp và nhấc lên cho chúng vào giỏ của họ. Theo cách đó tôi "bắt" được cả những con đỉa giữa các ngón chân, suốt hai ngày mà không thể hiểu sao nó "nhiễu" thế, khi biết rồi, tôi giật nó vứt đi, bạn có thể hoài nghi - tất cả những chuyện đó có thật hay không (nó rất nhớt - bạn không nắm được).

Tiền ăn chúng tôi trả hàng tháng 210 đồng, người ta cho biết đồng chí Lê Duẩn lương tháng cũng chỉ 120 đồng.

Công tác văn hoá và giáo dục - tin tức lấy từ đại úy Kharin sau mỗi lần anh trở về từ Hà Nội, hàng tháng.

Vào cuối tháng 10 năm 1972 tôi được giao phó nhiệm vụ đi Hà Nội, thăm dò ý kiến về hoạt động của nhóm chúng tôi tại BCH Đoàn chuyên gia quân sự Soviet ở VNDCCH. Tôi gặp được đại tá Suslov, thái độ của ông với nhóm chúng tôi rất tốt, tại cuộc họp tiếp theo với đại diện của tất cả các nhóm chuyên gia quân sự Soviet trong sân Đại sứ quán, ông mời tôi lên ngồi trên Đoàn Chủ tịch. Lắng nghe các bài phát biểu, tôi hiểu rằng cuộc chiến đấu đến cuối năm nay có thể đạt đến kết quả mong muốn.

Một vài ngày sau tôi được gọi tới chỗ viên đại diện Việt Nam về Quan hệ Văn hóa giữa VNDCCH và Liên Xô, mối quan hệ của chúng tôi với người dân địa phương làm ông ta quan tâm. Chúng tôi đều hài lòng về nhau. Chuyện về điện ảnh. Chúng tôi có một bộ phim "Đám cưới ở Malinovka", đã xoay tua nhiều lần. Màn ảnh bị rách, không thu được vào ống chứa, để thế mà vận chuyển khi đi lại khá bất tiện. Tôi tháo ra, may lại bằng dây cước câu cá, cắt đoạn cần cắt, dùng cưa vải xẻ một đoạn ống, thu lại, xoáy lò xo căng. Máy chiếu bắt đầu chạy, màn ảnh thu gọn, theo quy mô bungalo và thùng xe ô tô.
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Bảy, 2014, 12:10:34 AM
Công tác đảng-công tác chính trị về cơ bản không hoạt động. Giữ được tâm trạng trong nhóm là tình đoàn kết tập thể. Cây hài chủ chốt - thiếu tá Gorokhov, những khẩu hiệu chính của anh là "vẫn chưa đến tối!", "chúng ta phá nào!", "Oh, hôm nay tôi phải rắc chân!" Đối tượng của các câu chuyện cười thường là Kharin: bản thân anh cũng là cây tiếu lâm, anh thích chọc phá, luôn ở trung tâm những trò khiến mọi người cười vỡ bụng.

Phần chính thức của công tác đảng-công tác chính trị quy về việc thiết kế "góc đỏ": một chiếc bàn nhỏ, nơi có thể viết thư, trên các bức vách - Bộ Chính trị Liên Xô, Bộ Tư lệnh tối cao Lực lượng vũ trang Liên Xô, một chồng tài liệu cổ động. Cùng rất tiện dụng là mớ dây cước câu cá, một lưỡi cưa sắt mà tôi chọn mang đi từ Liên bang.

Sinh nhật được ghi nhớ bằng món quà album ảnh có dòng đề tặng và một chai vodka (một chai cho 5 người). Trung tá Filippov đã hợp pháp hóa điều này, cũng như quần áo mặc khi đến nhà ăn chỉ cần dưới dạng - áo sơ mi và quần short.

Trên bầu trời máy bay Mỹ hoàn toàn thống trị. Với vẻ cố chấp, máy bay cường kích hàng ngày ném bom khoảng đất nhỏ bên kia con kênh cách chúng tôi < 300 mét. Chiếc đầu tiên ném trái bom "khêu ngòi", những chiếc còn lại (chúng tôi ở trung tâm vòng lượn) bổ nhào và rải một, hai, rồi ba trái bom nặng 250 kg, khi thoát ly bổ nhào tiếng động cơ rú lên, tiếp tục như vậy khi mà mỗi chiếc chưa ném xong 12 quả bom. Đất dưới chân chúng tôi thở "hồng hộc".

26/07/72, kịch bản thay đổi: hai "Phantom" từ dưới rìa mây của chúng tôi, chếch về phía phải hơn thường lệ, từ độ cao 500 m lượn xuống, trong tư thế bổ nhào thoải lướt qua điểm mà từ đó có thể thổi bay ngôi nhà 1 tầng của chúng tôi và trút một loạt bom đạn xuống cánh đồng lúa cách con đê của chúng tôi chừng 100 mét. Nhóm chuyên gia chúng tôi đang trên đường. Trung tá Filippov cùng chúng tôi thậm chí không kịp nhào xuống ẩn nấp ở một chỗ nào đó. Ngoài đồng mọi người đang làm việc ...

Trên một mảnh bom vỡ ra, dài cỡ trên 40 cm, văng đến chỗ chúng tôi, tôi dán một mẩu giấy và viết mấy chữ tạo thành một vòng cầu đỏ: "Được rồi, Nixon, mi hãy đợi đấy!" Cả nhóm ký tên trên mảnh bom, và sau này, khi chúng tôi được gọi về Hà Nội từ một nơi đóng quân khác, mảnh bom này tôi nhét vào va-li của đại úy Kharin, nhưng anh cảm thấy đó là một vật nặng thừa nên quẳng nó đi.

Từ 29 đến 30/07/72, nhóm di chuyển đến gần hơn SCH trung đoàn TLPK 263. Bungalow - nằm ở rìa thôn, qua đường là tới cánh đồng lúa, phía đông năm mươi mét có một hồ nước.

6.8.72, ban đêm 1 máy bay bay tới quần đảo trên đầu ở độ cao thấp, chẳng mấy chốc chiếc thứ hai xuất hiện, một lúc sau đèn chiếu sáng bật lên, nghe có tiếng phành phạch của cánh quạt vọng lại, 1 máy bay trực thăng bật đèn bay từ từ trên đầu từ phía tây sang phía đông, nó bay treo trên mặt hồ rồi biến về hướng biển. Nó đã nhặt được một kẻ nào đó. Còn tôi cùng Sheklein và Chuprin ban ngày thường tắm ở đó, chúng tôi bơi dọc thảm thực vật ven bờ biển.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Yurin2.jpg)
V.A.Yurin trên vịnh Hạ Long năm 2010

Làm việc trên trận địa phóng

Các cuộc xạ kích tiến hành thường vào ban đêm. Các tiểu đoàn TLPK hoàn toàn không yểm trợ được lẫn nhau. Ngày 05/10/72, tất cả đã sẵn sàng phóng đạn, Filippov đẩy vai tôi: "Chúng ta đi quan sát tình hình chung trên không ở đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu" - trong cabin "U" không có màn VIKO. Chúng tôi ra ngoài trong bóng tối, phía trước là phiên dịch viên và người dẫn đường Tâm, Viktor Ivanovich, rồi đến tôi phía sau. Thật khó mà nhận ra bóng của họ. Bỗng bên trái cơn bão lửa đột ngột bùng lên, những khối thuốc phóng cháy sáng, tiếng gầm rền vang - đó là 600 kg thuốc phóng của động cơ tên lửa có lực đẩy 50 tấn khi phóng giật phăng quả đạn ra khỏi cánh cung bệ phóng. Đây không phải vụ nổ của trái bom 250 kg, mà là khối thuốc phóng của động cơ phóng bị đốt cháy trong 2,5 giây; đầu óc ta quay cuồng như một chiếc lá hoàn diệp liễu trong cơn cuồng phong đang "rừng rực cháy" ấy.

05/11/72, trận địa phóng, buổi tối, "xạ kích trung đoàn", chúng tôi quan sát, cùng phiên dịch viên, quá trình hai quả đạn từ hai tiểu đoàn tên lửa PK khác nhau bay đến mục tiêu, tôi máy móc đếm giây, nếu  đầu đạn phát nổ trong vòng 50 giây sau khi phóng lên, mục tiêu sẽ bị hạ. Đúng như vậy! Chúng tôi mừng rỡ, có lẽ đây sẽ là chiếc máy bay thứ 4.000 của Mỹ bị bắn rơi, đặc biệt là qua một ngày nữa sẽ đến ngày kỷ niệm 65 năm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Vĩ đại. Chẳng mấy chốc Chuprin và Sheklein xuất hiện, họ đã xuống tiểu đoàn TLPK theo lệnh của Viktor Ivanovich để từ buổi sáng đưa tổ hợp về trạng thái tốt.

06/11/72, chúng tôi làm việc từ buổi sáng. Tôi loay hoay với đường cáp đồng bộ, rối mù trong khu vực bộ chia điện của bệ phóng. Ban chỉ huy tiểu đoàn TLPK lo lắng vì chỉ một mối hàn mà tiêu tan nguồn lực công tác của trạm DES-75 (máy phát diesel), bản thân trọng lượng của nó có giá trị đo bằng vàng - không có trạm thay thế. Tới 14:00 giờ kết thúc công việc, chúng tôi ra ô-tô, trên đầu chúng tôi ở độ cao thấp bốn chiếc cường kích lao vụt qua. Kế hoạch của chúng thực rõ ràng. Chúng tôi quay về tiểu đoàn TLPK, chiếm vị trí trong một túp lều làm bằng tre đắp đất với một sự chính xác đáng ngạc nhiên. Cảm giác bị lăng nhục, tiếng nổ ầm ầm, tiếng đổ vỡ răng rắc, mặt đất rung lắc chừng 30 phút. Kết quả: tiểu đoàn TLPK bị đánh trúng, trạm DES-75 cháy trụi, các công trình trên sân nơi có túp nhà, bị lật nhào, đổ vỡ tan tành, trong góc sân một hố bom phá, hố thứ hai cách bệ phóng tên lửa sáu mét về phía tấm phản xạ dòng khí phản lực, quả đạn vẫn nguyên tại chỗ, chiếc xe gaz của chúng tôi bị chém lỗ chỗ như một chiếc sàng, người lái xe không thấy đâu... ("Anh ấy giơ nắm tay lên phía những chiếc cường kích đang bổ nhào", - phiên dịch viên cho biết). Ngôi làng Việt Nam, nơi mà tiểu đoàn TLPK ngụy trang ở trong đó, tất cả chìm trong khói. Sau khi ra khỏi ngôi làng chúng tôi bình tĩnh trở lại. Phía trước là cuộc hành quân-tái triển khai dài 30 km, đôi bát-kết của Chuprin không có lót và giày quá chật, tôi đổi cho anh đôi 'Schrak" (đôi dép lê phụ nữ Việt Nam) của tôi. Tới lúc hoàng hôn sập xuống tôi không thể đi nổi nữa. Bàn chân sưng tấy, rộp phồng bọng nước, những tấm gạc bông từ gói bông băng cá nhân cũng không giúp gì được. Chúng tôi qua đêm trong một ngôi làng nào đó, và buổi sáng người ta đưa cho tôi một chiếc xe đạp còn mới, tại mỗi làng người ta lại đổi xe. Phiên dịch viên Tâm ngạc nhiên: "Viktor, anh ngồi xe và đạp như người Việt Nam vậy". Ngày 07/11/72 tới 14:00 giờ chúng tôi đã "ở nhà". Trung tá Filippov sau khi nhìn thấy chúng tôi còn sống và khỏe mạnh, anh thở phào nhẹ nhõm, trước đó anh không có thông tin rõ ràng từ BCH trung đoàn TLPK 263 QDNDVN về nơi chúng tôi đang ở và điều gì đã xảy ra với chúng tôi.

Trong nhà ăn hai chiếc bàn ăn đã được bày biện, trên mỗi bàn có một chai "Moscow" 0.5 tem xanh lá cây, mà tôi mang từ Hà Nội vào. Cuộc đấu tranh của chúng tôi vì chiếc máy bay Mỹ thứ 4.000 bị bắn rơi kết thúc như vậy đấy. Nó là một chiếc F-111 bị bắn hạ tại các tỉnh phía bắc của VNDCCH và được tính vào thành tích của một phân đội nữ chiến sĩ phòng không. "Chúng tôi đang tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, tất cả các đơn vị đều phải có thành tích bắn rơi máy bay..." - đồng chí Tâm cắt nghĩa với chúng tôi thế đó.

"Qua sông, qua sông, bờ trái rồi bờ phải..." (*)

Chiếc cầu phao làm từ các hòm đựng tên lửa số 1 và các bó tre (bó hỗn độn). Cầu chỉ được bắc qua sông vào ban đêm. Đường trước khi vào cầu chật cứng phương tiện giao thông, bạn sẽ không thể vượt qua được, nếu đi trước bạn là hai chiếc ZIL ("lưỡng cư" theo tiếng Việt), các thùng sắt hàn ở hai bên hông xe, trên mỗi thùng bám đầy đất, còn trên núi người ta đã nháy đèn pin. Không kích. Bên trái đầm lầy, bên phải cũng đầm lầy. Chỉ có đứng im trong đoàn xe - ngay trên cầu phao.

Pháo sáng treo lơ lửng thành những chuỗi hình quả trám. Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ, những chớp đạn PK đan thành vệt chói lòa, nếu chẳng may rơi vào giữa đoàn xe, và còn đang ở trên sông, ý nghĩ duy nhất - bám chắc lấy bờ bên kia và vùng thoát ra khỏi cảnh ùn tắc. Sau đó chỉ muốn ngồi phệt xuống một chỗ nào đó và trấn tĩnh lại, nhưng ở phía sau đoàn xe cũng đang dồn tới với cùng một mong muốn hệt như vậy. Lại "kinh nghiệm thời chiến": để không bị ùn tắc giao thông một lần nữa, bạn phải tiến về phía trước.

Tại các điểm dừng ngắn tạm thời, các cô gái Việt nam đi tới, họ lấp hố đất bom hoặc gánh trên những chiếc đòn gánh tre những bó lúa nước, họ mỉm cười, bóp phía trên khuỷu tay chúng tôi, họ tò mỏ hỏi chúng tôi bao nhiêu tuổi, gia đình bao nhiêu người, đôi khi xin thuốc hút, họ không rời tay bạn khi nào chiếc com-măng-ca chưa di chuyển. Những người đàn ông chở gạo đóng trong bao trên xe đạp thồ, họ lái xe bằng một cây gậy ngang gắn bên trái ghi-đông xe và một chiếc gậy đứng gắn ở chỗ yên xe, tay phải họ ghì và giữ cho chiếc xe đạp ở nguyên trong tư thế thẳng đứng. Thái độ của mọi tầng lớp nhân dân đối với chúng tôi rất thân thiện. Tất cả cứ lặp đi lặp lại: "Liên Xô, Liên Xô" (người Xô Viết).

Ngày 15/11/72 thật bất ngờ đối với chúng tôi và BCH trung đoàn TLPK 263 QDNDVN, chúng tôi nhận được lệnh về Hà Nội. Trên hai chiếc xe con GAZ-69 và xe tải GAZ-63 ngày 17/11/72 chúng tôi về đến khách sạn Kim Liên. Nhóm giải tán. Tôi xuống Hải Phòng, trưởng nhóm là trung tá Krivokhizha. Điều kiện sống, đồ ăn đều rất tốt. Trong sân có một tháp nước, hầm trú ẩn hiện tại - được bê tông hóa, rộng rãi, trên đầu đắp dày năm mét đất đá, tuy nhiên, không thể tách biệt khỏi những tiếng nổ như sấm rền và tiếng hú của những chiếc máy bay tám động cơ B-52. Tiếng hú của B-52 tràn ngập không gian từ mọi hướng, thậm chí truyền qua cả mặt đất, nhưng chúng cũng không phải thần thánh. Theo tin tức của truyền thông chúng tôi, một số cơ trưởng B-52 thà ra tòa án binh, còn hơn phải đi vào không phận nước VNDCCH... Bảng thành tích của trung đoàn TLPK 263 QDNDVN trong thời gian chúng tôi ở đó ghi nhận hơn hai mươi máy bay Mỹ bị bắn rơi (trong đó có bốn B-52).

Thượng tướng A.I.Khiupenen đã viết trong hồi ký của mình: "Có thể nêu lên để biểu dương một nhóm chuyên gia mà trưởng nhóm là trung tá Filippov V.I., trong nhóm này tất cả các chuyên gia đều được trao tặng các phần thưởng của chính phủ Liên Xô và chính phủ nước VNDCCH".

Trích xuất từ nhận xét cán bộ: "Đại úy Yurin V.A. đã hoàn thành rất xứng đáng nhiệm vụ mà Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô giao phó cũng như nghĩa vụ quốc tế của mình.
Trưởng nhóm chuyên gia QS Soviet tại trung đoàn TLPK 263 QDNDVN trung tá V.I.Filippov.
Trưởng nhóm chuyên gia QS PK Soviet tại VNDCCH đại tá K.S.Babenko.
Trưởng đoàn chuyên gia QS Soviet tại VNDCCH Thiếu tướng A.I.Khiupenen".

