Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:40:32 am



Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:40:32 am
- Tên sách: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 1996
- Người số hóa: giangtvx, quansuvn


CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỀ ANH HÙNG, CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG

HỒ CHÍ MINH


Chỉ đạo nội dung:

Thượng tướng ĐẶNG VŨ HIỆP


Những người biên soạn:

   Đại tá NGUYỄN MẠNH ĐẨU

   Đại tá PHẠM LAM

   Đại tá, PTS PHẠM GIA ĐỨC

   Thượng tá LÊ ĐẠI HIỆP

   Thượng tá LÊ HẢI TRIỀU


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:41:18 am
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH


Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, tham gia cách mạng năm 1936. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam. Sau năm 1975, đồng chí Nguyễn Thị Định là ủY viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa IV, V, VI). Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ thế giới. Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba. Đồng chí từ trần năm 1992, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1938.


Nguyễn Thị Định sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1936, mới 16 tuổi Nguyễn Thị Định đã tham gia hoạt động cách mạng, làm liên lạc cho Đảng bộ xã và tham gia vận động quần chúng đấu tranh. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí đã từng giữ các chức vụ Ủy viên Ban chấp hành phụ nữ cứu quốc tỉnh Bến Tre, Phó bí thư rồi Bí thư huyện ủy Mỏ Cày, Thường vụ tỉnh ủy, Phó bí thư rồi Bí thư tỉnh ủy Bến Tre, Khu ủy viên Khu 8, Bí thư Đảng đoàn phụ nữ Khu 8, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, ủy viên Quân ủy Miền. Ở cương vị công tác nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tâm, tận lực với phong trào cách mạng.


Những thời kỳ khó khăn ác liệt Nguyễn Thị Định đã phải cải trang nhiều lần, đóng nhiều vai của cuộc đời thường, khôn khéo tìm cách hòa nhập vào dân, bám đất, bám dân để lãnh đạo phong trào chờ thời cơ nổi dậy.


Trong chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, có mặt ở khắp các chiến trường miền Nam với cương vị vừa là người chỉ huy quân sự, vừa là người lãnh đạo chính trị, vừa là người lãnh đạo "đội quân tóc dài" góp công làm nên chiến thắng oanh liệt ở miền Nam.


Năm 1940 do mật thám chỉ điểm, Nguyễn Thị Định bị địch bắt giam ở khám lớn Sài Gòn, sau đó chúng đầy đồng chí đi nhà tù Bà Rá nơi rừng sâu nước độc. Suốt 3 năm tù đày với bao cực hình tra tấn dã man của địch, Nguyễn Thị Định vẫn không hề nao núng, giữ vững khí tiết người cộng sản, kiên cường đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Năm 1943 ra tù, Nguyễn Thị Định về địa phương tiếp tục hoạt động.


Năm 1946, đồng chí là thành viên của đoàn cán bộ Nam Bộ vượt biển ra miền Bắc báo cáo với Bác và Trung ương về tình hình Nam Bộ sau Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, đồng thời xin Trung ương vũ khí trang bị cho chiến trường miền Nam. Được Trung ương và Bác chấp thuận, Nguyễn Thị Định đã tham gia tổ chức đường dây và trực tiếp chỉ huy con tàu "Không số" với đội "cảm tử quân" vượt phong ba bão táp, qua nhiều vùng kiểm soát của địch trên biển Đông, xử trí nhiều tình huống bát ngờ và phức tạp đưa được 10 tấn vũ khí đạn dược, sách báo, tài liệu cùng với tiền của Trung ương, của Bác gửi cho Nam Bộ cập bến an toàn.


Năm 1960, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ và quân, dân tỉnh Bến Tre nổi dậy đập tan hệ thống kìm kẹp của địch ở nông thôn, giải phóng hoàn toàn 51/115 xã, giải phóng 1 phần 21 xã, nhân dân làm chủ 300/500 "ấp chiến lược", loại khỏi vòng chiến đấu 3800 tên địch, diệt 100 tên, thu 1700 súng các loại và 10 máy thông tin. Nguyễn Thị Định trực tiếp chỉ huy "Đội quân tóc dài" cùng với lực lượng vũ trang chiến đấu kiên cường dũng cảm đập tan trận càn của thủy quân lục chiến với 13 ngàn quân tinh nhuệ, kết hợp với các loại tình báo của Mỹ, ngụy trên quê hương 3 dãy cù lao, xứng danh là "Nữ chiến sĩ rừng dừa" của quê hương đồng khởi.


Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, đồng chí tiếp tục đảm đương nhiều chức vụ quan trọng: Thứ trưởng Bộ Thương binh - Xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ thế giới. Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba. Đồng chí là một trong những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam, là người lãnh đạo có uy tín được nhân dân, cán bộ, chiến sĩ cùng đông đảo bạn bè và nhân dân thế giới tin yêu, kính trọng.


Với tinh thần trung kiên cách mạng, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ, với đức tính khiêm nhường trong cuộc sống hàng ngày, với lòng vị tha nhân hậu, dịu hiền, đức độ gắn bó mật thiết với nhân dân, Nguyễn Thị Định đã dũng cảm chịu đựng sự tù đày và tra tấn dã man của địch, vượt lên trên những mất mát đau thương của một người vợ, người mẹ để hăng hái làm việc vì Đảng, vì Cách mạng, vì nhân dân đến hơi thở cuối cùng.


Đồng chí Nguyễn Thị Định đã được khen thưởng: 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 1 Huy hiệu Hồ Chí Minh, 1 Huân chương Quyết thắng hạng nhất, 1 giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lê-nin, 1 Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, 1 Huân chương của Nhà nước Lào, 1 Huân chương Đi-vi-trốp của Nhà nước Hung-ga-ri, 4 Huân chương BLQYQ GIRON, Far, Solidaredad và Mariana Grajals của Nhà nước Cu Ba, 1 Huy hiệu Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thị Định được Chủ tịch nưóc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:42:06 am
ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC BẢO
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Ngọc Bảo sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tinh Ninh Bình. Trú quán phố Chợ Cột Đèn, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, nhập ngũ năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trinh sát 426; trực tiếp chỉ huy đại đội 62 trinh sát, Cục Quân báo - Bộ Tổng tham mưu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Ngọc Bảo sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng. Năm 18 tuổi Nguyễn Ngọc Bảo gia nhập quân đội, trưởng thành từ chiến sĩ lên tiểu đoàn phó tiểu đoàn 426 trinh sát.


Tháng 3 năm 1949, Nguyễn Ngọc Bảo chỉ huy đại đội diệt 4 xe, bắt sống 4 tù binh, trong trận tiểu đoàn 426 đánh phục kích giao thông ở Điền Xá.


Tháng 8 năm 1949, tiểu đoàn 426 làm nhiệm vụ giúp bạn, giải phóng khu Thập Vạn Đại Sơn (Trung Quốc), trong khi đang hành quân thì gặp 1 tiểu đoàn địch. Đồng chí đã chỉ huy đại đội 85 bất ngờ đột kích vào đội hình địch buộc chúng phải bỏ chạy tán loạn. Ta bắt sống 50 tù binh, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng. Trong trận này Nguyễn Ngọc Bảo được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì.


Tháng 9 năm 1951, trong trận tiêu diệt đại đội Com-măng-đô 14 tại Kim Anh, đồng chí chỉ huy đại đội chiến đấu diệt nhiều tên địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trận này Nguyễn Ngọc Bảo được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí giữ cương vị tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy đại đội 62 trinh sát. Yêu cầu bức thiết của Bộ chỉ huy chiến dịch là lấy được bản đồ chi tiết khu vực bố trí của địch. Nguyễn Ngọc Bảo đã chỉ huy đại đội tiềm nhập vị trí đóng quân của địch để nắm tình hình, thu được tập bản đồ 1/25.000 gồm toàn khu vực Điện Biên Phủ do máy bay địch thả dù cho Bộ chỉ huy của tướng Đờ Cát. Tổ trinh sát của đại đội 62 đã lập chiến công xuất sắc, được tặng thưởng Huân chương Chiến công.


Khi chiến dịch vào giai đoạn 2, ta siết chặt vòng vây, địch cố thủ đồi Al, đây là cụm cứ điểm mạnh nhất của địch. Đợt tiến công của ta vào đêm ngày 30 tháng 3 năm 1954 không thành công. Yêu cầu Bộ chỉ huy chiến dịch phải xác định được vị trí hầm chỉ huy địch ở A1 để ta đào đường hầm đưa khối lượng lớn thuốc nổ vào tiêu diệt, và giao nhiệm vụ này cho tiểu đoàn 426. Nguyễn Ngọc Bảo đã dẫn đầu tổ trinh sát tiến hành tiềm nhập mục tiêu, xác định chính xác vị trí hầm ngầm để công binh, bộ binh tiêu diệt. Trong khi thực hiện nhiệm vụ, địch bắn trả quyết liệt, đồng chí anh dũng hy sinh.


Kết thúc chiến dịch, Nguyễn Ngọc Bảo được truy tặng Huân chương Quân công hạng ba.


Nguyễn Ngọc Bảo là một cán bộ chỉ huy mưu trí, táo bạo, quả cảm, thể hiện tinh thần dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng địch trong từng hoàn cảnh cụ thể, nêu gương tốt trong chiến đấu, được đơn vị phát động phong trào học tập gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí.


Nguyễn Ngọc Bảo đã được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, hai Huân chương Chiến công hạng nhì.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Ngọc Bảo được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:42:59 am
ANH HÙNG PHẠM THAO
(LIỆT SĨ)


Phạm Thao sinh năm 1922, dân tộc Kinh, quê ở tỉnh An Giang, tham gia cách mạng năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là đại tá, cán bộ Cục Nghiên cứu - Bộ Quốc phòng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Phạm Thao sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước. Tháng 8 năm 1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn, sau đó được cử ra Bắc học trường võ bị Trần Quốc Tuấn (Trường sĩ quan Lục quân I ngày nay). Ra trường, Phạm Thao trở lại miền Nam tham gia chiến đấu trên trận tuyến thầm lặng. Với trí thông minh và nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Phạm Thao đã thực hiện một cách xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, quân đội giao phó, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh đặc biệt do Mỹ tiến hành ở miền Nam nước ta.


Năm 1965, Phạm Thao không may sa vào tay địch. Bọn chúng đã tra tấn đồng chí vô cùng dã man. Song, không hề làm lay chuyển ý chí sắt đá của Phạm Thao.


Cay cú vì thất bại trước khí phách anh hùng của người Cộng sản, bọn đầu sỏ ngụy quyền đã giết hại đồng chí bằng những cú đòn hiểm độc.


Phạm Thao đã được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì và nhiều Huân chương cao quý khác.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Phạm Thao được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:43:47 am
ANH HÙNG ĐẶNG BÁ HÁT
(LIỆT SĨ)


Đặng Bá Hát sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở thôn Đồng Tái, xã Thống Kênh, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng. Trú quán số nhà 21, ngõ 21, Phố Mới thị xã Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 3 năm 1954, chuyển ngành tháng 1 năm 1960 công tác tại xí nghiệp 4, thuộc Công tv than Quảng Ninh. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng đại đội cao xạ 37 ly, tự vệ xí nghiệp tuyển than Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ một quân nhân chuyển ngành về xí nghiệp tuyển than Hòn Gai, 12 năm công tác, Đặng Bá Hát luôn luôn là một công nhân gương mẫu trong sản xuất, xây dựng tổ sản xuất từ yếu kém trở thành tổ lao động xã hội chủ nghĩa nhiều năm liền, từ một công nhân trưởng thành là Phó giám đốc phân xưởng.


Từ năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, đồng chí vừa tổ chức sản xuất giỏi, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu đánh trả máy bay địch, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.


Từ năm 1964 đển năm 1970, Đặng Bá Hát liên tục là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng; 3 năm liền 1967, 1968, 1969 đồng chí được Chính phủ tặng bằng khen.


Thành tích nổi bật, ngày 5 tháng 8 năm 1964 lần đầu tiên địch dùng không quân đánh phá miền Bắc, Đặng Bá Hát đã dũng cảm dẫn đầu đơn vị tự vệ dùng súng bộ binh bắn máy bay Mỹ đến đánh phá thị xã Hòn Gai.


Ngày 10 tháng 3 năm 1967, đồng chí chỉ huy đội trực chiến súng 12,7 đã chiến đấu ngoan cường cùng đồng đội bắn rơi một máy bay phản lực F4H.


Khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, Đặng Bá Hát được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội pháo cao xạ 37 ly, đồng chí đã chăm lo xây dựng đơn vị về mọi mặt, rất mực yêu thương đồng đội. Gia đình đồng chí bị địch bắn phá 3 lần, Đặng Bá Hát động viên vợ con ổn định cuộc sống, tiếp tục chỉ huy đơn vị trực chiến. Ngày 18 tháng 5 năm 1972, phán đoán thủ đoạn đánh phá của địch, Đặng Bá Hát chọn đúng thời cơ, nổ súng kịp thời, bắn tan xác một máy bay F4, bắn cháy một số chiếc khác.


Ngày 12 tháng 7 năm 1972, địch dùng nhiều loại máy bay, bay nhiều tầng, nhiều hướng, bằng nhiều thủ đoạn đánh phá quyết liệt 3 đợt liên tiếp trong ngày vào trận địa. Đồng chí đã dũng cảm đến từng khẩu đội để động viên cán bộ, chiến sĩ chiến đấu. Hai chiếc A6 bổ nhào cắt bom trúng trận địa, Đặng Bá Hát bị thương, ruột lòi ra, đồng chí một tay bịt vết thương, một tay phất cờ lệnh chỉ huy anh em bắn quyết liệt. Địch điên cuồng trút bom xuống trận địa, Đặng Bá Hát bị nhiều mảnh bom găm vào người, đồng chí đã anh dũng hy sinh trên tay vẫn nắm chắc cờ lệnh.


Đại đội pháo cao xạ 37 ly do Đặng Bá Hát làm đại đội trưởng đã được Nhà nước tặng danh hiệu "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" năm 1972.


Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, Huân chương Lao động hạng ba, 1 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 1 Huy hiệu Điện Biên Phủ.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Đặng Bá Hát được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:44:28 am
ANH HÙNG LÊ DUY VY
(LIỆT SĨ)


Lê Duy Vy sinh năm 1944, dân tộc Kinh, nhập ngũ 1962, quê ở xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà. Khi hy sinh đồng chí là đại úy, quận đội trưởng quận Tả Ngạn, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, năm 16 tuổi Lê Duy Vy tham gia thanh niên xung phong của huyện. Năm 1962 đồng chí gia nhập quân đội; năm 1964 vào chiến đấu ở chiến trường Thừa Thiên - Huế. Lê Duy Vy hoạt động chủ yếu là nội thành Huế và vùng giáp gianh huyện Hương Thủy - Phú Vang.


Lê Duy Vy là một cán bộ mẫu mực. Ở cương vị chỉ huy đồng chí kiên quyết, mưu trí, có tác phong sâu sát; trong cuộc sống Lê Duy Vy trung thực, cởi mở; gần gũi yêu thương bộ đội và nhân dân, được đồng đội và nhân dân yêu quý, giúp đỡ, che chở.


Thành tích nổi bật: tháng 5 năm 1967, Lê Duy Vy chỉ huy đội biệt động quận Tả Ngạn đánh liên đoàn bình định ở Hương Hồ, diệt 30 tên địch tại chỗ, thu nhiều vũ khí. Mùa Xuân 1968, đồng chí chỉ huy đội biệt động phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm quận Nhì - Huế, tiêu diệt gọn bộ máy ngụy quyền, bình định làm chủ quận Nhì. Tháng 6 năm 1968, Lê Duy Vy chỉ huy đơn vị đánh địch ở Phú Thứ, tiêu diệt 20 tên. Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.


Trong thời kỳ từ năm 1969 đến năm 1972, Mỹ - ngụy đánh phá quyết liệt, Lê Duy Vy đả bám dân, bám địa bàn, vừa củng cố, xây dựng cơ sở vừa chỉ huy tác chiến trên địa bàn của quận.


Tháng 10 năm 1972, trong khi đang làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở xã Phú Mỹ - huyện Phú Vang thì bị địch phát hiện hầm bí mật. Biết đồng chí là một cán bộ chủ chốt về quân sự của thành phố Huế, địch quyết bắt sống, nhưng đồng chí đã dũng cảm đánh trả không để rơi vào tay địch và đã anh dũng hy sinh.


Đồng chí đã được tặng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Duy Vy được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2023, 07:45:04 am
ANH HÙNG KĂN TRÉC
(LIỆT SĨ)


Kăn Tréc sinh năm 1938, dân tộc Pa Cô, quê ở xã Hồng Quảng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, tham gia cách mạng năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Hồng Quảng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 19 tuổi, Kăn Tréc đã tích cực đi đầu và vận động nhân dân cùng làm chông bẫy, và nhiều loại vũ khí tự tạo đánh địch để bảo vệ bản làng.


Từ lúc là chiến sĩ du kích đến lúc trưởng thành xã đội phó đồng chí đã đạt được nhiều thành tích:


Kăn Tréc trực tiếp tham gia chiến đấu lúc là chiến sĩ, khi là xã đội phó trực tiếp chỉ huy đội du kích, đánh 71 trận, bản thân diệt được 83 tên địch, giữ vững xã chiến đấu, bảo vệ được cách mạng.


Đồng chí đã cùng đội du kích luồn sâu tiếp cận dùng súng bộ binh bắn máy bay địch khi lên xuống ở sân bay A Lưới, bắn rơi 3 chiếc làm cho chúng không tự do gây tội ác, rải chất độc phá hoại mùa màng.


Kăn Tréc vận động nhân dân và chỉ huy đội du kích tích cực tiêu diệt địch bằng vũ khí thô sơ, vũ khí tự tạo. Đồng chí làm hàng trăm hầm chông góp phần cùng toàn dân đánh bại nhiều cuộc càn quét với quy mô lớn của địch.


Liên tục trong nhiều năm từ những ngày đen tối gian khổ cho đến khi bản làng được giải phóng, Kăn Tréc đã nuôi giấu, cưu mang những cán bộ hoạt động bí mật để xây dựng cơ sở, nhen nhóm ngọn lửa cách mạng trong vùng.


Kăn Tréc được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ thi đua.


Đồng chí đã hy sinh khi đang trên đường về Quân khu Trị Thiên dự Hội nghị mừng công tháng 11 năm 1966.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Kăn Tréc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:55:52 am
ANH HÙNG LẠI HÙNG CƯỜNG
(LIỆT SĨ)


Lại Hùng Cường sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 11 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là Trung đội trưởng trinh sát, đại đội 210, bộ đội địa phương tinh Lâm Đồng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lại Hùng Cường đã sớm có lòng yêu nước căm thù giặc, đồng chí tham gia du kích mật ở địa phương được tổ chức giao nhiệm vụ rải truyền đơn và tham gia biểu tình đòi dân sinh dân chủ chống lại sự đàn áp khủng bố của địch.


Tháng 12 năm 1960, Lại Hùng Cường đã mưu trí dũng cảm đánh lừa được kẻ địch, thoát khỏi vòng vây của chúng khi đang làm nhiệm vụ treo cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng ở một số nơi.


Tháng 11 năm 1961, Lại Hùng Cường được gia nhập Quân giải phóng ở đơn vị 210 lực lượng vũ trang của tinh Lâm Đồng. Trong thời gian này đồng chí luôn luôn tỏ ra tích cực, xông xáo trong mọi nhiệm vụ. Lại Hùng Cường được cấp trên giao nhiệm vụ thường xuyên bám địa bàn, bám dân, bám địch để tuyên truyền vận động quần chúng.


Đầu năm 1963, đồng chí chỉ huy đơn vị đánh địch trên đường 20 khu vực đèo Bảo Lộc diệt gọn 1 trung đội địch, phá hủy 2 xe quân sự, thu 4 súng. Tiếp đó là trận đánh ấp Đạ Hòa (Đạ Huoai), Lại Hùng Cường đã mưu trí bắt sống 3 tù binh, thu 3 súng.


Trận đánh đồn Tân Rơ Rang, đồng chí cùng tổ đặc công diệt gọn 1 trung đội địch làm chủ đồn, thu 20 khẩu súng.


Năm 1964, Lại Hùng Cường lập công xuất sắc, chỉ huy đơn vị tập kích 1 đơn vị bảo an đóng ở Đại Lào diệt gọn ban chỉ huy đại đội địch, thu 1 súng ngắn, 1 súng trường.


Đầu tháng 3 năm 1965, đồng chí chỉ huy đơn vị đánh đồn B’ Trộ, Lại Hùng Cường đã dũng cảm mưu trí chỉ huy bộ đội chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm chủ đồn, bắt sống 50 tên thu 55 súng các loại.


Ngày 29 tháng 3 năm 1965, Lại Hùng Cường chỉ huy đơn vị đánh địch ở ấp B’ Xu Lạch trên đường 14 Bic tiêu diệt gọn 1 trung đội địch thu 30 súng. Sáng hôm sau tiếp tục đánh quân tăng viện của địch một mình đồng chí diệt 3 tên, thu 1 súng đại liên, 1 súng ngắn.


Trận đánh cuối cùng của Lại Hùng Cường ở ngã ba Thành Thái trên đường 20 thuộc xã Lộc An (Bảo Lộc) ngày 26 tháng 11 năm 1965. Trận đánh không cân sức, lực lượng ta ít phải đối phó với 1 tiểu đoàn địch. Lại Hùng Cường đã mưu trí dũng cảm vừa đánh địch vừa đưa đồng đội hy sinh và bị thương về phía sau. Lúc này đồng chí đá bị thương gãy chân phải, Lại Hùng Cường đã tự băng bó cho mình và tiếp tục chiến đấu cho đến khi súng hết đạn, trong tay chi còn một quả lựu đạn cuối cùng. Địch xông lên kêu gọi đồng chí đầu hàng. Lại Hùng Cường rút chốt lựu đạn và quát to: "Quân giải phóng chỉ biết chiến thắng chứ không biết đầu hàng". Bọn địch xông vào bắt, đồng chí cho lựu đạn nổ trên tay làm cho nhiều tên địch chết tại chỗ và Lại Hùng Cường đã hy sinh một cách vẻ vang.


Cái chết của đồng chí đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, đồng đội và nhân dân địa phương vô cùng cảm phục và kính trọng.


Lại Hùng Cường đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 năm liền được bầu là Chiến sĩ thi đua của Quân khu và Miền, 5 bằng khen về thành tích chiến đấu và công tác.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lại Hùng Cường được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:56:36 am
ANH HÙNG VÕ TRỌNG SANH (TỨC AMA TỒN)
(LIỆT SĨ)


Võ Trọng Sanh (tức Ama Tồn) sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, nhập ngũ năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là Thường vụ huyện ủy, huyện đội trưởng huyện 10 (nay là huyện Lăk), tỉnh Đắc Lắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Võ Trọng Sanh cán bộ thuộc sư đoàn 305 - Quân khu 5, năm 1954 cùng sư đoàn tập kết ra Bắc.


Khi có Nghị quyết 15 của Trung ương, đồng chí được điều về miền Nam hoạt động. Cuối tháng 8 năm 1959, Võ Trọng Sanh đã có mặt tại Đắc Lắc. Sau khi học tập tình hình nhiệm vụ, đồng chí được cử về vùng Nam Buôn Ma Thuột làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, (đây là một vùng xa xôi, thời chống Pháp chưa có cơ sở). Sau một thời gian ngắn Võ Trọng Sanh đã xây dựng được nhiều cơ sở trên một vùng rộng lớn.


Khi nối được liên lạc với đội Đông Nam Lăk, đồng chí được giao làm nhiệm vụ liên lạc cho 2 đội và tỉnh (lúc này Võ Trọng Sanh mang tên Ama Tồn). Thấy đội còn ít người, đồng chí xin một mình đi liên lạc và vận động 2 thanh niên buôn Liêng cùng tham gia.


Khi có quyết định chia Đắc Lắc thành nhiều vùng (mật danh là B) Võ Trọng Sanh được điều về B5 (nam dường 21) phụ trách đường dây hành lang của B5. Đồng chí đã vận động nam nữ thanh niên tổ chức thành nhiều trạm nối thành đường dây liên tục ở B5.


Ngày 19 tháng 5 năm 1961, để thiết thực kỷ niệm ngày sinh của Bác, đường dây B5 bắt đầu nhận khách. (Đây là 1 trong 2 nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy giao cho đoàn 40 - Đoàn của Ama Tồn là nối được đường dây liên lạc giữa miền Trung vào Nam Bộ). Từ đó, đường dây do đồng chí phụ trách đã liên tục đưa nhiều đoàn cán bộ, nhiều đơn vị quân đội từ miền Bắc tăng cường cho các tỉnh miền Nam. Trong đó có nhiều đoàn cán bộ cao cấp, đặc biệt là đoàn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ Phú Yên vào Nam Bộ làm Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.


Năm 1965 hợp nhất các B thành tỉnh Đắc Lắc đường dây giao bưu giao về Ban giao bưu thuộc tỉnh ủy phụ trách, Võ Trọng Sanh trở lại quân đội làm huyện đội phó huyện 5 (H5). Khi về H5, đồng chí đã tích cực cùng huyện ủy và huyện đội chỉ huy phá áp chiến lược giải phóng toàn bộ vùng nông thôn H5 góp phần vào thắng lợi chung của tỉnh, đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ trên địa bàn của mình.


Năm 1967, Võ Trọng Sanh được điều về giữ chức huyện đội trưởng huyện 10 (H10), một vùng có căn cứ rộng lớn của tỉnh, địch ra sức đánh phá ác liệt dài ngày. Dưới dự lãnh đạo của huyện ủy huyện Lăk và sự chỉ đạo của tỉnh đội đồng chí đã cùng Ban chỉ huy huyện đội phát triển chiến tranh du kích, xây dựng làng chiến đấu giữ vững vùng căn cứ và mở rộng vùng giải phóng ở huyện Lắc, buộc địch phải bỏ quận Lạc Thiện về đóng tại buôn Ya.


