Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:11:03 pm



Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:11:03 pm
Tên sách: Những người cảm tử (Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội)
Nhà xuất bản Hà Nội
Năm xuất bản: 1987
Số hóa: macbupda


Chỉ đạo nội dung

Thường vụ Quận ủy Hoàn Kiếm
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội


Nhóm biên soạn:
 
Đỗ Tần
Phạm văn Trừng
Lê thị Tuyết Minh
Lưu Đình Quế
Lê ngọc Anh
Đỗ Chi
Lê thị Hạnh Phúc
Lê Thị Châu
 

Chủ biên
Đỗ Chí


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:12:28 pm
LỜI NÓI ĐẦU

Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta và đặt các cơ quan đầu não của chúng tại thủ đô, tiến hành công khai các hoạt động chống phá cách mạng, Liên khu Một - Hà Nội được giao trọng trách kìm chân địch tại Hà Hội càng lâu càng tốt để tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị mọi lực lượng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài.


Đoàn kết xung quanh Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân dân Liên khu Một - Hà Nội vừa củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng vừa đấu tranh với địch và chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến và và chiến đấu anh dũng chống thực dân Pháp.


Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày kháng chiến toàn quốc 19-12-1946 - 19-12-1986. Ban Chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm đã quyết định cho biên soạn và xuất bản cuốn: "NHỮNG NGƯỜI CẢM TỬ" nhằm giúp cán bộ bộ đảng viên nhân dân trong quận nhất là thế hệ thanh thiếu niên, ôn lại quá khứ vinh quang này để khơi dậy niềm tự hào, phát huy khí thế cách mạng tiến công, hăng hái vươn lên trên con đường cách mạng mới. Đây là một việc làm thiết thực, phần nào đáp ứng kịp thời yêu cầu của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân trong Quận nói riêng và Hà Nội nói chung.


Trải qua 40 năm với biết bao đổi thay của cách mạng, nhiều người con của Liên khu Một anh hùng năm xưa đã làm đẹp thêm truyền thống của quê hương. Phần lớn các cụ các bác còn ở lại Hà Nội cho đến hôm nay tuổi đã cao, sức đã yếu, trí nhớ phần nào đã hạn chế... Đó là những khó khăn của quá trình sưu tầm, biên soạn khi chúng tôi lựa chọn lấy nguồn tư liệu sống làm chính. Tuy vậy nhờ có biện pháp tổ chức tập hợp tư liệu khá công phu, sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm cao của đông đảo các cụ các các đồng chí cán bộ đảng viên nhất là những đồng chí trực tiếp chiến đấu, lãnh đạo chiến đấu trong Liên khu Một năm xưa. Sau 3 năm làm công tác sưu tầm tổng hợp, đến nay Quận ủy Hoàn Kiếm đã hoàn thành việc biên soạn cuốn sách.


Nhân dịp xuất bản cuốn sách, Ban chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đông đảo các đồng chí Liên khu Một năm xưa; chân thành cảm ơn Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy đã hướng dẫn chỉ đạo chặt chẽ về nội dung và sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Hà Nội.


Chắc chắn cuốn sách này còn những thiếu sót và hạn chế nhất định, chúng tôi mong muốn được đón nhận nhiều yếu kiến góp ý bổ sung của đông đảo bạn đọc để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.


T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀN KIẾM
   Bí thư
BÙI MẠNH TRUNG


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:05 pm
CHƯƠNG I
ĐÂY, THĂNG LONG


"Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây,
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm..."

Bài hát Người Hà Nội, với câu mở đầu này dẫn ta vào ngay khu vực trung tâm thủ đô Hà Nội, có hồ Gươm ở phía nam, Hồng Hà bên phía Đông, Hồ Tây trên phía Bắc. Đây là đất gốc Thăng Long.
Xưa kia sông Tô Lịch, một chi lưu của Hồng Hà tiếp nước sông mẹ ở phường Giang Khẩu. Thời gian đã lấp mất cửa sông Tô (nay là quãng Phúc Tân - Chợ Gạo - Hàng Buồm), lấp đi cả một đoạn dài lên đến Thụy Khê, nhưng tại vùng mang tên Giang Khẩu này và quanh đó vẫn còn ấp ủ nhiều dấu tích thời tiền Thăng Long, từ thuở dựng nước, của những con người sinh ra tại đây và từ bốn phương về đây tụ hội chung sức lập nghiệp lớn.


Đền Giai Cảnh ở phố Hàng Than, thờ vị Uy Linh Sơn Hà, tương truyền là một trong năm mươi người con theo Lạc Long quân đi về phía biển mở mang bờ cõi.

Đình Đông Thuận, thờ ông Lý Tiến, một vị tướng thời Hùng Vương thứ 6, nay là ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá. Tương truyền: Ông Lý Tiến xông pha trận mạc đánh giặc ngoại xâm bị trọng thương được đưa về chết tại quê, có Cầu Đông vắt qua sông Tô, có chợ cá trên bến dưới thuyền. Huyền tích còn kể: Chính ông Lý Tiến đã hiến kế với vua Hùng cho rao mõ cầu hiền mà tìm được cậu bé Làng Gióng, đánh một trận, dẹp tan giặc nước. Dân làng Đông Thuận lập đền thờ ông, ghi công trạng người cảm tử quân thời dựng nước, tại ngay nơi ông mất. Ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá ngày nay chỉ là hậu cung của Đình Đông Thuận xưa.


Thời kỳ nghìn năm chống quân đô hộ phương Bắc, khu vực cửa sông Tô là một điểm huyết chiến.
Giữa thế kỷ thứ 6. Lý Nam Đế khởi nghĩa thành công lập nước Vạn Xuân, dựng chùa Khai Quốc. Chùa Khai Quốc vốn ở bên sông Hồng, đến năm 1616, chuyển vào đảo Cá Vàng trong Hồ Tây, mang tên mới, chùa Trấn Quốc.


Năm 545, quân nhà Lương tràn sang, Lý Nam Đế dựng một thành lũy ở cửa Sông Tô.

Kẻ đô hộ cũng sớm thấy vị trí chiến lược của vùng cửa sông này. Trước kia, mỗi khi chiếm được nước ta, chúng đều xây thành đặt trụ sở cai trị ở Luy Lâu, bên sông Đuống. Thế kỷ thứ 7, bọn xâm lược nhà Đường bỏ Luy Lâu đến vùng của sông Tô xây thành Tống Bình.


Cuối thế kỷ thứ 8, Phùng Hưng chiêu tập binh mã ở Đường Lâm chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 791, ông đưa hàng vạn nghĩa quân xuống bao vây Tống Bình, chiến đấu quyết liệt 7 ngày đêm. Kẻ cướp nước cố phá vây, nhưng phơi xác đầy đồng, cuối cùng phải xin hàng.


Sang thế kỷ thứ 9, bọn đô hộ ở Tống Bình xây thành mới rộng lớn hơn, mang tên Đại La, hòng củng cố vững bền quyền thống trị.

Nhưng đến thế kỷ thứ 10, với chiến thắng Bạch Đằng diệt quân Nam Hán (938), nước nhà giành được quyền độc lập.

Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa.

Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, dựng đô ở Hoa Lư. Đến Lý Công Uẩn, kinh đô được chuyển về vùng cửa sông Tô.

Mùa thu năm 1010, đoàn thuyền của vua Lý rời Hoa Lư ngược sông Hồng vào cửa sông Tô cặp bến Đông dưới chân thành Đại La. Truyền thuyết kể rằng: khi ấy có một con rồng vàng hiện bên thuyền ngự rồi bay vút lên trời cao. Nhân điềm ấy vua đặt tên cho kinh thành là Thăng Long. Rồng bay, hình tượng khí thế đang lên của nước Đại Việt.


Từ đó, tại Thăng Long là "chỗ tụ hội của bốn phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời" đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện, biết bao nhiêu biến cố liên quan đến vận mệnh cả dân tộc, đất nước.

1077, dẹp Tống

1225, 1285, 1288 thắng Nguyên

1427, bình Ngô

1789, phá Thanh

Các tướng xâm lược Quách Quỳ, Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị chạy về đến nước chúng rồi vẫn còn khiếp đảm, nghĩ đến Thăng Long lại thấy lạnh gáy.

Khí phách Thăng Long từ ngàn năm hun đúc nên bị sa sút đi do sự nhu nhược đớn hèn của triều đình nhà Nguyễn.

Triều Nguyễn thành lập năm 1802, lập đô ở Huế, vốn e ngại lòng dân Bắc Hà, năm 1805 nhà Nguyễn phá thành Thăng Long cũ, xây Bắc Thành. Đến năm 1831, hạ đất kinh kỳ xuống vị trí một tỉnh, tỉnh Hà Nội, lại lấy cớ Bắc Thành chỉ còn là thành trì của một tỉnh, thành Hà Nội, để hạ thấp tường thành, bạt bớt đi 18 tấc (72 cm).


Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta từ năm 1858. Phờ-răng-xi Gác-ni-ê mang quân ra Bắc tấn công thành Hà Nội sáng ngày 20-11-1873. Giặc có vũ khí hơn ta nhanh chóng chiếm được thành. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng nhịn ăn, chết theo thành. Nhưng rồi Gác-ni-ê cũng bị đền tội. Ngày 21-12-1873, trong trận giáp chiến ở vùng Cầu Giấy, quân ta giết tên tướng giặc này tại thôn Giảng Võ.


Năm 1882, lần thứ hai quân xâm lược Pháp đánh thành Hà Nội. Ngày 25-4, pháo thuyền giặc bắn phá thành. Tổng đốc Hoàng Diệu đốc quân chống đỡ không nổi, ông tự tận lại vườn Võ Miếu, giữ lấy tinh thần trung kiên, bất khuất, chết theo thành. Nhân dân Hà thành và các vùng lân cận vô cùng căm uất, tự đứng ra lập những đoàn dân dũng phối hợp với những đám quân của những viên quan chủ chiến của triều đình, vây quanh Hà Nội, liên tục đánh địch. Ri-vi-e phải đưa quân ra phá vây và ngày 19-5, y bị bắn chết ở Cầu Giấy.


Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội dân tộc, ký hiệp ước bán nước cho thực dân Pháp.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:59 pm
Hơn sáu chục năm ròng, người Hà Nội sống tủi cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp, rồi cả Pháp lẫn Nhật. Nhưng hận thù bị nén chặt thì sức bật bung ra càng thêm mãnh liệt. Từ mùa thu 1945, khí phách Thăng Long hồi sinh và phát triển rực rỡ với cao trào Cách mạng do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo.


Lệnh Tổng khởi nghĩa của Mặt trận cứu nước Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh phát đi từ Việt Bắc trong đêm 13-8. Bốn ngày sau đó, trên đất Thăng Long xưa đã phất phới tung bay ngọn cờ đỏ sao vàng. Chiều ngày 17, Quảng Trường Nhà Hát lớn Hà Nội vang lên những lời hô như sấm dậy "Việt Nam độc lập muôn năm". Từ quảng trường này người Hà Nội rước cờ Độc lập đi khắp các đường phố, biểu dương ý chí, biểu dương lực lượng trước mũi súng của bọn thống trị phát xít Nhật.


Ngày 19 tháng 8, Hà Nội khởi nghĩa thành công. Tiếng reo mừng thắng lợi lịch sử của người Hà Nội ngày 19 tháng 8 vang đến khắp nơi nơi trên đất nước, cổ vũ các tỉnh, thành nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ Tổng khởi nghĩa.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (xưa kia là đất phường Khán Sơn, có núi Khán nơi Lê Thánh Tông, ông vua của một thời võ công văn trị xem duyệt binh, nghe giảng võ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau khi giành được chính quyền, tháng 8-1945, nội thành Hà Nội tổ chức thành 17 khu hành chính, nhưng về mặt quân sự thì căn cứ vào địa thế để chia ra 3 khu vực, gọi là Liên khu.


Liên khu I - Hà Nội, ở trung tâm thành phố gồm 7 khu hành chính: Trúc Bạch, Hồng Hà, Đồng Xuân, Long Biên, Đông kinh nghĩa thục, Đông Thành Hoàn Kiếm. Đây chính là đất gốc Thăng Long xưa, bắc giáp Hồ Tây, Nam có Hồ Gươm, Đông giáp sông Hồng, và phía Tây là thành Hà Nội.


Hồi ấy, Liên khu I Hà Nội là hình ảnh của Việt Nam thu nhỏ, đầy rẫy thù trong giặc ngoài, bị đế quốc bao vây chia cắt. Chưa bao giờ trên đất nước ta có lắm quân đế quốc như vậy: Pháp. Nhật, Anh, Tàu. Tại Hà Nội, tập trung đông nhất trên đất Liên khu I có quân Pháp, quân Nhật, quân Tàu. Liên khu I - Hà Nội nằm trong tình trạng bị uy hiếp: phía bắc, phía nam, phía tây coi như "đất địch", đó là những khối phố lớn tập trung các gia đình người Pháp, trong bộ máy cai trị thuộc địa mới bị dập tan, đến gần hai vạn người già trẻ lớn bé, lại nữa thành Hà Nội do quân Nhật chiếm đóng, rồi quân Tàu, trong đó có gần 5000 lính Pháp mà quân Nhật quản chế từ sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp mồng 9-3-1945.


Trên phạm vi cả nước, thực dân Pháp âm mưu trỗi dậy khôi phục lại chính quyền đô hộ ngay khi phát xít Nhật đầu hàng phe đồng minh. Nhưng nguy hiểm nhất đối với nền độc lập dân tộc Việt Nam ở thời điểm này lại là lũ Tàu Tưởng. Quân đội Trung Hoa dân quốc của chính quyền Tưởng Giới Thạch, được phe đồng minh chiến thắng phân công cho vào Bắc Đông Dương, đến vĩ tuyến 16, giải giáp quân đội Nhật và làm nhiệm vụ tiếp phòng. Chúng tràn vào 4 quân đoàn, trên dưới 20 vạn tên (tương đương với số quân mà tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị đưa vào xâm lược nước ta hồi đầu năm 1789). Vào Cao Bằng, chúng lùng bắt các cán bộ cách mạng, cấm dân ta treo cờ đỏ sao vàng. Qua Lào Cai, Yên Bái, Việt Trì, Vĩnh Yên... chúng giúp cho lũ việt gian tay sai cướp chính quyền. Mục tiêu chính của chúng là Hà Nội, Tại đây. chúng sẽ giáng đòn quyết định "diệt cộng, cầm Hồ" phá cách mạng Việt Nam, lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, dựng lên một chính phủ tay sai gồm những Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... bọn trùm sỏ các đảng Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng, gọi tắt là Việt Cách, Việt Quốc, theo chúng từ bên Tàu về.


Trong bối cảnh vô cùng phức tạp, đầy rẫy những hiểm nghèo ấy, lịch sử trao cho Hà Nội trọng trách bảo vệ chính quyền cách mạng trung ương. Và nhân dân Hà Nội đã buộc kẻ thù nguy hiểm phải chùn bước ngay lần đầu giáp mặt. Những kẻ từng xua quân đi giật cờ cách mạng, chiếm trụ sở chính quyền nhân dân ở các thị xã, thị trấn biên giới phía bắc, trên miền thượng du, trung du Bắc Bộ, khi tràn đến Hà Nội phải thay đổi thái độ hung hăng, ngang ngược, chịu cúi đầu lặng lẽ đi dưới bóng cờ sao vàng 5 cánh tung bay trên đỉnh các nóc nhà, trên các dinh thự, công sở, công viên, dọc các đường phố.


Hà Nội, mùa thu ấy, bằng nhiều hình thức, tỏ rõ cho kẻ thù thấy rằng một chính quyền thực sự có uy tín với nhân dân đã được thành lập trên đất nước này: Chính phủ cách mạng lâm thời Hồ Chí Minh.
Một mệnh lệnh ban ra, hàng chục vạn người xuống đường biểu thị ý chí kiên quyết bảo vệ chính quyền cách mạng, sẵn sàng hy sinh để giữ vững chủ quyền dân tộc.


Một lời kêu gọi, cả Hà Nội sôi động, từng nhà, từng người đem vốn liếng, tư trang đóng góp vào Tuần Lễ Vàng, góp vàng giúp chính phủ khắc phục khó khăn về tài chính.

Mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động chính trị của Hà Nội trong mùa thu ấy đã chỉ cho bọn tướng Tàu, như Lư Hán, Tiêu Văn... đóng đại bản doanh ở phủ Toàn quyền thấy người Hà Nội phẫn nộ như thế nào khi chủ quyền dân tộc bị xâm phạm. Ngày 14 tháng 9 năm 1945, quân đội Anh, do sự phân công của phe đồng minh được vào giải giáp quân đội Nhật ở Nam Đông Dương, chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ ở Sài Gòn, lập tức các đường phố Hà Nội cuồn cuộn những dòng người biểu tình tuần hành phản đối. Và sục sôi hơn cả là cao trào chống xâm lược Pháp. Ngày 23 tháng 9-1945, quân Pháp núp bóng quân Anh đánh chiếm Sài Gòn, lập tức cả Hà Nội biểu thị quyết tâm kháng chiến. Hàng phố, thôn xóm, xí nghiệp trường học, tất cả các tầng lớp nhân dân, công nhân, nông dân trí thức, công thương gia, nhà tu hành... dấy lên phong trào chi viện cho miền Nam ruột thịt. Công nhân sản xuất, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thanh niên xung phong, tòng quân Nam tiến, phụ nữ tổ chức quyên góp trang bị cho bộ đội.


Cách mạng Việt Nam gặp nhiều khó khăn do quân Anh mở đường cho quân Pháp chiếm Sài Gòn, đánh rộng ra các tỉnh Nam bộ. Tuy nhiên, trong tình hình ấy, tại Hà Nội, các tướng Tàu lại phải chấp nhận rằng không thể một lúc mà lật đổ được chính phủ Hồ Chí Minh. Chúng tính nước khác, thúc lũ tay sai phá tổ chức Tổng tuyển cử, đồng thời đòi lập một chính quyền khác, trong đó lũ này phải chiếm phần đa số. Mưu kế ấy là của tướng Tiêu Văn. Nhưng rồi chính Tiêu Văn lại phải lùi bước. Bởi lẽ, trọng điểm phá Tổng tuyển cử của y là Hà Nội, mà trọng điểm của trọng điểm là Liên khu I - Hà Nội, nơi phố xá tập trung đông dân nhất, đặc biệt tập trung các nhà tư sản lớn, các nhà trí thức, các tín đồ Phật giáo, Thiên chúa giáo. Tin lành... mà y cho rằng có thể thu hút xây dựng được lực lượng chống đối cách mạng kéo về phía bọn Việt Cách, Việt Quốc. Song cuộc vận động Tổng tuyển cử ở Hà Nội, nhất là trong Liên khu I - Hà Nội lại diễn ra sôi nổi hơn đâu hết. Lũ Việt Cách, Việt Quốc mò đến phố nào cũng bị xua đuổi. Bấy giờ bọn chúng cũng nhen lên được mấy cuộc biểu tình tuần hành, dẫn nhau đi hò hét, la lối trên vài quãng đường có quân Tàu Tưởng canh gác che Chở, nhưng bị dập tắt hết.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:17:51 pm
Sào huyệt chính của Việt Cách, Việt Quốc ở phố Quan Thánh và Ngũ Xã, trong địa bàn khu Trúc Bạch. Những cuộc tuần hành của chúng thường bị phát hiện từ lúc bí mật tập hợp lực lượng ở Ngũ Xã. Có lần chúng mới mò tới vườn hoa Hàng Đậu liền bị tự vệ khu Đồng Xuân phục kích đánh chạy toán loạn. Có lần chúng tiến được tới Hàng Ngang, và phải tản ra vì cách đánh khác. Bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, Chủ tịch Tiểu khu 16 - Khu Đông kinh nghĩa thục kể rằng: "Hôm ấy, được tin "bọn kia" đang qua phố Quan Thánh, tôi liền báo cho các anh chị em phụ trách thiếu nhi ở các phố trong tiểu khu. Chỉ chốc lát các em đã tập hợp đông đảo, đồng phục chỉnh tề, vừa đi vừa đánh trống ca hát. Từ Hàng Bè, Hàng Bạc, Mã Mây, Hàng Mắm, các em ra đến đâu phố Hàng Ngang thì thấy "bọn kia" lố nhố ở Hàng Đường. Với sự cổ vũ của bà con trong phố, các em khua trống và hát, hiên ngang tiến lên, dàn kín mặt đường. "Bọn kia" bị chẹn lại, tức tối, nhưng chẳng dám gây gổ với các em, bởi chúng thấy dân phố đổ ra rất đông, chắc chắn là trong đó có các anh em tự vệ. Thế rồi, chúng chịu lép vế, tan ra, lẩn biến". Lại có lần, bọn Việt Cách, Việt Quốc đưa được một đám biểu tình chống Tổng tuyển cử xuống đến tận Hồ Gươm. Ở đây đường rộng, các đội thiếu nhi khu Hoàn Kiếm không thể bít đường chẹn lối được, bèn chuyển cách khác. Các em đi kèm đàng trước, đàng sau, đi kẹp hai bên khua trống, hô khẩu hiệu át lời kêu gào của bọn chúng. Một tên Việt Quốc xông ra dọa nạt, nó to lớn, như con sói gầm gừ trước bày thỏ. Nhưng các em chẳng hề sợ hãi, vì đã có các anh tự vệ chiến đấu bám sát, bảo vệ. Tên Việt Quốc tức tối điên cuồng sắp giở đến thủ đoạn vũ lực thì anh đội trưởng tự vệ Vũ Yên bước vào can thiệp. Ta cố giữ thái độ ôn hòa, còn bọn kia ỷ thế có lính Tàu canh gác gần đó che chở, gây ra xô sát. Chúng bắn chết của ta một người. Nhưng liền đó chúng bị đánh tan tác ngạy, tên ác ôn chạy được đến ngõ Hàng Hành thì bị trị tội.


Có sức mạnh đoàn kết của nhân dân, Hồ Chủ Tịch vững tay chèo chống con thuyền cách mạng lướt qua mọi thác ghềnh nguy hiểm. Giữa tháng 12-1945, Người đưa ra một giải pháp nhằm làm dịu tình hình: lập chính phủ lâm thời với sự tham gia của một người trong Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng, chính phủ này có trách nhiệm tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi đại hội đại biểu quốc dân làm việc. Biết chắc là bọn tay sai Tàu Tưởng chẳng dám đưa người ra ứng cử, chúng sợ bị nhân dân vạch mặt gạch tên, Hồ Chủ Tịch nêu thêm một điều khoản nữa: dành cho Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế đại biểu trong Quốc hội. Tướng Tàu Tiêu Văn đang bí, chấp nhận ngay giải pháp này, thúc ép lũ tay sai phải chấp thuận. Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng ký chung với Mặt trận Việt Minh một giao ước "đoàn kết ủng hộ chính phủ liên hiệp lâm thời". Thế là ta dành được một thắng lợi quan trọng để tổ chức Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Bọn Tầu Tưởng chịu lùi một bước trong mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng.