Chúng tôi không làm nô lệ cho các quý ông,
Mà chỉ biết phục vụ Quốc gia trong những năm xa thẳm,
Chúng tôi không leo lên chễm chệ ở hàng đầu,
Làm mọi thứ cần làm, như những gã đàn ông.

Khi những ai kia chạy rơi dép, tụt quần
Thì hiểm nguy với chúng tôi đã thành cơm bữa,
Chúng tôi yêu những bà vợ tào khang ở quê hương xứ sở,
Và sợ vợ hơn rất nhiều những "Shrike" với "Phantom".

Nghĩa vụ đã làm xong, năm tháng mù sương,
Chúng tôi trở về với gia đình, chiến hữu, người thương,
Nhưng mãi mãi không bao giờ quên Bạn,
Nước Việt Nam trong chiến đấu kiên cường!


Tái bút: "Chúng ta phải thừa nhận rằng quân đội Mỹ không thể kiểm soát châu Á, bằng chứng là sự xấu hổ và nhục nhã mà chúng ta phải trải qua tại Việt Nam".
Nhà bình luận người Mỹ W. Lipman.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Yurin3.jpg)
Trên vịnh Hạ Long năm 2010

Để đến được với sự thừa nhận này, đòi hỏi phải có 4181 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong thời gian từ 05.08.64 đến 31.12.72. Các phi công của chúng đều là các chuyên gia có tay nghề hàng đầu. Trên những chiếc cường kích chất đầy bom dưới giá treo của mình, họ cho thấy sự hiệp đồng thống nhất điêu luyện ở các độ cao rất thấp, thể hiện sự tính toán thời gian tương tác chính xác đến mức chỉ có thể xảy ra trong thế giới những chiếc đĩa bay huyền thoại.

31/12/1972, sau khi phải chịu những tổn thất nặng nề (trong 12 ngày cuối cùng của tháng 12/1972 họ bị bắn rơi 81 máy bay, trong đó gồm 34 chiếc B-52 và 3 chiếc F-111), Mỹ đã từ chối tiếp tục chiến sự, và ngày 27.01.73 một thỏa thuận được ký kết tại Paris "Về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam".

Nhân dân Việt Nam đã đứng vững, không quỳ gối trước sức mạnh ghê gớm của "con quái vật" xuyên đại dương.
"... Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của họ. Bằng lao động quân sự của mình, họ đã tạo ra cơ hội mở đường cho việc thiết lập các quan hệ ngoại giao tốt đẹp với nước VNDCCH. Bây giờ đến lúc các quan hệ kinh tế cần phải làm việc... "
I.S Shcherbakov, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Xô viết tại nước VNDCCH. Tháng 2 năm 1973.

20/01/73, kết thúc chuyến công tác của mình, chúng tôi lên máy bay, và sau 28 giờ đã có mặt ở Moscow ... Ký ức về tất cả những người đã cùng trải qua binh nghiệp với tôi tại Việt Nam sẽ vẫn còn mãi mãi.

Ekaterinburg, 2008.

(*): Chú thích:
Переправа, переправа!
Берег левый, берег правый,
(http://www.kostyor.ru/poetry/tvardovsky/?n=17)
Снег шершавый, кромка льда...

V.A.Yurin lấy đề từ là hai câu trong khổ thơ đầu 3 câu bài "Qua sông" (Переправа) (http://www.peoples.ru/art/literature/poetry/contemporary/tvardovsky/poetry_vasilijj_terkin_pereprava.shtml) của Vasily Chiorkin, nhân vật hư cấu tiêu biểu về anh lính Nga Soviet thời Thế chiến II trong trường ca "Vasily Chiorkin" của nhà văn và nhà thơ Soviet, trung tá Aleksandr Tvardovsky (1910-1971), nguyên TBT tạp chí "Thế giới mới".


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/ru/a/a0/Terkin_Veriiskiy2.jpg)
.......


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Bảy, 2014, 04:00:28 PM
(nhat-nam.ru)

Người ta đánh giá cao chúng tôi ở phẩm chất chuyên nghiệp

(http://nhat-nam.ru/vietnamwar/pic/Philippov.jpg)

Trung tướng Filippov Viktor Ivanovich

Viktor Ivanovich Filippov sinh ngày 03 tháng 3 năm 1935 tại Kabardino-Balkaria, làng Staryi Cherek.
Năm 1957, ông tốt nghiệp trường sĩ quan pháo phòng không ở thành phố Aluksna.
Trong những năm 1960-1965 phục vụ tại tập đoàn quân phòng không độc lập số 10 trên cương vị kỹ thuật viên hệ thống tọa độ, chỉ huy đại đội.
Năm 1970 sau khi tốt nghiệp Học viện quân sự chỉ huy Phòng không mang tên G.K.Zhukov, ông thi hành nhiệm vụ quốc tế tại Việt Nam, rồi chỉ huy trung đoàn, sư đoàn PK.
Năm 1982 sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Bộ Tổng Tham mưu, ông là phó tư lệnh thứ nhất tập đoàn quân PK độc lập số 4, tư lệnh bộ đội PK Quân khu Odessa, Phó hiệu trưởng Học viện Kỹ thuật VTĐT Pháo binh Kharkov, phó tư lệnh thứ nhất Quận khu Phòng không Moskva, cố vấn tư lệnh Phòng không và Không quân Quân đội Quốc gia Nhân dân nước Cộng hòa Dân chủ Đức.
Được trao tặng các huân huy chương của Liên Xô và nước ngoài, trong đó có huân chương Cờ Đỏ và huân chương Việt Nam "Chiến công" hạng I (? III). Hiện nay V.I.Filippov - Chủ tịch câu lạc bộ những người được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ và huân chương Lao Động Cờ Đỏ - "Krasnoznamenets".
Năm 2011 trung tướng Filippov V.I. lãnh đạo Hiệp hội Thống nhất số 19 các CCB hoạt động chiến đấu, các chiến sĩ quốc tế, mới thành lập, thuộc Ủy ban CCB chiến tranh Moskva.


Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Chỉ huy Phòng không ở Kalinin (Tver), tôi được điều động đến làm phó trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa phòng không 413 thuộc tập đoàn quân phòng không độc lập số 14 tại thành phố Chita. Phục vụ ở vị trí này trong hai năm, người ta đề nghị tôi, một thiếu tá trẻ còn đầy nhiệt huyết, đi thực hiện vụ nhiệm vụ quốc tế tại Việt Nam.

Chuyến công tác vào thời kỳ đó đối với tôi là rất thú vị. Đầu tiên, tôi chưa bao giờ đến Nam bán cầu, đến Đông Nam Á, và bây giờ tôi có cơ hội để tới đó. Thứ hai, chuyến công tác mở ra quy mô mới cho sự nghiệp, trong đó tôi có thể thu được kinh nghiệm chiến đấu mà quân nhân cần như cần bánh mì. Thêm vào đó, người Mỹ, kẻ đang tiến hành không kích trên khắp đất nước Việt Nam, chính là kẻ thù tiềm năng của chúng tôi, và để giành chiến thắng trước kẻ thù, cần phải biết nhìn thẳng vào mặt chúng. Việt Nam chính là nơi phục vụ, nơi tôi có thể nhìn thẳng mặt kẻ thù tiềm năng. Và thứ ba, ở Việt Nam điều đáng quan tâm là chúng tôi có thể tận mắt tìm hiểu khả năng của các khí tài quân sự của chúng ta, do Liên Xô cung cấp cho Việt Nam (tôi đang nói đến hệ thống tên lửa phòng không S-75) một cách trực tiếp trong các hoạt động chiến đấu. Việt Nam tạo ra cơ hội làm quen với kinh nghiệm chiến đấu tiêu diệt các phương tiện tấn công đường không: F-4 "Phantom", B-52, F-104, các loại máy bay không người lái. Do đó, chuyến công tác cho phép nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu cùng với việc truyền đạt tiếp kinh nghiệm đó cho bộ đội, đối với tôi, cũng như với các chuyên gia Liên Xô khác có giá trị vô cùng lớn lao.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Filippov4.jpg)
Nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 263 QĐNDVN. Trưởng nhóm trung tá Filippov V.I. Quân khu 4 VNDCCH, năm 1972.

Chúng tôi đến Việt Nam ngày 17 tháng 3 năm 1972 bằng máy bay IL-18, sau khi trải qua hành trình: Moscow - Tashkent - Delhi-Kalkutta - Yangon - Viêng Chăn - Hà Nội. Tiếp chúng tôi là tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam Đại tá Lê Văn Tri. Ông thông báo tình hình, bày tỏ lòng biết ơn đối với cam kết của chúng ta cung cấp viện trợ quân sự cho nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông chúc chúng tôi thành công. Tôi được giao phó nhiệm vụ lãnh đạo một nhóm 10 chuyên gia Liên Xô tại trung đoàn tên lửa PK 263. Và rất nhanh chóng chúng tôi đã lên xe đi trên con đường nối liền hai miền Bắc và Nam Việt Nam, để tới trung đoàn này, mà 4 tiểu đoàn của nó triển khai ở quân khu 4, trong khu vực gần thành phố Vinh, cách Hà Nội khoảng 350 km.

Hoàn cảnh cho phép chúng tôi đến đó trong một ngày. Một cuộc làm quen với ban lãnh đạo trung đoàn. Tôi lắng nghe các chuyên gia nhóm của mình, và - nhìn tận mắt nghe tận tai trên các trận địa chiến đấu. Tới thời gian này, các bạn Việt Nam của chúng tôi đã làm chủ được các khí tài chiến đấu mà Liên Xô cung cấp. Với tư cách các chuyên gia kíp chiến đấu, họ được chuẩn bị không kém gì chúng tôi, nhưng họ được chuẩn bị yếu hơn về mặt kỹ thuật, họ thường gặp phải khó khăn trong việc thiết lập (tham số) các hệ thống, chuẩn bị chúng cho hoạt động chiến đấu, loại bỏ các lỗi phát sinh và phục hồi các tổ hợp TLPK bị máy bay Mỹ tấn công phá hỏng.

Chúng tôi đã đến nơi, và một tháng sau khu vực này bắt đầu phải chịu các cuộc ném bom mãnh liệt. Cơ sở của nó là ở chỗ thành phố Vinh nằm trên đoạn hẹp nhất giữa biển và Lào, có con đường Quốc lộ số Một đi qua, viện trợ quân sự cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được chuyển đi trên con đường đó. Trung đoàn 263 được giao nhiệm vụ bảo vệ không phận khu vực này. Các tổ hợp TLPK triển khai trong rừng và được ngụy trang rất tốt, cách năm mét bạn sẽ không phát hiện ra bệ phóng.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto2/Filippov2.jpg)
Việt Nam, 35 năm sau, trước tòa nhà Trường Không quân Nha Trang, năm 2007.

Tuy nhiên, trong lúc trận đánh diễn ra, người Mỹ đã tiến hành trinh sát radar, giao hội được vị trí phóng đạn tên lửa, và do đó các tiểu đoàn liên tục phải cơ động. Sau mỗi lần bắn, trong thời gian quy định tiểu đoàn phải nhanh chóng thu hồi khí tài rồi chuyển đến một trận địa mới.

Chiến thuật này cho phép giữ gìn cả con người và khí tài. Cùng với các tổ hợp TLPK chúng tôi cũng lang bạt khắp nơi.

Người Việt Nam lắng nghe chúng tôi, nhóm gồm các chuyên gia có tay nghề cao, người ta đánh giá cao phẩm chất chuyên nghiệp của chúng tôi. Đặc biệt nổi bật là kiến thức cao trong công việc của cấp phó của tôi Nikolai Gorokhov, Ivan Shiklein, Viktor Yurin. Họ đánh giá cao chúng tôi vì lòng can đảm. Người Việt Nam có hướng dẫn rõ ràng - khi không quân Mỹ ném bom trận địa SAM, tất cả các chuyên gia quân sự Soviet phải ở trong hầm trú ẩn. Tuy nhiên, trên thực tế chúng tôi gần như không bao giờ sử dụng được khả năng như vậy.

Nếu tôi gặp phải cuộc không kích khi đang ở sở chỉ huy trung đoàn, tôi sẽ cùng với người chỉ huy trung đoàn ở tại SCH trong suốt thời gian đánh trả cuộc không kích của địch, nếu đang ở tiểu đoàn tên lửa phòng không, tôi sẽ ở cùng với tiểu đoàn. Tất cả các sĩ quan của chúng tôi đều hành động như vậy. Còn gì khác được nữa? Chỉ trong trận chiến ta mới có thể thu được kinh nghiệm chiến đấu, chỉ khi đánh trả cuộc không kích, bạn mới có thể xác minh tính đúng đắn trong hành động của các chuyên gia Việt Nam, nói cho họ biết trong tương lai cần hành động thế nào. Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt chúng tôi mới vào hầm trú ẩn. Tiện thể cần nói rằng, tất cả các sĩ quan trong nhóm của tôi đều còn sống trở về nhà. Tiếc thay, bộ đội Việt Nam trung đoàn 263 có thiệt hại về quân số. Trong thời kỳ có các cuộc oanh tạc dữ dội, hai tiểu đoàn đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Chúng tôi phải đối mặt với nhiệm vụ khôi phục khí tài trong thời hạn ngắn nhất. Các tổ hợp SAM được đưa vào rừng, và chúng tôi đã có mặt ở đó liên tục một tháng rưỡi thì đưa được chúng về tình trạng bình thường. Tình báo Mỹ biết điều đó, và ba máy bay ném bom đã oanh tạc xuống trận địa, nhưng cuộc không kích không trúng đích, đó là nhờ công tác ngụy trang được tiến hành rất kỹ lưỡng.

Các tiểu đoàn được trở về đội ngũ, sau đó đã tích cực tiến hành các hoạt động chiến đấu. Người Việt Nam biết ơn chúng tôi vì điều này, bởi vì không hoạt động trong những năm đánh trả sự xâm lược bị coi là một tội ác.

Tôi tự hào rằng trung đoàn tên lửa PK 263 Việt Nam trong suốt thời gian tôi ở đó, từ tháng Ba đến tháng 11 năm 1972, đã đánh 120 trận, tiêu diệt 34 máy bay chiến đấu của đối phương, trong đó có chín chiếc B-52.

(http://www.nhat-nam.ru/forum/download/file.php?id=688&t=1&sid=4b3236585ce50a786383cadd59550c5b)
Hà Nội ngày 23 tháng 8 năm 2011. Chủ tịch Trương Tấn Sang tiếp đoàn CCB quân đội Liên Xô từng tham gia chiến tranh Việt Nam từ Nga, Belarus và Ukraina. (http://www.mkvv.ru/forum/viewtopic.php?p=2148#p2148)

Tôi đã trải qua cuộc không kích dữ dội nhất của KQ Mỹ gần Hà Nội, khi tháng 11 năm 1972 chúng tôi rời Quân khu 4 đi hỗ trợ một trung đoàn khác. Tiếp đến là đòn oanh tạc bằng những trái bom 100 kg lúc chúng tôi đang ở căn cứ kỹ thuật - tại văn phòng phục vụ. Người Mỹ thời đó đang làm mưa làm gió, cố gắng ép người Việt Nam ký thỏa thuận ngừng bắn (mà tất cả đều dẫn đến đó, Hoa Kỳ đã thua cuộc chiến này) với các điều khoản có lợi cho họ. Tất cả các gian nhà đã bị phá hủy, nhưng may mắn thay, chúng tôi không có thương vong. Trong tháng Mười Hai, chúng tôi tham gia đánh trả các cuộc không kích ồ ạt trên quy mô lớn của máy bay Mỹ. Thiệt hại của kẻ xâm lược là đáng kể, điều đó bắt nó phải nhanh chóng đi tới việc sớm ký kết hiệp định hoà bình.

Tháng Giêng năm 1973, chúng tôi rời Việt Nam, nơi chúng tôi đã để lại một phần trái tim mình. Thái độ của nhân dân Việt Nam, ban lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam đối với chúng tôi, các chuyên gia quân sự Liên Xô, là vô cùng tốt đẹp.