Từ năm 1968 đến năm 1971, thực hiện đòn tiến công chiến lược trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, Võ Trọng Sanh đã cùng Ban chỉ huy các cấp huy động toàn bộ lực lượng quân dân nổi dậy tiến công chiếm quận Lạc Thiện, làm chủ 3 ngày. Năm 1971, huyện ủy quyết tâm tiêu diệt quận Lạc Thiện, giải phóng toàn bộ huyện, đồng chí trực tiếp đi chuẩn bị chiến trường, khi rút ra bị mìn địch gài, Võ Trọng Sanh hy sinh tại ấp chiến lược buôn Ya, một ấp án ngữ quận lỵ Lạc Thiện.


Võ Trọng Sanh là một cán bộ mẫu mực, chiến đấu và công tác không biết mệt mỏi. Trong chiến đấu mưu trí linh hoạt, nhử địch ra để tiêu diệt, Mỹ đổ quân chỗ nào đồng chí đều có mặt ở đó và tổ chức đánh những trận có hiệu quả.


Tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi khó khăn luôn hòa mình với anh em, nhặn khó khăn về mình, nhường cơm, nhường võng, chăm lo chu đáo đến đời sống của anh chị em. Võ Trọng Sanh được mọi người quý mến, tin tưởng, sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ đồng chí phân công. Đồng chí là người luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm xây dựng đơn vị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Võ Trọng Sanh (Ama Tồn) được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:57:20 am
ANH HÙNG ĐẶNG ĐÌNH VÂN
(LIỆT SĨ)


Đặng Đình Vân sinh năm 1928, dân tậc Kinh, quê ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ năm 1946. Khi hy sinh đồng chí là Trung tá, Quận đội trưởng Quận 2 - thành phố Đà Nẵng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đặng Đình Vân - xuất thân từ một gia đinh có truyền thống đấu tranh cách mạng. Cha là đảng viên trưóc Cách mạng Tháng Tám. Anh chị em ruột đều là đảng viên cộng sản, chiến đấu hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mẹ đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" (mẹ có 3 con và chồng là liệt sĩ).


Năm 17 tuổi, Đặng Đình Vân đã tham gia cách mạng. Năm 18 tuổi đồng chí nhập ngũ vào trung đoàn 108 Liên khu 5, rồi làm đại đội trưởng đại đội trinh sát 814, Liên khu 5.


Năm 1954, Đặng Đình Vân tập kết ra Bắc trong biên chế sư đoàn 305 - Bộ Tổng tham mưu.


Năm 1959, đồng chí về Nam chiến đấu, làm trưởng Ban quân báo Quân khu 5. Năm 1965, Đặng Đình Vân được điều về thành đội làm chỉ huy phó tham mưu trưởng Quận 2, Tinh ủy viên tỉnh Quảng Đà kiêm Bí thư Quận ủy quận 2 đến ngày hy sinh.


27 năm kể từ ngày tham gia cách mạng, rồi nhập ngũ hoạt động, chiến đấu trên các chiến trường, Đặng Đình Vân đã nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ cách mạng, người đảng viên cộng sản kiên trung bất khuất dù ở bất cứ cương vị nào từ tiểu đội trưởng đến quận đội trưởng - bí thư quận ủy... đồng chí luôn luôn gần gũi sát cánh cùng đồng đội chiến đấu lập nên những chiến công xuất sắc.


9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp Đặng Đình Vân đã tham gia đánh trên 60 trận lớn nhỏ. Trong đó có một số trận tiêu biểu như Mang Đen, Mang Bút, Cam Rẫy, Cam Lông, đèo Hải Vân v.v.


Là người con của miền Nam tập kết ra Bắc, đồng chí đã xung phong vào Nam chiến đấu sớm nhất. Cuối năm 1959, với cương vị là một cán bộ trinh sát quân báo, rồi trưởng Ban quân báo Quân khu 5, với những kiến thức được học hỏi ở miền Bắc. Đặng Đình Vân đã theo dõi nắm chắc các âm mưu hoạt động của địch phục vụ cho Bộ Tư lệnh, Bộ Tham mưu Quân khu chỉ đạo, chỉ huy đánh địch.


Khi được điều về thành đội Đà Nẵng đồng chí trực tiếp chỉ huy các đơn vị đặc công, biệt động thành phố đánh một số trận làm rung động hệ thống bố phòng của địch như: sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, trận địa tên lửa hốc Phước Tường, kho xăng Liên Chiểu, trận địa pháo hạng nặng Thanh Vinh, v.v...


Năm 1967, với tư cách là Bí thư quận ủy, quận đội trưởng quận 2, Đặng Đình Vân luôn suy nghĩ tìm tòi nhiều biện pháp lãnh đạo Đảng bộ vượt qua mọi khó khăn gian khổ, trụ bám địa bàn, trụ bám phong trào cách mạng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị, binh địch vận, thực hiện tốt phương châm 2 chân 3 mũi. Đồng chí chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động quận 2 liên tục đánh địch, gây rối loạn hậu phương chúng. Các trận đánh ở Bàu Tràm xã Hòa Hiệp phá tan tỉnh đường lưu vong Quảng Trị của địch và trận đánh nổi tiếng của 7 dũng sĩ Thanh Khê trong lòng thành phố giữa ban ngày và trận đánh vào tiểu đoàn bộ tiểu đoàn công binh ngụy tại ngã 3 Hòa Mỹ, đồng chí đều trực tiếp chỉ huy.


Đặng Đình Vân là một cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đầy tài năng, luôn bám sát quần chúng, gắn bó với phong trào cách mạng của nhân dân. Tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, không ngại gian khổ hy sinh, có lối sống giản dị gần gũi với đồng đội, và quần chúng nhân dân, được mọi người tin yêu quý mến.


Đặng Đình Vân đã được tặng thưởng: 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 1 Huân chương Độc lập hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, nhiều bằng khen của quân khu, sư đoàn, tính đội Quảng Đà, đồng chí được bầu là chiến sĩ thi đua cấp trung đoàn, sư đoàn, quân khu và toàn quân.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Đặng Đình Vân được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:58:07 am
ANH HÙNG LÊ THỊ ĐẢNH
(TÚC MẸ NHU)

(LIỆT SĨ)


Lê Thị Đảnh (tức Mẹ Nhu) sinh năm 1914, dân tộc Kinh, quê ở phường Thanh Lộc Đán, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là Thanh Khê 4 - phường Thanh Lộc Đán thành phố Đà Nẵng). Tham gia cách mạng 1968. Khi hy sinh Mẹ Nhu là cơ sở cách mạng thành phố Đà Nẵng.


Lê Thị Đảnh sinh ra và lớn lên giữa thành phố giàu truyền thống cách mạng. Cuộc đời Mẹ Nhu chịu bao đắng cay, khổ cực của người dân nô lệ. Mẹ có người con trai sớm giác ngộ cách mạng, đã đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tin con và có cảm tình với cách mạng Mẹ Nhu tích cực xây dựng hầm bí mật nuôi giấu con mình và cán bộ hoạt động.


Trong những năm 1966 - 1967, địch ráo riết lùng sục để ngăn chặn cơ sở cách mạng phát triển vào thành phố Đà Nẵng. Quanh vùng đồn bốt địch dầy đặc, nhưng Mẹ Nhu vẫn che chở, nuôi dưỡng cán bộ trong những căn hầm bí mật do chính tay mình đào. Nhiều đêm mẹ thức trắng để bảo vệ anh em cán bộ.


Từ những căn hầm của Mẹ Nhu, lực lượng của ta nhiều lần xuất kích luồn sâu, đánh hiểm, diệt hết đồn này đến đồn khác làm cho địch hoang mang khiếp sợ.


Năm 1968, do bọn đầu hàng chi điểm, địch biết nhà Mẹ Nhu có hầm bí mật nuôi giấu chiến sĩ biệt động Đà Nẵng. Chúng bí mật huy động lực lượng bao vây, bịt kín những con đường ra vào Thanh Khê, rồi bát ngờ ập vào nhà Mẹ Nhu. Con trai Mẹ là Phạm Phú Long bị bắt.. Chúng tra tấn đánh đập người con trai của Mẹ hòng buộc Mẹ thương con phải chỉ hầm bí mật. Không lay chuyển được ý chí và lòng trung thành của Mẹ với cách mạng, chúng xông vào đánh Mẹ dã man. Bất chấp sự dọa nạt khảo tra, Mẹ Nhu vẫn hiên ngang trước quân thù. Chúng đã hèn hạ nổ súng giết hại Mẹ Nhu. Từ dưới hầm 3 chiến sĩ biệt động bật lên, ném lựu đạn, bắn súng AK diệt 6 tên (có tên chỉ huy) bọn địch xô nhau bỏ chạy. Từ căn hầm nhà Mẹ Hiền (gần nhà Mẹ Nhu) 4 chiến sĩ biệt động cũng xông lên cùng phối hợp chiến đấu. Cuộc chiến đấu giữa 7 chiến sĩ Thanh Khê với 3 tiểu đoàn địch diễn ra suốt ngày 26 tháng 12 năm 1968. Đêm 26 tháng 12, các chiến sĩ biệt động của ta đã vượt vòng vây địch trở về căn cứ.


Tấm gương hy sinh anh dũng của Mẹ Nhu đã tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ ta và làm cho quân thù khiếp sợ.


Sau ngày miền Nam giải phóng, Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xây dựng tượng đài "Mẹ dũng sĩ Thanh Khê" để tưởng nhớ những Bà Mẹ đất Quảng anh hùng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Thị Đảnh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:58:48 am
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BẢY
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Thị Bảy sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở thôn Phú Mỹ, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tham gia cách mạng năm 1965, nhập ngũ tháng 2 năm 1967. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng nữ thuộc đại đội 2, bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Thị Bảy sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo thuộc vùng B huyện Đại Lộc, sớm có tinh thần giác ngộ cách mạng. Năm 17 tuổi đồng chí đã tự nguyện gia nhập lực lượng du kích tại xã. Đến năm 18 tuổi (năm 1966) Nguyễn Thị Bảy đã giữ chức xã đội phó xã Đại Minh. Đồng chí đã trực tiếp chỉ huy lực lượng du kích đánh chặn quân Mỹ đang càn quét tại thôn Ap Nam của xã. Nguyễn Thị Bảy đã chỉ huy một cách táo bạo chặn đứng được nhiều đợt tiến công của quân Mỹ kéo vào xã nhà. Tính từ tháng 4 năm 1966 đến tháng 3 năm 1967 đồng chí đã chỉ huy lực lượng du kích tiêu diệt 26 tên lính Mỹ, thu 9 khẩu AR 15 và 1 khẩu M79, riêng Nguyễn Thị Bảy đã bắn cháy 1 máy bay HU.34.


Tháng 4 năm 1967, đồng chí được trên điều về làm tiểu đội trưởng nữ thuộc đại đội 2 của huyện Đại Lộc. Sau 1 tháng tiểu đội Nguyễn Thị Bảy tập kích vào động Hà Sống thuộc địa phận Hà Nha, xã Đại Đồng (nơi Mỹ - ngụy tập trung đóng quân) tiêu diệt gọn 1 trung đội ngụy thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng trong đó có 1 máy RPC 25. Tháng 4 năm 1967 tại xã Đại Đồng tiểu đội đồng chí đã phối hợp với lực lương du kích xã chống địch càn tại thôn Lâm Phụng, tiêu diệt 15 tên Mỹ, thu được 6 khẩu súng AR 15.


Xuân Mậu Thân (1968) đại đội 2 được phân công tiến công tiêu diệt quân Mỹ - ngụy đang đóng tại Gò Đình và cầu Ái Nghĩa, tiểu đội đồng chí đã chiến đấu anh dũng tiêu diệt 1 tiểu đội ngụy.


Tháng 9 năm 1968, đơn vị Nguyễn Thị Bảy đang trú quân tại xã Đại Đồng, Mỹ - ngụy từ Thượng Đức kéo về càn quét tại thôn 5 và thôn 6. Tiểu đội đồng chí được phân công phục kích đã chặn đánh quân địch tại Khe Bò, tiêu diệt 20 tên ngụy.


Tháng 2 năm 1969, địch tập kích vào thôn Phước Bình và Phú Mỹ, tiểu đội nữ do đồng chí Nguyễn Thị Bảy chỉ huy đã phục kích trong đêm 28 tháng 2 năm 1969, diệt 12 tên Mỹ, thu 8 khẩu súng AR 15. Đến tháng 8 năm 1969, địch mở cuộc càn vào vùng B Đại Lộc, đại đội 2 đang trú quân tại thôn Phú Phước, được lệnh phục kích tại ngã ba Quán Bình Dân đã tiêu diệt 10 tên Mỹ - ngụy. Đồng chí đã chỉ huy tiểu đội phối hợp với lực lượng bạn chặn đứng nhiều đợt tiến quân của địch tiêu diệt 18 tên khi chúng càn vào thôn Phú Phước buộc địch phải rút lui về tuyến sau.


Ngày 21 tháng 10 năm 1970, địch tiếp tục mở nhiều đợt hành quân càn quét vào vùng B, tiểu đội do Nguyễn Thị Bảy chỉ huy chiến đấu trong đội hình phòng ngự của đại đội đã chiến đấu vô cùng quả cảm, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Trong một đợt đánh trả quân địch quyết liệt Nguyễn Thị Bảy đã anh dũng hy sinh khi bước vào tuổi hai mươi hai.


Trong quá trình chiến đấu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1965 đến tháng 10 năm 1970, Nguyễn Thị Bảy đã lập nên những chiến công oanh liệt tiêu diệt 101 tên Mỹ và 51 tên ngụy, bắn cháy 1 máy bay HU.34, thu được 51 súng các loại, 2 khẩu M79 - 1 máy PRC-25. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng ba, 4 Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 Dũng sĩ diệt cơ giới, 3 Dũng sĩ cấp I, II, III, 2 Dũng sĩ ưu tú.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thị Bảy được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 10:59:32 am
ANH HÙNG NGUYỄN CÔNG SÁU
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Công Sáu sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở thôn Bộ Nam, xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tham gia cách mạng tháng 3 năm 1969. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Công Sáu trực tiếp đánh 50 trận, tiêu diệt 150 tên địch, trong đó có 33 lính Mỹ (2 sĩ quan) thu 31 súng các loại, phá hủy 6 xe cơ giới. Những trận đánh tiêu biểu:


Tháng 2 năm 1970, Nguyễn Công Sáu vừa mới vào du kích đã tham gia đánh trận đầu tiên với bộ binh Mỹ, diệt 3 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu 14 lính Mỹ.


Tháng 6 năm 1970, đồng chí cùng du kích xã đánh đồn Chợ Cá diệt gọn trung đội Mỹ gồm 22 tên, hoàn toàn làm chủ trận địa.


Tháng 11 năm 1970, Nguyễn Công Sáu phối hợp với đại đội 2 huyện đội Đại Lộc chiến đấu diệt một trung đội dân vệ 21 tên, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội bảo an trên tuyến đường 104.


Từ đầu năm 1971 đến tháng 4 năm 1971 đồng chí chỉ huy đánh 10 trận lớn nhỏ diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, hàng chục xe cơ giới, xe bọc thép của địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Tháng 2 năm 1972, Nguyễn Công Sáu tham gia chiến đấu diệt 1 xe cơ giới và 9 tên địch trên đường 104.


Tháng 3 năm 1972, mở đầu chiến dịch chống bình định, Nguyễn Công Sáu với cương vị là xã đội phó đã chỉ huy du kích, diệt ác ôn, phá kềm làm cho địch không thế hoạt động trên địa bàn xã.


Ngày 21 tháng 10 năm 1972 Nguyễn Công Sáu đã mưu trí phục kích diệt 1 xe cơ giới của địch giữa ban ngày trên trục đường 104 diệt 4 tên (có 1 tên trung tá chỉ huy hành quân trên đường về).


Tháng 1 năm 1973, đồng chí chỉ huy du kích chốt giữ 15 ngày đêm liên tục ở thôn Giáo Tầy thuộc xã Đại Hòa đánh địch lấn chiếm bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.


Tháng 3 năm 1973, Nguyễn Công Sáu được bộ chỉ huy quân sự huyện Đại Lộc điều lên phối hợp đánh dịch tại vùng 8 huyện Đại Lộc diệt 1 trung đội thuộc trung đoàn 56 của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 19 tên.


Trận đánh ngày 26 tháng 3 năm 1974, Nguyễn Công Sáu cùng 3 du kích xã cải trang là học sinh lúc 10 giờ sáng vào cách đồn Ái Nghĩa khoảng 100 mét để diệt tên Nguyễn Hồ, đại úy cảnh sát đặc biệt là tên ác ôn khét tiếng, bắt nó phải đền tội ngay tại chỗ. Sau khi chiến đấu diệt được 4 tên lính địch, đồng chí bị thương vào chân phải không thể cùng đồng đội trở về được. Nguyễn Công Sáu tiếp tục chiến đấu đến khi hết đạn, rồi phá hủy khẩu súng và dùng lựu đạn chiến đấu diệt thêm 2 tên địch. Biết mình không thể sống được, Nguyễn Công Sáu rút chốt lựu đạn nằm đè lên, khi địch đến kéo đồng chí lựu đạn nổ làm chết tên trung đội trưởng và 3 tên lính nữa.


Trong quá trình chiến đấu, Nguyễn Công Sáu đã được tặng thưởng: 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng ba, 3 Dũng sĩ diệt cơ giới, 4 Chiến sĩ thi đua, 3 Dũng sĩ diệt Mỹ, 5 Dũng sĩ Quyết thắng, 7 Bằng khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Công Sáu được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 11:00:14 am
ANH HÙNG K ĐEN (TỨC K YET)
(LIỆT SĨ)


K’Đen (tức K’Yết) sinh năm 1940, dân tộc K’Dòn, quê ở buôn Đạch, xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ tháng 7 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là Trung đội trưởng trinh sát thuộc B742, bộ đội địa phương huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1957, K’Đen được cách mạng giáo dục giác ngộ làm cơ sở mật, nắm tình hình địch.


Năm 1959, K’Đen thoát ly tham gia lực lượng du kích tập trung, được cử làm tiểu đội trưởng.


Năm 1960, đơn vị 742 của huyện Di Linh được thành lập, K'Đen đưực giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng.


Ngày 20 tháng 12 năm 1961, đơn vị của K’Đen đã tiến đánh địch ở xã An Lạc bắt sống 10 tên thu 10 súng các loại.


Ngày 23 tháng 6 năm 1964, đơn vị của K’Đen phối hợp với lực lượng C2 của tỉnh chặn đánh quân tiếp viện của địch tại đèo Bảo Lộc, diệt gọn 1 đại đội địch, thu 41 súng các loại, phá hủy 1 xe vận tải của địch.


Năm 1963, đơn vị K’Đen được giao nhiệm vụ đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, chống âm mưu của địch gom dân, lập ấp chiến lược, đồng chí luôn luôn xông xáo đi đầu trong mọi nhiệm vụ, chiến đấu chống địch càn quét, diệt 7 tên địch, bảo vệ an toàn khu căn cứ của ta.


Ngày 15 tháng 1 năm 1966, K’Đen chỉ huy trung đội phối hợp với đội công tác B3 của thị trấn Di Linh vào nhà máy trà Nguyễn Linh để tuyên truyền vận động công nhân xây dựng lực lượng thì bị 1 trung đội bảo an địch phục kích. K’Đen đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, bắn 2 băng đạn diệt 1 số tên. Súng đã hết đạn, K’Đen bị thương, bọn địch khép chặt vòng vây và gọi hàng, K’Đen hiên ngang nói với kẻ thù: "Tao là chiến sĩ giải phóng quân không biết đầu hàng" địch xông vào bắt K’Đen. Kẻ thù đã đánh đập đồng chí cực kỳ dã man, nhưng K’Đen vẫn kiên cường chịu đựng không một lời khai báo tức tối trước khí phách anh hùng của đồng chí kẻ địch đã hèn hạ bắn chết K’Đen.


Hành động chiến đấu dũng cảm của K’Đen đã nêu một tấm gương sáng cho đơn vị và nhân dân trong xã học tập.


K’Đen hy sinh vô cùng anh dũng lúc mới 26 tuổi đời, 7 tuổi quân cùng với đơn vị tham gia chiến đấu chống địch càn quét 4 trận, đánh phối hợp với các đơn vị 6 trận, diệt 21 tên, thu 41 súng các loại, bắt sống 1 tên.


K’Đen đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, K’Đen được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 11:00:55 am
ANH HÙNG NGUYỄN THANH HÙNG
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Thanh Hùng sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hồng Thái, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là trung úy, chính trị viên đại đội 5, tiểu đoàn 482, bộ đội địa phương tinh Bình Thuận, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, Nguyễn Thanh Hnng liên tục chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến đấu đồng chí thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí, táo bạo, chỉ huy đơn vị kiên quyết, xử trí tình huống nhanh, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, không sợ ác liệt, hy sinh, bị thương vẫn không rời vị trí chỉ huy đơn vị chiến đấu.


Đặc biệt, trong 2 năm 1969 - 1970, với cương vị là chính trị viên đại đội, Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ huy đơn vị chiến đấu 1,0 trận, tiêu diệt hàng trăm tên 4 địch, bản thân diệt 75 tên, bắt sống 1 tên, thu 3 súng, phá hủy 5 máy bay.


Trận tập kích đồn 13 đêm 12 rạng 13 tháng 6 năm 1969, đồng chí chỉ huy đơn vị chiến đấu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bình định và 2 trung đội bảo an, bắt sống 3 tên, thu 17 súng, 3 máy thông tin. Riêng đồng chí diệt 8 tên, thu 2 súng.


Trận tập kích đồn Kim Bình đêm 31 tháng 8 năm 1970, Nguyễn Thanh Hùng bị thương 2 lần, gẫy cả 2 chân, nhưng vẫn động viên anh em nhanh chóng đưa thương binh ra ngoài, còn mình ở lại tiếp tục chiến đấu đến khi hết đạn để yểm trợ cho đơn vị rút lui. Sáng hôm sau (1-9), phát hiện thấy Nguyễn Thanh Hùng còn sóng, chúng kêu gọi đầu hàng, đồng chí đã ném 2 quả lựu đạn diệt thêm 1 số địch và anh dũng hy sinh.


Nguyễn Thanh Hùng được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và hạng ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 2 lần đạt Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I và III, 2 lần Dũng sĩ diệt máy bay và nhiều bằng khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thanh Hùng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 11:01:27 am
ANH HÙNG LÊ DUY ĐÌNH
(LIỆT SĨ)


Lê Duy Đình sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tham gia cách mạng năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, trên quê hương có truyền thống cách mạng, Lê Duy Đình sớm giác ngộ và tham gia vào đội du kích xã năm 1962. Trong sự nghiệp cách mạng, gia đình đồng chí đã có nhiều cống hiến xuất sắc: Cha, 2 con và bản thân đồng chí là liệt sĩ.


Quá trình chiến đấu và trưởng thành, Lê Duy Đình luôn luôn giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, thể hiện ý chí và hành động cách mạng trong sáng, được đồng đội và nhân dân tín nhiệm, yêu mến.


Trong thời gian tham gia cách mạng vào du kích xã, có 3 năm làm xã đội trưởng, Lê Duy Đình đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 170 trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Riêng bản thân diệt 150 tên, làm bị thương nhiều tên khác, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng. Đồng chí có nhiều trận đánh xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần vào chiến công chung của quân và dân xã Tiên Phong - xã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Lê Duy Đình là tấm gương tiêu biểu về tinh thần chiến đấu anh dũng, không sợ khó khăn gian khổ, ác liệt, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân, được nhân dân tin yêu, mến phục. Chiến công của đồng chí được quân và dân trong xã học tập, noi theo.


Lê Duy Đình đã được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công hạng nhì, 1 Huân chương chiến công hạng ba, nhiều lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ quyết thắng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Duy Đình được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2023, 11:02:02 am
ANH HÙNG TRẦN LƯƠNG
(LIỆT SĨ)


Trần Lương sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 8 năm 1949, xuất ngũ năm 1958, tái ngũ năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy, chính trị viên đại đội 7, tiểu đoàn 22, trung đoàn 2, sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Lương sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia công tác ở địa phương và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1949.


Tháng 8 năm 1949, đồng chí vào bộ đội, trực tiếp chiến đấu nhiều trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đội, qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, Trần Lương đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Kháng chiến thắng lợi, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, đồng chí được xuất ngũ về địa phương, tham gia xây dựng quê hương. Được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau, ở cương vị công tác nào, đồng chí cũng đều tận tụy, nêu gương sáng về phẩm chất người đảng viên, cán bộ, được nhân dân tin yêu, mến phục.


Tháng 4 năm 1965, Trần Lương tình nguyện tái ngũ và vào chiến trường miền Nam chiến đấu, với cương vị là chính trị viên phó đại đội, gần một năm ở chiến trường, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, trận nào cũng lập công xuất sắc và được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng ba. Đặc biệt là trận ngày 4, 5 tháng 3 năm 1966 tại cao điểm 62 (xã Sơn Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Trần Lương là chính trị viên đại đội, đảm nhiệm mũi tấn công chủ yếu của trung đoàn. Đây là trận quyết chiến điểm, nằm trong chiến dịch Tây Sơn Tịnh của sư đoàn. Sau 19 giờ chiến đấu liên tục trong điều kiện ác liệt, địch đông hơn ta gấp nhiều lần, lại nằm trong công sự vững chắc. Nhưng với tinh thần kiên quyết tấn công tiêu diệt địch, chính trị viên Trần Lương đã thể hiện rõ vai trò của một cán bộ chính trị xuất sắc, dũng cảm ngoan cường, nêu tấm gương sáng cho đơn vị học tập noi theo. Mặc dù hai lần bị thương nhưng đồng chí vẫn kiên quyết không rời trận địa, chỉ huy đơn vị chiến đấu đến phút cuối cùng, tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ làm chủ cao điểm 62. Trong tình huống vô cùng phức tạp, đơn vị thương vong gần hết, địch lại điên cuồng tấn công hòng lấy lại chốt. Với tinh thần "Còn người còn trận địa", Trần Lương đã xử lý tình huống linh hoạt, chỉ huy đơn vị chiến đấu ngoan cường và dũng cảm giữ vững trận địa. Được lệnh rút lui, nhưng địch bao vây không còn đường ra, đồng chí tình nguyện ở lại chiến đấu để đơn vị đưa thương binh ra ngoài vòng vây và hứa với tiểu đoàn: "Trần Lương sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng". Một mình một trận địa với 3 cây súng, lại bị thương nặng, đồng chí đã cầm cự với địch để đơn vị rút lui an toàn, Trần Lương đã anh dũng hy sinh.


