Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Ba, 2023, 08:08:51 am



Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Ba, 2023, 08:08:51 am
- Tên sách: Ký ức công binh Trường Sơn
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Giao thông Vận tải
- Năm xuất bản: 2010
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI GIỚI THIỆU

Mỗi thế hệ, mỗi đơn vị, mỗi con người trong cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc đều có những ký ức đặc biệt sâu lắng cho riêng mình và có thể cho cùng cả đồng đội của mình. Càng khó khăn, càng gian khổ trong chiến đấu, cái sống gắn liền không ranh giới với sự hy sinh không thể dự đoán trước, lại càng làm cho những ký ức đặc biệt nổi trội không thể nào quên.


Cán bộ, chiến sĩ Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, biên chế ở cơ quan nhưng lại có đặc thù riêng, suốt cả hai mùa mưa nắng đều cùng các đơn vị mở đường, bảo đảm giao thông, nghiên cứu thử nghiệm rà phá, vô hiệu hoá bom mìn địch, bảo đảm vật tư khí tài, giữ gìn kho tàng, đến sửa chữa tái tạo xe máy công binh...


Trong nhiều công việc chuyên môn khác nhau đó, các anh đã lăn lộn trên hệ thống đường Trường Sơn nay đã thành kỳ tích lịch sử, có chiều dài hơn 20.000 ki lô mét trên 5 trục dọc, 21 trục ngang, một con đường đã thành hệ thống mạng đường đa hình, đa dạng: đường núi, đường đèo, đường dọc, đường ngang, hẹp, rộng..., toả khắp Trường Sơn vào sâu tận chiến trường. Có con “đường hở" vận chuyển ban đêm trong cả 10 năm thành trọng điểm địch trút đủ các loại bom đạn, lại có hệ thống "đường kín” chạy ngày trong suốt 4 năm, dù có thiết bị thám sát, trinh sát hiện đại kẻ địch cũng phải bó tay, không thể phát hiện được. Hàng trăm con sông lớn nhỏ đều có ngầm, có phà, có cầu nổi, khoang thuyền bằng sắt thép được chi viện, lại có loại khoang gỗ bằng vật liệu tại chỗ tự chế.


Đầu mùa khô, các anh lên đường công tác, tận cuối mùa mưa mới có thể được gặp lại nhau, có anh ra đi... đã không trở về!

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã hoàn toàn thắng lợi, đơn vị cũ giải thể, tổ chức mới được hình thành. Đến nay nhiều anh em đã ra quân, chuyển đơn vị, chuyển ngành, đã về nghỉ hưu, nghỉ mất sức, muôn vẻ bộn bề với cuộc sống đời thường.


Tuy nhiên, hàng năm gặp nhau trong các cuộc sinh hoạt truyền thống của đơn vị, hàn huyên ôn lại chuyện xưa, chuyện chiến trường gian khổ thấm đậm tình cảm thân thương, ký ức đó mỗi năm như lại càng đầy ắp dồn nén.


Chủ trương của Ban Liên lạc Cục Tham mưu Công binh viết lại ký ức của mình, cùng hình thành một “tác phẩm” để cùng hoài niệm, cùng hiểu nhau hơn, thương nhau hơn, quý nhau hơn, thông cảm nhau hơn được anh em tán đồng thực hiện.


Cũng như các binh chủng khác, đã có nhiều trung đoàn, sư đoàn công binh Trường Sơn, các binh chủng bộ đội Trường Sơn khác viết ký ức, cuốn "Ký ức Công binh Trường Sơn” của đồng đội công tác tại cơ quan, các đơn vị trực thuộc Cục Tham mưu Công binh được các bạn ngoài binh chủng tham gia không phải là cuốn đầu tiên trong nhiều cuốn sách đó, nhưng có lẽ cũng chưa phải đã là cuốn cuối cùng.


Ban liên lạc Cục Tham mưu Công binh Trường Sơn xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Công binh, Ban Quản lý dự án 47 - Bộ Quốc phòng và các cựu chiến binh Cục Tham mưu Công binh, các tập thể và cá nhân đã đóng góp bài viết và kinh phí cho việc xuất bản cuốn sách này.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn “Ký ức Công binh Trường Sơn”.


Ban Liên lạc Cục Tham mưu Công binh 559
Bộ đội Trường Sơn


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:31:12 am
(https://i.imgur.com/Fpxpo4t.jpg)

Đại tá - Tiến sĩ
Đặng Văn Phúc


Sinh năm: 1941
Quê quán: Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình
Thường trú: Nhà 1008, Đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04. 37540403 - 0903. 406510   
Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội
Nguyên Thượng uý, Trợ lý Phòng Bảo đảm Giao thông,
Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Tư lệnh binh chủng Cổng binh


NHỮNG THÁNG TƯ KHÔNG BAO GIỜ QUÊN


Tháng 4 năm 1965 - chuyến công tác đầu tiên trên Trường Sơn

Lúc đó tôi là cán bộ kỹ thuật của Ban Kiến thiết 201 cầu Hàm Rồng Thanh Hoá, đang đi công tác tại Lạng Sơn thì nhận được quyết định ngày 01 tháng 4 phải có mặt tại Văn phòng Bộ Giao thông vận tải để nhận nhiệm vụ mới.


Về đến Bộ, tôi được quán triệt đi làm nhiệm vụ đặc biệt vào Đoàn 559 mở đường Trường Sơn, nơi chính Bộ trưởng Giao thông vận tải, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ.

Đoàn đầu tiên của Bộ vào Trường Sơn được biên chế 10 người do anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế Giao thông làm Trưởng đoàn. Trong đoàn hầu hết là những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm ở cơ quan Bộ, chỉ có 3 cán bộ kỹ thuật trẻ được điều động từ các công trường về, đó là kỹ sư Nguyễn Văn Lạng, quê Cổ Đô, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), anh Lê Doãn Hoàng, quê Quảng Nam và tôi. Cuộc họp chuẩn bị rất khẩn trương để lên đường ngay.


Ngày 03 và 04 tháng 4 năm 1965, không quân Mỹ đánh cầu Hàm Rồng thì đến ngày 05 tháng 4, đoàn chúng tôi xuất phát từ Hà Nội bằng xe ôtô. Qua cầu Hàm Rồng vào ban đêm, một xúc cảm tự nhiên dâng tràn trong tôi. Tôi đã có 3 năm góp công sức xây dựng nên cây cầu nay đang bị không quân Mỹ tập trung đánh phá, nơi đây có đơn vị tôi đang công tác và người tôi yêu đang sống, bây giờ không biêt họ sơ tán nơi đâu? Tôi chỉ còn biết gửi lời chào tạm biệt qua lá thư viết vội, khi xe nghỉ tại Rừng Thông, Thanh Hoá.


Vào đến Quảng Bình, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Đoàn 559, Phụ trách Công binh đón tại Sở chỉ huy Hậu phương và giao nhiệm vụ cụ thể là đi khảo sát trước, tiếp đó chuẩn bị đón lực lượng thi công vào mở đường 128 nối từ đường 12 vào đường số 9. Tại đây chúng tôi phải để lại giấy tờ sinh hoạt Đảng, giấy tuỳ thân và quần áo, trang bị cá nhân để nhận quân trang mới gồm ba lô, 2 bộ quân phục bộ đội Pa Thét Lào, tăng võng, bi đông nước, gạo, muối, mắm kem, xoong nồi nấu ăn và mỗi người một khẩu súng trường, riêng anh Nam Hải có một khẩu súng ngắn. Đoàn được bổ sung hai đồng chí bộ đội. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường sau một ngày chuẩn bị. Theo đường 12, vượt biên giới, đến một khu rừng săng lẻ thuộc đất Lào thì xe không còn đường để đi tiếp nữa, phải dừng lại.


Sau khi nghiên cứu địa hình, thống nhất hướng tuyến và các điểm khống chế trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu đi bộ bám địa hình để xác định hướng tuyến. Lúc này, phía tây Trường Sơn, đất Lào đang là mùa khô, không quân địch chưa đánh phá, nhân dân các bộ tộc Lào đang sống yên bình tại các bản dọc tuyến đường sẽ mở. Đoàn chúng tôi được nhân dân Lào nhiệt tình giúp đỡ, cử người thông thạo địa hình dẫn đường mời ngủ trên nhà sàn, buổi sáng còn cho mỗi người một tuýp xôi ăn đường. Cứ như thế chúng tôi đi qua các bản Tha Pa Chôn, Lùm Pùm, Cốc Mạc, bản Bung, bản Noọng Kà Deng... để thị sát tuyến đường. Đến bản Bung, một bản dân tộc Lào Lum khá đẹp, có nhiều nhà sàn lớn, nhiều cây xoài cành trĩu quả chín vàng, chúng tôi gặp đoàn của đồng chí Lê Nghĩa Sỹ, cán bộ Cục Chính trị Đoàn 559 trên đường đi ra. Đêm đó, ngồi gác với anh Cam, một cán bộ của phòng Bảo vệ vào tuyến đã lâu, anh cho biết phía trong đường số 9 cũng đang có một trung đoàn công binh mở đường cơ giới.


Tình hình rất khẩn trương, đoàn chúng tôi miệt mài tìm đường, ngày đi rừng vạch tuyến, đêm nghỉ tại các bản dân dọc tuyến, nhưng phải tổ chức canh gác đêm, đề phòng địch mặt đất. Đến gần cuối tháng 4 thì xác định xong hướng tuyến đường 128 theo nhiệm vụ được giao. Đường được xác định từ Xóm Péng đến Na Bo trên đường số 9 dài khoảng 130 ki lô mét, nửa phía ngoài tương đối bằng phẳng, qua những cánh rừng già kín đáo, nửa phía trong qua hai đoạn đèo có độ dốc lớn, đó là Cốc Mạc và Vang Mu. Nhiều con suối lớn nhỏ cắt ngang tuyến đường. Cùng với việc xác định xong tuyến đường, đoàn cũng dự kiến kế hoạch vừa khảo sát thiết kế vừa thi công, dự kiến vị trí Công trường bộ 128, các trọng điểm phải tập trung lực lượng thi công.


Kết thúc việc thị sát xác định tuyến đường, vào cuối tháng 4 năm 1965 chúng tôi đón Công trường bộ 128 do anh Nguyễn Lang, Cục phó Cuc Công trình 1 Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng vào triển khai công tác chuẩn bị; và giữa tháng 5, lực lượng thi công đầu tiên hơn 1.000 công nhân, 20 máy húc do anh Lam Chi chỉ huy vào thực hiện nhiệm vụ thi công. Đây là lực lượng thi công cơ giới lớn nhất của Bộ Giao thông vận tải đang thi công tại đường số 6 được điều vào chiến trường.


Chuyến công tác đầu tiên trên đường Trường Sơn của chúng tôi đã hoàn thành. Hầu hết anh em trong đoàn ở lại bổ sung cho Công trường 128. Với tôi, cuộc chiến đấu mới vô cùng ác liệt, gian khổ kéo dài 8 năm trên đường huyền thoại bắt đầu.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:32:47 am
Tháng 4 năm 1973 - chuyến đi công tác cuối cùng trên đường Trường Sơn

Đầu tháng 4 năm 1973, Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn công tác kiểm tra đường phía tây Trường Sơn do Chính uỷ Đặng Tính (mật danh 602) dẫn đầu. Đoàn gồm đủ các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư lệnh: Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Cục Tham mưu Công binh, Cục Vận tải, Cục Hậu cần. Anh Nguyễn Thúc Yêm, mới được điều động giữ nhiệm vụ Cục phó Cục Tham mưu Công binh, và tôi - Trợ lý phòng Bảo đảm giao thông cùng tham gia đoàn. Đi cùng xe Cục Công binh còn có nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, là những văn nghệ sĩ từ Hà Nội vào thực tế chiến trường.


Là lần đầu đi công tác với Chính uỷ Đặng Tính, nên tôi chuẩn bị rất kỹ trước khi lên đường. Tôi đã làm việc với các đơn vị nắm kỹ lại tình hình đường sá, các đơn vị công binh trên hành trình đường đi. Tôi mang theo bản đồ có vẽ đủ các tuyến đường phía tây, bản đồ chi tiết các trọng điểm lớn nơi địch đã tập trung đánh phá để sẵn sàng báo cáo Đoàn trên đường công tác.


Lúc này đang là mùa khô, sau hiệp nghị Paris về Việt Nam đã ký kết ngày 07 tháng 01 năm 1973, địch đã phải ngừng đánh phá bằng không quân ở Việt Nam và Lào.

Đoàn xuất phát từ sở chỉ huy lúc này ở Quảng Bình, đi theo đường 20 vào đường 128. Đây là lần đầu tiên cả một đoàn công tác lớn của Bộ Tư lệnh được đi ban ngày, được ngắm nhìn khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn và những con đường đã thâm bao máu xương của các lực lượng xây dựng và bảo vệ nó để vận chuyển và chi viện cho các chiến trường miền Nam.


Đến Phu La Nhích, đứng ban ngày trên đỉnh đèo mới thấy hết sự đánh phá tàn ác khủng khiếp của không quân Mỹ trên cả vùng tập đoàn trọng điểm ATP. Hàng chục ki lô mét vuông, hố bom chằng chịt, không còn một bóng cây ngọn cỏ. Đến nơi đây tôi đã báo cáo với Đoàn về sự sáng tạo và ý chí kiên cường dũng cảm của bộ đội công binh, thanh niên xung phong trong xây dựng thế trận cầu đường vững chắc, liên hoàn với 5 đường vượt trọng điểm, có đường đi đội hình nhỏ, có đường cả tiểu đoàn xe chở hàng đội hình vận chuyển lớn, có đường kín xe chạy ban ngày, với các phương thức vượt sông bằng ngầm, bằng phà, có năm tranh thủ giao mùa bằng cầu cáp, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống.


Đứng trên đỉnh đèo Phu La Nhích, bỗng nhiên tôi nhớ đến hai người bạn cùng trong đoàn vào Trường Sơn với tôi tháng tư năm ấy, kỹ sư Nguyễn Văn Lạng và anh Lê Doãn Hoàng, cán bộ kỹ thuật trung cấp cầu đường, đã hy sinh trong trận đánh bom đầu tiên khi các anh đang tìm đường tránh Phu La Nhích đầu năm 1966. Tôi nhớ đến kỹ sư Phan Vũ Trang, người bạn trong đội bóng đá của công trường Hàm Rồng cùng tôi năm xưa đã hy sinh khi đang chỉ đạo thi công cầu cáp vượt sông Ta Lê năm 1967, và biết bao đồng chí đồng đội ngã xuống ở trọng điểm nổi tiếng ác liệt này.


Đi trên đường 128 đoạn Lùm Pùm vào đến đường số 9, tôi đã kể cho các anh văn nghệ sĩ ngồi cùng xe nghe về những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn khi mở tuyến đường này trong mùa mưa khốc liệt năm 1965.


Năm ấy, mùa mưa đầu tiên mở đường cơ giới trên Trường Sơn, mưa rất lớn kéo dài liên tục, nước các sông dâng cao đường bị ngập, bị nước lũ tàn phá. Công trường 128 phải lát đến 40 ki lô mét đường rông đanh, mỗi ki lô mét khoảng hơn 3.000 cây gỗ dài khoảng 3 mét, đường kính 10 đến 15 cen ti mét để chống lầy. Nhưng tiếp tế vật chất đảm bảo rất khó khăn, gạo không đủ ăn, phải giảm khẩu phần vốn đã ít ỏi của mình. Hơn 2.000 các bộ chiến sĩ, công nhân giao thông, thanh niên xung phong vẫn quyết tâm vượt mọi khó khăn để mở đường. Khó khăn nhất vẫn là với chị em thanh niên xung phong, quần áo chỉ có hai bộ, lao động đầm mưa ướt sũng cả ngày, tối về có cô không còn quần áo khô, đành chui vào chăn chờ bạn đốt lửa hong khô quần áo mới có mặc. Ghẻ lở, chấy rận, tóc rụng, bệnh phụ khoa phát triển, ốm yếu, sốt rét nẩy sinh, nhưng chị em vẫn làm việc quên mình.


Với quyết tâm đó của cán bộ chiến sĩ, đầu tháng 11 năm 1965, đường đã thông, những chuyến xe đầu tiên đã bắt đầu chở hàng cho chiến trường, mở ra thời kỳ vận chuyển cơ giới trên Trường Sơn.

Đến trọng điểm Tha Mé, gặp tổ công binh chốt bảo đảm giao thông trên đèo, trong lúc nghỉ hỏi chuyện anh em, Chính uỷ Đặng Tính đã tự tay cắt tóc cho một chiến sỹ. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, giữa nơi từng đã là trọng điêm bị đánh phá ác liệt còn chằng chịt hố bom đỏ ngầu, Chính uỷ chiến trường, mái đầu điểm bạc ung dung cắt tóc cho người chiến sĩ công binh trẻ giữa bầu trời vờn đám mây xám...

- “Chính uỷ thật bình dị thương lính...” - nhà thơ Chế Lan Viên bình phẩm.

- "Chính uỷ còn làm thơ hay nữa” - tôi bổ sung.

Thật thế, khi đến Binh trạm 34, Chính uỷ nói chuyện với cán bộ Binh trạm, buổi nói chuyện vui vẻ thân tình, đầm ấm, Chính uỷ còn đọc mấy bài thơ do mình sáng tác rất hay về Trường Sơn.

Đoàn về chỉ huy sở Sư đoàn 471, đồng chí Vũ Quang Bình, Chính uỷ Sư đoàn 968 mời Chính uỷ Đặng Tính vào thăm đơn vị. Chính uỷ cùng một số ít cán bộ trong Đoàn cùng đi, còn đại bộ phận ở lại tiếp tục làm việc với Sư đoàn 471.


Đoạn đường vào Sư đoàn 968 do đơn vị tự quản lý đảm bảo. Một xe tải đi đầu có cán bộ của Trung đoàn sở tại thuộc Sư đoàn 968 và bí thư của Chính uỷ Đặng Tính, xe Chính uỷ Đặng Tính đi thứ hai và những cán bộ khác đi xe thứ ba. Ngày 04 tháng 4 năm 1973, xe của Chính uỷ trúng mìn trên đường vào chỉ huy sở Sư đoàn 968, cả 6 đồng chí trên xe hy sinh. Thi hài các đồng chí được đưa về bệnh xá Sư đoàn 471, chúng tôi thay nhau túc trực để quân y xư lý chuyên môn chuẩn bị đưa 3 đồng chí cán bộ cao cấp ra Bắc an táng. Ba đồng chí còn lại được an táng tại một cánh rừng gần chỉ huy sở Sư đoàn 471.


Chính uỷ Đặng Tính được đưa về Hà Nội mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch, đồng chí Chính uỷ Sư đoàn 968 được mai táng tại Quảng Bình và đồng chí Cục phó Cục Tham mưu Công binh được đưa về quê Hà Tĩnh. Bộ đội Trường Sơn đau đớn chịu tang, một mất mát lớn đến nay không thể nào quên được.


Với tôi đó là chuyến đi công tác cuối cùng trên chiến trường Trường Sơn, chuyến đi gợi nhớ biết bao kỷ niệm với đồng chí đồng đội trong 8 năm chiến đấu. Chuyến đi có tổn thất nặng nề, mất người Chính uỷ mà toàn thể cán bộ chiến sỹ Trường Sơn quý mến.


Ngay sau chuyến đi đó, tôi đã nhận được quyết định đi đào tạo tại nước ngoài. Ngày 30 tháng 4 năm 1973, tôi tạm biệt đồng đội, tạm biệt Trường Sơn để bắt đầu một giai đoạn mới, giai đoạn 8 năm học tập, nghiên cứu khoa học quân sự tại Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên Xô.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:40:25 am
(https://i.imgur.com/4NxqKMh.jpg)

Đại tá
ĐẶNG HƯƠNG


Sinh năm: 1931
Quê quán: Trà Lý, Đông Quý, Tiền Hải, Thái Bình
Thường trú: Nhà 14, Ngách 102/25, đường Trường
Chinh, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.38691865 - 0953 177559   
Từ Bộ Tư lệnh công binh vào Đoàn 559
Nguyên Trưởng phòng Vật tư, Xe máy Cục TMCB,
Bộ Tư lệnh Trường Sơn
Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12


ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, VỚI CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ


Tôi có may mắn trờ thành chiến sĩ công binh từ năm 1951 trong đội hình Trung đoàn Công binh duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp: Trung đoàn Công binh 151. Một may mắn nữa là đơn vị tôi, Đại đội 53, Tiểu đoàn “em út” 106 thuộc Trung đoàn 151 được cùng Trung đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ngay từ cuối năm 1953, sau khi cả Tiểu đoàn đã tham gia mở đường qua đèo Lũng Lô. Riêng Đại đội 53 chúng tôi từ tháng 11 năm 1953 đã được giao nhiệm vụ bảo đảm giao thông từ Sơn La lên tới Chiềng Pấc thuộc huyện Thuận Châu, ngày đó còn gọi là đường 41, nay là quốc lộ số 6. Tiếp đó là các Đại đội 52, 54 cùng trong Tiểu đoàn 106 bảo đảm giao thông từ Thuận Châu qua Tuần Giáo. Riêng Đại đội 52 còn đặc trách đèo Pha Đin lịch sử.


Ngày ấy trên đường ra trận, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vượt qua Lũng Lô và Pha Đin nên càng có điều kiện hiểu rõ hơn vai trò của công binh trong chiến tranh. Có lẽ vì thế trong lễ duyệt binh tại Điện Biên, ngay sau ngày đại thắng, Tổng Tư lệnh đã có một đánh giá nổi tiếng "Không có những con đường ấy, không thể có chiến thắng này..." Chắc chắn ý Đại tướng muốn nhắc tới con đường dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương ra tiền tuyến, đặc biệt là những con đường kéo pháo vào trận địa tạo ra những đòn sấm sét xuống đầu giặc Pháp ở Điện Biên Phủ ngày ấy.


Tất cả những con đường đó đều do lực lượng công binh chủ trì phối hợp với các lực lượng khác của quân đội, thanh niên xung phong và dân công tạo ra trong một thời điểm lịch sử.

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ tôi lại có thêm vận may nữa là được làm một cán bộ công binh ở Bộ Tư lệnh Trường Sơn - Đoàn 559, có điều kiện tham gia nhiều sự kiện quan trọng của một đơn vị công binh trên một chiến trường đặc biệt.


Trong thời gian phục vụ ở Trường Sơn với hậu phương là tỉnh Quảng Bình, tôi đã được gặp gỡ nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Từ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương đều đánh giá cao vai trò và tầm nhìn chiến lược, sự chỉ đạo của Đại Tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với Quảng Bình, đặc biệt là đối với hệ thống đường sá giao thông, và công tác chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ sớm muộn cũng sẽ xảy ra. Sau này trong tập hồi ký "Tuyến lửa, những năm tháng sôi động" do sở Giao thông vận tải Quảng Bình phối hợp với Nhà xuất bản GTVT xuất bản và phát hành năm 1993, đồng chí Lại Văn Ly, nguyên Phó Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình, nguyên Trưởng ty Giao thông vận tải Quảng Bình, nguyên Trưởng ban Đảm bảo giao thông vận tải Quảng Bình, đã có dòng tâm sự sâu sắc: "Tháng 3 năm 1961, trong một chuyến vào thăm Quảng Bình, với tầm nhìn xa chiến lược của một nhà quân sự tài ba, Đại tướng đã nghĩ đến những phương án chủ động đảm bảo giao thông sắp tới, trong đó ý định trước hết là các tuyến đường mới vượt Trường Sơn...”.


Đại tướng đã nhận định: "Sắp tới đường 15A thông xe rồi, địch sẽ khống chế mạnh, ta phải có đường vượt qua Trường Sơn đi xuống đường 9... Trên cơ sở đó Đại tướng đã có một số chỉ thị và gợi ý cho Quảng Bình chuẩn bị sẵn sàng những phương án trước".


Vì thế không phải ngẫu nhiên mà Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn vào hệ thống đường Hồ Chí Minh ở khu vực biên giới mà lính Trường Sơn quen gọi là khu vực vượt khẩu ác liệt nối hậu phương với tiền tuyến; từ đường 12 ở phía Bắc đến đường 16 ở phía Nam, đặc biệt là đường 20A nối Phong Nha - Quảng Bình với Lùm Bùm trên đất Bạn. Tất cả những tuyến đường đó đều có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Đại tướng Tổng Tư lệnh như các đồng chí lãnh đạo Quảng Bình và Bộ Tư lệnh 559 đã xác nhận tại nhiều văn kiện lịch sử.


Trong suốt 16 năm tồn tại, đường Hồ Chí Minh lịch sử, một tuyến vận tải chiến lược vĩ đại nhất không chỉ trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà cả trong lịch sử chiến tranh thế giới, năm nào đoàn cán bộ 559, gồm tư lệnh, Chính ủy và các cán bộ chủ chốt đầu ngành từ vận tải, bộ binh, công binh, phòng không cao xạ, thông tin, hậu cần... cũng được gọi ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới. Đặc biệt Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn dành thời gian trực tiếp chỉ đạo cơ quan Bộ làm việc với Đoàn và cá nhân Đại tướng thường có những buổi làm việc riêng với tư lệnh và Chính uỷ Đoàn.


Tuy nhiên không ít năm, Đại tướng đã trực tiếp gặp gỡ và động viên cả đoàn mà tôi cũng có may mắn được tham dự. Đặc biệt khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn từ Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đến Chơn Thành, Lộc Ninh, Tây Ninh nhằm chuẩn bị cho chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Mặc dù đang an dưỡng tại Đồ Sơn, Đại tướng đã triệu tập cả đoàn cán bộ 559 do Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên dẫn đầu xuống Đồ Sơn làm việc và kết thúc bằng một buổi chiêu đãi lịch sử khiến ai được dự đều không thể quên.


Chính những tình cảm sâu đậm với đường Hồ Chí Minh, với bộ đội Trường Sơn mà ngay sau khi Hiệp định Paris vừa có hiệu lực, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với cương vị uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã về dự Đại hội tổng kết của bộ đội Trường Sơn được tổ chức vào đầu tháng 3 năm 1973 ngay trên đất Quảng Bình. Đây là lần thứ 3 Đại tướng tới dự hội nghị tổng kết của bộ đội Trường Sơn.


Rồi ngay sau khi hội nghị tổng kết và đại hội mừng công vừa kết thúc, Đại tướng đã cùng Chính uỷ Đặng Tính và Tư lênh Đồng Sĩ Nguyên đi thị sát chiến trường Trường Sơn. Đại tướng đã dừng lại nghiên cứu các trọng điểm địch đánh phá ác liệt trước đây. Tiêu biểu là trọng điểm Lùm Bùm, Ka Tốc, Chả Là, đặc biệt là cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A, ngầm Ta Lê đèo Phu La Nhích) trên đường 20 Quyết Thắng. Hôm ấy công binh vừa bắc cầu phao qua Ta Lê vì nước sông còn lớn, Đại tướng đã bước xuống cầu phao, khoả tay vào dòng nước sông Ta Lê đã qua mấy ngàn ngày, suốt từ năm 1966 đến năm 1972, chịu đựng đủ loại bom đạn Mỹ ném xuống với đủ loại máy bay cường kích phản lực, B52 của không quân Mỹ, mà ngầm Ta Lê vẫn hiên ngang tồn tại cùng với cua Chữ A, đèo Phu La Nhích bảo đảm cho xe ta ngày đêm đưa hàng vào chiến trường. Có lẽ vì những chiến công hiên hách của lực lượng công binh ở cụm trọng điểm ATP này mà Đại tướng đã dừng lại cả buổi và đêm đó bên ngầm Ta Lê, Đại tá Nguyễn Việt Phương, một cán bộ lão thành năm xưa là Chỉ huy trưởng Sư đoàn 571 binh chủng hợp thành đã có vinh dự phục vụ Đại tướng ở khu vực này. Trong một bài ký viết vào tháng 3 năm 1999 với bút danh Khổng Phương Việt, anh Việt Phương đã cho chúng ta thấy được chuyến đi lịch sử của vị Tổng Tư lệnh huyền thoại, đặc biệt là những phân tích vừa thân tình vừa lôgíc của Đại tướng trong cuộc toạ đàm bên dòng sông Ta Lê khiến tác giả bài ký bữa đó... "cảm thấy ngợp trước những lời đánh giá và phương hướng mới của tuyến chi viện...".


Tôi rất đồng tình với những đánh giá, nhận xét của Nguyễn Việt Phương về chuyến đi lịch sử này của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp như trong bài ký của anh, đã nói trên.

Trong những năm gần đây, sau khi về hưu, tôi lại may mắn nhờ có anh bạn thân là đồng đội cũ, Đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng, nên thỉnh thoảng được phép cùng các đoàn cựu chiến binh công binh vào thăm sức khoẻ Đại tướng.


Trong nhiều cuộc gặp, Đại tướng thường hỏi thăm các cán bộ lão thành công binh đã từng có dịp gặp gỡ và làm việc với Đại tướng. Đặc biệt Đại tướng hỏi nhiều về bác Nguyễn Văn Nhạn, một lão thành công binh đã gần 90 tuổi, một kỹ sư công chính của chế độ cũ đã gia nhập quân đội trên cương vị Trưởng phòng Chính trị Văn phòng Bộ Quốc phòng đầu tiên do ông Phan Anh làm Bộ trưởng. Năm 1946 với trình độ chuyên môn về cầu đường, bác Nhạn đã chuyển về công binh và là 1 trong 2 Tiểu đoàn trưởng công binh đầu tiên (người thứ hai là bác Đinh Khang, phu quân của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình) đã tham gia các hoạt động công binh tại Hà Nội trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Bác Nguyễn Văn Nhạn cũng là một trong những cán bộ công binh đầu tiên tham gia khảo sát và xây dựng đường Trường Sơn trên cương vị Tham mưu phó Đoàn 559 phụ trách công binh.


Chắc chắn sự đóng góp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam vào quá trình hình thanh và trưởng thành của đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ còn nhiều hơn những điều tôi vừa kể trên. Nhưng chỉ với bấy nhiêu điều mà tôi thu lượm được cũng đã nói lên những cống hiến của "Anh Văn" với đường Hồ Chí Minh lịch sử trong những năm đánh Mỹ và thắng Mỹ trên Trường Sơn.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:42:50 am
HỒI ỨC TRƯỜNG SƠN

Đại tá Đặng Hương


Đó lẽ kẻ thù đáng sợ nhất trên Trường Sơn chính là mùa mưa dai dẳng, liên miên, mưa đến thối đất, thối trời suốt từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và có thể dài hơn.

Với lượng mưa lớn đến mức mọi con sông, suối đều trở thành những dòng thác hung dữ thì giao thông vận tải đành phải bó tay và việc chi viện cho các chiến trường hết sức khó khăn, phải tranh thủ từng ngày từng giờ mưa rút, tạnh ráo.


Nhưng mỗi khi mưa vừa dứt, có chút nắng hửng lên thì máy bay thám thính của Mỹ lại vè vè trên bầu trời Trường Sơn, ngó nghiêng tìm kiếm những sơ hở của chúng ta để chỉ điểm cho lũ máy bay cường kích đến đánh phá.


Khi mùa khô tới, đường sá được sửa chữa, khôi phục để phục vụ các chiến dịch vận chuyển lớn thì cũng là lúc không quân địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, vừa đánh ngăn chặn trên các trọng điểm, vừa đuổi đánh theo các đội hình xe trên đường.


Qua con số thống kê của cơ quan tác chiến mặt trận Trường Sơn ngày đó, chắc chắn là chưa đầy đủ thì trong mùa khô năm 1965-1966, địch mới chỉ huy động không đến 12 ngàn lượt/chiếc máy bay đánh phá đường Trường Sơn cả ngày lẫn đêm, nhưng đến mùa khô năm 1968-1969, địch đã dùng tới gần 170 ngàn lượt/chiếc máy bay, có nghĩa là tăng gần 15 lần.


Tiếp đến mùa khô năm 1969-1970, trong số gần 150 ngàn lượt/chiếc máy bay Mỹ đánh phá dọc Trường Sơn đã có gần 5 ngàn lượt/chiếc máy bay B52. Cao điểm nhất là mùa khô năm 1970-1971, trong số 126.643 lượt/chiếc máy bay Mỹ bắn phá đường Trường Sơn, đã có tới 9.810 lượt/máy bay B52.


Và tổng số bom dạn của Mỹ ném xuống Trường Sơn, dù chưa thống kê hết cũng đã cho ta những con số khủng khiêp: hơn 7,5 triệu quả bom phá nổ, gần 45 ngàn quả bom từ trường, hơn 22 ngàn quả bom nổ chậm, hơn 17 ngàn quả bom cháy, gần 70 ngàn quả bom bi và gần nửa triệu loạt đạn rốc két. Tính trung bình mỗi năm 1 ki lô mét đường Trường Sơn phải chịu gần 5 nghìn quả bom và loạt đạn rốc két, cũng có nghĩa là mỗi mét dài đường Trường Sơn phải hứng chịu 5 trái bom và loạt dạn rốc két trong một năm.


Với những ai chưa trải qua chiến tranh thì những con số trên có thể chỉ là những con số thống kê tham khảo, nhưng với những người đã từng chiến đấu trên Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ, hoặc chỉ một lần đã đi qua Trường Sơn trong những năm chiến tranh ác liệt nhất, hẳn không bao giờ quên được những quang cảnh tàn phá, chết chóc suốt dọc tuyến đường dài hàng ngàn ki lô mét.


Ta thử hình dung vào cuối năm 1966, khi địch mới chỉ bắt đầu đánh phá tuyến đường 20, một tuyến đường ngang vào chiến trường bắt đầu từ Phong Nha - Bố Trạch - Quảng Bình, thì hai bên bờ sông Ta lê, cách Phong Nha chưa đầy 80 ki lô mét còn xanh um những tán rừng săng lẻ, có cây gốc vài người ôm, thân trắng xoá tựa cây bạch dương của nước Nga xa xôi. Thế mà chỉ hai năm sau, năm 1969, những cánh rừng săng le bạt ngàn trên cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A - ngầm Ta Lê - đèo Phu La Nhích) gần như đã biến mất, chỉ còn lại những gốc cây tướp túa, đen sạm bị bom Mỹ đánh bật khỏi mặt đất và những hố bom nối tiếp hố bom nham nhỏ, loang lổ...


Tháng 3 năm 1969, trên đường từ A sầu - A Lưới, Thừa Thiên Huế trở về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi ngồi trong ca bin một chiếc xe vận tải vượt qua ngã ba La Hạp, một ngã ba nổi tiếng bởi sự đánh phá ác liệt của địch, mà như đi giữa biển lửa, vì những cánh rừng còn lại hai bên đường đang rừng rực bốc cháy do bom napan của Mỹ vừa mới ném xuống.


Suốt các tuyến đường ngang, dọc Trường Sơn còn biết bao trọng điểm khác đã bị kẻ thù tập trung đánh phá ác liệt. Thế mà cuộc chiến đấu của bộ đội Trường Sơn đã kéo dài tới 16 năm liền, từ năm 1959 đến năm 1975.


Những năm đầu rất gian khổ, nhưng âm thầm, lặng lẽ bởi phương thức vận chuyển còn là gùi, thồ với khẩu hiệu “Đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành tiếng”. Từ năm 1965 trở đi, đã chuyển mạnh sang vận chuyển bằng cơ giới với lực lượng xe ô tô vận tải ngày càng lớn, với nhiều tuyến đường mới được mở và có cả một tuyến đường ống dẫn xăng dầu thì cuộc chiến giữa ta và địch ngày càng trở nên ác liệt, một mất, một còn...


Nhưng cuối cùng thì đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh lịch sử trong chiến tranh chống Mỹ, đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình đảm bảo cho các chiếc trường ngày càng đánh lớn, dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 kết thúc vào ngày 30 thang 4 năm ấy.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:44:03 am
KỂ LẠI CHUYỆN LÀM CẦU CÁP TA LÊ
NHÂN ĐỌC BÀI BÁO “MỘT CHIẾN CÔNG CHƯA MẤY AI BIẾT ĐẾN”


Đại tá Đặng Hương


Báo Nhân dân cuối tuần số ra ngày 23 tháng 4 năm 1995 có đăng bài "Một chiến công chưa mấy ai biết tới" nói về sự ra đời của cầu dây cáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của chúng ta. Với tư cách là một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được cấp trên giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí tổ chức nghiên cứu, thiết kế và gia công, rồi đưa đi thực nghiệm cầu dây cáp hai sợi trên sông Nhuệ đoạn đầu cầu Diễn, bên cạnh chùa Thị Cấm thuộc xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi xin được phép nói rõ hơn, nhằm đóng góp vào việc ghi lại thật đầy đủ lịch sử ra đời của cầu dây cáp, một công trình do quân đội khởi xướng và tổ chức thực nghiệm đầu tiên trên sông Nhuệ.


Lúc đó vào nửa đầu năm 1965, chúng tôi, một số cán bộ Cục Nghiên cứu kỹ thuật trực thuộc Tổng cục Hậu cần, nay là Viện Kỹ thuật Quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng, được triệu tập lên Bộ Tham mưu Tổng cục để nghe anh Trần Hiếu Tâm, bây giờ là Tham mưu phó Tổng cục, giới thiệu một dạng cầu dây cáp hai sợi cho xe ô tô của quân đội nước Bạn. Nội dung giới thiệu rất sơ lược, không có tài liệu bản vẽ thiết kế tính toán, mà chỉ bằng hình vẽ mô tả qua trí nhớ của anh Tâm vừa đi tham quan, học tập ở nước Bạn về.


Nhưng từ đó, một chủ trương của Tổng cục Hậu cần đề ra là Cục Nghiên cứu kỹ thuật phải phối hợp với các cơ quan Tổng cục nghiên cứu, thiết kế bằng được cầu dây cáp cho xe ô tô vượt sông nhằm phục vụ yêu cầu bào đảm giao thông trên chiến trường, đặc biệt là cho tuyến đường Trường Sơn đang chuyển mạnh sang vận chuyển bằng ô tô.


Rất may là sau đó, qua Tạp chí Kỹ thuật và trang bị của quân đội Liên Xô lúc bấy giờ, chúng tôi đọc được một mẩu tin nhỏ giới thiện biện pháp vượt sông tương tự của quân đội Anh đã áp dụng ở rừng núi Malaysia để chống quân du kích địa phương. Có thể nói đó là tất cả cơ sở đầu tiên để tập thể chúng tôi bắt tay vào nghiên cứu, thiết kế. Chỉ một thời gian sau, vào mùa hè 1965, chúng tôi gồm một số cán bộ, chiến sĩ của Cục Nghiên cứu kỹ thuật và Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần đã kéo nhau xuống sông Nhuệ, ở khu vực đã nói trên để bắt tay vào thực nghiệm. Kết cấu của cầu quả là đơn giản, chỉ gồm có hệ thống hố thế ở hai bờ sông để neo giữ hai sợi dây cáp ở thượng, hạ lưu và hệ thống tăng đơ để điều chỉnh độ võng và cân bằng hai dây cáp. Cơ sở tính toán ban đầu của chúng tôi chỉ dựa vào những bài toán sức bền vật liệu của dây cáp, chưa nghĩ tới và cũng chưa tính được tính ổn định của đây đàn hồi. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự cố lật xe ô tô do thượng uý, trợ lý kỹ thuật Nguyễn Trọng Quyên thuộc Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần, được giao lái xe thực nghiệm. Rất may là gần mặt nước và anh Quyến đã thoát ra an toàn. Chiếc ô tô bị lật 360 độ, sau đó được kéo lên bảo dưỡng và lại tiếp tục hoạt động.


Điều chúng tôi muốn khẳng định là lúc bấy giờ, trên sông Nhuệ, chỉ mới có duy nhất công trình thực nghiệm cầu dây cáp hoàn toàn do quân đội chủ trì mà trực tiếp là Tổng cục Hậu cần và Cục Nghiên cứu kỹ thuật tổ chức thực hiện. Để bảo đảm bí mật, bấy giờ trong điều kiện địch có những phương tiện trinh sát hiện đại từ trên không, quân đội chủ trương chỉ nghiên cứu loại hình cầu dây cáp hai sợi. Lúc đầu, theo kinh nghiệm của quân đội Bạn, chúng tôi dùng xe Giải phóng Trung Quốc (CA 10) đảo hai bánh trước biến thành hai pu-li chạy trên hai dây cáp, hàng bánh sau là bánh kép thì cho đây cáp trượt giữa hai bánh.


Qua thực hiện, chúng tôi nhận thấy phương pháp này không ổn, vì quá phức tạp (xe trước khi xuống cầu phải tháo hai banh trước, lật phía trong ra phía ngoài, qua sông, phái tháo bánh xe ra đảo lại. Mặt khác do giãn cách giữa hai dây cáp quá hẹp, dễ gây sự cố lật xe), vì thế, chúng tôi đã nghiên cứu, thiết kế một loại pu-li lắp ngoài bánh xe để chạy, trên dây cáp, nhưng chỉ áp dụng được cho xe Gatz 63 của Liên Xô và Vọt tiến của Trung Quốc.


