Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:09:24 PM



Tiêu đề: Trên con đường không cột số - Lam Giang
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:09:24 PM
Tác giả: Lam Giang
Nhà xuất bản: Trẻ
Năm xuất bản: 2004
Số hoá: ptlinh


Đường tới cửa rừng

Những điều tôi sắp kể giống như một chuyến đi kì lạ nhất mà dấu ấn của nó để lại đã trở thành chứng tích của thời gian. Chuyện về con đường “một đi không trở lại” ấy bắt đầu từ một làng quê có cái tên thô mộc ngắn gọn độc mỗi chữ Ho.


Làng Ho. Không ngờ cái địa danh ít người biết đến ấy nằm chon von cuối miền đất Quảng Bình lại là điểm cuối cùng của đường dây miền Bắc, nơi chúng tôi thật sự bắt đầu bước vào cuộc hành trình có một không hai trong lịch sử. Lớp trước chúng tôi vài chục năm đã có một cuộc Nam tiến lừng danh nhưng qui mô và thử thách không thể sánh bằng cuộc hành trình đi cứu nước hôm nay. Chiến trường miền Nam là cái đích chúng tôi phải đến. Hai tiếng “miền Nam” lúc đó là cái “biển báo chiến tranh" của toàn thế giới.


Từ đây đối với chúng tôi chỉ còn rừng núi, suối khe, đèo dốc, cây cối, thú rừng, trời mây, sông nước… làm bạn đồng hành.

Đã hơn ba mươi năm, làng Ho trở thành “điểm nhớ” trong tôi và biết bao đồng đội từng đặt chân qua đó. Những kỷ niệm nung nấu suốt một thời đã khắc sâu vào tâm khảm con người, mà năm tháng dẫu qua đi cũng không thể làm ta phai nhạt nguôi quên.


Đoàn 308, tên gọi nguỵ trang của trung đoàn 52, Sư đoàn 320 chính quy, rời khỏi làng Ho, đi vào cửa ngõ Trường Sơn tháng 3 năm 1966. Trước đó, đoàn người đã “ngốn” hết quãng đường trên nửa ngàn cây số từ Kim Bôi, Hạ Bi (Hoà Bình) tới đây bằng cả tháng trời cuốc bộ dằng dặc, được coi như là chuyến thực tập dài ngày nhất chuẩn bị cho cuộc hành trình vạn dặm vượt Trường Sơn.


Tôi ở đại đội trợ chiến cối 82 ly mang phiên hiệu C.17 trực thuộc trung đoàn, làm trinh sát pháo binh kiêm liên lạc cho trung uý đại đội trưởng Nguyễn Văn Ty, trung uý chính trị viên Nguyễn Hoàng, chuẩn uý phó chính trị viên Lý Thế Vinh và thiếu uý đại đội phó Nguyễn Vân. Đại đội 17 là đơn vị “Quyết thắng” của toàn quân rất xuất sắc trong xây dựng và huấn luyện ở miền Bắc. Tháng 3 năm 1965, khi tôi nhập ngũ vào C.17 cho đến ngày được lệnh đi Nam đã chứng kiến, chưa đầy một năm mà đơn vị nổi như cồn về mọi mặt, báo đài thường xuyên nhắc tới. Thành tích này có một phần công lao của chính trị viên Nguyễn Hoành, người duy nhất quê ở miền Nam (Bến Tre) trong bộ tứ chỉ huy C.17. Ông ngoài 30 tuổi, người đô con khoẻ mạnh, có năng lực động viên, khai thác tiềm năng của đơn vị ở mức độ cao, nhưng có nhược điểm là lắm lúc tác phong gia trưởng, lấn lướt cán bộ cùng vai vế. Ở ông cá tính bộc lộ mạnh mẽ, là cán bộ chính trị mà có khi trở thành”Trương Phi”. Lúc không kìm được nóng giận là bùng lên cơn thịnh nộ tưởng chừng “ăn tươi nuốt sống” kẻ khác. Tôi nhớ có lần đơn vị dã ngoại ở một bản Mường tỉnh Hoà Bình, ông sấn sổ lao vào định “chơi” ông Phát, đại đội trưởng C.16, cũng là đơn vị hoả lực trợ chiến của trung đoàn. Ông Phát người thấp nhỏ, mặt tái xanh, bước lùi trước ông Hoành cao lớn như hộ pháp mặt đỏ tía, trông đến tội nghiệp.


Sau những giây phút mất tự chủ, ông Hoành lại trở về với bản thể của mình: chân thành, vị tha, cởi mở… với vẻ hối hận, ông cười nói với bọn tôi: “Mình vô lý quá, thằng Phát nó cũng chẳng có gì đáng tội. Mình chỉ tức hắn nói mình địa phương chủ nghĩa. Có lẽ mình phải kiếm chút gì nhậu để xin lỗi cậu ta…”. Đúng là “chưa đánh được người mặt đỏ như vang, đánh được người rồi mặt vàng như nghệ”. Dù có được cấp trên ưu ái, ông Hoành cũng thấy việc làm ấy là hạ sách đối với một cán bộ chính trị viên đang dược trung đoàn chú ý như ông. Sự việc “nổi đình đám” nhưng trung đoàn chỉ rầy qua loa. Thiếu tá Biền trung đoàn trưởng và thiếu tá Chức chính uỷ quê ở miền Bắc xử sự bình tĩnh, bao dung khiến ông Hoành hối lỗi soi xét lại mình. Trong trung đoàn, hai ông là người đức độ, mực thước, được cán bộ, chiến sĩ hết lòng kính phục. Là lính nhưng tôi rất cảm tình với hai ông, và dường như thời ấy, quân đội ta, cán bộ hầu hết là những người như ông Chức, ông Biền. Bây giờ các ông đã là “lớp nười xưa nay hiếm” cả rồi. Và hình như ông Biền “an nghỉ” ở quân hàm cấp tướng.


Phó chính trị viên Lý Thế Binh trước ngày đi B (chiến trường miền Nam) còn là binh nhất, làm pháo thủ số 1, đùng một cái nhảy lên chuẩn uý, giữ chức phó cho ông Hoành. Anh là nhân vật triển vọng kế vị đệ nhất chính trị đại đội. Trước khi mặc áo lính, Vinh đã là đảng viên, bí thư chi bộ một xã ở Hà Tây. Vào bộ đội anh phát huy được sở trường thế mạnh và lên như diều. Vinh là người có năng lực và phẩm chất tốt, đặc biệt là có khiếu công tác chính trị. Chính anh đã dùng dao rạch tay mình lấy máu viết đơn xin vào Nam chiến đấu trong một đêm diễn đàn của đại đội, khiến mọi người phải một phen kinh hoàng. Ngày ấy báo chí nói nhiều về chuyện nhiều người tự lấy máu viết đơn xin đi chiến đấu. Khi tận mắt chứng kiến hành động dứt khoát của bí thư chi đoàn, tôi cảm thấy không khí sinh hoạt “bốc” hẳn lên.


Đại đội trưởng Ty quê ở Thái Bình là thủ trưởng quân chính hiền lành, điềm đạm, ít nói, làm việc chắc chắn nhưng có khi chậm chạp rề rà bị thủ trưởng Hoành cằn nhằn. Lúc quá lắm, ông Ty mới cự lại ông Hoành. Đại thể là: “Anh đừng nói quá… tôi đâu muốn thế… chỉ láy nữa là xong thôi…”.


Ông Hoành hay “hiếp đáp” ông Ty như vậy nhưng lại rất thương và tôn trọng ông Ty. Ông Ty biết thế nên chẳng bao giờ chấp nhặt. Đức tính đó càng tôn ông Ty lên cao. Đại đội phó Vân là người thủ phận, tránh va chạm với ba người kia trong ban chỉ huy. Mà trình độ cũng chỉ đến thế, không làm sao “phát sáng” như ông Vinh được. Ngày gần đi Nam, anh được trên điều về C.17, nhưng đã nhanh chóng hoà nhập được với đại đội. Có chuyện nực cười là nốt nhạc bẻ đôi không biết nhưng anh được phân công vác cây đàn ghita trầy trụa, sai dây, do hành quân lâu ngày, chẳng ai sờ tới, y như cái của nợ, khi vào rừng Trường Sơn độ một tháng, anh quẳng nó từ lúc nào cũng chẳng ai biết nữa. Tuy vậy trong cuộc hành quân vĩ đại này, anh có một vai trò đặc biệt quan trọng của cấp phó là “bao đuôi đội hình đại đội".


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:10:34 PM
Tính từ khi xuất phát hành quân vào Nam cho tới làng Ho, C.17 coi như chưa có gì sứt mẻ đáng kể so với toàn Đoàn 308 kéo dài như rồng rắn trên đường dây, mà lai rai đơn vị nào cũng có người “đi B ngược” hay còn gọi hài hước là “bê quay”. Chỉ có một trường hợp duy nhất là H, chiến sĩ trung đội 1 biến mất ở quãng Hà Tĩnh. Đại đội đã cho người quay lại một ngày đường nhưng không tìm được anh ta. Chính trị viên Hoành đành rút tập giấy thông báo đào ngũ “lưu không” ra, viết tên tuổi, quê quán… gửi về địa phương. Có lẽ không còn biện pháp nào tối ưu trong hoàn cảnh này. Những “thất thoát” này cấp trên đã trù liệu nhưng rơi vào C.17 là quá sớm, gây một cú sốc cho cả đơn vị khi đã vào cuộc ngon trớn.


Nhưng có một trường hợp nghiêm trọng nhất đối với đại đội 17 lại thời điểm hết sức quan trọng là đơn vị nhận lệnh đi B vào tháng 1 năm 1966. Lúc đó trung đoàn đang đóng quân dã ngoại ở Hưng Yên. Chúng tôi đinh ninh sẽ sinh hoạt, tập luyện ổn định ở đây một thời gian dài thì tự nhiên đảo lộn tất cả. Trung đoàn 52 được lệnh vào Nam chiến đấu. Đang trong không khí phấn khởi chộn rộn chuẩn bị đón tết với đồng bào địa phương, tin ấy làm mọi người chưng hửng. Đơn vị phổ biến nhiệm vụ tối mật và cho tất cả về nhà ăn tết với gia đình. Sau tết tập trung đúng giờ ở địa điểm quy định để đến vị trí bí mật rèn luyện thể lực và làm công chuẩn bị trước khi vào Nam. Nhưng đầu tháng giêng âm lịch, khi cán bộ chiến sĩ đã tề tựu đông đủ ở Kim Bôi-Hạ Bì làm lán trại tập căn cứ rèn luyện chuẩn bị đi B giữa vùng núi đá nhấp nhô thì thiếu hạ sĩ Ch, đảng viên. Sự chậm trễ này không thể chấp nhận, vì Ch. Là đảng viên, một trong những trụ cột của đơn vị, đáng lý phải có mặt trả phép sớm nhất. Cả đại đội hơn 120 người, chi bộ có mười đảng viên. Anh thuộc dạng hiếm hoi, lính trơn như tôi còn lâu mới được thế.


Mấy hôm sau tôi nghe chính trị viên Hoành nói với ông Ty là Ch. Đào ngũ vì sợ phải vào Nam chiến đấu. Chúng tôi ai cũng ngạc nhiên đến mức không tin được. Đơn vị cử cán bộ về quê Ch. tìm hiểu vấn đề và kiên quyết đưa anh trở lại đại đội. Nhưng khi đến nhà, anh ta trốn trong buồng. Bên ngoài, cán bộ thuyết phục gia đình. Vợ Ch. nói ngay thật:

-Tôi cũng khuyên anh ấy cứ đi với anh em vào Nam, nhưng anh nhất định bỏ đơn vị. Mẹ tôi cũng giảng giải rằng: đánh nhau có chết chóc nhưng không phải ai cũng chết hết, nhưng anh ấy vẫn nhất quyết không chịu đi.

Ý định trốn ngũ của Ch. để khỏi đi Nam đã rõ. Anh ta tìm mọi cách để trì néo với đơn vị và chính quyền. Vì thế, tổ cán bộ đi giải quyết việc của Ch. trở về tay không. Chuyện đi “thuyết khách” đối với người đảng viên, ban chỉ huy đại đội không đặt thành vấn đề nữa và báo cáo lên Đảng uỷ trung đoàn xin ý kiến xử lý. Đêm đó nằm trong lán tôi lén nghe chi bộ họp quyết định xoá tên Ch. trong danh sách đảng viên.


Tôi nghe lạnh người và thao thức suy nghĩ về quyết định ấy, giống như bản án đối với con người hèn nhát. Là đảng viên sao anh ta tồi tệ thế! Là người thanh niên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc, trong khí thế cả nước lên đường đánh Mỹ, mới nghe nói đi Nam chiến đấu mà bỏ trốn về nhà thì còn mặt mũi nào nhìn bà con chòm xóm, bạn bề. Chuyện một đảng viên đào ngũ, khi ấy nghe hoang đường như lại là chuyện có thật xảy ra ở C.17 Quyết thắng. Ông Hoành cay đắng không tả được. Hình ảnh bạc nhược đớn hèn của Ch. đối nghịch lạ những câu thơ “nằm lòng” của chúng tôi lúc đó:

Đi chiến đấu là niềm vui bất tận
Là mặt trời toả sáng nhuộm đời xuân
.

Ngoài trường hợp đào ngũ của Ch. tiếp theo là hai trường hợp rơi rụng sớm nhất là Tuỳ và Mạc, khi đơn vị đến địa phận Quảng Bình, gần hết đường dây miền Bắc. Một cậu bị lên bướu cổ sưng tấy trông rất sợ. Cậu kia cơ thể suy nhược, người còm nhom như ông cụ. Cả hai đều quyết tâm đi giải phóng nhưng “lực bất tòng tâm” đành phải lưu luyến chia tay đồng đội đang lúc tràn đầy khí thế hành quân… Lúc này Đoàn 308 đã đi được một chặng dài và bắt đầu đối diện với đồi núi phía tây Quảng Bình.


Hai người đều có giấy chứng nhận trở lại đơn vị. Ai cũng tiếc cho hai chàng trai trẻ bỏ dở cuộc hành trình ngay ở chặng đầu.

Đây mới chỉ là khúc dạo đầu về sự hao hụt quân số. Đúng là khi còn dễ dàng sung mãn mọi thứ, nhất là sức khoẻ, ít ai nghĩ đến những “biến cố” phức tạp về sau. Bệnh thành tích, thiếu tôn trọng thực tế khách quan bước đầu có đất dụng võ. Hậu quả của sự thiếu tư duy khoa học đã phải trả giá đắt bằng sinh mạng nhiều cán bộ chiến sĩ, chứ không phải khuyết điểm chung chung.


Tất cả vẫn háo hức tiến về phía trước với một ý chí sắt đá trong một khối tổ chức chặt chẽ từ đầu đến cuối đội hình. Công tác động viên chính trị kịp thời cùng với sự cung ứng vật chất dọc đường làm tăng thêm sức mạn của đoàn quân. Đêm đi, ngày nghỉ. Bước chân người lính rầm rập trên con đường bí mật phía tây Tổ quốc.


Giai đoạn này được coi như thử nghiệm rèn luyện sức dẻo dai bền bỉ và bồi dưỡng thể lực chuẩn bị cho giai đoạn vượt núi băng rừng đầy thử thách cam go phía trước, mặc dù chưa ai hình dung đường đi sẽ ra sao, chỉ mường tượng rằng nó sẽ rất khó khăn nhưng không thể khuất phục được sức trẻ, khuất phục được trung đoàn. Theo chủ nhiệm chính trị trung đoàn thì “đường Trường Sơn cũng giống như đường đồi núi Hoà Bình mà các đồng chí đã thực tập rèn luyện năm ngoái. Đi bộ ba tháng là ta đến chiến trường miền Nam…”. Nghe thế mọi người đều yên tâm và thích thú, mong được thử sức với khó khăn. Đối với lính trẻ thì ba tháng trời có đáng là bao…


Một tháng hành quân trên đường miền Bắc tương đối bằng phẳng lại hầu hết đi qua các làng, bản có các trạm tiếp tế dọc hành lang, coi như chưa có gì để thử thách đối với Đoàn 308. Tuy nhiên vì là hành quân “thực binh” mang vác nặng đầy đủ vũ khí, quân trang quân dụng thì không thể không gian khổ. Một ngày đi khoảng 25 đến 30 kilômét. Lính ta mướt mồ hôi, vai rêm, người đau nhừ. Ai nấy lòng bàn chân dộp phòng lên, mọng nước, phải xỏ sợi chỉ qua chỗ mọng cho nó xẹp đi, hôm sau mới hành quân được. Mỗi sáng mai ngủ dậy nghe mình mẩy đau nhức, đi đứng khó khăn, nhưng khi mang ba lô hành quân một quãng thì đâu lại vào đó, bước đi bình thường, giống như cầu thủ bóng đá, khi ra sân là quên mọi đau đớn chấn thương.


Đây là một tháng đầy ắp kỷ niệm về tình quân dân, bộ đội được tiếp xúc với những phong cảnh thiên nhiên đầy mới lạ. Để giữ bí mật chúng tôi hầu như chỉ đi ban đêm, vì địch đang tập trung theo dõi các sư đoàn miền Bắc di chuyển về phía Nam. Mỗi chiều, khi hoàng hôn xuống, mọi người hành lý gọn gàng ra trục đường nối ráp vào đội hình theo một mệnh lệnh thống nhất và xuất phát. Chỉ một lúc đã chìm trong bóng tối. Thỉnh thoảng đoàn mới rời các bản hẻo lánh vào lúc còn mặt trời. Mỗi lần như thế, chúng tôi bâng khuâng từ giã một xóm làng xa lạ chưa kịp thân quen. Chưa bao giờ người lính lại có nhiều cuộc chia tay như trên con đường không số này.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:11:11 PM
Con đường chuyển quân được các nhà quân sự vạch ra với ý đồ chiến lược lâu dài. Nó hình thành trước đó đã khá lâu, chạy song song với đường số 1 nhưng nằm rất xa ven biển, càng vào phía nam đồi núi càng nhiều, cảnh vật càng nên thơ, hùng vĩ. Đồng bào dọc hành lang chuyển quân này mấy năm nay đã quen với những đoàn quân bí mật đi qua nên rất có ý thức giữ gìn bảo vệ việc quân cơ của Nhà nước. Địch dường như chỉ tập trung đánh phá các thành phố lớn, thị xã, cầu phà trên quốc lộ 1, tuyến đường huyết mạch của ta, chứ chưa “nhòm ngó” con đường vô danh này-một hành lang kỳ lạ và còn khá an toàn đối với những đoàn quân đổ ra tiền tuyến. Trên thực địa, nước ta hình cong chữ S, nhưng con đường chúng tôi đi như mũi tên nhắm thẳng phương Nam.


Những nơi dừng quân, bộ đội được dân đón tiếp nồng hậu, thân tình, nhất là các cô thôn nữ thường quấn quít cánh lính trẻ với tình cảm hồn nhiên, đôi khi tự nhiên một cách đáng yêu. Có những mối tình ngắn ngủi vội vàng diễn ra trên hành lang và hầu như tất cả đều đi vào dĩ vang. Các chị các em giúp chũng tôi mọi việc trong trú quân và sinh hoạt. Nhiều em xin chép bài hát, chữ ký lưu niệm của bộ đội. Trạm nào được dừng lại một ngày thì thời giờ quả là vàng ngọc đối với lính ta.


Thời gian này miền Bắc bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt với cường độ ngày một gia tăng, nhất là vùng Khu 4, không khí chiến tranh đã bao trùm lên làng mạc quê hương. Cũng do thế mà tình cảm giữa con người có cái gì đó thông cảm, gần gũi nhau hơn. Đã trở thành truyền thống, đồng bào coi bộ đội là con em mình, nay phải xa quê hương, người thân vào Nam chiến đấu, phải đối đầu với cái chết nên tỏ lòng thương mến, giúp đỡ tận tình. Tất cả những tình cảm ấy đều đọng lại trong chúng tôi dấu ấn và kỷ niệm tốt đẹp, tạo nên những cảm xúc lâng lâng suốt đường đi, có tác dụng như một liều thuốc kích thích tinh thần trong những lúc khó khăn, thiếu vắng tình cảm gia đình hậu phương.


Hôm nghỉ lại một làng trước khi vượt sông Lam-dòng sông quê hương xứ Nghệ của tôi, mấy thiếu nữ tới thăm tiểu đội. Em nào cũng xinh xắn, dịu dàng, hồn nhiên chân quê nhưng đủ làm rung động trái tim lính trẻ. Tôi ước có phép màu làm thời gian dừng lại ở đây… Nhưng anh nuôi đã nắm xong cơm cho bộ đội chuẩn bị xuất phát hành quân.


Đoàn quân đến bên bờ sông Lam khi nắng chiều sắp tắt. Lần đầu tôi được thưởng ngoạn cảnh non nước hữu tình của quê hương mình. Dòng sông xanh biếc chảy giữa hai triền cát trải dài thơ mộng dưới dáng núi Quyết lừng lững bên kia đẹp như bức tranh thủy mặc. Thiếu nữ tiễn chúng tôi qua sông lưu luyến và những gương mặt xinh tươi ấy đã trở thành cảm hứng cho bài thơ “qua Sông Lam” mà sau này tôi có dịp tái hiện:

Tôi sang sông
Buồn mang không hết
Ráng chiều buông màu tím ly biệt…


Tới trạm nào, bộ đội cũng được cung ứng thực phẩm đầy đủ theo chế độ đại táo, khẩu phần thịt cá, cá rau đầy đủ chất dinh dưỡng cho bộ đội hành quân đương rường, chỉ có cái vất vả hơn là phải đi xa lĩnh mang về tiểu đội, không tập trung như khi còn huấn luyện mang vác ở Hoà Binh. Mỗi cá nhân đuốc bổ sung thêm khẩu phần đường cát vàng nhằm tích luỹ dự trữ cho lúc vào Trường Sơn. Thỉnh thoảng chúng tôi lại ghé vào các hợp tác xã mua bán, sắm thêm vài thứ cân thiết như xà phòng, kem đánh răng, kim chỉ... và mua quà ăn cho hết số tiễn còn lại trong túi, bởi vì hết đường dây miền Bắc, những đồng bạc giấy này không còn giá trị.


Nỗi nhớ nhà, nhớ người thân, bạn bè, quê hương bắt đầu dậy lên khi đặt chân vào miền đất phía trong. Chỉ trừ những khi chuyện gẫu, hò hát huyên thuyên cho quên mệt nhọc trên đương đi, còn lại là nỗi nhớ thắt se dần dần trở thành da diết, khắc khoải trong lòng. Bây giờ tôi mới thấm thía cảnh xa xôi của người ra trận.


Những hình ảnh thân thương chập chờn ẩn hiện, lẫn lộn với cảnh sắc hiện hữu, đốt cháy nỗi khát khao tình cảm của người lính vào Nam. Có một hôm dừng quân tại một điểm gần nhà nhất, tôi xin phép thủ  trưởng tạt về thăm nhà, chỉ cần một phút thôi được gặp bố mẹ, anh chị, rối đi cũng mãn lòng, nhưng tính ra không thể được 80 ki-lô-mét đi bộ cả đi lẫn về trong một ngày nên đành bỏ qua cơ hội hiếm hoi duy nhất ấy. Niềm háo hức trong tôi xẹp xuống nhường cho nhũng bước đi cắm cúi đầy kiên nhẫn trên con đường gập ghềnh xa lạ cứ ngày một dài ra phía trước.


Những kỷ niệm đường dây miền Bắc như một bài ca in đậm nỗi buồn man mác của những người lính biền biệt ra đi về phương trời súng nổ. Không ai thốt ra chuyện nhớ nhung, nhưng cứ nhìn vào đôi mắt cũng đọc thấy những nỗi niềm sâu lắng.


Trên chặng đường cuối ở miền Bắc, nhiều anh nhận được thư nhà, thư người yêu làm xôn xao cả cung đường. Riêng tôi có cả thư của tòa soạn Báo Quân đội nhân dân gửi theo thăm hỏi và xin địa chỉ để trao đổi với gia đình vì tôi là “Thông tín viên" của báo từ năm 1965, giấy quyết định do Phó Tổng biên tập - Thượng tá Nguyễn Đình Ước ký. Trước đó, trong túi tôi còn tồn lại một số giấy báo lĩnh nhuận bút ở các bưu điện tỉnh lẻ, mỗi bài dăm ba đồng nhưng rất có giá hồi đó. Những bục thư ố vàng, rách mép đuổi theo là niềm động viên quí giá nhưng dường như chồng chất thêm nỗi nhớ thương trong mỗi chúng tôi. Tôi hiểu đây là những “hơi ấm" như được dồn nén, dành cho chúng tôi sau cùng. Rồi đây muôn vàn cách trở, và trong số chúng tôi, có bao nhiêu người "một đi không trở lại"...