Trận đánh ở cao điểm 62 đã tạo thế cho sư đoàn diệt 2 tiểu đoàn khác, góp phần bẻ gãy 1 trong "5 mũi tên" mà Mỹ nhằm "bắn" vào Khu 5 trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất.


Gương chiến đấu ngoan cường dũng cảm của Trần Lương là tấm gương sáng cho toàn sư đoàn học tập và noi theo. Một cán bộ trung kiên, dũng cảm, sâu sát, gương mẫu, quyết đoán. Chiến công của Trần Lương đã góp phần tô thắm thêm truyền thống anh hùng của sư đoận 2. Đồng chí đã được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Lương được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:34:08 am
ANH HÙNG ĐỖ VĂN BỐN
(LIỆT SĨ)


Đỗ Văn Bốn sinh năm 1917, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đỗ Văn Bốn sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo nên đã sớm giác ngộ cách mạng. Tháng 8 năm 1945 đồng chí đã tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 8 năm 1945. Sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Đỗ Văn Bốn được phân công ở lại xã Nhơn Hòa Lập quê hương của đồng chí để lãnh đạo phong trào cách mạng ở xã. Nơi đây lúc đầu là căn cứ của huyện ủy Mộc Hóa sau này là căn cứ của các lực lượng tỉnh và Khu 8.


Suốt quá trình hoạt động cách mạng gian khổ, ác liệt, Đỗ Văn Bốn là một cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao, sáng tạo trong công tác, anh dũng trong chiến đấu, có nhiều sáng kiến góp phần xây dựng lực lượng vũ trang của xã ngày càng vững chắc, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Ngay từ tháng 10 năm 1954, khi lực lượng ta chuyển quân khỏi vùng này, địch đã tập trung lực lượng truy lùng bắt bớ, trả thù những người kháng chiến và đàn áp phong trào cách mạng ở địa phương. Đỗ Văn Bốn đã tổ chức quần chúng dùng pháp lý đấu tranh trực diện với địch, đồng thời tập hợp lực lượng du kích, thanh niên lấy súng giấu ở các hầm bí mật thành lập lực lượng vũ trang và tiến hành vũ trang tuyên truyền làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.


Tháng 7 năm 1957, trong một lần làm nhiệm vụ hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đồng chí bị địch bắt giam ở khám đường Mộc Hóa, trong nhà giam Đỗ Văn Bốn đã củng cố được chi bộ.


Tháng 3 năm 1958, đồng chí đã tổ chức phá khám đường Mộc Hóa trở về vùng căn cứ tiếp tục hoạt động.


Năm 1959, Đỗ Văn Bốn được phân công giữ chức phó ban quân sự xã Nhơn Hòa Lập. Đồng chí đã thành lập được bộ phận quân giới của địa phương, tổ chức đi sưu tầm, sản xuất vũ khí thô sơ và xây dựng làng, xã chiến đấu bảo vệ được căn cứ.


Năm 1960, khi được lệnh đồng khởi Đỗ Văn Bốn đã chỉ huy du kích xã bao vây các đồn bốt địch tiêu diệt, bức rút, bức hàng 4 đồn hỗ trợ cho quần chúng phá khu gom dân của địch trở về ruộng vườn cũ làm ăn.


Tháng 2 năm 1961, đồng chí đã chỉ huy 1 tiểu đội phục kích diệt 1 trung đội địch đi càn ở đồn Kinh Bùi Củ trong đó có tên đồn trưởng, bắt sống 7 tên, thu 14 súng.


Năm 1962, Đỗ Văn Bốn chỉ huy du kích phối hợp với bộ đội tỉnh chặn đánh 1 đoàn tàu địch, bắn chìm 3 chiếc.


Năm 1964, sau khi điều trị lành vết thương, Đỗ Văn Bốn được cử về phụ trách Hậu cần vùng 4, tổ chức các trạm quân lương, quân khí từ vùng biên giới đưa xuống chiến trường. Giai đoạn này địch đánh phá và càn quét rát ác liệt, chúng dùng những tên chiêu hồi chỉ điểm đánh phá sâu vào vùng giải phóng. Đồng chí đã lãnh đạo và chỉ huy anh em trong trạm cùng với du kích đánh hàng chục trận để bảo vệ căn cứ. Nổi bật là trận cuối năm 1968, anh em trong trạm đã diệt 1 tiểu đội biệt kích trong đó có tên chiêu hồi dẫn đường.


Ngày 22 tháng 2 năm 1969, Ban cán sự vùng 4 (tỉnh ủy Kiến Tường) về họp tại Kinh Giữa xã Nhơn Ninh, địch đã dùng máy bay lên thẳng đổ quân bao vây. Đỗ Văn Bốn đã bố trí cho cán bộ xuống hầm bí mật. Sau khi lùng sục, địch phát hiện được dấu vết và cho quân đào bới tìm kiếm. Thấy tình thế có thể bị lộ, tính mạng của các đồng chí cán bộ lãnh đạo bị đe dọa, đồng chí đã dũng cảm nhảy lên khỏi hầm dùng lựu đạn ném vào đám lính đang đào bới khui hầm, rồi dùng súng bắn xối xả vào bọn địch, sau đó chạy ra khỏi cứ bắn thu hút địch. Nghe tiếng súng, lực lượng du kích Nhơn Ninh và Tiểu đoàn 505 Kiến Tường đưa lực lượng đến tiếp viện giải vây cho các đồng chí cán bộ vùng 4. Trong trận này Đỗ Văn Bốn đã diệt 8 tên địch có 1 tên trung úy đại đội trưởng và anh dũng hy sinh.


Đỗ Văn Bốn đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh để bảo vệ cán bộ, bảo vệ đồng đội. Gương chiến đấu hy sinh của đồng chí là nguồn lực tiếp thêm sức mạnh cho lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trong những năm chiến đấu gian khổ và ác liệt để chiến thắng kẻ thù.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Đỗ Văn Bốn được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:35:08 am
ANH HÙNG VÕ XUÂN LÂM
(LIỆT SĨ)


Võ Xuân Lâm sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Thủy, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 8 năm 1949. Khi hy sinh đồng chí là đại úy tham mưu trưởng trung đoàn 31, Mặt trận 4, tỉnh Quảng Đà, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ những ngày đầu vào quân đội đến khi trưởng thành cán bộ chỉ huy và đến lúc anh dũng hy sinh Võ Xuân Lâm luôn thể hiện phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng của người chiến sĩ, người cán bộ, người đảng viên Cộng sản.


Đầu năm 1961, Võ Xuân Lâm nhận nhiệm vụ vào chiến trường Quảng Đà, xây dựng đại đội 61 chuẩn bị phá áp, phá kìm của địch, giải phóng nông thôn. Đồng chí đã chỉ huy đại đội phối hợp với lực lượng vũ trang các địa phương lập nên những chiến công xuất sắc, giải phóng nhiều vùng nông thôn tỉnh Quảng Đà.


Từ năm 1965 đến năm 1967, với cương vị là tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 1, Võ Xuân Lâm đã cùng tập thể ban chỉ huy tiểu đoàn xây dựng đơn vị trưởng thành nhanh chóng đã xuất quân là đánh thắng, bẻ gẫy nhiều cuộc càn quét của địch, lập nhiều chiến công xuất sắc, giữ vững vùng giải phóng. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh địch 720 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 17.492 tên địch, bắt sống 510 tên, diệt gọn 3 đại đội, 1 tiểu đoàn ngụy, 1 tiểu đoàn lính Mỹ; 3 ban chỉ huy tiểu đoàn, 32 ban chỉ huy đại đội, 77 trung đội, 16 đoàn bình định, bắn cháy 235 xe (có 104 xe tăng và xe bọc thép) ; bắn rơi 140 máy bay, phá hủy 160 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Tiểu đoàn 1 được phong tặng Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có công lao đóng góp rất lớn của Võ Xuân Lâm.


Đồng chí là một cán bộ chỉ huy dũng cảm ngoan cường, kiên quyết, táo bạo trong chiến đấu luôn gương mẫu, đoàn kết chăm lo xây dựng đơn vị trưởng thành, gắn bó với nhân dân, được nhân dân tin yêu, mến phục.


Đồng chí hy sinh ngày 30 tháng 1 năm 1967, trong một trận chiến đấu ác liệt.


Võ Xuân Lâm đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Võ Xuân Lâm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:35:47 am
ANH HÙNG DƯƠNG VĂN HIỂU
(LIỆT SĨ)


Dương Văn Hiểu sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nhập ngũ tháng 2 năm 1956. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng trinh sát, bộ đội địa phương tỉnh Long An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Dương Văn Hiểu sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng và giàu lòng yêu nựớc. Mảnh đất quê hương đồng chí là vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Đến tuổi trưởng thành, Dương Văn Hiểu đi theo cách mạng (năm 1956) thoát ly gia đình vào lực lượng vũ trang của tỉnh Long An.


Quá trình hoạt động cách mạng đồng chí đã trưởng thành từ chiến sĩ lên tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi đại đội trưởng đại đội trinh sát thuộc lực lượng vũ trang giải phóng tỉnh Long An. Dương Văn Hiểu là một cán bộ tận tụy, luôn luôn gương mẫu, bám đất, bám dân vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc.


11 năm chiến đấu liên tục Dương Văn Hiểu đã 12 lần táo bạo, mưu trí vượt qua nhiều hiểm nguy đưa đón cán bộ cách mạng vào vùng địch hoạt động và trở ra an toàn. 121 lần đồng chí độc lập trinh sát và chỉ huy đơn vị trinh sát bám địch, nắm chắc quân số, vũ khi, trang bị, hầm hào, hệ thống hỏa lực và quy luật hoạt động của địch, kịp thời phục vụ cấp trên hạ quyết tâm chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Những trận thắng lớn có ý nghĩa quan trọng đối với cục diện chiến trường Long An như Hiệp Hòa, Đức Lập, Gô Đen, Phước Lý, Phước Vân...


Dương Văn Hiểu đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy đơn vị chiến đấu 93 trận lớn nhỏ, diệt 572 tên địch có gần 100 tên Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên; phá hủy 11 xe bọc thép, thu 365 súng và hàng ngàn tấn phương tiện chiến tranh của địch. Riêng đồng chí đã chiến đấu dũng cảm diệt 69 tên bắt sống 7 tên, thu 31 súng các loại.


Ngày 11 tháng 11 năm 1967, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Dương Văn Hiểu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ Quyết thắng, và 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua Quân giải phóng Miền (1963, 1964, 1965).


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Dương Văn Hiểu được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tạng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:36:53 am
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ NÊ
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Thị Nê sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là huyện đội phó huyện đội Nam Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Thị Nê xuất thân từ một gia đình có truyền thống cách mạng (5 anh em ruột tham gia Quân giải phóng có 2 là liệt sĩ). Từ khi nhập ngũ tháng 2 năm 1964, đồng chí liên tục hoạt động ở địa bàn Củ Chi - một trong những chiến trường ác liệt nhất ở miền Nam thời chống Mỹ.


Nguyễn Thị Nê đã trưởng thành từ chiến sĩ du kích lên tiểu đội trưởng, đội trưởng nữ du kích huyện với 60 đội viên, rồi huyện đội phó huyện đội Nam Củ Chi. Ở cương vị nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội, luôn là niềm động viên, niềm tin yêu của anh chị em trong đơn vị. Trong chiến đấu đồng chí luôn là một cán bộ chỉ huy mưu trí, dũng cảm, táo bạo đã lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Tháng 5 năm 1966, địch càn vào xã Phú Hòa Đông, Nguyễn Thị Nê chỉ huy tổ 3 người cùng đơn vị phục kích đánh địch. Đơn vị đã chiến đấu dũng cảm, ngăn chặn từng bước tiến của chúng. Sau một thời gian chiến đấu, địch biết đối phương là nữ chúng đã hò hét bắt sống. Đồng chí đã khôn khéo lừa địch đưa thương binh về phía sau an toàn, giữ vững trận địa, tiếp tục chiến đấu bẻ gẫy trận càn của 1 tiểu đoàn quân ngụy. Trận này tổ của đồng chí diệt 10 tên địch.


Tháng 5 năm 1967, Nguyễn Thị Nê chỉ huy tổ 3 người vào trinh sát khu để xe tăng và khu nhân viên kỹ thuật Mỹ ở căn cứ Đồng Dù. Mỗi lần ra vào trinh sát tổ của đồng chí phải qua nhiều lớp kẽm gai bùng nhùng có gắn mìn cóc và mìn chiếu sáng. Đồng chí đã ra vào 3 lần an toàn nắm chắc từng xe tăng, từng nhà bạt không để lại dấu vết. Sau khi hạ quyết tâm Nguyễn Thị Nê chỉ huy tổ 3 người lợi dụng đêm tối vào căn cứ Đồng Dù dùng mìn định hướng và thuốc nổ đánh địch diệt 50 tên Mỹ, phá hủy 7 xe tăng và 5 khẩu pháo 105 ly, cả tổ an toàn.


Đêm 30 tháng 10 năm 1967, huyện ủy quyết tâm cắm lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng ở thị trấn Củ Chi vào ngày mà bọn Thiệu gọi là "Quốc khánh" để xây dựng niềm tin cho quần chúng. Nguyễn Thị Nê chỉ huy tổ 4 người thực hiện ý định của lãnh đạo. Được cơ sở giúp đỡ, toàn tổ cải trang đột nhập vào thị trấn, đã cắm lá cờ lên ngọn cây điệp cao giữa thị trấn và gài mìn, diệt địch nếu chúng đến hạ cờ.


Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1967, nhân dân thị trấn hân hoan đổ ra đường ngắm lá cờ Cách mạng. Bọn địch điều 1 trung đội đến để hạ cờ, nhưng không tên nào dám leo lên. Chúng nhốn nháo vòng quanh cây điệp. Một tên bị bắt buộc lên hạ cờ, khi hắn vào đến gốc cây thì 2 trái mìn phát nổ cùng một lúc làm chết tại chỗ 15 tên, 9 tên bị thương, bọn địch rối loạn, hoang mang cực độ. 14 giờ chiều, chúng mới dám đến nhặt xác đồng bọn.


Ngày 27 tháng 10 năm 1969, Nguyễn Thị Nê đã anh dũng hy sinh khi mới 22 tuổi đời. Đồng chí là một nữ chỉ huy gan dạ, dũng cảm, táo bạo, thông minh, đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu hơn 100 trận, diệt gần 500 tên địch, có 200 lính Mỹ, phá hủy 70 xe tâng, xe bọc thép, 5 khẩu pháo, bắn rơi 15 máy bay. Riêng đồng chí đã diệt 50 địch có 15 Mỹ, phá hủy 4 xe tăng, 3 khẩu pháo.


Nguyễn Thị Nê đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và Huân chương Chiến công hạng ba. Nhiều lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Dũng sỹ diệt Mỹ các cấp.


Đồng chí đã được đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (1967) và vinh dự được Đại hội cho phép viết thư thăm Bác Hồ, báo cáo với Bác thành tích của đội nữ du kích Củ Chi.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thị Nê được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:37:42 am
ANH HÙNG TRẦN VĂN CHẨM
(LIỆT SĨ)


Trần Văn Chẩm sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, tham gia cách mạng năm 1961. Khi hy sinh Trần Văn Chẩm là đội viên thiếu niên du kích mật xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh.


Trần Văn Chẩm sinh trưởng trong một gia đình giàu lòng yêu nước, có truyền thống cách mạng. Gia đình có 4 người tham gia lực lượng vũ trang cách mạng, có 2 liệt sĩ (kể cả Chẩm).


Năm 1961, Trần Văn Chẩm đã tham gia hoạt động cách mạng, là đội viên thiếu niên du kích mật do bí thư chi bộ Phước Vĩnh An tổ chức. Lúc đó ở xã Phước Vĩnh An địch đưa về tên Chủng đại diện rất tàn ác, nguy hiểm, nó đã gây nhiều nợ máu với nhân dân. Chủ trương của huyện Củ Chi, diệt ác ôn là một yêu cầu cấp bách hàng đầu để bảo tòan cơ sở và đưa phong trào cách mạng đi lên. Tên Chủng nằm trong danh sách phải diệt.


Bí thư Phước Vĩnh An gặp đội du kích mật đặt vấn đề tiêu diệt tên Chủng. Đây là một việc rất khó vì tên Chủng rất cảnh giác, thường hắn chỉ quanh quẩn gần đồn Cây Bài, hơn nữa lại không có súng nếu súng dài thì không ngụy trang được, Trần Văn Chẩm đưa ra ý kiến:

- Chỉ cần súng nổ một phát, nó không chết thì mình chết và Chẩm xin được giết tên Chủng.

Trần Văn Chẩm là thiếu niên, giỏi đàn ca nên dễ lân la gần đồn Cây Bài. Chẩm đã điều tra nắm được tên Chủng hay ra quán cà phê - hủ tíu gần đồn vào khoảng 15 - 16 giờ hàng ngày. Chẩm đã học hỏi, tự tạo một khẩu súng bằng tuýp xe đạp lẫy cò bằng dây chun và đinh.


Chiều ngày 23 tháng 7 năm 1962, Chẩm giấu súng trong tay áo, cầm đàn ra quán gần đồn Cây Bài, có tên Chủng đang uống cà phê, Chẩm đi thẳng đến trước mặt Chủng, rút súng chĩa thẳng vào đầu vừa lẫy cò vừa tuyên án:

- Chủng mày có tội, tao giết mày.

Súng nổ tên Chủng chết tại chỗ. Sự việc diễn ra nhanh gọn.

Tền Chủng bị trừng trị nhân dân Phước Vĩnh An và cả Củ Chi vui mừng phấn khởi, bọn tề xung quanh thì hoang mang lo sợ. Địch treo giải thưởng bắt Chẩm. Tên Long cảnh sát cặp ác ôn với Chủng đã bắt chị của Chẩm đòi Chẩm ra hàng mới thả.

Nghe tin, Chẩm quyết định diệt tên Long.

Một tháng sau, buổi chiều nghe tin Long vào ấp tìm gái, Chẩm về thăm dò nhưng đến đầu xã Phước Vĩnh An, Chẩm rơi vào ổ phục kích của địch, bị chúng bắn gãy chân nên không thoát được. Bọn địch chưa biết Chẩm nên chúng tra hỏi:

- Đi với ai, có Chẩm theo không?

Biết trước sau rồi chúng cũng biết, Chẩm dõng dạc trả lời:

- Tụi bay khỏi tìm, tao là Chẩm đây. Thằng Chủng ác ôn, bắt bớ đánh đập dân, hại đồng bào, tao giết nó. Thằng nào như thằng Chủng tao cũng giết, chúng mày muốn giết tao cứ giết.

Cảnh sát Long nghe tin chạy đến, đưa Chẩm đến nhà một người dân ở xóm Cây Bài, lấy rựa chặt đầu Chẩm, cắm vào cọc đem bêu ở ngã tư Củ Chi, còn thân chúng chôn ở gần đồn Cây Bài. Lúc ấy Chẩm mới 15 tuổi.


Chiến công và cái chết oanh liệt củá Trần Văn Chẩm để lại trong lòng dân sự khám phục không chỉ ở Củ Chi mà cả trên chiến trường Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Nhân dân Củ Chi, Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định suy tôn Chẩm là "Trần Văn Chẩm anh hùng". Bài hát "Trần Văn Chẩm anh hùng" ra đời từ đoàn văn công Sài Gòn - Gia Định gần như là đội ca của đoàn thiếu niên Củ Chi trong kháng chiến chống Mỹ.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Văn Chẩm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:38:25 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN VOI
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Văn Voi sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, tham gia cách mạng tháng 2 năm 1969. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng du kích xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Voi là tiểu đội trưởng du kích xã đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lối sống trong sạch, giản dị, đoàn kết khiêm tốn được đồng đội và nhân dân tin yêu.


Trong chiến đấu đồng chí đã kiên cường bám trụ, dũng cảm, mưu trí táo bạo, nắm chắc mọi hoạt động và âm mưu của địch, tiến công liên tục, chuyên tìm diệt những tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân và cách mạng, thu được vũ khi và phương tiện chiến tranh của địch ngay trong nội ô thị xã. Nguyễn Văn Voi tham gia chiến đấu nhiều trận, riêng đồng chí diệt 5 tên ác ôn, bắn bị thương 3 tên, đánh sập 1 trụ sở hội đồng xã, thu 3 súng ngắn, cùng đồng đội lấy được 1 giang tầu quân cảnh, thu 16 súng và nhiều đạn dược. Ngay sau khi mới vào du kích Nguyễn Văn Voi đã đột nhập vào đồn tề xã ném 2 quả lựu đạn làm 2 tên lính bị thương.


Năm 1970, một lần đồng chí đột nhập vào ban tề xã lấy 1 máy đánh chữ về phục vụ cho văn phòng của ta.


Lần khác lợi dụng địch nghỉ trưa Nguyễn Văn Voi đột nhập vào trụ sở hội đồng xã đặt mìn, làm sập trụ sở của địch.


Ngày 5 tháng 11 năm 1971, đồng chí đã kiên trì mai phục tiêu diệt được tên thiếu úy trưởng cảnh sát Sa Đéc, thu 1 súng ngắn.


Ngày 25 tháng 2 năm 1971, tổ 3 người do Nguyễn Văn Voi đột nhập vào Sa Đéc giữa ban ngày lấy 1 bo bo của quân cảnh, thu được 2 súng tiểu liên và 1 khẩu M79 với nhiều đạn dược.


Tháng 5 năm 1971, đồng chí mai phục diệt tên phó đoàn "xây dựng nông thôn" và tên thiếu úy trưởng phân chi khu An Tịch, nhưng bị lộ, không diệt được 2 tên này, song đã làm chúng khiếp sợ phải xin chuyển đi nơi khác.


Ngày 24 tháng 2 năm 1972, Nguyễn Văn Voi đã tiêu diệt tên thiếu úy cảnh sát tỉnh Sa Đéc, thu 1 súng ngắn.


Ngày 17 tháng 8 năm 1972, đồng chí mai phục diệt tên trưởng ấp ác ôn nguy hiểm, thu 1 súng ngắn.


Năm 1973, Nguyễn Văn Voi diệt tên ác ôn ở xã Tân Hưng.


Trong trận đánh đồn xẻo Mây (Tân Lễ) tháng 8 năm 1973 đồng chí đã chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh.


Lúc còn sống, đồng chí luôn khiêm tốn, sống giản dị, được nhân dân và anh em tin yêu.


Nguyễn Văn Voi đã được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Voi được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:39:19 am
ANH HÙNG NGUYỄN CHÍ TRAI
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Chí Trai sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Trung Ngãi, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng công binh - đặc công, bộ đội địa phương huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Chí Trai sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, trên mảnh đất quê hương có truyền thống cách mạng từ năm 1930. Lúc 17 tuổi đồng chí đã xin vào du kích để được cầm súng đánh giặc. Từ chiến sĩ du kích của xã, Nguyễn Chí Trai đã trưởng thành lên đại đội trưởng công binh-đặc công huyện Vũng Liêm. Trong chiến đấu đồng chí đã nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí và táo bạo, bám sát địch, đánh địch trong mọi điều kiện.


Nguyễn Chí Trai đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy đơn vị đánh 150 trận lớn nhỏ, diệt 360 tên địch (có 4 tên Mỹ) phá hủy 62 xe quân sự (có 1 xe M113) đánh chìm 1 tàu sắt, đánh hỏng nặng 3 tàu xuồng chiến đấu, đánh sập 13 lần cầu kiên cố trên tuyến lộ 170 (quốc lộ 53), đánh 167 lần giao thông, phá 150m lộ đá, thu 163 súng các loại. Ngoài ra đồng chí còn hỗ trợ phá 55 ấp chiến lược, giác ngộ 60 gia đình binh sĩ, vận động 20 thanh niên vào du kích.


Năm 1962, mới vào du kích xã, Nguyễn Chí Trai đã cùng tiểu đội đánh 46 trận, diệt 75 địch, thu 25 súng (riêng đồng chí diệt 9 tên thu 5 súng).


Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 5 năm 1964, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy tổ công binh đánh 96 trận làm chết và bị thương 153 tên, phá hủy 12 xe quân sự, đánh sập 5 lần cầu sắt.


Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 11 năm 1965, Nguyễn Chí Trai đã chỉ huy đánh phối hợp và độc lập tác chiến 416 trận, diệt 193 tên (có 4 tên Mỹ), phá hủy 25 xe quân sự, đánh sập 6 lần cầu, phá 350m lộ giao thông, thu 36 súng các loại, góp phần ngăn chặn cuộc hành quân của địch.


Tháng 7 năm 1966, đồng chí dùng mìn đánh hư nặng 2 cầu sắt Mây Túc và Đồng Ké làm gián đoạn giao thông trên lộ 170 suốt 3 ngày đêm, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 509 đánh trận xuất sắc, diệt được 88 tên biệt kích.


Ngày 29 tháng 10 năm 1966, Nguyễn Chí Trai dẫn mũi đặc công thọc sâu giữa cụm quân địch, diệt 28 tên góp phần cho trận đánh thắng lợi.


Mùa khô 1966 - 1967, đồng chí được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị vừa đánh công đồn vừa đánh giao thông nhằm ngăn chặn và kìm chân địch. Tổ 3 người do Nguyễn Chí Trai chỉ huy đã vượt qua nhiều tầng canh gác của địch đánh sập 2 lần cầu mới bắc qua sông Mang Thít, diệt 12 tên, làm ngừng trệ giao thông thủy bộ hàng tuần lễ.


Tháng 3 năm 1966, đồng chí trực tiếp mang thủy lôi đánh hư nặng 2 chiếc tàu đang bảo vệ lính làm cầu trên sông Mang Thít.


Ngày 18 tháng 7 năm 1969, tổ 3 người do Nguyễn Chí Trai chỉ huy đã dùng 2 trái mìn 12kg đánh tan xác 2 xe GMC chở đầy lính đi gây tội ác, diệt 37 tên.


