Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:28:28 am



Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:28:28 am
- Tên sách: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2010
- Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory
 

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu - Nguyên Phó Chính uỷ kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân; Nguyên Chính ủy Quân chủng Phòng không; Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu Cục Chính trị Phòng không - Không quân


BAN BIÊN TẬP

- Đại tá Lê Miên
- Đại tá Trần Quốc Hanh
- Đại tá Nguyễn Xuân Mai
- Trung tá Trần Cường
- Chuẩn uý - hoạ sỹ Vũ Huyên
 

 


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:29:16 am
LỜI NÓI ĐẦU


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là cơ quan tham mưu về công tác đảng, công tác chính trị của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng. Cán bộ cơ quan Cục Chính trị dưới sự lãnh đạo của Dảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng đã thường xuyên bám sát cơ sở, có mặt ở nhiều điểm nóng trên các chiến trường, giúp các cấp lãnh đạo thực hiện có hiệu quả kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu.


Những năm tháng chiến đấu ác liệt bảo vệ bầu trời Tổ quốc, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dầu bận trăm công nghìn việc, vẫn nhiều lần đến động viên bộ đội ngay bên mâm pháo, dưới cánh bay, bên bệ phóng tên lửa, trước màn hiện sóng ra-đa, tại sở chỉ huy và các cơ quan Quân chủng... Những sự kiện có ý nghĩa lịch sử ấy, cán bộ cơ quan Cục Chính trị đã ghi nhận được nhiều lời dạy bảo ân cần, sâu sắc và những hình ảnh vô cùng quý giá, nhất là của Bác Hồ. Những lời dạy bảo của Người, của các đồng chí lãnh đạo trở thành nội đung trọng tâm trong công tác đảng, công tác chính trị, là sức mạnh tinh thần to lớn, động viên toàn Quàn chủng nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành.


Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa. Sau gần 40 năm, thế hệ cán bộ, chiến sĩ Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân trong kháng chiến chống Mỹ nay đã về cuộc sống đời thường, song tình cảm gắn bó với Quân chủng trong khói lửa chiến tranh vẫn còn sâu nặng. Những kỷ niệm của tình đồng chí, đồng dội một thời gắn bỏ bên nhau trong công tác, trong chiến đấu vẫn để lại những dấu ấn không phai, mang đậm tình cảm cao quý của "Anh bộ đội Cụ Hồ".


Nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, theo nguyện vọng của đông đảo cựu chiến binh Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, được sự động viên, giúp đỡ hết lòng, có hiệu quả của Bộ Tư lệnh và Cục Chính trị Quân chủng, Ban liên lạc Bạn chiến đấu Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân cho ra mắt tập sách "Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên Đây là tập hồi ức của nhiều tác giả, ghi lại những kỷ niệm sâu sắc của mình trong những năm tháng chiến tranh đã công tác ở Cục Chính trị Quân chủng. Tập sách không chỉ nhằm mục đích cùng ôn lại một thời oanh liệt, rất đỗi tự hào của cơ quan công tác đảng, công tác chính trị Quân chủng, mà còn mong góp phần truyền thụ truyền thống kháng chiến cứu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.


Tuy nhiên, do đặc điểm về tuổi tác và thời gian, những bài viết trong tập sách không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong các đồng chí và bạn đọc góp ý phê bình.

Xin chân thành cảm ơn Bộ Tư lệnh và Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - không quân đã hết lòng giúp đỡ để tập sách được ra mắt độc giả.


TM BAN LIÊN LẠC BẠN CHIẾN ĐẤU
CỤC CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦNG PK-KQ
Trưởng ban
Trung tướng NGUYỄN XUÂN MẬU
Nguyên Phó Chính ủy kiêm
Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:30:49 am
NGUỒN SỨC MẠNH


Đặng Tính


Lúc sinh thời, đồng chí Đặng Tính, Chính ủy đầu tiên của Quân chủng Phòng không - Không quân, rất quan tâm viết văn, thơ tuyên truyền trên báo. Ông đã có nhiều bài thơ hay đăng trên báo Phòng không - Không quân. Nhiều lần ông dành cả ngày nghỉ, giờ nghỉ cùng các biên tập viên báo Phòng không - Không quân ghi lại những ký ức và cảm nghĩ của mình, nhất là đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu.


Bài "Nguồn sức mạnh" do Chỉnh uỷ Đặng Tính viết ngay sau khi Bác Hồ vừa mất tháng 9/1969. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã in bài viết này của Chỉnh uỷ Đặng Tính, mớ đầu cho tuyến tập văn thơ của Quân chủng, xuất bản nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Bác Hồ (19-5-1980). Tập sách được lấy tên "Nguồn sức mạnh".


Cuối năm 1963, giữa lúc tin chiến thắng từ tuyến đầu Tổ quốc dồn dập bay về, thì một tin vui khác đã đến với chúng tôi: Ngày 22/10 năm ấy, theo quyết định của Bộ Quốc phòng, các lực lượng phòng không và không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân. Việc thành lập Quàn chủng Phòng không - Không quân đã đánh dấu bước phát triển mới của quân đội ta trước yêu cầu của tình hình mới; phù hợp với nguyện vọng tha thiết của toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng phòng không và không quân từ lâu đã từng gắn bó mật thiết với nhau trong một nhiệm vụ, trong một tình yêu tha thiết với bầu trời Tổ quốc. Nay hợp sức hai lực lượng, đã tạo nên sức mạnh mới cùng các lực lượng vũ trang nhân dân ta bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, quyết tâm giải phóng miền Nam ruột thịt.


Vừa thành lập Quân chủng được ít ngày, anh Phùng Thế Tài và tôi được Bác Hồ gọi lên báo cáo tình hình bộ đội. Nghe chúng tôi báo cáo xong, Bác đã chỉ thị nhiều vấn đề cụ thể về tổ chức lực lượng, giáo dục bộ đội, xây dựng quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, phối hợp với chiến trường miền Nam. Bác căn dặn: "Phải phát huy được sức mạnh sau khi hợp nhất, sẵn sàng cùng các lực lượng vũ trang nhân dân ta, đập tan mọi âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa"...


Nhận chỉ thị của Bác ra về, lòng chúng tôi rất phấn khởi. Chúng tôi càng tin tưởng trước đà thắng lợi của cách mạng trên cả nước, trước sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta nói chung và lực lượng phòng không - không quân nói riêng.


Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển lực lượng phòng không ta, từ các đại đội hoặc tiểu đoàn phòng không trợ chiến nằm trong biên chế các đại đoàn bộ binh, đến đầu năm 1954, những tiểu đoàn pháo cao xạ đầu tiên ra trận đã lập chiến công vẻ vang, góp phần xứng đáng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Và từ những đơn vị đầu tiên của không quân ta còn rất nhỏ bé, nay đã trưởng thành trong một Quân chủng tương đối hoàn chỉnh, có bộ đội pháo cao xạ, không quân, ra-đa. Rõ ràng Quân chủng Phòng không - Không quân được sinh ra và lớn lên trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Khi được Đảng và Bác Hồ giao nhiệm vụ, ngay từ những ngày đầu, chúng tôi đều tin tưởng Quân chủng Phòng không - Không quân nhất định làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng hết sức vẻ vang của mình trong giai đoạn mới của cách mạng.


Chỉ thị mới của Bác cùng với những nghị quyết của Đảng về tình hình nhiệm vụ, đã đặt ra hàng loạt vấn đề đối với Quân chủng. Nhưng nhiệm vụ then chốt nhất là làm sao cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu thật cao, quyết tâm thật vững chắc để bắn rơi được máy bay địch, nếu chúng liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bắc.


Nhiều công việc được tiến hành rất khẩn trương. Xác định đối tượng tác chiến là máy bay phản lực Mỹ, toàn Quân chủng ra sức luyện tập và trực ban sẵn sàng chiến đấu không quản ngày đêm, giá rét. Có những giấc ngủ đang ngon, bộ đội cũng vùng dậy chạy ra mâm pháo. Có những bữa ăn ba lần mới xong vì báo động, nhưng cơm vẫn hết, mọi người vẫn vui...


Thấm thoắt đã đến Tết Giáp Thìn, Tết đầu tiên từ khi Quân chủng được thành lập. Được trên thông báo: Bác Hồ sẽ đến thăm một đơn vị trong Quân chủng nhân dịp dầu năm mới! Chúng tôi thống nhất mời Bác đến thăm Đại đội 130, Trung đoàn 260, một trong những đơn vị pháo cao xạ làm nhiệm vụ bảo vệ phía đông Hà Nội. Khi Bác đến, cả đại đội ai nấy đều sung sướng đến lặng người. Mãi một lúc sau, mới bật lên những tiếng reo vui: "Bác! Bác đến! Hồ Chủ tịch muôn năm!" ...


Bác tươi cười trìu mến nhìn các chiến sĩ rồi nhanh nhẹn đi thăm nhà ngủ, câu lạc bộ, nhà bếp của đơn vị. Bác tỏ ý hài lòng về nếp sống trật tự, vệ sinh của bộ đội. Sau đó, Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ:

- Hôm nay, nhân dịp đầu xuân, Bác và các đồng chí Trung ương đến thăm các chú, Bác hỏi mọi người: Các chú ăn Tết có đủ bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành không?

- Thưa Bác, đủ ạ!

- Các chú đã sẵn sàng chiến đấu chưa?

- Đã ạ!

Bác nói tiếp:

- Bác thấy chú nào cũng khoẻ mạnh, vui vè, Bác mừng. Đơn vị các chú được thưởng cờ, doanh trại trật tự, vệ sinh như vậy là tốt. Bác chúc các chú năm mới mạnh khoe, thắng lợi và nhờ các chú chuyển lời chúc Tết của Bác và các đồng chí Trung ương tới gia đình các chú ...

Những lời thăm hỏi ân cần của Bác, làm các chiến sĩ vô cùng xúc động. Mọi người đều lắng nghe như nuốt từng lời của Bác. Bác nói tiếp:

- Đế quốc Mỹ còn nhiều âm mưu hung ác. Các chú phải luôn luôn đề cao cảnh giác và lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Phải kiên quyết bắn rơi máy bay địch, nếu chúng liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bấc nước ta. Các chú mà lập được công, Tết sang năm Bác sẽ lại đến thăm!

Bác vừa dứt lời, cả đại đội không ngớt vang lên tiếng hô:

- Kiên quyết làm theo lời Bác dạy!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Không nén được tình cảm của mình ấp ủ từ bao lâu nay, các chiến sĩ ùa lại quây tròn lấy Bác. Trước khi ra về, Bác còn quay lại vẫy các chiến sĩ và nói rất vui: "Ngày Tết, các chú quên không mời Bác ăn bánh chưng, mà chỉ hô khẩu hiệu!"...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:31:45 am
Tin Bác Hồ đến thăm Đại đội 130 phút chốc lan nhanh toàn Quân chủng. Cán bộ, chiến sĩ đều hết sức phẩn khởi. Với sự nhạy cảm chính trị sẵn có, mọi người đều nhận rõ trách nhiệm của mình phải làm gì để thực hiện lời Bác dạy, vì đó chính là nhiệm vụ thiêng liêng của Đảng, của nhân dân giao cho.


Làm theo lời Bác, 6 tháng sau, trong trận đọ sức đầu tiên với không quân nhà nghề của đế quốc Mỹ, bộ đội Phòng không đã cùng với quân và dân miền Bắc bắn rơi 8 máy bay Mỹ, bắn bị thương 3 chiếc khác, bắt sống tên trung uý lái máy bay An-va-rít-dơ, góp phần xứng đáng vào chiến thắng lịch sử ngày mồng Năm tháng Tám năm 1964.


Với chiến công đầu tiên đó, Quân chủng được Quốc hội và Chính phù tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Trong lễ tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang nhân dân chiến thắng ngày 2 và 5 tháng 8, Bác đã đến dự. Hôm đó Bác rất vui. Cả hội trường tràn đầy phấn khởi và niềm tin chiến tháng. Tôi còn nhớ trước khi buổi lễ kết thúc, Bác vui vẻ giơ từng ngón tay lên nói:

- Thi đua mỗi người làm việc bằng hai, vừa qua ta bắn rơi 8 chiếc phản lực Mỹ, lần sau hai tám mười sáu, rồi ba tám hai mươi bốn ...

Chỉ thị đó của Bác đã trở thành tư tưởng chỉ đạo và chỉ tiêu phấn đấu của bộ đội Phòng không - Không quân. Mỗi lần họp bàn về lãnh đạo tác chiến, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng đều căn cứ vào đó để đặt kế hoạch hướng dẫn các đơn vị thực hiện và kiểm tra kết quả chiến đấu của mình để càng đánh càng thắng, càng mạnh, quyết giành thắng lợi cuối cùng.


Sau chiến thắng mồng 5 tháng 8, cả miền Bắc sục sôi không khí chuẩn bị chiến đấu với ý chí "Quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược!".

Các lực lượng vũ trang nhân dân ta càng tăng cường cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Các tổ săn máy bay thành lập ngày càng nhiều. Hầm hố, hào giao thông, công sự chiến đấu mọc lên khắp nơi. Ở nhiều thành phố, thị xã thường vang lên những tiếng còi, tiếng kẻng báo động trong các buổi diễn tập phòng không.


Thời gian này, bộ đội Phòng không - Không quân đã chuyển từ trạng thái có tính chất thời chiến sang hẳn thời chiến. Căn cứ vào nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân đã ra nghị quyết, chỉ rõ: "Toàn Quân chủng phải tăng cường sẵn sàng chiến đấu hơn nữa về mọi mặt, quyết tâm đánh bại âm mưu tập kích của địch đối với miền Bắc nước ta". Và từ thực tế chiến đấu, bước đầu đề ra 3 yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng không là: "Không để bị bất ngờ, đánh thắng liên tục, đánh thắng trong mọi tình huống khó khăn, phức tạp nhất!"...


Những đơn vị pháo cao xạ bảo vệ các địa điếm xung yếu, ngày đêm luyện tập theo phương án tác chiến, đắp thêm công sự, ngụy trang kỹ thêm trận địa. Các đơn vị pháo cao xạ dã chiến luôn luôn sẵn sàng cơ động chiến đấu trên mọi chiến trường. Không quân ta ngày đêm cất cánh luyện tập và phục vụ các đơn vị ở tuyến đầu. Mạng lưới ra-đa và quan sát phòng không được chấn chỉnh. Với khí thế quyết chiến quyết thắng, mọi cán bộ và chiến sĩ trong Quân chủng đều suy nghĩ và hành động theo khẩu hiệu: "Có lệnh là đi, địch đến là đánh, đánh bằng mọi vũ khí sẵn có, đánh là phải tiêu diệt. Địch chưa đến thì coi đó là việc rèn luyện để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Phải rèn luyện được ý thức sẵn sàng chiến đấu thành nếp sống hằng ngày".


Giữa lúc đó, cùng với những trận thắng lớn của quân và dân miền Nam anh hùng, chúng tôi được báo cáo về tin chiến thắng mới trên miền Bắc: Ngày 18/11/1964, đơn vị pháo cao xạ ở miền tây Quảng Bình, đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Trong trận này đã xuất hiện người bí thư chi bộ gương mẫu, người chính trị viên dũng cảm là anh hùng Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất tử: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!". Lời hô đó đã trở thành phương châm hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên các trận địa đánh máy bay Mỹ.


Đúng 13 giờ 25 phút, ngày 7 tháng 2 năm 1965, vin cớ "trả đũa" việc Quân giải phóng miền Nam đánh vào Plây-cu, đế quốc Mỹ đã dùng máy bay đánh phá khu vực Đồng Hới và từ đó không ngừng "leo thang" mở rộng chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc.


Ngay từ những ngày đầu tiên, các đơn vị trong Quân chủng đã hiệp đồng chíến đấu chặt chẽ với quân và dân địa phương, liên tiếp giành thắng lợi. "Không lực Hoa Kỳ" đã bị những đòn phủ đầu đích đáng:

Ngày 7/2/1965, quân và dân Quảng Bình bắn rơi 4 chiếc máy bay Mỹ.

Ngày 8/2/1965, quân và dân Vĩnh Linh lập công đầu vẻ vang, bắn rơi thêm 6 chiếc.

Ngày 11/2/1965, quân và dân Quảng Bình lại bắn rơi 6 chiếc, bắt sống tên thiếu tá "phi công vũ trụ" Su-mếch-cơ của Mỹ.

Những ngày cuối tháng 3, đến đầu tháng 4 năm 1965, đế quốc Mỹ một mặt tiếp tục đánh phá các tỉnh phía nam Khu Bốn, mặt khác chúng dùng máy bay trinh sát liên tục khu vực Hàm Rồng, Thanh Hoá và đưa 2 tàu sân bay Cô-ran-si và Hen-cốc tiến sâu vào vịnh Bắc-bộ. Xuất phát từ nhận định: "Ngày một, ngày hai nữa địch có thể đánh phá Hàm Rồng và các vùng phụ cận", Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng hạ quyết tâm đưa không quân tiêm kích ra chiến đấu, phối hợp với lực lượng pháo cao xạ đánh bại bước leo thang mới của địch.


Thực hiện quyết tâm đó, ngày 3/4/1965, biên đội Phạm Ngọc Lan lập chiến công đầu, bắn rơi 2 máy bay F.8 "Thập tự quân" trên vùng trời Hàm Rồng. Ngày hôm sau, cũng trên khu vực đó, biên đội Trần Hanh lại bắn rơi 2 máy bay F. 105 "Thần sấm" Mỹ.


Chiến thắng lẫy lừng của Không quân nhân dân ta làm đồng bào cả nước nức lòng, phấn khởi. Các báo đều in trên trang nhất những dòng chữ lớn ca ngợi chiến công đầu của Không quân nhân dân ta. Các văn nghệ sĩ trên cả hai miền đã sáng tác nhiều bài thơ, bài hát nói về các chiến sĩ không quân:

   Ơi những cánh thiên thần
   Rạch bầu trời chớp lửa
   Ơi các anh Không quân
   Của xóm làng ta đó!
   Cả miền Nam đêm nay
   Lòng hướng về miền Bắc
   Nghe mình đang bay bay
   Lao thẳng về phía giặc ...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:33:01 am
Sau này chúng tôi được biết thêm: Kiều bào ta ờ nước ngoài biết tin không quân ta đánh thắng, nửa đêm hôm đó, đồng bào đã đi gõ cửa từng nhà, gọi nhau:

"Bà con ơi! Biết chưa? Ta có không quân rồi! Không quân ta đã bắn rơi máy bay Mỹ rồi!"

Quân và dân ta mát lòng, hả dạ bao nhiêu thì giặc Mỹ lại kinh hoàng, lo sợ bấy nhiêu. Trong cuộc họp báo tại Sài Gòn tối 4/4/1965, tên tướng Mo-ơ, Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 của Mỹ đã buộc phải thú nhận thất bại: "Các máy bay Míc đeo phù hiệu không lực Bắc Việt đã dùng súng ca-nông để hạ máy bay phản lực siêu âm của Mỹ. Chúng tôi không bắn rơi được chiếc Míc nào!". Và chúng phải đau đớn gọi đó là "ngày đen tối nhất trong lịch sử không quân Mỹ!.

Sau chiến thắng trận đầu, các chiến sĩ không quân lại được đón một phần thưởng vô cùng quý báu: Bác Hồ gửi thư khen ngợi Bác viết:

Ngày 5 tháng 4 năm 1965

Thân ái gửi các đơn vị Không quân nhân dân Việt Nam. Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hành khẩu hiệu: "Đã đánh là thắng". Như thế là xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân và dân ta. Bác gửi lời khen ngợi các chú và nhắc các chủ phải luôn luôn:

- Nâng cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thắng không kiêu, khó không nản, ra sức rèn luyện để tiến bộ mãi.

- Đoàn kết chặt chẽ với đơn vị bạn và với nhân dân.

Chúc các chủ lập nhiều chiến công hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng
BÁC Hồ



Các chiến sĩ không quân vô cùng cảm động trước sự chăm sóc ân cần của Bác. Nhớ hôm nào trước ngày ra trận, Bác tới thăm đơn vị. Đứng trên sân bay này, Bác đã kể chuyện Quân giải phóng miền Nam đánh sân bay Biên Hoà phá huỷ một lúc 29 máy bay Mỹ, diệt 40 tên Mỹ và làm bị thương 72 tên khác. Bác nhắc nhở đơn vị phải học tập gương chiến đấu của Quân giải phóng miền Nam anh hùng. Bác vui vẻ nói: "Các chú phải làm thế nào chứ không có anh em trong kia đánh hểt máy bay địch thì không còn máy bay nữa mà đánh!". Hôm nay, đơn vị vừa chiến thắng trở về, Bác lại gửi thư khen ngợi. Lòng thương yêu của Bác đối với đơn vị không sao tả xiết. Thật vậy, trong tình cảm rộng lớn đối với toàn dân, toàn quân ta, Bác đã dành cho các chiến sĩ không quân lòng thương yêu thắm thiết. Nhiều chiến sĩ lái máy bay đã được phép lên gặp Bác, nghe Bác hỏi han về tình hình sức khoẻ, học tập, tình hình gia đình và dạy bảo về cách đánh dịch, về việc rèn luyện đạo đức cách mạng để tiến bộ mãi. Bác còn đặt phần thưởng: Cứ hạ một máy bay Mỹ là Bác thưởng một huy hiệu của Bác. Cho đến nay, rất nhiều chiến sĩ lái máy bay đã được tặng huy hiệu của Bác. Đồng chí Nguyễn Văn Cốc, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã được thưởng 9 huy hiệu của Bác. Và sau này, những đại đội không quân có biên đội Phạm Ngọc Lan, biên đội Trần Hanh cùng cả Đoàn không quân Sao Đỏ, đều trở thành Đơn vị anh hùng.


Từ giữa năm 1965, cùng với việc tăng quân ồ ạt mở rộng chiến tranh xâm lược cục bộ ở miền Nam, đế quốc Mỹ tiếp tục leo những nấc thang mới trong chiến tranh phá hoại miền Bắc. Máy bay địch đã ném bom, ban phá vào một số thành phố, thị xã, khu công nghiệp ... từ Tây Bắc đến vùng đồng bằng Khu Ba, Việt Bắc, Đông Bắc ...


Nhưng miền Bắc gọi, miền Nam trả lời. Căm thù giặc Mỹ xâm lược, quân và dân miền Nam đã làm đúng như lời tuyên bố của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam: "Giặc Mỹ đụng đến miền Bắc một, thì quân và dân miền Nam quyết đánh trả chúng gấp 5, gấp 10 lần!". Từ tiền tuyến lớn liên tiếp vang lên những bài ca chiến thắng Ba Gia, Đồng Xoài, Vạn Tường, Núi Thành...


Thời gian này, cả miền Bắc sôi nổi không khí vừa chiến đấu vừa sản xuất. Khẩu hiệu "Tay cày tay súng, tay búa tay súng" xuất hiện khắp các đồng ruộng, nhà máy. Phong trào "Ba sẵn sàng" của thanh niên, "Ba đảm đang" của phụ nữ phát triển rất mạnh. Nhiều đơn vị, nhiều địa phương đã bắn rơi máy bay Mỹ. Lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", phần thưởng thi đua của Bác Hồ cho địa phương nào bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất lần lượt tung bay từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá... Đánh Mỹ đã trở thành nếp sống hằng ngày; bắn rơi máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái máy bay là nguyện vọng lập công của tất cả mọi người. Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc. Truyền thống mấy nghìn năm đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta như kết tinh lại trong cuộc sống đầy hào hùng của những ngày chống Mỹ. Đúng như một bài hát đã tả: "Những ngày vui sao, cả nước lên đường!"


Trong những ngày này, toàn Quân chủng cũng đang sôi nổi trong phong trào "Vì miền Nam ruột thịt", thi đua luyện tập bắn trúng máy bay Mỹ từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ. Sau chiến thắng Hàm Rồng, ngày 21 tháng 6 năm 1965, không quân ta lại lập công mới: Bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng cao đầu tiên trên miền Bắc. Một số đơn vị pháo cao xạ, sau một thời gian chiến đấu trên các chiến trường, nay được làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội. Anh em đều phấn khởi vì đã trải qua rèn luyện mặt đối mặt với quân thù, nay lại được vinh dự làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Trung ương Đảng, bảo vệ Bác Hồ.


Hồi này địch thường cho máy bay vào trinh sát Hà Nội. Ngày 25 tháng 6 năm 1965, quân và dân Thủ đô lập chiến công đầu tiên: Bắn rơi một chiếc F.4. Sau đó ít ngày, Bác đến thăm Đại đội 1, Trung đoàn 234 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô - đơn vị đã lập công ở chiến trường miền Tây và trong trận chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Lần này cả anh Tài và tôi cùng đi đón Bác. Tôi còn nhớ hôm đó vừa tới đơn vị, Bác đã nhanh nhẹn bước vào hầm pháo của Khẩu đội 6. Bác hỏi thăm từng người và cầm lấy chiếc mũ sắt từ tay đồng chí khẩu đội trưởng. Bác sửa lại quai mũ rồi đưa lên đầu đội thử và nói: "Chiếc mũ này đội để chiến đấu rất tốt". Bỗng Bác hỏi:

- Ở đây chú nào bắn rơi máy bay Mỹ?

Nghe Bác hỏi câu ấy, tôi chỉ lo có đồng chí nào tự nhận là mình đã bắn rơi thì sai mất ý nghĩa của tinh thần lập công tập thể. Nhưng một pháo thủ đã đứng nghiêm, đáp:

- Thưa Bác, chúng cháu đều bắn và là thành tích tập thể ạ!

Tôi mừng quá! Thật đúng là bộ đội Cụ Hồ!

Bác gật đầu:

- Đúng! Không phải một mình chú bắn mà còn nhiều đơn vị bạn và nhân dân cùng bắn.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:33:51 am
Đi qua một khẩu đội khác, thấy hầm pháo có nước, Bác liền nhắc đơn vị phải lo tát nước và chú ý đến ngụy trang. Anh Tài đi cạnh Bác, bước lên mời Bác vào sở chỉ huy của đại đội, nhưng Bác lại rẽ vào nhà ngủ của bộ đội. Khi Bác quay ra trận địa, bộ đội đã tập trung đầy đủ, đang chờ Bác. Mở đầu câu chuyện, với giọng ấm áp, Bác vui vẻ nói:

- Hôm nay Bác đến thăm các chú, thấy chú nào cũng hăng hái, mạnh khoẻ, phấn khởi, Bác rất vui lòng. Sau đây Bác dặn các chú vài điều tóm tắt: Giặc Mỹ đang leo thang ở miền Bắc, còn ở miền Nam chúng đang tăng thêm quân, thêm súng. Bác dừng lại và hỏi: Có chú nào sợ không?

Bộ đội cùng trả lời:

- Không sợ ạ!

Bác nói tiếp:

- Đúng! Nó đưa thêm chừng nào ta diệt thêm chừng đó. Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52 hay "bê" gì đi chăng nữa, ta cũng đánh! Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng! Các chú bộ đội Phòng không - Không quân đã cùng với quân và dân các địa phương bắn rơi gần 400 máy bay Mỹ, lập công như vậy là tốt. Các chú chiến đấu có khó khăn gian khổ, nhưng so với đồng bào miền Nam thì chưa thấm vào đâu. Phải noi gương quân và dân miền Nam đánh giỏi, đánh mạnh, đánh trúng hơn nữa. Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Có quyết tâm thì làm gì cũng được.

Từng lời nói của Bác thấm sâu vào lòng mọi người. Hàng trăm con mắt, cứ sáng dần lên, chăm chú nhìn chòm râu, mái tóc bạc phơ của Bác. Bác dừng lại, hỏi:

- Các chú có quyết tâm không?

Bộ đội hô to:

- Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!

Bác liền đưa tay lên, chìa ra từng ngón, vừa nói vừa nhấn mạnh từng điểm:

- Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược phải thể hiện ở tinh thần dũng cảm và đánh thắng liên tục, đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn. Đã có quyết tâm thì phải đánh giỏi, đánh tiêu diệt. Quyết tâm của con người phải truyền qua súng, phải biến quyết tâm ấy vào việc rèn luyện kỹ thuật cho thật giỏi để bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch và tiết kiệm đạn ...

Những lời nói đó thể hiện rõ tư tưởng quân sự của Bác mà về sau, Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổng kết thành 3 bài học cơ bản trong chiến đấu và xây dựng của mình là: "Phải cỏ quyết tâm cao, phải có cách đánh giỏi, phải vừa đánh vừa xây dựng để càng đánh càng thắng lớn, càng đánh càng mạnh".


Đại đội 1 được Bác đến thăm hôm đó, sau này được Quốc hội, Chính phủ tuyên dương Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi giặc Mỹ đánh vào Hà Nội, Đại đội 1 là một trong những đơn vị chiến đấu rất anh dũng và cũng chính là đơn vị đã bắn rơi tại chỗ chiếc RA.5C của giặc Mỹ ngay trên đường phố Lê Trực, quận Ba Đình, Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 1967, lập công mừng thọ Bác 77 tuổi.


Những chiếc Míc của chúng ta "vẫn còn đang gây ra một cảm giác dai dẳng đối với không quân Mỹ", thì chúng lại bị một đòn bất ngờ choáng váng nữa: Ngày 24 tháng 7 năm 1965, bộ đội tên lửa ta ra trận, chỉ trong 3 phút diệt gọn 1 tốp 3 chiếc F.4, bắt sống giặc lái. Cay cú vì thất bại, 3 ngày sau, chúng tổ chức đánh lớn vào khu vực tên lửa ta bố trí. Nhưng thằng địch ngu xuẩn có biết đâu bộ đội Tên lửa ta đã dùng chiến thuật cơ động di chuyển lực lượng đi nơi khác. Chúng đã "oanh kích" vào những bệ phóng giả làm bằng cót (sau này anh em thường gọi là "ra cót" dựa theo tiếng Nga "ra-két" dịch là tên lửa). Và lại thêm 5 máy bay Mỹ bị tan xác bởi cụm hoả lực có hiệu lực của pháo cao xạ và súng máy, súng trường của dân quân địa phương đã phục sẵn chờ chúng từ trước.


Chiến thắng đó làm cho chúng tôi rất phấn khởi, vì bộ đội Tên lửa với bản chất cách mạng và ý chí chiến đấu cao, bằng lối đánh dũng cảm, sáng tạo, độc đáo của tên lửa phòng không Việt Nam đã thực hiện được yêu cầu mà Đảng uỷ Quân chủng đề ra là phải đánh thắng trận đầu. Binh chủng kỹ thuật hiện đại đó đã tỏ ra xứng đáng với truyền thống vẻ vang của quân đội ta: Hễ ra quân là đánh thắng!


Thế là từ nay, cùng với súng trường, pháo cao xạ, máy bay phản lực, chúng ta lại có thêm tên lửa phòng không. Sự có mặt của binh chủng mới đó làm cho lực lượng phòng không của ta thêm hoàn chỉnh, tạo thành một lưới lửa có hiệu lực bắn máy bay Mỹ ở mọi tầng, mọi hướng, bay cao hay bay thấp, kẻ địch cũng không thoát khỏi đòn trừng phạt.


"Rồng lửa xuất hiện! Rồng ta ra trận!". Cho đến nay tôi cũng không biết cái tên "Rồng" từ đâu mà ra, nhưng hiểu rằng đó là tiếng nói thân yêu mà đồng bào đã dùng chỉ bộ đội Tên lửa phòng không ta.

Cũng như đối với các binh chủng khác trong quân đội ta, bộ đội Tên lửa mới xây dựng đã được sự quan lâm săn sóc của Bác. Sau khi đánh thắng mấy trận liền, Tiểu đoàn 61 - sau này đã trở thành Đơn vị anh hùng LLVTND đầu tiên trong bộ đội Tên lửa - được Bác tới thăm. Bác rất hài lòng và khen binh chủng mới ra quân đánh giỏi, nhưng Bác cũng nhắc phải "phấn đấu làm sao bắn ít đạn hơn mà rơi nhiều máy bay Mỹ thì càng ưu điểm". Biết bộ đội Tên lửa còn mới mẻ chưa có kinh nghiệm, khí tài cồng kềnh, hành quân chiến đấu tốn kém nhiều mặt, Bác căn dặn:


"Các chú phải hết sức quý trọng sức người, sức của của nhân dân. Nếu bất đắc dĩ phải chặt cây, chặt tre của đồng bào thì phải cùng chi bộ, địa phương bàn bạc cùng làm, trả tiền sòng phẳng...".

Nghe anh Tài kể lại những lời Bác dạy bộ đội Tên lửa hôm đó, tôi vô cùng xúc động. Bộ đội đến đâu là Bác thấy ngay những đặc điểm và những việc cần làm ở đó. Có những việc tưởng nhỏ, nhưng khi làm tốt thì ảnh hưởng rất lớn. Tôi tự nghĩ mình là cán bộ trực tiếp phụ trách đơn vị, nhưng đôi khi chưa nghĩ hết, chưa làm hết những việc cụ thể đó. Mỗi lần Bác đến thăm một đơn vị, một binh chủng là vinh dự, là nguồn cổ vũ rất lớn đối với bộ đội, và trong bộ phận lãnh đạo chúng tôi lại thấy lớn thêm lên, mắt như sáng ra, tầm nhìn được xa hơn, rộng hơn, tác phong lãnh đạo, chỉ huy càng khẩn trương mà chín chắn, cụ thể, chính xác hơn.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:34:43 am
Giặc Mỹ ngày càng "leo thang" đánh phá miền Bắc ác liệt, liên tục. Ngày 17/7/1966, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!". Lời kêu gọi đó vang lên như hiệu kèn tiến công, tác động sâu sắc đến mọi suy nghĩ và hành động của tất cả mọi người, truyền cho Quân chủng một sức mạnh mới. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, toàn quân chủng đã nô nức thi đua lập công. Ngày 19/7, Đoàn Không quân Sao Đỏ bắn rơi 2 F.105 trên vùng trời Vĩnh Phúc. Hôm sau, Tên lửa lại lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay trinh sát điện tử EB.66, bắt sống nhiều giặc lái, ở Tuyên Quang. Rồi những ngày sau đó, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Thái... lại liên tiếp bắn rơi nhiều máy bay địch. Chiến thắng dồn dập khắp nơi. Chỉ tính riêng một tháng từ ngày Bác ra lời kêu gọi đến 17/8/1966, đã có thêm 134 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc. Chúng tôi đều phấn khởi trước thắng lợi mới và càng vui hơn vì tin chiến thắng sẽ làm cho Bác khỏe, Bác vui, như lời Bác nói hôm gặp các chiến sĩ lái máy bay tại Phủ Chủ tịch: "Các chú cứ bắn rơi nhiều máy bay Mỹ là Bác khoẻ, Bác vui!".


Hàng ngày, Bác đều hỏi "miền Nam hôm qua diệt bao nhiêu Mỹ, miền Bắc hôm nay bắn rơi bao nhiêu máy bay Mỹ?". Chúng tôi thường được Bác gọi lên báo cáo tình hình của Quân chủng. Tôi còn nhớ một hôm anh Vũ Kỳ - Thư ký riêng của Bác, gọi điện thoại bảo tôi lên gặp Bác. Trước khi đi, tôi đã chuẩn bị báo cáo với Bác thật ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, chính xác về tình hình bộ đội cao xạ, tên lửa, không quân, ra-đa ... thực hiện lời kêu gọi của Bác. Đơn vị nào đánh, kết quả chiến đấu ra sao, ưu điểm, khuyết điểm thế nào, tôi đều chuân bị đây đủ.


Đúng giờ quy định, tôi đã có mặt ở phòng làm việc của Bác. Vừa thấy tôi, Bác cười, hỏi:

- Chú Tính dạo này cũng để râu đấy à?

Tôi giật mình, đưa tay lên sờ cằm. Đúng là râu đã tốt thật. Tôi cười gượng, lúng túng:

- Thưa Bác, vì cháu quên chưa cạo ạ!

Bác cười hiền hậu, bảo tôi ngồi uống nước rồi hỏi về tình hình chiến đấu của Quân chủng, việc chuẩn bị chiến đấu của bộ đội Phòng không Hà Nội ... Tôi báo cáo xong, Bác nói:

- Mỹ thua đã rõ rồi, nhưng nó còn ngoan cố, còn "leo thang" đánh Hà Nội, bộ đội các chú quyết tâm thế nào?

- Thưa Bác, bộ đội có quyết tâm cao trong việc thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Bác ạ!

- Quyết tâm cao thì hành động như thế nào?

- Thưa Bác, hành động bằng cách bắn trúng, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống giặc lái, bảo vệ địa điểm, bảo vệ nhân dân ...

- Muốn bắn trúng, bắn rơi thì phải thế nào?

- Phải luyện ạ !

Bác hỏi ngay:

- Luyện gì? Chú bảo luyện gì nào?

Tôi đang nghĩ xem nên báo cáo những gì, thì Bác lại nói tiếp:

- Chú cứ nói đúng, những lời nói và việc làm cùa bộ đội.

Nhớ lại những lời Bác dặn các lần trước và Nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng mới họp cách đây mấy ngày, tôi phấn khởi, nói:

- Thưa Bác, luyện ý chí, luyện cách đánh, luyện kỹ thuật ạ!

Tôi trả lời xong, trong lòng rất hồi hộp không biết Bác có hài lòng không, thì thấy Bác gật đầu, nói:

- Làm như thế là tốt. Các chú phải chú ý rút kinh nghiệm, phải chịu khó rèn luyện, học tập. Chú và chú Tài càng phải cố gắng học tập mới đủ sức lãnh đạo và chỉ huy bộ đội.

Bác bảo tôi uống nước, rồi hỏi tiếp:

- Trời nóng và tình hình chiến đấu như thế này bộ đội ngủ được mấy tiếng? Trực ban mấy tiếng?

Tôi báo cáo ngay:

- Thưa Bác, anh em phải trực ban liên tục ạ! Thường được ngủ khoảng 4 tiếng, có đêm chỉ ngủ được 2 tiếng. Tuy thiếu ngủ, song cán bộ và chiến sĩ vẫn hăng hái lam. Bộ đội Phòng không - Không quân chúng cháu còn bảo nhau là có lúc phải "nhịn ngủ" để chiến đấu thắng lợi.

Bác căn dặn:

- Bộ đội vượt qua khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm thế là tốt. Nhưng các chú phải bàn với nhau, tìm cách nào vừa trực ban chiến đấu tốt, vừa bảo đảm cho bộ đội ngủ 6 tiếng. Thắng đừng có kiêu, khó đừng có nản là lúc này đây. Giặc Mỹ thua rồi, nó rút kinh nghiệm. Các chú cũng phải rút kinh nghiệm để đánh thắng to hơn. Phải chủ động chuẩn bị về mọi mặt, để đánh bại mọi bước "leo thang" của giặc Mỹ.

Trước khi ra về, Bác bảo tôi cầm cả bao thuốc lá Thủ đô về cho anh Tài hút, vì Bác biết tôi đã bỏ thuốc lá, còn anh Tài thì vẫn nghiện nặng.

Vâng lời Bác dạy, Đảng uỷ và thủ trưởng các cấp trong Quân chủng đã bàn bạc và có nghị quyết đề ra những vấn đề cụ thể để tăng cường sức khoẻ của bộ đội. Từ đó, giờ ngủ của anh em đã được tăng thêm, sức khoẻ của bộ đội cũng khá hơn.


Bác còn theo sát từng bước đi của Quân chủng. Đơn vị nào đánh tốt, Bác gửi điện hoặc thư khen. Những ngày kỷ niệm lớn, ngày Tet, đơn vị nào lập công xuất sắc, Bác gửi tặng hoa. Hoa của Bác đã tới trên mâm pháo, bên bệ phóng, bên máy bay, trước màn hiện sóng ra-đa. Nhiều đơn vị đã đem hoa Bác tặng trồng ngay trên trận địa. Đến nay có nơi đã thành vườn hoa bốn mùa rực rỡ, dù các loại hoa: Vạn thọ, Cúc, Thược dược, Hồng, Mào gà...


Mùa hè năm 1967, Bác trích tiền lương và tiền nhuận bút của Bác gửi cho quân chủng để mua đường, sữa, bánh kẹo cho bộ đội. Việc đó làm cho cả cán bộ và chiến sĩ trong quân chủng vô cùng xúc động. Có đơn vị tổ chức đón quà Bác, sau khi vừa bắn rơi máy bay địch, trận địa còn vương khói bom đạn. Nhận quà Bác, có chiến sĩ không ăn mà cất đi làm kỷ niệm; có đồng chí thương binh đã không cầm được nước mắt. Anh em bảo nhau: "Bác già rồi, lo trăm công ngàn việc, cần bồi dưỡng sức khoẻ thế mà Bác lại gửi tiền riêng của Bác cho bộ đội. Bác thương chúng mình quá, phải bắn rơi nhiều máy bay Mỹ để đáp lại tấm lòng của Bác!". Quà của Bác là tình, là nghĩa, là nguồn cổ vũ rất lớn và đã tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho quân chủng ...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:35:52 am
Thời kỳ này, địch tổ chức nhiều đợt đánh lớn vào Hà Nội. Chúng tôi thường nói với nhau: "Thằng địch đã đến bước đường cùng rồi! Sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của chúng ở miền Nam đã bị thất bại và gần 3 năm đánh phá miền Bắc, chúng vẫn không làm lung lay được ý chí và quyết tâm của quân và dân ta, thể tất nó phải leo tới nấc thang nghiêm trọng này. Trận đọ sức quyết liệt đã tới. Vùng trời Hà Nội nhất định phải là "Điện Biên Phủ" của chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân của giặc Mỹ xâm lược.


Hà Nội đã sống những ngày rực lửa chiến đấu. Từ nhà máy đến đồng ruộng, đâu đâu cũng nhộn nhịp trong không khí vừa chiến đấu, vừa sản xuất. Thực hiện chỉ thị của trên, những người không có nhiệm vụ ở lại thành phố, đều đã đi sơ tán. Thỉnh thoảng, loa truyền thanh lại nhắc nhở: "Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Trên nóc các nhà cao, trên mặt hồ, ngoài vườn hoa, đồng ruộng... khắp thành phố, đâu đâu cũng mọc lên những trận địa bắn máy bay Mỹ.


Bộ đội Phòng không - Không quân bước vào những ngày chiến đấu ác liệt, khẩn trương bằng tất cả sức mạnh và lòng căm thù địch, bằng tình cảm của mình với Thủ đô, vì đó là trái tim của cả nước. Nơi đó có Trung ương Đảng, có Bác Hồ đang ngày đêm lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc ta. Anh em đề ra khẩu hiệu: "Cảm tử để bảo vệ Thủ đô", "Quyết bắt giặc Mỹ phải đền tội ác trên bầu trời Hà Nội". Cứ mỗi trận, mỗi đợt chiến đấu, anh em lại lo lắng khi nghĩ đến Bác: "Lúc này Bác ở đâu? Liệu Phủ Chủ tịch có việc gì không? ..." Và sau đó, mọi người đều nhẹ nhõm, vui sướng khi thấy báo chí đưa tin: Bác vẫn đi thăm đồng bào, tiểp khách nước ngoài...


Cùng với quân và dân miền Bắc, trong những ngày này bộ đội Phòng không - Không quân đã lập được những chiến công vẻ vang nhất trong mấy năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ:

Ngày 19/5/1967, các đơn vị trong Quân chủng đã hiệp đồng chặt chẽ với quân và dân các địa phương, bắn rơi 13 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái, lập thành tích xuất sắc mừng thọ Bác 77 tuổi.

Chiến đấu càng quyết liệt, bộ đội ta càng lập công to. Địch càng "leo thang", chúng càng bị đánh đau. Con số máy bay Mỹ bị bắn rơi tăng nhanh vùn vụt:

Tháng 5/1967, bắn rơi 160 chiếc!

Tháng 6/1967, bắn rơi 116 chiếc!

Hai tháng 10 và 11/1967, mỗi tháng bắn rơi 131 chiếc!

Ngày 21/8/1967, Bộ Tổng tư lệnh vừa ra thông cáo về chiến thắng bắn rơi 2.200 máy bay Mỹ thì 27 ngày sau, quân và dân Thủ đô đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 2.300 trên miền Bắc. Và đến hết năm 1967, bảng vàng lập công của quân và dân miền Bắc đã lên tới con số 2.886 chiếc.


Bọn giặc lái bị bắt sống năm đó cũng chiếm con số kỷ lục. Cùng với những tên Su-mếch-cơ, "phi công vũ trụ" ; Giêm-cát-lơ, "anh hùng không quân" và nhiều tên khác bị bắt từ trước, hồi này lại có thêm hàng loạt đồng ngũ của chúng chịu chung số phận, trong đó có những tên sừng sỏ như Đại tá Noóc-man-ga-đi-xơ, Đại tá Pi-tơ Phơ-lin, Đại tá Din, Liên đội phó chỉ huy biên đội Cò-rạt...


Sở chỉ huy Quân chủng liên tiếp nhận được báo cáo về chiến công mới của các đơn vị gửi về. Ngày 23/8, máy bay Míc-21 và Míc-17 của ta hiệp đồng chíến đấu, đã chiến thắng giòn giã, bắn rơi 6 máy bay địch. Tiểu đoàn 18 pháo cao xạ bảo vệ cầu Đáp Cầu ở Hà Bắc, ngày 17/10 đã đánh một trận xuất sắc: Trong 2 phút, bắn rơi 5 máy bay địch, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Rồi liên tiếp 2 đêm 30 và 31/10, Hà Nội lại bắn rơi liền 2 chiếc nữa. Bộ đội Tên lửa từ Vĩnh Linh báo cáo đã bắn rơi máy bay B-52. Pháo cao xạ Hải Phòng báo cáo vừa hạ tại chỗ chiếc A 7 đầu tiên. Đoàn Không quân Sao Đỏ trong một trận chiến đấu đã tiêu diệt cả máy bay EB66 và F102. Phân đội 64, bộ đội Tên lửa đã bắn tan xác chiếc F111A "cánh cụp cánh xoè" của địch. Bộ đội ra-đa đã kết hợp chặt chẽ với mạng lưới quan sát phòng không nhân dân, phát hiện địch xa, nhanh, đúng, đủ ở các tầng, các hướng ...


Binh chủng nào cũng lập được công. Ngày nào cũng có tin chiến thắng. Đây cũng là thời gian nhiều đơn vị đã thực hiện được những trận đánh tiêu diệt xuất sắc, đánh dấu bước trưởng thành về trình độ tác chiến của Quân chủng sau mấy năm chiến đấu liên tục. Trong những ngày này, cùng với thành tích bắn rơi máy bay Mỹ, con số những địa phương trên miền Bắc đạt bảng vàng 5 tấn và tin chiến thắng liên tiếp từ tiền tuyến lớn đưa tới càng làm cho chúng tôi thêm phấn khởi, tự hào và tin tưởng về sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ kính yêu. Thật không gì vui bằng chiến thắng. Và càng vui hơn khi thấy Quân chủng đã góp phần cùng quân và dân cả nước, thực hiện đúng lời chúc Tết đầu năm của Bác:

"Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi"
Tin mừng thắng trận nở như hoa!


Trong bộ đội Phòng không - Không quân chúng tôi, anh Tài là người có nhiều kỷ niệm sâu sắc đối với Bác hơn cả. Nghe anh kể chuyện những ngày đi bảo vệ Bác trong thời kỳ hoạt động bí mật thật là cảm động. Tôi vẫn mong có dịp được sống bên Bác lâu như thế.


Ước mơ đó tuy chưa đạt được, nhưng tôi cũng nhớ mãi ngày Bác vào thăm quân và dân Quảng Bình mà tôi được đi theo. Đó là thời gian mà tôi được sống bên Bác lâu hơn cả, là một trong những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời hoạt động của mình.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Chín, 2022, 08:36:50 am
... Một buổi sáng mùa hè năm 1957, chiếc máy bay "203" cất cánh từ Gia Lâm bay dọc theo bờ biển về hướng nam. Trời hôm ay rất đẹp. Mây cao, gió nhẹ, mặt biển phẳng lặng, xanh ngắt như một tấm thảm khổng lồ. Xa xa làng mạc, ruộng đồng, núi non thấp thoáng hiện ra bên cửa sổ máy bay. Phong cảnh đẹp như tranh. Tôi nhìn về đất liền, về phía làng Kim Liên, rồi nhìn Bác. Lòng bồi hồi suy nghĩ, hơn 50 năm trước, đất nước đang bị dày xéo, từ nơi đó Bác ra đi để tìm đường giải phóng cho dân tộc, cho giai cấp. Hôm nay, ta đã có trời cao, biển rộng này. Không có Đảng, không có Bác, thì chúng ta vĩnh viễn là những người dân nô lệ, đói nghèo. Bất giác tôi nghĩ ra hai câu thơ, vội lấy sổ tay ghi lại. Chợt Bác gọi:

- Chú Tính! Chú Tính! Lại đây!

Tôi bước nhanh đến bên Bác. Bác chỉ tay về phía biển. Một đoàn thuyền đánh cá nhấp nhô, những cánh buồm nhìn từ xa nho nhỏ, xinh xinh như những cánh bướm. Bác nói:

- Chú xem kìa! Rồi Bác chậm rãi như ngâm thơ:
"Thuyền ai thấp thoảng cánh buồm xa xa ..."

Tôi xúc động đọc luôn hai câu thơ vừa mới làm xong: "Bác về thăm lại quê xưa Năm mươi năm ẩy, bây giờ là đây!"

Bác gật đầu, cười:

Hay đấy! Thế mà cũng thành thơ đấy!

Tôi sướng quá, muốn nói to lên: "Các đồng chí ơi! Hãy cùng vui với chúng tôi trong giờ phút ở bên Bác!". Lòng tôi rạo rực, không hiểu vì sao nước mắt tôi cứ muốn trào ra ...

Sực nhớ là mình đang "tức cảnh đề thơ", tôi vội giở sổ ra ghi tiếp:

"Tình sao sâu rộng cao dày
Nam Liên thuở trước ngày nay khác rồi!
Nông dân làm chủ cuộc đời
Ngày thêm đổi mới vui tươi no lành
Bác về làng xóm thêm xinh
Non sông đất nước quê mình đẹp thêm
Đấu tranh cả nước vững bền
Bắc Nam thống nhất xây nền tự do
"Chim" này thẳng cánh bay vô
Khu Năm, Nam bộ, Bác Hồ vào thăm
Đêm thu đẹp ánh trăng rằm
Việt Nam thống nhất vang ngân câu hò
"Lòng ta chung một cụ Hồ
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam"...


Tôi muốn viết tiếp nữa, nhưng máy bay đã bắt đầu hạ thấp độ cao, chuẩn bị hạ cánh. Chúng tôi cho "203" lượn hai vòng trên thị xã Đồng Hởi. Bác khen: "Đẹp lắm!". Mà đẹp thật! Thị xã Đồng Hới với thành quách cổ kính, nhà cửa san sát, những hàng dương soi bóng bên dòng Nhật Lệ nước trong xanh. Bà con nông dân những làng gần thị xã đang làm ruộng, cũng dừng lại ngẩng lên nhìn, vẫy tay, vẫy nón. Biết đâu chả có đồng chí, đồng bào dưới ấy đã đoán biết có Bác đang ngồi trong chiếc máy bay sơn cờ đỏ sao vàng này ...

Từ ngày ấy, chúng tôi vẫn đợi một chuyến đi xa hơn:

Được chuẩn bị một chiếc máy bay đặc biệt để đưa Bác vào thăm đồng bào miền Nam. Riêng tôi cũng mong sao lại được cùng đi theo Bác trên chuyến máy bay đó để được sống bên Bác lâu hơn, dài hơn ...

Mùa xuân Kỷ Dậu đến trong không khí tưng bừng của miền Bắc vừa đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ; miền Nam liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện chưa từng có sau một năm tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt. Một mùa xuân đại thắng của dân tộc. Lịch sử, đất trời và con người Việt Nam đều như đẹp thêm ra. Như những năm trước đây, bộ đội Phòng không - Không quân vẫn đón xuân trên mâm pháo, bên bệ phóng, dưới cánh bay, trước màn hiện sóng, nhưng trong lòng mỗi cán bộ và chiến sĩ đều vui hơn, đẹp hơn vì thấy mình đã lớn lên trong khói lửa chiến đấu, thấy quân chủng đã trưởng thành và chiến thắng vẻ vang sau hơn một ngàn ngày đêm chiến đấu quyết liệt, liên tục, đã làm tròn nhiệm vụ của Đảng, của nhân dân giao cho. Và ngày đầu xuân tươi đẹp ấy, Bác lại tới thăm Quân chủng, vẫn bộ quần áo ka-ki và đôi dép cao su giản dị; vẫn giọng nói hiền từ ấm áp, Bác đã căn dặn: "Không tin được đế quốc Mỹ đâu, chúng nó xảo quyệt lắm!... Các chú phải luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, để khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay...". Thật vinh dự và sung sướng, được sống trong tình yêu thương của Bác, mỗi người chúng tôi đều tự nhủ: "Thưa Bác, 5 năm trước, khi Quân chủng mới thành lập, cũng vào một ngày đầu xuân, Bác đã tới thăm Quân chủng. Những lời căn dặn của Bác ngày ấy chúng cháu đã làm theo và đã đánh thắng, càng đánh càng mạnh. Chúng cháu không bao giờ chủ quan thoả mãn và luôn luôn nhớ lời Bác dạy: Kẻ địch trong cơn rẫy chết càng hung hăng, tàn bạo; ta càng thắng lợi càng nhiêu gian nan. Chúng cháu sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng và năng lực hành động để càng đánh càng thắng to, để Bác vui hơn, khoẻ hơn, để mùa xuân tới càng đẹp hơn" ... Đúng như vậy, vì Bác Hồ là lẽ sống, là niềm tin, là hy vọng của chúng ta. Nghe Bác gọi, ấy là mùa xuân đến, mà mỗi mùa xuân đến lại là một mùa vui thắng lợi!


Nhưng hơn 6 tháng sau, được tin Bác mất! Chúng tôi vô cùng đau đớn, bàng hoàng. Cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, cán bộ và chiến sĩ trong Quân chủng đã trải qua những ngày đau thương vô hạn.


Bác Hồ của chúng ta không còn nữa! Nhưng lý tưởng cao đẹp của Bác, tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác vẫn sống mãi với non sông đất nước Việt Nam anh hùng. Hình ảnh Bác mặc áo nâu giản dị, đi dép cao su đến thăm trận địa, sân bay; những lời dạy bảo ân cần, thiết tha của Bác mãi mãi khắc sâu trong lòng cán bộ và chiến sĩ bộ đội Phòng không - Không quân. Bởi vì có Bác Hồ mới có chiến thắng của chúng ta hôm nay. Bởi vì có Bác Hồ mới có nước Việt Nam ta ngày nay. Đời đời nhớ ơn Bác. Quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân nguyện suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Bác; bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, quyết tâm chiến đấu, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình trở thành những chiến sĩ "Trung với Đảng, hiếu với dân", xứng đáng là đồng chí, là học trò, là con, là cháu của Bác Hồ muôn vàn kính yêu! ...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:22:28 am
ĐÁP LỜI KÊU GỌI CỦA BÁC HỒ KÍNH YÊU


Nguyễn Xuân Mậu


"Chiến tranh có thể kẻo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do".


Lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Bác Hồ kính yêu đã trở thành lời Hịch lịch sử, là cái mốc đặc biệt quan trọng trên chặng đường chiến đấu và chiến thấng vẻ vang của Quân chủng Phòng không - Không quân.


Nhưng ngay trước ngày Bác ra lời kêu gọi chưa đầy một tháng, lực lượng Phòng không Hà Nội và Quân chủng Phòng không - Không quân đã có một kỷ niệm không vui. Đó là trưa ngày 29/6/1966, đế quốc Mỹ tổ chức trận tập kích lớn với 24 máy bay F105 đánh phá kho xăng Đức Giang, mở đầu bước leo thang mới cực kỳ nghiêm trọng, lần đầu tiên đánh vào Hà Nội - Thủ đô một nước có chủ quyền. Trận đó, bộ đội Phòng không Hà Nội đánh kém, để mục tiêu bị tổn thất nặng. Nghiêm khắc mà nói, lại một lần nữa bị bất ngờ. Tuy đã xây dựng cho bộ đội có quyết tâm chiến đấu cao, nhưng quyết tâm ấy chưa được biến thành biện pháp tác chiến cụ thể. Công tác nắm địch chưa sát, do đó bố trí đội hình tác chiến không phù hợp. Sau này qua tài liệu của địch - ta thu được, không quân Mỹ có kế hoạch đánh phá các kho xăng ở Hà Nội, Hải Phòng từ những ngày trước đó. Chúng đã tranh cãi, cân nhắc nhiều lần, chuẩn bị tỉ mỉ mọi mặt, từ việc tung dư luận, lựa chọn người lái có nhiều kinh nghiệm, chọn thời gian, vì chúng biết đánh sâu vào Hà Nội sẽ gặp hoả lực phòng không của đối phương mạnh, về thời gian, lúc đầu chúng dự định đánh vào ngày chủ nhật 22/6/1966. Nhưng do thời tiết xấu, không có lợi cho không quân Mỹ, chúng hoãn đến ngày 29/6/1966.


Chúng tôi còn bị bất ngờ cả về thủ đoạn đánh phá của địch. Lúc ấy ta quan niệm địch thường dùng thủ đoạn bay bằng để ném bom. Do đó cách bố trí đội hình chiến đấu của ta thiên về kiểu "mâm xôi con gà", dàn đều lực lượng từ ngoài vào trong. Nhưng không quân Mỹ đã dùng thủ đoạn cơ động tổng hợp, lấy độ cao nhất định mới bổ nhào cắt bom vào khu vực kho xăng Đức Giang. Khi đó, ta chỉ có một đại đội pháo 37mm bố trí gần mục tiêu kho xăng từ 2.000 đến 2.500m. Giãn cách giữa các đại đội pháo rộng đến 4.500m. Rõ ràng lực lượng đánh địch bổ nhào quá ít. Trong tình hình như vậy, hiệu suất chiến đấu kém, bắn không trúng, không rơi máy bay địch là điều không thể tránh khỏi. Mặc dù tinh thần chiến đấu của bộ đội rất cao, bắn tốn rất nhiều đạn, nhưng không tiêu diệt được địch, kho xăng vẫn bốc cháy.


Trận chiến đấu kém hiệu quả ngày 29/6/1966 như một lời cảnh báo nghiêm khắc đối với người chỉ huy và lãnh đạo từ cấp trung đoàn, sư đoàn, tới cấp Quân chủng. Rất nhiều vấn đề nóng bỏng được đặt ra đòi hỏi phải được giải đáp một cách khẩn trương. Không chỉ động viên bộ đội về chính trị tư tưởng, ý chí chiến đấu mà còn là chiến thuật bố trí, cách đánh và nắm được thủ đoạn chiến thuật của địch,...


Ngay 5 giờ chiều ngày 29/6/1966, tôi được phân công bay xuống Hải Phòng bằng máy bay lên thẳng. Cùng đi với tôi có một đồng chí trợ lý tác chiến và một đồng chí trợ lý quân báo. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng giao cho tôi xuống trực tiếp nắm tình hình chiến đấu tại Sư đoàn 363 ở Hải Phòng và trực tiếp làm việc với đồng chí Bí thư Thành ủy về việc hiệp đồng tác chiến giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, nhằm phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của lưới lửa phòng không, bảo vệ vững chắc thành phố Cảng, cửa ngõ tiếp nhận hàng của bè bạn vào miền Bắc.


Máy bay cất cánh từ sân bay Bạch Mai, lượn một vòng trên thành phố rồi thẳng hướng Đông bay tới. Từ trên máy bay nhìn xuống, thấy những cột khói ở kho xăng Đức Giang vẫn nghi ngút bốc lên, tôi thấy tim mình đau thắt lại. Chỉ một trận đánh với 24 chiếc máy bay Mỹ, chúng đã thực hiện được ý đồ nham hiểm, đánh phá vào khối nhiên liệu lớn của ta. Rồi đây, cuộc chiến chắc chắn sẽ còn ác liệt và phức tạp hơn nhiều. Không phải chỉ hàng chục mà hàng trăm lần chiếc máy bay các chủng loại; chúng sẽ còn leo những nấc thang nghiêm trọng hơn, đánh phá thẳng vào những mục tiêu quan trọng như cầu phà, vào mục tiêu kinh tế, chính trị sâu trong nội thành. Chúng ta phải tổ chức cuộc chiển đấu đánh trả không quân Mỹ thế nào để thắng được mọi thủ đoạn chiến thuật, kỹ thuật của chúng ngày càng phức tạp hơn. Làm sao ta có thể hoàn thành được nhiệm vụ Đảng, Bác Hồ, Quân uỷ Trung ương và nhân dân giao cho ngày càng nặng nề, bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc, chi viện đắc lực cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam.


Tôi có đọc một số tài liệu về cuộc phòng thủ Mát-xcơ-va và Luân-dôn trong chiến tranh thế giới thứ hai. Khi tôi học tập tại Trường Quân sự Chính trị Bắc Kinh, bạn cũng có nêu. Nhưng điều kiện lúc ấy khác bây giờ. Các bạn Trung Quốc thường nói: Không quân Mỹ đánh phá, huỷ diệt Thủ đô Bình Nhưỡng trong cuộc chiến tranh Mỹ-Triều Tiên, nhưng lúc đó, loại máy bay hiện đại nhất là B29. Nay chúng sử dụng nhiều loại máy bay phản lực tốc độ rất cao, có cả máy bay ném bom hạng nặng B.52.


Khi bay đến cầu Lai Vu - Hải Dương, tôi đã nhìn thấy cột khói bốc lên từ phía Hải Phòng. Đó là cột khói của kho xăng Thượng Lý, cũng bị máy bay Mỹ ném bom, đốt cháy trưa ngày 29/6, cùng lúc chúng đánh kho xăng Đức Giang ở Hà Nội. Không ai bảo ai, cả ba chúng tôi đều im lặng. Tự nhiên tôi nghĩ đến Bác Hồ và cảm thấy mình có lỗi, chúng tôi ân hận vì chưa đánh thắng, để Bác vui.


Trời chạng vạng tối, đến Hải Phòng, xe đón chúng tôi đi nhanh đến nhà riêng đồng chí Trần Kiên - Bí thư Thành uỷ (quê Hà Nam, hoạt động cách mạng sớm, có thời kỳ bị địch bắt tù đày). Lúc này, đồng chí Trần Văn Giang, Chính uỷ Sư đoàn Phòng không 363 Hải Phòng cũng đã có mặt, cùng đồng chí Trần Kiên ra đón. Chúng tôi bắt tay nhau, nhưng không ai cười. Vào tháng 6, trời oi bức và hình như có cả hơi nóng từ kho xăng Thượng Lý phả vào, càng làm không khí nóng thêm!


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:23:37 am
Hơn 23 giờ làm việc xong, chúng tôi cùng xác định nhiệm vụ quan trọng bậc nhất trước mắt là tập trung mọi cố gắng đánh bại bước leo thang mới của không quân Mỹ, bảo vệ vững chắc thành phố cảng Hải Phòng, đặc biệt là nơi tiếp nhận hàng từ ngoài vào và vận chuyển được thông suốt, không để bị địch đánh hỏng, trong đó con đường số 5 rất quan trọng. Chính tuyến giao thông này góp phần bảo vệ vững chắc cho Hải Phòng, nối liền với Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi nói: Hải Phòng là miệng, đường số 5 là cuống họng, Hà Nội là dạ dày. Chỉ riêng về ý nghĩa hậu cần thôi, nếu bảo vệ vững chắc hệ thống này, đã góp phần bảo đảm cho cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta thắng lợi. Đề nghị Đảng bộ nỗ lực cùng bộ đội Phòng không Hải Phòng, chung sức chung lòng, thi đua lập công, tiêu diệt được nhiều máy bay Mỹ, bảo vệ vững chắc mục tiêu. Ta không chỉ động viên về chính trị tinh thần là quan trọng, mà phải bàn cách đánh, dám đánh và biết cách đánh sao phù hợp địa hình ven biển. Phải có cách bố trí đón lõng từ xa và chú ý thủ đoạn địch bay thấp, vào gần tới mục tiêu mới bốc lên cao bổ nhào đánh vào mục tiêu!


Đêm khuya hôm đó, chúng tôi mới bay về Hà Nội. Khi những quầng sáng từ phía Hà Nội hiện lên trước khung cửa máy bay, chúng tôi mới thấy lòng mình dịu đi đôi chút. Hà Nội vẫn bình yên với ánh điện sáng.


Nhớ đêm ngày 7/2/1965, khi không quân Mỹ vừa đánh Đồng Hới, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc. Tôi cũng bay từ Hà Nội vào Đồng Hới trên chiếc máy bay An2 cùng với bốn khẩu pháo 14,5mm chi viện khẩn cấp cho Trung đoàn ra-đa 290. Cũng ngay đêm đó, sau khi làm việc xong với các đồng chí phụ trách trung đoàn và các đồng chí cán bộ địa phương ở Đồng Hới, tôi bay về Hà Nội. Hai đêm cất cánh từ bầu trời Hà Nội ở hai thời điểm khác nhau. Lần thứ nhất, cuộc chiến đấu còn xa Hà Nội. Hà Nội còn cử những đơn vị tăng cường thêm lực lượng chiến đấu tiêu diệt địch ở các địa phương khác. Còn lần này, chiến tranh đã ập vào cửa ngõ Thủ đô Hà Nội rồi!


Sau sự kiện 29 tháng 6 đó, Quân chủng Phòng không Không quân bước vào giai đoạn chiến đấu mới, làm theo lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ. Sức mạnh từ đó được nhân lên gấp bội. Trong đợt thi đua lập công đáp lời kêu gọi của Bác, chỉ trong vòng một tháng kể từ ngày 17/7 đến 17/8/1966, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 134 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc Mỹ lái máy bay. Đó là tháng bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất, tính từ ngày xảy ra cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra đối với miền Bắc. Riêng Hà Nội đã lập nhiều chiến công xuất sắc: Ngày 19/7/1966, Trung đoàn Tên lửa 236 bắn rơi tại chỗ chiếc F8U ngay cửa ngõ phía nam Hà Nội. Khi Tiểu đoàn 61 phóng đạn, bọn cường kích địch phát hiện tên lửa của ta, chúng tập trung lao vào đánh phá trận địa. Đại đội 2, Trung đoàn pháo phòng không 220 đã kịp thời nổ súng. Một chiếc A4 trúng đạn nổ tung xác, rơi xuống cạnh Nhà máy đường Vạn Điểm. Liên tiếp hai ngày sau đó, ngày 21 và 23 tháng 7, Tiểu đoàn 63 đã bắn rơi hai chiếc F105 của Mỹ.


Như vậy, chỉ một tuần lễ sau khi có lời kêu gọi của Bác, hưởng ứng đợt thi đua do Quân chủng phát động, kế hoạch tuyên truyền, động viên của Cục Chính trị, bộ đội Phòng không Hà Nội đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ và bắn bị thương một số chiếc. Tiểu đoàn 61 là đơn vị lập công đầu sau khi có lời kêu gọi của Bác, đã được Bộ Tư lệnh Quân chủng tặng bức trướng "Làm theo lời Bác, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".


Tối 24/7/1966, tại buổi lễ kỷ niệm một năm ngày bộ đội tên lửa ra quân đánh thắng trận đầu, tôi thay mặt Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng nhiệt liệt chào mừng và biểu dương thành tích chiến đấu của Trung đoàn 236 và trao tặng đồng chí Vũ Ngọc Thụy - chính trị viên Tiểu đoàn 61 phần thưởng cao quý đó.


Tôi phát biểu với bộ đội: Suốt một năm qua, các đồng chí đã hành quân cơ động chiến đấu trên nhiều địa phương; đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 900 trên quê hương Bác Hồ. Các đồng chí đã đánh nhiều trận xuất sắc. Có trận chỉ bằng một quả đạn tên lửa, bắn rơi hai máy bay Mỹ, như trận ngày 7/3/1966 ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Các đồng chí được đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương nhiệt liệt khen ngợi. Chặng đường chiến đấu vẻ vang vừa qua của các đồng chí rất quý, cần phát huy. Giờ đây các đồng chí sắp bước vào chặng đường chiến đấu mới, sẽ quyết liệt hơn. Trước tình hình mới, Bộ Tư lệnh Quân chủng quyết định điều đơn vị các đồng chí từ Khu 4 về Hà Nội, giao cho các đồng chí nhiệm vụ mới đặc biệt quan trọng, cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội, bảo vệ Trung ương Đảng và nơi Bác Hồ làm việc. Các đồng chí sẽ là những chiến sĩ cận vệ anh hùng của Thủ đô anh hùng!


Tôi thấy trên những khuôn mặt trẻ của các chiến sĩ ánh lên niềm xúc động sâu sắc. Những cặp mắt long lanh của họ như nói với tôi rằng, nếu kẻ địch dám liều lĩnh "leo thang" đến đánh phá Hà Nội, nơi Trung ương Đảng và Bác Hồ làm việc, nhất định chúng sẽ bị trừng trị đích đáng.


Ngày đầu xuân năm 1967. Trong phòng họp quen thuộc sân bay Bạch Mai, Bộ Tư lệnh Quân chủng họp bàn công tác lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng năm 1967. Chúng tôi ngồi họp mà trong lòng vẫn như còn vang vọng những câu thơ chúc Tết của Bác Hồ đọc đêm giao thừa:

   "Xuân về xin có một bài ca,
   Gửi chúc đồng bào cả nước ta
   Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
   Tin mừng thắng trận nở như hoa!"


Đây là bài thơ chúc Tết, nhưng chúng tôi coi là nhiệm vụ, là mệnh lệnh Bác giao cho Quân chủng.

Bị thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô mang tên Gian-xơn Xi-ti, nhất định năm nay không quân Mỹ sẽ có những bước leo thang mới liều lĩnh hơn. Chúng sẽ đánh thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng.


Nhiệm vụ chiến đấu của Quân chủng PK-KQ trong năm 1967 sẽ hết sức quyết liệt, liên tục, gay go và ác liệt. Mục tiêu chúng đánh phá sẽ tăng lên, sẽ đánh cả ngày và đêm.

Thủ đoạn của chúng sẽ bất ngờ, bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn để hòng đối phó với lực lượng phòng không của ta. Nhưng nhất định chúng sẽ thất bại!

Hình như đã trở thành máu thịt, cứ mỗi lần chuẩn bị cho một trận đánh lớn, chúng tôi lại nghĩ tới lời dạy của Bác Hồ. Bác là niềm tin, là sự cổ vũ lớn lao đối với bộ đội Phòng không - Không quân chúng tôi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:26:40 am
BỐN LẦN ĐÓN BÁC HỒ VÀ NHỮNG KỶ VẬT
QUÝ GIÁ NHẤT ĐỜI TÔI


Trịnh Tấn


Vinh quang nhất của thế hệ chúng tôi là được sống, chiến đấu trong thời đại Hồ Chí Minh.

Những kỷ niệm sâu sắc nhất và những kỷ vật quý nhất của tôi là bốn lần được đón Bác Hồ và những bức ảnh được chụp khi quây quần bên Người.

Lần thứ nhất: Tháng 9 năm 1959, Bác đến thăm và nói chuyện với Đại hội thi đua Cục Không quân tại hội trường nhà 8 mái của Đoàn bay 919.

Lần thứ hai: Tháng 12 năm 1960, Bác đến thăm Trường không quân tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng.

Lần thứ ba: Sáng 30 Tết Mậu Thân năm 1968, Bác đến thăm và chúc Tết bộ đội Không quân tại nhà ga sân bay Gia Lâm.

Lần thứ tư: Sáng 1 Tết Kỷ Dậu 1969, Bác đến chúc Tết cán bộ, chiến sỹ Quân chủng Phòng không - Không quân.

Tôi ghi lại kỷ niệm sâu sắc của tôi về lần đầu được đón Bác.

Cuộc thăm của Bác thật bất ngờ. Trên đường Bác đi thăm đồng bào ở vùng mỏ Quảng Ninh về, máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Đồng chí Đại tá Đặng Tính, Cục trưởng Cục Không quân đón Bác tại sân bay, báo cáo: "Thưa Bác! Cục Không quân đang mở Đại hội thi đua ạ! ..."


Bác quyết định vào thăm cán bộ, chiến sỹ không quân và thăm Đại hội.

Khi đoàn xe vừa vào cổng, Bác chưa vào hội trường, mà Bác bảo đồng chí Phan Khắc Hy, Chủ nhiệm Chính trị dẫn Bác vào thăm nơi ăn, ở của người lái máy bay. Bác đi xem từng căn buồng, đến tận từng chiếc giường và cả khu vực vệ sinh nữa. Bác khen anh em ăn ở gọn gàng, ngăn nắp. Nhưng trên đường xuống khu vực nhà ăn, Bác ghé tai hỏi đồng chí Phan Khẳc Hy: "Tại sao hố xí của các chú lại có ngọn thế?" Đồng chí Hy thưa với Bác: "Sáng nay anh em dậy sớm ra sân bay thì bị mất nước ạ!". Bác bảo: "Sử dụng nhà Tây để lại, phải có cách phòng lúc mất nước, mất điện chứ!".


Khi vào nhà ăn, Bác mở lồng bàn, có mấy khẩu phần ăn gồm bánh mì, sữa hộp, cốc, đĩa, Bác liền hỏi đồng chí Phức, anh nuôi: "Tại sao bữa trưa lại cho anh em ăn bánh mì?". Đồng chí Phức thưa với Bác: "Thưa Bác! Đó là khẩu phần ăn sáng, một số anh em dậy sớm phải ra sân bay tiếp thu máy bay chưa kịp ăn. Còn bữa trưa, chúng cháu đang chuẩn bị nấu cơm ạ!".


Khi đến khu vực chế biến thực phẩm ở bếp, chiếc cân bàn định lượng để trên bàn có ruồi đậu, Bác đưa tay xua xua rồi vỗ vai đồng chí Phức, hỏi vui: "Những con ruồi này nặng mấy lạng?" Bác nhác: "Cần phải có vải màn hoặc lồng bàn đậy kín thực phẩm sống, chín và dụng cụ lại, khuyến khích anh em làm vỉ đánh ruồi".


Đứng giữa nhà ăn, Bác vẫy tay gọi mọi người đi theo, quây lại quanh Bác. Bác ân cần nói:

"Năm 1924, Bác sang Liên Xô dự Hội nghị quốc tế. Liên Xô khi đó còn bị các nước đế quốc bao vây và nội chiến, nền kinh tế rất khó khăn, lương thực thiếu, chủ yếu là ăn bánh mỳ đen. Khẩu phần ăn của nhân dân rất ít ỏi, chỉ có hai đối tượng được ưu tiên, đó là trẻ em và người lái máy bay. Với trẻ em, phải ưu tiên, vì đó là tương lai của đất nước. Với người lái máy bay, phải bảo đảm sức khoẻ để đảm bảo an toàn trên trời và bay được lâu dài. Nhà bếp trực tiếp nuôi dưỡng anh em vừa phải luôn luôn cải tiến để anh em ăn hết khẩu phần, vừa phải chú ý vệ sinh. Ở mặt đất, có đau bụng đi ngoài thì dừng xe lại, còn bay trên trời thì không thể dừng máy bay được!...".


Bác bước vào hội trường từ cửa sau phía nhà ăn lên. Mọi người đã ngồi vào vị trí chỉnh tề, im lặng, hướng mặt về phía cửa để được nhìn rõ Bác đi vào. Cả hội trường đứng dậy vỗ tay đón chào Bác. Đồng chí Đặng Tính đi theo, mời Bác lên phía đoàn chủ tịch, nhưng Bác lại đi thẳng đến bục nói chuyện. Bác đưa tay ra hiệu mọi người ngồi xuống, im lặng đón chờ lời nói của Bác.


Bỗng Bác ngẩng mặt lên trần nhà và giơ tay đếm 1, 2, 3... 11, 12, 13... Hình như mọi người đều nhận ra. Bác đang đếm những ngọn đèn thắp sáng trong hội trường.

Bác hỏi: "Tại sao ban ngày lại thắp nhiều đèn như thế?". Đồng chí Phan Khắc Hy dứng dậy, dáng vẻ lúng túng: "Thưa Bác! Anh em tuyên huấn muốn có đủ ánh sáng để chụp ảnh Bác với Đại hội ạ!".

Bác liền nói: "Chụp ảnh thì Bác cháu ta ra trước cửa hội trường quây quần với nhau mà chụp. Ban ngày bật sáng nhiều bóng đèn là lãng phí điện. Điện, nước là mồ hôi, nước mắt của anh chị em công nhân, là tiền của của nhân dân. Nước ta hiện nay đang thiếu nhiều điện, mọi người phải biết tiết kiệm điện, nước!"...


Liền đó, Bác chỉ đồng chí Đặng Tính và nói rất nhẹ nhàng: "Bác vừa đi công tác về, ghé vào thăm. Bác chưa được nghe báo cáo tình hình Đại hội, chú Tính tóm tắt cho Bác biết kết quả thi đua, xong Bác sẽ có ý kiến với Đại hội".


Đồng chí Đặng Tính đứng lên báo cáo tóm tắt những thành tích đã đạt được và những khuyết điểm còn để xảy ra về bảo đảm an toàn bay. Nghiêm trọng là không phát hiện kịp thời sự cố rò rỉ bồn xăng, để chảy thất thoát mất mấy ngàn lít xăng.


Cả hội trường im lặng, nghe rõ cả tiếng xuýt xoa phát ra từ Bác. Bác nhẹ nhàng nói: "Phải quý xăng như máu. Lãng phí xăng là lãng phí máu. Một giọt xăng đưa từ Liên Xô tới, ta phải tốn rất nhiều mồ hôi và cả máu của nhân dân Liên Xô. Bộ đội la, nhất là không quân, phải thi đua tiết kiệm xăng dầu, phải biết yêu máy bay như con, quý xăng như máu!"...


Tiếp đó, Bác quay xuống nói chuyện với Đại hội: "Bác biểu dương bộ đội Không quân tuy mới ra đời, đã làm được nhiều việc:

Tiếp quản, khôi phục được hệ thống sân bay; tích cực phát triển lực lượng; tuyển chọn gửi đi đào tạo cán bộ, người lái, nhân viên kỹ thuật ở nước ngoài; mở trường, lớp đào tạo ở trong nước;

Nhanh chóng từng bước làm chủ nhiệm vụ bay; đảm nhiệm được các chuyến bay đặc biệt (chuyên cơ).

Bác chúc bộ đội Không quân phát triển, trưởng thành nhanh, kịp đáp ứng với tình hình nhiệm vụ mới".

Trước khi kết thúc buổi nói chuyện, Bác lại chỉ tay về phía dưới hội trường đếm 1, 2, 3 ... 14, 15 ... Đếm xong dừng lại, Bác nói: "Số cô, chú đeo bông hoa đỏ trước ngực là điển hình tiên tiến phải không? Nhưng còn ít lắm, nhất là chị em gái. Sang năm 1960, nếu số đeo bông hoa đỏ tăng gấp đôi, số chiến sỹ thi đua là nữ tăng nhiều hơn nữa thì Bác sẽ đến tham dự Đại hội mừng công".


Vừa dứt lời, chúng tôi chưa kịp dứng dậy vỗ tay thì Bác đã đưa tay ra hiệu và bảo mọi người ra cửa hội trường để Bác, cháu quây quần chụp ảnh. (Bức ảnh này tôi đã tặng Bảo tàng Không quân trong dịp triển lãm toàn quân tại sân bay Bạch Mai).


Năm đó, thực hiện lời dạy của Bác, phong trào "Thi đua Ba nhất" trong Cục Không quân, kể cả các đoàn bay đang học tập ở nước ngoài thường xuyên được duy trì sôi nổi, đâu đâu cũng có khẩu hiệu: "Thi dua giành nhiều thành tích để dâng lên Bác và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III".


Đầu năm 1961, Cục Không quân lại mở Đại hội mừng công và chào mừng thắng lợi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Bác nhận được báo cáo, nhưng vì bận công việc đặc biệt, Bác cử đồng chí Lê Duẩn vừa được Đại hội bầu làm Bí thư thứ nhất xuống dự Đại hội và chuyển lẵng hoa của Bác gửi tặng.


Bác chúc bộ đội không quân lập nhiều thành tích trong phong trào thi đua yêu nước.

Với bản thân tôi, trong 10 năm làm công tác tư tưởng, văn hoá ở binh chủng không quân, tôi luôn luôn thấm nhuần và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mà thiết thực nhất, mầu nhiệm nhất là xoay quanh những điều Bác đã khuyên răn, dạy bảo trong nhiều lần Bác tới thăm đơn vị.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:28:22 am
TÔI CHỤP ẢNH BÁC Hồ THĂM BỘ ĐỘI KHÔNG QUÂN


Trần Duy Hợi


Cách đây hơn 20 năm, gia đình tôi đến Bảo tàng Không quân, bỗng nhiên sững sờ bởi tấm ảnh tôi chụp Bác Hồ - Chủ tịch nước, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Quốc hội đến thăm đoàn Không quân Sao Đỏ được phóng to trên 20m2 treo trang trọng tại tiền sảnh Bảo tàng.


Bao nhiêu hình ảnh hiện lèn trong trí nhớ của tôi.

Sáng 9/11/1964, đồng chí Đặng Tính - Chính uỷ Quân chủng Phòng không Không quân đến toà soạn tập san Phòng không, bảo tôi: "Có công tác đột xuất, đồng chí mang máy ảnh ra xe đi với tôi ngay"!.

Lên xe, không biết việc gì gấp thế, đến cầu Long Biên, Chính uỷ xiết chặt tay tôi, nói: "Bác Hồ đến thăm bộ đội không quân mới về nước, đồng chí cố gắng chụp ảnh, viết bài cho tốt"

- Sao anh không báo trước để tôi chuẩn bị?

- Bí mật quân sự mà.

Vinh dự quá lớn đối với tôi. Trong một tâm trạng vừa hạnh phúc, vừa lo lắng với bao ý nghĩ. Nghĩ đến những giây phút được gặp Bác, được đứng gần nhìn rõ Bác để ngắm "Ông Tiên" mà tôi đã từng được đón, mời Bác lên máy bay Li-2 ở sân bay Mai Pha - Lạng Sơn khi Bác trở về Hà Nội sau chuyến thăm đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 1960.


Lo lắng với trách nhiệm mà Chính uỷ Quân chủng giao cho, bởi tôi không phải là phóng viên nhiếp ảnh chuyên nghiệp, mặc dầu trước đó khi học ở Học viện Không quân Trung Quốc tôi cũng có máy ảnh, cũng chụp, cũng rửa ảnh, nhưng xuất phát từ thú chơi ảnh hơn là trách nhiệm nghề nghiệp. Hơn nữa, chiếc máy ảnh tôi mang theo là chiếc E-xa cũ kỹ dễ bị hỏng hóc, nên sau khi lắp cuốn phim mới, tôi đã phải kiểm tra đi kiểm tra lại.


10 giờ 30 phút đến sân bay Đa Phúc (sân bay Nội Bài), tôi theo Chính uỷ vào phòng giao ban của đoàn bay. Ban chỉ huy đoàn bay đã có mặt đầy đủ.

Đồng chí Chính uỷ Quân chủng phổ biến: Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh lên thăm đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của quân đội ta. Nét mặt mọi người rạng rỡ sung sướng, một không khí náo nức lạ thường. Đồng chí Đào Đình Luyện báo cáo công tác chuẩn bị đón tiếp đoàn. Đồng chí Đặng Tính tỏ ý hài lòng và nói: Đây là vinh dự to lớn của Đoàn Sao Đỏ thay mặt bộ đội Không quân được đón Bác đến thăm.


12 giờ 30 phút, đồng chí Hồ Vinh - Chủ nhiệm Chính trị đoàn bay đưa tôi ra sân đỗ máy bay trực chiến. Cạnh đó bộ đội đang chấn chỉnh hàng ngũ theo hình chữ Ư. Tôi lang thang ngắm trời mùa đông trong xanh, tâm trí nghĩ miên man, phải cố chụp được hình Bác trên nền trời xanh, bồng bềnh mây trắng...


13 giờ, một đoàn xe từ cuối đường hạ cất cánh chạy tới, dừng lại trước hàng quân, trước ngôi nhà bằng tre nứa lá, mà anh em thường gọi là "Xưởng sửa chữa máy bay".

Bác Hồ bước ra khỏi xe. Cả đoàn người lay động, song vẫn không rời hàng ngũ. Tiếng hô "Bác Hồ muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm" vang dậy cả một góc trời.

Bác giản dị làm sao, với đôi dép cao-su, bộ quần áo ka-ki bạc màu, bên trong là chiếc sơ-mi màu gụ với chiếc thắt lưng bộ đội.

Chính uỷ Đặng Tính mời Bác và các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh vào căn nhà lá đơn sơ đã kê sẵn bàn ghế trải khăn trắng.

Lần đầu tiên Bác Hồ đến thăm đoàn Không quân tiêm kích. Vui sướng xen lẫn lo lắng với trách nhiệm Chính uỷ Quân chủng giao cho, tôi đứng ngắm Bác, tìm góc độ cho thích hợp vì trong nhà thiếu ánh sáng, máy ảnh lại không có đèn, tôi chỉ dám bấm máy 2 lượt.


Người nói giọng miền Trung ấm áp: Bác thay mặt Trung ương Dảng, Chính phủ thăm hỏi và khen ngợi đơn vị trong công tác huấn luyện và xây dựng. Bác nói: "Các chủ phải rút kinh nghiệm trận mồng 5 tháng 8, phải sẵn sàng chiến đấu, địch đến phải đánh, đã đánh phải thắng".


Rồi Bác nói chuyện chiến thắng Biên Hoà của quân Giải phóng miền Nam 31/10 vừa qua, đã mưu trí linh hoạt, dũng cảm phá huỷ 29 máy bay Mỹ, tiêu diệt 40 tên xâm lược Mỹ và 72 tên khác bị thương. Bác còn nói, một tờ báo Pháp đăng: "Việt Nam là một nước nhỏ nhưng qua trận Biên Hoà thì thấy tuy nước nhỏ mà anh hùng, có thể thắng một nước lớn,... Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thắng đế quốc Mỹ...".


Nói đến nhiệm vụ của không quân, Bác nhấn mạnh: "Các chú hãy học tập Quân giải phóng miền Nam, bám thắt lưng địch mà đánh". Rồi Bác nói vui: "Các chú phải làm thế nào chứ không anh em trong kia đánh hết máy bay địch thì không còn máy bay nữa mà đánh". Cả đơn vị cười vang và hô "Quyết tâm! Quyết tâm!"...


Lời dạy của Bác đã trở thành phương châm tư tưởng chỉ đạo tác chiến của không quân nước Việt Nam sau này.

Bác nói tiếp: "Đồng chí Lê Duẩn nói chuyện với các chú. Đồng chí Đào Đình Luyện - đoàn trưởng đoàn bay thay mặt cán bộ chiến sĩ toàn đơn vị hứa với Bác, với Đảng quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ".


Sau đó, Bác khoát tay về phía hàng quân, nhắc đồng chí Đào Đình Luyện: "Chú cầm càng" chỉ huy anh em hát bài "Kết đoàn" đi. Vâng theo lời Bác, đồng chí Đào Đình Luyện xúc động bắt nhịp bài ca kết doàn: "Kết đoàn, chúng ta là sức mạnh...".


Bài ca hào hùng của non sông vang lên một góc trời. Bài hát suốt những năm tháng kháng chiến chống ngoại xâm đã theo chân các chiến sĩ trên khắp nẻo đường chiến đấu.

Đồng chí Đặng Tính: "Thưa Bác - bộ đội mới về nước ước mong được nhìn Bác thật gần". Bác cười vui, gật đầu.

Bác hồng hào khoẻ mạnh, nhanh nhẹn bước ra sát gần con cháu. Bước theo sau là đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Đặng Tính. Từng lớp người cười vui, chuyển động song vẫn giữ nghiêm hàng ngũ, hàng trước ngồi xuống nền xi-măng, hàng sau đứng lom khom, hàng sau nữa dứng thẳng. Bác đi đến đâu, tiếng vỗ tay xen lẫn tiếng hô: "Bác Hồ muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!" vang một góc trời. Tôi chỉnh máy ảnh, lấy tốc độ nhanh, thu hẹp ống kính, đi giật lùi, khoảng cách quá gần, vì Bác đi nhanh quá, lại ngược ánh sáng, ngắm từ trên xuống rất dễ bị đổ khuôn hình. Bác vẫn đi nhanh, tay cầm mũ vẫy chào đáp lại những tiếng hô vang của đơn vị. Bác như "Ông Tiên" trong truyện thần thoại trên nền trời trong xanh và khối bộ đội đã lọt vào ống kính, cách độ 3m tôi vội bấm 2 kiểu.


Sau đó, Bác đến thăm biên đội trực chiến. Bác bắt tay thân mật các đồng chí lái máy bay và thợ máy.

Bác ân cần thăm hỏi: "Các chú mặc quần áo bay có nóng không? Mỗi bữa ăn mấy bát cơm? ..."

Vào thăm nhà ngủ của anh em bay, thợ máy, Bác đều khen ngợi nhà cửa sạch sẽ, đồ đạc ngăn nắp. Bất chợt Bác hỏi: "Ngày thường các chú có giữ được sạch sẽ, ngăn nắp không?...". Mọi người đều cựời vui trong không khí đầm ấm như nghe người cha nhắc nhở các con.


Khi vào nhà bếp, Bác ân cần dặn dò các chiến sĩ nuôi quân phải dảm bảo vệ sinh trong nấu nướng. Bước đến bên bàn chế biến thức ăn, thấy 2 con ruồi bên cạnh chiếc cân. Bác hỏi: "Mai con ruồi nặng bao nhiêu?". Bác tỏ ý không hài lòng, rồi Bác nhắc: "Các chú phải tổ chức đánh ruồi đi". Mọi người tỏ ra áy náy vì để Bác chưa hài lòng.


Tôi vẫn theo Bác chụp được một số kiểu ảnh Bác nói chuyện với các chiến sỹ lái máy bay, chiến sĩ nuôi quân, song trên đường về tôi vẫn lo lắng với trách nhiệm mà Chính uỷ Quân chủng giao cho.

Tối hẳn, tôi mượn chìa khoá vào phòng tráng phim. Tôi pha chế thuốc, tính thời gian, hồi hộp và tự vấn: Phim có mốc không? Cự ly ánh sáng có tốt không? Khi lấy cuốn phim vừa tráng xong ra, nỗi lo âu tan biến, lòng tràn đầy vui sướng! Mọi kiểu ảnh đều tốt. Đặc biệt tấm ảnh Bác Hồ người cao lồng lộng giơ cao mũ vẫy chào hàng quân nổi bật trên nền trời mùa đông có áng mây trắng bay lơ lửng. Theo chân Bác là đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Đặng Tính, có cả đông đảo cán bộ, chiến sĩ đơn vị vỗ tay cười vui, quây quần bên Bác ấm cúng như cha với con.


Một kiểu ảnh đẹp cả về bố cục, lẫn nội dung thể hiện tình cảm của Bác đối với các chiến sĩ không quân thật gần gũi, thân thương.

Tấm ảnh này đã được giải Nhất trong cuộc triển lãm ảnh toàn quân năm 1970 nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập nước. Tấm ảnh đã đi vào lịch sử quân đội ta và Quân chủng Phòng không - Không quân.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:30:29 am
LẦN ĐẦU TIÊN TÔI ĐƯỢC CHỤP ẢNH BÁC HÒ


Xuân Mai


Sáng sớm ngày 19-7-1965. Tiếng kẻng báo thức vừa dứt, tôi và anh Vũ Minh Ái đã được anh Phương Nam, Phó Phòng Tuyên huấn gọi đến giao nhiệm vụ. Anh Phương Nam nói:

- Quân chủng đang tổ chức trận phục kích lớn bắn máy bay Mỹ ở Hà Tây, để đưa bộ đội Tên lửa ra quân chiến đấu. Bác Hồ nghe báo cáo, đã yêu cầu bố trí cho Bác được gặp, động viên các chiến sĩ trước giờ ra trận. Vì thế đêm qua Tiểu đoàn 241 súng máy tự hành và Đại đội 1, Trung đoàn 234, đã được điều về bố trí trận địa trong sân bay Bạch Mai. Các đồng chí về chuẩn bị gấp, đến đó trước 6 giờ sáng để dự đón Bác Hồ...


Tôi là phóng viên phải lo chụp ảnh, ghi chép nội dung để viết bài kịp thời đăng báo. Anh Vũ Minh Ái là trợ lý tuyên truyền - thi đua, có nhiệm vụ ghi âm bài nói của Bác Hồ, về tổ chức in thành văn bản, phát hành toàn Quân chủng học tập và làm theo lời Bác.