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:12:10 PM
Vượt Cổng trời một ngàn lẻ một

Đoàn quân rơi làng Ho vào khoảng 8 giờ đêm. Trong khi chuẩn bị ba lô, súng ống gọn gàng chờ lệnh xuất phát, tôi mở sóng đài ORIOTON, chiếc radio mà tôi được đặc trách mang cho đơn vị. Như nói hộ lòng tôi, giọng ca nữ đang hát bai “Tiếng hát sông Lam" nghe sao tha thiết, làm dậy lên trong tôi nỗi bồi hồi khó tả.


Tôi biết từ đây mình phải tạm xa những gì thân thương nhất. Đối với những người lính đi B thì mảnh đất nơi "đèo heo hút gió" này là hĩnh ảnh cuối cùng mang bông dáng quê hương của hậu phương lớn miền Bắc. Sau này khi tham gia biên tập cuốn "Cuộc hành trình năm ngàn ngày đêm" của cố đại tá Phạm Tề, một trong những người mở đầu tiên đi mở đường Trường Sơn, tôi mới hiểu thêm dây là một địa danh lịch sử rất đáng trân trọng. Dường như suốt cuộc chiến ranh chống Mỹ, làng Ho là đầu mối vô cùng quan trọng của đường Trường Sơn. Từ đây tỏa ra nhiễu nhánh để những đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.


Cả đội hình chuyển mình trong màn tối mông lung vắt lên con đường đá sỏi ven đồi. Vậy mà tất cả phải cắm lá ngụy trang trên ba lô đề phòng máy bay địch. Động tác thừa này đã báo hại lính một phen. Số là khi đến một vách núi đá, do bị ùn, đội hình chững lại. Tôi sờ tay đụng một đám lá cây phía trước vã yên trí đứng chờ đoàn quân di chuyển. Mãi sau không thấy động tịnh gì, tôi sờ tới và hiểu ra mình chạm búi cây bên đường chứ không phải ba lô người đi trước, mới hoảng hốt chạy theo thì đã hẫng khá xa. Phía sau tôi đoàn người cũng rần rật chạy theo. May sao phía nước phát hiện "đứt đuôi" nên dừng lại chờ, cả chục phút sau mới nối lại đội hình. "Sự cố" này chỉ riêng mình tôi biết, về sau được bổ sung vào kho chuyện tiếu lâm của Trường Sơn.


Sau một đêm đi mò mẫm trong rừng cây, sáng ra đoàn quân dừng lại trên các đỉnh núi. Rừng cây cao thẳng vời vợi in lên nền trời xanh biếc. Dưới thung lũng những chùm quả chín rực, đỏ ốinhư mời gọi những người lính sau một đêm vắt kiệt mồ hôi.


Trường Sơn bắt đầu như thế, đẹp hơn cả trong mơ. Ai cũng nghe lòng mình lâng lâng những cảm xúc mới lạ. Qua một đêm trắng, tôi có những cản nhận đầu tiên về một miên xứ sở mông hoang và bí ẩn. Nó kỳ lạ, siêu phàm hơn những gĩ ta tưởng tượng.


Tại trạm này, chung tôi thay đổi trang phục. Bộ đội mặc quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo sáu múi thay cho bộ ka-ki, gabađin vừa cứng vừa nặng vừa dây, hoàn toan không thích ứng với hành quân đường dài trong thời tiết miền Nam, nhất là sắp tới mùa mưa. Tuy thế không ai dám bỏ hai bộ ka ki, gabađin vì chẳng hiểu sẽ cần nó hay không trên đường đi. Riêng chiếc mũ cối rời đầu từ bao giờ cũng chẳng ai để ý tơi. Thực ra khi đi qua Hà Tĩnh Quảng Bình các cô thanh niên xung phong làm đường đã "gạ” đổi hoặc xin hết mũ cối của bộ đội, bởi nó vừa cứng chắc lại có nhiễu tác dụng nên chị em hết sức ham chuộng. Trong đêm tối, chúng tôi chẳng rõ mặt các em, nhưng nghe tiết "quê ta" trọ trẹ: "đổi cho em cái mũ!" là lính ta sẵn sàng ngay, không cần cảm ơn. Sau này mũ cối như trở lệnh cái "mốt" thịnh hành của miền Bắc. Đã có lúc tôi có cảm tưởng cả miền Bắc là một binh chủng trang bị thống nhất mũ cối, trông rất ngộ, nhất là vào sân vận động xem bóng đá mới thấy khán giả "chính qui" một cách lạ thường.


Chúng tôi "biến" thành quân giải phóng miền Nam trong chốc lát một cách thích thú vã phải chấp hành một mệnh lệnh nghiêm ngặt: bỏ lại tất cả những vật gì có dính dáng đến miền Bắc như giấy tờ, sách vở có in chữ “Quân đội nhân dân Việt Nam", chứng minh thư, thư từ, anh ảnh... Tôi đánh liều giấu lại một ít tấm ảnh nghệ thuật, thể thao và một quyển sách nhỏ ghi nhật ký từ dạo còn rèn luyện mang đá, vác cây ở Kim Bôi-Hạ Bì. Những dòng chữ ghi trên bìa đến đây bị xóa sạch. Trong số kỷ vật đó, sau chiến tranh, tôi mang về được một số tấm hình là một kỳ công. Còn quyển sổ nhật ký ghi lịch trình hành quân qua ngót trăm trạm trên ớ rừng Trường Sơn, đã bị mất trong một thùng đạn đại Liên Mỹ, cùng với đồ cá nhân chôn dấu dưới gốc cây ở rừng Bời Lời (Tây Ninh).


Quyển nhật ký Trường Sơn bị mất làm tôi tlêc "đứt ruột". Nhớ những hôm bị sốt nặng đâu buốt, mắt hoa, tôi vẫn ráng ngồi trên võng ghi đủ không sót một trạm nào. Nếu nó còn, thì sẽ là một trợ thủ đắc lực cho tập bút ký này, tôi không phải khổ sở bóp đầu để nhớ lại từng tên người, địa danh, sự việc...


Các đơn vị triển khai đào công sự và thực hành nấu cơm ở trạm đâu tiên không có dân. Đang nhóm bếp thì mấy chiếc máy bay khu trục Skyraider từ đâu bay lên "hỏi thăm", chắc là có nơi nào lộ liễu do khói lửa, phơi phóng. Hàng vạn người ở dưới rừng cây không tránh khỏi dăm mươi người vô ý thúc. Hình như chiếc trinh sát L. 19 phát hiện được một đơn vị kế bên, nên chỉ điểm cho khu trục dội bom. Hai chiếc Skyraider thay nhau chúi xuống nhả ra những trái bom đen trũi. Tiếng rú nghe rợn tóc. Mặt đất rung lên cùng những tiếng nổ chói óc, mảnh bom văng bay vào cây cối rào rào. Mùi thuốc bom khét lẹt. Thật tình tôi dường như không chịu nổi mỗi khi chiếc khu trục lao cắm xuống nên cữ nhảy xuống hầm lại trồi lên... Chính trị viên Hoành chứng tỏ mình gan lì đứng trên hầm cười anh em nhát gan. Tôi phật ý và thầm nghĩ còn nhiều thời gian để thử thách. Từ đây vào, đường còn xa còn lắm rắc rối, đừng vội đánh giá một điều gì hết lúc nây.


Đoàn quân "cuốn chiến" vào Nam trên trục đường độc đạo, lúc lượn quanh chân núi ngoằn nghèo, qua cầu, qua suối lúc lên yên ngựa, đỉnh rừng. Núi non ngày càng điệp trùng hiểm trở, âm u. Trước chúng tôi, đã có rất nhiều người đi, đường mòn nhẵn, dấu chân trèo qua cây rơn ly. Những chiếc cầu được ghép bằng cây đều đặn bắc qua các con suối nhỏ, các "cua khuỷu tay" chữ U, không đếm hết. Chắc là các đội quân công binh đi trước làm đường từ lâu. Dấu những cây cầu đơn sơ đã cũ theo mưa nẵng. Nếu đi du lịch gặp cảnh vật như nơi đây thì thật ngoạn mục.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Chín, 2008, 08:13:16 PM
Có đoạn bom đạn đã làm cho con đường phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật. Những mảng rừng cháy loang lổ bởi bom napal, phốt pho. Những nơi đó địch đã căn ke đúng con đường hành lang chiến lược của ta. Sau nãy thì tôi hiểu ra: với "hàng rão điện tử Mácnamara", những phương tiện thám thính tối tân và phi ảnh hiện đại, không quân Mỹ đã đánh hơi được từng quãng đường xâm nhập của các đơn vị “Bắc Việt". Đây là khu vực giáp ranh giữa Bắc vã Nam nên chúng kiểm soát chặt chẽ từ đầu mối quan trọng này. Thì ra cái hàng rào điện tử mà chúng tâng bốc lên mây là một thứ tổng hợp các phương tiện ngăn chặn ở mặt đất và trinh thám tối ưu mà hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua như không.


Bản dô không ảnh cộng với trinh sát mặt đất, địch đã phần nào xác định được con đường ẩn náu dưới đại ngàn. Những nơi có dáng rừng trũng xuống, cây cối xanh tươi là mục tiêu oanh kích của phản lực cơ. Bởi đó là khe suối, đối phương thường trú quân, để có nước ăn uống. Đối phó lại thủ đoạn này, tất cả các đon vị phải chấp hành triệt để lệnh đông quân trên đỉnh rừng để bảo toàn quân số. Do thế, sự gian nan của người lính tăng lên hàng chục hàng trăm lần. Chúng tôi phải thay phiên xuống suối nấu cơm, đun nước rồi khuân vác chúng trở lên đỉnh đồi mất hàng giờ mới xong. Gặp hôm mưa, đất rừng nhão nhoét thì cực khổ vô cùng.


Máy bay địch vẫn vè vè trên đầu. Lâu lâu một trài rốc két "cảo… xình" của L.19 chỉ điểm, là Skyraider lập tức lao tới cắt bom. Tiếng nổ âm vang trong rùng xanh.

Có hôm tôi lội trong rừng đi hái rau, bom đánh gần khu vực mà không hay, đến khi nhìn thấy những thân cây bị mảnh bom chẻ toác, bốc mùi cháy khất mới biết là mình vừa thoát nạn. Rất may không mảnh nào văng trúng ngươi. Nếu bị thì chắc cũng chẳng ai biết vì rừng mênh mông, chằng chịt cây cối, chỉ nghe tiếng động mà tìm vê nơi đóng quân.


Mặc dù vậy lúc này hầu như chưa có ai cảm nhận thật sự gian khổ hoặc lo lắng vì bom đạn. Trên tuyến đường ngày đêm quân đi nườm nượp, đông vui, ít khi vắng bóng người. Con đường như rộng ra và mang thêm nhiều chứng tích. Nhiều thân cây có những dòng chữ khắc, trạm vội vàng của nhũng người lính đi trước. Thường là tên tuổi của ai đó, ngày đơn vị họ đi qua, dấu mắc võng nhẵn mòn và những chiếc giá ba lô, bếp nấu để lại. Càng vào sâu hành lang Trường Sơn, càng nhiều những dòng chữ trên thân cây như muốn nhắn gửi với nhũng người đi sau. Rất hồn nhiên, những chàng linh trẻ chúng tôi lại khắc tiếp lên đó những thông điệp của mình.


Ngược chiều với chúng tôi, có những tốp từ trong Nam ra, có tốp rẽ sang Lào (chiến trường C). Có đêm tôi bắt gặp nhiều cáng thương binh trở ra, người bó bột hoặc băng vải trăng lốp. Nhiều thương binh khác quấn băng, chống nạng lục tục theo sau. Hỏi ra mới biết đó là một đơn vị xuất phát trước Đoàn 308 của tôi, đi B, nhưng khi đến ngang địa phận Thừa Thiên-Huế, họ được lệnh điếu xuống đánh đồn A Sầu (phía tây Huế). Trận đánh nghe nói thắng to, nhưng nhìn vào số chiến thương, tôi đoán ta thương vong không nhỏ. Lâu lâu trên đường đi, lại gặp đồng bào dân tộc thiểu số Những ông bà tuổi tác đã cao nhưng trông rất khỏe mạnh, trên trán xăm những hình thù gì rắc rối, những cô gái trẻ khỏe gùi trên lưng đi làm rẫy. Gương mặt họ bình thản, không vui cười cũng không giận dữ. Dường như sự có mặt của chúng tôi trên "lãnh địa" của họ không có tác động gì. Họ quen sống tự nhiên như trời đất. Thái độ của họ có vẻ dửng dưng nhưng đôi mắt chứa đầy nội tâm. Đố là những người Vân Kiều sống gần đồn Cù Bai nổi tiếng của bộ đội biên phòng. Sau này nghe bài hát về cô gái Vân Kiều tôi mới hay là đồng bào dân tộc Vân Kiều rất tích cực tham gia đánh Mỹ, khác với cái vẻ lạnh lùng dửng dưng bề ngoài.


Đồn Cù Bai nằm ở ngã ba đường mòn thật quạnh quẽ, heo hút. Hôm dừng quân đi lấy gạo để chuẩn bị vượt một cung đoạn khó khăn, tôi ghé vào đồn chơi. Hỏi thăm mới biết các anh trú đóng ở đây đã lâu sống biệt lập như một thế giới riêng. Quanh năm kiểm soát vùng biên giới rộng lớn của Tổ quốc nhưng chịu sự thiếu thốn vô cùng. Đối với tuổi trẻ đó là một sự hy sinh to lớn. Tôi không thể hình dung người ta lại sống được trong hoàn cảnh cô lẻ như thế. Chuyện trò với các anh biên phòng một lúc, tôi thấy nao lòng. Nhưng người linh là như thế, không thể nào khác được, chấp hành mệnh lệnh là trước hết. Thân xác gửi cho đất, cho rừng là chuyện thường tình, huống chi thiếu miếng ăn, tiếng cười phụ nữ.


Sau một tuần làm nhiệm vụ chuyển gạo cho các binh trạm đến chồn chân mỏi gối, đơn vị tiếp tục hành quân, chẳng bao lâu đã tiến đến trước đỉnh núi "Một ngàn lẻ một", còn gọi là "cổng trời thứ nhất”. Nghe thủ trưởng phổ biến tình hình, tôi thấy lo nhưng cũng nóng lòng muốn biết thế nào mà nhiều người bàn tán râm ran với vẻ quan ngại.


Quả là danh bất hư truyền! Đỉnh "Một ngàn lẻ một” là đối tượng thử thách không lường được đối với chúng tôi. Qua cái dốc chọc trời này phải đi hết cả ngày. Một bi đông nước không thấm vào đâu. Ai nấy khát đến chảy cổ họng, bởi mồ hôi chảy ra gấp mấy lần lượng nước đưa vào cơ thể. Trên cao, không có khe suối nào cứu vãn tình hình, chúng tôi lấy đường ra ăn, nhưng càng ăn ngọt càng khát cồn cào... và thế là số đường dự trữ từ trạm cuối-làng Ho-đáng lẽ phải chia đều cho suốt đường Trưỡng Sơn thì đến đây nhiều người rũ túi. Sau này, khi sốt rét liên miên, miệng đắng chát, thèm một muỗng đường rỏ dãi tôi mới thấm thía sự sai lâm của mình trong việc sử dụng món "nhu yếu phẩm" chiến lược này.


Qua "cổng trời", cây gậy chống khi vào cửa rừng tưởng như là cái mốt của lính Trường Sơn, đã phát huy tối đa tác dụng của nó.  Đúng là lên dốc xuống dốc, không có gậy chống thật là chới với. Đặc biệt là ùn tắc, phải nghỉ đứng nó có tác dụng chống ba lô.


Qua đỉnh "Một ngàn lẻ một" các đại đội hỏa lục trợ chiến như cối 120, cối 82, ĐKZ 75, trọng liên 12,8mm là cục khổ nhất hạng. Ngoài trang bị cá nhân trên 20 ki-lô-gam, pháo thủ còn phải gồng mình đưa hàng yến sắt thép lên dốc. Lính mệt phờ, mũi mồm tranh nhau thở, mặt méo xệch, nhưng phải bảo đảm đi đúng đội hình không được đứt quãng. Như mang núi mà đi, không một ai than vãn kêu ca. Tất cả xốc tới vì miền Nam đang kêu gọi từng ngày. Liều thuốc chính trị lâu ngày ngấm vào cơ thể có hiệu lực kỳ lạ. Các đại đội người mang nhẹ giúp người mang nặng dìu nhau đưa vũ khí qua chân đèo bên kia trước khi màn tối của rùng ập xuống. Tôi cảm thấy sức lục của lính tiêu hao bằng ba, bốn ngày đi dường đồi dốc bình thường. Bên cạnh tôi một số anh bắt đầu làu bàu trong miệng chắc lã không hài lòng với những ông nào đó đã nghiên cứu thiết kế đoạn đường vặt qua đỉnh "Một ngàn lẻ một" hoặc bố trí các đơn vị 'thực binh" được trang bị đẫy đủ, máy móc áp dụng như hành quân tập ở ngoài Bắc. Thực ra vượt qua đỉnh "Một ngàn lẻ một" tiết kiệm được đường đi nhưng hao tốn quá nhiều sức, không thích hợp với mang vác nặng. Thiết kế con đường qua đỉnh "Một ngàn lẻ một lâ điều táo bạo và rất công phu, nhưng nhược điểm khá rõ. Nếu đây là nơi để rèn quân thì tuyệt vời, song đã vào tới Trường Sơn thì coi như tất cả đã vào cuộc vật lộn đây gian truân thực sự rồi. Vì thế áp dụng kiểu thử thách "rèn luyện" như lúc này chỉ làm tiêu hao nhanh sức lực mà đáng lẽ phải tiết kiệm súc dồn cho những chặng khó khăn hiểm trở sau nay.


Đường đi mới chỉ một chặng đầu đã khác xa với sự tưởng tượng mang đầy tính lãng mạn của tuổi trẻ. Con đường trên thực địa rõ ràng không phải là con đường trên bàn giấy. Nó báo động sẽ có nhiều điêu bất trắc đang chở ở phía trước.


Qua khỏi đỉnh "Một ngàn lẻ một", lại liếp tục đèo dốc gập ghềnh, khe suối quanh co. Chiếc gậy chống chưa bao lâu đã nhăn bóng trên tay. Chúng tôi đã làm quen với Trường Sơn không chỉ bằng những động tác thuần nhất của người lính nhằm vượt cung trạm mà cả nếp sống độc lập, tự lực cánh sinh trong một tập thể gắn bó để tôn tại và chiến đấu mỗi ngày. Rừng thì mênh mông, tài nguyên bất tận nhưng tất cả vẫn lâ "bất động sản" đối với bộ đội. Chúng tôi chỉ có một gia tài nhỏ bé trong chiếc ba lô con cóc chật căng quần áo, tăng võng và một lượng thức ăn, thuốc men ít ỏi nhưng phải đương đầu với cả một dãy Trường Sơn sừng sững. Ngoài nghị lực, tinh thần, ý chí, không dựa vào tập thể, không tạo sự thích nghi với hoàn cảnh đặc biệt của núi rừng, khó có thể chiến thắng được con đường.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Chín, 2008, 08:08:41 AM
Dọc rừng mưa nhiệt đới


Mùa mưa đến làm thay đổi bộ mặt của rừng, gây biết bao gian khó cho những binh khách bộ hành. Mưa đó rồi nắng đó. Bầu trời đang xanh trong quang đãng bỗng chốc vần vũ đen nghịt như khói sà xuống bao phủ không gian. Mưa trút ầm ào như bão thác. Con đường mòn đang khô ráo bỗng hóa thân dòng sông. Nước cuồn cuộn sôi xoáy ùng ục một màu phũ sa, súng đạn, gạo, muối... đều ướt sũng. Mưa vừa dứt trời đã sáng chói chang, không còn một gợn mây. Tuy thế, vẫn chưa có đường đi. Nước cuộn chảy sôi sục quanh mình, nếu đánh liếu đi qua có thể bị cuốn trôi mất dạng vào rừng. Độ nửa giờ sau, con đường mới lộ ra nguyên vẹn cũng là lúc đội hình hành quân được nối lại.


Tôi nhớ có ngày mưa dầm dã, đường hang hố và trơn như xoa mỡ. Lính mang nặng nên “vồ ếch" liên tục, đau hết cười nổi. Chiếc gậy như cắm xuống đất mà người vẫn bị quăng đi hàng thước. Đáng lẽ hoàng hôn đơn vị đến trạm thì phải đi sang đêm mà vẫn chưa tới nơi. Mình mẩy ê ẩm, gân cốt nhão ra. Đường rừng ban đêm chẳng biết lối nào mà đi, hễ chậm chân một tí là “đứt đuôi" đội hình. Bết bát quá, không nhấc nổi người nữa, tôi và mấy cậu bạn ngồi xuống giữa đường trùm ni lông, kê dép mà ngủ. Mặc kệ mưa rơi, gió rít... Đến khi con đường dâng nước lên ướt lạnh mông, ai nấy mới tỉnh dậy, đi tiếp.


Trường Sơn mà đi trong đêm mưa thì không khác người mù. Trời không trăng sao lại bị rừng già bao phủ tầng tầng lớp lớp lá cây nên chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Người đi sau không nhìn thấy người đi trước, chỉ nghe tiếng động, tiếng nói ì ới mà bám theo nhau đi. Bởi thế nên những nơi đường hang hố quanh co đội hình đứt vụn phải liên tục chắp nối... May sao trên tầng lá mục có vô vàn những đốm lân tinh sáng lấp lóa dưới chân hệt như trong chuyện cổ tích thần thoại. Lính ta khôn ngoan lượm các mảnh lá mục có lân tinh gắn lên ba lô người đi trước để nhận biết nên đoàn người thành một dây "chuỗi ngọc" chuyển động về phía trước trông vô cùng kỳ ảo.


Chúng tôi vượt đường 9 trong một đêm mưa dầm. Đây là con đường nổi tiếng chạy tư đất ta sang Lão. Con đường mà sau này trên chiến trường miền Đông Nam Bộ mỗi khi nghe bài ca, lời ca tha thiết, tự hào: "... Qua đường 9, đường em đi giặc sợ, giặc lo. Trên đường 9, đường em đi chiến công từng ngày..." lòng tôi lại lâng lâng, nhớ tới vùng đất Quảng Trị anh hùng. Thủ trường phổ biến nội qui vượt đường nghe quan trọng lắm, kỳ thực khi đi qua thấy cũng bình thường, chỉ mấy bước chân là qua khỏi. Con đương trong đêm tối trông hoang vu như một vệt trống chạy xuyên qua rừng nhưng nó đã đi vào lịch sử với những chiến công vang dội của quân và dân ta.


Vượt đường 9 chừng vài giờ đồng hồ, đơn vị đã giáp mặt sông Sêpôn. Đây cũng là một địa danh oai hùng đồng thời lã mục tiêu của không quân dịch, bởi vì vào Nam chỉ có "bay" mới không qua dòng Sêpôn. Ban chỉ huy hành quân đã tính toán các đơn vị vượt sông trong đêm, đến sáng tất cả phải qua sông để tranh máy bay địch phát hiện oanh kích.


Hôm vượt sông Bến Hải nơi thượng nguồn trông như một con suối nhỏ, vén quần lội qua được thì bây giờ chúng tôi thực sự đứng trước dòng sông đen như mực vào đêm mưa, trông chếnh choáng cả người. Vượt sông giữa mưa, trời tối là chuyện cùng cục. Ai nấy lo thân, gói súng đạn, gạo, ba lô vào tấm tăng cho gọn để qua sông, càng nhanh càng tốt. Thao tác quan trọng nhất là làm sao không để nước vào đồ đạc. Hồi chiêu ông Hoành bảo máy bay địch có thể đến thả pháo sáng oanh tạc bất cứ vào lúc nào khiến ai cũng cuộng cả lên. Những động tác lích kích gói buộc trong bóng tôi không đơn giản chút nào. Tôi là lính trinh sát pháo binh, ngoài ba lô, lương thực ra chỉ có khẩu CKC và một ít trang bị chuyên môn mà phải sang sông ba chuyến, nói chi pháo thủ phải vác chân cối, nòng pháo, bàn đê, thùng đạn... Gói đồ đội lên đầu chân bấm xuống đáy sông mà đi, gay go nhất là khi đến giữa dòng chảy, nước sâu ngập mang tai, chân hẫng, muốn trôi luôn. Tội nghiệp và buồn cười nhất là mấy anh chàng lùn khi rạp người chui qua những cành cây sà thấp thì có vẻ tự hào, nhưng đến lúc nước ngập đầu lại kêu la oai oái:

Cứu tôi với?