Ngày 25 tháng 8 năm 1969, cũng tổ 3 người do đồng chí chỉ huy dùng trái mìn 12kg đến lộ 170 chặn đánh xe địch. Dọc đường 1 đồng chí bị bệnh, còn lại 2 người vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Đến được mục tiêu thì trời sáng. Vừa đặt trái mìn xong chưa giải hết đoạn dây điện 300m thì đoàn xe GMC 8 chiếc chở đầy lính đi càn khu vực Càng Long đã tới. Không để lỡ cơ hội diệt địch, đồng chí điểm hỏa cho mìn nổ, 1 chiếc tan xác, đoàn xe bị chặn lại. Chúng bắn xối xả, Nguyễn Chí Trai bị thương nặng và đã hy sinh.


Nguyễn Chí Trai đã được tặng thưởng 1 Huy chương Kháng chiến hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 5 lần Chiến sĩ thi đua cấp huyện, 3 lần Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, 1 lần Chiến sĩ thi đua cấp Miền và 4 lần Dũng sĩ.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Chí Trai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:40:02 am
ANH HÙNG LÊ VĂN LIÊM
(LIỆT SĨ)


Lê Văn Liêm sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, tham gia cách mạng năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là đại đội phó đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Vĩnh Long, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Văn Liêm là một cán bộ trưởng thành từ chiến sĩ lên tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi đại đội phó đặc công tỉnh Vĩnh Long. Ở cương vị công tác nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, không sợ gian khổ, ác liệt, hy sinh, luôn nhận khó khăn về mình, hết lòng thương yêu và chăm sóc đồng đội, được anh em tin yêu, mến phục. Trong chiến đấu Lê Văn Liêm dũng cảm, mưu trí, đã chiến đấu và chỉ huy đơn vị chiến đấu nhiều trận, lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Tháng 5 năm 1-067, Lê Văn Liêm đã chỉ huy đơn vị đánh đồn Trà Kiết, tiêu diệt gọn 1 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Tháng 9 năm 1967, đồng chí chỉ huy đại đội 203 kết hợp với đại đội 205 đánh đồn Bình Tiên. Bằng cách đánh đặc công đã tiêu diệt 1 đại đội cảnh sát dã chiến, diệt và bắt 218 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng.


Trong cuộc Tổng tiến công năm 1968, tiểu đoàn 857 được Quân khu 9 giao nhiệm vụ đánh sân bay Vĩnh Long. Đây là sân bay lên thẳng lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, với 66 máy bay các loại và 150 tên Mỹ gồm sĩ quan giặc lái, nhân viên kỹ thuật. Trước khi đi làm nhiệm vụ đơn vị họp và xác định mũi thọc sâu đánh vào sân bay có thể hy sinh. Song vì thắng lợi của cả chiến dịch cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đều sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh đó.


Lê Văn Liêm đã xung phong nhận nhiệm vụ làm mũi trường mũi thọc sâu, chỉ huy 40 đồng chí đánh vào sân bay. Trận đánh đã diễn ra nhiều tình huống phức tạp, song đồng chí đã bình tĩnh, linh hoạt, mưu trí chỉ huy đơn vị chiến đấu dũng cảm, kết quả đã phá hủy được 63/66 máy bay, diệt nhiều tên Mỹ, đánh cháy 1 kho xăng, 1 kho đạn rốc két trong sân bay. Khi chỉ huy đơn vị rút ra tổ Lê Văn Liêm đã lọt vào bãi mìn dầy đặc của địch trong hàng rào. Đồng chí và một số anh em đã anh dũng hy sinh lúc 5 giờ sáng ngày 1 tết năm 1968 Lê Văn Liêm đã được tổng thưởng 1 Huân chương chiến cống hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, nhiều bằng, giấy khen của tỉnh đội và Quân khu 9.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Văn Liêm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:40:51 am
ANH HÙNG TRẦN VĂN ẨN
(LIỆT SĨ)


Trần Văn Ẩn sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở Phường 4, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, nhập ngũ tháng 3 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng đại đội 67 biệt động thị đội Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Văn Ẩn xuất thân trong gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng, cha là liệt sĩ. Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi, làm giao liên bí mật.


Từ khi nhập ngũ (1964) đến năm 1971, Trần Văn Ẩn chiến đấu ở địa bàn ven thị xã Trà Vinh nơi địch thường xuyên phòng bị chặt chẽ, lùng sục gắt gao... Trưởng thành từ chiến sĩ lên đại đội trưởng, Trần Văn Ẩn chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, bị thương nặng, vẫn không rời vị trí.


Đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy đơn vị liên tục bẻ gãy nhiều trận càn quét qui mô tiểu đoàn, trung đoàn địch, giữ vững địa bàn vùng ven, đồng thời liên tục thọc sâu đánh các mục tiêu quan trọng trong thị xã như: Trung tâm chiêu hồi, phòng căn cước thuộc ty cảnh sát, hậu cứ trung đoàn 14 sư đoàn 9 ngụy, kho xăng dầu gần cầu Long Bình v.v...


Trần Văn Ẩn đã cùng đơn vị đánh 128 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 1.825 tên địch, 3 lần đánh cháy kho xăng, đánh chìm 6 tàu quân sự, thu 248 súng các loại. Bản thân đồng chí diệt được 106 tên địch, thu 24 súng, bắn chìm 3 tàu, đánh cháy kho xăng 2 lần.


Những chiến công tiêu biểu:

Tháng 12 năm 1967, Trần Văn Ẩn đã cải trang nghiên cứu kỹ vị trí địch rồi chỉ huy tiểu đội đánh vào khu vực phường 7 thị xã Trà Vinh để mở rộng địa bàn đứng chân hoạt động quân sự chính trị của ta. Khi bị thương mảnh đạn xuyên vào đầu gối, đồng chí vẫn nén đau đẩy lựu đạn vào diệt địch tạo điều kiện cho tiểu đội dứt điểm vị trí địch, diệt 11 tên, thu 11 súng (trong đó có 1 trung liên).


Trong trận đánh ngày 2 tháng 7 năm 1968, tại xã Long Đức, đại đội Trần Văn An bị trung đoàn 14 (Sư đoàn 9 ngụy) có phi pháo mạnh yểm trợ chia 3 mũi bao vây. Đồng chí đã cùng đơn vị chiến đấu quyết liệt đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch. Khi đại đội mở được đường rút, đồng chí đã tình nguyện xin ở lại tổ chức lực lượng tìm thời cơ diệt thêm địch. Với 15 tay súng Trần Văn Ẩn đã chia thành 4 bộ phận đồng loạt nổ súng vào quân địch đang sơ hở, khiến chúng hoang mang hỗn loạn bắn lẫn nhau chết và bị thương 42 tên, ta an toàn. Với chiến thắng này ta đã bẻ gãy ý định hành quân đánh phá của địch vào căn cứ ta.


Một lần (tháng 9 năm 1969) Trần Văn Ẩn và một đồng đội bị thương đang trên đường rút bất ngờ gặp một đại đội địch đi càn. Đồng chí vừa cõng thương binh vừa đánh địch. Bản thân Trần Văn An cũng bị nhiều vết thương nhưng vẫn bình tĩnh ngoan cường đợi địch đến thật gần mới bắn súng và ném lựu đạn làm chết và bị thương hàng chục tên buộc chúng phải bỏ chạy. Trần Văn Ẩn đã đưa đồng đội về căn cứ an toàn.


Trần Văn Ẩn đã anh dũng hy sinh ngày 11 tháng 2 năm 1971, trên đường chuẩn bị cho đơn vị đánh địch ở xã Long Đức.


Khi còn sống, đồng chí luôn chăm lo xây dựng đơn vị về mọi mặt và luôn nêu gương hăng say đánh giặc; bị nhiều vết thương có vết hiểm nghèo (vào đầu gối vỡ khớp hoặc vết thương sọ não) vẫn không rời vị trí chiến đấu.


Đồng chí được đồng đội và nhân dân địa phương hết sức tin yêu mến phục.


Trần Văn Ẩn đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, 2 lần Chiến sĩ thi đua cấp Quân khu và tỉnh, 6 lần Chiến sĩ thi đua cơ sở và thị xã, 9 lần Dũng sĩ Quyết thắng, 4 bằng khen của tỉnh đội.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Văn Ẩn được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2023, 07:41:44 am
ANH HÙNG PHAN VĂN SÁU
(TỨC SÁU ĐÈO)

(LIỆT SĨ)


Phan Văn Sáu (tức Sáu Đèo) sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, tham gia cách mạng năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là chính trị viên xã đội, đội trưởng đội an ninh vũ trang, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Phan Văn Sáu sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cha mẹ, anh em, con cháu đều tham gia hoạt động cách mạng và có 8 người là liệt sĩ.


Đồng chí trưởng thành từ đội viên du kích lên ấp đội trưởng, chính trị viên xã đội rồi đội trưởng an ninh vũ trang của huyện. Ở cương vị công tác nào Phan Văn Sáu cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, sáng tạo nhiều cách đánh hay, kết hợp tốt hiện đại với thô sơ làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ khó đề phòng và chống đỡ.


Phan Văn Sáu đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu hơn 100 trận, tiêu diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khl, đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng.


Với trí thông minh, và lòng dũng cảm đồng chí đã đánh địch bằng nhiều loại vũ khí thô sơ, trên mọi địa hình ở mọi lúc, mọi nơi; từ cái gò đất, công sự, buồng chuối, buồng dừa, cần câu đến cái sập chuột, đều là vũ khí để đánh địch. Phan Văn Sáu rất nhạy cảm, tài tình phán đoán đường đi nước bước của địch để bố trí chỗ thì gài trái nhỏ, chỗ gài trái lớn, có chỗ phải gài trái lớn hơn... Với cách đánh này đã làm cho bọn lính đồn, quân cảnh khiếp vía kinh hồn. Phan Văn Sáu đã diệt gần 150 tên địch, có vị trí chỉ gài 1 trái nổ diệt gọn cả tiểu đội địch.


Xã Hậu Lộc và Mỹ Lộc là căn cứ và là bàn đạp của lực lượng ta để tấn công vào thị xã Vĩnh Long, vì vậy địch đã đưa 2 tiểu đoàn quân chủ lực về chiếm đóng và tiến hành bình định, lấn chiếm, phát quang địa hình nhằm đàn áp nhân dân và tiêu diệt lực lượng cách mạng. Phan Văn Sáu đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh hơn 50 trận lớn nhỏ, diệt 357 tên địch (có 2 cố vấn Mỹ), thu 52 súng, 1 máy PRC25 và nhiều đồ dùng quân sự đạp tan âm mưu binh định, phát hoang và lấn chiếm nông thôn ở 2 xã Mỹ Lộc và Hậu Lộc của địch.


Bị thất bại ở Hậu Lộc đich đã huy động nhiều tiểu đoàn với tàu chiến, xe bọc thép mở trận càn lớn vào 2 xã, chúng dùng chất độc hóa học và phun xăng đốt sạch từ Ba Kè đến Cái Sơn. Sau đó chúng dùng 1 tiểu đoàn có xe ủi đất để xây dựng sân bay dã chiến tại Cái Ngang. Nhận nhiệm vụ đánh địch, không cho chúng thực hiện ý đồ xây dựng sân bay dã chiến, ngay trận mở màn Phan Văn Sáu đã chỉ huy đơn vị diệt 5 xe ủi. Đồng chí đã sáng kiến gài trái nổ dưới mìn tuy không diệt được xe nhưng tiêu hao sinh lực địch. Với cách đánh này đã gây cho địch nhiều tổn thất. Sau đó chúng không gỡ mà phá mìn.


Đồng chí lại sáng chế loại mìn có vỏ bằng cây, kíp nổ bằng thủy tinh, cao su, địch chịu không thể phát hiện được vì vậy ta đã diệt thêm được 8 xe ủi nữa, địch phải bỏ kế hoạch xây dựng sân bay dã chiến ở đây.


Ngày 3 tháng 5 năm 1970, trong trận chiến đấu chống càn vào ấp 4 xã Hậu Lộc đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Phan Văn Sáu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, nhiều bằng khen và giấy khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Phan Văn Sáu được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:21:23 am
ANH HÙNG LÊ XUÂN PHÔI
(LIỆT SĨ)


Lê Xuân Phôi (tức Bình), tên khai sinh là Lê Xương Phôi sinh tháng 7 năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở thôn Đa Giá, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nhập ngũ tháng 3 năm 1947. Khi hy sinh đồng chí là đại úy, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 bộ binh, trung đoàn 66, Mặt trận Tây Nguyên (nay là Quân đoàn 3), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Xuân Phôi sớm giác ngộ cách mạng, năm 17 tuổi đồng chí tình nguyện vào bộ đội ; trưởng thành từ chiến sĩ liên lạc lên cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn. Ở cương vị nào đồng chí cũng đem hết sức mình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Lê Xuân Phôi đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Bắc Bắc, Trung Du, Thượng Lào, Điện Biên Phủ, Plây Me... trận nào đồng chí cũng lập công xuất sắc.


Thành tích tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp.


Trận chống càn ở Vĩnh Phúc trong chiến dịch Trung Du (tháng 1 năm 1952) trên hướng đơn vị đồng chí phụ trách, địch đông gấp nhiều lần, với hỏa lực mạnh, chúng tập trung đánh phá quyết liệt vào đội hình quân ta. Trung đội trưởng hy sinh, Lê Xuân Phôi là trung đội phó, tuy bị thương vẫn lên chỉ huy trung đội chiến đấu diệt hàng chục tên địch, đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, giữ vững trận địa. Trận này, Lê Xuân Phôi được tặng bằng khen và được đơn vị nêu gương học tập.


Trận tập kích cụm quân địch ở bản Ban trong chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953), với cương vị là trung đội trưởng xung kích, Lê Xuân Phôi xông xáo dẫn đầu đơn vị thọc sâu, đánh chia cắt quân địch, diệt hàng chục tên, làm chủ trận địa.


Trận đánh phản kích ở bản Bông trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Lê Xuân Phôi là trung đội trưởng đại liên, đã chỉ huy trung đội chiến đấu dũng cảm, diệt nhiều tên địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt, bộ đội bị thương vong nhiều. Đồng chí chỉ huy bộ binh hy sinh, Lê Xuân Phôi đã lên thay chỉ huy cả hai lực lượng chiến đấu đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt gần 100 tên, giữ vững trận địa, bảo vệ an toàn thương binh. Trận này, Lê Xuân Phôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì.


Trong kháng chiến chống Mỹ:

Trận ngày 17 tháng 11 năm 1965, tại thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Pìây Me lịch sử, đây là trận đầu tiên chủ lực quân đội ta giao chiến với một đơn vị sừng sỏ số 1 của quân đội viễn chinh Mỹ ở chiến trường Miền Trung. Sau khi tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 diệt gọn 2 đại đội Mỹ, nhưng cả 2 tiểu đoàn của ta củng bị tiêu hao. Để tập trung lực lượng giáng đòn quyết định diệt gọn tiểu đoàn Mỹ, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh điều gấp tiểu đoàn 8 đang trên đường hành quân từ Bắc vào còn cách khu chiến vài chục ki-lô-mét. Nắm được ý định tác chiến của trên, Lê Xuân Phôi tổ chức bộ đội cắt rừng hành quân suốt đêm 16 tháng 11 đến trưa ngày 17 tháng 11, tiểu đoàn 8 đã tới Ia Đrăng. Phát hiện được quân Mỹ, đồng chí vượt lên đầu trực tiếp tổ chức và chỉ huy bộ đội triển khai chiến đấu. Lê Xuân Phôi luôn tìm các gò đất cao để đứng quan sát địch và chỉ huy bộ đội. Đồng chí luôn có mặt ở những nơi gay cấn nhất của trận đánh, động viên bộ đội "bám thắt lưng Mỹ mà đánh". Khẩu hiệu "bám thắt lưng Mỹ mà đánh" đã lan nhanh trong đơn vị và trở thành phương châm tác chiến cổ vũ toàn tiểu đoàn lập công (Đinh Văn Đế, Trương Văn Bở dùng lê và dao găm đâm chết 5 tên Mỹ, Cao Đình Thơ bằng đường lê chính xác hạ 1 tên Mỹ v.v.). Trận đánh ở thung lũng Ia Đrăng kéo dài suốt 8 tiếng đồng hồ, tiểu đoàn 8 đã diệt gọn đại đội hành quân của lữ đoàn 3 và toàn bộ lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1 thuộc sư đoàn "Kỵ binh không vận" số 1 của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 400 tên. Trận đánh gần kết thúc Lê Xuân Phôi bị thương nặng, ruột lòi ra, đồng chí tự dùng tấm khăn dù ngụy trang băng vết thương, tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng.


Trận thắng quyết định này đã buộc quân Mỹ phải tháo chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng. Đây là lần đầu tiên quân Mỹ phải rút lui chiến dịch ở chiến trường miền Nam.


Khi còn sống, Lê Xuân Phôi luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt nhất là xây dựng quyết tâm chiến đấu. Vì vậy, khi tiểu đoàn 8 đang hành quân gặp Mỹ, cán bộ chiến sĩ hạ ba lô đánh được ngay và đánh thắng. Đồng chí có tác phong sâu sát, gương mẫu được anh em trong đơn vị tin yêu.


Lê Xuân Phôi được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 6 bằng khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Xuân Phôi được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:22:26 am
ANH HÙNG VƯƠNG VĂN KHẢNG
(LIỆT SĨ)


Vương Văn Khảng sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Diễn Cát, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 4 năm 1970. Khi hy sinh đồng chí là trung sĩ tiểu đội trưởng thuộc đại đội 3 đặc công, tiểu đoàn 631, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh trưởng trong một gia đình và quê hương có truyền thống cách mạng, Vương Văn Khảng tự nguyện vào chiến trường đánh Mỹ. Được biên chế về đơn vị đặc công với nhiệm vụ chủ yếu là đánh phá hậu cứ kho tàng và sinh lực kỹ thuật của địch. Vương Văn Khảng luôn xông xáo đi đầu, chiến đấu dũng cảm và mưu trí. Có trận đồng chí đốt cháy kho xăng hàng chục ngàn lít. Trong một trận tập kích ở phía tây Plây Cu, tổ chiến đấu của Vương Văn Khảng phá hủy cả cụm xe tăng 10 chiếc. Trận Làng Mai, sau khi hết đạn, đồng chí dùng dao găm đâm chết 1 tên, bắt sống 2 tên. Vương Văn Khảng luôn lấy tiếng súng làm mệnh lệnh hiệp đồng, sẵn sàng lao vào nơi ác liệt chi viện cho đồng đội.


Đặc biệt trong trận tiến công vào khu cư xá Mỹ ở đường Phan Đình Phùng, thị xã Plây Cu đêm 6 tháng 4 năm 1972, Vương Văn Khảng đã lập công đặc biệt xuất sắc. Sau khi đã đặt bộc phá vào cửa sổ ngôi nhà hai tầng để tiêu diệt bọn địch bên trong, mở màn cho toàn trận đánh, thì bọn địch phát hiện được khối bộc phá. Chúng cố tìm cách đẩy khối thuốc nổ văng ra ngoài. Mặc dù bộc phá đã giật nụ xòe, không một phút do dự, đồng chí dùng thân mình áp chặt giữ lấy quả bộc phá không cho địch hát ra. Bộc phá nổ, ngôi nhà hai tầng bị sập và Vương Văn Khảng đã hy sinh anh dũng.


Hành động dũng cảm của Vương Văn Khảng đã cổ vũ và tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 70 tên sĩ quan, nhân viên kỹ thuật và lính Mỹ.


Toàn đơn vị đã học tập tấm gương Vương Văn Khảng - "Phan Đình Giót của Tây Nguyên" đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công.


Quá trình chiến đấu, Vương Văn Khảng đã được thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ', "Dũng sĩ diệt xe cơ giới".


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Vương Văn Khảng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:23:10 am
ANH HÙNG HÀ VĂN CHÚC
(LIỆT SĨ)


Hà Văn Chúc sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 11 năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là thượng úy, đại đội phó lái máy bay thuộc trung đoàn 921, sư đoàn 371, Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ một chiến sĩ cao xạ, được đi học lái máy bay, Hà Văn Chúc luôn say mê trong học tập, và tranh thủ học thầy, học bạn. Năm 1964 đồng chí tốt nghiệp về nhận nhiệm vụ tại đại đội 1, trung đoàn 921. Là phi công mới, chưa có kinh nghiệm thực tiễn, Hà Văn Chúc chịu khó nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm của đồng đội và quyết tâm bắn rơi máy bay Mỹ. Được trên giao làm cán bộ đại đội, đồng chí luôn đề cao trách nhiệm, gương mẫu, sâu sát dìu dắt anh em mới, xây dựng đơn vị trưởng thành, vừa làm nhiệm vụ huấn luyện, vừa trực tiếp chiến đấu và lập công xuất sắc.


Vào lúc 15 giờ ngày 3 tháng 1 năm 1968, giặc Mỹ sử dụng 36 chiếc máy bay cường kích và tiêm kích từ hướng Sơn La vào đánh Hà Nội, Hà Văn Chúc được lệnh xuất kích. Đến Yên Châu, đồng chí phát hiện ba tốp máy bay địch, hai tốp F105 bay trước một tốp F4 bay sau bảo vệ; chưa kịp vào công kích, Hà Văn Chúc lại nhìn thấy 4 chiếc F4 bay lướt qua đầu, đồng chí cho máy bay vòng lại bám đuôi, đưa máy bay lên cao thì phát hiện bên phải có 2 tốp F105. Hà Văn Chúc cho máy bay hạ độ cao, chưa kịp bắn thì tốp F105 của địch đã vòng lại đón đầu, đồng chí nhanh chóng cho máy bay vọt lên; nhìn trái thấy một tốp F105, Hà Văn Chúc cho máy bay bổ nhào. Do động tác quá mạnh, máy bay không bám được mục tiêu. Mặc dù lượng dầu hoạt động không còn nhiều, nhưng với quyết tâm cao, đồng chí quan sát xung quanh và phát hiện 8 chiếc F105 ở hướng Tam Đảo, Hà Văn Chúc báo cáo xin phép sở chỉ huy vào công kích. Được lệnh đồng chí cho máy bay hướng thẳng vào chiếc F105 bay chính giữa và phóng tên lửa. Chiếc máy bay địch trúng đạn bốc cháy. Đội hình máy bay địch bị rối loạn không thực hiện được ý định vào đánh phá khu vực Hà Nội. Máy bay của Hà Văn Chúc đã hạ cánh an toàn.


Trận đánh thắng của Hà Văn Chúc đã thể hiện tư tưởng tiến công, lấy ít thắng nhiều, rút được kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, góp phần xây dựng kỹ chiến thuật của không quân nhân dân Việt Nam.


Ngày 14 tháng 1 năm 1968, Hà Văn Chúc lại cùng đồng đội bắn rơi một máy bay F105 của không quân Mỹ trên vùng trời huyện Sơn Dương. Quá trình chiến đấu máy bay của đồng chí bị trúng đạn, Hà Văn Chúc bị thương nặng phải nhảy dù.


Ngày 19 tháng 1 năm 1968, đồng chí đã hy sinh tại Quân y viện 108.


Hà Văn Chúc là một phi công dũng cảm, có ý chí chiến đấu cao, khi còn sống đồng chí là một cán bộ gương mẫu, đoàn kết xây dựng đơn vị tiến bộ trưởng thành. Đại đội 1 không quân 2 lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Hà Văn Chúc được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Hà Văn Chúc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:24:06 am
ANH HÙNG NGÔ ĐỨC MAI
(LIỆT SĨ)


Ngô Đức Mai sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An nhập ngũ tháng 7 năm 1955. Khi hy sinh là thượng úy, trung đội trưởng thuộc đại đội 2, trung đoàn 923, sư đoàn 371 không quân - Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sau khi nhập ngũ, Ngô Đức Mai được tuyển chọn đi học lái máy bay trồng nước và nước ngoài. Năm 1965, đồng chí về nước và tham gia chiến đấu. Là một phi công Ngô Đức Mai luôn chịu khó học tập, say mê nghiên cứu để làm chủ vũ khí trang bị; quyết tâm hạ bằng được máy bay Mỹ, bảo vệ vùng trời của Tổ quốc. Trong quãng thời gian tham gia chiến đấu (1965 - 1967), đồng chí đã lập công xuất sắc, bắn rơi 3 máy bay của không quân Mỹ gồm 2 chiếc F4 và 1 chiếc A4D.


Vào lúc 16 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1966, Ngô Đức Mai cùng biên đội xuất kích đánh địch trên vùng trời Yên Bái - Phú Thọ. Với ba loạt đạn ngắn, đồng chí đã bắn tan xác chiếc F4 của không quân Mỹ. Trên đường trở về căn cứ, biên đội phát hiện máy bay địch bám theo; được sự yểm hộ của đồng đội, Ngô Đức Mai bay trở lại đánh địch, buộc máy bay Mỹ bỏ chạy. Gần đến sân bay, đồng hồ báo hết dầu, với quyết tâm cao đồng chí không chịu nhảy dù, tìm mọi cách hạ cánh an toàn, bảo vệ được chiếc máy bay. Đây là trận mang tính truyền thống của trung đoàn 923: Đánh thắng trận đầu và đã ra quân là chiến thắng.


Ngày 14 tháng 7 năm 1966, Ngô Đức Mai bay trong biên đội 2 chiếc, chiến đấu với 12 máy bay A4D của không quân Mỹ trên vùng trời Hải Dương. Quá trình chiến đấu, mặt đất là làng xóm đông dân, để bảo vệ tính mạng của dân, đồng chí cùng đồng đội tìm cách kéo máy bay địch ra khu vực dưới là ruộng đồng, công kích hạ 2 máy bay địch, trong đó có chiếc thứ 1200 bị bắn rơi trên miền Bắc.


Ngày 12 tháng 5 năm 1967, trong biên đội 4 chiếc, tham gia chiến đấu với 20 máy bay địch gồm cả F4 và F105 trên vùng trời Hà Nội, Ngô Đức Mai cùng đồng đội bắn rơi tại chỗ 3 chiếc.