Đầu tháng 3-1946, Hà Nội đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh. Cuộc mặc cả Pháp - Hoa ở bên Trùng Khánh có tin là đã ngã ngũ, chính phủ Tưởng Giới Thạch công nhận "quyền hành của Pháp ở Đông Dương" và đang bàn tiếp việc cho quân Pháp được vào Bắc Đông Dương thay thế quân đội Trung Hoa làm nhiệm vụ tiếp phòng. Cùng với tin này là một tin khẩn cấp: một hạm đội Pháp, đi đầu là tuần dương hạm Ê-min Mác-tin, mang cờ hiệu của tướng Lơ-cléc đang hăm hở xô sóng biển Đông nhằm hướng Hải Phòng. Chiếm xong Hải Phòng, quân dù sẽ nhẩy xuống chiếm các sân bay Hà Nội, đồng thời 5000 lính Pháp, vốn là tù binh của Nhật vẫn nằm trong thành Hà Nội dưới sự quản lý của Tàu Tưởng, sẽ được trang bị lại kiểm soát thành phố.


Bè lũ đế quốc thỏa hiệp với nhau đẩy cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế vô cùng khó khăn ngàn cân treo sợi tóc, cùng lúc phải đương đầu với nhiều đối thủ rất đông, rất mạnh.

Ngày 2 tháng 3, Quốc hội khóa đầu tiên họp phiên đầu tiên vì tình hình khẩn cấp nên phải họp sớm hơn một ngày để xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt: Kháng chiến là việc hệ trọng nhất.
Ngày 5 tháng 3, hạm đội Pháp đến vịnh Bắc Bộ. Từ sáng sớm, tiếng rao, tiếng giới thiệu tin quan trọng của những người bán báo khua động khắp các phố phường Hà Nội "Đồng bào hãy đứng dậy chống giặc… Giờ phút nghiêm trọng đã đến... Toàn quốc ủy viên hội gồm đủ đại biểu các đảng phái có trách nhiệm thống nhất quân đội, điều khiển quân dân xông ra giết giặc, chống giữ bờ cõi cho Tổ quốc... "


Hà Nội ngột ngạt trong bầu không khí căng thẳng. Các "phố Tây" vắng tanh vắng ngắt, thường dân Pháp không dám ló mặt ra đường, cửa nhà đóng im ỉm. Quân Tàu Tưởng tăng cường canh gác các ngã ba, ngã tư, tăng cường tuần tiễu. Chúng lo ngại về một cuộc xuống đường của người Hà Nội.


Hà Nội đã đứng trước ngưỡng của chiến tranh. Nhưng rồi, từ một quyết định, một chữ ký của Hồ Chủ tịch xua tan đi bao nỗi hiểm nghèo cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang thời kỳ trứng nước, đầy rẫy những khó khăn thiếu thốn, chưa được một chính phủ nào trên thế giới này công nhận. Sau này, nhiều tướng lĩnh, nhân vật chính trị, nhà sử học của Pháp đều đánh giá rất cao "nước cờ tháng 3 năm 1946" của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Trong tình thế bấp bênh đang trải qua, Cụ Hồ đã chèo lái với một nghệ thuật cao siêu khác thường, quay ngược tình thế hiểm nguy không thể tránh khỏi, trở thành có lợi cho mình".


Ngày 6 tháng 3, lúc 16g30, tại tòa nhà số 38 phố Lý Thái Tổ, Hồ Chủ tịch ký với đại diện của chính phủ Pháp, Xanh-tơ-ny, bản hiệp định sơ bộ Hòa với Pháp. Hòa đề đổi lấy việc chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ. nghị viện, có quân đội, tài chính của mình ở trong Liên Bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp.


Hòa với Pháp, chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam trong thời hạn năm năm, để gạt cho xong mấy chục vạn quân Tưởng và loại trừ bọn Việt gian tay sai của Tưởng, dùng tay Pháp tống khứ Tưởng đi cho nhanh.


Hòa với Pháp để đồng bào ta trong Nam đang gặp khó khăn, có được giây phút nghỉ xen kẽ chuẩn bị cho những đợt chiến đấu tiếp theo.

Hòa với Pháp mà giành thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến và tạo điều kiện cùng nhân dân Pháp chống bọn thực dân phản động Pháp.

Hòa với Pháp để mở ra một thời kỳ đấu tranh bằng thương lượng.

Hòa để tiến...


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:21:14 pm
Trước khi bản Hiệp định 6-3 được ký kết, Ban thường vụ của Đảng eó dự kiến rằng tuy bọn Tưởng ở Trùng Khánh đồng ý rút quân về cho Pháp vào thay chân nhưng lũ tướng Tàu cầm quân chiếm đóng sẽ lừng khừng không chịu rút ngay, còn cố bày chuyện lăng nhăng kéo dài thời gian để vơ vét thêm của cải của ta và tạo điều kiện cho lũ tay sai của chúng, bọn Việt quốc Việt cách phá ta.


Tình hình diễn biến đúng như ta dự đoán. Bọn Tướng Tàu ngăn chặn các tướng Pháp từng nước.
Ngày 8-3, quân Pháp mới được đổ bộ lên Hải Phòng trong những điều kiện hạn chế.

Ngày 13 tháng 3, đích thân Tưởng giới Thạch ra lệnh cho tướng Lư Hán phải đến Hà-nội ngay và nhân danh Tổng thống Trung Hoa dân quốc điều khiển việc thi hành kế hoạch rút quân, bàn giao nhiệm vụ tiếp phòng cho Pháp. Nhưng rồi phải qua nhiều cuộc bàn cãi lằng nhằng Lư Hán mới cho tướng Lơ-cléc lên Hà Nội ngày 18-3 với điều kiện "chỉ được đem theo một đoàn tùy tùng danh dự nhỏ". Tuy nhiên, ngài tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp rất "khéo xử sự" với các vị tướng Tàu vốn ham tiền bạc, nên hôm ấy đoàn tùy tùng danh dự nhỏ của ông ta lại chẳng nhỏ chút nào: 1200 người với 200 xe, các xe đều cắm hai lá cờ Pháp và Việt.


Hiệp định quân sự Pháp - Hoa quy định những thể thức tiếp phòng phải được hoàn thành ngày 31 tháng 3 xong đến đầu tháng 5 vẫn chưa một đơn vị nào của quân Tưởng rời Bắc Bộ. Trong khi đó các tướng Tàu thúc giục lũ tay sai Việt Quốc, Việt Cách gây rối tình hình với hy vọng kiếm được cái cớ để nằm lỳ.


Mãi đến ngày 16 tháng 6, quân Tưởng mới bắt đầu rời Hà-nội. Và 9 ngày sau đó, tướng Lư Hán mới chịu cuốn gói về Côn Minh bằng một chiếc máy bay của quân đội Pháp cho mượn.

Ngày 22 tháng 6-1946, Hà-nội sạch bóng quân Tàu Tưởng.

Hào khí Thăng Long bừng lên từ mùa thu 1945 với cao trào each mạng của nhân dân Hà-nội mà lực lượng xung kích là thanh niên, mũi nhọn của lực lượng này là tổ chức tự vệ Hoàng Diệu.

Người Hà-nội được thấy rõ sức mạnh của tuổi trẻ Hà-nội ngay ngày đầu giành chính quyền.

Hôm đó, 19 tháng 8, khi mọi người vửa trở về nhà sau một ngày đấu tranh quyết liệt chiếm Bắc bộ phủ, Thị Chính, trại Bảo An Binh... thì 8 giờ tối, tiếng trống ngũ liên nổi lên từ phía bờ sông Hồng:
Vỡ đê đến nơi, cả Hà-nội có nguy cơ chìm ngập trong dòng nước sông Hồng.


Từ ngày 13 tháng 8, vỡ đê ở Vĩnh Bảo (Hải Hưng) đến ngày 17 đê Quảng Cư (Vĩnh Phú) rồi đến Bất Bạt (Hà Sơn Bình) cũng bị vỡ. Nước sông Hồng tiếp tục dâng cao. Ngày 19 tháng 8, ở Hà-Nội nước dâng ngang mặt đê và nguy hiểm nhất là ở nhiều chỗ, từ quãng cầu Long Biên đến nhà Bác Cổ (nay là Bảo tàng lịch sử) nước đã thấm qua thân đê, chảy vào trong phố.


Tiếng trống ngũ liên, tiếng loa gọi cứu đê thôi thúc. Nhân dân các phố trong nội thành gấp rút tổ chức các đội hộ đê. Những dòng người lao ra phía bờ sông, mang theo những gì lấy được từ trong nhà mình: sẻng cuốc, thúng, sọt, bao tải... Người cuốc đất, người xúc đất đổ vào thúng, vào sọt. người khuân đất lên đê cố bịt những chỗ dò dỉ, cố đắp "con lươn" nâng mặt đê lên cao chặn dòng nước đang tràn vào trong phố.


Anh chị em thanh niên là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất trong các đội hộ đê, Thanh niên các phố gần đê đến trước, đó là các đội của các phố Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Chợ Gạo, Mã Mây, Hàng Mắm, Hàng Chiếu..., tiếp theo đến các đội Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Ngang, Hàng Đào..., kế nữa đến các đội Hàng Trống, Hàng Gai, Hàng Bông, Nhà Thờ… Không ai đếm được có bao nhiêu đội hộ đê, chỉ thấy mỗi lúc một thêm đông người bám lấy đoạn đê xung yếu, chống chọi lại dòng nước hung dữ.
Những cái chụp đèn phòng không từng chứng kiến những ngày đen tối của Hà Nội khi xâm lược Pháp - Nhật ngự trị, được tháo rỡ trong đêm nay. Công nhân điện Hà-nội lắp thêm nhiều ngọn đèn cho sáng trưng cả dọc đường bờ sông, cho thanh niên Hà Nội quyết thắng thiên tai, bảo vệ thành phố.
Quá nửa đêm, khi đê đã được củng cố xong, ai nấy mới rùng mình bàn tán về một tai họa ghê gớm đã kịp thời chặn đứng được. Nếu không có sức dân, những người vừa mới được hưởng quyền làm chủ thì đê này vỡ rồi, cả Hà Nội chìm trong nước lụt đến tận mái nhà, biết bao nhiêu người chết, biết bao nhiêu người đói, biết bao nhiêu của cải phút chốc tiêu tan, và biết đến bao giờ mới khắc phục được hết hậu quả?


Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội giành hai chiến thắng lịch sử: cướp lại chính quyền đã mất đi hơn sáu chục năm ròng, chặn đứng một trận lụt.

Tiếp ngay đó, nhân dân Hà Nội lo việc xây dựng lực lượng bảo vệ chính quyền, gồm những thanh niên hăng hái nhất của các đường phố. Tổ chức ấy có tên gọi "Việt Dũng đoàn" với nhiệm vụ:

Giữ gìn trật tự trị an đường phố, chống các tệ nạn xã hội (cờ bạc. rượu chè. thuốc phiện), đi đầu trong các phong trào khỏe vì nước, thực hành đời sống mới chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Ít ngày sau, theo chỉ thị của Thành ủy Hà Nội, từ Việt Dũng đoàn, tổ chức lại thành tự vệ Thành Hà Nội, Tổ chức tự vệ thành phát triển rất nhanh. Mỗi phố có một trung đội. Nhiều phố lớn lập được đại đội với số quân trên dưới 100, Liên khu I là nơi tự vệ thành phát triển mạnh nhất trong thành phố.
Các đơn vị tự bầu ra những người chỉ huy. Toàn thành phố có Ban chấp hành tự vệ do đồng chí Khuất Duy Tiến làm Chủ tịch. Ban chấp hành tự vệ Liên khu 1 gồm có:

Chủ tịch: Đồng chỉ Đặng Quốc Châu, ít lâu sau đồng chí Trịnh Đình Báu lên thay đồng chí Đặng Quốc
Châu đi nhận công tác khác.

Phó chủ tịch: đồng chí Bùi Nguyên Cát kiêm phụ trách tự vệ khu Đông Xuân.

Bí thư: đồng chí Phạm Văn Trừng, trực tiếp phụ trách các đơn vị tự vệ phố Mã Mây, Phất Lộc, Hàng Mắm, chịu trách nhiệm báo cáo hàng tuần với Chủ tịch Ban chấp hành tự vệ thành phố về tình hình hoạt động của tự, vệ Liên khu I.

Các ủy viên: đồng chí Trần Hợp Phố, ủy viên quân sự, trực tiếp phụ trách tự vệ phố Hàng Bạc.

- Đồng chí Tạ Đức Nghi, ủy viên chính trị, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường.

- Đồng chí Trịnh Đình Bính, ủy viên văn hóa xã hội, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Gai.

- Đồng chí Nguyễn Viết Sính, đội trưởng tự vệ Hàng Giấy.

- Đồng chí Nguyễn Trọng Hàm, đội trưởng tự vệ Hàng Thiếc.

- Đồng chí Nguyễn Bá Khảo, đội trưởng tự vệ Hàng Bồ, Hàng Cân, Hàng Quạt

Trước ngày khởi nghĩa, Hà Nội đã có một đội tự vệ chiến đấu, làm các nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang, bảo vệ những cuộc mít tinh quần chúng. Trong những ngày tháng 8 lịch sử tự vệ chiến đấu dẫn đầu những đoàn biểu tình cướp chính quyền và phát triển lực lượng rất nhanh thành một đại đội với số quân hơn hai trăm người gánh vác vai trò chính trong việc bảo vệ trung ương Đảng, Chính phủ cách mạng lâm thời.


Khi các khu phố tổ chức tự vệ thành thì tự vệ chiến đấu là người giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự. Tháng 9, tự vệ chiến đấu và tự vệ thành hợp nhất tổ chức chỉ huy, mang tên mới: Đoàn thanh niên tự vệ Hoàng Diệu.


Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chăm lo xây dựng tự vệ Hoàng Diệu.

Một trường đào tạo cán bộ tự vệ được gấp rút tổ chức: Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, giám đốc nhà trường là đồng chí Võ Nguyên Giáp, Khóa đầu tiên tháng 1-1946 mở tại trường kỹ nghệ thực hành ở phố Hàng Kèn (nay là phố Quang Trung). Hồ Chủ tịch đã đến dự buổi lễ khai giảng. Người nói:

- Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình, Tạ phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta, về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cắp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhằm làm náo động lòng dân. Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần, học tập thành cán bộ để đi trước bảo vệ nền tự do của mình, không những thế các đồng chí còn học tập để chỉ huy những người đi sau.

Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đà làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải quyết tâm, tín tâm, và đồng tâm. Nhớ lấy ba chữ ấy: Thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên tất cả, các đồng chí phải thành công".


Sau này, Hồ Chủ tịch ghi những lời căn dặn của Người vào cuốn sổ vàng của nhà trường, như sau:
Tự vệ là để hộ vệ Thủ đô

Phải giữ kỷ luật

Phải siêng học tập.

Phải thực hành đời. sống mới

Phải luôn luôn tiến bộ


Thân ái
HỒ CHÍ MINH


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:24:10 pm
Bọn Tàu Tưởng gây cho ta rất nhiều khó khăn. Chúng tìm mọi cách làm cho ta phải đưa lực lượng bộ đội vệ quốc quân ra ngoài thành phố, chỉ còn một tiểu đoàn phân tán làm nhiệm vụ canh gác các cơ quan trung ương và thành phố. Cũng dễ hiểu, chúng gây khó khăn cho ta trong việc bảo vệ trật tự an ninh thành phố để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho bọn Việt Cách Việt Quốc gây rối trật tự xã hội và kiếm cơ hội lật đổ chính phủ, cướp chính quyền. Nhưng chúng đã thất bại vì Hà Nội đã có lực lượng tự vệ Hoàng Diệu; tự vệ thành giữ các đường phố, xí nghiệp, tự vệ chiến đấu là đội quân cận vệ, một thứ bộ đội đặc vụ đóng tập trung sẵn sàng lao tới các điểm xung yếu.


Đầu tháng 3, cả Hà Nội ngỡ ngàng vì chủ trương "hòa với Pháp", Hồ Chủ Tịch đến ngay với tự vệ Hoàng Diệu. Người cho gọi các cán bộ tự vệ từ cấp trung đội trở lên tập trung ở phòng Khánh tiết của tòa Thị Chính, ngày 9-3, hơn một tiếng đồng hồ, trong bầu không khí thân mật, Người giải thích lẽ hơn thiệt vì sao, ta ký kết "hòa với Pháp", thế nào là "hòa để tiến", Người nói về trách nhiệm của tự vệ Hà Nội trước tình hình mới:

"... Theo tinh thần của bản hiệp định thì năm năm nữa chúng ta sẽ hoàn toàn độc lập. Vậy nhân dân ta đừng nên tỏ thái độ khiêu khích khi thấy quân đội Pháp vào nước ta để tránh những sự đáng tiếc xẩy ra"

Người nhấn mạnh:

"Sự ký kết hiệp định đình chiến ấy không phải là đã hết chiến tranh đâu, và thái độ ôn hòa nhã nhặn của nhân dân ta đối với quân đội Pháp cũng không phải là thái độ nhu nhược thụ động của một dân tộc bị bảo hộ đối với quân đội chinh phục đâu. Trái lại, hơn bao giờ hết, ta phải luôn luôn chuẩn bị để bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân đề đối phó với những việc bất ngờ có thể xẩy ra

"Tình hình kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực tiếp tục không một dây phút nào ngừng. Những cố gắng ấy, những sự chuẩn bị ấy, nếu gặp phải trường hợp phải kháng chiến thì dùng để cứu quốc. Ví bằng gặp được trường hợp thuận tiện mà tránh được chiến tranh, thì sẽ được đem dùng để kiến quốc cũng là cần lắm".

Một tình thế mới mở ra sau khi hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết. Tự vệ Hoàng Diệu có điều kiện thuận lợi hơn để củng cố về tổ chức, tập luyện quân sự, học tập chính trị để làm tròn nhiệm vụ trị an, trấn áp phản cách mạng.

Vào cuối tháng 6, bọn thực dân Pháp tung ra một tin xằng bậy:

"Chính phủ Việt Nam đã giải tán lực lượng tự vệ vì dính líu vào những lộn xộn nghiêm trọng ở nhiều nơi. Không những thế, đại bộ phận lực lượng tự vệ này do Việt Nam quốc dân đảng tổ chức ra và là lực lượng chủ yếu của đảng này".

Tin nhảm tung ra vì bọn thực dân Pháp rất e ngại các chiến sĩ tự vệ đường phố, họ đã trừng trị đích đáng, ngăn chặn kịp thời những hành động khiêu khích của bọn phản động tay sai thực dân Pháp của những tên lính Pháp ở trên các đường phố. Chúng đánh vào uy tín của các đội tự vệ, gây chia rẽ, gây mối hoài nghi giữa tự vệ và nhân dân.

Vì vậy mà trên báo Cứu Quốc số ra ngày 1 tháng 7 xuất hiện bài báo "Gửi các bạn tự vệ thành Hà Nội"

Bài báo ghi công tự vệ thành đã "góp sức cùng anh em Vệ Quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công an viên trong cuộc bảo vệ thủ đô, giữ gìn đất nước, đã tỏ một tinh thần can đảm, hy sinh, làm cho đồng bào tin cậy, ngoại quốc e dè anh em thực sự xứng đáng là thanh niên của nước Việt Nam mới, nhất là thanh niên thủ đô".

Bài báo thông báo mấy nét về phương hướng bồi dưỡng tự vệ:

… Một lực lượng quân sự đáng kể ấy phải được bồi bổ. Vì vậy chúng tôi vừa được tin Chính phủ sắp cho thi hành một phương pháp nhằm làm tăng sức mạnh của tự vệ thành, bằng cách cải tổ theo một hệ thống hẳn hoi, bằng cách huấn luyện về mọi phương diện".

Bài báo nhắc nhở: "Anh em tự vệ thành chúng ta hãy bình tĩnh suy nghĩ và sáng suốt hành động. Anh em cần luôn luôn sẵn sàng có một tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, nhưng quyết nhiên không mắc hợm, không bị phỉnh, không chia rẽ, không ngã vào hố khiêu khích của bọn phản động..."

Cuối tháng 8-1946, nhân dịp kỷ niệm một năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đội tự vệ chiến đấu, tự vệ thành được tập trung đến khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt - Xô). Báo Cứu quốc số ra ngày 30 tháng 8, đăng bài tường thuật trên trang nhất: "Sau huấn thị của cụ Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, sau những lời dặn dò của ông Chủ tịch quân ủy hội Võ Nguyên Giáp. sau lời động viên của ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng khen ngợi anh em tự vệ đã cố gắng nỗ lực trong mọi mặt công tác xã hội, cũng như việc bảo vệ trật tự an ninh đường phố... tiếp đến một cuộc duyệt binh của lực lượng tự vệ chiến đấu và tự vệ thành thống nhất thành tự vệ Hoàng Diệu, một cuộc trình diện lần đầu tiên của tự vệ với Chính phủ và với nhân dân thủ đô.

Cũng dịp này, chúng tôi được thấy sự lớn mạnh của lực lượng tự vệ mới có một năm tuổi: Những hàng tự vệ thẳng tắp với những hàng súng máy đen láy; nhưng hàng tiểu liên mới toanh, những hàng súng trường được xếp thống nhất từng kiểu, đều tăm tắp: nhưng cũng có những hàng trang bị toàn mã tấu sáng choang, hoặc toàn lựu đạn, toàn gậy tre, hàng nối hàng trông rất hùng dũng nghiêm trang. Đặc biệt, ở cuối cùng, có một cỗ súng lớn bắn chiến xa cũng diễu hành, làm cho mọi người trầm trồ khen ngợi, phấn khởi và tin tưởng vào sự trưởng thành mau chóng của tự vệ đường phố, được những người anh em vệ quốc đoàn giúp đỡ huấn luyện, dìu dắt".


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:21:04 am
CHƯƠNG II
TRỌNG TRÁCH


Hà Nội tuân lệnh Hồ Chủ tịch, giữ đúng thái độ ôn hòa khi quân Pháp kéo vào. Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định nhưng Cao ủy Pháp Đắc-giang-li-ơ phá ngang, công kích Lơ-cléc non gan, đánh giá quá cao khả năng kháng chiến của người Việt Nam đã "nhân nhượng quá nhiều". Viên thày tu - đô đốc này kêu toáng lên với những nhân vật nặng óc thực dân trong chính phủ Pháp rằng: "thương lượng với các nhà lãnh đạo Việt Minh có nghĩa là củng cố quyền lợi của những kẻ thù hăng hái nhất" và yêu cầu triệt hồi ngay các tướng Lơ-cléc, Sa-lăng "những kẻ có xu hướng thất bại chủ nghĩa, không chịu phục tùng quyền lục. của Cao ủy".


Đắc-giăng-li-ơ giật dây cho cái gọi là hội đồng tư vấn Nam kỳ đòi tự trị. Cần nói thêm, đây chính là một tổ chức do Đắc-giăng-li-ơ đặt ra từ hồi tháng 11 năm 1945, gồm 12 nhân vật" đại diện cho nhân dân Nam kỳ", thì 4 là người Pháp chính cống thực dân và 7 mang quốc tịch Pháp.


