Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 01:30:11 PM



Tiêu đề: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 01:30:11 PM
Tác giả: Nhiều tác giả (Những người thực hiện:Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Hoàng Hạnh).
Nhà xuất bản: Thông tấn.
Năm xuất bản: 2006.
Số hóa: dongadoan.

Lời nhà xuất bản



  Nhân kỷ niệm 98 năm ngày sinh (1-10-1908 - 1-10-2006) và 50 năm ngày mất (21-10-1956 - 21-10-2006) của Tướng Nguyễn Sơn, một chiến sĩ cộng sản, vị tướng huyền thoại, Nhà xuất bản Thông Tấn phối hợp với gia đình ông, tập hợp bài viết của những bạn chiến đấu cùng thời, những người gắn bó gần gũi với ông, các nhà nghiên cứu lịch sử, những người ngưỡng mộ Tướng Nguyễn Sơn và thân quyến, biên soạn và ấn hành cuốn sách mang tựa đề "Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng Quân".

  Tướng Nguyễn Sơn là một vị tướng tài năng, không chỉ thể hiện trong lĩnh vực quân sự, mà còn trong các lĩnh vực chính trị, tuyên truyền, văn nghệ. Ông là một con người có phong cách riêng và độc đáo.

  Tên tuổi Tướng Nguyễn Sơn gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với cuộc trường chinh của quân đội Việt Nam. Ông đã cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời ông cũng là một chiến sĩ quốc tế xuất sắc, người xây đắp cho mối tình hữu nghị Việt - Trung.

  Những bài viết, những hồi ức, những cảm tưởng chân thực, xúc động, hấp dẫn trong cuốn sách sẽ giúp độc giả hình dung để hiểu được phần nào cuộc đời, sự nghiệp cách mạng phong phú, sôi động của Tướng Nguyễn Sơn, một người cộng sản tận tuỵ phục vụ và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc.

  Cuốn sách tập hợp những bài viết từ nhiều nguồn khác nhau, Nhà xuất bản Thông Tấn cùng gia đình Tướng Nguyễn Sơn xin chân thành cảm ơn những tác giả có bài trong cuốn sách và những đánh giá chân thực, tốt đẹp về ông.

  Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục được sự cộng tác về tư liệu của quý độc giả để vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, bạn đọc sẽ có một cuốn sách phản ánh đầy đủ hơn về Tướng Nguyễn Sơn.

  Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Nhà xuất bản Thông Tấn


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 01:41:53 PM
(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson1.jpg)



Bài phát biểu của Tổng thư ký hội khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc
trong buổi lễ tưởng niệm lần thứ 85 ngày sinh của Tướng Nguyễn Sơn



  Chúng tôi dành buổi sinh hoạt cuối năm của Hội Sử học Việt Nam cho nội dung tưởng niệm một vị tướng, người có nhiều đóng góp trong việc xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam, đó là Tướng Nguyễn Sơn. Buổi sinh hoạt này cũng là buổi sinh hoạt hướng tới kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân cho nên càng có ý nghĩa hơn.

  Chúng ta đều biết tên tuổi Nguyễn Sơn gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gắn liền với một thời kỳ trường chinh của quân đội nhân dân Việt Nam.

  Những chiến công của ông và những đồng đội cùng thời ông chúng ta không thể nào quên. Tướng Nguyễn Sơn là một vị tướng huyền thoại. ở đây có nhiều vị lão thành, những người đồng chí, đồng ngũ của ông, tuy rằng chúng tôi là những người làm sử nhưng không có may mắn được trực tiếp ở sát bên ông để chứng kiến những hoạt động của ông, vì thế rất mong các vị lão thành, đồng chí của Tướng Nguyễn Sơn thường xuyên dự sinh hoạt với chúng tôi, để chúng ta cùng nhau ghi lại một thời kỳ lịch sử hào hùng của một con người đã đi vào huyền thoại.

  Có lẽ cuộc đời của Tướng Nguyễn Sơn còn phong phú hơn nhiều những điều ngắn ngủi mà chúng ta đã biết tới. Ông là một con người có thể nói là hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và còn là một chiến sĩ quốc tế xuất sắc. Ông là người tham gia đào tạo thế hệ những chiến sĩ cụ Hồ, những con người đã tạo nên chiến thắng thần kỳ Điện Biên Phủ mà sang năm (1994), chúng ta sẽ kỷ niệm như một ngày lễ lớn của dân tộc. Chúng tôi nhắc lại một lần nữa là buổi lễ tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn hôm nay cũng là buổi tưởng niệm tất cả các tướng lĩnh, tất cả những người lính đã chiến đấu và ngã xuống cho sự nghiệp của dân tộc ta.

  Chúng tôi rất vui mừng trong buổi sinh hoạt cuối năm này có mặt đông đủ các hội viên Câu lạc bộ Sử học và nhiều người lần đầu tiên đến dự. Cho phép tôi thay mặt Ban tổ chức trân trọng giới thiệu đến dự buổi sinh hoạt hôm nay có Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch danh dự Hội Sử học Việt Nam, có chị Nguyễn Thanh Hà là con gái của Tướng Nguyễn Sơn và nhiều người trong gia đình, dòng tộc của Tướng Nguyễn Sơn. Chúng tôi xin lỗi không giới thiệu được hết những người đồng chí của Nguyễn Sơn hôm nay có mặt tại đây và cả những người ngưỡng mộ Nguyễn Sơn. Chúng tôi rất vui mừng giới thiệu đến dự buổi lễ này không chỉ có những quân nhân đồng chí của Nguyễn Sơn, mà còn có cả nhiều văn nghệ sĩ, những người đã có dịp gắn bó, gần gũi với ông và nhiều cán bộ nghiên cứu lịch sử, ngoài ra còn có nhiều phóng viên, các đài truyền hình, báo chí đã đến đây để nhân lên tình cảm của chúng ta với Tướng Nguyễn Sơn trong buổi sinh hoạt này.

  Một năm đã kết thúc, trong buổi lễ tưởng niệm một người đã khuất, tôi đề nghị tất cả chúng ta dành một phút mặc niệm cho tất cả các chiến sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp của đất nước ta.

  Trước khi vào phần nội dung, chúng tôi xin được chuyển đến các vị có mặt ngày hôm nay, một số ý kiến, lời chào mừng của một số người vắng mặt.

  Chúng tôi đã nhận được thư của Thượng tướng Trần Văn Quang - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam gửi cho chị Thanh Hà, con gái của Nguyễn Sơn.

  Ban tổ chức chúng tôi cũng nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân khu IV là địa bàn Tướng Nguyễn Sơn hoạt động trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi cũng nhận được hai bức thư do gia đình chị Hà gửi, qua Đại sứ quán Trung Quốc gửi tới. Đó là những bức thư của hai người con trai của Tướng Nguyễn Sơn hiện đang sống ở Trung Quốc.

  Cho phép tôi được thay mặt một người đã khuất, một nghệ sĩ quen thuộc của chúng ta, đó là ông Bửu Tiến, một soạn giả sân khấu, người Huế, có thời gian sống và làm việc trên địa bàn hoạt động của Tướng Nguyễn Sơn (tức Quân khu IV). Ông đã ghi lại những kỷ niệm về những ngày sống bên Tướng Nguyễn Sơn. Rất tiếc là ông đã mất trước khi những dòng chữ của ông được chúng ta hôm nay biết đến(1).

  Chúng tôi biết là nhiều đồng chí có mặt ở đây hôm nay muốn nói về Nguyễn Sơn, người bạn, người đồng chí của mình. Chúng tôi xin ưu tiên những nhà sử học, là những người đứng ở một vị trí khách quan hơn nhìn về Tướng Nguyễn Sơn. Và sau đó chúng tôi sẽ mời một số các vị, các đồng chí đương thời với Nguyễn Sơn phát biểu.
-------------------------------------
1. Xin xem bài của Bửu Tiến trong tập sách này (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 01:46:15 PM
... Một chiến sỹ cộng sản kiên định,
một vị tướng có tài năng(*)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp



  Thưa đồng chí Chủ tịch Hội khoa học lịch sử,

  Thưa toàn thể gia quyến của Tướng Nguyễn Sơn,

  Tôi rất xúc động hôm nay được đến dự buổi lễ tưởng niệm anh Sơn, nhân ngày sinh lần thứ 85 năm của anh. Tôi và anh Sơn có nhiều kỷ niệm trong những ngày cách mạng mới thành công, rồi trong những ngày cuối đời anh về nước.

  Cũng như anh Phùng Chí Kiên, anh Nguyễn Sơn đã sớm tham gia phong trào thanh niên và đã có may mắn được theo học ở Trường Hoàng Phố. Về thân thế và sự nghiệp của anh thì trong buổi họp mặt hôm nay không có thời gian trình bày, nhưng chắc chắn lịch sử sẽ không quên. Hôm nay, tôi chỉ muốn nhắc lại một số kỷ niệm giữa tôi và anh trong những ngày chúng tôi cùng làm việc.

  Lúc anh Sơn về nước thì quân Pháp đã gây ra chiến tranh xâm lược ở miền Nam, nước ta đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong Thường vụ, Bác, anh Trường Chinh và tôi đều muốn anh Sơn vào phía Nam là nơi chiến sự đang diễn ra quyết liệt. Cuối năm 1946, tôi đi vào mặt trận Khánh Hòa gặp anh Phạm Kiệt, trao đổi ý kiến càng thấy cần tăng cường cán bộ chủ trì, nhất là về quân sự. Không lâu sau, anh Sơn được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, trong khi tôi giữ chức vụ Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội toàn quốc (về sau đổi ra Uỷ ban Kháng chiến toàn quốc). Đó là một trọng trách rất lớn nói lên sự tín nhiệm của Đảng và Chính phủ đối với anh.
Anh Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, một tướng có công của quân đội ta. Đặc biệt, anh là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đã từng tham gia cách mạng và kháng chiến ở Trung Quốc trong nhiều năm. Do vậy các đồng chí bạn thường nhắc đến anh với tình cảm sâu sắc và trân trọng. Năm ngoái, trong dịp thăm Trung Quốc, tôi có gặp chị Sơn và các cháu, rất mừng thấy tinh thần rất tốt, các cháu ở bên đó cũng như các cháu ở nhà trong gia đình, đều cố gắng học tập và làm việc để xứng đáng với sự mong mỏi của bố.

  Như vậy, có thể nói Nguyễn Sơn là một chiến sĩ quốc tế đã để lại tấm gương tốt đẹp về tình hữu nghị giữa Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc.

  Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng (như có đồng chí vừa nói); nhưng phải nói anh là một vị tướng có tài năng. Anh Sơn chẳng những có tài về quân sự mà còn có khả năng về chính trị, về tuyên huấn, về văn nghệ. Anh lại có phong cách riêng - rất là Nguyễn Sơn. Ví dụ: làm chủ hôn mà bắt cô dâu và chú rể phải làm thơ thì chỉ có anh Sơn thôi!
Anh luôn chú trọng đào tạo cán bộ, ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, rồi Trường Quân chính Khu IV. Trong phong trào luyện quân lập công, anh đã tổ chức thành công "Đại hội tập", một hình thức huấn luyện lôi cuốn cả quân đội và nhân dân.

  Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

  Có thể nói thời bấy giờ - Cách mạng Tháng Tám mới thành công, cách mạng Trung Quốc chưa thắng lợi - là thời kỳ tiêu biểu cho chí khí tự lực tự cường, độc lập sáng tạo của Đảng ta, của nhân dân, kiên quyết giữ vững chính quyền non trẻ, chiến đấu trong vòng vây trong điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và của Đảng, toàn dân ta đã đoàn kết chiến đấu, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, từ dân quân đến những đại đoàn chủ lực đầu tiên. Chúng ta đã đứng vững và trưởng thành, đã xây dựng nền tảng vững chắc để sau này tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em, nhất là của nước Trung Hoa mới. Tôi muốn nhắc đến một tư liệu cuối năm 1949 của Pháp mới công bố gần đây, trong đó phía Pháp đã phải thừa nhận rằng "không có khả năng thắng Việt Minh bằng quân sự" được.

  Chính vào những ngày khó khăn ấy, anh Sơn đã về nước. Trong các cuộc họp bàn về quân sự, về kháng chiến, anh đã tham gia tích cực, có nhiều ý kiến sâu sắc về đào tạo cán bộ cũng như về tác chiến, về xây dựng chủ lực cũng như về xây dựng lực lượng dân quân - một vấn đề mà anh hết sức coi trọng. Trong các buổi họp, trên diễn đàn, anh nói chuyện sôi nổi, hấp dẫn. Trong quan hệ giao tiếp với bạn bè, anh quý trọng đồng chí, đồng đội, nhiều khi trò chuyện thâu đêm, say sưa, cởi mở.

  Thời gian về nước tuy không lâu lắm, nhưng anh đã cống hiến hết sức mình. Sau chiến dịch Giải phóng biên giới Việt - Trung năm 1950, do phân công công tác, anh đã trở sang Bắc Kinh. Đã nhiều năm bôn ba hoạt động cách mạng xa quê hương, bao gờ anh cũng luôn hướng về Tổ quốc. Cho đến khi lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù bạn đã hết lòng cứu chữa, kể cả gửi bệnh án sang Liên Xô, cũng không thể qua khỏi; theo đề nghị của anh, Đảng đã cho đón anh về nước, và anh đã từ trần nơi đất mẹ, trong niềm thương tiếc vô hạn của gia đình và các bạn chiến đấu của anh.

  Nếu còn sống đến nay, anh đã 85 tuổi. Tiếc rằng anh ra đi quá sớm. Nhưng, trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh của một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.
---------------------------------------
(*) Lời phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại buổi sinh hoạt tưởng niệm 85 năm ngày sinh của Tướng Nguyễn Sơn, ngày 31-12-1993, tại Hà Nội. Đề bài do chúng tôi đặt (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 01:59:02 PM
Về tấm danh thiếp của Bác Hồ tặng Nguyễn Sơn

Nguyễn Thạch Kim


(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson2.jpg)

  Đến năm 1947-1948 quân đội ta đã có nhiều đơn vị chủ lực và địa phương quân lớn mạnh vững vàng. Vấn đề phong quân hàm được đặt ra để tăng cường kỷ cương, đồng thời đề cao thanh thế quân đội của một quốc gia. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh và các quân khu đã lần lượt được vinh dự nhận quân hàm tướng các cấp. Riêng đồng chí Nguyễn Sơn, Khu trưởng Quân khu IV mãi chưa thấy được tấn phong.

  Đồng chí Nguyễn Sơn là một cán bộ lãnh đạo chỉ huy tương đối nổi tiếng thao lược ở Việt Nam hồi bấy giờ. Tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê quán làng Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm - Hà Nội), đồng chí giác ngộ cách mạng và xuất dương rất sớm từ một sinh viên cao đẳng sư phạm. Sang Trung Quốc đồng chí được đưa vào học Trường võ bị Hoàng Phố với tên mới Lý Hồng Thuỷ(1)(hồi ấy Bác Hồ lấy tên là Lý Thuỵ nên một số thanh niên cách mạng Việt Nam ở Quảng Đông đổi tên mới lấy họ Lý theo Bác, như Lý Tự Trọng...). Đồng chí đã tham gia suốt cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc, và đã trở thành một tư lệnh, một chính uỷ phân khu trong khu giải phóng Thiểm - Cam - Ninh (Thiểm Tây - Cam Túc - Ninh Hạ), đã nhiều lần lăn lộn tác chiến, luyện quân và trải qua chỉ đạo, lãnh đạo công tác văn nghệ trong quân đội. Trình độ lý luận chính trị, quân sự và năng lực tổ chức vận động quần chúng của đồng chí được nhiều nhân sĩ trí thức và cán bộ, sĩ quan xa gần khâm phục mến mộ. Bởi thế nhiều cán bộ đã từng công tác với đồng chí cũng như bản thân đồng chí đã đánh giá đồng chí cao hơn một số tướng lĩnh hồi bấy giờ. Đối với quân hàm Thiếu tướng đồng chí chưa bằng lòng lắm. Chưa ai biết việc phong quân hàm cho đồng chí sẽ tiến hành như thế nào, thời gian nào...

  Thế rồi một buổi đầu thu năm 1948, tôi được gọi lên quân khu bộ gặp đồng chí Tư lệnh. Đồng chí nói với tôi: "Hồ Chủ tịch đã phái Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch vào chủ trì lễ phong quân hàm cho mình. Phòng tham mưu đã đề nghị cử đồng chí và đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa trợ lý, làm "bồi lễ" với mình. Phải chuẩn bị quân phục chỉnh tề đấy nhé!". Thấy tôi có vẻ sửng sốt ngạc nhiên, đồng chí liền giải thích: "Cậu tưởng không bao giờ có việc này sao? Trước đây mình có ý định không muốn nhận cấp Thiếu tướng. Vả lại có tướng hoặc không có cũng vẫn phải đánh giặc, phải rèn cán luyện quân. Nhưng suy cho cùng, nhất là với thái độ xử sự của ông Cụ thì mình không thể từ chối được!".

  Tôi vội hỏi lại:

  - Cách đặt vấn đề của Hồ Chủ tịch thế nào, anh?

  Đồng chí giở cặp hồ sơ trước mặt, rút ra một phong bì bên ngoài đề Tặng Sơn đệ (Gửi chú Sơn) trao cho tôi. Tôi mở ngay ra xem: một tấm danh thiếp xinh xắn giản dị như mọi cái khác, mặt trước in rõ ba chữ Hồ Chí Minh, mặt sau có 4 dòng chữ viết nắn nót, ngay ngắn:

 
- Đảm dục đại
- Tâm dục tế
- Trí dục viên
- Hành dục phương.

  Thấy tôi im lặng suy nghĩ, đồng chí Tư lệnh trưởng thường ngày là một người sôi nổi hùng biện, song lần này có đổi khác, chậm rãi giảng bài cho tôi: "Chính mười hai chữ ông Cụ gửi mình đó khiến mình tỉnh ra nhiều, và có nhiều điều suy nghĩ khác trước. Chỉ có mấy chữ ấy thôi mà sao nó lay động tâm tư mình thế, và sao mà Bác ân cần cặn kẽ thế! Thật là uyên thâm, thật là chí tình!

  Đảm dục đại là gan phải cho to. Chữ nói ít mà bảo ban nhiều đức dũng cảm lớn, không phải chỉ đòi hỏi chiến đấu gan dạ, mà còn phải biết táo bạo dám nghĩ dám làm những việc lớn!

  Tâm dục tế là tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng, tinh tế, kín đáo, thanh nhã, không thô lậu, lỗ mãng. Tâm dục tế, một lời khuyên nhủ sâu lắng đậm đà tình cảm chân thành, vừa nghiêm lệ chặt chẽ, vừa dịu dàng thấm thía. Đó là lời người anh cả nói với chú em thân quý của mình!

  Trí dục viên là suy nghĩ phải trọn vẹn toàn diện, đầy đủ chu đáo... Chữ "viên" đi sau chữ "trí" bao hàm được nhiều ý tứ dặn dò tinh thần trách nhiệm, nhắc nhở sự chín chắn, coi trọng những kinh nghiệm, những từng trải đã gửi cho một tướng lĩnh dưới quyền, vừa từ tốn, vừa đĩnh đạc, xuyên đọng.

  Hành dục phương là hành động phải ngay thẳng, đúng đắn, chân chính, phân minh đàng hoàng, không méo mó cong queo. Từ ngữ đi với nhau chặt chẽ gắn bó, ăn ý một cách hoàn chỉnh, tuyệt diệu!

  Mình rất quen với văn học Trung Quốc nhưng thấy ít người viết ngữ văn Trung Quốc xúc tích như ông Cụ.

  Từ xa gần ngàn dặm, với mấy chữ ngắn gọn, ông Cụ đã gửi cho mình một bài học sâu sắc, một món quà hiếm quý, khiến mình suy nghĩ lại được nhiều điều. Những cái mình đã có song chưa vững chưa mạnh thì phải tu dưỡng bồi luyện thêm, những gì còn thiếu sót, phải bổ sung sửa chữa. Mình sáng ra, thấy ra nhiều điều trước đây nói và làm chưa đúng, chưa chín chắn, thận trọng. Rút cuộc, cái việc thụ phong quân hàm mình cũng phải thay đổi quan điểm, không như trước đây chỉ nghĩ một mặt một chiều, chỉ nghĩ nặng về mình".

  Sau đó ít hôm, trên một chuyến thuyền cùng đồng chí Phạm Ngọc Thạch xuôi dòng sông Mã xuống thăm bộ đội và công việc bố phòng bãi biển Sầm Sơn, chúng tôi nhắc lại việc phong tướng vừa rồi, đồng chí Thạch nói rõ thêm:

  - Quà tặng nhân dịp phong tướng của Bác cho anh Nguyễn Sơn tuy chỉ là tấm danh thiếp và mấy câu chữ vắn tắt, nhưng đầy ý nghĩa và tác dụng. Sau khi nhận tấm danh thiếp, anh Sơn tỏ ra cảm động. Riêng tôi, còn thấy Bác là người chu đáo kỹ lưỡng ít ai có, không phải chỉ trong nội dung giấy tờ, mà còn chu đáo kỹ lưỡng trong cách làm, cách ứng xử. Bác dặn tôi khi vào tới nơi đề cập việc tấn phong thì đưa ngay danh thiếp. Đúng với ý Bác đã sớm lường, xem xong danh thiếp, qua suy nghĩ, thái độ anh Sơn vui vẻ nhuần nhã hẳn lên và tiếp thu một cách thoải mái nhẹ nhàng, tôi không phải thuyết phục nhiều lời gì nữa như đã chuẩn bị trên đường đi.

  Về sau cứ mỗi lần lên gặp Thiếu tướng Tư lệnh quân khu là mỗi lần tôi được thấy lại các hàng chữ đầy ý nghĩa và ấn tượng ấy trong tấm danh thiếp mà đồng chí Nguyễn Sơn găm ngay ngắn ở cái giá gác bút đặt trước bàn làm việc.

  Tôi nghĩ đó cũng chính là những lời dạy bảo chí tình của Bác đối với mọi tướng lĩnh và cán bộ quân đội nhân dân ta.
------------------------------------
 1. Có tư liệu cho rằng Lý Đức Lan (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 06:05:56 PM
Tiếp cận Nguyễn Sơn*

Đại tá - P.T.S. Sử học Nguyễn Văn Khoan



  Cho phép tôi được dùng tên gọi Tướng Nguyễn Sơn mà không dám dùng danh từ nào thay thế, mặc dù chúng tôi rất kính phục và muốn gọi một tên khác. Việc sưu tầm tư liệu về Tướng Nguyễn Sơn và một số tướng lĩnh trong quân đội ta, chúng tôi đã bắt đầu được mấy năm nay, khi mà Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng tiến hành biên soạn cuốn Danh nhân Việt Nam, do Nhà xuất bản Giáo dục chủ trương, đã phát hành năm 1992. Nhưng bấy giờ do nhiều hoàn cảnh chúng tôi không được sự giúp đỡ đầy đủ của một số cơ quan nên phải tìm tư liệu qua một hướng khác của một số học giả nước ngoài. Cho đến hôm nay chúng tôi đã tìm được một số tư liệu quý về một số tướng lĩnh trong quân đội ta, riêng về Tướng Nguyễn Sơn chúng tôi cũng đã có những tài liệu cơ bản nói về diện mạo, cuộc đời của ông.

  Tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác. Chữ Bác này trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là rộng. Trong Kinh Dịch có chữ Bác đối với chữ Phục. Sách Luận Ngữ có câu: "Quân tử bác học tư văn ước chi chi lễ", có nghĩa là "Người quân tử học rộng biết nhiều, lấy phép tắc mà quy củ lại". Có lẽ đây là ý nguyện của ông thân sinh ra Tướng Nguyễn Sơn. Chữ Nguyên có nghĩa là đầu nguồn, "ẩm thuỷ tư nguyên" có nghĩa là uống nước nhớ nguồn. Nguyễn Sơn gốc ở làng Kiêu Kỵ, một làng có nghề dát vàng truyền thống dùng trong nghệ thuật sơn mài, thuộc huyện Gia Lâm, nhưng sinh ra ở Hà Nội vào năm 1908, năm xảy ra vụ "Hà thành đầu độc". Ông là con thứ tư trong một dãy anh em trai với những cái tên: Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và là anh của một cô em gái nhỏ. Dãy tên này được ông thân sinh ra Tướng Nguyễn Sơn đặt nói lên tính cương trực, ương bướng chống đối lại cường quyền. Nhà báo Thái An ở Tạp chí Giáo dục thời đại, hôm nay cũng có mặt tại đây, trong số báo tháng 12 có bài viết về Nguyễn Sơn đã nhận xét rằng: Sở dĩ cụ đặt tên như vậy là để không ai chửi được mình. Theo học tại Trường tiểu học Yên Ninh, Trường Bưởi, Vũ Nguyên Bác không vùi đầu vào sách vở mà đi theo Kim Thanh - một trong những người tuyên truyền Đảng Thanh niên sớm nhất ở Hà Nội. Hồ sơ số 3897, ngày 2-4-1931, hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam của Sở mật thám Bắc Kỳ cho biết Kim Thanh đã kết nạp nhiều người vào Đảng, trong đó có Vũ Nguyên Bác tức Hồng Tú, tức Lý Đức Lan, tức Phổ. Mật thám Pháp không biết rằng năm 1931 Vũ Nguyên Bác đã có tên mới là Hồng Thuỷ - tên ông tự chọn trong cụm từ mà bọn phản động đặt tên cho khu du kích Đông Giang của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau Quảng Châu công xã. Chúng không biết rằng năm 1925, 17 tuổi, Vũ Nguyên Bác đã được Nguyễn Công Thu, giao thông của Nguyễn Ái Quốc cử về đón sang huấn luyện. Chuyến đi đầu tiên của Nguyễn Công Thu lúc bấy giờ chỉ có hai người: Tư Chính tức Bàng Thống và Nguyễn Sơn - (theo hồ sơ chính của Nguyễn Công Thu viết, lưu tại Bảo tàng Cách mạng). Học chính trị ở lớp huấn luyện, rồi học quân sự ở Trường Hoàng Phố cùng với các đồng chí: Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, với các giáo viên người Nga hướng dẫn. Mười chín tuổi - Vũ Nguyên Bác đã tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, gia nhập Hồng quân, là người nước ngoài duy nhất tham dự 2 vạn 6 nghìn dặm Vạn lý trường chinh. Hai tư tuổi, ông đã dự Hội nghị Tuân Nghĩa của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc - theo tài liệu của Trung Quốc. Hai chín tuổi đã là Chính uỷ Sư đoàn 34 quân đoàn 12, Đoàn trưởng đoàn kịch Công nông binh Hồng quân đầu tiên của nước Trung Hoa, Trưởng ban tuyên truyền Khu uỷ Khu Đông Bắc - Khu Xô viết, Tổng biên tập báo "Kháng địch" của khu Tấn-Sát-Ký, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Uỷ viên Chính phủ Trung ương lâm thời Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, nhà báo, nhà thơ, nhà soạn kịch, diễn viên (theo tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Quốc). Bí mật về Việt Nam năm 1945, sau khi qua nhiều chức vụ quan trọng, năm 1947, Nguyễn Sơn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 228/SL tháng 7 ngày 18 làm Khu trưởng Chiến khu IV. Năm 1951, trở lại Trung Quốc, ông nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục điều lệnh của Bộ huấn luyện nhân dân Giải phóng quân Trung Quốc kiêm Giám đốc toà soạn "Tạp chí Huấn luyện chiến đấu". Vì đau nặng, năm 1956, Nguyễn Sơn trở lại quê nhà và mất tại Hà Nội. Với 49 tuổi đời ngắn ngủi, Nguyễn Sơn đã để lại sau mình 25 tuổi thanh xuân chiến đấu ở nước ngoài và chỉ có mặt ở quê hương Tổ quốc với tư cách một người đã trưởng thành không quá 6 năm. Nhưng trong 6 năm ấy, dù ở Việt Bắc, Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ, Khu V, với Trường Lục quân Quảng Ngãi, ở Khu IV với "Đại hội tập" thần kỳ, với Trường thiếu sinh quân - niềm hy vọng của ông - với lớp văn hoá kháng chiến của Giáo sư Đặng Thai Mai, với đoàn chèo Nguyễn Đình Nghi, điệu múa Xuân Phả, Thọ Xuân, Thanh Hoá, với các bài giảng về Truyện Kiều, với Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Quỳnh của chế độ cũ, với thượng thư Ưng Uý, với hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh, Đinh Ngọc Liên - đội trưởng đội quân nhạc, với các anh chị Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Hồ Dzếnh, Xuân Tửu, Nguyễn Xuân Sanh, Giáng Hương và với cả vợ chồng Phạm Duy - Thanh Hằng ca sỹ. Với đồng đội, bạn bè, chiến sĩ, với mọi tầng lớp nhân dân ở mọi nơi, ông đã để hình tượng Nguyễn Sơn đi vào trái tim của họ, đan xen giữa ngưỡng mộ, tự hào, đôi lúc thái quá trong lớp thanh niên đã tôn sùng ông như thần tượng của mình, thời ấy. Tựu trung tất cả, tình cảm của họ quý trọng ông ở tài năng, ở cái Tâm, cái Nghĩa, dân giã, cởi mở, không cố chấp, không hề bị ràng buộc, bởi chất hào hoa, lãng tử đôi lúc trong con người ông. Hình như ông muốn dồn ép, chuyển tải tình cảm của mình vào nhân dân, mong muốn thông tin với cường độ lớn về gia tài trí thức của mình. Phải chăng ông đã tiên lượng về quãng đời ngắn ngủi của mình, nên ông đã tranh thủ thời gian. Nói sợ không hết và làm e không đủ. Con người mà "rượu vang hảo hạng không cần nhãn hiệu" ấy hết mực khiêm nhường, sẵn sàng nhận lỗi với cả anh binh nhì, với cả cô con gái nhỏ, con người tài năng trong nhiều lĩnh vực. Khi làm tướng, một mình hai ngựa trong cuộc Vạn lý trường chinh, 2 lần bị khai trừ ra khỏi Đảng, 2 lần kết nạp lại, một lần lưu Đảng, đi chăn dê, chăn cừu, vào sống ra chết không đếm được trên 10 đầu ngón tay, nhưng ông vẫn là một con người bình dị, một con người thực trong đời thường như mọi người khác. Xa Tổ quốc quê hương nhiều năm như thế mà Kiều ông không quên một câu, ông vẫn sớm đề ra những nhận định về văn hoá văn nghệ, quân sự mà sau nhiều năm, nhiều người vẫn không thông cảm được. Tuy vậy, đồng đội, nhân dân vẫn không thấy ông là tướng "tiền hô hậu ủng", cũng không ra dáng trí thức, văn nghệ tý gì, mà thấy ông vẫn là ông - với cái chất Nguyễn Sơn không lẫn vào bất cứ ai. Cán cân của công bằng lịch sử không phải không có những dao động để nói về những hạn chế của ông. Nhưng lịch sử cũng công bằng, độ lượng, chắt chiu những tinh hoa của mỗi con người. Nguyễn Sơn cùng với một số cán bộ quân sự khác cùng thời ông là những người con đại trung với nước, đại hiếu với dân của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Xếp ông vào danh nhân ư? Điều đó các nhà khoa học đã làm rồi. Xây đền thờ ông chăng? ở phía Nam núi Hồng Lĩnh thành phố Vinh có một chiến sĩ quân báo của ông đã lập đền thờ thờ ông. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng hãy để cho Nguyễn Sơn sống mãi trong đền thờ tâm linh của mỗi người dân chúng ta, đó là ngôi đền đẹp và to và có thể là vĩnh cửu, trong thế hệ mai sau vẫn không nguôi công việc tìm hiểu về Nguyễn Sơn.
--------------------------------------------
* Bài phát biểu tại buổi Lễ tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 06:09:17 PM
Một lễ phát phần thưởng "không tiền khoáng hậu"
(Hay là một kỷ niệm sâu sắc của tôi  về Tướng Nguyễn Sơn)

G.S. Đinh Xuân Lâm



  Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946), thị xã Thanh Hoá nghiêm chỉnh thi hành lệnh phá hoại. Các cơ quan và trường học của tỉnh nhanh chóng sắp xếp lại tổ chức, rồi dời lên đóng tại các huyện miền Tây của tỉnh, phân tán trên một dọc dài từ Thiệu Hoá lên Thọ Xuân, Nông Cống, Vĩnh Lộc... Cũng không phải chỉ có các cơ quan và trường học của tỉnh, mà còn có cả các cơ quan ở Khu IV ra, các trường trung học của Liên khu III vào nữa. Trường trung học tỉnh Thanh Hoá mang tên Trường trung học Đào Duy Từ1 tản cư lên Thọ Xuân, một huyện cách xa bờ biển và tựa lưng vào các huyện miền núi Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thường Xuân... là một địa bàn tương đối an toàn để tiếp tục việc giảng dạy và học tập của thày trò trong kháng chiến.

  Sư đoàn 304 của Liên khu IV do Khu trưởng Nguyễn Sơn trực tiếp chỉ huy cũng đóng quân trên hai huyện Thọ Xuân và Nông Cống, trải dài trên một vùng rộng lớn, từ làng Sim dưới chân núi Nưa (Nông Cống), qua các làng Tam Lạc, Lạc Lâm, Hà Lũng, Thuỷ Tú, Thành Tín, Quả Hạ... thuộc huyện Thọ Xuân. Nhân dân trong vùng - từ nông dân địa phương đến các cán bộ và học sinh tản cư tới - vì vậy thường được gặp trên các nẻo đường làng một người trung niên tướng mạo uy nghi, "râu hùm, hàm én, mày ngài", khi thì đang trên con đường "ngoắt ngoéo chữ chi" với chiếc "xe đạp đua" ghi-đông bẻ cong xuống khiến người đi xe cứ như nằm dài trên thân xe, khi thì trên mình ngựa men theo đường đồi đất đỏ dẫn tới các thôn xóm nấp kín sau luỹ tre xanh. Trường trung học Đào Duy Từ hồi đó đặt tại vùng Chợ Cốc thuộc xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân, cũng là nơi Khu trưởng Nguyễn Sơn hay lui tới. Phần vì sư đoàn bộ đóng ở gần đấy, phần vì vùng Chợ Cốc hồi đó có các cán bộ các ngành và học sinh các trường tập trung về nên khá đông vui. Hơn nữa, các văn nghệ sĩ dưới trướng của Khu trưởng Nguyễn Sơn bấy giờ như Nguyễn Đình Lạp, Bửu Tiến, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Trúc Quỳnh v.v... cũng thường qua lại nơi đây vì có bạn bè quen biết tản cư theo cơ quan trong vùng. Lính của Khu trưởng những ngày chủ nhật cũng thường ra đấu bóng giao hữu với học sinh Trường Đào Duy Từ. Lại có cả nhóm văn nghệ sĩ tản cư trong làng Quần Tín cách Chợ Cốc không xa với các tên tuổi được nhiều người biết đến như Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phương, Trương Tửu v.v... Cũng phải kể tới một số gia đình các cán bộ cao cấp theo Trường Đào Duy Từ để đảm bảo việc học tập cho con cháu, như các gia đình Bộ trưởng Trần Đăng Khoa, Thứ trưởng Đặng Phúc Thông..., mỗi khi các vị về thăm gia đình lại là dịp gặp gỡ, hội họp các trí thức có tên tuổi trong vùng. Trường trung học Đào Duy Từ mặc nhiên trở thành trung tâm văn hoá của cả vùng, là nơi đã tổ chức nhiều cuộc diễn thuyết với các diễn giả nổi tiếng như Nguyễn Mạnh Tường, Hải Triều, Nguyễn Khánh Toàn..., kể cả Nguyễn Sơn nữa. Chính trong bối cảnh đó, Hiệu trưởng Trường trung học Đào Duy Từ là Đoàn Nồng khi đưa ra Hội đồng giáo sư bàn việc tổ chức lễ phát phần thưởng cuối năm học 1947-1948, đã có ý kiến mời Khu trưởng Nguyễn Sơn làm Chủ tịch danh dự buổi lễ, và ý kiến đó đã được Hội đồng nhất trí tán thành. Xin nói thêm rằng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo một truyền thống tốt đẹp, các trường trung học khi kết thúc năm học và phát phần thưởng cho học sinh trước khi về nghỉ hè, Hội đồng giáo sư có cử một giáo sư đọc một bài diễn văn với nội dung là một vấn đề văn học, lịch sử hay khoa học tự nhiên tuỳ theo chuyên môn của người được cử và bài diễn văn đó được xem như bài học cuối năm chung cho học sinh các lớp. Buổi lễ kết thúc và phát phần thưởng đó thường được đặt dưới sự chủ toạ danh dự của một vị khách quý, có thể đó là một nhân vật chính trị, một nhà khoa học, nhà văn...

  Tôi lúc đó còn trẻ, lại có xe đạp riêng là một điều hiếm có trong kháng chiến ở Thanh Hoá, nên được ông Hiệu trưởng cử vào Khu bộ mời Khu trưởng. Trước khi tôi đi, ông Đoàn Nồng còn cẩn thận dặn tôi: "Anh nhớ yêu cầu ông ấy (chỉ Khu trưởng Nguyễn Sơn - Đ.X.L) phải có bài viết hẳn hoi, không được ứng khẩu!". Tôi hiểu rằng ông Hiệu trưởng tuy rất phục tài hùng biện của Khu trưởng Nguyễn Sơn, nhưng cũng rất sợ ông ta nói ứng khẩu dễ lạc đề, không đúng với yêu cầu của nhà trường. Vào gặp Khu trưởng, tôi đã trình bày cụ thể yêu cầu và được ông sốt sắng nhận lời. Trước khi ra về, tôi nhắc ông viết bài sẵn để đọc hôm dự lễ, và ông tươi cười đồng ý.

  Hôm tổ chức lễ phát phần thưởng đã tới. Chiều hôm đó Khu trưởng Nguyễn Sơn đúng hẹn đi xe đạp ra rất sớm, y phục quân nhân chỉnh tề. Buổi lễ khá đông người tham dự. Hai ông Đặng Thai Mai và Tôn Quang Phiệt đều có con học ở trường nên đã đi lên từ Thiệu Hoá là nơi các cơ quan tỉnh đóng, các văn nghệ sĩ như Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Sỹ Ngọc v.v... từ Quần Tín ra. Nhân dân Chợ Cốc lúc đó có một lớp huấn luyện cán bộ tư pháp Liên khu IV nên có rất đông học viên tới dự. Cũng có một số luật gia nổi tiếng có mặt trong buổi lễ, như các ông Hồ Đắc Điềm lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Tu luật Liên khu, ông Trần Kiêm Lý là Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu...
Với tư cách là Chủ tịch danh dự buổi lễ, Khu trưởng Nguyễn Sơn được mời ngồi vào một chiếc ghế bành đẹp đặt trên hàng đầu phòng họp. Sau phần tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu và diễn văn kết thúc năm học đã xong, đến lượt mời Khu trưởng Nguyễn Sơn lên phát biểu ý kiến. Mọi người từ quan khách đến học sinh đều hồi hộp chờ đợi, phần vì Khu trưởng vốn nổi tiếng hùng biện, phần lại có người lần đầu tiên được nghe ông nói chuyện. Đặc biệt khi Khu trưởng đĩnh đạc đi lên diễn đàn đặt trên bục cao, rồi khoan thai rút từ túi trên ra mấy tờ giấy đánh máy thì ông Hiệu trưởng Đoàn Nồng đưa mắt nhìn tôi mỉm cười, tỏ vẻ yên lòng. Rồi sau khi đeo kính, Khu trưởng bắt đầu đọc theo bản đánh máy.

  Nhưng sao lại thế? Chỉ đọc được hơn một trang - mà đọc một cách khó khăn, chật vật, theo kiểu một người vốn xưa nay quen ứng khẩu, không lệ thuộc vào bài viết sẵn - ông Nguyễn Sơn đặt ngay tập giấy xuống bàn, tháo kính đặt chặn lên, rồi bắt đầu nói vo, tốc độ cứ nhanh dần, thao thao bất tuyệt. Và quả là "danh bất hư truyền", khi Nguyễn Sơn đã nói thì sức thu hút đối với người nghe thật là mãnh liệt! Mọi người đều chăm chú lắng nghe. Nhưng vấn đề ông nói là những gì? Và nội dung bài nói chuyện có thích hợp với buổi họp không? Đến nay thời gian đã quá xa, đã hơn 40 năm rồi, tôi không còn nhớ cụ thể những điều ông Nguyễn Sơn đã nói trong buổi lễ phát phần thưởng của Trường trung học Đào Duy Từ mùa hè năm đó. Tôi chỉ còn nhớ mấy ý chính sau đây: Đó là thầy giáo và học trò không phân biệt nhau, trò học thầy đã đành, nhưng thầy cũng học trò. Chính trong quá trình dạy học, thầy giáo đã học hỏi được nhiều ở học sinh của mình. Học hỏi lẫn nhau trên lớp và ngay cả trong giờ chơi. Thầy và trò phải thân ái, gắn bó với nhau, không được cách biệt nhau. Không có trò kém, trò xấu, trò nào cũng tiến bộ được. Tiếp đó, ông nhấn mạnh rằng học trong nhà trường là quan trọng, nhưng chỉ mới là một phần, mà quan trọng hơn là học ở ngoài đời, ở ngoài xã hội. Để minh hoạ ý này, ông tự liên hệ nói rằng thuở nhỏ đi học ở Hà Nội, ông thường trốn buổi học chiều - trước Cách mạng học sinh học ngày hai buổi, rồi vào Vườn Bách thú (và Bách thảo) gần Phủ toàn quyền Pháp (nay là Dinh Chủ tịch nước) để cùng với bạn bè vừa ngắm các chú hổ trong chuồng thú vừa xỉa răng sau buổi cơm trưa, nên mới có hiệu "xỉa răng cọp". Rồi sau đó bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, thế mà bây giờ đã trở thành Khu trưởng.

  Câu chuyện của ông Nguyễn Sơn vừa hùng hồn, vừa thân mật, được điểm xuyết bởi những câu chuyện thực sống động làm cho học sinh rất thích thú. Hàng tràng vỗ tay ran lên khẳng định sự hưởng ứng nhiệt liệt của họ. Còn các quan khách thì cũng không khỏi có phần bất ngờ trước các ý kiến "táo bạo" của Khu trưởng. Riêng về phần nhà trường thì từ Hiệu trưởng đến các thầy cô giáo đều có phần lo ngại, không hiểu câu chuyện rồi sẽ đi đến đâu?

  Công bằng mà nói thì những ý kiến Khu trưởng Nguyễn Sơn phát biểu hôm đó chính là những tư tưởng lớn về một nền giáo dục mới. Nhưng hồi đó, trong những năm đầu Cách mạng thành công và kháng chiến, các thầy cô giáo chúng tôi hầu hết từ nhà trường cũ ra nên đều còn chịu ảnh hưởng cũ, như tính trung lập của trường học, quan hệ thầy trò theo lối phong kiến..., vì vậy không khỏi có phần "phản ứng" trước những ý kiến của Khu trưởng. Phải tới "Cải cách giáo dục" hè năm 1950, sau khi dự những lớp "Rèn cán chỉnh cơ" của ngành giáo dục, rồi học tập trong dịp hè về "Một nền giáo dục mới" thì chúng tôi mới có điều kiện nhận thấy rằng những ý kiến của Khu trưởng Nguyễn Sơn hồi đó là đúng, chỉ có điều là phát biểu hơi sớm, trước một đối tượng chưa được chuẩn bị tốt và trong một bối cảnh chưa thực sự thích hợp.

  Khu trưởng Nguyễn Sơn càng nói càng hăng, tưởng chừng không thể nào dứt. Nhưng rồi chính ông cũng nhận thấy sự nôn nóng của ban tổ chức buổi lễ, ông xem đồng hồ rồi kết thúc bài nói chuyện để dành thời gian cho lễ trao phần thưởng. Buổi lễ kết thúc tốt đẹp. Quan khách và học sinh ra về vui vẻ, ông Nguyễn Sơn cũng có phần hỉ hả. Riêng đối với tôi thì bài nói chuyện hôm đó là bài học nhập môn về nghề sư phạm cao quý mà tôi theo đuổi cho tới ngày nay. Kỷ niệm sâu sắc của tôi về Khu trưởng Nguyễn Sơn, một võ tướng đối với một người làm công tác giáo dục là như vậy đó.

Tháng 10-1993


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 06:13:16 PM
Tướng Nguyễn Sơn - nhà lý luận quân sự cách mạng

PTS. Phạm Xanh



  Thế hệ chúng tôi lớn lên và nhập cuộc khi Tướng Nguyễn Sơn đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng số phận đã đưa tôi đến một nghề, một nghề đã xe kết lên những mối dây ràng buộc, tạo thành những duyên nợ với nhiều bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối, trong đó có Tướng Nguyễn Sơn. Trong khi lục tìm những trang tư liệu trong các cặp hồ sơ cũ nát của các phòng lưu trữ, đọc hàng nghìn trang hồi ký, những bản tự thuật của các cụ lão thành cách mạng để viết các công trình lịch sử của mình như cuốn Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, tôi đã bắt gặp một nhân vật mang tên Vũ Nguyên Bác, tên cúng cơm của Tướng Nguyễn Sơn, một vị tướng huyền thoại mà ít ra ba dân tộc Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên1 đều ngưỡng mộ và nhớ tới. Cũng từ đó Tướng Nguyễn Sơn sống với tôi trong những bữa ăn, những giấc ngủ và đặc biệt trong những lúc cầm bút. Tôi cố đi tìm một cái gì đó về Nguyễn Sơn mà một thời người ta đã lãng quên. Cuối cùng, ơn trời, tôi đã tìm thấy những tư tưởng của Nguyễn Sơn còn nguyên vẹn trong những tác phẩm mà ông để lại cho đời. Cũng phải xin thưa thêm một điều là gần đây tôi mới được nhìn thấy bức ảnh chân dung Tướng Nguyễn Sơn. Cầm bức chân dung ông trong tay tôi nghĩ tới một con người đầy cá tính đúng như những câu chuyện của bạn bè ông, chiến hữu ông và môn đệ ông kể về ông. Tự nhiên tôi liên tưởng tới Tsapaep của nước Nga xa xôi.

  Người ta nói với tôi là ông viết khá nhiều sách, nhưng tôi mới tìm thấy ba cuốn mang tên ông: Chiến thuật; Dân quân, một lực lượng chiến lược; Chủ nghĩa Lênin. Trong ba cuốn sách trên, hai cuốn đầu liên quan đến vấn đề tôi muốn trình bày: "Tướng Nguyễn Sơn - nhà lý luận về chiến tranh cách mạng".

  Cuốn Chiến thuật mà tôi có trong tay là bản in tipô, bằng chữ viết tay, do Ban Quân huấn phòng tham mưu Liên khu V tái bản năm 1951, gồm 22 trang. Có lẽ cuốn sách này được xuất bản lần đầu năm 1949 tại Bộ Tư lệnh Quân khu IV cùng với cuốn sách thứ hai, bởi lẽ ở trang bìa, phía trong ta còn có thể đọc được hai dòng chữ được đóng khung trong hình chữ nhất: In lần thứ nhất, 900 cuốn, xong ngày 20-2-1949. Sách được in trên giấy bồi đã ngả màu vàng, mực in đã bay, rất khó đọc. Theo chúng tôi cuốn sách này chỉ là một phần trong loạt sách tham khảo của ông về chiến lược, chiến thuật, chiến đấu (chiến dịch), bởi lẽ trang cuối cùng có ghi: Hết phần thứ nhất. Cũng có thể là, trong điều kiện khó khăn thiếu thốn về mực in, giấy ở Liên khu V lúc đó, người ta chỉ in lại từng phần công trình nhiều phần của ông đã xuất bản ở Liên khu IV năm 1949.

  Cuốn Chiến thuật có hai chương. Chương I mang tựa đề Bàn chung về chiến thuật; Chương II - Nguyên tắc nền tảng của chiến thuật.
ở chương I, sau khi dành 3 trang nói tới sự cần thiết "tu dưỡng chiến thuật cho các cán bộ chỉ huy vì đó là khâu chính trong việc chỉ đạo chiến tranh hiện thời của quân dân ta", ông đã dành trọn phần còn lại của chương làm rõ "Thế nào là chiến thuật". Theo ông, chiến thuật là những thế đánh trận dùng khi trực tiếp giao chiến với giặc trên chiến trường để ngăn cản, đuổi đánh hay tiêu diệt giặc. Chiến thuật là những hình thức tác chiến của các binh đoàn, trung đoàn lẫn đơn vị. Chiến thuật còn là sự sắp xếp bộ đội, quy định tiến thoái, phối hợp các binh chủng, các bộ đội, rồi tuỳ ở tình hình bên địch, ở thế đất, ở nhiệm vụ của mình mà thực hành theo mục đích trực tiếp khi hai quân giao chiến.

  Theo định nghĩa đó, trọng tâm nghiên cứu chiến thuật là những cán bộ chỉ huy trung cấp. Song theo Nguyễn Sơn, tất cả mọi người trong quân ngũ từ binh nhất, chỉ huy sơ cấp đến các vị chỉ huy cao cấp đều phải am tường về chiến thuật để hiểu nhau khi ra lệnh và thực hành chiến đấu. Trong thực hành chiến đấu có ba bậc: Chiến lược, chiến thuật, chiến đấu. Các cấp chỉ huy của ba bậc ấy là Tướng (chiến lược), Tá (chiến thuật), Uý (chiến đấu) và tổ chức quân đội cũng được phân chia theo ba bậc tương ứng đó.

  Ở chương II, tác giả đã nêu ra và lý giải 4 nguyên tắc nền tảng trong vô số những hình thức và nguyên tắc của chiến thuật. Đó là tích cực tấn công, giữ thế mạnh, đè bẹp giặc, góp sức tập trung đánh vào những chỗ yếu của giặc và khéo dùng cơ động.

  Ở nguyên tắc nền tảng thứ nhất, ông cho rằng điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội quy định nó. ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc về chiến lược, thường lúc đầu ở vào thế bị động, bị tiến công. Vì thế chúng ta cần có tinh thần tích cực tấn công gấp bội về chiến thuật để chuyển dần cục diện bị động về chiến lược sang chủ động tiến công (phản công), có thế mới đảm bảo thắng lợi hoàn toàn. Trong những cuộc chiến tranh giải phóng, vì thiếu vũ khí, huấn luyện, kinh nghiệm tinh thần tích cực tiến công giặc đã sản sinh ra một chiến thuật đặc biệt, chiến thuật du kích. Chiến thuật này cũng tồn tại với chiến thuật hoặc chính quy nhằm tiêu hao giặc, có thì giờ huấn luyện làm tăng sức mạnh chiến đấu cho bộ đội chính quy. Cũng theo ông, tích cực tiến công trong chiến tranh không có nghĩa là làm liều, đánh ẩu. Muốn tích cực tiến công phải quan tâm đến trinh sát, nắm tình hình giặc, chủ động tạo ra những nhược điểm cho giặc. Tích cực tiến công có nghĩa là tìm giặc mà đánh với điều kiện có lợi cho ta, có hại cho giặc, tức là giữ thế chủ động trong tác chiến dù ở thế tấn công hay thế thủ.

  Nguyên tắc nền tảng thứ hai - giữ thế mạnh đè bẹp giặc được tác giả xây dựng trên ý tưởng là chắc thắng mới đánh, bảo đảm được lực lượng của ta. Muốn được thế chỉ nên góp lực lượng chính vào mục đích tiêu diệt giặc, còn các mục đích thứ yếu khác thì dùng lực lượng nhân dân, không bao giờ được rải quân trên nhiều nơi để khi cần không tập trung được lực lượng mà tiêu diệt giặc. Khi đã quyết tâm diệt giặc thì phải tập trung các lực lượng chiến đấu lại (người và vũ khí hoả lực) cho trội hơn giặc gấp bội mà đánh, nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan khinh địch hay hao phí lực lượng.

  Vậy tập trung lực lượng để đánh vào đâu? Tác giả dẫn ta tới nguyên tắc nền tảng thứ ba - đánh vào chỗ yếu của giặc. Ông cho rằng việc lựa chọn chỗ yếu của giặc mà đánh là một vấn đề quan trọng nhất trong chiến thuật. Ông đã liệt kê làm ví dụ một loạt những chỗ yếu của giặc để tuỳ đó mà lựa chọn. Trong quan niệm của ông, việc phát hiện chỗ yếu của giặc là một quá trình từ trinh sát - nghiên cứu đến sự sáng suốt của các cấp chỉ huy. Cũng theo ông, chỗ yếu của giặc không chỉ là cái vốn có của giặc mà ta phát hiện ra, mà còn do ta tạo ra chỗ yếu của nó, ví dụ như, dùng lối đánh du kích buộc địch phải phân tán lực lượng, làm cho nó mệt mỏi rồi mới đánh một cú đánh quyết định.

  Nguyên tắc nền tảng cuối cùng - Khéo dùng cơ động. Theo tác giả cơ động là cách dùng binh mau chóng về chiến thuật tức là vận động bộ đội và phối trí hoả lực cho ăn khớp với nhau chặt chẽ và chắc chắn gây được hiệu quả xạ kích. Theo đó bộ binh là binh chủng chủ yếu có sự phối hợp với các binh chủng khác trong khi sử dụng nguyên tắc chiến thuật này. Muốn vận động được nhanh, quân đội phải được rèn luyện về thuật hành quân, sức hành quân và cách tổ chức hành quân sao cho thành thạo, nhanh nhẹn và kín đáo. Đó là vận động trước trận đánh, còn vận động trong trận đánh thì tác giả đòi hỏi hoả lực phải được tập trung vào lúc chuẩn bị xung phong. Nhưng hoả lực trợ chiến này chỉ có tác dụng trong một phạm vi hẹp, nên thuật dùng binh theo tác giả, nên chú trọng vào động tác xung phong của bộ binh, tức là động tác ném lựu đạn, đâm lê. Vì thế mà ông yêu cầu binh sĩ phải thành thục về kỹ thuật xung phong.

  Cuốn Dân quân, một lực lượng chiến lược do Bộ Tư lệnh Quân khu IV xuất bản vào đầu năm 1949 in bằng tipô trên giấy trắng đẹp, gồm 88 trang. Trên trang lót có bút tích của chính Tướng Nguyễn Sơn: "Tặng anh Trường Chinh" cùng với chữ ký của ông và ngày đề tặng 10-2-1949. Trong sách, ở một số trang thấy có những chỗ xoá bằng nét bút lông to đậm đè lên, có trang một vài chữ, có trang xoá cả 4 dòng, chắc đó là nét bút lông của ông xoá một số chữ, một số dòng mà sau khi đọc lại trên bản đã in ông cảm thấy không thỏa mãn trước khi cuốn sách đến tay Tổng Bí thư Trường Chinh. Chắc chắn là ông Trường Chinh đã đọc cuốn sách tặng này vì cũng trên trang lót đó có đóng con dấu thư viện Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

  Cuốn sách không thành từng phần, từng chương nhưng theo cách đề của tác giả ta có thể hiểu là gồm 3 phần: Phần 1,  tác giả nói về tính chất và nhiệm vụ của dân quân; Phần 2,  mỗi một người công dân Việt Nam phải là đội viên dân quân (từ trang 63-74); Phần 3, tổ chức và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của dân quân (từ trang 77-87).

  Bài viết nhỏ này không có điều kiện để trình bày toàn bộ những tư tưởng của tác giả trong một tác phẩm quan trọng, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài đoạn trong cuốn sách quý đó mà thôi.

  Sau khi trình bày nhiệm vụ của dân quân (hậu phương, chiến đấu và chính trị), tác giả đã dành mục IV nói về Những công tác hậu phương của dân quân và mục V nói về Nhiệm vụ tác chiến và các hình thức chiến đấu của dân quân, để cụ thể hoá hơn nữa hai nhiệm vụ chính yếu mà tác giả đã trình bày ở các mục trên.

  Ở mục công tác hậu phương, tác giả đã liệt kê và giải thích những công tác hết sức cụ thể như sau:

  a. Vườn không nhà trống.

  b. Tổ chức đánh giặc.

  c. Phòng gian và giữ trật tự xã hội.

  d. Liên lạc đưa tin.

  đ. Nhiệm vụ vận chuyển.

  Ở mục nhiệm vụ tác chiến và các hình thức chiến đấu, tác giả đã chỉ ra rất cụ thể những hoạt động chiến đấu của dân quân như:

  a. Chiến thuật phá hoại.

  b. Chiến thuật địa lôi.

  c. Đánh giặc lẻ tẻ.

  d. Chiến thuật quấy rối.

  đ. Trinh sát.

  e. Làng chiến đấu.

  Phải thừa nhận một sự thực là đến năm 1949, trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn đủ thứ của cuộc kháng chiến chống Pháp, sự xuất hiện những cuốn sách có tính chất cẩm nang về quân sự như hai cuốn sách của Tướng Nguyễn Sơn còn là rất hiếm hoi. Tại sao ông Nguyễn Sơn có thể viết được những cuốn sách đó? Theo chúng tôi, do sự thôi thúc của tình hình là phải đào tạo một đội ngũ cán bộ chỉ huy quân đội cho cuộc kháng chiến và do sự hiểu biết và tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu của chính tác giả.

  Tất cả những tri thức thu nhận qua sách vở, tất cả những kinh nghiệm tích luỹ được trên chiến trường Trung Quốc và Việt Nam đều in dấu ấn vào trong những tác phẩm quân sự của ông mà tôi đã điểm qua.

  Ròng rã 30 năm, dân tộc ta đã đi qua hai cuộc chiến tranh với hai kẻ thù lớn mới đến được độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ như hôm nay. Đó thực sự là một kỳ tích. Tôi chắc rằng sự nghiệp của Tướng Nguyễn Sơn, một nhân vật mà hôm nay chúng ta tưởng niệm đã góp một phần xứng đáng vào kỳ tích chung của dân tộc chúng ta.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 06:18:52 PM
Nhớ Bác Sơn

G.S. Vũ Tuấn



  Mùa thu 1945...

  Cách mạng tháng Tám thành công đem lại độc lập cho Tổ quốc. Cùng với sự kiện vĩ đại đó, gia đình chúng tôi có niềm vui to lớn, bất ngờ: bác tôi, ông Vũ Nguyên Bác, người con thứ tư của ông bà nội tôi đột ngột trở về sau hai mươi năm biệt tích.
Không thể tả xiết niềm vui, sự sung sướng của chúng tôi hồi đó.

  Thế rồi, sau những nụ cười và những giọt nước mắt, sau những buổi hàn huyên khôn dứt, ông hỏi:

  - Nhà ta có ai nghiện thuốc phiện không?

  - Không!

  - Có ai làm ở dưới kia không? Ông chỉ về phía trụ sở Quốc dân Đảng ở phố Quan Thánh.

  - Không!

  Nghe trả lời, ông vui hẳn lên, cởi mở hẳn lên. Và cả nhà chúng tôi cùng hết sức mừng rỡ: Ông không phải là Vũ Hồng Khanh. Ông là Nguyễn Sơn.

  Sự kiện đó quyết định con đường của cả họ Vũ chúng tôi: Tất cả đi theo ông.

  Sau ngày 23-9-1945, ngày giặc Pháp gây hấn ở Nam Bộ, tất cả thanh niên trong họ (cả trai lẫn gái) lần lượt gia nhập quân đội.

  Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, tất cả các gia đình tản cư theo kháng chiến, chiến đấu vì độc lập, vì lý tưởng của Cụ Hồ.

  Nhìn lại...

  Đã gần nửa thế kỷ qua. Bao nhiêu biến động! Bao nhiêu đổi thay!

  Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhiều người trong gia đình chúng tôi đã ngã xuống ở chiến trường hay trên những nẻo đường của chiến tranh. Tất cả đều trung thành với lý tưởng của ông và phấn đấu gìn giữ phẩm chất con người mà ông mong muốn.

  Rồi lớp con cháu lại ra trận chống Mỹ...

  Không một người nào theo giặc, không một ai sa đoạ, suy đồi. Tất cả chúng tôi đều sống đứng đắn, đều là những công dân tốt.
Ngày nay, con cháu ông có mặt trên hầu hết các ngành quân sự, ngoại giao, giáo dục, y tế, nghệ thuật và đều là những cán bộ có lương tâm, những người lao động chân chính. Đó là nhờ bác tôi dẫn dắt. Chúng tôi biết ơn ông về điều đó.

  Thời gian trôi qua...

  Rất nhiều điều đã quên. Thế nhưng thời gian không chỉ là quên, mà còn là nhớ nữa.

  Tôi nhớ... ông phi ngựa rất giỏi, đi xe đạp thả hai tay còn tài hơn cả lũ trẻ nghịch ngợm chúng tôi. Ông thích xem hát chèo và đêm đêm thức rất khuya, vừa gõ mổ cò trên chiếc máy chữ con con vừa hút thuốc lá.

  Tôi nhớ... ông kể, trong những năm đầu ông khổ sở như thế nào vì nhớ mẹ, ông kể, ông đọc nhẩm "Kiều" ra sao để vợi đi nỗi nhớ nhà, nhớ nước, để không quên tiếng mẹ đẻ.

  Tôi nhớ... những lần ông diễn thuyết đầy nhiệt tình trên sân vận động. Tôi nhớ những lần ông gánh củi với lính, tập bơi với chúng tôi.
  Lúc đó tôi thắc mắc mãi:

  - Không hiểu ông làm thế nào mà sống sót được qua Vạn lý trường chinh nếu không biết bơi nhỉ?

  Tôi chưa nói điều thắc mắc này với ai bao giờ.

  Ông rất quan tâm đến chúng tôi, lũ cháu bộ đội đang tuổi thiếu niên của ông1. Thỉnh thoảng ông lại gọi chúng tôi từ Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV về chơi, cho ăn và hỏi han chuyện học hành. Ông rất vui nếu chúng tôi học tốt, tiến bộ và rất nghiêm mỗi khi có đứa nào phạm lỗi.

  Một lần tôi làm gì đó xúc phạm đến một quân nhân. Khi biết, ông đã nói chuyện với tôi rất lâu. Tôi chỉ còn nhớ đó là một đêm trăng rất trong, chúng tôi ngồi trên chiếc chõng tre trong sân một ngôi nhà ở làng quê Nghệ An. Ông buồn, tôi và tất cả anh em tôi cùng ngồi hôm đó đều rất buồn.

  Lịch sử dân tộc tạo nên những anh hùng. Nhưng chính anh hùng, danh nhân, những con người kiệt xuất là vinh quang, là khí phách, là niềm kiêu hãnh của một dân tộc. Ở phạm vi hẹp đối với một dòng họ cũng thế. Họ chúng tôi tự hào về ông, hãnh diện về ông, về Tướng Nguyễn Sơn.

  Theo chủ trương của anh Vũ Hầu, trưởng tộc, vừa qua họ Vũ chúng tôi đã họp họ lần thứ nhất (ngày 29-6-1993), để giáo dục truyền thống, để xây dựng tình đoàn kết. Anh Hầu - một người lính Cụ Hồ, nguyên Phó Cục trưởng ngành ngoại giao - thường nhắc chúng tôi phải giáo dục con cháu để xứng đáng với ông cha, với dòng họ đã sản sinh ra Nguyễn Sơn.

  Tuy nhiên, không một ai trong chúng tôi được đi lên dưới bóng che của ông. Chẳng hiểu tự bao giờ tôi hiểu rằng ông muốn dạy con cháu ông: "Hãy đi lên bằng chính đôi chân của mình". Dựa dẫm, hèn nhát là điều ông ghét nhất.

  Toàn thể gia đình chúng tôi kính trọng ông, yêu mến ông. Chắc không phải chỉ vì ông có quyền chức, có tiếng tăm, chỉ vì những năm tháng phong sương, tung hoành của ông. Cũng không phải quyền uy làm nên điều đó. Nào đã có ai buộc được người khác phải yêu mình?.
Tôi nghĩ, ông được cả nhà chúng tôi yêu, trước hết, bởi lẽ ông yêu chúng tôi. Biết tin, biết trân trọng và động viên chân thành người khác là yêu cầu đầu tiên của việc cảm hoá, giáo dục.

  Các bác gái tôi, những người chị dâu già của ông rất quý ông vì ông thương các bà phải lặn lội, tần tảo nuôi con, vì ông chẳng bao giờ bài bác việc sùng Phật, chăm cúng lễ của các bà. Trái lại, chính ông ngay sau khi trở về đã yêu cầu được thăm lại làng quê, bạn bầu, thăm lại ngôi nhà của cha ông (lúc ấy đã bán rồi) ở Kiêu Kỵ, thắp hương lên mộ, cúng giỗ ông bà, cha mẹ...

  Nhiều chú bác khác thích ông vì ông gần gũi, thân tình và cũng thích đánh tổ tôm như họ vào những dịp thăm nhà, lễ tết. Mãi về sau nhiều người trong nhà vẫn còn khen:

  - Ông Sơn thông minh thật. Mới học đánh tổ tôm mà chỉ sau vài buổi đã thắng cả hội.

  Lũ trẻ con chúng tôi quý ông bởi ông cũng đá bóng, đá cầu, đánh cờ tướng với chúng tôi. Có lần đứa cháu bé (Vũ Lưu - con ông Năm) thắng ông một ván cờ, ông khoái chí cười lớn: "Thằng bé thế mà khá!". Có hôm, ông còn bảo chị Mai Châu và các bạn chị hát "Thiên Thai" cho ông nghe nữa. Thấy các cháu lưỡng lự, ông nói "Hát ở trong nhà thì được!", rồi ông cười. Chúng tôi thích lắm... Chả là thời đó, những bài hát "lãng mạn" kiểu này bị cấm mà!.

  Ông rất yêu con. Thậm chí đó còn là chỗ yếu trong lòng ông.

  Chị Vũ Thanh Các, đứa con gái ông bỏ lại lúc mới được ba tháng để ra đi, được ông chăm chút, chiều chuộng như thể để bù lại sự thiếu vắng ông trong những năm dài qua. Thế nhưng ông cũng rất yêu các cháu (con của những người anh, người em ông) chẳng thế mà có lần chị Các phải tỵ:

  - Cậu yêu anh Bảo, anh Lân hơn con!.

  Anh Vũ Đình Bảo con ông Cả, hy sinh lúc 24 tuổi, khi anh chỉ huy một tiểu đoàn trong trận tấn công đồn Nghĩa Lộ năm 1950. Ông đau xót mãi vì mất người cháu ông yêu quý nhất. Anh Vũ Kỳ Lân, con ông Hai, cũng nhập ngũ năm 1945, đã sống gần 10 năm dưới địa đạo và nguyên là Chính uỷ khu Vĩnh Linh, tác giả ký sự "Miền đất lửa".

  Những người con khác của ông còn quá bé cho nên không nhớ nổi mình được bố yêu bao nhiêu và như thế nào.

  Năm 1955, khi tôi đang học Đại học Sư phạm Hà Nội, từ Bắc Kinh, ông viết cho tôi nhiều lá thư dài để an ủi, động viên, uốn nắn và dạy bảo tôi (lúc này bố tôi - ông Vũ Thái Sự, công tác ở Quân khu IV - đã mất). Hồi ấy, để mừng Việt Nam giải phóng nửa đất nước, một Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn ở Hà Nội. Một lần, lúc đi thuyền ngắm cảnh Hồ Tây, chẳng may bị gió xoáy, có mấy người bị chết. Nghe tin đó, ông thực sự xúc động và đã viết cho tôi một lá thư dài. Ông nói: "... Đó là sự hy sinh vì Việt Nam, vì tình hữu nghị Việt - Trung... Phải hiểu và phải suy nghĩ về điều đó!". Tôi thấy rõ ràng ông hết sức yêu quý Trung Quốc. Không hiểu có phải vì ông đã sống và chiến đấu gian lao suốt những năm tháng dài đẹp đẽ nhất, trẻ trung, sung sức nhất của đời ông vì nhân dân Trung Hoa, vì Cách mạng Trung Quốc?. Hay là vì ông có người vợ Trung Hoa rất mực chung thuỷ - người đã đành lòng để ông sống với người vợ trẻ Việt Nam, nhưng vẫn ở vậy để nuôi dạy cho ông hai người con trai - hai công dân Trung Quốc nhỏ tuổi: Hàn Phong và Tiểu Việt? Cho đến bây giờ, người đàn bà ấy - bà Ngọc Anh - tám mươi tuổi rồi vẫn chưa thôi yêu ông. Bà vẫn khóc mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về ông.

  Đầu tháng 10-1956, ông trở về Việt Nam trên một chuyến xe lửa đặc biệt và vào thẳng bệnh viện. Ông ốm nặng đã lâu. Biết không thể qua khỏi, ông tha thiết muốn được chết ở Việt Nam. Ông dặn phải đưa ông về nước an táng, ít nhất cũng là đem về một nắm tro. Ông muốn sinh ra từ đây thì cũng được trở về chính mảnh đất này.

  Tôi chỉ được vào thăm ông có một lần. Hai mươi ngày sau, đêm 21-10-1956, tôi được gọi vào để trông thấy ông lần cuối. Khoảng một giờ sáng, khi tôi đến nhà lễ tang Bệnh viện Việt - Xô đã thấy tất cả gia đình tôi và cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở đó tiễn biệt ông.
Ông mất quá sớm để lại rất nhiều thương xót cho vợ con, con cháu và đông đảo bè bạn ông.

  Mấy hôm sau, một lần đến thăm bà Lê Hằng Huân, người vợ sau cùng của ông và mấy đứa con nhỏ: Mai Lâm, Thanh Hà, Nguyễn Cương, Việt Hồng, Việt Hằng, anh Chúc - một Đại tá, Cục trưởng - ngày xưa làm việc bên ông, đã không cầm được nước mắt, anh khóc mãi:

  - Trời! Sao chết sớm quá vậy!... Để lại một đàn con lít nhít thế này sao!

  Đó là những năm tháng vô cùng gian nan, vất vả của thời chống Mỹ... Bà Huân - một người phụ nữ hiếm thấy - Bà đã hiến tặng cho Nhà nước hầu hết số tiền lớn quà tặng của nhân dân Trung Quốc cho ông khi ông trở về. Và gần như chỉ bằng tình yêu sâu nặng đối với ông, bà đã can đảm ngoan cường sống, làm việc và nuôi dạy cho ông năm đứa con. Cả năm còn quá bé và vẫn chưa hết ngơ ngác vì mất bố...

  Và bà đã được đền đáp. Các con bà đã lớn lên đúng như ông mong mỏi: Có học, tự trọng và trung thực.

  Thời gian không chỉ làm nhạt phai. Thời gian còn khắc sâu, tô đậm nữa. Thời gian làm mờ đi những điều không nên nhớ và khắc sâu mãi những điều không thể quên.

  Càng nhiều tuổi, nếm trải đắng cay, ngọt bùi của cuộc đời càng nhiều, tôi như càng "thấy" ông rõ hơn. Trong ký ức tôi bây giờ, ông là một cây sồi già: Hiên ngang và hiền hậu.

Hà Nội, 22-12-1993


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2008, 06:23:05 PM
Tướng Nguyễn Sơn

Nhà báo Thái An


  Bao quanh cuộc đời của Thiếu tướng Nguyễn Sơn là vô số huyền thoại. Dân ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội đề nghị rước sinh phần của ông về quê, lập đền thờ, coi ông như một danh tướng thời hiện đại. Nhiều tầng lớp nhân dân ở Nghệ An, Thanh Hoá còn lưu truyền nhiều giai thoại về ông. ở Hà Tĩnh, vùng phía Nam núi Hồng Lĩnh, dân lập đền thờ ông do một quân báo cũ trông nom.

  Những người cùng thời với ông đánh giá: Ông là một vị tướng tài ba, năng động, xông xáo, quyết đoán, giàu cá tính. Tuy vậy cũng có nhiều người cho rằng ông gai góc, kiêu ngạo, có tài nhưng có tật, nên cuộc đời cũng lắm gian truân. Dù ở mức độ nào, Thiếu tướng Nguyễn Sơn cũng để lại trong lòng quân dân ta một sự kính nể thật sự.

  Rất tiếc đời ông quá ngắn, không vượt qua ngưỡng tuổi 49 (ông sinh 1908 mất 1956). Ông lại hoạt động cách mạng phần nhiều ở nước ngoài, thời gian làm việc trong nước không quá 5 năm, trong đó có 4 năm làm Tư lệnh trưởng Quân khu IV (1946-1950), nhưng ông đã hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ ít người sánh kịp.

  Ông ra đời ở phố Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội, là con thứ tư của một gia đình nông dân kiêm tiểu thương gốc ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm với tên khai sinh Vũ Nguyên Bác. Cụ thân sinh ra ông là người cương trực, hay chống đối bọn cường hào nên bị chúng sách nhiễu luôn. Bỏ quê ra tỉnh (lúc này Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh) vẫn không thoát được cảnh bị ức hiếp. Tức quá, cụ đặt tên cho 5 người con trai những tên rất ngộ nghĩnh: Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và cô con gái út là To nhằm "để không ai chửi mình được". Trong 5 anh em trai thì Bác được học hành chu đáo hơn cả. Học xong trung học rồi học Trường Sư phạm Bắc Kỳ (ENT-École Normale du Tonkin) - nay là địa điểm Trường phổ thông trung học Phan Đình Phùng. Chưa học xong thì Bác tổ chức học trò Trường Bưởi (Trường phổ thông trung học Chu Văn An bây giờ) đánh nhau với học trò Trường Tây (trường Albert Saraut). Mật thám truy lùng kẻ cầm đầu. Vì vậy Bác nhiều lúc vắng nhà, thường thì 12 giờ đêm ông cả tôi ra hé cửa cho em Bác về. Thế nhưng có lần Bác không về, chờ hết ngày này qua ngày khác, sau đó cả nhà lấy ngày ông đi để làm giỗ. Đó là ngày 16-1-1926. Hai mươi năm làm giỗ cúng ông, đến năm 1945 thì ông về thật. Cả nhà sững sờ, ông về đúng nhà mình, mặc dù lúc này gia đình đã khấm khá, xây thành 5 căn liền nhau "tam đại đồng đường", căn thứ 4 bố mẹ ở, có bàn thờ ông.

  Ông Bác lần này về mặc quân phục đeo súng lục, đội mũ sao vàng viền kim tuyến. Ông là một trong những vị được thụ phong cấp tướng đầu tiên và nhận chức Tư lệnh Quân khu IV. Thì ra 20 năm qua Vũ Nguyên Bác cùng một số thanh niên sang Trung Quốc, được Bác Hồ trực tiếp dìu dắt làm cách mạng. Nguyên Bác mang bí danh Lý Anh Tự, cùng 9 anh em khác như Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng... hình thành "một gia đình họ Lý"do Bác Hồ với bí danh Lý Thuỵ đứng đầu. Lý Anh Tự tốt nghiệp Trường võ bị Hoàng Phố sau đó vào Bát lộ quân, tham gia Vạn lý trường chinh, chỉ huy đến sư đoàn.

  Năm 1945, ông cùng một số cán bộ cao cấp người Việt trong Giải phóng quân Trung Quốc về nước với tên mới Nguyễn Sơn. Năm 1950, Tướng Nguyễn Sơn lại được lệnh trở lại Trung Quốc làm cố vấn quân sự cho Quân uỷ Trung Quốc, chi viện Việt Nam và tham gia kháng Mỹ viện Triều. Sau đó làm Cục trưởng Cục điều lệnh Giải phóng quân Trung Quốc.

  Năm 1956, ông lâm bệnh nặng, mặc dù được chăm sóc đặc biệt, nhưng ông biết mình khó qua khỏi nên tích cực đề nghị về nước. Về nước được 20 ngày, ông từ trần, đó là ngày 21-10-1956 theo âm lịch là ngày 18 tháng 9. Có điều lạ là "giỗ" trước và giỗ chính thức chênh nhau 4 ngày, cho nên dòng họ Vũ ở Kiêu Kỵ, bà con, bạn bè xa gần trong những ngày này lại gặp nhau để tưởng nhớ ông.

  Thực ra tầm vóc và vị trí của ông đã vượt khỏi phạm vi gia tộc, làng xã và cả đất nước nữa. Trước đây hàng năm gia đình ông đều nhận được điện thăm hỏi của các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và quân đội Trung Quốc. Các đoàn đại biểu cấp cao do các vị Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Diệp Kiếm Anh đến thăm Việt Nam đều đến viếng ông.

  Đánh giá một vị tướng trước hết phải tập trung vào phần chỉ đạo chiến lược. Tướng Nguyễn Sơn làm Tư lệnh Quân khu IV vào thời gian ấy phải gánh vác hai nhiệm vụ chiến lược nặng nề: Mặt trận Huế vỡ, phải chặn đứng tổ chức đánh trả địch, bảo vệ lực lượng mình. Nguyễn Sơn tổ chức lực lượng đánh địch trên đồn 18, xây dựng truyền thống cho Trung đoàn 18 Quảng Bình, lập Trung đoàn 95 Quảng Trị. Đánh trận Ưu Điềm - Thanh Hương, tạo đà xây dựng Trung đoàn 101 Thừa Thiên. Từ 3 trung đoàn con em Bình-Trị-Thiên lập nên Sư đoàn 325 anh hùng. Cùng với quân chủ lực, lực lượng quân địa phương cũng lớn mạnh, dân quân tự vệ phát triển, các làng xã chiến đấu theo mẫu Cảnh Dương, Cự Nẫm, Ba Lòng, Nam Đông phát triển. Trục đường chiến lược Ba Rèn, U Bò, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong vẫn giữ vững, nối liền Bắc Nam.

  Cùng với Bình-Trị-Thiên khói lửa, Thanh-Nghệ-Tĩnh được củng cố vẫn vững vàng làm hậu phương trực tiếp. Sư đoàn 304 lừng danh cũng được thành lập, làm nhiệm vụ chi viện cho cả nước.

  Giới quân sự truyền tụng về ông là lẽ đương nhiên, các giới dân sự cũng hết sức ca ngợi ông. Có người nói chưa ai yêu chiều, quý trí thức, văn nghệ sĩ bằng Tướng Nguyễn Sơn. Việc quân căng thẳng, ngổn ngang như vậy mà ông thường xuyên tiếp xúc với trí thức, văn nghệ, tập hợp được họ trong Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và Hội văn nghệ, đặc biệt là tạo mọi điều kiện cho họ phục vụ cách mạng. Bằng sức hút nào mà Tướng Nguyễn Sơn tập hợp được: Hải Triều, Nguyễn Phan Chánh, Phạm Duy, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Thanh Tịnh, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn... quây quần bên nhau, cùng ra tiền tuyến và ai cũng có tác phẩm xuất sắc. Tuy nhiên ai có quan điểm sai lầm thì Thiếu tướng đấu tranh cũng rất quyết liệt. Có vị giáo sư bị phê phán trực diện là "mượn màu mác-xít đánh lừa con đen".

  Xin lấy ra một chi tiết về danh hoạ Nguyễn Phan Chánh. Sau Cách mạng tháng Tám, hoạ sĩ về quê phải đi vẽ ở chợ Thượng (Đức Thọ, Hà Tĩnh) để kiếm sống. Cụ vẽ rất tài nhưng thu nhập chẳng bao nhiêu. Chắc là do muốn rút ngắn công đoạn, cụ vẽ sẵn các kiểu ăn mặc trước, trừ cái đầu, ai cần loại gì thì ráp vào cho nhanh. Nào ngờ có lần một ông khách mặc áo nông dân nhưng đòi hỏi trang phục cấp tướng. Lúc ấy làm gì có trang phục cấp tướng, hoạ sĩ đành vẽ kiểu phường tuồng, sau đó là kiểu Napoléon. Chủ và khách trò chuyện từ đó hiểu nhau, ít lâu sau danh hoạ Nguyễn Phan Chánh đóng cửa hiệu truyền thần, tham gia Hội văn nghệ Liên khu IV. Việc sử dụng Nguyễn Tiến Lãng, một người có vấn đề với cách mạng, chuyện 5 lần mời cụ ủng Uý - thân sinh nhà bác học Bửu Hội, ra làm Chủ tịch Mặt trận Liên khu IV chứng tỏ ông là người biết chiêu hiền đãi sĩ. Đầu cách mạng tháng Tám do ấu trĩ mà có người lên án tuồng chèo là "phong kiến" phải dẹp bỏ, nhưng Tướng Nguyễn Sơn lại cho lập đội tuồng chèo, do nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi đứng đầu.

  "Đội kèn đồng Quản Liên" vốn là đội kèn của Vua Bảo Đại, sau cách mạng tản mát mỗi người một nơi. Tướng Nguyễn Sơn mời anh Liên đến giao nhiệm vụ phục hồi đội kèn, tiền thân đoàn quân nhạc sau này. Thiếu kèn thì dùng sáo trúc thay thế. Đội nhạc binh có với 40 cây sáo trúc được Thép Mới nhắc đến trong bài "Cây tre Việt Nam". Trong hồi ký của trung tá Đinh Ngọc Liên có viết: "Đời anh lính kèn của tôi có 2 lần xúc động đặc biệt vừa chỉ huy anh em trình tấu vừa khóc, đó là khi làm lễ tiễn biệt Thiếu tướng Nguyễn Sơn và khi làm lễ truy điệu Bác Hồ".

  Trường thiếu sinh quân do Thiếu tướng Nguyễn Sơn đỡ đầu các bạn thiếu nhi lứa "tuổi thơ dữ dội" 11 tuổi trở lên được học tập rèn luyện, 16 tuổi vào quân chính hoặc Phân hiệu lục quân Trung Bộ, một số sang Trung Quốc học để đào tạo cán bộ sau này.

  - Báo "Tiền tuyến" cơ quan ngôn luận của sĩ quan và binh sĩ quân khu cũng do Thiếu tướng sáng lập. Với bút danh Lam Phong, Nguyễn Sơn đã viết hàng trăm bài.

  Ngoài ra, Nguyễn Sơn còn viết nhiều tác phẩm được in thành sách lưu hành trong cả nước như:

  - Vấn đề kinh tế.

  - Vấn đề tài chính hiện nay.

  - Dân quân: một lực lượng chiến lược.

  Và nhiều bản dịch của các nhà cách mạng nổi tiếng Trung Quốc. Trong danh mục xuất bản của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân có đến 12 cuốn của Tướng Nguyễn Sơn (biên soạn và dịch thuật). Trình độ ngoại ngữ của Thiếu tướng ngoài tiếng Trung Quốc đặc biệt xuất sắc, Thiếu tướng còn giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. Tù binh và hàng binh Âu Phi đều do Thiếu tướng trực tiếp khai thác nên quân ta nắm địch rất chắc. Trại tù binh do Thiếu tướng lập ra đặt tên là đồn Cộng hoà. Thiếu tướng còn là một nhà hùng biện, đi diễn thuyết nhiều lần, nhiều nơi... Thiếu tướng đề cập rất nhiều đề tài, nhưng có lẽ vấn đề hấp dẫn sinh động nhất, kéo dài nhiều năm sau là "Địa vị và giá trị truyện Kiều". May sao, giáo sư Vũ Tuấn, cháu gọi Thiếu tướng bằng bác (con ông Sư, cháu ông Bác) còn giữ được bài nói chuyện của Thiếu tướng ngày 21-10-1949 tại Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV.

  Một điều cần nói thêm là trong cuộc sống riêng tư của Thiếu tướng có chỗ không bình thường khiến cho có người đánh giá ông khắt khe là có vấn đề về đạo đức, tác phong.

  Được phép của các thân nhân của gia đình Thiếu tướng, xin bày tỏ sự thông cảm sâu sắc về "đường thê nhi có nhiều lận đận", do đó có chuyện xì xào. Cách giải toả tốt nhất là hãy công khai theo tác phong lúc sinh thời của Thiếu tướng. Thiếu tướng có mấy lần lập gia đình trong những hoàn cảnh khác nhau, không có điều gì mờ ám bất chính. Trước cách mạng tháng Tám, ông lấy bà Vũ, có một con gái 3 tháng nhưng vì mất liên lạc suốt 20 năm, người vợ đi tìm chồng và mất tích. Bà vợ thứ hai Trần Ngọc Anh, tức Trần Kiếm Qua, nguyên thành uỷ viên Bắc Kinh, có 2 con trai là Hàn Phong và Tiểu Việt. Lúc Thiếu tướng về nước, hai vợ chồng có quy ước sau ba năm không gặp lại nhau thì coi như được "giải phóng". Hai người con Hàn Phong và Tiểu Việt của ông đã nhiều lần về thăm quê nội.

  Sau đó Thiếu tướng lập gia đình với cô Ba Nội Nam Kỳ (tên do thân nhân gia đình gọi), có được một người con gái Nguyễn Mai Lâm, sau đó vì không hợp nhau đành chia tay. Năm 1948 Thiếu tướng lấy bà Lê Hằng Huân, con gái của thi sĩ Lê Dư ở Quảng Nam. Họ có với nhau 4 con (1 trai, 3 gái). Chúng tôi, khi viết bài này đã tìm gặp được chị Nguyễn Thanh Hà, trung tá, anh Nguyễn Cương thiếu tá, chị Nguyễn Việt Hằng, đại uý. Các con của Thiếu tướng Nguyễn Sơn cũng theo đường binh nghiệp, nhưng nghe chừng cũng lắm gian truân.
Kết thúc bài viết này, xin mượn lời một nhà khoa học: Nếu có Đại bách khoa toàn thư Việt Nam, tập quân sự nhất định phải có mục từ Nguyễn Sơn. Còn ở Trung Quốc từ điển danh tướng Trung Hoa đã đánh giá cao Tướng Hồng Thuỷ (tên của Thiếu tướng Nguyễn Sơn) trong lịch sử quân sự Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 06 Tháng Mười, 2008, 05:56:31 PM
Nhớ mãi Nguyễn Sơn

Nguyễn Khắc Huỳnh



  Một ngày cuối tháng 5-1946, chúng tôi, những học viên Trường Lục quân Quảng Ngãi tập họp tại sân trường. Đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, Hiệu trưởng nhà trường đến gặp. Cuộc gặp đầu tiên với một con người không cao, da ngăm ngăm, râu hùm, hàm én, làm tôi liên tưởng đến một Từ Hải. Nguyễn Sơn nói chuyện, giọng nói vang vang. Sau này nhà thơ Hữu Loan viết "Tiếng nói Nguyễn Sơn còn vang vọng núi Nưa"... Mặc dầu đã gần 50 năm qua, tôi vẫn còn nhớ Nguyễn Sơn nói hay lắm, rõ ràng, sâu sắc, và đặc biệt là rất hấp dẫn... Mấy trăm con người lắng nghe im phăng phắc...

  Thời kỳ này, tuy Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 đã ký kết, nhưng thực dân Pháp vẫn mở rộng chiến tranh; đánh lấn ra Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ, thiếu thốn mọi bề. Chiến trường Nam Bộ cũng rất nóng bỏng và khó khăn.

  Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến, Nguyễn Sơn vừa lo các vấn đề quân sự của mặt trận, vừa lo xây dựng lực lượng, xây dựng hậu phương trên địa bàn Khu V. Là tư lệnh chiến trường, Nguyễn Sơn không ngồi "chỉ huy từ xa" mà thường đi sát các đơn vị chiến đấu, đi sát mặt trận, trực tiếp quyết định việc điều chỉnh, bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến tại chỗ. Cũng có lần Nguyễn Sơn trực tiếp cầm quân, làm nên trận Vạn Giã nổi tiếng lúc bấy giờ ở miền Nam. Những cố gắng vượt bậc của quân dân ta ở chiến trường này đã góp phần tiêu hao quân địch, làm chậm bước tiến của chúng, tạo điều kiện chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

  Trong việc xây dựng lực lượng, việc mở Trường Lục quân Quảng Ngãi với quy mô tương đối lớn, trên 400 học viên là một chủ trương đúng đắn, mạnh bạo. Vài tuần trước khi nổ ra kháng chiến toàn quốc, ta đã kịp thời tung ra trên 400 cán bộ được đào tạo tương đối có cơ sở bổ sung cho các chiến trường. Để khắc phục khó khăn về giáo viên quân sự, kỹ thuật, chúng ta mạnh dạn giao cho một số sĩ quan quân đội Nhật đã tình nguyện đứng trong hàng ngũ ta. Chính Nguyễn Sơn với bản lĩnh của mình đã góp phần cảm hoá, thúc đẩy những sĩ quan người Nhật này đem hết nhiệt tình giảng dạy. Sau này, một số giáo viên này trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có người hy sinh ở chiến trường. Gần đây một người trong số giáo viên đó sang ta vẫn nhắc tới Nguyễn Sơn.

  Khi Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam chấm dứt nhiệm vụ, Nguyễn Sơn được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất). Lần này Nguyễn Sơn trực tiếp giảng dạy phần kiến thức lý luận quân sự với ba chủ đề: nuôi quân, luyện quân, cầm quân. Quả thật, đây là những vấn đề dễ nhạt, dễ gây nhàm chán... nhưng với bề dày kinh nghiệm với khoa diễn đạt của mình, Nguyễn Sơn đã cuốn hút người nghe từ ngày này sang ngày khác. Nguyễn Sơn nói: "Vâng lệnh Hồ Chủ tịch, tôi cố gắng đem kinh nghiệm 20 năm của tôi truyền đạt lại cho các đồng chí trong vài tháng". Có lẽ tập tài liệu "Nuôi quân, luyện quân và cầm quân" này do Nguyễn Sơn soạn là một trong những tài liệu quân sự đầu tiên do ta biên soạn.

  Trên cương vị công tác nào, ở đâu Nguyễn Sơn cũng để lại những ấn tượng, những kỷ niệm. Thời kỳ làm Tư lệnh Liên khu IV, Nguyễn Sơn đã tổ chức những Đại hội luyện quân, gọi là "Đại hội tập" rất quy mô. Những người dân tỉnh Thanh lúc đó chăm chú theo dõi hình ảnh Tướng Nguyễn Sơn cùng chạy đường dài với bộ đội, thỉnh thoảng dừng lại châm thuốc hút, rồi chạy nhanh đuổi theo đơn vị.

  Nguyễn Sơn để lại cho học trò cấp dưới, những người từng công tác với mình những ấn tượng đậm đà, sâu sắc.

  Nguyễn Sơn có một tâm hồn dân tộc mạnh mẽ. Mười sáu, mười bảy tuổi đã xa đất nước - ngót 20 năm, nghĩa là suốt cả độ tuổi thanh niên trưởng thành sống ở nước ngoài. Đối với nhiều người cùng hoàn cảnh, thời gian đó có thể làm cho người ta xao lãng nhiều điều. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám anh về nước, người ta gặp anh, anh vẫn suy nghĩ, ứng xử và nói năng rất Việt Nam. Những kiến thức mà anh tâm niệm truyền đạt cho lớp cán bộ trẻ trước hết là kinh nghiệm, truyền thống đánh giặc của ông cha ta, Nguyễn Sơn thuộc nhiều thơ văn Việt Nam, rất thuộc Kiều và có thể bình Kiều suốt buổi với một cử toạ là giới văn nghệ sĩ.

  Nguyễn Sơn có tấm lòng rất nhân ái, yêu thương đồng bào, yêu thương cán bộ, chiến sĩ, quan tâm giúp đỡ những cán bộ có khó khăn, độ lượng với những người có sai sót do thiếu kinh nghiệm, nhưng rất nghiêm khắc với những sai lầm do thiếu trách nhiệm. Anh yêu ghét rất rõ ràng. Nhiều người còn nhớ một buổi tối giữa thị xã Quảng Ngãi, Nguyễn Sơn đã lên võ đài bắt dừng một trận đấu "bốc" mà anh cho là hung bạo.

  Nguyễn Sơn là một trong các nhà quân sự của ta sớm quan tâm tới các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao cả trong và ngoài quân đội. Vào Quảng Ngãi, ra Thanh Hoá Nguyễn Sơn đều có những liên hệ rộng rãi với giới văn nghệ sĩ, tập hợp nhân tài, lập đoàn kịch, đội văn nghệ. Bửu Tiến nhà soạn kịch đã kể lại việc Nguyễn Sơn kéo Bửu Tiến vốn chưa quen biết vào Quảng Ngãi lập đoàn kịch đầu năm 1946. Nhà văn Chu Ngọc có viết về Nguyễn Sơn: "Người cán bộ quân sự ấy bảo vệ đất nước không chỉ đơn thuần về mặt súng đạn. Anh đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tâm hồn người Việt Nam để yêu nước hăng say, yêu con người, yêu ngôn ngữ, yêu giọng nói, điệu múa, yêu thơ, yêu hoạ...". Đúng vậy, Nguyễn Sơn đã làm như vậy và làm từ rất sớm, từ những ngày đầu kháng chiến.

  Kỷ niệm 85 năm ngày sinh của anh, tôi chỉ muốn góp một tiếng nói nhỏ bé tưởng nhớ anh - anh Nguyễn Sơn một vị tướng có tài, một tâm hồn, một nhân cách.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 06 Tháng Mười, 2008, 06:00:58 PM
Nguyễn Sơn với trường lục quân trung học Quảng Ngãi 1946

Nguyễn Việt Hồng



  "Khoảng tháng 5 năm 1946, tôi ra Quảng Ngãi nộp giấy tờ vào học Trường Lục quân trung học. Tôi được biên chế vào tiểu đội 2, trung đội 2, đại đội 4. Học sinh của trường được gọi là sinh viên, có một huy hiệu tròn đeo ở ngực ghi rõ chữ "Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi" và số hiệu của mỗi người - tôi có số 354".

  Một nửa "sinh viên" là chiến sĩ đã chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, số còn lại là học sinh, viên chức mới tòng quân. Trường có hơn 400 sinh viên, được chia làm 4 đại đội do 4 đại đội trưởng người Nhật "Việt Nam mới" mà Nguyễn Sơn đã chinh phục được họ làm đại đội trưởng. Đông Hưng phụ trách đại đội 1, Minh Ngọc đại đội 2, Phan Lai đại đội 3, Minh Tâm đại đội 4.

  Trong trường bàn tán nhiều về tài "thuyết phục" của Hiệu trưởng. Nghe đâu Hiệu trưởng đã chuyện trò với Yô-ka-ya-ma, Cố vấn tối cao của Nhật bên cạnh Bảo Đại, đã giao thiệp với nhiều sĩ quan Nhật, đặc biệt là I-ca-oa, sĩ quan cao cấp Nhật ở Trung Kỳ. Thông qua Đề-bút-chi, phiên dịch của I-ca-oa mà "cách mạng" đã biết trước nhiều hành động của quân Tàu Tưởng đóng tại Huế, đã chuyển được một số vàng, vũ khí cho các đồng chí Lào ở Savanakhét có chuyến bằng xe vận tải quân sự của Nhật.

  Người phiên dịch của I-ca-oa là Na-ca-ha-ra, có tên Việt Nam là Minh Ngọc (viên ngọc sáng). Khi quân đội Nhật có lệnh rút khỏi Đông Dương, I-ca-oa và Minh Ngọc đến gặp chính quyền ta, xin ở lại Việt Nam để cùng Việt Nam chiến đấu chống đế quốc Pháp xâm lược.
Sau đó I-ca-oa được chuyển từ Huế vào Liên khu V, "Nguyễn Sơn đã có mối quan hệ đặc biệt với I-ca-oa" và đã thu hút được 4 người Nhật về công tác tại trường.

  Ban Giám hiệu nhà trường gồm có: Nguyễn Sơn, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam, Tổng đội trưởng là Phạm Kiệt - sau đó là Lê Thuỳ. Chính trị viên Tổng đội là Đoàn Khuê (nay là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

  Chương trình quân sự do Hiệu trưởng lập ra, dạy từ cá nhân chiến đấu, lăn lê bò toài, bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn theo kiểu Nhật, kiểu Pháp. Về chiến thuật, chỉ tập tiểu đội chiến đấu tấn công. Chiến thuật cấp trung đội chỉ được giới thiệu đại cương. Trong tình hình bấy giờ của Quảng Ngãi mới cướp được chính quyền, xa Trung ương, mà có một chương trình học tập, có giáo viên, trường sở... như vậy cũng không phải dễ ai cũng khắc phục được, chưa nói là ở tầm nhìn xa đào tạo cán bộ cho quân đội.

  Học viên ra thao trường về doanh trại phải đi đều và hát đồng ca để giữ nhịp đi theo đội hình 3 khối của một đại đội, hát chuyền khối "đuổi nhau". Khi đi qua thị xã Quảng Ngãi, khí thế bộ đội tăng lên, nhân dân hai bên đường phố nghe tiếng hát "Lục quân" ùa ra xem, vỗ tay, cổ vũ. Trước mặt đồng bào là những thanh niên cao to, mặc đồng phục màu xanh chàm, đi giày các kiểu, hát những bài hát cách mạng do học viên mang từ nhiều nơi về đã dấy lên một không khí chiến đấu hào hùng ở Quảng Ngãi.

  Có một lần nhà trường đã bố trí cho học viên đi nghe giảng về duy vật biện chứng. Giáo viên là một người Pháp và một người Việt ở Hà Nội vào. Ai nghe được tiếng Pháp thì nghe. Không nghe được thì nghe bằng tiếng Việt.

  Chín tháng sau, khi học xong chương trình tiểu đội chiến đấu, học viên của trường được cử đi thực tập ở các đơn vị thuộc các mặt trận miền Nam trong 3 tỉnh: Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, có người lên mặt trận Củng Sơn, An Khê...

  Hết 30 ngày thực tập, học viên trở về trường tiếp tục học tập.

  Bấy giờ, quân ta có đánh một đồn do một trung đội nguỵ chiếm giữ. Đồn có nhiều hoả điểm, xung quanh rào dây thép gai "bàn chải", tua tủa như đinh xuyên qua cả đế giày bằng da hay cơ-rếp... Bọn địch huyênh hoang là "bất khả xâm phạm".

  Ta tấn công đôi ba lần nhưng không thành công. Đồng chí Nguyễn Sơn bèn quyết định tổ chức đánh một trận thắng để nâng cao khí thế bộ đội. Đồng chí cho xây dựng một đồn giả và tổ chức cho bộ đội tập luyện. Không có giầy "xăng-đá" để vượt qua thép gai bàn chải, đồng chí đã dùng ván để khắc phục, và trực tiếp chỉ huy luyện tập, sau đó tổ chức trận đánh.

  Địch ở đồn đêm đêm chui vào các lô-cốt ngủ, chỉ gác ở một cổng ra vào. Quân ta tiếp cận im lặng, dùng ván đè lên dây thép gai, ào ào xung phong dưới sự yểm hộ của hoả lực, ném lựu đạn vào lô-cốt, các hầm, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm. Đây có lẽ là trận công kiên đầu tiên của quân ta ở miền Nam và của cả nước.

  Khoá học dự kiến một năm, nhưng do tình hình quân Pháp âm mưu gây hấn nên phải bế mạc sớm vào ngày 22-11-1946. Nhà trường phân phối học viên về các mặt trận, các tỉnh và gửi 100 người ra miền Bắc.

  Số anh em này ra đến Hà Nội vào cuối tháng 11 bằng tàu hoả. Ngày 3 tháng 12, anh em lại lên Sơn Tây, cùng đi có đồng chí Nguyễn Sơn, bấy giờ đã nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục quân huấn.

  Sau ngày 19-12-1946, đoàn học viên Lục quân Quảng Ngãi chuyển về Đền Và, rồi Thạch Thất. Hàng ngày đồng chí Nguyễn Sơn đến nói chuyện với anh em về cách mạng Trung Quốc, giới thiệu sách "Bàn về cách đánh lâu dài của Mao Trạch Đông"... Đồng chí nói mỗi ngày một buổi sáng, nói hàng chục ngày liền mà chẳng có tài liệu sách vở gì cả mà vẫn mạch lạc không bao giờ trùng lặp, sai sót, bổ sung, cải chính.

  Một lần, Đoàn tổ chức lửa trại, diễn kịch, đồng bào đến dự rất đông. Ban tổ chức mời đồng chí Nguyễn Sơn nói "vài lời" khai mạc. Bấy giờ làm gì có micrô, tăng âm, đồng chí cứ đứng giữa trời nói, cuốn hút mọi người trong một tình huống mà "khán giả" không muốn nghe dài. Nhưng đồng chí cứ nói, người nghe vẫn bị hấp dẫn... có lẽ gần một tiếng mới hết.

 ... Trong tâm trí anh em học viên Trường Lục quân Quảng Ngãi vẫn in đậm hình ảnh Hiệu trưởng của mình.

  Năm 1992, khi học viên Trường Lục quân Quảng Ngãi gặp lại nhau, đồng chí Phi Hùng có viết 4 câu thơ "Nhớ người anh lớn Nguyễn Sơn" như sau:

"Bốn sáu năm rồi, gặp lại nhau
Vắng người anh lớn, đã đi lâu
Nhớ anh, nhớ cả người lẫn nết
Nhớ cả lời khuyên những buổi đầu".