- Tôi bị trôi rồi

Đêm tối như bưng "thuyên ai nấy lạo", người nào cũng lo quẫy đạp cho xong phân mình, việc cứu giúp người khác thật là nan giải. May thay, không ai chết duỗi cả. Đội hình hãnh quân của C.17 chỉ là một mắt xích của đoàn 308, nằm trong Đoàn 308C, chiếm một phần tư đội hình của toàn Đoàn, nhưng không qua khỏi sông Sêpôn trong đêm đó. Sáng ra vẫn còn lại "cái đuôi" bên kia sông. Hành quân đương rừng la thế. Đơn vị đi trước sang sông nghỉ đã đời, đơn vị đi sau vẫn nhấp nhỏm xê dịch từng bước chờ đến lượt mình vượt sông. Dòng sông ban ngày trông lộ liễu nhưng hình như không quân địch chưa phát hiện được bến này hoặc ngày hôm đó chúng không "hỏi thăm" nên mọi chuyện đều êm xuôi. Ai cũng thở phào nhẹ nhõm như vừa vượt thêm một cái ngưỡng khó khăn sau khi vượt qua cổng trời thứ nhất.


Những trận mưa tàn nhẫn quất xuống liên tiếp làm bầy nhầy đường đi, đất trát vào dép nặng trì như có ai níu lẫy chân. Mang nặng lặc lè lại phải lê đôi dép hàng ki-lô, khác chi hình phạt. Tôi thử cởi ra đi cho nhẹ, nhưng chỉ được mươi bước liền phải tròng dép vào. Đường toàn gốc cây, hang hố, bàn chân công tủ như cánh học sinh chúng tôi không tài nào chịu nổi. Những ngày sau thử đi giày tuy dễ chịu hơn nhưng thật nguy nan. Bàn chân bị nhốt trong giày ủng nước, các ngón sắp loét ra trắng bở trông dễ sợ. Thế mới hay "đôi dép Bác Hồ" vẫn phù hợp hơn cả.


Mưa như Trường Sơn lẽ ra ngủ võng là tốt nhất, nhưng có trạm, ban chỉ huy lệnh cho cả đại đội phải làm lán, ngủ trên tấm dạt kết bằng cây. Thật là nhiêu khê, lại không khống chế được mưa gió dữ dội về đêm. Làm một cái lán cực nhọc, công phu nhưng chỉ vài ngày là bỏ đi. Ngủ dạt cây thi làm sao êm bằng ngủ võng. Thê nhưng không cán bộ nào dám phản ứng. Lệnh đã ban ra là phải thi hành. Nhưng "sáng kiến” làm lán trại của ông Hoành không tồn tại lâu, chỉ được vài trạm là đâu lại vào đấy. Lính ta sung sướng vô cùng, mỗi khi tới trạm, chỉ cần thắt hai đầu dây võng vào cây, mắc tăng, làm giá ba lô là rỗi việc. Chính trị viên lúc này có vị trĩ đặc biệt quan trọng. Những buổi họp Đảng, Đoàn diễn ra đều đều thường xuyên củng cố tinh thần tư tưởng cán bộ, chiến sĩ. Mục tiêu tối thượng là phải bảo đảm quân số đi tới đích. Chúng tôi nhiều miên quê họp lại nhưng từ lâu đã thành một gia đình lớn và kết thành một khối thống nhất, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành trọng trách vinh quang mà Đảng, quân đội và nhân dân giao phó. Ngày đêm lội suối băng rừng, leo dốc gian khổ nhưng kỷ luật luôn được giữ vững. Mọi người động viên nhau cố gắng đảm bảo đội hình hành quân vượt từng trạm một. Hôm nào được luân phiên lên đi đầu khối là sung sướng nhất vì khỏi phải “đứt đuôi" rượt đuổi hụt hơi lại còn được xả hơi chán chê chờ đơn vị đi sau.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Chín, 2008, 08:09:35 AM
Kể từ trạm 20 (trạm rừng Trường Sơn đầu tiên) tới đây không còn ai hò hát, kể chuyện, nói cười rôm ra như khi đi trên đường dây miền Bắc; phân do mệt nhọc, phải tập trung sức lực để vượt khó phần do phải giữ bí mật. Vì dọc theo hành lang quân đi có thể có biệt kích, thám báo hoặc địch thả máy ghi tiếng động. Những đảng viên hăng hái nhiệt tình như Mẫn, Nguyên, Yên, Điển... đều vắng tiếng. Họ chỉ động viên tiểu đội bằng những câu trở thành công thức như một thói quen cố hữu. Trong thâm tâm chính trị viên Hoành không thích như thế nhưng ông vẫn thấy có tác dụng đối với đơn vị. Nói chung họ là trụ cột trong hành quân, có tinh thăn, ý thức cao. Những lúc khó khăn, đảng viên là người gánh vác trước hết hoặc xoay chuyển tình thế.


Mặc dù vậy, không có phép màu nào giữ được đội hình nguyên vẹn trong hoàn cảnh ngày càng gian truân, khắc nghiệt phát sinh nhiều phức tạp. Mọi việc đều có dự đoán, nhưng đối với đơn vị vẫn bất ngờ.
Một đêm tôi đang ngủ say, chợt tỉnh dậy nghe trung đội trưởng Cậy nói khe khẽ:

- Báo cáo thủ trưởng, thằng Công, thằn Điều đào ngũ rồi!

Trung úy Hoành nổi nóng:

- Cậu cho người quay trở lại ngay, bắt bằng được. Nếu ai không chịu vê đơn vị thì trói, lôi về.

Đại đội trưởng Ty không đồng ý cách giải quyết thô bạo của ông Hoành, nhưng cũng phán theo chức trách của minh:

- Đồng chí Cậy cỗ gắng thuyết phục đưa anh em trở lại. Nếu đơn vị hành quân rồi, thì dẫn anh em đuổi theo?

Như chúng tôi ngẫm đoán trước, hai cậu của trung đội anh Cậy đi hai ngày trời khổ ải, về tay không, người mệt bã trông như mất hồn. Những tay chủ rương "đằng sau quay" thì họ thiếu gì cách để trốn. Bọn họ quẳng sũng đạn vào rừng, chỉ mang vũ khí nhẹ tự vệ đi ngược ra Bắc. Hễ thấy bóng người là núp vào bên
đường, chờ đi qua, lại ra đường mòn tiếp tục “hành quân". Ông Hoành nghĩ rằng vào sâu, có ngán ngại chiến trường hoặc sợ chết cũng không ai dám quay ra, bởi đường sá xa xôi trắc trở. Đâm lao thì phải theo lao mới phải đạo. Song trên thực tễ lại diễn ra chuyện tày đình khiến ông đắng lòng. Quân số đại đội Quyết thắng bị sứt mẻ, làm sao chinh trị viên nói mạnh với cấp trên được Nhưng dù sao C.17 của tôi vẫn còn hạng khá nhất trung đoàn. Không cần kiểm chứng cả đội hình nhưng chúng tôi cảm nhận được điều đó. Quân số có hao hụt nhưng chúng tôi cảm nhận được điều đó. Quân số có hao hụt nhưng không đáng kể, khí thế có sút giảm nhưng quyết tâm mỗi người còn đô. Ai cũng muốn đi mau tới chiến trường để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của người lính là chiến đấu giải phóng miền Nam. Đối với tuổi trẻ thì ngoài sự hăng hái, nhiệt linh, còn có hoài bão là “đi cho biết đó biết đây", đi cho tới đích để được giáp mặt với kẻ thù, chiến đấu lập công. Phải bỏ cuộc giữa đường là thiệt thòi, xui rủi, còn quay lui là điều sỉ nhục, hèn kém không thể nào chấp nhận. Vượt Trường Sơn gian khổ chưa đâu sánh bằng nhưng là một kỳ công. Ai vượt qua được dãy Trường Sơn, người đó có thêm một trang đời oanh Liệt. Nhận thức trách nhiệm cộng với lý tưởng được tôi rèn trong trườngl học quân đội giúp cho tuổi trẻ chúng tôi chiến thắng những thử thách to lớn trong chặng đường đầu của cuộc hành trình vạn dặm vào Nam. Không có một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, khó có thể tới đích cuộc hành trình. Không lời ngợi ca hoặc sự kể lể nào diễn tả được tinh thần, ý chí của người lính vượt Trường Sơn năm ấy. Thực tế bi tráng trên đường đi nói lên tất cả; đồng thời sự trả giá là một bài học lớn cho mai sau.


Mải miết ngày đi đêm nghỉ, đoàn 308 sang đất Lào lúc nào không hay. Trường Sơn giống như hai mái nhà Đông Dương thì đây là mãi Tây. Dáng rừng cao chìm trong mưa dầm dã. Hầu như không ngày nào có nắng. Đường đi dưới đại ngàn phủ kín, khi nào trước mặt cũng tối y thăm thẳm suốt tuần không có lấy một mảng sáng, tưởng như bầu trời biển mất trong vũ trụ của rừng. Những cây cao to lực lưỡng năm sáu người ôm không xuể. Nhiều cây cổ thụ đổ xuống vắt ngang qua con suối thành nhũng cây cầu vững chắc. Những khe suối gào thét đêm ngày. Nơi tận cùng hoang vu bí ẩn nay, con người như nhỏ bé lại trước thiên nhiên dữ dội và xa lạ.


Trời mưa gió là nguyên do của bao chuyện gian truân. Đúng là "Trường Sơn Đông nắng Tây mưa". Tôi thấm thía câu thơ của nhà thơ Tố Hữu trong trường ca "Nước non ngàn dặm" sau này. Tới đây, lính ta mới thật sự nếm mùi gian khổ. Đi trong mưa, ăn trong mưa, ngủ trong mưa... Đường sá trở nên vô cùng trắc trở đe dọa đoàn quân đang ngấm bệnh. Trung đoàn vất vả nặng nề thêm như một chuyến tàu quá tải. Mới thứ vật dụng đều no nước triền miên, không thể giặt rũ phơi phóng, lau chùi vũ khí. Rất may lúc này đoàn quân không ở trong tình trạng chiến đấu. Gạo dự trữ trên lưng chua như bột bún, sắp lên men nhưng không ai dám cả gan trút bỏ. Nạn đói đang chực chờ phía trước. Nội việc mắc võng sao cho mưa không ướt đã là chuyện cực kỳ nan giải. Dây dõng buộc vào cây, nước trên thân cây chảy xuống ngấm vào dây rồi vào võng. Dây vải, võng vải nước càng ngấm dữ, trời mưa lớn chỉ nằm một chốc là người ướt đẫm như đi ngoài trời, mặc dù phía trên võng còn chăng tấm tăng ni lông dày cộp. Có một sáng kiên được phổ biến rộng rãi: trước khi cột dây võng vào thân cây lấy một miếng ni lông bịt kín vòng theo thân cây, cột dây xong thì lật miếng ni lông xuống như mặc quần lá nem, cho nước không chạm được vào dây võng. Nhưng biện pháp hay ho nay không an toàn vời gió mưa dữ dội của núi rừng. Nước vẫn theo chỗ hở của lá nem ngấm vào dây rồi vào võng. Khi vào tới đất Nam Bộ mới thấy lính miên Đông thật sáng tạo. Họ dùng cọc phụ đóng bên cạnh cây rừng để mắc võng nên khá an toàn lúc mưa, bởi vì tấm tăng bao giờ cũng trùm qua cọc phụ, nước mưa trên mái tăng trôi xuống hai bên. Họ còn nhiêu cái hay hơn, như cách ăn mặc, trang bị rất gọn nhẹ, tác phong linh hoạt, nhanh lẹ. Mỗi khi tháo võng chi cần nắm dây giật một cái là sút đầu võng ra, còn lính đi B chúng tôi thì buộc nhiều võng thắt cục nên tháo võng rất lâu. Nếu có địch tập kích, chắc phải “bỏ của chạy lấy người".


Trời mưa, đẫt thì mềm ra sụt lở, lầy lội, đá thì như cương ngạnh sắc nhọn thêm. Bấu trời, mặt đất toàn nhưng nước, không có lấy một vật gì khô. Đêm ngủ cánh lính đánh trấn như nhộng, quần áo ướt vắt lên đầu võng. Sáng ra mặc vào tiếp tục hành quân. Leo dốc trời nắng thì mồ hôi ra không kịp vuốt mặt, người như bị vắt kiệt nước; còn trời mưa thì no nước, lính mang ba lô súng đạn đi tì tì như không còn biết đến gĩ chung quanh. Đã thế có ngày trên lưng phải cõng thêm bó củi. Đi trên Trường Sơn mà phải mang củi, nghe phi lý, nhưng chuyện “chở củi về rừng" có thật mới oái oăm. Bởi có những nơi đơn vị dừng quân qua đêm trên địa hình trũng nước đầm lầy tựa như đại bản doanh trong đầm Dạ Trạch ngày xưa của Mai Hắc Đế, không tìm đâu ra một nhánh củi khô. Tiểu đội nào làm biếng không lấy củi dọc đường thì tới nơi đành nhịn ăn.


Trời mưa như thác, nhưng có hôm đến trạm không có nước mới trớ trêu. Nhiều đơn vị cùng lội xuống lấy nước trong một hố như trâu đằm còn sót lại đem về nấu cơm, nấu nước uống. Có trạm phải đi xa hàng cây số dùng ni lông cõng nước về.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Chín, 2008, 08:10:19 AM
Thường nhật hành quân tới trạm đã tối đêm, nhất là những ngày đại đội phải đi cuối đội hình. Có hôm tới nơi đã 21 giờ, trời đen đặc đến mức không còn khái niệm về không gian. Đơn vị hạ trại trong cơn mưa rả rích khó chịu. Tôi được phân công đi kiếm củi cho anh nuôi nấu cơm. Vào rừng ban đêm cây khô cũng như cây tươi không thể nào phân biệt được. Tôi vung dao phát lấy phát để, bởi anh nuôi đang chờ củi, lại vội vàng ẩu tả nên đã "ăn” một lát dao ngọt xớt vào ngón tay cái. Máu tuôn ra hòa với nước mưa nên hình như chảy mạnh hơn. Giữa rừng, chẳng biết kêu ai, tôi cắn răng tự cấp cứu bằng cách nắm chặt vết thương cho tới khi máu bớt chảy mới ôm mớ củi oặt ẹo trở về nơi đóng quân. Anh nuôi rọi đèn thây toàn nứa lơi, liễn chửi vung lên. Tôi lặng thinh nước cơn thịnh nộ của anh nuôi và đưa bàn tay trái lại gần đèn xem thấy nó đã tái xanh. Anh em trong C bộ biết tối chém phải tay nên thôi la rầy việc tôi lấy phải củi tươi. Nửa tháng sau vết thương của tôi mới lành nhưng để lại một vết sẹo nhớ đời.


Những ngày mưa, cực khổ nhất là anh nuôi Ty. Anh có cái tên trùng với tên đại đội trưởng Nguyễn Văn Ty, nên mỗi khi gọi phải phân biệt là “Ty anh nuôi". Ty quê ở Hả Tây, trước kia là pháo thủ số 3 "chuyên viên" vác bàn đế cối 82, nhưng từ ngày được kết nạp vào Đảng, anh được điều động giữ chức "hỏa đầu quân". Với tinh thần người đảng viên, Ty phục vụ đơn vị hết mình, nhẫn nại gương mẫu , được cán bộ, chiến sĩ cảm mến. Nói cho công bằng, đi B ai cùng khổ nhưng khổ nhất là anh nuôi. Phải thúc khuya dậy sớm lo cơm nước cho bộ đội, lại mang vác cồng kềnh, mặt mũi chân tay khi nào cũng nhọ nhem nhọ xỉ. Mỗi khi hành quân tới trạm, mọi người lo làm giá ba lô, dọn chỗ mặc võng, căng tăng, còn anh nuôi đặt ba lô xuống là phải đi chặt cây đóng cọc làm đầu râu, nhóm bếp... Đến khi nhổ trại thì anh nuôi là người cất bước sau cùng vì phải thu vén mới thứ lủng củng bừa bộn. Nói tới anh nuôi, tôi lại nhớ một câu chuyện vui kể rằng có một đơn vị hành quân qua làng, đồng bào ra xem và đố nhau: trong đoàn quân ai lớn nhất? Người thì nói anh đeo súng lục, người thì bảo anh vác đại liên... Một chị hóm hỉnh chỉ vào anh nuôi quảy hai cái nôi quân dụng to tổ bố, nói lớn: "Anh nãy to nhất", và giải thích không có anh nuôi thì đi cũng chẳng nổi chứ dừng nói chuyện đánh đấm... Giờ đây tôi luôn thấy anh nuôi Ty rất quan trọng. Trong một ngày hành quân, nếu Ty không thức khuya dậy sớm quán xuyến lo toan để có cơm đúng giờ thì cả trăm con người chỉ có nước "mắc cạn" giữa rừng. Trợ thủ cho anh nuôi Ty còn có anh em trong C bộ như Ngọc, Nam thông tin, Phiêu y tá... Tôi thì lâu lâu mời hú hơ giúp Ty vì phải lo phục vụ thủ trưởng. Có chiều tôi thấy Ty ngồi bên bếp khóc thút thít trông thật tội nghiệp. Bật lửa lâu ngày hết dầu hỏa quẹt không lên lửa, phải trát dầu con hổ lên bấc mà bật. Hì hụi cả tiếng đông hồ bếp chỉ cháy leo heo dưới mảnh ni lông mưa xối ào ào. Cơm vừa sống vừa nhão như cháo đặc. Không ăn thì đói mà ăn thì nuốt không nổi. Có lẽ vì quá cực nhọc và thấy anh em ăn không được nên Ty khóc tấm tức một mình.


Mùa mưa không những gầy ra bao sự gian truân rắc rối trên đường đi mà còn là thủ phạm gây ra con bệnh trầm kha: sốt rét rừng. Mặc dù trang bị đủ thuốc cá nhân và có y tá mang thùng thuốc dự trữ đi theo,  đồng thời thục hiện chế độ uống thuốc phòng đêu đặn theo sự chỉ dẫn của quân y trung đoàn, nhưng cánh lính chúng tôi lần lượt ngã bệnh sốt rét. Căn bệnh "chính thống” Trường Sơn không miễn trừ bất cứ ai, đến nỗi trở thành như một "nguyên lý”: ai không sốt rét không phải lính Trường sơn. Đây mới thực là kẻ đồng lõa với Mỹ, ngụy. Nó tiêu hao sinh lục tới mức không ngờ. Và có lẽ mọi chuyện rắc rối trên đường Trường Sơn thì sốt rét là khủng khiếp nhất. Nó thẳng tay cướp đi những sinh mạng con người. Nó làm cho đoàn quân hùng mạnh mất súc chiến đấu, bệ rạc dần. Nó để lại những hậu quả lâu dài...


Đến đây, đại đội 17 đã lâm bệnh sốt rét khoảng một phần ba. Và tuyệt nhiên không phải chuyện đùa đôi với lính "chân đồng vai sắt" chỉ biết đội trời đạp đất, mở đường đi tới. Tình hình trở nên rất nghiêm trọng. Những người sốt nặng buộc phải san sẻ súng đạn, đồ dùng cho người khác, gồng gánh nhau mà đi cho bảo đảm quân số. Bản thân người mang dùm là pháo thủ trọng lượng trên lựng đã gần 40 ki-lô-gam. Thế là người khoẻ mạnh chỉ vài hôm sau suy giảm sức lực, bộc phát cơn sốt. Súng đạn, trang bị lại san thêm cho đồng đội vốn đã nặng lê lết. Dần dà cả đại đội thành “đội quân lạc đà", sức nặng ngày một kéo trì đôi chân chậm lại. Muốn đi theo nhịp bình thường phải gồng rướn lên gấp rưỡi, gấp đôi so với trước. Sự cố gắng đã lên tới đỉnh diềm. Có ngày tôi không còn cảm nhận được mình mang nặng hay nhẹ, đôi vai như mượn của ai, khi nào cũng nóng bừng, ê ẩm. Một trọng lượng siêu nặng đang đè xuống những cơ thể sung mãn tuổi đôi mươi, nhưng không phải là vô hạn. Đôi chân yếu ớt nhấc từng bước trên địa hình dốc ngược lồi lõm, lởm chởm, bùn lầy... May thay, đến lúc này tôi chưa bị thần sốt rét "sờ tới”. Đường hành quân "trần ai" là vậy, nhưng cũng có những thủ trưởng khá đủng đỉnh, thậm chí da dẻ vẫn giữ được sắc độ hông hào. Lính không mấy ngạc nhiên vì các anh là chỉ huy được trang bị gọn nhẹ hơn, cấp thượng úy trở lên còn có cần vụ liên lạc mang giúp một phần.


Vừa gọn gàng, sạch sẽ, thủ trưởng vừa đi vừa luôn miệng động viên: Cố lên các đồng chí? Chỉ còn một thời gian nhắn nữa là tới nơi, tha hồ nghỉ ngơi, ăn uống có chất tươi...


Nghe các thủ trưởng động viên rằng sắp đến nơi ai nấy đều háo hức nôn nao. Chúng tôi dò hỏi xem có thật không thì thủ trường Hoành nói toạc ra là chưa được nửa đường. Nghe vậy ai cũng ngao ngan. Trời ơi, đi ba tháng rồi mâ chưa được phân nửa, bao giờ mới tới nơi! Sức lực vơi dần. Đường càng vào trong càng khó đi hơn. Linh ta thở dài sườn sượt. Tôi cũng thấy oải cả người, hết muôn đi. Nhưng ông Hoành nói- thế còn hơn hô hào động viên suông. Hồi tưởng lại quãng đường dằng dặc vừa đi qua tôi thấy rùng mình, nhưng cũng cảm nhận dược sự phi thường của đôi chân người lính. Từ đây, phải kiên trì nhẫn nại chấp nhận mọi gian khổ khó khăn mới có thể đi hết chặng đường còn lại.


Đến trạm thứ 37 (số thứ tự do tôi ghi) thì Cường thônng tin bị con bệnh sốt rét đánh quị. Tin Cường chết làm tôi và mọi người sửng sốt, đau buồn, lo lắng. Cái điều mà tôi không dám nghĩ, nó đã hiển hiện trước mắt. Cường quê ở Hải Phòng, nhập ngũ với tôi một ngày, vô tư, yêu đời, hiền lành, cục mịch. Cường bị sốt rét khá lâu mất sức, dẫn đến biến chứng. Hôm cuối cùng Cường không đi được nên phải cáng, nhưng trên đường hễ thấy nước là cậu ta vươn cổ xuống uống như trâu, không ai cản nổi. Sốt cao khát nước vô cũng, càng uống càng khát. Uống nước suối vào nhiều rồi chết là chuyện tất nhiên không thuốc nào cứu được. Tôi linh cảm thấy rằng một điều gì rất xấu đang đến với đơn vị và hình như hối chuông báo động của tử thân đã vang lên suốt đoàn quân. Súng đạn của chiến sĩ bắt đầu thừa ra một cách đáng lo ngại. Tôi hiểu các khẩu đội phải tăng trọng lượng trên vai. Và như thế thì khó lòng bảo quản quân số...


Mấy ngày sau, Tính rồi Thọ... kế tiếp nhau từ trần. Cả hai đều là pháo thủ, thể trạng rất kém. Các tử sĩ đều mai táng bên trục đương mòn hoặc kế bãi trú quân không kịp khắc mộ bia, chỉ đóng cây đánh dấu. Thủ tục chôn cất thật đơn giản. Tấm tăng làm mái nhà che mưa dài 3 mét, rộng 1,5 mét được sử dụng làm chiếc áo quan mỗi khi chủ nhân của nó nằm xuống. Xác người liệm trong tấm vỏ chăn màu nhà binh rồi đặt vào giữa tấm tăng, bọc lại... Do đội hình phân tán, đơn vị không tổ chức lễ truy điệu. Thông thường người của tiểu đội nào từ trần tiểu đội đó phải lo liệu việc mai táng. Đang giữa cuộc hành quân phải chứng kiến những cảnh đó, ai cũng não lòng. Nhưng có thể làm gì khác hơn giữa chốn rừng sâu, nước độc. Nỗi xót xa, thương bạn biến tính nỗi ám ảnh đầu tiên đối với tôi.


Những hôm đơn vị có người chết bệnh, không khí buồn bã vô cùng. Đêm nằm nghe mưa rơi lộp độp trên mái tăng, không ai nói chuyện câu nào. Cả cánh rừng lặng trang thiêm thiếp. Một thứ chim gì lâu lâu lại cất tiếng e e rùng rợn. Tiếng "e" đầu tiên cất lên cao vút sao đó hạ dần... Dứt một lát nó lại "e" lên nghe đến chối người.


Tôi năm trên võng mắt nhắm nhưng vẫn thức. Cái thân hình ốm tóp nằm phủ tấm vỏ chăn ngay đơ bên miệng huyệt lại hiện lên. Mộ Cương nằm kế bên, chỉ cách mươi bước chân. Tôi nghĩ vẩn vơ liệu cái cảnh như thế này có đến lượt mình? Sự thật mà như ác mộng. Ước chi được đến nơi giáp trận đánh nhau với giặc, giải thoát cái không khí nặng nê này.


