Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2022, 04:47:13 pm



Tiêu đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2022, 04:47:13 pm
(https://www.nxbctqg.org.vn/img_data/images/591795432489_tvt.jpg)




THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ
VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ B2 THÀNH ĐỒNG



TS. QUÁCH THU NGUYỆT
(tổng hợp và tuyển chọn)

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT - 2021

Nguồn: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật





Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN

Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. NGUYỄN HOÀI ANH

Biên tập nội dung:
TS. NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. PHẠM VĂN THÔNG
ThS. NGUYỄN VĂN TUÂN
ThS. NGUYỄN CÔNG TÂY
LÊ THỊ THU HỒNG
PHAN KIM YẾN
NGUYỄN VIỆT HÀ

Trình bày bìa:      TRẦN QUYẾT THẮNG

Chế bản vi tính:        TRẦN VĂN TIẾN

Đọc sách mẫu:  PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
                        BÍCH LIỄU



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2022, 04:49:18 pm
LỜI NHÀ XUẤT BẢN


    Thượng tướng Trần Văn Trà (1919-1996) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, quê ở xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông sớm tham gia hoạt động cách mạng và trở thành một trong những vị tướng tài năng của Quân đội nhân dân Việt Nam, gắn liền với những chiến công hiển hách trên chiến trường miền Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

    Kể từ khi chính thức bước vào con đường binh nghiệp với trận đánh quân Pháp ở mặt trận Cầu Bông ngày 23/9/1945, ông đã cống hiến cả cuộc đời cho cuộc trường chinh 30 năm của dân tộc, đã gắn bó với đồng chí, đồng bào Nam Bộ, với Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong quá trình công tác, ông đã đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như: Khu trưởng Khu 8, Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh Phân liên khu miền Đông, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên ở Sài Gòn, Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng...

    Năm 1982, ông nghỉ hưu. Dù được nghỉ hưu nhưng ông vẫn không ngừng làm việc. Với cương vị là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã có nhiều hoạt động để xây dựng Hội và chăm lo cho đời sống của đồng chí, đồng đội. Đặc biệt, ông cũng dành thời gian cho việc nghiên cứu và để lại cho đời nhiều công trình, bài viết nhằm tái hiện và tổng kết chặng đường 30 năm đấu tranh giải phóng của quân và dân trên vùng đất B2 Thành đồng.

    Năm 1996, Thượng tướng Trần Văn Trà từ trần, khép lại một cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho cuộc kháng chiến vệ quốc thần thánh của dân tộc, cho lịch sử vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

    Với mong muốn xuất bản một bộ sách thể hiện tương đối đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp và những công trình, bài viết của Thượng tướng cũng như những tình cảm của các đồng chí, đồng đội dành cho Thượng tướng, gia đình Thượng tướng Trần Văn Trà đã chuyển cho TS. Quách Thu Nguyệt toàn bộ các công trình, bài viết, di cảo của ông. Sau khi nghiên cứu tập tư liệu đồ sộ đó, TS. Quách Thu Nguyệt đã tổng hợp và tuyển chọn lại thành bộ sách Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành đồng.

    Bộ sách gồm 4 phần chính và phần Phụ lục, được chia thành hai tập (Tập 1 gồm các phần I, II; Tập 2 gồm các phần III, IV và Phụ lục). Phần I tái hiện cuộc đời, sự nghiệp của Thượng tướng Trần Văn Trà, được tổng hợp từ những trang nhật ký và nội dung Thượng tướng trả lời phỏng vấn của báo chí. Các phần II, III, IV là những ghi chép về chiến tranh, tái hiện cuộc chiến tranh 30 năm giải phóng trên vùng đất B2 Thành đồng, qua đó lý giải nguyên nhân thành công, thất bại ở từng trận đánh và rút ra bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo chiến tranh. Phần Phụ lục gồm các bài viết của đồng chí, đồng đội, những người từng có dịp làm việc, tiếp xúc với Thượng tướng, qua đó làm rõ hơn nhân cách, tài năng của Thượng tướng. Cuối bộ sách còn có một số hình ảnh góp phần khắc họa sinh động thêm về cuộc đời Thượng tướng Trần Văn Trà.

    Mặc dù TS. Quách Thu Nguyệt và Nhà xuất bản đã có nhiều cố gắng trong việc thẩm định, xác minh tư liệu, sự kiện, sắp xếp, biên tập nội dung các phần cho phù hợp, nhưng bộ sách không tránh khỏi vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để’ lần xuất bản sau bộ sách được hoàn thiện hơn.

    Xin trân trọng giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.


                                     
   Tháng 11 năm 2021
                                           NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2022, 04:53:39 pm
LỜI NÓI ĐẦU


     Những ngày cuối cùng của tháng Chạp năm Mậu Tuất (2018), tôi được phu nhân Thượng tướng Trần Văn Trà trao cho toàn bộ tài liệu, các công trình, bài viết, những trang đánh máy, di cảo viết tay của cố Thượng tướng với lời nhắn gửi: “Con cố gắng giúp thím sắp xếp, biên tập để xuất bản tập sách cuối cùng của chú nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của chú (1919 - 2019)”. Vậy mà tôi đã lỗi hẹn!

     Hơn hai năm để đọc tất cả nguồn tài liệu mà trong ấy phần nhiều là các trang đánh máy, các bản thảo viết tay, những trang viết nháp dở dang, những phát biểu, biên bản đúc kết được ghi chép lại từ các băng ghi âm các buổi làm việc cùng các trợ lý phục vụ cho công trình tổng kết chiến tranh Việt Nam, các bài viết từ các trang báo đã ố vàng được cắt ra, sắp xếp, gìn giữ cẩn thận..., quả là một việc thật khó khăn với cá nhân tôi.

     Làm sao nắm được toàn bộ ý tứ, nội dung trong ngồn ngộn tài liệu thấm đẫm mùi thời gian để hệ thống hóa, sắp xếp cấu trúc, bố cục sao cho thể hiện trung thực tư tưởng, tình cảm, tầm tư duy khái quát, lòng yêu nước, lý tưởng dấn thân vì độc lập, tự do, hòa bình cho Tổ quốc của một người con quê hương xứ Quảng. Làm sao khắc họa được chân dung và phẩm cách của một người lính Cụ Hồ trở về từ hai cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh; của một sĩ quan quân đội xông xáo, nhạy bén và bản lĩnh trên khắp chiến trường Nam Bộ; của một cựu chiến binh hết lòng vì đồng chí, đồng đội sau ngày đất nước im tiếng súng, sạch bóng quân xâm lược...

     Lúc còn làm Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Trẻ, cùng với gia đình và người trợ lý gần gũi nhất của Thượng tướng Trần Văn Trà là Đại tá Nguyễn Viết Tá, chúng tôi đã từng trực tiếp tổ chức, biên tập các cuốn sách về Thượng tướng và người thân trong gia đình. Đó là các cuốn sách: Gởi người đang sống (1996), 365 ngày vĩnh biệt anh - Thượng tướng Trần Văn Trà (1997), Cảm nhận về Xuân Mậu Thân (1998), Liệt sĩ - Luật sư Lê Đình Chi và gia đình (2009).  Nay, duyên may một lần nữa được tiếp cận nguồn tư liệu di sản của tướng Trà, tôi thật sự bị lôi cuốn và không khỏi thán phục vì kiến thức uyên thâm, tầm tư duy khái quát, độ nhạy bén về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật trong chiến tranh, trong các trận đánh cụ thể. Qua những trang tư liệu đọc được, tôi càng thêm kính phục phẩm chất, phong cách làm việc và nghiên cứu nghiêm cẩn, khoa học của một người lính trí thức, văn võ song toàn. Có thể nói, cùng với những thành tích của một chỉ huy quân đội trên chiến trường miền Nam, sau ngày hòa bình lập lại, ở cái tuổi lý ra phải được ngơi nghỉ, nhưng Thượng tướng vẫn dốc sức cho công việc tổng kết chiến tranh và chăm lo “đền ơn đáp nghĩa” cho những đồng đội, những người lính đã dành cả thanh xuân để xông pha nơi làn tên mũi đạn bảo vệ nền độc lập nước nhà trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

    Đóng góp giá trị nhất của Thượng tướng sau khi nghỉ hưu chính là việc tổ chức công trình tổng kết chiến tranh: Chặng đường 30 năm B2 Thành đồng.

    Theo kế hoạch, công trình tổng kết sẽ được phân kỳ theo mỗi giai đoạn chiến tranh, tương ứng với từng tập:

    Tập 1: Từ Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đến phong trào Đồng khởi năm 1960. Tựa sách là “Hòa bình hay chiến tranh”.

    Tập 2: Từ năm 1961 đến năm 1965 - thời kỳ đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Tựa sách dự kiến là “Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng”.

    Tập 3: Từ năm 1965 đến năm 1968. Tựa sách dự kiến là “Chiến tranh cục bộ”.

    Tập 4: Từ năm 1969 đến năm 1973. Tựa sách dự kiến là “Mỹ cút, ngụy nhào”.

    Tập 5: Từ Hiệp định Paris năm 1973 đến ngày 30/4/1975. Tựa sách là “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm”.

    Tiếc rằng, cho đến nay, công trình tổng kết chỉ kịp hoàn thành và xuất bản được Tập 1 và Tập 5, các tập còn lại: 2, 3, 4 vẫn còn dang dở. Song, thật ngẫu nhiên, Tập 5 với tiêu đề “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” cũng là tập cuối, nhưng lại được công bố và xuất bản đầu tiên vào năm 1982 và Tập 1 là tập đầu tiên được hoàn tất và công bố sau đó vào năm 1992. Như vậy, với tập mở đầu và tập kết thúc, phần nào cũng giúp người đọc thấu hiểu được nguồn gốc của cuộc chiến tranh Việt Nam (từ năm 1945 đến năm 1975), những nỗ lực của quân dân miền Nam cùng với quân dân cả nước sẵn sàng hy sinh tất cả và bền bỉ, quyết tâm đấu tranh cho nền độc lập, tự do và thống nhất nước nhà để có một kết thúc có hậu là ngày toàn thắng 30/4/1975, đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào.

    Riêng Tập 2, ngay sau khi hoàn tất Tập 1, đề cương đã được bàn bạc và cơ bản đã được bố cục xong, ngay cả chương đầu tiên của tập này cũng đã hoàn tất, các chương tiếp theo được hẹn rằng sau chuyến đi công tác nước ngoài quay về sẽ tiếp tục, vậy mà người chủ trì công trình quan trọng này đã vĩnh viễn ra đi. Thượng tướng Trần Văn Trà mất vào ngày 20/4/1996 trong sự thương tiếc của nhiều người và công trình tổng kết chiến tranh vẫn chưa hoàn thành.

    Bộ sách Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành đồng gồm 2 tập với cấu trúc 5 phần, trong đó chiếm phần lớn (ở phần II, phần III, phần IV) là những ghi chép chiến tranh. Với tư cách là chứng nhân, là người tham gia vào cuộc chiến, hơn thế với tư cách một nhà khoa học, nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, Thượng tướng đã phác thảo một bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến 30 năm (1945-1975). Cuộc chiến 30 năm giành độc lập, thống nhất đất nước đã được mô tả dưới góc nhìn từ hai phía: địch - ta, chính nghĩa - phi nghĩa; được phán đoán, phân tích kỹ về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, cả việc nhận định đánh giá, lý giải nguyên nhân thành công, thất bại ở từng trận đánh cụ thể để có thể rút ra những bài học quý giá về khoa học và nghệ thuật trong chỉ đạo chiến tranh.

    Phần Phụ lục gồm các bài viết của đồng chí, đồng đội, của những người từng quen biết, làm việc, tiếp xúc với Thượng tướng, đã cho chúng ta nhìn rõ hơn tài năng, phẩm cách và tâm hồn của Thượng tướng cũng như những tình cảm yêu thương, quý trọng mà mọi người dành cho ông khi còn tại thế hay kể cả khi đã vĩnh viễn rời xa cõi tạm.

    Sau cùng, nói như phu nhân Thượng tướng Trần Văn Trà, đây là bộ sách cuối cùng, tôi xin bổ sung thêm, đây cũng là bộ sách đầy đủ nhất của Thượng tướng về tổng kết cuộc chiến 30 năm diễn ra nơi mảnh đất phương Nam, về lịch sử cá nhân, về hành trạng và đóng góp của Thượng tướng dành cho quê hương, cho mảnh đất B2 mà ông đã dành cả đời hiến dâng.
    Do đây là bộ sách cuối cùng và đầy đủ nhất của Thượng tướng, nên đan xen vào các trang viết có tính chất tổng kết, hệ thống, chúng tôi đã cố gắng chụp và đánh máy lại những trang nháp viết dở dang, vừa để lưu giữ bút tích, vừa để người đọc cảm nhận được cốt cách, tâm hồn của một vị tướng như những câu thơ nhẹ nhàng, thanh thoát được ông cảm tác ngay khi hòa bình lập lại mà người thân, đồng đội, đồng chí vẫn luôn nhắc nhớ:

       “Ra đi hai bàn tay trắng,
       Trở về một dải giang san.
       “Trăng xưa hạc cũ”, dòng sông lặng,
       Mây nước yên bình, thiên mã thăng”.


    Xin được trân trọng giới thiệu bộ sách Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành đồng đến bạn đọc gần xa.

                                 
  Những ngày cuối năm 2019
TS. Quách Thu Nguyệt
                       Nguyên Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Trẻ


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:12:28 am
(https://i.imgur.com/lYK8EBl.jpg)


(https://i.imgur.com/Dr3fgDF.jpg)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:18:28 am
Tôi sinh năm 1919. Quê ở xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Cha tôi là thợ xây, không có ruộng, mẹ tôi buôn bán gánh gồng chắt chiu nuôi anh em chúng tôi ăn học với mong muốn anh em chúng tôi trở thành người có học. Những năm 1930-1931, phong trào cách mạng ở quê tôi rất mạnh, thường biểu tình chống Pháp, chống thuế, chống phu phen tạp dịch. Cha tôi luôn tham gia các cuộc đấu tranh này. Tôi lúc đó mới 11-12 tuổi, học trường huyện nhưng cũng tham gia chép truyền đơn, rải truyền đơn, dán khẩu hiệu theo hướng dẫn của các anh lớn. Huyện thường có biểu tình nên trường hay phải nghỉ học.

    Có lần, lính lê dương, khố đỏ đặt súng máy ven đường chặn không cho đoàn biểu tình lên tỉnh. Đoàn biểu tình đưa kiến nghị, nó nhận, nhưng bắt giải tán. Hai bên giằng co. Nó bắn, người cầm cờ ngã xuống. Người sau lao lên cầm cờ. Chết nhiều quá. Đoàn biểu tình chạy sang hai bên đường. Có những anh bạn lớp trên tôi cũng bị bắn chết. Cảnh tượng đó bây giờ còn đậm nét trong đầu tôi.

    Sau đó, lính về tận làng tôi khủng bố. Ở quê tôi có hai nhà nho tham gia phong trào Cần Vương là ông Lê Trung Đình (Cử Đình) và ông Nguyễn Tự Tân (Tú Tân) bị chúng chém ở bãi sông Trà Khúc. Những người già kể cho tôi nghe với lòng cảm phục. Ở trường huyện có ông giáo người Quảng Trị chắc cũng là nhà cách mạng, thường đọc thơ văn, kể chuyện về cụ Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu. Lúc ấy, dù còn bé, tôi cũng có được một quyển sách đầy thơ văn cách mạng. Ảnh hưởng này đối với tôi rất lớn, suốt đời tôi ghi nhớ bài học làm người: Phải sống như thế nào cho xứng đáng là con cháu các cụ.

    Nhà nghèo nên mặc dầu các cụ tôi rất mong tôi học cao hơn nhưng tôi không học được các ngành khác. Năm 1936, tôi thi vào Trường Kỹ nghệ ở Huế. Ở đây, tôi tham gia ngay phong trào học sinh của trường, của thành phố Huế. Năm 1938, tôi đã được Chi bộ Đảng nhà trường kết nạp.

    Bọn mật thám đánh hơi, theo dõi, nên năm học cuối cùng tôi bị quản chế, không cho ra ngoài trường và thi đậu xong không được sắp xếp công việc.

    Tôi biết anh Ba Lê Duẩn năm 1938, khi tôi được kết nạp Đảng. Năm 1939, tôi vào Sài Gòn xin làm ở nhà máy xe lửa. Tôi thi tuyển làm thợ tiện và Xứ ủy Trung Kỳ cũng giới thiệu tôi sinh hoạt Đảng ở đây dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn. Nhưng chỉ 6 tháng sau, do có anh em ở Huế bị bắt khai báo nên tôi cũng bị bắt đưa ra Huế. Khi ở Huế, học ở Trường Kỹ nghệ, tôi đã được theo học lớp huấn luyện, nghe anh Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ giảng. Khi vào Sài Gòn, tôi lại được gặp anh khi anh vào họp Hội nghị Trung ương Đảng ở Sài Gòn. Tôi đã nói với anh là tôi đang bị truy lùng, nên trốn hay làm thế nào. Anh bảo tôi: Đã bị lộ rồi, nếu bị bắt, nhận là đảng viên thường, không khai báo gì cũng chỉ tù mấy tháng là xong.

    Khi bị đưa ra Huế, vào nhà tù, tôi đã thấy các anh Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Hoàng Anh... và các anh trong Đảng bộ Thừa Thiên, cả trong Chi bộ của tôi cũng đang ở trong tù. Anh em khai tôi là Thanh niên dân chủ. Tôi cũng nhận như vậy và bị nhẹ nhất, không bị tra tấn gì vì tôi là người cuối cùng bị bắt. Ra tòa, tôi bị chúng kết án 6 tháng tù. Nhưng 8 tháng sau, chúng mới thả, bắt về quản thúc tại Quảng Ngãi. Nhờ có bạn bè làm ở dinh quận, dinh tuần vũ, tôi tìm cách trốn đi. Anh em làm cho cái căn cước giả, cho tôi ba đồng bạc (lúc đó quý lắm). Vào Đà Lạt, tôi tá túc ở chỗ anh em cùng trường làm việc ở đấy một thời gian, sau đó về Sài Gòn. Đi xe lửa xuống đến An Lộc, không dám đi qua Biên Hòa, tôi xuống tàu và lại tá túc ở chỗ anh em học cùng trường ra. Từ đó, tôi đi bộ về Chợ Lớn. Sau đó, tôi lại xin làm thợ ở Sở Cao su, Công ty Cuốc Tơ (Cẩm Mỹ ngày nay). Làm 6 tháng, tôi lại về Sài Gòn bắt liên lạc với các đồng chí như Lê Xuân Định học cùng Trường Kỹ nghệ để trở lại hoạt động (năm 1943). Ở trường, tôi hoạt động từ năm 1936, khi tôi ra trường anh mới bắt đầu hoạt động (năm 1939). Lúc này, anh Định đã là đảng viên rồi. Anh báo cho tôi biết, anh Trường Chinh phái các anh Nguyễn Hữu Ngoạn, Nguyễn Hữu Xuyến vào bắt liên lạc với Đảng bộ trong này. Tờ Giải phóng được giao cho tôi, in bằng xu xoa. Báo đã ra được 3 hay 4 số thì Ngoạn từ miền Bắc vào, cho biết ngoài đó người ta in bằng litô. Đưa cho tôi xem một tờ in rất đẹp, nhưng đồng chí chỉ biết là in litô là viết chữ trên đá, còn cách in thế nào thì không rõ. Tôi thấy in litô rất đẹp, nhưng do không biết cách in như thế nào, tôi quyết đi tìm hiểu. Tôi mượn quần áo rất sang đi đến một nhà in (không nhớ tên) nằm trên đường Catinat, gần Nhà hát thành phố, chủ là người Việt. Nhà in lớn, in cả litô và typô. Tôi giả là sinh viên trường Mỹ thuật Hà Nội, người Đà Nẵng. Nói dóc với chủ rằng tôi có ông già khá giả lập một nhà in litô ngoài đó, nhưng thợ dở quá in không được đẹp, nên vào đây tham quan coi thế nào. Người phụ trách nghe tôi nói học trường Mỹ thuật thì thích lắm, đưa tôi đi thăm các chỗ viết, in. Khi đó, tôi mới biết in litô là như thế nào. Dịp may, tôi làm quen với ông quản đốc rồi giả bộ ra về. Nhưng ra ngoài, đợi hết giờ làm việc, tôi kéo anh ta vào khách sạn đãi cốctai hẳn hoi, rồi bàn với anh ta: Nếu anh giúp nhà in của tôi in đẹp thì tôi xin hậu tạ. Anh ta chỉ cho tôi cách viết và in rất chi tiết, làm sao bảo đảm in đẹp. Anh ta còn cho tôi chai mực và dặn: Anh in thử, nếu tốt tôi sẽ ra giúp anh. Vậy là tôi mua một tấm đá cẩm thạch, đồ nghề viết thẳng trên đá bằng tay trái, cuối cùng cũng in đẹp. Mừng quá, tôi đưa một số anh em, có cả Việt Châu - em ruột tôi, cùng viết với tôi. Tôi vừa biên tập vừa in ấn được tờ Giải phóng từ số 6 (hay số 7) đến số 11 thì bị địch bắt. Hồi ấy, tôi mướn nhà ở Tân Định (nay là Xí nghiệp Nông cơ), ban đêm thường đi ngủ chỗ khác. Vào một ngày tháng 5/1944, khoảng 12 giờ đêm, không may, khi tôi chuẩn bị ra về thì trời mưa nên đành ngủ lại. Đúng đêm đó, tôi bị địch bắt. Mật thám, cảnh sát từ Chợ Lớn được điều qua bao vây và bắt chúng tôi. Khi chúng đưa chúng tôi lên xe ngồi chung, tôi dặn anh em cứ đổ hết cho tôi, đừng khai nhận gì hết. Chúng đánh thì cứ đánh, cứ nói đó là của anh Thắng, anh em chỉ ở trọ trong nhà để đi làm. Có hai anh em bị đánh đau quá nên nhận có làm, chúng lại lôi tôi ra đánh. Tôi nói các ông đánh họ đau quá nên họ nhận bậy chớ họ có biết gì. Cứ thế chúng đánh tôi nhiều đòn, do tên Cảnh trực tiếp thực hiện. Ngoạn bị bắt trước tôi cũng bị đánh. Tôi bị tra tấn ở bót Catinat, xong chúng đưa vào Khám Lớn. Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Hải Trừng, Lưu Hữu Phước cũng bị Pháp bắt vào Catinat. Các anh nghe bọn chúng kháo nhau một số người bị bắt, bị tra tấn ở đây mới đưa vào Khám Lớn có tên Thắng đã từng bị Tây quản thúc ở quê là chủ bút, chắc chắn sẽ bị đày ra Côn Đảo, nên khi vào tù các anh đã tìm hiểu tôi là ai, ở đâu và gửi tặng tôi một cái khăn mùi xoa (khăn tay). Sau này, gặp anh Lưu Hữu Phước, anh nhắc tôi mới nhớ ra. Khi anh Nguyễn Hải Trừng ra Đồng Tháp cũng nhắc đã kéo tôi vào cầu tiêu nói chuyện Việt Minh. Như vậy là nhóm đó biết tôi hồi ở bót Catinat.

    Tụi tôi có 9 người, bị chúng đưa từ bót Catinat qua Khám Lớn Sài Gòn. Tôi tưởng chúng nhốt tôi ở khu chính trị, ai ngờ chúng nhốt chúng tôi chung với nhóm Bình Xuyên và bọn cướp ở lầu 3. Thấy một góc chưa có ai, chúng tôi ngồi vào đó tán với nhau để chờ phát cho mỗi người một chiếc chiếu. Thấy tôi lo cho anh em, bọn tù ở đây cho tôi là sếp, kêu tôi tới. Tên Sáu Khải ngồi trên một đống chiếu hỏi tôi: Tụi bây làm sao mà vào đây? Tôi nói tụi tôi không làm gì cả, nghi làm chính trị nên chúng nó bắt. Nó nói tụi bây làm chính trị đó hả, làm chính trị mà không biết tôn ti trật tự là cái gì cả, tại sao không đến đây trình diện? Sáu Khải vừa nói xong, tên Thắm nhào lại đánh tôi, tôi đứng dậy đánh lại một cái. Tụi đứng chung quanh tản ra. Mới đầu có thế thôi, chúng hăm dọa một chút. Nhưng do tôi đánh trả lại nên chúng mới nói chuyện phải chăng: Trong này cũng như ngoài đời, ai vào đây phải qua tôi, các anh là chính trị phạm nên không biết. Thôi về đi, cứ nằm ở đó. Làm cái gì sau này phải xin phép. Tên Sáu Khải là tên trọng án, Pháp nhốt chung để trị bọn tội phạm. Qua đó, tôi mới biết đây không phải là nhóm chính trị mà là bọn mặc rô (ma cô), Bình Xuyên. Tên Bảy Rô là Bình Xuyên cũng bị giam ở đây. Tên Sáu Khải và một tên nữa (tôi không nhớ tên) là sếp bọn này. Biết như thế, tôi bắt đầu vận động, nói chuyện, tìm hiểu người nào không xấu để giác ngộ dần một số người Bình Xuyên và một số ăn cắp dây đồng. Bảy Rô là một trong số được tôi giác ngộ. Tên Mười Một cũng được giác ngộ, nhưng sau ra kháng chiến nó phản thùng. Tên Thắm bị tôi đánh nên căm lắm, nó mài một cây sắt định đâm tôi, nhưng nhờ giác ngộ một số anh em như Bảy Rô, nên họ chia nhau canh gác ngày đêm đề phòng hắn đâm tôi. Bảy Rô sau ra kháng chiến giữ vững tinh thần từ đầu đến cuối. Còn Mười Một thì hỏng. Các tay khác tôi không gặp lại.

    Ngày 22/8/1945, Chính phủ Trần Trọng Kim thả tù chính trị nên tôi được tự do. Ngày 25/8/1945, chúng tôi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn.

    Khi ra tù, tôi bắt liên lạc ngay với Xứ ủy và được phân công về Kỳ bộ Việt Minh do anh Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách. Khi ấy tình hình nội bộ ở Sài Gòn cũng phức tạp. Nhóm Tiền phong do anh Giàu, anh Giáp, anh Khiêm... phụ trách. Nhóm Giải phóng do anh Dân Tôn Tử, anh Khương, chị Thập... phụ trách, không muốn đứng cùng đội hình với nhóm Tiền phong vì nghi kỵ lòng trung thành của các anh ấy và khác nhau về chủ trương.

    Khi tôi bị bắt, anh Lê Hữu Kiều thay tôi phụ trách tờ Giải phóng. Nhóm Giải phóng liên lạc với Trung ương, nên nói chung hoạt động nắm vững đường lối của Đảng hơn. Nhưng khi chúng tôi bị bắt thì đứt liên lạc với Trung ương và mãi đến năm 1945 Trung ương mới liên lạc được với Nam Bộ nhưng với nhóm Tiền phong.

    Ngày 23/9/1945, Pháp đánh ta. Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ. Tôi bắt đầu là người lính cách mạng từ đấy. Và trận đầu là gậy tầm vông đánh giữ mặt trận Cầu Bông trong nội đô.

    Sau ngày 23/9/1945 ít lâu, mặt trận Sài Gòn vỡ. Cơ quan lãnh đạo ta dồn về Mỹ Tho. Tôi xin ở lại chiến đấu tại Sài Gòn. Lúc này, đáng lẽ sau khi giành được chính quyền ta phải giáo dục cách mạng, vũ trang quần chúng ngay, tổ chức lực lượng vũ trang trung kiên do Đảng lãnh đạo. Nhưng, khi ấy lại dựa vào 4 sư đoàn tự lập bao gồm lính phòng vệ đoàn của Nhật và lính của Pháp vừa chạy theo cách mạng, có bổ sung một số thanh niên do mật thám Nhật - Pháp chỉ huy như Nguyễn Hòa Hiệp, Lý Hoa Vinh..., không có một nhà cách mạng, một đảng viên cộng sản nào. Sau đó, bốn sư đoàn này không đánh giặc, mà lại chạy ra ngoại thành tước vũ khí của dân quân và cướp bóc nhân dân. Cùng lúc đó còn có lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo càng làm cho tình hình thêm phức tạp.

    Do đó, tôi cùng các anh Hoàng Dư Khương, Lê Minh Định (trong Xứ ủy Giải phóng) bàn bạc với nhau ra họp Tỉnh ủy Gia Định (nhóm Giải phóng) để bàn việc phải thành lập quân đội, phải nắm lực lượng vũ trang mới bảo vệ được chính quyền cách mạng. Chúng tôi lập ra “Giải phóng quân liên quận Hóc Môn, Bà Điểm, Đức Hòa” (3 địa phương có cơ sở mạnh). Anh Tô Ký trong Tỉnh ủy Gia Định làm Chỉ huy trưởng, anh Hoàng Dư Khương trong Xứ ủy Giải phóng làm Chính trị viên. Tôi lo công tác Đảng và quần chúng. Sau một tháng, anh Khương đề nghị thay đổi nhiệm vụ giữa tôi và anh ấy, được tập thể đồng ý. Thế là tôi làm Chính trị viên.

    Tình hình miền Nam lúc đó rất khó khăn mặc dầu được sự tăng cường của các lực lượng Nam tiến và anh Nguyễn Bình được Trung ương cho vào chỉ huy Khu 7 (miền Đông), anh Đào Văn Trường chỉ huy Khu 8 (miền Trung), anh Vũ Đức (người dân tộc Tày cùng vào với anh Nguyễn Bình) chỉ huy Khu 9 (miền Tây).

    Theo quyết định của Trung ương, anh Trần Văn Giàu ra Bắc, hai Xứ ủy Tiền phong và Giải phóng hợp nhất, mời bác Tôn Đức Thắng làm Bí thư Xứ ủy, bác không nhận, giới thiệu anh Lê Duẩn.

    Trên đường ra Trung ương, tháng 3/1946, anh Lê Duẩn gặp tôi, bàn đưa một bộ phận lực lượng “Giải phóng quân liên quận” tăng cường cho Khu 8 và tôi phải chịu trách nhiệm củng cố, chấn chỉnh Khu 8.

    Tôi cùng anh em Khu 8 lập ra Chi đội 14 (như trung đoàn sau này), tôi là Chi đội trưởng và bắt đầu xây dựng Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa.

    Sau khi anh Lê Duẩn ra Bắc, các anh Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, Lê Văn Lương và một số anh nữa cũng ra. Các anh khác như Phạm Hùng, Hà Huy Giáp..., tản mát khắp nơi. Xứ ủy không còn. Anh Phạm Văn Bạch - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính cũng ra Trung ương, bộ máy lãnh đạo hầu như không còn. Ở các tỉnh thì vẫn có hai tỉnh ủy Tiền phong và Giải phóng. Giữa lúc đó, địch đánh bung ra. Ta mạnh đâu đánh đấy. Nhiều nơi tan rã. Xây dựng được Chiến khu 8 (Đồng Tháp Mười), thì anh Ung Văn Khiêm từ Khu 9 lên gặp tôi đề nghị tôi tổ chức cho anh ấy ra Trung ương báo cáo tình hình. Tôi giữ anh ấy lại không cho đi vì đã có quá nhiều người ra Trung ương báo cáo rồi. Tôi cùng anh Khiêm đứng ra thay mặt cho nhóm Giải phóng và Tiền phong triệu tập lập nên Xứ ủy Đảng lâm thời do anh Khiêm làm Bí thư và tiếp tục thống nhất, củng cố các tỉnh ủy. Sau đó Xứ ủy xây dựng lại Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ do anh Phạm Ngọc Thuần làm quyền Chủ tịch, anh Ung Văn Khiêm làm Ủy viên nội vụ, anh Nguyễn Bình là Ủy viên quân sự.

    Đây là việc làm quan trọng, củng cố được bộ máy lãnh đạo toàn Nam Bộ cả về Đảng và chính quyền, đem lại tin tưởng cho nhân dân trong tình thế gay go của những ngày đầu kháng chiến lúc bấy giờ. Chúng tôi cũng xây dựng được lực lượng vũ trang Khu 8 và bắt đầu hoạt động đồng đều và vững.

    Tháng 9/1946, Trung ương chỉ định tôi làm Khu trưởng Khu 8, anh Nguyễn Văn Vịnh làm Chính trị viên, anh Trương Văn Giàu làm Khu phó. Tháng 11/1946, chúng tôi họp hội nghị toàn khu lần đầu tiên để củng cố tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, chặt chẽ. Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính đóng trên địa bàn Khu 8 tại Đồng Tháp Mười cũng tạo thêm điều kiện cho khu có nền nếp hoạt động vững vàng.

    Cũng đúng tháng 11/1946, anh Vũ Đức - Chỉ huy Khu 9 ra Bắc bị phục kích, hy sinh, Trung ương chỉ định anh Huỳnh Phan Hộ làm Khu trưởng Khu 9, anh Phan Trọng Tuệ làm Chính trị bộ.

    Năm 1947, anh Lê Duẩn vào gặp chúng tôi ở Đồng Tháp Mười. Tình hình kháng chiến Nam Bộ đang lên mạnh, Xứ ủy chính thức được bầu trong một cuộc hội nghị tại Đồng Tháp Mười do anh làm Bí thư.

    Cuối năm 1947, đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Nam Bộ được thành lập, đó là Tiểu đoàn 307 thuộc Khu 8. Sau đó các khu cũng thành lập những tiểu đoàn chủ lực.

    Giữa năm 1948, Trung ương yêu cầu đoàn đại biểu quân - dân - chính Nam Bộ ra báo cáo. Tôi ra Việt Bắc và đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ - đồng chí Nguyễn Ái Quốc mà khi còn hoạt động bí mật trước năm 1945, tôi đã từng biết qua tài liệu và tiếng tăm.

    Có những đơn vị chủ lực lại có sự củng cố, phát triển các lực lượng địa phương và dân quân du kích nên có được những trận đánh thắng lợi có tiếng vang như trận Cổ Cò, trận Giồng Dứa trên quốc lộ 4, trận đánh chìm tàu trên kênh Sở Thượng của Khu 8; trận Tầm Vu, trận Mương Điều của Khu 9; trận La Ngà, Trảng Táo của Khu 7. Các chiến dịch Trà Vinh, Cầu Kè, Lê Hồng Phong đã nâng tầm chỉ đạo tác chiến, sáng tạo chiến thuật đánh địch chứng tỏ một bước trưởng thành của lãnh đạo cùng quân và dân Nam Bộ. Tôi được phân công làm Phó Tư lệnh Nam Bộ, anh Nguyễn Bình là Tư lệnh.

    Năm 1949, chuẩn bị “Tổng phản công”, tôi được điều về làm Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn - Gia Định. Năm 1950, Trung đoàn 306 của khu bắn pháo vào tàu Mỹ ở Sài Gòn, kết hợp cùng với phong trào sinh viên học sinh biểu tình chống Mỹ rầm rộ đuổi tàu Mỹ chạy khỏi Sài Gòn.

    Năm 1951, anh Nguyễn Bình ra Bắc, trên đường đi trên đất Campuchia gặp lính tuần tiễu Campuchia, anh hy sinh.

    Và lúc đó, Nam Bộ cũng được chia thành 2 phân liên khu: miền Đông gồm các tỉnh tả ngạn, miền Tây gồm các tỉnh hữu ngạn sông Tiền Giang.

    Miền Đông, tôi làm Tư lệnh, anh Phạm Hùng làm Chính ủy, anh Nguyễn Văn Vịnh làm Phó Tư lệnh.

    Miền Tây, anh Lê Hiến Mai làm Tư lệnh, anh Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy. Anh Lê Đức Thọ phụ trách miền Tây.

    Năm 1952, miền Đông bị lụt lớn, mất mùa nghiêm trọng. Miền Tây huy động gạo cứu giúp cũng đỡ cho một phần. Nhưng vẫn đói ghê gớm. Lợi dụng tình thế đó, địch bắn phá, càn quét dữ dội.

    Có thể nói, thời kỳ cuối năm 1946 và năm 1947-1948, phong trào kháng chiến Nam Bộ lên mạnh và đặc biệt là thời kỳ 1953-1954 ta thắng lớn thì Nam Bộ cũng có hai thời kỳ khó khăn nhất. Đó là năm 1945 và đầu năm 1946 và thời kỳ 1952-1953.

    Năm 1952, anh Lê Duẩn ra Bắc. Rút kinh nghiệm sự hy sinh của anh Vũ Đức, anh Nguyễn Bình, anh Lê Đức Anh lúc đó là Tham mưu trưởng Khu 7 đi theo tổ chức đưa anh ra thật an toàn. Anh Lê Duẩn ở lại Trung ương tới năm 1954 sau Hiệp định Giơnevơ mới lại vào. Đáng tiếc hai thời kỳ khó khăn nhất của Nam Bộ, năm 1945-1946 và năm 1952-1953 không có sự chỉ đạo trực tiếp của anh.

    Sau Hiệp định Giơnevơ, tháng 9/1954 tôi chỉ huy lực lượng tập kết ra Bắc và làm Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Năm 1956-1958, tôi đi học ở Liên Xô cùng 5 anh khác là Nam Long, Vũ Yên, Vũ Lăng, Đỗ Đức Kiên và Nguyễn Văn Minh. Đây là đoàn cán bộ Việt Nam đầu tiên học ở Học viện cao cấp Liên Xô. Nhưng rồi tôi bị bệnh phải về. Năm 1960-1961 lại sang học cùng với một số anh khác.

    Từ năm 1959, sau khi có Nghị quyết Trung ương 15, tôi đã xin đi vào Nam, nhưng bệnh chưa lành, không được đi. Sau ngày có Nghị quyết Trung ương 15, việc tổ chức lực lượng cán bộ tập kết ra Bắc trở vào Nam là một yêu cầu chính đáng. Tôi và anh Vịnh đề đạt với Tổng Bí thư và được chấp thuận. Việc phải có đường là việc cấp bách. Tôi được Trung ương và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ tổ chức đường này. Trước nhất là vào đến Khu 5. Tôi mời anh Võ Bẩm, giao cho anh ấy đi thực hiện cụ thể kế hoạch. Tôi và anh Vịnh gặp anh Lê Duẩn, đề nghị cán bộ tập kết vô Nam. Anh Lê Duẩn chưa đồng ý ngay, nói: “Bộ Chính trị chưa bàn!”. Chúng tôi xin cho 100 anh em đã học lục quân vô trước. Anh suy nghĩ rất lâu. Chúng tôi nài xin 50 cũng được. Anh cũng cho là nhiều quá. Nếu chỉ 25 thôi thì anh có thể quyết định rồi sẽ báo cáo lại với Bác và Bộ Chính trị. Chúng tôi mừng quá, miễn được bước đầu đột phá thành công đã. Anh dặn phải tuyệt đối bí mật. Tôi đã chọn 25 người. Bắt đầu huấn luyện về quân sự, mọi kỹ năng chiến đấu. Trong lúc đó tôi lại tổ chức một đoàn đi xoi đường vào Nam Bộ và điện cho Trung ương Cục cử người đi ngược ra đón. Tháng 12/1960, đoàn vào tới nơi vừa kịp dự lễ thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đó là đoàn đầu tiên đi đường mòn Hồ Chí Minh vào Nam. Từ đường mòn đi bộ, mang gùi trên lưng sau thành đường xe thồ. Đến năm tôi vào Nam chiến đấu với cương vị Chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam thì tôi bàn giao lại việc tổ chức chỉ đạo con đường 559 cho Bộ Tổng Tham mưu phụ trách và phát triển.

    Nói đến đường mòn Hồ Chí Minh trên Trường Sơn thì cũng phải ghi nhớ tới đường Hồ Chí Minh trên biển. Cùng thời làm Đường 559, tôi cũng giao cho anh Võ Bẩm tổ chức vận tải đường biển cho Khu 5 lấy tên Đường 759 (vào tháng 7/1959), nhưng thất bại, phải tạm ngừng. Đến năm 1960-1961, Trung ương Cục miền Nam cho các tỉnh ven biển Nam Bộ phái các thuyền nhỏ ra Bắc xin vũ khí. Có chiếc tới nơi, có chiếc bị nạn hay bị bắt. Do đó, Trung ương lại giao cho Quân ủy Trung ương nghiên cứu tổ chức đường biển. Tôi được giao nhiệm vụ này. Khi đã nghiên cứu xong phương án khả thi, trình với Quân ủy Trung ương, anh Võ Nguyên Giáp hỏi: Có đảm bảo 50%? Tôi xin đảm bảo được. Quân ủy đồng ý. Chuyến đầu đi tàu gỗ khởi hành năm 1962, chở 28 tấn vũ khí, cập bến Rạch Gốc, thuộc Cà Mau thành công. 5, 6 chuyến sau cũng bằng tàu gỗ như vậy đều an toàn. Sau đó, ta chủ trương đóng tàu lớn (trọng tải 100 tấn) trong thời gian ngắn (6 tháng) để chở được nhiều vũ khí hơn. Vừa thuyết phục, vừa lệnh, vừa cùng chịu trách nhiệm, có anh Đảnh đảm bảo về kỹ thuật, nên các kỹ sư đã đồng ý và tích cực thực hiện. Chiếc thứ nhất đóng xong, đúng 6 tháng mà đáng lý ra phải hơn 2 năm. Đây là một kỳ công. Chạy thử chuyến đầu được Bác Hồ tới thăm và khen ngợi. Điều này chứng tỏ tầm nhìn của Bác, không chỉ quan tâm những việc lớn mà cả những việc cụ thể có tầm quan trọng và ảnh hưởng lâu dài. Bởi vì, với đường biển đó, từ năm 1962 đã mang được những thứ vũ khí mà phải năm 1970, Đường 559 mới thực hiện được. Sau anh Nguyễn Văn Đảnh được phong Anh hùng Lao động và Bông Văn Dĩa - người thuyền trưởng chiếc tàu gỗ đầu tiên được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cũng năm 1963, tôi bàn giao đường này cho Bộ Tổng Tham mưu phụ trách và về sau Bộ Tổng Tham mưu lại giao cho Bộ Tư lệnh Hải quân, đổi thành Đoàn 125. Thời gian tôi phụ trách con đường này, may thay đã đi được nhiều chuyến và đạt tỷ lệ an toàn, thắng lợi 100%. Thế là trong Nam đã có khung cán bộ quân sự được đào tạo cơ bản, chính quy, có vũ khí nặng để xây dựng đơn vị chủ lực.

    Năm 1963, tôi được vào trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cùng đồng bào Nam Bộ. Tôi thay anh Quang lập Bộ Chỉ huy các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi xin Trung ương Cục tuyển thanh niên chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long và chuyển vũ khí từ miền Tây về Sông Bé và Bắc Tây Ninh nơi căn cứ rừng núi có Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền đóng để xây dựng lực lượng chủ lực. Anh Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương Cục lúc ấy nhất trí. Nhưng cuộc đấu tranh về quan điểm quân sự này phải tới năm 1967 mới được anh em chấp nhận hoàn toàn, mặc dầu từ năm 1963 đã có trận Ấp Bắc chiến thắng vang dội như vậy theo cách đánh của chủ lực kết hợp quân sự, chính trị, binh vận; năm 1965, ta có chiến dịch Bình Giã kết hợp chính quy và du kích.

    Nhờ có chủ lực, tháng 01/1965, mới có chiến dịch Bình Giã, tiêu diệt 3 tiểu đoàn địch, 3 tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng, 4 - 5 tiểu đoàn nữa bị tan tác. Chiến dịch này có tính quyết định kết thúc chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Tháng 12/1964, đã có trận đánh sân bay Biên Hòa của pháo binh và đặc công quân giải phóng làm Mỹ kinh hoàng.

    Mỹ vào, bắt đầu thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Những trận đầu đánh Mỹ: Ở Quảng Nam có trận Núi Thành, Quảng Ngãi có trận Vạn Tường, trong này có chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng. Rồi năm 1967, chiến đấu ngày một quyết liệt và quân Mỹ từ 20 vạn năm 1965, năm 1966 tăng lên 40 vạn, sau lên nửa triệu quân Mỹ, rồi quân đội các nước chư hầu và ngụy tổng cộng lên tới một triệu. Rồi B-52 với bom rải thảm, chất độc hóa học tràn lan.

    Sau thất bại trong Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” “hòng giành thắng lợi cuối cùng” nhưng vẫn thất bại nên phải rút quân năm 1973. Xuân năm 1975 ta đại thắng. Điều này sử sách đã nói nhiều, tuy nhiên tôi cũng muốn nói thêm một chút về Tết Mậu Thân năm 1968. Thật ra, trận đánh lớn như thế này mà chiến trường chỉ được biết trước có ba tháng. Ban đầu, anh Lê Đức Anh vào truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị. Sau đó, anh Hoàng Văn Thái và anh Phạm Hùng. Nhưng cũng may là từ năm 1964-1965, chúng tôi đã có một bước chuẩn bị “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” theo Nghị quyết Trung ương 9 năm 1963 nhằm vào toàn bộ đô thị, nhất là ở Sài Gòn nên đã có tổ chức một bộ phận lực lượng bố trí sẵn ở vùng ven và nội thành Sài Gòn bám các mục tiêu quan trọng. Trước khi đánh, tôi phải ra Hà Nội để báo cáo xin duyệt kế hoạch, chỉ có anh Duẩn - Tổng Bí thư, anh Vịnh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nghe và giữ tuyệt đối bí mật. Rồi cấp tốc về ngay triển khai trận đánh. Cách đánh Tết Mậu Thân rất độc đáo, giành thắng lợi lớn lao tạo ra bước ngoặt chiến lược lớn nhất của chiến tranh, buộc Mỹ phải về nước để ta đánh cho ngụy nhào.

    Trong Mậu Thân, cả bên ta và bên địch đều thiệt hại nặng, nặng nhất so với bất kỳ thời chiến tranh nào. Thắng càng lớn thì trả giá càng cao, đó là tất nhiên. Nhưng ta bổ sung và củng cố được đòi hỏi cả năm, còn Mỹ - ngụy chỉ 2 tháng. Vì vậy mà Mỹ lợi dụng thời cơ phản kích ác liệt bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta gặp muôn vàn khó khăn trong năm 1969-1970. Tuy vậy, năm 1970 ta đã giúp nhân dân Campuchia giải phóng gần hết bảy tỉnh đông sông Mê Kông và một phần lớn các tỉnh Kompong Thom, Siêm Riệp bên tây sông. Qua năm 1971 trở đi ta lại chủ động tấn công, đã thắng lớn năm 1972, đi tới Hiệp nghị Paris. Nhưng Mỹ - ngụy không thi hành Hiệp nghị quốc tế này mà tưởng có thể thắng ta. Vì vậy mà có chiến thắng có tính chất chiến lược Phước Long, đòn thử sức và thử ý chí cả Mỹ và ngụy. Từ Phước Long đến Sài Gòn, việc phải đến đã đến. Chiến dịch Phước Long giúp đánh giá chính xác tình hình ta - địch, nhất là Mỹ để đi đến quyết định lịch sử: Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và kết thúc chiến tranh với Chiến dịch Hồ Chí Minh.

    Tôi lại trở về Sài Gòn, nơi tôi đã từ đó ra đi kháng chiến năm 1945 và cũng là nơi tôi làm Trưởng đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên tại Tân Sơn Nhất năm 1973. Nhưng lần này, ngày 30/4/1975, tôi cùng đoàn quân về Sài Gòn. Sài Gòn thực sự đã là Thành phố Hồ Chí Minh, tôi làm Chủ tịch Ủy ban quân quản ngay tại Dinh Độc Lập - Hội trường Thống Nhất ngày nay...



(https://i.imgur.com/UhxFjQN.jpg)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:24:18 am
(https://i.imgur.com/8XYOMfE.jpg)


(https://i.imgur.com/jmvwNPY.jpg)


(https://i.imgur.com/H194o37.jpg)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:34:03 am
NAM BỘ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP


       Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã diễn ra ở Nam Bộ từ tháng 9/1945 đến tháng 7/1954, sẽ là thiếu sót nếu trước đó không nhắc lại diễn biến của Cách mạng Tháng Tám dù chỉ rất vắn tắt. Giành được chính quyền và 29 ngày sống trong độc lập, tự do sau đó cho đến lúc quân Pháp nổ súng gây hấn là khoảng thời gian quá ngắn ngủi nhưng vô cùng quý báu để giúp nhân dân Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn tự khẳng định lại mình, hun đúc cho mình ý thức tự tôn dân tộc mãnh liệt. Hai mươi chín ngày quả không đủ để chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất như súng đạn, lương thực, binh lực cho chiến tranh, nhưng trong thời gian ngắn đó, quân dân Nam Bộ đã chuẩn bị đầy đủ tinh thần đặng bước vào cuộc chiến đấu mà lúc đầu thế và lực ta so với địch như “châu chấu đá xe”, “trứng chọi với đá”. Yếu tố tinh thần này chính là thành quả do Cách mạng Tháng Tám đem tới.


                     

CHƯƠNG I
Cách mạng Tháng Tám và tinh thần dân tộc quật khởi



    Nhắc lại diễn tiến cuộc Cách mạng Tháng Tám cũng không thể không nói sơ qua bối cảnh Nam Bộ lúc đó, một bối cảnh hết sức đặc biệt so với cả nước, trong đó khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Nhưng Nam Bộ đều vượt lên trên mọi trở ngại để đưa cách mạng đến thành công cùng một lúc với cả nước.

    Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11/1940, một cuộc diễn tập dữ dội dù thất bại vì chưa hội đủ điều kiện khách quan và chủ quan. Thực dân Pháp có phátxít Nhật phụ họa ra sức khủng bố, dìm phong trào cách mạng trong biển máu. Không chỉ các chiến sĩ nghĩa quân mà hàng ngàn đồng bào cùng bị lùng bắt, tra tấn. Nhiều người bị giết hại một cách thảm thương. Có thể kể: Vụ tên cò Tây ở Bà Điểm (Gia Định) cho chó bẹc giê xồ vào cắn xé người đến chết; vụ tên đốc phủ Nguyễn Văn Tâm cột xâu hàng mấy chục người rồi thả xuống sông Tiền Giang; máy bay Nhật thả bom trong buổi chợ Vĩnh Kim (Mỹ Tho) đang đông, trên 100 người mà đa số là đàn bà bị thiệt mạng và bị thương.

    Tổn thất nặng nề là từ đó đến cuối năm 1941 hầu hết các cấp ủy Đảng Cộng sản đều tan vỡ và sa lưới kẻ thù, lớp bị tù đày, lớp bị bắn chết. Đường dây liên lạc với Trung ương bị cắt đứt, đó là khó khăn rất lớn.

    Tuy nhiên, địch không thể “làm cỏ” hết những người cộng sản cũng như không thể dập tắt lòng yêu nước thương nòi của người dân Việt. Đảng viên nào còn lọt lưới địch vẫn tiếp tục bám sát đồng bào để hoạt động, dù phải ăn bờ ở bụi hoặc chuyển vùng hoạt động. Vì vậy một số cơ sở dần dần được khôi phục trước tiên ở vùng Hậu Giang, Rạch Giá.

    Lúc này lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ nước ngoài về chiến khu Việt Bắc, lãnh đạo trực tiếp cách mạng. Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám tại Pác Bó từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941. Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: Hãy kịp đứng lên tổ chức hội cứu quốc chống Pháp, chống Nhật... và phải đoàn kết lại đánh đổ Pháp, Nhật và tay sai của chúng để cứu dân ta khỏi vòng nước sôi lửa bỏng.

    Đầu năm 1942, một cán bộ của Trung ương phái vào đã tìm được Liên tỉnh ủy Hậu Giang và giao một số tài liệu quan trọng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, Điều lệ Việt Minh, Điều lệ các đoàn thể cứu quốc và bức thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

    Rồi Hậu Giang liên lạc được với Sài Gòn - Gia Định, bàn bạc với nhau hoạt động theo đường lối chung, thành lập Ban Cán sự lâm thời Đảng bộ Nam Bộ (chưa có điều kiện thành lập Xứ ủy), thành lập Việt Minh Nam Bộ với cơ quan tuyên truyền là tờ báo Giải phóng. Phong trào phát triển từ thấp lên cao.

    Các cấp ủy đảng của các tỉnh miền Đông, miền Tây, sau khi xây dựng lại với Ban Cán sự lâm thời Nam Bộ, vừa củng cố tổ chức đảng vừa chú trọng xây dựng các hội cứu quốc. Tuy nhiên, phong trào cũng chỉ giới hạn trong nông dân và lao động ở nông thôn là chính chứ chưa phát huy ảnh hưởng được đến các tầng lớp khác, chưa đi sâu được vào thành thị. Công tác vận động vẫn theo phương pháp bí mật.

    Đáng tiếc là ở thời điểm cuối năm 1943 đầu năm 1944, trong nội bộ Đảng bộ Nam Bộ nảy sinh một vấn đề phức tạp có ảnh hưởng không thuận lợi đến tiến trình lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám trong xứ và sau Cách mạng Tháng Tám hậu quả của nó phải khắc phục trong thời gian dài.

    Một số đảng viên phần lớn trước đây hoạt động công khai trong phong trào Mặt trận dân chủ họp lại thành lập một tổ chức đảng riêng biệt, có hệ thống từ xứ đến các tỉnh, cơ quan tuyên truyền và tập hợp đảng viên là tờ báo Tiền phong. Theo phương pháp hoạt động công khai, hệ thống Đảng Tiền phong phát triển nhanh chóng trong tầng lớp tiểu tư sản, trí thức và tầng lớp trên ở Sài Gòn cũng như các thành phố, thị xã, thị trấn.

    Hai hệ thống tổ chức đảng khác nhau đã đành mà đường lối chính trị cũng có chỗ khác nhau. Đâu đó chẳng những làm cho lực lượng cách mạng bị phân tán mà sức mạnh lãnh đạo cũng không tập trung được.

    Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, dân ta chỉ được phátxít Nhật cho hưởng cái “độc lập bánh vẽ”. Hơn cả Pháp trước đây, chúng càng thẳng tay bóc lột, vơ vét của cải, chiếm đất, đuổi nhà, bắt lính, mở nhiều công trường quân sự, xưởng đóng tàu, sân bay phục vụ cho chiến tranh.

    Trước tình hình mới, ngày 25/3/1945, Ban Cán sự lâm thời Đảng bộ Nam Bộ họp tại Xoài Hột (Mỹ Tho) nhận thấy cần chuyển thành Xứ ủy lâm thời Nam Bộ và cần gấp rút hợp nhất hai Xứ ủy.

    Tháng 4/1945, hai Xứ ủy Giải phóng và Tiền phong gặp gỡ hai lần tại Bà Điểm (Gia Định) và Trung Lương (Mỹ Tho), nhất trí với nhau đi đến thành lập Ban thống nhất hành động từ xứ đến tỉnh. Còn những vấn đề khác chưa giải quyết được như Mặt trận Việt Minh, đường lối quân sự, khẩu hiệu tuyên truyền tạm thời gác lại.

    Cũng thời gian này, để tập hợp quần chúng, Xứ ủy Tiền phong chủ trương thành lập Đoàn Thanh niên Tiền phong hoạt động hợp pháp và công khai. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - một đảng viên mới, có uy tín trong nhân dân đứng ra xin phép tên Minoda cho lập đoàn thể này. Tên Thống đốc đồng ý vì thâm tâm muốn lợi dụng tổ chức Thanh niên Tiền phong làm công cụ phục vụ chúng.

    Ngày 15/5/1945, Hội nghị thành lập Đoàn Thanh niên Tiền phong tổ chức tại chùa Phú Lạc, Chợ Lớn, có đại biểu nhiều tỉnh về dự. Hiệu cờ là nền vàng sao đỏ, khác với hiệu cờ Việt Minh là nền đỏ sao vàng. Từ đây Thanh niên Tiền phong trở thành một đoàn thể hợp pháp và công khai thu hút nhiều tầng lớp tham gia, bên cạnh đại đa số là công chức, trí thức, học sinh sinh viên còn có cả các cụ già. Nhờ có một số đồng chí cộng sản có tên tuổi đứng ra làm thủ lĩnh và hoạt động sôi nổi theo chương trình tập luyện quân sự, giữ gìn trật tự, học tập văn hóa, tuyên truyền văn nghệ..., nên Thanh niên Tiền phong phát triển rất nhanh, rất mạnh, riêng thành phố Sài Gòn đã có hàng trăm ngàn đoàn viên 1.

    Mặt khác, từ tháng 5/1945, phong trào Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Giải phóng cũng trở thành một cao trào hầu như công khai và nửa công khai, thu hút đông đảo đồng bào tham gia, đến lúc này không còn giới hạn trong nông thôn mà tỏa ảnh hưởng về cả thành thị. Mười tỉnh thành lập được tỉnh ủy lâm thời và sáu tỉnh có ban cán sự tỉnh.

    Nói như vậy để thấy tinh thần cách mạng của nhân dân và những cố gắng của hai xứ ủy lâm thời Nam Bộ dù thuộc hệ thống Giải phóng hay Tiền phong. Mặt khác, cũng để thấy sự khó khăn, phức tạp của tình hình lúc đó, một tình hình rất đặc biệt so với tất cả mọi nơi khác trên toàn quốc. Việc hợp nhất giữa hai xứ ủy Giải phóng và Tiền phong không tiến triển thêm được mà có lúc mâu thuẫn gay gắt. Vì các xứ ủy, tỉnh ủy thuộc hai hệ thống đảng khác nhau tất có lúc nhận định một vấn đề khác nhau, đề ra chủ trương, hành động cũng khác nhau 2.

    Một số tổ chức, đảng phái có tính chất cơ hội cũng nhân việc Nhật hất cẳng Pháp đua nhau xuất hiện, làm cho tình hình càng thêm phức tạp. Trước đây chúng được Nhật dung dưỡng hoạt động lén lút, nay ra mặt công khai: Quốc gia độc lập đảng của Hồ Văn Ngà, Việt Nam phục quốc đồng minh hội của Trần Văn Ân, Thanh niên ái quốc đoàn của Đinh Khắc Thiệt, Thanh niên Việt - Nhật phòng vệ đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp, Võ sĩ đoàn của Vũ Trâm Anh, Nghĩa đạo thực hành của Trần Quang Vinh và Lương Văn Tương... Nếu một số cầm đầu cấu kết với nhau lải nhải tuyên truyền cho chủ nghĩa Đại Đông Á và tô son trét phấn cho nền độc lập giả hiệu vừa được Nhật cho không, thì những tên khác như Trần Quang Vinh, Lương Văn Tương lại chủ trương rước Kỳ Ngoại hầu Cường Để từ Nhật Bản về nước làm vua.

    Nguy hiểm hơn, còn có cả bọn tờrốtkít đứng đầu là Tạ Thu Thâu chui vào các tổ chức chính trị và giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo hoạt động, mưu toan đứng ra lập một chính phủ thân Nhật và chống Việt Minh. Tên tờrốtkít Huỳnh Văn Phương được Nhật trao chức Trưởng công an Sài Gòn - Chợ Lớn đã cấu kết với bọn Trần Quang Vinh, Lương Văn Tương, Nguyễn Hòa Hiệp, Đinh Khắc Thiệt... làm chỗ dựa cho quân Nhật đàn áp nhân dân.

    Phân tích tình thế chung trên thế giới và ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng Cộng sản kêu gọi toàn Đảng, toàn dân sửa soạn hành động:

         Gươm đây, gươm đây
         Thời cơ đang đến
         Tiến lên! Tiến lên! Theo cờ Việt Minh!
3.

    Nhưng rõ ràng, Nam Bộ là khâu yếu nhất. Mà nếu Nam Bộ không hợp đồng ăn khớp với Bắc Bộ, Trung Bộ, cách mạng cả nước nhất định gặp khó khăn lớn. Hơn nữa, còn có thêm bài học lịch sử: Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, dù 18 tỉnh hành động nhưng Sài Gòn bị bó tay, khởi nghĩa cũng thất bại.

    Lại còn nói thêm là Nam Bộ ở quá xa sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Hội nghị Tân Trào tháng 8/1945 chỉ có hai đại biểu của Xứ ủy Tiền phong là Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm có mặt. Còn ba đại biểu của Xứ ủy Giải phóng là Lê Hữu Kiều, Lý Phú Xuân và Nguyễn Thị Thập đến Hà Nội thì ở đây đã khởi nghĩa thắng lợi. Nhưng nhìn lại và lấy mốc hồi Nhật đảo chính Pháp tháng 3/1945, lúc đó địch rất mạnh và hùng hổ còn ta đang yếu, đến tháng 7/1945, lực lượng so sánh đã nghiêng hẳn về ta, dù có những khó khăn phức tạp như đã nói ở trên, địch suy sụp hẳn. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa khẩn trương, sôi nổi khác thường. Về điểm này, tôi sẽ có dịp nói kỹ ở phần sau.




------------------------------------------------------------------
1. Theo một bản hồi ký của đồng chí Hà Huy Giáp trong phong trào Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn có cả công nhân tham gia làm nòng cốt, nếu không như vậy cũng không mạnh được.

2. Trung ương Đảng nắm được tình hình này nên kêu gọi: “Các đồng chí hãy đoàn kết lại, kịp thời gác bỏ thành kiến mà đi vào đường lối của Đảng, thủ tiêu khẩu hiệu của riêng mình mà theo khẩu hiệu của Đảng” (Báo Cờ giải phóng, số 15, ra ngày 17/7/1945).

3. Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi kể lại như một kỷ niệm không thể quên, khi đi dự Hội nghị Tân Trào bàn việc tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, anh đã hát bài Theo cờ Việt Minh do anh sáng tác với lời: “Gươm đâu, gươm đâu...”, tức thì Bác Hồ nói: Bây giờ phải sửa lại “Gươm đây, gươm đây...” thì mới theo kịp tình hình.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:43:04 am
*
*      *


    Giữa tuổi 25 đầy sinh lực, tôi được chứng kiến và hơn vậy, được tham gia cuộc Cách mạng Tháng Tám tại Sài Gòn. Tôi coi đó là hạnh phúc trong cuộc đời mình.

    Vốn sanh ra và lớn lên ở Quảng Ngãi, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, tôi được giác ngộ và bắt đầu hoạt động cách mạng từ năm 1936. Năm 1939, tôi bị địch bắt giam ở Huế 6 tháng rồi giải về quản thúc tại quê nhà 12 tháng. Năm 1941, kiếm được một giấy thông hành giả và xin được ba đồng, tôi quyết định trốn vô Đà Lạt là nơi đất rộng người thưa tận trên cao nguyên, địch ít dòm ngó. Ẩn ở đó thời gian ngắn, tôi vẫn bơ vơ một mình, nên lần xuống mạn An Lộc (Dầu Giây). Tại đây, tôi được một người bạn là Nhâm, đút tiền làm giúp một giấy thuế thân với tên Lê Văn Thắng, ngụ tại Chợ Lớn. Đáng lẽ tôi có thể đàng hoàng sống tại đây, nhưng khi làm giấy thấy địch bắt điểm chỉ quá kỹ nên hơi chờn, lại trở ra vùng Biên Hòa và xin vô làm xu (surveillant) cho đồn điền cao su Courteney.

    Kể hơi dài như vậy để thấy một người đảng viên mất liên lạc đi tìm Đảng kỳ khu biết bao nhiêu!

    Sáu tháng sau tôi vào Sài Gòn, may mắn lần này tôi gặp anh Lê Xuân Đình (tự Biền), người của hệ thống Đảng Giải phóng, lúc đó là cuối năm 1943.

    Tôi được tổ chức phân công phụ trách tờ Giải phóng, phát hành hằng tháng. Lúc đầu in bằng nếp, sau cải tiến in bằng litô rõ và đẹp hơn. Tòa soạn và xưởng in chỉ là căn hộ nhỏ trong hẻm sâu của một gia đình cơ sở tại Tân Định.

    Báo ra được 11 số thì tôi và Châu - em ruột tôi cùng đảm trách tờ báo bị địch bắt một cách bất ngờ. Đúng nửa khuya, một đêm năm 1944, bọn mật thám sục vào nhà gọi đích danh hai anh em tôi, còng tay và giải ra xe chở đi. Tôi và Châu bị tống giam ở bót Catinat rồi chuyển sang Khám Lớn. Trùm mật thám Blaizot và hai tên tay sai khét tiếng hung bạo Trần Cảnh và Trần Khánh trực tiếp tra khảo. Tại đây, lần đầu tiên tôi được gặp gỡ một số bạn tù đã nghe tên từ lâu như Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Công Trừng...

    Sáng 22/8/1945, tên lính gác mở rộng cửa Khám Lớn. Nó đọc tên 9 người tù chính trị (gồm: tôi, Bùi Quang Dự, Lê Xuân Định, Nguyễn Việt Châu, Nguyễn Như Ý, Tại, Hùng...), rồi vênh mặt tuyên bố là khâm sai Nguyễn Văn Sâm ra lệnh phóng thích.

    Về sau, người ta bình luận là trong khoảng một trăm tiếng đồng hồ chấp chính Nguyễn Văn Sâm chỉ làm được một việc độc nhất đáng ghi nhận là phóng thích tù chính trị.

    Nhưng chúng tôi không được tự do ngay mà bị áp tải về một chùa Cao Đài ở đường Jean Eudel ngó qua kho 2 Cảng Sài Gòn, mặc dù kể từ lúc này chúng không còn được phép đối xử với chúng tôi như những người tù nữa. Một vị chức sắc trong chùa đứng ra giãi bày: “Cao Đài vì mục đích nước nhà độc lập tự cường mà xả thân hy sinh. Các vị làm chính trị dù đảng phái nào cũng là những nhà ái quốc đáng khâm phục. Nhân hội này mong quý vị cùng chúng tôi chung sức mà gánh vác, nhiều tay vỗ nên kêu. Nhật Bổn cùng máu đỏ, da vàng với mình đã hứa trao cho mình độc lập...”. Hiểu được ý đồ bọn Nhật và tay sai muốn qua tôn giáo Cao Đài lôi kéo chúng tôi hợp tác với chúng, tất cả kiên quyết từ chối và ra đi. Tôi và Châu - hai anh em về Xóm Gà (Bà Chiểu) để từ đây tìm cách liên lạc với Tỉnh ủy Gia Định.

    Một lần nữa như hai năm trước, tôi lại vừa cất công vừa nghe ngóng tìm hiểu tình hình vừa lo móc nối với tổ chức. Nhưng khác trước là bây giờ tôi có thể làm những việc này một cách công khai, đàng hoàng. Điều đó cũng dễ hiểu, vì cả Sài Gòn, Chợ Lớn, cả Gia Định, đang sôi động dữ dội. Cũng có người ví von bằng hình ảnh: Cả Sài Gòn như một cánh đồng lúa chín đã đến ngày gặt hái.

    Hà Nội đã khởi nghĩa thành công từ ngày 19/8/1945, các tỉnh thành khác thuộc Bắc Kỳ, Trung Kỳ cũng đã lần lượt về tay nhân dân.

    Còn ở Nam Kỳ, theo các đồng chí cho biết, từ ngày tôi bị bắt đến nay phong trào đã lớn mạnh vượt bậc, phát triển toàn diện, đều khắp ở thành thị và nông thôn. Ở nhiều nơi chính quyền địch rệu rã hết hiệu lực hoặc ngả về với cách mạng. Nhân dân xây dựng các lực lượng chính trị và các đội vũ trang, bắt giam hội tề, đứng ra tự quản lý trị an trong làng xóm. Thanh niên Tiền phong ngày đêm rầm rập luyện tập quân sự, canh gác, trộm cướp nhiều nơi hầu như không còn nữa. Mầm mống chính quyền nhân dân hình thành dần và trên thực tế đang thay đổi dần. Chính quyền địch bị tê liệt, binh lính và ngụy quyền các cấp hoang mang nhiều trước ngọn triều cách mạng đang dâng lên cuồn cuộn. Ta có nhiều cơ sở binh vận trong Binh đoàn lưu động Chí Hòa (Brigade mobile de Chi Hoa), Binh đoàn lưu động Gia Định (Brigade mobile de Gia Dinh), Binh đoàn phụ thuộc sở sen đầm ở Chợ Lớn (Brigade auxiliaire de la gendarmerie à Cho Lon) và ở các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Biên Hòa, Thủ Dầu Một... Cũng do đó ta lấy được khá nhiều súng đạn trong các đồn bót do cơ sở tuồn ra. Vụ lớn nhất là đêm 17/8/1945, lấy được ở trại Chí Hòa 2.000 súng mútcơtông và 10 triệu viên đạn.

    Điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi.

    Giờ quyết liệt đã đến!

    Hai xứ ủy Tiền phong và Giải phóng đã thành lập “Ban liên hợp hành động” và tổ chức một hội nghị trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 8 tại Chợ Đệm (tỉnh Chợ Lớn). Hội nghị phân tích kỹ tình hình địch, ta và quyết định lấy Sài Gòn - Chợ Lớn làm trọng điểm tiến công địch, khởi nghĩa giành chính quyền. Tuy nhiên, trước đó cần khởi nghĩa đầu tiên ở Tân An vào ngày 23/8/1945 để rút kinh nghiệm toàn Xứ và thăm dò thái độ quân Nhật, kịp thời đề ra kế hoạch đối phó.

    Vì vậy sau cuộc họp, đại biểu các tỉnh còn lưu lại để dự họp rút kinh nghiệm khởi nghĩa của Tân An, đồng thời tham gia cuộc míttinh ra mắt toàn thể đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn của Mặt trận Việt Minh ngày 20/8/1945.

    Cuộc míttinh đó đã diễn ra tại rạp Nguyễn Văn Hảo gần chợ Bến Thành (nay là rạp Công Nhân), đúng vào ngày giỗ đầu ông Nguyễn An Ninh.

    Anh Nguyễn Văn Nguyễn đăng đàn diễn thuyết và phổ biến chương trình Việt Minh trong sự hồ hởi, náo nức của hơn một ngàn thính giả. Rồi các anh Huỳnh Văn Tiểng, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Ngọc Tốt thay mặt Trung ương Thanh niên Tiền phong long trọng xin gia nhập Mặt trận Việt Minh và kêu gọi đồng bào hãy sát cánh nhau giành độc lập dưới ngọn cờ Việt Minh nền đỏ sao vàng. Cùng với tiếng vỗ tay hưởng ứng, tiếng hát bài Lên đàng vang dội cả rạp.

    Hôm sau, hàng chục ngàn bản truyền đơn được tung ra, hàng ngàn ápphích được dán dọc phố phường. Từng nhà, từng người như sắm sẵn giáo mác, gậy tầm vông đợi xông lên.

    Ta tiếp tục theo dõi thái độ địch. Quân đội địch đã co về án binh bất động.

    Đảng Liên minh quốc gia trước đây được Nhật vũ trang để cướp chính quyền “phỗng tay trên” Việt Minh, nhưng nội bộ mâu thuẫn và không được quần chúng ủng hộ nên đang lơ láo, rã rời.

    Ở một số tỉnh vùng Hậu Giang, bọn đầu sỏ phản động trong tôn giáo Hòa Hảo cũng mưu toan này nọ nhưng thấy lực lượng cách mạng quá mạnh nên đành chùn lại. Trộm cướp, côn đồ cũng thôi quấy nhiễu, một số ngả theo nhân dân.

    Ngày 23/8/1945, đúng kế hoạch, tỉnh Tân An tiến hành khởi nghĩa và thành công mau lẹ vì binh lính địch được vận động trước đã buông súng không chống cự. Một số làng của tỉnh Chợ Lớn (chủ yếu thuộc Trung Huyện), giáp với tỉnh Tân An cũng nổi dậy giành chính quyền ngay trong hôm đó.

    Dưới Tân An là Mỹ Tho, từ ngày 21 đến ngày 24/8/1945, Ban thống nhất hành động của hai tỉnh ủy Tiền phong và Giải phóng đã lãnh đạo giành chính quyền thành công ở các quận: Châu Thành (21/8), Cai Lậy (23/8), Cái Bè, An Hóa (24/8). Tên chủ tỉnh người Pháp hoảng sợ đến nỗi phải tìm Việt Minh để xin được trao lại chính quyền.

    Gò Công, Sóc Trăng, Bạc Liêu cũng tổ chức tuần hành thị uy, họp míttinh ở thị xã và tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng trong ngày 23/8. Long Xuyên thì ngày 24/8.

    Vậy mà thật nực cười, ngày 23/8, bọn ngụy quyền Sài Gòn và các tỉnh vẫn làm lễ đón Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm ra mắt nhậm chức và mừng Xứ ủy Nam Kỳ được quân đội Phù Tang cho về với Chính phủ Nam triều! (phải chăng bọn bù nhìn này có đặt ít nhiều hy vọng ở Anh, Mỹ, Pháp và Tưởng, khi mà Nhật đã tuyên bố đầu hàng?).

    Nhưng dự cuộc lễ này chỉ có vẻn vẹn một số trong Nhật - Việt phòng vệ đoàn và một số tín đồ Cao Đài từ lục tỉnh lên1. Trong đám đông xô bồ đó tiếng “đả đảo” lấp tiếng “hoan hô”. Thậm chí có những tên Nhật - Việt phòng vệ đoàn đã giật xé phù hiệu trên cánh tay và ném trước mặt đám đông. Rõ ràng chúng đang diễn cái trò rối này trong hoàn cảnh cực kỳ bối rối!

    Ngày 24/8/1945, công nhân Sài Gòn họp Đại hội để thống nhất lực lượng và bầu Ban chấp hành, sẵn sàng cùng mọi tầng lớp nhân dân hành động trong ngày 25/8, mà khởi đầu là cuộc míttinh dự kiến sẽ huy động hơn một triệu người ở Sài Gòn và sáu tỉnh lân cận tham gia (dân số Sài Gòn lúc này non 500.000 người).

    Cả ngày hôm đó, Sài Gòn sôi sục.

    Tiếp đêm hôm đó, Sài Gòn cũng không ngủ, sục sôi hành động.

    Trong đêm, tỉnh Biên Hòa tổ chức một chuyến xe chở 600 đại biểu, tỉnh Mỹ Tho trưng dụng tất cả xe đò và cả tàu hỏa, tỉnh Thủ Dầu Một cũng trưng dụng cả đoàn xe đò để chở công nhân, Thanh niên Tiền phong và đồng bào về Sài Gòn hợp sức.

    Cùng đó, đêm 24/8, đêm trước của bình minh ngày mới, các tổ vũ trang thực hiện kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa đã đột nhập các mục tiêu cần chiếm giữ 2 và lùng bắt các “nhân vật” đã có tên trong danh sách...

    Rạng sáng ngày 25/8, thêm nhiều tổ tự vệ chiến đấu, công đoàn xung phong, Thanh niên Tiền phong bố trí sẵn ở các nơi xung yếu trong nội ô.

    Cờ đỏ sao vàng hôm qua mới được treo công khai ở một số nơi như hiệu ăn Long Thành, hiệu ăn của xưởng Ba Son, Phaxi, Ximắc..., thì sớm nay đã biến thành một rừng cờ. Biểu ngữ xuất hiện ở khắp nơi.

    Một lễ đài lớn do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vẽ kiểu và trực tiếp trông coi việc dàn dựng, ở sân sau nhà thờ Đức Bà trông ra đại lộ Norodom (nay là đại lộ Lê Duẩn). Người người như sóng cuộn từ các hướng đổ về đó, đoạn lộ từ Phủ Toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất) đến Sở Thú (nay là Thảo Cầm Viên) đông nghẹt. Đồng bào các giới rầm rộ biểu tình thị uy, hô vang các khẩu hiệu:

    - Đả đảo chính quyền Trần Trọng Kim!

    - Nguyễn Văn Sâm từ chức!