Ngày 3 tháng 6 năm 1967, trong khi chiến đấu với máy bay địch trên vùng trời Hà Bắc, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Ngô Đức Mai là một phi công dũng cảm, trong mọi điều kiện khó khăn, dù lực lượng không cân sức, vẫn quyết đánh và quyết thắng. Đồng chí sống giản dị, khiêm tốn được trên tin cậy, đồng đội tin yêu mến phục.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Ngô Đức Mai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:24:39 am
ANH HÙNG LÊ MINH HUÂN
(LIỆT SĨ)


Lê Minh Huân sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 3 năm 1953. Khi hy sinh đồng chí là trung úy, trung đội trưởng thuộc đại đội 1 trung đoàn 921, sư đoàn 371 không quân - Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Minh Huân vào bộ đội lúc 17 tuổi, tham gia kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, do yêu cầu xây dựng không quân, đồng chí được cử đi học lái máy bay. Mặc dù văn hóa thấp, tiếp xúc với khoa học kỹ thuật mới, Lê Minh Huân đã khắc phục khó khăn, miệt mài học tập, chịu khó rèn luyện và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, làm chủ được trang bị. Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc đồng chí cùng đơn vị tích cực học tập, xây dựng quyết tâm cao, cùng nhau bàn bạc, trao đổi cách đánh, trong điều kiện máy bay của ta có tốc độ chậm, so với máy bay địch còn nhiều hạn chế.


Ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lê Minh Huân được lệnh cùng đồng đội xuất kích đánh địch trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa. Địch vào đông, hỏa lực mạnh, bay nhiều tầng nhất là chúng dùng loại F105 "thần sấm sét". Với ý chí cao, đồng chí cùng đồng đội bay luồn lách, phá vỡ đội hình của chúng chủ động và liên tục tiến công địch. Được đồng đội yểm hộ, Lê Minh Huân đã bắn rơi 1 chiếc "thần sấm". Nhưng do địch quá đông, hỏa lực mạnh, máy bay Lê Minh Huân bị trúng đạn, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Chiến công bắn rơi F105 của Mỹ vào ngày 4 tháng 4 năm 1965 đã trở thành Ngày truyền thống của bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam, góp phần hạ uy thế của không quân Mỹ những ngày đầu khi chúng xâm phạm bầu trời Tổ quốc.


Lê Minh Huân đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Minh Huân được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:25:24 am
ANH HÙNG LÊ VĂN QUANG
(LIỆT SĨ)


Lê Văn Quang sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tinh Quảng Trị. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát vũ trang thuộc Công an nhân dân vũ trang huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Văn Quang sinh ra và lớn lên trên quê hương căn cứ kháng chiến của hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh. Năm 1948, đồng chí tham gia vào lực lượng du kích tập trung ở xã, dự nhiều trận đánh chống giặc Pháp càn quét. Tiêu biểu là trận đánh địch trên đường 11, tháng 11 năm 1951, với quả bom ba càng đồng chí đã khôn khéo diệt 1 xe quân sự và 5 tên lính Pháp.


Năm 1953, Lê Văn Quang nhập ngũ và được biên chế vào C.354 bộ đội địa phương. Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, C.354 được Quân khu 4 giao nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới Việt-Lào ở vùng Hướng Lập. Năm 1959, đơn vị được chuyển thành Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh.


Đồng chí được chọn vào phân đội 3 trinh sát vũ trang, giúp bạn Lào giải phóng vùng Ba Tổng. Vừa chiến đấu vừa xây dựng chính quyền cho bạn, đồng chí đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, nhiều năm được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ Thi đua.


Phân đội 3 trinh sát vũ trang Vĩnh Linh được giao nhiệm vụ vượt tuyến hoạt động ở các xã miền Tầy huyện Gio Linh, và huyện Cam Lộ, Lê Văn Quang cùng đơn vị tích cực trinh sát nắm tình hình địch, giáo dục cảm hóa những người do hoàn cảnh buộc phải cầm súng cho địch. Đồng thời đồng chí tổ chức diệt ác ôn hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh phá ách kìm kẹp của địch. Ngoài ra Lê Văn Quang còn điều tra xây dựng cơ sở trong quần chúng nhân dân và cơ sở nội tuyến để sử dụng địch đánh địch. Nổi bật đêm 15 rạng ngày 16 tháng 10 năm 1964, đồng chí cùng phân đội nổi dậy ở thôn Thiện Chánh (Cam Thủy - Cam Lộ). Sau thắng lợi phân đội của Lê Văn Quang bán trụ củng cố phong trào, bảo vệ cán bộ lãnh đạo. Địch đưa 1 tiểu đoàn biệt động quân bao vây làng Thiện Chánh, để bảo vệ cán bộ tinh ủy và huyện ủy, đồng chí cùng phân đội đã chống trả quyết liệt. Đến 15 giờ ngày 16 tháng 10 năm 1964, địch cho 1 chi đoàn xe tăng M.113 và máy bay lên thẳng tăng viện. Phân đội không có súng chống tăng, 7 chiếc xe tăng của địch bắn phá ác liệt hỗ trợ cho bộ binh chúng xông lên. Lê Văn Quang bình tĩnh rê nòng khẩu trung liên điểm từng viên vào những tên địch ngồi trên tháp xe và lính bộ binh bám theo. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, đồng đội lần lượt hy sinh, Lê Văn Quang bị mảnh đạn cối của địch chặt đứt cánh tay phải, với một cánh tay còn lại đồng chí đã dũng cảm cầm lựu đạn vọt ra khỏi chiến hào và nhảy lên xe tăng địch tung lựu đạn vào xe. Lê Văn Quang đã anh dũng hy sinh khi chiếc xe tăng địch bốc cháy.


Hành động dũng cảm ngoan cường của Lê Văn Quang lan nhanh khắp Gio Linh, Cam Lộ, làm cho nhân dân hết sức thán phục ý chí diệt thù của người chiến sĩ trinh sát vũ trang Vĩnh Linh. Hình ảnh của đồng chí mải mãi in đậm trong lòng người dân Thiện Chánh, trong lòng dân Quảng Trị.


Đây là chiến công đầu tiên diệt xe tăng địch bằng lựu đạn của Công an nhân dân vũ trang.


Ngày 3 tháng 8 năm 1995, Lê Văn Quang được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:26:45 am
ANH HÙNG TRAN CÔNG TIỆN
(LIỆT SĨ)


Trần Công Tiện sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở thôn Thượng Trạch, xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 4 năm 1948. Khi hy sinh đồng chí là đại úy. Công an nhân dân vũ trang huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Công Tiện sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha, mẹ, anh chị em đểu tham gia kháng chiến. Năm 1934 (tròn 14 tuổi), đồng chí đã tham gia cách mạng làm giao liên, gây cơ sở bí mật. Bước qua tuổi 16 Trần Công Tiện được kết nạp vào Đảng Cộng sạn Việt Nam, tiếp tục hoạt động bí mật. Từ năm 1942 đến năm 1945, do phong trào bị vỡ, đồng chí bị địch bắt giam tại nhà lao Quảng Trị. Trong tù Trần Công Tiện vẫn kiên trung bất khuất, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tầm đồng chí tham gia đơn vị chủ lực ở mặt trận Lào.


Năm 1946, Trần Công Tiện về làm công an xã Triệu Cơ và tham gia phong trào cách mạng ở địa phương.


Tháng 2 năm 1947, trận đầu tiên Pháp càn về vùng Chợ Cạn, Trần Công Tiện dũng cảm một mình mưu trí diệt 1 tên. Sau trận chống càn này, đồng chí được cử làm đội trưởng Công an xung phong thuộc ban điệp báo Ty công an Quảng Trị.


Tháng 2 năm 1948, Trần Công Tiện chỉ huy tổ Công an xung phong hóa trang đột nhập vào huyện lỵ huyện Triệu Phong, diệt tên chi trưởng an ninh. Đồng chí còn phối hợp với du kích, ban đêm đột nhập bắt bọn lý trưởng, hương vệ ở Đại Lộc, An Lộng, Dương Lộc, Như Lý.... Có lần Trần Công Tiện hóa trang đột nhập vào chợ Diên Sanh giữa ban ngày diệt tên đồn trưởng hương vệ tại chỗ và rút ra an toàn.


Tháng 6 năm 1952, đồng chí chỉ huy tổ Công an xung phong dũng cảm vượt qua hiểm nghèo lọt vào tận sào huyệt cơ quan tình báo địch, và sở liêm phóng Pháp ở Quảng trị, diệt tên Tui Le - chủ sự sở liêm phóng và rút ra gọn nhẹ.


Đầu năm 1953, Trần Công Tiện chỉ huy tổ Công an xung phong phục kích diệt tên đồn trưởng đồn Bích Khê, buộc cả đồn ra hàng.


Tháng 5 năm 1953, đồng chí chỉ huy tổ phục kích tại chợ Sãi diệt 1 chiếc xe JEEP của an ninh địch ở Triệu Phong.


Năm 1954, Trần Công Tiện, tổ chức cho anh em diệt tên đồn trưởng Triệu Phước - một tên phản bội rất hung ác.


Tháng 8 năm 1954, Trần Công Tiện tập kết ra Bắc theo Ty công an. Vốn tha thiết với công tác vũ trang, đồng chí được chuyển qua đại đội 2 công an giới tuyến và hoạt động công tác trên khu vực giới tuyến.


Năm 1958, Trần Công Tiện chỉ huy phân đội 3 trinh sát vũ trang mở đường lên miền tây tìm dân, tìm đất, đồng chí giúp dân Hướng Lập tập cày, tập cấy, sản xuất lương thực, thực phẩm ổn định vùng giải phóng. Những năm 1962-1963, Trần Công Tiện hoạt động vùng Ba Trăng, Cam Lộ và các xã miền tây Gio Linh trực tiếp lãnh đạo phân đội 3 trinh sát vũ trang Vĩnh Linh nắm tình hình địch, tổ chức diệt ác ôn, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh phá ách kìm kẹp.


Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 10 năm 1964, nắm chắc tình hình, Trần Công Tiện tổ chức phân đội đột phá khởi nghĩa ở thôn Thiện Chánh, xã Cam Thuỷ, Cam Lộ, vừa truy đuổi diệt bọn tay sai của Mỹ, vừa tuyên truyền, giác ngộ cho nhân dân đứng lên lật đổ ách kìm kẹp của địch giành chính quyền.


Địch đưa một tiểu đoàn biệt động quân tổ chức phản công bao vây thôn Thiện Chánh. Trần Công Tiện tổ chức triển khai ngay lực lượng chống trả quyết liệt, bảo vệ cho cán bộ tính ủy, huyện ủy Cam Lộ rút lui.


15 giờ ngày 16 tháng 4 năm 1964, địch cho một chi đoàn xe tăng M113 và máy bay lên thẳng tăng viện. Phải đối đầu với lực lượng quân địch đông gấp nhiều lần, được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, đồng chí vừa trực tiếp chiến đấu, vừa động viên, chỉ huy đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đây là trận đánh có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào quần chúng trong những năm sau đó. Trần Công Tiện là chỉ huy, đông thời là người trực tiếp chiến đấu giữ vững trận địa và anh dũng hy sinh.


Khi còn sống Trần Công Tiện là một người có đức tính trung thực, khảng khái, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.


Ngày 3 tháng 8 năm 1995, Trần Công Tiện được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:27:19 am
ANH HÙNG NGUYỄN THÀNH NGHĨA


Nguyễn Thành Nghĩa sinh năm 1939, dân tộc Kinh quê xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, tham gia cách mạng năm 1955, nhập ngũ tháng 1 năm 1961. Trong kháng chiến chống Mỹ (1973 - 1975) là tham mưu trưởng tỉnh đội Tây Ninh, kiêm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 bộ đội địa phương tỉnh Tầy Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã từ trần năm 1992.


Nguyễn Thành Nghĩa sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, trên quê hương giàu truyền thống cách mạng đã thôi thúc đồng chí tham gia cách mạng từ khi mới 16 tuổi. Từ một chiến sĩ liên lạc cho chi bộ và xã đội xã Thái Bình đồng chí đã dần dần trưởng thành đại đội trưởng đại đội 40 huyện Châu Thành, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 bộ đội tỉnh Tây Ninh rồi tham mưu trưởng tỉnh đội Tây Ninh. Ở cương vị công tác nào Nguyễn Thành Nghĩa củng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến đấu và chỉ huy chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Lúc 16 tuổi còn làm liên lạc cho xã đội, Nguyễn Thành Nghĩa đã lân la làm quen với dân vệ thừa cơ lấy được 1 quả lựu đạn. Đêm 16 tháng 1 năm 1960, bọn tề họp ở trụ sở hội đồng xã bàn mưu chống phá cách mạng, đồng chí đã tìm cách áp sát ném quả lựu đạn vào bàn làm việc của địch diệt 4 tên ác ôn, làm bị thương 6 tên trong hội đồng xã.


Một lần khác Nguyễn Thành Nghĩa đã mưu trí lừa tên trung đội trưởng dân vệ lấy được 1 khẩu súng cacbin, rồi bất ngờ diệt tên trưởng ấp có nhiều nợ máu giữa ban ngày, sau đó đồng chí nhận nhiệm vụ diệt tiếp 2 tên ác ôn ngay trong đồn địch.


Từ năm 1961 đến năm 1973, Nguyễn Thành Nghĩa đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận (tập kích, chống càn đến đánh quân đổ bộ hàng không). Có trận ta vả địch quần nhau suốt từ sáng đến tối. đánh lui 19 đợt tiến công của địch diệt hàng chục tên.


Có đợt cả tiểu đoàn quân Mỹ ở căn cứ Bắc Tiến, Chà Là ồ ạt đổ quân, chúng dùng pháo, súng phun lửa, xe tăng M113, M118, lựu đạn cay,... mở 9 đợt tiến công vào căn cứ của ta nhưng đều bị ta đánh bại.


Với cách đánh địch tài tình, mưu trí, linh hoạt Nguyễn Thành Nghĩa đã cùng đơn vị đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch (tiểu đoàn 2 chiến đoàn 25 ngụy; tiểu đoàn 1 chiến đoàn 49 - sư đoàn 25 ngụy, tiểu đoàn 304 bảo an ngụy) và 1 đồn cảnh sát, tiêu diệt 809 tên địch trong đó có 104 lính Mỹ, bắt sống 120 tên ngụy, thu nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch. Tiểu đoàn 14 do Năm Nghĩa chỉ huy đã gây nỗi khiếp sợ với quan quân sư đoàn 25 ngụy.


Thành tích của đồng chí gắn liền với thành tích của lực lượng vũ trang Tây Ninh. Nguyễn Thành Nghĩa là một tấm gương tiêu biểu về sự tận trung, tận hiếu với Đảng, với dân, thương yêu đồng đội, góp phần rèn luyện, xây dựng dẫn dắt tiểu đoàn 14 không ngừng lớn mạnh.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thành Nghĩa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:28:04 am
ANH HÙNG THÂN TRỌNG MỘT


Thân Trọng Một sinh năm 1921, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Thủy, huyện Hương Thủy, tinh Thừa Thiên - Huế; trú quán phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 8 năm 1945. Trong khống chiến chống Mỹ (1967 - 1972) đồng chí là Chỉ huy trưởng Đoàn 5 đặc công thành phố Huế, và Chỉ huy trưởng thành đội Huế, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1982 đồng chí nghỉ hưu với cấp bậc đại tá, đã từ trần năm 1993.


Thân Trọng Một sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, bố mẹ mất sớm, gia đình lại đông anh em nên cuộc sống rất gian truân. Nhưng đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, tham gia cướp chính quyền tháng 5 năm 1945 và trở thành một chiến sĩ dũng cảm kiên cường của trung đoàn Trần Cao Vân.


Năm 1951, Thân Trọng Một tổ chức đơn vị đánh địch trên quốc lộ 1A tiêu diệt hàng trăm tên địch ở đèo Hải Vân, thu nhiều vũ khí, đạn dược và quân trang, quân dụng. Riêng đồng chí đã bắn rơi 1 chiếc máy bay Đakôta của Pháp. Năm 1953, Thân Trọng Một tổ chức đơn vị chỉ huy đánh đồn Thổ ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang tiêu diệt 1 đại đội do Pháp chỉ huy, bắn chết 1 tên tướng Pháp và 50 tên ngụy. Trận đánh thắng có tiếng vang lớn, góp phần chiến thắng Thu - Đông 1953 - 1954.


Trong chống Mỹ, Thân Trọng Một luôn thể hiện khí phách anh hùng, không ngại khó khăn, gian khổ, dũng cảm lăn lộn bám sát địa bàn, bám sát chiến trường để chỉ huy lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tháng 5 năm 1967, đồng chí chỉ huy đánh khách sạn Hương Giang diệt 40 tên chuyên viên Mỹ. Tháng 6 năm 1967, Thân Trọng Một chỉ huy đơn vị đặc công đột nhập căn cứ Mã Tham ở Phú Bài diệt 46 tên Mỹ. Đồng chí đã có nhiều công trong việc củng cố và xây dựng lực lượng, tổ chức thành lập nhiều đơn vị trung đội công binh, súng cối và 6 đơn vị đặc công, biệt động.


Chiến dịch Xuân 1968, Thân Trọng Một chỉ huy cánh phía Nam thành phố Huế, tiến công đánh vào sào huyệt của địch, tiêu diệt nhiều tên Mỹ - ngụy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.


Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy đơn vị đánh tập kích vào quận Nam Hòa, diệt gọn 1 đại đội địa phương quân gồm 30 tên, thu nhiều vũ khí.


Tháng 2 năm 1972, đồng chí tổ chức đánh đồn Tân Ba, Mỏ Tầu và chặn đánh trung đoàn 54 lính ngụy tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắt nhiều tù bình thu được nhiều vũ khí, trang bị, giành thắng lợi to lớn, tạo đà cho chiến dịch Xuân 1975.


Mùa Xuân 1975, với cương vị là chỉ huy trưởng thành đội Huế, Thân Trọng Một chỉ huy các lực lượng thuộc quyền, phối hợp với đơn vị bạn, tổ chức đánh địch giải phóng Huế, góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.


Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí luôn nêu cao đạo đức, phẩm chất trong sáng của người cán bộ, đảng viên, sống giản dị, hết lòng thương yêu chiến sĩ luôn chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, bám sát và gần gũi nhân dân, được quần chúng và cán bộ, chiến sĩ yêu mến, tin cậy.


Thân Trọng Một đã được thưởng 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Thân Trọng Một được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2023, 07:28:57 am
ANH HÙNG CAO THỊ MAI
(TỨC MÁ BẢY)


Cao Thị Mai (tức Má Bảy) sinh năm 1908, dân tộc Kinh, quê ở ấp Bình Tường, xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945. Má Bảy là cơ sở cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.


Má Bảy sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Trước sự áp bức bất công của chế độ thực dân phong kiến. Má đã tham gia hoạt động cách mạng ngay từ tháng 8 năm 1945. Nhiệm vụ chủ yếu của Má là đưa thư, liên lạc, móc nối cơ sở cho cán bộ. Tuy nhà nghèo, con còn nhỏ, mẹ già nhưng Má luôn đảm bảo chu toàn, đầy đủ, kịp thời cơm nước, thuốc thang cho cán bộ. Có lần cán bộ bị bệnh phải điều trị dài ngày dưới hầm bí mật, Má không quản đường xa, ngược xuôi cắt thuốc, tần tảo sớm khuya chăm lo từng chén thuốc, miếng ăn, giấc ngủ cho cán bộ như lo cho con ruột của mình.


Những lúc gặp khó khăn, ác liệt Má đã mưu trí, linh hoạt, đấu tranh với địch, không sợ hy sinh tính mạng bản thân và gia đình, đã cứu sống hàng chục cán bộ cách mạng trong lúc hiểm nguy.


Ngoài ngôi nhà làm nơi đóng quân, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men và tin tức cho cách mạng, Má còn ra đồng cất thêm một ngôi nhà khác và đào 5 hầm bí mật, trong đó có 1 hầm sâu dưới mặt đất để bộ phận điện đài Phân khu III hoạt động, cất giữ vũ khí và tài liệu quan trọng.


Biết Má là người hoạt động cách mạng và nghi nhà Má có hầm bí mật nên địch luôn rình rập, theo dõi. Nhiều lần chúng bất ngờ vào nhà, khi thì đóng quân, khi thì khám xét, lúc giả bộ đội, cán bộ lỡ đường vào xin ăn... hòng tìm sơ hở để phát hiện hầm bí mật. Có lần địch đã dùng gần 200 lính các loại với đầy đủ vũ khí, cả đêm vây hãm, lùng sục, đào bới đồng thời khảo tra ba người trong gia đình nhưng chúng vẫn không moi được tin tức gì.


Chính nhờ sự bình tĩnh, và chịu đựng tra tấn dã man của địch Má đã bảo vệ an toàn tính mạng 7 đồng chí cán bộ cùng nhiều máy móc, vũ khí và tài liệu quan trọng.


Hơn 30 năm hoạt động cách mạng, qua 2 thời kỳ kháng chiến Má đã làm 9 hầm bí mật, che giấu hơn 300 cán bộ, chiến sĩ, chăm sóc nuôi dưỡng, chữa chạy cho 20 thương, bệnh binh, đặc biêt có một đồng chí Má nuôi hơn 1 năm trong hầm bí mật, bảo đẩm địa điểm tập kết cho hàng chục tấn vũ khí an toàn.


Má Bảy luôn luôn là nòng cốt vận động và tham gia 30 cuộc đấu tranh chính trị, thực hiện hàng trăm lần chuyển thư, liên lạc móc nối cơ sở cho cán bộ cách mạng an toàn.


Với 1 ha ruộng 2 vụ Má Bảy giành hơn 2/3 số thóc để nuôi quân suốt gần 30 năm kháng chiến. Má có 4 người con (2 trai, 2 gái) thì 3 người gia nhập quân đội, 1 người tham gia hội phụ nữ giải phóng xã, 2 người con trai của Má đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, 2 người con gái đều là đảng viên.


Má đã được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng ba, 1 Huân chương Chiến công, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, 1 Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, 1 bằng khen và 1 giấy khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Cao Thị Mai (tức Má Bảy) được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 09:57:40 am
ANH HÙNG CU TRÍP
(TỨC CAO MINH BÔN)


Cu Tríp (tức Cao Minh Bôn) sinh năm 1933, dân tộc Cà Tu, quê ở xã Hương Lâm, huyện A Lưới, tinh Thừa Thiên - Huế, tham gia cách mạng năm 1959. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là xã đội phó xã Hương Lâm huyện A Lưới, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay đồng chí là Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Hương Lâm.


Cu Tríp sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm, bản thân khi được giác ngộ đã một lòng một dạ đi theo cách mạng.


Trong chiến đấu, dù khó khăn gian khổ đến đâu đồng chí cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Cu Tríp luôn mưu trí, sáng tạo nhiều cách đánh địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay.


Đồng chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 488 trận, diệt 548 tên địch, trong đó có 6 tên Mỹ. Cu Tríp là người nổi tiếng trong vùng về dùng súng bộ binh bắn máy bay địch. Trận ngày 24 tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy du kích xã bắn rơi 11 máy bay các loại. Trong đợt hoạt động này, Cu Trip bắn rơi 2 máy bay, được tặng 2 Huân chương Chiến công giải phóng.


Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất; 2 Huân chương Chiến công hạng hai, 4 Huân chương Chiến công hạng ba. Hai lần là Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1 và 2 ; 4 lần là Chiến sĩ thi đua.


Hiện nay đồng chí là Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Hương Lâm, luôn luôn động viên gia đình, vận động nhân dân chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Cu Tríp được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 09:58:17 am
ANH HÙNG HUỲNH THỊ NGỌC
(TỨC NGUYỄN THỊ THU CÚC)


Huỳnh Thị Ngọc (tức Nguyễn Thị Thu Cúc) sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhơn Hội, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Trú quán 136 Hai Bà Trưng, phường Lê Lợi, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Trong kháng chiến chống Mỹ là cán bộ xây dựng cơ sở, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Huỳnh Thị Ngọc sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng (cha là bộ đội). Được sự giáo dục của gia đình và sự dìu dắt của Đảng, Huỳnh Thị Ngọc sớm giác ngộ cách mạng. Tháng 3 năm 1965, được thị ủy Qui Nhơn giao nhiệm vụ làm giao liên hợp pháp. Từ năm 1965 đến năm 1968 với cương vị là giao liên hợp pháp đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyển các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên đến với thị ủy Qui Nhơn và những báo cáo từ thị ủy về cấp trên. Cũng trong thời gian này Huỳnh Thị Ngọc 3 lần bị địch nghi vấn, bắt và phải chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn giữ vững ý chí cách mạng, một lòng một dạ trung thành với Đảng, không tiết lộ cơ sở, cuối cùng địch phải trả tự do.


Năm 1969, Huỳnh Thị Ngọc được Thị ủy giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở trong học sinh, sinh viên ở Qui Nhơn. Trên cương vị này đồng chí đã cùng với thị ủy lãnh đạo học sinh, sinh viên tiến hành nhiều cuộc đấu tranh với địch. Đặc biệt sau cái chết của em Nguyễn Văn Minh, học sinh trưởng Tây Sơn bị giặc Mỹ giết hại, Huỳnh Thị Ngọc đã cùng với thị ủy phát động, hướng dẫn học sinh, sinh viên Qui Nhơn xuống đường đấu tranh (trong các ngày 7, 8 tháng 12 năm 1970) vừa hô vang khẩu hiệu "lính Mỹ phải cút khỏi Qui Nhơn cút ngay về nước" vừa bao vây đập phá tòa tỉnh trưởng ngụy và đốt 52 xe vận tải quân sự ở Ghềnh Ráng. Cuộc đấu tranh đã lan nhanh trong giới học sinh, sinh viên và đồng bào phật giáo trong khắp các thành phố ở miền Nam làm cho ngụy quyền Sài Gòn hết sức hoảng hốt, buộc tên toàn quyền Bân Cơ phải cử tướng ABram đích thân đến Qui Nhơn để dàn xếp.


Năm 1971, Huỳnh Thị Ngọc được báo cáo điển hình về công tác lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên các đô thị tại Khu 5.


Ngoài việc xây dựng cơ sở chính trị, đồng chí đã cùng với thị ủy xây dựng đội biệt động trong học sinh, sinh viên.