Tạp chí "Người Yêu Nước" №2, 2009.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Bảy, 2014, 10:58:07 PM
(nhat-nam.ru)

NGÀY THƯỜNG CHIẾN ĐẤU TẠI VIỆT NAM

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-1.jpg)

Igor Alekseevich Ershov

Sau khi tốt nghiệp năm 1965 Trường kỹ thuật-quân sự Engels, tôi đến phục vụ ở Trung Á theo nguyện vọng ... Tôi tới một tiểu đoàn nằm giữa các thành phố Marư và Tedjen, tại đó tôi được giao nhiệm vụ sĩ quan điều khiển tên lửa. Mùa hè năm 1966. tôi được triệu tập đến ban tham mưu lữ đoàn tên lửa phòng không, ở đây trung đoàn trưởng trung tá Boldenkov yêu cầu tôi đi công tác nước ngoài một chuyến. Trả lời câu hỏi của tôi là - đi đâu? Ông nói - đến một nước khí hậu nóng. Đầu tháng Bảy, tất cả những người đồng ý được tập trung gần thành phố Dushanbe, trên cơ sở một tiểu đoàn tên lửa, đã tổ chức một trung tâm đào tạo. Từ quân số có mặt ở trung tâm đào tạo người ta tổ chức ra hai tiểu đoàn tên lửa phòng không mà các chỉ huy được bổ nhiệm là thiếu tá Yakubov Revkat Garaevich, thiếu tá Gnidin Vladimir Alexandrovich, chức vụ chỉ huy trung đoàn được giao cho trung tá Yaroslavtsev. Đến giữa tháng chín bắt đầu các giờ học và hiệp đồng các kíp chiến đấu. Tất cả chúng tôi tới lúc này đã đoán ra - mình sắp đi công tác Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 22 tháng 9 năm 1966 đã cử đi nhóm đầu tiên các sĩ quan, chiến sĩ, những người phải bắt đầu đào tạo các kíp chiến đấu Việt Nam, còn các sĩ quan và binh sĩ khác được trả về các tiểu đoàn và lữ đoàn của họ. Giữa tháng 1 năm 1967 chúng tôi một lần nữa được triệu tập đến Dushanbe, từ đó chúng tôi đi trên hai chiếc "IL-18" đến VNDCCH.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-2-big.jpg)
Các sĩ quan tiểu đoàn 43. Từ trái sang phải - thượng úy Finsky V.F. (cabin А), thượng úy Sаdchikov V.N. (cabin P), thượng úy Ershov I.А. (sĩ quan điều khiển)

Hạ cánh tại sân bay Nội Bài VNDCCH trong đêm, chúng tôi được các chuyên gia quân sự của chúng ta và các đồng chí Việt Nam đón. Công tác đào tạo các kíp chiến đấu Việt Nam bắt đầu gần như ngay lập tức sau khi chúng tôi đến. Tôi rất ngạc nhiên trước sự kiên trì mà người Việt Nam thể hiện, họ không có một tẹo cơ sở lý thuyết nào vắt vai, nhưng đã làm chủ được một khí tài điện tử tinh vi. Điều khó khăn nhất đối với họ là tìm ra và xử lý sự cố. Nhưng dần dần mức độ kiến thức của họ tăng lên. Giữa tháng tư khí tài đến nơi. Mất khoảng hai tuần để xử lý hỏng hóc và vận hành trơn tru khí tài. Đầu tháng 5 tiểu đoàn xuất kích ra trận địa, và sau ngày 09 tháng 5, chúng tôi bước vào trực chiến. Máy bay Mỹ tiến hành bay do thám gần sân bay Nội Bài và Hà Nội nhiều ngày. Trong thời gian đó, các kíp chiến đấu gồm các trắc thủ của chúng tôi và người Việt Nam luyện tập bám sát các mục tiêu thực. Ngày 13 tháng 5 khoảng 8:00 tiểu đoàn được lệnh báo động. Tôi và kíp chiến đấu của tôi chiếm lĩnh vị trí của mình trong cabin "U". Khoảng một giờ sau có một số nhóm mục tiêu đi vào vùng phóng. Kết quả việc phóng hai đạn là đã bắn rơi một cường kích hạm A-2 của Mỹ, những chiếc còn lại bay về phía Hải Phòng.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-9.jpg)
Đại úy I.A.Ershov (sau Việt Nam)

Niềm vui của người Việt Nam và các chuyên gia của chúng tôi là rất lớn. Các cuộc không kích ngày hôm sau lại tiếp tục. Tôi và các trắc thủ của tôi, binh nhất Danilov, binh nhì Akhmadeev, trung sĩ Kozub nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Đứng và ngồi phía sau chúng tôi là các chuyên gia Việt Nam. Nhưng dường như thành công hôm qua của chúng tôi các phi công Mỹ không thích, và họ bay vòng tránh tiểu đoàn chúng tôi. Tiểu đoàn chuyển cấp 2, một vài giờ sau, khoảng 15:00 tiểu đoàn một lần nữa được lện vào cấp 1. Ở vị trí chỉ huy xạ kích là đại úy Ruvimov V.S. chỉ huy đại đội kỹ thuật vô tuyến điện tử. Sau khi phát sóng qua ăng-ten lên không đã phát hiện hai mục tiêu loại RF-4. Sau khi hai đạn phóng lên thì các máy bay đó bổ nhào gấp và thoát li theo các hướng khác nhau. Một đạn tên lửa trượt qua phát nổ trên núi, quả đạn thứ hai tự hủy. Phân tích cuộc xạ kích không thành công rút ra kết luận - tên lửa của chúng ta không kịp phản ứng trước một thao tác cơ động gấp như vậy. Ngày hôm sau, vào buổi sáng một lần nữa một cuộc không kích lại bắt đầu. Kết quả phóng hai đạn là đã bắn rơi hai máy bay cường kích hạm A-2 (?A-4).

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-3-big.jpg)
Bảng thống kê hàng ngày số máy bay Mỹ bị bắn rơi. Trái sang phải - Еrshov I.А., đài trưởng đài trinh sát chỉ thị mục tiêu thượng úy Sаvchenko V.I., kỹ thuật viên cabin P thượng úy Sadchikov V.N.

Chứng kiến trận đánh thành công của chúng tôi là đại úy Lepikhov, những chiếc máy bay này rơi ngay trước mắt anh. Sau các lần phóng trên, tiểu đoàn chỉ còn hai quả đạn tên lửa và người ta không đưa chúng tôi vào cấp 1 nữa, các quả đạn còn lại được gửi đến trung đoàn tên lửa PK số 1, các tiểu đoàn của nó đóng gần sát thủ đô Hà Nội của VNDCCH. Sự gián đoạn trong công tác cung cấp đạn tên lửa diễn ra cả ở các trung đoàn tên lửa phòng không khác nữa. Sự chậm trễ trong việc giao hàng khí tài và đạn tên lửa qua Trung Quốc bằng đường sắt xảy ra do Cách mạng Văn hóa, và những rối loạn liên quan đến nó. Một tuần sau trận đánh thành công cuối cùng, toàn bộ quân nhân tiểu đoàn (cả Liên Xô và Việt Nam) được xếp thành đội ngũ và nghe chỉ huy trung đoàn, đại tá Yaroslavtsev đọc mệnh lệnh "Về việc chuyển giao khí tài cho tiểu đoàn Việt Nam". Từ bây giờ trở đi, chúng tôi phải đứng đằng sau các chuyên gia Việt Nam. Khoảng hai tuần những chiếc máy bay Mỹ không bay vào vùng tiêu diệt của chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục thao luyện cho các kíp chiến đấu Việt Nam và chuẩn bị cho họ vào trận chiến. Cuối cùng thì cũng bắt đầu nhận được đạn tên lửa - tiểu đoàn đã hoàn toàn SSCD và bước vào trực chiến. Giữa tháng Bảy, tất cả binh lính và sĩ quan đã đến Việt Nam vào giữa tháng 9 năm 1966 đã trở về tổ quốc. Số sĩ quan còn lại lập thành một nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK. Chúng tôi tham gia xử lý các hỏng hóc và làm công tác bảo trì thường xuyên tại tất cả các tiểu đoàn của trung đoàn. Chúng tôi làm việc chủ yếu vào ban đêm. Đôi khi một đội chiếu bóng lưu động đến chỗ chúng tôi chiếu các bộ phim Liên Xô.

Người Việt Nam trong cả làng (và thậm chí cả từ các làng lận cận) tối tối lại đến chỗ chúng tôi để xem phim. Họ đặc biệt thích bộ phim hài của đạo diễn Gaidai "Nữ tù Kavkaz", mà họ xem liên tục trong hai tuần hằng đêm. Vào cuối tháng Bảy, toàn bộ tháng Tám và tháng Chín, máy bay Mỹ tập trung ném bom các ga xe lửa, đường ô tô và đập chứa nước. Trong tháng mười các cuộc không kích vào Hà Nội bắt đầu tăng đột ngột. Cây cầu đường sắt và đường bộ do kỹ sư Eiffel xây dựng (?) qua sông Hồng, đã bị đánh sập nhịp. Do các biện pháp gây nhiễu tích cực mà hiệu quả chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa PK giảm mạnh. Một số tiểu đoàn TLPK bắn đến hơn 20 quả đạn mà không hề bắn rơi được chiếc máy bay nào. Vào giữa tháng Mười, một trong những tiểu đoàn của chúng tôi bị rút khỏi nhiệm vụ trực chiến và gửi về căn cứ để điều chỉnh khí tài. Trên nóc xe "P" người ta lắp một cabin, bố trí trong đó hai trắc thủ góc tà và góc phương vị. Việc lái đạn tên lửa tiến hành trực quan mà không phát điện áp "cao" lên ăng-ten. Ứng dụng đầu tiên của cải tiến này thật đáng kinh ngạc. Kết quả các trận đánh trong hai ngày của tiểu đoàn này là có ba máy bay Mỹ bị bắn rơi, tiêu thụ cho các mục tiêu đó chỉ mất sáu quả đạn. Nhưng xạ kích ở chế độ này chỉ có thể được khi tầm nhìn rõ và chỉ vào ban ngày.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-4-big.jpg)
Nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô xuống một tiểu đoàn của trung đoàn TLPK 263 làm công tác bảo trì thường xuyên.Nhóm do đại tá Shikulya А.N. (ngoài cùng bên phải) chỉ huy.
.........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Bảy, 2014, 08:01:23 PM
(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-5-big.jpg)
Gửi những người bị thương lên trực thăng về quân y viện ở Hà Nội, I.A.Ershov băng chân, thiếu tá Zhentov V.A. đứng giữa (băng tay trái), đại úy Simonov. Ngày 27 tháng 10 năm 1967.

Ngày 24 tháng 10 năm 1967, vào cuối buổi chiều, nhóm của chúng tôi được gọi xuống một tiểu đoàn để xử lý sự cố. Khi đến nơi, chúng tôi tìm hiểu vấn đề kết quả phóng 4 đạn tên lửa đều bị rơi xuống đất và phát nổ. Nhưng điều tồi tệ nhất là tiểu đoàn TLPK được chuyển sang chính trận địa mà trước đó ít lâu một tiểu đoàn TLPK khác đã bị mất sức chiến đấu do trúng đạn tự dẫn theo chùm tia radar "Shrike" vào cabin "P". Cả đêm chúng tôi làm việc để sửa chữa, loại trừ các hư hại phát lộ ra rất nhiều. Sau khi loại trừ các sự cố, chúng tôi thực hiện công việc bảo trì thường xuyên, và đến 8:00 giờ sáng chúng tôi báo cáo khí tài đã chuẩn bị sẵn sàng cho tiểu đoàn TLPK chiến đấu. Đúng lúc đó cuộc không kích của máy bay Mỹ bắt đầu. Hai chiếc F-4 bay rất thấp qua trận địa đã phát hiện ra tiểu đoàn và vòng lại ném bom. Bom bi và rốc két nổ làm mất sức chiến đấu của tiểu đoàn TLPK. Một phát rốc két bắn trúng cabin "P". Một quả bom bi nổ trên nóc cabin "U" làm bị thương và giết chết nhiều người. Kỹ sư trưởng của nhóm chúng tôi, thiếu tá Zheltov V.A. và tôi bị thương. Sau cơn ác mộng này, chúng tôi thực hiện mọi nỗ lực sơ tán thiết bị. Sau khi sơ tán xong khí tài khỏi trận địa 10 phút, nhiều máy bay Mỹ một lần nữa lại ném bom trận địa chúng tôi vừa bỏ lại. Pháo phòng không (hai đại đội - pháo 37 mm và hai trung đội súng máy PK ZPU-4) đã nổ súng dựng lên một cơn bão lửa, kết quả họ đã bắn rơi hai máy bay Mỹ. Sau khi đến trận địa mới, tôi và thiếu tá Zheltov được sơ tán bằng máy bay trực thăng về một bệnh viện quân sự tại Hà Nội. Trong vòng vài ngày các nhà lãnh đạo của chúng tôi (trung tướng V.N Abramov và tư lệnh PKKQ Việt Nam) đã đến thăm chúng tôi, tới thăm còn có cả sĩ quan dẫn đường của tôi, người mà tôi đào tạo - đồng chí Dậu và tiểu đoàn trưởng Lập.

Sáng ngày 06 tháng 11 năm 1967 tôi cùng thiếu tá Zhentov xuất viện và chúng tôi về Kim Liên, nơi sinh sống chủ yếu của các chuyên gia Liên Xô chúng ta. Buổi tối cùng ngày, chúng tôi được mời đến dự buổi tiếp khách trọng thể do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tổ chức. Ngày 07 tháng 11, buổi sáng được giành cho lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Vĩ đại. Vài ngày sau chúng tôi có mặt ở trung đoàn của mình. Đến thời gian này người Mỹ sau khi bị mất khá nhiều máy bay trong giai đoạn cuối tháng Mười và đầu tháng Mười Một, đã dừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Các phi vụ tiếp tục chỉ là các chuyến bay của máy bay trinh sát và máy bay không người lái BQM. Vào một ngày cuối tháng 11, từ buổi sáng đã diễn ra một cuộc không kích của máy bay Mỹ xuống thành phố Hà Nội. Vài chục chiếc máy bay bay thành hàng dọc diễu qua trên bầu trời thành phố Hà Nội, mà không ném một trái bom nào.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-7-big.jpg)
Bức ảnh chia tay của kíp chiến đấu Việt Nam cabin U và nhóm chuyên gia quân sự Soviet tiểu đoàn 43, trung đoàn TLPK 263 QDNDVN. Tiểu đoàn trưởng thiếu tá Yakubov R.G., sĩ quan điều khiển thượng úy Ershov I.А., chỉ huy đại đội bệ phóng thượng úy Yosif Bartashevsky. Tháng 12 năm 1967.

Từ tất cả các hướng, các quả đạn tên lửa được phóng lên đoàn máy bay này nhưng đều bay trượt qua máy bay và tự hủy. Hình ảnh này, tôi quan sát được từ trận địa tiểu đoàn lửa trong máy ngắm chỉ huy TZK. Khi phân tích màn "bay trình diễn" này, chúng tôi kết luận: chuyến bay của đoàn máy bay này diễn ra trót lọt do chúng sử dụng nhiễu tích cực trên quy mô lớn. Máy phát nhiễu trang bị trên mỗi máy bay đã ngăn cản các tiểu đoàn TLPK phóng đạn thành công. Trên màn hình của các sĩ quan điều khiển qua một số nhiễu để xác định được nhiễu đó thuộc mục tiêu nào mà ra là không thể. Chỉ sau đúng vài ngày một trong các tiểu đoàn TLPK của trung đoàn của chúng tôi đã phóng đạn. Tất cả bốn quả đạn tên lửa đều rơi xuống đất và phát nổ. Kết quả là chúng tôi buộc phải loại bỏ một trong các tiểu đoàn TLPK ra khỏi tuyến trực chiến và tiến hành thử nghiệm với nó trong một vài giờ. Kết quả cuộc không kích tiếp theo là chúng tôi phát hiện ra nhiễu trên kênh tên lửa và đã ra một loạt khuyến nghị cho các đồng chí Việt Nam ở trung đoàn chúng tôi. Công việc tương tự cũng xảy ra ở các trung đoàn lân cận.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-6-big.jpg)
Bức ảnh lưu niệm với bác sĩ và phiên dịch viên của chúng tôi.

Tất cả những sự kiện trên diễn ra liên quan đến cuộc chiến tranh bảy ngày trên bán đảo Sinai giữa Ai Cập và Israel, trong đó một tổ hợp S-75 đã bị quân đội Israel đánh chiếm và bàn giao cho các chuyên gia Mỹ. Chúng tôi lập tức bắt tay vào bổ sung cho các tiểu đoàn TLPK cabin dẫn đường trực quan. Các đợt xạ kích đầu tiên đã cho ngay kết quả tích cực. Giữa tháng Mười Hai, máy bay Mỹ tăng mạnh cường độ ném bom. Một lần nữa cây cầu bắc qua sông Hồng bị đánh sập nhịp và đường băng sân bay Nội Bài bị phá hoại.

Ngày 25 tháng 12, sau khi đi phà qua sông Hồng, nhóm chúng tôi gồm sáu người đã bay về tổ quốc từ sân bay Gia Lâm.

Thời gian cứ thế trôi qua, năm 1975 tôi nghe tin Việt Nam thống nhất và nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thành lập mà vô cùng vui mừng. Thành phố Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Ershov-8-big.jpg)
Gặp gỡ sau 42 năm. Từ trái sang phải - trung tướng Kanaev V.М., đại tá Gnidin V.N., trung tá Ershov I.А., thượng tá Dậu (sĩ quan điều khiển tôi đào tạo) và thượng tá Lưu (trắc thủ bám sát tay quay về phương vị). Hà Nội, tại Bảo tàng PKKQ Việt Nam. Tháng 5 năm 2009.