    - Chánh quyền về tay Việt Minh!

    - Việt Nam độc lập muôn năm!

    - Đảng Cộng sản muôn năm!

    Trước khi vào cuộc míttinh, khoảng chín giờ sáng, xin ghi nhanh một không khí hết sức đặc biệt hôm ấy: Xe ngựa, xe thổ mộ, xe kéo, xe điện chở khẳm người mà không lấy tiền. Tiệm ăn người Việt, người Hoa, người Ấn đều mời khách ăn không lấy tiền vì “độc lập rồi mà...”.

    Muốn chào nhau, người ta nắm tay đưa lên trán và cười rất tươi. Rất nhiều người khản tiếng, lạc giọng vì hô khẩu hiệu quá trời!

    Từ trên lễ đài, Ủy ban lâm thời hành chính Nam Bộ (ta thường gọi là Lâm ủy hành chính Nam Bộ) ra mắt quốc dân đồng bào với thành phần:

    - Trần Văn Giàu - Chủ tịch.

    - Phạm Ngọc Thạch - Ủy viên ngoại giao.

    - Nguyễn Văn Tạo - Ủy viên nội vụ.

    - Huỳnh Văn Tiểng - Ủy viên.

    - Dương Bạch Mai - Ủy viên.

    - Nguyễn Văn Tây - Ủy viên.

    Và thông báo trụ sở Ủy ban đóng tại Dinh Thống đốc cũ (nay là Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).

    Chủ tịch Trần Văn Giàu đọc Lời tuyên bố:

    “Đồng bào, quốc dân,

    Hôm nay là ngày vẻ vang nhất trong lịch sử của Nam Bộ Việt Nam. Giữa thanh thiên bạch nhựt, chúng tôi, Ủy ban lâm thời hành chính, nhơn danh toàn thể quốc dân Nam Bộ tuyên bố trước mặt hoàn cầu và trước mặt toàn thể quốc dân rằng:

    Chế độ Cộng hòa Dân chủ thành lập tại Nam Bộ Việt Nam.

    Chúng tôi tuyên bố không thừa nhận Chính phủ Nam triều và cương quyết chống chế độ thực dân bất cứ từ đâu đến.

    Không một ngoại bang nào có thể viện một lý do nào mà bác bỏ được điều quyết định long trọng của đồng bào ta hoài bão lâu nay:
    Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.

    ... Chúng ta chỉ mới giựt lại chính quyền, từ bước này đến khi thực hiện được một xã hội tốt đẹp trong đó nhơn dân đồng lao cộng lạc, tất cả còn phải kiên gan bền chí tranh đấu với hoàn cảnh khó khăn.

    Hỡi đồng bào,

    Trong phút lịch sử này, chủ quyền về tay ta, nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam còn nhờ sức làm việc và sự phấn đấu của ta mà trở nên kiên cố và rực rỡ
3.

    Nguyễn Văn Nguyễn - đại biểu Xứ bộ Nam Bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng đọc lời tuyên bố:

    “Đồng bào! Đồng chí! Anh em chị em!

    Hơn mười lăm năm tranh đấu cho đời sống của dân chúng và cho sự độc lập quốc gia, hôm nay, Đảng Cộng sản Đông Dương mới công khai ra mặt. Mặt trận Việt Minh mà Đảng Cộng sản đã xướng xuất và đã cùng chiến đấu cùng hôm nay lật đổ chính quyền quân chủ để khai trương một kỷ nguyên tân dân chủ ở xứ này.

    ... Không say sưa khi đắc thắng, không nản chí lúc thất bại, trong tình cảnh nghiêm trọng hiện thời, Đảng Cộng sản kêu gọi hết thảy anh em, chị em, thợ thuyền, nông dân, thanh niên, binh lính và các giới đồng bào nỗ lực làm việc để kiến thiết nền dân chủ quốc gia, đem toàn lực ủng hộ Ủy ban lâm thời hành chính đặng thực hiện một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, và làm cho người Việt Nam được tự do, sung sướng.
    Việt Nam cộng hòa dân chủ muôn năm!
4.

    Từ quảng trường, rừng người lại cuồn cuộn kéo đến Phủ Khâm sai (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh), đòi Nguyễn Văn Sâm “thoái vị”. Thật ra, Sâm đã bị ta bắt nhốt lúc 21 giờ 30 phút đêm qua. Phủ Khâm sai cũng như các công sở khác đều bị các tổ vũ trang chiếm giữ mà không hề gặp sự kháng cự nào của địch.

    6 giờ chiều hôm ấy, hơn hai triệu người dự cuộc biểu tình khổng lồ mới lần lượt ra về.

    Cũng trong ngày 25/8, cuộc khởi nghĩa của một số tỉnh khác cũng nổ ra một cách thuận lợi. Riêng ở Gia Định và Biên Hòa có xảy ra xô xát nội bộ, đó cũng là điều đáng tiếc.

    Tiếp theo ngày 26/8 là Cần Thơ và Châu Đốc.

    Ngày 27/8, Rạch Giá.

    Ngày 28/8, Hà Tiên.




------------------------------------------------------------------
1. Lục tỉnh gồm cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Từ này chỉ dùng từ năm 1945 trở về trước.

2. Xã Tây (nay là trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), Bót cảnh sát trung ương (nay là trụ sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh), bưu điện, tòa tỉnh trưởng Gia Định.

3. Trích Nhật báo Sài Gòn, số 17016, ngày 27/8/1945.

4. Trích Nhật báo Sài Gòn, số 17016, ngày 27/8/1945.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 10:49:23 am
*
*      *


    Như đã nói ở phần đầu, 29 ngày sống trong độc lập, tự do của Sài Gòn kể từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công quả là quá ngắn ngủi (đối với các tỉnh của Nam Bộ, thời gian này có dài hơn chút ít). Nhưng chính vì vậy nó rất quý. Mỗi việc làm được trong thời gian này đều rất quý.

    Lúc này tôi chính thức làm việc tại Xứ bộ Việt Minh do anh Nguyễn Văn Nguyễn làm Chủ nhiệm. Anh là một trí thức trẻ, năm đó chưa đến 30, viết báo bằng tiếng Việt hoặc tiếng Pháp đều rất nổi tiếng. Bút danh của anh là Ngũ Yến. Do tính chất công việc, hằng ngày chúng tôi phải nắm tình hình diễn biến ở các nơi một cách kịp thời để có kế hoạch đối phó.

    Ngày 02/9/1945, ngày Độc lập, từ Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước quốc dân và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sài Gòn và các tỉnh đều tổ chức míttinh trọng thể để lắng nghe tiếng nói của vị cha già dân tộc qua làn sóng điện. Đáng tiếc, phương tiện truyền tin của ta quá kém nên không nơi nào nghe được. Đại diện chính quyền hoặc Mặt trận Việt Minh phải đăng đàn ứng khẩu diễn thuyết, truyền thêm niềm tự hào và hạnh phúc được đổi đời đang tràn ngập tâm hồn mọi người dân nước Việt. Triệu người đồng lòng như một, sẵn lòng hy sinh tất cả vì Tổ quốc, quyết giữ trọn lời thề độc lập.

    Riêng tại Sài Gòn, máu đã đổ trong ngày lịch sử vẻ vang này.

    Một số tên Pháp mới được quân Nhật cho ra khỏi trại giam, đứng trên lầu hãng buôn Jean Comte, nhắm vào đoàn người đi diễu hành dưới lòng đường mà bắn xối xả 1, 47 đồng bào đã ngã xuống.

    Căm phẫn cao độ, vậy là cả bể người ào vào những nơi có súng nổ. Không một sức nào ngăn cản nổi, mặc dầu là súng từ trên lầu cao bắn xuống. Ta dồn bọn Pháp lại một góc và bắt trói chặt sau khi tước súng. Sau đó, trong khu vực chợ Bến Thành còn nhiều Tây và đầm bị bắt tiếp, cộng lại có hơn một trăm.

    Đến chiều tối, để tỏ thiện chí hòa bình, Lâm ủy hành chính Nam Bộ ra lệnh phóng thích tất cả bọn này.

    Vì sao quân Pháp, hiện tại thực lực không có gì cả lại giở trò khiêu khích như vậy? Rồi ta sẽ có dịp lý giải.

    Ta bắt tay xây dựng và củng cố chính quyền trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn lúc này.

    Về nội bộ, ta không chỉ chú trọng phát triển Đảng và Mặt trận Việt Minh mà còn phải giải quyết tiếp những vấn đề mâu thuẫn giữa hai xứ ủy. Hội nghị toàn kỳ tại thị xã Mỹ Tho ngày 15/01/1945 do đại diện Trung ương Đảng Hoàng Quốc Việt triệu tập đã thống nhất được nhiều vấn đề quan điểm, phương pháp vận động cách mạng theo đường lối của Trung ương, gạt bỏ những nghi ngờ hiềm khích lẫn nhau.

    Chạy đua với thời gian, ta làm được nhiều việc. Một việc lớn nữa đáng kể là việc các chiến sĩ cộng sản và người yêu nước từ nhà tù Côn Lôn về đất liền, một quyết tâm lớn của Xứ ủy ngay từ sau khi giành được chính quyền. Đồng chí Tưởng Dân Bảo và đồng chí Lý Văn Chương được giao nhiệm vụ này. Bảo tham gia cuộc bạo động Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1930, bị địch bắt và đày ra Côn Lôn. Tại đây, Bảo được giác ngộ về chủ nghĩa cộng sản và kết nạp vào Chi bộ nhà tù. Với sự giúp đỡ của Tỉnh ủy Sóc Trăng, hai đồng chí Bảo, Chương đã nhờ thợ lành nghề chữa được tàu Phú Quốc có sức chở 200 - 250 người và huy động 27 ghe vùng Long Phú, Mỹ Thanh, Gò Công lập thành một đoàn ra khơi ngày 16/9. Tuy gặp cơn bão lớn nhưng đoàn đã đến nơi an toàn.

    Đợt đầu trở về đất liền ưu tiên cho những cán bộ cao cấp của Đảng và các đồng chí lớn tuổi hoặc đang đau yếu.

    Tự tay đồng chí Tôn Đức Thắng, năm đó đã 57 tuổi, sửa chữa xong một chiếc xà lúp từ mấy ngày trước. Rồi chính tay ông “cặp rằn” ở hầm xay lúa này lại lái chiếc xà lúp về đất liền 2. Trên đó có các đồng chí Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ...

    Nội nhật ngày 25/9, tàu Phú Quốc, xà lúp và 25 chiếc ghe cập bến Đại Ngãi (Sóc Trăng). Còn 2 chiếc ghe lạc lên tận Vàm Láng (Gò Công).

    Theo báo cáo của Ban đón tiếp, tổng số các đồng chí từ Côn Lôn trở về là 2.300 người, trong đó có 1.825 tù chính trị.

    Lúc này chiến sự đã xảy ra ở Sài Gòn nên các đồng chí không kịp nghỉ ngơi, về thăm gia đình và quê hương, mà vội chia nhau đi các tỉnh Nam Bộ tham gia kháng chiến ngay.

    Không thể không nói thêm là do chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp, khi đặt chân trở lại đất liền có đến hàng trăm đồng chí kiệt sức đi không nổi, phải dìu hoặc cáng. Một số đồng chí sớm qua đời ngay tại Sóc Trăng như Võ Văn Triết, Nguyễn Văn Liên, Bùi Văn Cương...

    Thù trong và giặc ngoài đều đang rập rình ngay trước mặt, vì vậy xây dựng lực lượng vũ trang trở thành nhiệm vụ vô cùng cấp bách.

    Ở tất cả các địa phương, nơi nào cũng đều có những người hăng hái đứng ra thành lập các “bộ đội”. Bộ đội An Điền ở Thủ Đức, bộ đội An Lạc ở Trung Huyện, bộ đội ông Siêu, ông Tưởng ở Tân An, bộ đội ông Cống, ông Tá ở Bến Tre... Có hàng trăm bộ đội như vậy.

    Bên cạnh đó là Cộng hòa vệ binh của tỉnh, buổi đầu thường do các hạ sĩ quan như quản, đội trước đây chỉ huy.

    Ở Sài Gòn, phải kể đến lực lượng vũ trang của nhóm Bình Xuyên3 vừa được thống nhất dưới sự chỉ huy của Dương Văn Dương với số quân khoảng 2.000 người và 1.300 khẩu súng. Tuy trình độ giác ngộ của bộ đội Bình Xuyên không đồng đều, có tới một phần tư là dân giang hồ, ý thức kỷ luật kém, nhưng nói chung anh em đều là người lao động có tinh thần yêu nước (các nhóm Bình Xuyên đều có mặt trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vừa qua ở Sài Gòn).

    Các đội vũ trang của công nhân có trên 6.000 người, tuy không tổ chức thành đơn vị lớn nhưng sau này sẽ đóng vai trò nòng cốt cho các lực lượng chiến đấu trong nội thành.

    Xứ ủy và Lâm ủy hành chính Nam Bộ chủ trương giữ nguyên đội quân nhà nghề của đế quốc Pháp - Nhật, nay cho chuyển thành Cộng hòa vệ binh với nguyên vẹn quân hàm, trang bị vũ khí và biên chế thành bốn sư đoàn: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đệ tứ sư đoàn. Vì trong các đơn vị này không thiết lập sự lãnh đạo của Đảng, số đông những người chỉ huy vốn mang bản chất phản động nên về sau chúng tan rã một cách chóng vánh. Đó là một kinh nghiệm lớn của ta về quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang.

    Ngoài ra còn một lực lượng cát cứ khác hình thành từ những năm bốn mươi, tồn tại đến nay, họ cũng tuyên bố là lực lượng yêu nước.

    Bây giờ ta nói cụ thể “thù trong giặc ngoài” là những ai?

    Đó là bọn Việt gian trong các tổ chức đảng phái phản động tờrốtkít, Quốc gia đảng, Đại Việt..., kể cả bọn phản động trong các tôn giáo..., sau một thời gian ngắn nằm im nay lại ngóc đầu dậy. Chúng câu kết với nhau trong một “Mặt trận quốc gia liên hiệp” để đối đầu với chính quyền cách mạng còn non trẻ của ta, phá vỡ Mặt trận Việt Minh - khối đoàn kết của dân tộc ta.

    Nổi lên trong những ngày này là hoạt động của bọn đầu sỏ phản động trong đạo Hòa Hảo tại miền Tây. Tôi muốn mở một dấu ngoặc để nói thêm về tình hình ở Cần Thơ - thủ phủ miền Tây. Trong thời điểm này, đúng là ở miền Tây có một lực lượng quan trọng là Hòa Hảo. Nhận thức được điều đó, trung tuần tháng 3/1945, hai đảng viên cộng sản là Ung Văn Khiêm và Nguyễn Văn Tây với danh nghĩa “cựu chính trị phạm” đã có cuộc gặp gỡ với Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ để bàn bạc việc liên minh cùng đấu tranh giành quyền độc lập. Nhưng chính sách đoàn kết dân tộc không phải bao giờ cũng được thực hiện dễ dàng. Ngày 26/8/1945, ngay sau khi Cần Thơ khởi nghĩa thắng lợi, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ nói thẳng với những người cách mạng: “Các ông phải giao đất miền Tây cho tôi!”. Ở Long Xuyên, Hòa Hảo cũng đòi đất kỳ cục như vậy.

    Tất nhiên ta không thể đáp ứng yêu cầu của họ. Ta nhắc lại và nhấn mạnh lời cam kết trước đây của hai bên liên minh nhau để giành độc lập dân tộc. Để thực hiện lời cam kết đó, phía ta chủ động mời “đạo” cử một số chức sắc có uy tín bổ sung vào bộ máy chính quyền các cấp. Đồng thời ngay sau đó ta phải bỏ nhiều công sức để giải quyết một số vụ lộn xộn mà điển hình là vụ quậy phá của Năm Lửa.

    Ngày 08/9/1945, Trần Văn Soái, tức Năm Lửa, huy động khoảng 30.000 nông dân tín đồ Hòa Hảo, mỗi người đều có trang bị vũ khí hùng hổ kéo vào thành phố Cần Thơ vừa đi vừa hò hét “giết Việt Minh!”, “giết Thanh niên Tiền phong!”.

    Chủ tịch lâm ủy hành chính Cần Thơ Trần Văn Khéo hết sức nhân nhượng, hạ lệnh cho các đơn vị cộng hòa vệ binh không được ngăn cản đoàn biểu tình, sợ xảy ra xô xát, mà phải rút từ từ về phía sau. Sau đó, ta mới viết một bản tuyên bố cuộc biểu tình này không xin phép trước là phạm pháp, yêu cầu phải giải tán ngay. Để cảnh cáo họ, cộng hòa vệ binh được phép bắn hai phát súng chỉ thiên. Không dè chỉ cần hai phát súng chỉ thiên đó đủ làm cho họ rối loạn hàng ngũ, mạnh ai nấy chạy. Một số lao xuống sông vì quá hoảng sợ, không may lại bị thương vì giáo mác của người khác, cũng vì hoảng sợ nên ném bừa xuống. Thiệt thương tâm đối với những tín đồ chất phác kia. Cuối cùng các cán bộ chỉ huy cộng hòa vệ binh Huỳnh Phan Hộ, Trần Hoài, Văn Cừ tập hợp họ lại an ủi, giải thích, cho mỗi người một ổ bánh mì và năm đồng rồi ra về. Ai bị thương nặng thì đưa đi nhà thương cứu chữa.

    Nói đi rồi phải nói lại, Việt gian phản động dù sao cũng chỉ là một nhúm nhỏ so với cả khối toàn dân to lớn. Lòng yêu nước thương nòi lúc này trào dâng trong lòng quốc dân đồng bào không phân biệt đạo hay đời, giàu hay nghèo, nông thôn hay thành thị, đang trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc mọi người đứng lên “xiết chặt hàng ngũ bảo vệ nền độc lập vừa giành được”. Bất kỳ ở đâu ta cũng có thể bắt gặp những người có tấm lòng yêu nước thương nòi như trên, được thể hiện một cách hồn nhiên, sôi nổi.

    Sài Gòn là nơi tập trung nhiều trí thức Tây học con nhà trâm anh thế phiệt, giàu sang, quyền quý. Nhưng hầu hết, nếu không phải là tất cả, đều đã theo cách mạng và thể hiện tinh thần yêu nước thương nòi của mình bằng hành động cụ thể.

    Thời kỳ tiền khởi nghĩa là các anh Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Huỳnh Tấn Phát, Mai Văn Bộ, Trần Văn Khê, Phạm Ngọc Thạch. Bây giờ còn có thêm nhiều anh khác như Luật sư Thái Văn Lung, Luật sư Lê Đình Chi, Luật sư Phạm Ngọc Thuần, Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Giáo sư Phạm Thiều, Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nhà báo Thiếu Sơn, nhà báo Lý Văn Sâm, nhà soạn kịch Năm Châu... Các nhà tư sản Trí Độ, Nguyễn Phú Hữu, các ông hội đồng quản hạt Võ Hà Tự, Thượng Công Thuận, các nhà giáo người Hoa Ngô Liên, Trang Dung..., đều tuyên bố tán thành Mặt trận Việt Minh, một lòng đi theo Cụ Hồ.

    Quân Anh, Ấn nhân danh Đồng minh vừa thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đổ bộ lên Sài Gòn để giải giáp quân Nhật. Nhưng chúng lại làm ngược lại, nghĩa là cho phép quân Nhật giữ nguyên vũ khí và khuyến khích quân Nhật sẵn sàng để có thể tấn công Việt Minh bất cứ lúc nào.

    Thêm vụ tám tên Pháp và Anh nhảy dù từ trên máy bay xuống Biên Hòa để dò xét và liên lạc với bọn tay sai trước đây. Khi dân quân bắt được, trong người chúng có giấy do De Gaulle cấp. Vụ này phù hợp với vụ tên Jean Cédille - đại diện cho Tổng Cao ủy Pháp ở miền Nam Đông Dương nhảy dù xuống Tây Ninh ngày 22/8, hồi đó Sài Gòn và lục tỉnh chưa khởi nghĩa. Sau khi được quân Nhật đưa về Sài Gòn, y đã bắt liên lạc ngay với các kiều dân Pháp và thành lập một “Ủy ban thông tin” để nắm tình hình, đợi thời cơ.

    Có thể lý giải điều này khi biết rằng từ năm 1943, khi nước Pháp còn bị quân Đức chiếm đóng, tướng lưu vong De Gaulle đã đặt vấn đề nghiên cứu cách thức trở lại Đông Dương. Trong tháng Tám vừa rồi ở ngoài Bắc cũng có vụ tên Messemer được Cao ủy Pháp bổ nhiệm cùng một số sĩ quan và quan cai trị Pháp nhảy dù; vụ đội biệt kích thủy quân Blanchar đổ bộ vào Hải Phòng rồi tìm cách lên Hà Nội; vụ tên Sainteny phụ trách phái bộ quân sự Pháp ở Côn Minh cùng bốn tên Pháp khác theo phái đoàn Mỹ Patti đổ xuống trường bay Gia Lâm...

    Người Pháp lúc này không có một danh nghĩa nào, một tí thực lực nào ở Việt Nam và ở Sài Gòn. Ấy mà họ cứ làm tới, vì đã sẵn có âm mưu từ lâu và nhất là được quân Anh ra sức giúp đỡ.

    Ngày 27/8/1945, Cédille đến gặp ba ông: Giàu, Thạch và Tạo, đại diện Lâm ủy hành chính Nam Bộ, y trắng trợn cho biết Chính phủ Pháp sẽ áp dụng bản tuyên bố Brazzaville ngày 24/3/1945, nghĩa là Đông Dương lại trở về chế độ thuộc địa như cũ! Bên ta kiên nhẫn thuyết phục, nhưng Cédille vẫn khăng khăng giữ nguyên các điều khoản của bản tuyên bố 24/3/1945, do đó cuộc gặp không đem lại kết quả gì.

    Ngày 04/9/1945, viên tướng Anh Douglas Gracey tuy còn ở xa, đã dùng điện đài hạ lệnh cho quân Nhật ở Sài Gòn phải tăng lực lượng lên 7 tiểu đoàn để “giữ gìn trật tự”, thực chất để tiếp tay cho thực dân Pháp khiêu khích ta.

    Hai hôm sau, Gracey đến Sài Gòn và tìm gặp ngay Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch để đưa ra yêu cầu giải giáp ngay quân Việt Nam (thay vì nhiệm vụ của phái bộ quân sự Anh là giải giáp quân Nhật). Trước tình hình này, để cho không khí khỏi quá căng thẳng và để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra với quân Anh, một phần lớn lực lượng ta trong nội thành rút ra vùng ven.

    Ngày 12/9/1945, đại bộ phận các đơn vị quân Anh có nhiệm vụ giải giáp quân Nhật đến Sài Gòn. Một đại đội quân Pháp thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5e RIC) đã xen vào các đơn vị quân Anh cùng đổ bộ. Cùng ngày hôm đó, quân Anh đến “mượn” trụ sở Lâm ủy hành chính Nam Bộ (dinh thống đốc cũ) cho quân Pháp treo cờ tam tài lên cột cờ. Lập tức đồng bào ùn ùn kéo tới bao vây tòa nhà, đòi chúng ta phải hạ quốc kỳ nước Pháp xuống, trả trụ sở cho chính quyền ta làm việc. Hai tiếng đồng hồ sau, quân Anh bắt buộc phải bảo quân Pháp hạ cờ xuống, nhưng chúng lại thả tất cả tù binh Pháp và đồng tình cho quân Pháp thay thế quân Nhật chiếm đóng bến tàu, kho thuốc súng, xưởng đóng tàu Ba Son. Tình hình Sài Gòn - Chợ Lớn không hề dịu đi mà ngày càng thêm căng thẳng. Quân Anh tăng cường các lực lượng gọi là “lực lượng trật tự” để uy hiếp tinh thần dân chúng. Còn quân Pháp, và cả thường dân Pháp kiều, được quân Anh tìm mọi cách giúp đỡ nên càng ra mặt khiêu khích. Không chỉ khiêu khích, Cédille còn làm đủ mọi việc để chuẩn bị cho một cuộc tấn công quân sự. Những tên trùm thực dân được thả ra như chủ đồn điền lai Tây Bazé, thầy kiện Béziat, công sứ Lalane đều giục Cédille đánh, đánh để khôi phục lại chính quyền Pháp.

    Cédille đã tìm được một số Việt gian để nuôi dưỡng, trong đó có Nguyễn Văn Thinh, đưa vào giấu trong Trại cơ binh số 11 ở đại lộ Cộng Hòa. Theo lệnh Cédille, sau khi đã được quân Anh đồng ý làm lơ, khoảng 100 tên lính Pháp vô kho chứa súng đạn ở đường Angier lúc nửa khuya 17/9. Chúng chất súng đạn đầy 12 xe camnhông rồi trở về Trại cơ binh số 11 của Pháp.

    Ngày 19/9, Cédille lại tuyên bố “Việt Minh không phải là đại diện của nhân dân Việt Nam. Việt Minh không thể giữ trật tự được và không ngăn cản cướp bóc được. Trước hết là trật tự phải được khôi phục và sau đó chúng ta sẽ thành lập một chính phủ theo nguyên tắc của Bản tuyên bố ngày 24/3/1945”. Ngày 21/9, quân Anh ra lệnh thiết quân luật và lại cung cấp thêm hàng ngàn súng cho quân Pháp. Rồi Gracey lại nói tiếp về “trật tự”! Ngày 22/9, Gracey cho ra bản thông cáo số 1, trong đó, Gracey tuyên bố rằng y là “người chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự”. Và để giữ gìn trật tự, Gracey ra lệnh đóng cửa tất cả các báo Việt Nam, kiểm soát và bắt tất cả những người Việt Nam mang vũ khí, yêu cầu sáp nhập Quốc gia Tự vệ cuộc (công an) Việt Nam vào quân đội Anh.

    Ngày 22/9, quân Anh chiếm Khám Lớn Sài Gòn và giải thoát tất cả những tên Pháp nhảy dù xuống Nam Bộ trước ngày khởi nghĩa bị ta bắt giam.

    Đêm 22/9, quân Pháp lợi dụng tình trạng thành phố thiết quân luật, đổ ra các đường phố khủng bố, lùng bắt vô cớ đồng bào ta, chia nhau đi chiếm các đồn công an.

    Được “đằng chân lân đằng đầu”, đó là bản chất của địch. Từ mấy ngày trước, mọi người dân Sài Gòn đã cảm thấy rất rõ chiến tranh là điều không tránh khỏi.




-----------------------------------------------------------------
1. Có tài liệu nói bọn Pháp nấp trong nhà thờ và các nhà xung quanh bắn xả vào đoàn người đang tuần hành.

2. Ở Côn Lôn, bọn cai ngục bắt đồng chí Tôn Đức Thắng làm “cặp rằn” trông tù xay lúa, cho tù ăn.

3. Ấp Bình Xuyên thuộc xã Chánh Hưng, quận Nhà Bè.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Chín, 2022, 11:11:43 am
CHƯƠNG II
Chiến tranh bùng nổ, ta bao vây địch trong Sài Gòn - Chợ Lớn


    3 giờ sáng ngày chủ nhật 23/9/1945, thành phố Sài Gòn vắng ngắt vì lệnh thiết quân luật của quân Anh từ mấy hôm trước. Còn quá sớm, các nhà thờ Thiên Chúa giáo chưa gióng những hồi chuông đầu gọi giáo dân đi lễ nhất. Một thời điểm hết sức thuận lợi, quân Pháp cải trang là quân Anh thực hiện việc đánh úp ta. Chúng chia nhau tấn công Sở cảnh sát (bót lính kín cũ), Sở bưu điện, nhà kho bạc, nhà đèn. Tờ mờ sáng, chúng đánh chiếm Nam Bộ phủ, tức trụ sở của Ủy ban nhân dân Nam Bộ1 (dinh Đốc lý cũ) và Quốc gia tự vệ cuộc. Chúng đánh chiếm các cầu trọng yếu như Mạc Má Hồng (cầu Công Lý, nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội... Nơi nào có lính Pháp tử thương, chúng đàn áp dã man bằng cách bắn chết tại chỗ bất kỳ người Việt nào bị bắt, cho dù đó là ông già tám mươi tuổi, chị phụ nữ đang mang bầu hay cháu bé sơ sinh. Còn quân Anh giả đò đi tuần tiễu, đã bủa vây nhiều nơi để bắt cán bộ ta. Khu vực Đa Kao bị vây kín các mặt. Anh Hoàng Đôn Văn - Chủ tịch Công đoàn thành phố bị bắt tại cơ quan khi anh ở lại làm việc khuya. Vậy là cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai của thực dân Pháp khởi đầu từ hôm nay!

    Viết đến đây, bỗng dưng tôi nhớ bài hát của Nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn:

        Mùa thu rồi, ngày hăm ba,
        Quân ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
        Rền khắp trời lời hô vang
        Dân quân Nam đều chân bước tới trận tiền

        ... Nóp với giáo, mang ngang vai,
        Mà đoàn người giàu lòng vì nước
        Súng ống kém, chân đi không
        Nhưng thân trai nào kém oai hùng.


    Bài hát đầy hào khí, lãng mạn và rất hiện thực đã và đang sống với lịch sử, cũng như ngày 23/9 đã và đang sống với lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Nói rằng, đây là lúc sơn hà nguy biến, điều đó hoàn toàn đúng. Lại nói rằng chúng ta chỉ có nóp với giáo mang ngang vai cũng không hề sai.

    Đã nói đến chiến tranh, phải đề cập đến so sánh lực lượng giữa đôi bên.

    Tính đến giờ phút này ngoài lữ đoàn quân Anh 2.500 tên và bảy tiểu đoàn quân Nhật 5.000 tên, riêng quân Pháp có tiểu đoàn biệt kích 600 tên thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5e RIC) và 1.500 tên của trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11e RIC) là tù binh vừa được quân Anh thả ra và tái vũ trang.

    Còn lực lượng ta, trong nội thành có một bộ phận nhỏ cộng hòa vệ binh làm nhiệm vụ canh gác công sở, 6.000 tự vệ xung phong công đoàn, 2.000 thanh niên xung phong và công an xung phong, nhưng vũ khí thì chỉ có 120 súng các loại với rất ít đạn và 2.000 trái lựu đạn, còn lại là tầm vông và giáo mác.

    Sức mạnh vật chất buổi đầu nghiêng về phía địch, nhưng sức mạnh tinh thần là ưu thế tuyệt đối của ta. Địch không thấy được điều đó, vì lẽ giản đơn chúng là những đội quân xâm lược nhà nghề, còn nhân dân ta, những người vừa làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám, chúng ta ý thức rõ ý chí độc lập, tự do của một dân tộc là vô địch.

    Quân Pháp lợi dụng đêm tối đánh úp ta, nhưng ta không hề bị động, mà ngược lại, hết sức chủ động. Từ mấy ngày trước, ngày 19/9/1945, biết trước chiến tranh là điều khó tránh, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã ra thông báo:

    “.. Nếu người Pháp chiếm chính quyền ở đây, nếu họ đem quân đội tới định cướp xứ ta, biến đổi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập này thành xứ bảo hộ hay thuộc địa, dù là dưới mặt nạ tự trị nào thì quốc dân phải theo mệnh lệnh của Chính phủ mà sẽ:

    1) Tổng bãi công: không một ai cộng tác với người Pháp bất cứ về phương diện nào (binh bị, cai trị, kinh tế).

    2) Kháng chiến đến cùng cho đến khi toàn thắng để cho hoàn cầu thấy rằng quốc dân ta quyết giữ nền độc lập và để làm hậu thuẫn cho Chánh phủ Trung ương trong cuộc ngoại giao được thắng lợi. Trong sự kháng chiến, ta không nên đụng chạm đến người Đồng minh, không nên sát hại đàn bà con trẻ.

    Nên sẵn sàng chuẩn bị cuộc đình công và mở cuộc kháng chiến ngay khi phát tờ hịch này. Đồng bào chờ mệnh lệnh Chánh phủ, nếu người Pháp buộc ta phải dùng thủ đoạn kể trên”
.

    Ngay từ đầu tháng 9, việc điều động đại bộ phận các đơn vị vũ trang của ta ra vùng ven đô bố trí ở các nơi xung yếu để bảo toàn lực lượng và hình thành thế bao vây, đó là sự chủ động hết mực nếu không nói là cao kiến.

    Mượn từ ngữ của Mác, tôi muốn nói rằng đối với quân xâm lược Pháp không thể dùng “vũ khí phê bình” mà chỉ có thể “phê bình bằng vũ khí”, nghĩa là phải quyết đánh và quyết thắng. Đó là nguyên lý chung. Còn trong mọi trường hợp cụ thể, “hòa hay chiến”, vẫn là vấn đề cần cân nhắc thận trọng, có khi phải bàn cãi nảy lửa. Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng thường nhắc Xứ ủy Nam Bộ hết sức tránh đụng chạm với quân Đồng minh cũng như quân Pháp, cần hết sức bình tĩnh và ôn hòa.

    Ngay sáng 23/9, vì Sài Gòn đã có nhiều chiến sự, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ xúc tiến gấp cuộc họp tại một căn nhà trên đường Cây Mai tỉnh Chợ Lớn 2. Nội dung chính nhằm đi đến hành động có tính chất sống còn trước diễn biến nghiêm trọng của tình hình: Chiến hay hòa?

    Những người có mặt trong cuộc họp: Ung Văn Khiêm - Bí thư Xứ ủy, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng. Đại diện Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt cùng tham dự.

    Có hai ý kiến:

    Một bên muốn “đánh ngay”, vì lòng dân đã sôi sục đến mức không kìm lại được, còn địch thì cứ lấn tới, “được đằng chân lân đằng đầu”. Nhưng thử hỏi như vậy liệu còn khả năng hòa hoãn hay không?

    Một bên khác chủ trương “chờ xem” tình hình diễn biến thêm ra sao đã. Trước mắt, chỉ nên đình công, bãi thị hoặc biểu tình phản đối địch.

    Nhưng “chờ xem” là chờ tới bao giờ, lúc đó tình hình đã đen tối liệu còn xoay trở sao kịp?

    Thảo luận qua lại tới hai tiếng đồng hồ, ý kiến sau cùng mới ngã ngũ là “đánh ngay”. Đó cũng là ý kiến của đa số từ lúc mới vào bàn họp. Nhưng đường dây liên lạc với Hà Nội đang hư, việc báo cáo ra Trung ương không thể làm ngay được. Mà tình thế nước sôi lửa bỏng cũng không thể máy móc ngồi chờ đến khi Trung ương cho phép được. Hội nghị biểu quyết nhanh gọn và bế mạc lúc 10 giờ sáng với tình tiết đó.

    Ba tiếng đồng hồ sau, bản Tuyên cáo quốc dân được ban hành rộng rãi:

    “Đồng bào Nam Bộ!

    Vì coi quân đội Anh là đại biểu của Đồng Minh tới đất nước chúng ta giúp giải giáp quân Nhật để đem lại hòa bình cho dân chúng Đông Dương, nên chúng tôi, Ủy ban nhân dân Nam Bộ luôn giúp cho quân đội Anh làm nhiệm vụ được dễ dàng. Mặc dầu có nhiều điều bất mãn, đã nhiều lần chúng tôi kêu gọi quốc dân nén lòng căm giận để chờ đợi cuộc vận động ngoại giao với Đồng Minh trên trường quốc tế, nhưng do sự nhân nhượng và dung túng của quân Anh, bọn thực dân Pháp đã làm nhiều điều quá đáng.

    ... Không lẽ chịu nhục hoài, vì danh dự của dân tộc, chúng ta phải coi trọng quyền lợi quốc gia, nên chúng tôi đã đánh điện ra Chánh phủ Trung ương xin cho phép kháng chiến. Chúng tôi đã:

    1)  Lập Ủy ban kháng chiến để lo việc quân sự.

    2)  Hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với người Pháp.

    3)  Truyền đi lục tỉnh thi hành kế hoạch phá hoại đường giao thông tiếp tế để bao vây quân địch.

    4)  Kêu gọi đồng bào tố cáo Việt gian nguy hiểm.

    Đồng bào thân mến!

    Cương quyết phấn đấu, toàn dân hãy đoàn kết để bảo vệ quốc gia”
3.

    Cơ quan Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến đã dời về Chợ Đệm (quận Bình Chánh) từ trước, vì vậy guồng máy lãnh đạo điều hành vẫn hoạt động đều. Những việc cần làm ta vẫn triển khai.

    Chẳng hạn, việc phá án vụ âm mưu lật đổ của nhóm Dương Văn Giáo. Giáo câu kết với nhóm tờrốtkít và Cédihe lập “Chánh phủ lâm thời Việt Nam dân quốc”, do y làm Thủ tướng và Phan Văn Hùm làm Tổng trưởng quốc phòng, có “quốc kỳ”, có “tổng hành dinh” hẳn hoi. Nhờ bà con người Hoa giúp đỡ, ngày 24/9, ta đột nhập trụ sở của chúng ở số 8 đường Thủy Binh và “Tổng hành dinh” ở nhà nghỉ Hoàng Hậu, bắt trọn gói khi chúng chưa kịp giở trò.

    Ta đánh địch như thế nào, đánh theo cách riêng của ta đặng có thể thắng bọn xâm lược trước mắt mạnh hơn ta nhiều lần?

    Đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn đã triệt để làm theo lời tuyên cáo của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ tản cư ra khỏi nội đô, tổng bãi công, bãi thị, triệt mọi đường tiếp tế lương thực của địch. Nói cách khác, đồng bào bao vây địch về tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế.

    Anh Bích Lâm, vừa từ trần giữa năm 1992, ở tuổi 77, vốn là người trong cuộc. Anh nói về người dân Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1945 mà anh hiểu thấu đáo trong một cuốn bút ký dày hơn 300 trang viết tay để lại:

    “Tinh thần kháng địch của Sài Gòn và ngoại ô khó mà tả lại cho đúng.

    Tuyệt vời: Nhưng đó chỉ là từ vựng không thể nói được điều đã thấy, việc đã nghe, cảnh đã làm cho đệ tam nhân vừa khóc vừa cười cùng một lúc.

    Nói rằng dân ta giác ngộ chính trị cao độ, đó là phóng đại. Nói lứa Tháng Tám của năm đó là “coi chết như về nhà mới”, đó là quá đáng. Vì thực tế đồng bào Sài Gòn và trong sợi dây nịt đỏ 4 lúc đó dốt đến họ nhà mình chẳng biết viết sao cho đúng và hiểu thế giới thì thô lậu đến thương xót. Chẳng hạn như đa số đồng bào cho rằng người Pháp mắt đục như nước gạo vo, “nó chẳng thấy gì hết, nếu không có Việt gian chỉ cho. Đêm nó bị quáng gà, cứ mò vô mà cứa”
.

   ... Văn hóa Pháp, ngoài mấy chữ RO, RA 5, không ra khỏi thành phố quá 12 cây số!

    Điều mà nông dân hiểu Pháp và tin vào sự hiểu biết đó là: Tây tham, ham ăn, ham gái mà nhất hạng sợ chết. Do đó mà khói lửa tơi bời, mà lệnh tản cư lớp gọi loa, lớp thuyết phục ở tổ, họ hưởng ứng rất là chiếu lệ.

    Chẳng phải họ nghèo sợ kẻ đi người ở, nồi gạo phải chia ba xẻ bốn, nên không đi. Chỉ vì họ nô nức muốn lập công: Độc lập từ đời ông, đời cha tới giờ mới có. Mà nay Tây trở lại, mình ở lại đánh nó để trọn niềm với Tổ quốc.

    Tổ quốc, vâng lứa Tháng Tám nghe hai từ Tổ quốc là máu ấm lên, mắt long lanh. Từ ngày Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn, người Sài Gòn đã thề hy sanh vì Tổ quốc.

    Chữ Việt Minh, đồng nghĩa với Con thân yêu của Tổ quốc.

    Chữ Việt gian, ngược lại là sự nhục nhã, là tội đáng chết, để gọi ai theo Tây, có bất cứ hành động nào có lợi cho quân xâm lăng.

    Cái tâm lý ấy là tâm lý Sài Gòn, tâm lý của lớp người Tháng Tám.

    Một tâm lý thay cho luật pháp, thay cho tòa án, thay cho kỷ luật và mệnh lệnh lương tri của chính mình.

    Bằng cớ là Sài Gòn huyên náo bát nháo, mỗi con người là một thế giới, vậy mà thông báo giờ chót của Ủy ban nhân dân Nam Bộ được thị dân răm rắp làm theo...”
.

    Tôi nghĩ rằng anh Bích Lâm không cường điệu, quả thiệt người dân Sài Gòn -Chợ Lớn năm 1945 là như vậy.

    Ngay trong sáng 23/9, đồng bào đã đem mọi thứ vật dụng từ bàn ghế, giường tủ đến xe bò, xe thổ mộ..., chất đầy các ngã ba, ngã tư đường phố để làm chướng ngại vật. Trong lúc đó ở ngoại thành các “bộ đội” tự lập lại tiếp tục hình thành 6, hàng ngàn thanh niên nô nức xin được tòng quân giết giặc.

    Tiêu biểu cho tinh thần quyết tử trong chiến đấu, có tiểu đội bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ. Sáng 23/9, một đại đội quân Anh đến định hạ lá cờ đỏ sao vàng xuống, kéo lá cờ tam tài lên đã bị anh em dùng hỏa lực cản lại. Một tiểu đội, mà không phải tất cả đều được trang bị súng quyết chống chọi với đại đội quân Anh đến người cuối cùng vì danh dự lá cờ Tổ quốc. Viên chỉ huy người Anh, đó là một võ quan thực dân, không thể không khâm phục, đã cho đại đội sắp hàng bồng súng chào những người anh hùng của đối phương vừa ngã xuống dưới chân cột cờ. Không ai trong tiểu đội bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ để lại một di vật nào để từ đó có thể tìm ra tên tuổi, gia đình, nhưng các anh đã trở thành tập thể chiến sĩ vô danh bất tử.

    Dương Quang Đông (Năm Đông), hiện nay còn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh có dịp kể lại trận đánh ở Dinh Xã Tây, tức trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ lúc đó:

    “... Đến 21 giờ ngày 22/9/1945, anh em báo cho tôi biết là lính Nhật gác ở vòng ngoài Dinh Xã Tây đã rút hết rồi, nhất định là lính Pháp sẽ đến. Tôi suy nghĩ nát đầu, không biết hỏi ý kiến ai vì các cơ quan Xứ ủy, Ủy ban, Mặt trận đều đã rút về Chợ Đệm từ hồi sáng. Mình được phân công ở lại mà cũng rút thì còn mặt mũi nào. Một giờ sau, anh em lại chạy vào báo quân Pháp đổ mười xe lính ở Đài phun nước (trước cửa Nhà hát lớn bấy giờ). Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy chúng đang triển khai quân rầm rập. Đầu óc tôi rối beng. Nhưng rồi tôi nhủ thầm thà chịu kỷ luật là tự động nổ súng chứ không thể chịu nhục trước kẻ thù. Vậy là tôi cho anh em chĩa súng ra ngoài, chờ lệnh tôi: Tôi quyết định hành động, bắn một phát. Súng của anh em nổ tiếp theo làm một số lính Tây ngã gục. Vậy là bọn Tây bắn trả lại, súng lớn cũng bắn cả vào trong dinh.

    Một lúc sau có tiếng kêu: “Anh Năm ơi, hết đạn rồi!”. Thì lúc bấy giờ, mỗi cây súng chỉ có năm viên đạn chứ mấy. Không còn cách nào khác, tôi cho rút lui. Có những bà, những chị lo tiếp tế cơm nước cho chúng tôi cũng kẹt ở đây, tôi bố trí rút trước. Không một ai hy sinh, chỉ mấy người bị gạch đá văng trúng bị thương. Còn quân Pháp, chết một số. Và vinh dự cho chúng tôi, tiếng súng mở màn cho cuộc kháng chiến chống Pháp chính là tiếng súng phát ra từ Dinh Xã Tây hôm đó”
.

    Đêm 23/9, anh em công nhân trong thành phố họp nhau lại, cắt ngón tay lấy máu ăn thề: “Quyết chiến đấu cho Thành phố Hồ Chí Minh thân yêu!” (như vậy, Sài Gòn có tên Thành phố Hồ Chí Minh ngay từ năm 1945, mặc dù đến năm 1976, Quốc hội mới biểu quyết chính thức). Ngay sau đó, từng tiểu đội, từng tổ lao vào mục tiêu được phân công.

    Sau khi chiếm được Sở Cứu hỏa ở đường Galliénie (nay là Trần Hưng Đạo), anh em trong tiểu đội tự vệ công nhân leo lên cắm cờ trên tháp cao. Người trước ngã, người sau tiến, quyết cắm bằng được. Bốn đội viên hy sinh anh dũng nhưng cờ đỏ sao vàng đã ngự trên đỉnh tháp. Không thể lường được nư giận của đồng bào khi nó đã dâng lên tột cùng.

    Đêm 24/9, căm phẫn vì quân Pháp bắn chết hai chiến sĩ ta, hàng ngàn đồng bào hè nhau tràn vào biệt khu của tiểu viên chức Pháp “Cité Hérault” (ở Tân Định) và đốt phá sạch. Về sau báo chí đưa tin 150 người bị giết, 105 người mất tích. Nghe động, quân Anh, Ấn, Nhật, Pháp kéo đến thì việc đã rồi 7.

    Thật là một thảm cảnh. Nhưng cũng là đỉnh cao của lòng căm thù!

    Tiếp đến, đêm 25/9, hàng ngàn người lại sôi sục xông lên cầm vũ khí đến phá Khám Lớn trong đó có nhiều người của ta địch vừa bắt giam mấy ngày qua. Búa tạ tới tấp nện mạnh cho đến lúc hai cánh cửa khám bằng sắt rất chắc chắn phải bật tung.

    Vụ này địch cũng không kịp trở tay đối phó. Tất cả người của ta bị giam trong khám đều được giải thoát.

    Đại tá Peter Dewey 8 bị bắn chết và biệt xác khi ngồi trên chiếc xe từ sân bay Tân Sơn Nhất ra ngã ba Chú Ía ngày 27/9. Tuy chỉ là cái chết của một sĩ quan trong chiến tranh, nhưng Dewey là người Mỹ, cháu ruột của Thống đốc bang New York và là nhân viên cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ CSS, vì vậy nó trở thành một sự kiện được chú ý. Có khả năng, viên đại tá bị quân Nhật bắn chết vì đường vào sân bay lúc này quân Nhật canh gác. Nhưng quân Anh và quân Pháp lại đổ cho ta, lấy cớ để buộc ta những điều vô lý khác. Nhưng vẫn có khả năng do các tay súng của ta nữa chứ?! (trong cuốn Miền Đông Nam Bộ kháng chiến viết: “Ngày 28/9, lực lượng Gò Vấp phục kích tại ngã ba Chú Ía bắn cháy một xe jeep từ sân bay Tân Sơn Nhất chạy ra, giết chết tên đại tá Đơvai..”).

    Những ngày vây hãm địch trong thành phố, lối đánh bất ngờ, đánh mạnh, rút nhanh, xuất quỷ nhập thần đã ra đời, mà tác giả là các đội cảm tử, tổ, đội tự vệ, công đoàn xung phong.

    Quân Pháp tính đến ngày 27/9 chỉ mới kiểm soát được một vùng rất hẹp từ đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi), đường Bonard (nay là đại lộ Lê Lợi), chợ Bến Thành ngược lên đến Tân Định. Sài Gòn không có điện nước, không họp chợ, không buôn bán. Còn ở Chợ Lớn, trước đây mỗi gánh nước giá năm xu, một hào, nay lên tới mười đồng rưỡi; một chục hột vịt trước đây năm cắc, nay lên tới bốn đồng; một ký thịt gà trước đây ba đồng, nay lên tới hai mươi đồng.

    Ngày 30/9, hãng Thông tấn Anh Reuter loan báo: “Có chừng 3.000 quân Anh, một số quân Pháp và 20.000 quân Âu ở Sài Gòn hiện đang bị hàng nghìn người Việt Nam có khí giới đe dọa... Hiện thời quân Anh - Pháp phải chống với 7.000 lính Việt Nam có đủ khí giới và hàng vạn dân quân mang dao, gậy, giáo, lựu đạn nhất quyết tử chiến... Đó là tình hình Sài Gòn một tuần lễ sau ngày khởi nghĩa 9 gây nên bởi tay một số người Pháp, gồm có cựu tù binh, thường dân và cả những người trước kia theo chính phủ Vichy vừa được ra khỏi ngục. Sau bảy ngày, tình thế càng nghiêm trọng thêm. Ở Sài Gòn rất nguy ngập về lương thực, vì trên đất thì quân dân Việt Nam phong tỏa mà trên mặt bể thì quân Nhật trước kia đã thả nhiều thủy lôi đến nỗi không có một chiếc tàu Đồng minh nào có thể tới Sài Gòn được. Các kho gạo của Nhật trước đều bị người Việt Nam phá hoại bằng cách đốt cháy hết trận này đến trận khác. Hai lần máy bay phải ném lương thực xuống. Càng ngày càng khó kiếm miếng ăn và nước khiến nhiều người phải khổ sở vì khát”.

    Báo Cứu quốc số 57, ngày 03/10/1945, nhắc lại lời than thở của một Pháp kiều trong cuộc: “Sống trong cảnh tối om, mỗi người chúng tôi đều tự hỏi điều gì đã xảy ra, ngày mai ra sao...”.

    Trong cuốn Sài Gòn 9/1945, ký giả Trần Tấn Quốc trích dịch một phóng sự của nhà báo Pháp viết khá tỉ mỉ: “Sài Gòn không đèn, không nước, không chợ... Người Việt đàn ông, đàn bà, già, trẻ đã ra khỏi châu thành.

    Sài Gòn, thành phố chết! Hòn ngọc viễn đông đã biến thành một cảnh hoang vu, không một chút nào hoạt động, xe cộ đã ngừng hẳn, không một ai ra đường.

    Từ sáng đến trưa ngày 24 thì Sài Gòn được yên tĩnh. Nhưng đến xế chiều tình thế biến đổi hẳn. Một đội dân quân Việt Nam tiến theo đường Verdun10 tràn xuống trung tâm Sài Gòn chiếm chợ Bến Thành, kéo thẳng đến đại lộ Bonard11   xả súng bắn. Mặt khác, nhiều bộ đội vượt kênh Tàu Hủ đổ bộ lên Sài Gòn tiến thẳng về đại lộ De la Somme12.

    Trong vài vùng khác, người ta cho hay có nhiều trận đánh. Người ta nghe súng nổ khắp nơi.

    ... Ở xa xa, nhiều đám cháy ngùn ngụt đổ trời. Một cảnh tượng bao trùm nhà hàng Continental. Rất đông đàn bà và trẻ con Pháp lánh nạn nhưng nhà hàng không còn một miếng nước, không một tia sáng của đèn điện. Ở đây thỉnh thoảng lại được tin những người Pháp lẻ tẻ bị thiệt mạng.

    Những tin điện cầu cứu cứ truyền ra. Phần khác, tiếng súng không ngớt càng làm rối loạn tinh thần.

    Còn Việt Minh? Hiện giờ họ chiếm đóng tất cả các khu vực ngoại ô.

    Ngày 25/9, cả thành phố vẫn không nước, không lương thực. Những người Pháp chỉ còn mỗi nước là lẻn vào các quán cóc lụp xụp dơ dáy của Hoa kiều, tại đây may ra còn tha được vài cặp lạp xưởng với giá cắt cổ ăn với cơm.

    Trong những quán cóc bẩn thỉu này, bên cạnh những anh phu bến tàu, người ta thấy nhiều vị thượng quan Pháp không còn khó tánh trước sự dơ dáy, ngồi trên những chiếc ghế đẩu bằng gỗ ăn cơm bằng đũa. Ban ngày ban mặt là vậy, sụp tối khó vị nào dám vào những quán cóc đó vì bên sau những lò bếp ám khói ai biết những gì núp ở đó.

    Những ngày đêm này dân chúng Pháp không sao ngủ được. Họ mệt mỏi và luôn luôn xao xuyến. Tuy vậy, Đại tá Cédille vẫn tiếp tục chiến đấu cho hòa bình. Ông không ngớt cho tuần tiễu đi khắp nơi. Ông viết bố cáo kêu gọi người Việt Nam bình tĩnh và khuyên họ trở lại với việc làm. Song tất cả người Việt Nam đều đã ra khỏi thành phố. Đó là chứng chỉ lời đáp của họ...”
.

    Trích như vậy kể cũng dài. Nhưng đó cũng chỉ là những gì tác giả thấy được trong một không gian hẹp mà người Pháp sống. Đi dọc theo sông Sài Gòn, vùng chợ cũ, khu vực Hoa kiều và kế đó là khu vực Ấn kiều quanh chùa Chà cũng sẽ bắt gặp nhiều cảnh tượng như vậy.




-----------------------------------------------------------------
1. Từ ngày 10/9/1945, Ủy ban hành chính Nam Bộ được đổi tên thành Ủy ban nhân dân Nam Bộ, do Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch.

2. Nay là số 627-629 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Báo Cứu quốc, số 54, ngày 29/9/1945.

4. Sợi dây nịt đỏ: Vùng ven đô bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn trước Cách mạng Tháng Tám, cơ sở cách mạng ở đây rất mạnh.

5. RO (Régie dopium): Quản lý thuốc phiện.
    RA (Régie d’acool): Quản lý rượu.

6. Các “bộ đội” tự lập lúc này có thể kể: Cao Đức Luốc, Huỳnh Tấn Chùa, Tô Ký (Hóc Môn), Nguyễn Văn Thược (Tân Bình), Huỳnh Văn Một (Đức Hòa), Trương Văn Bang (Cần Giuộc), Phạm Văn Khung, Nguyễn Văn Công (Gò Vấp), Thái Văn Lung, Đào Sơn Tây, Trần Thắng Minh (Dĩ An), Võ Văn Mỹ (Thủ Đức)...

7. Báo Cứu quốc tháng 9/1945 đưa tin: “Tối 24/9, quân ta mặc dầu có sự canh phòng cẩn mật của lính Nhật, lọt vào Tân Định bao vây khu phố Hérault, bắt và giết được gần 200 lính Pháp”. Còn cuốn Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, in năm 1990 viết: “Bọn tờrốtkít, bọn lưu manh thừa cơ tụ tập gây ra những vụ kích động điển hình như vụ tàn sát người Pháp ở khu Hérault”.

8. Lúc bấy giờ, Peter Dewey là thiếu tá, ở đây tác giả viết nhầm thành đại tá (BT).

9. Tức là cuộc chiến tranh.

10. Nay là đường Cách mạng Tháng Tám.

11. Nay là đại lộ Lê Lợi.

12. Nay là đại lộ Hàm Nghi.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Chín, 2022, 05:20:29 pm
*
*       *


    Ngày 27/9/1945, cơ quan Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ dời về Mỹ Tho để tương đối xa vùng có chiến sự, có thể đứng chân lâu.

    Trước hôm lên đường, bỗng một ý nghĩ day dứt trong lòng tôi: “Sài Gòn đang khói lửa ngút trời, hay mình hãy ở lại để trực tiếp tham gia cuộc chiến...?”. Suy nghĩ rồi đi đến quyết định dứt khoát, tôi trao đổi với anh Nguyễn Văn Nguyễn. Anh đồng ý, chúng tôi lưu luyến chia tay.

    Vậy là tôi ở lại. Nhưng nên làm việc gì, ở ngành nào, thoạt đầu tôi cũng chưa nghĩ đến. Trước tiên, móc nối với anh em quen biết cũ đã.

    Sau khi gặp gỡ và bàn bạc với nhau, tôi cùng các anh Hoàng Dư Khương, Huỳnh Văn Một, Tô Ký..., hình thành một ý định chung là đứng ra tổ chức một đơn vị vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng.

    Ý định này có cơ sở là thực tế đang cho thấy bốn sư đoàn “dân quân cách mạng”, tuy quân đông, súng nhiều nhưng sức chiến đấu quá yếu kém nếu không nói là quá bê bết, đang tự phân rã dữ dội.

    Riêng đệ nhị sư đoàn đã tan rã ngay từ đầu: Vũ Tam Anh - “Tổng tư lệnh” đệ nhị sư đoàn về đầu hàng đệ nhị phòng (2e bureau) của Pháp, rồi bày mưu cho Pháp nắm Chi đội 8 Cao Đài trở súng chống lại kháng chiến, móc nối một loạt phần tử cơ hội cùng ra làm tay sai cho giặc như Lâm Văn Phát, Trần Quang Vinh, Dương Quang Đặng, Phạm Công Tắc. Vì vậy không thể tin cậy, hy vọng ở họ nữa mà phải có những đơn vị vũ trang có hệ thống lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ do Đảng tổ chức.

    Một số đơn vị do những phần tử cơ hội, lưu manh lợi dụng tình hình đứng ra tự lập và chỉ huy nay không chiến đấu mà lui về phía sau quậy phá. Điển hình là “bộ đội H.T.29” của Hồng Tảo, bỏ chạy trước khi giặc đến, nhưng chạy đến đâu đều bắt dân đóng tiền cho “công quỹ”. Ở Thủ Đức, Ba Nhỏ rủ cò Tổng (trưởng công an) mang tiền, vàng và vũ khí của quận rồi dẫn “bộ đội” rút chạy. Còn những đơn vị khác cần được chấn chỉnh nhanh chóng.

    Trong khi cuộc chiến đấu ở nội đô Sài Gòn đang tiếp diễn, cuối tháng 9/1945, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ quyết định thành lập thêm ba mặt trận vòng ngoài.

    Mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Gia Định, còn gọi là Chiến tuyến phía bắc, kéo dài từ ngã ba sông Thị Nghè đến cầu Bông, chặn quân địch bung ra trên các trục đường 13, đường xe điện và đường bộ qua cầu Bến Phân lên Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, đường 1 qua cầu Tham Lương. Lực lượng chiến đấu có các đơn vị Nam tiến và các đơn vị địa phương khoảng 50 tay súng.

    Mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn, còn gọi là Chiến tuyến phía nam hay mặt trận đường 4, án ngữ địch tiến quân xuống miền Tây. Tại đây có bộ đội Bình Xuyên (lực lượng vũ trang thống nhất Nhà Bè), bộ đội Ba Bang (Cần Giuộc), bộ đội Bảy Trân (Bình Chánh).

    Mặt trận tiền tuyến phía tây, còn gọi là chiến tuyến Phú Lâm.

    Ngoài ra trên thực tế hình thành thêm Mặt trận tiền tuyến phía tây bắc, còn gọi là Mặt trận Tham Lương vì nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra ở khu vực này. Tại đây có bộ đội Huỳnh Tấn Chùa, Phạm Văn Ngói và nhiều lực lượng nhỏ của Hóc Môn, Bà Điểm, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa, Bà Quẹo.

    Các mặt trận vòng ngoài tạo thành một vòng cung gần khép kín bao quanh Sài Gòn với thế “ngoại kích nội công” lợi hại của chiến tranh nhân dân. Có người đã ví vòng cung này chẳng khác nào “vành đai đỏ” trong những năm đấu tranh giành độc lập trước Cách mạng Tháng Tám.

    Nghe các danh từ “mặt trận”, “chiến tuyến”, có thể ai đó hình dung các thành trì kiên cố, hào rộng và sâu, các phòng tuyến bố trí đủ loại vũ khí từ súng máy đến đại bác và xe tăng hạng nặng. Nhưng thực chất đây chỉ là những tuyến chiến đấu với công sự làm bằng gỗ và đất cùng mọi thứ vật dụng mà đồng bào tự nguyện lấy từ nhà mình khiêng, vác, mang đến góp cho bộ đội.

    Còn người chiến sĩ, lúc đó được gọi là Vệ quốc quân, nếu chỉ căn cứ vào hình thức bên ngoài thì thật khó nói đó là con nhà binh. Quần áo thì đủ bộ: Xanh công nhân, bà ba đen, quần soọc áo sơ mi cộc tay... Giày dép cũng đủ loại: Giày da đi dạo phố, dép xe kéo, lại không ít anh em đi chân đất (ở đây không nói tới chỉ huy các sư đoàn mặc cả quân phục của sĩ quan Pháp và Nhật, đi ủng cao cổ, kiếm Nhật kè kè bên hông).

    Vũ khí cũng hỗn hợp của đủ các nước trên thế giới, từ Pháp, Nhật, Nga đến Mỹ, Anh, Tiệp..., dài có, ngắn có và đặc biệt rất ít đạn. Đại bộ phận cán bộ cũng như chiến sĩ trang bị lựu đạn chày, sang lắm thì được khẩu hai nòng, còn không thì gậy tầm vông vạt nhọn kèm theo cuộn dây thừng.

    Với Sài Gòn - Chợ Lớn và cả Nam Bộ là “máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”, nên trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, cả nước cùng hướng về đây như hướng về phần máu thịt thiêng liêng nhất của mình. Sài Gòn - Chợ Lớn trở thành nơi hội tụ của cả nước.

    Về sau mấy cán bộ từ miền Bắc vào công tác nói lại cho tôi biết: Sáng ngày 23/9/1945, đông đảo đồng bào Hà Nội đã hay tin giặc Pháp gây chiến ở Sài Gòn, ùn ùn đổ ra các phố, đến trước các phòng thông tin đợi nghe thêm tin tức, gặp nhau thì câu đầu miệng là hỏi về tình hình trong đó. Ở các địa phương khác cũng vậy. Không khí chung là hừng hực căm thù. Nhiều người, không cứ là thanh niên, không cứ là nam giới, rạo rực muốn có mặt ngay tại Sài Gòn để moi gan móc ruột quân thù.

    Ngày 26/9/1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ, trong đó Người không quên nói đến tấm lòng ruột thịt tha thiết của đồng bào toàn quốc đối với Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam Bộ.

    Hồ Chủ tịch và Chính phủ lâm thời quyết định cử những đoàn quân Nam tiến, nhanh chóng chi viện cho Sài Gòn.

    Muốn tổ chức các đoàn quân Nam tiến, phải lo giải quyết hai vấn đề chính là người và vũ khí. Còn một số vấn đề khác cũng cần chú ý như nguồn cung cấp, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, nhưng không quan trọng bằng.

    Về người, có thể nói vắn tắt là “cần một, có mười”. Các “Phòng Nam Bộ” đầy ắp người đến ghi tên tình nguyện Nam tiến. Họ thuộc đủ các thành phần xã hội, các lứa tuổi. Hai nhà sư Nguyễn Châu và Giác Thuyên từ Đông Triều (Quảng Ninh) lên Hà Nội yết kiến Hồ Chủ tịch để xin cho trung đội sư tăng lên đường giết giặc 1. Bà Trần Thị Thanh Lệ ở Hà Nội, cắt búi tóc cho ngắn gọn để xin được tòng quân. Học sinh nhiều trường bãi học vì phong trào “Xếp bút nghiên” đang dấy lên rầm rộ.

    Ngày 26/9, đơn vị Nam tiến đầu tiên đã có thể xuất phát từ ga xe lửa Hàng Cỏ (Hà Nội). Từ đó, ngày nào cũng có chuyến tàu chở quân hối hả băng về phương Nam. Suốt cuộc hành trình, anh em hát vang bài: Tiếng súng vang sông núi miền Nam, Ầm đất nước Việt Nam, Ta muốn băng mình tới phương Nam, Xé xác quân tham tàn... Tàu dừng ở ga nào cũng có đồng bào đón sẵn và tặng bánh trái, lương thực.

    Chỉ một thời gian ngắn, mỗi tỉnh phía Bắc đều có một, hai chi đội Nam tiến. Quân số mỗi chi đội thường tương đương trung đoàn sau này, nhưng cũng có chi đội chỉ tương đương tiểu đoàn, đại đội.

    Cũng không quên nhắc đến tỉnh Quảng Ngãi, quê hương của đội du kích Ba Tơ, với sự nỗ lực cao nhất đã xin được gửi vào Nam mười chi đội đã qua huấn luyện cơ bản 2.

    Chi đội Nam Long vào sớm nhất, đã tham gia chiến đấu ở mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Gia Định. Năm đó anh Nam Long cũng mới hăm mấy tuổi, là chiến sĩ bảo vệ tin cẩn của Hồ Chủ tịch từ Việt Bắc cho đến khi về Hà Nội. Anh hăng lắm nên đánh bạo xin Bác vào Nam tiến. Bác đồng ý. Vậy là anh lên đường ngay và được chỉ định làm Chi đội trưởng, vừa hành quân, vừa nắm tình hình đơn vị. Hiện nay anh là Trung tướng, nghỉ hưu ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy là một lão tướng từng trải với ba mươi mấy năm trận mạc, anh vẫn thích nhắc đến những trận đánh vỡ lòng ở căn cứ Việt Bắc và ở thành phố mang tên Bác với nhiều kỷ niệm sâu sắc không thể quên.

    Cũng trong cuối tháng 9/1945, lực lượng vũ trang của các tỉnh miền Tây đang lúc mới hình thành cũng cấp tốc cử một tiểu đội đến một trung đội lên góp lửa với Sài Gòn - Chợ Lớn, chủ yếu ở mặt trận đường 4 và mặt trận phía tây. Do chưa có kinh nghiệm chiến đấu và tổ chức chặt chẽ, anh em không trụ lại được lâu.

    Đầu tháng 10/1945, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ huy động các phân đội của Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ và Rạch Giá theo quốc lộ 4 đánh vào Phú Lâm nhưng trận đánh không thành công.

    Các tỉnh miền Đông, càng gần gũi với Sài Gòn - Chợ Lớn đã sát cánh chiến đấu ngay từ những ngày đầu.

    Tỉnh Biên Hòa với thành tích một tháng mở được hai lớp đào tạo cán bộ tiểu đội, trung đội tại Trại huấn luyện du kích Bình Đa - Vĩnh Cửu, cử một phân đội chiến đấu tại cầu Bình Lợi bên cạnh bộ đội Nam tiến.

    Ở chiến tuyến cầu Bến Phân và chiến tuyến cầu Bông, trong lực lượng chi viện cho Sài Gòn - Chợ Lớn của tỉnh Thủ Dầu Một có nhiều anh em “Việt Nam mới” người Xtiêng, Chăm, Khmer bên cạnh anh em người Việt. Vũ khí của anh em là cung ná.

    Có một việc xảy ra, lúc đó hơi căng thẳng, nhưng bây giờ gần một nửa thế kỷ trôi qua nhắc lại coi như một mẩu chuyện vui. Số là trong một trận đánh, quân Pháp bắn đạn đum đum nên nghe tiếng nổ ở phía sau. Vậy mà anh em “Việt Nam mới” cho là đồng đội người Việt chơi không tốt, bắn vào lưng mình, bèn rủ nhau bỏ về. Lúc ấy tôi đang có mặt tại đó, tôi cùng các đồng chí chỉ huy giải thích hồi lâu anh em mới thông và ở lại tiếp tục đánh giặc. Giặc rất ngán những mũi tên bay đến mục tiêu “không cần lên tiếng” của chiến sĩ “Việt Nam mới”.




-----------------------------------------------------------------
1. Trung đội sư tăng này thuộc đệ tứ chiến khu, đã được huấn luyện quân sự và hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.

2. Từ ngày 23/10/1945, quân Pháp mở rộng chiến tranh, do đó các đơn vị Nam tiến phần lớn dừng lại chiến đấu ở cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chứ không vào Nam Bộ nữa.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Chín, 2022, 05:23:20 pm
*
*      *


    Ngày 15/10/1945, Xứ ủy lâm thời tiến hành hội nghị tại ấp Cầu Vẽ, ngoại vi thị xã Mỹ Tho. Tham gia cuộc hội nghị có Hoàng Quốc Việt - đại diện Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Ung Văn Khiêm - Bí thư Xứ ủy, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Thị Thập, Lê Văn Sô, Huỳnh Phan Hộ, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trần Ngọc Danh, Phạm Hùng và Nguyễn Văn Vịnh. Trần Văn Giàu không có mặt.

    Ý nghĩa lịch sử của hội nghị này là cho tới hôm nay, Nam Bộ mới có được một xứ ủy thống nhất trên cơ sở giải thể cả hai xứ ủy Tiền phong, Giải phóng và bầu cử dân chủ. Xứ ủy mới gồm 11 ủy viên, trong đó có các đồng chí ở hai xứ ủy cũ và các đồng chí vừa từ Côn Đảo về. Theo một số đồng chí nói lại thì lần đó hội nghị nhất trí cử bác Tôn làm Bí thư Xứ ủy, nhưng bác khiêm tốn từ chối không muốn nhận trọng trách này.

    Hội nghị cũng quyết định thống nhất các tỉnh ủy ở những nơi đang có hai tỉnh ủy và chỉ định một số bí thư tỉnh ủy 1.

    Mặt trận Việt Minh cũng được kiện toàn, trong đó Thanh niên Tiền phong coi như đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, giới thanh niên được tập hợp trong Đoàn Thanh niên cứu quốc.

    Nội dung thứ hai được thảo luận kỹ là vấn đề tác chiến. Hội nghị phê phán cách đánh lập phòng tuyến, dàn hàng ngang cản địch là không thích hợp và quyết định lấy “đấu tranh du kích” làm chính.

    Đúng như vậy. Và trường hợp chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng tuy đáng khâm phục về tinh thần nhưng không lợi cho việc xây dựng, phát triển lực lượng, như trường hợp tiểu đội bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ hay như hai phân đội của Hổ và Bảy Thưởng ở chiến tuyến Thị Nghè.

    Còn cách đánh du kích thật ra đã xuất hiện ở mặt trận nội đô từ ngày đầu có chiến tranh. Có thể nêu vài ba trận đánh, chủ yếu bằng mưu mẹo:

    - Một tài xế người Việt, nhận làm việc cho một viên chức cao cấp Pháp - Một hôm, anh chở nó qua Cầu Kho có việc, đến con hẻm, anh giả đò nghẹt xăng và ngưng xe lại. “Việt Minh” là đồng đội của anh đã phục sẵn, cùng anh kết liễu đời tên Pháp thực dân rồi mò lưng lấy súng.

    - Còn Sáu Cúc là gái điếm ở Chợ Đũi, dùng kế mỹ nhân dụ một tên lính Pháp đi theo. Một tự vệ đã đợi sẵn, lụi ngay mũi mác nhọn vào rốn nó. Nó ôm mũi mác mà té chúi nhũi trước khi chết.

    Trở lại những ngày đầu tháng 10.

    Sau một tuần lễ chiếm đóng được dăm bảy công sở trong thành phố và nhiều lần định dựa vào lực lượng quân Anh, quân Nhật cùng phá vỡ vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn nhưng đều thất bại, bọn Pháp tự thấy đã lâm vào cảnh khốn đốn, nguy nan với chiều hướng ngày một tăng. Ngày 02/10/1945, bọn Pháp phải nhờ quân Anh đứng làm trung gian điều đình với ta. Tuy thừa biết Pháp điều đình chỉ cốt để hoãn binh chờ cứu viện đang trên đường đến Đông Dương mà Đại tá Cédihe đại diện cho Pháp ở Sài Gòn không đủ thẩm quyền điều đình, nhưng ta vẫn nhận lời để tỏ cho Đồng minh biết là ta có thiện chí.

    Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu, thay mặt Chính phủ lâm thời, đã có chỉ thị cho Ủy ban kháng chiến Nam Bộ trong khi điều đình phải đòi cho được ba điều:

    1/ Thừa nhận Việt Nam độc lập.

    2/ Thừa nhận Chính phủ dân chủ cộng hòa do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

    3/ Đình chỉ các vụ bắn giết.

    Sáng 02/10, hai đại diện bên ta là Phạm Văn Bạch và Phạm Ngọc Thạch gặp Cédille và Repiton Preneuf, cả hai cùng là đại tá Pháp. Tướng Gracey - Trưởng phái bộ Anh được mời dự.

    Vào đầu cuộc họp, hai bên thỏa thuận là sẽ ngưng bắn ngay để tạo điều kiện cho việc điều đình. Nhưng khi thật sự đi vào thảo luận, thì ý kiến thường khác nhau xa. Cédille đưa ra một danh sách những tên Pháp bị ta bắt giữ và xin được thả (kỳ thật số đông đã tử trận). Ta cho biết, chính quân Pháp khai chiến trước nên những người Pháp bị chết, bị mất tích hay bị bắt thì Ủy ban kháng chiến Nam Bộ đều hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Nhưng nếu cuộc điều đình tiến triển tốt thì ta sẽ điều tra giúp số người Pháp còn sống sót đang bị giam giữ.

    Cédille thừa nhận sáng 23/9 Pháp đã nhờ quân Anh giúp đỡ để đánh úp ta. Ta đòi thiết lập lại chính quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn nguyên như trước ngày 23/9 và phải có một đội cảnh binh toàn người Việt Nam. Cédille xin để trả lời sau.

    Ta cho biết trong khi chờ đợi bên Pháp trả lời, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ vẫn tiếp tục chủ trương triệt để tổng đình công và bất hợp tác.
    Đêm 06/10/1945, lại gặp gỡ nhau lần thứ hai, ta nêu mấy yêu sách:

    - Đưa tình hình trở lại như trước ngày 23/9.

    - Định rõ trách nhiệm cuộc xung đột này thuộc về ai.

    - Quân Pháp phải giải giáp và người Pháp phải ở cả vào một khu quy định nhất định như trước ngày 23/9.

    - Quân đội Pháp không được đổ bộ thêm lên Việt Nam.

    - Thả ngay những người bị Pháp bắt.

    Cédille lại nêu vấn đề những người Pháp bị bắt, bị mất tích và ngỏ ý muốn giữ chủ quyền Pháp ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

    Về các yêu sách của ta, Cédille ngần ngừ, đoàn đại biểu ta cho biết ngay là nếu hai bên không thỏa thuận được thì sẽ không có cuộc gặp gỡ lần thứ ba nữa, chiến tranh lại tiếp tục. Cédille nài thêm 48 tiếng đồng hồ đình chiến nữa với cớ để có đủ thì giờ nghiên cứu các yêu sách của ta. Như vậy đến 10 giờ ngày 08/10 sẽ hết hạn đình chiến.

    Tuy vậy, 15 giờ ngày hôm đó, đại biểu ta lại đồng ý gặp Cédille lần thứ ba. Cédille vẫn tiếp tục giữ lập trường cũ, còn đối với những yêu sách của ta thì cho biết ý định sẽ đề đạt lên thượng cấp ở Calcutta (Ấn Độ) xét sau. Một lần nữa Cédille lại tìm cách hoãn chiến.

    Hỗ trợ đắc lực cho Cédille, tướng Anh Gracey hết hăm dọa sẽ dùng võ lực đàn áp Quân đội Việt Nam nếu có việc gì xảy ra đối với quân Anh, lại quay ra mềm dẻo vì thấy đoàn đại biểu ta rất “cứng cựa”. Gracey đề nghị kéo dài thời gian đình chiến thêm 48 tiếng đồng hồ nữa, ta chấp thuận và nói rằng đây là lần cuối cùng.

    Đúng là bọn Pháp điều đình chỉ cốt để hoãn binh.

    Ngày 03/10, một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5e RIC) đến Sài Gòn.

    Ngày 05/10, Đại tướng Leclerc, với chức danh Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương, từ bản doanh ở Chandernagor (Ấn Độ), đáp máy bay tới Sài Gòn. Chức danh này của Leclerc được De Gaulle phong cho ngày 17/8/1945, hai ngày sau khi nước Nhật đầu hàng Đồng minh.