Đến trung tuần tháng 4-1946, tại hội nghị Đà Lạt, Đắc-giăng-li-ơ gây rối về vấn đề Nam kỳ. Hội nghị này được quy định trước, là trù bị cho các cuộc thương lượng chính thức sẽ diễn ra tại Pa-ri vào cuối tháng 5, nhưng hai phái đoàn Việt - Pháp tranh luận gay gắt từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 13 tháng 5 chỉ đạt được mỗi một điều nhất trí là giao việc giải quyết mọi khó khăn cho cuộc hội nghị sẽ họp ở nước Pháp vào tháng 7.


Ngày 31 tháng 5, Hồ Chủ tịch đi Pa-ri theo lời mời của chính phủ Pháp, cùng đi với Người có phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đoàn rời Hà Nội hôm trước thì hôm sau, tại Sài gòn, Đắc-giăng-li-ơ công bố thành lập "nước Nam kỳ tự trị". Rồi hạ tuần tháng 6, ngày 21 quân Pháp mở chiến dịch tiến công ào ạt chiếm Tây Nguyên, lập xứ Tây kỳ.


Sang tháng 7, Đắc-giăng-li-ơ hoàn toàn thắng thế với chủ trương "cứng rắn ", gạt Lơ-cléc đưa Va-luy, một viên tướng "không ưa thương lương với Việt Minh" ngồi vào ghế tổng chỉ huy quân viễn chinh. Va-luy rắp tâm mở màn thời kỳ giữ cái gậy chỉ huy của mình bằng một chiến công vang dội, có thể có giá trị quyết định mà ít tốn kém. Lấy cớ mừng Quốc Khánh Cộng hòa Pháp 14 tháng 7, viên tướng này tổ chức một cuộc diễu binh trọng thể ở đường Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ) Hà Nội, và mời bộ đội Việt Nam cùng tham dự với tư cách là "quân đội một nước tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên Hiệp Pháp". Hôm đó, sẽ có một vụ nổ châm ngòi để gây ra một vụ nổ lớn. Kẻ châm ngòi là lũ phản động Việt Quốc Việt Cách. Lũ này sẽ nổ súng vào một khối trong đội hình diễu binh của quân Pháp. Khi có tiếng nổ thì một mặt quân Pháp sẽ quay súng bao vây các đơn vị bộ đội Việt Nam dang tham gia diễu binh, mọi khác "viện cớ duy trì an ninh", chúng sẽ tung lực lượng cơ động ra giữ các công sở, các cơ quan chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tạo điều kiện cho bọn Việt gian tay sai làm đảo chính, cướp chính quyền Trung ương và Hà Nội. Nhưng kế hoạch thâm hiểm này thất bại, vì trước ngày 14 tháng 7. ngay tại Hà Nội, các lực lượng an ninh của chính quyền cách mạng, phối hợp với các đơn vị tự vệ đường phố, tiến hành một đợt hoạt động nhanh, cùng lúc vây quét hết các ổ phản động. Lộ âm mưu, cuộc "duyệt binh trọng thể" mất mục đích chính.


Trò ảo thuật quân sự 14 tháng 7, nếu như không bị sịt ngòi thì đã nổ ra đúng vào lúc cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô, cách Pa-ri dăm sáu chục cây số, mới bắt đầu được một tuần lễ và đầy những triệu chứng bế tắc. Cao ủy Đắc-giăng-li-ơ và đồng bọn cố tình gây ra nhiều vụ rắc rối ở Việt Nam để tiếp tay cho những tên thực dân phản động ở bên Pháp phá cuộc đàm phán Phông-ten-nơ-blô.


Ngày 7 tháng 7, tại Hồng Gai quân Pháp nổ súng; chiếm các vị trí của bộ đội Việt Nam trong thị xã.
Ngày 27 tháng 7, từ Lạng Sơn, quân Pháp xông ra chiếm pháo đài Đồng Đăng.

Liên tục, 10 ngày đầu tháng 8, trên đoạn đường hơn hai chục cây số, từ Cầu Đuống đến Bắc Ninh, xảy ra những vụ nổ súng, ném bom. Và trắng trợn hơn cả là Đắc-giăng-li-ơ triệu tập các đầu sỏ tay sai Nam kỳ, Lào, Miên đến Đà Lạt mở hội nghị họp bàn về tổ chức liên bang, mà thực ra là để cho lũ kia nhai lại, hoan nghênh, tán tụng các nguyên tắc về một thuộc địa Pháp đổi tên Liên bang Đông Dương do chính Đắc-giăng-li-ơ soạn ra, một liên bang gồm các nước Nam kỳ, nước Lào, nước Cam-pu-chia và nước Việt Nam bị chia cắt làm nhiều mảng, xứ Tây kỳ (Tây Nguyên), xứ Thái, xứ Nùng, xứ Mường…


Như một liều thuốc kích thích, "vụ Đà Lạt" của cao ủy Đắc-giăng-li-ơ làm cho tình hình căng thẳng của cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô tăng lên đến tột độ, bỏ họp suốt cả tháng 8, qua tháng sau mới họp lại được. Một số thỏa thuận về vấn đề Nam kỳ đã đạt được nhưng đến phiên họp ngày 10 tháng 9 lại tan vỡ hoàn toàn, vì phía Pháp không chịu quy định thời gian tổ chức trưng cầu ý dân.


Thái độ của phía Cộng hòa Pháp rõ ràng là không muốn đối thoại. Trong buổi khai mạc hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Mác Ang-đrê tung ra một lời hăm dọa xấc xược: "nếu các vị không ngoan ngoãn phục tùng thì chỉ cần một cuộc hành quân cảnh sát, không đến 8 ngày…". Trưởng đoàn đàm phán của Pháp ăn nói hàm hồ như vậy là dựa vào các báo cáo của Đắc-giăng-li-ơ. Viên Cao ủy này chủ trương dùng bạo lực, từng nhiều lần lưu ý các chính khách ở Pa-ri rằng: "Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch thuộc địa (chứ không phải là một cuộc chiến tranh), mà bộ chỉ huy tối cao đã cân nhắc kỹ, một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt và nhanh chóng, tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, tiếp theo đó là một thời kỳ bình định dài hay ngắn".


Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ. Phái đoàn Việt Nam rời Pa-ri ngày 13 tháng 9, nhưng Hồ Chủ tịch còn nán lại mấy ngày để ký bản Tạm ước 14-9. Như tên gọi của nó, đây chỉ là một thỏa thuận về một số vấn đề bức thiết, bộ phận, có lợi cho cả đôi bên để có thể tiếp tục cuộc đàm phán vào đầu năm 1947.


Nhưng Đắc-giăng-li-ơ tiếp tục phá, viên Cao ủy Pháp rắp tâm dùng bạo lực.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:22:10 am
Trung tuần tháng 10-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định tình hình: "không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng phải đánh Pháp".

Thủ đô Hà Nội được lệnh sẵn sàng chiến đấu, đảm lĩnh "nhiệm vụ tiên phong trong thời kỳ mới, thực hiện quyết tâm lớn cứu nước của dân tộc. Nhân dân, bộ đội vệ quốc đoàn và tự vệ thủ đô phải gắng nêu gương sáng trước toàn quốc, tiêu hao và giam chân quân địch trong thành phố, làm thất bại bước đầu chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch". Ban Thường vụ Trung ương Đảng đặt hết niềm tin vào quân và dân Hà Nội, và chọn cho Mặt trận Hà Nội một người chỉ huy dũng cảm, gương mẫu, rất kiên quyết và cũng rất linh hoạt, đó là đồng chí Vương Thừa Vũ.


Thanh niên Thủ đô nhiều người biết tên, biết tiếng, đồng chí Vũ, mẫu mực về kỷ luật, rất nghiêm nhưng dễ gần gũi. Hồi mới cướp chính quyền, đồng chí là chỉ huy trưởng Quân giải phóng Hà Nội, sau làm giáo viên đào tạo cán bộ quân sự ở Trường Quân chính Quân khu 2, trường cán bộ Việt Nam, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong hồi ký của mình, đồng chí ghi lại buổi nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội như sau:

- "Giữa tháng 10 năm 1946, tôi đang dẫn học sinh quân đi tập dã ngoại ở chân núi Ba Vì thì nhận được lệnh của Thường vụ Trung ương Đảng gọi về gấp. Hồi ấy, ở Hà Nội, quân Pháp hay giở trò khiêu khích nên các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước không làm việc trong thành phố. Tôi được hẹn đến "dinh Tổng đốc Hà Đông", một tòa nhà xây theo kiểu cổ, kín cổng cao tường, ở gần cầu thị xã Hà Đông.


Tôi đến điểm hẹn lúc quá trưa ngày 15 tháng 10. Thường vụ Trung ương đang họp, Nhưng tôi được phép đi thẳng vào phòng họp. Các đồng chí tạm ngừng bàn bạc. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế vào bên cạnh, rồi bảo tôi "Đồng chí Vũ ngồi đây", Lúc mới vào phòng này thoáng gặp vẻ tư lự trên nét mặt các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... tôi đã cảm thấy hình như Thường vụ Trung ương Đảng đang bàn luận về một việc gì khó khăn lắm. Ngồi một lát, tôi càng thấy nhận xét đó là đúng bởi vì ngay trong lúc tạm nghỉ, các đồng chí vẫn chẳng nghỉ ngơi, vẫn theo đuổi những suy nghĩ của mình, người ngồi tại chỗ bên bàn họp, người đi đi lại lại, nhè nhẹ từng bước chân, không ai ra ngoài sân, không ai nói gì với ai. Căn phòng im lặng.


- Thường vụ mời đồng chí đến đây để trao nhiệm vụ mới rất quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được...

Đồng chí Trường Chinh, nói thong thả, rành mạch từng tiếng, giọng anh vẫn dịu dàng, nhưng bàn tay anh nắm chắc lại khe khẽ đập xuống mặt bàn then nhịp từng câu nói:

- Giặc Pháp ráo riết chuẩn bị. Sớm muộn thế nào chúng nó cũng đánh úp Hà Nội, chiếm Thủ đô ta. Trung ương Đảng giao cho đồng chí Vũ làm chỉ huy trưởng Quân khu II, tức là Quân khu đặc biệt Hà Nội.


Anh phân tích tình hình, nói ý nghĩa chiến tranh toàn dân, kháng chiến lâu dài, rồi chỉ thị " Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn. Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay, phải ghìm được địch ở trong thủ đô một thời gian để hậu phương ta có điều kiện yên ổn chuyển sang kháng chiến. Hà Nội phải đánh mạnh, nhưng cần khéo léo, giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Phải gấp rút tranh thủ chuẩn bị, nhưng cũng phải hết sức tránh mắc mưu khiêu khích của giặc. Ta còn phải tranh thủ thời gian để củng cố mọi mặt vì nếu để chiến tranh nổ ra sớm thì không có lợi...


Tôi chăm chú lắng nghe từng câu từng ý của đồng chí Trường Chinh, mắt tôi không rời nhìn đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi phía đối diện. Anh đi đàm phán với Pháp ở Phông-ten-nơ-blô mới về. Cuộc đàm phán chẳng đi đến kết quả gì, nhưng qua bên đó. chắc là anh hiểu thấu tâm địa bọn thực dân, cũng như những khó khăn mà chúng đang vấp phải trong việc khôi phục lại nước Pháp bị phát xít hít-le tàn phá, bòn rút. Lúc này anh cũng chăm chú nghe đồng chí Trường Chinh ra chỉ thị và phân tích tình hình cho tôi. Anh nhìn thẳng vào mắt tôi, đầu gật gật khi đồng chí Tổng bí thư nói: "phải khéo léo giữ được lực lượng đánh lâu dài". Tôi cũng khẽ gật đầu đáp lại, tỏ ý: "Vâng, tôi hiểu ý chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng. Tôi hiểu ý anh. Ta đánh lâu dài, địch sẽ không chịu nổi".


Bấy giờ, quân Pháp vào Hà Nội đã được 7 tháng. Khoảng 6500 binh lính và sĩ quan (theo hiệp định là 5000) đóng 45 vị trí lớn nhỏ. Những vị trí lớn là thành Hà Nội, trường Xa-rô (phố Hoàng Văn Thụ), phủ toàn quyền (đường Hùng Vương), trường Bưởi (trường Chu Văn An). Đồn Thủy (từ nam Nhà Hát lớn đến bệnh viện Việt - Xô), sân bay Gia Lâm. Rải rác trong thành phố có nhiều điểm mà theo hiệp định thì quân đội hai bên Việt - Pháp cùng có trách nhiệm canh gác, như nhà ga xe lửa, cầu Long Biên, các nhà máy điện máy nước, ngân hàng... Tuy nhiên bất cứ ở điểm canh gác nào, quân Pháp cũng biến thành vị trí phòng ngự có hỏa lực mạnh, để khi trở mặt có thể độc quyền chiếm giữ địa điểm ấy và khống chế cả khu vực chung quanh. Chẳng phải là một nhà quân sự, ai cũng dễ dàng thấy được ý đồ của bọn tưởng lĩnh Pháp chúng kèm chặt ta, dựng nên một thế trận đánh úp Hà Nội.


Phía trước trại Vệ quốc đoàn trung ương, cách một mặt đường là rạp Ma-giét-tích (nay là rạp Tháng Tám), chủ rạp là người Pháp, chúng "gửi" vào đó một tiểu đội, biến rạp chiếu bóng này thành một bàn đạp tiến công.


Khách sạn Mê-trô-pôn (Mé trople - nay là khách sạn Thống nhất) cũng chỉ cách dinh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có một mặt đường chúng biến tòa nhà ba tầng kiến cố này thành một trại lính, núp dưới cái vỏ "tiệm ăn của các sỹ quan" cho đỡ trơ trẽn. Chúng thực hiện đúng như chỉ thị ngày 6 tháng 4. của tướng Va-luy "đóng quân nơi nào, trước hết phải đặt ngay kế hoạch phòng thủ rồi biến dần các hoạt động thuần túy quân sự thành một cuộc đảo chính".


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:23:52 am
Trong việc lập kế hoạch tác chiến, có hai vấn đề mà Bộ chỉ huy Mật trận Hà Nội phải suy nghĩ bin bạc nhiều. Đó là:

- Làm thế nào để khi địch trở mặt gầy hấn thì ta đánh trả lại ngay tức khắc được, bắt địch phải bị động đối phó?

- Làm thế nào để kìm giữ địch một thời gian trong Hà Nội. không cho chúng mở rộng chiến tranh ra ngoai, đề hậu phương ta chuyển sang kháng chiến?

Vấn đề thứ nhất được giải quyết như sau: Phải sẵn sàng chiến đấu rất cao để có lệnh là đánh đồng loạt nơi địch yếu, ta dùng lối đánh tập kích bất ngờ đột nhập tiêu diệt chúng; chỗ khó đánh, ta bao vây uy hiếp, đánh tỉa, nơi địch tập trung đông quân, ta quấy rối... Đối với những đơn vị cơ động của địch, lực lượng chính để thực hiện âm mưu đánh úp ta, thì phải tìm mọi cách ngăn cản, không cho chúng phóng xe tăng, xe cơ giới chạy ngang chạy dọc trong thành phố. Ngăn cản cùng phải đồng loạt, cùng lúc các phố đều dựng vật chướng ngại. Việc này phải huy động nhân dân toàn thành phố mỗi người một tay thì chốc lát khắp các đường phố sẽ ngổn ngang vật cản, khiến cho địch có phá cái này lại vướng cái kia, tránh phố này thì lại bị cản ở phố khác. Ngay mỗi phố cũng cần dựng lên hai ba tuyến ngăn chặn kiểu như đóng cửa bằng nhiều then cài, kẻ gian có nậy được cái then cài này rồi lại phải kỳ cạch nậy cái then khác. Mỗi cái "then cửa" ấy gồm một hàng vật chướng ngại và một số tổ chiến đấu bố trí bí mật gần đó để bắn tỉa, đánh cản, không cho địch mở đường một cách dễ dàng.
Vấn đề thứ hai, làm thế nào kìm hãm, giam chân địch một thời gian trong Hà Nội. Đây là vấn đề sử dụng lực lượng, dàn thế trận.


Có ý kiến nêu ra là địch mạnh, ta yếu, địch hơn ta về mọi mặt hỏa lực, cơ động đột kích, cho nên muốn kìm chân địch bên trong thành phố thì phải dùng phương pháp ngăn chặn từng bước. Cần tổ chức ba tuyến chiến đấu nối tiếp nhau, có công sự phòng ngự vững chắc.


Tuyến một ở ngay tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành, chạy vòng từ phía Phà Đen qua các cửa ô Đông Mác - Cầu Dền - Chợ Dừa - Kim Mã đến Yên Phụ

Tuyến hai: Đuôi Cá - Thanh Liệt - Ngã tư sở - Cầu Giấy - Chèm.

Tuyển ba: Văn Điển - Hà Đông - Tây Mỗ - Cổ Nhuế

Ý kiến này bị phê phán nhiều. Đánh như vậy là bỏ trống thành phố, là bỏ mất khả năng chiến đấu của lực lượng tự vệ thành rất đông đảo, đến 8000 người. Phương pháp tác chiến dàn thành tuyến ngăn chặn như vậy hoàn toàn không phù hợp với trình độ kỹ thuật chiến thuật của bộ đội ta. Kinh nghiệm kháng chiến Nam bộ cho thấy rằng nơi nào bộ đội biết dựa vào nhân dân, biết phân tán lực lượng cùng nhân dân đánh du kích thì gây được nhiều khó khăn, thiệt hại cho địch, ngược lại, đào hầm, đắp lũy, dàn thành tuyến thì có khác nào là giơ mặt, giơ ngực ra cho địch đánh, dễ bị chọc thủng, vỡ trận.


Chỉ huy trưởng Mặt trận, đồng chí Vương Thừa Vũ nêu ý kiến: "Tổ chức tác chiến phù hợp với sức ta, với trình độ ta là đánh đu kích, cài sát vào với địch, bám riết lấy nó mà đánh. Cần chia Hà Nội ra làm nhiều khu vực, mỗi khu vực có nhiều ổ đề kháng. Đào hầm, đắp ụ, dùng vật chướng ngại ngăn chặn các đường phố, buộc địch phải giành giật với ta từng đầu đường góc phố trong nội thành. Tạm gọi đây là chiến thuật "cài then cửa" mỗi phố cài một vài cái then cửa như thế, nhưng ta không bố trí lực lượng ở ngay điểm ngăn chặn để tránh hỏa lực địch, mà cách đó, nấp trong những nhà gần đó để bắn, ném lựu đạn diệt những tên địch xông vào phá then cửa của ta. Còn bố trí lực lượng thì phải có lực lượng đóng quân trong nội thành, thực hiện mỗi nhà một pháo đài, mỗi phố một chiến tuyến, đồng thời phải có lực lượng dự bị đặt ở các cửa ô, như vậy sẽ hình thành thế trận ta và địch cài vào nhau. Lực lượng đóng ghìm trong nội thành sẽ bị địch bao vây, nhưng lực lượng ở ngoại thành sẽ vây địch ở vòng ngoài. Địch vây ta, ta vây địch, bên trong ta đánh ra, bên ngoài ta đánh ép vào, phối hợp với nhau, giằng kéo địch, làm cho mặt trận luôn luôn hoạt động, chỉ huy địch luôn luôn bị động, căng thẳng, không thể tập trung sức đánh ra ngoài hay dồn vào trong. Như thế ta mới có thể ghìm được địch lâu ngày.


Phương án "trong đánh ra, ngoài đánh ép vào" được đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái phê chuẩn. Cuối cùng, kế hoạch tác chiến của mặt trận Hà Nội được hình thành và đưa lên trình Bộ Tổng chỉ huy xét duyệt. Các lực lượng vũ trang của Liên khu I có trách nhiệm trụ bám trong trung tâm thành phố, các lực lượng vũ trang của Liên khu II, Liên khu III hình thành thế trận bao vây vòng ngoài.


Đồng chí Võ Nguyên Giáp hỏi:

- Bộ chỉ huy Mặt trận có nhất trí cả với kế hoạch này không?

- Dạ, chúng tôi nhất trí. Đồng chí Vương Thừa Vũ trả lời.

- Còn ý kiến của Ủy ban bảo vệ thành phố thế nào?

- Tôi đã trình bày với anh Nguyễn Văn Trân về cách chia khu vực tác chiến, phương pháp tác chiến, về dự kiến chuẩn bị vật chất cho lực lượng sẽ trụ lại chiến đấu trong nội thành. Anh Trân đồng ý tất cả và phân công cho Bộ chỉ huy Mặt trận cứ tập trung vào công tác tham mưu, chỉ huy tác chiến, còn bao nhiêu công tác khác, Ủy ban gánh hết. Mặt trận cần lực lượng quần chúng làm gì, làm ở đâu, Ủy ban sẽ chỉ thị cho các khu phố huy động...

- Quân, dân, chính, Đảng đều nhất trí, một yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo nên sức mạnh giành chiến thắng. - Đồng chí Tổng chỉ huy động viên tinh thần đồng chí chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội và chỉ thị, - Bố trí một tiểu đoàn Vệ quốc quân trong Liên khu I còn các tiểu đoàn khác đóng giữ các cửa ô để tạo thế trong đánh ra, ngoài đánh vào, xen kẽ giằng co với địch. Liên khu 1 có lực lượng tự vệ thành đông nhất Hà Nội, phải kiên quyết chiến đấu trụ bám. Còn các lực lượng của Liên khu khác thì đánh một thời gian tiêu hao địch rồi co dãn ra ngoài các cửa ô để phối hợp tác chiến với Liên khu I.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:06 am
Liên khu 1 Hà Nội khá rộng, chiếm phần bắc nội thành, gồm phần lớn đất đai của quận Hoàn Kiếm ngày nay và một phần phía đông Quận Ba Đình.

Tuy rộng thế, song gần nửa phía tây của Liên khu I đã coi như là "đất địch chiếm" rồi. Ở đây có thành Hà Nội, Phủ Toàn quyền, trường Xa-rô, nơi địch tập trung quân. Đây cũng là nơi tập trung những biệt thự của các gia đình người Pháp, mà bà con ta hồi đó gọi là khu phố Tây. Phía Nam, giáp với Liên khu 2, ranh giới là các đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền kéo thẳng từ vườn hoa Cửa Nam ra Nhà Hát lớn, nhà Bác Cổ... cũng lại là khu phố Tây nữa, có nhiều vị trí đóng quân công khai hoặc bí mật của quân Pháp, kiều dân Pháp cũng đã được trang bị vũ khí dự tính đến nghìn tay súng. Thế là mặt tây, mặt nam Liên khu I đều là "đất địch". Mặt đông, trên sông Hồng, địch có thủy quân cắm ở Phà Đen, có thể nhanh chóng kiểm soát đoạn sông này. Còn mặt bắc, khi nổ súng thì chắc chắn là địch sẽ đánh chiếm ngay cầu Long Biên, đường Hàng Đậu để giữ lấy con đường giao thông huyết mạch Hà Nội - Gìa Lâm - Hải Phòng; hai khu Trúc Bạch, Hồng Hà sẽ bị cắt rời ra. Như vậy, chẳng phải là quân sự, ai cũng biết một khi địch trở mặt đánh úp, thì Liên khu I Hà Nội sẽ bị chúng bao vây bốn bề. Nhưng đất này lại được chọn làm nơi bám trụ. Về chính trị, đây là trung tâm thành phố. Ta còn giữ được ngày nào, giờ nào, thì ngày ấy, giờ ấy địch chưa thể nói là chúng đã chiếm được Hà Nội. Về mặt quân sự thì xét chung, cả thành phố, chỉ đây mới có địa hình địa vật thuận lợi để tổ chức một khu vực phòng ngự vững chắc, lại có tác dụng thu hút lực lượng địch rất mạnh, vì ở ngay bên sườn thành Hà Nội.


Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội quy định cho các lực lượng vũ trang trong liên khu I, gồm có tiểu đoàn Vệ quốc quân 101, và các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an, tự vệ thành, như sau:

Khi nổ súng, các đơn vị đóng tại đâu phải kiên quyết chiến đấu tại chỗ. Sau 3 ngày đánh tiêu hao địch thì co dần lại, lấy đường Phùng Hưng, sát thành Hà Nội làm giới tuyến phía Tây; giới tuyến phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng; phía. Bắc là đường xe lửa chạy sang cầu Long Biên; phía Đông là đường Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật.


Trong khu vực trụ bám này, nhà cửa san sát, ta có thể đục tường thông từ nhà này sang nhà khác, để cơ động ở bên trong, đi suốt cả dẫy phố, khối phố, biến mỗi nhà, mỗi tầng gác, mỗi căn buồng thành một vị trí chiến đấu, mỗi dẫy phố thành một chiến tuyến. Trong khu vực này, đường xá chật hẹp, thuận tiện cho ta đào cắt đường, đắp chiến lũy, dùng vật chướng ngại, "cài then" chắn xe cơ giới địch. Toàn khu vực với hàng nghìn ngôi nhà cao thấp khác nhau, với những ngõ hẻm ngoắt ngoéo, có thể xây dựng thành một trận địa phòng ngự không chỉ kiên cố, hạn chế được sức phá hoại của bom đạn địch, mà còn là một loại trận địa đặc biệt phức tạp khiến cho địch có gặm từng miếng cũng khó chứ không thể đánh thọc sâu chia cắt ta được.


Mặt trận Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân thì tiểu đoàn 101 cùng lực lượng đông đảo tự vệ thành của Liên khu I, hình thành một hạt nhân thật cứng ở trung tâm thành phố. Còn 4 tiểu đoàn 77, 212, 145 , 523 cùng các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an tự vệ thành của các Liên khu 2, Liên khu 3 và các đơn vị dân quân du kích ngoại thành bao bọc chung quanh. Như vậy địch tuy mạnh nhưng sẽ rơi vào thế bị giằng co trước sau, phải phân tán lực lượng, tổn hao lực lượng, phải mắc kẹt trong tình trạng bùng nhùng như rơi vào bụi gai mây, xoay đằng nào cũng vướng, trở đằng nào cũng mắc.


Đầu tháng 11, Hà Nội triển khai các công việc chuẩn bị chiến đấu, thành lập các Ủy ban bảo vệ khu phố. Đồng chí Nguyễn Hữu Mai, chủ tịch Ủy ban bảo vệ Liên khu 1, triệu tập cán bộ nêu ra 5 việc khẩn cấp:

- Việc thứ nhất, củng cố các đơn vị tự vệ thành. Liên khu sẽ điều động một số cán bộ Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu đến các khu phố, đường phố, giúp các đơn vị làm kế hoạch tác chiến và huấn luyện quân sự;

- Việc thứ hai, động viên nhân dân dự trữ sẵn lương thực, thực phẩm từ một đến hai tháng;

- Việc thứ ba, xúc tiến việc huấn luyện cứu thương, mua sắm bông băng, thuốc chiến thương, chuẩn bị phương tiện làm cáng, đòn cáng, võng cáng...

- Việc thứ tư, huy động trong nhân dân và mua sắm thêm cuốc xẻng, xà beng, cọc sắt... để xây dựng các tuyến ngăn chặn xe tăng, xe thiết giáp, đào hào giao thông cắt ngang đường và đục tưởng xuyên từ nhà này sang nhà khác;

- Việc thứ năm, vận động nhân dân tản cư, các cụ già, cháu nhỏ, người ốm yếu cần được đưa đi trước, động viên thanh niên nam nữ tham gia các nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu.

Các khu phố thực hành chỉ thị chuẩn bị chiến đấu của Liên khu rất nghiêm chỉnh, khẩn trương.
Khu Đồng Xuân có sáng kiến tổ chức ra những ban bảo vệ đường phố, khu vực gồm các cụ có nhiều uy tín, các đảng viên, đại biểu các đoàn thể, nhờ đó mà những chủ trương của thành, của Liên khu được truyền đạt nhanh chóng đến từng nhà, từng hộ và ngược lại, những nỗi niềm thắc mắc lo âu cũng như những ý kiến đóng góp của nhân dân được phản ảnh đầy đủ lên cấp trên. Chỉ có một thời gian ngắn, các phố đã tổ chức xong các đội cứu thương, đội tiếp tế phục vụ nấu ăn cho bộ đội, tự vệ, số người tham gia các đội này đông tới hàng trăm, phần lớn là phụ nữ. Lại có những đội "công binh" nữa, gồm những thanh niên nam giới chuyên giúp anh em tự vệ làm công sự chiến đấu, đào hào giao thông.


Chưa nổ súng mà Ủy ban bảo vệ khu Đống Xuân cũng đã giành được một thắng lợi rất quan trọng, là xây dựng lòng tin. Cả khu vực đầu sóng ngọn gió này chỉ có một trung đội Vệ quốc quân đóng ở nhà số 1 phố Hàng Đậu, canh giữ cầu Long Biên. Tự vệ tuy đông 8 đại đội, hơn một nghìn người, song vũ khí rất thiếu, cứ mười người mới có một khẩu súng, dăm quả lựu đạn, lực lượng như thể chống chọi ra sao với một đội quân thiện chiến có đủ loại vũ khí. Qua nhiều đêm suy nghĩ, nhiều buổi bàn luận, đồng chí Chủ tịch Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân cùng các cán bộ chỉ huy tự vệ xác định rằng: Đây là cuộc chiến của quần chúng nhân dân tự vũ trang chống lại, một quân đội nhà nghề. Nhân dân là chiến sĩ, mà chiến sĩ lại là người chủ nhà nên công sự có thể đào đắp được cả ở ngoài đường và ở trong nhà, ở dưới đất và ở trên tầng cao. Người chiến sĩ không còn tiếc gì hết, có thể đem cả đồ đạc, vật tư của nhà mình ra để xây dựng những công sự kiên cố, vật chướng ngại, cuốc, xẻng, dao, gậy, thậm chí bát đĩa, chai lọ cũng có thể dùng làm vũ khí tiêu diệt địch bảo tồn mình. Ta phải làm chủ ở trong nhà, bắt địch ở ngoài đường, tường nhà là cái áo giáp che chắn cho ta chĩa súng ra bắn những tên địch ở ngoài đường. Ta có thể đánh địch từ nhiều ụ chiến đấu, tại nhiều lớp chiến hào phòng ngự, bắt địch phải bị động trên những đường đi chi chít những vật chướng ngại. Ta có thể đánh địch cả ở trong nhà, nó xông vào tầng dưới, ta vọt lên tầng trên đánh xuống, nó chiếm nhà này ta luồn sang nhà khác đánh quặt lại… Từ việc xác định tính chất cuộc chiến như vậy, Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân đề ra những quy định về tác chiến như sau:

- Mỗi đơn vị tự vệ có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ trận địa của dãy phố, khối phố, khu vực mình.

- Các ụ chiến đấu nên đào ở trong nhà để giữ được bí mật;

- Đục tường nhà nọ thông với nhà kia để nối liền các ụ chiến đấu, đồng thời làm đường giao thông bí mật khi tác chiến ta không dùng mặt đường, vỉa hè để đi lại nữa, mà biến nó thành trận địa bẫy địch.

- Khi đã nổ súng phải đào gấp các đường ngầm cắt ngang đường, làm hào giao thông nối các khối phố khối nhà với nhau, đồng thời làm hào chặn xe thiết giáp địch.

- Mọi công sự (hầm, ụ chiến đấu, hào giao thông) đều phải đào sâu, có nắp che kín bên trên.

- Khi nổ súng, các cửa nhà đều phải đóng chặt, đằng sau xếp nhiều đồ đạc, bao đất, ngăn không cho địch lọt vào dễ dàng. Ngoài đường, hạ cột điện, ngả cây, dựng vật chướng ngại ngăn chặn địch, bắt địch dừng lại cho ta đánh.

- Mỗi tay súng không phòng ngự tiêu cực trong một ụ chiến đấu mà phải vận động qua nhiều vị trí khác nhau.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:49 am
Hà Nội vừa bắt tay vào việc chuẩn bị chiến đấu thì có một lời "sấm trạng" từ các chợ. từ các tiệm ăn, quán cà phê, cứ thì thầm loang ra "Thăng Long phi chiến địa".

"Sấm trạng" được phun ra đúng lúc ở bên kia, chính phủ Pháp gặp cơn khủng hoảng, nội các Ri dôn, kẻ vừa gây bế tắc cho cuộc đàm phán Việt - Pháp vừa qua ở Phông-ten-nơ-blô - có cơ bị đổ, cho nên không ít người Hà Nội thích thú truyền tai nhau rằng; "Nước Pháp sẽ có một chính phủ mới, dân chủ và tiến bộ. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp mồng 6 tháng 3 sẽ được tôn trọng. "Sấm trạng" khoét trúng tâm lý thèm khát hòa bình nên loang rộng rãi. Và rất thâm độc, những kẻ tung nó ra, bọn Việt gian tay sai của thực dân Pháp nhằm đúng cơ hội trong nhà ngoài phố đang xì xào "sấm trạng", mới phun tiếp những lời bàn nham hiểm Một mặt chúng ru ngủ: không có chiến tranh đâu. Cụ Hồ chủ trương giữ gìn hòa bình để đấu tranh buộc Pháp phải thi hành các điều khoản của hiệp định mồng 6 tháng 3, để giành lấy độc lập hoàn toàn bằng thương lượng. Mặt khác chúng hù dọa: "Việt Minh chọi nhau với Pháp thì khác nào châu chấu đá voi, làm gì có chuyện đánh nhau to ở Hà Nội được! Bất quá chỉ vài ngày là tan hết, là chạy bạt lên rừng mà đánh du kích"


Chiến tranh tâm lỷ của địch gây trở ngại không nhỏ đến việc chuẩn bị chiến đấu của ta. "Để chờ xem đã" nhiều ông, nhiều bà chủ nhà đã trả lời như vậy, khi cán bộ đường phố đến vận động chấp hành chỉ thị tản cư của Ủy ban bảo vệ thành phố. "Chờ xem đã", cứ những tốp thanh niên nam nữ được trả lời như vậy khi họ mang búa, mang đục đến các nhà trong phố để đục tường làm lỗ bắn và mở đường giao thông bí mật từ nhà này xuyên sang nhà khác. Và thế là chưa nổ súng, các đội tự vệ thành Hà Nội đã phải đảm nhiệm vai trò xung kích cùng với các cán bộ đoàn thể thanh, niên, phụ nữ đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch.


Đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh, không phải là người Hà Nội không dằn vặt, đắn đo, suy nghĩ. Người giàu có, nhà cao cửa rộng, tiện nghi sang trọng, cũng như người nghèo túng chỉ đủ tiền thuê một chỗ kê tấm phản, ai nấy đều lo tính chuyện mất còn của riêng tư… Sẽ ra sao khi phố phường là trận địa, mỗi nhà là một vị trí chiến đấu? Nhân dân mong ước được sống hòa bình. Chính phủ ta vì cố giữ lấy hòa bình mà đã nhân nhượng với đế quốc Pháp, nhân nhượng rất nhiều, đến mức cuối cùng rồi, nhân nhượng thêm nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước.


Các chiến sĩ Vệ quốc quân, Công an, đóng trên đất liên khu I - Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ thành của các đường phố trong Liên khu I - Hà Nội, cả những cán bộ chỉ huy của họ, không ai được biết phương án tác chiến "Trong đánh ra, ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, mả chính họ những người có nhiệm vụ trụ lại ở bên trong, thu hút địch vào trung tâm thành phố. Vấn đề này tuyệt mật. Họ chỉ được truyền đạt tinh thần chủ đạo "mỗi phố là một trận tuyến, mỗi nhà là một pháo đài, giữ từng bờ tường, tấc đất". và khẩu hiệu cổ động ý chí quyết chiến "Sống chết với thủ đô Hà Nội". Song ai nấy đều hiểu nhiệm vụ xác định rõ trách nhiệm của mình với thủ đô, với thanh danh Thăng Long ngàn năm văn vật, nơi lắng hồn núi sông Việt Nam. Trong những ngày này, những người con trai, con gái của phố phường Hà Nội chưa hề xông pha trận mạc bao giờ, cùng chụm mái đầu xanh sôi nổi bàn việc đánh giặc, mà chiến trường là ở ngay trước cửa nhà mình, trong nhà, trong sân, trong căn buồng nho nhỏ của mình.

Chị Nguyễn Thị Hảo kể rằng:

"Hồi ấy tôi là công nhân nhà máy nước đá. Nhà máy này của chủ Tây, có lính Tây canh gác, trước mặt nhà máy, đường Trần Quang Khải rộng thênh thang, làm sao cản được xe tăng địch? Đặt mìn, anh em tự vệ bàn như vậy. Song ta chỉ có dăm quả mà mặt đường nhựa phẳng lì, đào chỗ nào lộ chỗ đó, thì địch nào có sợ? Có ai đó, tôi không nhớ tên, nêu ý kiến: Vậy thì đào nhiều lỗ vào, đào lung tung, địch biết chỗ nào có mìn, chỗ nào không, đánh giặc phải biết nghi binh giỏi. Ý kiến hay. nhưng bàn ra, bàn vào thì ý kiến cuối cùng mới thật hay: Cần gì phải đào ?’ Cứ đặt mìn ngay trên mặt đường rồi úp cái rổ lên trên, úp lung tung đủ thứ rổ, rá, cả nón rách nữa, chi chít kín mặt đường, thành bãi mìn như vậy địch biết đâu là thật, đâu là giả? Cho dù có biết trăm cái giả, mới có một cái thật, nó cũng không dám lao bừa. Nỏ phải dừng lại chui ra khỏi xe thăm dò và giơ thân cho ta bắn... Cuối cùng tôi được phân công thu nhặt các thứ rổ, rá, nồi đất, chậu sành... để làm bãi mìn trên đường nhựa.


Anh Văn Bích, đội trưởng tự vệ phố Bắc Ninh kể lại:

"Khu vực chiến đấu của chúng tôi có hai con đường: đường Bờ sông (nay là phố Trần Quang Khải), đường Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), cả hai đều rộng lớn, xuyên dọc Liên khu 1, nhưng chỉ đến khi nổ súng mới được phép làm vật chướng ngại bố trí mìn, đào đường ngăn chặn xe cơ giới địch từ phía cầu Long Biên qua Cột đồng hồ xuống đến Nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử), Nhà hát lớn, phố Tràng tiền và ngược lại. Chúng tôi lo mất ngủ về việc này. Chỉ có cách hạ cây là nhanh nhất, hạ cây chặn đường, rồi đặt mìn, cuối cùng đào cắt mặt đường. Nhưng hạ cây thế nào cho nhanh? Chúng tôi làm thí nghiệm. Chọn một cây nhỏ, đường kính của thân độ một gang tay, đục lỗ, nhồi mìn rồi cho nổ. Song, thất bại, cây vẫn đứng sừng sững, lỗ đục chỉ toác rộng ra: một chút. Hỏi ra, mới biết là sai kỹ thuật. Cái mà chúng tôi đã dùng đề thí nghiệm hạ cây chỉ là kíp mìn, còn phải có thuốc nổ nữa. Một mặt chúng tôi báo cáo lên Ủy ban bảo vệ khu phố, lên thành xin thuốc nổ vì phải ngả đến dăm chục cây to, mặt khác, chúng tôi họp anh em tự vệ, bàn xem có cách nào hạ cây mà không cần đến thuốc nổ. Không ngờ, một anh thợ mộc vốn ít lời trong các cuộc họp hành lại là người cởi được mối lo chung: "có thuốc nổ càng hay không thì kiếm lưỡi cưa sẻ, bên phố Lò Sũ thiếu gì?". Bốn năm anh tự vệ người phố Lò Sũ. Hàng Thùng, Hàng Tre, toàn tay thợ sẻ gỗ cả, vỗ đùi đôm đốp tán thành: "Đúng rồi, cứ ngóng tận đâu ấy, sao không nghĩ đến cái cưa của mình? Nhưng phải bắt đầu ngay, chứ có lệnh mới làm thì vẫn chậm".


Thế là chúng tôi bàn kế hoạch hạ cây bằng cưa như sau:

Cưa sẵn độ 3/4 đường kính của thân cây, chỗ cưa cách mặt đất khoảng một mét. Khi có lệnh cưa tiếp thêm đồng thời dùng chão kéo đổ cây, không cưa cây nhỏ, chọn toàn cây to. Cách 3, 4 cây mới cưa sẵn một cây.


Xong chuyện hạ cây, tiếp đến việc bố trí bãi mìn cũng phải bàn, phải tính nhức đầu, càng tính toán chi li càng thấy khó khăn nhiều. Vì chỉ có mấy quả thôi mà phải bố trí một bãi mìn rộng hơn ba vạn mét vuông như ở Cột đồng hồ thì lấy đâu ra? ít nhất cùng phải có hàng trăm quả. May quá, đang bí thì được tự vệ nhà máy nước đá gỡ cho bằng cái sáng kiến "chậu sành, nồi đất đánh Tây", làm bãi mìn giả, cứ úp lên mặt đường la liệt những nồi niêu thúng mủng, thùng, sọt mũ, nón... thằng giặc nào dám phóng xe qua, dám dẫn chân lên? ".


Những ngày này cũng có không ít đội viên tự vệ, cả cán bộ nữa, lo sợ bị địch bao vây, sợ chiến đấu ác liệt, đã lẩn trách nhiệm vụ kiếm cớ đau ốm, hay phải đưa gia đình đi tản cư rồi đi biệt. Nhưng nhiều người khác lại xin được gia nhập đội ngũ chiến đấu. Đó là những chàng trai, cô gái trước đây còn mải mê đèn sách học hành, là những người từ nông thôn ra thành phố làm thuê suốt ngày bận rộn với công việc nhà chủ. Đó là những trường hợp đặc biệt, như : "Anh Trần Gia Phỏng (nay là đại tá Hải quân) vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1940 tham gia bộ đội Nam Bộ, thuộc đơn vị Bà Rịa, được nghỉ phép ra Bắc tìm gia đình ở phố Hàng Chiếu. Anh Phạm Quang (nay là thượng tá hiệu trưởng trường Trung học cảnh sát nhân dân - Thủ Đức) học sinh Sài Gòn ra Bắc với tấm giấy giới thiệu của đoàn thể xin vào trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong khi chờ đợi ngày tựu trường, anh tạm trú tại nhà người quen ở phố nhà Thờ lớn rồi gia nhập đơn vị tự vệ phố này.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:35:35 am
CHƯƠNG III
19-12-1946


Đác-giăng-li-ơ rắp tâm đánh một đòn quyết định tình thế vào đầu năm 1947, một đòn thật mãnh liệt bất ngờ "tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, vô hiệu hóa chính phủ Hồ Chí Minh". Viên cao ủy Pháp rất hiếu chiến này cả tin chắc thắng. Bởi lẽ, theo ông ta thì đến mùa thu năm 1946, quân viễn chinh Pháp đã đứng chân vững chắc trên các vũng chiếc lược quan trọng ở khắp Đông Dương. Còn chính phủ Việt Minh chỉ là một chính phủ chưa vững chắc của một quốc gia mới phôi thai, không có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nước Pháp, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bị bao vây chia cắt, không có nguồn tài chính, thiếu lúa gạo của Nam kỳ cung cấp, quân đội còn non nớt, vũ khí quá thiếu thốn trang bị quá nghèo nàn, làm sao có thể đương đầu với đạo quân viễn chinh Pháp? Trong điều kiện như vậy, rõ ràng là có thể loại trừ chính phủ Việt Minh và thay vào đó là chính phủ khác. Những người cộng sự thân cận của Đác-giăng-li-ơ, đặc biệt là Tổng chỉ huy quân viễn chinh tướng Va-luy hoàn toàn nhất trí với ông ta: Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt, nhanh chóng đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh rồi tiếp theo đó là một thời kỳ bình định.


Việc chuẩn bị đánh đòn quyết định được gấp rút triển khai cùng lúc với chỉ thị của Đác-giăng-li-ơ ngày 25 tháng 10-1916: "phải có một sự phản xạ chủ động". Viên cao ủy bật đèn xanh cho các cấp dưới quyền được tự do hành động, tạo ra những cớ, những cơ hội lấn chiếm, mở rộng phạm vi kiểm soát ở các nơi được đóng quân theo hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3. Rồi ngày 11 tháng 11, trước khi về Pa-ri trình bày ý đồ lớn với chỉnh phủ Pháp, Đắc-giăng-li-ơ giao trách nhiệm cho tổng chỉ huy Va-luy rằng: "phải sẵn sàng thích ứng bằng một hành động đùng sức mạnh nhằm vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội về chính trị và tinh thần".


Chỉ một tuần sau đó, bùng nổ ra các vụ xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn.

8 giờ 20 phút ngày 20 tháng 11, chiếc tàu LCA của hải quân Pháp chặn bắt một tàu chở xăng dầu của một nhà buôn người Hoa, có giấy phép nhập cảnh của hải quan Việt Nam. Lính Pháp đã nổ súng khi nhân viên hải quan và công an Việt Nam đến can thiệp, và rất nhanh chóng tiếng súng lan ra nhiều nơi, trên bến, dưới sông, trong cảng Hải Phòng, đến ngoài phố. Nhiều đoàn xe thiết giáp của quân đội Pháp gầm rú như điên, chạy ngang chạy dọc thành phố. Nhân dân Hải Phòng liền dùng vật chướng ngại chặn các ngả đường. Cuộc xung đột mỗi lúc thêm bùng to ra, bởi viên đại tá Đép-bơ (Dèbes) đã được tướng Va-luy khuyến khích "… lợi dụng tình thế này mà mở rộng phạm vi chiếm đóng, với mọi phương tiện sẵn có. Cần làm chủ toàn bộ Hải Phòng".


Những ngày tiếp sau, các trận đánh quyết liệt diễn ra trên nhiều đường phố. Cuối cùng, có thêm quân tăng viện và có hỏa lực chi viện rất mạnh của hải quân, không quân, đến ngày 27, Đép-bơ chiếm được Hải Phòng, mở rộng phạm vi chiếm đóng đến sân bay Cát Bi, kiểm soát một khu vực rộng từ Cửa Cấm đến Lạch Tray.