Tháng 5 năm 2009, tôi được mời đến Việt Nam trong thành phần phái đoàn Nga của chúng ta gồm các thành viên Tổ chức Xã hội liên vùng các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam. Qua 42 năm, tôi lại đặt chân lên mảnh đất của quốc gia chịu nhiều đau khổ này. Đã có rất, rất nhiều thay đổi, nhưng điều quan trọng nhất vẫn không thay đổi - thái độ của người Việt Nam đối với chúng tôi. Tôi đã gặp lại người sĩ quan điều khiển của tôi Dậu và trắc thủ góc phương vị Lưu. Dậu tự hào thông báo rằng tiểu đoàn của chúng tôi hồi cuối năm 1972, trong thời gian Mỹ oanh tạc Hà Nội, đã bắn rơi bảy B-52. Còn năm 1975, tiểu đoàn đã tự mình hành quân đến tận thành phố Sài Gòn và tiểu đoàn đã được trao tặng danh hiệu anh hùng. Tại thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra cuộc gặp gỡ với một trắc thủ Việt Nam cabin "P". Ông ấy được chuyên gia Liên Xô của chúng tôi Sadchikov V.N. đào tạo.

Tôi vô cùng cám ơn Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và tất cả các đồng chí Việt Nam đã làm mọi thứ cho chuyến đi tuyệt vời này và tổ chức cuộc gặp gỡ với các bạn chiến đấu.

Thành phố Zheleznodorozhnyi, tháng 9 năm 2012.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Bảy, 2014, 02:01:27 AM
(nhat-nam.ru)

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev.jpg)

Bataev Stanislav Grigorievich

Bataev Stanislav Grigorievich, trung tá.
Sinh 16 tháng 5 năm 1945 tại tỉnh Astrakhan.
Năm 1965 tốt nghiệp trường kỹ thuật quân sự Bắc-Kavkaz tại thành phố Ordzhonikidze (ngày nay là Vladikavkaz).
Phục vụ tại 1 tiểu đoàn TLPK của trung đoàn TLPK Riga quân đoàn PK 27.
Trong các năm 1968-1969 tham gia hoạt động chiến đấu ở Việt Nam trên cương vị chuyên gia quân sự Soviet về hệ thống tọa độ tại một trung đoàn TLPK.
Sau khi trở về từ Việt Nam phục vụ ở vị trí cao hơn trong đơn vị mà từ đó lên đường tới Việt Nam.
Năm 1971, nhập học Học viện quân sự QC Phòng không mang tên Zhukov, tốt nghiệp với bằng xuất sắc vào năm 1975 và được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng trung đoàn TLPK cận vệ 377. Sau đó, ông phục vụ trên các cương vị tham mưu và chỉ huy khác nhau của Quân khu Belorussia.
Phục vụ quân đội hơn 30 năm.
Kết thúc đời quân ngũ trên cương vị trực ban tác chiến PK QK Belorussia. Đã được trao 12 huy chương của Liên Xô và Belarus, huy chương Hữu nghị của Việt Nam.
Sống tại Minsk. Làm việc tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Belarus về Văn hóa Thể chất. Thành viên Hội Cựu chiến binh chiến đấu trên lãnh thổ các quốc gia khác của thành phố Minsk.
Tháng Chín năm 2008, dẫn đầu một phái đoàn cựu chuyên gia quân sự Soviet của Belarus tới Việt Nam.



Những mảnh hồi ức


Hồi ức đầy đủ đã được công bố tháng 9 năm 2005 trên báo quân đội Belarus "Vinh quang cho Tổ quốc" dưới tiêu đề "Việc đó diễn ra như thế nào".

Sau khi dừng chân tại "Khu B", một vài giờ sau chúng tôi đã đến nơi đóng quân nhóm chuyên gia của mình. Vậy là, bắt đầu từ tháng 6 năm 1968 ngày thường tại Việt Nam của nhóm chúng tôi đã bắt đầu. Tại thời điểm này, quân nhân chúng ta không còn ngồi ngay phía sau cần điều khiển của hệ thống tên lửa PK như hai hoặc ba năm trước đây nữa. Bây giờ chúng tôi được giao phó nhiệm vụ hoàn toàn khác và hẹp hơn. Chuyên gia quân sự Liên Xô được phái đến một trung đoàn tên lửa PK này hay một trung đoàn tên lửa PK khác và biên chế thành nhóm. Trong nhóm này, thường bao gồm:
- trưởng nhóm, cho đến năm 1968 nhất định trong nhóm phải có phó trưởng nhóm phụ trách công tác chính trị;
- tham mưu trưởng, sau năm 1968, nhiệm vụ của tham mưu trưởng của một trong những sĩ quan nhanh nhẹn tháo vát của nhóm;
- kỹ sư trưởng;
- các chuyên gia cơ bản của các hệ thống thuộc tổ hợp tên lửa PK;
- một bác sĩ.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev8-big.jpg)
Tình bạn chiến đấu

Toàn bộ nhóm vào khoảng 10-15 người. Nhóm của chúng tôi trong thời gian này chỉ vừa được thành lập, vì những người tiền nhiệm của chúng tôi đã về Tổ quốc, và đến đây toàn các chuyên gia quân sự mới và mới. Vì vậy lần này đến có tôi, Nikolai Kanivets từ Ukraina, Alexey Rybakov từ Leningrad và bác sĩ hình như từ Ural.
Thành lập một nhóm và là trưởng nhóm - V.G.Zhuravlev, dại tá, chỉ huy một trung đoàn ở Ulyanovsk.
Kỹ sư trưởng - G.N.Dzevulsky từ Tallinn đến.

Chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không Việt Nam, mà chúng tôi hỗ trợ, thiếu tá Quyền Hận, một người gốc miền Nam Việt Nam. Ông từng có 3 năm học tập tại Liên Xô ở Học viện Thông tin Quân sự mang tên Budennyi, ông thông thạo tiếng Nga.

Chính ủy trung đoàn - Vũ Chiến - có nhiều quyền hơn (trên cả trung đoàn trưởng), chưa đến Liên Xô và không biết tiếng Nga.

Phó chỉ huy trung đoàn là Trần Đức Huế - một sĩ quan hiểu biết, có bảy năm học tập tại Liên Xô ở Học viện Budennyu. Tiếng Nga nắm rất vững, nhưng không bao giờ thể hiện điều đó khi giao dịch với chúng tôi. Là một người ủng hộ trung thành định hướng của Trung Quốc, ủng hộ hoàn toàn chính sách của Trung Quốc đối với Liên Xô, và do đó đối xử với chúng tôi khá lạnh nhạt.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev10-big.jpg)
Nhóm chuyên gia quân sự Soviet tại trung đoàn TLPK 368

Bộ chỉ huy Việt Nam phái đến cho chúng tôi một đội phục vụ mười người, trong đó bao gồm: cán bộ quản lý, phiên dịch viên, lái xe, đầu bếp và các nhân viên lao công, như chúng tôi được hướng dẫn ở đại sứ quán của chúng ta, tất cả bọn họ đều có xu hướng là thành viên của Cơ quan An ninh Nhà nước Việt Nam.

Việt Nam - là một nước có các truyền thống và thói quen đặc biệt. Từ những ngày đầu tiên ở đó cần phải làm quen với một hoàn cảnh mới mà chúng tôi chưa quen.

Người Việt Nam không thích sự suồng sã - vỗ vai, vỗ lưng, xoa đầu gối, đặc biệt là từ phía chúng tôi, những người châu Âu. Họ nói nhỏ nhẹ. Bạn gần như không bao giờ nghe tiếng la hét lớn. Trình diễn, ngâm thơ tại cuộc mít-tinh thì được phép, nhưng bạn cao giọng thì được coi là không lịch sự.

Tuy nhiên, họ lại là những con người rất thân thiện, hồ hởi, tươi cười. Nụ cười trên khuôn mặt của người Việt Nam khi anh ta nói chuyện với bạn là điều nhất định phải có: đó là một dấu hiệu của phép lịch sự.

Khi chúng tôi đến các trận địa chiến đấu, các quân nhân Việt Nam trước khi đi về vị trí họ làm việc, luôn luôn thết chúng tôi món trà xanh rất đặc. Bản chất họ vốn không vội vã. Sự chậm rãi này đã trở thành máu thịt của người Việt Nam. Và một đặc tính quan trọng của họ - tuân thủ quy định nghiêm ngặt hàng ngày. Họ dậy sớm vào buổi sáng, và đâu khoảng 6:00-6:30 bắt đầu làm việc. Từ 10:00-11:00 giờ (?) nghỉ ăn trưa, tiếp đến trước 14.00 (bao gồm cả giấc ngủ trưa bắt buộc). Và sau đó họ làm việc tiếp - đến 18:00.

Lịch trình này cũng được các phi công máy bay Mỹ nghiên cứu kỹ và họ tìm cách không kích đúng vào lúc người Việt Nam ngủ. Chúng tôi trong thời gian này cố gắng luôn có mặt trên các vị trí chiến đấu, để trong trường hợp bị kẻ thù tấn công sẽ nhanh chóng đưa tiểu đoàn tên lửa phòng không sang trạng thái sẵn sàng đẩy lùi cuộc không kích. Đôi khi chúng tôi phải nói chuyện nghiêm túc với các chiến sĩ khác của QDNDVN về giấc ngủ trưa truyền thống và sự chậm rãi của họ. Một đôi lời về xe đạp. Có thể hôm nay tình hình đã thay đổi phần nào, nhưng thời gian chúng tôi ở đất nước này đã để lại ấn tượng rằng chiếc xe đạp - không chỉ là phương tiện di chuyển, mà còn là một thành viên của các gia đình Việt Nam theo đúng nghĩa đen ... Trên chiếc xe đạp người dân địa phương đi làm việc, ra trận địa chiến đấu, đi thăm nhau. Và thường ta được thấy cảnh trên một chiếc xe đạp ... là cả gia đình.
..........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Bảy, 2014, 01:59:00 AM
Một chiếc chiếu cũng được gắn vào xe đạp, người Việt Nam sẽ ngủ trên đó, và tất nhiên, một chiếc túi mua sắm nữa. Mua được một chiếc xe đạp thời đó là ước mơ của mỗi người Việt Nam mà họ không có. Và đây nữa: phương tiện giao thông này đòi hỏi có cơ sở sửa chữa thích hợp. Đó là lý do tại sao dọc đường giao thông và các con phố ở các thành phố, chúng ta nhìn thấy những "cửa hàng" nhỏ, chỉ gồm một chiếc hòm chứa một bộ đơn giản các công cụ và vật liệu như: keo dán, những miếng lốp xe, những chiếc khóa, những chiếc bơm. Bất cứ ai nuốn cũng có thể vá chiếc xe của mình, bơm săm xe. Đồng thời sở hữu những "xưởng" này chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Hầu như tất cả đàn ông đã ra trận.

Dấu vết sự lo lắng về chiến tranh trên khuôn mặt người Việt Nam, chúng tôi gần như không bao giờ thấy. Họ cười vui vẻ, bàn luận về các hoạt động hàng ngày của họ. Mặc dù không ai quên sự nguy hiểm rình rập. Dấu hiệu của chiến tranh, tức là các hố bom, đạn, đống đổ nát của các ngôi nhà lớn và các nhà máy thì rất nhiều. Chúng tôi được nghiêm khắc cảnh báo rằng không thể chụp bất cứ hình ảnh nào khi có mặt giới lãnh đạo Việt Nam, những người sẽ chỉ ra kết quả của cuộc chiến tranh này.

Cây cầu chiến lược chủ yếu bắc qua sông Hồng tại Hà Nội đã hoàn toàn bị đánh sập, nhưng người Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục lại phần lưu thông của nó.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev1.jpg)

Các tiểu đoàn tên lửa PK của trung đoàn chúng tôi chiếm lĩnh các trận địa trên các lối vào Hà Nội và có nhiệm vụ: ngăn chặn các cuộc không kích vào thành phố, các cơ sở và cây cầu của nó. Do trung đoàn chuyển từ khu vực phía nam của Việt Nam tới và trực thuộc BTL Phòng không và Không quân, nên có sự thay thế đội ngũ quân nhân. Nhiệm vụ của chúng tôi là trong một thời gian ngắn, phải đào tạo cho đội ngũ quân nhân kiến thức về khí tài, sử dụng nó trong chiến đấu, sửa chữa khi nó hư hỏng, và, tất nhiên, cùng với các chiến sĩ QDNDVN tham gia trực tiếp đánh trả các cuộc không kích của đối phương.

Những ngày đầu tiên tại Việt Nam rất nặng nề vì phải chịu cái nóng bức nhiệt đới. Liên tục khát nước. Các đồng chí Việt Nam thuộc đội phục vụ chuyên gia cung cấp cho chúng tôi nước uống. Đi thực hiện nhiêm vụ ở các tiểu đoàn tên lửa PK chúng tôi thường sử dụng xe UAZ do Rumani sản xuất, trên xe chỗ ngồi bố trí dọc bên hông. Trong không gian này người Việt Nam đặt cho chúng tôi tất cả các đồ uống có thể từ bia cho đến các loại nước chanh. Nhưng trời nóng đến nỗi chúng tôi uống sạch các loại chất lỏng trên trước khi xuống đến trận địa. Dưới các trận địa chúng tôi uống nước đun sôi và trà, mà các đồng chí Việt Nam rất sẵn lòng thết chúng tôi.

Làm việc thì phải khắc phục rào cản ngôn ngữ. Điều đó đặc biệt gây khó khăn trong quá trình đào tạo các chiến sĩ hiểu và làm chủ khí tài và sử dụng nó trong chiến đấu.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev2.jpg)

Khi giải thích hoạt động của các thiết bị này khác thuộc hệ thống tên lửa PK ta gặp phải nhiều thuật ngữ không thể dịch được. Binh sĩ không hiểu rõ người ta đang giảng về cái gì, họ đưa ra rất nhiều câu hỏi. Và chúng tôi gần như phải giải thích trên đầu ngón tay thuật ngữ này hay thuật ngữ kia hiểu đúng sẽ như thế nào và diễn giải cho điều gì. Sách kỹ thuật và sách dạy sử dụng khí tài không có. Và bởi vậy cần phải dùng tài liệu sao cho họ có thể viết càng nhiều càng tốt, vẽ sơ đồ và tiếp tục sử dụng tài liệu này khi khai thác hoạt động các tổ hợp tên lửa phòng không. Giảng đường cho dạy học không có. Người Việt Nam xây dựng trực tiếp rạp che trên trận địa, lợp lớp phủ bằng lá chuối hoặc lá cọ để tránh mặt trời đốt nóng. Bàn ghế cũng không có. Binh sĩ ngồi ngay trên mặt đất, trên chiếu và ghi chép người thì bằng bút chì người thì bằng bút mực, tất cả những gì chúng tôi cắt nghĩa cho họ. Bảng đen của nhà trường phổ thông cũng không, vậy nên chúng tôi tự mình ghép các tấm gỗ thông thường lại, sơn chúng thành màu đen và viết rồi vẽ trên đó. Trên bức ảnh này tôi đang dạy các chiến sĩ một tiểu đoàn TLPK về sơ đồ khối của tổ hợp tên lửa PK.

Bộ Chỉ huy Việt Nam đã lựa chọn vào binh chủng tên lửa phòng không những người ưu tú nhất, có học vấn tốt nhất, thông minh nhất và nhanh nhẹn nhất. Nhưng vẫn còn nhiều người có trình độ không hơn lớp 4 lớp 7. Vì vậy, chúng tôi phải tổ chức các lớp học không chỉ về khí tài quân sự, mà còn về các chủ đề chung, đặc biệt các lớp toán và vật lý.

Ban đầu rất khó giải thích cho các chàng trai trẻ Việt Nam vừa đến rằng, họ đang tiến hành một hình thái chiến tranh mới, khi không nhìn thấy trực diện kẻ thù, không thể đấu võ tay không với hắn ta, bắt nó "trên đầu ruồi" trong khe ngắm khẩu súng trường hay súng tự động. Trong trường hợp này chúng ta phải làm việc với các khí tài radar. Ở đâu ăng-ten quay của đài điều khiển SNR phát hiện được các mục tiêu trên không cách vài chục cây số và dẫn đường cho đạn tên lửa có điều khiển bay tới các mục tiêu đó theo những quy tắc nhất định. Và chúng ta phải trao những gì cần thiết cho các chàng trai Việt Nam. Họ bền bỉ cố gắng để hiểu được môn khoa học chiến đấu không dễ dàng này, họ nghiên cứu các khí tài.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev9-big.jpg)
Nhóm chuyên gia chúng tôi ngày 23 tháng 2 năm 1969.