Tuy nhiên, biện pháp này cũng có những phức tạp do phải lắp pu-li cho xe trước khi xuống cầu và tháo pu-li ra khi xe đã qua cầu mà tính ổn định của cầu cũng chưa thật bảo đảm. Từ thực tiễn thí nghiệm và qua gợi ý của tập thể, chúng tôi đã chuyển sang nghiên cứu loại phà treo trên hai sợi dây cáp bằng hệ thống pu-li và dùng động lực trên bờ kéo phà qua sông. Biện pháp này cũng có những bất tiện, cho nên chúng tôi đã nghiên cứu dùng ngay động lực của ô tô thông qua hàng bánh sau làm quay hệ thống ru-lô đặt trên phà và truyền lực làm quay hệ thống pu-li treo trên dây cáp đẩy phà qua sông. Phương pháp này được đặt tên là “phà treo tự hành” đã tỏ ra có hiệu quả, bảo đảm an toàn cho xe và đã được ứng dụng vượt sông Ta Lê trên đường 20 (trong cụm trọng điểm ATP nổi tiếng - cua Chữ A - sông Ta Lê - đèo Phu La Nhích) vào đầu mùa khô 1967 khi nước sông còn lớn chưa vượt ngầm được. Qua thực tiễn, chúng tôi thấy triển vọng úng dụng rộng rãi “phà treo tự hành” là rất lớn vì tính ổn định cao, ít phức tạp trong gia công, lắp ráp, đảm bảo được bí mật, bất ngờ nếu ta giữ kín được khu vực bến trượt, chủ yếu là hai đường vào cầu ở hai bờ sông.


Tất nhiên biện pháp vượt sông này cũng còn một số nhược điểm cần được tiếp tục nghiên cứu, khắc phục. Rất tiếc là sau đó vì hoàn cảnh chiến trường ở xa hậu phương, vả lại cũng không có những đòi hỏi bức bách, cho nên chúng tôi không có điều kiện hoàn thiện và phát triển một biện pháp vượt sông khá độc đáo do Cục Nghiên cứu kỹ thuật thuộc Tổng cục Hầu cần lúc bây giờ đã dày công nghiên cứu và mạnh dạn đưa vào chiến trường thử nghiệm.


Trong quá trình nghiên cứu loại cầu đây cáp hai sợi nói trên, chúng tôi đã hết sức tranh thủ và nhận được sự công tác chặt chẽ, tận tình, có hiệu quả của tập thể Viện Kỹ thuật Giao thông, đứng đầu là đồng chí Viện trưởng Đặng Văn Thông. Nhiều anh chị em cán bộ, nhân viên và công nhân của Viện đã sớm gắn bó với chúng tôi ngay từ những ngày đầu như anh Phan Cháu, Trưởng phòng Cơ khí, các anh chị An, Hưng, Tùng v.v... Có lúc chúng tôi đã sử dụng cơ quan Viện làm hậu cứ để triển khai việc thiết kế và gia công cơ khí. Chúng tôi cũng không quên sự giúp dỡ đầy nhiệt tình của Cục Cơ khí Bộ Giao thông vận tải lúc đó đã cử một số cán bộ kỹ thuật, đứng đầu là đồng chí Trịnh Xương, tham gia cộng tác trong giai đoạn đầu. Chúng tôi đặc biệt trân trọng sự đóng góp quý báu về mặt tính toán lý thuyết giúp giải quyết bài toán ổn định cầu dây cáp hai sợi của đông đảo các cán bộ giảng dạy bộ môn cầu, khoa Xây đựng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong đó có phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hường, kỹ sư Lều Thọ Trình và nhiều anh em khác nữa, ngay sau khi xảy ra sư cố lật xe trên sông Nhuệ, đã tới tham gia, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiếp tục nghiên cứu thí nghiệm, không những trên công trường cầu Diễn, mà còn ở phòng thí nghiệm của Trường.


Cũng cần nói thêm là sau khi quân đội tổ chức công trường thí nghiệm loại cầu dây cáp hai sợi được một thời gian, vào cuối năm 1965, đầu năm 1966, cũng trên sông Nhuệ, đã xuất hiện một công trường nghiên cứu loại cầu dây cáp nhiều sợi lát ván lên trên cho xe đi qua của Bộ Giao thông vận tải, nơi phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hường đã có nhiều đóng góp. Theo tôi biết, loại cầu dây cáp nhiều sợi nói trên đã được áp dụng khá rộng rãi tại nhiều điểm vượt sông ở hậu phương miền Bắc, có thể từ cầu Cà Tang, Hà Tĩnh trở ra và đến thời kỳ năm 1968 - 1969 được áp dụng ở Ta Lê trên đường 20 Quyết Thắng.


Đến ngày hôm nay, đã hơn 30 năm sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, và cũng hơn 40 năm ngày ra đời chiếc cầu dây cáp dầu tiên do quân đội thiết kế và thi công thử nghiệm trên sông Nhuệ. Nhiều nhân chứng góp phần tích cực vào công trình đó đã qua đời, như các anh Trần Đức Minh, Ngô Đình Liễu đều là những chuyên gia kĩ thuật rất năng nổ, xông xáo của Cuc Nghiên cứu kỹ thuật lúc bây giờ; đồng chí Nguyễn Quang Lanh, lúc đó là Trưởng phòng Kỹ thuật của Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần. Nhưng số nhân chứng còn sông hiện ở Hà Nội cũng không ít như đồng chí Nguyễn Văn Mai ở Cục Quản lý xe quân đội, đã ngoài 70 tuổi, hiện đang sống ở K95 Phúc Xá; đồng chí Nguyễn Trọng Quyến, cán bộ lái xe thực nghiệm bị lật xuống sông Nhuệ, nay là đại tá về hưu, đã 75 tuổi, đang sông ở ngõ 190 Lò Đúc...


Nhân đọc bài báo Một chiến công chưa mấy ai biết tới, nhiều anh đã đến gặp tôi bồi hồi ôn lại những kỷ niệm sâu đậm của đời lính khi tham gia nghiên cứu cầu dây cáp hai sợi với quyết tâm tiến quân vào khoa học - kỹ thuật, cố gắng tìm ra một giải pháp vượt sông độc đáo trên tinh thần đoàn kết, hợp đồng nội bộ quân đội và giữa quân đội với các nhả trường, cơ quan, xí nghiệp ngoài quân đội.


Điều mong ước nhất của chúng tôi là công trình nghiên cứu và ứng dụng cầu dây cáp hai sợi và nhiều sợi dù rất nhỏ bé, nhung vẫn mang một ý nghĩa cả về chính trị, quân sự và khoa học trong sự nghiệp cách mạng nói chung của nhân dân ta đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian nan, thử thách, nhưng đã giành chiến thắng oanh liệt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quang vinh.


Vì thế, cần được tổng kết, đánh giá đúng đắn và đầy đủ, để có thể rút ra những bài học về nhiều mặt, phục vụ sự nghiệp giáo dục con người và xây dựng đất nước trong tình hình hiện nay.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:45:10 am
THÁNG BẢY VỀ CÀNG THÊM NHỚ CÁC ANH


Đại tá Đặng Hương


Năm 1967, tôi được lệnh đưa gấp một số thiết bị từ Hà Nội vào nghiên cứu vượt sông Ta Lê, một con sông nhỏ nhưng lại nằm trên một cửa khẩu vượt Trường Sơn vào loại quan trọng bậc nhất và lúc đó và đang bị địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt.


Sau hàng tháng trời chờ đợi hành quân nhập tuyến, khi chúng tôi vào đến địa điểm tập kết thì mùa mưa Trường Sơn đã bắt đầu. Phần lớn các cơ quan và đơn vị đã lục tục rút ra hậu phương để củng cố và chuẩn bị cho mùa khô tới.


Để giúp chúng tôi triển khai nhiệm vụ được thuận lợi, cơ quan Bộ Tư lệnh 559 đã cử các cán bộ kỹ thuật xuống hỗ trợ. Người thứ nhất là Phan Vũ Trang, một kỹ sư ngành cầu, trẻ, đẹp trai, mới ra trường năm 1965 đã vào ngay chiến trường. Người thứ hai là Nguyễn Văn Thềm, một tay nghề cơ khí có hạng, lại thạo công việc cầu đường, được Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Đoàn 559 cũng thời gian đó.


Lúc này bom đạn Mỹ ném xuống Trường Sơn rất nhiều, lại kèm theo những trận mưa chất độc hoá học hòng khai quang rừng Trường Sơn. Nhưng cả hai anh sống rất lạc quan và tỏ ra dày dạn với bom đạn cùng những gian khổ của chiến tranh trên Trường Sơn. Vì thế công việc của chúng tôi tiến hành khá thuận lợi, bất chấp mưa lũ và con mắt nhòm ngó liên tục của lũ máy bay trinh sát Mỹ kèm theo những trận đánh vu vơ của bọn máy bay AD4.


Đến tháng 9 năm 1967 thì công trình vượt sông Ta Lê của chúng tôi đã cơ bản hoàn thành và sẵn sàng phục vụ cho hoạt động vận tải đầu mùa khô 1967-1968. Lúc đó trung đội công binh phối hợp với chúng tôi được lệnh tranh thủ củng cố hệ thống đường phía bắc Ta Lê, chủ yếu là đoạn cua Chữ A bị sụt lở nhiều trong mùa mưa.


Tuy không phải nhiệm vụ của mình, Phan Vũ Trang và Nguyễn Văn Thềm vẫn tình nguyện ra mặt đường giúp đỡ bộ đội công binh về mặt kỹ thuật nhằm nhanh chóng đẩy nhanh tiến độ. Mấy ngày trôi qua công việc khôi phục và nâng cấp đoạn cua Chữ A tiến triển tốt đẹp.


Đến một ngày, trời có lúc hửng nắng, mưa đã giảm hẳn, trung đội công binh được lệnh sửa gấp một số cống, kè đòi hỏi sự chỉ đạo về mặt kỹ thuật. Theo đề nghị của đồng chí Binh trạm phó, hai đồng chí Trang và Thềm lại xin phép tôi ra mặt đường giúp đỡ bộ đội buổi cuối cùng. Quá trưa hôm đó, khi công việc đã gần xong, bỗng máy bay địch kéo đến đánh phá suốt đoạn đường đơn vị vừa khôi phục. Đã quen với thủ đoạn đánh của địch, cả trung đội công binh cùng hai đồng chí Trang và Thềm bình tình rút xuống ẩn nấp đọc đoạn suối nhỏ gần dó. Bỗng một loạt bom toạ độ rơi lạc, trúng giữa đội hình của trung đội đang ẩn nấp. Nhận được tin báo về chúng tôi tổ chức ngay lực lượng bơi qua sông, nước đang dâng to, để kịp thời cấp cứu những anh em bị thương và tìm kiếm tử sĩ. Thông tin đầu tiên là đồng chí trung đội trưởng công binh hy sinh và hai đồng chí Trang, Thềm chưa tìm thấy. Tôi trực tiếp chỉ huy anh em đào bới và phân công một số đồng chí đi sục sạo, tìm kiếm ở khu vực xung quanh.


Trời đã về chiều, lại đổ mưa lớn, chúng tôi cũng vừa kịp đưa hết thương binh, tử sĩ ra khỏi khu vực nguy hiểm còn có bom chờ nổ. Bỗng một đồng chí phát hiện những mảnh áo sơ mi quen thuộc của Thềm và Trang còn mắc trên mấy cành cây sót lại gần đó. Thế là rõ, Phan Vũ Trang và Nguyễn Văn Thềm đã bị bom Mỹ huỷ hoại hoàn toàn, không thể tìm thấy thi thể. Nhiều đồng đội trên chiến trường mỗi khi bị bom Mỹ đánh trúng đội hình cũng hy sinh trong hoàn cảnh như thế này. Chúng tôi đành lặng lẽ phân công nhau, cố tìm kiếm và thu thập những gì còn lại của tử sĩ đưa về chỗ trú quân. Suốt đêm hôm đó, tôi không thể chợp mắt vì hơn mười cán bộ, chiến sĩ đã đột ngột ra đi không một lời trăng trối, trong đó có hai người bạn thân thiết của tôi.


Phan Vũ Trang vốn quê ở Khánh Hoà, tập kết ra miền Bắc trong diện con em cán bộ, bố mẹ có nhiệm vụ ở lại miền Nam. Dù rất nhớ thương bố mẹ và quê hương nhưng anh luôn phấn đấu học giỏi và tốt nghiệp kỹ sư ngành cầu khi mới ngoài hai mươi tuổi. Ra trường Trang xung phong vào bộ đội và được điều ngay vào Đoàn 559. Lúc rảnh rỗi Trang thường tâm sự với tôi nhiều ước mơ của tuổi trẻ và những dự định trong tương lai: Nào đánh Mỹ xong, Trang sẽ xin học thêm về chuyên môn và mong được về xây cho quê hương những cây cầu thật đẹp, nào trong mùa khô sắp tới nếu có điều kiện Trang sẽ tìm cách ra gặp cô bạn gái đồng hương đã có nhiều hò hẹn nhưng mới chỉ trên tình bạn cùng quê. Còn Nguyễn Văn Thềm, có vợ rồi nhưng vẫn chưa có con. Vợ Thềm lúc đó đang là công nhân trong một xí nghiệp của ngành Giao thông vận tải. Thỉnh thoảng anh em ở Hà Nội vao lại mang cho Thềm những lá thư kèm theo túi quà, gói ghém tất cả tình cảm của người vợ sống đơn chiếc ở hậu phương. Thềm thường nói với tôi: đánh Mỹ xong anh sẽ đưa vợ về công tác ở Bắc Giang đế có điều kiện chăm sóc bố mẹ già ở quê. Tôi biết có nhiều đêm dù rất yên tĩnh, hầu như vắng hẳn tiếng máy bay Mỹ nhưng Thềm vẫn trằn trọc. Tôi cũng không ngủ được. Thế là hai anh em thức dậy, kéo nhau ra cửa hang đá để tâm sự. Thềm lại kể cho tôi nghe hoàn cảnh khó khăn của gia đình và những dự định khi trở về sau chiến tranh.


Thế mà giờ đây cả Trang và Thềm đều không còn nữa. Thật đau xót! Đầu mùa khô năm ấy, tôi cũng bị thương trong khi làm nhiệm vụ và được chuyển về hậu phương điều trị. Một thời gian sau dù vết thương chưa lành hẳn nhưng theo yêu cầu của chiến trường tôi lại quay vào Trường Sơn cho đến khi chiến tranh kết thúc. Đến nay đã hơn 30 năm trôi qua nhưng hình ảnh Phan Vũ Trang vả Nguyễn Văn Thềm vẫn luôn in đậm trong tôi cùng hình ảnh nhiều đồng đội Trường Sơn khác mà tôi đã được chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của họ.


Tự nhiên tôi nhớ lại con đường đã đi qua suốt hai cuộc kháng chiến và thấy mình thật may mắn là vẫn còn sống dù có đôi lần bị thương và nhiều phen chết hụt. Có người bảo tôi: đó là số mệnh, nhưng tôi vẫn cứ thấy ân hận khi nhớ tới những đồng đội của mình không còn nữa. Tôi thường băn khoăn tự hỏi: mình may mắn còn sống, nhưng liệu mình hôm nay đã xứng đáng với những hy sinh to lớn của bao bạn bè đồng đội đã khuất.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:46:19 am
THÁNG NĂM VỀ NHỚ RỪNG SĂNG LẺ TA LÊ


Đại tá Đặng Hương


Tôi không có may mắn được sống ở Trường Sơn trước khi xuất hiện những con đường cơ giới vượt Trường Sơn chi viện cho các chiến trường miền Nam. Nghe đồng bào các dân tộc bản địa kể lại là ngày ấy rừng già đủ loại còn phủ kín cả hai sườn đông, tây Trường Sơn. Đến năm 1967, khi đường 20 Quyết Thắng từ Phong Nha - Quảng Bình vươn lên đỉnh Trường Sơn thì tôi mới có mặt ở đầu nguồn sông Ta Lê, nơi đường 20 cắt ngang dòng sông này với cụm trọng điểm giao thông nổi tiếng ATP.


Năm 1967, đường 20 đã bị máy bay xăm soi suốt ngày đêm và đánh phá tơi bời mà cụm trọng điểm ATP là mục tiêu số 1 của chúng. Nhưng thật kỳ lạ, suốt năm đó, bất chấp bom đạn Mỹ đổ xuống đây không ít, những cánh rừng săng lẻ dọc đôi bờ con sông nhỏ Ta Lé gập ghềnh thác đá vẫn thản nhiên tồn tại, xanh rì, tươi tốt.


Sở dĩ tôi cứ nhớ mãi cánh rừng săng lẻ nơi đây vì nó đẹp quá, thơ mộng, hùng vĩ quá. Quanh chỗ chúng tôi ở có những gốc săng lẻ to nhỏ đủ loại, những thân cây người ôm không xuể, đã mốc thếch trắng xoá từ gốc đến ngọn, gợi nhớ trong tôi hình ảnh những cây bạch dương nơi đất Nga mà tôi từng tận mắt nhìn nhiều năm trước đó. Chính giữa dải rừng săng lẻ còn um tùm, kín đáo này ở thượng nguồn con sông Lê, cách đường 20 chừng vài ki lô mét, chúng tôi đã cho ra đời một cây cầu treo bằng dây cáp phục vụ tuyến giao liên, đã phát huy hiệu quả trong mùa mưa năm 1967.


Cuối năm 1967 tôi bị thương, suýt mất một bàn chân, đành phải luyến tiếc chia tay đồng đội công binh anh hùng, chia tay cánh rừng săng lẻ đã đùm bọc, chở che mình trong mưa bom, bão đạn của kẻ thù.


Đến giữa năm 1968, theo yêu cầu của cấp trên, tôi lại quay vào Trường Sơn trên một chiếc xe tải đầy ắp những bao gạo. Khi xe băng qua trọng điểm ATP, dù chân còn đau, tôi cũng cố nhổm dậy trên bao gạo để ngắm nhìn cảnh cũ thân quen. Trời tối quá, đêm lại không ánh trăng, không một chùm pháo sáng vu vơ từ máy bay Mỹ phóng ra soi đường vì đang mùa mưa, tôi chỉ thấy nham nhở những hố bom, không còn gặp được tán săng lẻ nào...


Năm 1972, tôi có dịp quay lại Ta Lê, khi kẻ thù đã bắt đầu chuyển làn, tập trung đánh phá vào phía trong, có phần buông lỏng trọng điểm ATP. Nhớ lại những ngày còn lặn lội dọc con sông bờ đầy săng lẻ 5 năm về trước, tôi không thê ngờ được địa hình, địa mạo nơi đây lại thay đổi đến thế!


Còn đâu nữa những mỏm đá tai mèo chênh vênh nhô ra sát mép nước cuồn cuộn chảy. Còn đâu nữa những chiếc hang lớn, nhỏ mà chúng tôi đã trú quân, đã cất giấu phương tiện vượt sông làm đường... Còn đâu những cô, chú lính Trường Sơn khôn ngoan rất mực, vui đùa quấn quýt, trêu ghẹo chúng tôi. Còn đâu nữa những chú vẹt má xanh, mỏ đỏ véo von suốt ngày trong lùm cây trên những mỏm đá tai mèo...


Tôi cảm tưởng cả dãy núi đá vôi thân thuộc năm xưa đã sập xuống cùng với sự tiêu vong của dãy rừng săng lẻ xanh tốt bên dòng sông Lê năm nào. Trước mắt tôi lúc này là những hố bom chi chít, nhiều hố chồng chất lên nhau với làn nước trong veo không có một sinh vật, thực vật nào tồn tại. Đây là hậu quả đánh phá liên tục nhiều năm của không quân Mỹ với đủ loại máy bay, từ B.52 đến "thần sấm", "con ma", “giặc nhà trời"...


Đồng chí Nguyễn Văn Tiến, một sĩ quan công binh can trường nhiều năm bám trụ nơi đây, dẫn tôi đi thăm lại nơi tôi đã sống và làm việc 5 năm trước. Tiến vốn là một chiến sĩ của đại đội mà tôi chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Tình cờ gặp lại nhau trên Trường Sơn, Tiến muốn đưa tôi đi để có dịp cùng nhau ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Vẫn cái dáng người gầy gầy, nước da đen nhẻm và nụ cười thường trực trên môi, Tiến chỉ những hố bom to quá cỡ, giải thích cho tôi biết đây là kết quả của những trận đánh bom lađe của không quân Mỹ với hy vọng "chặn đứng cuống họng vận tải của Việt Cộng”.


Nhưng chúng đâu có biết ta đã bỏ ngầm A, xây dựng những ngầm B, C, D... trên một chính diện tới vài chục ki lô mét dọc con sông Lê này. Bỗng tiếng chép miệng giọng đầy luyến tiếc: “Chỉ buồn là những cánh rừng săng lẻ mà anh tâm sự với em không còn nữa... Chúng đã gục ngã vì các loại bom phát quang và những bom tấn, bom la de, chất độc hoá học của không quân Mỹ. Biết đến bao giờ những cánh rừng đẹp như mơ mà anh vừa kể được hồi sinh nhỉ? Có lẽ phải hàng thẾ kỷ, khi ngang dọc Trường Sơn này đan xen những con đường lụa phẳng lì đẹp đẽ, thì những thế hệ hậu sinh mới có may mắn được gặp lại những cánh rừng săng lẻ, những gốc bạch dương Việt Nam” của anh. Đến ngày ấy, cả tôi và anh đều đã là người thiên cổ rồi..."


Đã 37 năm trôi qua, kể từ ngày tôi quay lại Ta Lê lần cuối và gặp được Tiến. Cũng đã hơn 40 năm "1967-2009" đã lùi vào dĩ vãng kể từ lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng những cánh rừng săng lẻ Ta Lê. Năm nay dù đã gần 80 tuổi, tôi vẫn ước mong có một ngày được quay trở lại Ta Lê, được tìm về những kỷ niệm của quá khứ dưới tán cây săng lẻ bên dòng Nậm Lê xinh đẹp.


Tháng năm đã về, tháng của truyền thống bộ đội Trường Sơn.

Ôi! Nhớ vô cùng những cánh rừng săng lẻ Ta Lê!


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:47:45 am
NHỮNG CHIẾN SĨ KHẢO SÁT
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH NĂM XƯA


Đại tá Đặng Hương


Sách báo đã viết nhiều về lực lượng quân đội trên đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ: từ anh chiến sĩ lái xe ô tô, đoàn quân giao liên gùi, thồ, vận tải đường sông, anh bộ đội công binh, anh lính cao xạ, đến người chiến sĩ thông tin, quân y, hậu cần...


Cũng không ít bài viết ca ngợi các lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến đã góp phần làm nên tuyến đường lịch sử. Tất cả những gì các ký giả đã viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ đều thật đáng hoan nghênh, nhưng rõ ràng vẫn còn chưa thể nào đủ, bởi quy mô và sự tích anh hùng của con đường mà trước hết là những tấm gương của những con người chiến đấu trên đường Hồ Chí Minh vĩ đại, thật đáng khâm phục.


Trong bài viết ngắn này tôi hy vọng khắc hoạ thêm đôi nét chân dung những con người mà tôi hằng kính trọng và quý mến. Đó là lực lượng khá đông đảo những cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên kỹ thuật đủ các ngành nghề của ngành Giao thông vận tải Việt Nam, đã hăng hái tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tuyến đường Trường Sơn trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Phải chăng những tuyến đường 15, 16... từ hậu phương miền Bắc đến vĩ tuyến 17 do lực lượng ngành Giao thông vận tải mở trước năm 1965 có thể coi như khúc nhạc dạo đầu của bản trường ca “đường Hồ Chí Minh đánh Mỹ” những năm sau này?


Tuy nhiên phải đến năm 1965, khi địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tập trung đánh phá hệ thống cầu, đường hòng chặn đứng sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam thì mặt trận giao thông vận tải trên Trường Sơn mới thực sự chuyển mạnh sang giai đoạn: lấy vận tải cơ giới là chủ yếu và yêu cầu phát triển mạng đường ô tô càng trở nên cấp bách. Đến lúc này những lực lượng tinh nhuệ của ngành Giao thông vận tải Việt Nam xung trận ngày càng mạnh mẽ hơn cùng với sự xuất hiện của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đoàn 559.


Thời gian đồng chí Phan Trọng Tuệ ở Đoàn 559 không dài chủ yếu là trong năm 1965 đến đầu năm 1966, nhưng có thể nói đó là một năm quyết liệt trên mặt trận cầu đường Trường Sơn, và theo suy nghĩ của cá nhân tôi, đó cũng là năm có tính chất quyết định đối với sự nghiệp mở đường ô tô trên Trường Sơn. Bởi vì vào lúc này quả thật ta còn hiểu biết quá ít về thời tiết, thuỷ văn và đặc điểm khí hậu Trường Sơn, ta đã không lường hết những khó khăn, phức tạp do mưa lũ gây ra đối với hệ thống cầu đường và cả với con người. Trong tình hình đó, với kinh nghiệm tích luỹ được trong những năm phụ trách ngành Giao thông vận tải ở hậu phương, cộng với tác phong xông xáo, sâu sát của một chỉ huy quân sự tài ba thời đánh Pháp, tướng Phan Trọng Tuệ đã nhận trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo rất cụ thể việc thi công đường 128, con đường huyết mạch Trường Sơn sau này, và chiến dịch: “Vượt túi nước Seng Phan" trong mùa mưa năm 1965 để đáp ứng bằng được những nhu cầu tối thiểu cho chiến trường phía trong.


Năm đó, trên cương vị của mình, bằng tinh thần trách nhiệm cao và sự năng động không mệt mỏi, Bộ trưởng - Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đã đi gặp nhiều cá nhân, nhiều cơ quan đơn vị trong, ngoài quân đội và Bộ Giao thông vận tải để huy động kịp thời nguồn nhân tài, vật lực phục vụ cho việc phá thế độc đạo của tuyến vượt khẩu, kéo dài con đường về phía Nam tiếp cận các hướng chiến trường mà khởi đầu là đường 128, đến đường 20 và sau đó kéo dài đường 128 vượt sông Bạc vào tận cùng đến biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.


Những ai từng ở Trường Sơn ngày ấy chắc hẳn đã được chứng kiến cảnh hàng đoàn quân kĩ thuật ngành Giao thông có tay nghề lão luyện từ khảo sát, thiết kế đến thi công nối nhau vào Trường Sơn. Tiếp đó là các đoàn xe, máy hùng hậu những tài sản, thiết bị rất quý ở hậu phương lúc đó được ưu tiên huy động vào Đoàn 559, mở ra một cách làm mới trong sự nghiệp đường Trường Sơn.


Tiếp bước Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ là Thứ trưởng Nguyễn Tường Lân trên cương vị Phó Tư lệnh Đoàn 559 đặc trách khâu cầu đường, người thường đùa vui với anh em: mình là “Tư lệnh - binh ba”. Với trách nhiệm được giao anh Nguyễn Tường Lân thường ít khi có mặt ở chỉ huy sơ mà thường trực tiếp đi chỉ đạo các đơn vị mở đường mới, bảo đảm giao thông ngay trên thực địa.


Năm 1967 ta và địch đang giành giật nhau ở vùng núi A Sầu - A Lưới thì Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân cùng với Tham mưu phó Công binh Nguyễn Nam Hải đã có mặt ngay trong vùng chiến sự trực tiếp chỉ đạo khảo sát và thi công tuyến đường vận tải phục vụ mặt trận Thừa Thiên Huế và chiến trường Khu 5.


Bên cạnh Thứ trưởng Nguyễn Tường Lân người ta còn bắt gặp nhiều cán bộ ngành Giao thông trên những cương vị khác nhau từ cấp vụ, cấp cục, đến cấp phòng và chuyên viên kỹ thuật đủ ngành nghề đã tham gia khảo sát, thiết kế và thi công đường 128, đường 20 và sau này được tổ chức thành Ban 67 quản lý và đảm bảo giao thông mạng đường Tây Nam Quảng Bình tiếp giáp hệ thống đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh.


Và còn cả một đội ngũ đông đảo các kỹ sư, kỹ thuật viên của ngành Giao thông vận tải từ nhiều cơ quan, đơn vị và các địa phương được biệt phái vào Đoàn 559. Họ có mặt ở khắp nơi từ các cơ quan Cục Tham mưu Công binh 559 đến các đội khảo sát, các đơn vị công binh và bộ binh trên đường vào chiến trường được lệnh dừng lại tham gia mở đường và trở thành các đơn vị công binh chủ lực thuộc Bộ Tư lệnh 559 như các Trung đoàn 4, 5 và 10 v.v...


Tôi vốn là một chiến sĩ công binh từ thời đánh Pháp, sau năm 1954 có may mắn được qua đào tạo tại một học viện công binh nước ngoài, rồi về phục vụ ở cơ quan Cục Tham mưu Công binh 559, nên biết rõ ngày đó bộ đội công binh nói chung mới chỉ quen với khái niệm đường quân sự làm gấp phục vụ tác chiến của bộ binh và các binh chủng trong một chiến địch nhất định. Nhưng ở Trường Sơn, không phải là đường quân sự làm gấp mà cũng chưa phải là đường xây dựng cơ bản như ở hậu phương. Đây là một hệ thống đường vận tải ô tô thời chiến phải thi công đảm bảo đáp ứng được yêu cầu vận tải phục vụ các binh chủng vào chiến trường một cách kịp thời và kéo dài cả một giai đoạn từ năm nọ sang năm kia, đồng thời lại phải đối phó được những thủ đoạn đánh phá của không quân Mỹ đang chiếm ưu thế trên không. Quả là chưa có sách nào dạy mà phải đưa vào tình hình thực tế để vận dụng các lý thuyết về bán kính đường vòng, về tốc độ yêu cầu, về nền, mặt đường cho phù hợp.


Chính trong lúc này những đóng góp của đội ngũ cán bộ kỹ thuật ngành Giao thông vận tải trên Trường Sơn là vô cùng quý giá. Để có một con đường mới trước hết phải có một chuyên gia hoạch định các phương án dự kiến theo ý đồ của Tư lệnh, một lực lượng kỹ thuật đi khảo sát, cắm tuyến xác định phương án tối ưu, thực hiện các bước ngoại nghiệp, đo đạc, tính toán sơ bộ trên thực địa rồi làm nối nghiệp, lập bản vẽ, tính toán chi tiết khối lượng và đề xuất các phương án thi công, sử dụng lực lượng v.v... để có tài liệu báo cáo cấp trên và giao cho đơn vị thi công.


Nói thì đơn giản vậy, nhưng để đảm bảo được toàn bộ các việc trên, đội ngũ khảo sát, thiết kế Trường Sơn phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí phải đổ máu mới có được kết quả. Bởi quá trình đi tìm tuyến đường mới, người lính khảo sát phải trèo đèo lội suối, băng qua những khu rừng già nhiều khi chưa có dấu chân người, đầy rắn rết, thú dữ, chưa kể những đàn vắt đen, vắt xanh luôn rình rập bám người, lại còn bom, mìn do máy bay địch cố ý hoặc vô tình thả vào rừng, rồi bọn biệt kích, thám báo có thể bất ngờ chạm trán.


Ngày nay nhìn trên bản đồ hoặc trên sa bàn ở các bảo tàng ta thấy dọc ngang đường Trường Sơn chi chít những con đường với tổng chiều dài cả trên hai chục ngàn ki lô mét. Đó là công lao của những lực lượng mở đường, mà trước hết là những tổ, đội khảo sát ở các cấp từ Cục Tham mưu Công binh 559 đến các binh trạm, các trung đoàn, thậm chí các tiểu đoàn công binh. Nòng cốt của lực lượng khảo sát đó chính là những kỹ thuật viên dày dạn kinh nghiệm do Bộ Giao thông vận tải cử vào biệt phái.


Ngay từ buổi đầu tiếp xúc, tôi đã hết sức khâm phục các anh. Chỉ với cái thước đo độ dốc đơn giản và những cuộn dây đo độ dài, cùng với vài dụng cụ cần thiết khác, cùng với ít lương thực thực phẩm trên vai, các anh đã vạch ra những tuyến đường trên thực địa khá hợp lý để từ đó hình thành “một trận đồ bát quái xuyên rừng rậm” như một nhà báo nước ngoài đã ca ngợi.


Tôi còn nhớ trong những năm đầu mở đường cơ giới trên Trường Sơn số sĩ quan quân đội có trình độ chuyên môn cao về cầu đường chưa nhiều, do đó số kỹ thuật viên và kỹ sư cầu đường mà ngành Giao thông vận tải biệt phái vào chiến trường lúc đó thật đáng quý. Sau này phần lớn các anh đã chuyển sang quân đội trở thành những sĩ quan trên nhiều cương vị khác nhau ở cơ quan Bộ Tư lệnh, các binh trạm và các đơn vị. Khi đất nước thống nhất, tuyệt đại đa số các anh vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và nhiều anh đã được Đảng và quân đội tín nhiệm giao cho những trọng trách.


Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ đã trở thành huyền thoại và giờ đây với truyền thống của cha, anh lớp trước trên Trường Sơn chúng ta đang xây dựng đường Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đường cao tốc Hồ Chí Minh xuyên suốt từ Pắc Bó đến đất Mũi Cà Mau.


Với tư cách một cựu chiến binh Công binh Trường Sơn, một chứng nhân của một thời kỳ lịch sử, bằng tất cả những suy nghĩ và hiểu biết có thể còn chủ quan và chưa đầy đủ nhưng rất chân thành và trung thực, tôi muốn được khẳng định một lần nữa những đóng góp rất đáng trân trọng của lực lượng cán bộ kỹ thuật, công nhân Giao thông vận tải đối với đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh ác liệt rất đỗi tự hào của dân tộc Việt Nam...


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:49:45 am
ĐOÀN THƯƠNG BINH ĐẶC BIỆT TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Đại tá Đặng Hương


Đầu năm 1967, tôi được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí nghiên cứu làm một cây cầu bằng dây cáp vượt sông Ta Lê trên đường 20 Quyết Thắng để chuẩn bị cho chiến dịch vận tải lớn mùa khô 1967-1968.


Cũng vì thế tôi có may mắn được tham gia thiết kế và thi công một chiếc cầu treo cũng bằng dây cáp trên tuyến giao liên song song với đường 20 cùng các chiến sĩ Trung đội 4 thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 25 công binh anh hùng. Chúng tôi đã làm nên một cây cầu vắt vẻo ngang lưng trời, cách mặt nước chừng vài chục mét.


Cây cầu thi công xong, cấp trên lại giao cho chúng tôi tạm thời quản lý để duy tu, bảo dưỡng, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho những đoàn quân ra vào mặt trận suốt ngày đêm. Đang mùa mưa Trường Sơn, có nhiều thời gian rảnh, tôi thường cùng anh em ra trực cầu để theo dõi độ an toàn của công trình.


Ngày 07 tháng 6 năm 1967, trời không mưa, nắng sớm vừa le lói trên những ngọn cây đã thấy tàu càng (loại máy bay L19) của Mỹ vè vè trên đầu nhòm ngó khu vực ngầm Ta Lê, trong đó có nơi đóng quân của chúng tôi. Đêm hôm trước, tôi vừa nhận lệnh: sáng 07 tháng 6 năm 1967 ra trực cầu sớm, chuẩn bị an toàn cho đoàn khách đặc biệt từ phía trong hành quân ra Bắc. Từ rất sớm, tôi đã có mặt cùng anh em chuẩn bị lán trại để đón đoàn khách này trước khi họ qua cầu.


Mọi người đang tíu tít chuẩn bị thì bóng một cô giao liên quen thuộc đã xuất hiện ngay sườn đồi sau nhà đón tiếp, đằng sau là tiếng lao xao của trẻ em. Tôi ngạc nhiên chạy vội ra thì gặp ngay một ông già tóc bạc trắng, trông khá quắc thước. Ông già vui vẻ ôm chầm lấy tôi, tự giới thiệu mình là Tuyết, cán bộ kháng chiến Thừa Thiên - Huế, 52 tuổi, thương tật đầy người. “Bị cả Pháp lẫn Mỹ mấy lần tống khám hành hạ tới số, vì mình hoạt động du kích mà! Lần này cấp trên bắt mình ra Bắc chữa thương, chữa bệnh, kết hợp làm nhiệm vụ dẫn đoàn thương binh nhỏ này ra Hà Nội giao cho Ban Thống nhất Trung ương". Bác Tuyết vừa nói xong, tôi đã thấy lố nhố những cái đầu, những khuỷu tay cuốn băng trắng đang thận trọng bám nhau tụt dốc xuống nhà đón khách của chúng tôi.


Bác Tuyết lại giới thiệu: “Toàn con em cách mạng cả đấy. Cháu lớn nhất chưa quá 14 tuổi, có cháu mới 8, 9 tuổi nhưng dũng cảm, gan lì dễ sợ, coi thường mấy chú “Mèo” lơ mơ vào xóm bị mấy cháu lừa cho một vố ớn thấy mồ... Thế là bọn tề ngụy vồ trọn các cháu, đánh đập tới số. Nhiều cháu hôm nay chân vẫn phải bó bột nằm cáng hoài”.


Bỗng bác Tuyết trầm ngâm: “Trên đường đi mình càng rõ, thì ra bọn nhỏ ngày nay ghê thật, chúng nói với mình: “Cháu Bác Hồ không sợ Mỹ - ngụy, phải như anh Kim Đồng ở Cao Bằng chứ!”. Chúng nói được và chúng làm được. Từ bữa rời chiến khu Thừa Thiên - Huê tới đây đã gần nửa tháng có lẻ, đi đường khó nhọc lắm mà chúng cứ vui như sáo. Đường dốc quanh co, lắm suối, nhiều đèo mà chúng cứ động viên nhau, dìu nhau đi băng băng, khiến mình cũng phải cố gắng đi theo cho kịp chúng”.


Lúc bác Tuyết đang tâm sự với tôi thì mấy chú công binh tre đã tổ chức một cuộc liên hoan nhỏ ngay bên lèn đá cạnh dòng Ta Lê. Hình như tiệc liên hoan chỉ là mấy phong lương khô của lính và ít chùm quả rừng hái vội. Tôi chợt nhìn thấy mấy bó hoa rừng đỏ rực xếp ngổn ngang, có lẽ dùng làm quà tặng. Bỗng một giọng hò Huế trẻ thơ của một cháu gái vút lên khiến cả bác Tuyết và tôi phải dừng câu chuyện để sang tham gia liên hoan với các cháu.


Tôi hỏi chuyện các cháu. Thật ra, tới ngày hôm đó, tôi vẫn chưa có may mắn được đặt chân lên đất cố đô mà chỉ mới biết Huế qua sách vở và những câu chuyện của mấy cháu thương binh “nhí" kể về những trận càn của Mỹ - ngụy quanh kinh thành và các cháu đã cùng cha mẹ, bà con chòm xóm đánh Mỹ ra sao. Các cháu không đả động gì đến các vết thương đang mang trên mình. Còn cô giao liên đồng hương cùng đi theo đoàn thì kể vanh vách từng cháu bị thương ở đâu, trong trận nào, ngày tháng năm nào...


Mang trên mình những vết thương nặng nhẹ khác nhau lại đi bộ ròng rã hàng chục ngày trời, thế mà các em chẳng có chút gì bi lụy. Phải chăng cái vô tư của tuổi thơ, hay chính là dòng máu anh hùng đang kết tinh trong đường gân, thớ thịt khiến các cháu không chỉ khi chiến đấu thì dũng cảm, kiên cường, khi bị thương không ngại ngần đau đớn. Tất cả các cháu đều xứng đáng là những anh hùng nhỏ tuổi của dân tộc Việt Nam thời chống Mỹ, cứu nước.


Giờ phút chia tay cũng đã đến. Tôi và những anh lính trẻ công binh bịn rịn dắt tay từng cháu lên chiếc cầu treo trong nắng sớm cùng với bó hoa rừng hái vội làm quà.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:02:38 pm
(https://i.imgur.com/JWbb0SD.jpg)

Đại tá
Mai Sơn


Sinh năm:   12-1928
Quê quán:   Liên Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên
Thường trú: P.105. G6. Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 043. 8544879
Thiếu tá, nguyên Trưởng phòng Tác huấn Cục TMCB. Hiệu trưởng trường Quân chinh BTL 559
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Đường lối Quân sự, Học viện Quốc phòng


CÁI CÁN MÁC TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

"Công binh là cán mác, Bộ binh là lưỡi mác, cán mác có
chắc thì mũi mác mới đâm thẳng được vào quân thù"


(Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh)


Mùa hè năm 1969, một bộ phận lớn của Đoàn 559 rút quân về Thanh Hoá chuẩn bị cho chiến địch mùa khô năm 1969-1970.

Vào khoảng tháng 6 năm 1969, hội nghị tổng kết của Đoàn 559 tổ chức tại Sầm Sơn để bàn kế hoạch cho chiến dịch, có đại biểu của các cơ quan Bộ Quốc phòng cùng tham dự. Năm 1969 cũng là năm đánh dấu 10 năm hoạt động của Đoàn 559 (1959-1969) trên tuyến đường Trường Sơn.


Hội nghị mới bắt đầu thì Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm đến thông báo chiều nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ đến thăm. Nhưng chỉ ít phút sau, Chính uỷ lại quay vào hội trường vội vã nói: "Đại tướng muốn đến gặp anh em cán bộ ngay buổi sáng nay mà không phải là buổi chiều". Vừa dứt lời thì Đại tướng đã bước vào hội trường. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên chưa kịp làm nghi lễ, thì Đại tướng đã hướng về phía các cán bộ và hỏi ngay là đồng chí nào đã công tác tại Đoàn 559 được 10 năm. Một vài cánh tay giơ lên, sau đó Đại tướng lần lượt đi xuống từng bàn, ân cần hỏi ai đã ở Đoàn được 9 năm, 8 năm, 5 năm... rồi 3 năm. Vừa đi vừa nhìn khắp lượt cán bộ một cách trìu mến đến tận dãy bàn ở cuối hội trường rồi mới quay lên, Đại tướng tiến đến tấm bản đồ kế hoạch vận chuyển mùa khổ 1969-1970, chỉ tay vào tấm bản đồ vui vẻ nói:

- Chúc cho “cái này” thành công!