Cùng dịp với vụ cướp Hải Phòng là Lạng Sơn. Ngày 21 tháng 11, viên đại tá Xi-de (Sizaire) cố tình gây ra một chuyện rắc rối trên đường giao thông rồi tung quân đánh úp chiếm thị xã.


Hai vụ Hải Phòng, Lạng Sơn bộc lộ rõ rệt mưu đồ của Đác-giăng-li-ơ quyết dùng vũ lực xâm chiếm Việt Nam. Tuy nhiên ủy ban liên hệ về Đông Dương của chính phủ Pháp họp tại Pa-ri ngày 13 tháng 11 lại đồng tình với đường lối thực dân phản động này. Thủ tướng Bi-đôn quyết định đưa thêm viện binh sang Đông Dương và chỉ thị cho Đác-giăng-li-ơ là "cần phải cho bắn đại bác". Như vậy, trên thực tế, hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã bị phía Pháp đơn phương xé bỏ, quân viễn chinh Pháp đã được lệnh chĩa nòng súng vào chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.


Hà Nội ráo riết chuẩn bị kháng chiến.

Các nhà máy, xí nghiệp chuyển máy móc, nguyên liệu ra ngoài thành phố; các cơ quan chính phủ, các Bộ, chuyển dần lên căn cứ địa Việt Bắc, nhân dân tản cư về nông thôn. Liên tục ngày đêm, những xe ô tô vận tải, xe bò, xe xích lô chở cát từ ngoài bờ sông Hồng vào các phố để sẵn sàng nhồi vào bao tải, bao cói, đắp ụ, dựng chướng ngại vật chắn ngang đường. Công nhân nhà Ga Hà Nội chuẩn bị sẵn một đoàn tàu gồm những toa chở đá để khi có lệnh sẽ đẩy ra chắn đường Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến), đường Hàng Đẫy, đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ), ngăn cản xe cơ giới địch từ trong thành tiến qua ngã tư Cửa Nam. Các cơ sở sản xuất, các cửa hiệu và từng nhà thu dọn các đồ vật cồng kềnh để sẵn sàng khiêng ra mặt đường tạo nên những đống chướng ngại vật.


Ngày qua ngày, phố xá, chợ búa thưa bớt người vắng hẳn đi. Những người Hà Nội ra đi không phải là chạy trốn. Công tác tuyên truyền chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện mà Đảng ta tiến hành rất bền bỉ ngay từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đến lúc này đã thấm sâu vào trí óc mỗi người dân. "Tản cư là yêu nước" người Hà Nội xa rời thành phố thân yêu với ý nghĩ như vậy. Những người chưa ra đi phần còn thu xếp việc nhà, phần vì còn phải tranh thủ góp công, góp sức cùng các lực lượng vũ trang của Hà Nội xây dựng thế trận phá âm mưu đánh úp của địch.
Trong Liên khu I, công tác chuẩn bị tập trung vào khu vực trụ bám. Những ban công, cửa sổ, mái nhà, đều trở thành những vị trí chiến đấu. Tường trong nhà, ngoài sân, trên gác. đều đục thủng thành lỗ giao thông, mở đường đi từ nhà này sang nhà khác, xuyên dọc cả dãy phố.


Sang tháng 12, tình hình Hà Nội thêm căng thẳng vì những hành động khiêu khích, cướp hóc. bắn giết của quân Pháp. Để buộc địch phải dè chừng. Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội tổ chức một cuộc nghi binh lớn với sự hỗ trợ của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Hàng ngàn dân quân của các tỉnh này được huy động về tập trung ở các vùng ngoại thành Hà Nội, cứ tối đến, rầm rập kéo vào trong phố, nửa đêm về sáng lại lặng lẽ bí mật rút ra. Suốt một tuần liền những cuộc hành quân này khiến cho địch tưởng rằng Hà Nội đã được tăng cường thêm hàng vạn quân.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:37:10 am
Đến giữa tháng 12. trong Hà Nội lại xì xầm một tin đồn "thế mà không đánh nhau đâu". Nhiều người thích thú với lời dồn này, bởi lẽ ở bên Pháp, Bi-đôn đã buộc phải từ chức ngày 12 tháng 12 và Lê-ông Blom (Blum) được cử làm Thủ tướng lập chính phủ mới. Công chúng Pháp đang lo ngại về tình hình căng thẳng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặt nhiều hy vọng vào Blom một con người được giới thiệu là "suốt đời bảo vệ hòa bình và tán dương nền độc lập của các dân tộc thuộc địa". Tin đồn "không đánh nhau đâu" lan ra phố phường cùng với lời tuyên bố của Xanh-tơ-ni mới từ Pháp bay đến Hà Nội:

"Người ta không cử tôi, người ký kết các hiệp định ngày 6 tháng 3 đến Hà Nội để đem sự đổ vỡ và chiến tranh". Nhưng tin đồn này đã tắt ngóm ngay vì những hành động khiêu khích ngày càng tăng của binh lính Pháp đi đôi với lời đe dọa hung hăng của Đác-giăng-li-ơ ngày 15 tháng 12: "Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, là lãnh thổ của nước Pháp".


Bọn thực dân hiếu chiến đã chiếm được Hải Phòng rồi, giờ đây chúng tính đến mục tiêu chủ yếu.
Từ sáng sớm ngày 17 tháng 12, sương mù chưa tan hết, máy bay trinh sát của quân đội Pháp đã ù ì vòng trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên, quân xâm lược giở trò khiêu khích như vậy tại thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.


8 giờ, một xe chở lính lê dương bắn vào phố Yên Ninh.

10 giờ, quân Pháp ra Hàng Bún phá những ụ chiến đấu của tự vệ. Tiếp đó chúng bao vây uy hiếp đồn công an Hàng Đậu và 12 giờ trưa chúng đốt phá nhiều nơi ở Hàng Bún, Yên Ninh, Quan Thánh.
Trước tình hình nghiêm trọng ấy, ủy ban bảo vệ khu Trúc Bạch huy động lực lượng tự vệ đến từng nhà trong khu vực bị uy hiếp giúp đỡ bà con đi tản cư ngược lên phía Yên Phụ.


Khoảng 3 giờ chiều, súng cối của địch từ trong Thành bắn vào phố Yên Ninh. Sau đó, lính lê dương xông vào các nhà tìm bắt thanh niên. Chúng xả súng bắn vào những người phản đối, 43 người bị giết chết, chúng bắt đem vào trong thành 15 nữ thanh niên.


Cũng ngày 17, địch gây sự ở phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), lính lê dương đi dọc hai bên hè phố đứa nọ cách đứa kia chục mét, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng tìm cách khiêu khích ta ở khu vực này, nơi có nhiều cơ quan của chính phủ và của thành phố. Nhưng các nhà ở đây đã được lệnh đóng kín cửa, đường vắng tanh. Cuối cùng, đi đến Cột đồng hồ, chúng lên xe phóng thẳng về phía cầu Long Biên.


Ngày 18 tháng 12, quân Pháp nổ súng ở Hàng Lược, bắn chết một phụ nữ, ở Hàng Đậu bắn bị thương một vệ quốc quân, ở Hàng Than giết một cụ già, ở Hàng Giấy giết một thanh niên. Xe thiết giáp của chúng bò đến cửa chợ Đồng Xuân bắn trọng liên 12 ly 7 lên nóc chợ và bắn lên tầng gác các nhà quanh đó.


Cùng ngày, chúng chiếm Nha tài chính (nay là Bộ ngoại giao) và Sở giao thông công chính (nay là Bộ thủy lợi)

Qua hai ngày gây rối loạn, đến 21 giờ ngày 18 tháng 12, tướng Moóc-lie gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của công an, tự vệ Hà Nội, đòi chính phủ Việt Nam phải trao quyền kiểm soát trật tự an ninh trong thành phố cho quân đội Pháp và gia hạn, nếu đến sáng ngày 20, những điều kiện đó không được chấp nhận thì quân đội Pháp sẽ chuyển sang hành động.


Như vậy. kẻ xâm lược đã công khai tuyên chiến, hẹn ngày hẹn giờ đánh Hà Nội.

Và, Hà Nội cũng công khai trả lời kẻ gây chiến bằng những dòng người di tản cư, ra đi kháng chiến. Những khẩu hiệu mọc lên chi chít trên khắp các đường phố "Sống chết với Thủ đô" "Thà chết không chịu sống làm nô lệ".


Rất bình tĩnh, Hà Nội nín nhịn, tránh mọi hành vi khiêu khích của kẻ thù và tranh thủ từng giờ từng phút chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi vào cuộc chiến.

Sáng ngày 19 tháng 12, Ủy ban nhân dân thành phố triệu lập cán bộ tự vệ đến Tòa Thị chính nhận chỉ thị khẩn cấp. Cuộc họp biến thành lễ tuyên thệ. Đại diện cho 8200 đội viên tự vệ toàn thành, những người chỉ huy tự vệ các đường phố, khu phố thề trước Quốc kỳ;

- Nghiêm chỉnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ, của Hồ Chủ tịch.

- Tự vệ Thành sống chết với thủ đô.

Tại đình làng Mọc, đại biểu các đơn vị Vệ quốc đoàn đóng ở phía Nam Hà Nội làm lễ tuyên thệ "quyết tử bảo vệ Thủ đô".

Tại Bắc bộ phủ, tiểu đoàn Vệ quốc quân 101 làm lễ nhận danh hiệu "Đội quyết tử của thủ đô".
Càng về trưa, Hà Nội càng ngột ngạt không khí căng thẳng, chợ búa không người, các cửa nhà khép kín, đường sá vắng tanh vắng ngắt.


10 giờ, tại Sở chỉ huy ở sân bay Bạch Mai, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội triệu tập các cán bộ chủ chốt của các Liên khu, các tiểu đoàn trưởng.

Mọi người trong phòng họp đứng tất cả dậy khi đồng chí chỉ huy trưởng mặt trận nghiêm trang tuyên bố: "chúng ta đã được lệnh đánh". Phút chốc biến mất hết những vẻ mặt trầm ngâm, căng thẳng của nhiều ngày đêm làm việc mệt mỏi, đối phó nhẫn nhục với các hành động khiêu khích ngang ngược của địch. Ai nấy hoan hỉ, nhìn nhau cười nhòa nước mắt sung sướng vì sắp được nổ súng, trút xuống đầu quân cướp nước hết mọi căm hờn chồng chất phải cố nén chặt bấy lâu nay.


Với quân Pháp thì ngày 19 tháng 12 là ngày chúng chuẩn bị để "chuyển sang hành động" nắm quyền kiểm soát thành phố Hà Nội. Những đoàn xe tuần tiễu của chúng chạy liên tục trong các phố người Pháp sống tập trung, đặc biệt là trên trục đường cắt ngang thành phố, từ quảng trường Ba Đình qua vườn hoa cửa Nam đến Nhà hát lớn. Chúng dùng tiếng xích sắt của xe cơ giới bọc thép nghiến trên mặt đường nhựa để ra oai uy hiếp tinh thần người Hà Nội.


Đến tối, mục tiêu uy hiếp của địch chĩa thẳng vào khu vực tập trung các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

19 giờ 15, một đoàn 5 xe thiết giáp ầm ầm phóng dọc đường Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền, Ngô Quyền, chạy vòng quanh khu vực Bắc Bộ phủ.

19 giờ 50, đoàn xe này phân tán trên ba địa điểm: một chiếc đỗ ở đầu phố Hàng Khay, chĩa nòng súng liên thanh 12 ly 7 vào cổng chính đồn Công an Hàng Trống. Hai chiếc trấn trước Nhà hát lớn. Hai chiếc đứng trước Nhà ngân hàng, quay đầu xe về phía Bắc bộ phủ


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:10 am
Kẻ địch giương oai diễu võ trước mắt, nhưng đến lúc này các chiến sĩ Vệ quốc quân bảo vệ dinh Chủ tịch không cảm thấy căng thẳng bực bội như các lần bị khiêu khích trước kia nữa: họ đã được phổ biến lệnh chiến đấu. Họ đếm từng phút mong chóng đến giờ G nổ súng.


Giờ G là 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. và kim đồng hồ đã chỉ đúng giờ G. Tất cả cán bộ của Sở chỉ huy tiểu đoàn 101 đặt trong Bắc bộ phủ đều ngạc nhiên nhìn nhau "kìa, sao chưa có hiệu lệnh chiến đấu?" Rồi một phút hồi hộp qua đi. Có tiếng chuông điện thoại, Từ nhà Đèn Bờ hồ, trung đội trưởng Phúc Ánh người được giao trách nhiệm chỉ huy một tốp công nhân nhà máy tắt điện, hỏi tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Triệu: "Sao chưa thấy gỉ?". Phúc Anh cũng đang sốt ruột chờ hiệu lệnh, chờ đại bác ở ngoại thành lên tiếng, chờ nhà máy điện Yên Phụ, nguồn điện chính của toàn thành phố tắt trước.


20 giờ 03 phút, Điện tắt.

Công nhân nhà máy điện Yên Phụ hoàn thành nhiệm vụ phá diện rất xuất sắc. Đồng chí Nguyễn Giang, cán bộ công vận, kể lại trận đánh rất quan trọng mở đầu đêm lịch sử 19-12-1946 như sau:
- Trung tâm Yên Phụ cung cấp điện cho Hà Nội và các tỉnh lân cận. Từ đầu tháng 12-1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân giao cho tôi nhiệm vụ làm kế hoạch phá điện Yên Phụ. Trong buổi giao nhiệm vụ này còn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, đồng chí Vương Thừa Vũ, đồng chí Trần Độ. Các anh dặn đi dặn lại: "Điện tắt là hiệu lệnh chiến đấu, hiệu lệnh kháng chiến toàn quốc, nhiệm vụ rất quan trọng.

Nhưng khi ta đã nổ súng thì địch nó sẽ tấn công chiếm nhà máy điện ngay, cho nên phá thế nào mà chúng không thể sử dụng ngay được, phải phá thật hiểm". Các anh còn dặn "Bí mật tuyệt mật". Bấy giờ ở nhà máy điện Yên Phụ, ta và địch cùng gác chung, lính địch canh gác bên trong, bên ngoài nhà máy cẩn mật lắm. Tất nhiên lính nó đứng ở đâu thì cũng có một đồng chí Vệ quốc quân đứng kèm, rồi suy tính, chỉ phá tuyếc-bin là hiểm nhất. Nhưng nhà máy những 4 tuyếc-bin: 2 máy sống (tức là máy đang chạy) và 2 máy chết (tức là máy dự phòng) làm thế nào phá tất cả, lại phải thật nhanh. Giả dụ mỗi người phá một máy thì gọn quá, song không thể vào nhiều được: địch nó gác ngay cạnh máy, hơn nữa nhiệm vụ tuyệt mật không thể dùng nhiều người. Cuối cùng ý đồ được duyệt như sau: dùng axit đổ vào 2 máy dự phòng, song đặt mìn 2 máy sống. Như vậy vào phá máy chỉ cần 2 người, tôi là một rồi, người thứ 2 thì đến phút cuối cùng mới gọi cũng được, giữ bí mật đến cùng.


5 giờ chiều ngày 19 tháng 12 tôi mới được nhận vũ khí: 2 chai a-xit, 2 quả mìn. Đồng chí Trần Quốc Cư ra lệnh: đúng 8 giờ tối phá máy. Tôi hỏi: "Bộ đội gác Yên Phụ có biết việc này không? Câu trả lời là "Bộ đội toàn thành phố đã được lệnh. Tối nay diện tắt thì nổ súng!"


Cùng làm nhiệm vụ với tôi có đồng chí Dung, công nhân diện. Chúng tôi đem vũ khí vào phá máy. Và người thứ ba nữa. Cai Thăng, phải có ông này, người có trách nhiệm kiểm tra máy, để đưa chúng tôi qua cửa buồng máy, trước mắt tên địch canh gác.


Chúng tôi vào buồng máy lúc 19 giờ 50 phút, làm các động tác bình thường của những người kiểm tra máy. Trước hết, đồng chí Dung và tôi mỗi người một chai axit đổ vào hai tuyếc-bin dự phòng, sau đó đặt mìn vào hai máy sống. Mọi việc xong xuôi, bên ngoài từ cái loa phóng thanh của nhà máy vang vang giọng nói thân thuộc: "Đây là Tiếng nói Việt Nam" 20 giờ rồi, đến giờ rồi, tôi xúc động nóng bừng cả người, giơ tay làm hiệu cho ông Cai Thăng giật cầu giao, cắt điện. Rồi cùng đồng chí Dung mỗi người điểm hỏa một quả mìn…


20 giờ 03 phút. Điện tắt. Toàn thành phố chìm trong đêm tối, vắng lặng đi trong giây lát. Rồi tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng mìn, tiếng thét xung phong. Cây cối vặn mình đổ ầm ầm, cả Hà Nội vùng lên dội bão lửa xuống đầu quân xâm lược một đòn bất ngờ choáng váng.


Lần đầu xung trận, tất nhiên khó lường trước được những vấp váp. Không ít trận trong đêm 19 này rất tốn đạn, bị thương vong mà không biết là có diệt được tên địch nào không. Đó là những trận đánh vào vị trí địch.


Đơn vị tự vệ công nhân Nhà Đèn Bờ Hồ cầm chắc sẽ tiêu diệt gọn tiểu đội địch canh gác ở đây. Họ bố trí sẵn các mặt, cả trên mái nhà. Họ nắm quyền chủ động tiến công, điện tắt là nổ súng, ném lựu đạn ngay, đánh bất thần, uy hiếp địch cả bằng súng đạn và nghi binh la hét. Nhưng khi xung phong thì chỉ còn thấy vài vệt máu tươi, địch chạy biến đâu từ bao giờ không biết.


Một trung đội Vệ quốc quân được giao nhiệm vụ tập kích nhà tướng Moóc-lie phố Hàng Trống, một biệt thự lớn cô lập, chung quanh tòa nhà người Việt Nam ta cả, Có nhiều thuận lợi cho ta tiếp cận địch, giữ bí mật. Nhưng rút cục trận đánh chỉ có giá trị như một trận quấy rối nghi binh.


Ta chưa biết cách đánh tập kích. Tuy nhiên, hàng loạt các vị trí nhỏ của địch đóng rải rác trong các phố đều bị uy hiếp nên địch buộc phải tung quân cơ động đi ứng cứu, giải vây và do vậy ta có điều kiện đánh phục kích. Chỉ một đoạn đường ngắn từ cửa Nam đến Nhà hát lớn, đã hơn chục xe thiết giáp, xe vận tải bị cháy, bị lật đổ, bị đánh đứt xích, nằm bẹp dí. Trong số đó có chiếc xe thiết giáp chở Xanh-tơ-ny, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Đông Dương. Về sau, trong cuốn hồi ký của mình, Xanh-tơ-ny kể rằng:

... "Môt chiếc xe thiết giáp đưa tôi về thành gặp tướng Moóc-lie. Vừa đến phố Tràng Tiền thì vấp phải một quả mìn cỡ lớn, mìn nổ làm cho xe lao vào vỉa hè và đâm xầm vào mặt trước một hiệu buôn, quầy hàng sập đổ tan tành. Một trận mưa lựu đạn ném tới. Lửa bốc cháy. Tôi cố chui ra khỏi xe, lúc này đã trở thành một lò lửa. Mấy người cùng đi (trưởng xe, pháo thủ, lái xe, thông tin vô tuyến điện) dần dần cùng chui ra thoát, người nào cũng bị thương nặng, song đều cố lết ra vỉa hè tìm chỗ ẩn nấp, tránh những mảnh lựu đạn và nhất là tránh những viên đạn đang tự do nổ trong xe, tung mảnh ra mọi phía. Cũng có thể là những viên đạn nổ tứ tung này đã ngẫu nhiên tạo ra một khu vực bảo vệ cho những người bị thương không bị đối phương kết liễu cuộc đời của họ. Tỏi và mấy người cùng đi phải chờ gần hai tiếng đồng hồ mớí được đội xe thiết giáp đến cứu, đưa vào trong Thành".


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:55 am
Trong số những trận đánh có hiệu quả của quân ta đêm nay, nổi bật nhất là trận đánh 6 phố Hàng Đậu.

Nơi đây, mặt đường rộng rãi, là đường đi lối lại của địch từ Hà Nội qua cầu Long Biên sang sân bay Gia Lâm, ta không thể đào cắt từ trước được, mà ngay những vật dùng làm chướng ngại cũng phải dấu kín. Ta dự kiến rằng ngay từ phút đầu tiên của cuộc chiến đấu thế nào địch cùng tung một lực lượng mạnh ra chiếm phố Hàng Đậu để kiểm soát cầu Long Biên.


Đúng như vậy, chỉ mười phút sau khi Hà Nội nổ súng địch phóng ngay một đoàn xe hơn ba chục chiếc ra đây. Nhưng mặt đường Hàng Đậu không còn thênh thang nữa. Đại đội tự vệ Hàng Đậu gồm những người thợ nguội, thợ mộc, thợ hàn, thợ sửa chữa ô-tô, những người lái xe vận tải, đã "cài then cửa" rất nhanh. Phố này có những xưởng sửa chữa xe máy, xưởng xẻ gỗ, xưởng củi, có nhiều xe bò, nhiều vật liệu nặng, cồng kềnh. Các chiến sĩ tự vệ chuẩn bị sẵn những xe chở các vật làm chướng ngại giấu trong các phố Hồng Phúc, Nguyễn Thiệp. Có lệnh chiến đấu, họ đẩy các xe ấy ra lật đổ ngổn ngang trên mặt đường.


Đầu đường Hàng Đậu nối liền với cầu Long Biên bên dốc lên cầu có một điểm đóng quân của một trung đội lính Pháp. Đối diện với địch nhà số 1 phố Hàng Đậu ở góc đường Hàng Đậu, Trần Nhật Duật là trụ sở Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân, đồng thời là doanh trại của trung đội vệ quốc quân. Ta với địch hai bên cùng canh gác cầu.


Cuối đường Hàng Đậu có đài chứa nước hình trụ do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ trước, nhân dân ta quen gọi là tháp nước trên. Đối diện với tháp nước này là đồn Công an Hàng Đậu.

Đường Hàng Đậu tử tháp nước tròn đến dốc cầu Long Biên chỉ khoảng 300 mét là một chiến trường quyết liệt trong đêm đầu kháng chiến. Địch cần nhanh chóng kiểm soát đường Hàng Đậu để tiến lên cầu Long Biên, rải quân giữ đường giao thông sinh tử của chúng ta từ Thành Hà Nội đến sân bay Gia Lâm và tăng quân giữ sân bay này, nơi đến nguồn tiếp tế, tiếp viện của chúng.