(Theo tài liệu của đồng chí Ung Răng và của gia đình đồng chí Nguyễn Sơn)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 06 Tháng Mười, 2008, 06:06:46 PM
Kể chuyện Nguyễn Sơn*

Cao Bá Sanh



  ... Sau khi từ Trung Quốc về thì cha cháu được Đảng và Nhà nước giao cho một nhiệm vụ khá nặng - làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến miền Nam Việt Nam - cả quân sự và dân sự. Lúc đó, qua dư luận của các cán bộ làm việc đối với cha cháu thì chú nhận thức được rằng cha các cháu nói chung được cán bộ rất yêu mến, cảm phục, trong đó có cả những bác sau này làm to như bác Nguyễn Chánh hay bác Phạm Kiệt... Có những người chưa quen, chưa gặp mặt nhưng nghe tên Nguyễn Sơn thì đều biết đấy là một ông tướng rất có thành tích. Khi chú được về Bộ Tổng Tham mưu, tức là sau khi Trường Lục quân Quảng Ngãi tạm giải tán theo yêu cầu chiến đấu thì lúc đó ở trong Nam địch mở rộng tấn công, mở rộng gọng kìm ra ngoài Bắc, nhất là vùng Lạng Sơn, Hải Phòng địch tăng cường. Sau vụ Hàng Bún, tháng 12-1946 tình hình căng thẳng lắm. Ra Bắc, chú về phòng tác chiến và cùng với chú Đào Văn Trường - lúc đó là trưởng phòng. Trước đó, khi ở Quân khu V thì chú Trường là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 23 và có thời gian ở Trường Lục quân, nên chú Trường hiểu biết về cha các cháu rất nhiều. Sau đó giáo sư Minh Ngọc, sĩ quan người Nhật, là quan ba mà có học vị, trở về làm cố vấn cho Phòng tác chiến. Lúc ở Trường Lục quân, giáo sư được trực tiếp làm việc với cha các cháu. Nhờ đó, trong những lúc tâm sự, Minh Ngọc có kể cho chú nghe về Nguyễn Sơn trong thời kỳ ở miền Nam. Chúng ta giữ Sài Gòn một thời gian thì địch đánh nống ra để chiếm miền Nam Trung bộ. Địch điều sư đoàn cơ giới của Tướng Lơ-cơ-léc sang, và giải toả được Sài Gòn. Sau đó chúng đánh theo hai gọng kìm ra miền Nam Trung bộ: một, theo đường 1 ra đến Đèo Cả và một, theo đường lên Tây Nguyên. Lúc đó lực lượng của ta ở Tây Nguyên rất đông, theo chú Trường nói là có 6-7 trung đoàn, trang bị thô sơ, mà quân đội Pháp thì rất hiện đại. Cán bộ chỉ huy xuất thân từ nhiều trường, nhiều nước khác nhau. Trường Nhật có, trường Pháp có..., mỗi anh đánh theo một kiểu, chưa có sự thống nhất. Sai lầm của chúng ta là vũ khí rất thô sơ nhưng lại đánh theo kiểu của quân đội có trang bị hiện đại, đánh theo kiểu chiến tranh chiến hào của Pháp. Trong khi ta nấp trong chiến hào, chuẩn bị vũ khí đánh giáp lá cà, nhưng địch có đến gần đâu. Nó có ca-nông, moóc-chi-ê, có các loại súng lớn, nên khi địch tấn công thì quân ta tan rã. Khi phòng tuyến này tan rã lại lập phòng tuyến thứ hai, rồi lại tan rã, lại lui lại lập phòng tuyến thứ ba. Khi cha các cháu vào Nam đi khảo sát tình hình Tây Nguyên thì thấy không ổn nên có quyết định rất táo bạo và ra một mệnh lệnh. Điều đó xuất phát từ sự đánh giá tình hình địch rất táo bạo. Cha các cháu đánh giá: mặc dù địch đang trong thế tiến công, nhưng với điều kiện như thế này thì sức của địch không thể tiến thêm được nữa mà lấy đèo An Khê làm mốc cuối cùng của gọng kìm Tây Nguyên. Và ông ra lệnh rút toàn bộ lực lượng trên chiến trường Tây Nguyên trong 3 ngày, không để một bóng dáng người lính nào ở đó. Lúc đó cán bộ cao cấp, trung cấp..., đều có sự phản ứng. Nhưng cha các cháu luôn đề cao quân lệnh, nên tất cả đều phải chấp hành. Trong 3 ngày không còn một bóng vệ quốc đoàn trên chiến trường Tây Nguyên. Ông chỉ cho phép để lại một tiểu đoàn, hoá trang làm dân để nắm tình hình địch, rải từ huyện Thu Phong đến đèo An Khê. Địch cũng rất hoang mang, một phần lực lượng của nó đến đó cũng cạn, một phần nó không hiểu và sợ âm mưu của ta. ở phía đường 1 thì nó cũng chỉ đến Đèo Cả. Ta bên này, nó bên kia. Với chủ trương tập trung bộ đội về củng cố, nghỉ ngơi, huấn luyện cho nên mới nghe có vẻ tầm thường nhưng sau mới thấy quan trọng. Cán bộ chính trị trung đoàn, làm công tác dân vận đối với các bà mẹ, đối với phụ nữ; các đoàn thể làm công tác uý lạo chiến sĩ. Cán bộ quân sự thì một mặt chuẩn bị chương trình huấn luyện, thao trường... Sau một quá trình chiến đấu gian khổ khi rút về nhất định tư tưởng, tinh thần có ảnh hưởng. Cho nên vai trò của các bà mẹ chiến sĩ rất quan trọng. ở quân khu của Nguyễn Sơn thì nhất là ba thứ quân được tổ chức đầu tiên; thứ hai là huấn luyện từ phân đội trở lên và lấy phân đội làm đơn vị tổ chức chính. Cán bộ từ trung, tiểu đoàn trở lên đều được tập trung huấn luyện do chính Nguyễn Sơn đảm nhiệm. Để biết kết quả huấn luyện và bổ sung cho chương trình huấn luyện ông đã đề ra hình thức "Đại hội tập" tức là hình thức diễn tập kiểm tra, trên cơ sở đó mà có những bổ sung cho chương trình huấn luyện. Nhưng việc lựa chọn đơn vị để "hội thao" cũng không phải là chỉ định mà là chọn theo hình thức thi đua từ dưới đơn vị lên và có khen thưởng rõ ràng. Tổ chức kiểm tra thì các đơn vị đều phải hành quân về Thanh Hoá, nhưng địa điểm hội tập thì luôn luôn thay đổi để rèn luyện mọi mặt cho bộ đội. Đi trên đường, ông cho đánh bom mìn, chông bẫy, sử dụng vũ khí thô sơ. Có một bức vẽ phóng tác của chú Dậu lúc đó ở Ban tác chiến mà chú rất thích. Đó là hình ảnh Nguyễn Sơn dẫn đầu cuộc thi vũ trang 10km, ông cũng đeo vũ khí như anh em mà ông vẫn dẫn đầu.

  Muốn đoạt giải hành quân vũ trang thì đội hình phải đến đích đầy đủ trang bị, cho nên ông cứ chạy lên trước được một đoạn thì lại quay lại "khích": Ôi! thanh niên mà thua ông già à? Thế là cả đoàn quân lại ào lên. Cuối cùng đội của ông nhất. Cái khó bấy giờ là phải bí mật, nhanh chóng vì máy bay địch luôn dòm ngó. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội tập vừa rèn kỹ thuật, vừa hành quân, cũng đồng thời chuẩn bị phương án đánh địch trên đường. Quân khu bộ đông người, mà đến chỗ nào ông cũng ra lệnh "nếu làm việc hết một ngày thì phải triển khai công tác và chuẩn bị phương án mọi mặt chiến đấu".

  .......Nói về văn học nghệ thuật thì có một lần đáng ghi nhớ là lần tổ chức nói chuyện với trí thức, văn nghệ sĩ về vở kịch "Lôi Vũ" của Tào Ngu (Trung Quốc). Chúng ta biết rằng khi Lôi Vũ - một tác phẩm lớn ra đời ở Trung Quốc và Việt Nam, bác Đặng Thai Mai, một trí thức lớn lúc đó là người dịch. Ông Đặng Thai Mai theo cách mạng từ trước chứ không phải là từ khi cướp chính quyền đâu. Khi ta tổ chức Trường Văn hoá kháng chiến ở Bôn (Thanh Hoá) thì Đặng Thai Mai là Hiệu trưởng. Khi tổ chức nói chuyện về Lôi Vũ thì ông nhà ta là diễn giả, mà nói mấy ngày liền ở đó. Phải nói là với thành phần trí thức như vậy, nếu là nói không hay, không giỏi, không đúng thì không phải đến ba ngày ai cũng nghe đâu. Đằng này thì không thiếu một ai. Cho nên khi kết thúc cuộc nói chuyện thì Đặng Thai Mai có nói thế này: "Nguyễn Sơn nói chuyện về Lôi Vũ sâu sắc, đầy đủ hơn cả bản thân người dịch ra nó", để muốn nói rằng ông ấy là dịch giả, ông đã xâm nhập vào tác phẩm rồi thế mà vẫn không bằng Nguyễn Sơn. Thường thì chúng tôi cũng được nghe, nhưng nói là "đàn gảy tai trâu" thì cũng không đúng, nhưng làm sao hấp thụ được như những trí thức ngồi đấy, trong đó có cả những trí thức lớn. Đó là điều chúng ta thấy tự hào về ông, chứng tỏ là cái tài giỏi của ông. Nói về văn hoá còn có một chuyện như thế này. Quân khu IV là phức tạp - cũng không phải gì đâu - mà là nhiều tổ chức quá, Trường Thiếu sinh quân, Quân khu bộ, nhưng đặc biệt là các đoàn tuồng, chèo... với cái số nhạc sĩ, văn sĩ và đặc biệt là số trí thức như đã nói. Mặc dù là chiến tranh nhưng người ta vẫn yêu cầu phải có điều kiện cho người ta sáng tác. Cho nên là mỗi khi di chuyển địa điểm Khu bộ, thì thường mấy ông đến gặp chú đặt vấn đề khi chọn ở cho chúng tôi thì yêu cầu thế này, thế khác. Yêu cầu của họ rất chính đáng thôi, và nhiều đoàn như vậy. Về Trường Thiếu sinh quân, chú có một kỷ niệm sâu sắc là: hành quân, các cháu mệt quá đến bờ sông thì tất cả ngủ ở bờ sông bên này, sáng bảnh mắt ra Khu trưởng hỏi: Thiếu sinh quân đến chưa? Chú mới cho quay trở lại thì thấy đang ngủ tất cả bên bờ sông, "thế máy bay nó thấy thì chết tất". Ông Sơn quát cho một trận. Lúc đó chú đang trẻ tuổi mà ông đã giao làm những việc quá trời nhưng cũng phải cố mà làm. Ông ấy hiểu về các lĩnh vực rất sâu chứ không phải khơi khơi đâu. Tất nhiên là không sâu tới mức trở thành nghệ sĩ, nhưng sâu trên nhiều lĩnh vực. Bây giờ chú nói đến chuyện Phạm Duy có sáng tác một bài hát trong một hội nghị quân khu, cán bộ rất đông. Phạm Duy đến báo cáo với Khu trưởng là tôi mới sáng tác được một bài hát để phục vụ bộ đội. Khu trưởng duyệt xem thế nào có thể hát ở hội nghị được không. Ông ấy bảo: ờ được, được! Chú mi hát thử ta nghe. Thế là nhạc sĩ Phạm Duy ngồi cạnh hát nho nhỏ. Phạm Duy vốn là một nhạc sĩ chuyên hát ở các Bar rất nổi tiếng cho nên phong cách biểu diễn của ông ta cũng khác các nhạc sĩ khác, điệu lắm, nhưng rất hấp dẫn. Nhưng do có lẽ là điệu quá cho nên trong bài hát có một nốt nhạc nào đấy anh ta "luyến" quá đi một chút. Đến khi hát xong, anh ta ngồi xuống bên cạnh Khu trưởng hỏi nhỏ xem thế nào, trong khi nhiều người cứ vỗ tay đòi hát lại. Khu trưởng mới trả lời là: Chú mi hát hay đấy! Nên phổ biến cho bộ đội họ tập đi. Nhưng chú mi điệu quá nên hát sai ở chỗ này và ông nói cái "nốt" sai ấy. Phạm Duy không ngờ mình hát sai có một tý thế mà ông ấy cũng biết được.

  Thời kỳ ở Quảng Ngãi, có một lần học sinh Thiếu sinh quân tổ chức liên hoan văn nghệ có cả thanh niên địa phương tham dự. Thế là có các cô ở Quảng Ngãi lên hát bài "Thiên thai" bài hát này sau có thời kỳ khuyên không nên hát vì giai điệu nó ru ngủ. Nhưng Nguyễn Sơn phê phán ở chỗ này: Khi hát đến đoạn "chúng em xin dâng hai chàng trái đào tiên", các cô thì mặc lơ-muya, ngực giơ ra, ông đứng dậy nói ngay: ý nghĩa của câu "dâng hai chàng trái đào tiên hay như thế sao lại giơ ngực ra..." Hay là các bài "Không quân Việt Nam" có tư tưởng đế quốc mà mình có biết đâu, đến khi ông phân tích ra ông bảo như thế là có tư tưởng đi tàn sát, xâm lược, khi đấy nhiều người mới ớ ra, kể cả những ông có trình độ - thế rõ ràng chứ gì nữa. "Nhìn qua khói những kinh thành tan" thì quan điểm đó là không hợp. Hay là bài hát gì mà thu nhiều chiến lợi phẩm, anh thì lấy đôi giầy, anh thì cầm thắt lưng, nếu mà anh nào tếu một tý thì hát buồn cười lắm. Nhưng khi nghe ông, ông phân tích ra thì anh nào cũng đớ cả ra... Thấy mình còn đang dốt quá, quan điểm lập trường thì cứ hay nói nhưng thực chất chả hiểu được mấy.

  Một lần về Thọ Xuân, nghe ở làng Xuân Phả gần quân khu bộ, có một điệu múa Xuân Phả mà nội dung diễn tả về việc Cống Chiêm (Chiêm Thành), tục lệ là 12 năm mới có một lần, và mỗi lần như vậy rất tốn kém vì tổ chức tới hàng trăm người. Về đó một thời gian thì Nguyễn Sơn mới nghiên cứu, rồi phân tích: Đây là một điệu múa dân tộc mà lại không biết... Vì thế ông gặp chính quyền địa phương đề nghị tổ chức ngay buổi múa đó mà kinh phí tổ chức do Quân khu trưởng chịu. Hôm đó, đông người đến xem lắm, nhưng để làm được là công phu và tốn kém lắm, ăn mặc theo thời cổ, kể cả người Việt và người Chiêm, nhưng ông kiên quyết làm... để thấy tính cách của ông là như thế, ham hiểu biết đến tận nơi tận chốn trên nhiều lĩnh vực.

  Còn đối với cơ quan, thường là cán bộ cơ quan rất "phức tạp", cồng kềnh, thế mà ai cũng phải luyện tập cả. Theo lệnh ông cứ đơn vị ở một ngày thì phải triển khai toàn bộ các phương án phòng khi tác chiến, làm như thế thì khổ nhất là anh thông tin, lắp máy, giây rợ... Nhưng phải làm để thành thói quen. Mà Đại hội tập cũng không chỉ là tổ chức một nơi, làm ở rất nhiều nơi, nơi khai mạc riêng, nơi tập riêng... Trưởng ban tổ chức lúc đó là Nguyễn Sĩ Tuấn (cũng là hạ sĩ quan Pháp cũ) là Tham mưu trưởng, ông giao cho chú một cái xe lệnh đi tìm địa điểm. Cuối cùng tìm địa điểm khai mạc ở Chùm Chuối, rồi trên đường 10 lên Cổ Định thi và kết thúc ở trên đó. Như vậy là bộ đội từ sĩ quan đến chiến sĩ luôn luôn phải luyện tập, cơ động cao. Khi đó ở Ban tác chiến có một anh gọi là anh Lê Quốc Dọc có tài vẽ phác thảo, có vẽ hình ảnh Nguyễn Sơn, dẫn đầu đoàn chạy vũ trang, sau đó cùng ông dừng lại "chống nạnh" và quát: này thua ông già à! Thế rồi đoàn quân đến nơi ông lại chạy tiếp, nét vẽ về ông rất sinh động. Ông Dọc này người Bình-Trị-Thiên. Có một chuyện Trung đoàn 57 của ông Nguyễn Thụ hành quân cùng Trung đoàn 77 Thanh Hoá đến đò Lách, chú với ông Sơn đạp xe đi trước và vào một quán, ông bảo "chú đặt cho tôi một nồi cháo thật to, vài chục con gà, tôi ngủ, chú trực, thấy thằng nào đến báo cáo thì chú đãi nó", ông bảo thế. Nửa đêm, Trung đoàn trưởng 77 Việt Hùng chạy đến báo cáo, tôi thay mặt Thủ trưởng nhận báo cáo mới chết chứ lại. Tôi bảo mời anh vào đây Thủ trưởng chiêu đãi. Kể chuyện này để nói là bất cứ việc gì ông cũng có phần thưởng cho người làm tốt để mà thi đua với nhau. Lúc đó, đò Lách rộng lắm, rộng thế mà ông tổ chức thế nào trong một đêm mấy trung đoàn vượt sông trước sáng, tôi nghĩ đây là kinh nghiệm của "Vạn lý trường chinh", huy động mấy trăm chiếc thuyền của dân chở bộ đội, thật tài!
----------------------------------------
* Trích bài nói chuyện của tác giả với gia đình Tướng Nguyễn Sơn. Tác giả nguyên Trưởng phòng Tác chiến Liên khu IV. Hiện ở xã Mẫu Đơn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 06 Tháng Mười, 2008, 06:08:54 PM
Nguyễn Sơn giám đốc trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Nguyễn Cao Vỹ



  Tháng 11 năm 19461, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở thị trấn Sơn Tây. Lúc đó, tôi là sinh viên của Trường. Ông Hoàng Đạo Thuý, giám đốc được điều động về Bộ Quốc phòng. Đồng chí Nguyễn Sơn về thay. Đó là một con người có tầm vóc trung bình với bộ râu con kiến và nắng gió của cuộc đời gian khổ trong giải phóng quân Trung Quốc còn đọng trên da mặt đen sạm của ông. Khi về trường, ông có mang theo một chiếc ô tô du lịch, bỏ mui, màu trắng.

  Tính tình ông rất phóng khoáng và cởi mở. Chiều chiều, hết giờ làm việc, đầu đội bê-rê lệch, ông tự lái xe ô tô đi dạo.

  Khi mới về, Tướng Nguyễn Sơn nói với chúng tôi: "Mình đánh du kích ở bên Tàu 10 năm, nay Bác Hồ bảo đem truyền kinh nghiệm cho các chú trong một tháng. Các chú liệu mà học".

  Tài kể chuyện của ông thật là vô địch. Cứ sáng chủ nhật, bỏ tất cả các cuộc vui chơi, chúng tôi quây quần ở hội trường, há hốc mồm nghe ông nói về cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung Quốc mà ông đã tham gia. Ông đã đi qua nhiều vùng xa xôi hẻo lánh của những người thiểu số đầy nguy hiểm, bất trắc. Không biết tiếng các dân tộc, nhưng với trí thông minh và lòng dũng cảm, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiền trạm được giao.

  Tháng 1 năm 1947, vào một buổi chiều, chúng tôi còn đang tập ở trên một quả đồi gần trường, một chiếc máy bay Dakota của Pháp đến ném bom. Không ai bị thương. Nhân dân thị xã Sơn Tây nghe tin đến thăm rất đông. Trời chạng vạng tối, bà con vẫn chưa chịu về. Ông Nguyễn Sơn bèn ra nói chuyện với đồng bào. Sau khi cám ơn bà con đã quan tâm đến bộ đội, ông phân tích cái yếu, cái mạnh của quân đội Pháp và kết luận: "Máy bay địch không có gì đáng sợ cả, chỉ cần chúng ta biết phòng tránh cho tốt". Đồng bào ra về chuyện trò vui vẻ.

  Một đêm trời lạnh, sương mù dày đặc, tôi vừa đổi gác về. Có lệnh báo động toàn trường, tin truyền xuống các tiểu đội: "Địch đang tiến về Cầu Phùng". Vừa lúc đó có tiếng đại bác từ phía Hà Nội vọng sang. Mọi người lặng lẽ thu xếp ba lô, súng đạn rất nhanh. Toàn bộ sĩ quan, sinh viên, nhân viên nhà trường rút khỏi Sơn Tây. Một trung đội được dàn ra chặn hậu, đề phòng quân địch, rút sau cùng. Chúng tôi hành quân cấp tốc không nghỉ. Đến 9 giờ sáng hôm sau, chiếc ô tô của Tướng Nguyễn Sơn vượt đội hình bộ đội. Có lệnh tập trung để nghe Giám đốc nói chuyện.

  Giọng ông sang sảng: "Đêm hôm qua quân Pháp không tiến về Cầu Phùng. Đó chỉ là một cuộc tập báo động. Từ nay chúng ta sẽ vừa đi, vừa học không trở về trường nữa.

  Muốn chuyển từ thời bình sang thời chiến phải hết sức gọn nhẹ. Chẳng nên tiếc những thứ cồng kềnh làm khổ chúng ta. Tất cả:
Nghiêm! Đi đều bước!"

  Chúng tôi lại lên đường hát vang khúc quân hành.

Sinh viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, 1946


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 06 Tháng Mười, 2008, 06:16:07 PM
Một buổi "loạn đàm"

Bửu Tiến


 
  "Một khoá bồi dưỡng văn nghệ khu?" - Nguyễn Sơn mồm không rời điếu thuốc lá thơm Phillip Morris, nhướn đôi lông mày rậm, ông nhắc lại câu nói của thầy Mai.

  Hồi đó, Chính phủ chưa phong tướng cho ông. Nhưng nhân dân Khu IV đã truyền tụng với nhau nhiều giai thoại về ông, một trong số người đã tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc, ngày ra đi 72 vạn người, sau 10 năm trở về còn lại 7 vạn 2, đã đánh nhau hàng trăm trận với Tưởng và trở về. "Thằng này đã trở về" - ông thường tự hào nhắc lại câu nói đó - trái với lời thơ xưa "Xưa nay chiến trận mấy ai về"! Ông có tài hùng biện diễn thuyết trước đám đông ba, bốn giờ đồng hồ liên tục, liên tục hút thuốc lá thơm, thỉnh thoảng thêm những mẩu chuyện vui, bên cạnh những mẩu chuyện chiến đấu dũng cảm, gây những chuyện cười rộ trong người nghe khiến quên khuấy cả thời gian tràng giang đại hải.

  Trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, người dân của ba tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh tự do đã tự hào về vị Khu trưởng quân sự mà họ phong là Tướng "văn, võ song toàn", mà họ ví với Từ Hải vì nước da bánh mật và bộ mặt "râu hùm, hàm én, mày ngài" của ông.

  Võ có ông, văn có giáo sư Đặng Thai Mai, đã từng ở tù chính trị thời Pháp thuộc, đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh, sau đây trở thành bạn chiến đấu.

Lúc Quốc học, lúc Thăng Long, dạy nghĩa đồng bào trong tiếng quốc kêu khắc khoải.
Khi khu Tư, khi Việt Bắc, khuyên tình đồng chí dưới cờ sao dậy xôn xao...


  Hôm đó, thầy Mai đến bàn với Khu trưởng Khu IV về việc mở khoá bồi dưỡng văn nghệ khu... Nguyễn Sơn rít một hơi thuốc dài và nói tiếp:

  - Về mặt "đấm đá", mình có thể cam đoan với các ông là thực dân Pháp không có đủ sức nống ra ba tỉnh tự do này. Vừa qua, chúng tập trung nhảy dù xuống chiến khu Thừa Thiên. Anh Lâu đã đón tiếp chúng bằng một bãi mìn trước mặt chiến khu. Hơn 300 tên nằm lại trên đó! Hiện nay, chúng không đủ quân bảo vệ những đồn đóng ở đồng bằng Bình-Trị-Thiên. Du kích đã bắt đầu hoạt động mạnh. Trận Đồng Dương tháng trước, tuy chỉ diệt được 11 bảo vệ quân trong trận càn đồng bằng Quảng Trị, nhưng là trận mở màn cho phong trào du kích đang lên, níu giữ từng tấc đất, chống càn của giặc. Chúng không còn ngang nhiên đi lại, như vào chỗ không người được nữa! Trong đó, bộ ba Nguyễn Chí Thanh, Trần Quý Hai, Hà Văn Lâu làm ăn rất khá. Có cơ phát đạt. Bọn mình ngoài này cũng đang chuẩn bị một đợt rèn cán chỉnh quân, gửi quân vào tiếp sức với trong đó. Giặc càn đến đâu, du kích đánh đó. Hăng đấy! Nhưng chưa có quy củ, bài bản gì cả. Cũng như tuyên truyền, xông xáo đấy! Nhưng chỉ có thuộc lòng bài ba giai đoạn của Hải Triều mà thôi! Khô như ngói rang. Phải có bài bản. Khoá bồi dưỡng văn nghệ khu này, theo mình hiểu cũng là một kiểu "rèn cán chỉnh quân" bên văn đó. Phải có màu sắc văn nghệ vào tuyên truyền mới uyển chuyển, sinh động, ôm nhẹ vào lòng người cứ như không. Điều kiện cho phép, tình thế đang cần, các ông cứ việc "rèn cán chỉnh quân" của các ông đi!

  Thầy Mai tủm tỉm:

  - Vậy mới phải bàn với anh, "Cán" của chúng tôi nằm trong quân đội của anh khá nhiều, văn: Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, hoạ: Nguyễn Văn Tỵ, Sĩ Ngọc, kịch: Chu Ngọc, Bửu Tiến...

  Nguyễn Sơn tiếp:

  - Bên Hải Triều cũng có một số, văn: Bùi Hiển, nhạc: Nguyễn Văn Thương... về lý luận mác-xít anh sẵn có Đào Duy Anh, Trương Tửu... tập trung cả lại, có thể có một khung giảng viên mạnh đấy!

  Nguyễn Sơn quay sang Bửu Tiến là tôi, lúc bấy giờ là một "thực khách" của ông đang ngồi chầu hẫu nghe chuyện:

  - Ví dụ: "Mệ" đây có thể phụ trách môn sân khấu, dạy cho thanh niên làm kịch.

  Tôi mỉm cười:

  - Sân khấu là cả một biển mênh mông... Tôi chỉ biết "tô tô" năm, ba sải nước gần bờ. Anh "đề bạt mạng" giảng viên cho chết tôi à.

  Thầy Mai mỉm cười, cười rất hóm:

  - "Toa" chẳng phải đã diễn kịch Lôi Vũ? Thời gian dạy học tư ở Huế, đã diễn một số kịch Pháp? Đã viết một số kịch ngắn? Không có một chút kinh nghiệm gì về sân khấu ư? "Toa" không nhớ gì về môn sân khấu đã học ở trường ư?

  - Đã xa xôi lắm rồi, thầy ạ! Và tôi buột mồm đọc lên hai câu về sân khấu cổ điển Pháp:

  "Qu'en un lieu, en un jour, une action accomplie tienne jusqu' à la fin le théâtre rempli1.

  Thầy Mai phút chốc trở lại ông giáo văn ở Quốc học ngày trước:

  - C'est du Boileau. Bien! Ce que l'on concoit bien s'énonce clairement. Et les mots pour le dire arrivent aisément2.

  - C' est du Boileau aussi

  Nguyễn Sơn cười ngặt nghẽo:

  - Thày khen trò: "Bien!", trò khen thày "Bien!". Toàn giọng thực dân! Vậy sân khấu Việt Nam, tuồng, chèo, cải lương, "mệ" có biết gì không, hay là mất gốc rồi?

  - Từ nhỏ, tôi đã được xem tuồng cung đình, ngồi trong lòng ông nội. Chòm râu giăng một tấm màn tơ trước mắt, phải vén râu ông lên mới xem rõ sân khấu. ấn tượng để lại ngày nay là hình ảnh Hồ Nguyệt Cô quằn quại trên sân khấu, sau khi bị Tiết Giao "đoạt ngọc", kết quả của ngàn năm tu luyện từ con cáo trở thành con người:

Uổng ngàn năm thâu góp báu càn khôn,
Sẩy một phút, tan tành trường phong nguyệt.

  Nguyễn Sơn cười hể hả:

  - Bài học cảnh giác cho cán bộ cách mạng đấy.

  - Hồi ba tôi ngồi làm quan ở đất Thanh Hoá này, tôi đã được xem chèo vài lần. Ấn tượng để lại là lời bông phèng của tên hề đồng của Từ Thức, tả chân cô tiên Giáng Hương, người tình mơ ước của chủ: "cô tiên trước ngực" lù lù "hai cái bàn bốc". Từ Thức ngạc nhiên: "Sao mày gọi là bàn bốc?" Hề cười toe toét: "Thế khi thầy đùa với cô tiên, thầy lấy đũa thầy gắp à? Thầy phải bốc tay chứ!"

  Nguyễn Sơn lại cười ngặt nghẽo:

  - Trí tuệ dân gian đấy! Thông minh đấy! Hiện thực trần trụi, không có mỹ từ nào, không có vòng vèo nào che giấu được. Nhưng văn nghệ không phải luôn luôn thẳng thừng như thế. Khi bóng bẩy: "Uổng ngàn năm thâu góp báu ngàn khôn". Khi thẳng thừng: "Trước ngực cô tiên hai bàn bốc...". Vấn đề là đúng chỗ, đúng lúc... Không nói đến Boileau nào xa xôi, cứ Hồ Nguyệt Cô, cứ "bàn bốc", cứ "Từ đưa phu tướng, bao kiếm sắc phong lên đường" mà giảng! Sân khấu dân tộc đó! Bơi "tô tô" cũng bị sặc nước như thường. Nhưng giảng viên cũng tập bơi thêm với học viên, từ "tô tô" sang brasse, sang crawl, càng xa, càng tốt. Cũng là một dịp lại soát lại cái vốn hiểu biết của mình. Thấy còn ít thì học thêm, cùng với học viên, học thực tế, học kinh nghiệm, học sách vở... Giảng chỉ là nói chuyện, là trao đổi với học viên. Biết một nói một, chủ yếu là kinh nghiệm của bản thân đã làm. Đừng phiêu lưu vào cái chưa biết, không biết. Thực sự cầu thị. Thành tâm trao lại cho thanh niên cái vốn hiểu biết của mình, dù còn rất ít ỏi so với cái biển mênh mông của văn nghệ, lắm luồng lạch, nổi chìm. Phiêu lưu dễ chết chìm lắm.

  Anh bỗng quay sang thầy Mai nói: Các anh còn cái ông làm thơ "Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà" nữa kia mà!" Thầy Mai: "Xuân Sanh! Anh mới về nước mà cũng chịu khó đọc nhỉ? " Nguyễn Sơn: "Cái dạo mình phải giấu mặt mấy thằng Tàu vàng, theo lệnh ông Cụ nằm bẹp dí một chỗ và xa nước lâu ngày, nhớ nước quá nên cứ vớ được sách nào đọc sách ấy. Chỉ văn nghệ mới phản ánh được bộ mặt của đất nước, nên đọc bạt mạng, đọc nghiến ngấu, đọc "Đáy đĩa"... cũng như đọc: "Hương thời gian thanh thanh - Màu thời gian tím ngát".

  Thầy Mai: "Đoàn Phú Tứ! Anh có hiểu loại thơ đó nói gì không?"

  Nguyễn Sơn tỉnh bơ: "Không! Dùi đục chấm nước cáy như mình làm sao hiểu nổi những cái vặn vẹo của thứ văn nghệ "hũ nút" đó được! Không hiểu nhưng cũng nhơ nhớ: Nó thanh thoát, nó lâng lâng như khi nhìn áng mây trôi, khi ngắm dòng nước chảy. Nói gì với mình, cụ thể? Không hiểu nổi. Nhưng nó lung linh như một khúc nhạc thiều..., nó chập chờn như một bóng Liêu Trai!" Rồi bỗng nhiên ông nhảy cẫng: "À! Cái nhóm Dạ Đài đó có đi kháng chiến không?".

  Thầy Mai: "Hiện họ đang ở khu Ba!"

  Nguyễn Sơn: "Cái anh chàng "ba mươi năm trên vai mà trống không bình sinh" đó, nay với cách mạng, đã thấy cái to lớn của dân tộc, có lấy được cái trống không bình sinh đó chưa?"

  Thầy Mai: "Vũ Hoàng Chương đang ở khu Ba!".

  Nguyễn Sơn: "Rủ về đây! Vực dậy mà đánh thực dân! Này, cái chính sách Liên hiệp của ông Cụ hay tuyệt đấy!

Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công!

  Cái ông "Màu thời gian tím ngát đó đã vào Quốc hội phải không? Đoàn kết với ông "Màu thời gian", đoàn kết với ông "Lá vàng bay ngổn ngang", đoàn kết với ông "Bướm trắng". Rủ về! Cách mạng chứa được tất cả! Mỗi người một tính, một nết, miễn đồng ý chung một điểm: Đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho nước nhà. Chưa đồng ý rồi sẽ đồng ý... Cái "Mệ" hoàng gia ngồi đây (chỉ Bửu Tiến) là hiện thân của chính sách Liên hiệp của ông Cụ. Đoàn kết thực sự, chân thành, từ đáy lòng của người cộng sản Việt Nam! Đừng ai dại dột nghĩ rằng đó chỉ là chiến thuật trong một giai đoạn ngắn, mà là cả một chiến lược lâu dài trong công cuộc giành lại độc lập còn khá lâu dài gian khổ..., trong công cuộc xây dựng đất nước sau đó, một nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, đứng ngang hàng các nước trên thế giới, còn lâu dài, gian khổ hơn nữa! Hiểu đó là chiến thuật, là bá đạo! Hiểu đó là chiến lược là vương đạo! Phân biệt "cách mạng thực" và "cách mạng giả" là ở điểm mấu chốt này. Lịch sử lâu dài đã chứng minh cái quy luật vĩnh cửu đó, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn...".

  Thầy Mai tủm tỉm: "Chúng ta loạn đàm rồi! Ông Cụ đã giễu cách nói tràng giang đại hải của một số cán bộ, một khi lên bục, nói say sưa, dây cà ra dây muống, đến nỗi không biết rời bục bằng cách nào nữa!"

  Nguyễn Sơn đấm vào vai thầy, nắm đấm của Từ Hải vào vai một Kim Trọng về già! Thầy Mai nhăn mặt, lùi ghế ra xa. Nguyễn Sơn: "Anh phê bình lối nói tràng giang đại hải của tôi, dẫn đi quá xa vấn đề! Tiếp thu! Tiếp thu! Nào, ta trở lui: Khoá bồi dưỡng văn nghệ khu...".

  Thày Mai đưa bàn tay sờ vai: "Tiếp thu kiểu đó cũng đau cho người phê bình!". Và họ cười hể hả với nhau. Đồng hồ gõ 11 tiếng. Kết luận đến rất nhanh: Lớp bồi dưỡng văn nghệ Khu IV đã được quyết định.

3-8-1992


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 10 Tháng Mười, 2008, 05:02:52 PM
Một cuộc thảo luận bổ ích

Nguyễn Thìn Xuân



  Cách mạng thành công, mở ra nhiều vấn đề mới mẻ cần phải nghiên cứu, tìm tòi và giải quyết, cả trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ cũng vậy. Tôi khó quên được một cuộc tranh luận về tuồng chèo mà tôi có cái may mắn tham dự theo học khoá I Trường văn hoá kháng chiến.
Tuồng chèo có nên để tồn tại hay không? Nhiều ý kiến trái ngược. Nhà trường chủ trương mở cuộc hội thảo về vấn đề này. Một tình tiết khá bất ngờ là chính... một vị tướng đã nhiệt tình bảo trợ và tích cực tham gia. Bối cảnh lúc bấy giờ là phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp và nguỵ quân đổ bộ vào miền tự do bắc khu Bốn hoặc nhảy dù quấy rối. Tuy nhiên, Tướng Nguyễn Sơn, Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu IV, một con người từng tỏ ra có hiểu biết khá sâu rộng về văn học nghệ thuật, đã đứng ra đỡ đầu cuộc thảo luận, với một hình thức tổ chức khá quy mô so với hoàn cảnh lúc bấy giờ.

  Ông Nguyễn Sơn đã mời toàn thể nhà trường lên chiến khu đóng tại rừng Sim (thuộc huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá) làm hội thảo. Ông lại mời một số đoàn tuồng, chèo nổi tiếng, một số diễn viên có tên tuổi, trình diễn các vở tuồng, giải quyết một cách nghiêm túc. Sau đêm biểu diễn tới khuya giữa rừng chiến khu (dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của các đơn vị bộ đội) cuộc thảo luận diễn ra rất sôi nổi nhưng cũng khá quyết liệt giữa hai quan điểm. Một quan điểm cho rằng tuồng, chèo là lạc hậu, mang nặng tư tưởng phong kiến, do đó đã hết vai trò lịch sử, cần phải xoá bỏ. Thay vào đó phải mở rộng và tăng cường cho kịch nói, một loại hình nghệ thuật tuy còn mới, nhưng đã có chỗ đứng vững vàng.

  Một quan điểm khác mà người tiêu biểu chính là Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Trong bài phát biểu khá dài của mình, Nguyễn Sơn cho rằng tuồng, chèo vốn là vốn cổ riêng biệt của dân tộc, đã là vốn cổ thì cần trân trọng, giữ gìn và phát huy. Những gì mang nặng ý thức hệ phong kiến thì cần xem xét, gạt bỏ, phải "gạn đục, khơi trong". Dứt lời thuyết trình, cả hội trường vang lên những tràng vỗ tay không ngớt.
Để kết thúc cuộc thảo luận, thầy Mai, Hiệu trưởng nhà trường đồng thời là đồng chủ toạ cuộc họp đã tổng kết: "Phải bảo vệ và phát huy vốn cổ của dân tộc, tuồng chèo phải được phát huy, nhưng cần mang thêm nội dung mới cho phù hợp với tình hình mới, phải được "gạn đục, khơi trong", phải "bình cũ rượu mới".

  Cho đến ngày nay, tuy đã chuyển sang công tác ở ngành giáo dục từ lâu, nhưng những ký ức về lớp văn hoá kháng chiến như vẫn còn rất sống động và tuy không trực tiếp làm công tác văn hoá văn nghệ nhưng những gì tiếp thu được ở lò luyện "thập bát ban võ nghệ" ấy vẫn có tác dụng nhiều mặt, giúp tôi làm tốt nhiệm vụ "trồng người", nhất là trong nhiệm vụ dạy Văn ở các trường phổ thông trung học.
Hè 1993
 
 
(Trích: "Một thời để nhớ" 45 năm khoá văn nghệ kháng chiến Liên khu IV, 1947-1992)


(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson3.jpg)
Ngày 9-10-1948, Lễ thụ phong Thiếu tướng Nguyễn Sơn,có các vị: Phạm Ngọc Thạch, Trần Văn Quang, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Lê Đức Thọ, Dương Quốc Chính (Tướng Nguyễn Sơn thứ hai từ phải sang, hàng thứ nhất).



Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 10 Tháng Mười, 2008, 05:04:21 PM
Một lần gặp Nguyễn Sơn

Xuân Tửu



  ... Trường hợp tiếp xúc với Tướng Nguyễn Sơn đối với Trường Quần Tín khoá II chúng tôi có thể nói là đặc biệt thú vị: anh em mến ông không phải chỉ do những ý kiến về thời sự sâu sắc và sáng suốt, mà còn do ở thái độ trân trọng của ông đối với văn nghệ sĩ và vấn đề văn nghệ, hơn thế nữa còn do tầm hiểu biết sâu rộng của ông về mặt này. Tôi nhớ mãi chuyện không thể nào quên được sau đây:

  Hôm ấy, Tướng Nguyễn Sơn đến thăm lớp chúng tôi.

  - Nào, ông nói: vừa qua anh chị em thu hoạch được những gì, cho Sơn đọc với! Sơn cũng là một học viên như các bạn thôi, nhưng nó không đến lớp thường xuyên được, vì nó là Khu trưởng mà! Hôm nay các bạn có vấn đề gì chưa trôi xin kể lại Sơn sẽ nuốt giúp cho!

  Tại dãy bàn bên trái, một học viên đứng lên. Đó là anh Phạm Phấn:

  - Thưa Khu trưởng, chúng tôi nghe nói đồng chí lúc hoạt động ở Trung Quốc, đã có dịp nghiên cứu Tào Ngu. Nếu có thể được xin Khu trưởng nói cho anh chị em biết thêm đôi điều về tác giả ấy qua kịch Lôi Vũ!

  Không ngờ lời đề nghị bất thần ấy của anh Phấn đã đem lại cho cả lớp (và cả các thầy cô nữa chứ) mấy giờ liền nghe chuyện rất hứng thú. Tướng Nguyễn Sơn, với nhận thức sâu sắc về đấu tranh giai cấp trong xã hội phong kiến Trung Quốc, cộng với sự hiểu biết khá am tường về nghệ thuật sân khấu kịch nói, đã sôi nổi phân tích tài năng của Tào Ngu, nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong Lôi Vũ. Ông đã nói say sưa và khá tài hoa về các tính cách Phồn Y, Chu Phác Viên, Lỗ Quý, Lỗ Đại Hải... Cuộc nói chuyện hấp dẫn đến mức nghe nói sau đó có một bạn nữ đã phát biểu rằng "lúc đầu tôi chỉ muốn theo nghề viết văn, nhưng e rồi tôi còn phải làm thêm cả sân khấu hoặc điện ảnh nữa mới mãn nguyện".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 10 Tháng Mười, 2008, 05:07:28 PM
Nhớ Nguyễn Sơn

Nhà thơ Hồ Dzếnh



  Mười năm về trước, cuộc kháng chiến toàn quốc mới bắt đầu, trên vườn hoa Ba Đình, Thanh Hoá, nhân dân thị xã lần lượt được dự một cuộc nói chuyện giữa trời. Người nói chuyện quay lưng lại phía "toà sứ", nâng cao tiếng nói của mình trên bể người, càng nói càng sang sảng, càng nôn nao, càng hấp dẫn. Người dân Thanh Hoá xưa nay vốn quen với cái phong vị êm ả, cách ăn nói nhẹ nhàng, bỗng bị cuốn vào những âm thanh át cả gió bể thổi lại, phấn khởi theo một câu chuyện chiến sự còn cách đây hàng trăm cây số. Nắng soi tròn bóng diễn giả trên pho tượng to, cho đến lúc hàng cây phượng kéo dài mình trên bãi cỏ lúc nào không hay. Lần đó là lần thứ nhất, Thiếu tướng Nguyễn Sơn ra mắt bà con Khu IV với một tác phong chất phác, giản dị, một lối hùng biện bén lửa vào lòng người.

  Con người đặc biệt đó mà vốn hiểu biết phong phú, thao thao trên bất cứ vấn đề gì bàn luận, quân sự, văn chương, ca kịch, âm nhạc, con người mà tính tình hào hứng đến nóng nảy, đã trở nên sống động. Với nhiệm vụ Tư lệnh Liên khu IV, ông còn là người bạn chân thành của văn nghệ sĩ.

  Và cũng chính con người chân thành, sôi nổi đó đã tạo cho giới văn nghệ Khu IV buổi cách mạng khởi sơ, những phương tiện suy nghĩ và làm việc, khuấy động không khí tản cư ban đầu thành những lực lượng hoạt động mới. Nhưng tâm hồn Nguyễn Sơn vốn là một lò lửa, một khi bốc là bốc tràn, hào hứng, là rừng rực. Do bản tính khác thường như thế, nhiều khi ông quên cả hoàn cảnh khách quan, để chỉ lăn xả vào những điều mình tin là hay, là đúng.

  Công chúng thị xã Thanh Hoá đã có lần chứng kiến cảnh diễn xuất hai vở kịch mà tác giả bị nhà quân sự Tư lệnh cho treo giò ngay giữa hai lá màn còn chưa đóng hẳn.

  Bên cạnh những hành động bột phát ấy, Nguyễn Sơn đã dám vượt giai đoạn lúc đó bằng những cử chỉ trọng đãi, ân cần "ba ngày tiệc lớn, một ngày tiệc nhỏ" nhà diễn viên lâu năm Nguyễn Đình Nghi để khai thác tinh hoa nghệ thuật chèo cổ.

  Chiến dịch bắt đầu tiếp thụ văn nghệ sĩ. Guồng máy ấn loát quân đội chuyển ầm ầm trên những trang báo chí mà Nguyễn Sơn là cây bút chính viết hàng loạt bài về chỉnh phong, chỉnh Đảng. Dầu sao đi nữa, hoạt động sôi nổi kia cũng hâm nóng được tư tưởng và cây bút, cứu nó ra khỏi cái bình tích của một an toàn khu.

  Là Tư lệnh Liên khu, tuy nhiều khi áp đảo đùng đùng những tác phẩm văn nghệ, Thiếu tướng Nguyễn Sơn vẫn vui lòng nhận những cuộc bút chiến và tranh luận trên tinh thần tự do dân chủ cao độ, duy trì triệt để những lập luận của mình, đồng thời cũng để tận lực khai triển những ý nghĩ đối lập của người khác. Những lúc chứa chan sôi nổi như thế, nhà quân sự như quên hẳn cây súng bên mình, để chỉ đắm chìm bởi những rung động sảng khoái.

  Rồi vừa dứt ra khỏi những cuộc tranh luận hào hứng, Nguyễn Sơn đã lại tiếp ngay vào công tác quân đội, một sức bền bỉ dẻo dai, không phân biệt ngày đêm, đã khắc sâu vào những ai đã gặp ông cái ấn tượng không thường về con người và sức mạnh.

  Nói, nói và viết, nói hàng giờ, viết một mạch, lời nói cháy bỏng làm rung động hàng ria mép và mái tóc cứng quăn, ở Thiếu tướng Nguyễn Sơn có những luồng lửa khích động, một sức hấp dẫn khó cưỡng lại mà lần đầu người văn nghệ tìm thấy ở một chiến sĩ quân nhân. Bằng cả hai tay đưa ra ôm và diễn xuất hình ảnh trong lời nói, Nguyễn Sơn khi đề cập một vấn đề văn nghệ - Lôi Vũ của Tào Ngu hay Kiều của Nguyễn Du chẳng hạn - không bao giờ nhớ đến thời gian ấn định cho phạm vi bài nói. Từ khi mặt trời lên đến khi mặt trời lặn, đó thường là khoảng thời gian trung bình cho một buổi diễn thuyết.

  Trải mấy chục năm đấu tranh cho cách mạng đó đây, nhà quân sự - văn nghệ Nguyễn Sơn vừa tỏ ra thấm nhuần khá sâu tinh thần dân tộc, Tổ quốc, bằng cách trả lại cho tác giả Kim Vân Kiều phần lớn chỗ ngồi xứng đáng. Giữa lúc Nguyễn Du bị gán đứng cho một lý luận sai lệch, máy móc nó làm thương tổn những ai đầy lòng kính trọng bậc tiền bối của nhân dân, Nguyễn Sơn đã đưa được ra một cô Kiều nạn nhân của xã hội phong kiến thống trị và bóc lột, nêu bật được cái chết đứng của Từ Hải, đồng thời nói được lên cái hoài bão, khao khát một cuộc đời ngang dọc của thi hào tác giả. Ít nhất thì, bên những "khuyết điểm" rải rác đó đây về chủ quan, về cá tính, Nguyễn Sơn đã phân tích được tương đối nhuần nhị và tinh vi cái kho tàng văn chương dân tộc.

  Có người cho rằng, trong thuở bình sinh, Nguyễn Sơn áp dụng lối "độc tài", "quân phiệt" vào lãnh đạo văn nghệ. Nhưng có người lại nghĩ khác hơn: Nguyễn Sơn đã gắn được, cùng với chính trị vào văn chương, quân sự vào văn nghệ. Cái tham vọng, nếu có như thế, thì cũng chỉ là tham vọng muốn xốc lên một phong trào văn nghệ cho kháng chiến nở đủ mặt, áp dụng đủ mọi hình thức tốt tươi.

  Đây đó chan hoà vào đại chúng, trong hoàn cảnh này hay trong hoàn cảnh khác, những nhà văn đã từng ở khu Bốn, quen biết hoặc công tác với Thiếu tướng Nguyễn Sơn đều chưa quên được điểm này ở người vừa khuất: lòng ưu ái mặn nồng đối với những cuộc đời lao động nghệ thuật. Lòng ưu ái đó thể hiện qua những hành động rất thân mật, cụ thể, có khi là... thiếu cả nể nang: ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu với văn nghệ để rồi... hùng hổ cắt ngang một vở kịch đang công diễn như đã nói ở trên.

  Nhưng, trên những "khuyết điểm" thông thường của một người văn nghệ, nhất lại là người văn nghệ quân nhân, sáng mãi lên một tấm lòng chân thành bên những tấm lòng nghệ thuật, kề vai sát cánh với văn chương, hiểu sâu vào tâm tình nghệ sĩ.

  Cảm thông đó trở nên một khuyến khích to lớn đối với nhà văn trên chặng đường sự nghiệp phức tạp và gian nan.

*
*     *

  Chiều hôm nay, Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã nhắm mắt vĩnh viễn.

  Trời Hà Nội vào thu, mùa thu dạt dào sức mạnh kiến thiết. Ở đỉnh cột cờ cao nhất trên Thủ đô, lá quốc kỳ mở rộng từ hai năm nay, ném mình theo gió. Xe linh cữu quàn màu cờ đỏ thắm, chầm chậm đi giữa hai hàng cây loáng nắng. Những chiếc mũ hai bên đường lần lần ngả xuống. Hà Nội rộn ràng sức sống, giới văn nghệ vững chân trên con đường hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc, ngừng lại một phút để tưởng nhớ Thiếu tướng Nguyễn Sơn.

  Bánh xe linh cữu trôi từ từ, quay những vòng lưu luyến, như muốn in rõ từng nét xuống mặt đường Thủ đô xôn xao gió nắng...

22-10-1956
 (Tài liệu do bà Hồ Dzếnh (Hồng Nhật) cung cấp)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 11 Tháng Mười, 2008, 03:31:28 PM
Khóc Nguyễn Sơn hay một đám tang đi không bao giờ tới huyệt*

Hữu Loan



  Nguyễn Sơn là một trong những vị tướng đầu tiên của quân đội ta. Khi còn ở Trung Quốc, ông từng tham gia "Vạn Lý Trường Chinh", chỉ huy một quân đoàn tới 2,5 vạn quân. Đầu kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Sơn làm Tư lệnh Liên khu IV.

  Ở đây, ông được bộ đội và nhân dân đặc biệt yêu mến. Người ta đã kể về ông rất nhiều giai thoại. Ví dụ như việc phong tướng cho Nguyễn Sơn, ở chợ Đà (Thọ Xuân - Thanh Hoá), Nguyễn Sơn nói vui: "Tôi là thừa tướng chứ không phải là thiếu tướng!". Nguyễn Sơn rất phóng túng ngang tàng. Khi đi công tác, ông thường đi một mình, trên chiếc xe đạp Stéc-linh, chứ không mang theo tuỳ tùng. Có lần, trên đê sông Chu, ông bấm chuông cho bà con đi chợ tránh đường. Tiếng chuông khá gay gắt. Mấy bà cự lại: "Làm gì mà hách như ông tướng thế?". Nguyễn Sơn đáp lại: "Thì tướng đấy chứ còn gì nữa!". Nguyễn Sơn cao lớn, da đen, râu hùm, hàm én. Có người ví ông với Từ Hải, ông cáu văng tục. Hách thế, nhưng Nguyễn Sơn lại rất ân cần, tình cảm với mọi người. Có lần, đang lần mò trong rừng mạn núi Nưa, ông gặp một đoàn thiếu niên lôi thôi, lếch thếch từ phía trong đi ra đang lơ ngơ tìm đường. Hỏi ra thì biết đấy là thiếu sinh quân, ông reo lên: "À, hay lắm! Ta là người lập ra Trường Thiếu sinh quân đây". Rồi ông mời mấy cậu bé vào quán ăn chè lam, uống nước chè xanh và chỉ đường cho về trường.

  Đối với anh em văn hoá văn nghệ, Nguyễn Sơn cũng ưu ái đặc biệt. Lúc ấy Ban tuyên huấn khu bộ có tới 172 người. Thấy anh em vất vả, ông ra lệnh cấp sinh hoạt phí cho lính văn nghệ gấp đôi lính thường. Trình độ văn hoá và sự hiểu biết văn nghệ của Nguyễn Sơn rất cao. Có lần ở núi Nưa, có cả giáo sư Đặng Thai Mai tham dự, Nguyễn Sơn đã nói 8 tiếng đồng hồ về Truyện Kiều.

  Đồng chí Phó Ban tuyên huấn - nhà thơ Hữu Loan - kém Nguyễn Sơn 16 tuổi, được ông coi như em út. Chính Hữu Loan đã góp phần thanh minh nhiều tiếng xấu cho Nguyễn Sơn. Khi đó có tin ra Trung ương rằng Nguyễn Sơn là người chơi bời, tiêu tốn rất nhiều công quỹ, Trung ương cử phái viên vào điều tra. Hữu Loan đã thẳng thắn báo cáo với phái viên Trung ương sự thật. Thì ra lúc bấy giờ Khu bộ có căng-tin ở khắp nơi. Cán bộ quân đội đi công tác thường ghé vào ăn và ghi sổ, họ thường ghi vào sổ của... Tư lệnh trưởng. Như thế Nguyễn Sơn vô hình chung bị biến thành Chúa Chổm! Nhân dân cũng nói luôn, anh em văn hoá văn nghệ không ai đổ nợ cho Tư lệnh trưởng cả.

  Vị tướng của chúng ta rất hiển hách, rất tự tin, nhưng cũng rất biết nghe, dẫu là lời góp ý của cấp dưới, của người trẻ.

  Năm 1948, Phòng chính trị tuyên huấn nảy ra ý định viết một cuốn sách ca tụng Tư lệnh trưởng. Chỉ sau vài ngày, các loại
văn thơ đã đưa đến. Các tác giả chủ yếu là anh em làm công tác chính trị. Hữu Loan được cử làm tổng biên tập. Cầm tập bản thảo, nhà thơ rất băn khoăn. Linh cảm mách ông rằng in tập sách này sẽ có hại cho thanh danh vị tướng mà ông quý mến. Hữu Loan mang tập bản thảo đến trình Nguyễn Sơn và nói rõ ý nghĩ của mình. Nguyễn Sơn lặng lẽ không nói gì, chắc là ông suy nghĩ rất lung. Sau đó cuốn sách ấy không được in, bản thảo cũng mất tiêu.

  Vào khoảng cuối 1949 đầu 1950, một hôm Hữu Loan vào hiệu phở, lát sau thấy Nguyễn Sơn cũng vào. Nguyễn Sơn là người ăn rất khoẻ, ông thường xơi tới ba bát phở, uống hai tách cà phê. Nhưng hôm ấy Nguyễn Sơn chỉ ăn một bát còn Hữu Loan thì làm tới hai bát. Vị tướng trả tiền cho cả hai người rồi bỗng nhắc lại câu chuyện về cuốn sách kia: "Cậu ít tuổi mà khá. Tôi chẳng sợ gì cuốn sách. Chỉ sợ điếc tai thêm. Tôi sắp đi xa. Nếu không gặp lại thì đây là lần cuối cùng".

  Quả nhiên đó là lần gặp cuối cùng của vị tướng và nhà thơ. Nguyễn Sơn đi Trung Quốc, cầm quân chí nguyện sang Triều Tiên đánh Mỹ.
Sau đó ông về nhà và mất ở Hà Nội.

  Khi Nguyễn Sơn còn sống, Hữu Loan không hề viết một lời ca tụng, thậm chí còn làm tiêu tan tập bản thảo về ông. Nhưng vị tướng đi rồi, nhà thơ đã khóc ông bằng một bài thơ phong cách rất Hữu Loan.

Vị tướng và nhà thơ:

Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ
mang giông tố đại dương đi đến đâu
            không
               cho
                  sóng
                     ngủ
Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu
là gây những đám cháy
               vòng quanh

Từ Vạn Lý Trường Chinh
Nguyễn Sơn về Liên khu Tư
những năm đầu kháng chiến
Liên khu Tư của 
         Nghệ Tĩnh lầm lỳ

và nước Liên khu Tư
đã biết thế nào là giông biển
và rừng Liên khu Tư
đã biết thế nào là cháy rừng.
Phải vì Đất như giường hẹp
Nằm thừa
         đầu
            thừa
               chân
phải vì giường không đầu
một bước đi vạn lý
Nguyễn Sơn ra đi
            không
               ai
                  ngờ...
Những thằng đại xu nịnh ngày xưa
                  trở mặt
nhưng lịch sử và thời gian
            không
               bao
                  giờ
                     phản trắc
Còn vang dội mãi rừng núi Nưa
tiếng Nguyễn Sơn
            một
               lần
                  truyền
                     hịch
còn vang dội mãi những tâm hồn
những o gái Liên khu Tư
mắt xanh màu Trường Sơn
mang trong mắt hình ảnh người
Râu - Hùm, Hàm - Én.
gần thì sợ ghê
nhưng xa thì nói
         không bao giờ hết chuyện
những gánh trống chèo
         những kèn đồng gươm gỗ
lỉnh kỉnh
gánh gồng khiêng vác
những gia đình nghệ nhân toàn gia
dắt dìu bế bồng
không chỗ nào là không tụng ca
người mê xem quân nhân văn nghệ
                  Nguyễn Sơn

Nhưng ngày 22 tháng 10
đọc báo Nhân Dân thấy đăng cáo phó
"Thiếu tướng Nguyễn Sơn
đã từ trần!"

- Thiếu tướng Nguyễn Sơn nào?
- Làm gì có mấy Nguyễn Sơn!
Đành rằng sống chết con người tại số
nhưng hình như có bàn tay
Định
   mệnh
         khốc
            liệt
               nào
đặt lên cung kiếp Nguyễn Sơn
Một cuộc đời ngắn ngủi
bao nhiêu là bất thường
bất thường đến
bất thường đi
về bất thường
chết lại càng
                 không
                       đúng lúc!

Văn nghệ sĩ bao người đã khóc
khi đọc báo Nhân Dân
            thấy cáo phó Nguyễn Sơn
Và ngày 22 tháng 10 trên khắp nẻo đường Thủ đô
một đám tang đã diễu hành
một đám tang
         cờ đỏ liệm quan tài
nấc lên màu huyết...
Một đám tang đi
         không
            bao
               giờ
                  tới
                     huyệt!


Hà Nội, 1956
----------------------------
* Đầu đề do chúng tôi đặt (B.T).
[/i]


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 11 Tháng Mười, 2008, 03:47:48 PM
Ấn tượng

X.H.



  Sẽ là một thiếu sót nếu tôi không nói đến một nhân vật độc đáo trong lớp bồi dưỡng cán bộ văn hoá văn nghệ kháng chiến Liên khu IV này: Thiếu tướng Nguyễn Sơn.

  Ông là nhà quân sự không những rất say mê văn học mà lại có nhiều am hiểu khá sâu sắc về văn học và nghệ thuật. Thực ra công việc của ông là Tư lệnh trưởng Quân khu IV mà Quân khu bộ lúc đó đóng gần vùng Sim. Thỉnh thoảng, ông lại cưỡi ngựa hoặc đạp xe đạp, không có bảo vệ đi cùng từ Quân khu IV sang "trường văn hoá" (chúng tôi thường gọi tắt như vậy cho tiện) để thăm các thầy là các văn nghệ sĩ ưu tú của cả nước tập trung về, đồng thời để nói chuyện ngoại khoá với cánh trẻ chúng tôi về văn học Trung Quốc và cả về những vấn đề lý luận văn học nói chung nữa.

  Ở giữa khoá, một lần, lớp đã tổ chức phê bình một số bài thơ "có vấn đề". Ông đã sang dự và đã "quạt" một trận bài thơ "Khủng bố", trong đó tôi miêu tả sự tàn ác của giặc Pháp đã giết hại một lúc hơn ba trăm người trên cầu xe lửa gần ga Mỹ Trạch, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Bài thơ nặng về tả thực hơn là đặt ra vấn đề. Dạo đó, tôi đã có lý luận gì đâu, chỉ sáng tác dưới dạng bản năng, cách biểu hiện còn chịu nhiều ảnh hưởng của phương pháp tự nhiên chủ nghĩa. Ông Sơn đến, trực tiếp phân tích, mổ xẻ phê phán bài thơ của tôi như là một biểu hiện không thể chấp nhận được của phương pháp tự nhiên chủ nghĩa. Ông nói: "Một tác phẩm nói về tội ác của giặc phải gợi lên cho được lòng căm thù chớ không phải gây cho người đọc tâm lý sợ hãi trước sức mạnh về vũ khí của địch...". Còn nhiều và nhiều hơn nữa, tôi không làm sao nhớ hết! Nhiều anh bạn trẻ xem chừng xanh mắt trước sự tức giận thực sự của người chỉ huy quân sự sính văn học. Ông vốn dữ tướng: "Râu hùm hàm én" như kiểu Từ Hải. Giọng ông to... Ông lại thích hét gào lên một cách dữ dội trong khi phê phán sự kém yếu của tác phẩm. Tôi hoang mang thực sự không hiểu mình sẽ rút kinh nghiệm như thế nào đây, tan buổi nói chuyện, Minh Huệ gặp tôi cứ che miệng cười rúc rích: "Cậu đã thấy cụ Nguyễn Sơn nhà ta chưa? Ông ta nói chuyện văn học mà như đang đánh nhau thực sự với một kẻ địch vô hình trước mắt". Tôi vẫn cố tình chống chế, vì biết là mình chưa thông: "Mình chịu ảnh hưởng của Vích-to Huy-gô ấy mà! Trong "Những sự trừng phạt" ông ta còn nói dữ gấp mấy!".

  Thật ra, phải nói là lúc ấy tôi còn quá ấu trĩ. Ông Nguyễn Sơn đã nói đúng về cơ bản. Nhưng thái độ của ông dữ dội quá, điều mà dạo ấy với tất cả sự nhạy cảm tiểu tư sản của mình, tôi đã không chịu nổi và có sự phản ứng ngấm ngầm từ bên trong. Bây giờ đến lượt bài "Quê tôi", tôi cũng bị mang tiếng là "còn mang những tình cảm nhớ thương một cách uỷ mị của tư tưởng tiểu tư sản". Đành vậy thôi. Nhưng cái túi thêu phần thưởng cũng đã về tay tôi trong sự yêu mến đầy lòng ưu ái của thầy Vũ Ngọc Phan và của khá nhiều thầy giáo và các bạn bè cùng khoá, thế là được rồi!

  Nhưng với Thiếu tướng Nguyễn Sơn, có lẽ ấn tượng đậm nét nhất ở trong tôi là buổi bế mạc hội diễn quân sự ở vùng Sim trong những ngày hè năm 1948 nắng gắt như đổ lửa ấy.

  Để biểu dương lực lượng và tuyên truyền sức mạnh quân đội ta, mùa hè 1948, Quân khu IV đã tổ chức Đại hội tập trong ba ngày. Có diễu binh, biểu diễn các hình thức luyện tập hành quân và các cuộc thi điền kinh. Trong thời gian đó, có dành một buổi sáng cho Tư lệnh trưởng Nguyễn Sơn nói chuyện, đồng thời làm lễ trao huân chương chiến thắng các loại cho một số đơn vị và cá nhân trong Quân khu bốn.
Chúng tôi được nhà trường cho nghỉ học một ngày để sang Sim xem Đại hội tập (không biết có phải do có sự gợi ý của Tư lệnh trưởng Quân khu IV với Ban giám hiệu nhà trường hay không). Đúng là có không khí thượng võ với việc thao diễn và thi tài binh sĩ trong các ngày lễ hội truyền thống hôm qua. Hội tập đã tập trung về cả những đơn vị đang đánh địch ở Bình-Trị-Thiên. Mỗi trung đoàn chỉ cần cử một đơn vị xuất sắc cũng đủ mang cái không khí chiến trường ra với vùng tự do ngoài này.

  Chiều bế mạc hôm ấy là một chiều thật vui, nhưng hầu như tôi không để ý mấy vào diễn biến của buổi lễ. Tan lễ bế mạc, tôi ra về thật nhanh, lòng bồi hồi nôn nóng. Chính trong tâm trạng đó, qua khúc quẹo của một con đường mòn men sườn đồi, tôi đã bắt gặp Thiếu tướng Nguyễn Sơn đang cùng người vợ của mình trên mình ngựa trở về chỗ đóng quân. Với ai chứ với vị tướng soái này, việc đó không làm tôi ngạc nhiên. Người ta từng đồn đại về cách đi xe đạp của vị Tư lệnh trưởng ngang tàng, phóng đãng này: gặp chướng ngại vật trước mắt, không bao giờ ông chịu xuống xe để dắt mà bằng mọi cách, từ trên yên, ông vẫn lèo lái cho xe qua được. Ông thường đi chiếc "xe đạp đua" bằng đuya-ra rất nhẹ, tay lái bẻ quặp xuống. Nếu cần, ông nhấc bổng cả người lẫn xe băng qua rãnh một cách nhẹ nhàng không cần phải làm động tác xuống xe để lại lên xe rườm rà mất thời giờ. Nguyễn Sơn là như vậy. Còn bây giờ ông đang cùng người vợ trẻ, thong thả buông cương cho ngựa đi về doanh trại trước mắt quân lính và người đi xem hội về.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson4.jpg)

  Không hiểu sao, cái ấn tượng ấy về Nguyễn Sơn đến nay vẫn còn đậm nét trong ký ức tôi: một con người dữ dội, ngang tàng, mà lại vô cùng hào hoa phong nhã như một thứ Từ Hải được hồi sinh trong cách mạng! Và tôi cảm thấy yêu mến con người không câu nệ về sự gò bó ấy mặc dầu đã hơn một lần, ông ta từng quạt tôi ra trò.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 11 Tháng Mười, 2008, 03:57:45 PM
Kỷ niệm về mái trường thân yêu

Nguyễn Thị Kim



  Sau hai đêm vợ chồng tôi cùng anh em Ban Kịch "Hoa Lan" biểu diễn vở Lôi Vũ ở Nhà hát kịch Hà Nội. Bên ngoài tiếng xe cơ giới gầm rú và đó đây tiếng súng của giặc Pháp nổ vang. Ngay khi đó anh Phạm Văn Đôn được lệnh đưa đoàn rút ra ngoại thành và gấp rút thành lập một đoàn tuyên truyền kháng chiến lấy tên là "Đoàn Giải Phóng" do Tổng đoàn thanh niên Việt Nam lãnh đạo. ở ngoại thành được ít ngày, đoàn kéo về Hà Đông lấy nhà Séc1 "Lạc đạo" làm nơi dựng kịch, luyện tập ca hát, các hoạ sĩ thì vẽ tranh, bích báo, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ.
Cùng lúc này, các cơ quan của Trung ương cũng đang bận rộn chuyển hết lên chiến khu, thì một buổi chiều tối, tiếng súng nổ ran, lập loè sáng cả chân trời phía Hà Nội, thủ đô yêu dấu. Cuộc kháng chiến bắt đầu. Ngay đêm hôm 19 tháng 12 ấy chúng tôi di chuyển lên Sơn Tây cho xa mặt trận. Đến Sơn Tây, đoàn tạm trú tại Trường Quân Chính Trung ương. Rất may là Hiệu trưởng lúc này là Tướng Nguyễn Sơn mà tôi được nghe kể về ông rất nhiều, về tài hoa văn - võ song toàn, về những kỳ tích trong Vạn lý trường chinh ở Trung Quốc trước đây. Ông đón đoàn niềm nở, chăm sóc nơi ăn chốn ở chu đáo, giữ đoàn lưu lại ít ngày biểu diễn phục vụ cho học viên. Khi ông biết là chúng tôi chưa liên lạc được với Tổng đoàn, ông đã giúp đoàn một phông màn kaki và một chiếc xe bò nhỏ để thanh niên trong đoàn chuyên chở phông màn, hành lý và mấy cháu nhỏ con các chị Trúc Quỳnh, Minh Châu, v.v...

  Sau mấy tháng vất vả, tự túc đi biểu diễn trên nhiều địa phương thì bắt được liên lạc với Tổng đoàn và lập tức công tác của chúng tôi hướng dần về phía Bắc Cạn, nơi đây lúc này là thủ đô của cuộc kháng chiến. Các cơ quan Trung ương đến đóng rải rác trong rừng, quanh thị xã. Đoàn kịch cũng cần có thời gian nghỉ ngơi, gặp lãnh đạo Tổng Đoàn. Đồng thời chỉnh đốn mọi việc cho công tác mới.
Bỗng một buổi sáng, Tướng Nguyễn Sơn lại gặp chúng tôi ở ngôi nhà sàn phố chợ Trâu cuối thị xã, không ngờ lại được gặp anh, cả đoàn xúm quanh trò chuyện vui vẻ. Anh cho biết anh phụ trách Bộ tư lệnh Liên khu IV ra Hà Nội họp và có ý muốn mời chúng tôi vào để tổ chức một đoàn tuyên truyền văn nghệ phục vụ cho các đơn vị và nhân dân Liên khu.

  Cả đoàn rất cảm động và trân trọng tình cảm tốt đẹp của anh, nhưng lúc này đoàn là một bộ phận của Tổng đoàn Thanh niên Việt Nam thì làm sao mà chúng tôi tự quyết định được, nên nhà tôi, anh Phạm Văn Đôn, trưởng đoàn lúc đó thưa với anh là xin ghi nhận tấm chân tình của anh và hứa nếu có dịp thuận tiện sẽ đền đáp nghĩa tình đã có từ những ngày đầu kháng chiến ở Sơn Tây.

  Ở đời có những sự bất ngờ rất kỳ lạ, nó gần như có bàn tay của số mệnh đã an bài, nhất là trong chiến tranh, thì sự may rủi xảy ra không ai lường trước được, vì chỉ ít ngày sau khi gặp Tướng Nguyễn Sơn, giặc Pháp nhảy dù vào bao vây Bắc Cạn. Chúng tôi vội thu lượm hết giấy tờ rút khỏi vòng vây và suốt 12 ngày đêm rút về phía chợ Chu, Thái Nguyên. Đúng lúc này địch tràn lên Vĩnh Yên đóng nhiều đồn bốt và liên tục hành quân càn quét. Một số anh chị không vướng víu gia đình đã rời đoàn về Khu X và ngược lên Việt Bắc. Đoàn chỉ còn lại phần lớn các anh chị và các cháu nhỏ len lỏi trong các khu rừng trám, dứa, tình thế vô cùng vất vả khó khăn thì cũng lúc này đoàn nhận được công văn của Tổng đoàn triệu tập vợ chồng tôi về cơ quan và tuyên bố giải tán đoàn kịch Giải phóng.

  Thấy không thể để số anh chị em và các cháu nhỏ bơ vơ giữa vùng địch đang liên miên càn quét, đồng thời trong tay lại có công văn giải tán đoàn, nên anh Phạm Văn Đôn tập hợp những người còn lại và đề nghị tất cả cố gắng vượt qua vùng địch, trở vào cống Thuần, chợ Đại và đi dần vào Khu IV, thực hiện lời hứa với Tướng Nguyễn Sơn khi gặp nhau ở Bắc Cạn.

  Mấy tháng trước tôi cũng vừa sinh cháu nên khi nhập ngũ, các đồng chí lãnh đạo nhất trí đưa tôi về dạy ở Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV, vì hoàn cảnh của tôi lúc này không thể theo đoàn tuyên truyền "chiến sỹ" luôn di động phục vụ các đơn vị và đồng bào cả Quân khu được.

  Đó là lý do tại sao đoàn kịch "Giải phóng" có cơ hội vào Khu IV và riêng tôi ở lại có tổ ấm mới là Trường Thiếu sinh quân với các giảng viên khác. Các đồng chí lãnh đạo và Tổng đội nhà trường phụ trách sinh hoạt cùng các em Thiếu sinh quân lúc đó, cộng với tình nghĩa sâu nặng của đồng bào địa phương đã để lại trong tôi biết bao kỷ niệm tốt đẹp.

  Tôi rất nhớ, mỗi lần di chuyển địa điểm, nhà trường phân công mấy đồng chí đưa mẹ con tôi đến địa điểm mới trước, ở đấy đã được chuẩn bị chu đáo. Các chú Thiếu sinh quân đã nắm được quy luật này nên ba lô cùng các dụng cụ học tập các em đã gọn gàng để khi tiếng còi tập hợp là sẵn sàng lên đường.

  Ở nơi đóng quân, cứ chiều chiều các em lại cùng các con tôi chơi đùa với các em thiếu nhi địa phương. Vui nhất có lẽ là những buổi bác Nguyễn Sơn đến thăm trường. Bác hay tóm mấy chú bé nhất, cọ vào má em bộ râu Từ Hải bờm xờm, làm các em rú lên chạy toán loạn cùng tiếng cười vang vang sảng khoái của vị tướng hào hoa phóng khoáng quện lẫn mùi thuốc lá thơm thoang thoảng.

  Công việc của tôi là dạy các em học vẽ. Các em học rất say mê thích thú, các em tự ngồi cho các bạn vẽ thay phiên nhau. Sau này một số em lớn lên tiếp tục ở các trường chuyên nghiệp và đã trở thành những họa sĩ có vị trí trong ngành nghệ thuật tạo hình của nước ta.

  Năm 1951, vợ chồng tôi rời quân ngũ tham gia giảm tô và cải cách ruộng đất. Năm 1953, tôi trở lại công tác ở Việt Bắc. Đến năm 1960, khi tôi được cử sang Liên Xô thực tập trên đại học tại Viện hàn lâm mỹ thuật Rêpin ở Lêningrat (nay là St Petecbua). Trong một buổi họp các sinh viên, thực tập nghiên cứu sinh Việt Nam, nhân dịp đồng chí Nguyễn Chí Thanh qua Liên Xô, chúng tôi đến nghe nói chuyện về tình hình trong nước. ở đây, không ngờ tôi được gặp lại mấy chú Thiếu sinh quân khi xưa, nay đang được bạn đào tạo ở một học viện quân sự cao cấp. Các em lúc này đã là những quân nhân cao lớn trong bộ quân phục sĩ quan hiên ngang. Cô cháu lại gặp nhau vui mừng đến rơi nước mắt, cùng ôn lại kỷ niệm xưa ở Quân khu IV thấm thoắt đã bao năm trôi qua.

  Cuộc sống trôi qua nhanh, các em xưa kia nay đều đã trưởng thành, nhiều em vẫn tiếp tục trong quân ngũ và đã có những em hy sinh anh dũng ngoài mặt trận, đặc biệt một số không ít đã giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, cùng các em khác công tác ở các ngành khác nhau trên mọi miền đất nước, đóng góp với Tổ quốc nhiều cán bộ vững vàng có uy tín trên mọi mặt. Vì địa bàn phân bố công tác của mọi người quá rộng nên khó có thể liên lạc với nhau được, nhưng một số anh em có hoàn cảnh gần nhau như các nhóm ở thành phố Hồ Chí Minh, ở Nghệ An, Hà Nội vẫn thường xuyên tạo cơ hội gặp mặt hoặc thông tin cho nhau biết về công tác, đời sống của các anh chị em khác tản mạn trong cả nước.

  Đến nay, qua mấy chục năm, tới khi có sáng kiến của một số cán bộ và học viên cũ với sự tán thành và tạo điều kiện của đồng chí Chính uỷ quân khu khi xưa - Thượng tướng Trần Văn Quang đã cùng anh chị em tổ chức được mấy lần họp mặt đông vui, cảm động, nhưng dù sao cũng vẫn không thể có mặt tất cả nên kỳ họp nào cũng có quay băng ghi hình để các anh chị không có hoàn cảnh về họp vẫn có thể trông thấy nhau và phần nào có chút cảm giác cùng vui chung với tất cả mọi người.

  Ngày nay người trẻ nhất tóc cũng đã hoa râm, nhiều người tóc đã bạc trắng, một số vĩnh viễn không còn gặp lại, nhưng trong tình cảm của mọi người không bao giờ vắng bóng Nguyễn Sơn, cùng những kỷ niệm không bao giờ phai mờ, vượt trên tất cả tuổi tác, thời gian và số phận.

Hà Nội, tháng 12 năm 1994


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 05:55:55 PM
Hồi ức về Tướng Nguyễn Sơn

Cửu Thọ



  Đầu năm 1948, chúng tôi từ Bình-Trị-Thiên ra học Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV.

  Vừa vào trường được ít hôm thì có lệnh trên cho Thiếu sinh quân tập thao diễn quân sự để chuẩn bị dự ngày lễ lớn.

  Thế là... sáng học văn hoá, chiều ra bãi tập quân sự. Các trung đội đi đều tăm tắp, làm các động tác cơ bản thật thành thục.

  Hôm ấy, chúng tôi được phát quần áo mới, đứa nào cũng súng sính trong bộ quân phục xanh, mũ lưới nom như một "đoàn quân xanh" thật hùng dũng, đẹp mắt. Chúng tôi càng vui sướng hơn khi được biết, hôm nay, chúng tôi sẽ đi dự Lễ thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho Tư lệnh Nguyễn Sơn, Tư lệnh trưởng Quân khu IV.

  Tư lệnh Nguyễn Sơn và Chính uỷ Trần Văn Quang (nay là Thượng tướng) "cha đẻ" của Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV. Bọn "lính nhóc" chúng tôi là "con cưng" của hai vị tướng đó. Từ lâu, chúng tôi đã nghe danh tiếng của Tư lệnh Nguyễn Sơn. Vị tướng tài ba đó đã từng học Trường quân sự Hoàng Phố, đã từng tham gia Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc, lập nên nhiều chiến công oai hùng.

  Nhớ một ngày sau Cách mạng tháng Tám, lúc đó chúng tôi còn học ở Trường Quốc học Huế, tất cả học trò chúng tôi tập trung ở hội trường để nghe Tướng Nguyễn Sơn từ chiến trường miền Nam ra nói chuyện.

  Vị tướng lúc đó mặc áo sơ-mi xoàng xĩnh như một người dân bình thường, nước da đen xạm, tóc hơi xoăn bờm xờm, tiếng nói thì oang oang như sấm.

  Sau khi nói qua về tình hình chiến trường phía Nam, Tướng Nguyễn Sơn khuyên chúng tôi học phải liên hệ với thực tế, không phải chỉ học lý thuyết suông với những con số đơn thuần. Vị tướng bỗng hỏi chúng tôi:

  - Hai với ba cái nào to hơn?

  - Ba to hơn - chúng tôi trả lời.

  Vị tướng lại nói:

  - Thế hai khẩu đại bác với ba khẩu súng trường, cái nào to hơn?

  - Hai khẩu đại bác to hơn.

  Vị tướng cười:

  - Đó, trong thực tế không phải khi nào ba cũng to hơn hai.

  Chúng tôi nhìn nhau:

  - Ông tướng nói hay thật.

  Hôm nay trong buổi lễ, chúng tôi thấy Tướng Nguyễn Sơn không xuềnh xoàng như mọi khi mà mặc bộ quân phục bằng dạ xanh, đội mũ kê-pi xanh có quân hiệu đàng hoàng, uy nghiêm như những vị tướng chúng tôi thường thấy trong ảnh.

  Tất cả bộ đội đã tập trung nghiêm chỉnh ở sân vận động Thọ Xuân, xung quanh có cả dàn súng cao xạ để đề phòng máy bay địch đột kích. Bọn nhỏ chúng tôi được xếp hàng đầu gần lễ đài. Sau khi đồng chí Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ đọc lệnh thụ phong và gắn quân hàm Thiếu tướng, Tướng Nguyễn Sơn nói lời cảm ơn, các đơn vị chúng tôi bắt đầu diễu hành qua lễ đài. Chúng tôi bước đều răm rắp, đi nghiêm quay mặt về lễ đài, chào. Thiếu tướng cười vui vẻ và giơ tay vẫy chào lại chúng tôi.

  Sau lễ thụ phong, chúng tôi hành quân thay đổi chỗ đóng quân ngay để đề phòng máy bay địch oanh tạc. Cuộc hành quân bắt đầu vào lúc nửa đêm, khi qua một cây cầu bắc ngang nông giang, bọn nhỏ đi trước bỗng ùn cả lại. Tôi đi đến thì thấy Tư lệnh Nguyễn Sơn đứng đón ở đầu cầu, mỗi đứa đi qua bị ông "tóm" lại và dùng râu cằm cọ vào má. Ôi, râu cằm của ông thì lởm chởm như rễ tre mà cọ vào má thì rất ghê! Nhưng đứa nào cũng sung sướng khi được Thiếu tướng cọ râu vào má. Có đứa ôm lấy cổ ông và hôn lên cằm, lên tai. Lúc này không còn sự cách biệt giữa vị tướng tư lệnh quân khu với người lính nhỏ tuổi nữa mà chỉ tràn ngập một tình thương yêu, thân thiết như cha với con.

  Từ đây, ở Trường Thiếu sinh quân lưu truyền một bài hát tên là "Râu bác Sơn" với đoạn lời như sau:

  "Râu bác Sơn cọ vào má rất ghê! Còn gì bằng được bác đến gần, còn gì bằng được bác hôn nhiều, ôi râu nhiều sợ ghê!"

  Thỉnh thoảng trên đường công tác, Tướng Nguyễn Sơn lại ghé thăm Trường Thiếu sinh quân. Tối đó, chúng tôi tập trung ở sân đình, trình diễn văn nghệ: múa, hát, diễn kịch chào mừng Thiếu tướng. Sau khi thăm hỏi các cháu về học hành, sức khoẻ, Thiếu tướng hỏi:

  - Bây giờ các cháu muốn ăn gì?

  - Dạ, chè! (tiếng đáp ran lên).

  Chả là vì dạo ấy chúng tôi ăn uống rất kham khổ, không mấy khi được nếm vị ngọt nên đứa nào cũng thèm của ngọt.

  Thiếu tướng nói:

  - Được, hôm nay đãi toàn trường một bữa nhé.

  Thế là các anh nuôi vội vã lên kho hậu cần Quân khu lĩnh đường, đậu về nấu mấy nồi chè to tướng. Cả trường xì xụp ăn chè hết sức ngon lành.

  Do sáng kiến của Tướng Nguyễn Sơn, cả quân khu dậy lên phong trào luyện quân và mở các "Đại hội tập" để thi các môn kỹ thuật, chiến thuật quân sự. Trường Thiếu sinh quân cũng nô nức học tập và rèn luyện các môn quân sự như lăn, lê, bò, toài, bắn súng, v.v... Sau đó nhiều học viên lớn được bổ sung về các đơn vị để ra chiến trường.

  Một lần, Tướng Nguyễn Sơn đến thăm Trường Thiếu sinh quân. Ông bảo các lớp lớn như chuyên khoa, đệ tứ... đưa vở học lên cho ông xem. Lúc đó lớp chuyên khoa văn đang học Truyện Kiều do giáo sư Trương Tửu giảng. Trong bài giảng của giáo sư có những quan điểm khác thường như cho nàng Kiều là bị bệnh "uỷ hoàng", một thứ bệnh sinh lý về tình dục.

  Sau khi xem xong các bài vở, Tướng Nguyễn Sơn ra lệnh triệu tập các lớp lớn trong trường lại để nghe ông nói chuyện.

  Chúng tôi tập trung ở đình làng. Tướng Nguyễn Sơn bước vào. Ông cầm chiếc mũ bêrê có quân hiệu đang đội trên đầu bỏ xuống bàn và nói:

  - Hôm nay chúng ta không nói chuyện quân sự mà nói chuyện học. Tôi sẽ giảng lại bài Truyện Kiều thay cho bài của giáo sư Trương Tửu.

  Suốt một ngày (buổi sáng và chiều) ông tướng quân sự ấy đã nói về Truyện Kiều rất say sưa và hấp dẫn. Ông ca ngợi Truyện Kiều là một áng văn chương tuyệt tác của dân tộc mà bất kỳ một người dân Việt Nam bình thường nào đọc cũng thông cảm và rung động sâu sắc.

  Ông phê phán kịch liệt quan điểm của Trương Tửu cho rằng Kiều là một người bệnh hoạn.

  Ông nói:

  - Trong những ngày tham gia Vạn lý trường chinh, khi vượt qua những rặng núi tuyết lạnh thấu xương, mỗi lần tôi ngâm lên câu Kiều là thấy lòng mình ấm lại, là có thêm nghị lực để vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.

  Chúng tôi đều khâm phục tri thức uyên bác của vị tướng tài Nguyễn Sơn không những về chính trị, quân sự mà cả về văn học nữa.

  Đúng như đánh giá của các học giả trong lễ tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn ở Hà Nội ngày 31-12-1993, nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh của ông: "Tướng Nguyễn Sơn được coi như một danh tướng song toàn cả văn lẫn võ".

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 1-1994


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 05:59:53 PM
Tướng Nguyễn Sơn hiệu trưởng trường lục quân trung học Quảng Ngãi 1946

Thái Vũ - Hồ Đệ



  Viện Lịch sử quân sự Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng, trong cuốn Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (tập 1, tr.105 - 106, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 1984) có ghi:

  - Tháng 10 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập các chiến khu (tức quân khu sau này) bổ nhiệm khu trưởng và ủy viên chính trị chiến khu, quyết định này được lần lượt thực hiện ở Bắc bộ, miền Bắc Trung bộ rồi đến miền Nam Trung bộ.

  - Tháng 11 năm 1945, Nam bộ thành lập xong các chiến khu.

  - Tháng 12 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế, lúc này Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam mới chỉ đạo được các tỉnh Nam Trung bộ. Nam bộ vẫn do Xứ uỷ Nam bộ lãnh đạo.

  Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công nhận trách nhiệm làm Chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1945, trước khi vào các tỉnh phía nam nhận công tác, Tướng Nguyễn Sơn đã được cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc tổ chức chiêu sinh thành lập các trường quân chính và xây dựng hai trường quân sự chính quy đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam.

  Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam lúc đó, được Trung ương chỉ định cán bộ cao cấp lãnh đạo như sau:

  - Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Chính trị viên.

  - Đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch kiêm Hiệu trưởng Lục quân Trung học Quảng Ngãi.

  - Đồng chí Nguyễn Chánh (Chính trị viên đội Du kích Ba Tơ cũ) làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam... đồng thời là Uỷ viên trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía nam Trung bộ, tức Liên khu V sau này).

  Tháng 12 năm 1945, khi Tướng Nguyễn Sơn vào nhận chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, thì tình hình quân sự đang hết sức gay go, căng thẳng. Giặc Pháp từ phía đông Nam bộ đã tung quân đánh lấn ra lần lượt chiếm các vùng đô thị Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai Thượng, Đắc Lắc. Chúng đánh lấn ra Nha Trang, Khánh Hoà và cả phía nam Tây Nguyên. Tháng 12-1945, sau một tháng cầm cự quyết liệt, quân ta (các đại đội Nam tiến) rút khỏi Buôn Ma Thuột. Các đoàn quân Nam tiến, một phần vào được Nam bộ, phần lớn trở thành các đơn vị chủ lực hợp sức cùng bộ đội địa phương (lúc đó các Trung đoàn các tỉnh còn gọi là Chi đội) chiến đấu kiên cường ngăn chặn các cuộc hành quân qui mô của giặc do các tên tướng sừng sỏ, giàu kinh nghiệm chiến tranh như Lơ Clec và Va-luy trực tiếp chỉ huy (như cuộc hành quân Gaur do Lơ Clec trực tiếp chỉ huy tháng 1-1946). Cùng lúc, trong tháng 12-1945, tiếp tay cho Pháp, 8 tàu chiến Mỹ chở sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9-DIC) và một tiểu đoàn dù gồm 5.000 tên đến Sài Gòn.

  Ở Chiến khu VIII, phần lớn bộ đội "xuyên đông" đã rút ra cực nam Trung bộ, với tiểu đoàn Ba Dương. Nếu kể từ ngày 22-10-1945, giặc đánh Nha Trang đến tháng 12 cuối năm giặc chiếm Buôn Ma Thuột, mặc dù chiến đấu gay go và anh dũng, các mặt trận chính quy của quân ta đã tan vỡ. Tướng Nguyễn Sơn vào nhận chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam trong tình hình căng thẳng đó...
Tình hình chiến sự như trên từ những tháng cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, cần phải cho thấy rõ là quân đội non trẻ của ta lúc đó không chỉ phải đương đầu trên trận chiến với quân đội Pháp (đa số là quân lê dương) mà phải chiến đấu đối diện với hàng ngàn quân Nhật thiện chiến vừa đầu hàng phe Đồng Minh đứng vào hàng ngũ quân viễn chinh Pháp chống lại Cách mạng ta. Các trận từ Quy Nhơn trước đó (đ/c Nguyễn Chinh Cầu dự trận) đến các trận ở Nha Trang, Phan Thiết, Ninh Thuận đều có quân Nhật bên quân Pháp. Tuy nhiên ta đã chặn được địch từ Đèo Cả, không cho chúng đánh lấn nống ra Phú Yên, và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập cứ điểm ở An Khê phía ngoài Pleiku.

  Với vai trò của Tướng Nguyễn Sơn khi vào nhận chức Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam..., trong tập 1 sách Khu V-30 năm chiến tranh giải phóng,  đã ghi rõ: "... Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận (tr.65)... Theo lệnh của Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, các đơn vị ta trên toàn Tây Nguyên tăng cường chuẩn bị đánh địch..." (tr.68).

  Thế trận của ta đã hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giặc Pháp ngoan cố phản bội và chà đạp Hiệp định Sơ bộ mồng 6-3-1946. Theo hướng tăng cường cán bộ lãnh đạo và chỉ huy quân sự trên, ngay trong tháng 4-1946, nhân danh Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, Tướng Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ trung đoàn (theo Thiếu tướng Phan Hàm, người đã dự lớp đó kể lại). Đồng thời "với kinh nghiệm nhiều năm phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc của mình, đồng chí Nguyễn Sơn đã xác định hướng và phương pháp chiêu sinh, tuyển dụng huấn luyện viên có năng lực và chọn địa điểm của vùng tự do (trong thời gian đó) ở miền Nam Trung bộ và là nơi có phong trào cách mạng cao, đã tiến hành khởi nghĩa (Ba Tơ) sớm giành chính quyền về tay nhân dân ngay sau khi quân Nhật đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương". (Nguyễn Chính Giao - tức Cầu, bài Lời một nhân chứng lịch sử, Chính trị viên những ngày đầu Trường Lục quân Quảng Ngãi - 1946).

  Chính Tướng Nguyễn Sơn cũng đã dựa theo Chỉ thị của Bác Hồ, như đồng chí Phan Phác, nguyên Cục trưởng cục quân huấn lúc đó đã nhận được Chỉ thị của Bác về tiêu chuẩn chiêu sinh: "Tuyển chọn trong những thanh niên có lòng yêu nước, tình nguyện vào quân đội, đầy đủ sức khoẻ. Về trình độ văn hoá thì dân tộc Kinh tương đương thành chung trở lên, những với dân tộc ít người đỗ tiểu học cũng được. Với các chiến sĩ đang ở mặt trận đã tỏ ra dũng cảm, trung kiên với độc lập thì văn hoá có thấp một chút, được ban Chỉ huy mặt trận, đoàn thể giới thiệu cũng được xem xét". Người còn chỉ thị: "Chương trình huấn luyện quân sự phải thật cụ thể theo cách đánh, khả năng trang bị của ta, về chính trị phải bồi dưỡng lòng yêu nước thương dân", (Hồi ký của Hồ Đệ - Thiếu tướng - thuộc C3 Trường Lục quân Quảng Ngãi - 1946, và bài của Trần Minh Mai - Đại tá - C3).

  Trường đã thu nhận một số học viên (lúc ấy gọi sinh viên) người các dân tộc như Y-Blok-Ê Ban (dân tộc Êđê) nay là Thiếu tướng, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Đắc Lắc; Phạm Như Lai, người dân tộc Mường, Thanh Hoá, Trung tá, Trung đoàn trưởng, đã chuyển ngành.

  Những tháng đầu năm 1946, trước khi Trường Lục quân Quảng Ngãi được thành lập, hết Tàu Tưởng và các đảng phái phản động Việt Quốc với lại Việt Cách gây rối ở miền Bắc đến bọn thực dan Pháp gây lấn chiếm đất đai ở Nam Bộ rồi lập "Nam kỳ tự trị", những người trai yêu nước nhiệt tình cách mạng vừa thoát khỏi ách nô lệ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đã đứng dưới cờ Đảng tiên phong cùng tụ quân dưới mái Trường Lục quân Trung học ở Quảng Ngãi từ giữa tháng 5-1946. Và chính họ, trước ngày khai trường, đã may mắn được dự lễ kỷ niệm sinh nhật đầu tiên của Bác Hồ, ngày 19-5-1946. Hẳn khó ai quên trong buổi lễ khai giảng trường, ngày 1-6-1946, sau ngày 19 tháng 5 dự lễ kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ đó, đã được nghe Hiệu trưởng Nguyễn Sơn giải thích về một luận điệu phản động, cho Trường Lục quân là trường "cộng sản, cộng vợ, cộng con, cộng của cải". Thầy nói:

  "Còn có người ngộ nhận, bị bọn phản động lừa bịp, cố tình chia rẽ Mặt trận đoàn kết dân tộc, cho đây là trường Hồng quân của cộng sản, toàn là người của Việt Minh, sao mà họ ngu thế, ta đã có gì gọi là "sản" để mà "cộng"? Trước mặt ta là bọn thực dân Pháp đang lăm le hòng chiếm lại ba nước Đông Dương, bắt dân ta làm nô lệ cho chúng lần nữa. Ta cần phải xây dựng lực lượng, đào tạo một đội ngũ chỉ huy quân sự có trình độ, gồm những thanh niên yêu nước, có học vấn, sức khoẻ... Trong học viên có mặt hôm nay, đâu chỉ có là Việt Minh, là cộng sản, mà gồm đủ các thành phần trong xã hội, kể cả con em phú hào, quan lại, dòng tôn thất nhà Nguyễn, các thành phần dân tộc ít người, Nùng, Tày, Ê-đê, Ba-na, Mường, Chàm cùng Hoa Kiều...".

  Buổi giao đầu cách mạng nhiều phe phái đó của những tháng đầu năm 1946, trong một buổi mít tinh ở sân vận động Quảng Ngãi đông đảo đồng bào, sinh viên Trường Lục quân cùng dự, cũng như buổi nói chuyện ở sân vận động Đà Nẵng, với chủ đề giải thích trên, Tướng Nguyễn Sơn đã chỉ đích danh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh là đã "được đàng chân, lân đàng đầu" và coi họ là "ngu như bò", khi ông nói thẳng trước đồng bào: "Những kẻ kêu gào đòi lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh, cho đó là Chính phủ cộng sản thì quả là đúng "ngu như bò". Bởi vì trong chính phủ có cả vua Bảo Đại là Cố vấn, Nguyễn Hải Thần là Phó Chủ tịch, cả Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh và chính chúng đã vả vào mồm chúng. Còn những vị như Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Bùi Kỷ, Phan Anh, linh mục Phạm Bá Trực... nếu là cộng sản thì lừa bịp được ai, kể cả trẻ con. Có phải bọn người đó tung ra những luận điệu xuyên tạc kia như người nằm ngửa mà nhổ ngược, có phải là "ngu" không, ngu như bò"? Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới được thành lập, trong ngân khố Trung ương chỉ vét được khoảng 2.000 đồng bạc Đông Dương rách không xài được của chính quyền tay sai để lại, ta lại đang để tang 2 triệu đồng bào chết đói, phải nhịn ăn, nhịn mặc, lá lành đùm lá rách, lại phải diệt giặc dốt và nhất là cùng đoàn kết diệt trừ giặc xâm lăng thì đúng là bọn đó "ngu như bò" không? Ngu hơn cả bò nữa! Vậy thì làm gì có sản mà cộng, lấy đâu ra sản mà cộng, lấy đâu ra sản mà cộng? (Theo Trần Bá, Hồ Ban, Hồ Thế Tri - C3, Trường Lục quân Quảng Ngãi).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 06:02:45 PM
  Cách nói chuyện của Tướng Nguyễn Sơn là thế, nôm na, ngắn gọn và cụ thể, mãi đến nay anh em gặp nhau cũng khó quên cách ví "ngu như bò" của Hiệu trưởng. Ngôn ngữ của Nguyễn Sơn rất trong sáng, mạch lạc, dễ hiểu. Điều này càng thấy rõ mỗi lần Thầy giảng dạy về các khoa mục lý luận quân sự như về cầm quân, có thể nói thầy là người đầu tiên giải thích về ý nghĩa, nội dung về bài học lúc đó mà sau này nhiều người thường nhắc đến (Nguyễn Chính Giao, Phan Hàm), đủ có thể tóm tắt là biết "luyện quân, nuôi quân và dùng quân". Trong các buổi giảng về chính trị, về triết học, học thuyết Mác Ăng-ghen cũng vậy, Thầy thường bổ sung cho các bài giảng của giảng viên người Áo Hồ Chí Dân hay các giảng viên khác với giọng nói sôi nổi, dễ cuốn hút. Điều này càng thấy rõ hơn, khi Thầy là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Quân khu IV tranh luận về văn học, về Truyện Kiều trong nhiều ngày trước một cử toạ toàn là "anh hùng hảo hán" của giới trí thức, văn hoá và văn nghệ, vốn là "kẻ sĩ" của đất thủ đô Hà Nội, Quân khu IV, Quân khu III. Nhà văn, kịch gia một thời đất ngàn năm văn hiến Chu Ngọc đã viết: "Người cán bộ quân sự ấy bảo vệ đất nước không chỉ thuần tuý về mặt súng đạn. Anh đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tâm hồn của người Việt Nam để yêu nước hăng say, yêu con người, yêu ngôn ngữ, yêu giọng nói, điệu múa, yêu thơ, yêu hoa..." Đúng vậy, Tướng Nguyễn Sơn đã làm như vậy và làm rất sớm, từ đầu kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, từ chiến trường nóng bỏng, từ Trường lục quân Quảng Ngãi. Các bài viết của Nguyễn Khắc Huỳnh, C2, bài Nhớ anh Nguyễn Sơn và bài viết chung Nhớ về trường của Hồ Thế Tri, Tống Sĩ Uyên, Võ Tấn Nam, Lê Xuân Kiện là minh chứng.

  Là Hiệu trưởng của trường, tuy chỉ đạo trực tiếp toàn trường về mọi mặt là Tổng đội (các đồng chí Phạm Kiệt, Đoàn Khuê), nhưng Tướng Nguyễn Sơn luôn quan tâm săn sóc anh em học viên. Thầy ở gần trường, dọc theo trục đường từ thị xã Quảng Ngãi lên nhà ga, với chiếc xe hơi loại nhỏ tự lái, nhiều lần ra Huế, Đà Nẵng họp với ủy ban hành chính Trung bộ hay từ chiến trường về, có lúc người và xe đang nhuốm bụi đường trường hay hơi súng của chiến trận phía Nam, Thầy đã không về ngay trụ sở, cũng không về nhà, mà lái thẳng xe vào cổng trường hô "Tập họp"! Dưới nắng trưa Quảng Ngãi, như đứng giữa ba quân, Thầy vừa lau mồ hôi vừa nói chuyện. Đó là vì lòng thương yêu, quan tâm đến lớp trẻ cầm quân tương lai của đất nước mà Thầy có trách nhiệm cũng như tình thương yêu cán bộ chiến sĩ, tình thương yêu đồng bào. ở trường thủa ấy đã có Chi bộ (đồng chí Đoàn Khuê là Bí thư Chi bộ đầu tiên của trường) và Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Chan hoà với sinh hoạt trường, Hiệu trưởng Nguyễn Sơn cũng tham gia sinh hoạt chi bộ và những buổi toạ đàm về chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, đội bóng đá trong Ban Thể dục thể thao của trường thường tham dự đấu giao hữu với trường quân chính hay thanh niên dân quân thị xã, Hiệu trưởng Nguyễn Sơn cũng rất quan tâm. Như có cuộc đánh "bốc" (quyền Anh) ở thị xã, ông đến dự và đã lên đài cho dừng lại, giải thích mặt không tốt của môn thể thao này (Theo Phan Quang Tiệp - C4, và Nguyễn Khắc Huỳnh - C2).

  Hiệu trưởng Nguyễn Sơn luôn căn dặn anh em: "Học ra học, chơi ra chơi. Phải học tập tốt để đánh thắng giặc. Đánh địch phải luôn tấn công, bí mật tấn công...". Thầy lấy ví dụ trận tấn công phân khu Vạn Giã (hè 1946).

  "... Cụm phân khu Vạn Giã có lô cốt vây quanh, chúng rải một thứ "bàn chải gai" nhọn hoắt, rộng 5-6m. Loại chải này dài độ 5cm, gai sắc tua tủa có thể xuyên đế dày bằng cao su hay "crếp" (loại đế giày phổ biến thời đó), chỉ trừ đế giày da "săn đá" của lính Pháp. Thời đó ta chưa có loại dép lốp Bình-Trị-Thiên...

  Quân ta mấy lần quyết tâm đánh phân khu Vạn Giã đều bị thương vong phải rút lui (Sách: Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng,  tập 1, tr.65, ghi chỉ huy trận đánh là trung đoàn trưởng Hữu Thành - T.V.). Đồng chí Nguyễn Sơn thấy tinh thần bộ đội có phần hoang mang nên quyết tâm tổ chức đánh thắng một trận lớn để nâng khí thế bộ đội ta. Vốn đã tham gia Vạn lý trường chinh, nên có nhiều kinh nghiệm đánh công kiên của Giải phóng quân Trung Quốc, đồng chí cho xây sa bàn và dựng tượng trưng một đồn, Vạn Giã, rồi tổ chức tập luyện dùng ván để vượt qua hàng rào "bàn chải gai" như con nhím. Đích thân đồng chí hướng dẫn, chỉ huy luyện tập cho quân bắc ván công đồn ào ạt tấn công. Trận Vạn Giã ta thắng lớn, diệt luôn cứ điểm Hiền Lương và Đồng Điền, địch chết 150 tên. Đây là một trận thắng vang dội, nhưng chính là trận đánh công kiên đầu tiên, không chỉ ở phía Nam mà cả đất nước thời kỳ đó". (Theo hồi ký của Ung Răng, đại tá công binh, C4 Trường Lục quân Quảng Ngãi).

  Là người hoạt động cách mạng kiên cường từ tuổi còn rất trẻ ở trong nước, ra hoạt động ở nước ngoài, cầm quân trong các trận đánh lớn, cán bộ lãnh đạo cao cấp trong hàng ngũ cán bộ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, xa nước lâu năm, khi trở về, với dầy dạn kinh nghiệm đấu tranh cách mạng từ những ngày đầu với thời gian ngắn, Tướng Nguyễn Sơn đã hoà đồng với quần chúng, với cán bộ cách mạng trong nước. Lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ chẳng những trong cương vị lãnh đạo trực tiếp của mình mà đối với đồng bào, nhất là đối với các thành phần tôn giáo, theo đạo Phật hay theo đạo Thiên Chúa, Tướng Nguyễn Sơn không thành kiến, luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Ngược lại, các vị cao tăng, linh mục hay tu sĩ cũng tỏ lòng quý mến, tin cậy vị tướng cầm quân cứu nước không hề phân biệt giữa đạo và đời. Chuyện khó quên được là hằng tuần phối hợp với phòng chính trị Uỷ ban kháng chiến miền Nam và lớp nghiên cứu chủ nghĩa Mác của trường, Hiệu trưởng thường có những buổi nói chuyện mở rộng mời các chức sắc tôn giáo (Phật và Chúa) cùng một số trí thức, thân sĩ trong tỉnh đến dự. Buổi nói chuyện nào cũng có đông người dự. Có thể nói cách nói chuyện của Tướng Nguyễn Sơn rất hấp dẫn. Nhiều vấn đề về tôn giáo, Thầy nêu lên, thoạt đầu khá phức tạp, tưởng như khó giải thích, kể cả một số vấn đề "hắc búa" mà các chức sắc tôn giáo, do tin tưởng ở thuyết trình viên nêu lên, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Sơn đều giảng giải mạch lạc, dễ hiểu. Nhiều đoạn nói chuyện khá hóm hỉnh, đầy hấp dẫn đến nỗi những vị theo đạo tưởng quên đời cũng cười vang cùng cử toạ, tay phẩy quạt, đầu gật gật thích thú. Còn đám "các em học viên" Tướng Nguyễn Sơn thường thân mật gọi thế - chúng tôi thì càng thu nhận - học tập được sâu sắc hơn... (Phan Quang Tiệp, Huỳnh Thúc Tuệ). Nói sao hết được tình nghĩa thầy trò, giữa Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Sơn và anh em học viên Trường Lục quân Quảng Ngãi... Nhớ lại, một lần Thiếu tướng Lê Thiết Hùng lúc đó, nhân danh thanh tra Bộ Tổng Tư lệnh vào thanh tra các Trường quân chính, tất nhiên đến cả Trường Lục quân Quảng Ngãi. Vậy là cả 4C được "báo động", lát giường bằng tre đập dẹt đến áo quần đồ đạc thường ngày đã ngăn nắp gọn gàng nay càng "tuyệt hảo" hơn. Giếng tắm, bếp ăn cũng vậy. Cuối cùng, "quan" thanh tra đứng trước "ba quân" đại đội 4 nhận xét và khen về việc đào tạo, xây dựng con người mới, sĩ quan quân đội... Hiệu trưởng Nguyễn Sơn đã hoan nghênh đoàn thanh tra của Bộ (ông đưa tay sờ ria mép), nhưng nói rõ đây là vùng đất Quảng Ngãi, đất của vùng giáp ranh với tiền tuyến không đầy 100 km, còn nhiều thiếu thốn, nhà trường là nhà trường kháng chiến, luôn sẵn sàng chiến đấu cho nên việc đào tạo và huấn luyện đều được tổ chức theo một trường của Hồng quân... (Phan Quang Tiệp C4, Nguyễn Hào C1, Trần Viết Nuôi C2).