Trong chiến dịch Hè-Thu năm 1972, nhận chỉ thị của cấp trên, Huỳnh Thị Ngọc đã trực tiếp chỉ huy đội biệt động dùng lựu đạn tiến công bọn ngụy quyền cấp tỉnh tại sân vận động Qui Nhơn giết chết tên tỉnh phó và nhiều sĩ quan cao cấp khác. Trận đánh đã gây được tiếng vang lớn, làm rối loạn hậu phương của địch. Sau trận đánh, địch bắt một số cơ sở trong học sinh tra tấn. Trong số này có người không chịu nổi đã khai báo Huỳnh Thị Ngọc chỉ huy. Địch truy lùng và bắt đồng chí đưa vào nhà lao Qui Nhơn. Tại đây địch tra tấn hết sức dã man nhưng Huỳnh Thị Ngọc giả điên không khai báo. Địch kết án tử hình rồi đưa vào biệt giam ở bộ tư lệnh cảnh sát ở Sài Gòn theo dõi. Ở Bộ tư lệnh cảnh sát, địch dùng đủ các hình thức tra tấn kể cả máy dò tâm lý, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục giả điên. Cuối cùng địch đưa ra pháp trường bịt mắt trói Huỳnh Thị Ngọc vào cột rồi nổ súng. Mặc đạn bay bên tai làm cháy tóc, đồng chí vẫn cười như điên thật. Địch đưa đồng chí vào nhà thương điên Biên Hòa ở cùng với người điên và bí mật theo dõi. Sau khi bác sĩ kết luận bị "Chấn loạn thần kinh" địch mới yên tâm.


Cũng tại nhà thương này, cơ sở cách mạng đã tổ chức cho Huỳnh Thị Ngọc vượt ngục. Sau khi vượt ngục đồng chí tiếp tục công tác ở Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.


Năm 1977, Huỳnh Thị Ngọc được bầu vào ban chấp hành Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam.


Từ năm 1978, đồng chí chuyển về tinh công tác ở thành phố Qui Nhơn đến cuối năm 1989 nghỉ hưu.


Với ý chí chiến đấu kiên cường, lòng trung thành với Đảng với nhân dân, đồng chí đã lập được nhiều thành tích xuất sắc và được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Quyết thắng hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Huỳnh Thị Ngọc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 09:59:02 am
ANH HÙNG A TRANH
(TÚC A NlẾC)


A Tranh (tức A Niếc) sinh năm 1924, dân tộc Xê Đăng, quê ở xã Đắc Uy thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; trú quán xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1964, trong kháng chiến chống Pháp (1949 - 1954) đồng chí là chủ tịch kiêm xã đội trưởng xã Đắc Uy. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1970), đồng chí là chính trị viên phó huyện 16 (Kon Rẫy). Năm 1975, A Tranh chuyển ngành, năm 1983 đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


A Tranh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Đắc Uy, thị xã Kon Tum, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1945 vừa tròn 16 tuổi đồng chí đã tham gia du kích xã rồi làm xã đội trưởng, liên tục chỉ huy du kích đánh giặc giữ làng, cùng nhân dân vận động con em đi lính cho Pháp trở về với buôn làng.


Từ năm 1949 đến năm 1954, với cương vị chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, A Tranh được giao nhiệm vụ bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, xây dựng đội du kích xã vững mạnh, củng cố phong trào cách mạng ở địa phương. Mặc dù bị địch kiểm soát gắt gao, lùng sục, bắt bớ nhứng người chúng cho là "Cộng sản nằm vùng", nhưng với ý chí cách mạng kiên cường, đồng chí đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng và đội du kích. A Tranh đã góp sức củng cố phong trào ở địa phương ngày càng vững mạnh. Đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng đứng lên phá bung áp chiến lược, giải phóng hơn 600 đồng bào khỏi ách kìm kẹp của địch trở về xây dựng vùng căn cứ cách mạng.


Tháng 3 năm 1964, A Tranh được giao nhiệm vụ chính trị viên phó huyện đội 16, là đơn vị mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn, địch lại đánh phá ác liệt, đồng chí đã nhanh chóng cùng ban chỉ huy huyện đội củng cố và phát triển lực lượng, chỉ huy đơn vị đánh địch quyết liệt. Quá trình tham gia cách mạng, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu 104 trận lớn nhỏ, diệt 70 tên địch, có 20 tên Mỹ, bắn cháy 2 máy bay L.19.


Đặc biệt năm 1966, trong chiến dịch Bắc Kon Tưm, địch sử dụng hơn 8000 quân càn vào căn cứ lõm H16, hòng hủy diệt đồng bào các dân tộc ở đây và đẩy lùi các lực lượng của ta ra ngoài, A Tranh đã chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt, có ngày tới 15 trận, diệt hàng trăm tên địch, giữ vững căn cứ. Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ chặn đánh giao thông trên đường 14, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Năm 1970, A Tranh được ra miền Bắc học tập, năm 1975 trở về quê hương tiếp tục làm cán bộ huyện, năm 1983 nghỉ hưu.


Trong 10 năm làm cán bộ chủ chốt của huyện A.Tranh đã mang hết sức lực và tâm huyết góp phần xây dựng huyện vững mạnh toàn diện (xã Đắc Uy và huyện 16 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Từ ngày nghỉ hưu đến nay đồng chí vẫn giữ vững và phát huy tốt phẩm chát cách mạng của người đảng viên.


A Tranh được tặng thưởng 12 Huân chương các loại (trong đó, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất). 2 lần là Chiến sĩ thi đua của Miền và Mặt trận Tây Nguyên.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, A Tranh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 09:59:40 am
ANH HÙNG PHẠM DẬU
(TỨC CÚC)


Phạm Dậu (tức Cúc) sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia cách mạng tháng 2 năm 1962. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964-1975) đồng chí là xã đội trưởng xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng chí là thương binh 3/4 đã nghỉ hưu năm 1983, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Phạm Dậu sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cuộc sống cực khổ, phải đi làm thuê để sinh sống. Năm 1962, đồng chí tham gia hoạt động bí mật ở địa phương, nắm tình hình cung cấp cho cách mạng và xây dựng cơ sở bên trong, đến tháng 3 năm 1964, Phạm Dậu tham gia du kích, liên tục chiến đấu từ chiến sĩ lên đội trưởng vũ trang và xã đội trưởng. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy đơn vị chiến đấu 467 trận lớn nhỏ, tự tay diệt 180 tên địch (phần lớn là lính Mỹ và lính Nam Triều Tiên), loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Có trận Phạm Dậu dùng mìn diệt gọn 1 trung đội Mỹ và bọn hội đồng xã giữa ban ngày. Trong quá trình chiến đấu đồng chí đã bắn cháy 7 xe quân sự, bắn rơi 1 máy bay, thu 67 súng, gọi hàng và bắt sống 39 tên, góp phần tạo được thế cho phong trào cách mạng của nhân dân địa phương đấu tranh giành thắng lợi trên các mặt.


Từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 11 năm 1977, Phạm Dậu là phó bí thư Đảng ủy xã, đồng chí liên tục bám dân chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích của xã phát triển mạnh.


Từ cuối năm 1977, đến lúc nghỉ hưu, với cương vị là Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, mặc dù là thương binh 3/4 cụt một chân nhưng đồng chí đã phát huy tốt bản chất người chiến sĩ cách mạng cùng đảng bộ chính quyền địa phương lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng vững mạnh, được nhân dân tin yêu, mến phục.


Phạm Dậu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 Dũng sĩ diệt xe cơ giới và nhiều bằng khen của huyện và tinh.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Phạm Dậu được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:00:20 am
ANH HÙNG TRẦN DŨNG
(TỨC BẢY CAO)


Trần Dũng (tức Bảy Cao) sinh năm 1925, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 9 năm 1947.


Trong kháng chiến chống Pháp đồng chí làm quân báo. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là cán bộ giao liên tỉnh Kon Tum. Hiện nay Trần Dũng là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Dũng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Gia đình đồng chí có 6 anh em đều tham gia hoạt động cách mạng, có ba người là đảng viên, một người là liệt sĩ.


Từ ngày vào bộ đội đồng chí được giao nhiệm vụ quân báo của đơn vị 201, và 202 Quân khu 5, hoạt động ở địa bàn Bắc Kon Tum. Nhiệm vụ khó khăn phức tạp nhưng đồng chí đã khắc phục liên tục đi chuẩn bị chiến trường, trinh sát nắm vững tình hình địch, phục vụ kịp thời cho chỉ huy, chỉ đạo, đảm bảo cho đơn vị đánh thắng.


Trong chiến đấu phục vụ chiến đấu Trần Dũng thể hiện dũng cảm, mưu trí, linh hoạt không ngại hy sinh gian khổ. Trong mọi nhiệm vụ được giao đồng chí đều tích cực và tự giác hoàn thành, Năm 1954, Trần Dũng được đảng cử ở lại làm nòng cốt xây dựng cơ sở cách mạng đó là thời kỳ khó khăn phức tạp nhất, song đồng chí đều vượt qua, liên tục bám đất, bám dân đi sâu xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Trần Dũng đã lãnh đạo vận động quần chúng đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đẩy mạnh các phong trào ở địa phương không ngừng phát triển.


Năm 1960, Trần Dũng được giao nhiệm vụ phụ trách các trạm đường dây, dẫn đường cho cán bộ tỉnh ủy, tỉnh đội và bộ đội từ miền Bắc đi vào Nam chiến đấu. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, mở đường tổ chức tốt cung, trạm đảm bảo 100% cho cán bộ, bộ đội hành quân di chuyển an toàn, đảm bảo mạch máu giao thông liên lạc cho tinh ủy, tỉnh đội chỉ huy lãnh đạo tác chiến kịp thời, đánh thắng địch trong mọi tình huống.


Ngoài nhiệm vụ chính, Trần Dũng còn có tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội và làm tốt công tác thương binh liệt sĩ trong chiến đấu.


Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, Trần Dũng vẫn tiếp tục công tác và được giao chức vụ Giám đốc bưu điện tỉnh Gia Lai-Kon Turn. Đến cuối năm 1978, do tuổi già sức yếu đồng chí được tổ chức cho nghỉ hưu. Khi về địa phương đồng chí tham gia tích cực các phong trào được chính quyền địa phương và nhân dân tin tưởng giao cho công tác như thường trực Đảng, Bí thư chi bộ và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã.


Trong suốt quá trình từ khi tham gia cách mạng cho đến nay, Trần Dũng đều nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được tổ chức phân công, đồng chí đã được anh em đồng đội, đồng bào tin yêu, mến phục.


Quá trình công tác, đồng chí đã được Đảng và Nhà nưóc tặng 10 Huân chương, Huy chương các loại, nhiều bằng, giấy khen và Chiến sĩ thi đua. Trong đó có 1 Huân chương Độc lập hạng ba, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Dũng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:01:13 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HAI
(TỨC HAI SÙNG)


Nguyễn Văn Hai (tức Hai Sùng) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng năm 1958. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là xã đội phó xã An Trường (1960 - 1965); năm 1969 đồng chí công tác ở huyện Càng Long; năm 1975 là thương binh 1/4 về quê; đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Hai tham gia cách mạng năm 1958, từ năm 1958 đến tháng 9 năm 1960, là cơ sở mật, đồng chí đã tích cực cùng cán bộ địa phương tạo được phong trào ở xã, góp phần chuẩn bị đồng khởi.


Từ tháng 9 năm 1960 đến tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Hai là du kích rồi trưởng thành lên xã đội phó. Đồng chí chiến đấu rất mưu trí dũng cảm, đã chỉ huy đơn vị đánh 313 trận lớn nhỏ, diệt 371 tên (có cả cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan ngụy), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Bản thân đồng chí diệt được 87 tên, chủ yếu bằng bắn tỉa, khiến địch chỉ nghe đến tên Hai Sùng đã khiếp sợ.


Một số trận đánh tiêu biểu:

Ngày 14 tháng 7 năm 1965, sư đoàn 9 chủ lực ngụy mở cuộc càn vào xã An Trường, Nguyễn Văn Hai đã chỉ huy đơn vị giành giật suốt 14 ngày đêm, diệt và làm bị thương 47 tên, thu 2 tàu bo bo đánh bật được địch ra khỏi xã. Riêng đồng chí diệt được 8 tên.


Ngày 12 tháng 3 năm 1967, trung đoàn 14 sư đoàn 9 ngụy càn vào xã, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh phục kích, đẩy đoàn xe bọc thép địch vào bãi mìn, đồng thời dũng cảm bám trận địa đánh quân tiếp viện.

Qua một ngày chiến đấu, đồng chí cùng đơn vị diệt trên 30 tên và phá hủy 4 xe bọc thép M113, ta an toàn. Sau trận này, địch co cụm một thời gian lâu không dám hoạt động.


Ngày 21 tháng 4 năm 1967, Nguyễn Văn Hai chỉ huy 2 du kích bí mật tiến công đội hình đóng quân của 1 đơn vị địch thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 14, sư đoàn 9 ngụy đóng quân trong xã. Địch bị đánh bất ngờ hốt hoảng bắn lẫn nhau, ta lợi dụng địch đang hỗn loạn diệt thêm được nhiều tên và rút an toàn. Kết quả trận này ta diệt và làm bị thương 62 tên, thu 6 súng, gây hoang mang lớn cho bọn lính trung đoàn 14.


Ngày 17 tháng 8 năm 1967, trong trận chiến đấu đánh địch càn vào xã, Nguyễn Văn Hai bị thương gãy chân bị ngất đi, khi tỉnh lại đồng chí đã dùng lưỡi lê chặt đứt chân gãy để tiếp tục chiến đấu dễ dàng và chỉ huy đơn vị rút an toàn khỏi vòng vây của địch. Trong trận này đơn vị diệt được 56 tên địch. Riêng đồng chí diệt 16 tên.


Từ năm 1969, do bị thương nặng sức khỏe sút kém nhiều, đồng chí chuyển sang làm công tác chính trị ở địa phương. Trên cương vị nào đồng chí cũng ra sức khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất đất nước, Nguyễn Văn Hai vẫn tích cực góp phần xây dựng địa phương, sống khiêm tốn giản dị, được nhân dân tin mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 1 Huân chương Giải phóng hạng nhất, 35 bằng khen cấp tỉnh và huyện.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Hai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:01:49 am
ANH HÙNG ĐOÀN THANH PHƯƠNG
(TỨC ĐOÀN VĂN CÔNG)


Đoàn Thanh Phương (tức Đoàn Văn Công sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; trú quán xã Trà Côn, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long, tham gia cách mạng năm 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là ấp đội trưởng, rồi chính trị viên phó đại đội Tây Đô 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đoàn Thanh Phương sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng, là cơ sở nuôi giấu cán bộ, đồng chí được giác ngộ và tham gia cách mạng năm 1960.


Từ năm 1960 đến năm 1964 Đoàn Thanh Phương là du kích mật của xã và bộ đội địa phương huyện Trà Ôn. Đồng chí đã cùng đơn vị chiến đấu hơn 30 trận, diệt và làm bị thương gần 300 tên địch. Riêng đồng chí đã đánh 20 trận, diệt và loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, trong đó có 2 tên Mỹ.


Năm 1965, Đoàn Thanh Phương bị thương phải đi điều trị, huyện đội đã cử đồng chí đi học y tá để về phục vụ anh em trong huyện.


Ngày 30 tháng 5 năm 1966, trên đường đi công tác, Đoàn Thanh Phương và một đồng chí gặp địch đổ quân, các đồng chí dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng với địch. Một đồng chí hy sinh còn Đoàn Thanh Phương bị thương và bị địch bắt. Chúng giam đồng chí ở khám lớn Vĩnh Long. Từ đó đến năm 1974 địch đã chuyển Đoàn Thanh Phương qua nhiều trại giam như Trà Nóc, Cần Thơ, khám Chí Hòa, Phú Quốc, Côn Đảo... Chúng đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man, đưa vào biệt giam chuồng cọp phơi mưa nắng suốt ngày đêm hàng tháng tròi, da bị rộp lên hết lớp này đến lớp khác hoặc bỏ đói và khát. Chúng đánh đập đồng chí chết đi, sống lại nhiều lần làm gãy hai xương sườn, 1 xương đòn, và rút hết 10 móng tay và 2 móng chân cái. Song Đoàn Thanh Phương vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, kiên quyết đấu tranh và vận động anh em cùng đấu tranh quyết liệt với địch. Đồng chí đã 4 lần tổ chức vượt ngục. Có lần các đồng chí dùng gầu mèn (dụng cụ đựng thức ăn) và sắt lấy của trại đào đường hầm hàng 100m song chẳng may trời mưa hầm sập kế hoạch không thành. Lần khác đồng chí vượt ngục lại bị lạc phải ăn lá rừng, thịt rắn cuối cùng kiệt sức và bị bắt lại. Với ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách mạng, Đoàn Thanh Phương đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ở ngay trong nhà tù và được tín nhiệm bầu làm bí thư chi bộ nhiều lần.


Ngày 13 tháng 6 năm 1971, địch đưa đồng chí cùng 2 người khác về đất liền để xử ở Tòa án quân sự đặc biệt vùng 4 chiến thuật (Cần Thơ). Các đồng chí đã phản đối làm náo động phiên tòa buộc phiên tòa phải kết thúc. Không xử được, chúng lại đưa các đồng chí về giam ở xà lim Cần Thơ rồi khám Chí Hòa. Tháng 5 năm 1972, chúng lại đưa các đồng chí ra Côn đảo.


Theo như các điều khoản ở Hiệp định Pa-ri, ngày 7 tháng 3 năm 1974, chúng đưa các đồng chí về trao trả ở Lộc Ninh.


Sau khi được điều trị, an dưỡng sức khỏe đã hồi phục Đoàn Thành Phương xin được trực tiếp cầm súng chiến đấu. Đồng chí được giao nhiệm vụ chính trị viên phó đại đội Tầy Đô 4, đơn vị đồng chí được phân công đánh căn cứ Chương Thiện và tiếp quản tại đó.


Ngày 30 tháng 7 năm 1977, do thương tật, và sức khỏe yếu nên đồng chí đã được phục viên, song vẫn tham gia hoạt động tích cực ở địa phương, là thành viên ban liên lạc cựu tù chính trị.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Đoàn Thanh Phương được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:02:30 am
ANH HÙNG TRẦN THỊ SỨA


Trần Thị Sữa sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, tham gia cách mạng năm 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là bí thư ban cán sự phụ trách quân sự thị trấn Thủ Thừa, tỉnh Long An, hiện nay là tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy huyện Thủ Thừa tỉnh Long An.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, năm 15 tuổi Trần Thị Sữa đã tham gia hoạt động cách mạng. Đồng Chí nhiều lần mưu trí và dũng cảm vượt qua tai mắt của địch nhận và chuyển các công văn, chỉ thị của Đảng từ vùng căn cứ đến cơ sở, giúp cho việc chỉ đạo của Đảng được xuyên suốt, kịp thời.


Năm 1963, Trần Thị Sữa được kết nạp vào Đảng và được tổ chức phân công phụ trách công tác vận động quần chúng đấu tranh chống địch khủng bố, càn quét, dồn dân lập ấp chiến lược. Tiếp đó đồng chí được giao làm trung đội trưởng du kích, chỉ huy đơn vị tự sản xuất vũ khí thô sơ để đánh địch, góp phần tạo ra phong trào sản xuất vũ khi tại địa phương. Trần Thị Sữa còn được giao nhiều nhiệm vụ khác, việc gì đồng chí cũng thể hiện được bản lĩnh vững vàng, đấu tranh kiên quyết, giữ vững, phát triển lực lượng và duy trì phong trào đấu tranh của quần chúng ở địa phương.


Từ năm 1964 đến năm 1968, do yêu cầu nhiệm vụ, Trần Thị Sữa được điều lên thành phố Sài Gòn hoạt động, xây dựng cơ sở, phục vụ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968. Đồng chí đã dựa vào quần chúng, hoạt động trong xưởng dệt Vạn Khôi, giác ngộ và phát triển một nữ công nhân cùng lao động trở thành đảng viên. Sau đó đồng chí đã tổ chức được chi bộ, lãnh đạo công nhân đấu tranh với chủ đòi tăng lương, cải thiện đời sống. Phong trào phát triển mạnh, địch ra sức lùng sục, và do bị lộ nên đồng chí được điều trở lại thị trấn Thủ Thừa hoạt động.


Năm 1970, địch bình định quyết liệt, chúng phá vỡ một số cơ sở của ta Trần Thị Sữa ngày đêm len lỏi trong dân, động viên bà con giữ vững ý chí, từng bước phát triển lực lượng, thành lập lại chi bộ, tổ chức chi đoàn và 1 tiểu đội biệt động diệt ác ôn, gây khí thế đấu tranh cho quần chúng.


Năm 1972, Trần Thị Sữa là bí thư Ban cán sự thị trấn Thủ Thừa, đồng chí đã vận động quần chúng ngăn chặn địch đánh phá vào địa bàn và tổ chức lực lượng nắm địch, giúp trên xóa được ý định của địch tạo vùng an toàn làm vành đai bảo vệ thị xã lần An và quốc lộ 1A.


Quá trình lãnh đạo phong trào, Trần Thị Sửa đã củng cố lực lượng vũ trang, trực tiếp đánh địch, xây dựng địa bàn tạo cơ sở hậu cần, để bộ đội chủ lực làm bàn đạp tiến công giải phóng tuyến phòng thủ Long An - Quốc lộ 1, góp phần quan trọng vào chiến thắng Xuân 1975.


Trong chiến dịch Xuân 1975, đơn vị do Trần Thị Sữa phụ trách đã tích cực điều tra nghiên cứu tình hình địch, vận động nhân dân ủng hộ lương thực thực phẩm, chuẩn bị phương tiện vận chuyển bộ đội trên các kênh rạch được phân công, đúng kế hoạch, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 5, Quân khu 7 trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra nghiên cứu, đồng chí đã 2 lần dũng cảm, vượt qua khó khăn, sẵn sàng hy sinh, tìm cách lừa địch cứu thoát 3 cán bộ của trung đoàn 3 và trinh sát về cứ an toàn.


Trong cuộc sống, Trần Thị Sữa luôn gương mẫu, gần gũi nhân dân và đồng đội. Mặc dù gia đình có nhiều người hy sinh, bản thân vì nhiệm vụ mà ngày cưới của mình, đồng chí cũng không có mặt, gặp chồng được 1 lần và sau đó anh đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.


Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Thị Sữa được bầu là Đại biểu Quốc hội khóa 8, đại biểu hội đồng nhân dân huyện, là tỉnh ủy viên tỉnh Long An kiêm bí thư huyện Thủ Thừa, đồng chí đã cùng huyện ủy, lãnh đạo nhân dân ổn định về chính trị, kinh tế-xã hội văn hóa phát triển, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Quyết thắng hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Thị Sữa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:03:05 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BA


Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre; trú quán số nhà 14 đường Sông Đáy, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ 1951. Trong kháng chiến đồng chí là phi công thuộc trung đoàn 919 không quân vận tải. Năm 1993 đồng chí nghỉ hưu quân hàm cấp đại tá, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Ba sinh ra và lớn lên trên một miền quê giàu truyền thống cách mạng. Năm 1951 đồng chí gia nhập quân đội. Năm 1954, tập kết ra Bắc, Nguyến Văn Ba được cử đi học lái máy bay. Trong quá trình học tập đồng chí luôn chịu khó học tập, rèn luyện để nắm vững khoa học kỹ thuật, làm chủ vũ khí trang bị đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của không quân nhân dân.


Trong những năm 1963 - 1964, Mỹ - ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy bay tung gián điệp. Máy bay của chúng thường thâm nhập vào ban đêm, bay tháp, và luôn thay đổi đường bay đã gây khó khăn cho các lực lượng cao xạ của ta trong việc diệt chúng. Thời gian này, ta thu được chiếc máy bay T28 do Mỹ trang bị cho không quân ngụy Lào, do một phi công ngụy Lào lái sang hàng ta. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28, không có lí lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế. Người hàng binh ngụy Lào cũng mới chuyển loại bay được 8 giờ nên chưa thành thạo. Nguyễn Văn Ba được giao thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đồng chí đã cùng đồng đội kiên trì tìm hiểu và say mê luyện tập rút kinh nghiệm. Sau hai lần bay trực chiến thành công, đến lần thứ ba và đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 chở biệt kích Mỹ ngụy xâm nhập vùng trời nước ta, Được sự đồng ý của sở chỉ huy đồng chí cho máy bay lao vào công lách và bằng ba loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123.


Đây là chiến công đầu của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc nước ta. Sau chiến công này, Nguyễn Văn Ba đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Đặc biệt là trận đánh trạm ra-đa tây bắc Sầm Nưa năm 1968.


Tháng 3 năm 1973 Nguyễn Văn Ba làm đoàn trưởng tiếp nhận sân bay Lộc Ninh - Thiện Ngôn. Đồng chí đã chỉ huy việc tháo rời chiếc UH-1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra miền Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập.


Tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Ba, tiếp nhận sân bay Phù Cát và Qui Nhơn, đồng thời tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất.


Năm 1976, đồng chí là giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất.


Năm 1978 - 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, Nguyễn Văn Ba chuyển sang Tổng Cục Hàng không dân dụng. Năm 1993, đồng chí được nghỉ hưu với quân hàm đại tá.


Nguyễn Văn Ba đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Ba được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Bảy, 2023, 10:03:53 am
ANH HÙNG NGUYỄN TƯỜNG LONG


Nguyễn Tường Long sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; trú quán 211A Nguyễn Thái Bình, phường Nguyễn Thái Bình, quận I, thành phố Hồ Chí Minh, tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là cán bộ trung cấp kỹ thuật động cơ hàng không. Năm 1984, đồng chí nghỉ hưu cấp quân hàm thượng úy; xưởng phó xưởng A41, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Tường Long sớm giác ngộ cách mạng, năm 12 tuổi (1945) đồng chí tham gia cách mạng và liên tục chiến đấu, phục vụ chiến đấu suốt 9 năm chống Pháp ở chiến trường miền Nam.


Năm 1954, Nguyễn Tường Long tập kết ra Bắc, tham gia tiếp quản sân bay Gia Lâm, sau đó đồng chí được cử đi học thợ sửa chữa máy bay. Ra trường đồng chí được điều về trung đoàn 919.


Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bằng trí tuệ của mình, cộng với việc tích cực, học tập rèn luyện, nắm vững khoa học kỹ thuật với tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, đồng chí đã tập trung tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, cải tiến và lắp ráp các phương tiện trên máy bay vận tải để máy bay vừa làm nhiệm vụ vận chuyển, thả hàng hóa có hiệu quả cao, vừa có thể đánh địch cả trên không, mặt đất và trên biển... Vì vậy đã góp phần cho Đoàn 919 lập nên những chiến công vẻ vang.