Ngày và đêm họ ngồi mò mẫm các sơ đồ mà chúng tôi đưa cho họ, nghiền ngẫm các công thức toán học, học cách định hướng trong các cabin của tổ hợp tên lửa phòng không, nắm được ý nghĩa của một nút nhấn này hay nút nhấn kia, hoặc một chuyển mạch trên bàn điều khiển. Họ học cách nhận dạng cho đúng một mục tiêu trên không trên màn hiển thị nhấp nháy.

Các tiểu đoàn tên lửa phòng không hoạt động trong im lặng hoàn toàn, chỉ nghe tiếng ồn đơn điệu của các máy phát diesel đang làm việc, và tiếng ra lệnh thực hiện các thao tác nhất định. Và khi qua mạng thông báo nhận được tin máy bay địch đang có mặt trên bầu trời mà radar không nhìn thấy chúng, sự căng thẳng lên đến mức giới hạn. Rồi khi họ phát hiện ra mục tiêu trên không, và người ta đặt tên lửa ở tư thế sẵn sàng phóng, ta nghe tiếng thở ra rất sâu của đội ngũ quân nhân. Sau đó, vang lên một âm thanh mạnh mẽ giống như tiếng một vụ nổ, quả đạn bay vút lên trời, để lại phía sau một đuôi lửa sáng chói. Rồi tất cả lại trở về im lặng. Mọi người chờ đợi kết quả. Nếu tên lửa nổ ở vùng mục tiêu, vậy thì mục tiêu đã bị tiêu diệt, khi đó niềm vui bùng nổ không giới hạn. Thường sau mỗi trận đánh, chúng tôi tập hợp toàn bộ quân nhân của tiểu đoàn tên lửa phòng không và phân tích các hoạt động của họ, đồng thời rút ra các kết luận liên quan.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev3.jpg)

Cùng với việc lên lớp đào tạo đội ngũ quân nhân, cần tiến hành công tác đưa khí tài quân sự vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện công việc sửa chữa và điều chỉnh thích hợp. Đã nhận được các khí tài chiến đấu mới. Nhóm chuyên gia sống ở làng Quang Bình, tỉnh Hà Tây - cách Hà Nội 30 km. Chúng tôi chú trọng nhiều đến việc ngụy trang các khí tài của tổ hợp tên lửa PK, để kẻ địch không dễ dàng phát hiện được nó từ trên không. Trên ảnh có thể thấy chúng tôi ngụy trang đài điều khiển tên lửa ra sao. Chúng tôi sử dụng để ngụy trang những tàu lá chuối lớn và những cành lá cọ.

Còn trên tấm ảnh này ta thấy những cảnh ngụy trang trận địa và khu vực lân cận một tiểu đoàn tên lửa phòng không. Vào tháng Bảy năm 1968, kẻ thù không tiến hành hoạt động quân sự tích cực ở khu vực thủ đô Hà Nội của Bắc Việt Nam, nhưng chúng tăng cường đáng kể các cuộc không kích xuống thành phố Hải Phòng, cảng biển chính của đất nước, qua đó viện trợ cho Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới đổ về, và tất nhiên, chủ yếu là viện trợ từ Liên bang Xô Viết.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev4.jpg)

Chúng tôi cho rằng mình đã rất may mắn. Đã hai tháng kể từ khi chúng tôi ở Việt Nam, nhưng không có cuộc không kích nào của đối phương, không có hoạt động chiến đấu. Cứ nghĩ rằng chiến tranh sắp kết thúc, và chúng tôi sẽ rời khỏi Việt Nam. Nhưng bộ chỉ huy biết rõ hơn. Và kế hoạch của đối phương, chắc chắn họ biết rõ hơn chúng tôi tưởng.

Vì vậy, ngày 12 tháng 8 năm 1968, chúng tôi chuyển quân xuống gần Hải Phòng. Nhiệm vụ chính đặt ra cho trung đoàn là ngăn chặn các cuộc không kích của đối phương vào cảng. Không kích các công trình và cầu cống. Kể từ khi cuộc chiến tranh này bắt đầu, người Mỹ luôn cố gắng cắt đứt Hải Phòng khỏi phần còn lại của đất nước, vì Việt Nam thông qua cảng biển này nhận được phần lớn viện trợ quốc tế từ khối các nước xã hội chủ nghĩa. Thành phố này nằm ở đồng bằng sông Hồng, con đường ô tô dẫn từ thành phố ra đi qua các kênh, các đường ống dẫn, qua rất nhiều cây cầu. Vì vậy, kẻ thù luôn cố gắng giáng đòn tấn công chủ yếu xuống các cây cầu. Nhưng trước khi tự do tấn công các cơ sở, không kích thành phố, bến cảng, kẻ thù cần phải tiêu diệt hệ thống phòng không của khu vực, nghĩa là tiêu diệt các tổ hợp tên lửa phòng không của chúng tôi. Và mặc dù chúng tôi còn chưa chiến đấu với kẻ thù, chúng tôi vẫn đang chuẩn bị không mệt mỏi cho điều này và toàn bộ quân nhân của trung đoàn cũng sẵn sàng.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Bảy, 2014, 12:20:08 PM
Thời điểm đó chúng tôi sống trong làng Cả Phụ, cách thành phố Hải Phòng 15 km.
Tôi sẽ kể một chút về chuyện ngôi làng này, trên thực tế, là ngôi làng điển hình cho toàn bộ nước Việt Nam. Trong bóng râm cây cối rậm rạp là các túp lều nông dân chen chúc một cách ngẫu nhiên - một vài cái trụ và dầm, các tấm phên tre nhẹ làm liếp ngăn, ban ngày một trong các tấm ấy được cất đi hoặc mở ra. Mái nhà lợp lá cọ hoặc lá chuối, hoặc rơm rạ. Chúng tôi gọi các túp lều này là "bungalo", và thực tế sau này người Việt Nam bắt đầu gọi chúng như vậy. Giữa những túp lều là các vạt rau và vườn cây ăn trái nếu kích thước cho phép, họ trồng khoai mỡ (khoai lang), ớt, trái cây, cỏ ăn được, chuối, và trên giàn tre - cà tím dài cả mét và dưa chuột dài đến nửa mét. Lang thang tự do trong làng là những chú lợn con da đen, lũ vịt, gà, những con chó nhỏ béo mẫm - thịt chó được đặc biệt ưa chuộng tại Việt Nam (đó là món khoái khẩu của họ). Trong nhóm chuyên gia của chúng tôi có nuôi một con chó nhỏ có tên lóng Sharik, chúng tôi rất yêu nó và luôn cố gắng cho nó xơi một món ngon nào đó. Sau đó con chó biến mất. Và chỉ đến trước khi ra đi, chúng tôi mới biết thêm rằng ngày 16 tháng 2 năm 1969 trong dịp Tết (Năm Mới lịch Việt Nam), nó đã được bày trên bàn tiệc ngày lễ.

Chúng tôi được bố trí ở rìa làng trên sườn một ngọn núi lớn. Nơi đó rất nhiều cây xanh và dưới màn ngụy trang cây xanh này người ta làm cho chúng tôi một "bungalo". Chúng tôi có một máy phát diesel nhỏ, đảm bảo cấp đện cho chúng tôi vào buổi tối. Bộ chỉ huy Việt Nam làm cho trưởng nhóm một ngôi nhà nhỏ ở ngay trên sườn núi, cao hơn chỗ chúng tôi một chút, tại đó ông thường xuyên gặp gỡ BCH Việt Nam, giải quyết các vấn đề hàng ngày. Còn đội phục vụ ở trong làng, cách các túp lều của chúng tôi năm mươi mét.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev5.jpg)

Chúng tôi đã sống trong bungalo này. Trong nhà người ta tính toán vi khí hậu thậm chí rất tốt. Không nóng. Nhà được thông gió tốt.

Chảy dọc làng là một con sông rộng khoảng mười mét. Nước sông vô cùng bẩn, như thể một dòng bùn đất chảy trên núi xuống. Nhưng những đứa trẻ ở địa phương rất thích nhảy từ trên bờ dốc đứng xuống dòng xoáy của con sông này để tắm. Đôi khi chúng kéo tay chúng tôi, rủ chúng tôi bơi với chúng. Chúng tôi tất nhiên từ chối, và chống lại theo cách có thể. Nhưng cái chính là không bao giờ có đứa trẻ nào bị ốm do ngâm mình trong dòng bùn ấy. Gần làng là những cánh đồng lúa. Trên các cánh đồng ấy có nhiều hố bom, hố có kích cỡ khác nhau đường kính từ 5 đến 20 mét, còn độ sâu từ 1 đến 5 mét. Đi bộ ngoắt nghoéo một chút ta có thể tiếp cận các hố bom này. Một lần chúng tôi đi ngang qua các hố bom trên và nhìn thấy trong đó có cái gì đó đang lượn giống hệt cá. Chúng tôi chế cần cầu và quyết định cố gắng câu lấy một cái gì đó. Và quả thật, chúng tôi bắt được rất nhiều cá con. Bản thân chúng tôi sau đó phải chuẩn bị cả một xô đầy để chứa. Cá rất ngon, và quan trọng nhất, nó nhắc ta nhớ đến món ăn Nga của chúng tôi.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev7.jpg)

Trải qua ba tháng đầu tiên tại Việt Nam, chúng tôi đã nhận thấy tất cả những "vẻ đẹp" của khí hậu nhiệt đới. Trước hết, đó là nhiệt độ và độ ẩm. Toàn bộ thân thể ta luôn ẩm ướt. Ngay cả khi trời không nóng, ta vẫn có vẻ tắm trong hơi ẩm. Không khí lơ lửng bụi nước. Nếu ta giặt quần áo và treo lên cho khô, mà không có ánh nắng mặt trời, nó vẫn thế, ta vẫn cứ phải treo đồ ướt, rồi thì đồ sẽ bị phủ nấm mốc. Như các bác sĩ của chúng tôi từng nói, đây là môi trường không khí lý tưởng cho sự sinh sản các loại vi trùng khác nhau. Đặc biệt khó ở là những người béo. Do cơ thể luôn ẩm ướt, bị kích thích thường xuyên, và khi xung quanh đầy bụi đỏ, da sẽ nổi mụn ngứa, phát ban - gây ra bệnh phát ban nhiệt. Bao nhiêu năm đã trôi qua, vậy mà các dấu phát ban nhiệt này đến giờ bạn vẫn cảm thấy. Bắt buộc phải ngủ trong màn chống muỗi, vì muỗi và tất cả các loại sinh vật giống như vậy có ở đây quanh năm. Nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 2: +10 đến +16 độ, còn độ ẩm vẫn như vậy, có vẻ như tất cả ướt sũng, và cái lạnh như cắt da. Người Việt Nam cả đàn ông và phụ nữ, thường mặc quần áo để lỏng cơ thể, những loại quần áo nhẹ nhất có thể. Họ ngủ trên chiếu. Ý nghĩa sâu sắc của nó nằm ở chỗ, bạn nằm trên vật cứng, bạn như được thổi mát, và bạn không trở nên quá nóng. Nếu bạn nằm trên giường mềm, nó sẽ bao bọc bạn, làm nóng bạn và tạo cho bạn cảm giác rằng bạn bị một miếng gạc nóng bao quanh - đó là khi mùa hè. Vào mùa đông, khi nhiệt độ không cao như vậy và độ ẩm 98%, điều đó trở nên khá đáng sợ, bạn nằm trong một cái chăn ẩm ướt toàn bộ, như thể trong một cái bình thủy lạnh. Quần áo mà người ta phát cho chúng tôi tại Moscow, nói cho nhẹ nhàng, không hoàn toàn phù hợp với điều kiện khí hậu, nơi chúng tôi ở. Đặc biệt áo choàng phủ cao su ngoài nhìn rất kỳ dị, nhưng quan trọng nhất là không cho không khí lọt qua ...

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev6.jpg)

Khi bạn mặc nó, đặc biệt vào mùa đông hoặc lúc có mưa lớn, bạn bốc hơi như trong một bình thủy. Bức ảnh cho thấy đồng phục của chúng tôi về mùa đông.

Chúng tôi đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tại các tiểu đoàn tên lửa PK bằng xe con sản xuất tại Rumani, giống như xe con UAZ Liên Xô. Nhưng do đường bị đánh nát mà chúng tôi phóng xe ở tốc độ khá cao nên bị nhồi lắc, va chạm đến mức cơ thể đầy vết bầm tím. Ngoài ra, khi đi làm nhiệm vụ xong trở về chỗ ở, thường là người đẫm mồ hôi, dơ bẩn, mà chẳng hề có điều kiện sinh hoạt nào một cách tự nhiên. Chúng tôi quyết định làm cho mình một nhà tắm có vòi sen. Một lần người ta vận chuyển đạn tên lửa đến kiểm nghiệm tại một khu vực đặc biệt. Đó là một thị trấn quân sự chính quy, nơi các chuyên gia Liên Xô chúng ta, chủ yếu đến từ các nhà máy sản xuất khí tài này, làm công tác sửa chữa, phục hồi, cải tiến, cả đạn và tổ hợp tên lửa PK. Tại đó chúng tôi nhìn thấy nhà tắm vòi sen dã chiến của họ. Họ kiếm một chiếc thùng nào đó, đục các lỗ thích hợp, đặt nó lên trên cao, rào chỗ đó lại bằng các tấm chắn, và phòng tắm đã sẵn sàng. Vào buổi sáng ta đổ đầy nước vào thùng, và buổi tối, khi trở về từ trận địa, ta có thể tắm vòi sen, nước được đun nóng bởi đã phơi cả ngày. Trên ảnh, chúng tôi đang đùa vui làm lễ khai trương nhà tắm hoa sen cổ xưa này, điều làm chúng tôi rất hài lòng.

Khi đi thực hiện nhiệm vụ chúng tôi thường phải đi xe qua cảng thành phố Hải Phòng và một lần đã ở khá gần với một con tàu hàng đến từ Liên Xô. Muốn nói chuyện với các chàng trai Nga, biết tình hình ở quê hương. Nhưng lực lượng tự vệ, dàn đội hình bảo vệ tàu không cho phép đến gần tàu quá 100 mét. Chúng tôi hét lên với các đồng bào của mình, nhưng do tiếng ồn của cảng đang làm việc nên không ai nghe thấy chúng tôi, chúng tôi vẫy tay và tiếp tục đi thi hành nhiệm vụ.

Tôi sẽ nói vắn tắt về chuyện dinh dưỡng. Phần lớn người dân Việt Nam, chưa bao giờ được sống ấm no trong lịch sử. Họ có một hệ thống tem phiếu cho hầu hết các loại thực phẩm (ngoại trừ, có lẽ là sản phẩm nông nghiệp được trồng ngay trên mảnh đất họ ở và các sân sau). Tem phiếu cũng áp dụng cho vải, xà phòng, dầu hỏa, gỗ, giấy, thậm chí cả kem đánh răng, trà, thuốc lá, cà phê. Định mức hàng tháng thấp nhất là đường - khoảng 150 gram, thịt hoặc mỡ - khoảng 350 gram. Trẻ sơ sinh dưới 15 tháng phải được một tháng 4-6 lon sữa đặc quý giá và các tiêu chuẩn đường và thịt bổ sung. Các hàng hóa khan hiếm nhất được phân phối tại các cuộc họp toàn thể dân cư. Ngoài ra, chúng tôi đã thấy rất nhiều chợ xép trên các tuyến đường hoặc tại các giao lộ, bán một số loại rau và trái cây. Thỉnh thoảng người ta bán một xâu ếch, những con tôm nhỏ, những mớ tép. Chúng tôi không nhìn thấy những hàng người rồng rắn xếp hàng dài một cách đặc biệt,. Nông dân không được Nhà nước cung cấp gạo, họ phải cung cấp cho chính mình, và còn chia sẻ thêm cho thành phố.

Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã giúp người Việt tồn tại qua thời điểm khó khăn, cung cấp cho họ lương thực thực phẩm, máy móc các loại, máy kéo, và hàng tiêu dùng thông thường. Nhờ sự hỗ trợ này, nhân dân Việt Nam có thể bền bỉ tiến hành cuộc chiến tranh không dẽ dàng chống lại một kẻ xâm lược hùng mạnh. Chúng tôi, các chuyên gia quân sự Liên Xô, được tổ chức nuôi ăn khá tốt và không gặp phải tình trạng thiếu lương thực. Tại Hà Nội, đã thành lập một cơ sở cung cấp thực phẩm đặc biệt, và ở những nơi đóng quân chính quyền tỉnh sẽ cung cấp đồ ăn riêng.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev12-big.jpg)
BCH trung đoàn ngày 23 tháng 2 năm 1969. Нàng trước ở giữa là trưởng nhóm Мukhanov cùng BCH trung đoàn TLPK; hàng sau bên trái là Volkov Viktor, bên phải là Bataev Stas.