  Hiệu trưởng Nguyễn Sơn là người rất thẳng tính, cương trực. Thầy ghét tính làm việc quan liêu, chống tham nhũng. Về những người phụ trách quản lý ở các đơn vị trong quân đội hẳn nhiều người còn nhớ câu nói của Nguyễn Sơn: "Những người coi việc nuôi quân phải liêm khiết. Những viên quản lý giữ tiền nuôi quân, nếu tham ô, chỉ sau ba tháng có thể xử bắn. .. không oan".

  50 năm đã trôi qua, nhưng một thời "Trường lục quân Quảng Ngãi" với hình ảnh và con người Nguyễn Sơn, vị Tư lệnh Quân khu yêu mến, thầy Hiệu trưởng quý trọng và thân thương, vị tướng tài ba của dân tộc mà sau này nhiều báo chí ghi "Tướng huyền thoại Nguyễn Sơn", "Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn", có nơi lập bàn thờ, đối với mỗi anh em học viên chúng ta vẫn luôn luôn còn những dấu ấn đậm đà và thân thiết. Rời trường, toả đi khắp chiến trường đất nước từ cuối tháng 11-1946, khó ai quên những ngày đầu bỡ ngỡ tựu trường, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa thầy và trò. Anh Nguyễn Khắc Huỳnh, C2 đã ghi: "Một con người tầm thước, râu hùm hàm én, tôi liên tưởng đến một Từ Hải trong Truyện Kiều". Nguyễn Sơn nói hay lắm, rõ ràng, mạch lạc, ý kiến mới mẻ, sâu sắc, lôi cuốn người nghe. Sau này nhà thơ Màu tím hoa sim Hữu Loan có viết: "Tiếng nói Nguyễn Sơn còn vang vọng núi Nưa"! (Thanh Hoá).

  Cuộc đời của Nguyễn Sơn rất sôi động nhưng cũng nhiều sóng gió. (Quy luật của chữ Tài)! Hãy nhắc gọn lại đôi dòng. Hai lần tham gia Hồng quân Trung Quốc. Vị tướng duy nhất người nước ngoài trong Cách mạng Trung Quốc từ những năm tháng gian khổ ban đầu đến đại thắng lợi cuối cùng. Về nước, 5 năm ở Việt Nam, ngay từ năm đầu đã là người đầu tiên cầm quân chống giặc cứu nước với cương vị là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, từ 12-1945 đến 12-1946.

  Dù chỉ một năm cầm quân tại các tỉnh phía Nam Trung bộ đó, Tướng Nguyễn Sơn cùng các cấp lãnh đạo khác là những người đầu tiên triển khai thế trận chiến tranh nhân dân trên một nửa đất nước ở phía nam các tỉnh Trung Bộ, sớm ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm quy mô của thực dân Pháp, đồng thời hỗ trợ cho cuộc kháng chiến của quân dân Nam Bộ. Chính từ đó, các tỉnh từ Phú Yên trở ra đến phía nam Quảng Nam là vùng đất tự do, hậu phương lớn cho chiến trường Liên khu V, đồng thời đã tạo thời gian chiến lược cho cuộc kháng chiến toàn quốc (19-12-1946), cũng là cơ sở cho chiến trường Liên khu V sau này trong suốt những năm chống Pháp, phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm năm đó, ông đã 2 lần Tư lệnh chiến trường, 2 lần kiêm Hiệu trưởng Trường Lục quân (Quảng Ngãi và Sơn Tây), rồi rời Việt Nam đột ngột, trở về nước đột ngột và từ giã cuộc đời cũng đột ngột với tuổi đời quá ngắn ngủi (1908-1956). Với bài này, không phải là cả cuộc đời của Tướng Nguyễn Sơn, chỉ là vài kỷ niệm của một số anh em, học trò của Thầy...

Ban liên lạc Toàn quốc
Trường Lục quân Quảng Ngãi, 1946


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 06:06:41 PM
Chuyện một thời khó quên và hồi ức về Tướng Nguyễn Sơn

Nguyễn Đức Tuân



  Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, các đơn vị bộ đội chủ lực trên chiến trường Bình-Trị-Thiên vẫn đảm bảo duy trì những chuyến liên lạc thường kỳ với Bộ chỉ huy Liên khu IV bấy giờ đóng ở Nghệ An. Tại Quảng Bình sau mấy tháng xảy ra chiến sự, quân Pháp đã lấn chiếm hết vùng đồng bằng thị xã Đồng Hới, lực lượng của ta rút hết lên vùng rừng núi. Theo chiến thuật "vết dầu loang" địch nống dần ra, lấn chiếm, đóng chốt một loạt đồn bốt ở các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch... Quân dân Quảng Bình bị đặt vào một tình thế cực kỳ khó khăn và thử thách nặng nề đối với phong trào cách mạng trên quê hương.

  Vào thời điểm đó, tôi được cấp trên giao phụ trách một tổ trinh sát, liên lạc đưa chuyển công văn hoả tốc ra liên khu. Nhận lệnh, tổ 3 người chúng tôi từ trạm giao liên đặc biệt đóng tại Cổ Cảng (huyện Tuyên Hoá), ngay sớm đó vượt đỉnh Mồng Gà 510m băng qua Mỹ Sơn, tắt đường theo hướng Trại Cau, nhá nhem tối thì đến địa đầu huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Không kịp ăn bữa tối, anh em động viên nhau đi nốt chặng đường 16 km trên quốc lộ 1 kịp đón chuyến xe đêm từ Vinh vào đổ bên kia cầu Giát (đã bị đánh sập) cách Voi 4km. Thuở ấy bánh chưng Voi là món ăn bình dân rẻ và ngon "nổi tiếng liên khu", không một chàng "vệ túm" nào qua đây có thể làm ngơ mà không chén đầy bụng vài cặp. Thế là chúng tôi, mỗi anh lủng lẳng một xâu bánh, kéo qua cầu ngồi ăn, luôn thể chờ xe.

  Khoảng 2 giờ sáng xe đến. Có lẽ, hơn 45 năm nay, trên mọi nẻo đường đất nước đã qua, tôi chưa hề gặp lại ở đâu "người bạn cũ" cần cù một thời kháng chiến gian lao xa xưa ấy. Đó là chiếc ô tô chạy khí ga giô-gien, hông xe đeo một lò gang hình trụ cao sát nóc, than cháy đỏ lựng. Khi xe chạy, muội than đỏ mù xịt xả ra từ ống khói tưng bừng như pháo hoa. Sau chuyến đi, từ bác tài, lơ xe đến hành khách, ai nấy áo quần, mặt mũi lấm lem như từ trong lò than hầm chui ra. Khi con đường cái quan bị phá sạch, những cỗ máy cổ lỗ đó lại được tháo ra lắp vào ca nô chở khách, chở hàng, ngang dọc trên mấy con sông Lam, Ngàn Sâu... cần mẫn phục vụ suốt cuộc kháng chiến cho đến khi trở thành đống sắt phế liệu trong Bảo tàng lịch sử Giao thông vận tải nào đó. Chính nhờ nó mà hai hôm sau, tổ giao liên hoả tốc đã đến Đô Lương.

  Cơ quan khu bộ đã chuyển từ thành nội Vinh lên đóng ở Cát Ngạn cách Đô Lương 5km. Thị trấn heo hút huyện miền Tây Nghệ An này trở nên tấp nập, sầm uất sau ngày khu bộ sơ tán lên đây. Hai bên đường những dãy quán nối nhau san sát: quầy tạp hoá, hiệu ảnh, hiệu thuộc tân dược Âu - Mỹ (!), quán trọ, quán ăn mọc lên như nấm. Chợ Lường họp suốt ngày, hàng nội, hàng ngoại, hàng tươi sống ngồn ngộn. Khách buôn chuyến từ Phát Diệm, Thanh Hoá vào, từ Hà Tĩnh, Vinh lên bán hàng, ăn hàng nhộn nhịp, xen vào mấy anh "lính cậu" trốn cơ quan, quân phục kaki, côn - bát đeo trễ bên hông, oai phong đi lại giữa mấy sạp hàng "duyệt" các cô hàng xén. Không hiểu sao hôm chúng tôi đến Đô Lương, quân ta đổ xô "bát" phố phường như trẩy hội... Có vị chỉ huy đội cả mũ ca-lô đính quân hiệu sao vành vàng thêu chỉ kim tuyến. Ngoại trừ chúng tôi là lính từ chiến trường ra đi chân đất, lính ở đây toàn đi dép "Ba-ta con Hổ". Cán bộ thì oách hơn, giận dày da cao cổ, có vị quấn cả "đờ-mi ghẹt" Mỹ hẳn hoi. Hoá ra hôm nay là ngày kỷ niệm ngày "Tử sĩ binh sĩ bị nạn" thế nhưng không có chút xíu gì là không khí chiến tranh váng vất nơi đây! Điều đặc biệt là, tất cả mọi quán xá, chợ búa nhất loạt trước quầy đều treo tấm biển "Hôm nay bán hạ giá cho bộ đội 20%". Một tô phở sốt vang béo ngậy, thơm lựng giá một đồng còn tám hào, cốc sữa đá giá tám hào còn sáu hào tư, một kiểu ảnh 4x6 giá hai đồng còn lại đồng sáu... dép ba-ta, "ghíp" đánh răng, nịt da, tất tật đồng loạt hạ giá 20%. Đặc biệt hơn nữa là ưu tiên không chỉ dành một lần, trong ngày, anh bộ đội có thể vào ra ăn uống, mua bán bao nhiêu lần tuỳ ý, món ăn vẫn ngon lành, chất lượng không suy suyển, thái độ vẫn vồn vã như lúc mở hàng đến giờ đóng cửa. Một chút tình tri âm đó khiến chúng tôi vừa trải qua những ngày cực kỳ thiếu thốn đói kém trên chiến khu Thuận Đức ra đây, chứng kiến cái cảnh phồn hoa trái khoáy trên cũng đỡ mủi lòng. Trong các quán ăn, người ta xôn xao rủ nhau chiều nay đi nghe Khu trưởng Nguyễn Sơn nói chuyện trong lễ mít tinh. Từ khi ở Liên khu V ra thay Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Khu trưởng Liên khu IV, chung quanh vị khu trưởng khác thường này đã dệt nên bao huyền thoại. Ông đã từng tham gia Vạn lý trường chinh, là người sáng lập Trường Lục quân Quảng Ngãi nổi tiếng và sau này là cha đẻ của Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV mà hễ nhắc đến bác Nguyễn Sơn, những "em" Thiếu sinh quân tóc bạc trắng hôm nay vẫn dành trong tình cảm của mình một góc trìu mến đối với vị Tướng văn võ toàn tài này...

  Thời gian thường phủ một lớp bụi mờ lên mọi vật, người ta có thể vô tình hoặc cố ý quên lãng nhiều chuyện, nhưng riêng tôi, mấy mươi năm nay, nhất là gần đến ngày 27-7 vẫn như nghe đồng vọng đâu đây giọng nói ồm ồm đanh thép, sắc lạnh của ông làm hả lòng hả dạ những người ra trận, làm xúc động đến rưng rưng nước mắt cả chiều hôm đó. Bên chiếc lư trầm nghi ngút khói hương, ông nói: "Hôm nay, chúng ta những người đang sống, những người con lành lặn họp mặt tại đây để tri ân những chiến sĩ đã xả thân mình, đã không tiếc máu xương mình dâng hiến cho nền độc lập của đất nước.

  Chúng ta nghiêng mình tưởng niệm những người con đã chết vì Mẹ Tổ quốc, họ là những tử sĩ? - Đúng.

  Còn những người lính không may bị thương tật trong trận mạc là binh sĩ bị nạn ư! - Bị nạn?! Cứ như thể một chuyện không may nào đó, ngẫu nhiên ập đến không lường trước. Có thật những người lính chúng ta trước khi ra trận, không lường trước được mình sẽ hy sinh hoặc bị tật nguyền? Có chứ. Biết nhưng họ không ngần ngại vì lời thề "Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ". Cái cao cả là ở lẽ đó. Nhân dân tri ân họ cũng vì lẽ đó".

  Đột ngột rời bục nói chuyện, tiến đến trước hàng quân, chỉ vào khối bộ đội cầm súng uy nghiêm đứng làm hàng rào danh dự trước lễ đài, Khu trưởng Nguyễn Sơn gằn giọng: "Tự nguyện cống hiến máu xương mình xây nên bức thành đồng ngăn lũ cướp nước, ai? Ai dám bảo họ là bị nạn! Dám coi đó như một thứ tai bay vạ gió?! Cho nên gọi những người tự nguyện dâng hiến máu xương mình cho đất nước là binh sĩ bị nạn thì vừa láo vừa vô ơn. Láo và vô ơn với chính họ và gia đình họ. Tôi nói vậy bà con nghe phải không?"

  Sau này, có sự đánh giá lời tuyên dương nào cao cả hơn, tôi không rõ, nhưng lúc này thì tiếng reo hò, tung hô tán thưởng từ cuộc mít tinh dậy lên rầm rộ cả khu phố. Tôi nén xúc động, lén gạt mấy giọt nước mắt nao nao nhớ đến giây phút cuối của anh Lê Thanh Đồng trên bãi biển Đồng Hới sáng ngày 27-3-1947. Đợi tiếng hò reo chấm dứt, ông nói tiếp: "Đời đời nhân dân thương nhớ, Tổ quốc ghi công họ. Không thể có cảnh "chinh phu - tử sĩ mấy người - nào ai mặc mặc, nào ai gọi hồn!". Nhất định chúng ta không là kẻ vong ân. Bởi vậy, theo nguyện vọng của bà con hôm nay, nhân danh đồng đội, tôi sẽ đề nghị lên Trung ương xoá cái tên binh sĩ bị nạn chẳng thơm tho gì!". Tiếng hoan hô lần nữa lại dậy lên sống động xen những tiếng nức nở đến nao lòng. Quả nhiên, cuối năm 1947, khi bọn tôi trở lại chiến trường, Hội binh sĩ bị nạn của tỉnh do đồng chí Lê Như Quyến phụ trách đã được đổi thành Ty Thương binh Quảng Bình. Chiếc huy hiệu hình thuẫn in nổi người thương binh khập khiễng chống đôi nạng cũng được thay bằng chiếc huy hiệu thương binh hình tròn như hiện nay.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 06:09:04 PM
  Sớm hôm sau, đồng chí Chu Văn Biên, Chánh văn phòng liên khu cho gọi tổ trinh sát giao liên lên gặp. Trong phòng còn có Khu trưởng Nguyễn Sơn. Thấy chúng tôi, ông ôm chầm từng đứa, vò đầu, vỗ vỗ vào lưng hoan hỉ "Mấy cậu nhóc này - khá lắm!". Đồng chí Chu Văn Biên cũng trìu mến nhìn bộ áo quần bạc phếch và đôi chân trần của chúng tôi nói:

  - Tôi vừa bảo quân nhu cấp cho mỗi em 50 đồng bồi dưỡng, một bộ quân phục và đôi ba-ta.

  Khu trưởng gật đầu hài lòng, vui vẻ:

  - Lớp trẻ này rồi sẽ thay thế chúng mình tiếp bước cha anh đến đích cuối cùng. Nên có kế hoạch đào tạo kỹ lưỡng từ giờ, rồi chúng sẽ làm ăn ra trò đấy.

  Sực nhớ chúng tôi sắp trở lại mặt trận, ông hỏi: "À, mà mấy cậu nhóc này sắp về, anh Biên xem hiện giờ trong đó có yêu cầu gì?".

  - Báo cáo xin quân trang mùa đông và ưu tiên cấp vũ khí đạn dược.

  - Chỉ thị cho quân nhu cấp phát quân trang đến tay bộ đội kịp trước rét, mùa đông ở rừng lạnh lắm! Còn vũ khí - Khu trưởng bỗng cười dí dỏm - anh thảo công văn gửi Văn Lễ (Trung đoàn phó, được Bộ chỉ huy Liên khu IV cử vào thay anh Lê Thanh Đồng) bảo súng ống, đạn dược khu đã cấp đầy đủ, tạm gửi tại mấy kho vũ khí của địch ở các đồn Minh Lễ, Ba Đồn, Hoàn Lão... Phái bộ đội đến đấy lấy tha hồ mà đánh giặc!

  Như hiểu ý Khu trưởng, đồng chí Chu Văn Biên cười to. Chúng tôi chẳng hiểu "mô tê răng rứa" cũng nhìn Khu trưởng cười, ông càng cười to hơn, gian phòng vui hẳn lên, ấm áp, chan hoà tình cảm đồng đội giữa các vị tướng lãnh với mấy anh binh nhì trẻ là lũ trinh sát - liên lạc chúng tôi.

  Sau chuyến đi đầy ấn tượng khó quên đó, tôi trở về đơn vị. Tôi đang phụ trách quân báo huyện Quảng Trạch thì được lệnh tham mưu trưởng gọi về báo cáo động thái của địch trong những ngày gần đây.

  Những khó khăn ban đầu của Quảng Bình về tình hình quân sự đã được Bộ chỉ huy Liên khu đặc biệt chú ý. Nhất là sau ngày cơ quan lãnh đạo của tỉnh rời chiến khu Thuận Đức ra Tuyên Hoá, liên tiếp các đồng chí Trần Văn Quang - Chính uỷ Liên khu IV, Thiếu tướng Khu trưởng Nguyễn Sơn thay nhau vào thị sát mặt trận Quảng Bình, đặc biệt chuyến đi bán công khai của Thiếu tướng Nguyễn Sơn làm nức lòng cả miền Bắc Quảng Bình gây xôn xao tận vùng tạm chiếm, khiến một số đồn bốt địch ở vùng Quảng Trạch, Bố Trạch. .. phải ra lệnh "cấm trại".
Trong buổi nói chuyện suốt ba giờ liền với nhân dân, cán bộ, bộ đội tập trung tại Còi (huyện Tuyên Hoá) đánh giá tiềm năng về mảnh đất và con người Quảng Bình, ông có một nhận định sâu sắc, thông tuệ mà đến nay trải qua mấy thập kỷ linh nghiệm như một lời tiên tri thần tình. Sau khi khái quát quá trình đấu tranh của nhân dân Quảng Bình trong lịch sử giữ nước và dựng nước, chỉ rõ thế thắng tạm thời hiện nay của địch và tiềm lực giải đất này, Thiếu tướng Nguyễn Sơn kết luận "Lịch sử xưa nay đã chứng tỏ Quảng Bình là mảnh đất dày dạn chiến trận, con người ở đây vì thế cũng dạn dày trận mạc, là "địa linh nhân kiệt" bao đời sản sinh nhiều tướng lĩnh kiệt xuất, mãi tận hôm nay Quảng Bình vẫn có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngay trên đất huyện Tuyên hùng vĩ này cũng sinh ra Thiếu tướng Hoàng Sâm, con người ưu tú của làng Lệ Sơn đó. Thử xem cả đất nước giờ đây tướng lĩnh như "lá mùa thu" ấy thế mà Quảng Bình đã chiếm mất mấy vị - ông cười khà khà rồi chỉ tay vào khối bộ đội đông đảo đang chăm chú lắng nghe ông nói như uống từng lời, đất này là đất thượng võ, đất vượng tướng. Chắc chắn trong các đồng chí đứng đây sẽ còn nảy ra nhiều tướng tá tài ba nữa cho đất nước". Tiếng cười vui vẻ bỗng bật lên râm ran, xoá tan cái không khí trang trọng, uy nghiêm ban đầu cả ba quân trước vị thống lĩnh.

  Hôm nay, "nhớ lại và suy nghĩ" ngẫm ra càng "kính nể" con mắt tinh đời của Thiếu tướng Nguyễn Sơn ngày ấy. Bởi xưa nay: "Anh hùng đoán giữa trần ai mới là!" Trong hàng ngũ những người lính đứng lặng, lắng nghe ông nói hôm đó có anh còn là cán bộ tiểu đội, trung đội (như B.C.A), có anh là thư ký đại đội trưởng như (L.V.T), là chính trị viên huyện đội, tầm cỡ là cán bộ tiểu đoàn (Nguyễn Hoà) v.v... nay đã trở thành những tướng lãnh thực sự tài ba như các tướng Đồng Sĩ Nguyên, Lê Văn Tri, Nguyễn Hoà, Phan Khắc Hy, Lương Hữu Sắt, Nguyễn Bình Sơn, Bùi Công Ái, Nguyễn Văn Thanh... Ngay những chú "nhóc" thuở ấy thường được xếp đứng đầu hàng quân nay đang là chuẩn Đô đốc Hải quân (Trần Đàm), Thiếu tướng không quân (Hồ Thanh Minh)... Tuy không là con em nhân dân Quảng Bình nhưng họ đã trưởng thành từ mảnh đất này hoặc đã có lần đảm nhiệm những trọng trách tại đây như Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê nguyên là Chính trị viên chỉ đạo viên đầu tiên của chi đội Lê Trực, Quảng Bình, Trung tướng Hoàng Văn Thái...


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 06:11:38 PM
Nguyễn Sơn với phong trào văn nghệ rộng rãi

Chu Ngọc

 

  Nói đến Nguyễn Sơn, tôi sợ ngòi bút tôi không đủ phong phú để viết về anh.

  Tôi đã sống với người cộng sản này vài năm. Anh có một chút khuyết điểm đối với tôi, và tôi cũng có khuyết điểm là lúc đầu chưa hiểu nổi Nguyễn Sơn.

  Nhưng sau thêm một lần tôi lại nhập bộ đội, và cùng ở trong một đơn vị với anh. Tôi hiểu anh Sơn. Tôi thấy nhiều cái thú vị chung đúc ở anh. Anh có gì thực rộng rãi về suy nghĩ như hơi hướng của Chủ tịch Mao, có lúc, tôi lại thấy anh hiền hậu và tế nhị như tôi thường nghĩ về Hồ Chủ tịch, đôi khi tôi lại thấy anh như là một nhân vật anh hùng hào hiệp của Thuỷ Hử sống lại. Rồi trong lúc hành quân của Liên khu bộ Khu IV tôi thấy anh là hình ảnh Từ Hải của Nguyễn Du, cùng anh em đoàn văn nghệ đi hành quân.

  Tôi đã sống nhiều với tiểu thuyết cổ của nước nhà và của Trung Quốc, tôi rất thú vị nhận thấy trong cuộc cách mạng của đất nước ta có một vị tướng phóng khoáng như Nguyễn Sơn. Tác phong quần chúng của anh giúp cho tôi suy nghĩ nhiều về con người cách mạng. Là một thiếu tướng tư lệnh của một quân khu rộng lớn, đáng lẽ phải cảnh giác với địch, là đi đâu phải tiền hô hậu ủng, nghĩa là phải bảo vệ như mắc vải cánh cửa của chiếc ô tô hòm. Nhưng Nguyễn Sơn thì bất cứ ở đâu cũng thấy: đi chợ Rừng Thông, đi chợ Đô Lương, chiều vào bãi đá bóng, tối lững thững ở Cầu Bố, lúc mặc quần đùi chạy thi với anh em bộ đội. Vào nhà nông dân lăn ra ngủ. Đánh cờ, uống cà phê. Dự những buổi tập kịch. Rồi trịnh trọng ở những buổi lên lớp huấn luyện chính trị, quân sự và văn nghệ.

  Tôi thấy anh xông xáo như thế nghĩ mà lo. Nhưng, anh không chết vì địch mà chết vì ung thư, mới biết rằng cái đức tin ở quần chúng, tin ở nhân dân của Nguyễn Sơn quả là lớn và hiếm có.

  Người cán bộ quân sự ấy bảo vệ đất nước không phải chỉ thuần tuý ở mặt quân sự, gắn với quân đội, súng đạn. Anh đặc biệt chú trọng việc nâng cao tâm hồn của người Việt Nam để say sưa yêu nước, yêu con người, yêu ngôn ngữ, yêu giọng nói, điệu múa, yêu thơ, yêu họa. Anh đã cùng anh Đặng Thai Mai khơi lên một mùa văn nghệ sáng sủa của buổi đầu kháng chiến ở Khu IV.

  Những đoàn kịch được thành lập.

  Những tờ báo được xuất bản.

  Những lớp huấn luyện văn nghệ được liên tục mở và do đó đào tạo được một số lớn văn nghệ sĩ trẻ tuổi.

  Lập đoàn chèo ở Liên khu bộ, cử Nguyễn Đình Nghi làm đoàn trưởng; mạnh dạn cho diễn những tích cũ.

  Tạo phương tiện để anh chị em văn nghệ tham gia các chiến dịch và thâm nhập vào quảng đại quần chúng.

  Khuyến khích sáng tác - mạnh dạn xuất bản tác phẩm "Lúa xanh" của Văn nghệ trẻ.

  Những kịch bản được hình thành, sử dụng và lưu hành rộng rãi như Cái Đèn, Cái võng, Cái Loa, Trên nớ, Người nữ cứu thương Trung Hoa.
Triển lãm hội hoạ được tổ chức thường xuyên. Sơn mài được khuyến khích sử dụng. Tác phẩm Cái Bát của Sĩ Ngọc ra đời ở thời kỳ này.

  Những cuộc tranh luận về văn nghệ được tổ chức thường xuyên.

  Đặc biệt những gia đình văn nghệ sĩ được sự giúp đỡ của khu bộ về vật chất, nên văn nghệ sỹ đã toàn tâm toàn ý vào sáng tác và công tác.

  Rồi Nguyễn Sơn chuyển công tác, Đặng Thai Mai nằm đau một chỗ, Văn nghệ Liên khu IV do ông Lưu Trọng Lư phụ trách từ Thanh Hoá vào Nghệ An để nhập vào nguồn văn nghệ do ông Tô Thư lãnh đạo từ Việt Bắc xuống.

  Anh Nguyễn Sơn, nay đã yên nghỉ, những lúc nhắc đến anh tôi chỉ thấy anh đem đến cho tôi hình ảnh một người cách mạng có tâm, có trí.

20-11-1956


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Mười, 2008, 06:16:55 PM
Tướng Nguyễn Sơn một nhà văn hoá lớn

Phạm Phấn



  Ngoài tài năng quân sự, Tướng Nguyễn Sơn rất xứng đáng đạt tầm lớn trong văn hoá. Đó là một vị tướng văn võ song toàn.

  Ông thu hút quanh mình đông đảo văn nghệ sĩ, trí thức của cả nước. Do ảnh hưởng của mình, một số hoạt động văn hoá, nghệ thuật, tờ báo và tạp chí, viết sách, những cuộc nói chuyện... được tổ chức, đã diễn ra, gây tiếng vang, truyền mãi đến bây giờ.

  Dưới "trướng" Tướng Nguyễn Sơn, Bộ Tư lệnh Liên khu IV, ngoài các phòng ban khác, còn có phòng chính trị, do Nguyễn Kiện phụ trách. Phòng này có Ban Văn nghệ, báo "Chiến sĩ", sau đổi là "Vệ quốc quân Liên khu IV". Đứng đầu Ban văn nghệ là nhà văn Nguyễn Đình Lạp, tác giả hai tiểu thuyết phóng sự "Ngoại ô" và "Ngõ hẻm". Khi bộ ba Nguyễn Văn Hoàng Đạo, Kim Sơn, Chu Duy Kính đánh đắm chiếc thuyền chiến Amyot D'Inville ở Sầm Sơn - Thanh Hoá, Tướng Nguyễn Sơn gợi ý Nguyễn Đình Lạp viết về đề tài này. Sau mấy tháng ghi chép và viết, nhà văn đã hoàn thành tác phẩm "Chiếc va li". Như chúng ta đều biết, chiếc va li giấu chất nổ mà chị Nguyễn Thị Lợi (mới được phong liệt sĩ công an) mang xuống tàu để "về thành".

  Thời kỳ này, hoạ sĩ Sĩ Ngọc đã hoàn thành bức danh hoạ "Cái bát", đến bây giờ vẫn được nhiều người ưa thích.

  Báo "Chiến sĩ" có Nguyễn Đình Tiên, Vũ Cao, Vũ Tú Nam, Hà Khang, Vương Như Chiêm, Lê Văn Chính, Hoả Ngọc Triêm... do Nguyễn Hữu Loan làm chủ bút, Tướng Nguyễn Sơn luôn quan tâm, động viên và khuyến khích mọi người làm thơ, viết bài đăng báo.

  Chung quanh Liên khu bộ, bên cạnh Tướng Nguyễn Sơn, tập hợp một đoàn tuồng chèo, một đội kịch, một số nhạc sĩ, ca sĩ, nhà văn, hoạ sĩ, cả những người làm công tác dịch thuật. Nguyễn Đình Nghi, trùm chèo rất tâm phục ông tướng "của mình". Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác được nhiều bài hay, có chất dân ca, sau chuyến đi Bình Trị Thiên về. Ca sĩ Thái Hằng, vợ Phạm Duy hát rất đạt những bài hát của chồng. Gia đình ca sĩ Thái Hằng có nhiều người ở "bộ đội Nguyễn Sơn": nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ca sĩ Phạm Đình Viên và ca sĩ Thái Thanh. Phạm Đình Viên không mấy người không biết nhờ bắt chước tiếng ngựa hí trong bài hát, rất có duyên và nhất là khuôn mặt...
của anh!

  Nguyễn Tiến Lãng, người quen viết văn Pháp, em vợ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, được Tướng Nguyễn Sơn bảo lãnh, sở trường môn dịch thuật ở trường thiếu sinh quân. Riêng Nguyễn Đức Quỳnh, "ông tướng" giao cho dịch Tư bản luận của Các Mác. ở trong bộ đội, Nguyễn Đức Quỳnh khuyến khích anh em đọc sách, đọc có thời hạn, đọc xong phải tóm tắt nội dung cho "sếp" biết.

  Người ta hay nhắc tới vợ chồng Phạm Văn Đôn (hoạ sĩ) Nguyễn Thị Kim (điêu khắc) và người anh ruột, nhạc sĩ Phạm Văn Chừng. Tướng Nguyễn Sơn rất chú ý đến dấu trong tiếng Việt, ông thường nhắc khéo nhạc sĩ nên quan tâm việc hát sao cho khéo mới nghe được. Ở bộ phận kịch, tôi nhớ có bà Minh Tâm, nghệ sĩ lớp cũ, từ Hà Nội ra đi, rất gắn bó với bộ đội "Nguyễn Sơn".

  Bên cạnh nhà viết kịch Bửu Tiến, còn có Hoàng Trọng Miên, họ hàng với học giả Hoàng Xuân Hãn, hồi thuộc Pháp, Hoàng Trọng Miên chủ trương lập nhà xuất bản Phương Đông, hay in chuyện quái dị kiểu Hofmanm, Edgan Poe...

  Dưới ảnh hưởng của Tướng Nguyễn Sơn, Bửu Tiến đã viết vở kịch "Trên nớ", gây tiếng vang ở Liên khu IV lúc bấy giờ.

  Liên khu IV gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên có thành phố Huế; phía Nam chia ra phân khu Bình-Trị-Thiên do Tướng Trần Văn Quang đảm nhiệm. Quảng Trị có Trung đoàn 95, do Lê Chưởng (sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Thừa Thiên có Trung đoàn 101, Trần Sâm (sau này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) phụ trách.

  Lúc ấy người ta quen gọi Liên khu, không gọi quân khu kể cả quân sự, như bây giờ. Về mặt kháng chiến hành chính có Hồ Tùng Mậu, bạn chiến đấu và học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về quân sự thì Tướng Nguyễn Sơn đứng đầu. Đó là hai nhân vật tiếng tăm, nhiều người ngưỡng mộ.

  Trong một cuộc họp mặt, tán gẫu nhưng nghiêm chỉnh, Đặng Thai Mai, Bửu Tiến cùng tham dự, theo gợi ý của Tướng Nguyễn Sơn thì nên mở lớp văn hoá kháng chiến. Lớp thiên về văn nghệ vì có các môn thơ, tiểu thuyết, kịch, phóng sự, phê bình văn học, v.v... nhưng để đảm bảo bề rộng nên vẫn gọi là "văn hoá", mặc dù các môn lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam và tiếng Anh chiếm số lượng không nhiều. Ghi giấy chứng nhận vẫn đề là "Đoàn văn nghệ kháng chiến", do nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh ký tên.

  Thanh - Nghệ - Tĩnh là vùng tự do của Liên khu IV, cho nên văn nghệ sỹ về tụ hội khá đông. Từ thực tế đó, lớp văn hoá kháng chiến ra đời mở ở Thanh Hoá; Khoá 1 - Cổ Bôn - cuối năm 1947; khoá 2 - Quần Tín - giữa năm 1948; khoá 3, cùng địa chỉ trên, cuối năm 1949.
Học viên hầu hết là cán bộ, giáo viên từ Quảng Bình trở ra, người Thanh Hoá chiếm kha khá. Một số học viên đã có cương vị xã hội, như Bùi Hiển lúc đó làm Trưởng ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Nghệ An, đã có tập truyện ngắn "Nằm vạ" do Nhà xuất bản Đời nay thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn ấn hành.

  Cuối khoá 2 Quần Tín, sau 4 tháng, Ban giám đốc nhà trường - lúc ấy gọi thế - phát giải thưởng. Thơ: Hoàng Trung Thông với "Bài ca vỡ đất",  mà câu "có sức người sỏi đá cũng thành cơm" còn truyền tụng. Trần Hữu Thung "Cò trắng phát thanh". Mãi sau này Minh Huệ mới có "Đêm nay Bác không ngủ". Về lý luận văn học, Xuân Tửu đứng đầu đoạt giải "thủ khoa", v.v... Tướng Nguyễn Sơn tuy là người góp phần sáng lập, nhưng ông vẫn tự nhận là học viên không thường xuyên. Ông hay đến lớp để "nghe" và "nói"; học viên yêu cầu ông nói chuyện, ông nói ba bốn giờ liền, người nói càng say sưa, người nghe không chán.

  Trong số học viên sau này nhiều người thành đạt, không kể bộ trưởng, thứ trưởng, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, nhà báo rất nhiều như Vũ Tú Nam, Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, Hoàng Trung Thông, Viện trưởng Viện Văn học, PTS Tôn Gia Ngân, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Văn Hoá, Hoàng Minh Châu, Phó Tổng biên tập Báo Văn Nghệ, chị Thanh Hương, Tổng biên tập Báo Phụ nữ Việt Nam, v.v.

  Giảng viên gồm những người có uy tín trong học thuật, văn học, nghệ thuật: Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hải Triều, Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Sĩ Ngọc, Nguyễn Thị Kim... Các cộng tác viên, hoặc trường mời đến nói chuyện, thì từ các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, Hồ Tùng Mậu, Tướng Nguyễn Sơn, Phạm Ngọc Thạch đến Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi... đều có mặt. Cuối khoá, tổ của Lương Khôi vui mừng đón Nguyễn Tuân tới uống rượu.

  Theo chủ trương của Tướng Nguyễn Sơn, bộ đội mở những đợt đi thực tế, nhất là chiến trường Bình-Trị-Thiên cho văn nghệ sĩ.

  Nhiều người muốn đi, được đi đợt đầu thì hỉ hả ra mặt, những người đi đợt sau nôn nóng, chờ đợi. Vài người chưa được đi, vật nài rất tội nghiệp. Chúng tôi, Hữu Loan và Phạm Phấn, Nguyễn Đức Nùng được chọn đi đợt đầu. Đó là mùa hè năm 1949. Hồi đó tôi 21 tuổi, Hữu Loan 34 tuổi và Nguyễn Đức Nùng 37 tuổi. Tướng Nguyễn Sơn dặn dò trưởng phòng chính trị Nguyễn Kiện (sau này là Thứ trưởng Bộ Thương binh - Xã hội) phải lo thật tốt việc đi của chúng tôi. Sau khi lĩnh mỗi người một "Cục" bạc tài chính mới cứng, mặc dù kháng chiến, chúng tôi được chiêu đãi một bữa "tiệc" (là tiệc lúc ấy) làm lấy tại chỗ, nhớ nhất cà chua nhồi thịt.

  Bọn tôi đều cuốc bộ, còn Tướng Nguyễn Sơn thì luôn gắn bó với chiếc xe "cuốc" với chiếc ghi đông luôn quặp xuống. Gần chiều, chúng tôi rẽ vào nhà viên án sát trí sĩ, họ hàng nhạc gia Hữu Loan, dùng cơm rất ngon miệng. Mặc dù được giữ lại, chúng tôi chia tay, về ngôi trại khoảng giữa hai ga Yên Thái - Minh Khôi, huyện Nông Cống. Sẩm tối thì chúng tôi tới trại, gần đồi sim.

  Đây là trại của nhà vợ Hữu Loan, cả hai cụ là địa chủ kháng chiến, hiến nhiều vàng, trả lại ruộng đất, nuôi bộ đội.

  Khi ở vùng biển tạm chiếm tỉnh Quảng Trị, Hoả Ngọc Triêm phóng viên báo, "lính" của Hữu Loan đuổi kịp. Anh nhắc nhẹ bọn tôi: ở biển mà ăn cá khô!

  Chúng tôi gặp Lê Chưởng, Chính uỷ Trung đoàn 95 ở chiến khu Ba Lòng; xuống quê ở đồng bằng thăm hai cụ. Có anh con trai đi biền biệt. ở đây chúng tôi "trông thấy" nhà thơ Vĩnh Mai, Ty trưởng thông tin tuyên truyền và các nhà thơ Lương An, Kinh Kha. Câu thơ kết: "Ai lên bến Trấm thì lên, về cho sơm sớm, mưa đêm khó chèo" của Kinh Kha chúng tôi nhớ mãi.

  Vào Thừa - Thiên - Huế, chúng tôi ở Chiến khu Dương Hoà cùng Chính uỷ Lữ Giang, Trung đoàn trưởng Trần Sâm, Trung đoàn 101. Chúng tôi đi khắp nơi, đến các đơn vị, xuống đồng bằng, bị càn ở Hương Trà, công đồn Lương Văn, đánh xe ở đường 9, ăn khoai ở Gia Đẳng... nếm đủ mùi cay đắng, tài liệu bị mất hết.

  Các nhà văn Nguyễn Đình Lạp, Thanh Châm tới thôn Cảnh Dương chiến đấu (Quảng Bình) viết về "pháo đài san hô" nổi tiếng. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng đến Thừa - Thiên - Huế. Trần Doãn Tỷ người ham viết kịch, đi sau cùng, bị giặc bắt ở Bình-Trị-Thiên trong một trận càn.

  Với tôi, Tướng Nguyễn Sơn rất đa tài, ngoài tài binh nhung, ông còn làm thơ, viết báo, viết sách, dịch sách và biết nhiều ngoại ngữ, có tài hùng biện, đặc biệt nói mấy giờ liền về những vấn đề văn học nghệ thuật mà khi kết thúc người nghe vẫn còn muốn nghe nữa. Ông thuộc nhiều ca dao, tục ngữ, trước sau "nghiện" Truyện Kiều. Ông là người Việt Nam duy nhất tham gia Vạn lý trường chinh (10/1934 - 10/1935), năm 26 tuổi, từ Hoa Nam lên Hoa Bắc qua 11 tỉnh, băng qua 5.000 km lúc đi 300.000 người, lúc đến chỉ còn 30.000 người. Ông cũng thuộc nhiều điển tích và biết nhiều tác phẩm Trung Quốc.

  Tôi có may mắn được nghe Tướng Nguyễn Sơn nói chuyện ở Thọ Xuân (Thanh Hoá) một lần về Truyện Kiều của Nguyễn Du, lần khác về "Lôi Vũ" của Tào Ngu.

  Ông rất ghét thói nhìn nhận xã hội Truyện Kiều một cách máy móc, gượng ép, gọi họ là bọn "mượn màu". Nếu tôi không lầm, Tướng Nguyễn Sơn thích nhất hai nhân vật Kiều và Từ Hải. Kiều đại diện cho người phụ nữ nói chung, lời kêu than "đau đớn thay phận đàn bà" đủ nói lên sự thông cảm sâu sắc về thân phận họ. Tính nghệ sĩ đa tình, ngang tàng với cốt cách "râu hùm hàm én" dễ làm Tướng Nguyễn Sơn vận vào mình. Cũng như ở "Lôi Vũ" nhân vật Thị Bình với nỗi đau lớn, nhân vật Lỗ Đại Hải với tính bộc trực, thẳng thắn làm ông xúc động.
Nhiều người hâm mộ, ngưỡng mộ "ông tướng của mình", nhất là thi sĩ Hữu Loan hai lần khóc... thành công, một lần khóc vợ trong "Màu tím hoa sim", ngót một chục năm sau Hữu Loan lại khóc Tướng Nguyễn Sơn bằng bài thơ Kiểu Mai-a "Đám tang đi mãi không tới huyệt...".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 13 Tháng Mười, 2008, 06:40:41 PM
Ông đi còn để lại

Tặng chị Nguyễn Thanh Hà con gái Tướng Nguyễn Sơn



Ông là tướng, Ông cũng là nghệ sĩ
Bạn trai đông, bạn gái cũng nhiều
Cứng như sắt mà cũng mềm như lụa
Sách binh thư đem xếp lẫn Truyện Kiều

Ông ngang dọc một thời binh lửa
Lên Bắc về Nam không chùn vó ngựa
Dáng phong trần
Chẳng nhạt nét hào hoa

Một đời Ông đâu có tuổi già
Đang tranh cãi câu Kiều bên bếp lửa
Bắp ngô nướng ăn nửa chừng bỏ dở
Nhìn sóng sông quê ngỡ sóng Tiền Đường

Đến thăm người con gái của Ông
Tôi bắt gặp trang nhân từ, rắn rỏi...
Và ánh mắt
Ông đi còn để lại
Như câu Kiều xanh mãi
giữa nhân gian...

Hà Nội 1994
Hồ Minh Hà




Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 13 Tháng Mười, 2008, 06:47:34 PM
Bắt tay,
Anh hẹn lần sau sẽ vào!(*)

Tặng Nguyễn Sơn, Tư lệnh Liên khu IV

Thế Đạt

Bóng bàn, thua trọn hai bàn,
Anh cười, mắt sáng lây sang lòng này!
Câu anh rộn mở đôi môi
- "Trẻ trung có khác, mình thua cậu rồi!"

Thuận Hoan dòng nước lặng trôi
Sông Gianh anh biết hình hài huyện Tuyên1
Ngày ngày hai lượt đổ quân
Giặc lên cũng đến Minh Cầm mà thôi!

Núi sông, đồng ruộng xanh tươi,
Đồng Lê, Chợ Gát... nụ cười thêm duyên.
Anh đi khắp nẻo xa gần,
Mỗi nơi mỗi vẻ ngại ngần có ai!

Huyện Tuyên anh thấy say say,
Thầm mong bận khác đến đây hát hò...

Bắt tay, anh hẹn lần sau sẽ vào!

Chợ Gát năm 1949


(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson5.jpg)
-------------------------------
(*) Bài trích trong tập thơ Khoảng cách không xa. Tác giả bài thơ là Nhà giáo ưu tú, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội (NXB Hà Nội - 1996).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 13 Tháng Mười, 2008, 06:54:06 PM
Chuyện về hai người thầy

Trần Hồng Lạc



  Theo sáng kiến của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam "góp một giọt đồng đúc tượng danh nhân", ngày 14-8-2000, đông đảo cán bộ, học trò Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV cũ, các nhà nghiên cứu lịch sử, những người mến mộ cùng gia đình dòng họ Vũ, tổ chức trọng thể rước tượng Tướng Nguyễn Sơn về ban thờ gia tộc.

  Quanh cuộc đời ông, vị tướng quân lưỡng quốc Việt - Trung, biết bao bài báo, cuốn sách đã mô tả những phẩm chất anh hùng, kiên cường song lại đầy tài hoa, thông tuệ và tính cách đời thường của Ông - có khi như huyền thoại.

  Chính cái dáng ngoài dũng tướng pha vẻ ngang tàng được những người sống cùng thời với Nguyễn Sơn quá sủng mộ, yêu quý cũng hay thêu dệt thành những chuyện không thật, không chuẩn.

  Những năm tháng ngắn ngủi làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV, có câu chuyện được truyền miệng:

  Dịp nọ, khi bộ đội hành quân vượt sông Lam ở Nghệ An, người lái đò vì lý do nào đó đã chùng chình không chịu chở quân sang. Ông tướng rút súng bắn cảnh cáo, lệnh mới được chấp hành.

  Thực ra đã là Tư lệnh trưởng một quân khu - về mặt tác chiến ông là người chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược quân đội. Việc điều hành huấn luyện, hành quân... thuộc cán bộ cấp cơ sở.

  Trong đời sống, Nguyễn Sơn có tiếng quý trọng tình bạn, trí thức, văn nghệ sĩ, yêu mến dân chúng, chiến sĩ; không bao giờ tỏ ra quân phiệt.

  Mùa hè 1950, ông trở lại Trung Quốc.

  Ông là một trong số 72 công thần hiện còn lại ở Bắc Kinh nên được Đảng, Nhà nước Trung Quốc trọng nể, nhà cửa được bố trí sẵn cho ông và gia đình trong khu Trung Nam Hải.

  Năm 1951, Nguyễn Sơn có danh sách đi Triều Tiên (kháng Mỹ viện Triều). Cũng thời gian đó, học viện cao cấp mở, ông được chọn ở lại học tập. Vừa học vừa được phân công giảng về Đảng sử Trung Quốc.

  Tốt nghiệp Học viện quân sự Nam Kinh loại ưu, Hồng Thuỷ được đề bạt làm Cục phó Cục Điều lệnh. Sau đó, làm Xã trưởng (Chủ nhiệm) kiêm Tổng biên tập tạp chí "Huấn luyện chiến đấu".

  Ngày 27-9-1955, ông được phong quân hàm Thiếu tướng cấp Sư trưởng. Được tặng thưởng Huân chương Bát Nhất hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất và Huân chương Giải phóng hạng nhất để biểu dương cống hiến lớn lao của ông trong các thời kỳ cách mạng của Trung Quốc.

  Ngày 1-10-1955 lễ mừng quốc khánh Trung Quốc, có sự can thiệp của Mao Chủ tịch, ông được xếp cấp tướng bậc Quân đoàn trưởng.
Nhân sự kiện này, nhiều báo chí ở Bắc Kinh đã đăng bài ca ngợi ông. Nhân dân nhật báo trong bài "Tướng quân Hồng Thuỷ" viết: "Trong lịch sử nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, phong quân hàm và tặng thưởng cho một người nước ngoài, việc này chỉ có một lần, và cũng là để tỏ lòng biết ơn và kính trọng của nhân dân Trung Quốc đối với một chiến sĩ quốc tế đã đổ máu hy sinh vô tư, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc.

  Nhân dân Trung Quốc vĩnh viễn không thể quên người chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế kiệt xuất, người con ưu tú của nhân dân Việt Nam, người bạn thân thiết của nhân dân Trung Quốc".

  Ngược thời gian, ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111- SL phong quân hàm Thiếu tướng cho Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng và Nguyễn Sơn... sau sắc lệnh 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Ngày 25-1-1948, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong Trung tướng cho Nguyễn Bình.

  Sinh thời, Nguyễn Huệ (Quang Trung) là thần tượng của ông.

  Bởi lẽ đó, từ họ Vũ - Vũ Nguyên Bác, ông đã đổi thành Nguyễn Sơn. Cũng như Từ Hải (nhân vật Truyện Kiều) là thần tượng thứ hai của ông.

*
*     *

  Nhà văn Trương Tửu cất tiếng chào đời vào một sáng tháng 5 năm 1913 (Quý Sửu) tại làng Bồ Đề, huyện Gia Lâm, Hà Nội trong một gia đình thuộc lớp dân nghèo thành thị, gồm bảy anh chị em.

  Tuổi học trò, cậu bé Tửu hoà nhập không khí học đường những năm cuối thập kỷ 20 - có những sự kiện: cụ Phan Bội Châu bị bắt, cụ Phan Châu Trinh về nước mang cả một không khí "tự do", rồi sau đó là đám tang cụ, năm 1926.

  Năm 1927, Trương Tửu học tiểu học Hàng Than. Năm cuối cấp, một sáng tháng 5, sân trường tràn ngập truyền đơn kêu gọi học sinh bãi khoá. Vì tích cực tham gia phong trào này, Trương Tửu bị đuổi học.

  Bằng con đường tự học, Trương Tửu học xong tiểu học, rồi tiếp trung học tư thục đầu tiên tại Hà Nội: Trường Minh Sanh.

  Năm 1929, thi đỗ vào Kỹ nghệ thực hành ở Hải Phòng. Lại tham gia phong trào đòi dân chủ, cải cách học tập... bị đuổi học lần thứ hai.
Kiên trì và mãnh liệt không chịu khuất phục, bằng ham mê đọc sách, nghiên cứu, dần dần chàng thanh niên Trương Tửu tiếp cận với lịch sử với tri thức văn hoá dân tộc và thế giới.

  Cũng chính thời gian này, Trương Tửu tiếp cận với văn học Pháp và bước đầu manh nha một ước vọng, một định hướng của nghề văn!
Tháng 11-1931, trên báo Đông Tây xuất hiện bài báo "Triết lý Truyện Kiều", tác phẩm đầu tay của Trương Tửu ở tuổi 18. Lúc đó anh thanh niên Trương Tửu cũng không ngờ rằng, gần nửa sự nghiệp của mình sẽ gắn bó với Truyện Kiều

  Thời kỳ giảng dạy ở Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV cũng đã xảy ra một sự việc khá tế nhị: về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa vẫn trình bày nguyên si các luận điểm cũ.

  Để cung cấp cho học sinh một cách hiểu khác, Ban giám đốc trường đã mời Thiếu tướng Nguyễn Sơn đến nói chuyện ngoại khoá về Truyện Kiều. Nguyễn Sơn đã điểm lại ý kiến bình phẩm Truyện Kiều của Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Hoài Thanh và đã phê phán mạnh mẽ quan điểm của Nguyễn Bách Khoa.

  Sau cuộc nói chuyện đó, dư luận cho là Trương Tửu sẽ không được giảng dạy ở trường, nhưng việc đó đã không xảy ra.

  Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV là một trường văn hoá của quân đội nhưng vẫn có lối ứng xử mềm dẻo với các trí thức cũ.

  Tuy chỉ tồn tại gần 5 năm (1948 - 1952), nhưng được Tướng Nguyễn Sơn - người thầy sáng lập trường Thiếu sinh quân đầu tiên nước ta ưu ái nên trường đã trở thành một dấu son đặc biệt sâu đậm và ngời sáng đối với cả cuộc đời của mỗi một thiếu sinh quân.

  Bởi lẽ:

  - Đó là một mô hình giáo dục, rèn luyện đào tạo và bồi dưỡng khá toàn diện cả văn và võ...

  - Nhà trường đã kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng mục tiêu, động cơ học tập, rèn luyện với xây dựng tình thương yêu giai cấp, yêu thương đồng đội, yêu nước, thương nòi, khó khăn, gian khổ cùng sẻ chia, niềm vui cùng chan hoà...

  - Nhà trường đã rất coi trọng phương pháp giáo dục, phát huy cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự giác suy nghĩ, sáng tạo của học sinh và tinh thần hết lòng vì học sinh thân yêu của cán bộ, thầy cô giáo...

  Tôi là học trò của thầy Nguyễn Sơn và là học trò của thầy Trương Tửu. Trong một buổi đến thăm thầy Tửu, nhân đang vui chuyện, tôi mạnh dạn hỏi: "Thưa thầy, đến giờ thầy còn giận Tướng Nguyễn Sơn nữa không?"

  - Ông ấy tốt lắm chứ. Giảng xong Truyện Kiều ở Sim về; Nguyễn Sơn đạp xe qua Quán Giắt, thấy mình lững thững đi bộ trước, ông vồn vã gọi to: Trương Tửu, vào đây uống cà phê đã!

  - Tốt đến thế, sao lại giận người ta được".

*
*     *

  Buổi rước tượng Tướng Nguyễn Sơn đúng vào dịp ngày rằm tháng bảy, tục lệ "Xá tội vong nhân".

  Chúng tôi đều là học trò cũ của hai thầy, đứng dậy thưa với mọi người: "Năm xưa, khi giảng Truyện Kiều, cho dù hai thầy có những quan điểm học thuật khác biệt, đối nhau. Nhân ngày rằm, xin thắp nén hương tưởng nhớ công ơn các bậc tiền bối. Hẳn ở thế giới bên kia, hai thầy đã gặp lại nhau vui vẻ, thân ái đàm đạo về Truyện Kiều cùng Tố Như tiên sinh Nguyễn Du nâng ly, để:

Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên".



Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 13 Tháng Mười, 2008, 06:56:00 PM
Một diễn giả có biệt tài

Lê Văn Hiến*



  Ngày 7-8-1948, tại ATK (An toàn khu) Trung ương ở Việt Bắc có cuộc họp cán bộ Trung ương. Địa điểm hội nghị được chuẩn bị chu đáo: có nhà họp, nhà ăn, nhà ngủ, phòng trưng bày báo chí, nhà lá để ngồi uống nước, nhất nhất đều làm bằng tre nứa. Ban đêm, đèn điện sáng choang.

  "Dự hội nghị có các uỷ viên Trung ương Đảng, có Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ... Hội nghị đã nghe báo cáo về chính trị, quân sự, công tác Đảng, công tác dân vận. Anh Phương (đồng chí Trường Chinh) đọc báo cáo đầu tiên.

  Đêm tại phòng hội nghị, Nguyễn Sơn nói chuyện về sự học tập của cán bộ. Sơn nói thật hay, tỏ ra một diễn giả có biệt tài".

Trích: Nhật ký của một Bộ trưởng,
NXB Đà Nẵng, 1995, tập I, tr. 398.

----------------------
* Ông Lê Văn Hiến, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười, 2008, 07:00:37 PM
Tướng Nguyễn Sơn trong ký ức nhà thơ Hữu Loan

Phạm Văn Sĩ*



  Thiếu tướng Nguyễn Sơn cho gọi Hữu Loan lên nơi làm việc của ông, trong một vườn cây của dân, ở thôn Quần Tín để bàn: Ngừng phát hành tập san Hoa Lúa, và tăng cường hết lực lượng cho báo, khi đổi tên báo Chiến sĩ, thành báo Vệ Quốc quân trong tình hình mới. Một việc khác khá lý thú là Hữu Loan được Tướng Nguyễn Sơn giao cho dịch một bài thơ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt...

  Nhà thơ Hữu Loan kể:

  - Đêm về, tôi sắp xếp công việc cụ thể cho các anh Vũ Cao, Hà Khang, Nguyễn Đình Tiến rồi dịch "Biệt tình thư", theo Tướng Nguyễn Sơn căn dặn: "Đây là chuyện của riêng mình, nhưng lại liên quan đến nhiều vấn đề. Là nhà thơ, cậu dịch ngay để ngày mai (27-10-1949) mình kết hợp nói Truyện Kiều cho thầy trò Trường Thiếu sinh quân cùng học viên Trường Văn hoá kháng chiến, tại đình làng Sim.
Cậu phải đi dự cuộc nói chuyện này, để có một bài trên số báo mới"...

  Nhà thơ Hữu Loan kể tiếp:

  - Thời đấy tôi được giao làm chủ bút tờ báo trên. Hễ có việc gì về tuyên truyền, văn học là anh Sơn cho gọi tôi lên bàn bạc rất thân mật...

  "Biệt tình thư" là bài thơ chép tay chữ Trung Quốc trên tờ giấy nhỏ màu xanh, hơi thô, có góc đã nhoè ố, trên cùng là hàng chữ rất nhỏ "yêu quý gửi anh Hồng Thuỷ - một người con của đất nước Việt Nam".

  Tôi rất hứng thú với công việc này nhưng chữ Trung Quốc mới, có rất nhiều từ khác với vốn Hán Nôm mà tôi đã học. Tôi chỉ dịch thoáng, cốt đạt cái thần và giữ được nhịp điệu của nguyên tác với tấm lòng trân trọng nâng niu.

  Tôi cũng đã ghi lại được cảm xúc của mình khi dịch bài thơ. Và tôi rất tiếc sau này cho đến khi anh Sơn qua đời, tôi không còn dịp nào đọc lại cho anh nghe mấy câu thơ cảm hứng của tôi về người con gái đã viết "Biệt thư tình":

  "Cảm ơn đời ban tặng/ Những anh hùng vĩ nhân/ Gươm/ Đàn/ Gánh múa xuân/ Mái chèo/ Hai non nước/... Tôi khóc/ Em cầu ước/ Khiêm nhường/ Làm cỏ xanh.../ Nâng bước chân quân hành/ Người anh hùng lưỡng quốc"...

  ...Đình làng Sim thuộc huyện Thọ Xuân - Thanh Hoá bấy giờ rộng như một hội trường lớn. Gần một trăm Thiếu sinh quân lớp lớn tuổi cùng nhiều học viên "Trường Văn hoá kháng chiến" đã có mặt. Hai hàng ghế đóng tạm bằng bìa gỗ kê sát tường đình gần bàn diễn giả, dành riêng cho các nhà nghiên cứu, anh em văn nghệ sĩ. Tôi - Hữu Loan ngồi bên Trần Dần, Phạm Duy, tiếp là Vũ Ngọc Phan, Đào Mộng Long, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Tuân, hoạ sĩ Phan Chánh... Dãy ghế đối diện dành riêng cho các thầy cô giáo Trường Thiếu sinh quân như giáo sư Trương Tửu, Nguyễn Tiến Lãng, Đinh Văn Vinh, Cao Đắc Quỳ (phó giám đốc), Nguyễn Sanh Kha, Văn Bình, Nguyễn Công Tiến, Phạm Gia Cát, Trần Quang Chiến, Phạm Việt Thường, nhà điêu khắc Phạm Thị Kim và vợ chồng nghệ sĩ Trúc Quỳnh, cùng một số chị em khác trong đoàn kịch chính trị...

  Trước phút làm việc, tôi nghe mấy người đang kháo nhau chuyện hoạ sĩ Phan Chánh "bị mất tích" ở chợ Thượng, thị xã Đức Thọ - Hà Tĩnh. Thường ngày Phan Chánh cần mẫn ngồi vẽ tranh thuỷ mạc, tranh truyền thần. Một hôm, có một người khách lạ, mắt sáng, tóc rậm hơi quăn, nước da bánh mật, mặc áo khoác, đi ủng, đặt Phan Chánh vẽ "chân dung một ông tướng". Phan Chánh nhìn vị khách tự tin nhận lời và thầm nghĩ: mình sẽ vẽ "ông tướng" theo trí tưởng tượng qua nhân vật ước lệ trong tuồng cổ với đôi nét giống người khác đặt hàng. Chỉ mấy hôm sau, "người khách lạ" đến trả tiền, nhận chân dung, chẳng khen mà cũng không chê tranh vẽ, nhưng nét mặt ông rất vui... Sau cái ngày đó, Phan Chánh "bị mất tích". Cả gia đình, họ hàng rất lo, không biết Phan Chánh đi đâu? Mãi sau này mới hay "người khách lạ" đó chính là Tướng Nguyễn Sơn đã bí mật đưa Phan Chánh cùng nhiều anh em văn nghệ sĩ khác ra Trường Văn hoá Kháng chiến Liên khu IV  ở chiến khu Thanh Hoá. Hôm nay, họ cũng có mặt, háo hức nghe Tư lệnh Nguyễn Sơn nói Truyện Kiều...

  Hữu Loan nhớ mình gặp Nguyễn Sơn lần đầu tiên ở Đèo Cả. "Ông tướng này", đã gây cho nhà thơ bao nhiêu ấn tượng mãnh liệt... Hồi đó, Nguyễn Sơn cưỡi con ngựa bạch rất oai phong mà lãng mạn "Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in". Nhưng Nguyễn Sơn không mặc "áo đỏ ráng pha" mà là áo quân phục của vị tướng anh hùng từ Vạn lý trường chinh huyền thoại trở về, với cương vị mới "Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam". Nguyễn Sơn đã gợi hứng thú cho Hữu Loan viết bài thơ "Đèo Cả" đầy chất lãng mạn hiện thực về các chiến sĩ Nam tiến, anh dũng bằng thể lục bát, sau mới chữa lại thành thể thơ tự do cho hợp với nhịp điệu hùng tráng của "Đoàn quân Việt Nam đi../ chung lòng cứu quốc". Và ông lại vụt có mặt ở Liên Khu IV, với cương vị Tư lệnh trưởng của căn cứ địa kháng chiến hết sức quan trọng của cả nước, sau căn cứ địa Việt Bắc.

  Các ngả đường vào làng Sim được bộ đội cùng một số Thiếu sinh quân lớn tuổi đứng canh với quần áo nai nịt gọn gàng. Có cả súng và kẻng báo động khi có máy bay địch từ xa. Những ai được nghe nói Truyện Kiều đều có người hướng dẫn hoặc có giấy mời riêng được vào làng.

  Từ sáng sớm cuộc nói chuyện đã bắt đầu. Anh Lê Thuyết, Giám đốc Trường Thiếu sinh quân giới thiệu xong, Thiếu tướng Nguyễn Sơn bước vào. Ông đặt chiếc mũ phớt và cuốn sổ lên mặt bàn cũ có trải tấm vải nhựa màu rêu, rồi vào đề luôn.

  "Theo đề nghị của nhiều anh em, các thầy giáo, học viên Trường Thiếu Sinh Quân và Trường Văn hoá kháng chiến, tôi xin dành ít phút nói về Vạn lý trường chinh qua một bài thơ, có liên quan đến Truyện Kiều là chủ đề chính tôi cần nói hôm nay. Vạn lý trường chinh là gì? Là, cuộc chiến đấu phá vây mở đường vô cùng ác liệt, gian nan anh dũng của Bát Lộ Quân để nối liền các căn cứ kháng chiến của cách mạng Trung Quốc từ phương Nam lên phương Bắc, để có sự ủng hộ quốc tế của nước Nga Xô viết. Tôi không phải là nhà thơ nhưng cũng đã ghi nhật ký Trường Chinh bằng mấy câu thơ như sau:

  Bao đồng chí hy sinh / Máu nhuộm hồng tuyết phủ / Máu cháy lên thành lửa / Soi sáng đường Trường Chinh...

  Thời ấy, tôi được giao nhiệm vụ làm Chính uỷ phân đội Đông Giang, thuộc cánh quân Tả Ngạn do đồng chí Chu Đức, Lưu Bá Thừa và Trương Quốc Đào lãnh đạo. Khi vượt qua vùng đầm lầy vô cùng gian khổ khốc liệt, Trương Quốc Đào phản bội, bàn cho chuyển quân về phía Nam theo Quốc dân Đảng, bấy giờ Tưởng Giới Thạch đã thay lãnh tụ Tôn Trung Sơn. Nhiều đồng chí trong đó có tôi kịch liệt phản đối. Trương Quốc Đào kiếm cớ vu khống tôi là "gián điệp quốc tế" rồi khai trừ tôi ra khỏi Đảng và còn âm mưu hãm hại tôi. Cuối cùng đơn vị của tôi bị đánh úp bất ngờ. Hơn nửa số quân trong đơn vị bị hy sinh. Riêng tôi cũng bị thương và bị thất lạc. Tôi phải tìm về với đồng bào dân tộc Tạng để xin ăn, làm các việc kéo xe, chăn ngựa, phải mấy tháng mới về được Diên An. Trong Hội nghị Phương Nghĩa, tôi đã được Chu Đức, Lưu Bá Thừa bảo vệ và được Mao Trạch Đông khôi phục lại danh dự cùng một số đồng chí khác và lần thứ hai tôi lại được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những ngày bi tráng tột cùng ấy, tôi nhận được một lá thư. Thực ra, đó là bài thơ tình có tên "Biệt tình thư" cổ vũ khuyến khích tôi vượt lên chiến đấu trong hàng ngũ Bát Lộ Quân vì cách mạng vô sản của hai nước Trung - Việt anh
em như cụ Hồ thời đó là đồng chí Lý Thụy đã giao nhiệm vụ cho tôi.

  Tôi đã nhận được bản dịch của anh Hữu Loan. Bản dịch rất sát, rất hay tuy có vài ba chỗ không quan trọng tôi phải chữa. Tôi xin đọc bản dịch đó:

  "Hỡi chàng trai nước Việt/ Đã rời Tổ quốc mình/ Đến Quảng Châu khởi nghĩa/ Tiếp một thời Trường Chinh/ Máu chàng từng đã đổ/ Nơi rừng thẳm tuyết dầy/ Hoà máu quân Bát Lộ/ Đỏ màu cờ hồng bay/... Có thời như Từ Hải/ Tướng kiêu hùng kém ai?/ Có ngày buồn chăn ngựa/ Vẫn đội trời chí trai/ Em khóc hơn Thuý Kiều/ Vì yêu chàng chưa ngỏ.../ Đường Trường Chinh đạn lửa/ Quân Bát Lộ còn đi/ Trung Quốc ngày giải phóng/ Ước mơ em hẹn thề/ Hỡi chàng trai nước Việt/ Dù ngàn trùng bể dâu/ Dẫu kiếp này li biệt/ Em hẹn chàng kiếp sau..."

  Tiếng nói của Nguyễn Sơn khi thường vẫn oang oang, nhưng đọc thơ lại trầm ấm cuốn hút người nghe kỳ lạ. Hai hàng ghế bên bàn diễn giả, anh em văn nghệ sĩ cùng đứng dậy vỗ tay. Hàng trăm Thiếu sinh quân cùng bắt chước đứng lên phấn khích hoan hô nhiệt liệt. Nguyễn Sơn xoay người ra hai phía ra hiệu cho mọi người ngồi xuống yên lặng.

  Tôi - Hữu Loan thì thầm khẽ với Phạm Duy:

  - Nói về Kiều mà vào đề bằng Vạn lý trường chinh rồi từ bài thơ của cô sinh viên quê Thôi Hiệu - Hoàng Hạc Lâu mà dẫn đến Từ Hải, Thuý Kiều rồi nói đến tình cảm cách mạng chiến đấu quốc tế giữa hai nước Trung - Việt quả là một phương pháp đầy kịch tính bất ngờ và hấp dẫn.
----------------------------------------
* Phạm Văn Sĩ: Hiện ở nhà số 8, phố Lý Tự Trọng, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười, 2008, 07:06:55 PM
  Phạm Duy gật đầu.

  - Ông tướng Nguyễn Sơn nhà mình quả là tài hoa uyên bác! Tôi lại bấm Phạm Duy yên lặng để nghe Tư lệnh Nguyễn Sơn đang tiếp tục câu chuyện:

  "Sở dĩ cô gái viết "Biệt tình thư" có nhắc đến Kiều, Từ Hải vì cô rất yêu Truyện Kiều của Nguyễn Du. Để có tình yêu đó không phải là ngẫu nhiên. Rất nhiều đêm bên đống lửa trong rừng sâu tuyết phủ, tôi đã kể Truyện Kiều cho các chiến sĩ Bát Lộ nghe. Nhiều người trong đó có cô gái sinh viên đã nhớ hết nhân vật trong Kiều, thậm chí cô còn thuộc được nhiều câu Kiều bằng tiếng Việt Nam. Một hôm tôi mới hỏi: Trong chúng ta có ai biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai không? Mọi người im lặng! Thế là tôi lại kể về Thanh Tâm Tài Nhân người Trung Quốc đã viết Kim Vân Kiều truyện. Và thi hào Nguyễn Du Việt Nam đã "mượn" các nhân vật và cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà viết nên kiệt tác Đoạn trường Tân Thanh để lên án chế độ phong kiến nhà Nguyễn buổi suy tàn, để ông vua Tự Đức thời bấy giờ biết Nguyễn Du đã "lấy người nói ta, lấy xa nói gần" nhưng đành "ngậm bồ hòn làm, đòn đau mà cười gượng", giận, tức Nguyễn Du lắm nhưng không có cớ gì để bắt tội được nhà thi sĩ nổi danh Bắc Hà".

  Tôi - Hữu Loan còn rất nhớ những lời Tướng Nguyễn Sơn nói:

  "Sở dĩ ở Trung Quốc ít người biết tới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, vì tác giả này chỉ dừng lại ở một câu chuyện phù phiếm, nhạt nhẽo, mô tả khách làng chơi "mua nguyệt bán hoa" của bọn Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, cùng bọn nhà giàu, bọn quan lại. Truyện không hề có tính triết lý nhân văn, không ý nghĩa xã hội và nghệ thuật hết sức tầm thường. Cụ thể Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân có gốc tích một tay học trò dốt, làm nghề mổ bò, giết trâu, tiếp là đi cướp của và bắt cóc gái đẹp....

  Với Nguyễn Du, Từ Hải được sáng tạo thành hình tượng anh hùng cứu thế, cứu nhân, đưa Kiều ra khỏi lầu xanh của Tú Bà, mang lại cho nàng những ngày sống thoả lòng ân oán và hạnh phúc dù ngắn ngủi. Với Thuý Kiều trong "Kim Vân Kiều truyện" chỉ là cô gái mắc cạn, phải bán mình chuộc cha. Khi Bạc Bà, Bạc Hạnh đưa Kiều đến nhà Tú Bà để hầu khách làng chơi, ngồi trong kiệu, Kiều tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện với việc dâm ô mà mình sẽ làm ở lầu xanh. Trái lại Kiều của Nguyễn Du không chỉ đẹp nghiêng nước, nghiêng thành mà trong hoàn cảnh ô trọc ghê tởm đó, nàng đã thét lên những lời căm thù oán hận:

  Chém cha cái kiếp má đào.../ Tiếc thay nước đã đánh phèn.../ Đau đớn thay phận đàn bà.../"

  Tướng Nguyễn Sơn đọc thơ Kiều mà xúc động thật sự như có lệ rơi, tiếng khóc, như cụ Nguyễn Du đã hiện về nhập vào ông mà gào lên nỗi đau thương cho thân phận nàng Kiều...

  "Các bạn Trung Quốc, các chiến sĩ Bát Lộ Quân yêu thích Truyện Kiều Việt Nam vì cái lẽ như thế...

  Thưa các bạn, thưa các cháu Thiếu sinh quân! Vậy mà ngay trên đất Việt Nam chúng ta hầu hết người dân Việt Nam đều yêu thích và rất nhiều người thuộc Truyện Kiều, thì giáo sư Trương Tửu lại giảng Kiều cho thế hệ trẻ một cách sai lệch không thể chấp nhận được... Lý do tôi nói Truyện Kiều hôm nay vì tôi đã đọc được ở những cuốn vở ghi chép của các em ở lớp chuyên khoa đệ nhất. Các em đã ghi lời giảng văn của giáo sư Trương Tửu thế này: " Kiều mắc bệnh uỷ hoàng - một thứ bệnh sinh lý luôn căng thẳng bởi tình dục đòi hỏi. Kiều bán mình chuộc cha rồi vào lầu xanh là sự kết hợp hai mặt báo hiếu với sự giải thoát tình dục, giải thoát sự ham muốn khát khao của thời con gái có nhan sắc..."

  Tôi - Hữu Loan cảm nhận như cả khối người trong đình làng Sim đều nín thở, cùng mọi vật trong không gian lặng im cho Tư lệnh Nguyễn Sơn diễn thuyết. Ông nói tiếp:

  "Giáo sư Trương Tửu hoàn toàn hỏng. Rất hỏng. Bởi phải giảng Kiều với ý nghĩa xã hội, với triết lý, đạo lý nhân văn sâu sắc, Kiều là sản phẩm của mọi quan hệ đời sống. Thì, giáo sư lại giải thích Kiều bằng quan điểm phân tâm học của Freud. Các em đã ghi lời giảng của giáo sư rằng: Kiều tự nguyện bán mình là sự thúc bách muốn chuộc cha cùng sự nén ép hưng phấn căng thẳng của chất biliđo - tức là dục vọng không chỉ có ở giới nữ mà ở cả giới nam và rộng hơn là giống đực và giống cái trong sự tranh đua sinh tồn thoát ra ngoài ý muốn xã hội. Tôi không nghi ngờ và rất khâm phục sự thông thái biết rộng ở giáo sư Trương Tửu. Nhưng tiếc thay giáo sư lại sắm vai một y sĩ phân tâm học Freud để suy diễn, bình luận về Truyện Kiều, mà lầm Truyện Kiều chỉ là cuốn giáo trình trần trụi thô thiển về tâm lý, sinh lý học...
Về nghệ thuật, tại sao giáo sư Trương Tửu lại kết luận thơ lục bát nói chung và ở Truyện Kiều nói riêng là sản phẩm nô lệ của dân tộc và âm điệu của nó tiến tới chỗ diệt vong bởi sự bế tắc trong trùng kỳ tiến hoá của nhân loại. Tại sao giáo sư có thể giải thích Nguyễn Du, cùng bố là Nguyễn Nghiễm và anh là Nguyễn Khản đều lây truyền bệnh uỷ hoàng tình dục được thăng hoa phát tiết trong nghệ thuật tuyệt đỉnh của Truyện Kiều. Khoa học kỹ thuật cùng mặt nào đó của văn hoá Tây phương ta phải biết thừa nhận, tiếp thu nhưng không phải vì thế mà ta lại tự nhìn ta bằng tâm lý tự ti và miệt thị.

  Tôi đề nghị giáo sư Trương Tửu hãy rời thế giới quan phương Tây mà về với thế giới quan biện chứng dân tộc, sẽ tránh được sai lầm, sẽ bắt được cái thần, cái tình tuyệt đắc của Truyện Kiều để "tam bách dư niên hậu" cụ Tố Như không còn khóc, cụ có thể mỉm cười vì thế hệ chúng ta đã hiểu được những điều sâu xa cụ đã ký thác trong tác phẩm..."

  Cả hội trường lại vang lên tiếng vỗ tay. Giáo sư Trương Tửu đã đến đúng lúc bên bàn diễn giả Tư lệnh Nguyễn Sơn. Hai tay giáo sư chìa ra xin được nắm tay Tư lệnh:

  - Cảm ơn Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Tôi sẽ tiếp thu tất cả những ý kiến phê phán của anh. Tôi sẽ viết lại Nguyễn Du với Truyện Kiều theo quan điểm Mácxít mà anh là người đã lật sáng cho tôi thay đổi thế giới quan và phương pháp luận.

  Một tràng vỗ tay như trân trọng dành riêng cho thầy giáo - giáo sư Trương Tửu - một người có vốn tri thức Đông Tây sâu rộng, có thể tìm được một chỗ làm việc ấm thân trong chính quyền phong kiến thuộc Pháp nhưng giáo sư đã chấp nhận đi con đường kháng chiến rất gian khổ giành độc lập cho nước nhà. Giáo sư đã không tự ái bởi Tư lệnh Nguyễn Sơn đã phê phán đúng vào những khiếm khuyết sai lệch nghiêm trọng, khi ông nghiên cứu về Truyện Kiều. Sự khẳng khái đó của giáo sư Trương Tửu đã khiến cho Tư lệnh Nguyễn Sơn cùng tất cả những người nghe rất thông cảm và kính trọng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười, 2008, 07:10:15 PM
  Trước giờ làm việc buổi chiều, tôi - Hữu Loan thấy Tư lệnh Nguyễn Sơn còn nô đùa thân mật với mấy em, mấy cháu nhỏ Thiếu sinh quân. Ông bế xốc em liên lạc lên, rồi chìa cái cằm "râu hùm" lởm chởm của mình cà lên má em làm cho em cười thét lên mới thả em ra. Mọi người đứng vây quanh cùng cười rất vui khi nghe Nguyễn Sơn giải thích:

  - Cái hôn cù nôn ấy là phạt cậu ta đi đưa thư về, ăn cơm không kịp rửa bát, chui vào màn ngủ lại còn gác chân lên bụng Tư lệnh trưởng, tới gần sáng đánh thức mới biết...

  Đến giờ làm việc, mọi người lại kéo vào đình. Tiếng của Tư lệnh Nguyễn Sơn oang oang lúc trầm, lúc bổng. Ông đi thẳng xuống giữa khối Thiếu sinh quân ngồi theo hàng. Ông quay sang phía bên phải, chỉ vào một cậu bé mặc áo chàm, có giây nịt gọn gàng.

  - Cháu đứng lên. Tư lệnh hỏi. Chú bé bật lên như lò xo.

  - Thưa Tư lệnh! Cháu phải làm gì ạ!

  - Tên cháu là gì? Cháu nói to lên cho mọi người cùng nghe.

  - Dạ! Tên cháu là Phùng Quán ạ!

  - Có phải Phùng Quán quê ở Huế có cậu là...? Nếu tôi không nhầm, ở giờ trước, sau khi tôi đọc thơ cháu đã hô "Sapaep muôn năm".

  - Dạ thưa Tư lệnh! Đúng cháu có hô lên như thế vì cháu rất ngưỡng mộ... Cháu xin nhận kỷ luật, nếu là sai phạm ạ!

  - Cháu ngồi xuống đi. Cháu không có lỗi. Tất cả những người chiến sĩ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, giải phóng cho nhân dân mình dù ở dân tộc Nga, Trung Hoa hay Việt Nam cũng đều có một nét chung rất đáng trân trọng... Nhưng dù là Sư trưởng Sapaep chống lại quân thù trong cuộc nội chiến ở nước Nga hay một tư lệnh, một nguyên soái nào, có ngưỡng vọng mấy đi nữa cũng không nên hô "muôn năm"! Rồi đây các em, các cháu phải thay lớp cha anh. Măng non sẽ thay tre già... Tre già cứ "muôn năm" thì măng non còn chỗ nào mà chui lên được? Các cháu phải học giỏi, luyện tài, tích đức thì "Con mới hơn cha. Mới có phúc nhà lộc nước". Chúng ta đều nhất trí như thế chứ!".

  Không ai bảo ai, cả hội trường náo nhiệt vang lên tiếng "Đồng ý, đồng ý". Tư lệnh Nguyễn Sơn lại vẫy tay cho mọi người ngồi yên lặng rồi bước lại bàn diễn giả với giọng sôi nổi:

  "Lịch sử đã chứng minh chỉ có bọn vua chúa, thực dân đã quen cưỡi lên đầu lên lưng người khác, dân tộc khác, mới bắt người ta hô "muôn năm", "vạn tuế". Nghĩa là chúng muốn mãi mãi vĩnh hằng, "Con sãi ở chùa cứ quét lá đa", để chúng "ngồi mát ăn bát vàng". Đã đến thời khắc mới, dân tộc Việt Nam ta cùng nhiều dân tộc khác đã và đang nổi can qua bão táp để quét sạch chúng đi. Chúng ta kháng chiến đánh đuổi giặc Nhật, giặc Pháp để giành độc lập tự do, người cày có ruộng, công nhân có nhà máy và trẻ thơ như các cháu, các em được đến trường học. Dân tộc ta sẽ phấn đấu để không còn bị bóc lột, bị bần cùng đói rách, bị miệt thị. Quan điểm đó của Đảng, của Bác Hồ là biện chứng duy vật. Nghĩa là Đảng ta về mặt triết học, thừa nhận mọi hiện tượng vật thể cùng các hình thái ý thức xã hội luôn vận động phát triển không hề có bất biến cố hữu. Ai cứ khư khư tự tôn mình là "muôn năm", "vạn tuế" là duy tâm siêu hình là "muốn nằm" là chết, là hết. Bác Hồ Chí Minh của chúng ta đã có dịp nhắc nhở các cán bộ cấp dưới rằng: Các chú đừng trương quá nhiều khẩu hiệu muôn năm về Bác, mà nên viết: Hoan hô Chính phủ Hồ Chí Minh chẳng hạn thì tránh được tôn sùng cá nhân mà đoàn kết rất rộng. Tổ quốc ta, nhân dân Việt Nam ta, mới là muôn năm, vạn tuế.  Chúng ta hãy làm mọi việc tốt cho quyền lợi chung trong đó có riêng mình là kháng chiến thành công, kiến quốc thắng lợi, cho nhân dân ta được độc lập tự do hạnh phúc, Tổ quốc ta được giàu mạnh phồn vinh. Đó cũng là quan điểm duy vật lịch sử của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ta phải vừa đánh giặc, vừa giác ngộ những vấn đề lý luận và thực tiễn như thế..."

  Buổi nói Truyện Kiều thật sự là cuộc tập huấn chính trị tư tưởng bổ ích chưa từng có, kéo dài quá chiều tà mới kết thúc.

  Tối hôm đó, tôi - Hữu Loan được ăn cơm với Tư lệnh Nguyễn Sơn. Tư lệnh Nguyễn Sơn giới thiệu cho biết về anh Võ Trí Sơn là con cụ Võ Liêm Sơn - một nhà trí thức yêu nước. Về anh Nguyễn Tiến Lãng là em vợ nhà thơ Tản Đà, trước khi làm thư ký riêng cho Nguyễn Sơn đã từng là Đổng lý văn phòng cho Nam Phương Hoàng hậu. Anh Lãng đang dành hết tâm huyết vừa dạy tiếng Pháp cho Thiếu sinh quân vừa dịch chủ nghĩa Mác từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Nguyễn Sơn lưu ý: Cũng như giáo sư Trương Tửu các anh đều là con nhà trâm anh thế phiệt, chưa biết gian khổ là gì, vậy mà đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến, chấp nhận mọi bề gian khổ thiếu thốn cùng bộ đội ta thì Vạn lý trường chinh của Việt Nam, nhất định thắng lợi, kháng chiến, kiến quốc của ta nhất định thành công...

  Đêm về, trời trở gió, Tướng Nguyễn Sơn bỏ chiếc tẩu thuốc lá đang cháy dở, khi ông ho lên những cơn đột ngột. Chị Vũ Thị Bích Hồng là y tá của Trường Thiếu sinh quân cùng một bác sĩ và anh Lê Thuyết đưa Tướng Nguyễn Sơn đi nằm nghỉ. Đêm đó, chị Hồng kể cho Hữu Loan nhiều chuyện về người bác, là anh họ mẹ mình - Tên khai sinh của ông là Vũ Nguyên Bác - Có nghĩa là "uyên bác". Trong Vạn lý trường chinh, ông đổi tên là Hồng Thuỷ, để thể hiện lòng chung thuỷ của mình với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thời kỳ vượt qua vùng đầm lầy ông đã bị thương rồi bị sưng phổi. Ba lần vượt qua các đỉnh núi tuyết, lạnh rét, ông vẫn tái lại những cơn ho. Về Việt Nam làm việc nhiều và căng thẳng, thỉnh thoảng bệnh phổi của ông lại tái phát. Kể về người bác của mình, chị Hồng nhiều lúc rơm rớm nước mắt. Đêm đó Tướng Nguyễn Sơn cũng không cho báo tin về để vợ ông là chị Hằng Huân biết.

  Cũng từ đấy ấn tượng về Tư lệnh Lưỡng Quốc tướng quân Nguyễn Sơn trong tâm trí tôi cứ như ngọn lửa mỗi ngày càng lung linh, càng ấm sáng. Những câu thơ về ông bắt đầu vang vọng trong hồn tôi:

  "Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ/ Mang giông tố đại dương/ Đi đến đâu không cho sóng ngủ/ Nguyễn Sơn là núi lửa/ mọc ở đâu gây những đám cháy vòng quanh..."

  Trước đây, cái chất kiêu hùng, lãng mạn của Tướng Nguyễn Sơn truyền vào trong những câu thơ của tôi bắt đầu qua những người lính, người chiến sĩ kiên cường ở Đèo Cả, Quách Xuân Kỳ, Yên Mô... Còn sau này tôi thấy phải viết về một vị tướng đầy chất huyền thoại bằng xương bằng thịt chứ không chỉ là chân dung ước lệ như hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đã vẽ...

  Cho đến ngày tôi nhận được tin đau buồn đột ngột - Báo Nhân Dân đăng cáo phó Tướng Nguyễn Sơn bị ung thư phổi qua đời ngày 21-10-1956. Cổ tôi nấc nghẹn, nước mắt cứ trào ra khi tôi viết tiếp những vần thơ về ông buổi đưa tang "người đi không tới huyệt" gây xúc động tiếc thương vô hạn cho quân đội và nhân dân hai nước Việt - Trung.

  Và người viết "Biệt tình thư" giờ ấy ở đâu? Đã anh dũng hy sinh hay còn sống? Nếu biết được tin này chắc cũng sẽ gào khóc hơn cả tôi đang khóc về ông! Nguyễn Sơn ơi! Ông có nghe...?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười, 2008, 07:13:06 PM
Nhờ tướng Nguyễn Sơn, tôi đã yêu thêm nghệ thuật tuồng chèo

G.S. Đinh Xuân Lâm



  Hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) Tướng Nguyễn Sơn được cử giữ chức Khu trưởng Liên khu IV, phụ trách công tác quân sự ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và phân khu Bình Trị Thiên. Quân khu bộ có thời kỳ đóng tải ra trên địa bàn mấy huyện miền tây Thanh Hoá, từ Thọ Xuân vào Nông Cống. Đặc biệt là mỗi khi chuyển địa điểm thì ngoài các đơn vị thông tin, hậu cần, y tế... còn có đoàn văn công gồm các nam nữ diễn viên, gánh gồng đủ thứ, nào phông màn, nhạc cụ, tới y phục, mũ mão...

  Một đêm trăng suông sau Tết, tại làng Thành Tín (xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân), tôi đang ngồi soạn bài bên ngọn đèn dầu nhỏ chuẩn bị cho buổi lên lớp sáng hôm sau (hồi đó tôi dạy học tại Trường Trung học tỉnh Thanh Hoá mới tản cư về địa phương) thì bỗng nghe vang lên tiếng trống chèo và tiếng hát nữ. Tôi vội ra khỏi nhà, lần theo tiếng trống trên con đường làng nhỏ hẹp hai bên rợp kín bóng tre. Rồi tôi đã tìm ra nơi phát đi tiếng trống. Đó là một sân gạch trước một ngôi nhà gạch lớn, nơi đoàn văn công Quân khu đóng. Và đêm hôm đó là buổi tập của đoàn. Khán giả là một số ông già bà lão trong xóm, đông nhất là các trẻ em. Tích diễn hôm đó là Xuý Vân giả dại.

  Lần đầu tiên tôi xem diễn tích đó. Hình ảnh một cô gái trẻ với vài bông hoa dại cắm trên tóc, chiếc áo lụa vàng, chiếc yếm đỏ..., tay vung vẩy nhánh cây nhỏ, vừa hát lên những lời ca mới nghe qua tưởng đâu là ngây dại nhưng ngẫm sâu mới thấm hết ý nghĩa, mới cảm hết tình người, hình ảnh đó đã gây một xúc động mạnh mẽ đến tôi ngay từ cái thuở ban đầu.

  Còn với tuồng, tôi cũng có một kỷ niệm sâu sắc. Và điều ngẫu nhiên là "cơ may" đó cũng đến với tôi thông qua Tướng Nguyễn Sơn.
Đêm diễn tuồng hôm đó là ngay sau lễ thụ phong Thiếu tướng của Khu trưởng Nguyễn Sơn. Địa điểm diễn ở nhà máy giấy Quần Kênh (Bàn Thạch, Thọ Xuân).

  Cũng lại một đêm trăng lạnh. Có rất đông quan khách của liên khu, tỉnh tới dự. Có lẽ đó là buổi diễn tuồng có quy mô lớn nhất trong những ngày đầu kháng chiến, sân khấu rộng và cao, người tới xem rất đông. Buổi diễn lại có tính chất học thuật, xen giữa các trích đoạn diễn lại có phần phân tích nết hay, vẻ đẹp của tuồng. Thu hoạch lớn nhất của tôi hôm đó là được nghe Bửu Tiến đứng trên sân khấu, hát hai câu:

Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phải vay

  Rồi anh giải thích đây là nói về nhân vật Tiết Cương trên con đường cứu nước, đứng trên núi cao nhìn ra biển rộng mà khẳng định ý chí của mình. Vì đứng trên núi cao nhìn ra biển nên có cảm giác các đợt sóng từ ngoài khơi đổ vào ngọn các cây tùng mọc dưới chân núi. Hình ảnh thật là hùng vĩ, mà cảm giác cũng rất thực.

  Sau này, có tìm hiểu lịch sử ngành tuồng, nhất là khi nghiên cứu phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, tôi mới biết rằng hai câu đó trích trong vở tuồng đồ Hộ sanh đàn của Đào Tấn viết về anh hùng Tiết Cương phò vua dẹp gian thần, nhưng còn có mục đích chống đại thần Nguyễn Thân trong triều Nguyễn. Đào Tấn đã mượn tích Tiết Nghĩa bắt Tiết Cương là anh em kết nghĩa nạp triều đình lấy thưởng để ám chỉ việc Nguyễn Thân bắt Nguyễn Duy Hiệu là lãnh tụ Cần Vương nạp cho Pháp.

  Lời giải thích của Bửu Tiến từ đêm xuân năm đó đã hé mở cho tôi cái đẹp, cái hay của nghệ thuật tuồng, về nội dung cũng như về hình thức.

Văn nghệ Quân đội tháng 6 - 1995


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:22:22 PM
Tiết mục hay nhất

Kiến Quốc

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson6.jpg)
Nguyễn Sơn (hàng đứng, thứ ba từ trái sang) khi tham gia Vạn lý trường chinh

  Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn - Hồng Thuỷ là một trong bốn chiến sĩ quốc tế hoàn thành trọn vẹn cuộc hành quân Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc (1934 - 1936). Thời kỳ ở Trung Quốc, là người nước ngoài nhưng ông dám lên lớp về văn hoá cách mạng; thậm chí còn dàn dựng cho bộ đội biểu diễn kinh kịch.

  Cuối năm 1945, ông trở về nước. Khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Khu IV ông nổi tiếng là "tướng yêu văn nghệ". Cứ mỗi lần Quân khu tổ chức "đại hội tập" (hội thao quân sự), về đêm các đơn vị phải tổ chức biểu diễn văn nghệ với các tiết mục tự biên tự diễn. Nhân dân tấp nập kéo về khu bộ đội đóng quân để xem văn nghệ. Lính ta không chỉ hát hò mà còn thích dàn dựng các vở kịch. Vì là kịch phải có lang, có lớp, phải thay cảnh, đổi phông; vì không chuyên nghiệp nên bộ đội ta dàn dựng mất nhiều thời gian. Ngồi phía dưới chờ quá lâu, Tư lệnh vén phông nhưng thấy chưa xong thì quay sang ban tổ chức: "Để tớ nói chuyện bù vào khoảng thời gian trống nhé!". Thế rồi ông diễn thuyết một hồi về trường kỳ kháng chiến, về đất nước Liên Xô, Trung Quốc... Được một lát, ông cúi xuống vén phông lên, thấy chưa xong: "Chưa xong à? Nói tiếp nhé!". Rồi chuyển sang nói về văn hoá, văn nghệ. Mà ông cứ "xuất khẩu" là thành văn, thành thơ.

  Đêm liên hoan văn nghệ kết thúc, quân dân rồng rắn trở về làng. Đồng chí Trưởng phòng tuyên truyền chính trị cục xuống Khu IV công tác, trên đường về cùng chị chủ nhà, hỏi thăm:

  - Hôm nay đi xem chị thấy có hay không?

  - Hay quá đi chứ bác!

  - Thế hay nhất tiết mục nào?

  - Tiết mục ông Sơn nói chuyện!.

Quân đội Nhân dân cuối tuần, 19-6-2005


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:28:06 PM
Về hai cuốn sách dịch của tướng Nguyễn Sơn

Trần Thu Hương*



  Sau một thời gian dài hoạt động cách mạng quốc tế ở Trung Quốc (1925 - 1945), Nguyễn Sơn - vị tướng nổi danh của Việt Nam và Trung Quốc đã trở về Tổ quốc, tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Tài năng quân sự của ông đã góp phần không nhỏ vào việc tiêu hao, tiêu diệt quân địch, làm chậm bước tiến của chúng ở chiến trường miền Nam Trung Bộ. Cũng trong thời gian này ông đã viết, dịch nhiều tác phẩm có tính chất như một cẩm nang quân sự cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó có các cuốn Dân quân, một lực lượng chiến lược; Chiến thuật và Chủ nghĩa Lê-nin đã được giới thiệu với công chúng xa gần.

  Ngoài các tác phẩm trên, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện còn lưu giữ được 2 quyển sách dịch của ông. Đó là cuốn "Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược" và cuốn "Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược", do Bộ tư lệnh Liên khu IV xuất bản, in tại Nhà in Quân sự Liên khu IV năm 1949.

  Cuốn "Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược" nguyên văn của tác giả Béc-tôn Phrai-xen (Berthold C.Friceld), in xong ngày 23 - 7 - 1949. Đây là bản in tipô trên khổ giấy 11 x 18,5 cm, dày 83 trang. Cuốn sách gồm 2 phần: Lý thuyết nền tảng và Tổng quan về chiến lược ở Liên Xô(1).

  Phần thứ nhất của cuốn sách gồm: Chương I: "Có nhiều thứ chiến tranh", từ trang 4 đến trang 16; Chương II: "Những bài học của Phê-đê-ric Ăng-ghen (Féderic Engels)", từ trang 17 đến trang 32.

  Ở chương I, tác giả trình bày những quan điểm của Clau-dơ-vit (Clausewictz), Mác, Lê-nin, Xta-lin và nhận thức Xô-viết nói chung về chiến tranh. Trong chương này có đoạn: "Lênin phân biệt được hai thứ chiến tranh: Chiến tranh cướp bóc là chiến tranh bất công và chiến tranh giải phóng là chiến tranh hợp lý. Những chiến tranh xâm lăng là bất công còn những chiến tranh để bảo vệ nền độc lập của quốc gia là rất chính đáng" và nhận xét của Mác về chiến tranh du kích: "Huy động quần chúng, chiến tranh cách mạng, hoạt động du kích, đó là những phương sách của một nước nhỏ phải dùng để thắng một nước lớn. Chỉ có như thế thì một đội quân tương đối yếu mới có thể chống lại những đòn của một đội quân mạnh hơn và chuẩn bị đầy đủ hơn". Cũng trong chương này, tác giả còn đưa ra nhiều nhận định, chẳng hạn: "Các nhà chính trị và lãnh đạo quân sự Xô-viết trong suốt một thế hệ đã chứng tỏ bằng những lời tuyên bố của họ rằng những đội quân xâm lăng với một mục đích cướp bóc và tàn nhẫn đối với các dân tộc khác đã biến những người lính của họ thành những tên côn đồ và những đội quân ấy đã tan rã, vì không có một tý đạo đức nào".

  Chương II của Phần thứ nhất bao gồm các bài học quân sự rút ra từ kinh nghiệm thực tế chiến tranh, từ sự phân tích, suy luận của Ăng-ghen thông qua các cuộc chiến tranh, hay từ những tư tưởng về quân sự của Na-pô-lê-ông, Crôm-oen (Cromwell), Đen-brách (Delbrach)... Ăng-ghen cho rằng: nguyên nhân của sự phát triển của nghệ thuật và khoa học quân sự là nhờ những yếu tố kinh tế và chính trị. Do đó, ông phản đối ý kiến của những nhà triết học quân sự duy tâm cho "tướng tài" là nguyên nhân của sự phát triển đó. Cũng theo ông, chiến công của một đạo quân không chỉ căn cứ vào trình độ huấn luyện mà còn phải căn cứ vào thành phần xã hội của nó.

  Phần thứ II của cuốn sách dày 48 trang (từ trang 34 đến 82), tác giả trình bày "Tổng quan về chiến lược ở Liên Xô" bao gồm 5 chương với các tựa đề sau:

  1. Lênin, nhà thống soái quân sự

  2. Chiến lược quân sự của Lênin hồi 1918 đến 1920

  3. Kinh nghiệm lịch sử

  4. Thế công và thế thủ: tính cách chuyển của chiến lược

  5. Lực lượng tinh thần, chiến tranh nhân dân.

  Nội dung của 5 chương này giới thiệu chân dung nhà quân sự lỗi lạc thế giới: Lênin, và khái quát lại những bài học lịch sử về quân sự của Clau-dơ-vit, Na-pô-lê-ông, Mác... mà người Nga tiếp nhận sau khi đã khảo sát, phê bình và chọn lọc theo sự chỉ đạo biện chứng duy vật Mácxít. Tư tưởng của Lênin là cố gắng xác định nội dung chiến tranh để tránh những sự phán đoán nông nổi. Tuy nhiên, theo ông có những chiến tranh như là một bước tiến, đã giúp cho sự tiến bộ của nhân loại mặc dù nó cũng đem đến sự khủng khiếp, tàn bạo và sự đau đớn.

  Cuốn "Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược", nguyên văn tiếng Hán của Mao Trạch Đông, khổ sách 12,5 x 18,5cm, cũng được in ti-pô năm 1949 trên loại giấy dùng để in báo. Sách dày 50 trang, gồm 4 chương:

  Chương I: Thái độ nghiên cứu chiến tranh;

  Chương II: Đảng Cộng sản Tàu và chiến tranh cách mạng Tàu;

  Chương III: Những đặc điểm của chiến tranh cách mạng Tàu;

  Chương IV: Vây tiễu và chống vây tiễu là hình thức cốt yếu trong chiến tranh cách mạng Tàu.

  Chương I của cuốn sách có tính chất như một bài học lý thuyết cơ bản về chiến tranh của Mao Trạch Đông. Tác giả cho rằng, quy luật của cuộc chiến tranh là luôn luôn phát triển - đó là một vấn đề mà những người chỉ đạo chiến tranh cách mạng phải nghiên cứu, phải giải quyết. Vì thế tác giả khẳng định: "Vấn đề chiến lược là môn học nghiên cứu quy luật của toàn quốc chiến tranh" và "Biết học hỏi là một vấn đề quan trọng".

  Với 16 trang sách của chương II và III, tác giả đã định nghĩa về vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc, liệt kê 4 đặc điểm cơ bản của cách mạng Trung Quốc như sau:

  1. Nước Tàu là một nước rộng, giàu có, nhưng là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế, chính trị phát triển không đều mà lại đã trải qua một cuộc cách mạng lớn hồi 1925 - 1927;

  2. Kẻ thù lớn mạnh;

  3. Hồng quân nhỏ yếu;

  4. Có Đảng Cộng sản lãnh đạo và đã thực hiện cách mạng ruộng đất.

  Từ sự phân tích, đánh giá các điều kiện chủ quan, khách quan đã nói ở trên, tác giả đưa ra một kết luận quan trọng: Vây tiễu và chống vây tiễu là hình thức cốt yếu trong chiến tranh cách mạng Tàu". Chương IV cuốn sách với nội dung có tính chất như là một kế sách chiến lược của Quân đội Trung Quốc trong sự nghiệp chiến tranh cách mạng dân tộc chống Nhật. Đó chính là: "giặc lấy tiến công đối phó phòng ngự của ta, ta lấy phòng ngự đối phó tiến công của giặc là giai đoạn thứ nhất. Giặc lấy phòng ngự đối phó tiến công của ta, ta lấy tiến công đối phó phòng ngự của giặc trong giai đoạn thứ hai. Đó là hình thức chiến đấu lắp đi lắp lại... Khi nào sức giặc sức ta đã có sự thay đổi đến tận gốc, nếu Hồng quân Xô viết đổi ra thành lớn mạnh hơn hẳn quân giặc, lúc đó chúng ta sẽ vây tiễu quân giặc mà giặc thì muốn phá vây tiễu nhưng điều kiện chính trị quân sự không cho phép giặc đứng vào vị trí phá vây tiễu như Hồng quân được. Khi đó nếu không kết thúc hẳn hết hình thức lặp đi lặp lại vây tiễu và phá vây tiễu, cũng có thể nói chung là kết thúc rồi đó".

  Hai quyển sách dịch của Tướng Nguyễn Sơn đều ra đời trong thời kỳ ông được Chính phủ cử giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV. Thời kỳ này Tướng Nguyễn Sơn có những đóng góp tích cực vào việc rèn luyện quân đội, bổ túc cán bộ quân sự, đào tạo các lớp cán bộ đầu tiên của Trường Lục quân. Vì thế, cùng với các tác phẩm về quân sự khác, hai cuốn sách dịch nói trên của Tướng Nguyễn Sơn là những tài liệu tham khảo hữu ích của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và sau này. Thông qua nó, chúng ta có thể hiểu thêm về khả năng lý luận quân sự cách mạng của ông.

  Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc hai tác phẩm dịch của Tướng Nguyễn Sơn như một nén hương kính dâng lên ông - nhà quân sự tài ba của cách mạng Việt Nam và Trung Quốc, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày mất của ông.

Tạp chí Lịch sử Quân sự, tháng 4-2001
----------------------------------
* Thạc sĩ, công tác tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (B.T).
1. Tất cả các chữ "Liên Xô" trong sách đều in là "Liên Sô".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:30:57 PM
Nhớ mãi bài giảng chuẩn bị
tổng phản công của tướng Nguyễn Sơn*

Đại tá Nguyễn Việt



  Sau vài lần hoãn đi hoãn lại, có lẽ chậm đến một vài tháng, chúng tôi mới bước vào học, mở đầu là một loạt bài giảng của một vài giáo viên người Nhật. Từ động tác đội ngũ đến nội dung chiến thuật, chiến dịch, về một số trận đánh lớn trên chiến trường ấn Độ, chiến trường Trung Quốc (như trận Bình Hình Quan.v.v...)

  Một hôm được Ban Giám hiệu thông báo sẽ có vài ngày Tướng Nguyễn Sơn mới ở Liên khu IV ra Việt Bắc công tác đến nói chuyện (không phải là giảng bài?) về trường kỳ kháng chiến, về tích cực cầm cự chuẩn bị Tổng phản công.

  Chúng tôi hào hứng náo nức chờ đón Tướng Nguyễn Sơn đến, phần vì muốn được nghe những vấn đề quân sự Việt Nam, phần vì ngưỡng mộ một tài danh, một vị tướng văn võ song toàn, có nhiều câu chuyện mang tính huyền thoại được nghe từ thời ở Liên khu III, với lòng cảm phục một vị tướng:

"Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo..."