Nói xong, Đại tướng quay về phía anh em cán bộ, nháy mắt cười hóm hỉnh:

- “Bem" mà1 (Bem = B.M = Bí mật).

Sau đó Đại tướng điểm danh các cơ quan trên Bộ đến dự tổng kết cùng Đoàn. Khi nói đến Công binh, Đại tướng hỏi:

- Bộ Tư lệnh Công binh có đồng chí nào dự đây không?

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thành, cán bộ Bộ Tư lệnh Công binh đứng lên báo cáo. Với vẻ mặt hơi không vui, Đại tướng nhắc đồng chí Thành về báo cáo với Bộ Tư lệnh Công binh phải tăng cường giúp đỡ cho Đoàn trong chiến dịch tới.


Mùa khô năm ấy, chúng tôi được đón nhiều cán bộ từ Bộ Tư lệnh Công binh, từ Viện Kỹ thuật Quân sự vào cùng phối hợp với chúng tôi đi suốt tuyến đường nghiên cứu quy luật đánh phá của địch và tìm biện pháp khắc phục. Đó là các anh Lê Trung, Hoàng Công Quang ở Bộ Tư lệnh Công binh; các anh Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh, Trần Văn Dần, Vũ Văn Thái... ở Viện Kỹ thuật Quân sự.


Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ đi đọc tuyến đường Tây Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ thuộc Binh trạm 12 đến đường 49, từ Phi Hà đi Tà Ngâu thuộc binh trạm 37 (giáp với Campuchia). Đến Binh trạm 44 (đường B.46 Chà Vằn đi Lan Tôn) tôi bị thương khi đi tiếp đến Binh trạm sau, nên phải quay về cơ quan Đoàn, kết thúc một chuyến đi dang dở.


Đến binh trạm nào, tôi cũng đều muốn ở cùng ban công binh để thuận tiện cho công việc nhưng các thủ trưởng binh trạm lại ưu ái để tôi ở cùng, chẳng hiểu có phải vì một lý do tế nhị nào đó không! Với các thủ trưởng tôi đã gặp, họ đều tỏ ra là những người mến khách và khiêm tôn.


Hôm đến Binh trạm 12, tôi gặp anh Cao Đôn Luân, Binh trạm hưởng để trình bày kế hoạch phổ biến kinh nghiệm chống bom mìn. Anh rất sốt sắng cho tổ chức lớp và nói với tôi là “các anh phải dạy cho cả chúng tôi nữa!”


Đến Binh trạm 32, gặp anh Đặng Văn Ngữ, Binh trạm trưởng, trước kia cùng ở cơ quan Cục Công binh với nhau, nên anh hăng hái giúp đỡ chúng tôi cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng khi tôi vác ba lô đi xuống trọng điểm Lùm Bùm thì anh Phan Hữu Đại - Chính uỷ Binh trạm cứ băn khoăn là chúng tôi đã có đủ những thứ cần thiết chưa, kể cả thuốc lá.


Đến Binh trạm 34, làm việc với Công binh xong, tôi đang ngồi suy tư thì anh Phạm Thái, Chính uỷ Binh trạm đến động viên: “Anh lại đằng kia chơi đi!”, vừa nói anh vừa chỉ tay về phía anh chị em thông tin và công vụ đang tập trung ở đó. Tôi cười, trả lời một cách tự nhiên: “Tôi mới đến chưa quen ai cả”.


Cuộc chiến của Công binh trên tuyến đường này là ác liệt và cũng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Nhưng nếu có ai hỏi tôi: "Biểu tượng chiến đấu của Công binh trên đường Trường Sơn là gì?" thì tôi sẽ trả lời: "Đó là các đài quan sát và các trọng điểm”.


Các đài quan sát ngày đêm bền bỉ bám sát hành động của địch là cơ sở quyết định biện pháp chống phá bom mìn. Nhờ đó các trọng điếm được bảo vệ vững chắc, thể hiện sức sống mãnh liệt của con đường.


Thời gian đi nghiên cứu của chúng tôi từ cuối năm 1969 đến giữa năm 1970 chia thành từng đợt, không liên tục. Có lần đang đi công tác đến các Binh trạm, tôi được gọi quay ra, từ Lùm Bùm vượt qua Ta Lê, qua rất nhiều trọng điểm trên đường 20. Đi ngày, đi đêm để kịp đến Cổ Giang, Quảng Bình - nơi Trường 69 mới thành lập, để ngày hôm sau lên lớp (thật là quan trọng quá!). Lần khác, tôi cũng phải đến Km 18 đường 10 để giảng bài và đến cuối năm 1970 thì được về hẳn nhà trường.


Đến Tiểu đoàn 2 Công binh thuộc Binh trạm 12 đang chốt giữ trọng điểm Seng Phan, tôi gặp các anh Cao Xuân Thung, Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Độc Lập, Chính trị viên Tiểu đoàn đều là cán bộ thuộc Trung đoàn 152 Quân khu IV mà trước đây tôi làm Trung đoàn trưởng. Anh em gặp lại nhau nên rất vui mừng, anh Thung cho chúng tôi biết tình hình đơn vị rồi dẫn chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn ở sát trọng điểm trong một hang đá tương đối rộng và cao hơn mặt đường đến vài mét.


Khi gần tới Sở chỉ huy thì một tốp máy bay ập đến thả bom từ trường. Chúng tôi kịp chạy về đến cửa hang, quay lại nhìn thấy bom từ trường đã bung cánh rơi xuống. Trước cửa hang có một khoảng đất rộng vài mét vuông, tôi đứng đó như trên ban công, nhìn cuộc chiến đang diễn ra ở dưới thấp, thấy rõ mồn một các chiến sỹ trực chiến ở đài quan sát đã lao ra dưới những làn bom đang dội xuống để đánh dấu điểm bom rơi. Tôi nhìn mà không phản ứng kịp, nên đã lúng túng không lôi được chiếc máy ảnh trong ba lô để chụp một cảnh thật hiếm có này. Nói cho đúng, chúng tôi mang theo máy ảnh chỉ để chụp những cảnh tĩnh cần thiết, chứ đâu phải là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp hay phóng viên chiến trường, lúc nào máv ảnh cũng đeo lủng lẳng trước ngực để khi cần là sẵn sàng chớp lấy thời cơ bấm được những cảnh “thật 100%" như thế này mà chẳng cần phải bài binh bố trận gì cả.


Trong thời gian ở Seng Phan, anh em kể cho tôi nghe một câu chuyện về một nhà quay phim đến nhờ đơn vị giúp đỡ cho quay cảnh trọng điểm Seng Phan. Tuy đơn vị đã cử người đi theo bảo vệ và chọn thời điểm theo quy luật địch sẽ không đánh phá để nhà quay phim có thể yên tâm tác nghiệp. Nhưng có lẽ do quá choáng trước cảnh hoang tàn nơi trọng điểm, nên nhà quay phim đã quay về mà không thể quay được một thước phim nào. Mọi người hỏi tại sao không quay mà lại trở về sớm thế, thì nhà quay phim nói tránh đi là “máy không lắp phim”. Anh em động viên cứ lắp phim vào rồi đơn vị lại cử người đưa đồng chí ra trọng điểm quay lại, nhưng nhà quay phim nọ không trở lại trọng điểm để quay phim nữa. Có phải anh em sáng tác câu chuyện này để đùa trêu tôi đã chụp “hụt" một cảnh chiến đấu ở nơi đây chăng?


Còn tôi, sau đợt nay, đã để máy ảnh lại đơn vị vì mấy lần phải qua nơi có bom từ trường, đã vi phạm nguyên tắc để vật bằng kim loại trong ba lô.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:03:48 pm
Ở trọng điểm Seng Phan một tuần lễ, chúng tôi sống cúng với anh em những giờ phút căng thẳng, lo âu, hồi hộp, vui có, buồn có,... Ban ngày nghỉ ngơi, tranh thủ ngủ, chuẩn bị cho trận chiến đấu trong đêm, nào thuốc nổ, khung đây, nào xẻng nào cuốc,... Cũng có nhóm tranh thủ đánh vài ván "tiến lên". Còn cán bộ chỉ huy như anh Thũng và các chỉ huy phân đội thì mắt lúc não cũng đỏ ngầu hay thâm quầng vì thiếu ngủ.


Ban ngày, tôi đi quan sát được gần như toàn cảnh trọng điểm này. Trọng điểm bị đánh tan hoang, không còn một tí màu xanh của cỏ cây, chỉ còn vài gốc cây cháy dở đang đen sì. Mỗi khi có cơn gió thổi qua thì bụi, đất, đá bay mù mịt. Đường sá nham nhở, đất đá, cây cối đổ ngổn ngang. Những lèn đá cạnh đường bị nứt toác, bom phạt nham nhở như vạc.


Đứng giữa cảnh hoang tàn này, ngay cả lúc yên ắng cũng vẫn cảm thấy rợn người. Trong sự im lặng ghê người ấy, vẫn như luôn cảm thấy những con mắt rình mò nào đó ở xung quanh để bất thần ập đến những tai hoạ.


Khi chiều tà buông xuống cũng là lúc công tác chuẩn bị chiến đấu trong sở chỉ huy diễn ra rất khẩn trương nhưng vẫn trong một không khí bình thản. Tiếng máy bay gầm rú trên nóc hang như xé toạc bầu trời. Những tiếng nổ chát chúa của bom, mìn, đạn, bộc phá,... đã tạo nên một thứ âm thanh khủng khiếp mà tôi không biết gọi nó là gì?


Trong cái âm thanh hỗn độn khủng khiếp trộn với thứ không khí đặc quánh các loại khói bụi ùa vào trong hang, vẫn vang lên giọng chỉ huy dõng dạc của anh Cao Xuân Thung với các phân đội trực chiến ứng cứu, lúc nói bằng bộ đảm, lúc báo cáo bằng điện thoại, vẫn rõ ràng, mạch lạc tuy có lúc tiếng anh đã khản đặc vì bụi khói.


Chúng tôi chỉ ở có vài ngày với đơn vị nên không hiểu hết cuộc chiến đấu diễn ra ngày lại ngày của anh em. Nhưng với cuộc chiến của đơn vị trên trọng điểm này, có thể khẳng định một điều: “Dù con đường có bị đánh phá tan tành, hình dạng có thể bị thay đổi nhiều lần, vị trí bị chuyển dịch bao nhiêu bận thì con đường vẫn không hề mất đi mà sẽ tồn tại cho đến ngày chiến thắng”. Và Tiểu đoàn 2 chốt giữ tại đây đã hai lần được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.


Nghiên cứu quy luật đánh phá của địch không gì tốt hơn là xông thẳng vào các trọng điểm, vì ở đó sẽ phơi bày tất cả các thủ đoạn của chúng cùng những phương tiện vũ khí hiện đại luôn được cải tiến và sử dụng một cách tối đa.


Dùng thô sơ để thắng hiện đại thì Công binh cũng đáng mặt “chiếu trên". Việc phá bom từ trường cũng từ phương pháp “cuốc cùn, xẻng cụt” rồi đến khung dây, đến xe phóng từ cũng thô sơ như vậy.

Nói đến khung dây phá bom từ trường thì không thể không nhắc đến các anh em Viện Kỹ thuật Quân sự: Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh,... những người đầu tiên đưa khung dây vào chiến trường Trường Sơn và đã phát huy tác dụng mà chính tôi cũng đã được chứng kiến mấy lần. Hôm chúng tôi đi đến Binh trạm 31, giữa đường gặp một tổ công binh ngăn lại không cho đi vì có bom từ trường. Tôi nói với anh em: "Sao lại phải dừng, quàng cổ nó cho nó nổ mà đi chứ". Hai anh Lê Trung, Hoàng Công Quang cùng đi với tôi đã giúp anh em bố trí dây và kiểm tra tác nghiệp. Một tiếng nổ “oành” vang lên nhanh như chớp. Tuy đã biết trước kết quả mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng.


Với loại mìn vướng nổ hiện đại, nguyên lý vận chuyển phức tạp, rất nhạy nổ thì Công binh đã trị nó bằng phương pháp rất thô sơ: dùng sào tre để chọc, dùng chổi cán dài quét như quét rác. Anh Vũ Sơn là người đã tháo được quả mìn vướng nổ ra để nghiên cứu nguyên lý cấu tạo của nó.


Nói đến vấn đề nghiên cứu bom mìn thì không thể quên được công lao của các anh ở phòng Tác huấn Cục Công binh như: Nguyễn Đình Phơ, Nguyễn Thời Đại, Vũ Sơn, Nguyễn Ngọc Biên,... đã một thời gắn bó với cái nghiệp đầy bất trắc này. Anh Nguyễn Ngọc Biên đã hy sinh bởi bom từ trường trên đường đi công tác, anh Nguyễn Đình Phơ bị thương ở Ka Tốc, về nghỉ hưu tại Hà Nội, anh vẫn còn di chứng của bom, có lần động kinh, lăn đùng trước cửa hiệu bách hoá tổng hợp.


Va chạm với bom mìn như vậy, thương vong luôn rình rập, buộc lòng ai cũng phải thận trọng, không được phép một chút chủ quan. Ấy vậy mà sự lơ là coi thường sinh mạng vẫn cứ xảy ra. Đi bộ cả ngày, tối hôm đó chúng tôi vào nghỉ với tổ công binh trực chiến ở sát đường. Hầm chữ A chắc chắn, căng ni lông sạch sẽ. Một ngọn đèn dầu bằng vỏ quả bom dứa đặt lên cái hộp các tông để trong hốc tường hầm. Liếc nhìn cái hộp, tôi hỏi anh em: “Hộp gì đây?” Một đồng chí nói: “Hộp đựng kíp mìn". Tôi hỏi: “Hộp không chứ?”. Đồng chí đó nói cứ như không có chuyện gì: “Hộp vẫn còn kịp". Tôi yêu cầu mở hộp ra, bên trong đầy ắp kíp mìn vàng choé! Tôi toát mồ hôi hột, tóc gáy như muốn dựng ngược. Điều gì sẽ xảy ra khi hộp kíp mìn nổ tung trong cái hầm kín với những mái đầu đang chụm vào cây đèn? Và tôi bỗng nhớ một câu nói cảnh báo đối với Công binh mà dẫu có nhắc đi nhắc lại cũng không bao giờ cũ: “Trong nghiệp bom mìn, Công binh chớ có phạm sai lầm. Nếu pham sai lầm thì đó là sai lầm đầu tiên và cũng là sai lầm cuối cùng trong đời”.


Một lần chúng tôi đang đi trên đường B46, từ Chà Vằn đến Lan Tôn thuộc Binh trạm 44, tôi thấy chiếc máy ủi đất đang san lấp hố bom. Đó là chiếc máy ủi của Mỹ, anh em nói là lấy được của địch ở sân bay Khâm Đức. Đúng là lấy vũ khí địch để đánh địch. Ngày hôm sau, chúng tôi theo xe tải của binh trạm đến Tiểu đoàn 21 Công binh, đơn vị đã mang chiếc máy ủi ở sân bay Khâm Đức về. Tôi hôm đó, tôi nghe đồng chí tiểu đoàn trưởng Công binh kể chuyện. Đúng là một kỳ tích, một cuộc đấu trí giữa ta và địch. Hàng ngày máy bay địch vẫn rà soát canh giữ chiếc máy ủi còn ở sân bay. Ta làm máy ủi giả, cũng nguỵ trang cẩn thận, lừa cho chúng tưởng máy ủi vẫn ở đó. Máy ủi thật được chuẩn bị đầy đủ, bí mật cho chạy vào ven rừng rồi phát rừng cho máy đi theo đường rừng ra đường B46 dưới sự lùng sục gắt gao của địch.


Tôi đã đi bộ, đi xe, đi ban ngày, đi ban đêm trên tuyến đường này. Tôi cũng đã lên một vài đài quan sát, đến đôi ba trọng điểm và rút ra được những điều bổ ích. Nhưng so với các anh trong phòng Bảo đảm giao thông mà hồi đó anh Nguyễn Văn Kỷ1 (Sau đó là Phó Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh) là Trưởng phòng, thì những chuyến đi ấy của tôi cũng chẳng thấm tháp gì. Nhất là với anh Phan Công Khang, người nắm rất chắc tuyến đường này. Tôi hỏi đâu anh nói đó, sẵn sàng vẽ ngay sơ đồ trọng điểm mà tôi cần một cách khá chi tiết làm tôi phải phục lăn và trong thâm tâm đã coi anh như nhà “bách khoa toàn thư” về con đường chiến lược này. Khối lượng hiểu biết về con đường tỉ lệ thuận với những lần anh đặt dấu chân mình lên khắp ngả đường trong vị thế của người cán bộ bình thường phải ăn nhờ, bám xe đi ghé, chứ chưa phải là cán bộ tầm cỡ, có xe đưa người đón, tiền thưa hậu gửi.


Năm 1968, có việc đến Binh trạm 33, tôi giữ lễ đến trạm khách mà không vào thẳng thủ trưởng Binh trạm, lúc đó anh Nguyễn Huệ là Binh trạm trưởng, anh Nguyễn Linh Anh là Chính uỷ. Trạm khách là cái nhà thùng, cũng có hầm chữ A sơ sài cạnh đó. Một cái sạp nứa nằm vừa hai người. Lúc đó trên sạp có một người nằm đắp miếng vải dù hoa. Thấy tôi vào người đó vùng dậy. A! Hóa ra là Phan Công Khang. Anh Khang trước kia cùng ở cơ quan Tác chiến Cục Công binh Bộ Quốc phòng với tôi. Mấy năm mới gặp lại nhau trong chiến trường nên tôi mừng rỡ vì đã có bạn tâm tình trong lúc còn lạ nước lạ cái:

Đến bây giờ mới thấy đây
Mà lòng chắc đã những ngày một hai.

Cuối cùng, tôi cũng xin hé lộ là tại sao lại lấy tựa đề cho câu chuyện này như trên. Tôi có một người bạn chiến đấu từ hồi “9 năm" là anh Nguyễn Văn Thuận - hiện là giáo sư - tiến sỹ, công tác ở Học Viện Kỹ thuật Quân sự. Trong một buổi giao lưu với các bạn trẻ trước khi nghỉ hưu, có người hỏi anh đang làm nghề gì? Anh Thuận đã trả lời đầy tự hào: “Từ khi vào bộ đội đến nay, tôi vẫn làm nhiệm vụ cái cán mác!”.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:06:50 pm
VÀO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Đại tá Mai Sơn


Đầu tháng 12 năm 1964, tôi đi theo đoàn cán bộ do anh Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Cục Công binh Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn sang tây Trường Sơn nắm tình hình công tác của Trung đoàn 98.


Đoàn có đủ thành phần Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Riêng anh Đinh Bờn và tôi có quyết định vào nhận công tác tại Trung đoàn 98. Anh Đinh Bờn nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, tôi là Tham mưu phó Trung đoàn. Tháng 12 năm 1964 cũng là mốc thời gian tôi bắt đầu vào Trường Sơn.


Không thể so sánh với những người đi tiên phong mở đường theo dãy Trường Sơn được tôn vinh là “Những người vạch lá soi đường" cùng những nguyên tắc, hành động bất đi bất dịch mà người đời không bao giờ quên: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" nhưng tôi lại là người vô cùng may mắn được đi cùng đoàn và gặp dịp được đi thử một chặng đường ôtô mà Trung đoàn 98 vừa làm xong từ Mường Noòng đến Bạc trên hai chiếc xe vận tải loại Gatz-63 một cầu, cũ kỹ, của Tổng cục Hậu cần, mở đầu thời kỳ xây dựng đường vận chuyển bằng cơ giới phía tây Trường Sơn của Đoàn 559.


Tuy là cán bộ đi công tác ngắn ngày, nhưng chúng tôi cũng được trang bị như cán bộ đi B. Chỉ có điều không có thời gian bồi dưỡng sức khoẻ và rèn luyện thô lực. Có lệnh là tập trung tại nhà anh Nhạn, 12A Lý Nam Đế, xe đã trực sẵn, chỉ chờ chúng tôi đến là lên đường.


Chiếc Gatz - 69 đít vuông bịt kín, dọc đường không tạt ngang, rẽ dọc. Tới Vinh chúng tôi nghỉ lại trong trạm, không được ra ngoài phố.

Trên đường vào Làng Ho, đến ngầm Bang trên đường Thạch Bàn - Làng Ho1 (Sau này là một trục ngang quan trọng có tên gọi là đường 16) gặp nước to, xe con không qua được, phải nhờ chiếc xe tải cho vượt qua ngầm. Mặt ngầm quá gập ghềnh, đá xếp lổn nhổn, xe đi nghiêng ngả, chồm lên gục xuống, người tưởng như muốn văng ra khỏi xe.


Đề tài “Đi theo đường giao liên" tôi đã nghe mấy lần, đến bây giờ mới thực sự được đi trên con đường này với biết bao bỡ ngỡ ban đầu nên nhất nhất làm theo sự hướng dẫn của các đồng chí giao liên. Đoàn chúng tôi chỉ có dăm người, nhưng nhờ cái "uy” của anh Nhạn nên được ăn ở trong trạm không phải ra “bãi khách".


Nhờ được rèn luyện, chiến đấu gian khổ trong kháng chiến chống Pháp, nên dù đã gần chục năm hưởng cuộc sống hoà bình ở miền Bắc, nhưng khi trở lại chiến trường, chúng tôi đã nhanh chóng thích nghi và sẵn sàng đón nhận sư ác liệt của chiến hanh đang chờ mình.


Vượt qua mấy trạm giao liên, lương thực đù đã tiêu hao dần, nhưng có cảm giác ba lô lại càng thêm nặng. Khi tới Mường Noòng, đoàn được thông báo là sẽ đi thử bằng xe cơ giới, chặng đường do Trung đoàn 98 mới làm xong đến sông Bạc.


Hôm đó là một ngày nắng ráo trung tuần tháng 12 năm 1964, Tổng cục Hậu cần cho hai chiếc xe Gatz 63 một cầu, không mui, chở chúng tôi. Một chiếc do cán bộ Tổng cục điều khiển có cán bộ của Trung đoàn 98 đi cùng, một chiếc cho đoàn chúng tôi do anh Nhạn chỉ huy. Xe đi ban ngày, tôi thấy rõ con đường mới mở và nhận ngay ra hai điều thật giá trị:

- Thế nào là con đường quân sự làm gấp.

- Thế nào là như bị “rang cà phê”, ruột gan chúng tôi cứ như muốn lộn tùng phèo lên.

Xe đi tới đâu, dân bản gần đó chạy theo xem một cách thích thú. Gặp một dốc cao đường trơn, chúng tôi ra hiệu nhờ họ kéo lên. Đông đảo mọi người xúm vào, nắm lây dây “cáp”, lôi phăng xe lên, mạnh hơn cả kéo “tời”.


Cuối cùng chúng tôi cũng đi tới Bạc, vượt qua đoạn đường cheo leo, lắm dốc cao. Nhiều đoạn xe lao xuống dốc như không phanh, cây cối ngụy trang hai bên đường, mặc sức quật vào đầu và người chúng tôi. Còn chúng tôi cứ ôm đầu lăn như mõ trong thùng xe mà cảm nhận về con đường thử nghiệm này bằng cả năm giác quan!


Cuối tháng 12 năm 1964, tôi đến Trung đoàn bộ 98 và ngày 01 tháng 01 năm 1965 đã đi trinh sát từ Bạc vào phía trong cùng các anh Hoàng Tiến Vinh, Trưởng tiểu ban tác huấn; Nguyễn Văn Bảy, Hoàng Quỳnh, Trợ lý tác huấn; Nguyễn Xuân Quang, Trung đội trưởng Trinh sát và mấy đồng chí trinh sát. Trên đường đi, chúng tôi đã chạm ngay hai cái dốc lớn: Bô Phiên và Sê Ka Mán.


Vượt sông Sê Ka Mán, ở Hạ Lào trời vân nóng, tuy luc này đã là đầu tháng 12 âm lịch năm Giáp Thìn. Người dân nơi đây có tục xăm mặt, xăm môi để trang điểm. Cái lỗ tai to tướng chảy xệ xuống để đeo cái khuyên bằng tre, đường kính có đến 3 cen ti mét. Người “cà răng” tôi đã gặp nhiều lần, những người “căng tai” thì đây là lần đầu tiên tôi mới gặp. Thấy khách đến nhà, cô gái vội lấy chiếc khuyên tre ở trong bọc vừa nhét vào lỗ tai vừa liếc nhìn khách, vẻ e thẹn.


Trở về Trung đoàn bộ, tôi tranh thủ phổ biến kinh nghiệm trinh sát cầu đường cho anh em trinh sát, bổ sung một số kiến thức về chất độc đi-ô-xin và cách phòng tránh.

Anh Phan Quang Tiệp, Trung đoàn trưởng rất quan tâm đến tôi, một phần vì tôi mới đến đơn vị, một phần trước đây chúng tôi ở cùng cơ quan Tham mưu Cục Công binh. Anh kéo tôi đi xem xét đường bộ và đường sông từ Bạc đến Pắc Ca Don. Một cán bộ của Tiểu đoàn 3 đưa tôi đi xem các thác Hạt Vi, Chặc Cầu, Keng Lê Cao... Đó là những thác dữ, nhất là Keng Lê Cao. Muốn khai thông đường sông phải phá nhiều thác. Liệu nơi đây, trên con sông Sê Kông này, có lặp lại hình ảnh người anh hùng phá thác trên sông Nậm Na trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa?


Chuyến đi với anh Phan Quang Tiệp lần này có một kỷ niệm khó quên. Một buổi chiều tối, chúng tôi đến một bản vắng tanh, không một bóng người, nhưng lợn vẫn kêu dưới sàn nhà, gà vẫn vỗ cánh trên cành cây. Soi đèn thấy một mảnh giấy cài ở cổng bản. Nhưng chẳng ai đọc được chữ Lào nên không dám vào vì sợ bị bắt vạ. Anh Tiệp cùng một trinh sát đi tìm dân để hỏi. Hơn một tiếng sau, anh trở về thở phào và thông báo: mảnh giấy đó ghi là “Bộ đội Pathét Lào cứ vào bản nghỉ". Thế là chúng tôi yên tâm vào bản nghỉ ngơi.


Qua sự việc trên tôi nghĩ: Mình phải tìm cách học chữ Lào. May mắn là hôm đến Bản Chinh, tôi nhờ được một chuyên gia Việt Nam dạy chữ Lào. Chỉ trong hai tiếng buổi trưa tôi đã đọc được chữ. Nhưng “văn ôn võ luyện” không dùng, nên cũng chóng quên.


Tết Ất Tỵ, ngày 02 tháng 02 năm 1965, chúng tôi theo anh Tiệp sang chúc tết Tỉnh uỷ Ta Vên Oọc1 (Tiếng Lào - Ta Vên Oọc có nghĩa là mặt trời mọc, tiếng Việt gọi là tỉnh Miền Đông nay là tỉnh Se Kong). Dự liên hoan xong, tôi mệt nên về trước, mọi người nhảy “lăm vông” đến tận khuya.


Sau Tết, tôi cùng một tổ tiếp tục đi trinh sát. Chúng tôi đi lại các bản Tà Un, Sa Khôn, Chà Rế, Bản Lôi, Bản Chinh... Có hôm chỉ hai anh em, tôi và đồng chí Diệu, tới đâu trời tối thì vào bản xin ngủ nhờ.


Một lần vào bản Sa Khôn, dân sơ tán dưới khe sâu. Đêm nằm thấp thỏm nghe họ nói mà không thể hiểu được, cứ nhìn nhau bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Chẳng ai đoán được điều gì sẽ xảy ra với mình. Sáng dậy ra khỏi bản lại nghĩ rằng có khi chạm trán với biệt kích tối qua cũng ngủ nhờ trong bản mà không biết lại còn “sa ma khi”2 (Samakhi: Đoàn kết) cũng nên. Một lần khác, trời tối chúng tôi tạt vào vạt rừng mắc võng ngủ, suýt nữa toi mạng với mấy chú voi.


Những ngày ở Trung đoàn 98 là một chuỗi ngày đi trinh sát. Chỉ gần ba tháng trời tôi đã gặp rất nhiều gian nan, trắc trở. Có lúc thấy lẻ loi trên đường, nhưng so với những đội trinh sát đi trước của các anh Nguyễn Văn Bền, Trần Minh, nhất là đội của anh Hoàng Đình Luyến1 (Trung đoàn trưởng Trung đoàn Rạng Đông) đã đi trinh sát từ Bản Đông đến Bạc làm cơ sở mở đường của Trung đoàn cuối năm 1964, thì tôi là người may mắn được thừa hưởng thành quả của người đi trước và có một hậu thuẫn lớn cho công việc của mình, đó là cả một trung đoàn đang thi công ở phía sau.


Tôi đang trên đường đi công tác thì có lệnh gọi về Cục Công binh Bộ Quốc phòng viết tổng kết.

Đầu tháng 6 năm 1965, đang ngồi viết tổng kết "Bảo đảm công trình trong chiến dịch Biên giới năm 1950 thì tôi nhận được lệnh sang Đoàn 559, trụ sở tại 63 Lý Nam Đế, để nhận nhiệm vụ.

Tôi được xung ngay vào đoàn công tác đi thị sát đường từ Phong Nha đến Vin Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào.

- Anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế, Bộ Giao thông vận tải làm Trưởng đoàn.

- Anh Phi Đình Tuân2 (Sau này anh Nam Hải là Thứ trưởng, Phi Đình Tuấn là Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Giao thông vận tải) người có nhiều kinh nghiệm khảo sát đường vùng Tây Bắc phụ trách kỹ thuật cùng một số cán bộ khác.

- Tôi, Mai Sơn, được Cục Công binh cử sang cùng đi, nhưng tôi được tổ chức giao làm Bí thư Chi bộ của đoàn công tác.

Cũng vì thế mà nhiều lúc cao hứng, nổi máu “hài” lên, Phi Đình Tuân lại "phang” cho tôi một “nhát” là Chính uỷ, một chức danh mà sau này khó tìm ra xuất xứ trong tổ chức nửa quân nửa dân lúc bây giờ.


Cầm mảnh bản đồ 1/100.000, loại bản đồ cũ của Pháp in, tôi nhận ra ngay một vùng đá vôi hiểm trở, không thể hiện đường đồng mức, chỉ có đường sông núi và những điểm cao đặc biệt. Vì có thời gian làm nhiệm vụ trinh sát công trình nên tôi cũng biêt: Đó là vùng đá vôi Kẻ Bàng, một vùng các-x-tơ (karst) điển hình nhất của miền Bắc Việt Nam, không có dòng chảy trên mặt, nhiều hang động ngầm, nổi tiếng là động Phong Nha. Nơi đây dân cư thưa thớt, có nơi từ xưa không một bóng người. Ở cửa rừng gần động Phong Nha, số dân Arem ta mới tìm được, quy tụ tại bản Tân Trạch. Cuộc sống của họ vẫn như còn ở trong hang, dùng cây que gác vào vách đá để che mưa nắng, tránh thú dữ, cứ như người nguyên thuỷ.


Đoàn chia làm hai mũi đi trinh sát:

- Một mũi đo anh Nam Hải phụ trách đi từ Khe Nét - Đoòng - Khe Tum lên biên giới Việt - Lào.

- Một mũi do anh Phi Đình Tuấn phụ trách đi từ Khe Nét - Cù Mạ - U Bò - Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào, triển khai từ ngày 07 tháng 7 năm 1965, ngày 17 tháng 7 năm 1965 đến Vin Kà Roòng, rồi quay lại động Phong Nha. Tôi tham gia mũi trinh sát này.

Dựa vào loại bản đồ có trong tay, loại bản đồ vùng núi đá vôi không thể hiện đường đồng mức để vạch tuyến đường trước đã khó khăn, căn cứ vào đó mà xem xét trên thực địa cũng chăng dễ dàng gì.


Kinh nghiệm khảo sát đầy người như anh Tuấn còn phải chật vật với dãy núi đá vôi hiểm trở, chẳng có người dẫn đường, cùng những địa danh còn lạ lẫm Ba Thang, Cù Mạ, U Bò…” đã phải lắc đầu lè lưỡi mà kêu là “con đường hóc búa”.


Trong thời gian ngắn ngủi trên đường trinh sát, gặp hai sự kiện làm tôi liên tưởng ngay đến sự gian khổ sau này các anh trong tổ anh Tuấn sẽ phải chịu đựng:

- Duy nhất một lần gặp người dân đóng khố cởi trần len lỏi trên con đường mòn gập ghềnh đến đồn biên phòng nhờ y tá đến cấp cứu cho ông trưởng bản bị ngã trên cây xuống. Nhưng không kịp, ông đã chết trước khi y tá đến.

- Chúng tôi phải gạn nước ở một khe cạn, túm vào ni lông vác lên Cù Mạ để nấu cơm ăn tối.

Ấy vậy mà sự liên tưởng của tôi còn xa với thực tế mà các anh đã phải gồng mình lên chịu đựng trong các lần đi trinh sát tiếp theo.

Nhưng các anh đã được đền bù, tư liệu các anh thu thập được đã có sức thuyết phục, góp phần quyết định việc chọn tuyến đường này mà tác dụng to lớn của nó trong cuộc chiến chi viện cho miền Nam ruột thịt đã rất rõ ràng.


Không những thế, con đường 20 Quyết Thắng đó, ngày nay còn là điểm nhấn lịch sử trong quần thể di tích của khu du lịch sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:09:06 pm
NỮ TƯỚNG PHÀN LÊ HOA Ở TRƯỜNG SƠN


Đại tá Mai Sơn
Thân mến tặng anh chị em
Thanh niên Xung phong quê Hưng Yên


Cuối năm 1970, tôi về phụ trách trường Huấn luyện của Bộ Tư lệnh Đoàn 559.

Một hôm, sau cuộc họp, trở về phòng làm việc, tôi thấy một phong thư trên bàn. Bì thư trịnh trọng nắn nót đề tên tôi, có cả cấp bậc, nhưng lại không có tên người gửi. Đôi khi tôi nhận những lá thư như thế, nhưng thư riêng mà ghi cả cấp bậc như thế này thì đây là lần đầu. Nhìn nét chữ chân phương, mềm mại nhưng lạ lẫm, tôi không đoán được là của ai. Mở ra xem mới hay đó là thư của Phàn, Phạm Thị Phàn1 (Phạm Thị Phàn, thôn Đại Nại, xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đi thanh niên xung phong năm 1965) - cô gái lái xe đồng hương mà tôi gặp ở Cổng Trời hồi cuối năm 1969. Trong thư Phàn cho tôi hay là cô không ở binh trạm nữa mà đã về công tác tại xưởng sửa chữa của đoàn. Cô kể về quê nhà, về công việc và cả về người yêu cô...


Vừa lúc đó, đồng chí Trợ lý xe máy của Trường đến báo cáo:

- Hôm đến xưởng sửa chữa nhận xe, tôi gặp một cô gái lái thử xe trên bãi. Cô ta lái "khiếp" lắm. Khi biết thủ trưởng ở đây, cô ấy vội vào nhà xe, viết thư này, nhờ tôi mang về và nhắn khi nào thủ trưởng có điều kiện, rẽ qua xưởng, sẽ nói chuyện nhiều.


Nhớ lại một ngày cuối tháng 10 năm 1969, tôi cùng Lê Văn Trung và Hoàng Công Quang1 (Lê Văn Trung là PTS về phá nổ, nhà ở phố Đốc Ngữ, Hà Nội; Hoàng Công Quang là kỹ sư hoá nổ, hiện ở 302/G3B Thành Công, Hà Nội), hai cán bộ Ban Nghiên cứu của Bộ Tư lệnh Công binh vào Trường Sơn nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, đồng thời phổ biến kinh nghiệm khắc phục bom mìn địch cho các đơn vị trên tuyến...


Chiếc Gatz-69 đưa chúng tôi đến ngã ba Khe Ve, rời đường 15A rẽ vào đường 12 đi Mụ Giạ. Đèo Mụ Giạ nằm trên biên giới Việt - Lảo, ở độ cao hơn 400 mét so với mặt nước biển, là một trong những đèo vắt qua đỉnh dãy Trường Sơn để sang nươc bạn Lào. Đường Khe Ve đi Mụ Giạ dài 45 ki lô mét, quanh co, khúc khuỷu, lắm đèo dốc, có dốc ngoằn ngoèo mang cái tên rất hình tượng: dốc Ruột Gà. Với tôi, đường 12 này khá quen thuộc, vì có thời gian tôi đã chỉ huy trung đoàn hỗn hợp công binh - cao xạ bảo đảm vận chuyển ở đây.


Sáng hôm đó, sương mù dày đặc, cách 10 mét đã không rõ mặt người. Lưng sườn núi và dưới vực sâu chỉ thấy một biên sương mù trắng xoá. Ai đã từng đi xe trong sương mù giữa ban ngày mới thấy hết giá trị của bức màn ngụy trang thiên nhiên hết sức lý tưởng này. Dạo ấy dù đêm tối đen như mực, xe chạy hay thậm chí chỉ mới nổ máy, cũng vẫn bị máy bay C130 của địch có kính hồng ngoại phát hiện và bắn trúng liền. Nhưng sương mù dày đặc và ẩm đã bịt chặt những con mắt cú vọ của máy bay địch.


Xe chúng tôi leo gần đến Cổng Trời thì gặp một chiếc xe tải chạy cùng chiều, đang đỗ lại bên đường. Vượt lên quá một đoạn chúng tôi cũng dừng lại. Qua cửa xe, một cô gái mặc thường phục dáng quen quen, đứng cạnh kho hàng tay chỉ trỏ. Khi cô quay lại, tôi chợt nhận ra và reo lên:

- Phàn!

Phàn ngẩng lên. Nhận ra tôi, cô lao nhanh đến bên xe mừng rỡ. Cô rối rít hỏi han đủ chuyện rồi kể: sau khi Trung đoàn Công binh 251 vào chiến trường thì nhiều anh chị em thanh niên xung phong cũng vào bộ đội. Một số nữ được đi học lái xe. Học xong, phần lớn chạy xe ở tuyến sau. Riêng Phàn và một số chị em phục vụ tại Binh trạm 12 - binh trạm tiền phương.
Giơ chiếc đồng hồ đeo tay, Phàn khoe:

- Lái xe qua trọng điểm địch đánh phá nên em được thưởng đấy!

Tôi thấy vui lây niềm vui của em và cứ để Phàn kể mọi chuyện, không chêm vào câu nào. Thực ra cũng không xen vào đâu được, vì hình như Phàn lo không có đủ thời gian để nói...

Nhớ lại hồi Trung đoàn 251 chúng tôi cùng anh chị em thanh niên xung phong xây dựng sân bay Yên Bái, có lần tôi nói đùa là “phải cho em đi học lái máy xúc”, tôi hỏi:

- Thế em không đi học lái máy xúc à?

Phàn cười giòn tan:

- Nếu thế thì làm sao em lại đứng ở đây được!

Ngoái lại phía xe của Phàn, tôi hỏi:

- Ai đi cùng xe với em thế?

- Cái Tiếp anh ạ! Anh không biết nó đâu! Nó bị thương, điều trị chưa khỏi hẳn mà đã đòi về, tiếp tục đi với em đây!

Rồi cũng đến lúc phải chia tay. Tôi chỉ kịp ghi số hòm thư của Phàn vào cuốn sổ tay. Nhanh như sóc, Phàn chạy về xe mình và lập tức đã nghe tiếng máy nổ.

Đến lúc này đồng chí cán bộ của Binh trạm đi cùng chúng tôi mới kịp lên tiếng như khẳng định những chiến công của Phàn:

- Ở đây mọi người vẫn thường nhắc đến thành tích lái xe qua trọng điểm của cô ấy đấy!

Xe chúng tôi sắp chuyển bánh thì Phàn - vẫn cái kiểu tinh nghịch - cho xe mình vượt lên trước và vẫy tay chào. Chỉ loáng một cái, xe em đã mất hút trong màn sương dày.

Với tôi, lần gặp này, em hiện ra rồi biến đi, y như một nàng tiên trong truyện cổ tích thời ấu thơ...

Đến chỗ rẽ vào Binh trạm, chúng tôi xuống đi bộ. Nắng xuống, sương lan rất nhanh. Mặt trời đã lên cao. Khi những tia nắng rọi chiếu tới mặt đường thì chúng tôi đã khuất vào những lùm cây rậm rạp.

Tối hôm ấy, nói chuyện với anh Bạch Quyền, Phó Binh trạm trưởng Binh trạm 12, anh kể cho nghe nhiều chuyện về Phàn rồi kết một câu:

Ở đây người ta gọi nó là “Phàn Lê Hoa” đấy!