Tháng 9 năm 1959, Nguyễn Tường Long đã trực tiếp chế tạo nút thả hàng, giá thả hàng, bảo đảm thả hết 60 tấn hàng cho Đoàn 559 đúng thời gian, an toàn.


Năm 1966, đồng chí đã nghiên cứu và lắp pháo sáng, giá phóng rốc két cho máy bay AN-2 tạo điều kiện cho phi công ta lập chiến công đầu của Không quân đánh chìm tàu địch trên vùng biển nước ta (8-3-1966).


Năm 1968, Nguyễn Tường Long đã cùng anh em thợ máy nghiên cứu và làm thành công giá lắp bom, cối trên máy bay LI4 của Liên Xô, mỗi máy bay mang 5 quả bom loại 250 kg, 63 quả cối 120 ly, phi công ta đã sử dụng thành công khi đánh đồn Mang Cá (Huế), đánh căn cứ Ra đa chỉ huy, dẫn đường, tiếp dầu cho máy bay Mỹ trên đồi Pa Thí (Lào tháng 1- 1968). Ngoài ra đồng chí còn nghiên cứu, sửa chữa, kiểm tra máy bay T28 của Mỹ, góp phần để phi công ta bắn rơi máy bay C123 chở biệt kích Mỹ - ngụy xâm nhập vùng trời miền Bắc đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964...


Đồng chí còn tham gia tháo gỡ, vận chuyển và lắp ráp thành công máy bay UH-1A, máy bay CA34 từ miền Nam, Lào về sân bay Gia Lâm để làm máy bay huấn luyện cho phi công ta. Nguyễn Tường Long còn tham gia sửa chửa nhiều máy bay phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Trong cuộc sống, đồng chí luôn đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ anh em trong ngành, được chỉ huy, phi công và đồng đội tin yêu.


Từ khi chuyển ngành và nghỉ hưu tuy tuổi cao đồng chí luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức của người đảng viên, quan hệ với bà con trong khu phố chân tình và hết lòng giúp đỡ, được mọi người quí mến.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Tường Long được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:02:52 am
ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG TÂM


Nguyễn Trọng Tâm sinh năm 1927, dân tộc kinh, quê ở xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà, trú quán 296/6 khu phố 2, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nhập ngũ năm 1948. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là trưởng ban binh vận phân khu 5 Nam Bộ. Tháng 3 năm 1978, đồng chí chuyển ngành là Trưởng ty thương nghiệp tình Đồng Nai, nghỉ hưu tháng 10 năm 1990, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Trọng Tâm làm công tác địch vận từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, là trưởng ban địch vận thành phố Nam Định. Đồng chí đã vận động được nhiều binh lính địch bỏ ngũ về nhà và về với cách mạng. Nguyễn Trọng Tầm đã xây dựng được nhiều cơ sở nội tuyến ở Mỹ Lộc và thị xã Nam Định. Năm 1948, đồng chí được điều vào quân đội, công tác ở Cục Địch vận - Tổng cục Chính trị, làm phái viên, thường xuyên hoạt động trong vùng địch.


Năm 1954, Nguyễn Trọng Tâm được giao nhiệm vụ vào miền Nam hoạt động hợp pháp làm công tác binh vận. Hơn 20 năm công tác trong vùng địch, với nhiều cương vị khác nhau đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ trung kiên, chịu đựng mọi gian khổ, ác liệt, bền bi còng tác, liên tục tiến công địch. Đồng chí là một cán bộ chuyên môn có năng lực, nhiều kinh nghiệm, đã góp phần tích cực tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương công tác binh vận của Đảng.


Nguyễn Trọng Tầm đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi chủ trương vận động, cải tạo lực lượng vũ trang Bình Xuyên, đưa được 1 tiểu đoàn gồm 4 đại đội của lực lượng vũ trang này ra căn cứ của ta.


Tháng 10 năm 1955, đồng chí bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn giữ vững ý chí cách mạng, không phản bội xưng khai. Trong tù Nguyễn Trọng Tầm đã móc nối với bên ngoài để hoạt động, được anh em tin cậy bầu làm phó bí thư chi bộ rồi bí thư đảng ủy nhà tù. Đồng chí đã vận động tranh thủ binh lính, phân hóa địch, đấu tranh kiên quyết nên hạn chế được sự đàn áp của chúng. Đồng chí đã tổ chức, chỉ huy anh em cướp súng phá nhà tù Tân Hiệp - Biên Hòa giành thắng lợi, giải thoát được gần 500 cán bộ ta bị địch bắt.


Nguyễn Trọng Tầm đã góp phần tích cực vào việc xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam Bộ, trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, tiêu diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng. Ngay trận đánh đầu tiên của đơn vị tiêu diệt chi khu Hiếu Liêm, đã diệt hàng trăm địch, thu gần 100 súng, trên 20 máy bộ đàm và hơn 10 tấn đạn.


Đồng chí còn có nhiều công sức xây dựng cơ sở đầu tiên cho phong trào binh vận miền Đông Nam Bộ và chỉ đạo thí điểm thành công phá ấp chiến lược bằng 3 mũi giáp công. Công tác binh vận đã phục vụ có kết quả cho việc xây dựng cơ sở ém lực lượng vũ trang xuống vùng sâu hoạt động sau tết Mậu Thân (1968) và tạo thuận lợi cho việc thu mua, vận chuyển gạo góp phần giải quyết khó khăn lớn về lương thực lúc bấy giờ.


Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Trọng Tầm được giao nhiệm vụ ủy viên kinh tài phụ trách thương nghiệp khu miền Đông.


Tháng 3 năm 1978, đồng chí được chuyển ngành với cấp bậc trung tá, là Trưởng ty thương nghiệp tỉnh Đồng Nai, sau đó là giám đốc Công ty Thương nghiệp - Thực phẩm tỉnh Đồng Nai, năm 1990 đồng chí nghỉ hưu.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:04:27 am
ANH HÙNG YON NIÊ
(LIỆT SĨ)


Yơn Niê (tức A Ma HChin), sinh năm 1932, dân tộc M’Nông, quê ở buôn Đắc Tuar, xã Cư Pui, huyện KRông Bông, tỉnh Đắc Lắc; tham gia cách mạng tháng 3 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng du kích buôn Đắc Tưar, quận Lạc Thiện, tinh Đắc Lắc.


Yơn Niê sinh ra và lớn lên trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Đầu năm 1961, được cách mạng giác ngộ, đồng chí đã hăng hái tham gia tuyên truyền, được 10 thanh niên người M’Nông để thành lập đội du kích. Yơn tổ chức huấn luyện anh em, sử dụng vũ khí đánh địch và vận động dân làng làm chông, thò, cạm bẫy bố phòng chống địch càn quét. Yơn còn trực tiếp lập kế hoạch xây dựng làng chiến đấu và dự kiến những vị trí lánh cư dân khi địch đến đánh phá.


Cuối năm 1961, địch nhiều lần đưa quân càn quét, triệt phá vùng căn cứ của ta. Yơn đã chỉ huy đội du kích chiến đấu, sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo, tiêu diệt nhiều tên bảo vệ được nhân dân và vùng căn cứ. Một lần Yơn phát hiện một tiểu đội biệt kích từ đồn Mỹ Ga đến khu vực phía nam buôn Đắc Tuar, đồng chí chỉ huy đơn vị bám sát, bát ngờ dùng cung nỏ diệt 2 tên, rồi rút lui an toàn.


Năm 1962, địch ở hai đồn Mỹ Ga và Cừ Pèn phối hợp mở trận càn vào buôn, với ý đồ tiêu diệt đội du kích của Yơn. Khi phát hiện được địch đã vào cách buôn còn vài trăm mét. Trước tình thế cực kỳ khó khăn, địch mỗi lúc một gần, nếu để địch đến chúng sẽ giết hại dân trong buôn làng. Yơn cho hai người trở về buôn báo cho dân sơ tán, còn một mình ở lại chặn địch. Yơn lợi dụng địa hình có lợi, chiến đấu vô cùng quả cảm diệt và làm bị thương một số tên chặn bước tiến của chúng tạo thuận lợi cho dân làng di chuyển vào căn cứ an toàn. Do địch quá đông, đạn hết, Yơn lại bị thương nặng vào chân nên anh đã sa vào tay dịch. Biết Yơn là chỉ huy đội du kích, địch dùng mọi thủ đoạn từ mua chuộc, dụ dỗ đến tra tấn hết sức dã man hòng khuất phục anh dẫn đường vào căn cứ. Nhưng mọi thứ đòn tàn bạo của chúng đã không làm lay chuyển được khí phách kiên cường và lòng thủy chung với cách mạng của Yơn. Cuối cùng kẻ địch đã hèn hạ dùng dao cắt từng bộ phận cơ thể Yơn cho đến chết. Cái chết anh hùng của Yơn gây nỗi xúc động lớn và cổ vũ nhân dân các dân tộc đứng lên đoàn kết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Yơn Niê được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:06:05 am
AMi HÙNG ĐINH THANH KHÁNG
(LIỆT SĨ)


Đinh Thanh Kháng, sinh năm 1936, dàn tộc Kinh nguyên quán xã Sơn Dung, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi; trú quán xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng tháng 4 năm 1954. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy, trợ lý công binh Ban chỉ huy quân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đinh Thanh Khang sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê có truyền thống cách mạng, nơi ra đời của đội du kích Ba Tơ. Ngay từ lúc còn nhỏ, đồng chí đã tham gia làm liên lạc cho các đơn vị bộ đội. Tháng 4 năm 1954, chưa tròn 18 tuổi Đinh Thanh Kháng đã được biên chế chính thức vào bộ đội địa phương. Đồng chí là một chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, sáng tao, cùng đồng đội lập được nhiều chiến công xuất sắc. Riêng đồng chí đã diệt 5 tên địch, thu 3 súng.


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đơn vị Đinh Thanh Kháng tập kết ra Bắc. Đồng chí được biên chế vào tiểu đoàn 16, trung đoàn 164 pháo binh của Quân khu 4. Đây là thời kỳ quân đội ta xây dựng chính quy, đồng chí luôn là một chiến sĩ gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh điều lệnh kỷ luật quân đội, tích cực trong học tập, công tác. Tháng 8 năm 1960 Đinh Thanh Kháng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1964 đồng chí được chọn đi học ở trường Quản chính Quân khu 4. Năm 1966, Đinh Thanh Kháng được điều về giữ chức trợ lý công binh thuộc Ban chỉ huy Quân sự huyện Nam Đàn. Thời kỳ này đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc. Nam Đàn là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ nhằm cắt đứt tuyến đường 15, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường Miền Nam. Địch đã dùng đủ các loại bom đạn từ thông thường đến hiện đại, có ngày chỉ một trận địch đã ném xuống 237 quả bom. Với cương vị phụ trách, chỉ đạo các đội rà phá bom mìn, hàng ngày, hàng giờ đối mặt với cái chết, song đồng chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm nhận việc khó về mình, nhường thuận lợi cho bạn, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, nắm chắc nguyên lý hoạt động, cấu tạo của từng loại bom, mìn để tổ chức tháo, phá đạt hiệu quả cao. Đinh Thanh Kháng đã cùng đồng đội phá nổ hàng ngàn quả bom các loại đảm bảo an toàn cho hàng vạn chuyến xe qua các trọng điểm ác liệt: Vân Hưng, Nam Diên, phà Nam Đàn, Cầu Cao, rú Trét Khánh Sơn... Riêng đồng chí đã phá 127 quả. Ngày 10 tháng 3 năm 1969, một quả bom, ta đã 2 lần dùng bộc phá đánh bom vẫn không nổ, trong khi cả đoàn xe đang chờ thông đường. Đinh Thanh Kháng quyết định lên tháo kíp nổ. Nhưng vừa lên đến nơi thì bom tự nổ, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Đồng chí đã được tặng thưởng 0 Huân chương Chiến công (1 hạng nhất, 2 hạng nhì, 2 hạng ba) 3 lần Chiến sĩ thi dua, và được tặng nhiều bằng khen, giấy khen của Quân khu và tỉnh.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Đinh Thanh Kháng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:06:44 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN ĐẠT
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Văn Đạt (tức Hà) sinh năm 1917, dân tộc Kinh, quê ở xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, tham gia cách mạng năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là đội trưởng đội vũ trang huyện Phú Lộc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Đạt xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đồng chí sớm được giác ngộ, đi theo Đảng chống phong kiến, đế quốc để giải phóng quê hương. Cách mạng tháng Tám 1945, đồng chí đã tổ chức đội thanh niên yêu nước tham gia khởi nghĩa và đón đoàn khởi nghĩa của huyện về cướp chính quyền ở các xã Khu II.


Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, xã Lộc Vĩnh là cơ sở của huyện, của tỉnh và của Khu ủy Khu 5 do đồng chí Võ Chí Công trực tiếp chỉ đạo. Xã có đường 1A và đường sắt đi qua, đồng thời nằm giữa 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Với vị trí chiến lược quan trọng như vậy, nên địch đã tập trung đánh phá hết sức ác liệt, nhiều lần chúng dùng lực lượng lớn càn quét. 17 lần đốt sạch nhà cửa, dồn dân vào trại tập trung nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Với cương vị là đội trưởng tự vệ, rồi xã đội trưởng, đội trưởng đội vũ trang của huyện, Nguyễn Văn Đạt luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chỉ huy đơn vị chiến đấu mưu trí, sáng tạo, đánh đồn, đánh cầu cống, đánh tàu hỏa địch, đánh địch càn quét đều giỏi. Đơn vị của đồng chí đã phối hợp với trung đoàn 101 chiến đấu ở Hói Mít, Phú Lộc tiêu diệt 700 tên địch, thu 4 tấn vũ khí, phá hủy hàng trăm tấn quân nhu, đạn dược... Nguyễn Văn Đạt đả khéo léo đi sâu vào xây dựng mạng lưới cơ sở trong nhân dân, tổ chức cho dân tiếp tế, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ ra vào hoạt động. Đồng chí còn vận động nhân dân đấu tranh với địch, chống rào ấp chiến lược, chống gom dân. Khi địch đốt hết nhà cửa, Nguyễn Văn Đạt đã đến từng gia đình vận động mọi người tuyệt thực đòi trở về quê làm ăn sinh sống, đòi chúng không được bắn pháo, ném bom vào làng xóm và nhân dân phải được tự do đi lại làm ăn. Có lần địch bắn pháo giết hại một người dân, đồng chí đã tổ chức cho dân 4 thôn khiêng xác người chết lên đấu tranh, buộc chúng phải cam kết không bắn pháo vào làng xóm. Nhờ đó mà vùng giải phóng ngày càng vững chắc, nhân dân được đi lại mang hàng hóa phục vụ cách mạng.


Nguyền Văn Đạt còn tổ chức cho 80 thanh niên ra chiến khu tham gia lực lượng vu trang. Đồng thời giáo dục và cảm hóa hàng trăm người lầm đường đi theo địch, trở về nhà làm ăn. Hàng chục tên ác ôn ngoan cố có nhiều nợ máu với cách mạng đã bị Nguyễn Văn Đạt trừng trị, trong đó có tên Nguyễn Hy một kẻ đầu hàng phản bội cách mạng.


Năm 1964, Nguyễn Văn Đạt bị thương nặng, đồng chí được điều về giữ chức Bí thư Huyện ủy huyện Phú Lộc.


Ngày 4 tháng 7 năm 1967, khi đồng chí đang tập kết ở Ban tổ chức tinh ủy tỉnh Thừa Thiên để ra miền Bắc điều dưỡng và học tập thì bị máy bay địch đánh phá vào cơ quan. Nguyễn Văn Đạt bị thương nặng, biết mình không thể sống được, đồng chí đã kiên quyết đề nghị với y, bác sĩ dành phần thuốc men hiếm hoi để cứu chữa cho các đồng chí khác bị thương nhẹ hơn. Và đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Nguyễn Văn Đạt được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:07:34 am
ANH HÙNG TRẦN THỊ LIÊN
(LIỆT SĨ)


Trần Thị Liên sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở thôn Tân An, xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn, tinh Bình Định tham gia cách mạng ngày 25 tháng 6 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là cán bộ binh vận huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Thị Liên sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, trên mảnh đất có truyền thống cách mang. Năm 17 tuổi Trần Thị Liên đã tham gia cách mang đánh giặc. Từ một chiến sĩ giao liên hợp pháp dần dần Liên trở thành cán bộ ở cơ sở rồi cán bộ binh vận của huyện Hoài Nhơn. Ở cương vị công tác nào Trần Thị Liên cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, bám sát cơ sở, bám sát nhân dân, dũng cảm đi đầu, khéo léo, mưu trí, linh hoạt tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị cũng như binh vận lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Tháng 2 năm 1968, được huyện phân công về hoạt động ở xã Hoài Châu theo dõi chỉ đạo phong trào. Đồng chí đã tổ chức được nhiều cuộc đấu tranh giành thắng lợi lớn làm cho địch lúng túng, hoang mang. Trong một lần Trần Thị Liên cùng một đoàn biểu tình lớn có biểu ngữ, gậy gộc kéo xuống quận Tam Quan, khi đi đến đường số 1 thì bị địch ngăn lại. Chúng dùng súng đàn áp đoàn biểu tình. Trong tình thế khó khăn phức tạp, đồng chí đã dũng cảm lao lên giằng súng của địch đánh trả lại chúng. Trần Thị Liên bị địch bắt, chúng dùng mọi thủ đoạn dỗ dành, de nẹt đến những cực hình tra tấn dã man treo chân lên xà nhà để đánh đập buộc đồng chí phải khuất phục, khai báo các cơ sở cách mạng. Song, Trần Thị Liên vẫn kiên cường chịu đựng và luôn hô vang khẩu hiệu:

   "Đả đảo đế quốc Mỹ
   Đả đảo bọn tay sai bán nước
   Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
   Dân tộc Việt Nam anh dũng tiến lên"!


Thấy không thể khuất phục được Trần Thị Liên, chúng đã dùng dây cột 2 chân vào xe rồi kéo lê từ quận lỵ Tam Quan đến Cầu Cháy. Tại đây chung đã hèn hạ giết hại Trần Thị Liên.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Trần Thị Liên được Chủ tịch nước Cộng hòa xa hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:08:11 am
ANH HÙNG CHÂU THỊ KIM
(LIỆT SĨ)


Châu Thị Kim (tức Ngọc Loan), sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã An Vĩnh Ngãi, thị xã Tân An, tỉnh Long An, tham gia cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là huyện ủy viên huyện Châu Thành, tỉnh Long An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Châu Thị Kim sớm được giác ngộ cách mạng. Quá trình hoạt động đồng chí đã giữ nhiều cương vị ở địa phương, từ hội viên hội phụ nữ xã, xã đội trưởng, trung đội trưởng du kích liên xã đến huyện ủy viên. Dù ở cương vị công tác nào, Châu Thị Kim cũng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến đấu, đồng chí dũng cảm, mưu trí, liên tục tiến công địch, lập được nhiều chiến công xuất sắc. Châu Thị Kim luôn được huyện ủy phân công phụ trách các vùng yếu, vùng trắng. Xã An Vĩnh Ngãi là một xã yếu của huyện, toàn xã có 3 đảng viên, chưa có lực lượng vũ trang. Trong thời gian ngắn, đồng chí đã dựa vào quần chúng tốt, tuyên truyền giáo dục vận động và tổ chức nhân dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính, chống bắn phá bừa bãi, chống gom dân lập ấp chiến lược, được nhân dân thương yêu, che chở và nhiệt tình ủng hộ. Đến tháng 6 năm 1993 Châu Thị Kim đã xây dựng được 1 chi bộ với 20 đảng viên; 1 đội du kích 50 người và trên 100 đoàn viên, hội viên... An Vĩnh Ngãi trở thành xã mạnh, là căn cứ của cách mạng là đường dây liên lạc, đường vận tải vũ khí, trạm dừng chân của cán bộ cấp trên và bộ đội chủ lực.


Sau khi xây dựng 4 xã: An Vĩnh Ngãi, Hòa Phú, Bình Quới, Bình Tâm trở thành xã mạnh, Châu Thị Kim được điều về phụ trách 2 xã Thanh Vĩnh Đông và Thuận Mỹ. Đến tháng 6 năm 1965 đồng chí đã xây dựng xã Thuận Mỹ từ chỗ có 3 đảng viên phát triển được 21 đảng viên, lực lượng du kích từ 6 người lên 1 trung đội có 36 người. Xã Thanh Vĩnh Đông từ chỗ có 2 đảng viên phát triển thành 1 chi bộ với 12 đảng viên, lực lượng du kích từ 0 lên 2 tiểu đội, với 22 người, đưa phong trào cách mạng của 2 xã phát triển mạnh phá được thế kìm kẹp của địch trở thành căn cứ của huyện Châu Thành và của Phân khu 3. Châu Thị Kim đã tổ chức và lãnh đạo 178 cuộc đấu tranh chính trị với 9.000 lượt người tham gia, trong đó có trên 300 lượt thân nhân binh lính địch trực tiếp cầm khẩu hiệu đấu tranh. Đồng chí còn trực tiếp chỉ huy chiến đấu 74 trận lớn nhỏ, diệt 23 tên địch, bắt sống 15 tù binh, thu 145 súng các loại, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, giáo dục, giác ngộ được hơn 100 binh lính ngụy bỏ ngũ về với gia đình. Ngoài ra Châu Thị Kim còn xây dựng được 207 du kích sau đó bổ sung cho bộ đội chủ lực và xây đựng được 13 cơ sở nội tuyến cài cắm vào đồn giặc làm nội ứng cho ta. Đồng chí đã bị địch bắt 3 lần. Trong nhà giam, Châu Thị Kim vẫn nêu cao ý chí tiến công địch, liên tục làm công tác binh địch vận đã cảm hóa đưực 5 người vợ lính và được họ giúp thoát khỏi trại giam địch 3 lần.


Châu Thị Kim đã anh dũng hy sinh ngày 20 tháng 6 năm 1965. Quá trình hoạt động cách mạng đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đồng đội thương yêu, cấp trên tin tưởng, nhân dân đùm bọc, che chở. Châu Thị Kim là tấm gương tiêu biểu của người chiến sĩ cách mạng, một nữ cán bộ mẫu mực, có đức, có tài.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Châu Thị Kim được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:08:57 am
ANH HÙNG THIỀU VĂN CHỎI
(LIỆT SĨ)


Thiều Văn Chỏi, sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở Ấp Bảy, xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; nhập ngũ tháng 1 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là huyện đội phó, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Thiều Văn Chỏi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương có truyền thống cách mạng. Từ những ngày đầu Nam Kỳ khởi nghĩa, gia đình đồng chí là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Từ đó bản thân sớm đến với cách mạng và có chí nối tiếp sự nghiệp của cha anh. Thiều Văn Chỏi liên tục hoạt động ở địa bàn xã Ba Trinh huyện Kế Sách là nơi khó khăn gian khổ và ác liệt nhất. Đồng chí đã trưởng thành từ chiến sĩ du kích lên cán bộ kinh tài xã, xã đội trưởng rồi huyện đội phó huyện đội Kế Sách, ở cương vị nào, Thiều Văn Chỏi cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội.


Tháng 5 năm 1968 Thiều Văn Chỏi là cán bộ kinh tài của xã được Đảng phân công bám trụ vùng ven. Đồng chí đã tích cực xây dựng cơ sở, vận động quần chúng quyên góp tiền, của ủng hộ kháng chiến; vận động thanh niên ra vùng giỏi phóng xáy dựng lực lượng. Chi trong 7 tháng, Thiều Văn Chỏi đã vận động quyên góp được gần 2.000 giạ lúa, nhiều dụng cụ y tế, thuốc men, và hàng chục thanh niên ưu tú gia nhập lực lượng vũ trang huyện.


Đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 152 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương hơn 357 tên địch, thu 207 súng các loại (trong đó có 2 khẩu súng cối 60 ly, 1 súng đại liên M60, 9 súng M79, và 1 máy PRC25). Riêng Thiều Văn Chỏi đã diệt và bắn bị thương 75 tên địch thu 65 súng các loại. Ngày 7 tháng 11 năm 1969, 1 trung đội bảo an (27 tên) hành quân càn quét từ đồn Vàm Bưng qua cánh đồng Bưng Xấu, thuộc xã Đại Hải. Trên đường đi công tác về chỉ có một minh với 1 súng Col 45, 1 AR 15 và 4 quả lựu đạn, Thiều Văn Chỏi quyết không bỏ qua cơ hội tiêu diệt địch. Với địa hình quen thuộc của ấp nhà, đồng chí đã nhanh chóng luồn lách bám sát địch, loạt đạn đầu diệt 2 tên đi trước, cách toán sau khoảng 150 mét thu 2 súng AR 15. Bọn đi sau hốt hoảng đứa bỏ chạy, đứa hắn loạn xạ. Thiều Văn Chỏi kiên quyết bám sát truy đuổi diệt từng tên một. Sau hơn 3 tiếng đồng hồ, đồng chí đã diệt 13 tên, bắn bị thương 8 tên, bắt sống 2 tù binh (còn 4 tên chạy thoát), thu 14 súng.


Ngày 27 tháng 9 năm 1972, trên đường đi công tác, Thiều Văn Chỏi lọt vào ổ phục kích của trung đội bảo an. Một mình chiến đấu với một trung đội dịch, gần 20 phút đồng chí đã tiêu diệt được 2 tên, bắn bị thương 2 tên và đã anh dũng hy sinh.


Tên tuổi Thiều Văn Chỏi gắn liền với những trận đánh hiểm hóc, xuất quỷ nhập thần làm cho kẻ địch khiếp sợ, nhân dân hết lòng tin tưởng, ca ngợi góp phần đưa xã Ba Trinh từ xã yếu về phong trào du kích chiến tranh trở thành xã mạnh nhát, 3 năm liên là ngọn cờ đầu của huyện Kế Sách, đồng thời là 1 trong 7 xã có phong trào du kích mạnh của Quân khu 9.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Thiều Văn Chỏi được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:09:52 am
ANH HÙNG PHẠM VĂN VẺ
(LIỆT SĨ)


Phạm Văn vẻ sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, tham gia cách mạng năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gia đình Phạm Văn vẻ chỉ có 3 anh em trai đều lần lượt tham gia kháng chiến, hai người đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi mới 15 tuổi, Phạm Văn Vẻ đã tham gia làm liên lạc cho Vệ quốc đoàn. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí được phân công ở lại địa phương để xây dựng lực lượng kháng chiến. Phạm Văn Vẻ từ bé sống bằng nghề làm thuê đánh bắt cá trên sông. Vì vậy đồng chí rất tài về bơi lặn. Trong chiến đấu, Phạm Văn Vẻ không dùng súng mà chỉ dùng lựu đạn cùng với tài bơi lặn dưới nước để tiêu diệt địch.