  - Nào là một trong số ít thanh niên đầu tiên được Bác Hồ dìu dắt huấn luyện ở Quảng Châu những năm 1920. Tướng Sơn khi đó, nguyên tên là Vũ Nguyên Bác, được mang bí danh Lý Anh Tự cùng một số anh em khác như Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng... hình thành "một gia đình họ Lý" do Bác Hồ với bí danh Lý Thụy đứng đầu. Lý Anh Tự sau lớp học Quảng Châu, được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia Vạn Lý Trường Chinh, chỉ huy đến cấp quân đoàn của Giải phóng quân Trung Quốc, với bí danh là Hồng Thuỷ.

  - Nào là khi trở về nước 1945, được cử làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Trung Bộ, đã dám bỏ đất, không dàn quân mành mành ở Nam Trung Bộ, ở Tây Nguyên, giành nhiều thành tích trong xây dựng lực lượng và trong chiến đấu bảo vệ địa phương... Đã mạnh dạn tổ chức Trường lục quân Quảng Ngãi nổi tiếng một thời...

  - Nào là khi đảm nhiệm Tư lệnh Khu IV từ 1947, với tài hùng biện, đã có những bài giảng súc tích về trường kỳ kháng chiến, chiến tranh du kích, về cách đánh của Việt Nam và cả về đường lối văn hoá kháng chiến, về Truyện Kiều, về kịch Lôi Vũ v.v... với nhiều chi tiết hấp dẫn nhiều người, kể cả với Đặng Thai Mai, một học giả đã dịch Lôi Vũ...

  Chính Tướng Sơn đã khởi xướng và tích cực thực hiện việc mở "Đại Hội Tập" Liên khu IV (sau lan sang cả Liên khu III, Liên khu X...) đã trực tiếp dẫn đầu đơn vị tập chạy vũ trang đường dài. Đã mạnh dạn sử dụng và giúp đỡ nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ đi theo kháng chiến những ngày đầu chiến tranh nhiều gian khó và nhiều phân vân lưỡng lự...

  Chính Tướng Nguyễn Sơn đã tập hợp và cộng tác được với Hải Triều - Đặng Thai Mai - Nguyễn Phan Chánh - Nguyễn Tiến Lãng - Hồ Dzếnh - Lưu Trọng Lư - Thanh Tịnh - Bửu Tiến - Hữu Loan - Nguyễn Văn Thương - Nguyễn Văn Tý...Đã cùng nhau bước đầu xây dựng lý luận văn nghệ kháng chiến ở Liên khu IV, đã bảo vệ Tuồng chèo, bài hát trữ tình (mà khi đó cho là phong kiến, tiểu tư sản, uỷ mị...)
Ông giúp nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi lập lại Đội Tuồng chèo, giúp Quản Liên phục hồi đội kèn quân nhạc. Trong hồi ký của Trung tá Đinh Ngọc Liên sau này có viết: "Đời anh lính kèn của tôi có hai lần xúc động đặc biệt, vừa chỉ huy anh em trình tấu, vừa khóc: đó là khi làm lễ Tiễn biệt Thiếu tướng Nguyễn Sơn 1956 và khi làm Lễ Truy điệu Bác Hồ 1969..."

  - Nào là câu chuyện huyền thoại về việc phong Tướng. Ông có ý không muốn nhận quân hàm cấp Thiếu tướng. Bác Hồ nghe chuyện này, có cử đồng chí Phạm Ngọc Thạch nhân chuyến công tác vào Khu IV, chuyển một bức thiệp thư của Bác gửi Nguyễn Sơn.

  Bác Hồ viết bằng chữ Hán, tạm dịch tiếng Việt:

Tặng Sơn đệ
Đảm dục đại
Tâm dục tế
Trí dục viên
Hành dục phương

  Bức thiếp 12 chữ vàng đã khiến ông tướng tỉnh ngộ, thấy lẽ phải, đã thoải mái nhẹ nhàng nhận quân hàm Thiếu tướng do Bác Hồ ký ngày 20-1-1948 và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch chuyển giao trong lễ tấn phong tại Liên khu IV.

  Trước những câu chuyện thực và huyền thoại về Tướng Nguyễn Sơn, với lòng ngưỡng mộ chân thành của tuổi trẻ chúng tôi (khi đó tôi mới 24 tuổi), chờ đón bài giảng đầy hưng phấn.
------------------------------------------
* Rút trong tập san "50 năm khoá Bốn Trường Trung cao quân sự Soi Mít 1949 - 1999". Nguyễn Việt: Đại tá, nguyên Phó cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Bộ Tổng tham mưu. Hiện ở số 38, phố Lê Đại Hành, quận Hai Bà, Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:34:05 PM
  Thì đây rồi, Tướng Nguyễn Sơn đã xuất hiện, thong thả bước lên bục giảng. Anh trạc độ 40 tuổi, người tầm thước, tóc hơi xoăn, da ngăm ngăm đen, vầng trán hơi cao, nhiều nghị lực và thông minh, cặp mắt sáng, linh lợi, dáng vẻ từng trải...

  Đứng trước giảng đường, rất tự tin, Tướng Sơn chào hỏi anh em chúng tôi thân tình, vui vẻ, chào mừng chúng tôi từ các chiến trường Trung Nam Bắc đến học, từ các cương vị cán bộ chủ lực, địa phương đến tựu trường. Mở đầu ngắn gọn, anh đi ngay vào những vấn đề nóng bỏng cần trình bày trao đổi. Tướng Sơn nói hùng hồn, rất hấp dẫn, giọng to khoẻ, liên tục hút thuốc lá (có lẽ vì vậy mà sớm bị ung thư vòm họng) và cứ thế kéo dài 3 ngày liền, mỗi ngày 8 tiếng.

  Chúng tôi vốn là cán bộ trung, tiểu đoàn, đã ít nhiều có kinh nghiệm chỉ huy lãnh đạo đơn vị và cũng đã có một trình độ quân sự, chính trị nhất định, nên không phải ai nói gì cũng đã có thể thuyết phục được chúng tôi ngay. Nhưng với Tướng Nguyễn Sơn, có thể nói anh đã hoàn toàn chinh phục người nghe. Chúng tôi say mê ngồi nghe giảng, ghi chép tỉ mỉ từng ý, không hề mệt mỏi, buồn ngủ trong suốt 3 ngày căng thẳng. Và Tướng Sơn đã để lại dấu ấn không thể quên về những bài giảng quân sự, chính trị với những ý mạnh bạo, dám nghĩ, dám nói vào những năm tháng đầu của cuộc cách mạng.

  Trước hết Tướng Sơn nói về trường kỳ kháng chiến, về địch, ta, về tương quan lực lượng 2 bên. Địch mạnh, ta yếu. Nhưng ta có chính nghĩa, ta chiến đấu vì Độc lập dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân đều ra sức kháng chiến. Tướng Sơn nêu nhiều ví dụ sinh động ở Liên khu IV, từ cụ già đến em bé đều một lòng đánh giặc. Tinh thần đó là vô địch, sẽ tạo nên mọi sức mạnh vật chất. Nhưng phải có thời gian và phải biết chuẩn bị nhiều mặt. Chuyển sang bàn về cách đánh Việt Nam , anh định nghĩa chiến thuật - tri thức rất cơ bản đối với cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn (theo ý anh).

  Tướng Sơn đề cập đến tiến công, phòng ngự, đến tập kích, phục kích, đánh đồn. Anh hỏi: Hiện nay có Liên khu nào đã đánh công kiên thắng lợi? Anh bàn về nguyên tắc chiến thuật như: chủ động, tích cực tiến công, phòng ngự kiên cường vững chắc, nghệ thuật tạo sức mạnh, tập trung lực lượng đánh vào điểm yếu của địch, nghệ thuật cơ động lực lượng v.v...

  Anh liên hệ đến một số trận đánh ở Liên khu V, Liên khu IV và phân tích những ưu khuyết nhược điểm của số trận đó, v.v...

  Phần nói về dân quân, anh khẳng định dân quân là một lực lượng chiến lược. Anh nêu nhiều vấn đề cụ thể như:

  Thực hiện vườn không nhà trống.

  Chiến thuật phá hoại, đánh lẻ tẻ, đánh quấy rối.

  Chiến thuật địa lôi, bom mìn, đánh giao thông.

  Nguyên tắc xây dựng làng chiến đấu, đề xuất "Mỗi làng một pháo đài chiến đấu".

  Đề cập đến vấn đề trinh sát nhân dân, thông tin liên lạc hậu cần, vận chuyển nhân dân, v.v...

  Từ những phân tích trên, Tướng Sơn nói đến thắng lợi. Ta nhất định  thắng nhưng phải lâu dài, phải xuất phát từ thực tế địch ta.
Rồi anh chuyển sang câu chuyện chuẩn bị Tổng phản công.

  Anh hỏi ta lấy gì mà chuẩn bị Tổng phản công?

  Không thể chỉ lấy tinh thần. Phải có cơ sở vật chất nhất định. Phải chuẩn bị con người, chuẩn bị cán bộ, chuẩn bị quân số, chuẩn bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chuẩn bị nền tảng cơ sở xã hội, v.v.... Ta còn non yếu nhiều bề, anh liên hệ thực tế ở Liên khu IV, ở Liên khu III, ở Việt Bắc mà anh biết.

  Trong buổi lên lớp, tôi nhớ là Trung Quốc đã giải phóng, đã mừng quốc khánh lần đầu tiên 1-10-1949, nhưng anh không hề nói đến viện trợ của Trung Quốc. Anh hoàn toàn đề cập vấn đề tự lực cánh sinh của nhân dân ta.

  Anh kết luận ta nhất định thắng, nhưng còn lâu dài, còn phải dày công chuẩn bị mọi mặt, không thể ảo tưởng nghĩ đến Tổng phản công...

  Qua nghe giảng ba ngày, anh em chúng tôi bình luận sôi nổi. Nói chung đánh giá là một bài học hay, đề cập được nhiều nội dung thiết thực, gợi mở được nhiều vấn đề cần bàn luận, giáo viên rất tận tình, nói có lý lẽ, có sức thuyết phục cao.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:35:35 PM
  Điều đáng lưu ý là mặc dù Tướng Sơn đã chiến đấu hơn 20 năm ở Trung Quốc, đã quán triệt nhiều nội dung tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, của Giải phóng quân Trung Quốc, nhưng bài giảng của anh ở đây, tại Trường Trung cấp Quân sự Bộ Quốc Phòng 1949, tôi không nghe thấy những thuật ngữ "Tứ tổ nhất đội, nhất điểm lưỡng diện, tam tam chế, chiến thuật biển người, phương pháp phản tỉnh, đấu tố giai cấp, v.v..." và anh cũng không hề dẫn chứng những ví dụ chiến đấu ở chiến trường Trung Quốc mà anh đã lăn lộn qua nhiều năm. Chỉ thấy anh nói ví dụ về Việt Nam , về Liên khu V, Liên khu IV... không hề có tý "Tướng Tàu" nào cả.

  Tuy nhiên cũng có ý kiến cho là Tướng Sơn đã phát biểu vô nguyên tắc, dám nói sai nghị quyết Trung ương về chuẩn bị Tổng phản công..

  Nhưng cũng có ý kiến cho là anh đã dám nghĩ, dám nói về những nội dung cốt tử của chiến tranh với tầm nhìn chiến lược sắc sảo...
Và càng về sau, nhất là bước vào những năm 1951-1954, chiến tranh ngày một ác liệt, vùng địch chiếm mở rộng ở vùng Đồng bằng sông Hồng, mới thấy hết ý Tướng Nguyễn Sơn phát biểu là có giá trị thực tiễn. Chúng ta đã từng năm bằng nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn dân, mở những chiến dịch - chiến lược từ Chiến dịch Biên giới 1950 đến những chiến dịch tiếp theo ở chính diện cũng như ở vùng địch chiếm từ Nam ra Bắc trong những năm 1951 - 1952 - 1953 cho đến đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954, đi đến kết thúc chiến tranh chống Pháp xâm lược, giải phóng được nửa nước...

  Bài giảng của Tướng Nguyễn Sơn đã để lại trong anh em chúng tôi nhiều ấn tượng không thể quên.

  Chúng tôi tạm biệt anh sau vài ngày thụ giáo bổ ích. Rồi thời gian trôi qua, chúng tôi đi trên nhiều ngả đường kháng chiến, nghe tin Tướng Sơn đã trở về Trung Quốc được Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm Thiếu Tướng. Thế là, có lẽ lần đầu ở Việt Nam ta có một vị "Tướng quân Lưỡng quốc", được các vị lãnh đạo Trung Quốc rất quan tâm ưu ái, từ Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đến Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh... Rồi tin anh lâm bệnh nặng, có nguyện vọng trở về Cố quốc và ngày 21 - 10 - 1956 Tướng Nguyễn Sơn qua đời ở Hà Nội, hưởng thọ 49 tuổi đời ngắn ngủi.

  Khi đó tôi vinh dự được cùng đoàn cán bộ Bộ Tổng tham mưu đến viếng anh ở Câu lạc bộ Quân nhân đường Hoàng Diệu - Hà Nội, được nghe bài Điếu văn nhiều xúc động do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Anh đọc, được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Tướng Nguyễn Sơn, vị lão thành cách mạng nổi tiếng đã góp phần công sức không nhỏ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc những năm tháng đầu của kháng chiến và luôn ghi nhớ bài học quân sự nhiều dấu ấn do anh truyền đạt ở Soi Mít, khoá 4 khi ta chuẩn bị Tổng phản công - Trường Trung cao Quân sự Bộ Quốc phòng.

  Để kết thúc bài viết, xin được trích ghi một vài đoạn thơ của Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn 1956, mà tôi cho là tâm đắc với nhiều người:

"Nguyễn Sơn như con tầu biển khổng lồ
Mang giông tố đại dương đi đến đâu không cho sóng ngủ
Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu
Là gây những đám cháy
Vòng quanh....
...
"Một cuộc đời ngắn ngủi
Bao nhiêu là bất thường
Bất thường đến
Bất thường đi
Về bất thường
Chết lại càng không đúng lúc!
.....




"Và ngày 22 tháng 10 trên khắp nẻo đường Thủ đô
Một đám tang đã diễu hành
Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài
Nấc lên màu huyết
Một đám tang đi
Không bao giờ tới huyệt!

Tháng  7 năm 1990


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2008, 07:41:02 PM
Bài thơ của tướng Nguyễn Sơn

Nguyễn Văn Hồng



  Tướng Nguyễn Sơn có một bài thơ, một bài thơ mà theo chúng tôi là "rất Nguyễn Sơn", viết vào năm 1948 - 1949.

  Hồi đó chúng tôi mới 14 - 15 tuổi, học sinh lớp đệ nhất Đào Duy Từ (lớp 5, 6 bây giờ) tỉnh Thanh Hoá, Vũ Hồng Côn (đã mất) - con trai nhà văn Vũ Ngọc Phan và nữ thi sĩ Hằng Phương - học cùng lớp với chúng tôi , anh yêu thơ văn và cùng trong tổ báo tường của lớp. Chúng tôi thường chuyền tay nhau chép vào sổ nhỏ những bài thơ mà chúng tôi cho là hay. Một hôm, Hồng Côn đem đến cho tôi một bài thơ "bậc thang", một loại thơ mới, có tiết tấu nhịp điệu hành khúc mà tác giả là vị tướng chúng tôi ngưỡng mộ - Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Tôi chép và học thuộc ngay! Hơn 40 năm sau, bài thơ vẫn còn như một hành khúc vang vọng một thời trong ký ức tuổi thơ. Tôi muốn chép lại bài thơ này để cung cấp cho bạn đọc gần xa. Và, hy vọng trong số bạn bè, ai đó còn nhớ, hay còn giữ được bản ghi chép hiệu đính hộ, trả lại nguyên bản của một khúc tráng ca: TA RA ĐI của Nguyễn Sơn - Thơ của một vị tướng, có không ít những câu chuyện huyền thoại.
 


Ta ra đi

Ta ra đi
Không buồn!
Không giận!
Không yêu!
Không thương!
Không ghét!
Không chi hết!
Một cái bóng mờ
trong hư không.
Ta ra đi
mô đá
quoèo chân
Ô hay!
Đá đẫm máu ai
Sao dây đầy chân ta?!
Mặc!
đó là máu
những người chết trong tay giặc
Ghi tình họ vào núi sông
Đá muốn khắc vào da thịt ta
cho ta dễ nhớ
Ta ra đi
Cây rừng ngoắc vào manh hồn rách xé toạc nó ra!
Để ta tung nó lên làm cờ
Cờ của phong ba bão táp

*
*      *

Ta ra đi!
Không buồn!
Không yêu!
Không thương!
Không ghét
Không chi hết!
Một cái bóng mờ
trong hư không...

*
*      *

Ta ra đi
Chim rừng hót
Gọi về.

Báo QĐND, số 230, Thứ Bảy ngày 26-11-1994


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Mười, 2008, 06:55:23 PM
"Mối tình" quốc tế giữa tướng Nguyễn Sơn với đại tá Ernst Frey người Áo*

Nguyễn Văn Khoan



  E.Phrây (Ernest Frey) sinh năm 1915, tại Viên thủ đô nước Áo, người Do Thái. Học sinh trường Dòng, năm 1934, Phrây thi đỗ tú tài. Tham gia vào Đoàn Thanh niên cộng sản Áo, Phrây bị bắt giam và ngồi tù 15 ngày đêm. Năm 1938 trước nguy cơ "bài Do Thái" của Hitle, Phrây cùng nhiều gia đình Do Thái chạy sang Paris (Pháp). Phrây liên lạc với các bạn bè cùng chí hướng, dự hội "Ngày báo L'Humanité" của Đảng Cộng sản Pháp và trở thành đảng viên thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

  Để tránh rơi vào tay tên đao phủ Hitle, ngày 5-10-1938, Phrây tình nguyện tòng quân vào đội Lê dương Pháp với thời hạn 5 năm, số lính là 78502. Tháng 9 năm 1939, Pháp tuyên chiến với Đức, sau một số trận giao tranh hai bên đã tạm ngừng chiến. Theo lãnh đạo của Bộ Tây tham mưu Pháp, đơn vị của Phrây được chuyển sang Đông Dương và tháng 7 năm 1941 Phrây đã đặt chân lên Sài Gòn - hòn ngọc Viễn Đông của xứ Đông Dương thuộc Pháp, sau đó lại hành quân ra Hải Phòng và cuối cùng nhóm Lê dương trẻ gồm một số các bạn tâm đầu ý hợp khác, Phrây đóng quân tại Việt Trì. Là đảng viên cộng sản Pháp, Phrây thường theo dõi tin tức qua báo chí, đài phát thanh, hiểu rõ tình hình thế giới tình hình Pháp ở Đông Dương và không có được nhiều lắm về nội tình Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào cách mạng Việt Nam.

  Qua lời giới thiệu của Đảng Cộng sản Pháp, Phrây tìm bắt liên lạc với Caput, đại diện Đảng Xã hội Pháp tại Đông Dương, người đứng đầu nhóm "chống Pêtanh" - Tổng thống bù nhìn Pháp do phát xít Đức dựng lên. Caput đã giới thiệu Phrây với một liên lạc viên của Đảng Cộng sản Đông Dương biết tiếng Pháp tên là Túc. Sau đó Túc đã bố trí để Phrây gặp đồng chí Phong - Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Chi bộ Cộng sản của Phrây gồm có Boócse, Snôđơ... bị giam giữ ở Việt Trì. Ngày 1 tháng 5, nhóm này đã làm lễ ăn mừng ngày "Quốc tế lao động" và "Hitle sắp chết". Ít lâu sau đó, Phrây và các bạn đồng chí cộng sản Pháp đã gặp Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... và họ quyết định ở lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời.

  Trong kháng chiến chống Pháp, Phrây đã từng là đại tá, phái viên của Bộ Quốc phòng, đảm giữ biên soạn tài liệu, có công trong việc đẩy lùi một đơn vị quân Pháp tấn công vào An toàn khu. Năm 1947, là "Phó chỉ huy" của Tướng Nguyễn Sơn ở Liên khu IV, được Nguyễn Sơn tin cậy giao cho một tiểu đoàn, một đại liên Nhật với một chiến sĩ Việt Nam mới - hàng binh Nhật - trấn giữ đèo An Khê, ngăn bước chân quân Pháp tràn về Nam Trung Bộ. Phrây là người nước ngoài duy nhất tham dự chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc. Đại tá Phrây được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên là Dân - là nhân dân, sức mạnh vô địch, họ là Nguyễn - họ cùng với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Tại An toàn khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp thân mật với Đại tá Nguyễn Dân, đã nhờ đồng chí Trường
Chinh chuyển tới đồng chí Dân một bức thư, trước khi Phrây rời Việt Nam về Áo, vào cuối năm 1950 đến 1951.

  Qua đường Bắc Kinh, Phrây trở về quê hương - nước Áo - Không được phấn khởi lắm về những sự rắc rối chính trị. Tuy nhiên, ông, vợ ông và hai cô con gái vẫn giữ được những kỷ niệm tươi đẹp về Việt Nam, về những người Việt Nam: Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Giáp... và Nguyễn Sơn... Năm 1982, Nhà xuất bản Phaia (Fayard) Pháp cho ra mắt cuốn sách của tác giả Pier Xéc giăng (Pierre Sergent) với nhan đề: "Một ông Phrây kỳ lạ: đảng viên cộng sản, ông đã muốn nhấn chìm đội quân Lê dương, sang hàng ngũ Việt Minh, trở thành cố vấn của ông Giáp và bây giờ...?"

  Trang 127 - sách này Phrây kể: "Cuộc Vạn lý trường chinh năm 1937 diễn ra lúc tôi mới 22 tuổi. Tôi đã được nghe kể về những "huyền thoại" về những người cộng sản Trung Quốc, về Mao Trạch Đông. Hình ảnh về những chiến sỹ Hồng quân trường chinh gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi.

  Vậy mà, tháng 1 năm 1946, ở Phủ Chủ tịch Việt Nam, nơi tôi được mời, tôi rất ngỡ ngàng trước mắt tôi là một người tôi đã nghe nói đã lâu - đồng hành với Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai trong Cuộc Vạn lý trường chinh ấy, một anh hùng của Trường chinh - đó chính là Nguyễn Sơn". Nguyễn Sơn cho biết ông mới được bổ nhiệm chỉ huy Khu IV, và yêu cầu Phrây giúp đỡ ông.

  Và Phrây đã nhận lời. Phrây cho biết sau khi hứa với nhau báo Le Peuple (Nhân dân) do Schreder phụ trách và Đài tiếng nói Việt Nam về bài vở binh vận mà tôi sẽ gửi tiếp, tôi và Nguyễn Sơn lên xe ôtô đi Khu IV. Trước lúc khởi hành chúng tôi cùng làm việc với ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Tướng Giáp. Trên xe Nguyễn Sơn nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp - chứng tỏ một sự hiểu biết "bài bản".

  Các trang Phrây nhận xét:

  "Tư lệnh Khu IV, khác với Tư lệnh Khu I, III vì Nguyễn Sơn vừa là chỉ huy, vừa là chính uỷ, là "uỷ viên kinh tế" trong khu - đó là một sự được giao quyền rộng rãi, không giới hạn. Đó là một con người Việt Nam lạ lùng. Với một núm râu, gương mặt rắn rỏi, Nguyễn Sơn yêu cuộc sống, biết ăn ngon, dù đã qua đói khát, biết uống rượu và có những mối tình yêu đương kỳ thú... Nói và viết bằng tiếng Trung Quốc quá giỏi, nhưng đôi khi với tiếng Việt, Nguyễn Sơn ngập ngừng vì có lẽ đã 15 năm, lần này mới có dịp sử dụng lại lần đầu tiếng mẹ đẻ".
Phrây và Nguyễn Sơn sớm trở thành bạn tri âm, vì cùng chí hướng, cùng một phong cách là chân thành, thẳng thắn, không nịnh bợ, yêu cuộc đời và dám hy sinh cuộc đời với ý thức trách nhiệm đầy đủ của một người cộng sản - dù là Việt - Áo - Pháp, hay Trung Quốc. Họ cùng ăn, cùng ngủ, xưng hô "tớ, cậu", nằm dài bên cạnh bản đồ tác chiến sau một hồi tranh cãi, hay mệt nhoài trên chiếc xe con, lúc lắc vượt qua những chiếc "ổ gà", "ổ trâu", đường bị đào xới "chữ I chữ Tờ" khi quan sát thực địa... Nguyễn Sơn và Phrây "ăn ý" với nhau trên nhiều lĩnh vực, về chiến lược, về phòng thủ, tổng phản công, về xây dựng quân đội Việt Nam, về đối tượng tác chiến là quân Pháp... có những điểm trong tình hình bấy giờ chưa được đa số tán đồng.

  Phrây kể lại những buổi nói chuyện về quân sự, về văn nghệ của Nguyễn Sơn thỉnh thoảng "pha trộn" các chuyện vui, khiến cử toạ cười vang, về tính cách nghiêm túc nhưng "hài hước" của vị tướng này.

  Cuối năm 1950, Nguyễn Sơn sang Trung Quốc "chữa bệnh", Nguyễn Dân được trở về Áo. Ngày 25-8-1950, qua Tổng Bí thư Trường Chinh, Hồ Chủ tịch đã gửi một bức thư viết tay đến "Đồng chí Nguyễn Dân thân mến" "rất tiếc không được xiết chặt tay đồng chí trước lúc lên đường" "chúc đồng chí dù ở đây hay ở đâu tôi tin rằng đồng chí sẽ làm tất cả cho mục đích chung của chúng ta"...

  Tháng 4 năm 1951, sau khi đến Bắc Kinh làm thủ tục hộ chiếu, Nguyễn Dân đã viết một thư gửi Nguyễn Sơn - dù không biết cụ thể Nguyễn Sơn làm gì, ở đâu tại Bắc Kinh, nhờ qua cơ quan ngoại giao Trung Quốc chuyển.

  Và sau đó, Phrây nhận được thư của Nguyễn Sơn viết vào lúc 21 giờ ngày 10-4-1951: "Dân thân mến, rất phấn khởi! Mình không thể đến bắt chặt tay cậu một lần nữa, vì có lẽ đã xa nhau quá lâu rồi. Mình bị ốm cách đây mấy ngày vì cái dạ dày, cũng không ghê gớm lắm nên không tới gặp cậu được. Thông cảm nhé.

  Thư của cậu về công tác, và thư của Thọ đã được gửi đến Ban tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản (Trung Quốc). Họ sẽ có trách nhiệm lấy xe để cậu đi. Tất nhiên, lại một phen ồn ào! Cán bộ ở Ban tổ chức đang bận họp. Mình cũng chẳng "tóm" được một ông nào vào hôm nay.

  Một lần nữa, thật là có lỗi với cậu, không đến được với cậu.

  Tạm biệt thôi đấy!

  Hẹn sẽ gặp lại!

  Không phải vĩnh biệt đâu!

  Sơn của cậu!".
-------------------------------------
* Theo sách của P.Sergent: "Một ông Phrây kỳ lạ...", Đầu đề do tác giả đặt.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Mười, 2008, 07:05:37 PM
Nhớ người lính già ở phương xa

Hoàng Đình Luyện



  Thu đông 1947, xế chiều hôm ấy trên đồi Xuân Tiên, cụ Hồ Tùng Mậu nói với tôi: "Trên có ý sẽ đưa đi học nhưng "nhà ông" thì cứ đòi về đánh giặc, đêm đêm cứ nằm khóc hoài! Mấy lâu, chưa giải quyết được cho "nhà ông" thoả nguyện, nay đưa sang với một ông Tướng! Cụ dừng lại, giả làm bộ trương mắt, phồng mang, há miệng doạ trẻ - rồi nói tiếp: "Mình là "quan văn" hiền lành còn ông Tướng thì - lẫm liệt oai phong lắm! Qua đó, "nhà ông" gắng học tập luyện rèn cho giỏi, lương phạm đã có bộ đội lo đủ, nhưng mình cũng vừa lĩnh phụ cấp, "nhà ông" giữ lấy ít tiền phòng thân, lúc cần thì dùng". Cụ rút trong túi áo một xấp giấy bạc Tài chính đếm được 32 đồng và bỏ cả vào túi áo ngực tôi.

  Xẩm tối, ngồi trên lưng một con ngựa to cùng đoàn ngựa thồ, tôi theo anh Tín - người Thổ về Liên khu bộ. Mấy giờ sau, chúng tôi đã đến địa điểm. Khi đã giao nhận đoàn ngựa thồ xong, anh Tín dẫn tôi vào giữa sân một ngôi nhà ngói to có đèn sáng. Anh bước lên thềm, đứng nghiêm đợi. Lát sau, khi lắng nghe giọng nói to như lệnh vừa dứt, anh Tín vội vàng đưa tay lên vành mũ ca lô chào và báo cáo. Không thấy được người nhận báo cáo đứng hay ngồi, hình dáng gầy béo ra sao, nhưng qua bộ dạng anh Tín to cao mà phải đứng nghiêm cứng người hồi lâu như vậy, tôi càng tin lời cụ Mậu đã "tả" không sai về ông Tướng!

  - "Cuối cùng xin báo cáo, hôm nay cụ Mậu có gửi qua một cháu nhỏ ở Quảng Bình ra".

  - À, cái quân chạy trốn giặc đấy mà! Nó đâu? Xách vào đây!

  Oan ức không chịu nổi! Tôi đứng chôn chân giữa sân. Anh Tín cố nén cười, vừa dắt tay vừa dỗ tôi vào nhà. Lại một tràng cười váng lên:

  - A ha ha! Thì ra một tên thầy bói! Tên này giỏi, đã trốn giặc đào tẩu thoát thân, mà "còn thó" được một số liễn đối tơ lụa của cường hào tổng lý, tề ngụy nào đó nữa... hả?! Phòng túng đói thì bán ăn đường phải không?

  Lại cười vang!

  Tôi như cột trời trồng hai hàng nước mắt ứa ra chảy tràn xuống má.

  - A! Lại còn khóc nữa kia! Bắt được quả tang, còn oan ức nỗi gì?

  Cứ thế, tiếp tiếp những đòn cấp tập giáng xuống đầu một tên bỏ mặt trận, bỏ đội ngũ, bỏ dân... chạy trốn!

  - Không sợ giặc thì chạy ra đây làm gì?

  - Không, cháu không muốn ra đây.

  - Ai đưa ra?

  - Đồng chí Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Công an Trung bộ kiêm phân khu trưởng Bình Trị Thiên.

  - Được lắm, sao nữa?

  - Dạ, cháu xin trở về mãi mà không cho! Cháu không bỏ mặt trận, cháu không chạy trốn!

  Và không thể kìm nén được nữa, tôi khóc trong tư thế đứng nghiêm.

  - Nhưng đòi về làm gì?

  - Dạ - để đánh giặc!
"Để đánh giặc", "để - đánh giặc", ông Tướng cố nhái giọng "để đánh giặc" của tôi - rồi bất thần, ông cười to sảng khoái và bước vội ra thềm bế xốc tôi lên: "Giỏi! Khá lắm! Nhưng còn nhẹ cân quá! Hãy vào đây đã!"

  Đến lúc đó, tôi mới chú ý đến những anh chị bộ đội công tác trong văn phòng của ông Tướng đang lấp ló đứng quanh. Ông Tướng cười vui nói to: "Nào, ta sinh hoạt "câu lạc bộ quân nhân" ba mươi phút! Đến cả đây, nghe chú bé Quảng Bình kể chuyện Bình Trị Thiên đánh giặc!".

  Ông Tướng hỏi tiếp về quê hương làng xóm, bộ đội, tội ác của giặc. Tôi trả lời từng chuyện và tôi rất không ngờ là ông Tướng đã nắm rõ nhiều việc của tôi từ trước khởi nghĩa cũng như chuyện chiến đấu vừa đây. Tôi bỗng nhớ cụ Mậu quá, tôi đoán là cụ Mậu đã kể chuyện tôi với ông Tướng. Khi tôi kể về những "liễn đối thầy bói" là của đồng bào cho tôi để băng bó vết thương và gói áo quần - thì ông Tướng không còn cười nữa, ông trầm ngâm xúc động. Ông Tướng giở bọc quân trang của tôi và hỏi "cái quần mới chưa mặc mà sao thủng nham nhở cả thế này?". Tôi nói rõ, vì phải dùng làm bao đựng vỏ đạn và đạn súng trường thối không nổ đưa ra cho công binh xưởng làm lại, và phải đi mất hàng chục ngày đường rừng, vượt Tây phục kích chặn đường, nên các đầu đạn thối cứ đâm thủng quần dần dà mà không biết!
Tôi lại ứa nước mắt. Ông Tướng lại hỏi ai phát cho chiếc quần? Tôi kể mẹ chết sớm, cha tôi may cho trước khi lên đường và cha cũng đang là bộ đội cùng một tiểu đoàn.

  Cuối buổi tiếp xúc đáng nhớ ấy, ông Tướng bảo anh Tín:

  - "Cho mình một con gà thật to, được không đồng chí? Chúng ta phải chiêu đãi chú bé một nồi cháo gà thật ngon mới được chứ hả?". Và ông nhanh tay luồn vào bụng tôi, vừa xoa xoa vừa âu yếm.

  - Ăn hết một nồi không? Bụng lép kẹp thế này thì đánh chác làm sao mà cứ đòi về đánh giặc!".

  Và ông Tướng cười vang, ôm trọn tôi vào lòng.

  Những ngày ăn ở với ông, tôi được chỉ bảo cặn kẽ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng. Sáng ra sông tắm, ông bảo tôi nhìn thẳng mặt trời mới lên để luyện mắt! Tối lên giường ngủ, ông hướng dẫn "nằm thẳng" hai chân đúng tác phong quân nhân, bởi tôi đã nhiều lần bị ông "bắt quả tang" nằm lộn ngược đầu với ông lúc nửa đêm về sáng! Mỗi lần như vậy, ông nắm chặt cổ chân tôi, giọng nửa nghiêm nửa đùa "Phạm thượng đến thế là cùng! Dám gác chân lên đầu lên cổ Tướng". Báo động đêm đêm và hành quân liên tục suốt tháng. Rồi một buổi sáng kia ông gọi tôi đến bên cửa sổ, chỉ tay cho tôi chú ý đến "mấy tốp thiếu niên đội mũ ca lô bộ đội" đang đánh răng rửa mặt bên bờ nông giang và bảo: "-Về cùng các bạn nhỏ đó mà tiếp tục học hành thêm đã! Cậu tưởng đánh giặc dễ à? Phải có trình độ tú tài!".

  Mấy hôm sau, từ "Văn phòng bác Sơn" tôi lại theo anh Tín về Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV đang trong những ngày mới hình thành đầu xuân 1948. Lại vẫn tiếp tục hành quân đêm cùng với cả Liên khu bộ nhưng bây giờ nằm trong phiên chế đội ngũ của "Đoàn quân xanh" qua khắp nẻo làng quê Thanh Hoá. Ban ngày thì học tập "bàn kê cánh cửa, ăn ở nhà dân". Thầy cô đều mặc áo lính, giảng dạy đủ môn văn, sử, địa, toán, lý, hoá, sinh, nhạc, hoạ, thể dục thể thao, tiếng Pháp, tiếng Anh và các bài quân sự đội hình, lễ tiết quân nhân. Đồng đội càng ngày càng đông, là liên lạc, trinh sát, là con em cán bộ từ nhiều đơn vị khắp liên khu điều về. Tháng 6-1949, nhờ đạt thành tích học tập tốt, tôi được vinh dự đi theo cán bộ của trường để đón tiếp anh em ở phân khu Bình Trị Thiên ra, trong đó gần mấy chục bạn thuộc Trung đội Quảng Bình. Anh em càng chan hoà nồng thắm. Giọng nói đủ miền quê. Từ Việt Bắc, Yên Bái, Khu V, Bình Trị Thiên, Thanh Nghệ Tĩnh. Trò chơi lớn, đánh trận giả, bóng đá, bóng chuyền, bơi lội, ca hát diễn kịch... tuần tuần sôi động. Chúng tôi cùng lớn lên từng ngày trong sự thương yêu đùm bọc của xóm thôn, của Hội mẹ chiến sĩ, của từng mẹ nuôi, chị nuôi, của từng cơ quan đoàn thể khu, tỉnh, huyện, xã... Giữa năm thứ 3, tạm biệt xứ Thanh, hành quân qua đất Nghệ An, chúng tôi vào đóng quân vùng Hương Sơn Hà Tĩnh. Nhiều bạn đã lại lên đường chiến đấu, hoặc trở về đơn vị cũ hoặc theo học tiếp ở các trường quân sự trong nước và nước ngoài. Thời gian sau, đủ tuổi quy định, tôi cũng được qua Trường Quân chính Liên khu IV theo học lớp sĩ quan, và nhờ địa bàn đóng quân không xa mấy với trường nên tôi vẫn thường có dịp đi về thăm hỏi bạn bè đồng đội cũ. Cho mãi đến thu đông 1952 từ chiến trường Bình Trị Thiên ra, tôi ghé thăm trại Thiếu Sinh Quảng Trị ở Yên Hồ và thật bất ngờ gặp lại "Trung đội cuối cùng" của Trường thiếu sinh quân Liên khu IV (sau khi đã giải thể cuối hè 1952), hiện đang về đây nương nhờ ăn ở và tiếp tục "học nhờ" ở trường cấp 2 Nguyễn Biểu.

  Giờ đây nhớ lại... từ những ngày đầu mới thành hình ở Bồ Há - Thanh Hoá (1948) đến "Trung đội cuối cùng" ở Yên Hồ - Hà Tĩnh (1952) mà tôi có may mắn được "nhỡn tiền" trọn vẹn ở cả 5 năm hoạt động của Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV với biết bao kỷ niệm tốt đẹp khó quên! Nói đúng hơn, đâu phải chỉ là 5 năm, mà đã gần 50 năm, Trường thiếu sinh quân Liên khu IV đã và vẫn hãy đang tồn tại trong từng ngày cống hiến hết sức mình cho quê hương đất nước của anh em chúng ta - của từng người từng được mang tên TSQLK4 - gần như đủ mặt khắp các mặt trận chiến đấu, sản xuất, xây dựng - ở mọi miền Tổ quốc và nói riêng ở Quảng Bình. Chúng ta đã thực hiện tốt lời thề tâm huyết trong câu ca "theo kịp đàn anh đi kháng chiến" qua hai cuộc chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và hôm nay, đang "nắm tay mà xây lại cuộc đời" tích cực góp phần hữu hiệu vào sự nghiệp đổi mới đất nước quê hương. Tôi vẫn trân trọng giữ gìn những tấm ảnh quý giá dù đã ố vàng qua thời gian ("Cụ Hồ Tùng Mậu ngồi giữa, TSQLK4 vây quanh tại sân tổng đội ở Lưỡng Định", "Chính uỷ Trần Văn Quang, ngồi trên tường thành đình Cổ Định với các em Bình Trị Thiên là TSQLK4" và nhiều ảnh khác của các anh chị phụ trách cùng đồng đội...)

  Ngẫm lại, tôi càng thấm thía sự quan tâm của Đảng ta, quân đội ta trong việc đào tạo hạt giống đỏ kế thừa sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, thể hiện cụ thể với việc thành lập và duy trì 5 năm hoạt động đầy khó khăn nhưng cũng lắm tự hào của Trường TSQLK4 và với riêng tôi, câu nói: "Cậu tưởng đánh giặc dễ à? Phải có trình độ tú tài!" của ông Tướng - cha đẻ của Trường TSQLK4 vẫn vang vọng mãi trong lòng từ ấy đến nay. Càng không thể nào quên được dòng chữ chính tay bác Sơn đề tặng các em TSQLK4 đằng sau tấm ảnh đặc biệt trước lúc đi công tác cách xa Tổ quốc ngàn vạn dặm" - Để các em luôn nhớ người lính già ở phương xa".

Báo Quảng Bình
Ngày 14-4-1995


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Mười, 2008, 07:19:37 PM
Có một Tổng biên tập... tướng Nguyễn Sơn

Ngô Vĩnh Bình



  Tướng Nguyễn Sơn không chỉ là một trong mười vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là một vị tướng nhân dân, "tướng huyền thoại", "tướng văn nghệ", "tướng lưỡng quốc"... Tất cả vẫn chưa đủ, ông còn là một ký giả quốc tế, một vị tướng Tổng biên tập đặc biệt.

  Nguyễn Sơn tên khai sinh là Vũ Nguyên Bác, sinh ngày 1-10-1908 tại Hà Nội, quê gốc làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm (ngoại ô Hà Nội) trong một gia đình khá giả và yêu nước. Mới 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường dòng ở Hà Nội. Mười bốn tuổi thi đậu vào Trường Sư phạm Đông Dương. Lúc ấy cả xứ Đông Dương (bao gồm ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia) chỉ có một trường sư phạm này. Năm 1923, tranh thủ dịp nghỉ hè, ông sang Pháp khảo sát. ở đó, ông đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiếp xúc với những tư tưởng của Người. Khi ấy ông mới 15 tuổi. Về nước được ít lâu, ông theo người liên lạc của Bác Hồ trèo đèo lội suối đến Quảng Châu - trung tâm cách mạng Trung Quốc, bắt đầu cuộc đời cách mạng và đổi tên là Hồng Tú, theo âm Quảng Đông, Hồng Tú trùng với Hồng Thuỷ. Tháng 3 năm 1926, ông được Hồ Chí Minh cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố khoá IV và tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia khởi nghĩa vũ trang Quảng Châu. Sau đó, gia nhập Hồng quân Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ: chính trị viên đại đội, chính uỷ trung đoàn, chủ nhiệm chính trị sư đoàn... Ông đã từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh, ba lần "bò núi tuyết", "vượt thảo nguyên" và "đơn thương độc mã" lặn lội tới Diên An (cuộc trường chinh dài 12.500 km). Do lặn lội hàng chục năm ở hầu hết các miền trên đất Trung Quốc rộng lớn, gắn bó với quần chúng lại có bản tính thông minh, tài hùng biện nên Nguyễn Sơn không chỉ thông tỏ phong tục tập quán Trung Quốc mà còn viết chữ Trung Quốc rất đẹp, lại có thể diễn thuyết, giảng dạy bằng ngữ điệu phổ thông.

  Vì cái gì cũng giống như người Trung Quốc, nên Nguyễn Sơn không chỉ được giao chỉ huy chiến đấu mà còn được lãnh đạo Đảng, Quân đội Trung Quốc giao cho nhiều công tác khác, trong đó có công tác báo chí.

  Tháng 3 năm 1938, ông được giao làm Tổng biên tập báo Kháng địch, cơ quan ngôn luận của Cục chính trị Quân khu Tấn-Sát-Ký đóng trụ sở tại "Thủ đô đỏ", huyện Phụ Bình (tỉnh Hà Bắc). Bà Trần Kiếm Qua, vợ thứ 2, người Trung Quốc của ông viết trong hồi ký:

  "Làm báo trong hoàn cảnh chiến tranh thật vô cùng vất vả. Lúc đầu báo Kháng địch phải dùng đá li tô để viết chữ ngược, in một mặt bằng giấy dó, mỗi tờ chỉ có hai trang. Mỗi kỳ chỉ xuất bản 1.500 số, do cơ quan chính trị quân khu phát hành qua quân bưu, các chi ủy địa phương và được phát miễn phí".

  Hồng Thuỷ (Nguyễn Sơn) về phụ trách báo trong lúc máy bay Nhật đang ném bom huyện lỵ Phụ Bình. Bom Nhật làm tung cả toà soạn, đá in li tô bị phá huỷ. Nhân viên toà soạn phải theo cơ quan lãnh đạo quân chính quân khu di chuyển về chân Ngũ Đài Sơn, ở cùng với Chủ nhiệm chính trị Quân khu...

  Dưới sự lãnh đạo của Hồng Thuỷ, toàn thể nhân viên toà báo đã khôi phục được cơ sở vật chất, làm việc ngày đêm, nhanh chóng ra tiếp các số báo phục vụ quân và dân biên khu. Tư lệnh Quân khu, Tướng Nhiếp Vĩnh Trăn rất hài lòng về báo Kháng địch và Tổng biên tập Hồng Thuỷ, nhất là khi tờ báo được cải tiến cả về nội dung, hình thức, được trang bị máy in tipô và có cung cách phát hành mới. Một thời gian sau, trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, báo Kháng địch được đổi tên thành Nhật báo Tân-Sát-Ký, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng uỷ biên khu.

  Sau khi Nguyễn Sơn rời báo Kháng địch đi nhận công tác mới, ông vẫn tiếp tục viết nhiều bài cho các báo, tập san xuất bản ở chiến khu như Tiền tuyến, Nhật báo Tân-Sát-Ký, Kháng địch nguyệt san và viết kịch, làm thơ cho bộ đội diễn, bộ đội đọc.

  Mười sáu năm sau, kể từ khi làm Tổng biên tập tờ Kháng địch, trong lần trở lại Trung Quốc lần thứ ba, khi tốt nghiệp Học viện Quân sự cao cấp Trung Quốc, Nguyễn Sơn lại được Nguyên soái Diệp Kiếm Anh xin về bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa và bổ nhiệm chức vụ Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí Huấn luyện chiến đấu. Trong một cuộc đến thăm toà soạn tạp chí, Tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, Nguyên soái Chu Đức đã động viên Nguyễn Sơn: "Tiểu Hồng ạ, công tác của chú rất trọng yếu. Tạp chí Huấn luyện chiến đấu là của toàn quân, phát hành đến đại đội. Đối với công tác chiến đấu của bộ đội, tạp chí phải là tờ báo, vừa có tính chiến lược vừa cụ thể. Nhất định phải làm cho thật tốt". Sau đó, Nguyên soái tự tay viết bốn chữ lớn Huấn luyện chiến đấu, lên cuốn bìa tạp chí và mấy chữ này sau trở thành chữ măng sét của tạp chí.

  Có thể nói Tướng Nguyễn Sơn là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất được hai lần giữ chức Tổng biên tập các tờ báo lớn của nước ngoài. Lần thứ nhất làm Tổng biên tập tờ Kháng địch ông mới 30 tuổi, lần thứ hai làm Tổng biên tập Tạp chí Huấn luyện chiến đấu ông mới chỉ ở tuổi 46.

Hà Nội, xuân 2002
Sự kiện và Nhân chứng, số 98 tháng 2

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson7.jpg)
Tướng Nguyễn Sơn (hàng thứ nhất, thứ hai từ trái sang) ở Tạp chí Huấn luyện chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Mười, 2008, 06:38:21 PM
Kỷ niệm sâu sắc


Tân Sắc

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson8.jpg)
Nguyễn Sơn - Nguyên Tư lệnh Quân khu IV - người sáng lập Trường Thiếu sinh quân.


  Tướng Nguyễn Sơn - không chỉ là người sáng lập Trường Thiếu sinh quân mà còn là người luôn đi sâu vào các lĩnh vực tổ chức, giáo dục rèn luyện học sinh. Ông yêu cầu mỗi giáo viên, học sinh phải thực sự áp dụng phương pháp "khởi phát". Nghĩa là khi học, trò không thụ động ngồi nghe, gợi cho họ tham gia vào bài giảng, gợi trí tò mò khoa học. Nhiều học sinh còn nhớ mãi lúc đang nói chuyện vị tướng dừng lại hỏi: "Hai và ba, con số nào to hơn?" Học sinh đồng thanh: "Ba to hơn!". Ông hỏi tiếp: "Vậy hai khẩu đại bác với hai khẩu súng trường, cái nào to hơn". Tất nhiên học trò không thể trả lời như trước nữa. Vị tướng ồ lên: "Đó, trong thực tế không phải khi nào ba cũng lớn hơn". Các buổi nói chuyện về triết học, về nhân sinh quan cách mạng, về chủ nghĩa Mác - Lênin, về quan điểm giáo dục mới, về văn học nghệ thuật và chiến tranh nhân dân, vị tướng cũng thường có những câu hỏi đột ngột, hoặc nói không hết lời, gợi ý cho người nghe phải động não, nghĩ suy.

  Ông cùng đi trong đội hình hành quân của Thiếu sinh quân và để tỏ niềm thương yêu đến từng học sinh. Ông chọn lúc mọi người vượt cầu nông giang để đứng lại đó, cứ mỗi học sinh đi qua đều được ông ôm hôn và cọ râu vào má. Và râu của vị tướng đã đi vào bài hát "Râu bác Sơn cọ vào má rát ghê... còn gì được bác hôn nhiều. Ôi! râu nhiều sợ ghê". Bài hát đến tai ông và ông đón nó như một niềm vui.

Báo Nghệ An
Thứ Bảy, ngày 27-12-1997, số 20-38


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Mười, 2008, 06:41:41 PM
Tướng Nguyễn Sơn
với những ngày đầu trung bộ kháng chiến

Nguyễn Việt Phương



  Chiến dịch mở ra gần một tháng quân Pháp mới nhận đủ viện binh của chính quốc, tướng Lơ-cléc vội mở ngay chiến tranh ra Trung Bộ: 19-10-1945 đổ quân lên Nha Trang, 20-10 đánh Diên Khánh, Ninh Hoà, 22-10 tiến công Buôn Ma Thuột... Họ ảo tưởng một cuộc hành binh dễ ợt - trong sổ tay viên trung uý Hen-ri hẹn 30-10 tắm biển Quy Nhơn - không dè tất cả các mũi đều vấp phải thế trận đối đầu quyết liệt. ở khắp nơi đều bị bám sát, chặn đánh không sao phát triển được, tướng Lơ-cléc vội vã đổ quân xuống đất Campuchia chọc thủng tuyến ba ranh giới, đồng thời đưa đạo quân Nam Bộ tiến ra đường 14 đánh thốc vào Buôn Ma Thuột, mở "gọng kìm" khổng lồ bóp vụn các đội quân đề kháng.

  Về phía ta, các chi đội Vệ quốc đoàn Nam Tiến đã vào tới Quảng Ngãi, ông Nguyễn Sơn - Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Trung Bộ chỉ thị cấp tốc hành quân lên các mặt trận, phối hợp lực lượng võ trang tại chỗ chặt đứt giao thông, vây hãm quân địch. Các chi đội Nam Long, Thu Sơn, Vi Dân, Bắc Bắc kịp triển khai mở nhiều trận táo bạo đánh căn cứ quân sự, sân bay, quân cảng địch. Chi đội Độc Lập 1 tiến lên Tây Nguyên tổ chức phòng ngự sẵn sàng diệt quân Pháp thọc xuống Bình Định. ở các thị trấn, thành phố vừa chiếm, nhân dân triệt để sơ tán, một số bị kẹt lại kiên quyết bất hợp tác với địch, cắt điện nước nơi quân giặc đồn trú. Đêm xuống, các đội pháo Vệ quốc đoàn bí mật áp sát giội lửa vào trại lính địch. Cái chết lúc nào cũng như bao quanh rình rập khiến chúng rất kinh hoàng.

  Ngày 25-11-1945, chủ trương Kháng chiến kiến quốc truyền đi khắp ba miền. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước sẵn sàng kháng chiến toàn diện trường kỳ, hoan nghênh đồng bào Nam Trung Bộ đang phát huy chủ nghĩa anh hùng dân tộc cùng đồng bào Nam Bộ đánh thắng địch khắp nơi, không cho chúng mở rộng vùng chiếm đóng.

  Lúc này thì thủ đoạn đánh nhanh, thắng nhanh bằng chiến thuật "gọng kìm" đang bị chùn lại. Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch ủy ban nhân dân - kháng chiến nói:

  - Cái chiến thuật "Càng cua" là một công thức cổ điển của nghệ thuật quân sự phương Tây được tướng tá Pháp rất ưa dùng dựa vào sức mạnh tăng pháo. Họ là đệ tử trung thành của Bônapác, nhưng lại không thức thời trước "biển cả" chiến tranh nhân dân... Hàng trăm trái núi đổ xuống biển còn mất tăm, nước dềnh lên khoả kín, thử hỏi những "gọng kìm" của Pháp sao kẹp được đại dương nhân dân?

  Những người nghe sửng sốt. Lý lẽ mới rơn mà sao dễ nghe thế!... Nguyễn Sơn nheo đôi mắt nâu sáng nhìn thính giả, xoè ngón tay cái và ngón trỏ:

  -... Các đồng chí hình dung đây là chiếc "càng cua" chiến thuật. Một khi quân dân ta biết nhe cái "gọng" nhỏ bé nghiến... Ông làm động tác bẻ ngón trỏ... chiếc "gọng" còn lại dù lớn mấy cũng chơ vơ làm trò trống gì được. Đấy là lý do buộc Pháp phải dừng lại.

  Cử toạ à lên vẻ tán thưởng. Có người mạnh dạn hỏi:

  - Trước mắt thì thế, nhưng sau khi được tăng lực lượng nó có thể đánh tới đâu?

  Ông Sơn đưa mắt nhìn ra xa, hơi trầm giọng:

  - Nay mai chúng có thể ráng sức hơn, song cũng như sợi dây thun căng hết mức phải thôi. Binh lực Pháp hiện nay dù cố tăng cường đến mấy, giỏi lắm cũng mò tới An Khê ở phía tây, còn phía đông lấn hết đất Khánh Hoà đủ hết hơi.

  Thực tế diễn ra: sau mấy ngày lấy lại sức, Bộ chỉ huy Pháp huy động sức mạnh quân binh chủng, được máy bay Mỹ yểm trợ tiếp tục ồ ạt tấn công mở rộng chiến sự. Tướng Nguyễn Sơn lại nói với cán bộ, chiến sĩ:

  - Quân giặc hung hăng thế nhưng không đáng sợ. Ví như chiếc dây cao su làm gì có độ dày bằng nhau tuyệt đối, sẽ có chỗ bị căng mỏng. Ta chỉ cần mũi dao sắc chích vào, nó đứt phứt, sợi dây thun lại.

  Thật giản dị mà tuyệt vời! Tri thức quân sự của ông tướng cách mạng đã nhập tâm cán bộ và dân thường một cách dễ dàng. Họ nằm lòng nghệ thuật lấy ít đánh nhiều theo lời Bok Hồ: "Có súng dùng súng, có dao dùng dao..." Một tổ du kích, một quả bom câm treo góc rừng Xờ-nak đã diệt gọn trung đội tây mũ đỏ. Quả mìn ba càng của cảm tử quân Út Tân đẩy phăng chiếc cam-nhông đầy lính xuống đèo Phượng Hoàng. Trận địa Mang Cung của dân làng Ba-na đâm thòi ruột tiểu đội quân Pháp mò tới chân dãy Chư Pông... Quả nhiên hơn trăm ngày dốc sức, máy bay tàu bò nhiều thế, địch vẫn không vượt nổi sông Pô Kô, không qua được đèo Cả. Vì nó tiến lên trước thì sau lưng bị đánh, mở rộng vòng ngoài thì ngay trong lòng bị diệt. Kẻ địch hằng ngày phải đối mặt với cuộc chiến không phân vùng, phân tuyến. Chúng đặt chân đến đâu cũng vào chỗ chết, gây kinh hoàng còn hơn cả thời Na-pô-lê-ông đụng đầu với quân kháng chiến Tây Ban Nha.

  Tuy toàn miền chỗ nào cũng sôi nổi tổ chức chuẩn bị đánh giặc, song ban lãnh đạo Đảng - chính quyền đã bắt ngay vào kế hoạch trường kỳ, thống nhất quan điểm xây dựng đời sống song song với chiến đấu là quán triệt đường lối kháng chiến kiến quốc. ủy ban kháng chiến mở cuộc vận động toàn quân toàn dân hưởng ứng phong trào sản xuất tăng gia để tự lực tự cường phục vụ kháng chiến. Tướng Nguyễn Sơn nói với mọi người:

  - Sản xuất tăng gia không phải chỉ có lúa gạo mà phải tự túc cả mọi thứ cần thiết cho cuộc sống và chiến đấu... Ông ví việc sản xuất với đánh giặc như hai chân khoẻ mạnh của con người, thiếu một chân thì không sao đi lại bình thường được. Ông khuyến khích các hoạt động văn hoá cổ vũ thiết thực mối quan hệ "răng - môi" của "đánh giặc với tăng gia". Cả Liên khu V hồi ấy ai mà không biết câu ca...đánh giặc mà không tăng gia lấy gì cho nuôi quân đánh giặc... Khi thế hăng say giết giặc được chuyển vào sản xuất tự túc tự cường. Chỉ thời gian ngắn làm đổi thay bộ mặt xã hội: đời sống dần ổn định, đủ đảm bảo xây dựng phát triển quân đội ăn no, mặc ấm. Đã kịp thống nhất quân - dân y trong hệ thống y tế xã hội, tháng 11-1945 Quân y khu thành lập vẫn kết hợp với sở y tế vừa đảm bảo điều trị cấp cứu, vừa gấp rút đào tạo đội ngũ nhân viên y - dược cho bộ đội. Nhờ thế đã sớm tổ chức được các tuyến quân y mặt trận Nha Trang, Buôn Ma Thuột, An Khê... dần dần xây dựng được những trạm điều trị tuyến sau ở Phú Phong, Trung Hoà, Bồng Sơn, Quảng Ngãi.

  Việc sản xuất, sửa chữa vũ khí và mua sắm trang bị chiến đấu được coi là nhiệm vụ trung tâm thường xuyên duy trì sức mạnh kháng chiến. Ngay sau khi kịp di chuyển các xưởng cơ khí lên ATK, Uỷ ban kháng chiến chỉ đạo nhanh chóng xây dựng thành mười xưởng, có nơi phát triển thành những binh công xưởng lớn đến 300 - 400 công nhân (như X.Quang Trung ở Hoài Nhơn, X.Hoàng Hoa Thám ở Quy Nhơn...) đã kịp đáp ứng một phần đòi hỏi chiến đấu.

  Vậy là, đến lúc này chiến trường Nam Trung Bộ đã vào thế trường kỳ cùng với Nam Bộ vừa đánh giặc, vừa tăng gia, góp phần kinh nghiệm cho cả nước sẵn sàng bước vào cuộc đối đầu sinh tử với quân thù xâm lược.

  Một sáng đầu tháng 3-1946, tướng Lơ-cléc cưỡi hạm đội ra vịnh Bắc Bộ. Đứng trước thế cuộc chưa hẳn có lợi cho Pháp, y vội điện khẩn cho tướng Xanh-tơ-ni "... tình hình đang rất nghiêm trọng... cuộc chiến đấu có thể nổ ra khá rộng lớn... nhiều biểu hiện bất lợi sẽ xảy đến với ta... Tôi yêu cầu ông với khả năng có thể hãy làm mọi việc, để đi đến một hiệp ước trong thời gian nhanh nhất..."

Bằng bộ óc khôn ngoan sớm "tỉnh" qua 5 tháng nếm thử đòn kháng chiến trên phần ba đất nước này, đối phương buộc phải thuyết phục nhanh để đi đến ký Hiệp ước ngày 6-3-1946.

  Với ta, qua 5 tháng chiến đấu là một "dấu son" mở đầu thắng lợi của quân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ trong cuộc kháng chiến không còn nhiều sức. Là dòng đầu hiệu quả bài học truyền thống "Dựa chắc vào dân", sớm "Chuẩn bị tốt thế và lực" vật chất tinh thần là những yếu tố bản chất nhất cho cả nước tiến vào cuộc kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi sau này.

Báo Người Hà Nội , ra thứ Bảy hàng tuần
Số 47, ngày 20-11-1999


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Mười, 2008, 06:43:48 PM
Phố Nguyễn Sơn

Cao Văn Tuế



  Tướng Nguyễn Sơn vừa được UBND thành phố Hà Nội đặt tên phố Nguyễn Sơn, khởi đầu từ vườn hoa Gia Lâm chạy suốt đến cổng sân bay Gia Lâm (dài 1500m, rộng 10m).

  Tên thật của ông là Vũ Nguyên Bác, quê quán ở làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm. Ông sinh ở Hà Nội ngày 1-10-1908, học ở Trường Tiểu học Yên Ninh, học Trường Bưởi rồi Trường sư phạm Bắc Kỳ ENT (E'cole Normale du Tonkin). Ông tham gia cách mạng từ thuở là học sinh, được Bác Hồ lúc bấy giờ mang tên Lý Thụy hoạt động ở Quảng Châu đưa sang Trung Quốc học Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi tham gia Bát Lộ Quân  với cuộc Vạn lý trường chinh 2 vạn 5 nghìn dặm, về nước sau Cách mạng tháng Tám, làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam, Hiệu trưởng Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Khu trưởng Khu IV, mở các "đại hội tập" nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp. Được phong quân hàm Thiếu tướng (do Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh).

  Năm 1950 ông sang Trung Quốc, vì ông là một trong 72 công thần của Trung Quốc còn lại bấy giờ, nên được trọng nể. Ông làm Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản về viện trợ cho Việt Nam. Ông lại học ở Học viện Quân sự cao cấp. Học xong, ông làm Cục phó Cục điều động, rồi làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí "Huấn luyện chiến đấu" của Giải phóng quân Trung Quốc. Ông được phong hàm Thiếu tướng (do Tổng lý Quốc vụ viện Chu Ân Lai ký sắc lệnh).

  Ông là một vị tướng lĩnh nhiều giai thoại nhất trong quân đội ta. Ông là một chiến sĩ Cộng sản kiên định, một con người có khí phách, vị tướng tài năng về quân sự, về chính trị, về tuyên huấn, về văn nghệ. Có lần ông đến thăm Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV. Ông nói:

  - Trong những ngày tham gia Vạn lý trường chinh, khi vượt qua những rặng núi tuyết lạnh thấu xương, mỗi lần tôi ngâm câu Kiều là thấy lòng mình ấm lại, là có thêm nghị lực để vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.

  Ông mất ngày 21-10-1956 tại Hà Nội vì ung thư phổi.

  Tướng Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, một tướng có công của quân đội ta. Đặc biệt là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân giải phóng Trung Quốc.

  Nhà thơ Hữu Loan đã viết về ông, trong đó có câu:

Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ
Mang giông tố đại dương đi đến đâu
Không
cho
sóng
ngủ.


  Sau có người viết đôi câu đối về ông:

Chí tráng sơn hà lưỡng quốc tạc
Danh truyền sử sách thiên thư lưu

  (Chí khí của ông lớn lao rực rỡ hai đất nước Trung-Việt muôn thuở ghi tạc. Danh tiếng tài năng của ông sử sách chép nghìn vạn trang vẫn chưa đủ. Câu đối đã in trên báo Người Hà Nội, báo Quân đội nhân dân và trong tập Lưỡng Quốc Tướng Quân, Nhà xuất bản Lao Động năm 1996).

  Tên phố Nguyễn Sơn người làng Kiêu Kỵ, nay được đặt trên một đường phố tại Gia Lâm thật xứng đáng với sự nghiệp tài năng của ông lưu lại mãi mãi với đất nước, với Thủ đô Thăng Long- Hà Nội


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Mười, 2008, 06:47:18 PM
Một mái trường không mái
và vị lưỡng quốc tướng quân

Nhà văn Nguyễn Quang Thân



  Khi nói hay viết về trường học, người ta thường nói tới mái trường. Nhưng 50 năm trước đây có một nhà trường ra đời không có mái, nghĩa là không có phòng lớp, trụ sở và địa điểm cố định. Người sáng lập ra nhà trường thường là một nhà văn hoá, một nhà giáo dục, v.v... Nhưng "cha đẻ" của trường này lại là một vị tướng, mà lại là tướng của hai quốc gia, Việt Nam và Trung Quốc, "một lưỡng quốc tướng quân", cũng là một người sinh thời vẫn được coi như một nhà văn hoá.

  Đó là Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV, trường văn hoá dành cho lớp "lính nhỏ" của quân đội được học hành chính quy và toàn diện một cách nghiêm chỉnh, đóng góp nhiều cán bộ tin cậy cho chiến trường trong kháng chiến chống Pháp và công cuộc chiến đấu và xây dựng thời chống Mỹ về sau. Nhà trường tuy chỉ tồn tại năm năm nhưng đã để lại một dấu vết văn hoá đậm đà, một nốt son trên đất Thanh Hoá và Hồng Lam, vùng đất tự do trong kháng chiến chống Pháp và hiếu học nổi tiếng. Dấu vết ấy vẫn sáng trong đội ngũ học trò nay đã là tướng lĩnh, cán bộ cao cấp, là nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ hay chỉ là một quân nhân hưu trí bình thường. Mọi người đều tự hào và cố gắng hành xử để xứng đáng với niềm tự hào đó khi nói rằng, tôi đã từng là chú bé chiến sĩ, học sinh Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV.

  Người sáng lập ra trường cách đây đúng 50 năm là Tướng Nguyễn Sơn huyền thoại, vị Tư lệnh của Quân khu. Với tầm nhìn xa thấy rộng ông tin chắc quân đội ta rồi sẽ chính quy hoá, hiện đại hoá sau khi đánh thắng quân xâm lược, mà ngay đến giai đoạn tổng phản công, nhu cầu chỉ huy quân đội có trình độ văn hoá cao sẽ cấp thiết vô cùng. Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV được thành lập tháng 1-1948 theo sáng kiến của ông là một trường văn hoá của quân đội, sau ba năm được Bộ Giáo dục thời đó công nhận là Trung học chuyên khoa, giảng dạy theo chương trình chính quy, và tồn tại năm năm trong vùng kháng chiến Khu IV. Trường đã cung cấp cho các tướng quân chính (huấn luyện sĩ quan chỉ huy) của quân khu nhiều học viên có trình độ học vấn tin cậy, cùng với các trường trung học trong Liên khu IV như Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Đình Phùng cho ra lò một lớp học sinh được rèn luyện và có tài năng sung vào đội ngũ cán bộ được đào tạo cao hơn, đáp ứng cho xã hội sau ngày hoà bình lập lại. Ngày hái quả đó vị Tướng sáng lập trường không có dịp nhìn thấy vì ông đang đi làm nhiệm vụ quốc tế và mất sau hoà bình không lâu vì bệnh hiểm nghèo.

  Chúng tôi vẫn thường ít nhớ về mái trường của mình, vì trường chúng tôi không có mái, chứ chưa nói đến ngói nâu, tường trắng, cửa gương như trong thơ Huy Cận. Mái trường của chúng tôi là những mái nhà dân, nhà thờ họ hay một lều tranh dựng tạm để học một hai tháng rồi bỏ vì sợ lộ bí mật. Trường hoà tan vào dân, di chuyển hai ba tháng một lần tuỳ tình hình chiến sự và phi cơ địch, tất cả mọi cuộc hành quân đều tiến hành vào ban đêm. Trên đôi vai của cán bộ và học sinh - chiến sĩ, trường có mặt khắp nhiều vùng đất thuộc Thanh Hoá và Hà Tĩnh.

  Giờ đây, khi học sinh của trường đã là những anh cựu binh đầu bạc, những cán bộ đã về hưu gặp nhau thường ôn lại cuộc đời học sinh- lính đặc biệt trong Kháng chiến, vui có buồn có. Nhưng đều nổi bật lên trên tất cả những kỷ niệm ấy là 5 năm dạy và học trong gian khổ, có thể gọi là đói khát như thế, các thầy của chúng tôi đã dạy rất giỏi và chúng tôi cũng không phụ lòng thầy. Học sinh Thiếu sinh quân từ những năm còn tiểu học được học âm nhạc nghiêm chỉnh do một giáo sư chuyên nhạc lý khá nổi tiếng ở Hà Nội đi kháng chiến là thầy Phạm Sửu dạy bảo. Trường có triển lãm hội hoạ - tranh vẽ của các thầy và học trò hàng quý, hàng năm. Những hoạ sĩ có tiếng bây giờ như Phạm Việt Hải, Lê Huy Hoà là những cây cọ có tranh từ ngày còn học sinh trong trường và rất được khuyến khích. Và những môn học khác nhất là toán và tiếng Pháp đều được chú ý đúng mức.

  Thượng tướng Trần Văn Quang, một trong những người sáng lập trường nhật xét: "Có thể, anh Nguyễn Sơn là người có công lớn đối với sự hình thành một mô hình với những quan điểm giáo dục mới, tiến bộ được áp dụng ở Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV". Thì ra, người có một quan điểm giáo dục mới, tiến bộ năm mươi năm về trước lại là một vị tướng.

  Sau này, khi những huyền thoại về Tướng Nguyễn Sơn được nói đến nhiều trên báo chí, sách vở, chúng tôi mới được biết "bác Sơn" của chúng tôi vốn đã từng theo học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (khoảng thời gian với giáo sư Đặng Thai Mai). Nhưng hồi đó, chúng tôi chỉ biết ông là một vị tướng tài, đã từng tham gia Vạn lý trường chinh Hồng quân Trung Quốc nổi tiếng thế giới, cùng đội quân Chu Đức, Hạ Long, về nước ngay từ những ngày đầu cách mạng. Ba tôi là người đã từng làm việc bên cạnh ông tại khu uỷ bốn kể rằng ông rất giỏi tiếng các miền Trung Quốc đã đành mà còn thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nga. Với cái máy chữ cầm tay, ông dịch sách không cần từ điển. Và, điều này mới là quan trọng đối với một vị tướng, ông rất tốt bụng, thương lính, lại đặc biệt rất quí trọng, mà quý trọng thực lòng trí thức. Chính tấm lòng thương người ấy đã làm ông nghĩ tới mở trường cho các em liên lạc, quân báo từ mặt trận Bình Trị Thiên bị vỡ được đưa ra vùng tự do, đang bơ vơ, không được học hành, không nơi nương tựa. Hoàng Đình Luyện là một chú liên lạc như thế. Anh kể: "Tôi được đưa đến gặp "ông tướng". Tôi cứ nằng nặc đòi về Quảng Bình đánh giặc. Bác Sơn bế xốc tôi lên: "Đến gặp ông tướng mà không sợ à? Quân này giỏi! Nhưng còn nhẹ cân lắm. Vào đây đã!" Tôi được ăn ở chỗ ông mấy ngày, rồi một sớm, ông gọi tôi, bảo: "Về trường thiếu sinh quân mà học thêm với các bạn! Chú tưởng đánh giặc dễ à? Phải đậu tú tài cái đã!" và ông đưa tôi vào trường" Đó là đầu năm 1948, khi cuộc kháng chiến còn gay go khốc liệt, vị tướng tư lệnh quân khu đã nghĩ rằng phải đánh giặc lâu dài, bộ đội rồi sẽ có pháo binh, có hợp đồng tác chiến và người sĩ quan phải có trình độ tú tài!

  Lòng bao dung và tôn trọng trí thức nơi ông đã làm nhiều người cảm động, ông chiêu hiền đãi sĩ theo cách bỗ bã và rộng lượng kiểu ông và do đó rất nhiều giáo viên và trí thức giỏi ở vùng tự do Liên khu IV đã quây quần bên ông, dưới sự bảo trợ của ông. Trường hợp thầy Nguyễn Tiến Lãng là một ví dụ. Ông giỏi tiếng Pháp, chỉ viết văn bằng tiếng Pháp, trước cách mạng từng làm Thừa thiên phủ doãn đại thần, sau là Đổng lý văn phòng của Nam Phương hoàng hậu. Qua Huế năm 1946 trước khi mặt trận vỡ, Tướng Nguyễn Sơn kéo ông ra khỏi nhà tù, mời ông làm thư ký riêng cho mình một thời gian và sau đó cử ông về trường dạy tiếng Pháp cho chúng tôi. Thầy Lãng dạy rất tận tình, vợ con bị kẹt lại ở Huế, thầy cùng chịu đựng gian khổ với mọi người một cách tự nguyện và vui vẻ, tuy thầy gầy đét có lẽ do tạng người và cuộc sống gian khổ. Anh Lê Ngọc Minh nhớ lại chuyện hơn bốn mươi năm trước: "Một lần giờ Pháp văn, đã gần trưa, trong khi nghỉ giữa tiết học, tôi chạy vội xuống bếp xin anh nuôi một miếng cháy ăn đỡ đói, lại còn cầm theo một mẩu dúi vào tay thầy Nguyễn Tiến Lãng. Thầy thản nhiên đưa miếng cháy lên nhai ngon lành rồi lại vào lớp tiếp tục giảng bài. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn cảm thấy hành động bao dung "tái sinh" một con người của Tướng Nguyễn Sơn đã làm nên một khoảng sáng trong tâm hồn một vị nguyên đại thần triều đình Huế. Tiếc rằng đoạn đường thầy đi với kháng chiến không được dài. Sau khi Tướng Nguyễn Sơn đi làm nhiệm vụ quốc tế, Trường Thiếu sinh quân giải thể, thầy đã hồi cư vào nội thành và sang cư trú ở Pháp.

  Không chỉ một trường hợp thầy Nguyễn Tiến Lãng mà nhiều thầy giáo khác trong liên khu như Phạm Khuê, Nguyễn Công Nghênh, Trần Quốc Nghệ, Nguyễn Văn Thứ, Phạm Việt Thường, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, vợ chồng nghệ sĩ Trúc Quỳnh, nhà sư phạm âm nhạc Phạm Sửu, các nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu và nhiều thầy giáo giỏi thuộc lớp giáo viên hàng đầu khác, đều tình nguyện dạy Thiếu sinh quân và chúng tôi thực sự hạnh phúc khi được học với các thầy giáo như thế.

  Bên cạnh các thầy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã cử về trường những cán bộ chỉ huy có năng lực và thương yêu các em như các anh Đinh Quang Thiệu, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Thái Chiểu, Hoàng Đăng Khướu, v.v... Chính các anh đã gieo vào lòng đàn em tha hương tình đồng đội vẫn còn đằm thắm sau nửa thế kỷ. Tình thương yêu của các mẹ Thanh Hoá và Hà Tĩnh trong nhiều năm đã chảy trong tâm hồn chúng tôi một dòng suối về tình người, tình quân dân và lòng yêu quê hương đất nước.

  Năm mươi năm. Đã có 34 Thiếu sinh quân Liên khu IV là liệt sĩ, 90 phần trăm số còn lại đều trưởng thành, có trình độ đại học và trên đại học, có nhiều người đang giữ những trọng trách lớn trong xã hội ngày nay. Hơn 600 đồng đội Thiếu sinh quân Liên khu IV đã tìm lại được địa chỉ của nhau sau hai cuộc chiến tranh gian khổ và ác liệt. Họ đang có mặt ở khắp mọi miền đất nước.

Kim Giang, 1997


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Mười, 2008, 06:15:07 PM
Nguyễn Sơn - vị tướng người nước ngoài
duy nhất của quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc

Vũ Phong Tạo dịch

  Trong cuốn "Truyện ba trăm danh tướng của Trường quân sự Hoàng Phố" do nhà sử học Vương Vĩnh Quân, thượng tá Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc biên soạn, Nhà xuất bản Nhân dân Quảng Tây ấn hành tháng 6-1989 ở trang 579 và 580 có viết về danh tướng Hồng Thuỷ, tức Tướng Nguyễn Sơn. Ông là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm cấp tướng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.



  Hồng Thuỷ (1908-1956), học viên khoá bốn Trường quân sự Hoàng Phố. Tướng lĩnh Quân giải phóng. Người thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tên gốc là Vũ Nguyên Bác, tên đi học là Nguyễn Sơn, sau đổi thành Hồng Tú, Hồng Thuỷ.

  Hồi nhỏ, Hồng Thuỷ đã từng lưu học ở Pa-ri, nước Pháp. Đầu năm 1925, Hồng Thuỷ từ Việt Nam sang Quảng Châu. Được sự giới thiệu của đồng chí Hồ Chí Minh đang ở Quảng Châu tham gia cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, Hồng Thuỷ vào học khoá 4 Trường quân sự Hoàng Phố.

  Mùa hè năm ấy, đồng chí Hồ Chí Minh mở lớp huấn luyện cán bộ thanh niên cách mạng Việt Nam tại Quảng Châu để bồi dưỡng cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau đó, Hồng Thuỷ chuyển vào học khoá hai lớp huấn luyện cán bộ thanh niên cách mạng Việt Nam, đến đầu năm 1927 tốt nghiệp. Trong thời gian học tập ở lớp này, Hồng Thuỷ gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội do đồng chí Hồ Chí Minh tổ chức.

  Tháng 8 năm 1927, Hồng Thuỷ gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12, tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do Trương Thái Lôi, Diệp Đình lãnh đạo. Sau khi cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, Hồng Thuỷ di chuyển sang Thái Lan làm công tác Việt kiều.

  Năm 1929, Hồng Thuỷ lại sang Trung Quốc, đến vùng Đông Giang tỉnh Quảng Đông, tham gia cuộc đấu tranh vũ trang do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Hồng Thuỷ đảm nhiệm chức vụ uỷ viên chính trị tiểu đoàn thuộc đoàn 428 Hồng quân.

  Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Hồng Thuỷ từng đảm nhiệm các chức vụ: Chủ nhiệm Uỷ ban động viên khu 4, huyện Ngũ Thái; trưởng ban tuyên truyền địa uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc vùng đông bắc Sơn Tây; Tổng biên tập "Kháng địch báo" của biên khu Tấn-Sát-Ký; Trưởng ban tuyên truyền của Biên khu...

  Năm 1950, theo thoả thuận giữa đồng chí Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Hồng Thuỷ lần thứ ba sang Trung Quốc. Sau khi học tập một thời gian ở Học viện quân sự Nam Kinh, Hồng Thuỷ đảm nhiệm các chức vụ: Phó Cục trưởng, Cục điều lệnh Bộ Tổng giám huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; Tổng biên tập "Tạp chí huấn luyện chiến đấu" của Quân uỷ, v.v... Tháng 9 năm 1955, được phong quân hàm thiếu tướng. Hồng Thuỷ là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm tướng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

  Mùa hè năm 1956, Hồng Thuỷ bị bệnh ung thư, nhớ Tổ quốc đề xuất yêu cầu trở về nước. Tháng 10 cùng năm, Hồng Thuỷ từ trần tại Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Mười, 2008, 06:18:26 PM
Danh tướng lưỡng quốc và ngôi nhà tổ

Mạnh Việt



  Nói đến tướng Nguyễn Sơn chẳng riêng gì dân chúng, tướng lĩnh Việt Nam mà ngay cả từ người dân đến lãnh đạo cao cấp nhất của cách mạng Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Chu Đức... đều tỏ lòng mến mộ và trọng thị. Nguyễn Sơn dưới cái tên Hồng Thuỷ, Hồng Tú, là người nước ngoài duy nhất tham gia trọn vẹn cuộc Vạn lý trường chinh vĩ đại. Ông cũng là người nước ngoài duy nhất được phong hàm tướng ở Trung Quốc và lại duy nhất có tên trong Tự điển Danh tướng Trung Hoa. Nguyễn Sơn với bí danh là Lý Anh Tự, cùng với Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng... sang Trung Quốc từ giữa những năm 1920 hoạt động cách mạng dưới sự dìu dắt của Lý Thụy (lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc).

  Ở Việt Nam, Nguyễn Sơn đã từng đảm nhiệm nhiều trọng trách như Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam (1945). Giám đốc Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV (1947), được phong hàm Thiếu tướng QĐND Việt Nam (đầu năm 1948)... Xung quanh cuộc đời Tướng Nguyễn Sơn là cả một pho huyền thoại: tài xuất chúng về quân sự, tinh thông tiếng Trung Quốc, thành thạo tiếng Anh - Pháp - Nga, diễn thuyết bằng tiếng Trung Quốc nhiều giờ liên tục không chuẩn bị trước. Ông còn được mệnh danh là "vị tướng văn hoá" với vốn hiểu biết và cảm nhận về văn học tới mức kỳ lạ. Khi đương nhiệm Tư lệnh Liên khu IV, Tướng Nguyễn Sơn đã từng nói chuyện mấy ngày liền trước các văn nghệ sĩ, trí thức về vở kịch nổi tiếng của Tào Ngu "Lôi vũ" khiến cho "cây đại thụ" trong làng văn Đặng Thai Mai - dịch giả "Lôi vũ" - phải thốt lên: "Nguyễn Sơn nói chuyện về "Lôi vũ" sâu sắc, đầy đủ hơn cả bản thân người dịch ra nó"..
Những điều nêu trên, bạn đọc ít nhiều đều đã biết đến. Song, trong bài báo này, người viết muốn nói đến một việc nhỏ, vâng, rất nhỏ, nhưng không thể bỏ qua, bởi vì hầu như ít ai biết đến, đó là ngôi nhà tổ của ông cha Tướng Nguyễn Sơn để lại..

*
*     *

  Tôi không thể ngờ được rằng ngồi trước mặt mình là cụ già đã quá tuổi 91, một cụ già mà không hề "nua" chút nào. Rót nước mời khách, cụ tự châm thuốc "Du lịch" rít một cách ngon lành. Đặc biệt minh mẫn, nhớ tới chi tiết những kỷ niệm 80 năm trước, 91 tuổi vẫn đạp xe và đi bộ mỗi ngày trên dưới 10 cây số, đó là phác hoạ về người em họ của Tướng Nguyễn Sơn - cụ Lê Đình Cáp , sinh năm 1904.

  - Tôi còn lạ gì ngôi nhà thờ họ Vũ ấy - cụ Lê Đình Cáp kể rành rọt - Đấy là một trong những ngôi nhà to, đẹp nhất làng Kiêu Kỵ - Gia Lâm. Ngôi nhà này do cụ Vũ Danh Xương thường gọi là "Cả Xương" bố của ông Nguyễn Sơn để lại cho con cháu. Ông Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, tuy là anh họ nhưng ông ấy kém tôi vài tuổi. Đầu năm 1948, ông ấy được Cụ Hồ phong tướng, có chụp ảnh ở Thanh Hoá gửi tặng tôi một tấm...

  Nói đoạn, cụ Cáp gỡ tấm ảnh Tướng Nguyễn Sơn treo trên tường cho tôi xem. Đằng sau có dòng chữ viết mềm mại "Nguyễn Sơn tức Vũ Nguyên Bác - Hồng Thuỷ. Tặng em Lê Đình Cáp". Tôi ngắm bức ảnh được giữ gìn nắn nót, không hề phai mờ sau gần nửa thế kỷ, rồi lặng nghe cụ Cáp kể tiếp:

  - Ông Sơn tuy không sinh ra trong ngôi nhà này nhưng khi theo học Trường tiểu học Yên Ninh, Trường Bưởi, cứ mỗi kỳ nghỉ hè, ông lại từ Hà Nội trở về ngôi nhà này lúc đó anh ruột của ông đang ở. Dạo ấy, cứ mỗi lần ông Sơn về nhà ở quê là tụi chúng tôi nhộn nhịp hẳn lên. Suốt ngày, chúng tôi thi đá cầu, tập võ... Ông Sơn bao giờ cũng tỏ ra là đầu đàn vì ông rất tinh nhanh và có vẻ "người lớn" hơn đám trai làng choai choai chúng tôi. Hồi đã theo học Trường Bưởi, mỗi lần về quê, cũng chính tại ngôi nhà này ông thường tụ tập chúng tôi lại để tuyên truyền cách mạng, ông đọc cho chúng tôi nghe những bài thơ ca cách mạng. Có một bài thơ do ông Sơn tự làm mà bây giờ tôi còn nhớ như in...

  Dừng lại một lát, cụ nói tiếp, giọng bùi ngùi:

  - Những kỷ niệm đẹp nhất thời niên thiếu của tôi với ông Sơn đã trôi qua trong ngôi nhà này. Ông Sơn đã trở thành một danh tướng lưỡng quốc. Giá xây dựng ngôi nhà thờ họ Vũ ấy làm "nhà lưu niệm Tướng Nguyễn Sơn" thì hay biết bao. Thế mà mới đây, nghe đâu, người ta đã cho bán ngôi nhà để làm xưởng đúc đinh gì đó. Nghe mà xót xa cả ruột gan...

  - Thưa cụ - tôi đáp - cụ cứ yên tâm. Nhà nước cũng đã biết chuyện này rồi.

  Tôi nói vậy không phải là để an ủi người em họ của Tướng Nguyễn Sơn, mà thực sự, trước đó, chúng tôi đã biết tin và thật may, có mặt rất đúng lúc. Ngày 27-2-1995, nhận được phản ánh của quần chúng, ngay lập tức chúng tôi cùng hai cán bộ của Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội đã về thị sát tại ngôi nhà thờ họ Vũ ở Kiêu Kỵ - Gia Lâm. Dù đã phôi phai bởi thời gian, ngôi nhà trên diện tích 3 sào 13 thước vẫn giữ nguyên vẻ đẹp cổ điển của những nét kiến trúc từ đầu thế kỷ XIX. Đặc biệt trước thềm đá ngôi nhà chính có hai bia đá lập vào tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 9 (1828). Chỉ riêng về độ dài thời gian, ngôi nhà cổ này đã mang một ý nghĩa rất lớn. Song, hãy xem hai tấm bia đá ấy nói gì. Tác giả Hoàng Giáp (Viện Hán - Nôm) đã dịch nội dung hai bia và hé lộ ra những điều bất ngờ lý thú. Điều trước hết là ngôi nhà thờ họ Vũ này chỉ được lưu truyền trong dòng họ Vũ để thờ tự tổ tiên mà tổ phụ là cụ Vũ Danh Vọng, không ai được vi phạm điều này. Bia còn nói rất rõ về cụ Vũ Danh Thuận (con trai cao tổ Vũ Danh Vọng), người sáng lập ra xưởng luyện, giát vàng quỳ - một nghề nổi tiếng trong và ngoài nước một thời của làng Kiêu Kỵ. Cụ Vũ Danh Thuận, một người giàu có nhờ sự lao động cần mẫn và tích luỹ, chuyên làm việc thiện cho dân làng. Cụ đã cúng nhiều tiền của xây dựng tất cả các ngôi nhà thờ, kê cả đình thờ Phò mã Đô uý Nguyễn Chế Nghĩa cùng phu nhân là Công chúa Nhật Hoa (Đình đang được xét công nhận di tích quốc gia). Chẳng những thế, cụ Vũ Danh Thuận còn bỏ ra cho làng 60 mẫu ruộng để khuyến khích thanh niên trong làng học giỏi, đỗ đạt; cụ giúp cả tiền, thóc đắp đê, nuôi binh, vàng mã cho các kỳ lễ tiết trong làng...

  Cuối thế kỷ XIX, cha đẻ của Tướng Nguyễn Sơn là cụ Vũ Thế Xương đã được giao quyền trông nom, hương khói cho ngôi nhà tổ này. Qua thăng trầm lịch sử, năm 1940, ông Vũ Thế Bảo (em họ xa của Tướng Nguyễn Sơn) đã được thừa kế ngôi nhà. Sau , ông Bảo vào Khánh Hoà sinh sống, ngôi nhà thờ họ Vũ trở thành nhà vắng chủ. Từ năm 1963, ngôi nhà được làm nhà nuôi trẻ cho đến năm 1993, ông Vũ Thế Bảo xin lại ngôi nhà trên và bán cho một người không phải họ Vũ là ông Phạm Như Cơ với giá 5 cây vàng. Chẳng bao lâu sau khi ký giấy mua bán, ông Vũ Thế Bảo đã qua đời. Số phận ngôi nhà dường như đã được định đoạt nếu không có sự "cò kè bớt một thêm hai" giữa ông Phạm Như Cơ với địa phương về khoản "bồi hoàn", tiền "tu sửa", "trông nom", cuối cùng , ngã giá là ông Cơ "ủng hộ" xã 30 triệu để góp sức xây dựng nhà trẻ mới. Ngôi nhà của dòng họ sinh ra tướng lưỡng quốc Nguyễn Sơn, từng tồi tại hơn một thế kỷ rưỡi sắp bị san bằng, thì , ơn trời, cán bộ chức năng kịp thời đình chỉ để chờ sự khảo sát, đánh giá của BQL Di tích và Danh thắng Hà Nội. Phó giám đốc sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội Lương Viên cũng đã về tận nơi khảo sát và khẳng định có những dấu hiệu của một di tích. BQL Di tích và Danh thắng Hà Nội cũng đang gấp rút hoàn tất hồ sơ công nhận di tích. Cũng thật may, con cháu của dòng họ Vũ đã cùng một số người hảo tâm kịp "ra tay" và đã ra đời Ban vận động bảo tồn di tích dòng họ Vũ và lưu niệm Tướng Nguyễn Sơn...

  Lặng đứng trước tấm bia phơi mặt với sương nắng gần 170 năm, tôi thấy chạnh lòng thương cảm cho các cụ tổ dòng họ Vũ nơi đây và băn khoăn tự hỏi: Vì sao, ngôi nhà trên 1.000 m2 đất đấy chỉ đổi lại vẻn vẹn có 10 cây vàng kể cả tiền "ủng hộ", trong khi giá trị thực riêng đất cũng không dưới một trăm cây vàng? Đã bấy nhiêu năm trôi qua, những tấm bia này, ngôi nhà này sẽ còn bị quên lãng đến khi nào? Trong khi các đơn vị lãnh đạo cao cấp Trung Quốc trước đây thăm Việt Nam như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Diệp Kiếm Anh đều đến viếng Tướng Nguyễn Sơn, và trong khi, mãi tận thành phố Vinh, ở phía Nam núi Hồng Lĩnh, có một người lính quân báo đã tự lập đền thờ riêng Tướng Nguyễn Sơn, thì ngay tại trên quê hương ông, không hề có một nơi nào đặt bát nhang thắp cho vị tướng này mấy nén hương, còn ngôi nhà của người cha của ông để lại đang có nguy cơ bị bán đi với giá quá rẻ mạt!?

  Chợt nhớ, 6 năm sau khi được cử trở lại Trung Quốc hoạt động, hè năm 1956, Tướng Nguyễn Sơn bị u ác tính ở giai đoạn cuối, ông muốn được an nghỉ nơi quê cha đất tổ. Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã thân mật tiếp Tướng Nguyễn Sơn tại Lễ đường Quốc hội, cùng ôn lại những năm tháng chiến tranh cùng chung sống rồi cả ba người cùng khóc. Đích thân nguyên soái Diệp Kiếm Anh và nhiều cán bộ ngoại giao, quân đội đã ra tận ga để tiễn đưa Tướng Nguyễn Sơn về nước. Kẻ ở, người đi, đều không cầm được nước mắt. Trước khi về nước, tướng Nguyễn Sơn được Đảng và Chính phủ Trung Quốc tặng số tiền là ba mươi ngàn nhân dân tệ, tương đương 30 triệu đồng Việt Nam lúc đó (1956). Số tiền này, khi ấy, có thể mua được vài chục ngôi nhà đẹp tại Hà Nội. Khi về nước, Tướng Nguyễn Sơn đã dùng 2 triệu đồng để mua quà biếu họ hàng, bạn bè. Còn lại, 28 triệu đồng, sau khi Tướng Nguyễn Sơn qua đời, bà vợ của ông đã trao lại cho Nhà nước. Khi các đồng chí trong Bộ Quốc phòng đưa cho bà tờ giấy biên nhận, bà đã huỷ ngay trước mặt họ để biểu thị lòng vô tư, trung thực.

  Những người quên mình vì dân vì nước đã khuất vô tư như vậy, lẽ nào những người còn sống cũng "vô tư" sao?

  Có một điều chắc chắn là các tướng lĩnh, bạn bè Tướng Nguyễn Sơn ở cả Việt Nam và Trung Quốc cùng bao người dân bình thường sẽ không bao giờ quên ông. Ngôi nhà ấy ít nhất phải trở thành "Nhà lưu niệm Tướng Nguyễn Sơn" như mong mỏi của bao người.

Tiền Phong cuối tháng
Số 6-1995


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Mười, 2008, 06:20:43 PM
Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội NHÂN DÂN nhớ tướng Nguyễn Sơn

Minh Quang



  Gặp lại đồng chí Chu Văn Biên, một vị lão thành cách mạng, năm nay đã 83 tuổi, anh em ngồi ôn lại những kỷ niệm cùng nhau ở Khu IV cũ, và nhắc tới Tướng Nguyễn Sơn; đồng chí Biên nói: Đối với ông Sơn, thì có nhiều kỷ niệm, nhưng có 2 việc mình tâm đắc nhất:

  1. Khu uỷ kiểm điểm lại sự tan vỡ của mặt trận Bình - Trị - Thiên, nhất là Huế, vì nơi đó là cố đô, lại là nơi có trụ sở của Uỷ ban kháng chiến Trung bộ, nên mỗi tỉnh đều có lực lượng tăng cường cho Huế, nay tan rã cả. Đa số trong khu uỷ, trong đó có cả tôi, rất đông tình là phải thi hành kỷ luật, cách chức một số cán bộ; nhưng ông Sơn không nghe, ông phân tích: Bộ đội ta mới thành lập, cán bộ chỉ huy còn chưa kinh qua chiến đấu, thậm chí có anh chưa hề nghe tiếng súng, trong khi đó, binh lực, hoả lực của địch mạnh là thế, sự tan rã là khó tránh; có kiểm điểm, nên xem lại sự chỉ đạo của khu uỷ, kế hoạch phòng thủ của quân khu ra sao để rút kinh nghiệm, chứ không nên thi hành kỷ luật cán bộ; đồng thời ông đề nghị mỗi tỉnh phải thành lập "trạm trung thu", không những ở các thị xã, mà cả dọc đường bộ, đường thuỷ, để thâu góp bộ đội lại, không được làm cho họ sợ, mà phải cho ăn, nghỉ, phát cho mỗi người một bộ quần áo, cho về nghỉ phép vài hôm, rồi mới tập hợp lại biên chế thành đơn vị mới, huấn luyện cẩn thận, lúc đó mới tăng cường cho bộ đội được (ở Vinh lấy Hoàng Cung trong thành làm nơi tập kết, vì nơi đó cao ráo, sạch sẽ). Rõ ràng ý kiến của ông ta trái ngược hẳn ý kiến mình, nhưng nghe được, "có tình có lý" và khu ủy dễ dàng chấp thuận.

  2. Địch chiếm Quảng Bình, đánh thẳng ra phía tây Sông Giang, chiếm làng "Troóc" lập đồn, hòng ngăn chặn đường tiếp tế, liên lạc của ta với mặt trận Bình - Trị - Thiên và phía Nam, gây khó khăn cho ta rất nhiều. Khu uỷ họp, dưới sự chủ toạ của đồng chí Hồ Tùng Mậu, ra nghị quyết: trao nhiệm vụ cho quân khu, cụ thể là ông Sơn, trong một thời gian thật ngắn phải tiêu diệt đồn "Troóc" giải phóng nhân dân, thông đường liên lạc giữa Bắc và Nam; Ông Sơn về bàn với Quân Khu uỷ, thống nhất kế hoạch, mở một đường giao thông bí mật tạm thời, để liên lạc với phía trong, mặt khác, tổ chức cho nhân dân làm vườn không nhà trống để tránh thiệt hại, đồng thời cho bộ đội, dân quân du kích bao vây, cô lập đồn, tổ chức bắn tỉa, không cho địch nống ra - Lúc đầu, địch cũng hung hăng, bắn trả ác liệt, nhưng hễ thò ra thằng nào chết thằng đó, thậm chí phải tiếp tế cho đồn bằng máy bay, cuối cùng, bí quá địch phải bỏ đồn rút chạy. Quân khu uỷ và ông Sơn hoàn thành nhiệm vụ mà khu uỷ trao cho.

  Làm sao quên được phong trào "rèn cán chỉnh quân" ở Khu IV, ông Sơn có kế hoạch tỷ mỉ cho từng vùng: Nơi địch tạm chiếm, phát triển du kích chiến tranh, thi đua giết giặc, bắt tù binh, cướp vũ khí của giặc để trang bị cho mình, hết sức hạn chế thiệt hại; đơn vị chiến đấu, làm sao nâng cao được năng lực chỉ huy của cán bộ, sức chiến đấu của đơn vị, thế lực của bộ đội, kỳ này ông Sơn chú trọng tới các đơn vị cơ quan (thường mang tiếng lính cậu) làm sao cho gọn nhẹ, cơ động sẵn sàng chiến đấu, và phải làm quen với địa hình địa vật xung quanh, do đó ta thấy, hôm qua bộ đội ở Thiệu Hoá, vài hôm sau đã thấy ở Thọ Xuân, ông không đóng quân ở đâu lâu. Người ta nhìn thấy ông ở Truồi (Tĩnh Gia) vai đeo ba lô chạy đầu hàng quân, vừa chạy vừa động viên anh em khác chạy. Ông mở đại hội tập để tổng kết phong trào rèn cán chỉnh quân ở Cổ Định, để phát huy thành tích đã đạt được. Ông quyết định tiêu diệt cứ điểm Đồng Dương phải thắng, không được thua, phải bắt được tù binh, vũ khí địch, phân công đồng chí Trần Văn Quang lúc này là chính uỷ khu, kiêm chỉ huy trưởng mặt trận Bình - Trị - Thiên đốc chiến, kết quả ta thắng ròn rã, ngoài tiêu diệt ta còn bắt được hơn 10 tù binh, thu vũ khí địch. Luyện quân, luyện cơ quan của ông Sơn là như vậy.

  Ông mở lớp thiếu sinh quân đầu tiên ở nước ta, thu thập các con em cán bộ còn nhỏ tuổi vào học văn hoá, quân sự, để giúp cho cán bộ yên tâm công tác, nhưng chủ yếu là đào tạo, một lớp cán bộ tốt cho mai sau, chúng ta thấy Trần Khải, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp (sau này ủy ban kế hoạch Nhà nước), Vũ Tuấn, Hiệu trưởng Trường Sư phạm I, còn phó tiến sĩ, kỹ sư, giáo sư rất nhiều, đều xuất thân từ Trường Thiếu sinh quân Khu IV...

  Đồng chí Chu Văn Biên nói: "Nom ông rất "dữ" tướng, đúng là một vị tướng quân sự, nhưng trái lại ông lại rất sành về văn nghệ". Đúng thế, ông không những có bản lĩnh, mà còn hào phóng, phóng khoáng, nên được các giới văn nghệ sỹ rất quý mến, ở Xim (Thanh Hoá) ông nói 7 ngày liền về công tác văn nghệ, ông phân tích cái hay của Truyện Kiều, từng động tác một của kịch Lôi Vũ, đối tượng người nghe, một số bộ đội, nhưng đa phần là giới văn nghệ sỹ, các ông Đặng Thai Mai, Chu Ngọc, Bửu Tiến, Nguyễn Ngọc, v.v... buổi nào cũng dự.

  Sau khi ông Sơn mất, tôi có hỏi về việc tham gia "kháng Mỹ viện Triều" của ông? Bà Lê Hằng Huân cho biết ông Sơn có danh sách, nhưng cùng lúc đó ông ở lại học lớp "quân sự cao cấp", nên không đi Triều Tiên.

  Theo học lớp cao cấp quân sự, ông là học viên người nước ngoài, nhưng ông cũng là giảng viên môn "Đảng sử Trung Quốc".

Tháng 12-1994


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Mười, 2008, 06:23:23 PM
Cảm nghĩ về tướng Nguyễn Sơn,
tướng huyền thoại của Việt Nam hiện đại

Nguyễn Báu*



Kiêu Kỵ - Kiêu hùng Tướng Nguyễn Sơn
Dẫu rằng đời những lắm người hơn
Vẫn là tướng lĩnh hai đất nước(1)
Không khác âm vang một tiếng đờn
Trận mạc - hoà đồng câu chính khí
Nhân văn - thuần khiết tấm lòng son
Thế gian hồ dễ bao người nhỉ!
Kiêu Kỵ - tự hào một Nguyễn Sơn

*
*     *

Kiêu Kỵ - tự hào có Nguyễn Sơn
Có kiêu có kỵ, có vuông tròn
Trí viên tâm tế (2) in sâu nét
Đảm đại hành phương (3) hiện rõ khuôn



Vạn lý trường chinh mòn đá núi
Trường kỳ kháng chiến vẹt đường thôn
Mày râu đất Việt - trai Kiêu Kỵ
Kiên định lòng son với nước non.
-------------------------
* Nguyên chiến sĩ thuộc quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Sơn. Ông quê ở Khu IV, hiện đã nghỉ hưu, trú tại 7A, Phan Bội Châu, Hà Nội.
1. Hai nước Trung Quốc và Việt Nam.
2, 3. Những từ rút trong thiệp thư Bác Hồ "Gửi Sơn đệ".




Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Mười, 2008, 07:53:49 PM
Ngẫm mãi câu "hoà để tiến"

Nguyễn Việt Phương



  Chi đội Độc lập I Nam tiến đúng dịp Tết Nguyên đán Bính Tuất, được đưa lên An Khê (bắc Tây Nguyên) tổ chức bố phòng chiến dịch.
Chi đội đang luyện tập thì nghe tin "Cụ Hồ đã ký Hiệp định Sơ bộ"(!). Vậy là lại bắt tay với Pháp ư? Không có đài, mãi mới được một tờ Cứu quốc đăng tóm tắt mấy nội dung chính. Nhiều từ ngữ lạ lẫm thật khó hiểu:... "Là một nước tự do... ở trong khối liên hiệp Pháp...". Sao lại phải "trưng cầu dân ý về sự thống nhất ba kỳ"?... Quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa..."?! Mọi người xôn xao bàn cãi. Chính trị viên chi đội đã họp cán bộ giải thích nhưng vẫn cứ vướng mắc thế nào ấy. Bỗng một hôm được lệnh tập trung tại sân vận động An Khê đón "thượng cấp". Thời đó danh từ "thượng cấp" nghe tôn nghiêm quá. Chúng tôi háo hức chờ đợi.

  Đúng giờ. Một người dỏng cao, da ngăm ngăm chắc nịch bước lên bục. Anh Thịnh, chi đội trưởng hô toàn chi đội bồng súng chào. Chính trị viên Nguyễn Quyết giới thiệu:

  - Hôm nay, đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chánh miền Nam Việt Nam đến thăm và nói chuyện với chi đội ta.
Các đồng chí hoan nghênh.

  Tiếng hô vang động kéo dài. Chủ tịch Nguyễn Sơn giơ tay vẫy đáp lễ. Ông đưa mắt nhìn đoàn quân súng ống đầy đủ, nhiều cán bộ mang cả kiếm Nhật, ống nhòm, tạc đạn đeo lủng lẳng trước bụng.

  Ông khẽ gật đầu cười mỉm:

  - Chi đội các đồng chí trông vẻ hùng dũng lắm. Đế quốc Pháp đã nổ súng xâm lăng Nam Bộ. Các đồng chí biết cả chứ?

  Tiếng đáp lại:

  - Chúng tôi biết mới xung phong Nam tiến!

  Nghe cách trả lời không điều lệnh của cán bộ, ông cười hà hà:

  - Rất hoan nghênh tinh thần xung phong, trai thời loạn mà. Nhưng còn phải học quân phong, quân kỷ nữa đấy. Chuyện đó nói sau. Bây giờ tôi muốn nói với các đồng chí một vấn đề hệ trọng...