Nói đến Phàn Lê Hoa - một nữ tướng xông xáo trong truyện Chinh Đông Chinh Tây, đọc từ hồi nhỏ, tôi thấy thích thú và hình dung ra rất rõ nét tính cách của Phàn. Nhưng tôi vẫn nói lên nỗi băn khoăn của mình:

- Nữ lái xe bây giờ không hiếm. Nhưng lái xe ở tuyên lửa thì quá nguy hiểm, gian nan, vất vả,... Lại còn phải vượt qua trọng điêm địch đánh phá... thì đến lúc này tôi chỉ mới thấy có một!

Ngẫm nghĩ một lát, tôi khẽ nói như tự hỏi mình:

- Có nên để phụ nữ làm cái công việc nguy hiểm và căng thẳng quá không nhỉ?

Anh Quyền cũng trầm ngâm:

Đúng là đang có cuộc tranh luận quanh vấn đề này. Chiến tranh ác liệt quá! Lái xe qua trọng điểm, tinh thần rất căng thẳng, dễ ảnh hưởng đến tâm sinh lý con người. Thế mà nhiều cô gái gan dạ quá. Cứ cười nói vui đùa như đi chơi ấy thôi! Nhưng dầu sao cũng phải bố trí công tác khác, thích hợp hơn cho chị em.


Trong số chị em làm việc gần đơn vị xe máy của Trung đoàn 251 trên công trường xây đựng sân bay Yên Bái ngày ấy tuy không gặp Phàn nhiều, nhưng cô để lại những hình ảnh rất đậm nét bởi cái tác phong nhanh nhẹn, tính cách nghịch ngợm vui nhộn và nét mặt lúc nào cũng như đang cười.


Một lần Phần cùng mấy chị em đang xúc đất. Xúc chưa đầy chiếc xe cải tiến mà đã định tránh thủ đẩy ào đi. Tôi cau mày nhắc khéo:

- Đến phải cho em đi học lái máy xúc1 (1) thôi!

Lập tức, Phàn đứng nghiêm, áp xẻng sát vào người giả làm cây súng, miệng dõng dạc:

Máy xúc khi đào đất có vận chuyển muốn tăng năng suất thì phải đổ đất thật đầy từng chuyến xe vận chuyển.

- Báo cáo thủ trưởng! Em xung phong!

Tôi bật cười.

Tính cách của Phàn là như thế. Em đi học lái xe, tôi không lạ. Nhưng hơi ngạc nhiên và rất mến phục khi biết em dám lái xe qua trọng điểm mà nhiều nam lái xe sừng sỏ, cự phách, đôi lúc cũng phải chờn!


Tôi đã nhiều lần đi xe qua trọng điểm nên càng rõ sự nguy hiểm ở đây. Bầu không khí luôn luôn căng thẳng, kể cả khi địch không bắn phá. Trong ánh sáng vàng khè của đèn ôtô đã được ngụy trang hoặc dưới ánh trăng mờ, quang cảnh thật hoang tàn... Đường sá nham nhở, đất đá ngổn ngang, cây cối trơ trụi... Những gốc cây cháy dở sau trận bom na pan còn để lại những hòn than đỏ rực. Gặp đợt địch đang đánh phá thì khi pháo sáng trên không vừa tắt là lúc đạn pháo 20 ly từ máy bay C 130 vãi xuống như trâu. Bom bi, mìn vướng nổ, bom từ tường chưa dẹp hết, cũng nổ bất thần. Nếu lúc đó đường tắc, mà việc nảy rất dễ xảy ra, thì hàng loại xe dồn ứ lại, nằm chết cứng một chỗ, tiến thoái lưỡng nan, đành giơ lưng chịu đòn... Điều gì cũng có thể xảy ra!


Ngày mai chúng tôi sẽ đi bộ dọc tuyến đường phía tây Trường Sơn. Cái nghề công binh cứ phải đi ban ngày mà quan sát, nghiên cứu. Và phải nhằm những trọng điểm mà đến. Ở đấy mới phơi bầy tất cả những thủ đoạn đánh phá của địch cũng như đầy đủ các phương tiện giết người mà chúng sử dụng.


Thời gian đi công tác sẽ khá lâu. Chưa biết hôm nào trở lại. Tôi lấy giấy viết thư, nhờ anh Quyền chuyển cho Phàn.

Sau đợt ấy, Phàn được điều về Xưởng sửa chữa của Đoàn 559 công tác.

Đêm đã khuya mà tôi cứ ngồi suy nghĩ miên man về Phàn. Từ một cô gái đẩy xe đất còn lặc lè, hôm nay đã là cô gái lái xe chững chạc dũng cảm.

   "Công trường năm ấy em vừa tới
   Đây xe cải tiến đất còn vơi
   Đường vào tiền tuyến hôm nay gặp
   Em đã lái xe vượt Cổng Trời?

Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, ta dốc toàn lực để đánh bại kẻ thù. Biết bao cô gái đang tuổi thanh xuân đã tự nguyện hiến dâng tuổi trẻ, xông pha nơi chiến địa, gánh vác trên vai những nhiệm vụ nặng nề tưởng chừng như không thể chịu đựng được.


Câu chuyện nhỏ này xin được coi như niềm cảm thông và lòng mến phục gửi đến chị em thanh niên xung phong “quê đất nhãn lồng" đã một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:12:33 pm
BỨC TRANH PHẢN DIỆN

Đại tá Mai Sơn


Trong chuyến đi nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của địch trên tuyến đường Trường Sơn cuối năm 1969, tôi cùng hai đồng chí cán bộ Ban Nghiên cứu Bộ Tư lệnh Công Binh Lê Văn Trung, Hoàng Công Quang có dừng lại trọng điểm Seng Phan một tuần lễ để theo dõi hoạt động của địch. Chúng đánh phá rất ác liệt và xảo quyệt với đủ loại bom nổ ngay, nổ chậm, từ trường, bom bi, mìn nổ chậm...


Trọng điểm Seng Phan nằm trên đường 128 cách đèo Mụ Giạ hơn 30 ki lô mét về phía Nam do Tiểu đoàn 2 Công binh1 (Tiểu đoàn 2 về sau được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang) thuộc Binh trạm 12 đảm nhiệm.


Chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn cùng Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, sở chỉ huy tiền phương được bố trí trong hang đá tương đối rộng, chỉ cách mặt đường vài mét. Tuy ngày đêm bị đinh tai, nhức óc vì tiếng bom mìn, nhưng lại rất tiện cho việc chỉ huy, lực lượng cơ động tới nơi cần ứng cứu cũng rất nhanh chóng.


Khi im ắng tiếng bom mìn, xe chạy thông suốt thì lính ta tán như khướu, mấy tay lái xe phóng từ1 (Xe phát ra từ trường để kích bom từ trường nổ; bom từ trường là một loại bom nổ chậm rất ác hiểm của địch, sau khi được ném xuống thì nằm chờ bao giờ có xe, hay sắt thép đi tới gần mới nổ) trực tại đó cũng góp chuyện khá rôm rả.


Họ kháo nhau cánh lái xe vận tải mà có ra công tác ngoài hậu phương thì không mấy tay là không tranh thủ "vô nguyên tắc" dăm hôm, rẽ về thăm nhà, bởi một lẽ rất đời thường “vợ ở mô là Thủ đô ở đó”, có chuyện gì sẽ tính sau. Còn cứ vào đến đơn vị mà hai tay ôm lấy cái “vô lăng” vượt qua trọng điểm, nhất là lại vào đợt vận chuyển hàng đặc biệt cho chiến trường thì mọi tội "tụt”, “tạt” đều được xóa sạch.


Bỗng có tiếng nói phát ra từ góc hang như phản đối:

- Thế mà có lần chở hàng đặc biệt lại bị trực trạm “barie” mắng cho mất mặt đấy!

Rồi vẫn tiếng anh chàng đó, đằng hắng giọng tiếu lâm, kể:

“Như thường lệ, xe chở hàng đến trạm barie thì dừng lại để kiểm tra. Trực barie hỏi:

- Chở hàng gì?

Lái xe thản nhiên trả lời:

- Chở con c...!

Lái xe nói tếu cũng là chuyện thường tình. Trực barie tuy rất bực, nhưng cũng cố dằn giọng hỏi lại:

“Thế này thì quá lắm!”, trực barie quát:

- Đừng có mà nhảm nhí! Làm việc cho nghiêm túc! Chiến trường chứ không phải trò đùa ở nhà đâu!

Lái xe vẫn bình thản nói như đinh đóng cột:

- Đúng là xe chở con c...mà! C...của ông Đ.Đ.T vãi cùng đường, nhặt được đầy xe đây này!"

Nghe chuyện lính ta cười phá lên tưởng có thể sập hầm. Mẩu chuyện này cánh lái xe thích nhắc tới như một giai thoại văn học dân gian. Tôi cũng được nghe đôi ba lần, nhưng lần này có hư cấu thành chuyện có đầu có cuối hẳn hoi. Tôi cũng cười theo, gật gù hưởng ứng, nhưng tâm trí lại hồi tưởng về một câu chuyện xảy ra cách đây hai chục năm về trước...


Đầu năm 1950, tôi được lệnh đưa Trung đội 3 của Đại đội Công binh 250, do đồng chí Võ Bảo làm Trung đội trưởng, lên Cao Bằng phối thuộc với Cục Vận tải chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới.

Lần đầu tiên được đi chiến dịch, ngày ấy thường gọi cho ra vẻ bí mật là “đi Xê Zét”, lại được đến cái vùng nổi tiếng “gạo trắng nước trong”, “Noọng slao Cao Bằng đây lai"1 (Em gái Cao Bằng đẹp lắm!) nên anh em rất phấn khởi. Có đồng chí đang ốm cũng không chịu ở lại, nhất định đòi đi.


Tới Quảng Uyên, tôi gặp anh G, Cục phó Cục Vận tải, nhận nhiệm vụ. Công việc tiến triển sau đó khá thuận lợi.

Một hôm, tôi đến cơ quan để đề nghị giải quyết một số việc, nhưng anh G đi vắng. Tôi định ra về, nhưng lại thấy anh N ở đó. Anh N trước đó là Cục phó Giao thông Công binh, khi ấy cũng là Cục phó Vận tải, tôi mừng quá chạy vào nói chuyện.


Ôi! Thật là định mệnh! Tôi cứ đứng đó nói chuyện với anh N một cách thích thú mà không lưu ý đến thái độ dè dặt của anh, khác hẳn với tác phong giản dị, gần gũi anh em trước đây.

Mải nói chuyện, tôi không chú ý tới một người đứng tuổi, mặc quần bà ba nâu, áo sơ mi trắng đài tay, ngồi xổm trên ghế tựa. Người đó làm như không theo dõi cuộc chuyện trò. Còn tôi cứ tưởng đại loại đó là khách đến cơ quan làm việc. Và đấy chính là điều không may cho tôi.


Khi tôi xin phép anh N ra về, thì lập tức người đó nhướn người lên hỏi anh N:

- Anh này có phải là Đại đội trưởng Công binh đến phối thuộc cho ta không?

- Vâng!

Anh N vừa dứt lời thì người đó nhìn tôi quát:

- Tại sao anh không đến báo cáo tôi!

Tôi ngớ người ra và phản xạ một cách tự nhiên:

- Tôi đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi!

Tức khắc người đó thả chân xuống đất, tay vung lên, miệng quát:

- Tôi là “sếp” của anh mả anh không báo cáo tôi à?

Quả thực đến lúc đó tôi vẫn chưa biết người đó là ai mà lại xưng “chef ” với mình hách dịch như vậy. Nếu anh N cho mình biết từ đầu thì đâu đến nông nỗi này! Tôi thấy ức quá, không suy nghĩ gì mà nói ngay:

- Tôi chưa biết đồng chí là ai, mà chỉ biết đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi!

Đúng là tôi đã rót thêm một gáo đầu vào lửa! Người ấy chồm lên:

- À!!! Anh không báo cáo tôi à? Tôi bỏ tù anh bây giờ! Anh G, anh N cũng dưới quyền tôi!

Tôi biết đã chạm trán một cấp “côi, hắc xì dầu" mà còn dại dột chọc thêm vào tổ ong bầu.

Các bạn thử hình dung xem bộ mặt của tôi mới đáng thương làm sao! Tôi thấy sững sờ, ngớ ngẩn cả người và hoảng hồn thực sự, liền cầu cứu anh N:

- Đề nghị anh nói hộ, thực tình tôi không biết đồng chí ấy là thượng cấp.

Anh N cũng toát mồ hôi, nói dè dặt:

- Báo cáo anh, anh Mai Sơn mới lên đây, không biết anh là Cục trưởng.

Nói xong, anh N cũng rút êm re, để lại một mình tôi trước một đối tượng đầy quyền năng, nét mặt sát khí đằng đằng...

Trấn tinh lại, tôi biết mình phải làm gì trong tình huống này. Tôi liền đứng nghiêm báo cáo rất đúng tác phong, vì tôi mới học qua lớp bổ túc sĩ quan bộ binh khóa "Rèn cán, chinh quân” mà!

Báo cáo đồng chí! Tôi có khuyết điểm là không biết đồng chí là Cục trưởng. Bây giờ tôi xin phép được báo cáo công việc.

Nói xong tôi ngồi xuống ghế trước mặt đồng chí đó và báo cáo rất đầy đủ.

Nghe đến đâu, đồng chí bảo thư ký ghi cách giải quyết. Có thể nói, mọi yêu cầu đều được thỏa mãn. Lẽ ra thì phải mừng mới đúng, nhưng tôi vừa bị cú "sốc" nên vẫn ấm ức. Tôi nghĩ nhất định phải có ý kiến phê bình ngay sau đây.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:13:47 pm
Làm việc xong tôi nói:

- Tôi xin phép có ý kiến!

- Được! Anh cứ nói! - Câu trả lời đã trở lại bình thường.

Tôi đổi cách xưng hô cho nhẹ nhàng:

- Tôi thấy anh quá nóng và cảm thấy không thể làm việc ở đây được!

Nói xong, tôi chuẩn bị chịu trận lôi đình giáng xuống đầu mình. Nhưng đồng chí ây lại từ tốn:
   
- Ấy! Anh đừng nói thế! Anh nói là không thể làm việc được ở đây là không nên. Rồi anh xem, anh làm việc với tôi anh sẽ hiểu. Tôi như người anh anh. Về mọi phương diện, au point đe vue de toute forme (đồng chí ấy thêm cả một đoạn tiếng Pháp), tôi đều là anh anh. Về tuổi, tôi là anh anh. Về quân đội, tôi là anh anh. Về đoàn thể, tôi là anh anh...


Thì ra một con người dù nóng nảy đến đâu cũng không phải là quá khó phê bình, nhất là những lời phê bình thẳng thắn, không có tâm địa... Chỉ cần mọi người dám phê bình, nhưng đừng có bao giờ phê bình xu nịnh để vụ lợi, bởi vì như thế còn tai hại hơn là không phê bình.


Ngừng một lát, đồng chí ây hỏi tôi:

- Anh có ở đoàn thể không?

Khi ấy tôi chưa phải là đảng viên, nên cũng trả lời rất tự nhiên:

- Tôi không ở đoàn thể!

Nét mặt ngạc nhiên thực sự, đồng chí bảo:

- À, thế thì anh không hiểu rồi!

Tôi cũng chẳng hiểu đồng chí ấy bảo mình không hiểu cái gì, nhưng chưa thỏa mãn với cách giải thích trên nên tôi vẫn nói tiếp:

- Tôi không biết anh là cấp trên, làm sao tôi đến báo cáo được. Nguyên tắc quân đội, muốn đến gặp cấp trên, tôi phải báo cáo trước xem có được vào "yết kiến"không rồi mới dám đến, làm sao đám tự tiện đến!


Tôi dùng từ “yết kiến” một cách ngẫu hứng có vẻ “tuồng”, sau này nghĩ lại cứ tự buồn cười.

Vẻ bực bội thoáng trên nét mặt, đồng chí ấy nói:

- Tôi không cần anh phải báo cáo trước. Anh cứ đến đây. Ai hỏi, anh bảo: “Tôi làm việc với anh T.” rồi anh vào. Tôi cũng không cần đứng nghiêm báo cáo. Tôi đã nói với anh Văn là tôi không cần đứng nghiêm cúi đầu 15 độ (kiểu chào không đội mũ lúc đó). Đấy anh xem, anh có bao nhiêu việc cần giải quyết mà anh lại không báo cáo với tôi thì có thằng nào giải quyết cho anh không?

- Tôi không còn hiểu tâm trạng mình lúc đó ra sao, mà thấy nên rút lui là êm ấm nhất. Sau này nhớ lại, tôi cảm thấy cách phê bình của mình có chỗ nào chưa ổn chăng?

Chân bước đi mà lòng buồn rười rượi. Ra đến cổng tôi gặp một người trạc tuổi ba mươi, mặc bộ quân phục bạc màu, đầu đội mũ lá, đứng lại hỏi chuyện tôi rất thân thiện như quen biết từ lâu. Tôi ngớ người ra, người đó nói như thông cảm:

- Anh vừa ở chỗ anh Đ.T ra đấy thôi!

Chắc người này đã từng nếm trải những sự việc tương tự, nên muốn an ủi tôi như một người cùng hội cùng thuyền.

Bỗng có tiếng gọi giật trong nhà:

- Giám mã! (chức danh chiến sĩ giữ ngựa thời đó)

Người ấy lật đật chạy vào, đứng nghiêm giơ tay chào, miệng lắp bắp:

- Báo... báo cáo!

Một tiếng quát cắt ngang:

- Báo cáo, báo cáo cái gì, ngựa nó đang cắn nhau kia kìa!

Đầu tháng 9 năm 1950, Bộ Quốc phòng điều chúng tôi trả về Cục Công binh và tham gia chiến dịch Giải phóng Biên giới trong đội hình của Tiểu đoàn 333.

Chuyện không lấy gì làm to tát trên đây, không hiểu sao cứ hằn mãi trong ký ức tôi, bám riết lấy tôi, bao năm qua mà tôi vẫn nhớ như in. Tôi luôn lấy đó để tự răn mình theo cái triết lý "Đừng làm cho ai điều gì mà mình không muốn người khác gây ra cho mình".


Khi trở về Cục Công binh, tôi được giao nhiệm vụ làm Đại đội trưởng Đại đội 270. Đại đội 270 được thành lập trong đêm mở màn đánh Đông Khê tại một địa điểm cách cầu phao Phục Hòa vài ki lô mét về phía Đông Khê.


Chiến dịch biên giới kết thúc thắng lợi, chúng tôi từ phía đông đường số 4 được lệnh qua đèo Bố Bạch để sang đảm bảo việc chuyển quân trên đường số 4. Đại đội vượt đèo trong một đêm tối trời, mưa dầm dề, dốc trơn như mỡ, lại lổn nhổn những mỏm đá tai mèo cạnh sắc như sao.


Xuống tới chân đèo, đêm đã khuya, anh em đều đói vì hành quân từ chiều. Tôi cho nấu cơm, nhưng cậu cấp dưỡng mang nồi xoong còn chưa tới nơi. Tôi bỏ ba lô, cầm đèn pin, quay ngược lên đèo để tìm. Qua ánh đèn pin, tôi thấy đồng chí cấp dưỡng, trên vai hai sọt đầy dụng cụ nấu ăn, đang dò từng bước. Thấy tôi, đồng chí ấy hoảng sợ thật sự, miệng lắp bắp:

- Đường trơn, trời tối quá anh ạ!

Tôi nhẹ nhàng bảo:

- Mình lên soi đường cho cậu đi đây! Cứ từ từ mà xuống!

Nhoẻn miệng cười, đồng chí ấy bước từng bước chắc nịch. Đến chỗ dốc dường như dựng đứng, không có một cành cây nào để bấu víu, đi người không cũng khó. Chưa kịp bảo cứ thả quang sọt, dụng cụ xuống trước, rồi người lần xuống sau, thì đồng chí ấy đã ngồi bệt xuống đất, nói to: “Để em tụt xuống!” thế là cả người và gồng gánh trôi tuột xuống. Tôi chỉ kịp kêu “Thủng đít mất thôi!” rồi cũng lao nhanh xuống.


Tới nơi, đồng chí ấy cũng đứng đậy an toàn, nét mặt hồn nhiên và tươi rói, hai tay vẫn giữ chặt đôi quang. Bất ngờ thấy một động tác đẹp như làm xiếc, tôi thật thích thú, nhưng vẫn trách yêu: “Cậu liều quá!”. Còn đồng chí ấy thì nhìn tôi miệng toe toét cười. Đúng là “cùng nhau trông mặt cả cười” rồi tiếp tục đi xuống chân đèo.


Mấy chục năm trôi qua... tôi lục lọi trong ký ức mà không sao nhớ ra tên đồng chí cáp dưỡng ấy. Nhưng không bao giờ tôi quên được hình ảnh người chiến sĩ trẻ măng, người thấp đậm, mặt bầu bầu, đầu húi “cua”, chân đi phục phịch, trên vai gánh một đôi sọt to đùng, xếp đầy xoong nồi cùng chảo, đang lò dò bước lên lưng đèo Bố Bạch năm xưa... Bởi đó là bài tập vỡ lòng về tình thương yêu chiến sỹ trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.


Thế rồi bao sự việc diễn ra trên từng nẻo đường chiến dịch, nào mở đường, nào bắc cầu, nào xây đựng trận địa... cho đến chống phá các loại bom mìn hiện đại, ác liệt, luôn luôn đổi kiểu của địch... Từ những việc ây, các chiến sỹ Công binh đã tạo ra biết bao chuyện thần kỳ... đã như một sức mạnh vô hình cứ nâng cao dần trong tôi lòng mến phục và tình thương yêu đồng đội.


Cũng trên trọng điểm Seng Phan này, tôi đã sống những giây phút hồi hộp, lo âu, căng thẳng cùng anh em và được chứng kiến những hành động thật bình dị nhưng cũng thật anh hùng trong chiến đấu, khắc phục bom mìn, giành lại sức sống cho con đường huyết mạch này. Trước khi vào trận, họ vừa mặc áo giáp chống mảnh đạn, vừa vui đùa trêu chọc nhau. Trong số này, chỉ ít phút nữa thôi, ai trở về nguyên lành, ai trở về với thương tích, ai vĩnh viễn không trở về! Họ ý thức được điều đó mà cứ thản nhiên đón nhận, như nó vẫn diễn ra hàng ngày. Điều đó lại càng tiếp thêm trí lực cho sự chỉ huy bình tĩnh, gan dạ của Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, đang còn mang trên người những vết thương chưa lành.


Bằng những công việc thường nhật trên trọng điểm, tưởng như đơn điệu nhưng rất khẩn trương, căng thẳng và hiểm nguy, những chiến sỹ và cán bộ binh thường đó đã dạy cho tôi hiểu thực sự: thế nào là “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng”, chứ không còn là một câu sáo rỗng trong tiểu thuyết.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:18:17 pm
(https://i.imgur.com/9ot1iX4.jpg)

Thiếu tướng
Tô Đa Mạn


Sinh năm:   5-1930
Quê quán:   Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình
Thường trú: Nhà 20-N3, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.35632535 - 0988 236850
Từ Trung đoàn 83, Cục Công binh, BQP
Nguyên Trung tá Phó Cục trưởng Cục TMC8 559
Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, Thiếu tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, QĐNDVN


CÓ MỘT CUỘC GẶP MẶT NHƯ VẬY!
Chuyện kể về đồng chí Phan Quang Tiệp chỉ huy Trung đoàn 98 vào tuyến mở đường cơ giới Trường Sơn sớm nhất


Tháng 8 năm 1999, cựu chiến binh Trung đoàn 98, Công binh chúng tôi tổ chức cuộc gặp mặt thường niên. Cũng là dịp kỷ niệm 35 năm, ngày Trung đoàn 98 vào tuyến Trường Sơn sớm nhất, nên anh em đến dự đông hơn. Ngoài thành phố Hà Nội, còn có các tỉnh lân cận: Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoa An, Hà Tĩnh.


Đặc biệt có mặt đồng chí thiếu tướng Phan Quang Tiệp người chỉ huy trưởng dẫn Trung đoàn mở đường cơ giới đầu tiên trên tây Trường Sơn. Nhiều anh là chỉ huy và cán bộ cơ quan thời đó cũng đến dự như: Trung đoàn phó Hoàng Tiến Vinh, Chính uỷ Phạm Bá Dậu, cùng một số cán bộ tiểu đoàn cán bộ cơ quan Nguyễn Văn Bảy, Hồ Hiệp, Nguyễn Hùng Phong..., các chiến sĩ trinh sát Trần Quốc Tế, Nguyễn Khải...


Năm đó, sức khoẻ đồng chí Tiệp đã suy giảm rõ rệt nhưng với lòng nhiệt thành, quý trọng tình đồng chí, tuy từ thành phố Hổ Chí Minh vừa ra, anh vẫn ngồi dự với chúng tôi từ đầu đến cuối. Hàn huyên nhiều chuyện, thăm hỏi sức khoẻ, đời sống gia đình, chuyện thường ngày ở các địa phương nơi sinh sống.


Nhưng rôm rả nhất vẫn là những mẩu chuyện xoay quanh thời kỳ đầu tiên Trung đoàn nhập tuyến. Đó là những ngày tháng cùng nhau chịu đựng, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ, nhưng vẫn vui, vẫn hăng say với nhiệm vụ vì miền Nam ruột thịt.


Anh em muốn anh Tiệp kể lại những ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ với cấp trên, ngày xa miền Bắc, đưa đơn vị hành quân vào tuyến, về những giây phút mà Đảng uỷ, chỉ huy chọn ngày khởi công đã đi vào lịch sử, ngày 09 tháng 8 năm 1964, ngày mà sau này ngành Công binh Trường Sơn chọn là ngày truyền thống, về ngày Trung đoàn được mệnh danh là “Trung đoàn thần tốc”...


Anh Tiệp suy tư một chút, rồi với thói quen đằng hẵng mấy tiếng, đôi mắt nghiêm nghị như ngày nào, hơi nhoẻn miệng cười, với chất giọng miền Nam trầm ấm, anh tâm sự:

Thật vinh dự cho Trung đoàn 98

Đúng ra là mình không được đi cùng Trung đoàn - Anh Tiệp nói. Lúc đầu Bộ đã giao cho đồng chí Quốc Tuyển, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 229 nhiệm vụ này, nhưng cấp trên thay đôi, do đồng chí Quốc Tuyển phụ trách công trình quốc phòng, với tính chất bảo mật, không được phép vào Nam, nên mình được thay thế.


Anh em chắc còn nhớ, năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, kéo theo sự phá sản của chiến tranh đặc biệt. Năm 1965, Mỹ ồ ạt kéo quân vào, chúng ta phải đương đầu với một thế lực mạnh hơn rất nhiều, đòi hỏi hậu phương lớn miền Bắc phải chi viện sức của, sức người gấp nhiều lần. Đoàn 559 chúng ta, từ năm 1959 đến năm 1964 chỉ dùng biện pháp thô sơ gùi, thồ để vận chuyển chi viện, đến bây giờ không thể kéo dài được nữa.


Với quyết tâm của trên là phải vận chuyển bằng cơ giới. Con đường ô tô đương nhiên đã đến lúc phải xuất hiện, và không ai khác, làm con đường đó đúng là nhiệm vụ của công binh chúng ta. Từ năm 1961 ở nam bắc giới tuyến, đã có một số đoạn đường ô tô và công trình quốc phòng do một số đơn vị công binh Quân khu 4, trong đó có Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 98 thực hiện, nhưng chủ yếu là để phục vụ chiến dịch. Cần nói đầy đủ là khi Trung đoàn 98 công binh công trình, lực lượng dự bị của Bộ vào, mới chính thức mở đường ô tô Trường Sơn thuộc Đoàn 559.


Anh Tiệp tâm sự: Cũng là duyên số! Mình ở miền Nam từ đơn vị bộ binh của Quân khu 5, tập kết ra Bắc năm 1954, do biết ít nhiều về công tác trắc địa, xây đựng, nên được chuyển sang binh chủng công binh. Tháng 4 năm 1964, mình đang làm Trưởng ban Huấn luyện Cục Công binh Bộ Quốc phòng do đồng chí Phạm Hoàng làm Cục trưởng. Thời đó, bộ đội ta đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, đề phòng địch đánh ra miền Bắc trước hết bằng không quân. Các binh chủng toàn quân, trong đó công binh rất sẵn sàng, đã luyện tập mọi hình thức để đối phó chống trả. Ban huấn luyện cũng bận rất nhiều công việc.


Một ngày cuối tháng 5 năm 1964, mình được chỉ thị của Cục chuẩn bị bàn giao công việc huấn luyện cho đồng chí khác, rồi lên Cục Tác chiến nhận nhiệm vụ mới. Khi vào đến Cục Tác chiến gặp ngay anh Phan Hàm - Cục phó, người đã cùng chiến đấu thời chống Pháp ở Khu 5. Anh mời ngồi, hỏi thăm sức khoẻ, gia đình rồi vào việc ngay.


Anh Hàm nói: Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng giao cho công binh cấp tốc vào mở đường cơ giới ở Trường Sơn để hướng tới vận chuyển ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn, tạo điều kiện thời cơ để nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Trên tâm bản đồ đã trải rộng trên bàn, anh Hàm chỉ cho mình hướng đường Trường Sơn phải mở, các điểm cần phải đi qua, từ miền Bắc, Quảng Bình, qua đất bạn Lào, đến miền Đông Nam Bộ, một trục dọc đầu tiên của tuyến đường. Nhưng trước mắt phải mở nhanh vào tới Bắc Tây Nguyên, một địa khu chiến lược cực kỳ quan trọng. Công việc khá khó khăn và rất gấp, anh về chuẩn bị. Sắp tới Bộ sẽ trực tiếp giao nhiệm vụ cho anh, anh trực tiếp dẫn một trung đoàn công binh vào trước, đó là Trung đoàn 98.


Anh Phan Hàm còn nói vui: bạn được vinh dự trở lại miền Nam trước mình nhé!

Rồi chúng tôi tạm chia tay, hẹn ngày gặp lại trên miền Nam khi hoàn toàn giải phóng


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:18:58 pm
Nhận nhiêm vụ mở đường thống nhất

Sáng ngày 08 tháng 6 năm 1964, mình và anh Nguyễn Phụ Hồng được Cục Công binh Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng và Chính uỷ đến sở chỉ huy Trung đoàn 229 ở Trung Hà để nhận lệnh - Anh Tiệp tiếp tục kể.


Cùng dự có một số cán bộ các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà Cục Công binh đã chuẩn bị. Có một số anh em đã có mặt tại đây như: anh Vinh, anh Bảy...

Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ. Đồng chí nói: Hôm nay, được uỷ nhiệm của Bộ, tôi giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 Công binh đi làm nhiệm vụ mở đường ô tô Trường Sơn. Hướng tuyến, tiêu chuẩn kĩ thuật thế nào, đồng chí Tiệp đã nhận trực tiếp tại Cục Tác chiến, Bộ Tông Tham mưu. Tôi nói thêm một số ý:


Trước hết, Trung đoàn cần nhận thức đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Con đường cơ giới mở trên Trường Sơn, dẫn từ miền Bắc vào tận miền Nam, khó khăn gian khổ lắm, nhưng tác dụng của nó thì vô cùng to lớn. Rồi đây khi chiến tranh phát triển, thông qua con đường này, trang bị kỹ thuật, phương tiện, vũ khí cùng các binh chủng của ta sẽ được tăng nhanh và ngày càng nhiều vào chiến trường miền Nam. Quân ta sẽ đánh lớn và chắc chắn sẽ nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Trung đoàn 98 là đơn vị đầu tiên của Binh chủng Công binh được nhận nhiệm vụ này. Đây là vinh dự, nhưng trách nhiệm thật lớn lao. Đảng uỷ, thủ trưởng cần lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đồng chí Lê Quang Hoà còn nói thêm một số nét cơ bản về công tác Đảng, công tác chính trị. Đồng chí nói về truyền thống Trung đoàn 98 xuất xứ là một trung đoàn bộ binh thành lập ở Quảng Ninh năm 1946. Trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn chiến đấu lừng danh ở khu Đông Bắc, đặc biệt là ở chiến trường đường 18 suốt từ Bắc Ninh, Bắc Giang, đến Quảng Ninh, Móng Cái. Đến năm 1951, Trung đoàn 98 về trực thuộc Sư đoàn 316 và chiến đấu ở Tây Bắc, nổi nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trực tiếp đánh đồi C1, mở cửa vào A1, dẫn đến chiến thắng toàn bộ Điện Biên Phủ. Sau hoà bình, Trung đoàn chuyển nhiệm vụ thành Trung đoàn Công binh mở đường ở Tây Bắc và cũng lập được nhiều thành tích. Như vậy truyền thống của Trung đoàn thật sáng chói, vừa mang truyền thống chiến đấu bộ binh, vừa mang truyền thống mở đường thắng lợi của công binh. Các đồng chí hãy phát huy truyền thống đó trên chiến trường mở đường Trường Sơn.


Đồng chí Lê Quang Hoà dặn dò và nhấn mạnh rất nhiều điều về công tác chính trị, công tác chính sách, công tác dân vận. Các đồng chí hãy mang lá cờ “mở đường thắng lợi” của Binh chủng Công binh để “mở đường thống nhất”.


Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi triển khai một số việc ở cơ quan, và cho anh em 7 ngày phép về thăm nhà và tạm biệt gia đình. Bản thân tôi cũng được phép tranh thủ về Hải Phòng mấy ngày để dặn dò, tạm biệt “bà xã” và 2 cháu: Nhân và Hải còn tuổi thơ ngây đang đi học. Phút chia tay, không khỏi bịn rụi, nhưng cả nhà đều hiểu rõ chuyến đi xa để rồi có ngày được sum họp trở lại khi nước nhà thống nhất.


Ngày 19 tháng 7 năm 1964, ban Chỉ huy cùng cơ quan Trung đoàn bộ lên tàu hoả vào Vinh, rồi tiếp tục lên xe phủ bạt kín, vào tới Làng Ho, Lệ Thuỷ, Quảng Bình là nơi chuẩn bị nhập tuyến. Tại đây tôi đã trực tiếp gặp anh Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn 559, nhận nhiệm vụ phối thuộc. Tôi được anh Bẩm dặn dò chỉ dẫn cụ thể tình hình giao liên gùi thồ, tình hình ta, tình hình Bạn, âm mưu và hoạt động của địch, tình hình thời tiết. Anh cũng nói rất kỹ về việc phải tuyệt đối giữ bí mật nhiệm vụ, về tuyến đường sẽ mở. Anh Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn hỏi rõ về tình hình tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội và được trả lời là sẽ rất vất vả vì phụ thuộc vào gùi thồ phía sau.


Mọi việc chuẩn bị khá nhanh chóng. Cơ quan tham mưu đã bố trí một đồng chí ở lại Làng Ho nhận và trông giữ toàn bộ những hiện vật không được mang theo sang đất Bạn như sổ sách, ảnh, thư từ cùng các tư trang của bộ đội.


Và cũng tại đây từ nay trở đi - anh Võ Bẩm vừa nói vừa cười thân mật: Đơn vị được mang mật danh là “Chi hội Bình Minh" thuộc “Hội Lao động Giải phóng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”.


Với quân trang quân giải phóng, được trang bị các loại súng nhẹ chiến lợi phẩm đánh Pháp như Sten, Brenô, 7,9 ly, cuộc hành quân nhập tuyến bắt đầu.

Những thử thách ban đầu đã tới. Đơn vị chúng ta lúc đó đã âm thầm từ ngọn đồi này qua ngọn đồi khác, vượt núi rùng âm u rậm rạp. Đèo 1001, đỉnh của dãy Trường Sơn sừng sững hiện ra trước mặt nhưng không cản nổi bước chân của anh lính giải phóng. Một vài ngày đầu, vì còn được hơi hướng của miền Bắc, lại ít nhiều bộ đội đã được rèn luyện hành quân mang nặng nên còn khoẻ, nhưng chỉ sau một tuần, sức lực cơ bắp cũng sút giảm dần. Một số anh em đã bắt đầu ốm. Cuộc hành quân đi bộ cũng không vì thế mà sụt hẳn, gần một tháng trời chúng ta đã từ đông Trường Sơn qua tây Trường Sơn đến đường số 9, qua Sê Pôn, tới dốc Thơm, về nơi tập kết. Đó là La Hạp1 (Km 270 đường 128 sau này, ngã ba đường B45 sang Thừa Thiên - Huế) một địa điểm trên đất Lào anh em, một vùng đồi thấp cây cối thưa thớt, cỏ tranh bạt ngàn. Cơ quan Trung đoàn bộ hạ trại ở đó.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:20:24 pm
Ngày 09 tháng 8 năm 1964, động thổ mở đường cơ giới Trường Sơn

Những ngày đầu tháng 8 năm 1964, trên đất bạn Lào thuộc tỉnh Sa La Van vừa được giải phóng, thi thoảng từng nơi vẫn còn khét mùi thuốc súng, đồi nương bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Trong các bản làng, những mái nhà lá ọp ẹp, chỉ còn trơ khung gỗ cháy đen. Nhân dân các bộ tộc Lào anh em, lác đác đã trở về bản làng để khôi phục, làm lại nương rẫy.


Thấy bộ đội Việt Nam sang, bà con vô cùng phấn khởi, chắc không còn phải sơ tán liên tục như những thời kì trước. Bà con rất nghèo và đói, nhưng tinh thần giúp đỡ bộ đội thì vô cùng quý giá. Tôi nhớ có lần đoàn của cơ quan Trung đoàn bộ chúng ta gặp một tốp người dân nước Bạn già, trẻ, trai, gái, quần áo rách mướp, đang gồng mình trèo đốc, gùi những kiện hàng nặng nề, với những bước đi khó nhọc, chắc là đói lắm.


Đồng chí Trần Bá, Chủ nhiệm Chính trị thấy vậy hồi: “Đồng bào gùi gì thế, nặng lắm hay sao mà đi khó khăn vậy, hãy nghỉ và lấy một ít trong gùi để ăn rồi hãy đi”.

Một cụ già nói: “Không được đâu! Mình đói khổ nhưng không bằng bộ đội Việt Nam và tha hán Lào còn đói khổ hơn nhiều, lại còn hy sinh nữa chứ! Mình gùi thuốc cho bộ đội để chữa bệnh đây, bộ đội ốm nhiều lắm mà! Mình không đựơc ăn, bộ đội ốm yếu lấy gì chữa bệnh để đánh Mỹ”.


Đồng chí Chuẩn, Trợ lý Chính trị đề nghị dành mỗi người một phần cơm nắm cho bà con. Anh em hưởng ứng ngay, các gói cơm nắm ăn trưa đều được bẻ đôi chia sẻ với đồng bào. Những hình ảnh đầu tiên đó đã làm cán bộ chiến sỹ cảm động, một bài học sâu đậm về tình nghĩa anh em Việt Lào.


Ngày 02 tháng 8 năm 1964, anh Nguyễn Phụ Hồng, Bí thư Đảng uỷ triệu tập họp Đảng uỷ, cuộc họp đầu tiên thông qua quyết tâm. Mình báo cáo nhiệm vụ của Trung đoàn mà Bộ Quốc phòng giao, các kế hoạch lãnh đạo và đảm bảo, một kế hoạch dài 2 năm đến cuối năm 1965, đường phải thông đến bắc Tây Nguyên, trước mắt đến cuối năm 1964 phải thông đến Bạc (Km 343 đường 128 sau này) bắc sông Sê Kông.


Tiếp sau đó, trong hội nghị quân chính, các cơ quan tham mưu, đồng chí Hoàng Tiên Vinh, Tham mưu phó báo cáo tình hình tuyến đường, sử dụng lực lượng kế hoạch khởi công. Đồng chí Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần báo cáo kế hoạch đảm bảo hậu cần. Anh Bảo rất hăng hái, nhấn mạnh, gạo thực phẩm rất ít, có thể sẽ thiếu, nhưng sẽ cấp mỗi tháng mỗi người một cân muối. Anh em ngầm hiểu, có muối sẽ có thêm thực phẩm, rau, đậu, thịt bằng cách đổi cho đồng bào. Đồng chí Nang, Phường, cơ quan khí tài hứa sẽ tìm mọi cách có đủ cuốc xẻng, dao, choòng và nhấn mạnh không có thuốc nổ. Anh Bá, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, lấy ngay hình ảnh vừa gặp nhân dân Lào di trên đường để giáo dục chiến sĩ giữ vững mối quan hệ Việt Lào, giữ vững sinh hoạt Đảng, công tác chính trị, động viên khen thưởng kịp thời v.v...


Buổi họp quân chính trên đất bạn Lào đầu tiên, đã có quyết tâm cao như thế!

Ngày 03 tháng 8, các cán bộ ra về triển khai tích cực để kịp ngày khởi công: 07 tháng 8 năm 1964.

Chắc các đồng chí chúng ta ngồi đây đều còn nhớ: Ngày 05 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây sự kiện vịnh Bắc Bộ, đưa hàng chục máy bay bắn phá Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh... Quân dân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, ngày đầu tiên bắn rơi 12 máy bay, bắt sống giặc lái. Dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng. Nhạy bén với tình hình, đồng chí Chính uỷ Nguyễn Phụ Hồng nhanh chóng hội ý thường vụ Đảng uỷ: chúc mừng chiến công đâu tiên của quân dân miền Bắc, Trung đoàn 98 phải tỏ rõ quyết tâm bằng ngày ra quân đầu tiên trên Trường Sơn phải là ngày thắng lợi đầu tiên trả thù cho đồng bào miền Bắc.