    Báo chí tường thuật, Leclerc hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất trong lúc trời mưa tầm tã. Nhưng sau đó họ lờ không tường thuật những hành động hiếu chiến của y như thế nào. Leclerc lập tổng hành dinh trong vòng rào của quân Anh, không quan tâm gì đến cuộc đàm phán cả. Việc làm tiếp ngay sau đó là vạch kế hoạch phá vòng vây và tấn công ta.

    Trong thời gian này, lữ đoàn cuối cùng của Sư đoàn 20 Hoàng gia Anh do Gracey chỉ huy cũng đến Sài Gòn. Tương quan lực lượng lại thay đổi lớn có lợi cho địch, vì từ ngày 10/10 trở đi cả quân Anh và quân Nhật theo lệnh của Gracey bắt đầu ra mặt phối hợp tác chiến với quân Pháp mà không cần che đậy như trước.

    Ngày 12/10, quân Anh đã dùng lực lượng mạnh tiến chiếm Gia Định và Gò Vấp.

    Ngày 17/10, quân Anh lại tấn công lên Gò Vấp, nhưng lần này bị đánh đau, bỏ lại chiến trường hơn 100 xác chết, 5 xe thiết giáp và tháo chạy.

    Cũng từ ngày 10 trở đi, hoạt động của ta dồn dập hơn trước.

    Ngày 13/10, quân ta đánh ở Cầu Hang (Gò Vấp) diệt được nhiều tên và đoạt 2 xe thiết giáp.

    Ngày 14/10, ta kịch chiến với quân Nhật tại Chợ Lớn và Phú Lâm, quân Nhật bị thiệt hại lớn.

    Đêm 15/10, ta tập kích các đội quân Anh canh gác sân bay Tân Sơn Nhất và đốt cháy chiếc tàu Pháp Alerte vừa cập bến Sài Gòn.

    Ngày 18/10, hai phân đội của Hai Hổ và Bảy Trường chiến đấu hy sinh đến người cuối cùng, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân Pháp có tàu chiến, xe tăng và pháo binh yểm trợ định chọc thủng phòng tuyến ta ở Thị Nghè. Cuối cùng địch phải rút quân. Báo chí lúc đó đưa ra số quân Pháp bị diệt là 500 tên.

    Tóm lại, tình hình quân Pháp ở Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn căng thẳng, khốn đốn, mặc dầu vòng vây của ta có nới rộng chút ít. Quân Pháp đã phải tổ chức một số cuộc đột kích chớp nhoáng ra các vùng ngoại thành như Tân Bình, Bà Chiểu, Gò Vấp, Thủ Đức để cướp gà, vịt, heo, bò rồi rút nhanh về. Đồng bào ở các vùng này vì vậy cũng được hướng dẫn tản cư đi nơi khác an toàn hơn phòng khi chiến sự lan tới.

    Cho tới ngày 23/10/1945, binh đoàn thiết giáp do tướng Massu chỉ huy, chủ lực quân của đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, đặt gót đến Sài Gòn. Quân Anh trang bị thêm cho binh đoàn này các phương tiện chiến đấu trên sông như chiến hạm nhỏ, canô, phao...

    Leclerc tuyên bố rằng đây chưa phải là những đơn vị cuối cùng đến Sài Gòn. Nhưng với lực lượng đang có trong tay, quân Pháp cộng cả quân Anh và quân Nhật, đã mạnh hơn ta gấp bội.

    Ngày 23/10, Leclerc cho thực hiện ngay kế hoạch tấn công đã vạch ra.

    Từ 23/9 đến 23/10, đúng một tháng, quân dân ta vây hãm địch trong Sài Gòn -Chợ Lớn và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với tinh thần chủ động, quyết tâm chiến đấu cao.

    Toàn quốc tin tưởng, thương yêu hướng về Sài Gòn - Chợ Lớn, thành phố phương Nam “đi trước” để “về sau”.

    Trong một tháng quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn vây hãm địch, các địa phương khác trong toàn Nam Bộ cũng như cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên có được một thời gian quý báu để ra sức chuẩn bị mọi mặt đối phó với tình hình khi chiến tranh lan đến. Đó là đóng góp rất lớn của quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn thân thương.




------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Thành A - Bí thư Tỉnh ủy Tân An, Nguyễn Văn Trọng - Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, Nguyễn Văn Côn - Bí thư Tỉnh ủy Gò Công, Nguyễn Tẩu - Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Trần Thị Nhung - Bí thư Tỉnh ủy Sa Đéc...


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Chín, 2022, 05:25:37 pm
CHƯƠNG III
Nam Bộ trong cuộc tấn công ồ ạt của quân Pháp


    Cuộc tấn công của quân Pháp khởi đầu từ ngày 23/10/1945.

    Khi binh đoàn thiết giáp Massu đến Sài Gòn, lực lượng quân Pháp lên tới 6.000. Bên cạnh đó là 20.000 quân Anh và 40.000 quân Nhật, cộng lại gấp mười lần lực lượng Pháp. Số quân này đủ đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch tấn công ba giai đoạn của Leclerc:

    -  Phá vỡ vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn, làm chủ thành phố.

    -  Mở rộng chiếm đóng toàn Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

    -  Tiến hành bình định.

    Theo Leclerc, đây không phải là một kế hoạch phiêu lưu mà có tính toán, hoạch định hẳn hoi. Tin tưởng với kế hoạch của mình và với chiến lược cổ truyền của các đội quân xâm lược “tốc chiến, tốc thắng”, ông ta tuyên bố “Sau ba tháng sẽ bình định xong Nam Kỳ”.

    Sơ lược diễn biến những ngày đầu như sau:

    23/10: Quân Anh khởi sự cho việc phá vây bằng trận đánh thốc lên Thủ Dầu Một, phía bắc Sài Gòn.

    25/10: Quân Pháp đánh chiếm Biên Hòa, phía đông bắc Sài Gòn.

    Cùng ngày, cuộc hành quân mang tên Moussac về hướng đồng bằng sông Cửu Long, bắt đầu do Đại tá Massu chỉ huy.

    Quân Nhật được phân công đi trước dọn đường dọc quốc lộ 4. Để hoàn thành nhiệm vụ, chúng sục vô nhà dân lôi người ra sửa lộ và tiện thể cướp của luôn. Chúng được phép tự do đốt nhà, vì vậy chúng đi tới đâu là lửa cháy ngùn ngụt tới đó.

    Xe tăng quân Pháp đi sau, vượt qua hỏa lực súng nhẹ của ta không khó khăn lắm mặc dầu ở cầu Bình Điền, cầu Bến Lức..., ta đều có những tổ mai phục.

    Theo đường sông, hai chiến hạm Pháp là Richelieu và Triomphant từ Cần Giờ qua sông Soài Rạp tiến xuống Gò Công, hợp điểm tại đây với một mũi bộ binh hành quân từ Sài Gòn theo liên tỉnh lộ 5.

    Đêm 25/10, hai chiến hạm vừa nói ở trên chở quân lên đánh chiếm thị xã Mỹ Tho. Mũi bộ binh, xe tăng đi theo lộ 4 mãi 10 giờ sáng ngày hôm sau mới đến, do cầu Tân Hương đã bị ta gỡ hết ván.

    Đến đây, các cánh quân bộc lộ rõ nhược điểm là hành quân rất chậm và thường bị tiêu hao nhiều lần trước khi đến đích, quân Pháp cấp tốc thành lập một binh chủng mới là “hạm đội nhỏ trên sông” (Flottille Fluvide). Hạm đội nhỏ trên sông sẽ đóng vai trò chủ công trong việc đánh chiếm các tỉnh còn lại ở châu thổ sông Cửu Long. Chính vai trò của binh chủng thủy quân dã chiến trên hai chiến hạm Richelieu và Triomphant đã thể hiện rõ trong đợt tiến công đầu tiên.

    29/10: Sau hai ngày cho tàu chiến từ Mỹ Thuận chạy dọc theo sông Cổ Chiên thăm dò, chúng đổ bộ đánh chiếm Vĩnh Long.

    30/10: Cũng bằng tàu chiến, chúng đổ quân đánh chiếm Cần Thơ.

    Tất nhiên, địch đã gặp sự chống cự của quân và dân ta, có nơi quyết liệt. Nhưng với lực lượng mạnh áp đảo, nhìn chung cuộc chinh phạt của chúng gọn ghẽ, đúng bài bản đã được định trước.

    Ta thử coi lại một tháng Sài Gòn - Chợ Lớn bao vây địch, các tỉnh miền Tây đã làm được những gì để chuẩn bị vào cuộc chiến.

    Có nhiều việc phải làm và đã làm được. Nhưng hãy chỉ nói riêng về mặt chuẩn bị lực lượng.

    Ở Chợ Lớn cũng như ở Tân An, hàng chục ngàn người đã mang dao, cuốc, leng ra đốn cây, xẻ rãnh, đắp mô trên quốc lộ 4 và liên tỉnh lộ 5. Năm, sáu chục chiếc ghe chài chở đất làm cản trên kênh Nước Mặn và Rạch Cát. Hàng trăm xuồng ghe được kết lại bằng dây cáp chặn ngang sông. Trạm tù và ở các cầu và từng đoạn lộ sẵn sàng báo động khi có địch.

    Mỹ Tho lập khoảng 15 phòng tuyến ngăn địch, đánh sập hoặc gỡ ván các cầu, phá hoại lộ 4 đi Sài Gòn, lộ 24 đi Gò Công, lộ 28 đi Cai Lậy, nhận chìm một số ghe chài, xà lan và một trăm cây giá tị (lấy được của Nhật) ở sông Ba Rày để cản tàu. Các binh công xưởng thành lập, bắt tay sản xuất lựu đạn chày và sửa súng ngay. Đồng Tháp Mười được chọn làm căn cứ. Còn nhân dân sẵn sàng tiêu thổ kháng chiến, tản cư khỏi các thị xã, thị trấn.

    Gò Công được Ủy ban kháng chiến Nam Bộ giao cho nhiều vật liệu, máy móc lấy ở hãng Xáng Mỹ Tho để thành lập binh công xưởng (binh công xưởng này hơi cồng kềnh), đã sản xuất được nhiều lựu đạn. Ngoài lực lượng chiến đấu tại chỗ là du kích tự vệ, cộng hòa tự vệ và cộng hòa vệ binh tỉnh, Gò Công được tăng cường một bộ phận Cộng hòa vệ binh Nam Bộ (Đệ nhất sư đoàn dân quân cách mạng) do Phó Tư lệnh Trương Văn Giàu chỉ huy. Theo lệnh của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, bộ phận này có nhiệm vụ cản bước tiến của địch trên lộ 5 cũng như trên đường thủy đi Hậu Giang. Trong các phòng tuyến đã được xác lập, Cộng hòa vệ binh Nam Bộ chọn Cầu Nổi làm điểm phòng ngự chủ yếu.

    Anh Trương Văn Giàu chính quê ở chợ Giồng Gò Công. Anh lưu lạc lên Sài Gòn tìm kế sanh nhai, hết làm loong toong cho các hãng dầu Shell lại làm thợ cho hãng ôtô Citroen rồi vào lính khố xanh lên tới chức quản. Nhưng nay anh trở về quê cũng còn rất trẻ, mới tuổi hăm ba.
    Nội bộ cán bộ Gò Công không nhất trí với nhau trong việc thực hiện vườn không nhà trống, nên cuối cùng chỉ phá một số ngôi nhà lớn ở thị xã, cầu đường vẫn còn nguyên vẹn.

    Ngược lại, công tác phá hoại ở Vĩnh Long được thực hiện triệt để với tinh thần “không chừa lại một thứ gì địch có thể lợi dụng được”. Trên các trục đường bộ, cây lớn, cây nhỏ đều bị hạ chặt làm vật ngăn địch; mặt đường bị đào đứt hoặc thành nhiều hố nham nhở. Trên từng đoạn sông Cổ Chiên, Long Hồ, Măng Thít, nhân dân làm một số cản rất chắc chắn. Trong lúc các cơ quan dời về ngã tư Long Hồ (trên lộ Vĩnh Long - Trà Vinh), dân chúng được lệnh tản cư, thì lực lượng vũ trang được chuẩn bị trước về vũ khí và lương thực, kiên quyết ở lại nghinh chiến với địch. Anh em bố trí thành nhiều phòng tuyến trên cả ba trục lộ Vĩnh Long - Cần Thơ, Vĩnh Long - Trà Vinh, Vĩnh Long - Sa Đéc.

    Nếu ở một số tỉnh còn tình trạng các đơn vị độc lập tác chiến không phối hợp chặt chẽ với nhau thì ở Cần Thơ lúc này có “Bộ tham mưu” là cơ quan chỉ huy thống nhất các lực lượng cộng hòa vệ binh, du kích, các bộ đội. Thực chất “Bộ tham mưu” là Ban Chỉ huy quân sự.

    Trong Ủy ban kháng chiến Hậu Giang (gồm tất cả các tỉnh miền Tây), anh Trần Văn Khéo làm Chủ tịch, còn anh Huỳnh Phan Hộ làm Phó Chủ tịch kiêm Ủy viên quân sự. Anh Hộ rất xông xáo, thời gian phần nhiều dành để đi kiểm tra các phòng tuyến, kiểm tra việc di chuyển máy móc, cơ sở binh công xưởng về nông thôn.

    Khi địch chiếm Mỹ Tho thì Cần Thơ bắt đầu có lệnh tản cư và có kế hoạch phá hoại nhà đèn, nhà máy nước, nhà bưu điện... Tiếc rằng đêm 29/10, quân Nhật được lệnh của quân Anh đã đến gác ở những nơi đó nên ta không thể thực hiện được việc phá hoại.

    Như vậy, có thể khẳng định là khi địch tấn công đến ta không bị bất ngờ. Duy có chiến thuật phòng ngự theo kiểu dàn hàng ngang thành nhiều chiến tuyến là cách đánh không phù hợp.

    Mặt trận đường 4 bị vỡ sớm, nhưng Tư lệnh Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “Hãy tỏ rõ mình là người chiến sĩ cách mạng”, nên đơn vị Bình Xuyên vẫn còn nguyên, sau đó thì lui xuống Rừng Sác lập căn cứ kháng chiến.

    Trên quốc lộ 4, quân Nhật tiến với tốc độ chậm như rùa vì phải đối phó với quân ta. Trong một ngày, mới đầu chúng chỉ đi được 20km. Ở khu vực Cần Giuộc - Cần Đước (Tân An), địch bị chặn đánh cả trên bộ và dưới sông, một tuần lễ sau chúng mới hoàn thành việc chiếm đóng.

    Ở Gò Công, hai chiến hạm Richelieu và Triomphant đến lởn vởn ở bến phà Cầu Nổi (cách thị xã 12km) rồi tiến vào định đổ bộ nhưng lại phải lùi ra giữa sông vì gặp phải hỏa lực của ta. Hơn một tiếng đồng hồ sau đó chúng thấy bên ta im ắng nên lại cho tàu cập bờ đổ bộ. Nhưng mới đặt chân lên bờ, chúng phải xô đẩy nhau nhảy ào xuống tàu trở lại, vì ta bắn tới tấp. Ít nhất có ba lính Pháp đền mạng, một tàu đổ bộ của chúng bị lật chìm.

    Sau đó, do cân nhắc lực lượng ta mỏng, địch đông và hỏa lực mạnh, dẫu tiếp tục chiến đấu cũng khó giữ vững phòng tuyến, trên cho các đơn vị rút về sau. Vì vậy sáng hôm sau địch đổ quân lên được Cầu Nổi.

    Ngày 26/10, địch từ Cầu Nổi vào và từ Mỹ Tho xuống chiếm được thị xã Gò Công. Chúng bị chặn đánh ở nhiều nơi. Ngay đêm đó cộng hòa tự vệ táo bạo tập kích bằng cách dỡ ngói ném lựu đạn vào các nhà có lính ngủ (góc nhà thương thị xã) gây thương vong cho chúng.

    Hơn một tháng sau khi chiếm được thị xã, địch chỉ loanh quanh tại khu vực trung tâm, vài ba lần dè dặt hành quân ra vùng ngoại ô đều bị du kích chặn đánh. Ngày 20/12/1945, hai tên lính Pháp vô làng Tân Duân Trung cướp heo, một tên bị đồng bào ta giết chết. Hôm sau, để trả thù, chúng phải mở cuộc càn lớn giết sáu đồng bào ta, cắt đầu bêu cọc và đốt trụi hơn 200 căn nhà làng Tân Duân Đông.

    Lực lượng vũ trang Vĩnh Long bám địch đánh gần ba tháng trời chúng mới hoàn toàn chiếm được thị xã. Trận Cầu Lầu là trận đánh trên đường ta rút quân, 2 tên Pháp bị diệt và 3 tên khác bị thương. Trận Cầu Ông Me (Long Hồ) sau đó, ta đánh địch suốt một ngày trời diệt một tiểu đội lính Pháp và làm bị thương nhiều tên khác, đoạt 10 súng trường, 1 súng cối 60 ly và 6 trái lựu đạn.

    Tại Cần Thơ, 1 trung đội cộng hòa vệ binh chống cự quyết liệt với cánh quân địch ở Cầu Đôi Cái Khế. Khi chúng tiến vào thành phố, 1 đại đội cộng hòa vệ binh và du kích phòng thủ tại cầu Tham Tướng cầm cự suốt cả tiếng đồng hồ, chúng không dám lên. Về sau địch tăng thêm quân đánh bọc hậu và cho pháo hạm bắn bên hông trận địa, trên cho đơn vị rút về phía Cái Răng để bảo toàn lực lượng.

    Chừng đó sự việc, chừng đó trận đánh không thể nói lên đầy đủ tinh thần chiến đấu của quân ta. Ở đâu cũng có gương dũng cảm ngoan cường rất đáng cảm phục. Nhưng qua đó ta cũng nhận thấy đúng là lực lượng vũ trang ta lúc này còn quá non kém. Rồi đây cùng với thời gian, ta phải dần dần khắc phục những mặt non kém, chuyển yếu thành mạnh, đặng đưa cuộc kháng chiến tiến tới.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Chín, 2022, 05:31:40 pm
*
*      *


    Tuy muốn đánh nhanh và giải quyết nhanh, đến đây quân Pháp vẫn buộc phải dừng nửa chừng để củng cố và chờ thêm viện binh. Nhiều vùng nông thôn của ta, kể cả các tỉnh đã tạm bị chiếm, vẫn chưa bị địch đặt chân đến. Trong điều kiện như vậy, trong ba tháng cuối năm 1945, bên ta có mấy sự kiện quan trọng cần ghi lại.

    Ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị đại biểu các tỉnh, thành gần chợ Thiên Hộ (làng Hậu Mỹ, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho). Đây là hội nghị đông nhất so với trước. Ngoài đồng chí Hoàng Quốc Việt - Đại diện Ban Thường vụ Trung ương Đảng, còn có một số đồng chí vừa ở nhà tù Côn Đảo về.

    Hội nghị nhận định tình hình và rút ra những ưu điểm, khuyết điểm về chỉ đạo kháng chiến từ sau hội nghị Cây Mai (23/9/1945). Nhiều ý kiến phê phán những lệch lạc trong việc xây dựng lực lượng vũ trang sau Cách mạng Tháng Tám và đề ra nguyên tắc Đảng phải nắm chắc lực lượng vũ trang. Hội nghị quyết định phải gấp rút xây dựng lực lượng quân sự, chính trị rộng khắp lấy du kích chiến là chính, làm vườn không nhà trống, đẩy mạnh công tác trừ gian, xây dựng cơ sở bí mật trong các thành phố, thị xã bị địch chiếm, khôi phục chính quyền ở những nơi bị tan vỡ.

    “Những lệch lạc trong việc xây dựng lực lượng vũ trang sau Cách mạng Tháng Tám” mà hội nghị nêu ra, chủ yếu nói về bốn sư đoàn dân quân cách mạng. Trước đây chưa lâu có người chưa nhận ra hoặc bênh vực, bào chữa cho nó. Nhưng đến nay thì mọi việc đều rõ ràng.

    Đệ nhất sư đoàn, còn gọi là cộng hòa vệ binh do Kiều Công Cung và Trương Văn Giàu chỉ huy, có khoảng 10.000 quân và 2.600 súng 1. Gốc của nó là ba lữ đoàn bảo an binh, sau đó thu nhận thêm công nhân, nông dân, học sinh, cựu binh sĩ. Cộng hòa vệ binh có hệ thống xuống các tỉnh là những đơn vị bảo an binh cải tổ 2.

    Qua thử lửa đoàn quân này bị phiêu bạt lung tung, nhiều phân đội nhỏ chạy về sáp nhập vô các bộ đội khác của địa phương.

    Một bộ phận do Trương Văn Giàu đưa về hoạt động ở Gò Công, như đã có nói ở phần trước.

    Một bộ phận do Kiều Công Cung dẫn về Sa Đéc, có một số hành động mất lòng địa phương như buộc lực lượng vũ trang của tỉnh sáp nhập vào cộng hòa vệ binh, bắt chính quyền cung ứng lương thực, thực phẩm đúng thời hạn, dung túng cho binh lính đi quấy nhiễu. Khi quân Pháp uy hiếp thị xã Sa Đéc, bộ phận này tiếp tục rút xuống U Minh, Cà Mau.

    Đệ nhị sư đoàn, thành phần là giáo dân Cao Đài, phái Tây Ninh, có 10.000 quân nhưng vũ khí thì kém, khoảng 100 súng mà thôi. Sự tan rã của sư đoàn này xảy ra quá sớm, từ đầu tháng 9/1945, ngay khi quân Anh lên tiếng đòi tước vũ khí bộ đội Việt Nam. Tên Vũ Tam Anh - đảng viên Đại Việt, chỉ huy sư đoàn đầu hàng địch, làm việc cho phòng nhì Pháp (2e bureau) rồi trở lại móc nối, lôi cuốn một loạt phần tử cơ hội cùng ra làm tay sai cho địch như: Lâm Văn Phát, Trần Quang Vinh, Dương Quang Đặng, Phạm Công Tắc...

    Đệ tam sư đoàn, do Nguyễn Hòa Hiệp - một nhân viên hiến binh cũ của Nhật chỉ huy. Quân số 6.000 3, súng trên 400. Nói cho công bằng, sư đoàn này có đánh được vài trận ở vùng ngoại ô, nhưng sau đó thì cứ rút lui mãi từ trước khi địch đến và biến thành thổ phỉ!

    Bằng chứng thì quá nhiều, có thể ghi thành một cuốn sách nói về những nét hằn của một đội quân “thua làm giặc”.

    Rút chạy mà Nguyễn Hòa Hiệp còn sung công cả gánh cải lương Nhạn Trắng và một số kịch sĩ đi theo để hưởng lạc. Đồ đạc cồng kềnh thì bắt xe lam chở. Rút chạy mà chúng còn ra oai, cướp không 40 khẩu súng của du kích Hóc Môn, đi đến đâu cũng “rượt hành chính, đánh công an”, bắt dân cống nạp heo gà và phục dịch mọi thứ.

    Tháng 11/1945, lúc này tôi đã thay anh Hoàng Dư Khương làm Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, đóng quân ở làng Mỹ Hạnh. Một hôm anh em báo cho biết có Phạm Hữu Đức - “Phó Tư lệnh Đệ tam sư đoàn” đến gặp. Tôi cho một trung đội trang bị súng bén phục chung quanh nhà, rồi mời Đức vào tiếp đón đàng hoàng. Đức mặc quần áo sĩ quan Pháp, đeo kiếm Nhật ngang hông, chân mang bốt, trông có vẻ dữ dằn. Còn trang phục của tôi là bộ bà ba đen, trang phục phổ biến của bộ đội ta lúc này. Đức đòi Giải phóng quân liên quận trả số anh em “công binh điện xa”, khoảng hai tiểu đội mới từ trong thành ra tình nguyện gia nhập Giải phóng quân, với lý do đó là người của Đệ tam sư đoàn. Đây là một cớ thôi, tôi chắc Đức còn muốn đòi hỏi Giải phóng quân nhiều thứ khác nữa kia, và hễ được đàng chân sẽ lân đàng đầu. Tôi trả lời Đức một cách cứng rắn là Giải phóng quân không tranh người của ai cả, rồi nói thêm cho y cứng họng luôn: “Pháp đang đánh rộng ra, nếu các anh là người kháng chiến thì hãy sát cánh cùng chúng tôi chiến đấu vì Tổ quốc”. Quả nhiên Đức cảm thấy đuối lý hoàn toàn, đành cáo từ ra về.

    Đệ tam sư đoàn rút chạy một lèo từ Hóc Môn qua Đức Hòa, Đức Huệ, băng qua Cai Lậy, Cao Lãnh. Đi đến đâu chúng cướp không xuồng ghe đến nấy, đó là thứ tư liệu sản xuất và phương tiện vận chuyển, đi lại không thể thiếu của người dân. Đã vậy, có những khúc kênh cạn, chúng còn bắt dân lội xuống đẩy xuồng ghe nữa.

    Cuối cùng, đám binh lính đã biến thành thổ phỉ cũng tan tác mỗi nhóm đi một phương, những người có tinh thần dân tộc thật sự thì bỏ đi tìm những đơn vị khác tiếp tục chiến đấu. Riêng “Tư lệnh” Nguyễn Hòa Hiệp còn một trung đội tay chân, đi ghe từ Cao Lãnh về Đức Huệ rồi ra hàng Pháp ở Bến Lức (Trung Quận, Chợ Lớn). Hay tin, phòng nhì Pháp từ Sài Gòn cho xe xuống chở về thành phố ngay. Còn Phạm Hữu Đức về với kháng chiến, được chỉ huy một trung đoàn, nhưng sau đó y bị bắt và xử lý vì làm gián điệp cho địch.

    Đệ tứ sư đoàn, do Lý Huê Vinh, tay sai cũ của Nhật, chỉ huy với 5.000 quân và 100 súng. Với danh nghĩa “giữ phòng tuyến Tham Lương”, sư đoàn này toàn đùn đẩy các đơn vị khác lên phía trước, còn bản thân ở lại sau để ăn chặn đồ tiếp tế và quấy nhiễu.

    Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa tiến hành công tác vận động binh sĩ, lấy được một số vũ khí và làm tan rã đệ tứ sư đoàn.

    Bộ tam “Tư lệnh” Lý Huê Vinh, “Phó Tư lệnh” Trần Xuân Nam, “Tham mưu trưởng” Nguyễn Thành Long cùng ra đầu hàng Pháp.

    Đó là thực chất của bốn sư đoàn dân quân cách mạng. Sự tan rã và cả sự quậy phá của chúng là điều không tránh khỏi. Chỉ có điều ta không thấy trước và đánh giá chúng khác nhau.

    Tuy hình thành từ tháng 10, ngày 01/11/1945, Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa mới làm lễ thành lập tại làng Mỹ Hạnh (quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn). Đây là một trong những đơn vị vũ trang hình thành đúng như tinh thần hội nghị Thiên Hộ. Thật ra, trong một cuộc họp liên tịch giữa Tỉnh ủy “Giải phóng” Gia Định và một số đảng viên đang chỉ huy các bộ đội ở tây bắc Sài Gòn trước đây đã đề cập sát sườn đến việc này, dẫn đến sự ra đời của Giải phóng quân liên quận hôm nay. Những đảng viên đó đến nay kẻ còn người mất, kẻ còn chỉ ít thôi, tôi muốn nhắc lại họ tên họ: Hoàng Dư Khương, Tô Ký, Cao Đức Luốc, Ba Súng, Năm Râu, Phan Văn Voi, Phan Đức, Sáu Ngói, Hoàng Tường, Ba Nhỏ (thay Huỳnh Văn Một) và tôi (Trần Văn Trà). Bộ Tham mưu (tức Ban Chỉ huy) gồm: Tô Ký - Tư lệnh, Hoàng Dư Khương - Chính trị viên và bốn phó tư lệnh là Cao Đức Luốc, Huỳnh Văn Một, Huỳnh Tấn Chùa, Hoàng Tế Thế. Biên chế của đơn vị có 6 đại đội. Ngay sau đó anh Hoàng Dư Khương xin chuyển sang ngành dân chính, tôi thay anh làm Chính trị viên.

    Tôi có thể kể nhiều về cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, nhưng ở đây chỉ có thể nói qua một vài người.

    Anh Tô Ký, là một đảng viên hoạt động từ thời kỳ Nam Kỳ khởi nghĩa, bị Pháp bắt giam ở Tà Lài (Thủ Dầu Một). Năm 1941, anh vượt ngục, về lại quê nhà ở Hóc Môn và bắt được liên lạc với các đồng chí trong Tỉnh ủy “Giải phóng” Gia Định.

    Anh Huỳnh Tấn Chùa, vào đảng năm 1930, từng chỉ huy đội tự vệ đỏ trong các cuộc đấu tranh những năm 1931-1932. Anh trực tiếp chỉ huy một đại đội, đánh địch rất quyết liệt. Tác phong lại giản dị, sâu sát chiến sĩ, anh có uy tín cao trong đơn vị. Năm 1947, anh bị bệnh, từ trần, được truy phong trung đoàn trưởng.

    Anh Huỳnh Văn Một, cũng là một đảng viên kỳ cựu từ những năm 1930. Lực lượng vũ trang Đức Hòa do anh đứng ra tổ chức sau Cách mạng Tháng Tám có tới ba đại đội hoàn chỉnh, khả năng chiến đấu tốt.

    Lực lượng của Hóc Môn, Bà Điểm đóng góp vào cũng có những nhân vật nổi bật như chị Năm Bi - một cán bộ hậu cần xuất sắc, và sau đó là nữ đại đội trưởng duy nhất của miền Đông. Tư Thược, tức Nguyễn Tấn Hưng là cựu tù Bà Rá, ngang như cành bứa và thẳng như ruột ngựa, nhưng ai cũng nể và mến vì đức cương trực và võ nghệ cao cường. Sau đó chính Tư Thược sẽ cùng một số anh em quê nhà Phú Thọ Hòa đào hàng ngàn mét địa đạo để đánh giặc. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước khi trở về miền Nam xoi đường cho bộ đội hành quân, Tư Thược vinh dự được Bác Hồ đặt tên là Lâm Quốc Đăng, một cái tên đầy ý nghĩa.

    Tôi nói luôn là ngày 15/12/1945, thì Mỹ Hạnh bị quân Pháp đánh tới. Giải phóng quân liên quận rút về và ngay sau đó anh Tô Ký trực tiếp chỉ huy Đại đội 2 hành quân về chiến khu Lạc An để phối hợp tác chiến với các đơn vị Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Anh Nguyễn Văn Của là Chính trị viên của đại đội này.

    Cùng thời điểm này sự có mặt kịp thời của Nguyễn Bình tại Nam Bộ cũng là một sự kiện quan trọng. Anh được Hồ Chủ tịch và Chính phủ lâm thời cử vào với trọng trách hàng đầu là thống nhất lực lượng vũ trang trong toàn Xứ lúc này đang trở thành một yêu cầu bức bách. Loại trừ những phần tử cơ hội, quân phiệt thì những người chỉ huy quân sự chân chính lúc này mỗi người hùng cứ và có uy tín chỉ trong một địa phương. Anh Mai Văn Vĩnh, một cán bộ Bình Xuyên, đã ví von: Gần giống “thập bát phản vương” đời Đường bên Tàu hơn “thập nhị sứ quân” đời Đinh bên ta!

    Anh Bình ghé qua Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thủ Đức, tiếp xúc nhiều cán bộ, đảng viên, trí thức như Trần Xuân Độ (bạn tù của anh Bình ở Côn Lôn), Luật sư Thái Văn Lung, Luật sư Lê Đình Chi, Giáo sư Phạm Thiều, người thanh niên đầy nhiệt huyết Huỳnh Văn Nghệ và một người về sau giúp anh nhiều việc rất thiết thân là Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh.

    Vào tới Gia Định, anh Bình gặp tôi tại Bình Mỹ (Hóc Môn). Anh đưa cho tôi coi giấy giới thiệu của Chính phủ lâm thời do Hồ Chủ tịch ký. Tôi trao đổi với anh: “Giải phóng quân liên quận rất tán thành chủ trương thống nhất tổ chức và chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ. Nhưng hiện nay mỗi người nắm một đơn vị, hoạt động ở một địa phương, lại còn rất trẻ nên khó làm được việc đó lắm. Nay anh được Cụ Hồ và Trung ương cử vào, với danh nghĩa này, anh có điều kiện thuận lợi để quy tụ tất cả các đơn vị về một mối dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giải phóng quân liên quận hoàn toàn ủng hộ anh”. Được lời như cởi tấm lòng, anh Bình yên tâm bắt tay vào chuẩn bị công việc.

    Ngày 20/11/1945, anh Bình tổ chức hội nghị quân sự Nam Bộ ở An Phú Xã, Hóc Môn (có tài liệu ghi An Phú Xã thuộc Thủ Dầu Một). Tuy nhiên thực tế chỉ có 49 đại biểu của các lực lượng vũ trang và Ủy ban kháng chiến các tỉnh miền Đông và đại biểu của bộ đội Bình Xuyên, Cộng hòa vệ binh, lại có cả đại biểu của Đệ tam sư đoàn và Đệ tứ sư đoàn (!).

    Hội nghị thảo luận và nhất trí được nhiều vấn đề. Về chính trị, củng cố lại chính quyền các cấp. Về quân sự, thống nhất lực lượng, chỉ huy và chương trình hành động. Mỗi tỉnh đều tổ chức thành một chi đội, đẩy mạnh du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ kháng chiến, binh công xưởng, tổ chức tiếp tế do Ủy ban kháng chiến đảm trách (ngay sau hội nghị này Thủ Dầu Một là tỉnh đầu tiên thành lập chi đội và cuối tháng 11/1945, được mang phiên hiệu Chi đội 1 4).

   Hội nghị bầu anh Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân, anh Vũ Văn Đức phụ trách chính trị.

   Từ trước đến nay, mọi người đều đánh giá Hội nghị quân sự Nam Bộ tại An Phú Xã là một hội nghị đặc biệt thành công. Ngoài những điều đã nói ở trên, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang được đem ra bàn bạc khá sâu, có lúc tranh luận căng thẳng. Bản tham luận của anh Nguyễn Đức Nhuận về công tác chính trị có nhiều ý kiến hay, được tán thưởng. Kết quả của hội nghị về sau cũng được thể hiện rõ trên thực tế là cảnh hỗn quân hỗn tướng, cát cứ dần dần chấm dứt, tình quân dân ngày một kết chặt.

    Chưa đến một tuần sau đó, ngày 25/11/1945, anh Đàm Minh Viễn lại cầm quyết định của Trung ương Đảng vào đưa trực tiếp cho Xứ ủy Nam Bộ. Theo quyết định này, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ giải thể để thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Toàn quốc chia thành 9 chiến khu trong đó Nam Bộ có 3 chiến khu là Khu 7, Khu 8, Khu 9.

     Do trên nên có Hội nghị Xứ ủy mở rộng ngày 10/12/1945 ở xã Bình Hòa Nam, hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông (lâu nay có người nói là làng Hòa Khánh, có người nói làng Hiệp Hòa bên tả ngạn, nhưng chỉ là số ít). Tôi nhớ tên một số đồng chí có mặt tại hội nghị này: Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, Đàm Minh Viễn, Đào Văn Trường, Võ Văn Đức, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Tây, Kiều Công Cung, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Bình... Hội nghị đã bầu bộ máy lãnh đạo, chỉ huy theo cơ cấu mới như sau:

     Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam: Cao Hồng Lãnh

     Chủ nhiệm hậu cần: Tôn Đức Thắng

     Chủ nhiệm chính trị: Trần Ngọc Danh

     Chủ nhiệm tham mưu: Đàm Minh Viễn

   Khu 7:
     Khu bộ trưởng: Nguyễn Bình
     Khu bộ phó: Dương Văn Dương
     Chủ nhiệm chính trị bộ: Trần Xuân Độ

   Khu 8:
     Khu bộ trưởng: Đào Văn Trường
     Khu bộ phó: Trương Văn Giàu
     Chủ nhiệm chính trị bộ: Nguyễn Văn Trí

    Khu 9:
     Khu bộ trưởng: Vũ Đức (Hoàng Đình Dong)
     Khu bộ phó: Nguyễn Ngọc Bích
     Chủ nhiệm chính trị bộ: Phan Trọng Tuệ

    Cũng tại hội nghị này, anh Lê Duẩn nhận nhiệm vụ Bí thư Xứ ủy.

    Với các sự kiện trên, tình hình nội bộ ta được cải thiện một cách cơ bản. Điều này càng có ý nghĩa khi địch đang trên đà tấn công ồ ạt, ta phải ra sức chống đỡ với kinh nghiệm buổi đầu coi như chưa có gì. Việc chia Nam Bộ thành ba chiến khu là hoàn toàn hợp lý và địa giới quân sự đó vẫn được duy trì đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.

    Riêng Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam thì không phát huy được tác dụng. Việc chọn Tây Nguyên làm căn cứ địa chung cho ba nước Đông Dương và Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam dự định đứng chân ở đó cũng không thiết thực.

    Ngày 25/11/1945, anh Đàm Minh Viễn cũng mang vào bản chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” của Trung ương Đảng. Bản chỉ thị nêu: “Nhiệm vụ chiến thuật của ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ là phải cắt đứt dây liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong toả những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự... Phải áp dụng chiến tranh du kích đến triệt để và cổ động nhân dân thi hành chính sách bất hợp tác ở các thành thị quân địch làm chủ và thi hành “nhà không đồng vắng” nếu quân Pháp tràn về quê”.




-----------------------------------------------------------------
1. Có tài liệu ghi 400 súng.

2. Trừ bốn tỉnh sau đây không có cộng hòa vệ binh: Biên Hòa, Sa Đéc, Rạch Giá, Hà Tiên.

3. Có tài liệu ghi quân số đệ tam sư đoàn là 5.000 - 8.000.

4. Gồm các bộ đội Lái Thiêu, Bến Cát, Bình Lý. Huỳnh Kim Trung làm Chi đội trưởng. Sau thêm Lê Đức Anh làm Chính trị viên Chi đội.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Chín, 2022, 05:41:02 pm
*
*      *


    Trở lại Sài Gòn - Chợ Lớn sau khi quân Pháp phá được vòng vây, bung ra các tỉnh. Với ta, đây vẫn là mặt trận, mặt trận đô thị quyết không để địch biến thành cái sân sau an toàn của chúng.

    Nhất thời các tổ tự vệ, công đoàn xung phong của ta rút lui ra ngoại ô để bảo toàn lực lượng. Nhưng từ đầu tháng 11/1945, lúc này địch đang đổ quân xuống miền Tây thì anh em lại có điều kiện trở vào hoạt động. Mục tiêu chính là công sở và trại lính.

    Ngày 8/11/1945, tổng hành dinh của Cao ủy Pháp DArgenlieu (phòng thương mại cũ) bị tiến công. Thiệt hại không được thông báo, nhưng ngay sau đó quân Anh và quân Nhật ở các tỉnh liền phải hấp tấp rút bớt về Sài Gòn để đề phòng những vụ tương tợ có thể tái diễn (Cao ủy chẳng qua cũng là toàn quyền nhưng Pháp khôn khéo gọi khác đi. Thierry DArgenlieu vốn là tu sĩ đồng thời là thủy sư đô đốc, được De Gaulle chọn làm cao ủy Đông Dương từ ngày 17/8/1945, nghĩa là chỉ hai ngày sau khi Nhật đầu hàng).

    9 giờ đêm 8/12, ta lại tiến công trại lính ở đường Drouet (nay là đường Hùng Vương). Bị đánh bất ngờ, hàng ngàn quân Pháp trong trại không kịp trở tay, phải nằm tại chỗ bắn vung vãi. Địch cũng không thể thoát khỏi vòng vây, vì ta đã phóng hỏa đốt bốn phía trại. Trận đánh kéo dài hai giờ liền mới kết thúc, sau khi trại lính bị thiêu hủy.

    Báo chí đã tiết lộ số quân Pháp chết là 400 tên và số bị thương nằm chật các bệnh viện Sài Gòn.

    Ngày 11/12, một chiếc tàu lớn, một chiếc xà lan và ba chiếc ghe lớn chở lương thực và binh lính địch chạy trên sông Cần Đước (Chợ Lớn), bị quân ta dùng súng liên thanh đánh đắm. 17 lính Pháp trên tàu đền mạng, 3 tên Pháp và nhiều ngụy binh bị bắt sống.

    Địch dùng gần một trăm xe tăng đánh rộng ra vùng Đức Hòa. Ba đại đội giải phóng quân liên quận gây cho chúng thiệt hại nặng, phải lui về. Lần sau, chúng tăng thêm lực lượng tiến công lại mới chiếm được thị trấn Đức Hòa (tỉnh Chợ Lớn).

    Tân An, với vị trí bản lề giữa Sài Gòn và miền Tây đánh một trận lớn đêm 25/11/1945. Quân ta từ ngoại ô tập kích vào trung tâm thị xã, đánh thẳng vào trại lính Pháp. Hôm sau địch phải dùng 5 xe cam nhông chở xác chết và lính bị thương về Sài Gòn. Ta thu được 30 súng trường, 16 đại liên và nhiều đạn.

    Tỉnh Gia Định, trước đây gắn bó với đô thành bằng mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Gia Định, sau khi địch chiếm Gò Vấp, các đơn vị đã lui về lập phòng tuyến Tam Thôn (kéo dài từ ngã ba Chú Ía đến Lái Thiêu), chiến đấu với địch suốt hai tháng. Đặc biệt hai làng kế cận An Phú Đông và Thạnh Lộc, chỉ cách trung tâm Sài Gòn 4km theo đường chim bay, lại là nơi đứng chân vững chắc của các cơ quan quân dân chính đảng trong tỉnh và của cả Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại cù lao Hạnh Phú của An Phú Đông, anh Lý Chính Thắng - Thư ký Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn - Chợ Lớn lập trạm đón tiếp công nhân từ thành phố ra và in báo Cảm tử. Đây cũng là vị trí xuất phát của các đội du kích Lý Thường Kiệt, Ký Con, Trần Cao Vân, Quang Trung, Nguyễn An Ninh..., hoạt động ở các vùng Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Tân Định.

    Ngày 15/12/1945 trận thử thách đầu tiên và lớn nhất đến với chiến khu An Phú Đông (bao gồm cả hai làng An Phú Đông và Thạnh Lộc).

    Cũng trong bút ký viết tay của mình, anh Bích Lâm kể lại tỉ mỉ trận đó và mấy trận tiếp theo. Anh vừa kể vừa bình một cách dí dỏm và hài hước như bản chất con người nghệ sĩ của anh:

    “... Như đã nói, nỗi lo lớn nhất của Pháp lẫn Gracey là bằng mọi giá phải bắt kỳ được Nguyễn Bình. Ngày 15/12/1945, Bộ Tổng Tham mưu của Leclerc huy động hai trung đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9 (9e DIC) của tướng Valluy bảo vệ Sài Gòn với sự chi viện to lớn của quân Anh - Ấn của Gracey tấn công vào Mỹ Hạnh và căn cứ An Phú Đông mà chúng đoán là tướng Nguyễn Bình đang ở đó 1.

    Ở Mỹ Hạnh, các đơn vị của Giải phóng quân liên quận gặp địa hình không lợi, tránh né lực lượng liên quân có cơ giới mạnh của Pháp, Anh. Chúng chiếm Mỹ Hạnh khá dễ dàng. Đoán rằng chúng “đấm vào không khí”, Nguyễn Bình không có ở đó, chúng thu quân thủy lục không quân đánh vào An Phú Đông bằng nhiều mặt.

    An Phú Đông là một xã nhỏ của huyện Gò Vấp, cách trung tâm Sài Gòn 4km theo đường chim bay 2. Bởi địa hình đặc biệt và có truyền thống yêu nước cao mà ngay ngày đầu nổ súng đã mặc nhiên làm nơi hội anh tài của tỉnh Gia Định và nhiều cơ quan của thành phố.

    Đặc điểm nổi bật về địa hình mà nhiều xã quanh Sài Gòn ít có là trước kia đó là một vùng biền lầy nước triều lớn ròng ra vào thong thả. Để biến đó thành đất canh tác, đồng bào ở đó phải đắp bờ bao ngạn cao hơn mặt ruộng đến một mét rưỡi. Đất giàu phân cỏ cây mục đòi hỏi phải đào kênh xẻ rãnh, phân vùng nơi cấy lúa, nơi trồng mía và các thứ hoa màu. Sông Bến Nghé rộng và sâu chia xã thành hai bộ phận: cù lao Hạnh Phú và phần đất liền.

    Sáng 15/12, sau các đợt pháo từ Gò Vấp bắn vào, từ Lái Thiêu, Tân Sơn Nhất bắn tới, từ các pháo hạm trên sông nã lên, thủy quân lục chiến đổ bộ tràn ngập cù lao Hạnh Phú. Chúng thẳng tay tàn sát, đốt nhà dân, bắn bừa bất cứ ai, ngay những bệnh nhân nằm trên giường bệnh chúng cũng giết chết.

    Bệnh viện tỉnh Gia Định do Bác sĩ Nguyễn Văn Hóa làm Giám đốc, khi Bà Chiểu bị chiếm đã dời về đó.

    Giặc tưởng chúng tàn sát như vậy là làm cho dân chúng và cán bộ bỏ đất mà chạy để chúng dễ tung hoành.

    Sau phút bàng hoàng, chiến sĩ ta tìm ra điểm yếu của giặc mà đánh. Mương rãnh nhiều, cầu khỉ nhiều, cơ giới trở thành vô dụng mà bộ binh cũng không hoạt động theo ý muốn chúng được. Với 50 khẩu súng trường, chiến sĩ ta chia thành nhóm bám địa hình theo đường quanh nẻo tắt mà đánh.

    Đêm đến, một số xuống thuyền, số đông ở trên bộ chen chúc nhau trong nhà bạt (tente) để tránh mưa. Đó là dịp tốt để du kích lập công. Cút bắt nhau hai ngày một đêm, thương vong chúng lên đến số trăm. Cuộc điếu phạt như vậy là bất thành, chiều 16/12, chúng rút.

    Thiệt hại ta nặng, gần một trăm mái nhà bị đốt, hai mươi con trâu bị bắn chết. Cán bộ với dân, lớp bị bắn thả trôi sông, lớp bị bắt đem đi không ít hơn một trăm, vì An Phú Đông được coi là nơi hội anh hùng. Số anh em Sài Gòn ra để nhận công tác hoặc tìm chỗ tản cư khó mà nói chính xác. Đau khổ nhiều, nhưng thấy cán bộ ta, đặc biệt là cán bộ y tế, cù lao bị chiếm đóng, bịnh viện bị thiêu hủy, nhưng đêm lớp người được coi là sang cả như “quan thầy chánh” là cụ bác sĩ Hóa vẫn theo y sĩ, y tá lén thức đêm về tìm xem bịnh nhân bị tàn sát ai còn sống sót tìm cách dời qua làng khác để mà cứu chữa.

    Rất lâu sau đó, dân An Phú Đông nghe nhắc đến hai ngày một đêm khủng khiếp đó còn đem hành động đầy tính “mẹ hiền” của cụ Hóa mà kể. Dân nói: Bịnh nhân bị bắn đổ ruột nằm rên trong luống mía cháy dở, bi đát đến thế mà Bác sĩ Hóa vẫn bảo cô y tá khiêng vượt sông đưa qua Lái Thiêu gửi nhà dân, Bác sĩ Hóa động viên các cô y tá: “Còn nước còn tát, cứu một mạng người hơn lập một kiểng chùa”.

    Gương can trường của du kích lợi dụng thế đất, đêm ngày chơi trò mèo rình chuột, giết được nhiều chuột. Xong giặc, bà con dựng nhà, du kích cũng xúm lại làm giùm.

    Có trần ai mới rõ mặt kiên trung. Các ấp còn nguyên vẹn thì ca ngợi “các con các em” không còn lời mà kể.

    Đồng bào nói: Nghe bắn quá tưởng cả người lẫn của thí âm hồn các đảng, cứ ngồi lì tại nhà chờ Tây đốt chết sống với chúng nó cho rồi. Ai ngờ du kích tới dắt chỉ đường cho trốn “tụi nó” ở lại bắn riết. Tây thua, nhà mình còn nguyên. Cứu quốc từ rày dẫu hết ngày cũng đóng góp.
    Thi sĩ Xuân Miễn độ ấy vừa ra tù chẳng biết đi đâu cứ theo đường Paul Blanchy nay là Hai Bà Trưng mà đi. Ra tới An Phú Đông ghé nhà đồng bào xin cơm ăn để rồi đi nữa. Nghe kể “hai ngày một đêm khủng khiếp”, xúc động quá, mượn bút, xin giấy viết liền bài thơ:

       “An Phú Đông, ơi An Phú Đông!
       Một làng nho nhỏ ở ven sông...”

    Bài thơ được Báo Cảm tử đăng liền và trở thành bất hủ.

    Một phát kiến có giá trị làm vẻ vang cho nền quân giới nhân dân Việt Nam nghe nói là được bắt nguồn từ trận chống càn bất hủ này, chẳng biết mức độ chính xác đến đâu, xin mạnh dạn nêu ra.

    Đồng bào An Phú Đông kể: Sau trận càn thấy hai chiếc cầu khỉ gãy gọn. Một chiếc dính máu, trên bờ có một mớ bông gòn huyên thuyên là máu. Bà con với du kích xúm lại bàn: “Máu này là máu của quân ăn no to xác, chúng nó chứ dân mình nhẹ, nhanh như sóc, lại nữa, nếu có gãy cổ đổ ruột thì cứ lá sống đời hay phấn lông cây đủng đỉnh cứ mà dùng “rịch”, chứ bông gòn đâu mà bỏ trắng đường ra. Ơn ai nhà nó, ước gì có vài cây nọc cắm đó thử coi có đổ ruột lòi phèo không thì biết”. Từ đó, chông tre được dùng chống càn xã An Phú Đông, cả Hóc Môn, Củ Chi và khắp Nam Bộ.

    Sau ngày Đồng khởi, Nhạc sĩ Nguyễn Trí Thanh sáng tác thành tiết mục tấu hài mà Đoàn Văn công Giải phóng đã dùng tiếp khách nước ngoài, mà sau khi được xem, nhà văn lại là nữ ký giả Madeleine Riffaud đã viết thành một chương phóng sự có cái tựa rất là độc đáo: “Le pal de bambou” (Cây chông tre), khởi sự bằng mấy câu vừa chân phương vừa duyên dáng và rất Nam Bộ là:

         “Cây chông là cây chông tre
         Rõ ràng đây nè, máu giặc còn loang...”.

    Thua rát quá do chọn lầm địa điểm, nhè cái đất chằng chịt mương ao, bờ lớn bờ nhỏ, sình lầy mà đưa cơ giới làm chiến cụ chủ công, do chọn lầm mặt người - người Hóc Môn, Mười tám thôn vườn trầu thua hiệp này gầy hiệp khác, dai như da tê giác, làm cho lính đã mất tinh thần lại càng sa sút tinh thần hơn nữa. Bộ Tổng Tham mưu nghĩ cách lấy lại nhuệ khí cho lính phần đông là thanh niên từ Pháp mới qua. Rút khỏi An Phú Đông rồi cho quân về trại nghỉ ngơi củng cố tinh thần, Bộ Tổng Tham mưu của Leclerc tìm một điểm tấn công khác để lấy thắng lợi giòn giã lấy lại nhuệ khí cho binh sĩ.

    Đêm 24/12, dự lễ chào mừng Chúa hài đồng nằm trong máng cỏ xong, chúng cắm trại sau nửa đêm và hừng sáng 25/12, bằng nhiều ngả: từ Phú Thọ Hòa, Bà Quẹo vào; từ Phú Lâm, Bình Trị Đông vô; từ Đức Hòa xuống, phục binh dài theo tỉnh lộ 10 từ Cầu Xáng đến Bà Lác, Pháp tấn công hình chữ U bằng bộ binh chiến xa và máy bay vào Ngã Năm, Gò Mây, Gò Cát, Vĩnh Lộc, Bà Hom căn cứ địa của Tổng Công đoàn của các đơn vị công tác thành mới thành lập. Một cuộc càn quét quy mô theo lối kinh điển quân sự diễn ra từ 6 giờ sáng bằng cách nã pháo tầm xa 105 ly và 75 ly dọn đường trước xe tăng, xe bọc sắt có máy bay trợ lực dẫn đường cho bộ binh súng gắn lưỡi lê lính dàn hàng ngang mà tìm diệt và đột phá.

     Lực lượng tay không của ta quá đông vì từ 23/9 đến nay cả vùng rộng lớn này được coi là chiến khu nên mọi thứ cơ quan cấp quận của thành phố đều chạy ra đây, kho lẫm hậu cần đều đưa về đây. Cả dân tản cư cũng được đồng bào nuôi ở đây do đó trong gần suốt buổi sáng tình hình vô cùng rối rắm. Dân tay không cứ trước mặt co giò chạy, cơ giới chúng cứ rượt, cứ bắn, cứ đốt, cứ cướp, cứ quần nát nhừ nhiều đám ruộng, hàng bông mới lên.

     Dân chúng vùng này rất gan góc. Về lịch sử, đây là bãi chiến trường đẫm máu của mấy thế kỷ trước. Trong cuộc xâm lăng lâu trước khi Pháp chưa ổn định thì đây là huyện sở của Hồ Huân Nghiệp và chịu ảnh hưởng đậm của Mười tám thôn vườn trầu. Phong trào hoãn thuế năm 1930, phong trào chống khủng bố trắng sau Nam Kỳ 1940 vừa là hổ cứ của cậu Hai Đống trước kia và liền đây của các bậc anh chị Mười Trí, Sáu Thành, Sáu Hâm, Ba Tròn...

     Về cư dân, đây là vùng khá đặc biệt. Họ nào sống theo họ nấy, đất ai nấy ở, đất canh tác mà lại là đất xám, không sông, không suối, không kênh đào, người ta canh tác bằng nước trời mưa, chủ yếu bằng nước giếng, nhà nào cũng có giếng. Đã vậy mà phong tục canh tác ở đây coi hàng bông vụ Tết là nguồn thu hoạch chính nên chi giải quyết xong lúa “sà mo”, lúa “tiêu”, là nông dân đào giếng, mỗi đám ruộng ít ra cũng vài ba giếng thọc sâu ba, bốn thước để cho du kích núp mà khó cho địch hành quân, lơ đễnh là sa xuống giếng.

     Hộ dân thì hộ nào cũng có lũy tre dày đặc cách nhau chừng một đường tên tạo thành một thế liên hoàn tự nhiên. Vuông tre này dễ giúp cho vuông tre khác, luồn qua trở lại, tiện cho thế đánh vu hồi. May mắn hơn nữa là thời kỳ Mỹ ném bom Sài Gòn, nhà nào cũng có hầm trú ẩn hoặc giao thông hào để nhỡ nhà bị oanh tạc thì theo giao thông hào tìm nơi ẩn trú khác. Đường làng ở đây hầu như không có. Xóm nọ qua xóm kia bằng những đường xe bò rào hai bên bằng hai hàng dứa ngập đầu thuận cho du kích. Cả vùng rộng lớn đó từ Phú Thọ Hòa (Gò Vấp) đến Cầu Tre, Tân Hòa Đông (Quận 6) chạy lên đến Vĩnh Lộc, Gò Mây được coi là hậu cứ của Sài Gòn. Các đội cảm tử, sau này đổi là các ban công tác, đánh thì phóng nhanh vào thành phố, nghỉ hay tập huấn thậm chí đưa gia đình di tản cũng đưa ra đây gửi gắm cho đồng bào.

     Trang bị vũ khí dĩ nhiên phải thích hợp cho công tác đó. Súng lục, mì tháo bá, lựu đạn nói chung nhẹ gọn dễ thay hình đổi dạng... Có khi một chiếc khăn rằn để khi ra chợ giả làm phu vác gạo dùng khăn che đỡ rách áo, khi tấn công thì khăn đó là dây xiết cổ vặn họng địch thủ. Một ưu thế khác nữa là hầu hết anh em này là dân chợ: thợ nhà máy, phu khuân vác, học sinh, tiểu viên chức trẻ từng đối mặt với kẻ địch.

    Tảng sáng chưa nắm tình hình địch thắng, pháo dữ dội, khí thế chúng sắc sảo, anh em bình tĩnh lánh địch. Trưa lại nắng, khí hậu oi bức, chúng tọng no nước nên uể oải, đó là lúc tốt cho anh em ra tay.

    Đất cát pha, đầu mùa khô cơ giới hoạt động dễ nhưng không dễ nào chạy càn qua những vuông tre để đuổi theo những con người nhanh như sóc, nhẹ như gió. Anh em xé lẻ từng tổ ba người khi cần thì thành tiểu đội, phân đội hạ lẻ từng đứa bằng lối thủ công rồi chôn nó xuống giếng cũng bằng cách thủ công.

    Muốn thành trận lớn thì mỗi tiểu đội bám một vuông tre đánh trực diện, bắn xuyên hông, lòn ra sau bắn vén ót. Vũ khí nhẹ đánh theo tính năng của vũ khí...

    Qua bữa ăn trưa, giấy gói lương khô, lon hộp đựng “ration complète” (khẩu phần hoàn bị) bị vung vãi trắng đất, có cái chúng chẳng buồn đập nát hay đốt bỏ theo lệnh. Sức đâu mà làm. Ăn cũng biếng nhai vì mệt mỏi...

    Mặt trời ngả chưa tới trán, xe pháo lính tráng kéo thành hàng dài nhắm đình Gò Cát, Gò Mây, Ngã Năm, chợ cổng Bình Trị Đông, đình Tân Tạo, chợ Bà Hom mà co cụm tốp dựng lều, tốp canh gác, lính khỏe tắm giặt, lính mệt bao quanh cái xe hồng thập tự. Mắt trinh sát ta không nhắm trước các chi tiết đó.

    Đúng mười giờ đêm, các đội cảm tử, các ban công tác, các đơn vị vũ trang Tổng Công đoàn của Hai Râu (Huỳnh Đình Hai), của Triệu Cải, của Chín Heo (Nguyễn Đình Chính) phối hợp với bộ đội của Hai Luông (Nguyễn Văn Luông) ở Bình Trị với bộ đội Bà Hom của Hai Bào, Hai Miêng, Tư Bốn, của Tổng hành dinh Bà Quẹo của Mười Trí (Huỳnh Văn Trí)..., mở các đợt tấn công các nơi co cụm của Pháp.

    Pháo sáng rực trời. Trái phá, “tromblon VB”, bazooka, súng cối, đại liên, tiểu liên thỉnh thoảng chen những tràng lựu đạn với tiếng “xungphong” của ta, tiếng “kura! kura!” của Nhật Bổn giả với năm bảy anh Nhật Bổn thiệt ngả theo quân ta từ những ngày đầu tháng chín.

    Thiệt hại của đôi bên, bao nhiêu đố ai biết. Giữa đêm tối dễ ai đếm được, vả lại bên ta, bên địch bên nào cũng giấu, cũng vừa thổi phồng...

    Điều biết chắc là cuộc bố ráp gọi là để lấy lại tinh thần binh sĩ sau trận An Phú Đông hôm 15/12 nay dự tính là ba ngày thì mới một ngày một đêm sáng sớm 26/12 thì rút.

    Nhật ký hành quân của lính Pháp lượm được trong một trận phục kích vén ót tại bưng bốn xã phía Tân Hòa Đông Quận 6 có ghi ba chữ Pháp “Drôle de Noel” nghĩa là “Noel gàn dở”.

    Tuy nhiên, Bà Hom, chợ cổng Bình Trị Đông là điểm yết hầu Pháp phải liều chết đóng bót.

    Trong vòng mười ngày, Pháp chủ động đánh ta ba trận.

    ... Số thiệt hại của kẻ địch về vật chất, nhất là tinh thần tính ra là lớn”
(trích từ trang 54-60).

    Ta lưu ý kế hoạch tiến công của Leclerc là chọc hai mũi dùi: một mũi đánh xuống Mỹ Tho, rồi với tay xuống miền Hậu Giang; một mũi đánh lên Tây Ninh để “phá tan lực lượng Cao Đài” (tuyên bố của Leclerc).

    Sáng sớm 08/11/1945, quân Anh - Pháp với lực lượng 204 xe quân sự (theo tư liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tây Ninh là 75 xe), trong đó có cả xe tăng và xe bọc thép từ Sài Gòn tiến lên Tây Ninh. Xe tăng đi trước có nhiệm vụ ủi phá các chướng ngại vật. Lực lượng quận Trảng Bàng ở mặt trận Suối Sâu (thuộc xã An Tịnh giáp ranh với huyện Củ Chi hiện nay) dùng lựu đạn, chai cháy, súng trường, tên ná đánh đoàn xe địch, nhưng cũng không ngăn chặn được bước tiến của chúng. Tại mặt trận Trâm Vàng (Trảng Bàng), du kích dùng mủ cao su đốt giữa lộ, một xạ thủ trung liên bắn chết tên lái xe và ba tên khác.

    Một đại đội commăngđô từ Campuchia theo quốc lộ 1 tiến sang Gò Dầu. Hai cánh hợp điểm tại đây rồi theo quốc lộ 22 lên thị xã Tây Ninh. Đến khu rừng Bến Kéo, xe tăng địch lại phải ủi phá để mở đường vì ta hạ nhiều cây to ngang lộ. Đạn súng trường cùng mũi tên ná có tẩm thuốc độc bắn vào những chiếc xe GMC mui trần. Địch chết nhiều, nhưng lực lượng chúng đông nên vẫn tổ chức đánh bọc hậu ta được. Ta đành rút lui, có hai chiến sĩ ở lại chiến đấu đến viên đạn cuối cùng để bảo vệ anh em rút lui, sau đó mới rời trận địa.

    Đến chiều, địch đến được thị xã Tây Ninh, lọt vô được Thánh thất Cao Đài sau khi đã bỏ mạng dọc đường gần 100 xe và bị bắn hỏng một số xe. Đoàn xe địch đi giữa thị xã vắng ngắt vì đồng bào ta đã thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”, bất hợp tác với địch. Ba, bốn ngày sau, đồng bào vẫn không ra đường, cửa nhà đóng kín, chợ búa không họp.

    Điều đáng chú ý là sau khi đứng chân được ở Thủ Dầu Một và Tây Ninh, địch vội vã kéo đến chiếm lại ngay những đồn điền cao su lớn, nguồn lợi kếch xù trước đây của chúng. Công nhân ở nơi này đều bãi công, đốt máy, đốt từng lô cao su.

    Lực lượng vũ trang làng An Tịnh nổi lên những ngày đầu kháng chiến. Để xây dựng mặt trận Suối Sâu, các tiểu đội vũ trang của làng An Tịnh cùng hàng ngàn thanh niên, nhân dân trong quận đào hào chống tăng, đắp ụ chiến đấu suốt 12 ngày đêm liên tục. Khi mặt trận Suối Sâu vỡ, anh em lui vào Rừng Rong lập căn cứ tiếp tục hoạt động vũ trang tuyên truyền, địch vận và tác chiến. Ngoài ra còn đưa một trung đội sang Mỹ Hạnh tăng cường lực lượng cho Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, cùng đi với người là 20 khẩu súng bén.

    Nhiều chiến sĩ Rừng Rong năm xưa đã trưởng thành qua hai cuộc chiến tranh giải phóng. Nguyễn Thanh Tùng - Đại tá Lữ đoàn trưởng các lữ đoàn đặc nhiệm 367 và 316, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai đã nghỉ hưu. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hiện là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng. Trung tướng Bùi Thanh Vân (Tư lệnh Quân khu 7).

    Một số lực lượng của Sài Gòn - Chợ Lớn đã lui về Tây Ninh, kết hợp với lực lượng tại chỗ để tiếp tục chiến đấu như công an cảm tử (hơn 400 quân và 40 súng) và một bộ phận của Đệ nhất sư đoàn.

    Cũng ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Tây Ninh phải đối phó khá vất vả với nạn “cáp duồng” (giết người Việt) do Pháp kích động người Khơme và nạn Chi đội 8 Cao Đài phá phách, thủ tiêu cán bộ cách mạng 3.

    Biên Hòa là một tỉnh của tam giác Sài Gòn - Thủ Dầu Một - Biên Hòa, Leclerc có ý đồ đánh chiếm sớm để tạo “thế chân vạc” đó. Biên Hòa cũng là tỉnh rộng nhất miền Đông với diện tích 11.300km2, một đầu mối giao thông thủy và bộ quan trọng phía đông Sài Gòn.

    Rất dở, khi quân Anh mượn danh nghĩa giải giáp quân Nhật kéo ra Biên Hòa, Ủy ban kháng chiến miền Đông, đứng đầu là Lương Văn Tương không tổ chức đánh địch mà lại rút chạy ra Xuân Lộc. Ủy ban kháng chiến tỉnh Biên Hòa trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng đó cũng tan tác!

    Thừa thắng, mờ sáng ngày 30/10, một trung đội Nhật theo lệnh quân Anh từ An Lộc tiến về Xuân Lộc theo đường xe lửa. Ở Xuân Lộc, lúc đó Ủy ban kháng chiến miền Đông mải lo huy động dân chúng ra tiếp đón phái bộ Trung Hoa từ ngoài Bắc vào tìm hiểu tình hình Hoa kiều ở Nam Bộ, quân Anh - Nhật giở trò bao vây và đánh úp ta. Chỉ trong nháy mắt, tiếng súng liên thanh và đại bác nổ rền. Nhưng suốt trong nửa giờ địch vẫn bị quân ta chặn đứng. Chúng phải điều thêm 43 xe camnhông chở quân và nhiều đại bác từ An Lộc đến. Ta tạm lui khỏi Xuân Lộc 5km và bố trí thế trận mới. Khi địch đến, ta đánh mãnh liệt. Từ 11 giờ ngày 30 đến chiều 31/10, quân Anh - Nhật phải rút về lại Xuân Lộc, từ bỏ ý định kéo ra Phan Thiết. Báo Cứu quốc số ra ngày 01/10/1946, đánh giá: “Trận đánh ở Xuân Lộc là một thắng lợi lớn của quân đội ta, vũ khí thô sơ thiếu thốn mà đánh lùi được cả một liên quân Anh - Nhật”.

    “Quân đội ta” mà tờ báo của Tổng bộ Việt Minh biểu dương ở đây, chính là một đơn vị Nam tiến. Sau trận này, đơn vị không ở lại Nam Bộ mà được lệnh quay trở ra chiến đấu ở cực Nam Trung Bộ. Trong chiến đấu, đơn vị bị tiêu hao nhiều vì đánh theo lối dàn trận. Nhưng những địa danh Xuân Lộc, Núi Thị, Bình Lộc mãi mãi gắn liền với chiến công đầu của các anh.

    Lực lượng vũ trang của tỉnh Biên Hòa lúc này vẫn phân tán nhỏ trên từng khu vực. Châu Thành có 5 tiểu đội và 30 súng, một đội xung phong cảm tử 30 thiếu niên do Lê Văn Ngọc chỉ huy. Long Thành có 3 phân đội của Lương Văn Nho, Huỳnh Văn Đạo, Nguyễn Văn Lung, về sau thêm một phân đội ở thành Tuy Hạ. Chiến sĩ đa số là công nhân các sở cao su. Cán bộ có một số đã qua trại huấn luyện du kích Bình Đa - Vĩnh Cửu.

    Huỳnh Văn Nghệ vốn là một người của Ủy ban kháng chiến miền Đông, không rút chạy mà gom hơn 30 tay súng trở về quê nhà ở làng Dân Tịch, quận Tân Uyên (hiện nay huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Sông Bé), xây dựng một đơn vị. Anh quy tụ được 17 người của Chín Quỳ, là bộ phận vũ trang lưu lạc từ sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ; một phân đội công nhân hàng hải do Đào Văn Quang đưa từ Sài Gòn lên và các thanh niên tự vệ chiến đấu của quận. Cao Văn Bổ - nguyên Tổng Thư ký Ủy ban kháng chiến quận Tân Uyên cũng không rút chạy, chỉ huy một bộ phận nhỏ với 7 cây mút Pháp cùng nhập đơn vị Tám Nghệ.

    Đơn vị lấy tên Vệ quốc đoàn Biên Hòa, nhưng thực tế chỉ hoạt động trong địa bàn Tân Uyên. Mảnh đất Tân Uyên là đất rừng, địa thế hiểm yếu, có sông Đồng Nai và sông Bé bao bọc nối liền với Xuân Lộc, một lưng dựa dải rừng mênh mông trải dài lên tận Mã Đà, đường 14. Dân cư thưa thớt và sống chủ yếu bằng nghề trồng mía, làm đường, khai thác gỗ. Tân Uyên lại cách Sài Gòn không xa, cách thị xã Biên Hòa khoảng 15km đường chim bay, có thể nối sang cả đông lẫn tây, khi cần có thể rút lên hướng bắc. Từ căn cứ ban đầu của Vệ quốc đoàn Biên Hòa, dần dần nó thể hiện rõ tính chất của một địa bàn chiến lược và dẫn đến sự hình thành Chiến khu Đ nổi tiếng.

    Một trận đánh hợp lực của nhiều đơn vị, trận tiến công vào thị xã Biên Hòa vào đêm 31/12/1945 4. Về ý nghĩa đó là trận đánh ngay sau khi Hội nghị quân sự An Phú Xã và Hội nghị Xứ ủy mở rộng thành công, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 hình thành, là trận đánh cảnh cáo địch đã tàn sát dã man đồng bào ta trong các cuộc càn vô An Phú Đông, Bình Trị Đông, Bà Hom, Gò Cát vừa qua.

    Giải phóng quân Biên Hòa phụ trách phần do thám, trinh sát. Anh Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy chung.

    Các đơn vị tham gia chiến đấu có: 1 phân đội của Chi đội 1 Thủ Dầu Một, 1 phân đội pháo của Thủ Đức (do Luật sư Thái Văn Lung chỉ huy), 1 phân đội của Mười Trí ở Bà Quẹo, 1 phân đội của Hai Dung, 1 phân đội của Đào Sơn Tây, 1 phân đội của Công, 1 phân đội của Tô Ký, 1 phân đội của Huỳnh Tấn Chùa. Lực lượng tại chỗ có phân đội của Huỳnh Văn Nghệ và 10 phân đội Bình Xuyên của Dương Văn Dương 5. Bộ đội Ba Dương như ta đã biết, sau khi rời mặt trận đường 4, Sài Gòn vẫn giữ nguyên được lực lượng, về đứng chân ở Bàu Bông - Vũng Gấm vùng Rừng Sác. Một số tự vệ Công đoàn Nam Bộ bị tản lạc bây giờ cũng tự nguyện gia nhập bộ đội Ba Dương.

    Như vậy tổng cộng có 21 phân đội.

    Đúng 0 giờ, quân ta bí mật luồn vào thành phố an toàn, địch không hay biết. Mục tiêu công kích gồm các trạm gác, công sở, nhà lao, đầu cầu và trại binh.

    Kết quả thành Xăng Đá và sân bay Tân Phong trúng đạn moọcchê và đại liên rất nhiều.

    Một bồn xăng gần thành Xăng Đá cháy, ngọn lửa bốc rất cao. Dinh tỉnh trưởng sập mái trước và một phần sân thượng. Cổng sở bưu điện bể một mảng, bay mất bảng hiệu. Mái nhà kho bạc bay ngói. Trại lính Pháp ở Tân Mai cũng trúng nhiều đạn moọcchê. Chợ Biên Hòa bị tromblon VB từ bên kia sông Đồng Nai bắn qua, đạn lép không nổ nhưng làm lủng mái.

    Sinh lực địch bị diệt không nhiều, nhưng tiếng vang của trận đánh thì rất lớn. Trận đánh bất ngờ và táo bạo này nhanh chóng dội về Sài Gòn và các tỉnh miền Tây. Báo và đài một số nước có đưa tin, có báo phản bác lại lời tuyên bố ngày nào của Đại tướng Leclerc: “Sau ba tháng sẽ bình định xong xứ Nam Kỳ”.

    Huỳnh Văn Nghệ - người chỉ huy trận đánh, cũng là một tâm hồn thơ lai láng. Xưa nay người ta vẫn nhắc nhiều đến anh, với những chiến công của Vệ quốc đoàn Biên Hòa và Chi đội 10 sau này do anh chỉ huy, và với hai câu thơ tiêu biểu nhất của anh:

        “Từ độ mang gươm đi mở cõi
        Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...”
.

    Sau trận tập kích vô thị xã Biên Hòa vào đúng đêm Tết Tây này, có thể anh đã cao hứng làm thơ và đọc cho bạn bè, đồng đội cùng thưởng thức.

    Trên chiến trường, địch vẫn đang ở thế tiến công. Ngày 25/01/1946, chúng huy động 4.000 quân cùng một lúc mở ba mũi tấn công vào chiến khu Tân Uyên. Dưới thủy có tàu, xuất phát trước ba ngày, bắn phá làng mạc ven sông để mở đường. Trên bộ, xe cơ giới từ Biên Hòa theo quốc lộ 1 tiến thẳng ra.

    Hai phân đội Vệ quốc đoàn Biên Hòa chặn đánh địch từ sáng đến trưa tại Bình Thạnh và cầu Rạch Cốc diệt một số địch trong đó có tên quan ba Pháp.

    Đặc biệt trận đánh của hai phân đội này ở Xóm Đèn rất xuất sắc. Khoảng 4 giờ chiều hôm đó, quân địch từ Mỹ Lộc quay về Tân Uyên, khi chúng đang lò dò tìm cách qua một cây cầu đã bị phá sập thì quân ta từ mé rừng bất ngờ nổ súng rồi nhảy ra mặt đường dùng lưỡi lê, gươm, mã tấu, gậy tầm vông đánh giáp lá cà. Có lưỡi gươm chém sả vai địch. Có chiếc gậy vót nhọn xuyên thẳng ngực địch. Yểm hộ cho bộ phận đánh giáp lá cà, một khẩu trung liên bắn quét địch đang dồn sát phía bờ sông. Tiểu đội du kích Tân Hòa không có súng thì khua phèng la, đập thùng thiếc giả làm tiếng súng máy uy hiếp tinh thần địch. Chúng khiếp đảm, hàng ngũ rối loạn, một số tên phải giơ tay hàng. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông, bộ đội ta bắt được tù binh Pháp.

    Như vậy cuộc tấn công của quân Pháp bị thất bại hoàn toàn, mặc dù chúng đã huy động một lực lượng đông gồm nhiều binh chủng và vũ khí hiện đại. Tinh thần dũng cảm, tác phong linh hoạt cộng với cách đánh thích hợp của quân ta mang lại thắng lợi đáng khích lệ: 220 tên Pháp bị diệt, 6 xe quân sự và 2 xuồng của địch bị phá hỏng.

    Ở miền Đông, tỉnh cuối cùng bị địch chiếm là Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 08/02/1946, quân Anh làm nhiệm vụ mở đường cho khoảng 300 quân Pháp từ Long Thành (bị chiếm ngày 26/01) theo lộ 15 tiến xuống. Bộ đội Mười Tỷ, dân quân thanh niên cứu quốc Bà Rịa nổ súng chặn địch, nhưng chặn không nổi bước tiến của chúng.