  Chúng tôi cảm nhận ngay ở ông phong thái nghiêm túc mà khoáng đạt. Ông cất tiếng sang sảng:

  - Trước chi đội các đồng chí đã có ba chi đội Nam tiến rồi, nhưng không được mang súng. Các đồng chí có hiểu vì sao không?

  Đa số không rõ. Vài đồng chí biết chút ít, trả lời:

  - Vì bọn Tàu Tưởng ngăn cản.

  - À hà! Đúng đó. Hoa quân nhập Việt để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng chúng càn rỡ ngang nhiên cấm ta để hậu thuẫn cho giặc Pháp dễ bề hành động. Ta buộc phải thương lượng cho nó chút ít, chi đội các đồng chí mới có thể mang theo súng.

  Toàn chi đội thoắt ồn lên:

  - Phải đuổi chúng nó cút khỏi nước ta...

  - Nếu Cụ Hồ ra lệnh, chỉ một ngày chúng nó bị quét sạch.

  Chủ tịch Sơn giơ hai tay vẫy vẫy ra hiệu trật tự.

  - Đuổi nó ra khỏi nước ta là đúng, nhưng làm như các đồng chí nghĩ lại sai. Vì quân Tàu vào Việt Nam theo kế hoạch của phe Đồng Minh, nếu ta nổi nóng thô bạo thì ta tự hoá thành người chống lại Đồng Minh diệt phát xít, sẽ bị cô lập. Các đồng chí cần hiểu rõ điều đó.

  Có tiếng hỏi to:

  - Vậy sao lại ký tạm ước thuận cho quân Pháp vào miền Bắc? Khác nào chuyện rước cọp đuổi sói!

  Chủ tịch Sơn nhìn người vừa nói:

  - Đồng chí tỏ ra nhớ cổ tích dân gian đấy nhỉ. Nhưng các đồng chí có biết những ba con cọp với một con sói cùng lăm le vồ ta không? Đó là Mỹ, Anh, Pháp và Tưởng đấy. Lại nữa, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh trùm phản động Quốc dân đảng rất nguy hiểm đang dựa Tàu Tưởng ra sức phá ta từ bên trong để tiếp tay cho địch - Ông nhìn khắp toàn quân, rồi cao giọng - Các đồng chí thử nghĩ một người vừa ốm khỏi cùng lúc chọi với bốn, năm kẻ dữ được không? Cụ Hồ quyết tâm giành độc lập, cả nước đồng lòng, nhưng đánh kẻ địch nào? Đây là vấn đề nghệ thuật chọn đối thủ và gạt bớt kẻ đánh hôi. Tạm ước 6 tháng 3 là cái "quyết bắt tà" tuyệt luân đấy. Mười tám vạn quân Tưởng phải ra đi, thay vào đó chỉ có một vạn rưởi quân Pháp lại phải phối hợp với một vạn quân đội ta làm nhiệm vụ tiếp phòng. Thế là bọn Quốc dân đảng phản động mất chỗ dựa đành cuốn xéo. Ta ở trong khối Liên bang Đông Dương, khối Liên hiệp Pháp thì Anh, Mỹ hết cớ nhảy vào xâu xé tranh mồi. Một đòn gạt bốn tên. Các đồng chí thấy sao?

  Cả đoàn quân bùng lên, hào hứng: "Hay lắm! Giỏi vô cùng!". Chợt có tiếng hỏi to:

  - Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập dựng nền dân chủ cộng hoà, nhưng trong Hiệp định Sơ bộ chỉ ghi nhận là "một nước tự do"! Như vậy là nghĩa làm sao?

  - Một câu hỏi thời sự nóng hổi - Ông Sơn gật đầu, mục tiêu của cách mạng Việt Nam đúng như bản Tuyên ngôn ngày 2 tháng 9. Nhưng đấu tranh để tới đích là một quá trình gay go phức tạp. Kẻ địch đông, hùng mạnh hầm hè nuốt chửng Việt Nam , song chúng còn mắc dàn xếp với nhau. Ta thì đơn lẻ sức còn yếu, phải có thời gian để xây dựng phát triển lực lượng đủ mạnh. Nếu không tỉnh táo bị khiêu khích thì cách mạng sẽ bị địch xúm lại dìm trong biển máu thất bại. Cụ Hồ là bậc đại cách mạng chí thành, nhà tư tưởng chiến lược vượt lên mọi tầm cao trí tuệ đương thời. Trong phút lâm nguy ngàn cân treo sợi tóc, Người quyết định "hoà để tiến" - một truyền thống dân tộc "lấy chí nhân thay cường bạo" chứ không phải như cái hoà ước năm 1883 - 1884 của nhà Nguyễn chịu sự đô hộ hoàn toàn... Xưa kia, Pháp chỉ có mấy cỗ đại bác mà làm được thế. Nay chúng đủ cả máy bay, xe tăng, tàu chiến mà phải thừa nhận Việt Nam là một nước tự do có chính quyền, quân đội, tài chính riêng của mình. Hiệp định sơ bộ là một thoả ước pháp lý công bố toàn thế giới thì quả là thắng lợi to lớn chưa từng có trong thời thuộc Pháp...

  Chủ tịch Nguyễn Sơn mỉm cười hỏi to:

  - Các đồng chí còn gì chưa rõ?

  Lê Ninh, trung đội trưởng giơ tay:

  - Xin hỏi: Thực dân Pháp rất xảo trá lật lọng, làm sao có thể tin được lời nói hứa trưng cầu dân ý thống nhất ba kỳ?

  - Có nhiều anh em nghĩ thế không?

  Đoàn quân ồn lên:

  - Tất cả! Tất cả nghĩ vậy.

  Chủ tịch Sơn gật đầu:

  - Các đồng chí nghĩ đúng. Cụ Hồ đã dự kiến Pháp sẽ phản bội lời hứa. Chính vì vậy, chúng ta mới phải Nam tiến. Chỉ thị "Kháng chiến và kiến quốc" của Chính phủ là phản ánh chủ trương "hoà để tiến". Toàn dân đồng lòng ủng hộ hoà đàm và sẵn sàng khi cần tiến lên bằng cuộc kháng chiến trường kỳ. Chúng ta là quân nhân cũng đồng lòng chứ?

  Một rừng tay vùng cao:

  - Sẵn sàng.

  - Hoà để tiến.

  - Sẵn sàng kháng chiến trường kỳ.

  Chủ tịch Nguyễn Sơn đưa nắm tay lên ngang tai, hô to:

  - Sẵn sàng tiến theo ngọn cờ Chủ tịch Hồ Chí Minh!

  Sau buổi nghe chuyện, tôi cứ nghiền ngẫm về phương châm "hoà để tiến". Suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc đến ngày nay, ý sâu của ba từ ấy thực đã ứng nghiệm qua nhiều giai đoạn.

Theo: Sự kiện và Nhân chứng 3-1996


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Mười, 2008, 07:58:16 PM
Lá rụng về cội*

Chế Lan Viên



  Tôi rất ham đọc hồi ký: Không gặp được nhà văn có tài, ta cũng gặp tài liệu. Tôi rất phục những người viết hồi ký, sao họ có trí nhớ giỏi thế, họ có phịa thêm chăng mà cứ như thực thế, rất tài! Còn mình, chuyện mình sống, mình trải qua, sao mình quên quá nhiều và lộn tùng phèo. Tôi rất sợ viết hồi ký, văng vẳng bên tai, lời của Chủ tịch Phạm Văn Đồng nói cùng anh Tế Hanh, anh Bửu Tiến, anh Phạm Hổ và tôi trong một bữa ăn đầu xuân cách đây hơn 15 năm, nhân có một anh trong bọn chúng tôi gợi Anh Tô viết hồi ký.

  Anh Tô cười... ngất "Hồi ký à! Kỳ quá, kỳ quá, kỳ quá. Đó là cái để khoe mình có điều gì hay và thanh minh mình có gì không tốt". Vì vậy, cái bài Hồi ký này, anh Nguyễn Đắc Xuân, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường gợi tôi viết năm năm trước, bây giờ mới dám viết ra.

  Dám viết ra, vì không dám chối từ! Tối qua, tại An hiên trang của chị Nguyễn Đình Chi, sau bữa rượu nhỏ mừng anh Thanh Tịnh, anh Nguyễn Hữu Ba về thăm quê Huế cũng là kết hợp mừng anh Nguyễn Đắc Xuân 50 tuổi đời, 20 tuổi cách mạng, và 10 tuổi vợ, dưới bóng trăng, sau tiếng đàn, đám bạc đầu lớn tuổi, chúng tôi ngồi hàn huyên các chuyện dính líu và gần với Huế:

Hai mươi năm trời, nhớ Huế nhớ không nguôi.
Biết bao phen lòng gọi chỉ lòng ơi
Màu day dứt là cái màu hoa phượng
Một dấu son không dấu nổi ngang trời.

  Từ chuyện anh Thanh Tịnh và anh Hải Châu (em ruột anh Hải Triều) bị máy bay giặc Pháp bắn lúc qua đò Vạn Rú, Hải Châu bị chết, chỉ Thanh Tịnh thoát, nhưng anh Lưu Trọng Lư ở xa nghe báo không kỹ đã viết thư cho anh Hải Châu "nhờ thuê người tìm xác Thanh Tịnh!".
Chuyện tôi cùng các anh Phạm Đăng Trí, Yến Lan, Nguyễn Hữu Ba, đi chuyến tàu hoả cuối cùng Huế - Quảng Trị về thăm quê tôi trước ngày mặt trận vỡ 1946! Chuyện 1949 tôi từ Khu IV vào, các anh Phạm Đăng Trí, Nguyễn Hữu Ba, Dương Kỵ ở thành phố Huế bị chiếm mò ra thăm tôi ở vùng tự do cầu ngói Thanh Toàn! Tổ chức cuộc gặp ấy nhớ là anh Vũ Văn Chiêm trung tướng hiện nay, lúc ấy ở trong thành đội Huế.

  Anh Tô Nhuận Vỹ và anh Tường kêu lên:

  "Không có máy ghi uổng quá! Vậy thì các anh phải viết kẻo..." Tôi hiểu kẻo gì rồi! Từ ngày anh Xuân Diệu mất, thì đám lớn tuổi chúng tôi đều được đánh giá là có khả năng sớm ra đi vào "cõi mô tê" (chữ anh Xuân Diệu) như thế cả. Mất người, nhưng quan trọng nữa , là mất tư liệu sống mà! Nhân tôi nói đến đoàn "Xây dựng", "Chỉ ở Huế mới có không mô có" các anh nổi máu địa phương lên bảo: "Viết đi, viết đi".
Thế là tôi không dám chối từ! Thế là có cái bài văn không ra văn này, mà tôi gọi đi là hồi ký. Mà cũng phải viết thật! vì óc tôi nhớ đã lù mù lắm. May ra các anh khác đọc và còn nhớ kỹ đính chính, bổ sung giùm.

*
*     *

  Bài này đặt tên là "Lá rụng về cội". Còn vì sao mà đặt vậy, cuối cùng anh chị em Sông Hương sẽ hiểu. Sau Cách mạng tháng Tám, ở Huế tụ tập rất đông văn nghệ sĩ. Hoạ có các anh: Phạm Đăng Trí, Nguyễn Đức Nùng, Tôn Thất Đào. Nhạc có các anh: Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Hải Châu, Trần Hoàn, chị Lệ Minh (vợ anh Lư) anh và chị đang "thời trăng mật". Văn có Thanh Tịnh, Trịnh Xuân An, Bửu Tiến, Trần Thanh Địch, Hoàng Trọng Miên. Thơ có Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Vĩnh Mai, Khương Hữu Dụng, Phan Văn Dật, Võ Quảng, Hoàng Yến, Nguyễn Đình Thư, Phan Thanh Phước. Đông nhất là lý luận, nghiên cứu phê bình: Hải Triều, Hải Thanh, Bội Lan, Phan Nhân, Hồng Chương, Dương Kỵ, Lưu Quý Kỳ, Đào Duy Anh, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh... Các bạn tha cho nếu tôi đã để sót một ai, và sắp xếp lộn xộn không theo trật tự, ngôi thứ gì.

  Tất cả các nơi trên toàn quốc đều có Hội Văn hoá Cứu quốc, Huế cũng có. Nhưng một số anh em, trong đó có tôi, sợ cái khẩu hiệu "Dân tộc, khoa học, đại chúng" nên quây quần với Việt Minh. Trung bộ thì quây quần, vì ở đó có Tố Hữu, nhưng vào Văn hoá Cứu quốc thì không vào! Văn học dân tộc thì được! Nhưng "khoa học" thì còn gì là văn học nữa! Và "đại chúng" eo ơi! Không được đâu:

  Bóng đêm vẫn không ngừng
  Tấn công vào ánh sáng - mà lại!

  Anh Tố Hữu... và anh Nguyễn Chí Thanh đã nghĩ ra một đoàn thể là "Đoàn Xây Dựng" với cái phương châm Dân tộc dân chủ... Thế là tất cả hôm sau đều có mặt ngay! Vào hết! Thế rồi Ban chấp hành lâm thời được bầu ra hay đúng hơn được giới thiệu và hoan nghênh một cách dễ dàng gồm có các anh Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Lưu Trọng Lư, Lưu Quý Kỳ và tôi. Có các anh Hải Triều, Tố Hữu hay không tôi quên mất! Nhưng chắc hồi ấy, không cần đưa nhiều đảng viên, nhất là các đảng viên quan trọng vào đến thế. Nhưng cũng có thể có. Hồi ấy rất chi là thoải mái. Anh Nguyễn Chí Thanh còn lên sân khấu diễn kịch với chị Thanh Hương mà.

  Đoàn Xây Dựng hằng tuần họp ở trụ sở tờ báo Ánh sáng. Chủ tờ báo ấy là một người mà chúng tôi rất hâm mộ lúc còn Pháp thuộc: Anh Hải Thanh trong dòng Hải Khách (Trần Huy Liệu) Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), anh thầm lặng, ít nói, chân tình. Sau này anh bị lao, cùng tôi đi dưỡng bệnh ở Trung Quốc, tôi càng quý trọng anh hơn. Tiếc thay anh đã mất ở Nam Ninh vì bệnh tình quá nặng... Mộ anh còn chôn bên ấy.

  Trở lại Đoàn Xây Dựng. Tối nào sinh hoạt cũng có ăn chè, thường là hột sen, do chị Bội Lan nấu. Khi thì đọc thơ, khi thì bàn về sử, trình bày nhạc, đọc kịch nhưng thường là nói chuyện trên trời dưới đất. Buổi nào cũng có anh Nguyễn Chí Thanh, anh Tố Hữu, anh Hải Triều, anh Hải Thanh. Suốt một đời không ai quên Nguyễn Chí Thanh được.

  Anh Thanh ơi, viết đến đây thì tôi không dừng được nước mắt. Anh có công lớn với Bình Trị Thiên, với miền Nam, với toàn quốc, nhưng đối với bản thân tôi, không có anh và Tố Hữu tôi sẽ thế nào? Chắc Lưu Trọng Lư cũng nghĩ về mình như tôi vậy. (Phải ghi công này cho Lư. Vỡ mặt trận rồi Tây chiếm Huế, Lư lạc con, vào tận thành phố Huế tìm. Bùi Huy Tín mời mọc giữ lại, nhưng Lư không thèm, ở một đêm sáng lại lên rú).

  Anh Thanh không nói chuyện chính trị, lý luận, tuyên truyền chủ nghĩa Mác gì hết. Với đám này! tuyên truyền cái gì nữa! Hôm qua nô lệ, hôm nay độc lập, thế không đủ hiểu rồi ư. Tố Hữu, Hải Triều, Hải Thanh lại càng không. Tố Hữu có kinh nghiệm là cứ bớt tranh luận, đi vào thực tế đi, sau còn gì về sẽ bàn với nhau nốt! Hồi ấy lần họp nào mà chả cãi nhau! Có lúc đập cả bàn mà tranh luận. Và hình như cái lõi là "duy tâm và duy vật" kia. Tôi đã viết

Đi xa về hoá chậm
Biết bao là nhiêu khê.

  Từ trước khi Cách mạng đến tôi đã đi về xứ siêu hình khá xa.

  Cần phải về phía khác không thì chậm mất. Và chuyến đi thực tế của văn nghệ sĩ chuyến đầu tiên trong cả nước nữa, là chuyến đi tổ chức bởi Việt Minh Trung bộ cho Nguyễn Đức Nùng, Trần Thanh Địch và tôi vào mặt trận Tây Nguyên. Gọi đầu tiên "trong cả nước" vì chuyến đi của Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc, Tô Hoài, Nguyễn Đình Lạp khởi hành ở Hà Nội là sau đó mấy tháng kia. Các anh ở mặt trận miền Trung về, ghé qua Huế, còn cùng chúng tôi đi thuyền trên sông Hương, thăm các lăng lần cuối, trước khi lao vào cuộc kháng chiến lớn của dân tộc. Anh Tuân rất thú vị, có một chùm cá chép dắt theo sau thuyền. Trước cách mạng, cũng ít khi có một cuộc đi thăm lăng tẩm đàng hoàng đến vậy. Và biết đâu mọi người không vì chút hạnh phúc nho nhỏ ấy mà quyết tâm chiến đấu cho dân tộc! Để một ngày ai trở về hái lại một nhành mai trước hiên nhà, hay đi thuyền trên sông Hương, có con cá bơi theo.
---------------------------------
* Hồi ký về Đoàn Nghệ thuật Xây dựng, Huế 1946.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Mười, 2008, 08:01:47 PM
  Đoàn chúng tôi vào đến Quảng Ngãi, thì được Tướng Nguyễn Sơn đón tiếp rất chi là đặc biệt! Trần Mai Ninh cũng làm việc với anh Sơn ở đó. Mấy chục năm rồi tôi còn nhớ các câu thơ tướng đọc cho chúng tôi hôm ấy, (và sau này khi anh hay qua chơi báo Cứu Quốc Liên khu IV). Thơ nhớ người vợ nơi hải ngoại, mà anh gọi là Mẹ Ú. Một hôm đang ăn cháo gà, anh rưng nước mắt:

  - Nhớ mẹ Ú, ăn gà chỉ thích xương.

  Thơ anh làm theo lối... nhà tướng. Trên máy chữ, như người xưa trên ngựa:

Nhớ ngày nào cùng em trên núi Thanh Lương
Hai ta cùng hái một xâu sim
Hai ta cùng hái một xâu sim
Bao giờ hái cùng em một xâu đầu quân giặc
Không có em, anh chiến đấu một nửa.

  Tôi hỏi anh: "Anh mà cũng thế à?". Anh có tật béo tai. Anh béo tai tôi: "Rồi sẽ biết thôi chú mày ạ". Và tôi đã biết. Anh chiến đấu rất kiên cường.

  Anh Sơn cho Nùng, Địch, và tôi một xấp công lệnh, đi đâu thì đi. Chúng tôi thẳng lên Tây Nguyên chiến trường nóng bỏng nhất là tôi nghe có anh Cao Văn Khánh (bạn dạy học ở Việt Anh cùng tôi) chỉ huy trên ấy. ở Tây Nguyên về, chúng tôi rất phấn khởi. Đi các nơi đều diễn thuyết. ở Đà Nẵng, anh Tế Hanh, anh Nguyễn Văn Bổng, anh Đoàn Văn Cừ, tổ chức cho đoàn tôi nói chuyện. Tôi hào hứng! "Quân Pháp không thể nào chiếm được Tây Nguyên! Các đường sá ta đều ngả cây rừng ngăn xe địch. Quân đội ta rất sẵn sàng!". Buổi sáng người đi nghe vỗ tay rầm rầm thì buổi chiều chúng tôi phải lặng lẽ chuồn ngay về Huế. Vì mặt trận Tây Nguyên vỡ! Đánh theo lối phòng tuyến thì vỡ thôi! Và sau này mặt trận Huế cũng vỡ vì thế (Bửu Tiến hay gọi là trận "muối ớt" vì ta mang rơm để đốt "đồn" khách sạn Mô Ranh của giặc, có đổ ớt vào cho khói lên cay mắt tụi quan Tây, đánh trận lần ấy lại quên diêm nên vào đêm mới xong phải liều chết rút về).

Nghìn trận thắng có trận thua góp lửa.
Phải đâu ngọn cờ nào cũng cắm ở Ngọ Môn
Khi xây rồi vỡ, vỡ rồi xây từng cơ sở
Khi ba quả lựu đạn trong tay, hai câm
còn một nổ
Khi đốt dồn mà quên diêm và ướt cả rơm
Những dại dột trứng nước ngây thơ ban đầu ta chẳng quên ơn
Tất cả đã làm máu lót đường đi cho lịch sử
Chủ nghĩa Mác không biết những ngọn cờ chiến thắng sực mùi long não và gấp nếp nằm im trong tủ
Chính qua nghìn tăm tối bão dông mà ngôi sao ta chói rọi Sài Gòn.

  Sau ngày gặp anh Trần Thanh Địch, anh Nguyễn Đức Nùng, chúng tôi hay nhắc lại cái thuở trứng nước, ngây thơ ấy. Vui nhất là chuyện vào trụ sở Việt Minh Hội An. Anh Nùng giới thiệu "Chúng tôi ở Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội vào đây". Tôi và Địch khá phục Nùng sao biết được một danh từ oai đến thế mà mình không biết.

  Nhưng các đồng chí ở Việt Minh Hội An rất hoảng hốt. Chả lẽ lại là đại biểu của Việt Cách, kẻ thù của Cách mạng đến nhà! Các đồng chí lễ phép xin xem giấy. Eo ôi! Thì té ra tên thật của Việt Minh là Việt Nam độc lập đồng minh kia! Nùng đâu biết! May mà hồi ấy chưa có cái thói truy bắt và "chụp mũ"!

  Hôm ấy, chúng tôi cũng ăn uống xong rồi chuồn sớm vì ngượng. Về đến Huế, đoàn chúng tôi được anh Nguyễn Chí Thanh, anh Tố Hữu đón như các chiến sĩ lớn từ mặt trận trở về! Đoàn văn nghệ đầu tiên đi mặt trận mà lỵ!

  Trong khi đó thì ở nhà, các anh chị em đoàn cũng hoạt động dữ dội. Trí vẽ tranh tuyên truyền, Miên giới thiệu thơ Maia trên báo Quyết Thắng, đó cũng là các bài viết về Maiakovsky, sớm nhất sau Cách mạng tháng Tám. Nguyễn Hữu Ba được hoan nghênh lớn vì Lửa rừng đêm. Đoàn kịch Trọng Miên, Bửu Tiến diễn liên tiếp nhiều đêm "Lôi Vũ". Diễn ế! Cách mạng lên, giặc Pháp sắp tấn công. Giặc đói đang hoành hành! Thì hay như Lôi Vũ, chứ hay hơn nữa cũng ế là lẽ tất nhiên! Nhưng chúng tôi đã có "vốn" gì đâu mà viết được cái mới! Thanh Tịnh nhắn lời phê bình rất chi là Huế "Diễn một lần là yêu, hai lần là mê, ba lần là si đó". Chúng tôi diễn bốn lần, về cả Sịa nữa kia, và đã tan đoàn không phải vì Tây, mà vì ta ít đi xem (Đến đây lại phải ghi công Bửu Tiến, "mệ" là người có công với sân khấu với kịch Bình Trị Thiên và toàn quốc: cái thuở ban đầu). Đoàn Xây Dựng đi có tín nhiệm với nhân dân, trí thức thành phố, và với Đảng. Anh Thanh, anh Lành đẻ ra đoàn ủng hộ đoàn hết sức. Nhưng còn các anh khác: anh Trần Hữu Duệ, anh Nguyễn Duy Trinh ở phía chính quyền thì sao? ấy thế mà một buổi sáng chính quyền mời anh Lư, anh Miên và tôi đến giao cho chúng tôi bảy vạn đồng để thành lập tủ sách công dân, các sách từ chính trị khoa học cho đến văn nghệ. Tôi nộp bản thảo "Thiên chúa và Tổ quốc" không những được Việt Minh Trung bộ khen mà Tổng bộ Việt Minh còn cho ba nghìn đồng. Tố Hữu chuyển cho tôi số tiền ấy. Anh cởi cái áo sơ mi tốt đang mặc cho tôi vì áo tôi quá cũ. Nhưng lại bảo: "Hoan cho mình hai chục". Tuy anh là lãnh đạo nhưng cũng không có tiền riêng. Tôi đưa nhiều hơn anh không lấy. Tôi để một nửa tiền mua thêm sách về thơ và tôn giáo, mua mười cây cam từ Huế chở về Quảng Trị còn lại nửa số tiền đưa cho mẹ tôi. "Mẹ chăm vườn, mai sau đánh xong Tây con về nhà thì có cam ăn". Nào hay đi luôn từ đó cho đến 35 năm sau tôi mới về lại nhà và trở lại Huế. Những năm 1949, 1952, 1973 tuy tôi có trở lại Bình Trị Thiên, nhưng về đến Huế gặp lại những anh em cũ thì phải năm 1981, lúc tôi được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc Hội ở Huế này! Gặp lại anh Phạm Đăng Trí, và xin xem bức tranh "Người suối bạc" mà tôi đã đặt tên trước lúc ra đi (Bức tranh khá... Liêu Trai làm tôi nghĩ đến suối vàng). Nhưng màu ở đây, lại không vàng mà bạc. Tôi cùng anh Lê Trọng Sâm tìm ngôi nhà đá ở Vỹ Dạ mà không tìm ra nổi. May quá còn nhớ rằng người bạn hàng xóm hồi ấy là anh thi sĩ Bửu Cầm. Tôi liền xông vào nhà anh Bửu. Chỉ làm quen, và cuối cùng nhờ anh mà tìm ra được! Vật đổi sao dời.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền,
Chẳng cần bụi trúc nào bên đường xưa cả.

  Dù bay đi bốn phương trời, lá rụng về cội cả. Tôi muốn nói cái cội rễ gốc nguồn là tình yêu cách mạng, yêu Tổ quốc, nhân dân. Đại bộ phận anh em trở thành đảng viên của Đảng. Anh Dương Kỵ ở lại trong thành. Nhưng không kể 1949 anh ra vùng tự do cùng Phạm Đăng Trí, Nguyễn Hữu Ba thăm tôi, mà về sau, quãng sau 1960 anh xuất hiện đột ngột ở Hà Nội rồi sau đó là một trong các cán bộ chủ chốt của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Sau 1954 vào thời "300 ngày" anh Phạm Đăng Trí đã ra Hà Nội thăm anh chị em văn nghệ cách mạng. Tôi đi vắng không gặp, nhưng Nguyễn Đức Nùng đã gặp, các anh lãnh đạo văn nghệ đã gặp. Đang giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi biết anh Thanh Nghị trong Chính phủ cách mạng lâm thời lại chính là Hoàng Trọng Quỳ, anh ruột anh Hoàng Trọng Miên, nên tôi an tâm về Miên. Giải phóng Sài Gòn, tôi vào, biết Miên là cơ sở, bài Miên được đăng báo Văn Nghệ Giải phóng số một, tháng năm 1975. Nguyễn Hữu Ba cũng ôm lấy tôi, hôm tôi thay mặt văn nghệ miền Bắc dự cuộc họp đầu tiên của Văn nghệ Giải phóng miền Nam tháng 6 năm 1975. Sau này một hôm nằm ở Chiêu đãi sở Mátxcơva chờ máy bay, anh Xá - Trung ương Uỷ viên tới phòng tôi chơi nói chuyện tào lao, giữa chuyện anh nói: "Mình mừng quá! hồi vỡ mặt trận, trước khi Ba ở lại mình có dặn dò. Vậy mà, sau mấy chục năm giải phóng, mình vào Sài Gòn, anh em trong ấy bảo Ba rất tốt. Mình mừng quá có đến thăm nhà". Anh Xá nguyên là Bí thư Quảng Trị. Tất cả về cội, không mất mát gì ư? Có chứ. Mất Phạm Duy! Chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta, chứ chúng ta đâu có bỏ anh. Hồi anh đi Bình Trị Thiên với tôi năm 1949, anh viết "Bên ni bên tê", "Bà mẹ Gio Linh" rất xúc động. Tỉnh uỷ Thừa Thiên có gợi nên kết nạp anh vào Đảng. Khu uỷ bốn còn phân vân nhưng cũng dự tính như vậy. Nhưng anh đã dinh tê về Hà Nội, vì chiến tranh những năm 1950, 1951, không còn dịu dàng như trước! Sau Điện Biên Phủ, sau năm 1954, hình như có lúc anh hối hận muốn "hướng về". Rồi lại thôi! Sau chiến thắng vĩ đại của ta hồi 1975, hình như anh lại xúc động lại. Anh Trần Văn Khê ở Pháp về, hỏi ý kiến anh Tố Hữu. Anh Tố Hữu bảo "bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi" nghĩa là quên đi thời Phạm Duy theo Pháp và theo Mỹ, chỉ nhớ cái gì ở anh là đẹp nhất trước kia và nên, sau này... Đấy cũng là thái độ của anh Hoàng Anh, Bí thư Khu uỷ hồi 1950 khi Phạm Duy bỏ kháng chiến về thành. Có một anh văn nghệ Liên khu IV bảo: "Thứ ấy càng đi, càng nhẹ nợ". Anh Hoàng Anh đã phê bình nặng đồng chí ấy:

  - Sao lại nói vậy? Anh ấy bỏ chúng ta mà đi, chúng ta phải xem lại trách nhiệm của mình. Giờ anh ấy về thành, các anh không được hết trách nhiệm, phải liên lạc, giúp đỡ anh ấy, cho anh ấy khỏi rơi vào tội lỗi.

  Chúng ta kiên trì, nhưng biết làm sao được! Nếu Phạm Duy cóc cần sự kiên trì ấy. Năm 1979 tôi đang ở thủ đô Bruxelles của Bỉ. Đêm ấy, cách chỗ tôi 800 mét, đoàn của Duy đang biểu diễn và chửi rủa chúng ta. Tôi chỉ biết nhắn:

  - Mọi người đều tuỳ thích có thể yêu thương hay nguyền rủa trong đời. Nhưng Tổ quốc mẹ chúng ta đang ốm. Hàng triệu trái bom của đế quốc, mẹ đã vượt qua. Nhưng một cái ho của chúng ta, cũng làm hại đến sức khoẻ, sinh mệnh của Mẹ. Cần gì phải chửi, chờ cho mẹ khoẻ ra, giàu lên rồi ai muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm.

  Vâng chỉ có trường hợp anh Phạm Duy là... là không cần cội vậy thôi. Chứ hình như hầu hết, lá rụng đều về cội cả và mọc lên thành cội nữa.

Huế, Nhà khách Lê Lợi
22 tháng 6 năm 1986


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Mười, 2008, 08:03:57 PM
Vài mẩu chuyện về tướng Nguyễn Sơn

Huy Sanh



  Trong đời mình tôi đã được tiếp xúc với nhiều vị tướng, nhưng không hiểu sao cái chất "tướng" của Tướng Nguyễn Sơn lại còn đọng lại nhiều ấn tượng trong ký ức tôi, dù đã cách biệt ông đến gần nửa thế kỷ.

  Thú thật mãi gần đây tôi mới được biết sơ sơ về tiểu sử của ông. Thời trẻ ông vốn là một chàng trai sinh ra ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội), năm 1925 đi hoạt động cách mạng rồi bí mật sang Trung Quốc, được đoàn thể bố trí vào học ở trường Võ bị Hoàng Phố tại Quảng Châu. Sau đó ông tham gia Hồng quân Trung Quốc, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham dự cuộc Vạn lý trường chinh lịch sử.
Tháng 10 năm 1945 ông trở về Việt Nam.

  Khoảng năm 1948, lớp thanh niên chúng tôi ở Thanh Hoá thường được nghe và rất thích nghe kể về Tướng Nguyễn Sơn, lúc này ông làm tư lệnh Liên khu IV, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Liên khu IV gồm 6 tỉnh: Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình - Trị - Thiên. Quân Pháp từ Huế đánh nống ra Bình Trị Thiên, bài hát "Bình Trị Thiên khói lửa" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương ra đời trong hoàn cảnh đó, 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn là vùng tự do, nhân dân cán bộ từ Huế, từ Hà Nội sơ tán ra vùng tự do theo kháng chiến cư trú ở vùng Thanh Nghệ rất đông. Liên khu bộ lúc ở Nghệ An lúc dời ra Thanh Hoá, bộ đội thường đóng quanh vùng Nông Cống và Thọ Xuân. Lúc này cuộc kháng chiến chống Pháp đã chuyển sang giai đoạn tích cực cầm cự, trong bộ đội có phong trào rèn cán chỉnh quân và luyện quân lập công. Sáng sáng bộ đội đóng ở chung quanh cơ quan Liên khu bộ đeo ba lộ tập chạy, vừa chạy vừa hô khẩu hiệu, Tướng Nguyễn Sơn bao giờ cũng đeo ba lô dẫn đầu đoàn quân, chạy với bộ đội mấy cây số liền. Lần đầu tiên trong đời lính, có ông tướng tư lệnh cùng chạy, cùng tập luyện với chiến sĩ, tin này loan ra quân dân phấn chấn, gây khí thế hào hùng, cán bộ các đơn vị càng tích cực tham gia rèn luyện cùng chiến sĩ.

  Tướng Nguyễn Sơn thích thể dục thể thao và ông cũng rất quan tâm đến phong trào này, nơi nào có bộ đội đóng quân là nơi đó phong trào thể dục thể thao phát triển rộng rãi sôi nổi, nhất là các môn thể thao quốc phòng như chạy, nhảy, ném lựu đạn, đâm lê, bắn súng v.v... Khoảng năm 1949, Tướng Nguyễn Sơn ra thăm Cầu Bố. Cầu Bố chỉ cách thị xã Thanh Hoá vài km là nơi dân thị xã sơ tán ra làm ăn buôn bán, dân buôn từ vùng tề mang hàng ra bán cũng nhiều. Tuy thời chiến nhưng thanh niên thị xã tản cư ra đây vẫn mê bóng đá và lập ra đội bóng lấy tên là đội Lam Sơn, có nhiều cầu thủ giỏi vốn ở đội bóng của tỉnh từ trước. Anh em đến báo cáo với Tướng Nguyễn Sơn muốn được đá một trận ở sân vận động thị xã để khuấy động phong trào. Lúc bấy giờ theo kỷ luật phòng không là không được tụ tập đông người sợ máy bay địch đến ném bom. Trước nguyện vọng tha thiết của anh em, Tướng Nguyễn Sơn đã đồng ý cho tổ chức trận đá bóng vào lúc chiều tà, nhưng để đảm bảo an toàn ông đã cho bố trí một trung đội súng phòng không trên núi Mật sẵn sàng nhả đạn khi có máy bay địch lượn qua. Kỷ luật sân bãi là nếu có máy bay địch đến tất cả khán giả và cầu thủ đứng yên không chạy để nghi binh, trận đấu đã diễn ra an toàn, hồ hởi, phấn khởi, các cầu thủ bao năm mới có một lần đá trên sân cỏ thị xã nên đã đá hết mình. Các cầu thủ thời đó nay đã là các cụ bảy mươi còn sống ở thị xã Thanh Hoá vẫn say sưa kể về trận đá bóng lịch sử ngày đó. Tôi đã vài lần nhìn thấy Tướng Nguyễn Sơn trong những ngày ấy. Ông có tài hùng biện, có thể diễn thuyết luôn luôn mấy tiếng đồng hồ mà không có bài chuẩn bị sẵn. Ông cũng là người ham văn nghệ, hay gặp gỡ trò chuyện với nhà văn Hải Triều lúc bấy giờ là giám đốc Sở Thông tin khu 4 và nhà văn Đặng Thai Mai, chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Thanh Hoá. Một hôm nhà văn Đặng Thai Mai đến bàn với Tướng Nguyễn Sơn về việc mở khoá bồi dưỡng văn nghệ khu. Theo lời kể của nhà viết kịch Bửu Tiến lúc ấy được tham dự thì Tướng Nguyễn Sơn nghe, rít thuốc lá và nói:

  - Về mặt "đấm đá", mình có thể cam đoan với các ông là thực dân Pháp không đủ sức nống ra 3 tỉnh tự do này. Vừa qua chúng nhảy dù xuống chiến khu Thừa Thiên. Anh Hà Văn Lâu đã đón tiếp chúng bằng một bãi mìn trước chiến khu, hơn 300 tên nằm lại trên đó. Hiện nay chúng không đủ quân bảo vệ những đồn đóng ở đồng bằng Bình - Trị - Thiên, du kích đã bắt đầu hoạt động mạnh. Chúng không còn ngang nhiên đi lại như vào chỗ không người được nữa. Trong đó bộ ba Nguyễn Chí Thanh, Trần Quý Hai, Hà Văn Lâu làm ăn rất khá, có cơ phát đạt. Bọn mình ngoài này cũng đang chuẩn bị một đợt rèn cán chỉnh quân, gửi quân vào tiếp sức trong ấy. Giặc càn đến đâu, du kích đánh đó, hăng đấy nhưng chưa có bài bản, phải bồi dưỡng. Khoá văn nghệ này theo mình hiểu cũng là một kiểu rèn cán chỉnh quân bên văn đó. Điều kiện cho phép tình thế đang cần, các ông cứ việc rèn cán chỉnh quân bên ông đi.

  Thầy Mai nói: Văn nghệ sĩ của ta khá nhiều như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Văn Tỵ, Chu Ngọc, Sĩ Ngọc, Bửu Tiến, Nguyễn Văn Thương, Đào Duy Anh, Trương Tửu.

  Tướng Nguyễn Sơn tiếp: Nên tập trung cả lại, có thể có một khung giảng viên mạnh đấy. Rồi ông tâm sự: "Cái dạo mình mới về nước, phải giấu mặt mấy thằng Tàu vàng, theo lệnh ông Cụ nằm bẹp một chỗ. Xa nước lâu ngày, nhớ nước quá nên vớ được sách nào đọc sách ấy. Thôi thì các ông "Màu thời gian tím ngắt", "Lá vàng bay ngổn ngang" đang ở đâu, rủ về đây, cách mạng chứa được hết. Mỗi người một tính một nết, miễn đồng ý chung một điểm: đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho nước nhà. Chưa đồng ý rồi sẽ đồng ý. Chính sách liên hiệp của ông Cụ hay tuyệt đấy.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công

  Lớp bồi dưỡng văn nghệ kháng chiến đã được mở tại Quần Tín (Thọ Xuân). Lớp học này tập trung hầu hết những văn nghệ sĩ nổi tiếng và nhiều tài năng trẻ mới xuất hiện đã có tác động to lớn trong việc hình thành lực lượng văn nghệ cách mạng sau này.

  Tướng Nguyễn Sơn là người đào hoa. Dân hay nói ông như Từ Hải vì có nước da bánh mật và bộ mặt râu hùm, hàm én. Tuy đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng nhiều cô gái vẫn rất mê ông. Có lẽ để ông yên tâm công tác và đề phòng tình báo địch dùng kế mỹ nhân len lỏi vào nên tổ chức khuyên ông lấy vợ. Cô Lê Hằng Huân con cụ Sở Cuồng Lê Dư lúc này gia đình cũng sơ tán về Thọ Xuân, được mai mối đã kết duyên với Tướng Nguyễn Sơn và hai người đi với nhau cho đến hết cuộc đời. Năm 1950 Nguyễn Sơn được điều ra Việt Bắc, sau một thời gian ông lại sang Trung Quốc rồi trở về Việt Nam điều trị, nhưng bệnh trọng ông mất lúc 15h30 ngày 21-10-1956, tại bệnh viện Hồng Thập Tự Liên Xô (bệnh viện Hữu Nghị bây giờ).

  Những người con của ông ở Trung Quốc và ở Việt Nam đã gặp nhau và Nguyễn Sơn là người Việt duy nhất làm tướng của Trung Quốc, được nước bạn tấn phong.

Văn hoá - Thể thao
Số 49, ngày 2 tháng 11 năm 1996


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Mười, 2008, 08:05:44 PM
Nguyễn Sơn: vị tướng của hai quốc gia,
hiệp sĩ hào hoa một thời trận mạc

Đỗ Quang Hạnh



  Ngày 31-12-1993 tại Hà Nội, Hội Sử học Việt Nam đã tổ chức buổi sinh hoạt sử học tưởng niệm 85 năm ngày sinh của Tướng Nguyễn Sơn (1908- 1956). Mặc dù sinh ra và mất đi đều tại Hà Nội, nhưng cuộc đời của Nguyễn Sơn lại trải dài trên các nẻo đường Trung Hoa cùng cuộc Vạn lý trường chinh và mặt trận Liên khu IV thời kháng Pháp. Ngoài những thành tích quân sự, Nguyễn Sơn còn được coi là vị "tướng văn hoá". Yêu mến và am hiểu văn nghệ, đặc biệt ông rất ưu ái đối với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, đóng góp của ông trên mặt trận văn hoá văn nghệ của Liên khu IV không phải nhỏ.


  Có lẽ Nguyễn Sơn là một vị tướng vào loại độc đáo nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại. Sinh thời, những câu chuyện về ông đã mang đậm nét huyền thoại. Cách mạng tháng Tám thành công, từ Trung Quốc, Nguyễn Sơn trở về trong tư thế của một sĩ quan Bát lộ quân dày dạn, từng trải trận mạc. Có lẽ ít ai có một quá khứ hào hùng đến vậy (ngay cả Tướng Nguyễn Bình vừa rời chiến khu Đông Triều đi vào mặt trận Nam bộ). Mặc dù chưa chính thức được phong cấp bậc, nhưng người ta đã xem ông là một vị tướng. Con người có vẻ ngạo nghễ ấy đã có lý khi nói đùa với bè bạn rằng: "Mình là thừa tướng". Và quả thật, chỉ vài năm sau cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều phong ông cấp tướng. Sẽ không bao giờ có một sự kiện trong lịch sử quân đội của cả hai quốc gia như vậy nữa. Và chưa có một tướng lĩnh thời đại của chúng ta được nhân dân lập đền thờ như đối với Tướng Nguyễn Sơn.

  Lòng yêu nước và chí giang hồ với máu phiêu lưu khiến chàng trai trẻ Vũ Nguyên Bác (tên thật của Nguyễn Sơn) không một lời từ biệt gia đình, bỏ ngang một "tương lai êm ấm" khi đang học trường sư phạm Bắc Kỳ. Sang Trung Quốc, được Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) truyền thụ lý tưởng cách mạng. Lý Anh Tự (tức Nguyễn Sơn) là lứa thanh niên hạt giống cùng Lý Tự Trọng, Lý Tống (Phạm Văn Đồng)... vào học trường võ bị Hoàng Phố năm 1925. Nguyễn Sơn tham gia khởi nghĩa Quảng Châu rồi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1927. Với cái tên Hồng Thuỷ, Nguyễn Sơn đã trở thành một chiến sĩ quốc tế, hiến dâng những năm tháng đẹp nhất của đời mình cho sự nghiệp cách mạng Trung Hoa. Đó là người Việt Nam đi suốt cuộc Vạn lý trường chinh 10 năm gian khổ và máu lửa. Ngày ra đi có 72 vạn Bát Lộ quân, đến đích chỉ còn 7,2 vạn người (1/10 quân số), sau hàng trăm trận đánh nhau với quân Tưởng. Từ chính trị viên đại đội, ông được giao luôn nhiệm vụ Chính uỷ sư đoàn 34 quân đoàn 12. Thời kháng Nhật, Nguyễn Sơn có lúc giữ chức Trưởng ban tuyên truyền khu uỷ Đông Bắc, phụ trách Toà soạn báo Kháng địch biên khu Tân - Sát - Ký (Trung Hoa). Không chỉ là một nhà quân sự, chính trị, Nguyễn Sơn còn là một nhà hùng biện xuất sắc, một tay viết báo sắc sảo,đồng thời còn là một "nghệ sĩ" bẩm sinh: Ông đã từng là đoàn trưởng đoàn kịch Công Nông Trường Hồng quân.

  Năm 1946, sau khi về nước được một năm, ông được cử giữ chức Khu trưởng Liên khu IV (Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình - Trị - Thiên... ). Năm 1948, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong Nguyễn Sơn cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Khu trưởng Chiến khu I Chu Văn Tấn, Khu trưởng Chiến khu II Hoàng Sâm, cùng một cấp bậc Thiếu tướng.

  Ngoài những thành tích quân sự ở Liên khu IV thời kháng Pháp với các trận đánh ở Huế, Bình - Trị - Thiên, Tây Nguyên... chỉ trong bốn năm ngắn ngủi, Nguyễn Sơn đã đóng góp không ít sức lực và tài năng của mình cho đất nước. Giỏi nhiều thứ tiếng nước ngoài, ông còn viết hàng trăm bài báo với bút danh Lam Phong cùng 12 cuốn sách vừa biên soạn vừa dịch thuật. Theo chính sách đoàn kết của Hồ Chủ tịch, Nguyễn Sơn đã tập hợp được một loạt các nhà trí thức, văn nghệ sĩ tên tuổi, kể cả những người "có vấn đề". Có thể nói, không một vùng nào trên đất nước ta thời bấy giờ có một đội ngũ nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ đông đảo đến như thế: Đặng Thai Mai, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Chu Ngọc, Bửu Tiến, Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Phạm Duy, Phạm Văn Chừng, Trần Hoàn, Đình Quang... Nguyễn Sơn với cương vị và tấm lòng ưu ái chân thành, đã "thu phục" được tất cả. Hơn thế nữa, ông rất có công trong việc mở các trường, lớp xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ. Đồng thời ông nhiệt tình ủng hộ bộ môn Tuồng, Chèo cổ với các nghệ nhân Nguyễn Đình Nghi, Cả Tam...

  Tháng 8/1948, ông thôi giữ chức Khu trưởng Liên khu IV. Năm 1950, Nguyễn Sơn được lệnh trở lại Trung Quốc làm cố vấn cho Quân uỷ Trung Quốc chi viện cho Việt Nam kháng Pháp. Sau đó, ông tham gia cuộc chiến tranh "Kháng Mỹ viện Triều". Thời kỳ này ông giữ chức Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh, Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Giám đốc Toà soạn "Huấn luyện Chiến đấu" và được Trung Quốc phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1956, Nguyễn Sơn ốm nặng, ông xin về Việt Nam và chỉ còn sống trên mảnh đất quê hương được có 20 ngày. Tên tuổi Tướng Hồng Thuỷ (Nguyễn Sơn) rất quen thuộc với nhân dân Trung Quốc. Mỗi lần sang thăm Việt Nam , các vị lãnh đạo Trung Quốc đều đến viếng mộ ông. Với cái tên Hồng Thuỷ, Nguyễn Sơn được nhắc đến trong từ điển tướng soái Trung Hoa. Đặc biệt vinh dự, trong cuốn sách Những người bạn nước ngoài của Trung Quốc (xuất bản năm 1993 tại Bắc Kinh). Nguyễn Sơn được dành những trang trân trọng như Bôrôđin..

  Đã nhiều năm qua đi, nhưng hình ảnh của một vị tướng huyền thoại có tâm, có tài ấy vẫn còn mãi trong ký ức của nhiều thế hệ.

Lao Động số 2/1994
Thứ Ba ngày 4-1-1994


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Mười, 2008, 06:03:40 PM
Tướng Nguyễn Sơn và tôi

Trần Độ



  Ông Nguyễn Sơn có vóc người vạm vỡ, rắn chắc, khuôn mặt vuông, tóc quăn và rậm, da bánh mật. Ngày tôi biết ông ấy, không rõ ông bao nhiêu tuổi nhưng mặt đã có nếp nhăn. Tôi thấy ngay rằng ông là bậc đàn anh, một đàn anh có tham dự cuộc Trường Chinh bên Trung Quốc. Còn ông thì xem xét cái này cái kia, không nói gì, song qua thái độ biểu hiện xem chừng ông có ý xem thường. Ông cũng hỏi dăm ba câu như: "Cậu năm nay bao nhiêu tuổi, ở Hà Nội thì đi bộ đội được bao nhiêu! Bộ đội ở những đâu, thành phần trong các đơn vị như thế nào?". Loanh quanh những vấn đề tương tự như thế. Phần tôi trong lần gặp ấy có ấn tượng được gặp vị mà Cụ Hồ thường bảo là "Thân kinh bách chiến", nghĩa là một vị tướng chỉ huy cực kỳ dày dạn chiến trận ở nơi nổi tiếng là ác liệt. Tôi lưu ý đến ông cũng là điểm ấy. Cho đến ngày ông làm Tư lệnh Quân khu IV, ông là người có sáng kiến tổ chức Đại hội tập, sau đấy các quân khu bắt chước tổ chức theo.
Đại hội đầu tiên tổ chức ở Thanh Hoá. Núi Nương là nơi diễn tập các môn. Tôi và Thanh dẫn đầu một đoàn cán bộ văn nghệ sĩ, có các ông Nguyễn Xuân Khoát, Mai Văn Hiến, Nguyễn Công Hoan. Nói là đi vào Khu IV công tác nhưng dụng ý của lãnh đạo là sơ tán anh em ra khỏi Việt Bắc, tránh trận càn của địch lên Việt Bắc vào gần cuối năm 1947. Khi tôi tới trình giấy tờ, ông Sơn thấy danh sách có tên mấy nhà văn, liền hẹn mời đích danh các ông, còn cán bộ chính trị thì ông không nhắc tới.

  Tôi liền dẫn mấy ông nhà văn vào phòng khách, là gian đầu của cái nhà tranh vách đất, có bộ ghế mây cũng tươm tất. Tôi kéo ghế ngồi lại. Ông Sơn chào khách:

  - Hôm nay thấy có các anh văn nghệ sĩ, tôi mời các anh lại nói chuyện văn nghệ chơi.

  Nhìn thấy tôi cũng ngồi lại, ông chỉ vào mặt và bảo:

  - Mày ngồi đây làm gì. Mày thì biết gì về văn nghệ.

  Ông bổ báng như vậy, nhưng tôi cũng hiểu là lời nói thân tình theo phong cách của ông. Hơn thế nữa ông ấy cũng nói một sự thật - tức là tôi mới là học trò đi bộ đội thì chưa biết gì nhiều thật. Còn các vị kia đều là người có tên tuổi, đều có tác phẩm, ông ấy muốn nói chuyện với họ. Tôi đáp:

  - Tôi muốn ngồi nghe các anh nói chuyện để học tập!

  Ông liền bảo:

  - Ừ, thì cứ ngồi đấy.

  Rồi ông ấy bắt đầu câu chuyện. Ông bình luận trên trời dưới đất. Phải thừa nhận là nhờ ông mà tôi mới đọc được những chữ Trung Quốc và cũng mới biết được tên một số tác giả lớn của nước Nga như Mácxim Gorki, Êrenbua, Phađêép và các ông Lécmôntôp, Trécnưsepski, Gôgôn. Hôm ấy ông ta nhắc đến hết, làm tôi hoang mang thật sự. Tìm đâu được Gôgôn để đọc mà ông ca ngợi đến thế. Lần đầu tiên tôi được nghe đến tên tác giả "Những linh hồn chết". Mà ông ấy thì thông kim bác cổ. Tôi hỏi ông, đọc Gôgôn bằng tiếng gì, ông nói "bằng tiếng Trung Quốc" - không lẽ Trung Quốc đã dịch Gôgôn từ thời ấy! Vừa trò chuyện, ông đưa cả rượu và kẹo ra mời khách, thật sự là một cuộc tiếp xúc rất là văn nghệ, không có công tác, công tiếc gì cả. Thời ấy, dân văn nghệ tập trung ở Khu IV khá đông. Ông Nguyễn Tuân biết có ông Nguyễn Công Hoan vào thì nhắn mời đi uống cà phê một chầu. Tôi là trưởng đoàn nên cứ các ông ấy đi đâu thì tôi cũng có thể đi theo. Tôi biết hai ông này mà gặp nhau ắt có lắm chuyện thú vị nên tôi đi cùng. Tôi rất sung sướng được ngồi với hai nhà văn lớn mà thời đi học đã bò ra đọc các tác phẩm của các vị. Tôi ngồi hóng chuyện và quả là lý thú thật.

  Ông Nguyễn Công Hoan là người rất vui tính, thích hài hước. Ông đã khởi đầu bằng một câu chuyện hài về ăn uống làm chúng tôi cười nôn ruột, tiếc là lâu ngày nên tôi quên nội dung. Ông Nguyễn Tuân hưởng ứng đáp lễ, dí dỏm kể chuyện đi ăn mỳ, thật khó mà tái hiện đầy đủ các chất Nguyễn Tuân ngất ngưởng, ông rủ rỉ tả cái tiệm mì của một Hoa kiều. Ông vào gọi một bát mì, ngồi mãi không thấy gì mới giục:

  - Sao lâu thế?

  - Dạ xin xong ngay đây ạ!

  Tay chạy bàn đem ngay bát nước mắm để trên bàn. Mình yên trí ngồi đợi với hy vọng có ăn ngay. Nhưng đã lâu lắm vẫn không thấy bưng mỳ lên. Mình lại giục, nó lại giòn giã cao giọng bảo:

  - Dạ. Có ngay đây!

  Một đĩa rau thơm lại tiếp lời dạ theo ra bên bát nước mắm. Và không còn gì hơn nữa đến hàng chục phút. Bụng như sôi lên. Lần thứ ba này mình không thèm giục mà quát thẳng thừng. Thêm được đủ bộ cái bát con, đôi đũa và cái thìa. Và chỉ có thế! Lại đành bấm bụng ngồi đợi. Đợi đến gần phát khùng thật sự thì nó mới bưng bát mì ra. Một bát mì khói bốc nghi ngút. Nguyễn Tuân đến lúc này cũng đói mềm, tính ăn ngay. Chỉ sự chờ chực đã làm mỳ quá ngon rồi. Nhưng vẫn tính thận trọng hay quan sát trước khi ăn và thấy bát mỳ có một con ruồi chết trong đó. Đang đói meo nhưng vì bực quá quên cả đói mình mới gọi bồi lại:

  - Lại, lại lại đây!

  Nguyễn Tuân tự nghĩ mình là trí thức nên đắn đo giữ cử chỉ hành động như thế nào cho tế nhị chứ không muốn trở thành thô lỗ như kẻ phàm ăn khác.

  Tên bồi lại gần hỏi: Thưa cái gì ạ?

  Tớ không thèm nói mà chỉ tay vào bát mỳ có dụng ý trách nó là bát mỳ có ruồi chết. Nó nhìn và lời thật thản nhiên:

  - Ơ bát mỳ, thưa bát mỳ đấy mà!

  Tức lộn ruột mà vẫn phải giữ tư thế trí thức, mình chỉ vào con ruồi. Hình như nó chưa nhìn ra, nó lại bảo:

  - Ơ bát mỳ đây mà!

  Đến nước này cứ trí thức lịch sự không xong, mình mới bảo:

  - Nhưng mà có một con ruồi!

  Nó chăm chú nhìn con ruồi, ngẩng lên bảo:

  - Ờ con ruồi nó chết đấy mà.

  Tức quá mình quát to:

  - Nhưng ruồi nó chết trong bát mỳ

  Nó bình thản đáp lại:

  - Ờ, tại mỳ nóng quá đấy mà!

  Thế là Nguyễn Tuân bụng đói cồn cào phải đứng lên trả tiền bát mỳ đi ra không dám ăn nữa, cũng không dám không trả tiền vì phải giữ tư thế của vị trí thức. Câu chuyện là thế, nhưng cái chất Nguyễn Tuân làm cho nó rất mực bi hài.

  Lại một lần không biết đi đâu đấy, Quân khu đưa xe Díp đón cả đoàn 7 tên lên xe đi hơn chục cây. Thế là sau đó ông Nguyễn Công Hoan hễ đi bộ là than thở: Úi giời, mình đi xe Díp nó quen rồi, giờ đi bộ sao ngại quá! Chục cây số đi xe tai hại thế làm Nguyễn Công Hoan muốn quên thói quen đi bộ. Đi với các vị thì cứ như vậy chuyện không đâu cũng được các ông chế biến, làm cả đoàn vui cười dọc đường.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Mười, 2008, 06:10:18 PM
  Sau đó, chúng tôi gặp lại ông Nguyễn Sơn ở đại hội. Vẫn thói quen mặc Pijama lụa, lụa nâu hay lụa đà, đạp xe đua đi chơi phố. Ông ấy tính rất bình dân và dân chúng ở đây đều biết Nguyễn Sơn. Có buổi văn công biểu diễn văn nghệ nhưng chuẩn bị chưa kịp để mở màn thì ông ra diễn thuyết. Một buổi diễn thuyết không chủ đề, không có dàn bài gì cả. Ông kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, chuyện các làng đánh du kích thiên biến, vạn hoá. Ta chiến thắng ra sao! Kháng chiến nhất định thắng lợi vì sao! Cách nói của ông thật nôm na và không kém hài hước làm cho người nghe cười tức bụng. Nhiều lúc khán giả rộ lên vỗ tay nhiệt liệt. Nói một thôi, ông lại vạch màn ngó vào trong hỏi: Xong chửa, rồi ông lại đóng mạnh quay ra bảo: Văn công vẫn chưa chuẩn bị xong, tôi xin phép lại nói tiếp nhé. Cứ thế đến ba lần. Mỗi lần trở lại, ông vẫn tiếp tục câu chuyện vừa dừng lại và đám đông lại cười như sấm. Lần ấy, tôi trú ở nhà một chị độ ba mươi tuổi, đã có con và cũng rất ham xem văn công. ở nông thôn kháng chiến hễ có buổi văn công biểu diễn là không một ai bỏ qua. Thấy chị, tôi hỏi cảm tưởng: Chị thấy văn nghệ thế nào. - Hay, hay lắm, vui lắm! - Thế tiết mục nào chị thích nhất?

  - Thích nhất tiết mục ông Sơn. Với chị, ông Sơn đã thành là tiết mục hay nhất! Tôi cứ nhớ mãi lời nhận xét đánh giá đó.

  Đúng là ông Nguyễn Sơn rất được quần chúng ưa mến. Còn giới trí thức thì đánh giá ông là nhà hùng biện. Người ta đồn nhiều và tỏ rõ sự thán phục ông trong việc nói Truyện Kiều, điều này tôi không được biết. Còn thỉnh thoảng nghe ông nói về văn nghệ thì tôi bái phục sự hiểu biết của ông ấy, kể cả về văn học thế giới. Hồi ông ấy mới về nước, tôi thừa nhận ông có nhiều điều bất bình, như khi phong thiếu tướng thì ông định không nhận. Mọi người đến mừng thì ông đã vặc lại: Chúc mừng cái gì! Tao thừa tướng chứ thiếu sao! Đợt phong đầu tiên năm ấy có mấy ông: Ông Văn đại tướng, ông Nguyễn Bình trung tướng, rồi các ông Hoàng Sâm, Nguyễn Sơn... Điều đó cho ta thấy rõ là ông không bằng lòng cách sử dụng ông và cấp bậc phong. Thoạt đầu tiên ông làm Tư lệnh Quân khu V hay là chỉ huy mặt trận trong đó thì tôi không nắm chắc, chỉ biết là lúc đó ông có viết một bài phân tích kinh nghiệm trận đánh, tên bài là "Trận Phú Phong" còn ông đánh đấm ra sao thì tôi không rõ. Sau đó ông ấy ra làm Tư lệnh Khu IV, ông ra ngay tờ báo mang tên "Tiền phong" hay gì đó, ông viết nhiều bài trong đó, chủ yếu là về quân sự. Ông phê bình chế độ chính uỷ tối hậu quyết định mà ông không tán thành. Chắc là ông có những ý kiến động các ông khác. Thế rồi ông xin trở lại Trung Quốc và Bác Hồ đồng ý.

  Cũng dịp này tôi được phái sang Trung Quốc chuẩn bị việc đưa quân sang huấn luyện. Ông Nguyễn Sơn được tổ chức ghép vào cùng đi với chúng tôi. Đến biên giới thì có xe GMC đón đi Nam Ninh. Cả đoàn phấn khởi sung sướng lắm. Yên vị trên xe, ông Nguyễn Sơn bảo:

  - Thế là tao cùng đi với chúng mày! Tôi đáp: - Được đi cùng anh vui lắm. Dọc đường tôi hỏi: - Tại sao anh đòi trở lại Trung Quốc như vậy? - Trung Quốc cũng là Tổ quốc của tao. - Thế về Trung Quốc anh định làm gì - Tao có ý định lập một đoàn kinh kịch! Tao sẽ làm trưởng đoàn dẫn quân đi khắp các nước trên thế giới. Tôi hỏi: Thế liệu anh có về Việt Nam diễn không? - Đi các nước thì đi chứ về Việt Nam tao không tính.

  Trên đường đi, ông còn giải thích để tôi hiểu kinh kịch. Đường đi từ Tĩnh Tây đến Nam Ninh thì mấy trăm cây số phải qua một vùng không an toàn, còn nhiều thổ phỉ và tàn quân Tưởng Giới Thạch, qua cái đèo gọi là Ma Thiên Lĩnh. Ông Nguyễn Sơn giải thích Ma Thiên Lĩnh là núi chọc trời, ở Trung Quốc thì có nhiều. Ngày trước tôi đọc chuyện Tàu có tên này, nay được đi qua thấy vừa thích thú vừa phiêu lưu. Bộ phận quân sự ở Tĩnh Tây ngày đó tôi không biết là cấp gì nhưng đã lưu chúng tôi lại, nói để tổ chức chuyến đi cho chu đáo. Lúc lên xe họ đưa tôi và ông Sơn lên chiếc có chữ "đặc đẳng an toàn". Ông Sơn bảo: Xe này tốt lắm đây. Bên này có mấy cấp an toàn, đi loại xe này thuộc cấp an toàn cao nhất, lái xe là loại rất giỏi, là những người lái một thời gian dài không để xe va quệt, không để xảy ra tai nạn thì được phong là "đặc đẳng an toàn". Có quý chúng mình lắm mới bố trí như thế này. Tay lái này quả thực là giỏi, anh ta là đại đội trưởng chỉ huy đại đội, tuyên bố:

  - Dọc đường đi xin đồng chí Hồng Thuỷ làm chỉ huy trưởng, trực tiếp chỉ huy. Chúng tôi nhất nhất tuân lệnh đồng chí!

  Ông Nguyễn Sơn thời ở Trung Quốc lấy tên là Hồng Thuỷ, là Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông từ chối, nói:

  - Không được. Tao là khách. Việc chỉ huy là ở chúng mày. Quân đội chúng mày sao tao lại chỉ huy!

  Tay kia nhất định không chịu. Thế là Nguyễn Sơn buộc phải nhận chỉ huy. Đi qua Ma Thiên Lĩnh còn thấy xác xe hàng bị cướp đổ nghiêng hai bên lề đường, đồ đạc, quần áo vương vãi xung quanh mấy xác xe, tuyệt không thấy người. Tay đại đội trưởng báo cáo ông Sơn kế hoạch đi tiếp. Cả đoàn xe có đến cả chục chiếc tạm thời dừng lại. Ông phái một trung đội đi lên trước chiếm lấy một điểm cao có thể khống chế được một vùng với đường kính vừa tầm đạn. Đoàn xe tiến lên phía sau và cứ thế cuốn chiếu qua quãng đường dài mấy chục cây số. Tay lái chiếc xe tôi ngồi phóng ghê lắm. Đặc biệt là cậu ta cứ đổ dốc là tắt máy, là lối đi rất mạo hiểm, xe lao như tảng đá lăn dốc. Không thuộc đường, tay lái không nhạy, không chắc thì không thể tránh nổi tai nạn. Ông Nguyễn Sơn cũng lạnh gáy, ông nói riêng với tôi: Tao ghê thằng này quá! Tao không sợ trời không sợ đất mà sợ thằng lái này. Sau ông phải bảo tay đội trưởng nhắc tay lái kìm hãm bớt lối đi quá mạo hiểm. Từ đó, khi đổ dốc xe vẫn giữ máy nhưng máu hăng của lái xe vẫn không giảm. Đoạn đường vun vút qua, vòng cua này bẻ cua kia cứ lẹ làng như cỗ máy tự động điều khiển, xe cứ trôi đều êm ru. Phải thừa nhận tay lái này lái hay như một nghệ nhân điều khiển xe, làm người ngồi vừa sợ vừa thú vị. Chuyến đi kéo dài đến ba ngày. Thường đến đêm thì đoàn xe dừng lại ở thị trấn để xả hơi, là dịp ông Sơn rủ tôi đi uống rượu: Phải làm chén rượu! Mày đi với tao! Tôi nhận lời nhưng giao hẹn trước: Tôi đi, nhưng không biết uống rượu, tôi ngồi chơi với anh, còn anh uống nhé! Ông nhất định không nghe, buộc tôi nhất quyết phải uống. Đến là khổ sở. Đến Nam Ninh hai chúng tôi được đón vào một cái biệt thự. Người đầu tiên đến thăm là bí thư Trương. Ông tới thăm Hồng Thuỷ chứ không phải đến thăm tôi. Hai ông gặp nhau mừng ra mặt, chuyện trò rôm rả. Còn tôi thì chầu rìa mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới bảo tôi rằng mai gặp đồng chí tư lệnh Quân khu nắm tình hình. Chỉ thế thôi! Ông Trương từng cùng ông Sơn dự cuộc Trường chinh nên nay gặp nhau tay bắt mặt mừng là phải, ông Trương còn mời ông Sơn xem buổi kinh kịch ở Nam Ninh. Ông Sơn bảo tôi: Mấy hôm nữa mày đi xem với tao, tao sẽ giải thích thêm để mày hiểu thế nào là kinh kịch. Hôm sau tôi định vào làm việc với Quân khu, tôi phàn nàn với ông Sơn: Tôi không biết tiếng Trung Quốc mà phiên dịch thì không có!

  Ông Sơn liền bảo:

  - Tao sẽ phiên dịch cho mày, nhưng mà mày định bàn những gì với Quân khu. Nói trước cho tao nghe, tao sẽ dịch cho.

  Tôi cho ông hay là phải bàn định ngày giờ đưa bộ đội sang, chỗ ăn ngủ của bộ đội, chế độ ăn uống, cung cấp như thế nào? Việc lĩnh vũ khí, chương trình huấn luyện ra sao. Nghe tôi nói xong ông ấy bảo:

  - Ờ thế thì được rồi.

  Khi tới nơi, ông gặp ông Lý Thiên Hữu, cũng lại là bạn thân cũ, các ông chào đón nhau cực kỳ niềm nở, còn với tôi thì nhạt nhẽo và trong câu chuyện tôi lại giữ vai trò ngồi chầu rìa. Ông Sơn bắt đầu câu chuyện của chúng tôi với ông Lý. Nửa giờ trôi qua, ông Sơn nói với tôi:

  - Thôi xong rồi, đi về.

  Rồi ông ấy lại nói:

  - Thôi thế này nhá! Mày lấy sổ ra ghi: Tao đã thoả thuận với ông Lý rồi. Ông ấy đồng ý những điểm này: ngày giờ sang này, quân trang quân dụng này, chế độ ăn, chế độ tiêu vặt như thế này, cán bộ, chuyên gia huấn luyện, cố vấn bao giờ tới và đón tiếp ra sao, ba tháng học bắt đầu từ ngày nào và kết thúc lúc nào. Thôi tao đã bàn đủ các vấn đề đó, mày cứ thế mà làm.

  Xong nhé! Đi về! Thật đúng là phiên dịch bố! Ông ấy bảo mình thông báo trước rồi căn cứ vào đó ông ta bàn bạc hết.

  Phần tôi đúng là chầu rìa vì suốt buổi không phải nói một câu, không được hỏi lấy một lần. Nhưng nghĩ lại thì ông ấy làm thế cũng phải vì hiểu biết của ông ta bao trùm lên những chuyện mình cần đưa ra. Hơn nữa, tiếng ông ấy thông thạo như tiếng mẹ đẻ. Chuyện để dịch từng câu nói chỉ thêm lủng củng, phiền hà, mất thì giờ vô ích. Những điều phải xử lý ông ấy làm chính xác hơn là có mình tham gia. Tôi thừa nhận cung cách của ông vừa gọn, lại đạt mọi yêu cầu nên cũng chẳng tự ái gì cả, cảm thấy nhẹ mình. Đến bữa đi xem chiếu bóng. Xảy ra chuyện cần vụ của tôi thú vị quá cứ ồ à như ở chỗ không người. Trước khi đi xem anh thư ký cẩn thận nhắc tôi: Anh phải dặn tay cần vụ đi thì giữ im lặng mà xem, cứ rống lên làm anh em xấu hổ. Trước khi lên xe tôi căn dặn: Này xem thấy gì hay không được la tướng lên người ra cười đấy. Thế mà đến cảnh con trâu đi lại nó lại hét to: Trâu bước. Đến cảnh em bé trèo cưỡi trâu thổi sáo thì cậu ta thật sự quên mình đang ở đâu, nói cười như vừa có một khám phá vĩ đại. Ngượng quá tôi cấu đùi nó khá đau mà nó cứ không hay biết...

  Hôm đi xem kinh kịch là đi cùng ông Trương và cả ông Lý. Lúc chờ mở màn tôi thấy ông Trương bảo ông Hồng Thuỷ lên nói chuyện.

  Tôi tò mò hỏi: Ông ấy bảo nói cái gì đấy.

  Ông Sơn cười rồi nói: - Ông ấy bảo tao nói chuyện ngày xưa đi trường chinh với bộ đội giải phóng. Thời ấy cứ đến buổi xem văn nghệ, khoảng thời gian đầu chờ mở màn thì lại thượng tao lên nói chuyện với khán giả. Nhưng mà bây giờ ở đây nói thế nào được.

  Ông kia cứ giục Hồng Thuỷ lên nói đi.

  Sau đó ngồi xem buổi biểu diễn kinh kịch, ông Sơn giải thích cho tôi hiểu từng động tác của diễn viên dụng ý miêu tả cái gì. Phải thừa nhận ông ấy hiểu rất sành sỏi và có cách thưởng thức thật tinh tế. Nhiệm vụ hoàn thành, tôi trở về nước, còn ông Sơn tiếp tục đi. Tỉnh Nam Ninh tổ chức bữa tiệc tiễn đưa tôi, đồng thời cũng tiễn đưa ông Sơn lên đường, mà cũng là cách để ông Sơn tiễn tôi trở về. Tiệc thì có rượu, người được tiễn phải uống rượu đáp lại thịnh tình của chủ bữa tiệc. Đó là chuyện cực hình đối với tôi. Tôi không uống được rượu, đến bia cũng làm tôi khó chịu. Từ hôm đến, bạn bày rượu ra uống, tôi cứ cầm lên đặt xuống hoài, hôm nay Tướng Sơn ngồi bên cứ doạ:

  - Này, người ta mời mà không cố gắng uống thì chẳng há là khinh người ta sao? Mình đang muốn nhờ vả thì phải ráng làm vui lòng người ta chứ!

  Nghĩ lời ông cũng có lý, tôi không dám từ chối. Tướng Sơn lại ép:

  - Mày uống mà không cạn chén là không được đâu! Có uống cạn với thái độ sởi lởi thì mới làm người ta vui lòng.

  Tan tiệc, tôi phải nắm chặt tay vịn cầu thang rồi lết lối về phòng ngủ. Sáng hôm sau ông ấy vui vẻ hỏi thăm:

  - Thế nào đêm qua về thấy thế nào?

  Nhìn thấy ông lộ vẻ thích thú như đã thực hiện được một trò đùa. Lúc chia tay, tôi rất bùi ngùi, nghĩ bụng: Một con người đất nước đang cần mà lại bỏ ra đi! Ông lưu lại nơi tôi một sự luyến tiếc day dứt. Suốt cả chặng đường ông đã đối xử với tôi rất thân tình và đầy cá tính Nguyễn Sơn.

  Sau này tôi có nghe nói lại là ở Trung Quốc ông làm Cục trưởng Cục điều lệnh mà cấp là thiếu tướng hay trung tướng gì đó. Về sau bị ốm, ông đoán mình không qua nổi, có nguyện vọng muốn chết ở Việt Nam.

  Ông Nguyễn Sơn mất năm 1956. Ông sinh năm 1908, thọ được 49 tuổi. Ra đi quyết không trở lại, mà khi chết lại tha thiết muốn về nước! Đó là cái uẩn khúc của tâm linh con người!


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Mười, 2008, 06:32:21 PM
Chỉ cần một lần được yêu như thế...
(Đọc Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương của Trần Kiếm Qua, NXB Văn Học 2001)

Tô Hoàng



  Họ tên thời con gái của tác giả Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương là Trần Ngọc Anh, quê gốc huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Yêu thương, gắn bó với Tướng Nguyễn Sơn rồi, nếu ông mang tên Trung Quốc là Hồng Thuỷ (nước lũ lớn để nhận chìm kẻ thù) thì chính ông đã đặt lại tên cho bà là Trần Kiếm Qua (kiếm là gươm, qua là giáo - phải là gươm bén, giáo nhọn nơi trận mạc). Bạn đọc trẻ hôm nay khó mà thông cảm nổi cách đặt tên như vậy. Nhưng trong những thời đại bão táp cách mạng đã từng xảy ra ở nước Nga, ở Trung Quốc, ở Việt Nam thì mỗi tên người hoặc mỗi bí danh đều gắn liền với những mục tiêu và quyết tâm chiến đấu, đâu là chuyện lạ? Đôi bạn trẻ còn tự nguyện mang chung một ngày sinh. Để hơn bốn chục năm sau, vào mùa xuân năm 1998, sang thăm Việt Nam - như bà Trần Kiếm Qua tự nhận xét "khi đã là một bà già tám mươi tư tuổi, lần đầu tiên tôi bước vào cửa nhà chồng"  và đến năm 2000 khi "đã tám mươi sáu tuổi như tôi, cuối cùng lại cầm bút viết" để hoàn thành một tập hồi ký rất hay, rất xúc động, dày trên 500 trang, kể về một thời trẻ trung khó quên của bà, kể về mấy chục năm tranh đấu của hai dân tộc Trung - Việt... Và hơn cả là, để khắc ghi hình bóng không bao giờ mờ phai của người đồng chí, người tình, người chồng mang dòng máu Việt Nam - Tướng Nguyễn Sơn.

  Chúng ta đã biết nhiều về những chiến tích huyền thoại, những phẩm cách đặc biệt cùng tài trí văn võ song toàn của vị tướng lừng danh này. Chúng ta cũng từng nghe nói ông có một đời vợ và hai người con tại Trung Quốc. Đọc Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương, bạn đọc sẽ hiểu cụ thể, tỉ mỉ hơn về cuộc tình này, cũng như những chịu đựng, hy sinh mà người vợ Trung Quốc của ông đã vượt qua.

  Bà Trần Kiếm Qua kém Nguyễn Sơn sáu tuổi, sinh trưởng trong một gia đình đại địa chủ tiếng tăm nhưng đã lụn bại. Trong bối cảnh của nước Trung Hoa phong kiến đầu những năm 1920, bà đã đủ tài trí theo học hết hệ trung và cao học sư phạm. Bà cũng vượt qua mọi định kiến, cắt tóc ngắn theo chị em tham gia những hoạt động kháng Nhật khi mới mười bốn, mười lăm tuổi. Chính trong công tác, bà đã gặp Tướng Nguyễn Sơn. Những mầm đọt tình yêu nảy nở rất mau giữa hai người như sự sắp đặt của số phận - biết Nguyễn Sơn là người Việt Nam , Trần Kiếm Qua tự xác định "cách mạng không có biên giới quốc gia, lẽ nào tình yêu lại có quốc giới hay sao?" Tuy nhiên, như nhiều mối tình nẩy nở trong bối cảnh ấy, anh và chị cảm phục, thương mến rồi trao gửi trái tim cho nhau trước hết vì những mục tiêu tranh đấu mà cả hai người cùng đeo đuổi, vì cùng thấy ở nhau đức quả cảm, tâm nguyện sẵn sàng sống chết nơi hòn tên mũi đạn, cùng tính năng nổ, xốc vác của tuổi trẻ... Khi ấy Nguyễn Sơn là cán bộ của Cục Chính trị Bát Lộ Quân, chính ông đã kèm cặp, dẫn dắt bà từ một nữ sinh viên thành một cán bộ Phụ vận vững vàng, kiên định của huyện Ngũ Đài thuộc quân khu Tấn-Sát-Ký. Biết bao gian lao, vất vả đã đến như thử thách mối tình của hai người. "Tôi và Hồng Thuỷ (Nguyễn Sơn) tuy mang tiếng là lấy nhau, đã lập gia đình, nhưng hai cánh chim uyên ương cách mạng không có một chỗ để tạm an cư, càng không dám nói đến chuyện xây tổ ấm". Sinh con đầu lòng khi chồng ở một mặt trận khác, suốt mấy tháng liền nằm giữa vòng vây của giặc Nhật, cơm không có mà ăn, áo không có để mặc, người mẹ trẻ phải bồng con thơ đi xin sữa từng bữa. Đến lúc vợ chồng, cha con đoàn tụ thì "Hồng Thuỷ suốt ngày bận công tác, tôi thì nằm bẹp, đành phải gửi cháu nhờ một bà ở thôn bên nuôi dưỡng. Nhìn thấy con mỗi ngày một phổng phao, trông thật đáng yêu. Không ngờ, ở với bà được sáu tháng, thì con bà mắc bệnh sởi, cháu bị lây, không lâu sau chuyển qua viêm phổi. Đáng thương cho bé Phong Ba, vừa mở mắt chào đời đã phải lìa bỏ nhân gian". Tiếp tới là cuộc phá vòng vây giặc Nhật để hội quân ở căn cứ Diên An. Đôi vợ chồng trẻ bồng đứa con thứ hai mới sinh cùng Bát Lộ Quân vượt qua bao nhiêu sông sâu núi cao, chịu rét, chịu đói suốt mấy tháng ròng để thực hiện sự bày binh bố trận của cách mạng trong tình thế mới.

  Nhưng đấy cũng mới chỉ là khúc nhạc dạo đầu của bản tráng ca của cặp vợ chồng Hồng Thủy - Trần Kiếm Qua.

  Vợ chồng con cái xum vầy tại căn cứ Diên An chưa bao lâu, sang năm 1945 Hồ Chủ tịch yêu cầu Nguyễn Sơn trở về Việt Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Đã diễn ra một cuộc chia tay không hẹn ước ngày trở lại. Rồi Quốc dân đảng mở cuộc tấn công lớn vào Diên An. Một nách hai con thơ, lại phụ trách một trại trẻ hơn một trăm tám mươi cháu con em liệt sĩ cán bộ, Trần Kiếm Qua đã tổ chức thành công một cuộc "di tản" vượt qua hơn 3.000 cây số trong bão đạn, đói rét cho đám trẻ này. Tiếp tới là những năm nhiều khó khăn, thiếu thốn sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Bà Trần Kiếm Qua vẫn bằn bặt tin chồng, vừa công tác ở ngành giáo dục Bắc Kinh vừa dạy dỗ, nuôi nấng hai người con trai, bà đã biểu lộ nghị lực và ý chí vươn lên của mình. Tướng Nguyễn Sơn được điều vào chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, ở Khu V, sau ra Khu IV. Ông nghe tin bà và hai con trai bị bom đạn giặc giết chết trên đường rút khỏi Diên An. Điều kiện thông tin liên lạc giữa nước ta và Trung Quốc lúc bấy giờ rất khó khăn. Cả bà lẫn ông đều không có cách gì bắt liên lạc với nhau. Cho đến năm 1951, khi ông trở lại Trung Quốc, bà xót xa đau đớn vì ông đã kết hôn, đã có hai con với một người phụ nữ Việt Nam (bà Lê Hằng Huân)...

  Bằng một lối văn kể chuyện giản dị, mộc mạc của người hồi nhớ lại kỷ niệm cuộc đời mình, tác giả Trần Kiếm Qua như sống lại những cảm xúc mãnh liệt của một thời con gái sôi nổi, của những năm tháng theo bộ đội Bát Lộ Quân làm mấy cuộc trường chinh, đặc biệt là mỗi khi ngòi viết nhắc đến hình bóng Nguyễn Sơn... Có thể vì thế nhiều phần trong thiên hồi ký bỗng giàu chất trữ tình, chất văn học và thật sự sinh động, cuốn hút. Những chương cuối của Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương tựa như cao trào của một vở kịch. Tác giả dành những dòng đẹp nhất, đầy lòng cao thượng và tính nhân bản khi kể lại rằng, trong những năm chiến tranh chống Mỹ gian lao bà Lê Hằng Huân đã nuôi dạy đàn con ra sao, đã luôn nhắc nhở họ rằng họ còn có một bà mẹ và hai người anh ở nước Trung Hoa bên kia và nguyện ước cuối cùng của Tướng Nguyễn Sơn là làm sao để bầy con ở cả hai phương trời Trung - Việt của ông có ngày được sum họp...

  Không ai mong phải sống lại trong ác mộng của đạn bom, đói khổ, xa cách, loạn ly. Nhưng có một thực tế này không thể phủ nhận: dường như chính những biến cố lớn mang đến những thử thách dữ dằn, khốc liệt đã làm nảy sinh những tình cảm lớn luôn biết điều chỉnh cái riêng sao cho phù hợp với cái chung; những nghị lực và ý chí vượt qua khuôn khổ thường tình, sau hết là những tính cách mạnh để mỗi con người đều như một anh hùng vô danh.

  Và trên cơ sở ấy đã nảy nở những mối tình - dù nhiều đắng cay, dù không trọn vẹn nhưng vẫn khiến chúng ta ước ao...

Phụ nữ Chủ nhật, số 6, ngày 24-2-2002.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Mười, 2008, 06:41:05 PM
"Một nửa" Việt Nam của người đàn bà Trung Quốc

Việt Hoài

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson9.jpg)
Bà Trần Kiếm Qua và những người con Trung Quốc - Việt Nam của Tướng Nguyễn Sơn tại Hà Nội, năm 1998.

  Cuốn hồi ký là lời mộc mạc của một cụ bà Trung Quốc 86 tuổi. Nhưng đó là một cụ bà có một số phận không tầm thường: đã qua cuộc Vạn lý trường chinh, đã bị bắt đấu tố và vẫn đứng vững trong Cách mạng văn hoá. Bởi vì chồng bà là Tướng Nguyễn Sơn - vị tướng huyền thoại của Việt Nam , "Lưỡng quốc Tướng quân" của quân đội hai nước Việt Nam - Trung Quốc

  Trần Kiếm Qua tròn 86 tuổi khi bà viết lại những hồi ức về người chồng của mình, một người chồng có số phận lạ lùng, đầy bão tố, đắng cay nhưng cũng thật bi hùng và lãng mạn. Là một nữ chiến sĩ cách mạng tiền bối, sau này trở thành nhà giáo dục (bà từng là Viện trưởng Viện Giáo dục mầm non và Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh trước khi về hưu), văn phong của Trần Kiếm Qua rất chừng mực, kìm nén. Bà cũng rất tránh nhắc đến những chi tiết riêng tư của cuộc sống vợ chồng. Tất cả cố gắng của bà chỉ để làm người đọc phải biết, phải nhớ, phải hiểu rằng đã có một chàng trai Việt Nam tên là Vũ Nguyên Bác - Nguyễn Sơn sống trên đời này, đã tìm cách sang Pháp từ năm 15 tuổi để gặp Nguyễn Ái Quốc, đã đến Trung Quốc năm 16 tuổi và chiến đấu cho nền độc lập của nhân dân Trung Hoa với cái tên kiêu hùng Hồng Thuỷ suốt 27 năm trai trẻ của cuộc đời mình.

  Người anh hùng đã ba lần vượt "núi tuyết" và "thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, đã ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc rồi lại được kết nạp, là một trong những vị tướng khai quốc của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm cấp tướng, đã hiện lên trong hồi ức của vợ mình như là một người thầy trên đường cách mạng, một người tình hào hoa, một người chồng tận tuỵ, một người cha mẫu mực. Nhưng vẫn có một nỗi niềm rất riêng, rất đau, muốn hét lên mà phải tự nắm chặt tay, nghiến chặt răng để kìm nén; người vợ Trung Hoa rất yêu và một mực chung thuỷ với ông đã không tha thứ cho ông vì "không phụ lòng 600 triệu nhân dân Trung Quốc nhưng phụ lòng một người phụ nữ Trung Quốc".

  Là một người vợ và một người mẹ, Trần Kiếm Qua đã ghi lại 60 năm dâu bể trong cuộc tình duyên của mình - cũng là 60 năm dâu bể trong quan hệ Việt - Trung bằng những cuộc gặp gỡ giữa những thành viên trong gia đình bà: cuộc hạnh ngộ của bà với Nguyễn Sơn; cuộc gặp lại sau năm năm ông về Việt Nam chiến đấu; cuộc gặp lần đầu giữa những người con Việt Nam và những người con Trung Quốc của Nguyễn Sơn; chuyến về quê chồng lần đầu tiên năm 84 tuổi...

  Cảm động nhất là những dòng bà viết về bà Lê Hằng Huân - người vợ sau của chồng mình - người đàn bà đã lấy đi hạnh phúc của mẹ con bà được bà nhắc đến bằng một giọng đầy cảm phục, kính trọng và thương xót. Người đàn bà Việt Nam tài sắc vẹn toàn ấy cũng như bà, đã ở vậy thờ chồng nuôi con khôn lớn thành người. Suốt đời chịu nghèo khó, khổ cực, trả lại nhà cửa, tiền bạc cho Nhà nước để sống cuộc đời thanh bần và luôn luôn chỉ cho phép con ghi vào lý lịch: "Cha - Nguyễn Sơn, cán bộ quân đội - đã mất" vì không muốn con sống dựa vào vinh quang của người cha.

  "Tôi là người vợ Trung Quốc của Hồng Thuỷ. Trên hai bờ Hoàng Hà, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu. Trong khói lửa của chiến tranh kháng Nhật, chúng tôi đã kết thành bạn đời. Khói lửa chiến tranh liên miên đã vô tình chia chúng tôi thành hai ngả. Những biến cố đã chia lìa âm dương, để lại trong chúng tôi những tiếc thương, hối hận suốt đời. Hồng Thuỷ đã ra đi vừa bi tráng vừa vội vã. Trái tim tôi vẫn như lá rụng về cội, vẫn hướng về Việt Nam. Hoàng Hà hùng dũng đã ghi lại trong chúng tôi biết bao nhiêu tình. Hồng Hà mãi chảy xuôi đã mang đi của tôi biết bao nhiêu nỗi nhớ".

  Có người phụ nữ Việt Nam nào không tự hào khi một người đàn ông của dân tộc mình đã được một người đàn bà nước ngoài yêu đến thế? Và có người trẻ nào không tự hào khi biết cha anh mình đã sống đẹp như vậy?

Báo Tuổi trẻ, ngày 6-8-2002


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Mười, 2008, 06:45:23 PM
"Hoàng Hà nhớ,   Hồng Hà thương"  -
và thể hồi  ký trong đời sống văn học đương đại

Lý Hoài Thu



  Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương (Nguyên bản: Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình) là tác phẩm hồi ký của bà Trần Kiếm Qua viết về Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn và đại gia đình Trung - Việt của ông. Bằng sức cảm hoá của những dòng hồi ức chân thực, tác phẩm của phu nhân tướng quân đã thực sự gây xúc động mạnh mẽ trong lòng bạn đọc Việt Nam.

  Từ nhỏ, qua những câu chuyện của gia đình, quê hương, và đặc biệt là từ một bức ảnh mà cha tôi lưu giữ được - bức ảnh Tướng Nguyễn Sơn hình như là với chiếc tẩu thuốc lá trên môi - tôi đã có những hình dung riêng của mình về vị tướng "rất có phong cách này". Mặc dầu chưa cảm nhận hết thần sắc của bức chân dung nhưng tôi nhớ là mình đã rất thích nét cương nghị, thông minh, phong trần, tài tử khác thường của người trong bức ảnh. Đến hôm nay, cầm cuốn sách của bà Trần Kiếm Qua trên tay, tôi thấy không có gì khác nhau giữa những hình dung xưa của mình với những tấm hình của ông được in trong sách, mặc dầu không thấy có bức ảnh "Tướng công ngậm tẩu"...

  Tướng Nguyễn Sơn, như chúng ta vẫn biết, là một nhà chỉ huy quân sự có tài, một vị tướng huyền thoại. Cuộc đời ngắn ngủi 48 xuân xanh của ông có đủ quang vinh và thăng trầm, ngọt bùi và cay đắng... Con người ông với những nét ngoại hình nổi bật, với cá tính độc đáo và một đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú hẳn là nguyên mẫu lý tưởng cho các nhà tiểu thuyết, song hồi ký lại có sức mạnh riêng của nó. Xuất phát từ những diễn biến có thật của đời sống, sức cảm hoá mạnh mẽ của thể hồi ký chính là bản thân đối tượng được miêu tả, là sự sáng tỏ của ký ức, là khả năng lựa chọn các sự kiện, chi tiết điển hình xoay quanh cuộc đời nhân vật chính. Qua những dòng hồi tưởng mạch lạc của bà Trần Kiếm Qua, chân dung cuộc đời Tướng Nguyễn Sơn hiện lên với đầy đủ mọi chi tiết để làm nên một số phận lẫm liệt và bi tráng. Mười lăm tuổi đã sang Pháp để tìm chân lý và đã được gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh. Mười sáu tuổi đã tham gia hoạt động cách mạng. Ông là một hình ảnh đẹp và cao cả tượng trưng cho tinh thần Cộng sản quốc tế, tình hữu nghị Việt - Trung. Với nhân dân Việt Nam, ông là một vị tướng tài ba có công lao rất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và ngay từ 1948 đã được phong quân hàm thiếu tướng. Với đất nước Trung Hoa, ông có 27 năm chinh chiến trên 48 tuổi đời, ba lần "vượt núi tuyết" và "thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, ba lần bị khai trừ Đảng nhưng không chùn bước, vẫn đạp bằng sóng gió để vượt qua và tiến lên. Ông là một vị tướng nước ngoài có công khai quốc nên nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và cũng được mang hàm thiếu tướng. Danh hiệu "Lưỡng quốc Tướng quân" của ông chính từ đó mà nên.

  Rõ ràng là bấy nhiêu chi tiết đã làm nên danh tiếng lẫy lừng của một nhà chỉ huy quân sự, một nhân vật lịch sử. Nhưng sức hấp dẫn của Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương không chỉ dừng lại ở đó. Với tư cách là một nhân vật văn học, bên cạnh những chiến công, Tướng Nguyễn Sơn qua lăng kính văn chương chính là con người của nhiều nếm trải số phận. Con người ông văn võ song toàn, khí phách hiên ngang nhưng chứa nhiều uẩn khúc và đa cảm... Giữa lớp lớp các sự kiện, biến cố lịch sử của hai dân tộc Việt Nam - Trung Hoa trong những ngày cách mạng bão táp tiêu điểm ký ức, hình ảnh Nguyễn Sơn - Hồng Thuỷ (tên Trung Quốc của ông) hiện lên đôi khi chỉ với vài lời đối thoại cũng đã tạo được ấn tượng khó phai về một con người có khẩu khí sắc sảo, ngang tàng nhưng cũng nhiều tâm tình, nhiều nỗi niềm trắc ẩn. Những năm cuối đời, ông phải nếm chịu nỗi đau thân phận quá lớn. Ngoài sự đau đớn của thân thể do căn bệnh hiểm nghèo gây nên, ông còn luôn bị dày vò bởi những khổ đau tinh thần hết sức nặng nề. Tự đáy lòng mình, bà Trần Kiếm Qua đã viết: "Hồng Thuỷ (tức Nguyễn Sơn) cương quyết, thông minh, tính tình thẳng thắn. Nhưng thông minh, thẳng thắn thì cuộc đời lại gian truân... Trong đời người ngắn ngủi, anh đã nếm đủ khổ đau, nhưng anh vẫn trung kiên bất khuất, không nản lòng tin. Đằng sau cái bề mặt tinh thần kiên nhẫn không xao xuyến, tính cách vui vẻ, lạc quan, phải thừa nhận anh đã chịu áp lực nội tâm rất nặng. Nếu không, anh chẳng thể rời cõi nhân gian trong lúc còn trẻ như thế này" (tr.397). Tuy nhiên, sau tất cả những cảm xúc đau thương mất mát ấy, hình ảnh tướng quân Nguyễn Sơn bao năm chinh chiến trở về Tổ quốc đã như "chiếc lá vàng rơi về cội". "Xuống xe, đến bên lề đường, cúi xuống bốc một nắm đất bùn lẫn cỏ xanh. Ông nắm chặt bàn tay đặt ngang ngực. Ông nhắm mắt lại hít một hơi dài" và "sung sướng ngắm nhìn đất đai cố hương xanh tươi bốn mùa"... là hình ảnh đẹp, nổi bật nhất về một con người có trái tim lớn - Một người Cộng sản chân chính.

  Nội dung thứ hai tạo mối quan tâm đặc biệt cho độc giả chính là mối tình xuyên quốc gia của Tướng Nguyễn Sơn với một người phụ nữ Trung Hoa, như ta đã biết, là tác giả, nhân vật tôi, người kể chuyện trong tác phẩm này.

  Tướng quân Nguyễn Sơn và bà Trần Kiếm Qua tuy khác quốc tịch nhưng cùng chí hướng, cùng lý tưởng. Trải qua những chặng đường binh lửa với bao gian nan khốc liệt, hai tâm hồn, hai trái tim đồng điệu đã đến với nhau. Trong chiến tranh, đôi uyên ương đã phải sống những tháng ngày "không có tổ ấm", mãi khi tới Diên An, họ mới thực sự được sống hạnh phúc bên nhau. Nhưng ngày vui cũng thật ngắn ngủi. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, theo yêu cầu của Tổ quốc, Tướng Nguyễn Sơn đã trở về Việt Nam để tham gia lãnh đạo kháng chiến. Họ chia tay nhau với niềm tin và lời hẹn ước một ngày tái ngộ. Một nguồn tin thất thiệt đã dẫn tới cuộc chia ly âm thầm, đau khổ, ám ảnh đến trọn đời cho cả hai con người vốn rất vững vàng trong muôn thử thách. Mối tình của họ bắt nguồn từ một tình yêu sâu sắc. Cuộc hôn nhân tan vỡ để lại trong lòng mỗi người một vết thương lớn. Một vị tướng dũng mãnh xông pha vào sinh ra tử như Nguyễn Sơn, đến cuối đời phải tự "kết tội" mình trong dằn vặt, đớn đau: "Suốt cả đời tôi chưa hề phụ lòng sáu trăm triệu nhân dân Trung Quốc, nhưng lại phụ lòng một phụ nữ Trung Hoa" (tr.397). Bà Trần Kiếm Qua lại càng đau xót hơn khi phải đối mặt với một tình thế nghiệt ngã, phũ phàng: "... đến ngày vợ chồng gặp lại thì tôi và Hồng Thuỷ lại phải cạn chén. Không phải mật ngọt mà là rượu đắng" (tr.339). Điều an ủi lớn nhất là bà Kiếm Qua đã sinh hạ được hai người con trai: Tiểu Phong và Tiểu Việt. Những đoạn miêu tả bức tranh đời sống gia đình, cảnh ba cha con đầm ấm quấn quýt bên nhau trong những giờ phút hiếm hoi gợi rất nhiều xúc động. Sau này, hai người con của Tướng Nguyễn Sơn đã hướng về Việt Nam với tất cả những gì thiêng liêng nhất của tình phụ tử. Càng xúc động hơn khi trên con đường tìm về quê cha đất tổ còn có người phụ nữ Trung Hoa, lần đầu tiên bước chân vào cửa nhà chồng lúc đã 84 tuổi.

  Là một vị tướng tài nghệ, tuấn tú, nhưng đời sống riêng tư của ông Nguyễn Sơn lại nhiều lần đổ vỡ. Trong cuộc đời không dài của mình, ông đã có đến bốn cuộc hôn nhân. Ngoài mối lương duyên trắc trở với người vợ Trung Quốc - người vợ thứ hai - ông còn ba cuộc hôn nhân khác. Người vợ đầu tiên ở quê do cha mẹ cưới hỏi khi ông 15 tuổi vì bặt tin ông trong thời kỳ hoạt động bí mật nên đã tái giá sau một thời gian dài chờ đợi. Người vợ thứ ba là một người phụ nữ cùng tham gia hoạt động cách mạng tại chiến trường Nam Trung bộ thời kháng Pháp nhưng do không chịu đựng nổi cuộc sống gian nan, nguy hiểm đã rời bỏ ông mà đi. Người vợ thứ tư là bà Lê Hằng Huân, một phụ nữ trẻ đẹp đến với cuộc đời ông khi ông vào độ tuổi 40 do tổ chức giới thiệu. Tuy không phải là nhân vật chính nhưng bà Lê Hằng Huân chiếm được rất nhiều cảm tình của độc giả bởi dung nhan và đức hạnh của bà. Chính nhờ tấm lòng ấm áp nhân hậu đó, những người con của Tướng Nguyễn Sơn luôn dành tình thương yêu và khát khao mong đợi được gặp gỡ những người anh ruột thịt của mình ở bên kia biên giới. Cuối cùng tám người con - những hoa trái từ bốn cuộc hôn nhân của Tướng Nguyễn Sơn đã có được ngày vui đoàn tụ. Đó là lối kết thúc có hậu, làm vợi bớt nỗi bùi ngùi thương cảm của độc giả với tư cách là người đồng hành chứng kiến toàn bộ câu chuyện cảm động về cuộc đời một nhân vật nổi tiếng của lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Yếu tố cuối cùng góp phần không nhỏ vào sự thành công của cuốn sách chính là nghệ thuật kể chuyện - Một lối kể càng về cuối càng "nồng". Cũng có thể là cuộc đời nhiều ẩn số của Tướng Nguyễn Sơn dần dần được giải đáp và nỗi đau "sinh ly tử biệt" đã đẩy những xung đột nội tâm lên đến cao trào nhưng rõ ràng gần đến hồi kết thúc, những suy nghĩ, cảm xúc, những nỗi niềm sâu kín bên trong đã được bà Trần Kiếm Qua bộc bạch hết sức chân tình.

  Có thể gọi Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương là một trong những tác phẩm hồi ký tiêu biểu nằm trong xu hướng "cuối thế kỷ nhìn lại". Trong văn học đương đại Việt Nam, đây cũng là một hiện tượng đáng chú ý. Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX (tập trung chủ yếu vào thập kỷ 1990), trên văn đàn xuất hiện một loạt những tác phẩm hồi ký, bút ký tạo nên một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó là chưa thể có. Khác với những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thể phóng sự với tính nhạy bén, xông xáo, linh hoạt đã tạo được những bước đột phá đầu tiên vào những điểm nóng, những vùng nhạy cảm nhất của hiện thực đời sống và hoàn toàn thắng thế thì những năm cuối cùng khép lại thế kỷ XX, sự ra đời của tác phẩm hồi ký nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm về quá khứ. Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận văn học đã thành dĩ vãng giờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít cuộc tranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn. Một thực tế không thể phủ nhận là độc giả ngày nay quan tâm đến sự chân xác, trung thực, khách quan của các chi tiết, sự kiện lịch sử. Đây lại chính là ưu thế lớn của hồi ký nói riêng và các tác phẩm ký nói chung. Ngay trong tiểu thuyết, một thể loại không bắt buộc người viết phải trung thành với nguyên mẫu, bạn đọc ngày nay vẫn tỏ ra hứng thú khi biết được ít nhiều tính chất tự truyện của tác phẩm và khám phá rằng nhà văn đã tự khai thác mình như một nhân vật chính. Một thực tế hùng hồn nữa là hiện nay, các tác phẩm hồi ký của các nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh quân sự, các nhà văn lớn... trong đó có những tác phẩm với những khoản nhuận bút khổng lồ đang là loại sách BEST-SELLER (sách bán chạy nhất). Điều an tâm lớn là những người tìm đọc các tác phẩm đó đều là những độc giả "thứ thiệt", độc giả thuộc tầng VIP của văn chương và văn hoá.

Hà Nội 22-11-2001
Báo Văn nghệ số 49 ngày 8-12-2001


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Mười, 2008, 06:50:59 PM
Cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn dặm

Minh Quang



  Cuộc trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc được biết là: Gian khổ vĩ đại, nhưng cụ thể như thế nào thì  nhiều người trong chúng ta chưa rõ lắm.

  Sau khi tham khảo một số tài liệu, tôi xin giới thiệu tóm tắt cuộc trường chinh vĩ đại này, mà Tướng Nguyễn Sơn là người Việt Nam duy nhất đã tham gia từ đầu đến cuối.

  Sau khi bị thất bại trong bốn lần "vây quét", tháng 9-1933 Tưởng Giới Thạch điều động một triệu quân, hai trăm máy bay, mở cuộc tiến công vào khu Xô viết, bắt đầu cuộc vây quét quân sự lần thứ 5. Đồng thời Tưởng thay đổi phương thức tác chiến "đánh nhanh tiến nhanh" trước đây thành phương thức mới "nhích dần từng bước" thực hiện ý đồ thu hẹp khu Xô viết, tiêu diệt sinh lực, quyết chiến với chủ lực Hồng quân để cuối cùng tiêu diệt Hồng quân ngay trong khu Xô viết.

  Về phía cộng sản, sau bốn lần chống vây quét thắng lợi, nhờ sự cổ vũ to lớn của cải ruộng đất và phát triển kinh tế, Hồng quân đã nhanh chóng phát triển tới hơn 30 vạn người. Nhưng Bác Cổ và những người cùng phe chiếm cương vị lãnh đạo Trung ương lúc đó đi theo đường lối "tả khuynh" của Vương Minh, gạt Mao Trạch Đông và một số người lãnh đạo ra ngoài Trung ương, làm cho quân dân khu căn cứ cách mạng đấu tranh gian khổ suốt một năm trời, rốt cuộc không bẻ gãy được cuộc "vây quét" lần thứ 5 của Quốc dân Đảng. Vào tháng 10 năm 1934 họ buộc phải di chuyển.

  Lý do nào Vương Minh lại chống và gạt bỏ Mao Trạch Đông?1

  Nhiều mặt về chính sách, chủ trương phương châm lớn, Mao Trạch Đông đều không tán thành chủ nghĩa mạo hiểm "tả" khuynh, đặc biệt về đường lối quân sự và chính sách ruộng đất.

  Hồng quân Trung ương và Khu Xô viết Trung ương đều do Mao Trạch Đông xây dựng lên. Mao có uy tín rất cao trong Đảng, chính phủ, quân đội ở Khu Xô viết.

  Do vậy Vương Minh, Bác Cổ cố gắng vô hiệu hóa Mao, âm mưu tước quyền của Mao.

  Cuối tháng 9 năm 1933, chính lúc Tưởng Giới Thạch đang "vây quét" lần thứ 5 thì có một người đến với Khu Xô viết, đó là Lý Đức (Li Teh), người Đức, tên thực là Otto Braun. Ông được Quốc tế Cộng sản phái tới làm cố vấn quân sự cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Otto Braun được Đảng Cộng sản Đức cử sang Liên Xô học quân sự tại Học viện quân sự Phrunde ở Mátxcơva từ năm 1928 đến 1932, sau khi tốt nghiệp Braun được điều sang Trung Quốc.