Tùy thuộc vào mùa mà trên bàn ăn có các loại rau quả sau: hành tây, cà chua, dưa chuột. Hiếm khi có củ cải và hạt tiêu. Trái cây: cam, chuối, quýt, không hiểu sao toàn màu xanh lục, cũng như bưởi và chanh. Về mùa hè xuất hiện một thời gian ngắn, nhãn - một loại trái cây sần sùi vỏ màu hơi xanh, có thể bẻ, bóc lớp vỏ màu xanh lá cây hoặc màu hơi vàng, dưới lớp vỏ - là lớp cùi trắng, ngọt lịm có hạt màu đen. Đôi khi chúng tôi được cho ăn xoài và mít, có lớp cùi ngọt-chua, sền sệt. Nó có tác dụng giải khát tốt khi trời nóng và làm mát.

Và, tất nhiên, là dứa. Chúng mọc trên những lô đất nhỏ, như bắp cải trồng ở khu nhà nghỉ ngoại ô của chúng ta. Các khóm cây xương rồng có những chiếc lá kim lớn phân chia mảnh đất này với mảnh đất kia. Chúng tôi một lần nhìn thấy gần trận địa một tiểu đoàn tên lửa phòng không một rẻo đất có trồng các khóm dứa. Chúng tôi đến gần hàng rào và qua các khe trống giữa các lá cây xương rồng nhìn thấy những quả dứa chín. Vậy là mong muốn bẻ lấy một vài trái dứa không kìm giữ được, nhưng cần sao cho không phải leo dưới bụi cây xương rồng mọc ở đó, và còn có một con chó, khi nhận ra, nó sẽ nhảy xổ vào phía chúng tôi. Chúng tôi nhanh chóng lùi lại, nhưng nơi chúng tôi leo vào, không được đánh dấu. Để chó không cắn, phải lội trực tiếp qua các gai xương rồng. Đương nhiên sẽ trầy xước kha khá.

Tuy nhiên, lương thực chính - là gạo. Chúng tôi ăn cơm hầu như hàng ngày. Đôi khi chúng tôi được ăn cả khoai tây như một món độn. Phục vụ đưa lên bàn ăn các món ăn chế biến từ bắp cải và tất nhiên là có món cá.

Khi không có các cuộc không kích của máy bay đối phương, chúng tôi chủ yếu làm công tác đào tạo cho người Việt Nam các kỹ năng bảo trì khí tài. Ngoài ra khi có kha khá thời gian rảnh, chúng tôi viết thư về nước, và viết trong ngày nhiều bức thư cùng một lúc.
........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Bảy, 2014, 12:58:13 PM
Thường xuyên nhất là nhớ người thân. Niềm vui lớn nhất là khi nhận được thư nhà. Thư từ rất hiếm, đôi khi 2-3 tháng một lần. Bởi thế có khi nhận được 15-20 thư một lúc. Chúng tôi đọc đi đọc lại chúng nhiều lần, cứ như vậy đủ đến lần nhận thư sau. Chúng tôi thường xuyên chia sẻ tin tức quê nhà với các đồng đội, và vì tất cả chúng tôi đến từ các vùng khác nhau của Liên Xô, nên một số vùng đại diện cho tình hình ở quê hương. Cậu con nhỏ của tôi vào tháng Sáu năm 1968, vừa được bốn tháng tuổi, bởi vậy vợ tôi vạch lên trang giấy đường bao bàn tay nhỏ bé của cháu, và tôi mang theo trong túi áo mình cùng với bức ảnh của vợ và con trai là cả hình bàn tay cậu con trai nhỏ.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev11-big.jpg)
Nhóm chúng tôi, ngày 23 tháng 2 năm 1969.

Ngày 29 tháng 8 năm 1968 tại Hải Phòng chúng tôi có mặt trong buổi lễ kỷ niệm ngày Độc lập của Việt Nam. Buổi lễ rất trọng thể. Thực tế thì chúng tôi, những người trẻ tuổi, nói chung chưa bao giờ tham dự các sự kiện như vậy, đó chính là một sự kiện không thể quên. Bây giờ, sau nhiều năm, mọi việc vẫn như đang ở trước mắt tôi. Sau buổi lễ trên quảng trường thành phố diễn ra một cuộc mít tinh lớn, có hơn nghìn người tham dự. Người Việt hét vang với chúng tôi "Liên Xô! Việt Nam! Muôn Năm!", nghĩa là: "Tình hữu nghị Xô-Việt sống mãi". Sau đó tại nhà hát người ta tổ chức một buổi hòa nhạc lớn.

Và thế là kết thúc những ngày hòa bình êm ái đối với chúng tôi. Kẻ thù vào thời điểm này bắt đầu tấn công xuống các cơ sở và thường dân.

Trong tháng chín năm 1968 trung đoàn của chúng tôi đã nhiều lần đánh trả các cuộc không kích của đối phương. Ví dụ ngày 23 tháng 9, trung đoàn đã phóng 10 quả đạn vào các máy bay địch. Máy bay địch rất nhiều. Nhưng những kẻ xâm lược đường không sử dụng nhiễu, các động tác cơ động tránh tên lửa, cố gắng bằng mọi cách thoát khỏi bị tiêu diệt. Tuy nhiên, tiểu đoàn 34 của trung đoàn chúng tôi, mà khí tài của nó, một ngày trước khi kẻ thù tấn công, được chúng tôi kiểm tra và điều chỉnh một cách cẩn thận, đã bắn hạ một máy bay kẻ thù bằng quả đạn sau cùng, chiếc máy bay rơi xuống biển. Chúng tôi có mặt ở nơi đóng quân thường xuyên và theo dõi trận đánh như thể từ bên ngoài. Chỉ huy của chúng tôi sau trận đánh đó đã quyết định dù bất kỳ lý do nào sẽ phải có mặt tại các trận địa của tổ hợp tên lửa phòng không. Bộ chỉ huy Việt Nam không muốn nhìn thấy các quân nhân chúng tôi ở các trận địa của tiểu đoàn tên lửa PK khi đang có cuộc không kích của máy bay địch, vì lý do an toàn cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi, với sự hỗ trợ của bộ chỉ huy cao cấp Liên Xô, vẫn tự mình ra trận địa và cố gắng không bỏ lỡ cuộc không kích của máy bay địch.

Ngày 27 tháng 9 tiểu đoàn trên lại bắn rơi một máy bay địch. Chúng tôi lập tức lên xe đi đến nơi rơi máy bay để thu thập những mảnh còn lại của nó. Nhưng do bắn máy bay địch còn có cả pháo binh và lực lượng dân quân (lực lượng này bố trí gần chỗ máy bay rơi hơn cả), nên tất nhiên chúng tôi đã không có được các mảnh xác máy bay. Đơn giản là người ta không cho phép chúng tôi tới nơi máy bay rơi. Sau đó, trên đài phát thanh và báo chí người ta thông báo rằng tại thời điểm đó các chiến sĩ PK Quân đội nhân dân Việt Nam đã bắn rơi một máy bay Mỹ. Mặc dù chúng tôi nhìn thấy chính quả đạn tên lửa của chúng tôi đã bắn hạ máy bay ... Và nói chung, ta nên lưu ý một cách thú vị rằng trên toàn nước Việt Nam người ta đang thực hiện công tác tuyên truyền rộng rãi tính hiệu quả của vũ khí bộ binh và pháo binh, thậm chí đến mức có thể làm tổn hại sự tuyên truyền cho các binh chủng PK hiện đại - tên lửa và máy bay. Có lẽ điều này được tiến hành để nâng cao tác động tâm lý đến lực lượng dân quân và nâng cao tinh thần của họ trong cuộc chiến đấu chống lại máy bay địch. Và thực sự, nếu một người ngồi trong chiến hào dưới trận oanh tạc, ở một mức độ nhất định anh ta sẽ cảm thấy mình như chú gà đang bị người ta săn. Và nếu anh ta có trong tay khẩu súng tự động hay súng máy, và anh biết có một trong một ngàn cơ hội bắn trúng chiếc máy bay đang bổ nhào, anh sẽ cảm thấy mình là một chiến sĩ, anh ta sẽ chiến đấu. Mà mong muốn chiến đấu giành tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam thì rất lớn.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev15-big.jpg)
7.11.68 N.Каnivets và S.Bаtаеv cùng một đồng chí Việt Nam.

Kẻ thù nhận ra rằng mục tiêu của chúng chưa đạt được. Và chúng cố gắng lần này rồi lần nữa, lao tới các cơ sở của thành phố. Cần lưu ý rằng sau khi bắn vào kẻ thù, mỗi tiểu đoàn tên lửa đều phải nhanh chóng chuyển trận địa. Điều này đã trở thành quy định từ khi bắt đầu tham chiến của các tổ hợp tên lửa phòng không của chúng ta. Nếu không đối thủ sẽ nhớ vị trí của họ và sau đó sẽ ồ ạt ném bom các trận địa này.

Như vậy, sau trận đánh ngày 27 tháng 9 tiểu đoàn 34 anh hùng của chúng tôi khẩn trương thu hồi khí tài của mình và bắt đầu hành quân tới trận địa dự phòng. Chúng tôi kiểm soát quá trình thu hồi khí tài, dạy họ cách thu hồi tốt hơn và nhanh hơn, sau đó đi theo đoàn xe chở khí tài đến địa điểm thi hành nhiệm vụ mới. Trong quá trình di chuyển đoàn xe phải băng qua một lòng sông trên cầu phao. Tại đây người lái xe đầu kéo kéo xe "P" (xe thu-phát) bất ngờ ngoặt xe gấp, làm xe "P" lăn ra mép cầu phao. Xe "P" nghiêng hẳn, rồi từ từ lăn xuống sông. Sự việc được báo cáo lên bộ chỉ huy tối cao QDNDVN và bộ chỉ huy đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Bằng cách thực hiện các biện pháp cấp bách, dùng đầu kéo có tời, cabin P được kéo từ sông lên. Tất cả nghĩ - thế là xong một thiết bị đắt tiền. Ngày hôm sau, chúng tôi tháo tất cả các khối của cabin, mang chúng ra, trải dưới ánh nắng mặt trời và bằng cách đó đến cuối ngày đã sấy khô được thiết bị. Trong đêm, chúng tôi tập hợp rồi lắp lại tất cả các khối vào vị trí, mà phải làm điều đó rất khẩn trương, bởi vì ta không thể biết đối phương có kế hoạch không kích tiếp ra sao.

Sáng hôm sau, mọi thứ đã được chuẩn bị để đưa toàn bộ tổ hợp vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Ban đầu chúng tôi quyết định tự mình đưa buồng máy cabin vào hoạt động, sau đó ra tắm sông. Chúng tôi nghĩ nếu có ngắn mạch trong mạng điện, sẽ cần phải sấy khô thêm một chút. Nhưng nếu nối mạch mà bình thường, thì chỉ cần điều chỉnh thiết bị là đủ. Sau khi làm dấu, chúng tôi đóng cầu dao. Không có ngắn mạch, khí tài đã làm việc. Chúng tôi điều chỉnh các tham số chiến đấu cho tất cả các thiết bị. Và hai giờ sau, toàn bộ tổ hợp tên lửa PK đã SSCD. Khi báo cáo BCH về việc này, họ không tin ngay rằng có thể làm được điều gì tương tự như vậy. Sau sự cố trên, (đặc biệt tin đồn về vụ việc đã lan ra toàn binh chủng) chúng tôi rất tự hào về khí tài của mình, chúng tôi nghĩ rằng không có khí tài nào có độ tin cậy cao hơn khí tài của chúng ta.

Kẻ thù như thể chờ đợi sự phục hồi của khí tài quân sự, chúng bắt đầu tiến hành liên tục các chuyến bay trinh sát. Và sau khi trinh sát thì máy bay chiến đấu bay tới.

Và đây ngày 25, tất cả ba tiểu đoàn của trung đoàn chúng tôi đã phóng đạn vào máy bay địch. Kết quả là chúng tôi đã bắn hạ một máy bay Mỹ, chiếc máy bay đó rơi xuống biển.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev14-big.jpg)
Ngày 2 tháng 9 năm 1968. Kỷ niệm 23 năm Quốc Khánh Việt Nam. Nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô cùng BCH trung đoàn TLPK Việt Nam.

Chúng tôi luôn mong muốn có được những mảnh xác của những chiếc máy bay bị bắn rơi đầu tiên. Chúng tôi cần cái đó không chỉ vì thực tế - chúng tôi đã bắn rơi máy bay địch, mà quan trọng nhất là lấy được vật bên trong của chiếc máy bay này và gửi đi theo nhiệm vụ, cụ thể là làm theo điều người ta hướng dẫn chúng tôi tại bộ phận tương ứng của Đại sứ quán chúng ta. Nhưng không may, do những trở ngại từ phía Việt Nam, chúng tôi không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được điều này. Tôi nhớ lại một trường hợp khi chúng tôi đi xe đến địa điểm rơi của một chiếc máy bay Mỹ bị tên lửa của chúng tôi bắn hạ. Trên đường đi có một cây cầu bắc qua một con lạch nhỏ. Chúng tôi đến gần cây cầu, còn nó đã bị đóng lại để sửa chữa và có khoảng một trăm người đang làm việc trên cầu. Nhưng thật thú vị khi nhận xét rằng, một ngày hôm trước chúng tôi đi xe qua cây cầu này, mà chẳng thấy có dấu hiệu hư hại nào cả. Đó là cách ngăn chúng tôi đến được nơi chiếc máy bay bị bắn rơi.

Tại Hà Nội, người ta lập ra một nơi giống như nhà kho chứa mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi để toàn dân đến xem, qua đây nâng cao tinh thần của người Việt Nam và các thành viên lực lượng vũ trang. Cạnh đó có một bảng lớn đề thông tin - ở đâu, khi nào, như thế nào và ai đã bắn rơi các máy bay Mỹ.

Đó là nơi mà chúng tôi nhìn thấy mảnh xác còn lại của những chiếc máy bay của bọn xâm lược, có lẽ có cả xác những chiếc bị bắn hạ bởi các tiểu đoàn của chúng tôi. Ngày 02 Tháng 11 năm 1968 người  Mỹ ra tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, các chuyến bay do thám của Không quân Mỹ vẫn tiếp tục, và chúng tôi đã tự tặng cho mình một món quà vào dịp những ngày lễ tháng Mười Một, - một máy bay trinh sát không người lái bị bắn rơi.
...........


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Bảy, 2014, 10:49:43 PM
Nhưng đặc biệt vẫn gây ra rất nhiều rắc rối như trước kia là chiếc máy bay trinh sát bay nhanh và bay cao - máy bay do thám SR-71. Vì vậy, ngày 25 tháng 11, người ta di chuyển chúng tôi đến các trận địa mới bố trí giữa Hà Nội và Hải Phòng, gần với đường bay mà loại máy bay này thường bay qua. Trung đoàn được giao nhiệm vụ - tiêu diệt loại máy bay trên. Nhiệm vụ rất quan trọng. Máy bay đó bay ở độ cao 20.000 mét với tốc độ 3200 km / h. Bộ Chỉ huy Xô Viết phải chứng minh cho ban lãnh đạo Việt Nam rằng các tổ hợp tên lửa PK của chúng ta có thể tiêu diệt bất kỳ mục tiêu nào trên không, và bằng cách đó nâng cao uy tín của vũ khí của chúng ta. Tại các trận địa mới, chúng tôi đã vài lần phóng đạn vào SR-71, nhưng không may, không đạt kết quả. Đạn tên lửa và tổ hợp tên lửa PK của chúng ta còn xa mới hoàn hảo.

(http://img.archive.today/rfHAV/0744a1fab668ac2f46432e7c13c5c2263e35da53.jpg)
Một đoạn phân tích và tổng kết của Bộ TTM QC Phòng không các LLVT Liên Xô về kết quả bắn SR-71 của tổ hợp TLPK S-75 trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoạị của KQ Mỹ ở miền Bắc Việt Nam những năm 1968-1969: 22 lần xạ kích, phóng 29 đạn, không kết quả. Nguồn: Tập thể tác giả. Xạ kích chiến đấu của các tiểu đoàn TLPK. Đặc điểm chung của các kết quả xạ kích chiến đấu // Binh chủng TLPK trong chiến tranh tại Việt Nam và tại Trung Cận Đông (trong giai đoạn 1965–1973) / Bộ TTM QC PK Liên Xô; Chủ trì chung thượng tướng pháo binh I. М. Gurinov. — М.: NXB Quân sự BQP Liên Xô, 1980.

Vào hôm trước ngày kỷ niệm cuộc Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Vĩ đại (06 tháng 11) toàn bộ các chuyên gia quân sự Liên Xô chúng tôi - được ban lãnh đạo quân sự của chúng ta triệu tập đến Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội dự lễ kỷ niệm trọng thể. Người ta tổ chức một buổi hòa nhạc lớn, trao quà tặng. Bộ Chỉ huy được đặt những câu hỏi về việc phong cấp hàm quân sự, vì thời hạn phong quân hàm của nhiều sĩ quan đã qua đi, mà thông báo trao cấp hàm chưa thấy tới. Chẳng bao lâu mệnh lệnh của Tổng tư lệnh lực lượng phòng không Liên Xô đã nâng quân hàm cho rất nhiều người, trong đó có tôi - được trao quân hàm "thượng úy". Nhưng trước đó Tư lệnh tập đoàn quân đã phong cho tôi quân hàm này. Vì vậy, tôi được hai lần phong "thượng úy".