Súng nổ ngay khi điện tắt. Từ lúc chiều, địch tăng cường cho lũ lính gác cầu một xe bọc thép. Điện toàn thành vừa tắt, bọn này phản ứng rất nhanh, xả súng bắn vào doanh trại của trung đội Vệ quốc quân ở nhà số 1 Hàng Đậu. Bác Đãi, người chiến sĩ già chăm lo ăn uống cho trung đội này, hy sinh trong phút đầu tiên của cuộc kháng chiến. Hỏa lực địch khống chế cả khu vực đầu cầu. Nhưng chỉ chốc lát tình hình thay đổi hẳn với tiếng bom của tổ Ngà - Tố - Kế - Cổn. Tổ trưởng Ngà hy sinh, quả bom anh không phá tung được mặt sàn cầu, nhưng làm cho địch bạt vía. Lũ bộ binh gác cầu bỏ cái doanh trại bằng lều vải của chúng ở chân dốc lên cầu, vượt đê biến ra ngoài bãi ven sông lẩn vào đêm tối. Cái xe bọc thép cũng biến mất tăm.


Đầu đường Hàng Đậu, địch vừa dãn ra thì phía cuối đã ran ran tiếng nổ. Đoàn xe mở đường của địch, hơn ba chục chiếc từ thành Hà Nội lao ra đến Tháp nước tròn vấp phải hỏa lực đánh chặn của trung đội công an xung phong. Chúng dùng pháo 37 ly và các cỡ súng máy bắn xối xả vào các ụ chiến đấu, các cửa sổ của đồn công an Hàng Đậu. Các chiến sĩ ta chống lại bằng súng trường, lựu đạn, chai cháy đốt được một xe bọc thép và cầm cự được hơn một tiếng đồng hồ thì phải rút bỏ vị trí.


Trong khi đó súng nổ không ngớt trong phố Hàng Đậu. Hai xe bọc thép dẫn đầu đoàn quân cơ giới vừa xông vào trong phố này được mấy chục mét thì một chiếc bị hắt xoay ngang nằm bẹt dí. Nó đè phải quả mìn đặt ở trước cửa nhà số 49. Mặt đường đầy những vật cản. mảnh tôn, mảnh kẽm, thùng, chậu... đáng nghi ngờ biết đâu có mìn đặt ở dưới? Địch không dám xông bừa. phải cho lính lên trước dò mìn. Chúng bắn như đổ đạn vào tất cả các cửa ra vào, cửa sổ, cửa hàng của tất cả các nhà hai bên đường, yểm hộ cho lũ lính đang lom khom dọn đường mà chốc chốc lại một đứa kêu rú lên ôm đùi, ôm bụng ngã vật ra. Đoàn xe địch tiến thêm được vài chục mét thì cũng thêm một chiếc nữa trúng mìn, chết dí. Lúc này một xe "díp", đèn pha, đèn cốt mở sáng chói xồng xộc lao lên trước. Anh em tự vệ thì thầm hỏi nhau.

- Đứa nào liều mạng nhỉ!

- Xe chỉ huy đấy.

Quả nhiên, trên xe có máy thông tin vô tuyến điện tên sĩ quan Pháp nào đó nóng ruột vì tốc độ quá ì ạch của cuộc tiến quân, mà chỉ còn một quãng ngắn nữa thôi thì vượt hết đường Hàng Đậu, đến dốc cầu Long Biên. Nó xốc lên trước để chỉ huy các cỡ súng to nhỏ của đơn vị nó bắn đè bẹp các tay súng đối phương yểm hộ cho lũ lính dọn đường nhanh chóng. Nó muốn nhanh nhưng một loạt đạn tiểu liên tôm-xơn của tổ tự vệ từ nhà số 19 hắn ra, xe nó loạng choạng đâm sầm vào căn nhà bên dẫy số chẵn, gần ngã tư Nguyễn Thiệp Hàng Đậu. Không ai biết được xe này có mấy tên địch, số phận của chúng ra sao. Vì trời tối, địch bắn mạnh, khó quan sát. Lát sau một xe bọc thép đã xộc tới đỗ sát cạnh. Địch dồn xe lên bắn tới tấp vào các cửa nhà hai bên đường Hàng Đậu. Chúng chỉ dùng hỏa lực bắn phá chứ không dám xông vào một nhà nào. Nhưng tình thế trở nên gay go khi một cánh quân khác của địch từ trên phía Yên Phụ vượt qua được trận địa ngăn chặn của tự vệ Bến Nứa, đến đầu đường Hàng Đậu. Chúng xông lên cầu Long Biên, chiếm ga xe lửa đặt pháo 20 ly, trung liên 12 ly 7 khống chế cả khu vực, uy hiếp phía sau lưng trận tuyến của ta ở phố Hàng Đậu. Chúng dàn 3 xe bọc thép bắn phá nát nhừ ngôi nhà số 1 Hàng Đậu, tầng trên, tầng dưới cửa vỡ toang hoàng. Nhưng từ trong súng vẫn bắn ra, lựu đạn vẫn ném ra. Các chiến sĩ Vệ quốc quân và tự vệ đánh bật nhiều đợt xung phong của địch và chỉ chịu rút về phía sau khi không còn điều kiện trụ bám nữa. Ta bỏ trống vị trí song vẫn bắt địch phải trả giá thêm. Một quả mìn gài ở hõm cây bên cổng ra vào nổ tung khi chúng vừa lao tới, gào thét "a-lô-xô".


Hà Nội vùng lên mãnh liệt trong đêm 19 tháng 12, phá tung thế trận đánh úp mà các tướng tá Pháp đã bỏ nhiều công phu dàn dựng, xây đắp và đặt vào đấy nhiều hy vọng.

Cả Hà Nội không ngủ trong đêm đầu kháng chiến. Cột điện, cây cối vặn mình đổ rầm rầm. Tiếng choòng, tiếng cuốc bổ xuống mặt đường nhựa đào bật đất đá lên. Tiếng xe bò chạy long xòng xọc chở đất, cát, gạch, gỗ, sắt. Người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà cùng nhau đẩy những toa xe điện, xe ô tô ra các đầu đường, hò nhau lật đổ. Người ta khuân bàn ghế, hòm tủ, đưa ra mặt đường làm chướng ngại, làm nắp hầm nắp hào giao thông. Nồi, niêu, xoong, chảo, chậu, thùng, thúng mủng... tất cả những đồ dùng ấy đều được huy động, đưa ra làm bãi mìn. Chỉ một đêm Hà Nội biến dạng hẳn, thành một chiến trường.


Liên Khu I - Hà Nội, bị địch chiếm mất một số đường phố: Hàng Đậu, Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền... bị bao vây, chia cắt ngay trong đêm đầu kháng chiến này, nhưng đã biến thành một trận địa phòng ngự mà kẻ địch không dễ gì phá vỡ được.


Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp choáng váng. Mới cách đây vài ngày, sáng ngày 17, tướng Va-luy bay đến Hải Phòng họp tướng lĩnh, thúc dục Moóc-lie đẩy mạnh các hành động lấn át, nhưng cần khôn ngoan, vừa lấn át vừa xoa dịu để khoảng một tháng nữa đây, đến trung tuần tháng giêng 1947, khi có thêm quân tăng viện, sẽ thẳng tay dùng biện pháp cứng rắn.


Va-luy cầm chắc sẽ chiếm được Hà Nội nhanh gọn, như chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Thế nhưng, cả đêm 19 này, tại đại bản doanh ở Sài Gòn, viên tổng chỉ huy này thức trắng đêm vì những tiếng kêu cứu của những đám quân Pháp đóng ở Hà Nội rồi Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng...


Người Việt Nam đã quyết tâm kháng chiến. Rõ ràng một trận đánh úp Hà Nội, cái kế hoạch về một hành động mãnh liệt đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội, thế là tiêu tan.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:52:49 pm
CHƯƠNG IV
TỪNG BỜ TƯỜNG, GÓC PHỐ

Ai cũng đoán rằng một khi đã nổ súng thì với địch Liên khu I - Hà Nội sẽ là mục tiêu hàng đầu. Chúng phải dồn sức đánh chiếm ngay, nhanh chóng kiểm soát khu vực trung lâm thủ đô đông người, nhiều của, có nhà máy điện, máy nước, có đầu mối giao thông nối liền với sân bay Gia Lâm ở bên kia sông Hồng. Và quan trọng hơn cả, về chính trị nơi đây tập trung các cơ quan chủ yếu của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, của thành phố Hà Nội.

Trên thực tế, tình hình đã diễn biến đúng như vậy.


Mặt phía đông.

Bên ngoài đê, trên dải đất ven sông Hồng từ cầu Long Biên xuống đến giáp bến Phà Đen là khu Long Biên, nơi cư trú của những người lao động, san sát nhà tranh vách đất, vách nứa; nhà gỗ, nhà gạch mái ngói, mái tôn chỉ loáng thoáng đôi nơi. Suốt đêm 19 tháng 12. tự vệ Long Biên vượt đê vào trong thành phố tham gia đánh địch ở Nhà máy nước đá, Nhà Mi-sô, Nhà Xô-va, vị trí đầu cầu... Đến sáng ra, trở về khu vực nhà mình, ai nấy hướng cả ra phía đông chuẩn bị đối phó với thủy quân địch. Chúng có một đội thuyền chiến cắm neo ở dưới phà Đen. Nhưng địch không đến từ mạn sông mà từ trên trời đánh xuống. Những chiếc máy bay vận tải Đa-cô-ta lượn vòng ném những thùng xăng, rồi những chiếc khu trục Hen-cát nhào xuống bắn đạn lửa. Cả khu Long Biên phút chốc biến thành biển lửa. Gió cuốn tro bụi bốc cao hàng trăm mét. Một vùng trời tối sầm lại. Hàng nghìn con ngươi phút chốc, không còn hạt gạo, manh chiếu. Suốt ngày 20 tháng 12, các nhân viên trong ủy ban kháng chiến Long Biên (bắt đầu từ lúc nổ súng tối 19-12, Ủy ban bảo vệ các cấp đổi tên là Ủy ban kháng chiến), các đội cứu thương, đội tiếp tế phải xông vào trong biển lửa rừng rực tìm cứu những người bị thương tổ chức cho đồng bào tạm lánh vào trong phố, vào khu Đông kinh nghĩa thực, tập trung ở đình Phát Lộc rạp hát Tố Như, gửi nhờ các nhà phố Mã Mây, Hàng Bạc .. Cả khu Long Biên thành một bãi cháy bị uy hiếp từ nhiều phương, nhiều hướng, không còn khả năng bám trụ nữa.


Tối hôm ấy, Ủy ban kháng chiến Long Biên nhận được chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Liên khu I:

- Củng cố lực lượng tự vệ, tổ chức thành một đại đội sát nhập vào khu Đông kinh nghĩa thục.

- Ổn định cho đồng bào ăn, ở và tổ chức đưa ra ngoài hậu phương vào ban đêm, theo đường bãi ven sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên lên Nghi Tàm, Chèm.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:10 pm
Mặt phía Tây

"Ở đây nó chỉ nhảy một bước là đến trước mặt ta". Đó là nói về khoảng cách quá ngắn giữa tuyến đầu của khu Đông Thành với nơi tập trung đông quân nhất của địch là thành Hà Nội.

Tối 19 tháng 12, chỉ mười lăm phút sau khi điện tắt toàn thành nổ súng kháng chiến, quân Pháp đã xộc tới chợ Hàng Da, có thể gọi là giữa khu Đông Thành. Chúng xả súng bắn vào hiệu sơn Dếch-cô (Secko), rạp chiếu bóng Ô-lanh-pi-a (nay là rạp hát Hồng Hà), vào các ngôi nhà ở đầu phố Hà Trung, Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi (nay là Nguyễn Văn Tố). Chúng đốt chợ Hàng Da để quan sát tìm các vị trí đặt súng của ta. Cả khu chợ bốc lửa. cháy sáng rực. Nhưng chính nhờ có ánh sáng này mà các tay súng của ta, lần đầu tiên xung trận, nào bỡ ngỡ, nào hồi hộp, đã nhìn thấy rõ địch hơn, nhanh chóng trấn tĩnh tinh thần, bắn có kết quả. Đến 23 giờ, địch rút lui với 7 tên chết và bị thương.


Mờ sáng hôm sau, tiếng súng lại vang lên cùng với tiếng gầm rú của xe cơ giới. Quân địch có xe tăng đi trước, tiến qua các phố Hà Trung. Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi giàn đội hình trước bãi chợ Hàng Da. Chúng chiếm nhà thờ Tin lành, từ đó đặt trọng liên 12 ly 7 và súng cối bắn liên tục vào hai vị trí của ta ở nhà Dếch-cô và rạp Ô-lanh-pia. Nhưng hướng đánh của chúng là phố Hàng Điếu. Ba chiếc xe tăng xe thiết giáp tập trung hỏa lực công phá cái chiến lũy chắn ngang đầu phố này mới hoàn thành trong đêm qua. Ở đây ta có một tổ Vệ quốc quân, có bom ba càng. Một chiến sĩ lao vút ra đánh. Anh đâm bom vào ngang sườn xe địch. Bom không nổ. Anh xoay mình lấy đà đâm lần thứ hai. Vẫn không nổ, bom thối. Nhờ đó. những tên lính địch ở trong xe trấn tĩnh lại được, xả đạn vào anh. Tự vệ Hàng Điếu không ai biết tên anh, nhưng chẳng ai quên được hình ảnh dũng mãnh của anh, hai lần đâm bom vào xe tăng địch. Anh ngã xuống và lập tức các chiến sĩ tự vệ bật dậy. Phố Hàng Điếu có nhiều cửa hàng đóng giầy, dép nổi tiếng, có nhiều krếp vụn, cao-su vụn dành cho tự vệ làm những chai xăng-krếp. Họ đã dùng thứ vũ khí tự tạo này đánh cháy một xe bọc thép của địch.


Phố Hàng Điếu nối liền với phố Hàng Gà. Cùng với cánh quân bị chặn đứng ở cuối phố Hàng Điếu địch có một cánh quân nữa đánh vào Hàng Gà, nhẳm hai điểm: nhà Si-mô-mu-ra một hãng buôn của Nhật kiều ở góc đường Hàng Gà - Cửa Đông và chùa Thái Cam ở góc đường Hàng Gà - Hàng Vải. Chúng chiếm được nhà Si mô-mu-ra vì có lợi thế mặt đường Cửa Đông rất rộng, xe bọc thép dàn bộ binh đến tận mục tiêu. Nhưng chúng không bén mảng được tới gần chùa Thái Cam, do đường Hàng Vải chật hẹp, xe tăng không dám xông xáo. Mấy lần bộ binh lao lên đều bị tự vệ Hàng Gà đánh bật trở lại.


Ngày 21, địch chiếm được chùa Thái Cam.

Ngày 22, địch tiến công nhà Ô-lanh-pia. Tự vệ Hàng Da do đội trưởng Phùng Như Hùng và đội phó Nguyễn Viết Phương chỉ huy đánh trả rất quyết liệt. Khẩu trung liên Hốt-kít trong tay anh Lê Dưỡng, người bán vé của rạp chiếu bóng này, đặt từ ụ súng ngầm chính giữa cửa ra vào, quật ngã nhiều địch.


Cùng ngày, tự vệ Hà Trung đi "săn tây" rình được một tốp lính địch mò vào các ngôi nhà bỏ trống để kiếm ăn, họ bắn chết hai tên.

Ở mặt phía tây Liên khu I, ta và địch cách nhau chỉ một mặt đường nên phong trào săn tây phát triển sớm nhất, bắt đầu từ tiểu đội tự vệ giữa nhà Ô-lanh-pi-a, từ trưa ngày 20. Hôm ấy chiếc xe tăng đỗ ở trước nhà thờ Tin lành liên tục bắn vào vị trí của địch. Họ căm tức có nhiều chai xăng-krếp, có cả bom ba càng mà chẳng làm gì được nó. Một người nêu ý kiến: "trị tội bọn lính xe tăng, rình lúc chúng nó thò đầu lên khỏi tháp pháo, hoặc là thế nào cũng có lúc chúng nó chui ra ngoài vỏ thép, ngồi lâu trong xe chật hẹp đứa nào chịu được mãi?". Mọi người tán thành. Và họ rình mỏi mắt mới chộp được cơ hội. Lính địch bỏ ra khỏi xe tăng, đứng khuất phía sau xe, vươn vai, vặn lưng. Một tên vừa đi vừa vặn mình vượt ra ngoài phạm vi che chắn của xe tăng. Anh em tự vệ nhằm nó thật kỹ, ba bốn khẩu súng cùng bám vào nó. Rồi người chỉ huy hô lệnh bắn, y như bắt nhịp một bài hát: "hai... ba". Các nòng súng đồng loạt nhả đạn, tên địch đang vặn mình gục ngay tại chỗ.


Tin "săn tây" từ Hàng Da truyền nhanh sang Hàng Điếu, Hàng Gà, Hàng Phèn… tự vệ các phố đưa nhau bám sát các vị trí địch, các đường đi lối lại của địch rình cơ hội nổ súng. Phố Cửa Đông, một đầu ngõ ra vào thành Hà Nội, nhiều xe địch đến đây bị trúng đạn. Địch đối phó lại bằng cách tuần tra, lùng xục các ngôi nhà ngõ hẻm chung quanh. Nhưng những viên đạn từ Hàng Phèn, Hàng Bút vẫn bắn tới. Cuối cùng, chúng trồng cột ngang đường Cửa Đông rồi chăng dây, căng chiếu làm một tấm màn che mắt các tay súng của ta. Thật lắm công phu, mà chỉ một mồi lửa là tan biến hết, địch cũng biết thế, song vẫn buộc phải làm. Ta đốt -đi rồi chúng lại đem chiếu khác ra căng, cứ tối đến chúng phun nước cho chiếu ướt sũng để ta khó đốt.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:49 pm
Mặt phía bắc

Ngay trong đêm 19 tháng 12, quân Pháp chiếm được đường Hàng Đậu và cầu Long Biên, cắt rời hai khu Trúc Bạch và Hồng Hà ra khỏi địa bàn Liên khu I. Thế là khu Đồng Xuân trở thành tiền tuyến phía bắc.


Ngày 20, khu Đông Xuân yên tĩnh mãi đến mãi quá chiều mới có vài chục tên mũ đỏ thọc vào phố Hàng Giấy. Tự vệ nổ súng tới tấp nhưng chẳng kết quả gì, phần vì  bắn chưa thạo, súng trường lại giật mạnh, phần vì hồi hộp vội vàng, khi địch sắp vào đến cuối phố chính trị viên Nguyễn Đình Cơ ra lệnh cho anh em chuẩn bị lựu đạn, pháo ném, đồng thời cho nổ một bánh pháo ở trong thùng sắt tây, giả làm tiếng súng máy. Bọn địch lúc đầu chỉ nghe tiếng súng trường của ta nổ rời rạc thì coi thường, đến khi thấy tiếng nổ rền, tưởng là ta bắn súng liên thanh liền chùn lại. Địch bị mắc lừa, các chiến sĩ ta bồi tiếp một đợt pháo ném nổ ran, và hò reo xung phong khiến cho chúng càng thêm bối rối, xô nhau tháo lui.


Ngày 21, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh. Rõ ràng là ở Hà Nội địch lúng túng phải đối phó với quân dân ta ở nhiều nơi, nhiều hướng nên tại mặt bắc này của liên khu I, chúng chỉ có quân để rải ra giữ đường giao thông huyết mạch, đường Hàng Đậu - cầu Long Biên chứ chưa có khả năng tấn công mở rộng phạm vi chiếm đóng. Trước tình hình đó, Ủy ban kháng chiến chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trong khu phải tranh thủ thời gian xây dựng trận địa phòng ngự, đào hào giao thông, đồng thời phải chủ động đánh địch, không chờ địch đến, tìm địch mà đánh.


Ngày 22. đồng chí Đỗ Tấn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân tập hợp 20 chiến sĩ tự vệ đưa ra đường bờ sông đánh một trận tập dượt. Ở đây, quãng đầu phố Trần Nhật Duật thường xuyên có một tốp xe bọc thép của địch đi lại tuần tiễn tăng cường canh giữ cầu Long Biên. Từ trên tầng gác của hai căn nhà số 6 và số 8, ta nổ mấy phát súng. Địch giật mình bắn lại dữ đội. Ta ở trên cao, có lợi thế, thỉnh thoảng bắn một vài phát buộc địch phải đáp lại. Nhưng rồi sau khi địch phát hiện được đúng nơi ta bố trí thì ta lại bị bất lợi. Chúng nã đại liên, pháo 20 ly rung nhà. rung của. Mấy chục con người trong hai căn nhà nhỏ hẹp chật chội phải rút thật nhanh, tránh khỏi nguy hiểm. Trận đánh không kết quả về mặt tiêu diệt sinh lực địch, tuy nhiên các chiến sĩ tham gia trận lập dượt này đều rất phấn khởi vì chẳng phải họp bàn kiểm điểm lâu la, ai cũng thấy ngay là: đánh thế này thì cần gì phải đi đông, chỉ cần vài ba người thôi, dễ luồn lỏi, di chuyển, vào thật gần, dí súng tận gáy địch mà nổ cò thì chẳng bắn trệch đi đâu được nữa.


Tối hôm đó, tự vệ Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Gỉấy kéo nhau đi phục kích ở đồn Công an Hàng Đậu, vị trí bỏ trống từ giữa đêm 19. Lực lượng sử dụng đi trận đến bốn chục người lần mò trong đêm tối, chui qua các lỗ tường mới đục còn rất hẹp nên đi rất chậm, xuất phát từ chợ Đồng Xuân lúc chập tối, đường đi chỉ một quãng ngắn, vài trăm mét mà phải mất 3 tiếng đồng hồ mới ra đến địa điểm dự định. Cũng vừa bay,  lúc đó một lốp 4 xe địch bò qua, họ ném lựu đạn và chai cháy, đánh được một xe đứt xích, cháy rừng rực. Trận đánh có kết quả. Nhưng phí sức, thực ra chỉ cần một tổ bốn, năm người.


Ngày 23, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh, giữa trưa, đội trưởng tự vệ Hàng Đậu, đồng chí Thư Chương cùng hai chiến sĩ họp thành một tổ chiến đấu ra đầu phố Trần Nhật Duật tìm đánh địch. Họ bố trí trên gác Nhà nước mắm Vạn Vân bắn mấy phát đạn tiểu liên vào lũ địch ngồi trên chiếc xe bọc thép án ngữ đầu dốc Hàng Khoai. Địch có thể nhanh chóng phát hiện được tiếng súng từ ngôi nhà nào bắn ra. nhưng từ lỗ tường nào, hay từ khe cửa sổ nào của ngôi nhà ba tầng ấy thì không thể đoán ngay được, và chúng bắn bừa bãi vào tất cả những điểm nghi ngờ. Trong khi đó anh em ta đã chuyển sang ngôi nhà khác, cách đầu súng qua khe cửa liếp tục nhả đạn.


Ngày 24, khu Đồng Xuân rền vang tiếng súng. Tự vệ các phố trên trận địa bắc Liên khu thi nhau đánh quấy rối địch. Chiều hôm ấy một xe tăng địch từ đường Hàng Đậu xộc vào đến giữa phố Hàng Giấy bắn phá lung tung một lúc. Nó vào bất thần và rút đi cũng vội vã. "Địch thăm dò đấy", các chiến sĩ ta phán đoán như vậy. Quả nhiên, hôm sau địch đánh vào Hàng Giấy. Chúng chiếm nhà Hoa Nam. Nhưng ta phản công quyết liệt địch phải rút ngay, bỏ lại một xác chết bên lề đường.