  Tháng 9 năm 1933, Braun được cử làm Cố vấn Hội đồng quân sự Trung ương với tên Lý Đức. Từ đó, nhóm Vương Minh dựa vào Otto Braun về mặt quân sự để tiến hành lãnh đạo.

  Thật ngược đời, Otto Braun là người nước ngoài, được theo học mấy năm trường Quân sự Liên Xô, không hiểu biết về tình hình Trung Quốc, càng không hiểu biết về tình hình khu Xô viết Trung ương, nhưng đã nắm giữ quyền chỉ huy, nắm vận mệnh của Hồng quân công nông Trung Quốc lúc bấy giờ.

  Ông ta một mực phản đối chiến tranh du kích, yêu cầu phải chính quy hóa bộ đội, đánh theo lối chính quy, rập khuôn theo sách vở đã học được ở trường. Tưởng Giới Thạch điều 50 vạn quân mở đầu cuộc vây quét lần thứ 5, đầu tiên chiếm Lê Xuyên, từ đó đánh thọc xuống phía Nam. Otto Braun chủ trương mạo hiểm xuất kích toàn tuyến đánh vào các trận địa kiên cố của địch, đồng thời phản công để chiếm lại Lê Xuyên rồi đánh tiếp Tư  Khê Kiều, kết quả thất bại thảm hại, dẫn đến Hồng quân hoàn toàn rơi vào thế bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Lúc này Mao Trạch Đông đề xuất ý kiến để cứu vãn tình thế nhưng bị gạt bỏ. Mùa xuân năm 1934, địch lại chiếm thêm Quảng Xương, Hưng Quốc, Ninh Đô, Thạch Thành. Khu Xô viết bị thu hẹp dần, lực lượng Hồng quân bị yếu mòn nghiêm trọng. Trong khi đó các ý kiến xây dựng đều không được Trung ương tiếp thu. Trước tình hình đó đồng chí Lưu Bá Thừa đã nói: "Hy vọng phá tan cuộc vây quét lần 5 cuối cùng đã bị tiêu tan", chỉ còn lại một con đường "Trường chinh".

  Và cuộc trường chinh dài 2 vạn 5 nghìn dặm bắt đầu.

  Thoạt đầu nó không được gọi là trường chinh mà chỉ gọi là di chuyển. Lộ trình cũng không được tính là phải đi xa như thế, mà chỉ dự kiến trước hết chuyển đến phía Hồ Nam để gặp Quân đoàn 2 và 6, sau sẽ hay.

  Khi bắt đầu trường chinh, lãnh đạo Trung ương gồm: Bác Cổ (Tần Bang Hiến) một trong những người lãnh đạo chính của Trung ương Đảng, Lý Duy Hán - Trưởng ban tổ chức, Trương Văn Thiên (Lạc Phủ) - Trưởng ban tuyên truyền, Chu Đức - Chủ tịch Hội đồng Quân sự - Tổng tư lệnh Hồng quân, Tổng chính ủy Chu Ân Lai, Tổng tham mưu trưởng Lưu Bá Thừa, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Vương Gia Tường, Cố vấn quân sự Lý Đức (Otto Braun).

  Mao Trạch Đông đang bị vô hiệu hóa.

  Thực tế thì Bác Cổ theo đường lối Vương Minh và bị Vương Minh khống chế. Nhưng Vương Minh lúc này ở Mátxcơva không tham gia trường chinh. Chỉ huy quân sự lại nằm trong tay Lý Đức.

  Lý Duy Hán, Trưởng ban tổ chức Trung ương lúc đó, nhớ lại rằng: "Sau khi Hồng quân bị thất bại trong cuộc chiến đấu bảo vệ Quảng Xương, địch bắt đầu mở cuộc tiến công toàn diện vào trung tâm Khu Xô viết, lúc đó khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1934. Bác Cổ gọi tôi tới chỉ vào bản đồ nói: "Bây giờ Hồng quân phải di chuyển đến Hồng Giang, Tương Tây (Hồ Nam) xây dựng căn cứ địa mới, đồng chí đến các tỉnh ủy làm công tác chuẩn bị tốt , nói họ đề xuất danh sách những cán bộ phải đi theo và cán bộ ở lại để bảo vệ Ban tổ chức Trung ương". Nghe Bác Cổ nói, tôi biết là Hồng quân phải di chuyển.

  Mọi công tác chuẩn bị để di chuyển được tiến hành bí mật. Trước khi đi, Bộ chính trị cũng không hề nêu vấn đề chiến lược trọng đại, có quan hệ đến sự thành bại của cách mạng đó ra để thảo luận. Tại sao Hồng quân phải rút lui khỏi Khu Xô viết? Nhiệm vụ trước mắt là gì? Phải đi đến nơi nào? v.v... Từ đầu tới cuối đều không được giải thích".

  Lý Duy Hán sau khi về Thuỵ Kim, theo chỉ thị của Trung ương, bắt tay ngay vào việc sắp xếp, chuẩn bị cho việc trường chinh. Cơ quan Trung ương biên chế thành 2 tung đội (mỗi tung đội khoảng hơn 1 quân đoàn).

  Tung đội 1, gọi là "Tung đội sao đỏ" là cơ quan đầu não và cũng là Bộ Tổng chỉ huy, trong đó có Bác Cổ, Lạc Phủ, Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Vương Gia Tường, Lý Đức, v.v...

  Tung đội 2 gọi là "Tung đội Hồng Chương" gồm cơ quan Trung ương, Chính phủ, Hậu cần, các đoàn thể, v.v... khoảng hơn 1 vạn người. Những đồ đạc, tài liệu, máy móc thì khá nhiều và cồng kềnh. Tung đội này do Lý Duy Hán chỉ huy kiêm chính ủy.

  Thường vụ Bộ chính trị quyết định để lại một cơ quan lãnh đạo, kiên trì đấu tranh, gọi là "Phân cục Trung ương" gồm Hạng Anh, Trần Nghị, Cù Thu Bạch, v.v... do Hạng Anh phụ trách.

  Trước khi hành quân, vấn đề đi ở của cán bộ được quy định. Cán bộ của tỉnh do tỉnh ủy quyết định rồi báo cáo Trung ương, cán bộ thuộc cơ quan chính phủ, bộ đội, các đoàn thể v.v... do người phụ trách Đảng Đoàn, lãnh đạo chính quyền lập danh sách rồi báo cáo Trung ương, cán bộ bộ đội do Tổng bộ chính trị quyết định.

  Ngày 10-10-1934, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bộ Tư lệnh Hồng quân từ "Thủ đô đỏ" Thụy Kim xuất phát lên đường.

  Năm quân đoàn 1, 3, 5, 8, 9 của Hồng quân Trung ương với hơn 8 vạn người đã từ Trường Đình, Ninh Bắc tỉnh Phúc Kiến và Thụy Kim, Vũ Đô của phía nam Giang Tây phân ngả cất bước hành quân.

  Cuộc di chuyển chiến lược "Trường chinh" được ghi trong sử sách Trung Quốc đã bắt đầu như thế.

  Thời kỳ đầu trường chinh, do sai lầm của đường lối "tả" khuynh, phát triển thành chủ nghĩa chạy trốn trong hành động quân sự. Hồng quân tiếp tục bị tổn thất nặng nề. Vừa rời Thụy Kim, còn chưa ra khỏi địa giới Giang Tây đã vấp phải tuyến phong tỏa thứ nhất. Ngày 21 tháng 10 Quân đoàn 1 gặp địch, nổ ra trận chiến đầu tiên, qua 2 ngày, địch phải rút lui, Hồng quân tiêu diệt khoảng 1 trung đoàn địch, bắt sống 300 tên.

  Tuyến phong tỏa thứ hai, địch thiết lập ở Quế Đông (Quảng Tây) theo sườn của tỉnh  Hồ Nam, giáp ranh Giang Tây, Hồ Nam, hòng chém đứt Hồng quân bằng một nhát dao. Ngày 2 tháng 11 Hồng quân vận dụng chiến thuật bao vây, kỳ tập, diệt gọn quân địch. Toàn bộ người, ngựa đi vòng, đột phát thuận lợi tuyến phòng thủ thứ hai của địch, tiếp tục Tây tiến.

  Tuyến phong tỏa thứ 3 của địch thiết lập ở Huyện Sâm, Nghi Chương (nam Hồ Nam) bố trí có vẻ kiên cố, điều bộ đội từ Giang Tây, Phúc Kiến tới. Nhưng dưới sự chỉ huy của Nhiếp Vĩnh Trăn, Hồng quân điều động binh lực, nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, vượt qua tuyến phong tỏa thứ 3 của địch, mặc dù trước đó, địch tuyên bố đây là tuyến phong tỏa "gang thép"!

  Nhưng Hồng quân lại vấp phải tuyến phong tỏa thứ 4 của địch.

  Không hiểu sao Ban lãnh đạo "tả" khuynh lại ra lệnh cho bộ đội đánh bừa, chỉ mong phá được vòng vây để sớm gặp quân đoàn 2 và 6. Cuộc chiến đấu quyết liệt trên bờ sông Tương Giang, nam Huyện Toàn (Quảng Tây) đã phải trả một giá quá nặng nề, mất già nửa quân số từ 6 vạn 6 nghìn người lúc bắt đầu trường chinh, nay chỉ còn hơn 2 vạn người. Xuất phát từ 10 tháng 10, đến 01 tháng 12, thời gian hơn một tháng rưỡi, Hồng quân đã bị đuổi, bị vây, bị chặn không biết bao nhiêu lần, không những làm tổn thất quân số, mà còn tăng thêm sự hoài nghi bất mãn một cách rõ rệt trong quân đội.

  Trước tình hình hiểm nghèo đó, Bác Cổ và những người cùng cánh vẫn kiên trì chủ trương tiến lên phía bắc để gặp gỡ hai Quân đoàn 2 và 6. Nhưng Mao Trạch Đông đã phân tích và đề nghị không nên gặp hai quân đoàn đó nữa, đổi hướng tiến về Quý Châu là nơi lực lượng địch mỏng yếu để giành chủ động.

  Chủ trương này ngay lập tức được Chu Ân Lai, Lạc Phủ, Vương Gia Tường ủng hộ. Do đó Hồng quân tiến về hướng Quý Châu, chiếm được Lê Bình, Quý Châu.
------------------------------------------
1. Đoạn này ngoài số tài liệu có sẵn và lời kể của chính Nguyễn Sơn ở Quảng Ngãi, tôi còn được tham khảo tài liệu của Đại tá Hoàng Minh Phương, Đoàn Sự, bài dịch của Nguyễn Tất Thứ đăng trong tạp chí "Tổ quốc" số ra ngày 01-10-1957 và nhất là quyển "Cha tôi - Đặng Tiểu Bình" của tác giả Mao Mao, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1996, từ trang 442 đến 485. Xin chân thành cảm ơn các đồng chí kể trên (T.G).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Mười, 2008, 06:54:52 PM
  Ngày 15 tháng 12, Bộ chính trị họp Hội nghị ở Lê Bình do Chu Ân Lai chủ trì để thảo luận hướng tiến của Hồng quân, vì Bác Cổ và Lý Đức vẫn chủ trương phải đi gặp hai quân đoàn nhưng Mao Trạch Đông đề nghị đổi hướng tiến về Quý Châu, nơi lực lượng quân địch mỏng hơn, quyết định lập vùng căn cứ ở sát Xuyên Khâm, lấy Tuân Nghĩa làm trung tâm.

  Sau Hội nghị Lê Bình, bộ đội tiến hành chấn chỉnh biên chế, tinh giảm, gọn nhẹ.

  Từ 15 đến 17-1-1935, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị Bộ chính trị mở rộng ở Tuân Nghĩa.

  Tại Hội nghị, Bác Cổ đọc báo cáo chính, Chu Ân Lai báo cáo bổ sung về vấn đề quân sự trong cuộc vây quét lần thứ 5. Tiếp đó, Mao Trạch Đông phê bình gay gắt những sai lầm của phương châm "phòng ngự tiêu cực", của chủ nghĩa mạo hiểm tả khuynh. Bài phát biểu của Mao Trạch Đông được mọi người ủng hộ.

  Hội nghị Tuân Nghĩa là một Hội nghị vô cùng quan trọng, đã đạt được hai kết quả:

  1. Ra Nghị quyết tổng kết cuộc chống "Vây quét lần thứ 5" của địch, chỉ rõ đường lối quân sự của Bác Cổ, Lý Đức đã gây nên thất lợi to lớn cho Hồng quân, chấm dứt một cách triệt để sự chỉ huy sai lầm "tả" khuynh của Vương Minh, Bác Cổ, Lý Đức trong đường lối quân sự.

  2. Cải tổ cơ cấu lãnh đạo Trung ương, bầu Mao Trạch Đông làm ủy viên Thường trực Bộ chính trị, giao quyền chỉ huy quân sự cho Chu Đức và Chu Ân Lai.

  Điều quan trọng nhất là sau Hội nghị Tuân Nghĩa đã hình thành được hạt nhân lãnh đạo trong Đảng Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông.

  Mọi người thừa nhận "Mao Trạch Đông đã cứu Hồng quân" và Hội nghị Tuân Nghĩa được coi là "bước ngoặt sống còn của Đảng Cộng sản Trung Quốc".

  Hội nghị đã làm cho Đảng Cộng sản Trung Quốc thoát khỏi chủ nghĩa mạo hiểm tả khuynh, chủ nghĩa giáo điều tả khuynh và chủ nghĩa bè phái tả khuynh từng gây nguy hại suốt 4 năm, ngoài ra còn thoát khỏi địa vị bị động do sự can dự của nước ngoài.

  Cũng tại Hội nghị này, Bộ Chính trị quyết định tiếp tục tiến lên phía Bắc, thành lập căn cứ địa mới ở Thiểm Tây, Cam Túc. Vì khu vực Thiểm, Cam rộng lớn, sản vật phong phú, lại là khu vực mỏng, yếu của địch, ở đó dễ tồn tại và phát triển, đồng thời cũng là căn cứ địa chống Nhật tốt. Sau Hội nghị, Tưởng Giới Thạch đã điều mấy chục vạn quân, lấy từ 5 tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, từ bốn phía áp sát Tuân Nghĩa hòng tiêu diệt Hội nghị. Nhưng dưới sự chỉ huy của Mao Trạch Đông, bộ đội đột phá vòng vây, tiếp tục tiến lên phía bắc, qua Vân Nam vòng theo biên giới hai tỉnh Tứ Xuyên và Tây Khang để đến Mậu Công. Tại đây, họ hội sư với phương diện quân thứ 4 từ Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy sang.

  Khi đến Mao Nhĩ Cái, Trung ương họp hội nghị mở rộng đánh đổ chủ trương sai lầm của Trương Quốc Đào định đưa Hồng quân xuống Tây Khang hoặc sang Tân Cương.

  Kết quả đường lối đúng đắn của Mao Trạch Đông đã thắng lợi. Hội nghị Mao Nhĩ Cái quyết định tiếp tục đưa Hồng quân tiến lên phía bắc chống Nhật. Hồng quân vượt qua sông Ô Giang hiểm trở, dùng mưu chiếm đầu cầu trên sông Kim Sa, tiếp tục qua vùng dân tộc Di rồi vượt sông Đại Độ.

  Sông Đại Độ là nơi danh tướng Thái Bình Thiên Quốc Thạch Đại Khai (cuối đời nhà Thanh) đã phải đầu hàng vì không qua nổi sông này.
72 năm sau, Hồng quân đã vượt được sông Đại Độ. Thoạt đầu dùng 17 chiến sĩ vượt sông bằng chiếc thuyền nhỏ, sau đó 22 chiến sĩ nhanh chóng chiếm đầu cầu Lô Định rồi hơn 3 vạn Hồng quân như các thiên thần đã đi qua chiếc cầu làm bằng xích sắt để vượt sông, phá tan mộng tưởng của địch muốn biến Hồng quân thành Thạch Đại Khai thứ hai ở nơi này.

  Qua sông Đại Độ chưa được bao lâu, Hồng quân vấp phải núi Tuyết cao sừng sững quanh năm phủ đầy băng tuyết. Nó có tên là Giáp Kim Sơn, mỗi bước đi là một bước khó vì ngựa không có lối đi. Trên núi, không khí loãng, không được ngồi nghỉ, vì chỉ cần ngồi xuống là không thể đứng dậy được nữa. Chiến sĩ Hồng quân ăn không đủ no, áo chỉ vừa đủ che thân, thể lực và sức chống rét tương đối kém nên một số chiến sĩ đã ngồi xuống đấy mà không đứng dậy được nữa. Họ đã yên giấc nghìn thu trong lớp tuyết trắng ngàn năm của Giáp Kim Sơn...

  Ngày nay để kỷ niệm sự hy sinh to lớn của Hồng quân, người ta đã dựng lên ở đây một tấm bia lớn mạ vàng. Bia đầu đội trời chân đạp tuyết, khi có mặt trời chiếu vào, bia như một tấm gương phản quang chiếu xa hàng mấy chục dặm và trở thành một kỳ quan.

  Qua núi Tuyết thì tới Mậu Công,  phía cực tây của tỉnh Tứ Xuyên. Tháng 6 năm 1935 lần lượt phương diện quân 1 và 4 đều tới. Tại đây, sau Hội sư hai đơn vị lớn, Trung ương mở liền hai cuộc Hội nghị xác định lại chủ trương Hồng quân tiếp tục tiến lên phía bắc để lập căn cứ kháng Nhật.

  Chủ trương này lúc đầu Trương Quốc Đào phản đối, nhưng nhiều đồng chí phân tích và tán thành đường lối của Mao Trạch Đông, Trương đành miễn cưỡng đồng ý.

  Sau Hội nghị, ngày 3 tháng 8, Bộ Tổng tư lệnh Hồng quân quyết định hỗn hợp phương diện quân 1 và 4, biên chế thành Tả lộ quân và Hữu lộ quân. Tả lộ quân do Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa chỉ huy. Còn Hữu lộ quân do Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai chỉ huy. Họ chia đường Bắc tiến, bắt đầu vào vùng thảo nguyên mênh mông không một bóng người.

  Các vị lão thành cách mạng từng tham gia Vạn lý trường chinh đánh giá: vượt thảo nguyên còn gian nan gay go hơn qua núi Tuyết.

  Đại thảo nguyên trên mặt là cả một đồng cỏ mênh mông, ở dưới là cả một vùng nước đen ngòm. ở đây không làng mạc, không có người, hầu như không có một thứ gì ăn được, khí hậu thay đổi thất thường, khi thì mưa bay mù mịt, trong chốc lát, trời lại trong xanh xa thẳm, khôn lường. Hồng quân không có gì để ăn, ngựa chết thì ăn thịt ngựa. Bộ đội đi sau, không có thịt ngựa thì gặm xương, khi không còn xương để gặm thì ăn rễ cỏ, vỏ cây thậm chí ăn cả thắt lưng da, đế giày. Khi trú quân thì đào hố, trên đầu dựng lều để tránh mưa gió.
Qua thảo nguyên phải đi vừa tròn 7 ngày 7 đêm, gian khổ, nhưng họ đã chiến thắng chặng đường gian nan nhất trong trường chinh là qua thảo nguyên. Chính tại đây Hồng quân đã hy sinh nhiều nhất, biết bao người đã chết vì đói, vì bệnh, vì ăn phải cỏ độc, vì bị sa xuống sình lầy...

  Vượt qua thảo nguyên, Hồng quân lại gặp phải tình hình nội bộ rất phức tạp, Trương Quốc Đào công khai chia rẽ Đảng và Hồng quân. Trương ỷ trong tay có hơn 8 vạn quân, binh lực rất lớn, nên liên tục trì hoãn, cự tuyệt sự chỉ đạo của Trung ương. Y gửi điện mật cho Trần Xuân Hạo, chính ủy Hữu lộ quân, bảo phải kéo Hữu lộ quân quay về phía nam. May thay bức điện đó lại vào tay Diệp Kiếm Anh, lúc này là Tham mưu trưởng. Ông đã báo cáo ngay với Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Bác Cổ. Trước tình hình nguy ngập đó, các đồng chí đã có quyết định nhanh chóng đưa các quân đoàn 1-3 của Hữu lộ quân và Tung đội quân ủy ra khỏi đội hình, nên mới thoát được hiểm nghèo, tiếp tục tiến hành di chuyển. Ngày 19-10 đội hình hành quân đã tới thị trấn Ngô Khởi của khu căn cứ Thiểm Cam.

  Từ tháng 10 năm 1934 đến tháng 10 năm 1935, trong thời gian một năm, Hồng quân Trung ương đã xuất phát từ Khu Xô viết Giang Tây đi qua Hồ Nam - Quý Châu, Vân Nam - Tứ Xuyên, Cam Túc... tất cả 11 tỉnh, cuối cùng đã đến miền bắc Thiểm Tây của vùng Tây Bắc - Trung Quốc. Cuộc trường chinh đã trải qua gian khổ ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau lưng quân địch truy kích, trước mặt bị chặn đường, trên không thì máy bay địch bắn phá. Tưởng Giới Thạch mong tiêu diệt Hồng quân trên đường trường chinh, nhưng Hồng quân đã đánh tan 410 trung đoàn địch, vô số thổ phỉ và lực lượng vũ trang của địa chủ, chiếm 54 thành thị, mở rộng khu giải phóng để chống Nhật.

  Hồng Thủy nhớ lại, lúc Hồng quân xuất phát từ các hướng có tới hơn 30 vạn quân nhưng do thương vong, đói rét, bệnh tật, nên khi tới Diên An Thiểm Bắc, chỉ còn hơn 3 vạn.

  Trước tháng 10 năm 1934, Hồng Thủy là giảng viên chính trị ở nhà trường. Để chuẩn bị cho cuộc trường chinh, nhà trường chia thành 4 trường nhỏ. Sau đó lại sáp nhập với đội cán bộ cao cấp thành một đơn vị chiến đấu gọi là Trung đoàn cán bộ đỏ, có huy hiệu đỏ, do Trần Canh chỉ huy, gồm các tiểu đoàn và các đội trực thuộc. Một số đồng chí già, đặc biệt là một số trí thức có tiếng tăm được Trung ương chỉ thị phải săn sóc đặc biệt như các đồng chí Đổng Tất Vũ, Từ Đới Lập đã đi trong đội hình Trung đoàn này.

  Hồng Thủy được Chu Đức và Lưu Bá Thừa quan tâm, nên cũng được xếp vào đội trực thuộc và giữ chức Chi ủy viên Chi bộ Đảng, phụ trách công tác tuyên huấn, cổ động viên trên đường trường chinh, đồng thời làm giáo viên của cán bộ cao cấp. Người nước ngoài tham gia Vạn lý trường chinh, ngoài Hồng Thủy người Việt Nam, còn có Otto Braun người Đức, do Quốc tế Cộng sản phái tới, Tôn Lý Đệ và Vũ Đình (Triều Tiên), bác sĩ Bation (Canada), bác sĩ Kilica (ấn Độ), Muller (Đức). Họ là những người đồng tình và ủng hộ cách mạng Trung Quốc.
 
  Khi Trung ương quyết định chia thành hai cánh tả hữu thì Hồng Thủy công tác ở cánh quân tả, cùng với Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa...

Theo "Nguyễn Sơn - Vị tướng huyền thoại
Nxb Trẻ, 2000, tr. 29-42.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Mười, 2008, 06:57:22 PM
Gặp gỡ đạo diễn phim
"Lưỡng quốc tướng quân"

Hoài Minh



  Sau khi được phép của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam , một thoả thuận hợp tác làm bộ phim truyền hình 4 tập "Lưỡng quốc Tướng quân", nói về cuộc đời của Tướng Nguyễn Sơn, đã được ký kết giữa Đài Truyền hình Hà Nội - Việt Nam và Đài Truyền hình Vân Nam - Trung Quốc. Với thời gian thực hiện từ 3 đến 5 tháng (bắt đầu từ tháng 11 - 2001) phim sẽ được làm thành 2 bộ - bộ tiếng Việt và bộ tiếng Trung Quốc.


  Tháng 2-2002, đoàn quay phim "Lưỡng quốc Tướng quân" đã tới thành phố Hồ Chí Minh quay những phân cảnh cuối. Trong dịp này, phái viên Tuần san Sài Gòn Giải phóng Thứ Bảy đã có cuộc gặp gỡ đạo diễn Chử Gia Hoa. Được biết, từ những năm 1990, ông đã tham gia làm phim về các vị tướng lừng danh Trung Quốc như Diệp Kiếm Anh, Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Trần Canh...

  - Cơ duyên nào dẫn tới việc ông làm đạo diễn phim "Lưỡng quốc Tướng quân"?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Những năm trước tôi có cơ hội tiếp cận với các vị tướng lĩnh và các anh hùng Trung Quốc nên được nghe nói tới Tướng quân Hồng Thuỷ, tức Nguyễn Sơn. Những gì tôi được biết đã thật sự lôi cuốn và nung nấu tôi ý tưởng làm phim về vị tướng huyền thoại này.

  Qua năm 2001 khi rời quân ngũ về Đài Truyền hình Vân Nam (đạo diễn Chử Gia Hoa nguyên là phóng viên ban Tin quân sự của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc - chú thích của người viết) tôi có thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về Tướng Nguyễn Sơn. Đồng thời, lãnh đạo của tôi cũng ủng hộ và cho rằng đây là thời điểm tốt nhất để làm một phim nâng cao tình hữu nghị giữa nhân dân 2 nước Trung - Việt.

  - Nguyên nhân nào đã hấp dẫn ông trong khi tìm hiểu về Tướng Nguyễn Sơn?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Trong mắt của quân đội và nhân dân Trung Quốc, vị tướng nước ngoài duy nhất tham gia xây dựng và chiến đấu có cống hiến rất lớn ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, Tướng Nguyễn Sơn là con người rất đáng khâm phục. Tài năng văn võ của ông trong quá trình hoạt động cách mạng để lại ấn tượng rất sâu đậm. Chuyện kể về ông có nhiều tình tiết ly kỳ như một huyền thoại... giúp tôi hình dung được nhiều công việc khi thực hiện phim này.

  - Đoàn làm phim đã làm được những gì trong một tháng qua ở Việt Nam?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Ngay khi đến Việt Nam cùng Đài Truyền hình Hà Nội thành lập một đoàn làm phim, chúng tôi đã được hợp tác với những người rất giỏi trong chuyên môn, làm việc rất nhiệt tình, chịu khó, cẩn thận. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều và rất hài lòng. Mới đầu là sự hợp tác tích cực với Đài Truyền hình Hà Nội, sau đó đi đến các địa phương đều nhận được sự nhiệt tình giúp đỡ. Từ việc tìm địa điểm, con người để phỏng vấn... nếu không có sự giúp đỡ tận tình thì sẽ không thể nào hoàn thành trong thời gian ngắn như vậy.

  Ở thành phố Vinh, Bảo tàng Quân khu IV, các cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân... các vị lãnh đạo cao cấp và các vị tướng lãnh như đồng chí Lê Khả Phiêu, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Quang, Hoàng Minh Thảo... đến đâu chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ rất chân tình.

  - Qua những cuộc phỏng vấn và quay phim đó, ông biết thêm những điều gì về Tướng Nguyễn Sơn?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Tôi thấy trong lòng cán bộ, quân đội, nhân dân, thanh niên Việt Nam, Tướng Nguyễn Sơn còn sống mãi. Ký ức không mờ phai của những người sống, chiến đấu, công tác cùng Tướng Nguyễn Sơn, những con đường mang tên Nguyễn Sơn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với những con người có công lao với đất nước.

  Tôi còn cảm nhận điều đó qua rất nhiều lời phát biểu bộc lộ tình cảm hữu nghị giữa nhân dân và quân đội 2 nước. Việc tham tán Việt Nam ở Trung Quốc và Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam quan tâm thiết thực và rất hoan nghênh đoàn làm phim chúng tôi, cũng như sự đón tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam, Uỷ ban Nhân dân, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội cùng các địa phương, thể hiện tình hữu hảo giữa hai nước bước vào thế kỷ XXI là nguyện vọng của cả 2 bên.

  Cuốn phim "Lưỡng quốc Tướng quân" đã trở thành một biểu hiện sự kết tinh tình hữu nghị giữa 2 dân tộc, 2 quốc gia và vì điều đó chúng tôi nhất định sẽ làm tốt bộ phim này để đáp ứng sự ủng hộ và kỳ vọng của mọi người.

  - Xin trân trọng cảm ơn và chúc ông thành công trong sự việc thực hiện phim "Lưỡng quốc Tướng quân"

Sài Gòn Giải phóng
Thứ Bảy 2-3-2002


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Mười, 2008, 06:07:01 PM
Đạo diễn Chử Gia Hoa
với bộ phim về tướng Nguyễn Sơn

Hà Giang



  Vào những ngày đầu năm Nhâm Ngọ tại Bến cảng Nhà Rồng, Dinh Thống Nhất, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh... những du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan bắt gặp một đoàn làm phim gồm khoảng một chục người Trung Quốc và Việt Nam đang say sưa ghi lại những hình ảnh tại đây. Cuốn kịch bản trên tay người đạo diễn thấp thoáng dòng chữ "Lưỡng quốc Tướng quân".


  "Lưỡng quốc Tướng quân" chính là Tướng Nguyễn Sơn - một vị tướng tài ba không chỉ vang danh trên đất nước Việt Nam mà còn là niềm tự hào của nhân dân Trung Quốc. Mối quan hệ mật thiết của hai nước lại càng thêm khăng khít, gắn bó khi cả hai quốc gia cùng có chung một vị tướng tài. Chính lý do này đã dẫn đến sự kết hợp của hai đài truyền hình Vân Nam và Hà Nội để cùng bắt tay thực hiện bộ phim "Lưỡng quốc Tướng quân".

  Đạo diễn Chử Gia Hoa (Chu Jia Hua) là một đạo diễn cấp cao của Trung Quốc, ông hiện là trợ lý giám đốc Đài Truyền hình Vân Nam. Sở trường của ông là thực hiện những phim tài liệu về các nguyên thủ. Ông đã phỏng vấn và làm phim về 20 nguyên thủ của các quốc gia trên thế giới. Năm nay, 47 tuổi, đạo diễn Chử Gia Hoa đã nhận được nhiều giải thưởng cao trong nước và quốc tế, đặc biệt là 2 giải Cannes của Pháp dành cho thể loại phim tài liệu. Lần này, được giao thực hiện bộ phim về Tướng Nguyễn Sơn, cũng chính là tâm nguyện của đạo diễn Chử Gia Hoa.

  Từng biết về Tướng Nguyễn Sơn qua những lần làm phim về các tướng lĩnh, anh hùng của Trung Quốc, đạo diễn Chử Gia Hoa từ lâu đã nung nấu ý định sẽ làm một bộ phim tài liệu về con người này. "Nguyễn Sơn là con đẻ của dân tộc Việt Nam. Ông đã có những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp cách mạng cả ở Việt Nam và Trung Quốc. Ông là người nước ngoài duy nhất được phong tướng ở Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc coi ông như người ruột thịt. Con người ông đã trở thành một huyền thoại" - đạo diễn Chử Gia Hoa tâm sự.

  Kịch bản "Lưỡng quốc Tướng quân" phỏng từ tiểu thuyết Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương của bà Trần Kiếm Qua - phu nhân Tướng Nguyễn Sơn tại Trung Quốc. Câu chuyện về người chồng tài ba cũng như những tình cảm của ông đối với quê hương, đất nước được bà Trần Kiếm Qua ghi lại một cách đầy đủ và sâu sắc trong tác phẩm của mình. Bộ phim dự kiến dài 4 tập; tập 1 giới thiệu gia đình Tướng Nguyễn Sơn và hoạt động cách mạng ban đầu của ông; tập 2 những hoạt động cách mạng của Tướng Nguyễn Sơn tại Trung Quốc và một số câu chuyện về ông; tập 3 kể về thời kỳ đấu tranh cách mạng của Tướng Nguyễn Sơn tại Việt Nam; tập 4 những kỷ niệm và niềm nhớ thương của quân dân hai nước Việt - Trung đối với ông. Đoàn làm phim đã lên đường từ ngày 6-1-2002 những cảnh đầu tiên được thực hiện tại cửa khẩu Lạng Sơn, sau đó là hành trình xuyên Việt với những nơi dừng chân bấm máy cũng chính là những nơi đã từng in dấu chân của Tướng Nguyễn Sơn: Hà Nội, Hải Phòng, quốc lộ 1 từ Huế đến đèo Hải Vân, thành phố Hồ Chí Minh. Trong cuốn sổ nhật ký của đoàn làm phim ghi kín lịch làm việc, phỏng vấn những nhân chứng tiêu biểu đã từng sống, làm việc, chiến đấu cùng Tướng Nguyễn Sơn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể những kỷ niệm khi Tướng Nguyễn Sơn về nước đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng - Ông Vũ Kỳ - thư ký của Bác Hồ thì kể lại những tình cảm của Bác Hồ đối với Tướng Nguyễn Sơn và câu chuyện về Thiếp thư 12 chữ do Bác gửi để phong hàm tướng cho Nguyễn Sơn vào năm 1948... Còn rất nhiều vị tướng lĩnh cao cấp khác nói về những cống hiến của Tướng Nguyễn Sơn đối với cách mạng Việt Nam. Đạo diễn Chử Gia Hoa bộc lộ sự tự tin về bộ phim "Chúng tôi gặp nhiều điều kiện thuận lợi để làm phim. Sự ủng hộ, giúp đỡ của Lãnh sự quán Việt Nam tại Trung Quốc và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam. Mỗi nơi chúng tôi đến đều nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân. Thiên nhiên Việt Nam cũng cho chúng tôi những cảnh quay rất nên thơ".

  Đài Truyền hình Việt Nam bỏ ra 1 triệu nhân dân tệ, điều động máy quay tốt nhất, hiện đại nhất cùng với quay phim và xử lý ánh sáng có nhiều kinh nghiệm để thực hiện bộ phim. Đây là lần đầu tiên Việt Nam và Trung Quốc cùng hợp tác làm phim. Bộ phim về một vị tướng của cả hai dân tộc tô thắm tình hữu nghị truyền thống của hai nước Việt - Trung.

Sài Gòn Giải phóng 10-3-2002


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Mười, 2008, 06:07:49 PM
Bảo tàng quân đội Trung Quốc
tiếp nhận tượng đồng Tướng Nguyễn Sơn



  Sáng 21-10, tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã tổ chức trọng thể lễ tiếp nhận bức tượng đồng "Lưỡng quốc Tướng quân" cho Bảo tàng Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Tới dự có đại diện Sứ quán Việt Nam tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thân nhân gia đình Tướng Nguyễn Sơn ở Việt Nam và Trung Quốc. Hoạt động này được tiến hành nhân kỷ niệm 45 năm ngày mất của Tướng Nguyễn Sơn. Bức tượng được thực hiện trong khuôn khổ cuộc vận động "Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân" do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tiến hành.

Lê Quang Vinh (từ Bắc Kinh)
22-10-2001


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Mười, 2008, 06:09:19 PM
Quan hệ hữu nghị Trung - Việt



  Sáng ngày 22-10, tại Toà nhà Bát Nhất, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên Quốc vụ viện Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Trì Hạo Điền đã tiếp gia quyến của cố Tướng quân Hồng Thuỷ, người Việt Nam sang thăm Trung Quốc.

  Tướng Hồng Thuỷ (tên thật là Vũ Nguyên Bác), sinh năm 1908 tại Việt Nam, năm 1925 theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, từng học ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là người nước ngoài duy nhất tham gia lực lượng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc trong suốt quá trình từ khi mới thành lập cho đến khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống Nhật. Đã cùng Hồng quân đi hết cuộc trường chinh 25 nghìn dặm. Năm 1955, đồng chí Hồng Thuỷ được phong quân hàm Thiếu tướng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền nói: Tướng quân Hồng Thuỷ là người con ưu tú của nhân dân Việt Nam, người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc luôn tưởng nhớ Tướng quân Hồng Thuỷ.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền nói: Những năm gần đây, sự hợp tác và giao lưu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... giữa hai nước Trung - Việt không ngừng được tăng cường. Tháng 2 năm nay, ông sang thăm Việt Nam, vô cùng vui mừng trước những thành tựu huy hoàng mà nhân dân Việt Nam đã giành được. Ông tin tưởng rằng, trong thế kỷ mới, quan hệ hai nước Trung - Việt sẽ không ngừng giành được tiến triển mới.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền đã giới thiệu với các vị khách Việt Nam tình hình trong nước và xây dựng quân đội của Trung Quốc.

  Người vợ Trung Quốc của Tướng quân Hồng Thuỷ Trần Kiếm Qua thay mặt gia quyến Tướng Hồng Thuỷ cảm ơn sự đón tiếp của Thượng tướng Trì Hạo Điền, bà nói: Tướng Hồng Thuỷ tới Trung Quốc năm 17 tuổi, ở Trung Quốc 27 năm, cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng hai nước Trung - Việt. Bà chân thành mong muốn tình hữu nghị giữa hai nước Trung - Việt đời đời trường tồn.

  Con gái của Tướng Hồng Thuỷ Nguyễn Thanh Hà ở Việt Nam cảm ơn đã có dịp này để cả nhà đoàn tụ ở Bắc Kinh và bày tỏ nguyện sẽ kế tục di nguyện của Tướng quân Hồng Thuỷ, trước sau như một góp sức mình cho sự phát triển quan hệ hai nước Việt - Trung.

  Chiều hôm qua, gia quyến của Tướng quân Hồng Thuỷ đã tặng bức tượng đồng của Tướng quân Hồng Thuỷ cho Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc.

Bản tin Trung Quốc 10-2001


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Mười, 2008, 06:14:05 PM
Những kỷ niệm về gia đình tôi

Nguyễn Thanh Hà
Con gái Tướng Nguyễn Sơn




  Khi tôi bắt đầu nhớ được những kỷ niệm trong cuộc đời, đó là những ngày tháng bố mẹ, em trai Nguyễn Cương, em gái Việt Hồng và tôi sống ở một căn hộ tầng 2 tại thành phố Nam Kinh, Trung Quốc. Trông nom chúng tôi là cô Hợi người Việt Nam. Đó là vào năm 1953, khi tôi tròn 4 tuổi.

  Bố mẹ tôi luôn dạy chị em tôi nói tiếng Việt và trong gia đình chỉ dùng tiếng Việt để nói chuyện. ấn tượng rất sâu sắc của thời thơ ấu, hạnh phúc ngắn ngủi của chị em chúng tôi đó là thời gian chúng tôi có tình yêu thương của cả bố lẫn mẹ. Lúc đó gia đình sống tại Nam Kinh, sau đó, năm 1954 về Bắc Kinh, Trung Quốc. Xung quanh toàn người Trung Quốc, nhưng mọi điều hay lẽ phải, tình yêu thương, sự mắng, giận những tri thức mới mẻ của cuộc sống cho lũ trẻ 3, 4 tuổi đều được vỡ ra bằng tiếng Việt Nam. Bố tôi thường rất tức giận khi tôi và Cương nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc trong nhà.

  Bất cứ cuộc tiếp xúc nào với người Việt Nam như anh Hoàng, anh Giao (con trai bà Hằng Phương - chị ruột mẹ tôi), các anh chị lưu học sinh Việt Nam hoặc đến sứ quán gặp bác Nguyễn Chánh và các chú, bác người Việt Nam, bố mẹ tôi đều đưa tôi và em Cương đi.

  Vào năm 1954, khi ở Khu Tân Bắc Kinh, bố tôi có mượn được một đĩa hát có ghi bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ". Ông vặn đi vặn lại suốt mấy ngày liền, vừa chép vừa bắt chúng tôi học để nhớ. Mà nào chúng tôi có hiểu nỗi nhớ quê hương xứ sở luôn day dứt trong lòng con người ấy. Lũ trẻ 5, 6 tuổi chúng tôi còn quá bé để có thể hiểu được lòng của bố mẹ.

  Thế rồi tai hoạ của định mệnh ác nghiệt đã giáng lên đầu mẹ tôi lúc đó mới 30 tuổi cùng với đàn con lít nhít. Đứa lớn nhất là chị Mai Lâm mới 8 tuổi, tôi 7 tuổi, Cương 6 tuổi, em Hồng 3 tuổi, còn em Hằng lúc đó mới hơn 1 tuổi. Bố tôi bị ung thư phổi. Sau khi mổ tại Bắc Kinh vài tháng thì về Việt Nam. Lũ trẻ chúng tôi còn chưa hết ngạc nhiên khi được trở về quê hương Việt Nam, được về Hà Nội thì bố tôi mất ngày 21-10-1956.

  Sau những ngày tang lễ ồn ào là những chuỗi ngày dài lạnh lẽo mẹ goá con côi. Từ lúc này, mặc dù còn rất bé, mới 7 tuổi, đi học vỡ lòng, nhưng tôi gần như là một người bạn của mẹ tôi, một chỗ dựa nhỏ nhoi cho bà. Mọi tâm sự ở cơ quan, những khó khăn, niềm mong mỏi của cuộc sống bà đều nói với tôi (trừ chuyện những người đàn ông đến trao đổi với bà). Mỗi lần linh cảm đến điều này, tôi lại chui vào gầm bàn thờ của bố tôi nằm khóc. Khi chỉ còn hai mẹ con bà lại ôm chặt lấy tôi. Mẹ khóc, con khóc...

  Mẹ tôi là con một gia đình Nho giáo nghèo quê Quảng Nam, sống ở Hà Nội. Bà ngoại tôi mất từ khi mẹ tôi mới 10 tuổi. Hồi bé bà cùng với mấy bà bạn của bà là bà Trực, bà Hồng Miên (hiện sống tại Sài Gòn), bà Thái (tức Tuyết Mai) học rất giỏi lại ngồi cùng bàn. Mấy chị em nhà bà đẹp nổi tiếng ở Hà Nội những năm trước Cách mạng tháng Tám là các bà Hằng Phương, Hằng Phấn, Hằng Huân và Hằng Trang. Bà đẹp và thông minh nhưng phải gánh một nỗi đau quá lớn và quá sớm. Nhưng điều quan trọng nhất của đời bà là làm sao nuôi đàn con học hành đến nơi đến chốn, trở thành những con người có lòng tự trọng cao, biết tự lập, không dựa dẫm, biết coi trọng giá trị tinh thần, biết yêu thương... Bà dạy chúng tôi phải biết sống xứng đáng với "Bố Sơn", không được làm điều gì ảnh hưởng xấu đến "Bố Sơn", nhưng trong lý lịch lúc nào cũng chỉ ghi họ tên bố: Nguyễn Sơn - cán bộ quân đội, đã mất tháng 10-1956.

  Tôi còn nhớ rất rõ cuộc sống lúc còn nhỏ của chúng tôi rất khó khăn. Mẹ tôi thường tính rõ với tôi là lương của bà được 70 đồng/tháng. Năm chị em chúng tôi được phụ cấp là 12 đồng/tháng. Thế là với số tiền 130 đồng/tháng cả ăn, học, mặc, tiền thuê nhà, tiền điện nước... của một gia đình một mẹ và 5 đứa con nhỏ đều bó tròn trong đó. Cho tới tận những năm 1966- 1967 chị em chúng tôi mỗi đứa chỉ có 2 bộ quần áo, mặc bộ này giặt bộ kia, không may gặp mưa là phải mặc quần áo bẩn.

  Có lần nhà hết gạo, tiền cũng còn rất ít, mẹ tôi kiên quyết không cho đi vay. Thế là mấy chị em chúng tôi "sáng kiến" làm ngô bung, bánh đúc ngô... ăn trong 3 ngày chán quá, tôi xin mẹ cho tôi đi mua khoai về ăn, thế là lại khoai luộc, khoai hấp, khoai đồ... qua 3 ngày nữa, cả 5 chị em sắp hết chịu đựng nổi thì ngày thứ bẩy được đong gạo phiếu. Thế là tôi và chị Lâm, Cương hẹn nhau dậy rõ sớm từ tờ mờ sáng để xếp hàng mua gạo, mà gạo hồi đó đâu có như bây giờ, gạo hẩm nhiều. Thế mà nấu nồi cơm ăn với rau muống luộc, tép khô rim nước mắm mấy mẹ con ríu rít vui vẻ. Ăn ngon còn hơn cả được ăn cỗ Tết.

  Trong suốt cả cuộc đời, mẹ tôi rất coi nhẹ vật chất. Mẹ tôi thường kể lại "Khi bố mẹ về nước, Đảng và Chính phủ Trung Quốc có cho bố tôi một số tiền rất lớn, nhưng bố tôi nói: - Tôi đi làm cách mạng chứ không phải đi làm thuê, nên nếu tôi còn sống thì tôi sẽ nộp toàn bộ số tiền này cho Nhà nước, còn nếu tôi chết đi thì để vợ tôi gửi số tiền này vào tiết kiệm. Hàng tháng trích lãi để nuôi lũ con còn quá nhỏ của tôi".

  Nhưng khi bố mất, mẹ tôi cũng không nhận số tiền đó và cũng nộp toàn bộ cho Nhà nước.

  Những khi mấy chị em đói quá, thèm ăn quá, chúng tôi lại ngồi ước, giá ngày ấy mẹ giữ lại một ít thì bây giờ đỡ khổ. Mẹ tôi cười hiền hậu và nói: "Phải biết sống bằng lao động của chính mình con ạ. Các con cứ học giỏi vào, sau này công tác tốt thì cái gì cũng sẽ có cả, mà thế bố Sơn mới vui và yêu các con hơn. Thế mới là con bố Sơn chứ".

  Cho mãi tới lớn, khi cả 5 chị em tôi đều đã học xong đại học, ba trong năm người là sĩ quan quân đội, còn chị Lâm đi B từ năm 1967, rồi sau 1975 mới đi học Đại học Âm nhạc, chỉ có em Hồng học Đại học ở Tiệp Khắc, học rất giỏi, nhưng chuẩn bị tốt nghiệp thì không may bị bệnh tâm thần phân liệt. Lúc này mẹ tôi đã về nghỉ hưu (năm 1978), em lại ốm nặng, đập phá luôn. Chị em tôi đề nghị bà cho phép bọn tôi viết đơn xin lại một phần số tiền để mẹ tôi nuôi em và thuốc thang cho em. Bà mắng cho một trận và nghiêm cấm việc làm đó.

  Lúc này tôi mới được bà nói rõ cho biết: số tiền là 3 vạn nhân dân tệ. Đổi ra tiền Việt Nam năm 1956 được 30 triệu đồng. Bố tôi đã nhận 2 triệu để mua quà biếu họ hàng, bạn bè, đồng đội lúc mới về nước, số tiền còn lại là 28 triệu đồng Việt Nam. Khi các chú trong Bộ Quốc phòng ra đưa cho mẹ tôi giấy biên nhận, thì mẹ tôi không nhận và huỷ đi trước mặt các chú để biểu thị tấm lòng thực sự của mình.

  Chị cả tôi, Vũ Thanh Các nói rằng một triệu đồng lúc đó (1956) có thể mua được một căn nhà đẹp tại trung tâm Hà Nội.

  Vào những năm 1966-1967, Nhà nước có chế độ cung cấp theo sổ, mẹ tôi cũng được sổ cung cấp theo tiêu chuẩn của bố tôi. Những năm này mấy chị em chúng tôi đều đã đi bộ đội hoặc đi học ở xa. Bà đã dùng các tiêu chuẩn này mua giúp cho các gia đình bạn bè có khó khăn, chứ tuyệt nhiên không một lần mua ra bán giá cao hưởng chênh lệch như nhiều người vẫn thường làm trong thời gian đó. Không dùng đến thì bà bỏ không mua.

  Hồi nhỏ mẹ tôi có một hình thức động viên chúng tôi rất thú vị. Năm nào vào dịp 19-5 bọn tôi cũng háo hức viết thư chúc thọ Bác Hồ, đứa nào được nhận giấy khen và bằng khen thì được dùng giấy khen và bằng khen viết thư chúc thọ Bác. Còn không thì viết vào giấy. Vì vậy năm nào đứa nào không được giấy khen là rất buồn. Chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết, số giấy khen và thư ấy vẫn được giữ đầy đủ.

  Tôi còn nhớ những ngày chị em tôi được kết nạp vào Đội thiếu niên tiền phong hoặc Đoàn thanh niên cộng sản. Mẹ tôi rất vui, ngày đó gia đình tôi như mở hội. Sau khi dự lễ kết nạp về mẹ tôi thắp hương khấn cho bố tôi biết sự trưởng thành của từng đứa con. Năm chị em đều hết sức cảm động và đều muốn cố gắng. Ngày tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, mẹ tôi khóc và đã dùng giấy khen Ba Đảm Đang của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ tặng bà để bà viết thư chúc mừng tôi. Lúc đó tôi đang học năm cuối của Trường Đại học kỹ thuật quân sự.

  Năm nào Bác Hồ cũng gọi vào để 6 mẹ con được ăn cơm với Bác. Mỗi lần được gặp Bác, mẹ tôi lại báo cáo với Bác sự tiến bộ của từng đứa. Bác thưởng kẹo, khen ngợi, nhắc nhở, dặn dò rồi cho ăn cơm. Bác hiền từ ngồi nhai chậm rãi nhìn bọn trẻ chúng tôi hăm hở ăn những món ăn ngon và lạ. Đứa nào ăn xong còn một hạt cơm trong bát là Bác bắt vét sạch sẽ.

  Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là vào mùa đông năm 1967, lúc đó tôi đã đi bộ đội. Chị Lâm đi B. Cương và Hồng, Hằng sang Quế Lâm học ở Trường Nguyễn Văn Trỗi. Tôi được về tranh thủ thăm mẹ. Đúng lúc có người báo chuẩn bị được gặp Bác. Hai mẹ con mừng quá. Tình hình lúc đó rất căng thẳng. Máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội dữ dội. Mọi gia đình đều đi sơ tán. May lại được gặp Bác. Mẹ tôi chưa kể với Bác về tình hình gia đình. Bác rất vui ôm hôn tôi rất lâu. Bác biết những ngày mẹ tôi sống rất buồn. Con cái đi hết, một mình bà sống ở Hà Nội cùng với các đồng chí ở Hội Liên hiệp Phụ nữ. Bác động viên rất nhiều. Mỗi lần gặp Bác Hồ mẹ tôi như lấy được thêm sức mạnh, lại kiên trì, bền bỉ sống, làm việc và nuôi dạy con cái. Không chút kêu ca, oán thán, mệt mỏi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Mười, 2008, 06:22:31 PM
Mẹ tôi rất yêu thơ, thích làm thơ. Tất cả những thời gian rỗi rãi, cô đơn, bà chỉ để đọc thơ, dịch thơ, làm thơ và đọc tiểu thuyết.

  Nhưng cuộc đời quá khắc nghiệt với bà: 30 tuổi chồng chết, một mình nuôi một đàn con nhỏ, cả con mình và con riêng của chồng, khôn lớn, trưởng thành. Tưởng đã thanh nhàn thì một con gái bị mắc bệnh tâm thần. Đến cuối đời chứng ung thư quái ác đã làm cho sức khoẻ của bà kiệt quệ. Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh, bà vẫn tâm sự với tôi: "Ôi! chắc mẹ không kịp xem hết chuyện Angiêlích mất. Sao mà chuyện dài thế, mà nhà xuất bản ra chậm quá. Hai người họ yêu nhau thế, bao nhiêu khó khăn trắc trở họ vẫn yêu nhau...".
Khi bà mất đi, mỗi lần Nhà xuất bản Phụ Nữ ra tiếp các tập của Angiêlíc, vợ chồng và các con tôi đi lùng mua bằng được để lên bàn thờ thắp hương khấn bà về đọc truyện, cuốn truyện tình yêu mà đến lúc chết bà mới chỉ được đọc dở dang...

  Ngay từ nhỏ, mẹ tôi đã cho các con biết rất rõ về các chị em trong nhà: Chị Vũ Thanh Các là con bà vợ đầu tiên của bố tôi, lúc ông đang còn là học sinh Trường Sư phạm. Khi ông chuẩn bị bỏ nhà đi hoạt động, ông đã giả vờ cãi nhau với vợ vì bà hỗn với bố để lấy cớ bỏ đi. Sau nhiều năm, không có tin tức bà đành đi bước nữa.

  Anh Trần Hàn Phong và anh Trần Tiểu Việt là con bà Ngọc Anh ở Trung Quốc.

  Chị Mai Lâm là con bà Ba Nội. Từ bé chị đã không được ở với bố mẹ, bà Hồ Ngọc Lãm nuôi chị. Hôm vừa về nước, mẹ tôi đưa tôi đi đón ngay chị về. Lúc này mẹ chị đã vào Nam.

  Mẹ tôi thương và đối xử rất tốt với tất cả những người con của bố tôi, vì bà rất yêu ông. Tuy vậy, bà luôn răn đe chúng tôi trong cuộc sống phải giữ gìn, bà biết những ưu điểm của ông và dạy các con phải biết phát huy tất cả ưu điểm, tự hào và làm tăng thêm tên tuổi của ông. Nhưng bà cũng biết nhược điểm của ông và răn đe con cái không được phạm phải. Bà rất sợ mấy chị em tôi không chung thuỷ trong tình yêu và nhắc nhở chúng tôi phải khiêm tốn, không được kiêu ngạo... Chúng tôi rất hiểu ý nguyện của bà. Càng lớn chúng tôi càng hiểu. Tám chị em tôi dù ở xa nhưng khi gặp nhau vẫn hết sức thân thiết, lo lắng cho nhau, quan tâm và yêu thương nhau hết mực. Các cháu nhỏ con chúng tôi cũng vậy, như anh chị em sống với nhau từ nhỏ.

  Tháng 10-1993, tôi có dịp sang Bắc Kinh, tôi ở nhà mỗi ông anh vài tuần. Với số vốn tiếng Trung ít ỏi, tôi đã tâm sự với hai anh tôi, hai chị dâu, hai đứa cháu và bà Ngọc Anh. Có lẽ bà Ngọc Anh là người phụ nữ duy nhất trong bốn bà vợ của bố tôi, từ người bạn chiến đấu, người đồng chí cùng hoạt động nảy sinh tình yêu và đi đến hôn nhân trong quá trình hoạt động cách mạng rất bôn ba gian khổ của Người.
Bà là con gái một gia đình nông dân ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Bà bỏ nhà đi hoạt động cách mạng rất sớm từ lúc chưa tròn 20 tuổi. Khi bà quyết định cưới bố tôi, bố của bà phản đối vì bà đi lấy người nước ngoài. Nhưng bà rất yêu bố tôi, cảm phục tài năng, yêu mến tính thẳng thắn, đức hy sinh quả cảm của Người và bà cũng nhận được tình yêu mãnh liệt của ông.

  Các chú làm việc với bố tôi vào những năm đầu kháng chiến kể lại "Bố tôi về nước làm việc rất nhớ bà và các con ở Trung Quốc, rất nhớ không khí gia đình êm ấm hoà thuận mà sau mỗi lần đấu tranh căng thẳng ở cơ quan, đơn vị, về nhà, bà đã đem lại cho ông sự tĩnh tâm, lắng đọng. Ông lại cảm thấy thanh thản. Mấy năm đầu, đêm nào ông cũng tâm sự với các cán bộ quanh ông là ông rất nhớ vợ con và cần có vợ con ở gần".

  Khi gặp bà Ngọc Anh, nói chuyện với bà, tôi biết bà đã góp một phần rất lớn vào việc yêu thương ông, động viên ông trong cuộc đấu tranh cách mạng rất gian khổ của ông, giúp ông vượt qua được mọi gian khó mà ông gặp phải. Năm nay bà đã 80 tuổi, sáng nào cũng dậy sớm tập thể dục. Chiều luyện khí công, đọc sách, báo, xem thời sự đều đặn. Bà rất lạc quan yêu đời, tính tình vui vẻ, chu đáo, phóng khoáng...

  Những ngày ở bên bà, có lẽ lần đầu tiên sau mấy chục năm bà mới được giải đáp về nguyên nhân đã khiến bố tôi có lỗi với bà. Tôi đã lựa lời nói lại với bà.

  Bà chậm rãi kể cho tôi nghe khi bố tôi về nước, sau một thời gian thì bà sinh anh trai thứ hai của tôi. Để nhớ ông, bà đặt tên cho anh là Việt. Một mình bà với hai con nhỏ rất gian khổ trong những năm kháng Nhật. Nhưng bà vẫn dũng cảm nuôi con, tham gia kháng chiến, yêu ông và chờ ông. Khi ông về nước năm 1945, bà mới hơn 30 tuổi.

  Đến năm 1950, khi gặp ông, được ông cho biết ông đã cưới mẹ tôi và có hai con nhỏ. Bà rất đau khổ, bà đã khóc... Bà biết ông rất yêu con, vì vậy hình phạt mà bà phạt vì sự có lỗi của ông là không cho gặp và chăm sóc con. Vì vậy suốt 5 năm cuối đời ở Bắc Kinh bố tôi rất buồn vì chỉ gặp các anh tôi có một lần.

  Còn bà, bà nói với ông rằng: Dù sao bà cũng là cán bộ cách mạng, con cũng đã lớn, còn người vợ hiện thời của ông lại quá trẻ, con lại nhỏ, vì vậy bà lặng lẽ sống một mình nuôi con, công tác, không hề khuấy động cuộc sống của bố mẹ tôi, mặc dù cùng sống ở thành phố Bắc Kinh.

  Xung quanh ít người biết được nỗi khổ của bà. Chúng tôi cho rằng bà là người phụ nữ có nghị lực. Bà đã nuôi dạy hai anh tôi khoẻ mạnh, học xong đại học. Qua rất nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng hai anh tôi vẫn đức độ, trung thực, thẳng thắn, và rất yêu bố, yêu quê hương Việt Nam và đều rất tự hào về bố Nguyễn Sơn.

  Cũng như mẹ tôi, bà dạy hai anh hiểu biết, phát huy những ưu điểm của bố, không được mắc phải những nhược điểm của ông. Hai anh không hút thuốc, không uống rượu, có cuộc sống riêng rất hạnh phúc, công tác ở cơ quan có uy tín.

  Bà đã khóc khi nghe tin ông mất tại Hà Nội. Và đến bây giờ khi nói chuyện với tôi về ông, tôi vẫn thấy mắt bà long lanh, tình yêu bố tôi vẫn không nguôi trong lòng bà.

  Các vị lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Quân đội Việt Nam khi sang thăm Trung Quốc như Chủ tịch Lê Đức Anh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Đoàn Khuê... đều đến thăm bà, các anh chị và các cháu.

  Bà và hai anh tôi vẫn luôn nhớ tới bố tôi, tự hào về ông và hướng về quê hương Việt Nam.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson10.jpg)
Nguyễn Sơn và hai con trai Hàn Phong, Tiểu Việt.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:33:21 PM
CÁO PHÓ

  Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam rất đau đớn và thương tiếc báo tin để đồng bào và toàn thể cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam biết:

  Thiếu tướng Nguyễn Sơn Nguyên Tư lệnh Liên khu IV

  Sau một thời gian bị bệnh ung thư, đã tạ thế lúc 15 giờ 30 ngày 21-10-1956, tại Bệnh viện Hồng thập tự Liên Xô ở Hà Nội.

  Thi hài Thiếu tướng đã đưa về Câu lạc bộ Quân nhân ở đường Hoàng Diệu, Hà Nội.

  Tang lễ sẽ cử hành hồi 15 giờ ngày 22-10-1956.

Báo Nhân Dân, số 961
ngày 22-10-1956


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:35:16 PM
Lễ an táng
Thiếu tướng Nguyễn Sơn
đã cử hành trọng thể tại Hà Nội



  Sau một thời gian trị bệnh, Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã từ trần hồi 3 giờ 30 chiều ngày 21-10-1956 tại Bệnh viện Hồng thập tự Liên Xô ở Hà Nội.

  Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập Ban tổ chức tang lễ do Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Trưởng ban, gồm có Tổng tham mưu phó Trần Quý Hai, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Lê Liêm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Nguyễn Thanh Bình, Cục trưởng Cục Quân huấn Cao Văn Khánh, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiếu.

  Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu và Hoàng Anh, các cán bộ cao cấp trong quân đội và gia đình Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã đến bệnh viện dự lễ khâm liệm Thiếu tướng.

  Sau đó, linh cữu Thiếu tướng đã đưa về đặt tại Câu lạc bộ Quân nhân. Tại đây, các đại diện Bộ Tổng Tư lệnh và một đơn vị bộ đội danh dự đã thay phiên nhau túc trực suốt đêm 21 và ngày 22-10-1956.

  Sáng 22-10-1956, Hồ Chủ tịch đã đến viếng, đặt vòng hoa trước linh cữu. Tiếp đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trường Chinh, các vị Bộ trưởng, Thứ trưởng, các vị đại diện ban Thường trực Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam, các cơ quan Trung ương và Hà Nội, đại biểu các Tổng cục thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, đại biểu các đơn vị Quân đội ở Liên khu V, Liên khu IV là nơi Thiếu tướng đã hoạt động trong những năm kháng chiến, cùng nhiều đại biểu các đơn vị quân đội, anh hùng, chiến sĩ lần lượt đến viếng và đặt vòng hoa.

  3 giờ chiều, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ làm lễ truy tặng Thiếu tướng Nguyễn Sơn Huân chương Quân công hạng Nhì.
3 giờ 30 lễ an táng bắt đầu.

  Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều cán bộ cao cấp trong quân đội khiêng linh cữu Thiếu tướng lên xe hơi bọc vải đen viền trắng.
Đi đầu là xe hoa rồi đến xe mang Quân kỳ "Quyết Thắng", xe ảnh Thiếu tướng Nguyễn Sơn và xe chở linh cữu phủ quốc kỳ, một đơn vị danh dự đi hộ tống. Tiếp đó là xe của gia đình Thiếu tướng, đại diện Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cán bộ cao cấp của quân đội, đại biểu của chính đảng, cơ quan, đoàn thể ở trung ương và Hà Nội, đại biểu nhân dân, cùng các bạn chiến đấu của Thiếu tướng. Các đồng chí công tác tại Đại sứ quán Trung Quốc cũng tới viếng và dự lễ an táng Thiếu tướng. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn và một đội nhạc của quân đội.

  Thi hài Thiếu tướng Nguyễn Sơn được an táng tại ngoại thành Hà Nội.

  Trong lễ an táng, đồng chí Hoàng Anh thay mặt Tổng quân uỷ và Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh đọc lời điếu, nhắc lại đời hoạt động của Thiếu tướng Nguyễn Sơn

  Lễ an táng xong hồi 5 giờ chiều.

Báo Nhân Dân, số 962,
 ngày 23-10-1956


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:37:27 PM
Lời điếu đồng chí Nguyễn Sơn

(Do đồng chí Hoàng Anh thay mặt
Tổng Quân uỷ và Bộ Quốc phòng,
đọc lúc làm lễ an táng)



  Các bạn và các đồng chí thân mến,

  Đồng chí Nguyễn Sơn, Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, tức Hồng Thủy, tên thật là Vũ Nguyên Bác hôm nay đã vĩnh biệt chúng ta. Vô cùng đau đớn và thương tiếc đồng chí! Đồng chí Nguyễn Sơn mất đi, thật là một tổn thất cho Đảng, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam.

  Quê làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 1-10-1908, từ lúc 17 tuổi, đồng chí là một học sinh sớm giác ngộ. Với chí bất khuất của tuổi thanh niên, mở đầu cho quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí đã phấn đấu không biết
mệt mỏi.

  Trong nước cũng như ngoài nước, đồng chí đã biểu thị tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản, tinh thần yêu nước nồng nàn của một cán bộ cách mạng.

  Lúc đầu đồng chí tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Từ năm 1925 đến năm 1945, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng ở Trung Quốc. Đồng chí đã tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã hoạt động trong các khu xô viết, tham gia Hồng quân Công Nông, tham gia Vạn lý trường chinh, tham gia kháng Nhật trong Bát lộ quân.

  Với những thành tích vẻ vang đó, đồng chí đã đóng góp cho tình hữu nghị của nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tình hữu nghị chiến đấu của quân đội hai nước anh em.

  Năm 1945, đồng chí về nước, chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí đã được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặc phái giữ trọng trách Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Từ năm 1947, đồng chí được Chính phủ cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ và cùng với các bạn chiến đấu của mình, đồng chí đã góp phần tiêu hao và tiêu diệt quân địch, làm chậm bước tiến của chúng ở miền Nam Trung Bộ. Đồng chí đã tham gia rèn luyện quân đội, góp phần vào việc đào tạo các lớp cán bộ đầu tiên của trường Lục quân và trong việc bổ túc cán bộ quân sự. Trong Đảng, trong thời gian ở Khu IV, đồng chí đã được cử vào Ban chấp hành và giữ chức Phó Bí thư Liên khu uỷ Liên khu IV. Với những cống hiến đó, đồng chí đã được Chính phủ phong cấp Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

  Trong những năm gần đây, vì đã trải qua những ngày hoạt động gian khổ, đồng chí đã nhiều lần mắc bệnh, gần đây lại mắc bệnh trầm trọng và ngày 21-10-1956 đồng chí đã vĩnh biệt chúng ta.

  Để ghi công đồng chí, Chính phủ truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì.

  Thưa các đồng chí,

  Công lao của đồng chí Nguyễn Sơn đối với cách mạng thật là đáng quý.

  Đồng chí mất đi, quân đội chúng ta mất một Thiếu tướng có tài. Tổ quốc và Chính phủ, Đảng mất một người cán bộ tốt.

  Vĩnh biệt đồng chí, chúng ta cần học tập tinh thần chủ nghĩa quốc tế và tinh thần yêu nước nồng nàn của đồng chí, học tập tinh thần đấu tranh và công tác không biết mệt mỏi của đồng chí. Chúng ta cần không ngừng nêu cao ý chí chiến đấu của mình để cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp của nhân dân chúng ta.

  Đồng chí Nguyễn Sơn thân mến,

  Sự nghiệp cách mạng của Đảng và của quân đội chúng ta vượt qua những bước khó khăn, gian khổ để lớn mạnh không ngừng. Đồng chí mất đi, sự nghiệp to lớn ấy của chúng ta còn phải tiếp tục.

  Vĩnh biệt đồng chí hôm nay, chúng tôi biến lòng thương nhớ đồng chí thành sức mạnh trong công việc xây dựng Quân đội nhân dân tiến dần từng bước tới chính quy hoá và hiện đại hoá, góp phần vẻ vang của mình trong công cuộc củng cố hoà bình cho nước nhà.

  Ở dưới suối vàng, xin đồng chí nhận lấy lòng thương nhớ của Đảng, của nhân dân và của Quân đội nhân dân, của các đồng chí, của các bạn thân yêu của đồng chí.

  Lần cuối cùng xin vĩnh biệt đồng chí.

Báo Nhân Dân, số 962
Ngày 23-10-1956


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:40:53 PM
Nhớ về Tướng Nguyễn Sơn

Hồi ký của Nakahara Mitsunobu
Minh Ngọc - Nakahara Nhật Bản



  Trên đất nước Việt Nam, ở cả thành thị và nông thôn đều treo đầy cờ đỏ sao vàng, tiếng hô "Việt Nam độc lập muôn năm" vang lên như sấm trong nhiều ngày liên tục.

  Những ngày đầy biến động trong năm kết thúc chiến tranh đã qua đi nhanh chóng, thoắt cái đã sang năm 1946. Chúng tôi sống trong thời kỳ vui mừng vì sắp được trở về Tổ quốc, nhưng cũng lo lắng vì không biết bao giờ tàu cập bến.

  Tháng Một ở Huế thì mát mẻ, dễ chịu và thật là yên tĩnh. Thỉnh thoảng có những đứa bé trai xách hộp đồ nghề đến để cắt tóc cho những người lính. Việc đi lại của dân chúng bên ngoài được cởi mở và dễ dàng hơn trước. Một hôm, người lính bảo vệ dẫn một người đàn ông trạc 40 đến để gặp chúng tôi. Ông vào phòng tươi cười chào Tham mưu trưởng Ikawa và tôi như là một người bạn đã quen nhau từ lâu, rồi từ từ ngồi xuống ghế theo lời mời của chúng tôi. Nước da đen giòn, đôi gò má cao, ánh mắt trong sắc gây cảm giác thật thân mật. Tôi nhận ra ngay ông không là người tầm thường mà đã từng trải qua những cuộc sống gai góc. Chúng tôi nói chuyện bằng cả tiếng Trung Quốc và tiếng Việt "bồi".

  Ông nói:

  - Tên tôi là Nguyễn Sơn. Tôi hay nghe nói về các ông. Tôi đã từng ở Trung Quốc. Tôi được Chính phủ bổ nhiệm làm Tư lệnh trưởng chiến khu Nam Trung bộ và đang trên đường đi nhận nhiệm vụ mới.

  Câu chuyện chuyển sang nói về tình hình ở Việt Nam. Đối với những từ khó thì chúng tôi trao đổi bằng cách bút đàm. Ông viết:

  - Chúng tôi nhất định thắng lợi trong cuộc đấu tranh để giành giải phóng và độc lập cho nhân dân Việt Nam.

  Giọng nói của ông để lại cho tôi một ấn tượng khá sâu sắc và khó quên. Ngót một giờ đồng hồ sau, ông nói:

  - Thôi, tôi xin phép về bởi vì tôi có công việc. Ông có thể tham gia đi cùng với chúng tôi ở miền Nam được không?

  Lời đề nghị thật bất ngờ. Cách nói của ông không khác gì như rủ tôi đi cùng ra quán cà phê gần đấy.

  Thật sự lúc đó tôi cũng không mường tượng được đây là Tướng Nguyễn Sơn, một nhân vật mà sau đó đã có những cống hiến rất lớn trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

  Tháng 2 năm 1946, chúng tôi rời Touran1 đi vào phía Nam theo Quốc lộ số 1, mất hai ngày mới đến được Bình Định. Từ Bình Định chúng tôi rẽ đến thị trấn Pleiku, đi được mấy cây số thì gặp thị trấn Phú Phong. ở đấy có trụ sở của Uỷ ban kháng chiến Nam Trung bộ (Chiến khu V). Bấy giờ mọi người gọi Tướng Nguyễn Sơn là Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam Trung bộ hoặc Tư lệnh trưởng Chiến khu V. Chúng tôi vô cùng vui mừng vì gặp lại nhau. Chúng tôi đề cập ngay về tình hình chiến sự. Khi ấy, quân Pháp chiếm đóng mặt trận Sài Gòn, đang tiến công lên phía Bắc với hai gọng kìm theo quốc lộ số 1 (đường theo ven biển) và theo đường số 9 (đường miền núi). Quân Pháp trên đường số 1 đã tiến đến Nha Trang. Chúng tôi có kế hoạch xây dựng trận địa bảo vệ ở khu vực xung quanh Tuy Hoà để ngăn chặn quân Pháp. Tướng Nguyễn Sơn đề nghị tôi tham gia công tác ấy. Đó là nhiệm vụ đầu tiên của tôi.

  Có lúc tôi nói với Tướng Nguyễn Sơn rằng có thể châm chước khả năng quân sự vì quân Việt Minh mới được thành lập, biên chế của nó vẫn còn chưa đều. Chúng tôi bàn với nhau về trình độ tác chiến chỉ huy của cán bộ Việt Minh và vấn đề thiếu thốn vũ khí. Khi tôi hỏi Tướng Nguyễn Sơn, chúng ta phải trang bị vũ khí như thế nào thì ông khẽ cười như chẳng sợ cái gì cả và nói:

  - Vũ khí thì ở chỗ quân địch. Quân chúng tôi vừa chiến đấu vừa bổ sung thêm vũ khí.

  Quân đội đã đứng lên để giải phóng dân tộc tất nhiên phải như thế! Lời nói này của Tướng Nguyễn Sơn được chứng minh bằng những sự kiện sau này.

  Vào tháng 6 năm 1946, Trường sĩ quan lục quân ở Quảng Ngãi được thành lập. Tướng Nguyễn Sơn và tôi cùng giữ quan hệ tại đây là hiệu trưởng và giáo viên của nhà trường. Trong bầu không khí căng thẳng trước cuộc kháng chiến toàn quốc, tôi cùng Tướng Nguyễn Sơn ra Bắc vào đầu tháng 12. Đúng vào lúc bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, tôi tham gia vào mặt trận Nam Định. Khoảng năm 1948, trong thời kỳ Tướng Nguyễn Sơn làm Tư lệnh trưởng Chiến khu IV, tôi đến thăm và xem tình hình huấn luyện ở đấy, tôi đã có rất nhiều kỷ niệm với Tướng Nguyễn Sơn.

  Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng yêu mến thơ ca và âm nhạc. Ông hay chơi nhạc, cũng am hiểu văn nghệ nhiều. Nhiều người kính yêu
Tướng Nguyễn Sơn, không chỉ có những cán bộ quân sự mà còn có các cụ già nông thôn.

  Tướng Nguyễn Sơn là người đã để lại công lao rất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng tiếc thay 15 giờ 30 phút ngày 21-10-1956 tại Bệnh viện Chữ Thập Đỏ Hà Nội, trong sự chăm sóc của gia đình, nhiều bạn bè, cán bộ và các quan chức của Chính phủ, nhưng Tướng Nguyễn Sơn vì bệnh ung thư đã ra đi vĩnh viễn và để lại nhiều thương tiếc trong quân và dân Việt Nam. Tướng Nguyễn Sơn vừa tròn 48 tuổi đời.

  Riêng đối với tôi, sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi về Nhật Bản vào tháng 12 năm 1954. Một điểm lạ đến với tôi, sau cuộc tang Tướng Nguyễn Sơn hai tháng, tôi được cử sang Việt Nam trong đoàn đại biểu mậu dịch đầu tiên từ Nhật Bản đến.
---------------------------------------
 1. Đà Nẵng


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:45:04 PM
Tướng quân Hồng Thuỷ
người chiến sĩ quốc tế kiệt xuất*
(Trích)

Lý Linh (Trung Quốc)

V



  Hồng Thuỷ là một người đa tài đa nghệ. Ban dân vận Tổng bộ Bát lộ quân vừa đến Ngũ Đài gặp ngay cảnh bại quân Diêm Tích Sơn trên đường tháo chạy đã cướp bóc của cải, trâu bò, lợn gà của dân. Dân chúng kêu khóc váng trời. Thấy vậy, ông đã đứng ra, một mặt giáo dục lòng yêu thương nhân dân ở những người lính của Diêm, một mặt giải thích cho bà con, phát động mọi người giúp đỡ quân đội Diêm Tích Sơn bằng hành động thực tế. Ông tổ chức lừa ngựa các thôn lân cận, từng thôn, từng thôn, từng đoạn, từng đoạn, giúp quân Diêm Tích Sơn vận chuyển vật tư, làm xong nhiệm vụ, cả người lẫn ngựa cùng về. Làm như vậy, vừa chiếu cố lợi ích của dân chúng, lại vừa thu xếp ổn thoả quan hệ với đội quân bạn, không để ảnh hưởng đến phương châm kháng chiến. Qua sự việc trên có thể thấy rõ tài năng tổ chức của ông.

  Hồng Thuỷ bước lên bục nói chuyện, không bao giờ có bài viết sẵn. Ông diễn đạt gẫy gọn, ý tứ rành mạch, được nhà trường Hồng quân và Ban huấn luyện cán bộ thanh niên kháng chiến Ngũ Đài công nhận là giảng viên giỏi. Tuyên truyền trước quần chúng, ông nói rất hùng hồn, tiếng phổ thông vốn đã lưu loát lại thành thạo cả phương ngôn thổ ngữ, cặp mắt sáng long lanh, ăn nhịp với động tác mạnh mẽ dứt khoát, bà con thường tấm tắc khen ông "nói đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra".

  Ông biết tiếng Pháp, tiếng Anh, tinh thông tiếng Việt, tiếng Trung, vốn hiểu biết sâu rộng của ông khiến nhiều người phải khâm phục. Ông cũng thường viết văn. Mới xong một đợt vận động quần chúng ở Ngũ Đài, bài "Công tác quần chúng của chúng ta" thông tin về tình hình Ngũ Đài đã ra mắt bạn đọc trên tuần báo Giải phóng ngày 27-11-1937. Tìm trong các báo Chiến tuyến, Tấn-Sát-Ký nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng biên khu Tấn-Sát-Ký, hoặc trong Kháng địch nguyệt san, cơ quan ngôn luận của Quân khu Tấn-Sát-Ký, đều có thể đọc thấy nhiều bài viết của ông. Ngoài những bản tin, những bài lý luận văn chương, tổng kết kinh nghiệm, ông còn làm khá nhiều văn thơ. Bài thơ dài của ông "Bi kịch của sự ngây thơ" đã làm tăng thêm dũng khí khắc phục khó khăn ngoan cường chiến đấu của hàng vạn thương binh, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác bảo mật phòng gian cho mọi người. Đặng Thác đã cho đăng bài thơ trên trong liền ba số Tấn-Sát-Ký nhật báo, nếu cộng lại phải chiếm hết hai trang báo. Trên Kháng địch nguyệt san,  số tháng 6-1941, Hồng Thuỷ công bố hai bài thơ châm biếm nhằm đả kích những thói xấu thô bạo, giản đơn, tàn dư quân phiệt trong bộ đội, v.v..., có kèm theo Lời giới thiệu của Ban biên tập: Hai bài thơ "có ý nghĩa chính trị nổi bật... là nét mới hoàn toàn trong sự phát triển của công tác văn nghệ quân đội".
Ngoài ra, Hồng Thuỷ còn soạn kịch, diễn kịch, làm công tác phiên dịch.

  Ông từng kể với nhiều đồng chí câu chuyện: Hồi mới tới Quảng Châu, ông có hỏi một bạn Trung Quốc: "Người Trung Quốc khi gặp nhau họ chào nhau thế nào?". Người bạn đó nói đùa với ông: "Tỉu nà ma". Đó là câu nói tục tĩu của dân Quảng Đông khi chửi người khác, Hồng Thuỷ cứ tưởng thật, một lần ra phố, thử nói, liền bị mấy người xúm lại đánh cho một trận nhừ tử. Sau này, cái ông bạn chót đùa dại cứ xin lỗi mãi, còn Hồng Thuỷ thì cười khà khà mà rằng: "Trò đùa đó chơi thật hay, muốn khỏi bị đánh thì phải chịu khó học". Từ đó, ông càng cố công học tập, cuối cùng đã trở thành một người Trung Quốc "chính cống" đa tài, đa nghệ.


VI


  Mùa thu năm 1937, hồi công tác ở Ngũ Đài, Hồng Thuỷ rất cần một nữ thanh niên tiến bộ có văn hoá, có năng lực để lãnh đạo công tác phụ nữ. Đảng viên cộng sản Từ Tục Chi, một cán bộ khu, đã giới thiệu Trần Ngọc Anh ở trấn Đông Trị.

  Trần Ngọc Anh đã tốt nghiệp Trường Sư phạm Thái Nguyên. Sau này, ở Bắc Kinh nhờ quen biết đồng chí Vương Dao làm công tác bí mật của Đảng, cô tham gia Đoàn thanh niên xã hội chủ nghĩa, không may bị bắt. Vì không có chứng cớ gì, nên ít lâu sau được tha. Nhưng từ đó, cô mất liên lạc với tổ chức. Sau sự kiện 7-7, cô về quê trở thành một cán bộ của Khu IV do Hồng Thuỷ lãnh đạo.

  Sau này, khi Hồng Thuỷ về phụ trách Ban tuyên truyền của Uỷ ban đặc biệt phân khu 2 Tấn-Sát-Ký, do cần bồi dưỡng cán bộ kháng chiến, ông cùng với Hồ Khai Minh, Trương Liên Khuê, v.v... tổ chức mấy lớp huấn luyện cán bộ thanh niên ở Vương Gia Trang, cách thành Ngũ Đài về phía Đông chừng 1km. Tham dự huấn luyện phần lớn là những thanh niên tiên tiến của các huyện Định Tương, Ngũ Đài... Trần Ngọc Anh là một trong số học viên đó. Vốn đã quen biết nay lại gặp lại nên Ngọc Anh và Hồng Thuỷ rất thân nhau, lại có dịp cùng nhau diễn kịch, tình yêu giữa họ đã nảy nở trong cuộc đấu tranh chung. Sắp cưới nhau rồi mà vẫn có người dị nghị: "Người Trung Quốc có hàng vạn hàng triệu, sao phải đi kiếm người nước ngoài?" Ngọc Anh trả lời: "Anh ấy giúp chúng ta làm cách mạng, lãnh đạo chúng ta chống Nhật, sao lại không thể yêu anh ấy được?". Tết năm 1938, bố Ngọc Anh làm bữa rượu mời các đồng chí Triệu Bằng Phi, Mã Chí Viễn, v.v... tới dự lễ cưới của hai người. Mã Chí Viễn đã làm riêng một bài thơ tặng mối tình Hồng Thuỷ - Ngọc Anh. Bốn mươi năm sau, Mã Chí Viễn đã đưa bài thơ này vào cuốn "Mã Chí Viễn thi văn tập" (cuốn sách này do Diệp Kiếm Anh đề chữ ngoài bìa) để kỷ niệm vị thượng cấp cũ của mình là đồng chí Hồng Thuỷ.

VII


  Năm 1945, cuộc chiến tranh chống Nhật sắp giành được thắng lợi cuối cùng, hàng loạt cán bộ của Diên An đã sẵn sàng tung đi khắp mọi miền Tổ quốc. Hồng Thuỷ và Ngọc Anh đều đang học tại Trường Đảng Trung ương ở Diên An. Một lần, hai người tâm sự:

  - Sắp tới, anh về Tấn-Sát-Ký hay đi Đông Bắc?

  Hồng Thuỷ âu yếm ôm vào lòng cậu con trai chưa đầy hai tháng tuổi có tên là Hàn Phong, hôn lên má con, giọng trầm xuống: "Đêm hôm qua, anh nằm mê thấy mẹ đứng trên đỉnh núi Hồng Sơn gọi anh, bảo anh về...".

  Quả nhiên, Tổ quốc gian nan vất vả của ông đã phát đi lời kêu gọi những người con ưu tú ở ngoài nước. Đảng Việt Nam chuẩn bị phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang trong phạm vi cả nước, đang rất cần hàng loạt các cán bộ quân sự chính trị. Trung ương Đảng Việt Nam và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bàn và quyết định điều về nước một số đồng chí Việt Nam công tác tại Trung Quốc.

  Hồng Thuỷ chia tay với đứa con yêu dấu và người vợ đang mang thai, đáp máy bay về phương Nam. Đến Vân Nam, Hồng Thuỷ mua một mảnh vải hoa, gửi qua đường bưu điện lên Diên An cho vợ và con, sau đó, lúc ngồi xe, lúc đi bộ tìm đường về Việt Nam. Đường đi vất vả, nhưng lúc nào ông cũng mang theo người những tác phẩm của Chủ tịch Mao Trạch Đông đã được dịch sang tiếng Việt Nam như "Bàn về đánh lâu dài"; "Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc",... Đó là những tài liệu ông tranh thủ những lúc rỗi rãi dịch ra tiếng Việt, tự mình đánh máy rồi đóng thành từng tập. Người ta nói Đường Tăng đi lấy kinh vất vả, Hồng Thuỷ đi lấy kinh Trung Quốc quả cũng chẳng dễ dàng! Bắt đầu từ năm 1925, ông đã phấn đấu suốt 20 năm vì mục đích đó. Trong suốt thời gian trên, không kể đến chuyện kẻ thù nhiều phen muốn dồn ông vào chỗ chết, chưa nói đến những gian lao vất vả khôn lường ông từng nếm trải, chỉ những chuyện phiền toái trong nội bộ cũng đã quá đủ. Hai lần bị khai trừ khỏi Đảng, một lần kỷ luật lưu Đảng. Lần này về nước, đối với ông có khác chi một cuộc trường chinh. Để đề hòng bất trắc, ông rất thận trọng trong việc đi đường. Phải mất bốn tháng trời, cuối năm 1945 ông mới tới được Trấn Nam Quan (nay gọi là Hữu nghị quan). Cửa ải canh phòng rất nghiêm ngặt, không có cách nào đi qua, ông tìm cách thoát khỏi sự theo dõi của bọn tay sai đế quốc, đi vòng theo đường núi, vượt qua biên giới, trở về được lòng mẹ Tổ quốc. Sau khi về nước ông lần lượt được giao các trọng trách: Tư lệnh chiến khu IV, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Chiến khu V. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, bằng chính tài năng quân sự và chính trị của mình, ông đã có những cống hiến quan trọng vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược Pháp và những tên bù nhìn của chúng.
----------------------------------------
* Tác giả đã viết bài này với gần 20 trang đánh máy (đã dịch ra tiếng Việt) gồm 8 chương. Chúng tôi xin trích 4 chương phù hợp với sách này (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:47:01 PM
VIII


  Hồng Thuỷ đã chiến đấu năm năm trong cuộc chiến tranh chống Pháp ở Việt Nam. Năm 1950, sau khi có sự trao đổi giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với những người lãnh đạo Trung Quốc, lần thứ ba ông trở lại Trung Quốc. Sau một thời gian học tập ở Học viện quân sự Nam Kinh, ông lần lượt giữ các cương vị như Giám đốc toà soạn Tạp chí huấn luyện chiến đấu của Quân uỷ, v.v... Năm 1955, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và vinh dự được nhận ba Huân chương hạng Nhất.

  Sáu năm thấm thoát trôi qua. Mùa hè năm 1956, ông bị ho nhiều, qua khám nghiệm mới biết ông bị u ác tính ở giai đoạn cuối. Lúc này, ông rất nhớ Tổ quốc của ông và đề nghị được về nước.

  Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai sau khi biết tình hình, đã bố trí gặp ông tại Lễ đường Quốc hội.

  Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: "Nghe báo cáo đồng chí không được khoẻ, muốn về nước, chúng tôi đã trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí về chữa bệnh cho tốt, sau khi khỏi bệnh, chúng tôi rất hoan nghênh đồng chí trở lại". Chu Ân Lai cũng hỏi han tỉ mỉ về bệnh tật. Họ tâm tình nhớ lại những năm tháng chiến tranh chung sống với nhau và cả ba người cùng khóc.

  Hồng Thủy là con người rất dễ xúc động. Tối hôm đó, ông lật đi lật lại tấm Huân chương Mao Chủ tịch tặng ông mà nước mắt chảy ròng ròng. Ông bảo đồng chí bí thư Vi Thủ Văn gói các Huân chương, quân hàm để vào hòm mang về Việt Nam làm kỷ niệm. Ông còn kể cho đồng chí bí thư nghe rất nhiều chuyện cũ.

  Tiếp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành đích thân bố trí chuyến về nước của ông. Trong phòng làm việc của Tổng tư lệnh Bành Đức Hoài đặt tại trụ sở Bộ Quốc phòng, hai người giao nhiệm vụ cho đồng chí Vi Thủ Văn, v.v... chịu trách nhiệm đưa ông về nước. Bành Đức Hoài nói: "Đồng chí Hồng Thuỷ ốm, các đồng chí hộ tống đồng chí đó về nước. Gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí cần báo cáo rõ ràng, đồng chí Hồng Thuỷ có cống hiến rất lớn đối với cách mạng Trung Quốc, vất vả quá mà sinh bệnh, nhân dân Trung Quốc mãi mãi cám ơn đồng chí đó".

  Khi rời Bắc Kinh, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh - thượng cấp cũ của Hồng Thuỷ hồi ở Trường quân sự Hoàng Phố và nhiều đồng chí ở Bộ Ngoại giao, các Quân uỷ đã tới tận sân ga tiễn đưa. Các vị lão tướng nếm đủ phong sương đều rơi nước mắt.

  Đến Hà Nội, đoàn được sắp xếp nghỉ tại ngôi nhà lầu trong Chủ tịch phủ. Hôm sau, Hồng Thuỷ và bí thư Vi Thủ Văn cùng tới gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh nhìn thấy Hồng Thuỷ đã trở về, hai người ôm nhau khóc rồi nói chuyện với nhau hơn một tiếng đồng hồ bằng tiếng Trung Quốc, sau đó họ mới bắt đầu nói chuyện bằng tiếng Việt.

  Ít lâu sau, báo chí và đài phát thanh của Việt Nam đều thông báo về tin buồn: Đồng chí Hồng Thuỷ vì bệnh nặng, điều trị không kết quả, đã mất ngày 21-10-1956, thọ 49 tuổi. Nhân dân Việt Nam đã cử hành lễ tang trọng thể và chôn cất ông tại ngoại thành Hà Nội.

  Viết tới đây, cảm thấy lời như cạn. Một số bạn chiến đấu cũ, Thủ trưởng cũ của ông căn dặn người chấp bút này phải viết thêm một đoạn, rằng đồng chí Hồng Thuỷ là người Việt Nam duy nhất đã tham gia suốt cả quá trình cuộc trường chinh hai vạn năm nghìn dặm của Trung Quốc, rằng cho đến năm 1956 là năm ông từ giã cõi đời, ông là người nước ngoài đã tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc với thời gian dài nhất, rằng hàng loạt cán bộ quân sự, chính trị do ông đào tạo bồi dưỡng vẫn đang cống hiến sức lực trên các chiến tuyến ở Trung Quốc, rằng rất nhiều trước tác và bài viết của ông vẫn đang lưu giữ tại các cơ sở lưu trữ, các thư viện Trung Quốc để giới thiệu với mọi người sự tích về một thời kỳ lịch sử, và một phần trước tác của Chủ tịch Mao Trạch Đông in bằng tiếng Việt do ông dịch cũng vẫn bày trên giá sách tiếng nước ngoài.

  Ôi! Vũ Nguyên Bác - Nguyễn Sơn - Hồng Tú - Hồng Thuỷ, sử sách sẽ mãi mãi ghi lại tên tuổi của Người! Nhân dân Trung Quốc sẽ mãi mãi nhớ Người, cảm ơn Người!

Văn Thanh dịch


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:50:21 PM
Một con người đã cống hiến trọn đời
cho cách mạng Trung Quốc

Trần Hàn Phong
(Trung Quốc)



  Trong hàng tướng lĩnh cao cấp của quân đội Trung Quốc, có một vị tướng là người nước ngoài. Đó là Thiếu tướng Hồng Thuỷ - người con ưu tú của nhân dân Việt Nam, một chiến sĩ cộng sản kiệt xuất.

  Hồng Thuỷ tên thật là Vũ Văn Bác,  là một trong những đồng chí người nước ngoài có mặt sớm nhất trong cách mạng Trung Quốc. Ngay từ năm 1925, qua đồng chí Hồ Chí Minh giới thiệu, ông đã tới trung tâm cách mạng của Trung Quốc lúc bấy giờ là Quảng Châu để tìm chân lý cách mạng. ở đây, ông làm quen với Thái Xướng và được Thái Xướng giới thiệu vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Kể từ đó, ông cũng là một trong những học viên người nước ngoài có mặt sớm nhất ở trường này. Tại Trường Hoàng Phố, ông gia nhập Quốc dân đảng Trung Quốc lúc bấy giờ đang thực hiện ba chính sách lớn2. Nhưng sau đó hai năm, Tưởng Giới Thạch làm chính biến phản cách mạng, tàn sát dã man những người cộng sản và nhiều nhân sĩ tiến bộ. Cuộc khủng bố trắng tàn khốc đó giúp ông thấy rõ bộ mặt phản động của Tưởng Giới Thạch, ông dứt khoát tuyên bố ra khỏi Quốc dân Đảng và qua một người giới thiệu, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ngày 11-12-1927, khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ. Ông tham gia khởi nghĩa cùng với hơn 30 đồng chí Việt Nam đang học tập, công tác tại Trường Quân sự Hoàng Phố.

  Khởi nghĩa bị thất bại, tư cách là đảng viên cộng sản Trung Quốc lộ rõ. Không thể ở lại Quảng Châu, ông sang Thái Lan cùng với Hoàng Văn Hoan tuyên truyền cách mạng, tiến hành công tác tổ chức trong Việt Kiều ở Thái. Mặc dù vậy phong trào cách mạng đang diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi ở Trung Quốc vẫn có sức cuốn hút ông.

  Năm 1929, ông trở lại Trung Quốc với mục đích học tập lý luận quân sự, nâng cao tài năng chỉ huy quân sự. Tới Trung Quốc, ông đến ngay khu vực Đông Giang (Quảng Đông), tham gia đội du kích Đông Giang của Hồng quân công nông do các đồng chí Bành Bái, Cổ Đại Tồn... lãnh đạo. Ông đảm nhiệm các chức vụ: chính trị viên đại đội, chính uỷ trung đoàn. Hồi đánh du kích ở Đông Giang thấy truyền đơn của địch gọi Đảng Cộng sản là con mãnh thú Hồng Thuỷ, ông căm lắm. Một lần, ông nói với các chiến sĩ: "Kẻ thù rủa chúng ta là "mãnh thú Hồng Thuỷ", đã vậy, tôi đổi tên là Hồng Thuỷ, từ nay mọi người cứ gọi tôi là Hồng Thuỷ. Một đồng chí khác tiếp lời: "Tôi cũng đổi tên, tên tôi là Mãnh Thú". Đáng tiếc là đồng chí Mãnh Thú trong một trận chiến đấu với kẻ thù đã anh dũng hy sinh, còn Hồng Thuỷ đúng như tên ông, đã băng băng lao tới trong đại dương cách mạng.

  Đầu năm 1930, Quân đoàn 12 Phúc Kiến thành lập, Hồng Thuỷ từ Quảng Đông lên Phúc Kiến, và lần lượt được giao các chức vụ: Chính uỷ trung đoàn, Chủ nhiệm ban chính trị Sư đoàn 34 Quân đoàn 12 Hồng quân.

  Trường Quân chính Trung ương của Hồng quân thành lập, ông được điều về làm công tác giảng dạy. Ở trường ngoài việc làm tốt việc được phân công, ông còn tích cực tham gia công tác văn hoá. Ông là thành viên tích cực của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và là một trong những người phụ trách câu lạc bộ của trường. Hồng Thuỷ thường dạy mọi người đánh đàn, học hát, nhảy múa. Cùng với các đồng chí Tiền Tráng Phi, Lý Bá Chiêu, Trương Ái Bình, ông soạn vở diễn kịch. Cùng với Lý Bá Chiêu, ông sáng lập ra đoàn kịch đầu tiên trong lịch sử quân đội Trung Quốc - Đoàn kịch Công Nông. Đoàn kịch sau này phát triển thành đoàn kịch Áo Xanh của Khu Xô viết, đã đào tạo, bồi dưỡng hàng loạt những cốt cán văn nghệ cho Đảng và quân đội, góp phần vào việc xây dựng văn hoá ở khu Xô viết.

  Tháng 1-1934, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, là uỷ viên người nước ngoài duy nhất của Chính phủ dân chủ công nông Xô viết Trung ương. Và cũng chính năm đó, vì kiên quyết chống lại đường lối "tả khuynh", ông đã bị đối xử thô bạo, quy cho tội "đặc vụ cao cấp", thậm chí khai trừ ra khỏi Đảng. Trước sự đả kích của một đường lối sai lầm, ông vẫn giữ vững lập trường, không hề chùn bước, kiên quyết đi theo Đảng, đi theo Mao Trạch Đông, vững vàng tham gia vào cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn dặm từng làm kinh hoàng thế giới. Dọc đường trường chinh, Chu Đức, Lưu Bá Thừa đã bảo vệ Hồng Thuỷ, bố trí ông làm giáo viên trong Đoàn cán bộ Đỏ, sửa lại hình thức kỷ luật sai lầm đối với ông.

  Tháng 6-1935, ông cùng Chu Đức, Lưu Bá Thừa... đến nhận nhiệm vụ ở cánh quân sườn trái. Trung tuần tháng 8, cánh quân này xuất phát từ Trác-Khắc-Cơ, qua huyện A Bối, vượt thảo nguyên hoang vu không một bóng người, tới được thượng du sông Đại Độ. ở vào những giờ phút quyết định sắp sửa vượt sông, Trương Quốc Đào đột ngột chống lại việc tiếp tục Bắc tiến, chủ trương dẫn quân Nam Hạ. Ông kiên quyết ủng hộ chủ trương đúng đắn của Chu Đức, Lưu Bá Thừa tiếp tục Bắc tiến để chống Nhật, dứt khoát chống lại chủ nghĩa chia rẽ, chủ nghĩa chạy trốn của Trương. Kết quả, ông bị kết tội "gián điệp quốc tế" và lại bị khai trừ khỏi Đảng. Mãi đến khi cuộc trường chinh kết thúc, ông tới được Diên An, Trung ương mới xoá kỷ luật, khôi phục danh dự cho ông.

  Trong quá trình Trương Quốc Đào tự ý ra lệnh cho cánh quân sườn trái rút lui, Hồng Thuỷ một lần nữa lại cùng bộ đội vượt thảo nguyên, leo núi tuyết, trải qua bao nhiêu nỗi gian nan, nguy hiểm. Trong một lần kịch chiến ở Cam Tư Tây Khang, quân bị đánh tan tác, Hồng Thuỷ một mình thâm nhập bà con người Tạng, chăn dê, chăn lạc đà, xin ăn từng bữa, ra sống vào chết, chịu mọi đắng cay. Năm 1936 mới đến được Diên An. Lúc đến Diên An nhiều đồng chí thấy Hồng Thuỷ trên mình khoác chiếc áo Tạng, người gầy như que củi, đã không nhận ra. Mọi người thực sự xúc động bởi tinh thần cách mạng kiên cường bất khuất của ông.

  Thời kỳ đầu kháng chiến, Tổng bộ Bát Lộ quân cử ông cùng với các đồng chí Lý Chí Dân... đi phát động quần chúng ở vùng núi Ngũ Đài (Sơn Tây), liên hệ với các cánh quân bạn để cùng kháng chiến. Ông rất giỏi làm công tác quần chúng. Vừa tới địa phận Ngũ Đài, ông và các đồng chí trong ban dân vận gặp ngay cảnh bại quân của Diêm Tích Sơn trên đường tháo chạy đã cướp tài sản, trâu bò, lợn gà của dân. Dân chúng kêu khóc váng trời. Ông đã dũng cảm đứng ra, một mặt giáo dục khêu gợi lòng yêu dân ở những người lính của Diêm, một mặt giải thích cho bà con, phát động bà con bằng hành động thực tế tạo điều kiện cho quân đội của Diêm Tích Sơn với tư cách là quân đội bạn rút lui yên ổn. Ông tổ chức các gia đình nông dân có lừa ngựa ở các thôn chung quanh giúp quân Diêm Tích Sơn vận chuyển vật tư, xong việc lại dẫn lừa ngựa về, làm như vậy vừa có lợi cho dân lại vừa thu xếp ổn thoả quan hệ với quân đội bạn, không để ảnh hưởng đến phương châm kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 25 Tháng Mười, 2008, 01:52:43 PM
  Một lần, Hồng Thuỷ nghe nói có người phê bình Bát Lộ quân đóng ở Đông Trị, bèn đi sâu tìm hiểu tình hình. Ông được biết người phê bình đó là Chu Hỷ, vốn là đại đội trưởng Quân đội Quốc dân Đảng đã từ chức về nhà, ông đến tận gia đình thăm hỏi và xin ý kiến. Lúc đầu, Chu Hỷ không hiểu đầu đuôi ra sao, sợ hết hồn, nhưng khi biết Hồng Thuỷ đại diện cho Bát Lộ quân đến để nhận thiếu sót thì ông này tỏ ra hết sức cảm động và hết lời ca ngợi Bát Lộ quân. Sau đó, nhờ ông giác ngộ, Chu Hỷ đã tham gia đội du kích chống Nhật, sau đó đã hy sinh khi chỉ huy trận chiến đấu ở thôn Bắc Câu (Ngũ Đài). Thời gian ông công tác ở Ngũ Đài, Hồng Thuỷ đã yêu cô Chủ nhiệm Hội phụ nữ cứu quốc Trần Ngọc Anh, sau đó hai người làm lễ cưới, trở thành bạn đời của nhau. Ít lâu sau, để mở rộng công tác tuyên truyền chống Nhật, Đảng ra tờ "Kháng địch báo" ở chiến khu Tấn-Sát-Ký và giao cho Hồng Thuỷ phụ trách. "Kháng địch báo" đã phát huy tác dụng rất lớn trong việc tuyên truyền chống Nhật. Sau này, người phụ trách tờ báo là đồng chí Đặng Thác đã làm thơ ca ngợi công lao và nhân cách của ông.

"Hồi thủ Hồng Hà sang thống thâm
Nhân gian tòng thử nhiệm phù trầm
Bắc Lai tráng chí long tiên vận
Nam quốc thi tình thiên hạ tâm.
Thập tải phong ba tam thập lý
Thiên thu huyết lệ nhất sinh ngâm
Đông phương vọng nhỡn lãng triều cấp
Mạc đạo phiêu phùng trực đáo kim".

  Đầu năm 1938, ông rời toà báo "Kháng địch báo", được điều về làm giáo viên chính trị Trường cán bộ quân chính kháng Nhật Tấn-Sát-Ký đặt tại thôn Bạch Đầu Am dưới chân núi Ngũ Đài, đồng thời phụ trách tổ giảng dạy. Trường học này đã đào tạo hàng loạt chỉ huy quân sự cấp cao và cán bộ chính trị cho quân đội Trung Quốc, nhiều người sau này đã được giao trọng trách trong các quân binh chủng.

  Hè năm 1938, bác sĩ Bôrôđin - người chiến sĩ quốc tế vĩ đại được cử tới vùng núi Ngũ Đài thuộc quân khu Tấn-Sát-Ký, làm việc tại bệnh viện hậu phương Tùng Kham Khẩu. Hồng Thuỷ cũng phải đến mổ ở bệnh viện và bác sĩ Bôrôđin chủ động đề nghị được trực tiếp mổ cho ông. Hoàn cảnh lúc bấy giờ rất khó khăn, thuốc men thiếu thốn, thuốc gây tê lại càng hiếm hoi. Ông đã đề nghị dành thuốc tê cho các đồng chí khác cần hơn, bản thân tự nguyện không dùng. Ông nghiến răng chịu đau, không một tiếng rên rỉ. Bác sĩ Bôrôđin hết lời khen ngợi ý chí kiên cường của ông.

  Trong những năm tháng gian khổ nhất của cuộc chiến tranh chống Nhật, ông lúc nào cũng đồng cam cộng khổ với các đồng chí Trung Quốc, cho tới thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Tháng 8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cần ông về nước tham gia đấu tranh võ trang. Lúc đó, mặc dầu bị mất người con gái trong chiến tranh, nhưng để báo đền Tổ quốc, ông kiên quyết từ biệt đứa con trai một tuổi và người vợ đang mang thai trở về Việt Nam.