Tôi chỉ kịp đánh răng, rửa mặt qua loa, rồi khẩn trương vào lấy máy và phim ảnh. Phải nói cơ quan báo Phòng không - Không quân lúc đó còn nghèo, chỉ có hai chiếc máy ảnh và không có đèn chụp đêm. Chiếc máy Exa là máy chủ lực, chụp được nhanh và nhiều phim cỡ 24 x 36 dự trữ, thì anh Trần Duy Hợi đã mang đi cùng Sở chỉ huy tiền phương rồi. Còn lại chiếc máy Flexaret cũ chụp phim cỡ 6 x 6, mỗi cuốn chỉ được 12 kiểu, không tiện chụp ảnh thời sự vì khó chụp nhanh, lại phải thay phim luôn. Lúc này trong máy đang có một cuốn phim chụp dở, chỉ còn 5 kiểu. Vì là máy ít dùng nên phim dự trữ cũng ít, chỉ có hai cuốn. Tôi đành khoác chiếc máy Flexaret lên cổ, mang cả hai cuốn phim dự trữ và cuốn sổ ghi chép, cùng anh Vũ Minh Ái lên đường.


Từ cơ quan sang cuối sân bay Bạch Mai chỉ chưa đầy 300 mét. Tôi và anh Ái đi qua những chiếc xe bọc thép có gắn súng máy 14,5mm, đỗ thẳng hàng sát mép đường băng. Chúng tôi tiến vào giữa trận địa Đại đội 1 pháo 57mm, khi trời còn chưa sáng hẳn. Bộ đội đang khẩn trương kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu. Tiếng máy phát điện nổ giòn.


Những khẩu pháo quay tròn theo mệnh lệnh người chỉ huy, rung rinh lá nguỵ trang xanh.

Anh Ái cúi xuống rỉ tai tôi, nói nhỏ:

- Lát nữa Bác đến, cậu vừa chụp ảnh, vừa chú ý theo dõi Bác tiếp xúc với bộ đội mà viết bài tường thuật. Tôi chỉ ghi âm khi Bác đứng nói chuyện với tập thể, không ghi lặt vặt, sợ hết băng! ...

Tôi gật đầu, ái ngại nhìn anh Ái đang khoác trên vai chiếc máy Paros cũ kỹ, to và nặng như chiếc máy chữ của văn phòng. Chiếc máy này cơ quan thường dùng để thu hoặc nghe băng nói chuyện thời sự trong các hội nghị. Nay vẫn phải sử dụng nó để thu thanh một sự kiện trọng đại có ý nghĩa lịch sử của quân đội, của đất nước ...


Đúng 6 giờ, trời hửng sáng. Một đoàn xe tiến vào sân bay, nhưng dừng lại tận phía ngoài Tiểu đoàn 241. Tôi lỡ mất cơ hội không kịp bấm máy khi Bác Hồ bắt tay, hỏi chuyện đồng chí Nguyễn Đăng Tùng và đồng chí Nguyễn Anh Đào, Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên Tiểu đoàn 241. Tôi thấy cùng đi với Bác còn có đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị; các đồng chí Phùng Thế Tài, Đặng Tính, Tư lệnh và Chính uỷ Quân chủng.


Lúc này ánh sáng vẫn rất yếu, máy ảnh lại không có đèn. Tôi phải để tốc độ 60, mở hết ống kính vì sợ ảnh chụp thiếu sáng. Tôi chạy lên phía trước Bác Hồ chừng 10 mét, vừa đi, giật lùi vừa ngắm máy. Khi thấy rõ Bác và các đồng chí cùng đi, bên cạnh là một khẩu đội súng máy trên xe bọc thép, tôi bấm liền hai kiểu ảnh.


Đến giữa trận địa Đại đội 1, Bác bước lên một ụ đất cao, đứng bên đồng chí Đại đội trưởng Nguyễn Văn Ngàn hỏi chuyện. Bác quan sát khắp trận địa và nhận xét quần áo của bộ đội đều bạc trắng cả. Bác nhắc đơn vị phải tổ chức nhuộm lại như màu xanh lá cây cho anh em, như thế mới giữ được bí mật.


Ụ đất hẹp, chỉ đứng được vài ba người. Tôi không thể leo lên đứng bên Bác để chụp ảnh. Tôi đành đứng ở dưới, tuy ngược sáng nhưng vẫn hất máy lên bấm một kiểu.

Bác bước vào Khẩu đội 6, đứng bên khẩu pháo. Các đồng chí cùng đi và các chiến sĩ đều đứng quây quần quanh Bác. Tôi đứng lên bờ ụ pháo ngắm máy, thấy Bác mặc áo cánh nâu, miệng Bác cười tươi, râu tóc Bác bạc phơ như một ông tiên. Các cán bộ, chiến sĩ đứng quanh Bác đều tươi cười nhìn Bác. Rõ nhất có Pháo thủ số 5 Dương Duy Ngữ. Tôi cẩn thận ngắm nét, rồi nín thở bấm một kiểu ảnh. Lúc này tôi thấy xuất hiện anh Triệu Hùng, phóng viên nhiếp ảnh Báo Quân đội nhân dân cũng đang ngắm máy, chụp ảnh.


Khẩu đội trưởng Lương Phúc Thoại báo cáo với Bác về khẩu đội của mình. Bác hỏi:

- Ở đây chú nào bắn rơi máy bay Mỹ?

Một pháo thủ đáp:

- Thưa Bác, chúng cháu đều bắn và là thành tích tập thể ạ!

Bác gật đầu, nói:

- Đúng, không phải một mình chú và đơn vị chú bắn, mà còn nhiều đơn vị bạn và nhân dân cùng bắn nữa.

Trong máy của tôi lúc này chỉ còn một kiểu ảnh. Tôi cổ chờ một động tác nào thật điển hình của Bác để bấm nốt rồi thay phim mới. Nhưng chỗ đứng của tôi không thuận tiện lắm. Trong khi Bác đang hỏi chuyện đồng chí khẩu đội trưởng Lương Phúc Thoại, tôi tranh thủ chuyển sang góc đứng mới để có thể nhìn rồ Bác, các đồng chí cán bộ cùng đi và các chiến sĩ.


Anh Triệu Hùng đã chụp được kiểu ảnh khi Bác đang chăm chú xem chiếc mũ sắt của khẩu đội trưởng Lương Phúc Thoại. Tôi vừa ổn định chỗ đứng, thì chợt Bác đội thử chiếc mũ sắt lên đầu. Thật đúng tầm ngắm, tôi bấm nhanh được kiểu ảnh này. Không ngờ đó lại là kiểu ảnh hiếm có: Bác Hồ đội mũ sắt đứng trên trận địa bắn máy bay Mỹ. Đứng bên Bác là các đồng chí Văn Tiến Dũng, Song Hào, Đặng Tính. Phía sau Bác là khẩu pháo của Khẩu đội 6 và một chiến sĩ đứng trên mâm pháo.


Tôi chạy vội xuống tháo lắp phim. Khi lắp xong cuốn phim mới, tôi quay cần lên phim, sao máy cứ chạy tuồn tuột, không chịu dừng. Tôi sợ toát cả mồ hôi, nghĩ rằng máy đã hỏng. Sau nhớ kỹ lại thì ra oái oăm thay, cái máy Flexaret có một trục lăn để đẩy phim nhựa. Khi lắp phải luồn đầu giấy đen lót ngoài phim nhựa xuống dưới trục lăn, quay đến điểm dừng quy định thì đậy nắp máy lại. Sau đó quay tiếp, cứ mỗi kiểu ảnh, máy sẽ tự động dừng, cũng là tự động "lên cò" để bấm máy. Vừa rồi vì tôi quá hồi hộp, đã không luồn đầu phim xuống dưới trục lăn mà lại để bên trên nên trục lăn không quay, máy không chịu dừng. Khốn nỗi loại máy cũ kỹ này không thể quay ngược phim lại, đã bị quay đi cả cuốn, không sao lắp lại được từ đầu. Trường hợp này phải có túi bằng nhiều lớp vải đen, hoặc vào buồng tối mới xử lý được.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:31:14 am
Thế là trong túi tôi chỉ còn lại một cuốn phim, tức là chỉ chụp được 12 kiểu ảnh. Tôi cố định thần, lắp thật cẩn thận cuốn phim cuối cùng vào máy. Trong khi tôi mải xử lý lắp phim vào máy ảnh, là lúc Bác Hồ và các đồng chí cùng đi vào thăm nơi nghỉ của bộ đội trong những chiếc lều bạt dựng ngay bên trận địa. Bác xuống nhà bếp, xem từng chỗ nấu cơm, nấu canh và nhắc nhở các đồng chí anh nuôi phải chú ý giữ vệ sinh chung để đảm bảo sức khoẻ cho bộ đội ăn no, đánh thắng và phải biết tiết kiệm... Tất cả những sự kiện vô vùng quý giá đó giữa Bác Hồ với bộ đội, tôi đều bỏ lỡ, thật đáng tiếc.


Khi Bác Hồ từ những chiếc lều bạt bước ra trận địa, trời đã hửng nắng. Bộ đội cả hai đơn vị đều tập hợp tề chỉnh trên một bãi cỏ bên đường băng sân bay. Tôi đã lấy lại được bình tĩnh, bấm liền 4 kiểu ảnh Bác giơ mũ vẫy chào các chiến sĩ đang vỗ tay chào đón Bác. Bác bảo cán bộ chỉ huy cho bộ đội ngồi xuống bãi cỏ, để nghe Bác nói chuyện. Tôi thấy anh Vũ Minh Ái cũng đã xuất hiện với chiếc máy ghi âm đeo trên vai, đứng ngay sau lưng Bác.


Thời tiết rất đẹp. Tôi tha hồ chọn các góc độ, bấm nhiều kiểu ảnh Bác Hồ đứng dưới ánh nắng hè, nói chuyện thân mật với các chiến sĩ. Trong khoảng thời gian chừng 30 phút, Bác nói đại ý:

- Giặc Mỹ đang "leo thang" chiến tranh ra miền Bắc, còn ở miền Nam chúng đang tăng thêm quân, thêm súng. Nhưng chúng ta quyết không sợ. Nó đưa ra từng nào, ta diệt thêm chừng ấy. Muốn vậy các chú phải nêu cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Phải ra sức khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, nêu cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, học tập và rèn luyện tốt. Phải noi gương quân và dân miền Nam anh hùng đánh mạnh, đánh trúng hơn nữa.

- Bộ đội Phòng không - Không quân có nhiều binh chủng hợp thành, lúc đánh địch phải có phân công, có hiệp đồng chặt chẽ. Muốn vậy phải có tinh thần lập công tập thể, không được có biểu hiện tranh công, đổ lỗi.

- Các chú phải hết sức chú ý vấn đề dân chủ và kỷ luật. Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật. Phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa bộ đội với nhau, giữa nhân dân với bộ đội.

Bác xoè 5 ngón tay ra rồi nắm lại và nói: "Một ngón tay thì yếu, nhưng 5 ngón tay nắm lại thành quả đấm thì rất mạnh".

Bác nói tiếp, như muốn khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược: "Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay B gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Đã đánh là nhất định thắng!".


Bác còn dạy: "Ta thường nói: "một viên đạn, một quân thù". Ở đây với cỡ pháo này, Bác cho các chú 20 viên một quân thù. Các chú cố gắng học tập và rèn luyện sẽ làm được"

Bác vừa dứt lời, cả hàng quân rộn lên tiếng hô vang:

- Kiên quyết thực hiện lời dạy của Bác!

- Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Bác tươi cười vẫy chào các chiến sĩ. Trên đường ra về, Bác còn ghé thăm và động viên các cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong Sở chỉ huy Quân chủng.

Tôi phấn khởi chạy một mạch về cơ quan, chui vào buồng tối tráng phim ngay. Lần đầu tiên được chụp ảnh Bác Hồ tuy gặp khó khăn và rất hồi hộp, nhưng trong số ảnh tôi chụp hôm đó, có 10 kiểu đạt tốt. Tấm ảnh Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo quân đội, quân chủng, như đang duyệt đội hình đơn vị súng máy tự hành trên xe bọc thép, xưa nay chưa từng có. Tôi thích nhất tấm ảnh Bác như một ông tiên hiền đứng giữa Khẩu đội 6, đang nói chuyện vui vẻ với các chiến sĩ. Những tấm ảnh Bác giơ tay vẫy chào, Bác nói chuyện với bộ đội có ánh nắng rất đẹp, hình Bác như một người cha đứng giữa đàn con thân yêu. Đặc biệt tấm ảnh Bác Hồ đội mũ sắt đứng bên khẩu đội pháo giữa những ngày kháng chiến ác liệt, như đang cổ vũ toàn quân và toàn dân ta nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, để giải phóng đất nước.


Lần đầu tiên được chụp ảnh Bác Hồ, đã đem lại cho tôi niềm vinh dự lớn. Đối với tôi, đây là một kỷ niệm mãi mãi không bao giờ quên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:32:45 am
BÁC HỒ THĂM BỘ ĐỘI TÊN LỬA
NGAY SAU KHI VỪA LẬP CHIẾN CÔNG ĐẦU


Phạm Anh Hoàng


Ngày 24/7/1965, Trung đoàn tên lửa 236 lần đầu ra quân đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay Mỹ thứ 400 trên miền Bắc. Tiếp đó sau tròn một tháng, Trung đoàn 236 cơ động chiến đấu trên nhiều tỉnh của miền Bắc, lại bắn rơi thêm trên mười máy bay Mỹ nữa, trong đó nhiều chiếc rơi tại chỗ...


Tin vui thắng trận dồn dập thông báo về hằng ngày. Nhưng tin vui lớn hơn, làm nức lòng mọi người là Bác Hồ sẽ đến thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ vừa lập công xuất sắc ngay trên một trận địa tên lửa...


Ngày ấy tôi vừa tái ngũ vào công tác trong quân đội được mấy tháng, là trợ lý Phòng Tuyên huấn Quân chủng. Sau bữa ăn trưa ngày 26/8/1965, anh Trần Thái Vĩnh, Trưởng phòng Tuyên huấn gọi tôi và anh Vũ Minh Ái đến phân công chúng tôi tham gia Đoàn cán bộ của Cục Chính trị đi đón Bác Hồ. Nơi đón Bác là trận địa Tiểu đoàn 61 - đơn vị tên lửa vừa diệt gọn cả tốp 3 chiếc A.4E, có một chiếc rơi tại chỗ đêm 11/8/1965 trên vùng trời khu vực Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình. Tiểu đoàn 61 mới cơ động về gần cầu Phùng thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Anh Vũ Minh Ái là trợ lý tuyên truyền - thi đua mang theo chiếc máy ghi âm cũ vừa to vừa nặng. Tôi là trợ lý Câu lạc bộ có chiếc máy ảnh Pratica nova mới được Tổng Cục chính trị cấp cho Quân chủng.


Chúng tôi đến Tiểu đoàn 61, trời đã ngả về chiều. Trận địa đang tưng bừng trong không khí chuẩn bị đón "khách đặc biệt". Ngoài đoàn cán bộ cơ quan chúng tôi ra, các đồng chí cán bộ Trung đoàn 236 và cả một số đồng chí chuyên gia tên lửa Liên Xô (cũ) cũng đã có mặt. Tôi gặp đồng chí Phạm Đăng Ty, Chính uỷ Trung đoàn 236, vốn là Chính trị viên Tiểu đoàn 394 của tôi trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa. Chúng tôi đều tay bắt mặt mừng, cùng chờ đợi.


Khoảng 4 giờ chiều, một đoàn xe con tiến vào trận địa. Bác Hồ từ trên xe bước xuống. Bác vẫn mặc bộ quần áo nâu giản dị, chân Bác đi đôi dép lốp. Cùng đi với Bác có đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng quân đội và đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ. Tôi và anh Vũ Minh Ái đều bước theo chân Bác. Tôi chụp ảnh, anh Vũ Minh Ái kịp thời ghi âm những tiếng nói của Bác Hồ với bộ đội.


Bác Hồ dừng chân ở Khẩu đội 2, xem các chiến sĩ thao tác lắp đạn lên bệ phóng. Tiếp đó Bác Hồ vào thăm nhà bếp và nơi nghỉ của bộ đội. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 61 Hồ Sĩ Hưu báo cáo với Bác về đời sống của các chiến sĩ trên trận địa. Bác khen đơn vị khéo làm các lán nghỉ dưới những lùm cây vừa sạch, vừa kín đáo. Bác khen trận địa nguỵ trang tốt, nhưng Bác cũng nhắc cần sơn loang lổ các xe khí tài, các quả đạn kết hợp với cài lá nguỵ trang thì tốt hơn.


Bộ đội đã tập họp đông đủ giữa trận địa. Bác Hồ dừng lại trước hàng quân, chủ động hô: "Chào!" và thân mật nói: "Thế là các chú chưa biết chào!". Rồi Bác hô khẩu lệnh: "Ngồi xuống!". Bác cháu lại cùng cười vui vẻ, chan hoà tình gắn bó giữa lãnh tụ với quần chúng. Bác nói: "Hôm nay, Bác đến thăm các chú, thấy chú nào cũng khoẻ mạnh, vui vẻ Bác rất mừng.


Bác nghe báo cáo các chú đã hạ được 12 máy bay địch, như thế là tốt. Nếu ta phấn đấu làm sao bắn ít đạn hơn lại rơi được nhiều máy bay hơn thì càng ưu điểm. Trong công tác, trong chiến đấu các chú đã nêu cao tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết các quân binh chủng bạn, đoàn kết với đồng bào như vậy là tốt. Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến thắng lợi chính là nhờ có đoàn kết"...


Trời đã sẩm tối, Tiểu đoàn 61 đã chủ động mắc sẵn những ngọn đèn điện chạy máy nổ. Dưới ánh điện, da Bác Hồ càng thêm hồng hào, mắt Bác càng thêm ngời sáng. Bác cười cởi mở, âu yếm nhìn các chiến sĩ, rồi hỏi: "Ở đây, chú nào là đảng viên, chú nào là đoàn viên thanh niên?" Toàn tiểu đoàn như cả một rừng cánh tay giơ lên cùng những tiếng thưa với Bác Hô: "Cháu ạ! Cháu ạ!". Bác gật đầu, ra hiệu cho các chiến sĩ hạ tay xuống và nói to: "Hoan nghênh các đảng viên, hoan nghênh các đoàn viên thanh niên!". Rồi Bác ân cần căn dặn: "Chú nào chưa phải là đảng viên, đoàn viên hãy cố gắng tu dưỡng, phấn đấu trở thành đảng viên, đoàn viên...". Lời Bác thiết tha như thúc giục mọi người cùng thi đua tiến tới. Bác nói tiếp: "Hiện nay, chúng ta đang kháng chiến lần thứ hai. Chúng ta đang đánh giặc Mỹ, tên trùm sỏ đế quốc hung hãn, xảo quyệt nhất, nhưng chúng ta sẽ nhất định chiến thắng. Chúng ta được sự giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Chúng ta lại được sự ủng hộ đồng tình của nhân dân các nước trên thế giới. Mỹ đánh ta nhưng nhân dân Mỹ lại ủng hộ ta. Về phía chúng ta, chúng ta đều quyết tâm, chúng ta có Đảng sáng suốt lãnh đạo và lực lượng to lớn của nhân dân ta. Hồi Cách mạng tháng Tám, chúng ta chỉ có 5.000 đảng viên thôi, nhưng Đảng nói: "Cách mạng nhất định thắng lợi!", có đúng thắng lợi không các chú?"


Bộ đội đều đồng thanh đáp: "Đúng ạ! Đúng ạ!". Bác Hồ lại nói: "Trong kháng chiến trước đây, lực lượng thực dân Pháp rất mạnh nhưng lúc đó Đảng bảo: "Kháng chiến nhất định thắng lợi" có đúng ta thắng lợi không?"


Bộ đội lại đồng thanh đáp: "Đúng ạ! Đúng ạ!". Bác Hồ lại nói tiếp: "Lần này, Đảng cũng bảo: "Ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" thì nhất định chúng ta cũng đánh thắng. Chúng ta phải tin tưởng sâu sắc ở Đảng, đồng thời mọi người chúng la cũng không được sợ khó, ngại khổ, sốt ruột, không được chủ quan, tự mãn..."


Sau khi nhắc nhở các chiến sĩ phải ra sức rèn luyện học tập, nâng cao trình độ chiến đấu để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Bác Hồ căn dặn: "Các chú cần đề cao ý thức lập công tập thể, thắng lợi không được tranh công, khó khăn không được đổ lỗi. Thắng lợi là thẳng lợi của tập thể bộ đội Phòng không, của các lực lượng vũ trang, của nhàn dân. Khi có khuyết điểm, tốt nhất là mình nên nhận trước để sửa chữa. Mặt khác, Bác dặn các chú phải hết sức quý trọng sức người, sức của của nhân dân. Nếu bất đắc dĩ phải chặt cây, chặt tre của đồng bào thì phải cùng chi bộ địa phương bàn bạc cùng làm, trả tiền sòng phẳng. Một điều quan trọng nữa là phải giữ bí mật quân sự, các chú phải dặn dò nhân dân giữ bí mật cho mình. Các chú có biết câu "ba không" mà ta hay đùng trong kháng chiến không?"


Nghe bộ đội đồng thanh trả lời: "Có ạ!" Bác Hồ căn dặn tiếp: "Bác nhắc lại là phải có quyết tâm khắc phục mọi khó khăn gian khổ. Trong chiến tranh nhất định có khó khăn, gian khổ nhưng so với khó khăn, gian khổ mà đồng bào miền Nam đã trải qua thì chưa thấm vào đâu. Lúc chiến đấu các chú phải dũng cảm, thắng không kiêu, khó không nản. Chúng ta phải có quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, như vậy mới xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân và các nước anh em đối với chúng ta. Tóm lại, phải đoàn kết, quyết tâm. Phải đoàn kết mới có thắng lợi, có quyết tâm mới có thể khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Cuối cùng, Bác chúc các chú mạnh khoẻ, hăng hái, cố gắng học tập và thu được nhiều thắng lợi...".


Bác Hồ vừa dứt lời, toàn thể cán bộ, chiến sĩ đều đứng dậy hô to:

- Quyết tâm thực hiện đúng lời dạy của Bác!

- Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Sau khi đồng chí Vũ Ngọc Thuỵ, Chính trị viên Tiểu đoàn 61 thay mặt cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn và bộ đội Tên lừa Việt Nam hứa quyết tâm với Bác Hồ, Bác vui vẻ vỗ tay và vẫy chào mọi người. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 61 đều lưu luyến nhìn theo Bác, lòng tràn ngập niềm phấn khởi, tin tưởng và biết ơn sâu sắc sự quan tâm săn sóc của Đảng, của Bác Hồ với bộ đội Tên lửa Việt Nam.


Trở về cơ quan, anh Vũ Minh Ái nghe lại băng ghi âm, chép nguyên văn những lời dạy của Bác Hồ, viết bài tường thuật kịp đăng báo PKKQ lúc đó mới ra đời được hơn 1 tháng. Tôi cũng đóng góp được một số tấm ảnh quý về Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo quân đội thăm trận địa tên lửa, đi bên những bệ phóng vừa lập công xuất sắc. Có tấm ảnh Bác Hồ đang chỉ tay lên quả tên lửa đang đồng bộ, nhắc đơn vị phải sơn lại theo màu nguỵ trang cho đỡ lộ trận địa. Có những tấm ảnh đồng chí Tư lệnh Quân chủng đang báo cáo với Bác Hồ, xung quanh là các chiến sĩ, có cả các chuyên gia quân sự Liên Xô. Có những tấm ảnh Bác Hồ đang đứng nói chuyện với bộ đội giữa trận địa tên lửa...


Tôi không ngờ đó lại là những tấm ảnh đẹp Quân chủng PKKQ có được về Bác Hồ đối với bộ đội tên lửa Việt Nam.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:37:28 am
ĐƯỢC ĐÓN BÁC HỒ GIỮA NGÀY ĐẦU XUÂN
"ĂN TẾT TRÊN MÂM PHÁO ĐÁNH MỸ"


Nguyễn Thường Tín


Tết Nguyên đán Bính Ngọ (1966), bộ đội Phòng không - Không quân bắt đầu thực hiện nếp sống: "Ăn Tết trên mâm pháo đánh Mỹ". Trung đội 2 súng máy phòng không 14,5mm, Tiểu đoàn 62, Trung đoàn tên lửa 236 chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đón Tết tại trận địa, đặt trên đê Mai Lĩnh bên sông Đáy, ngay ven thị xã Hà Đông.


Sáng mồng 1 Tết, trời rét đậm. Mưa xuân giăng kín bầu trời. Nhưng các chiến sĩ trong kíp trực chiến, vẫn ngồi nghiêm chỉnh trên mâm pháo. Những người còn lại trong trung đội, đều ngồi quây quần trong chiếc lều bạt, dựng ngay ven đê. Chúng tôi chăm chú lắng nghe thơ mừng năm mới của Bác Hồ, qua chiếc máy thu thanh bán dẫn:

   "... Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
   Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng...
   Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
   Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng..."


Bỗng có tiếng báo cáo dồn dập từ mặt đê, vọng xuống:

- Có khách đến thăm trận địa !

- A ! Bác Hồ! Bác Hồ đến thăm các đồng chí ơi!

Chúng tôi vội lao nhanh lên mặt đê. Thượng sĩ Nguyễn Vọng, chỉ huy trung đội chạy dẫn đầu, bỗng sững lại. Anh còn đang lúng túng với chiếc áo bông xanh to xù khoác trên người, không đúng tác phong quân nhân, thì Bác Hồ đã đứng ngay trước mặt. Bác tươi cười, hỏi:

- Chú phụ trách đơn vị phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú tập hợp anh em, để Bác chúc Tết!

Chỉ trong giây lát, trừ các đồng chí trực chiến vẫn ngồi trên mâm pháo, cả trung đội chúng tôi đều sung sướng đứng vây quanh Bác. Cùng đi với Bác còn có nhiều đồng chí cán bộ, sau này chúng tôi mới biết trong đó có các đồng chí: Tố Hữu; Thiếu tướng Trần Sâm, Phó Bí thư Thành uỷ, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Thủ đô; đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác...


Trời rét. Mưa vẫn lất phất bay. Những hạt mưa xuân rơi ướt đầm vai áo Bác. Nhưng Bác vẫn vui vẻ đứng giữa trận địa, hỏi chuyện chúng tôi:

- Các chú khoẻ cả chứ?

- Thưa Bác, chúng cháu khoẻ lắm ạ!

- Các chú ăn Tết có những gì?

- Thưa Bác, có bánh chưng và các thứ khác ạ!

- Các thứ khác là những gì?

- Thưa Bác, có giò, thịt mỡ, thịt gà và cả thịt đông ạ!

- Thế có nước mắm ớt không?

Chúng tôi đều xúc động, cất tiếng cười vui vẻ, đồng thanh trả lời:

- Thưa Bác, có ạ!

- Các chú trực ban chiến đấu thế nào? Có đủ áo ấm, có vải bạt che mưa không?

Thượng sĩ Nguyễn Vọng thay mặt anh em trong trung đội, báo cáo với Bác:

- Thưa Bác, vâng lời Bác dạy "phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", chúng cháu sẵn sàng chiến đấu không kể ngày đêm ạ! Chúng cháu đã được cấp phát đầy đủ, có cả áo ấm, có cả áo mưa!...

Bác gật đầu, khen ngợi:

- Bác rất mừng thấy chú nào cũng khoẻ cả!

Thượng sĩ Nguyễn Vọng cũng thưa với Bác:

- Thưa Bác, chúng cháu rất sung sướng thấy Bác hồng hào, khoẻ mạnh!...

Bác gật đầu cười, rồi Bác hỏi tuổi quân cao nhất và thấp nhất của chúng tôi. Bác hỏi trình độ văn hoá của một số chiến sĩ và tỏ ra vui lòng khi nghe báo cáo trình độ văn hoá chúng tôi đều lớp 6, lớp 7, có nhiều đồng chí học lớp 10. Bác căn dặn chúng tôi phải tranh thủ học thêm văn hoá, rồi Bác lại hỏi:

- Anh em có đoàn kết không?

- Thưa Bác, vâng lời Bác dạy, chúng cháu luôn luôn đoàn kết chặt chẽ ạ!

Bác gật đầu hài lòng, rồi Bác chỉ đồng chí Tố Hữu, cùng đi với Bác:

- Các chú có biết ai đây không?

Một chiến sĩ trẻ, dụt dè trả lời:

- Thưa Bác ... không ạ!

- Đây là đồng chí Tố Hữu, thanh niên lớp trước đấy!

Đồng chí Tố Hữu cũng cười, nói tiếp:

- Cũng thanh niên cả thôi!

Tất cả mọi người cùng cười vui vẻ. Bác quay sang nói với đồng chí Tố Hữu:

- Chú chúc Tết các chú ấy đi!

Đồng chí Tố Hữu mời Bác chúc Tết. Bác nói:

- Hôm nay, Bác và đồng chí Tố Hữu đến chúc Tết các chú. Chúc các chú năm mới sức khoẻ mới, cố gắng mới, giành thắng lợi mới! Bác không đi được hết, Bác mang tờ thiếp chúc Tết của Bác và một ít kẹo quà Tết cho các chú!

Bác trao tờ thiếp chúc Tết và gói kẹo cho đồng chí Vọng. Thượng sĩ Nguyễn Vọng đón nhận quà Tết từ tay Bác, run lên vì sung sướng. Anh thưa lại với Bác, mà giọng nói cứ ngập ngừng:

- Chúng cháu ... vô cùng ... biết ơn Đảng và sự chăm sóc của Bác. Cháu xin thay mặt đơn vị... Kính chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ...

Bác nói:

- Giặc Mỹ rất thâm độc và hung bạo. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta tuy gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Vì toàn quân, toàn dân ta kiên quyết chiến đấu, không sợ hy sinh gian khổ ...

Bác lại hỏi:

- Các chú có tin chắc ta nhất định thắng không?

Chúng tôi đều đồng thanh đáp:

- Thưa Bác, ta nhất định thắng ạ!

Bác gật đầu, nói:

- Các chú tin chắc như vậy là ta nhất định thắng đấy!

Bác vẫy chúng tôi đứng gần lại, hỏi:

- Các chú có thích nghe đồng chí Tố Hữu ngâm thơ không?

- Thưa Bác, có ạ!

Bác quay sang nói với đồng chí Tố Hữu:

- Chú ngâm thơ cho các chú ấy nghe đi!

Đồng chí Tố Hữu đứng sau lưng Bác, bước lên trịnh trọng nói:

- Tôi đọc thơ mừng năm mới của Bác cho các đồng chí nghe nhé!

Bác khua tay ra hiệu không tán thành, nói:

- Chú đọc thơ khác, đọc thơ của chú ấy! Thơ của Bác đã gửi các chú ở đây rồi!

Đồng chí Tố Hữu hắng giọng, đọc một đoạn trong bài thơ "Chào Xuân 1966" do đồng chí mới làm:

   ... "Giặc Mỹ cứ đem mày đến đây!
   Súng ta đã nắm chắc trong tay
   Lúa ta vẫn tốt, cây ra lộc
   Xuân vẫn về cho ong bướm say..."


Đồng chí Tố Hữu đọc đến đây, Bác bỗng cười vui và theo vần "ay", Bác đọc tiếp:

"Chúc các cháu bắn rơi nhiều máy bay!"...

Bác Hồ, đồng chí Tố Hữu và chúng tôi lại cùng cười vui vẻ. Bác giơ tay vẫy chào chúng tôi, rồi Bác từ từ bước xuống chân đê. Chúng tôi đều lưu luyến nhìn theo Bác, cùng hô vang: "Chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu!"; "Hồ Chủ tịch muôn năm!"...


Ghi sâu lời Bác dạy, từ mùa Xuân năm ấy, chúng tôi đã cùng các đơn vị trong trung đoàn hành quân chiến đấu cơ động trên nhiều chiến trường, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chổng Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.


Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường và giờ đây, những người còn lại trong trung đội được đón Bác Hồ năm xưa, đều đã trở về với cuộc sống đời thường, trở thành Cựu chiến binh Việt Nam. Nhưng dù ở đâu, hoàn cảnh nào, chúng tôi vẫn mãi mãi không quên buổi vui Tết đón Bác Hồ và những lời dạy bảo ân cần của Bác trong ngày Xuân đầu tiên "Ăn Tết trên mâm pháo đánh Mỹ!"...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:40:02 am
TÔI VÀ CÁC CHIẾN SĨ KHÔNG QUÂN CÓ
THÀNH TÍCH XUẤT SẮC ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ


Nguyễn Xuân Mậu


Chiều 10 tháng 4 năm 1966, tôi được phân công thay mặt Bộ Tư lệnh Quân chủng, dẫn đoàn chiến sĩ lái máy bay đã lập chiến công xuất sắc, lên Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Đây là sự kiện đặc biệt mà tôi rất phấn khởi và vinh dự được Bộ tư lệnh Quân chủng giao cho. Tôi gọi điện sang Toà soạn báo Phòng không - Không quân, yêu cầu cử ngay một phóng viên mang theo máy ảnh, đi cùng tôi để ghi lại hình ảnh lịch sử này.


Chỉ 10 phút sau, anh Xuân Mai, phóng viên báo đã có mặt. Tôi bắt tay anh Xuân Mai, nói vui:

- Hay lắm! Xuân Mai đã có kinh nghiệm nhiều lần chụp ảnh Bác Hồ. Cậu lên xe đi ngay với tôi lên Phủ Chủ tịch, cố gắng chụp ảnh thật đẹp nhé!

Anh Xuân Mai cũng rất vui, vừa vỗ tay vào chiếc bình ắc-quy chụp ảnh đeo bên hông, vừa nói:

- Báo cáo anh may quá, báo ta vừa được trang bị đèn chụp ảnh đêm, tuy đã cũ nhưng còn sử dụng tốt!

Xe chúng tôi chạy đến cổng Phủ Chủ tịch, trời đã sẩm tối. Anh em ở văn phòng cơ quan Phủ Chủ tịch đã đón sẵn, hướng dẫn xe chạy vào sát tận bậc thềm. Lúc này, xe chở các chiến sĩ lái máy bay cũng vừa đến. Tôi kiểm tra quân số, thấy có các anh: Trần Hanh, Lâm Văn Lích, Nguyễn Nhật Chiêu, Ngô Đức Mai, Nguyễn Hồng Nhị đều lái máy bay MIC ở Trung đoàn 921 và anh Phan Như Cẩn, lái máy bay AN 2 ở Trung đoàn 919 vừa bắn cháy tàu biệt kích Mỹ xâm phạm vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá. Theo kế hoạch, đoàn còn thiếu anh Phạm Ngọc Lan, lái máy bay MIC ở Trung đoàn 921.


Anh Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác Hồ niềm nở dẫn chúng tôi lên phòng khách. Trên bàn đã thấy bày sẵn ấm chén pha trà, những đĩa kẹo và hoa quả. Chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, đã thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp tươi cười bước vào. Tôi đứng lên định báo cáo, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Vì lúc này Bác Hồ đã xuất hiện trước khung cửa. Bác vẫn mặc bộ quần áo nâu giản dị, chân Bác đi đôi dép lốp. Râu, tóc Bác bạc phơ, nhưng da Bác vẫn hồng hào, đôi mắt Bác vẫn rất sáng. Chúng tôi sung sướng cùng đứng lên chào Bác. Anh Vũ Kỳ báo cáo với Bác:

- Thưa Bác, Quân chủng Phòng không - Không quân dẫn các chiến sĩ thi đua lên báo cáo thành tích với Bác!

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng bên Bác, vội tiếp lời:

- Thưa Bác! Đây là các chiến sĩ lái máy bay đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắn cháy tàu biệt kích Mỹ, lên gặp Bác!

Bác Hồ vui vẻ bảo chúng tôi ngồi xuống. Bác âu yếm nhìn khắp lượt chúng tôi, rồi Bác lấy trong túi áo ra một mảnh giấy, vừa đeo kính, Bác vừa nói:

- Hôm nay các đại biểu bộ đội không quân đến gặp Bác, Bác gọi đến chú nào thì chú ấy tự giới thiệu quê quán, vợ con, gia đình cho Bác nghe. Nào chú Trần Hanh, Bác biết rồi, ngồi xuống. Chú Phạm Ngọc Lan đâu?

Tôi vội đứng lên, báo cáo:

- Thưa Bác, đồng chí Lan hôm nay mệt, không đển gặp để báo cáo Bác được. Nghe tôi báo cáo đồng chí Phạm Ngọc Lan mệt, Bác sửng sốt hỏi:

- Sao? chú Lan ốm à? Ốm thế nào, có nặng không?

Tôi báo cáo Bác, đồng chí Lan chỉ mệt xoàng thôi, vài ba ngày là khỏi, Bác mới yên lòng gọi tiếp:

- Chú Lâm Văn Lích đâu?

- Thưa Bác, cháu đây ạ! Cháu quê ở Bạc Liêu ạ!

- Thế chú đã có cháu chưa?

- Dạ thưa Bác, cháu được một cháu rồi ạ!

- Thím ấy cũng tập kết từ miền Nam ra ngoài này chứ?

- Thưa Bác, vâng ạ!

Bác bảo đồng chí Lâm Văn Lích ngồi xuống, Bác gọi tiếp:

- Chú Ngô Đức Mai đâu?

Ngô Đức Mai sung sướng đứng lên: "Thưa Bác cháu đây..." Đồng chí Ngô Đức Mai nói chưa hết câu, Bác đã ngắt lời, hỏi:

- Chú người miền Trung à?

Trước sự ân cần của Bác, Ngô Đức Mai như mạnh dạn hẳn lên:

- Thưa Bác, cháu quê ở huyện Thanh Chương, cách nhà Bác chỉ độ 10 cây số thôi ạ! Mỗi lần được nghỉ về qua nhà, cháu đều sang thăm nhà Bác. Có đêm cháu ngủ ở nhà Bác, mong mãi mà Bác không về! Bác cười thân mật:

- Ai mời mà chú đến?

- Thưa Bác, cháu nhớ Bác quá nên cháu đến ạ!

Bác bảo Ngô Đức Mai ngồi xuống, rồi Bác hỏi tiếp từng người. Sau cùng, Bác nói: "Bác nghèo, Bác chẳng có gì cho các chú. Bác tặng mỗi chú một chiếc huy hiệu của Bác và mời các chú ăn kẹo. Chủ nào ăn được bao nhiêu, cứ lấy mà ăn, cứ tự nhiên!".

Chúng tôi ngồi quây quần quanh Bác, chuyện trò vui vẻ như đàn con quanh người cha. Đại tướng Võ Nguyên Giáp như người anh cả, chia kẹo cho từng người. Ngô Đức Mai ngồi bên Bác, lại thủ thỉ:

- Thưa Bác, Bác có khoẻ luôn không ạ? Mỗi bữa Bác xơi được mấy bát cơm ạ?

Một tay Bác ôm lấy Ngô Đức Mai, một tay Bác ôm lấy Lâm Văn Lích, Bác nói:

- Bác ăn đủ thì thôi. Bác vẫn khoẻ... Các chú cứ đánh Mỹ cho giỏi, bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ là Bác khoẻ, Bác vui!

Bác quay sang nói với tôi:

- Dạo này Phòng không và Không quân ta đánh khá! Phải cho anh em rút kinh nghiệm kịp thời, chớ chủ quan tự mãn. Bắn mạnh, bắn trúng, nhưng phải tiết kiệm đạn...

Dừng lại một lát, Bác nói tiếp:

- Các chú đã dũng cảm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắn cháy tàu biệt kích Mỹ, như vậy là tốt. Nhưng muốn tiếp tục diệt được nhiều máy bay địch hơn nữa, các chú phải ra sức học tập chiến thuật, kỹ thuật cho giỏi. Các chú phải học tập quân và dân miền Nam anh hùng đánh giỏi, đánh trúng hơn nữa...


Đại tướng Vố Nguyên Giáp đữ lời Bác, nói với chúng tôi:

- Hôm nay được gặp Bác Hồ, được nghe những lời Bác căn dặn, các đồng chí trở về phải nói lại với anh em trong đơn vị cùng học tập và làm theo lời Bác, lập nhiều chiến công xuất sắc hơn nữa.

Tôi thay mặt Bộ Tư lệnh Quân chủng, hứa với Bác sẽ tổ chức phổ biến những lời Bác dạy cho cán bộ, chiến sĩ toàn Quân chủng. Quân chủng Phòng không - Không quân quyết tâm thi đua thực hiện lời Bác dạy, ra sức "luyện hay, đánh giỏi, đánh tiết kiệm đạn", lập nhiều thành tích dâng lên Bác để Bác khoẻ, Bác vui...


Lúc này, anh Vũ Kỳ từ phòng bên chạy sang, báo cáo với Bác, anh chị em Đoàn văn công Quân khu Ba đã chuẩn bị xong, mời Bác và mọi người cùng sang xem biểu diễn.

Trước lúc sang phòng bên xem biểu diễn, Bác cho chúng tôi được chụp ảnh kỷ niệm với Bác ngay trong phòng khách. Bác ngồi giữa, bên phải Bác là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Phan Như Cẩn; bên trái Bác là các đồng chí Ngô Đức Mai, Nguyễn Hồng Nhị. Tôi dứng sau lưng Bác cùng các anh Vũ Kỳ, Trần Hanh, Lâm Văn Lích, Nguyễn Nhật Chiêu.


Bác cho cả các đồng chí chụp ảnh, lái xe và anh chị em phục vụ cùng sang xem văn công biểu diễn với Bác. Chúng tôi đều ngồi ở những hàng ghế sau lưng Bác. Chương trình biểu diễn của Đoàn văn công Quân khu Ba là vở hát chèo "Đường về trận địa". Cả vở chèo, ngoài dàn nhạc chỉ có hai diễn viên, một là nam bộ đội, một là nữ chiến sĩ dân quân, không có sân khấu, không có phông màn. Bác và chúng tôi xem biểu diễn đều ngồi quây quần như xem "chèo sân đình" ở một làng quê Việt Nam. Vở chèo là câu chuyện cảm động về tình đoàn kết quân dân, luôn luôn nêu cao cảnh giác cùng góp sức chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, phối hợp với miền Nam ruột thịt đánh Mỹ và thắng Mỹ.


Buổi biểu diễn kết thúc. Bác Hồ đứng lên thân ái bắt tay, khen ngợi từng đồng chí diễn viên. Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ mang kẹo ra thưởng cho anh chị em Đoàn văn công. Bác còn nhắc phải chia cả kẹo cho các cháu ở nhà ...


Chúng tôi đều đứng nghiêm, lễ phép kính chào Bác. Khi Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước ra khỏi phòng, chúng tôi ai cũng lưu luyến nhìn theo Bác và Đại tướng. Tôi đã có một số lần được gặp Bác, được đón Bác đến thăm bộ đội trên trận địa đánh máy bay Mỹ. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi được dẫn các chiến sĩ lái máy bay có thành tích xuất sắc lên Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ, là kỷ niệm sâu sắc nhất, tôi không bao giờ quên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2022, 07:43:54 am
MỘT LẦN ĐÓN BÁC HỒ
VUI TẾT VỚI CÁC CHIẾN SĨ TRÊN SÂN BAY


Xuân Mai


Đúng ra, giao thừa Tết Đinh Mùi - 1967, tôi chỉ có nhiệm vụ theo một đơn vị không quân vận tải để viết bài về chuyến bay đêm đặc biệt: Thả dù chuyển quà Tất của trên tới một đơn vị bộ đội ta đang làm nhiệm vụ tại mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Nhưng sau khi hoàn thành chuyến bay, xuống sân bay Gia Lâm, tôi phóng xe mô tô về đến cơ quan, thấy phòng làm việc của anh Quế Dương, Tổng biên tập báo đèn vẫn sáng rực. Tôi đẩy cửa bước vào, không thấy có ai. Trên mặt bàn làm việc của Tổng biên tập, có dòng chữ viết phấn rất to và đậm, đập ngay vào mắt tôi: "Bộ phận báo cử ngay một phóng viên mang theo máy ảnh, đúng 4 giờ sáng mồng một Tết đi công tác gấp với thủ trưởng Cục". Tôi nhận ra nét chữ của anh Phương Nam, Phó Phòng Tuyên huấn và hiểu ngay đó là mệnh lệnh.


Lúc này đã hơn 2 giờ sáng. Các cửa phòng ngủ của phóng viên đều khoá trái. Anh em đều đi dự "đón Tết trên mâm pháo đánh Mỹ" với bộ đội, chưa ai về. Vậy là mệnh lệnh trên, trong toà soạn báo chưa ai biết. Lẽ ra lúc này tôi đã hết nhiệm vụ trực, có thể về nhà ăn Tết với vợ con. Nhưng tôi nghĩ khi Tổng biên tập đi vắng, trách nhiệm này đang thuộc về mình, nên chạy vội sang sân cơ quan Cục Chính trị xem sao. Tôi thấy chiếc xe com-măng-ca đã đỗ giữa sân, đồng chí lái xe đang cặm cụi kiểm tra xe. Tôi bước đến chưa kịp lên tiếng, đồng chí lái xe đã quay lại, hỏi:

- Anh cũng đi à? Đi sân bay Nội Bài. Chắc việc quan trọng nên thủ trưởng nhắc phải chuẩn bị xe thật kỹ. Anh cứ vào giường em nằm nghỉ tạm, lúc nào đi em gọi.

Tôi gật đầu cám ơn, nhưng quay về toà soạn để kiểm tra lại máy ảnh và phim. Tôi lấy phấn nắn nót viết thêm dòng chữ nhỏ phía dưới dòng chữ trên mặt bàn: "Xuân Mai đã đi với thủ trưởng Cục". Tôi viết như vậy để sáng mai anh Quế Dương đi công tác về, sẽ yên tâm.


Chưa đến 4 giờ sáng, tôi ra nơi xe đỗ, đã thấy đồng chí Phan Khắc Hy, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng đang ngồi đợi trên xe. Cùng đi còn có đồng chí Đào Quang Bình, Phó phòng Bảo vệ. Trước lúc cho xe chạy, đồng chí Phan Khắc Hy xiết chặt tay tôi nói vui, nhưng cũng là ra lệnh:

- Hôm nay cậu phải chụp ảnh cho đẹp, viết bài cho hay đấy!

Đồng chí Đào Quang Bình ngồi bên, ghé tai tôi nói nhỏ:

- Đi đón Bác Hồ đến vui Tết với bộ đội trên sân bay! ...

Nghe vậy tôi bỗng run lên vì vui sướng. Tôi nói câu "rõ" thật to và mọi sự mệt mỏi, buồn ngủ trong tôi bỗng tan biến hết.

Khi chúng tôi đến sân bay Nội Bài đã hơn 5 giờ sáng. Trên đường băng, từng đoàn cán bộ, chiến sĩ không quân, tên lửa, pháo cao xạ, ra-đa ... ai nấy đều mặc quần áo mới, đang náo nức hành quân ra nơi tập trung. Các chiến sĩ lái máy bay, thợ máy trong các tổ bay trực chiến đã sẵn sàng bên những cánh bay. Lẵng hoa Bác Hồ vừa gửi tặng bộ đội không quân đêm giao thừa, giờ đây được đặt ở vị trí trang trọng.


Khoảng sáu giờ rưỡi, một đoàn xe con từ từ tiến đến và dừng lại. Tôi thoáng nghe có tiếng reo khe khẽ:

- Bác Hồ! Bác Hồ đã đến!

Bác Hồ từ trên chiếc xe thứ hai bước xuống. Bác vẫn mặc bộ quần áo ka-ki quen thuộc, chân Bác vẫn đi đôi dép lốp cao su. Bác còn có tấm áo khoác thêm bên ngoài, cổ Bác quàng khăn len và trên đầu Bác đội chiếc mũ công nhân. Cùng đi với Bác có đồng chí Văn Tiến Dũng và đồng chí Tố Hữu. Đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng dẫn Bác và các đồng chí cùng đi tiến về phía hàng quân, đã xếp hàng thành hình chữ U. Bác tươi cười vẫy chào các chiến sĩ. Trời lất phất mưa bay, làm cho ngày Tết càng rét đậm. Vì máy không có đèn chụp đêm, tôi phải mở rộng thêm ống kính, cố tranh thủ bấm máy ảnh. Sau đó về rửa phim, tôi thích nhất tấm hình Bác đang giơ tay căn dặn và đứng bên Bác là các chiến sĩ đầu đội mũ sắt, mình mặc áo trấn thủ, đang vỗ tay, những nét mặt đều rưng rưng cảm động. Có tấm hình Bác đưa hẳn tay vào ngực áo của một chiến sĩ, xem mặc có đủ ấm không!


Sau khi đi hết lượt, Bác dừng lại trước hàng quân, nói:

- Hôm nay là ngày mồng một Tết (Bác cười). Tết đây là Tết dân tộc, Tết ta đấy vì hôm trước đã có Tết đầu năm 1967 rồi. Bác và đồng chí Văn Tiến Dũng, đồng chí Tố Hữu thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi những thành tích bắn rơi máy bay Mỹ trong năm qua của đơn vị, mừng năm mới các cô, các chú, chúc các cô, các chú đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, thu nhiều thắng lợi mới...

Sân bay rộn tiếng vỗ tay và tiếng hô vang:

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

- Kính chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu!

- Quyết tâm thực hiện thắng lợi lời chúc mừng năm mới của Bác!

Bác quay sang đồng chí Văn Tiến Dũng và đồng chí Tố Hữu, tươi cười nói tiếp:

- Đồng chí Văn Tiến Dũng có mấy lời nói với các cô, các chú. Rồi đồng chí Tố Hữu có bài thơ ngâm cho các cô, các chú nghe, có tán thành không ?

- Tán thành ạ! Chúng cháu tán thành ạ!

Đồng chí Văn Tiến Dũng nói lên niềm vinh dự to lớn của quân đội, của bộ đội Phòng không - Không quân được sự chăm sóc của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hô. Sự có mặt của Bác Hồ kính mến trên sân bay chiến đấu này là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho bộ đội Phòng không - Không quân.


Khi đồng chí Văn Tiến Dũng nói đến câu: "Năm mới được Bác Hồ đến thăm, các đồng chí hứa gì với Bác? Hứa gì với Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương?"... Bác Hồ cười, nói vui:

- Các chú hứa biếu cho Bác mấy chiếc tàu bay Mỹ là tốt đấy - Rồi Bác nói tiếp:

- Tháng trước các cô, các chú đã bắn rơi được 45 chiếc máy bay Mỹ. Vậy tháng này năm mới thì mấy chiếc?

- Mấy chiếc? Nói đi! Nhiều hơn nay ít hơn?

Tất cả đều đồng thanh đáp:

- Nhiều hơn ạ!

- Nhiều hơn là mấy chiếc? - Rồi Bác xoè 5 ngón tay giơ lên tỏ ý muốn nói phải bắn rơi ít nhất 50 máy bay Mỹ. Bác ân cần căn dặn thêm:

- Các cô, các chú phải cố gắng học, học nữa, học mãi vì càng học càng tiến bộ, càng tiến bộ thì càng đánh thắng.

Bác quay sang giục đồng chí Tố Hữu ngâm thơ. Đồng chí Tố Hữu vui vẻ, nói:

- Tôi xin đọc bài thơ chúc Tết của Bác gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước chúng ta.

Bác cười, nói:

- Không phải bài ấy! Chú ngâm thơ của chú chứ!

Đồng chí Tố Hữu vẫn xin được ngâm trước bài thơ chúc mừng năm mới của Bác:

   "Xuân về xin có một bài ca,
   Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
   Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
   Tin mừng thắng trận nở như hoa.


Đồng chí Tố Hữu ngâm xong bài thơ của Bác, Bác nói rất vui: "Người ngâm hay hơn người viết đấy!"...

Đồng chí Tố Hữu ngâm tiếp một đoạn bài thơ "Chào xuân 67" của đồng chí mới làm. Sân bay chiến đấu vang lên tiếng thơ khoẻ khoắn của chính nhà thơ ngâm. Đồng chí Tố Hữu ngâm thơ xong, tiểng vỗ tay lại ran lên như pháo nổ. Bác khoát tay, nói:

- Bác thay mặt các cô, các chú cám ơn nhà thơ - Rồi Bác chỉ tay vào những hộp kẹo bọc giấy hồng đặt trên bàn, Bác nói tiếp:

- Đây là quà Tết của Trung ương Đảng, Quân uỷ Trung ương gửi cho các cô, các chú. Mứt, kẹo, thuốc lá, chè... nó không vần như thơ, nhưng ngọt ngào lắm!

Bác, cháu lại cùng cười vui vẻ.

Đồng chí Trần Hanh, Anh hùng LLVTND thay mặt cán bộ, chiến sĩ trong quân chủng nói lên lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm săn sóc của Đảng, của Bác Hồ và nhân ngày đầu xuân mới kính chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu ...


Đồng chí Trần Hanh phát biểu xong, Bác gọi lại gần để bắt tay và căn dặn bộ đội Phòng không - Không quân sang năm mới phải càng cố gắng hơn nữa, lập thêm nhiều chiến công mới ...

Trước lúc ra về, Bác vui vẻ giơ tay vẫy chào các chiến sĩ. Bộ đội đều đồng thanh hô vang: "Năm mới! Kính chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu!" Bác cười hiền hậu, đáp lại: "Chúc các chú khoẻ, đoàn kết, học tập tiến bộ, thắng lợi!"...


Bác đi thẳng ra chỗ các tổ bay đang thường trực chiến đấu, bắt tay thăm hỏi các chiến sĩ lái máy bay, các chiến sĩ thợ máy. Bác ra trận địa phòng không trên xe bọc thép chúc Tết và ân cần thăm hỏi sức khoẻ các chiến sĩ, thăm nơi ở của bộ đội trên trận địa, hỏi về bữa ăn ngày Tết trên mâm pháo đánh Mỹ và kiểm tra xem tiêu chuẩn mỗi chiến sĩ có mấy chiếc bánh chưng ăn Tết...


Hơn một giờ đồng hồ được đón Bác Hồ vui Tết với các chiến sĩ trên sân bay, tôi chụp gần hết hai cuốn phim. Tôi nhớ lúc Bác tươi cười nói câu: "Mứt, kẹo ... nó không vần như thơ nhưng ngọt ngào lắm ..." tôi đã bấm liền hai kiểu ảnh. Một kiểu có Bác, đồng chí Phùng Thế Tài, đồng chí Phan Khắc Hy và nhiều đồng chí đứng xung quanh, cùng cười rất vui vẻ. Một kiểu tôi chạy vào thật gần, xoay dọc máy để chụp chân dung Bác, khiến mấy đồng chí bảo vệ phải lừ mắt nhìn tôi. Vì lúc đó máy ảnh không có tê-lê mà nghề báo là thế. Hơn nữa tình huống xảy ra rất nhanh, chỉ chừng vài ba giây, nên sau đó không ai chê trách gì tôi cả. Đồng chí Phan Khắc Hy còn khen tôi và nhận xét: "Mình được chụp ảnh với Bác Hồ nhiều lần, nhưng chưa lần nào có tấm ảnh mọi người đều tươi vui và tình cảm như lần này"...


Tết Đinh Mùi 1967 đối với tôi thật vất vả, nhưng là cái Tết tràn đầy hạnh phúc. Tôi đã có vinh dự lớn được cùng các chiến sĩ vui Tết đón Bác Hồ, trên một sân bay lừng lẫy chiến công.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:02:58 pm
CÓ MỘT SỰ KIỆN BÁC HỒ
VỚI QUÂN CHỦNG PK-KQ NAY MỚI RÕ


Xuân Mai


Đã từ lâu, tôi cứ băn khoăn suy nghĩ về một sự kiện Bác Hồ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tôi có được chứng kiến mà đến nay, các sách, báo xuất bản còn chưa nhắc đến. Ngay cả sách lịch sử do Quân chủng Phòng không - Không quân xuất bản, hoặc hồi ký chiến tranh của các tướng lĩnh trong quân chủng cũng vậy. Có lẽ vì ngày ấy do yêu cầu giữ bí mật một kế hoạch tác chiến, đã có quy định không được thông tin cho các báo và sau đó, vẫn được coi như một bí mật quân sự...


Là người được chụp ảnh và trực tiếp nghe Bác Hồ nói với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân hôm đó, tôi thấy mình có trách nhiệm phải kể lại đúng sự thật, đầy đủ hơn, để mong góp phần bổ sung thêm cho lịch sử.


Câu chuyện xảy ra từ 2 giờ chiều ngày 24 tháng 3 năm 1966. Tôi được đồng chí Tổng biên tập báo Phòng không - Không quân gọi riêng ra giao nhiệm vụ: "Cậu mang máy ảnh, sang ngay nhà khách Bộ Tư lệnh Quân chủng chụp ảnh Bác Hồ đang xem xác máy bay không người lái Mỹ bị bộ đội tên lửa ta bắn rơi, được trưng bầy gần đó...".


Với tính nhạy cảm của người làm báo trong chiến tranh, tôi vừa chuẩn bị máy và sổ ghi chép, vừa suy nghĩ: "Chẳng lẽ Bác Hồ chỉ đến xem mấy mảnh xác máy bay Mỹ như xem triển lãm, hẳn phải có việc gì hệ trọng hơn chứ?".


Tôi chạy đến nhà khách Bộ Tư lệnh Quân chủng, thấy Bác Hồ đang bước vào căn nhà cấp bốn gần đó, vốn là nơi làm việc của Phòng Khoa học quân sự. Cùng đi với Bác có đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu phó quân đội. Các đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh, Đặng Tính - Chính uỷ và Phó Tư lệnh quân chủng Đỗ Đức Kiên, hướng dẫn Bác vào nhà. Tôi còn thấy có mặt nhiều cán bộ cao cấp các đơn vị quanh khu vực Hà Nội, như Bộ Tư lệnh tên lửa, Bộ Tư lệnh ra-đa, Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội và cán bộ các cơ quan quân chủng.


Trong căn phòng chật hẹp chừng 60 m2, một đầu được bầy hầu như nguyên vẹn xác chiếc máy bay không người lái tầng thấp 147-J của Mỹ, đã bị bộ đội pháo cao xạ ta bắn rơi.

Một đầu gian phòng được kê hai dẫy bàn nối nhau hình thước thợ, áp sát vào tường. Trên mặt hai dẫy bàn được bầy những mảnh xác máy bay trinh sát không người lái tầng cao kiểu BQM - 34A của Mỹ, bị bộ đội tên lửa ta bắn rơi.


Tôi nhanh tay xách một chiếc ghế nhỏ, cố lách vào chọn chỗ đứng để có thể nhìn được Bác Hồ, thấy cả người giới thiệu hiện vật và các đồng chí lãnh đạo Quân chủng. Tôi đứng lên ghế, thấy đồng chí Trần Hậu Tưởng, Trưởng Phòng Khoa học Quân sự đang báo cáo với Bác về tính năng và thủ đoạn hoạt động của máy bay trinh sát không người lái 147-J. Tôi còn đang lúng túng vì máy ảnh không có đèn, trong gian phòng hẹp lại đông người, không đủ sáng, bỗng thấy có ánh đèn pha loé lên. Thì ra hôm đó còn có một tổ quay phim, có lẽ của xưởng phim quân đội. Tôi mừng quá, lợi dụng ánh đèn bấm liền bốn kiểu ảnh. Sau về rửa phim đều được cả, nhưng có một kiểu đạt nhất: Một bên là Bác Hồ đang chăm chú lắng nghe, phía sau Bác là đồng chí Hoàng Văn Thái. Một bên là đồng chí Trần Hậu Tưởng đang báo cáo với Bác. Kế đó là các đồng chí Đặng Tính, Đỗ Đức Kiên. Bên kia xác máy bay, xa hơn có đồng chí Hoàng Văn Ngữ, Chính uỷ Binh chủng ra-đa; đồng chí Trần Văn Giang, Chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội và hai đồng chí Phạm Đăng Ty, Đỗ Long, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng.


Bác Hồ không dành nhiều thời gian xem xác chiếc máy bay không người lái tầng thấp 147-J của Mỹ. Bác vòng ngay ra phía có kê hai dãy bàn, xem xét kỹ những mảnh xác máy bay trinh sát không người lái tầng cao. Tôi cố bám theo Bác nhưng trong gian phòng chật, không đủ sáng mà đồng chí soi đèn quay phim vẫn chưa đến kịp. Sau tôi chọn được một chỗ đứng gần cửa sổ, bên cạnh nơi có bày mảnh chiếc máy ảnh của máy bay trinh sát không người lái tầng cao, đoán chắc thế nào Bác cũng đừng lại xem.


Quả nhiên đến đây Bác dừng lại khá lâu. Có tiếng báo cáo của đồng chí Trần Hậu Tưởng từ phía sau lưng Bác:

- Thưa Bác, đây là một bộ phận của chiếc máy ảnh quang học trên máy bay trinh sát không người lái tầng cao BQM - 34A của Mỹ. Nó được lắp cuốn phim dài 250 mét, rộng 60 xăng ti mét. Ở độ cao 18 ki lô mét nếu thời tiết tốt, nó có thể chụp rõ mục tiêu dưới đất rộng từ 20 đến 25 ki lô mét, chụp liên tục dài đến hết cuốn phim. Chiếc máy bay này bị bộ đội tên lửa ta bắn rơi khi đang bay ở độ cao 16 kilômét, cao hơn cả máy bay B-52 khi chúng đang gây tội ác với đồng bào ta ở miền Nam! ...


Nghe đến đây, Bác Hồ vội lấy trong túi áo ra cặp kính trắng. Bác đeo lên mắt rồi cúi xuống đọc rất kỹ những dòng chữ ghi trên mảnh chiếc máy ảnh quang học. Giữa lúc này đèn quay phim bật sáng. Tôi mừng quá, bấm nhanh một kiểu ảnh. Tôi đã mấy lần được chụp ảnh Bác Hồ, nhưng lần này tôi được đứng gần Bác nhất để bấm máy, chỉ chừng hơn một mét.


Bác quay ra, nói với đồng chí Trần Hậu Tưởng:

- Chú giới thiệu dễ hiểu, chú hiểu địch như thế là tốt. Nhưng chú cần nghiên cứu thường xuyên để nắm chắc địch hơn nữa, mà phải giới thiệu cho bộ đội, cho đồng bào biết để đánh địch và phòng tránh tốt hơn.

Bác Hồ bước ra sân, dừng lại bên một phần đầu của xác chiếc máy bay không người lái tầng cao BQM-34A. Vì nó to và cao tới hơn hai mét, không tiện để trong nhà. Phòng Khoa học quân sự quân chủng đã dựng đứng nó ngay trước cửa. Đồng chí Phùng Thế Tài đứng bên Bác, vội báo cáo:

- Thưa Bác, đây là cái chóp trên đầu của chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng cao của Mỹ. Nó không bằng kim loại, mà được cấu tạo bằng vật liệu tổng hợp có thể chống được cháy, những mảnh đạn nhỏ cũng không xuyên thủng được.


Bác Hồ gật đầu hài lòng, rồi Bác đưa tay ra dứt thử mấy sợi a-mi-ăng thòi ra do mảnh đạn tên lửa của ta băm nát. Tôi nhanh tay bấm được kiểu ảnh này. Phía sau Bác là các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phùng Thế Tài, Đặng Tính, Đỗ Đức Kiên đều cười vui vẻ.


Không có cuộc nói chuyện nào cùa Bác Hồ với cán bộ các đơn vị trong quân chủng được triệu tập về đón Bác. Đồng chí Phùng Thế Tài bảo các đồng chí cán bộ trở về đơn vị, rồi mời Bác Hồ và đồng chí Hoàng Văn Thái sang phòng khách của Bộ Tư lệnh quân chủng. Tôi còn đang lúng túng không biết đi hay ở, thì đồng chí Đặng Tính quay lại vẫy tay, bảo tôi:

- Cậu vào chụp ảnh Bác Hồ làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng.

Tôi phấn khởi nhảy vội lên bậc thềm, theo đồng chí Đặng Tính bước vào nhà. Phòng khách thời chiến của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân còn chật hẹp, bàn ghế cũng sơ sài. Căn phòng có nhiều cửa sổ, nhưng không phải đứng chỗ nào cũng chụp ảnh được, vì lúc này không có hai đồng chí quay phim nữa. Tôi rón rén tìm chồ đứng để ngắm máy. Chỉ có một chỗ có thể khắc phục được ánh sáng. Tôi thấy Bác Hồ ngồi trên chiếc ghế bằng gỗ kiểu sa-lông thời đó. Ngồi đối diện với Bác là đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng. Ngồi sát bên trái Bác là đồng chí Đỗ Đức Kiên, tư lệnh phó Quân chủng. Kế bên là hai đồng chí Phạm Đăng Ty và Đỗ Long, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng. Các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phùng Thế Tài đều ngồi ở góc phòng, không đủ sáng, cũng không thu hình được vào ống kính.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:04:44 pm
Đồng chí Đặng Tính báo cáo với Bác Hồ tình hình Mỹ đang tập trung máy bay đánh phá giao thông vận chuyển của ta từ phía nam Quân khu 4 đến Thanh Hoá. Khả năng sắp tới chúng sẽ mở rộng đánh phá miền Bắc, có thể đánh thẳng vào Hà Nội và Hải Phòng. Quân chủng Phòng không - Không quân được sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, đã có phương án tác chiến các khu vực. Đồng thời đã tăng cường lực lượng tên lửa, pháo phòng không cơ động vào địa bàn Quân khu 4. Tên lửa của ta đã đến Nghệ An, liên tiếp bắn rơi nhiều máy bay Mỹ ...


Bác Hồ chăm chú lắng nghe, trầm ngâm suy nghĩ. Bác khen Quân chủng Phòng không - Không quân đã liên tiếp lập nhiều chiến công mới. Bác tỏ lòng thương các chiến sĩ, thương đồng bào ta phải chịu đựng bao gian khổ hy sinh, luôn luôn neu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ...


Sau cùng, Bác nói: "Mỹ đã đưa máy bay B-52 vào chiến trường Việt Nam, liên tiếp gây tội ác với đồng bào ta ở miền Nam. Ngay từ bây giờ các chú phải chuẩn bị đối phó vì sớm hay muộn, Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh phá miền Bắc. Tên lửa của ta có thể bắn tới tầm cao của máy bay B-52 Mỹ, nhưng đánh thế nào để thắng, cần nghiên cứu. Nhiệm vụ này, Bác giao cho các chú. Chúng ta phải quyết tâm bắn rơi máy bay B-52 Mỹ, phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược


Nói xong, Bác đứng dạy ra về. Xe đón Bác đỗ ngay trước cửa phòng khách. Các đồng chí lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân ra tận xe tiễn Bác. Xe Bác đi rồi, tôi vẫn đứng tần ngần suy nghĩ. Thì ra Bác đến Quân chủng Phòng không - Không quân lần này không chỉ để xem xác máy bay Mỹ. Bác đến như để kiểm tra thực tế cho kết luận: "Tên lửa của ta có đủ tầm cao bắn rơi được máy bay B-52 Mỹ". Bác đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân ...

Đồng chí Đặng Tính gọi tôi, căn dặn :

- Cậu về báo cáo với thủ trưởng cơ quan Tuyên huấn không được cung cấp thông tin cho các báo về Bác Hồ đến Quân chủng hôm nay. Kể cả báo Quân chủng cũng không được đăng, số ảnh chụp Bác Hồ hôm nay cần lưu trữ cẩn thận, làm tài liệu lịch sử cho Quân chủng sau này.

Tôi báo cáo xin chấp hành nghiêm, rồi lững thừng trở về cơ quan. Trong lòng tôi vẫn như còn văng vẳng câu nói của Bác Hồ: "Sớm hay muộn, Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh phá miền Bắc... Tên lửa của ta có thể bắn tới tầm cao của máy bay B-52 Mỹ, nhưng đánh thế nào để thắng, cần nghiên cứu   Phải chăng Bác thấy triệu chứng Mỹ sắp đưa máy bay B-52 ra ném bom miền Bắc, nên Bác đến kiểm tra và giao nhiệm vụ trực tiếp cho Bộ Tư lệnh quân chủng. Bác nhắc Quân chủng Phòng không - Không quân phải gấp rút chuẩn bị, luôn luôn ở tư thế sẵn sàng bắn rơi máy bay B-52 Mỹ.


Quả nhiên đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ, chỉ 19 ngày sau đó, ngày 12/4/1966, Mỹ đã cho máy bay B-52 ra đánh phá miền Bắc, ném bom rải thảm xuống đèo Mụ Giạ và liên tiếp gây tội ác với đồng bào ta ở khu Vĩnh Linh.


Đồng chí Đặng Tính kể: Ngay sau ngày 12 tháng 4 năm 1966, đồng chí được gọi lên báo cáo tình hình máy bay B-52 Mỹ đánh phá ở nam Quân khu 4, Bác Hồ đã chỉ thị: "Bất kể trong tình huống nào, chúng ta cũng phải đánh thắng máy bay B-52 Mỹ Bác còn nói: "Các chú muốn bắt cọp, phải vào hang...".


Vâng theo lệnh Bác, giữa năm 1966, một trung đoàn tên lửa mang tên Đoàn Hạ Long, được lệnh hành quân từ Hà Nội qua chặng đường dài hơn 600km đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh để vào Vĩnh Linh, nơi máy bay B-52 Mỹ thường xuyên hoạt động để nghiên cứu cách đánh máy bay B-52. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, chỉ trong vòng 30 phút, Đoàn Hạ Long liên tiếp bắn rơi 2 chiếc B-52 Mỹ đầu tiên trên miền Bắc. Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Vĩnh Linh đánh giỏi, bắn trúng, chiến thắng vẻ vang, xứng đáng là tiền tuyển anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa ...


Đồng chí Phùng Thế Tài kể: Cuối năm 1967, khi đó đồng chí là Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội, trong một lần đến gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình, đã được nghe lời dự báo của Bác: "Sớm muộn, đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân ném bom huỷ diệt Thủ đô Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Mà Nội...".


Tuân theo lời Bác, ngày 27 tháng 2 năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân đã có bản kế hoạch đầu tiên mang tên "Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 của Mỹ để bảo vệ Mà Nội, Hải Phòng". Rồi qua thực tế chiến đấu, bản kế hoạch đầu tiên ấy tiếp tục được sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh thành tài liệu "Cách đánh máy bay B-52". Nhờ đó trong 12 ngày đêm chiến đấu với máy bay B-52 Mỹ cuối tháng 12 - 1972, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng đã làm nên một "Điện Biên Phủ trên không", buộc đế quốc Mỹ phải "chịu thua trên bầu trời Hà Nội", đúng như tiên đoán của Bác Hồ.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:06:39 pm
KỶ NIỆM SÂU SẮC NHẤT TRONG ĐỜI BỘ ĐỘI CỦA TÔI


Phạm Quyết


Năm 1969, tuổi Bác Hồ càng cao, sức Bác càng yếu. Nhưng Bác luôn nghĩ đến đồng bào, đến bộ đội. Bác đặc biệt quan tâm đến bộ đội Phòng không - Không quân và Bác quyết định lại đến với các chiến sỹ.

Sáng mồng một Tết năm ấy, Bác Hồ đến chúc tết Quân chủng Phòng không - Không quân. Gần 500 cán bộ, chiến sỹ của quân chủng trang phục chỉnh tề, tập trung ở hội trường đón Bác. Các anh hùng, Chiến sỹ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua và đại biếu từ các trận địa chiến đấu, cơ quan, nhà trường trong quân chủng, đều có mặt đông đủ. Thời gian đó tôi công tác ở Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, cũng may mắn được đứng trong hàng ngũ đón Bác.


Khi xe đưa Bác đến, đồng chí Phó Chính uỷ quân chủng Nguyễn Xuân Mậu ra đón, đưa Bác vào hội trường. Mọi người đều đứng hẳn đậy, hô vang: "Hồ Chủ tịch muôn năm!", "Bác Hồ muôn năm !". Bác tươi cười lấy tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống, rồi nói: "Hôm nay mồng một tết Kỷ Dậu, Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt Đảng và Chính phủ đến chúc các cô, các chú năm mới tiến bộ mới, thắng lợi mới! Tiếng vỗ tay kéo dài không ngớt. Bác Hồ hỏi:

- Trong buổi họp mặt này, có mấy đồng chí là Anh hùng quân đội?

Đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ quân chủng vội thưa với Bác:

- Thưa Bác! Có 5 đồng chí ạ!

- Thế đồng chí nào hạ được nhiều máy bay Mỹ nhất?

- Thưa Bác! Có đồng chí Nguyễn Văn Cốc, đã bắn rơi 9 chiếc!

Bác liền gọi:

- Chú Cốc lên đây! Rồi Bác cười, nói vui:

- Năm nay, Bác mong có nhiều Cốc hơn nữa!...

Cả hội trường rộn lên tiếng cười vui vẻ. Đồng chí Nguyễn Văn Cốc, chiến sỹ lái máy bay Trung đoàn 921, bước lên đứng bên Bác Hồ. Bác thân thiết bắt tay đồng chí Cốc giữa tiếng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Bác quay xuống dưới hàng quân, hỏi:

- Thế còn các cháu gái đâu, cử một cháu lên đây, Bác bắt tay?

Đồng chí Vũ Thị Huệ, Chiến sỹ thi đua Trung đoàn 26 thông tin, được cử lên. Bác thấy Vũ Thị Huệ đeo lấp lánh trên ngực những tấm huy hiệu chiến sỹ thi đua, Bác vừa bắt tay, vừa ân cần hỏi:

- Cháu là chiến sỹ thi đua mấy năm rồi?

- Vũ Thị Huệ xúc động, thưa với Bác trong giọng nghẹn ngào:

- Thưa Bác, cháu là chiến sỹ thi đua 2 năm rồi ạ!

Bác lại nói:

- Năm nay, cháu phải cố gắng để lại trở thành chiến sỹ thi đua nữa...

Bác Hồ giới thiệu đồng chí Thượng tướng Văn Tiến Dũng nói chuyện. Đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt cán bộ, chiến sỹ kính chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ, sống lâu và nói lên niềm vinh dự lớn không những cùa bộ đội Phòng không - Không quân, mà còn là niềm vinh dự của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, được Bác Hồ tới thăm và chúc Tết...


Đồng chí Văn Tiến Dũng nhắc nhở bộ đội Phòng không - Không quân cần nhận rõ niềm vinh dự lớn lao được Bác Hồ đến thăm trong ngày Tết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng quân chủng, luôn luôn mài sắc cảnh giác, thực hiện nghiêm chỉnh lời dạy của Bác Hồ: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi"...


Bác Hồ chăm chú ngắm nghía nét mặt của từng cán bộ, chiến sỹ. Bác tỏ ra rất hài lòng khi thấy bộ đội khoẻ mạnh, lúc nào cũng thể hiện ý chí, quyết tâm cao, hăng hái thi đua làm theo lời Bác. Bác tươi cười hỏi:

- Có các đồng chí anh nuôi và chị nuôi ở đây không?

Hội trường vang lên tiếng thưa kính mến với Bác:

- Thưa Bác có ạ !

Bác Hồ nói:

- Chị nuôi cử một đồng chí lên đây. Anh nuôi cũng cử một đồng chí lên đây với Bác.

Đồng chí Tạ Thị Nhung và đồng chí Dương Công Lược, chiến sỹ nuôi quân Bộ Tham mưu phấn khởi bước đến bên Bác Hồ. Bác vừa bắt tay Tạ Thị Nhung, vừa hỏi:

- Cháu làm gì?

Sung sướng và cảm động được Bác Hồ ân cần thăm hỏi, Nhung lúng túng nói:

- Thưa Bác, cháu làm "anh" nuôi ạ!

Bác cười vui vẻ, quay ra nói vui trước hàng quân:

- Cô bé hồi hộp quá, lại nói: "Cháu làm anh nuôi!".

Hội trường vang lên tiếng cười rộn rã. Bác Hồ lại nói:

- Một đồng chí bác sỹ, một đồng chí y tá nữa lên đây!

Đồng chí Nguyễn Lung, Chủ nhiệm quân y quân chủng và đồng chí y tá Nguyễn Thị Hoà sung sướng chạy lên. Bác lần lượt bắt tay từng người, rồi Bác hỏi đồng chí Hòa:

- Cháu có đọc những quyển sách "Vì nước vì dân" và học tập những gương người tốt, việc tốt không?

- Thưa Bác có ạ! Hoà cảm động đáp lời Bác.

Bác Hồ lại hỏi:

- Thế cháu có thấy những gương y tá tốt không?

- Thưa Bác có ạ!

Bác căn dặn:

- Cháu phải học tập và làm theo những gương tốt ấy ...

Vô cùng cảm động trước sự quan tâm của Đảng, của Bác Hồ với bộ đội Phòng không - Không quân, đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng thay mặt cán bộ, chiến sỹ nói lên lòng biết ơn đối với Đảng và Bác, nguyện quyết tâm làm theo lời thơ mừng năm mới Kỷ Dậu của Bác: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".


Đồng chí báo cáo với Bác Hồ về món quà đầu năm của các đơn vị gửi về biểu Bác là chiếc dù trong máy bay không người lái của giặc Mỹ vừa bị quân chủng bắn rơi tại chỗ và một con lợn nặng 270kg của Trung đoàn tên lửa 238, đơn vị đã anh dũng lập nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay B-52 Mỹ đầu tiên và giỏi tăng gia chăn nuôi dưới làn bom đạn địch trên đất lửa Vĩnh Linh Anh hùng ...


Bác Hồ gật đầu hài lòng, rồi Bác nói với cán bộ, chiến sỹ:

- Các cô, các chú phải nhớ mấy điều:

Một là, phải luôn luôn đoàn kết chặt chẽ và lao động tốt.

Hai là, phải luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Không tin được Mỹ đâu. Chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược. Phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay.

Ba là, các cô, các chú đóng quân ở đâu, phải giúp đỡ đồng bào làm công tác phòng không cho tốt, nhắc nhở mọi người không được lơ là cảnh giác.

Các cô, các chú phải luôn luôn rèn luyện cho tốt...

Bác Hồ nói tiếp:

- Đơn vị nào biếu Bác con lợn, Bác cảm ơn. Nhưng Bác lấy lợn về thì không biết làm gì. Bác đề nghị nên làm thế này: Đơn vị có con lợn bán cho đơn vị ngoài này rồi lấy số tiền đó mang về tăng gia sản xuất nữa. Các cô, các chú có tán thành không?


Hội trường vang lên tiếng vỗ tay hưởng ứng. Đồng chí Chính uỷ quân chủng, vội tiếp lời Bác:

- Ý Bác là lại làm cho có thêm nhiều lợn nữa phải không ạ?

Bác Hồ gật đầu cười, rồi vui vẻ nói thêm:

- Đơn vị nào mua lợn, phải mua thật sự đấy!

Bác giơ tay vẫy vẫy, rồi nói trong giọng khoẻ khắn:

- Một lần nữa chúc các cô, các chú năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới...

Trước khi ra về, Bác Hồ bắt tay hết lượt đại biểu các binh chủng, các sư đoàn, các cơ quan, đơn vị trên hàng ghế đầu. Hội trường vang lên những tiếng vỗ tay kéo dài và tiếng hô:

- Kính chúc Bác Hồ khoẻ mạnh, sống lâu!

- Kính chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội mạnh khoẻ!.

- Hồ Chủ tịch muôn năm!...

Nếu không có người chỉ huy hô "nghiêm!", thì nhất định chúng tôi phải chạy ùa ra đứng vây quanh Bác Hồ để được gần Bác hơn nữa, lâu hơn nữa. Nhưng chúng tôi đều phải đứng nghiêm cho tới khi chiếc xe của Bác Hồ chạy khuất.


Ngờ đâu đó lại là cái Tết cuối cùng của Bác, một cái Tết mang kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời bộ đội mà suối đời tôi không thể nào quên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:07:49 pm
MỘT NHIỆM VỤ TUYÊN TRUYỀN ĐẶC BIỆT


Xuân Mai


Chiều ngày 22 tháng 12 năm 1972, tôi vừa từ một trận địa tên lửa về tới nơi sơ tán của cơ quan, bỗng có lệnh trên gọi tôi và một phóng viên nhiếp ảnh sang ngay Sở chỉ huy quân chủng có nhiệm vụ đặc biệt. Theo thói quen, tôi vội thay bộ pin mới vào máy ghi âm, lấy thêm hai cuốn băng mới rồi chụp chiếc mũ sắt lên đầu, gọi đồng chí Xuân Át, phóng viên nhiếp ảnh cùng phóng mô-tô sang Sở chỉ huy quân chủng ở vùng núi đá chùa Trầm. Vừa đến nơi, đồng chí Hoàng Phương, Chính uỷ quân chủng vui vẻ bắt tay chúng tôi, rồi giao nhiệm vụ luôn:

- Anh Tô (tên gọi thân mật của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), vừa trực tiếp đến thăm, động viên các chiến sỹ tên lửa đã bắn rơi máy bay B.52 trên trận địa Chèm. Chỉ lát nữa anh sẽ về đây thăm và động viên cán bộ, chiến sỹ Sở chỉ huy quân chủng. Các đồng chí phải ghi đầy đủ những lời căn dặn và hình ảnh anh Tô với quân chủng ta, trước mắt phục vụ kịp thời Đài Tiếng nói Việt Nam phát đêm nay hoặc sáng sớm mai, rồi tổ chức tuyên truyền trên các báo và làm tài liệu lịch sử cho quân chủng sau này.


Chúng tôi phấn khởi chấp hành mệnh lệnh, khẩn trương kiểm tra lại máy và băng ghi âm, máy và đèn chụp ảnh. Tôi và đồng chí Xuân Át đều nhất trí với nhau phải hết sức cẩn thận để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì ở đây chỉ có hai chúng tôi là "dân" tuyên huấn "nội bộ", không có bất cứ nhà báo nào khác được đen khu vực bí mật quân sự này.


Lát sau, đã thấy ba chiếc xe con tiến vào Sở chỉ huy, dừng lại dưới những tán cây sát chân núi đá.

Trời se lạnh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng mặc bộ quần áo ka-ki kiểu sỹ quan quân đội, trên cổ quàng chiếc khăn len màu nâu, từ trên xe bước xuống. Cùng đi với Thủ tướng còn có đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng và đồng chí Phùng Thế Tài, Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam.


Phóng viên Xuân Át nhanh chân chạy lên phía trước, kịp thời bấm kiểu ảnh đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh quân chủng đứng nghiêm chào Thủ tướng, mời Thủ tướng và các đồng chí cùng đi vào chiếc lán nhỏ dựng bằng cót ép ngay cửa hang đá, nơi họp giao ban hằng ngày của Bộ tư lệnh quân chủng. Các đồng chí trong Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, đều có mặt đón tiếp Thủ tướng.


Đồng chí Tư lệnh quân chủng báo cáo tóm tắt với Thủ tướng tình hình quân chủng, những thủ đoạn tập kích của không quân chiến lược Mỹ; tinh thần chiến đấu dũng cảm, sáng tạo của cán bộ, chien sỹ Phòng không - Không quân và dân quân tự vệ; kết quả chiến đấu kể từ đêm 18 tháng 12 năm 1972 ta đã bắn rơi 15 máy bay B-52, trong đó có 8 chiếc rơi tại chỗ...


Tôi kịp bật máy ghi âm, thu tiếng Thủ tướng Phạm Văn Đồng cất tiếng cười rất sảng khoái. Thủ tướng nói: "Hôm nay không có thì giờ nhiều các đồng chí ạ. Tôi nghĩ hôm nào tôi cố gắng có thì giờ nghe các đồng chí kỹ hơn. Nghe kể kinh nghiệm, thành tích cụ thể hơn. Hôm nay đến để mừng các đồng chí. Anh Dũng với tôi thật là mừng. Chúng tôi có thể nói với các đồng chí tất cả cái mừng, cái phấn khởi, cái tin tưởng. Và tôi muốn nói với các đồng chí một ý là cảm ơn các đồng chí. Vì sao? Vì lúc này ta cần thắng lắm. Đợt này ta mà không thắng thì ảnh hưởng ghê gớm lắm. Vì nó muốn dùng cái này để uy hiếp mình, để ép mình ở một nơi mà nhất định mình không thể để cho nó ép được. Chúng ta đã chiến thắng cho nên hay lắm, tốt lắm, quý lắm, đáng phấn khởi lắm. Cả dân tộc ta phấn khởi. Thế giới cũng phấn khởi. Các đồng chí đã lập chiến công lớn lắm. Lúc nào chiến công cũng quý báu, nhưng lúc này chiến công quý báu hơn lúc nào hết. Cho nên hay lắm. Hôm nay đồng chí Dũng với tôi đến để nói với các đồng chí cái điều đó. Cả Bộ Chính trị chúng tôi thường xuyên hằng ngày có những việc phải họp, phải bàn khi nghe tin chiến thắng của các đồng chí, đều vui lắm ..."


Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại cất tiếng cười vang, rồi cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh quân chủng đi thăm cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trong Sở chỉ huy quân chủng và các binh chủng không quân, ra-đa. Đường hầm trong hang đá chật hẹp. Đồng chí Xuân Át đã vượt lên phía trước, nhưng không có ống kính góc rộng, máy không hoạt động được. Tôi một tay xách chiếc máy ghi âm ca-sét kiểu MK-21, một tay cầm chiếc mi-cơ-rô vuông chỉ nhỉnh hơn bao diêm, không có cán nên luôn luôn phải bám sát Thủ tướng, cũng không ghi được tiếng nói nào, chỉ thấy những tiếng giầy da nện lộp... cộp xuống nền đá.


Đến Sở chỉ huy chung, đèn điện sáng rực trong khoang hầm khá rộng. Xuân Át kịp nhảy lên chọn góc độ. Còn tôi chỉ vì chiếc mi-cơ-rô nên luôn luôn phải đứng sát ngay bên Thủ tướng mới ghi được tiếng nói. Xuân Át nhăn mặt nhìn tôi. Tôi biết trong khuôn hình của Xuân Át luôn luôn có tôi đứng bên cạnh Thủ tướng, mà một tay tôi lại giơ cao chiếc mi-cơ-rô ở phía trước. Nhưng không thể khác được, tôi biết ý, cố hạ thấp chiếc mi-cơ-rô xuống một chút cho đỡ chướng.


Đồng chí Nguyễn Quang Bích, Tư lệnh Phó quân chủng đang làm nhiệm vụ trực chỉ huy, báo cáo với Thủ tướng tình hình trên không đang có địch, những tình huống có thể xảy ra trong đêm và công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị. Thủ tướng Phạm Văn Đồng ân cần thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trong Sở chỉ huy và xúc động nắm chặt tay một chiến sĩ gái thông tin đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bốn ngày đêm liền không nghỉ. Thủ tướng nói, đại ý: Đế quốc Mỹ muốn dùng B-52 để hòng đè bẹp ý chí và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta. Nhưng thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do", chúng ta đã kiên quyết đánh trả chúng, kiên quyết không cho chúng gây sức ép với ta. Trong cuộc chiến đấu này, các đồng chí đã lập được chiến công xuất sắc ...


Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm hết lượt Sở chỉ huy binh chủng ra-đa và Sở chỉ huy binh chủng không quân. Đến đâu, Thủ tướng cũng chăm chú lắng nghe các đồng chí trực chỉ huy báo cáo tình hình và ân cần thăm hỏi, khen ngợi anh chị em chiến sĩ đã trực ban chiến đấu liên tục nhiều ngày đêm không nghỉ.


Trở về nơi tập trung cán bộ, chiến sĩ trong hang đá chùa Trầm, Thù tướng Phạm Văn Đồng cho biết trước khi đến đây, Thủ tướng đã đến thăm một tiểu đoàn tên lửa, thăm các chiến sĩ đã bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 Mỹ ngay trên vùng trời Thủ đô Hà Nội...


Tôi vội liếc nhìn nhanh cuốn băng trong máy ghi âm, thấy đã chạy gần hết một mặt băng, tức là máy thu được 30 phút. Tôi vội lật nhanh mặt băng và lúc này tôi có thể ngồi giữ máy ở phía sau, với tay đặt mi-cơ-rô trên bàn ngay trước mặt Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi yên trí băng có thể thu được 30 phút nữa, chỉ còn động tác điều chỉnh âm lượng thu thích hợp và ngồi quan sát, trong đó không quên để ý đến Xuân Át đang liên tục thay đổi góc độ, liên tục bấm máy ...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:08:27 pm
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói: "Các đồng chí nói lại với anh em hôm nay chúng tôi không thể gặp được nhiều. Đến đây coi như đã gặp tất cả anh em. Các đồng chí nói lại với anh em rằng đồng bào ta các nơi mừng lắm. Ta phải hy sinh bao nhiêu, phải hy sinh cũng nhiều rồi! Các đồng chí có biết không, hôm qua tôi đến thăm khu An Dương thấy cực lắm. Đồng bào ta cực lắm. Bây giờ trên đường đi sơ tán, đồng bào ta cực lắm! Nhưng mà có tin này đã bù lại ghê gớm lắm. Cho nên chiến thắng của các đồng chí có ý nghĩa to lớn sâu xa, về nhiều mặt. Nhưng cũng thấy làm được hơn thì càng tốt hơn ...


Sắp tới nó còn đánh. Tôi nghĩ Phủ Chủ tịch và tất cả khu trung tâm hôm nay nó sẽ đến, mà nó vẫn chưa đến! (cười to).

Nhưng vừa rồi tôi nghe nó đánh Bạch Mai. Tôi nghĩ nó đánh cái nhà to, đánh Phủ Chủ tịch, nó đánh cái đó mình không đau bằng nó đánh Bạch Mai là một bệnh viện. Tôi nghe nó đánh Bạch Mai, trong người tôi thấy đau thương quả. Trong chiến tranh nó đánh mình, mình đánh nó là chuyện thường. Nhưng nó lại đánh vào bệnh viện thì cực thật..."


Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định những ngày tới, địch còn đánh quyết liệt hơn, nhất là trung tâm Hà Nội và mong bộ đội Phòng không- Không quân cũng như quân và dân miền Bắc phải đánh địch sáng tạo hơn, giành chiến thắng lớn hơn. Thù tướng đánh giá thành tích chiến đấu của quân và dân ta: Chỉ trong 4 đêm, địch huy động 200 lần chiếc B-52, ta đã hạ 15 B-52 là tỷ lệ cao lắm, xưa nay chưa từng có. Thủ tướng nhắc báo chí, cả báo nói và báo viết, cả ngành tuyên huấn phải thông tin kịp thời để toàn dân biết đến, thế giới biết đến cho người ta thấy hết giá trị, ý nghĩa lớn lao của những chiến công mà quân và dân ta đã giành được. Thủ tướng Phạm Văn Đồng quay sang phía đồng chí Trần Hanh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Tư lệnh phó binh chủng không quân, trực chỉ huy không quân đang đứng bên và nói:

- Giặc Mỹ đánh ta, nó chú ý đánh đồng bộ, thi ta đánh trả nó cũng phải đánh đồng bộ. Rồi đây không quân ta phải đánh được B-52, dứt khoát phải hạ được B-52 ...

Đồng chí Trần Hanh thay mặt cán bộ, chiến sĩ Không quân nhân dân Việt Nam xin hứa phấn đấu thực hiện nghiêm chỉnh lời căn dặn của Thủ tướng, bộ đội không quân ta nhất định sẽ bắn rơi máy bay B-52 Mỹ ...


Trước lúc ra về, Thủ tướng Phạm Văn Đồng bắt tay hết lượt những cán bộ, chiến sĩ có mặt và cất tiếng cười vang, đầy tự tin chiến thắng...

Đúng lúc đó, Phòng phát thanh Quân đội nhân dân được tin, đã cử đồng chí phóng viên Cao Minh Việt đến gặp đề nghị Chính uỳ Hoàng Phương cho tôi mang nhanh cuốn băng ghi âm có tiếng nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trên trận địa đánh B-52 Mỹ về ngay Cục Tuyên huấn để tổ chức viết bài, kịp phát trên sóng chương trình thời sự của Đài vào sáng sớm hôm sau. Đồng chí Chính uỷ quân chủng quyết định điều ngay một xe con đưa chúng tôi đi với yêu cầu hết sức khẩn trương, càng nhanh càng tốt...


Nhưng từ chập tối, không quân Mỹ lại tiếp tục ném bom, bắn phá khu vực Thượng Đình. Nhân dân Hà Nội tiếp tục sơ tán đông nghịt, đã gây nên đường tắc. Xe chúng tôi cố lách tới ngã ba Ba La Bông Đỏ, không sao đi được nữa. Đồng chí Cao Minh Việt sáng kiến nhảy xuống khỏi xe, bật máy ghi âm cho đồng chí chỉ huy công an giao thông nghe tiếng nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và tha thiết xin dẹp cho một đường đi ưu tiên để kịp về phát ưên sóng của Đài, động viên đồng bào, bộ đội. Đồng chí công an tỏ ra ái ngại, bắt tay Cao Minh Việt và cất giọng nói mệt mỏi:

- Đồng chí hết sức thông cảm, tôi không có cách gì giúp các đồng chí được. Ngay trước mắt chúng ta, cách đây chừng 50 mét, xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đang mắc kẹt ở đó!

