Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:52:46 am



Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:52:46 am
- Tên sách: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2012
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO:

* Trưởng ban:

- Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Đồng chí TRƯƠNG QUANG NGHĨA, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La (đồng Trưởng ban).


* Phó Trưởng ban:

- Đồng chí NGUYỄN NGỌC TOA, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La.

- Trung tướng MAI QUANG PHẤN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

- Thiếu tướng NGUYỄN NGỌC LIÊN, Chính ủy Quân khu 2.

- Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


* Các ủy viên:

- Trung tướng PHẠM QUANG PHIẾU, Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng.

- Thiếu tướng NGUYỄN THANH TUẤN, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị.

- Đồng chí LÒ MAI KIÊN, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La.

- Thiếu tướng VŨ VĂN HIỂN, Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng

- Đại tá HOÀNG DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La.

- Đồng chí LÊ HỒNG LONG, Tỉnh ủy viên, Chánh văn phòng Tỉnh ủy Sơn La.

- Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


BAN NỘI DUNG:

* Trưởng ban:

- Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Đồng chí HOÀNG VĂN CHẤT, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La.


* Phó Trưởng ban:

- Thiếu tướng PHẠM NGỌC CHÂU, Phó Chính ủy Quân khu 2.

- Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Đồng chí LÊ HỬU ĐÊ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La.    


* Các ủy viên:

- Đồng chí PHẠM QUANG AN, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Sơn La.

- Đồng chí VƯƠNG NGỌC OANH, Phó Chủ tịch Hội Khoa học - Lịch sử tỉnh Sơn La

- Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Thượng tá NGụYỄN CÔNG DANH, Trợ lý Ban Lịch sử quân sự Quân khu 2.

- Thượng tá LÊ NHẬT THANH, Trưởng ban Khoa học Lịch sử quân sự Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La.


TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
   BỘ MÔN LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
   VÀ PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC,
   VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:37:32 am
LỜI NÓI ĐẦU


Cách đây tròn 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta ở Tây Bắc với sự phối hợp của các chiến trường, địa phương cả nước đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Tây Bắc. Chiến thắng này là sự kiện lịch sử quan trọng, có ý nghĩa lịch sử mang tầm chiến lược, đánh dấu bước phát triển mới, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên giành thắng lợi quyết định.


Kể từ ngày chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết của các nhà quân sự, chính trị, các vị tướng lĩnh, nhân chứng lịch sử, học giả, nhà nghiên cứu, v.v. trong và ngoài nước đề cập đến sự kiện lịch sử này theo nhiều cách tiếp cận, với nguồn tư liệu khác nhau. Tuy thế, nhiều nội dung, vấn đề về chiến dịch này cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ, đầy đủ hơn. Mặt khác, chiến thắng Tây Bắc 1952 cần được tôn vinh xứng đáng với tầm vóc và ý nghĩa của nó, nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc; góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là đối với vùng Tây Bắc; cho các thế hệ người Việt Nam, quan trọng là thế hệ trẻ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc (1952 - 2012), đầu tháng 12 năm 2012, tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức cuộc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử".


Ban Tổ chức cuộc hội thảo nhận được gần 70 bài viết của các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, các quân khu 2, 1, 3, 4, các binh chủng và đơn vị; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành thuộc tỉnh Sơn La; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Thanh Hóa, v.v. các nhà khoa học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội..., tập trung vào các chủ đề sau đây: Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước; âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự của thực dân Pháp. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc; nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành và phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam; ý thức và tinh thần đại đoàn kết toàn dân, trong đó điểm nhấn là Tây Bắc; sự phối hợp chiến đấu của các lực lượng; sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến dịch. Quá trình chuẩn bị, diễn biến, kết quả và nghệ thuật quân sự đặc sắc; các trận đánh then chốt... Tầm vóc, nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc; vận dụng và phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 trong Đông - Xuân 1953-1954 và trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.


Cuốn sách này giới thiệu một số bài viết của các tác giả tham gia hội thảo nói trên, với tiêu đề: "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tấm nhìn chiến lược của ĐẢng và bài học lịch sử".

Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, khá trọn vẹn của từng tác giả, bởi thế nên ở một số bài viết, trong chừng mực nhất định, còn có sự khác nhau về nhận định, đánh giá, cũng như về tư liệu, sự kiện. Với tinh thần tôn trọng ý kiến, kết quả nghiên cứu bảo lưu của tác giả và để đảm bảo tính tranh luận của cuộc hội thảo nên Ban biên tập không chỉnh trang lại. Tuy thế, để đảm bảo chuyển tải các thông tin cần thiết, ở một số bài trong chừng mực nhất định. Ban biên tập đã lược bở những nội dung trùng lặp, ít liên quan đến chủ đề của cuộc hội thảo.


Do thời gian biên tập không nhiều, nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Mong được sự lượng thứ của bạn đọc.

Bởi khuôn khổ của cuốn sách có hạn và để tập trung vào chủ đề đã được xác định, nên Ban biên tập không thể giới thiệu được tất cả các bài viết tham gia cuộc Hội thảo vào cuốn sách này. Rất mong các tác giả không có bài được sử dụng trong cuốn sách này thông cảm.


Nhân dịp này chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, các bậc nhân chứng lịch sử, các vị tướng lĩnh, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động quân sự, chính trị - xã hội đã tham gia, tạo điều kiện cho cuộc Hội thảo thành công tốt đẹp và cho sự ra đời tập sách này.

BAN CHỈ ĐẠO VÀ BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:39:01 am
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC
"CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"


Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo


- Kính thưa các đồng chí Đại biểu đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng;

- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan;

- Thưa các nhà khoa học cũng toàn thể quý vị đại biểu!


Trong không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và lập thành tích tiến tới kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 23 năm ngày Hội Quốc phòng toàn dân, hôm nay Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học: "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử" nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc.


Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Ban chỉ đạo Hội thảo, tôi nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí về dự cuộc Hội thảo quan trọng này. Chúc các đồng chí mạnh khỏe và hạnh phúc; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Thưa các đồng chí!

Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, quân và dân ta mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng, nối thông Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, Thượng Lào và căn cứ địa cả nước.


60 năm trôi qua, nhìn lại sự kiện lịch sử quan trọng này, càng khẳng định tầm nhìn chiến lược đúng đắn, nhạy bén của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong chỉ đạo chiến tranh. Chiến dịch này đã giáng cho thực dân Pháp một đòn thất bại nặng nề về quân sự, tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến tranh, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định.


Trong cuộc Hội thảo khoa học hôm nay, chúng ta cùng nhau tiếp tục khẳng định và làm sáng tó thêm một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn và tầm nhìn chiến lược sáng suốt của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; nghệ thuật chỉ đạo, điều hành chiến dịch và nghệ thuật chỉ huy tác chiến của các cấp chỉ đạo, chỉ huy; tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của các lực lượng tham gia chiến dịch.


Thứ hai: Âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp trong việc mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" tại khu vực Tây Bắc; ý đồ co cụm chiến lược, xây dựng các tập đoàn cứ điểm mạnh nhằm thu hút và tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh, từ đó hòng xoay chuyển tình thế trên chiến trường của thực dân Pháp.


Thứ ba: Vai trò và đóng góp của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh trên địa bàn, trực tiếp là quân và dân tỉnh Sơn La và của các chiến trường phối hợp trên cả nước.


Thứ tư: Nhìn nhận sâu sắc và đầy đủ hơn tầm nhìn chiến lược của Đảng trong chiến dịch Tây Bắc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, đúc rút những kinh nghiệm và bài học lịch sử về chỉ đạo chiến tranh và sự phát triển của nghệ thuật quân sự; nghệ thuật chiến dịch và chiến lược; về phối hợp và hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào công cuộc xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng - an ninh trong giai đoạn cách mạng mới.


Thưa các đồng chí!

Kết quả cuộc Hội thảo hôm nay còn là một hoạt động thiết thực góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho toàn dân, toàn quân, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần quật khởi và truyền thống đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới nhằm tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Với tinh thần đó, thay mặt Ban chỉ đạo Hội thảo tôi xin tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử".


Xin trân trọng cảm ơn!


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:46:56 am
PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC
"CHIẾN THẲNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"

HOÀNG VĂN CHẤT
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Sơn La


Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương và địa phương.

Thưa toàn thể các đồng chí và các bạn!

Tỉnh Sơn La rất phấn khởi được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm chọn làm nơi tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử". Đây là vinh dự rất lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La; thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các tổng cục thuộc Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu 4, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Binh chủng Pháo binh, Binh chủng Công binh và Binh chủng Thông tin.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh: Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh; và lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 308, Sư đoàn 312, Sư đoàn 316 và Trung đoàn 148.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại biểu lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Chiến lược quân sự, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Quân y, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường, Viện sử học Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử Công an, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, các cơ quan khoa học, học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội (khu vực phía Bắc); các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ đã từng công tác, tham gia chiến đấu, phục vụ trong chiến dịch Tây Bắc.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo và phóng viên các cơ quan báo chí, Thông tấn xã, Đài phát thanh, Đài truyền hình của Trung ương, các Quân khu và địa phương đến theo dõi, đưa tin phục vụ Hội thảo khoa học tại tình Sơn La!


Kính chúc các đồng chí mạnh khoẻ, chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Sơn La là một tỉnh miền núi cao, có diện tích tự nhiên là 14.174 km2, có 250 km đường biên giới giáp tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng - nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; dân số trên 1,108 triệu người với 12 dân tộc anh em cùng sinh sống. Tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố và 204 xã, phường, thị trấn; có 3.233 bản, tiểu khu, tổ dân phố (trong đó có 5 huyện nghèo; 89 xã, 1.105 bản còn đặc biệt khó khăn; 17 xã, 308 bản biên giới). Đảng bộ tỉnh (tại thời điểm 31-8-2012) có 17 đảng bộ trực thuộc, 985 tổ chức cơ sở đảng (673 chi bộ, 312 đảng bộ); 4.633 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, 62.866 đảng viên.


Trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương; tỉnh Sơn La đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP 5 năm (2006 - 2010) 13,99%, năm 2010 tăng 12.8%, năm 2011 tăng 12,4%, 9 tháng đầu năm 2012 ước đạt 8,5% (cùng kỳ năm 2011 tăng 6,9%); thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 820 USD; thu ngân sách trên địa bàn năm 2011 đạt 1.394 tỷ; tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 theo tiêu chí mới là 34,1%. Cơ cấu kinh tế năm 2011: nông lâm nghiệp 44,54%; công nghiệp, xây dựng 20,02%; dịch vụ 34,94%.


Về phát triển công nghiệp, tỉnh Sơn La tập trung cho phát triển thủy điện; trên địa bàn tỉnh hiện nay đang được đầu tư xây dựng 3 nhà máy thủy điện lớn (thủy điện Sơn La 2.400 MW - khánh thành năm 2012; thủy điện Huổi Quảng 520 MW - khánh thành vào năm 2015; thủy điện Nậm Chiến 200 MW - khánh thành năm 2012) và một số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ; đến ngày 15 tháng 4 năm 2010 tỉnh Sơn La đã hoàn thành việc di chuyển 12.584 hộ đến 221 điểm tái định cư tập trung và 38 điểm tái định cư xen ghép; ngày 15 tháng 5 năm 2010 đồng chí Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đóng cống dẫn dòng, tích nước hồ thủy điện Sơn La; ngày 17 tháng 12 năm 2010 đã đưa vào hoạt động tổ máy số 1, ngày 28 tháng 9 năm 2012 đã đưa vào hoạt động tổ máy số 6, đang chuẩn bị khánh thành Nhà máy thủy điện Sơn La vào cuối năm 2012. Cùng với phát triển thủy điện, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng Nhà máy xi măng lò quay Mai Sơn công suất 1 triệu tấn/năm, đưa vào sản xuất ngày 1 tháng 5 năm 2012, sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng PC40, PCB30, PCB40.


Về phát triển nông nghiệp, cây ngô phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá cả ở vùng sâu và vùng cao; năm 2012 diện tích ngô là 120.878 ha, sản lượng ước đạt 50 vạn tấn (đứng thứ hai sau tỉnh Đắc Lắc); tỉnh Sơn La có 2 doanh nghiệp sản xuất được các loại giống ngô lai, nhất là giông ngô lai LVN10, cung cấp đủ giống có năng suất cao cho sản xuất ngô thương phẩm. Trong những năm gần đây, tỉnh Sơn La đang đẩy mạnh phát triển các loại cây công nghiệp và chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung:

1. Về phát triển cây cao su, tỉnh đã mời Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam thành lập Công ty cổ phần cao su Sơn La trực tiếp đầu tư kinh doanh và tiếp nhận người trong hộ gia đình có góp giá trị quyền sử dụng đất vào làm cán bộ công nhân viên; vận động các hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất và mua cổ phần trở thành cổ đông của Công ty cổ phẩn cao su Sơn La để cùng đầu tư kinh doanh cây cao su. Năm 2007 là năm đầu tiên trồng được 69,6 ha, đến hết năm 2012 đã trồng được gần 7.000 ha cây cao su; thu hút được 6.705 hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất, mua cổ phần để trở thành cổ đông, được chia cổ tức; công ty đã nhận 4.691 người thuộc các hộ gia đình có góp giá trị quyền sử dụng đất vào làm cán bộ, công nhân của công ty; theo đánh giá của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam thì cây cao su tại Sơn La sinh trưởng và phát triển ngang bằng với các tỉnh miền Nam.

2. Về các cây công nghiệp: Năm 2012 diện tích cây công nghiệp hiện có là 14.341 ha; trong đó: cây chè 3.819 ha cây cà phê 6.112 ha, cây mía 4.410 ha, sản lượng gần 3 vạn tấn đường năm.

3. Tỉnh đã xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Mộc Châu, đang sản xuất các loại rau hoa chất lượng cao theo quy mô công nghiệp và phát triển mô hình trồng dưa hấu, bắp cải, cải cuốn bằng phủ màng nông nghiệp... cung cấp cho thị trường Hà Nội và một số địa phương lân cận. Tỉnh đang xem xét quy hoạch, chính sách để mở rộng phát triển ở huyện Mộc Châu và các huyện, thành phố trong tỉnh.

4. Về chăn nuôi, đàn bò sữa của Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu năm 2011 có 8.727 con (hết năm 2012 có khoảng 10.000 con), sản lượng sữa tươi đạt gần 28 triệu lít và chế biến các loại sản phẩm sữa, doanh thu trên 1.500 tỷ, nộp ngân sách trên 70 tỷ đồng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:47:30 am
Về công tác phòng chống ma tuý: từ tháng 3 năm 2006 tỉnh đã tập trung cao để ban hành cơ chế, chính sách phát động được toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tích cực thực hiện; từ đó nâng cao được nhận thức về hiểm hoạ của ma tuý, nhất là trong thế hệ trẻ, không phát sinh người nghiện ma tuý mới, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng thuận và ra sức thực hiện. Đến hết tháng 9 năm 2012, sau 75 tháng liên tục tỉnh đã giữ được tỷ lệ không tái nghiện ma tuý đang từ đạt 94 - 95%; từ ngày 17 tháng 3 năm 2006 đến hết tháng 9 năm 2012 đã bắt giữ tới 5.759 vụ với 8.896 đối tượng phạm tội ma tuý, làm trong sạch địa bàn, hỗ trợ đắc lực cho công tác phòng chống tái nghiện ma tuý; đến hết năm 2011 tỉnh đã xây dựng được 4.721/5.457 đơn vị đạt và cơ bản đạt tiêu chuẩn không có ma tuý chiếm 86.51% tổng số đơn vị trong toàn tỉnh.


Về củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sơ, đến hết tháng 9 năm 2012 đã có 4.219 cơ sở (bản, tiểu khu, tổ dân phố, trường học, trạm y tế) có đảng viên đạt 100% tổng số cơ sở; có 3.926 cơ sở có chi bộ chiếm 93,1% tổng số cơ sở; quyết định phụ cấp hàng tháng cho 13 chức danh với trên 41.000 cán bộ bản, tiểu khu, tổ dân phố theo hệ số trên mức lương tối thiểu; tháng 3 và tháng 4 năm 2011 (sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII), tỉnh đã mở 94 lớp tại cấp huyện, tổ chức 17 đợt gặp mặt tại tỉnh với 6.064 bí thư và trưởng bản, tiểu khu, tổ dân phố trong toàn tỉnh để bồi dưỡng nghiệp vụ công tác trong nhiệm kỳ 2011 - 2016; mở được 7 lớp với 891 học viên học đại học và trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ xã, phường, thị trấn theo địa chỉ sử dụng.


Về tăng cường mối quan hệ đặc biệt với các tỉnh Bắc Lào và đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tỉnh: đến nay tỉnh Sơn La đã ký kết biên bản ghi nhớ với 8 tỉnh Bắc Lào (Hủa Phăn, Luông Pha Băng, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Phong Xa Lỳ, Luông Nậm Thà, Xay Nhạ Bu Ly, Xiêng Khoảng); đã giao cho 5 huyện biên giới ký kết hợp tác và giao ban định kỳ để chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh từ cơ sở; tháng 4 năm 2012, tỉnh Sơn La đã phối hợp với các cơ quan Quốc hội tổ chức thành công Hội nghị "Quan hệ hợp tác Quốc hội Việt Nam - Lào, đoàn kết - hữu nghị"; từ ngay 18-21 tháng 8 năm 2012, tỉnh tổ chức các hoạt động trong năm "Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012" trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là tổ chức Lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào, tổ chức Tuần lễ văn hóa các dân tộc tỉnh Sơn La và trao tặng Huân chương, Huy chương của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào cho tập thể 8 tỉnh Bắc Lào và các tập thể và cá nhân của tỉnh Sơn La có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào, Sơn La và các tỉnh Bắc Lào; tham dự các hoạt động kỷ niệm có đồng chí Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tại Việt Nam và các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, bí thư tỉnh ủy, tỉnh trưởng và lãnh đạo 8 tỉnh Bắc Lào, các em lưu học sinh, sinh viên Lào đang học tập tại Sơn La.


Kết quả đạt được trên đây đã và đang tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh Sơn La trong thời gian tới.

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Cách đây 60 năm, vào mùa thu năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai và dân cư rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng, nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Thượng Lào, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển lên một giai đoạn mới, góp phần quan trọng quyết định thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, là niềm tự hào to lớn của quân và dân các dân tộc Tây Bắc nói riêng, quân và dân cả nước nói chung.


Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chọn Sơn La - địa bàn chính diễn ra chiến dịch Tây Bắc làm nơi tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử". Đây là vinh dự và là sự cổ vũ, động viên, khích lệ đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La. Và đây cũng là dịp để các bộ, ngành Trung ương, các quân khu, các tỉnh tìm hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng với Sơn La trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của một tỉnh miền núi, biên giới, nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc; đồng thời là cơ hội để tỉnh Sơn La có thểm những tư liệu quý, những bài học kinh nghiệm từ chiến dịch Tây Bắc, để vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Nhân dịp này, thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chiến sĩ, nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và giúp đỡ to lớn của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các quân khu và các sư đoàn, trung đoàn, các học viên, nhà trường trong và ngoài quân đội, các tỉnh, thành phố và đồng bào, chiến sĩ trong cả nước đã đóng góp công sức cho chiến dịch Tây Bắc 1952, cũng như đang giúp đỡ tỉnh Sơn La trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Một lần nữa, xin kính chúc các đồng chí đại biểu khách quý, cùng toàn thể các đồng chí và các bạn mạnh khoẻ; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:50:13 am
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC "CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TÂM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"


Trung tướng MAI QUANG PHẤN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam


Cách đây 60 năm, quân và dân ta làm nên thắng lợi chiến dịch Tây Bắc. Đó là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là thắng lợi của lòng quyết tâm cao độ vượt qua mọi khó khăn thử thách; là thắng lợi của tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo,... Thắng lợi đó có ý nghĩa chiến lược, là một trong những sự kiện quan trọng của lịch sử 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) nói riêng và lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói chung.


Đi tới và làm nên chiến công đó, từ những tháng đầu năm 1952, sau những cân nhắc thế lực giữa ta và địch, Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh đã chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cố gắng tranh thủ giải phỏng một phần đất đai, phát triển du kích chiến tranh tiến tới phá âm mưu của địch trên chiến trường Tây Bắc.


Trực tiếp tham gia chiến đấu trên Mặt trận Tây Bắc gồm nhiều đơn vị, lực lượng, mà quan trọng 7 trung đoàn y chủ lực thuộc các đại đoàn 308, 312, 316 cùng các đơn vị binh chúng phối hợp; 10 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và dân quân, du kích Khu Tây Bắc; là sự tham gia phục vụ của lực lượng thanh niên xung phong, dân công cùng sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Chiến dịch còn được thực hiện trong một thế trận chung, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường trên cả nước từ Bắc Bộ, đến Trung Bộ và Nam Bộ, từ đồng bằng đến miền núi, thành thị và nông thôn.


Với chủ trương đúng đắn, hình thành phương án chặt chẽ về hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu, trận đánh then chốt; chuẩn bị về lực lượng, trang bị vũ khí, đảm bảo hậu cần chu đáo,... sau gần hai tháng (14.10 - 10.12.1952), trải qua ba đợt tiến công, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào.


Thắng lợi đó có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và chính trị, kinh tế. Với chiến thắng Tây Bắc, cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân có thểm kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương cách đánh hệ thống cứ điểm mạnh của địch.


Đối với các nhà cầm quân thực dân, "thất bại ở Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu thất vọng".

Theo cùng năm tháng, với độ lùi của thời gian cùng với quan điểm, những phân tích, nhận định mới cho chúng ta thấy rõ hơn tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Tây Bắc. Trên tinh thần đó, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Ban Bí thư Trung ương Đảng giao cho Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến Lược của Đảng và bài học lịch sử", với mục đích:

- Khẳng định và làm sáng tỏ, đầy đủ, sâu sắc hơn về sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự phát triển, trưởng thành vượt bậc trong chỉ đạo, điều hành chiến dịch đến nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh.

- Hệ thống hoá và phục dựng lại quá trình chuẩn bị, tổ chức, thực hành chiến dịch, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân dân cả nước, trực tiếp là quân và dân các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ... tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chiến thắng kẻ thù xâm lược, tạo thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam. Thông qua đó, làm nổi bật sự trưởng thành toàn diện của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

- Nêu bật tầm vóc to lớn, ý nghĩa quan trọng; phân tích nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi, đúc rút những bài học kinh nghiệm, trong đó quan trọng là về tổ chức và thực hành chiến dịch, chọn hướng để mở chiến dịch tiến công; nghệ thuật chọn mục tiêu chủ yếu, đánh trận then chốt của chiến dịch. Thông qua đó, nhằm gợi mở, vận dụng và phát huy giá trị những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

- Tôn vinh và tri ân đối với các anh hùng, liệt sĩ, với đồng bào, đồng chí đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đồng thời, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, nhất là đối với thế hệ trẻ.


Tại cuộc Hội thảo này, Ban tổ chức đã nhận được gần 70 tham luận khoa học của các tướng lĩnh, các bậc lão thành cách mạng, các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương trên địa bàn Tây Bắc, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội,... Hội thảo sẽ tập trung vào các nội dung chính sau đây:

1. Bối cảnh chung của cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc 1952; âm mưu, thủ đoạn và quá trình thực hiện kế hoạch mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" tại khu vực Tây Bắc của thực dân Pháp;

2. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc; nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành và phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đại đoàn kết toàn dân, đặc biệt là tổ chức bảo đảm, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng; tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến dịch;

3. Quá trình chuẩn bị và thực hành kế hoạch tác chiến của các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc cùng quân và dân cả nước trong chiến dịch Tây Bắc. Diễn biến, kết quả và nghệ thuật quân sự đặc sắc trong các trận đánh quan trọng làm nên thắng lợi của chiến dịch;

4. Tầm vóc, nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nển quốc phòng - an ninh nhân dân hiện nay.

Thông qua những bài viết tập trung ở những chủ đề trên đây, chúng tôi tin tưởng rằng, các tham luận tại Hội thảo sẽ góp phần làm rõ hơn, sâu hơn, có hệ thống và đầy đủ hơn về thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc 1952, một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp "kháng chiến, kiến quốc" của dân tộc ta.

Xin chúc sức khỏe các đồng chí đại biểu cùng toàn thế các đồng chí!

Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cảm ơn!


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:58:43 am
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC THU ĐÔNG 1952 - BỐI CẢNH LỊCH SỬ


PGS, TS VŨ QUANG HIỂN
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội


Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952 diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến chuyển. Cách mạng thế giới đang phát triển mạnh. Cục diện Chiến tranh lạnh lên tới đỉnh cao, nhưng xu thế hoà hoãn cũng bắt đầu xuất hiện.


Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp ngày càng phát, huy mạnh mẽ thế tiến công chiến lược ở cả mặt trận chính diện và sau lưng địch. Theo Phơrăngxoa Gioayô (François Joyeaux), "Bộ chỉ huy Pháp không chỉ đối phó với một cuộc nổi dậy có tính dân tộc, mà là chống đối một sự nghiệp, không phải không có lý do để có thể xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông - Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh"1 (François Joyeaux: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận. H 1981, tr. 89).


Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: "Ở Đông Dương, không phải chỉ có quyền lợi của nhân dân ta và thực dân Pháp xung đột nhau, mà thực ra của hai phe dân chủ và đế quốc trên thế giới xung đột nhau1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 11. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 84).

1. Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh, có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa nối liền từ Tây sang Đông, không ngừng được củng cố và lớn mạnh. Sự đoàn kết, thống nhất trong phe xã hội chủ nghĩa tạo chỗ dựa cho phong trào đấu tranh cách mạng trên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, tạo thế đối trọng với Mỹ và các nước phương Tây trong Chiến tranh lạnh và trật tự Ianta.


Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã hoàn thành khôi phục kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ năm 1951, bắt tay vào thực hiện những kế hoạch kinh tế - xã hội dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Liên minh chính trị - kinh tế và quân sự giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố. Ngày 14 tháng 2 năm 1950, Liên Xô và Trung Quốc ký Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ có giá trị trong 30 năm. Theo Hiệp ước này, hai bên cam kết thi hành mọi biện pháp cần thiết nhằm không để Nhật hoặc một nước nào khác trực tiếp hay gián tiếp liên kết với Nhật, có hành động đe dọa hoà bình hoặc gây chiến tranh xâm lược một lần nữa2 (Xem: Dieter Heizing, The Soviet Union and Communist China 1945-1950. The Arduous Road to The Alliance, Armonk, New York. M E.Shape. 2004, p. 263). Liên minh Liên Xô - Trung Quốc trở thành trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng thế giới.


Trong xu thế tiến công, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa dâng lên mạnh mẽ khắp nơi. Cuộc kháng chiến anh dũng của ba dân tộc ở Đông Dương, những cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước Đông Nam Á như Philippin, Inđônêxia, Malaixia, Miến Điện, cuộc kháng chiến của nhân dân Triều Tiên... thể hiện sự phát triển không gì cưỡng nổi của phong trào giải phóng dân tộc. Trong khi đó, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ củng phát triển ngay tại các nước tư bản chủ nghĩa.


Cách mạng Việt Nam có điều kiện mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân, các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ vật chất và tinh thần từ bên ngoài, làm cho cuộc kháng chiến có thểm sức mạnh để phát triển thế tiến công chiến lược. Trong điện gửi Thống chế Xtalin (20-12-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ niềm tin "sự thành công của nhân dân Liên Xô sẽ đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của công cuộc xây dựng các nước dân chủ nhân dân, công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức và công cuộc gìn giữ hoà bình và dân chủ thế giới"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 258).


Tháng 4 năm 1951, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà lập cơ quan sứ quán và cử đại sứ sang Bắc Kinh, lập hai cơ quan tổng lãnh sự ở Hoa Nam và tiếp nhận đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam. Hai bên cử các đoàn đàm phán về việc Trung Quốc giúp Việt Nam vật tư, khí tài và ký hiệp định mậu dịch giữa hai nước. Trung Quốc cử chuyên gia, cố vấn quân sự, chính trị sang giúp Việt Nam, nhận đào tạo cán bộ cho Việt Nam. Thời gian này, quan hệ hữu nghị và tin cậy lẫn nhau giửa hai nước Việt Nam, Trung Quốc được thiết lập và phát triển. Với chính sách "Viện Triều chống Mỹ" và "Giúp Việt kháng Pháp", nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có ảnh hưởng tích cực đến phong trào cách mạng ở các nước trong khu vực.


Mặc dù Liên Xô vẫn còn cân nhắc mức độ công khai trong quan hệ với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà1 (Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Mátxcơva. Trong một buổi làm việc với Xtalin, thấy có cuốn họa báo Liên Xô để trên bản, Người cầm đưa Xtalin, đề nghị ký một chữ làm kỷ niệm, Xtalin vui vẻ ký rồi chuyển cho Môlôtốp, Cadanôvich ngồi bên ký tiếp Người mang tờ báo về nhà khách. Nhưng hôm sau không còn thấy tờ báo. Xem Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, H 1995, tr. 412. Tháng 9 năm 1952, từ Bắc Kinh, Người điện cho Xtalin: "Tôi rất muốn đến Mátxcơva dự Đại hội lần thứ XIX, Đảng Cộng sản Liên Xỏ. Nhưng tôi cho rằng, nếu tôi đến Mátxcơva một cách công khai, thứ nhất kẻ thù có thể ùa vào để chống lại Việt Nam, thứ hai có thể có nhiều bất tiện khi đón tôi". "Vì lý do này, tôi có ý định đến Mátxcơva dưới một cái tên khác", xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 500), nhưng viện trợ vật chất của Liên Xô cho Việt Nam ngày càng tăng. Từ tháng 5 năm 1952, Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô đã đi vào hoạt động. Liên Xô coi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam; đề cao cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam trong công tác tuyên truyền quốc tế; phê phán âm mưu mở rộng và tăng cường chiến tranh Đông Dương của Mỹ - Pháp; phủ quyết yêu cầu của chính quyền Bảo Đại và ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ cộng hoà trong việc gia nhập Liên Hợp Quốc; đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc trực tiếp giúp đỡ cuộc kháng chiến của Việt Nam.


Tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật đến Mátxcơva dự Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô1 (Theo Hồi ký của nữ Đồng chí Giôhanna (Phu nhân của cố Chủ tịch Đảng xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức Ôttô Grốttơvôn) thì Hồ Chí Minh có dự Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô. Tham khảo thêm: Trấn Dương: Bác Hồ như chúng tôi đã biết, Nxb Công an nhân dân. H. 2005, tr. 187-202), bày tỏ tình đoàn kết với Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô; khẳng định quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Người tiếp xúc với đại biểu các đảng anh em, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng và nhân dân Việt Nam với các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế. Gặp Đại sứ và Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô, Người nhắc nhở nhiệm vụ của cán bộ ngoại giao lúc đó là làm thế nào để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.


Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới ngày càng phat triển mạnh. Cuối năm 1951. Hội đồng hoà bình thế giới họp ở Viên ra nhiều nghị quyết đòi năm cường quốc ký Công ước hoà bình, tài giảm binh bị, cấm vũ khí nguyên tử đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên, Việt Nam và đề nghị giải quyết các việc xung đột khác trên thế giới bằng phương sách hoà bình. Nghị quyết về Việt Nam đật vấn đề đàm phán để đình chiến và quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam.


Ngày 24 tháng 12 năm 1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tri hoan nghênh Nghị quyết của Hội đồng hoà bình thế giới và vạch rõ chúng ta luôn chủ trương hòa bình. "Nhưng giặc Pháp đã phá hoại ý ngụyện hoà bình đó của ta, chúng âm mưu cướp nước ta. Cho nên chúng ta phải kiên quyết kháng chiến đến toàn thắng. Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta là một công cuộc xây dựng hoà bình ở Việt Nam, trái lại giặc Pháp là kẻ phá hoại hoà bình ở Việt Nam". Nhân dân Việt Nam phải đẩy mạnh cuộc kháng chiến. "Chúng ta phải đánh cho giặc những đòn thật nặng. Có thế thì địch mới bỏ kế hoạch xâm lược nước ta và bắt buộc phải nhận giải pháp của Hội đồng hoà bình thế giới là rút quân viễn chinh về Pháp... được sự ủng hộ của thế giới, chúng ta càng phải nỗ lực phấn đấu mạnh hơn nữa để mau đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, đánh đuổi hết quân xâm lược thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ ra khỏi bờ cõi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng. Toàn tập, Sđd tập 12 tr. 620-621).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:00:10 am
2. Mỹ tiếp tục can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương

Bước vào năm 1952, nước Pháp gặp thêm những khó khăn mới, ngân sách thiếu hụt, nội bộ giới cầm quyền phân hoá, nội các phải thay đổi liên tiếp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và nhân dân Bắc Phi ngày càng lên mạnh. Khả năng tăng quân của Pháp vào Đông Dương rất hạn chế. Lợi dụng Pháp gặp khó khăn, Mỹ tăng viện trợ, bắt Pháp phải nhân nhượng trong vấn đề tổ chức quân đội của cái gọi là "Quốc gia Việt Nam", nắm giữ chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Giới cầm quyền Mỹ thay đổi chiến lược đối ngoại, từ chính sách không can thiệp trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chuyển sang can thiệp bằng cách viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Sự can thiệp ngày càng tăng do những lý do khác nhau nhưng tựu trung lại Mỹ ngăn chặn sự phát triển chủ nghĩa cộng sản ở Viễn Đông, trong đó "Đông Dương và đặc biệt là Việt Nam là then chốt trong việc bảo vệ Đông Nam Á". Mặc dù Mỹ có mâu thuẫn với Pháp, phản đối việc duy trì chính sách thực dân cũ của Pháp, nhưng trước khả năng "Pháp có thể thất bại, đồng thời lúc đó, cộng sản đã thắng lợi ở Trung Quốc, nên từ đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ trợ cho Pháp ở Đông Dương"1 (George C. Hering. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ. Nxb Chính trị quốc gia. H. 1998, tr. 14), đưa cuộc chiến tranh Đông Dương vào quỹ đạo chiến lược "Chiến tranh lạnh"; biến Đông Dương, Đài Loan, Triều Tiên... thành những cứ điểm chống cộng.


Ngày 7 tháng 2 năm 1950, ngay sau khi Hạ viện Pháp phê chuẩn Hiệp định Élysée (29-1-1950) công nhận nền độc lập của "các quốc gia liên kết" Việt Nam, Lào và Campuchia, Chính phủ Mỹ công nhận cái gọi là "Quốc gia Việt Nam". Ngày 8 tháng 5 năm 1950, tại một cuộc họp ở Pari, Dean Acheson thông báo việc Chính phủ Mỹ sẽ viện trợ kinh tế và quân sự cho "các quốc gia liên kết" ở Đông Dương và Pháp. Ngày 2 tháng 8 năm 1950, Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được thành lập ở Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển giao viện trợ quân sự trực tiếp cho người Việt Nam, Lào và Campuchia.


Trong suốt nửa đầu những năm 50 của thế kỷ XX, thái độ của các nước lớn đối với cuộc chiến tranh Đông Dương có nhiều thay đổi, làm cho cuộc chiến tranh này "lồng vào cuộc xung đột toàn cầu giữa phương Đông và phương Tây"2 (Yves Gras. Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon. Paris. 1979. bản dịch lưu Thư viện quân đội. tr.610). "Nó đã được quốc tế hoá và trở thành một bộ phận của cuộc thập tự chinh chống cộng của Mỹ"3 (Archimedes L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb Đà Nẵng. 2001. tr. 770).


Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Mỹ ký với Bảo Đại một hiệp định viện trợ kinh tế trực tiếp. Ngày 18 tháng 9 năm 1951, hai ngày sau khi kết thúc chuyến thăm Mỹ của tướng Đờ Lát, chiếc tàu vận tải Eartham Bay của Mỹ từ Manila đến Sài Gòn chở theo nhiều vũ khí các loại, đồng thời Mỹ cũng chuyển cho Pháp 30 máy bay B26 từ Philíppin đến sân bay Cát Bi (Hải Phòng).


Đối với Mỹ, các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Đông Dương có mối quan hệ mật thiết với nhau trong sự nghiệp chống cộng của họ ở bờ Tây Thái Bình Dương.

Cuộc Chiến tranh Triều Tiên thực chất là một cuộc đọ sức giữa hai phe nhưng không phân thắng bại. Các nước lớn bắt đầu nhận thấy tương quan lực lượng thế giới đang ở thế cân bằng. Từ ngày 7 tháng 10 năm 1951, Hội nghị bốn bên (Trung Quốc, Mỹ và hai miền Triều Tiên) bàn về cuộc chiến tranh Triều Tiên được khai mở tại Kaesong, nhưng chưa mang lại kết quả (đầu năm 1953, hội nghị này chuyển về Bàn Môn Điếm). Trước triển vọng cuộc chiến tranh Triều Tiên có thể chấm dứt, Mỹ sợ rằng xu thế hoà hoãn ở Triều Tiên làm cho Pháp nản chí, nên mặc dù không đồng tình với chính sách thực dân cũ của Pháp, nhưng Mỹ vẫn thấy cần phải giúp Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.


Chính sách của Mỹ về Đông Dương được Hội đồng An ninh quốc gia khẳng định trong "Tuyên bố về chính sách năm 1952 của Mỹ về các mục tiêu ở Đông Nam Á" với cam kết "sẽ kiến nghị với Quốc hội (Mỹ) có sự viện trợ thích đáng về quân sự và kinh tế, tài chính cho Pháp và các quốc gia liên kết"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, tập I. IV, Thư viện Bộ Ngoại giao, tr. 39).


Tháng 6 năm 1952, Mỹ mời Lơ Tuốcnô (Le Tourneau), Bộ trưởng Bộ các quốc gia không liên kết kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, đến Oasinhtơn để lên dây cót tinh thần cho Pháp "giữ vững tay súng" trong cuộc chiến chống cộng ở Đông Dương. Bản thông báo chung về cuộc gặp Mỹ - Pháp khẳng định cuộc chiến tranh Đông Dương "là một bộ phận của cuộc chiến đấu chung trên phạm vi toàn thế giới chống lại những cố gắng chinh phục và lật đổ của cộng sản". Chính phủ Mỹ cam kết tăng cường viện trợ quân sự để "các nước liên kết xây dựng thành công các quân đội quốc gia nhằm chặn đứng và đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên bán đảo Đông Dương"1 (Dẫn theo Trần Trọng Trung: Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H- 2005, tr. 155). Bên cạnh Pháp là kẻ thù cũ, Mỹ từng bước trở thành một kẻ thù mới của cách mạng Việt Nam.


Dựa vào sự trợ giúp của Mỹ, Pháp tăng cường phát triển quân đội tay sai, tập trung lực lượng cơ động phối hợp với các đội GAMO2 (GAMO: Grupemenl administratif mobile (quân thứ hành chính lưu động)) liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá các vùng du kích kháng chiến, "bình định hậu phương" của chiến tranh xâm lược, hòng cứu vãn tình hình đang ngày càng xấu đi đôi với quân Pháp ở Bắc Bộ. Những cuộc hành binh lớn của quân Pháp có gây cho lực lượng kháng chiến một số khó khăn, nhưng vẫn không làm thay đổi được tình thế khi cả vùng đồng bằng đang rung chuyển mạnh.


Trong bối cảnh quốc tế lúc đó, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ là một cuộc chiến tranh vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc. Nó khác với cuộc chiến tranh Triều Tiên ở chỗ lực lượng chiến đấu trên chiến trường là quân và dân Việt Nam. Ngoài một số cố vấn Trung Quốc, không có quân đội nước ngoài. Tuy nhiên, khi trật tự thế giới hai cực được thiết lập, thì nó không thể không chịu sự chi phối của cục diện Chiến tranh lạnh và sự tranh giành ảnh hướng giữa hai phe.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:01:58 am
3. Khối đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương được củng cố và tăng cường

Ở Đông Dương, ba dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia cùng đoàn kết chống kẻ thù chung, nhưng ở mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng. Từ năm 1945, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong phạm vi mỗi nước; mỗi nước thành lập một mặt trận riêng, tạo cơ sở để tiến tới hình thành ở mỗi quốc gia một nhà nước dân tộc độc lập. Trong điều kiện lịch sử mới của cuộc kháng chiến, cần thành lập ở mỗi nước một đảng cách mạng để đề ra đường lối chính trị phù hợp với điều kiện của từng nước. Mặt khác, phải không ngừng củng cố và tăng cường đoàn kết giữa ba dân tộc.


Để sự lãnh đạo cách mạng dân tộc giải phóng Campuchia, Lào thích hợp với tình hình của hai nước và tình hình thế giới hiện tại, Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) quyết nghị giúp đỡ những người cách mạng Lào, Campuchia thành lập ở mỗi nước một chính đảng nhân dân cách mạng, gồm những người yêu nước và dân chủ, trung thành, hăng hái và có ý thức nhất trong hàng ngũ kháng chiến. Quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và "Nhóm" hay Đảng Nhân dân là quan hệ của hai tổ chức bạn, dựa trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa.


Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tích cực thúc đẩy quan hệ đoàn kết ba nước Đông Dương trên cơ sở tôn trọng đường lối cách mạng độc lập tự chủ và lợi ích dân tộc của mỗi nước. Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ: "Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ hai dân tộc Miên, Lào kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam hoàn toàn giải phóng Đông Dương".


Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân tích: "Vì mối quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực thiết thực hơn. Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, tập 13, tr. 152).


Ngày 11 tháng 3 năm 1951. Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương họp tại Việt Bắc, gồm đại biểu các mặt trận Liên Việt, Ítxala và Íxarắc, tuyên bố thành lập khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập.


Sự giúp đỡ lẫn nhau và sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới. Đoàn kết Đông Dương tạo ra một nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước, tạo ra thế tiến công chiến lược chung của cuộc kháng chiến ở cả ba nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:03:47 am
4. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển và sự điều chỉnh phương hướng tiến công chiến lược

Từ chiến dịch Biên Giới - Thu Đông 1950, quân đội và nhân dân Việt Nam đã giành, giữ và phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Trong hoàn cảnh mới của cuộc kháng chiến, Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để đưa cuộc kháng chiến mau tới ngày thắng lợi. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích.


Tháng 3 năm 1951, Đại hội Việt Minh và Liên Việt quyết định thống nhất hai mặt trận thành Mặt trận Liên Việt, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo cơ sở chính trị vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.


Từ tháng 12 năm 1950 đến tháng 6 năm 1951, bộ đội chủ lực Việt Nam liên tiếp mở ba chiến dịch tiến công lớn vào các phòng tuyến của quân Pháp ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của địch. Tuy nhiên, cả ba chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám và Quang Trung đều không đạt được mục tiêu chiến lược và chiến dịch. Phong trào chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch có phát triển trong khi mở chiến dịch, nhưng rồi lại lắng xuống và gặp nhiều khó khăn khi mỗi chiến dịch kết thúc, do địch quay về càn quét, bình định. Nguyên nhân chính là do chủ quan, nóng vội, không đánh giá đúng so sánh lực lượng trên địa bàn, chọn hướng tiến công vào nơi có địa hình trống trải, đối phương có ưu thế về hỏa lực và khả năng cơ động nhanh. Thực tế đó cho thấy, mở những chiến dịch lớn ở đồng bằng và trung du là chưa có lợi, cần có sự điều chỉnh hướng tiến công của bộ đội chủ lực về địa bàn rừng núi. Khi thực dân Pháp mở cuộc hành quân lớn ra Hoà Bình, với hy vọng giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường chính Bắc Bộ, nối lại hành lang Đông - Tây chia cắt Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, "buộc đối phương phải xuất trận" và gây "ảnh hướng quốc tế lớn" tạo tiếng vang đế tranh thủ viện trợ Mỹ,... Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận rõ thời cơ tiêu diệt địch, kịp thời chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hoà Bình của địch; kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.


Chiến dịch Hoà Bình đã làm thất bại kế hoạch chiến tranh lớn của thực dân Pháp trong Đông - Xuân 1951-1952. Thắng lợi đó khẳng định địa bàn rừng núi là nơi quân đội và nhân dân Việt Nam có ưu thế hơn địch; đó là hướng tiến công chiến lược đúng, hạn chế được những chỗ mạnh của đối phương về hoả lực phi pháo và khả năng cơ động nhanh.


Từ sau chiến dịch Hoà Bình, chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch ngày càng phát triển mạnh, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ. "Nếu người ta nghiên cứu bản đồ vùng đồng bằng Bắc Bộ, người ta sẽ nhận thấy nó giống như một chiếc muôi hớt bọt. Mỗi lỗ của cái muôi là một căn cứ lớn hay nhỏ của chiến tranh du kích"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 537).


Hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố kể cả hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ, bao gồm căn cứ địa Việt Bắc, các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5, miền Đông, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và cả những căn cứ du kích trong lòng địch. Báo Pháp Thế giới (Le Monde) viết: "Kinh nghiệm đã cho thấy các tuyến phòng thủ đồng bằng không có tác dụng ngăn chặn, và từng toán quân nhỏ hoàn toàn có thể luồn qua các đồn luỹ của Pháp vào ban đêm". Trong thời gian chiến dịch Hoà Bình, có tới hai đại đoàn chủ lực có thể tiến sâu vào vùng địch hậu Bắc Bộ để hoạt động. Đó là hiện tượng kỳ lạ chưa từng có trong lịch sử Chiến tranh thế giới. "Khi mười lính Pháp di chuyển thì Việt Minh biết, nhưng khi 10 nghìn Việt Minh di chuyển thì các lính Pháp không hay"2 (Léon Doutbien: Jereviens d' Indochine, Les échos, Paris. 1950, p. 26).


Không chỉ ở các vùng tự do, mà ngay trong các vùng tạm bị địch chiếm, người dân không đóng thuế cho chính quyền thực dân, mà đóng thuế cho cách mạng. Trong cuốn Cuộc chiến tranh Đông Dương, Giắc Đalo (Jarque Dalloz), giảng viên Học viện Chính trị Pari viết:

"Hầu hết mọi người Việt Nam sống trong vùng kiểm soát của Pháp đều tự giác hay bắt buộc đóng thuế cách mạng. Thuế được thu hồi qua các cán bộ tài chính được lựa chọn kỹ mà sự trung thực tương phản với sự tham ô thường có"3 (Jarque Dalloz: La Guerre d' Indochine 1945-1954. Édition du Seuil. Paris. 1987, p. 55).


Giắc Đalo nhận xét: "Ở trong lòng hệ thống của Pháp, Việt Minh lúc này có trong tay hơn 60.000 người được vũ trang thích hợp... Quân đội Việt Nam đã xây dựng những điểm chốt: các làng có công sự, các kho vũ khí và lương thực đặt ở đó... Các cuộc tấn công ban đêm của một kẻ thù được trang bị bằng vũ khí càng ngày càng đáng sợ hơn các cuộc càn quét vô bổ liên tiếp. Đó là chuyện thường ngày trong cuộc chiến ở đồng bằng. Bị bao vây bởi một vùng hoàn toàn do Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm soát, bị đe doạ tan rã từ bên trong, Bắc Bộ - địa bàn quan trọng hữu ích làm các tướng lĩnh Pháp phải lo lắng"1 (Jarque Dalloz: La Guerre d' Indochme 1945-1954, Édition du Senil, Paris. 1987. p 217).


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mùa hè năm 1952, các đơn vị trong toàn quân tiến hành chính huấn chính trị, nâng cao tinh thần giác ngộ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng cho cán bộ và chiến sĩ. Công tác chấn chỉnh tổ chức, biên chế và trang bị cũng được tăng cường. Trình độ chỉ huy chiến đấu, trình độ chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội có nhiều tiến bộ mới.


Lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt để toàn dân đánh giặc. Đến cuối năm 1952, bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Quốc phòng đã có 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh và pháo binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích ta là người thừa kế những truyền thống vẻ vang của Quân Giải phóng. Nhò toàn dân ra sức giúp đỡ, nhờ phong trào dân chủ thế giới, nhất là nhân dân các nước bạn ủng hộ, lực lượng vũ trang của ta đã phong trào mạnh. Trong mấy năm kháng chiến chống giặc Pháp và bọn can thiệp Mỹ, ta càng đánh càng mạnh, càng hăng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 7. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 261).


Thấy rõ phương hướng tiến công chiến lược có lợi là chiến trường rừng núi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, và quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở Tây Bắc. Đây là nơi "địch yếu hơn hết ở Bắc Bộ, thành phần ngụy binh nhiều, bố trí tương đối phân tán, địa hình có phần thuận lợi cho ta". Mục đích của chiến dịch là "tiêu diệt sinh lực địch", "tranh thủ nhân dân", "giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 304).


Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952 của quân và dân Việt Nam diễn ra vào lúc cục diện đối đầu và Chiến tranh lạnh đã lên tới đỉnh cao. Thế và lực của cuộc kháng chiến đều lớn mạnh, lại có sự ủng hộ về chính trị và giúp đỡ về vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đó là thuận lợi rất lớn, nhưng yếu tố quyết định thắng lợi vẫn là sức mạnh bên trong của cuộc kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Bây giờ chúng ta quân nhiều, tướng mạnh, mọi người lại đều quyết tâm. Cho nên ta nhất định thắng lợi"3 (Hồ Chí Minh. Toàn tập. tập 7. Sđd, tr. 485). Người cũng căn dặn: "Đừng để cho mình say sưa vì chiến thắng. Không được bao giờ đánh giá thấp kẻ thù. Hãy luôn nhớ rằng Chiến tranh yêu nước sẽ thắng lợi, nhưng nó sẽ lâu dài và gian khổ. Thắng lợi càng gần thì kẻ thù càng hung hãn, và chúng ta có nhiều khó khăn hơn. Hãy luôn luôn cánh giác và sẵn sàng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tặp, tập 7. Sđd, tr. 537).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:16:11 am
TÂY BẮC QUA GÓC NHÌN ĐỊA - CHÍNH TRỊ, ĐỊA - QUÂN SỰ


PGS, TS PHẠM XANH
Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân vân,
Đại học Quốc gia Hà Nội


Sau chiến thắng Biên Giới năm 1950, cánh cửa thông với thế giới bên ngoài được mở toang, đặc biệt sau những thắng lợi dồn dập của quân ta trong các chiến dịch Trần Hưng Đạo (12-1950), chiến dịch Hoàng Hoa Thám (3-1951) và chiến dịch Quang Trung (5-1951), sức ép theo hướng châu thổ sông Hồng và Hà Nội ngày càng tăng lên quân đội viễn chinh Pháp. Trong bối cảnh đó, tướng Pháp Đờ Lát vừa được điều sang chiến trường Đông Dương, đã có chuyến thăm Hoa Kỳ để xin thêm viện trợ. Trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tại Lầu Năm Góc, Tướng Pháp đã cảnh báo chính quyền Oasinhtơn trong sự so sánh với cuộc chiến ở Triều Tiên: "Nếu các ngài mất Triều Tiên thì châu Á vẫn còn, nhưng nếu tôi mất Đông Dương thì châu Á sẽ mất. Bắc Bộ là chìa khóa dẫn tới Đông Nam Á. Nếu như Đông Nam Á mất thì Ấn Độ sẽ bị thiêu trụi và rồi không gì cản nổi chủ nghĩa cộng sản sẽ tiến tới trước Xuyê và châu Phi. Và nếu như thế giới Hồi giáo bị nhấn chìm, đạo Hồi ở Bắc Phi cũng ngã gục, thì châu Âu bị đánh vào sườn..."1 (Dẫn theo Ronald H. Spector, Advice and Support: The Early years of the United States Army in Vienam 1941-1960. Free Press Edition. NY. 1985. p.143). Trong con mắt của giới chóp bu Mỹ đã hiển hiện mồn một trò chơi đôminô với hiệu ứng khủng khiếp của nó. Vì thế, Hoa Kỳ đã lấy từ những khoản chi cho NATO để viện trợ khẩn cấp cho Pháp ở Đông Dương. Tính đến trước khi ta mở chiến dịch Tây Bắc, Pháp và chính quyền Bảo Đại đã tiếp nhận chuyến hàng thứ 150 và Mỹ đã gánh 40% chiến phí Đông Dương, tức 146 tỷ Phrăng, trong đó là 86 tỷ phương tiện chiến tranh2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập 2. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 185). Trong khi đó, Thu Đông năm 1952, ta chủ động mở chiến dịch Tây Bắc là "nơi địch yếu, sơ hở, nhưng lại là nơi hiểm yếu", không theo hướng như Pháp - Mỹ đã phán đoán qua lời của Lơ Tuốcnô ngày 27 tháng 9: "Thu Đông 1952, Việt Minh sẽ tiến công đồng bằng".


Tại sao? Chỉ có thể trả lời câu hỏi này từ góc nhìn địa - chính trị và địa - quân sự của chính vùng Tây Bắc Bắc Bộ nước ta.

Nhìn lên bản đồ Việt Nam, vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc được giới hạn bằng con sông Thao và khi chảy tới Việt Trì hợp lưu với các dòng sông khác như sông Lô, sông Đà để trở thành tên gọi sông Hồng nổi tiếng, về hành chính, vùng đất chiến lược đó, thời kháng chiến chống thực dân Pháp mà ta đang bàn thảo ở đây, bao gồm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Nghĩa Lộ. Trong Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý, Lê Bá Thảo xác định rõ thêm: "Nếu như người ta có thể dễ chấp nhận Tây Bắc là một đơn vị miền núi thống nhất, thì vấn đề ranh giới phía đông đang còn bàn cãi một phần: về mặt địa lý tự nhiên, ranh giới này được vạch theo thung lũng sông Hồng, nhưng về mặt hành chính và kinh tế thì tỉnh Lào Cai có 4 huyện (Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên), tỉnh Yên Bái có hai huyện (Yên Bình và Lục Yên) nằm ở tả ngạn sông đó"1 (Lê Bá Thảo, Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý. Nxb Thế giới, H. 2002 tr. 251).


Vùng Tây Bắc thời kháng chiến chống thực dân Pháp bao gồm 5 tỉnh như trên đã nói là một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở, nằm ở phía Tây Bắc Bắc Bộ nước ta. Phía Tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh của nước Lào là Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa. Phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc (vùng Đông Bắc, Bắc Bộ). Phía Bắc là biên giới Việt - Trung, đối diện với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía Nam là tỉnh Hòa Bình, thông với các tỉnh thuộc Liên khu 3 và Liên khu 4. Nói như vậy là để xác định vùng Tây Bắc là một vùng chiến lược, ai làm chủ ở đây là làm chủ một vùng rộng lớn có địa hình rừng núi hiểm trở, nhất là dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi Păng cao trên 3.000m, có đèo Pha Đin dài 30 km. một địa giới tự nhiên ngăn cách hai tỉnh Sơn La và Lai Châu và đồng thời khống chế vùng Bắc Lào rộng lớn.


Ngoài yếu tố tự nhiên (vùng rừng núi hiểm trở, có những dãy núi cao chia cắt và có biên giới tiếp giáp với Lào và Trung Quốc), khi nói tới địa - chính trị của vùng này không thể không đề cập tới những cộng đồng tộc người đang quần tụ và sinh sống nơi đây.


Các cộng đồng tộc người như Mông, Dao, Kinh, Mường, Thái... trước sau đến định cư ở đây, nhưng đông nhất là cộng đồng người Thái. Họ thuộc những cộng đồng tộc người có lịch sử phát triển lâu đời, văn minh, có chữ viết và một nền văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng, phong phú. Người Thái ở vùng Tây Bắc nổi tiếng với những dòng họ như họ Đèo, họ Cầm, họ Hoàng... Và yếu tố tộc người trong địa - chính trị đã được người Pháp chú ý khai thác và sử dụng như một thứ vũ khí lợi hại trong suốt thời kỳ cai trị của chúng ở vùng đất này. Yếu tố đó trong những năm 1945-1954, được người Pháp nâng lên thành nghệ thuật. Nó được thể hiện rất rõ trong việc Pháp cho thành lập Xứ Thái tự trị, tức trao cho người Thái quyền lực cai quản vùng đất đầy biến động này. Nếu đặt chính sách dựa vào người Thái để cai quản vùng này trong chính sách vĩ mô của Pháp "dùng người Việt trị người Việt" trong cuộc chiến tranh 9 năm, ta thấy mức độ nham hiểm của người Pháp. Yếu tố này còn được thể hiện rất rõ trong việc thành lập những tiểu đoàn người Thái cùng những đại đội độc lập chốt chặn những ngả đường chủ yếu vào "vương quốc" của mình. Điều này sẽ được nói rõ ở phần sau trong yếu tố địa - quân sự.


Với vị trí chiến lược đó, vùng Tây Bắc xa xưa đã trở thành vùng đất quan trọng của các thế lực chống đối các vương triều phong kiến. Thời Lê sơ. Đèo Cát Hãn là một thế lực mạnh. Khi đang còn bao vây đánh thành Đông Quan (Hà Nội ngày nay), Lê Lợi đã phái Chủ thư thị sử Trần Hổ lên châu Minh Lễ chiêu dụ Đèo Cát Hãn. Viên thổ quan này quy thuận. Nhưng sau đó, Cát Hãn làm phản, đánh chiếm vùng đất Mường Muỗi, nay là Thuận Châu, Sơn La. Hiểu rõ tầm quan trọng của vùng đất này đối với lãnh thổ và sự an ngụy của đất nước nên "tháng 12 năm Tân Hợi (1431), vua bèn sai Tư đồ Lê Sát và Quốc vương Tư Tề dẫn quân đánh Mường Lễ. rồi vua lại thân chinh. Năm Nhâm Tý (1432), mùa Xuân tháng Giêng, quan quân đánh được Mường Lễ, Kha Lại bị giêt, Đẽo Cát Hãn chạy trốn, quan quân bắt hết dư đảng, bèn đổi Mường Lễ thành Phục Lễ. Ngày 3 tháng 3, vua kéo quân trở về... Tháng 11, Cát Hãn và con là Mạnh Vượng xin hàng, được nhà vua tha tội. Khi Cát Hãn tới kinh tạ tội, được phong chức Tư Mã"1 (Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb..., tr 92-94).


Sau khi bình định xong, trên đường đại quân quay về Thăng Long, vua Lê Thái Tổ có làm hai bài thơ chữ Hán. Bài thơ thứ nhất có tên Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn (tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lê) cho khắc trên vách núi Pú Huổi Chỏ (bên tả ngạn sông Đà, thuộc Mường Lễ, nay thuộc xã Lê Lợi, huyện Sình Hồ, tỉnh Lai Châu) và bài thơ thứ hai có tên Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê (đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy) cho khắc trên vách đá Hào Tráng (gần chợ Bờ, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ngày nay). Hai bài thơ của vua Lê Thái Tổ khẳng định quyền thống lĩnh của vương triều nhà Lê trên vùng Tây Bắc.


Đến thời Lê - Trịnh, vùng đất này từng là căn cứ địa của thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1706- 1769). Ông quê ở Vũ Thư, Thái Bình. Ông dấy nghĩa ở vùng Sơn Nam, nhưng có ngụy cơ thất bại nên năm 1750, ông theo đường núi tiến lên vùng Hưng Hóa. Sau khi bị Lê Đình Châu đánh tan tác, ông rút quân lên động Mãnh Thiên, châu Ninh Biên, tức Mường Thanh, Điện Biên xây dựng căn cứ kháng cự lâu dài. Lúc đầu tạm dựa vào thành Tam Vạn do người Lự xây dựng từ trước, nhưng nhận thấy thành ở địa thế bất lợi nên ông cho xây thành Bản Phủ làm căn cứ. Với những chính sách có lợi cho dân nên Hoàng Công Chất được lòng dân bản địa. Ông đánh tan giặc cướp và phát triển lực lượng ra khắp vùng Tây Bắc. Ông được dân bản địa yêu mến và gọi ông là Vua Hoàng. Ông lâm bệnh nặng và qua đời khi chiến sự với quân Trịnh Sâm đang diễn ra ác liệt.


Hiện nay ở Điện Biên, trong di tích thành Bản Phủ còn có miếu thờ Hoàng Công Chất và 6 viên tướng nổi tiếng của ông là Bun Xao, Cầm Phẳn, anh em Ngãi, Khanh, cha con Cầm Ton, Cầm Phanh (di tích này đã đươc xếp hạng).


Thời chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong phong trào Cần Vương vùng Tây Bắc trở thành căn cứ chống Pháp của Nguyễn Quang Bích, Đốc Ngữ... trong nhiều năm.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:17:10 am
Ngay sau bình định xong vùng Tây Bắc, thực dân Pháp chưa phân chia vùng này về hành chính, mà thành lập các Đạo quan binh, chẳng hạn như Sơn La và Lai Châu năm 1891 thuộc Đạo quan binh số 4, chủ yếu sử dụng quân đội để cai trị nhằm ổn định vùng Tây Bắc rộng lớn và quan trọng về chiến lược này. Mãi đến năm 1904, người Pháp mới thành lập một đơn vị hành chính cấp tỉnh là Sơn La và năm 1909 thành lập tỉnh Lai Châu.


Cùng với sự hiện diện của lực lượng quân sự Pháp trên vùng đất này, để đảm bảo cho an ninh lâu dài trong vùng, thực dân Pháp bắt đầu quan tâm tới hệ thống đường sá, đầu tiên như một phương tiện quân sự hơn là kinh tế để nhanh chóng di chuyển quân đội đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta. Người Pháp đã từng nhận xét: "Ở những nơi nào mà cùng với đường bộ còn có đường thủy thì đường bộ có giá trị thứ yếu: việc lưu thông trên đường bộ không được bảo đảm, nhất là khi người ta hình dung đến đường dài hoặc trung bình"1 (Jean-Pierre Aumiphin, Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939). Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản. H. 1994, tr. 116-117). Vì thế, người Pháp đầu tiên sử dụng triệt để phương tiện vận tải thủy trên các dòng sông như sông Thao, sông Đà để vận chuyển những hàng hóa, thiết bị nặng và có khối lượng lớn. Khi xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh những thiết bị siêu trường, siêu trọng đều được vận chuyển theo đường thủy, đặc biệt là sông Hồng, sông Thao lên đến tận Lào Cai hoặc theo dòng sông Đà ngược lên tận Lai Châu. Với Nghị định ngày 18 tháng 6 năm 1918 do Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô ký, hệ thống đường bộ được sắp xếp thành hệ thống theo tầm quan trọng của nó, bắt đầu từ đường thuộc địa số 1, tức con đường chạy suốt Bắc Nam, theo chiều dài đất nước. Liên quan tới vùng chúng ta đang đề cập tới là con đường thuộc địa số 6, xuất phát từ Hà Nội, thủ phủ của Liên bang Đông Dương lên Hòa Bình, Sơn La, từ đây chia thành hai nhánh: một nhánh chạy sang Lào và một nhánh đi Thuận Châu vượt đèo Pha Đin sang Tuần Giáo, tại đây một ngả rẽ vào Điện Biên Phủ và một ngả đi Lai Châu. Từ Yên Bái theo đường số 13 đi vào Nghĩa Lộ2 (Vấn đê tên các con đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ ở vùng này hết sức phức tạp do mỗi thời kỳ có những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn như đường quốc lộ số 6 xuất phát từ Hà Nòi có tài liệu cho là chạy lên tới Lai Châu, nhưng cũng có tài liệu cho là chạy đến Hòa Bình, từ Hòa Bình đến Mộc Châu là đường só 41. Chúng tôi dựa theo tài liệu của người Pháp viết trước đây). Đến năm 1922, có thểm những đường đất đi sâu vào nội địa hòa vào một mạng lưới đường sá, từ quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ cùng những đường mòn đi sâu vào các vùng thưa dân nhưng thường là rất phì nhiêu của vùng sâu, vùng xa.


Cùng với đường bộ và đường thủy, vùng đất chiến lược này có thểm một phương tiện giao thông hiện đại đường sắt. Đó chính là tuyến đường sắt Hài Phòng - Côn Minh (Vân Nam), được khởi công từ Hải Phòng cuối thế kỷ XIX qua Hà Nội, lên Việt Trì (1905), Yên Bái và đến Lào Cai (1906), từ đây tiếp tục chạy sang Côn Minh năm 1910. Năm 1912, tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh đi vào khai thác trên toàn tuyến.


Dù vào vùng Tây Bắc với các loại hình giao thông nào đi nữa, nhưng, như Jean - Pierre Aumiphin trong công trình của mình, đã nhận định một cách xác thực: Liên bang Đông Dương chỉ có thể trở thành một thực thể kinh tế và chính trị hữu hiệu với sự phát triển của đường giao thông, và trước hết với các đường bộ"1 (Jean Pierre Aumiphin. Sdd, tr. 119).


Như trên đã nói, vùng đất chiến lược này, người Pháp, sau khi đã chinh phục được, đã áp dụng một chính sách cai trị hết sức thận trọng - từ Đạo quan binh, tức dùng lực lượng quân sự để cai trị sang đơn vị hành chính tỉnh. Đến cuộc đảo chính của phát xít Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp ở vùng này dưới sự chỉ huy của Alếcxanđri đã chạy sang Trung Quốc. Cho đến khi nước Pháp quyết định tái chiếm Đông Dương, thì tàn quân này quay lại chiếm đóng vùng đất này, biến vùng đất này thành vùng tạm chiếm đầu tiên của Pháp. Trước khi chúng ta tiến quân vào Tây Bắc, trên tất cả những ngả đường vào Tây Bắc, đặc biệt ở những đầu mối giao thông, những giao điểm của các con đường liên tỉnh. Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đều bố trí các đơn vị quân sự từ cấp đại đội đến tiểu đoàn. Nhìn lên Bản đồ quân sự của Pháp thời này, vùng Tây Bắc được phân chia thành các phân khu và tiểu phân khu, khu phòng thủ (Mộc Châu) và các cứ điểm như cứ điểm Nà Sản, tùy theo tầm quan trọng về quân sự của nó. Lực lượng quân Pháp được bố trí, chốt chặn trên 14 cứ điểm gồm có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội với 11 khẩu pháo. Điều đặc biệt cần lưu ý là lực lượng quân địch ở đây phần lớn là ngụy quân: Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu Sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội đóng ở Phân khu Lai Châu; một tiểu đoàn ngụy đóng tại Tiểu khu Tuần Giáo. Ngoài lực lượng đó ra, tại đây quân Pháp có 3 tiểu đoàn Âu - Phi đóng chốt tại hai thị xã Sơn La và Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Nếu vùng này bị uy hiếp về quân sự thì Bộ chỉ huy Pháp sẽ điều động các tiểu đoàn dù đóng ở Hà Nội và sử dụng đường hàng không cơ động đến ứng chiến1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập 2. Sđd, tr. 205-206).


Vùng đất Tây Bắc, Bắc Bộ nước ta qua góc nhìn địa - chính trị, địa - quân sự nổi lên vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng nên trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nó được các loại chính quyền bằng mọi cách làm chủ và khai thác một cách triệt để nhằm bảo toàn lãnh thổ cương vực quốc gia và an ninh nội địa. Nhận thấy tầm quan trọng về vị trí chiến lược vùng Tây Bắc nên sau khi làm chủ vùng Đông Bắc, một phần vùng trung du Bắc Bộ, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Tổng Quân ủy, quân ta không mở chiến dịch theo hướng đồng bằng như Pháp - Mỹ đã từng phán đoán, mà huy động lực lượng tiến công lên Tây Bắc, làm chủ vùng chiến lược rộng lớn này.


Chiến dịch Tây Bắc được khai hỏa vào ngày 14 tháng 10 năm 1952 bằng việc tiến công tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Trận đánh mở màn thắng lợi đó báo hiệu sự kết thúc chiến dịch đại thắng của quân ta. Mà thắng lợi quan trọng nhất là ta làm chủ vùng đất chiến lược ở phía Bắc từ Tây sang Đông và cả một vùng trung du rộng lớn, đẩy quân địch vào thế bị động và đối phó, để sau đó không lâu Tướng Giáp đã chủ động tạo ra những cú đấm mạnh, buộc Pháp phải điều động binh lực chạy như đèn cù trên toàn chiến trường Đông Dương và cuối cùng giáng đòn sấm sét ở chiến trường Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình và công nhận toàn vẹn lãnh thổ nước ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:39:29 am
SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ
Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Thắng lợi của chiến dịch tiến công địch đánh ra Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951-1952 tiếp tục củng cố và khẳng định quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường chính Bắc Bộ. Chiến thắng đó cũng khẳng định khả năng và sở trường tác chiến trên địa bàn rừng núi của bộ đội ta. Hòa Bình và các vùng phụ cận được giải phóng đã mỏ toang cánh cửa tiến vào Tây Bắc từ phía Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tác chiến của ta trôn hướng chiến lược trọng yếu này.


Sau chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị chủ lực lớn của ta được lệnh củng cố, tiến hành chính Đảng, chỉnh quân, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Trong khi đó, ở cấp chiến lược, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh khẩn trương xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952. Trong kế hoạch dự kiến này, hướng tiến công chính được xác định là Tây Bắc Bắc Bộ; đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng.


Theo đánh giá và nhận định của Trung ương Đảng, cụ thể là của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, thì Tây Bắc là một chiến trường rộng lớn, phía Tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa, phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc, phía Bắc là biên giới Việt - Trung, phía Nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3, Liên khu 4. Địa hình Tây Bắc chủ yếu là rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, dân cư ít, chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người sinh sống; kinh tế tự cấp, tự túc, phân tán, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Đây cũng là địa bàn chính quyền kháng chiến còn yếu, cơ sở Đảng, cơ sở chính trị của quần chúng chưa phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là nơi có vị trí chiến lược hiểm yếu, nhưng lại là nơi lực lượng địch không đông, lại phải phân tán trên một địa bàn rộng, vì thế có nhiều sơ hở; khi bị quân ta tiến công, nhất định Bộ chỉ huy Pháp phải điều động lực lượng từ các nơi khác đến đối phó.


Nhân dân Tây Bắc có truyền thống yêu nước, cách mạng. Các đội vũ trang tuyên truyền, đội xung phong công tác, các đại đội độc lập hoạt động ở nhiều địa phương, đã phát động được phong trào chiến tranh du kích. Trong chiến dịch tiến công Biên Giới - Thu Đông 1950, quân và dân trên địa bàn đã phối hợp đánh địch, giành thắng lợi ở Đại Bục, Đại Phác, Phố Lu, Phố Ràng, Bản Lầu, Vạn Yên, Nghĩa Lộ, giải phóng một phần Lào Cai...


Lực lượng địch chiếm đóng Tây Bắc chủ yếu là thành phần thuộc "quân đội quốc gia" của Bảo Đại, người dân tộc Thái. Trong số này, Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng giữ Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu Sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; 1 tiểu đoàn ngụy (DAZANO) đóng ở Tiểu khu Tuần Giáo. Lực lượng Âu - Phi có 3 tiểu đoàn 5e, 7e Tabo và 2e RTA đóng tại Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Bộ chỉ huy Pháp còn bố trí sẵn sàng một số tiểu đoàn dù cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ để tăng viện cho Tây Bắc khi cần, nhằm bảo vệ các vị trí trọng yếu, các tuyến đường số 41 (Hòa Bình - Mộc Châu) và số 13 (Yên Bái - Nghĩa Lộ), uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào.


Từ tháng 4 năm 1952, nhằm phát huy thắng lợi to lớn đã giành được trong chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh xúc tiến công tác chuẩn bị mở chiến dịch với quyết tâm tiêu diệt quân địch tại đây, giải phóng phần lớn địa bàn Tây Bắc. Các đơn vị tình báo, trinh sát được lệnh bám nắm tình hình địch một cách cụ thể.


Trên cơ sở cân nhắc tình hình địch, khả năng của ta, đồng thời có tính đến những khó khăn cụ thể như: mở chiến dịch ở địa bàn hiểm trở, vận chuyển tiếp tế khó khăn, xa hậu phương đồng bằng hàng trăm kilômét, cơ sở kinh tế nghèo nàn, khả năng huy động nhân lực, vật lực tại chỗ hạn chế... Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chỉ huy trưởng chiến dịch. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị. Chủ nhiệm cung cấp là đồng chí Nguyễn Thanh Bình.


Bộ Tổng tham mưu xây dựng kế hoạch tác chiến, dự kiến chia chiến dịch làm hai đợt hoạt động. Đợt 1 tập trung lực lượng tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, áp sát sông Đà, tạo điều kiện cho đợt tiến công thứ 2. Đợt 2, đưa lực lượng tiến sâu vào Tây Bắc, phối hợp các hướng, trong đánh ra, ngoài đánh vào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sơn La. Hướng tiến công chủ yếu xác định là Nghĩa Lộ; hướng tiến công thứ yếu là Quỳnh Nhai, Tuần Giáo.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch có các đại đoàn 308, 312, 316 (thiếu 1 trung đoàn); Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, 6 đại đội sơn pháo 75mm gồm 24 khẩu; 3 đại đội súng cối 120mm gồm 12 khẩu; 3 tiểu đoàn công binh thuộc Trung đoàn công binh 151; Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Số lượng vật chất đảm bảo cho chiến dịch dự kiến lên tới 9.000 tấn lương thực, thực phẩm; 120 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men. Số dân công huy động 35.000 người, làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương và sửa chữa đường sá, cầu cống, để đảm bảo cung cấp vật chất, giao thông, hệ thống kho tàng, bến bãi phục vụ chiến dịch một cách đầy đủ, hiệu quả nhất.


Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc trực tiếp phụ trách phục vụ hướng Nghĩa Lộ; các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam... trực tiếp phụ trách phục vụ hướng đường số 41 - Sơn La.


Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo cơ quan hậu cần chiến dịch do đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, trực tiếp phụ trách cung cấp tiền phương, chuẩn bị sẵn sàng vật chất, vũ khí, lương thực ở bên tả ngạn sông Hồng để giữ bí mật, bất ngờ, đến khi chiến dịch mở màn sẽ nhanh chóng đưa hàng vượt sóng, bám theo các đơn vị phục vụ tác chiến.


Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh mở hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, thay mặt Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trì, phổ biến kế hoạch, nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch là: tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ nhân dân. Đây là những nhiệm vụ quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nhiệm vụ chủ yếu, quan trọng nhất là tiêu diệt sinh lực dịch. Đề cập, phân tích từng nhiệm vụ. Đại tướng Tổng tư lệnh nhấn mạnh: ở đồng bằng cũng như ở Tây Bắc, ta đều có điều kiện tiêu diệt dịch, nhưng trên địa bàn Tây Bắc ta có thuận lợi để đánh tập trung và tiêu diệt địch hơn. Ta cần xác định tiêu diệt cả quân cơ động và quân chiếm đóng vì hai lực lượng này đều rất quan trọng. Đối với nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, ở đồng bằng và ở Tây Bắc ta đều phải làm nhiệm vụ trọng yếu này, song ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, nhằm làm thất bại âm mưu phá khối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch. Thực dân Pháp đã từng đề ra và thực hiện âm mưu lập các xứ Tày, Nùng, Mường, Thái tự trị ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Hòa Bình... nhưng đã bị thất bại. Còn ở Tây Bắc, các lực lượng phản động, thù địch đang khống chế nhân dân các dân tộc còn mạnh, vì thế, chúng ta cần phải tranh thủ nhân dân Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ, chia để trị, âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Về nhiệm vụ giải phóng đất đai, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng đây là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm thực hiện phương châm có ý nghĩa chiến lược mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững giao thông liên lạc quốc tế giữa Lào Cai với Vân Nam  (Trung Quốc) và tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Lào. Nếu giải phóng được đại bộ phận đất đai Tây Bắc, ta sẽ có điều kiện lấy Tây Bắc làm căn cứ đế tác chiến ở đồng bằng và cơ động lực lượng.


Việc đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu, phân tích, nhấn mạnh vị trí, vai trò của từng nhiệm vụ, thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự chỉ đạo sắc sảo của Đảng khi quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, coi đây là hướng hoạt động chính trong Thu Đông 1952. Việc xác định đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng cũng cho thấy Đảng ta đã phân tích thấu đáo, đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta, khả năng còn hạn chế của bộ đội khi tác chiến ở đồng bằng (qua 3 chiến dịch đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ đầu năm 1951). Đảng chủ trương sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động nhằm kiềm chế, giam chân địch ở đồng bằng, tạo điều kiện cho các đơn vị tác chiến ở Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:40:36 am
Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người dặn dò: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để các chú cân nhắc kỹ, thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục... Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ mọi việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được".


Người động viên bộ đội hậu cần: "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội. Còn bên bộ đội thì phải có quyết tâm: lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng; lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp; lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý... Từ đại đoàn trưởng đến tiểu đội trưởng phải đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ, chăm nom săn sóc giúp đỡ nhau, coi nhau như chân tay, ruột thịt...".


Những căn dặn cụ thể, thiết thực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thực tế đã truyền được quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của Đảng cho mọi cán bộ, chiến sĩ, động viên khích lệ họ vượt mọi gian khổ, hiểm ngụy, quyết thực hiện nhiệm vụ chiến dịch đề ra.


Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị về lực lượng, kế hoạch tác chiến, cách đánh, chuẩn bị đảm bảo tiếp tế, làm đường, vượt sông, vận chuyển, lập kho trạm, bố trí các đơn vị bảo vệ hậu phương,... ngày 14 tháng 10 năm 1952, bộ đội ta nổ súng mở màn chiến dịch Tây Bắc.


Bộ chỉ huy chiến dịch phân tích: đối với toàn bộ chiến trường Tây Bắc thì Phân khu Nghĩa Lộ vừa là bình phong bảo vệ Tây Bắc của địch, nhưng cũng là bàn đạp của ta để tấn công Tây Bắc. Còn các phân khu Sơn La, Lai Châu bố trí các cứ điểm theo tuyến dài, dọc đường số 41, song song với sông Đà, lực lượng tương đối mỏng yếu. Vì thế, mở màn đợt 1, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung binh lực để tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng hai nơi này, phát triển tiến công tới sát sông Đà, tạo điều kiện tiến đánh Sơn La.


Trước khi tiến công Phân khu - thị trấn Nghĩa Lộ, các đơn vị nổ súng đánh chiếm hai vị trí Ca Vịnh và Sài Lương; quân địch bị bất ngờ, rút bỏ cả Thượng Bằng La, Ba Khe vào hai đêm 15 và 16 tháng 10. Mặc dù Bộ chỉ huy Pháp điều các tiểu đoàn dù từ đồng bằng lên Nà Sản, Tú Lệ nhằm chặn đường tiến công của bộ đội ta, giữ Sơn La và bảo vệ Nghĩa Lộ, nhưng đêm 17 tháng 10 năm 1952, Đại đoàn 308 vẫn sử dụng hai trung đoàn tiến công cả Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi (còn gọi là cứ điểm Pú Chạng) giành thắng lợi, phá vỡ một mảng quan trọng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Lo ngại bị tiêu diệt, một loạt vị trí địch rút chạy về Nà Sản, một số đơn vị rút sang hữu ngạn sông Đà.


Sau 11 ngày đêm liên tục tiến công, đợt 1 chiến dịch đã kết thúc thắng lợi. Bộ chỉ huy Pháp đã phải bở khu vực tả ngạn sông Thao, lặp cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tăng cường lực lượng lập tuyến phòng thủ sông Đà và tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Quân số địch ở Tây Bắc tăng lên 16 tiểu đoàn, 32 đại đội, chia nhau đóng giữ trên hai mặt trận chính là Sơn La và Lai Châu, đồng thời Bộ chỉ huy Pháp mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ nhằm kéo giãn chủ lực của ta trên chiến trường Tây Bắc.


Trước những động thái khẩn trương của địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn sáng suốt nhận định: các hành động của địch vừa qua về cơ bản vẫn là bị động đối phó, dù có tăng cường lực lượng cho Tây Bắc hay đánh lên Phú Thọ, cũng là nhằm đối phó với sự chủ động của ta. Những nhược điểm căn bản của địch, đặc biệt là sự bạc nhược về tinh thần, vẫn còn tồn tại, thậm chí nghiêm trọng hơn. Đây là nhận định rất quan trọng về tình thế chiến lược, khẳng định quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc và giúp Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra phương án tác chiến trong đợt 2 một cách hiệu quả, đó là vượt sông Đà, đánh mạnh vào Tiểu khu Mộc Châu, buộc địch phải rút khỏi Phú Thọ. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương tận dụng việc địch phải tập trung đối phó ở Tây Bắc, đánh mạnh ở đồng bằng đang bị sơ hơ để phối hợp với chiến trường chính, và hướng chính nhằm thực hiện bằng được các mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch đã đề ra.


Bộ Tổng tư lệnh một mặt sử dụng lực lượng đối phó với cuộc hành binh Loren, mặt khác lệnh cho các đơn vị bí mật vượt sông Đà, tiến công Mộc Châu và các vị trí xung quanh, phối hợp với Mặt trận Y13 Lai Châu đã nổ súng đánh địch mở màn đợt 2 chiến dịch. Trước đó, tuyến phòng ngự của địch ở cao nguyên Mộc Châu bị lung lay dữ dội, một số cứ điểm rút chạy về Nà Sản. Thừa thắng, bộ đội ta tiến công Thuận Châu, khiến quân địch ở đây và cả ở thị xã Sơn La phải rút về Nà Sản. Như vậy, đến 30 tháng 11, bộ đội ta đã kết thúc đợt 2 chiến dịch, diệt, bắt hơn 3.000 địch giải phóng một vùng đất đai rộng lớn hơn 17.000km, tính Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần tỉnh Lai Châu.


Lúc này, Nà Sản đã trở thành nơi tập kết lực lượng địch từ các nơi trên địa bàn Tây Bắc rút về, và là một trong hai nơi (cùng với Lai Châu) ở Tây Bắc còn cứ điểm địch. Tại Nà Sản, Bộ chỉ huy Pháp đã xây dựng một tập đoàn cứ điểm với 17 cứ điểm, tổng số binh lực lên tới 10.000, hình thành 2 vành đai phòng ngự, có sân hay, sở chỉ huy, trận địa pháo binh, hệ thống hầm ngắm, lô cốt được nối bởi hào giao thông, bao quanh là hàng rào thép gai.


Do không nắm đầy đủ tin tức, phân tích, đánh giá tình hình thiếu chính xác, bộ đội thương vong, mệt mỏi nhiều sau 2 đợt tác chiến căng thẳng, dài ngày, địch tổ chức phòng thủ quá mạnh và dày đặc, trong khi bộ đội chưa có kinh nghiệm đánh hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm, nhưng Đảng ủy chiến dịch họp lại nhận định: địch bị động tập trung về Nà Sản, lâm vào tình thế tiến thoái lường nan, nếu rút thì thất bại rất lớn ở Tây Bắc, lại có thể bị ta tiêu diệt, nếu giữ thì ở trong tình thế cô lập và cũng có thể bị ta tiêu diệt. Từ nhận định đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Nà Sản, giành toàn thắng.


Bộ chỉ huy chiến dịch cho rằng trận Nà Sản không phải là cuộc chiến đấu đơn giản, mà là một đợt tác chiến quan trọng hơn những đợt trước.

Lực lượng tham gia đánh Nà Sản lên tới 12 tiểu đoàn của 3 đại đoàn chủ lực đã tổ chức liên tiếp các cuộc tiến công vào các vị trí như Pú Hồng, Bản Vây, Bản Hời, Nà Si... trong nhiều ngày nhưng không thành công, bị thương vong nặng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Trải qua gần 2 tháng với 3 đợt tác chiến dài ngày, ác liệt, trên một địa bàn rộng lớn, hiểm trở, quân và dân ta đã giành dược thắng lợi cơ bản, đã hoàn thành cả 3 nhiệm vụ đề ra là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân. Chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng tỏ sự đúng đắn và sáng suốt bởi các nhiệm vụ đề ra đã được thực hiện, bởi sự chọn hướng hoạt động chủ yếu là chiến trường Tây Bắc là chính xác - Đó là nơi có vị trí chiến lược, hiểm yếu nhưng địch lại có những điểm yếu, sơ hở, trong khi đó sở trường tác chiến của bộ đội ta lại phát huy được. Với 8/10 diện tích Tây Bắc được giải phóng, cùng với khu căn cứ địa Trung ương Việt Bắc, gần như toàn bộ vùng rừng núi Bắc Bộ đã thuộc quyền kiểm soát của ta. Thế đứng chân của cuộc kháng chiến ngày càng được củng cố vững chắc. Thế chủ động tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ tiếp tục được giữ vững, đẩy quân địch ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động.


Tuy có sự hạn chế trong chỉ đạo tác chiến đợt 3, đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng nhìn chung, sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong toàn bộ chiến dịch Tây Bắc đánh dấu sự trưởng thành, dày dạn, quyết đoán và nhạy bén trong khói lửa chiến tranh ngày càng quyết liệt. Những kinh nghiệm chỉ đạo, được rút ra từ chiến dịch Tây Bắc thực sự quý giá, giúp Đảng ta giành được những kết quả to lớn hơn trong chỉ đạo các chiến dịch tiếp sau, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ 18 tháng sau đó, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:46:45 am
TẦM NHÌN VÀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI
Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Đại úy LÊ MẠNH TIẾN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngay từ đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích dễ hiểu về quy luật chiến tranh và khẳng định cuộc kháng chiến của nhân dân ta dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, cuộc kháng chiến của ta ngày càng lớn mạnh, tinh thần chiến đấu của quân dân ta ngày càng lên cao. Nhằm thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới mang tính quyết định, sau chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chuyến hướng tiến công chủ yếu của bộ đội chủ lực lên Tây Bắc. Đây là chủ trương đúng đắn, thể hiện tầm nhìn và tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của cơ quan lãnh đạo kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tây Bắc là địa bàn chiến lược quan trọng của Bắc Bộ Việt Nam nói riêng, của Bắc Đông Dương nói chung. Phía Tây là biên giới giáp hai tỉnh Phong Xa Lý và Sâm Nưa của Lào. Phía Bắc là biên giới giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía Đông là căn cứ địa Việt Bắc. Phía Nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3 và Liên khu 4. Phần lớn đất đai vùng này là núi cao, rừng rậm; núi xen kẽ cao nguyên và thung lũng. Đường vào Tây Bắc vừa ít lại phải qua nhiều sông suối. Hai trục đường lớn đi vào là con đường 41 từ Hòa Bình đi vào Mộc Châu và đường 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Với một địa hình như vậy, khi tiến quân vào Tây Bắc, ta thuận lợi trong việc giấu quân, bất ngờ khi tiến công; hạn chế được ưu thế về vũ khí kỹ thuật quân sự của đối phương, khoét sâu chỗ yếu của chúng trong quá trình tác chiến. Hơn nữa ở Tây Bắc, địch tương đối sơ hở, lực lượng của chúng chỉ có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán trên 144 cứ điểm1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr.364), nên ta có điều kiện tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương.


Tiến công làm chủ được Tây Bắc, ta không những bảo vệ vững chắc khu đầu não kháng chiến Việt Bắc, tạo thành thế liên hoàn nối liền một dải với hậu phương kháng chiến rộng lớn mà còn có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu quốc tế, đặc biệt là tăng cường thêm tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào cùng chống kẻ thù chung. Mặt khác, tiến công vào Tây Bắc, thông qua tuyên truyền vận động nhân dân và hoạt động tác chiến, ta không những giải phóng nhân dân và phần lớn đất đai mà còn đập tan mưu đồ chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp.


Do chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa quân sự, chính trị to lớn, nên từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị xúc tiến công tác chuẩn bị và sự chuẩn bị cho chiến dịch đó phải khẩn trương chu đáo về mọi mặt, trong đó chú trọng đến vấn đề xây dựng phương án tác chiến và kế hoạch hậu cần.


Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu nhanh chóng triển khai lập phương án tác chiến. Qua nghiên cứu, Bộ Tổng tham mưu dự kiến chia chiến dịch làm ba đợt: Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch; đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La kết hợp với việc cắt đường 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La; đợt 3, tiến công Sơn La1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Viẻt Nam, Tóm tát cac chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2000, tr.390). Để phân tán lực lượng đối phương, ta tổ chức nghi binh ở Bắc Giang, Phúc Yên và giao nhiệm vụ cho các tỉnh tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng tích cực hoạt động phối hợp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 308 (3 trung đoàn), 312 (3 trung đoàn), 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148; 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội cối 120mm, ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Hoạt động vùng sau lưng địch ở Liên khu 3 là các đại đoàn 320, 304.


Về hậu cần, dự kiến lượng vật chất đảm bảo cho chiến dịch khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí, đạn và dụng cụ thuốc men. Để vận chuyển lượng vật chất đó từ hậu phương ra tiền tuyến cần huy động khoảng 35.000 dân công1 (Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tạp 2. Nxb Quân đội nhân dân. H. tr.206).


Trước nhu cầu về nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch, Chính phủ giao các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La... trực tiếp phục vụ hướng đường 41 Sơn La; các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái trực tiếp phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Để tạo điều kiện cho công tác huy động dân công được thuận lợi, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Điều lệ quy định chế độ làm việc và tiêu chuẩn tính công cho dân công gánh trên đường rừng núi. Bộ Tổng tư lệnh phân công đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách cung cấp tiền phương, đồng thời lệnh cho cơ quan đảm bảo hậu cần không được chuyển vật phẩm lên trước lập chân hàng mà phải chuẩn bị ở tả ngạn sông Hồng, khi chiến dịch mở màn mới tổ chức vận chuyển theo sát các mục tiêu tiến công nhằm đảm bảo bí mật, bất ngờ cho chiến dịch.


Trong không khí khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch, ngày 24 tháng 6 năm 1952, Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất. Đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ bổn phận của cán bộ cung cấp "là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ phải săn sóc họ, làm sao cho họ đã ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy, nếu để họ đói, họ ốm, ảnh hưởng đến công tác của các chú trước, rồi ảnh hưởng đến cả chiến dịch. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ"1 (Hồ Chí Minh - Những bài viết và nói về quân sự, tập 2. Nxb Quân đội nhân dân. H 1987, tr 146). Tiếp đó, nhằm tăng cường hoạt động quân sự sau lưng địch phối hợp với chiến trường Tây Bắc, từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 15 tháng 8, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ. Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Trước hết nội bộ, tức là quân, dân, chính, Đảng phái đoàn kết chặt chẽ... Phải nghiên cứu kỹ, áp dụng đúng và triệt để thi hành những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và của Chính phủ. Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lây dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám sát lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu... Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện. Hơn nữa phải giúp đỡ cả nhân dân..."2 (Hồ Chí Minh. Toàn tập. tập 6 (1950 - 1952). Nxb Chính trị quốc gia. H 2009. tr 525).


Tây Bắc là địa bàn chiến lược quan trọng nhưng dân cư thưa, lúc đó chỉ có khoảng 14 vạn dân gồm nhiều đồng bào dân tộc thiểu số3 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). Nxb Quân đội nhân dân. H 1992. tr 12). Để động viên nhân dân ủng hộ, hăng hái tham gia kháng chiến nhiều hơn nữa, tháng 8 nủm 1952, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về chính sách vận động dân tộc ít người. Cũng trong tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Dân chủ cộng hòa Việt Nam" (công bố ngày 9-9). Đây là những quy định cụ thể nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản, nghề nghiệp của nhân dân; xử lý tài sản của giặc Pháp và bọn phản quốc; bảo vệ chùa chiền, nhà thờ, trường học, bệnh viện và các cơ quan văn hóa, xã hội; bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài; giữ gìn trật tự trị an; thưởng người có công, phạt người có tội; tổ chức lại nhân dân để tăng gia sản xuất và để giúp chính quyền, quân đội. Tinh thần cơ bản của Tám điều mệnh lệnh là "Giải phóng cho đồng bào khỏi ách nô lệ và giúp đỡ đồng bào xây dựng một đời sống tự do, sung sướng hơn"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr. 564-567).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:48:27 am
Cuối tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc. Cuối buổi làm việc, Người chỉ rõ: "Đây là lần đầu tiên ta mở chiến dịch lớn, địa hình hiểm trở; cần nắm chắc địa hình và chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc, giúp đỡ đồng bào dân tộc, bộ đội phải giữ kỷ luật dân vận''2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2011, tr. 360).


Đầu tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 304). Ngày 9 tháng 9, Bộ Chính trị và Người quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch, chỉ định các đồng chí: Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Thanh Bình - Chủ nhiệm Cung cấp. Cũng trong ngày 9 tháng 9, mặc dù trời mưa to, lại phải qua con suối nước chảy mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vượt qua con suối đến dự Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức. Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Người nhấn mạnh: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi, Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phái để các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ một việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sdd. tr. 558). Biết công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch rất khó khăn vì địa bàn tác chiến xa hậu phương Việt Bắc và Thanh - Nghệ - Tĩnh nên Người càn dặn: Cán bộ, chiến sĩ bên cung cấp phải có quyết tâm để có đủ lương thực, vũ khí cho bộ đội. Còn bên bộ đội thì phải có quyết tâm chịu đựng lúc thiếu thốn, lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp. Phải quán triệt sâu sắc rằng "lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575), về chính sách đối với đồng bào thiểu số "Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng. Đó là một cách tranh thủ nhân dân để phá tan âm mưu của địch "lấy người Việt hại người Việt". Phải làm cho mỗi chiến sĩ là một người tuyên truyền"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575).


Sau Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc, các đơn vị phấn khởi xuất quân với quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi. Ngày 1 tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai bức thư đến bộ đội và dân công. Trong "Thư gửi các cán bộ và chiến sĩ chiến dịch Tây Bắc" Người nhấn mạnh: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng. Tất cả cán bộ và chiến sĩ đều phải: Quyết tâm chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh; bền bỉ, dẻo dai khắc phục mọi khó khăn, gian khổ; thương dân, trọng dân và tốt với dân; tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành cho được toàn thắng3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575). Trong "Thư gửi các chiến sĩ dân công ở Mặt trận Tây Bắc" Người khẳng định: Các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ... Tất cả các cô, các chú đều phải: Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội... khắc phục mọi khó khăn; đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội; cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575).


Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc cũng như trong hai bức thư gửi cán bộ, chiến sĩ và dân công ở Mặt trận Tây Bắc cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng tham gia chiến dịch quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Trên cơ sở chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Trải qua gần hai tháng chiến đấu, quân dân ta tiêu diệt các vị trí của địch từ sông Thao đến tả ngạn sông Đà; tiếp đó vượt sông Đà giải phóng một vùng rộng lớn từ Mộc Châu đến Điện Biên Phủ, đồng thời đánh bại cuộc hành quân của địch lên hậu phương chiến dịch ở Phú Thọ, Tuyên Quang. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta chủ động kết thúc chiến dịch. Trong chiến dịch này ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch (nếu tính cả trung du và đồng bằng thì ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên), giải phóng 28.500km2 với 25 vạn dân; đập tan âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của Pháp.


Theo dõi sát diễn biến chiến sự ở Mặt trận Tây Bắc và đồng bằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi bộ đội và dân công: "Bác được tin các chú, các cô thắng trận, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, giải phóng đồng bào và một phần đất đai Tây Bắc, đánh du kích mạnh ở đồng bằng... Chiến dịch này các cô, các chú quyết tâm từ trên xuống dưới: bộ đội thì quyết tâm chiến đấu, dân công thì quyết tâm phục vụ, chịu gian khổ nhiều. Đơn vị nào, đoàn nào cũng có thành tích"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sđd. tr.590). Ngày 29 tháng 1 năm 1953, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ biểu dương cán bộ, chiến sĩ, dân công, Người nói: "Trung ương, Chính phủ khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"2 (Những tài liệu chỉ đạo chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tập 4. tr. 419).


Chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị, kinh tế. Chiến thắng đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trước hết là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Người, quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi vẻ vang; tạo đà cho những thắng lợi tiếp theo trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:56:51 am
CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC (1952) - MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trung tướng MAI QUANG PHẤN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam


Thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình - Đông Xuân 1951-1952 đã làm thay đổi cục diện trên chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho ta. Cùng với thắng lợi đó, bộ đội ta đã khẩn trương tiến hành tổng kết kinh nghiệm tác chiến chiến dịch. Từ tháng 5 năm 1952, các đơn vị đã bước vào chỉnh huấn chính trị nhằm nâng cao nhận thức và trình độ giác ngộ ý thức dân tộc và ý thức giai cấp. Đây là cuộc chỉnh huấn chính trị tập trung lớn nhất của quân đội ta kể từ khi thành lập. Cuộc chỉnh huấn chính trị kết thúc, các đơn vị lại chuyển ngay sang cuộc chỉnh huấn quân sự. Cùng với các cuộc chỉnh huấn nói trên, các đơn vị chủ lực còn được tiến hành chấn chỉnh tổ chức biên chế, trang bị và thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực" trong toàn quân từ ngày 1 tháng 7 năm 1952.


Để phát huy thắng lợi đã giành được và kết quả của các cuộc chỉnh huấn, đồng thời từ kinh nghiệm chọn hướng chiến lược qua chiến dịch Hòa bình, Tổng Quân ủy nhận định chiến trường Tây Bắc có tầm chiến lược quan trọng, là địa bàn ta có nhiều điều kiện để tác chiến tập trung tiêu diệt lớn sinh lực địch và lúc này không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc.


Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng của thực dân Pháp. Từ đây có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Trên địa bàn chiến dịch, địch chia làm bốn phân khu gồm: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La; và ba tiểu khu độc lập là: Thuận Châu, Phù Yên và Tuần Giáo. Nhân dân Tây Bắc chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế nghèo nàn, cơ sở chính trị non yếu, đường vận chuyển tiếp tế khó khăn, khả năng huy động nhân lực, vật lực tại chỗ rất hạn chế.


Đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc". Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch mở màn và được tiến hành qua ba đợt: Đợt 1, tấn công Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên; đợt 2, tấn công chủ yếu vượt sông Đà, đánh vào khu phòng thủ của địch trên cao nguyên Mộc Châu; đợt 3, tấn công Sơn La. Sau gần hai tháng chiến đấu quyết liệt, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi to lớn. Địch bị tiêu diệt 13.800 tên ở cả hai mặt trận Tây Bắc và đồng bằng. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị tiêu diệt gọn. Nhiều tên chỉ huy phân khu, tiểu khu, đồn trưởng tham chiến lâu năm ở Tây Bắc đã bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Hầu hết quân ngụy người địa phương, chỗ dựa của địch để chiếm đóng Tây Bắc bị tan rã. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía Nam Lai Châu, hai huyện phía Tây Yên Bái rộng 28.000km2 với 25 vạn dân được giải phóng. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố thêm vững chắc. Sau chiến thắng Tây Bắc, cách mạng Việt Nam có điều kiện phối hợp thuận lợi hơn với cách mạng Lào.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan, trong đó có vai trò rất quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, ra chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời.

Đây là bài học kinh nghiệm hàng đầu đối với hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong tác chiến chiến dịch. Khác với các chiến dịch trước đó, chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng lớn, rừng núi hiểm trở, việc cơ động của bộ đội và công tác bảo đảm cho chiến đấu, cứu chữa thương, bệnh binh gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, nơi đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Vì vậy, việc quán triệt sâu sắc chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, ra chỉ thị công tác Đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết.


Ngay sau khi Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc. Hội nghị vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và nói chuyện. Hội nghị tập trung thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.


Về mục đích của chiến dịch, Hội nghị nhất trí ba vấn đề lớn đã được Bộ Chính trị xác định là: "Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - Giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc". Hội nghị cho rằng, ba nhiệm vụ này bao gồm cả nội dung quân sự và chính trị, có quan hệ mật thiết với nhau và đều quan trọng, trong đó, tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi to lớn, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc để thúc đẩy kháng chiến mau thành công.