Ngày 29 Tháng Mười Hai năm 1968, chúng tôi được nhận thiếp chúc mừng và quà tặng Năm Mới của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Mỗi người nhận một tờ thiếp có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyên soái Grechko AA Trong gói quà gồm có:
- một ổ bánh mì đen,
- một hộp trứng cá muối,
- một hộp cà phê hòa tan,
- bốn kg xúc xích khô
- hai lon pho mát,
- một hộp xúc xích,
- hai lon cà phê với sữa đặc có đường
- hai lon cá trích hộp,
- ba gói bánh quy,
- mười gói thuốc lá "Phitil"
- một chai vodka "Stolichnaya".

Sau khi đón Năm Mới và gần như cho đến tận mùa xuân, kẻ thù không còn ném bom các mục tiêu ở Việt Nam. Nhưng máy bay trinh sát vẫn tiếp tục bay. Các tiểu đoàn của trung đoàn chúng tôi vẫn trực chiến thường xuyên và khi nhận được thông báo về các chuyến bay của máy bay trinh sát, chúng tôi nhanh chóng chuyển trạng thái chiến đấu và khai hỏa vào các máy bay do thám. Chẳng hạn, trong tháng Ba chúng tôi đã bắn hạ một máy bay trinh sát không người lái.

Cuối tháng Tư năm 1969, cả đoàn chúng tôi tổ chức tiễn tôi và Nikolai Kanivets về nhà, về Tổ quốc.

Theo truyền thống đã định từ những năm trước, BCH trung đoàn tên lửa phòng không QDNDVN và cả nhóm chúng tôi bày biện bàn tiệc theo phong tục Nga. Trên bàn, theo thói thường, có tất cả những thứ mà chúng tôi đã thấy gần như suốt cả năm. Và tất nhiên, có các món thịt gà, thịt lợn, thậm chí có thể có cả món thịt cầy (món này, tất nhiên, chúng tôi chưa biết), và toàn bộ các loại trái cây và rau quả kỳ lạ của miền nhiệt đới. Trên bàn có một lượng nhỏ bia và rượu gạo (Lúa Mới). Chúng tôi ngồi quây quần, nhớ lại lần đầu tiên tất cả chúng tôi tụ tập với nhau như thế nào, làm quen với nhau ra sao, thực sự trong thời gian ở đất nước này chúng tôi đã trở thành những người ruột thịt. Và ngày hôm sau là buổi tiếp tân dành cho những người lên đường về Tổ quốc của Bộ Quốc phòng nước VNDCCH. Trong buổi tiếp, nhân danh Chính phủ Việt Nam, người ta trao các phần thưởng, quà tặng và giấy chứng nhận. Sau buổi lễ, chúng tôi về sống tại khách sạn quốc tế Kim Liên chờ ngày khởi hành về Liên bang.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Bataev13-big.jpg)
Nhóm thân binh. Trái sang phải: 1- kỹ thuật viên bệ phóng của chúng ta, 2- một bạn Việt Nam, 3- Bаtаеv Stаs, 4- Slizun Petro, 5,6,7- các đồng đội Việt Nam, 8- Volkov Viktor, 9- Kĩ sư trưởng của nhóm chuyên gia, 10- Volodia chuyên gia cabin P, tiếp theo là các bạn Việt Nam.

Nhưng do mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc vào thời đó xấu đi nhanh chóng, nên giao thông cả đường không, đường sắt từ Việt Nam tới Liên Xô qua Trung Quốc đã không hoạt động. Chỉ còn đường biển. Mà tàu từ Liên Xô tới cảng Việt Nam thời gian đó không có. Trong khi chờ đợi phương tiện vận chuyển, các buổi tối chúng tôi thường xuyên tụ tập cùng bạn bè, hát những bài hát cùng với cây đàn guitar đệm, cũng vào thời gian trên, những bài thơ về đất nước này đã nảy sinh. Một trong những "bài thơ" đó:

Tạm biệt

Thế là hết chuyến đi công tác,
Chúng tôi xếp những món đồ nhỏ nhặt vào chiếc vali.
Tạm biệt Việt Nam, những trận bom oanh tạc,
dường như đã xong kế hoạch của mình.
Ai đang tiếp tục sự nghiệp của chúng tôi,
chúc các anh - luôn luôn thắng lợi,
và đôi khi có dịp nhấp tách trà,
hãy nhớ đến chúng tôi, hỡi các chàng trai gan dạ.
Chúng ta đã biết nhiều hơn về báo động,
về những trái bom đủ kiểu và chiến tranh.
Chúng ta đã đến giúp nước Việt Nam tươi xanh,
mà đôi khi, nhiều người quên giấc ngủ.
Và ở nhà đang chờ đợi chúng tôi về đoàn tụ,
là những người thân: vợ, con, cha, mẹ.
Với họ chúng tôi có thể mạnh dạn trả lời,
rằng chúng tôi đã làm xong nghĩa vụ.
Và với lũ kền kền trên trời cao,
từ trên mặt đất trong bất kỳ trận đánh,
theo gương những cựu chiến binh thời Vệ quốc,
chúng ta luôn đẩy lùi kẻ thù đến phá sự yên tĩnh của trời xanh.

Dĩ nhiên, chúng tôi rất buồn khi nhìn các anh,
những người đang đi tiễn chúng tôi trên xe buýt,
các anh còn ở lại với chiến tranh,
làm tiếp nghĩa vụ của mình ở nơi xa Tổ quốc.
Thời gian trôi, chúng tôi thêm hiểu biết,
tình cảm của các anh khi đi tiễn chúng tôi,
chúng tôi hứa sẽ viết cho tất cả các anh,
mà không nghĩ thời gian bay nhanh.
Chúng ta không để cho những lời hứa hẹn,
biến thành những lời trống rỗng vô danh,
chúng ta hãy giản đơn khi tạm biệt,
chỉ làm theo một đạo luật chân thành:
Trong bất kỳ nhóm bạn nào khi gặp mặt,
bất cứ nơi nào có chúng ta tham gia,
chúng ta hãy luôn nâng cao ly thứ hai hoặc thứ ba,
nâng ly vì Việt Nam nơi ta từng chiến đấu.
Vì những ai để lại đây cuộc sống,
những ai bị thương trong chiến trận gian nan,
vì những ai còn khắc ghi mãi mãi
thời tuổi trẻ ở Việt Nam anh dũng của mình.

Vào cuối tháng 5 năm 1969 một chiếc IL-18 của Bộ Quốc phòng bay đến đón chúng tôi. Chúng tôi đã bay về nhà. Đó là một chuyến bay không chính thức của chiếc máy bay chở khách của chúng ta tới Moscow thông qua Ấn Độ và Pakistan, và còn vì có một số âm mưu xảy ra với máy bay. Chẳng hạn, khi hạ cánh để tiếp nhiên liệu tại Karachi (Pakistan), chúng tôi được đưa ra khỏi máy bay và đưa vào tòa nhà cảng hàng không, nhưng đúng thời gian này một chiếc máy bay Mỹ hạ cánh, chúng tôi nhanh chóng được đưa trở lại máy bay của chúng tôi, và chúng tôi cứ ngồi đó khi nó tiếp nhiên liệu, đó là một sự vi phạm thô bạo hướng dẫn. Nhưng điều này là cần thiết để từ máy bay Mỹ họ không nhìn thấy chúng tôi, nhằm tránh một vụ bê bối quốc tế. Khi bay gần đến Tashkent, cơ trưởng hỏi chúng tôi liệu có muốn hạ cánh để tiếp nhiên liệu tại Tashkent hay không, tất cả chúng tôi đồng thanh đáp: "Nếu đủ dầu về tới Moscow, thì cần gì phải đỗ ở đâu". Ai cũng muốn nhanh chóng về nhà...
Chuyến công tác quân sự của tôi tại nước Việt Nam xa xôi đã kết thúc như vậy đấy.

Báo quân đội Belarus "Vinh quang cho Tổ quốc" tháng 9 năm 2005.


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tám, 2014, 11:20:44 PM
(nhat-nam.ru)

Đó là tình bạn chiến đấu chân chính

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/pic/Antonov.jpg)

Thiếu tướng Antonov Yevgeny Mitrofanovich

Tác giả bài báo - cựu Tham mưu trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Liên Xô binh chủng TLPK và là cố vấn quân sự bên cạnh Tham mưu trưởng QC PKKQ QDNDVN - sẽ kể tỉ mỉ về con đường khó khăn thành lập BC TLPK QDNDVN và hệ thống Phòng không Bắc Việt Nam trong điều kiện các cuộc không kích quy mô lớn của KQ Mỹ, về sự phối hợp và hiệp đồng tương trợ nhau của các cấp chỉ huy Soviet và Việt Nam. (Đăng lần đầu tiên).

Antonov Yevgeny Mitrofanovich, thiếu tướng. Tiến sĩ Khoa học Quân sự, giáo sư, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự
Sinh ngày 19/09/1929 tại Moskva.
Năm 1950, tốt nghiệp hạng nhất Trường sĩ quan Pháo Phòng không Gorky và được bổ nhiệm làm chỉ huy một trung đội, sau đó phó chỉ huy một đại đội thuộc trung đoàn pháo binh cận vệ 244 Quân khu Phòng không Moskva.
Năm 1957, tốt nghiệp Học viện Quân sự Chỉ huy Pháo binh tại thành phố Leningrad và tiếp tục phục vụ trên cương vị sĩ quan phụ trách của Phòng Huấn luyện Chiến đấu BTM PPK và TLPK QKPK Moskva thuộc QCPK.
Từ năm 1960 đến năm 1962 chỉ huy tiểu đoàn TLPK 1 thuộc trung đoàn tên lửa phòng không cận vệ 236 Kirovsk-Putilovsk, sau đó sĩ quan phụ trách Phòng Tác chiến BTM TDQ PK đặc nhiệm số 1.
Năm 1966, chỉ huy trung đoàn TLPK 387 QKPK Moskva QCPK tại thành phố Arzamas-16.
Năm 1968, chủ nhiệm TLPK quân đoàn PK 7 QKPK Moskva. Từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 8 năm 1970 ông tham gia hoạt động chiến đấu tại Việt Nam trên cương vị tham mưu trưởng đoàn chuyên gia quân sự TLPK và chuyên gia quân sự bên cạnh tham mưu trưởng QC Phòng không-Không quân QDND Việt Nam.
Từ năm 1970 đến năm 1972 học viên Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu các Lực lượng Vũ trang Liên Xô.
Từ năm 1972 đến năm 1974: tư lệnh sư đoàn 5 tập đoàn quân phòng không độc lập 10, tư lệnh quân đoàn 11 thuộc tập đoàn quân PK độc lập 2, đại biểu Xô Viết Tối Cao Belorussia khóa 9, ủy viên Đảng bộ vùng Brest thuộc Đảng Cộng sản Belorussia.
Năm 1975, ông được bổ nhiệm phó Tư lệnh thứ nhất TDQ PK đặc nhiệm số 1 thuộc Quân khu Phòng không Moskva.
Từ năm 1978, giảng viên chính Khoa Nghệ thuật Tác chiến Chiến dịch PK Học viên Quân sự Bộ Tổng tham mưu các Lực lượng Vũ trang Liên Xô. Phục vụ 45 năm trong Lực lượng Vũ trang Liên Xô, trong đó 30 năm - phịc vụ trong Lực lượng Phòng không Quốc gia.
Hiện nay, ông là cộng tác viên khoa học hàng đầu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quân sự của Bộ Tổng tham mưu các Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga.
Được tặng thưởng các Huân chương Sao Đỏ, "Phục vụ Tổ quốc trong lực lượng vũ trang Liên Xô" hạng III và hạng II, huân chương Việt Nam "Chiến Công" hạng III. và 22 huy chương trong đó có Huy chương Việt Nam "Vì tình đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống xâm lược Mỹ".



Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã hoàn thành ngày 02 tháng 9 bằng tuyên ngôn thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV). Trong giai đoạn 1945-1954 nhân dân Việt Nam buộc phải bảo vệ tự do của mình chống lại sự xâm chiếm của thực dân Pháp.

Cuộc kháng chiến kết thúc bằng Hiệp định Geneva năm 1954. Nhưng việc tuyên bố thành lập trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam "Việt Nam Cộng Hòa" - một quốc gia bù nhìn thân Mỹ, đã vi phạm các thỏa thuận của hiệp định. Các cuộc tham vấn VNDCCH về tổng tuyển cử nhằm mục đích thống nhất đất nước của Việt Nam bị hủy bỏ và các chiến dịch trừng phạt đối với các lực lượng quốc gia yêu nước ở miền Nam Việt Nam đã được triển khai. Để đối phó với các biện pháp đàn áp của chế độ Sài Gòn và bọn quân phiệt Mỹ, nhân dân Nam Việt Nam đã vùng lên tiến hành cuộc chiến tranh vũ trang giải phóng dân tộc với mục tiêu thoát khỏi ách thuộc địa. Ngày 15 tháng 2 năm 1961 Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam quyết định thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là một trong những cuộc xung đột vũ trang lớn nhất kể từ sau Thế chiến II. Sự can thiệp của Hoa Kỳ vào công việc của Việt Nam nhằm theo đuổi những mục tiêu hoàn toàn xác định, chúng là một phần của chính sách xâm lược đất nước này trong thời kỳ "Chiến tranh Lạnh".

Thứ nhất, Mỹ âm mưu loại bỏ VNDCCH như một trong những tiền đồn tiến bộ ở Đông Nam Á.
Thứ hai, Mỹ có kế hoạch sử dụng Việt Nam như một bàn đạp để chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trong khu vực Thái Bình Dương.
Thứ ba, xâm chiếm Việt Nam, Hoa Kỳ hy vọng sẽ đảm bảo có được một cứ điểm tin cậy trên lục địa để triển khai các căn cứ không quân và hải quân, bao vây lục địa châu Á.
Quá trình cuộc đấu tranh vũ trang và cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, xét theo kết quả tác chiến-chiến lược có thể được chia thành hai giai đoạn - giai đoạn leo thang gây hấn (5 tháng 8 năm 1964 đến ngày 01 Tháng 11 năm 1968) và giai đoạn giảm dần quy mô cuộc chiến (từ tháng 11 năm 1968 - 27 tháng 1 năm 1973).

Ngày 02 tháng 8 năm 1964 Hoa Kỳ gây cuộc xung đột giữa các tàu của họ với các tàu phóng ngư lôi VNDCCH trong Vịnh Bắc Bộ, ngày 05 Tháng Tám, sử dụng điều này như một cái cớ, họ bắt đầu ném bom VNDCCH. Lào và Campuchia cũng đã phải chịu các cuộc tấn công. Ngày 07 tháng 8 Quốc hội Hoa Kỳ chính thức chấp thuận các hành động vô luật pháp của quân đội Mỹ. Từ năm 1965, các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ đã trực tiếp tham gia hoạt động chống lại các lực lượng giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam.

Kế hoạch chiến lược của bộ chỉ huy quân sự Hoa Kỳ dự định triển khai một cụm lực lượng vũ trang, sao cho đủ sức cô lập những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam khỏi Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia, do đó tạo điều kiện để đánh bại họ. Ngoài ra, họ vạch kế hoạch tổ chức các cuộc không kích lớn xuống các mục tiêu của quân giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các vùng giải phóng ở Lào, mà qua đó có các tuyến đường chính liên kết VNDCCH với Nam Việt Nam. Hạm đội 7 Hoa Kỳ cần phải ngăn chặn việc chuyển giao lực lượng và phương tiện của VNDCCH vào miền Nam Việt Nam bằng đường biển.

Quy mô và pham vi chiến đấu của các lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ chống lại VNDCCH đạt đến mức lớn nhất trong những năm 1966-1967. Trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam khoảng thời gian căng thẳng nhất là những năm 1967-1968.

Hoạt động quân sự chống lại VNDCCH và Nam Việt Nam là khác nhau đáng kể xét về mục tiêu, phương pháp hành động, các lực lượng và phương tiện huy động. Chống lại Bắc Việt Nam, kẻ xâm lược chỉ sử dụng lực lượng không quân và hải quân, theo đuổi mục tiêu phá hoại tiềm năng kinh tế- quân sự, sự đàn áp tinh thần của nhân dân và quân đội VNDCCH, buộc miền Bắc dừng sự giúp đỡ những người yêu nước miền Nam Việt Nam. Trong biên bản ghi nhớ của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ ngày 26 tháng 8 năm 1964, họ tuyên bố rằng chiến tranh đường không chống lại Bắc Việt là "cần thiết để ngăn chặn một sự sụp đổ hoàn toàn vị thế của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á".