    Tình hình nội bộ Bà Rịa không được tốt. Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh là Lê Văn Huề đầu hàng địch ngay khi chúng mới đến cùng tất cả số vàng nhân dân đã góp vào quỹ độc lập. Bọn thổ phỉ Trịnh Ngọc Hiền - Phan Đình Tân (trước đây chỉ huy trung đội bảo vệ Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chạy về Bà Rịa) dùng áp lực quân sự tước toàn bộ 300 khẩu súng của lực lượng vũ trang tỉnh, một tỉnh có số súng nhiều nhất ở miền Đông, để khi địch đến thì trắng tay. Chúng còn lấy một số vàng của công quỹ, còn tìm cách bắt được anh Trần Xuân Độ - Ủy viên chính trị bộ Khu 7 đang về giúp tỉnh thành lập Ban Vận động xây dựng Mặt trận Việt Minh tỉnh. Anh Tân - một chiến sĩ trong lực lượng Hiền - Tân đã giải thoát cho anh Độ, nếu không, anh sẽ bị chúng ám hại. Và cuối cùng khi địch chiếm Bà Rịa, chúng cực kỳ hèn nhát bỏ chạy ra cực Nam Trung Bộ, Trung Trung Bộ rồi tan rã.

    Ngoài nhóm Hiền - Tân, những nhóm thổ phỉ khác cũng quậy phá ghê gớm. Nhóm thổ phỉ “Đệ nhị sư đoàn” từng bao vây Quận ủy Long Thành và định bắt đồng chí Bí thư, về sau bị tòa án cách mạng đặc biệt bắt giam và tuyên xử tử hình 4 tên trong tổng số 5 tên cầm đầu. Ba Nhỏ chỉ huy một đơn vị khác từ Thủ Đức chạy về, hống hách, vô cớ giết hại một số đồng bào, “bán đinh cứu quốc” (đi tống tiền, ai không đưa thì đóng đinh vào đầu), bị Tòa án binh Khu 7 do Khu trưởng Nguyễn Bình ngồi ghế chánh án tuyên xử tử hình.

    Tình hình Bà Rịa dần dần ổn định.




-----------------------------------------------------------------
1. Năm 1948, anh Nguyễn Bình mới được phong hàm Trung tướng (T.G).

2. Từ năm 1976, An Phú Đông và Thạnh Lộc tách khỏi quận Gò Vấp trở thành hai xã ngoại thành thuộc huyện Hóc Môn.

3. Từ Tây Ninh, quân Pháp tiếp tục tiến sang chiếm Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp (Thủ Dầu Một) và đến 01/12/1945, chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.

4. Có tư liệu ghi là đêm 01/01/1946.

5. Có tư liệu ghi: 2 phân đội của Huỳnh Văn Nghệ. Lại có tư liệu khác ghi 2 phân đội của Dương Văn Dương.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2022, 06:49:16 am
*
*      *


    Còn ở miền Tây, sau khi chiếm được bốn tỉnh: Gò Công, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, quân Pháp tạm dừng lại vì chưa đủ lực lượng đánh rộng thêm. Diện tích miền Tây cò bay thẳng cánh lại là chiến trường “kênh rạch như bàn cờ”, từ đó đến cuối năm, chúng tạm bỏ ngỏ chín tỉnh còn lại. Trong khi chờ đợi tăng quân, chúng củng cố các nơi chiếm được, dung nạp bọn Việt gian đặng dựng lên bộ máy ngụy quyền các cấp. Biết được bọn Việt gian ở vùng Bảy Núi (Châu Đốc) đang rục rịch nổi lên, Pháp cho 1 đại đội commăngđô nhảy dù xuống Tri Tôn để móc nối (lúc này tỉnh Châu Đốc chưa bị chúng đánh tới). Du kích Tri Tôn vác súng, dao, gậy gộc truy lùng để tiêu diệt. Ngoài số bị diệt, có 14 tên là tù binh trong trận nhảy dù này.

    Đây là trận đầu tiên ở miền Tây ta bắt được tù binh Pháp và số tù binh tương đối nhiều.

    Ở Long Xuyên, lúc này quân Pháp cũng chưa đến, nhưng có sẵn một trung đội lính Nhật và khoảng 20 lính Pháp dân sự đang chiếm nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Cù Lao Giêng để trú ẩn chờ khi quân Pháp trở lại thì phối hợp hành động (không kể 200 phụ nữ và trẻ con Pháp cùng trú ẩn nơi đây). Vì vậy, trung tuần tháng 11/1945, ta chủ trương dẹp trước bọn này. Anh Nguyễn Hữu Xuyến - Trung tướng Phó Tư lệnh Quân khu 9 đã nghỉ hưu, là người chỉ huy trận đánh này kể lại:

    “Cuối tháng 9/1945, tôi cùng các anh em tù nhân ở Côn Lôn được tàu đón về đất liền, lúc này quân Pháp đã gây hấn ở Sài Gòn. Quê tôi tận ngoài Bắc Ninh, anh Phạm Hữu Lầu rủ về quê anh ở Sa Đéc tham gia kháng chiến, cùng một số anh em quen biết từ hồi ở đảo là Kiều, Thái, Phúc, Quảng. Tôi được Tỉnh ủy Sa Đéc phân công chỉ huy du kích tập trung. Ngày 14/11, tôi được lệnh đưa ba đội du kích hành quân bằng tàu, phối hợp với hai đội của Châu Đốc và hai đội của Long Xuyên đánh “đồn” Cù Lao Giêng. Gọi là “đồn” Cù Lao Giêng vẫn đúng, vì đây là một điểm rộng 1 kilômét vuông, có lầu cao kiên cố, có tường thành, ụ canh, trạm gác. Chỉ huy có mấy sĩ quan Nhật. Vũ khí có hàng trăm trung liên, súng trường. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ có cử đại diện gặp ba tỉnh chúng tôi để phân công các hướng tấn công, nhưng điều đáng tiếc là đồng chí đó không đứng ra chỉ huy hoặc chỉ định ai là chỉ huy chung.

    Lực lượng Sa Đéc chịu trách nhiệm bao vây và tấn công hướng đông, tỉnh Châu Đốc hướng bắc, tỉnh Vĩnh Long hướng tây nam. Đồng chí đại diện cùng đi với lực lượng Long Xuyên.

    Từ đêm 15/11 đến hết đêm 16/11, hai đêm và một ngày ta tấn công liên tục, nhưng chưa có kết quả. Có một vài tổ dùng thang vượt tường đột kích vào bên trong, nhưng địch bắn rát nên phải lui ra. Bên ta và bên địch đều có thương vong lẻ tẻ. Lực lượng Sa Đéc của tôi có đồng chí quận đội trưởng Lấp Vò và chú nhỏ liên lạc lọt vào bên trong, bắn nhau với địch và hy sinh. Tuy chưa dứt điểm được, nhưng ta nắm được vị trí địch rõ hơn và biết chắc chúng đang hoang mang dao động. Bên ta cũng xuất hiện tình trạng mệt mỏi, uể oải, cần uốn nắn.

    Giữa lúc cần có sự chỉ đạo của cấp trên để tiếp tục hành động thì đồng chí đại diện bỏ về Long Xuyên. Nhưng “ba tỉnh” chúng tôi vẫn giữ quyết tâm cho anh em tạm nghỉ tại chỗ để hội ý với nhau. Anh em bầu tôi làm chỉ huy, còn “hai tỉnh” kia làm cấp phó (xin lỗi lâu ngày quá tôi không còn nhớ tên hai bạn). Nhưng điều quan trọng hơn là chúng tôi nhận thấy được nếu cứ đánh theo lối cũ thì không thể thắng. Bàn qua tính lại, chúng tôi quyết định chuyển sang lối đánh bằng hỏa công.

    Lại một ngày bắn cầm chừng để lo chuẩn bị xăng, dầu, rơm, chà, giẻ rách. Đến 3 giờ sáng ngày 18/11 thì những thứ đó được đưa vào vị trí: Đó là dãy nhà lính sát liền nhà lầu bọn chỉ huy và nhà kho. Lửa bốc cháy và lan nhanh, lan rộng. Địch la ré, và có cả tiếng khóc lóc thảm thiết của bọn Tây “xivin” cùng vợ con. Nhiều ống trúc thụt thêm xăng vọt qua tường. Nhiều gói mủ dầu chai quăng liên tục vào trong. Vì vậy không chỉ có lửa nóng mà còn có cả khói mù, khét lẹt. Khói chun qua khe cửa, qua mái ngói chẳng khác gì khói công chuột. Bọn Nhật, Pháp bên trong không còn sức để bắn nữa, im re. Thấy vậy cả du kích lẫn đồng bào tràn vô phá cửa rầm rầm. Ta cũng phục sẵn ở cổng chính và phía mé sông hễ địch chạy ra là bắt sống. Bỗng có tiếng kêu “Các ông Việt Minh! Họ đã xin đầu hàng!”. Đó là tiếng của ông linh mục nhà thờ Cù Lao Dung. Vừa kêu, tay ông vừa phất qua phất lại lá cờ trắng. Trừ ông linh mục và một số người có chức phận trong nhà thờ, tất cả bọn Nhật, Pháp đều bị trói gô, chở sang đất liền giao cho cấp trên.

    Trận đánh thắng lợi mang lại phấn khởi cho các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long, được cấp trên rất khen ngợi. Lực lượng Sa Đéc trở về với nhiều súng chiến lợi phẩm được chia, được anh Sáu Lầu khao quân và tặng cờ chiến thắng.

    Còn về mặt tác chiến, rõ ràng ta còn giản đơn, ấu trĩ quá. Nhưng ta cũng có những ưu điểm như biết phát huy yếu tố tinh thần, khai thác sơ hở của địch, linh hoạt xử trí tình huống. Còn chiến thuật hỏa công về sau ít dùng đến nữa, thì trận Cù Lao Dung này càng tỏ ra là trận đánh độc đáo của ta buổi đầu kháng chiến..”
(anh Nhật Quang có cung cấp một tư liệu trong đó nhiều chi tiết khác với lời kể của anh Tám Xuyến, mà thời gian xảy ra trận đánh là từ 12 đến 15/9/1945. Có lẽ nên tiếp tục nghiên cứu để đánh giá độ chính xác của từng nguồn tư liệu).

    Tôi biết anh Tám Xuyến rất tâm đắc với trận đánh vỡ lòng trên đây, mặc dầu sau này anh còn đánh dư trăm trận, ngay sau đó là Cổ Cò, Giồng Dứa, Cầu Kè rất giòn giã..., và kể cả những Tua Hai, Phước Thành... thời chống Mỹ. Thì ra “cái buổi ban đầu” thường lưu lại một cách sâu đậm trong mỗi người vậy.

    Nhắc đến anh Tám Xuyến, tôi lại nhớ đến người em ruột của anh là Nguyễn Hữu Ngoạn - liên lạc của Trung ương Đảng, bạn tù của tôi năm 1944, đã hy sinh trong Khám Lớn Sài Gòn.

    Cần Thơ - thủ phủ của miền Tây bên hữu ngạn Hậu Giang, kiên cường bao vây địch trong thị xã (có tư liệu nói ta bao vây địch trong thị xã Cần Thơ suốt ba tháng). Trong các trận đánh của thị xã và vùng ven nổi lên trận Cái Răng mà đồng bào và chiến sĩ ta thường gọi là trận Lê Bình, tên một trong năm chiến sĩ quốc gia tự vệ cuộc đã chiến đấu và hy sinh tại trận. Thị trấn Cái Răng cách thị xã Cần Thơ 5km. Tại đây có 1 đại đội lính Pháp và 1 đại đội thân binh đóng giữ dưới quyền của tên quan ba Rouen. Sáng 12/11/1945, chợ đang đông, tên quan ba đang ngồi trong nhà việc xét giấy thuế thân cũ và cấp giấy thông hành mới cho dân. Lê Bình, Bùi Quang Trinh và Cao Minh Lộc cùng cải trang mặc áo vải xá xẩu (kiểu áo của Hoa kiều) giả đến xin giấy. Lê Bình đứng trước mặt Rouen, móc súng lục bắn liền hai phát thì súng lép, nhưng Rouen bị thương nặng té sấp xuống. Súng của Bùi Quang Trinh và của Cao Minh Lộc bắn vào hai tên giúp việc, được một phát cũng đều lép. Lê Bình bị bọn lính gác phía sau nhà việc bắn trả và hy sinh. Nhưng Bùi Quang Trinh và Cao Minh Lộc đã kịp chạy ra trước sân hạ cờ tam tài xuống, kéo cờ đỏ sao vàng của ta lên đỉnh cột cờ. Sau đó hai anh cũng trúng đạn địch ngã xuống.

    Tại Cầu Tàu còn hai đồng đội là Lê Nhật Tảo và Trần Chiến. Hai anh có nhiệm vụ ném lựu đạn và xông vào giật súng bọn lính gác, chiếm Cầu Tàu để cả tổ rút lui. Nhưng lựu đạn không nổ, hai anh cũng hy sinh khi giật súng bọn lính gác. Trận đánh chỉ diễn ra trong vòng 5 phút.

    Tên quan ba Rouen bị thương nặng được đưa về Cần Thơ, Sài Gòn điều trị rồi ít lâu sau về Pháp luôn vì mất sức chiến đấu. Nhưng về mặt tinh thần, quân Pháp vô cùng kinh hoàng, từ đó đi đâu cũng sợ Việt Minh xuất hiện bất thần. Còn đồng bào thì thật hể hả, tuy vô cùng thương tiếc các liệt sĩ trẻ tuổi của quê nhà, đêm nào cũng thắp nhang cầu nguyện cho linh hồn các anh.

    Trận đánh trên dưới 5 phút đồng hồ ngay sau đó được các báo Pháp tường thuật tỉ mỉ, mỗi báo một kiểu, nhưng tất cả đều ca ngợi lòng dũng cảm tuyệt vời của các chiến sĩ Việt Nam và cách đánh táo bạo, bất ngờ (mà về sau các đội biệt động của ta càng phát huy tốt trong khi hoạt động ở thành phố).

    Đến năm 1947, Rouen viết trên báo Humanité (Nhân đạo): “Mặt trận Cái Răng do những thanh niên trẻ tuổi tiến công vào sở chỉ huy của chúng tôi, đã làm cho tôi bất tỉnh vì những vết thương trúng vào những chỗ hiểm. Tôi được cứu sống và lương tâm đã thức tỉnh, tôi thấy chính nghĩa và tinh thần dũng cảm của một dân tộc mà trước đây tôi rất xem thường. Tôi không sợ súng của họ, nhưng khiếp sợ tinh thần chiến đấu dũng cảm của họ... Tôi sẽ vận động nhân dân Pháp cùng với chúng tôi ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam để sớm được thành công”.

    Số còn lại của Sư đoàn bộ binh số 9 và một tiểu đoàn dù 5.000 tên tiếp tục đổ sang Việt Nam. Tháng 01/1946, quân Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Tây còn lại. Đánh vào vùng đồng bằng nhiều kênh rạch, sông ngòi, chúng có hai thông báo hạm Gazelle và Annamite đi kèm. Về vũ khí, quân Anh bắt đầu “bàn giao” đất “Nam Kỳ” cho Pháp để rút về nước với khá nhiều vũ khí để lại.

    Trong vòng chưa đầy một tháng, quân Pháp lần lượt chiếm được Sóc Trăng, Trà Vinh (04/01), Sa Đéc, Long Xuyên (09/01), Châu Đốc, Hà Tiên (20/01), Rạch Giá (26/01), Bạc Liêu (29/01), Cà Mau (05/02) và Bến Tre là tỉnh cuối cùng (08/02). Thương tiếc anh Dương Văn Dương đưa 500 quân về Bến Tre, mới đánh được một số trận thì anh hy sinh vì đạn máy bay ngày 16/02/1946 tại Xóm Cò, quận Ba Tri.

    Leclerc ra thông cáo tuyên bố với các nhà báo: “Công cuộc bình định Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ như vậy là hoàn tất”. Ta miễn bình luận về lời tuyên bố trên, vì sự thật sẽ được bày tỏ một thời gian ngắn ngay sau khoảnh khắc này, khoảnh khắc mà địch tiến tới đâu, ta lui tới đó, chúng đang làm chủ các thị xã, thị trấn và trục lộ giao thông. Miền Tây có vùng rừng ngập mặn U Minh thuộc hai tỉnh Rạch Giá và Bạc Liêu. Lúc này một bộ phận lực lượng vũ trang Trung Nam Bộ (Khu 8 ) rút về Đồng Tháp Mười, còn đại bộ phận dồn cả xuống đây, trong đó có cả Khu bộ trưởng Đào Văn Trường. Khi địch đến chiếm đất, bộ máy lãnh đạo cũng như bộ máy chính quyền của các tỉnh đều rút khỏi địa phương, nhưng điều đáng nói là tình trạng phân tán mỗi người một ngả không liên lạc được với nhau, không bàn bạc quyết định được điều gì. Sự sàng lọc và phân hóa trong tình hình này cũng là điều không tránh khỏi. Xứ ủy cũng bị phân tán, không nắm được các tỉnh ủy để chỉ đạo.

    Khái quát lại, tình hình từ tháng 12/1945 đến tháng 02/1946 như sau:

    Khu 7 còn tiếng súng lẻ tẻ ở một số nơi.

    Khu 8 hầu như không còn tiếng súng kháng chiến.

    Khu 9 bị địch đánh dồn vào rừng và phong tỏa.

    Cuối tháng 02/1946, các cán bộ quân dân chính của Khu 8, Khu 9 cũng như Trung ương ủy viên, Xứ ủy viên đang có mặt ở vùng Thới Bình, Chắc Băng, An Biên, Tân Bằng... đều nhận thấy cần thiết họp nhau lại để phân tích, đánh giá tình hình, đề ra phương hướng, biện pháp hành động. Các đồng chí có mặt trong cuộc họp đó: Võ Sĩ, Cao Hồng Lãnh, Văn Viên, Ung Văn Khiêm, Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Huỳnh Phan Hộ, Đào Văn Trường... Cuộc họp này có thảo luận, có tranh cãi, nhưng không có kết luận, biểu quyết, ai thấy ý kiến nào mình cho là đúng, cứ vậy làm theo. Có ý kiến, lúc này của số ít người, chủ trương ở lại chiến đấu với địch, ai ở tỉnh nào về lại tỉnh đó, gầy dựng lại cơ sở, giữ vững liên lạc với nhau và chờ chỉ thị của Trung ương. Nhưng có ý kiến phải đưa lực lượng vũ trang lộn trở ra Trung Bộ, dựa vào lực lượng chi viện của toàn quốc đánh lấy lại Nam Bộ, đường đi lựa chọn là vòng ra biển ngược lên phía bắc, nếu cứ ở lại thì sẽ ngày càng bị địch dồn vào rừng U Minh và bao vây tiêu diệt.

    Các cán bộ quân sự hầu hết không tán thành chủ trương này, chủ trương “xuyên đông” như mọi người hay gọi. Cuối cùng chỉ có Khu trưởng Khu 8 Đào Văn Trường và 1 trung đội của Khu 8 từ Sóc Trăng đi bằng ghe biển. Thật ra cũng còn một vài đơn vị “xuyên đông”, nhưng bị địch ngăn chặn nên phải chôn giấu súng tại chỗ rồi quay trở lại U Minh, Cà Mau.

    Còn một số cán bộ, cũng ít thôi, dao động định chạy qua Thái Lan để lánh. Vừa lúc ấy, các đại biểu Quốc hội vừa đắc cử được triệu tập ra Hà Nội dự kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, định quá cảnh qua Thái Lan. Cũng lúc ấy, Bộ Tư lệnh Khu 9 cử một số cán bộ mang vàng trong “quỹ độc lập” sang Thái Lan mua súng chở về và tổ chức cho Việt kiều trở về tham gia chiến đấu. Từ đó mà có từ “xuyên tây” thỉnh thoảng ta có nghe nói đến. “Xuyên tây” có nghĩa là “qua Thái Lan” chứ không phải là chủ trương của ai cả.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2022, 06:56:01 am
*
*      *


    Từ 23/9/1945 đến cuối tháng 02/1946, đây chỉ là khúc dạo đầu của bản đại hùng ca kháng chiến chống Pháp mà ngay từ buổi đầu Đảng và Hồ Chủ tịch xác định là “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”. Chính vì tính chất “toàn dân, toàn diện, trường kỳ” đó mà tôi muốn nói thêm một vài điều sau đây, những điều chưa nhắc đến khi chúng ta điểm lại tình hình chiến sự.

    Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, kẻ địch và cả rất nhiều người trên thế giới đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Họ không giải thích được tại sao dân “An Nam mít” vong quốc nô, lạc hậu, dốt nát, lại dám đương đầu chống lại quân Pháp, và không ít phen làm cho quân Pháp khuynh đảo?

    Đúng, mới hôm qua hai mươi lăm triệu dân Việt Nam mà thực dân Pháp khinh miệt gọi là “An Nam mít” đều là người nô lệ lầm than, đói rách và ngu dốt là bạn đồng hành của họ. Nhưng hôm nay họ đã là chủ nhân ông của một quốc gia độc lập. Sự đổi đời này làm cho toàn dân tộc Việt Nam cùng đổi về chất, nhiều cái hôm qua chưa thể có hoặc chưa hình thành rõ thì hôm nay mặc nhiên là cái “vốn có”. Một trong những cái “vốn có” đó là tinh thần yêu nước thương nòi biểu hiện bằng khí thế cách mạng sôi nổi chưa từng thấy.

    Ở phần trên, tôi đã có dịp nói đến thái độ đáng quý của một số trí thức, nhân sĩ Sài Gòn đối với Cách mạng Tháng Tám, nhưng dường như tôi thấy vẫn chưa thiệt đầy đủ. Anh Phạm Ngọc Thuần, anh Nguyễn Thành Vĩnh, anh Thái Văn Lung... và còn nhiều người khác nữa, khi chiến tranh bùng nổ, thái độ của họ càng dứt khoát và quyết liệt hơn. Hành động yêu nước của họ thật đáng ca ngợi và khâm phục.

    Chẳng hạn, anh Thái Văn Lung, một trong nhiều dẫn chứng. Là dân Tây, với tên Albert, du học bên Pháp từ nhỏ, nói tiếng mẹ đẻ không thạo, tín đồ Thiên Chúa giáo, Trung úy quân đội Pháp, đã từng tham chiến ở Xiêm (Thái Lan). Là luật sư, năm 1941 giải ngũ, Tòa thượng thẩm Sài Gòn đón vô làm việc ngay, danh vọng và giàu sang chẳng phải nhọc lòng kiếm ở đâu xa. Nhưng nay anh tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp để hãnh diện làm người Việt Nam. Anh cùng ba nhà trí thức khác là Luật sư Phạm Ngọc Thuần, Giáo sư Phạm Thiều và Kiến trúc sư Phạm Ngọc Thảo mở trường quân chính để đào tạo cán bộ chỉ huy cho bộ đội (theo anh Bích Lâm thì anh Thái Văn Lung có lập “bộ đội các luật sư” ở Thủ Đức).

    Chẳng may trong một chuyến đi công tác, anh Thái Văn Lung bị địch bắt được. Trước tiên là chúng dụ dỗ, không được, chúng dùng cực hình tra tấn. Anh không đầu hàng, hơn vậy, còn hiên ngang chửi thẳng vào mặt quân cướp nước. Cuối cùng, địch bí mật thủ tiêu anh rồi dùng dây thừng treo cổ anh lên xà nhà, phao tin anh tự sát. Trước đó anh đã tâm sự với một đồng chí cùng bị giam một phòng: “Tôi chắc giặc Pháp không còn để tôi sống được bao lâu nữa, nhưng dù chết tôi vẫn không buồn tức gì cả. Tôi sung sướng coi như đã hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với nước nhà. Nếu em may mắn được trở về thì hãy nói với đồng đội chúng ta cố gắng hết sức mình hướng về mục đích mà chúng ta xác định cho đến ngày chiến thắng cuối cùng”.

    Xin được miễn bình luận về thái độ sống, chiến đấu và những lời nói cuối cùng đầy lạc quan, tin tưởng, đầy tinh thần trách nhiệm của một con người từng sống trên vàng son nhung lụa như anh Lung.

    Ở miền Tây, gia đình cụ Trương Công Thiện là dẫn chứng khác. Cụ từng làm Chủ quận hàm Đốc phủ sứ rồi Chủ tỉnh Bạc Liêu. Cách mạng đến, cụ từ giã quan trường về sống ở Cái Vồn (Cần Thơ). Chính trong thời điểm thiêng liêng này của đất nước, cụ khuyên tất cả bốn người con trai của mình gia nhập bộ đội cách mạng. Người con út lúc này đang học bên Pháp, tự tay cụ biên thư gọi anh về với mục đích vừa nói trên. Năm 1983, cụ từ trần với cương vị Ủy viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang, thọ 87 tuổi.

    Còn bốn người con trai của cụ, hiện nay đều là cán bộ khoa học tài năng:

    Trương Công Trung - Giáo sư bác sĩ, Hiệu trưởng Trường Đại học Y - Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
    Trương Công Cán - Bác sĩ, Phó Giám đốc Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh.
    Trương Công Kháng - Kỹ sư, Phó Giám đốc Xí nhiệp Sinco Thành phố Hồ Chí Minh.
    Trương Công Tín - Kỹ sư, Phó Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam.

    Ở Bến Tre, cụ Nguyễn Ngọc Tương, là Đức giáo tông, người sáng lập ra Hội thánh Ban Chỉnh đạo Cao Đài (tôn giáo Cao Đài có ba phái: Tiên Thiên, Ban Chỉnh, Tây Ninh) vào năm 1925. Dưới sự lãnh đạo của cụ, Hội thánh Ban Chỉnh đạo có sự đóng góp tích cực cho kháng chiến. Hội thánh tặng Ủy ban kháng chiến tỉnh Bến Tre một xưởng in với toàn bộ máy móc, lò đúc bản chữ, chữ in, giấy và mực. Chiến sĩ ngoài mặt trận nhận được nhiều áo lạnh, khăn choàng, khăn tay do các nữ tu và các giáo hữu gửi tặng.

    Hai anh con trai của cụ Nguyễn Ngọc Tương đều là kỹ sư du học ở Pháp về, tham gia công tác từ những ngày đầu cách mạng thành công. Anh Nguyễn Ngọc Bích là Khu bộ phó Khu 9. Anh Nguyễn Ngọc Nhựt bị địch bắt được và đem về Sài Gòn giam ba năm. Anh ra tù được ba ngày thì từ trần vì cơ thể đã tàn tạ, được truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

    Anh em công nhân trong thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, như ta đã biết, từ tay búa tay kềm chuyển tay súng rất nhanh chóng không hề ngỡ ngàng. Những đội cảm tử công đoàn, tự vệ công đoàn đã chứng tỏ điều đó. Khi vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn của ta bị phá thủng, đại đa số anh em đã rời thành phố ra đi, sáp nhập cùng bộ đội của các tỉnh và bộ đội Bình Xuyên. Còn công nhân của các tỉnh, chủ yếu là công nhân cao su, cũng thực hiện chính sách bất hợp tác với địch một cách triệt để. Cuốn Lịch sử nông trường cao su Cẩm Mỹ (tức đồn điền cao su Courtenay trước đây) có đoạn ghi:

    “Ngày 25/01/1946, giặc Pháp đánh chiếm các vùng cao su ở Biên Hòa và Bà Rịa. Courtenay là một đồn điền lớn của Công ty Đất Đỏ, nơi có xưởng máy, xưởng chế biến mủ, sớm muộn gì giặc Pháp cũng sẽ đánh đến. Với ý thức không để bọn chủ Tây trở lại bóc lột, trước đó mấy ngày Ban tự quản đồn điền quyết định cho công nhân “tiêu thổ kháng chiến”. Công nhân nhà mủ, chất mủ bành, mủ cờ, xếp thành đống và nổi lửa. Công nhân nhà máy, tháo gỡ máy tiện, lấy những bộ phận máy cần cho kháng chiến, đập phá máy móc. Anh em văn phòng, mang hết máy chữ và vật dụng cần thiết đi nơi khác. Lớp bồng bế con thơ, lớp gánh gồng nồi soong, bỏ sở ra đi. Một số ra rẫy làm ăn, một số về Bà Rịa, Long Thành, ra khu kháng chiến. Có nhiều anh em sau này trở thành công nhân xưởng quân giới Nam Bộ đóng tại Phú Mỹ (Bà Rịa)”.

    Số đông các công nhân đồn điền vùng Xuân Lộc (Biên Hòa) gia nhập quân đội hoặc kéo vào rừng tổ chức thành các đội du kích. Vì vậy khi chiếm xong được đồn điền nào là địch bố ráp ngay. Ở đồn điền An Lộc, địch bắn chết một lúc gần một trăm công nhân để uy hiếp tinh thần những người khác. Nhưng trước họng súng quân thù số anh em không hề run sợ, đã hô vang trước khi ngã xuống: “Đả đảo xâm lược! Việt Nam muôn năm!”.

    Vùng cao su của tỉnh Thủ Dầu Một cũng vậy. Công nhân phá hoại các cơ sở sản xuất của đồn điền một cách triệt để. Khi địch hành quân đánh chiếm đồn điền Dầu Tiếng, Quản Lợi và Lộc Ninh, hàng chục tên bỏ mạng vì vũ khí thô sơ của công nhân và nhân dân.

    Chắc chúng ta đều biết trong những ngày đầu Chính phủ lâm thời chỉ có hai triệu đồng bạc Đông Dương lấy trong kho bạc của Pháp - Nhật. Đó là số tiền quá ít ỏi so với nhu cầu chi tiêu của một quốc gia. Vì vậy Tổng bộ Việt Minh phát động “Tuần lễ vàng” từ ngày 10 đến ngày 17/9/1945 để lập “Quỹ Độc lập” xây dựng đất nước và mua sắm vũ khí trang bị cho bộ đội. Kết quả thật mỹ mãn và về mặt tinh thần yêu nước của đồng bào thật đáng tự hào.

    Dù ở nơi đô hội hay vùng hẻo lánh của đất nước đều có những mẩu chuyện cảm động. Những người vợ hiến đôi bông tai hoặc cái nhẫn cưới, vật kỷ niệm thiêng liêng của mình. Những cụ già neo đơn, nhờ người bán cỗ hậu sự của mình để lấy tiền góp vào quỹ. Những bà mua thúng bán bưng cứ sau mỗi buổi chợ lại gọi nhau bớt một ít tiền lời góp vào quỹ...

    Tiếp theo là “Tuần lễ đồng”. Nói là tuần lễ, nhưng ở nhiều nơi kéo dài cả tháng. Một khẩu hiệu kêu gọi khá văn vẻ và dễ nhớ:

          “Đem đồng, đem đỉnh đi đâu?
          Đem đi đúc đạn, đập đầu Đờ Gôn”


    Cần nhiều đồng để đúc đạn đánh giặc, đồng bào đâu tiếc, nô nức góp không biết bao nhiêu lư hương, chân đèn, mâm thau, tiền đồng, nồi đồng..., trong đó có cả hàng trăm ngôi chùa.

    Sau đó ở một số tỉnh còn “Tuần lễ áo rách”, “Tuần lễ thuốc tây”, rồi phong trào “Hũ gạo cứu đói”, “nhường cơm sẻ áo”. Chủ trương nào, phong trào nào cũng được đồng bào hưởng ứng sôi nổi và hoàn toàn tự nguyện. Năm 1945, “nạn đói Ất Dậu” cướp đi sanh mạng của hơn hai triệu người ngoài Bắc, là hậu quả tội ác tày trời của bọn thống trị Pháp - Nhật. Gần mười triệu dân trong Nam tuy chưa đói lả nhưng cũng vô cùng nheo nhóc: Ăn cơm gạo hẩm, mặc quần áo bao tời, thắp đèn dầu u, miền Tây bị dịch tả hoành hành. Nhờ lá lành đùm lá rách mà dần dần đồng bào vượt qua được.

    Nam Bộ có hàng ngàn kilômét bờ biển và nhiều làng chài ven biển. Bà con ngư dân đã vượt biển cả ra Côn Lôn đón tù chính trị về đất liền và liền sau đóng góp thêm nhiều ghe chài cho cách mạng chở súng từ Trung Bộ về, chở cán bộ qua Thái Lan công tác, và dùng làm cản qua các dòng sông, dòng kênh làm chậm bước tiến của địch.

    Các đơn vị vũ trang, nếu ví như những bông hoa, thì lúc này đang nở rộ trong vườn xuân đất nước. Loại trừ một số đơn vị ung thối do người cầm đầu là phần tử cơ hội, hàng trăm, hàng trăm đơn vị tự lập ở thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền ngược, ngay lúc ra đời đã mang rõ tính nhân dân đậm đà. Những thanh niên công nhân, nông dân, trí thức, viên chức, sinh viên, học sinh cầm súng đó, chỉ huy cũng như chiến sĩ, tất cả đều từ nhân dân mà ra. Họ được gia đình khích lệ, xóm ấp nuôi nấng, đùm bọc, dựa vào dân tồn tại và đánh giặc.

    Đây là quận Long Thành (Bà Rịa), khắp các làng ấp vang lên khẩu hiệu “thà chết không chịu làm nô lệ”. Trong sân nhà hội Long Thành - trụ sở của Ủy ban nhân dân lâm thời quận, từ sáng đến sẩm tối vang dậy tiếng bước chân đi đều, tiếng hô “một, hai” của các chiến sĩ cộng hòa vệ binh. Anh em tập đội ngũ, tập tháo ráp, sử dụng súng, tập các động tác cơ bản trong chiến đấu, tập võ thuật, đánh đao, bắn ná...

    Để phục vụ việc ăn uống cho cộng hòa vệ binh, Ủy ban nhân dân lâm thời quận thành lập một ban tiếp tế do ủy viên tài chính phụ trách. Gạo, mì, khoai, bắp, cá, rau, thịt đều do ban tiếp tế lãnh của đồng bào đem đến. Mỗi ngày có tới vài ba chục chị em phụ nữ tham gia vận chuyển và nấu nướng.

    Ở quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (đến năm 1946, thì thuộc Bến Tre), khí thế cách mạng sôi sục trong toàn dân. Ban ngày, đồng bào kêu nhau đi hàn sông phá lộ, sản xuất vũ khí, vận động quyên góp tiền bạc, lương thực... Đêm đến khắp xóm ấp đèn đuốc lửa trại nổi lên. Nơi học ca hát, nơi học võ dân tộc, học động tác chiến đấu. Đặc biệt ở những bãi tập lớn có bàn thờ Tổ quốc rất trang nghiêm. Nhiều cán bộ lãnh đạo và nhiều bậc cha mẹ đến khuyến khích con em mình học hành luyện tập. Những lúc nghỉ tập, các mẹ, các chị dọn bánh trái ra để giải lao, còn người lớn tuổi thì ngồi bên chung trà đàm đạo, mỗi người một câu góp vào đề tài chống xâm lược. Cũng có nhiều ý lo lắng rằng chí có thừa nhưng lực lại yếu và thiếu súng đạn, nhưng khi bàn đến chỗ khó khăn này thì nhiều cụ nhìn lên ảnh Bác Hồ rồi nói: “Cứ tin lời cụ, làm theo lời cụ thì xong tất cả, đánh Tây lấy súng”. Đoạn miêu tả trên đây mà tôi cho là khá sinh động, được trích trong cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Chợ Lách, in năm 1989.

    Làng Mỹ Tú cùng với 76 làng khác của tỉnh Sóc Trăng, trước khi bị quân Pháp chiếm đóng, là trạm hậu cần của một số tỉnh miền Tây. Anh Hai Bùi - Bí thư Chi bộ năm 1946 kể lại:

    “Năm ấy ở quê nhà có một số gia đình nghèo bị đói. Chính quyền đã tịch thu lúa của địa chủ và muối trong kho cấp cho bà con, cả người Việt và người Khơme. Bà con đáp lại bằng những câu rất cảm động: Đây là gạo muối của Cụ Hồ, Việt Minh thương dân thiệt tốt”.

    Giáp Tết Bính Tuất (1946), Mỹ Tú nhận lãnh mười hai thương binh về nuôi dưỡng. Tuy là một làng nghèo, nhưng sự chăm sóc anh em rất tận tình. Các má, các chị thay phiên nhau lo từng miếng cơm, tô cháo, đến viên thuốc, gói quà. Tết năm đó anh em đón xuân trong tình cảm đầm ấm, thương yêu nhất mà đồng bào dành riêng cho mình.

    Các cơ quan Quận ủy Châu Thành đóng dọc theo Kinh Xáng, các cơ quan Tỉnh ủy Sóc Trăng đóng ở Ba Rẹt, Trà Cú, đều trên địa bàn Mỹ Tú. Vì vậy, thư chúc Tết của Hồ Chủ tịch nhân dịp Tết Bính Tuất được phổ biến đến từng gia đình, từng người đến kịp thời, mang lại niềm vui lớn:

    “Hỡi đồng bào cả nước!

    Hôm nay là mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành.

    Tôi riêng chúc các gia quyến của các chiến sĩ thân yêu, năm mới vui vẻ.

    Năm mới, đồng bào ta sẽ phấn đấu cho một đời sống mới, ai cũng góp sức vào cuộc kháng chiến lâu dài, để làm cho nước ta được hoàn toàn tự do độc lập.

    Năm mới đồng bào ta đoàn kết càng chặt, tranh đấu càng mạnh, sản xuất càng nhiều. Chúc đồng bào:

   Trong năm Bính Tuất mới
    Muôn việc đều tiến tới.
    Kiến quốc chóng thành công,
    Kháng chiến mau thắng lợi.


    Trong dịp Tết này, đồng bào khắp nơi, từ các cụ già đến các em trẻ, đã gửi cho tôi nhiều thơ từ và quà bánh. Tiếc rằng tôi không thể trả lời từng người được. Vậy tôi xin trân trọng cảm ơn chung hết thảy đồng bào yêu mến.

    Hỡi các chiến sĩ yêu quý!

    Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc. Các chiến sĩ hăng hái chống địch, để cho đồng bào được an toàn mừng xuân.

    Trong mấy ngày Tết, đồng bào ở hậu phương ai cũng đoàn tụ sum vầy chung quanh những bình hoa, mâm bánh. Mà các chiến sĩ thì ăn gió nằm mưa, lạnh lùng ở chốn sa trường. Song, hình dung các bạn thì ấm áp trong lòng thân ái của mỗi một quốc dân.

    Hiện nay, bọn thực dân Pháp ra sức tấn công, chúng nó mưu chiếm nước ta từ 16 độ trở vào Nam. Tình thế tuy nghiêm trọng, nhưng chắc các chiến sĩ quyết ra sức chống giữ để phá tan âm mưu của chúng, đồng thời Chính phủ và toàn quốc đồng bào quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng để giúp các chiến sĩ. Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân Pháp trở lại đè nén chúng ta.

    Tôi thay mặt Chính phủ và toàn quốc đồng bào chúc các chiến sĩ năm mới mạnh khỏe và thắng lợi”.

    Trên chiến trường sông nước miền Tây, đồng bào chèo ghe đưa bộ đội sang sông đánh giặc là một hình ảnh đẹp thường được đưa vào thơ nhạc, đôi khi được miêu tả có phần thơ mộng. Nhưng trong cuộc hành quân của bộ đội Ba Dương từ Rừng Sác về chi viện cho mặt trận Bến Tre, trong mười hai ngày (từ 05/02 đến 16/02/1946) vừa đi vừa đánh địch để mở đường tiến, đoàn quân đó đã vượt qua biết bao con sông: Soài Rạp, Rạch Cốc, Vàm Cỏ, Tra, Rạch Kiến, Ba Lai... Đồng bào ở những vùng đó đã rất khôn khéo và dũng cảm để đảm bảo cho bộ đội khi tập kết, trú quân, vượt sông cách đồn bót địch chỉ trong gang tấc, nhất là đồng bào hai làng Châu Hòa và Châu Bình, thuộc quận Tán Kế tỉnh Bến Tre (quận Tán Kế thành lập sau Cách mạng Tháng Tám đến cuối năm 1949 thì giải thể, các xã sáp nhập vào hai quận Ba Tri và Châu Thành). Rồi ngày 16/02/1946, chính tại xóm Cò làng Châu Bình, Tư lệnh Bình Xuyên Dương Văn Dương trúng đạn từ máy bay địch bắn xuống và hy sinh trong sự thương tiếc của quân và dân. Vì địch đã tràn đến nên việc an táng anh Ba Dương phải tiến hành hết sức bí mật, nhưng tên tuổi, hình ảnh của anh còn đọng mãi trong lòng người dân miền sông nước.

    Có một điều cũng rất thú vị là người chiến sĩ và người dân như đã hòa vào nhau. Giặc đến, người dân xông ra đánh giặc với bất cứ vũ khí nào có trong tay, để rồi sau đó họ lại trở về làm người dân thường một cách hết sức tự nhiên. Thú vị nhưng hoàn toàn dễ hiểu, vì tục ngữ đã có câu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Tuy nhiên không phải ở bất cứ mảnh đất nào, ở thời đại nào cũng có được.

    Năm 1985, về An Giang dự hội nghị thông qua công trình lịch sử của tỉnh, tôi ghi nhớ một hình ảnh: “tháng 11/1945, hòa thượng chùa Sân Tiên (Núi Cấm) cùng cán bộ địa phương chỉ huy lực lượng nhân dân vây bắt toàn bộ 14 tên địch ngay sau khi chúng nhảy dù xuống Tua Tà Men (Tri Tôn) để móc nối với bọn phản động, chuẩn bị cho quân Pháp đánh tới”. Hình ảnh vị hòa thượng xưa nay chỉ quen việc kinh kệ, ra khỏi cổng chùa để hòa nhập vào cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc, để lại trong tâm trí tôi một ấn tượng mạnh mẽ khó quên.

    Ở Tam Phước (Bà Rịa) trung tuần tháng 9/1945, có cô hàng nước xinh đẹp chịu đùa cợt nhả nhớt với hai tên lính Nhật để mấy anh trai làng có đủ thời gian lấy hai khẩu súng của chúng để trên buồng lái ôtô mang đi. Chuyện tưởng như dễ ợt nhưng nếu không có bản lãnh và mưu trí cao, vị tất đã làm được.

    Người liệt sĩ đầu tiên của chiến khu Xuyên Phước Cơ (Xuyên Mộc - Bà Rịa) là anh Kéo, đoàn viên Thanh niên Tiền phong. Tháng 10/1945, hai tiểu đội lính Pháp và Nhật đổ bộ vào đất liền, nổ súng bừa bãi và bắt đi 12 thanh niên dẫn theo lên sở cao su Láng Lớn. Lợi dụng lúc địch đang ăn nhậu, anh Kéo trèo lên mái nhà ném chai xăng châm lửa xuống ngay giữa mâm rượu của chúng. Anh trúng đạn địch, hy sinh sau khi diệt được một số tên trong bọn chúng, buộc chúng phải hoảng hốt rút lên phía lộ 1.

    Ở làng Bình Hòa thuộc chiến khu Thuận An Hòa (Thủ Dầu Một) có chuyện khó tin nhưng có thật. Bốn anh thanh niên với bốn cây tầm vông vạt nhọn dàn hàng ngang dọc lộ chặn một chiếc xe tăng Nhật đang đi tới. Nếu chiếc xe tăng tiếp tục chạy thì bốn con người tay không tấc sắt đó sẽ bị nghiền nát. Nhưng nó đã dừng lại, trù trừ trong phút chốc rồi quay đầu trở lại hướng cũ! Không có gì khác, chính khí thế của đồng bào ta lúc đó buộc chúng phải hành động ngoan ngoãn như vậy, mặc dầu chúng là những tên phátxít chính hiệu.

    Địch chiếm đất nhưng không chiếm được lòng dân.

    Ông Hồ Nguyên trước là Giám đốc Sở Thí nghiệm nông lâm Trảng Bom. Địch kêu ông trở lại làm việc cho chúng, hết dụ dỗ lại hăm dọa. Nhưng tâm niệm nghĩa vụ người dân là phải bất hợp tác với quân cướp nước, ông một mực từ chối. Bà con trong vùng đều tỏ lòng cảm phục ông, một trí thức yêu nước.

    Tháng 01/1946, quân Pháp phục kích bắt được anh Điểu Xiên, người dân tộc Chơ Ro, vừa đắc cử đại biểu Quốc hội tỉnh Biên Hòa. Chúng cũng giở trò mua chuộc, hứa cho chức cho tiền. Anh hiên ngang nói: “Thà chết tao không đầu hàng Tây”. Chúng cột anh sau xe jeep mở máy chạy cho đến khi thi thể anh bầm dập nát bét.

    Khắc sâu thù giặc và noi gương người cán bộ anh hùng của dân tộc mình, ngay sau đó đồng bào Chơ Ro ở Xuân Lộc cắt máu ăn thề, đổi họ Điểu, lấy họ Hồ Chí hoặc Nguyễn Ái với tinh thần nguyện là con cháu Cụ Hồ kính yêu.

    Ông Tài là nhà trí thức và tư sản chủ hãng xe đò chạy đường Gò Công - Sài Gòn, khi giặc chiếm Gò Công, quê nhà ông, ông bỏ tất cả sản nghiệp để tham gia kháng chiến. Tháng 02/1946, địch bắt được ông ở Bình Đại (Bến Tre). Tên quan một Tây lai Lơ Roa biết ông là tầng lớp trên nên muốn thả ông với điều kiện ông phải ra chợ Bình Đại hô: “Đại Pháp vạn tuế!”. Nhưng chúng không ngờ khi ra giữa buổi chợ đông người, ông dõng dạc hô to: “Cụ Hồ muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!”. Ông điềm nhiên lãnh đủ mấy viên đạn của địch.

    Tinh thần đấu tranh của đồng bào Sa Đéc trước tội ác man rợ của địch cũng nên nhắc lại. Cuối tháng 01/1946, sau khi chiếm được thị xã Sa Đéc, quân Pháp đi đến đâu thả cửa bắn giết trâu, bò, heo, gà, vịt, cướp lúa gạo đến đó. Chúng còn giết người, chặt đầu, moi gan ăn và xẻ thịt bắt ép dân mua. Bến chợ Sa Đéc và nhà Hội đồng Tư ở Lấp Vò là hai điểm đón ghe, bắt mỗi chiếc phải mua lkg với giá 1 đồng. Đồng bào mua xong, chèo ghe đi kiếm đèn nhang khấn vái vong hồn người bị giết hại và chôn miếng thịt. Đêm 29/02/1946, quân Pháp chở 10 người đến chặt đầu tại nhà lồng chợ Sa Đéc. Sáng hôm sau đồng bào kéo đến đông nghẹt chửi rủa, lên án địch. Chúng bắn súng chỉ thiên để giải tán, nhưng đồng bào không sợ. Về sau địch phải chấm dứt hành động man rợ này để xoa dịu lòng căm phẫn của dân.

    Qua một số sự việc nêu trên, ta thấy rõ con người Việt Nam, ý chí Việt Nam như thế nào. Rất anh hùng!

    Ngày 02/9/1945, Hồ Chủ tịch long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, báo hiệu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay ngày hôm sau, 03/9/1945, Hồ Chủ tịch lên tiếng phát động đồng bào cả nước tiến công vào ba mặt trận: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

    Cuối tháng 9, Trung ương Đảng cũng có Chỉ thị Kháng chiến và kiến quốc, đề ra những nhiệm vụ có tính chất toàn diện cho Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ. Vì vậy, Nam Bộ không chỉ tập trung đánh giặc mà còn tranh thủ làm nhiều việc khác, nhất là ở những vùng chiến sự lan tới sau.

    Cùng với việc thiết lập bộ máy chính quyền các cấp, Mặt trận Việt Minh công bố 10 chính sách ích nước lợi dân, mọi người đều tán thành. Các giới đồng bào đều có đoàn thể của mình: Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc... Tuổi nhỏ có Đội Thiếu niên Tiền phong, Đội Nhi đồng cứu vong. Ai ai cũng được tập họp, cũng được tổ chức đặng có điều kiện phục vụ kháng chiến.
    Công cuộc “diệt giặc đói” đi liền với chủ trương giảm tô, giảm tức từ 25% đến 50%, chủ trương khai hoang, đào kênh. Một số nơi thành lập tổ hợp rèn, tổ sản xuất, góp tiền mua trâu luân phiên sử dụng.

    Công cuộc “diệt giặc dốt” ở nhiều nơi diễn ra như ngày hội. Thiệt vậy, thanh niên đi học đã đành, mà người lớn tuổi, ông già, bà lão đều náo nức đến những lớp mở ngay gần nhà mình. Các lớp học mở ra tấp nập. Đêm đêm ánh đèn dầu lấp lánh như đom đóm theo bà con đến lớp học. Giáo viên không thiếu vì không cần trình độ cao, người biết chữ dạy cho người chưa biết. Chuyện nơi nào cũng có là đặt kiểm tra ở ngã ba, ngã tư các bà hay đi chợ qua để hỏi mặt chữ. Ai chưa biết đều phải dừng lại học năm mười phút rồi mới được đi tiếp.

    Sự dốt nát cũng như các nỗi cực nhục trong lòng người và các tệ mê tín dị đoan, cờ bạc, trộm cắp như được luồng gió cách mạng cuốn đi tất cả. Tất nhiên không thể tuyệt đối, nhưng còn một số ít du đãng quậy phá, chính quyền cách mạng đã nghiêm khắc trừng trị.

    Một thành quả lớn của cách mạng vừa đem tới: ngày 06/01/1946, tất cả mọi công dân từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ, tôn giáo, dân tộc, thành phần, đều được đi bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quyền lợi to lớn đồng thời là nghĩa vụ thiêng liêng này, trước đây nằm mơ cũng không có được. Ý thức công dân của đồng bào thể hiện rõ trong ngày bầu cử (ở một số nơi do tình hình khẩn trương địch sắp đánh tới nên ngày bầu cử là 25/12/1945). Ở những vùng tự do, tỷ lệ đi bầu suýt soát 100%. Còn vùng bị địch tạm chiếm, tỷ lệ đó là trên 90%. Phải nói đó là một tỷ lệ kỳ diệu. Đồng bào đã vượt qua sự ngăn cản của địch, bất chấp mũi súng, ngọn lê của chúng, đến nơi quy định để tự tay cầm lá thăm cử người thay mặt mình tại Quốc hội. Thành công của cuộc bầu cử còn do cán bộ ta, trong một số nơi bị địch o ép mạnh, đã mang hòm thăm đến từng hộ dân để thu gom đầy đủ. Hòm thăm ở đây cũng phải hiểu một cách linh hoạt, có khi chỉ là một cái bao tời cầm tay không cần phải niêm phong gì cả. Do đó, một số cán bộ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ... Tổn thất nặng nhất là Sài Gòn có đến 42 cán bộ hy sinh, trong đó có anh Lê Văn Tư - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Sài Gòn.

    Một điểm khác cũng cần ghi nhận là tất cả mọi người ứng cử do Mặt trận Việt Minh từng tỉnh giới thiệu, trong đó có cán bộ, đảng viên, trí thức, nhân sĩ tiến bộ đều trúng cử.

    Phải chăng vì vậy ngay trong một lá thư gửi đồng bào Nam Bộ trong tháng 02/1946 này, Hồ Chủ tịch thay mặt đồng bào cả nước tặng quân và dân Nam Bộ danh hiệu “THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC”.

    Ngay từ lúc địch mới khởi hấn gây chiến, quân và dân Nam Bộ đã tỏ ra xứng đáng với danh hiệu vẻ vang đó và làm đúng lời Người căn dặn: “Còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu”.



(https://i.imgur.com/588soPk.jpg)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:41:14 pm
QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM


     Ngày 15/02/1961, nhằm mùng 1 Tết Tân Sửu, lễ ra mắt quân đội cách mạng thống nhất ở miền Nam - Quân giải phóng -được tổ chức trọng thể... Từ hôm đó, trong bước đường đi lên của đất nước ta, thêm một thành viên lừng lẫy: Quân giải phóng miền Nam.


    Tây Bắc Nam Bộ (Bắc Tây Ninh) - cách Sài Gòn khoảng 100km - từ năm 1957 đã lấy lại “phong độ thời kháng Pháp”: chiến khu Dương Minh Châu, nối liền căn cứ Bờ cảng Long Nguyên của Bến Cát, núi Cậu của Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), Hố Bò (Gia Định), Bời Lời, Bàu Cỏ (Nam Tây Ninh), lan sang Chiến khu Đ cũ, men quốc lộ 14 lên tận Bù Đăng, Bù Nho giáp Quảng Đức và tỏa xuống Mã Đà... Ba tháng trước, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên cáo thành lập trên địa bàn lịch sử này; và ngày 15/02/1961, nhằm mùng 1 Tết Tân Sửu, lễ ra mắt quân đội cách mạng thống nhất ở miền Nam - Quân giải phóng - được tổ chức trọng thể.

    Chiều vừa xuống, trong hơi mát dịu của rừng xuân, dưới tàn cổ thụ, chỉ huy và chiến sĩ xếp hàng nghiêm chỉnh trước khán đài. Đội ngũ toát lên một hòa hợp mới khá đặc biệt: Các vệ quốc quân xưa tóc ngả màu sương, đứng cạnh những tân binh vừa rời vùng địch kiểm soát, các quân nhân từng mang danh nghĩa nào là vũ trang tự vệ Đông Nam Bộ, nào “giáo phái”, các nhóm Việt kiều tình nguyện từ Campuchia về, các nhóm học sinh từ Sài Gòn ra, do Trung tá Tăng Thiên Kim (đổi tên là Hoàng Đình Chương) chỉ huy chưa thay bộ trang phục kongle. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Bộ Văn hóa của Chính phủ Việt Nam thống nhất) xướng ngôn chính thức của cuộc lễ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đọc nhật lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng và trao cờ cho các đại diện. Đồng chí Phạm Thái Bường, Ủy viên quân sự của Xứ ủy, trở thành Chính ủy đầu tiên của Quân giải phóng và đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến là Tư lệnh 1.

    Chiến thắng Tua Hai còn bàn bạc trong buổi lễ cùng các chiến thắng khác, trong đó có chiến thắng Đầm Dơi ở Tây Nam Bộ.

    Từ hôm đó, trong bước đường đi lên của đất nước ta, thêm một thành viên lừng lẫy: Quân giải phóng miền Nam.

    Đoàn Văn công giải phóng cũng vừa thành lập, biểu diễn ra mắt nhiều bài hát và múa, đặc biệt một tuồng cải lương dài nói về Đồng khởi, vở “Trăng lên khỏi núi”.

    Buổi lễ ngắn, nhưng cái đưa đến buổi lễ lại rất dài...





Phần thứ nhất
Bắt buộc phải tự vệ


    Năm 1954, Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ, ngừng bắn tập kết về nơi quy định trước khi xuống tàu ra Bắc. Các chiến sĩ trung thành với truyền thống “bộ đội Cụ Hồ”, ở đâu cũng đều tranh thủ giúp dân dựng trường học, sửa nhà, xây mộ liệt sĩ. Người được phân công ở lại miền Nam, trở lại đời thường chuẩn bị đấu tranh trong điều kiện hòa bình, không có súng trong tay trước một kẻ thù biết chắc là vô cùng giảo hoạt, được Mỹ trang bị mọi vũ khí tối tân và mang một ý thức phục thù giai cấp điên cuồng.

    Những cuộc khủng bố man rợ người kháng chiến bắt đầu ngay sau khi Hiệp định vừa được ký kết...

    Lúc đó Đảng chỉ thị cho anh em chuyển vùng hoạt động hoặc “điều lắng”. Nhiều người phải rời bỏ gia đình, thôn xóm vào các chiến khu bưng biền cũ để lánh né chờ lệnh của Đảng. Ở Khu 5, Tây Nguyên, miền Tây Nam Bộ tổ chức các “trại bí mật”. Ở miền Đông, các đồng chí Lâm Quốc Đăng, Lê Thanh đưa thanh niên về chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ lập “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”, sản xuất tự túc. Ở Đồng Tháp Mười, hình thành những túi “dân tử can” (là dân “tản cư”), theo từng đơn vị tiểu đội, trung đội... mò cua bắt ốc, câu cá, đặt lờ, xây dựng làng chiến đấu đối phó với giặc. Ở miền Tây, cán bộ chiến sĩ, du kích, thanh niên và nhân dân kéo vào rừng U Minh họp thành những “làng rừng”. Đồng bào thiểu số Xtiêng (miền Đông Nam Bộ) bỏ buôn rẫy cũ vào rừng xây dựng buôn làng mới, gọi là làng “Độc lập” bất hợp tác với giặc...

    Ngay từ năm 1955, khi Mỹ - ngụy thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng” cực kỳ man rợ, thì ý thức cầm súng tự vệ đã trở thành phổ biến trong anh em. Không còn con đường nào khác. Khu 5 bắt đầu có các đội “tuần dương”, “tráng đoàn” ở một số xã ven biển. Ở miền núi có các nhóm “trả đầu”, “bảo vệ dân tộc”. Ở Nam Bộ có các đội “dân canh chống cướp”.




-----------------------------------------------------------------
1. Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam có những thay đổi theo thời gian như sau: Năm 1962, đồng chí Trần Nam Trung làm Chính ủy, đồng chí Trần Văn Quang (Bảy Tiến) - Tư lệnh; 1964, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Chính ủy, đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh; 1966, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chính ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh... Các tướng lĩnh Lê Đức Anh, Lê Quốc Sản, Hoàng Cầm, Trần Hải Phụng, Trần Văn Danh, Trần Độ... giữ các cương vị Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy hoặc Tư lệnh, Phó Tư lệnh các Quân khu.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:45:38 pm
*
*      *

    Thực hiện chủ trương “quốc gia hóa” các lực lượng vũ trang giáo phái (thân Pháp), từ ngày 28/4/1955 Mỹ - Diệm bắt đầu tấn công Bình Xuyên ở Sài Gòn và các nơi. Ngày 21/9/1955, chúng mở cuộc hành quân “Hoàng Diệu” diệt Bình Xuyên ở Rừng Sác. Ngày 25/6/1955, mở chiến dịch “Đinh Tiên Hoàng” uy hiếp, bức hàng lực lượng vũ trang của Hòa Hảo ở miền Tây và miền Trung Nam Bộ. Ngày 11/3/1956 mở cuộc hành quân Thăng Long, thanh toán số còn lại của lực lượng vũ trang Cao Đài Tây Ninh.

    Các lãnh tụ chỉ huy quân sự chóp bu các giáo phái bị Diệm thanh toán, một số đầu hàng Diệm, một số phải tìm cách chống lại Diệm, hợp tác với lực lượng cách mạng, tuy rằng trong thâm tâm họ vẫn không hề từ bỏ ý đồ tiêu diệt cách mạng.

    Trước tình hình đó, lợi dụng mâu thuẫn giữa bọn tay sai đế quốc Pháp và Mỹ, ta vận động phối hợp đồng thời đưa người của ta vào các lực lượng vũ trang giáo phái, giác ngộ lòng yêu nước của chiến sĩ và số chỉ huy cấp dưới, hoặc tổ chức thành đơn vị vũ trang mang danh giáo phái chống lại Mỹ - Diệm.

    Bình Xuyên rút về Rừng Sác. Đồng chí Hai Văn (Phan Văn Đáng) - Phó Bí thư Xứ ủy cử đồng chí Nguyễn Trọng Tâm về Long Thành để móc nối với lực lượng Bình Xuyên. Đồng chí Bảy Khánh - Bí thư Liên tỉnh miền Đông cũng đã gặp Bảy Viễn. Trong Bình Xuyên có Thiếu tá Võ Văn Môn, nguyên Tham mưu trưởng quân Bình Xuyên, nhất trí hợp tác với cách mạng chống Diệm. Được các đồng chí Ba Thuận (Phú), Lâm Quốc Đăng, Lê Thanh hướng dẫn, Thiếu tá Môn đưa một tiểu đoàn cùng 2.000 thân nhân ra vùng Bàu Lâm và ra vùng Chiến khu Đ. Nhiều đoàn viên, đảng viên, bộ đội, du kích cũ được cử sáp nhập vào lực lượng Bình Xuyên của Bảy Môn, vận động giác ngộ anh em, hướng dẫn các đơn vị này chiến đấu chống Diệm.

    Lực lượng vũ trang Hòa Hảo có 4 phái riêng rẽ:

    - Trần Văn Soái (tự Năm Lửa) chiếm cứ vùng các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa Đéc, có lực lượng mạnh hơn cả nên tự coi mình là Tổng Tư lệnh quân đội Hòa Hảo, đặt sở chỉ huy tại Cái Vồn.

    - Lâm Thành Nguyên (tự Hai Ngoán) kiểm soát tỉnh Châu Đốc và một phần tỉnh Long Xuyên, chỉ huy sở đặt tại Cái Dầu (Long Xuyên).

    - Lê Quang Vinh (tự Ba Cụt) chiếm vùng Rạch Giá và một phần Long Xuyên, chỉ huy sở đặt tại Thốt Nốt (Long Xuyên).

    - Nguyễn Giác Ngộ kiểm soát một vùng thuộc tỉnh Long Xuyên, sở chỉ huy đặt tại Chợ Mới.

    Khi Mỹ - Diệm thanh toán Hòa Hảo, Hai Ngoán và Nguyễn Giác Ngộ nhanh chóng đầu hàng. Năm Lửa và Ba Cụt chống lại. Đánh không lại quân Diệm, Năm Lửa và Bảy Út (em Ba Cụt) kéo mấy ngàn quân vào vùng căn cứ kháng chiến cũ của ta ở Đồng Tháp Mười. Hàng trăm đảng viên, bộ đội, du kích cũ được đưa vào lực lượng này. Sáu Nhỏ, người của ta còn được Năm Lửa nhận làm con nuôi, rất tin cậy, giao cho giữ cả kho súng. Ta chủ trương hòa hoãn với bọn trên, vận động giác ngộ số chỉ huy bên dưới và binh lính. Một số cán bộ ta đưa vào, được chỉ huy Hòa Hảo mời làm chính trị viên như các đồng chí Sáu Ức, Tám Bành, Sáu Chung, Tám Dần... Khi lực lượng Hòa Hảo vào hẳn Đồng Tháp Mười, ta đưa vô thêm 50 cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phần lớn quê ở Vĩnh Thạnh như Hai Trãi, Hoàng Ba, Huỳnh Nho, Tư Khương, Hai Trung, Ba Mi... Quân Diệm đánh vào Đồng Tháp Mười, cán bộ, đảng viên của ta đã hướng dẫn và cùng lực lượng của Hòa Hảo đánh trả gây nhiều thiệt hại cho quân Diệm như trận Cỏ Ống (Mộc Hóa) diệt và bắt sống 2 trung đội, thu 30 súng; trận Tân Bửu (Bến Lức), diệt và bức rút nhiều đồn bót quân Diệm đóng sâu vào căn cứ kháng chiến cũ như ở Tân Thành, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Đông, Bình Hòa, Hưng Phú, Tân Phú... Ta tranh thủ Hòa Hảo cho tổ chức “Ủy ban quân chính” ở nhiều xã như Mỹ Quý, Mỹ Hòa, Long Hiệp. Từ Bình Hiệp đến Bình Hòa, Thạnh Hòa, Phong Phú, Thủy Đông, Tân Đông, Thuận Nghĩa... mỗi xã đều tổ chức được một tổ du kích “giáo phái”, 2 đến 3 người, được trang bị một vài khẩu súng, lo tiếp tế cho giáo phái và dùng danh nghĩa giáo phái trừ khử ác ôn. Ngày 01/01/1956 Mỹ - Diệm tập trung 4 trung đoàn, 6 chi đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn dù và nhiều lực lượng pháo binh, giang thuyền... mở cuộc hành quân lớn vào Đồng Tháp Mười hòng tiêu diệt giáo phái đồng thời triệt phá “cộng sản nằm vùng” như chúng rêu rao. Cán bộ, đảng viên, thanh niên ta cùng Hòa Hảo đã đánh trả quân Diệm, có trận như Cái Bát đánh nhau với quân Diệm suốt một ngày.

    Ngày 17/02/1956, Năm Lửa gặp Nguyễn Ngọc Thơ do Diệm cử đến và y đã chuẩn bị đầu Diệm, đưa quân ra hàng. Một số không theo Năm Lửa. Nguyên 1 đại đội do Hồng chỉ huy được ta vận động và giúp đỡ đã ở lại Đồng Tháp Mười chiến đấu, sau đó gia nhập vào bộ đội giáo phái giải phóng. Số anh em ta bí mật mang 40 súng trở về. Sáu Nhỏ giữ cả ghe súng của Năm Lửa, nhưng chưa có lệnh đành để bọn giáo phái chở ra nộp cho Diệm.

    Ở vùng Vĩnh Long, Sa Đéc, Hậu Giang, nhiều tiểu đoàn mang danh nghĩa Hòa Hảo vẫn tiếp tục hoạt động dưới sự chỉ huy của Phan Văn Thục thường được gọi là Năm Thục, thay Năm Lửa làm Tư lệnh các lực lượng Hòa Hảo chống Mỹ - Diệm. Đồng chí Sáu Ức được tín nhiệm làm Chính trị viên trong Bộ Tư lệnh. Đó là Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo do Tám Bành làm Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn Thăng Long do Hoành chỉ huy, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở do Tư Sơn chỉ huy. Ngoài ra còn có một số đại đội hoạt động rải rác.

    Cao Đài ở Tây Ninh, vừa hòa hoãn với Diệm vừa đưa một số đơn vị vũ trang ra rừng, gọi là ly khai chống Diệm nhưng thực chất là để mặc cả với Mỹ - Diệm. Một số đơn vị “Cao Đài ly khai” tản ra các vùng căn cứ kháng chiến cũ ở Tây Ninh, một số khác kéo về vùng Đức Hòa, Đồng Tháp Mười.

    Riêng nhóm Cao Đài của Nguyễn Bỉnh Khiêm kéo quân về đóng ở 3 xã Vĩnh Trị, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, đặt sở chỉ huy tại lò gạch (Vĩnh Trị). Khiêm liên lạc với ta xin mộ quân để tăng cường lực lượng. Huyện ủy Mộc Hóa chủ trương đưa một số cán bộ, đảng viên và thanh niên vào lực lượng Cao Đài của Khiêm. Mười Bộ -Huyện ủy viên, trực tiếp hướng dẫn cho 7 đồng chí ở xã Bình Hòa, như Nguyễn Văn Thôi - Xã đội phó, Phạm Đình Thái - Chính trị viên xã đội, cùng mấy anh em “giáo phái vận”. Ba Tao - Huyện ủy viên, đưa anh em qua Cả Sách, Vĩnh Lợi lên gặp số chỉ huy giáo phái. Anh em được tổ chức vào một đơn vị có 1 trung úy và 1 thiếu úy Cao Đài chỉ huy, phụ trách hoạt động từ Bình Hiệp, Bình Hòa qua Thạnh Hòa, Phong Phú, Thuận Nghĩa. Ở mỗi xã có tổ chức hệ thống chính quyền “Cao Đài tự do”, gồm 3 người: Chủ tịch, xã hội, dân vận.

    Khi Mỹ - Diệm xua quân đánh vào Đồng Tháp Mười, tên trung úy chỉ huy đơn vị “Cao Đài tự do” ra lệnh toàn đơn vị tập trung về sở chỉ huy để rút về Tây Ninh. Anh em ta bàn nhau tách khỏi bọn này, mang súng trở về địa phương chờ lệnh. Anh em ta nói thẳng:

    - Các anh vì Đạo cứ về Tây Ninh. Chúng tôi quê hương xứ sở ở đây, xin ở lại cùng súng ống bảo vệ xóm làng.

    Chúng không chịu. Ta cũng dứt khoát. Cuối cùng chúng phải năn nỉ ta cho tiền và tổ chức cho chúng về Tòa thánh Tây Ninh.

    Cao Đài Khiêm rút đi, Cao Đài Phụng lại đến chiếm đóng từ Cốc Rinh đến kênh Bo Bo, Long Ngãi Thuận, kênh Trà Cú. Ta lại chủ trương đưa người nhập vào bọn này, cho anh em đến báo với bọn chỉ huy:

    - Chúng tôi thuộc đơn vị ông Khiêm chỉ huy nhưng bị mất liên lạc, có giấy chứng nhận của ông Khiêm đây, các ngài cứ cho chúng tôi gia nhập lực lượng của các ngài.

    Cao Đài Phụng tiếp nhận và đồng ý với ta cho tổ chức 1 đơn vị mang danh 1 tiểu đoàn, đưa một số sĩ quan của chúng qua chỉ huy có 1 thiếu tá và 2 trung úy. Thiếu tá Cao Đài tên Kia nên ta lấy tên Tiểu đoàn là “Văn Kia” cho dễ hoạt động. Thực ra tiểu đoàn chỉ có 2 đại đội và tiểu đoàn bộ. Ta vận động thanh niên, đưa cán bộ vào gồm trên 60 người, có 11 đảng viên và phần lớn là đoàn viên thanh niên, tổ chức 1 chi bộ (do đồng chí Thảo làm Bí thư) và 1 chi đoàn (Bảy Thôi - Phó Bí thư kiêm Chi đoàn trưởng). Tiểu đoàn về Giồng Dinh được phát 30 súng, Tiểu đoàn bộ đóng ở Trấp Tre. Đại đội 1 đóng chung với Tiểu đoàn bộ, Đại đội 2 ở Sở Văn, Bình Thạnh.

    Với danh nghĩa Tiểu đoàn Cao Đài ly khai chống Diệm, anh em tổ chức chính quyền, ủy ban giáo phái, tiến hành trừng trị và trấn áp bọn ác ôn và cảnh sát ngụy quyền. Diệm tổ chức bầu cử. Ta bàn với bọn chỉ huy Cao Đài phá bầu cử, nhưng chúng không dám làm. Ta bàn phục kích đánh 1 trận lấy danh cho quân Cao Đài ly khai, tên trung úy chỉ huy đại đội chịu đi nhưng ngồi phía sau. Ta có 12 cây súng trang bị “mituyn” và “mútmas” 1 phục kích tại vàm Rạch Xây. Dân báo cho biết địch đi trên 3 xuồng. Lúc địch lọt vào trận địa đã bố trí, ta nổ súng giết được 4 tên. Tên trung úy Cao Đài khi nghe súng nổ đã bỏ chạy mất.

    Do ta hoạt động có hiệu quả, bọn chỉ huy Cao Đài phong cho đồng chí Thảo chức thiếu tá, làm Chính trị viên Tiểu đoàn. Bảy Ngôn làm cố vấn quân sự cho Văn Kia - Tiểu đoàn trưởng.

    Tuy nhiên, Phụng lén lút móc nối để đầu hàng Diệm. Chúng dự kiến khi ra hàng sẽ quét sạch sẽ số anh em được ta đưa vào tiểu đoàn. Trong tình hình đó, trên cho chủ trương “tách quân”, lấy súng, nhưng không được giết người. Đồng chí Lâm lúc đó có đi với tên Văn Kia - Tiểu đoàn trưởng. Ta tung tin quân của Mỹ - Diệm kéo đến cách 6km, tên chỉ huy đại đội Cao Đài ủy quyền cho ta sắp xếp canh gác, còn bọn Cao Đài thì tập trung đánh cờ tướng. Mật lệnh hành động là: “Tất cả đi ngủ”. Mật lệnh vừa phát ra, anh em liền hô to: “Tất cả đâu ngồi đó”. Bọn chúng bị bất ngờ, không kịp lấy súng. Ta mượn xe trâu của dân chở súng về Nồi Cọ. Tên tiểu đoàn trưởng không hay biết gì. Sau đó bọn Cao Đài Phụng chạy về Hội đồng Sâm, giết nhiều cán bộ và đồng bào ta.

    Số anh em tách khỏi Cao Đài, thành lập 1 đơn vị mang tên Tiểu đoàn Phước - Dư của giáo phái, Bảy Thế làm Tiểu đoàn trưởng mang quân hàm thiếu tá, Sáu Thông làm Chính trị viên Tiểu đoàn. Hổ - Thiếu úy Đại đội trưởng. Đơn vị lúc đầu mới có 36 người với 36 súng, sau đó được bổ sung tăng quân số lên 60 người. Đồng bào thường gọi là “tiểu đoàn Cao Đài dỏm” (vì biết thực chất là bộ đội cách mạng). Trong quá trình hoạt động, các đồng chí Bảy Ngôn, Thôn, Tang... và một số anh em nữa cũng đã hy sinh.

    Đến tháng 10/1956, lực lượng giáo phái ở Đồng Tháp Mười đều đầu hàng Diệm hoặc tan rã, một số ít theo ta chống Diệm. Số anh em ta bí mật vào các lực lượng trên, sau rút ra đem về được trên 200 súng làm vốn xây dựng lực lượng giải phóng sau này.

    Trong hai năm 1955-1956, bọn thân Pháp ở Paris thành lập Mặt trận “Quốc gia giải phóng” lấy cờ đỏ có chữ vạn (chữ nhà Phật) đặt ở giữa. Chúng có bắt liên lạc với ta. Ta cũng đặt tên cho các đơn vị mình là “Cao Đài giải phóng”, “Hòa Hảo giải phóng” và dùng cờ đỏ ngôi sao xanh để hoạt động. Khi giáo phái đầu Diệm, ta vận động Đại úy Hồng (Hòa Hảo) ở lại với ta đứng lên phất cờ giáo phái chống Diệm. Đồng thời lúc này Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ chủ trương xây dựng mỗi tỉnh 1 đơn vị vũ trang mang phiên hiệu tiểu đoàn như D.502 ở Kiến Phong, D.504 ở Mỹ Tho, D.506 ở Bến Tre, D.508 ở Long An, D.510 và D.512 ở An Giang... Khu 8 có một D chủ lực lấy tên là D2 “Bình Xuyên”, trang bị bằng súng chôn giấu móc lên đã han rỉ nên nhân dân gọi đùa là Tiểu đoàn “Bình Xuyên súng sét”.

    Ở miền Đông Nam Bộ, các đơn vị vũ trang cũng lần lượt được hình thành. Khi lực lượng vũ trang Cao Đài ly khai Diệm ra rừng, ta đã đưa nhiều cán bộ, đảng viên, bộ đội, du kích cũ bí mật vào các đơn vị này. Ở Đại đội 25 Cao Đài ly khai đóng tại Bàu Cỏ, ta tổ chức được 1 chi bộ mật để lãnh đạo. Tháng 3/1956 khi Diệm bắt đầu mở cuộc hành quân đánh Cao Đài ly khai, đồng chí Đình Ba bí mật phổ biến chỉ thị của tỉnh cho chi bộ lãnh đạo anh em làm binh biến. Đồng chí Ngô Thành Sáng cùng một số đồng chí đảng viên như Thế, Tư Sùng... đã nắm được phần lớn binh lính trong đại đội, vận động nổi dậy gạt tên chỉ huy lấy được hơn 100 súng, kéo quân về Sa Nghe bổ sung thêm thanh niên thành lập 1 đại đội mang tên là “C.25 Cao Đài ly khai!”. Chỉ huy trưởng là đồng chí Ngô Thành Sáng đóng vai đại úy. Có chỉ thị Liên tỉnh ủy miền Đông cho hoạt động vũ trang, Tỉnh ủy Tây Ninh không giải thể mà phân tán đơn vị này thành từng nhóm nhỏ để tránh nổi cộm, hoạt động từ Sóc Thiết qua Dương Minh Châu, đồng thời tổ chức 1 tổ vũ trang mạnh hoạt động vùng biên giới Việt Nam - Campuchia để bảo vệ căn cứ địa cách mạng. Trong năm 1956, các nhóm vũ trang này đã bắt sống được 1 tiểu đoàn dân vệ ở Tầm Long, xóm Ruộng, diệt 8 tên gián điệp chỉ điểm ở Tà Nong, Ba Chàm.

    Đầu năm 1956, còn có Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng bất hợp tác với Diệm đưa một đơn vị chạy ra rừng liên kết với ta chống Diệm. Quân số đơn vị không nhiều nhưng tạo cho ta có danh nghĩa để tổ chức lực lượng.