Và một ý nghĩ mới vụt đến. Chúng ta sẽ tích cực chuẩn bị thêm, sẽ ra quân lùi lại 2 ngày và lấy đúng ngày 09 tháng 8, con số trùng hợp với tên Trung đoàn 98 để ghi nhớ được lâu. Tất cả chúng tôi hoan nghênh sáng kiến và triển khai theo phương án này. Đồng chí Trung đoàn phó Chu Minh Đông nói: ngày đó chỉ huy và cơ quan chúng ta phân chia xuống các tiểu đoàn để đốc chiến và đề nghị Trung đoàn trưởng và Chính uỷ trực tiếp xuống hẳn một đại đội để dự cùng anh em. Chúng tôi đã chọn Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 là đơn vị được bố trí tốt nhất về nhân sự, vật chất, tinh thần.


Một điều thú vị chỉ huy Đại đội 4 là đại diện cho hai miền Nam Bắc. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp, quê Bắc Giang, Chính trị viên Đặng Đức Thông quê Quảng Nam. Trong các cán bộ trung đội có Đoàn Ngọc Lập, Vương Thanh Cầm, Nguyễn Tân Đăng đều là cán bộ trẻ, hăng hái, nhiệt tình, được đào tạo cơ bản tại trường Sĩ quan Công binh. Gần 100 chiến sĩ đều là lính nghĩa vụ trẻ, khoẻ.


Đúng 5 giờ 30 sáng ngày 09 tháng 8 năm 1964, cán bộ chiến sĩ Đại đội 4 vừa ra tới hiện trường thì một cơn mưa rào ập tới, cơn mưa kéo dài gần 30 phút. Anh em phải tạm trú mưa, thử thách đầu tiên phải vượt qua. Có tiếng xôn xao, ông trời không ủng hộ 98, mưa thế này vỡ kế hoạch ngay từ ngày đầu ra quân!


Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp vụt đứng dậy ứng xử linh hoạt: “Các đồng chí nhầm rồi. Ở quê ta, mỗi khi đào móng làm nhà gặp được trận mưa to là điềm lành đây. Đây mình sắp “động thổ”, “hên” lắm chứ!” Mọi người cười to đồng tình hưởng ứng.


Và đúng như vậy, sau 30 phút mưa nặng hạt, trời bỗng tạnh hắn. Đại đội 4 đã về đúng vị trí của mình, như bài học đội hình vừa làm đường vừa sẵn sàng chiến đấu, có cảnh giới, phòng không, phòng địch mặt đất.


Lễ động thổ khởi công tuyến ô tô Trường Sơn bắt đầu!

Nghi lễ thật là đơn giản vì điều kiện chiến trường và vì bảo mật. Không có băng rôn lớn, chỉ có khẩu hiệu viết tay cài trên mũ hoặc viết trên ống tre nứa. Cơm nước không bày biện nhưng được ăn nóng ngay trên mặt đường.


Chẳng có bộc phá nổ mở màn mà chỉ có mệnh lệnh đơn giản:

- “Vì miền Nam ruột thịt, vì đất nước thống nhất! Tất cả bắt đầu”.

Tôi vừa ra lệnh, hàng trăm cánh tay giơ cao vung xuống, tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng dao búa ầm ầm làm mất đi sự tĩnh mịch của không gian buổi sáng sớm.

Tất cả lao động liên tục cho đến hết ngày. Buổi đầu năng suất rất cao, toàn Trung đoàn hoàn thành gần 10 ki lô mét đường ô tô. Chúng ta đã đánh thắng trận đầu giòn giã, hưởng ứng ngày chiến thắng của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ.


Nói đến đây, anh Tiệp quay sang phía bên phải hỏi: các đồng chí ngồi đây có đồng chí nào tham gia mở đường ngày đó không? Hơn chục cánh tay giơ lên tự hào: “Có đấy ạ!”.

Cuộc họp mặt hôm nay, một số đồng chí Đại đội 4 ngày đó cũng có mặt. Đồng chí Đỗ Phương Tâm lần lượt giới thiệu từng người một và nói:

- “Anh em Đại đội 4 hiện ở Cổ Loa, Đông Anh còn hơn 20 đồng chí, thời đó đều là chiến sĩ, chỉ có 2 đồng chí là A trưởng. Đồng chí Ngát, đồng chí Năm, đồng chí Lưu, lần lượt phát biểu đều tỏ ra rất vui mừng, không ngờ được vinh dự sống trong ngày lịch sử động thổ bổ nhát cuốc đầu tiên Trường Sơn năm ấy. Ngày 09 tháng 8 năm 1964 là như vậy!


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:21:35 pm
Hướng về phía Nam, nhanh chóng đưa đường đến ngã ba biên giới

Ngày 09 tháng 8 đó cũng là mở đầu cho một đợt thi đua “Vì miền Nam ruột thịt”. Tiếp theo, dựa vào tài liệu khảo sát thiết kế của Cục Công binh đã chuẩn bị từ năm 1963, Trung đoàn theo đội hình lúc cuốn chiếu, lúc nhẩy cóc, trong hơn 4 tháng vượt qua mọi địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn vật chất, đến giữa tháng 12 năm 1964, Trung đoàn đã đến dốc Bạc bên dòng sông Sê Kông.


Đúng dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân, Tham mưu phó Cục Công binh Nguyễn Văn Nhạn dẫn 7 chiếc xe Gatz thông đường trong niềm vui tin tưởng.

Đúng là dốc Bạc!... Một đoạn đường ngắn có độ dốc quá lớn, lớn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, lại phải qua 12 vòng cua ngược chiều nhau liên tiếp. Cán bộ chiến sỹ chúng ta, vừa mưu trí, vừa lao động vát vả, vật lộn gian khổ với 12 cua dốc trong nhiều ngày đêm mới hoàn thành. Đây là một ky niệm không bao giờ quên, còn đọng lại mãi trong anh em chúng ta, nhưng ai đã một thời mở đường từ Bản Đông đến Bạc. Những năm sau, dốc 12 cua trở thành trọng điểm, máy bay địch đanh phá thường xuyên, nhiều xe bị đổ, bị hỏng ở dốc này.


Cũng phải nói là thời kỳ đầu chúng ta chưa triển khai được cầu, phà, nên phải vượt sông bằng ngầm, mà ngâm có yêu cầu kỹ thuật riêng, đường xuống ngầm bị không chế nên khó tránh dốc lớn. Sau này chúng ta có nhiều biện pháp khắc phục: nhiều ngầm, nhiều bến phà, cầu nổi.


Vượt qua sông Bạc, chúng ta có thêm bạn đồng hành. Đó là Trung đoàn 279 có mật danh Rạng Đông, do anh Hoàng Đình Luyến làm Trung đoàn trưởng và anh Hoàng Thược, Chính uỷ. Hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông, hai cái tên của hai anh em sinh đôi cùng một binh chủng, cùng bắt tay nhau, đưa tuyến đường hết đoạn này qua đoạn khác. Đường càng vào trong càng khó khăn thêm. Việc đưa lương thực đến phía sau càng gian nan. Trung đoàn Rạng Đông qua 3 tháng liên tục không đưa được nổi 4 máy ủi vượt sông Bạc. Thuốc nổ lại càng khó hơn, Đèo Long1 (Đèo Long: đường lên đốc phía nam ngầm Bạc sau này trở thanh trọng điểm) vừa dốc vừa lắm đá, phải dẫm chân chân tại chỗ khá lâu mới thông xe được. Vượt qua Chà Vằn, dốc Bô Phiên, đèo Sê Ka Mán lại hiện ra trước mặt, quanh co, đá tảng xếp tầng.


Chúng ta đã khéo bố trí đội hình, sử dụng hợp lý thuốc nổ ít ỏi để có hiệu suất cao, đã có sáng kiến làm bừa đất bằng gỗ và dây rừng tại chỗ của các đồng chí Đại đội 4, năng suất nâng lên gấp nhiều lần. Toàn đơn vị đã tận dụng mọi thời gian, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ, một ngày liên tục ở mặt đường từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối. Lao động như vậy, ăn uống lại thiếu thốn. Do gạo và lương thực không vận chuyển vào kịp, chiến sĩ bình quân mỗi ngày chỉ được không quá 3 lạng gạo, có ngày chỉ đủ gạo nấu cháo.


Tuy vậy với tinh thần vì miền Nam, Trung đoàn vẫn quyết tâm lao động để đưa nhanh đường về tới đích. Thiếu gạo thì kiếm củ mài, củ rừng, hạt dẻ, hạt gắm bổ sung. Thiếu rau thì có rau tầu bay, rau lá sắn, măng tre thay thế. Thiếu thịt, thỉnh thoảng có chú lợn rừng sa bẫy cung cấp. Đủ các thứ khắc phục nhưng cũng không thể giữ được sức khoẻ cho bộ đội.


Thời tiết, muỗi rừng, vắt đen, vắt xanh đua nhau bóc xé da thịt chiến sỹ. Nhiều chiến sĩ bị sốt rét hành hạ. Một loại dịch sốt rét ác tính rất nguy hiểm, dẫn đến tử vong rất nhanh. Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 2 chỉ trong 3 ngày đã có 10 đồng chí hy sinh. Thuốc chống sốt rét rất thiếu. Anh em quân y cũng đã khắc phục, học tập kinh nghiệm địa phương lấy phôi ổ mối sắc với rễ cây ớt, sao vàng, uống nước, nên đỡ được phần nào. Nhiều hôm, đơn vị chỉ còn 50% chiến sỹ ra mặt đường. Chính uỷ Phụ Hồng, đã có buổi sáng nhường lại bát cháo cho đồng chí trợ lý ăn để có sức ra mặt đường. Chiến sỹ khoẻ nhường phần cháo của mình cho chiến sỹ ốm là chuyện bình thường.


Kẻ địch trên không, dưới mặt đất luôn gây cho ta nhiều khó khăn. Nhận thấy nguy cơ con đường mòn ngày càng vào sâu, chúng đã dùng mọi phương tiện hiện đại chụp ảnh liên tục cả ngày lẫn đêm hòng phát hiện để bắn phá, ngăn chặn.


Tại Pắc Huội, máy bay AD6 đã oanh tạc vào đúng đội hình của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, làm hai đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Tiểu đoàn 1 dang trên đường hành quân di chuyển cũng bị máy bay phát hiện và bắn phá. Đã có nhiều lần, chúng ta bắt được các toán biệt kích đóng giả dân trà trộn vào nơi trú quân và thi công của ta.


Khó khăn như vậy, nhưng ngày ngày đường vẫn cứ vươn dài. Bình Minh vượt qua Rạng Đông, rồi Rạng Đồng lại vượt qua Bình Minh, "hai anh em sinh đôi” đang cùng nhau chơi tiếp sức, tiếp tục chinh phục con đường phía trong. Suối To, Sê Sụ, Phi Hà rồi Pa Kha và đúng đến ngày 18 tháng 01 năm 1966, Trung đoàn Bình Minh đã tới Tà Xẻng bắc Tây Nguyên. Đây là ngã ba Đông Dương, nơi có câu nói huyền thoại: “Một con gà gáy cả ba nước cùng nghe!”, kết thúc giai đoạn đầu tiên trong mệnh lệnh ban đầu. Cả hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông đã hoàn thành một đoạn đường dài 256 ki lô mét.


Và tại đây, chúng ta đã tổ chức cho chiến sỹ ăn cái Tết thứ hai ở Trường Sơn, trong niềm vui chung cùng các chiến thắng trên chiến trường miền Nam.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:05 pm
Đường 49 - Trung đoàn thần tốc

Sáng 24 tháng 01 năm 1966 tức mồng 2 Tết Bính Ngọ, trong một khu rừng tre tương đối kín đáo ở Tây Nguyên, Trung đoàn bộ đang đi chúc Tết vui vẻ. Chính uỷ Nguyễn Xuân Kim đang tâm sự ở cơ quan chính trị, Trung đoàn phó Chu Minh Đông đang khề khà hơi men với cơ quan hậu cần. Tôi cùng cơ quan tham mưu đang ngồi bên chén nước trà còn bốc hơi ấm.

- "Báo cáo thủ trưởng, có điện khẩn ở ngoài Đoàn” - chiến sỹ cơ yếu Đoàn Văn Tập vội vã bước vào và trình điện.

- "Chắc là điện chúc Tết, động viên anh em mình vừa hoàn thành nhiệm vụ, hẳn lại có thưởng to rồi” - Tham mưu phó Hoàng Tiến Vinh vừa đỡ bức điện vừa nói.

Tôi có ý lo ngại có chỉ thị cấp tốc, nhưng trước mặt anh em đang trong không khí nghỉ Tết vẫn cố giữ thái độ ung dung, thư thái, mở bức điện ra xem. Ngay đầu điện đã có chữ “Thượng Khẩn”. Tôi căng mắt đọc từng dòng một:

“Mệnh lệnh gửi E 98.

Chuyển ngay Trung đoàn sang làm đường 49. Điểm đầu từ ngã ba Phi Hà, qua các điểm Chín Suối, bãi đá Lâm Phu, Lanh Tanh đèo 200, vượt Nậm Công, rồi qua suối Tà Ngâu, điểm nối sang đất bạn Cam pu chia, điểm cuối K20 Siam Pạng.

Đường dài khoảng 200 ki lô mét. Yêu cầu thi công thật khẩn trương để chuyển hàng ngàn tấn hàng đang bị ứ đọng. Thời gian khổng quá 4 tháng. Liên hệ chặt chẽ với đồng chí Đức Phương, mật danh là “Ông Chủ”. Triển khai ngay và báo cáo về Đoàn”.


Điện còn nói rõ thêm: “Vì ở phía ngoài, địch đánh phá mạnh, nhiều điểm bị tắc, xe hàng không vào được. Đường 49 được mở là một cứu cánh lớn để đưa hàng từ K1 (K: Campuchia) ra nhanh tới các chiến trường, nhất là Tây Nguyên và Khu 5".


Chúng tôi rất hiểu điều đó. Từ khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào, chúng mở liên tiếp các cuộc tiến công hòng bình định nhanh, tiêu diệt quân giải phóng, mà muốn thắng chúng phải đánh mạnh tuyến chi viện đường mòn Hồ chí Minh. Các cửa khẩu và các trọng điêm phía bắc đường Trường Sơn đã bị đánh phá rất mạnh như Pha Nốp, Seng Phan, Vang Mu, Thà Khống, Dốc Thơm... có nơi tắc đường 7 ngày, 10 ngày, vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn.


Với tình hình đó, mệnh lệnh mở đường C41 (Đường 49 mang 2 tên 49, C4. Sau này mở thêm đường 49B, và đường 49 kéo dài thì đường 49 gọi là 49A) nhanh chóng rất có ý nghĩa và Trung đoàn đã triển khai khẩn trương. Cơ quan tham mưu, đồng chí Tô Đa Mạn và đồng chí Nguyễn Văn Bảy đã mở bản đồ, nghiên cứu nhanh địa hình, xác định các điểm khống chế và báo cáo nhanh, đường dài khoảng 200 ki lô mét, thi công nhanh cũng mất 5 tháng, có thể chia làm 2 đoạn:

Đoạn 1: Từ Phi Hà đến Tà Ngâu dài khoảng 120 ki lô mét, đường đi dưới rừng cà bông tương đối kín, có một số điểm khó như khu vực Chín Suối dễ lầy lội, bãi đá Lâm Phu dài khoảng 2 ki lô mét đi sát bờ sông Sê Sụ, đèo 200 dài khoảng 5 ki lô mét tương đối trống trải, dốc, đất pha đá, gần địch, địch còn chốt ở Mường Mày.

Đoạn 2: Từ Tà Ngâu đi K20 đường dài khoảng 80 ki lô mét, chủ yếu qua rừng khộp, dễ thi công, cần chú ý điểm vượt sông Tà Ngâu. Cơ quan cũng đã sơ bộ đề xuất cách sử dụng lực lượng và biện pháp tác nghiệp. Các cuộc họp Đảng uỷ, họp quân chính khẩn trương, và được khái quát như sau:


Tinh thần là phải triển khai như một chiến dịch, thật nhanh trong mọi công việc, từ họp hành đến mọi công tác chuẩn bị. Đội hình chiến dịch là Trung đoàn thành một tuyến, mỗi tiểu đoàn một địa đoạn, mỗi đại đội một phân đoạn, vừa nhảy cóc vừa cuốn chiếu trong từng phân đội. Phương pháp tác nghiệp là thi công trong hành tiến. Trinh sát định tuyến đi trước, đội hình tác nghiệp theo ngay. Thi công liên tục, nhiều giờ trong ngày, kể cả đêm. Công tác bảo đảm, đặc biệt là hậu cần, chiến sĩ phải được ăn no, uống đủ. Khẩu hiệu là thần tốc, thần tốc mở đường. Tuyệt đối giữ bí mật. Quyết tâm hoàn thành trong vòng 3 tháng, vượt kế hoạch 2 tháng.


Đúng ngày mồng 02 Tết, chấp hành mệnh lệnh, các tiểu đoàn đã lên đường ngay, thứ tự từ ngoài vào lần lượt là Tiểu đoàn 1, 2, 3. Có một thuận lợi là đã có tuyến đường thồ đi dọc tuyến nên các phân đội triển khai khá nhanh. Lợi dụng đường sông Sê Sụ, chúng ta đã mượn được một số thuyền máy, các thuyền này làm nhiệm vụ rải bộ phận trinh sát và chỉ huy tiểu đoàn ở phía trong. Riêng Trung đoàn bộ, bộ phận đi thuyền máy gồm Trung đoàn phó Chu Minh Đông, đồng chí Tô Đa Mạn, đồng chí Nguyễn Văn Bảy cơ quan tham mưu; đồng chí Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần; đồng chí Bá, Chủ nhiệm Chính trị, cùng một số trợ lý đi thẳng vào phía tuyến trong, sau đó đi ngay vào K20 gặp “Ông Chủ" để quan hệ, báo cáo tình hình triển khai, đặc biệt là công tác đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội.


Ngày mồng 03 Tết, 8 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt ở K20 trên bờ sông Sê Kông nắng thoáng. Đã từ 2 năm nay, giờ này chúng tôi mới được hưởng một không khí tương đối thanh bình.

Cơ quan "Ông Chủ" thật đơn giản, dưới rặng cây cà bông, trông nề nếp nhưng cũng không quên sẵn sàng chiến đấu, phòng không, phòng địch mặt đất. Những dãy kho liên tiếp đầy ắp hàng, phân tán trong khu rừng gần nơi “Ông Chủ” ở. Thuyền máy chạy trên sông liên tục chở đầy hàng cập bến nhanh chóng rồi lại rời bến khẩn trương. Chúng tôi hình dung được hàng hoá có nhiều nên đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành con đường và thầm nghĩ, ngành hậu cần quân đội ta thật tài giỏi đã thiết lập được con đường vận tải này.


Rồi đây các vũ khí, binh khí kỹ thuật từ miền Bắc vào B2 đi qua con đường này cũng rất thuận lợi. Những tâm tư, ý nghĩ trên thoảng qua cũng không làm chúng tôi sao nhãng nhiệm vụ trước mắt.

Trong gian phòng nhỏ thông thoáng, trên chiếc bàn dài có bộ ấm chén mầu nâu, hai bộ ghê mây trang nhã, chúng tôi được “Ông Chủ" Đức Phương tiếp. Thật bất ngờ, Ông Chủ không phải dáng nhà tư sản béo mập trắng trẻo như chúng tôi nghĩ. Trông ông cao to, làn da bánh mật, hai con mắt luôn nhấp nháy, nhưng giọng nói lại dễ quyến rũ.


Ông vào đề rất nhanh: “Chúng tôi K20 đã nhận được điện của Tổng cục Hậu cần, Đoàn 559 cho biết Trung đoàn 98 đã nhận lệnh vào làm đường ô tô để chở hàng từ đây. Rất mong các đồng chí vào để hợp đồng công việc, yêu cầu làm thật nhanh để rút hàng".


Ông khoát tay nhìn vảo các bãi hàng xung quanh nói tiếp: “Đây, các anh nhìn, hàng chất đống, toàn hàng cho chiến trường, nào gạo, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cả xăng dầu nữa, có đến hàng vạn tấn, phải có đường ô tô thì mới chuyển nhanh được. Trong này rất mong con đường ô tô của các anh, không phải 5 tháng mới xong, mà cần phải nhanh hơn, nếu không mùa mưa ập đến thì không kịp. Để chiến trường đói thiếu, không mở chiến dịch được, để các anh Đoàn 559 đói thiếu trên đống kho đầy hàng hoá lương thực, thử nghĩ sao đành”.


Những lời nói của "Ông Chủ” là lời động viên thiết thực, lời kêu gọi của chiến trường, làm bừng lên một khí thế, một niềm tin, một quyết tâm, con đường nhất định sẽ chóng hoàn thành. Đồng chí Chu Minh Đông phát biểu đề nghị một vài việc, nhất là công tác đảm bảo sức khoẻ, đảm bảo thi công cho bộ đội.


“Ông Chủ” lại khoát tay một cái đài và nói: “Các cậu cứ cho bộ đội ăn no để lấy lại sức vì đã 500 ngày liên tục chịu đói chịu khổ trên Trường Sơn rồi, cần thuốc chống sốt rét, không thiêu, cần dụng cụ làm đường, sẽ có đủ”.


Anh Đông, anh Bảo nhìn nhau và nói nhỏ điều gì.

“Thôi, cho mấy trợ lý quân nhu đến gặp ngay anh Huỳnh Tấn Đại để nhận hàng cho bộ đội”. “Ông Chủ” nói tiếp.

Chỉ cần có gạo ăn no thôi, nhưng “Ông Chủ” lại cấp thêm xà phòng, một ít thuốc lá sợi, một số bịch đường. “Ông Chủ” cũng không quên nhắc:

- “Nếu gặp lính hoặc dân Cam Pu Chia hỏi thì các cậu cứ nói là “cu li” của “Ông Chủ”, hiểu không, không được nói là bộ đội nhá!”


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:38 pm
Ra về anh Chu Minh Đông còn nhắc đồng chí trợ lý quân nhu xin “Ông Chủ” ít chè khô để bộ đội uống, đã rất lâu thèm hương vị miền Bắc.

Đến đây anh Tiệp nói, tôi còn nhớ mãi, khi đoàn hậu cần về, tôi rất phấn khởi nhưng vẫn phê bình ông Đông cần lương thực, thuốc men là chính, sao nhận chè làm gì. Tôi nhớ lúc đó anh Đông cứ phàn nàn mãi, đúng là "lập công nên tội".


Bộ đội, các đơn vị đã vào vị trí của mình. Những chiếc ba lô được xếp hàng ngay ngắn ở một góc đường, anh em chiến sĩ, người chặt cây, đào rễ, người kéo đất san nền. Đây một tốp ba người đang cùng nhau đào phạt những ổ mối to hàng chục mét khối. Chỗ khác một tốp lại cùng nhau đào những tảng đá hộc chắn ngang đường. Không một tiếng bộc phá, không một tiếng reo hò, chỉ nghe thấy những tiếng dao chắc nịch đẽo cây đánh dấu đường, tiếng cuốc bùng bục, tiếng kéo lá rào rào. Trong những ngày này, lao động kéo dài một ngày từ 15 đến 16 giờ, có một số hôm làm thông đêm, bộ đội chỉ được phép ngủ một giấc ngắn tại chỗ, hoặc tại chiếc võng treo trên hai gốc cây. Tất cả mọi người từ chỉ huy Trung đoàn, văn thư đánh máy, liên lạc, y tá, ai cũng cầm cuốc, xẻng, dao cùng tham gia mở tuyến. Ai cũng muốn góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ thần tốc đặc biệt này.


Khó nhất vẫn là mở dốc đá Lâm Phu, đá liền khối, mở sao đủ rộng đưởng và giữ được bí mật. Anh em đã có sáng kiến, đục nhiều lỗ bộc phá nhỏ, tra thuốc, tranh thủ lúc không có máy bay trinh sát cho nổ rồi lại nguỵ trang ngay.


Đèo 200 dài, dốc lớn, cua hẹp, có những đoạn lại hướng về phía địch Mường Mày, At Tô Pơ. Đã chỉnh lại từng đoạn tuyến tránh che khuất mắt địch, chọn giờ làm, đặt đài quan sát, đồng thời cử cán bộ dân vận biết tiếng Lào như đồng chí Phong, Lùng, Tế đi vào bản vận động bà con giữ bí mật và không chế những tên địch còn sót lại.


Vượt sông Tà Ngâu, bước vào đất Cam Pu Chia, làm sao để con đường vào đó được. Đại đội 7 do đồng chí Nguyễn Đình Tùng làm Đại đội trưởng trong bộ quần áo bà ba đen và mũ lá do “Ông Chủ” cấp phát, với danh nghĩa là “cu li” làm công cho "Ông Chủ". Nguyễn Đình Tùng đóng vai cai do “Ông Chủ” thuê tay cầm ba toong đôn đốc. Bằng cách che mắt như vậy, nhiều người dân cũng chẳng để ý, nhưng cũng có người biết chút ít, tò mò hỏi.


Có lần, một ông già người Cam Pu Chia đi qua, thấy đoàn “cu li” đang cặm cụi lao động, thỉnh thoảng lơ là nhìn lên phía trước, nhưng không thấy “ông Cai” đứng đấy nói gì. Ông già thắc mắc tại sao “cu li" làm chểnh mảng, mà “ông Cai" không cho mấy ba toong?


“Cai Tùng” nói nhăng nhít vài câu cố tình đánh trống lảng.

Ông già nói: "Thôi, tôi biết ông Cai và “cu li” của “Ông Chủ” rồi. Các ông là “cu li” Điện Biên Phủ”, đúng không? Ý nói là lính Điện Biên Việt Nam.

Anh em nghĩ, ai biết cứ biết, ta giấu cứ giấu, miễn là không nói, người dân không biết, thế là được. Với lính Cam Pu Chia cũng vậy, một lần đồng chí Mạn, Trưởng ban Tác chiến cùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Hoàng Viết Cúc đi trinh sát bên phà Nhăng Xum hữu ngạn sông Sê Kông, phải qua đồn Siêm Pạng, ở đây có lính gác. Làm thế nào để vượt qua trạm gác? Đành phải dở “kịch bản”, nói là “cu li” nhưng họ không hiểu, nên sau đó nói là người của “Ông Chủ”. Họ cười và viết vào một tờ giấy nhỏ cho chúng tôi vào khảo sát! Thế mới biết uy tín “Ông Chủ” lớn biết chừng nào. Thật vậy, trong cuộc chiến đấu, chúng ta đã có nhiều mưu sâu, kế sắc. Anh Tiệp quay lại phía tôi (tác giả bài viết) cười: “Ông Mạn còn nhớ không?”


Nhiệm vụ từng phân đội và toàn Trung đoàn diễn biến liên tục ngày này qua ngày khác. Phân đội vượt qua các phân đội, toàn tuyến của Trung đoàn đã được nối liền.

Đó là ngày 04 tháng 3 năm 1966, một ngày đáng ghi nhớ!

Qua 38 ngày đêm lao động miệt mài liên tục, Trung đoàn đã hoàn thành xong con đường trước thời hạn 4 tháng 22 ngày. Thật là một kỷ lục thần tốc mở đường nói lên một ý chí quyết tâm cao, một tổ chức điều hành giỏi và những kinh nghiệm kĩ thuật tích luỹ trong nhiều năm tháng của cán bộ và chiến sĩ.


Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi điện báo cáo ngay ra Đoàn và Cục Công binh. Được tin này, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cử đồng chí Hồng Kỳ, Chủ nhiệm Chính trị đến thăm và tặng Trung đoàn lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cùng tâm Huân chương Quân công hạng Ba. Sau đó Tư lệnh Hoàng Văn Thái đến động viên chiến công Trung đoàn vừa lập, tặng Trung đoàn lá cờ "Mở đường thần tốc”. Và cũng từ ngày đó, Trung đoàn 98 - Chi hội Bình Minh vinh dự mang tên “Trung đoàn mở đường thần tốc".


Nhưng niềm vui còn được nhân lên gấp nhiều lần khi đường 49 vừa mở xong, nhiều đoàn xe nối đuôi nhau vào, tranh thủ hai tháng mùa khô còn lại rút lương thực, thực phẩm thuốc men, xăng dầu, hàng vạn tấn còn tồn đọng, kịp cho chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 đánh thắng. Từ đường C4 này, Binh trạm 37 được hình thành, địch đã phát hiện, đánh rất ác liêt hình thành các trọng điểm, nhưng vẫn đứng vững mãi mãi trong suốt cuộc chiến như một trong các mũi tấn công chủ yếu để vận chuyển vào chiến trường B2 Nam Bộ.


Hoàn thành đường C4, anh Phan Quang Tiệp quay ra miền Bắc chữa bệnh, ba năm sau, năm 1972, anh trở lại Trường Sơn với nhiệm vụ Cục phó, năm 1973 là Cục trưởng Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, gắn bó với tuyến Trường Sơn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Anh là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn với quân hàm thiếu tướng cho đến ngày nghỉ hưu, năm 1989.

Anh Phan Quang Tiệp đã vĩnh biệt cuộc đời ngày 30 tháng 7 năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh. Các thế hệ lực lượng Công binh Trường Sơn nói chung, trong đó có Trung đoàn 98 không bao giờ quên hình ảnh người chỉ huy đã từng gắn bó một thời, đầy nhiệt huyết, có dũng khí quyết tâm cao, mẫn cán, nghiêm túc, có tư duy sắc sảo trong lãnh đạo chỉ huy, hoà đồng trong mối quan hệ cán binh.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:19:36 am
(https://i.imgur.com/l8BWHOW.jpg)

Đại tá
TRẦN VĂN PHÚC

Sinh năm:   1941
Quê quán:   Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình
Thường trú: 459 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 4 năm 1965
Điện thoại: 04.38542368 - 0912.441021
Nguyên Trợ lý Kỹ thuật Ban Công binh Trung đoàn 98,
Thương uý Trợ lý phòng Kế hoạch, Cục Tham mưu Công binh 559, Nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn


VĨNH BIỆT THIẾU TƯỚNG VÕ BẨM, MỘT TRONG NHỮNG CÔNG THẦN ĐẦU TIÊN MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008, tại Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng ở Hà Nội, từng đoàn người đến viếng và tiễn đưa Thiếu tướng Võ Bẩm về nơi an nghỉ cuối cùng. Bên sắc phục màu xanh của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, là những cụ già tuổi xưa nay hiếm, nhiều mái tóc bạc phơ, lưng hơi còng, có cụ phải chống gậy. Đó là những cựu chiến binh bộ đội Trường Sơn đã từng một thời được sống, chiến đấu trên đường Trường Sơn năm xưa dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy đầu tiên của Đoàn 559: lúc đó là Thượng tá Võ Bẩm.

Mọi người lặng lẽ thì thầm:

- Thế lại thêm một trong những công thần mở đường Trường Sơn đã vĩnh biệt chúng ta!

Ông sinh ra trong một gia đình nho học, thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngay từ nhỏ ông đã chịu ảnh hưởng về lòng yêu nước của người cha là cụ Võ Thạc, một trong những yêu nhân của phong trào khởi nghĩa chống Pháp của vua Duy Tân tại Quảng Ngãi vào năm 1916. Mẹ là bà Trương Thị Bằng, con cháu một dòng họ yêu nước cùng quê.


Mười lăm tuổi ông đã tham gia Cách mạng. Tháng 8 năm 1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhiều lần ông bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man và bị giam cầm tại các nhà lao Quảng Ngãi, nhà tù Ba Tơ, nhà tù Lao Bảo, nhà tù Buôn Mê Thuột. Sau khi ra tù, đến tháng 10 năm 1945 ông được Xứ uỷ điều động vào quân đội.


Trong kháng chiến chống Pháp ông đã giữ các chức vụ: Trưởng ban Tác chiến - Huấn luyện, kiêm Trưởng ban Du kích chiến tranh Liên khu 5; Chính uỷ Trung đoàn 803, hoạt động mạnh trên các trục đường 14, 19, 21... góp phần đánh bại cuộc hành quân Át Lăng của địch ở Tây Nguyên, phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ.


Sau khi hiệp định Giơ ne vơ ký kết, miền Nam tạm thời dưới quyền cai trị của chính quyền Mỹ - Diệm, với luật 10 - 59, Mỹ Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Biết bao chiến sĩ Cộng sản và đồng bào yêu nước đã ngã xuống dưới ách tàn bạo của kẻ thù. Biết bao người con của miền Nam sống trong cảnh ngày Bắc đêm Nam muốn được trở về chiến đấu giải phóng quê hương.


Tháng 01 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ướng khoa II đã xác định; "... Con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để đánh đổ ách thống trị của Mỹ -Diệm...”.


Ngày 05 tháng 5 năm 1959, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung - ương đã truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị và trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Võ Bẩm: Mở một con đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn. Nhiệm vụ trong năm 1959 là: Tổ chức thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc, vận chuyển gấp một số hàng thiết yếu quân sự cho chiến trường Khu 5 khoảng 7.000 súng bộ binh và bảo đảm đưa 500 cán bộ tăng cường cho chiến trường...


Lúc này ông đang là Cục phó Cục Nông trưởng, nên việc đầu tiên là tới các đơn vị có bộ đội miền Nam tập kết để tuyển quân. Tại Sư đoàn 305, Sư đoàn 324, các tập đoàn sản xuất miền Nam, khu công nghiệp Việt Trì, nông trường Việt Lâm, nông trường Đồn Vàng Phú Thọ... theo tiếng gọi của quê hương, các đồng chí đã gạt sang một bên những toan tính của đời thường để lên đường về Nam chiến đấu.


Cuối tháng 5 năm 1959, Đoàn 301 được thành lập gồm 440 cán bộ, chiến sĩ, được biên chế thành 11 đội, trong đó có 9 đội làm nhiệm vụ mở đường, giao liên, vận chuyển; 1 đội trinh sát, 1 đội xây dựng hậu cứ. Đoàn 301 chọn Khe Hó ở miền Tây Quảng Trị làm điểm xuất phát cho tuyến giao liên - vận tải quân sự Trường Sơn. Yêu cầu giữ bí mật theo khẩu hiệu: Đi không dấu. Nấu không khói. Nói không tiếng.


Từ Khe Hó, Đoàn 301 chọn hướng tuyến qua làng Mít, vượt đỉnh 1001, đỉnh 1600 và đỉnh Voi Mọp - động Hàm Nghi ở cao độ 1701. Lịch sử còn ghi lại: từ hơn một thế kỷ trước vào năm 1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu cần Vương chống Pháp, ông Tôn Thất Thuyết cùng nhiều sĩ phu yêu nước và các thuộc hạ hộ giá vua Hàm Nghi rút lên đây lập căn cứ tiếp tục chống Pháp. Biết bao người trong Đoàn 301 vẫn còn nhớ những ngày bám trụ bị sốt rét đã được ăn những múi cam hiếm hoi, uống bát nước chè xanh tươi mát của các bậc tiền nhân trồng để lại, nay đã thành hoang dã.


Đầu năm 2003 đoàn cựu chiến binh Trường Sơn về thăm chiến trường xưa đã tới khu vực này thăm Công ty Xây dựng Lũng Lô đang mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Đồng chí Trung tá Trương Thiếu Dư tâm sự: Hơn nửa thế kỷ trước các bậc tiền nhân đã tới đây chống Pháp. Cách đây hơn 40 năm bộ đội Trường Sơn đã mở đường chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Hôm nay chúng tôi rất tự hào được kế tục truyền thống và đi tiếp con đường của cha anh xây dựng đường Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao đời sống ấm no hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc...


Ngày 13 tháng 8 năm 1959, sau tám ngày đêm, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301 đã vào tới Tà Riệp, bắc A Lưới trực tiếp giao cho đồng chí Nguyễn Vạn, Thường vụ Khu uỷ Khu 5, gồm 40 súng tiểu liên, súng trường, 10 thùng đạn và một số quân dụng. Được tin báo về, mọi người vui mừng khôn xiêt, cảm động nghẹn ngào. Sinh thời, khi đã được nghỉ hưu, Võ Bẩm nhớ lại những ngày đầu nhận nhiệm vụ, chủ trương của trên chỉ cho vận chuyển hàng tới bắc sông Bến Hải. Song với tình hình thực tế của chiến trường, ông đã báo cáo và đề nghị đồng chí Nguyễn Văn Vịnh cho vận chuyển hàng vào sâu qua đường 9, ông sẵn sàng chịu kỷ luật khi phải vượt rào vì cách mạng miền Nam. Sau này được cấp trên chấp thuận, niềm vui ấy như được nhân lên gấp đôi đối với ông và cán bộ chiến sĩ trong Đoàn.


Khi vượt đường 9 có biết bao nhiêu khó khăn, địch thường xuyên tuần tra kiểm soát cả ngày lẫn đêm, nhiều toán thám báo đi lẻ và nằm vùng, nhiều tên chỉ điểm, mật vụ cài cắm trong dân bản... Đoàn chỉ còn cách chọn điểm vắng ban đêm để chuyển hàng qua sông Đăkrông. Để xoá dấu vết trên mặt đường khi đi qua, lúc đầu anh em dùng nhiều mảnh gỗ, người đi sau cùng phải thu gom hết. Sau dùng ni lông, người đi sau cùng phải cuộn lại. Một lần đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, sau khi nghe ông báo cáo đã gợi ý: Có thể đào hầm qua đường 9? Từ gợi ý này cán bộ trong Đoàn đã tìm được một cống ngầm, rộng 1 mét, gần đồn Rào Quán, một vị trí chuyển hàng thật lý tưởng, cả một thời gian dài địch không hề hay biết. Tiếc rằng khi nâng cấp đường 9 trong những năm gần đây, chiếc cống đã bị phá huỷ không còn vết tích.


Tháng 11 năm 1959, sau khi giao hàng xong, trung đội Trinh sát của đồng chí Nguyễn Minh Thông đã gặp thám báo địch, buộc phải nổ súng chặn địch để đơn vị rút lui an toàn. Thiếu uý Nguyễn Minh Thông, quê Nghệ An đã hy sinh sau khi cùng đơn vị tiêu diệt 4 tên địch. Thượng sĩ Huỳnh Tương, quê Quảng Nam bị giặc bắt, đưa về Đông Hà tra tấn đã man, nhưng anh nhất định không khai báo. Do vết thương nặng và đòn thù tra tấn anh đã hy sinh anh dũng.


Đó là những liệt sĩ đầu tiên trên đường Trường Sơn.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:20:41 am
Đầu năm 1960 là những ngày khó khăn ác liệt, do những trận càn quét của dịch kéo dài hàng tháng trời, chúng chà đi xát lại, lập vành đai trắng hai bên đường 9. Bà con nhiều bản đã phải chạy lên núi cao tránh địch. Nhiều cơ sơ của ta bị phá vỡ, nhiều cán bộ và đồng bào bị bắt và bị giết...


Qua mùa khô đến mùa mưa, nước dâng đầy các khe suối, hàng không thể nào vận chuyển nổi ở phía Đông, bên đất Việt Nam. Trước tình hình đó, ông đã báo cáo và đề nghị lên cấp trên lật cánh vận chuyển sang phía Tây Trường Sơn, phá thế độc canh ở phía Đông Trường Sơn. Đồng thời xin lực lượng công binh Quân khu 4 mở đường 129 dài gần 140 ki lô mét nối với đường 12 từ Xóm Péng đến Kê Pô đường 9 trên đất Lào. Đề nghị của ông đã được cấp trên chấp thuận.


Phương thức vận chuyển cũng được ông cùng tập thể chỉ huy nghiên cứu, thay đổi nhằm nâng cao năng lực đưa hàng ra phía trước để đáp ứng cho chiến trường miền Nam: Từ dùng sức người gùi hàng tiến tới dùng xe đạp thồ và cả một số xe ô tô Gatz 51, Gatz 63 mới được trang bị. Được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Không quân và Công binh Quân khu 4, một khối lượng hàng hóa khá lớn được chuyển bằng máy bay xuống sân bay Thà Khống, ngoài vũ khí đạn dược còn có cả thiết bị toàn bộ để lắp đặt Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa mới thành lập.


Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QĐ-QP, phát triển Đoàn 559 tương đương cấp Sư đoàn, được tổ chức biên chế đồng bộ các cơ quan.

Tháng 5 nam 1962, đồng chí Võ Bẩm vinh dự được thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 559, trực tiếp báo cáo với Bác Hồ về tình hình mở tuyến vận tải quân sự đặc biệt chi viện cho Cách mạng miền Nam và đời sống đồng bào các dân tộc có tuyến vận tải đi qua. Bác chăm chú nghe đồng chí Võ Bẩm báo cáo. Bác rất xúc động, được biết nhiều bà con dân tộc đã nhường cơm gạo cho bộ đội cách mạng, còn mình lại đào củ rừng để ăn thay cơm. Nhiều đồng bào bị địch bắt tra tấn da man nhưng quyết không khai báo cho địch, rất nhiều người hy sinh anh dũng... Thể hiện tấm lòng của đồng bào dân tộc với cách mạng, với Bộ đội Cụ Hồ, trọn tình vẹn nghĩa.


Bác ân cần nói với đồng chí Võ Bẩm:

“Các chú mở đường vận chuyển hàng vào miền Nam như vậy là rất tốt. Các chú cần phải khôn khéo hơn, nhanh chóng hơn mở đường vào sâu tới Tây Nguyên, tới Nam Bộ. Đồng thời chú tổ chức chuyển ngay cho đồng bào những nơi tuyến vận tải đi qua 30 tấn muối, 10 tấn vải..."