Tôi quyết định cho xe quay lại, leo lên đê Mai Lĩnh đến dốc Thanh Quang, rẽ xuống Đại Mỗ, đi thẳng ra thị xã Hà Đông rồi lên Ngã Tư Sở. Quả nhiên đường có thoáng hơn, nhưng cũng không thể cho xe chạy nhanh được. Mãi gần 1 giờ sáng chúng tôi mới tới Cục Tuyên huấn, lúc đó sơ tán sang nhà số 83 phổ Lý Nam Đế, nay là Thư viện trung ương quân đội. Máy bay F111 sà xuống rất thấp phóng đạn tên lửa và máy bay B-52 vần tiếp tục ném bom Hà Nội.


Không còn thời gian đến phòng bá âm của đài để trích băng. Theo sự chỉ đạo của đồng chí Cục trưởng Cục Tuyên huấn, tôi chỉ có thể viết nhanh một tin tường thuật. Tôi ngồi viết giữa lòng Hà Nội trong tiếng nổ vang dậy của đạn pháo, đạn tên lửa và tiếng bom B-52 Mỹ.


Gần như thức trắng đèm, tuy có mệt nhưng tôi rất phấn khởi vì đúng 6 giờ sáng hôm sau, ngày 23 tháng 12 năm 1972, bài tôi viết đã được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Đồng bào và chiến sĩ cả nước đều được nghe tin giữa lúc đế quốc Mỹ dùng máy bay B-52 đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến thăm, động viên các chiến sĩ trên trận địa. Các lực lượng vũ trang nhân dân ta dều dấy lên phong trào thi đua thực hiện lời căn dặn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, quyết tâm đánh địch sáng tạo hơn, giành chiến thắng lớn hơn. Và chỉ sau đó 4 đêm, Không quân nhân dân ta đã liên tiếp bắn rơi 2 máy bay B-52 Mỹ. Sau 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 34 chiếc B-52, 16 chiếc máy bay B-52 rơi tại chỗ.


Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã gần 40 năm. Những người có vinh dự được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoặc là chiến sĩ đánh B-52 trên trận địa năm ấy, có người nay không còn và hầu hết đã trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng phải nói đến hôm nay, cuốn băng ghi âm tiếng nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng giữa trận địa đánh máy bay B-52 Mỹ năm 1972 vẫn còn nguyên vẹn, vẫn nghe tốt nên tôi mới có vinh dự được trích những lời căn dặn của Thủ tướng với các chiến sĩ Phòng không - Không quân năm ấy vào bài viết này.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:09:42 pm
VUI ĐÓN BÁC TÔN TRÊN TRẬN ĐỊA
GIỮA NGÀY XUÂN ĐẠI THẮNG


Xuân Mai


Mờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1973, tức ngày 29 Tết Quý Sửu, Toà soạn báo Phòng không - Không quân chúng tôi bỗng nhận được lệnh khẩn cấp: Cử ngay một tổ phóng viên đến trận địa tên lửa ở ngã ba Chèm để chụp ảnh, viết bài đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng đến thăm và chúc Tết bộ đội.


Lúc này, cơ quan Cục Chính trị quân chủng vừa chuyển từ khu B ra khu A, có biết bao việc bề bộn về sắp xếp nhà cửa và lo chuẩn bị Tết. Nhưng vẫn giữ tác phong thời chiến, tôi gọi các anh Việt Hiển, Xuân Át cùng khẩn trương lên đường. Trang bị của phóng viên chiến tranh vẫn luôn luôn bên mình, tôi và Việt Hiển ngoài máy ảnh còn có thêm máy ghi âm. Anh Xuân Át là phóng viên nhiếp ảnh chính, trong túi "đồ nghề" luôn luôn có hai máy ảnh loại tốt nhất Toà soạn lúc đó.


Chiếc xe mô-tô ba bánh "Trường Giang" do Xuân Át lái, phóng nhanh qua đường Láng, rẽ ngã tư Cầu Giấy, ngoặt sang Nghĩa Đô, hướng tới Chèm. Trên đường phố, nhân dân Hà Nội đi sơ tán vẫn đang tấp nập đổ về, tay xách nách mang nhưng nét mặt ai nấy dều phấn khởi, hồ hởi. Trong dòng người ấy, được tô điểm thêm những cành đào, những cây quất... làm cho không khí chuẩn bị mừng Xuân chiến thắng càng thêm náo nhiệt.


Tôi tranh thủ phân công: Anh Việt Hiển lo ghi âm vòng ngoài và quan sát chung, viết bài tường thuật sự kiện quan trọng này. Anh Xuân Át phải bám sát Bác Tôn, ghi thật nhiều hình ảnh đẹp về Bác tiếp xúc với các chiến sĩ. Tôi chủ yếu tiếp cận Bác Tôn, ghi âm nguyên văn bài chúc Tết của Bác và cả ba chúng tôi, khi có thời cơ đều phải chụp ảnh.


Chúng tôi đến trận địa Chèm mới hơn 6 giờ sáng. Đây là trận địa Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, đơn vị đã bắn rơi 26 máy bay Mỹ, trong đó có 4 chiếc B-52. Các chiến sĩ như còn đang say men chiến thắng của trận "Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm lịch sử. Giờ đây lại càng vui mừng khi được tin Bác Tôn kính mến sẽ đến thăm và vui Tet với đơn vị. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn trực tiếp kiểm tra từng bộ phận, nhắc nhở mọi người chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tốt nhất để báo cáo với Bác Tôn. Từ mờ sáng, các đơn vị tên lửa bạn cũng đã có mặt đông đủ, trong đội ngũ chào đón Bác Tôn.


Mưa Xuân lất phất bay. Trời rét ngọt, nhưng lòng mọi người thấy ấm áp lạ thường. Các chiến sĩ đều biết rằng năm đó Bác Tôn đã 85 tuổi. Tuy tuổi cao, nhưng vừa mới hôm nào, khi tiếng bom B-52 Mỹ vừa dứt, Bác đã đem niềm tin yêu của Đảng, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của quân và dân cả nước đến với các chiến sĩ trên trận địa phòng không bảo vệ Hà Nội; đến với đồng bào ta bị bom B-52 Mỹ đánh phá ở phố Khâm Thiên, ở Khu lao động An Dương... Hôm nay, trên trận địa còn bừng bừng khí thế chiến thắng, giữa ngày Tết hoà bình đầu tiên của cả hai miền đất nước, Bác lại đến tận nơi thăm hỏi, động viên bộ đội...


Đúng 8 giờ sáng, một đoàn xe từ từ tiến vào trận địa. Các chiến sĩ vẫn đứng nghiêm trong dội ngũ, nhimg đều hồi hộp, mong chờ...

Đây rồi! Một chiếc xe sơn màu xanh bỗng tách khỏi đội hình, lăn bánh trước hàng quân và dừng lại. Cửa xe bật mở. Bác Tôn vui vẻ bước xuống. Bác mặc bộ quần áo giản dị, cổ quàng khăn len. Bác bước đi khoẻ khoắn, tươi cười vẫy chào như muốn nói rằng Bác vẫn khoẻ, các cháu cứ yên tâm tập trung luyện tập và sẵn sàng chiến đấu.


Cùng đi với Bác Tôn có đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp; đồng chí Thiếu tướng Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Lê Hiến Mai; đồng chí Đại tá Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu phó và các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội.


Tiếng vỗ tay kéo dài, xen lẫn tiếng hô không ngớt: "Kính chúc Bác Tôn mạnh khoẻ!"; "Kính chúc Bác Tôn sống lâu!"...

Thật xúc động biết bao giữa ngày vui lịch sử này lại được đón Bác Tôn đến thăm. Người thuỷ thủ trên chiến hạm Pháp hơn 50 năm về trước, đã từng tham gia cuộc binh biến để bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và đã từng kéo lá cờ đỏ chào mừng Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, giờ đây đang ung dung bước trên trận địa đánh Mỹ của dân tộc. Thật trong sáng và đẹp đẽ ...


Tôi liếc mắt thấy Xuân Át rất nhanh, nhảy lên đón lõng bấm được nhiều kiểu ảnh Bác Tôn đang vừa đi, vừa vẫy chào hàng quân. Bên phải Bác Tôn là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh quân chủng. Bên trái Bác Tôn là các đồng chí Hoàng Văn Khánh, Nguyễn Xuân Mậu. Tư lệnh phó và Phó Chính ủy quân chủng. Còn phóng viên Việt Hiển đã rút cần mi-cờ-rô của chiếc máy ghi âm R5 dài tới nửa mét, cố vươn qua vai đồng chí Lê Hiến Mai để ghi tiếng động trong những phút lịch sử.


Bác Tôn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Hiến Mai đều bước lên ca-bin xe điều khiển tên lửa. Tôi bước theo, nhưng trong ca-bin xe chật hẹp, phải né sang nhường chỗ cho Xuân Át, vì chỉ có máy của Xuân Át mới có đèn chụp ảnh.


Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn và kíp chiến đấu đã có mặt sẵn sàng. Anh thưa với Bác Tôn về tình hình sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, rồi ra lệnh cho kíp chiến đấu xử trí một tình huống bắn máy bay B-52 để báo cáo với Bác. Xuân Át đã kịp bấm được kiểu ảnh lịch sử: Bác Tôn ngồi trong ca-bin xe điều khiển tên lửa, đang chăm chú lắng nghe Tiểu đoàn trưởng Đinh Thể Văn báo cáo; phía sau Bác Tôn là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Lê Hiến Mai; ảnh rất rõ nét.


Bác Tôn chăm chú theo dõi trước màn hiện sóng của sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Ước đang nhấp nháy hiện lên những tín hiệu của máy bay "địch". Trong giây lát, những tín hiệu ây đã bị xoá sạch bởi những thao tác chiến đấu thuần thục của kíp trắc thủ.


Bác Tôn vui vẻ khen ngợi các chiến sĩ trong kíp chiến đấu. Sau đó Bác và các đồng chí cùng đi ra thăm trận địa đại đội 2, thăm một khẩu đội bệ, đang làm động tác đưa đạn tên lửa vào bệ để báo cáo với Bác. Đồng chí Tư lệnh phó quân chủng tranh thủ báo cáo với Bác Tôn về Tiểu đoàn 77 đã bắn rơi 26 máy bay Mỹ, trong đó có 4 chiếc B-52, có 3 chiếc B-52 rơi tại chỗ và là một trong những tiểu đoàn tên lửa bắn rơi nhiều máy bay B-52 Mỹ nhất trong 12 ngày đêm chiến đấu lịch sử.


Bác Tôn gật đầu tỏ vẻ rất hài lòng, rồi Bác đi về phía trung tâm trận địa, nơi cán bộ, chiến sĩ đã tập họp đông đủ. Tôi nhanh chân chạy lên đặt mi-cơ-rô và máy ghi âm nơi Bác Tôn sẽ đứng nói chuyện rồi lùi ra quan sát và tranh thủ chụp ảnh. Lúc này, Việt Hiển cũng đã len vào đứng ngay sau lưng Bác Tôn, giơ cần mi-cơ-rô lên. Thế là cả hai chúng tôi đều mở máy đúng lúc.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:10:17 pm
Bác Tôn thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ và Mặt trận chúc Tết, nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ binh chủng Tên lửa anh hùng và quân chủng Phòng không - Không quân trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần quan trọng cùng quân và dân ta đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 lịch sử đã chiến đấu rất giỏi, đập tan "uy thế" của không quân chiến lược Hoa Kỳ.


Bác Tôn căn dặn: "Hoà bình đã được lập lại trên cả hai miền đất nước ta, nhưng hoà bình chưa được củng cố. Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác với âm mưu phá hoại hiệp định, phá hoại hoà bình, phá hoại hoà hợp dân tộc của các thế lực phản động và hiếu chiến.


Hướng về miền Nam thân yêu, toàn dân và toàn quân ta quyết đem hết sức mình "Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ yà giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dạy chúng ta.


Cán bộ và chiến sĩ binh chủng tên lửa hãy cùng với các binh chủng khác ra sức xây dựng quân đội ta ngày càng hùng mạnh, chính quy, hiện đại, làm tròn nhiệm vụ bảo vệ hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, tích cực góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân chủ và hoà họp dân tộc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà"...


Bác Tôn vừa dứt lời, các chiến sĩ đã sôi nổi vỗ tay biểu thị quyết tâm tuân theo lời Bác.

Trong không khí vô cùng phấn khởi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui vẻ nói với các chiến sĩ:

- Hôm nay, chúng ta rất vui mừng đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng đến vui Tết Đại thắng lợi của toàn dân ta. Đây là vinh dự rất lớn cho Binh chủng Tên lửa anh hùng mà đại biểu các đơn vị đều có mặt ở đây. Đây cũng là vinh dự rất lớn cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân và toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân ta...


Tiếng vỗ tay kéo dài, giòn tan như pháo Tet. Gương mặt mọi cán bộ, chiến sĩ đều rạng rỡ, lắng nghe. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói tiếp:

- Các lực lượng vũ trang nhân dân ta, trong đó có Binh chủng Tên lửa anh hùng, vô cùng tự hào thấy rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch, chúng ta đã chiến đấu dũng cảm, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc.


Vui Xuân trong hoà bình, chúng ta phải luôn luôn nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam ruột thịt, nhớ lời Bác Tôn vừa căn dặn: "Hoà bình đã được lập lại, nhưng hoà bình chưa được củng cố". Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta còn nặng nề. Chúng ta không thể thoả mãn với thành tích đã đạt được, mà còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, ra sức thực hiện lời Bác Tôn vừa căn dặn, tích cực xây dựng binh chủng, xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, hùng mạnh, hết lòng giúp đỡ nhân dân hàn gắn vết thương chiến tranh, cùng nhân dân tham gia sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miên Bắc và làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc của đồng bào ta ở miền Nam...


Đại tướng Võ Nguyên Giáp íhay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chúc Tết Chủ tịch Tôn Đức Thắng mạnh khoẻ, sống lâu để cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn dân ta giành những thắng lợi rực rỡ hơn nữa. Chúc các lực lượng Phòng không - Không quân, các lực lượng vũ trang nhân dân ta sang năm mới có nhiều cố gắng mới, tiến bộ mới và thắng lợi mới to lớn hơn nữa.


Đồng chí Hoàng Văn Khánh - Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thay mặt cán bộ, chiến sĩ toàn quân chủng hứa với Bác Tôn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyện không ngừng rèn luyện nâng cao chất lượng toàn diện, luôn luôn nêu cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc để thực hiện nghiêm chỉnh những lời căn dặn của Bác Tôn và Đại tướng.


Bác Tôn bắt tay rất lâu đồng chí Tư lệnh phó quân chủng, như muốn truyền hơi ấm trong bàn tay của Bác tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tên lửa anh hùng.

Trong giây phút tiễn đưa Bác Tôn ra về, các chiến sĩ đều lưu luyến quây quanh Bác. Bác Tôn quay lại bắt tay các đồng chí ở hàng trên và căn dặn bộ đội tên lửa phải tích cực rèn luyện để tiến bộ hơn nữa ...


Xe của Bác Tôn đi rồi, các cán bộ, chiến sĩ vẫn lưu luyến nhìn theo. Hơn lúc nào hết, họ nhớ đến Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã đến thăm bộ đội Tên lửa ngay sau ngày ra quân đánh thắng trận đầu. Họ đều nhắc nhau: Càng nhớ Bác Hồ, càng phải thực hiện tốt những chỉ thị của Trung ương Đảng, những lời dặn dò của Bác Tôn và đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:11:21 pm
NHỚ MÃI LỜI DẠY CỦA BÁC PHẠM VĂN ĐỒNG:
"MẮT CHIẾN SĨ RA-ĐA PHẢI SÁNG HƠN MẮT MỌI NGƯỜI!"


Bùi Nguyễn


Những năm sống trong quân ngũ, tôi có vinh dự được bốn lần đón đồng chí Phạm Văn Đồng đến thăm và động viên bộ đội trên trận địa đánh máy bay Mỹ. Nhưng vui nhất, phải kể đến lần đồng chí Phạm Văn Đồng, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đến thăm các chiến sĩ Đại đội 53, Trung đoàn ra-đa 293.


Hôm ấy là ngày mồng 5 Tết Giáp Tý, tức ngày 6 tháng 2 năm 1984. Một đoàn cán bộ của Cục chính trị có đủ đại biểu các Phòng Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ, Bảo vệ ... và phóng viên báo quân chủng được lệnh xuống trận địa Đại đội 53 ở gần sân bay Nội Bài, cùng các chiến sĩ đón Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, đến thăm và chúc Tết.


Khi xe chúng tôi đến Đại đội 53, đã thấy cán bộ, chiến sĩ bộ đội ra-đa tập họp đội ngũ chỉnh tề, ngay dưới dàn ăng- ten ra-đa đang quay đều.

Khoảng 8 giờ sáng, trời hửng nắng. Một đoàn xe con đang chạy trên đường quốc lộ, bỗng rẽ ngoặt sang con đường vào trận địa. Đoàn xe dừng lại trước hàng quân. Chủ tịch Phạm Văn Đồng bước ra khỏi chiếc xe thứ hai, tươi cười vẫy chào các chiến sĩ. Cùng đi với Chủ tịch Phạm Văn Đồng, còn có đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Các đồng chí Tư lệnh và Chủ nhiệm Chính trị quân chủng Phòng không, dẫn Chủ tịch Phạm Văn Đồng và Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, đến nơi bộ đội tập trung.


Như một người cha hiền từ, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đặt tay lên vai một chiến sĩ trẻ, ân cần hỏi han về đời sống và sức khoẻ của đơn vị. Được chúng kiến cảnh tượng này, chúng tôi ai nấy đều xúc động nhớ đến hình ảnh Bác Hồ kính yêu đến vui Tet với các chiến sĩ trên trận địa năm xưa. Đồng chí Phùng Thế Tài đứng trước hàng quân, vui vẻ giới thiệu:

- Hôm nay nhân dịp đầu Xuân, lại sắp đến ngày kỷ niệm 55 năm truyền thống Binh chủng Ra-đa Việt Nam, Bác Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm các đồng chí, thăm bộ đội ra-đa Anh hùng ...

Chủ tịch Phạm Văn Đồng cất tiếng cười khoẻ khoắn, hoà trong tiếng vỗ tay của các chiến sĩ, giòn như pháo Tết!

Được đón Bác Đồng trên trận địa, lại thấy Bác hồng hào khoẻ mạnh, chúng tôi ai nấy đều cảm động và sung sướng. Như hiểu được tấm lòng chung của mọi người, đồng chí Trần Nhẫn, Tư lệnh Quân chủng Phòng không phấn khởi thưa với Bác Đồng:

- Thưa Bác, Bác khoẻ, chúng cháu mừng!

Tiếng vỗ tay lại rộn lên, kéo dài không ngớt. Chủ tịch Phạm Văn Đồng tươi cười, nói:

- Các đồng chí làm việc tốt, thì tôi khoẻ. Nếu các đồng chí làm việc không tốt, thì tôi khó khoẻ lắm!

Đồng chí Phùng Thế Tài cũng vui vẻ, tiếp lời:

- Các đồng chí cứ giữ tốt dùng bền, không để máy hỏng, luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, là Bác khoẻ đấy!

Chủ tịch Phạm Văn Đồng gật đầu, hỏi mọi người thấy Chủ tịch có khoẻ không? Khi đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không thưa với Chủ tịch là anh em thấy Chủ tịch khoẻ, Chủ tịch Phạm Văn Đồng lại cười vui, nói:

- Điều đó có nghĩa là các đồng chí làm việc tốt. Tôi cảm ơn các đồng chí. Nhưng các đồng chí cần phải tiếp tục làm việc tốt hơn và tôi cũng phải làm việc tốt hơn...

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không và Binh chủng Ra-đa, đồng chí Tư lệnh Quân chủng bày tỏ niềm phấn khởi được đón Chủ tịch Phạm Văn Đồng đến thăm đơn vị nhân dịp đầu xuân mới. Đồng chí gửi lời kính chúc sức khoẻ tới Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, kính chúc sức khoẻ chủ tịch Phạm Văn Đồng và hứa chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị của Chủ tịch.

Chủ tịch Phạm Văn Đồng gật đầu hài lòng và nhắc thêm:

- Phải làm thể nào mà các đồng chí sáng hơn cả máy ra-đa. Mình phải sáng hơn mới đòi hỏi máy phải sáng. Neu máy ra-đa không sáng lắm mà mình sáng nhiều, thì máy sẽ sáng lên. Ncu mình tối thì máy có sáng mấy, vẫn cứ tối!

Đồng chí Tư lệnh quân chủng, nghiêm chỉnh thưa với Chủ tịch Phạm Văn Đồng:

- Thưa Bác, chúng cháu xin hứa cố gắng phấn đấu sao cho đôi mắt của chúng cháu luôn luôn sáng, để kết hợp với máy ra-đa mà trước đây ta quen gọi là "mắt thần !"...

Chủ tịch Phạm Văn Đồng hướng về phía các chiến sĩ, cất tiếng cười vang, ngắt lời:

- Mắt người phải hơn "mắt thần"! "Mắt thần" chưa biết nó sáng thế nào, nhưng mắt người Việt Nam rất sáng, luôn luôn sáng ! Mà trong mắt người Việt Nam thì mắt các chiến sĩ ra-đa phải sáng hơn tất cả mọi người. Tôi cũng chúc các đồng chí như vậy.

Tiếng vỗ tay lại rộn lên như muốn vút theo cánh sóng ra-đa kịp thời báo tin vui tới cán bộ, chiến sĩ ra-đa trên cả nước. Chủ tịch Phạm Văn Đồng nói tiếp:

- Tôi chúc thêm các đồng chí một điều nữa là các đồng chí phải làm sao có đời sống vật chất và đời sống văn hoá tốt.

Chủ tịch Phạm Văn Đồng khoát tay quanh trận địa còn nhiều đất bỏ hoang, tiếp tục căn dặn:

- Các đồng chí phải trồng nhiều cây, phải tích cực tăng gia sản xuất, trận địa nhiều đất bỏ hoang thế này thì phí quá!...

Trước lúc ra về, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã cùng cán bộ, chiến sĩ ra-đa và chúng tôi chụp chung tấm ảnh kỷ niệm đầu Xuân. Tấm ảnh được chụp ngay dưới dàn ăng-ten chiếc máy ra-đa đã từng phát hiện, thông báo chính xác, kịp thời nhiều tốp máy bay Mỹ; từng góp phần chỉ đích danh nhiều tốp máy bay B-52 trong 12 ngày đêm chiến đấu lịch sử "Điện Biên Phủ trên không" ở Hà Nội và dẫn đường cho không quân nhân dân ta lập nhiều chiến công xuất sắc, trong những năm đánh Mỹ.


Giờ đây, các cán bộ, chiến sĩ ra-đa và chúng tôi có vinh dự được đón Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng trong ngày đầu Xuân năm ấy, nay đều đã trở về với cuộc sống đời thường. Bác Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, cũng đã về cõi vĩnh hằng. Nhưng hình ảnh và những lời dạy bảo ân cần của bác Phạm Văn Đồng, vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:16:49 pm
ĐÓN ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
GIỮA TRẬN ĐỊA BẮN MÁY BAY B-52 MỸ


Xuân Mai


Sáng sớm ngày 28 tháng 12 năm 1972, qua một đêm làm việc gần như thức trắng, tôi tranh thủ ngả lưng, tạm nghỉ. Nhưng chưa được bao lâu, tiếng chuông điện thoại bỗng reo vang. Từ đầu dây bên kia, anh Cao Xuân Việt, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng, chỉ thị cho tôi mang theo máy ghi âm cùng một phóng viên nhiếp ảnh, phải có mặt tại Sở chỉ huy quân chủng trước 7 giờ để đi công tác với Phó Chính uỷ Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu.


Mới hơn 6 giờ sáng. Tôi gọi anh Xuân Át cùng chuẩn bị, rồi chúng tôi khẩn trương lên đường.

Từ xóm Đỗi, xã Tiên Phương, nơi sơ tán của cơ quan báo sang Sờ chỉ huy quân chủng ở chùa Trầm, phải đạp xe chừng 15 phút. Tôi tranh thủ trao đổi với Xuân Át về tình hình đêm qua, được Sở chỉ huy thông báo ta đã bắn rơi 5 máy bay B-52, có 2 chiếc rơi tại chỗ, trong đó có chiếc B-52 rơi ngay đầu công viên Bách Thảo trên đường Hoàng Hoa Thám. Chúng tôi đều phỏng đoán có lẽ lần này ta bắn rơi B-52 ngay nội thành Hà Nội, trên đi kiểm tra thực tế, mới gọi cánh phóng viên quân chủng cùng đi.


Đến cửa chùa Trầm, tôi thấy chiếc xe com-mãng-ca đã đỗ sẵn. Anh Cao Xuân Việt đứng ngay đầu xe, tươi cười nói:

- Cục Chính trị ta bỏ lỡ không đón được anh Văn (tức Dại tướng Võ Nguyên Giáp) đến động viên bộ đội trên trận địa Chèm hôm 22 tháng 12. Lần này được thông báo trước, quân chủng chọn Tiểu đoàn 79 ở trận địa Yên Nghĩa, đơn vị đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B-52, đón Đại tướng...

Anh Nguyễn Xuân Mậu cũng đã ra xe. Anh vui vẻ bắt tay chúng tôi, căn dặn thêm:

- Hình ảnh và tiếng nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp động viên bộ đội ngay trên trận địa bắn máy bay B-52 Mỹ không phải lúc nào cũng có. Các cậu phải chụp ảnh, ghi âm thật tốt, vì đây là tài liệu lịch sử vô giá đối với quân chủng, không chỉ hôm nay mà còn để mãi mãi cho thế hệ mai sau.

Tôi xin hứa chúng tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong lòng tôi lúc này càng thấy thương cảm, quý mến các anh khi nhìn gương mặt ai cũng gầy rộc, những đôi mắt các anh sáng, nhưng đều thâm quầng!...


Chiếc xe men theo sườn núi, bon nhanh ra quốc lộ 6 rồi thẳng hướng tới Mai Lĩnh. Khi chúng tôi đến trận địa Yên Nghĩa, Tiểu đoàn 79 đã được lệnh về cấp hai. Nhưng tiếng máy nổ vẫn chạy đều. Trận địa như vắng lặng vì những bệ phóng tên lửa, những xe khí tài, còn kín đáo dưới lớp lá nguỵ trang xanh. Chỉ có anh chiến sĩ trinh sát trực, đang dứng chăm chú trước bộ ống kính ngắm TZK trên dài PA-00 cao chót vót.


Bỗng nhiên, anh Trần Sanh, Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội cùng các cán bộ Trung đoàn tên lửa 257 và Tiểu đoàn 79 từ một lùm cây ùa ra chào đón. Anh Nguyễn Xuân Mậu yêu cầu việc đón tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải nhanh, gọn, tình cảm nhưng đảm bảo an toàn. Không cần tập trung đông người, chủ yếu có mặt cán bộ đại diện và kíp chiến đấu đã trực tiếp bắn rơi máy bay B-52. Chú ý tìm cách tránh, không mời Đại tướng lên kiểm tra xe điều khiển và thăm các bộ phận, vì sắp đến giờ máy bay địch có thể hoạt động...


Chưa đến 8 giờ sáng, hai chiếc xe con đã đỗ sát trận địa. Tôi thấy cùng đi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp có các cán bộ Cục Bảo vệ, Cục Tuyên huấn, Phòng Bảo vệ Quân chủng và cả anh Tào Hoà, phóng viên Chương trình phát thanh Quân đội nhân dân. Trên đường vào trung tâm trận địa, Đại tướng dừng lại bắt tay thân mật từng chiến sỹ đang sẵn sàng bên một bệ phóng.


Nơi đón tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp không có bàn ghế, không có lọ hoa, không có cả nước uống. Mọi người đều đứng dưới dàn nguỵ trang bên thành xe điều khiển. Sau lời giới thiệu của Phó Chính uỷ Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay và ôm hôn thắm thiết Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 Nguyễn Văn Chiến, sĩ quan điều khiển Đỗ Văn Bạch, các trắc thủ Bùi Trung Quý, Bùi Xuân Lập, Nguyễn Xuân Nhâm - những đại diện một tiểu đoàn tên lửa chỉ trong 5 ngày đêm đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B-52 Mỹ.


Sớm mùa đông trời loé nắng, nhưng vẫn mù sương. Chỉ một mình anh Xuân Át chụp ảnh. Tôi và anh Tào Hoà đều bám theo Đại tướng. Tôi kịp thời rút cần mi-cờ-rô và bật máy ghi âm đúng lúc Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển lời thăm và khen ngợi của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân trên trận địa chiến đấu với không quân chiến lược Mỹ, đã liên tiếp lập nhiều chiến công rất xuất sắc. Đại tướng nói:

- Từ đêm 18 tháng 12 đến nay, đế quốc Mỹ đã dốc toàn bộ lực lượng không quân chiến lược B-52 và toàn bộ lực lượng không quân chiến thuật của chúng ở khu vực Đông Nam Á, đánh phá rất quyết liệt vào miền Bắc nước ta, đặc biệt vào Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, gây ra những tội ác vô cùng dã man với đồng bào ta. Chúng tưởng ràng với vũ khí kỹ thuật hiện đại, với sức tàn phá khốc liệt của bom đạn có thể đè bẹp được ý chí và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, buộc nhân dân ta phải khuất phục chúng.

Nhưng giặc Mỹ đã tính nhầm. Quân và dân ta luôn luôn thấm sâu lời kêu gọi của Bác Hồ: "Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã kiên quyết đánh trả chúng, giáng cho chúng những đòn trừng trị đích đáng ...


Đại tướng Võ Nguyên Giáp tỏ ra rất xúc động, kể cho mọi người nghe một câu chuyện: "... Sáng nay, tôi đến chỗ xác chiếc máy bay B-52 bị ta bắn rơi đêm qua trên đường Hoàng Hoa Thám. Trước đông đảo nhân dân ở đó, có một chị phụ nữ mà người chồng đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, đã bắt tay tôi rất lâu và nói với tôi ràng: "Chúng tôi không sợ chúng nó. Chúng nó dã man vô cùng. Chúng ta nhất định tiêu diệt chúng nó!" ... Chị nói rất cảm kích và nói đi nói lại nhiều lần như vậy ...


Một người phụ nữ mà như thế thì cả dân tộc ta cũng như thế, và người chiến sĩ ta nhất định cũng như thế. Đế quốc Mỹ càng đánh phá dã man, càng làm cho quyết tâm bảo vệ đất nước, bảo vệ Thủ đô Hà Nội của chúng ta càng cao. Chúng ta đã tỏ rõ điều đó và tỏ rõ có hiệu lực trong mấy ngày nay. Đêm hôm qua chúng ta đã hạ thêm 5 chiếc B-52 và các chiến sĩ không quân ta lại tiếp tục bắn rơi máy bay B-52. Tính đến hôm nay, chúng ta đã bắn rơi 31 chiếc B-52 - 31 chiếc có cả hiện vật rõ ràng với một số đông giặc lái máy bay B-52 bị bắt sống...".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:17:38 pm
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh sự đánh giá cao của Bộ Chính trị, của Quân uỷ Trung ương đối với chiến công rất xuất sắc của quân và dân ta, trong đó có phần đóng góp to lớn của bộ đội Phòng không - Không quân, đặc biệt đối với bộ đội Tên lửa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thông báo quyết định của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương sẽ đề nghị Quốc hội tuyên dương công trạng một cách xứng đáng đối với Binh chủng tên lửa và những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong những ngày tới.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc cán bộ, chiến sĩ "không bao giờ được chủ quan thoả mãn trước những thành tích đã đạt được. Phải kịp thời rút kinh nghiệm, luôn luôn nắm vững tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Đảng vào điều kiện chiến đấu hiện đại là tích cực, chủ động tiến công, bí mật bất ngờ, anh dũng, mưu trí, sáng tạo". Đại tướng giao nhiệm vụ cho đơn vị "phải cố gắng phấn đấu lập thêm nhiều chiến công mới vang dội hơn, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng, sự tin cậy của nhân dân...".


Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chiến bước ra trước hàng quân, hô lớn: "Quyết tâm thực hiện tốt lời căn dặn của Đại tướng!"; "Quyết tâm thực hiện tốt lời căn dặn của Quân uỷ Trung ương!" ...

Tiếng hô "Quyết tâm" của bộ đội vang lên trên trận địa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một lần nữa xiết chặt tay đồng chí tiểu đoàn trưởng và nói:

- Đồng chí đáp từ bằng mấy câu ngắn như thế là tốt. Vừa rồi các đồng chí đã có nhiều cố gắng mới, sáng tạo mới và quyết tâm cao. Các đồng chí hãy cố gắng tiến thêm một bước nữa... Bao nhiêu phần trăm nào?

Trong hàng quân, có tiếng một chiến sĩ vọng ra: "Trăm phần trăm ạ!", khiến mọi người đều bật cười. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng cười vui vẻ, nói:

- Trăm phần trăm là hoàn toàn có khả năng. Ví dụ một quả tên lửa, các đồng chí có thể hạ một máy bay Mỹ. Đạt tỉ lệ như đêm qua là tốt hơn trước rồi. Nếu từ nay cứ tiến lên như thế, phóng đạn trúng mục tiêu hơn nữa thì hoàn toàn có khả năng. Chúc các đồng thắng lợi! Thắng lợi! Đại thắng lợi!...


Dời trận địa Tiểu đoàn 79, tôi nghĩ nhiệm vụ đến đây đã hoàn thành. Nhưng khi vừa bước lên xe, anh Nguyễn Xuân Mậu đã nhắc đồng chí lái xe vượt lên trước dẫn đường và nói: "Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn đến thăm tiểp Sở chỉ huy quân chủng". Nghe vậy, tôi vội tranh thủ thay cuốn băng mới vào máy ghi âm, vì cuốn băng cũ đã chạy gần hết. Xuân Át cũng khẩn trương kiểm tra lại máy và đèn chụp ảnh. Nghề báo thời chiến chúng tôi đều như thế!


Chương trình đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Sở chỉ huy quân chủng cũng ngắn gọn. Đại tướng không đi thăm các bộ phận đang trực ban chiến đấu trong Sở chỉ huy, vì thời gian đã muộn. Tất cả đều ngồi quanh dãy bàn tại khu vực giao ban quân chủng hàng ngày, ngay cửa hang đá chùa Trầm.


Trước đông đảo đại diện Bộ tư lệnh quân chủng, các binh chủng và các cơ quan quân chủng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất vui, đứng lên nói:

- Tôi còn định đi thăm một đơn vị không quân nữa, nhưng các đồng chí bảo vệ không muốn để tôi lên sân bay. Nay về đây có cả đại diện không quân, ra-đa... Nhưng trước hết chúc mừng chiến công hôm qua của bộ đội Không quân đã. Đồng chí Trần Hanh báo cáo kết quả trận đánh ngày và đêm hôm qua đi, có phải không quân ta đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ, trong đó có 1 máy bay B-52?


Đồng chí Trần Hanh, Phó Tư lệnh Binh chủng Không quân báo cáo tóm tắt tình hình từ 18 tháng 12, ngày và đêm nào Mỹ cũng tập trung máy bay, kể cả máy bay chiến lược B-52 đánh phá nặng vào các sân bay của ta. Hầu hết các sân bay đều bị đánh, có sân bay bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Nhưng do ta chủ động chuẩn bị sớm, có phương án phòng tránh tốt, lực lượng phòng không bảo vệ tích cực, nên trăm phần trăm máy bay và khí tài chiến đấu đều bảo đảm an toàn. Đường băng các sân bay bị đánh hỏng, được nhân dân, bộ đội địa phương phối hợp với lực lượng công binh dũng cảm xông ra sửa chữa gấp. Nhờ đó, ngày và đêm nào máy bay ta cũng có thổ cất cánh đi chiến đấu, trở về hạ cánh an toàn. Hệ thống chỉ huy không quân và ra-đa dẫn đường luôn luôn bảo đảm cho không quân chiến đấu. Đến đêm 27 tháng 12, không quân ta đã bắn rơi 5 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 1 máy bay B-52.


Về trận đánh ngày và đêm 27 tháng 12, đồng chí Trần Hanh báo cáo:

- Ngày 27 tháng 12, không quân ta hai lần xuất kích, đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F4. Một chiếc rơi ở Hiệp Hoà, Hà Bắc; một chiếc rơi ở Xuân Mai, Hà Tây. Đêm 27 tháng 12, đồng chí Phạm Tuân cất cánh từ sân bay Yên Bái. Được chỉ huy và dẫn đường tốt, đồng chí đã vọt lên cao, vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích của địch. Khi nhìn rõ máy bay B-52 bật đèn sáng, đồng chí đã tiếp cận kịp thời, bắn rơi ngay chiếc B-52 đó trên vùng trời tỉnh Sơn La và về hạ cánh an toàn...

Nghe đến đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vội ngắt lời:

- Nhưng các đồng chí Không quân chưa thoả mãn chứ?

- Báo cáo chưa ạ! Chúng tôi đang phấn đấu bắn rơi được nhiều máy bay B-52 hơn nữa để thực hiện chỉ thị của Quân uỷ...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa bắt tay đồng chí Trần Hanh, vừa vui vẻ nói:

- Điều đó hoàn toàn có khả năng. Cho tôi gửi lời thăm anh em. Sắp tới, không quân ta cần phải tiến mạnh hơn nữa!...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói tiếp:

- Mỹ đưa B-52 và các loại máy bay chiến thuật khác đánh phá miền Bắc, đặc biệt đánh phá Thủ đô Hà Nội với quy mô lớn, mức độ tàn khốc, dã man chưa từng thấy. Chúng tường rằng có thể áp đảo được nhân dân ta, buộc chúng ta phải khuất phục chúng. Nhưng đương nhiên bây giờ, chỉ trừ một số ít tên ngoan cố, hiếu chiến ở bên Mỹ, còn cả nhân dân Mỹ, nhân dân tiến bộ trên thế giới đều biết rằng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Nếu chính quyền Ních-xơn cứ tiếp tục dùng bom đạn đánh phá miền Bắc Việt Nam, chẳc chắn Mỹ sẽ thất bại.


Khi chúng mới bị bắn rơi 4 máy bay B-52, các hãng tin phương Tây đã đánh giá: "Mỹ không những tổn thất về lực lượng không quân chiến lược, mà còn tổn thất cà về uy tín". Nay chỉ trong một thời gian ngắn, chúng đã bị ta bắn rơi 31 chiếc B-52 với số giặc lái máy bay B-52 bị bắt sống, bị tiêu diệt nhiều như thế là một tổn thất vô cùng nặng nề. Các hãng tin phương Tây đã tính tỉ lệ số máy bay B-52 Mỹ bị bắn rơi trong 10 ngày, ít nhất tới 10% hay 15%? (đồng chí Trần Hanh bổ sung là 16%). Đúng! So với tổng số máy bay B-52 được huy động, chỉ trong 10 ngày đêm đã mất 16% là một tỷ lệ Mỹ khó có thể chịu đựng nổi!


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Mười, 2022, 08:18:17 pm
Nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi, tôi chợt nhớ hôm họp hội nghị quân chính tháng 11-1972, đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh quân chủng đã phổ biển trước hội nghị: Khi đồng chí lên báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp về kế hoạch chiến đấu đánh máy bay B-52 để bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, Đại tướng yêu cầu quân chủng phải giải đáp được 3 con số:

1- Tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi bao nhiêu thì Mỹ còn chịu đựng được, vẫn tiếp tục ném bom tàn phá Hà Nội.

2- Tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi bao nhiêu thì "Nhà trắng" rung chuyển?

3- Tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi bao nhiêu thì Mỹ phải bỏ cuộc?

Bộ Tư lệnh và cơ quan Tham mưu quân chủng sau nhiều ngày đêm nghiên cứu với bao công thức tính toán, đã tìm ra 3 đáp số:

1- Mất từ 1 đến 2% số máy bay B-52, được gọi là N1 thì Mỹ còn chịu đựng được.

2- Mất từ 6 đến 7% số máy bay B-52, được gọi là N2 thì "Nhà trắng" rung chuyển.

3- Mất trên 10% số máy bay B-52, được gọi là N3, thì Mỹ phải bỏ cuộc.

Khi quân chủng đưa lên báo cáo 3 đáp số trên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã hỏi: "Vậy Quân chủng Phòng không - Không quân nhận đáp số nào?" - Tư lệnh Lê Văn Tri báo cáo: "Bằng mọi giá, chúng tôi phải loại trừ N1, phấn đấu đạt N2 và vươn tới N3!".


Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất hài lòng, nói: "Hoan nghênh quyết tâm của Tư lệnh. Chúng ta coi đây là chỉ tiêu phấn đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân!" ...

Giờ đây qua thực tế, Mỹ đã huy động 193 máy bay B-52 vào chiến dịch. Nếu tính từ đêm 18 đến đêm 27 tháng 12, Mỹ đã mất 31 máy bay B-52, đạt tới tỉ lệ 16% số máy bay B-52 so với tổng số B-52 Mỹ sử dụng trong cuộc tập kích chiến lược, vượt quá xa cả tỉ lệ N3!


Đại tướng Võ Nguyên Giáp không nhắc lại sự so sánh tỉ lệ đó, mà chỉ kết luận: "Đây là chiến công xuất sắc nhất của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đây là tổn thất nặng nề nhất trong thời gian ngắn nhất của lực lượng không quân Mỹ, cả không quân chiến lược và không quân chiến thuật". Đại tướng nói: "Mỹ đã ngấm đòn, sắp phải bỏ cuộc !" ...


Nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nhấn mạnh: "Tuy nhiên, chúng ta không thể thoả mãn. Chúng ta phải rút kinh nghiệm, sơ kết kinh nghiệm, phải nắm vững tư tưởng tác chiến, tiếp tục nghiên cứu để nắm vừng hơn nữa khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại. Các cấp đều phải giỏi tổ chức, giỏi chỉ huy chiến đấu hiệp đồng. Chúng ta càng phải nêu cao quyết tâm hơn nữa, lập thêm nhiều chiến công lớn hơn nữa mới làm tròn được nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó"...


Đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thay mặt cán bộ, chiến sĩ hứa toàn quân chủng không ngừng nêu cao truyền thống "Quyết chiến Quyết tháng", ra sức "luyện hay đánh giỏi", lập nhiều chiến công mới xuất sắc hơn nữa, thực hiện nghiêm chỉnh những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ...


Sáng hôm ấy, tôi thu hết 2 cuốn băng ghi âm bằng máy R-5 toàn bộ diễn biến cuộc đón tiếp và lời căn dặn của Dại tướng Võ Nguyên Giáp tại trận địa Tiểu đoàn 79 và Sở chỉ huy quân chủng.

Đêm 28 tháng 12, máy bay B-52 Mỹ lại mò vào, tuy mật độ thưa hơn, nhưng tiếng bom đạn vẫn nổ rền quanh Hà Nội. Ta lại bắn rơi thêm 2 máy bay B-52, trong đó không quân ta bắn rơi chiếc B-52 thứ hai trên vùng trời Mộc Châu, Sơn La. Cũng trong đêm đó tôi thức cùng tiếng bom đạn, ngồi nghe đi nghe lại để viết thành văn bản nội dung hai cuốn băng ghi âm cuộc đón tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chữ viết của tôi vốn nhỏ và gọn, nhưng toàn bộ nội dung cũng chứa đầy 9 trang giấy.


Đêm 29 tháng 12, chiến sự lại xảy ra ở Hà Nội nhưng giảm hẳn. Không quân ta vẫn cất cánh bắn rơi 1 máy bay F4 và tên lửa Hà Nội bắn rơi chiếc máy bay B-52 thứ 34 trong 12 ngày đêm lịch sử. 34 máy bay B-52 trên tổng số 193 chiếc, chiếm tỷ lệ 17,6% máy bay B-52 bị bắn rơi, một tỷ lệ khiến Mỹ không thổ ngoan cố mà phải bỏ cuộc, phải "chịu thua trên bầu trời Hà Nội" như lời Bác Hồ từng tiên đoán từ cuối năm 1967!


Chiến sự diễn ra nhanh quá. Những chiến công dồn dập trong không khí tràn ngập tin thắng trận. Ngày ấy tôi không còn dịp viết bài tường thuật đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên trận địa đang rực lửa bắn máy bay B-52 Mỹ. Tôi và tổ phóng viên chỉ có thể viết một tin tổng hợp cùng với tin và bài tổng thuật 12 ngày dêm chiến thắng lịch sử, đăng trên báo Phòng không - Không quân ra mắt bạn đọc đúng ngày 1 tháng 1 năm 1973.


Giờ đây sau gần 40 năm, 9 trang ghi chép qua băng ghi âm xưa, tôi còn giữ nguyên vẹn. Tuy mực viết đã phai, những trang giấy đã ngả màu vàng nhưng vẫn đọc tốt. Tôi vừa đọc, vừa nghe lại băng ghi âm. Những tài liệu cũ đã giúp tôi nhớ lại hình ảnh tưởng như mới gần đây, cho tôi một tư duy khoẻ khoắn hơn để viết bài này, có thể nói tương đối đầy đủ và trung thực.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:07:51 pm
NHỚ MÃI ĐÊM 31 THÁNG 8 NĂM 1969


Bùi Trọng Thuỷ


Mười giờ đêm 31 tháng 8 năm 1969, tôi được đồng chí Vũ Xuân Sắc, bí thư của Chính uỷ Đặng Tính (nay gọi là trợ lý của Chính uỷ), gọi lên gặp đồng chí Đặng Tính.

Là tổ trưởng tổ bảo mật Cục Chính trị quân chủng, được các thủ trưởng gọi lên giao việc là điều diễn ra thường xuyên, nhất là những lúc tình hình chiến sự khấn trương, hoặc các kỳ hội nghị Đảng uỷ Quân chủng. Nhưng lần này được gọi lên gặp trực tiếp đồng chí Chính uỷ quân chủng, tôi thấy có điều gì khác thường. Tôi nói với anh, chị em trong tổ ở nhà chờ tôi.


Tôi vừa đi vừa chạy đến phòng đồng chí Vũ Xuân Sắc. Vừa bước vào phòng, tôi đã thấy Chính uỷ Đặng Tính và đồng chí Sắc đang trao đổi công việc. Tôi đứng nghiêm:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi có mặt!

Chính uỷ Đặng Tính: "Thuỷ đấy à, ngồi xuống đây! Có việc gấp, cậu phải hoàn thành trong đêm nay. Nhưng phải tuyệt đối giữ bí mật. Đánh máy xong, kiểm tra lại và mang ngay lên cho đồng chí Sắc. Việc cụ thể, đồng chí Sắc sẽ dặn cậu ...

Sau khi đồng chí Chính uỷ đi, anh Sắc nói:

- Thuỷ này, có văn bản của Thường vụ Quân uỷ Trung ương, cậu về đánh máy gấp và in rô-nê-ô 20 bản, đúng 1 giờ sáng mang lên cho tôi. Nhớ là thủ trưởng Tính đã dặn, các cậu phải tuyệt đối giữ bí mật đấy!

Sau đó, đồng chí Sắc giao tài liệu cho tôi cầm tài liệu, tay tôi run run khi nhìn tiêu đề: "Chỉ thị của Thường vụ Quân uỷ Trung ương về việc lãnh đạo tư tưởng khi thông báo tin A1 từ trần!"...

Chạy vội về phòng làm việc, tôi thấy anh, chị em nhân viên vẫn ngồi chờ.

Tôi nói có tài liệu phải sao lục gấp. Đồng chí Chiêng và tôi ở lại, đồng chí Thân, đồng chí Năm về nghỉ để sáng mai trực thay chúng tôi.

Sau khi các đồng chí Thân, Năm về nghỉ, tôi nói với đồng chí Chiêng:

- Chính uỷ Đặng Tính và anh Sắc giao cho tổ ta phải sao lục gấp tài liệu này. Để kịp thời gian, anh đọc, tôi đánh máy, sau đó ta in, cố gắng 1 giờ sáng phải xong!

Cầm tài liệu trên tay, cả tôi và đồng chí Chiêng đều băn khoăn hỏi nhau: "Ai mất?, A1 là ai?"...

Khi đồng chí Chiêng đọc: "A1 là lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta; là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân"... Đến lúc này, cả hai chúng tôi đều nhận ra rằng: A1 chính là Bác Hồ kính yêu!

Hai đứa chúng tôi đều xúc động, trào nước mắt. Đồng chí Chiêng đọc lắp bắp, tôi đánh máy bị lỗi liên tục. Cứ như vậy phải mất gần 10 phút mới trấn tĩnh được. Chúng tôi nói với nhau: "Chính uỷ đã căn dặn phải hoàn thành đúng thời gian. Anh em mình phải cố gắng, nén xúc động để hoàn thành tốt công việc"...


Cả đời tôi chưa bao giờ phải làm việc với tình cảm xúc động như vậy. Vừa đánh máy, tôi vừa khóc...

Sau khi đánh máy xong, chúng tôi đọc kiểm tra lại lần cuối trước khi in rô-nê-ô và hoàn thành đúng thời gian quy định. Tôi giao tài liệu cho đồng chí Vũ Xuân Sắc, đồng chí nói ngay với tôi:

- 6 giờ 30 sáng mai mồng 1 tháng 9, cậu sang Văn phòng để phát tài liệu cho các đảng uỷ viên quân chủng.

Chiều ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, Đài tiếng nói Việt Nam thông báo về tình hình sức khỏe của Bác Hồ!

Sáng mồng 4 tháng 9 năm 1969, Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc "Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần!" ...


Đã hơn 40 năm qua kể từ ngày Bác đi xa, sau này dù trải qua nhiều công tác khác nhau, nhưng kỷ niệm được đồng chí Chính uỷ Đặng Tính giao nhiệm vụ đánh máy tài liệu đêm 31 tháng 8 năm 1969, không bao giờ quên trong ký ức của tôi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:09:41 pm
NHỚ ANH ĐẶNG TÍNH


Nguyễn Xuân Mậu


Anh là Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân từ những ngày đầu thành lập.

Tôi gặp anh lần đầu tại Bắc Kinh - Trung Quốc trong những năm 1956-1957, lúc anh đang học tại Học viện Không quân, còn tôi học tại Học viện Chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Vào ngày chủ nhật, chúng tôi thường đi tham quan cố Cung và Di Hoà Viên, danh thắng của các triều đại phong kiến Trung Hoa nổi tiếng. Thật không ngờ quả đất tròn. Năm 1963, khi cấp trên chủ trương hợp nhất Binh chủng Phòng không và Cục Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân, anh được trên quyết định về làm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng; anh Phùng Thế Tài làm Tư lệnh; tôi được trên giao chức Chủ nhiệm Chính trị, và được cấp uỷ bầu làm Phó Bí thư Đảng uỷ. Sau tôi lại được quyết định làm Phó chính uỷ giúp anh về các mặt công tác chính trị tư tưởng và xây dựng Đảng, và công tác cán bộ trong điều kiện rất khẩn trương để bước vào cuộc chiến đấu đánh trả không quân đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Từ ngày 22 tháng 10 năm 1963 cho đến ngày 4/10/1971, anh được trên giao nhiệm vụ mới hết sức quan trọng trong tình thế cách mạng chuyển biển có lợi cho ta.


Tôi nhớ đầu tháng 10 năm 1971, trong phiên họp Đảng uỷ quân chủng bàn định kế hoạch xây dựng và tác chiến Đông Xuân năm 1971 - 1972 thì nhận được chỉ thị của trên:

Anh Đặng Tính - Chính uỷ kiêm Tư lệnh quân chủng sẽ lên đường đi nhận nhiệm vụ Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn (559) đường Hồ Chí Minh để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương là giành thắng lợi quyết định trong năm 1972.


Anh Tính bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh cho anh Lê Văn Tri và nhiệm vụ Chính uỷ cho anh Hoàng Phương.

Trong Đàng uỷ khi nghe phổ biến, phút đầu ai nấy đều đột ngột thể hiện sự lưu luyến đối với anh. Bởi anh đã gắn bó với quân chủng từ những ngày đầu thành lập. Anh đã cùng tập thể Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân chủng lãnh đạo xây dựng và chỉ huy bộ đội đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc lần thứ nhất; Quân chủng Phòng không - Không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.


Tôi cũng như các đồng chí trong Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân chủng, trong đó có các anh em ở cơ quan Cục Chính trị, cũng như các cơ quan trong Bộ tư lệnh quân chủng vô cùng quyến luyến đối với đồng chí Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ đức độ, mẫu mực, sắc sảo và nhạy bén, giàu trí tuệ, là hạt nhân đoàn kết trong Đảng, trong quân chủng. Anh Đặng Tính là một cán bộ chính trị vừa có đức, có tài, có kiến thức, năng lực lãnh đạo và chỉ huy. Anh có tác phong và phương pháp lãnh đạo vừa sâu sát, xông xáo và rất thực tế. Anh thường đi tới những nơi chiến đấu ác liệt để kiểm tra và phát hiện giải quyết những vấn đề quan trọng. Trong mối quan hệ giữa tư tưởng chính trị và kỹ thuật, khắc phục những nhận thức không đúng như xem nhẹ khâu tư tưởng, đồng thợi cũng khắc phục hiện tượng xem nhẹ về khâu kỹ thuật khoa học, nhất là ở một quân chủng có nhiều binh chủng trang bị vũ khí hiện đại.


Anh Đặng Tính luôn luôn phát huy dân chủ, tôn trọng lãnh đạo tập thể, lắng nghe ý kiến của các đồng chí, kể cả cán bộ cấp dưới, có những ý kiến trái với suy nghĩ của mình. Anh luôn luôn bình tĩnh lý giải, phân biệt đúng sai, không đao to bủa lớn, mà lấy lý thuyết phục, lấy tình để cảm hoá, phân biệt đúng sai một cách chân thành, làm cho cán bộ và cấp dưới gần gũi, quý trọng anh.


Với cương vị là Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ, anh luôn luôn chăm lo công tác xây dựng Đảng bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố đoàn kết nội bộ, coi trọng công tác xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh. Anh nhắc tôi tổ chức rút kinh nghiệm, mở hội nghị "chi bộ 4 tốt" của toàn quân chủng. Trong hoàn cảnh chiến tranh, anh nêu trong điều kiện chiến tranh là cơ hội để xây dựng, chỉnh đốn Đảng mạnh về tổ chức, vững về chính trị, càng nâng cao khả năng và sức chiến đấu của quân chủng. Anh luôn luôn nhắc tôi trong công tác cán bộ, một khâu rất quan trọng; trong công tác tổ chức phải có kế hoạch lựa chọn, bồi dưỡng để đảm bảo xây dựng và chiến đấu lâu dài cũng như phát triển của các binh chủng. Đặc biệt việc tuyển lựa, đào tạo, sử dụng đội ngũ người lái máy bay, khối sĩ quan điều khiến tên lửa và trắc thủ ra-đa, nhân viên, cán bộ kỹ thuật đầu ngành. Anh Tính tuy sức không được khoẻ, lại bị cái chân tập tễnh, nhưng anh xông xáo, đi xuống Trung đoàn chiến đấu ở Vĩnh Linh, nơi ác liệt để kiểm tra và động viên bộ đội, bàn cách đánh thắng không quân Mỹ. Khi chúng bị thất bại, dùng kỹ thuật gây nhiễu điện tử để đối phó với tên lửa, ra-đa của ta. Anh bảo tôi trực và giải quyết công việc ở nhà, anh xuống Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 236 tên lửa, ngồi cùng anh em và kíp chiến đấu mấy ngày liên tục để kết luận chính xác, nguyên nhân đạn tên lửa của ta rơi xuống đất, không bắn trúng mục tiêu là do địch đã sử dụng loại nhiễu mới. Từ thực tế đó, anh kết luận với cán bộ và bộ đội tìm ra cách khắc phục, phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo, nhất định sẽ đánh thắng chúng. Và đúng như vậy, sau một thời gian ngắn, tên lửa của ta đánh thắng liên tục, có ngày, có tuần bắn rơi hàng chục máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái ngay giữa Thủ đô Hà Nội.


Anh Đặng Tính sống chân tình, thân ái, thương yêu cán bộ, quý trọng đồng cấp, tôn trọng cấp trên, tác phong sâu sát, sinh hoạt giản dị, gương mẫu. Có lần, bà mẹ bị ốm, mặc dù cương vị của anh có thể được phép nhưng anh nhờ đồng chí công vụ, dùng xe đạp chở mẹ đến bệnh viện khám bệnh. Tôi biết tin đó, sang phòng anh trao đổi, trách anh sao không cho tôi biết mà lại để công vụ đèo cụ đi, không bảo đảm an toàn. Anh chỉ cười và trao đổi công việc khác. Điều đó thể hiện đức độ và phong cách mẫu mực rẩt đáng quý ở anh. Trước lúc sắp chia tay, tất cả chúng tôi động viên anh lên đường mạnh khoẻ và hứa cùng anh: Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nguyện nỗ lực vượt bậc, khắc phục khó khăn, tiếp tục những công việc xây dựng quân chủng vững mạnh hơn nữa. Chuẩn bị thật tốt về mọi mặt tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật, cách đánh để sẵn sàng giáng trả không quân Mỹ, kể cả B-52 nếu chúng liều lĩnh đánh trở lại miền Bắc lần thứ hai, nhất định chúng sẽ thất bại hoàn toàn trên bầu trời Hà Nội. Anh cười và lạc quan hứa hẹn, ta sẽ thi đua Quyết thắng và hẹn ngày gặp nhau sau thắng lợi.


Trưa ngày 20 tháng 10 năm 1971, Bộ tư lệnh quân chủng chúng tôi tổ chức bữa cơm thân mật tiễn anh lên đường, có mời chị Tính cùng các cháu dự và bắt tay tạm biệt, hẹn ngày gặp lại.

Một hôm, chúng tôi và chị Tính cùng các cháu đang chờ anh ra Hà Nội họp thì một tin sét đánh đên với chúng tôi: Anh đã hy sinh trên đường đi làm nhiệm vụ ở Nam Lào vào ngày 4/4/1973.

Mắt chúng tôi ai nấy đều đẫm lệ, ruột đau như cắt, mong rằng tin đó không thể có. Nhưng sự thật đau đớn đó đã đến. Ngày 9/4/1973, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể lễ tang anh, chúng tôi tham dự tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng, và chia buồn cùng gia đình vượt qua đau thương vô cùng to lớn này.


Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức lễ truy điệu anh. Tại hội trường lớn của quân chủng, có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đại điện quân chủng và các cơ quan tới dự lễ tiễn biệt anh. Hiện tên anh đã được khắc vào tấm bia liệt sĩ của quân chủng, đặt tại Bảo tàng Quân chủng Phòng không - Không quân. Anh đứng đầu cùng hàng ngàn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước đã tặng anh huân chương Độc lập hạng Nhất, huân chương Quân công hạng Nhất, huân chương Kháng chiến hạng Nhất; truy tặng anh huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:10:42 pm
GẶP NGƯỜI CÒN LẠI TRONG TỔ BAY
ĐÃ BẮN CHÌM TÀU BIỆT KÍCH MỸ


Bùi Nguyễn


Tấm ảnh tổ bay An-2, số hiệu 670 đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không - Không quân, tôi chụp khoảng tháng 4 năm 1966. Tổ bay gồm các đồng chí: Phan Như Cẩn (tiểu đoàn trưởng, lái chính); Phạm Thanh Tâm (chủ nhiệm dẫn đường); Trần Sĩ Tiêu (chủ nhiệm thông tin, kiêm phụ lái) và Loan Thế Linh (thợ máy trên không). Ảnh chụp ngay sau khi tổ bay vừa lập công xuất sắc, lần đầu tiên ta dùng máy bay vận tải bắn chìm tàu biệt kích Mỹ ở vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá hôm 7-3-1966. Ngày ấy tôi là phóng viên báo Phòng không - Không quân, vì để giữ bí mật quân sự nên chỉ được chụp ảnh làm tài liệu lịch sử, không được viết bài tuyên truyền trên báo. Rồi sau đó hai năm, tôi bất ngờ được tin cả tổ bay của Tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn đã anh dũng hy sinh. Đó là đêm 12/1/1968, các anh đã tham gia trận tập kích tiêu diệt hoàn toàn căn cứ ra-đa của địch tại điểm cao Pa Thí trên đất Lào - một trạm dẫn đường lợi hại của không quân Mỹ vào đánh phá miền Bẳc nước ta và hy sinh. Tôi không còn được gặp lại tổ bay 670, mà chỉ có thể tưởng nhớ tới các anh mỗi khi về thăm Bảo tàng quân chủng, xúc động ngắm tấm ảnh tổ bay được phóng to treo trên tường với dòng chú thích: "Có gì đánh nấy - Ta cải tiến máy bay vận tải An-2, lắp rốc-két, ban đêm bay ra biển tiêu diệt tàu biệt kích Mỹ" ...


Tình cờ một buổi tối cuối tháng 3 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS I lồ Chí Minh, tôi được mời dự buổi giao lưu giữa chi hội Cựu chiến binh (CCB) với chi đoàn Thanh niên tổ 12A, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân (Hà Nội). Trong đêm giao lưu ấy, ban tổ chức giới thiệu một hội viên CCB, nguyên trung tá không quân đã từng cùng tổ bay đánh chìm tàu biệt kích Mỹ lên kể chuyện. Tôi sửng sốt nhìn đồng chí cựu chiến binh bước lên diễn đàn và nhận ngay ra anh Linh - anh Loan Thể Linh, người dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, là thợ máy trên không của tổ bay 670 tôi đã chụp ảnh năm xưa. Thì ra trận đánh điểm cao Pa Thí năm 1968 anh được phân công nhiệm vụ khác, không tham dự. Giờ đây anh đã ở tuổi 70 nhưng vẫn rất khoẻ và còn sôi nổi lắm. Câu chuyện anh kể với thanh niên chỉ kéo dài 20 phút, đã gợi cho tôi nhớ lại một sự kiện hơn 40 năm về trước mà báo chí chưa nói hết!...


Từ năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta. Chúng dùng cả tàu biệt kích quấy phá một số tỉnh ven biển như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh... và ngang nhiên bắt cả ngư dân ta đang đánh cá trên biển. Đêm đêm, tàu biệt kích Mỹ thường áp sát gần bờ biển ngang nhiên bắn đạn pháo vào đất liền, hoặc ban truyền đơn vào gây chiến tranh tâm lý.


Bộ đội hải quân, pháo bờ biển của ta đã đánh trả quyết liệt, nhưng chưa diệt được chúng. Trên chủ trương cho cải tiến loại máy bay vận tải có tốc độ chậm, để phối hợp đánh tàu biệt kích Mỹ ngay từ ngoài biển khơi. Đoàn không quân vận tải Hồng Hà được giao nhiệm vụ cải tiến máy bay An-2 là loại máy bay vận tải nhỏ hai tầng cánh, vừa có tốc độ chậm, vừa có khả năng bay thấp để thực hiện nhiệm vụ này. Các đồng chí kỹ sư Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Long và các cán bộ, chiến sĩ quân giới của trung đoàn nhanh chóng cải tiến, lắp ráp trang bị cho mỗi chiếc An-2 có hai thùng đạn rốc-két 32 quả và một giàn đạn cối 12 quả, biến loại máy bay "bà già lắm cánh nhiều càng" này thành máy bay chiến đấu thật sự.


Tổ bay Phan Như Cẩn là một trong những tổ bay An-2 được giao nhiệm vụ huấn luyện làm chủ kỹ thuật, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Các anh đã trải qua ba tháng tập thực hành bay đêm, lấy ô tô trên đường số 5 và tàu, thuyền chạy đêm trên sông Hồng làm mục tiêu giả định để tập ngắm bắn...


Đầu tháng 3 năm 1966, các tổ bay An-2 bẳt đầu nhận nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Một sở chỉ huy dã chiến cũng được thành lập, đặt tại huyện Quảng Xương, Thanh Hoá, chuyên chỉ huy bay đánh tàu biệt kích Mỹ. 23 giờ đêm 7 tháng 3 năm 1966, rađa biển của Hải quân ta phát hiện mục tiêu, thông báo có 3 tàu biệt kích Mỹ từ ngoài khơi sắp áp sát bờ vùng biển Sầm Sơn. Bảy phút sau, tổ bay 670 cất cánh rồi vòng rộng về phía nam để bám đuôi tàu địch, ngược với ánh trăng cho dễ phát hiện. Còn cách địch khoảng 4km, cả tổ bay đều nhận thấy 3 vệt sáng mờ dưới đầu mút cánh bên phải rồi lại biến mất. Bốn cặp mắt của bốn anh em đều căng ra tìm kiểm trên mặt biển mênh mông, mờ mịt dưới ánh trăng. Linh bỗng nhìn thấy sóng biển chồm lên sủi bọt trắng, anh liếc sang phía đồng hồ đo độ cao đang chỉ ở con số 50m, vội hô lớn:

- Chú ý độ cao!

Mải tìm địch, Cẩn đã cho máy bay xuống quá thấp, nghe Linh nhắc, anh vội kéo lên độ cao 200m. Lần này, Sở chỉ huy đưa máy bay của Cẩn bắt lại mục tiêu với góc kẹp hẹp hơn lần trước. Chưa đầy một phút sau, tiếng Cẩn đã vang lên trong buồng lái:

- Đã thấy mục tiêu, 670 xin công kích!

Chiếc tàu địch chạy sau cùng mỗi lúc một rõ, Linh nhìn thấy cả lớp sóng cuồn cuộn của chân vịt, sáng trắng như ánh sáng lân tinh. Có tiếng Têu nhắc Cẩn:

- Bổ nhào đi, gần lắm rồi!

Cẩn chỉ khẽ gật đầu, anh chờ khi khoảng cách ứng với góc bắn mới đẩy vòng lái bổ nhào. Mặt biển như dâng lên vùn vụt. Trước mắt Linh, con tàu hiện lên càng lớn, anh nhìn rõ cả chiếc cột chữ thập màu đen. Cẩn đã xiết cò, phóng rốc-két. Hai vệt lửa dài xanh lẹt của 36 quả rốc két lao thẳng xuống, chụp đúng mục tiêu, Cẩn vội kéo mạnh cần lái, chiếc An-2 của họ vọt lên, vòng đổi hướng với độ nghiêng rất lớn. Phía dưới cánh bay, tàu địch đang bốc cháy, lửa phụt lên rất cao. Hai chiếc tàu chạy trước vội dạt ra, bật đèn sáng rực và nổ súng phản ứng. Một mảnh đạn địch đã đập vỡ khoang kính buồng lái, một mảnh kính văng vào trán Phan Như Cẩn.


Lái chính đã bị thương, anh vẫn bình tĩnh nắm chắc vòng lái. Lúc này, với tốc độ bay trên 180km/giờ, gió biển tạt qua ô kính vỡ vào buồng lái của họ còn mạnh hơn bão. Tình huống không thể tiếp tục bay về sân bay hạ cánh, tổ bay xin được hạ cánh bắt buộc xuống bãi cát ven biển. Tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn vừa động viên anh em, vừa cố sức kéo vòng lượn lấy mép nước biển sáng loáng làm chuẩn. Họ đã hạ cánh an toàn giữa ban đêm xuống một bãi cát thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá...


Nghe CCB Loan Thể Linh kể, không chỉ chi đoàn thanh niên mà cả các CCB chi hội 12A đều như lẳng xuống, chăm chú nghe như nuốt từng lời. Một câu chuyện ngẳn, cũng là bài học thực tế, sinh động của những chiến sĩ Không quân nhân dân Việt Nam trẻ tuổi, tài hoa và quả cảm trong kháng chiến chống Mỹ. Tôi còn biết thêm sau trận thắng đầu tiên ấy, tổ bay bốn người của tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn còn đánh thắng trận thứ hai, họ đã bắn chìm thêm chiếc tàu biệt kích Mỹ nữa tại vùng biển Hòn Mê, Thanh Hóa.


Giờ đây, tổ bay chỉ còn lại một mình bác Loan Thế Linh. Họ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng và dân tộc. Mỗi người trong tổ bay đều được tặng thưởng huân chương Chiến công. Riêng tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn, người con trai huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:11:54 pm
NHỮNG THÁNG NĂM CÔNG TÁC Ở
CỤC CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦNG


Trần Xuân Vinh


Đầu năm 1970, tôi được cấp trên cho đi học lớp bổ túc cán bộ chính trị trung cao cấp tại Học viện Chính trị, cùng với các đồng chí Trần Quốc Hanh, Hoàng Đạm, Phạm Duy Kích... trong thời gian 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1970). Học xong, tôi lại trở về đơn vị cũ là Sư đoàn Phòng không 367 với cương vị Chủ nhiệm chính trị trung đoàn 280.


Mùa khô năm 1971, ta mở chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Nhiệm vụ của trung đoàn 280 là bảo vệ hậu phương chiến dịch. Lúc này địch đã dùng nhiều tốp máy bay đánh phá các kho tàng, các trọng điểm giao thông huyết mạch, trong đó có phà A và phà B - Xuân Sơn rất ác liệt. Trong một trận chiến đấu để bảo vệ bến phà, Đại đội 7, Tiểu đoàn 103 bị tổn thất nặng, do bị địch ném bom vào trận địa. Tôi được Thường vụ Đảng uỷ trung đoàn phân công trực tiếp xuống động viên, giúp đỡ Đại đội 7 củng cố, giải quyết những tổn thất do dịch gây ra. Sau khi hoàn thành công việc, về đến Ban Chính trị tôi lại nhận được lệnh của Quân chủng: Ngày 28 tháng 3 năm 1971 phải có mặt tại Học viện Chính trị ở xã Tiền Phong để học tập. Khi nhận được điện, đồng chí Nguyễn Nghị, Chính uỷ trung đoàn nói: "Đồng chí chủ nhiệm mới đi học về được mấy tháng, nay trên lại cho đi học tiếp, không hiểu học gì?" Đối với tôi, đã trải qua 12 năm liên tục công tác, chiến đấu ở cấp trung đoàn, kể từ ngày thành lập (1959 - 1971), nay phải xa đơn vị nên rất nhớ đồng chí, đồng đội. Không biết sau khi học xong có được trở lại trung đoàn nữa hay không? Để chấp hành nghiêm chỉ thị của trên, tôi khẩn trương lên đường ra Học viện đúng thời gian quy định.


Đến nơi tôi mới biết: Tổng Cục Chính trị mở lớp bồi dưỡng các trưởng, phó Phòng, Ban cán bộ trong toàn quân. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân được cử đi 6 người, trong đó có anh Phạm Liêm là Phó phòng và các đồng chí đang giữ chức Trưởng ban cán bộ ở các sư đoàn và nhà trường, như đồng chí Võ Triên ở Sư đoàn 361, Nguyễn Ngà - Sư đoàn 363, Lê Huệ ở binh chủng ra-đa và đồng chí Nguyễn Chuyên ở trường Sĩ quan Phòng không. Còn tôi, chưa một ngày làm nghiệp vụ công tác cán bộ. Tuy vậy, cũng cố gắng học hỏi về kinh nghiệm thực tế của các đồng chí đã làm, kết hợp với lý luận, nguyên tắc đã được học. Qua bốn tháng học tập với kết quả bước đầu đạt được, tôi được anh Phạm Liêm đề nghị giữ lại công tác ở Phòng Cán bộ, tiếp đó được cử đi học lớp trợ lý kế hoạch cán bộ cấp quân khu, quân chủng, binh chủng do Cục Cán bộ tổ chức tại xã Thịnh Liệt - huyện Thanh Trì, Hà Nội.


Sau khi học tập về, tôi được giao nhiệm vụ làm trợ lý kế hoạch của Phòng cán bộ. Lúc đầu còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, nhưng được sự giúp đỡ, hướng dẫn của trưởng, phó phòng, trong đó có anh Nguyễn Khắc Chuẩn đã làm công tác kế hoạch cán bộ lâu năm, có kinh nghiệm, đã giúp tôi học hỏi được nhiều.


Cứ mỗi lần xuống làm việc với Ban cán bộ Sư đoàn Không quân 371, tôi thường nói với anh Thân Đức Đệ là trưởng ban: "Đối với Binh chủng Không quân, tôi chưa hiểu biết nhiều, đề nghị anh giúp về đặc điểm, tính năng, tác dụng của các loại khí tài như "khí tài ba trạm", "dạ hàng"...


Đầu năm 1972, theo nhận định của trên, đế quốc Mỹ sẽ liều lĩnh đưa máy bay B-52 ra ném bom miền Bắc, trong đó có Thủ đô Hà Nội và một số thành phố khác. Sở chỉ huy và các cơ quan quân chủng được chuyến vào xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (cũ). Trong lúc toàn quân chủng, đang tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao, thì được lệnh cùa Bộ Quốc phòng giao cho quân chủng tổ chức ngay hai trung đoàn, lấy phiên hiệu là 276, 277 để sang Liên Xô (cũ) sử dụng tên lửa mới "PETRORA-M loại 4 cần", thời gian rất gấp. Cả hai trung đoàn phải có mặt ở Bai-can vào ngày đã định Phòng Cán bộ đã khẩn trương lập kế hoạch điều động cán bộ theo sự chỉ dạo của Cục Chính trị và chỉ thị của Thường vụ Dảng uỷ, bố trí đủ cán bộ từ trung đội trưởng, các trưởng xe, sĩ quan điều khiển cho đến trung đoàn trưởng và chính ủy theo biên chế. Số cán bộ này lấy ở các sư đoàn Phòng không và các cơ quan quân chủng. Đối với Sư đoàn Phòng không 361, do lực lượng đông, số cán bộ phải điều động tới gần 100 người.


Có một điều rất thú vị, khi tôi xuống trực tiếp làm việc với đồng chí Võ Triên - Trưởng Ban Cán bộ về kế hoạch điều cán bộ tỏ ra lo lắng về số cán bộ rút đi nhiều, sợ đồng chí Trần Quang Hùng - Tư lệnh sư đoàn - không đồng ý. Lúc đó tôi nói: "Nếu đồng chí ngại báo cáo với Tư lệnh thì đưa tôi lên gặp Tư lệnh". Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình rút số cán bộ của sư đoàn để thành lập hai trung đoàn tên lửa sang Liên Xô chuyển binh chủng gấp, tôi thấy trên nét mặt của Tư lệnh sư đoàn nở nụ cười, vui vẻ nói: "Tôi chỉ sợ quân chủng rút "một thiên", chứ "một bách" thì sư đoàn sẵn sàng cung cấp đủ số cán bộ theo kế hoạch trên đã điều". Rồi đồng chí giao cho trưởng Ban Cán bộ tổ chức thực hiện ngay. Trở lại Ban Cán bộ tiếp tục làm việc để xem phương án điều động cán bộ của sư đoàn, lúc đó đồng chí Võ Triên mới nói với tôi: "Hôm nay không có anh xuống trực tiếp gặp đồng chí Tư lệnh sư đoàn xin ý kiến, mà để một mình tôi lên báo cáo, tôi chỉ sợ đồng chí ấy "quạt" cho thì chết". Tôi vội nói đùa: "Được Tư lệnh quạt cho thì mát chứ sao". Lúc đó, cả hai chúng tôi cùng cười vui vẻ.


Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Sở chỉ huy và các cơ quan quân chủng lại chuyển về vị trí cũ ở Bạch Mai. Tháng 3 năm 1973, tôi được Phòng Cán bộ và Cục Chính trị đề nghị lên Thường vụ Đảng uỷ quân chủng quyết định đưa tôi đi làm trưởng Ban Cán bộ ở một sư đoàn. Ý định của Phòng và Cục định đưa tôi về Sư đoàn 365 (sư đoàn cơ động). Nhưng đồng chí Phó chính uỷ quân chủng Nguyễn Xuân Mậu, trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ không đồng ý, lý do là tôi đã qua 12 năm làm nhiệm vụ chiến đấu trên các địa bàn từ Quân khu IV, đến đường 20 Quyết Thắng trong điều kiện gian khổ ác liệt, sức khỏe không bảo đảm. Sau khi đồng chí Hà Văn Khoa - Phó phòng lên gặp đồng chí Mậu về, nói lại với anh em trong phòng ý kiến của đồng chí Phó chính uỷ quân chủng là: "Nếu các anh không có phương án nào khác, tôi sẽ báo cáo Thường vụ Đảng uỷ quyết định đưa đồng chí Vinh về làm Trưởng Ban Cán bộ Sư đoàn Phòng không 363, là đơn vị bảo vệ yếu địa, đóng quân ở Hải Phòng, gần biển, khí hậu mát mẻ có lợi cho sức khoẻ, và điều đồng chí Nguyễn Liệu về làm Trưởng Ban Cán bộ trường Sỹ quan Phòng không".


Tháng 4 năm 1973, tôi được bổ nhiệm chính thức làm Trưởng Ban cán bộ Sư đoàn Phòng không 363, cho đến tháng 9 - 1976, được điều về Cục Chính trị, ở bộ phận tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tôi được phân công tổng kết về công tác cán bộ. Trong bộ phận tổng kết có các đồng chí: Trần Nhiệm, Lê Thoan, Nguyễn Ngọc Tất, Giang Văn Yên, Trương Cam, Kiều Lộc...


Năm 1977, theo quyết định của trên, tách Quân chủng PK-KQ thành hai quân chủng: Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân. Đến quý III năm 1977, khi công tác tổng kết gần kết thúc, chỉ còn chờ thông qua Cục Chính trị, tôi và đồng chí Kiêu Lộc được Tư lệnh Hoàng Văn Khánh và Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu gọi lên giao nhiệm vụ: Đồng chí Kiều Lộc giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn phòng không 361; còn tôi giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 375 đóng quân ở Đà Nẵng. Sau đó sáp nhập với Sư đoàn Phòng không 365, lấy phiên hiệu là Sư đoàn 365. Lực lượng của sư đoàn lúc đó có 4 trung đoàn, gồm: Trung đoàn 224 đóng ở kho An Đồn, Trung đoàn 267 ở gần Sư đoàn bộ (Phước Tường), Trung đoàn 275 ở Cam Phúc - Cam Ranh, Trung đoàn 228 ở Nha Trang - Khánh Hòa. Lúc giao nhiệm vụ cho tôi, đồng chí Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu dặn: "Khi về sư đoàn phải cùng với anh em trong Phòng Chính trị, giúp Chính ủy, Đảng ủy sư đoàn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cho tốt, vì đó là khâu quyết định


Năm 1978, để chuẩn bị đối phó với tình hình ở biên giới phía Bắc, lúc này, trên lại quyết định tách Sư đoàn 365 thành hai Sư đoàn 375 và Sư đoàn 365 như cũ. Tháng 10/1978, Sư đoàn 365 được lệnh hành quân ra Hà Bắc, đóng quân trên địa bàn huyện Lạng Giang. Tháng 8 năm 1978, tôi nhận được quyết định của Quân chủng do Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu ký điều động tôi về làm Phó phòng cán bộ. Lúc đó, sư đoàn chưa có chủ nhiệm chính trị, mà chỉ có hai Phó chủ nhiệm thì đồng chí Nguyễn Đình Huyền được cử đi học bổ túc ở Học viện Chính trị, chỉ còn một mình tôi, đang phải tập trung vào công việc chia tách thành hai Phòng chính trị, mặt khác chưa có cán bộ vào thay. Đến tháng 9 năm 1978, lại có quyết định của Bộ Quốc phòng bổ nhiệm tôi giữ chức Trưởng phòng cán bộ Quân chủng Phòng không, do đồng chí Thứ trưởng Đặng Vũ Hiệp ký. Sau khi có quyết định, đến tháng 10 năm 1978, tôi mới về Cục Chính trị nhận nhiệm vụ mới. Vì lúc đó, cấp trên mới điều đồng chí Chuyên - Chính uỷ Trung đoàn 212 - vào thay. Trên đường từ Đà Nẵng ra, gặp phải ba cơn bão, phải nằm lại ở phía nam phà Bến Thuỷ mất gần một tuần mới sang được phía bờ bắc. Ra đến Thanh Hoá lại gặp cơn bão tiếp theo; đến Ninh Bình thì cầu phao ở bến phà Gián Khuất bị trôi, đành phải quay xe đi theo đường Nam Định. Khi về đến Cục Chính trị, xe đã hết xăng. Tôi báo cáo với anh Phạm Liêm - Phó chủ nhiệm - xin Cục hai mươi lít xăng để đi lên Hà Bắc, bàn giao công việc và chia tay với các anh lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn, các cơ quan và anh em trong Phòng chính trị để đi nhận nhiệm vụ theo quyết định của trên.


Về đến Cục Chính trị được nghỉ ngơi ba hôm, Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lại gọi anh Nguyễn Khắc Chuẩn và tôi sang gặp, chỉ thị cho tôi và anh Chuẩn trong việc bàn giao công việc. Đồng chí Mậu nói: "Anh Chuẩn là Trưởng phòng Cán bộ, nay sẽ về giữ chức Phó Chính uỷ Sư đoàn Phòng không 361. Đồng chí Vinh cũng đã có quyết định bổ nhiệm giữ chức Trưởng phòng Cán bộ thay anh Chuẩn. Tôi giao cho hai anh trong thời hạn một tháng phải làm xong việc trao đổi và bàn giao công việc để đi vào chức trách, nhiệm vụ". Bản thân tôi, tuy đã được Chính uỷ quân chủng động viên nhưng trong tâm tư rất lo lắng. Tuy trước đây đã từng làm trợ lý kế hoạch cán bộ, nhưng đã cách xa sáu, bảy năm. Đội ngũ cán bộ trong quân chủng đến nay đã có nhiều biến động. Nhưng được sự giúp đỡ tận tình của các anh Phạm Liêm, anh Chuẩn và các đồng chí trong phòng, công tác cán bộ vẫn duy trì được nền nếp. Cuối năm 1978, tôi và đồng chí Thái Hồng Giang - trợ lý kế hoạch, đi họp trên Cục Cán bộ, để nghe phổ biến về kế hoạch công tác cán bộ năm 1979. Khi kết luận hội nghị, đồng chí Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ nói: "Với lực lượng Phòng không, sang năm 1979 chưa có gì biến động và phát triển lớn". Sau khi đi họp về, tôi báo cáo trực tiếp lại với thủ trưởng Cục Chính trị và Chính uỷ quân chủng biết về kế hoạch của trên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:12:32 pm
Tình hình chuyển biến rất nhanh. Khi tôi và anh em trong phòng đang làm kế hoạch cán bộ năm 1979, thì Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu cho gọi tôi lên gặp ngay. Tôi vừa vào đến phòng làm việc, đồng chí nói luôn: "Mới cách đây mấy hôm, đồng chí đi họp về có báo cáo với tôi là lực lượng Quân chủng không có gì biến động và phát triển. Nhưng theo điện sáng nay của anh Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ, thì quân chủng Phòng không phải tổ chức xong một khung cán bộ có đủ lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn và sư đoàn bộ lấy phiên hiệu là Sư đoàn Phòng không 380. Đồng chí về bàn với anh em, có kế hoạch điều động, sắp xếp ngay. Đến sáng ngày mai, sang báo cáo với tôi về phương án sắp xếp cán bộ, để tôi bảo cáo với Thường vụ Đảng uỷ quyết định".


Về đến phòng, sau khi nghe tôi phổ biển chỉ thị của Chính uỷ quân chủng, tôi cùng với anh Nguyễn Hoà - Phó phòng, làm việc với bộ phận kế hoạch và nhân sự, khẩn trương bắt tay vào công việc để kịp sáng hôm sau, có đầy đủ phương án báo cáo. Có thể nói cả một đêm thức trắng để làm việc, tuy vất vả, mệt nhọc, chỉ có lương khô 701 và nước chè "bồi dưỡng" làm việc ban đêm nhưng anh em vẫn vui vẻ. Sau khi phương án bổ nhiệm được Cục Chính trị duyệt và Thường vụ Đảng uỷ quân chủng thông qua, cán bộ được tập trung tại địa điểm Phòng Kỹ thuật Sư đoàn 363 ở ngã tư An Dương - thành phố Hải Phòng lại được lệnh của Bộ Quốc phòng không tổ chức Sư đoàn 380 nữa. Lúc này một số lớn cán bộ đã được bổ nhiệm lên chức vụ mới, bây giờ giải thể sư đoàn, không biết sẽ đưa số cán bộ này đi đâu? Phòng Cán bộ mạnh dạn báo cáo với Cục Chính trị, đề nghị Thường vụ Đảng uỷ quân chủng quyết định đưa số này về Trường Sĩ quan Phòng không để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và để chủ động đối phó với cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc xảy ra. Chỉ sau một thời gian ngấn, theo chỉ thị của trên, lực lượng của quân chủng đã phát triển thêm 2 sư đoàn và 1 lữ đoàn. Tính từ khi tách Quân chủng Phòng không - Không quân thành hai quân chủng, lực lượng phòng không từ 4 sư đoàn đã phát triển thành 7 sư đoàn và 1 lữ doàn, tăng gần gấp đôi, đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quân chủng trong tình hình mới. Mặt khác còn xây dựng được quy hoạch cán bộ dài hạn từ 15 năm đến 20 năm (1979 - 1995). Quy hoạch này cũng đã được Cục Chính trị duyệt và Đảng uỷ quân chủng thông qua. Tôi có vinh dự được đi tháp tùng Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lên Tổng Cục Chính trị thông qua quy hoạch với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đặng Vũ Hiệp.


Năm 1980, thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội, Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu có quyết định của trên điều lên Tổng Cục Chính trị, giữ chức Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Trước khi dời quân chủng, đồng chí gặp đồng chí Đinh Phúc Hải, lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng, có cả tôi và đồng chí Nguyễn Hoà - Phó phòng tại nhà làm việc của Chủ nhiệm chính trị. Chính uỷ đã tâm sự với trách nhiệm của một cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong quân chủng được phân công chỉ đạo công tác cán bộ. Đồng chí nói: "Sắp tới cấp trên sẽ có quyết định bổ nhiệm đồng chí Đinh Phúc Hải giữ chức Phó Tư lệnh về Chính trị, cũng sẽ trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ. Vấn đề này rất khó, bản thân tôi đã nghĩ đến bạc đầu. Tuổi đồng chí Hải đã cao, chỉ nên ở cương vị Phó tư lệnh chính trị vài ba năm, sau này có Học viện Phòng không (theo quy hoạch), đồng chí sẽ về Học viện để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cho quân chủng. Đồng chí Vinh - Trưởng phòng, tới đây nên đi học lớp chuyển binh chủng về tên lửa mới (Volga và PETRORA-M) do chuyên gia Liên Xô sang giảng dạy ở Lữ đoàn 378 tại Cam Ranh, nắm thêm loại khí tài mới, để làm tốt công tác cán bộ. Sau khi học xong sẽ xuống làm phó Sư đoàn về chính trị một thời gian, sau đó trở về làm tiếp Trưởng phòng cán bộ, cho đến tuổi nghỉ hưu. Đây là ý kiến cá nhân đã trải qua kinh nghiệm thực tế, tôi thực lòng muốn trao đổi với các đồng chí. Còn sau này có thực hiện được hay không, là do tập thể lãnh đạo và chỉ đạo của quân chủng''. Tiếp lời tâm sự của đồng chí Mậu, đồng chí Hải nói: "Qua ý kiến của anh, chúng tôi nhận thay rất quý báu. Đây là những kinh nghiệm và bài học thực tế đối với những người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ trong một quân chủng kỹ thuật. Theo cá nhân tôi, đối với đồng chí Vinh trước đây đã từng giữ quyền Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 365, cũng đã trực tiếp chỉ đạo công tác Đàng, công tác chính trị cắp sư đoàn, nên có cần thiết sau khi học xong xuống làm phó sư đoàn trưởng về chính trị nữa không?". Lúc ấy, đồng chí Mậu nói luôn: "Cái đó sau này tuỳ các anh quyết định".


Tháng 3 năm 1981, tôi và các đồng chí khác, như La Văn Sàng, Thái Duy Trinh... lên đường vào Lữ đoàn 378 đế học hai loại khí tài tên lửa mới. Theo chương trình học tập là 12 tháng, nhưng tôi mới học được 7 tháng, lại nhận được điện của quân chủng gọi ra để chỉ đạo việc nghiên cứu biên soạn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ cho các cơ quan và nhà trường trong quân chủng, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị. Sau thời gian tôi đi học, Quân chủng đã đề nghị Bộ Quốc phòng quyết định điều đồng chí Đào Tiến - Phó Cục trưởng Cục Chính trị, thay tôi làm Trưởng Phòng Cán bộ. Đến cuối năm 1982, theo chỉ thị của trên thành lập lại Phòng Chính sách trực thuộc Tư lệnh, lúc đó tôi lại có quyết định điều động giữ chức vụ Trưởng phòng Chính sách. Đến cuối năm 1983, tôi được cử đi tập huấn ở trên Bộ về thực hiện cơ chế mới theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị và được trên quyết định giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 365, cho đến khi chuyển sang cơ chế 27. Sau đó, tôi được Tổng Cục Chính trị tạm thời điều lên Cục Cán bộ chính trị để nghiên cứu biên soạn, xây dựng chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ chính trị trong quân đội. Đến cuối tháng 4 năm 1986, đồng chí Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ, báo cho tôi biết là chiều nay ăn bữa cơm thân mật với Cục, để chia tay tôi trở về quân chủng nhận nhiệm vụ mới. Trên đường về quân chủng, tôi nghe tin đồng chí Đinh Đình Sành - Thiếu tướng, Phó Tư lệnh, Cục trưởng Cục Phòng không Lục quân đang điều trị tại Quân y viện 108, nên ghé vào thăm. Khi thấy tôi đến, đồng chí Sành nói ngay: "Cậu đã có quyết định của Bộ Quốc phòng, bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng về Chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị Cục Hậu cần", về đến Cục Chính trị, được đồng chí Hoà - Phó phòng Cán bộ, báo cho tôi biết về ngày giờ Bộ Tư lệnh gặp để giao nhiệm vụ. Nhưng sau đó có vấn đề trục trặc, nên tôi chủ động đề nghị không thực hiện quyết định ấy nữa.


Tháng 6 năm 1986, Đại hội Đảng bộ Quân chủng Phòng không lần thứ nhất. Khi Đảng uỷ nhiệm kỳ mới tiến hành họp phiên đầu tiên, bầu Ban thường vụ và Ủy ban kiểm tra, tôi được bầu làm uỷ viên Ủy ban kiểm tra cùng với bốn đồng chí khác. Sau đó được Thường vụ Đảng uỷ quân chủng đề nghị lên Tổng cục Chính trị bổ nhiệm tôi làm Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra chuyên trách cho đến tháng 9 năm 1990, được trên quyết định cho nghỉ hưu.


Trải qua gần hai mươi năm (1971 - 1990), tuy không liên tục, bốn lần đi về, trên bốn cương vị công tác khác nhau; được sống, làm việc ở Cục Chính trị Quân chủng PK- KQ, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, nhưng được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ và sự chỉ đạo của thủ trưởng Cục Chính trị, cùng với sự tận tình giúp đỡ của đồng chí, đồng đội trong cơ quan, tôi đã ngày càng trưởng thành. Nay đã 19 năm về với đời thường, nhưng biết bao kỷ niệm đẹp đã in sâu trong ký ức, tôi không bao giờ quên được.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:15:12 pm
CHÚNG TÔI CHUẨN BỊ RA SỐ BÁO ĐẦU TIÊN


Xuân Mai


Đầu năm 1965, tôi là thư ký Toà soạn tờ Tập san phòng không. Tập san được coi như diễn đàn về công tác Đảng, công tác chính trị, là phương tiện trao đổi, phổ biến kinh nghiệm trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân. Tập san ra định kỳ mỗi tháng một lần, chỉ phát hành đến cán bộ trung, cao cấp trong quân chủng, số đầu tiên ra tháng 4 năm 1964.


Nhưng từ tháng 2 năm 1965, do thất bại nặng trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đưa cuộc chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ra miền Bắc. Chỉ tính từ ngày 7 tháng 2 đến 26 tháng 3 năm 1965, những cuộc tập kích dồn dập của không quân Mỹ từng bước "leo thang" từ Vĩnh Linh đển Quảng Bình, Hà Tĩnh... Các đơn vị Quân chủng Phòng không - Không quân đã cùng quân và dân các địa phương trên đánh trả quyết liệt , bắn rơi gần 100 máy bay Mỹ, bắt sống giặc Mỹ lái máy bay. Miền Bắc đã thực sự bước vào thời chiến. Bộ đội pháo cao xạ, ra - đa thường xuyên phải cơ động chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị luôn luôn sẵn sàng trên trận địa suốt ngày đêm... Trước tình hình đó, tờ Tập san không thể đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, cổ động kịp thời trong chiến đấu được.