Tháng 1 năm 1960, sau khi nghiên cứu kỹ địa hình và quy luật hoạt động hàng ngày của địch ở đồn Tân Dương, Phạm Văn Vẻ đã ngụy trang thành người dân đi chài lưới đến sát đồn địch, ném lựu đạn vào quân địch đang chào cờ diệt 4 tên, làm bị thương 7 tên rồi nhảy xuống sông bơi lặn về căn cứ an toàn.


Tháng 6 năm 1960, đồng chí về làm tiểu đội trưởng đại đội đặc công tỉnh Vĩnh Long. Trận đánh đồn Xã Sĩ ở huyện Châu Thành, Phạm Văn Vẻ dù bị thương nhưng vẫn quyết không rời trận địa, cùng đồng đội tiêu diệt gọn đồn này, diệt 14 tên, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh.


Năm 1962 do yêu cầu của địa phương, đồng chí được cử về làm xã đội trưởng xã Tân Dương. Phạm Văn Vẻ đã cùng chi bộ xây dựng lực lượng vũ trang xã, đồng thời tuyên truyền cho các gia đình có chồng, con, em đi lính ngụy vận động họ chuyển vũ khí cho cách mạng. Nhờ vậy, đội du kích xã có đủ vũ khí chiến đấu và hoạt động.


Tháng 10 năm 1962, trên đường đi công tác ngang Cầu Ván - Tân Dương đồng chí bị địch bao vây. Chúng bắt Phạm Văn Vẻ đầu hàng. Bằng một động tác hết sức nhanh nhẹn, đồng chí đã tung lựu đạn về phía địch, rồi nhảy xuống sông lặn sang bờ bên kia, trở về căn cứ an toàn.


Năm 1963, huyện điều đội du kích xã Tân Dương tham gia chiến đấu, phá thế kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng. Đội du kích xã do Phạm Văn Vẻ chỉ huy phối hợp với lực lượng bạn diệt đồn Mương Khai, đồn Chợ Cũ. Khi đưa đơn vị đánh tiếp đồn Rạch Giông vừa ém quân vào hàng rào thứ nhất thì địch phát hiện đánh trả quyết liệt. Đồng chí bị thương khá nặng, song vẫn không rời trận địa, tiếp tục bắn yểm trợ và chỉ huy đơn vị chiến đấu thắng lợi.


Ngày 16 tháng 12 năm 1964, khi phát hiện 9 tàu địch từ Sa Đéc đến càn quét căn cứ của ta ở Vĩnh Thạnh và Long Hưng, đồng chí tổ chức đội du kích 13 người kết hợp với đơn vị bạn phục kích với ý định sẽ đánh chiếc tàu cuối cùng. Một tình huống bất ngờ là địch dùng 9 tàu khác từ hướng sông Hậu đánh vào. Đơn vị lọt vào giữa đội hình địch. Ỷ vào quân đông, hỏa lực mạnh địch vừa bắn vừa cho tàu áp sát hòng tiêu diệt lực lượng ta, Phạm Văn Vẻ đã chỉ huy đơn vị chiến đấu quyết liệt, nhưng vì địch quá đông, đồng chí đã ra lệnh cho đội du kích rút quân để bảo toàn lực lượng. Phạm Văn Vẻ ở lại bắn chặn kìm chân địch rồi rút sau. Thấy lực lượng ta ít, địch la hét xông vào định bắt sống. Nhưng bọn chúng đã vướng phải 18 quả lựu đạn do đồng chí bố trí, nhiều tên chết và bị thương. Quân địch vẫn hung hăng tiến vào, đồng chí rút chốt quả lựu đạn cuối cùng chờ bọn chúng đến thật gần mới cho nổ diệt thêm một số tên khác. Kết quả, ta đã đánh hỏng 1 tàu, diệt 28 tên có 2 cố vấn Mỹ, làm bị thương 20 tên khác. Đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Là một cán bộ chỉ huy dũng cảm, táo bạo thông minh, Phạm Văn Vẻ đã chỉ huy đội du kích đánh trên 18 trận, riêng đồng chí diệt 70 tên địch có 2 cố vấn Mỹ, phá hỏng 1 tàu, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. Đồng chí được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng ba.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Phạm Văn Vẻ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:10:51 am
ANH HÙNG NGUYỄN BÁ LẠI
(LIỆT SĨ)


Nguyễn Bá Lại sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở thôn Quảng Nạp, xã Thụy Trình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, tham gia cách mạng năm 1972. Khi hy sinh đồng chí là trưởng phòng kỹ thuật, trung đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305, Liên đoàn địa chất 3, Tổng cục mỏ và địa chất, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Bá Lại sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, chị gái là du kích được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc 1951 - 1953; anh trai là liệt sĩ. Khi còn học phổ thông Nguyễn Bá Lại là một học sinh ngoan, học giỏi, được Nhà nước chọn sang Liên Xô học tại trường đại học mỏ địa chất, về nước, với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu Nguyễn Bá Lại được giữ lại công tác ở Hà Nội. Song với sự nhiệt tình của tuổi trẻ và lòng say mê nghề nghiệp đồng chí đã tình nguyện lên Lào Cai công tác tại Đoàn địa chất 305.


Từ năm 1972 đến 1979, Nguyễn Bá Lại sống và làm việc ở nơi miền núi xa xôi thiếu thốn, có những lúc hết gạo, hết muối ăn, mưa rừng nước lủ không đi lại được đồng chí vẫn động viên anh em hăng say lao động hết mình. Từ một kỹ sư mới vào nghề Nguyễn Bá Lại đã nhanh chóng trưởng thành là trưởng phòng kỹ thuật. Đồng chí đã cùng anh em trong phòng nghiên cứu làm tốt chức năng tham mưu chính trong sản xuất, góp phần quyết định cho Đoàn 305 tìm ra nhiều mỏ mới làm giàu cho Tổ quốc.


Là trung đội trưởng tự vệ, Nguyễn Bá Lại đã chỉ huy trung đội huấn luyện giỏi, biết sử dụng thành thạo nhiều loại vũ khí, xây dựng trung đội liên tục đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng. Trong những ngày nóng bỏng của biên giới phía Bắc, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đào hàng ngàn mét giao thông hào, hàng chục hầm chữ A kiên cố, để sẵn sàng đánh địch, bảo vệ vùng mỏ và biên giới thiêng liêng của Tổ quốc.


4 giờ 45 phút ngày 17 tháng 2 năm 1979, pháo binh địch bất ngờ bắn dồn dập ác liệt vào toàn bộ khu vực Đoàn địa chất 305, lợi dụng hỏa lực mạnh và sương mù địch đã dùng lực lượng lớn (khoảng 2 trung đoàn) vượt qua 2 cầu phao bắc qua sông Hồng chiếm các điểm cao và bao vây toàn bộ khu vực đoàn bộ Đoàn địa chất 305. Nguyễn Bá Lại đã không quản nguy hiểm đến từng phòng nhanh chóng đưa các cháu nhỏ ra hầm, rồi trở lại chỉ huy trung đội triển khai chiến đấu. Trung đội đồng chí chiến đấu ở hướng chính diện của địch tấn công từ Sulí Sin Quyền vào Đoàn bộ. Cứ ngớt đợt pháo địch, đồng chí lại vận động đến các điểm chốt động viên, nhắc nhở anh em bình tĩnh để địch đến gần mới nổ súng. Hầm của Nguyễn Bá Lại có 7 người (3 kỹ sư địa chất, 4 trung cấp địa chất và họa đồ trong đó có 2 nữ) đảm nhiệm hướng chính đánh địch từ Sulí Sin Quyền đến. Trận chiến đấu không cân sức nhưng hết sức quyết liệt đã diễn ra từ sáng đến 2 giờ chiều xác địch nằm ngổn ngang. Riêng Nguyễn Bá Lại đã diệt 7 tên bắn bị thương nhiều tên khác, thu 1 súng AK. Trung đội đồng chí đánh lui 7 đợt tấn công ồ ạt của bộ binh địch. Sau mỗi đợt tấn công thất bại, địch dùng hàng trăm khẩu pháo cối bắn dồn dập, dày đặc vào trận địa. Toàn bộ nhà cửa của Đoàn địa chất trở thành đống gạch vụn nát. Khi địch phát hiện ra hầm của Nguyễn Bá Lại, chúng dùng cối bắn cấp tập rồi ồ ạt xông lên bằng nhiều mũi hòng tiêu diệt điểm chốt. Không để địch tràn vào trận địa đồng chí đã vụt nhảy lên khỏi hầm dùng AK bắn xối xả vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ chúng kinh hoàng ùn lại. Noi gương Nguyễn Bá Lại, nhiều anh em trong hầm cũng đứng lên chiến đấu. Bất ngờ có một tên địch vào cách hầm đồng chí khoảng 2 mét, trên tay cầm quả lựu đạn đang xì khói, Nguyễn Bá Lại liền nổ súng bắn nó ngã gục. Quả lựu đạn từ tay tên địch văng vào trong hầm. Không thể nhặt kịp và cũng không thể để cả anh em trong hầm hy sinh, Nguyễn Bá Lại lập tức nằm đè lên quả lựu đạn, nhận sự hy sinh về mình để cứu sống 6 đồng đội.


Sau một ngày chiến đấu, Nguyễn Bá Lại đã cùng đơn vị bẻ gẫy tất cả các đợt tấn công của 2 trung đoàn địch có pháo binh yểm trợ, tiêu diệt 500 tên, bảo vệ được toàn bộ tài liệu địa chất và trên 300 cụ già, cháu nhỏ, góp phần vào chiến công chung của quân và dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc và của tỉnh Hoàng Liên Sơn nói riêng.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Nguyễn Bá Lại được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Bảy, 2023, 07:11:39 am
ANH HÙNG ĐẶNG ĐÌNH TRƯỜNG


Đặng Đình Trường, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở làng Đỗ Hữu Vị (phố Châu Long), quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trú quán số nhà 34 phố Hồng Phúc quận Ba Đình, Hà Nội. Nhập ngũ tháng 4 năm 1965, chuyển ngành năm 1978. Trong chống Mỹ (1965 - 1969) đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 3 tiểu đoàn 14 Cao xạ 12,7 ly, Sư đoàn 2 - Quân khu 5. Hiện nay Đặng Đình Trường là Phó giám đốc Công ty dịch vụ Du lịch Hoàn Kiếm, Giám đốc khách sạn 30-4, thành phố Hà Nội, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đặng Đình Trường là học sinh trưởng phổ thông cấp III Chu Văn An - Hà Nội. Năm 18 tuổi, đồng chí đã tình nguyện gia nhập quân đội, ở tiểu đoàn phòng không 19-5, đơn vị đầu tiên của Hà Nội được thành lập để chi viện cho miền Nam (sau này là tiểu đoàn 14, Sư đoàn 2 - Quân khu 5). Sau 3 tháng huấn luyện, đồng chí đã cùng đơn vị vào chiến đấu tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng - Quân khu 5.


Từ 1965 đến 1969, Đặng Đình Trường đã bắn rơi 19 máy bay các loại gồm: 4 máy bay phản lực F4; 2 máy bay khu trục AD6; 1 máy bay trinh sát OV 10A; 1 máy bay vận tải CH47A; 11 trực thăng vũ trang. Trong trận chiến đấu tại núi Hoắc núi Ngang Quảng Nam - Đà Nẵng từ ngày 10 tháng 4 năm 1968 đến ngày 20 tháng 5 năm 1968. Đây là trận chốt dài ngày giữ điểm cao, vừa bắn máy bay vừa diệt bộ binh địch chi viện cho bộ đội ta chiến đấu, nhằm kéo địch ra khỏi công sự, nhử chúng lên các chốt để diệt... Vì vậy cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất quyết liệt. Đặng Đình Trường là khẩu đội trưởng vừa tổ chức bắn máy bay vừa chỉ huy khẩu đội mưu trí, dũng cảm đánh lui hàng chục đợt tấn công của tiểu đoàn lính dù 196 - Lữ đoàn không vận số 3 của Mỹ. Đợt chiến đấu này đồng chí đã trực tiếp bắn rơi 8 máy bay Mỹ các loại, được sư đoàn tuyên dương "Khẩu đội trưởng kiên cường'', được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì và là Chiến sĩ thi đua của sư đoàn 2 và của Quân khu 5.


Trận chiến đấu vây ép sân bay Đà Nẵng tháng 3 năm 1969, Đặng Đình Trường là trung đội trưởng vừa chỉ huy vừa trực tiếp bắn rơi 2 máy bay trong đó có 1 máy bay trinh sát OV 10A, đồng thời bồi dưỡng giúp đỡ các xạ thủ khốc bắn rơi máy bay góp phần vào chiến công của đơn vị.


Trong trận đánh ngày 27 tháng 3 năm 1969, đồng chí bị thương, được ra Bắc điều trị. Sau khi lành vết thương, Đặng Đình Trường được điều về công tác tại phòng cao xạ Quân khu Thủ đô từ 1970 - 1978. Năm 1978 do sức khỏe giảm, đồng chí chuyển ngành về Sở ăn uống Hà Nội.


Đồng chí đã được khen thưởng: 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì; 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba; 3 bằng Dũng sĩ diệt máy bay; Chiến sĩ thi đua cấp Quân khu; 3 Bằng khen và nhiều giấy khen.


Chiến công của đồng chí đã góp phần vào chiến công của tiểu đoàn 14 và đại đội 3 được Nhà nước tặng danh hiệu "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tiếp tục phát huy truyền thống cao đẹp của "Anh bộ đội Cụ Hồ" trên lĩnh vực làm kinh tế, Đặng Đình Trường luôn luôn phán đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, là một cán bộ, đảng viên gương mẫu được quần chúng tin yêu.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Đặng Đình Trường được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Bảy, 2023, 03:15:32 pm
ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC CHUYỂN


Nguyễn Đức Chuyển sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Trú quán 414/1 đường Trưng Nữ Vương thành phố Đà Nẵng. Nhập ngũ tháng 8 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng tá, Phó chủ nhiệm quân báo Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Đức Chuyển sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, bố là bộ đội và là đảng viên trong thời kỳ đánh Pháp, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được phân công ở lại hoạt động bí mật. Đồng chí sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 1964 Nguyễn Đức Chuyển tham gia công tác liên lạc cho du kích. Tháng 8 năm 1966, mới 15 tuổi nhưng Chuyển tình nguyện vào bộ đội, được bổ sung về đại đội 1 tiểu đoàn 90 - trung đoàn bộ binh 1 - sư đoàn 2 - Quân khu 5. Từ một chiến sĩ liên lạc, dần dần Nguyễn Đức Chuyển đã trưởng thành đại đội trưởng đại đội đặc công trinh sát của trung đoàn bộ binh 1. Ở cương vị công tác nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, liên tục bám sát chiến trường, bám sát địch, nắm chắc tình hình, phục vụ kịp thời cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến.


Từ năm 1967 đến năm 1971, Nguyễn Đức Chuyển đã cùng đơn vị độc lập tác chiến 16 chiến dịch, đánh 55 trận lớn nhỏ, diệt 1257 tên địch có 400 tên Mỹ, diệt gọn 1 tiểu đoàn pháo, 1 sở chỉ huy nhẹ lữ đoàn 196 Mỹ, sở chỉ huy tiểu đoàn 3, trung đoàn 26 Mỹ, diệt gọn 5 đại đội và 3 trung đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 3 đại đội khác, bắt sống 79 tù binh ngụy. Thu 130 súng các loại có 6 đại liên, phá hủy 18 khẩu pháo, có 2 pháo 175 ly, 10 pháo 155 ly, 4 pháo 105 ly, 2 cối 106,7; 8 đại liên, 27 nhà lính, 1 đài 50 w, 2 đài 15 w, 4 máy PRC 25, bắn cháy 2 máy bay lên thẳng, 2 xe bọc thép.


Riêng đồng chí diệt được 99 tên, trong đó có 45 tên Mỹ, thu 29 súng, bắt sống 25 tên ngụy. Nhiều lần bị thương, nhưng đồng chí vẫn kiên quyết không rời vị trí chiến đấu.


Nguyễn Đức Chuyển đã được tặng thưởng: 1 Huy hiệu Bác Hồ (hiện nay tấm Huy hiệu Bác Hồ đang trưng bày ở Viện Bảo tàng Quân đội cùng với 1 ống nhòm, 1 súng K54 của đồng chí); 6 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và ba; 6 Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ Quyết thắng; 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua; nhiều Bằng khen trong phục vụ chiến đấu và chiến đấu.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Nguyễn Đức Chuyển được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Bảy, 2023, 03:16:06 pm
ANH HÙNG NGUYỄN MINH KHANH


Nguyễn Minh Khanh sinh năm 1939, dân tộc Kinh quê ở xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu. Chỗ ở hiện nay, xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu, nhập ngũ năm 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ là chính trị viên tiểu đoàn 445 Bà Rịa, năm 1989 nghỉ hưu, cấp đại tá, huyện đội trưởng huyện đội Long Thành, tỉnh Bà Rịa. Hiện nay là Chủ tịch Hội cựu chiến binh huyện Châu Thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1946 giặc Pháp càn vào địa phương đã bắn chết cả cha lẫn mẹ của Nguyễn Minh Khanh, lúc đó Khanh mới lên 7 tuổi. Từ đó Khanh phải ở với ông cậu coi bò kiếm cơm ăn. Năm 1960 Nguyễn Minh Khanh xung phong gia nhập vào đơn vị 445 của tinh Bà Rịa - Long Khánh. Từ một chiến sĩ Khanh dần dần trưởng thành tiểu đoàn trưởng, chính trị viên tiểu đoàn, chính trị viên phó tỉnh đội Bà Rịa - Long Khánh, rồi Tinh ủy viên. Ở cương vị công tác nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội, trong chiến đấu và chỉ huy chiến đấu Nguyễn Minh Khanh dũng cảm, mưu trí, lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Nguyễn Minh Khanh đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 102 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 659 tên địch trong đó có 224 lính úc, 50 lính Mỹ, bắt sống 26 tù binh ngụy, tiêu diệt gọn 1 đại đội nguy và 1 trung đội Úc, tiêu hao nặng 3 đại đội khác, bắn rơi 10 máy bay, bắn cháy 23 xe tăng, thu 57 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Năm 1969 địch lấy 3 xã vùng Đất Đỏ làm trọng điểm bình định. Chúng triệt phá mọi nguồn tiếp tế hòng đánh bật lực lượng ta bám trụ trong dân. Đồng chí đã cùng ban chỉ huy tiểu đoàn học tập chiến thuật đặc công để đánh địch. Đêm 21 tháng 9 năm 1969. Nguyễn Minh Khanh cùng trinh sát tổ chức đánh địch. Chỉ sau 2 trận ta đã phá được thế kìm kẹp của địch phát động quần chúng phá hàng rào, gỡ trái mìn, cho dân tự do đi lại làm ăn.


Ngày 15 tháng 8 năm 1970, đồng chí chỉ huy tiểu đoàn đánh lui 15 đợt tấn công của chiến đoàn xe tăng lính Úc tại chân núi Minh Đạm, bắn cháy 13 chiếc, diệt 110 tên.


Bị thất bại liên tiếp, quân úc dùng "chiến thuật lá chắn" rất nguy hiểm. Suốt 2 tháng không một người nào của ta lọt được vào ấp. Nguyễn Minh Khanh đã thành lập đội cảm tử. Nhiều anh em xung phong vào đội cảm tử, song đồng chí chọn 7 người và trực tiếp chỉ huy. Đội cảm tử chia làm 2 tốp cách nhau 100 mét, 3 đồng chí đi đầu đụng địch hy sinh. Tốp sau quan sát đưực hệ thống bố trí của địch dùng 2 khẩu B 40 bắn chính xác, sau 10 phút chiến đấu, ta đã đập vỡ "chiến thuật lá chắn" của địch...


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí được phân công làm huyện đội trưởng huyện Long Đất, sau đó về làm huyện đội trưởng huyện Châu Thành. Năm 1989 được cấp trên cho nghỉ hưu. Hiện nay Nguyễn Minh Khanh là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Châu Thành. Tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, vết thương hay tái phát, đau yếu luôn song đồng chí vẫn phát huy tốt truyền thống cách mạng, luôn hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nguyễn Minh Khanh đã được tặng thưởng: 10 Huân chương các loại; 6 lần Chiến sĩ thi đua (1 lần cấp tỉnh, 1 lần cấp Quân khu, 1 lần cấp Miền).


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Nguyễn Minh Khanh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Bảy, 2023, 03:16:30 pm
ANH HÙNG LÊ THỤY


Lê Thụy sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; tham gia cách mạng năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là Đại tá, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân trong một gia đình nho giáo, hiếu học, Lê Thụy sớm giác ngộ cách mạng. Suốt 50 năm hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn và nguy hiểm, đồng chí chấp nhận sự hy sinh không hề tính toán. Lê Thụy luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân trên lợi ích cá nhân, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Bất kể tình huống, nào đồng chí cũng chủ động tiến công địch, lập nhiều chiến công xuất sắc.


Lê Thụy đã có nhiều công lao xây dựng đội ngũ cán bộ trong đơn vị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn của cách mạng. Đồng chí luôn sống trong sạch, giản dị, khiêm tốn nên được cấp trên tin cậy, đồng đội yêu mến và nhân dân đùm bọc che chở.


Lê Thụy đã được tặng thương 2 Huân chương Chiến công (1 hạng nhất, 1 hạng nhì); 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Lê Thụy được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Bảy, 2023, 03:17:00 pm
ANH HÙNG TRẦN THANH QUANG


Trần Thanh Quang sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Thạnh Tây, huyện Giá Rai, tỉnh Minh Hải. Tham gia cách mạng năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thượng tá, bác sĩ, Giám đốc bệnh viện 121, Phó phòng quân y, Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Thanh Quang sinh ra trên mảnh đất quê hương có truyền thống cách mạng, hai anh trai là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1960 (13 tuổi) đồng chí đã trốn nhà đi theo đơn vị 320 thuộc quân dân y Tây Nam Bộ làm cứu thương phục vụ chiến đấu. Từ một cứu thương văn hóa lớp 4 dần dần Trần Thanh Quang đã được đào tạo thành bác sĩ và hiện nay là bác sĩ chuyên khoa cấp I. Ở cương vi công tác nào dù là y tá đội phẫu, y sĩ khoa gây mê hồi sức, rồi bác sĩ chủ nhiệm khoa gây mê hồi sức bệnh viện 121, đồng chí đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm việc tận tụy, hễ có thương binh, bệnh binh cấp cứu là có mặt. Có lúc thương binh nặng chuyển đến nhiều, do yêu cầu gấp, ban ngày đứng mổ 7-8 tiếng đồng hồ, đêm Trần Thanh Quang vẫn thức để kiểm tra, theo dõi từng trường hợp. Trần Thanh Quang đã không sợ gian khổ, ác liệt, có lần địch bắn pháo vào khu vực nhà mổ một đồng chí hy sinh, 8 đồng chí bị thương, có 4 đồng chí bị thương vào ổ bụng, mất máu và choáng nặng. Đồng chí đã bình tĩnh cấp cứu và chỉ huy đơn vị cùng kết hợp băng bó cấp cứu di chuyển thương binh ra nơi an toàn. Số thương binh nặng, thiếu máu, thiếu dịch chuyền không chuyển đi ngay được, phải cấp cứu tại chỗ. Đồng chí đã hiến máu của mình chuyền cho đồng đội, vì thế thương binh được cứu sống và chuyển ra nơi an toàn.


Trong chiến dịch "nhổ cỏ U Minh" của Mỹ, ngụy, chúng đánh phá dữ dội vào bệnh xá, 2 y sĩ và 2 y tá hy sinh, 10 đồng chí khác bị thương. Trong khi đang cấp cứu băng bó cho anh em thì Trần Thanh Quang bị thương, lúc đó địch cách chưa đầy 400 mét. Đồng chí đã cử 2 người đánh nghi binh địch còn bản thân ở lại tiếp tục băng bó, cứu chữa và cõng thương binh di chuyển ra vị trí an toàn.


Trong cuộc chiến tranh biên giới Tầy Nam, Trần Thanh Quang được giao nhiệm vụ đội trưởng đội điều trị 3, rồi đội trưởng đội điều trị thuộc Mặt trận 979. Biên chế của đội có 20 người lại phải phục vụ dài ngày ở chiến trường gian khổ, ác liệt, sốt rét nhiều. Thương binh ở đội phẫu đông, có lúc lên tới 300, 350 người. Có đợt cao điểm của chiến dịch chỉ 18 ngày Trần Thanh Quang đã cùng anh em mổ 2.500 ca, có ngày đồng chí mổ tới 72 ca, lớn nhỏ.


Trần Thanh Quang thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để nâng cao trình độ kỹ thuât chuyên môn. Đồng chí đã mổ 17.500 ca không để xảy ra tai biến, cứu sống nhiều trường hợp vết thương hiểm nghèo tưởng chừng không qua khỏi.


Trần Thanh Quang đã tự tổng kết và nghiên cứu 7 đề tài khoa học như: "Ga rô trong xử lý các biến chứng sớm", "Xử lý vết thương dập nát bàn chân do mìn", "Chuyền máu hoàn hồi do vỡ lách", "Mổ bướu cổ", "Mổ u xơ tử cung và u nang buồng trứng ở trẻ em dưới 16 tuổi" v.v...


Trần Thanh Quang đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng nhất; 2 Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc của Nhà nước Cam-pu-chia; Huy hiệu Dũng sĩ giữ nước; danh hiệu Thấy thuốc ưu tú; 18 năm Chiến sĩ thi đua và Chiến sĩ Quyết thắng.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Trần Thanh Quang được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.