Mặc dù đang mùa mưa nhưng Đoàn 559 đã vận chuyển số hàng trên giao cho chính quyền địa phương để phân phát cho đồng bào. Với thực tế chiến đấu, trải nghiệm trên chiến trường, ông đã báo cáo đề xuất tổ chức thí điểm vận tải cơ giới trên đường 129. Mùa khô năm 1963 - 1964, Đoàn vận tải ô tô 245 của Tổng cục Hậu cần đã tham gia. So sánh 6 tháng đầu năm 1963, cả 2 Trung đoàn 70, 71 chỉ vận chuyển được 94 tấn hàng cho chiến trường, thì 6 tháng mùa khô 1963 - 1964 toàn Đoàn đã vận chuyển cho Khu 5 và Trị Thiên được trên 200 tấn súng đạn và quân dụng. Đó là ưu điểm nổi bật của vận chuyển cơ giới. Trải qua hai mùa khô vận chuyển cơ giới (1964-3 966) với những tổn thất khá nặng nề và vượt qua những cuộc đấu tranh tư tưởng bảo thủ, mới khẳng định được: Vận chuyển cơ giới là phương thức chủ đạo.


Trên cơ sở đó ông đã cùng tập thể Bộ Tư lệnh tiếp tục chỉ đạo Trung đoàn 98 Công binh mở tuyến đường Sê Pôn - Mường Noòng - La Hạp - Bạc và tiếp tục cùng Trung đoàn 279 mở tuyến Bạc - Phi Hà - Tà xẻng vào tới Tây Nguyên. Năm 1965, Công trường 128 Bộ Giao thông vận tải phối thuộc mở tuyến đường 128 trong mùa mưa dài 176 ki lô mét từ Mụ Giạ qua Lùm Pùm, Vang Mu, nối với đường 9 tại Na Bo.


Ngày 21 tháng 01 năm 1966, đúng sáng mồng một Têt, ông Nguyễn Tường Lân, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Đoàn 559 phát lệnh khởi công đường 20 Quyết Thắng. Những qủa bộc phá thay cho tiếng pháo, nổ ùng uỳnh vang cả khu rừng đại ngàn. Ngày 14 tháng 5 năm 1966 con đường đã hoàn thành, từng đoàn xe nối nhau chạy từ Phong Nha về Lùm Pùm. Sau này trọng điểm liên hoàn ATP đã để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn. Trên tuyến đường này có nhiều tập thể và cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có Anh hùng Vũ Tiến Đề, Nguyễn Thị Nhạ và Đỗ Thị Vân Liệu.


Một sự trùng hợp kỳ lạ: Năm 1960, ông Võ Bẩm cùng đồng đội đã tới khu vực này tìm mở tuyến giao liên. Sáu năm sau, cũng chính ông được tham gia chỉ đạo thi công tuyến đường này. Nhìn những đoàn xe đang chạy, tâm hồn ông như mơ, như thực...


Ngày 27 tháng 01 năm 2008, đồng chí Thiếu tướng Võ sở, cùng một số đồng chí trong Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn dã tới nhầ riêng chúc Tết ông và gia đình. Bà Trần Thị Thứ, vợ ông định đánh thức ông dậy, mọi người ra hiệu để ông nằm nghỉ. Nhìn khuôn mặt ông thanh thản như người nông dân gặt xong vụ mùa bội thu. Chúng tôi không ngờ rằng, đây là lần gặp ông cuối cùng để rồi xa, xa mãi...


Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là một chiến công chói lọi, một kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thiếu tướng Võ Bẩm ra đi nhưng mãi mãi để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh: Người đầu tiên mở đường Trường Sơn.

Và các thế hệ sau học tập tấm gương sáng ngời về tư tưởng luôn luôn tẫn công và đạo đức cách mạng của người cộng sản Võ Bẩm.

Xin ghi lại nguyên văn bức trướng của nhà văn - nhà báo Nguyễn Trần Thiết tới viếng Hương hồn Công thần đường Trường Sơn Võ Bẩm sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008:

   CÔNG đầu Anh khai phá tuyến Trường Sơn
   THÂN tượng là Bác Hồ, được Bác quý yêu, tin tưởng
   VÕ tướng đánh trận nào cũng thắng
   BẨM báo với đời: sứ mạng đã hoàn thành!


Hà Nội, ngày 11 tháng 7năm 2008.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:35:03 am
ĐÓN NHÀ THƠ TỐ HỮU TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Đại tá Trần Văn Phúc


Tối ngày 11 tháng 12 năm 2002, một số cựu chiến binh Binh trạm 12, Bộ đội Trường Sơn đang quây quần tại nhà bác Việt Phương, nguyên Chính uỷ Binh trạm 12, xem quyển sách "Vượt Cha Lo" của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành còn thơm mùi mực. Mọi người nhận ra bác Tố Hữu trong tấm ảnh chụp với đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Cùng lúc đó đài Truyền hình Việt Nam đưa tin: “Đồng chí Tố Hữu đã qua đời...”


Tất cả chúng tôi đều lặng đi, mỗi người như đang nhớ về những kỷ niệm xưa với bác Tố Hữu.

Tôi không thể nào quên những ngày giữa tháng 5 năm 1973, khi Trung đoàn 98, Bộ đội Trường Sơn đang tập trung mở đoạn Trao đi Bến Giàng, một đoạn trên “Đường 14 xây đựng cơ bản” trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm ngày 19 tháng 5.


Tôi 10 tháng 5 năm 1973 tại chỉ huy sở Trung đoàn ở Trao, đồng chí Tô Đa Mạn, Trung đoàn trưởng gọi tôi lên giao nhiệm vụ:

- Tôi giao cho đồng chí trong 7 ngày phải làm xong 4 nhà tại vị trí X...

Chỉ vào tấm bản đồ tỷ lệ 1/100.000, Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng:

- Yêu cầu "trên kín dưới quang" - Rồi ông cười nói tiếp:

- Nhưng phải đảm bảo đẹp, mỹ thuật, phù hợp với cảnh quan chiến trường. Có yêu cầu gì cứ đề đạt.

Tôi đã quen cách giao nhiệm vụ quân sự như thế, nên cũng không đám hỏi làm cho ai ở, cấp nào sẽ đến rồi thận trọng trả lời:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi sẽ cố gắng, nhưng thủ trưởng cho tôi đủ quân và dụng cụ thi công.

- Tất nhiên sẽ đáp ứng. Cần triển khai ngay!

Ông trả lời rồi bắt tay tiễn tôi về.

Ngay đêm ấy, tôi suy nghĩ thiết kế mẫu nhà, phác thảo, tính toán vật liệu cho một nhà mẫu, khuya lắm mới xong. Sáng sớm hôm sau tôi cùng tổ trinh sát đi chọn vị trí cắm mốc cho từng nhà, rồi san nền ngay. Đây là dãy đồi nằm về phía Tây sông A Vương, cách Trung đoàn bộ khoảng 300 mét. Mỗi dãy dựng hai nhà nằm hai bên con suối cạn nước trong mát, chảy róc rách thơ mộng. Nhà đều dựa lưng vào sườn đồi, cửa trông về hướng Nam, có rừng cây che khuất.


Một bộ phận của Đại đội 10, Đại đội 11 đi gần cây số chặt tre nứa, vì quanh khu nhà khách không được chặt cây nào nhằm giữ bí mật. Một bộ phận khác thi công, ba ngày sau các nhà được lắp dựng xong. Tôi và anh em khéo tay cố ý trau chuốt, tỉa tót trang trí các cửa sổ, cửa đi. Chỉ bằng vật liệu tre, nứa, song mây, chỗ thì đan, cài theo kiểu hoa thị, chỗ thì tạo hoa văn theo hình quả trám, hình vuông như hoa văn dân tộc. Các bậc tam cấp làm thấp có cọc tre giữ đất. Tay vịn lan can chọn cây tre nhỏ và đều, trau chuốt tỷ mỉ, nhiều đoạn cũng được trang trí hoa văn.


Hai dãy nhà qua lại với nhau bằng chiếc cầu tre nhỏ, bắc qua suối cạn có tạo dáng vòng cong, được chúng tôi đặt tên cầu “Thê Húc Trường Sơn". Từ tay vịn đến trụ, lan can đều trang trí hoa văn, mới trông có vẻ cầu kỳ nhưng lại rất thanh thoát giản đơn, đẹp mắt. Trong mỗi nhà mắc một chiếc võng vi ni lông, một sạp nằm dát bằng toe luồng chẻ nhỏ, ken dầy nằm rất êm. Nửa gian nhà phía bên trái một bộ bàn ghế bằng tre chân chôn xuống nền đất vừa làm bàn ăn, vừa là bàn làm việc. Một căn hầm đủ cho 3 đến 4 người ở. Một bóng điện 40 watts đã phủ "phòng không". Mỗi nhà có mắc điện thoại Liên Xô, liên lạc với Trung đoàn trưởng và Chính uỷ. Để trang trí đẹp mắt, tôi bí mật tuyển chọn và mượn các phòng, ban những giỏ phong lan, nhiều chủng loại mang đến treo ở lan can, ở cửa ra vào, đặc biệt là dọc lan can trên cầu “Thê Húc”. Các giỏ hoa phong lan nhiều chủng loại tươi thắm, khoe sắc vàng, phớt hồng hay màu trắng, tươi mát nổi bật giữa màu xanh của cây rừng...


Đến ngày thứ 6 công trình đã xong toàn bộ. Chính uỷ Nguyễn Sĩ Chỉa, Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn và đồng chí Phong, Ban Tuyên huấn, bác sĩ Tuấn ở Bệnh xá đi kiểm tra. Các thủ trướng xem rất kỹ rồi kết luận:

- Công trình đạt yêu cầu, cần bổ sung một số điểm...

Hôm sau chúng tôi tiếp tục hoàn thiện theo góp ý bổ sung và tổ chức canh phòng tuần tra cân mật. Mấy chú vệ binh bàn tán:

- Ông Phúc chỉ vẽ vời, các “cụ Trung đoàn" đến ở thì có gì phải tính kỹ thế!

Tôi đứng gần đó nghe thấy chỉ mỉm cười.

- Thì các thủ trưởng chứ ai vào đây!

Thực tình đến giờ phút ây, tôi cũng chưa biết sẽ đón đoàn khách nào!

Về hướng sông Bung, gần một tuần nay Trung đoàn đã lệnh cho Tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Xuân Thu, Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Điềng, Chính trị viên Tiểu đoàn mở gấp đường giao liên dài 5 ki lô mét, rộng từ 1 đến 1,5 mét, hai người đi ngược chiều có thể tránh nhau được. Nhiều đoạn rất dốc phải cuốc thành bậc thang có làm lan can tay vịn, có vài chỗ đốc đứng chân người đi trước ngang đầu người đi sau. Riêng đoạn lên xuống cách hai bờ sông 500 mét và bến thuyền dã chiến tại sông Bung chỉ được làm vào chiều ngày N - 11 (N-1 nghĩa là trước ngày sử dụng 1 ngày) nhằm giữ bí mật tuyệt đối.


Lực lượng bảo vệ đã bí mật ém sẵn từ trước, hệ thống phòng không 12 ly 7, đường dây thông tin đã vào trực chiến cấp 1, nhiệm vụ này do đồng chí Đoàn Ngọc Lập, Tham mưu trưởng Trung đoàn chỉ huy.


Đúng đêm 17 tháng 5 năm 1973, đoàn cán bộ Trung đoàn đi đón khách do Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn dẫn đầu đã lặng lẽ đên vị trí tập kết. Đêm cuối tháng, ánh trăng vàng đã ngả về tây soi sáng rừng Trường Sơn yên ả. Xa xa có tiếng gà gáy trong bản lẫn với tiếng chim kêu "khó khăn khắc phục" vọng lại. Mọi người căng mắt nhìn về hạ lưu sông Bung... đứng chờ đợi, muỗi, dĩn vùng này nhiều vô kể!


Trên bầu trời vọng lại tiếng máy bay ầm ì, nhấp nháy đèn đỏ lao về hướng Đà Nẵng. Rồi những chiếc thuyền nhỏ đã lần lượt xuất hiện với tiếng mái chèo khoả nước nhẹ nhàng. Trung đoàn trưởng bấm đèn pin nhấp nháy ánh sáng lọt qua “lỗ phòng không” chỉ bằng đồng xu nhỏ hướng về đoàn thuyền, ánh đèn pin trên thuyền đi đầu đáp lại. Nhận đúng tín hiệu, từng chiếc thuyền cập bến, những cái bắt tay chào hỏi đủ nghe nhưng không kém phần nhiệt tình mến khách.


Bộ phận giao liên Quân khu 5 bàn giao đoàn khách cho Trung đoàn 98 lại xuôi dòng về Hiên, trông rõ trên thuyền xếp những tay lưới đánh cá.

Đi bộ theo đoạn đường giao liên 5 ki lô mét nữa thì đoàn khách được mời lên hai chiếc xe Gatz 69 đợi sẵn ở cửa rừng rồi thẳng tiến về Trao. Chính uỷ Nguyễn Sỹ Chia và một số cán bộ, chiến sĩ phục vụ chờ sẵn và hướng dẫn đoàn vào nhà khách.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:38:53 am
Khách mặc trang phục giống nhau: quần áo mầu tro, mũ tai bèo, một số người vai đeo cái bòng nhỏ. Tôi nhận ra thủ trưởng Đinh Đức Thiện người đậm đà, cao to, đi lại đĩnh đạc. Một người khác hơi đậm, cao vừa phải, sau này tôi mới biết là bác Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Bộ Lao động. Trung đoàn trưởng đi cùng một người khách tầm thước vừa phải, tay cầm máy ảnh vừa đi vừa hỏi thăm mọi người. Khi đến căn nhà trước mặt, Trung đoàn trưởng nói:

- Báo cáo anh, đây là nơi nghỉ của anh.

- Nhà đẹp hỉ!...

Khách đến ngắm giò phong lan treo trước cửa có bông hoa còn tươi lại thoang thoảng mùi thơm:

- Đến đây mình lại nhớ ATK1 (ATK: an toàn khu) Việt Bắc, nhưng Việt Bắc không có nhiều hoa phong lan đẹp thế ni!...

Chính uỷ tiếp lời:

- Chúng tôi xin tặng anh đem về Hà Nội.

Mọi người cùng cười vui vẻ. Anh Phong cán bộ tuyên huấn ghé tai tôi nói nhỏ:

- Bác Lành khen công trình của anh đây!

- Bác Lành, Nhà thơ Tố Hữu!... Tôi thầm kêu lên.

Đến hôm nay tôi mới được gặp lần đầu tiên, nhà thơ lớn được mọi người hâm mộ khác xa với những hình ảnh đã đăng trên sách báo. Trước đây tôi đã đọc nhiều thơ của bác. Bây giờ bác Tố Hữu là Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đi thăm chiến trường miền Nam, nên tôi càng thầm hiểu công tác đón tiếp quan trọng như thế nào.


Sau này trong bài thơ "Nước non ngàn dặm" của bác Tố Hữu có đoạn:

... Tới đây tre nứa là nhà
Giò phong lan nở nhành hoa nhị vàng
Trưa nằm đưa võng thoảng sang
Một làn hương mỏng, mênh mang nghĩa tình...


Tôi cứ liên tưởng như bác Tố Hữu viết về Trường Sơn khi bác dừng chân ở Trung đoàn 98 và nghỉ trong căn nhà tre nứa ngày ấy ở Trao mà tôi đã góp phần xây dựng.

Tối ngày 19 tháng 5 năm 1973, tại hội trường của Trung đoàn, bác Lành nói chuyện với cơ quan Trung đoàn bộ, cán bộ từ trợ lý trở lên. Bác nói về thời cơ lớn của Cách mạng miền Nam, về làm ăn theo kiểu quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật hiện đại, sau cùng bác nói chuyện về thơ. Chúng tôi đề nghị bác ngâm thơ.

- Mình chỉ đọc chứ không ngâm được thơ.

Với giọng trầm trầm xứ Huế, bác say sưa đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Đường vào". Chúng tôi rât thích đoạn:

   ... Đường ta đi đẹp vô cùng
   Ngàn năm luyện bước Anh hùng đây chăng?
   Đường vui không đợi mùa trăng
   Ta đi làm ánh sao băng giữa đời!


Bác Lành vừa ngừng lời, y sĩ Nguyễn Thị Son quê Hà Tĩnh, cô Hoà, thanh niên xung phong Hà Tây vồn vã chạy lên tặng bác những bó hoa tươi thắm đậm ngát hương rừng. Mọi người đang im lặng, bỗng lại vỗ tay rầm rầm làm rung động cả hội trường.


Bác Lành lại đọc tặng chúng tôi một bài thơ nữa, đọc xong bác nói:

- Bài thơ mình “nhẩm” trên đường đi công tác lần này, chưa kịp sửa, tạm lấy đề mục "Việt Nam máu và hoa”!

Ôi! quả thực là một nhà thơ lớn, nhà thơ cách mạng có tâm hồn. Tôi tâm đắc nhớ kỹ hai câu:

   ... Sài Còn ơi, Huế ơi xin đợi
   Tái hợp huy hoàng cả nước non.


Hôm sau ngày 20 tháng 5 năm 1973, mãi đến 9 giờ, đoàn khách mới lên đường.

Vì chủ khách còn quá lưu luyến và cũng vì đêm hôm qua mưa thượng nguồn đổ về, còn phải chờ nước ngầm A Vương 2 rút bớt.

Tháng 3 năm 2000, đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 đi thăm chiến trường xưa được gặp bác Tố Hữu và chị Thanh, phu nhân của bác tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Tôi xin phép được nhắc lại kỷ niệm tháng 5 năm 1973 ở Trường Sơn và nói:

- Chúng cháu đọc thơ của bác, vẫn nhớ đêm đón bác khi bác ngồi thuyền trên sông Bung. Rồi tôi đọc:

... Non cao rực rỡ ánh vàng
Đêm rằm vằng vặc Bến Giàng trăng lên
Con thuyền rời bến sang Hiên
Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung...


Bác Tố Hữu cười nhẹ:

Ừ! Thế mà đã 27 năm rồi đó! Tôi chỉ viết lại, người viết giỏi lắm cũng chỉ nói được một phần sự thực mà thôi!

Mọi người lại cùng cười vui...

Không thể ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi được gặp bác Lành, nhà thơ lớn Tố Hữu!

Những người lính Trường Sơn mãi mãi nhớ ơn và tư hào về những khổ thơ của bác Tố Hữu được ghi tại văn bia Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa
Trường Sơn, Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình


Tôi viết những dòng này xin được coi như những nén hương thơm kính dâng, tưởng nhớ hương hồn bác Tố Hữu an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:49:42 am
CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA XUÂN NĂM 1975

Đại tá Trần Văn Phúc


Thực hiện Nghị quyết 81/QUTVV ngày 05 tháng 5 năm 1973 của Quân uỷ Trung ương chuyên đề về Chi viện chiến trường và phát triển tuyến chi viện Trường Sơn trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai toàn diện, song vấn đề quan tâm nhất là thế trận cầu đường và lực lượng vận tải cơ giới.


Từ tháng 6 năm 1973 tuyến Đông Trường Sơn đã mở thông đoạn Trao - Bến Giàng, nối liền hậu phương miền Bắc với Tây Nguyên. Sư đoàn 473 tập trung mở chiến dịch Đường 9 - Xưởng Giây dài 120 ki lô mét có cả thiết bị làm đường hiện đại của Cu Ba viện trợ. Nhưng vẫn còn những cái chốt của địch trên hành lang phía Đông Trường Sơn là Đắk Pét (Kon Tum), phải mở đường tránh Đắk Tả - Đắk Tùng dài 30 ki lô mét về phía tây Đắk Pét, Sư đoàn 470 mở đường từ Ô Ranh qua Cam Pu Chia để tránh Đắk Min, Đức Lập.


Đến giữa năm 1974, lực lượng cầu đường trên tuyến Trường Sơn đã có 4 sư đoàn, 5 trung đoàn công binh, và 4 đoàn thanh niên xung phong với quân số trên 6 vạn người và trên 3.000 xe máy các loại. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, tháng 3 năm 1974 ông Đặng Hữu, Chủ nhiệm khoa cầu đường, trường Đại học Xây dựng và một số thầy hường Đại học Giao thông đưa hàng trăm kỹ sư vào tăng cường cho công binh Trường Sơn. Cảm động biết bao những học trò trường Đại học Giao thông đã đeo mũ sao đang mở đường Trường Sơn được gặp lại các thầy như thầy Nguyễn Quang Chiêu, Nguyễn Văn Định... trên đèo Bù Lạch cao 1020 mét và cùng phóng tuyến tìm đường trong những ngày lịch sử này.


Ngày 12 tháng 9 năm 1974, Hội nghị Quân chính bộ đội Trường Sơn được triệu tập tại Bến Tắt để quán triệt Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn mùa khô 1974-1975 bao gồm cả Kế hoạch cơ bản vả Kế hoạch thời cơ. Những cán bộ đã gắn bó với Trường Sơn hàng chục năm trời, nhiều người tóc đã điểm sương, trong những phút giải lao ngoài hành lang, tay năm chặt tay, thầm mong kế hoạch thời cơ đến sớm.


Đối với Cục Tham mưu công binh do đồng chí Phan Quang Tiệp làm Cục trưởng đã chủ động chỉ đạo các cơ quan triển khai chỉ lệnh cầu đường tới các đơn vị công binh. Đồng chí Đỗ Đức Định, Phó phòng Bảo đảm giao thông được biệt phái xuống Trung đoàn 39 Sư đoàn 968 làm Phó Trung đoàn trưởng cùng cán bộ cầu phà và 6 cán bộ khảo sát thiết kế để mở đường bên Lào ngay trong mùa mưa. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1974 đã mở được 60 ki lô mét đường phục vụ vận chuyển ngay khi mùa khô tới. Cuối tháng 01 năm 1975 Cục phó Đỗ Xuân Diễn đi kiểm tra tuyến Tây Trường Sơn từ Bản Đông qua Xa Ra Van, Bản Phồn, X7, tới At Tô Pơ dài gần 400 ki lô mét. Khi đoàn quay ra, đứng trên đỉnh cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, cả tuyến đường chỉ còn là vệt bụi màu vàng khổng lồ kéo dài vô tận, người, xe pháo, tên lửa!.. đi như mắc cửi. Có một số đoạn ùn tắc đoàn phải dừng lại cùng đơn vị khắc phục ngay. Ai cũng vội vàng ra trận, chỉ để lại đằng sau những ánh mắt tin tưởng và nụ cười với hàm răng trắng nổi bật giữa cành lá xanh ngụy trang và áo quần đầy bụi màu vàng sẫm.


Các cụm kho dự trữ dọc đường 9 từ Đông Hà đến Tân Lâm cũng như Sa Thầy, Bù Gia Mập... đầy ắp hàng từ quân trang đến đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc quân y, phụ tùng xe máy. Kho K600 của Cục Công binh ở Sa Mưu cũng phải mở rộng để chứa hàng. Các cảng Hòn La, Sông Gianh, Nhật Lệ, Đông Hà ngày đêm tàu vào trả hàng và xuất đi ngay các chiến trường.


Ngày 19 tháng 12 năm 1974. Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 01 năm 1975, Trung đoàn 575 Công binh được thành lập và mở ngay đường chiến dịch. Đến ngày 04 tháng 3 năm 1975, trục đường dài 60 ki lô mét do Trung đoàn 575 thi công cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía Bắc 20 ki lô mét, nhưng địch cũng không phát hiện được gì. Sư đoàn 470 có nhiệm vụ bắc cầu phao Sê Rê Pôc và cưa sẵn 2/3 cây trong rùng cao su và đúng 23 giờ ngày 09 tháng 3 năm 1975 công binh chỉ cần gạt nhẹ cây đã tạo thành đường, hộ tống cho xe tăng và pháo tấn công Buôn Ma Thuột. Đó là những yếu tố bất ngờ góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên.


Chúng tôi không thể nào quên, ngày 08 tháng 02 năm 1975, sân bóng đá của Cục Công binh bên bờ Nam sông Bến Hải được đón chiếc máy bay trực thăng đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ sáng sớm, cán bộ tác chiến đã ra sân bóng chuẩn bị: 4 đống lửa bốn góc sân được đốt lên, những cột khói mờ xanh cuộn lên không trung. Giữa sân chữ thập bằng vải trắng khô 80 cen ti mét nổi bật trên màu xanh của thảm cỏ. Đúng 8 giờ 30, chiếc trực thăng màu cỏ úa nổi bật ngôi sao vàng trên thân xuất hiện từ phía Đông, ngược sông Bến Hải một đoạn rồi vòng lại và từ từ hạ cánh. Trước khi lên máy bay ra Hà Nội họp, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói với mọi người: Bộ đội Trường Sơn trước đây chỉ có rừng và đêm, giờ đâv chúng ta làm chủ cả mặt đất và bầu trời...


Mọi người có mặt cảm thấy như mơ như thực và tự hào, vinh dự được chứng kiến những giờ phút lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Và có ai nghĩ rằng sân bóng do Tiểu đoàn 69 Công binh xây dựng lại trở thành sân bay trực thăng như hôm nay. Sau đó, ngày nào sân bay cũng có trực thăng lên xuống, lúc thì háng chục cán bộ dân chính tăng cường cho các vùng mới giải phóng, lúc thì chở khí tài thông tin, quân y lúc thì các đoàn cán bộ quân sự trong ra ngoài vào, rồi có cả những đoàn người, vai lủng lẳng các máy quay phim, chụp ảnh...


Ngày 18 tháng 3 năm 1975, địch rút chạy khỏi thị xã Quảng Trị về Huế, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Cục trưởng Phan Quang Tiệp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 99, do đồng chí Vũ Như Thường làm Trung đoàn trưởng, hành quân gấp vào bắc cầu phao Thạch Hãn đủ 2 làn xe, bảo đảm cho bộ đội vượt sông truy kích địch.


Tiếp theo Trung đoàn 8 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Việt Phúc chỉ huy đảm bảo giao thông đường B74, 14B để Sư đoàn 324 đánh tràn xuống đường 1 và Huế từ hướng Tây Nam. Trung đoàn 99 tiếp tục bắc cầu phao, cầu be lây trên đường 1 như Thạch Hãn, An Lỗ, Thừa Lưu. Trung đoàn 8 khắc phục các chướng ngại vật, bãi mìn, làm đường vòng tránh, khắc phục cầu Truồi và cầu phao Bến Tuần. Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 531 được điều động tiếp theo nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông đường số 1.


Sở chỉ huy tiền phương Cục Công binh do Cục phó Đỗ Xuân Diễn chỉ huy có cán bộ các phòng Bảo đảm giao thông, Kế hoạch, Thiết kế... chỉ đạo trực tiếp các đơn vị công binh và phối hợp với các lữ đoàn công binh, các sư đoàn, quân đoàn bảo đảm cầu đường cho các cánh quân cơ động, hành tiến.


Theo chỉ thị của tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, một bộ phận cán bộ do Cục phó Cục Công binh Dương Đình Tạ phụ trách bao gồm các cơ quan Tác chiến, Phòng không, Công binh, Vận tải,... có nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình cầu đường theo đường 1 từ Quảng Trị trở vào.


Theo tài liệu của địch ta lấy được, từ Quảng Trị vào Xuân Lộc dài gần 1000 ki lô mét có tới 569 cầu lớn nhỏ, nhưng chưa rõ cái nào còn, cái nào bị địch phá huỷ khi rút chạy. Riêng từ Đà Nẵng vào Nha Trang dài 640 ki lô mét, địch đã phá hầu hết các cầu lớn như Cao Lâu, Bà Bầu, An Tân... trong khi khí tài vượt sông của các quân đoàn chỉ đủ vài bộ cầu phà. Vì vậy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đồng ý với phương án do Cục Tham mưu Công binh đề xuất: điều gấp 3 Trung đoàn Công binh 98, 8, 531 bảo đảm cầu đường cho cánh quân Duyên hải dọc đường 1 từ Huế vào Nha Trang. Sư đoàn 470 đang bảo đảm giao thông đường 14 nay tiếp tục bảo đảm giao thông từ Plâycu xuống Quy Nhơn và từ Quy Nhơn vào Phan Rang.


Các cụm kho của địch ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Buôn Ma Thuột... đầy ắp vật tư khí tài, quân trang, quân dụng, lính công binh khoái nhất là dầm cầu be lây, thuyền hợp kim nhôm, thuyền cao su để bắc cầu nổi. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đồng ý cho công binh lấy các khí tài, vật tư vượt sông tại các kho của địch để khắc phục ngay các cầu bị địch phá huỷ. Các đơn vị công binh cũng kêu gọi, trưng dụng và động viên hàng trăm sĩ quan và lính công binh nguỵ tham gia ngay vào việc khai thác các kho và bắc cầu. Họ làm rất thành thạo, bài bản và tích cực như một phần đáo công chuộc tội với cách mạng.


Trên hai hướng tiến quân là đường 1 và đường Trường Sơn, lực lượng công binh Trường Sơn đã bảo đảm cùng một lúc cho các quân đoàn, binh chủng hợp thành hành quân thần tốc vào Sài Gòn. Công binh Trường Sơn đã khôi phuc kịp thời 96 cầu dài 4.316 mét, có 68 cầu be lây, 15 cầu dầm thép, 5 cầu phao... Bảo đảm giao thông thông suốt trên các trục đường 1,14, 19, 57... Trung đoàn 99 bắc chiếc cầu be lây cuối cùng là cầu Cỏ May ở Vũng Tàu và dừng chân tại thành phố Biên Hòa trong trụ sở phái đoàn Quốc tế. Bộ phận của đồng chí Dương Đình Tạ dừng chân tại nhà máy đèn phía Tây thành phố Biên Hòa. Sở chỉ huy Tiền phương Cục Công binh của đồng chí Đỗ Xuân Diễn dừng chân tại kho Dục Mỹ, cách ngã ba Ninh Hòa về phía tây khoảng 12 ki lô mét.


Trong những ngày chuẩn bị và phát triển của chiến dịch Hồ Chí Minh, mỗi phòng, ban cơ quan Cục Tham mưu Công binh ở Bến Hải chỉ còn vài người, hầu hết cán bộ được cử đi tăng cường cho các mũi tiến quân của công binh. Mỗi buổi sáng giao ban lại thêm một tin thắng lợi mới của quân ta. Ký hiệu cờ đỏ các đơn vị công binh trên sơ đồ mạng đường chiến lược đang từng ngày từng giờ bám sát đại quân tiến về Sài Gòn. Nhiều buổi sau giao ban, Cục trưởng Phan Quang Tiệp còn ngồi lại hàng giờ bên tấm bản đồ 1/100.000 cùng các đồng chí Phạm Văn Thọ, Hoàng Ngọc Châu, Đào Mậu... để tìm các giải pháp vượt sông, bảo đảm vật tư, khí tài cho phía trước.


Và giờ phút lịch sử của dân tộc đã tới...!

13 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi được triệu tập gấp lên phòng giao ban. Cục trưởng Phan Quang Tiệp luôn mỉm cười và ân cần đón tiếp mọi người, một cử chỉ rất khác lạ ở người thủ trưởng quê Quảng Ngãi này. Sau khi mọi người đã yên vị, ông đứng lên tay run run rút tờ điện cơ yếu, giọng hơi lạc đi:

- Các đồng chí... quân ta đã cấm cờ trên Dinh độc lập ở Sài Gòn lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975...

Cả phòng giao ban như bật dậy: Sài Gòn giải phóng rồi. Sài Gòn giải phóng rồi! Chúng tôi ôm lấy nhau, vỗ tay rồi nắm tay nhau chạy ra chạy vô như trẻ nhỏ. Riêng Cục trưởng vẫn ngồi đó, nét mặt đăm chiêu và chúng tôi nhìn thấy hai giọt nước lóng lánh như hai ngồi sao từ khoé mắt ông đang từ từ lăn trên gò má! Ngoài kia các phòng, các ban mọi người chạy ra sân, ra đường cùng vang lên: Sài Gòn giải phóng rồi!... giải phóng rồi... âm thanh ấy như cơn lốc hòa với tiếng vỗ tay vang dội của bà con hai bên bờ sông Bến Hải mãi không dứt.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:52:25 am
(https://i.imgur.com/8LVr1JH.jpg)

Đại tá
PHẠM VĂN THỌ


Sinh năm:   1937
Quê quán:   Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình
Thường trú: 1006 đường Hoàng Quốc Việt, Cầu  Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.3762157
Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 6 năm 1965
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh tram 14
Thiếu tá Trưởng phòng Kế hoạch. Cục TMCB 559
Nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh


NHỚ VỀ NHỮNG NGÀY ĐI MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Vào tháng 8 năm 1965, tôi đang làm việc tại trường Đại học Giao thông vận tải thì nhận được quyết định vào Công trường 20.

Đoàn công tác có 18 người gồm các kỹ sư, trung cấp, y sĩ, thống kê. Lúc bấy giờ địch đã tập trung đánh phá đường, cầu từ Thanh Hoá trở vào. Đoàn hành quân bằng xe đạp, đêm đi ngày nghỉ dọc theo đường 1 vào tới ngã ba Hoàn Lão thuộc Quảng Bình, qua các cầu lớn đều phải đi đường vòng, vượt sông bằng thuyền ở phía thượng lưu. Đoàn có hai cô y sĩ là Băng Trâm và Băng Hồng cũng đi theo đoàn bình thường như các bạn nam, không cần sự trợ giúp gì đặc biệt, qua sông qua đò cũng tự vác xe đạp và ba lô lên xuống, cùng mò mẫm ban đêm.


Đến đoạn cầu Vằng cầu Hổ, chúng tôi gặp máy bay thả pháo sáng, sau đó ném bom nhưng không trúng đường. Đi qua cầu lại phải vác xe qua cầu khỉ, còn khét mùi khói bom. Đây là trận bom và pháo đầu tiên trong đời, tôi không thấy ai nói gì, cứ lầm lũi đạp xe, các bạn nữ cũng không tỏ ra hốt hoảng. Tuổi trẻ đi đánh Mỹ có nhiều bất ngờ.


Vào đến Phong Nha leo lên hang Cửa Rừng, các thành viên trong đoàn hành quân được phân về các phòng ban của Công trường. Tôi được đồng chí Phan Trầm giao phụ trách một tổ, khảo sát từ Km 0 đến Km 16.

- Có máy đo đạc không ạ? Tôi hỏi anh Phan Trầm.

- Chỉ huy trưởng Công trường cười trả lời: “Có một địa bàn và một tấm bản đồ 1/100.000, làm như thế nào để có một tuyến đường vận tải quân sự na ná như cấp 5 miền núi là do các cậu tự nghĩ ra”.

Tổ chúng tôi có 8 người, tôi là Tổ trưởng, anh Huyền Tổ phó và sáu người nữa làm tất cả mọi việc của một đội khảo sát, máy móc tự sáng tạo bằng các mảnh ván bìa, quả đọi bằng đầu đạn, chúng tôi tiến vào rừng cắm tuyến, vẽ trắc dọc, trắc ngang, bình đồ, đi đường đỏ, tính khối lượng v.v...


Nếm trải đầu tiên là rắn và vắt, thung lũng Đồng Tiền cây cối rậm rạp và ẩm ướt. Nơi này sao mà nhiều rắn xanh thế, dân địa phương cho biết loại rắn này độc lắm, cắn người không thể cứu được, cứ dăm ba bước lại gặp một con, những ngày nắng ấm, chúng bò ra sưởi nắng ở những chỗ trống rất nhiều, nhưng loài rắn này lại rất chậm, chân bước có thể tránh được - tạo hoá cũng có những "điều chỉnh” tự nhiên hợp lẽ như vậy.. Còn vắt thì nhiều vô kể, hễ có hơi người qua là chúng ngóc đầu lên tua tủa như chồng dầy dặc, trên cây thì có vắt xanh bám vào cổ lúc nào không biết. Qua thung lũng này căng thăng lắm, phải đi nhanh chạy vắt, đi không khéo dẫm chân phải rắn xanh thì chắc chết. Thế mà cả thời gian khổng có ai bị rắn cắn, còn vắt thì hôm nào cũng bị vài con, sợ nhất là vắt xanh bám vào cổ, vào đầu, chui vào nách...


Lại nói về quần áo, giày vải, chúng tôi đi vào chiến trường không được chuẩn bị như các đoàn khác hoặc như bộ đội đi B, có lệnh là lên đường ngay, mỗi người chỉ có hai bộ quần áo, một bộ mặc, một bộ bô ba lô mang từ nhà đi, chỉ được phát một bật lửa và một bi đông, chân đi dép lốp. Chúng tôi cũng không phải là khảo sát chuyên nghiệp nên không được phát bảo hộ lao động, sau 10 ngày đi khảo sát có anh chỉ còn một quần dài và một quần “lửng tự tạo” do quần dài rách cụt mất ống. Thế rồi cũng đã khảo sát thiết kế xong 16 ki lô mét đường và chuẩn bị sang giai đoạn thi công. Từ Ba Thang sang phía tây do đội đồng chí Phi Đình Tuấn khảo sát thiết kế.


Chỉ huy trưởng Phan Trầm cho gọi tôi lên lán chỉ huy:

- Cậu nghiên cứu phương án kỹ thuật mở đường qua sườn núi đá, với trang bị xẻng cuốc, xà beng, choòng, búa và thuốc nổ. Yêu cầu tốc độ mở đường mỗi tháng 12 - 15 ki lô mét.

Nhiệm vụ này đối với tôi là rất xa lạ, chưa được học, chưa được làm bao giờ. Nhưng may mắn được Đoàn 559 cử đại uý Thọ xuống công trường hướng dẫn chúng tôi tính toán lượng nổ và kỹ thuật phá nổ. Sau khi tính toán xong, chúng tôi giao cho Đại đội Thanh niên xung phong 452 Nam - Hà thực hiện thử một quả nổ 1,5 tấn ở đầu dốc Đồng Tiền. Đạt kết quả, mọi người rất phấn khởi, ví von với quả bộc phá trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


Hiệu quả đất đá phá nổ được gần như tính toán, nhưng cây cối về phía vực dạt hết, để lại một khoảng trống, như vậy sẽ lộ mục tiêu, đoán chắc chỉ vài ngày sau địch sẽ phát hiện chính xác ta mở đường ở vị trí nào, và sẽ huy động máy bay đến đánh phá. Nghiêm Đình Huyền đứng cạnh tôi hỏi, bây giờ ta làm kiểu gì?


Tôi chưa suy nghĩ được gì, nhưng như có phản xạ, tôi nói luôn:

- “Nổ to không được thì ta cho nổ nhỏ!”

- Huyền nói: "Ta làm thử cái đã". Thế rồi huy động C452 lấy dốc Dồng Tiền làm nơi thử nghiệm, cả Đại đội dùng xà beng, cuốc đào đất ở các hốc đá, tính toán lượng nổ từ 3 đến 5 ki lô gam gói chặt nhét vào khe đá, phía ngoài đắp đất cho nổ một đoạn dài 15 mét. Sau loạt nổ đã hình thành một vệt đường có bề rộng, có ta luy. Cây cối loại đường kính từ 20 cen ti mét trở lên còn đứng nguyên hai bên đường, chỉ rụng ít lá, mọi người nhảy lên vui mừng “thành công rồi". Từ đó phương pháp mở đường bằng bộc phá liên tục ra đời. Anh Phan Trầm cử luôn tôi làm Phó chỉ huy mở đường đoạn đầu tiên.


Công trường mở đường đến đoạn đá hoa cương phong hoá thành những tảng lớn, có khối to 4 đến 5 mét khối. Chúng tôi đào lỗ mìn vào gần khối đá, cho nổ bọc phá với lượng nổ 5 -10 ki lô gam, nhưng không đẩy được xuống vực. Khi nổ nhìn rõ hòn đá bị nâng lên rồi lại rơi đúng vị trí cũ, dùng xà beng, cây gỗ làm đòn bẩy cũng không đẩy nổi. Sau khi nghiên cứu tôi nói với anh em, loại đá này tuy rắn nhưng lại dòn, ta thử chơi kiểu "trên đe dưới búa”. Anh em gói lượng nổ 5 ki lô gam đặt lên trên hòn đá rồi đắp đất lên cho nổ, tảng đá vỡ thành năm, sáu phần, dùng xà beng dễ dàng bẩy xuống ven đường. Lại một thành công nữa!


Ngày khởi công đồng loạt đã đến. Đúng 17 giờ 30 tết Bính Ngọ đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân ra lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên để đón Xuân và mở màn chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”.


Phương pháp kỹ thuật mở đường bằng bộc phá liên tục được áp dụng cho toàn công trường, sau 77 ngày thi công, công trường hoàn thành nhiệm vụ "chọc thủng Trường Sơn". Đây cũng là một kỷ lục của thời bấy giờ với tốc độ mở đường đá từ 15 - 20 ki lô mét/tháng.


Trong quá trình mở đường, tôi được điều sang làm Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 4 bộ binh đang hành quân vào chiến trường dừng lại để mở đường. Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là huấn luyện và hướng dẫn bộ đội mở đường.


Cuộc sống quân ngũ bắt đầu! Điều thích thú của tôi là được ăn cơm nấu chín, không bị khê sống, làm việc hội họp đúng giờ, chỉ thị phát ra là có người thực hiện nghiêm chỉnh, được phát một bộ quần áo bộ đội và một đôi giày vải của chiến sĩ. Anh em chúng tôi phấn khởi, thoát khỏi cảnh rách rưới, leo núi dễ dàng, không khó như đi dép lốp.