Trong các hoạt động quân sự chống lại các lực lượng dân tộc yêu nước miền Nam Việt Nam ngoài Không quân và Hải quân Hoa Kỳ chủ động và tích cực sử dụng lực lượng mặt đất.

Sáu tháng đầu năm (từ 05 tháng 8 năm 1964 đến 07 tháng 2 năm 1965) máy bay Mỹ tấn công vào các đối tượng riêng lẻ của VNDCCH. Sau đó, bắt đầu từ ngày 07 tháng 2 năm 1965, họ bắt đầu thực hiện các vụ ném bom có hệ thống các cơ sở trên toàn lãnh thổ VNDCCH (ngoại trừ một dải hẹp biên giới với Trung Quốc).
Hạm đội 7 Hoa Kỳ tiến hành các hoạt động phong tỏa và pháo kích các cơ sở trên bờ của VNDCCH. Được huy động tham gia các hoạt động này là 125 tàu chiến các loại và 650 máy bay.

Bằng những cuộc tấn công ồ ạt quy mô lớn của không quân (bao gồm cả không quân trên tàu sân bay), hoạt động bắn phá của pháo hạm và các hoạt động phong tỏa của hạm đội, kẻ xâm lược đã thành công trên một mức độ rõ rệt trong việc làm suy yếu tiềm năng kinh tế-quân sự của VNDCCH, làm giảm khả năng của họ trong việc hỗ trợ những người yêu nước miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, việc phân tán và ngụy trang các cơ sở kinh tế và quân sự quan trọng đã cho phép VNDCCH duy trì khả năng quốc phòng của đất nước ở mức độ cao.

Cuộc chiến đấu ở miền Nam Việt Nam diễn ra một cách khác. Sau khi tập trung vào tháng Chín năm 1965 một lực lượng đáng kể, bộ chỉ huy Mỹ có ý định phối hợp với các lực lượng của chính phủ bù nhìn, hoạt động trong khu vực Sài Gòn, chia cắt lực lượng mặt trận giải phóng dân tộc, cô lập và tiêu diệt họ từng phần. Tuy nhiên, các lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTGPMN) bằng các hành động cơ động của mình đã làm thất bại kế hoạch của kẻ xâm lược. Quân đội Giải phóng liên tục tấn công quân đội và căn cứ đối phương, gây thiệt hại nặng về nhân lực và trang thiết bị cho chúng.

Các chiến dịch bao vây cụm quân giải phóng, loại bỏ các căn cứ của họ ở phía tây nam Huế vào tháng Tư-tháng 5 năm 1968 đã không thành công. Ban lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ buộc phải đồng ý đàm phán với VNDCCH trên cơ sở một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột. Các cuộc đàm phán bắt đầu từ 13 tháng 5 năm 1968 tại Paris, còn Hoa Kỳ từ ngày 01 tháng 11 tạm dừng các vụ ném bom xuống VNDCCH. Giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh này kết thúc như vậy.

Tuy nhiên, vào năm 1969 máy bay Mỹ nối lại các cuộc tấn công vào các mục tiêu và tuyến giao thông chiến lược của Bắc Việt Nam với cường độ khác, tiếp tục tiến hành trinh sát bằng máy bay không người lái trên toàn lãnh thổ VNDCCH, đôi khi huy động cho mục đích này cả các máy bay ném bom chiến lược B-52, và nếu phát hiện ra một trận địa phóng S-75 nào, thì ngay lập tức người Mỹ không kích phá hủy nó.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965 tại Việt Nam lần đầu tiên sử dụng phương tiện PK mới - các tổ hợp tên lửa PK, đã trở thành "mối đe dọa thực sự" lớn nhất đối với máy bay địch. Việc sử dụng SAM gây ra một cú sốc cho các phi công Mỹ. Khi bắt đầu không kích nhắm vào Đông Dương, Hoa Kỳ không có các  phương tiện chiến tranh điện tử hiệu quả. Chỉ trong giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh, tại Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược các phương tiện này mới có số lượng thật đủ. Nếu ở miền Nam Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom đối phương mà không bị trừng phạt, thì với mỗi phi vụ chiến đấu ở VNDCCH, các phi công máy bay chiến thuật và phi công hải quân trên tàu sân bay có thể bỏ mạng với mức xác suất đáng kể. Không quân Hoa Kỳ buộc phải đột kích ở độ cao thấp, độ cao mà pháo PK (đặc biệt là PPK cỡ nhỏ) của LLPK VNDCCH chứng tỏ mình tốt nhất. Tuy nhiên, việc người Mỹ chuyển không quân tấn công sang bay trong các tốp mà mật độ đội hình chiến đấu thưa hơn có một số chậm trễ, mà nhiều lần các chuyên gia Liên Xô đã chỉ ra. Một ví dụ là việc phóng ba đạn tên lửa vào một tốp dày đặc 6 máy bay "Skyhawk" của tiểu đoàn do thiếu tá I.K.Proskurin chỉ huy (tiểu đoàn 61 trung đoàn 236, trận đánh ngày 26 tháng 8 năm 1965). Kết quả của đợt xạ kích này là ba máy bay đã bị bắn rơi, chiếc thứ tư bị thương rơi xuống Vịnh Bắc Bộ.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/5(44).jpg)

Với trận đánh đó Proskurnin được trao tặng Huân chương Sao Đỏ, và sau khi từ Việt Nam trở về, anh liên tục chia sẻ kinh nghiệm của mình cho các sĩ quan chiến sĩ BCTLPK thuộc LLPK của đất nước. Sau trận đánh, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm tiểu đoàn tên lửa xuất sắc và chúc mừng toàn bộ quân nhân đơn vị vì chiến công đặc biệt (có ảnh đính kèm - Hồ Chí Minh trên trận địa phóng của tiểu đoàn thiếu tá Proskurnin). Sau này, đại tá I.K.Proskurnin chỉ huy thành công trung đoàn TLPK cận vệ 236 QKPK Moskva Quân chủng Phòng không.

Khi tôi còn là chỉ huy tiểu đoàn 1 trung đoàn TLPK cận vệ 236 Kirovsk-Putilovsk, thiếu tá I.K.Proskurnin là cấp phó của tôi, tiếp theo anh trở thành tiểu đoàn trưởng, và sau đó được phái đến Việt Nam theo đề nghị của tôi, mà tôi báo cáo với Tham mưu trưởng TDQ Phòng không đặc nhiệm số 1 Thiếu tướng N.A.Asriev. Đã có mệnh lệnh trực tiếp của Tổng tư lệnh Lực lượng Phòng không Quốc gia về vấn đề cùng với việc cung cấp cho VNDCCH vũ khí và trang thiết bị quân sự, còn lựa chọn và gửi đến những cán bộ chỉ huy tốt nhất, các kỹ sư và kỹ thuật viên ưu tú nhất, họ gánh vác trọng trách của giai đoạn đầu tiên hình thành các binh chủng của quân chủng PK QDNDVN, đảm bảo thực hiện thành công nhiệm vụ được giao phó cho lực lượng đó. Một trong những người đã hoàn thành xứng đáng mệnh lệnh của TTL, và là chỉ huy bệ phóng đó là trung sĩ Nikolai Kolesnik, người đã được trao tặng Huân chương Cờ đỏ.

Mỗi tổ hợp S-75, tùy thuộc tình hình được bảo vệ bởi một số khẩu đội PPK. Vì vậy, khi nỗi sợ hãi của các phi công Mỹ và bộ chỉ huy của họ buộc phải thực hiện các cuộc tấn công ở độ cao thấp, họ chịu tổn thất nặng từ hỏa lực pháo phòng không. Tính toán sai lầm của người Mỹ đánh giá thấp pháo phòng không khiến họ trả giá đắt. Ví như, trong giai đoạn 1965-1973 tổn thất của Không quân Hoa Kỳ do PPK là 66% (hơn 1.700 máy bay và UAV) trên tổng số thiệt hại của máy bay Mỹ ở Việt Nam.

Trong giai đoạn đầu của chiến tranh, mỗi mục tiêu bị bắn đều bị tiêu diệt bởi một hoặc hai đạn (đạn TLPK có điều khiển). Kỹ năng xuất sắc và hiệu quả xạ kích cao, mà các chuyên gia Liên Xô đạt tới đã được thể hiện. Ngoài ra, ban đầu, như đã nói ở trên, máy bay Mỹ oanh tạc trên các độ cao trung bình thuận lợi cho tổ hợp TLPK xạ kích, điều mà đối với các kíp chiến đấu Liên Xô không phải chuyện khó khăn gì đặc biệt.

Trong tám tháng chiến đấu đầu tiên, chỉ một tiểu đoàn của Trung tá F.P.Ilinykh, biệt phái từ trung đoàn TLPK 387, mà tác giả các dòng này có vinh dự chỉ huy trong giai đoạn 1966-1968 ở Liên Xô, đã bắn rơi 24 máy bay Mỹ. F.P.Ilinykh được trao tặng các Huân chương Lenin, Sao Đỏ và các huân chương quân sự của Việt Nam. Với Đại tá PF Ilinykh tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ, khi ông phục vụ trong cơ quan chỉ huy QKPK Moskva QCPK. Đập ngay vào mắt ta là sự chắc chắn hợp lý trong các hành động của ông, trình độ được đào tạo rất cao và sự đánh giá khách quan các bên đối địch. Không thể không lưu ý các hoạt động chiến đấu thành công của các kíp chiến đấu trung đoàn tên lửa PK Bryansk 260, trung đoàn đã được trao tặng Huân chương Cờ đỏ (chỉ huy Đại tá V.V.Fedorov). Là Chủ nhiệm TLPK quân đoàn 7 Phòng không Quân khu PK Moskva QCPK, mà trung đoàn này là một đơn vị thành phần, tôi từng cẩn thận nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu của trung đoàn. Cùng với trung đoàn này, trước khi tôi bay đi VNDCCH, trên cương vị chỉ huy xạ kích, tôi đã ra trường bắn đầu năm 1969. Trung đoàn đã tiêu diệt tất cả các mục tiêu, thể hiện trình độ chuẩn bị cao và được đánh giá "xuất sắc".

Sau đó bắt đầu quá trình chuyển giao khí tài quân sự tổ hợp S-75 cho các kíp chiến đấu Việt Nam, tuy nhiên các chỉ huy tiểu đoàn TLPK, sĩ quan dẫn đường, các kỹ thuật viên trưởng của các hệ thống phức tạp nhất của tổ hợp và một số chuyên gia quân sự Liên Xô khác khi đánh trả các cuộc không kích nhất định phải có mặt trên các vị trí công tác bên cạnh các đồng chí Việt Nam và họ cùng nhau chịu trách nhiệm cho kết quả trận đánh. Như vậy, các trận đánh đầu tiên đã được thực hiện bởi các chiến sĩ tên lửa Liên Xô, nhưng các kíp chiến đấu Việt Nam luôn tham gia vào tất cả các hoạt động chuẩn bị khí tài quân sự để phóng đạn tên lửa với tư cách người đồng sự kép. Sau đó, một phần các chuyên gia Liên Xô rời khỏi các vị trí chiến đấu, chuyển sang đào tạo đội ngũ quân nhân các phân đội và các đơn vị mới sử dụng tổ hợp S-75 BCTLPK QDNDVN.
............


Tiêu đề: Re: Sự tham gia của bộ đội tên lửa Liên Xô trong Chiến tranh chống Mỹ
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tám, 2014, 02:28:23 PM
Người Việt nhanh chóng làm chủ khí tài và học bắn, nhưng sức mạnh thể chất của họ không phải lúc nào cũng đủ đáp ứng. Để giảm thời gian thu hồi và triển khai tổ hợp, nạp và dỡ bệ phóng phải huy động số quân nhân Việt Nam nhiều hơn 2-3 lần yêu cầu so với phía Liên Xô. Các cuộc chiến tranh cục bộ đã chỉ ra rằng, khi phía nạn nhân của sự xâm lược hầu như không có hệ thống phòng không có tổ chức (ngoại lệ là VNDCCH), bên phòng thủ phải viện đến các hoạt động du kích để tiêu diệt máy bay địch trên các sân bay. Phương pháp này đặc biệt đặc trưng đối với Quân đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như với những người yêu nước Lào và Campuchia.

(http://www.nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/25(2)-big.jpg)
Kíp chiến đấu cabin U tiểu đoàn 63 trung đoàn TLPK 236, tham gia trận đánh đầu tiên của TLPK ngày 24 tháng 7 năm 1965. Từ trái sang phải: trắc thủ bám sát bằng tay binh nhất Yuri Papushov, sĩ quan dẫn đường thượng úy Vladislav Мikhailovich Коnstantinov, trắc thủ bám sát bằng tay binh nhất Vladimir Tishenko và hạ sĩ  Аnаtоly Bоndarеnkо. Sưu tập cá nhân của đại tá Коnstantinov Vladislav Мikhailovich.

Cuộc đột kích thành công nhất của các chiến sĩ-yêu nước diễn ra đêm sang ngày 31 tháng 10 năm 1964 tại sân bay Biên Hòa, miền Nam Việt Nam, tại đó các chiến sĩ du kích đã tiêu diệt 20 máy bay ném bom B-57 và 15 máy bay khác.
 
Tháng Mười Hai năm 1968, tôi đang mang quân hàm trung tá, được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm TLPK quân đoàn Phòng không số 7 Quân khu PK Moskva QCPK.

Mùa hè năm 1969, tôi biết rằng tại VNDCCH đang yêu cầu khẩn một Chủ nhiệm TLPK quân đoàn QKPK Moskva QCPK đảm nhiệm chức trách Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô BCTLPK (nhân vật này cũng đảm nhiệm vai trò chuyên gia quân sự bên cạnh Tham mưu trưởng QC Phòng không và Không quân QDNDVN). Sau đó được biết rằng trong số ba người được đề cử hiện đang trên cương vị Chủ nhiệm TLPK, có lẽ vì những lý do chính đáng, không ai có thể đi công tác một thời gian dài ở VNDCCH.

Sự lựa chọn rơi vào tôi. Tôi có bệnh - sỏi thận. Với một căn bệnh như vậy người ta nghiêm cấm việc cử đến Việt Nam công tác. Nhưng tôi giấu bệnh này - tôi không thể báo cáo Thượng tướng Tư lệnh bộ đội quân khu PK V.V.Okunev rằng mình không thể đến Việt Nam. Điều này đối với tôi sẽ là một sự sỉ nhục khủng khiếp. Và, biết rõ vị tư lệnh của mình, tôi khẳng định rằng trong trường hợp từ chối, trong mắt ông, tôi sẽ mất tất cả uy tín mà mình thu được trong nhiều năm qua. Điều này tôi không thể cho phép trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và thậm chí vào năm 1968 tại cuộc thi bắn súng, diễn ra giữa các chỉ huy trung đoàn của quân khi, tôi đã giành vị trí đầu tiên.

Vào tháng Chín năm 1969, tôi đã có mặt ở Hà Nội và tiếp nhận cả hai vị trí: Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô BCTLPK và chuyên gia bên cạnh Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không và Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau khi xem xét tình hình, tìm hiểu các hành động của kẻ địch và khả năng của LLPK QDNDVN (bao gồm cả LLKQ Tiêm kích VNDCCH), tôi đi đến kết luận rằng cần cấp thiết xác định các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thấp trong xạ kích tác chiến của các tổ hợp S-75 vào các mục tiêu bay thấp - phương tiện bay không người lái (UAV), với sự giúp đỡ của chúng người Mỹ đang tiến hành trinh sát có hệ thống lãnh thổ VNDCCH. Hiệu quả vào thời điểm này là 15 đạn tên lửa cho một mục tiêu bị hạ. Trên kia, tôi đã lưu ý rằng ở Liên Xô, tôi luôn luôn nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam. Một hiệu quả như thế ít nhất thấp hơn 3-5 lần so với khả năng của tổ hợp S-75 và những kết quả đạt được ở giai đoạn đầu sử dụng tổ hợp TLPK tại Việt Nam.

Thành thật mà nói, tôi đã hơi ngạc nhiên bởi tình trạng công việc như vậy và thái độ đối với chuyện này của các chuyên gia quân sự Liên Xô cũng như các nhà lãnh đạo QCPK Việt Nam, mặc dù nửa đầu năm 1969, đã có 66 UAV bị bắn rơi. Tôi rút ra kết luận cho mình rằng cần cấp thiết chấn chỉnh tình hình. Với những kết quả chiến đấu thế này, nếu tình hình vẫn tiếp tục như vậy, thì trước mặt những người đã phái tôi đến Việt Nam, tôi không thể thậm chí ngước mắt mình lên, chứ đừng nói gì chuyện giải thích tình hình. Vâng, và những thủ trưởng của tôi, như vị tư lệnh quân khu và tư lệnh bộ đội TLPK quân khu và TTL PK quốc gia sẽ không lắng nghe tôi.

Bắt đầu công việc của mình với việc tổng quát hóa kinh nghiệm các cuộc xạ kích suốt cả năm 1969 và tiến hành phân tích kỹ lưỡng những nguyên nhân gây