Hôm đến một bản làng người dân tộc, rừng thấp, đường khá bằng phẳng, có ánh mặt trời rọi xuống lại thêm cậu Duệ qua đời. Duệ bị sốt rét dài ngày đã chuyển sang ác tính. Khi còn nghỉ ở trạm tay cậu ta đã "bắt chuồn chuồn", một triệu chứng báo hiệu người bệnh "sắp về với ông bà". Đi Trường Sơn mà anh nào đã "bắt chuồn chuồn" thì chỉ có nước chuẩn bị xẻng cuốc đi làm công đoạn cuối cùng. Buổi chiếu đơn vị xuất phát hành quân, Duệ ráng sức đi theo bởi vì tiểu đội đã bệnh hết lượt, không có ai để khiêng cậu ta nữa. Anh em đã mang dúm hết súng đạn chỉ còn ba lô gọn nhẹ, nhưng Duệ chỉ đi dọc một quãng, bước chân chậm dần, đến khi người ì ra như một tảng đá chắn ngang đội hình. Thấy thế, đại đội trưởng Ty cho Duệ lên đi đầu. Chỉ mang độc chiếc ba lô mà Duệ vẫn không đi nổi. Anh bước chới với, rồi bất giác ngã vật xuống giữa đường, mắt nhắm nghiền. Ngày hôm sau, khi chỉ còn mấy bước chân nữa thì tới cổng một ngôi nhà người dân tộc thiểu số thì người chiến sĩ to khỏe vào loại nhất nhì đơn vị ấy đã từ trần. Tôi não ruột nghĩ: Phải chăng trước đó đơn vị nên cho người ở lại chăm sóc Duệ thì may ra... Bệnh thành tích đôi khi cũng gây hậu quả thật tai hại. Tình hình đi Trường Sơn năm 1966 cực kỳ khó khăn gian khổ. Cán bộ, chiến sĩ cố gắng hết sức mình để chiến thắng con đường, hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Nhưng rất tiếc, một số ít cán bộ lại qui kết chiến sĩ mắc "bệnh tư tưởng", áp dụng thô thiển một số biện pháp thiếu tính động viên, thuyết phục như "thu tăng võng"... đã góp phẫn gây nên hậu quả xấu cho đơn vị.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:42:41 PM
Đường vào “Ông Cụ”, “Hải Yến”

Ông Ty đi nhận lệnh ở trên về phổ biến: Đoàn 308 sẽ đi vào “ông Cụ” rối đi tiếp "Hải Yến". Ông Cụ và Hải Yến là bí danh của hai vùng trong chiến trường Nam Bộ, còn xa lắc xa lơ, chẳng ai hình dung được. Mỗi cán bộ chiến sĩ được phát một tấm thẻ chứng minh, không có con dấu, chỉ có một chữ ký chân phương: Cân. Cầm tấm căn cước Trường Sơn nhiều người thắc mắc Cân là ai, cấp nào? Nhưng chẳng ai trả lời được. Cho đến khi tới điểm tập kết cuối cùng, trong chúng tôi không ai sử dụng đến tấm thẻ này.


Đường đi càng dốc đứng, khúc khuỷ, khe suối quanh co, gió gào, thác réo. Có chặng đường chẳng ra đường, tay chống gậy, tay bám vào cây mà quăng người qua các hang hốc, rễ cây khổng lỗ, đi hàng tiếng đồng hồ không có thấy một khoảng đất bằng để nghỉ chân. Những cây cầu bắc qua suối là các cây đại thụ đổ vắt ngang, nhiều người đi nên mòn nhẵn như bào, lúc đi qua phải giữ thăng bằng như diễn viên xiếc, chỉ sơ sểnh một chút là lao ngay xuống rừng đá lởm chởm dưới đáy vực. Đường mới lên dốc một lúc đã cắm đầu chùi xuống. Có đoạn toàn đi lên trời, đi nửa ngày chỉ mới được lưng chừng dốc. Có ngày lính ta phải leo qua 36 con dốc, mệt muốn rã người ra từng mảnh. Mỗi chiều, chúng tôi nhận được những thông tin ớn lạnh từ giao liên, người dẫn dắt duy nhất có uy quyền đối với đoàn quân hàng vạn người: ngày mai phải đi tám tiếng giao liên, mười tiếng giao liên, mười hai tiếng giao liên... như thế có nghĩa lã chúng tôi phải đi 10 giờ, 14 giờ, 16 giờ... bởi giao liên họ chỉ có chiếc bồng con và khẩu Carbine nhẹ tênh, một hành trang "hạng ruồi" so với cánh pháo thủ C17. Hoàn toàn giao liên là người miên Trung, Tây Nguyên, miền Nam. Họ đảm trách mỗi ngươi một cung đường, năm tháng đi về đến thuộc làu từng gốc cây, mỏm đá, giống như người đưa đò ngang hết chuyến này đến chuyến khác. Còn lính ta thì làm khách một lần, mỗi ngày có một người dẫn đường mới toanh. Hôm nào giao liên nói phải đi bảy tiếng trở lên, chúng tôi hiểu là tời trạm vào ban đêm sẽ vô cùng vất vả, ai nghe cũng muốn phát sốt. Có thủ trưởng kể rằng con đường này có từ năm 1959, được khai phá khi những đoàn cán bộ đầu tiên từ miễn Bắc vào Nam làm nhiệm vụ đặc biệt. Đến năm 1961, cán bộ Đoàn Phương Đông được Bộ Tổng phái vào thành lập Bộ Chỉ huy Miền. Chỉ huy Đoàn Phương Đông là Thượng tướng Trần Văn Quang bây giờ. Nói chung đi đứng còn rất bí mật. Hồi đó giao liên quãng này toàn người Thượng, một sắc tộc thiểu số cư ngụ trong rừng Trường Sơn. Mỗi đoàn chỉ có một người biết tiếng đồng bào Thượng, làm phiên dịch. Người Thượng tinh tình khảng khái, phần lớn họ rất chí cốt với cách mạng. Đặc biệt họ có tài “cắt” đường rừng, không bao giơ bị lạc giữa đại ngàn mênh mông. Vào buổi sáng mỗi ngày, trước khi hành quân, giao liên người Thượng ra dấu “mặt trời đi". Anh ta đưa tay từ sát đất vạch một đường cong lên đỉnh dầu rồi dừng lại: có nghĩa hôm đó, tới trưa đoàn sẽ đến nơi dừng quân. Còn nếu anh ta đưa tay vạch từ mặt đất vòng cung qua đầu rồi chỉ xuồng đất là hôm đó đoàn phải đi đến tối lặn mặt trời mới tới trạm nghỉ. Trông cái vòng tay anh ta vạch trên không mà lính ta hồi hộp phán đoán ngày đường sắp tới.


Dọc đường, lác đác có những chiến sĩ mắc võng thành từng nhóm bên hành lang, nơi hai người, nơi ba, bốn người trông ốm yếu. Hỏi ra mới biết đó là linh của Đoàn 307, xuất phát trước Đoàn 308 của tôi từ năm ngoái rớt lại; đôi ba trường hợp là của chính Đoàn 308 đang hành quân. Họ bị sốt rét lâu ngày không còn đủ sức đi theo đơn vị, nằm chờ đơn vị thu dung. Đi rừng sợ nhất là sốt rét, tiếp đến lã đói rồi mới đến sông sâu, vực thẳm. Chúng tôi xác đinh hành quân vượt Trường Sơn là một cuộc chiến đấu phải có tổn thất hy sinh. Những trường hợp tưởng như cá biệt nhưng nó trở thành thông điệp cảnh báo nguy hiểm với mọi người trên con đường dằng dặc vào Nam.


Tôi vẫn được "đặc ưu" mang chiếc đài bán dẫn ORIONTON (của Hung-ga-ri). Tuy nặng hơn một chút nhưng khi nào cũng được nghe tin tức, ca nhạc. Nhờ nó mà lắm lúc tôi quên cả mệt nhọc khi đi đường. Nhiều người cố đi gần tôi để được nghe nên tôi có lúc cảm thấy cũng hãnh diện. Tới đây, chiếc đài vẫn còn nghe được mặc dù mấy lần tôi ngã oành oạch, đập máy vào đá, vào cây. Nó cũng chịu đựng gian khổ mưa nắng như người. Hàng ngày nghe tin chiến thắng của ta hết nơi này đến nơi khác, ai cũng phấn khởi.


Ông Hoành, anh Vinh nhanh nhậy dùng ngay những bản tin đó kịp thời động viên đơn vị quyết tâm hành quân tới đích với quân số cao. Tuy vậy một số anh em không hào hững lắm. Đầu óc họ u u minh minh trong ạng thái căng thẳng, mệt mỏi. Ở thời điểm này quân số đơn vị tư trần, đau ốm nằm lại dọc đường đã tới mức báo động. Những bản tin chiến thắng trên đài sôi nổi, dồn dập khiến mọi người quên đi những thực tế hiện tại. Chắc rằng ở miền Bắc những người thân đang theo dõi bước chân đi của chúng tôi một cách lạc quan. Trong không khí chung của cả nước ra trận, ít ai nghĩ mọi chiến thắng đều phải trả giá, thậm chí có khi rất đắt. Vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào thời điểm đỉnh điểm, cả nước cùng đánh Mỹ không cho phép người ta nghĩ nhiều tới chết chóc bi thương. Tất cả cho chiến tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, là mệnh lệnh của trái tim mỗi người Việt Nam lúc này. Vì thế, con đường dù gian lao nguy hiểm đến mấy, chúng tôi cũng phải cố gắng vượt qua, mặc dù tình trạng thất thoát của trung đoàn lúc này đã rất trầm trọng và có nhiều hướng xấu thêm.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:43:41 PM
Con đường Tây Trường Sơn trườn lên cao độ hàng ngàn mét. Đoàn quân mải miết bước dưới rừng già sũng nước, ít khi có ngày nắng ráo. Cảnh vật mỗi ngày hiện ra một mới lạ. Đang nhọc nhằn trèo qua những đỉnh cao lởm chởm đá tai mèo lại bước ra con đường bằng phẳng kéo dài qua cánh rừng thưa thoảng, cây mọc thẳng tắp, chúng tôi như lạc vào một vùng đất đầy thơ mộng, ánh nắng ngập tràn trên cây lá xanh tươi. Buổi chiều qua con sông toàn những phiến đá cuội khổng lồ như vô số những chú nghé trắng nằm phơi nắng, trưa mai đã tơi rừng lực lưỡng trên triền dốc trắng bạt ngàn những lá khô... Cứ như là cuộc mộng du qua những miền đất lạ. Có người bảo dòng sông có bạt ngàn những tảng đá lớn là sông Đá Bạt.


Những có nơi con đường mòn nhập vào tuyến đường vận tải chiến lược loang lổ hố bom và vết cháy rủa bom phốt-pho, na-pan... Trông con đường mới thấy hết công sức của những người chiến sĩ công binh  Hàng vạn cây gỗ cắt khúc lát trên mặt đường chống lầy lún cho xe chạy. Được bước đi trên những cây gỗ đều đặn thật dễ chịu so với đi trên những đoạn đường đầy gốc cây, đá ong hoặc sình lầy. Những đoạn đường như vậy đem lại cho chúng tôi một chút thay đổi không khí, đẩy lùi cảm giác đại ngàn hoang dã.


Cành rừng dọc theo trục đường ôtô vận tải, bị vặt trụi lá, cành trơ ra khẳng khiu khô khốc sau nhũng trận mưa chất độc hóa học của giặc Mỹ. Máy bay trinh sát L.19 quần đảo trên đầu kiên nhẫn săn lùng đối phương. Nhiều nơi, không quân Mỹ đã đánh trúng con đường huyết mạch của ta nhưng dấu vết của tội ác và tổn thất chưa để lại nhiều như sau này. Mật độ bom đạn trút xuống đường Trường Sơn thời gian này chưa phải là ác liệt. Những đoàn quân qua đây phần lớn thương vong không phải vì bom đạn địch mà vì đau bệnh, thiếu đói, cơ thể suy kiệt dinh dưỡng, đường sá gian truân.


Đến gần cuối đất Lào, đội hình Đoàn 308 dãn ra do bị đứt khúc và tốc độ chậm dần. Đoàn quân đã lết lên được đỉnh Trường Sơn.


Một hôm đơn vị thức dậy hành quân, đúng giờ như thường lệ, nhưng sao không gian mù mịt không thấy lối đi, bốn bê chỉ có tiếng gào rú liên hồi. Một trạng thái thật kỳ lạ. Chúng tôi nói với nhau "đã ra tới biển". Nhưng không ai tin, làm sao đang đi trên núi mà tới biển được, họa chăng là đèo Hải vân. Nhưng đây thì không thể Hải Vân, vì đã bỏ xa Quảng Trị mấy chục ngay đường. Một lúc sau chúng tôi hiểu mình đang đi trong khu vục mây bao la giống như được "hành vân" như trong phim Tôn Ngộ Không vậy. Ai cũng lây lảm thú vị. Nhưng sau vài giờ đi trong cảnh huyên ảo của thiên nhiên, đoàn người bắt đầu đổ dốc, cảnh vật lộ ra trần trụi. Đó là triến núi gỗ ghề sâu hút tưởng như vô tận.


Trái nghịch với những ngày bám gót nhau lên cao, nhất là qua đinh Hai Ngàn, giờ đây đoàn người như có bàn tay vô hình nào xô đẩy khó lòng dừng lại được. Chiếc gậy phải ấn sâu xuống đường để cản bớt lực hút của trời đất. Chẳng ai hiểu sao, chỉ nhìn nhau cười. Có anh bảo: "Cứ cái đà này chắc là xuống âm cung". Bao giờ thì hết dốc hoặc thay đổi trạng thái hành quân? Câu hỏi rơi vào thung lũng thẳm xanh. Nghỉ xả hơi giữa buổi, mọi người đem cơm nắm ra ăn. Vừa ăn vừa nhìn xuống vực sâu thăm thẳm, ai cũng ngán ngẩm nghĩ đến phút mang ba lô cắm đâu lao xuống như phản lực bổ nhào. Con đường giống cây thang đất, có nơi nhẫy nhụa trơn láng như thoa mỡ chỉ chực quật đổ chúng tôi, có nơi lại hang hố sạt lở như động đất. Đoàn quân như những phiến đá nối nhau lao xuống không ngừng.


Cầm cự suốt một ngày, Đoàn 308C mới tới chân dốc hạ trại nấu cơm. "Chân sắt vai đồng" như lính pháo chung tôi cũng muốn rủn ra. Khi đã ngôi trên khoảng đất tương đối bằng phẳng nhìn lên mới sung sướng thấy mình đã qua được một chặng hiểm nghèo. Rừng như một bức tường thành xanh đậm đặc choán cả bầu trời.


Sau này chúng tôi mới biết đổ con dốc khủng khiếp đó, Đoàn 308C đã trở về bên Đông Trường Sơn, đất mình, ở địa phận Nam Trung Bộ. Đây chính là con dốc nổi tiếng Ô Phiên mà bất cứ ai vượt Trường Sơn cũng phải đi qua.


Thời tiết đã chuyển vào tháng sáu nhưng tôi không cảm nhận được nét gì quen thuộc của đất trời. Dường như Trường Sơn là một thế giới nguyên sơ dung chứa muôn loài, vừa hùng vĩ lại vừa bí hiểm, hoang vu. Đời người hi hữu lắm mới có thể quay đây một lần. Những cảnh vật lạ kỳ trong mơ cũng không có được.

Vượt qua vô vàn những gian khổ trên đường, chúng tôi đã ngốn được hơn nửa chặng hành quân.


Các thủ trưởng đơn vị tập họp quân số củng cố lại đội hình xộc xệch mấy tháng nay. Nét mặt các anh đượm vẻ lo lắng ưu tư. Cần phải đưa đơn vị đi tiếp trên chặng đường gian khổ hơn với tất cả nỗ lực của tập thể và cá nhân. Đó là mệnh lệnh trách nhiệm đồng thời cũng là lương tâm của những người cầm quân nắm giữ trong tay một thực lục quí hiếm của chiến trường. Nhưng một thực trạng không thể phủ nhận: sức đoàn quân đã giảm sút rõ rệt, hầu như không còn ai khỏe mạnh, hăng hái. Từ cán bộ đến chiến sĩ nước da chuyển sang màu xanh xám, than chì. Hơn bốn tháng trời hành quân trong điều kiện hết sức gian nan đã làm vơi cạn phần lớn sinh lực trong mỗi người. Những người nằm xuống đã yên một bề. Họ yên nghỉ mãi mãi với Trường Sơn. Những người còn lại phải ráng sức đi cho tới nơi, tới đích. Không khắc phục khó khăn, đau bệnh để đi tiếp, kể như tự kết thúc mình giữa rừng xanh.

Thủ trưởng Hoành và thủ trưởng Ty kêu gọi mọi người:

-Sốt rét, không được nằm, phải cố gắng đi lại luyện tập thân thể, mới tiếp tục hành quân được.

-Hãy ráng ăn vào để cơ thể có sức trụ lại với những cơn sốt rét.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:44:45 PM
Lúc này trong ban chỉ huy đại đội, chỉ còn ông Hoành là chưa lâm bệnh. Ông Ty rất gương mẫu rèn luyện trước anh em, khi sốt, không nằm, thường xuyên đi lại vận động và tích cực ăn đủ định lượng. Khi nào lên cơn sốt nặng lắm thì ông trùm chăn ngồi run rẩy như ngồi đồng. Nhưng khốn nỗi, học tập được hai thủ trưởng là điều vô cùng khó khăn. Đã bị cơn bệnh sốt rét hành hạ thì người ta thèm nằm vô kể, đi đứng là một cực hình, do lượng máu không đủ cung cấp lên não nên đầu luôn đau buốt, mắt hoa chóng mặt, chân tay bải hoải chỉ chực nằm xuống, mà cơ thể vốn đang thiếu hồng cầu trầm trọng. Uớc chi lúc này không phải làm nhiệm vụ hành quân được nằm ở nhà mình, nằm ngày này qua ngày khác không phải lo nghĩ việc mỗi sáng mang ba lô, súng đạn gạo nước, chống gậy ra đi...


Còn ăn thì có gì? Mỗi người chỉ được cấp một ông cóng ruốc thịt, trong đó pha trộn thuốc chống sốt rét, tê phù... một kilôgam muối và năm lọ mì chính. Chừng đó chia ra cho suốt đường hành quân. Đến đây số thực phẩm "cốt tử” này đã tiêu thụ hết trên hai phần ba. Có điều lâm bệnh khoảng một tuần mà ngửi thấy mùi ruốc thịt là sợ vô cùng. Một thứ mùi ngai ngái hăng hăng như thuốc bắc bốc lên muốn ói. Người bệnh nuốt miếng cơm với ruốc thịt vào lại nhè ra đầu miệng, không tài nào ăn nổi. Cả mấy tháng ròng chỉ có một thực đơn "phát khiếp” đó, khá hơn thì lâu lâu chịu khó cải thiện được bữa canh rau lá bầu đất hay lá khoai môn rừng nêm muối và bột ngọt, nuốt tới đâu mát tới đó. Bộ đội thiếu chất nghiêm trọng là nguyên nhân của lắm thứ bệnh hiểm nghèo. Lúc này chúng tôi mới thấy sự bất hợp lý trong trang bị cho người linh đi B, hay nói đúng hơn là một sự thiếu khoa học, không sát hợp tình hình thực tê trên đường Trường Sơn. Thay vì cần mang nhiều thúc ăn, chất bồi dưỡng, thuốc men thì lại mang áo đông xuân, quân phục ka ki, võng bố, ni lông tăng dày cộp. Lẽ ra chỉ nên trang bị súng đạn gọn nhẹ đủ tự vệ dọc đường, hoặc trang bị cơ số ít hơn biên chế để lính đảm bảo sức khỏe vượt qua được núi non ghềnh thác, đi nhanh tơi chiến rường làm nhiệm vụ chiến đấu, thì lại biến các đơn vị chính qui thành dân công vận tải vũ khí, trang bị. Kết quả là lính ốm đau, chết và mang bệnh nằm lê thê suốt dọc đường, thu dung hàng năm không hết.


Số người đến được vị tri tập kết toàn bệnh tật, phải an dưỡng, điều trị, không làm gì được và tiếp tục từ trần... Chắc rằng khi thảo ra kế hoạch hành quân, công tác tổ chức đã không giải hết con toán hóc búa, mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh thắng trận đầu. Tinh thần lạc quan cách mạng, tính nỗ lực chủ quan là điếu không thể thiếu đối với đơn vị đi chiến đấu. Song nếu có cái nhìn thấu đáo lường hết những bất trắc trên đường đi, thì hiệu quả hành quân sẽ đạt được tầm mức của nó. Những hao hụt nếu có, không đến nỗi nặng nề nghiêm trọng như thực trạng Đoàn 307, 308. Trông nét mặt lo lắng của các đồng chí trưởng đoàn lúc này, ai cũng thấy là tình hình còn rất khó khăn. Tôi nhớ trước ngày Đoàn 308 xuất phát lên đường vào Nam, thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến tận Kim Bôi động viên và giao nhiệm vụ cho trung đoàn phải đánh thắng trận đầu. Giờ đây nỗ lực trung đoàn có cao bằng trời cũng khó có thể thực hiện được quyết tâm của lãnh đạo.


Đơn vị nhổ trại "cuốn chiếu" theo dọc sườn phía Đông Trường Sơn. Anh giao liên vẫn lạnh lùng phổ biến tình hình đường đi, mà tôi hiểu nỗi gian truân sẽ trút xuống người chiến sĩ một cách ác liệt hơn. Nhiều anh em chúng tôi sốt ruột hỏi:

-Đã sắp tới chưa đồng chí?

Anh giao liên miễn cưỡng trả lời:

-Có đi có đến, không đi không đến.

Chúng tôi bực mình nói với nhau:

-Người ta không buồn trả lời mà hỏi làm gì.

-Ở đây anh ta là ông tướng.

-Đi như anh ta thì ai chẳng đi được, thử vác cối xem?

Từ đó trở đi chúng tôi không hỏi giao liên nữa, chỉ cắm cúi đi. "Có đi có đến, không đi không đến". Tự thân câu nói như "sấm trạng" ấy của giao liên cũng khái quật lên được tinh chất gian khổ, ác liệt của con đường có một không hai này.


Ở quãng này toán đoàn bị đói. Do không bố trí được trạm cấp gạo theo qui định dọc hành lang nên tới trạm 58 (số thứ tự do tôi ghi) mỗi người phải mang 15 ngày gạo. Đó lã một cự ly quá xa trong khi sức lực mọi người đã bị tiêu hao. Miếng ăn sẽ hành hạ đôi vai người lính vốn đã chịu đựng quá tải. Song đành phải như thế không còn giải pháp nào khá hơn. Nêu như ngoài B3 (Khu 5) gạo đổ trắng đường rất phí phạm thì tới đây gạo quí hơn vàng. Chúng tôi mỗi người thốn đầy hai ruột tượng mang thử lên người với trang bị cũ, cảm thấy như mình đeo đá, khó lòng đi được. Thế nhưng chẳng ai ở lại. Tâm lý phổ biên lúc này của ta là ăn mau hết gạo cho đỡ nặng, bớt đi một lạng cũng có cảm giác nhẹ đi rất nhiều. Nhưng rốt cuộc thì đâu lại vào đấy. Gạo cán bộ mang được ưu tiên nấu trước, mãi đến những ngày áp chót mới đến lượt chiến sĩ như tôi. Khi rũ túi tượng cũng là lúc vào trạm đóng gạo đầy túi để đi tiếp.


Ở vài trạm đầu, con mắt to hơn cái bụng nên khẩu phần cơm khá hậu hĩnh, có bữa cơm thừa đổ đi, gạo mắc mưa hơi bị chua liền loại ra. Linh ta ăn thả giàn mát trời mây...


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:45:38 PM
Sự phóng tay của những ngày đầu lĩnh gạo đã phải trả giá. Gạo trong hầu bao sắp hết mà trạm mới vẫn chưa cấp (với nhiều lý do mà bộ đội bao giờ cũng phải chịu thua) nên đơn vị nào cũng phải nhịn lại đề phòng đứt bữa. Cả ngày hành quân, mỗi người chỉ còn không đầy một cóng cơm. Những ngày sau thì ít dần... linh ăn cầm hơi. Mang nặng lên dốc, xuống đeo mà bao tử nhẹ quá là chuyện cùng cục. Đang sức trẻ, ăn đói, chân đi không vũng, có khi cào cấu xáo trộn trong ruột làm con người sinh lẩn thẩn. Tuy thế, ngày nào C.17 cũng hành quân tới trạm đúng thời gian.