    Ở trung tâm chỉnh huấn Tân Hiệp, Biên Hòa, địch giam giữ 6.000 anh chị em, trong đó có 250 đảng viên được bí mật tổ chức thành 1 đảng bộ. Đảng ủy trong nhà tù đã đề nghị trên cho tổ chức vượt ngục. Một đội tự vệ mật được thành lập gồm các đồng chí bộ đội và du kích cũ hơn 30 anh em. Chưa được chỉ thị trên nhưng tình thế khẩn trương vì được tin địch sẽ đày anh chị em ra Côn Đảo, Phú Quốc. Đúng 18 giờ ngày 02/12/1956, khi địch lùa anh chị em vào khám cũng là thời điểm ra mật lệnh nổi dậy. Ý định lúc đầu chỉ vượt ngục vài chục đồng chí, nhưng thời cơ thuận lợi, đội tự vệ diệt được 20 tên giặc, bắt trói số còn lại, anh em nhất tề xông vào kho cướp súng giặc. Gần 300 anh chị em ùa ra ngoài trại chạy thoát. Địch xả súng giết hại 22 anh chị em. Hơn 20 anh chị em đã về đến căn cứ Chiến khu Đ với 2 khẩu trung liên, 13 tiểu liên và 18 súng trường tổ chức thành 3 trung đội mạnh chờ lệnh chiến đấu. 7 anh em vượt ngục khác về Rừng Sác căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn, Tỉnh ủy quyết định sáp nhập thêm 3 đồng chí bảo vệ Tỉnh ủy tổ chức thành 1 đơn vị vũ trang mang tên “C.12 Bình Xuyên” (vì có 12 đồng chí) được trang bị 1 trung liên và 2 súng trường của anh em vượt ngục mang về.

    Ở Thủ Dầu Một, đồng chí Chín Quỳ được phân công ở lại miền Nam cùng đồng bào đấu tranh chính trị. Thời thực dân Pháp còn đô hộ, Chín Quỳ tổ chức đảng “Lục lâm” cướp của nhà giàu chia cho người nghèo, năm 1940 được Đảng giác ngộ sau đó anh trở thành đảng viên. Khi lực lượng vũ trang tập kết đi hết, đồng chí ở lại với đồng bào, công tác quần chúng. Không chịu nổi cảnh áp bức, đàn áp, đồng chí tự động tổ chức 1 lực lượng vũ trang dựa vào rừng Chiến khu Đ hiểm trở để sản xuất, săn bắn, đêm đêm bung ra vùng đông dân trừ gian, gây dựng cơ sở. Một số đảng viên, bộ đội, du kích cũ lánh vào chiến khu đã gia nhập “bộ đội Chín Quỳ”. Về sau, bộ đội này thành C.250 của miền Đông Nam Bộ.

    Ở vùng hóc Bà Tó cũng thuộc Thủ Dầu Một có hai anh em Liễu và Bờ, trước tham gia bộ đội trong chống Pháp, bỏ về nhà năm 1952 nhập vào quân Cao Đài. Năm 1955, Liễu, Bờ tụ tập 16 tay anh chị trốn địch bắt lính, mua được nhiều súng tốt, đi cướp của nhà giàu và của cả dân thường. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã cử đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy tìm đến thuyết phục. Liễu, Bờ nhất trí cùng ta chống Diệm, chỉ cướp của tề ác ôn, không lấy của dân thường, nhất là không cướp trâu bò của đồng bào các dân tộc. Liễu, Bờ làm nhiệm vụ trấn áp bọn phản động, cho cán bộ ta đi sâu vào xóm ấp vận động xây dựng cơ sở. Lúc đầu ta đưa 3 đảng viên và 3 du kích là đoàn viên vào cùng 16 người của Liễu, Bờ tổ chức thành 1 trung đội. Sau Liễu, Bờ xin nghỉ, các đảng viên thay chỉ huy và từ đó bộ phận này trở thành đơn vị của cách mạng.

    Ở Tân An, ngoài Tiểu đoàn Lê Phước Du còn có đại đội “Hòa Hảo giải phóng” với quân số 37 người. Lực lượng mang danh giáo phái đến cuối năm 1956 đã phát triển thành 3 đại đội 231, 233, 235. Để thống nhất chỉ huy, ta tổ chức khu bộ giáo phái đóng sở chỉ huy tại Trấp Tro do đồng chí Nguyễn Văn Khuyên tức Tám Dần mang danh Trung tá giáo phái Lưu Phước Nam làm Bộ trưởng.

    Tuy lực lượng vũ trang được tổ chức rải rác nhưng chưa có chỉ thị của Đảng cho hoạt động vũ trang nên chủ yếu là để tự vệ và tiến hành trừ khử những tên ác ôn nguy hiểm nhất. Nhiều hình thức diệt địch xuất hiện: “rút giò”, “ôm hè”, “chuốc rượu để tước súng”, diệt địch bằng phảng, dao phay, gậy gộc, rồi sau đó đưa tin là do những tên này gây thù oán nên bị giết.




-----------------------------------------------------------------
1. Mituyn: 1 loại tiểu liên cũ.
    Mútmas: 1 loại súng trường cũ.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:48:20 pm
I- NHỮNG ĐỘI VŨ TRANG TUYÊN TRUYỀN ĐẦU TIÊN


    Nghị quyết của Hội nghị lần thứ hai của Xứ ủy tháng 12/1956 đã xác định: “...phải dùng bạo lực của quần chúng... phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị”.

    Xứ ủy cũng thảo đề cương vũ trang tuyên truyền, cử đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - cán bộ trung đoàn trưởng có tiếng trong chống Pháp được ở lại miền Nam chuyển làm công tác dân vận - nay phụ trách ủy viên quân sự của Xứ ủy. Đồng chí đã từ U Minh về miền Đông xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy và xây dựng các lực lượng vũ trang tập trung.

    Thanh niên ở các tỉnh miền Đông cũng như đồng bằng sông Cửu Long đều được bí mật đưa về các Chiến khu Đông Bắc và Tây Bắc miền Đông Nam Bộ bổ sung cho các đơn vị của Xứ và Miền. Đến đầu năm 1957 hàng loạt đại đội bộ binh, đặc công, trinh sát đã được thành lập: C50, C60, C70, C80A, C80B, C30, C40, C200, C300, D500, D800... đứng chân ở Tây Bắc và Đông Bắc miền Đông.

    Ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Đồng Tháp Mười, nhiều đơn vị tập trung được hình thành từ các đơn vị mang danh giáo phái tập trung từ các xã ấp lên. Như ở Long An, với nòng cốt là D4 giáo phái bổ sung thêm “bộ đội Trâm bầu” (dùng khúc cây trâm bầu làm vũ khí), du kích để thành lập Tiểu đoàn 506 với 150 tay súng. Rồi “Đại đội 12 Bình Xuyên” làm nòng cốt tập hợp thêm du kích, bộ đội cũ và thanh niên được 70 đồng chí thành Tiểu đoàn 508. Ở Kiến Phong có Tiểu đoàn Đinh Bộ Lĩnh, sau là D502, Mỹ Tho là D504...

    Tây Ninh, sau khi rút hết phần lớn cán bộ, chiến sĩ về xây dựng đơn vị tập trung của R (Xứ), số còn lại được tổ chức thành 1 đơn vị lấy tên là D14 (vì có 14 anh em và 14 súng). Chỉ trong một thời gian rất ngắn đã phát triển thành 1 đại đội đầy đủ quân số.

    Ở Biên Hòa và Bà Rịa mỗi nơi cũng xây dựng được 1 trung đội.

    Như vậy cho đến đầu năm 1957 ở nhiều vùng của Nam Bộ đã hình thành lực lượng vũ trang tập trung của R, của tỉnh và lực lượng du kích mật mang danh các đội chống trộm cướp, dân canh...

    Ở miền Đông Nam Bộ, sau khi Xứ ủy cho tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung, ta đã tiến hành một số trận đánh có ý nghĩa quan trọng hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang.

    Ngày 10/8/1957, C60 của R, C20 của Tây Ninh cùng lực lượng Bình Xuyên và của tỉnh Thủ Dầu Một tiến công địch ở thị trấn Ninh Thạnh, diệt cảnh sát, bắt sống lính bảo vệ, lấy xe, lấy đại liên đặt lên xe tiêu diệt những ổ đề kháng của địch, chiếm thị trấn nhiều giờ, dùng ôtô và xe ngựa chở chiến lợi phẩm: gạo, muối, vải vóc, thuốc men và tiền bạc về căn cứ an toàn.

    Ngày 18/9/1957, C250 của R phối hợp lực lượng Bình Xuyên (danh nghĩa) tấn công trại Be Biên Hòa, cơ sở khai thác cây rừng của Trần Lệ Xuân, diệt và đánh tan 3 đại đội địch, giáo dục và thả về mấy ngàn đồng bào vào rừng khai thác gỗ, thu 80 xe vận tải và vũ khí đủ trang bị cho 1 trung đội. Trận đánh có tác dụng phá âm mưu của địch định chia cắt manh mún căn cứ kháng chiến của ta, củng cố được căn cứ Đông Bắc vừa mới được xây dựng.

    Tháng 12/1957, các đơn vị tập trung của R phục kích ở Lò Than diệt và làm tan tác 1 tiểu đoàn địch.

    Đầu năm 1958, Xứ ủy quyết định thành lập “khu miền Đông” đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Ủy viên quân sự Nam Bộ kiêm Chỉ huy trưởng miền Đông, Lâm Quốc Đăng (Nguyễn Thược) và Lê Thanh làm Chỉ huy phó. Căn cứ miền Đông ở hai hướng tây bắc và đông bắc đều được mở rộng lên tận biên giới Việt Nam -Campuchia.

    Ở khu 5, cuối 1957, đồng chí Lê Duẩn, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã trao đổi với Thường vụ Liên khu ủy 5 những kinh nghiệm về vận dụng đường lối, phương châm đấu tranh vào thực tiễn phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Về tổ chức lực lượng vũ trang, đồng chí nêu nên tổ chức 3 người, tiểu đội, cao nhất là trung đội nhằm giữ buôn rẫy.

    Từ thực tiễn của địa phương kết hợp ý kiến của đồng chí Lê Duẩn, Liên khu ủy 5 đã họp hội nghị mở rộng, đề ra một số phương hướng, nhiệm vụ để chuyển phong trào (giữa năm 1958), trong đó có chú trọng:

    - Xây dựng miền Tây các tỉnh đồng bằng và Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng.

    - Bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở miền núi với nhiệm vụ tự vệ, bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ.

    Ngày 07/7/1958, Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức Đại hội nhân dân chống Mỹ của các dân tộc miền núi tại Gò Rô (Trà Bồng) có hơn 200 đại biểu. Đại hội nhất trí hạ quyết tâm: “Phải đánh Mỹ sớm chừng nào hay chừng đó. Đánh Mỹ - Diệm thì mới sống được, dù có cực có khổ mấy cũng quyết đánh”.

     Ở các vùng rừng núi và một số nơi ở đồng bằng lần lượt tổ chức các lực lượng vũ trang tự vệ. Một số thanh niên bí mật rủ nhau đi tìm các hầm vũ khí chôn lại từ năm 1954. Tiếng súng diệt ác từ lẻ tẻ, tự phát đến có tổ chức, có lãnh đạo. Ngày 24/10/1958, tiểu đội tự vệ mật huyện Nam An Khê do Bí thư Huyện ủy trực tiếp chỉ huy đã nổ súng chống bọn lính ngụy đi càn, bắn chết tên Kai người địa phương đầu hàng và dẫn địch đi đánh phá buôn rẫy. Ngày 15/11/1958, tổ vũ trang tự vệ của tỉnh Phú Yên do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo nổ súng diệt tên Thống Cường ác ôn đã đánh phá phong trào cách mạng ở địa phương. Những tiếng súng mở đầu có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đã báo hiệu sự vùng dậy mạnh mẽ của đồng bào miền Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhân dân Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông như hồi chống pháp. Đến cuối năm 1958, một số xã ở Gia Lai, Kon Tum, miền Tây Quảng Ngãi đã thành lập “Ban cán sự”, “Ban tự quản”. Khắp Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng đã xây dựng căn cứ địa làm nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo và các đội du kích, vũ trang mới thành lập. Kon Tum có xã Đoàn, xã Hiêu, Tung Bung, Kô Xin, Gia Lai có 2 huyện và 7 xã (Bắc và Nam An Khê); Quảng Nam có Hiện. Khu căn cứ của Quảng Ngãi bao gồm: 22 xã nối liền nhau của vùng cao - huyện Trà Bồng và Sơn Hà, 12 xã trong khu tiếp giáp 3 huyện Sơn Hà, Đinh Long, Ba Tơ và 8 xã phía nam huyện Ba Tơ. Bình Định có khu căn cứ Vĩnh Thạnh; Phú Yên có các khu Thồ Lồ, Bắc Ma Dú; Đắk Lắk có vùng Pleiya hiểm trở; Khánh Hòa có Vĩnh Sơn, Khánh Sơn. Ninh Thuận có Bác Ái kiên cường, Bình Thuận, Lâm Đồng có Tánh Linh nối liền nhau... Đến đầu năm 1959, Khu 5 đã có 2 trung đội, tiểu đội du kích tập trung và 1 đội vũ trang công tác.

     Song song với việc xây dựng các đội vũ trang, ở Nam Bộ cũng như Khu 5 và Tây Nguyên đều có tổ chức các tổ quân y, mở trường huấn luyện tân binh, cán bộ tiểu đội, các tổ sửa chữa vũ khí và chế tạo vũ khí thô sơ, sản xuất lựu đạn, làm súng “ngựa trời”... Hậu cần nuôi quân lúc đó dựa vào trồng mì, đào củ chụp, săn bắn và sự nuôi dưỡng, đùm bọc của đồng bào các dân tộc từ Quảng Trị vào Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ. “Rẫy mì cách mạng” được phát triển bạt ngàn trên rừng núi Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, đã nuôi sống biết bao cán bộ, chiến sĩ trong những lúc thắt ngặt nhất.

     Bước vào năm 1958, phong trào đấu tranh chính trị ở Nam Bộ cũng như toàn miền Nam có bị núng thế. Nhiều cơ sở nội tuyến của ta trong hàng ngũ địch bị chúng phát hiện bắt bớ, giam cầm. Mỹ - Diệm đã phối hợp việc mở rộng các cuộc hành quân quy mô đánh phá các vùng căn cứ với đẩy mạnh chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”.

    Bộ Tư lệnh miền Đông đã đề nghị với Xứ ủy cho mở một trận tấn công vào chi khu quân sự của địch ở Dầu Tiếng, cách Sài Gòn chưa đầy 70km theo đường chim bay, nhằm gây thanh thế cho cách mạng đồng thời lấy vũ khí và cơ sở vật chất để giải quyết khó khăn về hậu cần, trang bị cho các lực lượng vũ trang, củng cố và mở rộng vùng căn cứ. Đề nghị trên được chấp nhận, đồng chí Tám Dên Dên (Nguyễn Hữu Xuyến) trực tiếp thông qua kế hoạch trận đánh. Lực lượng huy động vào trận đánh gồm 2 đơn vị tương đương tiểu đoàn mang danh nghĩa Bình Xuyên và liên quân Cao Đài cùng các đơn vị của Tây Ninh, Thủ Dầu Một và Biên Hòa, tổng cộng 1.500 quân. Địch có 2 tiểu đoàn cộng hòa của Sư đoàn 13 chủ lực, 1 đại đội và 1 trung đội bảo an cùng bọn công an, dân vệ chính quyền huyện, thị. Gần Dầu Tiếng có đồn Bến Củi địch đóng 1 đại đội. Riêng ở chi khu Dầu Tiếng địch có gần 1.000 quân.

    0 giờ ngày 11/8/1958, đặc công bất ngờ nổ súng mở đầu trận đánh. Đến 2 giờ 30 phút quân ta chiếm toàn bộ quận lỵ và chi khu quân sự Dầu Tiếng, làm chủ nhiều giờ, diệt nhiều địch, bắt nhiều tù binh, thu nhiều súng đạn, trên 1 triệu đồng tiền Sài Gòn. Tên Quận trưởng Đào Sanh Khê và tên Bảy Gà Lôi (Trần Trung Bảy) rất ác ôn đã may mắn trốn thoát. Đây là lần đầu tiên, kể từ sau tháng 7/1954, các lực lượng vũ trang ở miền Nam mới hình thành đã tấn công làm chủ một chi khu quân sự và quận lỵ của Mỹ - Diệm. Trong phiếu trình đặc biệt gửi Tổng thống Diệm đề ngày 12/8/1958 của tên Đại tá ngụy Lê Khương Tống - Tổng Giám đốc bảo an trong phái đoàn quân sự đến Dầu Tiếng xem xét đã thừa nhận: Đối phương tấn công 8 mục tiêu, chiếm đồn cộng hòa lúc 2 giờ 40 phút. Tướng ngụy Nguyễn Văn Là thì cho rằng: “Đây là trận của những sĩ quan tài giỏi của quân đội miền Bắc chỉ huy... đây là trận dương đông... một trận nghiên cứu của cộng sản”. Thực tế không phải trận “dương đông” gì cả, cũng chưa có chiến sĩ miền Bắc trở về.

    Sau khi hất cẳng xong thực dân Pháp khỏi Đông Dương, đế quốc Mỹ ráo riết tăng cường nhân viên quân sự Mỹ làm cố vấn với danh nghĩa phái bộ viện trợ quân sự Mỹ M.A.A.G. Từ ý nghĩ phải giáng đòn phủ đầu vào bọn xâm lược mới, các chiến sĩ biệt động Biên Hòa đã chú ý đến một trụ sở của cơ quan quân sự M.A.A.G đóng tại trại của Biên Hòa, có 36 tên Mỹ thường lui tới, bên ngoài được canh gác cẩn mật.

    Một đội biệt động của Biên Hòa do anh em chỉ huy, có 2 đồng chí địa phương được trên giao nhiệm vụ nghiên cứu và trực tiếp đánh bọn cố vấn Mỹ ở trại cưa. Anh Lũy người địa phương đã theo dõi hoạt động của bọn Mỹ gần 1 tháng, nắm quy luật mỗi chiều có 10 xe do bọn Mỹ trực tiếp lái đến ăn uống ở nhà ăn sĩ quan. Anh lên căn cứ báo tình hình. Đơn vị biệt động lùi về sát Biên Hòa ém ngay trong nhà má ruột của anh Lũy là bà Nguyễn Thị Xuân tại ấp Long Thành, xã Bình Trước. Anh Lũy cùng vác trái đi đánh với anh em biệt động.

    Chiều ngày 25/10/1958, đúng như dự kiến có 10 xe, mỗi xe có 2 tên Mỹ chạy đến nhà ăn sĩ quan, anh Lũy vác trái lén vào đặt tại nhà ăn, không may bị tên ngụy gác phát hiện định đẩy trái ra. Anh Lũy bấm điện, trái nổ tung, anh hy sinh. Anh em tiếp thêm một trái “bêta” nữa. Trận đánh diễn ra nhanh, địch không đối phó kịp, hầu hết bọn Mỹ trong nhà ăn bị chết, bị thương. Hai tên Mỹ chết tại trận này đã được đứng đầu danh sách hơn 3 vạn tên Mỹ đã chết ở Việt Nam ghi trên bức tường chữ V tại Hoa Thịnh Đốn.

    Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên ở miền Nam và ở cả Việt Nam của nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:51:33 pm
II- TIẾN TỚI THÀNH LẬP “QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT”


    Tháng 01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15. Hội nghị đánh giá tình hình cách mạng miền Nam và ra nghị quyết xác định: “con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân..., lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. Nghị quyết chưa phổ biến kịp đến các cấp. Nhưng mới nghe “sẽ cho khởi nghĩa giành chính quyền”, nhiều nơi ở miền Nam, Đảng bộ và nhân dân đã tự động nổi dậy với khí thế sục sôi.

    Đồng bào các dân tộc miền Trung và Tây Nguyên đứng dậy

    Dân tộc Ba Na ở Vĩnh Thạnh (Bình Thạnh): Đây là đất căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn áo vải cờ đào năm xưa. Sau 2 năm đánh phá ác liệt, Mỹ - Diệm vẫn không kiểm soát được người dân Ba Na. Hai lần tên quận trưởng mời các già làng về dụ dỗ thuyết phục nhưng không được. Tháng 4/1958, địch đã phải giở đến cách dùng quân đội đàn áp uy hiếp, cấm dân phát rẫy làm nương, buộc dân đứng trước 2 con đường: Dời làng về quận sống tập trung hay chạy vào rừng. Đồng bào các dân tộc, nhất là ở 3 làng Tà Bốc, Tà Lét, Hà Ri, từ già làng đến trẻ con đều dứt khoát chạy vào rừng, dầu có chịu khổ, chịu cực đến đâu, cũng không hợp tác với Mỹ - Diệm. Tháng 02/1959, nhân dân 3 làng trên cùng 8 làng khác thuộc 2 xã Vĩnh Hảo và Vĩnh Hiệp nhất loạt nổi dậy dời làng vào núi rừng sâu thẳm. Địch đánh úp vào làng Hà Ri, và Tà Lét. Du kích và nhân dân quyết đánh trả bằng mọi thứ vũ khí, dao mác, mang cung, giết tại chỗ 1 trung úy và 3 lính ngụy, làm nhiều tên bị thương. Trận địch càn lần thứ 2 vào Tà Lét đã sa ngay vào trận địa chông và mang cung của du kích. Tên trung đội trưởng bị mang cung phóng chết tại chỗ. Đến giữa năm 1959, phần lớn các xã trong huyện Vĩnh Hảo với gần 5.000 dân người dân tộc đã chuyển lên thế làm chủ trên vùng rừng núi của mình.

    Đồng bào Raglai ở Bác Ái (Ninh Thuận):

    Đại bộ phận dân cư ở Bác Ái miền Tây Bắc Ninh Thuận là người dân tộc Raglai. Ở đây có phong tục khi con trai lớn theo cha trèo núi, người cha liền trao cho con một “con thóc” (dao tay), một cái ná và dạy cách dùng dao để tự vệ, cách bắn ná để diệt thú rừng giữ làng, giữ rẫy.

    Vốn trước đây là Quản đạo đất Ninh Thuận, Ngô Đình Diệm hiểu rất rõ tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân Bác Ái, nên Diệm đã sử dụng những thủ đoạn đánh phá dã man nhất, không chỉ bắn giết mà còn mổ bụng moi gan, phá sạch cả hoa màu, đốt sạch nhà cửa, cây ăn trái, hòng đẩy nhân dân vào cảnh chết đói nếu không chịu vào khu tập trung. Nhưng nhiều gia đình đã bỏ chạy vào rừng quyết không theo giặc, không rời bỏ buôn rẫy. Chị Pô Pô Thị Du bị địch bắt dẫn đi lùng cán bộ đã nhảy từ núi cao xuống vực sâu, quyết không phản lại Đảng, phản lại dân. Bằng nhiều thủ đoạn phátxít, chúng gom được 5.000 dân Bác Ái dồn vào khu tập trung Brâu. Nhưng ngày 07/02/1959, phần lớn số đồng bào này đã nhất trí nổi dậy phá tan ách kìm kẹp của địch bung trở về căn cứ. Tháng 3/1959, một lực lượng cốt cán hơn 30 người do các đồng chí Pi Năng Tác, Xa Na Lê Nam chỉ huy, từ Bác Ái Đông lên tăng cường cho Bác Ái Tây. Tháng 4/1959, hơn 4.000 dân Bác Ái Tây nổi dậy phá khu tập trung Tâm Ngân trở về làng cũ. Từ đó dân Bác Ái bắt đầu dùng hầm chông, cạm bẫy, cung ná và cả thuốc độc đánh trả quân địch, xây dựng vùng căn cứ kháng chiến suốt trong gần 20 năm chống Mỹ.

    Khởi nghĩa Trà Bồng và Tây Quảng Ngãi:

    Nửa đầu năm 1959, đồng chí Võ Chí Công cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Liên khu 5 về đến chiến trường phổ biến tinh thần Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng bào các dân tộc miền núi hăng hái tham gia các đoàn thể giải phóng từ nay đã được tổ chức công khai. Đông đảo thanh niên ở đồng bằng đã thoát ly lên căn cứ tình nguyện chiến đấu.

    Tháng 3/1959, Quảng Ngãi thành lập đại đội vũ trang tập trung 359 gồm 33 cán bộ và chiến sĩ người dân tộc Cor và 10 cán bộ, chiến sĩ người Kinh.

    Từ tháng 7/1959, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên... đều thành lập vũ trang tự vệ, đơn vị vũ trang tập trung.

    Từ năm 1954 đến năm 1958, trước thủ đoạn khủng bố dã man của địch, đồng bào các dân tộc đã chống trả kiên cường giành quyền làm chủ. Chị Y Bơ Rum ở Thanh Sơn đã dùng rìu chém bể đầu tên ác ôn ngay lúc tên này vừa dùng súng bắn chết cha mình. Em thiếu nhi ở Nước Bổn ngày đêm bám địch đi càn dùng ná rình bắn chết 5 lính ngụy để trả thù cho cha mình bị chúng giết hại. Chị Mi Long ở Sơn Thủy bị địch chôn sống đã moi được đất chui lên về làng xách dao đuổi chém tên ác ôn đã chôn chị... Năm 1959, trước tình hình nhân dân nhiều buôn làng đòi nổi dậy, tỉnh đã quyết định thành lập thêm 2 đại đội tập trung mới để chuẩn bị đón thời cơ. Ngày 19/8/1959, tại thôn Trà Ngôn, xã Sơn Lập, huyện Sơn Trà, “Đại đội 89” gồm 36 cán bộ và chiến sĩ đã ra đời.

    Về phía địch, liên tục từ tháng 5 đến tháng 9/1959, địch huy động từng sư đoàn hoặc hai, ba trung đoàn chủ lực cùng quân địa phương càn quét miền Tây Quảng Ngãi, Tây Khánh Hòa, Bác Ái, Bắc Ninh Thuận đánh phá các căn cứ của ta vừa mới hình thành.

    Sáng 28/8/1959, khi 1 tiểu đội lính ngụy kéo đến càn quét khủng bố xã Trà Quân, dân làng đã dùng mác chém chết tại chỗ hai tên, đuổi theo giết những tên còn lại. Nhân dân còn “tét” (hú báo hiệu) cho các buôn làng khác biết. Các xã tiếp giáp Trà Quân nổi trống mõ, thanh la chi viện khắp núi rừng. Mọi người, mọi nhà, tất cả các buôn sóc trong toàn huyện Trà Bồng đã vác dao, mác, tên, ná xông ra rượt đuổi, đâm chém bắt trói những toán lính lùng sục trong làng. Cuộc nổi dậy lan nhanh ra toàn huyện.

    Đêm 22/8/1959, ban lãnh đạo miền Tây họp. Trước tình thế phong trào quần chúng sục sôi, hội nghị quyết định mở rộng cuộc khởi nghĩa đến các xã vùng thấp trong huyện Trà Bồng và phát động khởi nghĩa các huyện miền núi còn lại.

    Đại đội 339 cùng du kích hỗ trợ đồng bào Trà Bồng nổi dậy. Trước khí thế cách mạng dâng trào, đồn Tà Kúp, đồn Tà Lạt hoảng hốt bỏ chạy. Đồn Tầm Rung, đồn Nước Vót tẩu thoát trước khi quân khởi nghĩa kéo đến. Tại quận lỵ Trà Bồng, nhân dân phá tung nhà bầu cử, đốt trụi cơ quan cùng cờ ba que, ảnh tổng thống ngụy quyền. Binh lính, ác ôn, tay sai trốn biệt. Bọn địch ở 2 đồn Eo Chim và Eo Gió ngoan cố chống cự. Được sự hỗ trợ của Đại đội 339, quần chúng quây chặt đồn, nổi chiêng, mõ, tù và kết hợp bộ đội nổ bộc phá, kêu gọi binh lính đầu hàng. Hoảng sợ trước rừng người, rừng giáo mác ngày một tăng, súng của bộ đội ta chĩa vào đồn, lợi dụng đêm tối lính ở đồn Eo Gió tháo chạy. Ta chặn đánh giết và làm bị thương 30 tên. Giải quyết xong Eo Gió, quân khởi nghĩa cùng nhân dân bao vây Eo Chim nhiều vòng, chặn nhiều ngõ, triệt phá nguồn nước uống, dùng súng, ná bắn tỉa từng tên. Địch từ quận lỵ lên giải vây, ta chặn đánh diệt 9 tên thu 6 súng, đánh lui quân viện. Đến trưa hôm sau địch trong đồn tháo chạy nhưng không thoát. Ta đón đánh diệt cả trăm tên, thu nhiều súng đạn. Cả huyện Trà Bồng, trừ quận lỵ, còn cả hệ thống đồn bót địch đều bị quét sạch, hoặc tan rã. Tên quận trưởng và quận phó hoảng sợ bỏ chạy về tỉnh lỵ. Tính chung trong đợt khởi nghĩa Trà Bồng có 161 tên địch bị giết, 63 tên bị bắt sống.

    Ngày 02/9/1959, tại Xà Riêng, giáp giới hai huyện Ba Tơ và Minh Long, Tỉnh ủy Quảng Ngãi thành lập đơn vị tập trung thứ 2 - Đại đội 229. Ngày 03/9/1959, nhân dân xã Trà Phong mở đại hội Cò Rô bầu Ủy ban nhân dân tự quản. Các xã khác lần lượt làm theo. Khởi nghĩa thắng lợi trên toàn huyện.

    Hưởng ứng Trà Bồng, nhân dân các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long cũng lần lượt nổi dậy.

    Ở Sơn Hà, ngày 02/9/1959, địch cho 1 đại đội bảo an từ quận lỵ kéo lên các xã vùng cao bức dân đi bầu cử. Đến Sơn Long bị sa vào hầm chông phải kéo nhau về. Đơn vị 89 cùng thanh niên vừa rút ra rừng chặn đánh địch, nhân dân các dân tộc Hré, Cà Dong nhất tề nổi dậy diệt tề, đập phá trụ sở ngụy quyền, 9 xã vùng cao Sơn Hà lập ngay Ủy ban tự quản ở vùng thung lũng sông Re, các xã Sơn Kỳ, Sơn Thủy đồng bào cũng chiếm trụ sở ngụy quyền, rào làng chiến đấu, chuẩn bị đánh địch càn quét.

    Ở Minh Long, nhân dân các xã Long Quang, Long An, Long Môn thuộc vùng cao đồng loạt nổi lên diệt ác ôn, bắt dân vệ nộp súng, xóa ngụy quyền, tổ chức bố phòng chiến đấu.

    Ở Ba Tơ, các xã Ba Lê, Ba Lục, Ba Nam trước đây Mỹ - ngụy cũng không lập được chính quyền, nay đồng bào các dân tộc lập ủy ban tự quản, tổ chức canh gác, sẵn sàng chiến đấu. Các xã giáp giới vùng Trung châu như Ba Liên, Ba Lương, Ba Châu, Ba Trung đồng bào đốt trụ sở ngụy, diệt ác, lập các đội du kích. Các xã phía bắc như Ba Già, Ba Diên, Ba Tàng đã diệt và làm tan rã dân vệ, thu được 16 súng.

    Tại các vùng thấp, các nhóm vũ trang, các đội vũ trang tuyên truyền mở rộng hoạt động diệt ác, trừ gian, đánh chiếm các trụ sở ngụy quyền, phá kìm kẹp. Ở các xã Sơn Hà, Sơn Thành, Sơn Ninh, Trường Giang, các ủy ban tự quản được bí mật thành lập trước đây, nay công khai hoạt động.

    Như vậy trong 1 tuần lễ, nhân dân 3 huyện Sơn Hà, Ba Tơ, và Minh Long đã giành quyền làm chủ vùng cao Sơn Hà và 20 xã của 2 huyện Ba Tơ và Minh Long.

    Địch tập trung hơn 1 vạn quân mở cuộc hành quân lớn hòng dập tắt phong trào nổi dậy của đồng bào miền Tây Quảng Ngãi, chốt lại các đồn bót đã mất, nhưng bị tiêu hao nặng. Những cái chết khủng khiếp bất ngờ vì tên nỏ, hầm chông, đá lăn của đồng bào và chiến sĩ ta càng làm chúng kinh hoàng hơn sau 1 tháng càn quét. Tháng 10/1959, quân địch phải rút bỏ đồn Long Ngại (Minh Long) và các đồn Eo Heo, Eo Chim, chấm dứt cuộc hành quân.

    Georges Chofard đã viết trong cuốn Hai cuộc chiến tranh Việt Nam từ Valluy đến Westmoreland: “Sau khi bề ngoài chịu khuất phục, dân tộc Cor chính lại là những người đầu tiên đứng lên làm loạn. Họ đã tàn sát cả một đồn binh quốc gia trong quận Trà Bồng và cướp đoạt 54 súng. Sôi sục trước tấm gương của dân tộc Cor, một cuộc chiến tranh thật sự đã diễn ra giữa dân tộc Thượng và lính của Diệm...”.

    Tháng 4/1960, Liên khu ủy Khu 5 họp hội nghị quyết định đẩy mạnh phát động quần chúng xây dựng lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh, khu, khẩn trương xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ địa vững chắc. Ban Quân sự trực thuộc Liên khu ủy được thành lập gồm các đồng chí Huỳnh Hữu Anh (Quang), Lê Đình Lệ (Trực), Đoàn Y Thanh (Sự) do đồng chí Võ Chí Công là Trưởng ban. Cuối tháng 6/1960, toàn khu tổ chức được 12 đội đặc công và 2 đại đội bộ binh. Liên tỉnh 3 có 2 đại đội tập trung. Quảng Nam có 1 đại đội đặc công. Quảng Ngãi 3 đại đội. Các tỉnh khác 1 đại đội hoặc tương đương. Lâm Đồng, Tuyên Đức mỗi nơi 1 đội công tác vũ trang. Các đơn vị lực lượng vũ trang vừa thành lập đã đẩy mạnh tấn công địch ở khắp nơi, kết hợp nhịp nhàng với phong trào Đồng khởi của toàn miền Nam.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:54:48 pm
***


    Đồng khởi ở đồng bằng Nam Bộ và chiến thắng Tua Hai

    Tháng 02/1959, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Trung ương ủy viên, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã nhận được điện của Ban Bí thư Trung ương về nội dung cơ bản của Hội nghị Trung ương 15.

    Tháng 9/1959, đoàn đại biểu Xứ ủy Nam Bộ do đồng chí Hai Văn (Phan Văn Đáng) dẫn đầu tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 15 về đến Nam Bộ.

    Sau Hội nghị Xứ ủy mở rộng tháng 11/1959, tin “Trung ương cho khởi nghĩa giành chính quyền” được cán bộ chuyển nhanh về địa phương. Một luồng gió mới thổi về mọi thôn xóm, buôn làng khắp Nam Bộ. Cán bộ nói với nhau: “Đã quá rồi các đồng chí ơi”. Dân hỏi cán bộ: “Có thiệt cho đánh không?” - “Thiệt!”. Dân nhảy cẫng lên vì sung sướng. Có người nói: “Chẻ cả vạt giường ra mà đánh bọn Mỹ - Diệm”. Thấy cán bộ mang súng công khai, không còn giấu trong mo cau như trước, đồng bào hồ hởi loan tin cho nhau: “An rồi, an đến nơi rồi bà con ơi”.

    Tại căn cứ Bắc Tây Ninh, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Xứ ủy triệu tập đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến từ căn cứ Đông Bắc miền Đông về giao nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang miền Đông phải đánh thắng một trận thật thối động để hỗ trợ cho đồng bào toàn miền Nam đồng loạt khởi nghĩa giành chính quyền ở nông thôn và rừng núi. Đồng chí Tám Xuyến đề đạt với Bí thư Xứ ủy 2 phương án:

    1) Tiến công từ 1 đến 2 quận lỵ, từ 4 đến 5 cứ điểm. Các lực lượng vũ trang đủ sức đảm nhiệm.

    2) Đánh căn cứ Tua Hai (Tây Ninh) một căn cứ lớn, quân địch đông, nếu thắng ta sẽ lấy được nhiều súng đạn để trang bị cho mình. Ta đang có điều kiện và nắm chắc tình hình, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.

    Đồng chí Bí thư Xứ ủy chấp thuận phương án thứ 2, động viên các lực lượng vũ trang chuẩn bị chu đáo, đánh chắc thắng làm đòn xeo cho cao trào nổi dậy của quần chúng.

    Tua Hai, thời kháng chiến chống Pháp chỉ là một tháp canh, thời Mỹ - ngụy trở thành căn cứ của Sư đoàn số 13 gồm 2 trung đoàn, trong đó 1 trung đoàn toàn lính mới. Căn cứ hình vuông mỗi cạnh 500m có thành bao bọc 2m, 24 tháp canh cao bao quanh.

    Tua Hai là nơi cơ sở nội tuyến của ta trong quân ngụy được phát triển mạnh. Hơn 100 đảng viên, cán bộ, bộ đội, du kích cũ được gài vào Trung đoàn 32, tổ chức thành 1 chi bộ mật do 1 huyện ủy viên ở ngoài trực tiếp chỉ đạo. Đầu năm 1959, chi bộ đã nhiều lần xin được binh biến khởi nghĩa, nhưng chưa đến thời cơ, Đảng chỉ đạo bình tĩnh phát triển tổ chức chờ lệnh. Tháng 6/1959, chi bộ họp bí mật ở Bờ Giếng bị bọn thám báo đánh hơi. Địch tiến hành bắt hàng loạt 120 đảng viên và cơ sở. 9 người bị đưa ra tòa và đày đi Côn Đảo. Địch phân tán lính trong trung đoàn đi nhiều đơn vị khác.

    Tỉnh ủy phái 1 tỉnh ủy viên và bí mật tổ chức củng cố lại cơ sở, 3 tháng sau đã móc nối và xây dựng được chi bộ, phát triển đảng viên mới, xâu chuỗi nhiều quần chúng tích cực chuẩn bị cho trận đánh lớn. Nội tuyến được giao nhiệm vụ nắm tình hình địch, đưa trinh sát và đặc công vào ém trước trong căn cứ.

    Lực lượng tham gia trận đánh có C59, C60, C70, C80A, C80B đặc công của R và B30 của Tây Ninh.

    Công binh xưởng tại Trảng Chiên đã sản xuất hàng trăm trái pêta loại lớn 4,5kg, loại nhỏ 1,2kg phục vụ trận đánh.

    Ngày nổ súng được quy định vào dịp Tết Nguyên đán tạo thế bất ngờ và cũng mở màn cho đồng loạt khởi nghĩa của toàn Nam Bộ.

    Đêm 27 Tết tức là 25/01/1960 trận đánh được triển khai vào 20 giờ 30. Chỉ huy trưởng là đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến. Đồng chí Lê Thanh trực tiếp đi vào cánh chủ công ở hướng đông. Các đồng chí Sáu Thịnh, Bảy Tâm, Vinh đi 3 cánh khác. Chính ủy của trận đánh là đồng chí Mai Chí Thọ.

    Sắp đến giờ nổ súng bỗng xảy ra một tình huống ngoài dự kiến: Một đoàn mấy chục xe vận tải quân sự chở đầy lính từ thị xã Tây Ninh đến ngừng ngay ở căn cứ Tua Hai. Sau đó đoàn xe tiếp tục đi về phía bắc. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến phán đoán kế hoạch chưa bị lộ và vẫn giữ vững quyết tâm tấn công căn cứ.

    Đại đội đặc công 60 do Đại đội trưởng Vinh chỉ huy chia thành nhiều tổ được trang bị 70 trái pêta lớn, đồng loạt tấn công vào sở chỉ huy, nhà sĩ quan, trận địa pháo, khu thiết giáp, nhà lính. Tiếp theo xung kích tiến vào, vừa nổ súng vừa gọi hàng. Tên Trung đoàn phó và đơn vị bảo vệ Ban Chỉ huy Trung đoàn 32 bị diệt ngay từ đầu. Tên Trung đoàn trưởng vắng trại nên thoát chết. Bị đánh bất ngờ, địch chạy hoảng loạn. Nhiều tên tung áo trắng xin hàng. Một số khá lớn liều mạng vượt bờ thành chạy thoát thân. Sau khi thấy lực lượng ta ít, một số tên ngoan cố chống trả. Chiến sĩ ta xông vào các kho súng, lấy đại liên của địch để bắn địch.

    Trận đánh kết thúc vào lúc nửa đêm. 700 tên địch bị giết và bị thương, trong đó có tên đại tá là chỉ huy phó căn cứ. Ta bắt sống 500 tên, giáo dục, thả tại chỗ, chiếm 3 kho đầy súng và 4 kho đầy đạn. Ta hy sinh 25 đồng chí. Dân công, chiến sĩ, cán bộ bộ binh, trợ chiến đều vác súng đạn chiến lợi phẩm, dùng cả xe quân sự của địch vận chuyển vũ khí về căn cứ. Dọc đường đụng tao ngộ chiến, địch lấy lại mất một số. Ngày 27/01/1960, về đến Trà Vông, vũ khí còn được 1.600 khẩu, chưa tính số súng du kích và bộ đội ngoài khu lượm.

    Ngay trong đêm 25/01 khi Tua Hai bị quân ta đánh chiếm, quân địch ở các đồn Hảo Đước, xóm Vịnh nghe tin hoảng sợ bỏ đồn tháo chạy. Sáng hôm sau một loạt đồn bót đóng dọc đường 22 từ Tây Ninh lên biên giới, các tỉnh lộ 13, 14, các lộ ủi Cần Đăng, Đồng Ban thuộc Tây Ninh và Đôn Thuận, Trảng Bàng cũng rút sạch. Huyện Châu Thành vừa kết hợp nội ứng vừa huy động quần chúng cướp bót Hòa Hiệp; huyện Trảng Bàng chiếm bót Cầu Ván. Ở mạn Bắc Tây Ninh có 7 xã ta vũ trang khởi nghĩa giải phóng 6 xã, ở phía đông Tây Ninh ta giải phóng Phan, Suối Đá, Cầu Khởi, Lộc Ninh, suối Ông Hùng. Phía tây giải phóng Long Chữ, Long Giang, Long Phước, Phước Chỉ, Phước Lưu, Bình Thạnh... Phía nam giải phóng Thạnh Phước, Phước Thạnh, Cầu Sắt, suối Bà Tươi, Lộc Hưng, phần lớn Gia Lộc, An Tịnh.

    Ở Dương Minh Châu, trong đơn vị vũ trang tham gia Tua Hai có 10 đồng chí khi trở về huyện hoạt động ngay, bắt 3 trưởng ấp mở tòa xét xử công khai tại Bàu Chòi, tử hình tên ác ôn nhất, thả 2 tên còn lại. Lực lượng vũ trang huyện phối hợp nội tuyến đánh chiếm đồn Phan, Bình Linh, Chà Là, Quy Thiện...

    Ở Thanh Điền, ngày mùng 7 Tết, lực lượng vũ trang chiếm bót Hãng Đường và nhà Vuông. Địch ở bót “Ôcônen” bị đồng bào hù dọa bỏ bót tháo chạy.

    Chiến thắng Tua Hai làm kẻ thù choáng váng. Bọn chỉ huy hoảng hốt cho rằng “quân chính quy Bắc Việt đã tràn vào”.

    Chiến thắng Tua Hai mở màn thắng lợi cho cuộc nổi dậy đồng loạt ở miền Đông Nam Bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng. Đến tháng 7/1960, Tây Ninh đã giải phóng hoàn toàn 21 xã, giải phóng cơ bản 19 xã, lập thêm 3 xã mới, chiếm 2/3 tổng số xã toàn tỉnh.

    Ở Long An, đến 27 Tết cũng đồng loạt nổi dậy bằng trận mở đầu của Trung đội 231 thuộc D5D6 có 3 nội tuyến phối hợp, bức hàng đồn Đức Lập thu toàn bộ vũ khí, đạn dược. Du kích xã Mỹ Hạnh tập kích lấy bót. Bộ đội đánh trận Gò Xoài, kéo quân công khai biểu dương lực lượng hỗ trợ quần chúng truy lùng trừng trị bọn tề điệp ác ôn. Trận Bà Vụ đánh tên quận trưởng Quả Sơn và quân dù tiếp viện ở Cầu Xáng diệt 20 tên, kỳ tập diệt đồn Rạch Chanh. Trận Tân Bửu bộ đội dùng xe đò xông vào lấy đồn. Ở nam lộ 4, bộ đội dùng mưu lấy bót thu 12 súng trường và 1 tiểu liên. Ba ngày sau chiếm đồn Hưng Long bắt 30 tên, thu 24 súng đúng vào mùng 1 Tết. Tên quận trưởng Cần Đước phải báo cáo về trên: “Trong dịp Tết, 90 trong 117 trưởng ấp không còn làm việc”. Tháng 6/1960, bộ đội Long An lại diệt gọn 1 đại đội địch, chiếm dinh quận và thị trấn Đức Hòa trong 1 ngày.

    Ở Biên Hòa, bộ đội thực hiện “diệt 1, làm rã 10”, trừng trị 1 tên ác ôn, 10 tên tề khác thôi việc, không dám làm cho giặc. Ở Dĩ An, 40 thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang được trang bị 1 tiểu liên, 2 súng ngắn, còn lại là dao rựa; đơn vị vừa mới thành lập đã ra quân tấn công đồn dân vệ Bình Trị Đông. Sau 5 phút chiến đấu đã chiếm đồn thu được 1 tiểu liên, 5 súng trường. Tại rừng Cò Mi địch truy kích, anh em đánh trả quyết liệt, hy sinh 1 thanh niên mới nhập ngũ. Anh em làm lễ truy điệu và phát biểu “đánh giặc là chấp nhận có hy sinh - thà hy sinh chớ nhất định không chịu làm nô lệ”.

    Ở Thủ Dầu Một, các lực lượng vũ trang đã tấn công quân địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy trên các đường 13, 14, 8, dọc hai bờ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn. Huyện Bến Cát, địch có 6 ban tề xã ta giải tán cả 6. Châu Thành có 17 ban tề xã thì phá rã 11. Đến tháng 02/1960 toàn tỉnh đã giải phóng 25 trong 60 xã của tỉnh và 19 làng của sở cao su ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Ninh Hòa, Ninh Thạnh.

    Ở Bà Rịa, đêm 02/3/1960 bộ đội 40 do đồng chí Sáu Thịnh chỉ huy đột phá vào Bình Ba diệt một lúc 3 đồn địch, làm phát pháo lệnh cho nhân dân trong tỉnh nổi dậy. Súng lấy được ở Bình Ba phát về cho các huyện và cơ sở cao su, mỗi nơi một khẩu.

    Ở Đồng Tháp Mười, với lực lượng vũ trang đã hình thành từ sớm, phong trào nổi dậy của đồng bào phát triển khá mạnh, nhất là ở các vùng căn cứ cũ trong kháng chiến chống Pháp.

    Trong lúc Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 502 đang họp trên một nhà sàn ở kênh Lung Đông, nhân mùa nước nổi, địch dùng xuồng đánh úp vào giữa trưa. Cả Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm các đồng chí Thái Hoàng Ân (Nguyễn Tường Can) - Tiểu đoàn trưởng, Đặng Tâm Quảng - Chính trị viên và Tư Sâm - Tiểu đoàn phó đều bị địch bắt. Địch dẫn các đồng chí sang Vàm Cỏ Tây. Giữa đường đồng chí Tư Sâm, mặc dầu đang bị trói, bất ngờ nhảy xuống nước trốn thoát. Tiểu đoàn mất Ban Chỉ huy, phải rút về bưng sông, bị địch bỏ bom, lại rút lên trên biên giới củng cố. Đồng chí Tám Dần được khu điều về làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Sáu Chung làm Chính trị viên.

    Ngày 25/4/1959, cũng vào mùa nước lớn, Tiểu đoàn 502 được tập trung học tinh thần của Hội nghị Trung ương 15, tập luyện chiến đấu trên giồng Thị Đam, xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự. Ai cũng nóng lòng nhanh chóng bước vào cuộc chiến hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa đổi đời.

    Địch nắm được tình hình tiểu đoàn đang huấn luyện, lại lợi dụng mùa nước nổi, địch lập lại sự kiện kênh Lung Đông. Lần này địch sử dụng Tiểu đoàn 3 trung đoàn đặc nhiệm gồm toàn người hùng, chỉ có một ít là lính mới.

    Trinh sát tiểu đoàn báo cáo địch vào 9 xuồng, sau đó 70 xuồng và ngày càng áp sát vào giồng, cuối cùng đến 83 xuồng đầy lính.

    Ta có 42 chiến sĩ với 13 xuồng, trang bị chỉ có 2 trung liên và một số súng trường cũ, đạn cũ nhồi lại. Mặc dù địch đông, ta ít người, vũ khí kém hơn địch, Tiểu đoàn trưởng Tám Dần vẫn ra lệnh “chống xuồng, tiến công ngay trên mặt nước không để địch đổ bộ”, vì tin ở chiến sĩ ta thạo nghề sông nước, từ lâu căm thù địch, được ra quân như mở cờ trong bụng. Cuộc chiến đấu bắt đầu vào lúc 8 giờ sáng.

    Xuồng địch đông, nhưng bơi bằng dầm đi chậm, hai tay bơi xuồng không sử dụng được súng, khi sử dụng súng thì không bơi được. Lính địch phần lớn là dân rừng núi, không quen sông nước, chiến đấu trên xuồng rất lúng túng. Chiến sĩ ta chống xuồng băng băng lướt tới cho đồng đội nổ súng vào đội hình địch. Hai trung liên ta nổ giòn. Những loạt đạn đầu bắn chìm ngay một số xuồng địch. Sau đó ta xông thẳng vào đội hình chúng làm giặc hoảng hốt, xuồng va vào nhau mà chìm. Ta bắn chìm hết những chiếc lớn còn lại.

    Phía trước giồng Thị Đam là bưng sâu nên địch bị bắn chết thì ít - mà bị chết đuối thì nhiều. Ta vớt lên bắt sống 105 tên trong đó có tên đại úy tiểu đoàn trưởng, 4 trung úy, 6 thiếu úy. Ta thu 11 trung liên Mỹ, 2 khẩu súng cối cá nhân, 15 tiểu liên, 45 súng trường tự động, còn lại là cạcbin, tổng cộng 165 súng, 11 máy thông tin và toàn bộ 83 chiếc xuồng. Cả tiểu đoàn thiện chiến của địch bị ta tiêu diệt gọn trong vòng 40 phút.

    Diệt tiểu đoàn địch xong, đơn vị ta chuyển sang gò Quản Cung. Tù binh cũng được đưa về đây, không kịp trói vì không có dây. Ta chỉ có 1 chiến sĩ một mình với dao găm giữ 105 tù binh ngồi xếp hàng trên gò, người ướt như chuột lột.

    Ta vừa đặt chân đến gò Quản Cung, 11 giờ trưa, một tiểu đoàn khác của địch không biết số phận của đồng đội chúng bị diệt, lại mò đến gò nổi nơi ta chiếm lĩnh. Với súng đạn mới lấy được của địch ta đặt 11 khẩu trung liên của Mỹ trên gò cao, chờ địch vào 500 - 300m, khi xuồng đi đầu của địch cách gò 150m, mới đồng loạt nổ súng. Địch chết và bị thương một số lớn, nhưng nhờ ở đây nước nông, chúng thoái lui về gò Bổ Túc vừa chống trả vừa tháo chạy. Trong cả hai trận đánh ta hy sinh 1 đồng chí và 4 đồng chí bị thương. Ngoài số súng thu tại trận, sau này nước rút còn thu thêm cả trăm khẩu nữa.

    Chiến thắng giồng Thị Đam - gò Quản Cung giành thắng lợi vượt quá mong muốn của ta và làm cho địch rất kinh hoàng. Chiến thắng này đã cổ vũ rất lớn cho phong trào đồng loạt khởi nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long. Số tù binh được thả đã gây ảnh hưởng lớn: “Việt cộng bắn giỏi quá, chống xuồng nhanh như tên bắn, Việt cộng rất nhân đạo...”.

    Bảy ngày sau trận Thị Đam, 1 đại đội của Tiểu đoàn 502 lại đánh một tiểu đoàn của Sư đoàn 23 ngụy đi càn quét, giết và làm bị thương 60 tên, bắt sống 3 tù binh thu nhiều súng, có 2 trung liên.

    Đêm 20/11/1959, 3 đại đội của Tiểu đoàn 502 chia làm 3 mũi đột nhập Phong Mỹ (Cao Lãnh), chiếm đồn Cầu Sắt (Vàm Xáng) diệt 2 đồn dân vệ, bắt xuồng máy của cảnh sát, phát động quần chúng toàn xã lùng bắt tề điệp ác ôn. Toàn xã Phong Mỹ vùng dậy, lập tòa xét xử tại chỗ 2 tên ác ôn khét tiếng.

    Đầu tháng 12/1959, Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ họp hội nghị triển khai Nghị quyết 15. Để giúp cho các tỉnh trong khu có thêm vũ trang, tỉnh Kiến Phong tăng cường cho Định Tường 1 trung đội, An Giang 1 trung đội và cho Bến Tre 20 súng, trong đó có 2 trung liên.

    Đêm 14/12/1959, đơn vị vũ trang của huyện Mỹ An cùng quân dân nổi dậy chiếm đồn Vĩnh Huê kết hợp nội ứng bắt tề, giải phóng hoàn toàn xã Thanh Mỹ. Thực tiễn nổi dậy ở Thanh Mỹ đã thành kinh nghiệm khởi nghĩa cho đồng bằng sông Cửu Long.

    Ngày 26/01/1960, 1 đại đội và 1 tiểu đội đặc công của Tiểu đoàn 502 đánh sập ngọn tháp 10 tầng dùng làm đài quan sát của địch ở Đồng Tháp. Sau đó phát huy thắng lợi, giải phóng hoàn toàn xã Bình Thạnh, đánh địch ở Long Hưng, Lấp Vò, giồng Ông Tố, Thường Thới, Bảy Thua...

    Đến cuối tháng 3/1960, Kiến Phong đã diệt hàng trăm tên địch, diệt và bức rút hàng chục đồn bót, trụ sở tề, bắt giáo dục hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ và nhân viên tề ngụy, thu hàng ngàn súng, giải phóng hoàn toàn 4 xã.

    Ở Bến Tre, đêm 30/12/1959, sau khi đi tiếp thu Nghị quyết 15 ở Khu ủy Khu 8 (Liên tỉnh ủy miền Trung) về, chị Nguyễn Thị Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy chưa liên lạc được toàn bộ Tỉnh ủy do bị trắc trở vì địch chia cắt, thời gian lại gấp, nên vẫn tổ chức hội nghị trù bị tại ấp Tân Huề, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. Tỉnh ủy viên có các đồng chí Hai Thủy, Bảy Hiền và Ba Đào, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy, đại biểu cho các huyện có Ba Cầu, Sáu Huấn, Hai Chiến, Bảy Tranh... Hội nghị chủ trương phát động 1 tuần lễ đồng khởi, cù lao Minh làm trước, sang cù lao Bảo rồi lan ra toàn tỉnh, lấy huyện Mỏ Cày làm trọng điểm. Tỉnh chưa có lực lượng vũ trang nên mượn danh Tiểu đoàn 502 uy hiếp địch hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy. Trước giờ hành động 2 ngày, đồng chí Nguyễn Văn Tranh - Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Mỏ Cày bị địch bắt, trong người còn mang con dấu Tiểu đoàn 502. Giặc tra tấn dã man, đồng chí một mực không khai ý đồ đồng khởi, mặt khác làm cho quân thù hoảng sợ cho rằng Tiểu đoàn 502 đã về đến Bến Tre.

    Hội nghị trù bị Tỉnh ủy đã đề ra khẩu hiệu hành động: “Đánh, phải đánh tới tấp. Phát triển, phải phát triển lực lượng hết khả năng. Khi sóng gió nổi lên mạnh dạn căng buồm lướt tới...”.

    Ta lập kế điều tổng đoàn dân vệ khét tiếng tàn ác do đội Tý chỉ huy về xã Định Thủy chi viện cho tiểu đội dân vệ xã nhằm tiêu diệt lớn, tạo tiếng vang mở đầu Đồng khởi.

    Sáng ngày 17/01/1960, một tổ hành động do đồng chí Bảy Thống chỉ huy giả vờ đi tảo mộ, vào quán bất ngờ ôm vật và giết được tên đội Tý, bắt sống tên lính bảo vệ. Địch toan chống trả nhưng được tin đội Tý chỉ huy đã bị ta giết, một số tên bỏ trốn, số còn lại đầu hàng. Ta thu được 8 súng và nhiều lựu đạn, đạn các loại. Trong lúc đó tổ hành động thứ hai do đồng chí Tư On chỉ huy phối hợp nội tuyến là cảnh sát Huề, lấy đồn dân vệ Vàm Nước Trong, thu 15 súng, 10 lựu đạn và 1.000 viên đạn. Lúc tiếng súng diệt địch nổ, nhân dân Định Thủy ào ạt xuống đường, vũ trang giáo mác, trương cờ, đi lùng sục bọn tề và phá tan mọi tổ chức kìm kẹp của địch. Chiều 17/01, nhân dân khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ xã Định Thủy. Ban Lãnh đạo khởi nghĩa của tỉnh tổ chức ngay cuộc míttinh có hàng ngàn người ở xã Định Thủy và cả xã Hòa Lộc sang dự. Cờ xanh sao đỏ (cờ khởi nghĩa của tỉnh) tung bay giữa rừng người và lửa sáng rực trời. Quân lệnh của Tiểu đoàn 502, của Tiểu đoàn trưởng Lê Thiết Hùng (mượn danh của tướng Lê Thiết Hùng ở miền Bắc để hù dọa địch là quân đội ngoài Bắc đã tràn về) truyền vang: “Anh em binh sĩ, sĩ quan dù có tội đến đâu mà biết hối cải đều được khoan hồng, nếu mang súng về với nhân dân sẽ được khen thưởng thích đáng. Tề, xã, ấp, liên gia trưởng, công an, chỉ điểm đi trả chức vụ thú tội với nhân dân sẽ được khoan hồng. Ai trái lệnh sẽ bị nhân dân trừng trị. Địa chủ nào dựa vào chính quyền Mỹ - Diệm giựt đất tăng tô nay trả lại cho nông dân thì được tha tội”. Ngay đêm 17/01 tổ chức được 4 tiểu đội vũ trang, trang bị súng đầy đủ. Súng mẹ đẻ súng con, lực lượng vũ trang Bến Tre nhanh chóng được xây dựng và phát triển, không còn mang danh Tiểu đoàn 502 nữa mà đã tự mình chiến đấu đánh bại địch với sự phối hợp của hàng vạn đồng bào. Trong 7 ngày đồng khởi cao điểm 1, Bến Tre diệt trên 200 tên địch, thu thêm trên 100 súng, bức hàng, bức rút 27 đồn bót, giải phóng 17 xã. Ngày 19/01/1960, Tỉnh ủy thành lập trung đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh là C260 và tiểu đội bảo vệ. Tháng 02/1960, Tỉnh ủy thành lập trung đội tập trung thứ hai C264.

    Minh Hải là tỉnh tận cùng Tổ quốc. Tháng 10/1954 tại rừng U Minh, Xứ ủy được thành lập do đồng chí Lê Duẩn được Trung ương chỉ định làm Bí thư. Lúc đó Minh Hải là tỉnh Bạc Liêu. Tháng 8/1955, được sự đồng ý của đồng chí Lê Duẩn, Tỉnh ủy đã bắt đầu xây dựng giải phóng quân bí mật để tự vệ. Hai lớp huấn luyện quân sự được mở do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến phụ trách, mỗi lớp từ 12 đến 13 cán bộ để làm khung đơn vị. Học viên là cán bộ quân sự được bố trí ở lại và được lựa chọn. Giải phóng quân được ngụy trang là “đội bảo vệ hòa bình” tổ chức theo tổ 3 người, 3 tổ thành 1 tiểu đội. Trong một thời gian ngắn 4 đại đội được xây dựng tại 4 huyện Giá Rai, Ngọc Hiển, An Biên và Trần Văn Thời (sông Ông Đốc). Đến giữa năm 1956 cả tỉnh đã có 14 đại đội giải phóng quân ở khắp các huyện. Thực hiện chủ trương binh vận của Xứ ủy, từ đầu năm 1955 Tỉnh ủy cũng đã đưa vào hàng ngũ địch 140 trong số 260 cán bộ quân sự để ở lại. Do đó nắm được phần lớn lực lượng cảnh vệ của địch, có cơ sở trong 4 tàu địch. Tổ chức được 10 chi bộ mật trong quân ngụy.

    Cuối năm 1955 khi Ngô Đình Diệm tấn công lực lượng vũ trang giáo phái, Trung đoàn Nguyễn Huệ thuộc lực lượng của Ba Cụt kéo vào Rạch Giá, Bạc Liêu. Ta đưa cán bộ vào làm cố vấn, đã đánh quân Diệm 2 trận, riêng trận Cây Bàng (xã Nguyễn Phích) diệt 150 tên, bắt sống 40 tên, thu 120 súng. Tháng 8/1956, Ba Cụt bị Diệm chặt đầu, lực lượng tan rã, một số binh sĩ Hòa Hảo trao súng lại cho chiến sĩ ta hoặc để lại trong dân. Có 1 trung đội Hòa Hảo do ta chỉ huy ở lại chống Diệm. Ngoài ra ta tổ chức lực lượng lấy danh nghĩa Hòa Hảo ly khai chống Diệm.

    Từ đầu năm 1957 thanh niên nhiều xã đã lập thành từng nhóm, từng tổ tự vệ vũ trang. Không chịu được cảnh khủng bố, tàn sát của địch, hàng vạn dân bất hợp tác với Diệm kéo vào rừng U Minh Thượng, Hạ, tổ chức “làng rừng” để tránh giặc, đánh trả giặc. Có đến 15 làng rừng với trên 20.000 dân tương trợ nhau đánh cá, săn thú, chăn nuôi, trồng trọt, dựng trường học, hoạt động văn hóa, sống theo đời sống mới tự quản, xưng là “xã hội chủ nghĩa”. Các đội du kích được tổ chức để canh gác chống giặc. Phòng tuyến chặn địch bố trí thành nhiều lớp. Địch chưa vào được làng rừng, dùng bom ném nhưng không trúng. Làng rừng trở thành căn cứ cho cán bộ, lực lượng vũ trang, làm bàn đạp hoạt động ra vùng dân cư đông đúc. Ngày kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ năm 1958 bộ đội Đinh Tiên Hoàng và Ngô Văn Sở ra mắt nhân dân, hành quân trên kênh rạch khống chế đồn bót địch, diệt nhiều tên ác ôn khét tiếng.

    Tháng 7/1959, ở 2 xã Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây huyện Trần Văn Thời (sông Ông Đốc) có Đại đội 2 Đinh Tiên Hoàng hỗ trợ nhân dân tranh thủ dân vệ, bắt cường hào ác bá, giải tán bọn “bảo vệ hương thôn” làm chủ xóm làng. Lúc này lực lượng vũ trang của tỉnh đã có 2 tiểu đoàn tập trung trên 800 quân và có nhiều cơ sở trong lòng địch.

    Tháng 10/1959, quán triệt Nghị quyết 15, Tỉnh ủy ra lời kêu gọi toàn dân khởi nghĩa: “...Đồng bào chiến sĩ hãy đứng lên. Có súng ta cầm súng, có dao ta cầm dao, có gì ta cầm nấy, quyết giết hết tụi gian ác...”.

    Đồn Cà Kao (Năm Căn) cán bộ ta vận động cả trung đội địch diệt chỉ huy, đốt đồn, mang toàn bộ súng đạn về với nhân dân.

    Đồn Chà Là (Cái Nước) kết hợp trong, ngoài do 1 huyện ủy viên chỉ huy, đốt đồn, cả trung đội trở về với nhân dân. Các làng rừng xuất quân tiến về làng cũ bao vây truy quét địch.

    Tháng 11/1959, Đại đội 1 và Đại đội 2 Đinh Tiên Hoàng kỳ tập kết hợp nội ứng diệt đồn quận lỵ sông Đốc, thu nhiều vũ khí.

    Tháng 12/1959, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở đánh chi khu Đầm Dơi. Du kích bao vây tiến công chi khu Bình Hưng (tức khu Hải Yến, là bọn nổi tiếng ăn thịt người) diệt nhiều địch, bắt sống 4 tên, thu 43 súng.

    Ở Ngọc Hiển quần chúng khởi nghĩa uy hiếp bao vây đồn Tâm Đức 7 ngày liền buộc địch đầu hàng, bắt 15 tên, thu 15 súng.

    Được chỉ thị của Tỉnh ủy, Đại đội Ngô Văn Sở vượt 20km đường biển tấn công diệt gọn 1 trung đội địch ở Hòn Khoai hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa thắng lợi trên đảo.

    Tháng 02/1960, Khu đã thành lập Tiểu đoàn tập trung đầu tiên mang phiên hiệu 306. Sau đó các đại đội Ngô Văn Sở, Đinh Tiên Hoàng đã đánh địch thắng lợi ở Bến Dựa, sông Ông Đốc, Khánh Bình Đông, Cái Tàu...

    Phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị đang dâng lên mạnh mẽ ở khắp nơi, nội thành Sài Gòn cũng đã tổ chức các tổ vũ trang đầu tiên vào năm 1960 do đồng chí Lê Tấn Phong và Lê Tấn Quốc chỉ huy. Các quận huyện cũng đã tổ chức đơn vị vũ trang cấp tiểu đội, trung đội mang danh hiệu tiểu đoàn như D504 ở Thủ Đức, D301 Bình Tân, C305 ở Củ Chi. Toàn thành phố tổ chức 1 đơn vị tập trung mang danh hiệu C13. Ngày 25/12/1960 tổ biệt động đã ra quân đánh Mỹ trận đầu tiên ở ngã ba Chú Ía (Gò Vấp).


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 03:56:08 pm
III- ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN, ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

    Trong khi miền Nam bước vào cao trào “Đồng khởi”, nhằm xây dựng con đường tiếp tế người, vũ khí và nối thông liên lạc giữa Trung ương với Khu 5 và Nam Bộ, Trung ương đã chỉ thị tổ chức con đường mòn bí mật xuyên Trường Sơn và băng qua đường 9 ở Quảng Trị. Con đường ra đời vào tháng 5/1959, nên đặt tên đường là 559, sau này lớn mạnh nhanh chóng, báo chí thế giới gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh” nổi tiếng. Lúc đó đường chỉ tới được Khu 5. Còn về tới Nam Bộ thì cần một thời gian nữa. Do yêu cầu đưa cán bộ quân sự tập kết về sớm đóng góp xây dựng quân giải phóng nên Trung ương đã tổ chức 1 đoàn cán bộ xoi đường về Nam, đồng thời điện cho Xứ ủy cử các đoàn vũ trang tiến lên bắt liên lạc với đoàn của Trung ương. Đoàn từ miền Bắc xoi đường vào Nam Bộ được mang ký hiệu B60 gồm 32 cán bộ chiến sĩ đủ các thành phần: Nam Bộ, Khu 5, Kinh, Thượng, đông anh em Ê Đê, H’Mông, Chơ Ro do đồng chí Đại úy Phạm Lạc làm Trưởng đoàn, Lê Ngọc Sanh - Đại úy, làm Đoàn phó, Nguyễn Văn Phước làm Bí thư Chi bộ. Ngày 01/6/1959 đoàn xuất phát từ Hà Nội, băng rừng, lội suối, chịu đói, chịu khát, có lúc phải dừng lại làm rẫy để có cái ăn đi tiếp. Phải đến đầu tháng 10/1960 mới gặp được đoàn của miền Đông Nam Bộ ra đón tại khu vực rừng Quảng Đức. Sau đó đoàn trở lùi đón B500, ký hiệu đặt cho đoàn 25 cán bộ quân sự tập kết trở về đầu tiên do Trung tá Tăng Thiên Kim (Tư Chương) chỉ huy - về căn cứ của Miền.

    Được điện của Trung ương, Xứ ủy và Khu ủy miền Đông Nam Bộ đã cử 2 đoàn vũ trang tuyên truyền và xoi đường ra Nam Tây Nguyên đón các đoàn từ Trung ương vào:

    - Hai trung đội vũ trang của Xứ và tỉnh Phước Long do đồng chí Lâm Quốc Đăng và Phạm Văn Thuận chỉ huy. Một trung đội từ Mã Đà lên Bù Đăng, Phước Long vượt đường 14 lên Phú Riềng, qua Bù Nho Nhỏ và Bù Nho Lớn, ngược sông Bé lên Bù Đốp, Đa Kia. Một trung đội lên sóc Bom Bo qua Bù Gia Mập, Bù Gia Phúc lên Bù Đăng. Các đơn vị trên xoi đường đến đâu xây dựng cơ sở đến đó, vận động nhân dân làm rẫy tích trữ lương thực vào các kho dọc hành lang.

    - Đội vũ trang của miền Đông có 17 đồng chí do Nguyễn Trọng Tấn chỉ huy, xuất phát từ suối Nhung theo sông Đồng Nai lên Bù Ta Ươ ra Lâm Đồng. Đơn vị phải cắt rừng để giữ bí mật, phải đào củ mài, củ chụp ăn thay cơm. Nhưng thời gian kéo dài anh em bám dân phát động, giáo dục, xây dựng cơ sở và được đồng bào các dân tộc giúp nuôi ăn xoi đường đi đến đích, đồng thời tạo được cơ sở dọc hành lang.

    Sau bao năm tháng vất vả tìm bắt liên lạc với nhau, đêm 04/10/1960, tính ra hơn 1 năm, 2 đoàn miền Bắc gồm có đoàn xoi đường và đoàn cán bộ quân sự mới gặp được đoàn miền Nam tại bờ sông Đồng Nai Thượng thuộc tỉnh Quảng Đức.

    Từ đây đường dây liên lạc Bắc - Nam đã nối liền, mạch máu trong cơ thể thống nhất đã lưu thông, con đường mòn mang tên Bác đã hoàn thành... Và cũng từ đây, từng đoàn cán bộ tập kết ra Bắc năm 1954 lại lần lượt nối tiếp nhau về Nam, tăng cường cho lực lượng vũ trang đang xây dựng tại chỗ.

    Chân trời cách mạng miền Nam đã rực sáng với những vùng rừng núi và nông thôn giải phóng rộng lớn liên hoàn. Ngày 20/12/1960, tại vùng căn cứ bắc Tây Nguyên rộng lớn, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã trọng thể làm lễ ra mắt. Đại diện cho lực lượng vũ trang giải phóng dự ngày lễ trọng đại này có đồng chí Lê Thanh, cán bộ chỉ huy ở lại miền Nam, cùng số tập kết trở về đầu tiên, đại diện một số binh chủng ban đầu cũng có mặt.

    Và 3 tháng sau tại Đồng Rùm, ngày 15/02/1961, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam có cuộc họp bàn về nâng đấu tranh vũ trang lên một bước ngang hàng với đấu tranh chính trị. Cuối cùng, Hội nghị quyết định lấy ngày 15/02 là ngày thành lập giải phóng quân thống nhất trên toàn miền Nam.

    Ngày “15 tháng 2” đánh dấu một chặng đường dài ngót sáu năm - “sáu năm đen tối của cách mạng miền Nam Việt Nam”. Nhưng chính trong thời kỳ đen tối ấy - thời kỳ mà quân thù đã dùng mọi phương thức phátxít đè đầu nhân dân trong máu và lửa, nhân dân miền Nam đã quật khởi, nổi dậy, chống lại để sống còn. Trong phong trào quật khởi cách mạng ấy đã lần lượt sản sinh ra những chiến sĩ vũ trang, những nhóm, những tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, giải phóng quân... Sau ngày “15 tháng 2” đã hình thành “Ban Quân sự R”, đã có Trung đoàn 1 chủ lực (khung cán bộ chỉ huy các cấp là cán bộ tập kết trở về) do anh Tư Chương làm Trung đoàn trưởng (sau này chính là Q1 - hay Q761 - cũng là trung đoàn thứ nhất, trung đoàn được mang tên “Bình Giã” của Sư đoàn 9 - Sư đoàn hai lần anh hùng - nằm trong đội hình của Quân đoàn 4, quân đoàn xuất hiện vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam Việt Nam). Từ vĩ tuyến 17 trở vào (Khu 5, Khu 6, Khu 7, Khu 8, Khu 9 và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định) đã có vùng giải phóng, có đơn vị bộ đội vũ trang giải phóng từ 1 tiểu đoàn, 1 đại đội - ít lắm cũng là 1 trung đội - với vũ khí và biên chế đầy đủ, trình độ quân sự, trình độ chỉ huy tác chiến tương đối khá, diệt được địch, làm thối động được một địa phương, một tỉnh hay một khu vực, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của đồng bào mình. Khi con đường mòn Hồ Chí Minh - con đường nối thông từ Bắc vào Nam dọc dãy Trường Sơn đã hình thành, tuy bắt đầu chỉ là “đường mòn” thật sự, nhưng nó đã có ý nghĩa rất quyết định cho cách mạng miền Nam, đặc biệt là cho lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam, mà tên gọi trong dân gian lúc bấy giờ là “Bộ đội giải phóng”.

    Ngày 15/02/1961 đánh dấu sự ra đời, hình thành quân giải phóng miền Nam Việt Nam thống nhất, đồng thời cũng đánh dấu sự thất bại thảm hại của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, sự thất bại của “cuộc chiến tranh không tuyên bố”’ của Mỹ - ngụy đối với nhân dân miền Nam (từ 1954 - 1960) buộc đế quốc Mỹ phải chuyển hướng chiến lược, tiến hành một loại chiến tranh khác, “Chiến tranh đặc biệt”, mà số phận cũng thảm hại không kém.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 04:02:12 pm
PHẦN THỨ HAI
Từ Ấp Bắc đến Chiến dịch Hồ Chí Minh



I- ĐỐI MẶT VỚI “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”


    Trận chống càn Định Thủy

    Sau ngày Đồng khởi của nhân dân tỉnh Bến Tre (17/01/1960), địch đã lập tức huy động hơn mười ngàn quân trên bộ, quân dưới sông (hồi đó chưa xuất hiện máy bay trực thăng và các máy bay chiến đấu hiện đại của Mỹ) bủa vây suốt 12 ngày đêm ở một lõm hẹp gồm 3 xã Bình Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy - 3 xã điểm của cuộc Đồng khởi ngày 17/01/1960. Đây là một vùng đông dân, nhà cửa san sát, ruộng vườn liền mí, sông rạch chằng chịt, đồng trống trải, sát bên thị trấn Mỏ Cày và cũng không xa tỉnh lỵ Bến Tre là mấy, thuận lợi rất nhiều cho việc triển khai quân của chúng. Khu vực này nằm lọt thỏm giữa trục đường bộ Bến Tre - Mỏ Cày -Thạnh Phú và đường sông Hàm Luông (một nhánh của Cửu Long giang) - con sông cái rất to, rộng ngăn cách giữa cù lao Minh và cù lao Bảo của Bến Tre.

    Hơn mười ngàn quân trong một lõm hẹp, dọc ngang không quá 5-7 km, có thể nói quân của chúng giăng tay nhau để vây bắt sống số quân ít ỏi của ta cũng không khó khăn gì. Số quân ta lúc đó chỉ vẻn vẹn trên dưới 50 người, biên chế làm 3 tiểu đội, gồm những thanh niên vừa mới hôm qua đây còn là dân thường, hoặc một số rất ít là dân vệ thôn xã, cũng là tay cày tay cuốc, vừa được quy tụ lại sau đêm nổi dậy “17 tháng 01”. Tuy có được một số ít súng vừa lấy được của dân vệ liên xã, có chỉ bảo cho nhau cách lên đạn nhắm bắn và mỗi người có tập qua đôi lần để được làm “anh bộ đội”, nhưng lực lượng ta vẫn chỉ là đơn vị tân binh - với đầy đủ ý nghĩa của nó - phải đối đầu với quân nhà nghề của Diệm.