Về chủ trương tác chiến được Tổng Quân ủy xác định là: Tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, sau đó hết sức tranh thủ thời gian tiến quân ngay lên Sơn La để nhanh chóng tiêu diệt địch, giải phóng Sơn La. Trong mọi trường hợp, dù phải tác chiến hai hay ba bước, nhưng tinh thần của Tổng Quân ủy là quyết tâm giải phóng Sơn La.


Tổng Quân ủy chỉ rõ những việc cần chú ý trong chỉ đạo tổ chức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch phải nắm vững là: Chiến dịch này thời gian dài, bộ đội phải liên tục chiến đấu, cho nên về tổ chức, phải được bổ sung chấn chỉnh một cách nhanh chóng. Phải chuẩn bị sẵn tân binh và cán bộ để kịp thời bổ sung. Phải chú trọng chăm sóc thương binh và bệnh binh để họ mau trở về đơn vị chiến đấu...


Quán triệt sâu sắc và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, quyết tâm của Đảng, Tổng Quân ủy, ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra "Chỉ thị về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông 1952" nêu rõ những công việc cụ thể cần thực hiện như: "A. Động viên sâu rộng, nhiều lần và kế tiếp để làm cho thấm nhuần quyết tâm tứ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, làm cho ai nấy đều hăng hái, phấn khởi, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của mình; B. Bảo đảm cung cấp kịp thời, tìm đủ mọi cách tăng cường công tác cung cấp, hết sức giúp đỡ, động viên ngành cung cấp, làm cho bộ đội luôn luôn được khỏe mạnh để củng cố sức chiến đấu; C. Bảo đảm chiến thuật được hoàn thành, kết hợp với kỹ thuật...; D. Bảo đảm chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương và kiên quyết thi hành 8 điều mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch (tức là giữ vững kỷ luật của quần chúng); E. Hoàn thành công tác ngụy vận, làm đúng chính sách tù, hàng binh để mở đường tốt đẹp cho công việc tranh thủ nhân dân...; F. Tăng cường công tác chính sách đối với dân công...; G. Nâng cao tinh thần thương yêu nhau ngoài mặt trận, giải quyết chu đáo công tác thương binh..."1 (Công tác chính trị chiến dịch. tập 3, phần VIII, Tổng cục Chính trị, H 1959, tr 43).


Chỉ thị còn yêu cầu các cấp ủy phải thảo luận kỹ lưỡng để hiểu rõ quyết tâm của Trung ương và bàn kỹ về công tác lãnh đạo; đồng thời phải làm như thế nào để động viên các cấp ủy dưới, nhất là cấp chi bộ hoàn thành nhiệm vụ.


Cùng với chỉ thị chung, cơ quan chính trị chiến dịch còn ra những chỉ thị, hướng dẫn chuyên ngành, đi sâu vào lãnh đạo đảm bảo các mặt, các khâu công tác chuyên môn như: "Chuẩn bị công tác chính trị chiến dịch Tây Bắc của các ban, ngành trong cơ quan chính trị", "Chỉ thị về công tác chính trị đối với dân công phục vụ tiền tuyến", "Chỉ thị về thưởng, phạt trong Thu Đông 1952", "Chỉ thị về mấy vấn đề trong phong trào anh hùng và chiến sĩ thi đua",...


Chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời, toàn diện là yếu tố hết sức quan trọng để cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được Trung ương, Tổng Quân ủy giao. Vấn đề này cần được nghiên cứu, vận dụng, bổ sung, phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nêu xảy ra.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:59:51 am
Hai là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, động viên cổ vũ kịp thời tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, bền bỉ, dẻo dai của bộ đội trong cả quá trình diễn ra chiến dịch.


Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin: "Trong mọi cuộc Chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường, lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của anh em là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng những khó khăn chưa từng thấy"1 (V. I. Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ. M. 1977, tr. 147). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 560).


Xuất phát từ đặc điểm tình hình địch, ta, địa hình, thời tiết; mục tiêu nhiệm vụ của chiến dịch và quyết tâm của Tổng Quân ủy; kế thừa kinh nghiệm của các chiến dịch trước đó, ngay trong Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, cần phải để các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ". "Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên". "Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục". "Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ mọi việc lớn hay việc nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được"1 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972, tr. 272 - 273).


Thực hiện lời huấn thị của Bác, hội nghị đã xác định: Về tư tưởng, cần thấy rõ tất cả những khó khăn của vấn đề lãnh đạo tư tưởng trong liên tục chiến đấu. Phải có dự kiến và bám sát diễn biến để lãnh đạo kịp thời, đề phòng những tư tưởng thắng thì chủ quan, tự mãn, bại thì bi quan dao động; đề phòng những tư tưởng lo ngại thương vong, lo ngại cho việc xây dựng đơn vị, phải thấy rõ rằng chịu đựng gian khổ và liên tục tác chiến là cách rèn luyện tốt nhất cho đơn vị. Công tác chính trị phải lãnh đạo đảm bảo thực hiện tốt về chỉ đạo chiến thuật là: Bảo đảm hành quân nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, tiêu diệt gọn... Nói tóm lại, việc lãnh đạo tư tưởng cần làm cho thấu triệt quyết tâm, động viên liên tục chiến đấu, phát huy đến cùng tinh thần khắc phục khó khăn, chịu dựng gian khổ. Đối với dân thì bảo đảm giữ vững kỷ luật chính trị, đối với đơn vị bạn thì giữ đúng tinh thần đoàn kết phối hợp. Đó là một bảo đảm rất quan trọng cho chiến dịch được thành công.


Nắm vững chủ trương của Tổng Quân ủy, Chỉ thị của Tổng cục Chính trị, cơ quan chính trị khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức phổ biến quán triệt mục đích ý nghĩa, yêu cầu về lãnh đạo và chỉ huy đối với mọi tư tưởng và hành động của bộ đội trước, trong và sau chiến dịch. Tiến hành học tập thấu suốt chỉ thị của Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc", "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà" về chính sách dân vận trong chiến dịch, "Huấn thị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ chính trị chiến dịch Tây Bắc"...


Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nên cán bộ, chiến sĩ trên hướng tấn công chủ yếu cũng như thứ yếu, trực tiếp chiến đấu cũng như bảo đảm, lúc thuận lợi cũng như khó khăn... đều xác định tốt nhiệm vụ, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của từng trận đánh và cả chiến dịch, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ.


Thực tiễn trên chiến trường sau thắng lợi đợt 1, bộ đội ta bước vào chuẩn bị tấn công đợt 2 bên hữu ngạn sông Đà. Lúc này địch thấy nguy cơ mất Tây Bắc nên chúng đã điều lực lượng cơ động đến tăng viện lên tới 10 tiểu đoàn Âu - Phi, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh và lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản. Đồng thời, để đỡ đòn cho Mặt trận Tây Bắc, địch đã tập trung 12 tiểu đoàn bộ binh và dù cùng nhiều phân đội hoả lực mạnh đánh sâu vào hậu phương ta ở Phú Thọ - Đoan Hùng, hòng uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc, kéo lực lượng chủ lực của ta từ Tây Bắc về, làm giảm sức mạnh và nhịp độ tấn công của ta trên hướng chính, để chúng xoay xở đối phó lại kế hoạch Thu Đông của ta.


Đây là một tình huống hết sức phức tạp, ảnh hướng đến quyết tâm chiến lược. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo hết sức sáng suốt của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, cùng với công tác quân sự và các mặt công tác khác, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã kịp thời động viên bộ đội tuyệt đối phục tùng chỉ huy, khẩn trương cơ động lực lượng, triển khai đội hình chiến đấu, giữ vững quyết tâm thực hiện thắng lợi đợt 2 chiến dịch.


Bài học về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong chiến dịch Tây Bắc vẫn còn nguyên giá trị đối với hiện nay, nhất là trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với nhân dân ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:03:17 am
Ba là, chủ động, kịp thời củng cố kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ huy, đặc biệt chú trọng các đơn vị tác chiến trên hướng chủ yếu.

Quy mô của chiến dịch Tây Bắc lớn, chiến đấu khốc liệt; mọi mặt công tác quân sự, chính trị, tư tưởng và tổ chức càng trở nên phức tạp. Đó là đòi hòi khách quan phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy đang từ Tổng Quân ủy đến các chi bộ; phải kịp thời củng cố, kiện toàn tổ chức cả trước, trong và sau chiến dịch.


Một vấn đề hết sức quan trọng liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chiến dịch là: Đầu tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực. Nghị quyết chỉ rõ: "Khi có chiến dịch lớn và cần thiết thì sẽ tổ chức ra Đảng ủy mặt trận do Trung ương chỉ định"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2001, tr. 191). Tiếp đó, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập Khu ủy Tây Bắc và xác định: "Khu ủy Tây Bắc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy về những công tác có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch quân sự trong khu này"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Sđd, tr. 211); "Công tác trọng tâm của Khu ủy hướng vào việc chuẩn bị chiến trường, đồng thời chuẩn bị và xây dựng các căn cứ du kích và thu hồi các vùng được giải phóng"3 (Đảng Cộng sàn Việt Nam. Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 13, Sđd, tr. 212).


Đầu tháng 10 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm Cung cấp.


Cùng với các nghị quyết, quyết định quan trọng của Trung ương Đảng, trong Chỉ thị về công tác chính trị chiến dịch của Tổng cục Chính trị còn nêu rõ: "... Phải phát huy cho được sức mạnh của công tác lãnh đạo của chi bộ, nghĩa là tất cả mọi quyết tâm và kế hoạch của thượng cấp đều nhờ sự lãnh đạo của chi bộ mà được hoàn thành"4 (Công tác chính trị chiến dịch, tập 3. phần VIII, Sđd, tr. 51).


Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị trên, công tác xây dựng, củng cố kiện toàn tổ chức đảng, chỉ huy được tiến hành hết sức khẩn trương phù hợp với biên chế tổ chức các đơn vị tham gia chiến dịch. Guồng máy hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch làm việc liên tục ngày đêm và đạt kết quả tốt ngay từ khi chuyển quân từ hậu phương ra tiền tuyến, mở đường vận tải bảo đảm cung cấp chiến dịch đều khẩn trương, giữ bí mật, an toàn mặc dù vô cùng gian nan vất vả. Việc củng cố kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy được tiến hành chặt chẽ, kịp thời trong các đợt tấn công của chiến dịch, cũng như kết thúc chiến dịch, trọng tâm là các đơn vị tác chiến trên hướng chủ yếu như: các đại đoàn 308, 312, 316; Đại đoàn công pháo 351, Trung đoàn bộ binh 148... Nhờ đó, quyết tâm chiến đấu của Bộ chỉ huy được giữ vững ngay trong những lúc khó khăn, quyết liệt nhất.


Diễn biến và kết quả thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc đã chứng minh việc củng cố, kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, biên chế tổ chức các đơn vị; sự phối hợp giữa các đơn vị trên các chiến trường, trên hướng chiến lược, chú trọng các đơn vị chủ lực, trên hướng chính và hướng nghi binh sau lưng địch. Trong Thông báo của Ban Bí thư về chiến thắng Tây Bắc đã nêu rõ: "Các chiến trường phối hợp đánh khá, đã chia xẻ được lực lượng địch. Đặc biệt, ta điều động một đơn vị chủ lực ở Tây Bắc về tác chiến ở Phú Thọ, có thể đã khiến địch hiểu lầm đại bộ phận chủ lực của ta đã rút về và phán đoán sai kế hoạch đợt 2 ở Tây Bắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 14. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 4).


Bài học về chủ động, kịp thời củng cố kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy trong chiến dịch Tây Bắc được nghiên cứu, vận dụng, kế thừa và phát huy trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:04:08 am
Bốn là, tích cực, chủ động làm tốt công tác dân vận, địch vận; phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân.

Xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng. Để huy động một lực lượng lớn dân công, cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương cho chiến dịch, bước vào thời kỳ chuẩn bị cho chiến dịch, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị liên quan đến công tác dân vận, địch vận, huy động sức mạnh tổng hợp cho chiến tranh nhân dân. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, các đơn vị tham gia chiến dịch đã tăng cường giáo dục về quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, cụ thể hóa trong việc hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ về công tác dân vận, địch vận; chủ trương liên hệ, phối hợp, thống nhất với cấp ủy, chính quyền địa phương trong các hoạt động phá tề, trừ gian, diệt đồn bốt... cả trước, trong và sau chiến dịch. Các đơn vị chủ lực còn tích cực tham gia xây dựng cơ sở, dìu dắt, giáo dục huấn luyện trang bị cho lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương có nhận thức đúng đắn về mục đích của chiến dịch, phương châm tác chiến, cách đánh của ta và âm mưu, thủ đoạn của địch thực hiện chiến lược xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" ở Tây Bắc, dùng người Việt đánh người Việt. Nhò đó, ta đã huy động được một lực lượng lớn dân công tham gia làm đường, sửa đường vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men,... phục vụ chiến dịch; phong trào du kích phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hêt; tình cảm quân dân nhất trí và cùng quyết tâm cao thực hiện thắng lợi chiến dịch.


Công tác địch vận cũng dược các đơn vị quan tâm qua rút kinh nghiệm của các chiến dịch trước. Quán triệt chủ trương của trên, các đơn vị đã thống nhất kế hoạch và hành động giữa tác chiến và địch vận trong quá trình phát triển chiến đấu. Do nhận thức đúng đắn tác dụng của công tác địch vận và biết nắm thời cơ tiến hành, nên các đon vị chủ lực của ta đã áp sát địch, triển khai đội hình tấn công mà vẫn giữ được bí mật. Ta vừa đánh vừa kêu gọi binh lính địch đầu hàng, tiêu biểu như trận chiến đấu tấn công vào Phân khu Nghĩa Lộ và một số nơi khác.


Đánh giá về kết quả đạt được của công tác dân vận, địch vận, trong Báo cáo của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chiến dịch Tây Bắc đã chỉ rõ: "Chính sách dân tộc thiếu số đúng của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch đã làm cơ sở cho công tác chính trị của ta được thắng lợi đối với nhân dân địa phương, đã huy động được họ ủng hộ bộ đội và làm tan rã ảnh hưởng của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 14, Nxb Chính trị quốc gia. H 2001. tr. 4).


Bài học kinh nghiệm về công tác dân vận, địch vận trong chiến dịch Tây Bắc, sau này đã được Đáng, Nhà nước, Quân đội kế thừa và phát triển sáng tạo trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc cách đây 60 năm, nhưng những bài học kinh nghiệm về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị. Nắm vững những bài học đó, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển trong xây đựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Quản ủy Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chủ động, kịp thời ra chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong học tập, công tác và trong thực hiện nghiêm túc, triệt để; bảo đảm cho công tác đảng, công tác chính trị thực sự giữ vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.


Thứ hai, thường xuyên đẩy mạnh và không ngừng đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần yêu nước, bản chất, truyền thống anh hùng của quân đội; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần "quyết tâm", "thống nhất" cao, lối sống trong sạch lành mạnh, phương pháp, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật của người quân nhân cách mạng, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" cho mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.


Thứ ba, trên cơ sở quán triệt sâu sắc nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; thường xuyên chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp, các tổ chửc quần chúng trong cơ quan, đơn vị và toàn quân vững mạnh về mọi mặt. Đây chính là nhân tố quyết định bảo đảm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, lao động sản xuất và công tác được giao.


Thứ tư, trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta; những tác động mặt trái của kinh tế thị trường... đòi hỏi toàn quân phải nêu cao cảnh giác cách mạng, phân biệt rõ đối tượng, đối tác; nhạy bén, sắc sảo trong phân tích đánh giá và xử lý kịp thời các tình huống; tích cực chủ động và làm tốt công tác dân vận, xây dựng quan hệ quân dân cá nước; giữ gìn đoàn kết nội bộ; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ... Đó chính là những việc làm thiết thực nhất góp phần tôn vinh và làm tỏa sáng những thắng lợi của quân và dân ta đã giành được trong chiến dịch Tây Bắc nói riêng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nói chung.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:05:36 am
QUÂN VÀ DÂN KHU TÂY BẮC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng DƯƠNG ĐỨC HOÀ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu 2


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên một giai đoạn mới. Chiến thắng Tây Bắc đã trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Quân và dân Khu Tây Bắc, địa bàn diễn ra chiến dịch rất tự hào vì đã có những đóng góp không nhỏ sức người, sức của trực tiếp chi viện cho chiến trường, làm nên chiến thắng.


Nằm ở phía Tây Bắc Bộ, có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc và Lào, có rừng núi bao la hùng vĩ, tài nguyên phong phú, nơi tụ cư của 34 dân tộc anh em, Tây Bắc luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tây Bắc trở thành chiến trường chính trong cuộc quyết đấu giữa thực dân Pháp, sự can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt từ khi có Đảng tiền phong lãnh đạo, truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Khu Tây Bắc luôn được giữ vững và ngày càng phát huy mạnh mẽ.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân còn trong trứng nước đã phải đương đầu với thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Tây Bắc là địa bàn mà thực dân Pháp đặt chán lên rất sớm. Tại đây, chúng lập ra "Xứ Thái tự trị", đồng thời tổ chức ra "Khu quân sự độc lập Tây Bắc", thực hiện âm mưu thâm độc "chia để trị"; "dùng người Việt, đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông năm 1950), địch ra sức củng cố, phát triển vùng chiến lược quan trọng này, nhằm khống chế, uy hiếp bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc giữa căn cứ Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, che chở cho Thượng Lào.


Quân địch ở Tây Bắc được tổ chức thành khu quân sự độc lập Tây Bắc, gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn ngụy Thái và 3 tiểu đoàn cơ động người Phi. Ngoài ra có 40 đại đội ngụy Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng. Địch bố trí thành bốn phân khu gồm: Phân khu Nghĩa Lộ; Phân khu Sông Đà; Phân khu Sơn La; Phân khu Lai Châu và các tiểu khu Tuần Giáo, Thuận Châu, Phù Yên; chia quân đóng ở 400 cứ điểm, phần lớn cấp trung đội, có 40 cứ điểm cấp đại đội. Riêng ở Nghĩa Lộ, Mộc Châu, mỗi nơi có một tiểu đoàn.


Về phía ta, từ sau chiến dịch Hòa Bình, trong khi các đơn vị trong toàn quân bước vào chỉnh đốn Đảng, chỉnh quân sối nổi, rầm rộ, thì Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông năm 1952, phương hướng tiến công chính là Tây Bắc Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương trên, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch với quyết tâm tiêu diệt dịch, giải phóng Tây Bắc. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh quán triệt, giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia giải phóng Tây Bắc. Theo kế hoạch tác chiến, lực lượng vũ trang Tây Bắc tham gia chiến dịch gồm 10 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và lực lượng du kích được huy động mức cao nhất, phối hợp với các đại đoàn 308, 312, 316, Trung đoàn pháo binh 151 (Đại đoàn 351). Lực lượng dân công phục vụ chiến dịch được Trung ương Đảng và Chính phủ huy động ở tất cả các tỉnh.


Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, cuối tháng 9 năm 1952, Bộ Tư lệnh Khu Tảy Bấc mở Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn Khu để phổ biên mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch giải phóng Tây Bắc, học tập các chỉ thị của Trung ương về thi hành chính sách dân tộc thiểu số, công tác dân vận, học Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đồng thời triển khai cho nhân dân và các lực lượng vũ trang toàn Khu chuẩn bị mọi khả năng phục vụ và tham gia chiến dịch. Qua học tập quán triệt, đội ngũ cán bộ chủ chốt của Khu Tây Bắc đã nắm vững mục đích của chiến dịch là: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc; thống nhất nhận thức: Tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính yếu, vì có tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện cho các cơ sở cách mạng trong dân hoạt động, thúc đẩy kháng chiến thành công.


Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sau gần 2 tháng tiến hành chiến dịch, quân và dân ta đã tiêu diệt 1.050 tên địch, bắt 5.024 tên (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ), phá hủy và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng Tây Bắc của Tổ quốc; là mốc lịch sử trên con đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến; thắng lợi này biểu hiện sự trưởng thành về nhiều mặt của lực lượng vũ trang. Đây cũng là thắng lợi của tinh thần hết lòng, hết sức vì tiền tuyến, với tinh thần hy sinh phục vụ của nhân dân các dân tộc Tây Bắc.


Để góp phần phục vụ chiến dịch, theo sự chỉ đạo của Khu ủy, các tinh Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang huy động nhân lực, vật lực trực tiếp phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Các tỉnh Sơn La, Lai Châu cùng với các tỉnh Liên khu 3, Liên khu 4 phục vụ hướng đường 41 Sơn La. Nhận thức sâu sắc mục đích, ý nghĩa của chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã nô nức tình ngụyện đi phục vụ chiến dịch, góp phần giải phóng quê hương. Mọi gia đình tự ngụyện ủng hộ thóc gạo, lợn gà, trâu bò, ngựa thồ, cử người thân đăng ký xung phong được tham gia chiến dịch. Chỉ trong 3 tháng, các tỉnh đã huy động được 35.000 lượt dân công làm nhiệm vụ mở đường, bắc cầu phục vụ bộ đội hành quân tiến vào Tây Bắc. Các đơn vị dân công đã xây dựng 4 khu kho trên hai hướng, làm nhiều trạm cứu thương dã chiến, làm mới hàng nghìn cáng thương, vận chuyển được 50.000 tấn hàng từ hậu phương ra tiền tuyến dưới làn bom đạn ác liệt của địch, vượt qua gian nan vất vả của rừng núi hiểm trở.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:10:22 am
Tỉnh ủy Phú Thọ, Yên Bái đã huy động được hơn 430 thuyền nan, trong 3 ngày đêm đã chở 30.000 lượt bộ đội, dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông Thao an toàn. Con đường từ Cổ Phúc đến Sài Lương, qua Mậu A, Khâu Vác, Nậm Mười phải qua nhiều suối sâu, đèo cao, bộ đội và dân công phải huy động cả xe trâu, xe bò của dân trong vùng, kết hợp với xe đạp thồ, gồng gánh, mang vác để chuyển hàng vào được vị trí tập kết. Suốt dọc đường, trong đêm tối, trong cơn mưa lũ, giá rét, gánh nặng, đường trơn, nhưng mọi người đều hăng hái, không ai để hàng bị ướt; có lúc qua núi đá sắc nhọn, chân đau, mỏi, nhưng giữa núi rừng Tây Bắc hàng vạn bộ đội, dân công ra trận, khắc sâu lời cản dặn của Bác Hồ: "Chiến dịch này rất quan trọng, các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng bộ đội giành cho được thắng lợi. Tất cả các cô các chú đều phải quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội. Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, bảo đảm việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội, cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch".


Thấm nhuần lời căn dặn của Bác, mặc dù tình hình đời sống nhân dân Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, phải huy động một khối lượng sức người, sức của lớn, nhiều nơi giáp hạt, thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa đánh giặc hảo vệ hậu phương, vừa tham gia phục vụ tiền tuyến.


Nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La đã đóng góp một phần không nhỏ xương máu và vật chất cho chiến dịch toàn thắng, ở khắp nơi, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tham gia thu dọn chiến trường; đồng thời đã huy động đóng góp 1.421.220 ngày công, cung cấp hơn 694 tấn gạo, 88 tấn ngô, 48.321kg thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên kho mặt trận tiền phương.


Quân và dân Phú Thọ đã thể hiện tinh thần hết lòng phục vụ tiền tuyến, vừa trực tiếp chiến đấu tại chỗ để bảo vệ hậu phương, vừa trực tiếp chi viện cho chiến trường, đã huy động 134.190 người, đóng góp 3.333.576 ngày công, cung cấp và vận chuyển 2.446 tấn gạo, 40 tấn muối, hơn 300 thuyền nan, 275 con trâu, bò, hàng trăm con lợn phục vụ cho chiến dịch, tu sửa 200km đường giao thông, đảm bảo cho bộ đội hành quân thuận lợi.


Với Lai Châu, tuy các cơ sở mới được phục hồi, nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhân dân trong tỉnh đã cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 93 tạ ngô, 5.984kg thịt và 56 con trâu, bò, lợn, 100 con ngựa để vận chuyển hàng hóa; huy động 2.243 người đi dân công phục vụ chiến dịch.


Mặc đù đang tiến hành chiến dịch tiễu phỉ, nhưng tỉnh Yên Bái đã huy động nhân dân tham gia đóng góp được 739 tấn thóc, 16.000 ngày công phục vụ chiến dịch; riêng nhân dân Nghĩa Lộ, nơi xảy ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch cũng tự ngụyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn để nuôi quân.