Đói quá, đi đường lính ta thi nhau kể chuyện ăn cho khuây việc "dạ dày biểu tinh". Anh nào cũng tranh nhau nói về những bữa ăn, món ăn thật ngon lành, độc đáo của quê hương hoặc chính mình đã được thụ hưởng, khiến mọi người nuốt nước bọt ừng ực. Những bữa tiệc mồm đầy sơn hào hải vị nhanh chóng tan đi. Nói cho chán thì cuối cùng ai cũng chỉ ao ước được ăn một bữa cơm gạo trắng với rát muống luộc chấm nước mắm ngon dầm tỏi ớt hoặc được ăn một bữa sắn luộc thỏa thuê. Nhưng ước mơ đơn giản nhất ấy vẫn quá xa vời, ít ra cũng cả ngàn cây số mới có. Tốt hơn hết là cố lên đi cho tới trạm. Chân cứ bước, dạ dày cứ biểu tình, mặc thây đói. Cái đói như đạo tặc tác động trực tiếp đến đoàn quân nhưng mọi người vẫn lại cùng nhau bước tới, vì rằng không ai có thể bước thay mình được.


Tuy nhiên không ít chuyện tủi buồn sinh ra từ thiếu thốn, đói khát. Hôm đơn vị đói tới mức báo động, tiểu đội tôi là nạn nhân của trò chơi cắc cớ độc chiêu của anh chàng "vô tư" nào đó. Buổi tối anh nuôi Ty đã vắt đủ mười nắm cơm gom lại để nơi đầu võng, vì sợ phát cho tùng người thì chúng tôi “lẻm" hết ngay trong đêm. Nhưng sáng dậy chuẩn bị lên đường thì ai nấy chưng hửng, toát mồ hôi. Mươi nắm cơm "bốc hơi" đâu sạch. Cả tiểu đội điếng người, dành mang bụng không mà đi. Dọc đường bao tử cồn cào ghê gớm, tôi định xin cơm của một anh bạn thân ở tiểu đội khác nhưng thấy khẩu phần anh ta hẻo quá nên thôi. Có nơi, mấy tay "bợm đói” nẫng cả cơm của thủ trưởng mới hết nói. Chuyện mất cơm xảy ra lai rai nhiều nơi chứ chẳng riêng gì "xê" tôi, âu cũng thường tình. Nó đóng góp thêm một nét hài hước vào kho chuyện cổ tích Trường Sơn. Các thủ trưởng thương lính nên cũng chẳng ai đặt vấn đề truy tìm thủ phạm của những vụ việc ấy cả.


Những hôm đi qua làng bản của đồng bào dân tộc thiểu số, lính có phần tươi tỉnh hơn. Đông bào ở đây từ bé chí lớn thích đủ mỏi thứ vật dụng bộ đội mang theo, từ cái kim băng, khăn mặt đến chiếc áo sơ mi đen cộc tay dành riêng cho sĩ quan. Các cô gái thích nhất là các thứ kẹp tóc, kim khâu... Thế là những cuộc "trao đổi" diễn ra dọc đường đến lã thú vị. Bà con trong bản mang ra chuối, mít, gà, rượu... mặc cả nhẹ nhàng với khách, đại thể khi nào nói "ưng" là coi như ngã giá. Hình như họ cũng chỉ biết mỗi tiếng đó của người Kinh để giao tiếp với bộ đội qua đây. Hai bên thỏa thuận trao đổi rất đơn giản "một đổi một", lớn nhỏ cũng chỉ là một...


Có chuyện ngược đời đến tức cười, một chiếc áo sợi đông xuân đổi một con heo to nhưng chiếc áo len giá trì gấp mấy lần chiếc áo đông xuân chỉ đổi được con gà, bởi các bà các cô soi lên trời thấy áo len có nhiều lỗ sáng hơn áo sợi nên cho là xoàng hơn áo sợi.


Một hôm đại đội đem đồ đổi được một con chó béo quay nhưng ngặt nỗi chẳng có chút gia vị nào để chế biến món đặc sản "cao cấp" này, đành đem thịt kho với muối và mì chính. Vậy mà khi ăn ai cũng ồn ào khen ngon. Tôi không biết ăn thịt chó nên không được thưởng thức món ăn độc nhất vô nhị ấy.


Đồng bào sống trên đỉnh Trường Sơn ham nhất là muối, nhưng muối cũng là món "ruột" của lính nên không thể xả láng được. Có hôm tôi "bóp bụng" xúc một thìa muối đầy đổi được một chai rượu gạo màu đục như nước gạo. Anh em xúm lại mỗi người ngửa cổ tu một hơi rồi đi, người nghe lâng lâng sảng khoái. Một chút phong trần lãng tử cũng làm cho lòng người thư thái một chút giữa rừng sâu.


Phong trào đổi chác lan rộng tới mức trên đoàn lệnh xuống phải chấm dứt; tập thê, cá nhân nào vi phạm sẽ bị kỷ luật. Nhưng quân lệnh này không mang tính khả thi vì đội hình trung đoàn quá dàn trải phân tán, khó kiểm soát được, trong khi cán bộ, chiến sĩ đang thiều dinh dưỡng trầm trọng. Do thế đơn vị nào cũng dấm dúi đem quân trang, tư trang đi đổi lấy "chất tươi". Có thủ trưởng còn cho lính đi sâu vào bản tầm được những món hời hơn như lợn, gà, mít, chuối... Hôm dừng chân chuẩn bị vượt một con sông lợn, không hiểu ngoại giao bằng cách nào mà đại đội “thỉnh" được con lợn to gần trăm ký đem về làm thịt, dồi lòng cẩn thận ông Hoành cho mới cả đơn vị bạn gần đó tới "liên hoan".


Lâu lắm rồi mới có bữa lòng heo thịnh soạn đến thế, cánh lính trẻ chúng tôi tranh thủ đánh chén thốn căng dạ dày. Chỉ một loãng đã làm sạch đống thịt đầy ụ trên tấm ni lông. Ông Hoành cứ tiếc rẻ là không có chút xị đế.


Ông Ty, ông Vân, có thì ăn nhưng tuyệt nhiên không khuyến khích hoặc “mật lệnh cho lính đi đánh lẻ". Anh Vinh thì không quên "lãnh đạo" anh em trong chuyện quan hệ với dân bản: ở rừng cũng phải có kỷ luật chứ không có “kỷ luật rừng". Được bổ dưỡng chút chất tươi sau những tháng ngày kham khổ, ai cũng thấy mình khỏe hẳn ra.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:46:42 PM
Ngoài “ăn tươi" ra, lính ta còn được dịp "bồi dưỡng mắt" thoải mái. Chẳng là phụ nữ vùng này chỉ bận váy, còn nửa trên để trần một cách tự nhiên. Phong tục đồng bào dân tộc ở đây là vậy. Con gái bảo rằng đó là của trời cho nên không cần che giấu. Một hôm hành quân qua bản, thấy mấy cô sơn nữ đứng ngoài sân giã gạo, cái thứ "trời cho" ấy lên xuống theo nhịp chày khiến nhiều anh chống nòng pháo xuống đất đứng nhìn, quên cả đi. Tới trạm, thủ trưởg Hoành đem chuyện ra “xạc" liền. Anh em chẳng sợ lại còn khúc khích cười với nhau. Có anh bạo miệng nói:

-Thì nó sờ sờ ra, làm sao không nhìn?

Lại có cậu hóm hỉnh "bình" thêm:

-Có mất tiền bạc gì đâu. Của trời cho mà, cơ hội nghìn năm có một, dễ gì được... nhìn.

Chỉnh đốn cho có lệ thế thôi, chứ thủ trưởng cũng chẳng nỡ nào bắt lỗi mấy anh sốt rét giữa chồn thâm sơn, lại xa phái đẹp những ba bốn tháng nay. Chuyện "rửa mắt" như thế còn lặp lại vài lẫn trên con đường mộng mị xuyên vương quốc Trường Sơn...


Đi qua bản lâu rồi mà hình ảnh "thiên thần" ấy cứ theo mãi trong những câu chuyện trên trời dưới đất của lính ta.

Đến quãng cực Nam Trung Bộ thì ông Hoành lên cơn sốt, mặt mày đỏ chín. Ông là người ngã bệnh sau cùng của C.17. Cơn sốt lên, ông cố cầm cự nhưng hai đầu cây mắc võng vẫn rung lên như sắp đổ. Ai cũng khen ông "đến đây vơi mới ngã là quá giỏi". Cũng may là ông có sức đề kháng mạnh, lại mang nhẹ và có ý thức dự trữ đường sữa, chấp hành nghiêm chế độ uống thuốc phòng, không thì đổ đã lâu.


Ông Ty, ông Vân, anh Vinh sốt từ đoạn cuối Khu 5. Phó chính trị viên Lý Thế Vinh là một tâm gương đáng khâm phục trong rèn luyện sức chịu đựng để chống lại con bệnh sốt rét. Cơn lên, anh trùm chăn ngồi chứ không nằm, dứt cơn là đứng dậy đi lại vận động đến bữa ráng ăn đủ định suất. Dọc đường đang cơn sốt, anh vẫn mang giùm đồ cho anh em ốm nặng. Có hôm tới trạm, đặt ba lô xuống, anh đi ngược lại mấy cây số cõng đồng đội bị bệnh rớt dọc đường. Anh Vinh dáng người to chắc, bệnh khó quật được. Anh hành động không phải để làm gương mà thực lòng lo lắng đến tình trạng giảm sút sức khỏe của đơn vị.


Ở khẩu đội 1 có cậu Thái người cùng cơ quan với tôi ở Hải Phòng, nhập ngũ cùng một ngày, nhưng cậu ta hơn tôi ở tinh thần phấn đấu nhập cuộc. Năm đầu huấn luyện cối 82, Thái trở thành đối tượng Đảng. Đến ngay đi B, cậu ta càng tỏ rõ vai trò của một đoàn viên ưu tú. Và niềm vinh dự mơ ước trong đời đã đến với Thái. Chi bộ đại đội 17 kết nạp anh vào Đảng ngay trên đường hành quân ở trạm thứ 35. Thái người mảnh khảnh dáng thị thành nhưng thường ra tay tế độ, cõng anh em ốm trong khẩu đội mình. Ở vai trạm, tôi tận mắt thây Thái hì hục trở ngược con đường, hỗ trợ anh yếu, mệt bắt kịp đội hình. Hình ảnh Thái cõng bạn đi trong đêm tối trông thật cảm động. Nhưng giờ đây anh Vinh phải lặn lội đi đón cõng Thái vế. Gần tới trạm, Thái đi không, tay chống gậy, người lép xẹp xiêu đổ, mắt khi nhắm khi mở, gặp tôi anh không buồn chào, chắc là đuối lắm rồi. Từ hôm đó trở đi tôi không còn gặp Thái nữa.


Các hạ sĩ quan như Mẫn, Yêm, những đảng viên trẻ, các chuẩn ủy Nho, Cậy đều là nhũng tấm gương đáng nể, khi nào cũng gồng mình lên vì chiến sĩ. Các anh như những con ngựa thồ khuân vác hết súng đạn, lương thực của người này đến người khác nhưng vẫn tổ chức chỉ huy tiểu đội, trung đội hành quân mỗi ngày.


Người cao tuổi nhất trong đơn vị là thủ trưởng Ty, cũng là người mà tôi thương cảm nhất, sốt rét liên miên, người ông nhỏ lại như trẻ con, vậy mà còn phải "đeo" thêm một chiến sĩ như "cái đuôi" sau lưng. Cậu ta là Dư, người cao lêu nghêu, mới bị bệnh quáng gà, cứ tới chập tối là hết thấy đường, chân vấp liên tục vào gốc cây, mô đá, ngã như chộp ếch. Lâu lâu lại nghe tiếng uỵch kèm theo tiếng kêu nhói óc: "Trời ơi, đau quá?". Ai cũng bệnh, lại mang vác nặng nên không đủ súc dìu Dư. Thế là cậu ta chỉ còn cách bám vào ba lô cửa đại đội rường mà đi. Lúc này hai chân ông Ty đã phù to, bấm lõm vào, bước đi nặng trĩu khô khăn, lại có người trĩ kéo sau lưng, cực khổ nào bằng. Nhưng ông vẫn cắm cúi đi đầu hàng quân một cách kiên nhẫn, đưa người chiến sĩ mờ mắt từ trạm này sang trạm khác. Thỉnh thoảng ông bị đổ vật xuống đường bởi Dư bất thần lăn đùng sau lưng kéo ông ngã xuống theo. Tôi nghĩ ông Ty "chịu trận" với người chiến sĩ không phải bằng sức lực mà bằng lòng nhân ái của một người anh cả đơn vị. Và chắc cả đại đội, tiểu đoàn, thậm chí trung đoàn chỉ có ông mới làm được việc đó.

Đại đội phó Vân vẫn âm thầm làm cái công việc bao chót đội hình, khổ sở trăm bề với anh em rơi rớt thu dung dọc đường.


Riêng tôi lúc này phong độ cũng đã sa sút. Tuy vẫn cố bình thản tươi tỉnh mỗi khi có người nhìn, nhưng liền sau đó trở lại héo rũ vì nhức đầu tay chống gậy bước đi trậm trà trậm trật. Tôi bị con bệnh "bắt giò" từ quãng Kon Tum, thế cũng là muộn lắm so với anh em pháo thủ. Hôm đầu lên cơn sốt, giời nóng phừng phừng và khát nước tưởng chừng uống cạn cả khe suối Trường Sơn. Đang đi, gặp ai tôi cũng xin nước uống, vớ được bi đông của bạn là dốc ngược tu cho bẵng hết. Có anh phải giằng bi đông ra khỏi miệng tôi. Không đã, tôi nhận bi đông xuống suối bỏ thuốc lọc nước vào lắc lắc, tiếp tục uống, bụng no tròn mà văn khát một cách kỳ lạ. Vài ngày sau, tôi đi trong trạng thái chếnh choáng, đầu nhức ong ong, da nóng hâm hấp, chân tay uể oải, cái màu da đỏ phừng phừng ngày đầu chuyển sang màu xám. Hàng vạn hồng cầu bị tiêu diệt. Lúc này tôi mới nhận ra: À sốt rết là như thế, lâu nay chỉ nghe vậy thôi chưa biết đích thực nó ra sao. Vậy là đã tới lượt mình. Tôi vừa lo lắng vừa cảm thấy uể oải khác thường.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:47:19 PM
Ký sinh trùng đã bắt đầu hoành hanh trong cơ thể nên khí sắc giảm nhanh trông thấy. Đi đường, tôi chỉ mong được giải lao. Áng chừng đi được gần một giờ thi nhóng cổ về phía ước xem đã láo nháo nghỉ chưa. Nghe có lệnh nghỉ mười phút, tôi để nguyên ba lô và súng trên vài, kiếm chỗ nằm ạch xuống. Khi nghe hô đi, lại nắm vào thân cây trước mặt co mình đứng dậy, vớ cây gậy dựng kế đó, bước đi. Phần đông anh em đều sử dụng động tác đó một cách thành thạo.


Bệnh tình trong tôi tăng lên từ hôm đơn vị vượt qua một con sông rộng, hai bờ trống trải. Hình như đây là một nhánh của sông Mêkông, con sông nổi tiếng xuyên suốt ba nước Đông Dương. Đây cũng là mục tiêu đánh phá của máy bay địch, bởi chúng biết rất rõ các đơn vị vào Nam đều phải qua con sông này. Trên trời lâu lâu lại xuất hiện con "đầm già" L19 trinh sát, sẵn sàng chỉ điểm cho phản lực đánh bom khi phát hiện được đối phương. Tôi vốn bơi kém nên rất sợ sông nước, người lại đang sốt cao khoảng 39 đến 40 độ nên định đánh liều ở lại bên này sông rồi sau tùy cơ ứng biến. Hầu hết anh em trong đơn vị gói đồ đạc vào ni lông bơi qua một chuyến là xong. Trông họ bơi như rái mà tôi phát nản, chỉ sợ khi ra giữa dòng chảy sễ bị cuốn trôi về hạ lưu thì đi tong.


Tôi không đủ can đảm bơi qua một lúc cúng đông đội. Nấn ná mãi trong một tâm trạng lo âu hồi hộp, cuối cùng vận may cũng đến. Mấy tay cùng hội "thợ lặn” như tôi từ đâu đến rủ nhau chặt cây bứt dây kết bè để qua sông. Sau một giờ kỳ cạch kết được một chiếc bè nứa thô thiển, bọn tôi đẩy xuống nước rồi hè nhau vượt sông. Được thể tôi quẳng hết ba lô, quần áo lên bè, ùm ùm lội xuống bám vào bẽ bơi theo. Người đang nóng như lửa gặp nước muôn sôi lên. Chiếc bè vừa cập bến thì máy bay địch xuất hiện đảo vòng trên dòng sông. Hú hồn! Gía như còn lềnh bềnh trên sông thì chắc chắn là mồi ngon cho chúng xơi tôi. Tôi lên bờ mặc quần áo rồi đi tiếp kịp nhập vào đội hình của đoàn. Lúc này, tôi cảm thấy mình trở nên chậm chạp, mất thăng bằng ghê gớm, đầu óc quay cuồng. Khi đi trên một thân cây nhỏ bắc qua dòng suối tôi suýt lao cả người xuống những vỉa đá gồ ghề dưới đáy sâu. Tới trạm dừng quân, tôi ráng sức mắc xong chiếc võng rồi nằm vật xuống mê sảng. Anh nuôi Ty nấu cháo, cho ruốc thịt vào, đem đến vực tôi dậy năn nỉ tôi ăn, nhưng miệng đắng nghét không tài nào nuốt nổi. Ngọc Nam trong C bộ cũng đến động viên tôi cố ăn vài miếng lấy sức sáng mai đi. Anh em tốt quá nhưng tôi không thể làm theo lời khuyên chí cốt của đồng đội. Tôi trùm tấm vỏ chăn nằm rũ, miệng nói lảm nhảm vô hôi. Có những phút tỉnh táo nghĩ tới người thân, bạn bẽ, nhớ tơi quê hương xứ Nghệ của tôi, nhớ tới những ngày khỏe mạnh hành quân qua các làng quê trên đất Bắc, những đêm trăng ca hát, kể chuyện huyên thuyên, những đồi sim chiều trung du tím ngắt, những khung cảnh lạ kỳ lần đầu bắt gặp... bất giấc một niềm sợ hãi xâm chiếm vào lòng tôi. Lẽ nào tôi không đi tới đích mà phải nằm lại dưới ba tấc đất của Trường Sơn. Nhưng rồi sự sống trỗi dậy trong tôi. Sau một đêm mê thiếp trong sự tàn phá của cơn sốt, tôi lại ráng đứng dậy mang ba lô, vác súng, chống gậy bước theo đơn vị. Nhũng ngày sau, tôi vừa đi vừa rên rỉ suốt dọc đường, trong đầu ong ong trống rong, thấu buột Thủ trưởng Ty quay lại cằn nhằn:

- Sốt nặng sao không nằm lại trạm mà cứ đi theo...

Tôi nín lặng, nhưng chỉ được chốc lát tiếng rên lại bật lên không thể nào kừn được. Thủ trưởng Ty rầy tôi là phải nhưng tôi không thể nằm lại trạm thu dung, nơi thu nạp những con bệnh kiệt quệ từ khắp các đơn vị dồn về, trong đó có nhiều người sắp trở về cất bụi. Có chết tôi cũng đi theo đơn vị. Sau đó, những ngày sốt li bì phải nằm lại trạm buồn vắng, bơ vơ, không anh nuôi, không có y tá chăm sóc, phải chứng kiến cảnh đồng đội đau ốm qua đời, tôi nhão cả người. Có lẽ trên đường dây không nơi nào bệ rạo, buồn chán như trạm thu dung. Cái bệnh thi nhau hành hạ người linh đến phờ phạc và quật đổ họ bất cứ lúc nào. Hôm cắt cơn, tỉnh dậy đuổi theo đơn vị mới thây hết cảnh cô đơn hãi hùng. Con đường mòn vắng tanh, thăm thẳm như dẫn về một nơi nào đó vô tận. Lâu lâu mới gặp một người cũng rơi rớt như tôi Không có ai dẫn đường, chỉ có những chà cây rấp làm dấu cho người đi sau. Nếu gặp ngã ba, chà cây rấp bên trái và trước mặt là rẽ phải, gặp ngã tư chà cây rấp hai bên là đi thẳng. Có nhiều ngã rẽ rắc rối chẳng biết đi lối nào nên đi lạc lòng vòng hết mấy giờ phát khóc. Nhưng như thế còn may. Ông Tự, một cán bộ có tuổi đi sau tôi bị kẻ nào chơi ác lây chà cây bên này rấp sang bên kia khiến ông đi lạc bảy ngày tới tận xừ nào. Ông bảo, lúc đó một mình giữa rừng sâu hoang vắng ông cực kỳ hoang mang, không còn định được phương phường. Ông hoảng quá đánh liều chất củi đốt lửa lên cho máy bay địch tới đánh bom để may ra có người tới cứu. Nhưng khốn thay, máy bay hết chiếc này đến chiếc khác bay qua đều “tỉnh bơ" chẳng chiếc nào chịu đánh bom cả. Mấy ngày trời giữa rừng rú mênh mông không có một bóng người, ông Tự buộc phải lộn ngược trở lại ở đường cũ ngót cả tuần mới tìm được trục đường chính hành quân nhập với những người rơi rụng, tìm về đoàn bộ.


Nhờ cố gắng ăn uống, tập đi lại, thể trạng có phần hồi phục, nên tôi tiếp tục hành quân đuổi theo đơn vị.
Một buổi sáng, tôi rời trạm thu dung, Ngọc "thông tin" ốm lết võng cũng mang ba lô, chống gậy đi theo. Nhưng mới rời trạm vài trăm mét, tơi chân dốc đầu tiên Ngọc liền ngã quy. Tôi biết cậu ta sợ phải nằm một mình đơn độc trong trạm nên cố đi theo chứ làm sao kham nổi chuyện hành quân đường rừng leo núi trong tình trạng sức khỏe xấu như thế. Suốt ngày hôm trước, Ngọc chẳng ăn uống gì, chỉ năm trên vong trùm tấm vỏ chăn, gân cốt nhũn nhão nên hôm sau "kềnh" ngay từ những phút đầu là điều không tránh khỏi.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 21 Tháng Chín, 2008, 06:47:59 PM
Đến lượt cậu Quảng người cao to, pháo thủ số 3, rời khỏi trạm vẫn vác bàn đế cối 82 nhưng lên tới đỉnh dốc thì ngã vật ra bất tỉnh nhân sự chiếc bàn đế giáng nạnh xuống đất một cái rầm. Mọi người xúm lại làm động tác cấp cứu hồi sức cậu ta, nhưng chẳng ăn thua gì. Chúng tôi đều là những con bệnh đang bị rơi rớt nên dường như bất lực trước cơn choáng nặng của cậu pháo thủ hộ pháp. Ngọc và Quang khi tỉnh dậy đành phải trở lại nơi mình xuất phát sáng nay để chờ thu dung hoặc tự đi tiếp. Sau này tôi được biết Ngọc không qua khỏi dòng sông Sê-rê-pốc. Anh vĩnh viễn nằm lại dưới chân đồi, còn Quang vào được chiến trường miền Đông nhưng cũng đã hy sinh trong chiến dịch phản công đánh bại cuộc hãnh quân Gianxơn Xity của quân Mỹ đầu năm 1967.


Tôi và mấy người bạn ốm yếu cùng nhau theo con đường mòn hun hút đi tới một bờ sông gặp ngay cảnh tượng ngán ngẩm: kẻ dừng người ngồi, nằm ngổn ngang. Chắc C.17 đã vượt qua sông từ lâu không hy vọng đuổi kịp. Chúng tôi lấy võng mắc ngả lưng chờ đến lượt mình qua đò. Bao nhiêu người qua sông mà chỉ có mỗi chiếc đò chở được mươi mạng một chuyến thi làm sao chóng vánh được. Con sông không chảy xiết nhưng nước xanh lẻo trông rờn rợn. Mãi về sau tôi mới biết đó là sông Sê-rê-pốc nằm cuối cao nguyên. Những người khách qua đò đều là dân "rơi rụng" của nhiều đơn vị họp lại, tìm đỏ mắt không có lấy một người quen.


Trong những câu chuyện hỗn độn của đám khách, tôi được biết Tuấn, anh bạn yêu văn thơ của tôi đã chết trên một đỉnh đồi phía sau. Cậu ấy sốt rét đã lâu, cơ thể suy kiệt, lại đi một mình nên không qua nổi cơn dốc bậc thang mà người khỏe mạnh cũng thấy chờn mình. Người ta kể rằng cậu ấy nằm gối đầu trên ba lô, mắt mở trừng trừng nhìn lên đỉnh rừng, tay còn cầm chiếc bi đông rỗng không còn một giọt nước. Thế là anh chàng có tâm hồn lãng mạn dạo trước cùng tôi đứng bùi ngùi trước một người trai trẻ sắp qua đời, hôm nay đã yên nghỉ trên đỉnh Trường Sơn.