Ngày 27 tháng 3 năm 1965, tôi và các anh Trần Duy Hợi, Nguyễn Ngọc Thục trong Ban biên tập Tập san Phòng không và anh Đỗ Văn Dân, nhà văn ở tổ Câu lạc bộ được anh Trần Thái Vĩnh - Trưởng phòng Tuyên huấn gọi đến giao nhiệm vụ. Anh Thái Vĩnh nhắc đến sự kiện máy bay Mỹ ném bom trận địa ra - đa Đại đội 13, Trung đoàn 290 ở Rú Nài, thị xã Hà Tĩnh chiều 26 tháng 3. Hôm đó do ta chủ động di chuyển trận địa sớm, nên người và khí tài đều an toàn. Nay tương kế tựu kế, ta dựng một dàn ăng - ten ra - đa giả trên đồi Rú Nài, coi như máy ra-đa vẫn hoạt động để nhử địch, tổ chức một trận phục kích bắn máy bay Mỹ ở đó. Anh Thái Vĩnh nhấn mạnh:

- Tình hình nhiệm vụ chiến đấu của quân chủng đang rất khẩn trương. Yêu cầu công tác tuyên truyền chiến đấu phải nhanh và kịp thời, mà tờ Tập san ra hằng tháng không còn phù hợp nữa. Thủ trưởng Cục Chính trị đã có chủ trương xin chuyển tờ Tập san ra hằng tháng thành tờ báo ra hằng tuần, phát hành rộng rãi đến chiến sĩ toàn quân chủng. Nhưng chuyển thế nào, phải có mô hình để báo cáo Thường vụ Đảng uỷ, cho quyết định.


Anh Thái Vĩnh giao cho tôi phụ trách tổ phóng viên gồm các anh nói trên, đi ngay Hà Tĩnh để kịp dự trận phục kích bắn máy bay Mỹ bên đồi Rú Nài. Nhiệm vụ của chúng tôi phải có mặt trên các trận địa, bám sát bộ đội trong chiến đấu, thu thập tư liệu, chụp ảnh, về tổ chức ra ngay một phụ trương của Tập san tháng 4 như một tờ báo ra hằng tuần, làm mô hình báo cáo Thường vụ Đảng uỷ và phát hành rộng rãi trong quân chủng để lấy ý kiến quần chúng.


Ngay tối hôm đó, chúng tôi đã ba lô trên vai, khẩn trương ra ga mua vé tàu. Nhưng vì thời chiến, tàu xe đi rất chậm. Tàu hoả chỉ chạy đến Vinh. Từ đó vào Hà Tĩnh phải đi xe khách, qua phà Bến Thủy mỗi ngày chỉ có một chuyến vào sáng sớm.


Khi chúng tôi đến được thị xã Hà Tĩnh, đã gần 10 giờ ngày 29 tháng 3. Đến nhà khách của Tỉnh uỷ, chúng tôi gặp tới vài chục phóng viên các báo đã đến đây ngay sau trận chiến đấu ngày 26 tháng 3.

Lực lượng chiến đấu ở thị xã Hà Tĩnh lúc đó có Tiểu đoàn 8 gồm 2 đại đội pháo cao xạ 37 ly mà chiến sĩ đều là học viên trường Sĩ quan Phòng không sắp tốt nghiệp. Tỉnh đội Hà Tĩnh có Đại đội 27 pháo cao xạ 37 ly. Trung đoàn ra-đa 290 có trung đội súng máy 14 ly 5 bốn nòng và hai nòng. Dân quân, tự vệ thị xã Hà Tĩnh cũng có trên 10 tổ bắn máy bay bằng súng 12 ly 7, súng trung liên, súng trường... Tất cả đều bố trí thành đội hình nhằm mục tiêu chính bảo vệ trận địa giả trên đồi Rú Nài.


Chúng tôi đến Sở chỉ huy Tiểu đoàn 8, trường Sĩ quan Phòng không. Anh Lê Đình Truy, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng từ Hà Nội cũng vừa vào. Anh cho biết chuyến đi của chúng tôi chuẩn bị ra số báo thí điểm, đã được Cục Chính trị báo cáo Bộ Tư lệnh quân chủng. Anh động viên chúng tôi hãy dũng cảm như một chiến đấu viên, cố gắng thu thập tình hình, chụp được nhiều ảnh chiến đấu, phát hiện được nhiều gương điển hình chiến đấu. Ket quả chuyến đi của chúng tôi được coi như kết quả của một trận đánh.


Chính trị viên Tiểu đoàn 8 Đỗ Văn Dĩnh cung cấp cho chúng tôi tình hình tiểu đoàn vừa hành quân vừa chiến đấu từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh; phương án tác chiến và đội hình chiến đấu của tiểu đoàn trong trận phục kích bắn máy bay Mỹ.


Tối 30 tháng 3, chúng tôi toả xuống các trận địa. Tôi và anh Văn Dân xuống Đại đội 83 ở vị trí "ôm lấy mục tiêu mà đánh" ngay sát chân đồi Rú Nài, chỉ cách trận địa giả chừng 200m. Anh Trần Duy Hợi xuống Đại đội 32 ở phía tây. Anh Nguyễn Ngọc Thục xuống Đại đội 27 của Tỉnh đội Hà Tĩnh ở hướng đông - bắc. Các trận địa chỉ cách xa nhau chừng trên 1000m. Ở Đại đội 83, tôi tranh thủ nắm kỹ về trận chiến đấu trên đường hành quân chiều 22 tháng 3, chính trị viên đại đội Ngô Văn Phán chỉ huy hai khẩu đội hành quân sau, đã bắn rơi 1 máy bay F8 trên đỉnh Đèo Ngang. Tôi tranh thủ phỏng vấn, chụp ảnh một số gương điển hình chiến đấu của đại đội trong trận chiều 26 tháng 3 ở thị xã Hà Tĩnh.


Sáng 31 tháng 3, khi trời còn mù sương, tôi và anh Văn Dân cùng nhau lên quan sát cảnh trận địa Rú Nài vừa bị không quân Mỹ tập kích. Rú Nài là ngọn đồi nhỏ và thấp, nằm một mình giữa cánh đồng ngoại vi thị xã Hà Tĩnh. Cây cột ăng-ten ra-đa giả vẫn đứng sừng sững giữa đỉnh đồi. Các chiến sĩ tự vệ công nhân thị xã Hà Tĩnh thật khéo tay, đã "chế tạo" dàn ăng-ten ra-đa giả sơn màu cỏ úa giống như thật. Thật đến mức khi chúng tôi đến gần khoảng 30m mới biết đó là "của giả". Thì ra hôm 26 tháng 3, Mỹ chủ yếu ném bom cỡ 25kg một quả. Những lán nghỉ của bộ đội đều bị bom phá nát, cây cối xác xơ. Đó đây còn lăn lóc những quả bom 25kg chưa nổ. Tôi tranh thủ chụp ảnh cây cột ăng-ten ra-đa giả "giống như thật" ấy và vài quả bom 25kg chưa nổ về làm tư liệu.


Khoảng 2 giờ chiều ngày 31 tháng 3, Hà Tĩnh nổi còi báo động. Những chiếc máy bay một động cơ cánh quạt kiểu A.D6 dàn đội hình lần lượt bổ nhào trút bom xuống cây cột ăng-ten ra-đa giả. Những chiếc máy bay phản lực F8 sà xuống rất thấp, vừa để uy hiếp tinh thần, vừa phóng rốc - két bừa bãi. Bom địch nổ ngay sát trận địa Đại đội 83. Đất đá tung lên mù mịt, rơi xuống quanh chúng tôi như mưa rào. Đại đội 83 nổ súng rất đĩnh đạc. Ngay giữa trận đánh, tôi thấy có hàng chục anh, chị dân quân không quản hiểm nguy lao vào trận địa, người lau đạn, người tiếp đạn cho bộ đội bắn. Những tiếng reo "máy bay cháy" của nhân dân gần khu vực trận địa, thỉnh thoảng lại rộn lên...


Đây là lần đầu tiên tôi cầm máy chụp ảnh một trận chiến đấu thực sự. Với chiếc máy ảnh Exa cũ trong tay, lại đứng giữa một khẩu đội pháo đang nổ súng, xung quanh tiếng bom nổ chói óc, tôi không sao xử lý kịp.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:16:15 pm
Khói bom và đất đá bên đồi Rú Nài tạt sang; khói và cát bụi từ các khẩu pháo bắn toả ra, trận địa mù mịt, ống kính máy ảnh nhìn rất khó. Sau tôi phải nhảy ra giữa trận địa mới bấm được vài kiểu pháo đang bắn nhưng không rõ lắm vì khói và bụi. Chỉ có một số kiểu chụp gần cảnh dân quân hiệp đồng chiến đấu, rõ nhất có cô Trần Thanh Xuân, y sĩ bệnh viện tỉnh và chị Lê Thị Thiềng, tự vệ thị xã. Anh Văn Dân ghi chép rất kỹ, sau về viết được bài "Cô y sĩ trên trận địa" cho số báo ra thí điểm.


Trận đánh kết thúc. Trời đã ngả về chiều, nhưng trận địa Đại đội 83 vẫn tấp nập trước hình ảnh đoàn kết gắn bó quân dân. Các bà mẹ già đến từng khẩu đội thăm hỏi, rót nước cho các chiến sĩ uống; các anh, các chị dân quân mang theo những bó giẻ đến tham gia lau pháo, lau đạn với bộ đội. Các em nhỏ ríu rít mang những bó lá xanh đến nguỵ trang cho các khẩu pháo. Các chị mậu dịch viên đẩy xe hàng gồm bánh kẹo, nước ngọt... đến phân phát cho các chiến sỹ. Khi đề nghị được thanh toán tiền, các chị chỉ cười, đáp lại rất vui: " Đây là quà của Tỉnh uỷ uý lạo các anh bộ đội vừa lập công xuất sắc!"...


Loa phát thanh thông báo ngày 31 tháng 3 năm 1965, quân và dân thị xã Hà Tĩnh hạ 12 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 100 bị bắn rơi trên miền Bắc. Cùng lúc đó, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã có mặt trên các trận địa kịp thời động viên, thăm hỏi bộ đội. Ở Đại đội 83, đồng chí Lê Đình Truy, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng cũng đã đến cảm ơn các mẹ, các chiến sĩ dân quân, tự vệ và biểu dương các chiến sỹ chiến đấu dũng cảm, bắn rơi máy bay Mỹ.


Trận chiến đấu ngày 31 tháng 3 chỉ có Đại đội 83 không dính bom đạn địch. Các Đại đội 82, Đại đội 27... đều trúng đạn rốc-két từ máy bay F8 phóng xuống, đều có thương vong. Tổ phóng viên chúng tôi, có anh Nguyễn Ngọc Thục bị thương ở trận địa Đại đội 27. Tối hôm đó chúng tôi vào thăm anh trong bệnh viện, anh kể: Khi anh đang giơ máy ảnh lên chưa kịp chụp cảnh pháo bắn, đã bị ngay một mảnh rốc-két văng vào bả vai.


Anh Ngọc Thục phải nằm viện. Còn lại ba chúng tôi sau khi dự tổng kết rút kinh nghiệm trận đánh ở Tiểu đoàn 8, vội ra xe trở về Hà Nội. Về tới quân chủng đã quá trưa ngày 2 tháng 4. Chúng tôi lên gặp trưởng phòng báo cáo kết quả chuyến đi và dự kiến đề cương tờ phụ trương Tập san. Anh Thái Vĩnh vui vẻ bắt tay khen ngợi chúng tôi, rồi nói ngay:

- Nội dung tờ phụ trương có lẽ phải bổ sung thêm vì hai hôm nay địch trinh sát Hàm Rồng dữ lắm. Rất có thể chúng sắp đánh cầu Hàm Rồng!

Quả nhiên trong hai ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, địch liên tiếp đánh phá ác liệt cầu Hàm Rồng. Các đơn vị pháo cao xạ cùng dân quân, tự vệ hai bên bờ sông Mã và pháo trên tàu Hải quân ta đã đánh trả kịp thời. Đặc biệt trong hai ngày 3 và 4 tháng 4, không quân tiêm kích ta lần đầu ra trận, đã bắn rơi cả F8, A4 và F105 "Thần sấm" Mỹ.


Sáng ngày 6 tháng 4, trưởng phòng Trần Thái Vĩnh nhắc chúng tôi khẩn trương làm ngay tờ phụ trương báo, vì chiến sự đã lan rộng. Kết quả từng trận đánh mới, có thể nắm ngay trong giao ban hằng ngày...

Ba chúng tôi tập trung làm tờ phụ trương theo tinh thần nhanh chóng ra mắt bạn đọc. Anh Trần Thái Vĩnh tuy rất bận, vẫn tranh thủ viết cho bài xã luận "Bình tĩnh, vừng vàng, kiên cường chiến đấu với tư thế người chiến thắng" để in trang nhất. Trên trang nhất chúng tôi làm nổi bật thư khen của Bác Hồ gửi Không quân nhân dân Việt Nam, bên tin chiến sự tổng hợp chiến thắng Hàm Rồng; tin không quân nhân dân ta lần đầu xuất kích lập chiến công oanh liệt và chiến công bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 trên miền Bắc trong trận phục kích bên đồi Rú Nài ở Hà Tĩnh. Ảnh minh hoạ trang nhất có một khẩu đội Đại đội 83 đang nổ súng bẳn máy bay Mỹ bên đồi Rú Nài ngày 31 tháng 3 và ảnh biên đội MIC-17 của ta đang chuẩn bị cất cánh. Anh Trần Duy Hợi chụp được tấm ảnh đẹp về đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đến động viên bộ đội trên trận địa. Bài minh hoạ có "Quật ngã thần sấm sét" cùng với chân dung biên đội trưởng Trần Hanh đội mũ bay, phản ánh trận không chiến bắn rơi máy bay F105 Mỹ. Phụ trương có nhiều gương chiến đấu; những mẩu chuyện về tình đoàn kết chiến đấu quân dân; có nhiều chuyên mục như: "Xây dựng Đảng"; "sinh hoạt Đoàn thanh niên"; tiểu phẩm vui; thơ, ca dao; tin vắn về phong trào thi đua toàn quân chủng; thông tin lư liệu về không quân địch ...


Tờ phụ trương chỉ có 4 trang khổ tuần báo, được in tại Nhà máy in Tiến Bộ nên ảnh và kiểu chữ đẹp, hiện đại, được hoàn thành ngày 12, nhưng chúng tôi đề số phát hành vào ngày 13 tháng 5 năm 1965. Tờ phụ trương được Thường vụ Đảng uỷ quân chủng nhất trí thông qua, dư luận hoan nghênh, coi như mô hình cho việc làm thủ tục xin chuyển từ Tập san Phòng không sang loại báo ra hằng tuần của Quân chủng Phòng không - Không quân. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm nốt hai kỳ tập san Phòng không tháng 4 và tháng 5 năm 1965 theo nền nếp, chỉ được nghỉ tháng 6 để làm thủ tục và chuẩn bị, đến ngày 15 tháng 7 năm 1965, siis 1 tờ báo Phòng không - Không quân ra hằng tuần mới chính thức được ra đời.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:18:25 pm
BÀI HỌC VIẾT CỦA TÔI


Trần Quốc Hanh


Tôi được thủ trưởng Cục Chính trị giao viết một tài liệu giáo dục. Viết ngày, viết đêm. Thông qua ba lần, bị mang về ba lần để bổ sung, sửa chữa. Mệt và cáu. Lần thứ tư, tôi mang tài liệu lên thông qua. Không lo, không ngại nữa, tôi chỉ bực. Bực vì khi giao việc, trên chỉ nói sơ sơ. Mỗi lần thông qua lại thêm một ý tưởng mới, có khi khác hẳn lần trước, bắt viết lại. Lần này ấy à, nếu lại thay đổi, bổ sung ý tưởng thì... tôi xin "chào thua" luôn!


Vừa nhìn thấy tôi, Cục phó Cục Chính trị Đoàn Chương đã hỏi: "Thế nào? Đã được chưa?...". Chẳng nhẽ lại nói toạc ra nỗi bực dọc của mình, tôi nén lòng trả lời: "Thủ trưởng thấy được là được, chứ tự tôi thấy được thì có ý nghĩa, tác dụng gì!".

- "Hè... hè... hè... mệt hả? ... Thôi, uống nước, làm vài cái kẹo cho đỡ mệt rồi ta cùng xem!".

Chén trà đặc trước mặt. Điếu thuốc lá trễ trên môi. Khói thuốc che mờ cả khuôn mặt có cặp mắt thông minh, thân tình, Cục phó Đoàn Chương chăm chú giở từng trang bản thảo ra đọc. Tôi thì lơ đãng nhìn quanh. Không quan tâm liệu lần này có qua được "cửa ải" hay không?...


Bỗng tiếng cười của Cục phó lại bật lên: "Cậu viết cứ như ông P.K.H. nói ấy... hè... hè (Hừ! - Tôi nghĩ - thế là thế nào? ... Mặc, không nói rõ thì coi như không nghe, không hiểu. Thế là xong). Lát sau, lại tiếng cười hè hè cất lên: "Được đấy, nhưng mà... Thế rồi cứ như vậy, chỉ "bình an" được một tý, lại "hò... hè... ý... chỗ này của cậu là gì?", "Thế này là thế nào?"... khiến tôi không thể không chú ý xem thủ trưởng soi vào đâu và soi như thế nào. Tuy cũng chớm thấy những chỗ "cụ" soi là có lý, nhưng vẫn bực. Có phải ý của tôi đâu! Ý của thủ trưởng bổ sung lần trước đấy chứ! Cũng có phải tôi viết cái chỗ "thế này là thế nào" đâu, mà là tôi "copy" từ một bài xã luận trên một tờ tạp chí của quân đội, tôi mà dám tự mình viết ra điều tầy đình thế sao?. Vừa lúc đó lại: "Hè... hè... lô-gích của cậu đâu rồi hả?". Không kìm nổi mình nữa, tôi "bật nắp nồi áp suất" luôn:

- Thủ trưởng thừa biết tôi vào quân đội, tôi có được học hành tý nào đâu mà có lô-gích! Tôi viết sai, viết chưa được chỗ nào, thủ trưởng cứ chỉ rõ phải sửa ra sao, tôi sẽ sửa đúng như thủ trưởng muốn...

Bật nồi hơi ầm ầm thế mà "cụ" vẫn cứ tỉnh như không:

- "Hè... hè... hè... Không có gì mà phải cáu như thế! Uống chén nước đi cho hạ hoả. Chờ một tý, tớ xong rồi đây!" Nói rồi, ông lại tiếp tục chăm chú đọc, thỉnh thoảng lại bật lên tiếng cười nhẹ "hè... hè... " trong khi đưa tay đánh dấu vào một chỗ nào đó trong bản thảo. Cuối cùng, ông tháo kính, đặt bút, vươn vai, bẻ ngón tay, nhìn tôi, cười cười vẻ trêu chọc: "Hè... hè...! Cho đánh máy được rồi. Cậu thấy thế nào?" (Lại "cậu thấy thế nào?"...) Tôi vừa mừng vì không phải viết lại lần nữa nhưng vẫn còn bực, vội "vâng" rồi cầm bản thảo đứng dậy, xin phép về. "Ngài" Cục phó lại cười:

- Từ từ đã, ngồi xuống uống chén nước rồi xem lại tớ sửa thế nào, có đồng ý với tớ không đã chứ!

Tôi miễn cưỡng ngồi xuống. Ông rót cho tôi chén nước, rồi tủm tỉm cười, ngồi nhìn tôi giở tài liệu ra xem. Hơn mười trang tài liệu, ông sửa không nhiều. Chỉ thêm một số chấm câu, ngắt đoạn, đảo từ, thêm chủ ngữ... mà câu văn sáng sủa, ý tứ rõ ràng hẳn ra. Có nhiều đoạn ông còn đánh dấu đậm và ghi bên cạnh: "Được",... "Tốt". Xem đến đâu, trong lòng tôi dịu đi đến đấy. Không phải vì những lời khen mà vì thấy rõ những chỗ sửa đổi rất cần thiết và rất hay của ông. Mặt tôi lúc này chắc cũng đã dãn ra, tươi tỉnh lên đôi chút, không còn căng thẳng như trước.

Chờ tôi uống xong chén nước, ông mới nhấn nha nói:

- Làm nghề viết lách, phải viết đi viết lại là chuyện bình thường. Có vượt qua được thử thách ấy mới viết giỏi, viết hay được... Đây là bài học của bản thân tớ từ khi còn làm thư ký cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh trong kháng chiến chống Pháp. Tớ chỉ muốn truyền bài học quý ấy cho cậu thôi mà!

Thế rồi ông chân tình kể cho tôi nghe:

- Khi làm thư ký của anh Thanh, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị lúc đó, mình mới 21, 22 tuổi. Trong một thời gian khá dài ban đầu, viết tài liệu, văn kiện theo chỉ đạo của anh ấy rất ít khi chỉ hai, ba lần là được. Nhất là những bài phải thông qua cả anh Trường Chinh. Không chỉ ý tứ mà cả từng câu, từng chữ, từng cái dấu chấm, dấu phấy cũng phải rõ ràng, nghiêm túc, chặt chẽ. Viết đi viết lại bốn, năm, bảy lần là bình thường. Viết đi viết lại, tất nhiên là mình rất mệt nhưng tài liệu càng có chất lượng, trình độ của mình càng khá lên. Cuối năm 1950 đầu năm 1951, mình được anh Nguyễn Chí Thanh giao soạn thảo một văn kiện quan trọng. Thật tình mình rất sợ. Văn kiện ở tầm mức lớn quá, cao quá, mà mình thì... Biết mình sợ, anh Thanh động viên: "Cậu cứ nghiên cứu, chuẩn bị để viết đi, mình sẽ thảo luận, trao đổi ý kiến với cậu trong từng bước của quá trình viết". Sau gần một tháng trời đánh vật, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của anh Nguyễn Chí Thanh, mình viết xong, được 120 trang bản thảo. Thông qua mấy lần, viết lại mấy lần, rút xuống còn 80 trang. Đưa lên đồng chí Trường Chinh duyệt, sửa đi sửa lại mấy lần nữa, còn 60 trang. Cuối cùng, các anh ấy giao cho mình mang bản thảo đã sửa hoàn chỉnh lên trình để Bác Hồ duyệt.


Cầm bản thảo lên trình với Bác, trong lòng mình cực kỳ hạnh phúc. Hạnh phúc vì được gặp Bác và hạnh phúc vì đã hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề, vượt quá sức mình. Bụng chắc mẩm văn kiện đã được cả hai đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh thông qua, chắc cũng sẽ được Bác duyệt ngay thôi. Ai dè, chưa kịp đưa tài liệu ra trình, Bác đã hỏi:

- Tài liệu chú soạn bao nhiêu trang?

- Dạ, thưa Bác, 60 trang ạ!

- Thế chú có biết ai sẽ đọc và thực hiện văn kiện này không?

- Dạ, có. Là nhân dân vùng cao ạ!

- Nhân dân ở đó phần lớn còn chưa biết đọc, biết viết, ngôn ngữ lại bất đồng. Chú viết dài như thế làm sao bà con hiểu, nhớ và thực hiện được?

- ...?

- Thôi, chú mang về viết lại đi. Cho chú 20 trang. Ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Viết xong, đưa chú Trường Chinh, chú Thanh xem lại rồi mang đến đây cho Bác. Cố gắng nhé!

- Vâng ạ!

Miệng thì "vâng" nhưng người mình thì toát hết cả mồ hôi. Vấn đề lớn tầy đình, 60 trang viết còn lo chưa diễn giải được rõ ràng mà nay chỉ được diễn đạt trong có 20 trang thì làm thế nào bây giờ ?...

Về nhà - ông kể tiếp, được hai "cụ" Trường Chinh và Nguyễn Chí Thanh tập trung hướng dẫn. Sau hai tuần lễ viết không kể ngày đêm, mình mang bản thảo viết lại đến trình với Bác. Câu đầu tiên Bác hỏi là:

- Bao nhiêu trang?

- Dạ thưa Bác, 19 trang ạ!

- 19 trang?... Giỏi! Trước hết, Bác thưởng cho chú một điếu thuốc lá và một cái kẹo vì đã vượt yêu cầu một trang. Còn tài liệu, cứ để đấy Bác xem. Xong, Bác sẽ gửi lại cho các chú.

Ba ngày sau, Bác cho đưa tài liệu về. Giở ra xem, cả anh Trường Chinh, anh Nguyễn Chí Thanh, và dĩ nhiên là cả mình nữa, vừa nhẹ cả người, vừa vui sướng: Văn kiện đã được Bác thông qua, Bác chỉ sửa đôi chỗ, chủ yếu là về câu, chữ cho người đọc dễ hiểu, dễ nhớ hơn mà thôi...


Qua lần viết văn kiện đó, mình đã được rèn luyện và trưởng thành lên rất nhiều về trình độ, tri thức đấu tranh cách mạng và năng lực soạn thảo văn kiện chính trị. Có nhiều bài học. Trong đó thấm thìa nhất là bài học được Bác Hồ dạy: Viết để làm gì? Viết cho ai? Viết như thế nào?


Cậu có biết không, ngày ấy tớ phải viết đi viết lại văn kiện đó không dưới 10 lần. Mệt và nản lắm chứ. Nhưng nhờ vượt qua được cái đận thử thách ấy mà tớ tiến bộ hẳn lên về nhiều mặt. Bây giờ cậu mới phải viết lại đến lần thứ tư thì có gì mà phải cáu chứ?"...


Câu chuyện của Cục phó Đoàn Chương kết thúc, tôi thấy nhẹ đi rất nhiều nỗi bực dọc trong lòng. Càng về sau, tôi ngày càng nghiệm thấy ý nghĩa sâu xa và tác dụng thực tế lớn lao của bài học được Cục phó truyền lại cho. Một "tay" tuyên huấn "chân đất" như tôi, chẳng được học qua trường lớp nào, nhờ trân trọng và kiên trì vận dụng bài học ấy mà dần dần cũng "chen" được vào hàng ngũ những "tay viết" của Cục chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân thời kháng chiến chống Mỹ. Cũng là một kỷ niệm khó quên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:19:23 pm
MỘT LẦN BỊ TRƯỞNG PHÒNG "SỜ GÁY"


Hoàng Long


Hồi ấy, tôi mới về Phòng Tuyên huấn được hơn một tháng. Chưa kịp tìm hiểu kỹ chức năng, nhiệm vụ của phòng ra sao thì một hôm, Trưởng phòng Lê Chí Hướng gọi tôi lên giao nhiệm vụ: "Tối nay, có đoàn cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Ba Lan xuống thăm nhà máy dệt Nam Định. Trên đường về, đoàn sẽ ghé thăm một đơn vị pháo phòng không của Trung đoàn 250, nằm gần quốc lộ số 1. Đồng chí đi cùng với đoàn. Khi đoàn trở về, đồng chí dẫn đoàn vào thăm đơn vị".


Tôi trả lời "rõ" sau khi nhận nhiệm vụ. Trưởng phòng nói: "Tốt! Đồng chí về chuẩn bị tốt cho chuyến đi!". Cơm chiều xong, tôi đạp xe đến Bộ Ngoại giao. Để xe đạp lại rồi cùng đoàn lên ô tô, đi về hướng Nam Định.

Lần đầu tiên được ngồi trên chiếc xe ngoại giao lướt đi rất êm. Mỗi khi gặp ổ gà, nó chỉ khẽ lắc lư như ngồi trên võng, chứ không nẩy tung lên như chiếc xe đít vuông của Cục.

Đến nơi, thấy nhà máy đã chuẩn bị đón đoàn rất trọng thị. Tôi cảm thấy hơi choáng ngợp. Thế là tôi nghiễm nhiên trở thành một thành viên "bất đắc dĩ" của đoàn. Tôi cũng cùng dự tiệc vui với đoàn, cũng nhấm nháp chút kẹo bánh, chút bia bọt như ai...


Thăm nhà máy dệt xong, trời đã khuya. Trên đường về đến trận địa pháo, để đoàn đứng ngoài chờ, tôi vào trước thông báo cho đơn vị đón đoàn.

Vào đến nơi, thấy cả trận địa im lìm, mọi người đang say sưa trong giấc ngủ. Tôi bồn chồn lo lắng, đi tìm chỉ huy đơn vị. Sau một thời gian khá dài, ban chỉ huy cũng điều động được một số anh em ra ngồi trên mâm pháo. Tôi ra mời đoàn vào. Đến nơi, đoàn có mấy lời hỏi thăm, chúc mừng xã giao đơn vị rồi ra xe ô tô trở về Hà Nội luôn.


Sáng hôm sau, tôi ung dung lên báo cáo trưởng phòng về chuyến đi đêm qua. Nghe xong, trưởng phòng quắc mắt, giơ tay đập mạnh xuống bàn. Tôi giật thót tim, chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra thì trưởng phòng đã rít lên: "Chết rồi! Thật chết rồi! Tôi cử đồng chí đi chuẩn bị cho đơn vị đón đoàn thật chu đáo để thể hiện được khí phách của một quân chủng vừa chiến thắng oanh liệt không quân đế quốc Mỹ xâm lược, chứ không phải để cả đơn vị ngủ lăn ra như thế! Đồng chí là cán bộ tuyên huấn đi làm nhiệm vụ tuyên huấn, chứ có phải là ông đại sứ con đâu?".


Tôi nóng ran cả mặt, chưa kịp phản ứng gì thì trưởng phòng bực bội đứng lên, đi về cuối phòng. Tôi khó chịu và tủi hổ thực sự. Tôi nấn ná ngồi lại vài phút, rồi cũng đứng lên đi về phòng làm việc của mình, trong lòng buồn chán vô hạn.


Về phòng làm việc, tôi chẳng nghĩ được gì cứ thờ thẫn trong lòng vì câu chuyện vừa xảy ra với trưởng phòng. Tôi trầm ngâm suy nghĩ về việc làm của mình, tự phê phán, xỉ vả mình và nghĩ rằng: "Có lẽ mình không hợp với công tác tuyên huấn thật!".


Qua sự việc trên, tôi nghiệm ra ràng: "Đã là tuyên huấn thì phải đi trước thiên hạ một bước". Từ đó tôi chịu khó học hỏi, rèn luyện về kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ. Tôi đã trưởng thành nhiều, và đến cuối năm 1968, đã được anh em bình chọn là Chiến sĩ thi đua của Phòng Tuyên huấn.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:20:30 pm
TÔI LÀM THƠ TRÀO PHÚNG


Trần Cường


Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi được Ban biên tập báo Phòng không - Không quân phân công viết 2 chuyên mục trào phúng: "Thông nòng" và "Quét sân bay". Suốt thời gian đó, báo của quân chủng in ở Nhà in báo Hà Nội Mới. Một lần, cô Oanh - công nhân nhà in đọc bài thơ "Canh ... Trời!" trong mục "Thông nòng" của tờ báo Phòng không - Không quân in thử, cứ ngâm nga hai câu kết: "Thôi thôi hãy thả bóng hồng, để trong đôi mắt phòng không canh trời" rồi tủm tỉm: "Trông hiền thế mà đáo để thật!". Chả là bài ấy cười mấy chiến sĩ trinh sát một đại đội pháo cao xạ trực chiến, từ sáng sớm đã quay kính TZK ngắm mấy cô thôn nữ cách xa trận địa mấy cây số đang sắn cao quần lội bùn cấy lúa, làm các chiến sĩ ta sao nhãng trực chiến.


Hàng trăm bài báo như vậy, nay còn lưu ở Toà soạn báo Phòng không - Không quân và bảo tàng Phòng không - Không quân trên đường Trường Chinh, Hà Nội.

Vậy nguyên do nào tôi làm thơ trào phúng? Cũng phải trích ngang một chút chỗ này. Bà mẹ tôi là người thuộc làu truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc... và ca dao tục ngữ. Cụ thường mắng tôi bằng những câu này, thí dụ: Ngày tôi bốn tuổi thường ôm cái chổi to đùng quét sân, mẹ tôi bảo: "Con ơi! Đã quét thì quét cho sạch, chớ có "một nhát đến tai, hai nhát đến gáy" đấy nhé!" Ông anh tôi đẽo những đôi guốc mộc bằng gỗ củi tạ nặng hàng kilô, tôi cũng xỏ chân vào đi lộc cộc, mẹ tôi lại lắc đầu mắng: "Con tôi, lúc nào cũng "ra giày vào dép, ra hán vào hài thôi!". Gần Tết, tôi bảo mẹ: "Sắp Tết rồi, mẹ may cho con cái quần mới đi!". Mẹ tôi rầu rầu bảo: "Nhà ta nghèo, con là út chịu khó mặc quần áo chật của các anh con cho đỡ tiền, chớ nên "con nhà lính, tính nhà quan!". Có hôm tôi bảo mẹ: "Mẹ ơi! Con thèm cá lắm, hôm nay mẹ mua cá đi!", mẹ tôi lại bảo: "Làng xóm đang chết đói đầy đường, nhà ta cơm độn là may rồi, "hay gì ăn trắng mặc trơn" con ơi! (trận đói năm Ất Dậu, nhà tôi cứu được chị Mùi và anh Tiểu sắp chết đói, đưa về nuôi, sau đó gả chồng cho chị Mùi). Những câu như thế nhiều lắm, nhưng thật thấm thìa, nó theo tôi suốt cuộc đời và cả trong mọi công tác. Lại nói ông bố tôi, làng xóm thường bảo: "Trông ông Bảy cứ như ông Bụt ấy!" (Bố tôi là thứ bảy trong gia đình), ấy vậy mà lại là một cây hài hước có cỡ đấy! Tôi chỉ xin kể một câu chuyện ngắn thôi: Chả là nhà tôi ở trước một cái chợ làng kéo dài hơn nửa cây số. Cửa nhà lại có một số bà bán hàng ngồi nhờ thường xuyên, trong đó có một bà thầy bói mù và một bà hàng vải tên là bà Điều. Bà này là dân đi đạo. Bà ấy vừa bày hàng xong thì có một ông thầy tu đi qua chợ. Bố tôi lẩm bẩm: "Ông này mình cao số nặng, phải đội bát nhang đấy!". Câu nói làm bà hàng vải ngẫm nghĩ mãi và lúc sau bà ấy hiểu ra cái ý hài hước của bố tôi, bà ẩy cười lăn cười bò ra suốt buổi sáng không bán được hàng nữa. Cũng may bà ấy không phải là người đạo gốc.


Kể một chút như vậy để thấy có nhẽ tôi cũng ảnh hường ông bố, bà mẹ thế nào ấy chứ tôi vốn là thằng bé thất học vì lúc đó Nhật chiếm nước ta, quân đồng minh thường cho máy bay ném bom trại lính Nhật không lúc nào yên. Nhất là trường tiểu học gần nhà tôi, lại nằm ngay cửa ngõ cái hẻm núi, nghe nói trong đó là nhà máy vũ khí và thuốc súng của Nhật nên càng không thể tiếp tục học được. Nhưng cái máu trào phúng ấy nó cũng làm tôi... khốn khổ! Đầu đuôi thế này: Năm tôi lên chín tuổi, ông anh tôi tên là Cang, mua được đôi chim sẻ đá về nuôi trong lồng, chăm chút ghê lắm. Nhưng rồi một hôm hớ hênh thế nào để xổ lồng, chim bay mất. Tôi bèn làm luôn mấy câu ca dao:

   ... Chim sẻ đá mua ở Hải Phòng
   Chẳng may nó lại xổ lồng bay xa
   Giữa ngày mồng tám thảng ba
   "Mày đi mày để lòng ta rối bời. "
   Ông Cang bổi hổi bồi hồi
   Chạy ngay lên gác đứng ngồi không yên
   Tay cầm cải ná bản chim
   Định bắn cho chết, cóc tìm thấy đâu!


Câu cú chẳng hay ho gì nhưng tôi cũng được cái "nhuận bút" đầu đời từ tuổi ấu thơ bằng cái tát nảy đom đóm mắt vì tội dám lấy phấn viết bậy lên cửa!. Ấy cái tinh hoa phát tiết cũng khổ thế đấy! Năm 13 tuổi, tôi làm liên lạc cho Uỷ ban kháng chiến hành chính xã Tam Hưng, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Giấy chứng minh thư xã cấp cho tôi với cái tên rất "kiếm hiệp": Lâm Quốc Hùng. Cuối năm 1949, xã bị địch tạm chiếm. Tôi được xã cho theo mấy anh người làng ra Chiến khu Đông Triều, học văn hoá được vài tháng rồi đứt nguồn tiếp tế. Lúc đó tôi mới 14 tuổi, may được anh người làng xin cho làm văn thư ở Ty Y tế tỉnh Quảng Yên. Cũng được no hai bữa ăn mỗi ngày, thỉnh thoảng lại viết ca dao cho báo của Ty Tuyên truyền Văn nghệ tỉnh. Liên tiếp hai năm 1951 và 1952, tuy là nhân viên hành chính ở một cơ quan chuyên môn, nhưng tôi được bầu là Chiến sĩ Thi đua số 1 của ngành Y tế tỉnh, được Bộ trưởng Bộ Y tế khen và thông báo toàn quốc, nên năm 1953 được Bộ Y tế gọi về Bộ công tác rồi về tiếp quản Thủ đô và được cử đi học. Năm 1958, lại được quân đội chọn vào làm ở Phòng Bí thư, Bộ Tham mưu Tổng Cục Hậu cần. Chuyện học tập của tôi xin kể vào dịp khác. Từ năm 1960 đến 1964 tôi đã viết thơ đả kích cho báo Quân đội nhân dân và thơ châm biếm cho báo Cứu quốc và báo Thời Mớ ... Xin kể một chuyện đáng nhớ là vào dịp Tết năm Nhâm Dần 1962, tôi viết một bài thơ dài: Quẻ thẻ đầu năm cọp của Tổng Diệm, đăng gần một nửa trang báo Quân đội nhân dân. Ngày đó trên báo Nhân dân có ông Thợ Rèn, nên bút danh tôi lấy tên Thợ Gò (ý tôi là cái gì méo mó thì gò cho phẳng phiu ra). Đoạn mở đầu tôi viết thế này:

   Đêm Ba mươi thức khuya ngủ gật
   Thợ Gò mơ thăm đất Sài Gòn
   Vượt Trường Sơn núi cùng non
   Vào thăm cảnh Tết bà con Sài Thành
   Phố phường lạnh lẽo vắng tanh
   Đảo quanh cảnh chợ Bến Thành bất an
   Thiết quân luật lệnh Diệm ban
   Cảnh binh, mật vụ nhan nhan vỉa hè.
   Bỗng đâu thiết giáp dăm xe
   Đỗ ngay trước cửa Thị Nghè trông sang
   Trên xe một gã mỡ màng
   Mắt lươn, bụng ỷ, mõm lang, tai cầy
   Thì ra Tổng Diệm tới đây
   Dụng tâm tìm thầy đoán thè đầu năm.
   Thợ Gò định tránh chó săn
   Chẳng ngờ Diệm đã trật khăn vái chào
   Hỏi "Thầy quê quản nơi nao
   Cho bản chức biết thấp cao tình hình"
   Mỗ rằng: "Quỷ Cốc tái sinh,
   Hà Thành quẽ ngụ, tính danh Thợ Gò"
   Nghe xong Diệm mới nhỏ to
   Xin thầy đoán giúp cho "Mo" quẻ đầu.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2022, 08:21:17 pm
Vậy là tôi đoán cho Tổng Diệm về đường gia tiên mồ mả, công danh sự nghiệp, nhân duyên, gia đình tử tức, và phần cuối cùng là phần hậu vận tôi đoán thế này:

   ... Ví dù chiếc tã đã khai
   Ắt là chủ Mỹ cũng thay chẳng từ
   Đừng hòng thu vén gia tư

Chạy ra ngoại quốc như xừ tổng Ba1 (Tổng Ba là tổng thống Ba-tis-ta bị cách mạng Cu Ba lật đổ phải bỏ chạy sang Mỹ cách đó hai năm (1959))

   Nghe xong, Diệm nổi da gà
   Thì ra bạo chúa cũng là hổ nan
   Vừa may năm mới đã sang
   Giao thừa pháo nổ râm ran khắp trời
   Tưởng là đảo chính đến nơi
   Chui xe bọc thép, Diệm lời... Gút-bai!
   Thợ Gò cũng tỉnh giấc mai
   Bước ra đường phố đón ngày đầu Xuân
   Xuân sang năm mới Nhâm Dần
   Chúc cho Mỹ ngụy chết nhăn cả lò.

Chín tháng sau, anh em Diệm - Nhu bị Mỹ và tay sai hạ thủ, cả 3 anh em Diệm, Cẩn, Nhu cùng chịu cái chết thảm khốc đúng như vậy. Sau bài báo đó tôi được các anh khen: "Cái thằng độc miệng thật!". Những bài báo ấy nay vẫn còn trong tập lưu của báo Quân đội nhân dân và Thư viện Quân đội.


Quay lại nghiệp Quét sân bay và Thông nòng. Khi về báo Phòng không - Không quân được phân công viết hai chuyên mục này, đúng sở trường nên tôi nhận ngay. Tư liệu lấy ở đâu? Hôm nào Bộ Tư lệnh Quân chủng với các cơ quan đều giao ban hằng ngày, chuyện hay chuyện dở đều biết sốt dẻo. Các phòng trong Cục Chính trị như phòng Bảo vệ, Quân pháp, Kiểm sát v.v... đều quý và gọi đến lấy tin tức. Lại còn nguồn các thông tin viên ở các đơn vị trong quân chủng gửi về nữa, hầu như số báo nào cũng có bài. Từ việc đơn vị tên lửa, buổi sáng, chiến sĩ lên kiểm tra máy ấn nhầm nút để tên lửa "cướp cò"; đơn vị pháo 37ly hành quân đêm ngoắc pháo sau xe không cẩn thận, khi đến Thanh Hoá thì dừng lại thấy mất pháo, quay lại Ninh Bình thì ra pháo bị tuột nằm ngơi dưới... ruộng; anh chiến sĩ ra-đa sáng dậy làm một mồi "Ba-zô-ca"2 (Điếu cày) say lử, đạp đổ đèn dầu, lửa bén vào vách cỏ tranh cháy nhà, thiêu cả một bộ giảm tốc quý báu của ra-đa, hai hòm dụng cụ sửa chữa, ba khẩu súng cùng một số đạn...; chuyện sân bay Gia Lâm, một chiếc máy bay IL.14 đã thả càng sắp tiếp đất thì thấy một chiếc xe cần cẩu chết máy và đàn bò của hậu cần đang lững thững trên đường băng, đành phải co càng bay thêm mấy vòng nữa, tốn kém hàng trăm lít xăng để kịp... đuổi bò! Lại chuyện một đơn vị pháo phòng không trên đường Trường Sơn, ban đêm nghe thấy tiếng lợn rừng về phá nương, vội vác tiểu liên AK làm một băng, hai con lợn chết ngay. Khi soi đèn mới ngã ngửa người ra không phải lợn rừng mà là đàn ỉn dân nuôi thả rông. Thế là hôm sau phải đi xin lỗi dân và đền tiền. Rồi lại chuyện một hạ sĩ gác kho đạn giữa rừng, thấy con gà rừng đậu trên lán đạn. Tiện súng làm một điểm xạ, mái lán cỏ gianh khô bén lửa, thiêu trọn 300 viên đạn 37 ly biến thành hàng đồng nát. Chuyện mấy chiến sĩ trẻ lần vào lán hàng, định kiếm chút chất tươi đường sữa, mì chính... Khênh ra suối cậy nắp hòm, mới té ra là hòm đạn 37 ly sáng loáng, đem về sợ lộ bèn quăng xuống suối phi tang. Chuyện cơ quan hậu cần sân bay X nuôi dăm chục con bò bị mất và chết 13 con, còn lại một số thì gày trơ xương, thế là được một bài lên báo "Bò ơi!". Chuyện còn dài, hàng trăm bài kể sao cho hết. Đã là thơ trào phúng, có giá trị phê bình đấu tranh không nhỏ, nhưng đụng chạm đến nhiều đơn vị, nhiều người, tránh sao khỏi có người tự ái phản ứng. Cũng may những năm tôi viết mục này không xảy ra việc gì đáng phàn nàn. Duy có một lần ở bài phê bình một cán bộ trung đoàn tên lửa. Đó là bài "U ơi là U!". Sau khi bài đó lên báo, vài ngày sau tôi nhận được bức thư của đồng chí Trung đoàn phó gửi về Cục chính trị, nói rằng bài báo có câu không chính xác, đồng chí ấy không nói câu Tiến lên, chông gai đạp bằng. Chỉ bảo khắc phục để tiến vào chiếm lĩnh trận địa ngay kẻo trời sắp sáng địch đến oanh tạc thì nguy! Muốn biết rõ thì xuống đơn vị tôi trình bày cho rõ! (Bức thư này tôi còn giữ làm kỷ niệm). Đầu đuôi câu chuyện thế này: Tiểu đoàn Tên lửa X vào chiếm lĩnh trận địa, đường hẹp, xe tắc rất khó nhích lên. Đồng chí trung đoàn phó đi xe con đốc chiến, đến quát ầm lên: "Xe nào vướng dẹp ngay sang bên, tiến vào chiếm lĩnh trận địa...!". Cán bộ, chiến sĩ đơn vị càng cuống, nhích thế nào chiếc xe U (xe chỉ huy) duy nhất của tiểu đoàn bị đổ và dĩ nhiên là hỏng, Tiểu đoàn Tên lửa mất sức chiến đấu! Về vụ phản ứng này, cấp trên bảo tôi: Bài phê bình là đúng, phê bình nữa đi! Ông cán bộ ấy đã làm kiểm điểm và chịu kỷ luật rồi!


Đời viết thơ trào phúng có cái hay, bởi nó cũng là một loại vũ khí sắc bén, đấu tranh phê bình thẳng thắn và hiệu nghiệm, dễ đi vào lòng người. Đơn vị hay cá nhân phạm khuyết điểm, cũng dễ tiếp thu và sửa chữa; đơn vị và người khác biết để tránh. Nhưng người viết cũng rút ra được bài học quý, không phải chỉ cần nghệ thuật cho hay, mà là lập trường quan điểm phải đúng đắn, trung thực, cách phê bình phải chân thành, thẳng thắn, có tình có lý. Bởi vì đơn vị, hay cá nhân phạm sai lầm đều là những con người dũng cảm, ra sống vào chết, hết lòng quên mình vì Tổ quốc. Một sơ xuất nào đó nhất thời phạm phải thiếu sót mà thôi. Tât nhiên không thể xuê xoa, không được bông phèng vô duyên; đáng phê bình đến mức nào thì phải phê bình nghiêm khắc đến mức đó mới có tác dụng thiêt thực.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:52:02 pm
BÀI HỌC ĐẦU TIÊN KHI TÔI BƯỚC VÀO NGHỀ LÀM BÁO


Nguyễn Việt Hiển


Cuối năm 1968, tôi tốt nghiệp khoá đào tạo sĩ quan điều khiển tên lửa đạt loại xuất sắc, được phong quân hàm chuẩn uý. Tôi đinh ninh sẽ được về nhận nhiệm vụ tại một tiếu đoàn tên lửa nào đó trong quân chủng. Vì các "tân binh" cùng khoá học với tôi, đều được bổ sung về tên lửa, người vào Nghệ An, người ra Quảng Ninh. Riêng tôi vẫn cứ chờ đợi. Rồi đột nhiên tôi có quyết định "Về nhận công tác tại Cục Chính trị quân chủng!". Tôi ngớ người nghĩ có lẽ cơ quan cán bộ nhầm? Nhưng thực tế giấy trắng mực đen, quyết định ghi rõ ràng, có chữ ký của Trưởng Phòng Cán bộ, đóng dấu đỏ hẳn hoi...


Lúc này, do thất bại trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân của ta, đế quốc Mỹ buộc phải "xuống thang", ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào. Hà Nội tạm yên tĩnh. Tôi về nhà anh tôi ở khu tập thể Nam Đồng, mượn được chiếc xe cọc cạnh đạp theo đường "Tàu bay" đến cơ quan Bộ Tư lệnh Quân chủng. Đường "Tàu Bay" (nay là đường Trường Chinh) ngày ấy còn rất hoang sơ. Chỉ có một đoạn rải nhựa nhưng hẹp và bẩn, còn phần lớn đều rải đá. Hai bên đường có nhiều hố nước, mặt đường đầy những ổ gà. Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân nằm ngay hai bên đường "Tàu Bay", khoảng giữa Ngã Tư Sở với Ngã Tư Vọng. Tôi đạp xe còn cách Bộ tư lệnh quân chủng khoảng 300 mét thì gặp anh Xuân Át, phóng viên chụp ảnh của báo Phòng không - Không quân. Tôi mừng quá, vội cất tiếng gọi:

- Anh Xuân Át!

Anh Xuân Át dừng xe lại, cũng reo lên:

- A! Việt Hiển đấy à! về lúc nào thế?

Tôi vòng xe sang đường, không giấu nổi xúc động về điều thắc mắc, vội kể cho anh nghe chuyện "cơ quan cán bộ điều động nhầm!". Xuân Át chăm chú nghe, nhưng tỏ ra không ngạc nhiên. Đợi tôi "trút xong bầu tâm sự", anh mới vui vẻ bảo tôi rằng: "Họ không nhầm đâu, cứ về Cục Chính trị sẽ rõ!". Rồi anh xin phép phải đi giải quyết công việc, chiều về gặp lại.


Tôi vào Cục chính trị. Cơ quan cán bộ cử anh Trần Anh Hùng, trợ lý tiếp tôi rất thân tình, giải thích cho tôi rõ việc điều động tôi về làm báo theo yêu cầu của báo Phòng không - Không quân. Rồi anh hỏi tôi có thắc mắc hay đề nghị gì không? Tôi trả lời đúng như "bài học", rằng tôi do quân đội đào tạo thì việc sử dụng cũng do quân đội. Tôi xác định "nhiệm vụ nào cũng nhận và hoàn thành với cố gắng cao nhất!". Ngay sau đó, anh Nguyễn Xuân Mai là người đại diện báo Phòng không - Không quân dẫn tôi về Toà soạn, nằm ngay trong cơ quan Cục Chính trị. Anh Xuân Mai là người tôi quen thân vì đã nhiều lần được tiếp xúc trong các hội nghị cộng tác viên của báo Phòng không - Không quân những năm trước. Vừa đi đường, anh vừa động viên:

- Việc điều động cậu về báo là có ý kiến của anh Nguyễn Xuân Mậu đấy! Chúng tôi định làm thủ tục ngay khi cậu mới được cử đi học sĩ quan điều khiển, nhưng sau thấy cứ để cho cậu học xong hãy xin quyết định (anh Nguyễn Xuân Mậu ngày đó là Thượng tá, Phó Chính uỷ quân chủng trực tiếp phụ trách Cục Chính trị). Dừng một lát, anh Xuân Mai nói tiếp:

- Với lại, làm báo cần phải có năng khiếu một chút. Còn làm sĩ quan điều khiển, nhiều người học đều sẽ làm được. Chúng tôi muốn để cậu học thông thạo lấy một "nghề" quân sự, rồi về làm báo sẽ thuận lợi hơn ...

Tôi được bố trí ở cùng buồng với anh Sông Châu, một phóng viên cũng mới được điều về Toà soạn trước tôi mấy tháng. Nghe nói anh Sông Châu trước khi đi lính đã là Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp một xã ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Ninh (bây giờ là tỉnh Hà Nam). Anh là người vui tính, nhưng cũng có phần nóng tính. Anh nói chuyện xởi lởi nhanh như bắn súng, ham say công việc, cũng ham cả kỹ thuật. Ngoài giờ làm việc, rảnh lúc nào là anh tự mày mò lắp một chiếc đài thu thanh bằng đèn bán dẫn lấy được trong máy bay Mỹ bị bắn rơi. Mỗi lần lắp xong chưa thấy "ưng", anh lại tháo ra lắp lại! Cứ như thế nhiều lần. Tôi thấy lạ, hỏi thì anh vui vẻ trả lời bằng giọng cũng rất ấn tượng: "Là người ta chơi dài mà lị!"... Hôm sau họp Toà soạn, tôi được giới thiệu như một phóng viên mới nhập môn. Hầu hết số anh em trong Toà soạn tôi đã có dịp quen biết, từ khi tôi còn là nhân viên câu lạc bộ Sư đoàn 369, làm bản tin Tên lửa nhân dân. Anh em đều chúc mừng tôi mới được thăng quân hàm từ Thượng sĩ lên Chuẩn uý "có số" và đều tỏ ý vui mừng có them một cộng sự. Đến lúc ấy, tôi mới biết rõ hơn về Toà soạn báo: Người thay mặt thủ trưởng Phòng Tuyên huấn phụ trách chung toàn khối công cụ tuyên truyền là anh Nguyễn Kim Dương - Phó Phòng. Anh Xuân Mai là Tổ trưởng tổ viết, ít nói và tình cảm hơn. Trong Tổ tin hồi đó còn có các anh Hà Bình Nhưỡng, Nguyễn Duy Khán, Đào Sơn Lâm là những phóng viên lâu năm mà báo Quân đội thường gọi vui là "cộng tác viên bấm nút". Bấm nút có nghĩa là khi nào cần, báo Quân đội chỉ cần "phôn" một cái là các anh ấy sẵn sàng có bài đáp ứng đúng theo yêu cầu. Phóng viên viết bài, ngoài các anh Xuân Mai, Bình Nhưỡng, Duy Khán, Sơn Lâm, còn có các anh: Sông Châu, Phạm Thành Thiểu, nhà thơ Duy Thảo, Phùng Đắc Tư và tôi là người về Toà soạn sau cùng. Tổ hành chính Trị sự do anh Nguyễn Đình Huấn làm tổ trưởng, gồm có các anh: Vũ Đình Long, Đỗ Hiển và chiến sĩ gái Hoàng Tuyết Hạnh. Tổ ảnh có các anh Lê Minh Huệ, Nguyễn Xuân Át; đến cuối 1969 được bổ sung thêm anh Phạm Ngõ, một "thần tượng" của tôi về kỹ thuật buồng tối. Toà soạn cũng còn có một tổ viết gương người tốt, việc tốt do anh Phạm Thành Thiểu được điều sang làm Tổ trưởng. Tổ viết gương người tốt, việc tốt trong chiến đấu chủ yếu để in thành sách, bao gồm các nhà văn Đỗ Chu, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường (tức Thao Trường) và Dương Duy Ngữ. Khi cần, còn điều động thêm các "tay viết" từ các đơn vị lên tăng cường. Nhắc lại một số nét cơ bản, để hình dung phần nào hình hài cơ quan báo Phòng không - Không quân cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX, trong thời kỳ đánh Mỹ. Tôi về Toà soạn báo lúc đó vào loại trẻ nhất, mới 24 tuổi, còn thua Tuyết Hạnh và Đỗ Hiển một tuổi. Trong số phóng viên mới về trước tôi mấy tháng, có anh Phùng Đắc Tư cũng đã có bài được đăng trên báo Quân đội; điều đó làm tôi phải suy nghĩ rất nhiều, mường tượng ra nhiều tình huống khó khăn, ly kỳ mà đoạn đường sắp tới có thể tôi sẽ gặp...


Toà soạn cho tôi được nghỉ tranh thủ mấy ngày về quê Bắc Ninh thăm bố mẹ. Trở lại Toà soạn, tôi được giao cho một đống báo cũ để đọc "tìm hiểu và làm quen". Anh Xuân Át và anh Minh Huệ thì tranh thủ hướng dẫn tôi về chụp ảnh "tân văn" để kết hợp chụp ảnh khi đi viết bài. Thỉnh thoảng, tôi cũng được theo anh Đình Huấn hoặc anh Vũ Đình Long đưa tới Nhà in báo Hà Nội Mới, nơi cũng in báo Phòng không - Không quân sơ tán tận làng Tây Tựu, huyện Từ Liêm, tập sửa bản in thử lần đầu, trước khi in chính thức để làm quen với các công việc của Toà soạn...


Hàng tháng trời, tôi chỉ được giao công việc "làm quen" như vậy. Trong lòng tôi có lúc đã thấy buồn chán, nhất là đang ở tuổi muốn được "thể hiện". Tất nhiên tôi chưa dám phát biểu, chỉ âm thầm làm theo lệnh cấp trên. Bỗng một hôm, anh Xuân Mai gọi tôi lên giao nhiệm vụ: Đi viết bài về tấm gương cô Trần Hiền Thuý, một chiến sĩ gái Đại đội chỉ huy, Trung đoàn ra-đa 291 vừa được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Anh đưa cho tôi xem tờ báo Phòng không - Không quân, trên đó có nét bút đỏ khoanh vào tên Trần Hiền Thuý, bên cạnh có ghi dòng chừ "Tặng một huy hiệu". Anh Xuân Mai nói với tôi:

- Bác Hồ tuy bận trăm công ngàn việc, nhưng Người vẫn thường xuyên đọc báo của chúng ta đấy! Cậu cố gắng viết bài này, sao cho đúng tầm...

Rồi anh căn dặn tôi tỉ mỉ về cách lấy tài liệu như cần gặp những ai, gặp nhân vật thì nên hỏi những gì, không nên hỏi những gì, v.v... Anh nhắc lại cho tôi về những yếu tố cơ bán của một bài báo và những điểm khác nhau giữa bản tin và một bài viết gương người tốt, việc tốt. Anh nhắc đi nhắc lại tôi phải viết sao cho sinh động, không nên viết như một tin, kẻo bài sẽ "khô". Cuối cùng, anh lưu ý tôi hai điều:

- Có cô Khánh Ngân, chiến sĩ đại đội chỉ huy Trung đoàn 291 cũng là một cộng tác viên của báo, cần tài liệu thì cậu có thể tìm hỏi thêm cô ấy;

- Cậu còn trẻ lại "đẹp trai" nên phải rất cảnh giác, kẻo bị con gái đại đội chỉ huy "bắt nạt"! Câu cuối, là anh có ý nhắc nhở, nhưng nói bằng giọng vui vui...

Vừa hồi hộp, vừa tò mò nên sau khi xin giấy giới thiệu, tôi vội vã lên đường ngay. Đại đội chỉ huy, Trung đoàn 291 nằm trên một quả đồi thuộc thôn Trung Hoà, xã Sài Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Địa điểm không khó tìm đối với tôi, vì năm 1967, Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa, nơi tôi làm nhân viên câu lạc bộ, đã có lần sơ tán vào khu vực chùa Trăm Gian gần đó. Đại đội trưởng Khách, Chính trị viên Tùng (Đại đội chỉ huy Trung đoàn 291) cùng tiếp tôi trong căn nhà cơ động hẹp, nhưng gọn gàng. Hai anh kể cho tôi nghe tỉ mỉ, chi tiết về những hành động tốt của cô Trần Hiền Thuý trong chiến đấu cũng như trong công tác, sinh hoạt. Đồng chí đại đội trưởng còn nhấn mạnh thêm: Trong sinh hoạt, Hiền Thuý rất quan tâm đen bạn bè, động đội, có khi giặt cả quần áo cho chị em lúc ốm đau, như trường hợp giúp cô Hoà cùng trong tiểu đội...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:52:41 pm
Tôi yêu cầu muốn được gặp trực tiếp cô Trần Hiền Thuý. Nhưng lúc ấy cả hai cô Hiền Thuý và Khánh Ngân đều đang trong giờ trực chiến. Cho đến khi đồng chí đại đội trưởng cử được người thay, Hiền Thuý mới được từ nơi trực cách đó khoảng non một ki-lô-mét trở về. Nhưng cô Khánh Ngân lại không có người thay. Lúc ấy tôi rất tiếc đã không được gặp cô Khánh Ngân, tác giả truyện ký "Đường chì đỏ" viết về các chiến sĩ gái tiêu đồ kiêm báo vụ của quân chủng, ngày ấy cũng có tiếng vang, được nhiều người khen.


Cảm giác đầu tiên đập vào mắt, tôi thấy Hiền Thuý đúng là một cô gái dịu hiền, ít nói. Cô ta luôn luôn nhìn xuống, chẳng chịu nói gì cả, ngoài nụ cười ngượng nghịu. Thời ấy bộ đội nữ khá nhiều, nhất là ở các đơn vị thông tin, hậu cần, nhiều cô cũng khá lém và xinh đẹp. Tuy nhiên, Hiền Thuý không thuộc vào dạng người đó. Trong bộ quân phục đã bạc màu, Hiền Thuý có nước da hơi xanh, vẻ mặt già dặn trước tuổi và mang nét đặc trưng của người vùng cao. Nói chung về ngoại hình, Hiền Thuý không có vẻ gì ấn tượng, duy chỉ có đôi mắt có chiều sâu nội tâm là đáng chú ý. Thế là sau hơn một giờ đồng hồ nói chuyện với "nhân vật" chính, tôi chẳng khai thác được gì hơn những điều đồng chí đại đội trưởng và chính trị viên đã cung cấp. Kể cả sau đó tôi gặp đồng chí Tuân, trung đội trưởng của đồng chí Hiền Thuý cũng vậy. Chiều hôm ấy, chia tay đại đội chỉ huy Trung đoàn 291, tôi phóng xe một mạch về Cục chính trị. Trên đường đi tôi đã phác ngay một dàn ý chi tiết cho bài viết. Đoạn trên tôi tô đậm thành tích trong chiến đấu của Trần Hiền Thuý, phần dưới nói về tinh thần rèn luyện trong sinh hoạt của một chiến sĩ gái người vùng cao. Tôi cũng không quên câu chuyện cô Hiền Thuý giúp giặt quần áo cho cô Hoà khi Hoà bị ốm ...


Bài báo được đăng theo đúng kế hoạch. Tôi tự đặt bút danh Xuân Việt ký dưới bài báo, để ghi nhớ bài báo có công lao "cố vấn" của anh Xuân Mai. Đồng thời cũng để ghi nhớ mối cảm tình thân mật của anh Xuân Mai đối với tôi từ các cuộc họp cộng tác viên những năm trước mà tôi đã được dự, do anh Xuân Mai thay mặt Toà soạn chủ trì.


Chuyện tưởng thế là xong. Tôi phấn chấn cảm thấy làm báo cũng "không đến nỗi quá khó", chủ quan cho là mình "cũng có thể dễ làm được Nhà báo". Tôi cười mình có lúc đã tự "hù doạ" quá mức!

Cho đến nửa tháng sau. Bỗng một hôm anh Xuân Mai gọi tôi vào buồng làm việc của anh, hỏi lại tôi cặn kẽ chuyến đi thực tế viết bài về cô Trần Hiền Thuý. Tôi nói lại toàn bộ đã gặp những ai, hỏi gì và được đáp ứng ra sao. Anh Xuân Mai nghe xong, mới hỏi:

Chi tiết cô Hiền Thuý giúp giặt quần áo cho cô Hòa ốm, là do cô ấy tự nói ra, hay do ai cung cấp?

Tôi giật mình, rồi thấy lo lắng thực sự khi anh Xuân Mai cho biết: Sau khi đọc bài báo, cô Hoà và cả cô Hiền Thuý đều đem tờ báo lên gặp đồng chí Phan Huyền Cơ, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn. Cô Hòa khẳng định Hiền Thuý chưa bao giờ giặt quần áo cho mình. Hiền Thuý thì chỉ khóc, nói việc ấy là do "nhà báo" tự ý thêm vào! - Anh Xuân Mai bảo tôi:

- Dù sao cũng đã in ra giấy trắng mực đen rồi, không thể sửa chữa được! Khuyết điểm xét đến cùng là do Toà soạn chúng ta, chúng ta phải nhận khuyết điểm ấy với đơn vị... Anh yêu cầu tôi làm một bản kiểm điểm trước chi bộ hợp vào ngày mai, còn hình thức kỷ luật sẽ do chi bộ quyết định!


Rõ ràng đấy chỉ là một chi tiết nhỏ có tính chất phụ. Về mặt khai thác tài liệu, tôi không sai vì chi tiết ấy do chính đồng chí Khách, đại đội trưởng nói ra. Sự thực có thể cô Hiền Thuý có giúp giặt quần áo cho người khác mà không phải cô Hòa. Vì thế, về tính chân thật của bài viết, đúng là có vấn đề!


Hôm sau, trong cuộc họp chi bộ, các ý kiến phân tích khá gay gắt xoay quanh quan điểm báo chí vô sản, tính chiến đấu, tính chân thật và đạo đức nghề nghiệp của phóng viên, uy tín của tờ báo. Nhiều ý kiến, trong đó ý kiến của anh Sông Châu rất căng: "Nếu bài báo nào cũng viết sai để quần chúng phản ứng như bài của đồng chí Xuân Việt, thì thử hỏi còn ai tin vào tờ báo của chúng ta? Chúng ta có làm tròn chức năng "người tập hợp quần chúng" nữa hay không?


Lúc ấy tôi như người ngậm phải cục đắng trong cổ, không thể phân trần được lời nào! Chỉ còn biết tự nguyền rủa: Xuân Việt ơi là Xuân Việt! Sao không hỏi lại người ta một tiếng, có phải bây giờ đỡ phiền phức không? Nhiều ý kiến cũng tỏ ra thông cảm với tôi là phóng viên mới, đi khai thác tài liệu lần đầu, chưa đủ kinh nghiệm, chưa đủ thận trọng.


Chi bộ tuy giơ gậy rất cao, nhưng cuối cùng "hạ đòn" lại không nặng: Không kỷ luật "treo bút" tôi như khung hình phạt, chỉ quyết nghị không công nhận "đảng viên bốn tốt" của tôi trong một quý.

Thế là tôi đang từ trạng thái phơi phới thoả mãn, chủ quan, bỗng như tụt hẫng xuống hố sâu! Đó là bài học đầu tiên khi tôi bước chân vào "làng báo". Từ đó hễ nghe được điều gì, tôi đều bỏ công sức điều tra cẩn thận, rồi mới nói hoặc viết.


Bài học đầu tiên ấy tôi được nhận từ ngành Tuyên huấn quân chủng, đã theo tôi trong suốt quãng đời công tác, kể cả khi còn trong quân đội, đến sau này được chuyển ra cơ quan bên ngoài. Cũng chính nhờ bài học ấy đã rèn cho tôi tính thận trọng, tỉ mỉ, cụ thể trong mọi việc, tạo cho tôi tín nhiệm trong mọi cương vị được giao và cả trong các quan hệ ứng xử sau này.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:53:35 pm
NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG THỜI GIAN LÀM
TRỢ LÝ CÁN BỘ QUÂN CHỦNG PK-KQ


Trịnh Trung Xô


Bị thất bại nặng trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom không điều kiện trên miền Bắc. Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân Mỹ kết thúc.


Ai là cán bộ Cục chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân những năm ấy đều in sâu vào tâm trí mình: Sáng mồng 1 Tết Kỷ Dậu (ngày 16 tháng 2 năm 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc Tết tại Hội trường quân chủng.


Sau khi ân cần thăm hỏi, chúc Tết bộ đội, Bác dặn: "Không tin được Mỹ đâu, chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược, phải luôn sẵn sàng chiến đấu để khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay...".

Quán triệt lời dạy của Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo, chi đạo của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng đề ra nhiệm vụ chung của quân chủng trong năm 1969 là:

"Vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao, vừa tranh thủ thời gian dốc sức xây dựng về chính trị tư tưởng, làm tốt việc kiện toàn tổ chức, biên chế, huấn luyện quân sự, bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật thực hiện ít mà giỏi".

Trung tuần tháng 4 năm 1969, Cục chính trị tổ chức hội nghị kiểm điểm về tình hình công tác chính trị - tư tưởng năm 1968 và quán triệt phương hướng, nhiệm vụ công tác chính trị - tư tưởng năm 1969. Đặc biệt quán triệt sâu sắc 3 công tác lớn về tư tưởng, tổ chức và cán bộ.


Sau hội nghị này, thủ trưởng Cục chính trị chỉ đạo trường Phòng Cán bộ Cao Xuân Việt tổ chức hội nghị sơ kết cuộc vận động "Rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ 4 tốt" của Quân chủng Phòng không - Không quân. Cả Phòng Cán bộ, từ bộ phận kế hoạch, nhân sự, đến hộ phận chuyên môn-kỳ thuật, đào tạo, bồi dưỡng, sôi nổi chuẩn bị ngày đêm các báo cáo điển hình và chọn cán bộ điển hình để báo cáo tại hội nghị. Đầu tháng 5, theo chỉ đạo của Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu, bộ phận chuyên môn - kỹ thuật do tôi phụ trách được tạm điều các kỹ sư đầu ngành như: đại uý Nguyễn Xuân Thiều, kỹ sư tên lửa; đại uý Hồ Thanh Minh, kỹ sư máy bay; Đại uý Hoàng Thế Kỳ, kỹ sư pháo cao xạ; đại uý Phan Thu kỹ sư rađa do tôi làm trưởng đoàn, lần lượt đến các sư đoàn, trung đoàn, nhà trường để khảo sát đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật, nắm số lượng, chất lượng hiện có và xây dựng kế hoạch hoàn thiện về đội ngũ cán bộ chuyên môn - kỹ thuật Quân chủng. Đồng thời điều chỉnh cán bộ chuyên môn - kỹ thuật đã bố trí sai ngành nghề được đào tạo. Chúng tôi gặp gỡ từng người để nắm tình hình cụ thể nên đã đánh giá đúng được năng lực mọi mặt của đội ngũ cán bộ chuyên môn - kỹ thuật của Quân chủng sau 4 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.


Vì vậy trong cuộc vận động "Rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ 4 tốt" đã đề ra mục tiêu phấn đấu để xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên - môn kỹ thuật là phải "vững về chính trị, giỏi về kỹ thuật, thạo về chuyên môn" mà trước kia thường nói là "vừa hồng vừa chuyên".


Đầu tháng 6 năm 1969, Hội nghị chuyên đề xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn - kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân được Cục Cán bộ nhiệt tình ủng hộ và tổ chức với hơn 100 đại biểu, gồm các Chủ nhiệm kỹ thuật các trung đoàn, sư đoàn, cán bộ đầu ngành của Cục Kỹ thuật và Nhà trường, có đại biểu Cục Cán bộ tham dự.


Báo cáo tình hình và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn - kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân của Cục Chính trị do tôi chấp bút, được Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng phê chuẩn, được hội nghị thảo luận sôi nổi và quán triệt.


Đó là niềm tự hào lớn nhất trong 7 năm làm công tác cán bộ ở Phòng Cán bộ Quân chủng PK-KQ của tôi từ 1967- 1974.

Từ dạo ấy tôi được tín nhiệm với Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu. Mỗi lần thủ trưởng Mậu đi kiểm tra đơn vị thường gọi tôi Iheo. Tôi được anh Cao Xuân Việt, anh Phạm Liêm, trưởng, phó phòng cán bộ thường xuyên cử đi xin chữ ký thủ trưởng Mậu.


Anh Phạm Liêm thường nói: "Giao cho đồng chí Xô xin chữ ký anh Mậu là nhanh nhất, không phải thập thò chờ đợi lâu".

Thật vậy, mọi việc từ nhận xét đánh giá cán bộ, điều động bổ nhiệm, đề bạt, cử đi nghiên cứu sinh, chuyên tu, thực tập sinh ở nước ngoài, đến phát hiện cán bộ điển hình, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong đội ngũ cán bộ chuyên môn - kỹ thuật cao cấp của quân chủng, tôi đều chuẩn bị kỹ để báo cáo cấp trên. Hầu hết các báo cáo đều được nhất trí thông qua. Có thể nói, tôi chưa để xảy ra trường hợp nào sai sót đáng kể đối với đội ngũ kỹ sư, bác sĩ và cán bộ chuyên môn bậc đại học trong quân chủng.


Chính vì vậy, tôi thật sự tự hào trong thời gian làm trợ lý cán bộ ở Quân chủng Phòng không - Không quân. Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Không gì vui sướng hơn là tuy đã nghỉ hưu, nhưng gặp lại anh em cán bộ chuyên môn - kỹ thuật Phòng không - Không quân cũ, đều tay bắt mặt mừng, thân tình thăm hỏi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:56:50 pm
PHÁI VIÊN... "BAY"


Trần Quốc Hanh


Trong kháng chiến chống Mỹ, việc cử phái viên xuống các đơn vị để trực tiếp nắm, theo dõi, kiểm tra, nghiên cứu tình hình thực tể, phát hiện vấn đề lãnh đạo, chi đạo công tác đảng, công tác chính trị cho quân chủng và hỗ trợ đơn vị thực hiện nhiệm vụ trong mọi tình huống, luôn luôn là việc thường xuyên, liên tục và đã trở thành tác phong, phương pháp công tác truyền thống, có hiệu quả của Cục Chính trị quân chủng. Phần lớn cán bộ, trợ lý các phòng chức năng đều được Cục nhiều lần phái đi làm nhiệm vụ này. Những chuyển đi làm phái viên chính trị đến các đơn vị, các địa phương có hoạt động chiến đấu của bộ đội PK-KQ, trực tiếp được tham dự không ít các trận đánh, các cuộc hành quân cơ động chiến đấu, các đợt hoạt động tác chiến liên tục của gần như đủ hết các loại binh chủng trong quân chủng trên các chiến trường miền Bắc, miền Trung, và sau là ở cả miền Nam, đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc và kỷ niệm sâu sắc. Nhưng quan trọng hơn đã giúp tôi học được rất nhiều, trưởng thành lên rất nhiều trong thời kỳ đó.


Không thể kể hết được những chuyến đi đầy cảm xúc và kỷ niệm ấy. Chỉ xin ghi lại một chuyến đi thú vị, "hơi đặc biệt" đối với tôi để góp chút "nhớ lại và suy nghĩ" về Cục Chính trị PK-KQ thân yêu của chúng ta trong kháng chiến chống Mỹ.


Ngày 25 tháng 12 năm 1965, chỉ còn 25 ngày nữa là Tết Nguyên đán Bính Ngọ, tôi từ Ban chính trị Trung đoàn không quân tiêm kích 921, được điều về làm trợ lý giáo dục quân chủng. Là "lính mới" từ đơn vị chiến đấu lên, nên tôi được ưu tiên trực chiến ở Phòng Tuyên huấn đến hết ngày Ba mươi. Từ tối Ba mươi Tết là tôi được nghỉ về cùng gia đình ăn Tết. 18 giờ chiều 30 Tết, tôi bàn giao nhiệm vụ cho kíp trực thay thế xong, đang mang xe đạp ra để về cho kịp đón giao thừa với gia đình, nơi vợ tôi dạy học cách Hà Nội hơn 10 cây sổ, thì được lệnh lên gặp ngay Phó Chủ nhiệm Chính trị Phan Khắc Hy. Cùng lên gặp "cụ" Hy với tôi còn có anh Nhuận, trợ lý Phòng Tổ chức. Cục phó Hy nói ngắn gọn: "9193 (Trung đoàn Không quân vận tài cùa Quân chủng PK-KQ) có nhiệm vụ quan trọng đột xuất: Tranh thủ thời gian ngừng bắn4 (Cuộc ngừng bắn tạm thời trên tất cả các chiến trường từ chiều 30 đến hết ngày mồng 2 Tết "để quân đội hai bên và nhân dân được ăn Tết trong yên bình" do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đề xuất và Mỹ - nguỵ cũng buộc phải ra tuyên bố tương tự mà thực hiện), bí mật thả hàng tiếp tế cho các đơn vị ở mặt trận phía Tây5 (Chiến trường C) trong hai đêm Ba mươi và Mồng một Tết. Hai đồng chí xuống đó theo dõi xem đơn vị thực hiện nhiệm vụ như thế nào. Chú ý các vấn đề công tác Đảng, công tác chính trị, nhất là công tác tư tưởng và hoạt động của các tổ chức Đảng. Sẽ còn nhiều lần 919 phải làm nhiệm vụ tương tự, cần rút được kinh nghiệm thực tế cho những lần sau. Có gì kịp thời báo cáo về Cục".


Thoáng trong tiếc nuối: "*Thôi rồi, Lượm ơi!...*6 (*...* nhại thơ Tố Hữu) thế là hết Tết". Nhưng lập tức tôi nghĩ lại: "919 đang ra tiền tuyến! Ra tiền tuyến làm nhiệm vụ ngày Tết mới đúng là lính chiến. Đi thôi!"

Với tâm tư như vậy, tôi và anh Nhuận khẩn trương lên đường. Chúng tôi đạp xe lướt qua phố phường Hà Nội. Tuy vắng vẻ vì nhân dân đã đi sơ tán nhiều, nhưng không khí Tết vẫn tưng bừng với hoa đào, câu đối, tranh Tết... Đâu đó vẫn quyện mùi hương trầm, bánh chưng thơm nức lan toả.


Đến 919, trời đã tối mịt. Sân bay mênh mông trong đêm như rung chuyển bởi tiếng máy nổ ồn ã của các loại ô tô, xe máy kỹ thuật, hậu cần đang chạy rầm rập xen lẫn tiếng gầm rít ào ào của động cơ máy bay. Đèn gầm của ô tô, đèn công tác của máy bay, máy kỹ thuật và đèn chiếu sáng có chụp phòng không, tạo thành những quầng sáng khắp khu vực đỗ máy bay rộng lớn. Mỗi quầng sáng là một điểm chuẩn bị cuối cùng và là nơi tập kết, xếp hàng tiếp tế lên một máy bay. Quanh chiếc IL-14 to kềnh, người, xe, máy, phương tiện kỹ thuật, hàng hoá... nhộn nhịp di động, đan xen, chen chúc trong một không gian chật hẹp. Tuy ánh sáng hạn chế, song công việc vẫn được tiến hành hối hả, khẩn trương, cẩn trọng, trật tự. Quang cảnh và không khí làm việc đó đã lôi cuốn chúng tôi ngay khi vừa đặt chân đen những quầng sáng ấy. Tôi vội vã tìm gặp Chính uỷ Hồ Luật và Chủ nhiệm chính trị trung đoàn Hoàng Bái để báo cáo nhiệm vụ của mình và được các đồng chí đó cho biết sơ bộ tình hình đơn vị. Sau đó hai chúng tôi chia nhau cùng cán bộ cơ quan chính trị trung đoàn hoà ngay vào guồng máy công tác đang vận hành khẩn trương, sôi nổi để trực tiếp quan sát, tìm hiểu tình hình cụ thể.


20 giờ, chiếc IL-14 đầu tiên bắt dầu cất cánh. Sân bay bỗng bừng sáng bởi hộ thống đèn dạ hàng trên đường băng được bật lên. Máy bay dời khỏi đường băng, sân bay lại chìm vào trong bóng tối. Cứ cách 15, 20 phút, sân bay lại sáng lên một lúc như vậy. Khi chiếc IL-14 thực hiện chuyến thả hàng thứ nhất trong đêm cất cánh hết, đã 21 giờ. Tiếng ầm ào của động cơ máy bay lặng tắt. Sân bay bỗng trở nên yên tĩnh lạ thường. Tiếng người, tiếng ô tô, xe máy di động điều chỉnh đội hình để đón máy bay trở về và chuẩn bị cho chuyến bay thứ hai của đêm ấy như nhỏ hẳn đi. Máy bay địch cũng im ắng, không thấy hoạt động. Bầu trời đêm thăm thẳm như cao hơn, trong hơn. Tiếng nhạc truyền thanh và tiếng pháo rải rác lúc to, lúc nhỏ từ thành phố bên kia sông vọng đến như nhắc chúng tôi mùa Xuân đang tới. Theo tính toán phải ba, bốn tiếng đồng hồ nữa các đội bay mới hoàn thành nhiệm vụ, về đến căn cứ. Hai chúng tôi tiếp tục cùng cán bộ của trung đoàn đi nắm tình hình, động viên và chúc Tết các bộ phận công tác mặt đất trong thời gian chờ đợi. Ngồi cùng anh em tranh thủ uống chén nước chè, ăn miếng bánh chưng, mứt Tết các loại do hậu cần mang ra để mừng Xuân mới mà trong lòng chúng tôi vẫn thắc thỏm, ngóng chờ tin tức của các đội bay đang lặng lẽ xuyên màn đêm trong không trung trên bạt ngàn núi rừng trùng điệp ở miền Tây xa xôi.


Riêng tôi, lòng càng không yên khi tự thấy việc nắm tình hình như vậy còn sơ sài và hời hợt quá. Phần vì, đây là lần đầu tiên tôi mới được tiếp xúc với Không quân vận tải, chưa có hiểu biết gì về tổ chức, con người, trang bị vũ khí kỹ thuật và hoạt động của binh chủng này nên việc nhận biết về nhân vật, sự việc, hiện tượng... đã khó, việc nắm bắt thực chất nội dung, chất lượng hoại động của các nhân vật, sự việc, hiện tượng ấy trong guồng máy đang vận hành khẩn trương lại càng khó hơn. Phần vì, khâu chủ yếu, khó khăn, phức tạp, nguy hiểm nhất, trực tiếp quyết định thắng lợi cũng là khâu kiểm nghiệm quan trọng nhất kết quả, chất lượng, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ và CTĐ, CTCT của đơn vị là khâu thực hành bay, thì phái viên chính trị như mình lại phải ngồi "tít" ở căn cứ mặt đất mà "nắm bắt tình hình" (!). Thà như ở Trung đoàn 921 (đơn vị tôi đã công tác ở đó 4,5 năm), mỗi máy bay chỉ có một chỗ ngồi cho phi công, thời gian bay làm nhiệm vụ trên không chỉ tính bằng phút thì cán bộ chính trị đành chịu, không thể cùng bay để theo dõi, khảo sát thực tế. Đằng này, máy bay vận tải chứa được nhiều người và hàng hoá, mà mình lại ở dưới mặt đất mà "theo dõi" các đội bay, (mỗi đội là một tổ chức, một tập thể hàng chục người) hoạt động chiến đấu ở trên không ban đêm trên những vùng trời xa xôi hàng 3,4 tiếng đồng hồ và hơn nữa? Thời gian chờ đợi anh em về càng lâu, tình hình bay của anh em lại không được biết vì không có liên lạc vô tuyến điện khiến tôi cảm thấy bức xúc. Sự đồng tình của anh Nhuận với suy nghĩ đó lại càng làm cho tôi thấy bức xúc hơn.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:57:46 pm
23 giờ, chiếc máy bay cất cánh đầu tiên quay về đến sân bay. Đường băng lại lần lượt sáng bừng lên từng lúc cho các máy bay hạ cánh. Chuyến đi thả hàng thứ nhất trong đêm của các đội bay đã hoàn thành tốt đẹp, an toàn, không gặp bất trắc gì về cả kỹ thuật, thời tiết và tình hình dịch. Chiếc máy bay cuối cùng về đến bãi đồ vừa đúng giao thừa. Cả sân bay đều dừng mọi hoạt động, thành kính và xúc động lắng nghe tiếng nói ấm áp của Bác Hồ chúc Tết từ những chiếc máy thu thanh, máy thông tin vô tuyến được bật lên ở mọi điểm công tác trên sân bay. Lời Bác như tiếp thêm sức mạnh cho đơn vị tiếp tục lao vào chuẩn bị và tiến hành chuyến bay thứ hai, đồng thời cũng thôi thúc tôi phải tìm cách gì đó để giải toả nỗi bức xúc của mình.


Tôi và anh Nhuận tìm gặp Chính uỷ Hồ Luật đề nghị cho chúng tôi được bay cùng anh em trong chuyến bay thứ hai. Anh Luật nói: "Các anh là phái viên của Cục Chính trị, việc để các anh lên máy bay đi làm nhiệm vụ chiến đấu phải được sự đồng ý của Cục mới được!" Thế là đêm đó, chúng tôi lại tiếp tục "theo dõi" ở dưới mặt đất. Rất mừng là chuyến thả hàng thứ hai của 919 cũng hoàn thành trọn vẹn, an toàn tuyệt đối. Dù sao chúng tôi cũng có không ít niềm vui và tin tức tốt lành đem về báo cáo với Cục.


Gần 5 giờ sáng mồng Một Tết, hai chúng tôi mới về đến cơ quan. Đến 6 giờ, cả hai cùng lên báo cáo với thủ trưởng Cục. Báo cáo xong, chúng tôi nói luôn những suy nghĩ về sự hạn chế trong nắm bắt, phát hiện tình hình của mình và đề nghị cho chúng tôi được trực tiếp theo sát anh em trong giai đoạn thực hành bay trên không. Phó Chủ nhiệm Phan Khắc Hy cười vui vẻ: "Làm được thế thì chỉ có tốt thôi. Để mình ghi rõ vào giấy giới thiệu, đồng thời gọi điện thoại trực tiếp nói với anh Luật tạo điều kiện thuận lợi cho các cậu. Nhưng... đi là phải về an toàn đấy nhá!" Phấn khởi, yên tâm, chúng tôi thanh thản về phòng, ngủ bù thẳng một giấc đến quá trưa mới dậy ăn xuất cơm Tết của cơ quan để phần đã nguội.


18 giờ tối mồng Một, chúng tôi lại có mặt ở 919.

Gần 20 giờ, sau khi thống nhất với chúng tôi về yêu cầu, nội dung chuyến "Phái viên bay", Chính uỷ Hồ Luật và Chủ nhiệm Chính trị Hoàng Bái dẫn mỗi người chúng tôi đến một chiếc IL-14. Anh Luật tế nhị nói: "Mỗi anh đi với một chiếc cho máy bay đỡ nặng. Có gì, dễ xoay sở". Chúng tôi cười, hiểu rõ những ẩn ý đằng sau câu nói đa nghĩa đó. Dẫn tôi đến gặp đồng chí Bang, Đại đội phó Đại đội IL-14 và là lái chính, cơ trưởng chiếc máy bay tôi sẽ đi cùng, anh Luật giới thiệu: "Đồng chí Hanh, phái viên Cục Chính trị quân chủng sẽ đi cùng các đồng chí chuyến bay này để khảo sát thực tế. Cố gắng tạo thuận lợi và bảo đảm an toàn nhé!". Anh Bang yên lặng nhìn tôi một lát rồi mới bắt tay, nói nhanh: "Các thủ trưởng yên tâm, mấy khi có phái viên chính trị bay cùng anh em, xin mời..." rồi vội xin phép tiếp tục đi kiểm tra chuẩn bị bay. Tôi thấy hơi băn khoăn, không biết đồng chí ấy "vui vẻ" hay "miền cưỡng" khi phải tiếp nhận một anh chàng phái viên lạ hoắc như mình đi cùng cho thêm rối bận và phiền phức(?). Ngay sau đó, một phi công, theo lệnh của cơ trưởng, mang đến một chiếc dù và huấn luyện cấp tốc cho tôi biết cách khoác dù và chốt khoá trong đêm sao cho nhanh, chuẩn xác (cả dù chính và dù phụ) cùng những thao tác cơ bản khi nhẩy dù. Tập đi tập lại đến khi tôi đã tạm gọi là đạt yêu cầu, đồng chí đó mới đưa tôi, với chiếc dù đeo chắc chắn trên người, lên máy bay và xếp chỗ cho tôi ngồi ở chiếc ghế gấp bên phải khoang máy bay, sát buồng lái. Đồng chí hướng dẫn tôi nơi và cách móc dây mở dù tự động, cách thoát ra khỏi máy bay bằng cửa thoát hiểm. Tôi tiếp thu sự hướng dẫn đó với tâm trạng vừa háo hức vừa "rờn rợn". (Đâu phải chuyện đùa. Ai dám chắc là sẽ không có lúc phải dùng đến?) Đồng chí đó còn dặn tôi:


"Ngoài lúc máy bay cất cánh và hạ cánh, khi cần thiết anh có thể đi lại đôi chút trong máy bay, nhưng nhớ là không được dời xa chiếc dù. Khi có chuyện gì xảy ra, cứ theo hướng dẫn của chúng tôi!" Thật là chu đáo. Khi biết tôi lần đầu tiên tiếp xúc với Không quân vận tải, và cũng là lần đầu tiên được "bay", đồng chí đó còn nhiệt tình chỉ dẫn cụ thể vị trí, nhiệm vụ của các thành viên trong tổ bay, đội thả dù, các thiết bị trong buồng lái và khoang vận tải, hệ thống tín hiệu bên trong máy bay, những đặc điểm, trạng thái và hành động cần chú ý khi bay, khi thả dù... cho tôi nhận biết để dễ theo dõi, nắm tình hình, chủ động ứng xử trong các tình huống xảy ra. Sự nhiệt tình, chu đáo và những nội dung thiết thực đồng chí đó hướng dẫn làm cho tôi không còn ngại anh em tổ bay không "hoan nghênh" mình nữa. Đồng thời cũng đỡ bỡ ngỡ, lo lắng về triển vọng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có nghĩa là với chính tôi, ngay bước đầu lên máy bay đã được anh em làm công tác chính trị với mình rất tốt rồi. Thế đấy!


20 giờ 30 phút máy bay cất cánh. Thời tiết đêm nay không tốt bằng đêm qua. Trời đầy mây. Dời khỏi đường băng, máy bay nghiêng cánh chào từ biệt thành phố và dòng sông Hồng đang lấp lánh phía dưới. Dán mắt vào cửa sổ máy bay, cố nén cảm giác bồng bềnh, nôn nao, tôi giơ bàn tay áp vào cửa sổ mà vẫy nhẹ, miệng thì thầm "Chào Hà Nội, chào Tết, chào mọi người và gia đình thân yêu, tôi bay đây". Trong lòng tôi chợt thoáng nghĩ:"Biết đâu có thể đây lại là lời chào cuối cùng!" Nhìn quanh, tổ lái đang tập trung cao độ vào công việc, không thể biết các anh đang nghĩ gì trong đầu. Còn anh em đội dù thì phần lớn cũng như tôi, đang dán mắt vào cửa sổ máy bay nhìn xuống mặt đất, không biết anh em có suy nghĩ giống tôi không?


Một tiếng chuông nhỏ vang lên. Máy bay bắt đầu vào hành trình ổn định. Lập tức, tất cả đèn trong và ngoài máy bay (đèn dạ hàng) đều phụt tắt. Liên lạc vô tuyến điện với mặt đất cũng ngắt luôn. Trong máy bay yên lặng, tối đen, chỉ có buồng lái có chút ánh dạ quang xanh lét trên mặt mấy chục chiếc đồng hồ bay và hàng trăm nút công tắc hắt sáng lên những nét mặt kiên nghị đang tập trung cao độ vào công việc của các phi công. Tôi đứng dậy đến sát cửa buồng lái, nhìn vào xem tổ lái hoạt động ra sao. Đồng chí dẫn đường ngồi gần đó quay lại nhìn tôi, nói nhỏ: "Bắt đầu phải bay bí mật anh ạ!" Tôi hỏi: "Độ cao bay lúc này là bao nhiêu?". "300 !". Ra vậy, bí mật bay đêm là bay thấp, tắt đèn, tắt liên lạc vô tuyến, như thế đấy!


Máy bay bay khá ổn định. Nhờ ánh sáng mờ từ ngoài trời lọt qua cửa sổ vào trong khoang, tôi men theo các kiện hàng để đến với bộ phận thả dù, tranh thủ tìm hiểu tình hình. Gần như cả sáu đồng chí của đội dù đều đã ngồi mà ngủ khá say sưa trên ghế của mình dọc hai bên khoang máy bay, không cần biết xung quanh đang xảy ra chuyện gì. Tôi không ngạc nhiên chút nào. Đêm qua anh em đã thức trắng thả hàng, ngày hôm nay lại quần quật nhận hàng, đóng kiện, ghép dù, bã cả người ra, giờ không dễ dàng ngủ lịm ở bất cứ đâu, bất cứ tư thế nào, thì mới lạ. Sợ làm mất giấc ngủ quý báu của anh em, tôi ngồi im trên ghế nhìn ra ngoài trời, đợi. Một lát sau, có người chợt tỉnh giấc ngơ ngác nhìn quanh, tôi mới tìm đến hỏi chuyện. Rất may người đó lại là tổ trưởng tổ thả hàng. Qua trao đổi và được đồng chí ấy cho biết khá cụ thể về từng người trong tổ, cách đóng gói, sắp xếp và thả những kiện hàng. Tôi thấy yên tâm về tình hình tư tưởng, quyết tâm và trách nhiệm đối với nhiệm vụ của anh em cũng như chất lượng công việc anh em đã làm. Nhưng đồng thời tôi cũng chớm nhận thấy những biểu hiện hình như anh em chưa được chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, tinh thần, kỹ năng và phương tiện bảo đảm cần thiết cho hành động trong các tình huống, nhất là tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Đặc biệt khi phải bay trên vùng rừng núi, biên giới, vùng kiểm soát... song chưa dám khẳng định.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:58:24 pm
Càng bay về hướng tây, thời tiết càng xấu. Mây dầy đặc, trần mây hạ thấp xuống dưới những sườn núi đen xẫm. Máy bay phải nâng độ cao xuyên lên trên mây mà đi, vượt qua những luồng khí lưu khá mạnh, khiến máy bay cứ tụt xuống, trồi lên liên tục. Người tôi thấy hẫng hụt, nôn nao cứ như sắp bị sổ cả gan ruột ra ngoài. Tôi cố gắng tập trung nghĩ về công việc, lần về cạnh buồng lái theo dõi, quan sát để cố át đi cảm giác nôn nao, hẫng hụt ấy. Cũng may mọi thứ đều qua đi. Lên trên mây, máy bay đỡ xóc hơn. Bầu trời đầy sao làm sáng cả tầng mây phía dưới với những ngọn núi cao xẫm mầu nhô lên từng mảng lớn. Tôi ngồi quan sát cửa buồng lái, lặng lẽ lắng nghe và xem anh em tổ bay làm việc. Qua quan sát trực tiếp, tôi có thế thấy khá rõ sự vững vàng về tinh thần cũng như về kỹ thuật, hiệp đồng điều khiển máy bay của anh em.