Tính chung, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác, cùng với 150.000 ngày công đóng góp cho chiến dịch. Sự đóng góp của quân và dân Khu Tây Bắc đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta cho chiến dịch là đúng đắn. Những cử chỉ và tấm lòng nhân hậu, bao dung của đồng bào dân tộc Tây Bắc đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần chiến đấu cho bộ đội ra trận, làm nên chiến thắng Tây Bắc.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, bình định lâu dài và thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp lập nên "Xứ Thái tự trị", giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân khỏi ách kìm kẹp của quân thù. Thắng lợi đó đã tạo nên hình thái chiến trường có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, hiệp đồng binh chủng cao hơn trôn chiến trường rừng núi, xa hậu phương; đặc biệt bộ đội chủ lực của ta dần làm quen với cách đánh hệ thống cứ điểm mạnh. Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự chỉ đạo nghệ thuật quân sự đúng đắn, chính xác và sáng tạo của Đảng ta về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về chọn chiến trường thích hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, các lực lượng vũ trang. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức một chiến dịch chính quy ở một chiến trường xa, khó tiếp tế, vận chuyển. Đối với quân và dân Tây Bắc, thắng lợi đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý, đó là:

- Coi trọng công tác tuyên truyền vận động quần chúng các dân tộc. thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, có như vậy mới củng cố được lòng tin của nhân dân các dân tộc vào Đáng, vào kháng chiến và kiến quốc.


- Chăm lo xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, xây dựng được lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân, để tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù. Thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, Khu ủy Tây Bắc và các cấp ủy địa phương đã nắm vững quan điểm quần chúng, động viên, tổ chức lãnh đạo các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong Khu đứng lên đánh giặc. Không ngừng củng cố, xây dựng mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân trên nền liên minh công nông; vận động, tuyên truyền giác ngộ và xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, biến toàn Khu thành một mặt trận, mỗi bản làng là một trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ.


- Thường xuyên xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu, tinh thần khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ý thức tự lực, tự cường cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, trên cơ sở đó nâng cao bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu đánh thắng mọi âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù. Có được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, song muốn chiến thắng kẻ thù, chúng ta phải có lực lượng vũ trang mạnh, vì lực lượng vũ trang là nòng cốt trong thế trận toàn dân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, lực lượng vũ trang Tây Bắc ngày một lớn mạnh, trưởng thành, đã góp phần to lớn trong nhiệm vụ chiến đấu và phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực của Bộ, giải phóng và bảo vệ vững chắc quê hương.


Đối với quân dân Khu Tây Bắc, thắng lợi của chiến dịch là niềm tự hào và nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao trong những chặng đường cách mạng tiếp theo. Phát huy truyền thống chiến thắng Tây Bắc, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Bắc đã làm tròn trách nhiệm trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với tinh thần đó, cùng với đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 2 tập trung xây dựng Đảng bộ Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng hậu phương vững mạnh; nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ, tập trung xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp, đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, xây dựng Tây Bắc trở thành một vùng kinh tế giàu đẹp, quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:35:38 pm
CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng NGUYỄN CHÂU THANH
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật


Đầu năm 1952, cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã bước sang năm thứ 7. Chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhất là thắng lợi của chiến địch Biên Giới và chiến dịch Hoà Bình, thế và lực của ta trên chiến trường không ngừng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực sau khi thành lập được củng cố và phát triển, lực lượng quân sự của ta chiếm ưu thế, chúng ta chuyển từ phân công sang tiến công chiến lược trên các chiến trường. Nhưng với bản chất hiếu chiến của kẻ xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Chúng thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định vùng tạm chiếm, mở nhiều cuộc càn quét lớn; tăng cường bắt lính để phát triển ngụy quân; lập "vành đai trắng" và xây dựng nhiều phòng tuyến đồn bốt, v.v. Tuy nhiên, trước sức tiến công quyết liệt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, chúng không cải thiện được tình hình mà càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Tháng 4 năm 1952, Hội nghị Trung ương 3 (khoá II) xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện tại là tiêu diệt sinh lực địch, phát động Chiến tranh du kích, phá chính sách lấy chiến tranh nuôi Chiến tranh của địch, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến... Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, phá âm mưu lập "Xứ Thái", "Xứ Mường" và "Xứ Nùng" tự trị của địch.


Quyết định mở chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị là chủ trương đúng đắn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Trong đó, tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đặc biệt, công tác bảo đảm và sự phối hợp hiệp đồng tác chiến của các lực lượng vũ trang, cùng với đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi có tầm vóc lịch sử. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến dịch Tây Bắc có giá trị rất quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tại Hội thảo khoa học này, tôi xin phép cùng các đồng chí điểm lại một số sự kiện nổi bật của "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952". Thể hiện trên 3 vấn đề:

1. Chuẩn bị kỹ thuật cho chiến dịch

Sau khi phê duyệt kế hoạch tác chiến chiến dịch tiến công Tây Bắc, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các đồng chí cán bộ chủ chốt của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh: đồng chí Võ Nguyên Giáp Tổng Tư lệnh làm Tư lệnh chiến dịch; Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch va đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Các cơ quan: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp tổ chức bộ phận tiền phương để hình thành cơ quan chiến dịch.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch Tây Bắc có khoảng 3 đại đoàn: Đại đoàn 308 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 312 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 316 có 2 trung đoàn Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, 6 đại đội sơn pháo với 24 khẩu 75mm, 3 đại đội cối 120mm với 12 khẩu, Trung đoàn 151 công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy cao xạ 12,7mm, cùng với 10 đại đội bộ đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La và Lào Cai. Tổng quân số tham gia tác chiến khoảng 35.000 người.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 là chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch cao hơn nhiều so với các chiến dịch trưởc. Theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, các drtn vị thuộc ngành kỹ thuật của Tổng cục Cung cấp phải huy động hàng trăm nghìn lượt dân công cùng với bộ đội công binh sửa chữa và mở đường để cơ động lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật và vận tải vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật phải bảo đảm cho chiến dịch khoảng 127 tấn, lượng vật chất hậu cần bảo đảm cho chiến dịch hàng chục nghìn tấn. Ngoài ra còn các phương tiện khác như xe thồ, ca nô, tàu thuyền, cầu phà, v.v. Trong khi đó, bộ đội ta tác chiến trong điều kiện chiến trường rừng núi, xa cơ sở bảo đảm kỹ thuật; vận chuyển và cơ động lực lượng cũng như binh khí kỹ thuật trên chặng đường dài, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và suối sâu, vực thăm... Đây là những khó khăn và thách thức rất lớn đối với ngành kỹ thuật. Những yếu tố trên đòi hỏi ngành kỹ thuật phải nghiên cứu kỹ chiến trường, chủ động, tích cực và khẩn trương chuẩn bị kỹ thuật phục vụ chiến dịch.


Từ đầu năm 1952, các đại đoàn 308, 312, 316 và Đại đoàn công pháo 351, cùng các đơn vị công binh, phòng không, thông tin, vận tải, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã được bổ sung vũ khí trang bị kỹ thuật. Trong đó, các đơn vị chủ lực được bổ sung và trang bị vũ khí đạn từ nguồn viện trợ khoảng 1.018 tấn. Để bảo đảm kỹ thuật vũ khí đạn cho chiến dịch, Cục Quân khí tổ chức đội ngũ quân khí viên từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn. Chỉ đạo các Ban Quân khí ở các đại đoàn chia làm hai bộ phận: Bộ phận nhẹ, cơ động cùng các trung đoàn vào vùng địch hậu để sửa chữa nhẹ vũ khí đạn trong hành quân cơ động và chiến đấu. Bộ phận nặng, bố trí ở vùng giáp ranh để sửa chữa vũ khí đạn sau khi tập kết và sau mỗi đợt chiến dịch.


Tại Hôi nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc (9-9-1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...", về bảo đảm vũ khí trang bị và lương thực cho bộ đội, Bác căn dặn "Lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng, lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp. Lương thực và vũ khí trang bị là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Công tác bảo đảm vũ khí trang bi kỹ thuật trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Biên niên sự kiện lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, H. tr. 172). Thấm nhuần lời dạy của Bác, tổ chức bảo đảm cho chiến dịch với yêu cầu khẩn trương bí mật bất ngờ, công tác bảo đảm kỹ thuật không thể bố trí các kho ở khu vực tập kết mà phải bố trí ở tả ngạn sông Hồng. Khi bộ đội vượt sông cơ động vào khu vực tập kết, lực lượng kỹ thuật khẩn trương tổ chức tuyến, rải trạm để vận chuyển hàng theo các hướng tiến công. Với quyết tâm vượt mọi khó khăn trở ngại, đầu tháng 8 năm 1952, Cục Quân khí đã chuẩn bị đủ 127 tấn vũ khí đạn cho chiến dịch. Tập kết chân hàng tại kho Mậu A (28 tấn), kho Yên Bái (58 tấn), kho Thu Cúc (41 tấn) để vận chuyển phục vụ cho hướng chủ yếu (Nghĩa Lộ). Ngoài ra, còn bố trí một kho ở Thạch Kiệt phục vụ hướng Nha Phù, một kho dự trữ ở Đoan Hùng để bổ sung cho chiến dịch. Ngành kỹ thuật còn được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cán bộ và nhân viên để tổ chức bảo đảm kỹ thuật.


Thực hiện phương châm bảo đảm: "Tích cực vận chuyển từ hậu phương lên, tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", Tổng cục Cung cấp phân công và chỉ đạo hiệp đồng bảo đảm giữa các ngành, các địa phương và các sở của những tỉnh có liên quan. Sau khi Tiền phương Cung cấp chiến dịch thành lập, công tác bảo đảm được chỉ đạo tích cực, việc bảo đảm được phân theo 2 hướng. Hướng từ Việt Bắc lên, bảo đảm chủ yếu cho đợt 1; lấy Yên Bái, Phú Thọ làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập 4 khu kho phục vụ các mũi tiến công1 (Khu Mậu A đảm bảo cho tuyến chính, theo đường Khâu Vác - Nậm Mười tiến vào Nghĩa Lộ, Gia Hội; Khu Cổ Phúc đảm bảo hướng Sài Lương, Khu Văn Phu theo đường Âu Lâu - Đèo Bụt vào Ba Khe - Cửa Nhì, sau khi nổ súng sẽ dung ô tô chở vào theo đường số 13; Khu Thu Cúc - Thạch Kiệt đảm bảo cho mũi Nha Phù - Bão Mo (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952) - Viện LSQSVN, xuất bản 1992. Sđd. tr. 22, 23)). Hướng Liên khu 3, Liên khu 4 đảm bảo cho chiến dịch phát triển vào Sơn La; lấy Suối Rút làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập khu kho, trạm phục vụ bộ đội tác chiến trên hành lang đường số 41. Phương tiện vận chuyển ở cả 2 hướng chủ yếu là mang vác kết hợp với xe thồ, thuyền nan, xe trâu, v.v. Ngoài ra, có 68 xe ô tô vận tải, nhưng phần lớn chạy bằng động cơ hơi nước nên khả năng vận chuyển hạn chế.


Từ ngày 20 tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1952, các đơn vị bí mật cơ động vào vị trí tập kết ở Mậu A, Âu Lau, Nước Nóng, Lan Đình. Để bảo đảm cho lực lượng lớn bộ đội và binh khi kỹ thuật quạ sông nhanh gọn, an toàn, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Ban chỉ huy vượt sông, mỗi bến đều có ban chỉ huy riêng. Mặc dù lực lượng và binh khí kỹ thuật rất lớn, trong khi các phương tiện vượt sông còn ít và thô sơ, khả năng bảo đảm của công binh rât hạn chế... Nhưng nhờ chỉ huy và chỉ đạo chặt chẽ, lực lượng kỹ thuật, nhất là bộ đội công binh và dân công đã khắc phục mọi khó khăn bằng nhiều biện pháp bảo đảm, từ cầu phao, xà lan, ca nô tàu thuyền đến bè mảng, v.v. bảo đảm cho các lực lượng vượt sông bí mật, an toàn theo dúng kế hoạch.


Công tác chuẩn bị kỹ thuật trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch gặp rất nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", ngành kỹ thuật đã phối hợp cùng các lực lượng tham gia chiến dịch nỗ lực bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật theo kế hoạch tác chiến. Ngoài ra, còn dự trữ được hàng trăm tấn vũ khí trang bị để sẵn sàng bảo đảm cho phát triển tác chiến chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:36:39 pm
2. Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, tiến hành trong 3 đợt:

Đợt 1 từ 14 đến 23 tháng 10: Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch của Bộ Tổng tư lệnh lấy Phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cơ động một bộ phận chủ lực thâm nhập vào Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phường kiềm chế địch, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà. Đêm 14 tháng 10, các đơn vị nổ súng tiến công: Lực lượng kỹ thuật của các ngành quân khí, công binh, thông tin, pháo binh cơ động và bảo đảm cho Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 và Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 tiến công giải phóng Ca Vịnh, Sài Lương mở thông đường 13 vào Nghĩa Lộ. Cùng lúc, lực lượng kỹ thuật bảo đảm cho Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 (thiếu) bí mật luồn sâu để tiến công Nghĩa Lộ, Pú Chạng, mật phục đánh viện ở Gia Hội, phục kích địch ở Nậm Mười... thực hiện trong ngoài cùng đánh, buộc địch phải rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ về co cụm ở hữu ngạn sông Đà.


Ở hướng thứ yếu, lực lượng kỹ thuật cơ động bảo đảm cho bộ đội tiến công tiêu diệt địch ở Gia Phù, Bản Mo và Quỳnh Nhai, Nậm Sỏ. Như vậy từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 10, những trận then chốt mở màn chiến dịch giành thắng lợi, làm cho địch choáng váng, tạo thế cho ta phát triển tiến công. Đêm 19 tháng 10, các đơn vị đồng loạt nổ súng, lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh, pháo binh bám đội hình tiến công ở các mũi, các hướng để sửa chữa, khắc phục hỏng hóc của vũ khí trang bị. Trong các ngày 20, 21, 22 và 23 tháng 10, các đơn vị liên tục tiến công, truy kích địch, đánh chiếm và bức rút nhiều đồn bốt, buộc địch phải tháo chạy về khu vực hữu ngạn sông Đà.


Vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật bảo đảm cho tác chiến lúc này chủ yếu theo đường 13, lực lượng kỹ thuật các ngành xe máy, công binh, quân khí bảo đảm kỹ thuật cho ô tô, cầu phà, vũ khí đạn dược, cùng với dân công lập cung, rải trạm vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật từ khu kho Mậu A qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười, từ khu kho Cổ Phúc vào Sài Lương và từ khu kho Âu Lâu vào Ca Vịnh. Ở hướng Phú Thọ, lực lượng kỹ thuật cùng dân công vận chuyển vũ khí đạn dược theo cung, trạm vào Thu Cúc và Thạch Kiệt bảo đảm cho Trung đoàn 98 Đại đoàn 316 tiến công Gia Phù, Bản Mo. Việc vận chuyển vũ khí đạn dược theo bộ đội ra mặt trận được thực hiện tốt ở Âu Lâu vào Ca Vịnh, ở Phú Thọ vào Thu Cúc và Thạch Kiệt, nhưng ở phía Bắc gặp nhiều khó khăn, nhất là hướng chủ yếu từ hữu ngạn sông Hồng qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch kịp thời chỉ đạo sửa chữa đường 13. Lực lượng kỹ thuật sửa chữa đường 13 có 6 đại đội công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy 12,7mm, cùng hơn 4.000 dân công. Lực lượng kỹ thuật và dân công làm việc không kể ngày đêm, vượt qua mưa lũ, bom đạn để bảo đảm thông đường phục vụ vận chuyển.


Sau 10 ngày đêm chiến đấu, đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt đại bộ phận địch ở Phân khu Nghĩa Lộ. Tiêu khu Phù Yên và Tiểu khu Than Uyên. Ta diệt 500 tên, bắt trên 1.000 tên, trong đó có 300 lính Âu - Phi; thu 1.400 súng trường và tiểu liên, 75 trung liên, 22 trọng liên và đại liên, 34 súng cối, 3 khẩu ĐKZ, 2 pháo 105mm, 14 máy vô tuyến điện và nhiều trang thiết bị quân sự khác; giải phóng một vùng đất đai quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai... Trong đợt 1, chiến dịch phát triển nhanh, công tác bảo đảm kỹ thuật được tiến hành trực tiếp tại trận địa, ở các hướng, các mũi, nhất là hướng chủ yếu, mũi đột kích; vũ khí trang bị kỹ thuật được bổ sung đầy đủ để bộ đội phát triển tiến công.


Đớt 2, từ ngày 7 đến 22 tháng 11: Sau đợt 1, ta chưa thể chuyển ngay sang đợt 2 như dự kiến, do chưa chuẩn bị đủ vật chất hậu cần theo kế hoạch. Mặt khác, ta chưa nắm chắc địch ở hữu ngạn sông Đà, cần thời gian để nắm địch và chấn chỉnh bộ đội, rút kinh nghiệm chiến đấu và vận chuyển vật chất cho chiến dịch.


Trước nguy cơ mất địa bàn chiến lược Tây Bắc, địch vội vã đổ quân tăng viện, ráo riết củng cố tuyến phòng thủ mới ở Tây Bắc trên hai mặt trận: Phân khu Lai Châu và Phân khu Sơn La1 (Từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11, địch đã điều 5 tiểu đoàn từ đồng bằng lên và 1 tiểu đoàn từ Lào sang. Binh lực địch bố trí ở Phân khu Lai Châu (Tiểu khu độc lập Tuần Giáo, Tiểu khu Thuận Châu) 7 tiểu đoàn và 14 đại đội, trong đó tập trung ở Lai Châu 5 tiểu đoàn và 14 đại đội; Phân khu Sơn La có 6 tiểu đoàn và 13 đại đội). Đồng thời, chúng huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân "Loren" đánh lên Phú Thọ, nhằm uy hiếp hậu phương của ta. Cuộc hành quân này ta đã dự kiến nên đã có kế hoạch đối phó, buộc dịch phái rút lui. Thực hiện kế hoạch tác chiến, trên hướng chủ yếu, ta sử dụng 3 đại đoàn: 308, 312 và 316 mỗi đại đoàn có 2 trung đoàn và Đại đoàn công pháo 351, vượt sông Đà, đánh địch trên trục đường 41, đập tan khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La. Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu: Hướng chủ yếu phải tích cực tiêu diệt dịch, đánh chắc tiến chắc, vây chặt diệt gọn, truy kích đến cùng. Hướng phối hợp đánh nhỏ ăn chắc, đánh du kích diệt từng bộ phận, không chắc không đánh, cơ động linh hoạt, không bỏ lỡ thời cơ khi địch rút chạy. Các hướng giữ gìn lực lượng để tác chiến đến hết chiến dịch.


Quán triệt yêu cầu trên, Cục Quân khí chỉ đạo các ban quân khí tổ chức vận chuyển, cấp bổ sung vũ khí đạn cho các đơn vị chiến đấu ở Phú Thọ, Yên Bái và hữu ngạn sông Hồng; cơ động bảo đảm vũ khí đạn dược cho bộ đội tiến công đánh sâu vào tung thâm. Tổ chức lực lượng đến các đơn vị sửa chữa số vũ khí hỏng hóc; thu hồi và sửa chữa số vũ khí đạn dược thu được của địch bổ sung cho đơn vị. Khi bộ đội tiến công địch trên đường 41, các ngành công binh, thông tin, pháo binh cơ động và trực tiếp bảo đảm kỹ thuật tại trận địa. Việc vận chuyển vũ khí trang bị cho tác chiến lúc này gặp nhiều khó khăn, do đường dài và địch đánh phá ác liệt. Để khắc phục, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo sửa và mở rộng đường 41 từ Suối Rút lên Xồm Lồm (64km) tới Cò Nòi (87km), để sử dụng ô tô và kết hợp với nhân dân địa phương tổ chức vận chuyển. Trung đoàn công binh 151 mở đường từ Ba Khe qua đèo Lũng Lô đến Tạ Khoa; Đại đội công binh 250 bắc cầu phao từ bến Vạn Yên sang Tạ Khoa, phối hợp với công binh các đại đoàn 308, 312 và 316 bảo đảm kỹ thuật. Đội 83 công binh (Trung đoàn 151) phá gỡ nhiều mìn, bom nổ chậm như bom cam, bom bươm bướm trên dường 13, bảo đảm cho xe ô tô vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần ra mặt trận.


Ngày 17 tháng 11, các đơn vị tiến công địch trên đường 41; các cứ điểm Ba Lay, Bản Hoa, Mường Lụm và Mộc Châu của địch bị tiêu diệt. Lực lượng còn lại của chúng rút chạy về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Ngày 23 tháng 11, đợt 2 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta diệt và bắt trên 3.000 tên, trong đó có 3 tiểu đoàn bị diệt gọn, 2 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, thu nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, giải quyết được một phần khó khăn về bảo đảm kỹ thuật.


Đợt 3, từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12: Sau khi đợt 2 giành thắng lợi. Bộ chỉ huy chiến dịch rút kinh nghiệm và giao nhiệm vụ tiến công đợt 3 để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 30 tháng 11 và ngày 1 tháng 12, ta nổ súng tiến công các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Nà Si, Bản Vây, nhưng phòng giữ không tốt, địch phản công chiếm lại Pú Hồng, chưa nắm chắc địch nên hai trận Nà Si và Bản Vây ta thương vong tổn thất lớn. Trước tình hình đó. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến ở đợt 3 cơ bản như đợt 2. Lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, thông tin, công binh, pháo binh cơ động cùng bộ đội, trực tiếp bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị tại các hướng, các mũi tiến công; hướng dẫn bảo quản và sửa chữa tại chỗ, nhanh chóng thu hồi vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp bổ sung hoặc dự trữ chiến đấu.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:06 pm
3. Kết thúc chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc thắng lợi, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên; thu một lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật của địch, gồm: 3.002 súng trường, 500 súng tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81 mm, 11 khẩu pháo (có 2 khẩu 105mm), 89 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép, 100 tấn đạn, bắn rơi 6 máy bay... Mục tiêu có ý nghĩa quan trọng của chiến dịch ta đã đạt được là giải phóng một vùng rộng lớn đất đai (28.500km2) và 250.000 nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tranh thủ dân và mở rộng căn cứ địa kháng chiến, nối liền Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, mở rộng hành lang sang Bắc Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây, với Khu 3 và Khu 4. Đập tan âm mưu lập và củng cố "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị và chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Kết thúc chiến dịch, các ngành kỹ thuật nhanh chóng thu hồi, dồn dịch vũ khí trang bị thu được của địch và của ta trên chiến trường để cấp phát bổ sung cho bộ đội; bí mật, khẩn trương tổ chức bảo đảm và bố trí đủ lực lượng kỹ thuật cho các đơn vị ở lại làm nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch ở Nà Sản và Sơn La. Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn cơ động bảo đảm cho bộ đội rút quân bí mật, an toàn về Thanh Hoá, Điện Biên và sang Bắc Lào. Trên đường rút quân, tiếp tục bảo đảm cho các đơn vị đánh địch để cổ vũ khí thế chiến thắng cho đồng bào các dân tộc; tiếp tục sửa chữa, sản xuất, xây dựng kho tàng, trạm xưởng, tiếp nhận vũ khí trang bị kỹ thuật do Liên Xô và Trung Quốc viện trợ để chuẩn bị cho những chiến dịch tiếp theo. Có thể nói thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là cuộc diễn tập tiến công chiến lược chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc oanh liệt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta.


Thực tiên "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952" để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với ngành kỹ thuật. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu là:

Một là: Ngành kỹ thuật đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng, nắm vững đặc điểm tình hình chiến trường, chủ động bảo đảm kỹ thuật theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật (thuộc Tổng cục Cung cấp) đã quán triệt sâu sắc quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính trong đường lối kháng chiến kiến quốc của Đang. Cán bộ, nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành quân khí, xe máy, công binh, thông tin, pháo binh đã khắc phục mọi khó khăn ở các khu căn cứ kháng chiến, đề cao trách nhiệm tự lực tự cường, chủ động sáng tạo trong sản xuất và sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật ở hậu phương cũng như ngoài mặt trận. Kịp thời phối hợp với các ngành, các cấp, các địa phương, các sở và Ủy ban hành chính - kháng chiến các tỉnh có liên quan; phân công cán bộ trực tiếp tổ chức chuẩn bị kỹ thuật. Lực lượng kỹ thuật tham gia chiến dịch đã nêu cao tinh thần hy sinh quả cảm, đến tận các đại đội, tiểu đoàn để sửa chữa vũ khí trang bị, vượt qua mưa lũ, bom đạn của địch để sửa chữa và mở đường phục vụ chiến dịch. Trong lúc phương tiện cơ giới còn vô cùng thiếu thốn, nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật đã cùng với dân công trực tiếp gùi, gánh, thồ, vác vũ khí đạn dược tiếp tế mật trận.