Đến lượt chúng tôi qua sông. Ai nấy mừng rỡ lục tục bước xuống bến thì đụng phải chuyện kỳ cục. Những anh giao liên người dân tộc thiểu số, da nâu bóng, lừ lừ nhìn chúng tôi. Rồi không hiểu sao, từng anh thẳng tay tước gậy của bộ đội, lạnh lùng vứt xuống sông rồi mới cho xuống đò. Tôi giở trò ma lanh cố giầu chiếc gậy dưới khẩu súng trường cũng bị một anh rút phắt liệng ra xa chiếc thuyền. Tôi nhìn theo chiếc gậy của mình trôi dập dềnh trên mặt nước, lòng dậy lên niềm tiếc nuối như phải rời xa một người bạn. Mây tháng nay đi Trường Sơn, nhờ nó mà tôi mới đến đây. Vậy mà...


Sau này tôi mới rõ đây là một quy định do chính những người giao liên đặt ra ẩn chứa điều mê tín gì đó. Ngoài ra chẳng có chuyện gì quan trọng cả. Không lẽ một cây gậy nặng chỉ vài ba trăm gam mà làm tăng trọng lượng đến mức chìm thuyền. Nhưng có ai dám cưỡng lại? Qua sông thì phải lụy đò, câu các cụ dạy chẳng sai?


Không có gậy, người bạn đồng hành chí cốt đã bao ngày, chủng tôi đi đứng trở nên chập chững khó khăn như trẻ nhỏ tập đi. Bọn tôi thầm rủa mấy “ông trời con" đưa đò sao độc ác quá vậy nhưng nghĩ lại thấy thương và cảm phục họ. Cũng như nhiều con sông tôi đã qua, những người lái đò trên dòng Sê-rê-pốc này quanh năm suốt tháng phải dãi dầu mưa nắng, cực nhọc đưa hàng ngàn hàng vạn bộ đội, cán bộ dân chính qua sông. Họ cũng chịu đựng gian khổ không kém gì những người lính chúng tôi. Tôi còn nhớ mãi những chiếc ghế đóng liền vào thân cây nằm im lặng dọc con đường rừng. Đó là những cái giá để các thùng đạn cao quá đầu mỗi khi nghỉ mệt của các cô gái Bana tháng ngày tải đạn ra tiền tuyển. Gùi đạn của các cô gồm năm, sáu thùng đạn AK kẹp lại, sức vóc như thanh niên chúng tôi không quen, chưa chắc nhắc nổi. Vậy mà các cô gùi lên vai bước đi thoăn thoắt. Bóng dáng những cô gái khiến con đường gập ghềnh gian khổ như dịu bớt phần nào.


Từ bờ sông bên này, qua khỏi một bãi cát, lại tới một dòng sông trải dài dưới bầu trời bao la. Nhưng lần này thì mọi người tuy nghi thoải mái lội qua. Nước chỉ dập dềnh ngang ngực mát mẻ dễ chịu, bù đắp lại sự căng thẳng khi qua con sông trước đó.


Từ đây đường sá bằng phẳng, thấp dần. Tôi ngạc nhiên hỏi người đi đường mới hay là mình đã đặt chân sang nước bạn Cam-pu chia, xứ sở của Biển Hồ, của Ăng Ko trong những trang sách tôi đã học. Những rừng le, rừng dầu ngập nắng mênh mông, đi suốt ngày không hết. Dường như đây là vùng "đất thánh", không máy bay, biệt kích, bom đạn... Chúng tôi bình tĩnh đi trên con đường mòn nổi cát vươn dài bất tận...


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Chín, 2008, 06:43:50 PM
Y tá bất đắc dĩ


Tại một trạm rừng le từng khóm thấp tè, tôi bắt kịp đơn vị. Thầy thủ trưởng và anh em tôi mừng chảy nước mắt. Mọi người quây quần hỏi thăm tôi những ngày “lưu lạc dặm đường". Trong khi ông Vân báo cáo tinh hình thu dung lính dọc đường thì thủ trưởng Hoạnh “chiêu đãi" tôi một bát sữa bột, uống tới đâu tỉnh người tới đó. Có dễ ba tháng rối mới có tý chất ngọt và dạ dày, người bỗng nhiên như khỏe ra. Lúc này cơn bệnh trong tôi thuyên giảm, đầu óc nhẹ nhõm hơn trước. Tôi được thủ truởng giao một đặc trách giải quyết các bệnh nhân của đại đội. Chức vụ này có nguyên nhân của nó. Đúng ra chăm sóc bệnh nhân là nhiệm vụ của y tá Phiêu. Nhưng Phiêu đã "phiêu bạt", tụt hậu, từ lâu không đi chung với đơn vị. Anh ta vắng bông bao giờ cũng ít ai để ý, vì thế người nào ốm đau phải tự chăm sóc lấy mình và nhờ đồng đội bên cạnh giúp đỡ. Phiêu là hạ sĩ nhưng đã lớn tuổi, có vợ con, tính hay cau có. Nhất là khi anh em sức khỏe có vấn đề, cần đến anh ta. Anh em kêu ca anh ta từ hồi đơn vị còn huấn luyện ngoài Bắc. Từ ngày lên đường hãnh quân đi B, Phiêu luôn "rên" phải mang thuốc cho đại đội nặng nhọc, chẳng ai san sẻ cho một cân. Vào đến Trường Sơn, Phiêu có sáng kiến chia ba lô, thuốc men thành hai bọc, chặt cây làm đòn quảy ba lô, túi thuốc trông như như người đi buôn. Thấy lạ ai cũng cười nhưng Phiêu nói khỏe bằng mấy mang, "đi cả đời" được.


Đội ngũ thầy thuốc trong đoàn nói chung hết lòng phục vụ đồng đội và cố gắng lãm theo lời Bác dạy "lương y như tư mẫu". Các bác sĩ y sĩ y tá đều tận tâm tận lực cứu sống người bệnh từ trong tay tử thần nhưng cũng có anh sinh chứng, lẩn như chạch với bệnh nhân. Có người bảo răng họ thấy mấy anh quân y nấu chè bằng Polivitamin. Chúng tôi nghe, ai cũng lắc đầu, hết bàn luận. Cả một đại đội quân y mang thuốc đi theo phục vụ trung đoàn, ngoài ra ra một phần thuốc men nằm trong đơn vị vận tải, vậy mà có một thời gian không ai nghe tới. Chắc đội ngũ thầy thuốc cũng bị sốt rét vật ngã làm mất sức chiến đấu và bị tản mát dọc đường.


Tôi không rành nghiệp vụ quân y nhưng đành chấp hành khi thủ trưởng giao cho cái chức bất đắc dĩ, mà thực ra lúc này chỉ huy cũng không biết giao cho ai vì mấy anh trong C bộ cũng đã ốm yếu không kham nổi. Cũng nhờ thế nên tôi biết thêm nhiều tên thuốc và một số danh từ y học. Nhưng dù sao thì đã "ách ngoài đàng mang vào cổ", phải rước lấy bao nhiêu chuyện phiền toái. Tôi không sao quên cái hôm đơn vị đến gần bên một dòng sông nước vàng như gạch cua. Đại đội qua hết, chỉ để lại bốn người: hai chiến sĩ, tôi và một bệnh nhân là Đẩu. Lý do, tôi và hai người kia có nhiệm vụ chăm sóc Đẩu, một pháo thủ ốm nặng không thể đi theo đơn vị được. Sau đó bằng mọi cách đuổi theo đại đội. Tôi nản hết sức vì như thể là phải xa đơn vị một lần nữa. Nhưng nhiệm vụ của ba chúng tôi không quá nặng nề như tôi tưởng, chỉ chăm sóc và hộ tống người bệnh đi đường. Ông Hoành là người nhìn thấy vẫn đề trước hết. Lúc chiều hành quân, hai bàn chân của Đẩu đi trật ra ngoài dép mà anh không biết gì. Đó là triệu chứng của người sốt biến chứng sang hôn mê, sẽ quỵ không bao lâu nữa. Bọn tôi mỗi người một tay dọn chỗ mắc võng cho Đẩu nằm. Anh đặt mình xuống và từ đó nằm im thiêm thiếp phó mặc thân cho trời đất. Con bệnh đã đến mức này kể như chẳng còn hy vọng gì.


Chiều xuống. Không gian chìm trong hoang tịch quạnh hiu. Sau khi ổn định xong tăng võng, chúng tôi treo ống cóng nấu cơm ăn tối và nấu cháo cho người bệnh. Nhưng Đẩu nào có dậy nữa. Chức trách tôi là y tá nên phải canh chừng bệnh nhân. Đẩu chỉ còn thở khò khè, mắt nhắm nghiền, miệng ngậm chặt, không thể cạy ra để đổ cháo. Ba anh em hoàn toàn bất lực, bàn với nhau cố gắng chờ Đẩu từ trần, an táng xong rồi đi. Thiên Tào đã gạch tên anh trong sổ. Tội nghiệp anh đã có vợ con! Nhìn Đẩu suy kiệt dần, lòng dạ chúng tôi cồn cào se thắt thương anh. Mỗi ngày nấu cơm ăn xong, hết nằm, lâu lâu lại vào xem Đẩu thế nào. Anh vẫn thở thoi thóp. Chúng tôi sốt ruột vô cũng vì đơn vị ngày một đi xa, làm sao đuổi kịp! Đến ngày thứ tư, Đẩu mới ngừng thở. Ba chúng tôi lãm mọi thủ tục chôn cất anh chu đáo rồi vội vã vượt sông ruổi theo đơn vị.


Chuyện như vậy cũng chưa “đoạn trường" bằng hôm đưa cậu Thuấn vào gửi trạm giao liên. Thuấn con nhà nông dân chất phác, nhưng bình thường đã yếu hơn mấy cậu xuất thân là học sinh. Thuấn bị sốt đã chuyển sang thời kỳ ác tính, súng đạn bỏ lại hết, chỉ mang chiếc ba lô mà đi không nổi. Thủ trưởng Ty bảo tôi đưa anh ta vào trạm giao liên gửi lại. Tôi nghe mà phát hoảng nhưng liền nhớ ra mình là “y tá" đại đội nên nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Đường vào trạm xa hàng tiếng đông hồ, nhưng chưa biết đích xác ở đâu; trời sắp tối, lại phải lần đường mà đi chứ không có ai hướng dẫn. Bộ đội chúng tôi dạo đó có ác cảm với các trạm giao liên cũng có nguyên do của nó. Hầu hết các trạm giao liên trên đương dây đều bố trì rất xa bãi khách. Mỗi ngày dẫn quân tới nơi là giao liên biến mất. Thủ trưởng đoàn muốn bàn bạc trao đổi việc gì phải đi rạc chân mấy giờ mới tới ban chỉ huy trạm. Tôi dẫn Thuấn vào trạm trong trạng thái hoang mang căng thẳng bởi người bệnh đi bên tôi không còn là con người bình thường. Thuấn không nói, không cười, không đòi hỏi, không trả lời. Có nghĩa là anh hoãn toàn vô cảm với xung quanh. Thuấn khát nước nhưng không sao đưa được bi đông vào miệng mình. Chiếc bi đông cứ trôi bên này qua bên kia, làm nước đổ tràn lan trên ngươi. Anh không đi giữa đưỡng mà liên tục lao vào bờ bụi. Tôi cố gắng dìu Thuấn đi cho nhanh vì trời sắp tối, nhưng anh kéo thốc tôi vào gốc cây, tổ mối... khiên tôi có lúc muốn phát điên lên.

Cứ như thế, tôi đánh vật với Thuấn suốt đường cho đến khi trời xẩm tối cả hai mới lần tới trạm giao liên. Tôi thở phào nhẹ nhõm, tính chuyện giao xong bệnh nhân cho trạm quay về đơn vị ngay.

Tôi lấy giấy bút ghi tên tuổi, đơn vị... bàn giao người bệnh cho trạm, nhưng liền chưng hửng. Trạm trưởng không muốn nhận với lý do ngoài y tá phải có cán bộ của đơn vị đi theo bàn giao. Đầu óc tôi tối sầm. Làm sao tôi có thể đưa Thuần trở lại đơn vị? Hộ tống anh-đến đây là cả một kỳ công. Tôi quan sát thấy nhà cửa của trạm khá tươm tất nằm bên dòng suối, "tiện nghi" sinh hoạt, thức ăn đầy đủ. Trong nhà toàn mắc võng ni lông, dây dù, tầm đắp dù hoa (thứ dù nhảy của Mỹ). Thì ra nơi thâm sơn cùng cốc này người ta vẫn tạo ra được cuộc sống đàng hoàng xem chừng còn hơn cả những miền quê nghèo đói. Những chuyện quan liêu, cửa quyền ở đây lại gieo vào tôi một niềm phản cảm khó quên.


Tình hình coi bộ không sáng sủa gì, khó cho họ động lòng trắc ẩn chắc là mình lãnh đủ thôi. Suy tính một lúc, tôi lấy võng trong ba lô của Thuấn mắc vào hai thân cây nhỏ bên cạnh nha bép, dìu Thuần nằm xuống rồi nhét mảnh giấy (biên bản bàn giao) vào túi của anh. Tôi hãnh động như vậy thay cho những lời năn nỉ với cán bộ trạm vì trách nhiệm của tôi tới đây coi như hoàn thành. Tôi không còn làm gì hơn để giúp Thuần. Khi quay lui, nhìn Thuấn, lòng tôi se lại.


Trời tối, không đèn đóm, tôi dò dẫm hàng giờ mới lần về đúng nơi đóng quân ban chiều. Chỉ khi nghe tiếng động quen thuộc và thấy ánh lửa le lói, tôi mới hay mình đã về được đơn vị, mừng không tả hết. Rất may là đường vào trạm độc đạo không thì tôi có thể đã đi lạc, đang lồng lộn tuyệt vọng trong rừng cũng nên. Hai hôm sau, giao liên báo tin cho đơn vị là Thuấn đã qua đời trong trạm, đúng như tôi ngầm dự đoán.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Chín, 2008, 06:46:45 PM
Gian nan cuối đường


Quãng đường bằng phẳng ưu đãi chúng tôi không lâu. Con rồng lính khổng lồ lại vắt mình qua đất Việt Nam. Đây là địa phận của Nam Bộ. Mặc dù mới đặt chân tới lần đầu nhưng cảnh vật nơi đây gợi một cảm giác gần gũi thân thương. Những rừng cây thấp hơn ngự trị trên nền đất đỏ au. Những dòng suối trong xanh len lỏi bên những thân cây đại thụ hàng trăm tuổi. Những cành bứa đâm ngang đeo đầy trái chín rộ vàng... Cảnh sắc thiên nhiên như đưa con người vào chốn mộng du nhưng lại kèm theo những điều khắc nghiệt. Đến đây thì ai cũng phải "đổ máu" không phải vì chiến đấu với kẻ thù mà vì một loài sinh vật có cái tên lạ lùng là "vắt". Lần đầu lính trẻ chúng tôi mới biết chúng. Con vật chỉ lớn hơn cây tăm, dãi độ vài phân nằm đầy trên đất, trên lá lục ẩm ướt. Lúc nào chúng cũng dựng lên ngo ngoe về mọi phía chực bắt mồi. Người đi qua dù nhanh cách mấy chúng cũng bắt kịp chân và bám riết lấy hút máu một cách êm thấm, đến nỗi không cảm thấy gl cả. Một lúc thì ai nấy chân nhoè nhoẹt máu lẫn với bùn đất. Vắt cắn phủi không kịp, nhiều con no nốc đầy máu tự rời ra. Vết cắn còn lại, cứ thế máu chảy thịnh dòng. Chúng tôi vốn đã bị sốt rét mất máu xanh xao càng tiếc cho mình từng giọt máu quí giá cướp đi vô cớ. Nhiều anh có sáng kiến lấy giày tròng vào chân tưởng rằng sẽ chống lại được lũ vắt cắn quài ác, nào ngờ khi cởi giày ra, hàng lô vắt hút máu no nên, máu túa ra nhầy nhụa, trông đến kinh người.

Ông Hoành căm ghét lũ sinh vật này lắm. Đang đi hễ thấy vắt là ông dừng lại dùng gậy ấn nó dí xuống mặt dường, rồi mới bước tiếp ông làm như thế suốt quãng đường có vắt khiến bọn tôi phải sốt ruột lên tiếng:

- Nó hằng hà sa số thế này, làm sao giết nó hết được, thủ trưởng!

Ông Hoành vừa ấn đâu gậy xuống con vắt vừa nói:

- Nó cũng là kẻ thù, các cậu muốn để nó sống hả?

Đi nhiều ngày đoàn quân mới thoát khỏi "quãng đường máu" khủng khiếp mà mỗi khi nhớ lại ai cũng rùng mình.

Cùng với nạn vắt cắn, mọi người phải đương đầu với giặc muỗi. Muỗi ở đây quả là khiếp đảm hơn bất cứ nơi nào. Chúng thèm máu người từ kiếp nào mà vớ được chúng tôi là xông vào đốt. Lúc đi thì chẳng sao, nhưng dừng nghỉ là chúng bâu lại tranh nhau tiêm chích hút máu. Tiếng o o nổi lên như hòa tấu. Vì thế đôi tay của lính ta phải làm việc liên tục. Những con muỗi bị đập chết to như con ruồi, bụng dài có nhiều đốt. Chúng giống như lũ thiêu thân không ngán sợ tránh né gì. Cậu Điển đập muỗi chết không kịp, tự phong cho mình là "dũng sĩ diệt muỗi” làm ai cũng phì cười. Tôi tự hỏi, phải chăng lũ muỗi khủng khiếp này là một trong nhưng nguyên nhân gây nên cái chết của bao đồng đội suốt mấy tháng nay. Chúng mang vi trùng sốt rét của người này cấy sang cơ thể người khác, nên bệnh lan truyền nhanh như nạn dịch. Muỗi Trường Sơn không giống muỗi xứ nào, chúng cắn đau như chó cắn và rất nguy hiểm cho tính mạng con người.


Tuy thế, hai thứ côn trùng vừa kể trên vẫn không kinh hãi bằng con bọ mắt. Cái đêm đoàn qua sông Đa quít, con sông cuối cùng của cuộc hành trình vạn dặm, lại làm tôi nhớ nhất. Đây là con sông duy nhất mà bộ đội phải chống đỡ ác liệt với loại côn trung vô cùng quái ác. Tôi đã đi nhiều nơi, nhưng chưa thấy đâu xuất hiện thứ bọ mắt rợp trời này. Gặp người là chúng đốt không kịp vuốt mặt. Trên cơ thể hở da thịt nơi nào là chúng đáp vào hút máu. Cả một vùng không gian như dày đặc những con bọ mắt li ti. Từ khi xuống tập kết bên bờ sông làm công tác chuẩn bị vượt sông cho tới khi qua sông chúng tôi như bị một cuộc tra tấn tàn bạo. Cao điểm là khi đi qua cầu phao, tay người nao cũng vướng bận, bọ mắt tha hỗ châm chích, da mặt tưởng như đắp thêm một lớp dày cui nóng bỏng. Tôi nghĩ nếu lòng sông rộng thêm quãng nữa, có lẽ chúng tôi chết ngất vĩ chúng.


Tiết trời đã sang tháng 7. Đoàn quân và cánh rừng như ngấm nước mưa đến độ bão hoà, không gian vẫn nặng một màu chì, nghe chìm ảm đạm hơn. Không ai quan tâm đến thời gian nữa, bởi chân đã chôn, gối đã mỏi. Mỗi người phải chống chọi với sức ỳ của chính mình và sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Giữa lúc đó thì một tia hy vọng lóe lên.


Tại một trạm dừng quân trong khu rừng bằng phẳng thưa thoáng, chính trị viên Nguyễn Hoành tập trung đơn vị, phổ biến một tin sốt dẻo quan trọng. Không còn úp mở nữa, ông nói với vẻ xúc động:

- Chỉ còn mươi lăm trạm nữa là đoàn ta tới vị trì tập kết cuối cùng. Tạm coi như tới nơi. Ở đó, sẽ có thịt cá, đường sữa, mắm ruốc…


Thông tin đầy chất lượng đó như một luồng gió mới thổi vào đơn vị, xua đi những cảm giác nặng nề ngự trị lâu nay trong chúng tôi. Mọi người mắt sáng lên, phấn chấn, sức khỏe như trỗi dậy từ những cơ thể ốm yếu mỏi mòn. Gian truân hàng mấy tháng trời nay nghe nói còn mười lăm trạm là tới nơi nghỉ ngơi, ăn uống có chất tươi, cái tin đó hơn cả một liễu thần dược xốc cả đoàn quân mệt mỏi rời rã đứng dậy, đi tới. “Thiên đường” đã ở trong tầm tay. Chúng tôi lao xao bàn tản. Những nụ cười trở lại trên những cặp môi thâm tím. Ông Hoành đưa tay ra hiệu im lặng, hào hứng nói thêm:

- Các đồng chí hãy cố gắng lên? Đại hội 17 của ta quyết tâm tới vị trí qui định một trăm phần trăm quân số có mặt hôm nay.


Không phải trung đoàn động viên xôi thịt mà những điều trên phổ biến là sự thật. Bao nhiêu ngày gian khổ ta đã vượt qua, bây giờ chỉ còn một đoạn chót, chỉ cần mỗi người ràng thêm một chút xíu nữa là ta hoàn thành nhiệm vụ.


Lời động viên của thủ trưởng chính trị khiến bầu không khí nóng lên chốc lát, nhưng nhìn lại đơn vị thấy cái cảnh nao lòng. Một trăm phần trăm quân số C.1 7 lúc này "nấu nồi canh không ngọt" . Khi xuất phát ở Kim Bôi (Hòa Bình), đại đội trợ chiến cối 82 ly biên chế 110 người, đầy đủ sáu khẩu cối, phụ tùng, đạn và vũ khí cá nhân giờ đây chỉ còn hơn 30 người với hai khẩu cối "rưỡi". Các thùng gỗ đựng đạn cối đóng xi nặng 18 ki-lô-gam trang bị cho pháo thủ, phần lớn đã nằm lại dọc đường. Súng AK, CKC, đạn nhọn, nhiều anh em đã đem "biếu" giao liên để đi cho nhẹ. Cánh giao liên rất khoái các thứ này để tăng hiệu quả săn thú cải thiện đời sống. Có anh còn đem cho cả trung liên. Cũng nhờ thế, họ mới mang được cái thân mình ốm yếu tới đây. Có nơi đại đội làm thủ tục ban giao vũ khí cho trạm giao liên, nhưng có nơi anh em tự bàn giao để đuổi theo đơn vị. Không phải anh em coi thường kỷ luật, nhưng phải đi đến đích là quan trọng hơn cả.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Chín, 2008, 06:47:43 PM
Tuy động viên cán bộ, chiến sĩ như vậy nhưng ông Hoành không giấu được nỗi buồn. Có bao giờ ông nghĩ ngày nào đó đại đội 17 “Quyết thắng" thân yêu của ông lại lâm vào tình ảnh này. Nhưng đó là một sự thật phũ phàng mà ông phải nhận ra. Không có cuộc chiến đấu nào không tổn thất, mất mát. "Chân đồng, vai sắt, mắt ngựa, bụng thần tiên"; đi bằng đầu chứ không đi bằng chân"... Những khẩu hiệu đó có tác dụng nhất thời trong một hoàn cảnh nhất định. Còn ngươi lính cũng chỉ là những người bằng xương bằng thịt thì không thể đi mãi bằng khẩu hiệu đó được.


Tuy nhiên, để chuẩn bị lực lượng cho "Kế hoạch X" đề ra từ năm 1964 tập trung lực lượng cho chiến dịch Mậu Thân giải phóng Sài Gòn, cấp trên đã điều quân cấp tốc vào chiến rường và phần nào không lường hết những khó khăn nảy sinh trong quá trình hành quân, nên đã bị tổn thất lớn về quân số. Hậu quả lớn lao của Đoàn 307 và 308 là bài học đắt giá nhất vê sự quan liêu, đơn giản, bất chấp qui luật khách quan, đã được kịp thời rút kinh nghiệm trong việc tổ chức lại đương dây những năm sau đó.

Nhờ thế mà các đơn vị hãnh quân sau này đi nhanh hơn và phần lớn là bảo đảm tốt quân số tới nơi bổ sung cho chiến trường khu 4 và Nam Bộ.

Bên cạnh những tổn thất của C.17, ông Tụ, đại đội trưởng đại đội vận tải cũng mếu máo:

- Anh Ty, anh Hoành ơi, đại đội tôi chỉ còn có chừng ấy...