Bộ quần áo ấy bây giờ cho không ai mặc, nó giầy và cứng như bạt xe, anh em hậu cần nói là của Triều Tiên viện trợ, khi giặt thì lại cứng như mo nang, nhưng lúc bấy giờ lại quý, được cho là ăn chắc mặc bền.


Đường 20 hoàn thành, Công trường 20 giải thể, tôi được chuyển sang quân đội phong quân hàm thượng sĩ, cuộc sống quân ngũ chính thức bắt đầu!


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:57:53 am
(https://i.imgur.com/DL2mwim.jpg)

Đại tá
Hoàng Ngọc Châu


Sinh năm:   02-1934
Quê quán:   Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An
Thường trú: Nhà 23/N4, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.38531518 - 0123.7561375
Tứ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội năm 1965
Nguyên Trợ lý Phóng Công trình, Đại uý Trưởng phòng Thiết kế Cục TMCB, Bộ Tư lệnh Trường Sơn
Nguyên Viện trưởng Viện Khảo sát Thiết kế - Binh đoàn 12
Nghỉ hưu năm 1992 từ Binh đoàn 12


CHUYẾN THỊ SÁT ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Công tác tại Phòng Công trình, Cục Tham mưu Công binh, tôi thường được giao các nhiệm vụ nghiên cứu trên bản đồ, vạch các tuyến đường theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, đi thị sát thực địa một số tuyến đường và cũng có thời gian chỉ đạo thi công hiện trường.


Tôi nhớ nhất hai chuyến thị sát đầy ấn tượng, chuyến thị sát đường B80 từ Thừa Thiên vào Kon Tum và lần thị sát tuyến đường tránh đèo Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, đến đường 16 khu vực Quảng Binh.

Tháng 6 năm 1967, không về tập kết tại Hương Đô, Hà Tĩnh để học tập và an dưỡng, tôi được phân công trực chiến mùa mưa tại khu vực Rừng Thông đường B45, dưới sự chỉ huy của Cục phó Tham mưu Công binh Nguyễn Văn Kỷ. Chúng tôi được giao nghiên cứu tuyến đường nối từ đường B45 vào Tây Nguyên với yêu cầu tuyến phải hoàn toàn đi sang vùng giải phóng trên địa phận Việt Nam, không qua đất Lào. Dựa trên bản đồ 1/100.000, tổ kỹ thuật bộ phận trực chiến khẩn trương nghiên cứu hướng tuyến báo cáo bằng điện đài về Cục.


Ngay sau đó vài hôm, tôi được đồng chí Cục phó Nguyễn Văn Kỷ giao nhiệm vụ Tổ trưởng tổ thị sát tuyến. Cùng đi có các đồng chí Trần Văn Cư, Vũ Chí Can và y tá Nguyễn Chan.

Trung đoàn 10 được lệnh thị sát từ trong ra. Với ý đồ của Bộ Tư lệnh, sau khi mở xong đường B46, Trung đoàn 10 sẽ là đơn vị trực tiếp mở đường này nên Trung đoàn trưởng, thiếu tá Đinh Hào trực tiếp tham gia. Trung đoàn trưởng Đinh Hào muốn nắm toàn tuyến từ đầu nên từ đường B46 theo đường giao liên phía tây Trường Sơn cắt sang phía đông chờ gặp nhau theo toạ độ được xác định tại phía bắc huyện 40 để cùng đi thị sát đoạn tiếp theo. Cùng đi với đồng chí Đinh Hào có các đồng chí cán bộ kỹ thuật đội Khảo sát Công binh đang công tác tại đường B46 và 1 tiểu đội trinh sát của Trung đoàn, có điện đài 15 Watts để giữ liên lạc với các cấp.


Thị sát vùng giáp biên Trường Sơn hai nước Việt Lào, chúng tôi chịu khí hậu cả hai miền, lúc nắng gắt, lúc mưa dầm lầy lội, thời tiết trong cả chuyến đi vô cùng khó chịu. Có hôm ban sáng lúc lên đường đi thị sát, trời mưa rất to, gió thôi gẫy cả nhánh cây rừng, ni lông che mưa bay phần phật, đến gần trưa thì trời lại nắng gắt. Vùng đất kỳ lạ, cây xoài mọc đầy rừng. Xoài chín vàng ươm, rụng đầy gốc cây, toả một mùi thơm dịu mát. Ngồi nghỉ chân, chúng tôi đặt mũ cối dưới tán cây, chờ gió thổi, quả nào rơi đúng vào mũ thì mới lấy ăn, của rừng nhiều đến như vậy, "rừng vàng biển bạc” mà!


Dân vùng này bị o ép trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nên đời sống quá khó khăn, nhà cửa quá tạm bợ, chật hẹp không thể nhờ vả được. Chúng tôi phân công một nhóm đi trước tìm địa điểm phù hợp, chặt cây que làm lán, tổ chức hậu cần, lúc cả đoàn làm việc ngoài mặt đường đến chỉ cần lợp ni lông tăng cá nhân, là có chỗ ăn nghỉ ngay. Lán tạm mỗi vị trí ở vài ba ngày, đủ thị sát chi tiết một đoạn đường từ 10 đến 15 ki lô mét rồi lại cuốn chiếu chuyến đi. Tuyến đường chúng tôi chọn đi trên phân thuỷ, lán tạm phải chọn nơi có suối nước, nói là suối nước, nhưng trên phân thuỷ nước chỉ có tại các khe nhỏ.


Thị sát trong cả mùa mưa không eo hẹp về thời gian, không bị thúc bách, khu vực không bị máy bay địch nhòm ngó, nên chúng tôi thống nhất với nhau thị sát kỹ, chọn hướng tuyến hợp lý ngay từ bước thị sát, tính toán khối lượng cụ thể cho từng cây số, vẽ tuyến đường dự kiến chính xác vào bản đồ, ghi chép tỉ mỉ, nhằm giảm bớt công việc cho giai đoạn định tuyến. Trong đoàn thị sát có đến 4 cán bộ kỹ thuật, nhiều chiến sĩ trinh sát đã có trình độ văn hoá cấp 3, nên đây là điều có thể thực hiện được. Anh Đinh Hào là con người thực tế, rất tán thành cách làm này, là Trung đoàn trưởng, người chỉ huy nhưng anh lại ghi chép rất đầy đủ như một trợ lý.


Hướng tuyến được thị sát từ Rừng Thông (Km 34 đường B45), men theo đường phân thuỷ, phía đông Trường Sơn trên đất Việt sát biên giới hai nước Việt Lào.

Về cơ quan Cục, chúng tôi mới biết tuyến đường này được tổ chức thị sát theo ý đồ của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã chỉ thị. Đại tướng mong muốn phải sớm xây dựng một hướng tuyến xuyên suốt phía đông Trường Sơn nằm hoàn toàn trên đất Việt từ hậu phương qua đường số 9 vào tận cuối Khu 5.


Hướng tuyến chúng tôi đã thị sát tranh thủ đi phía tây khá xa đường 14 cũ, được xây dựng thời Pháp để đảm bảo an toàn. Nhằm ít khối lượng đào đắp, thời gian thi công nhanh, tránh khu vực địch đang kiểm soát cố gắng bám đường phân thuỷ. Đúng ý đồ chỉ đạo của cấp trên, tuyến đường đã được thị sát hoàn toàn trên đất Việt Nam.


Về đến chỉ huy sở Trung đoàn 10 trên đường B46, tổng hợp hướng tuyến, dự kiến khối lượng toàn tuyến, thống nhất các bước sắp tới, báo cáo về Cục, đoàn thị sát rất phấn khởi vì đã hoàn thành nhiệm vụ.


Cục Tham mưu Công binh điện gọi tôi về báo cáo kết quả. Biết tôi đã trải qua mấy mùa mưa, đang bị sốt rét rừng dày vò đồng chí Đinh Hào cử đồng chí Lương, một chiến sĩ trinh sát thông minh, nhanh nhẹn đã tốt nghiệp cấp 3 phổ thông cùng đi.


Chuyến đi rất khẩn trương, tôi phải về kịp báo cáo tình hình, đồng chí Lương phải ra cơ quan Bộ Tư lệnh kịp làm thủ tục ra Bắc nhập học đào tạo cán bộ nguồn. Hai anh em theo bản đồ địa hình, cắt đường rừng về trạm giao liên T55, bỏ qua nhiều trạm giao liên khác nhằm rút ngắn thời gian. Giữa rừng già âm u tĩnh mịch chỉ có hai người dấn bước.


Ngày thứ hai, vào lúc xế chiều phải qua một dòng sông rộng, trời lại đang mưa rất to, theo bản đồ địa hình, qua sông còn phải đi khoảng tám cây số nữa mới có một bản dân có thể xin nghỉ qua đêm.

Nước sông dâng lên trông thấy mỗi lúc một cao, lội qua sông rất nguy hiểm nhưng không thể ngủ giữa rừng, vì có thể gặp thú dữ, gặp nhiều rủi ro khác, nên phải quyết định nhanh chóng vượt qua sông thì mới kịp đến bản trước khi trời tối. Lũ ống đổ về ào ạt, nước sông dâng quá nhanh, chảy xiết.


Phải vượt qua sông lúc này như đã là mệnh lệnh, đồng chí Lương nhanh chóng gói tất cả tư trang hai người vào ni lông làm phao, súng khoác qua vai thả mình xuống dòng nước. Tôi bám vào báng súng của Lương, cố gắng quậy mình theo đồng chí Lương. Vật lộn với dòng nước lũ qua dòng sông nơi đây khá rộng, gần sang bờ bắc, tôi bị trượt tay mất đà, bị nước cuốn trôi một đoạn. Rất nhanh, Lương chạy theo xuôi dòng nước kịp trao nòng súng cho tôi bám, kéo giữ được tôi lại. Thật hú vía, cuối cùng hai anh em cũng đã sang sông.


Qua bờ bắc, một con nai ngơ ngác nhìn hai người, Lương giương súng định bắn nhưng tôi ra hiệu không, con nai nhẹ nhàng đi vào rừng. Chuyến trở về cơ quan khá mạo hiểm, một chuyến đi đầy ắp kỷ niệm, tôi không thể nào quên.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:00:11 am
Đã hơn 40 năm trôi qua, tôi không còn có liên lạc được với đồng chí Lương, nhưng không bao giờ tôi quên được những chi tiết này.

Lúc này các đường ngang sang chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên đã được mang tên B70, B71, B72, B73. Với ý đồ dành tên đường B74 cho một tuyến đường vùng Quảng Nam đang khảo sát, sau khi báo cáo tổng hợp xong, tôi để nghị đặt tên đường này là B75. Cục trưởng Phạm Văn Diêu cười, tế nhị “sớm giải phóng được đất nước cũng là mong muốn của mọi người, tuy nhiên hãy đăng ký tên đường này là đường B80".


Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, chúng tôi đã nghỉ hưu, có lần gặp lại người thủ trưởng cũ, tôi nhắc lại chuyện, “Cụ” cười thân mật vẫn như những năm nào, với giọng Khu 5 “Cậu thế mà tiên tri!”

Đầu năm 1968 ta giải phóng Khâm Đức, có cơ hội sử dụng đường 14, do vậy không có kế hoạch khảo sát định tuyến để thi công đường B80 nữa. Cho đến năm 1975, lúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kết thúc, đường B80 cũng chỉ dừng lại là những vạch đỏ đứt đoạn trên bản đồ tham mưu mà thôi.


Đồng chí Trần Văn Cư được Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo công việc của Đại đội Khảo sát 1 đang thị sát đoạn đầu tuyến đường xây đựng cơ bản Nhà nước và Quân đội giao cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn thực hiện từ Troóc trở vào, kết hợp tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn. Tuy nhiên với địa hình vùng núi phức tạp, Đại đội 1 Khảo sát đang gặp nhiều khó khăn trong bước thị sát để định tuyến.


Trăn trở nhiều ngày đêm, các cán bộ kỹ thuật Phòng Công trình dày công nghiên cứu trên bản đồ, tham vọng nếu tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn như dự kiến sẽ giảm bớt chiều dài được khoảng 7 ki lô mét, giảm khối lượng thi công không nhỏ.


Lúc này, một thúc bách không kém quan trọng là Bộ Tư lệnh đã bố trí Đoàn 67, một công trường của Bộ Giao thông vận tải biệt phái sang Bộ Tư lệnh Trường Sơn, do đồng chí Lê Ngọc Hoàn chỉ huy thi công từ đường 10 trở ra, và đã bố trí 2 đơn vị khác cỡ trung đoàn thi công từ đường 20 trở vào.


Hướng tuyến chưa được xác định, trong lúc đó các đơn vị thi công đã tập kết vào vị trí. Đây là một sức ép quá lớn đối với đơn vị khảo sát. Vì thế, Phòng Công trình kiến nghị xin cho thị sát bằng máy bay trực thăng vùng núi phía tây Quảng Bình từ đèo Đá Đẽo dọc Trường Sơn xuống khu vực đường 16 phía nam.


Đây là kiến nghị táo bạo, không chắc được chấp nhận, nhưng lại được Bộ Quốc phòng nhanh chóng đồng ý. Tuy vậy, thời điểm này máy bay trực thăng phải hạn chế giờ bay đành cho chiến đấu nên phương tiện có thể đáp ứng được chỉ là máy bay AH2.


Đầu tháng 6 năm 1973, chuyến bay thị sát được triển khai. Sau một tuần lễ hợp đồng với địa phương, bố trí, chỉ thị trên bản đồ cho Đại đội Khảo sát 1 đốt lửa, tạo khói dưới mặt đất, đánh dâu toạ độ nhiều điểm khống chế giúp tổ thị sát máy bay dễ quan sát địa hình. Điều quan trọng nữa là phải hợp đồng xác định lộ trình bay với tổ bay thật chu đáo, tuyệt đối tránh những đáng tiếc có thể xảy ra.


Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh Phan Quang Tiệp trực tiếp chỉ định tổ thị sát gồm 4 thành viên: Trần Văn Cư; Hoàng Ngọc Châu, Trợ lý phòng Công trình; Nguyễn Đinh Hải, Đại đội trưởng Khảo sát 1 và đồng chí Lê Ngọc Hoàn, Đoàn trưởng Đoàn 67. Đồng chí Trần Văn Cư được giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ thị sát.


Quan sát địa hình phải qua cửa kính lỗ tròn của máy bay AH2 mặc dù bị hạn chế góc nhìn, nhưng vì được triển khai đủ các điểm dự kiến đúng toạ độ, nhờ khói dưới mặt đất bốc cao nên cũng dễ quan sát.


Tập trung vào nhiệm vụ, chúng tôi đã quên đi mọi âu lo ban đầu: máy bay có tốt, tổ lái có giỏi bay sát vào được những nơi đã chỉ định, Đại đội Khảo sát 1 đốt khói có đúng địa điểm, đúng giờ quy định không? Chúng tôi đùa vui với nhau, Mỹ đã buộc phải ký kết hiệp định Paris, miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ oanh tạc, nhưng vẫn còn một mối âu lo nữa là các “cụ dân quân Hoằng Hoá vẫn hăng hái bắn rơi máy bay”...! Không biết tỉnh đội, các huyện đội, các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn đã phổ biên đến tận các tay súng chưa?


Qua 8 vòng bay, tổ thị sát triệt để tận dụng thời gian quan sát không sót các dự kiến, nhận biết được các núi đá cao, các “sông đá” sâu đúng như báo cáo thị sát đầu năm của Đại đội 1.

Ở các vòng bay cuối cùng, tổ quan sát chăm chú, không bỏ sót cơ hội nhưng vẫn không đạt được mong đợi như kỳ vọng. Tổ hội ý chớp nhoáng trên khoang bay và thống nhất: “địa hình khu vực không cho phép đặt tuyến được”, và kết thúc ở vòng bay thứ 8.


Ở nước ta trong thời bình dùng phương tiện máy bay thị sát tuyến đường đã là điều hiếm hoi, từ trước tới nay chưa có điều kiện. Đang trong thời chiến, đây quả là một chuyến bay nghề nghiệp lịch sử, có một không hai. Tuy từ phương tiện hiện đại này, ta không vẽ được một nét đỏ đường liền nét trên bản đồ, nhưng đây là một nỗ lực lớn của Bộ Quốc phòng, của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Từ đó cho phép kết luận rằng không cho phép đặt được tuyến trên địa hình trong khu vực, tránh được cả hai trọng điểm đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn.


Không đạt được yêu cầu, Cục Tham mưu Công binh phân công Đại đội Khảo sát 2 tiếp tục tổ chức thị sát tìm đường tránh trọng điểm phà Xuân Sơn, không thị sát tuyến tránh đèo Đá Đẽo nữa.

Và điểm đầu đường xây dựng cơ bản Bộ Tư lệnh Trường Sơn được giao tính từ Troóc, phía bắc phà Xuân Sơn.

Chuyến đi thị sát tuyến đường B80 từ đường B45 đến đường B46 phía đông Trường Sơn trên đất Việt chúng tôi phải thực hiện hoàn toàn thô sơ trong hơn hai tháng, lần thị sát tuyến xây dựng cơ bản đông Trường Sơn trên đất Quảng Bình chỉ vẻn vẹn trong hơn 1 giờ đồng hồ bằng phương tiện hiện đại. Trong chiến tranh gian khổ vẫn đầy ắp những kỷ niệm thú vị, chẳng thể nào quên...!


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:02:46 am
(https://i.imgur.com/iTxroP9.jpg)

Trung tá
PHAN ANH SƠN
(Phan Duy Hấp)


Sinh năm:   1939
Quê quán:   Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Thường trú: 371 Cầu Giấy, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội
Chỗ ở hiện nay:   P.6, Nhà A, Tập thể Thông tin, ngõ 117 Trần Cung, Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 04.37551601 - 0976.787380
Từ nhà máy sửa chữa Rađa 7111 Cục Quân giới, Tổng cục Hậu cần vào đoàn 559
Nguyên Thiếu uý, Trợ lý Phóng Tác huấn Cục TMCB
Nguyên Trợ lý kỹ thuật Phòng Công trình, Bộ Tư lệnh Thông tin



KHỐNG CHẾ BOM TỪ TRƯỜNG Ở KHO ĐẠN DKB BINH TRẠM 34


Có những chiến công thầm lặng của những người lính kỹ thuật thời chống Mỹ trên tuyến đường Hồ Chí Minh ít được nhắc đến. Phải chăng họ chỉ có một nhóm ít người?

Cuối năm 1968 chúng tôi, những người lính kỹ thuật ở nhiều lĩnh vực khác nhau: điện, vô tuyến điện, vật lý, hóa học... được lệnh vào chiến trường để huấn luyện và cùng bộ đội Trường Sơn nghiên cứu rà phá, phá hủy bom mìn, làm tê liệt tất cả những thiết bị điện tử công nghệ hiện đại, các loại bom từ trường, bom điều khiển bằng tia laze, mìn lá, mìn vướng, cây trinh sát tiếng động v.v...


Tháng 02 năm 1970, chúng tôi được lệnh vào Binh trạm 34 để khống chế một quả bom từ trường rơi xuống gần cụm kho KG4, tại đó đang bảo quản 10 hầm chứa 1000 quả đạn DKB. Cụm kho nằm trong một thung lũng rừng le, mỗi hầm chứa đạn cách nhau 20 mét có kích thước 10mét x 15mét x 2mét. Mỗi quả đạn đựng trong một thùng gỗ dài khoảng 1,50 mét trọng lượng 60 ki lô gam. Quả bom từ trường rơi xuống gần trung tâm cụm kho.


Bom từ trường là loại bom được điều khiển nổ bằng đầu nổ MK-42 ký hiệu ĐST (kẻ hủy diệt). Bom được gây nổ bằng 2 cách:

Cách 1: Biến đổi từ trường xung quanh vị trí bom

Cách 2: Bởi mạch tự huỷ bên trong quả bom. Thời gian tự huỷ từ 30 phút đến 6 tháng kể từ khi quả bom rơi xuống đất.

Đúng là một cái bẫy vô cùng nguy hiểm. Vì theo cách 2, thời gian như vậy không biết lúc nào nó tự nổ. Do đó rất nguy hiểm cho người thao tác. Phải hết sức bình tĩnh, dũng cảm, kiên cường và xác định sẵn sàng hy sinh khi làm nhiệm vụ khống chế hay phá hủy bom. Đoàn chúng tôi gồm đồng chí Nguyễn Thời Đại, cán bộ kỹ thuật Phòng Huấn luyện Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559, đồng chí Nhâm Xuân Coóng và đồng chí Thái, Viện Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Hậu cần biệt phái vào Trường Sơn cùng 30 chiến sĩ của Đại đội kho, 2 đồng chí cán bộ Tiểu đoàn Kho của Binh trạm 34 đến hiện trường thực hiện nhiệm vụ. Đây là những cán bộ, chiến sĩ “cảm tử” đã xác định trách nhiệm và sẵn sàng hy sinh. Mọi người đều biết rằng nếu rủi ro, sự cố không tính trước xảy ra, 1000 quả đạn DKB bị kích nổ thì hậu quả sẽ khó lường.


Trong trường hợp cụ thể này “khống chế bom” là làm tê liệt đầu nổ trong một thời gian nhất định theo tính toán để có thể vận chuyển số đạn ra ngoài phạm vi tác động khi bom từ trường nổ. Cụ thể là:

Dùng một điện từ trường xung quanh quả bom trên mức gây nổ của bom. Số liệu đó được nghiên cứu tính toán khi rà phá bom.

Chúng tôi đã dùng một khung dây đồng bọc nhựa có đường kính 1,5 mi li mét rải quanh kho có chiều dài là chu vi của kho. Số vòng là 6 vòng dây đồng. Nguồn điện cung cấp là một ắc quy 24 vôn.

Sau khi rải dây xong nối nguồn điện tạo được một điện trường xung quanh quả bom. Chúng tôi để 15 phút thăm dò xem có động tĩnh gì không. Tất cả bình yên...

Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là trong một thời gian ngắn nhất phải vận chuyển 1.000 quả bom ra khỏi kho khoảng 30 mét.

Trước tiên, để kiểm chứng kết quả, hai đồng chí “cảm tử" gồm một chính trị viên đại đội và một đồng chí cán bộ kỹ thuật tình nguyện vào vận chuyển thử một hòm đạn ra xa 30 mét. Cả đơn vị chừng ấy con người và chắc chắn là cả thủ trưởng Binh trạm 34, Cục Tham mưu Công binh hồi hộp chờ đợi... Bước thử nghiệm an toàn.


Tiếp theo 30 chiến sĩ tình nguyện đã được giao nhiệm vụ vào vác đạn ra khỏi khu vực đến địa điểm đã được xác định. Một quyết tâm rất cao, chỉ trong vòng 25 phút 1.000 quả đạn tổng trọng lượng 60 tấn được vận chuyển an toàn ra nói quy định. Việc không chế bom từ trường và vận chuyển đạn DKB đã thành công, tuyệt đối an toàn. Tuy nhiên cũng cần kiểm chứng lại kết quả khống chế vì cũng có trường hợp bom "điếc” không nổ. Nếu như vậy thì phương pháp xử lý không thể áp dụng cho các hường hợp tương tự sau đây nếu còn gặp. Chúng tôi quyết cho nổ quả bom.


Sau khi toàn đơn vị và 1.000 quả đạn được đưa về vị trí an toàn, chúng tôi cho thực hiện tạo từ trường kích nổ vả cho nổ quả bom. Một tiếng nổ lớn tạo thành một đám khói đen bốc cao. Lập tức máy bay trinh sát OV10 xuất hiện và bắn pháo hiệu. Và cũng ngay sau đó không lâu, một trận B52 giáng xuống... nhưng không trúng vào thung lũng kho. Cụm kho an toàn. Rất may mắn là không ai bị thương, chỉ vì bom nổ quá gần, quá nhiều, quá lâu nên một số đồng chí bị điếc một thời gian, trong đó có Nhâm Xuân Coóng.


Việc khống chế bom đã thành công. Một chiến công thể hiện lòng hy sinh, ý chí chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của cán bộ chiến sĩ bộ đội Trường Sơn, trong đó có những người lính kỹ thuật chúng tôi.


Một nghìn quả đạn ĐKB được cứu ra khỏi khu vực nguy hiểm an toàn, đã góp phần vào chiến thắng to lớn trong các chiến dịch tại các chiến trường miền Nam.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:13:54 am
(https://i.imgur.com/cnQmclM.jpg)

Kỹ sư
PHI ĐÌNH TUẤN


Sinh năm:   1937
Quê quán:   Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ
Thường trú: Nhà 64, ngõ 177 Phố Định Công, Phường, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội
Điện thoại: 04.38554087 - 0983.229637
Từ Bộ GTVT biệt phải sang Quân đội năm 1965
Nguyên Tổ trưởng, Đội Khảo sát 1, Cục TMCB 559,
Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Bộ GTVT,
Kỹ sư Trưởng ban TCCB-LĐTL, Thường vụ Đảng uỷ Liên hiệp ĐSVN


NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC KHẢO SÁT THIẾT KẾ
ĐƯỜNG 20 QUYẾT THẮNG


Tháng 4 năm 1965, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ được Bộ Chính trị quyết định tham gia Quân uỷ Trung ương, bổ nhiệm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559.

Ngay sau khi trực tiếp tổ chức và chỉ đạo Công trường 128 thi công trục đọc từ đường 12 vào đường 9 phía tây Trường Sơn tương đối ổn định, thấy rõ thực tế, Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đề xuất và được Quân uỷ Trung ương nhất trí chủ trương mở tuyến đường ngang để phá thế độc tuyến, tránh được túi nước Seng Phan ngập đoạn đầu đường 128 làm ách tắc không tranh thủ được tháng đầu mùa khô ở Lào.


Với cương vị mới, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ quyết định điều động biệt phái chúng tôi từ Viện Thiết kế Giao thông và một số cán bộ các đơn vị trong Ngành thành lập một đoàn khảo sát đặc biệt, có nhiệm vụ khảo sát tuyến này.


Đồng chí Nguyễn Nam Hải, sau khi đã tổ chức khảo sát đường 128, được Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ giao làm Đoàn trưởng, thiếu tá Mai Sơn làm Phó đoàn. Tôi được giao làm tổ trưởng kỹ thuật cùng 10 cán bộ công nhân kỹ thuật, một tổ điện đài, được trang bị máy móc thiết bị cần thiết, khảo sát và thiết kế ngay tại hiện trường đáp ứng cho các đơn vị thi công.


Trước khi vào chiến trường, chúng tôi được đại tá Vũ Xuân Chiêm, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559 giao nhiệm vụ tại 63 Lý Nam Đế, Hà Nội. Đồng chí xác định rõ nhiệm vụ, động viên chúng tôi có vinh dự được tham gia mở con đường chiến lược từ đông sang tây Trường Sơn cho xe cơ giới vận chuyển hàng hoá, binh khí kỹ thuật vào sâu tận chiến trường miền Nam, điều mà đến nay Trung ương mới có chủ trương. Phó Chính uỷ giao nhiệm vụ phải tiến hành khẩn trương, khảo sát thiết kế nhanh, nhắc nhở phải giữ gùi bí mật. Đồng chí cho biết con đường này có địa hình miền núi phức tạp, hiểm trở, xa dân, đảm bảo hậu cần khó khăn. Do vậy hai Bộ Quốc phòng và Giao thông vận tải chọn đoàn khảo sát mạnh, cán bộ công nhân có tay nghề giỏi, có phẩm chất chính trị và có ý chí quyết tâm. Đồng chí cho biết, tuy đoàn khảo sát nay mới bắt đầu lên đường, nhưng cùng thời gian này đang khẩn trương tuyển quân ở các địa phương.


Sau mấy ngày chuẩn bị, ngày 26 tháng 6 năm 1965, trên chiếc xe ôtô tải Gat 63 Liên Xô còn mới do anh Hoà, một thanh niên vừa được đào tạo lái xe đưa đoàn chúng tôi hành quân vào Trường Sơn. Hai trưởng phó đoàn ngồi ca bin xe, chúng tôi ngồi trên hai chiếc ghế dài hạ từ thành xe, ba lô, trang thiết bị khảo sát, điện đài, xoong nồi, lương thực, thực phẩm xếp gọn vào thùng xe bằng một ghế, một số anh em trải bạt nằm ngồi trên đó. Nhiều cầu lớn nhỏ trên đường đi, đã bị máy bay Mỹ đánh phá hư hỏng, cầu Hàm Rồng là trọng điểm bị đánh phá ác liệt thời kỳ này, pháo sáng thả cầm canh, nhưng xe chúng tôi đã chọn được thời cơ thuận lợi lên phà, nên sang được bờ phía nam an toàn.


Ngày nghỉ, đêm đi... Có một chuyện nhỏ nhưng lại nhớ lâu. Đến Khe Tang, bỗng nhiên chúng tôi thấy mình như được nâng lên khỏi sàn xe, và nghe một tiếng “ầm", xe từ đỉnh đốc cao lao thẳng xuống ngầm. Anh Hoà đã cho xe lao theo kiểu rơi tự do xuống ngầm Khe Tang, xe đã chết máy. Máy bay Mỹ lượn vòng trên đầu, pháo sáng làm hoa cả mát. Loay hoay xử lý một lúc, xe lại nổ máy được. Hai anh trong đoàn xuống hỗ trợ, yêu cầu cho xe lùi một đoạn mới có thể lên được, nhưng anh Hoà nói “xe không có số lùi". Thời này đào tạo lái xe không kịp, anh Hoà vừa mới được đào tạo cấp tốc hai tháng, tay lái chưa vững, kiến thức và kinh nghiệm chưa có. Lên đường gấp gáp, bản thân anh cũng không có tư trang gì mang theo, đến cả thức ăn cá nhân cũng không chuẩn bị kịp. Nhưng, lái xe Trường Sơn là vậy, họ trưởng thành trong thực tế rất nhanh chóng...


Qua phà Xuân Sơn, ngày 05 tháng 7 năm 1965, chúng tôi nghỉ tại một bản người dân tộc A Rem sát cửa rừng Phong Nha. Tiếp đó chúng tôi chia thành hai mũi, thị sát theo hai hướng tuyến để có phương án so sánh:

- Một mũi từ Khe Nét, đi phía trái, theo hướng Đoòng lên Khe Tum đến biên giới Việt Lào, hướng này do anh Nam Hải phụ trách. Cùng đi có 2 cán bộ kỹ thuật.

- Một mũi từ Khe Nét sang phía phải, qua Tân Trạch, đến Cù Mẹ, U Bò, gặp tuyến phía trái tại Cà Roòng. Anh Mai Sơn phụ trách hướng này, tôi làm công tác kỹ thuật, cùng đi cũng có hai cán bộ kỹ thuât.

Hai mũi thị sát xong tuyến, tối 17 tháng 7 trở lại gặp nhau tại Phong Nha đểê xác định tuyến chọn. Có hai ý kiến khác nhau, cuối cùng anh Nam Hải quyết định chọn hướng tuyến qua Đoòng phần lớn đi trên phân thuỷ, đường đất, ít đá, dễ thi công.


Trưởng, phó đoàn giao lại công tác khảo sát định tuyến thiết kế kỹ thuật cho anh em thực hiện cụ thể, giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách. Thời gian gấp rút, phải hoàn thành giao tài liệu thiết kế và thực địa cho đơn vị thi công từ ngoài vào trong theo yêu cầu của Công trường 20 lúc này đã thành lập, các đơn vị thi công đã vào triển khai nhận nhiệm vụ.


Ngày 20 tháng 7 năm 1965, chúng tôi tổ chức thành hai mũi triển khai ngay công tác khảo sát theo hướng đã chọn, và thống nhất xác định giao ngay tài liệu thiết kế khi thi công yêu cầu.

Mũi thứ nhất khảo sát từ Khe Nét vào Đoòng lên Khe Tum do Phi Đình Tuấn trực tiếp. Mũi thứ hai do Hoàng Tường, một cán bộ kỹ thuật phụ trách khảo sát từ biên giới về Đoòng quy định gặp mũi thứ nhất tại Khe Tum.


Hướng này đường đi trên cao, có chỗ có cao độ 1.000 mét so với mặt biển, bản đồ không thể hiện được đường đồng mức, việc nghiên cứu rất khó khăn, tốn nhiều công sức trên thực địa, có hôm anh em phải tối mịt mới về đến lán.


Tìm tuyến đến đâu, chúng tôi đo đạc lấy tài liệu, đêm về thiết kế ngay đến đó, với tư thế chuẩn bị sẵn sàng đối phó cho việc phục vụ đơn vị thi công. Toàn tuyên có hơn 100 cầu cống lớn nhỏ, khối lượng đào đắp bình quân 30.000 - 40.000 m3/km. Nói là tuyến đi trên đường phân thuỷ, nhưng vẫn có nơi ta luy cao đến 20 - 30 mét. Nhược điểm hướng này là khả năng khi thi công xong, tuyến đường nằm trên cao dễ bị lộ, máy bay dễ phát hiện đánh phá ác liệt, giao thông sẽ ách tắc, không hợp lý cho vận tải quân sự.


Hơn hai tháng làm việc vất vả, hai mũi vẫn chưa gặp được nhau. Mưa Trường Sơn đã bắt đầu, các con suối đã có lũ to, hành quân di chuyển đã gặp trở ngại. Nhiều hôm, mưa lũ lớn, vận chuyển qua suối rất khó khăn. Vật lộn với núi rừng nguyên sinh mãi trên bốn tháng trời đầy gian khó, sức khoẻ anh em đã giảm sút, tóc đã dài chấm gáy. Nhớ lại trước khi vào nhận nhiệm vụ này, tôi có đến chào thầy Lê Đình Hoè, một lão tướng ngành khảo sát thiết kế giao thông, thầy có nói: “Bản đồ Pháp có thể sai, cần phải thận trọng”.


Thực tế ở đây đúng như thế, từ đó gợi mở cho tôi những tư duy tìm tòi mới.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:15:17 am
Đúng lúc đó, đồng chí Phan Trầm, Cục phó Cục Kiến thiết cơ bản, Phó Ban Miền Tây Bộ Giao thông vận tải, đang là Chỉ huy phó Công trường 128 trục dọc phía tây Trường Sơn, nay được quyết định là Trưởng ban Chỉ huy Công trường 20 đến gặp chúng tôi nắm tình hình khảo sát thiết kế để bố trí các đơn vị thi công. Chúng tôi báo cáo tình hình cụ thể việc nghiên cứu khảo sát theo phương án tuyến Đoòng, phản ảnh chân thành cuộc họp tối 17 tháng 7 tại cửa rừng Phong Nha, trình bày hai ý kiến khác nhau, trong đó phân tích ý kiến của nhóm Phi Đình Tuấn, Hoàng Tường và một số anh em kỹ thuật về phương án chọn hướng tuyến đá từ Khe Nét theo dãy núi đá thẳng lên U Bò, Khe Tum đến bản Cà Roòng sang biên giới Việt Lào lúc đó theo bản đồ xác định tại Phu La Nhích qua Ta Lê.


Ưu điểm của hướng này ngắn hơn khoảng 30 ki lô mét, đi men dưới chân núi, cầu cống ít hơn, chỉ bằng 1/10 tuyến Đoòng. Đường thi công xong kín đáo, một bên có núi cao che khuất, máy bay khó oanh tạc trúng đường. Nền đường lại là đá tự nhiên, ít phải chống lầy, phù hợp với đường vận chuyển hàng quân sự, tính an toàn cao.


Chúng tôi cũng không giấu nhược điểm đường toàn đá, khó trong công tác khảo sát thiết kế, còn khó hơn trong thi công. Trên 40 ki lô mét đoạn đá không có nước, phải đi lấy nước rất xa, đợt thị sát vừa qua, chúng tôi đã phải gạn lấy nước ở núi đá để dùng trong sinh hoạt. Nơi ở của các đơn vị thi công cũng sẽ tìm ra xa mới có nước, việc đi lại hàng ngày để thi công khó khăn vất vả.


Sau khi đi nghiên cứu lại thực địa, nghe chúng tôi báo cáo quan điểm kỹ thuật tuyến đá từ Tân Trạch lên U Bò, đồng chí Phan Trầm về báo cáo Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559 đã xem xét và quyết định chọn tuyến đi theo phương án 2: tuyến đá.


Vào khoảng giữa tháng 10, nhận được điện từ Hà Nội bỏ hướng tuyến Đoòng đang khảo sát, trở ra khảo sát tuyến đã thị sát theo phương án 2 phía tay phải, nhưng để phục vụ thi công sẽ dồn dập đến công trường trong thời gian sắp tới nên nhất thiết phải hoàn thành hồ sơ thiết kế trong vòng một tháng cho phép vừa thiết kế vừa thi công, thiết kế đến đâu thi công đến đó.


Nhận được lệnh, ngay trong lúc mưa đang rất to, lũ rất lớn, chúng tôi vẫn hành quân di chuyển. Có những nơi chúng tôi phải đi vòng ngược lên thượng lưu, chọn nơi suối hẹp chặt cây cao cho cây đổ qua suối làm cầu tạm để nhanh chóng vượt qua không ngồi chờ nước rút.


Tập hợp được anh em, tôi chia đoàn thành 3 mũi, một mũi ra làm đầu tuyến từ A Troóc trở vào, mũi thứ hai làm từ biên giới trở ra, mũi giữa nhận trách nhiệm khảo sát từ giữa ra hai đầu. Sau 45 ngày, chúng tôi đã nối tuyến được với nhau, đã hoàn thành tuyến phía đông đường 20 vượt qua được dãy Trường Sơn nguyên sinh, âm u, huyền bí.


Khó khăn về kỹ thuật phải kể đoạn A Troóc vào gần đến dốc Ba Thang, cả lúc khảo sát xác định tuyến, lúc thiết kế và thi công đều rất khó khăn. Đoạn này là một đèo đá vách đứng không thể trèo lên được. Tôi chọn Đặng Xuân Thọ, công nhân khảo sát có kinh nghiệm, đồng hương quê tôi1 (Đặng Xuân Thọ quê xã Tam Sơn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ - hiện nay cuộc sống gia đình anh còn rất nhiều khó khăn) thân hình rắn chắc, nhanh nhẹn, nhưng lại rất thận trọng, cán bộ kỹ thuật Hoàng Xuân Doãn, một thanh niên sinh sống ở Hà Nội nhưng đầy nhiệt huyết thời “Ba sẵn sàng” cùng tôi thực hiện nhiệm vụ tìm cho được đoạn tuyến cực kỳ khó khăn này! Bản đồ thời đó là những đường vạch “que củi” không có đường đồng mức, chúng tôi phải 3 lần nghiên cứu thực địa vẫn không giải quyết được việc vượt dốc Ba Thang này. Quá tam ba bận, những tưởng đã bó tay, nhưng rất may nhờ được một người dân, lúc này đang sống hoang đã tại một hang động bản Tân Trạch đưa đường1 (Người dân này về sau là Xã đội trưởng Tân Trạch, lâu năm tôi không nhớ được tên ông), ba anh em chúng tôi mới tìm được lối lên dốc Ba Thang để tiếp tục nghiên cứu.


Từ nghiên cứu thực địa, tôi phải nâng chân dốc lên 15 mét và thiết kế hạ đèo Ba Thang xuống 7 mét trải dài trên một đoạn đường 500 mét, chịu dốc dọc 12%, tuy nhiên vẫn thiết kế đảm bảo một đoạn nghỉ dốc 3% dài 50 mét.


Phía trên đoạn dốc Cù Mẹ, đồng chí Hoàng Tường, một cán bộ kỹ thuật quê Cao Bằng, nhanh nhẹn, năng động, khoẻ mạnh cùng nhóm của mình, trong đó có Cao Trung quê Nghệ An, phải xử lý đến 4 cua tay áo trên cùng một sườn núi để vượt lên biên giới, vừa đi vừa phải nổ mìn phá đá để lấy lối đi tìm tuyến.


Đến đây chúng tôi rất mừng được tin hai tổ khảo sát đường 20 phía tây do Công trường 128 phụ trách cũng đã nối tuyến của chúng tôi xuống ngầm Ta Lê, tìm được tuyến vượt đèo Phu La Nhích, một con đèo quái ác nằm song song với dòng sông Ta Lê. Các cán bộ kỹ thuật Nguyễn Tiến Duy, Trần Văn Cư Nguyễn Bỉnh... đã giải quyết rất tốt được hướng này.


Cả hai phía đông vả tây đường 20, chúng tôi đã giải bài toán rất hóc búa, thoả mãn 3 chỉ tiêu quan trọng của khảo sát thiết kế đạt yêu cầu kỹ thuật là bình đồ tuyến, trắc dọc và bán kính đường cong của một tuyến đường ôtô vượt dãy Trường Sơn chưa được một lần khám phá.


Theo các tài liệu còn lưu trữ, các chuyên gia tầm cỡ thời Pháp khẳng định: “Với địa hình địa thế vùng Quảng Bình ngoài đường 12 không còn nơi nào có thể làm đường ôtô vượt Trường Sơn qua đất Lào được".


Đến nay ngẫm nghĩ lại công việc mình đã làm cách đây gần nửa thế kỷ, khó khăn lắm, gian khổ nhiều nhưng với trí thông minh và lòng dũng cảm, thực tế đã chứng minh “không có việc gì khó...” mà có quyền tự hào rằng đã vượt qua được điều khắng định của các chuyên gia.