Khi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã quán triệt, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm chiến trường Tây Bắc. Đặc điểm nổi bật trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch là: Phải khắc phục địa hình có nhiều đèo núi cao, vực sâu, rừng rậm, ít đường giao thông, nhiều sông suối, dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn... nên cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn. Trong chiến dịch này, hậu phương chiến dịch, các cơ sở kỹ thuật và các khu kho vũ khí trang bị kỹ thuật đều ở xa mặt trận, không thể tổ chức khu kỹ thuật tại địa điểm tập kết. Ngành kỹ thuật đã khắc phục khá tốt những khó khăn trên, cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí đã nỗ lực bảo đảm đủ 127 tấn vũ khí đạn dược theo kế hoạch tác chiến trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch; tiếp tục bảo đảm hàng trăm tấn vũ khí đạn dược cho đợt 2 và dợt 3 chiến dịch. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật công binh đã vượt mưa lũ, bom đạn để sửa chữa và mở đường, rà phá hàng nghìn bom, mìn của địch trên đường 13, bảo đảm an toàn cho dân công và ô tô vận chuyển phục vụ đợt 2 và đợt 3 chiến dịch. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành đã anh dũng hy sinh tại mặt trận.


Tuy đầu năm 1952, các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh và pháo binh đã nhận được viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô một số loại vũ khí trang bị kỹ thuật. Nhưng so với nhu cầu trang bị của quân đội và yêu cầu tác chiến ở các chiến trường còn rất hạn chế. Vũ khí trang bị kỹ thuật của ta phần lớn là mang vác, chủ yếu là vũ khí lục quân hạng nhẹ đã lạc hậu, tính năng kỹ chiến thuật và uy lực hạn chế so với vũ khí trang bị kỹ thuật của địch. Xuất phát từ thực trạng trên, ngành kỹ thuật tập trung chỉ đạo xây dựng, phát triển trạm, xưởng để sản xuất và sửa chữa vũ khí, đồng thời tích cực sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp phát và dự trữ. Vì vậy, tiếp sau chiến dịch Hoà Bình là chiến dịch Tây Bắc, với quy mô chiến dịch ngày càng lớn, lực lượng đông, thời gian tác chiến dài... nhưng ngành kỹ thuật đã chủ động bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật cho chiến dịch.


Hai là: Khắc phục khó khăn của chiến trường rừng núi, tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật tập trung cho hướng chủ yếu, kịp thời xử lý tình huống để đáp ứng yêu cầu tác chiến chiến dịch.

Ngay sau khi kế hoạch tác chiến được xác định, lường trước những khó khăn trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch, các chuyên ngành đã chủ động chuẩn bị kỹ thuật ở hậu phương. Có kế hoạch sẵn sàng vận chuyển, cấp phát, bổ sung vũ khí trang bị sau khi bộ đội vượt sông Hồng cơ động vào khu tập kết. Vì vậy, khi các đơn vị vượt sông trên các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu, lực lượng kỹ thuật ở các trạm, các khu kho cùng dân công tận dụng mọi phường tiện vượt sông cùng bộ đội vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật. Khi bộ đội cơ động vào vị trí tập kết chiến đấu, ngành kỹ thuật cơ động lực lượng cùng các đơn vị vào triển khai tuyến, rải trạm để vận chuyển vũ khí đạn dược. Đợt 1, lực lượng kỹ thuật cơ động theo 4 tuyến, rải 3 đến 7 trạm vận tải tỏi khu trung tuyến. Đợt 2 và đợt 3, lực lượng kỹ thuật phải cơ động hơn 160 km trên đường 41 để tiếp tế và bảo đảm kỹ thuật cho bộ đội chiến đấu.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:45 pm
Cơ động lực lượng để bảo đảm kỹ thuật gắn với tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tập trung cho hướng chủ yếu, mũi đột kích là vàn đề có ý nghĩa về nghệ thuật quân sự của ngành kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc. Trong chiến dịch này, các chuyên ngành đã chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm và xử lý tình huống theo đúng tinh thần đó. Cục Quân khí cử đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật xuống các đại đội, tiểu đoàn chủ lực ở hướng chủ yếu như Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên trong đợt 1; các cứ điểm Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay, Mường Lụm trên trục đường 41 trong đợt 2; các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Bản Vây và Nà Si xung quanh tập đoàn cứ điểm Nà Sản trong đợt 3. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ bảo quản, sửa chữa tại chỗ những vũ khí trang bị hòng hóc; nhanh chóng thu hồi, sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị thu được của địch để bổ sung cho đơn vị. Lực lượng phòng không được Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo tổ chức các trận địa bảo vệ đường giao thông, bảo vệ các mục tiêu yếu địa như bến bãi, cầu phà, trọng điểm... bảo đảm an toàn cho bộ đội và dân công vượt sòng, vận chuyển vũ khí trang bị và vật chất hậu cần. Lực lượng công binh, ngoài nhiệm vụ hiệp đồng với các đơn vị trên hướng chủ yếu để bảo đảm kỹ thuật cho các trận then chốt, còn kịp thời làm cầu, phá gỡ bom mìn và cùng dân công sửa chữa, mở rộng đường bảo đảm cho xe ô tô và dân công vận chuyển. Lần đầu tiến công binh đã giải quyết được các vấn đề kỹ thuật, chiến thuật, khắc phục bom, mìn, bảo đảm giao thông trong chiến dịch.


Khi Bộ Tổng tư lệnh quyết định ngừng hoạt động quân sự, tập trung mọi lực lượng để vận chuyển. Thực hiện chỉ thị của Bộ chỉ huy chiến dịch, lực lượng kỹ thuật cùng với bộ đội và dân công kịp thời sửa chữa và mở rộng đường 13, mở thêm đường mới, trực tiếp gánh vác, gùi thồ hàng, góp phần giảm bớt khó khăn trong vận chuyển. Việc xử lý kịp thời tình huống trong tác chiến chiến dịch dược xem là khâu quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Ba là: Huy động khả năng bảo đảm kỹ thuật tại chỗ để giảm bớt khó khăn, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội.

Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã huy động cho chiến dịch hàng chục vạn dân công, với gần chục triệu ngày công. Lực lượng dân công của các địa phương đã vận chuyển gần một trăm tấn vũ khí đạn dược, hàng chục nghìn tấn vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đến lúc này chưa bao giờ ta huy động được một khối lượng lớn sức người, sức của như vậy. Đường vận tải tiếp tế từ các khu kho xa mặt trận, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và sông suối sâu, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện thô sơ, vận chuyển chủ yếu bằng sức người. Đây là một cố gắng phi thường, chứng tỏ lòng cảm thù giặc sâu sắc, là biểu hiện vô cùng cao đẹp về ý chí cách mạng và lòng yêu nước của quân và dân ta.


Thực hiện phương châm "... tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", khi đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch kết thúc thắng lợi, lực lượng kỹ thuật đã nhanh chóng thu hồi, sửa chữa số lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch đê cấp phát bổ sung cho các đơn vị. Gồm: 100 tấn đạn, hơn 3.000 súng trường, 500 súng tiểu liên, hơn 200 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81mm, 11 khẩu pháo (trong đó có 2 khẩu 105mm), gần 90 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép và nhiều trang thiết bị quân sự khác. Số vũ khí trang bị kỹ thuật này đã góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm kỹ thuật tại chỗ, giảm việc vận chuyển tiếp tế từ tuyến sau ra mặt trận, bớt được khó khăn cho bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch. Ngoài ra, trong điều kiện dân cư thưa thớt, kinh tế của đồng bào các dân tộc Tây Bắc còn rất nghèo nàn, lại trải qua gần một trăm năm bị địch chiếm đóng, vơ vét cướp phá. Với hàng nghìn tấn gạo, gần một trăm tấn thịt và các loại thực phẩm khác, cùng gần hai trăm nghìn ngày công giúp lực lượng kỹ thuật mà đồng bào các dân tộc Tây Bắc chắt chiu phục vụ chiến dịch, có ý nghĩa to lớn và vô cùng sâu sắc đối với ngành kỹ thuật; nói lên khát vọng độc lập tự do của đồng bào các dân tộc. Khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, cũng như chủ trương huy động sức người, sức của tại chỗ cho chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Một tấn vật chất kỹ thuật huy động tại Tây Bắc có giá trị bằng hàng chục tấn vận chuyển từ Khu 3, Khu 4 lên. Nhưng giá trị to lớn hơn và ý nghĩa to lớn hơn, đó là một trong những yếu tố góp phần tiết kiệm nguồn vật chất kỹ thuật, tiết kiệm công sức, mồ hôi và xương máu của đồng bào, đồng chí trên đường vận chuyển tiếp tế; là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội trong chiến dịch.


Tuy nhiên, công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch còn những thiếu sót phải rút kinh nghiệm: Một số đơn vị, lực lượng kỹ thuật chưa nắm chắc thực lực trang bị, nhất là vũ khí đạn dược nên phải bổ sung nhiều lần; có những trường hợp đạn và lựu đạn hỏng, liều phóng đạn cối ẩm, đuôi đạn cong vênh nhưng đề nghị cấp đổi chậm nên bảo đảm kỹ thuật quân khí gặp khó khăn. Khi địch hành quân lên Phú Thọ, Cục Quân khí thông báo chậm, kho Tiểu đoàn 5 ở Đoan Hùng không kịp sơ tán, bị tổn thất gần 100 tấn đạn dược. Vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần phục vụ hướng chủ yếu trong đợt 2 chiến dịch, do tư tưởng chủ quan, cán bộ thiếu kiểm tra đôn đốc, nên không đủ khối lượng quy định, làm chậm sự phát triển tiến công chiến dịch. Khó tránh khỏi thiếu sót khuyết điểm trong chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến chiến dịch, nhưng nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục để chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tốt hơn, hiệu quả hơn, giành thắng lợi lớn hơn cho những chiến dịch tiếp theo. Đó cũng là bài học có ý nghĩa sâu sắc trong công tác bảo đảm kỹ thuật của chiến dịch Tây Bắc.


Trải qua 60 năm chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, ngành kỹ thuật quân đội từ một số ít chuyên ngành thuộc Tổng cục Cung cấp trong chiến dịch Tây Bắc 1952; đến nay, ngành kỹ thuật quân sự đã và đang lớn mạnh không ngừng theo sự phát triển của vũ khí trang bị kỹ thuật, với gần hai mươi chuyên ngành kỹ thuật, cơ quan và cơ sở kỹ thuật không ngừng phát triển. Từ chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch hiệp đồng binh chủng trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, đến các chiến dịch hiệp đồng quân binh chủng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngành kỹ thuật đã khẳng định rõ vai trò to lớn trong chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, vũ khí trang bị kỹ thuật không ngừng phát triển, đòi hỏi ngành kỹ thuật phải phát triển đê quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả những vũ khí trang bị kỹ thuật đó. Đây là vấn đề tất yếu trong xây dựng quân đội. Thực hiện các nghị quyết 05, 26, 27... của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự. Đặc biệt là Nghị quyết 382 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới. Ngành kỹ thuật quân sự đang ra sức phấn đấu xây dựng các chuyên ngành kỹ thuật vững mạnh bảo đảm cho xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:40:27 pm
CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Trung tướng NGUYỄN VĨNH PHÚ
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Sau các chiến dịch Trung Du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, Tổng Quân ủy nhận thấy mở các chiến dịch tiến công trên hướng trung du và đồng bằng là không phù hợp, vì địch phát huy được thế mạnh về hỏa lực, cơ động và tương quan lực lượng bất lợi cho ta. Vì vậy, sau chiến dịch Hòa Bình, Trung ương Đang chủ trương mở chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc, nơi địch có nhiều sơ hở, lực lượng mỏng (8 tiểu đoàn và 41 đại đội, đóng ở 144 cứ điểm, trong đó 40 cứ điểm có 1 đến 2 đại đội), ta có thể tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào đẩy mạnh hoạt động. Nhưng Tây Bắc xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở, thưa dân, kinh tế nghèo nàn, giao thông vận tải rất khó khăn; nguồn lực hậu cần tại chỗ rất hạn chế... phải vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên là chủ yếu.


Nhận rõ khó khăn to lớn đó, từ tháng 5 năm 1952, Tổng cục Cung cấp đã chủ động chuẩn bị chiến trường và phân công ba Đảng ủy viên trực tiếp chỉ đạo trên hướng Tây Bắc; ở Việt Bắc, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và Cục trưởng Cục Quân nhu chỉ đạo; ở Liên khu 3 và 4, do một Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo. Tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban cán sự đường 41 (gồm các đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và hai Khu ủy viên liên khu (3 và 4), trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường phục vụ chiến dịch.


Công tác chuẩn bị được tiến hành một cách khẩn trương, Liên khu Việt Bắc tổ chức mở đường chạy dọc theo bờ tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy nhanh tu sửa tuyến đường sắt Yên Bái - Mậu A để có thế chạy tàu thường xuyên. Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã, chuyển gạo về các khu vực tập kết và bến vượt ở tả ngạn sông Hồng. Liên khu 3 sửa đường từ Ghểnh, Nho Quan đi Hòa Bình; đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ đẽn Suốt Rút; chuẩn bị và chuyển gạo từ Yên Mô, Yên Khánh (Ninh Bình) lên Chợ Bờ, Suối Rút. Liên khu 4 sửa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và chuyển gạo từ Tĩnh Gia lên. Ba tháng hè năm 1952, Liên khu 3 và 4 sửa được 170 km đường ô tô, 150 km đường vận tải bộ, huy động được 5.254 tấn gạo nhưng chuyển lên đến Suốt Rút - Bãi Sang chỉ còn 1.390 tấn, vì dân công đã sử dụng hơn 70%.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với phương châm đánh liên tục, dài ngày, từng bước vững chắc, nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn. Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn 308, 312, 316; một số đơn vị pháo binh, công binh và lực lượng vũ trang địa phương; tổng quân số hơn 5.000 người, thời gian dự kiến 4 tháng, chia thành 3 đợt. Đợt 1, ta tập trung diệt địch giải phóng Nghĩa Lộ và Phù Yên; đợt 2, phát triển tiến công, quét sạch địch tới bờ sông Đà, tiến lên Sơn La; đợt 3, tiến công địch ở Nà Sản. Nhu cầu hậu cần chiến dịch gồm: 5.250 tấn lương thực, thực phẩm (có 4.335 tấn gạo), 127 tấn vũ khí đạn, cứu chữa hơn 5.000 thương binh, bệnh binh.


Bộ máy hậu cần chiến dịch được thành lập. Sở chỉ huy Tiền phương Tổng cục Cung cấp ở Yên Bái do Chủ nhiệm Tổng cục trực tiếp chỉ huy, làm nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực ở hậu phương và tổ chức các trạm phục vụ bộ đội trên đường hành quân vào khu vực chiến đấu. Cục trưởng Cục Quân nhu - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đi cùng Sở chỉ huy cơ bản; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch - Bí thư Ban cán sự đường 41 đặt sở chỉ huy ở Suối Rút phụ trách việc huy động nhân lực, vật lực từ Liên khu 3 và 4 lên và bảo đảm cho hướng đường 41 trong đợt 2 chiến dịch.


Trên hướng chủ yếu (Phân khu Nghĩa Lộ), hậu cần chiến dịch tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công bên bờ tả ngạn sông Hồng ở Yên Bái, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vào tập kết. Đêm 10 và 11 tháng 10 năm 1952, các đơn vị vượt sông Hồng, bí mật tiến quân vào Tây Bắc. Trong ba đêm tiếp theo, hậu cần chiến dịch đã huy rộng 2 phà và 432 chiếc thuyền, trong đó có 415 thuyền nan trọng tải 400 - 500kg để chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu. Dân công vượt sông được tổ chức thành từng đại đội, mang theo vật chất, sau đó được rải trạm trên ba tuyến. Tuyến Âu Lâu vào Ca Vịnh - Ba Khe triển khai thuận lợi; nhưng tuyến Cổ Phúc - Sài Lương và Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười rất khó khăn do đường nhỏ hẹp, trơn lầy, qua nhiều đèo dốc, sông suối, có nơi phải bắc "cầu khỉ", chỉ đi được từng người. Từ Mậu A đến Nậm Mười phải vượt qua 4 đèo cao (Khe Giang, đèo Quế, đèo Khâu Vác nhỏ và đèo Khâu Vác lớn) phải tổ chức thành 7 cung. Lực lượng hành quân trên tuyến này lại rất lớn (gồm Đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị trợ chiến). Bộ đội chưa tới Nghĩa Lộ, Gia Hội thì dân công đã vào tuyến, chưa kịp triển khai trạm nên đã bị ùn tắc. Dân công chờ đợi, phải ăn vào gạo của bộ đội. Theo kế hoạch, từ ngày 15 tháng 10, phải đưa đến Nậm Mười 14,8 tấn gạo/ngày, nhưng ba ngày sau, gạo mới đến và ngày cao nhất được 7 tấn, có ngày chỉ được gần 1 tấn. Trong 20 ngày, tuyến vận tải Khâu Vác chỉ chuyển vào Nậm Mười được 83 tấn (đạt 28% kế hoạch). Trên tuyến Cổ Phúc - Sài Lương, chỉ chuyển được 3 tấn gạo (đạt 50% kế hoạch), toàn đợt vận chuyển được 40 tấn (60% kế hoạch), sở chỉ huy cung cấp ở hậu phương không nắm được khó khăn ở hai tuyến này nên chỉ huy, chỉ đạo có phần chủ quan dẫn đến hậu cần tuyến Khâu Vác không hoàn thành nhiệm vụ (còn gọi là "Hận Khâu Vác"). Đồng chí Tổng Tư lệnh - Chỉ huy trưởng chiến dịch nghiêm khắc phê bình. Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đã nhận trách nhiệm về mình và tổ chức rút kinh nghiệm, xác định quyết tâm và đề ra biện pháp sửa chữa tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các đợt sau.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu với các trận tiêu diệt các mục tiêu Ca Vịnh, Sài Lương. Tiếp đó, ta diệt Phân khu Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì, bức địch rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ. Ở hướng Phù Yên, các vị trí Gia Phù, Bản Mo bị tiêu diệt, địch ở Tiểu khu Phù Yên rút chạy... Nhiều trận công đồn ác liệt đã diễn ra, thương binh lên tới 1.014 người. Quân y chiến dịch triển khai ba đội điều trị (1, 2, 5) ở Nghĩa Lộ, Nậm Mười, Ca Vịnh, Ba Khe cùng đội điều trị các đại đoàn cứu chữa thương binh. Nhưng do thiếu lực lượng, phương tiện, đường sá khó khăn, việc chuyển thương binh về tuyến sau còn chậm, có lúc bị ứ đọng ở các tiểu đoàn, trung đoàn. Vì vậy, quân y chiến dịch đã mở rộng Đội điều trị 1 thành bệnh viện đã chiến để cứu chữa thương binh của các đơn vị. Đợt 1 chiến dịch kết thúc, ta giải phóng khu vực rộng lớn từ Quỳnh Nhai đến Vạn Yên, trong đó có các cánh đồng Nghĩa Lộ, Quang Huy, Than Uyên là cơ sở huy động nguồn lực trong đợt sau.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:41:42 pm
Tây Bắc là vùng có nhiều đồng bào các dân tộc ít người; trước khi bộ đội tiến quân lên Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng". Chấp hành mệnh lệnh của Người, các đơn vị vừa đánh địch, vừa làm công tác dân vận, chiến lợi phẩm được quản lý sử dụng hợp lý nên đã góp phần tích cực khắc phục khó khăn trong bảo đảm hậu cần.


Chuẩn bị cho đợt 2, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu các đơn vị tổ chức lực lượng tham gia sửa đường, vận chuyển gạo, đạn, chuyển thương binh về tuyến sau... Hậu cần chiến dịch được trang bị một số phương tiện thông tin vô tuyến và hữu tuyến để chỉ huy các tuyến vận tải. Do không phù hợp nên tuyến Khâu Vác và Sài Lương được giải thế, lực lượng tập trung về đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù. Đồng thời, khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy và Tông Cao, mở đường và tổ chức tuyến vận tải từ Tông Cao đến Suối Cao, Tạ Khoa nối với đường 41 ở Cò Nòi và mở tuyến vận tải xuống Vạn Yên nối với đường 41 ở Lồm Xồm. Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công, Liên khu 4 huy động 11.000 dân công. Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho hậu cần nhiều cán bộ trung, cao cấp để tổ chức chỉ huy các đoàn dân công trên đường 41 phục vụ chiến dịch. Các tuyến vận tải được mở rộng, các trạm bố trí cung độ hợp lý, đời sống dân công được quan tâm hơn... Hậu cần chiến dịch đã sửa chữa 64km (đường 41) từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm và 61 kín (đường 13) từ Yên Bái đến Ba Khe cho ô tô vận tải hoạt động. Toàn bộ dân công vận tải bộ trên tuyến này được dồn lên phía trước. Tiếp đó, ta tiếp tục sửa đương cho ô tô chạy đến Tông Cao, Gia Phù. Những nỗ lực đó đã đẩy nhanh tiến độ mở đường và vận chuyển tốt hơn đợt 1.


Đồng thời, nhiều đơn vị đã tham gia gặt lúa giúp dân ở vùng mới giải phóng ở Tây Bắc và cùng cán bộ địa phương vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch. Đồng bào Tây Bắc đã huy động đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.000 lượt người đi dân công (150.000 ngày công). Riêng Nghĩa Lộ, huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt... kịp thời đáp ứng nhu cầu tác chiến, đỡ phải huy động, chuyển từ xa lên.


Giữa lúc ta khẩn trương chuẩn bị cho đợt 2, ngày 29 tháng 10, 5 binh đoàn cơ động mở cuộc tiến công lên Phú Thọ, Yên Bái nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch của ta cắt đường vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đồng thời, chúng dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đèo Giàng trên đường số 3 bị tắc 6 ngày; Đèo Khế tắc 10 ngày... Để đập tan âm mưu của địch, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 nhận lệnh về Phú Thọ cùng Trung đoàn 246, Liên khu Việt Bắc và Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 đánh địch, bảo vệ hậu phương. Tổng cục tiền phương giao nhiệm vụ cho các cơ sở hậu cần ở Phú Thọ, Yên Bái gấp rút sơ tán kho tàng, sử dụng lực lượng tại chỗ vừa phục vụ bộ đội chiến đấu ngăn chặn địch, vừa tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2. Bị ta chặn đánh quyết liệt, cuối tháng 11, địch phải rút lui.


Bước vào đợt 2, ngày 15 tháng 11, bộ đội ta vượt sông Đà tiêu diệt các mục tiêu bên bờ hữu ngạn, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở Mộc Châu; truy kích diệt địch trên đường 41. Hướng vu hồi, ta đánh vào nam Lai Châu và bắc Sơn La, giải phóng Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, Thuận Châu, Sơn La. Ngày 22 tháng 11 năm 1952, địch bỏ các vị trí trên đường 41 từ bắc Sơn La về tập trung quân xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn ta tiến công.


Ban cán sự đường 41 tổ chức dân công gánh gạo, đạn bám sát bộ đội, bảo đảm cho các đơn vị tiến công và truy kích địch trên đường 41. Đồng thời gấp rút sửa đường từ Xồm Lồm lên Mộc Châu, Cò Nòi. Việc vận chuyển được thực hiện theo cung, chặng và cuốn chiếu. Thời gian đầu tập trung lực lượng, phương tiện trên tuyến Suối Hút - Xồm Lồm (64 km), tiếp đó là cung Xồm Lồm - Cò Nòi (87 km). Lực lượng vận tải (gồm: dân công gánh bộ, bộ đội, 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô) đã chuyển 528 tấn gạo (410 tấn từ Suối Rút lên, 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 23 tấn chiến lợi phẩm ở Mộc Châu và 25 tấn đưa từ đường 13 sang), kịp bảo đảm cho đội phát triển tiến công và dự trữ một phần cho đợt sau. Trên hướng đường 13, hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn, từ Yên Bái sang bảo đảm cho các đơn vị vượt sông đánh địch ở hữu ngạn sông Đà. Ta đã mở tiếp đường 13 từ Ba Khe vượt các đèo: Lũng Lô, Bản Ban, Nhọt, Chẹn đến Tạ Khoa, Cò Nòi (130km). Lực lượng vận tải chính trên hướng này là dân công, kết hợp với vận tải ô tô trên một số đoạn. Ngoài 25 tấn gạo đưa sang hướng đường 41, hậu cần đã chuẩn bị 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và chuẩn bị 313 tấn bảo đảm cho bộ đội lui quân.


Ngày 30 tháng 11 năm 1952, đợt 3 bắt đầu với các trận đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Sơn La) nhưng không thành công, thương binh nhiều (1.200 người). Ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta kết thúc chiến dịch, chỉ để lại 2 trung đoàn kìm chân địch và củng cố vùng mới giải phóng.


Sau 58 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt 6.000 tên địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng vùng đất rộng 28.500km2 với 250.000 dân, mở rộng căn cứ kháng chiến, mở đường sang Thượng Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt, 33 tấn đạn dược, cứu chữa 2.535 thương binh. Để có kết quả trên, ta đã huy động ở 10 tỉnh thuộc các Liên khu Việt Bắc, 3, 4 và ở 4 huyện thuộc Tây Bắc mới giải phóng, gồm hơn 1.000 tấn lương thực, 191.000 lượt dân công (hơn 7 triệu ngày công), 1.101 xe đạp thồ, 258 xe trâu bò và 556 thuyền vận tải, 2 phà, 8 ca nô phục vụ chiến dịch... góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của chiến dịch. Tổng Quân ủy nhận định: "Thắng lợi của chiến dịch đặt nền tảng cho một căn cứ địa mới - căn cứ địa Tây Bắc. Rồi đây, dù tình hình trở nên khó khăn hay thuận lợi, căn cứ địa Việt Bắc và căn cứ địa Tây Bắc sẽ là một bảo đảm cho cuộc kháng chiến lâu dài của chúng ta và sẽ có ảnh hưởng đối với cách mạng Lào".