    Lần đầu tiên sau 6 năm trời gọi là “hòa bình” trong Hiệp định Giơnevơ, bỗng dưng súng đạn nổ đì đùng, xóm làng nhớn nhác, cảnh chiến tranh ập đến đột ngột - gần như không có được sự chuẩn bị từ trong lòng người dân cũng như cán bộ lãnh đạo. Thế rồi mặt này lính vô, mặt kia lính tới, chỗ nọ tàu đổ bộ, trên đường lộ lính tràn đồng, rồi máy bay đầm già quần thảo, dân từ ấp này chạy qua ấp kia, làng xóm xáo trộn, chạy giặc đụng đầu nhau, hỗn loạn. Mọi trật tự vừa được xếp đặt vài ngày trước đây khi cách mạng nổi dậy bỗng dưng rối tinh trong cảnh chiến tranh thật sự. Tin tức tới tấp, toàn là tin dữ. Bốn bề, mặt nào cũng có giặc. Chúng đánh vào đâu? Xóm nào? Ấp nào?... Người chỉ huy cuộc chiến đấu chống trận đánh phủ đầu dữ dội, từ trước chưa từng có của đối phương trong những ngày đầu nổi dậy của Bến Tre thật là tài giỏi. Đó là anh Hai Thủy - tuy những năm tháng sau này, anh đã gặp những điều không hay trong cuộc đời riêng - song, những công lao và tài trí có tính chất quyết định của anh trong những ngày đầu Bến Tre nổi dậy không thể không được nhắc đến. Lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của Bến Tre tưởng như bị tiêu diệt hoàn toàn, trái lại đã tiêu diệt nhiều quân địch và thoát vây một cách tài tình, đối phương không thể nào ngờ nổi. Thương vong của trung đội vũ trang này chỉ có 2 người (1 hy sinh và 1 bị thương), một tỷ lệ rất thấp trong chiến đấu và nói lên tầm cao của chiến thắng. Anh Hai Thủy lúc ấy coi như là “tổng chỉ huy” cuộc chống càn và phá vây. Cái hay của anh là trước tình hình đó anh kiên quyết không cho lực lượng phân tán. Anh nhận định rằng số anh em bộ đội hầu hết đều là lính mới và mới làm lính cho nên nếu không có chỉ huy sát sườn thì anh em không thể nào chịu nổi cái ác liệt của trận bao vây dữ dội này. Cái hay thứ hai của anh là biết biến cuộc tản cư ngược của đồng bào thành cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt với kẻ địch buộc chúng phải nhượng bộ, rút quân. Trong trận chống càn này người chỉ huy biết vận dụng cả ba mũi giáp công cho nên vừa bảo toàn được lực lượng vũ trang non trẻ của Bến Tre, vừa diệt được khá nhiều quân địch lại vừa đẩy thế quần chúng đi lên tạo ảnh hưởng to lớn cho thế đấu tranh chính trị trong toàn tỉnh.

    Và sau đó thì lực lượng vũ trang ở tỉnh Bến Tre được phát triển gần như nhanh nhất và mạnh mẽ nhất của thời kỳ lúc bấy giờ. Điều đó nói lên rằng kẻ địch đông, mạnh, ưu thế về mọi mặt... vẫn không sao tiêu diệt nổi một nhúm bộ đội vừa mới phôi thai nhưng tinh thần cách mạng kiên cường giữa một vùng gần như trong lòng bàn tay của kẻ thù. Cái đó đang cắt nghĩa sự tồn tại của những người cầm súng giữa lòng đồng bào. Nhân dân, đồng bào chính là cái nền chính trị, giàu tinh thần cách mạng, lòng yêu nước. Kẻ thù không thể phá được cái nền móng ấy. Cái nền đó là ý chí, là lực lượng trong cuộc đương đầu với quân thù quyết liệt này.

    Vậy là, kẻ địch muốn bằng lực lượng quân sự quyết bao vây tiêu diệt một nhúm vũ trang của cách mạng nhưng không thành, ngược lại không những địch bị thương vong lớn, mà điều quan trọng hơn là đã khuấy động lên cuộc nổi dậy của quần chúng quy mô rất lớn ở Bến Tre. Sự kiện đó đã cho thấy sự thay đổi cục diện đôi bên trên toàn miền Nam. Phong trào Đồng khởi trong toàn miền Nam đã giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở nông thôn, lập nên một chính quyền dân chủ tự quản của nhân dân chống lại chính quyền độc tài gia đình trị của Diệm được Mỹ xây dựng và nuôi sống.

    Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam có đặc trưng: Mỹ không tham gia chiến đấu, chỉ làm cố vấn, dùng đôla và vũ khí Mỹ cho người Việt Nam giết lẫn nhau. “Đây là vấn đề nội bộ của Nam Việt Nam”. Chính phủ Mỹ thông báo cho toàn thế giới và cả trong dân chúng Mỹ. Và đế quốc Mỹ tin chắc rằng sẽ thắng trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, với kế hoạch Staley Taylor bình định miền Nam trong vòng 18 tháng.

    Thực hiện chủ trương đó, viện trợ của Mỹ cho Diệm càng ngày càng gia tăng. Chỉ trong vòng 1 năm, số đơn vị máy bay trực thăng chiến đấu và xe bọc thép M113 của Mỹ đổ vào miền Nam rất lớn. Đồng thời với viện trợ quân sự, Mỹ - Diệm tiếp tục gom dân lập ấp để đẩy “Việt cộng” vào thế không còn đủ sức khuấy động nổi dậy nữa. Đây là thời kỳ xuất hiện quốc sách “ấp chiến lược” - một quốc sách mà Ngô Đình Diệm nói đi nói lại là “không - được - nghĩ - đến - thất - bại” (!)

    Về phía ta, lực lượng vũ trang giải phóng vừa mới ra đời đã gặp ngay khó khăn rất lớn. Có nơi như vùng đồng bằng - nhất là các tỉnh có địa hình trống trải như Đồng Tháp Mười... bộ đội không thể hoạt động như thời mới nổi dậy được. Một số vùng đã bị thiệt hại không ít trong chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của chúng. Điển hình là trận đánh vào Trại Lòn (Kiến Tường) ta đã thiệt mất gần đại đội giữa đồng trống - vì chưa quen với loại trực thăng vũ trang này. Kẻ địch đang thắng thế. Chúng mong cho “Việt cộng” dám đứng lại với chúng. Và chúng rêu rao về chiến thuật mà theo thuật ngữ quân sự của chúng là “bủa lưới phóng lao”...

    Ấp Bắc (02/01/1963)

    Trận Ấp Bắc (Tiền Giang) là câu trả lời của quân giải phóng cho cái chiến thuật mà chúng rêu rao là bách thắng đó. Ấp Bắc là một trận điển hình về tác chiến trong giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt”, và cũng rất điển hình về trình độ sáng tạo trong nghệ thuật quân sự của lực lượng vũ trang giải phóng thời kỳ này.

    Con người đã có ý chí và sáng tạo biện pháp hiệu quả chống lại kẻ địch lúc bấy giờ là anh Nguyễn Văn Bảy - mà anh em trong Tiểu đoàn 261 (sau này thành Tiểu đoàn Gi Rông) - thường gọi “Bảy Đen”, Đại đội trưởng Đại đội 1. Anh đã nêu lên một khẩu hiệu đối lại sự “bủa lưới” của địch rằng: “Cắm cọc chống lưới, trụ lại bẻ lao”. Anh đã rèn luyện cho đại đội của anh ý chí quyết tâm đó. Cho nên khi ta và địch gặp nhau tại trận Ấp Bắc, Đại đội 1 của Bảy Đen thuộc Tiểu đoàn 261 Quân khu 8 đã chiến đấu và chiến thắng địch trong một trận đánh cực kỳ ác liệt từ sáng cho đến tối ngày 02/01/1963.

    Trận Ấp Bắc là một trận lừng danh, chấn động cả thế giới phương Tây vào đầu năm 1963. Nhiều sách báo đã miêu tả trận này với nhiều góc độ khác nhau. Những năm gần đây, Neil Shoechan trong cuốn sách được giải thưởng quốc gia sách ở Mỹ Sự lừa dối hào nhoáng đã viết về trận Ấp Bắc thành 1 chương riêng mang tiêu đề “Trận Ấp Bắc”. Ngót 60 trang sách ông chỉ nói về trận này. Trên thực tế trong trận Ấp Bắc, bao nhiêu quân Mỹ - Diệm (sư ngụy cộng với các cố vấn Mỹ) chỉ đụng với 2 đại đội quân giải phóng của ta, Đại đội 1 của Tiểu đoàn 261, Quân khu 8 và Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 địa phương quân tỉnh Mỹ Tho, cộng với 1 trung đội địa phương huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

    Trong nhật ký còn để lại của đồng chí Nguyễn Văn Bảy, tự Bảy Đen, đã ghi chép thật sự về một đại đội tham chiến trận Ấp Bắc, quân số chỉ vỏn vẹn 100 người và trang bị súng các loại đối đầu với một lực lượng bộ binh, quân dù, không quân trực thăng và cơ giới của Mỹ - Diệm, chẳng những bị tiêu hao rất ít - so với quy mô trận đánh - mà còn gây cho đối phương một thất bại nặng nề. Thất bại có tính chất thối động đến toàn cuộc.

    Sau chiến thắng này, cả miền Nam dấy lên phong trào “Thi đua Ấp Bắc - Giết giặc lập công”. Phong trào ấy trở thành cao trào của quân giải phóng hạ trực thăng bầy, diệt các chi đoàn xe thiết giáp.

    Dám trụ lại để thắng giặc trên chiến trường đồng bằng là một bước tiến đáng kể của quân đội giải phóng lúc bấy giờ.

    Trong khi đồng bằng Nam Bộ bẻ gãy được chiến thuật lợi hại “trực thăng vận, thiết xa vận” của Mỹ - ngụy, thì ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng vũ trang đã nhanh chóng trưởng thành. Quy mô phát triển lực lượng chủ lực đã dần dần lên đến 3 trung đoàn. Yêu cầu rèn luyện, các thứ quân, các binh chủng và chỉ huy thống nhất các chiến trường đặt ra cấp bách.

    Vậy nên, đồng thời với việc tổ chức và phát triển lực lượng du kích, địa phương và chủ lực, hình thành các quân khu, Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam đã được kiện toàn với các ban, phòng để đủ sức chỉ huy lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn miền. Trong việc luyện tập cho quân chủ lực Miền tác chiến có hiệu quả, các cơ quan quân sự, chính trị, hậu cần Miền đã đóng một vai trò rất lớn. Các cán bộ của bộ phận Miền luôn sát cánh theo 3 trung đoàn Q-761, Q-762 và Q-763 (Q-763 được thành lập từ sau trận Ấp Bắc).

    Bình Giã

    Để phát huy vai trò quân chủ lực hỗ trợ đắc lực cho phong trào chính trị vũ trang cách mạng trên toàn Miền, Bộ Chỉ huy Miền nâng trình độ tác chiến của bộ đội lên thành chiến dịch. Chiến dịch Bình Giã (Bà Rịa) đã nổ ra thắng lợi (từ 05/12/1964 đến 03/01/1965).

   Lần đầu tiên ta tập trung trên một địa bàn nhất định tới 2 trung đoàn với một số binh chủng yểm trợ, kết hợp với bộ đội địa phương, du kích rộng rãi, được nhân dân giúp đỡ và phối hợp đấu tranh. Lần đầu tiên chủ lực quân giải phóng đã đánh nhiều trận liên tiếp, tiêu diệt được nhiều tiểu đoàn sừng sỏ của quân ngụy như thủy quân lục chiến, quân dù, biệt động quân và các chi đoàn thiết giáp có phi cơ và trực thăng vũ trang yểm trợ. Chiến dịch Bình Giã đã làm Mỹ - ngụy rúng động, thấy rằng quân đội ngụy được Mỹ xây dựng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy không còn đứng vững được. Chế độ ngụy có nguy cơ sụp đổ.

   Tiếp theo chiến thắng Bình Giã, có chiến thắng Ba Gia ở Quảng Ngãi: Trong thời gian ngắn, quân giải phóng đã đánh ngoài trời tiêu diệt gọn nhiều tiểu đoàn địch. Rồi đến Phước Long - Đồng Xoài, chủ lực ta vừa đánh địch ngoài trời, vừa đánh địch trong công sự kiên cố. Trận đánh chiếm cứ điểm chi khu Đồng Xoài, 09/6/1965 (Biên Hòa) đã nâng trình độ tác chiến của quân giải phóng lên một bước cả về kỹ thuật chiến đấu của bộ đội lẫn về chỉ huy hợp đồng binh chủng, liên lạc trinh sát nhanh chóng chính xác, diệt điểm diệt viện, nghi binh kết hợp ngăn chặn địch từ xa, dự kiến phản ứng của địch và đoán đúng nơi địch đổ quân tạo thành thế diệt địch ngay từ phút đầu.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 04:06:10 pm
II- “CHIẾN TRANH CỤC BỘ”:
“KHÔNG CÓ ÁNH SÁNG Ở CUỐI ĐƯỜNG HẦM”


   Nghệ thuật chiến dịch của quân giải phóng trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã phát triển. Sau Đồng Xoài, quân Mỹ đã nhảy hẳn vào miền Nam. Vì Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đánh cho ngụy quân không còn đứng vững, đã đánh dấu sự thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Một lần nữa Mỹ phải chuyển hướng chiến lược, trực tiếp đưa quân vào tham chiến ở miền Nam. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đã bắt đầu với cường độ ác liệt chưa từng có.

   Ngày 02/9/1965, tại căn cứ Trảng Chiên - Bắc Tây Ninh, là ngày khai sinh ra Sư đoàn 9 và sau đó Sư đoàn 5. Buổi ấy có mặt Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Phó Chủ tịch, có mặt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền... Mọi người đều vui mừng tin tưởng thấy được quân giải phóng miền Nam ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đã tổ chức lên đến sư đoàn, và nhanh chóng có 2 sư đoàn mạnh. Giữa tình hình Mỹ đang gia tăng cường độ chiến tranh ở miền Nam, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5 rồi sau đến Sư đoàn 7, là niềm vinh dự và tự hào của quân giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường miền Đông Nam Bộ - chiến trường chủ yếu.

   Quân Mỹ lúc bấy giờ thủ vai trò chủ yếu càn quét đánh phá miền Nam. Quân ngụy đóng vai trò “giữ nhà”(!)

    Bàu Bàng

    Nổi bật nhất trong giai đoạn này là chiến trận Bàu Bàng ngày 12/11/1965 (Thủ Dầu Một). Sư đoàn “Anh cả đỏ” của Mỹ gặp phải “Anh cả đỏ” của quân ta - nói theo cách nói của dân gian hồi đó muốn so sánh Sư đoàn 9 của ta với sư đoàn “Anh cả đỏ” số 1 của Mỹ - và trên thực tế, cho đến lúc ấy - lúc diễn ra “trận Bàu Bàng” - ta mới bắt đầu đánh Mỹ ở cấp sư đoàn. Hai sư đoàn số 1 gặp nhau, nhưng ta vừa mới thành lập, còn “Anh cả đỏ” Sư đoàn 1 bộ binh của Mỹ, đã nổi danh từ Đệ nhị thế chiến, và trận Bàu Bàng là trận thua đau lắm của quân Mỹ. Theo tài liệu để lại, con số 2.040 quân Mỹ đã bị thương vong trong một trận đánh vận động tập kích của quân giải phóng miền Đông Nam Bộ, chứng tỏ khả năng đánh được Mỹ và đánh tiêu diệt được quân Mỹ.

    Trước đó, khi quân Mỹ vừa đến chiến trường miền Nam, chúng đã bị liền một đòn thật là bất ngờ. Một đại đội Mỹ đóng trong công sự ở Núi Thành (Quảng Nam) đã bị diệt gọn (27/5/1965). Rồi đến trận Vạn Tường 18/8/1965 cũng ở Quảng Nam, quân Mỹ cùng với xe bọc thép lội nước đổ bộ lên bờ, được pháo hạm chi viện, vẫn bị đánh thiệt hại nặng: Hàng mấy trăm tên cùng hàng chục xe tăng thiết giáp bị tiêu diệt. Trận Vạn Tường là trận đánh Mỹ nổi tiếng đầu tiên của quân ta trong “Chiến tranh cục bộ”.

    Nơi nào cũng có những trận đánh Mỹ điển hình. Nơi nào cũng có dũng sĩ diệt Mỹ. Mỹ nhảy vào miền Nam, toàn miền Nam dấy lên phong trào thi đua diệt Mỹ. Chủ lực đánh Mỹ, địa phương đánh Mỹ, du kích cũng đánh Mỹ và cho đến dân thường cũng giết được Mỹ và cũng đạt đến tiêu chuẩn cấp “dũng sĩ diệt Mỹ” - như ở Củ Chi, ở Lai Khê (Bến Cát), ở Tây Nguyên rừng núi. Thậm chí ở miền đồng bằng sông Cửu Long, với những người nông dân tay lấm chân bùn, chỉ biết vườn tược, ruộng nương quanh năm suốt tháng, vậy mà khi quân Mỹ kéo tới lập căn cứ, tức thì “Vành đai Bình Đức” đã hình thành ngay trên vùng đông dân nhiều của để bao vây quân Mỹ, và những dũng sĩ diệt Mỹ nơi đây lại nổi lên. Danh sách những dũng sĩ trong cuốn sổ vàng diệt Mỹ của huyện Châu Thành tỉnh Mỹ Tho được nối dài thêm mỗi ngày.

    Có thêm quân Mỹ, cộng với quân ngụy, cũng không bình định được miền Nam. Chỉ có mức độ chiến tranh là gia tăng. Và chiến tranh càng khốc liệt, càng bất phân thắng bại thì Mỹ càng cay cú càng leo thang. Nó giống như một con bạc đang khát nước. Đưa quân vào nghĩ là thắng. Không thắng được, lại đưa quân tiếp, và đưa quân tiếp... cho đến hàng mấy chục vạn quân Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

    Các đơn vị sừng sỏ của Mỹ cho đến hôm nay “bách chiến bách thắng” như Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” đã chiến thắng cả trong 2 cuộc chiến tranh thế giới, Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” đã từng tham gia chiến tranh Triều Tiên... vẫn phải nếm mùi thất bại ở Việt Nam. Mỹ bèn tổ chức ra sư đoàn tân kỳ hơn, hiện đại hơn như Sư đoàn kỵ binh không vận 101. Toàn bộ sư đoàn trên 1 vạn quân cả pháo binh, hỏa lực và bảo đảm đều cưỡi máy bay “đi mây về gió”, từ trên trời đánh xuống bất cứ ở chiến trường nào, địa hình nào, thời tiết nào, ngày hay đêm. Sư đoàn tân kỳ ấy ngay ngày đầu bay đến Việt Nam đã bị một cú thất bại ê chề. Đó là cú đánh vào chiến trường Tây Nguyên của ta tại mặt trận Plei Me (từ ngày 10 đến ngày 18/11/1965). Tại đây quân giải phóng đã đánh kỵ binh bay nhiều trận tơi bời, thiệt hại nặng nề. Đường hầm vẫn không lối thoát.

    Tìm và diệt: “ai tìm, ai diệt ai?”

    Junction City

    Tướng Westmoreland - Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam đã dự kiến kế hoạch 3 giai đoạn của “Chiến tranh cục bộ”:

    Giai đoạn 1, cứu quân ngụy khỏi thua to vào năm 1965.

    Giai đoạn 2, tiêu diệt lực lượng quân sự đối phương và bình định nông thôn miền Nam trong 6 tháng đầu năm 1966.

    Giai đoạn 3, là sau đó từ 1 đến 1 năm rưỡi diệt hết lực lượng quân sự đối phương còn sót lại trong các khu căn cứ. Sau nữa ngụy quyền cùng với lực lượng ngụy quân đã trưởng thành đủ sức hoàn toàn làm chủ miền Nam Việt Nam và quân Mỹ, quân chư hầu rút về nước.

    Như vậy, Mỹ đã tính trước thắng lợi hoàn toàn vào cuối năm 1967 với chiến dịch “Tìm và diệt” lớn nhất ở Bắc Tây Ninh nhằm diệt gọn chủ lực Việt cộng còn lại cùng với các cơ quan đầu não như Bộ Chỉ huy quân giải phóng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam...

    Thế nhưng trận “quyết chiến chiến lược Junction City” của chiến lược “Tìm và diệt” trong “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ đã thất bại thảm hại (từ ngày 22/02 đến ngày 15/3/1967). Trên 45.000 quân Mỹ thuộc các đơn vị thiện chiến nhất như Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”... cùng một số đơn vị ngụy, được các loại máy bay chiến đấu, các trực thăng vũ trang và chở quân, các máy bay đưa quân nhảy dù, cả máy bay chiến lược B-52 rải thảm, chi viện không hạn chế vào một khu vực chiến trường nhỏ hẹp vẫn bị tổn thất nặng và rút chạy. Bom đạn, chất độc hóa học từ phi cơ và hỏa lực pháo binh từ mặt đất kinh khủng kể cả “Vua chiến trường”, pháo 175 ly, hầu như không có hiệu quả theo như tướng Mỹ tưởng. Quân giải phóng đã bố trí sẵn trong vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của mình một thế trận chiến tranh nhân dân tuyệt diệu bao gồm du kích và quân địa phương từ dân tại chỗ và cán bộ nhân viên cơ quan trú đóng, được trang bị mạnh bằng súng chống tăng và mìn các loại đã phối hợp chiến đấu có kết quả cao với Sư đoàn 9 chủ lực. Quân Mỹ không tìm thấy Việt cộng nào để diệt, trái lại đi đến đâu, ở đâu, ngày hay đêm đều bị đánh, bị tìm và bị diệt. Hàng ngàn lính Mỹ chết và bị thương, hàng trăm xe tăng và thiết giáp tan xác, trên 100 máy bay các loại bị bắn rơi, trên 100 pháo từ 105 ly trở lên bị hủy. Trận Junction City thất bại, ảo tưởng kết thúc chiến tranh vào cuối năm 1967 tan như mây khói.

    Mậu Thân 1968

    Ý nghĩa cơ bản của chiến lược tìm và diệt của Westmoreland là muốn đưa chiến tranh đến tận xứ sở của kẻ địch và diệt địch ở đó. Ý đồ chiến lược đó không thành, quân giải phóng lại phá chiến lược tìm và diệt của Mỹ bằng cách đưa chiến tranh đến tận hang ổ của Mỹ - ngụy, ở các thị xã, thị trấn và ngay cả Sài Gòn là đầu não chỉ huy chiến tranh của chúng. Đó là cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968. Hàng trăm tỉnh, thành, quận lỵ, chi khu... trên hầu khắp miền Nam cho đến Tòa Bạch Ốc và Lầu 5 góc (“ngũ giác đài”) phương Đông ở Sài Gòn thảy đều bị tấn công một lượt. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 ấy, đã gây một bất ngờ lớn lao cho Mỹ - ngụy ngay từ phút đầu, từ những ngày đầu cho đến nhiều tháng sau trên khắp miền Nam. Bất ngờ về chiến lược, về chiến dịch và cả về chiến thuật. Bất ngờ về thời gian bắt đầu, về thời gian ác liệt kéo dài. Bất ngờ về nghệ thuật quân sự chưa hề có trong binh thư đông tây, kim cổ.

    Một trận đánh mà cho đến 20 năm sau - kỷ niệm 20 năm Tết Mậu Thân 1968-1988..., cán bộ ta hãy còn bàn cãi và rút ra nhiều điều trong nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Quân giải phóng miền Nam, cùng với toàn dân miền Nam Việt Nam đã làm nên một trận long trời lở đất, Mỹ kinh hoàng, thế giới sửng sốt.

    Trận đánh của Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn là một trận đánh vang dội trong lịch sử có một không hai của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước Việt Nam. Nó đã là cái mốc tạo ra được bước ngoặt chiến lược lớn nhất của cuộc chiến tranh: Đánh cho Mỹ cút, để rồi nhất định ngụy sẽ bị nhào.

    Tết Mậu Thân năm 1968, quân dân miền Nam đã đẩy quân thù vào tình thế không lối thoát, buộc phải “xuống thang chiến tranh”, chấp nhận ngồi lại thương lượng hòa bình với sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, một thực thể mà lâu nay chúng cố tình không nhìn nhận.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 04:09:04 pm
III- “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”: MỘT THỬ THÁCH MỚI


    Tuy nhiên đường đi đến thắng lợi còn lắm chông gai, không phải chỉ đầy hoa chiến thắng. Qua năm 1969, quân giải phóng miền Nam bước vào cuộc thử thách mới đầy cam go quyết liệt trước những âm mưu thủ đoạn chiến tranh mới của Mỹ - ngụy trong lúc sức mạnh chiến đấu chưa kịp phục hồi.

    Tổng thống Mỹ Nixon vừa nhậm chức, tháng 4/1969 đã thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với tham vọng vừa rút được quân Mỹ về nước, vừa tăng cường quân ngụy để thắng cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Kế hoạch bình định nông thôn, chiến tranh tâm lý được đẩy lên mức độ ác liệt và tinh vi. Chúng “tát nước bắt cá” đánh thẳng vào dân, đặc biệt là nông thôn, hòng tách cán bộ, bộ đội, du kích ra khỏi nhân dân, ra khỏi xóm làng, quê hương. Một nhà báo Mỹ Joseph Amster đã nêu con số: từ tháng 3/1968 đến cuối năm 1969, riêng chiến dịch “Phượng Hoàng” Mỹ - ngụy đã giết chết ít nhất 20.000 nông dân và rất có thể từ 50.000 đến 100.000 người. Từng đàn máy bay các loại: cá rô, cá nóc, cá lẹp (máy bay lên thẳng trinh sát và bắn phá), máy bay B-52, C-47... ngày đêm trút bom rải thảm, bắn tên lửa vào bất cứ nơi nào còn một lùm cây, ngọn cỏ, chất độc hóa học làm trụi hàng chục ngàn hécta rừng, hàng ngàn xóm làng hòng đánh bật quân giải phóng ra khỏi nơi trú ẩn. Từ Trị Thiên, Khu 5 đến Tây Nguyên, miền Đông và miền đồng bằng sông Cửu Long, màu xanh đã biến mất trên nhiều vùng. Cây cối chết khô trơ trụi chĩa lên nền trời, càng nhìn càng thêm đau xót cho đất nước bị quân thù tàn phá. Đêm đêm chốc chốc lửa lại bùng cháy trên đỉnh ngọn cây như những đốm lửa hận thù của chiến sĩ, đồng bào vụt bốc cao. Củ Chi “đất thép” mỗi nắm đất đều có thép của mảnh bom đạn. Rừng Năm Căn, U Minh 50% bị tàn phá, cháy rụi. Kết hợp với bom đạn, địch bố trí dày đặc ở nông thôn hàng mấy trăm đoàn, đội đủ các sắc lính: bảo an, dân vệ, cảnh sát, bình định, phượng hoàng, chưa tính bọn tề điệp và lực lượng phòng vệ dân sự.

    Muôn vàn khó khăn gian khổ, ác liệt ập đến tưởng chừng như chiến sĩ, đồng bào ta không thể nào chịu đựng nổi. Mỹ - ngụy đã hí hửng nhận định: “Từ năm 1969 trở đi Việt cộng đã bị động cả về chiến lược và chiến thuật, phải trở lại đánh du kích, Việt cộng không còn nơi an toàn”. Thực tiễn trên chiến trường ta cũng đã bị mất nhiều đất, nhiều dân.

     “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Kẻ thù giàu súng đạn thì quân và dân ta giàu lòng yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, quyết vượt lên khó khăn gian khổ ác liệt để chiến thắng quân thù. Lời chúc Tết của Bác Hồ kính yêu đầu năm 1969 là nguồn động viên to lớn tiếp thêm tinh thần sức lực cho miền Nam Thành đồng: “Năm qua thắng lợi vẻ vang - Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to - Vì độc lập vì tự do - Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào... - Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Nhiều bà mẹ miền Nam cũng như miền Bắc tiếp tục dâng lên Tổ quốc những đứa con ruột thịt thứ ba, thứ tư, và cả thứ bảy, thứ tám. Má Nguyễn Thị Rành ở Củ Chi, 6 con đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và trong chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, nay tiếp tục tiễn 2 con còn lại lên đường góp phần đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch. Má Nguyễn Thị Ngư ở Bình Thuận có 8 con tham gia chiến đấu và đều đã hy sinh. Hàng vạn thanh niên, học sinh, nông dân, công nhân, ở miền Bắc lại vượt Trường Sơn băng qua lửa đạn của quân thù vào Nam chiến đấu. Đội ngũ quân giải phóng lại được tăng cường. Nhiều đơn vị chủ lực, địa phương và cả các đội du kích đã có đến một nửa là thanh niên hậu phương lớn. Anh em rời ghế nhà trường, rời hợp tác xã vào chiến trường còn bỡ ngỡ. Nhưng cuộc chiến đấu gay go, sống chết đã rèn đúc anh em trưởng thành. Địch phá địa hình trên mặt đất, chiến sĩ đào hầm để ngủ, đào giao thông hào để đi lại ngụy trang bằng cây khô để che mắt địch. Địch phá hoại lúa màu, ruộng rẫy, lương thực, chiến sĩ, đồng bào ta đào củ mài, củ chụp, hái lá bép, lá rừng, ăn cả mít non, chuối xanh, môn thụt... để sống và chiến đấu. Những khẩu hiệu hành động xuất hiện khắp mọi nơi: “Quyết tử giữ Gò Dầu”, “Quyết tử giữ Long Đất”, “Dân bám đất, chiến sĩ bám đồng bào cùng nhau chiến đấu diệt địch”. Địch hành quân chà xát, phục kích đón đường hòng tìm dấu vết gây thương vong cho ta, ta lại “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để bịt tai, bịt mắt địch. Địch tập trung chà xát nông thôn để thực hiện kế hoạch bình định thì chiến sĩ ta “lấy đêm làm ngày” vượt nhiều lớp đồn bót giặc về bám dân phát động dân xây dựng cơ sở. Tiểu đoàn 14 ở Tây Ninh, ngoài súng đạn mang cả nắp hầm bí mật về bám dân dựa vào dân đào hầm bí mật để hoạt động. Hàng mấy tháng trời “ăn cơm vắt, uống nước ve, ngủ hầm bí mật” anh em đã đánh cho địch nhiều đòn đau, khôi phục nhiều vùng làm chủ cho nhân dân. Khu 5 trong 6 tháng đầu năm 1969 đã diệt, trừng trị gần 2.000 tên ác ôn bình định, nổi lên tấm gương em Phan Thị Đào - chiến sĩ du kích thiếu niên dùng lựu đạn diệt tên Huân ác ôn khét tiếng, bị địch bắt tra tấn cật vấn: “Mày muốn sống hay muốn chết, muốn sống thì khai”. Em thản nhiên nói: “Muốn sống để giết hết bọn bây cho dân đỡ khổ”. Địch đã hành hạ buộc em vào xe kéo đi cho đến chết. Trong lễ truy điệu em Đào, người cha lại dẫn em gái Đào 11 tuổi đến “xin các đồng chí kết nạp con em vào đội diệt ác thay cho chị nó”. Trung đoàn 320 chiến đấu thương vong đến gần 80% quân số, hy sinh toàn bộ Ban Chỉ huy Trung đoàn, vẫn kiên cường thực hiện nhiệm vụ bám trụ vùng ven Sài Gòn để rồi bình phục và thắng giặc những năm sau. Ở thị xã Cà Mau, Hồ Thị Kỷ chỉ huy đội biệt động giấu mìn trong giỏ xách làm nổ tung 3 xe đầy giặc và hy sinh anh dũng. Cả miền Nam bùng lên phong trào diệt Mỹ đánh ngụy.

    Ngày 03/9/1969, Đài Phát thanh Hà Nội loan tin đau buồn Bác Hồ vô vàn kính yêu của toàn thể dân tộc Việt Nam đã từ trần. Mỹ - ngụy tưởng rằng có thể lợi dụng dịp này đánh quỵ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Nhưng chúng đã lầm to, cả miền Nam đã “biến đau thương thành sức mạnh”. Chiến sĩ ta đã nuốt những giọt nước mắt dồn sức mạnh lên đôi tay cầm súng bắn thẳng vào kẻ thù quyết giành giật với chúng từng tấc đất của Tổ quốc thân yêu. Ở Khu 5, địch đánh phá ác liệt và gắt gao nhưng nhân dân vẫn một lòng bền chí kiên gan cưu mang nuôi dưỡng, tiếp tế cho quân giải phóng chiến đấu. Cả mẹ già, các chị và cả các em gái 12, 13 tuổi mang từng ang gạo len lỏi qua các trạm kiểm soát của địch đem tận tay cho quân giải phóng. Đồng bào các dân tộc miền núi tiếp tục ăn củ rừng, dành từng lon gạo, trái bắp, gốc sắn nuôi bộ đội. Có chị địu con trước ngực, sau lưng gùi súng đạn tiếp tế cho chiến trường. Những đêm Trường Sơn, chiến sĩ vận tải thi đua chuyển “những chuyến hàng đền ơn Bác” với năng suất gấp đôi bình thường, với “bước chân ngàn dặm, vai trăm cân hàng”. Ở Trà Vinh, chiến sĩ và đồng bào xây dựng đền thờ Bác chỉ cách nhà tên tỉnh trưởng ngụy quyền 5.000m. Địch tức tối điên cuồng ném bom, pháo, càn quét liên miên bằng mọi thủ đoạn ác liệt, nhưng với lòng quyết tâm của quân giải phóng và đồng bào thị xã Trà Vinh, đền thờ Bác vẫn sừng sững uy nghi giữa một vùng bị địch chiếm cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Mùa xuân miền Bắc có hoa đào, miền Nam có hoa mai. Địch tìm mọi cách ủi phá tan những vườn, những rừng mai vàng hòng dập tắt niềm hy vọng của chiến sĩ đồng bào. Nhưng mai vẫn đâm chồi nảy lộc trong cuộc chiến đấu và được chiến sĩ đồng bào cõng vượt Trường Sơn ra trồng và nở hoa tại lăng Bác Hồ gửi gắm niềm tin tất thắng của miền Nam.

   Nghĩa vụ quốc tế

   Được hơn một năm giành ưu thế trên chiến trường gây thiệt hại và vô vàn khó khăn cho đối phương, Mỹ - ngụy cho đây là thời cơ giành thắng lợi trọn vẹn. Chúng âm mưu bao vây triệt để bằng cách mở rộng chiến tranh Việt Nam thành chiến tranh Đông Dương. Chúng đã đánh lên Campuchia nhằm diệt “Đất thánh Việt cộng” và cắt đứt đường tiếp tế qua cảng Kompongxom, cũng như đánh lên Đường 9 - Nam Lào để cắt Trường Sơn, cắt đứt miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc.

    Abrams - Tổng chỉ huy MACV phụ họa với Tổng thống Mỹ: “Nếu phá được thánh đường của Việt cộng ở Campuchia thì chiến tranh sẽ kết thúc trong một năm”. Hết kết thúc năm 1967 của Westmoreland lại đến kết thúc 1 năm (hẳn là năm 1971) của Abrams.

    Mở đầu, Mỹ lật đổ Sihanouk và dựng lên Lonnol để làm tay sai đắc lực hơn. Ngày 30/4/1970, 15 vạn quân Mỹ và ngụy Sài Gòn gồm 2 trung đoàn Mỹ, 6 sư đoàn ngụy đã vượt biên giới đánh tràn vào đất Campuchia. Chúng tưởng sẽ dùng số quân đông đảo cùng khối lượng sắt thép khổng lồ đè bẹp quân dân cách mạng 2 nước anh em Việt Nam - Campuchia. Nhưng chúng đã đụng phải sức mạnh chiến đấu phối hợp thần kỳ của khối đoàn kết Việt - Campuchia đã có từ lâu đời. Bốn vạn quân Mỹ và ngụy Sài Gòn cùng ngụy Lonnol đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu. Cuộc hành quân chưa đầy 2 tháng đã phải chịu nhiều tổn thất đến nguy cơ sa lầy trên một chiến trường mới buộc Nixon ngày 30/6/1970 phải ra lệnh triệt phái toàn bộ quân Mỹ ra khỏi Campuchia.

    Trong lúc đó, hầu hết 7 tỉnh miền Đông Campuchia đã được giải phóng cộng với nhiều vùng phía tây bắc và tây nam đã trở thành vùng đất làm chủ của cách mạng Campuchia.

    Như vậy Mỹ - ngụy Việt Nam và ngụy Campuchia đều bị đánh đau. Cuộc hành quân chẳng những thất bại mà chúng còn mất đi 7 tỉnh và một số vùng khác, cộng lại hơn 1/3 đất nước Campuchia được giải phóng. Được như vậy là vì các sư đoàn quân giải phóng 5, 7, 9 và một số quân binh chủng đang đóng quân vùng biên giới nhân cơ hội này đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ - ngụy hành quân đánh Campuchia. Hành động kịp thời này vừa giúp bạn tiêu diệt quân của Lonnol, vừa quét sạch một hệ thống đồn bót của chúng. Đường tiếp tế quá cảnh qua cảng Kompongxom bị đứt thì đường Hồ Chí Minh được nối liền từ Hạ Lào qua Campuchia và nối với vùng Lộc Ninh và Bắc Tây Ninh.


*
*      *

    Trong cuộc chiến tranh nhân dân, ta đã xây dựng được một lực lượng chủ lực thiện chiến lên đến cấp sư đoàn, được rèn luyện trong chiến đấu qua nhiều năm, đó là một yếu tố vô cùng quan trọng. Lực lượng chủ lực đó là nòng cốt vững chắc để kết hợp với quân địa phương và du kích, với đấu tranh chính trị của nhân dân trở thành lực lượng có trình độ tổng hợp hoàn chỉnh của chiến lược chiến tranh nhân dân. Không phải mọi người đều hiểu rõ điều này và thấy hết giá trị của việc giữ vững các sư đoàn chủ lực tập trung trong hoàn cảnh khó khăn thiếu lương thực, đạn dược, và ngay cả chỗ đứng chân của chủ lực trong năm 1969 - năm gay go nhất của quá trình cuộc chiến...

    Rõ ràng, chỉ hơn 1 năm sau, chủ lực ta lại phát huy hiệu quả chiến đấu, cả năm 1970 mở rộng chiến trường Campuchia, cả năm 1971 phá phòng tuyến giặc, diệt từng chiến đoàn địch, thu cả pháo xe kéo và xe tăng, thiết giáp của địch để xây dựng thêm binh chủng mới cho quân giải phóng. Nếu năm 1969 ta phân tán chủ lực về khắp chiến trường miền Nam, thì làm thế nào năm 1970 ta có được các sư đoàn thiện chiến, và như vậy cuộc chiến tranh có lẽ sẽ đi theo một hướng khác mà phần thắng chưa rõ sẽ về ai.

    Xây dựng lực lượng quân giải phóng mạnh cả ba thứ quân là một vấn đề chiến lược lớn. Bố trí và sử dụng các lực lượng ấy đúng chỗ, đúng lúc, tạo thành thế trận của chiến tranh nhân dân, không nao núng dao động, là vấn đề quyết định của thành bại.

    Đây là bài học vô cùng quý giá của nghệ thuật quân sự, của chỉ đạo chiến lược và điều khiển chiến tranh.

    Đường 9 - Nam Lào

    Đầu năm 1971, địch lại tập trung phần lớn chủ lực ngụy Sài Gòn cùng với hỏa lực không quân, pháo binh được tập trung tối đa của Mỹ mở cuộc hành quân lớn vượt biên giới Lào và Campuchia để cắt đứt từ gốc đường chiến lược Hồ Chí Minh và lập vành đai ngăn chặn quá khỏi biên giới Nam Việt Nam.

    Ngày 30/02/1971, địch sử dụng toàn bộ sư đoàn tổng trù bị tinh nhuệ nhất của quân ngụy là dù và thủy quân lục chiến cùng Sư đoàn 1 bộ binh, 3 lữ đoàn bộ binh, 4 trung đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn pháo binh ngụy Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” hòng ồ ạt đánh chiếm Sê Pôn, cắt đứt con đường vận chuyển cơ giới, phá hủy toàn bộ kho tàng ở Sê Pôn và dọc đường chiến lược số 9 Nam Lào. Để yểm trợ và phối hợp với quân ngụy Sài Gòn, quân Mỹ đã sẵn sàng ở phía biên giới 20 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh, sử dụng 1.000 máy bay các loại và 50 máy bay chiến lược B-52.

    Từ tháng 11 là mùa khô ở Lào, phán đoán trước địch có thể đưa quân ngụy Sài Gòn hành quân lớn lên Đường 9 - Nam Lào, ta đã thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận từ tháng 12/1970 mang bí số 702 để chuẩn bị và chỉ huy cuộc phản công ở đường 9. Với quyết tâm “Nhất quyết phải thắng địch trong chiến dịch này dù phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào cũng phải quyết tâm thắng lớn, vì đây là một trận có ý nghĩa chiến lược”. Quân dân Việt Nam và Lào, hai nước anh em đã thắng to: Sau 52 ngày đêm chiến đấu kiên cường buộc địch phải bỏ xác trên chiến trường và mang bọn bị thương về nước tổng cộng 2 vạn tên, 1.142 tên bị bắt sống, 556 máy bay các loại bị bắn rơi, bắn cháy. Có trận ở Sê Pôn chiến sĩ ta đã bắn hạ hàng chục máy bay các loại. Hàng trăm xe rút chạy về miền Nam đã bị đốt cháy phơi xác trên một đoạn đường hàng chục kilômét dọc đường 9.

    Ngày 04/02/1971, phối hợp với cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, Quân đoàn 3 ngụy mở cuộc hành quân “Toàn thắng 01/71” vào vùng Đông Bắc Campuchia với lực lượng 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn xe tăng thiết giáp, 1 liên đoàn biệt động, 12 tiểu đoàn pháo binh. Âm mưu của địch là thiết lập thêm 1 tuyến phòng thủ ngoài biên giới bảo vệ cho chúng ở miền Nam. Từ tháng 10/1970, ta đã chuẩn bị đánh bại cuộc hành quân lớn của địch ở vùng này. Cuộc chiến đấu đã diễn ra trên một không gian rộng 100km, sâu 60km. Chiến sĩ ta đã tấn công mãnh liệt chống chặn kiên cường. Đoàn 301 được tổ chức để chỉ huy 3 sư đoàn chủ lực tinh nhuệ của B2 trên đất bạn, tạo bước phát triển cho sự hình thành quân đoàn chủ lực đầu tiên ở Nam Bộ sau này, một điều mà trước đây, nhất là trong chống Pháp chưa làm được. Đó là sự trưởng thành vượt bậc của quân giải phóng miền Nam. Với khí thế thi đua sôi nổi, với quyết tâm tiêu diệt từng đơn vị lớn của quân ngụy Sài Gòn càng nhiều càng tốt hỗ trợ cho bạn mở rộng vùng giải phóng, chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy mới ở miền Nam, cán bộ và chiến sĩ ta đã liên tục tấn công địch. Cũng có những trận ta về mồi hụt để địch chạy thoát, chưa tiêu diệt gọn tuy thu được nhiều súng đạn, đặc biệt là đạn pháo lớn. Trận sau cùng với chiến thuật vây ép chặt buộc quân địch không chịu nổi phải rút chạy về miền Nam trên đường 13 từ Snoul về biên giới. Quân ta đã chờ sẵn xông lên tiêu diệt Chiến đoàn 8 quân ngụy Sài Gòn, thu hàng chục khẩu pháo, xe tăng và xe bọc thép. Cuộc hành quân “Toàn thắng 01/71” của ngụy quân Sài Gòn đã bị quân ta đánh cho “toàn bại”.

    Trong lúc tấn công và tiêu diệt, đuổi quân ngụy Sài Gòn, quân dân ta đã phối hợp với quân và dân bạn đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân “Chen la 2” lớn nhất của quân ngụy Lonnol ở hướng đường 6. Cuộc chiến đấu kéo dài hơn 100 ngày dưới làn bom ác liệt của không quân Mỹ, có máy bay B-52 chi viện cho quân ngụy Lonnol, ta và bạn đã tiêu diệt hơn 3 vạn tên, bắt sống 2.000 tên, thu gần 5.000 súng các loại, 55 xe có cả xe tăng và thiết giáp. Ở Phnôm Pênh, Đoàn đặc công biệt động 307 của quân giải phóng lên chi viện cho bạn liên tiếp 2 lần tập kích và 9 lần pháo kích sân bay Pôchetông - sân bay quân sự lớn nhất của ngụy Lonnol. Riêng trong 1 trận tập kích đêm các chiến sĩ đặc công, biệt động đã đánh 1 trận vang dội: Phá hủy 105 máy bay các loại, 100 xe vận tải và xe phục vụ hoạt động máy bay, 1 trạm rađa và nhiều súng đạn, giết và làm bị thương 1.200 tên có 300 tên giặc lái, trong đó có 60 tên giặc lái Sài Gòn và nhân viên kỹ thuật, hủy diệt 95% quân chủng không quân ngụy Lonnol. 9 chiến sĩ ta đã hy sinh anh dũng làm sâu đậm thêm tình nghĩa chiến đấu keo sơn giữa hai dân tộc anh em. Báo chí đã nêu lúc ấy: “1 trận đánh tài tình diệt 1 quân chủng”.

   Các chiến sĩ quân giải phóng đã không nề hy sinh giúp bạn giải phóng hơn nửa đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Giúp bạn là tự giúp mình”.

   Trong lúc quân chủ lực ngụy tập trung hầu hết lên chiến trường Campuchia để chịu tổn thất nặng nề trước những đòn tấn công mãnh liệt của chủ lực ta cùng với bạn, ở miền Nam, bộ đội địa phương du kích cùng một số trung đoàn chủ lực đã tranh thủ thời cơ phối hợp cùng nhân dân đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, từng bước khôi phục lại các vùng đã mất, tạo thế, tạo lực mới.

    Từ Trị Thiên - Huế đến đồng bằng Nam Bộ: 1972 - năm quyết định

    Bước vào năm 1972, quân và dân miền Nam đã vượt qua những ngày gian khổ có nhau. Sức chiến đấu đã tăng lên rõ rệt. Tình thế mới đang xuất hiện. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ngày càng có tiếng vang trên thế gới. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam (vừa mới thành lập) được củng cố vững mạnh. Tiếng nói chính thức của đại diện Chính phủ trên bàn hội nghị về Việt Nam ở Paris ngày càng thêm trọng lượng. Nhằm buộc kẻ thù phải đi đến ký kết Hiệp định hòa bình ở Việt Nam, toàn miền Nam sôi nổi tham gia cuộc tiến công và nổi dậy mới. Trên 2 hướng của miền Nam là Trị Thiên - Huế và miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta tiến lên mở những chiến dịch lớn cấp quân đoàn với lực lượng 3, 4 sư đoàn bộ binh, nhiều trung đoàn pháo binh và nhiều đơn vị xe tăng. Lần đầu tiên tại chiến trường miền Nam, quân giải phóng đã được chi viện bằng pháo xe kéo và xe tăng thiết giáp trong biên chế của mình. Đây là một bước trưởng thành vượt bậc về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang và về chiến đấu hợp đồng binh chủng.

    Ngày 30/3/1972, chiến dịch tấn công ở Trị Thiên bắt đầu. Chỉ trong 5 ngày quân giải phóng đã tiêu diệt 1 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 2 trung đoàn thiết giáp, tích cực hỗ trợ nhân dân huyện Gio Linh và Cam Lộ nổi dậy giải phóng hoàn toàn 2 huyện. Đến ngày 27/4 tấn công và nổi dậy đợt 2 trong 7 ngày đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn tập đoàn phòng ngự ở Đông Hà (Ái Tử, La Vang, Quảng Trị), giải phóng tiếp 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Địch tập trung lực lượng lớn gồm toàn bộ 2 sư đoàn quân tổng trù bị dù và thủy quân lục chiến, quân chủ lực cơ động của Quân đoàn 1 ngụy được không quân và hải quân Mỹ chi viện trực tiếp với nỗ lực cao nhất liên tiếp phản công hết sức ác liệt để chiếm lại thị xã Quảng Trị. Với nhiệm vụ giữ cho được Quảng Trị một thời gian dài để phối hợp tấn công và nổi dậy khắp miền Nam, hỗ trợ cho tiếng nói đấu tranh trên bàn hội nghị, chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị đã chiến đấu ngoan cường hơn 200 ngày đêm. Đây là một cuộc đọ sức hết sức quyết liệt. Cái tên “Thành cổ Quảng Trị” cùng với những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng của chiến sĩ giải phóng vang dội khắp mọi miền của đất nước và trên toàn thế giới. Có ngày trên mảnh đất nhỏ hẹp này, chiến sĩ ta phải chịu đựng 24 tấn bom đạn trên 1km2. Thành cổ hầu như thành bình địa nhưng chiến sĩ quân giải phóng vẫn bám trụ kiên cường dài ngày.

    Phối hợp với Quảng Trị và cuộc tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, ngày 01/4/1972, chỉ sau Quảng Trị 1 ngày, chiến dịch Nguyễn Huệ của chủ lực miền Đông đã mở màn hướng phụ và cũng là hướng nghi binh thu hút địch trên đường 22 Tây Ninh. Với xe tăng cũ lấy được của địch, 1 chiếc chạy được lại không sử dụng được pháo trên xe, 1 chiếc súng sử dụng được vào đến hàng rào nằm lại tại chỗ, nhưng tiếng súng đại bác và tiếng rầm rú của xe tăng đã tác động mạnh đến tinh thần quân địch hỗ trợ tích cực cho bộ binh mãnh liệt xung phong tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn địch, đập tan hệ thống phòng thủ của địch dọc đường 22 biên giới Tây Ninh - Campuchia. Trong lúc Bộ Tổng Tham mưu ngụy bị mắc kế nghi binh đang điều cả đơn vị tổng trù bị để đối phó hướng Tây Ninh, ngày 05/4/1972, quân chủ lực của ta cùng với những chiếc xe tăng vượt Trường Sơn và bí mật tiến theo đường quân sự làm gấp mới mở bất ngờ tấn công vào chi khu quân sự là huyện lỵ Lộc Ninh, 1 cụm phòng ngự trên 5.000 tên địch phần lớn là quân chủ lực và đơn vị thiết giáp. Trong 2 ngày chiến đấu mãnh liệt, chiến sĩ quân giải phóng ở miền Đông đã lập công xuất sắc tiêu diệt hoàn toàn 1 chiến đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng và thiết giáp, bắt sống và làm tan rã hoàn toàn lực lượng chủ lực và bảo an, dân vệ và hệ thống kìm kẹp của địch trong toàn huyện Lộc Ninh, tiêu diệt gần hết 1 chiến đoàn khác đang rút chạy.

    Trận chiến đấu giải phóng thị trấn Lộc Ninh có biết bao hình ảnh sinh động lúc chiến đấu, trong đó có sự đóng góp của các chiến sĩ điện ảnh mà nổi bật là tấm gương hy sinh của đồng chí Cam ở Xưởng phim Quân giải phóng. Anh băng trước qua mở cửa hô to: “Các đồng chí xung phong lên diệt địch, tôi sẽ ghi hình ảnh của các đồng chí đưa vào lịch sử!”. Quay được nửa cuộn phim đồng chí gục ngã trên đường tiến quân đi đến chiến thắng của quân giải phóng. Những thước phim chiến thắng Lộc Ninh mãi mãi tồn tại với nỗi nhớ thương của đồng đội anh, nhất là những chiến sĩ đã được anh động viên trong những giờ phút chiến đấu căng thẳng nhất ở chiến trường. Chiến thắng Lộc Ninh không những đã diệt nhiều chiến đoàn bộ binh và xe tăng thiết giáp địch, thu 16 khẩu pháo và 36 xe tăng và bọc thép mà còn có ý nghĩa chính trị quan trọng sau này. Lộc Ninh trở thành như thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

    Nói đến chiến dịch Nguyễn Huệ, không thể không nhắc đến những chiến sĩ chốt chặn kiên cường ở phía nam thị xã An Lộc vừa thu hút vừa ngăn chặn địch cho đồng đội tấn công dứt điểm thị xã. Ngày đêm không ngớt tiếng bom B-52. Mùa khô cũng như mùa mưa dầm mình trong bùn lầy trong những công sự đào khoét gấp rút, ngụy trang tài tình ở hai bên đường 13. Một ngày đánh lui hàng chục đợt tấn công của mọi loại quân địch. Chiến sĩ bộ binh, pháo binh và cả anh nuôi cũng chiến đấu. Trong cuộc sống chiến đấu ác liệt căng thẳng vẫn xuất hiện những bài thơ của chiến sĩ:

          “Một bông trang đỏ
          Cắm lưng vách hầm
          Bom rung đạn nổ
          Hoa vẫn tươi màu
          Màu đỏ trái tim
          Xong phiên bắn tỉa
          Ta lại vào hầm ngồi ca
          Anh nuôi mỗi lần ra giao hẹn
          Cứ giết mỗi thằng thưởng một bông hoa”


    Do nhiều nguyên nhân, khách quan và chủ quan, ta không thực hiện trọn vẹn ý đồ ban đầu là chiếm thị xã, nhưng mặt trận An Lộc đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của quân ngụy, thu hút về đây nhiều lực lượng cơ động của cả hai quân đoàn ngụy ở Nam Bộ, tạo điều kiện cho quân và dân đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Đông đẩy mạnh tấn công và nổi dậy. Sư đoàn 21 cùng một số liên đoàn biệt động từ miền Tây Nam Bộ đã bị ghìm chân và bị đánh thiệt hại tại đây gần 2 tháng trời. Nguyễn Văn Thiệu cũng đã bị quân giải phóng giáng cho một đòn cảnh cáo làm cho hắn suýt mất mạng. Thiệu liều lĩnh lên thị sát động viên tinh thần quân lính, nhưng máy bay vừa tiếp đất đã bị chiến sĩ pháo binh ta giáng trận phủ đầu. Tướng 2 sao Toiny Robert - Lữ đoàn trưởng không quân số 1 cùng một số sĩ quan Mỹ bỏ mạng. Thiệu thoát chết, chuồn thẳng về Sài Gòn.

    Cuộc tấn công và nổi dậy toàn miền 1972 có nhiều nét mới. Phối hợp với những chiến dịch tấn công của chủ lực, sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành tương đương cấp quân đoàn, đánh chiếm, gây cho địch thiệt hại nặng ở một số thị trấn. Từ Trị Thiên đến đồng bằng Nam Bộ xuất hiện hàng loạt chiến dịch tấn công tổng hợp với lực lượng từng trung đoàn và cả sư đoàn, kết hợp bộ đội địa phương, du kích và nổi dậy của quần chúng đánh chiếm hàng loạt chi khu, quận lỵ, đánh bồi, đánh nhồi, mở mảng, mở đề, giải phóng từng vùng nông thôn rộng lớn. Các lực lượng vũ trang giải phóng tiêu diệt nhiều chi khu quân sự, nhiều tiểu đoàn địch làm đòn xeo tích cực cho phong trào nổi dậy. Ở Khu 5, tháng 4/1972 đánh chiếm quận lỵ Hoài Ân, thị xã Bồng Sơn, tiêu diệt căn cứ Đệ Đức, giải phóng toàn bộ nửa phía bắc Bình Định và nửa bắc huyện Hoài Mỹ rộng 1.500km2. Tấn công vây ép liên tục 20 đêm buộc địch rút chạy, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giải phóng huyện Hiệp Đức và nhiều xã dọc đường 16 của 2 huyện Thăng Bình, Quế Sơn. Tháng 5/1972 mở rộng vùng giải phóng dọc đường 1 liên hoàn 13 xã dọc biển từ núi Sơn Trà vào giáp sông Trà Khúc. Tháng 6/1972 tiêu diệt căn cứ Cắm Dơi, các quận lỵ Quế Sơn, làm chủ quận lỵ Duy Xuyên. Địch phản kích quyết liệt chiếm lại một số quận lỵ nhưng ta vẫn còn làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn sát thị xã, thị trấn.

    Ở đồng bằng sông Cửu Long, từ Long An, Mỹ Tho cho đến Hậu Giang, Bạc Liêu khí thế tiến công và nổi dậy bùng lên mạnh mẽ khắp nơi. Các lực lượng vũ trang giải phóng đã đánh chiếm hàng trăm đồn bót, thực hiện đánh bồi, đánh nhồi, tiêu diệt và làm thiệt hại nặng nhiều chi khu quân sự, giải phóng nhiều quận lỵ và hàng chục xã liên hoàn với nhau. Riêng Bạc Liêu - một tỉnh tận cùng của miền Nam Tổ quốc, xa sự chi viện của Trung ương, của Miền, các chiến sĩ giải phóng cũng đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng các chi khu quân sự, quận lỵ Ngang Dừa, Phước Long, Thới Bình, hỗ trợ hàng vạn nhân dân phá bỏ ấp chiến lược bung về vùng giải phóng. Gần 1 triệu đồng bào ở đồng bằng sông Cửu Long đã thoát khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy. Phong trào chiến tranh du kích, chính quyền và đoàn thể cách mạng đã được khôi phục và mở rộng trên nhiều vùng giải phóng liên hoàn hàng chục xã, có nơi 2, 3 huyện nối liền nhau.

    Những chiến thắng vang dội của đồng bào chiến sĩ miền Nam đã phối hợp nhịp nhàng với những chiến công oanh liệt của quân dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” bắn rơi hàng loạt máy bay chiến lược B-52 ở Hà Nội - Thủ đô của Tổ quốc.

    Một năm liên tục tấn công với tinh thần bền chí, chịu đựng khó khăn, gian khổ, hết trận này đến trận khác, cuộc chiến ngày thêm ác liệt, đồng đội hết người này ngã xuống người khác lại xông lên, chiến sĩ quân giải phóng đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình: đánh, đánh tiếp, đánh cho đến khi quân địch không còn con đường nào khác phải chịu cầm bút ký vào bản Hiệp định Paris về Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Mười, 2022, 04:12:14 pm
IV- MỸ CÚT, NGỤY NHÀO


   Lịch sử lật qua trang mới: Vừa chiến đấu đánh bại mọi âm mưu và hành động chiến tranh của địch, vừa đấu tranh quyết liệt trên bàn hội nghị đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định đã ký kết.

   Một vinh dự lớn đối với quân giải phóng: Tại Lộc Ninh, trong sự tiễn đưa nồng nhiệt của đồng bào vùng giải phóng, phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do trực thăng của Mỹ đón vào tận “thủ đô” của ngụy quyền ở Sài Gòn dự Hội nghị bốn bên, bàn về việc thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam. Gọn gàng trong những bộ quân phục quân giải phóng, đầu đội chiếc mũ tai bèo đính quân hiệu ngôi sao vàng trên nền nửa xanh nửa đỏ, vai khoác súng AK, chân mang đôi dép cao su, cán bộ chiến sĩ quân giải phóng trong phái đoàn đều thấy tự hào hiên ngang đặt chân lên sân bay Tân Sơn Nhất, nơi mà dịp Tết Mậu Thân 1968 ta đã từng đọ súng quyết liệt với Mỹ - ngụy. Các nhà báo nước ngoài cũng như trong nước thi nhau quay phim, chụp hình những giờ phút lịch sử để đưa tin, ảnh trên báo đài, truyền hình khắp thế giới với lời bình luận: “Quân giải phóng Nam Việt Nam đi vào thủ đô Sài Gòn vẫn bằng đôi dép cao su giản dị đã nổi tiếng từ Mậu Thân 1968”. Sống giữa Sài Gòn quanh mình dày đặc các binh chủng quân đội đối phương, những người đại diện quân giải phóng biết chắc rằng cuộc đấu tranh trên mặt trận mới sẽ rất nhiều cam go phức tạp, nhưng vẫn vững tin chung quanh mình có đồng bào, có đồng đội ở chiến trường đang tích cực hỗ trợ đắc lực cho tiếng nói chính nghĩa giải phóng trên bàn hội nghị.

   Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là niềm vui lớn cho chiến sĩ đồng bào miền Nam vốn yêu chuộng hòa bình, chiến đấu kiên cường cũng cốt vì hòa bình, vì hạnh phúc toàn dân. Nhưng bọn đầu sỏ ngụy quân, ngụy quyền cố tình ra sức phá hoại Hiệp định. Nguyễn Văn Thiệu tay sai Mỹ đã bộc lộ âm mưu phá hoại Hiệp định, luôn mồm hò hét “không có hòa bình với cộng sản; không liên hiệp - không thương lượng - không có lực lượng đối lập - không để lọt vào tay Việt cộng bất cứ lãnh thổ nào”. Để thực hiện chủ trương “4 không” trên, Thiệu chỉ thị cho thuộc hạ “phản ứng mau lẹ trong các cuộc lùng diệt hạ tầng cơ sở Cộng sản... Phải làm cho chiến tranh tàn lụi dần để chỉ có một chính quyền, một quân đội duy nhất của quốc gia”. Trước âm mưu thủ đoạn chiến tranh mới của quân thù, nhiều nơi ta bị động lúng túng trong việc đánh trả địch. Chủ trương binh vận hữu khuynh: “lòng đỏ vỏ xanh”, “năm cấm chỉ” (cấm đánh địch hành quân, đóng đồn bót, cấm xây làng chiến đấu...) xuất hiện trên chiến trường đã trói tay trói chân bộ đội, du kích. Ta không đánh trả, địch càng lấn tới. Trước tình hình bị động mất đất, mất dân, cán bộ, bộ đội, du kích nhiều nơi đã giấu cấp trên tổ chức đánh lén địch càn quét, đóng đồn bót trái phép để giữ địa bàn, khôi phục nơi đứng chân, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ đồng bào. Phải chăng nhờ kinh nghiệm tổn thất nặng nề của những năm sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, lần này chỉ lượng sượng, lúng túng vài tháng đã được uốn nắn kịp thời. Tháng 6/1973, toàn miền Nam đã được phép “phản công địch đã vi phạm Hiệp định”. Ngày 15/10/1973, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã công khai ra lệnh cho toàn quân trên Đài Phát thanh giải phóng: “kiên quyết đánh trả họ (ngụy quân ngụy quyền) vi phạm Hiệp định ở bất cứ đâu, bằng hình thức và lực lượng thích đáng, buộc đối phương phải nghiêm chỉnh và triệt để thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam, chấm dứt mọi hành động phá hoại Hiệp định của họ”. Tại bàn hội nghị ở Tân Sơn Nhất, đại diện phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên tiếng cảnh cáo quân ngụy Sài Gòn phải chịu mọi hậu quả đối với hành động phá hoại Hiệp định lấn chiếm trái phép của họ. Mỹ - ngụy đòi phân chia ranh giới rạch ròi giữa ta và địch mà phần chúng kiểm soát là những vùng đông dân, nhiều cửa đường giao thông, thị xã, thị trấn. Còn giao lại cho ta rừng núi bưng biền ít dân và kinh tế còn lạc hậu nghèo nàn. Địch không thể khôn hơn ta. Ngừng bắn nguyên tại chỗ, chiến trường cài răng lược, da beo đã là nguyên tắc và cũng là thực tế không suy suyển. Đánh trả địch vi phạm Hiệp định trở thành quyết tâm và hành động kiên quyết của tất cả các chiến trường, ngay nơi chúng hành quân lấn chiếm và cả nơi chúng xuất phát hành quân đi gây tội ác. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam, tiếng súng phản công và tấn công trừng trị địch vi phạm Hiệp định nổ ra đều khắp, nổi bật là ở miền Tây Nam Bộ.

    Ngay sát thủ đô của ngụy quyền Sài Gòn, chiến sĩ Đoàn 10 không thể ngồi nhìn đế quốc Mỹ ùn ùn chở bom đạn vào cho quân ngụy giết hại đồng bào. “Rừng Sác là nhà - Lòng Tàu là trận địa - quân cảng Nhà Bè là quyết chiến điểm!”, đó là lời thề của mỗi một cán bộ, chiến sĩ đặc công Rừng Sác. Quyết giáng một đòn trừng trị quân địch ngay hang ổ đầu não của chúng, 8 chiến sĩ thuộc Đội 5 do Hà Quang Vóc chỉ huy suốt mấy tháng ròng rã đội nắng, chịu rét đói khát ẩn mình trong căn cứ địch đêm cũng như ngày sống bằng cơm nắm, gạo rang, len lỏi vào trinh sát từng kho bom, từng bồn nhiên liệu của địch. Được lệnh trên, một ngày của tháng 12/1973 Đội 5 đã bất ngờ tấn công toàn khu kho Shell gây nên trận bão lửa dữ dội sáng rực cả góc trời phía đông nam Sài Gòn làm cho bọn ngụy từ tướng đến quân kinh hoàng, hoảng hốt. Các hãng thông tấn phương Tây đều đưa tin: Cả một khu kho Shell với 140 triệu lít xăng dầu, 1 tàu chở dầu 12 vạn tấn, 1 cơ sở lọc dầu hoàn toàn bị thiêu cháy. Một đòn cảnh cáo đích đáng của quân ta đối với hành động phá hoại Hiệp định của địch.

    Ở Khu 5 trong khoảng tháng 7/1974 các lực lượng vũ trang tiêu diệt nhiều cứ điểm quan trọng của địch, nổi lên trận đánh chiếm và giữ Thượng Đức. Địch điều cả 1 sư đoàn dù thuộc quân tổng trù bị, nhằm chiếm lại Thượng Đức. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Mưa giông ập đến kéo dài làm cho chiến hào, công sự, hầm trú ẩn của quân giải phóng sũng nước. Chiến sĩ ta đầu đội mưa, chân dầm trong bùn nước lầy lội, kiên cường đánh trả liên tiếp những đợt phản kích điên cuồng của địch. Lữ đoàn dù thứ nhất xông vào bị đánh quỵ, địch cho lữ đoàn dù thứ hai tiếp tục phản kích cũng phải chịu chung số phận của bọn đi trước. Một trăm ngày đêm chiến đấu ở Thượng Đức đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn dù, không những đã làm nổi bật tinh thần chiến đấu và chiến thắng mà còn báo hiệu khả năng tiêu diệt lớn của quân giải phóng. Ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long cũng đã xuất hiện những chiến dịch phản công giành thắng lợi lớn từ Bù Bông - Tuy Đức, đường 7 trung tuyến bảo vệ Sài Gòn buộc quân địch phải quay về bị động đối phó.

    Từ mùa mưa năm 1974, toàn bộ chiến trường miền Nam đã chuyển động đổi thay với thế thắng lợi của quân giải phóng và sự suy yếu rõ rệt của quân ngụy. Với cái nhìn chiến lược, Bộ Chỉ huy quân giải phóng đã dự kiến một mùa khô 1974-1975 đầy hứa hẹn thành công to lớn. Kế hoạch mùa khô chia hai thời kỳ đã được vạch, và việc chuẩn bị cho thắng lợi cuối cùng đã được triển khai. Quân đoàn 4, chủ lực của chiến trường miền Đông Nam Bộ - Sài Gòn đã được thành lập và huấn luyện theo phương án tác chiến và mở đầu là Đồng Xoài - Phước Long. Trong lúc đó, Lữ đoàn biệt động 310 cũng ra đời và từng đơn vị dội bom đạn, lách càn quét để xuyên găm vào Sài Gòn. Từng đơn vị bám sát mục tiêu đã được phân công trong nội thành. Đặc công đã được chấn chỉnh, học tập chiến thuật thích hợp đánh ở vùng ven ngoại thành và tiếp sức cho các hướng biệt động bên trong nội thành Sài Gòn: Sư đoàn II được hình thành. Các đoàn thể quần chúng, các đội vũ trang tuyên truyền khẩn trương sắp xếp lại lực lượng, được tăng cường cán bộ và hội viên rút từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lên, để vận động cho một cuộc nổi dậy của quần chúng bên trong Sài Gòn phối hợp với quân giải phóng đánh từ ngoài vào.

    Những cơn mưa cuối mùa vừa dứt, cùng với tia nắng ấm mùa khô tháng 12/1974 như báo hiệu cả quân dân chiến trường B2 đang sôi động vùng lên tấn công địch và đỉnh cao thắng lợi đầu mùa khô 1974-1975 là chiến dịch đường 14 - Phước Long. Ngày 13/12/1974 mở màn chiến dịch. Chỉ 5 ngày sau, chiến sĩ miền Đông đã tiêu diệt được 1 chi khu, 1 yếu khu quân sự, gồm hơn 60 căn cứ đồn bót, diệt và bắt, làm tan rã gần 2.000 địch, thu gần 900 súng, giải phóng khu vực đường chiến lược số 14 dài hơn 100km. Một tấm gương đáng nói: Đoàn Đức Thái. Anh Đoàn Đức Thái tiến đến hàng rào thứ 6 gặp địa hình dốc đứng, 4 lần đặt bộc phá bị tuột, anh đã quyết định tự mình dùng tay đỡ bộc phá, tay kia rút nụ xòe làm nổ tung hàng rào cuối cùng của địch cho đồng đội xung phong đánh chiếm chi khu kiên cố của địch mở đầu chiến dịch thắng lợi. Tiếp đó chi khu quân sự Đồng Xoài rộng hơn 40km2 với 500 lô cốt và ụ chiến đấu 8, 9 lớp rào, án ngữ một ngã tư đường quan trọng, cắt đứt căn cứ phía tây và căn cứ khu A của ta. Sau 7 giờ chiến đấu chiến sĩ ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 1.000 tên giặc gồm cả chi khu trưởng. Thừa thắng xông lên, bộ binh, xe tăng, pháo hạng nặng đã phối hợp nhịp nhàng tấn công liên tục chi khu Phước Bình, điểm cao Bà Rá và đến ngày 06/01/1975 - mở đầu năm 1975 toàn thắng với trận thắng vang dội: Đánh chiếm 1 thị xã và giải phóng hoàn toàn một tỉnh - tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng chỉ cách Sài Gòn 120km. Chính quyền ngụy bày trò để tang tỉnh Phước Long 3 ngày không biết để nói lên cái gì. Nhưng chắc là để cho chủ Mỹ mủi lòng mà cứu vớt cho một chế độ tay sai sắp nguy vong. Nhưng đế quốc Mỹ chỉ diễu võ giương oai ngoài biển mà rốt cuộc không dám đưa quân trở lại đất liền miền Nam Việt Nam.

    Chiến thắng Phước Long trở thành một “đòn trinh sát chiến lược” nắn gân cốt cả đế quốc Mỹ lẫn quân ngụy Sài Gòn. Quân ngụy thua đã rõ ràng. Khả năng quân Mỹ quay trở lại miền Nam rất ít. Nhà báo Mỹ Frank Sneep đã bình luận: “mất Phước Bình (Phước Long) là một đòn đau đối với chính quyền Thiệu. Đối với Thiệu và cũng như đối với Bắc Việt Nam, trận Phước Bình là trận thăm dò chính sách của Mỹ”. Phước Long - một thực tiễn sinh động, đóng góp vào quyết tâm chiến lược 2 năm của quân và dân ta: “Năm 1975 tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng toàn miền Nam. Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”. Bài thơ mà Bác Hồ viết trong nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Hoa trong những năm 1940 lại vô cùng ứng hiệu trong những tình huống chiến lược năm 1975:

        “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,
        Kiên quyết, không ngừng thế tấn công
        Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
        Gặp thời, một tốt cũng thành công”
.

   Thời cơ đã đến rồi, ngụy thì suy sụp khôn cùng, Mỹ thì tính chuyện bỏ cuộc. Các lực lượng vũ trang của cả hai miền đều đã hội quân ở tiền tuyến lớn miền Nam. Năm 1975, tổng tiến công và nổi dậy không chỉ trên thế chủ động vững vàng, lực lượng áp đảo mà còn bằng cả mưu lược tài tình. Cả nước dốc sức chi viện cho miền Nam trong trận quyết chiến chiến lược này.

   00 giờ ngày 10/3/1975, trong khi kẻ địch đang lo tập trung đối phó ở Pleiku, Kon Tum, quân dân ta đã bất ngờ tấn công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Trước lưỡi lê, họng súng của bộ binh và tiếng gầm rú của xe tăng ta, 8.000 quân địch đã hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã, các tên đại tá tiểu khu trưởng và sư đoàn phó chạy trốn nhưng không thoát. 9 giờ sáng ngày 13/3/1975, lá cờ chiến thắng của quân giải phóng đã tung bay trên đỉnh nhà tỉnh trưởng ngụy quyền.

   Trước đây Thiệu ngoan cố phá hoại Hiệp định, luôn mồm “hò hét” không để một xã, một ấp nào rơi vào tay cộng sản. Nhưng nay: Tháng 01/1975 mất toàn tỉnh Phước Long, tháng 3/1975 mất thêm tỉnh Đắk Lắk đã làm hắn điên đầu. Hắn kêu gào công khai phải “tử thủ”, nhưng bí mật ra Cam Ranh họp bàn với Tư lệnh Quân khu 2 ngụy rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên chuyển quân chủ lực về giữ đồng bằng ven biển, bỏ lực lượng địa phương và hệ thống chính quyền ở lại, không được thông báo cho các tỉnh trưởng biết. Nhưng cỗ xe đã cũ trên đà lao nhanh xuống vực thẳm không sao cản nổi. Hàng vạn quân địch tháo chạy hỗn loạn khỏi Tây Nguyên, bộ đội ta truy kích, bằng mọi phương tiện cơ giới và chạy bộ. Đêm đến lấy nứa khô và cả dép cao su làm đuốc soi đường rượt địch. Bộ đội ta lại chặn đầu. Củng Sơn, điểm cuối cùng định đoạt số phận bọn rút chạy: Toàn bộ địch quân bị tiêu diệt và bị bắt sống.

   Tây Nguyên có lợi thế về quân sự ở phía nam đất nước đã được quân dân ta giải phóng hoàn toàn. Thế chiến lược của Mỹ - ngụy đã bị phá vỡ trên một địa bàn xung yếu.

   Như con bài đôminô, thất bại Tây Nguyên nặng nề, đột ngột cuốn theo những thất bại liên tiếp của Mỹ - ngụy ở ven biển miền Trung Trung Bộ, gây kinh hoàng cho cả chế độ ngụy quyền.

   Quảng Trị năm 1972, chiến sĩ ta đã kiên cường chiến đấu giữ vững thành cổ 81 ngày đêm giữa mưa bom bão đạn của địch thì Xuân 1975 chỉ trong đêm 19/3 tiến công thần tốc đã chiếm thành cổ và thị xã, cùng nhân dân nổi dậy giải phóng toàn tỉnh.

   Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh tử thủ Huế 25/3 lại vội vàng đổi lệnh cho rút chạy. Nhưng quân địch đã bị bao vây tứ phía không còn đường chạy thoát, hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã. Lá cờ Tổ quốc từng ngự trị nóc Phú Văn lâu hơn 1 tháng trời trong Mậu Thân 1968 nay lại xuất hiện và tung bay mãi mãi trên bầu trời Huế và Thừa Thiên giải phóng.