Đang bay, bỗng có ai đó nói to: "Hướng 10 giờ có máy bay địch!" Trong khoang máy bay có chút xao động. Lập tức tiếng cơ trưởng Bang vang lên rõ ràng, mạch lạc qua loa tăng âm nội bộ: "Tất cả bình tĩnh, tăng cường quan sát, sẵn sàng hành động theo lệnh của cơ trưởng !" Mọi người đều yên lặng, chăm chú quan sát vùng trời bên ngoài. Không thấy gì ngoài mấy ngôi sao rất sáng phía trên những ngọn núi xa tít tắp. Ánh sao bị không khí khúc xạ nhấp nháy lúc xanh lúc đỏ, lúc sáng lúc tối, như đang dịch chuyển theo máy bay. Gần mười giây trôi qua, mọi người gần như đông thời thở phào: "Báo động nhầm!" Máy bay lại bình thản tiến về phía trước. Không biết, nếu thật có máy bay địch tiếp cận tiến công thì chiếc IL-14 cũ kỹ, chậm chạp, không có vũ khí tự vệ đang bay lặng lẽ một mình trong đêm này sẽ chống đỡ, thoát ra như thế nào đây? Tôi chưa biết được phương án đối phó của tổ bay, tuy không nói ra nhưng lòng tôi như thắt lại khi nghĩ đến anh em trong tình huống "cuối cùng" đó!


22 giờ 00, một tiếng chuông nhỏ vang lên. Một bóng đèn xanh nhỏ bật sáng, báo hiệu máy bay bắt đầu đi vào không phận bãi thả hàng. Đồng chí cơ giới trên không đi về phía sau, chuẩn bị mở cửa máy bay. Anh em đội dù cũng bật dậy, tấp nập mở khoá, tháo dây chằng, dỡ hàng rồi chuyển dần ra sát cửa, xếp thành từng chồng trên giá thả hàng, cao bằng chiều cao khung cửa, móc dây khoá mở dù tự động của các kiện hàng vào thanh kim loại gắn trên cửa máy bay, để sẵn sàng đẩy hàng xuống khi cửa máy bay mở. Trong lúc đó ở buồng lái, anh em tổ bay cũng đang căng mắt ra quan sát mặt đất bên dưới. Chỉ thấy rất nhiều đám mây bồng bềnh trôi, che lấp cả núi non, thung lũng, không thấy mục tiêu và những tín hiệu quy định đâu cả (!). Kiểm tra đường bay. Không có sai lệch. Cơ trưởng ra lệnh: "Vòng lại, tất cả quan sát rộng ra!" Máy bay vừa bắt đầu nghiêng cánh lượn vòng thì đồng chí dẫn đường reo lên: "Kia! Nó kia kìa!". Hơi chếch về phía trái máy bay, qua một khoảng trống giữa những đám mây rải rác, nhiều người cùng một lúc nhìn thấy dưới mặt đất ba đống lửa lớn xếp thành một tam giác cân, đỉnh nhọn theo hướng máy bay tới, giữa tam giác là một dấu nhân bằng lửa sáng rực. Cơ trưởng phấn khởi reo lên: "Dẫn đường xác định chính xác toạ độ mục tiêu, tính kỹ đường bay để dù có bị vướng mây cũng thả thật chuẩn!" Cũng may, khi máy bay vòng lại đến khu vực thả hàng thì trên không phận của mục tiêu gần như không còn đám mây nào che phủ nữa. Hướng vào tín hiệu "lửa", máy bay hạ thấp dần độ cao thả hàng có lợi nhất, bay thẳng đến mục tiêu. Tất cả đều sẵn sàng, hồi hộp chờ đợi. Một hồi chuông nhỏ vang lên. Một bóng đèn đỏ bật sáng. Cửa bên trái khoang máy bay mở rộng, một khẩu lệnh ngắn gọn phát ra: "Thả!". Gió trời thốc qua cửa vào máy bay mạnh như bão, làm cho máy bay rung lên, tạo thành lực cản khá mạnh. Nhưng từng kiện hàng lớn vẫn nhanh chóng, lần lượt được các anh em đẩy ra khỏi cửa máy bay, rơi xuống mất hút vào vực đêm thăm thẳm. Mỗi kiện hàng được đẩy xuống lại có một kiện hàng khác được anh em phía trong chuyển ra, xếp lên thay thế, liên tục không ngừng. Tôi đứng trong khoang, thấy anh em chuyển hàng vội vã, nặng nhọc liền xáp vào khiêng đỡ một tay. Vừa ra đến sát cửa, định cùng đẩy hàng xuống thì có ai đó đằng sau kéo giật trở lại, kèm theo một giọng nói như quát: "Đồng chí không có đai bảo hiểm, không được ra đây!" Tôi vừa lùi lại, vừa nhìn xuống khoảng không tối đen dưới chân mà rùng mình. Thoáng cái, tiếng chuông lại vang lên. Đèn đỏ tắt. Cửa máy bay đóng lại. Thời gian mười hai giây thả hàng của vòng bay đã hết. Mọi người lại tập trung chuẩn bị và thực hiện vòng bay thả hàng tiếp sau. Các vòng thả hàng sau đều diễn ra thuận lợi và có vẻ dễ dàng, nhanh hơn vòng thả hàng thứ nhất. Sau ba vòng, hàng trên máy bay được thả hết. Cơ trưởng hồ hởi thông báo: "Hàng đã thả hết xuống mục tiêu, tất cả kiểm tra lại phương tiện, thiết bị, ổn định vị trí, chấp hành nghiêm kỷ luật, trật tự trên đường về!". Do không được liên lạc vô tuyến điện với mặt đất nên chưa biết dưới đó tiếp nhận hàng hoá có đầy đủ, an toàn không, nhưng trong lòng chúng tôi vẫn cảm thấy hết sức thư thái, nhẹ nhàng như vừa cất được một gánh nặng.


Đường về bình yên, thuận lợi và tình hình êm ả, ít xóc và nhanh hơn lượt đi nhiều. Trừ anh em tổ bay vẫn làm việc căng thẳng, còn anh em đội dù thì hoàn toàn được thư giãn. Khoang máy bay trống rỗng, anh em tranh thủ nằm luôn trên sàn cho giãn gân cốt sau những phút lao động cật lực, căng thẳng và quyết liệt. Còn tôi, sau khi vào buồng lái chúc mừng thành công của giai đoạn thả hàng, cũng thoải mái ngồi bệt luôn xuống sàn máy bay, lưng tựa vào bao dù, vừa quan sát tổ lái vừa ngẫm nghĩ lại thời khắc bay thả hàng vừa qua. Thật là khó khăn, vất vả và nguy hiểm. Có trực tiếp tai nghe, mắt thấy và cùng trải nghiệm mới thấy khâm phục anh em biết bao và cũng thấy ra khá nhiều vấn đề về công tác chính trị tư lưởng, tổ chức chỉ huy, huấn luyện, trang thiết bị, chế độ chính sách đối với anh em cần phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Chuyến đi này thật đáng giá.


Bất chợt tiếng đối thoại giữa tổ bay và Sở chỉ huy ở căn cứ vang lên. Liên lạc VTĐ với mặt đất được nối lại, báo hiệu máy bay đã về đến không phận của sân bay, bắt đầu tiến vào hàng tuyến hạ cánh. Tất cả chúng tôi đều bật dậy, ngồi lên ghế, dán mắt nhìn qua cửa số. Máy bay xuống thấp dần, thấp dần. Hàng đèn hai bên đường băng tiến gần lại rồi vùn vụt lướt qua cửa sổ chạy về phía sau trong màn mưa bụi mờ ảo. Máy bay nẩy lên khi tiếp đất rồi tiếp tục chạy trên đường băng, mỗi lúc một chậm dần. Lòng tôi trào dâng niềm hạnh phúc: "Hoàn thành nhiệm vụ rồi! Về đến nhà an toàn rồi. Anh em ơi! Hà Nội ơi! Gia đình thân yêu ơi!".


Máy bay dừng hẳn và tắt máy. Dưới mặt đất, người và xe, máy ào đến. Trước khi xuống máy bay, tôi tháo dù, đến chào tạm biệt anh em, một lần nữa chúc Tet, chúc mừng tổ bay và đội dù đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khác với lúc đi, cơ trưởng Bang và anh em đều hồ hởi, thân tình bắt tay và ôm lấy tôi mà chào, mà chúc những lời tốt đẹp, đầy tình cảm thân thiết khiến tôi sung sướng, cảm động đến nghẹn lời. Qua chuyến bay thắng lợi này, tôi đã được anh em chấp nhận như một đồng đội thực sự.


Gần 12 giờ đêm mồng Một Tết Bính Ngọ, chiếc máy bay cuối cùng hạ cánh xuống sân bay an toàn. Toàn bộ nhiệm vụ đặc biệt của 919 hoàn thành thắng lợi (vì đêm nay chỉ có một chuyến thả hàng và là chuyến cuối cùng). 1 giờ sáng mồng Hai Tết, tôi và anh Nhuận mới dời khỏi sân bay, đạp xe trở về Cục Chính trị. Mưa Xuân nhè nhẹ rơi. Giọt Xuân đọng trên các lộc Xuân mới nhú dưới ánh đèn phản chiếu long lanh. Chúng tôi đạp xe chầm chậm trong đêm phố Xuân lặng lẽ mà lòng phơi phới, dù vẫn nhớ rằng thời khắc thanh bình này chỉ là tạm thời. Cuộc chiến đấu còn tiếp tục, quyết liệt và chuyến bay vừa rồi là một sự kiện trực tiếp, không cho phép chúng tôi được lãng quên điều đó.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 07:59:33 pm
MỘT NIỀM VINH DỰ


Trần Cường


Công việc cách mạng, việc nào cũng có khó khăn, không có việc nhàn, đòi hỏi người cán bộ công tác tư tưởng - văn hoá tư tưởng phải đem hết tinh thần trách nhiệm mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ, nhất là công tác xuất bản sách, báo. Chỉ một vài sơ xuất tưởng là nhỏ, lại gây tác hại lớn bởi vì đã là sách báo in ra, sẽ đến tay đông đảo hàng vạn, hàng triệu bạn đọc. Những câu chuyện sau đây là mấy ví dụ mà tôi đã rút ra được:

- Cách đây không lâu, phần lớn ta phải in bằng phương tiện in chữ chì. Chì là loại hợp kim mềm, hay bị mòn, phải định kỳ đúc lại, nhưng cơ sở đúc chữ rất ít, lại do kinh phí eo hẹp, nên sách báo in ra thường bị "Ruồi" tức là lem nhem, vừa đọc vừa đoán nên mới dễ sinh ra sai sót. Chẳng hạn báo đưa tin vị X đọc diễn văn khai mạc... Chữ "diễn" phải là chữ n ở cuối, nhưng chữ n bị toét mà lại xếp ngược trở lại, chữ n trở thành chữ u, chừ d cũng toét, thế là đọc diễn văn lại thành đọc điếu văn khai mạc!

 - Báo đưa tin: Ngày lễ X, đoàn diễu hành tiến về phía... Chữ i mảnh lại bị cùn, khi in không nhìn thấy, nên câu đó trở thành: Ngày lễ X, đoàn diễu hành tiến về phá...!

- Ngày Tết, các báo in thiếp chúc Tết của Chủ tịch nước. Thiếp này do Nhà nước in phát, các báo đều in lại và tất nhiên phải đúng mẫu. Các báo đều thế cả, nhưng có báo do người biên tập non tay đã làm sai. Đó là trên thiếp chúc Tết, dưới Quốc huy, có chữ in màu đỏ "Chúc mừng năm mới," cái dấu phẩy này là phải có, rồi mới xuống dòng đến nội dung chúc mừng in chữ đen. Nhưng Ban biên tập báo do chủ quan cho rằng dấu phẩy là không cần thiết nên tự ý bỏ đi, thế là tự sửa văn của trên nên báo phải in lại, chậm thời gian phát hành và tốn kém tiền của.

- Đầu năm 1984, Bộ Tư lệnh Quân chủng Không quân ra quyết định thành lập Hội đồng xuất bản Quân chủng Không quân, do đồng chí Tư lệnh Trần Hanh làm chủ tịch và 6 uỷ viên Hội đồng xuất bản gồm Phó Tham mưu trường Bộ Tham mưu, Chủ nhiệm hoặc Phó chủ nhiệm các Cục Chính trị, Kỹ thuật, Hậu cần, Huấn luyện nhà trường là uỷ viên và tôi được chỉ định là uỷ viên thường trực. Quy định trách nhiệm các cơ quan phải chịu trách nhiệm về nội dung bản thảo thuộc cơ quan mình. Sau khi Hội đồng xuất bản quân chủng duyệt, cấp phép mới được in, nếu phát hành trong phạm vi quân đội thì phải được Cục Xuất bản quân đội duyệt và nếu phát hành rộng rãi ra bên ngoài thì phải xin phép Cục Xuất bản Bộ Văn hoá. Nhà máy in chịu trách nhiệm in theo giấy phép đã được duyệt và in theo đúng bản thảo. Như vậy là quy định trách nhiệm rất rõ ràng.


Đầu tháng 4 năm 1984, để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng tôi nhận được bản thảo cuốn tạp chí "Lịch sử quân sự" do trên cho phép in tại Nhà máy in Không quân, vì trước đây nhà máy in KQ đã được tín nhiệm in mấy số tạp chí "Lịch sử quân sự" rồi. Chức trách đã quy định rõ như trên đã nói, nhà máy in chỉ việc in đúng bản thảo là hoàn thành nhiệm vụ. Thế nhưng khi đọc bản thảo để triển khai, chúng tôi thấy có điều lấn cấn thuộc nội dung các bản thảo, ấy là các bài viết của các vị tướng lĩnh viết về chiến dịch Điện Biên Phủ, phần lớn đều có những câu: Điều đơn vị X bao vây nơi nọ, đơn vị Y đánh chỗ kia, đơn vị B giải phóng vùng này v.v... Tôi suy nghĩ và trao đổi với cán bộ biên tập Viện Lịch sử quân sự là anh Lâm: "Về nội dung bản thảo, tôi thấy có vấn đề này xin trao đổi với anh. Về nhiệm vụ, chúng tôi có trách nhiệm in đúng bản thảo như đã quy định, nên vấn đề tôi nêu ra nếu đúng thì các anh nghe, còn không đúng thì qua." Anh Lâm trả lời: "Xin anh cứ nói!". Tôi bảo: "Như chúng ta đã biết, từ năm 1951, Đại hội Đảng ta đã lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông dương đã giải thể. Ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đều có Đảng, Chính phủ, Quân đội riêng. Nhiều bài viết của các vị cấp trên có nhẽ viết từ sau năm 1954 và có tính chất tổng kết Chiến dịch trong nội bộ quân đội, nên thường nói điều đơn vị nọ đánh chỗ nọ, đơn vị kia đánh chỗ kia cứ như trên đất mình. Nay đã là năm 1984, kỷ niệm 30 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, lại có Hội thảo quốc gia, quốc tế, nếu để thế này liệu có trái đường lối đối ngoại không? Anh nên xin ý kiến của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam xem kẻo khi phát hành rồi, Quân uỷ hỏi Bộ Quốc phòng, Bộ lại hỏi Viện thì khổ đấy!". Anh Lâm nghe có vẻ buồn và lo vì phải sửa, phải duyệt và đánh máy lại e chậm phát hành hội thảo kỷ niệm. Lát sau suy nghĩ, anh hỏi tôi: "Bây giờ sửa cách nào?". Tôi trả lời: "Anh yên tâm, sửa chẳng khó mấy đâu, chỉ cần thêm mấy chữ vào các đoạn đó, các bài đó là xong thôi mà!". Anh Lâm đã vui lên: "Chữ gì hả anh?". Tôi góp ý: "Chỉ cần thêm mấy chữ: "Phối hợp với Bộ đội Pa-thẻt Lào vây chỗ nọ, đánh cho kia" là xong!". Nghe vậy, anh Lâm vui vẻ nhét bản thảo vào cặp bảo mật rồi về Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam báo cáo.


Hôm ấy là chiều thứ bảy, hôm sau chủ nhật tôi ở lại làm việc và ngủ trong nhà máy. Sáng thứ hai tôi dậy sớm và 6 giờ sáng đã thấy anh Lâm cắp cặp bước vào. Trông vẻ mặt anh, tôi biết mọi việc đã xuôi, uống xong chén nước, anh Lâm xoa tay vui vẻ nói: "Xong rồi anh ạ!, cấp trên rất hoan nghênh phát hiện kịp thời của anh, bảo tôi xuống chuyển lời Viện cám ơn anh, và đặc biệt, Viện gửi tặng anh huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ" loại mới!. Nói xong, anh Lâm trịnh trọng lấy tấm huy hiệu quý giá tươi màu, bóc lần túi bọc ni-lông và cài lên ngực tôi - một người chưa được dự Chiến dịch vĩ đại ấy vì lúc đó tôi đang dự lớp chỉnh huấn cải cách ruộng đất ở Tuyên Quang. Cho đến nay, đã qua 1/4 thế kỷ, tôi vẫn giữ tấm huy hiệu đó với niềm vinh dự không thể nào quên. Cũng từ việc này, tôi đã rút ra bài học quý, đó là: Đã làm cán bộ tuyên huấn, phụ trách công tác xuất bản báo chí lại càng phải luôn nhạy bén, không phải chỉ làm tròn phận sự mình mà còn phải tận tình giúp mọi người cùng hoàn thành nhiệm vụ. Đó là sự dâng hiến theo bổn phận của người đảng viên, chớ để xảy ra sự tổn hại cho nơi khác mà mình biết lại im lặng. Và đó cũng là điều tâm niệm mà trong cuộc sống thường ngày tôi luôn luôn ghi nhớ và làm theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 08:01:06 pm
NHỮNG DẤU ẤN TRONG THỜI GIAN CÔNG TÁC Ở PHÒNG TUYÊN HUẤN


Lê Miên


Tháng 1 năm 1966, sau khi tốt nghiệp Học viện Không quân Trung Quốc, đoàn chúng tôi gồm 13 cán bộ do Cục Không quân cử đi học, về nước nhận nhiệm vụ.

Bạn tổ chức tiễn đưa chúng tôi thật ấn tượng và cảm động. Đứng dọc hai bên đường từ khu nhà ở đến cổng Học viện là hàng trăm cán bộ, công nhân viên nhà trường và nhân dân khu gia đình, đứng vỗ tay nồng nhiệt. Những băng khẩu hiệu bằng vải đỏ, chữ vàng ca ngợi tình hữu nghị và đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước Trung - Việt; ca ngợi Đảng và lãnh tụ hai nước căng ngang đường đi. Sôi nổi nhất vẫn là tiếng trống, tiếng thanh la và tiếng hô vang: "Nhiệt liệt chào mừng và tiễn đưa các đồng chí Việt Nam ra tiền tuyến đánh Mỹ!"; "đế quốc Mỹ nhất định thất bại!"...


Sau hai ngày đêm ngồi tàu hoả, chúng tôi đã về tới Việt Nam. Trong nước lúc này đang hừng hực không khí thời chiến. Gia đình tôi đã sơ tán về quê ngoại ở Kim Bài, Thanh Oai, Hà Tây. Tôi được quân chủng cho nghỉ ba ngày thăm gia đình, rồi đến nhận nhiệm vụ.


Người tôi gặp đầu tiên để nhận nhiệm vụ là anh Cao Xuân Việt, Trưởng Phòng Cán bộ. Anh nói với tôi: "Anh Miên trước đã làm công tác tuyên huấn không quân, nay về công tác ở Phòng Tuyên huấn quân chủng, như vậy là thuận lợi, cần vận dụng tốt kết quả học tập ở trường vào thực tiễn"...


Về Phòng Tuyên huấn, tôi đến trình diện ngay trưởng phòng Lê Chí Hướng. Anh vồn vã bắt tay tôi, thân mật mời ngồi. Anh hỏi qua gia cảnh, tình hình học tập ở Trung Quốc rồi giao nhiệm vụ cho tôi về công tác ở tổ giáo dục.

Ở đây, tôi gặp lại anh Vũ Bằng, nguyên cũng là học viên Học viện Chính trị Bắc Kinh. Tôi quen biết anh vì thường gặp nhau khi cùng sinh hoạt ở Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh. Hiện anh là tổ trưởng tổ giáo dục. Người thứ hai mà tôi quen biết là anh Phạm Thanh Quân. Anh nguyên là trợ lý giáo dục của Ban Tuyên huấn Phòng chính trị, Cục Không quân mà khi đó tôi là trợ lý tuyên huấn của Ban Chính trị, Phòng Hậu cần, Cục Không quân. Đó là những điều kiện thuận lợi đẻ tôi nhanh chóng hoà nhập với tập thế khi mới chân ướt, chân ráo về nhận công lác.


Ngoài hai anh Bằng và Quân, trong tổ còn có các anh Lương Chung, Đỗ Anh Tuyển, Đào Thanh Sơn và Trần Quốc Hanh. Anh Hanh mới được điều từ Trung đoàn 921 về trước tôi vài tháng, nên cũng thuộc loại "tân binh" của tổ như tôi. Chúng tôi nhanh chóng làm quen và thân nhau. Anh Hanh thường tâm sự và trao đổi kinh nghiệm giúp tôi làm quen với công việc ở cơ quan cấp quân chủng.


Chỉ một thời gian, đến cuối năm 1966, các anh trong tổ đều lần lượt được điều động ra đơn vị, trên nhiều cương vị công tác khác nhau. Trong tổ chỉ còn lại hai "tân binh" là anh Hanh và tôi. Chúng tôi nghiễm nhiên trở thành "ma cũ" của tổ. Quân chủng điều thêm hai người về bổ sung cho tổ là các anh Trần Hùng, Phạm Quyết. Tổ giáo dục của Phòng Tuyên huấn từ 7 người được rút xuống còn 4 người. Anh Trần Quốc Hanh, được chỉ định làm tổ trưởng.


Số người tuy rút bớt, nhưng khối lượng công việc thì ngày một tăng. Trong tổ phân công anh Hanh theo dõi về tư tưởng và học tập của cán bộ trung, cao cấp. Tôi theo dõi khối sơ cấp, chiến sỹ. Anh Quyết theo dõi khối Đảng, Đoàn và những đối tượng đặc biệt. Anh Trần Hùng theo dõi khối nhà trường.


Tuy nhiên, đó chỉ là sự phân công tương đối cho có trách nhiệm để tiện việc sơ kết công tác. Khi triển khai cũng như khi đi đơn vị, mỗi người đều có nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình chung của tổ và tập trung lực lượng để hoàn thành những trọng tâm công tác từng thời kỳ. Chúng tôi làm việc với nhau trên tình thần hiệp đồng và hỗ trợ lẫn nhau, rất ăn ý.


Bốn chúng tôi làm việc tương đối đều tay. Guồng máy của tổ giáo dục đang hoạt động nhịp nhàng, đều đặn, bỗng lại có sự thay đổi, xáo trộn. Lần lượt trong những tháng đầu năm 1971, anh Phạm Quyết được bổ nhiệm đi làm Chính uỷ Trung đoàn 213. Anh Trần Hùng đi làm Phó chính uỷ Trung đoàn 240. Anh Quốc Hanh, sau khi vào công tác ở A2 năm 1968 một thời gian, được đi học ở Học viện Chính trị. Cuối năm 1971 ra trường, anh về công tác ở Phòng Tổng hợp, rồi được điều đi làm Trưởng Ban Tuyên huấn Sư đoàn 367. Các anh Thái Đình Đương, Vũ Đình San, Nguyễn Minh Diệc, Trương Tấn Điền được điều về thay thế. Tôi được chỉ định làm tổ trưởng thay anh Quốc Hanh. Đén tháng 7 năm 1971 thì tôi được bổ nhiệm làm Phó Phòng Tuyên huấn. Lúc này, tổ giáo dục đã có sự thay đổi đáng kể. Ngoài các anh Nguyễn Minh Diệc, Trương Tấn Điền còn lại, tổ được bổ sung nhiều người mới. Anh Đỗ Anh Tuyển nguyên là trợ lý giáo dục năm 1966, được điều trở lại và làm tổ trưởng tổ giáo dục.


Các anh Lê Phúc (thường gọi là Phúc Tây), Nguyễn Bá Sào, Phạm Vĩnh Thắng, Nguyễn Hữu Hoè, được điều về làm trợ lý. Quân số tổ giáo dục lúc này lại tăng lên 7 người.

Số lượng người của tổ tuy đông, nhưng phần lớn không ai có nghiệp vụ tuyên huấn. Đội ngũ trợ lý chúng tôi ngày đó hầu như chưa ai được qua một lớp nghiệp vụ về công tác tuyên huấn, thậm chí chưa đảm nhận công tác tuyên huấn bao giờ. Anh em làm việc chủ yếu bằng nhiệt tình và trách nhiệm. Thế mạnh của tuyên huấn là nói và viết thì đây lại không phải sở trường của anh em. Vì vậy mới có chuyện anh Phạm Đăng Ty, thủ trưởng Cục cứ phàn nàn: "Tuyên huấn hết người rồi sao mà hễ Cục bảo cử người đi phái viên thì chỉ thấy phòng cử hết Vĩnh Thắng lại Bá Sào là thế nào?"


Đây cũng là nỗi khổ của Phòng Tuyên huấn. Bản thân anh em ở nhà không có việc làm cũng buồn, nhưng nếu được giao việc không phù hợp với năng lực, sở trường cũng băn khoăn, suy nghĩ vì chất lượng hoàn thành không cao.


Các anh đều tâm sự: "Tụi mình là cán bộ "gửi", ở đây cũng chỉ là tạm thời!". Các anh thầm nghĩ vậy, nên thường "chân trong chân ngoài", không thật yên tâm công tác, chỉ chờ có quyết định của trên là vác ba lô lên đường. Ai cũng ở trong trạng thái chờ. Người thì chờ được ra đơn vị, người thì chờ được thay đổi công tác dễ thở hơn, người thì chờ đi học, người thì chờ được giải quyết chính sách...


Thời gian công tác ở phòng khi còn là trợ lý, mới chân ướt chân ráo, tôi đã gặp phải trường họp thật bẽ bàng. Ngày ấy quân chủng lần đầu tiên mở lớp bồi dưỡng đảng viên của các đơn vị trong quân chủng được kết nạp trong hai đợt mồng 3 tháng 2 và 19 tháng 5. Đây là lớp làm thí điểm để rút kinh nghiệm triển khai rộng cho các sư đoàn, binh chủng tổ chức.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 08:02:44 pm
Tôi được phòng phân công chịu trách nhiệm tổ chức lớp, nắm tình hình thảo luận ở tổ để giúp Cục chỉ đạo, rút kinh nghiệm khi triển khai rộng xuống dưới. Nội dung, chương trình, tài liệu, phân công giảng viên đã có trong kế hoạch. Các đồng chí trưởng, phó phòng Tổ chức, Tuyên huấn là giảng viên của lớp học. Các đơn vị có đảng viên mới đi học, đều cử chi uỷ viên đi theo dõi và trực tiếp làm tổ trưởng. Trong thủ trưởng Cục, Phó Chủ nhiệm Phan Khắc Hy là người được phân công theo dõi, chỉ đạo lớp học. Chính uỷ Đặng Tính, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng tới động viên, khai mạc và kết luận lớp học.


Lớp học được tổ chức ở một xóm gần khu sơ tán của Cục Chính trị. Giảng đường nhờ vào một ngôi đình, bàn ghế do hậu cần chuyển đến. Các học viên đều ở phân tán trong nhà dân, mỗi nhà vài người. Tổng số đảng viên dự lớp học hơn bốn chục người, được phân làm 4 tổ.


6 giờ 30 phút sáng hôm ấy, học viên đã tề tựu đông đủ. Một số đơn vị ở xa đã đến từ ngày hôm trước.

Gặp tôi ở sân đình, Phó Chủ nhiệm chính trị Phan Khắc Hy yêu cầu tôi báo cáo tóm tất những việc đã làm để chuẩn bị cho lớp học, mà trực tiếp là việc chuẩn bị cho buổi khai giảng.

Mọi việc đều suôn sẻ. Riêng bản báo cáo trích ngang để nắm được tổng quát những số liệu cần thiết thì tôi chưa lấy đủ tài liệu. Tôi đành khất đến cuối buổi học, khi quân số học viên đã ổn định sẽ có báo cáo đầy đủ. Phó Chủ nhiệm vẻ mặt không bằng lòng, giương to đôi mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, nói: "Cậu làm ăn thế à! Không nắm được thì chốc nữa lấy gì mà báo cáo Chính uỷ?" Ông chỉ nói thế, rồi vội vã ra đón Chính uỷ vào hội trường.


Tôi đỏ bừng mặt, đứng lặng đi không nói gì. Đây là lần đầu tiên, do thiếu kinh nghiệm nên mắc phải trường hợp này. Nếu khi triệu tập lớp học, chỉ cần hướng dẫn dưới chuẩn bị trước cho bản trích ngang của từng đơn vị thì công việc chẳng có gì khó khăn cả. Bài học này khiến tôi nhớ mãi, không để bị lặp lại khi tổ chức các lớp học, các đợt sinh hoạt chính trị của quân chủng những lần sau.


Trong lớp học, tôi đều bám sát các buổi thảo luận ở tổ, kịp thời phản ánh kết quả thảo luận cho Phó Chủ nhiệm Chính trị, trong đó có dề xuất để cấp trên uốn nắn những động cơ lệch lạc vào Đảng mà các đảng viên đã liên hệ trong học tập.


Sau hơn một tuần lỗ học tập, lóp học kết thúc thẳng lợi. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì có thêm kinh nghiệm quý báu.

Một kỷ niệm đáng nhớ nữa là lần thông qua tài liệu giáo dục với Cục phó Đoàn Chương.

Năm ấy, quân chủng ta tuyển một đợt tân binh là người dân tộc thiểu số, bổ sung cho các đơn vị. Cục phó gọi tôi lên giao nhiệm vụ viết tài liệu để kịp gửi cho đơn vị triển khai học tập.

Khi giao nhiệm vụ, Cục phó chỉ nhắc: "Nội dung giáo dục cần tập trung vào giải quyết tinh thần yêu nước và vấn đề đoàn kết dân tộc giữa người kinh với anh em dân tộc thiểu số. Đặc biệt chú ý giáo dục tư tưởng nhớ nhà, sợ xa gia đình, định kiến, tự ti... Tài liệu cần viết ở dạng phổ thông, ngắn, gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sát đối tượng".


Chấp hành chỉ thị của ông, tổ giáo dục chúng tôi họp quán triệt và phân công anh Vũ Đình San, trợ lý phụ trách mảng giáo dục chiến sỹ và tân binh chấp bút.

Anh San cặm cụi nghiên cứu, tìm tài liệu tham khảo, xuống cơ sở điều tra trình độ đối tượng rồi bắt tay vào viết. Vì mới ở Sư đoàn Phòng không 361 lên cơ quan cấp trên, lần đầu tiên được giao viết tài liệu, anh không khỏi ngỡ ngàng, choáng ngợp và có phần lo lắng. Viết được mấy trang đầu tiên đã thấy anh ngồi thừ người ra vò đầu, xé bỏ hết trang này đến trang khác. Anh lấy thuốc lá ra hút, vẻ đăm chiêu suy nghĩ, rồi lại bắt tay vào viết. Sau khi phác xong đề cương, anh tham khảo ý kiến của tổ, được anh em góp ý, động viên nên đã phần nào yên tâm hơn.


Làm việc trong thời chiến, yêu cầu thời gian rất gấp. Cục giao cho 4 ngày sau phải viết xong tài liệu để thông qua và cho in, kịp gửi các đơn vị sử dụng trong đợt giáo dục tân binh. Chúng tôi đã phải "com-măng" trước với anh Thuỷ ở văn thư bảo mật của Cục để được ưu tiên đánh máy và cho in tài liệu này sau khi được duyệt.


Hai ngày sau, Cục phó Đoàn Chương gọi tôi và anh San lên thông qua tài liệu. Anh San trình bày mục đích yêu cầu, nội dung của từng phần trong bài học và những câu hỏi khêu gợi để chiến sỹ thảo luận và liên hệ. Vừa trình bày, anh vừa liếc trộm Cục phó, quan sát thái độ của ông xem chiều hướng thông qua thuận lợi hay khó khăn.


Cục phó Đoàn Chương vừa nghe, vừa chổng tay lên trán vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Ông hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Chiếc gạt tàn thuốc lá bằng thuỷ tinh đã đầy ắp mẩu thuốc. Khói thuốc đuổi nhau lan toả khắp lán làm việc của ông trong khu sơ tán. Thỉnh thoảng ông lại lấy bút ghi mấy chữ vào quyển sổ tay để trên bàn trước mặt.


Nghe xong, ông nhẩn nha phát cho một số ý kiến chỉ đạo để về viết lại. Ông phân tích những chỗ ông đánh dấu hỏi ở ngoài lề và những đoạn ông gạch dưới bằng bút đỏ để chúng tôi lưu tâm khi viết lại.

Nhận lại tài liệu ở Cục phó về, cả tổ giáo dục cùng nhau nghiên cứu tìm hiểu những ý kiến của cấp trên. Từng người tham gia đóng góp ý kiến để anh San bút viết lại.

Ở Cục Chính trị, ai cũng biết tiếng Cục phó Đoàn Chương là cây lý luận và là người rất chặt chẽ về phương diện viết lách. Cánh "lính" tuyên huấn được tiếp xúc với ông nhiều, rất hiểu "gu" của ông. Những bài viết phải thông qua ông, anh nào cũng gờm vì sợ bị ông "đá". "Đá" vài lần là chuyện bình thường, chớ vì vậy mà mát tinh thần.


Lần thứ hai thông qua tài liệu, được ông xem rồi sửa chằng chịt, kể cả lỗi chính tả, từ dấu chấm, phẩy và tiếp tục có những dấu chấm hỏi to tướng ở ngoài lề. Ông cho công vụ xuống phòng mời tôi lên làm việc. (Thời gian này tôi là Phó Phòng Tuyên huấn, phụ trách tổ giáo dục).


Thế là việc gì phải đến đã đến. Vừa đi đường, tôi vừa phán đoán những tình huống xảy ra để ứng phó và sẵn sàng hứng chịu mọi lời phê phán, thậm chí có thể gay gắt.

Vừa bước chân vào lán làm việc của ông, tôi ngạc nhiên và thấy yên tâm hơn khi nhìn ông ngồi rung đùi, đang bóc quýt ăn. Nhìn thấy tôi, ông cười khà khà, đưa cho tôi 1 quả quýt và nói với giọng thân mật: "Ăn đi thầy Tầu (vì tôi còn mặc chiếc áo bông Tầu dày cộm mang từ Trung Quốc về). Tài liệu mình đã xem, nhưng chưa được, chưa trúng, bảo cậu ấy viết lại lần nữa theo những chỉ dẫn và ý khêu gợi ghi ở ngoài lề". Thế là xơi một cú đá nữa thật, nhưng là cú đá êm.


Chúng tôi cùng tổ giáo dục lại họp, lại phân tích để bổ sung những chỗ chưa họp "gu" Cục phó.

Sau khi viết lại tài liệu lần này, tôi trực tiếp cầm lên nộp để xem có chỉ thị gì thì tiếp thu về làm.

Nhận tài liệu, Cục phó Đoàn Chương lật từng trang nghe soàn soạt, liếc nhanh các tiêu đề rồi đút vào ngăn kéo bàn, hẹn 2 ngày sau đến lấy. Ông vội vã xách cặp ra khỏi lán để sang họp bên Sở chỉ huy quân chủng ở hang đá chùa Trầm.


Tới ngày hẹn, chúng tôi chưa kịp lên lấy, thì ông đã cho công vụ mang xuống 2 bản viết, một bản của anh San và một bản do tự tay ông viết.

Cầm tài liệu, tôi đã thốt lên: "Chết cha rồi, xơi cú nốc ao rồi!". Bản do anh San viết ông vẫn giữ nguyên, không đụng một nét bút nào. Bản của ông viết bằng mực Cửu Long, chữ ngả và to, dễ đọc, câu viết ngắn, gọn. Ở trang đầu tài liệu, ông ghi ra ngoài lề bằng mực đỏ: "Gửi anh San và các anh tuyên huấn! Tài liệu tôi đã viết lại, các anh xem nếu thấy dùng được thì cho in!".


Đọc xong những dòng chữ này, tôi thấy toát cả mồ hôi. Tôi họp tổ giáo dục, đọc nguyên văn những dòng chữ của Cục phó để anh em nghe. Mọi người nhìn nhau, không ai nói một lời, nhưng đều có chung một ý nghĩ: "Không hoàn thành nhiệm vụ!", phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ ngày càng cao. Anh San thì đỏ mặt, lặng lẽ, ngồi im như ông phỗng, không nói gì. Anh tỏ ta bi quan và chính thức đề nghị xin được xuống đơn vị công tác cho phù hợp.


Thật là một bài học sâu sắc, thấm thìa mà chúng tôi cứ nhớ mãi. Hễ mỗi khi gặp nhau có dịp hàn huyên, chúng tôi lại nhắc đến kỷ niệm này và không quên những lời tâm huyết của Cục phó Đoàn Chương: "Anh tuyên huấn là phải giỏi về nói và viết. Các cậu cần phải rèn công phu về hai mặt này. Số anh em viết được ở Cục ta chỉ đếm được trên đầu ngón tay"... Ông còn nói khi ông làm Bí thư cho anh Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông đã học được nhiều ở anh Thanh về điều này. Ông còn động viên chúng tôi "chớ vì sóng cả mà ngã tay chèo. Viết nhiều, viết mãi rồi sẽ quen, sẽ hay. Muốn vậy, phải trau dồi cho mình về lý luận, tích luỹ về kiến thức và vốn sống"...


Thời gian công tác ở Phòng Tuyên huấn, dù là trợ lý hay cán bộ phòng, tôi có may mắn được tiếp xúc và làm việc nhiều với thủ trưởng Cục và thủ trưởng Bộ Tư lệnh quân chủng. Bài học kinh nghiệm tôi rút ra được là muốn hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu, phải hiểu rõ được ý định của trên, phải lắng nghe, tiếp thu đầy đủ những ý khêu gợi và phải làm theo "gu" của thủ trưởng!


Tôi còn nhớ năm ấy, Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu giao cho tôi viết đề cương giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ trung, cao cấp trong quân chủng. Nhận nhiệm vụ, tôi rất lo. Tôi khẩn trương sưu tầm tài liệu, đọc lại một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; tham khảo tài liệu "Nâng cao đạo đức cách mạnh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" của Hồ Chủ tịch và tài liệu "Chống chủ nghĩa cá nhân" của đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Thời gian Phó chỉnh uỷ giao cho tôi viết 3 ngày phải xong.


Cầm bút, tôi cứ loay hoay suy nghĩ mãi làm thế nào để kết hợp được giữa lý luận với thực tiễn? giữa biểu dương những mặt tốt với phân tích, phê phán mặt yếu kém? Làm thế nào để vừa thể hiện được tính chiến đấu, vừa có tính giáo dục thuyết phục?


Dựa vào những ý khêu gợi của Phó Chính uỷ, tôi dàn đề cương tương đối hợp lý và ưng ý. Tôi đã cảm thấy yên tâm và tự tin hơn. Cặm cụi viết trong 2 ngày, chỉ còn 1 ngày 1 đêm nữa là phải xong.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Một, 2022, 08:03:30 pm
Tối hôm cuối cùng, Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lững thững xuống Phòng Tuyên huấn, rồi thẳng đến phòng làm việc của tôi. Câu đầu tiên ông hỏi là: "Tài liệu đã xong chưa? Được phần nào cứ đưa mình xem trước, cố viết đêm nay cho xong!"...


Suốt đêm đó, tôi xoay trần ra viết cho kịp thời gian. Bao thuốc lá Tam Đảo đã hút đến điếu thứ mười mấy. Ấm chè Thanh Hương xin được của anh em đã pha đến xái mấy rồi, không còn mùi vị của chè loại một lúc bấy giờ nữa. Đôi mắt tôi đã thấy cay cay, mỏi mệt, người đã thấy bải hoải...


Lúc này đã quá nửa đêm. Khả năng khó có thể hoàn thành đúng thời gian!

Bỗng cánh cửa hé mở. Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lặng lẽ bước vào. Ông bảo tôi: "Thế nào? Đã gần xong chưa? Khuya rồi, gần 3 giờ sáng rồi, cậu đi nghỉ đi kẻo mệt. Thời gian có thể kéo đến hết sáng mai cũng được. Chiều mai khoảng 3 giờ thì đưa mình. Phần trên cậu viết như vậy là được rồi. Có gì mình sẽ bổ sung thêm. Lên mình uống nước, ăn cam rồi về đi ngủ!"


Tôi thở phào nhẹ nhõm, lên phòng thủ trưởng uống nước xong, về viết nốt phần dở dang rồi đi ngủ. Vừa đặt lưng xuống giường đã đánh một giấc đến sáng. Khi nghe anh em tập thể dục, mới bừng tỉnh.

Lần đầu tiên tôi được viết một tài liệu tầm cỡ như vậy. Tôi đã bung hết sức mình ra để làm và cũng đã đáp ứng được yêu cầu của trên. Cho tới khi bản đề cương được Phó Chính uỷ lên lớp cho cán bộ trong đợt sinh hoạt chính trị, tôi mới thực sự tin ở việc mình làm.


Tôi đã làm được đúng ý định của thủ trưởng. Chuẩn bị bài cho Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu thì phải chú trọng chốt chặt những vấn đề về nguyên tắc, những vấn đề thuộc về quan điểm tư tưởng và lập trường của Đảng. Phải trích dẫn những lời dạy của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng ra để nói cho có sức thuyết phục, về lý luận thì vừa phải, nhưng thực tế phải thật phong phú, sinh động. Bài viết không nặng về văn vè, màu mè, mà phải có tính chiến đấu cao, tính giáo dục sâu sắc và tính động viên thuyết phục. Đó chính là "gu" của Phó Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu.


Với Chính uỷ Hoàng Phương, tôi cũng có một kỷ niệm khó quên. 9 giờ sáng hôm ấy, tôi được ông cho gọi đến phòng khách tại nhà riêng ở khu A để làm việc. Bước chân vào phòng, tôi giơ tay chào và được ông rót nước mời ngồi để chờ nghe chỉ thị.


Ông rút ở ngăn kéo bàn ra bài diễn văn sẽ đọc tại Lê kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, do Phòng Tuyên huấn chuẩn bị. Ông hỏi tôi: "Cậu nào viết bài này?" Tôi trả lời ngay: "Báo cáo, anh Hoàng "kính"7 (Anh Nguyễn Khắc Hoàng bị cận thị thường xuyên phải đeo kính, nên có biệt danh là Hoàng "kính"), trợ lý tuyên truyền viết ạ!" Ông lấy mùi xoa lau cặp kính cận rồi đeo lên mắt, nhìn vào tôi vừa tủm tỉm cười, vừa thủng thẳng nói: "Cậu về bảo Khắc Hoàng hành văn kiểu gì mà dài dằng dặc thế, đọc mãi vẫn không thấy chẩm, phẩy và xuống dòng. Bắt người ta phải đọc một lèo đến đứt hơi ra à. Bài viết lại toàn cóp-pi trên báo, bắt tớ phải nhai lại báo à!". Tôi ngây người ra, chẳng còn biết trả lời thế nào. Tôi nhận lại tài liệu và hứa sẽ cho viết lại.


Nhân việc này, ông nói cho tôi nghe chuyện cán bộ ta viết điện cơ yếu gửi đơn vị, mà điển hình là ông Thung ở Phòng chính sách. Chính uỷ Hoàng Phương nói: "Viết điện để Chính uỷ quân chủng ký gửi các đơn vị mà lời lẽ cứ như của cấp dưới báo cáo cấp trên. Điện viết vừa dài, vừa không rõ, tìm mãi chẳng thấy đâu là "suý-giê", "véc-bờ", "com-plê-măng" (chủ từ, động từ, bổ ngữ) khiến cấp dưới nhận điện cứ phải hỏi đi hỏi lại, vừa mất thời gian, vừa làm khổ anh cơ yếu, vừa khó thực hiện.


Từ đó ông đã chỉ thị cho Cục Chính trị mở lớp học ngữ pháp cho tất cả cán bộ trong cơ quan Cục. Mỗi tuần dành ra một buổi để học do "đốc" Dậu, trợ lý văn hoá phụ trách. Học xong có kiểm tra, đánh giá kết quả và báo cáo Chính uỷ.


Đó là những dấu ấn trong thời gian công tác ở Phòng tuyên huấn của tôi, mà tới tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in tới từng chi tiết. Trong quá trình công tác, dù ở cương vị trợ lý hay cán bộ phòng, cũng có những lúc khó khăn, vấp váp, song tôi đã cố gắng vượt qua và hoàn thành được nhiệm vụ.


Khi nghỉ hưu, về với cuộc sống đời thường, tuy tuổi đã cao, nhưng tôi vẫn còn tham gia công tác tuyên huấn ở địa phương, vẫn sẵn sàng có mặt trong các buổi liên hoan văn nghệ và hội diễn ở phường, quận.

Với thâm niên công tác tuyên huấn ngót hai chục năm, tôi đã được Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) tặng kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp tư tưởng văn hoá". Đó là vinh dự và niềm tự hào trong đời làm công tác tuyên huấn của tôi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:02:05 pm
VƯỢT LŨ TRỞ VỀ ĐƠN VỊ


Lương Thế Tuân


Mùa Thu năm 1971, tôi và các anh Dương Đình Giác, Nguyễn Đình Tụng được cử đi công tác tại Sư đoàn 363 ở Hải Phòng. Tôi có nhiệm vụ nắm tình hình học bổ túc văn hoá và theo dõi một kỳ thi tốt nghiệp cấp II BTVH. Còn Giác và Tụng thì giúp anh Phóng - cán bộ tuyên huấn sư đoàn, trưng bày phòng truyền thống và thống kê các hiện vật.


Sau 4 ngày, công việc của tôi đã xong. Kỳ thi có 16/17 người đỗ chính thức, còn một đồng chí là người dân tộc thiểu số đỗ vớt. Xong việc, tôi la cà sang cùng với Giác và Tụng, giúp việc cho anh Phóng, vì dù sao tôi cũng "có một chút năng khiếu về thẩm mỹ" - Giác nói thế. Vừa làm, chúng tôi vừa nói chuyện vui, có bao nhiêu chuyện tiếu lâm đem ra kể hết. Nhiều chuyện còn được người kể sửa tên nhân vật thành Tuân hoặc Giác... Sang ngày thứ sáu, trời vẫn mưa không ngớt. Đồng chí Tham mưu trưởng sư đoàn thông báo đêm qua vỡ đê Cẩm Giàng, gây lụt lội khắp các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên... Đường số 5 cũng ngập ...


Giác nói với tôi và Tụng: "Bỏ mẹ rồi, phen này chắc chắn các cụ bắt ta về ngay, vì bao nhiêu chìa khoá kho hiện vật của Bảo tàng quân chủng ở Tương Mai, thằng Tụng giữ cả, phải về mà chạy chứ. Đất vùng Tương Mai trũng lắm, cứ mưa to là ngập!". Quả nhiên "Giác nói như thần bảo". Đúng tám giờ sáng, Chủ nhiệm chính trị chạy lên nhà truyền thống, hớt hải nói: "Mấy ông tướng bỏ việc đây, chuẩn bị về ngay Hà Nội! quân chủng điện xuống đấy!".


Chúng tôi bàn nhau, nhất định phải về rồi, "điện cơ yếu" cơ mà! Nhưng về bằng cách nào, đường số 5 ngập sâu lắm, dài lắm. Tụng bảo: "Đề nghị sư đoàn diện lên quân chủng, cho một chiếc trực thăng đang cứu nạn ở Hải Dương, tạt xuống đón chúng mình!". Giác trợn tròn mắt: "Cánh ta là cái quái gì mà các cụ ấy cho trực thăng xuống đón? To lắm có anh Tuân cũng chỉ là chuẩn uý chuyên nghiệp. Đạp xe về thôi!" Vừa nói, chúng tôi vừa tống quần áo, sách vở vào ba lô. Xong xuôi, Giác bảo tôi: "Anh lên đề nghị với chủ nhiệm chính trị cho mỗi thằng một cái áo mưa, rồi về".


Chúng tôi hì hục đạp xe, thỉnh thoảng mới nói chuyện vì thấm mệt. Mà cũng chỉ là những đề xuất sáng kiến làm cách nào về được Hà Nội sớm nhất. Thượng sách là thuê chiếc thuyền nan, người ta chở ba thằng tới chỗ nào đường số 5 hết ngập. Nhất trí phương án như vậy, chúng tôi hăng hái đạp xe. Đến gần cầu Lai Vu, nước đã ngập đến moay-ơ. Khi nước ngập hết bánh xe, không sao đạp được nữa. Không có chiếc thuyền nào chở người trên đường số 5! Chúng tôi đành vác xe lên đường tàu, dắt xe đi tiếp. Những chiếc tà vẹt cứ làm cho xe nhảy lên lật bật, rất khó dắt.


Đen cầu Phú Lương, đã ba giờ chiều. Nhìn về thị xã Hải Dương, chỉ thấy vài nhà cao tầng còn nhô lên khỏi mặt nước. Nhà cấp bốn đều chìm hết. Tôi nhìn lên nền trời u ám, chiếc máy bay AN2 đang thả bánh mì cứu đói cho dân ở những nơi bị nước cô lập. Đói, tôi vào liên hệ với một đại đội pháo cao xạ của Trung đoàn 213 ở phía Bắc cầu, xin báo cơm ăn. Nhưng họ cũng mải kê kích pháo, chống ngập suốt ngày, chưa nấu nướng gì được. Lại vác xe đạp lên đường tàu dắt thử, thấy dễ đi, vì nước đã ngập đến ghi đông xe, rất nhẹ. Thế là đi! Khi trời chạng vạng tối, chúng tôi tới ga Cẩm Giàng. Nhà ga chỉ còn nhô lên cái mái. Sau mấy ngày mưa lũ, trời đã yên nhưng vẫn u ám, chỉ có chân trời phía Tây quang mây. Mặt trời khuất dần, ánh sáng yếu ớt tráng trên mặt nước một màu đỏ như máu loang. Tối thì không thể đi được nữa, mặc dù không thể lạc đường vì đã có đường ray. Nhưng nguy hiểm lắm, lúc trời sáng còn nhìn thấy con rắn con rết bơi gần mà tránh, nhiều lắm. Trên cành cây phi lao rất nhiều rắn leo lên tránh nước, cả chuột nữa. Mà lạ thật, chẳng con nào sợ con nào. Hơn nữa nhiều chỗ đường ray bị trôi hết nền, chỉ còn lại hai thanh ray gắn trên những chiếc tà vẹt bập bềnh dưới nước. Có chỗ tà-vẹt cũng bị bung, chỉ còn hai thanh ray. Chúng tôi phải cùng nhau vác xe qua những khoảng trống tà vẹt ấy.


Nhìn phía trước, bên trái có mấy gò đất chưa ngập. Chúng tôi thấy một số túp lều bằng cót, bao tải, vải bạt của dân chạy lụt. Một số lều có khói bốc lên, chứng tỏ họ đang nấu cơm. Cái đói bỗng nổi lên cồn cào và bỗng dưng thấy mệt vô chừng, rời rã chân tay, rét run bần bật... Tôi quyết định nghỉ lại trên nóc một chiếc mộ xây rộng chừng cái chiếu đôi. Giác và Tụng cũng đồng ý. Có lẽ người đói nhất là Tụng vì thường ngày anh ta ăn rất khoẻ, chỉ thua ông Dũng (người có thế ăn cả sáu suất cơm). Tụng bảo: "Các anh trải ni-lông ra, tôi đi "dân vận" xem có gì ăn không đã!". Nói đoạn, Tụng lội sang mấy gò đất có lều dân đang bốc khói. Trở về, Tụng lắc đầu: "Không có gì hết, chỉ có cơm độn khoai, nhưng đắt lắm, những mười đồng một bát chan bằng nước kho gà, không có thịt". Nghe Tụng nói tôi bỗng tưởng tượng thấy mùi thịt gà kho lá chanh mà chảy cả nước rãi. Nhưng khốn nỗi cả 3 người vét túi gom lại, chỉ được mười hai đồng (lúc ấy phụ cấp binh nhì là năm đồng một tháng). Tụng cầm tiền, vẫy tay bảo chúng tôi: "Bỏ tất cả đấy, đi ăn đã!". Tôi băn khoăn, nhưng lấy tiền đâu? Tụng cởi cái khăn dù quấn cổ lấy ra chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ hiệu Nisewat. Tuyệt! Giác reo len, kéo bật tôi dậy lội sang cái gò lớn nhất.


Cả tiền, cả đồng hồ chỉ đủ mỗi thằng hai lưng bát và mấy củ khoai luộc, nhưng được cái ấm bụng, vẫn thòm thèm. Riêng tôi, món nước tương kho thịt gà lá chanh, có lẽ ngon nhất trên đời!

Đang loay hoay tìm cách nằm cho khỏi đau lưng, thì một chiếc thuyền chở ba người đeo súng AK, đèn pin lấp loé đi tới. Họ đòi xem giấy tờ. Chúng tôi nói là có đủ nhưng gói trong bọc quần áo, trời tối biết đâu mà mò. Tôi giải thích, chúng tôi là người của Quân chủng Phòng không - Không quân, đơn vị mà cả ngày nay đem trực thăng, "An hai" đi thả bánh mỳ, thuốc men cho các anh đấy (lúc chiều, trong khi lội, chúng tôi đã chứng kiến cảnh người bơi ra kéo bao bánh mỳ. Có người vừa lội vừa xé bao, lấy trước thuốc và đường... làm cho cả bao bánh bị ướt... Thế mà vừa lên tới bờ, đã phân phát hết veo). Họ không tin và nói rằng đêm qua có những kẻ như các anh, nói là ngủ nhờ, rồi đêm khoắng hết tiền bạc của người hớ hênh, biến mất. Tôi đành cởi bọc quần áo, lấy cái chứng minh thư "Chuấn uý Lương Thế Tuân", họ mới cho ở lại trên nóc ngôi mộ này.


Sáng hôm sau, Tụng dậy sớm nhất, đốc chúng tôi hành quân. Hai giờ chiều hôm sau, chúng tôi về tới ga Lạc Đạo. May quá có chuyến tàu về Hà Nội. Chúng tôi quang xe lên tàu, chẳng phải mua vé. Biết chúng tôi là lính Phòng không - Không quân, họ bảo chúng tôi về nhanh lên, nhớ nói với quân chủng là dân Lạc Đạo, Hải Dương cần thả thêm bánh mỳ!...


Bây giờ nghĩ lại mới thay người lính lúc đó sao mà hồn nhiên, trong sáng đến thế!


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:03:49 pm
LỚP HỌC NGỮ PHÁP CỦA CÁN BỘ CỤC CHÍNH TRỊ


Nguyễn Văn Dậu


Tháng 3 năm 1956, Cục Văn hoá thuộc Tổng cục Chính trị, được thành lập. Từ đó việc học văn hoá trong quân đội được đặt thành chế độ, có tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ.

Quân chủng Phòng không - Không quân là quân chủng kỹ thuật, việc học văn hoá càng được các cấp lãnh dạo hết sức quan tâm. Nhiều lần Bác Hồ xuống thăm các đơn vị của quân chủng, Bác đều căn dặn "... Phải học văn hoá tốt để hoàn thành nhiệm vụ tốt ..." Chính vì vậy, học văn hoá ở quân chủng đã trở thành phong trào rất có nền nếp. Những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, các đơn vị chiến đấu cũng không bỏ chế độ học văn hoá.


Trong phong trào học văn hoá chung ấy, các lớp học ở các cơ quan Bộ Tư lệnh Quân chủng tốt hơn cả. Các tối thứ 2, thứ 5 hàng tuần, cán bộ hăng hái đến lớp. Sáng thứ 7 là buổi học bù cho những đồng chí phải nghỉ học trong tuần. Nhiều đồng chí qua việc cần cù học tập, trình độ được nâng lên rõ rệt. Một số đồng chí tốt nghiệp cấp 3, được cử đi học tiếp ở các trường đại học trong và ngoài quân đội. Nhiều thời gian, cơ quan phải sơ tán, nhưng ngay ở nhà dân, các lớp học văn hoá vẫn được duy trì. Đã có lần đồng chí Chính uỷ Hoàng Phương khen về việc học văn hoá của cán bộ ở các cơ quan Bộ Tư lệnh.


Nhưng có một lần trong một buổi giao ban Cục Chính trị, thủ trưởng Cục đã nhắc đến ý kiến nhận xét gay gắt của Chính uỷ Hoàng Phương về các văn bản, giấy tờ nộp thông qua còn nhiều sai sót về ngữ pháp, cần cấp tốc tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ khắc phục mặt yếu kém này. Đồng thời thủ trưởng Cục cũng nhận xét: "Cán bộ ở Cục ta trừ một số ở tuyên huấn, tổ chức là viết được, còn đều viết kém quá. Số viết khá đếm được trên đầu ngón tay...". Trong một buổi giao ban, Cục đã lấy một số văn bản của cán bộ ở các phòng đưa lên Cục duyệt, đưa ra bình để dẫn chứng và nói: "Viết thế này vừa dài dòng lại không rõ nghĩa, đó là chưa nói đến các lỗi chính tả". Phòng Tuyên huấn có cách gì trong một thời gian ngắn, giúp cho cán bộ có những kiến thức thật cần thiết để khi viết đỡ sai sót không?


Thế là Phòng Tuyên huấn có thêm một nhiệm vụ đột xuất. Cả phòng bàn bạc học những gì, học như thế nào, nhiều ý kiến đóng góp rất sôi nổi. Ngày ấy, tổ văn hoá còn sinh hoạt với tổ giáo dục, gọi là "Tổ giáo dục - văn hoá". Vì thế tổ giáo dục phải họp đế triển khai, tổ văn hoá chuẩn bị về nội dung học, lập kế hoạch để thông qua thủ trưởng Phòng và Cục.


Lớp học ngữ pháp được hình thành. Đó là lớp học bổ sung những kiến thức cơ bản nhưng cần thiết để phục vụ cho cán bộ nói và viết đúng ngữ pháp. Nội dung học là biết một số loại từ như danh từ, động từ, tính từ... về câu thì học: thành phần của câu, các loại câu. Về tài liệu: Dùng tài liệu Ngữ pháp tiếng Việt của Bộ Giáo dục; một số văn bản của cán bộ viết có sai sót về ngữ pháp để làm ví dụ.


Lớp học ngữ pháp của Cục Chính trị là lớp học kiểu mới, được thực hiện theo chỉ thị của Chính uỷ Hoàng Phương và thủ trưởng Cục, đáp ứng được yêu cầu mọi người nên tất cả cán bộ trong Cục đều đi học. Giáo viên giảng dạy là những đồng chí có trình độ, có kinh nghiệm như đồng chí Thể, đồng chí Hải nên không khí lớp học rất vui. Có những lúc đầy tiếng cười của học viên tham gia xây dựng tiết học. Học viên tranh luận sôi nôi, không chỉ trong giờ học mà còn cả ngoài giờ học.


Sau hơn 30 tiết học, lớp học kết thúc, có kiểm tra kết quả học tập. Mọi học viên đều thấy phấn khởi, tự tin hơn vào số vốn kiến thức được bồi dưỡng ở lớp học, coi đó là một trọng những điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thủ trưởng Cục biểu dương việc tổ chức lớp học Ngữ pháp cho cán bộ và chỉ thị tiếp tục, tổ chức các lớp học Ngữ pháp ở tất cả các cơ quan chính trị trong quân chủng.


Đã gần 40 năm, những học viên lớp học Ngữ pháp hồi đó ở Cục Chính trị nay đã là, các cụ cả. Nhưng có lúc nào đó nhớ về Cục Chính trị chắc hẳn không thể quên những giờ học vui vẻ của lớp Ngữ pháp.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:04:52 pm
MỘT THỜI "PHÓ NHÁY"


Lê Minh Huệ


Cuối năm 1966, tôi nhận quyết định điều động từ đơn vị Tiểu đoàn I (tiền thân của Trung đoàn 241 xe bọc thép súng máy tự hành) về công tác tại Toà soạn báo Phòng không - Không quân.

Đơn vị đóng ở cuối sân bay Bạch Mai, nên tôi khoác ba lô cuốc bộ chừng 30 phút đã tới Cục Chính trị quân chủng. Thời ấy sân bay Bạch Mai vắng vẻ, tường bao quanh có những lỗ thủng khá to, dân vào cắt cỏ thoải mái. Tôi vừa đi vừa nghĩ: "Đúng là bộ đội sống giữa lòng dân, được nhân dân đùm bọc, không cần kín cổng cao tường mà vẫn an toàn". Đang đi, tôi sửng sốt thấy đồng chí đại tá Tư lệnh quân chủng Phùng Thế Tài đứng ngay trước mặt. Ông ngước mắt lên cây sấu cao to, ôn tồn nói vọng lên:

- Các cậu bắt tổ chim đấy à? Xuống đi, mà xuống chậm chậm thôi, cẩn thận kẻo ngã.

Ở trên cây có tới ba chiến sĩ đang tìm cách tụt xuống. Ngó sang bên cạnh, tôi thấy có một đồng chí đeo quân hàm thiếu uý, dáng vẻ sợ sệt. Khi cả ba chiến sĩ chạm chân tiếp đất, họ đều đứng nghiêm nhìn Tư lệnh. Với giọng điềm tĩnh, ông hỏi: "Mỗi cậu bắt được mấy chim non? Móc túi ra tôi xem nào?". Lần lượt từng người móc túi quần ra, ôi chao, toàn quả sấu! Đoạn, Tư lệnh hỏi người sĩ quan: "Anh là sĩ quan, là cán bộ chỉ huy, thấy lính leo cây hái sấu trong giờ làm việc mà ngước mắt lên "Tao quả, tao quả!" là đồng lõa, đúng không?". Ngừng một lát, ông ôn tồn nói: "Bây giờ từng người nộp số quả sấu này cho đồng chí thiếu uý và ghi tên để báo cáo đơn vị. Riêng đồng chí thiêu uý phải nộp phạt tất cả số quả sấu thu được, mỗi quả sấu một hào (một hào lúc bấy giờ ước bằng một ngàn đồng bây giờ). Hết giờ làm việc chiều nay lên gặp tôi!" Tất cả bốn người đứng nghiêm nhìn Tư lệnh và cùng đáp:

- Rõ!

Tôi lẳng lặng quan sát mọi người rẽ vào cơ quan rồi mới dám đi tiếp. Tôi nghĩ: "Nhiều người cứ đồn Tư lệnh tính nóng như lửa. Nhưng qua cách xử sự vừa rồi, tôi thấy ông đang khéo làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đấy chứ! Ông rất nhẹ nhàng, tâm lý, nghiêm mà không khô cứng, khiến người có lỗi không quá sợ hãi, thấy sai để sửa chữa! Bài học đầu tiên khi tôi về công tác ở Cục Chính trị là như thế!


VÀO NGHỀ "PHÓ NHÁY"

Thời ở đơn vị, tôi hay viết bài gửi đăng báo, thủ trưởng và anh em đọc, rồi hỏi tôi: "Bài này của cậu viết phải không? Lĩnh nhuận bút chưa, phải khao đấy nhé!". Tôi chỉ cười trừ.

Về đây, đồng chí phụ trách tờ báo Phòng không - Không quân giao nhiệm vụ: Ngoài việc đi viết tin, bài, cậu còn phải học chụp ảnh ngay. Toà soạn người ít nên ai cũng phải kiêm nhiệm. Ngoài ra, với chiếc mô-tô ba bánh, cậu còn phải đến nhà in lấy báo về, cùng anh em đóng gói và chở báo ra quân bưu phát hành. Trước lạ sau quen, đồng chí có ý kiến gì không? Tôi chỉ vâng và hứa cố gắng cao nhất.


Máy chụp ảnh thời ấy không như máy kỹ thuật số bây giờ. "Thầy" Xuân Mai dạy tôi về cấu tạo của máy, cách lắp phim, tháo phim, các núm nút điều chỉnh tốc độ cửa chập, độ to nhỏ cho ánh sáng lọt vào, nút bấm máy, cách chụp ban ngày, ban đêm... Khó nhất là "độ nhạy" của phim âm bản, chỉ cảm thấy ang áng chứ không biểu hiện cụ thể để rồi quyết định đặt các chỉ số cần thiết trước khi bấm máy. Học được một ngày thì "thầy" cho lắp phim chụp tập. Đến tối, cắt phim tráng xem kết quả. "Pô" được, "pô" hỏng, "pô" non, "pô" già, "pô" cúp mất đầu, "pô" bị cúp cụt chân. Rồi lại chụp, lại tráng và rút kinh nghiệm. Sau đó là thực hành công việc in, phóng ảnh. "Thầy" khen trò "sáng dạ", tiếp thu và thực hành tiến bộ rõ rệt. Một tuần sau, "thầy" giao cho hai máy, lắp phim và đi chụp một đoàn đại biểu nước ngoài tới thăm đơn vị pháo cao xạ, với chỉ tiêu là phải chụp được ảnh đăng vào số báo tới. Tôi đã không phụ lòng cấp trên khi đã "đánh thắng từ trận đầu" với máy ảnh. Từ đấy, tôi còn được dự các lớp huấn luyện của Hội Nhà báo Việt Nam, của Thông tấn xã Việt Nam. Khi gặp tôi vác máy đi chụp ảnh đăng báo, ai cũng kêu là anh "Phó nháy". Tôi thấy vui vui với cái tên biểu trưng vừa dí dỏm vừa tinh nghịch, có vẻ bỡn cợt mà lại rất thân thương nữa.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:05:55 pm
TẬP LÀM DÂN VẬN

Chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ cứ leo thang dần ra phía Hà Nội. Cơ quan Bộ Tư lệnh quân chủng đi sơ tán vào Chương Mỹ (Hà Tây). Cục Chính trị ở khu chùa Trăm Gian.

Cánh "Phó nháy" chúng tôi được phân công ở nhà ông Ái. Nhà trên lưng chừng núi, lên xuống phải trèo hàng trăm bậc kê đá. Ông cụ chủ nhà (bố đẻ ông Ái) có dáng thanh nhã với búi tóc sau gáy. Còn người con trai cao gầy, có cái chân "voi", một cẳng to, một cẳng bẻ trông ngồ ngộ không bước đi. Ngay từ buổi đầu, chúng tôi chăm quét sân nhà, chăm gánh nước từ giếng làng dưới chân núi lên đổ đầy các chum, vại. Chủ nhà thấy thế cứ can ngăn rằng: "Thôi, các chú để cháu nó gánh nước, quét sân nhà. Các chú bận công việc quá rồi mà!"...


Tôi ngắm ngôi nhà ngói ẩn dưới lùm cây trám, cây sấu, cây dâu da của chủ nhà rồi bàn với anh Xuân Át:

- Ta thử đặt vấn đề với cụ chủ, xin làm phòng phóng ảnh bằng ánh sáng mặt trời ở buồng cạnh bàn thờ thuộc gian đầu hồi xem có được không? Át gật đầu, tán thành.

Ở đây không có điện lưới nên phóng ảnh, in ảnh rất khó khăn. Dùng ánh sáng mặt trời thay điện là việc bất đắc dĩ của chúng tôi thời đi sơ tán đầy gian khổ.

Khi chúng tôi trình bày, ông cụ không hiểu gì về phim ảnh. Áng chừng, cụ hiểu đại loại là việc quan trọng nên cụ nói:

- Các chú vì dân vì nước về ở với gia đình, tôi vui lắm. Các chú cần gì cứ làm, tôi không tiếc đâu!

Chúng tôi lấy vải đen quây thành buồng tối rồi bắc thang lên dỡ ngói đặt loa hứng ánh sáng. Máy phóng ảnh được đưa lên sát mái nhà. Khi phóng ảnh, một anh phải ra quan sát mây trời. Sau đó một anh leo lên cao lắp phim, chỉnh máy. Một anh ở dưới hứng hình ảnh và thông báo độ nét đã chuẩn chưa. Khi đạt yêu cầu kỹ thuật, người ở dưới hô to: Được! Được!


Ở nhà ngoài, ông cụ lẳng lặng theo dõi nghe chúng tôi hò hét. Khi chúng tôi bê cái chậu thau nước có thả những tấm ảnh đen trắng vừa phóng, in ra, ông cụ tò mò ngó xem và tỏ ra hết sức sửng sốt. Chúng tôi quyết định lấy máy chụp ông cụ mấy "pô", cắt phim tráng ngay và hôm sau làm ảnh tặng luôn. Con cháu của cụ xúm xít xem ảnh và tấm tắc: "Các chú tài thật, tài thật!". Cái xó nhà tôi bấy lâu chỉ có cóc ngồi nghiến răng thế mà nay được chú Át, chú Huệ phù phép nó trở nên thần kỳ quá xá!.


Một hôm, Xuân Át ngồi cắt phim giữa nhà, hai tay múa may trong cái túi vải đen, ông cụ thật thà hỏi:

- Tôi hỏi khí không phải, cái nghề phim ảnh này cũng cần đến quần đàn bà ư?

Chúng tôi phì cười, giải thích để cụ hiểu phim ảnh tối kỵ với ánh sáng nên phải làm cái túi vải đen nhiều lớp để thao tác cắt phim. "Chúng cháu tháo lắp phim đấy!"...

Cũng không ngờ, mấy năm sau đó, tấm hình chân dung của cụ do chúng tôi chụp tại chỗ, làm tại chỗ lại thành tấm hình tiễn cụ đi xa. Và cũng thật cảm động, chúng tôi ở sơ tán tại đây có tới gần chục năm trời, được dân làng đùm bọc, coi như người thân. Ngày Mỹ ký Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam, chúng tôi chuyển về Hà Nội, được các cụ, các ông, các bà cùng lớp trẻ chia tay lưu luyến. Tôi rưng rưng nước mắt như một cuộc chia ly với người thân vậy.


TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Nhoáng một cái đã kết thúc 20 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hào hùng. Tôi tự hào được sát cánh cùng đội ngũ "Phó nháy" đông đảo, với những cái tên hết sức thân thương, như: Xuân Mai, Bình Nhưỡng, Trần Duy Hợi, Sơn Lâm, Xuân Át, Phạm Ngõ, Quang Ý, Duy Thảo, Đắc Tư, Hữu Hạp, Việt Hiển, Vũ Đình Long, Sông Châu, Thuỷ Nông, Hồng Chỉnh, Thành Thiểu, Duy Khán... Họ đã xông xáo, có mặt trên các trận địa pháo cao xạ, trên sân bay phản lực, bên bệ phóng tên lửa, bên dàn ra-đa hiện đại, có mặt trong các nhà máy quốc phòng, có mặt trong mọi chiến trường, mọi chiến dịch, với chiếc máy ảnh nhỏ bé, ghi lại các nhân vật, các sự kiện, các trận chiến đấu cực kỳ quyết liệt với giặc đến từ trên bầu trời.


Có người đã ngã xuống nơi chiến trường như "Phó nháy" Quang Ý. Có người nay đã đi xa rồi... nhưng tôi vẫn cảm thấy họ đang cầm máy ảnh hồ hởi trước mắt mình. Nhiều người trở thành nghệ sĩ, nhà báo, nhà văn, nhà quản lý báo chí, xuất bản tâm huyết, yêu nghề và có tín nhiệm cỡ quốc gia.


Cái khó nhất thời chiến lúc bấy giờ là phương tiện đi lại. Cả Toà soạn chỉ có một chiếc mô-tô ba bánh. May thay, từ đồng chí Đại tá Đặng Tính, Chính uỷ quân chủng đến các đồng chí Xuân Mậu, Thái Vĩnh, Phan Khắc Hy, Phạm Đăng Ty, Cao Xuân Việt, Hồ Luật, Chu Mạo, Phạm Thái, Lê Miên, Nguyễn Thước... khi có chuyến đi công tác nào đều gọi: "Bên Báo có cậu nào đi với mình được không?". Ở cơ quan chính trị, các thủ trưởng yêu cầu, giao nhiệm vụ "mềm" như thế. Tất nhiên, các "Phó nháy" rất hào hứng khi được cử đi theo tác nghiệp.


Ngày khánh thành Nhà bảo tàng, Tư lệnh Quân chủng gọi Xuân Át và Minh Huệ ra chụp ảnh kỷ niệm, ông nói: "Trong Bảo tàng của quân chủng, phần nhiều ảnh do "Phó nháy nhà" chụp, mà các cậu là nòng cốt. Nếu không có sự bền bỉ chụp nhiều năm, nhiều sự kiện, năng nhặt chặt bị ấy, hỏi bây giờ lấy đâu ra tư liệu mà trưng bày ở bảo tàng đây?..."


Tôi coi đó là một lời khen, một lời ghi nhận công lao với tất cả các "Phó nháy" thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân chủng ta.

Với chúng tôi, mỗi lần đi chụp về, sau khi tráng phim đều làm công tác lưu trữ. Mỗi ô hình phim âm bản cắt ra được đựng vào một cái bao giấy bóng mờ, có ghi ký hiệu và số thứ tự. Ví dụ, ký hiệu KQ là phim về không quân, CX là cao xạ, TL là tên lửa, RĐ là ra-đa, LĐ là lãnh đạo... Mỗi phim như thế lại có một cái ảnh mẫu dán vào quyển ảnh lưu. Khi cần tìm, chỉ cần lật từng trang ảnh mẫu, chọn ký hiệu và "số phim" tương ứng là rút ra được ngay. Làm ảnh xong lại trả phim vào các ô trong "tủ thuốc bắc" chứa phim!.


Chúng tôi coi đây là tài sản của quân chủng nên không ai giữ phim đã chụp cho riêng mình. Đến ngày tôi nghỉ hưu (năm 1992), kho lưu trữ phim ảnh có tới con số vạn trong các bao giấy bóng mờ giữ phim âm bản rất quý.


Ở nước ta, từ xa xưa đã có nhiều loại ông "Phó" như "Phó cối", "Phó mộc", "Phó thường dân" nằm cạnh những "Phó lý", "Phó bảng"... Chỉ trong kháng chiến, tôi mới được nhập vào đội ngũ các "Phó nháy" yêu quý và tự hào. "Phó nháy" được coi ngang hàng với các chiến sĩ ra trận giết giặc lập công. Đó là kỷ niệm đẹp của chúng tôi một thời công tác ở Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân. Ngày ấy nếu có ai hỏi, tôi thường đứng nghiêm theo tác phong nhà binh, giơ bàn tay ngang lông mày, nói to mạnh mẽ: "Phó nháy! Có tôi!".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:06:57 pm
CHÚNG TÔI CHUẨN BỊ NGUỒN CÁN BỘ
THEO YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU


Đặng Văn Nhiên


Tôi sống trong quân đội 36 năm, có 24 năm ở Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó có 11 năm trực tiếp làm công tác cán bộ.

Thời gian làm công tác cán bộ, điều tâm đắc và say sưa nhất đối với tôi là chuẩn bị nguồn cán bộ.

Lúc đầu toàn quân chủng chỉ có 5, 6 trung đoàn. Khi giặc Mỹ "leo thang" đánh phá miền Bắc, lực lượng Phòng không - Không quân phát triển rất nhanh. Các trung đoàn không quân chiến đấu được cấp tốc ra đời. Các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa phát triển nhanh như vũ bão. Quân chủng Phòng không - Không quân phải nhanh chóng đáp ứng lực lượng bảo vệ yếu địa, không phải chỉ ở Hà Nội, Hải Phòng mà cả miền Bắc.


Các đơn vị pháo phòng không phát triển lại càng nhanh, không phải chỉ đáp ứng yêu cầu cho nhiệm vụ của quân chủng, mà còn phải chuẩn bị lực lượng phòng không cho các lữ đoàn, sư đoàn, quân đoàn bộ binh và cho cả dân quân, tự vệ toàn quốc.


Trường đào tạo sỹ quan của Bộ, của quân chủng thời gian 3 năm một khoá, không thể đảm bảo tốc độ phát triển trong chiến đấu. Rút xuống 2 năm, rồi 1 năm rưỡi, 1 năm vẫn không đáp ứng kịp. Phải rút xuống 9 tháng, 6 tháng rồi 3 tháng, học cấp tốc cho kịp đà phát triển lực lượng. Trường của quân chủng đào tạo không xuể. Sư đoàn cũng phải thành lập trường huấn luyện. Thời gian 3 tháng vẫn không kịp phải rút xuống 2 tháng, 1 tháng 1 lớp... gọi là "Lớp tập huấn cấp tốc!"...


Phòng Cán bộ chúng tôi liên tục rút kinh nghiệm, lại được sự hướng dẫn của cấp trên, sự chỉ dạo của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng, chúng tôi đã tìm ra cách chuẩn bị nguồn cán bộ đáp ứng mọi nhu cầu cán bộ lúc đó.


Có hai loại nguồn cán bộ:

1. Nguồn cán bộ cơ bản lựa chọn từ các khẩu đội trưởng, khẩu đội phó và chiến sỹ.

2. Nguồn kế tiếp là nguồn lựa chọn trong hàng ngũ cán bộ và trong nguồn cơ bản đã được bồi dưỡng. Để chuẩn bị nguồn cơ bản, chúng tôi kết hợp với cơ quan tham mưu, cơ quan quân lực, khi tuyển quân cử người về tận địa phương nắm lý lịch từng chiến sỹ mới, có xác nhận của chính quyền cơ sở. Tuy vậy, có một số trường hợp chúng tôi phải cử cán bộ đi thẩm tra lại. Khi huấn luyện tân binh, khi đã bổ sung chiến sỹ mới về các đơn vị, chúng tôi nhằm vào những điển hình trong các phong trào thi đua để phân loại chiến sỹ, chọn nguồn cán bộ. Chúng tôi còn kết hợp với cơ quan tổ chức, chọn nguồn đảng viên, nguồn đoàn viên Thanh niên để dưa vào nguồn cán bộ cơ bản.

Về nguồn kế tiếp, chúng tôi cũng có phương án cụ thể:

a/ Ví dụ: Nếu trung đoàn trưởng, trung đoàn phó này v.v... trên điều đi hoặc thương vong thì ai thay?

b/ Nếu một trung đoàn phát triển thành 2 trung đoàn hay 3 trung đoàn?...

Chúng tôi lập sơ đồ ghi rõ các chức vụ từ trung đội phó trở lên đến trung đoàn trưởng và ghi rõ họ tên, cấp bậc vào từng vị trí. Như vậy khi trên chỉ thị phải phát triển ngay 1 trung đoàn, 2 trung đoàn hay 3 trung đoàn, chúng tôi có cán bộ đáp ứng ngay.


Từ những phương án trên, chúng tôi lên kế hoạch huấn luyện, bồi dưỡng kịp thời nên khi giao nhiệm vụ cho anh em, các cán bộ có thể làm việc được ngay.

Trước đây, muốn sắp xếp cán bộ cho 1 trung đoàn, chúng tôi phải tìm hiểu, nghiên cứu, chuẩn bị hàng mấy tháng, làm ngày làm đêm, nhanh nhất cũng phải 1 tháng.

Nay do có phương án cụ thể, chủ động chuẩn bị trước nên luôn luôn có nguồn cán bộ, đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu phát triển lực lượng trong chiến đấu. Khi Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị tổ chức Hội nghị rút kinh nhiệm công tác cán bộ toàn quân, Phòng Cán bộ Quân chủng Phòng không - Không quân được chọn báo cáo kinh nghiệm về cách tiến hành xây dựng nguồn cán bộ, đã được Hội nghị đánh giá cao.


Đối với tôi, đây là một kỷ niệm sâu sắc, không thể nào quên trong thời gian làm trợ lý ở Phòng Cán bộ quân chủng.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:08:21 pm
TRẬN ĐỊA LÒNG DÂN


Nguyễn Xuân Mậu


Đã mấy chục năm, nhưng tôi vẫn nhớ mãi, vẫn in sâu trong tâm khảm của chúng tôi. Trong cuộc chiến tranh đầy gian khổ, ác liệt nhưng cũng hết sức hào hùng này, quân và dân trên khắp mọi miền đất nước đã thể hiện biết bao tấm gương thật trong sáng, dù nhân dân còn đang thiếu thốn trăm bề, nhưng tấm lòng thì bao giờ cũng rộng mở. Với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến", đồng bào không hề tiếc một thứ gì, kể cả xương máu để phục vụ bộ đội đánh thắng không quân Mỹ. Cả một ngôi làng ở vùng Đồng Lộc, bà con đã tự nguyện dời đi nơi khác để công binh làm đường cho xe kéo pháo của bộ đội phòng không lăn bánh trên những cột nhà và cánh cửa, kể cả những hộp hậu sự của các cụ già - để bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa chiến đấu. Làm sao chúng tôi quên được những bát nước chè xanh của các mẹ, những đường chỉ vá may đầy tình nghĩa của các o, các chị; những bó lá ngụy trang, những tấm giẻ rách của các cháu. Tất cả, tất cả đã làm nên chiến thắng của ngày ấy, đế lại đến hôm nay...


Ngày bộ đội tên lửa của ta ra quân đánh thắng trận đầu, chúng tôi đã có những kỷ niệm rất đẹp về tình quân dân như cá với nước. Để có chiến thắng trận đầu làm nên mốc son lịch sử ngày 24 tháng 7 năm 1965, ngoài tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 236, nhân dân vùng đất địa linh nhân kiệt Sơn Tây cũng đã đóng góp một phần không nhỏ vào chiến công chung ấy. Dân giúp bộ đội hàng ngàn ngày công dào công sự, lấy lá ngụy trang trận địa, giúp bảo vệ bí mật đường kéo tên lửa và nơi trú quân. Các Huyện uỷ Thạch Thất, Bất Bạt còn lập Uỷ ban chi viện cho bộ đội; các đội tự vệ thành lập tổ bắn máy bay Mỹ; dân quân sẵn sàng bắt giặc lái nhảy dù.


Trong những ngày bộ đội tên lửa và pháo phòng không trực tiếp chiến đấu ở những vùng trọng điểm cũng vậy, đâu chỉ có sự căng thẳng và ác liệt? Chúng tôi còn gặp ở đây một niềm tin, niềm cổ vũ lớn lao, một tình thương yêu đằm thắm đầy xúc động làm ấm lòng người chiến sĩ. Đó là những ngọn đèn đứng gác của những nữ thanh niên xung phong. Các o, các chị chỉ cho chúng tôi đường đi và tránh những đoạn đường có bom từ trường mà địch vừa thả xuống. Có những o đã hướng dẫn chúng tôi cả quy luật đánh phá dọc đường của máy bay Mỹ và cách phòng tránh khi xe qua. Giữa vùng bom đạn, cái sống cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Vậy mà giọng nói và cử chỉ của các o thật bình tĩnh, nhẹ nhàng. Những ai hoang mang dao động hay nhụt chí trước kẻ thù, những ai từng có những phút lung lay lòng tin chỉ cần nhìn vào những ngọn đòn không bao giờ tắt trong đêm mà vừng bước đi lên trên con đường chiến đấu và chiến thắng kẻ thù...


Thế đấy, biết bao xương máu đổ xuống, biết bao đồng chí đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, biết bao mái đầu đã chớm bạc đố có nền độc lập và hoà bình hôm nay. Đó là còn chưa nói đến những hy sinh thầm lặng của các bà mẹ khóc thầm lặng lẽ và những đóng góp không hề tính toán của những người dân yêu nước, của các nữ thanh niên xung phong làm nên những con đường cho tên lửa và pháo phòng không đi vào tuyến lửa đường Trường Sơn. Từ một bó rau tươi, một quả trứng gà, là những thứ rất hiếm hoi nơi chiến trường khói lửa của bà con trên dất Vĩnh Linh, Quảng Bình, chắt chiu dành dụm để bồi dưỡng cho trắc thủ đủ sức khỏe để điều khiển quả đạn tên lửa, tiêu diệt máy bay địch.


Trận địa lòng dân là thế đó. Có nhân dân là có tất cả. Có nhân dân mới có chiến thắng. Bây giờ đất nước hoà bình và phát triển kinh tế, mỗi người chúng ta phải suy ngẫm và có trách nhiệm hết lòng giúp đỡ nhân dân, tựa như một sự tri ân cần thiết và ý nghĩa truyền thống uống, nước nhớ nguồn; cán bộ, chiến sĩ Phòng không - Không quân đã thực hiện tốt nhiệm vụ giúp đỡ nhân dân trong mọi hoàn cảnh. Đó cũng là một cách "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh" thiết thực nhất.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:09:38 pm
NGHE ANH MẬU KỂ CHUYỆN VỀ
MỘT VIỆT KIỀU YÊU NƯỚC HIẾN KẾ ĐÁNH B-52


Nguyễn Thường Tín


Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu đã sang tuổi 90, nhưng chúng tôi vẫn quen gọi Trung tướng là anh như ngày nào Trung tướng còn là Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân. Tuy tuổi cao nhưng anh còn khoẻ mạnh, minh mẫn, ngày ngày vẫn cuốc đất, trồng cây hoặc đạp xe đi thăm bạn bè, đồng đội cũ. Trong một lần gặp mặt gần đây, để cùng nhau ôn lại trận "Điện Biên Phủ trên không" ở Hà Nội, anh kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện có thật xảy ra năm 1972, mà còn ít người biết đến. Đó là câu chuyện một Việt Kiều yêu nước, đã gửi về một bản hiến kế cách đánh máy bay B-52.


Anh Mậu kể:

"Vào một ngày cuối tháng 9 năm 1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nhận được một công văn thượng khẩn của đồng chí Đinh Đức Thiện, lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Kèm theo công văn là một tập tài liệu đánh máy dày 16 trang của một kiều bào ta ở nước Anh gửi về qua đường Bộ Ngoại giao, có tựa đề: "Mìn trên không chống oanh tạc cơ B-52". Tác giả mô tả bằng hình vẽ bút màu một quả mìn đựng trong một cái nôi nhỏ, treo dưới một quả khinh khí cầu và giải thích: "Ưu điểm chính của lưới mìn khinh khí cầu nằm ở sự bất ngờ của nó và ở tính chất toán học của lưới. Sẽ không có chiếc B-52 nào thoát khỏi do chúng bay nhanh, khó xoay trở quanh co. Thêm nữa, khinh khí cầu lại hoàn toàn vô hình với ra-đa của Mỹ"... Đồng chí Đinh Đức Thiện còn dặn thêm trong công văn: "Nếu có điểm nào chưa rõ, các anh gửi thư lên chỗ tôi, tôi sẽ chuyển qua Bộ Ngoại giao nhờ hỏi lại. Nếu thấy cần thiết mời vị ấy về trao đổi, các anh cứ cho biết để nhờ Bộ ngoại giao, có thể mời về được"...


Anh Mậu cho biết thời chống Mỹ, tập tài liệu ấy vẫn được lưu trữ trong hồ sơ bảo mật của Quân chủng Phòng không - không quân. Anh Mậu kể tiếp: "Tiếc rằng lúc đó tình hình đất nước diễn biến rất khẩn trương, nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không - Không quân đang phải chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đối phó với những âm mưu mới của đế quốc Mỹ. Chúng tôi chỉ trả lời đồng chí Đinh Đức Thiện là đề nghị đồng chí chuyển sang một cơ quan nào của Bộ Quốc phòng có điều kiện hơn để nghiên cứu thêm, chúng tôi xin ghi nhận và rất cảm kích, biết ơn tấm lòng của những người con đất Việt ở xa quê hương, vẫn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Với khả năng chúng tôi lúc đó, thấy "lưới mìn khinh khí cầu" khó thực hiện. Vì từ năm 1967, Quân chủng Phòng không - Không quân đã phối hợp với lực lượng phòng không nhân dân, tổ chức thả khinh khí cầu xung quanh vùng trời Hà Nội để chặn máy bay địch bay thấp. Dây thả bóng khinh khí cầu chỉ dài vài ba ki-lô-mét mà còn khó khăn. Nếu chặn máy bay B-52 ở độ cao trên 10 ki-lô-mét thì việc đó rõ ràng quá khả năng của chúng ta. Cuối cùng, anh Mậu kết luận: "Nhưng tấm lòng hướng về quê hương của đông đảo Việt kiều yêu nước lúc đó có ý nghĩa rất lớn, đã cổ vũ mạnh mẽ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta...".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:13:28 pm
RAU DỀN ... CƠM


Hanh Quốc Trần


Rau dền cơm mọc hoang. Trời cho. Góc vườn, bờ ruộng, ven đường, bãi cỏ... nơi nào đất âm ẩm một chút là có. Rải rác, lẫn lộn với các loại rau, cỏ dại khác. Ngon. Nhưng kiếm đủ bữa ăn không dễ. Phải chịu khó lục tìm. Vặt từng ngọn. Nhổ từng cây. Góp góp, nhặt nhặt mãi mới được vài ba nắm, đủ một bữa canh, chứ khó đủ để thay một bữa cơm được, nhất là bữa cơm cho hàng chục người. Thế mà...


"Thuở trời đất nổi cơn gió bụi" ấy, bữa sáng một bát cơm chan chút "nước mắm đại dương" hoặc một nửa chiếc bánh mỳ vừa đen xỉn, vừa chua, vừa rắn. Chỉ đến hơn 9 giờ sáng là bụng đã réo ầm ầm, người đã hơi chếnh choáng. Mải việc thì thôi, chứ cứ hơi "thư dãn" một chút là lòng dạ cứ bâng khuâng, nôn nao, cồn cào như nhớ nhung da diết cái gì đó.


Cho đến một buổi sáng, (không nhớ được đó là buổi sáng của ngày, tháng, năm nào. Chỉ mang máng hình như là một buổi sáng cuối xuân, đầu hè, khi mấy luống rau của Phòng Tuyên huấn sau hội trường của Cục bắt đầu vào kỳ làm cỏ). Khoảng 9 giờ, ông "đốc" Dậu (trợ lý Văn hoá quân chủng) nhẹ bước vào phòng làm việc của tôi, gật gật mái đầu sương gió, nháy nháy một bên mắt hóm hỉnh, nói nhỏ: "Anh xuống chỗ tôi một tý! Hay lắm!"...


Vừa lúc làm xong một việc, đang muốn "giải tý lao", tôi đứng dậy theo ông "đốc" đi liền. Nháy gọi thêm vài người nữa, chúng tôi xuống tới căn phòng chưa đầy một chục mét vuông của Tổ giáo viên văn hoá. Đã thấy lố nhố năm sáu người ở đó. Tiếng cười rúc rích, tiếng bát đũa lanh canh.


Một mùi thơm đậm đà pha chút ngai ngái của rau dại toả khắp căn phòng.

Ông "đốc" Dậu vừa tủm tỉm cười, vừa trịnh trọng tuyên bô: "Sáng nay, làm cỏ vườn rau, mấy anh em tổ giáo viên văn hoá chúng tôi có phụ thu được một ít dền cơm. Gọi là có bát canh "cây nhà lá vườn" để "dưỡng quân". Ta cùng nhau nghỉ giải lao 15 phút. Xin mời!"


Trên bàn làm việc của ông "đốc", tài liệu, giấy tờ đã được thu gọn vào một góc, dành chỗ đặt một chiếc xoong nhơ nhỡ, hơi nóng đang bốc lên nghi ngút như mời gọi. "Tuyệt! Giải lao thế này thì quá tuyệt. Nào! anh em ta cùng nhau xông pha ... lên đàng!!"


Và từ đó, chẳng cần đến hội nghị, hội thảo, ra nghị quyết, quy ước gì hết, cứ trong vườn, trong đất cơ quan còn rau dền cơm thì nhóm tuyên huấn ở "cái nhà Tây bỏ lại" thời ấy vẫn còn những buổi "giải lao 15 phút" như vậy. Người "chủ sị" kiếm rau và nấu canh bao giờ cũng là ông "đốc" Dậu. Rau dền cơm thành thức ăn lót dạ. Mỗi người chỉ một bát canh nhỏ. Chẳng thấm tháp chi nhưng cũng dịu cái bụng và lại rất ấm lòng. Vị ngọt, thơm của rau dền cơm cộng với tý muối, tý mì chính đã thấm sâu vào tình bạn, tình đồng chí, đồng đội của những "tay" tuyên huấn chúng tôi trong những tháng năm gian khó.