Ngày 26, địch đùng một lực lượng khá đông đến một đại đội, đánh vào phố Hàng Khoai. Mục tiêu của chúng là chùa Huyền Thuyên. Chiếm được ngôi chùa này, chúng sẽ đặt chân được ngay sát cạnh chợ Đồng Xuân. Trận đánh diễn ra gần một tiếng đồng hồ. Địch vừa lọt vào trong chùa liền bị đánh bật ra ngay. Quân ta ở bên chợ Đồng Xuân đánh sang, tử các nhà trong hai ngô Hàng Khoai đánh ép lại. Địch rút lui kéo theo xác chết và nhiều tên bị thương.


Ngày 27, lúc quá trưa, từ đường bờ sông địch đánh vào ngõ Tư Đường. Nhưng chúng cũng phải rút lui.

Qua 8 ngày chiến đấu, trận địa phía bắc của Liên khu 1 đã được thử thách. Có một thiếu sót lớn được khắc phục kịp thời, nhờ đó thế trận trở nên vững vàng. Sau đêm 19, phải bỏ đường Hàng Đậu, các đơn vị của ta, Vệ quốc quân, Công an, tự vệ co hết về phố Hàng Khoai, bỏ trống một khu vực rất rộng, nhà cửa sin sít, có nhiều đường ngang, ngõ dọc chật hẹp ngoặt ngèo, lại có đường cầu xe lửa chạy qua mà trên con đường ấy, còn cao hơn cả những nóc nhà một tầng, lính địch có thể từ cầu Long Biên tràn đến đặt súng ở bất kỳ chỗ nào, lúc nào. Thực ra, ta vẫn tổ chức sục sạo, tuần tra trong khu vực này, ra đến tận đường Hàng Đậu nổ súng vào các đoàn xe địch qua lại. Nổi nhất là chiến công của anh thợ nguội Trọng Nghĩa. Hôm ấy, ta mới co về tuyến Hàng Khoai, Nghĩa dẫn một tổ ra hám đường Hàng Đậu quan sát tình hình địch, Công việc xong xuôi, họ bàn nhau đánh một trận phục kích, vì ban ngày, ban mặt, địch chủ quan canh gác lơ là. Và họ đã chộp được cơ hội nổ súng. Một đoàn 5 chiếc xe chạy từ từ như đi đạo phố: 2 xe tăng đi đầu, đến một xe díp rồi một xe tải GMC 15 lố nhố hơn chục linh, cuối cùng là một xe bọc thép. Nghĩa nổ loạt đạn thứ nhất nhằm vào xe díp. Thấy kết quả ngay, cả tên lái xe và tên sĩ quan ngồi bên đều đổ gục xuống, anh liền xoay nòng tiểu liên vào chiếc xe vận tải bóp cò, khi lũ lính trên xe này đang còn nhốn nháo. Trận đánh chỉ chớp nhoáng, với hai loạt đạn ngắn. Địch chết 2, bị thương 3, chiếc xe díp đâm vào bờ hè đổ kềnh bốc cháy.


Tuy nhiên, vì cả khu vực bỏ trống, ta mò mẫm được đến Hàng Đậu thì địch cũng có thể bất thần xộc vào đến tận Hàng Khoai, như hôm 27, chúng đã lọt đến chùa Huyền Thuyên. Bởi thế Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân quyết định đưa lực lượng ra phía trước, lập tuyến đầu bám dọc đường cầu xe lửa mà cái chốt chính của tuyến này là nhà Hoa Nam (49 - 51 Hàng Giấy), ngôi nhà bê tông cốt sắt, ba tầng, kể cả sân thượng là bốn, cao nhất khu Đồng Xuân. Ở đây ta có thể giữ vững được hậu phương, cản phá các cuộc tấn công của địch từ Hàng Đậu, Hàng Giấy, từ cầu xe lửa qua các ngõ Hàng Khoai vào khu vực chợ Đồng Xuân. Ở đây ta uy hiếp được địch ở Hàng Đậu, ở vị trí Ga Đầu cầu và đường cầu xe lửa.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:58:48 pm
Mặt phía Nam

Đây là khu Hoàn Kiếm. Đánh vào Liên khu I, địch nhằm hướng này.

Trong đêm 19, quân Pháp dồn sức tấn công các vị trí của ta trên trục đường từ ngã tư Cửa Nam qua các phố Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền đến Nhà hát lớn, nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử). Trục đường này cũng là ranh giới phía nam của khu Hoàn Kiếm, của Liên khu I.


Có hai trận quyết liệt đẫm máu.

Một trận kéo dài gần 5 tiếng đồng hồ diễn ra ở đồn Công an Hàng Trống, đoạn đầu phố Tràng Thi. Trung đội Công an xung phong giữ vị trí này đối chọi với một đại đội địch có hỏa lực rất mạnh, giết được hai chục tên, bắn hỏng bắn cháy 4 xe bọc thép. Nhưng ta cũng bị thiệt hại nặng phải bỏ vị trí.


Một trận đẫm máu nữa, tại Nhà hát lớn kéo dài từ nửa đêm cho đến sáng bạch. Trung đội Vệ quốc quân giữ vị trí này bị bao vây các các mặt, đã đánh đến viên đạn cuối cùng, gây cho địch nhiều tương vong. Cả trung đội chỉ có một chiến sĩ sống sót.


Sáng ngày 20. địch chiếm xong trục đường huyết mạch Cửa Nam - Nhà hát lớn. Từ đây chúng liên tục tiến công vào khu Hoàn Kiếm.

Ngày 20, lực lượng địch có khoảng một đại đội và 1 xe tăng, 8 xe bọc thép, dẫn đội hình từ Nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Trung ương) qua vườn hoa Con Cóc (còn gọi là vườn hoa cóc phun) đến khách sạn Mê-trô-pôn (nay là khách sạn Thống nhất).


Mở đầu trận đánh lúc 6 giờ 30, địch tập trung các cỡ súng bắn dồn dập vào chính diện khu vực Bắc Bộ phủ gồm có dinh Chủ tịch và Bộ Nội vụ. Tiếp đó, hai xe tăng xông lên hàng rào sắt phía trước dinh Chủ tịch mở đường cho bộ binh xung phong. Ta bắn mạnh, địch không vượt qua được hàng rào, phải kéo nhau lùi về phía sau vườn hoa Con Cóc.


9 giờ, địch tấn công lần thứ hai. Chúng dồn hỏa lực tập trung vào dinh Chủ tịch. Hai xe tăng húc đổ hai đoạn hàng rào xông vào trong sân và theo sau mỗi chiếc xe có khoảng một trung đội bộ binh. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn bình tĩnh bắn chặn địch diệt hơn chục tên và hầu như cùng lúc hai tổ bom ba càng đánh gục cả hai chiếc xe tăng. Nhân đà thắng lợi, ta phản kích mạnh. Địch rối loạn tháo lui.


Đến gần giữa trưa, địch tấn công lần thứ ba. Nhưng hàng giờ bắn phá, xông lên rồi lại lùi xuống mấy lần xung phong thất bại, chúng chuyển hướng đột phá, lướt qua bên sườn dinh Chủ tịch, theo dọc vườn hoa Chí Linh, đánh vào nhà Bưu điện nhằm chiếm lấy đó làm bàn đạp thọc sau lưng khu vực Bắc Bộ phủ. Ở đây ta có một tiểu đội vệ quốc đoàn và hơn chục anh chị em tự vệ. Địch lọt vào được, nhưng đến 14 giờ ta lại đánh bật chúng ra.


15 giờ, địch xung phong lần thứ lư. Chúng vượt được qua hàng rào, chiếm dải hào giao thông trong sân dinh Chủ tịch. Địch vào được là do hỏa lực ta yếu dần, đạn dược đã cạn, và cũng lúc này, bộ đội được lệnh lui về tuyến 2, phía sau dinh, giữ hầm nhà Bưu điện. Tuy nhiên không phải thế là trận Bắc bộ phủ đã kết thúc, mà ta đổi cách đánh.


Trên đường lên cửa lớn vào dinh Chủ tịch, ta chôn sẵn hai quả bom. Tổ đánh bom chờ cơ hội giật bom nổ đúng lúc quân địch đang reo hò xung phong. Khói bụi tung lên mù mịt, ta không quan sát được thiệt hại của địch, chỉ biết rằng chúng chết lặng đi hồi lâu. Tổ đánh bom lại rình tiếp một cơ hội nữa, giật kíp quả bom lớn đặt ở trong dinh khi quân địch xung phong vào đây. Nhưng bom không nổ. Anh chiến sĩ đánh quả bom này đang tức ứa nước mắt vì những tiếng reo mừng đắc thắng của quân địch từ trong dinh vọng ra thì chính trị viên Lê Gia Định xộc tới: "Để quả bom ấy cho tôi, chúng nó sẽ biết!". Anh nói rất bình tĩnh, rồi một mình xông lên.


Tổ đánh bom nhòa nước mắt nhìn người chính trị viên đại đội Bắc Bộ phủ lao vút vào dinh Chủ tịch và chờ đợi một tiếng nổ long trời và sau đó là cái nóc nhà tô lớn đó đồ ập xuống vùi xác quân thù. Nhưng chẳng thấy bom nổ, mà kỳ lạ thay, địch tháo lui tán loạn xô nhau chạy như bị đuổi đánh. Chúng chạy bạt ra ngoài hàng rào, lao qua đường sang bên vườn hoa Con Cóc, cả xe tăng, xe thiết giáp cũng nổ máy lùi ra xa. Thì ra, hành động xung phong quyết tử của Lệ Gia Định đã khiến cho kẻ thù bạt vía kinh hồn. Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Quế vào trong dinh trinh sát thấy Lệ Gia Định đã tắt thở nằm bên cạnh quả bom lớn. Anh bị trúng đạn khi xông tới quả bom này. Nhưng những kẻ bắn anh đã hốt hoảng tháo chạy có đứa nào dám ngoái cổ trông lại để biết được rằng anh không đập được kíp bom, hoặc đuối sức đập trượt!


Địch không dám xung phong nữa. Chúng gọi máy bay. 4 chiếc khu trục Hen-cát kéo đến bổ nhào, bắn phá các hầm của ta ở sân trước, sân sau dinh Chủ tịch. Máy bay địch hoạt động trên bầu trời khu vực Bắc bộ phủ, vườn hoa Chí Linh, Tòa Thị Chính... cho đến lúc sẩm tối.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:59:17 pm
Ngày 22. lực lượng Vệ quốc đoàn đóng trên địa bàn khu Hoàn Kiếm có hai đại đội của tiểu đoàn 101 đã được sắp xếp lại. Đại đội 1 sau trận Bắc bộ phủ rút vào khu Đông kinh nghĩa thục, tổ chức trận địa trụ bám vững chắc cùng lực lượng tự vệ các phố Hàng Bè, Bắc Ninh (nay là Nguyễn Hữu Huân), Hàng Mắm, Phát Lộc... Đại đội 2 chia làm hai bộ phận, một nửa cũng rút vào khu Đông kinh nghĩa thục, còn một nửa đóng giữ khu vực Tòa Thị Chính.


Sau khi ta bỏ trống Bắc bộ phủ thì khu vực Tòa Thị Chính trở thành đột xuất, mà cả bốn mặt đều là đường rộng, địch có điều kiện phát huy thế mạnh của xe tăng, xe bọc thép. Các chiến sĩ đều thấy hết sức khó khăn, nhưng ai nấy đã có quyết tâm rất cao. Đó là những chiến sĩ Cao Quảng, Hồng Bích, Hồng Quân, Hoàng Đào, Sẻn Chung, An Xỉ... những thanh niên của đất Cao Bằng, những chiến sĩ của trung đội bảo vệ tòa biệt thự của Hồ Chủ tịch ở số 8 Lê Thái Tổ, mới được điều về đây từ đêm 20 tháng 12 để giữ trận địa đột xuất, họ hiểu rõ nhiệm vụ, nhận rõ trách nhiệm: phải chôn địch ở đây, giữ trận địa này được thêm ngày nào thì ở phía sau, ta có thêm ngày ấy, thêm thời gian củng cố khu vực trụ bám của Liên Khu I. Họ quyết tâm đánh một trận khiến cho quân thù phải khiếp sợ, như đơn vị bạn đã đành ở Bắc bộ phủ.


Mờ sáng ngày 22, đứng trên vị trí quan sát ở nóc nhà Thị Chính, trung đội trưởng Lưu Đình Quế theo dõi địch vận chuyển lực lượng ở phía đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền. Từ trục đường đó, địch chia ra hai cánh quân: một theo đường Đinh Tiên Hoàng bên ven Hồ Gươm, dừng lại trước vườn hoa Chí Linh; một nửa đi thẳng lên Nhà Hát lớn rồi quanh về trước Nhà Băng Đông Dương. Mỗi cánh có ba xe tăng dẫn đầu tiếp theo là 5 xe thiết giáp chở đầy lính. Khu vực Tòa Thị Chính bị uy hiếp ba mặt, nhưng ta nhanh chóng phát hiện được hướng tấn công chủ yếu của địch: phía Ấu trĩ viên (nay là Câu lạc bộ Thiếu niên) địa hình trống trải. Tiểu đội của Hoàng Văn Đào bố trí ở mặt này, nhưng ta dấu kín lực lượng, chỉ có vài khẩu súng trường lên tiếng lẻ tẻ khi bộ binh địch vượt hàng rào. Ta để cho chúng vào sâu trong sân mới nổ súng ném lựu đạn đồng loạt, rồi xông lên đánh bằng đao kiếm. Địch bị bất ngờ, vội vã tháo lui. Sau trận choáng váng này địch phải tốn khá nhiều đạn để yểm hộ cho nhau thu nhặt gần chục xác chết.


Đợt hai, địch bắn phá rất dữ dội. Phía mặt trước Tòa Thị Chính, nhiều cửa sổ bị bật tung, tường bị phá thủng một khoảng trống, nhưng bộ binh địch chỉ dập dình sau mấy xe tăng, xe thiết giáp. Mặt này ta có hai tiểu đội bố trí cả tầng trên, tầng dưới, có nhiều tay súng, lợi hại, địch không dám xông vào. Phía Ấu Trĩ viên, địch đánh rất thận trọng. Xe tăng bò đến giáp hàng rào bắn liên tục vào các điểm nghi ngờ có quân ta ẩn nấp. Tiểu đội Hoàng Văn Đào vẫn kiên trì chịu đựng chờ đến lúc bộ binh địch tiến vào sâu mới nhảy ra khỏi hầm ngầm đánh giáp lá cà. Hơn một tiểu đội địch bị diệt, bọn sống sót chạy tán loạn nấp sau xe tăng


Đến 13 giờ 10 phút, chúng mở đợt tiến công thứ tư. Một mảng tường Tòa Thị Chính đổ xập. Nhiều cửa gỗ bị đạn lửa bắn cháy. Địch bắn dồn dập kéo dài gần một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi kéo nhau đi.

Trận đánh kết thúc lúc 15 giờ. Ta thu được 10 súng trường Mỹ và hai khẩu tiểu liên Tôm-xơn. Địch chết và bị thương khoảng 30 tên. Ta có 5 chiến sĩ bị thương và đồng chí Hồng Bích, dân tộc Tày, hy sinh trong khi xung phong đâm bom ba càng vào xe tăng địch.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:59:44 pm
Ngày 23. Đơn vị Vệ quốc đoàn vừa đánh thắng ở khu vực tòa Thị Chính được lệnh di chuyển ngay về phố Hàng Bông. Theo nhận định của Ủy ban kháng chiến Liên khu I, thì rất có thể là trong ngày 23 tháng 12, địch sẽ đánh vào Hàng Bông, Hàng Gai, mà chủ yếu là Hàng Bông. Đường phố này đang bị uy hiếp mạnh. Ta đã phải bỏ trống giữa phố, nửa phố còn lại có 3 đường cắt ngang (đường Quán Sứ, đường Phủ Doãn và đường Lý Quốc Sư) thì những vật chướng ngại của hai đường Quán Sứ và Lý Quốc Sư lại không bảo đảm ngăn cản được xe tăng địch từ đường Tràng Thi xốc tới. Hơn nữa, địch mới chiếm nhà thương Phủ Doãn, mà từ sau lưng nhà thương này nhảy sang các vị trí của ta như nhà Tân Dân, nhà Adia bên dẫy số lẻ phố Hàng Bông chỉ vài chục bước. Mấy hôm liền, bộ binh địch đã thọc tới ngã tư Quán Sứ - Hàng Bông - Hàng Da. Sáng ngày 21, một tốp lính địch từ nhà thương Phủ Doãn bất ngờ thọc sang một ngôi nhà ở dãy số lẻ Hàng Bông. Đội trưởng tự vệ Khôi Thành và anh Thành, con trai của ông bắn được hai tên.


Cuộc tiến công của địch vào phố Hàng Bông ngày 23 tháng 12 khởi sự từ lúc 3 giờ đêm. Chúng câu đạn súng cối vào các phố Hàng Bông, Hàng Gai... Sáng ra, cánh quân từ phía vườn hoa Cửa Nam tiến rất thận trọng vào đoạn cuối phố Hàng Bông, ở đây không có lực lượng của ta, nhưng đường nhiều cây đổ, xe tăng không vượt qua được nên bộ binh địch không dám tiến sâu.


Cánh quân địch xuất phát từ đường Tràng Thi chia làm nhiều mũi theo các đường Quán Sứ, Phủ Doãn, Lý Quốc Sư, Hàng Trống.

Trận đánh diễn ra ở nhiều nơi, trên các ngả đường tiến quân của địch. Súng nổ ran cho đến 10 giờ thì giảm dần rồi lại rộ 1ên từ giữa trưa. Địch tăng thêm lực lượng. Thêm nhiều mái nhà của phố Hàng Bông Hàng Gai bị đạn súng cối phá xập. Khu vực bên canh nhà thờ lớn, các phố Ẩu Triệu, Ngõ Huyện, Thọ Xương, Lý Quốc Sư bị địch phun xăng đốt cháy rừng rực. Các đội tự vệ của các phố này đánh chặn rất quyết liệt song không thể hoạt động được trong vừng khói lửa phải dồn dần đến phố Chân Cầm, dựa lưng vào phố Hàng Bông.


Đến 14 giờ, địch lọt vào tới Hàng Bông. Nhiều đội viên tự vệ tự động rút lên Hàng Da, Hàng Nón. Nhiều vị trí chiến đấu bị bỏ trống. Tình hình đến mức có thể vỡ trận nhanh chóng. Ông Khôi Thành, người đội trưởng tự vệ có tiếng gan dạ, nổi tiếng bắn giỏi, đã diệt được nhiều địch với cây súng poọc-hoọc của mình, vậy mà đến lúc này cùng mất sắc mặt hồng hào, kêu la: "tôi không còn đủ tinh thần để chiến đấu nữa. Nguy ngập lắm rồi!". Ông thành thực bộc lộ với anh Vệ quốc quân Lưu Công Hùng, người mới được cử đến phố này giữ nhiệm vụ chính trị viên "Bác hãy bình tĩnh, phải bình tĩnh!", chính trị viên Hùng giao trách nhiệm cho ông đội trưởng tự vệ phố Hàng Bông dẫn một tiểu đội Vệ quốc quân ứng cứu, trấn vào những vị trí vừa bị bỏ trống.


16 giờ, địch dồn sức đánh vào nhà A-đi-a ở góc đường Phủ Doãn - Hàng Bông. Mục tiêu chính của chúng trong cuộc tiến công là ngôi nhà khách sạn ba tầng này... Ba chiếc xe tăng bắn nát, phá tung các cửa sổ, các cửa bày hàng của nhà A-đi-a. Bộ binh địch xung phong mấy lần đều bị đánh bật trở lại. Cuối cùng một chiếc xe tăng tiến đến trước cửa ra vào, vừa bắn vừa lao vào phá xập cửa. Tổ chiến đấu của đồng chí An Xỉ dùng lựu đạn và chai xăng krếp đốt cháy chiếc xe này. Cùng lúc đó, từ trên gác, các chiến sĩ ta ném lựu đạn và chai xăng krếp, tạo thành một hàng rào lửa vây quanh hai mặt nhà khách sạn.


Quân địch không dám xông vào lửa, song khói xăng đen kịt tỏa khắp các căn buồng tầng 1 nhà A-di-a, ta phải lùi vào phía sau, nên địch đã kéo được chiếc xe tăng đi.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:00:38 pm
Ngày 24, Hồ Gươm ở chính giữa, chia khu Hoàn Kiếm thành hai tiểu khu hầu như tách rời nhau. Tiểu khu I ở phía đông hồ Gươm, nơi tập trung các cơ quan của Trung ương và của Hà Nội cũng là nơi địch cắm sẵn nhiều vị trí lợi hại, những bàn đạp quan trọng của kế hoạch đánh úp thủ đô.


Tiểu khu I là trọng điểm tiến công của địch từ hôm 19. Đêm ấy, chúng chiếm Nhà Hát lớn. Ngày 21, chúng chiếm được khu vực Bắc bộ phủ, Ngày 22. chúng đánh Tòa Thị Chính, một trận đẫm máu. Ngày 23, chúng chiếm được Tòa Thị Chính rồi đánh thốc qua Nhà đèn Bờ Hồ, Sở Thủy Lâm đến phố Lò Sũ.


Sáng ngày 24, trên địa bàn Tiểu khu I - Hoàn Kiếm, ta còn giữ hai vị trí: Tòa án Hàng Tre và sát ngay đó chỉ cách một đường nhỏ hẹp của phố Lò Sũ là Sở Giao thông công chính (nay là Bộ thủy lợi). Nhưng ta chỉ cầm cự được với địch cho đến chiều tối thì phải bỏ hết.