    Trường Sơn chuyển mình, Biển Đông dậy sóng, quân dân ta vùng lên mạnh mẽ với chiến công nối tiếp chiến công. 24/3 chiếm Tam Kỳ giải phóng Quảng Ngãi 29/3. Trong cơn hoảng loạn của quân ngụy, thanh niên, học sinh, sinh viên và mọi tầng lớp đồng bào dùng mọi phương tiện lớn nhỏ, Honda, xích lô máy... chở bộ đội cấp tốc hành quân bao vây và tiêu diệt toàn bộ quân địch trên tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 01/4, giải phóng Quy Nhơn và Tuy Hòa, ngày 02/4 chiếm Ninh Hòa và Nha Trang. Ngày 03/4 giải phóng Cam Ranh.

    Cao trào tấn công và nổi dậy ở cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ vùng lên mạnh mẽ. Mỗi chiến sĩ, đồng bào miền Đông, miền Trung Nam Bộ đều hướng về Sài Gòn để chiến đấu, để tăng nhanh lực lượng, để dốc sức cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Ước mong cao nhất từ khi bắt đầu nổi dậy, bắt đầu cầm súng chiến đấu nay đã được thực hiện. “Mai vàng rực sáng chiến công - Gió ngàn vang rộn, súng xuân diệt thù”. Được lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, các lực lượng vũ trang miền Đông phối hợp quần chúng bao vây tiêu diệt từng đơn vị địch, giải phóng chi khu quận lỵ, tạo bàn đạp tấn công quyết định cho các binh đoàn chủ lực theo kế hoạch đột phá 5 mũi vào Sài Gòn, thanh toán hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy, đầu não chỉ huy gây bao tội ác chiến tranh.

    Hướng bắc Sài Gòn, 13/3/1975 đánh chiếm chi khu quân sự, giải phóng quận lỵ Dầu Tiếng, suối Ông Hùng, thông đường 16. Ngày 23/3 bức địch rút chạy khỏi thị xã Bình Long, sau đó Chơn Thành, ngã ba hai đường chiến lược số 14 và số 13 cách Sài Gòn 60km. Hướng đông diệt Định Quán cắt đường 20, chiếm Di Linh, sau đó thị xã Đà Lạt, làm chủ con đường chiến lược số 20 vài đoạn dài trên đường 1 Xuân Lộc. Để bao vây triệt để Sài Gòn, ngày 09/4 quân dân ta đã làm chủ đoạn đường 4 Cai Lậy, Mỹ Tho, Long An cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long về phía tây. Tại Xuân Lộc ở phía đông, ta tấn công đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 ngụy và buộc địch đêm 20/4 rút chạy khỏi Xuân Lộc, phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch. Sài Gòn đã bị bao vây từ phía đông. Chiến sĩ ta không còn thì giờ nghỉ ngơi và không còn ai nghĩ đến nghỉ ngơi. Điện chỉ đạo từ cơ quan lãnh đạo cao nhất đã thông suốt đến từng chiến sĩ ngay từ ngày đầu của tháng 4 lịch sử. “Bất ngờ hiện nay không còn là phương hướng nữa mà chủ yếu là khâu thời gian”. “Thời gian là lực lượng”. Từ giờ phút này mặt trận quyết chiến chiến lược Sài Gòn đã bắt đầu: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975 không thể để chậm”.

    Toàn miền Nam và cả nước thi đua với thời gian để “dứt điểm” trước mùa mưa lũ. Đồng bào lại dốc sức, dốc lực tin rằng kỳ này “làm thiệt”. Các Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên, Quân đoàn 2 ở Khu 5 mới được thành lập đã lên đường lao về Nam. Quân đoàn dự bị chiến lược từ hậu phương lớn đã cấp tốc hành quân bằng cơ giới vào cho kịp giờ nổ súng trận cuối cùng. Miền Đông thành lập thêm Đoàn 232 tương đương quân đoàn ở hướng tây Sài Gòn. Mỗi quân khu thành lập một sư đoàn, mỗi tỉnh từ 1, 2 tiểu đoàn tăng lên 6, 7 tiểu đoàn, thành lập trung đoàn, mỗi huyện từ 1, 2 đại đội tăng lên nhiều tiểu đoàn, lực lượng vũ trang lớn lên như “Phù Đổng”. Chiến sĩ hậu cần âm thầm lao động quên mình băng qua rừng sâu, vượt trên đồng nước chuyển đạn dược, lương thực, thuốc men, chuẩn bị cho chiến dịch. Hàng trên xe hơi, hàng dưới xuồng, hàng trên gióng gánh và cả trên đôi vai chiến sĩ hậu cần, thanh niên xung phong và đồng bào tình nguyện đi dân công. Tất cả được đẩy xuống sát chiến trường, có khi băng qua hàng rào đồn bót, bom đạn dịch, và xuyên thẳng đêm “ém” kho thuốc nổ, súng đạn vào giữa lòng Sài Gòn cho chủ lực, địa phương du kích, cho đặc công, biệt động và cho cả nhân dân cầm súng nổi dậy.

    Một ngày bằng 20 năm. Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến rồi. Mở đầu kháng chiến chỉ mới có các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng trưởng thành từ phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam. Trận kết thúc hội quân đến 20 vạn từ mọi miền của đất nước. Mở đầu chỉ có súng ngựa trời, súng trường gỉ sét. Nay tại mặt trận Sài Gòn đã có cả 2.000 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, 500 xe tăng, thiết giáp và xe vận tải quân sự. Bầu trời Sài Gòn đã được bảo vệ bằng tên lửa cộng với pháo phòng không các cỡ.

    Quá trình cuộc chiến đấu thần thánh đã được ghi dấu với những mốc lịch sử lớn lao:

    Đồng khởi năm 1960, Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975. Trước: 5 phân khu, 5 mũi tấn công vào Sài Gòn kết hợp với tấn công và nổi dậy tại chỗ của biệt động và nhân dân vào 5 mục tiêu chiến lược chủ yếu và hàng trăm mục tiêu khác. Nay: 5 hướng, 5 mũi với 5 quân đoàn chủ lực và tương đương, vùng ven và nội đô Sài Gòn còn tập trung 6 trung đoàn đặc công, 1 lữ đoàn biệt động, 2 trung đoàn, 6 tiểu đoàn, 60 tổ biệt động, hàng trăm tự vệ mật, hàng vạn quần chúng cách mạng cũng cùng tấn công vào các mục tiêu quen thuộc mà trước đây chưa hoàn thành.

    Thần tốc của chiến tranh nhân dân Việt Nam rất linh hoạt: Từ xa bôn tập đến và ngay tại chỗ đã bám trụ hàng chục năm bất thần bung lên tấn công địch.

    Hướng bắc, hướng đông, bộ binh phối hợp xe tăng vừa tấn công tiêu diệt vừa hành tiến. Hướng tây và nam, chiến sĩ bộ binh và cả xe tăng, pháo băng qua đầm lầy, đồng trống, vượt sông Vàm Cỏ để chọc thẳng vào Sài Gòn. Tiến quân thần tốc vào trung tâm thành phố là các binh đoàn chủ lực. Bảo đảm tiến quân thắng lợi trên các trục đường từ mọi hướng vào Sài Gòn, thần tốc chiến đấu là các chiến sĩ đặc công biệt động và lực lượng vũ trang tại chỗ. Khi chủ lực chưa đến, ít hơn địch gấp nhiều lần, vẫn tấn công trước 2, 3 ngày đêm đánh chiếm hàng chục cầu lớn quan trọng bao quanh và ngay trung tâm Sài Gòn. Liên tục đánh địch phản kích để giữ cầu cho đại quân đi qua. Ngày mai sẽ toàn thắng, hôm nay còn xông lên chiến đấu không nề hy sinh xương máu, phải chăng đó là điều cao quý nhất của người chiến sĩ, cán bộ đặc công, biệt động đã hy sinh cho chiến thắng và còn biết bao đồng đội, đồng chí nữa đã ngã xuống trên mọi nẻo đường tiến quân vào thành phố thân yêu và ngay tại trung tâm thành phố trong giờ phút cuối cùng. Biết bao cô gái, em bé, bà mẹ, bác nông dân, anh công nhân, cháu học sinh, sinh viên... và cả những binh lính, viên chức ngụy quyền đã dẫn đường chỉ lối cho bộ đội tiến chiếm các mục tiêu. Phối hợp với các chiến sĩ đầu mũi xe tăng, đội mũ cứng chính quy còn có những chiến sĩ đầu trần, mặc quân phục giải phóng, đi dép lê và cả những chiến sĩ chiến đấu âm thầm trong hàng ngũ địch. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc bay cao giữa nóc Dinh Tổng thống ngụy quyền và ngay bên cạnh đó đã có lá cờ nửa xanh nửa đỏ, ngôi sao vàng phấp phới - có cả “thượng sĩ ngụy” giao chìa khóa Dinh Tổng Tham mưu trưởng ngụy, giao cả tài liệu nguyên vẹn cho “thiếu úy ngụy” nhưng cả 2 đều là đảng viên cộng sản, đều là hội viên Mặt trận Dân tộc giải phóng!

    Thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ đóng khung trên địa bàn Sài Gòn mà còn là sự phối hợp đảm bảo của toàn bộ miền Đông và đồng bằng Nam Bộ cùng lúc - “Cửu Long đã dậy sóng”. Đồng bằng cùng Sài Gòn tổng tiến công và nổi dậy đập tan mưu kế cuối cùng của Mỹ - ngụy định “lui về đồng bằng sông Cửu Long cố thủ, lấy Cần Thơ làm thủ phủ Việt Nam Cộng hòa”.

    Trà Vinh 8 giờ ngày 30/4 cuộc chiến vẫn diễn ra ác liệt quanh rào Dinh Tỉnh trưởng ngụy quyền, 50 cán bộ, chiến sĩ ta đã hy sinh trong những giờ phút cuối cùng. Trước áp lực của tiếng súng tấn công của chiến sĩ, lục cả Sơn Xốt tình nguyện vào nhà tỉnh trưởng thuyết phục. Đòn quân sự, chính trị, binh vận phối hợp đã buộc tên tỉnh trưởng đầu hàng vô điều kiện vào 10 giờ 30 phút trong ngày.

    Bạc Liêu, ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) liên tục từ 25/4 cho đến 7 giờ ngày 30/4 buộc tên tỉnh trưởng phải chấp nhận “bàn giao chính quyền”, hạ lệnh cho binh sĩ thuộc quyền buông súng đầu hàng. Quân giải phóng làm chủ một tỉnh lỵ an toàn, không tốn một viên đạn, một giọt máu của bên nào.

    Cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng kéo dài ở mọi ngóc ngách sông rạch cho đến ngày 06/5/1975 mới hoàn toàn kết thúc khi lá cờ 3 sọc cuối cùng của ngụy quyền trên đất miền Nam bị hạ ở “Tây An cổ tự” (Chợ Mới, Long Xuyên).

    21 năm chiến đấu dưới lá cờ Tổ quốc, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam, người em của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đã làm tròn sứ mạng lịch sử của mình. Hai anh em, một cha già sinh ra và dạy dỗ dưới mái nhà xiêu vẹo ngày nào. Vì nặng nợ với non sông cẩm tú, vì tồn vong của giống nòi “Tiên Rồng”, phải lặn lội ngược xuôi, em Nam anh Bắc, và giờ đây, mùa Xuân năm 1975 vĩ đại đã tạo được “Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn” - anh em lại về chung một mái nhà, sẽ dựng lại khang trang, tuy hai mà một để xây tổ ấm, bảo vệ nó cho muôn đời sau: VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT HẠNH PHÚC DÀI LÂU.

                                                                                 
Tháng 10/1990


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Ba, 2023, 09:55:32 pm
HÒA BÌNH HAY CHIẾN TRANH



      Những cuốn sách được làm ra để liên kết người ta với nhau vượt ra ngoài cái chết và để hảo vệ cho chúng ta chống lại kẻ thù ác nghiệt nhất đời: đó là sự lãng quên.
                                                 XTÉFAN XVAIG
              (Nhà văn Áo, viết trong truyện Menden - người bán sách cũ)


    Năm 1978, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương cán bộ đã công tác và chiến đấu ở các chiến trường ghi hồi ký của mình về cuộc chiến tranh chống Mỹ oanh liệt của dân tộc ta và đề nghị tôi viết về B2 trong mùa xuân thắng lợi lớn năm 1975: B2 đã chấp hành nhiệm vụ của Trung ương giao thế nào? Đã đóng góp gì vào mùa xuân vẻ vang ấy?

     Vâng, cũng như các chiến trường trên toàn quốc, để làm tròn nhiệm vụ vinh quang của mình, B2 đã đóng góp không nhỏ vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Vùng đất B2, con người B2, đã tự hào xứng đáng là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhớ lại và ghi những sự việc xảy ra ở đây là một vinh dự và cũng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ, mỗi người của B2, tôi đã nhận lời.

     Nhưng tôi nghĩ sự đóng góp của B2, một chiến trường chủ yếu, không chỉ là riêng lẻ những trận đánh, những cân gạo, những con đường, những con người ngã xuống, mà còn là những cái gì lớn hơn nhiều, có giá trị về chiến lược, nghệ thuật tổ chức, bằng thực tế thúc đẩy quá trình thắng lợi cuộc chiến tranh, có tính chất góp phần vào chủ trương đường lối của Trung ương nữa. Cũng không phải chỉ toàn là những chiến thắng anh hùng, mà còn cả những thất bại chua cay tạm thời, từng nơi, từng lúc vì tất cả đó là sự thật, và là những kinh nghiệm quý báu. Nó cũng là những nốt nhạc không thể thiếu để dựng thành bản giao hưởng anh hùng của thời đại. Vậy thì chỉ ghi lại một số sự việc của những ngày thắng lợi cuối cùng, dù là thắng lợi rất vĩ đại, cũng sẽ là một thiếu sót lớn. Muốn tạo một mùa xuân bừng sáng, không thể không trải qua mùa đông u ám, muốn có được mùa khô thắng lợi, không thể không trên cơ sở của mùa mưa năm trước. Chỉ nói về ngọn mà không nói gốc, thì thật là khó nói và nói sẽ không đúng.

     Vì vậy, tôi quyết định ghi lại những gì tôi biết và nhớ về B2 trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài. Đây là một việc không đơn giản, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ, tìm tòi tư liệu, gặp lại cán bộ cũ, về lại chiến trường xưa, tìm lại sự thật diễn biến hết sức trung thực... Phải nhờ nhiều anh em giúp đỡ, cộng tác, phải cộng trí nhớ của nhiều đồng chí trên nhiều cương vị, nhiều khu vực chiến trường. Nhưng tôi quyết tâm làm vì xem đó là trách nhiệm cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh giải phóng và cũng không thể trút cho ai, đối với B2, vùng đất mà tôi rất yêu quý vì hầu như suốt cuộc đời mình, sống và phục vụ ở đó từ những ngày hoạt động chính trị bí mật trước Cách mạng Tháng Tám cho tới thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc và có lẽ tôi cũng sẽ chọn nằm xuống mãi mãi ở đây.


    Tôi chia tập sách của mình thành năm đoạn:

    • Đoạn 1: Từ Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 đến phong trào Đồng khởi năm 1960 (Tập 1 lấy tên là “Hòa bình hay chiến tranh”).

    • Đoạn 2: Từ năm 1961 đến năm 1965, thời kỳ chống “Chiến tranh đặc biệt” có kết quả (Tập 2 lấy tên là“Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng”).

    • Đoạn 3: Từ năm 1965 đến năm 1968, đánh bại “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (Tập 3 lấy tên “Chiến tranh cục bộ”).

    • Đoạn 4: Từ năm 1969 đến năm 1973, chống “Việt Nam hóa chiến tranh” và đuổi quân Mỹ khỏi Việt Nam (Tập 4 lấy tên là “Mỹ cút, ngụy nhào”).

    • Đoạn 5: Từ Hiệp nghị Paris 1973 đến ngày toàn thắng 30/4/1975 (Tập 5 lấy tên là “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm”).



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Ba, 2023, 09:58:22 pm
*
*      *


    Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều người cũng chưa rõ lắm. Để tiện cho bạn dễ hiểu hơn về những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.

    “B2” là ký hiệu để gọi một vùng đất và những con người ở phần tận cùng phía nam của Tổ quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cả miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến vĩ 17 chạy về phía Nam, lúc ấy chia ra làm bốn chiến trường.

    B1 hay thường gọi là Khu 5 gồm các tỉnh ven biển miền Trung từ Quảng Nam - Đà Nẵng vào đến Phú Khánh ngày nay. B3 là vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk. B4 là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ. Và B2 là phần còn lại của miền Nam từ tỉnh Quảng Đức cũ, một phần ở tỉnh Đắk Lắk ngày nay, Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500-2.000m ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống phía nam Đông Nam Bộ. Tiếp theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long, với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như rừng U Minh, Đồng Tháp Mười... Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược xóm làng, bị chia cắt bằng hệ thống sông lớn như: Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kênh, rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bốn mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng nghìn kilômét và một thềm lục địa rộng giàu tài nguyên thiên nhiên với các cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá... có lợi thế chọ bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam Bộ được Mỹ củng cố xây dựng phát triển cao nhất trong toàn miền Nam để đảm bảo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sài Gòn của ngụy quyền tay sai, là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến bốn triệu dân, là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của cả miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ của Mỹ - ngụy nhằm kìm kẹp đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mỹ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mỹ và phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và lực lượng tay sai. Mỹ - ngụy tổ chức miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ Bến Hải trở vào, tính là Vùng 1 cho đến Vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Sài Gòn nằm giữa Vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy.

    Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn miền Nam, tương ứng với một phần Vùng 2 và cả Vùng 3, Vùng 4 của địch cộng lại.

    Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia B2 thành: Khu 6 (phần cuối đất Trung Bộ), Khu 7 (miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sài Gòn - Gia Định 1.

    Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Campuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, kênh Vĩnh Tế và các đường, các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau trong công việc làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con... thường qua lại thuận lợi trên các đường sá, sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc trên hai bờ vai biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cùng chung lưng chiến đấu cho hạnh phúc của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia.

    Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, có lòng yêu nước nồng nàn luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu, hướng về Thủ đô Hà Nội - Thăng Long với niềm tin bất diệt.

    Con người B2 có niềm tự hào với những chí khí quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, Thủ khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước cương trực và tấm lòng thủy chung của Nguyễn Đình Chiểu... với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười tám thôn vườn trầu” Hóc Môn, Bà Điểm... B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “Tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến tha thiết dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh - ở thị xã Phan Thiết, ở bến Nhà Rồng... Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, Cách mạng Tháng Tám năm 1945... Tất cả những truyền thống ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2 sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc.




-----------------------------------------------------------------
1. Những tỉnh trong các khu vực:
    -   Khu 6: Quảng Đức (Gia Nghĩa), Tuyên Đức (Đà Lạt), Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy.
    -   Khu 7: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa), Bình Long, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa.
    -   Khu 8: Long An (Tân An), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Sa Đéc), Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre).
    -   Khu 9: Châu Đốc, An Giang (Long Xuyên), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Phong Dinh (Cần Thơ), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Kiên Giang (Hà Tiên, Rạch Giá), Chương Thiện, An Xuyên (Cà Mau).
    -   Đặc khu Sài Gòn - Gia Định.




Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Ba, 2023, 10:00:25 pm
*
*      *

    Viết những dòng suy nhớ này tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại quang vinh của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2, mà tôi hằng yêu mến; đặc biệt là đối với những bạn bè, người thân, đồng chí, đồng đội, những con người đã quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Cà Mau, đã ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình đã nhuộm thắm từng tấc đất B2 để giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho Bắc - Nam sum họp một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc. Đúng, chỉ có họ, những người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến; những sự kiện; những chịu đựng và hy sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến; được biết và còn nhớ.

    Tất nhiên, do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chỉ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay, tôi không thể nói hết ở đây những sự tích thần kỳ của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện cương quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần suy nhớ của mình với những người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ phần nhỏ nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2.

    Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi tự đề ra cho mình một quy định: Viết đúng sự thật hoàn toàn, những sự thật có người đã biết, cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không thích. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loại trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhất là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2, góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân.

    Tôi cũng xin tỏ ở đây lòng cảm động và biết ơn đông đảo các đồng chí, bạn bè đã khuyến khích đã giúp đỡ, góp ý kiến, công tác trên mọi phương diện vô cùng quý báu.

    Xin cảm ơn các đồng chí ở các ban tổng kết chiến tranh, các bộ phận tư liệu của Bộ Quốc phòng, của Quân khu 7, Quân khu 9, của Thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở các ban chỉ huy tỉnh đội thuộc B2 cũ, đặc biệt hai đồng chí Đại tá Nguyễn Viết Tá và Trung tá Võ Trần Nhã đã để nhiều công sức sưu tầm tài liệu, liên hệ các địa phương, góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này 1.




------------------------------------------------------------------
1. Lời nói đầu này đã in ở Tập 5 - Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm vì Tập 5 được xuất bản trước. Nay có chỉnh sửa cho phù hợp, in lại ở Tập 1 - Hòa bình hay chiến tranh. Không in ở Tập 2, Tập 3, Tập 4 và Tập 5 (tái bản).


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Ba, 2023, 10:12:30 pm
(https://i.imgur.com/RHtkzUW.jpg)


BỐI CẢNH LỊCH SỬ
“VÌ CÓ LỬA NÊN CÓ KHÓI”


    Điện Biên Phủ - ngày 07/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lẫy lừng, đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, đã quyết định số phận của thực dân Pháp ở Đông Dương.

    Điện Biên Phủ thực sự là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam anh hùng, ghi dấu một thời kỳ lịch sử hiện đại vẻ vang của Tổ quốc Việt Nam hùng vĩ.

    Từ đó đến nay và mãi mãi sau này, những âm thanh đẹp, hào hùng: “Việt Nam -Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh” sẽ mãi mãi ngân vang không dứt khắp bốn phương trời, mỗi khi loài người còn nhắc đến những trang sử đấu tranh bất khuất của các dân tộc vì độc lập tự do, vì phẩm giá con người.

    “Tinh thần Điện Biên Phủ ngày nay là ánh đèn pha chiếu rọi cho hàng triệu người bị áp bức trên thế giới” - Nhà thơ yêu nước Haiiti Rone Depextoro đã phát biểu như vậy năm 1960.

    “Điện Biên Phủ được coi như là thắng lợi to lớn của các dân tộc nhỏ yếu đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giành lại tự do và độc lập. Điện Biên Phủ đã trở nên niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức, là một cống hiến lớn lao của nhân dân ta vào cao trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cõi hoàn cầu.

    Điện Biên Phủ còn là thắng lợi to lớn của các lực lượng hòa bình trên thế giới. Không có thắng lợi Điện Biên Phủ thì chắc chắn Hội nghị Giơnevơ không thu được kết quả, hòa bình không được lập lại ở Đông Dương”
  1.

    Điện Biên Phủ đúng là đã đóng góp quyết định vào thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ năm 1954.

    Khi yêu cầu Mỹ viện trợ và giúp đỡ, Thủ tướng Pháp Bidault đã nhận định: Hay dở gì thì vận mệnh của Đông Nam Á bây giờ nằm ở Điện Biên Phủ... Thắng hoặc thua ở Giơnevơ là tùy thuộc ở kết quả tại Điện Biên Phủ”  2.

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thì Hiệp nghị Giơnevơ cũng ngã ngũ.

    Ngày 21/7/1954, Hiệp nghị Giơnevơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một nước Việt Nam và hai nước Campuchia và Lào. Hiệp định đã quy định việc chấm dứt chiến sự, quy định giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự giữa hai miền Nam - Bắc ở vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) và việc chuyển quân tập kết của hai bên. Hiệp định cũng cấm đem vào Việt Nam mọi quân đội và vũ khí đạn dược, cấm thành lập các căn cứ quân sự của một nước ngoài nào, cả ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Hiệp định cũng giành cho nhân dân Việt Nam quyền tự do bày tỏ ý muốn rằng cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7/1956 và có những điều khoản bảo vệ tính mệnh và tài sản của mọi người, để cho mọi người được tự do lựa chọn vùng mình muốn sinh sống, cấm những hành động trả thù cá nhân hoặc tập thể, bất cứ hình thức nào, đối với những người và với gia đình họ, đã từng hợp tác trong chiến tranh với bên này hay bên kia.

    Bản “Tuyên bố cuối cùng” đề ngày 21/7/1954, một văn kiện quan trọng, thành phần chính thức của Hiệp định Giơnevơ, có những điều khoản rõ ràng như sau:

    “... 2. Hội nghị hài lòng về việc chấm dứt chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt Nam. Hội nghị tỏ lòng tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản ghi trong bản tuyên bố này và trong những Hiệp định đình chỉ chiến sự sẽ làm cho ba nước Cao Miên, Lào và Việt Nam từ nay có thể đảm nhận với độc lập và chủ quyền hoàn toàn vai trò của mình trong tập thể hòa bình của các nước.

    “... 4. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và việc cấm đem vào Việt Nam quân đội và nhân viên quân sự ngoại quốc, cũng như tất cả các thứ vũ khí, đạn dược...

    5. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định rằng không được thành lập một căn cứ quân sự nào của một nước ngoài trong những vùng tập kết của đôi bên. Đôi bên có nhiệm vụ không để những vùng được trao cho mình tham gia bất cứ một khối liên minh quân sự nào và dùng vào việc gây lại chiến sự hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược...

    6. Hội nghị chứng nhận rằng mục đích căn bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết các vấn đề quân sự để đình chỉ chiến sự, và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ. Hội nghị tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản định trong bản tuyên bố này và trong những Hiệp định đình chỉ chiến sự tạo ra cơ sở cần thiết để giải quyết vấn đề chính trị ở Việt Nam trong một thời gian ngắn.

    7. Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết, và để thực hiện tất cả những điều kiện cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý muốn, cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7/1956, dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và kiểm soát quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20/7/1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.

    8. Phải triệt để thi hành những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự nhằm mục đích bảo vệ tính mệnh và tài sản của mọi người và nhất là phải để cho tất cả mọi người ở Việt Nam tự do lựa chọn vùng mình muốn sinh sống.

    9. Những nhà đương cục có thẩm quyền ở vùng Bắc và vùng Nam cũng như ở Lào và Cao Miên không được dung thứ những hành động báo thù cá nhân hoặc tập thể đối với những người đã hợp tác, bất cứ dưới hình thức nào, với một trong hai bên trong thời gian chiến tranh, hoặc đối với gia đình những người đó...”.

    Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Chính phủ Mỹ đã long trọng đưa ra bản tuyên bố trong đó có một số điểm chủ yếu như sau:

    “Chính phủ Mỹ kiên quyết đem hết cố gắng của mình để củng cố hòa bình phù hợp với các nguyên tắc và mục đích của Liên hợp quốc, ghi nhận các Hiệp định đã ký kết tại Giơnevơ ngày 20 và 21/7/1954.

    1. Mỹ sẽ không dùng đe dọa và vũ khí để phá hoại nó, phù hợp với khoản 2 (4) của Hiến chương Liên hợp quốc, liên quan đến nghĩa vụ của các hội viên là không đe dọa hoặc dùng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của họ.

    2. Mỹ sẽ coi bất cứ việc diễn ra lại hành động xâm lược nào vi phạm các Hiệp định đã nói ở phần trên với sự lo ngại sâu sắc coi như là đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.

    Chúng tôi tán thành hy vọng là các Hiệp định sẽ cho phép Campuchia, Lào và Việt Nam giữ vai trò của họ, trong độc lập và chủ quyền hoàn toàn, ở trong cộng đồng hòa bình của các dân tộc và sẽ tạo điều kiện cho các dân tộc ở khu vực đó quyết định tương lai của họ”.

    Ngoài ra, chín nước tham gia Hội nghị Giơnevơ đã ra một tuyên ngôn bảo vệ hòa bình ở Đông Dương.




---------------------------------------------------------------------
1. Trích sách Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979. Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1954 là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và là người chỉ huy trực tiếp chiến dịch Điện Biên Phủ.

2. Điện của Douglas Dillon - Đại sứ Mỹ tại Pháp gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Foster Dulles, ngày 05/4/1954.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Ba, 2023, 06:32:42 am
*
*     *


    Thế là sau ngót chín năm chiến tranh, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia sắp sửa hưởng một nền hòa bình chân chính, được quốc tế thừa nhận. Quân hai bên chuẩn bị tập kết về miền được quy định, nhân dân Việt Nam chuẩn bị một cuộc sống hòa bình nơi nào mình muốn ở và được tự do lựa chọn những người đại diện tin cậy của mình, chế độ chính trị nào đem lại hạnh phúc cho mình, vào ngày 20/7/1956, sau hai năm ký kết Hiệp định Giơnevơ. Quý báu biết bao một nền hòa bình đạt được bằng xương máu, bằng cả nước mắt đau thương và những trận cười chiến thắng của cả một dân tộc đã ý thức rõ rệt được quyền làm chủ bờ cõi non sông của ông cha để lại, đã nối dõi được truyền thống nghìn đời đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất.

    Thế nhưng sự thật việc đời thường rất phức tạp, chưa bao giờ lại chỉ diễn biến đơn giản theo một chiều suôn sẻ. Cùng với nhân dân Việt Nam, nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới nhiệt liệt hoan nghênh Điện Biên Phủ, hòa bình, hữu nghị, dân chủ, trong lúc đó đế quốc Mỹ mà bản chất của chúng không hề thay đổi là gây chiến và xâm lược, là thôn tính đất đai và tài nguyên người khác, là áp đặt lối sống và chế độ chính trị mà chúng muốn lên đầu lên cổ các dân tộc, gấp rút chuẩn bị một dòng nước ngược tàn phá, độc ác, chống lại hạnh phúc tự do của người dân Việt, chống lại hòa bình ở Đông Dương và trên thế giới.

    “... Bốn ngày sau khi ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hội đồng an ninh quốc gia của chính quyền Eisenhower (Mỹ) đã khẳng định rằng Hiệp định đó là “một thảm họa” và đã chấp thuận các hành động nhằm ngăn cản sự bành trướng thêm nữa của cộng sản ở Việt Nam.

    ... Các quyết định đó của Hội đồng an ninh quốc gia có nghĩa là Mỹ đã giữ một vai trò trực tiếp trong việc cuối cùng phá hoại giải pháp Giơnevơ”  1.

    Việc trước tiên mà chính quyền Mỹ gấp rút tiến hành cả trước và sau Hiệp định Giơnevơ, không đếm xỉa gì đến Hiệp định Giơnevơ và bản tuyên bố long trọng của chính mình, quyết gây chiến tranh, phá hòa bình chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam là cố dựng nên một chính quyền tay sai mạnh ở miền Nam Việt Nam  2, phá hoại và làm suy yếu rối loạn miền Bắc của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra sức ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước Việt Nam vào tháng 7/1956.

    Muốn làm như vậy Mỹ phải hất cẳng Pháp chiếm lấy miền Nam Việt Nam.

    “... Hội đồng an ninh quốc gia (Mỹ) trong cuộc họp ngày 03/8/1954, sau Hiệp định Giơnevơ, đã ra lệnh là phải có một chương trình khẩn cấp viện trợ kinh tế và quân sự, thay thế cố vấn Pháp bằng cố vấn Mỹ - cho Chính phủ Ngô Đình Diệm mới thành lập ở miền Nam Việt Nam.

    ... Các mục tiêu do Hội đồng đề ra là duy trì Nam Việt Nam thân thiện không cộng sản và ngăn chặn cộng sản thắng lợi thông qua cuộc tổng tuyển cử ở Việt Nam”  3.

    Vì biết rằng nếu tiến hành tổng tuyển cử thì chắc chắn các bè lũ Việt gian theo Mỹ sẽ thất bại, nhân dân Việt Nam sẽ bỏ những lá phiếu cho những người yêu nước chân chính, cho hòa bình độc lập và thống nhất Tổ quốc và như vậy đế quốc Mỹ sẽ bị tống cổ ngay từ ngày ấy nên Mỹ tìm mọi mưu mô không diễn ra tổng tuyển cử.

    “Ngay từ ngày 07/7/1954, trong thời gian Hội nghị Giơnevơ, Bộ trưởng Dulles đã gợi ý là Mỹ cần phải tìm cách trì hoãn cuộc tổng tuyển cử và đòi có những điều kiện đảm bảo mà chắc là cộng sản sẽ bác bỏ”.

    Trong bức điện mật gửi Thứ trưởng Ngoại giao Walter Bedel Smith thay thế khi ông rút khỏi Hội nghị Giơnevơ, Bộ trưởng Dulles viết:
    “Vì chắc chắn tổng tuyển cử thì cuối cùng có nghĩa là thống nhất nước Việt Nam dưới quyền ông Hồ Chí Minh nên điều quan trọng hơn hết là trì hoãn tuyển cử càng lâu càng tốt sau khi ký Hiệp định đình chiến và chỉ tuyển cử trong những điều kiện không có sự đe dọa để tạo cho các phần tử dân chủ có cơ hội tốt nhất”.

    Như thế có nghĩa là chỉ tuyển cử sau khi có thời gian để tiến hành mọi mưu kế gian xảo đen tối hầu đưa lại thắng lợi cho bọn tay sai Mỹ, không được như vậy thì không tổng tuyển cử. Thật là dân chủ tự do theo kiểu Mỹ!

    Cũng không đợi đến Hội nghị Giơnevơ mới hành động, trong tháng 6/1954 chính quyền Eisenhower đã phái một phái đoàn Mỹ sang Việt Nam để bắt đầu tiến hành những hành động bí mật chống Việt Minh, trong khi hội nghị đang họp.

    Phái đoàn này do Đại tá Lansdale cầm đầu, Lansdale là nhân vật CIA nổi tiếng là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về chiến tranh chống du kích ở Philíppin là nơi ông đã giúp Tổng thống Romon Masaysay đàn áp những người khởi loạn Hukbalahap do cộng sản lãnh đạo.

    Nhà Trắng đã hấp tấp tiến hành phá hoại Việt Nam bằng hoạt động bán quân sự - mở màn cho cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam - của phái đoàn quân sự Sài Gòn (viết tắt SMM) được vội vã thành lập và điều Lansdale từ Philíppin sang cầm đầu phái đoàn này vào cuối tháng 5/1954. Lansdale kể: “Một điện văn từ Oasinhtơn đã chấm dứt công việc của tôi ở đây (Philíppin). Tôi phải sang Sài Gòn ngay bằng phương tiện chuyên chở nào sớm nhất”  4.

    Nhiệm vụ của phái đoàn Lansdale là “phải tiến hành các hoạt động bán quân sự chống kẻ địch và tiến hành chiến tranh chính trị tâm lý”.

    “Sau đó, sau Giơnevơ, phái đoàn được thay đổi để chuẩn bị các phương tiện tiến hành các hoạt động bán quân sự ở các khu vực cộng sản chứ không phải tiến hành chiến tranh không chính quy”.

    Khi thời hạn - 09/10 - ấn định cho phép rút khỏi Hà Nội tới gần, phái đoàn đã tìm cách phá hoại một số cơ sở then chốt ở Hà Nội.

    Bản báo cáo (của phái đoàn Lansdale) kể lại là: “Người ta được biết nhà in lớn nhất ở miền Bắc có ý định ở lại Hà Nội và làm việc cho Việt Minh. Phái đoàn SMM đã đề ra kế hoạch phá hủy các phương tiện ấn loát hiện đại nhưng các nhân viên an ninh của Việt Minh đã vào nhà máy và đã làm thất bại kế hoạch này”  4.

    “Chính là đội công tác của phái đoàn ở Hà Nội đã bỏ ra nhiều đêm cho thuốc vào các động cơ của hãng xe hơi ở Hà Nội để cho các xe hơi của họ dần dần bị hư hỏng sau khi Việt Minh tiếp quản thành phố”.

    “Đồng thời đội công tác của phái đoàn đã thực hiện cái mà bản báo cáo gọi bằng “những cuộc tấn công tâm lý chiến trong bóng tối”. Nghĩa là cuộc chiến tranh bằng những tài liệu giả là của đối phương. Đội đã in những cái gọi là những tờ truyền đơn ký tên Việt Minh chỉ thị cho người Bắc Bộ phải xử sự như thế nào khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội vào đầu tháng 10 trong đó có những vấn đề tài sản, cải cách tiền tệ và cho công nhân nghỉ việc ba ngày lúc tiếp quản”.

    “Kế hoạch này nhằm đe dọa dân chúng đã thành công”.

    “Bản báo cáo cho biết một ngày sau khi phân phát những tờ truyền đơn đó, số đăng ký di cư (muốn thoát khỏi Bắc Việt Nam) đã tăng lên gấp ba...”.

    “Ở miền Nam, phái đoàn đã thuê những nhà chiêm tinh học Việt Nam - mà nghề nghiệp của họ được nhiều người châu Á rất tin tưởng - để tập hợp những niên dịch đoán định những điều không lành đối với Việt Minh và những điều tốt lành với chính phủ mới của thủ tướng Diệm”.

    “Bản báo cáo cho biết thêm để tiến hành những hoạt động ở Bắc Việt Nam sau khi đoàn đã rút khỏi Hà Nội, Thiếu tá Lucion Conein - một sĩ quan của phái đoàn SMM đã tuyển dụng một nhóm nhân viên Việt Nam mang tên mật mã là Bình”.

    “Nhóm này đã được Mỹ huấn luyện và giúp đỡ coi như những người Việt Nam yêu nước, để cuối cùng giao cho một chính phủ khi chính phủ đã sẵn sàng tiến hành những hoạt động như vậy. 13 người trong nhóm Bình này đã được bí mật đưa ra ngoài qua cảng Hải Phòng và trong giai đoạn đầu đã được các tàu hải quân Mỹ đưa tới khu vực huấn luyện của họ”.

    “Trước khí rút khỏi Hải Phòng vào tháng 5/1955 cơ quan vận tải hàng không dân dụng (CAT) - một hãng hàng không đặt trụ sở ở Đài Loan và do tướng Claire Chennault điều khiển, đã bí mật chuyển vũ khí từ Sài Gòn đến Hải Phòng cho nhóm Bình”...

    “Bản báo cáo cho biết tiếp là một đội khác gồm 21 người, mang bí danh là nhóm HAO được tuyển mộ từ Sài Gòn đã được bí mật đưa ra một chiếc tàu của hải quân Mỹ và được ngụy trang thành những người culi rồi đưa đến một địa điểm bí mật để huấn luyện”.

    “Vũ khí để cung cấp cho nhóm HAO được không quân Mỹ bí mật chuyển tới Sài Gòn”.

    “Chúng tôi đã chuyển bí mật vào Việt Nam khoảng tám tấn rưỡi đồ tiếp tế cho nhóm quân sự HAO. Số hàng này gồm 14 máy vô tuyến, 300 súng cạcbin, 90.000 viên đạn cácpin, 50 súng lục, 10.000 viên đạn súng lục và 300 pound chất nổ. Hai tấn rưỡi cung cấp cho nhóm HAO ở Bắc Kỳ, số còn lại được SMM cất giấu dọc sông Hồng với sự giúp đỡ của hải quân”...

     “Theo bản báo cáo trong năm tài chính 1955 chi phí của phái đoàn quân sự Sài Gòn (SMM) đã lên tới 228.000 đôla. Đó là chưa kể tiền lương của các sĩ quan Mỹ hoặc phí tổn về vũ khí lấy ở các kho của Mỹ”...

     “Thiếu tá Conein báo cáo tình hình cho nhóm hoạt động bán quân sự Bình biết và cho từng người thâm nhập miền Bắc”.

     “Ngày 16/5 Việt Minh tiếp quản Hải Phòng. Các đội Bình và HAO của chúng tôi ở miền Bắc đã có mặt, trang bị đầy đủ... Làm việc này công khai thật là khó khăn nhưng giữ bí mật không cho Việt Minh, Ủy ban quốc tế gồm những người Canađa, người Ba Lan và người Ấn Độ đầy nghi kỵ và thậm chí cả người Việt Nam bạn bè được biết. Việc chuyển người và trang bị phải tiến hành trên quãng đường dài hàng nghìn dặm...”.

     Đi đôi với những công tác phá hoại, hoạt động bán quân sự, chiến tranh tâm lý chống lại miền Bắc Việt Nam, chống lại “Việt cộng” có nghĩa là chống lại khối nhân dân yêu nước đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam Việt Nam, tên phù thủy Lansdale của đế quốc Mỹ còn ra sức xây dựng ngụy quyền Ngô Đình Diệm mạnh đủ sức làm tay sai đắc lực cho Mỹ. Hắn đã lặn lội nhiều lần lên tận núi Bà Đen (Tây Ninh) dùng tiền của, danh lợi lôi kéo, mua chuộc Trịnh Minh Thế về giúp Ngô Đình Diệm. Hắn đã dùng mưu kế và mọi khả năng làm thất bại sự chống đối quyết liệt lại bọn Ngô Đình Diệm của Nguyễn Văn Hinh, tổng tham mưu trưởng ngụy quân lúc ấy, của lực lượng Bình Xuyên, của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và những tay chân khác của Pháp như tên Le Roy, tư lệnh lực lượng gọi là tự vệ lưu động Thiên Chúa giáo (chủ yếu ở An Hóa, Bến Tre) và cả người Pháp nữa. Hắn đã thảo qua kế hoạch bình định nông thôn và các kế hoạch khủng bố “tố cộng”, “diệt cộng”... cho Diệm. Hắn không từ một thủ đoạn nào, một phương tiện nào như tiền của, uy lực, tàn sát dã man, “kỹ thuật rỉ tai”, “chiến dịch rỉ tai”  5, truyền đơn và tài liệu giả... để đạt mục đích. Tên sĩ quan cao cấp CIA Landsdale quả là người thực hành có kinh nghiệm mọi mưu mô đặt ra và chỉ huy từ Nhà Trắng có sự yểm trợ của Cơ quan tình báo Mỹ (CIA), Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG), Sở Thông tin Mỹ USIS, sứ quán Mỹ và tất cả các tổ chức khác ở trong cũng như ở ngoài Việt Nam của Mỹ.

    Như vậy là Hội nghị Giơnevơ đang còn thảo luận để chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương thì Mỹ đã dùng phái đoàn của Landsdale (SMM) mở đầu thời kỳ chiến tranh xâm lược của Mỹ để thay thế (từ tháng 5, 6/1954). Hòa bình chưa kịp đến thì chiến tranh đã chồng nối chiến tranh. Nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới thực tình mong đợi và ra sức bảo vệ hòa bình thì đế quốc Mỹ hoảng hốt lồng lộn chống lại hòa bình.

    Người phân tích bản tài liệu cho biết Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ phản đối việc Pháp thương lượng để chấm dứt chiến tranh mạnh đến mức “tổng thống buộc phải báo cho Paris biết rằng việc Pháp thỏa thuận cho cộng sản thôn tính Đông Dương sẽ gây tác hại đến địa vị là một trong ba nước lớn”  ...

    Sở dĩ như vậy là chính vì chính sách của Nhà Trắng định ra từ Oasinhtơn không phải căn cứ vào tình hình kinh tế ở Đông Dương, vào ý chí đấu tranh của nhân dân, vào nguyện vọng của các dân tộc ở vùng này, mà xuất phát từ chiến lược toàn cầu của đế quốc đầu sỏ Mỹ nhằm làm bá chủ hoàn cầu.

    “Một vấn đề then chốt xảy ra từ mùa đông 1949-1950 khi Mỹ làm cái bản tài liệu gọi là một quyết định rõ ràng làm ảnh hưởng chính sách của Mỹ ở Việt Nam trong 20 năm tới: Sau khi lục địa Trung Hoa rơi vào tay những người cộng sản Trung Quốc, chính quyền Truman đã chuyển sang ủng hộ vua Bảo Đại và cung cấp viện trợ quân sự cho người Pháp chống lại Việt Minh”.

    “Bản tài liệu viết: Với hành động này “đường lối chính sách của Mỹ được ấn định là ngăn chặn sự bành trướng hơn nữa của cộng sản ở châu Á”. Và sau đó Mỹ trực tiếp dính líu vào tấn bi kịch đang phát triển ở Việt Nam”...

    “Lôgic cơ bản của việc Mỹ tham gia - mà sau này được gọi bằng thuyết Đôminô - đầu tiên được Hội đồng an ninh quốc gia nêu rõ ràng vào tháng 02/1950 khi hội đồng quyết định mở rộng viện trợ quân sự cho người Pháp ở Đông Dương”.

    “Bản tài liệu cho biết thêm là trong giai đoạn thứ hai xảy ra vào tháng 5 và tháng 6 năm 1954, lúc Hội nghị Giơnevơ đang họp thì Tổng thống Eisenhower đã chỉ thị cho các phụ tá thảo ra một bản nghị quyết yêu cầu quốc hội trao cho ông quyền đưa quân Mỹ đến Đông Dương”  .

    Và từ tháng 3 năm 1954, Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã tuyên bố: “Từ nay Đông Dương nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ”.

    Mỹ đã lồng lộn chống lại cuộc thương lượng hòa bình ở Giơnevơ, làm mọi áp lực buộc Pháp phải tiếp tục chiến tranh Đông Dương nếu không Mỹ sẽ tự mình tiến hành tiếp cuộc chiến bất kể Pháp. Bị vong lục của Ủy ban đặc biệt Mỹ ngày 05/4/1954 đề nghị:

    1. Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài thắng lợi quân sự ở Đông Dương.

    2. Lập trường của Mỹ tranh thủ sự ủng hộ của Pháp đối với chính sách này. Mỹ cương quyết phản đối mọi giải pháp thương lượng về Đông Dương tại Giơnevơ.

    3. Lập trường của Mỹ trong trường hợp không làm được điều 2 ở trên thì đề ra những biện pháp cấp bách với chính phủ quốc gia liên kết tiếp tục cuộc chiến tranh ở Đông Dương, có sự tham gia tích cực của Mỹ mà không có sự ủng hộ của Pháp nếu cần thiết.

    Chính vì vậy, Mỹ luôn âm mưu lôi kéo nhiều nước khác cùng với Mỹ xâm lược Đông Dương. Khi Hiệp định Giơnevơ ký chưa ráo mực, ngày 08/9/1954 Mỹ đã cùng Anh, Pháp và một số nước chư hầu thành lập khối xâm lược Đông Nam Á (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia vào khu vực bảo hộ của khối đó.

    Tất cả những sự việc được kể hết sức tóm tắt ra trên đây là nguồn gốc cơ bản của diễn biến tình hình ở Việt Nam và Đông Dương trong những năm 1950, 1960 và 1970. Trong những năm ấy, toàn bộ Đông Nam Á đã sôi động dữ dội, Thái Bình Dương không còn thái bình nữa mà đã dậy sóng chiến tranh. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp được Mỹ tìm mọi cách nuôi dưỡng từ rất sớm:

    Ngày 08/5/1950, Oasinhtơn báo tin sẽ cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp ở Đông Dương bắt đầu bằng một khoản 10 triệu đôla... cuối cùng chương trình viện trợ quân sự của Mỹ lên tới 1,1 tỷ đôla năm 1954, gánh chịu đến 78% chiến phí của Pháp.

    Mặc dầu như vậy Pháp thua vẫn hoàn thua và phải ngậm bồ hòn mà tìm cách rút lui bỏ cuộc. Nhưng Mỹ lúc ấy cho rằng Mỹ không thể nào ngậm phải bồ hòn như Pháp (thực sự sau này còn hơn bồ hòn nhiều) và vì “thiên chức” lãnh đạo thế giới nên hùng hổ nhảy vào. Mỹ nhảy bổ vào trong lúc Pháp tiếc rẻ còn muốn ở lại bằng phương pháp khác không phải chiến tranh nên Mỹ phải hất cẳng Pháp, nhanh chóng độc chiếm miếng mồi béo bở để thực hiện chiến lược toàn cầu của mình. Chiến tranh chồng nối chiến tranh là như vậy đó.

    Nhưng Mỹ phá Hiệp nghị Giơnevơ, phá tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, hùng hổ nhảy vào Việt Nam, muốn “biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17” như đã mớm cho tên tay sai Ngô Đình Diệm tuyên bố công khai, không phải không tính toán cân nhắc. Mỹ coi thường Việt Nam là một nước nhỏ không đáng kể, chỉ gờm sự can thiệp của hai nước lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng Liên Xô thì ở xa mà Trung Quốc ở gần, vì vậy quan trọng trước mắt là phải bắt mạch Trung Quốc, việc này không khó khăn lắm. Trong suốt quá trình Hội nghị Giơnevơ Mỹ đã chủ tâm quan sát và đặc biệt là qua Pháp, người đối thoại trực tiếp với Trung Quốc mà hiểu rõ Trung Quốc nghĩ gì và muốn gì.




------------------------------------------------------------------
1. Trích sách Các văn kiện của Lầu Năm Góc về lịch sử bí mật cuộc chiến tranh ở Việt Nam do Thời báo Niu Oóc in thành sách và phát hành trong tháng 7/1971. Thông tấn xã Việt Nam dịch, phát hành năm 1971. Chương 1 đề “Những năm dưới thời Truman và Eisenhower 1945-1960”.

2. Hai tuần trước khi ký Hiệp định Giơnevơ, ngày 07/7/1954, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thành lập chính phủ bù nhìn (công cụ tay sai của Mỹ). Ngô Đình Diệm là một tên đầu sỏ phong kiến, đã từng làm tay sai cho đế quốc Pháp và đế quốc Nhật, được Mỹ nuôi dạy từ tháng 11/1951 ở trường thần học tiểu bang Niudali, dưới sự bảo trợ của Giáo sư Spenman.

3. Các văn kiện của Lâu Năm Góc về lịch sử bí mật cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Sđd, Chương I.

4. Hồi ký của E.G. Lansdale do Nhà xuất bản Harper of Now (Mỹ) phát hành năm 1972, nhan đề In the Midst of Wars, Chương I.

5. Những từ chính Landsdale dùng trong hồi ký của y, đã nói ở phần trên, khi huấn luyện và chỉ đạo công tác của Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu ngụy năm 1954.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Ba, 2023, 06:33:49 am
*
*      *


   Các dân tộc thuộc ba nước Đông Dương mà lịch sử đấu tranh hàng trăm năm đã từng gắn bó với nhau trong tình láng giềng hữu nghị, hiện đang đứng trước nguy cơ làm những con tốt đen trên bàn cờ quốc tế. Đế quốc Pháp thất bại nặng nề nhưng vẫn tiếc rẻ con mồi thuộc địa không muốn thả ra, còn muốn dùng thủ đoạn khác để ở lại. Đế quốc Mỹ với tinh thần chống cộng điên cuồng, muốn dập tắt phong trào cách mạng giành độc lập của các dân tộc, muốn dùng Đông Dương làm lá chắn chiến lược chặn đứng ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội. Không buộc được Pháp trụ vững ở Đông Dương, Mỹ muốn tự mình nhảy vào, biến Đông Dương làm đầu cầu chiến lược trên đất liền châu Á, để nô dịch các dân tộc. Đi đôi với dùng biện pháp quân sự, Mỹ ra sức dùng biện pháp ngoại giao gây sức ép và ve vãn hòng làm cho Liên Xô và Trung Quốc không tích cực ủng hộ Việt Nam, đồng thời lôi kéo nhiều nước khác cùng Mỹ góp tiền và máu thực hiện tội ác xâm lược. Ba nước Đông Dương có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt ở vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương, đang trở thành sân khấu diễn biến các mưu đồ đen tối dồn dập của các cường quốc và chư hầu của họ. Nhưng nhân dân Việt Nam, một nước nhỏ, nghèo mà không hèn yếu, đã có truyền thống đấu tranh bất khuất hàng nghìn năm, được lãnh tụ kính yêu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo vững vàng, đoàn kết chiến đấu cùng các dân tộc anh em Lào, Campuchia “thà chết chứ không chịu làm nô lệ”, được bạn bè khắp năm châu giúp đỡ cổ vũ đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của mình đến cùng.

   Trong bối cảnh lịch sử vô cùng phức tạp, cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam cũng vô cùng phức tạp và lâu dài.

   Ai có ngờ đâu bầu trời hầu như hửng sáng của mùa thu năm 1954 ở ba nước Đông Dương lúc ấy lại sắp sửa vẩn đục hơn lên vì khói lửa của chiến tranh tàn khốc, tàn khốc gấp nhiều lần chín năm đã qua.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Ba, 2023, 06:42:16 am
CHƯƠNG I
Đi và ở


    Đồng Tháp Mười trong những ngày tháng 9, tháng 10 cuối mùa mưa, nước ngập mênh mông tràn đầy sông rạch. Những trận mưa như trút nước vào buổi chiều hạ thấp vòm trời u ám. Ngược lại những buổi sáng trời cao xanh, nắng rọi dòng kênh thẳng tắp, cây cối tươi mát của làng mạc tiếp nối nhau vẽ nên một cảnh đồng quê êm đềm bát ngát. Cảnh vậy buồn hay vui? Nào ai đã xác minh được dứt khoát. Có lẽ lẫn lộn vừa buồn lại vừa vui, có phiền lo, cũng có phấn khởi của lòng người rộn ràng phức tạp đầy mâu thuẫn vào những tháng ngày lịch sử ấy của năm 1954 mà kẻ đi xây dựng tương lai và người ở đấu tranh cho hòa bình thống nhất.

    Từ giữa tháng 8/1954, chiến trường đã im tiếng súng khi lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Giơnevơ quy định đã có hiệu lực. Thật là tuyệt diệu, kỷ luật tự giác của những người cách mạng. Khắp rừng sâu, bưng lầy hẻo lánh, khắp làng mạc phố phường, từng chiến sĩ du kích, từng đơn vị vũ trang lớn, nhỏ đang thừa thắng xông lên diệt địch, khí thế bừng bừng sông núi, tiếng kèn xung trận vang lừng; có đêm hạ hàng tá đồn bót giặc, có ngày diệt và rã đến hai ba tiểu đoàn địch; vùng giải phóng mở rộng thênh thang, cờ đỏ sao vàng Việt Minh tung bay tứ phía; nhân dân vui mừng nô nức đi dân công tiếp tế, các má, các chị đi úy lạo bộ đội và săn sóc thương binh; quân địch thì khiếp vía kinh hồn, bị diệt ít mà chạy và rã nhiều. Nhưng đúng ngày giờ quy định ngừng bắn thì chiến trận mọi nơi ngừng hẳn. Bầu trời bỗng nhiên êm ả lạ lùng. Người trong cuộc như vừa tỉnh một giấc mơ, như ngỡ ngàng trước cảnh thanh bình vụt đến khiến ta chưa kịp nghĩ rồi đây cuộc sống sẽ thế nào, trong lúc tâm tư người chiến sĩ còn đang hướng tới những chiến thắng đang chờ họ. Không, sao lại ngừng tấn công nhỉ? Ta đang thắng lợi kia mà? Sức ta còn đủ để nỗ lực thừa thắng xông lên giải phóng hoàn toàn Tổ quốc thân yêu. Thời cơ này hết sức thuận lợi sao ta không nắm lấy mà ngừng lại nửa chừng? Và vì sao lại vĩ tuyến 17 mà không 13 hay ít hơn 16? Mừng vui thật sự vì hòa bình đang đến. Đất nước rồi đây độc lập, dân ta tự do xây dựng hạnh phúc lâu dài. Nhưng ấm ức trong lòng ta bị thiệt thòi, kết quả đạt được của Hiệp nghị Giơnevơ chưa tương xứng với thắng lợi của ta! Nhưng niềm tin tưởng to lớn vào Đảng, Bác Hồ đã giúp chúng ta tự giải đáp. Chẳng qua ta chưa hiểu hết ngọn nguồn, phải đâu chỉ có chiến trường ta mà còn tình hình cả nước và tình hình quốc tế vô cùng phức tạp nữa chứ.

   Thế là những ngày tháng 8 còn lại, rộn rịp hành quân từ mọi ngả tập trung về các khu được Hiệp định quy định để rồi tập kết ra miền Bắc: Chiến trường Nam Bộ có khu 80 ngày Hàm Tân - Xuyên Mộc, khu 100 ngày Đồng Tháp Mười và khu 200 ngày Cà Mau.

   Tôi đã cùng một số lực lượng vũ trang ra đi tập kết từ khu Đồng Tháp Mười tại bến Cao Lãnh. Nam Bộ vào thời kỳ cuối cuộc chiến tranh chống Pháp ta chia làm hai phân liên khu: miền Đông và miền Tây. Các lực lượng từ các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa và một phần của Thủ Dầu Một hành quân về Hàm Tân - Xuyên Mộc và xuống tàu từ đây ra Bắc. Số lực lượng còn lại từ Thủ Dầu Một, Tây Ninh đến Chợ Lớn, Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Long Châu Sa thì về Đồng Tháp Mười để xuống tàu ở bến Cao Lãnh. Các tỉnh thuộc Phân liên khu miền Tây đi tập kết tại bến Cà Mau.

   Các đồng chí trong Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ được Trung ương và Trung ương Cục chỉ định mỗi người phụ trách một công việc: anh Phạm Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Chính ủy Phân liên khu miền Đông, người nhiều tuổi nhất trong chúng tôi và đã từng lãnh hai án tử hình một lúc của thực dân Pháp trước đây vì đã dám làm cách mạng chống Tây (nhưng chưa kịp thi hành), cùng anh Nguyễn Văn Vịnh - Phó Tư lệnh, đảm nhận Trưởng và Phó Tiểu ban Liên hợp lãnh thổ phía Nam đóng ở Phụng Hiệp (Cần Thơ), sau dời về Sài Gòn - Gia Định. Anh Hoàng Dư Khương (Hoàng Xang) - Phó Bí thư Đảng ủy thì lãnh đạo các bộ phận ở lại và phong trào quần chúng đấu tranh thi hành Hiệp nghị. Còn tôi - Tư lệnh, thì phụ trách tổ chức và chỉ huy các lực lượng vũ trang tập kết ra miền Bắc. Chúng tôi chia tay nhau hết sức cảm động tại khu rừng căn cứ Dương Minh Châu phía bắc Tây Ninh. Không phải cảnh mưa dầm lê thê cuối mùa trong những ngày ấy làm nẫu lòng người mà chính lòng người, tình đồng chí thân yêu, vui buồn lẫn lộn trong cảnh chia tay bắt buộc, đã khiến cảnh trời có phần u ám. Nào ai đã học hết chữ ngờ. Trong lúc tạm xa nhau vì công việc sau bao ngày chung sống và chiến đấu gian khổ gay go trong chiến tranh, chúng tôi đâu có hình dung được mỗi người rồi đây gặp riêng một cảnh ngộ rất khác nhau. Có bao giờ lại nghĩ đến tương lai của riêng mình trong những ngày tháng ấy. Tương lai của mỗi người gắn chặt với tương lai của đất nước và dân tộc với nhiệm vụ của Đảng giao phải hoàn thành một cách xuất sắc nhất, không mảy may suy tính.

    Hôm nay chia tay để ngày mai gặp lại trong cảnh huy hoàng của Tổ quốc thân yêu, chỉ có lòng tin sắt đá ấy mới gạt mọi ưu tư.

    Anh Phạm Hùng và tôi may mắn hơn, lại được cùng công tác chung trong Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền những năm đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn. Anh Hoàng Dư Khương ở lại miền Nam trong Xứ ủy Nam Bộ. Nhưng một thời gian không lâu anh đã bị địch ngang ngược bắt đày đi Côn Đảo suốt 19 năm trời và vì cương cường bất khuất nên giặc đã nhốt anh nhiều năm trong “chuồng cọp”  1. Năm 1974, thấy anh đã tàn tạ, không còn ra ngoài nữa, địch mới thả anh ra giữa Sài Gòn với âm mưu để rồi bí mật thủ tiêu cho êm thấm. Nhưng nhanh tay hơn, chúng tôi đã tổ chức đón anh về căn cứ và thật là mừng mừng tủi tủi khi gặp lại nhau, cùng sống bên nhau một số thời trước xa xôi rồi, ngỡ ngàng trước thời cuộc, lạ lùng trước mọi sự việc. 19 năm hay gần 7.000 ngày bị giam cầm ở Côn Đảo rồi còn gì, cách biệt mịt mù với cuộc sống và đấu tranh diễn ra quyết liệt và nhanh chóng lạ thường. Tình đồng chí của chúng tôi càng thắm thiết và có lẽ đây là những ngày tôi rất sung sướng được vỗ về an ủi, chăm lo từng miếng ăn, viên thuốc cho những người bạn cùng chí hướng từ những ngày khổ cực xa xưa và có lẽ anh cũng được sung sướng nhiều trong sự săn sóc trìu mến của đồng chí giữa bầu trời tự do, nhìn rõ cảnh thắng lợi đi lên chắc chắn của cách mạng.

    Sau những ngày được Đảng săn sóc tận tình ở Hà Nội, anh trở về miền Nam khi hoàn toàn giải phóng, lấy bệnh viện làm nhà, bác sĩ và y tá làm gia đình thân thuộc trong những ngày cuối đời, thay thế cho vợ con đều đã hy sinh trong thời kỳ kháng chiến...

    Cũng cần nói thêm, vợ anh chúng tôi thường gọi là chị sáu Kim Nguyên, là một đảng viên cộng sản đấu tranh kiên cường trong cả hai cuộc chiến tranh. Chị đã dũng cảm chịu đựng mọi cực hình tra tấn dã man khi bị địch bắt, không hé răng để giữ vẹn toàn bí mật và tổ chức của Đảng. Chị đã từ giã cõi đời do vết thương tra tấn tàn bạo của Mỹ - Diệm trong lúc anh đang quằn quại trong chuồng cọp Côn Đảo. Vinh quang thay cuộc đời của một chiến sĩ, vẻ vang thay sự hy sinh dâng hiến của cả một gia đình cách mạng cho sự nghiệp Tổ quốc, cho hạnh phúc của toàn dân.

    Còn anh Nguyễn Văn Vịnh, sau khi hết nhiệm kỳ ở Tiểu ban Liên hiệp quân sự một thời gian, anh được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với quân hàm Trung tướng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III và làm Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Chính phủ ở Hà Nội, theo dõi và bảo đảm cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam...




-----------------------------------------------------------------
1. Chuồng cọp: Là một loại buồng giam chật hẹp dưới hầm tối âm u ở Côn Đảo. Mỹ đã cố vấn cho ngụy tiếp tục “truyền thống” của thực dân Pháp mở rộng và củng cố khu giam cầm địa ngục này. Chuồng cọp để giam những người mà địch cho là nguy hiểm nhất, cứng đầu nhất nhằm làm cho người bị giam ngày một tàn tạ cả sức khỏe và trí tuệ tâm hồn, nếu có ra khỏi tù cũng thành một người không còn có tác dụng gì cho xã hội nữa.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Ba, 2023, 06:46:20 am
*
*      *

    Sau khi ngừng bắn có hiệu lực, các cuộc chuyển quân rộn rịp tiến hành thường xuyên qua nhiều làng mạc suốt trong những ngày tháng 8. Có những đơn vị từ căn cứ Long Nguyên, Bến Cát, từ Hố Bò, An Nhơn Tây, Dương Minh Châu ở miền Đông Nam Bộ rầm rầm rộ rộ kéo ngang gần thị xã Tây Ninh, thị trấn Gò Dầu, Đức Hòa để về Đồng Tháp. Có đơn vị từ rừng Gia Thuận, từ Bình Ninh, An Thạnh Thủy, Gò Công từ rừng Thạnh Phú vượt sông, vượt lộ hiên ngang diễu qua cạnh thị xã Mỹ Tho, thị trấn Cai Lậy để về Cao Lãnh. Rồi từ Mộc Hóa, Đức Huệ, từ Hồng Ngự, Lai Vung tiến về Mỹ Trà, Mỹ Ngãi. Thật là đội ngũ chỉnh tề rầm rập bước chân chiến thắng. Ở các vùng yếu, vùng sâu, ở thị xã, thị trấn lớn, đồng bào lâu nay dễ gì công khai gặp được anh Vệ quốc, có chăng chỉ là tưởng tượng ra những người khổng lồ, oai phong lẫm liệt, đánh ngã một lúc hàng loạt tên lính Pháp to con, sau khi nghe được trận chiến thắng của ta. Hay khó hình dung nổi khi địch tuyên truyền rằng lính Việt Minh “bảy người đeo cọng đu đủ không gãy”. Giờ đây các ông già, các bà, các chị đặc biệt là các cô nữ sinh thành thị, các em thiếu niên, từ trong vườn nhà hay kéo nhau ra một góc đường phố nhìn bộ đội Cụ Hồ hành quân ngang qua: “Ồ! Đủ cả súng nhỏ súng to, có đạn gì mà hai người khiêng cũng còn có vẻ nặng. Mà anh em khỏe quá, đẹp quá, người nào cũng tươi vui, hành quân mà như trẩy hội”. Nhưng bà con không thể biết hết được cái đẹp cao quý từ bên trong của mỗi một con người. Anh chiến sĩ Vệ quốc đoàn, người lính của Bác Hồ, mới hôm qua còn hăng say rượt giặc đầy khí phách “bầu trời xông thẳng, chín tầng chửa thấy là cao” (Cao Bá Quát) mà hôm nay được lệnh tập trung đã lưng quảy nóp  1, súng ngang vai về nơi quy định.

    Mới hôm qua vừa ngừng tiếng súng anh đã mơ về xóm ấp quê hương: Mẹ già bao năm xa cách hẳn đang mong đợi bên rào bông bụt, hay anh chị, bà con láng giềng đang ngóng ở rặng trâm bầu đầu làng. Người Việt Nam nào lại không gắn bó tình cảm của mình với bà con làng mạc, một mảnh cụ thể của Tổ quốc bao la, vì tình cảm ấy mà quyết tâm ra đi chiến đấu đến thắng lợi rồi thì được lệnh chuyển quân tập kết về miền Bắc xa xôi, cách trở cả nghìn cây số. Đành rằng miền Bắc, miền Nam vẫn là Tổ quốc của ta, vì Tổ quốc thống nhất ấy mà ta sẵn sàng hy sinh cả tính mệnh. Nhưng bụi trúc, bờ tre, con kênh, cụm chuối, mẹ già, vợ trẻ, cô bác bên nhà, em trai, cháu gái vẫn là hình ảnh sao mà thân thương, sao mà bịn rịn. Đi hay ở? Lòng anh chiến sĩ thật bâng khuâng xao xuyến. Có đêm nào trong những đêm đang chiến đấu mà nằm trăn trở suốt năm canh vì chuyện ở hay đi như những đêm này. Đi hay ở? Đi để học tập huấn luyện, xây dựng một quân đội hùng mạnh cho đất nước sau này - ta đã được hoàn toàn giải phóng đâu. Đi để xây dựng miền Bắc yêu thương, nửa nước đầu tiên được độc lập, công lao xương máu của mọi người, nhất là những người đã ngã xuống. Đi còn được biết Thủ đô, còn được gặp Bác Hồ - Người cha thân yêu của cả dân tộc, mà từ lâu mơ ước trông chờ. Nhưng ở cũng phải đâu là ngừng, nghỉ. Quân thù đâu phải là người có tín, nghĩa. Chúng có trăm phương nghìn kế để không chịu thi hành hiệp nghị thì sao? Ai mà tin được bọn đã từng đi cướp nước và bán nước. Phải ở thôi, ở cùng bà con đấu tranh hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng buộc chúng thi hành hiệp nghị cho nước non về một mối, Nam - Bắc một nhà. Lý lẽ này thật hấp dẫn, xử sự như vậy ắt là hợp lý hợp tình...

    Không biết bao nhiêu những khó khăn giằng xé tim gan, nát lòng, nát ruột trong đi và ở. Mẹ già ở lại côi cút, con trẻ ra đi. Chồng thì tập kết mà vợ thì mới cưới vài ngày, vài tuần, vài tháng thì ở lại, hoặc ngược lại người cha thì ở lại mà mẹ và con bồng bế xuống tàu. Biết bao gia đình chia năm xẻ bảy. Vợ chồng nhà văn Lưu Quý Kỳ đi tập kết nhưng mẹ già bắt phải để hai con nhỏ lại để bà nuôi. Trong bài viết “Trên tàu tập kết”, nhà văn đã kể lại lời bà khăng khăng: “Tao già rồi tao không muốn sống đơn chiếc. Con Hai bỏ nhà đi theo kháng chiến tám, chín năm trời. Bây giờ ta đánh Tây thắng lợi rồi, chúng bây ra Bắc có đôi, có anh em bạn bè, có Cụ Hồ, có Chánh phủ mình... chúng bay phải để hai đứa nhỏ ở lại với tao cho khuây khỏa tuổi già. Hai năm nữa chúng bay về..”  2.




-------------------------------------------------------------------
1. Nóp: Là một đồ dùng của dân nghèo và chiến sĩ Vệ quốc vùng đồng bằng sông Cửu Long trước đây, đan thủ công bằng cọng bàng giã dẹt phơi khô. Cây bàng mọc nhiều ở vùng sâu vùng trũng Đồng Tháp Mười. Nóp dùng làm chiếu trải nằm, dùng làm mùng ngủ chống muỗi, làm mền chống lạnh. Bộ đội hành quân thời chống Pháp gói quần áo vào trong nóp mang trên vai thay cho ba lô. Trong chiến trận nóp là bệ tì của súng để bắn. Khi đóng quân nóp là bàn kê để chép bài học hay viết thư về nhà, cho người yêu mong đợi. Như vậy chỉ một chiếc nóp thôi, anh chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã thay thế được nhiều: mùng, mền, ba lô, bàn, bệ... Vừa giản tiện vừa nhẹ nhàng lại rẻ tiền mà ai cũng có thể sắm. Chiếc nóp trở thành vật bất ly thân, là gia tài trên lưng của người chiến sĩ Vệ quốc nghèo mà dũng cảm chịu đựng mọi khó khăn.

                                    “Chiều hôm em đứng giã bàng,
                              Thương anh quảy nóp trong hàng quân đi”.

    Chưa hết, chiếc nóp còn thủy chung theo người chiến sĩ đến cùng vào tận lòng đất: Khi chiến sĩ ngã xuống, đồng đội sẽ dùng nó làm quan tài, khâm liệm thi hài chôn cất ở nơi nào đó của đất nước thân yêu.

2. Bài “Trên tàu tập kết” của Lưu Quý Kỳ in trong sách Nước về biển cả, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1975.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Ba, 2023, 06:50:30 am
    Những chuyện như vậy là phổ biến. Không phải chỉ phổ biến với những người miền Nam tập kết mà có lẽ cả với những người miền Bắc bị dụ dỗ và lừa gạt vào Nam. Vì vậy mà “hai năm” đã trở thành nỗi mong chờ của hàng triệu trái tim Việt Nam thời ấy. Kẻ nào đi ngược lại ước vọng lớn lao và thiêng liêng ấy, kẻ đó nhất định sẽ bị thất bại là tất yếu rồi.

    Nhưng rồi tất cả đều phải ngã ngũ dứt khoát. Cứ nghe theo Bác Hồ, tuân lệnh của Đảng là đúng. Cấp trên đã phổ biến cặn kẽ kế hoạch ai đi, ai ở. Đi hay ở không còn chỉ có cái nghĩa thông thường là ở lại và ra đi. Nó là nhiệm vụ thiêng liêng được giao cho mỗi cán bộ, chiến sĩ. Ta đã ký Hiệp định Giơnevơ, ta làm đúng theo quy định: Bộ đội chiến sĩ phải đi tập kết, người kháng chiến khác ở lại sống như dân thường dù người ấy là đảng viên hay đoàn viên nông hội. Ta sẽ gặp lại sum vầy sau hai năm, sau tổng tuyển cử. Gần chín năm trời xa nhà đi chiến đấu còn được thì hai năm đâu có sá gì. Thế là người đi kẻ ở đều đã xác định thái độ và đều tin tưởng mãnh liệt vào sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng, vào sự sum họp của gia đình gắn liền với thống nhất Tổ quốc sau hai năm. Hai năm không còn chỉ là cái mốc thời gian đơn giản, mà đã trở thành niềm tin và lẽ sống: Cách mạng nhất định sẽ thành công, non sông sẽ liền một dải, gia đình nhất định phải đoàn tụ, đất nước phải độc lập tự do...

    Thế là khắp các làng xã thuộc huyện Cao Lãnh, nhà cửa dọc các sông rạch từ Mỹ An, Ba Sao ra Hòa An, Cao Lãnh, từ Phong Mỹ về An Bình, Mỹ Tho, đâu đâu cũng có “bộ đội của mình” đóng. Và nữa, có phải chỉ có bộ đội hành quân tập kết đâu. Đồng bào từ khắp chốn, từ những làng mạc xa xôi, từ các thị xã, thị trấn, cả ở Sài Gòn xuống và Cần Thơ lên cùng kéo về Đồng Tháp Mười, về Cao Lãnh hoặc về Cà Mau để tìm đứa con, người em, người cháu đã ra đi từ ngày nảo ngày nào, và giờ đây lại sắp đi xa. Còn các má chiến sĩ nữa, các má cũng đổ về Đồng Tháp Mười để tiễn các con đi bộ đội ra Thủ đô, đi gặp Cụ Hồ. Các má khi nào cũng vững niềm tin, giữ trọn nghĩa tình chung thủy và muốn gửi gắm ở những đứa con chiến sĩ ra đi nỗi niềm non nước. Các má còn gửi cho con đưa ra dâng cho Bác Hồ, Trung ương Đảng “nắm đất miền Nam”. Đất này là mồ hôi nước mắt của bao đời ông cha khai phá, là máu xương của nhiều lớp chiến sĩ quyết tâm bảo vệ đến cùng. Đất này là của những trái tim và khối óc Việt Nam, con Hồng cháu Lạc sinh ra cùng một bọc, và ngày nay có chung một Cụ Hồ. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”; “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

    Lời Bác nói là tiếng vọng của non sông ngàn đời không tắt.

    Thôi thì tấp nập đường bộ, đường sông, bến xe nào cũng đông đặc, xe hàng nào cũng chật ních người. Các kênh, các rạch dập dìu thuyền nhỏ, thuyền to. Mang theo người cũng đủ thứ của ngon vật lạ, sản phẩm địa phương, món quà quê hương gây thương gây nhớ. Từ những trái bom 1 trân trọng gói từng trái bằng giấy mỏng, bình trà “Lý Thông Tích”, thuốc lá “Côtáp”, “Mêliaa” đỏ, trắng, vàng của người Sài Gòn, tới vài trăm con gà, con vịt, rổ bánh xèo, nồi canh chua cá lóc, ơ tép rang với niêu cơm nếp của bà má nghèo ở Hậu Thạch trên kênh Dương Văn Dương. Và những trái bầu dài, bí rợ hai da tận miền biển Vàm Láng, Cây Khô, tĩn nước mắm ngon, con cá đỏ của chị em Chợ Cũ - Mỹ Tho, trái dưa hấu đầu mùa xanh vỏ đỏ lòng của bà con Long Toàn, Long Vĩnh - Trà Vinh. Nhiều nhất vẫn là gạo dẻo nếp thơm, gạo nàng hương Chợ Đào, gạo nanh chồn Gò Công, những quả dừa xiêm ngọt nước cùng các thứ bánh kẹo, rồi thuốc giồng Thủ Đức, xim mẫn Cao Lãnh và xen vào đấy còn có những tá khăn thêu “tặng anh Vệ quốc đoàn Chiến khu 8” của các em nữ sinh Trường Côle Mỹ Tho nữa chứ. Tất cả là tình cảm tràn đầy, là tấm lòng chất chứa, có thủy, có chung, tình quân dân thắm thiết của kẻ ở gửi gắm người đi, và người đi nhắn nhủ người ở lại. Hai ngón tay giơ lên với cặp mắt long lanh hứa hẹn, thế thôi, không cần một lời nào, khi gặp nhau trên đường đi, khi chia tay sau một đêm liên hoan hay một cuộc míttinh quần chúng. Không ai bảo ai, mà “hai năm” đã thành khẩu hiệu hành động, đã là lời thề sắt đá.