  Các đồng chí Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh... đã đến tiễn đưa trước lúc ông lên đường về nước. Mao Trạch Đông nói vui với các đồng chí Việt Nam: Hồng Thuỷ quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận đồng chí ấy đá người khác. Những lời lẽ thân mật ấy nói lên mối tình biết bao sâu nặng với các đồng chí lãnh đạo như Mao Trạch Đông... mà ông đã xây dựng trong hơn 20 năm cùng nhau nằm gai nếm mật, sống chết bên nhau.

  Về Việt Nam, ông lần lượt được giao các nhiệm vụ: Tư lệnh Quân khu IV, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Chiến khu V, trở thành một nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng mà ở Việt Nam ai cũng biết tới.

  Lần thứ ba ông trở lại Trung Quốc là vào tháng 10-1950. Bấy giờ Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đích thân bố trí một ngôi nhà ở Trung Nam Hải để mời ông đến ở. Lúc đầu, ông phụ trách khoa Việt Nam Ban Mặt trận thống nhất trung ương, sau đó lại về học tập tại Học viện quân sự Nam Kinh. Năm 1954, ông tốt nghiệp với thành tích học tập xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng giám huấn luyện Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó Cục trưởng Cục điều lệnh, Giám đốc toà soạn "Tạp chí Huấn luyện chiến đấu". Ông đã viết nhiều bài xã luận, bình luận về các luận văn quân sự, đóng góp vào sự nghiệp hiện đại hoá, chính quy hoá quân đội Trung Quốc.

  Năm 1955, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng và trao Huân chương Bát Nhất hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất cho ông để tuyên dương những cống hiến xuất sắc của ông trong các giai đoạn của cách mạng Trung Quốc.

  Hồng Thuỷ sống độ lượng, cởi mở, thẳng thắn, trung thực, hào hiệp với mọi người. Ông không bao giờ tranh giành địa vị, gây uy tín cá nhân. Hồi bình quân hàm phong cấp bậc, lúc đầu định phong cho ông hàm thiếu tướng cấp sư đoàn chính quy. Nhiều người bất bình thay cho ông, rằng như vậy là quá thấp. Nhưng ông cũng chẳng tìm ai nói chuyện đó. Ngày 1-10-1955, đồng chí Mao Trạch Đông đứng trên Thiên An Môn nhìn thấy ông, thân mật hỏi: Chú Hồng, người ta phong cho chú cấp gì? Ông báo cáo thực với Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông lập tức nói ngay với các đồng chí hữu quan: Không chính xác, đồng chí ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành cấp quân đoàn chính quy. Thế là nhờ sự quan tâm trực tiếp của đồng chí Mao Trạch Đông, cấp của ông đã được sửa lại là cấp quân đoàn chính quy.

  Mùa hè năm 1956, ông bị ho nhiều. Kiểm tra sức khoẻ mới biết ông bị u ác tính ở giai đoạn cuối. Lúc này, ông rất nhớ Tổ quốc và xin được về nước. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai sau khi biết tin đã tiếp kiến ông tại Lễ đường Quốc hội. Mao Trạch Đông nói: Nghe báo cáo đồng chí không được khoẻ, muốn về nước, chúng tôi đã trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí về chữa bệnh cho tốt, sau khi khỏi bệnh, chúng tôi rất hoan nghênh đồng chí trở lại. Chu Ân Lai cũng hỏi han tỉ mỉ về bệnh tật, họ tâm tình nhớ lại những năm tháng chiến tranh chung sống với nhau và cả ba người cùng khóc. Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành trực tiếp lo liệu chuyến về nước của ông, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đồng chí đi hộ tống. Bành Đức Hoài nói: đồng chí Hồng Thuỷ đau ốm, các đồng chí được giao trách nhiệm đưa đồng chí đó về nước, gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh phải báo cáo rõ ràng, đồng chí Hồng Thuỷ đã có cống hiến rất lớn đối với cách mạng Trung Quốc, vất vả quá mà sinh bệnh, nhân dân Trung Quốc mãi mãi cám ơn đồng chí đó.

  Khi rời Bắc Kinh, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và nhiều đồng chí ở Bộ Ngoại giao, các quân uỷ đã tới tận sân ga tiễn đưa. Các vị lão tướng từng nếm đủ phong sương đều không cầm được nước mắt. Về nước được ít lâu thì ông mất. Nhân dân Việt Nam tổ chức lễ tang trọng thể và an táng ông tại ngoại ô Hà Nội. Nhân dân Trung Quốc sẽ mãi mãi không bao giờ quên người bạn chiến đấu khác quốc tịch nhưng đã có những cống hiến quan trọng cho cách mạng Trung Quốc và trong sử sách của cách mạng Trung Quốc mãi mãi ghi lại tên tuổi người anh hùng Hồng Thuỷ - một chiến sĩ cộng sản kiệt xuất.
 
(Bài đăng trên báo Giải phóng quân ngày 16-1-1989)
Quốc Tuấn dịch


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 01:55:29 PM
Hoàng Hà nhớ
Hồng Hà thương
Tôi và Lưỡng Quốc Tướng Quân Nguyễn Sơn
Hồi ký
Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại dịch






Dịch từ nguyên bản tiếng Trung của Trần Kiếm Qua
Châu Yến chỉnh lý
Nhà xuất bản Thế giới đương đại, Bắc Kinh, 2000.
Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 2001.

Thư gửi Nhà xuất bản Văn học và bạn đọc Việt Nam

  Nhà xuất bản Văn học Việt Nam và bạn đọc Việt Nam thân mến!

  Cuốn Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương này do Nhà xuất bản Thế giới đương đại Trung Quốc xuất bản vào tháng 4 năm 2000, đến nay đã được hơn một năm. Hoàng Hà là dòng sông mẹ của Trung Quốc. Hồng Hà là dòng sông mẹ của Việt Nam. Cuốn sách nói về một câu chuyện có thực, ghi lại những thực tế về cuộc chiến đấu kề vai sát cánh giữa hai Quân đội, hai Đảng, hai nước Trung Quốc và Việt Nam, phản ánh thực tế nhất về tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai nước Trung - Việt. Gia đình của chúng tôi chính là tượng trưng của tình hữu nghị đó. Hoàng Hà và Hồng Hà sẽ mãi mãi chảy xuôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung - Việt cũng sẽ mãi bền vững với thời gian. Cuốn Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương sau khi được đồng chí Nguyễn Đồng Thoại dịch ra tiếng Việt một cách tinh tế và chuẩn xác cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của Nhà xuất bản Văn Học Việt Nam, cuối cùng đã ra mắt bạn đọc, cho phép tôi gửi lời chúc mừng đến các bạn. Chúc nhân dân hai nước Trung - Việt cùng nhau tiến bước, phát triển mạnh mẽ trong hình thế mới của công cuộc cải cách, đổi mới và trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa vĩ đại.

  Xin gửi tới các bạn lời chào trân trọng nhất!


Kính thư!
Phu nhân Tướng Nguyễn Sơn
Trần Kiếm Qua
Bắc Kinh, ngày 22 tháng 9 năm 2001

Giới thiệu tóm tắt về tác giả

  Trần Kiếm Qua, tên gốc là Trần Ngọc Anh, người huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tốt nghiệp Trường Nữ học sư phạm của tỉnh Sơn Tây.

  Năm 1933 tham gia cách mạng.

  Tháng 10 năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.

  Tháng 1 năm 1938, tại căn cứ kháng Nhật Tấn - Sát - Ký, bà kết hôn với Hồng Thuỷ - tức Tướng quân Nguyễn Sơn, vị tướng tài ba của cả Trung Quốc và Việt Nam.

  Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, bà từng làm Chủ nhiệm Hội Phụ nữ cứu quốc huyện Ngũ Đài, giáo viên văn hoá ở Phân hiệu 2 Trường Đại học Kháng Nhật, Trưởng khoa Giáo dục và nuôi dưỡng của Trường Mầm non số hai Diên An.

  Sau khi Trung Quốc được giải phóng bà làm Viện trưởng Viện Giáo dục mầm non "1/6" Bắc Kinh, rồi làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh.

  Năm 1983 bà nghỉ hưu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 01:57:23 PM
Lời tựa
của Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
(Nguyên bản tiếng Việt)

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson13.jpg)

  Tôi rất vui mừng được chị Trần Kiếm Qua, vợ anh Nguyễn Sơn nhờ viết lời tựa cho cuốn sách "Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương". Ghi chép lại những hồi ức của chị, nó bất giác gợi cho tôi nhớ lại những ngày tháng sống và chiến đấu cùng anh Nguyễn Sơn.

  Anh Nguyễn Sơn từ nhỏ đã tham gia phong trào thanh niên và được vinh hạnh học tập tại trường quân sự nổi tiếng của Trung Quốc - Trường Quân sự Hoàng Phố. Khi anh Nguyễn Sơn về nước, thì quân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nước ta cũng bước vào thời kỳ kháng chiến lâu dài. Trong cuộc họp của Thường vụ, Bác Hồ, anh Trường Chinh và tôi yêu cầu anh Nguyễn Sơn vào miền Nam, nơi chiến sự ác liệt. Khi tôi đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Quân sự toàn quốc (sau này đổi tên thành Uỷ ban Kháng chiến toàn quốc), anh Nguyễn Sơn được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đây là một chức vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện lòng tin của Đảng và Chính phủ đối với anh.

  Anh Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, là một tướng lĩnh có công với quân đội ta. Đặc biệt anh đã từng tham gia cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài ở Trung Quốc, là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, cho nên khi các đồng chí láng giềng nhắc đến anh đều với một tình cảm tôn trọng và sâu nặng. Năm 1993, sang thăm Trung Quốc, được gặp vợ và các con anh Sơn, tôi rất vui và yên lòng khi thấy họ có một tinh thần lạc quan. Những đứa con bên đó cũng giống như những đứa con đang sống trong gia đình bên này, đều đã thực hiện được những điều mà thế hệ cha anh mong đợi, cần cù phấn đấu học tập và công tác.
Do vậy, có thể nói Tướng Nguyễn Sơn là một tấm gương sáng, là một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế của Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc.

  Tướng Nguyễn Sơn là một chiến sĩ Cộng sản kiên định, là một người có khí phách và cũng là một vị tướng tài ba. Tài ba của anh Sơn không chỉ ở lĩnh vực quân sự, mà còn trong các lĩnh vực chính trị, tuyên truyền, văn nghệ. Nguyễn Sơn còn có một phong cách riêng, vô cùng độc đáo. Ví dụ, khi làm chủ hôn đã yêu cầu cô dâu, chú rể làm thơ ngay tại hôn lễ, điều này chỉ có anh Nguyễn Sơn mới làm được.
Cho dù ở Trường Lục quân Quảng Ngãi hay ở Trường Quân chính Quân khu IV, anh Sơn luôn rất coi trọng đào tạo cán bộ. Trong phong trào luyện binh, anh đã rất thành công và đưa ra một hình thức huấn luyện được áp dụng trong toàn quân và nhân dân: "Đại Hội Tập".
Anh tôn trọng bạn bè và mọi người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ xung quanh.

  Có thể nói, trong giai đoạn Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công, Cách mạng Trung Quốc còn chưa giành được thắng lợi, Đảng và nhân dân ta đã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ trong điều kiện bị bao vây và cực kỳ khó khăn phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng, toàn dân đoàn kết, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, từ xây dựng dân quân đến xây dựng sư chủ lực đầu tiên. Chúng ta đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, đã đứng vững và lớn mạnh, đặt nền móng vững chắc cho việc tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự viện trợ hết lòng của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc sau này. Tôi phải nhắc đến một tài liệu năm 1949 do Pháp công bố, trong tài liệu đó, Pháp đã buộc phải thừa nhận "dùng lực lượng quân sự không thể thắng nổi Việt Minh".

  Anh Sơn đã về nước chính vào những ngày khó khăn đó. Anh đã tích cực tham gia các cuộc thảo luận về quân sự, chiến tranh, đã đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc về vấn đề bồi dưỡng cán bộ, tác chiến, xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng lực lượng dân quân v.v... đặc biệt anh rất coi trọng vấn đề xây dựng dân quân. Trong các cuộc hội nghị, anh phát biểu rất sôi nổi và thu hút được sự chú ý của mọi người. Trong quan hệ với bạn bè, anh tôn trọng đồng chí, bạn chiến đấu, thường tâm sự với mọi người thâu đêm suốt sáng, làm mọi người có cảm giác thoải mái và quyến rũ.

  Thời gian về nước của anh không dài, nhưng anh đã có những đóng góp hết mình. Mùa hè năm 1950, do phân công công tác, anh đã đến Bắc Kinh. Mặc dù xa quê hương đã lâu, bôn ba hoạt động cho cách mạng ở bên ngoài, nhưng không có giờ phút nào anh không nhớ tới Tổ quốc mình. Khi bệnh tình nguy kịch, mặc dù đã được bạn bè hết lòng cứu chữa, thậm chí gửi sổ y bạ đi hội chẩn ở Liên Xô, nhưng anh không thể qua nổi. Theo nguyện vọng của anh, Đảng đã đón anh về nước. Anh đã từ trần trong niềm thương tiếc vô hạn của người thân, bạn bè chiến hữu trên mảnh đất quê hương.

  Mặc dù mất sớm, nhưng anh đã để lại hình ảnh của một người Cộng sản suốt đời cúc cung tận tụy cho sự nghiệp cách mạng nước ta và đất nước anh em hữu nghị, hình ảnh một đồng chí, một người bạn chiến đấu thân thiết và hết sức chân thành. Anh mãi mãi được ghi nhớ trong trang lịch sử cách mạng Việt Nam và khắc sâu trong trái tim mỗi chúng ta.


Hà Nội, ngày 22-12-1999


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:04:35 PM
Lời dẫn



  Tôi sinh ở Tam Tấn, nơi đã sản sinh ra nền văn minh Trung Quốc cổ đại và đã có mối tình sâu nặng với vùng đất sông Hồng, Việt Nam. Trên thế giới này, tôi đã trải qua tám mươi sáu năm dài, còn ông chỉ lưu lại trên đời bốn mươi tám mùa xuân.

  Ông là người Việt Nam, sinh ra tại Hà Nội. Mới mười lăm tuổi, ông đã tự đi sang nước Pháp để tìm chân lý và đã gặp được Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của cách mạng Việt Nam , từ đó đi theo con đường cách mạng. Tên thật của ông là Vũ Nguyên Bác, sau đổi là Nguyễn Sơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật gọi ông là "Chú Sơn". Ông đã đích thân chỉ huy trong chiến tranh chống Pháp ở miền Nam và miền Trung Việt Nam. Do có công lao to lớn nên ngay từ năm 1948, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phong cho ông quân hàm thiếu tướng.
Ở Việt Nam, ông được mọi người gọi là "Vị tướng nhân dân".

  Cũng có thể coi ông là người Trung Quốc vì trong cuộc đời ngắn ngủi bốn mươi tám xuân xanh, ông đã chiến đấu trên đất nước Trung Quốc tới hai mươi bảy năm.

  Năm 1924, ông rời Việt Nam tới Quảng Châu tìm gặp Hồ Chí Minh, rồi tham gia vào cuộc Đại cách mạng của Trung Quốc. Ông đã ba lần tới Trung Quốc, ba lần vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, ba lần bị khai trừ khỏi Đảng nhưng không quản sóng gió cuộc đời, ông vẫn vững vàng, không lay chuyển, thẳng tiến về phía trước.

  Tên Trung Quốc của ông là "Hồng Thuỷ". Mao Trạch Đông thân mật gọi ông là "Tiểu Hồng", nhân dân Trung Quốc trao cho ông vinh dự cao quý là một trong những vị tướng khai quốc của nước cộng hoà, và được thưởng ba loại huân chương hạng nhất. Trong Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ông là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm cấp tướng, trong quân đội trên thế giới người được hai nước cùng phong tướng như ông cũng là điều hãn hữu.

  Hồng Thuỷ mới mười sáu tuổi đã tham gia cách mạng, từ Việt Nam sang Trung Quốc, từ Trung Quốc về Việt Nam, suốt đời là chiến đấu. Trong lần cuối trở về Tổ quốc thân yêu của mình, ông chỉ còn sống được ba tuần. Khi ông ly biệt Trung Quốc, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và nhiều nhà lãnh đạo khác, đã đến chào từ biệt. Hơn hai trăm vị khai quốc công thần đã đi tiễn ông. Khi ông tạ thế, nhân dân Việt Nam đã long trọng cử hành lễ quốc tang.

  Tôi là người vợ Trung Quốc của Hồng Thuỷ. Trên hai bờ Hoàng Hà, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu. Trong khói lửa của chiến tranh kháng Nhật, chúng tôi đã kết thành bạn đời. Khói lửa chiến tranh liên miên đã vô tình chia chúng tôi thành hai ngả. Những biến cố đã chia lìa âm dương, để lại trong chúng tôi những tiếc thương, hối hận suốt cuộc đời.

  Hồng Thuỷ đã ra đi vừa bi tráng, vừa vội vã. Trái tim của tôi vẫn như lá rơi về cội, hướng về Việt Nam.

  Đã bao năm qua tiếng réo của Hoàng Hà, tiếng sóng vỗ của sông Hồng vẫn vang vọng trong trái tim tôi.

  Hoàng Hà hùng dũng, sục sôi đã ghi lại trong chúng tôi biết bao nhiêu tình, Hồng Hà mãi mãi chảy xuôi, đã mang đi của tôi biết bao nhiêu nỗi nhớ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:07:52 PM
Phần đầu



  Kết hôn với một người ngoại quốc, trong Bát lộ quân, ở biên khu Tấn - Sát - Ký, ở huyện Ngũ Đài lúc đó, là một chuyện chưa ai từng nghe nói. Lúc đó, trước những lời can ngăn thật lòng của nhiều người, tôi âm thầm suy nghĩ: Hồng Thuỷ mới mười sáu tuổi đã tới Trung Quốc tham gia cách mạng. Vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, ông đã chịu mọi gian truân, chẳng quản mọi hy sinh của bản thân.

  Là một người phụ nữ cách mạng của Trung Quốc, lại là nữ trí thức, tại sao tôi lại không thể cùng một đồng chí cách mạng ngoại quốc như thế kết hôn?

  Cách mạng không có biên giới quốc gia, lẽ nào tình yêu lại có quốc giới hay sao?(1)

 
Mục lục


• Giới thiệu tóm tắt về tác giả   
• Lời tựa
• Lời dẫn   

Phần đầu

Chương I: Mối tình sâu nặng với vùng đất Hoàng Hà

Chương II: Nỗi luyến Hoàng Hà

Chương III: Chinh chiến ở nước khác

Chương IV: Hai trái tim cùng nhịp đập

Chương V: Đau lòng vì mất con gái yêu

Chương VI: Tổ quốc đang vẫy gọi

Phần giữa

Chương VII: Rút khỏi Diên An

Chương VIII: Ngựa thồ nôi cũi

Chương IX: Vị tướng nhân dân

Chương X: Dứt tình ở Trung Nam Hải

Chương XI: Sinh ly tử biệt

Chương XII: Những năm tháng đau thương

Phần cuối

Chương XIII: Nỗi nhớ Hồng Hà

Chương XIV: Lại nối tiếp mối tình sông Hồng

Chương XV: Ghi chép về chuyến thăm Việt Nam

• Lời bình của Ngụy Nguy
-----------------------------------
1. Xin bạn đọc thông cảm và thứ lỗi, chúng tôi chỉ xin trích một vài bài mở đầu của "Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương" minh họa cho cuốn sách mà bạn đọc đang có trên tay (B.T).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:13:01 PM
Chuyện tình của một vị tướng người Việt Nam
với một người đàn bà Trung Quốc

Lý Linh*




  "Một vị tướng người nước ngoài có mặt trong cuộc Vạn lý trường chinh hai vạn năm ngàn dặm, vào những khoảnh khắc hữu hạn của cuộc đời dương thế đã thốt lên rằng: "Một đời tôi đã không phụ lòng 650 triệu nhân dân Trung Quốc, nhưng lại phụ tình một người đàn bà Trung Quốc mà tôi hằng yêu thương!".

 
Kề vai cùng phấn đấu chung tay ắt thành công

  Đây là lần thứ ba Hồng Thuỷ trở lại Trung Quốc.

  Vừa đặt chân lên mảnh đất rất đỗi quen thuộc này, điều đầu tiên vụt loé lên trong óc Hồng Thuỷ là hình ảnh Trần Kiếm Qua, một người đàn bà Trung Quốc mà lúc nào ông cũng nhớ tới.

  Họ quen nhau hồi tháng 9 năm 1937.

  Lúc bấy giờ, cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc mới bắt đầu, Hồng Thuỷ còn là một thanh niên.

  Dưới ngọn đèn dầu, người cán bộ được Tổng bộ Bát lộ quân cử xuống khu Đông Trị huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây làm công tác dân vận đang chăm chú đọc bản danh sách của Uỷ ban động viên khu, đôi mày chau lại thành một dấu hỏi:

  - Công tác phụ nữ quan trọng thế, sao trong danh sách không có một đồng chí nữ nào?

  Vừa may lại tìm được một người rất phù hợp với công việc: đó là Trần Ngọc Anh. Năm 1933, khi còn học ở trường Sư phạm Thái Nguyên, Ngọc Anh đã tham gia Liên minh những người làm công tác khoa học xã hội - một tổ chức quần chúng của Đảng. Sau khi tốt nghiệp, Ngọc Anh lên Bắc Kinh học thêm chuẩn bị thi vào đại học. Thời thế tạo anh hùng, Ngọc Anh bị lôi cuốn vào làn sóng cách mạng. Tháng 1 năm 1935, Ngọc Anh tham gia Đoàn thanh niên xã hội chủ nghĩa. Đúng một ngày trước khi lên đường đi Tân Cương công tác theo sự phân công của tổ chức, Ngọc Anh bị bắt cùng với một số bạn. Một tháng sau, vì không tìm được chứng cứ gì, cô được tha rồi về dạy học hai năm ở một trường tiểu học ngoại ô Thái Nguyên. Sau sự kiện "Ngày 7 tháng 7", Ngọc Anh về quê ở trấn Đông Trị...

  Nghe Chủ nhiệm Uỷ ban động viên Từ Kế Chi giới thiệu về Ngọc Anh, những người có mặt đều đồng thanh: "Cử cô ấy làm tổ trưởng phụ nữ!".

  Trần Ngọc Anh được mời đến văn phòng và một cán bộ Bát lộ quân giọng rất trịnh trọng, tuyên bố:

  - Bắt đầu từ hôm nay, đồng chí là cán bộ của Uỷ ban động viên khu, phụ trách công tác phụ nữ trong toàn khu, hàng ngày đồng chí đến đây làm việc!

  Họ đã quen nhau như vậy đó. Dò hỏi người khác, Ngọc Anh biết thêm: cán bộ ấy là Hồng Thuỷ, một người Việt Nam.

  Cán bộ khu hồi bấy giờ không có lương, cũng không có phụ cấp, nhưng được chén no bụng "cơm" tập thể. Hơn mười con người ngồi vây quanh chiếc lồng hấp, những chiếc bánh mằn thầu1 làm bằng bột ngô vừa vàng vừa cứng, mà miệng nhai ngon lành, chẳng một ai kêu ca khổ sở. Hồng Thuỷ tuy là người nước ngoài nhưng cũng không được ưu đãi gì hơn, cũng ngồi nhai mằn thầu giữa vòng người như các đồng chí khác.

  Là con người vui tính, lúc ăn cơm, ngoài tranh thủ bàn chuyện công việc Hồng Thuỷ thường kể những câu chuyện dí dỏm để làm nhẹ bớt bầu không khí căng thẳng. Nhưng bữa nay thật lạ lùng, chẳng nói chẳng rằng, chưa nhai hết chiếc bánh Hồng Thuỷ đã một mình lẳng lặng chui vào phòng làm việc.

  Vốn tinh tế nhạy cảm, Trần Ngọc Anh vội đi theo và chỉ dăm câu ba điều cô đã rõ nguồn cơn nỗi ưu tư sầu muộn của cán bộ.

  Bát Lộ quân vào sâu trong địch hậu để kháng chiến, đang cùng với quân đội của Diêm Tích Sơn đổi vùng. Một cánh quân của Diêm phải đi qua Ngũ Đài. Công việc vận chuyển một số lớn vật tư quân dụng đòi hỏi sự giúp đỡ của nhân dân trong khi bà con thì quá rõ bộ mặt thật của lính Diêm Tích Sơn thế nào rồi mỗi khi chúng đi ngang qua. Trai tráng phải đi khuân vác, lừa ngựa bắt phải đi thồ kéo...

  Ngọc Anh định nói gì đó nhưng lại thôi, giọng lấp lửng:

  - Trồng hoa được hoa, trồng gai được gai, ai bảo chúng nó cứ ăn hiếp bà con, cho chết!

  - Phiền toái là ở chỗ đó. Bát lộ quân hiện giờ trấn giữ khu vực Ngũ Đài, quân bạn muốn quá cảnh, nếu không tổ chức lực lượng giúp đỡ, e tổn hại đến chính sách mặt trận và hình ảnh người cộng sản. Gai thì do người khác trồng, chúng ta lại phải biến nó thành hoa. Đồng chí là người địa phương, nghĩ xem có cách nào biến nó thành hoa hữu nghị?

  - Hoa hữu nghị? Anh nói nghe hay thật, trách nào thím Đại kể rằng anh nói chuyện tài lắm, đến con kiến trong lỗ cũng phải bò ra. Anh kể cho em nghe đi, một người Việt Nam sao lại nói được tiếng Trung Quốc giỏi như vậy?

  Hồng Thuỷ sốt ruột:

  - Bụng dạ đâu bây giờ mà kể chuyện đó nữa!

  Ngọc Anh giọng tinh nghịch:

  - Thế thì đừng hòng biết hoa hữu nghị nở thế nào!

  Vì nhiệm vụ cấp bách trước mắt, anh cán bộ đành kể lại câu chuyện khiến người nghe phải ôm bụng mà cười. ấy là vào năm 1925, lúc Hồng Thuỷ lần đầu tiên đến Trung Quốc. Vì chưa biết tiếng Trung Quốc nên mới hỏi các đồng chí xung quanh: "Người Trung Quốc gặp nhau, câu chào thân mật nhất nói thế nào?".

  Một anh bạn cố tình trêu Hồng Thuỷ, bèn nghiêm nghị dạy cho ba chữ: "Tỉu nà ma!".

  Anh đâu có biết đó là câu chửi tục tĩu mà người Quảng Đông kỵ nhất. Thế là anh chàng Hồng Thuỷ nhà ta vội đi ra phố. Gặp hai cô gái đi ngược lại, để tỏ ra thân mật, anh chàng cười hì hì bước tới trước mặt chào "Tỉu nà ma" luôn. Các cô gái giận dữ trừng mắt nhìn, tưởng anh là thằng điên, bỏ đi thẳng không thèm nói một lời. Lại gặp ba thanh niên bước tới, chàng Hồng Thuỷ cũng làm như vậy. Nhưng lần này thì được một trận thượng cẳng chân hạ cẳng tay, mặt mũi bê bết máu. Anh bạn chơi trò đùa dai kia cứ xin lỗi mãi, nhưng lại được nghe Hồng Thuỷ trả lời: "Cám ơn đồng chí, đồng chí là người thầy của tôi".

  Trần Ngọc Anh chưa vỡ lẽ ra sao:

  - Bị đánh mà lại còn cám ơn người ta!

  Hồng Thuỷ giải thích:

  - Các thầy giáo ở Trung Quốc thích dùng thước đánh học trò. Người nước ngoài bảo rằng, tài học của Trung Quốc là do đánh mà ra, tôi ngẫm cũng thấy đúng, bị nện như vậy tôi mới buộc phải học tiếng Trung Quốc chứ!

  - Hoá ra đó là bí quyết để anh thành "dân Trung Quốc chính cống"?

  - Chính cống quái gì. Bây giờ đây này, cũng chưa biết cách làm thế nào mượn được lừa, ngựa của bà con. Cô giúp tôi đi, giở cẩm nang xem có cách chi không?

  - Cần gì phải giở cẩm nang! Em thử nói xem anh nghe có được không! Bà con không chịu cho mượn chẳng qua vì sợ bọn chúng nó tiện tay dắt đi luôn. Bây giờ ta dùng cách chuyển từng trạm một, chuyển từ trạm này đến trạm khác, chắc là được đấy. Chỉ có điều bà con cực đã nhiều rồi, có thể chưa yên tâm ngay, anh nên nói thêm để bà con rõ là lừa, ngựa nhà ai nhà ấy dắt, xong việc lại đưa về; nhỡ có xảy ra chuyện gì, Bát Lộ quân chịu trách nhiệm bồi thường. Bát Lộ quân uy tín cao, bà con không lẫn lộn đâu. Ngoài ra, cần một vài người xung phong hưởng ứng, chắc bà con sẽ cho mượn thôi. Em chịu trách nhiệm sang mấy thôn bên cạnh, động viên các chị em cốt cán xung phong đứng ra cho mượn.

  Hôm sau, trên quảng trường của trấn Đông Trị, Hồng Thuỷ cùng với Chủ nhiệm Uỷ ban động viên khu đang kêu gọi mọi người "có sức góp sức" thì đã thấy từng cặp vợ chồng những hạt nhân tích cực dẫn lừa ngựa nhà mình đi đến. Trấn Đông Trị tưng bừng trong khí thế ra quân cứu nước.

  Vừng đông vừa rạng, chiêng trống đã khua inh ỏi. Mấy trăm bà con trong toàn khu Đông Trị, lũ lượt tự động dắt lừa ngựa của nhà đi thồ đạn dược, quân nhu cho quân Diêm Tích Sơn. Dưới sự hướng dẫn của cán bộ dân vận Bát lộ quân và cán bộ của Uỷ ban động viên, từng đoàn người nối tiếp nhau đi về phía Nam. Cứ hơn mười dặm đặt một trạm, đến trạm, dỡ hàng, người ngựa lại quay về. Mấy hôm liền, ngày nào cũng vậy, mọi việc diễn ra suôn sẻ, vừa giúp quân đội bạn giải quyết được khó khăn về vận chuyển, vừa bảo đảm được quyền lợi thiết thân của bà con. Một số thân sĩ địa phương cảm phục nói: "Bọn lính trước đây rắc toàn những gai, giờ Bát Lộ quân biến nó thành hoa, được lòng người tất được thiên hạ!"

  Hồng Thuỷ và Ngọc Anh nhìn nhau lặng lẽ cười, lòng dào dạt niềm vui công việc đã kết quả.
---------------------------------------
* Lý Linh, nhà văn quân đội, sinh năm 1940 tại Giang Tô, tham gia quân đội năm 1961, hiện là nhà văn chuyên nghiệp của Binh chủng Pháo binh 2, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội nhà văn Trung Quốc.
Lý Linh đã có nhiều tác phẩm công bố, chủ yếu viết dưới thể loại báo cáo văn học; ngoài ra còn một số tác phẩm truyền hình. Tác phẩm của Lý Linh đã nhận được giải thưởng như Giải báo các văn học ưu tú; Giải "Cây nến đỏ"...
Truyện "Chuyện tình của một vị tướng người Việt Nam với một người đàn bà Trung Quốc" được in trong tập "Những người phụ nữ can trường", Nhà xuất bản Truyền hình Trung Quốc, năm 1994.
Truyện tình của Tướng Nguyễn Sơn, theo tác giả, là một tác phẩm viết tốn nhiều công sức nhất, bởi lẽ Nguyễn Sơn mất sớm, lại không có hồ sơ, phải sưu tầm khai thác qua thư ký của Nguyễn Sơn là Vi Thủ Văn, qua các lão tướng cùng thời Nguyễn Sơn như Hà Trường Công, qua chính nhân vật nữ trong truyện là bà Kiếm Qua... và một số bạn bè khác nữa để viết nên câu chuyện tình cảm động này (N.D).




Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:16:39 PM
Gặp nhau trên sàn diễn đâu ngờ nọc ong châm


  Chủ trương thoả hiệp đầu hàng của Diệm Tích Sơn cứ như âm hồn người chết lẩn quẩn đâu đây, biến thành một dư luận xấu len lỏi vào các ngõ ngách cả một vùng Đông Trị, nơi Hồng Thuỷ đã coi là quê hương của mình.

  Người thì nói: "Bọn giặc còn mãi tận đâu đâu, đã vội lo gì chuyện kháng Nhật!". Kẻ thì bàn: "Người ta đến thân thiện với mình. Mình đừng chọc họ, việc gì họ đánh mình, cứ suy bụng ta ra bụng người, ai mà chẳng thế!"

  Trước tình hình có những nhận thức mơ hồ như vậy, trên sân khấu ngoài trời của trấn Đông Trị trình diễn một vở kịch có cảnh: Một tên lính Nhật giữa ban ngày cưỡng hiếp vợ một công nhân. Anh chồng không chịu, bị đánh chết tươi. Người vợ kêu oan với nhà chức trách thì nhận được câu trả lời: "Quân đội Thiên hoàng "thân thiện" với mày, được thế tốt quá rồi còn gì!".

  Vở diễn rất thành công. Thực chất cái gọi là "tình thân thiện" của Nhật hoàng đã bị tố cáo mạnh mẽ. Hồng Thuỷ trong vai lính Nhật, Ngọc Anh trong vai vợ người công nhân.

  Ở vào cái thời nam nữ không dám đi sóng đôi với nhau mà một cô gái nông thôn dám cả gan lên sân khấu diễn một vở kịch như vậy, ngoài tính cách dũng cảm và kiên nghị, còn phải nói đến lòng yêu nước nhiệt thành của cô.

  Là một người nước ngoài mà có thể soạn được vở kịch đạt kết quả như vậy, ngoài trình độ văn hoá, điều quan trọng hơn là tinh thần quốc tế rất đáng khâm phục của anh. Quần chúng được phát động. Khẩu hiệu "có tiền giúp tiền, có sức giúp sức, có súng giúp súng" vang lên càng mạnh mẽ trong toàn khu Đông Trị. Vậy mà bên nhà bố vợ của Diêm Tích Sơn, cả đến con cháu, thân tín của y lại công khai chống lại, một xu cũng không chịu nhả ra. Tính cao ngạo ỷ vào quyền thế và lòng hám của đã đẩy họ sang phía đối lập với nhân dân. Có tiền không chịu góp, có súng mang đi giấu, viện cớ việc đóng góp phải chia đều theo nhân khẩu để biến "gánh nặng hợp lý" thành gánh nặng bất hợp lý. Quần chúng rất bất bình. Phía chính quyền mới được sự ủng hộ của Bát lộ quân dám quyết một phen vuốt râu hùm. Còn lũ khôn quá hoá ngu thì vẫn cứ đinh ninh "có Diêm tư lệnh đỡ đầu, xem thằng nào dám làm gì được?"

  Hồng Thuỷ, con người lòng ngay dạ thẳng, phảy mạnh ống tay áo, nói: "Mẹ kiếp, không bắt được mày nộp súng ra, đây không phải là chiến sĩ quốc tế nữa!".

  Có người chủ trương cướp súng, Hồng Thuỷ gạt phắt:

  - Cướp là hành động của bọn thổ phỉ. Phải mượn! Uỷ ban động viên đứng ra cùng với đông đảo quần chúng tham gia đi mượn súng đánh giặc, danh chính ngôn thuận. Sách lược của ta là trong rắn ngoài mềm. Đồng chí Phó Chung, phụ trách Cục chính trị Bát Lộ quân của chúng ta bảo rằng, phải lợi dụng khẩu hiệu "gánh nặng hợp lý" do chính Diêm Tích Sơn nêu ra, biến cái gánh nặng bất hợp lý hiện nay thành "gánh nặng hợp lý" thực sự.

  - Thế nếu nó không nghe?

  - Thì phải cho hắn biết: không đạt mục đích, không lui quân!

  Được cán bộ Bát Lộ quân ủng hộ, tinh thần mọi người phấn chấn hẳn lên. Đám người hừng hực khí thế chia nhau kéo đến nhà họ Diêm và các gia đình thân thích của y. Họ thống nhất với nhau trước tiên hãy làm công tác vận động chính sách.

  Quần chúng rầm rộ kéo đến nhà rồi mà lũ ngoan cố vẫn một mực "không có súng cho mượn". Chúng đâu hay rằng có người làm thuê trong nhà ngầm báo trước, chỉ một ngón tay ra hiệu của người đó là toàn bộ bí mật của kho súng bày ra trước mắt mọi người.

  Mấy trăm khẩu súng, dài có ngắn có, trước áp lực của quần chúng đã buộc nhà họ Diêm phải mang ra cho "mượn". "Gánh nặng hợp lý" theo nguyên tắc chia đều theo ruộng đất và thu nhập tất nhiên đã được áp dụng một cách sòng phẳng. Các thanh niên dân binh có súng để luyện tập, còn các cụ già thầm thì với nhau, ai cũng khen Uỷ ban động viên "không sợ quyền thế, làm việc công bằng". Trong khi đó, Hồng Thuỷ giọng tỉnh bơ ra một câu đố:

  - Hai đứa trẻ đánh nhau và bố mẹ hai bên đều can thiệp vào. Một bên thì chỉ biết mắng đứa trẻ kia gây chuyện, thậm chí còn định đánh lộn; một bên ngược lại cho con mình một cái tát, kéo sang một bên để khỏi đôi co rắc rối. Bà con bảo, ông bố bà mẹ bên nào đúng?

  Những người có mặt nhao nhao trả lời:

  - Kẻ biết nghiêm với mình thì được người tôn trọng.

  Hồng Thuỷ giọng thâm trầm:

  - Nhân giả kiến nhân, tri giả kiến tri

  Mọi người còn chưa kịp hiểu ra những ý tứ sâu xa của câu nói, thì đột nhiên Hồng Thuỷ bị điều đi nơi khác.

  Dưới gốc cây hoè đã nhiều tuổi ở đầu thôn, ngày lại ngày Trần Ngọc Anh cứ đứng ngẩn ngơ trông ngóng: "Anh Thuỷ ơi, anh đang ở đâu, sao anh không viết thư về?"

  Tiếng gió mưa như thì thầm như rả rích truyền về một số chi tiết trong vụ việc trên.

  Sau vụ "mượn súng" xảy ra, nhà bố vợ Diêm Tích Sơn vội vã chạy lên Thái Nguyên kể lể với "ông bầu" dấu mặt, thêm vào đó là "khổ nhục kế" với những "thương tích" do bàn tay của những thợ hoá trang tạo ra, càng như lửa đổ thêm dầu, cộng với những lời xúc xiểm đã khiến Diêm Tích Sơn nổi cơn thịnh nộ: "Được lắm, Đảng Cộng sản các người lợi dụng "gánh nặng hợp lý" của ta để trị ta, ta lại không biết dùng "Mặt trận thống nhất" của các người để trị lại sao? "Tất cả qua Mặt trận thống nhất", "Tất cả phải phục tùng Mặt trận thống nhất", cái đó do Đảng Cộng sản các người nêu ra, ta Diêm Tích Sơn cũng là một tư lệnh trong Mặt trận thống nhất, hà cớ gì lại không "qua" ta, hà cớ gì không "phục tùng" ta? Phải đi đấu lý với bọn chúng!" Và y không quên hỏi: "Cái thằng Bát Lộ quân cầm đầu đến mượn súng tên là gì?".

  - Hồng Thuỷ, hồng thuỷ mãnh thú - Bọn tay chân tranh nhau trả lời.

  - Hồng thuỷ mãnh thú! Cái tên này dễ nhớ đây!

  Diêm Tích Sơn ghi vội vào sổ tay cái tên mà y căm đến tận xương tuỷ, rồi đùng đùng đi tìm gặp đồng chí Chu Ân Lai lúc này đang có mặt ở Thái Nguyên, để xả cơn thịnh nộ. Y còn lấy danh nghĩa Hy minh hội, một tổ chức trong Mặt trận thống nhất, để gây sức ép từ trên xuống dưới, buộc Đảng Cộng sản và tổ chức Mặt trận thống nhất huyện Ngũ Đài "kỷ luật Hồng Thuỷ, thanh toán sai lầm của Hồng Thuỷ!".

  Nguyên Cục trưởng của Bộ Địa chất là Vương Dật Quần cuối năm 80, trước khi mất, đã kể lại rằng: "Lúc bấy giờ, tôi làm Bí thư Đặc uỷ khu Đông Bắc Sơn Tây. Về đồng chí Hồng Thuỷ, chúng tôi đã tìm hiểu kỹ. Đồng chí đã có nhiều thành tích, quần chúng ở Khu IV huyện Ngũ Đài được phát động, được vũ trang; tổ chức cơ sở của Đảng, tổ chức chính quyền đều được xây dựng. Mượn súng để kháng chiến, sao lại phải chịu kỷ luật? Có tiền không góp tiền, có súng không góp súng, cái loại ngoan cố đó sao không trị cho nó một mẻ? Nếu kỷ luật đồng chí ấy, làm sao có thể phát động quần chúng kháng chiến? Chúng tôi trong đặc uỷ chống lại, không kỷ luật, lẳng lặng điều đồng chí ấy đi khỏi Khu IV. Nhưng thằng cha Diêm Tích Sơn vẫn bám riết theo không chịu buông tha. Đảng cộng sản cũng vì phải đoàn kết với các thế lực này để cùng chống Nhật, không thể không phần nào nhượng bộ, nên đã khai trừ đảng tịch của Hồng Thuỷ. Năm 1938, đồng chí ấy được điều đến công tác ở Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật do đồng chí Tôn Nghị làm Hiệu trưởng. Sau này, khi được Quân khu Tấn-Sát-Ký phê chuẩn, đồng chí ấy mới được khôi phục đảng tịch. Thật là khó khăn cho một đồng chí người nước ngoài! Chúng tôi sợ đồng chí ấy chịu không nổi, cũng định động viên vài câu thì Hồng Thuỷ lại động viên chúng tôi: "Thôi đừng nói nữa! Tôi hiểu rõ mối quan hệ giữa cục bộ với toàn thể. Diêm Tích Sơn là Tư lệnh Chiến khu 2. Để đoàn kết được với quân của hắn cùng chống Nhật, đừng nói là chuyện đảng tịch của tôi, dẫu có mất đầu cũng đáng giá. Duy chỉ có một điều, chỗ súng đã mượn không thể trả lại hắn, lực lượng vũ trang địa phương không thể giải tán, "gánh nặng hợp lý" không thể dồn quá nhiều cho bà con nghèo khổ. Trọng điểm phải là những hộ giàu, có tiền có thế lực. Còn đối với tôi, về mặt tổ chức tuy không phải là đảng viên, nhưng về tư tưởng tôi không một phút lơ là. Đề nghị các đồng chí cứ phân công công tác cho tôi như thường!". Thật là một tấm lòng đáng quí. Mấy vị lãnh đạo nghe Hồng Thuỷ nói như vậy không cầm được nước mắt, chẳng những không xa cách mà càng quí trọng anh ấy, kính nể anh ấy. Nhằm nâng cao trình độ tư tưởng, năng lực công tác cho cán bộ khu Đông Bắc Sơn Tây và để đáp ứng nhu cầu của tình hình kháng chiến đang ngày một phát triển, đảng uỷ quyết định tổ chức một lớp huấn luyện cho cán bộ thanh niên, giao Hồng Thuỷ phụ trách chung và cử các anh Hồ Khai Minh (sau này là Bí thư tỉnh uỷ An Huy), Trương Liên Khuê (sau này là Thứ trưởng)... lên lớp giảng cho các học viên. Mấy khoá huấn luyện ấy đã đào tạo bồi dưỡng được hơn trăm cán bộ đảng, có người đã hy sinh trong chiến đấu, có người đến nay vẫn còn ở những cương vị rất quan trọng". Vợ chồng đồng chí Đỗ Đạo Chính, Giám đốc Nhà xuất bản Tân văn của Trung Quốc hiện nay cũng là hai học viên các khoá đó.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:19:49 PM
Bạn cũ thêm tình mới dìu nhau vào cõi mơ



  Cơn gió lạnh đầu mùa mới chợt làm rơi những chiếc lá hoè đang còn xum xuê trên cây thì bông hồng của số phận lại mỉm cười với Trần Ngọc Anh. Cấp trên quyết định cử cô đi dự khoá huấn luyện cán bộ thanh niên của Đặc uỷ khu Đông Bắc Sơn Tây.

  Vương gia trang, cái thôn nhỏ nằm cách huyện lỵ Ngũ Đài hai dặm về phía đông từ lâu đối với cô quá đỗi quen thuộc, nhưng số nhà cụ thể của lớp huấn luyện thì lại xa lạ. Đang định tìm người để hỏi thì một tiếng "xuỳ" làm cô giật nảy mình. Một bóng người có vẻ ngang tàng nhảy xổ ra từ sau một thân cây lớn. Anh chính là Hồng Thuỷ, người cô từng thân quen và lòng vẫn canh cánh nỗi lo âu về anh ấy.
Đâu có ngờ lại được gặp anh ở đây! Đâu có ngờ rằng anh vẫn vui vẻ lạc quan như vậy! Bạn cũ lại gặp nhau! Trên gương mặt anh hầu như không tìm thấy dấu vết của sự buồn nản sau lần gặp trắc trở. Cô muốn bộc bạch với anh một tình cảm nào đó, muốn nói một điều gì đó mà không nói ra được, chỉ thốt được một câu:

  - Các đồng chí trong Uỷ ban động viên lo cho anh quá!

  - Lo cái gì? - Anh vặn lại - Thằng cha Diêm Tích Sơn liệu ăn thịt được tôi hả? Nói cho cô biết nhé, ở vào trong thời kỳ đặc biệt, phạm sai lầm cũng có hai loại: vẻ vang và không vẻ vang. Sợ gian khổ, sợ khó nhọc, lâm trận bỏ chạy, tham ô hối lộ, v.v..., như thế là đáng xấu hổ, không vẻ vang. Nhưng cũng có một loại khác, tổ ong vò vẽ nhất định phải có người phá, bị đốt tất nhiên là đau, nhưng nó còn đau hơn. Đốt người ta rồi, tâm địa thế nào phơi bày ra tất cả, nhân dân cả nước ai cũng biết. Đường đường một Diêm Tích Sơn mà nhà của quan tư lệnh chiến khu Ba to tướng lại có sức không góp sức, có súng không góp súng! Cái lão khôn quá hoá ngu ấy liệu còn dám vác mặt đi các nơi khoác lác mà không thấy xấu hổ sao? Tôi ấy à, chỉ muốn đăng ngay, đăng công khai trên báo bản kiểm điểm sai lầm của mình! Cô nghĩ xem, nếu đăng thật thì người xấu hổ là Hồng Thuỷ này hay là cha Diêm Tích Sơn?

  Ngọc Anh vỡ lẽ, cười thành tiếng:

  - Nghe anh nói, em hiểu rồi. Giá hôm nào có chuyện đó thật, em sẽ mang báo đi đọc từng câu từng chữ cho mọi người nghe, để bà con vạch vào mặt cái lũ kháng chiến mồm ấy!

  Vừa đi vừa nói chuyện, hai người đã tới phòng ghi tên của lớp huấn luyện. Khi thấy cô viết ba chữ Trần Ngọc Anh, Hồng Thuỷ lắc đầu nói:

  - Cái tên ấy không hay, thiếu tính chiến đấu, không phù hợp với tính cách của cô. Đổi tên đi!

  Ngọc Anh ngượng nghịu:

  - Ngần này tuổi rồi lại còn đổi tên?

  - Thì đã sao. Tên của tôi mãi sau này tôi mới đổi đấy. Tôi vốn tên là Vũ Nguyên Bác, còn gọi là Hồng Tú nữa vì ở Việt Nam chúng tôi có ngọn núi Hồng, giống như núi Thái ở Trung Quốc, rất nổi tiếng, cho nên tôi đã lấy Hồng rồi ghép với chữ Tú vì tôi muốn mình sẽ trở thành một trang anh tuấn của Việt Nam, thế là thành tên Hồng Tú! Cái lần thứ hai tôi đến Trung Quốc và trở thành chiến sĩ Hồng quân, các đồng chí bảo tôi: "Tên Hồng Tú nghe yếu đuối quá, cứ như tên con gái, đề nghị đổi tên". Đặt là gì bây giờ nhỉ, đang lúc ngửa cổ lên để nghĩ thì thấy trên bàn có một tờ truyền đơn chống cộng, trong đó nó viết "Cộng sản là cộng nhà, cộng vợ, là loài hồng thuỷ mãnh thú", thế là tìm được cái tên rồi! Trong một buổi họp của đại đội, tôi tuyên bố đã đổi tên là Hồng Thuỷ. Còn một đồng chí nữa cũng đổi tên là Mãnh Thú. Trong một trận đánh sau đó, Mãnh Thú đã hy sinh, còn tôi kể như cao số. Trận lớn trận nhỏ đánh suốt 10 năm mà chưa có viên đạn nào dám chạm vào tôi. Dọc đường trường chinh, có ngất xỉu mấy lần vì đói,  nhưng vẫn không quật ngã nổi tôi. Đánh đông dẹp tây để mở căn cứ địa, căn cứ địa mất thì trường chinh, vượt hai vạn năm nghìn dặm lên Thiểm Bắc, đến được Thiểm Bắc lại chuyển sang Sơn Tây, tính đầu ngón tay đi đã quá nửa Trung Quốc rồi. Con lũ Hồng Thuỷ cứ băng băng chảy một mạch, đến trấn Đông Trị thì dâng to, nhấn chìm cả nhà lão Diêm Tích Sơn, làm cho quan tư lệnh phải phát khùng lên, nghiến răng nghiến lợi lại mà chửi, "Hồng Thuỷ Hồng Thuỷ, đúng là đồ hồng thuỷ mãnh thú"! Ông ta đâu có biết, cái tên của tôi không biết sợ chửi bới!

  Mọi người nghe đều cười ầm cả lên. Ngọc Anh cũng vậy. Dứt tiếng cười, cô nói với Hồng Thuỷ giọng rất chân thành:

  - Anh đặt hộ em một cái tên đi, một cái tên giàu tính chiến đấu, lại chịu được chửi!

  - Được, thế thì gọi là Trần Kiếm Qua! Trần Kiếm Qua, có trong tay kiếm và qua gai góc nào chẳng tan tác, khó khăn nào chẳng vượt qua!

  - Cái tên hay thật.

  Mọi người khen. Ngọc Anh cũng khen.

  Ba tháng sau, lớp huấn luyện đầu tiên sắp kết thúc và tình yêu giữa họ cũng thắm thiết hơn. Lúc không có ai, hai người thì thầm:

  - Lưỡi kiếm và cây qua của em không có biết thương người đâu!

  - Anh không sợ! Trung Quốc có câu thơ cổ: "Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy xiết"!

  - Anh đến là hư! - Ngọc Anh nắm hai tay đấm thùm thụp lên lưng Hồng Thuỷ như gõ trống.

  - Ngoan cũng được, hư cũng được. Có một nhiệm vụ đặc biệt, sau khi hoàn thành sẽ cưới nhau!

  - Nhiệm vụ gì vậy ạ?

  - Ra tranh cử. Lớp huấn luyện sắp xong rồi, huyện uỷ quyết định điều em lên huyện làm công tác phụ nữ. Phải thành lập ngay Hội phụ nữ cứu quốc huyện Ngũ Đài. Huyện uỷ dự định đề cử em và mong em trúng cử để gánh vác công việc Hội trưởng Hội phụ nữ cứu quốc huyện. Nhưng, những thế lực xấu không chịu đâu, nó sẽ tìm mọi cách để tranh phiếu với em. Vì kháng chiến, em phải tuốt kiếm vung qua lên, xông vào đấu với chúng một trận!

  - Liệu em có thắng được không?

  - Sao lại không được? Này nhé, nói về văn hoá, em tốt nghiệp Trường sư phạm Thái Nguyên, là người có trình độ văn hoá cao nhất trong giới nữ toàn huyện; nói về đóng góp, em là người phát động phong trào phụ nữ khâu giầy cho bộ đội, tổ chức lực lượng chi viện cho tiền tuyến, các đồng chí trong Uỷ ban động viên ai cũng khen; nói về trình độ chính trị, vốn là cốt cán của Trường nữ sư phạm Thái Nguyên, lại có 3 tháng huấn luyện bồi dưỡng tập trung, ai bì kịp em nào! Thôi, em cứ lo chuẩn bị tốt bài nói chuyện đi. Bí thư huyện uỷ Triệu Bằng Phi nói rồi, đồng chí ấy tình nguyện làm cái thang, quyết tâm để em trèo lên.

  - Thế còn anh? Không giúp em được gì à?

  - Khoá hai sắp mở tiếp luôn. Chỗ này chật quá, phải chọn địa điểm khác, bận túi bụi...

  Xin hãy ghi nhớ sự kiện này: tháng 1-1938, Đại hội đại biểu phụ nữ khoá 1 của huyện Ngũ Đài đã long trọng khai mạc tại nhà thờ Thiên chúa giáo thôn Câu Nam. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đại hội là bầu ban lãnh đạo Hội phụ nữ cứu quốc huyện. Trước khi cuộc bầu cử bắt đầu, đại biểu nhóm các cô giáo Trường tiểu học nữ của huyện đề cử bà hiệu trưởng họ Cao ra so tài cao thấp với Trần Kiếm Qua là người do Huyện uỷ đề cử.

  Nghề nghiệp tạo cho bà hiệu trưởng nọ tài ăn nói lưu loát và thái độ bình tĩnh khi lâm trận, nhưng bà ta lại tỏ ra không hiểu biết gì về việc phụ nữ tham gia kháng chiến. So đi sánh lại, Trần Kiếm Qua hơn hẳn bà Cao về mọi mặt, đúng như Hồng Thuỷ lúc đầu đã phân tích, "lưỡi kiếm" trong tay cô đã mở đường thành công. Trần Kiếm Qua cuối cùng đã trúng cử chân Hội trưởng đầu tiên của Hội phụ nữ cứu quốc huyện Ngũ Đài.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:54:15 PM
Lấy chồng người nước ngoài nhập gia vẫn tuỳ tục


  Ngọc Anh sắp sửa kết hôn với Hồng Thuỷ, một cô gái Trung Quốc yêu một người nước ngoài, tin đó như luồng khí lạnh thổi vào đám mây, tạo nên một cơn mưa dư luận. Có người thân tình hỏi Ngọc Anh:

  - Người Trung Quốc có hàng vạn hàng triệu, sao phải đi kiếm người nước ngoài.

  Trần Ngọc Anh trả lời thẳng thừng:

  - Anh ấy giúp chúng ta làm cách mạng, lãnh đạo chúng ta chống Nhật, sao lại không lấy người ta được? Hẹp hòi như thế, ai còn muốn đến Trung Quốc giúp chúng ta.

  Chiếc tẩu thuốc của ông bố Ngọc Anh cứ rít lên hoài. Đắn đo suy nghĩ mãi trong làn khói nồng nặc, cuối cùng ông quyết định: "Tự do, bố không phản đối, tổ chức theo lối đời sống mới, bố cũng tán thành. Bỏ tất cả các thứ cổ hủ như ngồi kiệu hoa, dắt la đi, được cả, nhưng phải có mai mối đàng hoàng, cũng phải có bữa cơm liên hoan".

  Tết âm lịch năm 1938, ông sửa hai mâm cỗ làm lễ cưới cho hai người. Lễ cưới tuy không long trọng nhưng rất thân mật. Người ta đã châm chước những thủ tục rườm rà, phiền phức. Phó bí thư Huyện uỷ Triệu Bằng Phi là người giới thiệu. Người làm chứng có các thành viên của Uỷ ban vận động. Trong bữa tiệc cưới, Mã Chí Viễn, người phụ trách Uỷ ban tặng cặp vợ chồng mới một bài thơ:

Hồng lãng uông dương quán Đài Đông,
Thuỷ bình giải hậu thoại trường chinh.
Ngọc nhân tố bão kháng Nhật chí,
Anh hùng tảo hoài du kích tâm.
Luyến quân đơn mâu xuất An Nam,
Ái nùng song đao phách Nhật Bản.
Kỷ công thống nhất tư tráng chí,
Niệm niệm bất vong Bát lộ quân.

  Bố Ngọc Anh chỉ vào các chữ đầu của 8 câu thơ và đọc "Hồng Thuỷ Ngọc Anh Luyến Ái Kỷ Niệm" và ông bố khoái chí cứ vuốt râu khen hay. Bốn mươi năm sau, tác giả bài thơ trở thành Phó Viện trưởng Viện Thuỷ lợi Sơn Tây. Bài thơ được đưa vào tập Thơ văn Mã Chí Viễn với lời đề tựa của Nguyên soái Diệp Kiếm Anh.

  Đó là câu chuyện lấy chồng người nước ngoài đầu tiên ở địa phương, cũng là câu chuyện đầu tiên về việc cưới xin của chiến sĩ Hồng quân sau cuộc trường chinh. Các lính già trong quân đội cười bảo nhau: "Hồng Thuỷ đã nổ phát súng đầu tiên, cánh độc thân chúng mình có hy vọng đây!"

  Không rõ câu nói đó hàm ý gì, người cầm bút này đã cất công đi tìm hỏi vị thủ trưởng cũ là lão tướng Vương Tông Khôi, nguyên phụ trách công tác tổ chức ở chiến khu Tấn - Sát - Ký. Ông kể lại: "Cách mạng Trung Quốc đã phải trải qua một lộ trình quá dài. Năm lần chống vây quét, chúng tôi khi đó còn là "nhãi ranh". Hơn một năm trường chinh, tiếp đó là kháng chiến, đánh nhau liên miên, tuổi anh nào cũng lớn cả, tất nhiên chuyện vợ con cũng ngày càng cấp thiết. Địa bàn thì hẹp như vậy, số các cô gái thì có hạn, mà một lúc kéo về bao nhiêu là lính tráng, nên tỷ lệ giữa nam và nữ chênh lệch nhau quá nhiều. Diên An là 1 trên 18. Cho nên, trên mới quy định tạm thời không được phép lấy vợ. Hồng Thuỷ đã nhiều tuổi, 33 rồi chứ có ít ỏi gì. Anh ấy nổ phát súng đầu tiên, anh em vỗ tay hoan nghênh, vì đó cũng là nguyện vọng của cán bộ chiến sĩ. Cần có một quy định mới, và thế là ra đời quy định "287": 28 tuổi, 7 năm tuổi quân, cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên, đủ những điều kiện như vậy thì mới được phép lấy vợ. Mặc dù đã chặt chẽ thế, nhưng số lượng nữ đồng chí vẫn có hạn, cho nên, bộ đội đi đánh nhau được giao thêm một nhiệm vụ chính trị nữa là đến địa phương nào cũng phải vận động nữ thanh niên tham gia bộ đội, tham gia công tác. Hồi ấy có đơn vị vào Hà Bắc đánh thắng một trận lớn, một tốp đông nữ thanh niên đến xin vào bộ đội. Đơn vị này đã lập được "chiến công hiển hách" trong việc làm thay đổi tỷ lệ 1-18. Bộ đội lập tức tổ chức các loại trường học, các đội tuyên truyền, y tế, ban kịch, v.v... để chị em có dịp đóng góp. Số các đồng chí nữ đó sau này đều có gia đình riêng trong quân đội. Nhắc đến những chuyện đó, rất nhiều lão đồng chí đến nay vẫn nói phải cảm ơn phát súng mở màn của đồng chí Hồng Thuỷ".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:57:50 PM
Trong phong ba bão tố mới tỏ mặt kiên trinh



  Đồng thời với sự thành lập căn cứ địa chống Nhật trong vùng địch hậu Tấn-Sát-Ký, tờ Kháng địch báo, tiếng nói của khu căn cứ cũng ra đời. Hồng Thuỷ là chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập đầu tiên của tờ báo.

  Đang trong khí thế phát triển mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bát lộ quân không cần phải che giấu những cách giải quyết chưa thoả đáng trong công tác của mình. Bản tự kiểm điểm "Cưỡng bức giao nộp súng" của Hồng Thuỷ được đăng lên báo thật và đăng ngay trên tờ Kháng địch báo do ông sáng lập ra. Ít lâu sau, người ta thấy Hồng Thuỷ cuộn số báo đó lại rồi rời toà báo. Ông được điều về làm giáo viên chính trị ở Trường Quân chính kháng Nhật do Tôn Nghị lãnh đạo. Với tấm lòng kính trọng, đồng chí Đặng Thác - người kế nhiệm chức chủ nhiệm toà báo đã viết bài thơ "Tặng đồng chí Hồng Thuỷ":

Hồi thủ Hồng Hà sang thống thâm,
Nhân gian tòng thử nhậm phù trầm.
Bắc lai tráng chí long tiên vận,
Nam quốc thi tình thiên hạ tâm.
Thập tải phong ba tam thập lí,
Thiên thu huyết lệ nhất sinh ngâm.
Đông phương vọng nhỡn lãng triều cấp,
Mạc đạo phiêu bồng trực đáo kim.

  Khi Trần Kiếm Qua nhìn thấy tờ Kháng địch báo thì chị đã là chỉ đạo viên nhóm nữ sinh Trường quân chính kháng Nhật. Quan hệ vợ chồng lại thêm tình bạn chiến đấu, họ càng yêu thương nhau. Câu đầu tiên khi họ gặp mặt nhau là câu hỏi: "Bản kiểm điểm quả nhiên đã được đăng báo?" và câu trả lời: "Rồi, bớt được gánh nặng tâm tư, cũng để người ta khỏi xì xào lung tung".

  Năm 1939, Trường quân chính kháng Nhật giải tán. Phần lớn cán bộ chuyển về Phân hiệu 2 Trường đại học Quân chính. Đây là nơi đào tạo nhân tài, đương nhiên trở thành trọng điểm tiến công của quân Nhật. Bởi thế, vừa hành quân vừa đánh giặc là chuyện cơm bữa của thầy trò nhà trường.

  Giữa tháng 8-1941, Nhật tập trung 13 vạn quân chia 3 mũi mở cuộc tấn công lớn vào khu giải phóng Tấn-Sát-Ký. Khói lửa mịt mù của chính sách "tam quang" ngày càng lan gần tới địa điểm của nhà trường đặt tại Hàn Tín Đài ở đông bắc Trần gia trang huyện Linh Thọ. Cấp trên quyết định toàn thể thầy trò nhà trường phải cấp tốc di chuyển sang huyện Hạnh Đường.

  Bộ phận do Hồng Thuỷ phụ trách chia thành hai thê đội. Để tránh bị kẻ địch gây rắc rối, thường ban ngày nghỉ trong núi, ban đêm mới hành quân. Trần Kiếm Qua lúc này đã mang bầu tám tháng, đồ đạc có ngựa thồ, nhưng hành quân thì phải dựa vào đôi chân. Đường mòn trên núi khúc khuỷu, gập ghềnh, bước cao bước thấp, tránh sao chuyện ngã lên ngã xuống. Xuống núi không có đường, chỉ còn cách lăn xuống. Kiếm Qua mệt đứt hơi, người đầm đìa mồ hôi, vậy mà năm sáu ngày liền vẫn nghiến răng chịu đựng để theo kịp đội ngũ.

  Đêm ngày 4 tháng 9, đơn vị đang tiến vào vùng núi Phong Ngư của huyện Hạnh Đường thì xẩy ra chuyện bất ngờ.

  Đó là một đêm trời tối đen như mực, chìa bàn tay ra không nhìn thấy ngón. Bốn bề im ắng lạ thường, chỉ còn nghe sào sạo tiếng bước chân và tiếng giục dã như cố ý bị nén xuống: "Nhanh, bám theo nhau!"

  Đột nhiên, tiếng chó sủa rộ lên từ phía bản trước mặt. Hồng Thuỷ lệnh cho mọi người tạm nghỉ tại chỗ và cử ngay trung đội trưởng Lý đi trinh sát. Lát sau trung đội trưởng Lý về báo cáo trong bản có giặc Nhật. Người dẫn đường nghe vậy hoảng quá đã lủi mất. Thầy trò nhà trường lạ nước lạ cái, không biết đường nào mà đi. Trời sắp sáng, rặng núi Phong Ngư đã dần dần lộ ra gương mặt lạnh lùng của nó. Bên phải, bên trái không có đường, phía trước có địch cản, đành phải leo núi để đi đường vòng. Mấy đội viên đột kích bò lên núi, có ngờ đâu kẻ địch đã phục kích trên cao điểm. Những họng súng từ trên cao chĩa xuống như tuyên bố một sự thật tàn nhẫn: ngoài cách liều chết phá vây không còn cách nào khác. Trần Kiếm Qua bụng mang thai sắp đến kỳ sinh nở không muốn níu chân đồng đội, giục dã: "Đừng lo cho em, các đồng chí quan trọng hơn, phá vây đi anh!" Cô y tá tháo vát gan dạ Lý Ninh lúc lâm nguy càng tỏ ra bình tĩnh: "Em ở lại cùng với chị Kiếm Qua, anh cứ yên tâm, còn em thì còn chị ấy!".

  Hồng Thuỷ đang bối rối chưa biết quyết định ra sao thì Trần Kiếm Qua hét lên: "Anh còn do dự cái gì, hạ lệnh đi!" rồi kéo tay Lý Ninh: "Đi! Chúng mình mau tìm chỗ nấp!".

  Không một nụ hôn từ biệt, không một lời ai oán, biết rõ đang đi vào cõi chết mà ung dung như một chuyện bình thường. Chỉ một thoáng nhìn lặng lẽ mà trở thành bản cam kết không lời giữa tình vợ chồng và giữa cấp trên với cấp dưới.

  Hai nữ chiến sĩ Bát lộ quân đã ra đi như vậy. Họ đạp lên chông gai, lăn trong lửa đạn, như hai lưỡi gươm càng sắc thêm bởi tình bạn chiến đấu, tình yêu vợ chồng. Họ lao vào cõi chết để tìm con đường sống.

  Gió thu lồng lộng thổi tung hai mái tóc dài mềm mại như tơ càng làm trái tim chàng trai trên sườn núi đập hối hả, hồi hộp. Qua hàng nước mắt, những khe núi giống như một dòng suối nhỏ, hai bông hoa êm ả trôi, trôi mãi trên dòng suối rồi mất hút sau khúc quanh mờ mờ ảo ảo.
Những bông hoa đã biến mất. Núi đã nổi giận, sông đã nổi giận, các chàng trai càng sôi máu hơn, vứt bỏ lại mọi buồn thương, phải chọn giữa sự sống và cái chết đang treo lơ lửng, lại được tiếp thêm sự cảm ứng giữa những trái tim đồng chí, tất cả đã tạo nên đợt sóng căm thù sôi sục, nó gào thét, nó cuồn cuộn cuốn lên phía đầu núi cao cao. Một số chiến sĩ đã ngã xuống, cuộc phá vây cuối cùng đã thành công, nhưng còn hai bông hoa? Họ trăm lần nghìn lượt gọi tên hai người, nhưng họ vẫn không nghe thấy tiếng trả lời trong âm vọng của núi rừng.

  Hai chị chưa chết. Trong một hốc núi nằm ngoài bản Phong Ngư, mỗi người trong tay cầm một tảng đá và họ sẽ dùng thứ vũ khí đó để ngoan cường chiến đấu và để tự sát nếu rơi vào tay kẻ thù.

  Trời đã sáng. Bốn bề thật yên tĩnh. Bọn Nhật trông chừng đã chấm dứt cuộc vây núi. Hai tảng đá rút cục đã không phải dùng tới, nhưng còn tảng đá trong lòng thì vẫn không sao rơi xuống đất: Đồng đội bây giờ ở đâu? Quân giặc còn trong bản không? Giá gặp được một người trong làng để hỏi thăm thì tốt biết chừng nào!

  Chờ từ lúc ông mặt trời mọc đến khi bóng ngả về tây, họ mới nhìn thấy một ông cụ từ trong khe núi đi ra nương bẻ ngô. Mừng quá, họ la gọi, còn ông lão thì hốt hoảng bỏ chạy mất.

  Bóng đêm trùm xuống, bên ngoài vẫn không thấy động tĩnh gì. Dựa vào kinh nghiệm mà phán đoán, chắc bọn giặc đã rút hết về căn cứ. Không thể chờ đợi được nữa, nhân lúc người đang còn có thể nhúc nhắc, phải đuổi theo đồng đội!

  Nhằm theo hướng phá vây, họ đi suốt một đêm một ngày, lúc leo núi, lúc xuống đèo, bụng đói cồn cào. Đang mong muốn có được cái gì ăn thì rất may mắn họ gặp ngay trên sườn đồi một cây táo. Những quả táo to nặng trĩu cành đã cứu sống họ. Họ nhai ngấu nghiến, nhai cho đến khi màn đêm buông xuống. Phía trước phía sau đều không có thôn bản mà lại hoá ra an toàn. Hai người ngồi tựa vào nhau ngủ thiếp đi.

  Tỉnh dậy trời đã sáng, họ lại thất thểu ra đi với biết bao nhiêu hy vọng. May mắn làm sao, họ gặp được một chị cũng vào núi trốn giặc. Đúng là như cá gặp nước, hai con cá sắp chết đã được cứu sống.

  Chị này có chồng đi dân công ngoài mặt trận. Trước khi chia tay hai vợ chồng thách nhau lập được nhiều chiến công. Chị bỗng dưng cứu sống được hai nữ chiến sĩ Bát Lộ quân, đúng là dịp may trời cho. Chị tỏ ra rất sốt sắng đối với khách và tự nguyện "cố gắng hết sức mình".
Đó là một bản nhỏ nằm lọt giữa bốn bề là núi với khoảng gần hai chục gia đình. Nhà nào cũng thuần khiết như nước nguồn trong núi, không có một ai làm Hán gian. Giặc đến, cả bản chạy vào núi, giặc đi họ lại quay về.

  Cuộc vây quét lớn của giặc ùa đến cả cái bản hẻo lánh này. Bọn Nhật dăm ngày ba trận mò vào bản sách nhiễu. Không chịu nổi, vị trưởng bản đưa mọi người vào ở trong khe núi.

  Tiết trời giữa tháng 9 vẫn còn lạnh. Áo quần của hai chị mất hết trong trận chiến đấu ở núi Phong Ngư. Ba người đàn bà ăn sương nằm gió giữa một khe núi hoang vu, chiếu là đất, đắp chung nhau mảnh chăn của người đàn bà tốt bụng. Trần Kiếm Qua chỉ có hai chiếc áo trên người. Khi mặt trời xuống núi, gió lạnh thổi về, người chị run cầm cập. Không muốn để hai người bạn gái thêm lo lắng, chị cố vươn người cho thẳng và không bao giờ thốt ra tiếng "rét".

  Gia đình người đàn bà nọ vốn đã túng thiếu, đời sống khó khăn, giờ lại thêm hai miệng nữa, biết kiếm ở đâu ra cái ăn bây giờ? Trong khe núi nơi họ ẩn náu, dọc lối mòn không bao giờ thấy có bóng người là những cánh rừng táo. Cây táo vốn không cao, chi chít quả táo màu đỏ đè những cành táo trĩu xuống, nằm dưới đất cũng có thể với tay hái được. Ăn táo có thể sống, nhưng nó không phải lương thực. Mới ăn thì nó vừa ngọt vừa dòn, nhưng nhai từ sáng đến tối thì không ổn, vỏ táo khó tiêu, bụng chướng lên, người cảm thấy rất khó chịu. Kiếm Qua cố gắng chịu đựng. Chị không cho phép mình để lộ tâm trạng bi quan tiêu cực dù chỉ một chút. Người trong bản biết chuyện ai cũng nói: "Nữ chiến sỹ Bát Lộ quân đúng là con người thép".

  Sáng sớm một ngày tháng mười, Kiếm Qua thấy bụng đau quặn, chắc chắn là sắp tới giờ sinh nở. Thôn bản thì chưa về được, trong khe núi ngay một chỗ kín đáo cũng chẳng có. Ông trời già xấu chơi như tiếp tay cho kẻ ác, bỗng dưng nổi một trận phong ba. Gió lồng lộn, thổi nghiêng ngả rừng cây trên sườn núi. Mưa như trút nước, làm ướt sũng cả ba chị em. Không một chiếc hang để tránh mưa, không một vách đá để che gió, chỉ có một manh chiếu rách đội trên đầu người đàn bà nọ để giúp sản phụ lấy chỗ chắn gió che mưa. Trong nỗi đau khổ cùng cực, sản phụ nằm trên nền đất nhầy nhụa, Lý Ninh lo chuyện đỡ đẻ, còn người đàn bà thứ ba quỳ bên hai người lấy đầu đội chiếu, còn hai tay cố ấn chặt mép chiếu đang lồng lộn lúc bay sang bên này, lúc bay sang bên nọ giống hệt chiếc thuyền mui Giang Nam đang vật lộn trong cơn sóng dữ. Nước mưa thấm qua chiếu, theo mái tóc của người phụ nữ chảy thành dòng xuống dưới, bất chấp tất cả, mắt chị nhắm nghiền nhưng miệng vẫn động viên Kiếm Qua: "Chịu khó một tí, sắp ra rồi!".

  Một thai nhi đã giáng sinh trong giông bão, giữa cái thế giới trần trụi đích thực, không manh áo, không tã lót. May mà cô y tá Lý Ninh đã có sự chuẩn bị từ trước, giữ lại được mảnh vải trải giường trắng mang xé làm đôi bọc giữ ấm cho cháu nhỏ.

  Mưa gió không biết ngừng từ lúc nào. Cả một vùng rừng núi trở lại yên tĩnh. Ba người đàn bà gắn bó với nhau chưa kịp xả hơi sau trận vất vả vừa qua thì "cây tin tức" trồng trên đỉnh núi đối diện gục xuống, báo hiệu giặc Nhật lại đi càn. "Phải di chuyển ngay", người đàn bà ẵm đứa trẻ vừa mới chào đời, còn Lý Ninh thì dìu sản phụ đã mệt lả đi lẫn vào trong đám người chạy giặc vào ẩn trong rừng sâu.

  Đói rét, mệt mỏi, kinh hoàng dày vò Kiếm Qua, khiến chị không có một giọt sữa. Đứa bé đói khóc oe oe. Người đàn bà lại ẵm đứa bé tội nghiệp đi xin bú những bà mẹ đang nuôi con trong đám người chạy loạn. Ban ngày còn xin được, chứ ban đêm thì làm sao dám đến phiền những "bà mẹ nghĩa vụ" đã vất vả suốt ngày? Đứa trẻ có biết gì đâu, cứ suốt đêm khóc hoài mặc cho mấy người thay nhau vừa nựng vừa ru. Được mấy hôm thì Kiếm Qua mắc chứng mất ngủ. Suốt đêm không sao chợp được mắt, chị ôm khư khư con trong lòng, mắt trân trân nhìn những vì sao khi tỏ, khi mờ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 02:59:17 PM
  Tiết thu đã sang tháng mười càng trở lạnh. Kiếm Qua đang kỳ ở cữ vẫn phong phanh hai chiếc áo mỏng. Gió rét như quẩn quanh bên chị suốt cả ngày. Chị thèm biết bao được húp một bát cháo nóng, nhưng cả sự ao ước tối thiểu đó cũng trở thành viển vông. Hai chiếc áo mặc cả trên người, không thay giặt được. Mồ hôi, nước mưa, bùn đất, những chất bẩn bài tiết từ người ra... tất cả trộn lẫn với nhau, bê bết trên áo quần, chấy rận tha hồ sinh sôi nảy nở. Người chị hôi hám đến mức ruồi nhặng bâu lại, đi đến đâu chúng bay theo đến đó, đuổi cũng không chịu đi. Sợ người chê bai, chị không dám tới chỗ đông người. Đến đâu chị cũng chỉ muốn náu mình một chỗ mong thời gian qua mau. Đứa bé không có vải quấn rốn, rốn bị nhiễm bẩn sưng tấy lên. Cũng may Lý Ninh mang theo lọ thuốc đỏ mà nhờ nó mới giữ được mạng sống cho đứa bé. Chỉ có hai mảnh tã, chốc thì đái, chốc thì ị, không sao thay cho kịp. Lý Ninh rất chịu khó giặt, nhưng trên đường chạy nạn làm gì có chỗ phơi, cô bèn quấn tã ướt quanh người để nhờ gió núi, nhờ sức nóng từ người cô toả ra hong khô... Tình ấy, nghĩa ấy còn hơn cả chị em ruột thịt. Trần Kiếm Qua lúc làm chỉ đạo viên nhóm nữ sinh phân hiệu 2 Trường Đại học quân chính thì Lý Ninh chỉ là một học viên bình thường. Trong lần di chuyển này, Lý Ninh vì Kiếm Qua đã chịu bao nhiêu khổ ải, thậm chí không nghĩ gì đến tính mạng mình, quả thực khiến người đời phải khâm phục. Mưa sa gió giật, chạy ngược chạy xuôi, chiến sĩ, thày thuốc, bảo mẫu, đi ăn xin sữa, bấy nhiêu công việc dồn cả cho một con người, một cô gái mới 20 tuổi đời! Kiếm đâu ra nguồn sức mạnh đó? Như lời cô nói, đó là do "giặc Nhật đã dồn đến bước đường cùng, và cũng bởi tinh thần chịu đựng của chỉ đạo viên Trần Kiếm Qua khơi dậy!"

  Ôi! Trong giông tố đã ra đời một đứa trẻ thơ, cũng ra đời một tình cảm đặc biệt giữa con người với con người mà suốt đời không thể nào quên!

  Giữa tháng mười thì cuộc vây quét của giặc Nhật bị đập tan, hai chị cùng với bà con dân bản trở về cái bản làng trong hẻm núi đó. Đã hơn hai tháng rồi, lần đầu tiên được húp một bát cháo nóng, được ăn bát cơm đích thực là cơm. Lần đầu tiên lại được ngủ một giấc ngủ ngon lành.

  Ngay hôm sau hiệu trưởng Tôn Nghị cho người đến đón họ. Kiếm Qua và Lý Ninh ẵm đứa bé giống như chú gà con, từ biệt người thiếu phụ chủ nhà tốt bụng, vượt hơn mấy chục dặm đường về đến phân hiệu 2 Trường Đại học quân chính kháng Nhật - trang trại nhà họ Trần ở huyện Linh Thọ.

  Những người bạn chiến đấu đã không chết trong cơn đại nạn lại có dịp đoàn tụ, vừa vui mừng, vừa xúc động. Người thì mang nước rửa mặt, người thì bưng tới bát mì nóng, còn Hồng Thuỷ thì ôm trong tay đứa con gái bé bỏng gày như que củi, lặng đi không nói được lời nào.
Phải đặt tên cho nó, "con ra đời trong giông bão thì đặt tên nó là Phong Ba!"

  Chờ đến khi mọi chuyện trở lại yên ổn bình thường thì Trần Kiếm Qua đã cạn kiệt sức lực. Chị ốm nằm liệt giường mất gần một năm.
Nhờ bà con trong làng nuôi giúp, bé Phong Ba vừa mới bụ bẫm được đôi chút thì bệnh viêm phổi cấp tính trong hoàn cảnh thiếu thầy thiếu thuốc đã cướp đi của Kiếm Qua Hồng Thuỷ đứa con mới được nửa năm tuổi.

  Đó là đứa con đầu lòng của Kiếm Qua. Chịu đựng bấy nhiêu dày vò, nếm trải bấy nhiêu cay đắng, hai mẹ con trụ lại được ở trên đời như một kỳ tích, nay lại mất đi đứa con, điều đó quả là một đòn trời giáng đối với một người mẹ đang lâm bệnh. Hồng Thuỷ uất ức, tay nắm lại đấm liên hồi vào tường cho đến khi nắm tay bê bết máu. Những giọt máu làm Kiếm Qua bừng tỉnh, "Thanh gươm" kiên nghị bỗng hoá thành sự vỗ về, an ủi một trái tim chỉ biết nhỏ máu chứ không biết rơi lệ: "Đừng đau lòng nữa anh, em chịu được mà!".

  Người phụ nữ kiên cường trong mình còn mang bao nhiêu căn bệnh chưa lành ấy lại can đảm chuẩn bị bài vở để gánh vác trọng trách làm giáo viên văn hoá đại đội 4 Phân hiệu 2 Trường Đại học quân chính kháng Nhật.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:00:29 PM
Chia tay nhau từ đây đơn côi thân nghìn dặm



  Tại Trường Đảng Trung ương ở Diên An có một "chi bộ các bà mẹ". Trần Kiếm Qua là thành viên của chi bộ đó.

  Mùa hạ năm 1943, Hồng Thuỷ và Kiếm Qua cùng vào học ở Trường Đảng trung ương. Tháng 1-1944, Kiếm Qua sinh được một cậu con trai. Diên An lúc này nhờ biết tổ chức sản xuất, bắt đầu "phong y túc thực", nên chú bé được đặt tên là Tiểu Phong. Hồi bấy giờ, ở Trường Đảng Trung ương không có học viên nào mang theo con đi học cả. Sau khi Tiểu Phong ra đời, số nữ học viên có con nhiều thêm, họ được tổ chức lại thành "chi bộ các bà mẹ" của nhà trường.

  Kiếm Qua vẫn không có sữa. Tổng tư lệnh Chu Đức phê duyệt cấp phát cho một hộp sữa bò, đó quả thật là một sự ưu ái đặc biệt ở mảnh đất Diên An khó khăn này. Được nuôi bằng những giọt sữa của cách mạng, Tiểu Phong lớn lên bụ bẫm đáng yêu, toét miệng ra cười trông giống hệt ông bố lúc nào cũng thích hài hước.

  Đời con người chẳng khác gì một dòng sông, lúc thì chảy xiết, lúc lại yên ả. Căn nhà hăm sáu thước vuông ở Diên An là cả một khoảng trời thanh bình đối với họ. Ngọn đèn dầu nhỏ hắt ra thứ ánh sáng vàng hoe bao đêm cùng với họ đọc sách, học văn hoá. Chiếc máy xe chỉ chiếm gần hết khoảng trống căn hầm, tiếng quay sè sè đều đều nghe như tiếng nước chảy. Một hôm, đang ngồi dưới ngọn đèn dầu, Hồng Thuỷ quay lại nói với vợ:

  - Em ngừng tay một lúc có được không?

  Chiếc xa ngừng quay, chỉ còn lại tiếng lách tách của chiếc máy chữ đặt trên bàn như đang tấu một bản đàn huyền diệu.

  Bản đàn vừa dứt, Hồng Thuỷ đã gục đầu xuống bàn ngủ thiếp đi. Tỉnh lại trong giấc mộng, Hồng Thuỷ mơ thấy mẹ đang đứng trên đỉnh Hồng Lĩnh vẫy gọi. Tiếng trả lời mẹ của Hồng Thuỷ làm thức giấc người vợ yêu quý đang mê mệt trong giấc ngủ.

  Họ quen biết nhau đã gần 7 năm. Chồng bận hết việc nọ đến việc kia, hầu như không có thời gian nào hoàn toàn rảnh rỗi để kể cho vợ nghe bước đường quanh co của mình. Giấc mộng về nỗi nhớ quê hương cùng với sự phân tích, phán đoán về tình hình thời cuộc khiến Hồng Thuỷ dự cảm ngày trở về xứ sở không còn bao xa. Thế là "cơn mưa bụi" bắt đầu nhè nhẹ rơi trong căn nhà hầm tĩnh lặng. Dưới ánh đèn dầu như hiện ra một con đường, con đường ngoằn ngoèo quanh co để Hồng Thuỷ đến được đất nước Trung Hoa, con đường đã khiến Hồng Thuỷ đam mê với cách mạng Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:01:49 PM
*
*     *


  Hồng Thuỷ tên thật là Vũ Nguyên Bác, sinh năm 1906 tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, sang du học ở Pháp2, may mắn được làm quen với một người đồng hương Việt Nam đang hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế có tên là Nguyễn Ái Quốc. Vì cùng chung một chí hướng, hai người trở thành đồng chí thân thiết.

  Năm 1924, Hồng Thuỷ về nước, dạy học ở Nam Định, đã vận động phong trào học sinh phản đế phản phong và cũng nhận ra rằng khó có thể tìm thấy hai chữ "thành công" trong phong trào đó. Đang lúc bế tắc thì anh được gặp một cán bộ từ Quảng Châu về cùng với bức "mật thư". Bức "mật thư" khiến anh và những người đồng chí của anh rất đỗi vui mừng: Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đã về Quảng Châu, đang tập hợp các lực lượng cách mạng Việt Nam. Thế là Hồng Thuỷ cùng với mấy người bạn được bí mật đưa qua biên giới, vòng đường Quảng Tây đến Quảng Châu.

  "Lớp huấn luyện chính trị đặc biệt" do Nguyễn Ái Quốc tổ chức đặt trụ sở tại đường Nhân Hưng thành phố Quảng Châu. Hơn 30 thanh niên Việt Nam trong đó có Hồng Thuỷ, Phạm Văn Đồng, v.v... là những học viên khoá hai của lớp. Nguyễn Ái Quốc vừa là người tổ chức, vừa là giảng viên chính. Giảng viên của lớp còn có cả những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Bái, Trần Diên Niên, v.v...

  Sau ba tháng học, phần lớn học viên trở về Việt Nam, Hồng Thuỷ cùng với một số nữa ở lại Quảng Châu, sau đó trở thành học viên Khoá 4 Trường Quân sự Hoàng Phố. Đó là nhờ ở kế "mượn gió Đông" của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là thư ký của Bôrôđin, Bôrôđin lại là cố vấn của Trường quân sự Hoàng Phố do Tôn Trung Sơn mời sang. Loanh quanh thế nào, ý định dùng Trường Quân sự Hoàng Phố để đào tạo những hạt giống cách mạng cho Việt Nam trở thành hiện thực đối với một số thanh niên trong đó có Hồng Thuỷ.

  Những con sóng lớn ở cửa sông Châu Giang xô nhau dạt vào thao trường của Trường Quân sự Hoàng Phố. Từ nơi đây, người ta có thể ngắm cảnh thuỷ triều lên xuống, và cũng có thể cảm nhận những bước thăng trầm của phong trào cách mạng. Hồng Thuỷ là đảng viên Quốc dân Đảng Trung Quốc trong thời kỳ tổ chức này còn tiến bộ. Sau 6 tháng học tập, anh được giữ lại làm việc cho trường. Năm 1927, những cuộc tàn sát "12 tháng 4" ở Thượng Hải, "15 tháng 4" ở Quảng Châu làm bừng tỉnh rất nhiều người cách mạng chân chính. Thế cuộc giống như con sóng lớn xô tới rửa bờ cát trắng. Trong đội ngũ trước đây, đâu là người, đâu là thú được phân biệt rạch ròi. Phẫn nộ trước những việc làm trái với đạo lý, Hồng Thuỷ rút khỏi Quốc dân Đảng Trung Quốc, sau đó được Trần Nhất Dân giới thiệu, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.

  Trong bão táp cách mạng, quân cách mạng quốc dân một lần nữa lại phân hoá. Trương Thái Lôi, Uẩn Đại Anh, Diệp Đình, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vĩnh Trăn cùng một số người khác lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Quảng Châu. Hơn 30 người bạn chiến đấu Việt Nam học tập và công tác tại Trường Quân sự Hoàng Phố cùng với khối giảng viên dưới quyền chỉ huy của Diệp Kiếm Anh xông vào tấn công Cục công an Quảng Châu - dinh luỹ phản động ngoan cố nhất. Hồng Thuỷ là tuyên truyền cổ động viên của cánh quân khởi nghĩa này. Những người bạn chiến đấu Việt Nam cùng với Liên đội 1 đội xích vệ công nhân, khối giảng viên và một số sĩ quan tiểu đoàn đặc công Hoàng Phố đã kề vai chiến đấu, đập tan cuộc chống cự quyết liệt của kẻ địch được xe thiết giáp yểm trợ, đánh một trận đã chiếm được Cục công an. Và lập tức, ngay trước cửa, tấm biển gỗ lớn trên ghi "Chính phủ Xô Viết Quảng Châu" được treo lên ngay ngắn.

  Chiếm được Cục công an, lực lượng vũ trang công nông thả hàng loạt tù chính trị trong đó có hơn một trăm người là học sinh Trường Quân sự Hoàng Phố. Họ ngồi tù đã hơn nửa năm, người nào cũng gầy đét, sắc mặt trắng bệch. Hồng Thuỷ được gặp lại họ, sung sướng ôm choàng lấy từng người, còn những người được cứu cũng nghẹn ngào không nói lên lời, cuối cùng mấy người quen biết nhau xúc động hô to: "Chủ nghĩa quốc tế muôn năm!".

  Rượu mừng chiến thắng chưa vơi thì cuộc khởi nghĩa Quảng Châu đã bị thất bại trước sự bao vây của lực lượng đối địch lớn mạnh. Những cuộc tàn sát dã man diễn ra trên khắp đường phố Quảng Châu. Biết mình đã lộ rõ là đảng viên cộng sản, Hồng Thuỷ thấy không ở lại Quảng Châu được nữa.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:03:15 PM
  Cách mạng Việt Nam đang kêu gọi. Hồ Chí Minh và những người cách mạng đang tiến hành công tác vận động tuyên truyền trong đông đảo Việt kiều ở Thái Lan, cần người giúp đỡ. Thế là Hồng Thuỷ ra đi. Trong vai một giáo viên, Hồng Thuỷ liên lạc với số Việt kiều ở các vùng nông thôn gần Băng Cốc, sau đó được phân công vận động thanh niên Việt kiều thành lập các "Hội hợp tác", "Hội ái hữu", tổ chức họ vỡ ruộng cày cấy, đi làm thuê, vừa để duy trì cuộc sống của kiều bào, vừa góp tạo nguồn kinh phí cho các hoạt động cách mạng. Sau một thời gian tích cực hoạt động, Hồng Thuỷ đã góp phần vào sự ra đời ba chi bộ và một tổng chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Thái Lan. Những thành viên đó đã phát huy vai trò quan trọng trong phong trào cách mạng của Việt Nam sau này.

  Lần thứ hai Hồng Thuỷ đến Trung Quốc là vào tháng 6 năm 1928. Tỉnh uỷ Lưỡng Quảng1 Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội bí mật triệu Hồng Thuỷ về phụ trách công tác tổ chức vận động công nhân của Công đoàn thuỷ thủ Hồng Kông. Công việc vừa mới triển khai thì tình hình đấu tranh ở tỉnh Cương Sơn (Giang Tây) vô cùng căng thẳng. Quân địch ở hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây đã huy động sáu lữ đoàn, khoảng ba vạn quân mở năm mũi tấn công. Chủ lực của Đệ tứ phương diện quân dưới sự chỉ huy của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trần Nghị buộc phải tính kế thoát khỏi vòng vây, tiến về vùng Đông Giang, Quảng Đông. Đệ tứ phương diện quân phải liên tục tác chiến và tổn thất khá lớn đã khẩn cấp yêu cầu Tỉnh uỷ Lưỡng Quảng bổ sung cho một số cán bộ quân sự được huấn luyện chính quy để tăng cường sức chiến đấu của bộ đội. Là một sỹ quan tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố, Hồng Thuỷ xung phong vác gươm lên ngựa.

  Khi Hồng Thuỷ nhận lệnh đến được khu vực Đông Giang thì Đệ tứ phương diện quân đã di chuyển lên khu vực phía bắc Thuỵ Kim. Thế là Hồng Thuỷ phải ở lại Đông Giang, gia nhập Quân đoàn Hồng quân số 11, tham gia chiến tranh du kích tại địa phương.

  Vùng Đông Giang Quảng Đông là một trong những đầu nguồn của cách mạng Trung Quốc. Từ năm 1924 đến năm 1927, Bành Bái đã 3 lần phát động nông dân khởi nghĩa, thành lập chính quyền Xô Viết Hải Lục Phong. Hồng quân hoạt động ở vùng này có Sư đoàn 2 - lực lượng quân đội tham gia khởi nghĩa Nam Xương sau khi nam hạ đã ở lại để duy trì cuộc đấu tranh vũ trang, và sư đoàn 4 bao gồm các lực lượng còn lại của trung đoàn cảnh vệ, trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn giáo viên Trường Quân sự Hoàng Phố, đội xích vệ công nhân... Sau khi khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, tất cả đều đặt dưới quyền chỉ huy của Bành Bái.

  Những chiếc rui nhà may mắn còn lại tiếp tục bị mưa sa bão táp quật cho tơi tả. Vùng Đông Giang bị quân thù đàn áp đẫm máu, binh lực của hai sư đoàn bị tiêu hao còn lại chẳng được mấy, Bành Bái buộc phải chạy xuống Thượng Hải, bị bắt rồi hy sinh. Quân đoàn Hồng quân số 11 ra đời chính là sự hồi sinh của lực lượng cách mạng. Câu chuyện đổi tên "Hồng Thuỷ - Mãnh thú" cũng xảy ra tại đây vào thời gian này.

  Trong hàng ngũ Hồng quân, Hồng Thuỷ từng đánh đông dẹp bắc, chinh chiến từ Quảng Đông đến miền tây Phúc Kiến, cấp bậc tăng cũng mau, từ một chính trị viên đại đội nhanh chóng thăng lên tới Chính uỷ Trung đoàn, rồi Chủ nhiệm ban chính trị Sư đoàn 34. Năm 1932, Hồng Thuỷ được điều về Thuỵ Kim, phụ trách Chủ nhiệm Khoa tuyên truyền kiêm giáo viên chính trị văn hoá Trường Hồng Quân do đồng chí Hà Trường Công lãnh đạo. Tại đây, ngoài làm tốt phần việc của mình, Hồng Thuỷ còn có công lớn trong việc cùng với Lý Bá Chiêu và Chủ nhiệm Câu lạc bộ nhà trường Triệu Phẩm Tam sáng lập ra ban kịch đầu tiên trong lịch sử quân đội nhân dân Trung Quốc - Ban kịch Công Nông. Hồng Thuỷ phụ trách trưởng ban kiêm bí thư đảng đoàn, Lý Bá Chiêu làm bí thư chi bộ. Hồng Thuỷ rất sốt sắng với công việc của Ban, thường dạy mọi người ca hát, đánh đàn, nhảy múa, cùng với các đồng chí Tiền Tráng Phi, Lý Bá Chiêu, Thôi Âm Ba (người Triều Tiên), Trương Ái Bình, Tưởng Diệu Đức, Thiết Luân... soạn vở và diễn kịch. Hồi bấy giờ, trên sân khấu ở khu Xô viết trung ương diễn một vở kịch nổi tiếng Ngọn lửa Thượng Hải phản ánh cuộc chiến đấu ngày 28-1 của quân dân Thượng Hải. Hồng Thuỷ và Trưởng ban y tế nhà trường là Tưởng Diệu Đức sắm vai chính, Trương Ái Bình đạo diễn. Buổi diễn rất thành công, được quân dân ở khu Xô viết trung ương Thuỵ Kim nhiệt liệt hoan nghênh. Hồng Thuỷ còn viết mấy vở kịch nữa, rất tiếc là không lưu giữ được. Ban kịch Công Nông sau này phát triển thành đoàn kịch Áo xanh của Khu Xô viết, đã đào tạo cho Đảng, quân đội ta rất nhiều nòng cốt văn nghệ. Hiệu trưởng trường Hồng Quân Hà Trường Công khi còn sống nhận xét: "Hồng Thuỷ đã có những đóng góp to lớn vào việc xây dựng văn hoá của nhà trường và của khu Xô viết".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:04:44 PM
  Đang lúc tài năng được phát huy thuận lợi, do đường lối sai lầm trong Đảng, xuýt nữa Hồng Thuỷ phải về "chầu giời". Làm to chuyện thanh trừng phản động, Hồng Thuỷ bị khai trừ khỏi Đảng vì tội làm "đặc vụ cao cấp". May được các đồng chí Chu Đức, Lưu Bá Thừa... quan tâm bênh vực, điều đi làm giáo viên ở Đoàn cán bộ Hồng quân do Trần Canh phụ trách, nên mới thoát được tội chết để có cơ hội tham gia cuộc trường chinh hai vạn năm nghìn dặm. Sau Hội nghị Tuân Nghĩa, Đảng uỷ Quân đoàn trung ương phê chuẩn việc xoá án kỷ luật sai lầm đó và Hồng Thuỷ lại được khôi phục đảng tịch.

  Sau khi đệ nhất phương diện quân và Đệ tứ phương diện quân gặp nhau, Hồng Thuỷ cùng với Chu Đức, Lưu Bá Thừa được cử đến công tác ở Tả lộ quân. Hồng Thuỷ bị Trương Quốc Đào kết tội "gián điệp quốc tế" và một lần nữa bị khai trừ khỏi Đảng. Trương Quốc Đào muốn khép án tử hình nhưng Lưu Bá Thừa phản đối, Hồng Thuỷ lại một lần nữa thoát nạn. Sau khi đến Diên An, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sửa sai đã khôi phục lại đảng tịch cho Hồng Thuỷ. Tám năm kháng chiến gian khổ, bằng hành động cách mạng, Hồng Thuỷ đã chứng thực tấm lòng sắt son của mình đối với cách mạng Trung Quốc.

  Hồng Thuỷ là một cuốn sách ghi lại toàn bộ quá trình về Trường Quân sự Hoàng Phố, khởi nghĩa Quảng Châu, năm lần chống vây quét, cuộc trường chinh hai vạn năm nghìn dặm và tám năm kháng chiến.

  Hồng Thuỷ là một khối thép không han gỉ trong đói rét cực nhọc, không run sợ trước mọi sự hăm doạ, không ngã gục trong mưa bom bão đạn, không giận hờn bởi sự hiểu lầm hoặc bị xúc phạm. Ánh thép như ngời lên một chân lý sâu xa: trong lò luyện của những nghịch cảnh và chà xát, không loại sáp nào có thể tồn tại; còn gang thép vẫn là gang thép, trui rèn càng nhiều, chất thép càng tinh.

  Hồng Thuỷ là một ngọn đèn, đốt cháy hết mình mà không mảy may tính toán kể công, chỉ cốt rọi sáng vào thế giới bóng đêm mà không cần phân biệt nơi đó là đâu, càng làm tăng thêm giá trị của nguồn sáng. Một người yêu nước chưa hẳn đã là một chiến sỹ quốc tế, còn trong cơ thể của người chiến sỹ quốc tế thì bao giờ cũng dồn dập chảy dòng máu yêu nước.

  Quả nhiên, Tổ quốc khổ đau của Hồng Thuỷ đã lên tiếng kêu gọi những đứa con đang ở nước ngoài. Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị sau khi giặc Nhật đầu hàng sẽ lập tức làm cuộc vũ trang khởi nghĩa trong phạm vi cả nước. Tình thế đang cần gấp hàng loạt cán bộ quân sự và chính trị. Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc bàn bạc quyết định điều một số đồng chí Việt Nam đang công tác ở Trung Quốc về nước.

  Khi chính thức nhận được giấy báo về nước thì Hồng Thuỷ cũng đã chuẩn bị xong mọi việc. Những cuốn sách hay của Mao Trạch Đông như "Bàn về đánh lâu dài", "Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc", Hồng Thuỷ đã dịch xong sang tiếng Việt, tự tay đánh máy và đóng thành sách để mang về nước dùng. Chuyện đời sống của vợ con sau khi ra đi, Hồng Thuỷ đã nhờ cậy đồng chí Nhiệm Bật Thời - Bí thư Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trực tiếp lo liệu giúp. Ngay cả tên của đứa bé nằm trong bụng Kiếm Qua chờ ngày chào đời, Hồng Thuỷ cũng đã dặn dò vợ: "Dù trai hay gái đều đặt tên là Tiểu Việt".

  Kiếm Qua băn khoăn:

  - Tiểu Việt, cái tên đó liệu có làm cho người Việt Nam khó chịu?

  Hồng Thuỷ giải thích:

  - Làm gì có chuyện đó. Người Trung Quốc dùng từ, hàm ý rất phong phú. Gọi giặc Nhật họ cũng thêm chữ "tiểu", nhưng là để tỏ ý khinh miệt, phản đối những hành vi xâm lược và tàn bạo; còn thân mật, quý mến người ta mới gọi "Tiểu Long", "Tiểu Hổ" chứ! Em cứ đặt tên cho con là Tiểu Việt đi. Người Trung Quốc chẳng có những cái tên "Tiểu Hoa", "Tiểu Hạ" là gì? Tổ quốc của bố nó. Tổ quốc của mẹ nó đều là Tổ quốc của nó, đều là một cả thôi mà!

  Trên bờ sông Diên Thuỷ, trước cửa gian nhà hầm, Kiếm Qua tay bế Tiểu Phong, bụng mang Tiểu Việt, tay vẫy vẫy Hồng Thuỷ đang xa dần. Tiếng rì rào của dòng sông như giục người đi quay trở lại. Hồng Thuỷ ôm hôn Tiểu Phong mới tròn hai tuổi rồi nghiến răng đi thẳng.
Hồng Thuỷ đáp máy bay xuống phía Nam, qua Trùng Khánh, xuống sân bay Côn Minh. Một chị tay bồng một đứa bé mặc áo hoa đi qua đầu phố, chuyện đó thật quá đỗi bình thường, nhưng lại gợi trong Hồng Thuỷ niềm thương tiếc bé Phong Ba và nỗi nhớ nhung da diết Kiếm Qua cùng Tiểu Phong. Tạt vào cửa hiệu, Hồng Thuỷ mua một mảnh vải hoa gửi cho vợ con ở Diên An, kèm theo một bức thư. Niềm thương nhớ hoá thành dòng lưu luyến: "Tạm biệt em, người mẹ đầu tiên của chi bộ các bà mẹ".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:06:54 PM
Chờ gặp lại được nhau ngậm bồ hòn làm ngọt



  Chuyến về nước lần này đối với Hồng Thuỷ chẳng khác gì một cuộc trường chinh. Để đề phòng bất trắc, Hồng Thuỷ rất cẩn thận trong lúc đi đường. Phải mất bốn tháng trời Hồng Thuỷ mới tới được Trấn Nam Quan vào cuối năm 1945. Tại cửa khẩu, việc kiểm tra rất nghiêm ngặt, không có cách nào lọt qua được. Để tránh sự theo dõi của bọn tay sai đế quốc, Hồng Thuỷ tìm cách đi vòng đường núi vượt qua biên giới trở về lòng Tổ quốc và đổi tên là Nguyễn Sơn.

  Từng hai mươi năm học tập và chiến đấu ở Trung Quốc, nay trở về tất nhiên là được trọng dụng. Hồng Thuỷ trở thành Tư lệnh kiêm Chính uỷ Khu IV. Cùng với đà phát triển của tình hình, Tướng Nguyễn Sơn lần lượt được giao nhiệm vụ là Tư lệnh, Chính uỷ kiêm Bí thư đảng uỷ Khu V và Khu VI. Giữa lúc đang ngập đầu trong bộn bề công việc của cuộc kháng chiến chống Pháp thì Nguyễn Sơn nhận được tin: Hồ Tôn Nam tấn công Diên An, Trần Kiếm Qua bị máy bay giặc ném bom chết.