Gần 40 năm sau, tôi vẫn như thoảng thấy mùi vị lôi cuốn lòng người của bát canh rau dền cơm ngày ấy, nhất là nhớ ánh mắt, nụ cười tủm tỉm tràn đầy vui sướng của ông "đốc" Dậu khi nhìn anh em quây quần thân ái, xì xụp, hít hà đánh baỵ xoong canh mà ông đã bỏ công "góp nhặt mỗi ngày" để có "15 phút giải lao" giản dị, ấm cúng và đậm tình đồng đội như thế.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:14:49 pm
NHỌC NHẰN PHỤC VỤ CHẲNG NỀ HÀ


Nguyễn Thế Đại


Tôi nhập ngũ tháng 10 năm 1953, cùng với lớp thanh niên ở quê tuổi 17-18. Ngay từ đầu, tôi được bổ sung vào Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, tham gia chiến đấu trọn chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1958, tôi được chuyển sang Bộ Tư lệnh Phòng không, ở Trung đoàn 230 pháo cao xạ, rồi Trung đoàn 290 ra-đa. Từ Trung đoàn 290, tôi được trên cho đi học đào tạo lớp chính trị viên đại đội tại Trường Sỹ quan Pháo binh. Năm 1964, học xong ra trường tôi được giao làm trợ lý Ban Cán bộ Trường Sỹ quan pháo cao xạ, phụ trách công tác thống kê hồ sơ.


Đầu năm 1965, Phòng Cán bộ Quân chủng Phòng không - Không quân điều tôi lên làm trợ lý bảo dưỡng và hậu phương cán bộ. Buổi ban đầu khối lượng công việc lớn, mới mẻ, mò mẫm nhưng được sự chỉ bảo của thủ trưởng và anh em trong phòng, qua 6 năm tôi đã làm tròn chức trách, từng bước trưởng thành, có năm được khen thưởng.


Đầu năm 1971 đến giữa năm 1972, tôi được xuống cơ sở, lúc đầu làm chính trị viên phó rồi Chính trị viên Tiểu đoàn 103 Trung đoàn 280. Sau đó lại chuyển sang Tiểu đoàn 25, Trung đoàn 237 pháo cao xạ, rồi Tiểu đoàn 56, Trung đoàn tên lửa. Thời gian trên, tôi đã tham gia chiến đấu từ nam phà Gianh, phà Long Đại, tỉnh Quảng Bình sau ra Nghệ An, Thanh Hoá, ít lâu sau lại được điều về làm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 277 tên lửa.


Trên đưa tôi xuống đơn vị nhằm để rèn luyện thử thách, hiểu biết thực tế và bổ sung kiến thức quân sự, phục vụ cho nghiệp vụ công tác tốt hơn. Thời gian này là giai đoạn chiến đấu quyết liệt, tôi đã tham gia nhiều trận đánh đầy kỷ niệm vui, buồn như: Trận đánh ở Choóc; ngã ba đường số 10; Nông trường Lệ Ninh, Lệ Thuỷ - Quảng Bình. Hoặc như trận đánh của Tiểu đoàn 56 ở trận địa chốt cầu Miệu tại xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, cả trận địa bị tên lửa sơ-rai của Mỹ đánh hỏng khí tài, đồng chí Trưởng xe ΠA hy sinh tại chỗ.


Thời gian xuống đơn vị tuy không nhiều, nhưng tôi đã hiểu thêm bộ đội, hiểu được đơn vị, được rèn luyện trưởng thành một bước, hoàn thành nhiệm vụ và đặt niềm tin của Phòng Cán bộ giao cho. Giữa năm 1972, Phòng Cán bộ lại điều tôi về tiếp tục làm trợ lý bảo dưỡng, hậu phương, chính sách 5 năm nữa. Qua 11 năm chuyên ngành chăm sóc sức khoẻ, hậu phương và chính sách cán bộ để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đáng nhớ.


Nhớ lại buổi ban đầu phải đi tìm địa điểm đặt Đoàn an dưỡng của quân chủng, lúc thì ở Xuân Sơn, Kiến An, Hải Phòng; lúc thì ở Bình Hồ, Ân Thi, Hưng Yên rồi Đầm Vạc, Vĩnh Yên. Hoặc đi tìm địa điểm thích hợp cho người lái máy bay nghỉ sau những giờ bay đánh địch căng thẳng, địa điểm không được xa lại phải an toàn, thời gian nghỉ của phi công chỉ là 1-2 ngày, thậm chí một buổi, một vài giờ để nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, trở về sân bay sẵn sàng xuất kích. Tôi với anh Tô Minh, Đoàn trưởng Đoàn an dưỡng lại khăn gói lên đường đi từ Thanh Miện, Hải Dương, nơi có Đoàn an dưỡng của Quân khu III; Đồ Sơn, Hải Phòng, Sầm Sơn, Thanh Hoá, đến cả Hồ Tây, nơi có Đoàn an dưỡng của Tổng cục Kỹ thuật, Tổng Công đoàn Việt Nam; lên cả Sa Pa, Lào Cai, bỏ công sức ra nhiều nhưng chỉ tổ chức được 5-7 trường hợp mà thôi.


Đầu năm 1967, Đoàn an dưỡng của quân chủng ở Đầm Vạc được đón tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống nghỉ và làm việc từ 3 đến 4 ngày. Đoàn có Đại tướng và phu nhân vừa là thư ký riêng; một bác sỹ, một vệ sỹ, một lái xe, một anh nuôi và tổ thông tin bộ đàm 3 người. Thế là một phen hối hả, chạy vạy, bí mật phối hợp với các phòng chức năng lo liệu vì gấp gáp về thời gian và thiếu thốn nhiều thứ từ phòng nghỉ riêng, nhà ăn, nhà bếp, công trình vệ sinh riêng... Nhưng chỉ 2 ngày sau là hoàn tất công tác chuẩn bị, đã phục vụ Đại tướng cùng đoàn nghỉ và làm việc chu đáo. Hôm ra về, Đại tướng hài lòng khen chúng tôi và nói: "Có dịp sẽ trở lại!". Chúng tôi ai nấy đều rất vui.


Cũng vào năm 1967, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh quân chủng, Phòng cử tôi tháp tàng một cán bộ hoạt động trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 sang Trung Quốc chữa bệnh. Đi tàu hoả từ ga Hàng cỏ lên ga Đồng Đăng, phải lo ăn uống phục dịch dọc đường, 2 lần phải cõng đồng chí ấy qua cầu vì bị máy bay địch đánh hỏng. Lên ga Đồng Đăng từ tối hôm trước đến trưa hôm sau mới có tàu đi Bằng Tường. Tôi lại phải ở ga Đồng Đăng từ tối hôm đó đến trưa hôm sau mới có tàu xuôi Hà Nội, phải một đêm vừa đói, khát, rét và muỗi nhưng vẫn rất vui, vì đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.


Đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ quân chủng trước khi lên đường sang Đoàn 559, thủ trưởng Phòng bảo tôi đưa 3 củ sâm Triều Tiên sang biếu thủ trưởng dùng khi đi đường. Chính uỷ không chịu nhận, nói là tháng trước mình đã được các cậu cho rồi, để dành cho đồng chí khác yếu hơn. Tôi phải năn nỉ mãi, thủ trưởng mới nhận và cảm ơn. Thay mặt anh em trong Phòng, tôi kính chúc thủ trưởng lên đường bình an và được Chính uỷ bắt tay. Ngờ đâu đó là cái bắt tay cuối cùng vì một thời gian sau Chính uỷ đã hy sinh trên chiến trường. Lúc bình thường trước đây anh em vẫn đi lại sang gia đình chị Tính - phu nhân của Chính ủy. Nay lại năng đi lại hơn, thăm hỏi động viên chị, có lúc chuyển quà của Bộ Tư lệnh, của Cục Cán bộ, của Phòng cho gia đình chị Tính với tình cảm gần gũi và ấm cúng.


Việc quản lý khu gia đình cán bộ tại các thành phố có lực lượng phòng không bảo vệ yếu địa, có đến trên chục khu tập thể. Phòng cán bộ phải quản lý cả. Về sau mới phân cấp giao cho các sư đoàn, nhà trường, các Cục. Riêng Hà Nội có đến 8 khu gia đình phải nắm chắc từng khu. Tình hình nhà cửa, sinh hoạt khu gia đình, trật tự an ninh cũng khá phức tạp. Nhà xuống cấp, dột nát, điện nước chập chờn, họ vào phòng cán bộ, yêu cầu đủ chuyện. Phòng Cán bộ lại phải đi bàn bạc với Phòng Doanh trại, Phòng Tài vụ để tìm cách giải quyết. Bởi cơ chế lúc đó đâu đã rõ ràng. Vì thế mới có chuyện thế này: Một đồng chí cán bộ thông tin được quân chủng chia căn hộ 25m2 ở nhà số 8 Nam Đồng. Khi toà xử cho ly hôn, vợ cứ đòi chia nhà, nhưng đây không phải là tài sản do hai vợ chồng làm ra, vợ phải chuyển đi nơi khác. Nhưng chị này không chịu chấp hành, lại còn thách thức. Chúng tôi ra khuyên giải nhiều lần vẫn không được, cuối cùng phải nhờ công an khu vực xử lý. Tối hôm trước ra thông báo lần cuối, sáng hôm sau tiếp tục khuyên giải vẫn không được, buộc chúng tôi phải đưa đồ đạc của chị này ra sân, cầm tay buộc phải ra khỏi nhà. Chúng tôi khoá cửa, giao chìa khoá cho đồng chí cán bộ, còn chị vợ nhờ các đồng chí công an giúp đỡ. Sau sự việc đó và đến mãi về sau, tôi cứ phân vân liệu đây có phải là chức trách của Phòng Cán bộ? Cũng may sau đó một thời gian, các khu gia đình bàn giao cho địa phương quản lý và có cơ chế nhượng bán cho cá nhân cán bộ, mới kết thúc những vấn đề phức tạp như trên.


Cũng là chuyện về chức trách trợ lý hậu phương, cũng thuộc nhà số 8 Nam Đồng. Những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc bị đánh phá phải sơ tán người già, trẻ em ra khỏi Hà Nội. Phòng lại giao cho tôi tổ chức đưa các cháu nhỏ ở nhà số 8 Nam Đồng sơ tán mãi tận Trung Hà - Hà Tây ở trường Nguyễn Văn Trỗi do Tổng cục Chính trị tổ chức. Cứ chiều thứ 7 xe lên đón các cháu về, sáng thứ hai tổ chức đi sớm đề phòng máy bay Mỹ vào đánh Hà Nội. Khá vất vả, nhưng chúng tôi luôn luôn bảo đảm an toàn, mỗi chuyển đi đều nhận và giao đầy đủ 48 cháu cho từng gia đình.


Đến khi có đồng chí Vương Tiến và đồng chí Lai thay thế, tôi được giao sang bộ phận nhân sự theo dõi khối cơ quan quân chủng và cán bộ Binh chủng Ra-đa. Có hai chuyện còn nhớ như sau: Mỗi đợt báo cáo bổ nhiệm đề bạt cán bộ với Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu, đồng chí nào trong phòng cũng rất ngại, bởi đồng chí nào dính vào thành phần bóc lột, dính vào quan hệ nam nữ bất chính hoặc dao động trong chiến đấu, ngại khó ngại khổ, Chính uỷ nhớ rất kỹ và có phần gay gắt, thiếu thiện cảm. Mình mà nắm không chắc tình tiết, rất dỗ bị "quạt!"...


Khi đồng chí Hoàng Phương về thay Chính uỷ Đặng Tính, trong quyết định bổ nhiệm, cả phòng không ai biết là Quyền Chính uỷ, nên các văn bản do đồng chí Hoàng Phương ký, anh em đều ghi là Chính uỷ. Tôi đã có lần bị Chính uỷ nói gay gắt : "Tớ đã nhắc các cậu bao nhiêu lần, các cậu cứ quên. Tớ nói phải có chữ Q trước chữ Chính uỷ, các cậu cứ cắt là thế nào". Té ra một thủ tục tuy nhỏ, nhưng xem ra không nhỏ tý nào.


Tháng 4 năm 1981, đang làm Trưởng ban Cán bộ Binh chủng Ra-đa, tôi hy vọng sau đợt này được nghỉ hưu thì có quyết định bổ nhiệm làm Phó Phòng Cán bộ Quân chủng Phòng không (lúc này đã tách làm 2 quân chủng), được giao phụ trách nội bộ, làm Bí thư chi bộ và theo dõi khối chính sách. 5 năm trên cương vị này mọi mặt đều thuận lợi, về công tác xây dựng Đảng, xây dựng Phòng và công tác chuyên môn mà cấp trên đã giao phó. Hơn nữa những anh em được chọn lựa về phòng là những người rất tốt cả về phẩm chất chính trị, lối sống, nắm được chuyên môn, biết cách làm việc, nội bộ đoàn kết đồng thuận về mọi mặt, sống chan hoà, trong các phong trào đều sôi nổi hăng hái. Phòng cán bộ luôn luôn là lá cờ đầu của Cục. Đến tận bày giờ tôi vẫn nhớ rõ từng thủ trưởng phòng, đến từng đồng chí trợ lý qua nhiều thời kỳ công tác mà tôi từng cộng tác. Tuy sau đó tôi lại được cấp trên tín nhiệm giao làm Trưởng Phòng Chính sách quân chủng. Tính chất và nội dung công việc, giữa hai phòng cũng có nhiều điểm giống nhau. Công tác chính sách là một mặt thực hiện cụ thể và rộng hơn của công tác cán bộ. Tôi được thay các đồng chí Trần Xuân Vinh, Nguyễn Hoà vốn từ Phòng Cán bộ chuyển qua nên dễ quen việc và chất lượng phục vụ tốt hơn, được Bộ Tư lệnh khen và đội ngũ cán bộ các cấp quý mến.


Trải qua rèn luyện gần 40 năm trong quân đội, nay về với đời thường, tôi vẫn giữ được truyền thống "anh bộ đội Cụ Hồ", giữ được nếp sinh hoạt, suy nghĩ và làm việc như những năm công tác ở Phòng Cán bộ và cơ quan Cục Chính trị. Qua những tâm tư suy nghĩ tình cảm chân thành, muốn được hồi tưởng lại, để nhớ, để yêu thương của một quá khứ không bao giờ quên.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:16:10 pm
THẮM TÌNH KHU B


Lê Miên


Ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau khi dựng ra cái gọi là "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", đế quốc Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không đầu tiên đánh "trả đũa" miền Bắc nước ta. Tiếp đó, trước nguy cơ phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" cùng với việc đưa quân ào ạt vào miên Nam, từ ngày 7 tháng 2 năm 1965, đế quốc Mỹ bắt đầu mở cuộc chiến tranh "leo thang" bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Quân chủng Phòng không - Không quân từ trạng thái thời bình chuyển sang thời chiến. Các cơ quan của Bộ Tư lệnh Quân chủng được lệnh chuẩn bị dời vào khu sơ tán (gọi là khu B) để làm việc.


Tuy nhiên, căn cứ vào mức độ "leo thang" của địch, mà các cơ quan của quân chủng khi thì làm việc ở khu A (sân bay Bạch Mai), lúc thì dời vào khu B.

Khu sơ tán (tức khu B) là một dãy núi đất, cây cối rậm rạp, chạy dài từ đầu Chúc Sơn trên đường số 6, thuộc huyện Chương Mỹ (Hà Đông), tới tận làng So thuộc huyện Quôc Oai (Sơn Tây). Một con đường đất đỏ quạch lượn theo chân núi, kề bên là ruộng trồng lúa và dãy núi đá chùa Trầm. Phong cảnh ở đây nom thật hữu tình.


Song, có một điều mà tôi nhớ nhất là con đường đất đỏ này, hễ trời nắng thì bụi đất bám đầy quần áo, cổ sơ-mi luôn luôn hằn lên một vết bẩn không thể che giấu được. Gặp phải trời mưa mà đang rong ruổi trên con đường này thì thật là khốn khổ. Đất ở đây được hoà với nước thành chất bùn nhẽo nhoét, dính như keo, bám chặt vào hai bánh xe đạp, gạt đi không nổi. Chân đi giày hay đi dép cao su cũng bị thứ đất tai quái này níu chặt không cho bước. Chỉ còn cách duy nhất là vác xe lên vai, cởi giày dép ra mà cuốc bộ. Đó là xe đạp khung nam, chứ nếu là xe khung nữ thì thật khóc dở, mếu dở.


Đối với các trợ lý chúng tôi, hầu như ai cũng được nếm mùi vị "tra tấn" này, không phải chỉ một lần. Nhưng ai cũng chấp nhận và vượt qua, vì "thời chiến" mà!

Mật độ dân cư khu vực này còn thưa thớt. Nhà cửa tuy phần lớn là nhà gạch lợp ngói, nhưng nhỏ, nằm rải rác trên núi. Nhà nào cũng có vườn tược rộng rãi để trồng chè xanh. Trám và mít là những đặc sản nổi tiếng ở vùng bán sơn địa này.


Cục Chính trị quân chủng được phân công sơ tán trên địa bàn xã Tiên Phương, thuộc huyện Chương Mỹ. Phòng tuyên huấn được bố trí ở rải từ trên đỉnh núi kéo xuống tận sát đường cái xóm Đỗi, cuối thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương.


Năm 1967, khi địch "leo thang" đánh phá ác liệt vào Hà Nội, Phòng Tuyên huấn lại được lệnh kéo dãn đội hình sơ tán vào tận Thạch Thán, Quốc Oai (gọi là khu C). Có lúc, có bộ phận vào tận Cấn Xá (gọi là khu C phẩy).


Tháng chạp năm 1972, khi địch dùng máỵ bay B-52 đánh phá ác liệt Hà Nội, các bộ phận tuyên truyền, giáo dục và văn hoá phải tạt sang sườn phía Tây của dãy núi xã Tiên Phương. Anh em vẫn gọi vui là "Trường Sơn Tây". Những bộ phận ở phía Đông, gọi là "Trường Sơn Đông!".


Tổ giáo dục chúng tôi lúc đó có bốn người, được bố trí ở tại hai gia đình. Các anh Quốc Hanh, Trần Hùng ở nhà con trai ông bà đồ. Anh Phạm Quyết và tôi ở nhà ông bà Kỷ.
 
Quan hệ giữa bộ đội với nhân dân khu sơ tán thật chan hoà, cởi mở. Bà con coi chúng tôi như những người thân trong gia đình. Tuy đi sơ tán không đeo quân hàm, nhưng bà con không ai bảo ai, đã kháo nhau: "Các bác, các chú đều là cán bộ cả đấy. Ai cũng thấy có xe đạp, súng lục và đài tăng-sít-to". Bọn thanh niên thì tò mò tìm hiểu cấp, chức của các chú, các bác và gọi chúng tôi là "lính quan", cấp chức thì to, nhưng không có quân.


Các gia đình anh em chúng tôi ở đều được bà con ưu ái dành cho chỗ nghỉ rộng rãi, thoáng mát, kẻ cả giường nằm và bàn ghế làm việc. Nhân dân không tiếc gì trong việc giúp đỡ bộ đội. Suốt cả khu vực sơ tán, dân không những đã nhường nhà cho ở, nhường tiện nghi cho sử dụng mà còn nhường cả đất để làm nhà tạm, nhà kho, làm hội trường và cả hầm trú ẩn nữa.


Khi Phòng Tuyên huấn làm hội trường thiếu vật liệu, đã đến hỏi mua tre ở nhà ông đồ. Ông niềm nở đón tiếp và trả lời: "Các chú là bộ đội của dân, cần gì các chú nói với dân một tiếng, dân sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Việc các chú cần tre làm hội trường tôi xin ủng hộ, không phải mua bán tiền nong gì cả!". Không những ông đã cho tre, mà còn cho con giúp chặt tre cho bộ đội.


Mùa hè, trời oi bức, tránh tập trung ở nhà ăn tập thể, chúng tôi thường mang cơm về ăn ở từng bộ phận nhỏ. Gia đình lại bổ sung cho đĩa dưa, quả cà muối hoặc bát trám om cá trê, làm cho bữa ăn thêm ngon miệng.


Do thường phải đi cơ sở nắm tình hình, anh em chúng tôi đều đi, về bất chợt. Nhiều khi nhỡ bữa do quá giờ ăn của đơn vị, lại được bà con luộc cho mấy củ khoai, củ sắn. Nếu tiện bữa cơm của gia đình thì mời bằng được ăn với gia đình. Có lần tôi và anh Hoè ở nhà ông bà Diệu, lấy cơm ở bếp về chưa kịp ăn, gia đình đã trút xuất cơm đó cho cả nhà ăn rồi đổi cho chúng tôi một liễn cơm gạo mới nóng sốt, khiến chúng tôi vừa áy náy, vừa cảm động.


Nhân dân khu B rất có ý thức giữ gìn bí mật cho bộ đội. Tất cả các thành viên trong gia đình, kể cả các cháu nhỏ đều được giáo dục, nhắc nhở ý thức cảnh giác. Có người lạ đến khu vực là báo cho các chú bộ đội biết. Ngay ai hỏi thăm các chú đều được trả lời là không có, hoặc không biết. Một lần chị Huyền, vợ anh Trương Tấn Điền đến tìm chồng, hỏi thăm dân đều không được ai cho biết, cứ đi loanh quanh mãi trong khu vực hàng giờ đồng hồ. Sau nhờ gặp anh em trong Phòng Tuyên huấn, mới tìm được đến với anh Điền.


Chúng tôi ở khu B suốt cả thời kỳ chiến tranh phá hoại. Nhưng đế quốc Mỹ và bọn gián điệp tay sai của chúng có mắt cũng như mù, không hề phát hiện ra cơ quan đầu não của Quân chủng Phòng không - Không quân ở đâu để mà oanh tạc. Khu B thực sự là một căn cứ địa tuyệt vời của chúng tôi.


Tuy ở nhà dân, nhưng chúng tôi thường đi công tác vắng. Mọi đồ đạc cá nhân đều được dân trông nom, giữ gìn cẩn thận, không hề suy suyển. Những khi họp hành hoặc sinh hoạt Đảng, chúng tôi thường tập trung từng tổ công tác hay toàn phòng nên không khí thôn xóm lại rộn ràng, vui vẻ. Các buổi tối, nhất là những tối sáng trăng, rải chiếu ngồi ngoài sân quây quần bên nhau quanh chiếc đài bán dẫn, uống bát nước chè xanh, chuyện trò râm ran thật ấm cúng, thân thiết. Đây cũng là dịp tốt để quân, dân giãi bày tâm sự, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ cũng như vận động thực hiện các phong trào ở địa phương, thông tin chiến thắng ở hai miền và giải đáp thắc mắc cho bà con.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Mười Một, 2022, 08:16:52 pm
Tổ giáo dục tuy chỉ ở nhà con trai ông bà Đồ và nhà ông bà Kỷ, nhưng với các gia đình xung quanh, chúng tôi đều đi lại thăm hỏi, có quan hệ thân thiết với bà con. Từ nhà này sang nhà kia đều đi tắt qua vườn chò, hoặc đường mòn nên rất thuận tiện.


Trong số người già, tuổi cao, hay thích tiếp xúc và chuyện trò với chúng tôi là ông Đồ. Năm ấy ông chạc hơn 70 tuổi. Ông có vóc người cao, to, nước da hồng hào, nom quắc thước. Trong tủ ông luôn luôn có hũ rượu ngâm thuốc bắc và tắc kè. Hễ chúng tôi đến chơi, thế nào ông cũng cố mời bằng được một ly để "tửu nhập, ngôn xuất" cho vui vẻ. So với dân địa phương cùng lứa tuổi, ông tỏ ra là người hiểu biết. Ông không những biết chữ nho, chữ quốc ngữ mà còn có thể bập bẹ được cả tiếng "Tây bồi", nên khẩu khiếu của ông lưu loát đâu vào đấy. Ông khoe ông đã được dự "la bom-nhe ghe cát-tó đít-duýt" (La première guerre mondiale 1914 - 1918: đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914-1918). Nói đến đây ông cười khà khà và tỏ vẻ khoái chí.


Đối với chúng tôi, ông rất tôn trọng, thích chúng tôi đến chơi để có dịp đàm đạo và giới thiệu cái thời oanh liệt của mình. Cách nói năng của ông rất từ tốn, lịch lãm. Ông coi vai vế giữa chúng tôi với ông là bình đẳng ngang nhau nên thường gọi chúng tôi là các ông, mặc dầu chúng tôi còn kém ông trên 30 tuổi.


Ngoài thời gian công tác, chúng tôi thường tranh thủ vào các buổi tối và ngày nghỉ để thăm dân, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của dân; nghe ngóng dư luận của dân đối với bộ đội nơi đóng quân; dạy các cháu học văn hoá, học hát, hoặc kể chuyện chiến đấu. Trong dân, nhà nào có việc hiếu hỷ chúng tôi đều có mặt để chia sẻ buồn, vui. Có những cái Tết do nhiệm vụ, không có điều kiện tranh thủ nên ở từng nhà, anh em đều vui Tết đón xuân với nhân dân như ở gia đình mình.


Trong dân có sự cố gì xảy ra, chúng tôi đều có mặt và góp phần tích cực giải quyết. Có một lần bà Đồ bỗng nhiên đau bụng quằn quại, đi lỏng liên tục hàng chục lần, người mệt lả nằm trên chiếc chõng kê ở đầu hè. Bà con họ hàng kéo đến thăm, ai cũng lo lắng cho tính mệnh của bà khó qua khỏi. Anh em tuyên huấn được tin, đã đến thăm hỏi rồi hội ý chớp nhoáng với nhau, tìm cách cứu bà. Sau khi thống nhất với gia đình, chúng tôi quyết định điều xe của đội chiếu bóng, đưa bà đi bệnh viện huyện Chương Mỹ cấp cứu. Việc làm đó được bà con rất hoan nghênh, cho là các chú đã giải quyết linh hoạt, kịp thời và tình nghĩa. Theo lời các bác sỹ của bệnh viện, nếu đế chậm vài giờ nữa thì rất nguy kịch. Mấy ngày sau, bà ra viện đã hết lời cảm ơn các chú bộ đội đã cứu sống bà.


Có thể nói những năm tháng sống ở khu B đã để lại trong anh em chúng tôi những hình ảnh cao đẹp của tình quân dân cá nước. Nhân dân đã hết lòng giúp đỡ, đùm bọc chúng tôi như những người thân trong gia đình để chúng tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi càng thấm nhuần sâu sắc hơn câu nói của Bác Hồ: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần, dân liệu cũng xong".


Sau khi chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hiệp định Pa-ri được ký kết, chúng tôi dời khỏi khu B về Hà Nội, ai nấy đều tự hào vì đã để lại hình ảnh cao đẹp của anh "Bộ đội cụ Hồ", "đi dân nhớ, ở dân thương".


Kế từ đó, anh em chúng tôi khi còn tại chức cũng như khi đã nghỉ hưu, đều có nhiều dịp về thăm lại căn cứ khu B. Có chuyến đi vài chục người, có chuyến đi từng tổ công tác dăm mười người. Có chuyển do thủ trưởng Cục, có chuyến do thủ trưởng Phòng dẫn anh em đi để cảm ơn chính quyền địa phương, cảm ơn nhân dân đã hết lòng giúp đỡ bộ đội.


Quan hệ giữa chúng tôi với nhân dân khu B tới nay vẫn khăng khít. Mùa mít, mùa trám vẫn còn cho các cháu mang tới tận nhà cho chúng tôi. Các cháu nay đã trường thành, như cháu Sinh con ông bà Hai nay là cán bộ thuế; cháu Lương con ông bà Lữ nay là công an của thị xã Hà Đông. Khi dựng vợ gả chồng cho con, các cháu đều đến mời chúng tôi tới dự. Các cháu chính là sợi dây liên lạc giữa chúng tôi với bà con khu B.


Tháng 4 năm 2009, một số anh, chị em Phòng Tuyên huấn đã nghỉ hưu ở khu vực Hà Nội lại có dịp về thăm bà con. Gặp nhau thật bất ngờ, tay bắt mặt mừng, nói cười đon đả và xúc động. Nét mặt ai nấy đều đã già đi theo thời gian, tóc có người bạc phơ, nhưng vẫn nhận ra nhau qua giọng nói, tiếng cười.


Khu B nay đã thay đổi nhiều. Con đường đất đỏ từ Chúc Sơn vào đã được rải nhựa phẳng phiu. Chợ búa họp đông đúc. Nhiều nhà đã được tân trang hoặc xây dựng mới to tát, khang trang. Những con đường mòn đi từ nhà nọ sang nhà kia đều được láng xi măng và có tường bao quanh nhà. Phía bờ ruộng đã mọc lên những nhà hai, ba tầng. Thôn xóm đã có điện. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Thế hệ con cháu của các gia đình đều trưởng thành, nhiều cháu làm ăn khá giả, đã góp phần đáng kể vào việc đổi mới quê hương.


Tiên Phương ngày nay đang từng bước hoà vào không khí đổi mới chung của cả nước. Nhưng tình quân dân cá nước giữa bà con với chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn, đậm đà, sâu sắc, mãi mãi thuỷ chung.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 09:57:58 pm
TỔ VẼ PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN NĂM 1972 ẤY...


Vũ Huyên


Bước sang năm 1972, lực lượng anh em vẽ của Cục Chính trị, Quân chủng Phòng không - Không quân chúng tôi tính theo đầu người đã lên tới gần một khẩu đội: Các anh Đỗ Hiển, Nguyễn Đức Thọ, Đặng Chung, Phạm Nguyên Hùng, nằm ở bộ phận Câu lạc bộ, trực thuộc Phòng Tuyên huấn. Còn tôi thuộc quân số của Đoàn văn công. Thời gian này, mới có anh Hiển, anh Thọ và tôi là tốt nghiệp trung cấp, còn đang theo học tại chức tại Trường Mỹ thuật. Chúng tôi đều là hạ sĩ quan, nên chức danh chỉ là "chiến sĩ vẽ", chứ chưa được coi là hoạ sĩ chính thống, "oai phong" như bây giờ. Gọi là "chiến sĩ vẽ", vì chúng tôi biết vẽ chứ thực ra công việc chính của chúng tôi có thể tóm tắt cho dễ nhớ trong 8 chữ "Đóng đinh-leo thang-cờ- đèn-kèn-trống". Nghĩa là cắt chữ, dán khẩu hiệu, kẻ vẽ bảng biểu và treo lên để trang trí, cho các loại hội nghị, từ tổng kết thành tích, rút kinh nghiệm chiến đấu đến liên hoan văn hoá văn nghệ, hội diễn. Riêng tôi, do ở Đoàn văn công, còn có thêm chức trách "thiết kế phục trang tiết mục và vẽ phông cảnh". Song do hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động biếu diễn của đơn vị chủ yếu là xung kích nhỏ gọn ở ngay trận địa, nên thực chất chỉ là chạy may quần áo tiết mục (tôi vẫn hãnh diện gọi là "chạy may váy" cho các cô). Khi Đoàn biểu diễn, tôi còn có nhiệm vụ làm chân bê bục, căng phông màn (thường chỉ là một cái phông hậu nhâu nát). Chính vì thế mà mỗi khi có dịp may mắn được cấp trên cho đi xuống các trận địa để vẽ, chúng tôi sung sướng như chim được sổ lồng!


Đông - Xuân năm 1971 - 1972, chúng tôi lần lượt được chia thành các mũi nhỏ từ 2 đến 5 người, kết hợp với các đồng chí phóng viên báo, quay phim, bảo tàng xuống công tác ở các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ vùng trời hậu phương chiến dịch, hoặc chiến đấu trong đội hình quân, binh chủng hợp thành trong chiến dịch Trị - Thiên 1972. Mũi của anh Đặng Chung vào sâu nhất và cũng là mũi bị thương vong nặng nề nhất (mũi có 5 người thì 2 người hy sinh, 2 người bị thương, trong đó có anh Chung). Rất may là Chung vẫn còn giữ lại được phần lớn các ghi chép và ký hoạ. về sau những tư liệu này đã giúp anh xây dựng một số tác phẩm sơn dầu khổ lớn như: Đường mang tên Bác, Hành quân xa ... Theo tôi, đó là những tác phẩm vào loại thành công nhất của anh.


Bị đánh mạnh trên khắp chiến trường miền Nam và trước nguy cơ phá sản của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", Ních-xơn phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đánh ra miền Bắc ngay từ đầu tháng 4 năm 1972. Tới đầu tháng 7 năm 1972, máy bay địch đã đánh thẳng vào khu vực sân bay Bạch Mai là nơi đóng quân của chúng tôi. Lúc này, tôi đang một mình một súng AK, một bếp dầu, một hầm cá nhân làm nhiệm vụ trông giữ doanh trại của Đoàn văn công ở gần đường băng máy bay. Gọi là doanh trại, nhưng chỉ là mấy dãy nhà lá đã xiêu vẹo, và tốc gần hết mái do bị chấn động của tiếng nổ và hơi bom. Bỗng nhiên đêm 4 tháng 7 năm 1972, tôi được lệnh vào ngay khu B của Cục Chính trị quân chủng, công tác. Tới khi gặp các anh Thọ, Hiển, Hùng tôi mới biết nhiệm vụ của mình là phối hợp cùng với các anh ấy sáng tác tranh cổ động, tổ chức in lưới phát hành xuống đơn vị. Thì ra trong khi tôi còn ở trong chiến trường, ba anh ra trước đã kịp được theo học một lớp in lưới của Tổng cục Chính trị mở, do chuyên gia Cu-ba dạy. Chúng tôi kẻ các khẩu hiệu động viên chiến đấu, vẽ tranh cổ động (đón trước) chiến công bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 4000. Kẻ vẽ và được duyệt xong cái nào, lại tự làm khuôn lưới và in đến đấy. Do kỹ thuật còn thô sơ (khuôn in được trổ thủng bằng giấy Đạo Lâm, Trung Quốc và mực in tự chế mua của anh Thế làm ở Cục Xuất bản - Bộ Văn hoá). Mỗi lần in chỉ được tối đa 200 bản là khuôn in đã bị thấm mực, mủn nát hết. Tôi vì không được tham gia lớp học in lưới nên đành phải đóng vai "thợ phụ" kéo lưới, gạt mầu lần lượt cho các anh Thọ, Hiển, Hùng cho tới khi học lỏm được nghề và tự in được tranh của mình. Toàn bộ số khẩu hiệu và tranh cổ động in được đều gửi hết xuống đơn vị. Nhớ lại những bức tranh cổ động được vẽ trước đây bằng bột màu chỉ vẽ độc bản, thì nay chúng tôi đã có một bước tiến xa, nhân được nhiều bản bằng phương pháp in lưới, đã phát hành được rộng rãi hơn tới các đơn vị trong quân chủng. (Những bức tranh cổ động in lưới này về sau đã được trưng bày tại Phòng tranh của bộ đội Phòng không - Không quân lần thứ hai tại Câu lạc bộ Thống Nhất tháng 11 năm 1973).


Tôi vốn theo học điêu khắc trung cấp ở Trường Mỹ thuật, vào bộ đội làm pháo thủ pháo cao xạ, rồi mới chuyển sang làm trang trí sân khấu cho văn công. Những lần theo Đoàn xuống phục vụ đơn vị, trong lúc chờ đợi giữa hai đợt biểu diễn, tôi thường hết sức tranh thủ ký hoạ. Thế nhưng cái chuyện muôn thủa của "vẽ giống hay không giống", rồi các câu hỏi chả biết trả lời thế nào như "vẽ cái này để làm gì?" và mức độ hiểu biết, đồng cảm của mọi người đối với công việc của mình v.v... làm cho tôi thấy việc vẽ ký hoạ cũng như các bức ký hoạ còn có vẻ xa lạ với bộ đội. Mà có lẽ cũng xa lạ với cả chính tôi, vì tôi cũng chẳng biết đến bao giờ mình mới có điều kiện chuyển những ký hoạ đó thành tranh tác phẩm? Liệu mình có còn sống qua cuộc chiến tranh đến ngày đó không? Nhưng hàng ngày, hàng giờ, tinh thần anh dũng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ trong quân chủng đã luôn luôn làm cho chúng tôi thấy mình cần phải làm việc nhiều hơn, cố gắng nhiều hơn. Và tôi đã tìm thấy ở tranh cổ động, một thể loại gần gũi với mọi người, gắn bó trực tiếp tới nhiệm vụ chiến đấu và công tác chính trị tư tưởng của đơn vị. Nó như một phương tiện thiết thực và hữu hiệu giúp tôi góp sức cùng đồng đội. Có lẽ chính từ những ngày làm tranh cổ động như thế, đã mở đường cho tôi tiếp tục theo đuổi việc vẽ tranh cổ động cho tới bây giờ.


Công việc vừa kẻ vẽ, vừa in lưới được chúng tôi thay phiên nhau làm từ tháng 7 năm 1972, đến đầu năm 1973. Trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, các đơn vị tên lửa đã bắn hàng trăm quả đạn, có đêm bắn ba bốn chục quả. Nhiệm vụ lắp ráp đạn của các tiểu đoàn kỹ thuật để kịp cung cấp cho các tiểu đoàn hoả lực rất nặng nề. Anh em phải làm việc liên tục 24/24 giờ, trong suốt chiến dịch. Thế là hàng trăm khẩu hiệu động viên chiến đấu đã được Tổ vẽ in lưới gửi xuống các tiểu đoàn kỹ thuật tên lửa. Rồi tiếp ngay sau đó, những tranh cổ động in lưới lại kịp thời ra mắt phục vụ mừng công chiến thẳng ...


Với riêng tôi, tháng 12 năm 1972 còn mang nhiểu kỷ niệm sâu nặng hơn nữa. Đêm 18 tháng 12, khi tôi đang ngồi hý hoáy viết thiếp mời cho đám cưới của mình thì tiếng máy bay địch gầm rít, tiếng bom nổ và tiếng các loại hoả lực phòng không của ta nổ ầm ầm chát chúa. Thế là chẳng còn cưới xin gì nữa. Tôi đem số kẹo, bánh và thuốc lá ít ỏi được mua theo tiêu chuẩn cưới chia cho mọi người. Ngày 25 tháng 12, vợ tôi khi ấy công tác ở Hà Bắc, vượt qua chặng đường đất đỏ quạch đầy hố bom rải thảm từ chỗ làm việc về gặp tôi ở nơi trú quân sơ tán. Kho quân nhu của Bộ Tham mưu Quân chủng đóng quân ngay bên cạnh, cho tôi mượn một căn nhà lá dã chiến, quây lại làm "nhà hạnh phúc". Chiều ngày 28/12, các anh Chung, Hùng, Hiển, quân phục mới tinh xúng xính, chả biết mượn ai được đôi giầy da sĩ quan bóng loáng, trịnh trọng mang lễ vật là một cái liễn sắt tráng men Trung Quốc, cuốc bộ gần chục cây so đến chúc mừng hai vợ chồng tôi. Đó là món quà cưới duy nhất và các anh, những đồng đội cùng trong một tổ vẽ cũng là những người khách duy nhất trong lễ cưới không tổ chức của chúng tôi. Mọi người đều đùa: "Sau này nên đặt tên con đầu lòng là thằng Bê (B-52) để ghi nhớ không quên những ngày tháng này...".


Hết năm 1972, tôi được phong quân hàm chuẩn uý. Điều này nghe có vẻ buồn cười, nếu bây giờ nhìn vào quân hàm trung, thượng, đại tá của các hoạ sĩ quân đội từng cùng thời với tôi. Bản thân tôi cũng biết là mình mới chỉ được là 3/4 sĩ quan thôi. Ấy vậy mà đã là quân hàm cao nhất trong anh em tổ vẽ khi đó rồi. Và tôi vẫn lấy thế làm hãnh diện, vênh váo lắm. Tuổi trẻ mà...


30 năm qua, nhóm anh em chúng tôi ở Tổ vẽ năm 1972 ấy đều đã ra quân, hầu hết đã nghỉ hưu. Chỉ có anh Đặng Chung, đã mất hơn chục năm. Nhưng từ 25 năm nay, cứ vào tối ngày 22 tháng 12 hàng năm, chúng tôi, các thế hệ chiến sĩ vẽ Phòng không - Không quân nối tiếp nhau, kể cả các đồng chí còn tại ngũ, những người sống ở Hà Nội, lại quây quần gặp mặt, thắp nén hương tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh, ngồi bên ly rượu, chén trà, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vui, buồn...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 09:59:03 pm
THỰC HIỆN "3 TRỰC TIẾP" TRONG CÔNG TÁC NHÂN SỰ CÁN BỘ


Phan Trọng Đồng


Tôi về Phòng Cán bộ Quân chủng Phòng không - Không quân cuối năm 1966. Thời kỳ đầu được giao quản lý hồ sơ cán bộ, một công việc không đến nỗi xa lạ, bỡ ngỡ. Bởi vì trước đó, khi làm trợ lý tôi đã từng làm tổ trưởng lưu trữ hồ sơ của Ban bảo mật từ thời còn là Bộ Tư lệnh Phòng không. Hàng ngày thường tiếp xúc với hồ sơ tài liệu liên quan đến các đối tượng cán bộ trong quân chủng, nhất là cán bộ trung, cao cấp. Tôi hiểu được nhiều cán bộ, nhớ được nhiều người. Với những đồng chí có đặc điểm nổi bật cả mặt tích cực hoặc tiêu cực tôi nắm được kỹ hơn, bổ sung kịp thời vào hồ sơ tài liệu, cung cấp đầy đủ theo yêu cầu của các cấp, các ngành liên quan; giúp cho Thủ trưởng Phòng và các bộ phận trong phòng có tài liệu nghiên cứu, đề xuất các phương án bố trí, sử dụng cán bộ. Tuy vậy, sự hiểu biết cán bộ của tôi cũng chỉ là gián tiếp, còn xa mới đạt đến yêu cầu thực chất trong công tác quản lý cán bộ.


Khoảng giữa năm 1971, tôi được Phòng chuyển sang làm công tác nhân sự, giúp phòng quản lý, đề xuất việc bố trí , sắp xếp, sử dụng cán bộ ở một số đơn vị chiến đấu phòng không, lúc đầu là Sư đoàn 363, sau thêm Sư đoàn 375 rồi Sư đoàn 361 và một vài trung đoàn trực thuộc. Đối tượng chủ yếu là cán bộ trung đoàn; nguồn trực tiếp là cán bộ tiểu đoàn tên lửa, đại đội cao xạ; nguồn cơ bản lâu dài là sĩ quan điều khiển tên lửa. Anh em trong tổ nhân sự chúng tôi thường xuyên thay nhau bám sát đơn vị, đi xuống cơ sở mỗi tháng ít nhất 1 tuần, có lúc đi xa phải mất cả tháng, công việc ở nhà do đồng chí khác trong tổ hỗ trợ.


Thời kỳ này chi bộ và thủ trưởng Phòng đề ra yêu cầu thực hiện "3 trực tiếp" trong công tác nhân sự. Cứ mỗi lần đi xuống đơn vị, chúng tôi phấn đấu làm theo 3 yêu cầu đó.

Một là: "Trực tiếp gặp cán bộ" hỏi han, nghe anh em trao đổi tình hình gia đình, vợ con, hoàn cảnh đời sống, sức khoẻ, tâm tư nguyện vọng có gì vướng mắc cần giải quyết.

Hai là: "Trực tiếp nghe cán bộ nói", với cán bộ chỉ huy thì nghe trong lúc truyền đạt mệnh lệnh, hạ quyết tâm chiến đấu ra sao; với các chính trị viên thì nghe nói trong lúc truyền đạt chỉ thị nghị quyết lãnh đạo, giáo dục chính trị động viên tư tưởng cho bộ đội ra sao?

Ba là: "Trực tiếp thấy cán bộ làm". Đó là làm trong tác nghiệp nhiệm vụ, từ cách làm và trình bày kế hoạch tác chiến, huấn luyện của cán bộ chỉ huy, nếu là tiểu đoàn trưởng tên lửa thì xem khả năng tổng hợp các phần tử, phán đoán tình huống, xác định thời cơ phóng đạn; nếu là đại đội trưởng cao xạ thì xem việc xác định thời cơ hạ lệnh bắn và xử lý tình huống trực tiếp trên trận địa. Còn với các chính trị viên thì xem việc cùng với người chỉ huy xác định quyết tâm và thời cơ thực hành bắn và khả năng xử lý tình huống thiệt hại khi địch gây ra ...


Một lần đi công tác dài ngày vào đầu năm 1972, tôi theo Sư đoàn tiền phương 363, có Trung đoàn 267 tên lửa và Trung đoàn 213 cao xạ vào triển khai chiến đấu trên địa bàn huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình, làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương trực tiếp chiến dịch Quảng Trị và bảo vệ tuyến hành lang vận tải cho chiến dịch. Tôi đã lần lượt đi hết 4 tiểu đoàn hoả lực Trung đoàn 267 ở bốn trận địa cách nhau từ 5 - 10km. Mặc dầu 4 tiểu đoàn đã chiến đấu bắn rơi máy bay Mỹ bảo vệ Thành phố Hải Phòng với thành tích khác nhau. Bốn tiểu đoàn trưởng đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, nhưng qua "3 trực tiếp", tôi mới hiểu ra nhiều điều cần quan tâm hơn. Có 2 đồng chí trưởng thành từ sĩ quan điều khiển rồi đại đội trưởng C1 lên làm tiểu đoàn trưởng thì việc chỉ huy chiến đấu thuận lợi hơn, bắn rơi nhiều máy bay hơn. Một đồng chí khác tuy cũng là đại đội trưởng C1 lên, cũng đánh rơi một số máy bay nhưng kết quả không nhiều. Còn một đồng chí vốn là đại đội trưởng C2 (bộ đạn) lên làm tiểu đoàn trưởng thì khả năng tổng hợp các phần tử hạn chế, phán đoán tình huống và hạ quyết tâm chậm nên mỗi lần phóng đạn chỉ được 1 quả, anh em hay gọi "đánh mổ cò", hiệu suất chiến đấu không cao, đánh rơi ít máy bay nhất.


Tìm hiểu cá nhân, mỗi đồng chí mang theo một hoàn cảnh khác nhau nhưng đều có tác động nhất định đen công việc và cuộc sống hàng ngày. Có đồng chí chiến đấu rất tốt nhưng sức khoẻ yếu, đau dạ dày nặng, luôn luôn lo lắng khó đảm bảo chiến đấu dài ngày liên tục. Có đồng chí lập nhiều chiến công, chiến đấu vững vàng, nhưng vợ ở quê không chung thuỷ sinh ra buồn nản, ít hoà đồng với đồng đội. Có đồng chí quê ở miền Nam, chiến đấu không sợ hi sinh nhưng tuổi đã lớn, lấy vợ miền Bắc lâu chưa có con, luôn luôn trăn trở muốn có điều kiện ổn định gia đình...


Tất cả những điều mắt thấy tai nghe, chúng tôi đều ghi nhận trong đầu và kín đáo ghi chép vào sổ công tác hàng ngày. Qua nhiều lần khảo nghiệm đã giúp chúng tôi có những tư duy nhận định sát thực với từng cán bộ, có tư liệu cụ thể để báo cáo khi thủ trưởng các cấp yêu cầu.


Cứ như thế, chúng tôi đã bám sát các đơn vị kể cả trong chiến tranh cũng như hoà bình. Chỉ bằng chiếc xe đạp cá nhân nhưng không nề hà vất vả, thiếu thốn, nhọc nhằn, dù đơn vị ở gần hay phải đi xa. Đã có lần tôi vào Sư đoàn 377 chiến đấu ở các huyện Thanh Chương, Đô Lương, tỉnh Nghệ An, lúc trở ra không có tàu xe, phải tự đi xe đạp hơn 300km ra Chương Mỹ - Hà Tây, nơi Cục Chính trị sơ tán.


Sau chiến tranh một thời gian ngắn, chúng tôi không làm công tác cán bộ, hầu hết trở thành cán bộ lãnh đạo trung đoàn, lữ đoàn hoặc cao hơn, nhưng mỗi lần xuống cơ sở chúng tôi vẫn giữ nếp "3 trực tiếp", sâu sát, gần gũi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng cán bộ chiến sĩ, có tác dụng rất tốt trong thực hiện chức trách của mình.


Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, lớp chúng tôi tuổi đã trên dưới 70, những kỷ niệm, hình ảnh và ấn tượng với lớp cán bộ đơn vị mình đã tiếp cận ngày đó vẫn còn in đậm trong tâm trí của nhau, để mỗi lần gặp mặt bạn chiến đấu các đơn vị, ai nấy đều tay bắt mặt mừng thật cảm động.


Thiết nghĩ ngày nay đất nước tuy hoà bình, lớn mạnh; điều kiện phương tiện công tác hiện đại, thuận tiện và thuận lợi hơn nhiều, nhưng việc sâu sát cơ sở, gần gũi cán bộ chiến sĩ, nắm bắt và giải quyết công việc một cách cụ thể... vẫn là một tác phong quần chúng vô cùng quý báu, cần thiết mà suốt đời chúng ta phải học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:01:20 pm
ĐÊM CÔNG DIỄN HỤT


Trịnh Tấn


Trong những tháng cuối năm 1972, bộ đội không quân một mặt khẩn trương huấn luyện, chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng cùng các lực lượng phòng không trong quân chủng đánh bại mọi âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ, nhất là khi chúng dùng máy bay B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Mặt khác, vẫn đẩy mạnh công tác củng cố, xây dựng mọi mặt đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội. Riêng công tác của Ban Tuyên huấn phải khẩn trương hoàn thành Hội diễn nghệ thuật quần chủng cấp binh chủng trong tháng 12 năm 1972.


Ngày 16 tháng 12 năm 1972, tại hội trường Bộ Tư lệnh Binh chủng ở sân bay Gia Lâm, hội diễn nghệ thuật quần chúng Binh chủng Không quân lần thứ hai được tiến hành.

Qua hai ngày đêm duyệt tiết mục, không khí phấn khởi của Hội diễn dâng lên rất cao. Nhiều tiết mục được đánh giá xuất sắc như: "Biên đội ta xuất kích", "Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng" ; "Bầu trời và mặt đất"; "Tôi là anh nuôi"... và các vờ kịch, vở chèo như: "Chim chèo bẻo", "Đường mây lối núi"; hoạt cảnh quan họ "Tình quân dân"...


Đêm công diễn dự định từ 19 đến 22 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972.

Sau khi các tiết mục công diễn được công bố, suốt ngày 18 tháng 12, lãnh đạo và diễn viên các đơn vị đều náo nức chuẩn bị, giành nhau hội trường để chạy chương trình, nâng cao chất lượng tiết mục. Do có tình hình mới khẩn trương, Ban chỉ đạo Hội diễn quyết định công diễn khai mạc lúc 18 giờ, sớm hơn dự định 1 giờ.


18 giờ kém 15 phút. Mọi người đã tề tựu tại hội trường, trong đó có đại diện Phòng Văn hoá văn nghệ và văn công Tổng cục Chính trị; đại diện Phòng Tuyên huấn quân chủng, Báo Phòng không - Không quân và Văn công quân chủng. Đúng 18 giờ, thay mặt Ban chỉ đạo Hội diễn, tôi đọc lời chào mừng, giới thiệu đại biểu quan khách và công bố tối công diễn bất đầu.


Mở màn là các tiết mục đồng ca của các đoàn không quân Sao Đỏ, Yên Thế, Hồng Hà. Không khí đang hừng hực sôi nổi và dâng cao, bỗng đồng chí Lê Thế Thọ, Tham mưu phó binh chủng xuất hiện. Đứng trước mi-crô, với dáng vẻ khẩn trương, đồng chí truyền lệnh của Tư lệnh binh chủng.


"Các đồng chí! đế quốc Mỹ đã lật lọng xảo quyệt. Chúng không những không chịu ký vào bản hiệp định hai bên đã thoả thuận, mà nghiêm trọng hơn đã tập trung một lực lượng lớn B-52 và máy bay chiến thuật đánh phá miền Bắc nước ta. Hồi 19 giờ 10 phút, Sở chỉ huy quân chủng đã nhận được báo cáo của các trạm ra-đa: Có nhiều tốp máy bay B-52 và trên 100 lần chiếc máy bay chiến thuật đã cất cánh từ đảo Gu-am ở Thái Bình Dương và các căn cứ trên đất Thái Lan đang bay hướng tới Hà Nội và Hải Phòng. Bộ Tổng Tham mưu đã ra lệnh báo động. Sở chỉ huy quân chủng và binh chủng đã vào chiến đấu cấp 1. 19 giờ 21 phút một biên đội Mic - 21 đánh đêm đã xuất kích. Hội diễn tạm ngừng, tản ra các vị trí ẩn nấp an toàn, chờ lệnh tiếp theo".


Đang trong không khí hào hứng, sôi nổi, đoàn nào cũng náo nức chờ đến tiết mục của đơn vị mình, đều đề nghị khi có còi báo yên, ban chỉ đạo cho tiếp tục công diễn, dù có khuya đến cả đêm nay cũng được.

Tiếng còi báo động của thành phố bỗng vang lên. Tôi vội thông báo cho các đoàn để mọi trang bị, nhạc cụ nặng tại hội trường, còn diễn viên cứ để nguyên hoá trang, trang phục và các nhạc cụ cầm tay ra ngay vị trí ấn nấp đã được phân công.


Vừa lúc đó thì toàn bộ lưới điện thành phố vụt tắt. Tiếng động cơ máy bay F - 111 gầm rít trên bầu trời không vực sân bay Gia Lâm. Chúng phóng đạn rốc-két nổ rung chuyển. Đất, đá, gạch, kính, sắt thép bay vèo vèo. Cả bầu trời sáng rực. Lưới lửa của các loại súng phòng không, tên lửa đan chéo nhau từ các hướng. Chốc chốc lại có những ánh chớp từ phía Phủ Lỗ, Đông Anh, Đa Phúc của đạn tên lửa, đạn pháo cao xạ và cả bom B-52.


Khoảng 20 giờ 10 phút, còi báo yên vang lên. Toàn thể anh chị em diễn viên và khán giả lại nhanh chóng vào hội trường. Điện lưới vẫn bị mất. Tôi cho đội điện ảnh dùng máy nổ trên xe phim lấy điện phục vụ hội trường. Các đơn vị đề nghị cho tiếp tục hội diễn.


Ánh điện máy nổ vừa bật sáng, cũng vừa lúc đồng chí Ngô Ry ở sở chỉ huy về cầm ngay mi-crô, thông báo:

"Đợt đánh phá vừa rồi của máy bay B-52 và F-111 đã tập kích các sân bay Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc, Kép và một số trận địa phòng không. Đường băng, đường cất, hạ cánh của các sân bay bị hỏng nhiều. Các phi công đánh đêm tuy chưa hạ được máy bay B-52, nhưng đã về hạ cánh an toàn ngay trên cả đường lăn, dưới ánh sáng B-52 cháy. Bộ Tư lệnh Quân chủng nhận định: Đây là đợt đánh dọn đường. Ngay đêm nay có thể chúng còn tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu trọng yếu trên miền Bẳc. Do đó, Hội diễn tới đây kết thúc. Ban chỉ đạo và giám khảo sẽ có kết luận, đánh giá sau. Nói chung hội diễn đã thành công. Các đơn vị ở xa, chỉ huy các đoàn đưa ngay anh chị em về đơn vị an toàn trong đêm nay. Còn anh chị em các cơ quan trong binh chủng và khu vực sân bay Gia Lâm thu dọn ngay hội trường rồi khẩn trương ra khu vực nhà ga sân bay Gia Lâm, tham gia sửa chữa sân bay gấp".


Chảo cháo gà thơm phức, các chậu xôi bốc khói được bày ra sân. Người dùng bát, người dùng đĩa và cả tay không tranh thủ ăn, vừa ăn vừa chia tay nhau, vẫn để nguyên trang phục và hoá trang, người thì nhảy lên xe về đơn vị, người thì lao ra khu vực chữa gấp sân bay.


Từ hội diễn đã khẩn trương chuyển thành đêm Hội chữa gấp sân bav. Vừa ra tới khu vực chữa gấp, tôi trao đổi nhanh với đồng chí Định, dùng điện trên xe phim mở máy ghi âm và hệ thống phóng thanh phát ngay các bài hát, điệu chèo vừa ghi âm được ở các buổi diễn duyệt trong Hội diễn lần này đế cố vũ, động viên quân, dân đang khẩn trương chữa gấp đường băng sân bay. Đúng là "tiếng hát át tiếng bom". Khi tiếng hát từ loa phóng thanh vừa cất lên, hàng ngàn người đang chữa gấp đều hô vang: "Hoan hô hội diễn! Hoan hô xe phim"...


Sân bay bị hỏng nặng nhất phía bên phải nhà ga, khu vực ngã ba đường cất, hạ cánh và sân đậu. Hàng chục hố bom nham nhở, bê-tông, đất đá vung vãi khắp nơi. Trong số người tham gia chữa gấp, khó mà phân biệt được quân với dân. Có cả các cụ già và học sinh, nhân dân trong phố và các làng lân cận, mang theo đủ các loại phương tiện, người đào, người xúc, người gánh, người bê. Lực lượng công binh sân đường huy động cả xe xúc, xe gạt, xe lu tới hoạt động. Lấp được hố nào, các em học sinh lại dùng chổi quét sạch đường băng đến đó.


Sau 3 giờ sáng, đường cất, hạ cánh đã cơ bản chữa xong. Chỉ huy công trường dùng xe phim làm Sở chỉ huy ra lệnh chuyến sang sửa chữa sân đậu. Bỗng còi báo động thành phố lại rú vang. Chỉ huy công trường ra lệnh: "Toàn bộ lực lượng chữa gấp cùng phương tiện di chuyển về vị trí an toàn, tìm vị trí ẩn nấp, chờ lệnh khi có còi báo yên!"...


Lúc này đã 4 giờ 20 phút sáng ngày 19 tháng 12, tất cả anh chị em trong Ban Tuyên huấn Binh chủng Không quân và bộ phận phục vụ Hội diễn chất chặt dụng cụ lên chiếc xe phim, tranh thủ qua cầu phao sông Hồng để về khu sơ tán. Xe phim vừa chuyến bánh thì tiếng rít của máy bay chiến thuật Mỹ cũng gầm rú trên bầu trời Hà Nội. Liên tục, liên tục, lưới lửa phòng không đan chéo nhau chằng chịt từ nhiều hướng lên bầu trời. Xe chúng tôi tắt đèn pha, vượt cầu phao Chương Dương chạy thẳng về khu sơ tán của đơn vị. Gần 5 giờ sáng, đã qua thị xã Hà Đông mà những vệt lửa trên bầu trời vẫn còn sáng, về đến sở chỉ huy mới biết đó là những bồn lửa B-52 cháy rơi ngay ở Phủ Lỗ và phía Tây sân bay Nội Bài.


Từ đây cho đến 30 tháng chạp, suốt 12 ngày đêm kể sao cho xiết cuộc chiến đấu anh hùng của quân và dân ta. Đặc biệt ở Hà Nội, Hải Phòng, cuộc chiến đấu đánh trả cuộc tập kích chiến lược của máy bay B-52 Mỹ đã lập nên chiến công hiển hách "Điện Biên Phủ trên không!"...


Hội diễn nghệ thuật quần chúng lần thứ hai của bộ đội không quân tiến hành trong bối cảnh đó. Song, sau 12 ngày đêm ác liệt, đanh sách đội Tuyên văn không chuyên của không quân vẫn được thành lập; chương trình, tiết mục vẫn được hoàn thiện và nâng cao.


Để chào mừng chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" đại thắng, mừng Hiệp định Pa-ri được ký kết, Hội diễn nghệ thuật quần chúng Quân chủng Phòng không - Không quân được triệu tập ngay cuối tháng 1 năm 1973. Đội Tuyên văn không chuyên của Binh chủng Không quân được giải nhất. Nhiều tiết mục đạt giải A, được Cục Chính trị quân chủng lựa chọn cùng với những tiết mục xuất sắc của Sư đoàn phòng không Hà Nội làm nòng cốt cho Đoàn nghệ thuật quần chúng của quân chủng đi dự Hội diễn nghệ thuật toàn quân và đi biểu diễn báo cáo với các đơn vị, địa phương trong và ngoài quân chủng...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:03:56 pm
"TÔI CẦN NHỮNG ĐIỀU MẮT THẤY TAI NGHE"


Nguyễn Khắc Chuẩn


Đầu năm 1965, tôi được chuyển từ cán bộ quân sự sang cán bộ chính trị, về làm trợ lý Phòng cán bộ, Cục Chính trị. Cuối tháng 4 năm 1965, tôi được giao nhiệm vụ xuống Trung đoàn 236, vừa làm phái viên nắm toàn bộ tình hình chuyển binh chủng tên lửa của đơn vị, vừa phải học như một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn, để khi cần thiết có thể xuống chiến đấu được ngay.


Mới học được một tháng, tôi lại được Cục gọi về, để sáng hôm sau lên Bộ Tổng Tham mưu báo cáo trực tiếp với Tổng tham mưu trưởng về tình hình học tập của Trung đoàn tên lửa 236. Đêm đó tôi thức chuẩn bị đề cương báo cáo rất kỹ, chọn lọc từng câu chữ, gạch đi viết lại nhiều lần, đến 12 giờ đêm mới thấy tạm ổn.


Sáng hôm sau lên Tổng hành dinh, trong phòng chờ rộng rãi, lòng tôi thấp thỏm một mối lo. Hồi chiến đấu ở Điện Biên Phủ, tôi mới là đại đội trưởng, cấp cao nhất tôi phải báo cáo là Trung đoàn trưởng, về phòng cán bộ, tôi làm trợ lý với nhiệm vụ tổng hợp tình hình, viết báo cáo và lập kế hoạch công tác cán bộ trình thủ trưởng Phòng để báo cáo Cục. Nay tôi phải tự mình trực tiếp báo cáo với một trong những đồng chí lãnh đạo cao nhất của quân đội, không hiểu sẽ ra sao?


Suy đi tính lại, tôi tự trấn tĩnh. Hãy can đảm. Tôi hít một hơi thở dài, nhịp tim dần dần trở lại bình thường. Tôi tự tin hơn.

Cánh cửa phòng rộng mở? Một đồng chí trung tá bước ra: "Mời đồng chí vào làm việc". Bước qua cửa, tôi nhìn thấy Thượng tướng Văn Tiến Dũng dáng người oai vệ, đang ngồi trước bàn làm việc. Để khẳng định mình, tôi đứng nghiêm báo cáo rành rọt: "Tôi, Đại uý Nguyễn Khắc Chuẩn, trợ lý Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân chủng Phòng không - Không quân lên báo cáo Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng về tình hình triển khai học tập chuyển binh chủng của Trung đoàn 236 tên lửa. Xin đợi lệnh!"...


Ông chỉ chiếc ghế trước mặt: "Đồng chí ngồi xuống" - "Xin cảm ơn Thượng tướng!". Tôi ngồi xuống ghế, lấy ra bản đề cương báo cáo để trước mặt. Trong lúc đang chuẩn bị, tôi nghe tiếng ông: "Trong kế hoạch, tôi làm việc với đồng chí 30 phút. Nay vì có việc đột xuất, nên chỉ làm việc 20 phút. Cái tôi cần nghe là những điều mắt thấy tai nghe của đồng chí, không cần giấy tờ".


Nội dung báo cáo, tôi cứ nghĩ sẽ theo bài bản như vẫn báo cáo ở Cục. Nhưng không ngờ lại chuyển sang gần như buổi toạ đàm. Khi tôi nói, ông lắng nghe và hỏi cặn kẽ về kết quả học tập của cán bộ chỉ huy và các kíp trắc thủ, những đánh giá của bạn và của thủ trưởng đơn vị.


Nhìn nét mặt, tôi thấy ông tỏ ý hài lòng. Ông nói: "Thực tế chứng tỏ quyết tâm làm chủ vũ khí kỹ thuật của cán bộ, chiến sỹ ta rât tốt. Mọi thứ vũ khí kỹ thuật dù hiện đại đến đâu, quân đội các nước anh em sử dụng được, thì chúng ta cũng sử dụng được tốt, với thời gian ngắn hơn. Tôi rất an tâm".


Ông đứng dậy nhìn về phía tôi, nhẳc nhủ: "Đồng chí nắm được tình hình. Riêng về nghiệp vụ công tác cán bộ, cần sâu sát đơn vị hơn, nhất là trong chiến đấu mới phát hiện được nhiều nhân tài đáp ứng cho yêu cầu chiến đấu và xây dựng của quân đội". Ghi sâu lời ông, tôi quyết tâm phấn đấu để không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ và hoàn thành tốt chức trách.


Qua 15 năm công tác ở Cục Chính trị quân chủng, những tấm gương sáng sâu sát đơn vị của Chính ủy Đặng Tính, Phó chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu, những người luôn luôn vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt xuống các trận địa chiến đấu để nắm tình hình, chỉ đạo cụ thể. Các anh thấu hiểu hoàn cảnh và biết tên từng kíp trắc thủ, người lái máy bay, khẩu đội trưởng, nhất là điểm mạnh, điểm yếu của từng cán bộ lãnh đạo, cán bộ chỉ huy bộc lộ ra trong thực tiễn chiến đấu, càng thôi thúc chúng tôi phải làm theo.


Thực hiện chủ trương của Đảng uỷ và Thủ trưởng Cục: "Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, đoàn kết hiệp đồng, sâu sát cơ sở, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ", Phòng cán bộ luôn luôn là một tập thể gắn bó, đoàn kết nhất trí. Việc sâu sát cơ sở thực sự trở thành tác phong tốt của cán bộ trong phòng.

   "Ý đã quyết thì gan phải quyết,
   Nhất định làm thì việc phải nên,
   Trăm hăng thua một chữ bền,
   Tấc lòng chấp hết muôn ngàn hiểm nguy"


Anh em đã ngày đêm xông xáo xuống các cơ sở, các trận địa, các đơn vị. Chính ở đây chúng tôi đã cùng sống gian nan với chiên sỹ. Chính ở đây chúng tôi thấy mình như được lột xác, dời được bốn chân bàn, bốn chân ghế, vứt bỏ được tệ quan liêu, hiểu biết được cán bộ sâu sắc hơn. Trên cương vị công tác của mình với những điều mắt thay tai nghe đã giúp chúng tôi đánh giá đúng tình hình hơn, phát hiện được những vấn đề mà thực tiễn chiến đấu và xây dựng đặt ra. Qua đó Phòng cán bộ đã cùng với các cơ quan trong Quân chủng phát hiện được những nguồn nhân tài vô giá trong cán bộ, chiến sỹ để đề đạt với Đảng uỷ, thủ trưởng Cục và Thường vụ Đảng uỷ quân chủng có chủ trương mở nhiều trường lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.


Chỉ tính từ năm 1965 đến năm 1972, hơn 29.500 lượt đồng chí cán bộ đã được đi học các trường trong và ngoài nước, đáp ứng nhu cầu cán bộ tăng rất nhanh trong một thời gian ngắn: Pháo cao xạ tăng 26 lần; tên lửa tăng 112 lần; không quân lăng 17 lần; ra-đa tăng 5-6 lần.


Trong việc làm tham mưu cho Đảng uỷ và thủ trưởng về bố trí và sử dụng cán bộ, chúng tôi đã giữ đúng được đường lối, thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị, nghị quyết, giúp cho việc sử dụng cán bộ ngày càng tốt hơn, đáp ứng mọi yêu cầu chiến đấu và xây dựng quân chủng.

   "Bản thân cần đi sâu tiếp xúc
   Dù có khi bực tức phải nén lòng
   Bất kỳ ai mình vẫn phải công tâm
   Không thiên vị, hết lòng cho sự nghiệp
   Người trách móc, cũng vui lòng, vì việc..."


Và điều mà bản thân tôi thanh thản là cả cuộc đời công tác cán bộ, không hề tư tủi cá nhân.

   "Ai biếu xén, dù gói chè, điếu thuốc,
   Không mồ hôi, tiêu chuẩn của mình,
   Một lòng một dạ phân minh,
   Quyết tâm không nhận, của mình mình xơi".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:05:14 pm
NHỚ ANH HOÀNG TẠO VỚI KHÚC HÁT
"TÊN LỬA VỀ BÊN SÔNG ĐÀ"


Nguyễn Thường Tín


Tôi biết Hoàng Tạo từ những năm 1959 - 1960. Ngày ấy chúng tôi đều vừa tròn 25 tuôi. Hoàng Tạo là chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc, vừa tốt nghiệp khoá đào tạo sĩ quan cấp tốc, được về nhận công tác tại Ban Tài vụ, Phòng Hậu cần, Bộ Tư lệnh Phòng không. Tôi làm biên tập tờ tin in rô-nê-ô của binh chủng, kiêm chạy mua sắm vật tư công tác câu lạc bộ của Ban Tuyên huấn, nên thường phải sang Ban Tài vụ lĩnh tiền hoặc thanh, quyết toán kinh phí.


Tôi thân Hoàng Tạo không chỉ vì mối quan hệ công tác, mà còn vì cả hai chúng tôi đều yêu văn nghệ. Hoàng Tạo ít nói, không hay hát nhưng rất say sưa tập đàn vi-ô-lông. Tôi đang tập đàn ghi-ta, lại còn tranh thủ theo lớp học đàn ắc-coóc-đê-ông vào các buổi tối. Vì thế các buổi trưa chúng tôi thường không nghỉ. Tôi và Hoàng Tạo vẫn cùng nhau ra tập đàn dưới bóng cây xà cừ, ngay góc sân cơ quan.


Năm 1961, tờ tin Phòng không được phép nâng cấp in ti-pô với lượng phát hành rộng hơn, nên tôi ít có thời gian tập đàn với Hoàng Tạo. Nhất là khi hợp nhất giữa hai lực lượng Phòng không và Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân, các cơ quan đều phát triển với biên chế đông hơn, công việc nhiều hơn. Chính lúc này Hoàng Tạo chia tay với tôi. Anh nói thể theo nguyện vọng, trên đã đồng ý cử anh đi học Trường âm nhạc. Anh khuyên tôi hãy cố gắng phấn đấu rèn luyện, hăng say công tác để luôn luôn có "mắt sáng, lòng trong, ngòi bút sắc" trong nghề làm báo...


Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh "leo thang" bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Quân chủng Phòng không - Không quân vừa chiến đấu vừa xây dựng, phát triển không ngừng với nhiệm vụ chiến đấu ngày càng khẩn trương, địa bàn chiến đấu ngày càng rộng. Giữa những ngày sôi động đánh Mỹ ấy, Hoàng Tạo trở về Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân cùng một số học sinh thực tập của Trường Âm nhạc.


Hoàng Tạo đã sống với các chiến sĩ tên lửa ngay từ những ngày đầu ra quân, qua "bao lần hành quân đi đặt bệ phóng", cùng chứng kiến những phút đầu khi "đạn vút cảnh bay" lên diệt thù. Nỗi xúc động về chiến công đầu của bộ đội tên lửa Việt Nam mà chiến công ấy lại được ghi ngay bên "con sông xưa ngàn xanh sóng dậy", nhấn chìm tàu chiến của giặc Pháp trong chiến dịch Hoà Bình 1951 của quân ta, đã cho Hoàng Tạo dòng tình cảm sâu lắng để viết "Tên lửa về bên sông Đà".


"Đêm nay ta về bên sông Đà. Rừng phấp phới nở hoa. Gió vẫy lá rung bánh xe xích sắt..." Hoàng Tạo mở đầu bài hát bằng những lời kể tâm tình, mộc mạc về trận đầu ra quân đánh thắng, bắn rơi tại chỗ máy bay phản lực Mỹ của bộ đội tên lửa Việt Nam. "Tên lửa về bên sông Đà" không hẳn là tác phẩm đầu tay của Hoàng Tạo, nhưng bài hát được ra đời đúng lúc, đầy "sức sống chiến đấu như ánh lửa hồng bav lên", đã được dư luận hoan nghênh, bộ đội và thanh niên đều yêu thích. Lời ca bài hát giản dị, chân tình mà ấm áp. Nét nhạc của giai điệu thong dong và khúc triết, có tình người, sâu lắng nhưng trầm hùng, chứa đựng cả niềm tin, càng làm cho "Tên lửa về bên sông Đà" nhanh chóng trở thành bài ca của quần chúng, bài hát truyền thống của Bộ đội tên lửa Việt Nam.


"Tên lửa về bên sông Đà" đã theo tiếng hát của Đoàn văn công Phòng không - Không quân tới nhiều địa phương, trên nhiều trận địa, khắp các chiến trường của cả nước, góp phần nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động viên và cổ vũ ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta suốt những năm dài đánh Mỹ.


Giờ đây anh Hoàng Tạo không còn nữa. Mỗi khi nhớ đến anh, trong lòng tôi cũng như bao bạn chiến đấu năm xưa lại càng thêm rạo rực. Mọi người lại như đang cùng Hoàng Tạo cất cao giọng: "Dồn dập tiếng hát... Đoàn ta, Đoàn Sông Đà!"...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:06:28 pm
ÂM VANG TRẬN NÉM BOM SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT


Xuân Mai


Đã 35 năm qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, âm vang trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất thời chống Mỹ của Không quân nhân dân ta, vẫn rung động trong lòng mọi người. Cuốn băng ghi âm do anh Văn Bích, cán bộ Đoàn văn công Phòng không - Không quân và nhóm phóng viên báo Phòng không - Không quân chúng tôi ghi được tại sân bay trước và sau giờ xuất kích, vẫn còn nguyên vẹn.


Nay nghe lại băng ghi âm thấy rõ ngày ấy, sau khi giải phóng Đà Nẵng và các sân bay tiếp theo, ta đã thu được nhiều máy bay địch, trong đó có loại máy bay A-37, vốn là máy bay huấn luyện của Mỹ, được Mỹ cải tiến thành máy bay phản lực ném bom tấn công cỡ nhỏ, trang bị cho không quân nguỵ. Quân chủng Phòng không - Không quân được giao nhiệm vụ tổ chức nhanh chóng làm chủ kỹ thuật những chiếc máy bay A-37 này, để dùng máy bay địch đánh địch trong cuộc tiến công thần tốc. Các kỹ sư, thợ máy của Binh chủng Không quân được điều đến nghiên cứu, kiểm tra, sửa chữa những chiếc máy bay A-37, do Phó tiến sĩ Hồ Thanh Minh phụ trách. Nhưng việc cấp tốc phục hồi những chiếc A-37 trong đống máy bay đổ nát của quân ngụy Sài Gòn, đâu có phải chuyện dễ. Phó tiến sĩ Hồ Thanh Minh cho chúng tôi biết đồng chí được giao phụ trách tổ đặc nhiệm đi thu gom, kiểm tra, sửa chữa kỹ thuật máy bay địch trên các sân bay vừa được giải phóng. Hầu hết máy bay thu được đều hỏng nặng, đều phải sửa chữa hoặc dồn ghép nhiều chiếc lấy một. Có nơi quân địch vẫn rình rập, sẵn sàng tấn công ta để cướp máy bay chạy trốn. Đồng chí Hồ Thanh Minh nói:

"Khi tiếp quản sân bay Đà Nẵng, chúng tôi đã thu được nhiều máy bay của Mỹ, trong đó có những máy bay hỏng. Chúng tôi đã tổ chức sửa chữa được hai chiếc máy bay A- 37 tốt, bàn giao cho các phi công lái máy bay Mích của trung đoàn 923 luyện tập để làm nhiệm vụ chiến đấu. Sau đó, Bộ Tư lệnh lại giao nhiệm vụ cho chúng tôi phải đi lấy thêm máy bay của địch để chiến đấu và chúng tôi đã vào Phù Cát, được biết địch vẫn còn lẩn khuất trong sân bay. Làm việc ở đây phải rất cẩn thận, nếu không thì sẽ có trở ngại. Chúng tôi đã tổ chức sửa chữa, cứ mỗi đêm 3 máy bay, 3 đêm 9 máy bay. Sau đó tổ chức bay thử được 5 máy bay tốt và chúng tôi đã bàn giao cho 6 phi công của Phi đội Quyết thắng" ...


Một số nhân viên kỹ thuật và phi công nguỵ vừa ra trình diện, đã tình nguyện xin được phục vụ cách mạng, tham gia phục hồi và sử dụng những chiếc máy bay A-37 nói trên. Một người lính thợ, chuyên sửa chữa động cơ máy bay có tên là Nguyên, kể:

"Quân giải phóng vừa vô, các ông lớn đều đi hết, tôi không biết đi đâu? Bộ đội Giải phóng kêu tất cả anh em hãy trở về trình diện cách mạng... Tôi có ra trình diện và sau đó Binh chủng Không quân của bộ đội Giải phóng kêu vô làm việc để phục hồi tất cả phi cơ của địch bỏ lại, dù hư hại rất nặng... Ở Đà Nẵng nó bỏ lại mười mấy chiếc rất xấu, toàn phải sửa chữa lớn... Tôi sửa chữa hai chiếc bay được tạm thời... Khi vào Phù Cát, tôi sửa được 5 chiếc luôn... Được gọi vô đây làm việc, tôi sung sướng, lắm... Ân huệ của cách mạng đối với mình quá tử tế và rộng rãi...".


Lúc này, một số chiến sĩ lái máy bay Mích có kinh nghiệm chiến đấu, được đưa đến luyện tập sử dụng máy bay A-37. Trong đó có Nguyễn Thành Trung, người của ta nằm trong không quân ngụy vừa dùng máy bay phản lực F5E trút bom xuống dinh Độc Lập của ngụy ngày 8 tháng 4 năm 1975 và đã trở về hàng ngũ cách mạng. Phi đội A-37 được thành lập, mang tên "Phi đội Quyết thắng" gồm 6 chiến sĩ lái máy bay, do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu. Các chiến sĩ lái máy bay Mích vừa tập chuyển loại chưa đầy một tuần lễ có Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Văn Vượng, Hán Văn Quảng. Ngoài ra còn có Trần Văn On, trung uý hoa tiêu huấn luyện phản lực ném bom A-37 của không quân ngụy vừa ra trình diện, đã tình nguyện tham gia trận đánh.


Sáng 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết thắng và 5 chiếc máy bay A-37 được lệnh chuyển từ sân bay Phù Cát vào sân bay Thành Sơn, còn được gọi là sân bay Phan Rang. Tổ đặc nhiệm của Phó tiến sĩ Hồ Thanh Minh cũng vào theo làm nhiệm vụ lắp bom, chuẩn bị và kiếm tra kỹ thuật an toàn lừng chiếc A-37 trước giờ xuất kích.


Chiều 28 tháng 4, toàn phi đội và cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật có mặt trong căn nhà nhỏ trên một quả đồi thấp trong sân bay, nghe đồng chí Thiếu tướng Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân giao nhiệm vụ. Đồng chí Lê Văn Tri nói: "Trước giờ phút lịch sử rất vĩ đại, để tham gia cùng các lực lượng giải phóng miền Nam và nhân dân miền Nam, để góp phần giải phóng toàn miền Nam yêu quý của chúng ta, hôm nay, tôi thay mặt Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho phi đội chiến đấu: Một, các đồng chí phải hoàn thành nhiệm vụ trên giao một cách xuất sắc nhất; Hai, mục tiêu các đồng chí tập trung toàn bộ lực lượng của phi đội đánh vào khu tập trung máy bay của quân ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất; thời gian xuất kích: 16 giờ 30 ngày 28 tháng 4 năm 1975; Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ và kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ"...

Bằng giọng nói Nam Bộ trẻ trung và kiên quyết, phi công Nguyễn Thành Trung thay mặt Phi đội Quyết thắng, hứa quyết tâm với Bộ Tư lệnh: "Tôi thay mặt toàn thể Phi đội Quyết thắng rất vinh dự được nhận lãnh trách nhiệm của toàn dân giao phó nhàm đóng góp vào chiến công chung, sớm hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc. Chúng tôi xin hứa quyết tâm đánh thật bất ngờ, đánh trúng và mang lại kết quả nhiều nhất"...


Đúng 16 giờ 30 phút, khi hai phát pháo hiệu vút lên bầu trời tím biếc. Cả 5 chiếc A-37 đều nổ máy giòn giã, lần lượt cất cánh. Băng ghi âm có tiếng nói: "Bây giờ là 16 giờ 30, phi đội trưởng Trung số 1, Đễ số 2, Lục số 3, On và Vượng số 4, Quảng số 5 bắt đầu xuất kích"!


Để đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối, Bộ chỉ huy quy định khi xuất kích, các máy bay A-37 không được liên lạc bằng máy vô tuyến diện. Do đó thời gian chờ đợi trên sân bay đối với chúng tôi vô cùng hồi hộp. Mọi người có mặt trên sân bay đều im lặng. Không khí trên sân bay như lắng xuống dưới cái nóng hầm hập của chiều mùa hè ở Phan Rang. Và kia rồi, Phi đội Quyết thắng đã chiến thắng trở về. Băng ghi âm lại rộn lên giọng nói đầy xúc động của anh Văn Bích: "Bây giờ là 18 giờ đúng. Chúng tôi thấy trên trời đã có 2 chiếc máy bay của ta xuất hiện, đã bật đèn đỏ xin hạ cánh.


Cả sân bay, mọi người đều chạy ùa về phía đường băng. Tiếng máy bay đã vang trên bầu trời... Chiếc thứ ba đang lượn trên bầu trời sân bay... Lần thứ ba, chúng tôi nhìn thấy hai chiếc nữa, như thế là tất cả biên đội đã về đầy đủ... Toàn biên đội đã hạ cánh an toàn trong tiếng vỗ tay vang dội của mọi người đang lao nhanh ra chào đón những người chiến thắng trở về Nguyễn Thành Trung bước lên thay mặt phi đội báo cáo kết quả trận tập kích với đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Thiếu tướng Lê Văn Tri rưng rưng nước mắt vì xúc động và vui sướng, ôm chặt lấy Nguyễn Thành Trung, tiếp đó lần lượt ôm hôn từng người trong Phi đội Quyết thắng.


Băng ghi âm của chúng tôi không thể phân biệt những tiếng nói, cười, giọng Nam xen lẫn giọng Bắc là của ai, mà chỉ có thổ tóm lược những nét chính qua nghe các anh kể: Khi máy bay lên đến độ cao 2.000 mét, họ không còn nhìn rõ mặt đất vì thời tiết xấu. Có những lúc buồng lái tối sầm lại vì phải chui qua mây đen và trời đổ mưa. Nhưng Nguyễn Thành Trung vẫn bình tĩnh dẫn phi đội bay về phía Bà Rịa, rồi ngược lên Biên Hoà. Trời hửng dần, họ bắt đầu phải tránh lưới lửa phòng không của quân ta từ mặt đất bắn lên. Biên Hoà xuất hiện dưới cánh bay những đám cháy lớn. Ai nấy đều phấn khởi biết rằng quân ta đã tới sát cửa ngõ Sài Gòn. Trận tập kích của phi đội sẽ là một mũi tiến công, đánh hiệp đồng tuyệt đẹp với quân và dân ta ở mặt đất.


Đến Tân Sơn Nhất, trời bỗng hửng nắng. Họ đã nhìn rõ từng dãy dài xe ô tô và máv bay quân sự các loại. Nguyễn Thành Trung lắc cánh ra hiệu cho toàn phi đội rồi nhằm đúng khu tập trung máy bay quân sự của địch, nhào xuống cắt bom, nhưng bom không rơi. Trong ống nghe của họ dội lên những tiếng nói của lính thông tin sân bay. Bỗng có tiếng quát của một viên sĩ quan ngụy:

- A-37 của phi đoàn nào? Phi đoàn nào?

Từ Đễ vẫn bám sát bay số 2, anh nhào xuống cắt bom và buột miệng trả lời:

- Của phi đoàn A-mê-ri-can chúng mày đấy!

Tiếp theo Đễ và Lục, rồi Quảng, Vượng và On lần lượt nhào xuống cắt bom. Nguyễn Thành Trung quay lại bổ nhào tới lần thứ ba, anh cắt 4 quả bom rơi cùng một lúc. Tân Sơn Nhất rừng rực lửa khói. Họ đã đánh rất trúng khu vực để máy bay quân sự của không quân ngụy Sài Gòn. Kết quả trận đánh, 24 máy bay quân sự của địch bị phá huỷ, một kho nhiên liệu trong sân bay bị đốt cháy, hơn 100 lính ngụy bị tiêu diệt... Trận tập kích của Phi đội Quyết thắng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng ta ở mặt đất làm tê liệt hoàn toàn phi trường Tân Sơn Nhất, chặt đứt chiếc cầu hàng không rút chạy cuối cùng bằng máy bay của quân ngụy Sài Gòn...


35 năm trôi qua, con người đã có nhiều đổi thay nhưng nội dung cuốn băng ghi âm vẫn còn nguyên như cũ. Tôi đã viết trung thực những gì đã thấy từ 35 năm trước và trích nguyên bản những chỗ cần trích trong cuốn băng ghi âm lịch sử và có lẽ đây là lần đầu tiên tôi đã giới thiệu cuốn băng ghi âm này trên Đài tiếng nói Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:10:30 pm
MỘT CÁNH CHIM VỀ VỚI MẶT TRỜI


Nam Hà


Đến Mai Lĩnh, xe rẽ trái theo đê tả ngạn sông Đáy. Các cửa sổ đều mở tung, kể cả hai cửa hứng gió trên trần mà trong xe vẫn nóng hầm hập. Mùi mồ hôi của cánh đàn ông quyện với đủ mùi hương từ nhiều loại nước hoa của các "bà", không khí nồng nặc càng khó thở. Không thể trách ai được. Gần mười hai giờ trưa mới rủ nhau nhảy lên xe, về thăm nơi sơ tán. Ông trời cũng giở quẻ, từ Hà Nội vào đến đây chưa đầy hai chục cây số mà đã hai lần mưa, ba lần nắng. Cứ cái kiểu "ba sôi hai lạnh" này thì người mọc mầm là cái chẳc. Nhưng thôi, đã gọi là "hành hương" mà lại tự nguyện thì ráng mà chịu đựng kẻo tổn thiệt đến lòng thành.


Gần bốn chục năm qua, cảnh vật cũng không đổi khác bao nhiêu. Trừ con đường có vẻ rộng ra, còn tất cả như hẹp lại. Đầm sen đầu làng, ngày xưa mênh mang là thế, bây giờ toen hoẻn đến mức không nhận ra. Xa xa, một bóng người đang len lỏi lội giữa vạt sen tiêu điều. Hình ảnh đó gợi lại cho tôi nhớ đến Thanh Tùng. Hôm nay trên xe hầu hết là anh chị em đội múa ngày xưa, nhưng không có cậu ta, cây "sô lít" của đoàn.


Vào những năm sáu bảy, sáu tám, Đoàn văn công Quân chủng Phòng không Không quân sơ tán về đây. Xã Diên Hồng, huyện Chương Mỹ coi như là hậu cứ của đoàn. Cả ngày miệt mài tập luyện, chiều chiều cánh con trai hay rủ nhau ra hồ vùng vẫy. Thanh Tùng lặng lẽ bơi sang tận mé bên kia, len lỏi vào giữa những cụm sen. Sáng sớm hôm sau. Tùng cũng lại một mình mò ra đám sen. Thế rồi sau bữa sáng, cậu ta "máy" tôi sang nhà và đãi tôi một chén trà nóng hổi, thơm lừng hương sen. À thì ra, Tùng đã chia trà thành gói nhỏ, vạch cánh sen ra gửi gắm vào đó từ chiều hôm trước, sáng hôm sau lại thu về. Tôi đã nghĩ bụng: "Thằng hâm, đi tắm mà cứ sùm sụp cái mũ trên đầu!". Bây giờ mới vỡ nhẽ, đó là công cụ chuyên chở của Tùng. Tùng ghé đầu cho tôi ngửi, và hỏi tôi: "Anh có "nghe" mùi chi?". Tóc Tùng cũng sực nức mùi trà sen. May thay hồi đó chưa có những thứ "Păn-tin", "Săn-siu" dầu gội các loại như bây giờ. Cái thằng "tinh vi" thật. Đó là một tính cách của Tùng. Nhân nói đến tính cách, tôi lại muốn kể thêm một chuyện nhỏ. Ai đã sống trong một đoàn Văn công quân đội, hẳn biết đến chế độ cấp dưỡng nhiều tiêu chuẩn. Múa và kèn hơi được coi là lao động nặng nhọc nhất. Đám múa thường "làm chính sách" san sẻ cho tổ sáng tác vì các em không thể "chở" hết, vả cũng thương các anh "đại táo" kham khổ! Miếng ăn không là tất cả, nhưng thực sự cảm kích vì được các em đánh giá đúng cân, đúng lạng mồ hôi nước mắt của cái anh lao động trí óc thường được coi là "mồm miệng đỡ chân tay". Tùng là một trong số những người thường sốt sắng làm việc này. Gặp trắc trở này nọ, Tùng thường tâm sự và không hiểm lần "sụt sùi" với tôi. Như vậy là cái tâm thằng này mềm đấy chứ! Tôi kể những chuyện này ra để chúng ta hiểu thêm và đánh giá lại một con người vốn được coi là ương ngạnh. Bực bội lên, cái mặt lạnh tanh, mắt vằn dữ tợn, trông ghê chết. Trong con người Thanh Tùng tồn tại hai tính cách đổi lập nhau đến khó hiểu.


Năm 1965, Thanh Tùng, Nguyễn Bích rồi Hoàng Yến dời đội Thực nghiệm của Trường Múa Việt Nam theo yêu cầu chung là tăng cường cho quân đội và cũng còn là áp lực Liệt sĩ, nghệ sĩ ưu tú Thanh Tùng (người thứ hai từ phải sang) trong một buổi tập tại doanh trại Đoàn văn công Quân chủng riêng của quân chủng mới lập - Quân chủng Phòng không - Không quân, đối thủ đáng gờm của không lực Mỹ. Quà tặng họ mang về cho đơn vị là "Tuần đuốc" (Thanh Tùng, Văn Bích); "Cánh chim và ánh sáng mặt trời" (Thanh Tùng); "Vũ khúc Tây Ban Nha" (Tùng, Bích, Yến, Vinh). Nhất là khi trên sân khấu xuất hiện Hoàng Yến với Thanh Tùng trong màn múa đôi Di-gan, thì đến các chuyên gia nước ngoài ngồi dưới cũng không thế không trầm trồ khen ngợi.


Để không phụ lòng tin của khán giả mới, và phản ánh tốt tình hình sinh hoạt, chiến đấu của Quân chủng hiện đại này, trong vòng ba tháng, Đoàn đã có hai chương trình có thể phục vụ các đối tượng khán giả khác nhau. Hợp xướng, tốp ca nam nữ, độc tấu nhạc cụ, tấu, chèo, kịch nói thật rôm rả.