Cũng cần phải nói thêm rằng anh em chúng tôi đã khảo sát thiết kế nhiều tuyến đường ôtô vào loại hóc búa miền Tây Bắc nước ta: Nghĩa Lộ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và cả vùng miền tây Khu 4... nhưng chưa bao giờ gặp những vùng vách đá thẳng đứng chặn đường thăm dò như ở tuyến này. Anh Nguyên Xuân Tiểu, một chuyên gia khảo sát thiết kế cầu đường bộ, nhiều năm làm Trưởng phòng Thiết kế đường ôtô, Viện Thiết kế Giao thông, lúc này đang là chuyên gia cho Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 khi xét duyệt hồ sơ thiết kế đường 20 có nói rằng: “Các cậu đã làm được đường này, đánh xong Mỹ về miền Bắc không còn đường nào mà không làm được”. Đó là một lời khen ngợi không chủ quan, không tô hồng mà rất thực tế.


Đã đi khảo sát thiết kế mở đường nhiều nơi, nhưng chưa thấy khu rừng nào lắm hổ, nhiều thú rừng, cá suối như tuyến 20 này. Trên đỉnh hang Đoòng cao hơn mặt nước khoảng 10 mét, có rất nhiêu loài chim sinh sống, nói không ngoa có thể bắt vài trăm con một lúc. Tại một cây gạo, một người dân tộc ở Tân Trạch lấy gần một trăm lít mật ong rừng mỗi mùa. Cá, chim, mật ong là nguồn thực phẩm nuôi sống 30 nhân khẩu dân tộc A Rem sinh sống lâu đời ở khu vực này. Đây là khu rừng nguyên sinh lâu đời, nhiều thú dữ sinh sống. Dân cho biết, “ông Hổ" ở đây đã bắt ăn thịt 2 phụ nữ vì đi kiếm ăn về hang quá muộn vào buổi gần tối.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:16:12 am
Đang khảo sát thiết kế, thì có ba trung đoàn bộ đội hành quân vào Nam chiến đấu, được lệnh dừng lại để cùng với hơn 10 đại đội thanh niên xung phong mở đường. Bộ Tư lệnh Đoàn 559 lệnh phải khảo sát thiết kế khẩn trương để có hồ sơ thi công thông xe vào đầu năm 1966. Ngày mồng 1 Tết năm Bính Ngọ (21 tháng 01 năm 1966), đồng chí Nguyễn Tường Lân Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Đoàn 559 đã phát lệnh nổ loạt bộc phá đầu Xuân hưởng ứng chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”. Hưởng ứng phong trảo này, tinh thần làm việc của cán bộ, công nhân, thanh niên xung phong, bộ đội trên toàn công trường rất sôi nổi, tiến độ thi công được đẩy nhanh. Giữa tháng 4 năm 1966 công trường đường phía đông và phía tây Trường Sơn đã thông tuyến từ Phong Nha đến Lùm Pùm. Cũng ngày này, tôi nhận được bức thư gia đình ngoài Bắc gửi vào báo tin em trai tôi đã hy sinh ngày 30 tháng 10 năm 1965 khi đang làm nhiệm vụ tại sân bay Phú Thọ. Thư đến giữa lúc chúng tôi đang ăn cơm tối, tôi nghẹn ngào. Anh em chia buồn cùng tôi, cả đơn vị cùng bỏ bữa!


Chúng tôi được lệnh lên đường đi tiếp vào phía nam. Trên đường hành quân, chiều ngày 17 tháng 4 năm 1966, chúng tôi vượt sông Ta Lê qua đèo Phu La Nhích, nghỉ tại một bản Lào bị bom Mỹ đánh phá, nhà cửa đổ nát mất hẳn nét tin thanh bình êm ả, dân sơ tán vào rừng sâu không còn bóng người, để lại vườn không nhà trống. Chúng tôi hiểu được chiến tranh và thấy trước được những gì ác liệt hơn sẽ còn diễn tiếp.


Hạ ba lô vào một nhà sàn lớn nhất bản, phân công nhau người đi lấy củi, người xuống suối vác nước. Tôi đi ra hiên sàn nhà quan sát khu vực, vai vẫn mang chiếc xắc cốt màu vàng đựng bản đồ và tài liệu, ở chiến trường xem là vật bất ly thân, hôm đó ngoài trời đã có mưa bụi. Hai người từ hai phía nhà sàn đi ra hét lớn:

- “Đứng im! Các anh là ai, ở đâu đến?”

- “Họ là biệt kích à?” Giật mình, bàng hoàng tôi tự hỏi. Tôi tự trấn tĩnh tìm cách ứng phó. Tôi biết trong vùng này tuy có Công trường 128 đang thi công đường 20 phía tây, nhưng cũng đã nghe phổ biến vẫn còn biệt kích hoạt động tìm cách chống phá đường vận chuyển của ta.

- "Chúng tôi, bộ đội Đoàn 559 đi khảo sát đường ôtô" - Tôi nói to, dõng dạc, vững vàng, nuôi hy vọng họ là đơn vị bảo vệ nhưng đồng thời cũng để báo động cho anh em.

- “Có giấy tờ gì không?” - Họ bước lên sàn nhà, tiến đến gần tôi, hai khẩu AK từ trong áo mưa xuất hiện.

- "Có tin báo các anh là biệt kích, có cả điện đài và vũ khí, nếu lúc đó các anh cử động thì chúng tôi nổ súng”, một trong hai người nói tiếp. Anh vỗ tay làm ám hiệu, 5 người cầm súng tiểu liên phục sẵn tiến ra. Vừa sợ vừa mừng, chỉ cần thiếu bình tĩnh xử lý sai thì “quân ta lại bắn quân mình”, và cả số anh em kỹ thuật chúng tôi đã yên giấc ngàn thu, vợ con cha mẹ chẳng thể biết đâu mà tìm.


Trên đường hành quân xuống phía nam, chúng tôi bắt gặp nhiều đầu mẩu thuốc lá, vồ đồ hộp của biệt kích Mỹ Nguỵ vứt dọc đường, vỏ hộp còn mới, chắc bọn chúng vừa mới di chuyển. Đến Trạm 5 giao liên, được các đồng chí chỉ huy Trạm cho biết đêm hôm trước, máy bay Mỹ quần đảo thả dù xuống khu vực sáu tên biệt kích, bốn nguỵ, một Mỹ và một nói tiếng Tàu. Lực lượng bảo vệ của ta chiến đấu suốt đêm, đến gần sáng bắt sống được hai tên, bắn chết bốn tên.


Lại một lần tự rút được kinh nghiệm trong công tác bảo vệ tại chiến trường. Đêm hôm đó tôi nằm nghĩ suy, nhớ lại chiều ngày 10 tháng 4, khi nhận lệnh xuống Hạ Lào, đồng chí Đào Thanh, Chỉ huy phó Công trường 20 gọi anh em đến nơi làm việc, cho uống cà phê tạm biệt, đồng chí còn tặng một hộp mang đi đường và tâm sự:

- “Các cậu đi sâu vào chiến trường, sẽ có nhiều gian khổ, không biết khi nào chúng ta được gặp lại nhau. Nhớ giữ gìn sức khoẻ, nêu cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù.”

Tôi nhận gói quà nhỏ đầy tình cảm, nhiều anh em cảm động rơm rớm nước mắt, vì đó là sự thấu hiểu, là tình cảm của người cán bộ lãnh đạo với cán bộ chiến sỹ cấp dưới trong gian nan chiến đấu với kẻ thù chung. Thế đây, chỉ hai tuần sau chúng tôi đã gặp, chứng kiến những điều dặn dò chân tình của đồng chí Đào Thanh.


Đến vùng Xa Va Na Khẹt khảo sát thiết kế đường ôtô tại khu vực Mường Noòng về đường số 9 nối với đường Na Va, tạo thêm một nhánh đường Trường Sơn. Đoạn đường này không khó khăn mấy về kỹ thuật, chúng tôi giải quyêt nhanh gọn và giao cho đơn vị thi công. Đường Trường Sơn phần lớn nằm trên đất bạn Lào. Khi chiến tranh xảy ra, nhân dân các bộ tộc Lào trên các bản gần đường đã sơ tán vào rừng, bảo toàn tính mạng, bộ đội Việt Nam quản lý và sử dụng bản làng của họ chiến đấu chống kẻ thù chung.


Tiếp đó chúng tôi hành quân về trụ sở Đoàn 559 lúc này đóng quân gần Lùm Pùm. Đó là ngày 01 tháng 5 năm 1966, nhưng chỉ ở đơn vị được vài ngày lại nhận nhiệm vụ mới, vào chiến trường sâu hơn.


Chỉ mới cách đây gần một năm, bắt đầu từ khâu khảo sát thiết kế phát lối tìm đường, hàng vạn con người với tinh thần “Vì miền Nam ruột thịt” đã lao động quên mình, không sợ gian kho hy sinh, chăm chỉ đục núi, nhẫn nại làm ngầm, đã tạo ra một con đường có chiều dài đến 123 ki lô mét cho xe cơ giới vận chuyển, đã hoàn thành trong thời gian rất ngắn, nhưng lại có hiệu quả to lớn lâu dài. Mở thành công con đường 20 là chiến công kỳ diệu, từ đông sang tây, xe chạy cả mùa nắng lẫn mùa mưa, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam ruột thịt.


Đó là mơ ước từ lâu của cả dân tộc, đó là nguyện vọng khát khao của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng cùng chung một nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đánh thắng, là ước mơ của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, khi được giao kiêm chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đoàn 559. Khát khao và ước mơ đó đã thành sự thật.


Con đường 20 là kết tinh của trí tuệ, hội tụ tri thức khoa học của ngành đường bộ Việt Nam, biểu lộ sự quyết tâm, tình thần quả cảm hăng say lao động, không sợ khó sợ khổ, sợ hy sinh của mọi lực lượng bộ đội, công nhân giao thông, thanh niên xung phong dưới sư chỉ huy của một tập thể cán bộ lãnh đạo công trường, chỉ huy các đơn vị từ trên xuống dưới đồng lòng nhất trí, dám nghĩ dám làm để có một kỳ tích lịch sử mãi mãi được ghi nhớ: Con đường 20 Quyết Thắng.


Năm nay, kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại, lớp người chúng tôi mang quyết tâm cao đi mở đường lúc đó, đến nay đã vào tuổi 70, 80. Người mất, người còn, về đời thường cuộc sống mỗi người một vẻ. Tôi hồi nhớ lại và cố gắng viết những dòng này, chắc chắn chỉ được một phần nhỏ công việc, chỉ ghi được ít nhiều kỷ niệm để thế hệ con cháu mai sau hiểu được phần nào các bậc cha ông mình đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:30:54 am
(https://i.imgur.com/7vnFaEG.jpg)

Đại tá
HOÀNG XIỂN


Sinh năm:   1931
Quê quán:   Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An
Thường trú: 25/N4, Vĩnh Hồ, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.35632562
Nguyên Trợ lý cán bộ Trung đoàn 98, Nguyên Thiếu tá Phó phòng Cán bộ Cục Chính trị 559, Nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng ủy Binh đoàn 12


TRUNG ĐOÀN 98 CHUYỂN BINH CHỦNG


Trung đoàn 98 Công binh, nguyên là Trung đoàn bộ binh, thành lập ngày 16 tháng 7 năm 1946 tại Quảng Ninh, một trong những trung đoàn thành lập sớm nhất của quân đội ta. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn đã chiến đấu ngoan cường tại Hồng Quảng, tham gia chiến dịch Đường 18, Dường 4, quân địch phải hoảng sợ. Đồng chí Vũ Mạnh Hùng, Trung đoàn trưởng 98 đã hy sinh anh dũng tại trận Hạ Chiểu tháng 4 năm 1951, được Đảng, Nhà nước truy tăng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 1999.


Tháng 5 năm 1951, Trung đoàn 98 trong đội hình Đại đoàn 316, liên tục chiến đấu trong vùng địch hậu Bắc Ninh và các chiến dịch Thượng Lào - Tây Bắc, Điện Biên Phủ, lập nhiều chiến công xuất sác, được Hồ Chủ Tịch tặng cờ "Thành tích đáng khen”. Tỉnh uỷ, Ủy ban Kháng chiến tỉnh Bắc Ninh tặng cờ "Vì nhân dân, vì Tổ quốc" trong chiến dịch Bắc Ninh và có "Quyết chiến Quyết thắng" ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Một trong những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc tiêu biểu là Anh hùng Lực lượng vũ trang Đặng Đức Song.


Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, nửa nước hoà bình khỏi phục kinh tế, tiến lên chú nghĩa xã hội, quân đội được xây dựngchính quy từng bước hiện đại, trong huấn luyện "Trung đoàn chiến đấu" đạt loại khá giỏi, được giữ cờ luân lưu của Hồ Chủ Tịch "Học tập khá nhất".


Năm 1957, Trung đoàn tham gia diễn tập “Sư đoàn chiến đấu" trong đội hình Sư đoàn 312. Đầu năm 1958 sau khi diễn tập xong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Trung đoàn giữa thao trường dưới chân núi Tam Lộng, Vĩnh Yên. Đại tướng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn: trở lại Điện Biên Phú, vừa xây đựng đơn vị vừa tham gia sản xuất, đưa chiến trường năm xưa thành vùng kinh tế - quốc phòng manh, góp phần nâng cao đời sống vùng các dân tộc Điện Biên, từ nông nghiệp lạc hậu đói nghèo được ấm no, tiến lên theo kịp miền xuôi...


Tết Mậu Tuất 1958, Bác Hồ đã đến thăm Sư đoàn và động viên bộ đội trở lại Tây Bắc, Bác nói đại ý:

Các chú có công giải phóng Điện Biên, nay tiếp tục được xây dựng Điện Biên mạnh về quốc phòng, vững vàng về chính trị, giàu về kinh tế, văn hoá phát triển, đẩy lùi lạc hậu, đói nghèo, đưa đồng bào Tây Bắc nói chung, Điện Biên nói riêng, theo kịp miền xuôi cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội... Các chú làm tốt năm sau Bác lại sẽ lên thăm.


Đồng chí Nguyễn Kiện, Chính uỷ Sư đoàn hứa với Bác:

"Chúng cháu sẽ nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bác, xác định lấy Tây Bắc là quê hương thứ hai, cùng sát cánh với Đảng và chính quyền địa phương, quyết đưa mảnh đất anh hùng này thành khu vực giàu có...".


Bộ quyết định chuyển Sư đoàn thành Lữ đoàn 316. Trung đoàn 174 làm nông trường Điện Biên, Trung đoàn 176 xây dựng công nghiệp kiến thiết Điện Biên, Trung đoàn 98 thành Trung đoàn Công binh, mở đường 42 từ Tuần Giáo lên Điện Biên thành đường cấp 4 miền núi.


Mùa xuân 1958, Trung đoàn hành quân từ Vĩnh Yên bằng xe lửa lên Yên Bái, vượt sông Đà rồi đi bộ theo đường Lũng Lô năm xưa, qua đèo Chẹn, tiếp tới Phù Yên, nơi đây Trung đoàn đã đánh đồn Bản Mo, được đồng bào Thái vui mừngđón tiếp và đơn vị theo đường 6 qua Yên Châu vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo.


Chỉ huy sở Trung đoàn đặt tại thị trấn Tuần Giáo. Tới đây, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 98 tiếp tục hành quân lên Điện Biên được biên chế vào Lữ đoàn 316. Tiểu đoàn 3 cùng với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (thuộc Sư đoàn 312) và Tiểu đoàn 4 (thuộc Sư đoàn 320) tổ chức thành Trung đoàn 98 Công binh cầu đường. Hành quân trong hoà bình, nhưng lãnh đạo tư tưởng trở lại Điện Biên không đơn giản. Sư đoàn 316, Sư đoàn 312 vinh dự được tham gia giải phóng Điện Biên, quen rừng núi nay trở lại coi thường gian khổ. Nhưng lính Sư đoàn 320 từ đồng bằng lên miền núi là một thử thách lớn.


Nhiệm vụ chuyển binh chủng của Trung đoàn 98 thật đặc biệt: Cấp trên chỉ đạo Đảng uỷ Trung đoàn phải tổ chức Đại hội Đảng lần thứ 2 nhằm: Xác định nhiệm vụ xây dựng đơn vị trong tình hình mới và quán triệt nhiệm vụ mở đường từ Tuần Giáo đi Điện Biên, Đại hội lần này phải giải quyết được ổn định việc chuyển binh chủng từ đơn vị bộ binh thành Trung đoàn Công binh cầu đường, trực thuộc Quân khu Tây Bắc.


Quân đội ta tiến lên chính quy từ bộ binh chuyển binh chủng khác là chuyện bình thường. Nhưng ở đây Trung đoàn 98 phải làm một lúc nhiều việc: Tổ chức đơn vị thành một công trường thi công cầu đường, có đơn vị cầu bê tông, có đơn vị phá đá mở đường, làm mặt đường cấp phối... nhưng đơn vị lại không có một kỹ sư hoặc trung cấp cầu đường, cán bộ đại đội tiểu đoàn, cơ quan tham mưu chưa amhiểu nghiệp vụ cầu đường. Trung đoàn phải gửi Bộ Giao thông mở một lớp bồi dưỡng kỹ thuật và quản lý thi công cầu đường ngắn ngày trong 3 tháng, Trung đoàn mở lớp tập huấn từng khoa mục bồi dưỡng cho cán bộ trung đội, tiểu đội làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó.


Công trường 426 biệt phái cho Trung đoàn bốn cán bộ trung cấp cầu đường, trong đó có đồng chí Lê Ngọc Hoàn trung cấp cầu đường khoá 7 (sau này là Bộ trương Bộ Giao thông vận tải) bám sát công trường sinh hoạt như người lính. Mặt khác đưa chiến sĩ đi đào tạo lái xe máy, cử cán bộ đi đào tạo sĩ quan công binh, trung cấp cầu đường và đại học.


Tình hình tư tưởng ổn định, phát động thi đua với khẩu hiệu: “bắt núi cúi đầu", "lập công tập thể", phong trào cải tiến kỹ thuật, nuôi quân giỏi, anh nuôi đưa cơm trưa nóng, nước nóng tại mặt đường, khí thế "Thi đua ba nhất" rất sôi nổi. Chỉ tiêu một công đào 0,70 mét khối nhưng có tổ 3 người đã cải tiến kỹ thuật, đào đất đá 24 mét khối, bình quân 8 mét khối một đầu người. Chính những chiến sĩ trước lúc lên đường không yên tâm, nay lại là kiện tướng đào đất đá, sau đó có chiến sĩ được kết nạp vào Đảng.


Ngoài nhiệm vụ làm cầu đường, Trung đoàn còn tổ chứcmột đại đội làm tiểu nông trường Mường Ẳng trên đường mới mở, thu hút vợ con cán bộ chiến sĩ lên xây dựng Tây Bắc. Sau này tiểu nông trường này trực thuộc Nông trường Điện Biên, hiện nay phát triển thành thị tứ Mường Ẳng.


Một năm sau đã có trên 20 cán bộ chiến sĩ đưa vợ lên công trường, những đôi vợ chồng đó xác định Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình. Trong 3 năm mở xong nền đường, Côngtrường 426 đưa 3 đại đội công nhân nữ lên khai thác cát sỏi, rải cấp phối mặt đường, cả công trường thi đua lao động sôi nổi.


Ngày nghỉ chủ nhật, lính ta và chị em công trường có dịp gặp nhau, làm qụen, rủ nhau tới căng tin, may vá, cắt tóc, chụp ảnh, ăn phở, uống trà tại khu vực Trung đoàn bộ. Họ tìm đồng hương, bắt bạn và xuất hiện những cặp trai gái mới yêu nhau và sau đó xây dựng gia đình.


Nhà văn Nguyễn Tuân đi thực tế tại công trường, thường nghỉở cơ quan chính trị, cụ hay lang thang xuống công trường, ngắm cảnh đẹp tìm cảm hứng, gặp nhiều cặp tình nhân mộng mơ bên bờ suối, và nhiều cặp đã thành vợ thành chồng, tiếp đó nhiều tiếng trẻ thơ ấm áp cả núi rừng. Cụ Nguyễn đã viết phóng sự, ký sự, sổ tay dày đặc các địa điểm: Tuần Giáo, Xuân Tre, Nả Tấu, Điện Biên,... Cụ đọc nhiều bài viêt cho cán bộ chiến sĩ cùng nghe, lãng mạn từ cảnh đến người, phác hoạ nên viễn cảnh của Tây Bắc trong tương lai. Điện Biên Phủ sẽ là một thành phố tráng lệ, một điểm du lịch hấp dẫn của đất nước, những cháu bé ra đời hôm nay sẽ là cán bộ xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai, ở quê hương thứ hai mà cha mẹ các cháu đã xác định...


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:31:51 am
Hai Trung đoàn 831 (Trung đoàn 83, Sư đoàn 335 lảm đường Bản Hoa - Xồm Lồm Mộc Châu) và 98 trực thuộc Quân khu được tổ chức biên chế giống nhau: biên chế thành 3 tiểu đoàn (1, 2, 3), một đại đội cầu, một trung đội xe máy, một trung đội khảo sát. Ban chỉ huy Trung đoàn 98: Đồng chí đại uý Phạm Ngọc Các, Trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Phụ Hồng, Chính uỷ, đại uý Phạm Hữu Trí, Chủ nhiệm chính trị...


Kỹ sư Đỗ Bát, Trưởng ban Chỉ huy Công trường 426, có nhiều năm trong nghề đã từng thiết kế chỉ huy thi công đường Lũng Lô, Đèo Chẹn trong kháng chiến chống Pháp. Ông rất quan tâm giúp đỡ Trung đoàn, thắt chặt đoàn kết giữa đơn vị và công trường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ, mơ rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và ở Lào hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Ngày 30 tháng 10 năm 1959, Đảng, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào thoa thuận nhận quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào.


Bạn Lào yêu cầu Quân khu Tây Bắc phối hợp cùng quân và dân Bạn giải phóng tỉnh Phông Xà Lì. Quân khu điều động Trung đoàn 98 mở đường quân sự làm gấp từ Nậm Ngà đi Mường Khoa. Trung đoàn được trang bị một số xe Gatz, dụng cụ cầm tay, bộc phá, cấp tốc hành quân. Được phục vụ chiến đấu anh em phấn khởi lên đường.


Giữa mùa mưa năm 1961, vào mùa mưa ở Lào. Trung đoàn tập trung về nước củng cố và nhận nhiệm vụ mới. Bộ Quốc phòng cử đồng chí Chu Minh Hương, Chủ nhiệm Chính trị Cục Công binh và một đoàn cán bộ lên làm việc với Quân khu Tây Bắc, nhận hai Trung đoàn 98 và 83 về trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Trung đoàn 98 được phổ biến chủ trương của trên cho một số chiến sĩ phục viên, giải quyết chính sách hoặc chuyển ngành. Cơ quan cán bộ làm việc ngày đêm, sắp xếp cán bộ ổn định cho 3 tiểu đoàn, giải quyết chuyển ngành 30 cán bộ sang Bộ Giao thông vận tải, 22 cán bộ về Tổng cục Địa chất, hơn một chục cán bộ chuyển ngành về khu tự trị Thái Mèo vào các cương vị cấp huyện, cùng với một số chiến sỹ có vợ con tự nguyện ở lại làm công nhân các nông trường và Công trường 426.


Cuối tháng 8 năm 1961, Trung đoàn tổ chức hành quân bằng ô tô, chuyển vùng trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Đường 42 mới rải câp phôi chạy êm ru, mọi người tự hào đây là thành quả của Trung đoàn làm nên. Tạm biệt Điện Biên, tạm biệt Tuần Giáo, đơn vị qua đường 6 xuôi đường số 1 đến Nông Công tỉnh Thanh Hoá, nơi tập kết của Trung đoàn. Chỉ huy sở Trung đoàn đóng ở Phố Chuối bên bờ sông Mực, một vùng sơn thuỷ thơ mộng, nhân dân hân hoan đón nhận những người lính về ở nhà mình.


Ổn định nơi đóng quân xong, làm một số nhà tạm, chuẩn bị thao trường huấn luyến. Đại uý Chu Minh Đông, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 được bổ nhiệm Tham mưu trưởng, đại uý Trần Lê Vân chính trị viên Tiểu đoàn 2 làm Chủ nhiệm Chính trị, bổ sung 5 cán bộ trung cấp cầu đường Song Hải, Phạm Minh, Nguyễn Đình Tùng, đồng chí Lân, đồng chí An và kỹ sư Nguyễn Xuân Tiếu. Số cán bộ trung đoàn cử đi học năm trước nay về lại đơn vị nhận công tác.


Tháng 10 năm 1961, nhận lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Trung đoàn hành quân vào Quân khu 4. Trung đoàn được trang bị thêm một số khí tài, đội ngũ chỉnh tề, hành quân bộ trên đường số 1, dân bảo bộ đội đi dã ngoại. Vào đến Hà Tĩnh ngược lên Hương Khê vào đường 12, dặt chỉ huy sở tiền phương tại Bãi Dinh, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Nhiệm vụ được giao là bảo đảm giao thông từ Bãi Dinh vào cổng trời Cha Lo, mở rộng đèo Mụ Dạ sang Ba Na Phào và nâng cấp đường 129 đoạn Lằng Khằng đi Pha Nốp trên đất bạn Lào, kịp thời phục vụ chiến dịch Thà Khống giải phóng 6 huyện dọc biên giới Lào Việt, đồng thời tạo điều kiện cho Đoàn 559 lật cánh sang tây Trường Sơn.


Tháng 4 năm 1962, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Lào, Trung đoàn trở về đường 16 mở rộng đường và bảo đảm giao thông từ Thạch Bàn đi Vít Thù Lù, vào Làng Ho tạo điều kiện vượt Trường Sơn sang Lào. Chỉ huy sở tiền phương thời gian này đóng ở Phú Lương. Tuy gặp nhiều khó khăn về thời tiết mưa lũ, sốt rét, thiếu phương tiện thi công anh em vẫn xác định nhiệm vụ: “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", xây dựng con đường chiến lược góp phần chi viện giải phóng miền Nam.


Năm 1963, Cục Công binh giao nhiệm vụ: Tiểu đoàn 1 phối thuộc cho Đoàn 559, tiếp tục mở đường Trường Sơn, hai tiểu đoàn mở công trường làm trận địa pháo bờ biên,Tiểu đoàn 2 tại cửa Hội Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn bộ về Thanh Khê, Quảng Bình. Trung đoàn được bổ sung một số xe ben, máy ép hơi, khoan đá, máy lu và xe tưới nước. Tiểu đoàn cầu, bắc cầu gỗ ở Sa Lung, ở Vĩnh Linh trên đường sắt, đây là công trình thí nghiệm của Cục Công binh đồng thời phục vụ cho quân ta cơ động vào giới tuyến Vĩnh Linh. Tháng 3 năm 1964, Trung đoàn về chỉ huy sở cơ bản ở Phố Chuối, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu kiện toàn Tiểu đoàn 2 bộ binh làm nhiệm vụ tình nguyện tại Hạ Lào, các lực lượng còn lại do Cục Công binh điều động.


Tháng 6 năm 1964, Trung đoàn được kiện toàn, nhận Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 219, cấp trên bổ sung quân số tổ chức Tiểu đoàn 3, cùng với Tiểu đoàn 1 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, mang tên gọi Chi hội Bình Minh hành quân sang Bản Đông - La Hạp, mở đường cơ giới tây Trường Sơn.


Và ngày 09 tháng 8 năm 1964, Trung đoàn 98 bổ nhát cuốc đầu tiên thi công đoạn đường này. Ngày 09 tháng 8 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn Công binh 98 mở đường cơ giới Trường Sơn.

Với truyền thống từ một trung đoàn bộ binh chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 316 tại chiến dịch Điện Biên Phủ đến xây dựng kinh tế vùng Điện Biên nay trở thành Trung đoàn Công binh Trường Sơn, hơn chục năm chiến đấu ở Trường Sơn, Trung đoàn tham gia mở đường mới, bảo đảm giao thông, mở các đường chiến dịch, tham gia mở đường kín, đường xây dựng cơ bản đông Trường Sơn, nhiệm vụ nào Trung đoàn cũng hoàn thành xuất sắc.


Ngày 03 tháng 9 năm 1973, Trung đoàn 98 Công binh được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:35:48 am
(https://i.imgur.com/O3dtIWm.jpg)

Đại tá
NGUYỄN VĨNH


Sinh năm:   1934
Quê quán:   Phong Chương, Phong Điền, Thừa Thiên- Huế
Thường trú: 12, Ngõ 281, Phương Mai, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội
Cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 5 năm 1965
Điện thoại: 04.38524577 - 0126.6026424
Nguyên Đội trưởng Đội Khảo sát Công binh, Đại uý Phó phóng Thiết kế, Cục TMCB, Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Giám đốc Công ty 98, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn


NHỮNG NGÀY ĐẦU VÀO TRƯỜNG SƠN


Tôi đang khẩn trương tham gia khảo sát thiết kế đoạn đường sắt Vinh đi Sa Lung thì có giấy triệu tập về Viện Thiết kế Giao thông.

Vừa về đến Viện, anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng gọi lên thông báo cho biết tôi sẽ vào công tác ở Trường Sơn.

Tháng 4 năm 1965, tôi cùng một số cán bộ Viện Thiết kế nhận quyết định của Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Bộ Tư lệnh 559, tham gia mở đường Trường Sơn. Đoàn chúng tôi gồm phần lớn là các đồng chí cán bộ kỹ thuật của Viện và một số ít các đồng chí ở đơn vị khác cùng đi. Tôi được giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn đẫn cán bộ công nhân vào nhận nhiệm vụ. Đoàn chúng tôi được giao áp tải 12 xe Gatz 63 chở hàng hậu cần giao cho Công trường 128 bên đất Lào. Tôi chỉđịnh các trưởng xe, phổ biến nội quy hành quân, quy định địa điểm trú quân cho mỗi ngày. Được phổ biến địch đã mở rộng đánh phá ra toàn miền Bắc, nhiều cầu phà trên đường số 1 đã bị đánh sập, đoàn xe chúng tôi phải lắp đèn gầm chạy đêm. Ngày nghỉ đêm đi, lấn sáng lấn chiều mà cũng phải mất 7 đêm mới đến “R” tại Khe Ve đầu đường 12, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.


Vào căn cứ, chúng tôi được Tư lệnh Đoàn 559, thiếu tướng Phan Trọng Tuệ trực tiếp giao nhiệm vụ. Ông nói ý nghĩa chính trị, tầm quan trọng của tuyến đường, động viên chúng tôi cố gắng hoàn thành sớm nhiệm vụ được giao, đồng sức đồng lòng “vì miền Nam ruột thịt". Ông chân tình căn dặn chúng tôi: nhân dân nước bạn còn nghèo nhưng tinh thần chống Mỹ cao, Việt và Lào phải đoàn kết trong nhiệm vụ chung, phải tôn trọng giúp đỡ nhân dân nước Bạn để cùng chung tay đánh Mỹ. Tư lệnh còn dặn dò, chỉ bảo cho chúng tôi các chặng đường đi tới công trường bộ, nhắc nhở qua địa phận Seng Phan phải tranh thủ đi thật nhanh tránh nước lũ, đường ngập không đi được. Tư lệnh dặn dò thật tỉ mỉ, chúng tôi như cảm nhận được rằng ông vừa đi kiểm tra thực tế về. Gần gũi thân tình như không còn khoảng cách. Tôi thay mặt anh em hứa với Tư lệnh sẽ phấn đấu làm tròn nhiệm vụ cấp trên giao.


Hôm sau, theo đường 12 đến Cha Lo trời đã có mưa. Vượt đèo Mụ Giạ qua đất Lào mưa to hơn, đường đã trơn trượt, qua Seng Phan đến Xóm Péng thì đường đã lầy lội, xe không đi được. Chúng tôi phải hành quân bộ hơn 20 ki lô mét nữa mới đến được Tha Pa Chôn, nơi công trường bộ đóng quân, bàn giao xe hàng cho hậu cần và nhận nhiệm vụ do công trường giao.


Tôi và anh em cán bộ kỹ thuật công nhân Viện Thiết kế cùng đi chuyến xe nhận nhiệm vụ thành lập một tổ khảo sát đoạn từ Xóm Péng đi Tha Pa Chon, tiếp nối với tổ khảo sát anh Trần Văn Cư và tổ anh Nguyễn Tiến Duy đang ở phía ngoài.


Đã vào chính mùa mưa. Mưa ở Lào thật khó tả, mưa không giống nơi nào ở đất Việt. Mưa liên tục suốt ngày đêm, vừa mưa to vừa gió lớn. Cành cây khô ải mục, nhiều cành cây tươi vẫn gãy đổ xuống rừng, đã có tai nạn do đổ cây như vậy. Đường sá lầy lội đi lại khó khăn vất vả, nhưng nhờ lời động viên của Tư lệnh, thiếu tướng Phan Thanh Xuân (mật danh của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ ởchiến trường), anh em chúng tôi vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, sớm giao được đồ án cho đơn vị thi công.


Khi công trường mở thông đến Lùm Pùm, đạt 2/3 chiều dài đoạn đường Công trường 128 đảm nhận, tôi được gọi lên Phòng Công Binh đoàn 559 nhận nhiệm vụ mới. Thượng tá Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó phu trách công binh giao cho đồng chí Nguyễn Xuân Tiểu, nguyên là Chỉ huy phó Công trường 113, Trưởng phòng kỹ thuật Công trường 128 và tôi có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và trực tiếp giúp đỡ kỹ thuật cho các tổ khảo sát của Công trường 128 và Công trường 20 lúc này gồm 6 tổ rải quân khảo sát từ Phong Nha, Quảng Bình (Việt Nam) đến Lùm Pum, Khăm Muộn (Lào). Đồng chí Nhạn cho chúng tôi biết tuyến đường 20 là tuyến đường khó về mặt kỹ thuật, địa hình phức tạp, nhiều đèo dốc cao, suối sâu, khối lượng đá lớn, nhiều cầu cống. Tư lệnh đã chỉ thị cho cơ quan Tham mưu công binh phải chọn cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm đảm nhiệm việc này. Một lần nữa tôi lại thấy Tư lệnh quan tâm đến cả những vâri đề kỹ thuật cụ thể như vậy.


Chúng tôi ra Phong Nha, kiểm tra kỹ thuật khảo sát, duyệt thiết kế từ đông sang tây đường 20. Các tổ khảo sát phía đỏng làm việc rất khẩn trương, không kể mưa gió dốc đèo Địa hình cả 4 tổ khảo sát phía đông rất phức tạp, nhưng phức tạp nhất vẫn là đoạn giữa từ Ba Thang đến Cà Roòng.


Hai tổ phía tây, khó khăn nhất vẫn là đoạn cua Chữ A, đường lên xuống ngầm Ta Lê và đèo Phu La Nhích. Nhờ có cán bộ kỹ thuật được lựa chọn từ ban đầu có chất lượng chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao, công trình phức tạp khó khăn đến mấy cùng có thể hoàn thành.


Hai công trường 20 và 128 đã hoàn thành nhiệm vụ thi công tuyến đường 20, tuyến cửa khẩu thứ hai từ hậu phương sang chiến trường, tránh được túi nước Seng Phan ngập lụt trong nhiều tháng. Những năm sau đó, suốt cả thời gian vận chuyển hậu cần, binh khí kỹ thuật phục vụ cho các chiến trường, đường 128 và đường 20 đã phát huy tác dụng là hai trục tuyến đường, một trục dọc, một trục ngang quan trọng nhất trong hệ thống tuyến đường Trường Sơn.


Ngày 25 tháng 11 năm 1965, sau khi hoàn thành khảo sát hai tuyến đường này, Đội Khảo sát Công binh trực thuộc Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559 được thành lập tập hợp được các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật làm công tác khảo sá tthiết kế từ Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Đoàn 559.


Sau đó, khi thành lập Cục Tham mưu Công binh Phó Viện trưởng Viện thiết kế Giao thông vận tải Nguyễn Nam Hải chuyển sang làm Phó Cục trưởng, trực tiếp chỉ đạo công tác khảo sát thiết kế và mở đường mới trên khắp chiến trường. Đến năm 1975, mạng đường cơ giới Trường Sơn đã có 5 trục dọc, 21 trục ngang với hơn 20.000 ki lô mét.


Như mong ước của Đảng và Nhà nước và Quân đội phải mở tiếp, mở nhiều đường cơ giới thông tuyến vào tận chiến trường mà Tư lệnh Phan Trọng Tuệ được giao trọng trách cùng Bộ Tư lệnh 559 thực hiện từ đầu năm 1965. Từ những chiến tích ban đầu đó, những năm sau bộ đội Công binh Trường Sơn, với nhiều trung đoàn, sư đoàn thiện chiến, có tay nghề cao, đã mở được một hệ thống đường ngang, trục dọc thông suốt để xe vận chuyển vật chất, binh khí kỹ thuật vào chiến trường đánh to thắng lớn.


Đặc biệt, mùa xuân năm 1975, đại quân ta, xe tăng, pháo binh từ miền Bắc thần tốc rầm rộ theo con đường Trường Sơn vào giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:36:51 am
ĐƯỢC THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - XUÂN 1975

Nguyễn Vĩnh


Đường vận chuyển cơ giới của Đoàn 559 đoạn Đắc Lắc đi miền Đông Nam Bộ, trước 1974 phải đi vòng qua địa phận Cam Pu Chia. Đểvận chuyển vũ khí và quân dụng nhanh vào chiến trường B2 phục vụ cho chiến dịch đánh lớn, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lệnh cho Công binh Trường Sơn gấp rút mở đường phía đông từ Đắc Lắc vào Bù Gia Mập trên địa phận Việt Nam. Năm 1974, Trung đoàn Công binh 574 được thành lập, di chuyển từ bắc đường 9 vào mở đường này. Đồng thời để chuẩn bị cho chiến dịch, nên giao thêm nhiệm vụ mở các đường chiến dịch, hướng về thị xã Buôn Ma Thuột. Công việc mở đường khẩn trương bí mật, những con đường chiến địch được thi công nhanh trước chiến dịch đánh vào Buôn Ma Thuột vài tháng.


Sau khi trinh sát mở các đường đó xong, chúng tôi được lệnh chuyển ra phía ngoài để trinh sát mở đường từ Thừa Thiên Huế vảo Quảng Nam chuẩn bị cho chiến địch đánh Đà Nẵng.

Đánh nhanh thắng nhanh, ngày 29 tháng 3 năm 1975 quân ta giải phóng Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 4 năm 1975, quân ta tiến đánh vào giải phóng Quảng Nam, tiếp đó giải phóng luôn Quảng Ngãi.

Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhanh chóng điều lực lượng các trung đoàn công binh chuyên về quốc lộ 1 bảo đảm giao thông để cho đại quân di chuyển tiến vào giải phóng các tỉnh phía nam.

Chúng tôi được điều về đường quốc lộ 1, trinh sát khắc phục cầu đường từ Quảng Trị trở vào.

Trên quốc lộ 1, khi quân địch rút chạy đã đánh hỏng một số cầu hòng ngăn chặn quân ta tiến công vào phía trong. Từ Quảng Trị trở vào các trung đoàn công binh đã khắc phục nhanh chóng các cầu bị hư hỏng. Công binh từ Trường Sơn trở về chưa quen lắp nhanh cầu dàn sắt, cán bộ kỹ thuật ít, chúng tôi đã huy động một số nhân viên kỹ thuật công binh địch bỏ về nhà, cùng tham gia với bộ đội ta tiến hành khắc phục những cầu hư hỏng. Ở các chi khu quân sự của địch thường có một tiểu đoàn công binh. Khi quân địch bỏ chạy, kho tàng của chúng có các khí tài và vật tư phục vụ cho cầu đường. Lực lượng công binh ta nhanh chóng chiếm giữ và huy động các kho vật tư đó ra lắp đặt lại các cầu hư hỏng.


Các lực lượng công binh Sư đoàn 470, 472 rải ra dọc quốc lộ 1 bảo đảm cầu đường cho lực lượng đại quân từ miền Bắc hành quân vận chuyển vũ khí, đạn dược vào giải phóng miền Nam.

Đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ theo sát bộ binh, quân ta đến đâu phải giải quyết thông đường đến đó, bảo đảm cho xe chuyển quân, xe tăng pháo binh hành quân vào chiến dịch nhanh chóng.

Nhìn những đoàn xe vận chuyển bộ đội, vũ khí, lương thực từ miền Bắc nối nhau từng đoàn đài tiến vào miền Nam, chúng tôi vô cùng phấn khởi. Lực lượng công binh ta càng hăng hái bảo đảm cho cầu đường luôn luôn thông suốt.


Lệnh “thần tốc” của đại tướng Võ Nguyên Giáp được chuyển trực tiếp từ người này đến người khác, từ đoàn này đến đoàn khác, nhanh chóng đến tiền tuyến, chiến đấu và chiến thắng quân địch giải phóng miền Nam.


Từ 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Các lộ trên các mũi tiến công Sài Gòn luôn được thông suốt. Xe pháo, đại quân tiến vào Sài Gòn thuận lợi.

Tin chiến thắng tới tấp dội về, chúng tôi và các lực lượng công binh rất phấn khởi, tự hào vì đã góp phần cùng các binh chủng chiến đấu thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.