  Tin sét đánh làm hai con mắt ông dựng ngược. Những phút rảnh rỗi hiếm hoi sau trận chiến, người ta thường thấy Nguyễn Sơn ngồi một mình, cặp mắt đờ đẫn nhìn vào cõi vô định. Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ sự quan tâm và an ủi đã giúp ông lập gia đình mới. Người phụ nữ đó có tên là Lê Hằng Huân, làm kế toán ở Nhà máy Giấy "Lửa Việt". Lấy vợ tất nhiên phải sinh con. Đứa con đầu vừa thôi bú, bà Huân đã có mang đứa thứ hai.

  Lúc này nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã thành lập, sự qua lại giữa hai nước Việt - Trung trở thành chuyện bình thường. Những người bạn chiến đấu từ Nam sang, từ Bắc xuống đã cung cấp tin tức chính xác: Trần Kiếm Qua chưa chết, khi Hồ Tôn Nam tấn công Diên An, Kiếm Qua cùng hai con đã sơ tán khỏi Diên An, đó là một cuộc rút lui lớn có kế hoạch, Mao Chủ tịch là người cuối cùng rời khỏi Diên An.

  Đối với Hồng Thuỷ, đó quả là một tin nửa mừng nửa lo. Ông rất muốn trở lại Trung Quốc để xem tình hình thế nào. Là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, vừa có đảng tịch, lại có quân tịch, năm 1950 các nhà lãnh đạo hai đảng quyết định để Nguyễn Sơn sang Trung Quốc công tác. Đó là lý do Hồng Thuỷ lần thứ ba xuất hiện ở Trung Quốc mà người viết đã nêu từ đầu.

  Đến Bắc Kinh, Hồng Thuỷ vào ở trong Trung Nam Hải và rất nhanh chóng, đã hỏi thăm được tin tức về Kiếm Qua: Bà hiện là Phó Viện trưởng Viện nhi đồng 1-6 ở gần cửa Đức Thắng.

  Chiếc xe gíp đưa bà đến gần Trung Nam Hải. Đã năm năm rưỡi xa nhau, nay gặp lại mà cặp vợ chồng hoạn nạn có nhau ấy cứ như hai phích nước sôi đặt cạnh nhau. Không còn nét hồn nhiên ngây thơ như trong những tháng ngày sôi động năm nào nữa. Không còn vẻ hờn dỗi thường thấy ở những cặp vợ chồng. Ngòi bút vụng về của kẻ cầm bút này chắc chắn sẽ không diễn tả nổi tâm trạng phức tạp của tình cảnh đó, nên đã xin được đến thăm bà tại nhà riêng.

  Bà sớm đã thôi công tác khi còn đang giữ chức Phó Giám đốc Sở Giáo dục thành phố Bắc Kinh, buộc phải nghỉ hưu trong "đợt sóng bạc đầu" của Trung Quốc.

  Bà như mạch giếng ngầm bị vùi lấp, nhân việc tôi khơi lại, lại tuôn chảy xối xả:

  "Chiến tranh đã buộc mọi người chúng ta phải trả giá quá đắt. Ngoài bao nhiêu công trình xây dựng bị tàn phá, bao nhiêu con người phải hy sinh, còn có biết bao nhiêu gia cảnh éo le. Hồng Thuỷ đã có hai gia đình. Toàn trách anh ấy cũng không đúng, cũng là điều "bất cận nhân tình". Nâng chén rượu mừng, đối với người trong cuộc, chưa chắc đã là vị ngọt, có khi lại là vị đắng. May mà những người như chúng tôi quen cay đắng rồi. Có đắng nữa cũng vẫn uống được. Nghe tin anh ấy lấy vợ ở Việt Nam, lòng tôi tan nát và tôi đã khóc không biết bao nhiêu lần. Khóc mãi rồi cũng đến lúc phải tỉnh lại. Anh ấy lần này sang Trung Quốc, không có ý định trở về Việt Nam nữa. Vợ con bên đó tạm thời chưa đưa sang. Anh ấy bảo còn chờ ý kiến của tôi rồi mới quyết định. Tôi thật khó xử quá. Bảo anh bỏ chị ấy, hoặc giả để chị ấy phòng không vò võ suốt đời ở Việt Nam ư? Không thể được. Chị ấy không phải là người thứ ba chen chân vào, cũng không phải là tình địch của tôi. Hai chúng tôi đều là chị em sống qua những năm tháng chiến tranh. Chị ấy kém tôi chục tuổi hoặc gần hai chục tuổi gì đó, mới có một đứa con, một đứa còn đang trong bụng. Tôi làm sao có thể nhẫn tâm như vậy được. Người đời vẫn bảo, tình yêu vốn rất ích kỷ, nếu tôi cũng ích kỷ như vậy chẳng phải đã vô tình làm tổn hại đến hình ảnh người phụ nữ Trung Quốc. Chiến tranh đã để lại thương tích cho tôi, tôi không thể đẩy vết thương đó cho một người đàn bà khác. Tôi bảo anh cứ để chị ấy sang đây, đưa cả các con sang, tôi sẽ rút lui, nhất định không gây rắc rối cho họ. Anh cứ yên tâm, tôi không bao giờ giận anh cả. Tôi đã chia tay với anh ấy như vậy đó. Lúc sắp ra về, anh ấy nhờ tôi một việc là dẫn chị Diêu Thúc Bình đến chơi với anh ấy. Diêu Thúc Bình cũng là con dâu của Việt Nam, công tác ở ngay Viện chúng tôi. Anh ấy muốn kể cho chị Bình nghe chuyện chồng chị hy sinh ở Việt Nam. Việc chung mà, tôi vui vẻ nhận giúp ngay".

  Hôm sau, hai "cô con dâu Việt Nam" quả nhiên đến thật.

  Hồng Thuỷ đã kể lại tóm tắt chuyện người chiến sỹ quốc tế Lương Kim Sinh hy sinh cho đất nước như thế nào.

  Lương Kim Sinh cũng là người Việt Nam tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc vào những năm 1920. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học quân chính Diên An, anh ấy làm công tác y dược và giáo dục. Khi cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc sắp sửa thắng lợi, Kim Sinh cùng với Hồng Thuỷ và một số đồng chí khác được triệu về Việt Nam. Vì anh ấy biết bốn thứ tiếng Trung, Việt, Pháp, Anh nên được trên phân công làm công tác mặt trận. Công việc chính là đi đàm phán, điều đình với tụi lính Tưởng đóng ở Việt Nam. Đó là một đội quân ô hợp, bất chấp cả tín nghĩa. Sau khi Nhật đầu hàng, chúng ngang nhiên coi khu vực từ vĩ tuyến 17 đổ ra Bắc của Việt Nam là địa bàn của chúng, cứ ỳ ra không chịu rút. Đầu năm 1946, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử một số người trong đó có Lương Kim Sinh đi điều đình. Trong bữa tiệc, bọn đặc vụ Quốc dân đảng giở trò hèn hạ bỏ thuốc độc vào rượu. Chén rượu chúc mừng chưa kịp đặt xuống thì Kim Sinh đã lăn ra chết.

  Chuyện xảy ra hơn bốn năm rồi, mãi đến hôm nay, chị Diêu Thúc Bình, vợ của người liệt sĩ mới thực sự biết rõ nguyên nhân cái chết của chồng mình.

  Éo le thay! Hai người chồng Việt Nam, một người có đi mà chẳng có về, một người trở về trong nỗi ân hận. Hai nàng "Mục Quế Anh" Trung Quốc mới ngoài ba mươi, đường đời đi chưa được một nửa, chuỗi ngày tiếp theo sẽ sống sao đây?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2008, 03:09:43 PM
Nghìn trùng mẹ, con vượt - tim cha nâng bước chân



  Sau một thời gian học ở Học viện Nam Kinh, Hồng Thuỷ được phân công về làm Chủ nhiệm tạp chí Huấn luyện chiến đấu của Tổng bộ quân huấn. Bà vợ người Việt của ông - bà Lê Hằng Huân, cũng từ Nam Kinh chuyển lên Bắc Kinh để sống cùng với chồng. Năm này qua năm khác, mọi chuyện diễn ra êm thấm. Tình cảm con người thật vô cùng phức tạp và tế nhị. Một thời gian dài, Hồng Thuỷ không biết được tin tức gì về Kiếm Qua. Rất nhớ hai đứa con trai của mình, Hồng Thuỷ đã mấy lần cho thư ký đi đón, nhưng lần nào Kiếm Qua cũng không đồng ý. Điều này không phải do lòng uất hận hay ý muốn trả thù, mà xuất phát từ một suy nghĩ: không muốn để các con mình phải nhìn thấy một vầng trăng bị khuyết lẹm. Bà vẫn bảo với các con: cha đi đánh trận ở Đông Bắc, ở Triều Tiên, bao giờ đánh xong trận mới về được.

  Hồng Thuỷ đã nghe và làm theo để giữ trọn hình ảnh vầng trăng tròn trong trái tim con trẻ, nhưng ông vẫn thường lui tới vườn trẻ, dấu kín tung tích của mình để được ngắm nhìn hai đứa con yêu dấu.

  Bữa đó ông lại đến. Bà giám đốc Trương Xí Xương lễ phép mời Tướng quân Hồng Thuỷ vào phòng làm việc. Bà kể cho Hồng Thuỷ nghe chuyện những ngày đã qua, chuyện về tình cảnh của mấy mẹ con sau khi ông về Việt Nam. Sau khi ly hôn, những người đàn ông thường muốn lảng tránh những câu chuyện về người vợ trước. Hồng Thuỷ thì không. Lời nói của Hồng Thuỷ cứ như một tấm lưới thần, lúc tung lúc kéo, để cuối cùng gợi ra được hết từ trong ký ức của bà giám đốc họ Trương những điều ghi nhớ về cuộc "tiểu trường chinh" nghìn dặm năm nào...

  Cuối năm 1946, 20 vạn đại quân của Hồ Tôn Nam mở cuộc tấn công vào Diên An. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định phiên chế các học viên có con nhỏ ở trường Đảng trung ương thành một "chi đội mẫu tử", cùng với cô giáo và các cháu bên Viện chăm sóc trẻ em số 2 ở Diên An di chuyển về khu giải phóng Tấn-Tuy. Mặc cho gió lạnh sớm mai mang theo sương tuyết gào rít thảm thiết trên núi Bảo Tháp, đoàn người ngựa vẫn rầm rộ ra đi. Bóng đoàn người in xuống mặt sông Diên Thuỷ mùa này nước lạnh thấu xương. Tiểu Phong bốn tuổi, Tiểu Việt một tuổi, hai anh em ngồi trong hai chiếc cũi gỗ cột chặt vào một cái giá đặt trên lưng ngựa. Chú lính cần vụ dắt đi trước dẫn đường, Trần Kiếm Qua lầm lũi đi đằng sau. Con khát, chị cho các con uống nước; con lạnh, chị lấy mảnh vải bạt che lên cũi. Chị chỉ lo các con bị cảm, bị lạnh, bị đói, bị khát.

  Bé Tiểu Phong đã biết nói. Lần đầu tiên được sống trên lưng ngựa, bé thấy vừa lạ lẫm, vừa thích thú:

  - Thế này gọi là đi trường chinh phải không mẹ? Bố cũng đi trường chinh như thế này à?

  - Bố đi trường chinh không có ngựa cưỡi, không có cơm ăn, đói quá ngã lăn trên đồng cỏ, rét quá bị cảm lạnh trên núi tuyết, nếu không được các chú các bác giúp đỡ thì đã chết từ lâu rồi! Dưới đất thì giặc đuổi, trên trời thì máy bay địch ném bom...

  Đang kể chuyện cho con nghe thì hàng đàn máy bay địch kéo tới, quần đảo trên trời, rồi trút bom về phía họ. Kiếm Qua và chiến sĩ cần vụ vội vàng đỡ giá xuống chạy vào nấp trong khe núi gần đó. Còi báo yên vang lên, họ lại theo đội ngũ tiến về phía trước...

  Ngày đi đêm nghỉ, từng trạm từng trạm một, đoàn người vượt qua Hoàng Hà, nhằm hướng Đông Nam tỉnh Sơn Tây mà đi. Máy bay địch hầu như ngày nào cũng bám theo họ, nhưng bom đạn của chúng chẳng chạm được đến sợi lông tơ của lũ trẻ, nhiều lắm cũng chỉ làm cho mấy đứa sợ vãi đái ra quần. Tiểu Phong tỏ ra can đảm, bé nhìn lên trời mà chửi:

  - Bố tao mà ở đây, xem mày có dám đến không!

  Kiếm Qua gật gật đầu. Lòng tin yêu của con đối với cha là niềm vui lớn đối với những người làm mẹ.

  Đoàn người hành quân đến trấn Liễu Lâm thuộc tỉnh Sơn Tây, chuẩn bị đi tiếp về khu giải phóng Thái Hằng. Tướng Bành Đức Hoài từ mặt trận về để đi Diên An, thấy tình cảnh bọn họ, vành mắt đỏ hoe. Ông ra lệnh ngay tại chỗ:

  - Các đồng chí không biết à, ở đất Sơn Tây này, đi từ Tây Bắc xuống Đông Nam phải vượt qua dãy núi Miên ở huyện Giới Hưu và huyện Linh Thạch. Bây giờ đang mùa lạnh nhất, đừng nói trẻ con, ngay cả người lớn muốn vượt núi Miên lúc này cũng chịu không nổi. Cứ nghỉ lại đây đã, chờ sang xuân mới đi được.

  Ba tháng sau, tức là vào tháng 2-1947, ăn Tết xong họ lại lên đường. Sông Phần Hà nằm trong huyện Linh Thạch có bến Lưỡng Độ là bến bắt buộc phải qua nếu muốn đi từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Bọn Diêm Tích Sơn muốn chặt đường liên lạc giữa hai khu giải phóng nên đã điều một lực lượng lớn quân đội về đây lập tuyến phong toả sông Phần Hà. Đoàn người đã vượt được hàng trăm dặm đến đây thì bị nghẽn, chắc chắn phải quay trở lại nếu không nhờ được Lữ đoàn 359 giúp mở đường. Lữ đoàn đã đánh cho quân Diêm Tích Sơn chạy tán loạn rồi lắp tạm một chiếc cầu phao. Chiếc cầu phao dập dềnh trên mặt sông trong đêm đen. Hai chiếc giá thồ của Viện chăm sóc trẻ em vì ngựa xẩy chân nên đã rớt xuống sông, nhiều người lao vội xuống may mà cứu được. Kiếm Qua rút kinh nghiệm. Để trẻ trên giá không an toàn, tốt nhất là cõng chúng. Chị cõng Tiểu Việt, chú cần vụ cõng Tiểu Phong. Hàng vạn con người vượt cầu phao, mặt cầu đã bị dẫm nát, dò dẫm đi trên mặt cầu thật nguy hiểm. Chị động viên Tiểu Phong:

  - Đừng sợ! Bố đi trường chinh phải vượt cầu Thiết Tố, Tiểu Phong đi trường chinh cũng phải vượt cầu Phần Hà! Cả hai bố con đều gan dạ.

  Vượt được sông Phần Hà, qua được cầu Đại Khổng dưới chân đường sắt Đồng Bồ, vượt qua được vùng giáp ranh giữa ta và địch, đoàn người dừng chân trong một thôn nhỏ giữa vùng núi Thái Nhạc để nghỉ qua đêm. Mãi đến lúc này Kiếm Qua mới giật mình phát hiện không thấy chú cần vụ và Tiểu Phong đâu cả. Chị lặn lội trong đêm, tìm khắp mọi chỗ mà vẫn không thấy, đành ngồi giương mắt đợi sáng. Khi còi báo thức vang lên thì bỗng thấy chú chiến sĩ cần vụ cõng Tiểu Phong về. Chú ấy mới 15 tuổi, đi mệt quá nên lúc vừa vượt qua được tuyến phong toả thì đã bất chấp mọi sự, nằm lăn quay ra ngủ ở ngay vùng giáp ranh. Dẫu sao chú ấy cũng vẫn còn là một cậu bé, trách móc làm gì! Kiếm Qua chỉ tự trách mình đã sơ xuất quá, và dành hết tất cả sự yêu thương và thông cảm cho người đồng chí nhỏ bé của mình.

  Rặng núi Miên điệp trùng như bất tận, chỗ nào cũng là những vách đá sừng sững và vực sâu thăm thẳm, chỉ có một con đường mòn ngoằn ngoèo như ruột dê vừa hẹp vừa gồ ghề, nhiều chỗ còn đóng băng. Đã xảy ra chuyện cả ngựa thồ lẫn người dắt cùng lăn xuống dốc. May mà chiếc giường tí hon trong cũi được buộc rất chắc, chăn đệm chèn kỹ xung quanh, chú bé nằm bên trong cứ như nằm trong túi bông, cho nên bị lăn từ độ dốc cao hơn mười trượng mà nó vẫn cười khanh khách trong cũi: "Thích quá!".

  Kiếm Qua không chơi trò nguy hiểm đó. Chị và chú cần vụ mỗi người cõng một đứa, đi cùng với đoàn. Để tránh máy bay địch, họ đi suốt đêm đến sáng. Lại gặp vùng giáp ranh, cứ thế mà chạy một mạch để vượt qua. Liền trong 36 tiếng đồng hồ liên tục leo núi, trên lưng đèo theo một đứa trẻ, tối đến được nơi tập kết thì chân tay họ đã rã rời. Nhưng nơi đây vẫn không an toàn, vì có khả năng bị tập kích bất cứ lúc nào. Nói vậy thôi, chứ trên các đỉnh núi quanh khu vực đã có một tiểu đoàn quân giải phóng bố trí canh gác. Tiểu đoàn này do đồng chí Từ Hướng Tiền phái đến. Biết tin đội quân "đàn bà con nít" hết sức đặc biệt này đã ngoan cường vượt qua được tuyến phong toả, ông rất cảm động, đã ra lệnh cho đồng chí Trần Canh tăng cường bảo vệ để họ được ngủ yên một giấc trước khi vượt núi Miên.

  Núi Miên, đúng như đồng chí Bành Đức Hoài nói, là con đường phải qua nếu muốn đi từ tây bắc Sơn Tây xuống đông nam tỉnh. Muốn qua được rặng núi này phải vượt mười tám ngọn núi, nên có tên "Thập bát đại sơn". Trên núi quanh năm tuyết phủ. Nếu buổi trưa mà chưa vượt qua được ngọn núi chính để xuống tới chân núi trước lúc mặt trời lặn thì sẽ có nguy cơ bị chết cóng ở ngang chừng. Đường núi vừa trơn vừa gập ghềnh, ngựa thồ đồ đạc không có cách nào qua được. Nhân dân Trung Quốc quả thực vĩ đại, những lúc tai hoạ giáng xuống cũng là lúc lộ rõ sức mạnh to lớn của họ. Cả đoàn người, mỗi người cõng một cháu. Các cô giáo Viện chăm sóc trẻ em và các bà mẹ khéo nghĩ ra lắm cách. Họ lấy chăn bông khâu thành túi, cho các cháu vào rồi địu trên lưng như đeo ba lô. Cháu nào cũng trùm kín mũ bông, đeo khẩu trang, chỉ còn để lộ ra đôi mắt đen lay láy. Trong mây trong sương, trong gió trong tuyết, cả đoàn người vừa thở hổn hển vừa bò suốt một ngày, cuối cùng họ cũng vượt qua được núi Miên...

  Sau cuộc hành quân dài hơn hai ngàn dặm ròng rã suốt hơn ba tháng trời, đoàn người đến được thôn Nam Lý Phong huyện Tương Viên nằm trong biên khu Tấn - Sát - Lỗ - Dự. Nhiều bà mẹ cùng đi trong chuyến đó lần lượt được phân công ra biên khu hoặc tiền tuyến công tác. Trần Kiếm Qua làm gì bây giờ? Một nách hai con nhỏ, chị đành cùng với mấy chị nữa nhận công tác tại Viện chăm sóc trẻ em số 2 của Diên An. Lúc đầu làm chỉ đạo viên của Viện, sau đó Kiếm Qua kiêm nhiệm chức trưởng khoa giáo dục nhi đồng. Kể từ đó, chị gắn bó với sự nghiệp dạy dỗ trẻ thơ.

  Tiếp sau vẫn là những cuộc hành quân không nghỉ, những cuộc di chuyển liên tục. Cái tên Viện chăm sóc trẻ em cũng nhiều lần thay đổi, từ Viện chăm sóc trẻ em số 2 Diên An đổi thành Viện thực nghiệm chăm sóc trẻ em Hoa Bắc, sau khi về Bắc Kinh lại đổi tên thành Viện nhi đồng 1-6. Ba năm chiến tranh giải phóng, các con chị cũng lớn thêm ba tuổi trong các cuộc hành quân.

  Dù bất cứ đi đến đâu, Kiếm Qua cũng nói với hai con: "Chờ khi nào Tổ quốc của bố và Tổ quốc của mẹ đều yên bình, bố các con chắc sẽ trở về".

  Đúng là đã trở về, nhưng ai có thể hình dung ngày tương phùng kết cục lại thế này!

  Con đường trường chinh ba ngàn dặm trong lịch sử giáo dục trẻ thơ đó là con đường tự cường đối với các con, con đường tự hào đối với người mẹ, còn với Hồng Thuỷ, mỗi một "khám phá" trên con đường đó, Tướng quân lại thêm một lần kính phục và cảm kích đối với người phụ nữ Trung Quốc mà ông hằng yêu thương này.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 27 Tháng Mười, 2008, 06:17:17 PM
Côi cút con thơ dại thương nhớ tình càng sâu



  Lại mấy năm trôi qua. Bà Lê Hằng Huân sinh thêm ở Trung Quốc được hai con, nếu kể cả hai cháu ở Việt Nam thì bà đã có bốn mặt con với Hồng Thuỷ. Còn Tiểu Phong và Tiểu Việt vẫn không có đứa em Trung Quốc nào cả. Hồng Thuỷ trong lòng cứ băn khoăn một câu hỏi: "Cô ấy tại sao không chịu lấy chồng?"

  Thứ ký Vi Thủ Văn, người có trách nhiệm hàng tháng mang sinh hoạt phí cho Tiểu Phong và Tiểu Việt thật thà thổ lộ với ông:

  - Bà ấy nói bà sẽ ở vậy suốt đời.

  - Việc gì phải thế. Tôi phải khuyên bà ấy mới được.

  Viện Nhi đồng 1-6 đã dọn đến Thanh Long Kiều gần Di Hoà Viên. Hồng Thuỷ quả nhiên đến thật. Nhưng khi vừa hé ra ý nghĩ đó thì ông đã phải im lặng trước câu hỏi vặn lại: "Nếu em kiếm cho các con một người bố khác, anh mới thấy yên lòng sao?".

  Hồng Thuỷ không có cách nào thuyết phục nổi người đàn bà cứng rắn này, bèn đi tìm "thuyết khách".

  Trong Viện Nhi đồng 1-6 có một người phụ nữ rất thân với ông và Kiếm Qua, đó là Diêu Thúc Bình - vợ của liệt sĩ Lương Kim Sinh. Đều là vợ của người Việt Nam, đều là những người may mắn còn sống qua cuộc "Tiểu trường chinh". Khi Trần Kiếm Qua là Trưởng Khoa thì Diêu Thúc Bình là phó Khoa; bây giờ cũng vậy, một người là Viện trưởng, một người là Phó Viện trưởng; họ vẫn là những người bạn chiến đấu, là hai chị em thân thiết. Những người thích nói vui thường bảo họ là hai chị em dâu Việt Nam.

  Khi Hồng Thuỷ đến cầu cứu cô em dâu thuyết phục hộ bà chị, dè đâu cô em lại chung tình hơn cả bà chị. Chồng đi đã mười năm, biết chắc đã hy sinh từ lâu, Thúc Bình có thể lấy chồng khác được lắm chứ! Vạn lần không ngờ rằng, Thúc Bình lại cũng giống Kiếm Qua, đến nay vẫn phòng không lẻ bóng. Ôi những ngày tháng đợi chờ! Trong chiến tranh, mệt mỏi vì bận rộn, tuổi thanh xuân tươi đẹp, nét duyên dáng tao nhã bị vùi đi trước hoạ lớn của cả dân tộc. Bây giờ thắng lợi rồi, cũng phải được hưởng thụ đôi chút những giọt mật của cuộc sống mới! Ôi người đàn bà chung tình, những cái đã mất sẽ mãi mãi chẳng bao giờ có lại, phải nhìn thẳng vào sự thật chứ, sao vẫn còn ngốc nghếch chờ đợi cái gì?

  Hồng Thuỷ tìm không ra câu trả lời. Nỗi đau xót trong lòng không biết giải bằng cách nào đã hoá thành tiếng thở dài với trời xanh:

  - Phụ nữ Trung Quốc nặng tình quá! Phong kiến quá!

  - Cái gì? Phong kiến à? Lấy chồng rồi ở vậy suốt đời mà là phong kiến? Thôi đừng có lấy vải thưa che mắt thánh nữa! Anh và Kiếm Qua tự do yêu nhau, tôi với anh Kim Sinh cũng tự lấy nhau, câu chuyện ở đây là cả một pho sách


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 27 Tháng Mười, 2008, 06:20:54 PM
Vầng trăng đang dần lặn man mác một khối tình



  Sự lao lực quá mức và những mặc cảm luôn day dứt trong lòng là môi trường thích hợp cho bệnh tật hoành hành.

  Mùa hạ năm 1956, Hồng Thuỷ ngả bệnh. Ông ho nhiều, nôn ra máu, bệnh viện chẩn đoán đã bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối. Biết rất rõ mình sống chẳng còn được bao lâu nữa, lúc này sao Hồng Thuỷ thấy da diết nhớ Tổ quốc mình. Ông bèn xin được về nước: "Nhân lúc hơi thở chưa tàn, xin hãy đưa tôi về Việt Nam!".

  Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tiếp Hồng Thuỷ tại lễ đường Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc. Mao Trạch Đông nói: Đồng chí Hồng Thuỷ, đã lâu không được gặp người bạn cũ! Nghe báo cáo sức khoẻ đồng chí không được tốt, muốn về nước, chúng tôi đã trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí về cố gắng chữa bệnh, khỏi bệnh rồi chúng tôi rất vui mừng được đón đồng chí sang. Sau khi hỏi han về bệnh tình, Chu Ân Lai đã ôn lại kỷ niệm chung sống với nhau những năm tháng chiến đấu, rồi cả ba người đều khóc.

  Hồng Thuỷ vốn là con người rất dễ xúc động. Tối hôm đó ông lấy ra ba tấm Huân chương hạng Nhất do Chủ tịch Mao Trạch Đông tặng thưởng năm 1955 mà nước mắt cứ dàn dụa. Khi cầm trên tay bộ quân hàm thiếu tướng, trái tim ông lại tìm đến Trần Kiếm Qua. "Để ảnh hưởng đến cô ấy nhiều quá. Nếu không phải vất vả vì hai đứa con thì một cán bộ huyện đoàn từ thời kỳ đầu kháng chiến sao có thể suốt đời chỉ giữ cái chức giám đốc nhi viện? Bầu trời của nữ giới chẳng lẽ thấp hơn của nam giới? Đôi cánh của con chim cái chẳng lẽ bất lực trong cuộc đọ sức đầy cam go? Chắc chắn là không phải. Âu cũng chỉ tại do phải gánh vác quá nặng, không dễ gì dành được chiến thắng. Đôi vợ chồng từng chung hoạn nạn những ngày năm xưa lại không thể chung hưởng niềm vui gia đình, quả là một bi kịch lớn trong đường đời của một con người. Trên tấm Huân chương Quân công lấp lánh ánh vàng có cả công lao và niềm tự hào bất diệt của cô ấy. Hay là để cô ấy nhìn thấy, có khi cũng phần nào đem lại sự an ủi và khích lệ chăng! Sự việc đã đến nước này, cũng không thể nữa rồi!
Thôi cứ gói lại mang về Việt Nam làm kỷ niệm vậy.

  Tại phòng làm việc của Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài ở Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành đang giao nhiệm vụ cho Vi Thủ Văn và một số đồng chí được phân công đưa Hồng Thuỷ về nước. Tổng Tư lệnh tỏ ra rất buồn, giọng nén lại: "Đồng chí Hồng Thuỷ ốm, các đồng chí được giao trách nhiệm đưa đồng chí đó về nước. Gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí cần báo cáo rõ ràng, đồng chí Hồng Thuỷ đã có những cống hiến rất lớn đối với cách mạng Trung Quốc, vất vả quá mà sinh bệnh, nhân dân Trung Quốc mãi mãi cám ơn đồng chí đó!".

  Ông đứng dậy bước chậm rãi, giọng đắn đo cân nhắc:

  - Phải cấp cho đồng chí ấy ít tiền, cấp bao nhiêu? Năm vạn có được không?

  Hoàng Khắc Thành nêu ý kiến:

  - Ngân hàng Việt Nam mới thành lập, tài khoản chưa mở!

  - Thôi ba vạn vậy, không được ít hơn, nói với bên Ngân hàng Trung Quốc đổi sang tiền quốc tế. Nếu có khó khăn, có thể trao đổi với Đại sứ quán Việt Nam, không thể đối xử thiếu chu đáo với đồng chí ấy.

  Là người suy nghĩ rất chín chắn, Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài đi đi lại lại, rồi bổ sung thêm:

  - Gặp người Việt Nam, chớ có hỏi "Hà Nội to như thế nào", "cả nước có bao nhiêu dân", dễ chạm lòng tự tôn dân tộc của người ta. Không thể chấp nhận thứ tư tưởng nước lớn!

  Buổi sáng hôm rời Bắc Kinh, trước cửa sân ga chăng đầy những giây cờ nhiều màu. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, thượng cấp cũ của tướng Hồng Thuỷ hồi còn ở Trường quân sự Hoàng Phố và nhiều đồng chí ở Bộ Ngoại giao, các Tổng cục trong quân uỷ đều ra tận ga đưa tiễn. Hồng Thuỷ bắt tay tạm biệt từng người, ánh mắt sâu thẳm của ông như vẫn đang dò tìm ai đó trong đám người.

  Đoàn tàu rùng mình bắt đầu chuyển bánh. Trên xe, dưới xe, những bàn tay vẫy chào tiễn biệt, có cả những giọt nước mắt nóng hổi. Qua làn nước mắt, Hồng Thuỷ vẫn không nhìn thấy bóng dáng Kiếm Qua. "Sao cả các con cũng không thấy đến?".

  Con người ta lúc sắp qua đời, mọi ý nghĩ đều hướng về cái thiện. Bà lẽ nào lại không muốn nắm bàn tay ông để từ biệt? Đường đời tuy có trắc trở, nhưng dù sao cũng là vợ chồng đã kết tóc xe tơ, có chung với nhau hai đứa con! Chính bởi tấm lòng nhân hậu mà bà không thể không giữ ý, không canh chừng ở mọi lúc mọi nơi. Nghe nói có các nhân vật cao cấp đến tiễn, lại có cả phóng viên trong nước ngoài nước đến phỏng vấn, chụp ảnh, nếu họ thêm thắt vào câu chuyện bí mật "hai vợ" thì hình tượng về vị tướng người nước ngoài này sẽ ra sao? Đã hết lòng yêu ông thì bất cứ lúc nào cũng phải tôn trọng nhân cách của ông, gìn giữ sự tôn nghiêm nơi ông. Bà không muốn trước khi ông từ biệt thế gian lại khuấy động nỗi đau của ông một lần nữa, càng không muốn làm mất đi trong trái tim của các con hình ảnh một vầng trăng tỏ. Bà nói với thư ký Vi Thủ Văn:

  - Tôi không đi tiễn, cả các cháu cũng không đi, chính vì tôi thực sự yêu quý ông ấy.

  Bà lấy ra một tấm ảnh chụp chung ba mẹ con rồi nói:

  - Ông ấy đã xin mấy lần, tôi không đưa. Bây giờ ông ấy đi, tôi gửi tặng ông ấy. Nói hộ tôi rằng, ông ấy cố gắng chữa bệnh, chờ Tiểu Phong và Tiểu Việt lớn lên, tôi sẽ cho các con sang Việt Nam thăm ông ấy. Nếu chẳng may ông ấy không còn, thì chúng vẫn sang để đặt vòng hoa thắp nén hương trên mộ ông ấy!

  Bà vừa nói vừa khóc, hai hàng nước mắt đầm đìa. Vi Thủ Văn không cầm lòng được cũng khóc theo.

  Trong Dinh Toàn quyền ở Hà Nội (sau này gọi là Phủ Chủ tịch) có hai toà nhà gác kiểu Pháp xây giống hệt như nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một toà, còn toà kia bố trí cho Hồng Thuỷ. Đi ngang qua bãi cỏ xanh non, Hồng Thuỷ cùng thư ký Vi Thủ Văn tới thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai người bạn cũ gặp nhau, chẳng biết vì tình thân thiết hay bởi nỗi xót xa, hai người ôm nhau khóc hồi lâu. Hồng Thuỷ giọng ngậm ngùi: "Một đời tôi đã không phụ lòng 650 triệu nhân dân Trung Quốc, nhưng lại phụ tình một người đàn bà Trung Quốc mà tôi hằng yêu thương!". Chủ tịch Hồ Chí Minh gật gật đầu, đôi mắt ứa những giọt nước mắt cảm thông. Có lẽ nhận ra sự có mặt của người phục vụ, hai người bèn chuyển sang nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt...

*
*     *

  Sau khi Hồng Thuỷ rời Bắc Kinh về nước, hình ảnh của ông lúc nào cũng đánh thức trái tim Trần Kiếm Qua. Bà rất lo lắng về tình hình sức khoẻ của ông. Sáng nào cũng vậy, bà bật máy thu thanh và chăm chú nghe tin tức về Việt Nam. Chừng một tháng sau, đài phát thanh Bắc Kinh truyền đi một tin dữ: "Đồng chí Hồng Thuỷ, người chiến sĩ quốc tế vĩ đại, sau một thời gian chữa bệnh nhưng không có kết quả, đã từ trần ngày 21-10-1956, thọ 49 tuổi. Nhân dân Việt Nam đã cử hành trọng thể tang lễ. Ông được an táng tại ngoại ô Hà Nội..."

  Trần Kiếm Qua đã khóc. Bà lấy kim chỉ ra, nắn nót khâu từng mũi hai vòng băng tang cho hai con, vừa khâu vừa lắc đầu: các con còn nhỏ quá, không thể để cho chúng phải chịu cơn sốc này. Bà nén nỗi đau thương trong lòng lau khô nước mắt, rồi gọi hai con đến khuyên nhủ như mọi lần: "Các con phải chăm học, nghe lời Đảng dạy, nếu không, các con không xứng đáng với người cha tốt đã phải chịu nhiều gian truân, vất vả".


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 27 Tháng Mười, 2008, 06:24:20 PM
Rừng sâu càng tĩnh lặng chim hót tiếng ngân xa



  Ông già thời gian đã lật trang cáo thị của mình đến tháng Giêng 1974. Dư âm của một tai hoạ lớn mười năm vẫn còn vang vọng. Trần Kiếm Qua lúc này vẫn còn công tác với chức vụ Trưởng ban giáo dục nhi đồng thuộc Sở Giáo dục thành phố Bắc Kinh. Một hôm bà đột nhiên nói với hai con trai:

  - Bố các con mất đã 18 năm rồi, các con bây giờ đều khôn lớn, nên sang tảo mộ cho bố! Từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, mẹ cứ cảm thấy quan hệ Trung - Việt ngày càng xấu đi, nếu kéo dài mãi không biết xảy ra chuyện gì. Cũng không biết mẹ Lê (chỉ bà Lê Hằng Huân) tình hình ra sao nữa, mẹ đông em, chắc vất vả lắm, nhân tiện thăm họ luôn một thể. Bố các con cả đời làm việc gì cũng vì tình hữu nghị Trung - Việt, chuyện giữa nước này với nước nọ, gió mưa cũng khó mà lường trước được. Phần gia đình chúng ta, ân ân oán oán chung quy vẫn là người một nhà. Con người ta làm việc gì phải có phong thái khác người, quả đắng còn gây được mật, sang bên đó đừng có bao giờ nhắc đến chữ "khổ".

  Hai người con đều nhất nhất vâng lời.

  Nhờ các cơ quan hữu quan tận tình giúp đỡ, việc mua vé tầu, làm hộ chiếu, v.v... thu xếp rất nhanh chóng. Đoàn tàu lao nhanh qua Hoàng Hà, vượt Trường Giang, nhằm hướng Hồng Hà băng tới.

  Căn nhà chỉ còn lại một mình Trần Kiếm Qua càng trở nên trống trải, nhưng bà cảm thấy trong lòng ấm áp đôi phần.

  Mười tám năm qua nghĩ mà cơ cực. Chỉ riêng gánh nặng kinh tế cũng đủ khiến bà nghẹt thở. Thân thích ở quê Sơn Tây, ai cũng nghèo cả, có được bà cô "làm quan" nên hàng năm bà phải có một khoản "viện trợ không hoàn lại" đưa vào kế hoạch. Họ chỉ biết họ cần tiền, đâu có hiểu những nỗi gian nan vất vả của bà! Năm Hồng Thuỷ về nước, ông muốn trích một phần từ khoản tiền khổng lồ ba vạn đồng nhân dân tệ đó gửi lại cho các con ở Trung Quốc gọi là chút quà của bố, nhưng khổ nỗi thủ tục phiền phức, đành phải chuyển cả vào Ngân hàng Việt Nam toàn bộ số tiền đó. Con cái ngày một lớn, chi tiêu cũng tốn kém hơn, trong khi phụ cấp vẫn như cũ: mỗi người mỗi tháng hơn 20 đồng, do Bộ tổng tham mưu cung cấp. Mười tám tuổi, về giấy tờ coi như đã ở tuổi thành niên, Trần Kiếm Qua rất tự giác, chủ động báo cáo cắt phụ cấp. Lại gặp đúng dịp nổ ra "Đại Cách mạng văn hoá". Trong công tác giáo dục nhi đồng, bà chủ trương "phát triển toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, trước hết phải bảo đảm sức khoẻ, cho nên thể dục phải đặt ở vị trí hàng đầu. Đấu tranh giai cấp là chuyện của người lớn, không nên nói chuyện đó với các cháu nhỏ".

  Chết rồi! Đây là "đường lối phản động của giai cấp tư sản", lại thêm dòng lý lịch ghi rõ đã có lần bị bắt, thế là bà trở thành "phần tử phản động đi theo đường lối tư sản", là kẻ thù giai cấp mắc cả hai tội. Cách chức, đấu tố, chịu biết bao nhiêu cay đắng thiệt thòi. 100 đồng tiền lương bị cắt, chỉ được phát 18 đồng sinh hoạt phí. Của nả nhà bà chẳng có gì. Ngay cả Hồng Vệ binh khi đến khám nhà cũng phải ngạc nhiên. Nhà người khác dù không có tiền cũng phải có thứ gì đáng giá, nhà bà này sao tiền chẳng có mà đồ đạc cũng không? Tiểu Phong lúc này đang học đại học, biết mẹ gặp rất nhiều khó khăn. Chàng trai hơn 20 tuổi đó xấu hổ không dám chìa tay ra xin tiền mẹ để chi dùng chuyện sinh hoạt. Bạn học của Tiểu Phong là Lâm Song Song - con gái đồng chí Lâm Phong nguyên Hiệu trưởng Trường Đảng cao cấp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó trưởng ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc cũng đang bị đấu tố - đã giơ tay ra giúp đỡ. Lâm Song Song ngượng ngùng dúi cho Tiểu Phong những phiếu cơm, vài ba hào lẻ. Cả hai bạn trẻ sống vào 25 đồng sinh hoạt phí của cô. Hai năm học cuối cùng của cánh cửa đại học rồi cũng qua được. Sau đó, họ cùng được phân công về công tác ở Sơn Tây. Năm 1970, họ cưới nhau, sinh được một bé gái đặt tên là Trần Nguyễn Lăng. Tên cháu gái mang cả hai dòng họ của bà Trung Quốc và ông Việt Nam. Tiểu Phong tên hiện nay là Trần Hàn Phong, âm "Phong" đọc giống nhau nhưng chữ viết khác nhau. Trần Tiểu Việt vẫn dùng tên cũ, chỉ thay chữ "tiểu", có nghĩa là "cây trúc nhỏ". Nhắc đến Tiểu Việt, Trần Kiếm Qua giọng đầy nước mắt nói với người cầm bút này rằng: "Thằng bé càng tội nghiệp hơn. Từ nhỏ đã không được hưởng sự yêu chiều của bố. Tin bố mất, tôi vẫn giấu cháu. Khi lên học trung học, trong bản kê khai phải ghi rõ lý lịch ba đời, tôi hết cách, đành phải nói thật với cháu. Hồi "Cách mạng Văn hoá", tôi thì bị giam, cháu không có một xu, theo các bạn đi lung tung, may mà hồi đó ngồi xe đi cổ động, ăn cơm đều không mất tiền nên cũng lăn lóc qua được cái đận đó. Sau này lại xuống nông thôn... 20 đồng sinh hoạt phí của tôi, mỗi tháng phải nộp 2 đồng đảng phí. Cơ cực nhất là cái thời kỳ này. Bình thường chúng tôi đã phải rất tằn tiện. Nói ra một số bạn trẻ có lẽ sẽ không tin. Suốt 18 năm mỗi tháng được mua 2 cân trứng gà theo phiếu mà tôi chưa hề ăn một quả, tất cả dành cho các cháu. Thịt cá cũng rất ít khi mua. Năm hết tết đến, dăm mớ rau cải trắng, ít củ khoai tây thêm vài thứ lặt vặt nữa, tương trưng lẫn với tí thịt cũng xong một cái Tết. Sống cực như thế, tiền đâu ra mà sang bên đó tảo mộ? Các ngành hữu quan biết tình cảnh của tôi, chủ động bỏ tiền mua cho vé tàu, nên con trai, con dâu với cháu bé, cả thảy bốn người mới có dịp đi được. Niềm ao ước trong suốt 18 năm cuối cùng đã được thực hiện, tôi thấy nhẹ nhõm trong lòng.

  Ba mươi tuổi goá bụa, bà Lê Hằng Huân cũng ở vậy nuôi con. Từ lâu bà đã không ở trong toà nhà gác kiểu Pháp đó nữa mà dọn ra ở một phố nhỏ bên một hồ nhỏ trong thành phố. Được gặp đàn con cháu Trung Quốc, lại nhận được lời thăm hỏi của chị cả Kiếm Qua, bà Hằng Huân cảm động không kìm nổi nước mắt. Bà nhất định không chịu cho họ ra ở khách sạn. Hơn 10 con người thuộc ba thế hệ ở chen chúc trong một căn gác hai tầng đơn sơ, trống trải. Mỗi phòng thật ra cũng không hẹp, chừng 30 mét vuông, không có vách ngăn, có tầng trên tầng dưới. Bà Hằng Huân nói được tiếng Trung Quốc, làm phiên dịch cho cả nhà. Lớn bé già trẻ, cười cười nói nói, hết sức vui vẻ thân mật. Bà Hằng Huân kể với Tiểu Phong, Tiểu Việt: "Bố các con trước lúc nhắm mắt có bảo rằng "các con của tôi nhất định sẽ có một ngày chúng sum họp", đấy, hôm nay đã thành sự thật rồi!". Nghĩa trang rợp bóng cây xanh. Ngôi mộ xây nằm yên ả trên thảm cỏ xanh được cắt tỉa gọn ghẽ. Những con cháu người Trung Quốc, người Việt Nam của Hồng Thuỷ cùng khiêng một vòng hoa đặt trước mộ. Đứng trước nơi an nghỉ của người cha, họ nắm tay nhau chụp tấm ảnh lưu niệm, đứng sát vai nhau cúi đầu mặc niệm. Nếu ông trời có thiêng, hẳn người trong mộ sẽ được thoả lòng, mãn nguyện trước cảnh hoà mục của một gia đình đôi xứ sở.

  Chính phủ Việt Nam đã giúp đỡ họ rất nhiều trong việc cúng giỗ, kịp thời cung cấp nào gạo, nào thịt, lại còn dành riêng cho một chiếc xe ô tô đưa họ đi thăm thú các nơi. Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam mua tặng vé về cho họ.

  Nhân dân hai nước đều hiểu và rất quý trọng mối tình hữu nghị đã được hình thành trong lịch sử. Cho dù đã có một thời kỳ thăng trầm trong quan hệ Trung - Việt, Chính phủ hai nước vẫn đùm bọc hai gia đình của Hồng Thuỷ, coi đó là những hạt ngọc quý của tình hữu nghị. Thời gian Á vận hội tổ chức ở Bắc Kinh, một nhân vật rất quan trọng của Việt Nam là lão tướng Võ Nguyên Giáp đã có mặt ở Trung Quốc. Với hình thức dân dã, ông tới thăm bà quả phụ Kiếm Qua cùng với cái gia đình đặc biệt này.

  Năm 1992, những đứa con Trung Quốc và Việt Nam của Hồng Thuỷ lại có điều kiện trao đổi thư từ với nhau. Cô con gái người Việt sinh tại Bắc Kinh có tên là Nguyễn Thanh Hà từ Hà Nội viết thư gửi cho hai người anh ruột Trung Quốc kể rằng: "Cha chết tuy đã được 36 năm, trong nước cũng như ngoài nước đã trải qua bao nhiêu biến cố chính trị và ngoại giao, nhưng cha vẫn sống trong lòng nhân dân. Nhân dân vẫn tôn kính cha, gọi cha là Tư lệnh Nguyễn Sơn. Các tướng lĩnh Việt Nam khi biết em là con gái của cha, đều đã kể cho em nghe rất nhiều chuyện về cha. Các nhà văn trong các cuốn tiểu thuyết lịch sử của họ nhiều lần nhắc đến cha - một vị tướng rất được lòng dân và rất nhiều cá tính". Những người con khác vẫn thường viết thư thăm hỏi nhau. Rồi một ngày họ báo sang tin dữ: Mẹ Lê Hằng Huân của họ vì bị ung thư đã mất ngày 18-4-1991, thọ 65 tuổi. Trước khi đi xa, bà đã dặn lại các con một câu: "Mẹ Trần của các con là một người đàn bà tốt nhất!".

  Chính phủ Trung Quốc và 1,1 tỷ nhân dân Trung Quốc không bao giờ quên công lao to lớn của đồng chí Hồng Thuỷ đối với cách mạng Trung Quốc. Bạn đã xem truyền hình nhiều tập "Bài ca tráng sĩ" chưa? Bộ phim dành riêng một tập nói về những người bạn chiến đấu nước ngoài đã tham gia trong cuộc kháng chiến ở Tấn-Sát-Ký. Có Bethune, có Coócliva... và có cả Hồng Thuỷ. Trước màn hình, bà Trần Kiếm Qua đã sôi nổi kể lại những mẩu chuyện về cuộc đời của Hồng Thuỷ và không quên nhắc lại nhận xét: "Hồng Thuỷ nói chuyện đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra!" Chỉ tiếc ống kính ghi lại được quá ít. Ngay cả lão tướng Tôn Nguyên Khôi là người được Nguyên soái Nhiếp Vĩnh Trăn giao cho nhiệm vụ trực tiếp làm bộ phim này cũng lấy làm tiếc về điều đó. Ông là người bạn chiến đấu cũ của Hồng Thuỷ, đã từng sống trong bầu không khí quốc tế chủ nghĩa lúc bấy giờ. Ông đã làm bốn câu thơ tặng bạn:

Rừng sâu càng tĩnh lặng,
Chim hót, tiếng ngân xa.
Lại nhớ dòng Hồng Thuỷ,
Vọng mãi khúc tình ca.

  Ôi! Hồng Hà, Hoàng Hà vẫn in bóng cùng một vầng trăng tỏ, tuy không phải ngày rằm, trăng còn khuyết vành nhưng ánh sáng vẫn lung linh.

  Một khúc ca say đắm, Thái Sơn hát, Hồng Sơn ca, hoá thân cuộc tình duyên ngắn ngủi thành vầng trăng sáng vĩnh hằng.
 
Thanh Lịch dịch


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 28 Tháng Mười, 2008, 07:38:14 PM
Phụ lục

* Một số Sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng ký.

* Một số tác phẩm (giới thiệu) và bài viết của Nguyễn Sơn.





(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson14.jpg)

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/Nguyenson15.jpg)

Việt Nam dân chủ cộng hoà
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sắc lệnh
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà

  Chiểu theo Sắc lệnh ngày 6 tháng 5 năm 1946 tổ chức quân sự uỷ viên hội;

  Chiểu theo quyết nghị của Chính phủ thành lập Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam và Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ.

  Xét rằng ông Hoàng Quốc Việt cần có công tác phải điều động đi nơi khác;

  Theo lời đề nghị của Chủ tịch Quân uỷ hội;


Ra Sắc lệnh:

  Điều thứ nhất. - Kể từ ngày ký Sắc lệnh này, ông Hoàng Quốc Việt không giữ chức uỷ viên trong ủy ban Kháng chiến miền Nam nữa.

  Điều thứ hai. - Nay cử ông Nguyễn Sơn giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam kiêm chức Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ.

  Điều thứ ba. - Nay cử ông Nguyễn Văn Duân làm uỷ viên của Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam.

  Điều thứ bốn. - Ông Chủ tịch Quân uỷ hội chiểu Sắc lệnh thi hành.


Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 1946

Thay mặt Chủ tịch Chính phủ

Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Đã ký: Huỳnh Thúc Kháng
Phó thủ:

Chủ tịch quân sự uỷ viên hội
Võ Nguyên Giáp




Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 28 Tháng Mười, 2008, 07:42:49 PM
Việt Nam dân chủ cộng hoà
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sắc lệnh số 183
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà


  Chiểu theo Quyết nghị của Chính phủ thành lập Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam và Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ;

  Chiểu theo Sắc lệnh số 182 ngày 13/9/1946 cải tổ Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam;

  Chiểu theo Sắc lệnh số 123 ngày 16/7/1946 cử ông Nguyễn Sơn giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam kiêm chức Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ;

  Chiểu theo đề nghị của Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;

  Xét nhu cầu hiện thời về nhân sự;

  Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp;


Ra Sắc lệnh:

  Điều thứ nhất. - Nay cử các ông có tên sau đây sung vào Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam:

  Nguyễn Sơn    Chủ tịch

  Nguyễn Văn Tây    Phó Chủ tịch

  Phạm Văn Bạch

  Cao Hồng Lĩnh

  Lê Duẩn    Uỷ viên

  Nguyễn Chanh

  Huỳnh Văn Tiểng

  Điều thứ hai. - Các ông Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chiểu Sắc lệnh thi hành.
       

Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 1946
         
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
                 
Huỳnh Thúc Kháng

Phó thủ:
Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội
                       
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 28 Tháng Mười, 2008, 07:44:55 PM
Việt Nam dân chủ cộng hoà
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Chủ tịch chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà


  Chiểu Sắc lệnh số 34 ngày 25/3/1946 tổ chức Bộ Quốc phòng,

  Chiểu Sắc lệnh số 60 ngày 6/5/1946 tổ chức Quân sự uỷ viên hội.

  Chiểu Sắc lệnh số 182 ngày 13/9/1946 tổ chức Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam.

  Chiểu Sắc lệnh số 184 ngày 24/9/1946 tổ chức Quân đội Tiếp phòng Việt Nam.

  Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,


Ra Sắc lệnh:

  Điều thứ 1. - Cử ông Hoàng Văn Thái, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân sự uỷ viên hội, làm Quân huấn Cục trưởng kiêm chỉ huy quân đội Tiếp phòng Việt Nam.

  Điều thứ 2. - Cử ông Phan Phác, nguyên Quân huấn Cục trưởng, làm Phó quân huấn Cục trưởng.

  Điều thứ 3. - Cử ông Văn Tiến Dũng làm chính trị Phó Cục trưởng.

  Điều thứ 4. - Cử ông Nguyễn Sơn, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, làm Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng.

  Điều thứ 5. - Cử thiếu tướng Lê Thiết Hùng, nguyên chỉ huy Quân đội Tiếp phòng Việt Nam, làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam.

  Điều thứ 6. - Huỷ bỏ những điều khoản trong các Sắc lệnh và nghị định đã ban bố trái với Sắc lệnh này.

  Điều thứ 7. - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu uỷ nhiệm thi hành Sắc lệnh này.

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1946

Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 28 Tháng Mười, 2008, 07:47:34 PM
Lệnh trao quân hàm
của quốc vụ viện
Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa


Lệnh  trao quân hàm
Số 225


  Nay trao quân hàm Thiếu tướng cho Xã trưởng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Huấn luyện chiến đấu

Hồng Thuỷ

  Thuộc Bộ Tổng giám huấn luyện Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Ngày 27 tháng 9 năm 1955
Tổng lý Quốc vụ viện

Chu Ân Lai
(Đã ký)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:45:43 PM
Địa vị và giá trị truyện Kiều
(Đề cương của buổi nói chuyện với các giáo sư
và học sinh lớp chuyên khoa Trường Thiếu sinh quân)

Lam - Phong
(Bút danh của Tướng Nguyễn Sơn)



  I. Nói qua về thái độ và phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn nghệ

  A. Mục đích nghiên cứu để tìm ra trong tác phẩm của lịch sử, của nước ngoài những cái hay, cai dở của nó để học hỏi hay để răn đe. Chúng ta không nên có thái độ nghiên cứu tác phẩm văn nghệ trên lập trường người ngắm chậu cảnh.

  B. Nghiên cứu những cái hay, cái dở của tác phẩm để do đó tìm ra một phương pháp sáng tác, biện biệt về văn nghệ, chứ không phải là tìm ra những cái hay của người ta rồi chép nguyên văn vào trong sáng tác của mình, hay là để lấy đó làm khuôn để đi lồng tất cả những tác phẩm khác lấy kết luận.

  C. Phải lấy tác phẩm của bản thân làm đối tượng nghiên cứu chứ không nên lấy một khuôn khổ sẵn có của mình rồi lồng tác phẩm vào khen hay chê.

  a. Trần Trọng Kim cố lồng Truyện Kiều vào khuôn khổ Nho - Phật giáo mà khen Truyện Kiều thành ra không làm nổi bật cái giá trị thật của Truyện Kiều. Số phận Kiều không phải do Kiều làm nên, cũng không phải tiền oan nghiệp chướng gì (theo Đạo Phật) sui nên cả. Đứng trên ngay lập trường Đạo Phật mà nói, cái "quả" trong thân thế Kiều không phải "nhân" gì về phần cô Kiều hay gia đình cô Kiều, vì nhà Viên ngoại họ Vương không hề có sự gì thất đức, cô Kiều bản thân còn chưa dính dáng gì với đời cả mà đến nỗi phải chịu cái "quả" ấy. Sự thực ra số phận Kiều là do những người trong xã hội của thời đại làm nên (Ưng, Khuyển, Mã Giám Sinh, Tú Bà, v.v... nghĩa là lũ đầu trâu mặt ngựa). Đó chỉ là kết quả của việc nắm tóc Truyện Kiều lôi vào cái lồng đạo Phật mà thôi.

  b. Trương Tửu cố tình lấy Truyện Kiều lồng vào chủ nghĩa Freud không quen biết. Truyện Kiều tả những tâm trạng, những hành vi "bệnh thái" của xã hội thời Nguyễn Du và sau đó, chứ không dính dáng gì đến bệnh "uỷ hoàng" hay bệnh gì khác mà Freud bịa ra rồi Trương Tửu nhai lại. Đồng thời Trương Tửu còn nhai lại một ít công thức "xã hội" để lồng vào cho bọn "nhà nho thất thế". Sự thực ra trong Truyện Kiều chúng ta ít - hay không - thấy những tiếng thở dài của bọn "nhà nho thất thế" mà chỉ nghe thấy tiếng rên rỉ của những người chịu đựng, những giọng nguyền rủa "đầu trâu mặt ngựa", những vẻ sỏ lá của phường "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao", v.v... Kiều có phải con người "thất thế" rồi chán đời theo kiểu "nhà nho thất thế Lý Bạch", Không? Không! Kiều chịu đựng để trông có ngày mai nên mới theo Thúc Sinh, nên mới lấy Từ Hải để báo ân, báo oán như một người thường dân. Ai, cái gì tiêu biểu cho "nhà nho thất thế" trong Truyện Kiều? Không biết Trương Tửu có biết tâm trạng anh "nhà nho thất thế" như thế nào không? Nếu chưa biết nên đọc thơ Lý Bạch và phải đọc cho hiểu.

  c. Đào Duy Anh, ông đồ gậm chữ không , không thể xé nát Truyện Kiều ra làm nhiều mảnh rời rạc nhau rồi tuyên dương lên báo: giá trị Truyện Kiều là thế này đây.

  d. Hoài Thanh và một số người cho rằng Truyện Kiều hay không thể nói, thấy được, nghĩa là cái hay của Truyện Kiều, nghệ thuật là một cái gì huyền bí của một số thầy phù thuỷ như Hoài Thanh, v.v.. mới hiểu được. Kỳ thực Truyện Kiều hay, người ta có thể hiểu được nó hay ở đâu, tại sao, nghĩa là có thể mổ xẻ rồi tổng hợp lại như nhà hoá học đối với không khí hay nguyên tử vậy thôi.

  đ. Phạm Quỳnh và những cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế trong khi bàn cãi nhau về Truyện Kiều không phải là đứng trên lập trường nghiên cứu văn nghệ mà đứng trên lập trường chính trị nên không thể làm nổi bật quan điểm của họ (quan điểm văn nghệ) lên được.

  D. Phải biết phân tách và tổng hợp trong khi nghiên cứu tác phẩm văn nghệ, nghĩa là cũng phải nghiên cứu bằng một phương pháp khoa học. Truyện Kiều tả những gì? Vở kịch Kiều gồm những cảnh: yêu Kim Trọng, bán mình, làm đĩ, làm vợ lẽ, lấy Từ Hải, đi tu, tự tử trên sông. Bao nhiêu nhân vật lên sân khấu, Kiều, Sở Khanh, Tú Bà, Hoạn Thư, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến và những vai lâu la tiểu tốt, Kim Trọng, Thuý Vân, cha mẹ Kiều, Vương Quan, nhà sư. Nhìn chung lại thấy ngay trong đó có hai phe, một phe là Kiều làm tiêu biểu, chịu đựng tất cả mọi nỗi chua cay mặn chát của thời đại lúc đó, (kèm bên cạnh có người không chịu đựng một cách ngang tàng không biết trên đầu có ai mà Từ Hải làm tiêu biểu), một phe khác là gây lên tất cả những nỗi chua cay mặn chát ấy là Khuyển, Ưng, Sở Khanh, Tú Bà, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến, những người của giai cấp thống trị lúc đó. Truyện Kiều phản ánh ra những tình cảnh, tâm trạng của một thời đại xã hội chứ không phải là của một người. Nhân dân Việt Nam gặp những tình cảm như thế, có những tâm trạng như thế rất nhiều trong xã hội Việt Nam còn tồn tại thế lực của giai cấp phong kiến nên Truyện Kiều thông cảm được với nhiều người, nhiều người ấy nhớ nó, thích nó, sửa chữa cho nó thành một tác phẩm hay của dân tộc Việt Nam, làm vẻ vang cho dân tộc Việt Nam.

  Đ. Trên thái độ và bằng phương pháp nghiên cứu vừa kể đó chúng ta nhìn nhận Truyện Kiều thì chúng ta thấy rằng Truyện Kiều là phản ánh những nỗi chua cay mặn chát của dân tộc Việt Nam dưới chế độ phong kiến đồi bại, tàn nhẫn của những người chỉ biết chịu đựng chứ không biết, không dám phẫn kháng, một góc xã hội trong thời đại của Nguyễn Du hay thời đại phong kiến suy đồi. Cũng vì thế những người Việt Nam mới thích nó mà nó mới sống và phát triển, cải tạo thêm mãi được đến thành một áng văn chương kiệt tác của dân tộc. Chúng ta nghiên cứu Truyện Kiều để giải quyết nhiều vấn đề về sáng tác và nhận xét tác phẩm.

  Nói qua về thái độ và phương pháp nghiên cứu để bước vào nghiên cứu sơ lược Truyện Kiều như sau:

  II. Địa vị và giá trị Truyện Kiều

  A. Truyện Kiều đã thành một áng văn chương kiệt tác của dân tộc Việt Nam chứ không còn là của một số người hay của một số giai cấp nào cả.

  a/ Truyện Kiều đã tự sống được trong nhân dân, không cần phải ai đề tựa, giới thiệu, cũng không cần một bức điện của nhà đương cục nào lấy khước ca (thời đó không có điện), bằng sức nghệ thuật của nó. Nghệ thuật đây nghĩa là kỹ thuật viết và nội dung trình bày kết hợp lại, từ sao chép đến học thuộc lòng đến in đến dịch ra tiếng nước ngoài.

  b/ Câu chuyện nói về nỗi đời éo le của Kiều đối với người sống trong thời đại xã hội còn hoàn toàn phong kiến, lấy nghề nông làm cốt, giao thông chưa ra khỏi làng, huyện, tỉnh, đời sống thắt chặt vào vườn ruộng, hoàn toàn bị bó buộc trong "quạt nồng ấm lạnh", chỉ tiếp xúc với nhau bằng họ hàng, làng mạc, xóm giềng thì đời éo le của Kiều là một chuyện "kinh thiên động địa" rồi đó.

  c/ Những tình cảm, tâm trạng, nhân vật trong truyện được phô bày ra một cách xác thiết, rõ rệt, bản chất. Nào là tình cảm Kiều đến thì, gặp Kim thành yêu; phải bán mình lỡ duyên thì phải gán em vào thay mình để giữ tiếng cho gia đình; người con gái bị mất trinh lần đầu tiên một cách nhơ nhớp đòi tự tử; đã chót mà không thể thoát nổi thì cũng chết luôn trong nhà đĩ; gái giang hồ gặp người đàn bà lận đận, giang hồ mãi rồi gặp Từ Hải thì đền ơn báo oán, oán to nhất là oán Hoạn Thư; con người dọc ngang không biết trên đầu có ai vẫn cứ đến nghe lời đàn bà ra thú, như Từ Hải; bọn quan nhà vua giết chồng đoạt vợ như Hồ Tôn Hiến, v.v... đều là những tình cảm rất thông thường trong xã hội phong kiến. Nào là tâm trạng Kiều thương hại Đạm Tiên; Kiều bảo Kim Trọng "đừng điều nguyệt nọ hoa kia"; rồi thấy "dơ dáng dại hình" sau cuộc ăn nằm với Mã Giám Sinh; bao nhiêu lần nhớ nhà mà đầu tiên là nhớ Kim Trọng trước đến sau vẫn cứ còn phảng phất hình ảnh của Kim Trọng; những phút "khóc thầm"; những phút ra oai với Hoạn Thư, v.v... cũng là những tâm trạng của nhiều con người còn sống trong xã hội còn kinh tế phong kiến như xứ ta hồi đó và hồi sau. Nào là thư sinh Kim Trọng, Thuý Vân hiền hậu, Kiều sắc sảo, trước họng mưu Sở Khanh, "oai Tú Bà", kế "nước vỏ lựu máu mào gà", sợ vợ Thúc Sinh, ghen Hoạn Thư, tướng Từ Hải, quan Hồ Tôn Hiến, lính lệ "nách thước tay dao", v.v.. đều là những nhân vật tìm ngay bất kỳ nơi nào trong nước ta hồi Nguyễn Du mà ngay cả trong nước ngày nay một phần nào nữa. Vì những tình cảm, tâm trạng nhân vật ấy rất quen thuộc với nhân vật Việt Nam nên nhân dân Việt thấy được hình ảnh mình trong Truyện Kiều nhiều lắm, thậm chí đến ngay những lúc bất ngờ mở Truyện Kiều ra cũng hay gặp những tình cảm hay tâm trạng na ná với của mình hay có thể dính dáng đến mình được, thành ra đến người phải bói Kiều.

  d/ Truyện Kiều thành của dân tộc Việt Nam còn ở kỹ thuật của nó. Những câu hay nhất hay được người ta nhắc nhủ, nhớ đến luôn từ lúc họp hội "Tao đàn" đến những lúc nghe mùi nước đái khi ru con đều ngâm, ru bằng những câu Kiều ấy, phần lớn là những câu hoàn toàn, hay phần lớn là tiếng Nôm hay cũng có những câu đái chữ nhưng đã quen thuộc với người mình lắm rồi. Trừ một số tật "sính Tàu" như sau đây "sính Tây" (một bệnh đặc biệt của người trí thức trong những xứ mất nước và nhiều khi truyền nhiễm đến cả nhân dân nữa đấy) ra thì rất nhiều hình ảnh, ý thơ rất điêu luyện được phô bày ra rất rạch ròi không cầu kỳ, không ngoa ngoắt theo tiếng nói của nhân dân Việt Nam , do đó mà mọi người Việt Nam đều hiểu được mà thích nó. Một tác phẩm muốn là đại chúng phải là dân tộc.

 


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:46:02 PM
  B. Nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng Truyện Kiều là sản phẩm của dân tộc Việt Nam trong thời Lê mạt, nghĩa là trong lúc phong kiến suy đồi tàn tạ, trong nước hầu như vô chính phủ. Nông dân vốn không là một giai cấp lãnh đạo phá vỡ phong kiến để lập ra một xã hội khác, dù có một số thủ lĩnh nổi lên chống lại đi chăng nữa rồi cũng hủ hoá hay bị bọn quý phái ma lợi dụng bán họ đi để lập ra một triều đình nào đó thành ra trong hồi đó tâm trạng chung của nhân dân là chịu đựng cho qua ngày, nhưng không phải là tuyệt vọng với tương lai, nghĩa là hễ hơi gặp một cơ hội gì là bám lấy tìm sống. Lại cũng không được giáo hoá, nhất là không có duyên gì với khoa học, của riêng trong thời phong kiến, nên không thể hiểu được nguyên do  chính của sự đồi bại của giai cấp thống trị và nỗi điêu đứng của mình, nên chỉ trông chờ vào số phận, trông vào Trời có mắt. Họ không dám tin vào sức của mình mặc dầu cũng có những người hiên ngang muốn hay đã làm phẫn, kết cuộc rồi cũng chỉ thấy cái thua là hết, Nguyễn Du đã đem được phần lớn tình cảnh, tâm trạng của thời đại ấy trong nhân dân Việt Nam và phô bày ra trong Truyện Kiều. Tinh thần chịu đựng ấy đã hiện hình trong tất thảy mọi chịu đựng cảnh thanh lâu; chịu đựng mọi sự chịu đựng đến sức con người không thể chịu đựng nổi nữa mới kết thúc nó trong dòng sông Tiền Đường. Nhưng nhân dân hồi đó không phải là chỉ chịu đựng mà không căm hờn, oán giận. Tinh thần căm hờn oán giận ấy hiện hình ra bằng những lời than "bạc mệnh", những giọng chửi rủa lũ lính lệ "đầu trâu mặt ngựa", giọng mai mỉa lũ sỏ lá "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao"; những sự trách bọn con buôn "bán tơ" và bằng nhất thời "dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Nhưng căm hờn, oán giận cũng chỉ hơi lộ ra thế thôi, khi nào chịu đựng không nổi, giấu bọc trong "hờn số giận phận" không nổi nữa mới hở ra ít chút thế thôi. Nông dân không có sự chống chọi gì lớn, mạnh nên trong Truyện Kiều không thể có tinh thần phản kháng hùng hồn như ta thấy trong Thuỷ Hử được. Truyện Kiều đem theo những khuyết điểm của thời đại: Định mệnh, tiêu cực. Ngoài ra còn đem theo một hệ tư tưởng lớn của thời đại là "chủ nghĩa đoàn viên" của giai cấp phong kiến, không cho phép vô hậu, nên bất đắc dĩ thêm vào việc "Tái hồi Kim Trọng" một cách kém duyên dáng và hút người như từ đoạn sông Tiền Đường trở về trước nữa. Tư tưởng ảnh hưởng đến kỹ thuật là thế đấy. Truyện Kiều là một áng văn chương kiệt tác của dân tộc Việt Nam trong thời Lê mạt, nên đã có tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của thời đại.

  III. Truyện Kiều và tác giả Nguyễn Du

  Truyện Kiều là sản phẩm của thời đại, nghĩa là của thời Lê mạt ở Việt Nam, nhưng nó không phải là những câu truyện kể rong khắp nơi chắp lại thành như cuốn Thuỷ Hử bên Tàu. Nó là tác phẩm của một tác giả hẳn hoi: Cụ Tiên Điền Nguyễn Du. Cho nên công tội của Nguyễn Du trong tác phẩm của mình nhất định Nguyễn Du phải gánh lấy.

  Nguyễn Du là người "nhà nho thất thế" vì không gặp chủ. Vua Lê thất bại, thì tất nhiên Nguyễn Du không phải là hạng người hoàn toàn vì thế mà chán nản, mà hoàn toàn tiêu cực như Lý Bạch hay người khác. Nguyễn Du cũng còn giữ được phần ảnh hưởng phản kháng của cha ông một phần nào. Nhưng phần ấy trong tư tưởng Nguyễn Du rất ít, rất mỏng. Cho nên trong tác phẩm của mình: Truyện Kiều, tỏ ra rất nặng phần u uất, chịu đựng tiêu cực, gặp trường hợp phản kháng của Từ Hải cũng không thể làm gì nổi, cái gì tích cực với đề tài ấy nên kết thúc đời Từ Hải bằng cái "chết đứng".

  Nguyễn Du là một "nhà nho thất thế" nhưng không phải là hạng thất thế rồi bầu rượu túi thơ như Lý Bạch mà là người tìm tòi sống, tìm ngày mai. Nguyễn Du nay đây mai đó, lang thang tìm chỗ bám lấy đời. Nên do đó mà gần gũi nhân dân, nghe, thấy trong nhân dân nhiều, nên gần được nhân dân một phần nào: làm thơ Nôm, dùng hình thức trên sáu dưới tám, oán ghét bọn lính lệ "đầu trâu mặt ngựa", căm giận bọn "bán tơ", hằn học với quan vua "Hồ Tôn Hiến", mai mỉa thằng sợ vợ "Thúc Sinh", ghét lũ "Sở Khanh" là những thu hoạch của Nguyễn Du trong khi gần gũi nhân dân, cũng là khiến cho Nguyễn Du thành thi sĩ của nhân dân.

  Nguyễn Du là "nhà nho" tất nhiên tiêm nhiễm đầy đủ những tật tệ của bọn sĩ phu Nho giáo: Sính Tàu là một tật tệ của những sĩ phu mất nước hồi đó và hồi sau (sính Tây). Không tìm ra chuyện sẵn có trong xã hội, nhân dân Việt Nam mà lấy cái chuyện tầm phơ bên Tàu: "Thanh Tâm tài nhân", một cái gì mà chính người Tàu cũng không mấy người biết hay không , còn người biết đến về làm của quý, làm đề tài viết văn, làm thơ. Tình cảm, tâm trạng, nhân vật thì hoàn toàn Việt Nam nhưng cố khoác cái áo Tàu vào, nào là sông Tiền Đường, Lễ Đạp Thanh, nào là Lê Chuy, v.v... nhưng kỳ thực những cái đó chỉ là cái vỏ Tàu cho oai thế chẳng khác gì những người trong thời mất nước cho tây mà "sính tây" bằng lấy tên không tây, không Tàu, không ta như Leiba, Tchya, v.v... hay lối cắt ngang câu xuống dòng trong khi làm thơ, v.v...

  Nguyễn Du cũng còn mắc cái tật mê tín, duy tâm của những "nhà nho". Đời éo le của Kiều phải là tiền định, số phận của Kiều do Đạm Tiên báo mộng, và chủ nghĩa đoàn viên cho có hậu, hồn theo gió về hương hoa, v.v... những chuyện quá mê muội. Nhưng những cái ấy phần là lúc đầu Nguyễn Du mới khăn áo nhà nho ra cầm bút viết nhớ mình lắm. Nhưng dần dần đến sau khi Nguyễn Du tiếp xúc và say đắm trong những tình cảnh của người đời ấy, những tâm trạng, nhân vật của người đời ấy thì những sự thực ấy xua đuổi bản ngã của Nguyễn Du đi nhiều lắm. Cho nên Truyện Kiều của Nguyễn Du mới thành câu của nhân dân được. Nếu không, lúc nào cũng khăn áo nhà nho chỉnh tề viết từ đầu đến cuối như Phan Trần, Lục Vân Tiên, Hoa Tiên, Chinh Phụ Ngâm, Tần Cung oán, v.v... thì sẽ cũng như những cuốn ấy gặp một số phận khá hẩm hiu trong dân chúng, đối với địa vị Truyện Kiều.

  Những thành tích và khuyết điểm của Nguyễn Du chưa phải hoàn toàn quyết định giá trị của Truyện Kiều, mặc dầu nó chiếm phần lớn. Vì Nguyễn Du, không phải hoàn toàn đồi phế, chán đời mà gần nhân dân nên nghe, thấy được những hơi thở của phần nào nhân dân. Cho nên trong Truyện Kiều đưa những hơi thở và nhịp điệu của con tim nhân dân trong những phút nào. Vì vậy mà Truyện Kiều có nhiều chỗ rung nhịp điệu của nhân dân mà thông cảm với nhân dân. Nhân dân yêu nó, mến nó, quý nó, coi nó là của mình nên, truyền tụng đi. Trong khi truyền tụng đi nhân dân sửa những nhịp điệu, âm điệu lệch lạc không đúng với của mình, dần dần rồi mới thành Truyện Kiều hoàn chỉnh, hay ho như ngày nay. Cho nên nói Truyện Kiều là một sản phẩm của dân tộc Việt Nam trong một thời đại nào đó còn có ý nghĩa là nhân dân đã tham gia tập thể sáng tác, góp sức với Nguyễn Du nhiều trong Truyện Kiều. Những cái mà người ta bảo là tam sao thất bản kia tức là những bản có các thứ ý kiến của nhân dân trực tiếp hay qua tay người trí thức gần gũi họ đưa ra đó. Một tác phẩm đại chúng không phải là do tay đại chúng trực tiếp sáng tác ra (bằng tập thể nghiên cứu viết hay truyền khẩu, hay kể chuyện, v.v...) cũng phải trải qua sự thẩm xét của đại chúng, sửa chữa của đại chúng rồi mới có được.

  IV. Văn chương Truyện Kiều

  Về văn chương Truyện Kiều đã có nhiều người mổ xẻ, chia cắt phơi bầy ra nhiều rồi, đồng thời nhiệm vụ bài này không lôi thêm phần ấy là phần chuyên môn hơn vào vì năng lực, thì giờ, công việc, mọi điều kiện quy định nên không dài lời.
Chỉ trình bày mấy nguyên tắc như sau:

  A. Khi chúng ta thấy những câu văn hay không nên chỉ bo bo đậm từng chữ, chữ này hay, chữ kia dở mà nên tìm ra những hình ảnh của câu văn ấy thế nào, so với sự thực, so với nhân vật, tình cảnh, tâm trạng ấy, trình độ thiết thực, rõ ràng, sâu sắc đến đâu. Giá trị của câu thơ không chỉ ở dùng chữ, dùng danh từ mà cốt là ở chỗ trình bày hình ảnh.

  B. Khi chúng ta nghiên cứu đến cách sắp đặt từng đoạn, từng tình tiết phải đặc biệt cân nhắc phần lượng, xác thực, thiết tha, của nó về nội dung từng đoạn, về so với toàn bộ tác phẩm. Địa vị và ý nghĩa của nó.

  C. Gặp những đoạn tả tình, tả cảnh, tả người hay, chúng ta nên cố gắng tìm cho ra những tình trạng, tình cảnh, nhân vật giống như thế hay tương tự như thế trong các văn học, thơ ngoại quốc để so sánh tìm những tình, cảnh, người Việt Nam khác với người nước ngoài thế nào, nguyên do của sự khác đó lại phải đi tìm điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá phong tục, rồi chúng ta sẽ có nhận thức rõ rệt hơn về thế nào là dân tộc tính. Rồi so sánh với những tình, cảnh, người trong các văn, thơ của sĩ phu quý phái để nhận thấy thế nào là tình, cảnh, người của đại chúng, v.v....

  Mấy nguyên tắc chính trong khi nghiên cứu văn chương Truyện Kiều là như thế.

  V. Kết luận

  Để kết luận, đưa ra điều nhận xét tổng quát của tôi về Truyện Kiều và Nguyễn Du. Truyện Kiều là một kiệt tác văn nghệ của dân tộc Việt Nam thời Lê mạt. Nó đã phản ánh ra tình, cảnh, người của tầng lớp người bị bắt nạt trong thời kỳ hỗn loạn của thời ấy với tất cả tinh thần tiêu cực chịu đựng mặc dầu vẫn thổ lộ ra những căm hờn, oán giận những kẻ tay sai của giai cấp thống trị hồi đó, và tất cả sự không dám tin vào sức mình của họ (quy vào số phận để chịu đựng). Nhưng áng văn chương ấy có giá trị nhất, khiến cho nó thành ra của dân tộc, của nhân dân là chỗ bất kỳ tả tình, cảnh, người là được rất xác thiết, đúng mực và sâu sắc, rất đúng với nhịp điệu rung động của tình cảm của con người ấy trong tình cảnh ấy. Vì nó lại dùng những hình ảnh, lời lẽ của dân tộc, nhân dân và hình thức dễ gần nhân dân nhất nên nó mới thành một tác phẩm của người Việt Nam. Đó là vì Nguyễn Du không phải loại "nhà nho thất thế" chán đời, giận đời mà là một "nhà nho thất thế" chịu đựng để đợi thời (trong khi đợi thời thì tìm trong một phần nào nhân dân hạng "gia tư thường thường bậc trung). Nhưng Truyện Kiều mang nhiều khuyết điểm khiến cho người ta không hoàn toàn tán thành toàn bộ Truyện Kiều, coi như là một tác phẩm tận thiện tận mỹ. Nó còn đeo nặng vết tích "định mệnh" của "Nho, Phật" giáo, do đó Truyện Kiều bị một số người mạt sát. Vì nó là phản ảnh tinh thần chịu đựng của hạng người gia tư thường thường bậc trung trong thời hỗn loạn như hồi Lê mạt nên thiếu tinh thần quật cường của phần lớn nhân dân lao khổ hồi đó (bởi qua đề tài quan trọng là Từ Hải). Nó còn nhiều chỗ dùng điển tích, đất sông Tàu, đeo nặng tinh thần mất nước. Đó là vì Nguyễn Du là một trí thức phong kiến đeo nặng tinh thần Nho, Phật giáo, đeo nặng tật sính Tàu và khép mình vào quy củ chủ nghĩa đoàn viên.

  So công và tội Truyện Kiều, Nguyễn Du thì chúng ta thấy phần công vẫn to hơn, nghĩa là tin chắc rằng chúng ta có thể lấy Truyện Kiều làm một vinh dự cho nền văn hoá, nhất là văn nghệ của dân tộc Việt Nam. Mạt sát là có tội với dân tộc, nhân dân và tác giả.

21-10-1949


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:48:54 PM
Lời cảm tạ



  Tháng 10 năm 2005, ngày giỗ lần thứ 49 cha tôi, trong nỗi tiếc thương da diết bởi cuộc đời chưa đầy nửa thế kỷ của ông, thắp tuần nhang, những Thiếu sinh quân Khu IV ngày nào nay đã qua tuổi xưa nay hiếm, lầm rầm khấn ông phù hộ cho họ mạnh khỏe cùng nguyện vọng năm 2006, họ có được trên tay một cuốn sách khá đầy đủ những hiểu biết về "thân thế và sự nghiệp của anh... chắc chắn lịch sử sẽ không quên" (trích lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ngày 31-12-1993), và bởi ông "rất yêu nhân dân, Tổ quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam và ông cũng rất yêu nhân dân, đất nước và Đảng Cộng sản Trung Quốc" (trích lời ông Phạm Đông Vĩ, Hội trưởng Hội Hữu nghị Trung - Việt, tại buổi lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng phát xít Nhật và phát xít quốc tế, tổ chức tại Bắc Kinh, tháng 9-2005).

  Trong khói trầm hương, trước bàn thờ cha và bên những Thiếu sinh quân, tôi không sao ngăn được nước mắt, tôi coi các bậc lão niên đó như cha chú, cảm ơn những cán bộ, chiến sỹ một thời là lính Cụ Hồ đã nói hộ chúng tôi những ước nguyện về người cha kính yêu.
Kể từ năm 1993, và nhất là sau lần bạo bệnh vào mùa Xuân năm 2004, trong tôi lúc nào cũng thôi thúc làm việc hiếu với cha mẹ và là thêm một lần cảm ơn tất cả những người đã gặp cũng như chỉ gặp trên trang giấy, những người đã yêu quý cha tôi mà cho thế hệ cháu con chúng tôi thêm những hiểu biết về một "cán bộ quân đội nhân dân".

  Từ sau Hội thảo tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức, những bài báo, các sách "Tướng Nguyễn Sơn", "Lưỡng quốc tướng quân", "Nguyễn Sơn - vị Tướng huyền thoại", "Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương", "Luận văn chính trị - quân sự"... phim tư liệu 4 tập về Nguyễn Sơn, đại thể chân dung, danh tính cuộc đời của cha tôi đã được khắc họa tương đối đầy đủ, rõ nét. Một lần nữa và mãi mãi những người thân của cha tôi xin trân trọng cảm ơn Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Sứ quán và Hội Hữu nghị của hai nước Việt Nam, Trung Quốc, các nhà khoa học, sử học, Họ Vũ Việt Nam, các nhà văn, nhà báo ở Việt Nam và Trung Quốc, các cựu Thiếu sinh quân, bạn bè, nhà xuất bản, đài truyền hình, đoàn làm phim và tất cả độc giả.

  Năm nay, kỷ niệm 50 năm ngày cha tôi về với thế giới người hiền (21-10-1956 - 21-10-2006), Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản cuốn sách với tựa đề"Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc Tướng quân" là một lần nữa tôi được viết thêm những dòng mà hơn chục năm qua, chúng tôi chưa có dịp bày tỏ quanh việc làm sách, làm phim và tiếp nhận các tài liệu về cha tôi.

  Ngày 31-12-1993, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam kỷ niệm 85 năm ngày sinh Tướng Nguyễn Sơn, hội trường lớn của Bảo tàng Cách mạng chật ních. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến dự và bài phát biểu của Đại tướng được nhiều tác giả khai thác làm đề từ cho các bài báo và sách viết về Nguyễn Sơn. Giáo sư Đinh Xuân Lâm, nhà sử học Dương Trung Quốc, giáo sư Phan Huy Lê, giáo sư Phạm Xanh, tiến sỹ sử học Nguyễn Văn Khoan và nhiều nhà khoa học đã tham luận về đóng góp của Tướng Sơn trong cuộc Cách mạng của dân tộc. Các đồng đội, các Thiếu sinh quân như chú Hoàng Minh Phương, chú Nguyễn Khắc Huỳnh, bác gái Phạm Kiệt, họa sỹ Phạm Văn Đôn, chú Trần Hồng Lạc, chú Cao Bá Sanh (nguyên Trưởng ban tác chiến Liên khu IV)... cùng nhiều con cháu gia tộc họ Vũ đã có bài phát biểu.

  Giờ giải lao, các cựu Thiếu sinh quân Liên khu IV ngồi góc hội trường hát vang bài "Râu Bác Sơn" - bài hát nhiều năm nằm trong lòng các "lão vệ nhí". Hôm đó anh chị em chúng tôi quá xúc động, không biết nói gì chỉ có nước mắt tuôn trào, chúng tôi chưa dám nghĩ có một buổi tưởng niệm tình cảm chân thành, sâu sắc như vậy, bởi từ sau ngày cha tôi mất, việc đánh giá rất dè dặt, không ít người e ngại nhắc đến ông, như trường hợp chúng tôi có tiếp một lão chiến sỹ, ông kể chuyện về cha tôi say sưa, đề nghị chúng tôi ký tên vào những bức ảnh mà ông lưu giữ. Nhân dịp làm sách chúng tôi mời ông cộng tác, ông từ chối và từ đó cũng không đến nhà chúng tôi nữa.

  Sau lễ tưởng niệm, với sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu, và sự ủng hộ nhiệt tình của Ban giám đốc, Ban biên tập Nhà xuất bản Lao Động, cuốn sách Tướng Nguyễn Sơn" được xuất bản. ấn phẩm được bạn đọc đón nhận và góp thêm tư liệu để năm 1995 cuốn sách thứ hai có tên "Lưỡng quốc Tướng quân" được xuất bản.

  Năm 1996, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam có phong trào góp một giọt đồng đúc tượng danh nhân, tượng đồng Tướng Nguyễn Sơn do nhà điêu khắc Tạ Duy Đoán thể hiện có mái tóc bồng bềnh, đầu hơi nghiêng, mắt liếc ngang với nụ cười hóm. Gia đình chúng tôi cùng một số cựu Thiếu sinh quân Liên khu IV xin phép Hội Khoa học lịch sử đúc thêm tượng cha tôi. Chúng tôi tổ chức rước tượng về nhà với nghi thức giản dị nhưng trang trọng, hôm đó có đông đảo học sinh, đồng đội của bố tôi và vợ chồng đại tá tùy viên quân sự Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam cùng dự lễ.

  Năm 2001, nhân ngày giỗ lần thứ 45 của cha tôi, được lời mời của Phó Chủ tịch Quân ủy Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trì Hạo Điền, tất cả 6 chị em chúng tôi đã sang Trung Quốc dự lễ trao tặng tượng đồng Tướng Nguyễn Sơn do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tặng Bảo tàng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. 9 giờ sáng ngày 21-10-2001 tại Bảo tàng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, lễ tiếp nhận tượng được tổ chức long trọng. Mẹ Trần Kiếm Qua và các anh chị Hàn Phong, Tiểu Việt, Lâm Song Song, Lý Vân Khởi đều đến dự. Có đến gần 100 khách, ông Hàn Thủ Văn, Trung tướng Nhiếp Lệ (con gái Nguyên soái Nhiếp Vĩnh Trăn), Trung tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thiếu tướng Giám đốc bảo tàng, con gái các ông Lý Phú Xuân, ông La Quý Ba, con trai Nguyên soái Chu Đức, các lão Hồng quân, nhiều quan khách cùng các phóng viên đài, báo, truyền hình. Sau lời tuyên bố lý do, giới thiệu khách dự, là phần trao tượng. Bức màn đỏ phủ tượng vừa mở ra, bà Nhiếp Lệ chủ động hô tất cả nghiêm lạy 3 lạy. Chị em chúng tôi nghiêm lạy trong dòng nước mắt. Kết thúc những người dự lễ về phía bạn đều có danh thiếp để chúng tôi ký tên, còn chúng tôi thì ngơ ngẩn tiếc vì không biết chuẩn bị gì để giữ mãi kỷ niệm cùng các vị khách trong một ngày đặc biệt thế này.

  Hơn mười năm kể từ khi cuốn "Tướng Nguyễn Sơn" xuất bản, qua các kênh thông tin báo, đài, truyền hình, tạp chí... bạn đọc trên các vùng miền Tổ quốc có điều kiện hiểu biết về cha tôi nhiều hơn. Có nhiều chuyện làm tôi cảm động, như trường hợp bác thợ cắt tóc Cao Văn Tuế ở chợ Bưởi đã tặng gia đình tôi hai câu đối thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ Nguyễn Sơn: Chí tráng Sơn Hà lưỡng quốc tạc / Danh truyền sử sách thiên thư lưu. Nhận được câu đối chị em chúng tôi mời bác Tuế cùng xuống Nghĩa trang Mai Dịch. Trước mộ Tướng Sơn, bác Tuế đọc đôi câu đối sau đó hóa trước mộ với hy vọng Tướng quân cảm nhận được.

  Năm 1999, Bảo tàng Quân đội có triển lãm tranh nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Họa sỹ Ngô Đồng (Tp Hồ Chí Minh) có bức tranh sơn dầu khổ lớn (98x109) mang tựa đề "Ông tướng huyền thoại" - với mái tóc bồng, miệng ngậm tẩu. Gương mặt ông tướng được thể hiện màu đồng nổi bật trên nền bức tranh đỏ sẫm. Dọc 2 bên bức tranh là đôi câu đối của bác Cao Văn Tuế. Bức tranh đoạt giải khuyến khích của Ban tổ chức. Sau triển lãm họa sỹ Ngô Đồng đã tặng lại chị em tôi bức tranh. Hằng ngày, ngắm nhìn cha tôi với đôi mắt sáng vừa nghiêm khắc vừa thân thương như nhắc nhở động viên con cháu lao động, sống xứng đáng với thế hệ ông cha - cán bộ quân đội nhân dân. Bác thợ cắt tóc Cao Văn Tuế thường xuyên đến ngắm bức tranh và cảm động vì đôi câu đối của bác đã được họa sỹ thể hiện trên tranh. Bác Tuế kể lại bác đã ngắm bức tranh ngay từ ngày đầu cuộc triển lãm, một hôm bác nghe tin bức tranh không còn trưng bày nữa, bác tất tưởi đạp xe đến Bảo tàng, không may trên đường bị xe máy va vào ngã, tuy rất đau bác vẫn vội vã dắt xe lên đi tiếp như sợ đến chậm sẽ không còn dịp gặp "ông tướng" trong tranh, nhưng đến nơi bức tranh vẫn nguyên vị, bác vui vẻ quên cả đau.

  Kỷ niệm 50 năm ngày hai nước Trung - Việt thiết lập quan hệ ngoại giao, Nhà xuất bản Thế Giới đương đại phát hành cuốn "Hoàng Hà tình, Hồng Hà luyến". Cuốn sách là hồi ức của Mẹ Trần Kiếm Qua về cuộc kháng Nhật của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mà Ngọc Anh và Hồng Thủy tham gia, trong gian khổ chiến đấu mối tình của họ nảy nở, kết duyên vợ chồng. Nửa thế kỷ đã qua, xúc cảm của Mẹ Trần về cuộc trường chinh, về tướng quân họ Nguyễn vẫn như nguyên vẹn. Nhà văn Châu Yến đã giúp đỡ tác giả rất nhiều để hoàn thành bản thảo. Chồng của nhà văn Châu Yến là cán bộ quân đội, ông ngoại của nhà văn đã cùng làm việc với Tướng quân Hồng Thủy tại Diên An. Khi "Hoàng Hà tình, Hồng Hà luyến" đến với bạn đọc, nhiều độc giả Trung Quốc đọc trong nước mắt, nhà xuất bản và tác giả nhận được tới 6 vạn bức thư của bạn đọc gửi tới bày tỏ lòng ngưỡng mộ, báo chí đăng tin, chương trình phát thanh quốc tế buổi tiếng Việt của Đài phát thanh Trung Quốc đã đọc toàn bộ tác phẩm. Tại Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại gọi Tướng Nguyễn Sơn bằng bác, đã dịch toàn bộ tác phẩm ra tiếng Việt. Tướng Nguyễn Đồng Thoại rất giỏi tiếng Trung, là người tài hoa, thích hát và rất thương cán bộ, chiến sĩ, trong Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu mọi người đánh giá ông là tướng chiến lược.

  Cuối năm 2001, đại diện của Đài truyền hình Vân Nam Trung Quốc, đạo diễn Chử Gia Hoa và đại diện Công ty nghe nhìn Đài truyền hình Hà Nội là các anh Kiểm, anh Bình, đã gặp gia đình chúng tôi thông báo kế hoạch làm bộ phim tư liệu dài về Tướng quân Nguyễn Sơn. Đoàn làm phim đề nghị gia đình cộng tác những ngày đoàn làm phim tại Việt Nam. Ngày bộ phim khởi quay, đạo diễn Chử Gia Hoa nói với tôi: "Tại sao chị không cho cháu Thu làm phiên dịch cho đoàn?". Tôi trả lời: "Được theo đoàn đi làm phim về ông ngoại cháu là điều rất vinh dự, chỉ có điều không biết cháu có đáp ứng được yêu cầu của đạo diễn không?" Và cháu Hà Thị Trường Thu đã trở thành phiên dịch cho đoàn làm phim đi suốt dọc chiều dài đất nước. Đi theo đoàn làm phim, sau khi về cháu Thu kể rất nhiều chuyện, nhưng tôi nhớ nhất là cứ đến nơi nào khổ quá, đạo diễn Hoa lại đùa: "Ông ngoại mi thật "dại", đang sống trong gia đình sung sướng như vậy mà không yên, lại đến những nơi gian khổ thế này để làm cách mạng. Bây giờ chúng mình đi lại để làm phim cũng bị "khổ lây".

  Sau nhiều ngày lao động vất vả, làm việc cả vào những ngày Tết cổ truyền của dân tộc, 4 tập của bộ phim đã hoàn thành và được công chiếu rộng rãi. Chị em chúng tôi rất cảm động và tự hào về người cha kính yêu dù Người đã ra đi từ lúc chúng tôi còn quá bé để hiểu về ông.

  Thưa toàn thể các bác, các chú, các bạn đọc đang có cuốn sách "Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc Tướng quân" trong tay, xin thay mặt các anh chị em, con cháu của tướng Nguyễn Sơn cùng gia tộc họ Vũ một lần nữa xin cảm tạ, xin ghi nhận thịnh tình của các bác, các chú và bạn đọc đã quan tâm, giúp đỡ và cộng tác để hình ảnh cha chúng tôi được lưu truyền cùng hậu thế.

  Xin kính chúc sức khỏe các bác, các chú và bạn đọc.

  Trân trọng cảm ơn.

Thay mặt các con của Tướng Nguyễn Sơn

Con gái
Nguyễn Thanh Hà


Tiêu đề: Re: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân
Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:56:32 PM
Tóm tắt tiểu sử tướng Nguyễn Sơn

Năm1908 Ngày 1-10, Vũ Nguyên Bác (sau này là Hồng Thủy, Nguyễn Sơn) chào đời tại phố Yên Ninh, Hà Nội (nay thuộc phường Quán Thánh, quận Ba Đình) trong một gia đình có 6 anh chị em (năm trai, một gái). Vũ Nguyên Bác là con thứ 4. Chính quê là làng Kiêu Kỵ - làng có nghề làm "quỳ" dát vàng - trước thuộc Gia Lâm, Bắc Ninh nay thuộc Hà Nội.

1915 Học Trường tiểu học Đỗ Hữu Vị, học chung với trẻ con Pháp và học sinh theo đạo Thiên chúa. Hết cấp, được chuyển sang học tại Trường sư phạm nội trú Hà Nội.

1924 Lập gia đình. Năm sau sinh con gái đầu lòng. Chịu ảnh hưởng của bố và bạn bè của bố tham gia, liên quan đến vụ "Hà thành đầu độc", được nghe mẹ kể chuyện, thơ văn yêu nước, Vũ Nguyên Bác đã tham gia "Hội kín" do một báo vụ viên tên là Kim Thanh tuyên truyền, kết nạp vào Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội.

Khoảng cuối 1925 - đầu 1926 Cùng với Bàng Thống (Tự Chính) được Nguyễn Công Thu, giao thông của Nguyễn Ái Quốc đưa đường sang Quảng Châu (Trung Quốc) vào học lớp "chính trị đặc biệt".

  Bắt đầu học tiếng Trung Quốc. Trong khoá học đã được tiếp xúc với Chu Ân Lai, Bành Bái (cán bộ lãnh đạo cách mạng Trung Quốc), Bôrôđin (phái viên của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô).

1926 Vào học Trường Hoàng Phố, trường quân sự do Tôn Trung Sơn mở với sự giúp đỡ giảng dạy, đào tạo của các cố vấn Liên Xô.

1927 Tháng 8 - vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.
            Tháng 12 - tham gia Quảng Châu khởi nghĩa bị lộ, rời Quảng Châu nhận công tác ở địa phương.

1929 Tới khu du kích Đông Giang (phía Tây Quảng Châu) được Đảng Cộng sản Trung Quốc bổ nhiệm giữ chức vụ Chính trị viên đại đội Trung đoàn 47 Hồng Quân Trung Hoa, chỉ huy đại đội đánh nhiều trận ở Nga Phu, Xích Thanh, Hoàng Xa.

  Đổi tên mới là "Hồng Thủy".

1931 Được điều động nhận nhiệm vụ Chính ủy Trung đoàn 102, rồi Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12 Hồng Quân, khi đó ông mới 23 tuổi.

  Cuối năm, được cử làm Trưởng phòng tuyên truyền văn hoá - Câu lạc bộ nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo viên chính trị... tại Trường quân chính Trung ương của Hồng Quân.

1932 Thành lập "Công nông kịch đoàn", sắm vai chính trong vở kịch "Ngọn lửa Thượng Hải", trình diễn tại khu căn cứ Thụy Kim, được nhân dân và các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, Hạng Anh... nhiệt liệt hoan nghênh.

1934

  Tháng 1: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, được bầu làm uỷ viên Trung ương cùng với Tốt Sỹ Đệ (người Triều Tiên) là hai đại biểu "dân tộc ít người" duy nhất được bầu.

  Cuối năm: Do để mất 20 (hai mươi) đồng "ngân phiếu Công nông" (tiền lưu hành trong khu căn cứ), Hồng Thủy bị khai trừ Đảng, về Trường Đảng làm giáo viên, thuộc quyền của Hiệu trưởng Đổng Tất Vũ. Ít lâu sau đó được phục hồi.
 
  Được Chu Đức và Lưu Bá Thừa chỉ định vào "Đội trực thuộc", chính ủy viên chi bộ thuộc Trung đoàn cán bộ đỏ do Trần Canh chỉ huy, cùng với 30 vạn Hồng Quân rời khu Xô Viết Giang Tây, "trường chinh"...

1935 Bị Trương Quốc Đào vu cho là "gián điệp quốc tế" nên phải ra Đảng lần thứ 2.

1936 Tại Diên An, được đưa về làm giáo viên Trường quân chính Hồng Quân, Hiệu trưởng Lưu Bá Thừa đã bác bỏ quyết định khai trừ Hồng Thủy, ra quyết định mới phục hồi Đảng tịch.

1937 Hồng Thủy rời Trường Quân chính Hồng Quân, tới nhận nhiệm vụ tại Cục Chính trị Bát Lộ quân do Nhiệm Bật Thời làm chủ nhiệm và Đặng Tiểu Bình, phó chủ nhiệm Cục, đi xây dựng căn cứ chống Nhật ở Ngũ Đài Sơn.

1938 Lập gia đình với Trần Ngọc Anh, quê Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Hội trưởng Hội phụ nữ huyện Ngũ Đài, Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hồng Thủy đã đổi tên Trần Ngọc Anh thành "Kiếm Qua".

  Bị Diêm Tích Sơn "địa chủ, lãnh chúa" ở Sơn Tây, bấy giờ tham gia vào Mặt trận thống nhất vu cáo, đả kích, Đảng bộ Ngũ Đài Sơn khai trừ Hồng Thủy ra khỏi Đảng, chuyển về Trường Quân chính Hồng Quân. Tại trường, cuối năm, Hồng Thủy được khôi phục Đảng tịch.

1939 Uỷ viên biên tập báo "Kháng địch" của Quân đoàn Tấn-Sát-Ký (thuộc 3 tỉnh Sơn Tây-Hà Bắc-Sát Cáp Nhĩ) rồi Phó chủ nhiệm
báo này.
 
1941 Trên đường hành quân chống lại cuộc tấn công của Nhật vào khu Tấn-Sát-Ký, khi Hồng Thủy đang ở đơn vị, Kiếm Qua sinh con gái "Phong Ba" vào ngày 1-10 trong một hang đá lạnh. Sáu tháng sau, do viêm phổi, Phong Ba đã chết.

1943 Tháng 4: Hồng Thủy và Kiếm Qua được điều động về Diên An tham gia chỉnh phong ở phân hiệu 2 Trường Đảng Trung ương, sau đó nhận công tác tại Diên An.

1944 Kiếm Qua sinh con trai, được Hồng Thủy đặt tên là "Hàn Phong".

1945 Hồng Thủy chia tay với Kiếm Qua, khi đó bà đang có mang - sau này sinh bé trai thứ 2 tên là "Tiểu Việt" - trên bờ sông Diệu Thủy - Diên An để trở về Việt Nam.

Từ 1946 đến 1950
   
  Với tên mới, Nguyễn Sơn được giao các nhiệm vụ "Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam, kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung bộ", Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng, Hiệu trưởng Trường lục quân Quảng Ngãi, Khu trưởng Chiến khu IV,...
   
  Trong khoảng thời gian này, Nguyễn Sơn đã kết hôn với Huỳnh Thị Ngọc Lan (năm 1947 - sau đó mất liên lạc). Hai người được một con gái tên đặt là Mai Lâm. Mai Lâm đã được gia đình ông bà Hồ Học Lãm nuôi cho tới 1956.

  Cuối năm 1948, Nguyễn Sơn lập gia đình với Lê Hằng Huân và sinh được 4 người con là: Hà, Cường, Hồng, Hằng.
   
  Ngày 20-1-1948, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh phong Nguyễn Sơn quân hàm Thiếu tướng.

1950 Nguyễn Sơn trở lại Trung Quốc, công tác tại Bộ Tổng tham mưu giải phóng quân.

1955 Tháng 9: Tổng lý Quốc vụ viện (Thủ tướng Chính phủ) Trung Quốc Chu Ân Lai ký lệnh trao quân hàm "Thiếu tướng cho Hồng Thủy, Xã trưởng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Huấn luyện chiến đấu".

1956

  Đầu năm: Do nhiều năm chiến đấu gian khổ, Nguyễn Sơn mắc bệnh hiểm nghèo, được đưa vào Viện quân y mổ phổi dưới sự giám sát của Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và đã phát hiện có khối u.

  Tháng 9, ngày 27: Sau khi được Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Bành Đức Hoài tiếp thân mật, đồng ý để Nguyễn Sơn về nước, thu xếp cho Nguyễn Sơn một toa xe hoả riêng có 2 bác sĩ đi cùng, cấp cho Nguyễn Sơn ba mươi ngàn nhân dân tệ, Nguyễn Sơn lên ga Bắc Kinh trong sự lưu luyến chân thành tiễn chân của hơn 200 cán bộ cao cấp quân đội, ngoại giao, bạn bè Trung Quốc.

  Tháng 9, ngày 30: Nguyễn Sơn về đến Hà Nội, ở tại ngôi nhà hai tầng đầu phố Lý Nam Đế. Trong ngày, Nguyễn Sơn được lệnh của Bác Hồ "ngày mai Bác muốn gặp chú Sơn".

  Tháng 10, ngày 9: Nguyễn Sơn vào điều trị tại Bệnh viện Việt-Xô (nay là Bệnh viện Hữu Nghị).

  Tháng 10, ngày 21, 9 giờ sáng: Nguyễn Sơn đang nói chuyện với bà Hồ Học Lãm thì bị cơn sốc, khó thở. Các bác sĩ Việt Nam, Liên Xô hết lòng cấp cứu, nhưng đến 15 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Sơn đã "ra đi".

  Tháng 10, ngày 22; Lễ tang Nguyễn Sơn được tổ chức long trọng tại Hà Nội.



HẾT