Ai cũng thương ông Tụ. Đại đội của ông mới là kỷ lục của sự hao hụt. Lúc xuất phát 200 người, nay con số chỉ hỉnh hơn C.17 hiện tại vài mươi người. Nghĩa là quân sô hùng hậu trong tay ông đã bị mất hơn ba phần tư. Rồi đây ông biết ăn nói thế nào với cấp trên. Ông khóc phần vĩ thương anh em hy sinh, bệnh đau, phần vì trách nhiệm của người chỉ huy không hoàn thành. Nhưng trên thực tế ông Tụ và ban chỉ huy cũng đã làm hết sức mình. Sự lo âu day dứt từng ngày không riêng gì ông Tụ mà tất cả các cán bộ chỉ huy đều có tâm trạng như vậy.


Tôi để ý trong C.17 của tôi, phó chính trị viên Lý thế Vinh không còn đi theo đơn vị. Anh được chỉ đinh làm cán bộ thu dung, thu vén số anh em rơi rớt từ quãng Khu 6 trở vào. Anh quả là con ngươi không mệt mỏi, một phẩm chát kiên cường của cuộc hành quân. Một số nhân vật trụ cột cũng đã vắng mặt. Mẫn, Hưng, Dương, Ty anh nuôi... cũng đã qua đời. “Tổ tam tam Hòa Xá" (Hà Tây) mà có lân tôi ca ngợi họ bằng một bài trên báo Quân đội nhân dân cũng không còn. Quê hương của các anh chính la xuất xứ của bài ca nổi tiếng chiếc gậy “Trường Sơn" của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Hôm nay, chiếc gậy Trường Sơn đã rời khỏi tay ba chang thanh niên trong "tổ tam tam" ấy nhưng giai điệu của bài ca, truyền thống của mảnh đất Hòa Xá vẫn tiếp tục thôi thúc bao người ra trận.


Thủ trưởng Đỗ Phạm lại xuất hiện ở trạm này để động viên cán bộ chiến sĩ. Trong ban chỉ huy trung đoàn, thiếu tá trung đoàn phó Đỗ Phạm xuất hiện nhiều nhất trên các chặng hành quân của Đoàn 308. Dường như ông đi tuốt lên đâu đội hình cách chúng tôi cả chục ngày đường rồi lại chờ "cái đuôi" đi tới. Ông có dáng người cao lớn, tác phong linh hoạt, chưa biết sốt rét là gì. Khi nào ông cũng xắn cao ống quần và tay áo bà ba đen, mang ba lô gọn bưng trên vai, kể cả khi nghỉ giải lao, đi lại nói năng rổ rảng giữa ba quân trông rất phong độ. Đi Trường Sơn ai cũng ước được nhưng ông. Nhưng hình như toàn trung đoan "người mẫu" thân tượng như ông chỉ có một.


Đến đây nhìn thấy sắc khí của lính, thủ trưởng Đỗ Phạm không còn tung ra nhũng câu động viên chung chung, thiếu thực tế như trước kia. Và từ đó trở đi, tôi không còn trông thấy ông nữa. Vai trò của ông rất nặng nề, phải bao chót đoàn quân phía sau lưng chúng tôi đang dãn ra như dây thun... Nghe nói khi trung đoàn vào đến vị trí tập kết cuối cúng, thiếu tá Đỗ Phạm được cấp trên triệu hồi ra Bắc báo cáo tình hình. Chưa được nghỉ ngơi gì, ông lại phải lộn ngược theo con đường cũ quay ra. Chắc chắn là ông không được biểu dương gì ngoài việc phải tường trình về thực trạng tổn thất của Đoàn 308.


Mười lăm trạm nữa, cùng lắm thì cũng đi trên hai mươi ngày. Dù sao chúng tôi cũng phải ngốn nốt chặng cuối cũng này để kết thúc nhiệm vụ của mình. "Có đi có đến". Khó hay dễ cũng quyết định ở đôi chân con người. Nhưng quãng đương “ngắn" này lại là một thách thức đỉnh của cuộc hành trình cao chứ không phải là cái "đuôi thừa của cuộc viễn du. Nó giống như người đi tải gạo sắp về tới căn cứ, hoặc người bơi sắp tới bờ. Những giây phút cuối cùng thường bết bát, đuối sức muốn hụt hơi và có khi mất cả tính mạng. Tôi không ngờ chặng đường đi sau cùng này lại phức tạp đến thế. Nó không bí hiểm de dọa như những cung đoạn giữa chừng nhưng vô cùng bất trắc. Có cung đoạn chúng tôi hoàn toàn đi trong bùn ngập đến bụng chân, giống như vùng nông thôn đồng trũng bị mưa lụt lâu ngày. Người yếu, mang nặng, chân cắm sâu dưới bùn, cực nhọc không như leo núi nhưng dai dẳng ê càng. Đi suốt buổi không thể nghỉ giải lao, "xả mệt" bởi không tìm đâu ra một mô đất để đặt ba lô, đành chịu trận cho hết quãng đường lầy lội. Ai cũng hết sức ngạc nhiên tại sao những người phụ trách hành lang lại chọn đoạn đường này để hành quân. Không còn lối đi nào khác giữa rùng núi mênh mông này chăng?


Có chặng đường không hiểu sao lại là lòng suối lô nhô đá cuội, đá ong. Đi như đánh vật suốt mấy ngày liễn, hai bàn chân dầm nước như nở ra, trắng ợt. Có đoạn như chơi trò ú tim. Đoàn quân bị “đẩy" xuống suối, lần mò một quãng dài lại leo lên đồi đánh đu với cây cối hang hốc cực kỳ khó chịu. Đến hôm đi lên triền núi, bỏ xa con suối kỳ quái ấy vẫn như nghe nó kêu réo ngày đêm. Nỗi ám ảnh này kéo dài khá lâu với nhiều người. Tinh hình tiếp tục trở nên căng thảng, khó khăn khi nhiều người ngã bệnh phải chuyển vào trạm thu dung. Trong các trạm này xảy ra không ít chuyện lạ lùng. Có người hành động đáng được tôn vinh, nhưng cũng có khi là sự tệ hại đáng lên án. Một chiến sĩ bị cây đâm xuyên qua mu bàn chân, vết thương nhiễm rùng, sưng húp, nhưng anh vẫn cắn răng bám theo đơn vị, khiến nhiều người cảm phục. Nhưng cũng có người đầu hàng số phận, tự tìm đến cái chết để thoát khỏi đau đớn của con bệnh... Hành động tiêu cực ấy của họ vừa đáng chê trách nhưng cũng không dễ dàng giải thích hết nguyên nhân.


Khi tiếng con suối nỉ non ấy xa dần và mất hẳn, đoàn quân bắt đầu lên cao. Có lẽ đây là những đỉnh núi chia tay với dãy Trường Sơn hùng vĩ mà chúng tôi phải đương đầu. Nó không cao nhưng có độ dốc đáng nể. Đầu người sau chỉ ngang với gót chân người đi trước. Các bậc đất đi lắm nhão ra trơn ruột như muốn đẩy đoàn người trở xuống chân dốc. Lính 12 ly 8, cối 82 trần ai là thế nhưng vẫn còn ngon lành hơn lính ĐKZ 75 và cối 120 ly. Lúc này không phải là "đê ca nhếch" nữa mà la "đê ca khóc". Cối khổng lồ 120 ly không còn xem thường cối 82 là những "dõng nứa" nữa mà thèm được làm anh cối tép. Việc bảo quản vũ khí từ khi bước vào mùa mưa và phải vận hành qua nhiều sông suối, không còn ý nghĩa. Không có cách gì ngăn nước mưa xâm nhập. Các khẩu súng bám đầy bún đất, sét gỉ đóng cứng lại. Nhiều khẩu súng bộ binh phải dùng dao tông dọng mới nhả qui lát. Có thể nói gặp địch, những khẩu súng này không thể chiến đấu được.

Lúc này ĐKZ, cối 120 ly, pháo thủ không con khiêng vác nữa mà hè nhau lôi lên đỉnh dốc rồi từ từ thả xuống.

Những ai hành quân thực binh mới thấu cảnh này. Vũ khí trang bị là tiền bạc, của cải của nhân dân, xương máu của chiên sĩ nhưng khó lòng bảo quản được khi gân cốt đã chùng, thời tiết khắc nghiệt. Cán bộ thu dung có thể quay lại đường dây gom nhặt chiến si của mình nhưng vũ khí thì không thể. Tới quãng này, gần 30 anh em trong đại đội còn lại, chịu đựng quá sức, nên thêm một số nữa "lọt sàng", dạt vào trạm thu dung.


Lên cao rồi xuống thấp... cuộc vật lộn khủng khiếp cả mười mấy ngày đường, cuối cùng đoàn quân đã thoát ra được con đường đất gan gà phẳng lì. Những ngọn núi khiếp đảm khuất dạng sau lưng cây bạt ngàn của miền Đông Nam Bộ. Trong một đêm tối trời, giao liên dẫn đoàn người im lặng cắt ngang sân bay Bù Gia Mập. Tôi không còn phải đau lòng chứng kiến cảnh người chiến sĩ quáng gà ngã đập đầu vào gốc cây, mỏm đá. Lục đó chẳng ai biết đây là điểm cuối cùng của con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử. Đoàn 308 về tới trạm dừng quân vào hạ tuần tháng 8 năm 1966. Trung đoàn hình thành một khu vục đóng quân rộng lớn trong một cánh rừng thuộc địa phận tỉnh Phước Long. Khi đứng giữa rừng bương, nghe thủ trưởng Hoành nói “đã đến nơi", tôi bàng hoàng như mình vừa đặt chân xuống hành tinh lạ.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Chín, 2008, 07:18:12 AM
“Hạ cánh” nơi vùng rốn tử thần sốt rét


Đại đội 17 dừng chân với con số khiêm tốn ngoài sức tưởng tượng: tất cả còn lại 18 người sau sáu tháng hành quân. Tôi may mắn có mặt trong con số 18 này. Ban chỉ huy đại đội có đại đội trưởng Ty và chính trị viên Hoành. Một bản tổng kết thu gọn đến sững người: đại đội có ba trung đội gồm sáu khẩu đội và một C bộ, quân số vũ khí trang bị hoàn chỉnh khi xuất quân, giờ đây chỉ còn một phần hai C bộ, non hai tiểu đội với một khẩu cối và một chân cối. Năm khẩu bỏ lại dọc đường và 92 cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại hoặc đang bươn bải trên đường về sum họp với đơn vị.


Dù sao thì đơn vị cũng đã về tới đích cùng với hàng chục đơn vị khác trong đoàn. Có đi có đến! Bước chân đầu tiên ở Kim Bôi-Hạ Bì, bước chân cuối cùng ở rừng Bà Rá Phước Long. Con đường ở lại sau lưng đã đi vào lịch sử như một huyền thoại của cuộc chiến tranh thần thánh nhưng đối với chúng tôi là nỗi ám ảnh khôn nguôi. Nó chuyển tải sức sống cho nửa thân thể phía nam Tổ quốc, nhưng lại là nơi yên nghỉ vĩnh hằng của một thế hệ mãi mãi tuổi 20.


Tâm trạng về đích của người linh sau khi vượt hàng ngàn ki-lô-mét đường rừng hiểm trở thật hoan hỉ lạ lùng như vừa rời khỏi một cơn mơ dài chen lấn biết bao sự kiện, bao nỗi vui buồn. Những đám mây u uẩn của bệnh tật, của sự mất mát vẫn bao trùm lấy mỗi người. Những con bệnh hiểm nghèo vẫn đang từng ngày cướp đi những đồng chí, đồng đội đã bỏ biết bao tâm sức lặn lội tới đây.


Dù đại đội có 18 người vẫn biên chế đội hình đóng quân đàng hoàng. Tôi vẫn ở chung với C bộ giúp việc cho ông Hoành, ông Ty. Hai trung đội chia ra hai bên bảo vệ C bộ. Tất cả đều tiếp quản những chiếc lán cũ nằm dưới rừng tre nứa xen lẫn những cây cao miên lực lưỡng. Những người trước đó làm lán toàn bộ bằng tre, bương rất khéo léo. Mái lán không lợp bằng lá mà bằng các ống tre chẻ đôi úp lên nhau, cứ cây sấp úp vào cây ngửa nối tiếp cho đến khi hết mái, kín còn hơn lợp ngói. Nước mưa theo rãnh ngửa mà chảy xuống đất. Tấm dát kê trong lán để nằm cũng làm toàn bằng nứa đập dập ra hoặc kết bằng dây rừng. Tuy thế, hình như lán trại dựng đã lâu nên hư mục và mốc thếch do trời mưa liên miên.


Trung đoàn tọa lạc trên một vùng rừng rộng lớn cả vài chục cây số vuông. Đây là hậu cứ của Trung đoàn 16, một đơn vị chính qui vào Nam vào hàng sóm nhất, hầu hết là người Khu 4 cũ. Trước khi Đoàn 308 tới đây, họ đã chuyển xuống chiến trường phía dưới gần đông bằng hơn. Đêm đầu tiên nằm nghỉ trong vị trí "an cư" dưới trơi mưa rả rích, cảm tưởng thật mãn nguyện như vừa trút xong một gánh nặng đường xa. Chiếc đài bán dẫn ORIONTON đến đây vẫn còn pin để nghe tin tức và ca nhạc của đài tiếng nồi Việt Nam. Pin yếu, tôi phải vặn hết cỡ cho anh em nằm chung quanh cùng nghe. Vẫn tiếng nói quen thuộc ấy, vẫn những bài ca sôi nổi hào hùng ấy đi theo ngươi lính tới tận rừng xanh núi đỏ. Có chiếc radio không khí như được hâm nóng lên một chút giữa mưa lạnh của núi rừng miên Đông Nam bộ. Mối dây liên hệ với miền Bắc và thế giới của chúng tôi là chiếc đài nhỏ bé này. Nó cũng đã hành quân tới đây và có công trạng như nhưng người lính chúng tôi.


Chúng tôi đoán điểm tập kết còn xa đồng bằng lắm, không biết đến khi nào mới thấy ngôi nhà, người dân của vùng đồng bằng Nam Bộ. Ông Hoành đã nói thật. Tại đây, quản lý đại đội lên hậu cần trung đoàn lĩnh về các tiêu chuẩn đường sữa, mắm ruốc đậu lạc đậu xanh là những thực phẩm cao cấp nhất lúc này. Lính ta mặt mày tươi rói khi được nhìn thấy các thứ đồ ăn như một phép mầu đưa lại. Hộp sữa thì có lạ gì nhưng bây giờ sao nó quí giá thế, câm trên tay cứ như là báu vật. Bảy, tám người được một hộp sữa, một ki-lô-gam đường chia nhau thật đồng đều, ăn riêng, không ai xâm phạm của ai. Mấy tháng trời ăn toàn ruốc muối, người khô đét, nay đường sữa uống vào tới đâu thấm tới đó ngọt tận ruột gan, giống như cái cây ủ rũ sắp chết khô gặp


cơn mưa đầu mùa bỗng dưng tỉnh lại. Bữa cơm có canh mắm ruốc lểnh loảng, lính ta chan lấy chan để. Chất cá của biển làm tôi nhớ tới hương vị của những bữa ăn quê nhã. Chất dinh dưỡng dù hiếm hoi nhưng có hiệu lực như một liều thần dược. Chúng tôi ai nấy da dẻ tươi dần rồi ửng lên sắc máu chỉ sau một tuần nghỉ ngơi, ăn uống có chất tươi.


Không biết dừng quân ở đây bao lâu và sẽ làm gì, nhưng đơn vị được lệnh của trung đoàn củng cố căn cứ ăn ở lâu dài, sàn sàng chiến đấu chống quân bộ và đào hầm tránh máy bay B52 oanh tạc. Thời điểm này, máy bay B52 đối với lính trẻ chúng tôi vẫn còn xa lạ. Chỉ nghe nói nó có sức tàn phá khủng khiếp lắm, nó như hung thần... chứ chưa ai trong chúng tôi thấy B52 cả.


Căn cứ rộng mênh mông mà chỉ lác đác bóng người, trời lại mưa dầm dã thật âm u trì nặng. Ông Hoành, ông Ty mang xắc cốt lên trung đoàn báo cáo, nhận lệnh, họp hành liên tục. Chúng tôi ở nhà vào sâu trong rừng chặt bương, nứa sửa lại lán trại. Vài tuần sau đã thấy đàng hoàng ấm cúng. Chỗ ban chỉ huy đại đội có bàn uống trà, phía dưới có nhà bếp, bàn ăn tươm tất. Vậy cũng là sung sướng lắm rồi, trưởng giả trăm lần so với những ngày lao đao lận đận trên đường.


Ông Hoành ghiền trà, thích ăn ngọt nên dặn anh nuôi làm kẹo đậu phộng, kêu mọi người đến ăn uống xôm tụ. Ông có nét đặc trưng cho tỉnh cách dân Nam Bộ, đặc biệt hão phóng. Ở miên Bắc, độc thân, lương nhiều, ông ăn uống xả láng, càng đông vui ông càng thích. Một tuần vài lần ông bảo tôi vào xóm mua gà về nấu cháo, kêu anh em lại ăn, uống rượu nhâm nhi, cười nói ồn ào.


Giờ đây về đến đất Nam bộ, ông Hoành vui mừng ra mặt, biết đâu vai chục ngày đường nữa là về tới Bến Tre, quê cha đất tổ. Bởi thế ông có vẻ "lên nước", nói cười rốn ráng nhen nhóm lên cái không khí "anh Hai, anh Ba" trong các cuộc "tiệc tung". Ông cố gắng khôi phục lại các ngôn từ Nam Bộ mà khi ở miền Bắc hơn mười lăm đã phần nào mai một. Ông vẽ ra một viên cảnh như mơ khi về đông bằng với những xóm làng trù phú sum xuê cây trái, đầy ắp cá tôm, con người làm chơi ăn thật, khiến ai cũng háo hức nôn nao. Ông làm quen rất nhanh với anh chị em giao hên, hoặc các đơn vị cung ứng hậu cần trong vùng. Những thứ chúng tôi ăn hầu như đều qua tay họ chuyển từ biên giới Cam-pu-chia về đây. Ông Hoành có thêm nhiều đồng hương, bạn bè nên được biếu thịt rừng, sữa hộp, trái cây hoặc thực phẩm quý hiếm khá nhiều. Nhờ thế mà lính C bộ bọn tôi được hưởng xái đều đều.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Chín, 2008, 07:19:24 AM
Độ nửa tháng sau, lác đác có anh em về tới đơn vị, khi một người, khi vài người. Họ cũng đã tới “bãi đáp" nhưng trông nhếch nhác tiêu tuỵ lạ lùng. Đó là số cán bộ, chiến sĩ "thuyền ai nấy lạo” vất vưởng trên dọc đường từ cuối Khu 5 trở vào. Họ đi với ý chí kiên nhẫn để chiến thắng con đường bằng phần sức lực cuối cùng. Có người hụt hơi ngã xuống khi chỉ cách đơn vị chừng dăm trạm. Thật chẳng khác nào con cái lưu lạc về với gia đình. Người nào cũng mừng mừng tủi tủi khi đặt chân đến căn cứ đại đội, gặp lại anh em đồng đội thân quen. Phó chính trị viên Lý Thế Vinh là người thứ ngoài hai mươi về đến đơn vị. Anh ôm lấy ông Hoành khóc nức. Nhiệm vụ gian nan của anh đã hoàn thành. Giờ đây anh thật xứng đáng được nghỉ ngơi.


Đại đội ngày một đông vui hơn và hoạt động đi dần vào nếp bình thường. Đã bắt đầu thực hiện chế độ báo thức, tập thể dục, báo cáo, phản ánh, học tập chính trị, thời sự hướng tới nhiệm vụ xây dụng, chiến đấu. Sinh khí của đơn vị tăng dần lên, nhưng tôi vẫn thấy nó mông lung, chưa hiểu rồi đây sẽ làm gì với một đội quân ốm đau suốt lượt như thế...


Nhưng ở thời điểm dừng chân nghỉ ngơi là sự "xuống cấp" chưa từng thấy của các đơn vị trong trung đoàn. Con bệnh bắt đâu hoành hành ác liệt không trừ một ai. Đã có một ít thựục phẩm làm tăng dinh dưỡng trong cơ thể nhưng thức ăn chủ yếu là măng nên không thể chống nổi bệnh tật với nhưng thể trạng suy sụp nghiêm trọng. Giống như cái cây bị mối ăn trong gốc, chỉ một cơn gió mạnh là đổ. Chưa khi nào tôi được chúng kiến sinh mạng cơn người bị cướp đi một cách dễ dàng như lính Trường Sơn lúc này. Anh em bị sốt ác tính, phù thũng lân lượt qua đời không cách gì cứu nổi. Cứ một ngày hoặc cách hai, ba ngày lại có người từ trần. Lại đào huyệt, lại truy điệu. Cứ cái đà này thì không biết C.17 có tôn tại nữa không.

Có hôm ngủ dậy, anh em lắc võng, cậu Bá chẳng động đậy gì cả, mở chăn ra thì đã chết cứng lúc nào. Cậu Sơn tiểu đội trưởng, quê ở Đồ Sơn rất đô con, đang ngồi nhặt rau, bỗng kêu lên:

- Trời ơi, sao khó thở quá!

Rỗi Sơn ngã lăn ra đất, tắt thở. Anh Vinh làm động tác hô hấp nhân tạo cả mười phút cũng đành thúc thủ trước hiểm bệnh. Thì ra Sơn bị phù tim, máu không còn lưu thông được nữa nên rơi vào tình trạng "đột tử".
Cậu Hữu còn trẻ măng, trông đã lại súức, da dẻ hồng hào, hôm trước tôi đưa lên bệnh xá vì có triệu chứng nguy hiểm, hôm sau Hữu đã qua đời.


Cái chức y tá bất đắc dĩ của tôi lúc này trở nên có giá, do y tá Phiêu vẫn chưa về tới đơn vị. Hàng ngày tôi được thủ trưởng giao nhiệm vụ lãnh thuốc trên quân y trung đoàn và đưa bệnh nhân “nhập viện". Từ đại đội lên trạm xá quân y xa chừng hai giờ đi bộ, qua nhiều đồi dốc, khe suối. Đưa bệnh nhân đi "viện” rất vất vả.


Anh em chiến sĩ tử vong vì sốt rét, vì đột tử do phù tim, phù phổi, tả ly, suy kiệt thể lực, trụy tim mạch... đã tới mức báo động nhưng chưa có phương pháp nào ngăn chặn. Thuốc men chỉ có chừng đó, phương tiện kỹ thuật, kiến thức, tay nghề của đội ngũ thầy thuốc chỉ có thế. Sốt cao thì uống kinin, vinaquin, tiêm liều cao cắt sốt, tiêm thuốc bổ dưỡng nâng đỡ cơ thể. Những liều hồi dương đắt tiền cũng đành vô hiệu khi "lưỡi hái ác tính" đã đặt vào cổ bệnh nhân.


Hồi đó ta chịu bó tay trước tử thần ác tính, hôn mê, chứ bây giờ gặp ác tính chỉ cần làm cho hạ nhiệt trước hết, rồi sau điều trị bằng thuốc là có thể qua khỏi. Đúng là tiến bộ vê y học cộng với phương tiện hiện đại ngày nay có thể cứu được người sốt rét ác tính, nhưng khi đó rất khác bây giờ. Các thầy thuốc cũng đã làm hết sức mình nhưng do thời kỳ "hậu Trường Sơn" rất phức tạp. Khí hậu trầm uất, môi trường khắc nghiệt, con bệnh tích tụ lâu ngày nên thường là thập tử nhất sinh, bác sĩ giỏi mấy cũng chào thua.


Các thủ trưởng và cả chúng tôi đều suy nghĩ về sức chiến đấu của một trung đoàn chủ lực nổi tiếng ở đồng bằng Bắc Bộ có anh hùng nổi tiếng Trương Công Man, giờ đây nằm chờ để tiêu hao một cách đáng sợ. Bổ sung quân cho chiến trrường là yêu cầu nóng bỏng chuẩn bị cho thời cơ chiến lược nhưng không tổ chức tốt đường dây nên hậu quả thật tai hại. Giờ đây những đơn vị chính qui được huấn luyện hết sức công phu đã mất sức, chỉ còn chờ xé lẻ đi bổ sung cho đơn vị khác. Dĩ nhiên đến khi đó phiên hiệu của trung đoàn cũng bị cáo chung.