Bên Tòa án Hàng Tre, ta có một tiểu đội Vệ quốc quân với một số tự vệ phố Hàng Vôi nhưng bị đánh bất ngờ, chỉ cầm cự được chốc lát rồi phải phân tán rút lui. Ngược lại, lực lượng ta ở bên Sở Giao thông Công chính do trung đội trưởng Bùi Quý Quận chỉ huy, cũng tương đương như ở Tòa án Hàng Tre, cũng bị địch bao vây khống chế bốn bề, nhưng chặn được địch rất lâu ở ngoài vị trí nên gây được cho chúng nhiều thiệt hại, Khi địch lọt vào rồi, ta lại bắt chúng trả giá ở từng căn phòng, từng nhà. Cuối cùng trời tối ập xuống, địch chưa kiểm soát được mọi ngóc ngách của tòa nhà nhiều buồng, nhiều tầng này, phải rút ra. Nhưng ta cũng không chiếm lại nữa. Trận đánh quyết liệt nổi lên nhiều tấm gương chiến đấu cảm tử:  Tiểu đội trưởng Luân hy sinh khi khẩu súng trong tay không còn một viên đạn. Những người dự trận nói rằng: "hôm nay ít nhất cũng phải có hai chục thằng giặc gục ngã trước mũi súng của anh Luân". Một Vệ quốc quân nữa cũng thuộc đại đội Bắc Bộ phủ với anh Luân. cũng đánh đến viên đạn cuối cùng. Tên anh là Khoát, bắn hết đạn, anh chui xuống hầm ẩn nấp chờ đêm tối sẽ tính sau. Bị địch phát hiện anh lần sâu trong hầm. Chúng gọi hàng, anh lặng thinh. Chúng ném lựu đạn nhưng mảnh đạn không tới, chỗ anh đứng khuất, tối đến, thấy im ắng. anh ra khỏi nơi ẩn nấp, vượt tường tìm về đơn vị với khẩu súng hết đạn. Không thông thuộc đường phố Hà Nội nên chỉ có vài trăm mét mà anh đi quanh quanh thành chục cây số. Lần mò trong đêm tối, gặp một dòng người chuyển động im lặng, anh nhập vào, đi mãi đến lúc qua gầm cầu Long Biên mới biết rằng đây là dòng người dân phố tản cư ra hậu phương. Nhưng còn biết làm thế nào nữa, anh đành tiếp tục đi theo lên đến Quảng Bá, Tứ Tổng để rồi đến đêm sau cùng trở vào Liên khu 1 với anh chị em giao thông liên lạc của đội du kích Hồng Hà


Đêm 24 rạng ngày 25. Ta tập kích nhà tướng Moóc-li-e ở ngã ba đường Hàng Trống - Nhà thờ lớn,

Các chiến sĩ Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu, công an xung phong, tự vệ thành tham dự trận này đều chưa ai từng có một lần đánh tập kích, kể cả người chỉ huy là trung đội trưởng Anh Dũng. Tuy nhiên mọi người đều náo nức, tin rằng sẽ làm nên chuyện. Số người được chọn đã nhiều, nhưng khi xuất kích thì lại có hàng chục người cũng đeo lựu đạn, xách kiếm lần đi theo, họ biết, trong nhà Moóc-li-e có một trung đội địch ở tầng trên, tầng dưới, ở các ụ súng xếp bằng những bao tải đất đặt rải rác quanh vườn, mạnh nhất là ụ súng trước cổng ra vào, có đại liên quét dọc đường phố Nhà thờ và đường Hàng Trống. Không ai coi thường súng đạn. Song họ tin rằng đánh được vì họ rất thông thuộc địa hình. Phía sau nhà Moóc-li-e là đường Lê Thái Tổ, ven bờ hồ nhiều cây to, ta có thể bí mật đến gần, nhảy qua tường vào trong sân. Phía bắc là một biệt thự bỏ trống, từ phố Bảo Khánh vào ẩn trong biệt thự này rồi bất thần vượt tường rào sang sàn nhà Moóc-li-e, không khó khăn gì lắm. Bí mật, bất ngờ, xung phong mạnh là có thể nhanh chóng thành công...


Trận đánh lúc đầu diễn ra gần khớp như dự kiến:

- 19 giờ 45, ta chiếm lĩnh trận địa. Thỉnh thoảng địch nổ một tràng súng mảy có kèm đạn lửa, lúc bắn ra phía Hồ Gươm, khi bắn về phía phố Bảo Khánh.

- Đúng 20 giờ 30, có lệnh phát hỏa. Một loạt trung liên nhả đạn bắn thẳng vào ụ súng ở cổng nhà Moóc-li-e. Đồng thời các tổ đột nhập vượt lường, các phía vang rộn tiếng xung phong. Địch bị đánh bất ngờ, lúng túng trở tay không kịp. Ta chiếm được tầng dưới nhà Moóc-li-e. Nhưng đến đây thì tình thế đảo ngược: địch có hầm ngầm mà ta không biết, không chuẩn bị trước nên lúng túng. Từ hầm ngầm, địch bắn ra, từ trên gác địch đánh xuống, toàn ném lựu đạn...


Trận đánh kéo dài, nhiều lần ta đánh lên tầng hai nhưng bị hỏa lực địch đồ dồn bịt cầu thang gác không lên được. Địch cố phát huy mọi hỏa lực đánh bật ta ra, nhưng cũng không xong.

Quá nửa đêm, địch phải gọi quân ứng cứu. Hai xe tăng dẫn một trung đội từ phía đường Tràng Thi theo đường Hàng Trống tiến rất chậm đến trước nhà Quốc hội (nay là phòng bán vé máy bay dân dụng ở góc phố Hàng Trống - Lê Thái Tổ) thì bị chặn đứng. Xe tăng địch sợ bị đánh bom ba càng phải lùi lại, còn bộ binh địch vì không có xe tăng đi kèm cũng không dám tiến lên nữa.


Giữa lúc này ở trong nhà Moóc-li-e quân ta được tiếp tế vũ khí đã mở một đợt tiến công mới. Ta dùng xăng đốt hầm ngầm vả cầu thang gác. Lửa cháy sáng rực Nhưng rồi ta vẫn không đánh lên gác được.

Trận đánh kết thúc lúc 4 giờ 30 ngày 26 tháng 12. Ta thu được ba khẩu súng trường, 4 tiểu liên.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:01:35 pm
Những ngày 27, 28. Khi ở bên kia, địch đã chiếm được Sở Thủy lợi, sở Giao thông công chính, Tòa án Hàng Tre, thì ở bên này, ở phía tây Hồ Gươm, khu vực Bảo Khánh, Hàng Trống, Hàng Hành trở thành đột xuất. Sáng 27, lực lượng tự vệ các phố này đánh bật được một cuộc tiến công của địch. Nhưng đến chiều, do ta chủ quan sơ hở, địch lọt vào sâu mới biết, đồng chí chỉ huy bị trúng đạn ngã gục ngay khi vừa được báo tin "có địch". Thế là rối loạn, vỡ trận.


Địch chiếm được khu vực Bảo Khánh, Hàng Trống, Hàng Hành lúc xế chiều xẩm tối 27. Chúng phun xăng đốt nhà mở đường chuẩn bị đánh sang Hàng Gai.

Sáng 28, các chiến sĩ ta đóng trên tuyến Hàng Gai thức dậy rất sớm, phải thắp nến để ăn cơm. Tại nhà chị Lợi, ngôi nhà ba tầng kiên cố bậc nhất của phố Hàng Gai, bên dãy số lẻ, anh em đang uống nước, hút thuốc, nghe đồng hồ quả lắc treo tường vừa đánh chuông báo 4 giờ 30 thì một tiếng nổ như tiếng sét: đạn pháo địch nổ trên tầng ba. Rồi cứ thế, liên tục, lúc thưa, lúc mau, địch bắn pháo, bắn súng cối rải dọc hai dẫy phố Hàng Gai. Nhiều mái nhà đổ sụp. Một số nơi bốc cháy.


6 giờ 30, lại một trận bắn phá nữa, dữ dội hơn. Pháo địch đặt ở Bờ Hồ, chỗ nhà Thủy tạ nhằm vào các nhà cao tầng bên dãy số lẻ. Rồi từ phố Bảo Khánh từ ngõ Hàng Hành, bộ binh địch luồn qua các ngôi nhà đổ, nhà cháy, đánh thọc vào quãng giữa phố Hàng Gai.


Lực lượng của ta đóng giữ phố Hàng Gai khá mạnh. Tuyến 1, bên dãy nhà số lẻ là đơn vị Vệ quốc đoàn, có 5 tiểu đội. Đơn vị này do trung đội trưởng Lưu Đình Quế chỉ huy đã chiến thắng ở Tòa Thị Chính ngày 22, và ngay sau đó lại chống chọi với địch một trận nữa, giữ vững đoạn trận địa ở cuối phố Hàng Bông.


Tuyến 2, bên dãy nhà số chẵn là đơn vị hỗn hợp tự vệ chiến đấu, công an, tự vệ các phố Hàng Gai, Hàng Trống, Bảo Khánh, Tô Tịch. Người chỉ huy là Anh Dũng, trung đội trưởng tự vệ chiến đấu.

Ta đánh lui tất cả các đợt tiến công của địch từ sáng đến trưa ngày 28, Một số tay súng lợi hại xuất hiện trên chiến tuyến, nổi nhất là anh học sinh trung học Lương Vị, mới tuổi 17. Tự vệ Hàng Gai ai cũng biết tài bắn các bin của Vị, cái chai Văn Điển đặt trước mặt, cách bốn năm chục mét, anh chỉ nheo mắt, gõ một phát là thành vụn thủy tinh. Nhưng cho đến sáng ngày 28 nảy, đã bao nhiêu người có thành tích bắn Tây rồi, còn anh thì chịu cái tiếng không hay "bắn trượt hết". Mấy hôm trước địch chạy đi chạy lại lông nhông trên ngã tư Hàng Bông - Lý Quốc Sư - Hàng Mành, từ cuối phố Hàng Gai bắn sang khoảng cách không đến trăm mét, anh nổ súng dồn dập không được viên nào trúng địch. Vi sao vậy? Mới đầu, Vị rất hoang mang, mất tự tin. Sau, anh tự tìm ra nguyên nhân: hồi hộp, hấp tấp trước những mục tiêu không phải là cái chai, cái cọc gỗ hay con chim, con vịt giời. Vào trận hôm nay, Lương Vị thành công ngay, Từ cuối phố Hàng Gai nhìn chéo sang Hàng Trống, anh bình tĩnh, thận trọng bám chặt lấy một tên địch thập thò nấp sau cái thùng xe chở rác mà ta lật nghiêng làm vật chướng ngại. Anh hạ được nó bằng một viên đạn. Rồi đến trưa thì suốt dãy số chẵn của phố Hàng Gai xôn xao với cái tin "Vị bắn được một đống Tây ở trong nhà Rếch". Đó là hiệu may âu phục REX. Địch đặt mìn phá tung cửa, ném lựu đạn. Cả căn buồng rộng mịt mù khói bụi. Cách một mảnh sân nhỏ. lại một buồng nữa, có lỗ thông tường sang các nhà hai bên. Vị gan góc ngồi lì ở đây chờ đợi, thế nào cũng có đứa sẽ xông vào. Và anh đã giật thót mình khi bụt khỏi loãng ra. Không phải một vài tên địch mà tám chín cây thịt to lớn lừng lững ngay trước mắt. Anh cố trấn tĩnh, trước hết bắn tên xa nhất còn đang thập thò ở ngưỡng cửa ra vào, dùng xác nó làm vật cản. Khẩu các-bin của anh nổ đôm đốp hết trọn băng đạn các-bin: không tên giặc nào chạy thoát ra khỏi nhà Rếch. Anh bị trúng một viên đạn địch, may mắn thay chỉ cái mũ sắt Nhật bị bẹp một chút.


Đến trưa, ta gây cho địch nhiều thiệt hại về sinh lực. Lực lượng ta có công sự ẩn nấp tốt nên ít bị thương vong. Tuy nhiên, trận địa lại bị tàn phá nặng nề, nhiều nhà đổ tường, tung cửa, xập mái, nhiều nhà cháy, tạo ra những khoảng trống. Lại nữa, do tập trung đối phó với địch ở mặt Hàng Gai nên đã mất cảnh giác ở mặt Hàng Bông. Giữa trưa tự vệ Hàng Bông bị đánh bất ngờ, không có lực lượng ứng cứu kịp thời, phải bỏ tất cả các vị trí bên dãy số lẻ (nhà Tân Dân, nhà A-đi-a…) dồn sang bên dãy số chẵn. Và thế là địch mở thêm được một hướng áp tới ngã tư Hàng Bông - Hàng Trống - Hàng Hòm - Hàng Gai.


Trận Hàng Gai bước sang giai đoạn quyết liệt lúc 15 giờ 15 phút. Từ đầu phố, cuối phố, địch đánh kẹp lại, từ phố Bảo Khánh, ngõ Hàng Hành, địch thọc vào giữa chính diện.

Hiệu thuốc Noóc-man ở cuối phố Hàng Gai và mấy ngồi nhà sát liền đó là vị trí chiến đấu của tiểu đội Hoàng Văn Đào. Mấy lần địch lọt được vào tầng dưới nhà Noóc-man, ta từ tầng trên đánh xuống, từ nhà bên đánh sang, lại giành lại được vị trí này. Cuối cùng địch phun xăng đốt, lửa chảy lan từ nhà này sang nhà khác, ta không chịu nổi, phải lùi một đoạn, rút về giữ đình Hàng Gai, giữa những đống gạch ngói ngổn ngang.


Chiếm được nhà Noóc-man, địch có lợi thế tiếp tục đẩy mạnh đà tiến công. Nhằm hướng cây đa cổ thụ bên đình Hàng Gai, súng cối của chúng câu đạn liên hồi. Các tổ chiến đấu của ta dựa vào các căn buồng chưa bị phá xập, chưa bị cháy, kiên trì đánh chặn. Có những tổ bị chia cắt phải chiến đấu độc lập, dè sẻn từng viên đạn, phải dùng gạch ném giả làm lựu đạn. Trong gần một tiếng đồng hồ, ta và địch quần nhau, lấn nhau từng bức tường. Địch chiếm nhà bên này ta giữ nhà bên cạnh. Có chỗ địch ở tầng dưới, ta ở tầng trên. Sau ta có quân tiếp ứng, hai tiểu đội mới đến đang sung sức đánh bật được địch ra khỏi khu vực quanh đình Hàng Gai lúc 16 giờ 35.


Mục tiêu chính của địch trong cuộc tiến công náy là nhà Chí Lợi, ngôi nhà cao nhất, kiên cố nhất bên dãy số lẻ Hàng Gai. Hai tầng trên của nhà Chí Lợi bị pháo địch phá toang hoắc từ ban sáng, ta giữ tầng thấp và những ngôi nhà kề bên. Khi địch chiếm được nhà Noóc-man ở cuối phố, thì ở đây chúng cũng tới được đến sát chân tường nhà Chí Lợi, nhưng rồi phải rút lui ngay, để lại gần chục xác chết. Khi địch bị đánh bật ra khỏi khu vực quanh đình Hàng Gai, thì ở đây ta đang gặp khó khăn: nhà Chí Lợi hầu như bị chơ vơ các nhà kề bên bị phá xập tường, tung mái. Các tổ chiến đấu giữ các căn nhà này bị địch tấn công bằng lựu đạn hỏa mù, lựu đạn cay, cả chất cháy nữa, phải rút xuống giao thông hào thoát ra ngoài đường. Trong tình hình đó địch kéo pháo đến gần bắn thẳng vào tầng dưới cùng nhà Chi Lợi. Trung đội trưởng Lưu Đình Quế phán đoán sau đợt bắn phá này địch xung phong. Anh cho một tiểu đội ứng cứu đến chờ sẵn, chờ địch ngừng bắn sẽ leo lên giữ các tầng gác nhà Chí Lợi, phối hợp cùng tiểu đội đang ẩn nấp trong hầm tầng dưới tiêu diệt địch. Nhưng địch hành động nhanh hơn. Chúng lọt vào lặng lẽ chiếm một căn buồng của tầng dưới nhà này rồi, mà anh em ta nấp trong hầm vẫn không hay biết. Cuối cùng, quân ứng cứu phải đánh lạc hướng địch, thu hút địch tạo điều kiện cho đồng đội rút ra khỏi hầm nhà Chí Lợi.


Tiếng súng trên tuyến Hàng Gai ngừng lúc 18 giờ. Địch đóng hai vị trí: Nhà Noóc-Nam và nhà Chí Lợi. Giữa hai vị trí địch này ta vẫn giữ khu vực đinh Hàng Gai. Đến nửa đêm, theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến Liên khu, quân ta rút hết về bên dãy số chẵn.


Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:02:23 pm
Cuối tháng chạp sau mười ngày chiến đấu, trận địa bám của Liên khu I đã hoàn thành.

Phía Nam, từ ngã tư Đường Thành qua Hàng Bông, Hàng Gai sang Cầu Gỗ, Hàng Thùng.

Phía Tây, từ ngã tư Đường Thành - Hàng Bông qua Hàng Điếu, Hàng Gà lên Hàng Cót.
Phía Bắc, từ Hàng Lược sang Hàng Khoai

Phía Đông là đường Bờ Sông, hai đoạn phố Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải.

Cả khu vực này với những đường phố, ngõ ngách chật hẹp ngoắc ngéo, với hàng nghìn ngôi nhà cao thấp khác nhau, xen nhau như bát úp, nay đã kết thành một khối, biến thành một trận địa phòng ngự kiên cố. hạn chế được uy lực sát thương của bom đạn địch, một loại trận địa đặc biệt phức tạp. Các đầu đường đi vào khu vực này đều đã được bịt kín bết, không chỉ sừng sững một chiến lũy chắn ngang, mà hai ba lớp nối tiếp nhau. Ở đây đường xá không còn là lối đi lối lại nữa, ngổn ngang các thứ vật chướng ngại, chằng chịt những con hào cắt ngang. Đường giao thông bây giờ nằm kín ở bên trong các ngôi nhà, đi ở tầng dưới từ nhà này luồn lỗ đục tường thông sang nhà khác, đi ở tầng trên từ gác nhà này sang gác nhà khác, nếu phải qua đường thì đã có hào giao thông.


Cả khu vực trụ bám đã hoàn thành và được tiếp tục củng cố cho ngày thêm vững chắc, tạo thêm khó khăn cho địch, muốn gặm từng miếng nhỏ cùng khó chứ hoàn toàn không thể thọc sâu chia cắt lớn được. Nhưng sự vững chắc của khu vực trụ bám này, yếu tố chính là ý chí, là lòng tin của những con người đã được thử thách, đã thu hoạch được nhiều kinh nghiệm qua mười ngày vật lộn ghìm chân một kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần.


Vững chắc như thế nào?

Ta có thể giữ trận địa này được lâu ngày không? Các anh tự vệ Hàng Da, Hàng Điếu trả lời cả quyết:

- Thì từ hôm đầu kháng chiến, chúng nó đã thọc vào đây và bây giờ chúng tôi vẫn ngồi ở đây. Chiến lũy của chúng tôi lại cao hơn, dày hơn hôm ấy nhiều, có thể nói vững như tường thành, và quan trọng hơn cả là chúng tôi bắn trúng hơn. Chẳng ngày nào là không có xác địch nằm phơi trên mặt đường trước mắt chúng tôi. Mới đây, một xe díp lao đến phố Đường Thành. Đồng chí Hiệp Hòa nổ phát thứ nhất bắn thủng lốp bánh trước, xe đâm vào vỉa hè, khựng lại. Trên xe có 3 tên địch, thì hai đứa nhanh chân lẩn thoát, còn tên lái xe vướng tay lái lúng túng một tí, liền bị trúng đạn. Hiệp Hòn bắn viên thứ hai, nó ôm bụng đi lào đảo được mấy bước ngã vật xuống. Chúng tôi lấy xăng krếp của hiệu giầy Lâm Thịnh ra đốt xe, thu vũ khí, thu một cặp da có nhiều tài liệu, giấy tờ và một tập ảnh gia đinh Mê-la Sa-vi-ê.


Cũng câu hỏi này đặt ra với các anh tự vệ khu Đông kinh nghĩa thục, những người đang giữ một đoạn chiến tuyến chống chọi với những cuộc tiến công dữ dội của địch, vì từ phía Hồ Gươm, phía Nhà Hát lớn đánh lên, toàn đường rộng rãi, có những vườn hoa bãi cỏ rộng, chúng dễ triển khai xe tăng và pháo binh... Các anh trả lời:

- Chúng tôi đã được thử thách nhiều lần rồi. Đúng thế đoạn chiến tuyến này đã được thử thách và tỏ ra vững chắc.

Ngày 22, một đại đội địch với 2 xe tăng, 2 xe thiết giáp đánh vào chiến lũy ngã tư Lò Sũ - Hàng Dầu. Đội tự vệ Hàng Bồ, Gia Ngư và 2 chiến sĩ Vệ quốc đoàn chiến đấu rất dũng cảm, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Chúng không phá nổi chiến lũy, lại còn bị thương vong nhiều.


Sớm hôm sau. ngày 23, địch lại kéo đến cái chiến lũy hôm qua bị đạn phá trơ cọc sắt, cọc bê tông cốt sắt thì hôm nay lại như con đê sừng sững chắn ngang đường. Chúng tập trung bắn vào các nhà cao tầng quanh đó để yểm hộ cho bộ binh xông lên đặt mìn, phá lũy. Những mặt nhà này chìm trong khói bụi. Nhưng cứ tốp địch nào mò tới gần chiến lũy là lại có tên bị dính đạn của la không biết từ đâu bắn ra, phải khênh nhau quay trở lại. Đến quá trưa, chiến lũy vẫn hiên ngang đứng đó, những ngôi nhà cao tầng bị bắn phá tung cửa sổ, xập mái, thủng tường vẫn gan lì đứng đó lặng thinh. Xe tăng địch không dám vào gần. Chúng sợ những chai xăng krếp từ một ô cửa sổ trống huếch hoác của một nhà nào đó ném ra, nên cứ từ xa chúng dội đạn tới. Không ăn thua gì, chúng đành bảo nhau cút.


Ngày 24, xe tăng, xe bọc thép địch lại kéo nhau đến bắn phá chiến lũy đầu phố Hàng Đào, rồi góc phố Cầu Gỗ - Đinh Liệt. Đất, gạch vỡ, vôi cát tung bụi mù mịt cả một khu vực. Chúng đổ đạn hàng giờ mới bóc được cái vỏ ngoài của chiến lũy Hàng Đào, để thấy rõ cái cốt bên trong là hai toa tàu điện nằm chặn ngang đường, và cái cốt bên trong của chiến lũy đầu phố Cầu Gỗ - Đinh Liệt là những khung xe ô-tô, xe bò... rồi yên trí vào uy lực của đạn pháo đã bắn phá tan tành các mặt nhà, các đầu hồi nhà quanh đó nhằm triệt phá những ổ súng lợi hại của tự vệ chống lại sức tấn công của chúng. Tiếp đó, xe tăng ậm ạch tiến lên dẫn bộ binh theo sau. Nhưng chúng có ngờ đâu là anh em tự vệ Hàng Đào và Cầu Gỗ, vẫn gan dạ ẩn nấp trong các hầm hố ở dưới thấp, hoặc trong các ụ súng ở trên cao, kiên trì hàng mấy tiếng đồng hồ, chờ cho chúng đi vào tầm súng của mình, ở đầu phố Đinh Liệt, 7 tên địch đổ một loạt và ngay lúc đó, lợỉ dụng địch đang lúc rối loạn, hàng ngũ chưa kịp cứu nhau, tự vệ Cầu Gỗ xung phong ra đường thu súng địch, rồi lại nhanh chóng biến đi ngay.


Vòng quanh trận địa trụ bám của Liên khu I, tất cả các đầu đường đều là chiến lũy, và nhiều chiến lũy đã được thử thách như ở Hàng Đào, Hàng Đậu, Cầu Gỗ.

Trận địa trụ bám đã hoàn thành và tiếp tục được củng cố.

Tất cả các chiến sĩ đứng trên trận địa này, ba bề bốn bên đều là đất địch chiếm cả. Nhưng ai nấy đều tin rằng: "Nhất định thủ đô sẽ chiến thắng quân thù. Chúng muốn nhanh chóng chiếm lấy Hà Nội rồi đánh tỏa đi các nơi, song chúng đang bị hóc. Trận địa Liên khu I như cái xương nằm ngang họng lũ thực dân, không dễ gì mà chúng móc được xương ra.