Riêng đội múa, ngoài những tiết mục đã nói ở trên, còn có "Giặt áo", "Tân Cương", "Rông Chiêng", "Lựu đạn gỗ"... Thuở đó tập trung về quân chủng này, có đến hai biên đạo sừng sỏ: Minh Tiến và Nguyễn Việt, cộng với lớp diễn viên đã được đào tạo chuyên sâu, nên đội múa của Đoàn là điều mơ ước cho nhiều đoàn bạn cùng thời. Để có hình ảnh các chiến sĩ pháo cao xạ, biên đạo Nguyễn Việt đã dựng "Phan Đăng Cát", về đề tài Phòng không (âm nhạc Thanh Phúc). Hoạt động của một khẩu đội pháo cao xạ, cùng người chiến sĩ dũng cảm kiên cường Phan Đăng Cát, đã được Văn Bích cùng Anh Dũng, Nguyễn Long, Vũ Thông và tập thể nam nữ diễn viên tái hiện thành công. Nguyễn Việt cũng đã thi vị và lãng mạn hoá những tấm ngụy trang trên lưng các chiến sĩ ta như một mối tình gắn bó keo sơn, thuỷ chung son sắt. Múa "Mảnh vải ngụy trang" ra đời (âm nhạc Ngô Đông Hải). Nhưng dù sao, đây cũng là những tiết mục còn có "đất" để thể hiện. Đất đây là mặt đất theo đúng nghĩa đen. Cho dù đề tài sông, biển đi nữa thì cũng còn có cái "đế" là mặt nước để các nhà biên đạo có chỗ đứng. Sau nhiều lần thâm nhập với các "chiến sĩ lái" của ta, hồi đó vì bảo mật nên sự tiếp xúc với lực lượng này còn rất hạn chế, kỹ càng đến mức gần như huyền bí. Ăn cũng lạ, mặc cũng khác người, mà đến ngủ cũng lạ nốt. Cứ để nguyên trang bị vũ khí, giầy ủng, tất cả bó chặt lấy người mà nằm dài nhắm mắt trong lần trực chiến. (Cứ như là ngủ vờ để đánh lừa thằng giặc: "Đừng tưởng ông ngủ say, thử mò vào dây mà chơi thử xem sao?"). Khi pháo hiệu nổ bụp trên không trung, thì những con người tưởng như "bất động" đó đã vụt lao đến những con "én bạc" và thoắt một cái, đã gọn ghẽ trong buồng lái. Phản ánh những con người đó dưới mặt đất đã khó, huống chi khi họ tung cánh giữa bầu trời. Đâu có đơn giản? May thay, trong số đó có Phạm Ngọc Lan dám "bỗ bã" tiếp xúc với cánh văn công. Đội trưởng đội múa Xuân Cống bèn nghĩ ra trò thết Lan một bừa đặc sản chả nhái, để chuyện trò khai thác. Sau lúc Ngọc Lan ra về, chúng tôi cứ lo ngay ngáy không biết bụng dạ anh ta có yên ổn hay không? Lỡ ra là "phạm tội đầu độc phi công", khi đó thì hết ngôn! Cuối cùng, biên đạo Minh Tiến cũng liều mình cho ra mắt thơ múa "Quật ngã thần sấm" (âm nhạc Nam Hà). Phải nói rằng, nếu không có Thanh Tùng với những đồng đội sáng giá của anh thì Minh Tiến cũng chưa đủ dũng khí "sản" ra tác phẩm này. Những đoạn độc diễn đẩy tính cách của "thần sấm" do Thanh Tùng và Nguyễn Long đảm trách, cặp "én bạc" Xuân cống, Văn Bích và những "nàng mây" Hương Thư, Hoàng Yến, Thanh Tuyết, Kim Thoa, Bạch Yến, Tuyết Nhung, đã mang đến cho khán giả một cảm xúc mới lạ, khó quên. Sau cùng, tất cả cũng có thể không bay lên được, nếu không nhờ vào sự sáng tạo trong thiết kế phục trang của hoạ sĩ trẻ Vũ Huyên. Minh Tiến, sau một thời gian tu nghiệp ở Liên Xô về, anh đã đem cái thế mạnh của nghệ thuật vũ đạo Ballet ra thế nghiệm.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:14:03 pm
Sau đem ra mắt chính thức ở Bộ Tư lệnh Quân chủng, Đoàn lập tức đến biểu diễn tại các trận địa pháo cao xạ, các sân bay dã chiến để phục vụ chiến đấu. Vừa phục vụ vừa xây dựng, lấy ngay những gương chiến đấu, những đề tài nóng hổi lửa đạn để sáng tác. Báo Phòng không - Không quân vừa đăng bài ở huyện Yên Mô, Ninh Bình, có thằng giặc lái bị bắn rụng đã chui vào chuồng vịt để trốn. Thanh Tùng sáng tác ngay màn múa đôi cho Ái Vinh (cô gái chăn vịt) và Nguyễn Long (tên giặc lái). Một pha múa hài nhẹ nhàng, châm biếm. Trong đợt phục vụ các trận địa quanh khu vực Hàm Rồng năm 1966, tận mắt chứng kiến tinh thần chiến đấu quên mình của các chiến sĩ ta, sự sát cánh phối hợp của nhân dân và lực lượng dân quân địa phương. Thanh Tùng lại liên tiếp cho ra đời 2 màn múa: "Trận địa kiên cường" và "Nữ pháo thủ dự bị". Tất nhiên Thanh Tùng cũng đã được các biên đạo đàn anh giúp sức. Những năm đó, các sân bay là mục tiêu được không lực Hoa Kỳ đặc biệt chú trọng nhòm ngó. Chúng ra sức ngăn chặn không cho phi đội của ta có thể tung cánh lên bầu trời. Mặt đường băng bị đánh phá, ngổn ngang những mảnh bê-tông, những mảnh bom đạn với những cạnh sắc bén. Đối phó với thủ đoạn này, không có máy móc nào bằng phương tiện thủ công. Dứt tiếng bom đạn là các chiến sĩ lại ào ra đường băng với chiếc chổi tre trong tay, quét sạch những vật chướng ngại, cùng với anh em công binh vá ngay những hố, những vật lỗ, đảm bảo an toàn cho những đợt xuất kích tiếp theo. Trong đầu Thanh Tùng lại hiện lên một điệu "Van-sơ" mà "bạn nhảy" của các chiến sĩ là cây chổi tre. Múa "Quét đường băng" ra đời. Tuy điệu múa còn chưa dẻo, nhưng cũng đem lại nét tươi mát, làm dịu phần nào cho không khí rực lửa của quân, dân ta thời ấy. Ở đó cũng toát lên sự toàn tâm toàn ý của những người làm văn nghệ trong quân chủng. Họ không nề hà khó khăn gian khổ và đã hướng tất cả tâm tư tình cảm vào cái nơi mà họ đang sống và phục vụ. Sự hoạt động của đoàn nói chung đã được cấp lãnh đạo văn nghệ của quân đội chú ý tới. Trường Nghệ thuật quân đội cũng đã dự kiến sẽ rút Thanh Tùng về, đưa đi đào tạo dài hạn ở nước ngoài.


Trong thời gian sống chung ở Đoàn Văn công Quân chủng Phòng không - Không quân, tôi với Thanh Tùng đã có mối duyên nợ. Tất cả các tiết mục múa do Thanh Tùng biên đạo đều dựa trên nền âm nhạc của tôi. Tôi đã viết với cảm xúc và sự hứng thú tột đỉnh. Tùng với tôi thường không phải trao đổi nhiều, ít phải thương lượng. Đó chính là sự thông cảm nghề nghiệp không dễ có. Tôi và Tùng thật sự tin tưởng ở nhau. Tôi cứ nghĩ đến một ngày "thằng em" này mà được đào tạo đến nơi đến chốn, thì sự nghiệp của Tùng ta sẽ đóng góp không ít cho nghệ thuật múa và sự vinh quang Tùng gặt hái sẽ không nhỏ. Phải chăng vì thế mà tôi đã mơ ước ăn theo vào cái sự vẻ vang đó của chú em?


Nghe nói lần này Đoàn được đi sâu vào tiền phương, anh chị em rất phấn khởi. Mọi yêu cầu của Đoàn đều được giải quyết vượt yêu cầu. Đời người lính trước lúc ra trận, có những sự chuẩn bị mà khi nhắc đến, người bình thường không khỏi thấy ghê ghê, như việc mỗi người được tự mình mang theo tấm vải liệm. Thanh Tùng đùa giỡn khoác tấm vải đó lên người hai chân bắt chéo, hai tay dang như đôi cánh chim run-rẩy, nghiêng nghiêng xoay một vòng giữa nhà.


Vào một ngày cuối tháng 7 năm 1968, đoàn xe chuyển bánh đưa anh chị em văn công vào tuyến lửa Quân khu 4. Xe chạy chầm chậm ven hồ. Đôi mày xếch hơi nheo lại, Tùng tư lự nhìn những vạt sen cuối mùa, không còn rào rạt như những ngày đầu hạ. Làn gió chiều từ phía hồ đưa tới khẽ mơn man đôi gò má cao của chàng trai trẻ tài hoa.


Mấy ngày sau, đoàn đã vào gần đến tiền phương. Thanh Tùng khoe với mọi người: "Có thể đêm nay xe sẽ qua quê Tùng!". Khi lên xe, Tùng đề nghị Thu Hương đổi chỗ cho Tùng ngồi sát phía ngoài để có thể nhìn quê hương cho rõ. Thu Hương vui vẻ lùi vào phía trong nhường chỗ cho Tùng. Xe đang chạy với tốc độ chậm, chợt trên nền trời đen loé lên một loạt pháo sáng. Lái xe giật mình đánh tay lái, xe rệ nghiêng xuống bên đường. Đi chiến trường đây là chuyện vặt, mọi người lục đục chui ra khỏi xe, để cho xe nhẹ, dễ dàng trườn lại mặt đường. Người đã xuống hết, nhưng không thấy Thanh Tùng? Bích cất tiếng gọi, vẫn không có tiếng đáp lại. Cát Vận, Văn Bích và Đỗ Chu trèo lên xe thì thấy chiếc phuy đầy 200 lít xăng từ phía đối diện tuột khỏi dây chằng, đè lên người Thanh Tùng. Hai tay Tùng chới với như muốn nắm bắt một vật vô hình nào đó?... Cô gái trẻ đã nhường chỗ cho Tùng, bưng mặt khóc oà lên...


Đêm đó, ngay trên quê hương mình, một lần nữa Thanh Tùng lại tái hiện trong vũ khúc đã làm anh nổi tiếng một thời, vũ khúc "Cánh chim"... Nhưng lần này cánh chim đó đã bay lên, bay đi mãi mãi trong ánh hoả châu lạnh lẽo, xuyên qua màn đêm về với mặt trời. Đó là đêm mùng tám tháng bảy năm Mậu Thân, tức là đêm 2 tháng 8 năm 1968.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2022, 10:15:07 pm
XEM TRANH CỦA CỐ HOẠ SĨ ĐẶNG CHUNG


Họa sĩ Vũ Huyên


Lời giới thiệu: Triển lãm tranh của Đặng Chung được tổ chức tháng 11 năm 1991 tại Nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội, bằng công sức và tiền đóng góp của đồng đội, bạn bè, đồng nghiệp.

Một con người, dù bình thường nhất, khi đã đi vào cõi hư vô, vẫn còn lưu lại những dấu vết xác thực và vẫn tiếp tục sống trong kỷ niệm của những người còn sống.

Hoạ sĩ Đặng Chung đã ra đi từ nhiều năm. Song những gì anh để lại cho chúng tôi - những người thân và bạn bè, đồng đội của anh - và cho tất cả chúng ta - những người xem tranh - thì còn lớn hơn thể nữa.

Bởi vì, đâu chỉ là những kỷ niệm chưa xa, gợi về từ một mảnh trời xanh ngắt nhìn qua miệng hầm công sự chiến đấu, chói chát tiếng gầm rít của máy bay phản lực; từ một vệt máu thấm tràn qua cuốn băng cá nhân băng vội sau đợt bom B-52; từ những ngày gian khổ mà hăm hở, ba lô cóc, lương khô, cặp vẽ, theo bộ đội pháo cao xạ đi chiến dịch ...


Chúng ta đang cùng nhau gặp lại Đặng Chung ở đây, trong căn phòng triển lãm này. Một Đặng Chung đằm thắm, sôi nổi và có phần hơi bốc, trong những bức tranh chắc nịch mà vẫn dọc ngang đầy phóng túng, với những tình tiết vừa quây quần chen chặt vào nhau, lại vừa như muốn nở tung ra bốn phía, vừa chứa chất tích tụ mà vừa như sắp nổ bùng trong tích tắc. Một sức nén dồn thôi thúc tự bên trong, căng đến độ làm cho vệt bánh xe trên đường mòn Trường Sơn phải ánh ngời lên sắc đỏ thắm màu máu, một đám mây giông phải sẫm tối tại, những tàu lá chuối phải xanh nõn hơn... Và bất cứ góc tranh nào cũng xôn xao chuyển dịch, oằn cong lại trước một cơn gió, bươn bả chằng chịt trên sông nước, tất bật trên con đường làng nhỏ, mất hút trong chớp mắt theo vệt khói máy bay tăng tốc vào xa thẳm...


Cuộc chiến đấu của đất nước đã đưa Đặng Chung đến với bộ quân phục trước khi đến với tấm vải vẽ. Và khi đã gắn bó với tấm vải vẽ rồi, anh vẫn mang trên mình bộ quân phục cho gần đến trọn đời. Trên con đường chưa dài ấy, Đặng Chung đã làm được thật nhiều việc. Tiếng nói tạo hình của anh đang ngày một rõ nét và âm vang. Phong cách nghệ thuật của anh chín dần, có phẩm chất riêng và đầy tiềm năng cho những bước đi xa hơn. Song, dường như đã có linh cảm trước, anh cặm cụi và khẩn trương sáng tác, lặng lẽ thu góp tác phẩm chuẩn bị cho triển lãm cá nhân đầu tiên, và ai biết được rằng, lại cũng là cuối cùng của mình.

Vậy mà cũng không kịp!

Tổ chức nên phòng tranh này, Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam, gia đình và bạn bè đã cố gắng thực hiện nguyện vọng còn lại đó của anh.

Mong sao, vẻ đẹp của tranh anh để lại sẽ mang đến cho người xem niềm thanh thản và lòng tin yêu hơn vào cuộc sống.

Mong sao, tấm lòng của những ai đã góp phần làm cho Triển lãm này được thành công và của tất cả những ai yêu mến tranh Đặng Chung - hoạ sĩ của Quân chủng Phòng không - Không quân trong chiến tranh, sẽ kết thành một nhành hoa, một làn khói hương thơm quấn quyện làm ấm lòng anh.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:22:12 pm
TÔI LÀM PHÁI VIÊN ĐI CHIẾN DỊCH


Nguyễn Đức Hiền


Đầu tháng 8 năm 1971, tôi đang là Quyền Chính trị viên Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261, thì được điều lên làm trợ lý Phòng Cán bộ của Quân chủng.

Tôi được giao nhiệm vụ về bộ phận nhân sự của Phòng. Bộ phận này đang có nhiệm vụ nghiên cứu, bổ sung cán bộ cho 6 trung đoàn pháo cao xạ và 1 trung đoàn tên lửa phòng không, cùng các cơ quan thuộc Sư đoàn 367. Sư đoàn sẽ tham gia chiến dịch Trị Thiên 1972, trong đội hình quân, binh chủng hợp thành theo quyết định của Bộ. Quân chủng đã bố trí đồng chí Đinh Đình Sành làm Sư đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Khoát làm Chính uỷ sư đoàn.


Thời gian rất gấp, vừa sắp xếp, vừa điều động cán bộ về đơn vị theo kế hoạch. Yêu cầu sau khi đã được bổ sung, kiện toàn lực lượng, Sư đoàn 367 phải có quyết tâm cao, có năng lực chỉ huy, lãnh đạo giỏi, để càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến dịch khi thời cơ đến.


Nguồn bổ sung cán bộ chủ yếu chọn từ cán bộ, chiến sĩ đã qua thử thách chiến đấu trong chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971; hoặc cán bộ, chiến sĩ trong quân chủng đã từng chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Nguồn bổ sung cho Sư đoàn 367 cũng lấy từ các lớp tốt nghiệp Trường Sĩ quan Phòng không và cán bộ, nhân viên các cơ quan quân chủng.


Trong khi lo giải quyết "đầu vào", bố trí đủ cán bộ cho Sư đoàn 367, Phòng Cán bộ còn phải lo giải quyết "đầu ra", tức là những cán bộ dôi ra. Đồng thời, còn phải lo nghiên cứu sắp xếp, bố trí cho các sư đoàn bay; cán bộ khoa học kỹ thuật; bố trí khung cán bộ đi tiếp nhận và sử dụng khí tài mới...


Tôi về Phòng Cán bộ được 1 tháng thì Hà Nội và miền Bắc xảy ra trận lụt lớn - Chỉ 1 ngày 1 đêm mưa, mà dãy nhà Phòng Cán bộ cùng khu vực hội trường lớn của quân chủng đã ngập nước đến ngực. Chúng tôi phải ôm tài liệu sơ tán lên Phòng giao ban của Cục. Hôm sau, nước sông Hồng dâng cao, bà con ở bãi Phúc Xá, Chương Dương phải lên đê căng lều bạt tránh lũ. Cống Thôn bên kia sông Hồng bị vỡ, nước tràn ngập phần lớn huyện Gia Lâm và nhiều nơi ở các tỉnh Hà Bắc, Hải Hưng... Lúa đang có đòng và hoa màu đều bị nước lũ đè nát. Đất trồng bị xói mòn. Các tỉnh đồng bằng sông Hồng vụ mùa năm 1971, coi như mất trắng!


Đang mải miết công việc, bỗng nhiên tôi lại được giao nhiệm vụ mới: Đi B, làm phái viên theo dõi công tác cán bộ cạnh Sư đoàn 367 trong chiến dịch sắp tới. Nhận nhiệm vụ được giao, tôi bàn giao công việc, xin nghỉ 7 ngày phép để thu xếp gia đình, chuẩn bị mọi mặt cho bản thân, sẵn sàng lên đường.


Tháng 10 năm 1971, tôi có mặt ở Hoa Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, nơi đóng quân của Sư đoàn 367. Ban Cán bộ sư đoàn có 3 người: Đồng chí Trần Trọng Khởi - Trưởng ban; hai đồng chí Lê và Cẩm, trợ lý. Đồng chí Khởi cho biết Trung đoàn 241 là đơn vị xuất phát đầu tiên vào chiến trường. Tôi đề nghị cho tôi đi cùng để có cơ hội nắm tình hình cán bộ ngay từ đầu. Đồng chí Khởi đồng ý. Trung đoàn 241 có trang bị gọn, nhẹ súng 14,5mm 1 nòng, cơ động nhanh, bí mật bất ngờ ở chiến trường, trước đây đã bắn rơi nhiều máy bay cường kích và trực thăng Mỹ-ngụy. Trung đoàn do đồng chí Nguyễn Đăng Tùng làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Xuân Sinh làm Chính uỷ, đồng chí Nguyễn Ngọc Tất làm Phó chính uỷ, đồng chí Dảo là Chủ nhiệm Chính trị. Các đồng chí cán bộ trung đoàn đều nhiệt tình giúp đỡ tôi. Tôi cùng hành quân với một tiểu đoàn do đồng chí Tộ là Tiểu đoàn trưởng. Không chỉ Trung đoàn 241 mà các đơn vị vào chiến trường lần này, đều không được sử dụng máy vô tuyến điện, hoặc điện thoại đường dây để liên lạc trong hành quân. Khi có mệnh lệnh trên đưa xuống, hoặc ở dưới cần báo cáo lên trên, các chiến sĩ thông tin đều chạy bộ làm nhiệm vụ đỏ.


Trước đây, tôi đã nhiều năm làm chính trị viên đại đội, chính trị viên tiểu đoàn tên lửa phòng không, hành quân cùng xe pháo, khí tài, chưa bao giờ đi bộ. Nay vào chiến trường phải đi bộ dài ngày. Để làm quen, tranh thủ hai tuần lễ ở Hoa Thuỷ, trước khi vượt Trường Sơn vào Nam, tôi và đồng chí Nguyễn Cường Kháng sáng nào cũng mang ba lô, vác 1 khẩu AK đi bộ 6km.


Trên đường Trường Sơn, đơn vị phải qua nhiều dèo dốc như cua chữ A, đèo Phu-la-nhích, ngầm Tà-lê... Qua khỏi ngầm, đơn vị lại tiếp tục lên dốc, xuống dốc. Có đoạn đường chỉ dài khoảng 500m, do trời mưa to từ hôm trước làm đất nhão nhoét, lầy lội. Chân đi dép cao su không đi được vì bùn sâu đến gối. Chúng tôi phải cởi dép lội bộ trong bùn.


Trên đỉnh Trường Sơn có nhiều loại cây. Có những cây bằng lăng to, hai vòng tay ôm mới hết. Nhiều cây bị chết. Đó là hậu quả của những đợt máy bay Mỹ rải chất độc đi-ô-xin để phát quang, những năm trước.

Số đông cán bộ đơn vị đã qua một, hai chiến dịch. Còn chiến sĩ đa số mới lần đầu đi B. Một lời động viên, một cử chỉ giúp đỡ chiến sĩ mới trong hành quân rất quan trọng. Tôi thường hay trao đổi với tiểu đoàn trưởng, với cán bộ đại đội việc này.


Đơn vị tiếp tục đi, lên dốc, xuống dốc, lại đi dọc một đoạn khe hai bên là lèn đá dài khoảng 300m. Anh em nói khe này mùa mưa đầy nước, chảy xiết như con suối, không đi được. Mùa khô nước khe cạn mới đi được giữa lòng khe. Bộ đội ta rất thích thú đi giữa lòng khe, có những đàn bướm trắng, vàng. Bướm rất nhiều, xua đi không hết. Có lúc đang vui, tôi đọc cho anh em nghe bài thơ "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" của Phạm Tiến Duật, trong đó có những câu: "Còn em thương bên Tây anh mùa đông, nước khe cạn bướm bay lèn đá. Biết lòng anh say miền đất lạ, là chắc em lo đường chắn bom thù"... Chắc chắn nhà thơ chiến sĩ đã qua chốn này mới cảm nhận khí thiêng lắng đọng của đất trời; thấy tinh thần lạc quan của người chiến sĩ hành quân vào Nam đánh Mỹ, mới sáng tác được bài thơ nổi tiếng ấy.


Trong số chiến sĩ hành quân, nhiều người đã học hết lớp 10 phổ thông. Có chiến sĩ nói: "Em ghi tên đi bộ đội ngay tại trường cùng với rất nhiều bạn khác, khi chúng em biết đã tốt nghiệp lớp 10". Nhìn anh em tuổi đời rất trẻ mà đã có ý thức chính trị tốt, tôi nghĩ: Sẽ có nhiều anh em qua chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ, có thể chọn bổ nhiệm chức vụ hoặc đưa đi đào tạo trở thành cán bộ quân đội. Nguồn cán bộ ở đây chứ ở đâu nữa!...


Một cung đường là một ngày đi bộ. Chiều tối gặp tiền trạm, đơn vị dừng lại. Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh tất cả đào hố cá nhân, bên trên căng bạt để nghỉ, không ai được mắc võng. Khi anh em đang nghỉ qua một ngày hành quân bộ, thì cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội hội ý ngắn gọn. Trọng tâm có những ý: Ý chí quyết tâm của bộ đội càng đi sâu vào chiến trường có vấn đề gì không? Quân số có bảo đảm không? Những vấn đề cần chú ý lãnh đạo trên cung đường hành quân ngày mai. Yêu cầu phổ biến cho anh em trước khi lên đường. Nhắc nhở ngụy trang triệt để, không được lơ là...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:23:22 pm
Càng gần đến chiến trường, các loại máy bay chỉ điểm OV-10, máy bay phản lực, trinh sát, ném bom của Mỹ hoạt động càng nhiều. Do vậy, đơn vị càng phải đề cao cảnh giác, giữ gìn bí mật lực lượng.

Cuộc hành quân cứ tiếp diễn đến ngày thứ bảy thì bắt đầu lên điểm cao 1001. Khi leo lên, đá tai mèo dựng đứng, sắc nhọn rất khó đi. Người đi trước, một tay bám vào mỏm đá, tay kia kéo người đi sau lên. Những chiến sĩ mang bộ phận súng tháo rời vất vả nhất. Phải bảo đảm an toàn cho bản thân và cho vũ khí. Bản thân tôi ngoài cái ba lô đeo trên vai, túi xắc-cốt tài liệu đeo bên hông, còn giúp vác một nòng súng 14,5mm nặng 16 kg cho anh em suốt cuộc hành quân. Điểm cao 1001 bên phía Bắc thì rêu phong, ẩm ướt và đầy vắt rừng. Khi lên đỉnh cao, tụt xuống phía Nam thì khô ráo, mát mẻ, dỗ chịu. Gió Đông Nam thổi mát rượi. Buổi chiều trời quang mây, nắng đẹp, dừng chân tại đây, qua ống kính TZK nhìn về phía Đông thấy một màu xanh rất đẹp. Nếu không có những con sóng vỗ bờ trắng xoá thì không biết đó là biển. Anh em nói đó là cửa biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.


Mấy hôm sau, đơn vị đến căn cứ Tà Cơn, thuộc huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ này địch bỏ chạy năm 1971 trong chiến dịch đường 9 - Nam Lào. Xác pháo, xác máy bay trực thăng, hầm hào của địch còn nằm trơ ra đó. Phía trái dọc đường băng sân bay Tà Cơn dẫn đến chân núi Động Tri là một rừng cà phê bỏ hoang, không người chăm bón, không thu hoạch. Nhân cà phê màu trắng đục rơi xuống gốc cây mà không ai nhặt. Anh em nói đó là nhân cà phê chồn (chồn ăn quả chín đỏ rồi nhả hạt ra). Đêm nghỉ lại rừng cà phê nghe tiếng máy bay phản lực địch gầm rú, tiếng đại bác từ đường số 9 vọng đến, ai cũng náo nức chờ ngày nổ súng mở màn chiến dịch.


Sau đó, tôi dời tiểu đoàn đồng chí Tộ, trở về hành quân với Ban chính trị Trung đoàn 241. Sân bay Tà Cơn và Động Tri tưởng gần nhau lắm, thế mà phải đi một ngày mới tới nơi. Ban chính trị, quân số gọn nhẹ vài chục người, trú quân cách Động Trị khoảng 1 km, trong một rừng cây dẻ dân trồng. Cây dẻ chỉ cao quá đầu người, nhung cành lá sum sê. Anh em nói trú quân ở đồi thấp, cây lúp xúp là che mắt bọn OV-10. Ta không nên trú quân nơi cây cao, rừng già, dễ bị lộ. Cán bộ của Ban chính trị phân công theo sát các tiểu đoàn hành quân, nay trở về lập trung tại đây và làm sơ kết công tác chính trị. Ban Chính trị đánh giá cuộc hành quân đạt đuợc yêu cầu Đảng uỷ trung đoàn đề ra. Nhiều gương tốt của don vị, của cán bộ, chiến sĩ được nêu lên. Những điểm yếu, tồn tại cũng được nêu lên và đề ra hướng khắc phục. Sau khi Ban Tham mưu, Ban Chính trị sơ kết xong báo cáo lên trung đoàn. Tiếp đó một bản nhận xét của lãnh đạo và chỉ huy trung đoàn gửi xuống. Nhìn chung cuộc hành quân đạt thắng lợi, ý chí quyết tâm của bộ đội được giữ vững. Tuy nhiên còn nhiều điểm yếu bộc lộ phải được khắc phục. Toàn trung đoàn phát động đợt thi đua vượt mọi khó khăn, gian khổ, chấp hành nghiêm kỷ luật hiệp đồng tác chiến với bộ binh và các lực lượng khác trong đội hình binh chủng hợp thành. Thi đua đánh thắng trận đầu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ ngụy, lập thành tích mừng sinh nhật Bác 19-5.


Đây là điểm dừng chân cuối cùng của Trung đoàn 241 trước khi vào trận. Các đơn vị của trung đoàn đều được lệnh triển khai sẵn sàng chiến đấu. Có một đại đội triển khai trên đỉnh Động Tri. Tôi đề nghị đồng chí Dảo cho tôi và vài cán bộ lên thăm anh em, đồng chí Dảo đồng ý. Khi lên đỉnh Động Tri, qua ống kính TZK của tiểu đội trinh sát, tôi nhìn về phía Đông thấy rõ dòng sông Hiếu và dòng Thạch Hãn gặp nhau ở ngã ba Đại Độ rồi vòng quanh các làng, chảy ra Cửa Việt. Theo bản đồ tác chiến của tham mưu, thì hai bên dòng sông có nhiều đồn dịch đóng giữ. Do đó, việc tiêu diệt các đồn địch nói trên và đánh chiếm Đông Hà, Cửa Việt, Ái Tử, thị xã Quảng Trị thời gian tới sẽ gay go, ác liệt, vì địa thế đồng bằng trống trải, lại bị chia cắt bởi sông, ngòi.


Để nhận biết phiên hiệu các đơn vị tham gia chiến dịch, cấp trên quy định:

- Tham mưu, ký hiệu WT

- Hậu cần, ký hiệu WH

- Chính trị, ký hiệu WC

Sau nhận thấy WC theo tiếng Anh là từ xấu, nên đề nghị trên cho thêm chữ T. Như vậy chính trị ký hiệu WCT.

Mọi người đều phải khâu bằng chỉ trắng hoặc màu lên nắp áo ngực trên bên trái ký hiệu đã quy định đó.

Ở khu vực Động Tri khoảng bảy ngày, là thời gian ngắn nhưng rất quý. Đơn vị chấn chỉnh tổ chức, làm công tác tư tường, chuẩn bị tiếp cận đội hình tác chiến của mặt trận và chờ lệnh nổ súng.

 Đêm 29 tháng 3 năm 1972, một đại đội của Trung đoàn 241 có nhiệm vụ tiến sát bìa rừng, dừng lại chờ lệnh để vào vị trí tác chiến. Trên đường tiến, một tiếng nổ phát ra giữa đội hình đại đội. Một quả lựu đạn chày đeo bên hông một chiến sĩ phát nổ, đồng chí chiến sĩ hy sinh. Kiểm tra kỹ, cán bộ đại đội kết luận: Trong khi đang hành tiến, lựu đạn bị bật nắp mà chiến sĩ đó không biết. Dây kéo chốt bung ra, vướng vào cành cây rừng làm cho lựu đạn nổ. Đây là bài học về công tác kiểm tra đối với lãnh đạo và chỉ huy tiểu đoàn, đại đội trước khi hành quân. Qua sự cố đáng tiếc đó, nhận thấy lựu đạn chày không thích hợp ở chiến trường rừng núi. Dùng lựu đạn mỏ vịt, có chốt hình tròn tiện hơn, đeo hông không bị vướng cây, có thể ném tiêu diệt đối phương qua lùm ngọn cây được.


Một giờ sáng ngày 30 tháng 3 năm 1972, giờ N đã điểm, toàn mặt trận nổ súng. Tiếng pháo 130mm và các cỡ pháo của ta đồng loạt bắn vào các cứ điểm địch từ Bản Đông đến Quán Ngang, Đầu Mầu. Xe tăng, bộ binh, pháo cao xạ của ta tiến vào sát các cứ điểm địch. Quân ngụy đồn trú trong các căn cứ bất ngờ, bị động, số đông bị ta bắt sống, số còn lại rút chạy. Các đơn vị pháo cao xạ luôn luôn giữ đội hình tác chiến, sẵn sàng đánh máy bay địch đến yểm trợ. Sáng ngày 30-3-1972, toàn bộ các cứ điểm địch khống chế đường số 9 bị đập tan. Cánh cửa đường số 9, được mở toang. Các lực lượng trong đội hình binh chủng hợp thành của ta lật cánh, chiếm lĩnh các vị trí ở phía Nam đường số 9, chuẩn bị tiến về vùng giáp ranh đồng bằng của các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ... Ta chiếm lĩnh Đồi Chè, Hải Lệ, áp sát căn cứ La Vang, Long Hưng. Tất cả nhằm mục tiêu tiến công căn cứ Đông Hà, căn cứ Ái Tử, thị xã Quảng Trị, trong đó có Thành cổ.


Cũng buổi sáng 30 tháng 3, Mỹ-ngụy điên cuồng cho máy bay phản lực, máy bay cánh quạt, trực thăng ném bom, bắn vào đội hình quân ta. Các Trung đoàn 241, 230, 250, 284 đã lập công bắn rơi nhiều máy bay địch. Đường số 9 có nhiều cống ngầm. Mặc trên trời máy bay địch gầm rú, bếp nuôi quân kiểu Hoàng cầm của Trung đoàn bộ 241 vẫn nấu được cơm ngay dưới cống ngầm đường số 9. Bữa cơm chiều có dưa cải. Anh em hậu cần nói dưa cải của Bộ Nội thương gửi vào đấy. Quan sát thấy cây cải bẹ to, cứ một cây làm dưa đóng vào một túi PE thơm phức, vàng rộm, xào với ruốc hành quân ăn rất ngon. Cả tháng bộ đội toàn ăn các loại rau rừng: rau tàu bay, rau má, vòi voi, rau đá, lá khoai lang rừng và nhiều nhất là măng. Các loại măng: lồ ô, vầu, tre, trúc, giang... ở vùng đường số 9, Động Tri nhiều vô kể. Ăn nhiều măng rất xót ruột. Nay được ăn dưa cải bẹ đồng bằng Bắc Bộ thật là ngon, lại do bàn tay các mẹ, các chị, các em muối dưa, đóng gói gửi vào cho anh em ở mặt trận. Tình nghĩa hậu phương - tiền tuyến thật đậm đà, thắm thiết.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:24:24 pm
Đến lúc này, Bộ Tổng tham mưu của quân đội ngụy Sài Gòn vẫn chủ quan cho rằng: Năm 1972, Việt Cộng không thể mở những trận đánh lớn ở miền Nam vì năm 1971 miền Bắc bị lụt to, mất mùa, đói kém.

Khi các sư đoàn bộ binh, các tiểu đoàn bộ đội địa phương Quân giải phóng Quảng Trị, các đơn vị phòng không, xe tăng, pháo mặt đất tiến vào giải phóng Đông Hà, địch rút khỏi Đông Hà, dồn vào căn cứ Ái Tử và chống cự quyết liệt. Quân ta xiết chặt hai gọng kìm: Một mũi theo đường số 1 tiến vào, một mũi phía Tây Ái Tử, vùng Cam Lộ tiến xuống. Căn cứ Ái Tử là căn cứ lớn của địch, chiều dài 4km, chiều ngang 1km, có sân bay dã chiến, bị thất thủ. Ta bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, bắn rơi nhiều máy bay địch.


Ngày 1 tháng 5 năm 1972, ta giải phóng thị xã Quảng Trị. Các đồn địch ở Cửa Việt, An Cư, Mai Xá bên dòng Thạch Hãn bị ta đánh bật. Địch rút co cụm ở Thành Hội sát bờ biển, cách Cửa Việt 15km. Căn cứ tình báo của Mỹ ở nhà thờ Nhu Lý thuộc huyện Triệu Phong, sáng 28 tháng 4 năm 1972, cũng hốt hoảng rút ra biển bằng 15 máy bay trực thăng.


Căn cứ Phượng Hoàng ở phía Tây Nam thị xã Quảng Trị, cách thị xã Quảng Trị 10km. Nơi đây, ta và địch giành đi, giật lại cả tuần lễ. Phía Tây căn cứ này có nhiều đơn vị phòng không triển khai chiến đấu yểm trợ đắc lực cho bộ binh và xe tăng ta đánh bật địch trên đồi Phượng Hoàng.


Một tiểu đoàn tên lửa vác vai đã có mặt ở mặt trận Quảng Trị, đúng vào thời điểm ta đang chống trả quyết liệt địch phản công, hòng chiếm lại thị xã Quảng Trị và Thành Cổ. Loại vũ khí này được đặt tên A72, là loại tên lửa vác vai đất đối không, chỉ 1 người bắn. Sau khi được biên chế về Trung đoàn 241, anh em triển khai chiến đấu ngay tại đồi Phượng Hoàng. Khẩu đội 3 người do một chiến sĩ là tổ trường A72, đã bắn rơi tại chỗ 1 A37 của quân ngụy. Tên giặc lái nhảy dù bị bộ binh ta bắt sống. Đồng chí Lê Xuân Sinh và tôi đã gặp trực tiếp khẩu đội A72 này, động viên anh em phát huy đánh thắng trận đầu, tiếp tục bắn rơi nhiều máy bay địch hơn nữa. Đồng chí Sinh và tôi được xem tận mắt căn cước của tên giặc lái là Nguyễn Du, 30 tuổi, trung uý ngụy mà anh em bộ binh thu được giao lại.


Phát huy thắng lợi, những ngày sau, đơn vị A72 bắn rơi thêm một số máy bay Mỳ - ngụy. Trong đó, ban đêm A72 bắn rơi 1 máy bay AC130. Anh em lái xe nói: Thằng AC này bắn phá dọc tuyến vận tải của ta, dai như đỉa đói.


Cuối tháng 5 năm 1972, tôi được lệnh dời khỏi Trung đoàn 241. Đồng chí Xuân Sinh, đồng chí Dào chia tay tôi. Đồng chí Sinh nói: Đồng chí Hiền không chỉ là một biệt phái về công tác cán bộ của quân chủng, mà còn là một cán bộ đốc chiến tích cực.


Trở về Ban Cán bộ Sư đoàn 367, tôi trao đổi tình hình cán bộ các trung đoàn mà tôi đã trực tiếp làm việc với đồng chí Khởi. Qua thực tế chiến đấu các đơn vị phòng không trong đội hình binh chủng hợp thành trên mặt trận Quảng Trị, tôi thấy tổ chức lữ đoàn phòng không gọn nhẹ hơn, hiệu quả tác chiến sẽ cao hơn tổ chức sư đoàn. Đồng chí Khởi nói: "Tôi sẽ nghiên cứu ý kiến của anh và báo cáo lên trên". Tôi nhất trí với đồng chí Khởi danh sách chọn từ dưới lên những hạ sĩ quan xứng đáng đề nghị Sư đoàn 367 cho ra Bắc đào tạo trở thành cán bộ đợt đầu. Tất cả anh em đều có thành tích chiến đấu và công tác tốt.


Tôi cũng trao đổi với đồng chí Khởi, Trung đoàn 284 chiến đấu có thành tích nhưng bị tổn thất. Tôi và đồng chí Kỳ Nam đã trực tiếp làm việc với đồng chí Thành Lợi - Chính uỷ và đồng chí Chủ nhiệm chính trị trung đoàn (đồng chí này sau lên làm phó Phòng chính sách của Cục Kỹ thuật). Hai chúng tôi cùng đồng chí Sự, trợ lý cán bộ trung đoàn xuống hai đại đội đang triển khai chiến đấu ở phía Tây đồi Phượng Hoàng. Tôi nhớ lời đồng chí Phạm Liêm dặn: Khi đến đơn vị nào đó, nhất là các đơn vị gặp khó khăn, cần động viên nhiều hơn, không nên chê bai, phê phán.


Sáng 28 tháng 6 năm 1972, Mỹ đưa máy bay B-52 ném bom trở lại tỉnh Quảng Trị và tăng cường các loại máy bay cường kích, trinh sát, pháo hạm cỡ lớn 175mm từ biển bắn vào đế yểm trợ quân ngụy chiếm lại Thành cổ.


Cũng ngày 28 tháng 6 năm 1972, thôn Nhan Biều phía Bắc cầu Quảng Trị bị bom B-52 rải thảm, hàng trăm bà con chết, bị thương. Nơi đây cần dựng bia tưởng niệm - một chứng tích chiến tranh để tố cáo tội ác của Mỹ.


Một buổi sáng đầu tháng 7 năm 1972, sau khi nắm tình hình ở một đại đội pháo cao xạ, tôi và đồng chí Hồ Huấn, Tham mưu trưởng Trung đoàn 241 sang làm việc với một đại đội pháo cao xạ khác. Trên đường đi, nhìn thấy 1 con bò đang vật vã bên ruộng lúa, đồng chí Huấn phán đoán "con bò này bị dính bom bi máy bay Mỹ thả xuống đêm qua".


Đến gần, thấy bom bi chưa nổ nằm dày đặc trên đường đi. Đồng chí chiến sĩ nói: Để tránh bom bi, em dẫn các thủ trưởng đi vòng theo bờ ruộng lúa qua bên kia đường. Tôi nói: "Có thể có bom bi nằm rải rác trên bờ ruộng ta không nhìn thấy vì chúng nằm lấp dưới cỏ, dẫm lên sẽ nguy hiểm". Chúng tôi quyết định cứ đi theo đường mòn. Từng người một nhẹ nhàng bước qua giữa những quả bom bi mà không đụng đến nó. Cả 3 chúng tôi đã đi qua trót lọt.


Bộ đội ta đã đúc kết được nhiều bài học xương máu trên chiến trường đánh Mỹ. Tình huống vượt qua bãi bom bi vừa kể, cũng là một bài học.

Các trung đoàn pháo cao xạ triển khai chiến đấu từ Tây Nam đồi Phượng Hoàng, động Ông Do đến Bắc sông Thạch Hãn để yểm trợ các đơn vị bộ binh, xe tăng chốt giữ Thành Cổ và đầu cầu Quảng Trị suốt 81 ngày đêm. Các đơn vị pháo cao xạ chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, làm trận địa giả, trận địa dự bị, đón lõng, cơ động chiến đấu, đã bắn rơi nhiều máy bay; khống chế có hiệu quả hoạt động của máy bay cường kích ném bom và máy bay trinh sát địch.


Vào chiến trường ác liệt, mỗi chiến sĩ đều phải tự viết họ, tên, quê quán vào mảnh giấy bỏ vào lọ Penicylin đã dùng hết thuốc, đậy kín nắp để vào túi áo ngực của mình. Sau 4 năm (tức 1976), Đội tìm kiếm cất bốc hài cốt liệt sĩ của Trung đoàn 250 do đồng chí Nguyễn Đức Miền, Phó Chính uỷ trung đoàn chỉ huy trở lại trận địa cũ, nhờ có những mảnh giấy mà nhận biết họ tên, quê quán liệt sĩ dễ dàng. Một số ngôi mộ khác, sau khi chôn cất, anh em lấy miếng tôn cắt sẵn từ trước, đục lỗ họ, tên liệt sĩ, cắm trên mộ. Nhờ vậy khi tìm kiếm đồng đội, nhận biết ngay đồng chí của mình đang nằm ở đó.


Đợt tìm kiếm đã cất bốc được 64 liệt sĩ của trung đoàn chính xác, có đủ họ tên, quê quán. Đối với số hy sinh tại trận địa thì như vậy. Còn nhiều đồng chí bị thương nặng đưa đi cấp cứu ở bệnh viện dã chiến Quân khu Trị Thiện đã hy sinh, sau này tìm kiếm rất khó khăn, bị thất lạc nhiều. Có một chiến sĩ Trung đoàn 250 hy sinh, không kịp chôn cất vì anh em lo đưa đồng chí bị thương nặng đi cấp cứu. Anh em lấy miếng tôn đục lỗ họ tên, quê quán liệt sĩ đặt cạnh thi hài, mong dân nhìn thấy chôn cất anh em. Năm 1976, đến trận địa cũ tìm kiếm, có miếng tôn đề tên cắm trên mộ, xác định đúng một chiến sĩ hy sinh được dân chôn cất và hương khói suốt 4 năm trời.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:25:27 pm
Chiến trường ngày đêm vang rền tiếng súng, tiếng bom đạn cũng có giây phút yên tĩnh. Đó là đêm khuya dưới căn hầm chữ A mở đài nghe nghệ sĩ Kim Liên hát bài theo điệu châu văn: "Đến giờ anh sắp hành quân, tặng anh một khúc hát văn quê nhà... Tiếng hát sâu lắng hoà quyện với tiếng đàn nguyệt, phách, trống nghe như quê hương đang thúc giục chiến sĩ Phòng không chúng tôi hãy sẵn sàng cơ động theo lệnh, hãy ngẩng cao đầu nhằm thẳng quân thù mà bắn.


Ở một chương trình văn nghệ khác, nghệ sĩ Châu Loan cất cao giọng hò mái nhì: "Chiều chiều trước bến Văn Lâu, ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non". Và bài: "Đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá, đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sình. Lờ đờ bóng ngả trăng chênh, giọng hò xa vọng, nhắn tình nước non"... Những câu hò ấy, tôi đã thuộc lòng từ khi còn 9, 10 tuổi. Tôi mong có một ngày đất nước độc lập, thanh bình đứng giữa cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương nhìn về bến Phu Văn Lâu, nhìn sang chợ Đông Ba mà hồi tưởng lại các câu hò thuở ấy. "Chạnh lòng nước non", "nhắn tình nước non" chứa đựng trong hai bài hò trên đây là lời của non nước nhắn nhủ các thế hệ người Việt Nam hãy vùng lên xoá bỏ xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Chiến dịch giải phóng Quảng Trị và các chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam sau này dù có gay go, ác liệt đến đâu, chúng la nhất định thắng vì hồn thiêng sông núi và nhân dân đang tiếp sức mạnh cho chúng ta, lời của nước non đang thúc giục chúng ta.


Quyết tâm của ta là đưa một trung đoàn tên lửa vào đường số 9, triển khai chiến đấu tiêu diệt B-52 của Mỹ. Do đường sá quá xấu, vũ khí đều bị hỏng qua nhiều đêm hành quân. Đơn vị khẩn trương sửa chữa, bổ sung được 1 tiểu đoàn hoàn chỉnh. Kíp trắc thủ do đồng chí Lanh làm sĩ quan điều khiển ngày đêm luyện tập các tình huống, giả định đánh B-52 trên màn hiện sóng. Tiểu đoàn đã vào vị trí triển khai sẵn sàng chiến đấu, nhưng khí tài lại hỏng do trận mưa lớn trong đêm. Kế hoạch tác chiến không thực hiện được. Hôm sau, chỉ huy sư đoàn họp nghe đồng chí Thân - Trung đoàn trưởng và đồng chí Thiết - Chính uỷ báo cáo. Mở đầu, đồng chí Đinh Đình Sành, Sư đoàn trưởng nói: Hôm nay, hai anh mặc quần đùi lên báo cáo với sư đoàn à? Câu nói hài hước của sư đoàn trưởng đã xua đi một phần cái mệt nhọc của hai vị chỉ huy trung đoàn tên lửa.


Sau cuộc họp, tôi gặp đồng chí Nguyễn Văn Thụ, Sư đoàn phó. Thấy đồng chí ốm yếu quá, tôi hỏi: Sức khoẻ anh thế nào? Đồng chí Thụ nói: Có yếu nhưng trụ được. Tôi đã điện ra Phòng Cán bộ, đề nghị cho đồng chí Thụ ra Bắc chữa bệnh. Phòng Cán bộ trả lời đồng ý. Tôi thông báo ý kiến của Phòng Cán bộ với đồng chí Khởi. Hôm sau, đồng chí Khởi có ngay kế hoạch chuyển đồng chí Thụ ra Bắc.


Cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt. Ở các đơn vị chiến đấu, nhiều đồng chí thương vong. Thực hiện chỉ thị của đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, khi làm việc với sư đoàn tại Hoa Thuỷ: "Phải dự kiến 3 lớp cán bộ, 3 lớp cấp uỷ để thay thể vì cuộc chiến đấu ngày càng quyết liệt và có thể kéo dài". Ban cán bộ sư đoàn đã tổ chức những lớp tập huấn cho số anh em có dự kiến thay thế. Mồi tuần một lớp. Mỗi lớp từ 15 đến 20 người là hạ sĩ quan, số anh em này trở về đơn vị sẽ thay thế các đồng chí cán bộ hy sinh, bị thương.


Ngày 30 tháng 8 năm 1972, tôi dời khỏi Ban Cán bộ Sư đoàn 367 trở về tiền phương quân chủng theo điện của Phòng Cán bộ.

Ngày 2 tháng 9 năm 1972, tôi có mặt ở Sở chỉ huy tiền phương quân chủng. Sau khi báo cáo tóm tắt tình hình cán bộ của Sư đoàn 367 với đồng chí Hoàng Ngọc Diêu, chỉ huy tiền phương và đồng chí Chu Mạo, Cục phó Cục Chính trị quân chủng, tôi xin phép vào Đội điều trị 43 của Quân khu Trị - Thiên điều trị 8 ngày do bị ù tai vì sức ép bom, khi đang công tác ở Trung đoàn 241.


Vào thời điểm này, theo chỉ thị của trên, Sư đoàn 367 rà soát lại biên chế, kiện toàn tổ chức, lập danh sách đề nghị bổ nhiệm chức vụ và đề bạt cán bộ. Lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn đã đề nghị bổ nhiệm 700 đồng chí, đề bạt 800 đồng chí.


Toàn bộ danh sách về việc trên, được báo cáo lên mặt trận chiến dịch và báo cáo ra quân chủng.

Ngày 15 tháng 12 năm 1972, một số trợ lý: Đồng chí Thái Đình Đương ở Phòng Tuyên huấn; đồng chí Thuận ở Phòng tổ chức, một đồng chí trợ lý chính sách và tôi, trợ lý Phòng cán bộ do đồng chí Chu Mạo dẫn đầu được lệnh trở ra quân chủng. Đồng chí Tiêu, trợ lý chính sách và đồng chí Nguyễn Quang Ý, phóng viên quay phim của quân chủng đã hy sinh do bom Mỹ đêm 15 tháng 8 năm 1972 tại nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh. Hai đồng chí nằm lại chiến trường đã không cùng chúng tôi trở về quân chủng được nữa.


Ngày 2 tháng 1 năm 1973, toàn Đoàn có mặt ở quân chủng, đúng lúc nhân dân Thủ đô Hà Nội, bộ đội Phòng không - Không quân, các lực lượng vũ trang Hà Nội đã lập công lớn, đánh tháng B-52 Mỹ trong trận "Điện Biên Phù trên không".


Hơn một năm đi chiến dịch, nay trở về, anh em trong Phòng cán bộ đều rất mừng. Đồng chí Đồng, trợ lý của Phòng nói: Tất cả báo cáo của anh Hiền từ chiến trường gửi ra, tôi đều nhận được. Báo cáo kịp thời, đúng lúc đã giúp công tác nghiên cứu, bổ sung, bố trí cán bộ cho Sư đoàn 367 được thuận lợi.


Nhớ lại tại chiến trường vào tháng 5 năm 1972, đồng chí Nguyễn Khắc Chuẩn, Phó Phòng Cán bộ vào làm việc với Trung đoàn 241. Đồng chí Chuẩn gặp tôi, góp ý kiến cách nắm tình hình cán bộ được chính xác trong điều kiện chiến đấu gay go, ác liệt. Tôi thấy ý kiến đó rất quý, giúp cho tôi có thêm kinh nghiệm tiếp tục công tác. Đồng chí Phan Trọng Đồng, tháng 10 tháng 1972 vào công tác gặp tôi ở Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng. Lúc này, công tác cán bộ của Sư đoàn 367 bề bộn, khẩn trương, các đơn vị đang bám trụ ngày đêm chiến đấu quyết liệt với kẻ thù. Làm việc với đồng chí Đồng cả ngày, đêm, xong, tôi gửi báo cáo về Phòng và hẹn gặp nhau ở Quân chủng sau khi kết thúc chiến dịch.


Khi về đến quân chủng, đồng chí Chu Mạo và anh em chúng tôi trong Đoàn được đồng chí Hoàng Phương, Chính uỷ quân chủng, tiếp và chiêu đãi bữa cơm thân mật tại Sở chỉ huy quân chủng đặt ở chùa Trầm. Đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, Phó Chính uỷ bận trực ban không dự được, nhưng đã gặp, thân mật bắt tay, khen ngợi chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ những phái viên của Cục Chính trị, theo sát đơn vị đi chiến đấu trên chiến trường ...


Tôi tiếp tục công tác ở Phòng Cán bộ đến tháng 10 năm 1973 thì được quân chủng giao nhiệm vụ vào lại chiến trường Quảng Trị làm Phó Chính uỷ Trung đoàn 263 tên lửa đang triển khai sẵn sàng chiến đấu tại huyện Cam Lộ, bảo vệ vùng giải phóng và bảo vệ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đang đóng trụ sở tại đó.


Tôi được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì "đã lập được chiển công trong chiến đấu" tại Mặt trận Quảng Trị năm 1972.

Năm 1974 tôi chuyển về làm Phó Chính uỷ Trung đoàn 250 thuộc Sư đoàn 673. Tháng 1 năm 1975, Sư đoàn cử tôi làm trưởng đoàn ra Bắc lấy 400 tân binh cho Sư đoàn thuộc 4 huyện: Vũ Thư, Quỳnh Phụ, Kiến Xương, Tiền Hải của tỉnh Thái Bình. Tháng 2 năm 1975 hoàn thành nhiệm vụ lấy quân, đưa đủ 400 tân binh về cho sư đoàn với chất lượng tốt. Sư đoàn 673 phân cho Trung đoàn 250 số 200 tân binh mới tuyển. Trung đoàn lập tức biên chế về cho các tiểu đoàn. Sau khi Huế và Đà Nẵng giải phóng, trung đoàn được lệnh triển khai chiến đấu tại bán đảo Sơn Trà để bảo vệ cảng Tiên Sa và Thương cảng Đà Nẵng. Năm 1976, tôi được chuyển sang làm Phó Chính uỷ Trung đoàn 224 pháo cao xạ 57 ly, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ thành phố Đà Nẵng.


Năm 1978, tôi được chuyển ra Bắc làm trợ lý Phòng Công tác chính trị của Cục Chính trị quân chủng và là Bí thư chi bộ của Phòng. Tháng 1 năm 1979 khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, toàn quân chủng vào sẵn sàng chiến đấu, tôi được điều về làm Bí thư Đảng uỷ Nhà máy tên lửa A31 thuộc Cục Kỹ thuật Quân chủng. Năm 1981, được thăng hàm trung tá và năm 1982 chuyển ngành ra làm chuyên viên cao cấp của 1 Ban Đảng ở Trung ương. Được đi học 2 năm rưỡi lớp lý luận chính trị Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tốt nghiệp đạt loại ưu, trở về làm Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của một ban Đảng khác ở Trung ương.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:28:57 pm
HÀNH QUÂN VÀO MẶT TRẬN KHE SANH - LAO BẢO

Phùng Đắc Tư


Khoảng giữa năm 1968, tôi đang công tác tại Ban Chính trị, Trung đoàn tên lửa 267 ở Hải Phòng thì nhận được lệnh điều về Cục chính trị quân chủng làm phóng viên Báo Phòng không - Không quân.

Lúc này ở Hà Nội đang tạm im tiếng súng. Đế quốc Mỹ sau khi phải rút khỏi mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, lại bị giáng đòn chiến lược bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân của ta, đã buộc phải ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nhưng chúng bắt đầu thực hiện "ném bom hạn chế", đánh mạnh tuyến giao thông vận chuyển từ Nam Quân khu 4 trở vào.


Cán bộ các cơ quan Bộ Tư lệnh Quân chủng đều cử phái viên ra tuyến trước để nắm tình hình và giúp đỡ các đơn vị trong chiến đấu. Báo Phòng không - Không quân có các anh Xuân Mai, Xuân Át, Lê Minh Huệ ... có những chuyến đi với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa, ra đa chiến đấu ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, lúc đó thường gọi là A2.


Với tôi, sau mấy tháng công tác ở Hà Nội cũng đã quen dần với nghề viết báo. Một hôm, Tổng biên tập gọi tôi đến giao nhiệm vụ. Anh nói: "Báo ta có nhiều đồng chí đã đi chiến trường, nhưng chưa có ai đi thật xa. Hôm nay nhân có chuyến xe của Trung đoàn 241 từ Khe Sanh ra báo cáo, cậu hãy theo xe vào đó nắm tình hình, chụp ảnh, viết bài về đơn vị đang chiến đấu bảo vệ tuyến giao thông Khe Sanh - Lao Bảo - Tà Khống cho báo có màu sắc chiến trường xa... Tôi đã liên hệ với anh Phồn, bác sĩ phụ trách xe rồi!"...


Đương nhiên tôi chỉ có vui vẻ chấp hành và khẩn trương chuẩn bị lên đường.

Là người lính chiến đã từng sống ở Tây Bắc, tôi cũng đã có ít nhiều kinh nghiệm hành quân với pháo cao xạ đường rừng núi. Nhưng lần này theo xe hậu cần của Trung đoàn 241 vượt đường Trường Sơn vào Khe Sanh thì khác hẳn.


Trước khi đi, anh Mịch, Chủ nhiệm Hậu cần và bác sỹ Nguyễn Đình Phồn cùa Trung đoàn 241 ra quân chủng họp trở vào, đã nhắc tôi: "Gian khổ lắm đấy! sợ cậu không đi tới đích được đâu!".

Tôi cũng chỉ cười, đáp:

- Vâng! Tôi sẽ cố gắng, mong các anh giúp đỡ thêm!

Từ phà Xuân Sơn, miền Tây Quảng Bình trở đi, tôi không ngồi trong ca-bin với đồng chí Tuấn lái xe và bác sỹ Phồn nữa, mà nhảy lên thùng xe, bỏ mui để dễ quan sát máy bay. Đêm trên chặng đường vượt cổng trời (cây số 70, 71, 72 - đường 20) tiến sâu vào trong, chốc chốc tôi lại bắt gặp một chiếc xe tả tơi, bốc mùi khét với tiếng kêu, tiếng rên của các chiến sỹ bị thương chuyển về hậu phương.


Anh Mịch và lái xe Long đi chiếc xe đầu, nhắc chúng tôi sắp đến ngã ba Lùm Bùm, mọi người phải đeo mặt nạ phòng hoá vào. Qua những loạt bom phát quang, bom lửa đốt rừng cháy ngùn ngụt là bom bi. Sáng sớm đi trên chặng đường nham nhở, hôi bẩn, thân cây cháy trụi hiện ra, tôi vội lấy máy ảnh chụp mấy kiểu làm tư liệu. Thỉnh thoảng lại nghe thấy 3 hoặc 5 phát súng xé không gian báo hiệu cấp cứu, hoặc có người thương vong cần hỗ trợ.


Một đêm trước khi vượt qua đèo Phu-la-nhích, đoàn xe chúng tôi bị máy bay C.130 phát hiện. Mới đầu chúng thả mấy quả bom cháy, chặn ngay trước mặt xe. Tôi thấy anh Phồn ngoái đầu ra khỏi ca-bin hét to: "Anh Tư! lấy vải bạt che mấy thùng thuốc... và giữ chặt!". Anh Tuân nhấn ga cho xe lao nhanh qua lửa. Mắt tôi hoa lên, chỉ thấy một màu đỏ rực. Hai tai tôi ù đặc vì những tiếng nổ chát chúa. Lát sau trấn tĩnh lại, tôi thấy hai bên sườn xe, những quả đạn 20 ly của máy bay C130 bắn xuống nổ, cày nát đất ven đường. Sau nhiều lần phải vượt qua những chặng đường như thế, chúng tôi mới thở phào, bảo nhau: "Còn sống!".


Đêm vượt ngầm Tà Khống, bỗng thấy tiếng máy bay im ắng, bầu trời tĩnh mịch quá! Nhưng anh Mịch vẫn ra lệnh: "Triệu chứng máy bay B-52 sắp rải thảm, mọi người xuống để giấu xe và tìm hầm ẩn nấp ngay!". Tôi vừa chui vào căn hầm chữ A cùng với Tuấn xong, thì căn hầm rung lên bần bật, chao đảo như ngồi trên võng. Theo quán tính, tôi ấp hai bàn tay vào mang tai, mắt nhắm tịt, mồm há ra... Khi tiếng ào ào đã ngớt, tôi mới mở mắt thấy trời tối ghê gớm, bụi cát dày đặc trong không trung. Tuấn bảo tôi: "Ta thoát B-52 rồi anh ạ!".


Khi đến cách bờ sông vài chục mét là trận địa Đại đội 3, pháo cao xạ 37 ly của Trung đoàn 241. Anh em thấy xe của Trung đoàn từ ngoài Bắc vào chạy qua đều reo hò: "Có thuốc lào không? có thư không thủ trưởng?" Anh Mịch, anh Phồn xuống xe phân phát vội, rồi lệnh cho xe tiếp tục qua ngầm. Nước dòng sông Sê-pôn mát rượi. Tôi bảo Tuấn và anh Phồn cho xe dừng, lấy cớ xuống lấy nước vào bi đông.


Nhưng thực ra để rửa và tắm vội vì toàn thân ai nấy đều vàng khè đầy đất. Tuấn bảo: "Kệ, cứ tắm cho nhẹ người, sống chết có số! Đợt B-52 khác còn 10 hoặc 15 phút nữa kia!..." Đó là kinh nghiệm của những người từng trải qua chiến đấu nơi đây.


Về đến trung đoàn bộ, đón tôi là Trung đoàn trưởng Nguyễn Đăng Tùng. Anh vừa đi kiểm tra trận địa Đại đội 1 ở Lao Bảo về. Anh bảo bác sỹ Phồn: "Xê 1 thiệt hại 2 khẩu đội! Cậu nghỉ ít thời gian rồi xuống đó giải quyết ngay số anh em bị thương!". Quay lại tôi, anh Tùng cảm động nói: "Cậu là người đầu tiên của Phòng tuyên huấn, Cục Chính trị Phòng không - Không quân từ Hà Nội vào đây. Xin cám ơn các anh đã quan tâm cử người vào giúp chúng tôi theo dõi nắm tình hình...".


Để bảo vệ một chặng đường số 9 từ Khe Sanh - Lao Bảo - Tà Khống năm 1968-1969, Trung đoàn 241 đã phải hỵ sinh khá nhiều cán bộ, chiến sỹ. Nhưng bù lại, đêm đêm từ ngầm Tà Khống, pháo vẫn bắn lên đỏ trời để bảo vệ các đoàn xe tiếp viện cho chiến trường miền Nam từ vũ khí, đạn dược, thuốc men đến lương thực, quân trang quân dụng...


Tôi ở lại mặt trận đường số 9 chưa đầy 1 tháng, dự nhiều trận chiến đấu với máy bay Mỹ với các chiến sỹ Trung đoàn 241. Tôi chụp được khá nhiều ảnh, ghi chép được nhiều câu chuyện chiến đấu dũng cảm của bộ đội. Trong đó có câu chuyện của Đại đội 3, Trung đoàn 241 về mẹo bắn máy bay trinh sát OV-10 và cách đánh lạc hướng nó, không cho nó chỉ điểm được kho hàng và các mục tiêu quan trọng của ta.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:30:31 pm
NHỚ MÃI MỘT LẦN TỰ NGUYỆN LÀM PHÁO THỦ


Nguyễn Việt Hiển


Đó là vào cuối năm 1971, tại Ngã ba đường Trường Sơn.

Tôi được Toà soạn Báo Phòng không - Không quân cử đi chiến trường B nắm tình hình để viết về cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông của Binh chủng Pháo cao xạ.

Ngày ấy sau thất bại của cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Mỹ càng tăng cường đánh phá tuyến giao thông chiến lược hòng ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc vào miền Nam. Tôi được đi B ngắn cũng là một vinh dự mà nhiều người mơ ước và có phần ghen tỵ! Tôi được cấp một khẩu súng ngắn, 1 máy ảnh Pratika tốt nhất và hơn chục cuốn phim. Trang bị cá nhân còn có: 1 tăng, 1 võng, 1 bộ quần áo để thay khi cần, 1 cặp giấy bút, trong đó có cả bút chì để phòng trong chiến trường không có mực viết, 1 dao găm và lương khô ăn đường. Với trang bị tương đối như vậy, tôi được xe đưa vào ngầm Tà-lê - nơi đóng quân của trung đoàn bộ Trung đoàn pháo cao xạ 224. Ngầm Tà-lê nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh, nước không sâu nhưng là đường độc đạo rất hiểm trở. Xung quanh ngầm là núi non bao quanh, trước đây đều là rừng già nhưng bom đạn Mỹ đã "bào" nhằn màu xanh cây lá, nay chỉ còn trơ những ngọn đồi trọc như một bãi sa mạc lớn. Trên các ngọn đồi chỉ còn sót lại một vài cây cổ thụ đã cháy đen, cành cây khẳng khiu in lên nền đất đỏ. Trong khung cảnh mênh mông "sa mạc" một màu vàng úa và đỏ quạch đó, vẫn có những cô gái mặc áo lính ngày đêm bám trụ sửa đường và làm "cột tiêu" cho xe qua. Tôi đã có dịp gặp gỡ, chụp ảnh các nữ anh hùng vô danh ấy một lần, tuy có ghi cả địa chỉ nhưng sau này không có dịp nào gửi được ảnh cho họ. Từ trên các đỉnh núi có con đường đất đỏ vắt qua ấy, có thể nhìn thấy lưng máy bay dịch thỉnh thoảng bay ở phía dưới lưng chừng đồi nhòm ngó, thấy cả cái đầu của thằng giặc lái ngọ ngoạy trong khoang lái! Trung đoàn bộ 224 đóng trong một hang đá rộng, cách ngầm khoảng ngót cây số. Tôi làm việc ở trung đoàn bộ khoảng một tuần lễ, rồi từ đó đi bộ vào Khẩu đội 4 - Khẩu đội Tô Vĩnh Diện, thuộc Đại đội 4, Trung đoàn Tô Vĩnh Diện đang cắm chốt trong cụm hoả lực bảo vệ ngã ba từ đường 20 - đường Trường Sơn rẽ vào đường đi Chà-là, Ka-tốc, thuộc địa phận Nam Lào. Thực ra đó là tôi nghe đồng chí khẩu đội trưởng nói, còn khi đến khẩu đội đã vào ban đêm, nên cũng chưa được tận mắt quan sát quang cảnh ngã ba đó thế nào!


Đêm càng lúc càng tối, lại không được thắp đèn nên chúng tôi chỉ nhận ra nhau bằng dáng dấp. Đồng chí khẩu đội trưởng giới thiệu tôi với anh em trong khẩu đội, rồi nhắc nhở:

- Hôm nay có một đoàn xe của ta khoảng trăm chiếc qua ngã ba. Thời gian có thể từ 9 đến 10 giờ, chúng ta phải bảo vệ an toàn cho đoàn xe!...

Đồng chí khẩu đội trưởng, nói với tôi:

- Anh nhà báo! Khi anh em chiến đấu với địch, thì anh phải vào căn hầm chữ A ở chồ kia, cứ ở trong ấy đến khi ngừng bắn mới được ra! Vừa nói, đồng chí ấy vừa chỉ tay về phía cửa hầm.

Tôi ngỏ ý muốn ở lại xem chiến đấu như thế nào, thì đồng chí ấy kiên quyết:

- Không được! cấp trên đã chỉ thị cho chúng tôi phải bảo đảm an toàn cho anh!

Lúc ấy vào khoảng 8 rưỡi hay 9 giờ tối. Xung quanh màn đêm đen như mực! Tôi hiểu người khẩu đội trưởng chỉ làm theo lệnh trên, nên cũng không nằn nì thêm. Bất chợt, một đốm pháo sáng nở bung trên khoảng trời trước mặt, rồi tiếng máy bay xéo qua đầu. Đồng chí khẩu đội trưởng ra lệnh tất cả về vị trí sẵn sàng chờ lệnh. Nói "tất cả về vị trí", thực ra trên pháo chỉ cần 3 người: số 1, số 2 và số 5. Nhưng lúc ấy lại thiếu pháo thủ, vì đồng chí số 1 đang đau bụng phải nằm lại trong hầm! Đồng chí khẩu đội trưởng phân trần:

- Đánh nhau kiểu này như hai thằng mù đánh nhau vậy! Thiếu pháo thủ số 1, cứ quay tầm đặt sẵn mà bắn!

Khi đồng chí khẩu đội trưởng chuẩn bị di chuyển từ ghế số 2 - vị trí đạp cò sang ghế số 1 để đặt tầm nòng pháo, tôi đề nghị:

- Nếu chỉ quay tầm thì đồng chí để tôi giúp, ngày trước tôi là khẩu đội trưởng pháo 57 ly và cũng đã đi chiến đấu bảo vệ yếu địa mấy năm!

Đồng chí khẩu đội trưởng hơi do dự, nhưng cuối cùng cũng đồng ý:

- Vậy cũng được, nhưng anh nhớ khi bắn xong một loạt phải xuống pháo và vào ngay trong hầm! Anh đã nhìn thấy cửa hầm chưa?

Tôi nhảy ngay lên ghế pháo một cách thành thạo, quen như lên mâm pháo 57 ly ngày trước, rồi vừa ngồi trên ghế pháo, vừa tán chuyện với hai đông đội:

- Đánh nhau kiểu này có khi nào bắn rơi máy bay không?

Đồng chí khẩu đội trưởng cười:

- Thằng Mỹ cũng không nhìn thấy gì, chi đánh theo "toạ độ", khi nào thấy đạn của ta bắn lên ở đâu thì quăng bừa bom xuống đó. Chúng ta cũng không nhìn thấy gì, vậy nên chỉ tung đạn lên trời để cản và doạ chúng thôi, như ngày còn nhỏ chúng ta dùng súng cao su bắn sua con quạ để bảo vệ đàn gà con ấy! Thế nhưng thấy có đạn bay lên trời, bọn "mẽo" cũng sợ, chỉ vội vàng trút bom lung tung cho nhẹ rồi chuồn.

Tôi tò mò:

- Như thế bọn mình vẫn gọi là bắn dựng màn đạn hay bắn rải, đúng không? Thế còn pháo sáng của chúng thì sao?

Đồng chí pháo thủ số 5 từ nãy im lặng, nói chen vào:

- Nó bay nhanh thế, lại trong hoảng sợ, đến ban ngày nhìn còn chẳng rõ nữa là... Ờ mà pháo sáng có dù và cái ống đẹp lắm, anh ở đây lâu lâu, thế nào chúng em cũng tìm được cho anh một ống pháo sáng, có cả dù để có thể làm khăn quàng cổ hoặc làm khăn tặng "người yêu"! Cái pháo sáng kia - vừa nói đồng chí số 5 vừa chỉ lên trước mặt - sẽ rơi cách mình có khi chỉ độ non nửa cây số thôi...


Đồng chí số 5 nói chưa hết câu, thì phía trước mặt khẩu đội, một chùm đạn lửa đã lao vút lên trời. Tiếp sau đó là "màn đạn" của các đơn vị bảo vệ trọng điểm cũng liên tiếp dựng lên. Rồi những tiếng nổ gần, xa, to, nhỏ nối nhau vang lên đinh tai, nhức óc. Vào cuộc chiến đấu rồi! Đồng chí khẩu đội trưởng hét lên dõng dạc:

- Nạp đạn! Nòng pháo lên cao hơn một chút! Chuẩn bị, bắn!

Chiếc ghế tôi ngồi rung lên, cả khẩu pháo 37ly cũng rung lên. Nòng pháo khạc một luồng đạn đỏ rực lên bầu trời chớp nhoang nhoang, góp vào màn đạn của cụm hoả lực. Tôi có cảm giác như đang được chơi trò bắn pháo hoa! Bỗng "rẹt" một tiếng, kéo theo tiếng rít chói tai. Cùng với tiếng rít chát chúa tưởng như ngay trên đầu của động cơ phản lực, là những tiếng nổ liên tiếp rung lên ở phía trên sườn đồi bên phải chỗ tôi ngồi. Đất, đá và mảnh đạn văng rào rào, văng cả vào mâm pháo, nòng pháo. Khẩu pháo ngưng nhả đạn, khiến tôi chợt nghĩ có khi hai đồng chí pháo thủ đã bị thương vong? Còn tôi vẫn đang ngồi chễm trệ trên ghế pháo! Dứt loạt bom, đồng chí khẩu đội trưởng huỳnh huỵch chạy từ hầm trú ẩn ra, hớt hải hỏi:

- Nhà báo! Anh nhà báo đâu rồi?

Tôi đáp:

- Tôi vẫn ngồi đây!

- Anh có làm sao không?

- Tôi không làm sao cả!? Tôi thản nhiên nói.

Đồng chí khẩu đội trưởng sờ vào người tôi từ đầu tới chân, khi biết chắc tôi bình an vô sự, mới nói bằng giọng gần như xin lỗi:

- Chúng em vào hầm nhưng không kịp gọi anh! Đánh địch ở đây không giống như đánh bảo vệ yếu địa, nghĩa là bắn xong điểm xạ, khi nghe thấy tiếng máy bay địch bổ nhào là phải vào ngay hầm trú ẩn để bảo toàn lực lượng! Cứ ngồi lì trên mâm pháo như anh vừa rồi, nguy hiểm lắm!...

Được giải thích, tôi mới ngớ người ra, nghĩ lại thấy mình thật ngớ ngẩn! Tôi cười, biện minh cho sự ngớ ngẩn của mình: "Ừ, lính mới chưa biết, xin nhận khuyết điểm, lần sau xin sửa chữa!". Nói như vậy nhưng tôi thật sự hú vía. Nếu trái bom "mù" kia chỉ đi chệch mươi mét vào trúng hầm pháo thì một mảnh áo của tôi cũng chưa chắc đã còn được nguyên vẹn, và có khi còn bị Toà soạn thi hành kỷ luật về tội tự do! Lúc ấy Khẩu đội 4 Tô Vĩnh Diện chắc cũng không tránh khỏi bị liên lụy...


Hôm sau, anh em trong khẩu đội giữ đúng lời hứa, đi tìm kỷ niệm cho tôi một ống pháo sáng và một chiếc dù pháo sáng trắng tinh. Sau đó còn tổ chức một bữa "liên hoan đặc biệt", có thịt hộp và một nồi canh rau "bồng bông" để tiễn tôi trở lại trung đoàn bộ.    Ngày nay, nhớ lại tình huống của trận đánh tôi vừa thấy tự hào trong đời ít nhất cũng đã được một lần nếm kiểu đánh đêm bảo vệ giao thông với Trung đoàn Tô Vĩnh Diện Anh hùng.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:32:11 pm
MỘT CHUYẾN ĐI NHIỀU KỶ NIỆM VUI, BUỒN...


Nguyễn Xuân Át


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã quyết định lấy Quảng Trị là đòn tấn công chủ yéu trong chiến dịch Trị - Thiên vào đầu năm 1972.


Cuối tháng 11 năm 1971, một số đơn vị của quân chủng lần lượt hành quân đi chiến dịch. Phòng Tuyên huấn cũng có những bộ phận được lệnh đi công tác dài ngày vào chiến trường. Bộ phận đi trước vào tiền phương của Cục Chính trị có các anh Đỗ Viết Thông - phó phòng, Thái Đình Đương, Lê Phúc (thường gọi là Phúc tây) - trợ lý giáo dục, Phạm Thành Thiểu - trợ lý tuyên truyền. Tốp này hành quân bằng chiếc xe điện ảnh của phòng vào tới Quảng Bình. Tiếp theo là tổ viết gương có Thao Trường, Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ; tổ phóng viên Báo PK-KQ có Việt Hiển, Phùng Đắc Tư, Lê Minh Huệ, Vũ Đình Long; nhạc sỹ Hoàng Tạo và hoạ sỹ Đặng Chung. Bộ phận đi sau vào thẳng Sư đoàn bộ 367 có Nguyễn Quang Ý quay phim, Dương Đình Giác nhân viên bảo tàng đi thu thập hiện vật và tôi là Xuân Át "phó nháy". Cùng vào chiến trường lần này còn có một mũi xung kích của Đoàn Văn công Quân chủng nữa. Như vậy quân số của Phòng Tuyên huấn đi chiến địch gồm một lực lượng khá đông đảo và gần đủ các thành phần tham gia.


Mọi trang bị cho cá nhân được cấp phát theo tiêu chuẩn đi B. Riêng tôi là nhóm trưởng nên được trang bị 1 súng ngắn K54 và 1 chiếc đài ORIONTON mà anh em thường gọi là cái "hòm thợ cạo" để nghe tin tức. Những anh em khác mỗi người 1 tiểu liên AK. Về nghiệp vụ, tôi mang theo 2 chiếc máy ảnh, 1 chiếc EXAKTA của Đức và 1 chiếc ROLEIFLEX của Pháp, về phim thì mang theo 2 hộp NP.55, mỗi hộp dài hơn 30m và thuốc tráng phim có thể pha được hơn 10 lít cùng những dụng cụ cần thiết để có thể làm buồng tối cơ động.


Chưa lần nào đi công tác tôi lại thấy hồi hộp và náo nức như lần này. Không khí đi chiến trường cứ như đi trẩy hội ấy. Hôm gặp "cụ" Mậu - Phó chính uỷ quân chủng, "cụ" động viên: "Lần này cậu phải đi, chụp cho nhiều ảnh tốt vào đấy. Đây là dịp làm ăn lớn đấy, thời cơ của cậu đấy, cố gắng nhé".


Hôm lên đường, Cục đã ưu ái cho nhóm chúng tôi 1 chiếc com-măng-ca đít vuông do anh Lưu lái để chở chúng tôi đi. Vào tới Sư đoàn bộ 367 ở Quảng Bình, thì cho xe về.

Tại đây, chúng tôi chia nhau đi các mũi. Tôi và Giác xuống Tiểu đoàn 105 của Trung đoàn 280; Ý xuống một đơn vị của Trung đoàn 241. Từ Sư đoàn bộ 367, chúng tôi đi đường 16 qua trọng điểm Chà Lỳ, nơi được mệnh danh là "túi bom đạn" của địch, men theo phía Tây Quảng Bình qua Lào theo bờ sông Ba Lòng để xuống Quảng Trị, bí mật ém sát vào chân cao điểm Động Toàn. Khi xuống Tiểu đoàn 105, đến sân bay Tà Cơn tôi đã chớp thời cơ chụp một kiểu ảnh chiếc trực thăng UH-1 bị bắn rơi. Tới các trận địa pháo cao xạ 37 ly, 57 ly của Trung đoàn 280 bố trí trên các đồi gianh để bảo vệ các mũi tấn công của Sư đoàn bộ binh 304 ở căn cứ Mai Lộc và trận địa pháo mặt dất ở Động Toàn, tôi đã chụp được một số hình ảnh sinh hoạt và sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị đó.


Đối với người cầm máy ghi được những hình ảnh ở chiến trường là rất quý, thậm chí vô giá, nhất là những bức ảnh về chiến đấu binh chủng hợp thành. Đây là lý tưởng nghề nghiệp đối với tôi, nhưng chưa có thời cơ để thể hiện được nhiều.


Tôi đã chụp được tấm ảnh quân ta đánh Đồng Lâm. Tôi đi từ La Vang ra ngã 3 làng Nút, lên trận địa trực chiến của Tiểu đoàn 105 khoảng 9-10 giờ sáng, trời nắng chang chang, một chiếc OV-10 bay tới lượn một vòng rồi cút thẳng. Một lúc sau, máy bay địch liên tục đến ném bom, may mà tôi an toàn, chỉ bị ướt chiếc máy ảnh. Khi hành quân vào Đồng Lâm cùng một đại đội của Trung đoàn 241 vượt sông Mỹ Chánh, gần sáng đừng lại đào hầm. Sáng ra địch đến rải bom bi, tôi cùng với anh Đặng Quang Nhẽ - Chính trị viên đại đội và một cậu y tá nằm chung một hầm, tôi nằm giữa thì không việc gì, 2 người nằm bên thì bị thương.


Kể từ khi địch nống ra tái chiếm Quảng Trị thì suốt ngày đêm không lúc nào ngót tiếng súng. Đứng trên cao điểm 105 nhìn về hướng Quảng Trị thấy rõ hàng đàn trực thăng nối đuôi nhau tới đổ quân cùng tiếng súng nổ liên hồi, càng hình dung được cuộc chiến đang diễn ra hết sức ác liệt. Tôi ước giá như lúc này mình có mặt ở đó để bấm vài pô thì hay biết mấy.


Trong thời gian công tác ở chiến trường, tôi thường đi hết đơn vị này đến đơn vị khác. Có lần hôm trước vừa tới chụp ảnh khẩu đội đồng chí Dung của Trung đoàn 280 ở đầu cầu Quảng Trị thì hôm sau đã nghe tin khẩu đội này đã hy sinh vì bị máy bay ném bom không còn nữa.


Đầu tháng 8 năm 1972, bộ phận chúng tôi gồm có Xuân Át, Nguyễn Quang Ý, Dương Đình Giác, Đặng Chung và anh Tiêu, trợ lý chính sách của Phòng Tổ chức được lệnh ra Bắc, về quân chủng.

Nhóm chúng tôi đi từ tiền phương của mặt trận B.5 ra. Đen gần 12 giờ trưa hôm đó thì dừng chân nghỉ lại ở đội 8, nông trường Quyết Thắng, Quảng Bình. Nơi đây không có dân, chỉ có một chiếc lán ở giữa rừng cây cối rậm rạp, trước đó là nơi sửa chữa xe tăng của mặt trận. Sau khi cơm trưa xong, anh em mắc võng nghỉ lại trong lán. Dây võng được buộc vào các cột của lán quây vào nhau. Thoạt tiên tôi nằm ở rìa ngoài, không hiểu sao tự nhièn tôi lại đổi chỗ, không nằm ở ngoài nữa mà quay đây võng mắc vào giữa. Anh Ý thấy vậy lại tháo võng của mình để mắc thế vào chỗ của tôi ở rìa lán. Ý còn cười và nói đùa có vẻ khoái trá: "Thằng Át dại! Tao nằm đây, có động chỉ việc lăn một cái là xuống hào" (chẳng là ở chỗ đó có một đoạn hào ngay dưới chỗ mắc võng). Thế là tự nhiên hình thành một đội hình tôi nằm giữa, 4 người nằm xung quanh.


Khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi vừa chợp mắt được một tí thì giật mình tỉnh giấc nghe thấy từng loạt tiếng nổ xa, rồi gần, rồi xa dần. Chiếc lán đổ sập và trc lá bay tơi tả. Mảnh bom bay chiu chít như đạn bắn thẳng. Sau khi ngớt tiếng bom, tôi kêu to: "Anh em ơi! có ai việc gì không?". Người đầu tiên lên tiếng là Dương Đình Giác: "Em bị rồi!". Giác giơ tay lên, máu chảy ròng ròng ướt cả áo. Tiếp đến là Đặng Chung, máu me đầy mặt, đang lấy tay vuốt. Anh Tiêu thì vỡ toang cả mảng bụng dưới, bất tỉnh nhân sự, đang thở hắt ra. Ý thì vẫn như người ngủ say, không cựa quậy, quần vẫn xắn móng lợn, người còn nóng hổi, có vết thủng ở thái dương. Tôi tự sờ khắp người mình để kiểm tra xem có việc gì không? May quá, toàn cơ thể vẫn nguyên vẹn, duy chỉ có khẩu K54 bị mảnh bom làm quằn cả nòng. Như vậy là tổ có 5 người thì 2 hy sinh, 2 bị thương, chỉ còn mỗi một mình tôi là không việc gì.


Thu xếp đồ đạc của anh em lại một chỗ, tôi lấy máy ảnh ra chụp hiện trường và thi hài 2 anh Tiêu, Ý. Khi xe cấp cứu và người của đơn vị tới tổ chức chôn cất tử sỹ và đưa Đặng Chung, Dương Đình Giác đến trạm chuyển thương số 10 của mặt trận thì tôi cũng đi theo rồi sau đó quay về chỗ cũ để vẽ sơ đồ mộ chí. Rất tiếc là những phim chụp ở đây nay đã bị thất lạc.


Đêm hôm ấy, tôi vẫn ở lại một mình giữa rừng vì còn phải trông đồ đạc cho anh em. Cả đêm thao thức không ngủ được, chỉ mong trời chóng sáng. Người mệt mỏi, bàng hoàng mà không thấy đói.

Sáng hôm sau, đồng chí Xuân, trợ lý Phòng Bảo vệ ở tiền phương cùng một đồng chí nữa xuống để nắm tình hình và mang đồ đạc của anh em về. Tôi cũng theo các anh về Sở chỉ huy tiền phương. Nghỉ lại đây một tuần thì nhóm chúng tôi gồm 3 người là Thao Trường, Dương Duy Ngữ và tôi theo đường giao liên ra Bắc và về nghỉ ở trạm cuối cùng ở Ngọc Hồi, Thường Tín, Hà Tây. Lúc này khoảng tháng 9, tháng 10 năm 1972 gì đó (tôi không nhớ rõ).


Về đến đơn vị mới biết, ai cũng ngỡ bọn tôi hy sinh cả rồi. Khi gặp chị Tuyết, vợ anh Diễm là trợ lý bảo tàng quân đội ở giữa đường phố Thủ đô, chị ngạc nhiên: "Ơ! Anh Át, tưởng hy sinh rồi cơ mà!". Chẳng là anh Diễm ở mặt trận ra hôm trước thì hôm sau tôi ra. Anh Diễm về nhà có nói với vợ: "Có lẽ Xuân Át hy sinh rồi!". Quả thật cái số của tôi cũng may mắn, đã 2 lần bom đạn Mỹ thấy tôi phải tránh.


Chuyến công tác này tôi chụp được một số ảnh được các anh ở Cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Quân chủng biểu dương. Chính uỷ Hoàng Phương chỉ thị trực tiếp cho tôi làm ảnh để báo cáo kết quả chuyến đi. Anh Văn Giang, Chính uỷ sư đoàn Phòng không Hà Nội thì nói: "Tớ đã xem ảnh rồi, thấy phục các cậu quá, ảnh đẹp lắm!". Và cũng từ kết quả của chuyến đi này, tôi đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, một phần thưởng vô cùng quý giá trong đời cầm máy ảnh của tôi.


Khoảng cuối năm 1991 (sau 19 năm) theo nguyện vọng của gia đình anh Ý, mà đại diện là anh Khanh, chị Dung, các em ruột của anh có gặp tôi và anh Lê Phương, nguyên là Phó Phòng tuyên huấn Quân chủng Phòng không lúc đó đã nghỉ hưu, nói nguyện vọng của bố mẹ anh trước khi chết làm sao đưa được hài cốt của anh về nghĩa trang Hà Nội. Chúng tôi đã hướng dẫn cho gia đình làm đơn rồi đưa vào trình bày trực tiếp với Cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Phòng không, được các anh đón tiếp niềm nở, hết sức ủng hộ. Quân chủng mà trực tiếp là anh Nguyễn Văn Phiệt đã cho một xe con do anh Nguyễn Quý Lưu lái và cử một trợ lý chính sách đi cùng, về phía gia đình có đại diện của họ tộc, em trai và con trai lớn anh Ý. Tôi cùng đi trong chuyến này.


Đoàn chúng tôi đi từ Hà Nội vào thẳng nông trường Quyết Thắng. Tới đây được biết hài cốt đã được đưa về nơi quy tập. Tới nơi quy tập thì lại được biết đã đưa về nghĩa trang Hồ Xá, Vĩnh Linh.

Sau khi làm việc với các cơ quan hữu trách ở địa phương, các thủ tục hành chính được hoàn tất nhanh chóng, thuận lợi. Hài cốt anh Ý đã được đưa về Nghĩa trang liệt sỹ của Hà Nội ở Tây Tựu. Qua đưa hài cốt liệt sỹ Ý lần này cũng được biết thêm là hài cốt liệt sỹ Tiêu cũng đã được quy tập về Yên Thành, Nghệ An quê hương anh. Hằng năm, tôi và Dương Đình Giác có điều kiện đều đến nghĩa trang thắp hương để tưởng nhớ đến người bạn, người đồng chí đã hy sinh trong chiến tranh.


Năm 2005, tôi có dịp thăm lại chiến trường Quảng Trị. Tôi có làm 1 tập ảnh ghi lại những hình ảnh ngổn ngang của chiến trường ngày đó, hoạt động của các đơn vị và chiến thắng của quân dân Quảng Trị... để tặng cho Bảo tàng Quảng Trị.


Tới nay đã hơn ba chục năm, chiến tranh đã lùi xa. Nhưng những hình ảnh sinh động của chuyến đi đầy kỷ niệm mà tôi đã vinh dự và may mắn được có mặt ở nơi nóng bỏng nhất khiến tôi luôn cảm thấy tự hào và nhớ mãi.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Một, 2022, 07:35:15 pm
KỶ NIỆM TRƯỜNG SƠN


Diệu Ân


Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đoàn văn công Phòng không - Không quân, tôi có may mắn được gặp nhạc sĩ Đàm Giai là nhạc trưởng, kể lại kỉ niệm chuyến đi phục vụ ở Trường Sơn của Đoàn.

Tôi rất cảm động ghi lại được những câu chuyện vô cùng sâu sắc đầy chất anh hùng ca của những người nghệ sĩ chiến sĩ nơi tuyến lửa ấy.

Năm 1972, bọn Mỹ tập trung đánh phá, dùng bom B-52 rải thảm tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn.

Nhiệm vụ của Đoàn văn công Phòng không - Không quân phải chia làm nhiều mũi xung kích bám sát trận địa, phục vụ bộ đội.

Nhạc trưởng Đàm Giai được phân công phụ trách một đội văn nghệ xung kích vào tuyến lửa.

Đội đi gồm có 15 người. Đồng chí Việt Cán, đội trưởng đội hát Phó bí thư chi bộ làm đội phó.

Nhóm nhạc có: Đàm Giai, Xuân Long, Phạm Hùng, Anh Công. Nhóm ca có: Việt Cán, Bùi Bình Thiết, Minh Vượng, Ngọc Lan. Múa có: Ảnh Tuyết, Bích Ngọc, Hoàng Yến. Một số đồng chí hậu cần.

Đội xung kích của Đàm Giai được phân công đi vào tuyến đường 20 Quyết Thắng.

Đến cuối tỉnh Quảng Bình, đội bắt đầu hành quân bộ, phải vượt qua những trọng điểm ác liệt nổi tiếng ở Trường Sơn như: dốc "Đứng Tim", đèo Phu-La-nhích, ngầm Tà-lê, dốc "Ba thang"...

Các văn nghệ sĩ quyết tâm, vượt qua mọi hy sinh gian khổ vì đồng bào miền Nam ruột thịt, đi đến bất cứ đơn vị nào có yêu cầu phục vụ. Đội vừa hành quân vừa biểu diễn. Các đơn vị pháo cao xạ được bố trí dọc đường Trường Sơn, nên đội cũng phải hành quân theo tuyến đường đó.


Khi đội gần đến một đơn vị pháo ở đèo Phu-la-nhích, bỗng nghe thấy tiếng bộ đội reo: "Văn công đến!". Tiếng reo đập vào vách đá vang vọng như báo động cho cả núi rừng Trường Sơn: "Văn công đến... đến!... đến... Lại có tiếng bộ đội hỏi:

- Có nữ văn công không?

- Có !

- Mấy người?

- Bốn người!

Cả đội lên đến đơn vị, mọi người đều tay bắt mặt mừng.

Hôm đó, đơn vị đón văn công vui như Tết. Các chiến sĩ tranh thủ "tân trang", giở quần áo mới nhất ra mặc, cắt tóc cho nhau gọn gàng. Chưa cần nghe văn công hát, chỉ cần nhìn thấy văn công đến, đã động viên chiến sĩ nhiều lắm rồi.


Chương trình biểu diễn tổ chức giữa ban ngày ngay trước cửa hang. Sân khấu là một bãi đất đá lổn nhổn, được bộ đội rải lá lên. Tiếng đàn, tiếng hát cất lên "át tiếng bom". Nghệ sĩ và chiến sĩ đều cùng nhau hát.

- "Tiếng dàn Ta-lư".

- "Đưa em đi hái măng rừng".

- "Tên lửa về bên Sông Đà".

- "Pháo thủ Hàm Rồng"...

Tiếng hát, tiếng đàn vang động núi rừng, vang động Trường Sơn. Có tiếng hát giúp người pháo thủ vững vàng bên pháo bảo vệ tuyến đường, sẵn sàng quật ngã mọi "Thần Sấm", "Con ma".

Những nghệ sĩ mang hết tài nghệ và tình yêu chiến sĩ để dâng hiến cho đồng đội một ý chí sắt đá quyết tâm bảo vệ cung đường, quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong những giờ phút "thăng hoa" ấy, đâu có ai sợ hy sinh, ngại gian khổ. Vâng! Phải cám ơn các nghệ sĩ đã đem những nơi gian khổ, ác liệt nhất động viên kịp thời nhất, để cổ vũ tinh thần người chiến sĩ giữa nơi phải cọ xát giữa sự sống và cái chết.


Hôm sau, đội văn công đang hành quân sang phía bên kia đèo Phu-la-nhich, thì máy bay B-52 đến rải thảm. Minh Vượng nghe tiếng máy bay đã vội ôm lấy thân cây, mếu máo: "Mẹ ơi!". Có tiếng hô của đội trưởng Đàm Giai: "Các đồng chí chạy nhanh tìm nơi ẩn nấp! Xuân Long dìu Minh Vượng..."


Cả đội vội tản ra bìa rừng tìm nơi trú ẩn. Rất may đợt bom B-52 đó không ai việc gì.

Khi đội đến biểu diễn cho một đơn vị pháo ở ngầm Tà-Lê, cũng có nhiều kỷ niệm. Ở Tà-Lê hầu hết biểu diễn trong hang đá. Đa số cũng biểu diễn ban ngày. Ở đây khi đội đang chuẩn bị hành quân qua suối, lại bị "dính B-52". Vừa nghe tiếng máy bay, Đàm Giai đã hô to:

- Chạy về hang!

Cả đội chạy ngược vào hang, một số nữ diễn viên bị ngã, Đàm Giai phải dìu các chị vào hang. Cũng may cả đội không ai bị thương, nhưng cả cánh rừng bị tàn phá tan hoang.

Vốn là một chiến sĩ công binh từ thời chống Pháp (1952) nên Đàm Giai rất có kinh nghiệm dẫn quân đi trong những con đường hiểm trở nơi rừng sâu.

Cũng có một lần vượt suối, Đàm Giai tổ chức đóng bè chuối để phụ nữ và những người không biết bơi bám vào bè, cử hai người bơi sang trước kéo bè sang.

Sau gần hai tháng biểu diễn, đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được điều động trở ra Hà Nội.

Khi ra, đội không đi theo đường lớn mà đi đường chiến lược của bộ binh. Đàm Giai và một số diễn viên nam chuẩn bị mỗi người một cây sào dài 5 mét, để chọc mìn vướng. Một hôm, đội đang hành quân, khoảng chiều tối bỗng gặp một chiếc ô tô tải đỗ bên đường. Xe không chở hàng, Dàm Giai gặng hỏi người lái xe:

- Ông đi đâu?

- Em ra Bắc!

- Cho chúng tớ về cùng với?

- Nhưng!...

- Không sao, chết lúc nào chả thế, nếu như chúng tớ chết, cậu cũng chết không có ai phải chịu trách nhiệm cả!

 - Vậy, các anh dám đi ban ngày không?

- Đi luôn!

Đêm đó, cả đội biểu diễn phục vụ cho đồng chí lái xe, ai cũng mừng vì không phải đi bộ.

Khi xe đi ban ngày, không hiểu sao chẳng ai sợ B-52 nữa, có lẽ vì nghĩ rằng sắp về đến Hà Nội sẽ gặp lại người thân, lòng tràn đầy hy vọng.