Y tá Phiêu đã lặn lội quảy gánh thuốc và ba lô về tới đại đội, người bốc lên mùi kinin và nước tiểu lưu niên khiến nhiều người phải né ra. Có dễ mấy tháng trời Phiêu không tắm giặt. Tôi sung sướng được giải nghệ cái chức y tá "trời ơi đất hỡi", nhưng bắt đầu sốt nặng, không còn cách nhật nữa mà liên miên. Đầu nhức muốn bung ra, miệng nhạt thếch, đắng chát chẳng thèm cơm cháo, chân tay bải hoải, chỉ có nằm chứ hết đi nổi. Mây ngày sau thì nôn khan, mắt tối sầm. Tôi cảm thấy nguy cơ ác tính đã đến gần nhưng không làm sao dậy nổi. Người cứ chìm xuống tấm dát giường. Thủ trưởng Hoành bảo y tá Phiêu tổ chức cáng tôi lên trạm xá trung đoàn. Tôi thấy người yếu lắm, thà chết ở đơn vị có đông anh em cũng đỡ buồn. Nhất quyết như thế nên khi hai người giở võng ghé sát vào tấm dát giường, tôi xua tay:

- Tôi không lên bệnh xá đâu. Để tôi nằm đây thôi. Đằng nào cũng chết!

Ông Hoành, ông Ty hình như không để ý đến chuyện cự tuyệt của tôi. Anh em dẹp cáng. Tôi nằm thiếp đi trong tấm vỏ chăn, phó mặc cho số phận. Phiêu tiêm kinin liều cao cho tôi nhằm cắt sốt. Chiêu hôm đó tôi ráng lấy hết tinh thần ngồi dậy nuốt mấy thìa cháo và “vận hạn” bỗng chốc lùi ra. Cơn sốt giảm dần, đầu nhẹ bớt. Hôm sau tôi xuống khỏi giường ngôi chồm hổm để tập đi đứng nhưng khi vịn cây đứng lên chỉ thấy trước mắt mình một màu vàng khè chứ không có một vật gì khác. Tôi ngỡ mình bị mù, nhưng chỉ một lúc, màu vàng tan đi nhường cho những cảnh vật quen thuộc hiện ra. Tôi phát hiện ra các đốt tay mình đau nhức dữ dội và khi súc miệng răng đau như muốn long hết. Cơn sốt vừa qua đã hủy hoại ám trọng cơ thể, tôi bị mất hồng câu quá nhiều may mà không dẫn đến tử vong.


Tôi khỏe dần và đi đứng bình thường. Thủ trưởng cử đi công tác ra một tràng trống xa căn cứ khoảng ba, bốn tiếng đồng hồ để chuẩn bị phần tử cho pháo bắn khi trực thăng địch đổ quân. Ở đây có ánh mặt trời chiếu vàng trên thảm cỏ trông thật khoáng đãng vui mắt. Đã lâu rồi tôi mới... thấy đồng cỏ xanh bát ngát nhưng hơi chạnh lòng vì hình như đây là xạ trường của những sát thủ săn voi bò tót, niễn nai, lâu lâu lại nghe tiếng súng vang lên đâu đó người đánh thức, tôi tỉnh dậy để ý thấy bắp chân mình bị vặn đi và cứng ngắc như đá. Lúc đó đau kinh khủng và tiếng kêu la tự nhiên bật lên. Mãi lúc sau cơ thể mới trở lại bình thường.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Chín, 2008, 07:21:22 AM
Xong đợt công tác, trên đường về ghé vào một căn cứ, cũng rừng nứa, tôi gặp Giang ở C8 hỏa lực, là bạn viết văn từ hồi mới nhập ngũ đầu năm 1965. Vừa mới khoác áo lính cậu ta đã có những bài ký rất hay đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội, với bút danh Giang Cao. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao mà hắn tài thể. Lần đầu viết bài cho tạp chí là được đăng ngay, còn tôi thì mãi mười năm sau mới được đăng truyện ngắn đầu tiên ở tạp chí này. Hai đứa mừng lắm, nhắc đủ mọi thừ chuyện trên đường hanh quân, nhưng khi nói về chuyện môn trinh sát pháo binh, đo đạc ngoài trận địa thì cậu ta phát hiện tôi nói sai cả.


Tôi cũng tự thấy mình nói không bĩnh thường, hình như không điều khiển được những câu nói có tính chất kỹ thuật. Ai cũng ngạc nhiên, nhưng ông đại đội trưởng của Giang nói thẳng ra là tôi bị ốm nặng, tâm thần không ổn đinh. Tôi thấy lo lo nhưng biết làm sao khi trong đầu cứ trống rỗng ong ong. Giang mời tôi một bát chè gạo và nói đùa: "Mình làm đúng thủ tục tiếp khách đấy nhé". Tôi chia tay Giang trong cái lán nứa ấy, và  đõ là lần gặp cuối cùng.


Đại đội 17 đã hội tụ được gần 50 người. Mỗi người về đến nơi lại báo những người khác đã từ trần trên đường ở cung đoạn nào đó, hoặc gặp ai đang nằm lại hay sắp về với đơn vị. Nhờ thế nên tin tức ít khi bị gián đoạn. Ngồi lại hậu cứ mà vẫn biết tình hình trên đường dây hành quân. Nhưng đó là đoạn chót của cuộc hành trình lớn của Đoàn 308, mà mỗi người về tới đích đều mang trên mình cả gánh vi trùng sốt rét. Rất nhiều người cơ thể bị hao mòn, biến chứng sang phù nề, ghẻ lở, rối loạn thần kinh chức năng rất nguy hiểm, khả năng đề kháng suy giảm.


Khoảng tháng 10 năm 1966, sau hai tháng tập kết, quân số đại đội 17 chưa được một nửa. Có người về thêm nhưng lại có người "ra đi"... Cán bộ đại đội thiếu ông Vân. Ông lãnh trọng trách thu dung và biết đâu từ lâu ông đã là quân số của trạm thu dung. Vì thế đến giờ này bộ từ thiếu mặt ông, cũng là điều dễ hiểu. Dàn cán bộ trung đội thiếu trung đội trưởng Cậy. Còn dàn cán bộ tiểu đội và chiến sĩ đảm trách các số pháo thủ coi như phải làm lại sơ đồ biên chế, vì thiếu vắng quá nhiều.

Mùa khô đến. Rừng già bắt đâu trút lá trên mặt đất lạnh đang rắn lại dần. Một tia hy vọng nhóm lên: bệnh sốt rét giảm thiểu, hàn thử biểu tử vong tụt xuống.

Đúng lúc ấy, một làn gió mới thổi tới. Ông Hoành đi nhận lệnh trên trung đoàn về trịnh trọng phổ biến: sẽ có một bộ phận của đơn vị đi chiến đấu. Tin này làm thay đổi không khí trầm lắng của đại đội. Đây là niềm vinh dự dành cho người lính chiến trường. Đã làm lính chẳng ai muốn mình ngồi ru rú trong rừng, hoặc tụt hậu phía sau, suốt đời không nhìn thấy mặt thằng giặc.


Ông Hoành tập hợp đơn vị phát động tinh thần. Bài bản công tác chính trì được ông đẩy lên đúng lúc.
Đang trong vòng vây u ám của bệnh tật, chết chóc, vậy mà mọi người nhóng lên nghe ngóng. Khi ông Hoành nói: "Ai đi chiến đấu thì giơ tay?". Tất cả mấy chục người đưa cánh tay gầy gò xám mét lên. Thế mới hay lính ta sợ ốm đau chứ không sợ chết. Đằng khác đã vào Nam, chẳng ai muốn ở nơi rừng sâu nước độc. Tốt nhất là được chuyển ra mặt trận hoặc xuống đồng bằng. Thâm tâm tôi cũng muốn đi chiến đấu hoặc chuyển đến đơn vị khác chứ không muốn sống trong C bộ; ở bên cạnh thủ trưởng có cái hay là học hỏi nhiều lượng thông tin phong phú nhưng lâu ngày cũng trở nên nhàm chán cần phải có một cái gì đó thay đổi lúc này.


Mấy chục người giơ tay xung phong, nhưng đại đội chỉ chọn đúng 15 người đi đợt này. Không ngờ trong số đó có tôi. Tôi vừa mừng lại vừa bần thân suy nghĩ. Mừng vì có cái gĩ mới mẻ "đổi mới", bần thần vì từ nay mình phải xa đại đội 17 đã gắn bó từ ngày nhập ngũ (tháng 3 năm 1965) cho đến bây giờ đã hơn năm rưỡi. Biết bao kỷ niệm đời tân binh, nhất là những ngày vượt Trường Sơn. Ông Hoành chỉ giữ lại bên cạnh có Thìn và Nam…


Phải rời khỏi đơn vị đột ngột, tôi bâng khung lưu luyến chia tay những người đã cùng tôi thục hiện cuộc hành trình vạn dặm đầy hy sinh, gian khổ vừa qua. Lòng tôi se lại nhớ tới nhiều gương mặt thân quen không còn nữa. Hôm tôi mang ba lô lên đường đi bổ sung cho đơn vị mới, đại dội 17 "báo tử" đến người thứ 24, tính từ khi Cường là chiến sĩ đầu tiên nằm xuống trên đất Kontum. Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu đầu tiên. Ban chỉ huy đại đội dự đoán còn cao hơn thế rất nhiều, vì thực tế không nằm hết được các trường hợp khác...

Các đại đội khác cũng có người đi bổ sung như đại đội 17 cho các đơn vị chủ lực Miền.

Ngày đi đêm nghỉ trên một địa hình dễ chịu hơn, không còn đồi dốc, sông sâu nữa, mà rừng thấp và bằng phẳng dần, chúng tôi ai cũng hứng khởi hơn. Các anh Bảy Ria, Út Ích, Sáu Tấn, Hai Ly rất đặc trưng cho lính Nam Bộ, đi đứng nhanh lẹ, trang bị gọn nhẹ, bận quân phục đen, thắt khăn rằn, đội nón tai bèo hướng dẫn và tổ chúức cho đoàn quân hỗn hợp mấy chục người đi mải miết nửa tháng thì về tới biên giới Việt Nam-Cam-pu-chia ở Quãng Cà Tum (Tây Ninh). Đến đây tôi mới biết mình được bổ sung cho một đơn vị của R có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Bộ Chỉ huy Miền va các cơ quan đầu não của Mặt trận dân tộc giải phóng miên Nam Việt Nam. Đó là thời điểm vào tháng 11 năm 1966. Tôi đã nhập vào một gia đình mới mà vốn trước đó một trăm phẫn trăm quân số là người Nam Bộ. Đơn vị mới mang phiên hiệu Đoàn 170 chốt dài theo vùng cửa khẩu biên giới Tây Ninh thuộc Liên khu C.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Chín, 2008, 07:23:13 AM
Tại vùng chiến khu quan trọng nay, đầu năm 1967, tôi tham gia trong đội hình của nhiều đơn vị chiến đấu đánh phá cuộc càn lớn mang tên Gianxơn Xity của 45 ngàn quân Mỹ do ương Ximan chỉ huy. Từ ngày 22-2-1967 đến ngày 15-4-1967, ta đã tiến hành chiến dịch phản công đánh lại cuộc hành quân lớn nhất của giặc Mỹ vào căn cứ kháng chiến, trong cuộc chiến anh Việt Nam. Trong những ngày chiến đấu căng thẳng bảo vệ đầu não Trung ương Cục, tôi gặp nhiều anh em của đại đội 17 cùng đi bổ sung cho nhiều đơn vị khác như tôi. Nhưng chỉ trong chốc lát, chưa kịp hỏi han gì mỗi người lại đi một ngả, biến vào trong các trận địa giăng kín trong rừng. Hầu hết anh em bổ sung về Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 là những đơn vị chủ lực "xương sống” của miền Đông Nam Bộ.


Tháng 2 năm 1968, nổ ra cuộc Tổng tiến công vã nổi dậy Tết Mậu Thân, chúng tôi đã có mặt ở vùng ven Sài Gòn trong không khí bão táp của cách mạng miền Nam. Sau đợt 1 tết Mậu Thân, đơn vị trú quân ở rừng Bời Lời (Tây Ninh), tôi bất ngờ gặp Bảo và Miễu của đại đội 17. Các anh kể rằng anh em mình thương vong nhiều trong chiến đấu phá cuộc hành quân Gianxơn Xity của địch và trong tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân. Số anh em bổ sung vào Đoàn 170 làm nòng cốt thành tập trung đoàn 268 bám trụ vùng trung tuyến Củ Chi-Trảng Bành thuộc Phân khu 1 Sài Gòn-Gia Định đến đầu năm 1970 coi như xóa sổ. Hạ sĩ Phùng Bình quê ở Hòa Xã (Hà Tây) là người hy sinh sau cùng tại căn cứ Tràng Bàng. Năm 1975, sau khi vào Sài Gòn tôi may mắn gặp lại phó chính trì viên Lý Thế Vinh và anh Nho trung đội phó, các anh đều khỏe mạnh, là những cán bộ có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu, xây dựng đơn vị. Đó là những cuộc hội ngộ thật quý hiềm sau gần 10 năm chia xa đơn vị.


Vượt Trường Sơn năm 1966 là như vậy. Đó là toàn bộ bức tranh hoành tráng của cuộc hành trình đầy gian khổ trên con đường không cột số. Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những người lính miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc cuộc đi bộ qua 2.500 ki-lô-mét sau gần 200 ngày mưa nắng trong điều kiện cực kỳ khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn. Bằng đôi chân của mình, chúng tôi tự hào đã góp phần viết nên bản anh hùng ca của những năm tháng mở đầu "xẻ dọc Trường sơn đi cứu nuớc” của cả dân tộc. Cuộc hành trình trên con đường vạn dặm đã đưa những binh đoàn tới vùng đất phía Nam của Tổ quốc, góp phần làm nên cuộc tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Xuân - Hè rực lửa 1972, dẫn tới bão táp Mùa Xuân 1975, cuốn sạch quân thù, thống nhất đất nước Việt Nam.


Những người đi tới đích đã chiến thắng dải Trường Sơn hùng vĩ và cả sức trì nặng của chính mình. Đó là một kỳ công, nhắc nhở các thế hệ mai sau không quên những người lính âm thầm nối liền mạch máu của Tổ quốc bằng những đôi chân rớm máu, trong số đó có rất nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trên dãy Trường Sơn. Họ đã hóa thân thành bức phù điêu vĩ đại kỳ diệu nhất trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đường Thẳng Sơn đã trở thành kỷ niệm thiêng liêng trong đời lính chúng tôi.

Đi “đôi dép Bác Hồ" trên con đường mòn mang tên Bác, chúng tôi đã tới thành phô Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng, cột mốc cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Mới đó mà đã bốn thập kỷ trôi qua. Con đường mòn của thuở "xẻ dọc Trương Sơn đi cứu nước” đã khép lại dưới đại ngàn hùng vĩ. Những dấu chân người lính đã bồi đắp cho Trường Sơn một vóc dáng lịch sử và trở thành huyền thoại của thế kỷ 20. Một dự án: đường Trương Sơn công nghiệp hóa hay xa lộ Trường Sơn đã được Nhà nước thông qua. Chắc chắn khi con đường siêu tốc hiện đại ra đời sẽ có cột số ghi những địa danh mà chúng tôi đã đi qua “trên con đường không cột số” năm xưa.


Tiêu đề: Trên con đường không cột số
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Chín, 2008, 07:24:25 AM
Trường Sơn-Đại lộ Hồ Chí Minh-Tượng đài chiến thắng của hoà bình


Trường Sơn-đường Hồ Chí minh đã đi vào lịch sử với vóc dáng của một bản anh hùng ca bất tử tưởng như đã khép lại khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc toàn thắng, nhưng lịch sử đã nối tiếp như một cơ duyên ky ngộ. Trường Sơn đầy gian truân bí hiểm năm xưa đã lật sang trang mới. Đại hội Đảng lần thứ VIII đã quyết định mở con đường Trường Sơn công nghiệp hóa, góp phần đưa đất nước tiến vào một thời kỳ mới trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một ý tưởng vĩ đại nhưng khả năng hiện thực rõ đem đến một luồng sinh khí mới lay động núi rừng, đánh thức tiềm lực miền đất trải dài phía tây Tổ quốc. Con đường chiến lược, một huyết mạch mới của đất nước như một kỳ quan rực rỡ, nhưng mỗi thước đường đã thấm biết bao máu xương đồng đội.


Khi tôi viết đoạn nối tiếp này của "con đường không cột số", đường Hồ Chí Minh đã làm lễ thông xe chặng 1 giai đoạn 1, chính thức "hòa mạng” vào hệ thống đường giao thông cả nước. Theo phương án đã định thì tuyến đường Hồ Chí Minh sẽ nối liên từ Pắc Bó, Cao Bằng đến Đất mũi Cà Mau với tổng chiều dài 3.129km. Chặng đầu tiên của giai đoạn 1 khởi công ngày 5-4-2002, từ khe Cò Hà Tĩnh đến Ngọc Hồi Kon Tum dài 962 km, chưa đầy 1/3 chiều dài toàn tuyến, nhưng địa thế và điều kiện thi công khó khăn hơn cả.


Theo các nhà quy hoạch, đường Hồ Chí Minh phần lớn đi qua các vùng lãnh thổ thuộc thềm chuyển tiếp từ trung du lên miên núi, bao gồm 27 tỉnh và thành phố các vùng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia là Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.


Qua kết quả nghiên cứu khẳng định: Tuyến đồng Hồ Chí Minh không những là hành lang giao lưu kinh tế mà còn là hành lang phát triển kinh tế công nghiệp của thềm Trung du-Miền núi, Biên giới tạo nên sự cân bằng phát triển kinh tê, an ninh-quốc phòng. 83% chiều dài tuyến dương bám theo đường cũ sẽ được tải tạo và nâng cấp theo đúng tiêu chuẩn đường bộ. Toàn tuyến đường đi qua 18 khu di tích, bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia như Cúc Phương, Yoc Đôn, Bến Em, Bạch Mã, Phong Nha Kẻ Bàng, các danh lam thắng cảnh như khu lòng hô Yaly, bãi đá thiên nhiên, thác Song Queen Biển Hồ, thác Trinh Nữ, hồ Ea Nhái...


Các nhà khoa học dự kiến, nhiều khả năng dọc tuyến đường này sau khi hoàn thiện sẽ có 5 cụm kinh tế có khả năng phát triển thành các cơ sở kinh tế chủ đạo vã liên hệ mật thiết với các vùng kinh tế đang phát triển; gồm các cụm Hà Tây-Hòa Bình; Thanh Hóa-Nghệ An, Hà Tinh; Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc; Bình Phước, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh.
Để tạo ảnh quan môi trường, góp phần phủ xanh vùng đất rống đồi trọc, Thủ tướng chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các tỉnh có đường Hồ Chí Minh đi qua, thực hiện dự án trông hai băng rừng dọc hai bên tuyến đường.


Trên dọc tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua có khoảng 28 triệu dân thuộc 36 dân tộc sinh sống, sẽ có điều kiện cải thiện đời sống kinh tế-văn hóa-xã hội, nhất là 200/1700 xã đặc biệt khó khăn. Toàn tuyến đường có trên 600 cầu lớn nhỏ và trên 6.000 cống thoát nước.


Đi trên đại lộ Hồ Chí Minh hôm nay, quá khứ hiện về trên mỗi thước đường. Ở đó, những đồng đội tôi đã gửi lại tuổi xuân của mình trong lòng đất. Cảm xúc đan xen hòa trộn giữ kỷ niệm của một thời bi tráng với thực tại, tương lai cứ theo suốt đường đi không dứt. Con đương của thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa phục vụ quốc kế dân sinh cũng là ơn đến nghĩa trả đối với hơn hai vạn cán bộ, chiến sĩ nằm lại dưới đại ngàn Trường Sơn và đồng bào dân tộc sống dọc theo con đường, là gạch nối giữa quá khứ và tương lai.


Hai bên đường, những địa danh lịch sử luôn là những mốc giới vô cùng trân trọng như Ngã ba Đông Lộc, nơi 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh vì nhiệm vụ bảo đảm thông đường ra mặt trận. Ngắm Cà Tang (nay dưới một cây cầu sừng sững vụt qua) dòng suối trong veo luồn lách giữa những tảng đá phủ ngổn ngang. Ai có thể nghĩ đây là một trọng điểm mà các chiến sĩ mở đường phải chịu đựng liên miên những trận bom tàu khốc của quân thù. Vậy mà ngày đêm xe, người vẫn nối nhau qua. Rồi khe Ve, làng Ho, Sê Lông. Đá Bạc... những cái tên chỉ nhắc tới là lòng ta lại rung lên cảm xúc.


Để có được xa lộ Hồ Chí Minh hoành tráng hôm nay, những người làm đường phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách chẳng kẽm gì cha anh năm xưa đã làm nên con đường mòn Trường Sơn huyền thoại. Tổng giám đốc dự án đường Hồ Chí Minh Hà Đình Cẩn, ngươi dẫn đầu đoàn thị sát tuyến đường đấu tiên tháng 11-1996 ngay sau khi có sự chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ còn ghi mãi ấn tượng: Sau 25 năm chiến tranh, con đường mạch máu của miền Bắc tiếp sức cho miền Nam-biểu tượng của ý chí Việt Nam-bị thời gian tàn phá ghê gớm và gần như mất lối dưới cây rừng tái sinh phủ kín; phải phát cây, vạch cỏ mà đi.
Công lao đấu tiên của công cuộc xây dựng đường Hồ Chí Minh hiện đại thuộc về hơn 1.000 cán bộ kỹ sư khảo sát thiết kế thuộc Tổng cục Địa chính và Viện khảo sát thiết kế Bộ Quốc phòng. Họ có sự trợ giúp của đủ loại máy móc nhưng vẫn phải đi bộ cắt rừng, băng núi, vượt đèo cao, xuống vực sâu, đu bám vào vách đá nhiều phen nhịn đói nhịn khát mà đo đạc đánh dấu từng mỏm núi, bờ suối... Có máy mà vẫn có tốp khảo sát lạc 21 ngày trong rừng, khiến ai cũng nghĩ phải làm mồi cho thú dữ. Có cung đường phải mở mới hoan toàn như đoạn Tây Trường Sơn, không thể đi nhờ qua đất Lào vì nay là thời bình. Có đoạn thay đổi cho ngắn lại 50km vì kỹ thuật mới cho phép đào hầm xuyên núi được. Thế mà chỉ hơn một năm sau, các đơn vị khảo sát thiết kế đã hoàn thành một khối lượng hồ sơ thiết kế khổng lồ. Một khối lượng mà theo cách làm cũ phải mất 10 năm mới xong.


Ngày 5-4-2000, lễ khởi công công trình đường Hồ Chí Minh diễn ra trang trọng ở bến phà Xuân Sơn, một dịa danh nổi tiếng của đường Trường Sơn năm xưa. Thủ tướng Phan Văn Khải phát lệnh khởi công đường Hồ Chí Minh. Đồng loạt trên tuyến đường, các đơn vị phụ trách tìm công đoạn ra quân. Núi rừng đại ngàn Trường Sơn lại rùng rùng chuyển động bởi trên 4000 đầu máy: xe máy ủi, máy xúc, xe lăn, xe cẩu, xe tải... cùng tiếng mìn phà đá với hàng vạn con người lao động.


Huyền thoại lần thứ hai của Trường Sơn từ đây... Để đến hôm nay trên dãy núi cao chất ngất phủ kín từ ngàn đời thâm u, huyền bi, con đường cứ vươn dài ra mãi. Đường như dải lụa vắt lên vắt xuống, lúc hiện lúc khuất trong những đồi mây ôm ấp bảng lảng khói sương.


Giờ đây đường Hồ Chí Minh hiện đại đã làm xong đến 98% giai đoạn 1. Chỉ nay mai thôi, đại lộ Trường Sơn hoàn tất, đường số 1, con ớ đường quen thuộc chạy dọc bờ biển miền Trung, tuyến giao thông duy nhất xuyên Việt sẽ chẫm dứt thế độc đạo của mình.


Trong cuộc phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ (9-2003), Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên từng là Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn mở đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, nay là đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục gắn tâm huyết của mình vào con đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa, cho biết: Qui hoạch toàn tuyến đường đã hoàn tất từ Pắc Bó đến mũi Cà Mau. Mục tiêu đến năm 2010, đường Hồ Chí Minh sẽ hoãn chỉnh hai làn ô tô suốt dọc gần 3129km, đồng thời mở rộng mặt cắt ngang một số đoạn cục bộ để đáp ứng nhu cầu bức xúc phát triển kinh tế.


Một huyền thoại mới Trường Sơn sẽ mở ra biết bao điều kỳ diệu đầu thế kỷ 21, khi Việt Nam vươn lên hội nhập cùng thời đại mới. Đại lộ Trường Sơn rồi sẽ có những cột số dựng lên như mọi con đương, nhưng làm sao có thể lãng quên “con đường không cột số" vô cùng gian khổ của những năm vận mệnh đất nước lâm nguy. Những trở trăn day dứt về một thời Trường Sơn bi tráng hãy còn đỏ, nhưng con đường mới thênh thang đang ru êm bao giấc ngủ đồng đội dưới đại ngàn.


Thành phố Hồ Chí Minh 1991-1993