Chiến dịch Tây Bắc để lại nhiều bài học quý về tổ chức bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày ở chiến trường rừng núi, xa hậu phương, hệ thống đường sá và bảo đảm hầu như chưa có,... Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trực tiếp là Tổng Quân ủy, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, tổ chức bảo đảm chặt chẽ với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa hậu cần ở hậu phương với hậu cần ở tiền tuyến trong nắm tình hình, chỉ huy, chỉ đạo huy động nhân vật lực và bảo đảm cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Trong đó có bài học sâu sắc về quan điểm thực tiễn, bám sát bộ đội trong tổ chức bảo đảm. Những kinh nghiệm đó đã được nghiên cứu vận dụng, phát triển trong giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 60 năm đã trôi qua, những bài học kinh nghiệm đó vẫn nguyên giá trị, cần nghiên cứu kế thừa, phát triển trong xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần tại chỗ trên các địa bàn chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:42:57 pm
BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thiếu tướng VŨ DƯƠNG NGHI
Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động của cuộc kháng chiến. Trong chiến dịch này, vượt qua những khó khăn về địa hình, phương tiện còn nhiều hạn chế, bộ đội thông tin đã tổ chức thông tin liên lạc chặt chẽ, bảo đảm chỉ huy thông suốt vững chắc trong mọi tình huống, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch của chiến dịch (9-9-1952), Cục Thông tin liên lạc được giao nhiệm vụ tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch Tây Bắc và nam Liên khu 3. Triển khai nhiệm vụ, Cục chia thành hai bộ phận: một ở lại căn cứ địa Việt Bắc do Cục trương trực tiếp điều hành để giữ liên lạc với bộ phận tiền phương sở chỉ huy chiến dịch, liên lạc với các đại đoàn, với Liên khu 3 ở chiến trường vùng sau lưng địch. Một bộ phận do Bí thư Đảng ủy Hoàng Bửu Đón làm Trưởng ban và Cục phó Nguyễn Văn Tình làm Phó ban cùng cơ quan, đơn vị trực thuộc đi phục vụ Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc. Lực lượng tham gia phục vụ Mặt trận Tây Bắc có Ban Ba chiến dịch, Tiểu đoàn 303 (gồm 2 đại đội điện thoại với 40 máy, 3 tổng đài và 100 km dây bọc, 1 đại đội liên lạc chuyển đạt); đại đội liên lạc vô tuyến điện 101 (có 3 liên đài với 6 máy, 2 đài MK2, 2 đài 694, 2 đài V101). Đội liên lạc chuyển đạt đường dài 231 tổ chức đường chuyển đạt từ tiền phương về hậu phương. Thông tin liên lạc ở các đại đoàn được trang bị được thống nhất, số quân được tăng cường, chất lượng phương tiện kỹ thuật tốt hơn, cán bộ được biên chế sắp xếp đầy đủ.


Để đảm bảo yếu tố bí mật, Cục đã thảo chỉ thị giữ bí mật vô tuyến điện (được Tổng tham mưu trưởng phê chuẩn) quy định việc phát sóng liên lạc vô tuyến điện của tất cả các điện đài phải theo sự chỉ đạo thống nhất của Cục. Những cụm liên lạc vô tuyến điện ở hậu phương được tổ chức trong chiến dịch (Hòa Bình), gồm những điện đài được bố trí ở nơi ổn định, công suất máy phát lớn, máy thu có độ nhạy cao liên lạc xa tốt nay lại phát huy tác dụng, là cụm điện đài tin cậy của Bộ Tổng tư lệnh khi bước vào chiến dịch.


Thực hiện kế hoạch nghi binh của Bộ Tổng tham mưu, Cục đã chỉ đạo các điện đài ở Bộ và các đơn vị tham gia nghi binh trên sóng vô tuyến điện, nhiều bức điện giả được phát xen lẫn với thật. Một số điện đài của các đại đoàn 308, 312, 316, Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn 148 vẫn ở lại vị trí cũ phát sóng liên lạc với đài của Bộ, sau đó mới hành quân đuổi theo đơn vị. Hoạt động trên sóng vô tuyến điện lúc rầm rộ lúc bình thường kéo dài từ ngày 20 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1952, khi các đơn vị nổ súng mở màn chiến dịch. Trong khi đó điện đài Ban Ba và các đơn vị tham gia chiến dịch hoàn toàn giữ im lặng trong suốt thời gian hành quân.


Bước vào chiến dịch, để bảo đảm thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy một lực lượng lớn gồm 3 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo vượt sông Hồng trong 2 đêm (10 và 11-10) được nhanh gọn, không ùn tắc và an toàn, một mạng liên lạc điện thoại vượt sông tại các bên được hình thành. Một đường dây từ sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đến Ban chỉ huy vượt sông. Từ ban chỉ huy vượt sông có các đường điện thoại tới ban chỉ huy từng bến, ở mỗi bến có một tổ liên lạc điện thoại trang bị gọn, nhẹ rải dây trước qua sông, đặt máy liên lạc. Nhờ có đường liên lạc điện thoại mà sở chỉ huy chiến dịch có thể nắm chắc tình hình các đơn vị vượt sông từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc.


Khi bộ đội vượt sông an toàn, tiến hành "bôn tập", là lúc chiến sĩ thông tin liên lạc, nhất là chiến sĩ điện thoại dây bước vào giai đoạn gian nan vất vả, nhanh chóng thu dây, thu máy kịp hành quân theo hướng phát triển của chiến dịch. Ngay đêm đầu tiên vượt sông Hồng, trời mưa như trút nước. Trên vai mỗi người phải mang vác trung bình từ 30 đến 35 kg dây, máy, lương thực và quân trang, kèm thêm 8 nắm cơm ăn trong 4 ngày. Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, sau 4 ngày đêm hành quân, các đơn vị thông tin phải tới vị trí đặt máy, rải dây. Vượt qua mọi khó khăn, thử thách, các chiến sĩ thông tin đã hoàn thành nhiệm vụ đúng ngày giờ quy định.


Theo kế hoạch tiến công đợt 1, Ban Ba chiến dịch có nhiệm vụ dùng ba liên đài tổ chức mạng liên lạc vô tuyến điện để Bộ chỉ huy chiến dịch nắm tình hình của các đại đoàn 304, 320 đang hoạt động ở vùng sau lưng địch ở nam Liên khu 3 và các trung đoàn đang hoạt động ở Phú Thọ; tổ chức mạng lưới thông tin đến các đơn vị của các đại đoàn 308, 304 và 312. Đúng giờ quy định, chiều ngày 14 tháng 10 năm 1952, các điện đài của sở chỉ huy chiến dịch, mở máy phát sóng liên lạc. Điện đài ở các nhánh, các mũi đều nhận được và phát tín hiệu đã sẵn sàng nhận lệnh.


Mở đầu chiến dịch, Trung đoàn 174 tiến công Ca Vịnh, Trung đoàn 141 đánh vào Sài Lương. Để chỉ đạo Trung đoàn 141, khi sở chỉ huy chiến dịch vào đến Khe Lóng, một đôi dây điện thoại đã bí mật được kéo từ Khe Lóng đến Sở chỉ huy trung đoàn để Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp theo dõi đơn vị. Đường dây rải đúng vào lúc những trận mưa đột ngột, kéo dài, nước lũ làm các con suối ngập tràn chảy xiết, đường vào phải qua địa hình phức tạp, thời gian lại khống chế, nhưng cán bộ, chiến sĩ trung đội điện thoại đã vượt qua hoàn thành nhiệm vụ trước giờ quy định. Tuy vậy, địch đã bỏ chạy trước giờ nổ súng, thông qua liên lạc vô tuyến và điện thoại, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích địch.


Để Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch ở Thẩm Cố chỉ đạo các đơn vị tấn công Nghĩa Lộ. Đường dây được đấu vào tổng đài đặt ở Bản Tư, từ đây kéo xuống Đại đoàn 308 ở bắc điểm cao 793 và Đại đoàn 312 ở suối Lô. Như vậy, hệ thống liên lạc đã được thiết lập từ sở chỉ huy cơ bản chiến dịch ở Khe Lóng đến sở chỉ huy tiền phương với các đại đoàn 308, 312. Để lập nên hệ thống dây này, cán bộ và chiến sĩ liên lạc đã lợi dụng pháo sáng của địch thả từ máy bay xuống để xoi đường và chiếu theo đường thẳng trên bản đồ để rải dây theo đúng ý định.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:43:57 pm
Theo kế hoạch, đêm 17 tháng 10, Đại đoàn 308 tiến công Nghĩa Lộ. nhưng khi phát hiện địch tăng cương lực lượng và rời sở chỉ huy Phân khu Pú Chạng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch thay đổi kế hoạch, quyết định tấn công Pú Chạng. Bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ đạo, chỉ huy, Ban Ba cho rải một đường dây điện thoại từ sở chỉ huy đại đoàn tới sở chỉ huy Trung đoàn 102. Qua đường dây này có thể liên lạc với Tiểu đoàn súng máy phòng không 387, với đại đội cối 120mm và Trung đoàn 88 đang chuẩn bị đánh vào Nghĩa Lộ. Còn ở Trung đoàn 102, từ sở chỉ huy có ba đường điện thoại xuống ba tiểu đoàn. Mặc dù gặp khó khăn về địa hình (đoạn suối Nậm Đông nước chảy xiết, lòng suối toàn đá hộc phủ đầy rêu trơn) lại phải giữ bí mật tuyệt đối, nhưng trong đêm 16 tháng 10, cán bộ, chiến sĩ liên lạc điện thoại của đại đoàn và trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy, do không kịp ngụy trang nên trưa ngày 17 tháng 10, địch phát hiện và cắt đoạn dây vượt đường lớn, đồng thời huy động súng cối, đại bác 105mm và máy bay ném bom na-pan làm ta thương vong 34 người. Đây là bài học cho thông tin liên lạc của Trung đoàn 102 trong công tác ngụy trang, bảo đảm bí mật. Bất chấp hiểm nguy, các chiến sĩ thông tin nhanh chóng nối dây, đảm bảo liên lạc được thông suốt. Đúng 17 giờ 5 phút, qua điện thoại, trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng, sau 3 giờ 25 phút chiến đấu ác liệt, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm, liên lạc chỉ huy được giữ vững từ đầu đến cuối trận đánh.


Trên hướng khác, thông tin liên lạc của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 309) nhanh chóng tỏa mạng điện thoại bảo đảm cho bộ binh và pháo binh chiếm lĩnh trận địa tiến công dịch ở Nghĩa Lộ. Triển khai nhiệm vụ khi yếu tố bất ngờ không còn, thời gian đòi hỏi rất gấp, lại không nắm vững địa hình, trong lúc máy bay, đại bác địch liên tục bắn phá, trong khi yêu cầu đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn phải tỏa đi 6 hướng. 18 giờ toàn trung đoàn bắt đầu vào chiếm lĩnh trận địa. Tuy vậy, đường điện thoại từ đại đoàn đã không theo kịp, nên giữa đại đoàn và trung đoàn bị gián đoạn, buộc phải lùi giờ nổ súng từ 2 giờ 00 ngày 18 tháng 10 đến 3 giờ 5 phút, khi tất cả các đường điện thoại từ đại đoàn xuống và từ trung đoàn đến các mũi các trận địa hỏa lực đều thông suốt. Sau hơn 2 giờ chiến đấu ta đã chiếm xong cứ điểm. Từ khi nổ súng cho đến khi kết thúc trận đánh đường dây điện thoại luôn an toàn thông suốt. Thắng lợi của Đại đoàn 308 ở Nghĩa Lộ chứng minh sự trưởng thành của bộ đội ta, trong đó Bộ đội Thông tin liên lạc có bước tiến vững chắc. Đặc biệt là thông tin liên lạc điện thoại đã đảm bảo thông tin cho chỉ huy đánh địch khi yếu tố bất ngờ không còn.


Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, theo lệnh của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, Ban Ba cấp tốc cho rải đường điện thoại sang phía Trung đoàn 36 (đơn vị đánh đồn Cửa Nhì), đường dây vừa tới nơi thì trung đoàn phát hiện thấy địch trong đồn hoang mang, chuẩn bị rút nên đã đề nghị cho đánh sớm. Đêm 18 tháng 10, Trung đoàn 36 vây chặt, kịp thời nổ súng ngay khi địch chưa kịp tháo chạy. Trong suốt quá trình chiến đấu (khoảng 20 phút) việc liên lạc giữa trung đoàn với Bộ chỉ huy chiến dịch, với Bộ chỉ huy đại đoàn luôn được giữ vững.


Phía Đại đoàn 312, khi đường dây từ tổng đài Bản Tư kéo đến Sở chỉ huy đại đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo đại đoàn chiến đấu. Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, biết địch đã tăng cường quân dù cho Tú Lệ, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 tấn công Gia Hội. Trận chiến đấu diệt viện, công đồn trên đường Gia Hội - Nghĩa Lộ trở thành cuộc chiến đấu truy kích đường rừng dài gần 100 km, từ Gia Hội - Làng Chàng - Tú Lệ - Cao Pha - Ít Ong đến sát tả ngạn sông Đà. Đây là tình huống bất ngờ, khó khăn đối với thông tin liên lạc Đại đoàn 312. Chiến thuật rải dây điện thoại truy kích địch đã được nghiên cứu, học tập nhưng chưa được thực hành trong diễn tập. Hơn nữa lại truy kích đường rừng, liên lạc vô tuyến điện thuận lợi hơn liên lạc điện thoại. Tuy vậy, trước đây bảo đảm liên lạc vô tuyến điện vẫn thường làm việc theo phiên, theo giờ quy định, nay theo yêu cầu mới phải tìm mọi cách thực hiện bằng được liên lạc vô tuyến điện. Điện đài phải canh liên tục giữ vững liên lạc giữa tham mưu trưởng trung đoàn với đại đoàn. Trong truy kích việc canh liên tục hết sức khó khăn, chỉ sơ suất nhỏ là lệnh không kịp nhận, báo cáo bị thất lạc. Đối với chiến sĩ liên lạc phải dồn lại thành một tiểu đội máy và các tiểu đội dây. Một tiểu đội dây chạy trước ra dây, tiểu đội máy bám theo, các tiểu đội dây khác, dây sừng bò trên vai vượt lên trước đón đường rải dây tiếp. Dây, máy có hạn anh em lại phải cuốn dây, đưa máy từ phía sau lên phía trước, cố gắng bám sát chỉ huy, bám sát đơn vị giữ thông liên lạc. Bằng biện pháp sáng tạo rải dây theo kiểu "sâu đo", "cuốn chiếu", suốt 4 ngày 5 đêm đường dây điện thoại đã bám sát đội hình truy kích địch từ Gia Hội đến Tú Lệ, bảo đảm liên lạc cho các đơn vị.


Ở hướng thứ yếu, Đại đoàn 316 chỉ huy Trung đoàn 98 từ Phú Thọ vào nổ súng trước thu hút sự chú ý của địch. Đêm 14 tháng 10, đại đội thông tin liên lạc tổ chức bảo đảm liên lạc để trung đoàn chỉ huy các tiểu đoàn tiêu diệt địch ở Nha Phù và đêm 17 tiêu diệt sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo, quét địch ra khỏi tiểu khu. Ngày 18, đơn vị tiến đến Vạn Yên buộc địch bỏ chạy sang hữu ngạn sông Đà.


Phía đông nam Lai Châu, Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) từ Lào Cai tiến xuống Quỳnh Nhai. Tiểu đoàn được lệnh vừa tiến quân vừa phát sóng vô tuyến điện làm cho địch lầm tưởng rằng đây là một cánh quân lớn. Sau khi diệt các vị trí Nậm Sỏ, Nà Mu, Quỳnh Nhai, Pắc Nà... tiểu đoàn nhanh chóng tiến sát tả ngạn sông Đà.


Trong suốt đợt 1 của chiến dịch (từ 14 đến 23-10), bộ đội thông tin đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các cánh, các mũi, góp phần vào những thắng lợi mở đầu. Trong số chiến lợi phẩm thu được của địch có 14 máy vô tuyến điện. Cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc lại cùng các đơn vị tỏa về đóng ở các bản làng tiến hành công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, giác ngộ nhân dân các dân tộc và giúp đỡ cán bộ địa phương xây dựng chính quyền mới.


Sau những thất bại ở Nghĩa Lộ và Phù Yên, địch co hết sang hữu ngạn sông Đà, lập thành một phòng tuyến ngăn chặn quân ta tiến vào Sơn La, đồng thời mở cuộc hành quân tấn công lên Phú Thọ. Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn chủ trương tiếp tục chiến dịch tiến công Tây Bắc, điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) về cùng với lực lượng tại chỗ đánh tiêu hao thật nhiều sinh lực dịch buộc chúng rút khỏi Phú Thọ, bảo vệ hậu phương, tích cực hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ phối hợp với chiến trường Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:44:31 pm
Ban Ba chiến dịch được Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ: tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị ở hướng chủ yếu vượt sông Đà đánh địch bên hữu ngạn. Tổ chức giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Mặt trận Y13, vượt cấp đến Trung đoàn 165 và các tiểu đoàn 542, 564, 115 (Trung đoàn 165), với Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148); giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Trung đoàn 36 cả khi đang hành quân và đánh địch ở Phú Thọ; giữ chắc liên lạc vô tuyến điện với các đơn vị đã vượt sông Đà, cụ thể: với Đại đoàn 312, vượt cấp đến hai trung đoàn 209, 141 đánh địch ỏ Tà Phình, Bản Hoa, Ba Lay...; với Đại đoàn 316, vượt cấp đến hai trung đoàn 98, 174 đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu; với Đại đoàn 308, vượt cấp đến Trung đoàn 88 tiến đánh Hát Tiếu, Mường Lụm, đánh địch trên đường 41 và cắt liên lạc giữa Mộc Châu với Yên Châu trên đường 41, vượt cấp đến Trung đoàn 143 ở Sốp Bao làm lực lượng dự bị chiến dịch. Nếu điều kiện thuận lợi, tổ chức gấp đường liên lạc điện thoại giữa sở chỉ huy chiến dịch với Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312.


Những trường hợp thông tin bị gián đoạn trong truy kích địch ở đợt 1 đã được rút kinh nghiệm và chấn chỉnh, nên bước vào đợt 2, ngay từ đầu thông tin đã được giữ vững. Đêm 16 tháng 11, Đại đội điện thoại 99 (Tiểu đoàn thông tin 303) đã triển khai rải dây phục vụ cho các đơn vị vượt sông 2 đôi dây điện thoại của các đại đội 99 và 110 (Tiểu đoàn thông tin 303) kéo từ sở chỉ huy chiến dịch theo hai mũi xuống Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312, một đôi dây được kéo dựa vào cầu phao phía hạ lưu rồi thả qua sông bằng bè chuối vào Đại đoàn 308 ở suối O (Long Ma, Mường Lụm). Còn đôi dây xuống Đại đoàn 312, các chiến sĩ liên lạc điện thoại phải bơi qua sông để rải dây đến Tà Lài, Bản Hoa. Cả hai đôi dây đều thông suốt ngay trong đêm 18 tháng 11 khi các đơn vị ở hướng chủ yếu bắt đầu nổ súng. Như vậy, bằng hai phương tiện thông tin liên lạc cơ bản vô tuyến điện và điện thoại, Ban Ba chiến dịch có thể bảo đảm thông tin thông suốt đê Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo, chỉ huy các mũi ở hướng chủ yếu đánh địch trong đợt 2.


Sau khi hệ thống phòng ngự của địch bị đập vỡ, để bảo đảm cho chỉ đạo, chỉ huy cuộc truy kích, Tiểu đoàn thông tin 303 tổ chức một bộ phận nhẹ đi trước gồm một trung đội liên lạc điện thoại, một tổ tổng đài và một trung đội liên lạc chuyển đạt, một tổ điện đài vô tuyến điện do Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 303 trực tiếp chỉ huy. Anh em đã hành quân cấp tốc liên tục 3 ngày 3 đêm, theo kịp các đơn vị chiến đấu đến Cò Nòi. Khi sở chỉ huy tiền phướng do đồng chí tham mưu trưởng chiến dịch dừng lại ở Cò Nòi, các phân đội trên đã bảo đảm ngay liên lạc. Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái đã có nhận xét: Thông tin liên lạc của Bộ bảo đảm liên lạc từ đầu chiến dịch đến đây vẫn duy trì rất tốt. Tuy nhiên, ở các đơn vị cấp dưới do chỉ dùng liên lạc chuyển đạt để chỉ huy truy kích địch nên tốc độ truy kích chậm, thiếu những mũi thọc sáu, chặn đầu, không bao vây chặt nên để địch chạy dồn về Nà Sản.


Ở hướng thứ yếu phía nam Lai Châu, bộ đội ta nổ súng và tiến hành nghi binh tốt, thu hút được sự chú ý của địch, ở hướng này việc tăng thêm lực lượng Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) và Mặt trận Y13 nên số lượng điện đài đáng kể. Từ 1 điện đài của Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) nay tăng lên thành 7 điện đài. Bốn tiểu đoàn đồng thời phát sóng liên lạc vô tuyến điện ở 4 mũi, cùng với 3 điện đài của mặt trận và của Trung đoàn 165, nên địch lầm tưởng đây là hướng tiến công chủ yếu của ta với lực lượng 3 đại đoàn. Thấy địch hoang mang, qua vô tuyến điện, Tư lệnh Mặt trận Y13 lệnh Tiểu đoàn 542 vượt sông sớm hơn dự định 8 ngày, để cùng các tiểu đoàn 910 và 564 tiến công địch. Ngày 8 tháng 11, địch bỏ Tuần Giáo, rồi bỏ tiếp Thuận Châu, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Mường Sài... rút về Lai Châu, Nà Sản. Tiểu đoàn 115 - lực lượng dự bị cũng được tung ra tiến về Thuận Châu. Biết địch đã rút chạy, Tư lệnh Mặt trận Y13 dùng liên lạc vô tuyến diện cho tiểu đoàn quay xuống Mường La, 11 giờ ngày 22 tháng 11, Tiểu đoàn 115 tiến công giải phóng thị xã Sơn La, sau đó tiến sát Nà Sản. Như vậy, chỉ với lực lượng bốn tiểu đoàn, biết phát huy tốt phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến và tiến công kiên quyết ta đã giải phóng 6 huyện (Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Điện Biên, Thuận Châu) và thị xã Sơn La.


Địch co cụm về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy và Đang ủy chiến dịch quyết tâm tập trung lực lượng mỏ đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch Tây Bắc. Mặc dù ta đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, song chiến dịch tiến công Tây Bắc vẫn giành thắng lợi rất to lớn và xuất sắc về nhiều mặt theo mục đích đề ra, nhất là nhiệm vụ giải phóng đất đai và nhân dân vùng Tây Bắc.


Trong thắng lợi rất to lớn và xuất sắc đó, Bộ đội Thông tin liên lạc đã trưởng thành lên một bước vững chắc. Cán bộ và chiến sĩ đã tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ nghi binh chuẩn bị chiến dịch theo kế hoạch chung đã bảo đảm liên lạc chỉ đạo, chỉ huy thông suốt vững chắc cho lực lượng lớn bộ đội vượt sông Hồng, tiến công giải phóng Nghĩa Lộ, phá vỡ tuyến phòng thủ sông Đà, giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản).


Lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của Bộ đội Thông tin liên lạc một lần nữa ghi nhận tinh thần bền bỉ, dũng cảm tuyệt vời của cán bộ và chiến sĩ thông tin trong chiến dịch Tây Bắc. Cùng với bộ binh, cán bộ, chiến sĩ thông tin đã vượt qua đèo cao, suối sâu, thác ghềnh đầy khó khăn hiểm trở, bom đạn ác liệt để triển khai mạng điện thoại, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt cả trong trường hợp tấn công mục tiêu và cả khi truy kích địch đường dài. Đồng thời, chiến dịch Tây Bắc đã ghi nhận kết quả của các chiến sĩ liên lạc vô tuyến điện ở hướng thứ yếu - Mặt trận Y13 vừa tiến hành giữ vững liên lạc chỉ huy tiến công, vừa tiến hành nghi binh ở các mũi, của từng tiểu đoàn độc lập đánh địch. Chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, Bộ đội Thông tin liên lạc rút được nhiều bài học bổ ích, đặc biệt là bài học kinh nghiệm bảo đảm cho đánh vận động truy kích địch trên địa hình rừng núi và kinh nghiệm tổ chức thông tin liên lạc trong đánh tập đoàn cứ điểm, một kiểu tổ chức phòng ngự mới của địch. Những bài học kinh nghiệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Binh chủng Thông tin liên lạc. Những kinh nghiệm đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Binh chủng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại" đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.