Về đến binh trạm, cả đội lại xuống đi bộ. Chao ơi! Phong lan Trường Sơn đẹp biết bao, mỗi nghệ sĩ mang theo một dò phong lan về Hà Nội làm kỷ niệm chuyến đi Trường Sơn đầy những thử thách, nhưng vô cùng vinh quang.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:02:05 pm
CHUYẾN ĐI B CUỐI CÙNG VÀ
NHỮNG NGÀY GIẢI PHÓNG ĐẦU TIÊN


(Ghi theo lời kể cùa các hoạ sĩ Phòng không - Không quân: Nguyễn Đức Thọ, Phan Tuấn Tài, Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Xuân Thành và Vũ Huyên)
Thạch Kao
Hoạ sĩ: Nguyễn Đức Thọ


Sau chiến thắng của chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", Hiệp định Pa-ri được ký kết, chấm dứt hơn 8 năm ném bom đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Quân chủng Phòng không - Không quân chuyển sang chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu như trước khi có chiến tranh phá hoại. Hà Nội trở lại thanh bình. Có lẽ vì thế, công việc của anh em tổ vẽ chúng tôi thấy thư thả hơn. Tuy nhiên, hàng ngày tin chiến thắng ở miền Nam vẫn chiếm đầy trang nhất trên các báo. Còn ban đêm, tiếng loa phóng thanh theo gió đưa về những tin chiến sự nóng hổi. Ngay bên ngoài tường doanh trại của Cục Chính trị là một đoạn đường xe lửa cụt có bệ dốc lên xuống, là nơi tập kết lên tầu của các loại vũ khí hạng nặng đưa vào mặt trận. Gần như đêm nào cũng ầm ầm không ngớt cho tới tận khuya. Tiếng động cơ xe và tiếng búa chan chát đóng dây chằng cố định cho các loại xe tăng, pháo phủ bạt kín mít lên đường. Là người lính, chúng tôi luôn luôn cảm thấy rất rõ hơi thở của chiến tranh, như vẫn rất gần đâu đó.


Một ngày cuối tháng 3 năm 1975. Chúng tôi đang ngồi cắt chữ khẩu hiệu trang trí hội trường, thì Chính uỷ quân chủng Hoàng Phương đi ngang qua ghé vào. Thấy đám lính văn nghệ có vẻ nhàn rỗi, ông tỏ ra ngạc nhiên, hỏi: "Các cậu đang làm gì thế này?". Chúng tôi chưa kịp đáp, ông đã nói tiếp luôn: "Thế các cậu không nghe tin khắp nơi người la đang ầm ầm sôi sục lên về Tổng tiến công hay sao?". Không cần đợi chúng tôi trả lời và có lẽ ông cũng đã quá hiểu lính của mình, ông nói với chúng tôi mà như tự nói với bản thân: "Thôi được rồi, để tớ trao đổi với Phòng Tuyên huấn!". Vậy là chỉ mấy hôm sau, ngày 27 tháng 3, anh Lê Miên - Trưởng phòng, gọi chúng tôi lên thông báo quyết định của Cục Chính trị: Tổ chức Đoàn văn nghệ sĩ của quân chủng vào chiến trường. Anh giao nhiệm vụ cụ thể cho tôi, anh Đặng Chung và anh Phan Tuấn Tài lên đường cùng với các anh ở Báo Phòng không - Không quân, Tổ sáng tác của Đoàn văn công quân chủng. Chúng tôi được cấp phát trang bị đi B gồm có tăng, võng dù, ca-men, gạo, thịt hộp, lương khô... Tôi và anh Đặng Chung vì đã là chuẩn uý, nên được trang bị súng ngắn K54. Riêng anh Tài mới là trung sĩ, chỉ được phát một con dao găm Liên Xô to bản. Thật ra đây đâu phải lần đầu tiên chúng tôi đi chiến trường. Nhưng riêng lần này, cầm trong tay những trang bị còn mới mà biết bao lớp cán bộ, chiến sĩ đã lừng nhận trước lúc lên đường, lòng tôi không chỉ thấy xôn xao, vừa hồi hộp lại vừa náo nức... Tôi có linh cảm một điều gì thật thiêng liêng, nghĩ rằng đây sẽ là một chuyến đi B có một không hai, mình thật may mắn và vinh dự được tham gia vào trận Tổng tiến công cuối cùng này.


Sáng Chủ nhật 30 tháng 3, sau khi tập trung nghe thủ trưởng Cục Chính trị động viên và giao nhiệm vụ, đúng 8 giờ, chúng tôi leo lên chiếc xe tải Gát 63 không mui hăm hở lên đường. Xe chúng tôi đi lẫn với các đoàn xe chở đầy bộ đội và vũ khí, cũng đang ầm ầm tiến vào phía Nam. Xe chạy liên tục cả ngày, đến tối mới dừng nghỉ, tự nấu ăn và nắm cơm để hôm sau ăn. 12 giờ trưa ngày 3 tháng 4, chúng tôi đến Huế, rồi đi tiếp và gặp Sở chỉ huy tiền phương của quân chủng ở sân bay Đà Nẵng. Trên vùng trời Đà Nẵng, thỉnh thoảng tôi lại nhìn thấy những chiếc máy bay A-37 (loại máy bay ném bom hạng nhẹ của Mỹ trang bị cho quân ngụy Sài Gòn) bay lượn vòng vèo. Tôi có phần cảm thấy khó hiểu vì không biết tại sao lại không thấy hoả lực phòng không nổ súng, cũng không thấy "bọn" A-37 này có bất cứ hành động tấn công hay khiêu khích nào. (Sau này tôi mới biết đó là các chuyến bay tập của không quân ta trên các máy bay chiếm được của địch để chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng giải phóng Sài Gòn). Theo nhịp tiến công thần tốc của quân ta, chúng tôi phải di chuyển liên tục theo Sở chỉ huy tiền phương vào sân bay Nha Trang, rồi sân bay Thành Sơn ở Phan Rang.


Tại Phan Rang, một ngày sau khi Phi đội Quyết Thắng xuất kích đi ném bom sân bay Tân Sơn Nhất thắng lợi trở về, tôi lên gặp anh Trần Hanh, chỉ huy Không quân xin phép vẽ Nguyễn Thành Trung, trung úy lái máy bay quân đội Sài Gòn nhưng là người của ta cài vào, đã dẫn đường cho Phi đội Quyết Thắng. Lúc này tôi hoàn toàn chưa biết gì về lai lịch và những hoạt động của Nguyễn Thành Trung, mà chỉ hiểu đơn giản là mình đang đứng trước một sĩ quan không quân ngụy phản chiến, nên vẫn giữ một khoảng cách, chỉ nói chuyện hỏi thăm khách sáo. Về phần Nguyễn Thành Trung có lẽ cũng vậy. Anh nói năng nhỏ nhẹ, cỏ phần ít lời. Anh mặc trang phục người lái của ta, có đeo băng "Không quân nhân dân Việt Nam" chữ vàng trên nền đỏ ở cánh tay, còn chiếc mũ phi công thì vẫn phải dùng loại mũ của Mỹ trang bị cho người lái máy bay A-37. Nhưng đã được các phi công của ta lấy bút dạ màu, tự tay vẽ thêm vào lá cờ xanh đỏ sao vàng của Mặt trận dân tộc giải phỏng. Chắc đây là lần đầu tiên tiếp xúc với một hoạ sĩ QĐNDVN, nên khi tôi vẽ xong, anh Trung không ngớt trầm trồ: "Các anh bộ đội miền Bắc tài giỏi thiệt". (Bức ký hoạ này hiện được lưu giữ ở Bảo tàng LLVT miền Đông Nam Bộ).


11 giờ ngày 30 tháng 4, chúng tôi đang ăn cơm với một loại rau rất lạ (sau này mới biết là bắp cải Đà Lạt), thì thấy đích thân Tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri chạy ào vào và nhẩy cẫng như trẻ con báo tin ta đã giải phóng Sài Gòn. Các anh Tài, Chung cùng với mấy anh bên Báo, Văn công... tách ra đi theo đường bộ để vào Sài Gòn. Còn tôi ở lại đi với Bộ tư lệnh tiền phương của quân chủng. Ngày hôm sau, tôi đi theo anh Trần Hanh trên một chiếc máy bay lên thẳng MI-6 chở đầy cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng và các phóng viên TTXVN vào sân bay Tân Sơn Nhất. Từ trên máy bay nhìn xuống, tôi thấy sân bay rất rộng. Máy bay chúng tôi bay đến đâu, mặt đất lại chạy theo đến đấy, hò reo ầm ĩ. Máy bay vừa chạm đất, anh em đã chạy ùa lại công kênh các phi công lên vai, vừa nắc nỏm khen máy bay ta sao to thế, vừa hỏi thăm tíu tít: "Máy bay của ta hả anh?", mà chẳng cần nghe trả lời. Chẳng biết ai đã giúi vào tay tôi một lon bia (đây cũng là lần đầu tiên tôi biết mặt một lon bia!). Nhìn những khuôn mặt hớn hở của các đồng chí bộ binh lấm lem và nhễ nhại mồ hôi, tôi thực sự xúc động và hiểu được niềm vui khôn tả của anh em. Bao nhiêu năm nay ở chiến trường, họ đã bị máy bay địch uy hiếp, đánh phá, nay được sờ tận tay máy bay của mình, người lái của mình. Một chiến sĩ bộ binh rất trẻ, tâm sự với tôi như người thân thiết: "Chiều hôm kia, ngày 28, em trai em hy sinh ở cổng sân bay này. Nhưng đấy là chuyện riêng, không sao, bây giờ thắng lợi rồi, anh em chúng ta được sống đến giờ phút này là hạnh phúc lắm rồi, sung sướng lắm rồi... Phải không anh?".


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:02:36 pm
Anh Dũng, trợ lý Bảo tàng, nhặt được một hộp sơn dầu, sơn dầu Anh quốc chính gốc hẳn hoi, đem tặng cho tôi. Tôi cũng tìm được một số sách nghệ thuật trong thư viện của quân đội ngụy và báo cáo với cấp trên để được phép giữ và mang ra Bắc. Đó là những chiến lợi phẩm đáng kể nhất mà tôi có được. Tôi tìm gặp anh Quốc Hanh, thủ trưởng Phòng Tuyên huấn tiền phương, xin phép ra vẽ đường phố Sài Gòn. Vì là vùng mới giải phóng, nên khi đi trên đường phố, chúng tôi phải rất cảnh giác, mắt luôn luôn nhìn trước, nhìn sau. Một đôi có vẻ là vợ chồng, cưỡi xe Honda đi theo chúng tôi. Người đàn ông tự khai mình là trung uý quân đội Sài Gòn ở Nha Trang di tản vào, hỏi tôi muốn nộp súng thì phải nộp ở đâu và nài nỉ chúng tôi nhận cho rồi viết cho anh ta một giấy biên nhận. Tôi và anh Dũng đồng ý nhận súng và viết giấy, anh ta tỏ vẻ mừng ra mặt vì đã thoát được cái "của nợ", cảm ơn chúng tôi, rồi phóng xe vèo đi. Khẩu súng ngắn này, chúng tôi đã đem về nộp lại cho đơn vị. Ngày 3 tháng 5, khi đang đứng trước Dinh Độc Lập, nhìn thấy một nhóm các nữ sinh áo trắng đang xúm xít say mê ngắm một anh bộ đội đang đứng vẽ. Tôi lại gần, hoá ra là Phan Tuấn Tài, anh chàng đẹp trai nhất của tổ vẽ chúng tôi. Thảo nào mà các cô gái Sài Gòn lại bu quanh đông đến thế. Muốn vào vẽ Dinh Độc Lập phải có giấy phép của Uỷ ban quân quản, chúng tôi quay ra đi tìm trụ sở Uỷ ban quân quản. Có một chiếc ô tô con mầu đen bóng loáng, dạt vào lề đường, tà tà bám theo sau chúng tôi. Người lái xe to béo, ăn mặc sang trọng thò đầu ra, thưa gửi lễ phép: "Các anh Giải phóng đi đâu em chở đi?". Chúng tôi lên xe. Dọc đường, ông ta tự giới thiệu mình là cảnh sát chế độ cũ đã về hưu, xoắn xuýt hỏi đủ thứ chuyện về miền Bắc, về tem phiếu, rồi chuyện người dân có được dùng ô tô riêng không, có được mua xăng không v.v... Tôi và anh Dũng giải thích cho ông theo sự hiểu biết của mình. Chẳng biết có điều gì hay không mà ông ta có vẻ hể hả lắm. Đến trụ sở Uỷ ban quân quản đóng tại Dinh Thủ tướng nguỵ quyền Sài Gòn cũ, chúng tôi gặp một bà má già có con bị tù ở Côn Đảo. Bà cũng kéo tay chúng tôi hỏi thăm không ngớt: "Bộ đội mình có ra Côn Đảo không? Ra cứu con má! Lấy được giấy phép, tôi và anh Dũng vào Dinh Độc lập. Bước lên lầu thấy ngay một giàn giáo thép được dựng lên để chống đỡ cho tấm mái bê tông đúc bị trúng 2 quả bom của Nguyễn Thành Trung ném trước khi bay ra vùng giải phóng, vẫn còn nguyên. Tranh thủ thời gian, tôi tạt sang vẽ toà Đại sứ quán Mỹ, người xem xúm dông xúm đỏ. Ai cũng khen bộ đội miền Bắc làm gì cũng giỏi. Tình cờ gặp hai anh Đinh Rú và Trần Thành Công đã vào B từ trước. Hai anh chỉ cho tôi đến vẽ ở Nhà hát lớn thành phố và cũng là trụ sở Hạ nghị viện Sài Gòn. Mấy phóng viên nước ngoài còn ở lại Sài Gòn trú ở khách sạn Continental, chạy vội ra chụp ảnh một hoạ sĩ Quân giải phóng đầu đội mũ cối, thắt lưng đeo súng ngắn, ngồi ngay tại gian sảnh của khách sạn đang say sưa vẽ cảnh đường phố mới giải phóng. Bồi bàn ở khách sạn cũng ra mời "ông Giải phóng" có dùng "la-de" không để được phục vụ. Tôi chẳng biết "la-de" là gì nên phải từ chối khéo. Có cả mấy chàng pê-đê cũng sán vào ưỡn ẹo tán tỉnh. Lập tức tôi được ngay mấy em bé đánh giầy thì thầm nhắc nhở đề cao cảnh giác. Đến khi chờ xe buýt trước chợ Bến Thành để về đơn vị, dưới cái nắng chói chang, một chị phụ nữ bán nước mía ở bên kia đường mang 2 ly nước mía sang mời. Chúng tôi cảnh giác nên cảm ơn và từ chối không uống. Người phụ nữ mắt ngấn lệ đỏ hoc, lầm lũi quay đi. Trở về đơn vị, tôi cứ bị ám ảnh mãi về ánh mắt tủi thân của chị và tự sỉ vả về cái sự cảnh giác quá mức của mình.


Sáng sớm ngày 7 tháng 5 năm 1975, hoà mình trong không khí náo nức của người dân Sài Gòn tụ hội về Dinh Độc lập chào mừng Uỷ ban quân quản Sài Gòn - Gia Định chính thức ra mắt, tôi trèo lên nóc căn phòng trực ở cống Dinh tìm chồ vẽ. Trước mắt tôi là một rừng cờ hoa và biển người hân hoan sôi động. Chân dung Bác được phóng rất to, đặt trang trọng trên cao chính giữa mặt tiền của Dinh. Niềm xúc động và cảm hứng dâng trào đã giúp tôi vẽ rất nhanh và rất hoạt bức ký hoạ mầu nước về cuộc mít tinh. (Bức ký hoạ này đã được in làm bìa Tạp chí Văn nghệ quân đội và được xét là bìa đẹp nhất năm 1975 của Tạp chí).


Ngày 8 tháng 5 năm 1975, tôi được lệnh trở ra Hà Nội để chuẩn bị làm Triển lãm mừng toàn thắng, kết thúc chuyến đi B ngắn cuối cùng không thể nào quên của một đời quân ngũ.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:04:15 pm
Hoạ sĩ: Phan Tuấn Tài

Theo kế hoạch ban đầu, lẽ ra chúng tôi sẽ vào chiến trường bằng máy bay (của nhà mà). Nhưng thời tiết xấu quá suốt 3 ngày liền trời mưa liên tục. Không thể chờ đợi lâu hơn nữa, chúng tôi đành phải hành quân băng ô tô.


Xe tới Quảng Bình, trời vẫn mưa rả rích. Nhưng chúng tôi đã bắt đầu được biết thế nào là cái nắng ngột ngạt của miền Trung. Vượt qua thị trấn Hồ Xá đã bị bom Mỹ huỷ diệt trơ trụi, chỉ còn lại mặt đường hố to, hố nhỏ đây nước. Chúng tôi dừng lại ở cầu Hiền Lương để xuất trình giấy tờ... vào Nam (lúc này trên danh nghĩa thuộc sự quản lý của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam). Qua cầu, xe lăn bánh trên mảnh đất miền Nam, ai cũng có cảm giác mới lạ, thật khó tả. Trước mắt chúng tôi là cánh đồng cỏ dại mênh mông, không một bóng người. Hàng rào kẽm gai xám ngoét chi chít bao quanh những đồn bốt vắng tanh, loang nổ như máu. Đến Đông Hà, chúng tôi bắt đầu gặp những người dân gồng gánh đồ đạc trở về. Người già, trẻ con lêch thếch, nước da den đủi, nhếch nhác, đi ngược chiều với những đoàn xe chở quân ta hối hả tiến vào. Ở Huế, trên đường về sân bay Phú Bài, dọc theo Sông Hương, thuyền đậu thành từng cụm châu mũi vào nhau cắm cờ xanh đỏ sao vàng phấp phới. Tôi thoáng trông thấy anh Huy Toàn, hoạ sĩ quân đội đang lững thững đi bộ ven bờ. Chẳng nhìn thấy một màu áo tím Huế nào như vẫn thường hình dung thủa học trò. Chỉ thấy toàn quần loe, áo chẽn bó chặt căng, tóc thề loã xoã, kính to như trôn bát bịt lấy mắt, guốc đế cao hàng chục phân lịch bịch, xe đạp ghi đông uốn dựng lên. Lần đầu tiên nhìn, tôi thấy lạ mắt. Càng vào sâu, càng gặp nhiều người dân di tản quay về trên những chiếc xe đò chất chứa mấy tầng người, đồ đạc chồng chất và những khuôn mặt trẻ em ngơ ngác. Xe vượt đèo Hải Vân, nơi ta đã đánh tan hai trung đoàn quân ngụy chốt giữ ở đây, vẫn còn những xác lính nguỵ trương phềnh, da tái xám, đầu chúi vào bụi cây ven suối. Đến Đà Nẵng, gặp thanh niên đi diễu hành, giương cao ảnh Bác Hồ và những biểu ngữ chào mừng cách mạng trên đường phố. Những thanh niên tóc đã kịp cắt ngắn, áo bỏ trong quần gọn gàng, chuyển biến rất nhanh theo nhịp sống mới (Đà Nẵng được giải phóng 15 giờ 45 ngày 29 tháng 3 năm 1975). Nhưng trong sân bay, nơi đóng quân của BTL tiền phương quân chủng, vẫn còn nguyên những dấu vết của một cuộc tháo chạy hỗn loạn: Những bộ bàn ghế được chằng buộc kỹ càng không kịp mang đi. Quần áo, đồ đạc, tranh ảnh, sách vở vứt lung tung, la liệt, rách nát. Cả những mâm cơm ăn dở, những nồi cá, thịt đã lên men xanh, đỏ bốc mùi rất nhiều máy bay ngụy trên đường băng. Hơn 140 tù binh, nhân viên kỹ thuật đến trình diện và xin tình nguyện làm việc cho cách mạng. Chúng tôi tham gia vào việc đưa từng người về nhà lấy đồ đạc để đi tập trung, phải trả lời vô số những câu hỏi của thân nhân họ, đến nỗi chính các tù binh cũng phải sốt ruột tự đứng ra giải thích cho gia đình vợ con. Cho tới lúc này, vẫn còn các tầu hải quân nguỵ đầu hàng vào cập bến Quân cảng.


Ngày 7 tháng 4, đang họp Cục Chính trị tiền phương thì có xe của các đoàn đi tiếp quản các sân bay Phù Cát, Quy Nhơn, Nha Trang. Chúng tôi vội thu xếp đồ đạc để theo xe đi, bỏ lại cả chăn màn còn đang ngâm xà phòng, không kịp cả lấy gạo và thực phẩm ăn đường. Suốt chặng hành quân, xe chạy không kể ngày đêm. Chúng tôi ngủ chập chờn ngay trên xe, nhưng tốc độ vẫn chậm. Lúc thì xe hỏng phải dừng lại chữa, phải xuống đẩy và nhờ xe khác đẩy giúp mới nổ được máy. Lúc thì thủng săm phải thay. Lúc thì cầu đường tắc. Thời tiết thì nóng như rang. Dừng lại ở căn cứ Phù Cát để chờ xe đi Quy Nhơn, vì không mang lương thực, chúng tôi phải đi kiếm từng lon gạo thổi cơm. Lại bắt gặp những xác lính nguỵ còn nguyên quân phục, súng ống, nhưng thân thể đã rữa nát, dòi bọ lúc nhúc. Ban đêm, pháo hiệu xanh, đỏ bắn lên trời, những đám cháy bập bùng, tiếng súng AR15 nổ hàng tràng chen lẫn với tiếng kêu của những con mèo hoang. Những con chó vô chủ gầy giơ xương chạy lang thang, lấc láo. Chúng tôi phải thay nhau gác. Một số người dân quay về thu dọn nhà cửa, nhìn bộ đội với con mắt hoài nghi, dò xét. Để họ khỏi lo ngại, lúc nào nhìn thấy nhau, chúng tôi cũng phải mỉm cười trước, để tỏ sự thân thiện cho họ yên lòng.


Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến được sân bay Nha Trang. Tôi bắt đầu đi vẽ. Trời nóng dữ dội, chỉ đứng vẽ mà mồ hôi ướt đầm như tắm. Lang thang trong sân bay, có hôm tôi còn phát hiện được cả một kho quân nhu, có cả sữa bột, về báo cho anh em mang xe ra chở về. Đơn vị bảo vệ phát cho tôi một khẩu các-bin và tôi đã nhiều lần phải dùng nó để bắn chỉ thiên xua đuổi những người dân mò vào sân bay vơ vét. Sáng 26 tháng 4, bất chợt nghe tiếng pháo cao xạ 37mm bảo vệ sân bay nổ lụp bụp. Nhìn ra, tôi thấy một chiếc trực thăng MI-4 đang hạ độ cao bay sát sườn núi, hạ cánh ở một bãi ngoài sân bay kiểm tra gì đó, rồi lại bay tiếp hướng về phía Phan Rang. Máy bay bay thấp, súng bộ binh nổ rất nhiều. Trông rất rõ cờ Mặt trận giải phóng và dấu hồng thập tự, súng dưới đất vẫn bắn nhầm. Đột nhiên máy bay lệch nghiêng về, vòng xuống đường băng, nấy lên tới chừng 6m, rồi rơi nghiêng về bèn phải và bắt đầu bốc cháy. Những thùng hàng trong khoang văng ra tứ tung. Mọi người trên máy bay đạp cửa nhẩy ra ngoài. Người cuối cùng ngã lộn ba vòng nhưng cũng bật dậy được, dầu mỡ dính đầy mặt mũi, áo quần. Nhưng tất cả đã xách súng chạy đến những công sự ven đường băng, tư thế lăm lăm sẵn sàng chiến đấu. Chỉ một phút sau, thùng xăng nổ, máy bay bốc cháy dữ dội, ngọn lửa phừng phừng cuộn khói khổng lô đen đặc, những tiếng nổ khác tiếp theo. Trong chốc lát, chiếc MI-4 chỉ còn trơ lại mấy gọng khung, còn vỏ hợp kim nhôm thì biến thành chất lỏng chảy tràn ra trên mặt đường băng. Khi tôi xách súng chạy lại thì mọi người đã kịp nhận ra nhau đều là quân ta. Thì ra đó là bộ phận đi tiếp quản sân bay Phan Rang, trong đó có cả Anh hùng không quân Nguyễn Hồng Nhị (anh Nhị sau này là Tổng Cục trưởng Tống Cục Hàng không dân dụng, nay đã nghỉ hưu). Mọi người đưa các đồng chí bị thương đi viện, tôi lên xe đưa các đồng chí còn lại vào nơi nghỉ, vị nào vị ấy đều mặt mày sứt sát. Sau đó tôi lại ra vẽ tiếp.


Từ Nha Trang vào Phan Rang, dấu tích của những trận đánh ác liệt mới xảy ra cách đây không lâu càng rõ nét hơn: Những cây cầu đổ nát, những khu nhà bị bom, xác máy bay A-37, L-19, UH-1A la liệt. Xác lính nguỵ sóng sượt trên đường băng, trên máy bay... Tại sân bay này, 14 giờ 30 ngày 28 tháng 4 năm 1975, chúng tôi đã may mắn được chứng kiến Phi đội Quyết thắng bay trên những chiếc máy bay A-37 lấy được của địch, xuất phát đi ném bom sân bay Tân Sơn Nhất và đón họ toàn thắng trở về. Chuyện này thì báo chí đã nói nhiều, nhưng có một chi tiết không được kể tới là nửa đêm hôm đó và cả rạng sáng hôm sau, bọn nguỵ đã cho máy bay đánh trả. Chúng tôi phải rút ra hầm và sơ tán lên các quả đồi cách xa khu vực đường băng. Có lẽ bọn chúng cũng hốt hoảng trong những ngày tàn, phải bay tít trên cao, thả bom rơi hú họa. Đơn vị ngoài ba người bị thương nhẹ, không có thiệt hại gì đáng kể.


11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn giải phóng. Chúng tôi không thể ngờ sao lại nhanh đến thế. Mọi người bàn nhau phải vào Sài Gòn bằng bất cứ phương tiện nào. Cả đêm hôm đó chúng tôi không ngủ, chỉ nhăm nhăm tính cách vào thật nhanh được Sài Gòn. Sáng sớm ngày 1 tháng 5, chúng tôi được phát mỗi người một cái băng đỏ đeo ở cánh tay, cùng với bộ quân phục và súng ngắn, dao găm đeo thắt lưng, hợp thành một thứ "giấy giới thiệu" cực kỳ hiệu nghiệm. Chúng tôi ra đường số 1, vẫy ngay được xe đò chạy suốt để vào Sài Gòn. 2 giờ sáng ngày 2 tháng 5 chúng tôi đến nơi, vào trụ sở Uỷ ban quân quản Quận Nhì liên hệ trú nhờ quân và nấu ăn, gửi lại ba lô và lao luôn ra đường.


Lần đầu tiên được nhìn ngắm Sài Gòn với những đại lộ rộng thênh thang, những toà nhà 10-15 tầng cao "chọc trời", nữ thanh niên ăn mặc trông "mạnh" và "kỳ dị" hơn cả ở Huế và Đà nẵng. Còn nam thanh niên để tóc dài trông thật ngộ. Cái gì với tôi cũng rất lạ mắt: Không khí ồn ào, trai gái khoác vai nhau ngoài đường tự nhiên. Các bar, tiệm ăn, hàng quán nhiều như nấm. Nhạc xập xinh và đèn xanh, đèn đỏ nhấp nháy, hàng hoá bày bán la liệt... Nhà nào cũng có hình lá cờ xanh đỏ sao vàng được vẽ nắn nót trên cột cổng đá hoa. Đến cả tượng Trần Nguyên Hãn cưỡi ngựa trước chợ Ben Thành cũng được cắm thêm một lá cờ Giải phóng. Hệ thống đèn giao thông vẫn hoạt động, ô tô, xe máy đi lại tấp nập nhưng trật tự, không bóp còi inh ỏi. Qua khu Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, pháo cao xạ 37, bộ binh, xe tăng rất đông. Tôi gặp cả anh Phan Oánh, hoạ sĩ pháo binh. Chẳng cần giấy tờ như anh Thọ, lính đặc công bảo vệ Dinh Độc lập chỉ nhìn quân phục, mũ cối và con dao găm Liên Xô đeo thắt lưng của tôi là nhận ngay ra "người nhà", cho phép tôi vào vẽ bên trong. Anh em còn chỉ cho tôi kho để nước ngọt và bảo tôi cứ việc thoải mái. Bữa trưa tôi ăn cơm chung luôn với lính bộ binh canh gác Dinh. Lang thang ngoài phố đến tận 5 giờ chiều, tôi vào tiệm gọi nem cuốn thịt bò, bia đá, tự khao mừng chiến thắng. Chiều tối về trụ sở Quận Nhì gặp bữa, tôi còn chén thêm được ba bát nữa.


Tiếp xúc với người dân Sài Gòn và cả những người dân miền Bắc di cư, với thanh niên, sinh viên học sinh, tôi thấy mọi người đều gạt sang một bên những điều chưa hiểu về miền Bắc, về chế độ xã hội chủ nghĩa, sự khác biệt không tránh khỏi trong suy nghĩ, nhận thức... để trở nên cởi mở, vui vẻ, ân cần thăm hỏi nhau như người nhà. Tôi cũng bắt gặp cả những ánh mắt của những người mà chỉ thoáng qua cũng biết là của phía bên kia, không thấy sự thù địch mà lộ rõ sự nể trọng, ngại ngùng, mặc cảm. Sau khi bị anh Thọ "phát hiện", tôi phải vào tập trung trong sân bay Tân Sơn Nhất với bộ phận tiền phương. Lại tiếp tục làm bổn phận người lính, giúp việc cho ban tiếp nhận những người lái và thợ máy của chế dộ cũ ra trình diện. Sân bay trong mấy ngày này luôn luôn trong không khí bận rộn và náo nức. Lúc thì đón đoàn của đồng chí Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc thì đón Bác Tôn...


Anh Thọ và một số anh khác nhận lệnh ra Bắc, tôi còn được ở lại vẽ thêm mấy ngày nữa. Rồi cũng đến lúc phải dời Sài Gòn. Đêm cuối cùng trước khi xa Sài Gòn tôi không sao ngủ được, tiếng máy điều hoà nhiệt độ kêu đều đều. Tôi nhớ Hà Nội nhưng đã cảm thấy rõ Sài Gòn đối với tôi, tuy còn nhiều điều chưa hiểu, nhưng từ nay đã là thân thiết.


8 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1975, tôi lên chiếc máy bay AN-2 rời đường băng Tân Sơn Nhất. Máy bay bay thấp bám dọc theo bờ biển. Từ trên máy bay nhìn xuống, chưa bao giờ tôi cảm nhận được ý nghĩa lớn lao của mấy chữ "non sông từ nay trở về một mối" lại cụ thể và rõ ràng đến thế!


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:05:11 pm
Hoạ sĩ: Phạm Ngọc Doanh và nhà điêu khắc Nguyễn Xuân Thành.

Khi đoàn của các anh Thọ, Chung, Tài lên đường, Thành và Doanh cũng nhao nhao xin được đi nhưng thủ trưởng Phòng yêu cầu phái ở lại để giữ gôn. Doanh được cử lên công tác ở Đoàn Không quân B71, còn Thành lên Đoàn Phòng không B65. Mãi tới ngày 30 tháng 5 năm 1975, chúng tôi mới được "Nam tiến". Thành và Doanh may mắn được đáp máy bay chiến lợi phẩm DC-4 vào thẳng Cục Chính trị tiền phương ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, công việc của bộ phận tiền phương những ngày đầu giải phóng hết sức bề bộn. Sân bay vẫn còn ngổn ngang xác máy bay địch bị phi đội Quyết thắng ném bom phá huỷ từ ngày 28-4. Thành-Doanh bị giữ lại để làm việc chia phát báo cho các đơn vị hàng tháng trời rồi mới được xuống các đơn vị của quân chủng để vẽ. Thành, Doanh la cà hết lượt các đơn vị: Tên lửa, pháo cao xạ, trạm ra-đa Phú Lâm... bảo vệ vùng trời Thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận, nhao cả ra Sài Gòn vẽ cầu chữ Y, xuống sân bay Vũng Tàu, lên sân bay Biên Hoà... vẽ các trung đoàn không quân mới được thành lập để tiếp quản và sử dụng các loại máy bay A- 37, F-5 thu được của địch. Ở các nơi Thành, Doanh đến, thỉnh thoảng vẫn còn trường hợp bộ đội đi công tác lẻ bị tàn quân địch ám hại. Đơn vị phát cho mồi anh một khẩu súng ngắn và con dao găm chiến lợi phẩm để tự vệ. Thành, Doanh thường giắt ở thắt lưng trước bụng, nhưng súng vừa nặng vừa vướng víu khi vẽ, nên cuối cùng cũng phải xin trả lại đơn vị cho nhẹ mình. Khi Thành, Doanh đang vẽ ở sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) thì gặp Đoàn của Bộ Tổng tham mưu và Quân khu 9 đi thị sát tình hình vùng đồng bằng và duyên hải mới giải phóng thuộc Quân khu bằng trực thăng UH-1, Thành, Doanh xin đi theo. Có hôm ra các đảo nhỏ, chỉ bay một chiếc, không thể chở hết, một số sĩ quan phải bay chuyến sau. Riêng Thành và Doanh mới chỉ là hạ sĩ quan thôi, thì vẫn được yên vị. Người nhà quả có hơn, bọn Thành, Doanh đành mạn phép các thủ trưởng vậy.


Vì được đi theo một đoàn quan trọng như vậy nên Thành, Doanh được đi gần như khắp cả vùng Nam Bộ và nhiều vùng biến đảo, chứng kiến những vụ xung đột với quân Khơ-me dỏ và những trận chiến đấu đầu tiên bảo vệ biên giới Tây Nam ngay từ những ngày đầu giải phóng. Thành, Doanh đã đến Hà Tiên, theo máy bay bay thấp chung quanh đảo Phú Quốc để quan sát địa hình, nhìn thấy rất rõ khu nhà tù Phủ Quốc, nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt làm tù binh. Cảnh Phú Quốc rất đẹp, nhưng Thành, Doanh chỉ ký hoạ được rất ít, vì không được ở lâu. Có những nơi như đảo Nam Du máy bay chỉ đỗ một chốc, đến cả ký hoạ chớp nhoáng vài nét cũng chằng kịp. Cũng có những phen hú vía như lần ở đảo Thổ Chu, đang bay từ phía Đông lại, chỉ một ly nữa là bị súng 12ly7 ở dưới bắn lên. (Bộ binh vùng mới giải phóng chưa quen với việc máy bay trên trời lại là máy bay ta!). Rất may, cuối cùng cũng nhận ra nhau. Tổ lái người nào người nấy vã mồ hôi hột. Đảo xa nhất mà Thành, Doanh đến là đảo Vai. Từ trên không nhìn xuống, các cử điểm của dịch vẫn còn bốc khói. Đảo này mấy hôm trước ta vừa trừng trị quân pôn pốt.


Có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất của Thành và Doanh là chuyến theo bộ phận đi thu hồi máy bay quân nguỵ trước khi di tản đã bỏ lại ở Côn Đảo. Những chiếc trực thăng hạ cánh vội vã ngay trên bãi cát ven biển, còn nguyên cả súng đạn và rốc-két. Bộ phận kỹ thuật kiểm tra nếu còn bay được là bay luôn về căn cứ. Thành-Doanh được tham quan và vẽ khu nhà tù chuồng cọp khét tiếng, đứng lặng trước những bức tường phòng giam ẩm mốc đầy vết máu đen thẫm và những dòng bút tích của những người tù cách mạng:

    "Nắng mưa là chuyện của trời
   Gian lao là chuyện của đời đấu tranh"


Ra nghĩa trang Hàng Dương, kính cẩn nghiêng mình trước mộ Chị Sáu được xây cất tử tế (cái chết hiên ngang của Chị Sáu đã làm cho Chị trở nên rất thiêng, chính bọn địch ở Đảo cũng phải rất nể sợ và phải xây mộ cho Chị); mộ đồng chí Lê Hồng Phong (lúc này mới chỉ được xếp gạch sơ sài quanh mộ cát và một tấm liếp đề tên cắm phía trước thay cho bia). Thành - Doanh cũng được nhìn tận mắt những bộ mặt lì lợm bỗng chốc hoá thành "hiền lành lễ phép" của các giám thị và cai ngục ngụy ở địa ngục trần gian Côn Đảo trong lớp học cải tạo vừa được ta tổ chức tại Đảo. Thành - Doanh cũng được vẽ chân dung các cựu tù chính trị, nay đã đổi vai trở thành những quản giáo cách mạng.


Đi với không quân được cưỡi máy bay đi mây về gió ngắm nhìn đất-biển-trời của Tổ quốc thống nhất thật là sướng. Nhưng có lẽ cũng cần phải có một quả tim mạnh khoẻ. Hôm từ Côn Đảo trở về, đoàn bay gồm 6 chiếc trực thăng. Thành, Doanh đi trên chiếc CH-47 to nhất, chở đầy súng đạn và rốc-két thu hồi, đang yên lành thì máy bay bị vỡ ống dẫn dầu truyền lực, dầu đỏ phun ra thành tia, bốc khói mù mịt. Máy bay bị mất điều khiển, tụt hẫng, chao đảo. Dầu phun che kín cả kính cửa buồng lái, thợ máy trên không phải một tay bịt lồ rò rỉ, một tay cầm mũ gạt vết dầu trên kính để cho phi công quan sát tìm vị trí hạ cánh bắt buộc. Từ trên cao nhìn xuống, người trên mặt ruộng nhỏ bé, loáng một cái đã sóng lúa cuộn xoáy ngay dưới bụng máy bay. Máy bay đỗ được an toàn xuống mặt đường số 4 từ Cần Thơ đi Sóc Trăng. Trong khói và dầu mù mịt, chỉ nhìn thấy đôi mẳt và hàm răng cười trắng loá của người phi công hàng binh. Thành và Doanh phải chuyển sang một chiếc UH-1 cùng đoàn để về căn cứ Cần Thơ.


Thành và Doanh cũng tình cờ tránh được một trận vỡ tim khác, số là ở Côn Đảo còn có một hòn đảo nhỏ ở cách xa đảo chính gọi là Đảo Cau, nhưng lại mọc toàn dừa, không có người ở. Quả dừa già rụng xuống lâu dần mọc thành rừng dừa hết lớp này lớp khác đan ken dầy đặc, cây cao vút và quả rất sai. Chủ nhật hàng tuần, đều có một chuyến bay ra đấy lấy dừa về chia cho các bộ phận. Riêng lần này, khi máy bay bay về cách đảo chính khoảng 2km thì bị trục trặc. Phi công cố căn đường bay theo hướng một bên là biển, một bên là rừng phi lao, cuối cùng thì rơi bịch xuống một doi cát, cánh quạt bẹp dúm. Người bắn ra mọi nơi, còn dừa thì văng tung toé. Máy bay bị hỏng nặng, phải huỷ. Một chiếc xe GMC ra đón mọi người và chở dừa về, Thành, Doanh sờ tay lên đầu, tự khen cho số mình may mắn. Nếu buổi sáng không có hẹn đi vẽ mấy cựu tù binh chính trị, thì Thành, Doanh cũng đi theo mọi người và chắc chắn cũng nằm trong số mấy anh chàng bươu đầu, sứt tai kia rồi.


Cuối năm 1975, Thành, Doanh lên vẽ ở sân bay Cam Ly (Đà Lạt). Thời gian này, ta đang tiến hành chiến dịch truy quét Phun-rô. Sân bay là nơi tập trung giam giữ, cải tạo bọn tù binh ta bắt được, do bộ đội đặc công bảo vệ. Đêm đêm pháo sáng bắn lên canh chừng kéo theo những vệt khói lờ lững trên nền trời. Những người lính đặc công mới đây thôi từng phải tìm mọi cách để ẩn nấp mỗi khi có pháo sáng trong những lần tiềm nhập đồn địch, thì nay lại tự tay bắn lên trời những phát pháo sáng câm canh và vẫn tiếp tục phải đổ máu sau ngày giải phóng.


Mải mê bám càng máy bay đi vẽ khắp nơi, Thành, Doanh chẳng để ý gì đến hàng hoá tiêu dùng tràn ngập phố xá, một mục tiêu "Nam tiến" sau giải phóng của rất nhiều người vào thời gian đó. Đến tháng 1 năm 1976, nhận lệnh ra Hà Nội, thấy bọn Thành, Doanh chẳng có được thứ gì mang về làm quà, mọi người trong đơn vị vận động nhau mỗi người một ít cho vay chút tiền. Thành-Doanh mua mỗi đứa mấy đôi tất và một chiếc máy ảnh cũ. Riêng Thành mua thêm một chiếc áo len nữa cho bố. Tài sản trị giá nhất mà Thành-Doanh có được để mang ra là hai cặp tranh ký hoạ đầy ắp ấn tượng và cảm xúc về những ngày đầu tiên miền Nam giải phóng...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:05:46 pm
Hoạ sĩ: Vũ Huyên

Khi các anh Thọ, Chung, Tài lên đường thì tôi và anh Đỗ Hiển đang tập trung ở Trường Mỹ Thuật để làm bài tốt nghiệp. Tôi rất sốt ruột và có ý định xin nhà trường cho hoãn làm bài thi đến sang năm, để về đơn vị cùng đi với anh em. Tôi đem ý nghĩ đó ra trao đổi với các bạn cùng lớp, cũng là bộ đội đi học như tôi. Thực tình mà nói, tôi cũng rất phân vân, gần 6 năm "đeo đẳng tại chức", nay đã đến lúc hái quả mà phải bỏ dở thì cũng tiếc. Rồi chẳng biết Nhà trường có cho hoãn thi không? Rồi liệu sang năm đơn vị có cho về làm nốt bài thi không? Riêng về điểm thứ hai này thì tôi đã có kinh nghiệm nhớ đời: Trong suốt 6 năm học, không có năm nào tôi không bị đơn vị gọi về khi một tuần, khi nửa tháng trong thời gian học tập trung 3 tháng để giao việc. Tôi chẳng còn cách nào là ngày có mặt ở trường làm bài, đêm thì thức trắng hoàn thành công việc đơn vị giao.


Cuối cùng, chúng tôi bàn nhau và đi đến một quyết định là ở lại Trường làm bài thi, xong rồi về đi vẫn kịp, đời lính còn dài. Chúng tôi hoàn toàn không hình dung được chiến thắng cuối cùng lại đến một cách thần tốc đến thế.


Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, cùng với mọi người, tôi đã reo hò đến khản cả cổ. Chúng tôi còn chạy ùa cả ra đường hò hét. Lúc đó, tình cờ có một chiếc xe Von-ga đen chạy qua, người ngồi ghế sau thò đầu ra tươi cười nhìn và vẫy tay như hoà chung niềm vui sướng với chúng tôi. Tôi nhìn theo và phát hiện ra đó là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đêm hôm đó, tôi đã thức trắng vẽ 1 tranh cổ động "Chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng". Vừa vẽ, trong tôi vừa xôn xao nhiều cảm giác buồn vui lẫn lộn. Thế là từ trong sâu thẳm, tôi từng tự hỏi: "Liệu mình có trẻ mãi tuổi 20 hay không?" Trong những ngày chiến đấu ác liệt, khi máu đồng đội ướt đẫm và nóng ran trên lưng áo quân phục, đã có trả lời. Tôi nhớ rất nhiều về những người bạn thân thiết và cả những đồng đội chưa quen biết đã "sống mãi tuổi 20" của mình. Và bao trùm lên là một nỗi tiếc: Thế là mình đã lỡ thời cơ lịch sử, đã chẳng được chứng kiến tận mắt chiến thắng ngay tại sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.


Và tôi chỉ còn làm được một việc là mặc thường phục, giương cao bức tranh cổ động tự vẽ, tham gia trong đoàn diễu hành của Trường Mỹ Thuật trong lễ mít tinh ngày 15 tháng 5 năm 1975 tại Hà Nội mừng Toàn thắng.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:07:07 pm
MỘT CHUYẾN ĐI KIỂM TRA CƠ SỞ


Phạm Liêm


Một ngày cuối tháng 11 năm 1977, sau khi nghe báo cáo kế hoạch công tác tháng, anh Nguyễn Xuân Mậu, Chính uỷ quân chủng nói với tôi:

- Hội đồng thi đua quân chủng đã quyết định chọn Sư đoàn 363 ở Hải Phòng xây dựng thành lá cờ đầu của quân chủng trong phong trào Thi dua Quyết thắng. Mấy tháng nay, Sư đoàn 363 có chuyển biến khá nhanh trên nhiều mặt. Anh hãy tổ chức một chuyến kiểm tra đánh giá tình hình, nếu tốt ta tổ chức cho các đơn vị xuống thăm quan, học tập vào tháng tới...


Ý kiến của anh Mậu thật phù hợp với suy nghĩ của tôi. Vì từ mấy tháng nay, sau cơn bão số 3 cuối tháng 7, các cơ quan của Cục chính trị liên tiếp cử cán bộ xuống giúp đỡ Sư đoàn 363 khắc phục hậu quả, báo cáo tình hình rất đều đặn. Tôi nói:

- Báo cáo anh, Sư đoàn 363 đang có nhiều cố gắng rất lớn. Sau cơn bão số 3, anh em không những khắc phục nhanh mà nhân đà này, đã phát động được phong trào quần chúng xây dựng đơn vị có nhiều tiến bộ vượt bậc. Hiện nay, Cục chính trị đang có cán bộ ở dưới đó. Nhưng qua ý kiến anh, tôi xin tổ chức đoàn kiểm tra đi ngay.


Tôi dẫn đầu đoàn kiểm tra của Cục Chính trị, lên đường ngay sáng hôm sau. Đến Sư đoàn 363, được anh Đinh Phúc Hải, Chính uỷ kiêm Tư lệnh sư đoàn cung cấp thêm nhiều số liệu mới trên các mặt: Chính trị tư tưởng; tổ chức; sẵn sàng chiến đấu; xây dựng nếp sống chính quy cho bộ đội trong huấn luyện; công tác quản lý và bảo quản vũ khí, khí tài; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội. Đặc biệt hộ thống nhà ở, nhà kho và cả bệnh xá của sư đoàn bị cơn bão số 3 tàn phá nặng, nay về cơ bản được xây dựng lại với tiêu chí lâu bền, khang trang hơn trước...


Anh Đinh Phúc Hải nói:

- Chiến dịch tự sản xuất 7 triệu viên gạch trong 6 tháng đầu năm 1977 do sư đoàn chúng tôi phát động, nay có hiệu quả rất thiết thực. Chúng tôi đang phát động toàn sư đoàn ra quân với tinh thần tích cực chủ động, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chính trị của quân đội và quân chủng, xây dựng sư đoàn tiến lên theo hướng chính quy, hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới.


Tôi nói với anh Đinh Phúc Hải về chù trương của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân chủng đang xem xét đánh giá kết quả phong trào Thi đua Quyết thắng ở quy mô cấp sư đoàn, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho toàn Quân chủng học tập. Sư đoàn 363 là nhân tố mới nên Thường vụ Đảng uỷ quân chủng uỷ nhiệm tôi xuống nắm tình hình chuẩn bị cho Hội đồng thi đua quân chủng xem xét, tổng kết phong trào thi đua cuối năm...


Anh Đinh Phúc Hải tỏ ra rất phấn khởi, giới thiệu với tôi về 5 công trình trọng điểm, đang là việc làm nổi bật nhất của sư đoàn. Đó là hai trận địa tên lửa, pháo cao xạ ở Minh Kha và Bến Bính được xây dựng cơ bản vững chắc, vừa là trận địa chốt kiên cường trong chiến đấu, vừa là nơi rèn luyện, đào tạo những con người mới xã hội chủ nghĩa; là khu nhà kho niêm cất, bảo quản khí tài, xe máy của sư đoàn ở Trịnh Hưởng; là bệnh xá của sư đoàn có khu điều trị bệnh nhân 50 giường và khu điều dưỡng cán bộ 20 giường ở gần Cầu Rào; là trạm kỹ thuật của sư đoàn có khu nhà ở khang trang cho cán bộ, công nhân viên kỹ thuật và khu sản xuất, sửa chữa, bảo quản khí tài, xe máy...


Anh Đinh Phúc Hải nói:

- Xin mời Phó chủ nhiệm xuống kiểm tra hai trận địa Bến Bính và Minh Kha, sẽ thấy ngay khí thế thi đua mới của sư đoàn chúng tôi.

Trận địa Bến Bính ở bên bến phà Bính qua dòng sông Cấm ngày đêm tấp nập tàu thuyền, mở đầu con đường giao thông nối liền thành phố Hải Phòng với tỉnh Quảng Ninh. Trên trận địa này, các chiến sĩ đã chiến đấu hàng trăm trận, bắn rơi 7 máy bay Mỹ, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ.


Chúng tôi đến trận địa Ben Bính thấy Trung đoàn trưởng 240 Phạm Văn Biểu và Phó chính uỷ trung đoàn Đinh Xuân Quang đang trực tiếp chỉ huy và tham gia lao động cùng bộ đội. Anh Biểu cho biết hơn hai tháng qua, nơi đây như một công trường xây dựng. Hôm khởi công, Chính uỷ kiêm Tư lệnh sư đoàn Đinh Phúc Hải cùng đồng chí Bí thư Huyện uỷ huyện Thuỷ Nguyên đã bổ những nhát cuốc đầu tiên. Hơn 500 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 240 cùng với thanh niên dân quân, các cháu học sinh xã Tân Dương lao động hăng say như ngày hội. Nay toàn "công trường" đang bước vào giai doạn "Tổng công kích", phấn đấu hoàn thành công trình vào trung tuần tháng 12 tới...


Cả ngày hôm đó, chúng tôi hoà nhập với không khí lao động khẩn trương của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, học sinh. Những hầm pháo, hầm khí tài, sở chỉ huy Đại đội 172 được đắp đất kiên cố vây quanh. Bên ngoài những ụ đất ấy đang được trồng kín những dàn mướp, bí, bầu, những luống rau xanh vừa để ngụy trang, vừa cải thiện đời sống bộ đội. Những đường dây cáp điện từ trung tâm chỉ huy đến các khẩu đội, tiểu đội khí tài đều được xây ngầm kiên c. Trước kia nơi đây chỉ là bãi sú ngập nước với những ụ pháo, những mái nhà cơ động lụp xụp. Nay được nhân dân quanh vùng chở đến những thuyền đá, thuyền đất để đắp kè, mở rộng thêm, trở thành một trận địa chốt kiên cường, vừng chắc. Trận địa có đủ điều kiện là thao trường rèn luyện chính quy, là nơi bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật, là nơi sản xuất tiết kiệm, là nơi giáo dục, rèn luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Với thành phố Hải Phòng, đây còn là một điểm bảo tồn, bảo tàng sống trong chống Mỹ, cứu nước, là một điển hình về tình đoàn kết quân dân trong chiến đấu và xây dựng...


Ngay bên trận địa, qua một sân rộng, nơi tập đội ngũ và vui chơi thể thao hàng ngày của bộ đội là những dãy nhà mới xây hoàn chỉnh, có nhà nghỉ, nhà ăn, nhà bếp đủ tiện nghi, có hội trường, nhà truyền thống, nhà tiếp khách. Khu văn hoá ngoài trời của đại đội rộng tới 800 m2, có vườn hoa cây cảnh, dàn phong lan, những dãy ghể đá và tường hoa vây quanh...


Trong không khí lao động khẩn trương ấy, nền nếp sẵn sàng chiến đấu vẫn được duy trì chặt chẽ. Chỉ cần có lệnh, các chiến sĩ lập tức có mặt tại vị trí; guồng máy bắt đầu hoạt động như một trận chiến đấu thực sự. Đặc biệt chế độ chuẩn bị chiến đấu, lịch huấn luyện được duy trì đều đặn mỗi ngày 1 giờ 30 phút. Qua tiếp xúc với một số cán bộ, chiến sĩ chúng tôi càng thấy rõ công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở đây được tiến hành thường xuyên và cụ thể. Ý thức làm chủ tập thể của người chiến sĩ được thể hiện ở tinh thần tự giác, quyết tâm phấn đấu xây dựng đơn vị đạt và vượt những chỉ tiêu mà Nghị quyết Đảng uỷ Sư đoàn đã đề ra.


Trận địa Minh Kha được khởi công xây dựng sau vào ngày 6 tháng 11 năm 1977. Nhưng giờ đây công trình trận địa gần như đã hoàn thành. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương đang tập trung cải tạo hệ thống đường ra vào trận địa, xây dựng sở chỉ huy của tiểu đoàn, hệ thống nhà ở, hội trường, nhà truyền thống...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:15:14 pm
Nhân dân xã Đồng Thái, huyện An Hải dành cho tiểu đoàn khu đất đặt trận địa tên lửa khá rộng. Trong chống Mỹ, nơi đây đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm chiến đấu hiệp đồng giữa quân và dân. Tại trận địa này, họ đã bắn rơi 25 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi trên thành phố Cảng Hải Phòng. Giờ đây nhân dân xã Đồng Thái lại nhường thêm đất cho tiểu đoàn để mở rộng trận địa theo đúng thiết kế; sẵn sàng di chuyển một số nhà dân cách xa đường dây diện cao thế để không ảnh hưởng đến chiến đấu khi có tình huống xảy ra.


Đồng chí Đoàn Mạnh Dũng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238 cho chúng tôi biết: "Trận địa Minh Kha có khối lượng đào, đắp đất và xây dựng gấp nhiều lần trận địa Bến Bính. Trước khi xây dựng trận địa, dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ và Đảng uỷ Sư đoàn, chúng tôi đã tổ chức cuộc họp quân dân gồm đại biểu Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy quân sự huyện An Hải; Đảng uỷ, chính quyền và các đoàn thể xã Đồng Thái để bàn cách tiến hành. Tại cuộc họp này, đồng chí Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Đồng Thái đã nói: "Đây là mảnh đất lịch sử của địa phương, là trận địa của lòng dân. Mảnh đất này đã thấm máu nhiều chiến sĩ và nhân dân địa phương, chúng tôi phải có trách nhiệm góp phần xây dựng thành trận địa chốt kiên cường tại quê nhà...". Ngay sau buổi họp, hai đội xây dựng của huyện và của xã đã được cử đến giúp đơn vị. Các cháu học sinh sáng đi học, chiều lại đến tham gia lao động với các chú bộ đội. Đông đảo thanh niên, xã viên hợp tác xã Đồng Thái ban ngày ra đồng sản xuất, tối đến lại tham gia đào đất đắp đường, đắp ụ vây quanh bệ phóng, vận chuyển vật liệu xây dựng... Sư đoàn còn cử 200 tân binh và cán bộ, chiến sĩ cơ quan sư đoàn bộ thay nhau đến lao động xây dựng công trình"...


Gần một tuần lễ, chúng tôi đến cả 5 công trình trọng điểm và một số đơn vị của Sư đoàn 363. Toàn sư đoàn ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện thường xuyên, nơi nào cũng sôi nổi không khí lao động khẩn trương. Những đơn vị không nằm trong các công trình trọng điểm, vừa đảm đương nhiệm vụ trực chiến, vừa được phân công từng việc cụ thể, góp phần trực tiếp cho 5 công trình như: Sản xuất gạch ngói, nung vôi, khai thác than, đá, cát, tre nứa... Những cán bộ, chiến sĩ biết nghề mộc, nghề xây đều được huy động vào đội thi công các công trình. Nền nếp giao ban sư đoàn hàng luần được duy trì nghiêm túc như chỉ huy chiến dịch, đánh giá kết quả việc làm từng ngày, có biện pháp chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời.


Trở về sư đoàn bộ, tôi thông báo tóm tắt kết quả kiểm tra các mặt, lấy ý kiến các đồng chí lãnh đạo sư đoàn về đánh giá tình hình, nhất là kết quả của việc đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng trong sư đoàn từ sau cơn bão số 3 và rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực.


Sau chuyến kiểm tra ấy, tôi báo cáo ngay với anh Mậu, được anh nhất trí giao cho tôi trực tiếp báo cáo Thường vụ Đảng uỷ và Hội đồng thi đua quân chủng về những kết luận của đoàn kiểm tra đối với sư đoàn 363:

- Phong trào Thi đua Quyết thắng ở sư đoàn đã quán triệt tốt Nghị quyết Đảng uỷ quân chủng, đi đúng hướng, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chính trị của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng.

- Phong trào có tính quần chúng rõ rệt, đã phát động được ý thức làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, động viên được tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường của cán bộ, chiến sĩ.

- Từ phong trào đã xuất hiện nhiều nhân tố mới cùng với sự xuất hiện những điển hình từ cấp đại đội tiến lên phong trào thi đua quy mô toàn sư đoàn.

- Năm công trình trọng điểm là dỉnh cao phong trào Thi đua Quyết thắng của sư đoàn. Năm công trình không những đáp ứng được nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu cao, bảo quản tổt vũ khí trang bị, huấn luyện xây dựng bộ đội theo hướng chính quy, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội mà còn có những nét mới về tình đoàn kết quân dân trong giai đoạn mới, thể hiện được quan điểm quốc phòng toàn dân của Đảng ta:


Có 4 bài học kinh nghiệm đáng nêu lên cho các nơi học tập là:

- Cách điều hành tập trung, phát triển từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn cấp sư đoàn, Đảng uỷ đều có dự án, chỉ tiêu và biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể; có phân công trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra từng bước và kịp thời phát hiện nhân tố mới để bồi dưỡng, xây dựng điển hình.

- Có nhiều sáng tạo trong lãnh đạo và tổ chức thi đua, trong quản lý tập trung và biết chuyên môn hoá từng bộ phận, từng đơn vị theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời biết tổ chức liên kết giữa các bộ phận, các đơn vị để tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau, phát huy được sức mạnh tổng hợp dứt điểm từng việc lớn, giành thành tích cho từng đơn vị và cho toàn sư đoàn.

- Các cấp chỉ huy, lãnh đạo đều trực tiếp bẳt tay vào chỉ đạo phong trào thi đua trong từng việc làm cụ thể, không khoán trắng chung chung.

- Mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi đơn vị, mọi cơ quan đều nêu cao tinh thần làm chủ tập thể, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm đối với phong trào thi đua chung gắn liền với sự phấn đấu của từng người, từng đơn vị, từng cơ quan...


Từ kết quả chuyến đi kiểm tra cơ sở ấy, chúng tôi đã giúp Thường vụ Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh và Hội đồng thi đua quân chủng đánh giá chính xác tình hình, chọn được đơn vị lá cờ đầu trong phong trào Thi đua Quyết thắng năm 1977 của quân chủng. Sư đoàn 363 rất xứng đáng được trao cờ thưởng luân lưu "Thi đua Quyết thắng" của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, được công nhận là một nhân tố mới, một điển hình quy mô câp sư đoàn trong phong trào Thi đua Quyêt thắng năm 1977 của quân chủng.


Trong 3 ngày từ 19 đến 21 tháng 12 năm 1977, Bộ Tư lệnh Quân chủng đã triệu tập cán bộ quân chính các binh chủng, sư đoàn, cơ quan, nhà trường, đơn vị trực thuộc toàn quân chủng đến dự lễ khánh thành 5 công trình trọng điểm, thăm quan rút kinh nghiệm tại chỗ về phong trào Thi đua Quyết Thắng năm 1977 tại sư đoàn 363...


Chuyến đi kiểm tra cơ sở năm ấy, trở thành kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi, ngay sau những năm đầu dất nước ta vừa hoàn toàn được giải phóng và thống nhất.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:16:13 pm
NHÀ VĂN HOÁ QUÂN CHỦNG KHÔNG QUÂN
MỘT THỜI ĐỂ NHỚ


Việt Hiển


Tháng 6 năm 1982, tôi được thăng quân hàm từ thượng úy lên đại uý rồi được cử đi học trường Chính trị Trung Cao cẩp của quân chủng. Khoá học kéo dài 1 năm, từ tháng 7 năm 1982 đến tháng 8 năm 1983. Tôi học chung với các cán bộ chính trị, phần lớn là phi cộng đã thôi bay nay chuyển ngạch, mà tôi hay nói vui là "Các phi công hạ thổ". Tôi cố gắng học để hoàn toàn được điểm 9, điểm 10 và rất mẫu mực về cách ăn mặc như anh Ngô Ry, cựu trưởng Phòng Tuyên huấn đã có lần nói: "Ở Cục chính trị ta, nếu nói mặc nghiêm chỉnh, đúng điều lệnh và đẹp, có Việt Hiển!". Kết thúc khoá học, tôi đạt loại giỏi rồi được điều động trở lại Cục Chính trị làm Trợ lý Nhà Văn hoá quân chủng. Trước đây, mảng Câu lạc bộ nằm trong Phòng Tuyên huấn, nhưng trong cơ chế mới, được tách ra như một phòng độc lập trực thuộc Cục, chuyên lo đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội. Lúc này trong Thủ trưởng Cục, anh Lê Miên làm Phó cục trưởng phụ trách Tuyên huấn - Văn hoá; còn Nhà Văn hoá do anh Nguyễn Nhật Ninh, nguyên Phó trưởng Phòng Tuyên huấn làm Chủ nhiệm.


Cuối năm 1983, khi mới nhận chức trợ lý Nhà Văn hoá, tôi được Thủ trưởng Cục Chính trị giao nhiệm vụ đi cùng với Đoàn làm phim Quân đội do anh Nguyễn Nhàn, đạo diễn Xuởng phim Quân đội, làm Đạo diễn, để xây dựng cho Quân chủng Không quân bộ phim tài liệu nghệ thuật "Khoảng trời Chiến sĩ". Nhiệm vụ của tôi lúc ấy như một Sĩ quan liên lạc: Đối với các đơn vị không quân, tôi đại diện quân chủng điều động lực lượng và tổ chức cảnh quay theo ý đồ đạo diễn, tất nhiên trên cơ sở đã có lệnh thống nhất từ Quân chủng. Còn đối với các cơ sở không phải của quân chủng, tôi lại là người của Đoàn làm phim quân đội, đến liên hệ công tác! Bộ phim làm đến giữa năm 1984 mới xong. Tôi trở về Cục Chính trị, liền được giao là Chủ nhiệm Nhà Văn hoá, thay anh Nhật Ninh lúc ấy là Phó trưởng Phòng Tuyên huấn. Tôi nghe nói anh Nhật Ninh có ý kiến: Nếu tìm người thay Chủ nhiệm Nhà Văn hoá, trong Cục hiện nay nên là đồng chí Việt Hiển!


Thế là tôi tiếp quản "tài sản" của anh Nhật Ninh đế lại, làm Chủ nhiệm Nhà Văn hoá. Vốn không ưa tranh chấp quyền lực, tôi đề nghị để anh Trần Đăng Trụ, Đại úy, cán bộ về Nhà Văn hoá trước tôi làm bí thư chi bộ, lấy lý do anh ấy đã ở Nhà Văn hoá lâu hơn tôi, do đó nắm tình hình cũng chắc hơn. Tôi cũng đề nghị đưa anh Đặng Chung, đại uý, hoạ sĩ xưởng trưởng xưởng Mỹ thuật vào trong chi uỷ để cùng có tiếng nói trong lãnh đạo.


Tôi cũng chia Nhà Văn hoá ra từng nhóm, cử người phụ trách và chịu trách nhiệm: như chị Thu Hương, vợ anh Cốc phụ trách mảng Thư viện; anh Hoàng Tạo, anh Ngọc Khúc, anh Trần Đăng Trụ và chị Hoàng Yến, lo phần âm nhạc và phong trào văn nghệ quần chúng; anh Nguyễn Văn Phán, trung uý phụ trách mảng điện ảnh chiếu phim... Ngày đó tôi đã có suy nghĩ về vấn đề trước hết phải lo "nuôi quân tốt, luyện quân cho giỏi về kỹ thuật và lòng trung thành, rồi mới tính đến sử dụng quân". Vì thế tôi luôn luôn nghĩ làm sao nuôi quân được tốt trong tình trạng gia đình ai cũng thiếu thốn, nửa bao cấp, nửa muốn bung ra nhưng lại vướng cơ chế, luật lệ trói buộc. Đây là tình trạng chung của nền kinh tế buổi giao thời ngày ấy. Chúng tôi mua lợn giống rồi gửi nhờ đơn vị chăm sóc giúp cùng với đàn lợn của đơn vị, trả công bằng cách xuống giúp đơn vị làm pa-nô, khẩu hiệu, dạy nhảy quốc tế vũ, đạo diễn dàn dựng các chương trình văn nghệ... Nhờ cách làm này, Tết nào chúng tôi cũng lo đủ thịt cho anh em mà không ai trong Cục có lời ra, tiếng vào. Thời đó, chiếu phim video còn hiếm, tôi xin phép Cục rồi bàn với anh Cường, trợ lý vật tư của Cục, cho đội điện ảnh đem đầu máy video ra bãi phục vụ. Tiền thu được bao nhiêu, một phần trả vào khấu hao, một phần bồi dưỡng ngay cho những người vận hành máy và người phục vụ sân bãi, một phần dùng vào quỹ dùng lo chung cho Cục. Tuy chỉ làm ăn nhỏ như vậy, nhưng cũng giúp được một phần cho những anh em gia đình khó khăn, làm cho anh chị em yên tâm gắn bó với công việc Nhà Văn hoá. Tôi cũng thực hiện cách khoán đối với những việc có thể khoán được để giúp anh em phát huy sở trường, đỡ bị gò bó vào giờ giấc, thời gian. Ví dụ một lần chị Hoàng Yén, cán bộ chuyên múa, nói với tôi bằng giọng tỏ vẻ e ngại: "Hiện nay Hoàng Yến đang chịu trách nhiệm dạy một lớp múa cho Sư đoàn 371; nhưng đúng lúc này Hải Phòng lại mời chị giúp cho họ một chương trình dự hội diễn, anh bảo Hoàng Yến nên làm thế nào?". Tôi suy nghĩ: Nếu yêu cầu chị Yến phải ở lại 371 chịu trách nhiệm với lớp múa của đơn vị, chị Yến cũng không thể trách tôi. Nhưng tôi nghĩ đến nhà ai lúc này chẳng có khó khăn? Thế là tôi quyết định bằng cách: Chị Yến phải đào tạo cấp tốc mấy hạt nhân có năng khiếu, giao cho họ tự duy trì lớp học theo chương trình. Chị có thể đi giúp Hải Phòng, nhưng phải định kỳ về kiểm tra, uốn nắn những sai sót, bảo đảm đến ngày kết thúc lớp, kiểm tra phải đạt được chất lượng. Mấy tháng sau, lớp múa của Sư đoàn 371 đã đạt được kết quả tốt, chị Yến cũng giúp được cho Hải Phòng, chị mời tôi đi ăn một bữa phở tái lăn ở phố Lò Đúc, chắc là có ý cảm ơn!?


Nhà Văn hoá có nhiều loại cán bộ, trong đó nhiều cán bộ được điều về từ các Đoàn nghệ thuật như các nhạc sĩ Hoàng Tạo, anh Ngọc Khuê. Nghệ sĩ múa có chị Hoàng Yến, chị Minh Phương... Lại có cả một xưởng hoạ với nhiều hoạ sĩ đã tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật như các anh Đặng Chung, Phạm Ngọc Doanh, Đặng Hiền, Nguyễn Gia Lâm, Tô Quang Khánh... Nói chung, phần lớn đều là văn nghệ sĩ. Chúng tôi bàn trong Chi uỷ: Quan trọng nhất là phải giữ gìn được tình đoàn kết nội bộ, xây dựng tinh thần tất cả để phục vụ đơn vị là chính, lấy kết quả công tác làm thước đo đánh giá phẩm chất người đảng viên. Chúng tôi xây dựng tinh thần đoàn kết giữa các bộ phận có việc cần huy động thì không phân biệt là người ở bộ phận điện ảnh, nghệ thuật hay mỹ thuật, nếu việc đó là việc chung hoặc việc làm vì đơn vị. Ví dụ một lần có tấm pa-nô lớn phải vẽ tại Cục Chính trị rồi vận chuyển xuống đơn vị, chúng tôi huy động tổ điện ảnh kết hợp chuyển chở; đi chiếu phim, có lúc chúng tôi huy động cả anh em Mỹ thuật xé vé, làm bảo vệ, v.v... Những lúc sinh hoạt tập thể, chúng tôi thường động viên anh em kể cho nhau nghe chuyện trên đường công tác, những khó khăn cũng như sự giúp đờ của các đơn vị, làm cho anh chị em thông cảm được những khó khăn của nhau trong công việc. Trong giao lưu, chúng tôi hình thành quan hệ nhân ái, vui đùa không trái với điều lệnh nhưng lại giảm bớt được căng thẳng trong lao động, sinh hoạt, công tác của đơn vị. Nếp sinh hoạt vui vẻ trẻ trung ấy, anh em gọi là "thoáng", dần dần những người hay vui vẻ tự nhận sinh hoạt trong "Hội thoáng". Thỉnh thoảng, "Hội thoáng" lại tổ chức một bữa liên hoan cho cả Nhà Văn hoá, có khi ăn lòng lợn tiết canh, có khi ăn thịt "cày tơ" với bún... Những cuộc liên hoan như vậy rất vui, thường do bí thư Trần Đăng Trụ làm anh nuôi trưởng chỉ đạo nấu nướng. Giúp việc thường có "múa sĩ" Hoàng Yến, "thư viện gia" Đới Thu Hương, "điện ảnh gia" Nguyễn Văn Phán, Bùi Tuấn Thanh...


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:16:40 pm
Tháng 8 năm 1985, tôi được thăng quân hàm từ Đại uý lên Thiếu tá. Điểm lại từ khi vào ngạch sĩ quan, tôi chỉ được "tuần tự như tiến", bình quân cứ 3 năm lên một bậc, không được nhảy cóc lần nào! Làm lính 23 năm, từ binh nhì lên đến Thiếu tá cũng xem là tạm được. So với Luật sĩ quan sau này là quá chậm, nhưng so trong thời điểm "một năm lên một cấp chưa phải nhanh, mười năm lên một cấp chưa phải chậm", tôi khởi đầu làm lính, nhưng đến khi làm sĩ quan thì lại làm báo chí thời gian khá dài, vì vậy việc thăng quân hàm của tôi như vậy cũng không đến nỗi quá chậm!


Cuối năm 1985, nhân kỷ niệm 40 năm Quốc khánh, chúng tôi làm "Hội diễn Nghệ thuật quần chúng toàn quân chủng" do Nhà Văn hoá dứng ra tổ chức. Tôi đã từng được biết các hội diễn văn nghệ quần chúng, sau mồi lần hay có tiếng xì xèo về chấm điểm tiết mục thiên vị, đáng thế này lại hóa thế kia. Thường người ta nói Ban giám khảo không vô tư, vì vậy tác dụng của Hội diễn Văn Nghệ quần chúng thành ra chưa thật đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ! Tôi suy nghĩ rồi quyết làm khác đi bằng cách đặt ra yêu cầu: Ban giám khảo phải thực hiện triệt để vô tư, không để các nhạc sĩ có bài sáng tác trong Hội diễn là thành viên Ban giám khảo. Nhưng nếu họ buộc phải có mặt làm giám khảo, thì khi chấm điểm không được tính như điểm của những người khác, điểm chấm của họ chỉ là điểm để tham khảo. Phiếu chẩm điểm là điểm trung bình của điểm các phần: nội dung tiết mục nếu là kịch, phần diễn xuất, phần nhạc, phần dàn dựng, phần trang phục, phong cách... Ngoài ra tôi còn thêm 2 phần là giữa các đoàn chấm lẫn cho nhau và phần chấm điểm của khán giả vô tư khi xem hội diễn. Tất cả các nội dung đó đều được thể hiện bằng phiếu chấm điểm phát đến từng thành viên thực hiện nhiệm vụ chẩm điểm trong Hội diễn. Chấm điểm xong, các phiếu đều được thu lại ngay sau tiết mục để cuối buổi diễn, ban giám khảo làm việc tại chỗ. Anh Lê Miên, Phó Cục trưởng Cục Chính trị rất ủng hộ với cách làm đó. Quả nhiên sau hội diễn năm ấy, tiếng xì xèo thắc mắc về phân loại A, B bớt hẳn, các đơn vị đều thỏa mãn về vị thế của mình, kể cả những trường hợp không được giải thưởng trong Hội diễn. Tôi điều hành công việc của Nhà Văn hoá một cách vô tư, không thiên vị và có chú ý cải tiến, nên dần dần cũng được tín nhiệm. Tôi nhớ một lần họp bình bầu thi đua cuối năm, chị Thu Hương không nhận thành tích để được khen thưởng. Chị nói sở dĩ luôn luôn cố gắng làm việc hết mình, chịu khó chạy tìm mua được nhiều sách hay, xây dựng được nhiều thư viện cấp dưới "cốt để thủ trưởng Cục biết được năng lực và trách nhiệm của cán bộ Nhà Văn hoá, tránh cho đồng chí Chủ nhiệm bị Cục nhắc nhở là nuông chiều anh em, lỏng lẻo trong việc quản lý cán bộ". Trách nhiệm cán bộ được nâng lên như vậy nên từ sau Hội diễn 1985, phong trào có bước phát triển, ngày càng đáp ứng được yêu cầu của bộ đội.


Các năm 1986, 1987, 1988 Nhà Văn hóa Không quân làm được nhiều việc cho đơn vị. Xưởng hoạ với năng suất khá cao, giúp cho đơn vị nào cũng vẽ được áp phích, tranh cổ động; Xưởng còn lập được một phân xưởng In lưới để làm thêm, góp vào quỹ cải thiện đời sống chung cho Cục. Phong trào Văn hoá, Văn nghệ phát triển mạnh ở đơn vị cấp sư đoàn, cấp trung đoàn. Hầu hết các đơn vị đều có phong trào múa, hát tập thể, sáng tác thơ, ca, âm nhạc... Trong điều kiện đó, chúng tôi đã từng bước xây dựng được điển hình văn hóa - văn nghệ lừ cấp đại đội, phi đội lên đến cấp sư đoàn. Các Trung đoàn thông tin 252, Trung đoàn Công binh 28, Sư đoàn 371... trở thành các đơn vị điển hình về văn hoá - văn nghệ. Công tác thư viện chưa bao giờ được mở rộng đến như vậy, đại đội nào cũng xây dựng được Phòng đọc sách Bác Hồ. Công tác phát hành phim và chiếu bóng ngoài việc liên hệ trực tiếp với Phát hành phim Trung ương và phát hành phim Quân đội, có được hầu hết các bộ phim hay và mới chiếu cho bộ đội xem, còn thường xuyên phát huy bộ đầu máy video làm cho loại hình chiếu phim rất phong phú. Trong điều kiện Nhà nước chưa có nhiều kênh ti-vi như bây giờ, đơn vị nào cũng được bảo đảm xem phim nhựa đủ, hoặc thừa tiêu chuẩn từ 1 đến 2 lần một tháng....


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:17:57 pm
VIẾT TỔNG KẾT CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ


Trần Dinh


Cuối năm 1984, tôi đang làm Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị ở Sư đoàn phòng không 361, thì được điều động về Cục Chính trị làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng, phụ trách khối tổ chức và là bí thư Đảng uỷ Cục.


Đầu năm 1988, Ban chủ nhiệm phân công tôi phụ trách tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong kháng;chiến chống Mỹ của Quân chủng Phòng không - Không quân.

Thường vụ Đảng uỷ quân chúng trực tiếp lãnh đạo công tác tổng kết và phân công Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính uỷ kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ phụ trách.

Tổ biên soạn gồm các đồng chí Vũ Xuân Sắc, Chu Nam, Trần Ngọc Trạc, do tôi làm chủ biên.

Chúng tôi nhận thức được đây là vấn đề rất lớn, rất phong phú và cần thiết, để lại những bài học bổ ích cho các thế hệ sau. Chúng tôi phải có sự nỗ lực vượt bậc, có quyết tâm cao và phương pháp làm việc phù hợp của cả tổ và từng người mới hoàn thành có chất lượng và đúng thời gian 2 năm.


Chúng tôi rất tin tưởng ở đồng chí Nguyễn Xuân Mậu. Đồng chí đã rất tận tình giúp dỡ, chỉ bảo chúng tôi ngay từ đầu với tình cảm cấp trên cấp dưới, với tình cảm người anh đi trước.

Đồng chí Phạm Liêm lúc này làm Chủ nhiệm Chính trị, tin tưởng và chia sẻ với chúng tôi, tạo mọi điều kiện để hoàn thành tổng kết.

Trước tiên, chúng tôi xem lại các tài liệu tổng kết mà trước đây một số đồng chí viết còn dở dang. Chúng tôi soạn lại một bản đề cương chi tiết, nêu cụ thể các vấn đề cần tổng kết, nhất là những ưu điểm, khuyết điểm và những bài học về công tác đảng - công tác chính trị qua các thời kỳ, kể cả những vấn đề cần đi sâu tìm hiểu thêm, cần xin ý kiến thường vụ, ý kiến các chính uỷ, chính trị viên. Đồng chí Mậu đã tham gia ý kiến vào bản đề cương này. Sau đó, chúng tôi phân công nhau viết từng phần, từng chuyên đề. Cả tổ phải dành nhiều thời gian đi sâu nghiên cứu lại các lời dạy của Bác Hồ đối với quân chủng, các nghị quyết, các chỉ thị của trên, nhất là của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, của đồng chí Tổng tư lệnh, chỉ thị của Tổng Cục Chính trị, nghị quyết của Đảng uỷ quân chủng, chỉ thị kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị của Cục Chính trị, các tài liệu tổng kết và sổ tay kinh nghiệm qua các thời kỳ...


Tổ cũng phân công nhau trực tiếp gặp một số chính uỷ, chính trị viên tìm hiểu thêm những vấn đề chưa rõ hoặc có những ý kiến khác nhau.

Tôi đã trực tiếp gặp Chính uỷ Hoàng Phương, và Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Chính uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân, Chính uỷ Quân chủng Phòng không lúc đó về một số vấn đề như:

- Tại sao có thời kỳ đạn tên lửa bị rơi xuống đất nhiều? Do tư tưởng bộ đội bị "nhiễu" hay địch gây "nhiễu rãnh đạn" mà ta chưa biết?

- Tại sao trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, tên lửa của ta không bắn được quả đạn nào?...

Chúng tôi vừa nghiên cứu, tìm hiểu, vừa viết, tích cực viết đi viết lại nhiều lần và nhiều dịp trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn với nhau, bổ sung cho nhau.

Cuối cùng, Cục Chính trị tổ chức cuộc họp khá đông đủ thông qua bản tổng kết, gồm đại diện Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, Chính uỷ các sư đoàn, Ban chủ nhiệm qua các thời kỳ...

Chúng tôi rất phấn khởi được hội nghị cho nhiều ý kiến quý báu và thông qua. Sau khi tu sửa lại lần cuối, Cục Chính trị đã cho xuất bản năm 1992.

Nay đọc lại bản tổng kết, tôi có mấy điều tâm đắc:

Một là, bản tổng kết đã cổ gẳng nêu được những bài học chủ yếu về công tác đảng, công tác chính trị của Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó thành công lớn nhất và bao trùm nhất là thường xuyên giữ vững và tăng cường được sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với một quân chủng kỹ thuật, làm cho quân chủng đã trưởng thành và thắng lợi vẻ vang: Hoàn thành nhiệm vụ nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tích cực chi viện cho miền Nam, làm nhiệm vụ quốc tê, càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn.


Đối với giai đoạn cách mạng hiện nay, sau 34 năm, tình hình trong nước và thế giới địch, ta có nhiều thay đổi. Nhưng nếu biết nghiên cứu, vận dụng và phát triển, sáng tạo, những bài học đó sẽ góp phàn nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị nói chung và hiệu lực Cục Chính trị nói riêng.


Hai là, Cục Chính trị quân chủng đã hoàn thành được chức năng tham mưu cho Đảng uỷ và Chính uỷ. Các mặt nghiệp vụ: Tổ chức, Tuyên huấn, Cán bộ, Kiểm tra... đều có nhiều hoạt động tốt, sâu sát đơn vị, giúp đỡ hướng dẫn đơn vị, góp phần vào thắng lợi chung của quân chủng.


Tiêu đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2022, 07:20:23 pm
BẦU TRỜI - NGUỒN CẢM XÚC VÔ TẬN CỦA CÁC VĂN NGHỆ SĨ


Ngọc Khuê


Quân chủng Phòng không - Không quân với trọng trách được Đảng, quân đội và nhân dân giao cho là những người lính canh giữ bầu trời Tổ quốc. Chính vì thế, các văn nghệ sỹ - chiến sỹ xuất thân, trưởng thành hoặc công tác trong Quân chủng Phòng không - Không quân luôn luôn có tình cảm đặc biệt với bầu trời. Tình cảm đỏ được nung nấu, hun đúc và tuôn trào trên từng bản nhạc, từng bài thơ, trong từng chương trình, tiết mục biểu diễn. Trong bài viết nhỏ này, người viết chỉ xin điểm lại tác phẩm của một số nhạc sỹ đã viết về Quân chủng Phòng không - Không quân trong nhiều năm qua. Những tác phẩm ấy đã được dàn dựng thành chương trình biểu diễn cho Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và phong trào văn nghệ quần chúng trong quân chủng. Mọi căm xúc trong những tác phẩm ấy của họ đều được bắt đầu từ hai tiếng thân yêu: "Bầu trời!".


Với những người sáng tác ca khúc cho bộ đội, trước hết phải kể đến nhạc sỹ Hoàng Tạo (1936 - 2004). Ông là một nhạc sĩ sáng tác đầu tiên của Đoàn Văn công Phòng không - Không quân, gắn bó với bộ đội Phòng không - Không quân từ những năm đầu đánh Mỹ, đến khi nghỉ hưu. Ông đã say mê, đã yêu bầu trời xanh cao với những đám mây trắng hiền hoà biết bao khi viết những ca khúc chỉ để diễn tả tình cảm của bộ đội Phòng không - Không quân với bầu trời thân yêu của mình. Với chiến sĩ Tên lửa, ông viết:

   "Đêm nay ta về bên sông Đà, rừng phấp phới nở hoa
   Gió vẫy lá rung bánh xe xích sắt, ngỡ ai vui.
   Nơi đây ta lập chiến công đầu, người chiến sĩ Tên lửa..."


Với chiến sĩ pháo cao xạ:

   "Trời xanh thắm, pháo nhìn cầu ánh nước soi hùng vĩ
   Đỉnh núi Ngọc ta dựng lời thề: "Chưa hết giặc chưa về..."


Với chiến sĩ ra-đa, ông viết:
   "Chiến sĩ ra-đa hát lên khúc nhạc canh trời quê hương
   Tám hướng đất nước sáng trong tầm nhìn
   Cánh sóng chiến sĩ phút giây dõi theo ..."


Và với chiến sĩ không quân, ông viết trong "Vùng trời yêu thương" :
   "... Từ dạo có anh, em thêm quý bầu trời
   Thương tiếng chim trưa hè đổ lửa
   Cả những lúc mây ngang vần vũ
   Nỗi lo âu cũng thoảng ngọt ngào..."


Những tác phẩm viết về bộ đội nói chung và bộ đội Phòng không - Không quân nói riêng, đã giúp ông hình thành tên tuổi mình trong lòng người yêu nhạc. Ông đã vinh dự được nhận "Giải thưởng Nhà nước" về văn học nghệ thuật (2007) như: "Tên lửa về bên sông Đà", "Những mùa bay đôi", "Khúc ru tìm đồng đội", "Chiếc ba lô và bài ca tình nguyện",... Phần lớn cuộc đời công tác và sáng tác của ông đều viết về người chiến sỹ Phòng không - Không quân yêu quý của chúng ta.


Nhạc sỹ Lê Tịnh, nguyên là một cán bộ sáng tác âm nhạc của Đoàn Nghệ thuật Không quân. Tuy không công tác nhiều năm tại quân chủng, nhưng về sau, nhiều sáng tác của ông vẫn viết về bộ đội Phòng không - Không quân. Chắc là "duyên nợ" lắm với bầu trời nên trong một lần đi thực tế sáng tác ca khúc chuẩn bị cho kỷ niệm 30 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" năm 2002, ông đa được Lữ đoàn công binh 28 mời đi thăm chùa Trầm, nơi đặt Sở chỉ huy của quân chủng trong thời kỳ đó, và tác phẩm Acapela (Hợp xướng không nhạc đệm) "Hương trầm tháng chạp" đã ra đời từ đó. Với một hình tượng âm thanh trầm hùng, chắc khoẻ, nhưng vẫn dìu dặt và ấn tượng với tầm nhìn bầu trời cao rộng, khoáng đạt:

"... Pháo vươn nòng pháo lên cao Phòng không - Phòng không
   Vẫy tay chào vẫy tay chào lính thợ lính thợ
   Tên lửa vít đầu vít đầu Bê 52 vùi xác xuống làng hoa
   Pháo dăng khắp Hồ Tây che ấm mùa đông..."


Và một "Sê - ri" bài hát mang ấn tượng về bầu trời của ông: Nhạc kịch múa: "Đường vào vũ trụ"; kịch hát: "Bầu trời khát vọng", "Ru chiều"; "Thì thầm thì thầm"; "Hành khúc Sư đoàn 370" ...

Nhạc sỹ Trương Ngọc Ninh là người lính gắn bó với bộ đội Phòng không - Không quân từ khi ông là cán bộ sáng tác của Đoàn Nghệ thuật Phòng không. Nhiều ca khúc ông đã viết đều có nguồn cảm hứng từ bầu trời và những người lính. Bài hát "Dốc gió" với những ca từ rất lính: "Thiếu nước thiếu muối nhưng gió mây thì nhiều, lên càng cao tầm nhìn càng cao, ta tìm trong chín tầng mây có gì bằng cuộc đời người lính canh giữ trời?..." Ca khúc "Cánh bay khát vọng" thì đầy chất suy tư và khao khát được bay lên:
   "Anh sẽ bay như cảnh chim cần bầu trời,
   Anh sẽ bay như cánh buồm cần biển khơi
   Bầu trời gần nuôi những ước mơ xa,
   Bay lên như ước mơ bao đời, bay lên đôi cánh bay khát vọng!"...


Nhạc sĩ Cát Vận đã viết trong ca khúc "Bầu trời tình yêu" của mình:
   "Một bầu trời xanh, bầu trời yêu dấu
   Mang hình sông dáng núi, mang sắc biếc rừng cây
   Đã thành tình yêu của anh và của em ..."


Cùng với nguồn cảm hứng từ bầu trời thân yêu, những người sáng tác nhạc, dù là chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp, đều có nhiều tâm huyết với chiến sỹ giữ trời. Chính trong cuộc chiến tranh cam go và quyết liệt ấy đã nảy sinh nhiều cây bút chững chạc và sắc bén. Các nhạc sỹ: Hoàng Tạo, Thanh Phúc, Cát Vận, Nam Hà, Đàm Giai, Trọng Đạt, Lê Tịnh..., rồi sau đó là Ngọc Khuê, Vũ Việt Hùng, Võ Vang, Văn Thành, Ngọc Hoà, Trịnh Thuỷ... Các cây bút không chuyên lúc đó có Phan Như Hoàng, Thuỷ Sinh, Xuân Điềm, Trường Thịnh, Bá Môn, Ngọc Biền, Trung Tầm... và nhiều anh chị em hiện nay đang công tác tại các đơn vị trong quân chủng như Lê Phú Hoà (367), Thu Hà (Trường Trung cấp kỹ thuật Phòng không - Không quân), Nguyễn Ngọc Trung (377)... Tất cả đều hăng say, bất chấp mọi khó khăn, hy sinh gian khổ, thiếu thốn trăm bề; họ vẫn cứ sáng tác những ca khúc tâm huyết nhất của mình.


Trong lĩnh vực múa, có thể nói từ ngày đầu thành lập đến nay, các biên đạo múa đều đã sáng tác một khối lượng tiết mục đáng kể về những người chiến sĩ bảo vệ bầu trời. Có thể kể đến "Người chiến sĩ Phòng không Phan Đăng Cát" (Biên đạo Nguyễn Việt, Âm nhạc Thanh Phúc), Thơ múa "Quật ngã Thần sấm" (Biên đạo Minh Tiến, Âm nhạc Nam Hà), rồi đến "Cánh chim và Mặt trời" của cố NSND Thái Ly do NSUT - Liệt sĩ Thanh Tùng thể hiện; "Trận địa quê hương" (Biên đạo Xuân Cống, Âm nhạc Đôn Truyền). "Thời" sau có "Cánh cò quê hương" (Biên đạo Trần Đình Quỳ, Âm nhạc Hoàng Tạo), "Đường vào vũ trụ" (Biên đạo Xuân Định, Âm nhạc Lê Tịnh), "Tiếng sáo và cánh cò" (Biên đạo Ứng Duy Thịnh, Âm nhạc Hoàng Lương). Và gần đây là "Khát vọng bầu trời" (Biên đạo Ngọc Anh và Hải Yến, Âm nhạc Nguyễn Mai Kiên) là những tiết mục mà các tác giả đã dành nhiều suy nghĩ và tâm huyết để sáng tạo.


Với người viết bài này, chẳng thể nào quên được cảm xúc của mình trước bầu trời trong xanh, rộng mở ở Hàm Rồng, Thanh Hoá vào những ngày sau chiến thắng trận đầu: 3 và 4 tháng 4 năm 1965, với cây sáo trúc trong tay trên mâm pháo, viết nên ca khúc đầu tay của mình: "Tiếng hát bên dòng sông Mã" đầu năm 1966 lúc mới vừa một tuổi quân và 19 tuổi đời. Về sau, cái tuổi thanh xuân ấy đã được nhắc lại trong "Gặp gỡ đồng đội" với: "... mười tám đôi mươi trời xanh biếc trên đầu...". Chỉ có thế viết được nó khi là lính Phòng không - Không quân, vừa dũng cảm, hiên ngang, bất chấp hy sinh gian khổ, chỉ biết trên đầu mây trắng bay, không cho kẻ thù làm vẩn đục... Cảm xúc về bầu trời dẫn dắt Ngọc Khuê phổ thơ ca khúc "Thiên đường của Mẹ" của Nhà thơ Trần Đăng Khoa: "Ngày nào còn thơ bé, mẹ chỉ tay lên bầu trời xanh. Mẹ bảo đó là Thiên đường, nơi có những lâu dài nguy nga, những nàng tiên xinh đẹp dịu dàng. Hôm nay con bay trong xanh thẳm bầu trời, như hoàng tử trong câu chuyện xưa của mẹ..." Ở "Hạt nắng hạt mưa" thì: "Nỗi nhớ, nỗi nhớ nhoà tan trong hạt mưa. Nỗi nhớ nỗi nhớ khát khao trong chiều nắng. Hạt nắng hạt mưa đi qua trong tiếng em, để lại một bầu trời xanh, rất xanh". Với "Ký ức trong tôi là em" trong những tháng ngày gian nan chiến đấu xưa thì: "Em trắng trong từng giọt mắt. Em đắm say từng giọt nhìn. Thuở chúng mình yêu nhau trời có dâu xanh thế?" Hoặc ở "Khoảnh khắc mùa xuân" thì câu hát mênh mang hơn, như chào đón một mùa xuân tươi mới, bắt đầu từ một sự giao mùa: "Đàn chim giăng bay lượn ngang trời. Khoảng xa chân mây đột nhiên xanh. Một khoảnh khắc có rất nhiồu biến động. Một cành đào để tiễn một mùa đông...".


Người chiến sĩ Phòng không - Không quân hát về bầu trời, bầu trời đã bao năm ngát xanh trên những miền đất thân yêu của Tổ quốc. Từ những ngày đầu của Văn công PK-KQ, họ đã hát Tên lửa về bên sông Đà, Từ mặt đất thân yêu, Trận địa quê hương... Rồi sau đó là Bầu trời tình yêu, Bầu trời đồng đội, Bầu trời anh canh giữ, Bầu trời tình Bác hay Nơi ấy Bầu Trời của Nguyễn Cường với những ca từ chan chứa tình yêu:

        Tuổi trẻ chúng tôi gửi vào nơi ấy
   Tinh yêu chúng tôi gửi vào nơi ẩy
   Nơi thử thách tâm hồn, nơi thử thách con người
   Như tình yêu của anh xanh thẳm trùng khơi,
   Nơi ấy em ơi: Bầu trời!

Là một ca khúc nhạc nhẹ, sau cả đoạn 2 với giai điệu tiến dần lên thành cao trào, bài hát hạ xuống 2 từ kết Bầu trời thật ngọt ngào, chính tác giả đã lý giải nó như cách mà cha ông ta đã làm trong cải lương, lúc "xuống xề", khán giả chỉ có vồ tay tán thưởng!


Không chỉ đối với các chiến sĩ lái máy bay, các chiến sĩ tên lửa, ra-đa, pháo cao xạ và những người phục vụ trong các ngành nghề khác như kĩ thuật, hậu cần, công binh, thông tin... cũng đều trong những tâm trạng ấy: Hát và yêu quý bầu trời mà Tổ quốc đã giao cho chúng ta canh giữ! Đó là những người mà: Trận địa anh không xây trên cao, mà lòng anh phơi phới tự hào! (Bài ca anh nuôi - Phan Như Hoàng)...


Trong, suốt chiều dài hơn 45 năm Quân chủng Phòng không - Không quân (1963 - 2008) và 45 năm Đoàn Nghệ thuật Phòng không - Không quân (1964 - 2009), chúng ta đã viết, đã hát, đã vẽ về bầu trời, mà cũng không chỉ những nhạc sỹ, nhà thơ, mà các nhà văn, hoạ sỹ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, biên đạo múa... dù có công tác trong Quân chủng hay không thì tất cả đều có chung một nguồn cảm xúc vô tận, nguồn cảm xúc đó là "Bầu trời"!