    Cảm động nhất, gắn bó nhất là đám cưới tập thể diễn ra ngay tại Cao Lãnh trong ngày tháng 10 năm ấy. Những cô gái quê Gò Công, nơi “đám lá tối trời” của Trương Định, đã được các má dẫn lên tận nơi tập trung quân của Tiểu đoàn 309 để làm lễ cưới cùng các chiến sĩ của tiểu đoàn, trước khi các con đi tập kết  2. “Các con liệu mà trọn niềm chung thủy, sau hai năm về đây, các má sẽ giao lại tụi nó vẹn toàn”, các má đã bảo đảm như vậy.

    Thị trấn Cao Lãnh những ngày ấy thật tấp nập rộn ràng. Tình gia đình, tình quân dân, tình bè bạn dạt dào, sâu đậm. Cán bộ chiến sĩ trước khi về Bắc muốn lưu lại cái gì đối với địa phương thân yêu: Sửa lại các ngôi nhà cho đồng bào, dựng một mái trường cho các em nhỏ, bắc cầu, sửa đường... nghĩa là cái gì có ích cho dân là làm. Vì cũng không thể quên những đồng đội đã ngã xuống giờ đây hẳn cũng mỉm cười nơi chín suối. Họ cố xây nên một đài liệt sĩ “Tổ quốc ghi công” để nhớ ơn người đã hy sinh vì nghĩa cả. Nghĩ đến Bác Hồ vĩ đại, họ đã ra công xây lại ngôi mộ của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, người đã sinh ra một anh hùng dân tộc cho đất nước đứng lên.



------------------------------------------------------------------
1. Trái táo.

2. Tiểu đoàn 309 đã hoạt động một thời gian ở Gò Công cho đến khi ngừng bắn chuyển quân tập kết. Trai anh hùng, gái thuyền quyên đã cùng nhau hứa hẹn, nhưng đột nhiên ngừng bắn chuyển quân. Sáng kiến của các má chiến sĩ là làm lễ cưới cho chúng nó để chúng nó không bao giờ quên mảnh đất truyền thống này, sau hai năm hãy trở về sum họp.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:07:05 am
    Tôi đi chuyến tàu chót ở bến Cao Lãnh thuộc khu 100 ngày Đồng Tháp Mười, đúng ngày cuối cùng của tháng 10, như quy định của Hiệp định. Mọi người xuống chiếc tàu đổ bộ của Pháp, tàu LCM há mồm, để ra Vũng Tàu, tại đây chuyến sang tàu Kilinxki của nước bạn Ba Lan đợi sẵn. Chiếc LCM rời bến Cao Lãnh về chiều. Trên bờ, trên bến đông nghẹt những người, những câu giã từ gào lên từ bốn phía, nhưng nhiều quá và lẫn trong tiếng máy xình xịch nặng nề của con tàu, không thể nghe được rõ câu nào. Muôn ngàn cánh tay giơ lên chìa ra hai ngón, hai ngón từ trên bờ, hai ngón từ dưới tàu, tất cả cùng cảm thông sâu sắc, và những chiếc khăn rằn vẫy theo cho đến khi không còn thấy được nữa, một số chiếc khăn rằn đỏ kéo vào chấm lên mắt nhăn nheo và một số chiếc khăn rằn xanh úp vào mặt che đôi mắt hoe đỏ. Tàu lạnh lùng xuôi theo dòng nước. Bên hai bờ sông Tiền, cây cối xanh tươi nổi bật lên những ngọn dừa nghiêng nghiêng duyên dáng, những tàu dừa lướt thướt vươn cao, vẫy theo mãi cho đến khi trời tối sẫm không còn nhìn ra hình dáng muôn loài. Và trên tàu tự nhiên cũng im lặng, một sự im lặng lạ lùng như mọi thứ chuyển lắng hết vào bên trong, trong đáy lòng sâu thẳm của mỗi con người.

    Bờ biển Vũng Tàu đã nối liền với bờ biển Sầm Sơn qua Biển Đông dậy sóng. Con đường đã đưa ta ra miền Bắc hôm nay, mai sau có đưa ta trở lại miền Nam? Trong những ngày bập bềnh với sóng gió Thái Bình Dương trên con tàu vững chãi của bạn từ Đại Tây Dương đến, hẳn có nhiều đồng chí cũng đặt ra câu hỏi ấy như tôi. Bạn bè cách xa nhau hai đại dương còn cảm thông đến với nhau, gần như trong gang tấc thì Biển Đông và sông Bến Hải ruột thịt đâu có trở ngại gì cho chí khí người trai đất Việt. Tôi thật yên tâm khi nghĩ như vậy. Sông có sâu, biển có rộng, núi có cao nhưng không gì có thể ngăn cản lòng người muốn vượt núi băng sông vì nghĩa lớn của dân tộc.

    Thật là mới bước chân ra đi đã nghĩ đến ngày trở về. Giờ phút ra đi là giờ phút ấp ủ những cuộc sống tương lai trước mắt mà cũng là giờ phút hồi tưởng lại những tháng ngày chiến đấu gay go vừa qua. Rồi đây trên đường đời ta sẽ gặp bao nhiêu bạn bè thân yêu vừa quen biết, bao nhiêu cảnh sắc tươi đẹp chưa từng thấy, nhưng đồng thời cũng mang nặng bao nỗi nhớ thương bạn bè, cô bác đã từng gian khổ có nhau, những người thân thương đang sống hay đã mất, bao nhiêu cánh rừng bãi lá đã chở che ta trong những cuộc càn, những trận giội bom bắn phá, bao nhiêu trận địa oai hùng ta cùng anh em xung phong diệt địch... Biết làm sao được, tâm hồn con người là phản ảnh, thu nhặt những gì của xã hội, của thiên nhiên. Xã hội vốn phức tạp làm cho tâm hồn phức tạp, nhưng chính tâm hồn phức tạp làm cho xã hội phức tạp thêm lên và thiên nhiên đậm đà nhiều vẻ.

    Ba ngày đêm lênh đênh trên mặt biển mênh mông. Chung quanh con tàu chỉ trời, mây, sông, nước. Có lẽ trong số người tập kết trên tàu không có nhiều người được đi biển lâu ngày. Thì ra đất và nước ta đâu phải hẹp lắm. Đó là ta mới chỉ đi dọc theo bờ đông thôi đấy. Biết bao nhiêu tài nguyên phong phú chìm sâu dưới màu xanh thăm thẳm này. Ước gì hòa bình vĩnh viễn, thống nhất mau lên. Mà trời, mà biển có chỗ nào đâu phân chia giới tuyến, cả lòng chúng ta đây nữa làm gì có tuyến mà chia.

    Bến Sầm Sơn rợp cờ đỏ sao vàng và những tấm băng căng ngang hoan hô chiến thắng của ta và nồng nhiệt đón chào đồng bào và chiến sĩ miền Nam tập kết. Các đoàn đại biểu, các đoàn thể, các mẹ, các chị miền Bắc, áo nâu khăn thâm, thân tình và niềm nở đón tiếp chúng tôi. Sao mà cảm động, tấm lòng những bà mẹ ở hai đầu đất nước, nào có khác gì nhau đâu. Vẫn tình thương đậm đà đối với các con chiến sĩ. Từng dãy nhà dựng tạm nhưng sạch sẽ rộng rãi, trang hoàng đẹp đẽ nằm dọc ngang trên bãi. Trưởng ban tổ chức đón tiếp lực lượng tập kết là anh Nguyễn Văn Tạo - Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ ta. Anh Tạo là một đồng chí cán bộ cách mạng lão thành mà nhân dân hầu như ai cũng biết tiếng, quê Nam Bộ và cũng đã xa Nam Bộ nhiều năm rồi. Anh ôm chầm lấy tôi một cách thân thiết vừa với tình cảm của một đồng chí lâu ngày mới gặp lại vừa cảm động như ôm vào lòng quê hương trăm nhớ nhìn thương. Anh nói với tôi:

    “Bác Hồ giao cho tôi công việc này và dặn đi dặn lại: Chú là người miền Nam, chú hiểu tâm tư tình cảm cũng như sự cần thiết trong sinh hoạt đời sống của các cô các chú trong đó ra, cả các cụ lớn tuổi cũng như các cháu thiếu nhi. Vậy chú phải thay mặt Đảng, Chính phủ tiếp đón thế nào để tỏ được sự yêu thương lo lắng thắm tình của Đảng và Bác đối với đồng bào miền Nam ruột thịt. Chú biết rồi, ở miền Nam không có cái rét cắt ruột như ở miền Bắc đâu, phải có đủ quần áo ấm và chăn bông cho tất cả, có khăn quàng cổ cho cụ già và đủ xà phòng và khăn lau cho các cô có con mọn”.

    Tôi cố dằn những giọt nước mắt cứ muốn lăn trào ra vì xúc động. Thế mà tôi cứ tưởng lòng mình đã khô cằn rồi vì đã bao phen trước sự hy sinh chết chóc đau thương của đồng bào, đồng chí, tôi chỉ thấy nhức nhối trong tim và uất hận trong lòng. Cũng với tấm lòng yêu thương vô hạn và chu đáo đến từng chi tiết như vậy của Bác, năm 1948, khi phái đoàn Nam Bộ do tôi dẫn đầu lần đầu tiên ra Việt Bắc, Bác đã phái chị Hai Sóc đến chăm lo cho chúng tôi từng miếng ăn, nơi ở. Chị Hai Sóc người quê Bà Điểm, Hóc Môn vì công tác đã ở Việt Bắc từ trước, đến với chúng tôi bằng tấm lòng của một người chị hai Nam Bộ, chăm sóc chí tình những đứa em vất vả xa nhà. Bác lo cho cả nước, Bác lo cho từng người. Bác rèn từng cán bộ, Bác nâng từng kẻ có sai lầm, Bác biết rõ đặc điểm từng địa phương, Bác nhìn thấu chiều sâu từng tấm lòng. Việc lớn Bác chu toàn, việc nhỏ Bác không sót. Thật là thấm tình giai cấp, thắm nghĩa đồng bào. Với đức độ như vậy của một nhà lãnh đạo, của một đồng chí tiêu biểu cho một Đảng chân chính, một dân tộc anh hùng, làm sao không hiệu triệu được mọi người sẵn sàng xông lên phía trước, hy sinh cả thân mình vì độc lập tự do, vì hạnh phúc muôn đời mai sau. Thật là trái hẳn với những lãnh tụ phong kiến ngày xưa chuyên dùng bạo tàn và thủ đoạn để xây nên cơ đồ và sự nghiệp cho riêng mình. Ngày nay trong thế giới tư bản cũng không thiếu kẻ theo chủ nghĩa thực dụng, trơ như đá, lạnh như tiền, mượn danh nghĩa quốc gia dân tộc, sẵn sàng hy sinh nhiều con tép để được con tôm cho riêng mình. Họ chỉ quen lối “giải khuây trăm họ làm công một người” (Nguyễn Du). Bác Hồ chúng ta hoàn toàn khác, đã kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống của dân tộc qua 4.000 năm lịch sử với tinh thần tư tưởng tiên tiến của giai cấp công nhân ngày nay.

    Những người đi tập kết, dù sao vẫn yên một nỗi: Quan sơn muôn dặm vẫn một nhà, Nhà nước của ta, nhân dân của ta, quân đội của ta. Còn những người ở lại mới thật ngổn ngang trăm mối. Vẫn núi sông này, vẫn đồng bào ta đó, đặc biệt là trong các vùng mà lâu nay cách mạng làm chủ - những vùng này không phải hẹp - ngày nay đâu còn chính quyền ta nữa, đâu còn quân đội ta nữa. Đành rằng lúc đầu, hồi năm 1945 ta cũng chỉ tay không mà gây dựng nên lực lượng vũ trang và chính quyền cách mạng. Nhưng đã trải qua một thời gian dài gần chín năm rồi, dân ta có chính quyền trong tay, có quân đội mạnh, một quân đội chiến thắng, có nhiều vùng thực sự làm chủ dưới chế độ dân chủ nhân dân vững vàng. Thế mà nay bỗng chốc từ có, có mạnh mà trở lại tay không, không phải từ từ như lúc xây dựng từ nhỏ đến lớn qua từng chặng đường thử thách, rèn luyện. Hơn nữa lại đứng trước một quyền lực tay sai của đế quốc, kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Chúng có một lực lượng vũ trang không nhỏ, được quan thầy trang bị mạnh, độc quyền làm mưa làm gió trên dải đất miền Nam thân yêu này...

    - Không thể như thế được! Làm sao mà chịu được?

    - Nếu nó phản bội Hiệp định thì sao?

    - Nếu nó dùng súng bắn giết ta, bắt bớ phi pháp ta thì ta tay không làm sao chống lại được? Ta chịu chết à? Ta quỳ gối lạy lục nó hay sao?

    - Vô lý! Bộ đội đi tập kết hết, dân ở với ai?

    Quả thật là tình hình gay go, làm sao giải thích cho thông suốt tất cả, cho người đi cũng yên tâm mà kẻ ở lại cũng không còn thắc mắc, giữ vững tinh thần, lực lượng với khí thế chiến thắng để đấu tranh thành công? Nhưng rồi cán bộ cũng kiên trì giải thích dựa vào chủ trương của Đảng, của Bác. Bác đã nói:

    ... “Trước kia ta chủ trương tiêu diệt ngụy quân, ngụy quyền để thống nhất, bây giờ ta dùng chính sách khoan đãi, dùng cách toàn quốc tuyển cử để đi đến thực hiện thống nhất toàn quốc.

    Muốn hòa bình thì phải chấm dứt chiến tranh, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải ngừng bắn. Muốn ngừng bắn thì phải điều chỉnh khu vực, nghĩa là quân đội địch phải tạm tập trung vào một vùng để rút dần, quân đội ta cũng tập trung vào một vùng. Ta phải có vùng rộng lớn, đủ những phương tiện để xây dựng, để củng cố và phát triển lực lượng của ta, để ảnh hưởng đến các vùng khác, do đó để đi đến thống nhất. Điều chỉnh khu vực không phải là chia cắt, đó là việc tạm thời để đi tới thống nhất. Khi điều chỉnh và trao đổi khu vực, vùng xưa nay tự do mà nay địch đến tạm đóng thì đồng bào vùng ấy thắc mắc, có người sẽ bi quan thất vọng, dễ bị địch lợi dụng. Ta phải nói cho đồng bào biết rõ: vì lợi ích toàn quốc, lợi ích lâu dài mà tạm thời phải chịu đựng, đó là một điều vẻ vang, toàn quốc đều biết ơn. Ta phải làm cho mọi người không bi quan tiêu cực, mà tiếp tục hăng hái đấu tranh đòi Pháp rút quân để đi đến độc lập.

    Dùng điều chỉnh khu vực đóng quân để đi đến hòa bình, dùng cách toàn quốc tuyển cử để đi đến thống nhất, đó là chủ trương của ta. Ta kháng chiến để độc lập, thống nhất, dân chủ hòa bình. Ngay thực hiện hòa bình cũng là để tranh thống nhất, độc lập, dân chủ. Tình hình mới, phải có chủ trương mới để tranh lấy thắng lợi mới”  1.

    Cụ Hồ, Đảng đã nói như vậy là đúng rồi. Tình hình mới phải có chủ trương mới. Phải hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ. Thế là mọi người đều tin tưởng, đều chấp hành tuy rằng trong lòng còn phần nào lo âu không biết rồi đây địch sẽ hành động ra sao.

    Nhưng điều làm cho ai nấy ở lại yên tâm là đâu phải chỉ có dân mà cả cán bộ các đoàn thể quần chúng, có cả đảng viên cũng ở lại làm ăn như dân, với dân. Một cụ bà lo lắng ngồi nhà không yên, chống gậy đến thăm một gia đình trong xóm có thằng Ba đi tập kết. Nhưng vào nhà bà lại gặp Ba ra đón:

    - Ủa, mầy không đi sao Ba?

    - Cháu đi làm gì? Ở lại làm ăn với bà con chứ!

    - Mầy làm cán bộ nông hội, là đảng viên mà.

    - Phải, cháu là đảng viên, cháu là nông dân. Hiệp định quy định bộ đội mới đi tập kết còn mọi người không còn kháng chiến nữa thì làm ăn sinh sống vùng nào mà mình muốn. Vả lại ở đâu có dân thì ở đó phải có đảng viên, có Đảng.

    - Vậy thì được rồi, tao tưởng tụi bây đi hết chứ. Còn Đảng thì dân không lo sợ gì cả. Có dân tụi bây cũng chớ sợ gì cả.

    Thế là tin đảng viên vẫn còn ở lại với dân bí mật truyền từ người này qua người nọ, nào thằng Ba, thằng Năm, nghe nói cả chú Tám, chú Mười cũng ở lại nữa, lan đi khắp thôn xóm, làm yên lòng mọi người và dấy lên một niềm tự tin phấn khởi đấu tranh thi hành Hiệp định. Thế thì bộ đội vũ trang cứ đi tập kết, xây dựng huấn luyện cho mạnh lên và sẵn sàng đấy, còn dân đã có đảng viên lãnh đạo rồi, không lo. Sức mạnh của nhân dân rất lớn, nhân dân đã được rèn luyện trong đấu tranh lâu nay, lẽ nào để cho địch tự do hoành hành. Chúng liệu hồn mà phản bội, nhân dân phải đoàn kết đấu tranh buộc nó thi hành đúng Hiệp định thôi. Ngày trước ta đấu tranh vũ trang trong chiến tranh thì ngày nay ta đấu tranh chính trị trong hòa bình. Thế nào rồi cũng độc lập và thống nhất cả nước. Chỉ hai năm thôi, hai năm ta lại gặp nhau trong ngày hội tổng tuyển cử toàn dân.

    Thật ra lúc đầu trong dân nhiều người cũng thắc mắc lo âu, ngại địch phản bội Hiệp định khi bộ đội đã đi tập kết hết, ngại chúng khủng bố tàn sát, nhất là những người tích cực tham gia chống Pháp và gia đình của bộ đội đã đi tập kết. Một không khí tư lự nặng nề lan khắp mọi nơi. Mỗi người đều như cảm thấy mất đi một cái gì quý giá có quan hệ cả đến đời sống của mình. Rồi sống làm sao với bọn ngụy quyền trong xã, trong phường. Ta đã sống ngẩng cao đầu từ nhiều năm nay rồi, bây giờ khó mà khom lưng quỳ gối. Rồi còn bọn xấu, bọn lừa thầy phản bạn nữa, bọn đầu trâu mặt ngựa thời nào mà không có, tuy số này ít thôi nhưng tác hại sẽ không nhỏ. Nó làm hại uy danh của kháng chiến, phẩm chất cao quý của người cách mạng, ô nhục cho dân.

    Nhưng nhờ lòng tin tưởng tuyệt đối ở sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, tin theo lý lẽ giải thích của cán bộ, biết chắc đảng viên khi nào cũng sống chết với dân nên dần dà mọi người đều đi vào nền nếp làm ăn sinh sống bình thường và phấn chấn đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Niềm tin đã biến thành sức mạnh và sự hân hoan vì thắng lợi vừa qua lại hun đúc cho không khí đấu tranh chính trị tiếp tục.




-----------------------------------------------------------------
1. Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 15/7/1954 tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:11:33 am
CHƯƠNG II
Hai năm đấu tranh thực hiện hòa bình và dân chủ
(20/7/1954 - 20/7/1956)



    Hiệp định Giơnevơ được ký kết không có nghĩa là chấm dứt mọi đấu tranh cho độc lập và thống nhất của nước Việt Nam, cho đời sống ấm no, công bằng xã hội cho người dân Việt Nam. Nó có nghĩa vì được cả thế giới thừa nhận là chấm dứt cuộc chiến tranh đang ngày càng đẫm máu giữa các bên. Nó còn có nghĩa là chấm dứt sự đô hộ của ngoại bang, chấm dứt chế độ thực dân và sự can thiệp từ ngoài để cho người Việt Nam tự lo liệu lấy công việc của mình. Đó là sự đấu tranh trong điều kiện hòa bình bằng chính trị và dân chủ: tổng tuyển cử trong toàn quốc dưới sự kiểm soát của quốc tế để nhân dân tự do chọn lấy một chính thể thống nhất cho một quốc gia thống nhất hoàn chỉnh từ Bắc chí Nam, nghĩa là thực hiện quyền làm chủ của mình trên lãnh thổ toàn vẹn mà ông cha đã để lại.

   Sau những giờ phút bâng khuâng lo lắng về đi và ở, sau khi đã xác định rõ thái độ và lập trường của mình, nhân dân miền Nam Việt Nam đã mở đầu giai đoạn đấu tranh mới bằng những cuộc biểu tình chính trị rầm rộ nổ ra khắp các tỉnh, ở nông thôn cũng như ở thành thị, có tính chất biểu dương lực lượng và tỏ bày nguyện vọng với những khẩu hiệu mừng hòa bình, hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ và đòi thi hành đúng Hiệp định. Những cuộc hội họp năm bảy chục, một vài trăm người diễn ra thường xuyên và khắp nơi trong những hội hè, các đám giỗ, đám tiệc, cúng đình, cúng chùa. Và những câu chuyện bàn tán đâu cũng như đâu, đều xoay quanh đế quốc thực dân Pháp phô trương binh hùng tướng mạnh rút cục vẫn phải chịu thua Việt Nam, rằng hòa bình được lập lại sau bao năm xương máu chất chồng là quý giá vô ngần cần phải bảo vệ. Rồi câu chuyện cũng không ra ngoài việc thời sự nóng hổi là nội dung các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về hiệp thương tổng tuyển cử, không ai có quyền làm khác, không có quyền trả thù trả oán. Hai năm nữa thôi, nước nhà sẽ độc lập, nhân dân sẽ tự do, khắp cả miền Nam đều dấy lên lòng tự hào dân tộc chính đáng về thắng lợi vẻ vang, gạt bỏ ách thống trị của đế quốc, tự hào chính đáng về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khí thế phong trào quần chúng hoan nghênh hòa bình và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ hòa bình, độc lập thống nhất, dân chủ biểu lộ ngay sau khi Hiệp định được ký kết đã làm nức lòng tin tưởng của mọi người dân Việt Nam chân chính và làm run sợ quân thù và những bọn tay sai.

    Trong khi bận rộn với việc tổ chức chuyển quân tập kết, chúng tôi vui mừng khôn xiết khi nhận được tin tức dồn dập, ngay lúc còn trên đất miền Nam, về các cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào. Thật là một sự động viên to lớn cho tất cả kẻ đi cũng như người ở. Ngay từ ngày 01/8, chỉ 10 ngày sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, một cuộc míttinh khổng lồ của 50.000 người diễn ra ngay tại đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn, hoan nghênh Hiệp định, đòi hủy bỏ việc động viên quân đội, đòi thi hành tự do dân chủ. Đó là tiếng sấm đầu tiên, là tia chớp lóe lên từ một trung tâm chính trị lớn nhất ở miền Nam, làm rực sáng bầu trời và tâm hồn người Việt. Liền sau đó, Ủy ban hòa bình khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập bao gồm đông đảo nhân sĩ, trí thức và nhiều tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (người sau này trở thành Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) với Tổng Thư ký là Giáo sư Phạm Huy Thông, kêu gọi đấu tranh thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Ngày 02/8, 5.000 công nhân đồn điền cao su An Lộc (thuộc tỉnh Sông Bé ngày nay) đã bãi công ba ngày liền, kết hợp chào mừng Hiệp định Giơnevơ với đấu tranh đòi tăng lương 20 phần trăm và bãi bỏ thuế đảm phụ quốc phòng. Hưởng ứng với Sài Gòn, với An Lộc, hầu như khắp các thành phố, thị xã, làng mạc nông thôn đều có biểu tình, míttinh không ngớt. Tiêu biểu vào lúc ấy có cuộc biểu tình của 1.000 quần chúng của ba ấp: Bình Huề, Bình Thạnh, Bình Thắng thuộc xã Bình Đại, vào ngày 19/8/1954 chào đón Ủy ban liên hiệp, Ủy ban quốc tế. Tiếp ngay sau là cuộc biểu tình rộng lớn của 15.000 nhân dân trong toàn huyện Bình Đại (nay thuộc tỉnh Bến Tre) trương băng cờ, khẩu hiệu, kéo đi chật đường mừng hòa bình, hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ và đòi thi hành đúng đắn mọi điều khoản của Hiệp định.

    Run sợ trước làn sóng đấu tranh vì tự do dân chủ và hòa bình của nhân dân khắp miền Nam Việt Nam, Mỹ - Diệm tìm mọi cách để dập tắt phong trào, dằn mặt quần chúng bằng vũ khí, bằng khủng bố man rợ. Ở Nam Bộ, vụ khủng bố điển hình đầu tiên là ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Sáng ngày 13/9/1954, tại cánh đồng xã Khánh Thạnh Tân, bà con nông dân đang vỡ hóa để làm ruộng thì lính ở bót Tài Đại cùng dân vệ bao vây bắt từng người đi làm xâu xây bót cho chúng. Anh Dứa - một nông dân bị bắt bực tức liền lý sự với chúng.

    - Hòa bình rồi, nhân dân phải làm ruộng sinh sống. Các ông không có quyền bắt xâu. Lính có lương tâm phải tự làm bót mà ở. Chúng tôi bị kiệt quệ vì chiến tranh phải để chúng tôi sống chứ.

    Tức thì bọn lính xông vô đánh đập tàn nhẫn làm anh Dứa bị thương nặng. Những người bị bắt ở đó liền la ó phản đối, kêu cứu với dân làng. Hầu như cả xã đổ ra mỗi lúc một đông. Họ khiêng Dứa lên bót đấu tranh đòi bồi thường. Các xã Thuận Phú Tân, Thân Thạnh Tây hay tin cũng kéo ra hỗ trợ kịp thời, trống chầu trong đình làng được khiêng ra đi theo, thúc lên liên hồi... Trống giục khẩn trương, trống rền phẫn nộ. Dân các xã Tân Bình, An Thạnh, Thành Thới, Đa Phước Hội cũng túa ra đường, nhập cuộc. Đoàn biểu tình trở thành đông đảo. Họ kéo đi từ chợ Thơm (xã An Thạnh) xuống đến thị trấn Mỏ Cày, đường đông người kéo dài 4-5km. Ban đầu một trống, sau lên hai, rồi ba, rồi bốn trống chầu rền vang, thúc giục đấu tranh, uy hiếp tinh thần quân địch. Đồng bào các xã bỏ hết việc đồng áng, mỗi nhà để lại một người trông, kéo ra đường băng đồng, lội sông, đi đường bộ, đi xuồng ghe, đông đặc người là người tràn đi như nước vỡ bờ. Một bà lão mù ở xã An Thạnh cũng bắt cháu bé dẫn đi cùng bà con tham gia cho trọn tình làng xóm. Anh Tư Cường 1 có mặt tại chỗ ngày ấy, sôi nổi thuật lại. “Thật là khí thế bừng bừng, lúc này muốn can cũng hết can nổi”. Tên tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre Võ Công Mưu được cấp báo liền hộc tốc xuống Mỏ Cày dẫn theo một đại đội bảo an, có cả xe nồi đồng (thiết giáp) hộ tống, xông ra đàn áp! Đồng bào hô vang khẩu hiệu. “Đả đảo đàn áp! Đả đảo bắt xâu! Tôn trọng tự do dân chủ! Hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ! Hòa bình muôn năm!”. Nhiều loạt súng bắn vào dòng người tay không, xe nồi đồng đâm thẳng vào đám đông đang xông tới. Nhân dân chống trả mãnh liệt, dùng đủ mọi thứ có trong tay, gạch đá, gậy gộc... Cuộc xô xát đẫm máu kéo dài đến chiều tối.

    Mười một người dân bị chết, 30 người bị thương và khoảng 200 người bị bắt.

    Để phi tang tội ác, bọn ngụy lập tức cho xe chở xác những người chết đổ xuống sông Cổ Chiên.

    Đồng chí Nam Chung (tức Mười Khước) lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy đã kịp thời tới nơi thăm hỏi đồng bào và trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Đồng chí Tám Long 2  được phái vào thị trấn liên lạc với cơ sở bí mật của ta nắm tình hình của địch thật chắc để báo cáo cho lãnh đạo. Nhiều lá đơn của nhân dân đã tố cáo tới Ủy ban quốc tế là chính quyền Bến Tre đã vi phạm Hiệp định, vi phạm điều 14C  3. Một sự hợp đồng giữa nhân dân, lãnh đạo và cơ sở bí mật trong lòng địch hết sức chặt chẽ. Cuối cùng đại diện Ủy ban quốc tế đủ thành phần đại biểu của Ấn Độ, Ba Lan và Canađa đã đến trực tiếp điều tra tại chỗ. Trên suốt lộ trình của Ủy ban, nhân dân đến gặp đưa đơn tố cáo trên từng chặng đường. Khi Ủy ban đến gần hiện trường, một hòa thượng mặc áo cà sa, lần tràng hạt, ra chặn đầu xe của đại biểu Ấn Độ. Đại biểu này lập tức dừng xe, xuống vái chào đáp lễ. Hòa thượng liền đưa đơn tố cáo vụ thảm sát dã man. Ngay lúc ấy ghế bàn từ trong các nhà ven đường được mau chóng khiêng ra đặt ngay dưới gốc cây, mời các đại biểu của Ủy ban quốc tế ngồi. Từ mọi nẻo đổ ra, đồng bào quây quanh càng lúc càng đông ngoài dự kiến của ngụy quyền. Hàng trăm đơn tố cáo được đưa ra, nhiều người kể lể tội ác của ngụy quyền, các gia đình nạn nhân khóc lóc đòi minh xét và bồi thường thích đáng.

    Đại biểu Ủy ban quốc tế ghi nhận tất cả sự thật của nhân dân tố giác và kết luận sự cố ý đàn áp của chính quyền Mỏ Cày. Nhân dân đã thắng.

    Tiếp theo đó là vụ Vĩnh Xuân. Vĩnh Xuân là một xã thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ngày 25/10/1954 anh Đỗ Văn Bính - một người kháng chiến cũ, đang hớt tóc tại chợ, bị tên đại úy ngụy Tạ Văn Kiệt cùng một số lính bắn chết vô cớ. Chúng đang tính đem xác anh vứt xuống sông để phi tang thì đồng bào trong xã đã kịp thời kéo ra đông đảo giữ xác anh Bính lại. Bà con các xã quanh đó đánh trống, đánh mõ tập hợp và kéo đi biểu tình tuần hành, hô vang các khẩu hiệu chống bắn giết, trả thù, đòi thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ. Ban đêm bà con thắp đuốc sáng rực vây quanh, canh gác, xác chết được ướp bằng nhiều tảng nước đá để giữ được lâu. Nhân dân đã đòi tên Kiệt phải ký vào biên bản nhận giết anh Bính không có lý do. Tên Kiệt đã không chịu ký còn rút súng hăm dọa đồng bào và bắn bị thương ông Trần Văn Nghi 50 tuổi. Đồng bào không sợ, càng xông vào cương quyết đấu tranh. Cuối cùng trước khí thế hừng hực căm giận của nhân dân, tên Kiệt đã ký nhận đã bắn chết anh Bính.

    Được biên bản rồi, một đồng bào gửi đơn tố cáo lên Ban Liên hiệp đình chiến, mặt khác tổ chức đám ma trọng thể chôn cất anh Bính. Ngày 28/10 trong lúc đồng bào đang tập trung đông đảo làm đám tang thì tên Kiệt cùng Quận trưởng Lễ kéo một đại đội đến làng Vĩnh Xuân buộc nhân dân phải giải tán. Đồng bào không chịu, đấu tranh bằng lý lẽ, dựa vào phong tục tập quán từ xưa. Bị đuối lý, bọn ngụy chẳng cần gì lẽ phải và phong tục của ông cha, của dân tộc, chúng hạ lệnh bắn vào đồng bào tay không, giết chết hàng chục người và làm bị thương nhiều người khác. Sau đó, chúng còn bắt giam hàng trăm người nữa. Nhưng sự khủng bố phátxít không làm nhụt chí đồng bào mà còn hun đúc căm thù, thúc đẩy đấu tranh mạnh mẽ. Kẻ địch khiếp sợ lùi bước. Cuối cùng đại biểu hỗn hợp của Ban Liên hiệp đình chiến đã phải nhận lẽ phải về nhân dân và hứa trừng trị bọn giết người, phải bồi thường cho gia đình và nạn nhân.

    Đó là những vụ đụng độ thử sức ban đầu giữa một bên là nhân dân, một nhân dân đã từng có chính quyền, có quân đội trong tay, một nhân dân đã từng chiến thắng, đã trưởng thành qua đấu tranh gian khổ và một bên là chính quyền mới được đế quốc dựng lên chỉ biết dựa vào vũ lực và bạo tàn để cai trị.

    Cả đế quốc Mỹ và Pháp cũng như ngụy quyền đã biết rõ tình trạng này. Chúng đã hiểu được sức mạnh của cách mạng, sự đoàn kết và giác ngộ của nhân dân. Chúng đã hiểu chỗ yếu cơ bản của chúng, là không có dân, không có cơ sở xã hội mà là sự áp đặt bằng mưu mô và sức mạnh từ ngoài vào. Cũng vì thế chúng ra sức chuẩn bị mọi phù phép, âm mưu kéo dài và hủy bỏ tổng tuyển cử, hủy bỏ Hiệp định, mặc nhiên chiếm cứ từ vĩ tuyến 17 trở vào bằng mọi thủ đoạn đê hèn và tàn bạo nhất.

    Trong hai năm đó (21/7/1954 đến 21/7/1956) chúng đã làm những gì?




---------------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Tư Cường hiện nay là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre.

2. Đồng chí Tám Long nay là Giám đốc Công ty Du lịch Bến Tre.

3. Điều 14C của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam là: Mỗi bên cam kết không dùng cách trả thù hay phân biệt đối xử nào với cá nhân hoặc tổ chức, vì lý do hoạt động của họ trong lúc chiến tranh, và cam kết bảo đảm những quyền tự do dân chủ của họ.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:16:37 am
    Từ Hà Nội lúc ấy, chúng tôi theo dõi một cách mẫn cán không hề bỏ sót một sự kiện nào diễn biến ở miền Nam, không bỏ sót bất cứ một hành động nào của Mỹ - Diệm. Đồng bào và cán bộ miền Nam, sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng do kẻ thù tạo nên, từng giờ từng ngày phải đối phó với những thủ đoạn tàn ác và quỷ quyệt của chúng. Thật là cơ cực gian nan, biết bao hy sinh dũng cảm. Nhưng đồng thời cũng thật là vinh quang hạnh phúc được trực tiếp đem tài trí ra đương đầu với địch. Còn ở miền Bắc, Bác Hồ và toàn Đảng vừa lo xây dựng căn cứ địa vững mạnh cho cả nước, vừa lo lắng hướng về Nam có bao giờ ăn ngon ngủ yên, khi chưa tròn nhiệm vụ. Kẻ địch hẳn cũng không thể chủ quan cho rằng mọi âm mưu hành động của chúng đều tránh được những con mắt tinh tường cảnh giác của nhân dân ta. Chỉ kiểm lại những sự kiện chủ yếu diễn biến ở miền Nam lúc ấy, ta cũng thấy rõ được tình hình phức tạp dường nào và con đường cách mạng ở miền Nam do đâu mà quanh co khúc khuỷu.

    Việc trước tiên của quân xâm lược là phải đặt con bù nhìn (Ngô Đình Diệm) ngồi trên ngai cho vững vàng, con bù nhìn mà Mỹ mới hộc tốc đưa từ nước Hoa Kỳ về sau khi đã dày công hun đúc, tạo nên từ ngót ba năm nay. Phải biến hóa kịp thời bù nhìn thành người thật sự, không phải là người bình thường mà thành một người trong tay có đủ tiền đủ vàng, vũ khí và quyền uy. Được như vậy Mỹ mới có chỗ dựa, có công cụ để tiến hành âm mưu thôn tính, có chỗ núp để che bộ mặt xâm lược.

    Theo một văn kiện năm 1956 của Hội đồng an ninh quốc gia (Mỹ), đây là một số mục tiêu của chính sách Mỹ đối với Việt Nam:

    - “Giúp đỡ nước Việt Nam tự do, phát triển một chính phủ mạnh, ổn định và hợp hiến để tạo điều kiện cho nước Việt Nam tự do xác lập một tư thế đối địch ngày càng hấp dẫn đối với những điều kiện ở vùng cộng sản hiện tại.

    - Công tác theo hướng làm suy yếu cộng sản ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam để đem lại sự thống nhất hòa bình của một nước Việt Nam tự do và độc lập dưới một bộ máy lãnh đạo chống cộng”.

    Ngày 20/8/1954, Tổng thống Mỹ đã thông qua một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia quyết định về mặt kinh tế, Mỹ sẽ bắt đầu cung cấp viện trợ trực tiếp cho Diệm không phải thông qua người Pháp như từ trước. Đây là một đòn bẩy chỉ huy quan trọng để Mỹ nắm chắc Diệm và gạt uy tín của Pháp.

    Tiếp theo tiền là lực lượng vũ trang. Nhưng lực lượng vũ trang Pháp vẫn nắm chắc qua tay những người của Pháp như Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Vỹ,... và chia năm xẻ bảy quyền chỉ huy cát cứ từng khu vực như lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo (cũng do Pháp nắm). Mỹ phải bày mưu tính kế gạt bỏ tất cả tay chân của Pháp và tập trung quyền chỉ huy vào tay Diệm.

    Ngày 09/10/1954, Diệm với cương vị Thủ tướng (cũng giựt từ tay Bửu Lộc do Bảo Đại và tất nhiên là do Pháp đặt lên) ký một nghị định buộc Nguyễn Văn Hinh - Tổng Tham mưu trưởng đi công cán bên Pháp sáu tháng. Hinh không thi hành lấy cớ là chức vụ của mình do “Quốc trưởng Bảo Đại” chỉ định nên thủ tướng không có quyền điều động. Kỳ thật là Hinh đang chuẩn bị một cuộc đảo chính lật đổ Diệm để lên nắm quyền. Tuy Hinh nắm quân đội trong tay và được Pháp đứng sau để chỉ đạo nhưng ngay từ sớm Mỹ đã quyết chiếm miền Nam Việt Nam và đặt Diệm lên thì khi nào để sự việc bất lợi này xảy ra. Tên sĩ quan CIA Lansdale liền dùng mưu kế phân tán và khống chế bọn tay chân thân tín của Hinh và đặt biện pháp bảo vệ Diệm. Y lo cả việc tổ chức ra tiểu đoàn bảo vệ an ninh Dinh Độc Lập của Diệm bằng cách xin Magsaysay - Tổng thống Philíppin, cho tùy viên chính của tổng thống là Đại tá Napoléon Valériano sang Sài Gòn giúp xây dựng tiểu đoàn phòng vệ và công cuộc an ninh cho Dinh Độc Lập.

    Nhưng triệt để hơn, Mỹ - Pháp đã thương thảo và Mỹ buộc Pháp phải rút người, rút quân giao toàn quyền mọi mặt cho Mỹ - Diệm. Ngày 07/11/1954, tướng Collins - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn mới từ Mỹ sang thay cho Đại sứ Heath, bay lên Đà Lạt hội đàm với tướng Ely - tân Tư lệnh lực lượng liên hiệp Pháp và đã thỏa thuận với nhau một giải pháp. Ngày 20/11/1954, từ bên Pháp, “quốc trưởng” Bảo Đại triệu Hinh sang, ngày 29/11 ngưng chức tổng tham mưu trưởng của Hinh và giao chức vụ này cho Nguyễn Văn Vỹ vốn là chỉ huy trưởng quân ngự lâm của Bảo Đại. Nhưng Diệm nhanh tay chỉ định Lê Văn Tỵ, người của Diệm, vào chức vụ này và đẩy Vỹ chạy theo Bảo Đại và Hinh. Vào cuối năm 1954 trách nhiệm xây dựng, huấn luyện và chỉ huy quân đội ngụy cũng giao hết cho Mỹ. Ngày 10/02/1955, Bộ Tư lệnh lục quân Pháp tại Sài Gòn giải tán, toàn bộ thẩm quyền quân sự ở miền Nam Việt Nam qua tay Mỹ. Ngày 20/11/1955, Mỹ đưa đến Sài Gòn Phái bộ viện trợ quân sự Hoa Kỳ gọi tắt là MAAG 1 thành lập từ năm 1950, từng mang tên Phái bộ liên lạc và huấn luyện gọi tắt là TRIM 2 cũng do tướng Mỹ John Odaniel điều khiển. Về sau (1956), TRIM đổi lại thành MAAG như cũ.

     Mỹ ráo riết cải tổ và xây dựng quân đội Diệm do Pháp để lại thành một lực lượng quân sự mạnh bao gồm: Tổng trù bị và phòng thủ diện địa. Đầu năm 1955 đã thành lập ba sư đoàn đầu tiên là các sư đoàn 11, 21 và 31. Đến cuối năm 1955 đã có 10 sư đoàn, một liên đoàn nhảy dù, bốn trung đoàn kỵ binh thiết giáp, 11 tiểu đoàn pháo, 13 trung đoàn địa phương, sáu trung đoàn bộ binh giáo phái, rồi quân chủng hải quân và không quân. Quân số lên đến ngót 20 vạn. Cũng vào giữa năm 1955 Mỹ đưa một số sĩ quan Diệm đầu tiên qua Mỹ học ở trường quân sự Fort Benning và một số khác qua học tại Philíppin. Cuối cùng đến ngày 26/10/1955 qua cuộc trưng cầu dân ý gian lận điều khiển theo ý của Mỹ - Diệm, Bảo Đại bị phế truất và Diệm trở thành tổng thống, thâu tóm mọi quyền hành vào một tay, độc tài gia đình trị, với quan thầy nuôi, dạy và chỉ huy là Mỹ. Pháp và thân Pháp hoàn toàn bị loại.

     Chỉ sau một năm từ khi ký Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã nắm trọn miền Nam Việt Nam, gấp rút xây dựng cho Diệm một quân đội mạnh với những sư đoàn bộ binh và các quân binh chủng như vậy cùng với các căn cứ quân sự, quân cảng, đường sá, hậu cần... hẳn không phải để thi hành đúng đắn Hiệp định hòa bình, thực thi dân chủ. Mới mấy tháng cuối năm 1954 đội quân ấy chỉ là những tiểu đoàn lẻ phụ thuộc quân đội viễn chinh Pháp, một đội quân chiến bại, tổ chức xộc xệch, tinh thần bạc nhược, đào rã ngũ hàng loạt. Theo tài liệu của Phòng 1 Bộ Tổng Tham mưu ngụy lúc đó, chỉ tính số quân mà Pháp giao cho Diệm từ miền Bắc chuyển vào Nam thì trong một tháng từ 21/7 đến 20/8/1954 số đào ngũ lên tới 21.421 người (112 sĩ quan, 1.031 hạ sĩ quan và 20.278 binh sĩ). Số đào ngũ vẫn gia tăng vào những tháng chót khi các đơn vị rời miền Bắc. Số lính ở miền Nam còn rã ngũ nhiều hơn, họ bỏ về nhà làm ăn theo tiếng gọi của gia đình và bà con xóm làng. Thế mà với một ý đồ đen tối, Mỹ đã tung tiền của, vũ khí và cố vấn ra dựng lại một thây ma đã muốn tan rữa. Thực ra là xây dựng một đội quân mới chống nhân dân, chống cộng với lực lượng nòng cốt là thanh niên Công giáo di cư từ miền Bắc mà Mỹ - Diệm đã lừa gạt, đầu độc và mua chuộc.

    Báo Thế giới Pháp ngày 29/11/1954 viết:

    “Nhà cầm quyền miền Nam Việt Nam quyết tuyển mộ binh lính trong số những người miền Bắc di cư. Họ xem số người miền Bắc như là một khối dự trữ cho quân đội của họ, cho những tổ chức chính trị của họ, trong khối dự trữ đó họ mộ được những tay chân cuồng tín”.

    Đi đôi với phát triển lực lượng vũ trang, Diệm ra sức tổ chức cơ cấu chính quyền từ trung ương đến cơ sở. Ngày 11/11/1954, Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã tuyên bố:

    “Miền Nam Việt Nam cần có một chính phủ mạnh, một chính phủ có thể tiễu trừ các phần tử rối loạn, bằng một tổ chức cảnh sát mạnh với một sen đầm hiệu lực”. Thật là một câu nói chứa đựng đầy đủ nội dung một chỉ thị về mục đích thành lập chính quyền Diệm, phương châm và phương pháp tổ chức và tiến hành làm tay sai cho Mỹ.

    Đã là một chính quyền phục vụ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, không phải phục vụ quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân thì còn ai tin và theo. Khốn nỗi cái chính quyền phục vụ đế quốc xâm lược của Diệm lại thừa kế chế độ Bảo Đại mà Đoàn Thêm - công chức thời Bảo Đại và trở thành Đổng lý văn phòng của Diệm đã phê: “Chế độ Bảo Đại không sinh sản từ một lý thuyết nào hết, chỉ dựa vào truyền thống lịch sử (?) lỗi thời và một chính nghĩa quốc gia mà chưa ai minh định. Chính thể thiếu tính cách căn bản đến nỗi nguyên thủ không biết tự xưng là gì cho phải, đành mang danh hiệu hàm hồ là quốc trưởng” 3.




---------------------------------------------------------------------
1. Military Assistance Advisory Group.

2. Training Relations Instruction Mission.

3. Đoàn Thêm: Những ngày chưa quên, xuất bản ở Sài Gòn năm 1969.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:19:08 am
    Và rồi Diệm - Nhu cố nặn ra một triết lý: “Chủ nghĩa nhân vị duy linh và cộng đồng”. Đó là mớ hổ lốn. Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết:

    “Kỳ thực chủ nghĩa nhân vị chẳng qua là chữ dịch của danh từ “Personnalisme” trong tiếng Pháp, một học thuyết đã phát triển từ những năm 30 của thế kỷ này, được truyền bá trước hết bởi những người tín đồ Thiên Chúa giáo và được nhiều cánh tư bản dùng làm tư tưởng đối thủ với chủ nghĩa Mác. Anh em nhà Diệm và một cánh cha cố bê học thuyết của những người Pháp E.Muniê, Maritanh về Nam Việt Nam, thêm vào đó những cái gì lạc hậu nhất của tư tưởng Thiên Chúa giáo, những gì phản động nhất của chủ nghĩa phátxít, tô lên một màu sắc dân tộc và Đông Phương để dễ tiêu thụ ở miền Nam...” 1.

     Có triết lý rồi thì lập ra một đảng của triều Ngô: Đảng “Cần lao nhân vị”. Tất cả tay chân thân tín của gia đình họ Ngô nắm vai trò chủ chốt lãnh đạo trong đảng. Những người muốn tỏ rõ lòng trung thành với nhà Ngô, những người muốn có quyền cao chức trọng, được ưu đãi và giàu sang đều ùa vào đảng. Đảng “Cần lao nhân vị” giám sát, khống chế toàn bộ guồng máy chính quyền, quân đội, cảnh sát, mật vụ... Để làm hậu thuẫn rộng rãi cho đảng, tiếp tay với đảng trong công việc mật thám, đàn áp, lừa bịp thì lập ra “Phong trào cách mạng quốc gia”. Rồi lần lượt hàng loạt các tổ chức khác cũng sinh sôi nảy nở cho đủ vây đủ cánh: Nào “Đoàn thể công chức Thiên Chúa giáo”, “Tổng liên đoàn lao động”, rồi “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”...

     Vậy mà cơ cấu quốc gia vẫn còn thiếu. Phải có hiến pháp và phải có quốc hội lập hiến cho đủ lệ bộ, để trang trí cho chế độ, để làm cho ra vẻ dân chủ. Nhưng tất cả là nhằm củng cố chế độ độc tài gia đình trị của Diệm, cho tổng thống có đủ quyền hành cá nhân rộng lớn, có đủ “tín nhiệm” như một người có biệt tài không ai thay thế được để phục vụ đắc lực cho chủ Mỹ.

     Kể ra Mỹ - Diệm cũng nhanh chóng làm được nhiều việc để tiếp tục chiến tranh và đàn áp: một quân đội mạnh và một chính quyền độc tài, phátxít. Nhưng như thế chưa phải là một chế độ mạnh vì nhân dân vẫn căm ghét coi đó là chế độ buôn dân bán nước và vẫn còn nhiều phe phái độc lập, nhiều thứ lực lượng vũ trang giáo phái không chịu phục tùng. Trước đây Diệm còn tay trắng, mới chân ướt chân ráo từ Hoa Kỳ về thì còn dựa vào lực lượng chống cộng của các đảng phái khác, cần giáo phái, để ngồi cho vững đã. Nay chủ Mỹ đã lập cho được ba sư đoàn vũ trang đầy đủ và hiện đại rồi, tuy chưa đủ sức đàn áp nhân dân triệt để nhưng đủ triệt hạ các phe phái đối lập tóm thu quyền hành về một tay.

     Ở miền Trung, Diệm gạt bọn Đại Việt ra khỏi các chức vụ trong chính quyền, dùng vũ lực diệt các chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị (Đại Việt chiếm căn cứ kháng chiến cũ của ta do tên Bốn chỉ huy và một chiến khu khác ở Phú Yên do tên Trương Bộ Hoàn chỉ huy, Đại Việt tan rã vào tháng 3/1955). Diệm cũng tiêu diệt bằng cách ấy bọn Quốc dân Đảng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum và đến tháng 5/1955 thì toàn bộ bọn này đầu hàng và trốn chạy. Đại Việt và Quốc dân đảng không có dân mà quân cũng không có bao nhiêu nên dễ giải quyết. Cái khó đối với Diệm là lực lượng các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên ở Nam Bộ. Nếu không khéo các lực lượng này hiệp lực với nhau chống lại, đằng sau lại còn có Pháp lèo lái thì thật là nguy to. Vì vậy, Mỹ phải đứng ra vạch kế hoạch và chỉ huy chặt chẽ, phải dùng mọi mánh lới kết hợp với sức mạnh của vũ khí và đồng đôla, chia để trị, tỉa hết nhóm này đến nhóm khác, trong lúc dùng áp lực đe dọa và ngoại giao để buộc Pháp không được can thiệp vào.

    Lại vẫn là tay phù thủy CIA Lansdale thi hành các thủ đoạn. Trước tiên được lệnh từ Oasinhtơn và nhận đôla của tòa đại sứ, y lôi kéo Trịnh Minh Thế đem lực lượng gọi là quân đội quốc gia liên minh về đầu Diệm. Tài liệu mật của Lầu Năm Góc đã tiết lộ: “Theo yêu cầu của Đại sứ Heath, Mỹ bí mật cung cấp tiền cho Diệm để Diệm chuyển cho Thế, thông qua SMM (tức phái đoàn quân sự do Lansdale làm trưởng)”. Tên Thế là người mà Lansdale có liên hệ từ trước, nắm chắc là có thể lung lạc sử dụng được từng lúc, có ích trước mắt cho Diệm và mở đầu cho những hành động tương tự đối với các lực lượng khác. Lansdale cũng biết rõ Thế là một con người tráo trở, quen lừa thầy phản bạn, sớm đầu tối đánh, nhưng y cũng tin ở bản lĩnh riêng cộng với đôla và vũ khí, quyền lực, y có thể sử dụng Thế khi cần. Y còn lạ gì tiểu sử của Thế. Trước nhất Thế là một tín đồ Cao Đài theo Nhật, được Nhật huấn luyện và ôm mộng phò Cường Để về nước. Thế đã tham gia vào một đơn vị Cao Đài thành lập bí mật tại Sài Gòn và dự vào cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945. Khi cuộc Cách mạng Tháng Tám của ta thành công và sau đó Pháp trở lại gây hấn, Thế tình nguyện đứng vào hàng ngũ kháng chiến chống Pháp, hẳn là do sợ Pháp trả thù. Sau một thời gian không lâu, Pháp khéo léo móc nối mua chuộc, Thế lại phản lại cuộc kháng chiến của nhân dân và trở về đầu Pháp, được cho làm tham mưu trưởng quân đội Cao Đài. Nhưng rồi do tham vọng cá nhân và mưu mô của bè lũ, y làm như tách khỏi Pháp và thành lập cái gọi là “quân đội quốc gia liên minh”, chống cộng ở chân núi Bà Đen. Khi thấy thế lực Pháp sa sút, Thế lại sẵn sàng theo Mỹ và liên hệ với Lansdale từ đó.

    Cuộc mặc cả hay thực sự mưu mô sắp đặt của Mỹ - Diệm - Thế đã ngã ngũ. Tháng 02/1955, Thế đã đem toàn bộ lực lượng của y sáp nhập vào quân đội của Diệm trong một buổi lễ linh đình ở Sài Gòn và được Diệm phong cho cấp thủ tướng. Chưa hết, sau này Thế còn theo “mặt trận thống nhất toàn lực lượng quốc gia”, liên minh các giáo phái kể cả Bình Xuyên, để lật đổ Diệm vào tháng 4/1955. Nhưng cuộc lật đổ bị người Mỹ phá và Lansdale lại một lần nữa kéo y trở về với Diệm để rồi Diệm ra lệnh cho y đem quân đánh diệt Bình Xuyên theo kiểu “lấy độc trị độc”. Khi dẹp xong Bình Xuyên ở Sài Gòn thì Diệm cũng không ngần ngại cho y về chầu diêm vương để trừ hậu họa.

    Trước tiên Mỹ - Diệm lo diệt lực lượng Bình Xuyên vì Bình Xuyên có thế lực mạnh ngay ở trung tâm Sài Gòn và ở Rừng Sác - một căn cứ có địa hình phức tạp ngay bên cạnh thành phố. Lúc này quân đội Pháp lại còn một bộ phận không ít ở Sài Gòn và dọc đường 15 ra Vũng Tàu, có thể yểm trợ cho Bình Xuyên để trả thù cho bõ ghét ông bạn Mỹ xấu chơi đã giựt mất địa vị chủ nhân ông ở miền Nam của Pháp.

    Bình Xuyên trước đây được Pháp tin cậy do tên chỉ huy đầu trộm đuôi cướp Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) phản lại phong trào kháng chiến của nhân dân, về đầu hàng Pháp và đã phục vụ Pháp rất đắc lực. Pháp giao Bình Xuyên trọn quyền kiểm soát vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và khu Rừng Sác, tự do thu thuế và làm tiền. Bảy Viễn được phép khai thác gỗ, bán củi, lập các đoàn tàu vận tải, các công ty xe đò đi lục tỉnh. Bảy Viễn còn mở sòng bạc Đại thế giới ở Chợ Lớn, sòng bạc Kim Chung ở Sài Gòn, nhà chứa Bình Khang ở Vườn Lài để tha hồ hốt tiền ăn chơi xa xỉ và nuôi dưỡng lực lượng riêng. Đó là cái gai trước mắt của Mỹ - Diệm, không thể không nhổ đi để thu về nguồn lợi lớn và quyền hành tập trung.

    Quân của Bình Xuyên không nhiều lắm, có khoảng trên 2.000 quân tổ chức thành năm tiểu đoàn đóng từ Sài Gòn đến Rừng Sác. Ngoài ra thanh thế Bình Xuyên còn mạnh là vì tên Lại Văn Sang, tay mặt với Bảy Viễn, được Bảo Đại cử giữ chức Tổng Giám đốc cảnh sát và công an miền Nam Việt Nam. Sang đã tổ chức ra các tiểu đoàn công an xung phong có khoảng 1.500 người đóng trong 21 đồn thuộc đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn và một bộ phận ở Đà Lạt.

    Để có cớ mở đầu cuộc sát phạt, ngày 26/4/1955 Diệm ra sắc lệnh cách chức Tổng Giám đốc cảnh sát và công an của Lại Văn Sang, giao chức vụ này cho người của Diệm là Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ. Tất nhiên Sang chống lại và ngày 28/4, đôi bên nổ súng đánh nhau tại trung tâm Sài Gòn, bắt đầu ở Trường Trung học Pétrus Ký (nay là Trường Trung học Lê Hồng Phong) là nơi có một đại đội công an xung phong của Bình Xuyên chiếm đóng. Diệm đã dùng liên đoàn dù do Mỹ tổ chức và huấn luyện, được pháo binh và chiến xa yểm trợ nên quân Bình Xuyên thua kém phải rút về hướng cầu Chữ Y và Rừng Sác. Ngày 29/4 quân Diệm đã làm chủ cả Sài Gòn và Chợ Lớn. Cũng chính ngày này Diệm đã nhận được lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại từ Canes (Pháp) gửi về triệu Thủ tướng Diệm và Tổng Tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ qua Pháp lập tức, để dự họp đặc biệt và đồng thời chỉ định Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tư lệnh quân đội. Cũng tất nhiên là Diệm không thi hành và ngày 30/4 xua quân đánh Bình Xuyên ở cầu Chữ Y. Đây là một dịp tốt để Lansdale và Diệm thi thố mưu sâu “Tọa sơn quan hổ đấu” (Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau) không biết học được từ lúc nào: Trịnh Minh Thế được lệnh đem quân bản bộ Cao Đài đánh Bình Xuyên. Nhưng Bình Xuyên chỉ chống cự qua loa vì chủ trương rút hết quân về Rừng Sác. Như vậy là Trịnh Minh Thế không khó khăn lắm để tỏ rõ lòng khuyến mã đối với chủ. Nhưng trớ trêu thay, trong lúc Thế đang tự đắc đứng quan sát mặt trận sắp tàn tại dốc cầu Tân Thuận chiều ngày 03/3 thì một viên đạn từ phía sau bắn tới đã kết liễu cuộc đời chuyên thay thầy đổi chủ. Ngày 05/5 chiến trận quanh Sài Gòn - Chợ Lớn chấm dứt. Nhưng mãi đến 21/9/1955, Diệm mới mở màn cái gọi là chiến dịch Hoàng Diệu nhằm bao vây và tiêu diệt quân Bình Xuyên ở Rừng Sác và kết thúc thắng lợi cho Diệm ngày 24/10/1955.

    Cuộc đánh nhau giữa quân Diệm và Bình Xuyên đã gây biết bao tai họa cho nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng ven, nhất là dân nghèo ở các xóm lao động đông đảo. Căn cứ vào tin của các hãng thông tấn phương Tây, ngày 29/4/1955, Thông tấn xã Việt Nam đã thuật lại như sau:

    “Sài Gòn biến thành một thành phố của sự phá hoại và chết chóc. Nhiều xác người chết cháy nằm ngổn ngang giữa những gian nhà bị phá hủy đang bốc cháy. Nhiều người đàn bà vừa chạy tránh đạn vừa thét lên những tiếng kinh khủng, nhiều trẻ em bị thương cố lê đi giữa những đám người run sợ. Lửa cháy, người chết, người bị thương ngổn ngang, không được ai cứu chữa, giữa lúc đó, bom của hai bên vẫn nổ vang, đạn réo qua đầu người chạy nạn”.

    Chính phủ Diệm đã phải chính thức công bố sự thiệt hại của dân chúng như sau:

    - 7.826 nhà bị cháy hay bị phá, nhiều nhất là vùng Nancy - Chợ Quán.

    - 88 thường dân chết.

    - 592 thường dân bị thương.

    Như vậy là cánh Diệm đã diệt được cánh Bảy Viễn nhưng không diệt được Bình Xuyên. Đó là vì Bình Xuyên không phải chỉ bao gồm bọn tay chân của Pháp, quân cướp nhiễu nhân dân mà trong đó còn có nhiều người yêu nước thật sự. Họ là những người đã giác ngộ hoặc nấp và dựa vào Bình Xuyên để chống Pháp, chống Mỹ - Diệm, có thiện cảm với cách mạng, muốn đấu tranh vì độc lập, tự do. Biết rõ như vậy, Đảng ta không thể để Mỹ - Diệm muốn giết ai tùy tiện. Đảng bộ miền Đông Nam Bộ liền phái các đồng chí Ba Thu (tức Thuận), Lâm Quốc Đăng (tức Nguyễn Văn Thược) và Tám Thanh (tức Thiếu tướng Lê Thanh hiện nay) là những cán bộ chính trị quân sự cấp trung đoàn và huyện đội trong chiến tranh chống Pháp  , cùng với một số đồng chí khác đến tận Rừng Sác đón và chỉ đạo các đơn vị yêu nước do Trung tá Võ Văn Môn (tức Bảy Môn) chỉ huy vượt vòng hành quân về các căn cứ Chiến khu Đ và Dương Minh Châu nổi tiếng. Nhờ sự nuôi dưỡng của nhân dân, sự giáo dục của Đảng mà bộ đội Bình Xuyên cùng nhân dân hoàn thành sự nghiệp cứu nước của mình.




-----------------------------------------------------------------
1. Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững Thành đồng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, t.1, tr.260.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:23:16 am
*
*      *

    Sau khi đẩy được Bình Xuyên ra khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn, Diệm nghĩ ngay đến diệt trừ lực lượng Hòa Hảo.

    Lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia làm bốn phái riêng rẽ không có sự chỉ huy thống nhất với nhau:

    1. Phái Trần Văn Soái (tự Năm Lửa) chiếm cứ các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa Đéc, chỉ huy sở đặt tại Cái Vồn (Cần Thơ)

    2. Phái Lâm Thành Nguyên (tự Hai Ngoán) kiểm soát tỉnh Châu Đốc và một phần tỉnh Long Xuyên, chỉ huy sở đặt tại Cái Dầu (Châu Đốc).

    3. Phái Lê Quang Vinh (tức Ba Cụt) chiếm vùng Rạch Giá và một phần Long Xuyên, chỉ huy sở đặt tại Thốt Nốt (Long Xuyên).

    4. Phái Nguyễn Giác Ngộ kiểm soát một khu vực của tỉnh Long Xuyên, chỉ huy sở tại Chợ Mới (Long Xuyên).

    Trong bốn phái ấy, Năm Lửa có lực lượng mạnh hơn cả và tự coi mình là tổng tư lệnh quân đội Hòa Hảo nhưng Nguyễn Giác Ngộ thì cho mình là phái chính thống nhất, còn Ba Cụt thì tự xưng là tổng tư lệnh của quân đội dân xã. Nguyễn Giác Ngộ đã đầu hàng Chính phủ Diệm từ sớm.

    Diệm mở đầu đánh vào lực lượng Năm Lửa có đông quân lại đóng ở vị trí quan trọng kiểm soát Tây Đô (Cần Thơ) và con đường chiến lược số 4 - đường xương sống xuyên đồng bằng sông Cửu Long.

    Ngày 05/6/1955, Diệm bắt đầu đánh quân Hòa Hảo với cái gọi là chiến dịch Đinh Tiên Hoàng. Ngay từ sáng, một cánh quân Diệm đã bất ngờ đánh úp Cái Vồn nhằm bắt sống Năm Lửa. Quân Hòa Hảo có kháng cự lại lúc đầu nhưng không mạnh, lần lượt đầu hàng và rút chạy. Năm Lửa cùng một số quân rút vào các căn cứ kháng chiến cũ của ta, Ba Cụt thì cho quân tản mát vào các vùng nông thôn có địa hình phức tạp. Còn Hai Ngoán thì đầu hàng ngay sau khi bị đánh. Ngày 14/6, quân Diệm đã kiểm soát đoạn đường 4 và đường Long Xuyên - Châu Đốc. Lực lượng của Diệm có xe thiết giáp, tàu thuyền và pháo yểm trợ, bắn bừa bãi vào các vùng Hòa Hảo giết hại rất nhiều người dân có đạo một cách vô tội vạ, tàn phá thị trấn, làng mạc nhất là vùng Cái Vồn. Các đại đội vũ trang rút chạy thì nhân dân Hòa Hảo cũng kéo chạy lánh nạn vào các vùng kháng chiến cũ mà Mỹ - Diệm chưa đủ sức kiểm soát. Nhân dân các vùng này cùng các vùng căn cứ cũ của tỉnh và Đồng Tháp Mười là nhân dân đã giác ngộ cách mạng từ trước, theo sự chỉ đạo của các đồng chí ta đã hết sức giúp đỡ đồng bào Hòa Hảo chạy vào, kể cả các đại đội vũ trang của Năm Lửa và Ba Cụt.

    Các cán bộ Đảng ta như Nguyễn Việt Châu (thường gọi là Sáu Tâm) - Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long lúc ấy đã đến tận nơi thăm hỏi những người chạy nạn, lãnh đạo bà con đùm bọc nuôi nấng, nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ nhau trong cơn hoạn nạn, tiếp tế lương thực và lo nơi đóng quân cho quân Hòa Hảo. Có những đồng bào che chòi ra vườn để ở, nhường nhà mình lại cho bà con và binh sĩ Hòa Hảo đóng. Cán bộ ta đã vạch trần âm mưu thâm độc của Mỹ - Diệm, chỉ rõ Chính phủ cách mạng là thế nào và chỉ vẽ cả cho các đại đội vũ trang về cách củng cố, huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu. Nhiều đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Hòa Hảo tỏ ra ngạc nhiên về lòng nhân ái, độ lượng, về sự hiểu biết rộng rãi nhiều mặt của cán bộ và nhân dân cách mạng. Họ vô cùng cảm kích và biết ơn. Nhiều người giải tỏa được sự hiểu lầm và thành kiến trước kia với cách mạng và đó là cái cầu nối tình tương thân tương ái giữa đồng bào các vùng cả về sau này. Có những cán bộ của Đảng được các đơn vị và đồng bào Hòa Hảo tín nhiệm, thường xuyên hỏi ý kiến giải quyết những vấn đề khó khăn. Có một số cán bộ do Đảng ta phái đến công tác được các đơn vị Hòa Hảo mời làm chính trị viên luôn cho đơn vị, nhờ đó giáo dục được chỉ huy và chiến sĩ giảm bớt tính cách lưu manh, hung dữ đối với quần chúng. Đó là các đồng chí Sáu Ức 1, Tám Bành 2, Sáu Chung 3, và nhiều đồng chí khác. Đồng chí Sáu Ức đã kể:

    “Thực hiện chủ trương của Đảng là cải biến các đơn vị giáo phái từ ô hợp, lưu manh thành yêu nước, thương dân giúp đỡ các đơn vị đó không để bị quân Diệm tiêu diệt, lôi kéo. Chấp hành lệnh trên, tôi đã làm chính trị viên cho họ, hành quân cùng các đơn vị khắp các vùng, cả nông thôn, cả thị tứ, nhiều vùng mà trong kháng chiến cán bộ ta không làm sao tới được. Tôi sống với họ như một chức sắc Hòa Hảo, cũng có những ngày cùng ăn chay như họ. Tôi dạy họ những công việc làm giúp cho dân, không đánh lộn, chửi bới nhau, không hà hiếp dân. Tôi thuyết phục cả những địa chủ trong vùng Hòa Hảo bớt tô, tức, bóc lột nông dân. Đồng bào Hòa Hảo ngày càng tin tưởng thương yêu các đơn vị này cho rằng có học cách mạng mới được như vậy. Đồng bào vùng kháng chiến cũng bớt lo lắng về sự cướp bóc, phá hoại của họ...”.

    Các đơn vị Hòa Hảo nhờ tản vào các căn cứ kháng chiến cũ, được nhân dân đùm bọc và cán bộ ta giúp đỡ nên chống lại dằng dai với lực lượng Diệm mạnh hơn nhiều. Mãi đến tháng 12/1955, tuy có gặt hái được một vài kết quả nhưng chiến dịch Hoàng Diệu kể như thất bại và phải chấm dứt, sau khi kéo dài đến sáu tháng trời. Đại bộ phận vùng nông thôn hầu như do nhân dân tự quản và lực lượng các giáo phái tự do qua lại.

    Mỹ - Diệm vừa bực tức, vừa lo sợ liền mở tiếp chiến dịch mệnh danh là Nguyễn Huệ bắt đầu từ 01/01/1956, quyết diệt cho được quân của Năm Lửa, Ba Cụt và một số “Việt cộng nằm vùng”. Lần này chúng huy động một lực lượng khá lớn, điều động cả từ Trung Bộ vào, có cả hải quân và không quân tham chiến. Đó là một lực lượng bao gồm tới bốn sư đoàn bộ binh, nhiều trung đoàn địa phương cảnh sát và công an lưu động, sáu chi đoàn thiết giáp, năm tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn nhảy dù làm trù bị, bốn hải đoàn xung phong, các phi đội máy bay oanh tạc và trinh sát. Dương Văn Minh vừa thăng chức thiếu tướng do chiến thắng Lê Văn Viễn ở Rừng Sác được điều làm tư lệnh chiến dịch.

    Quân Diệm vào Đồng Tháp Mười trên một tháng trời, đi đến đâu cũng đều bị đánh trả, nhưng đặc biệt là vấp phải mìn gài khắp nơi cùng những hầm chông, rào chặn, thương vong ngày một tăng. Đó là những hành động chống cự của các đại đội phân tán được nhân dân vùng căn cứ giúp đỡ chỉ dẫn và cùng chiến đấu. Trận lớn nhất xảy ra ở Tân Thành, Cả Cái. Ở đó một số đồng chí ta đã giúp cho đơn vị Năm Lửa điều khiển súng máy, súng cối và cả chỉ huy, chiến thuật, nên tiêu diệt nhiều quân Diệm và là chủ khu vực này. Còn Năm Lửa thì miệng hùm gan sứa, đã rắp tâm không chống lại mà chờ ngày “ra mặt” tức đầu hàng. Mặc dù lúc ấy Đảng bộ vùng Đồng Tháp đã cho đồng chí Sáu Chung đi sát Năm Lửa để giúp đỡ y. Bề ngoài y nói cứng nhưng ngay từ đầu, y đã cho Phan Hà - Chánh văn phòng của y đi tìm gặp đại diện của Diệm, dắt dẫn đến gặp Lê Thị Gấm (vợ Năm Lửa), để thương thuyết đặt giá cả. Cuối cùng Diệm cho Nguyễn Ngọc Thơ xuống gặp Năm Lửa thỏa thuận các điều kiện và ngày 17/02/1956 Năm Lửa đem lực lượng của mình về đầu. Nhưng không phải tất cả đều theo Năm Lửa ra hàng. Nguyên một đại đội do Hồng làm đại đội trưởng được ta giác ngộ và giúp đỡ đã ở lại Đồng Tháp Mười chiến đấu với danh nghĩa là bộ đội Hòa Hảo chống Mỹ - Diệm và rất nhiều chiến sĩ yêu nước trong các đại đội của Hồng. Về sau đại đội của Hồng nhập vào bộ đội giải phóng giáo phái do Ba Thu và Bảy Môn chỉ huy thống nhất.

    Ở vùng Vĩnh Long, Sa Đéc trở về Hậu Giang có các tiểu đoàn vẫn tiếp tục hoạt động dưới sự lãnh đạo của Phan Văn Thục thường gọi là Năm Thục, với danh nghĩa thay Năm Lửa làm tư lệnh các lực lượng Hòa Hảo chống Mỹ - Diệm. Đồng chí Sáu Ức được tín nhiệm làm chính trị viên trong bộ tư lệnh. Đó là Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo do Tám Bành làm Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn Thanh Long do Tiểu đoàn trưởng Hoành chỉ huy và Tiểu đoàn Ngô Văn Sở do Tư Sơn chỉ huy. Ngoài các tiểu đoàn này ra còn một số đại đội rải rác nhiều nơi.

    Song song với cuộc hành quân đánh Năm Lửa ở Đồng Tháp Mười, quân Diệm cũng đánh Ba Cụt ở các vùng Giồng Riềng (Rạch Giá) và Cà Mau, Châu Phú (Châu Đốc), Sa Đéc và Hà Tiên. Các đơn vị của Ba Cụt có đánh trả nhưng không mạnh mà thường tránh né để bảo toàn thực lực. Chỉ có một trận phục kích của đơn vị Hòa Hảo gọi là trung đoàn Lê Quang ở rìa rừng U Minh Thượng là trận đánh lớn và thắng lợi. Trong trận này quân của Ba Cụt đã tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn của Trung đoàn 33 của Diệm, giết và làm bị thương hàng trăm sĩ quan và lính, thu nhiều vũ khí có cả đại liên, súng cối và một số máy thông tin. Nhưng quân của Diệm đông lại có cả pháo, tàu thuyền và máy bay yểm trợ, lại đánh dài ngày đã gây nhiều khó khăn cho quân Ba Cụt. Đã vậy tin Năm Lửa đầu hàng càng gây hoang mang dao động trong hàng ngũ Ba Cụt. Trong chiến dịch này Mỹ - Diệm lại chủ trương vừa đánh vừa gọi hàng. Vì vậy cả hai phía đều tìm bắt liên lạc để mặc cả việc “trở về hợp tác”. Sau nhiều phen thăm dò, ngày 29/02/1956 Ba Cụt và Nguyễn Ngọc Thơ - đặc sứ thương thuyết của Diệm đã gặp nhau lần đầu ở Côn Tảo trên sông Cửu Long, gần Tân Châu. Sau đó, còn một vài lần gặp gỡ nữa nhưng không ngã giá được vì Ba Cụt đặt điều kiện quá cao. Trong quá trình thương thuyết, phía Ba Cụt lợi dụng sắp xếp lại đội hình, bố trí lại lực lượng bao trùm cả vùng mà Năm Lửa đã rút đi đầu hàng. Còn phía quân Diệm thì điều động nhiều lực lượng để hình thành vòng vây ngày càng chặt hòng bắt sống Ba Cụt và bộ hạ. Thật là hạt cưa gặp mướp đắng. Sáng ngày 13/4/1956, Ba Cụt và toán tùy tùng bị bắt sống không một phát súng nổ tại Chắc Cà Đao, cách thị xã Long Xuyên bảy kilômét. Khi bị bắt Ba Cụt tự xưng ngay là Trung tướng Lê Quang Vinh về Long Xuyên để thương thuyết, nhưng bộ tư lệnh chiến dịch của Diệm thì tuyên bố Ba Cụt là một tù binh. Ngày 13/7/1956, Ba Cụt bị Diệm cho đem chém đầu tại Cần Thơ.

    Lực lượng của Ba Cụt một số đầu hàng, một số tự tan rã. Một số khác không nhỏ nhờ nhân dân giúp đỡ nên tiếp tục chiến đấu chống Mỹ - Diệm theo sự chỉ đạo của bộ tư lệnh giáo phái do Năm Thục làm tư lệnh.




-----------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Ký Ức - nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Cửu Long.

2. Trương Văn Tám đã nghỉ hưu.

3. Nguyễn Văn Phàn tục gọi là “thầy đờn” vì biết đờn giỏi, nguyên là Tỉnh ủy viên Kiến Phong.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 11:25:51 am
*
*      *

    Trong lúc dùng lực lượng vũ trang mạnh để diệt Bình Xuyên và Hòa Hảo thì Mỹ - Diệm chơi nước cờ hoãn với Cao Đài. Biết rằng Cao Đài chủ trương không dùng quân sự chống Diệm mà dùng chính trị giáo phái để giành quyền chính và có mộng tưởng biến giáo phái thành quốc đạo, lộ ra lúc còn “Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia” nên Mỹ - Diệm dùng mưu tách ra từng nhóm để đối phó. Mỹ - Diệm lại lôi kéo được lực lượng Trịnh Minh Thế rồi và lần lượt mua chuộc được Nguyễn Thành Phương và Văn Thành Cao cũng là những người vai vế của Cao Đài nên càng yên tâm. Quả nhiên lúc Diệm đánh Bình Xuyên và Hòa Hảo thì Cao Đài án binh bất động. Đối với Cao Đài, Diệm vừa dùng mưu kế dụ dỗ hạn chế ảnh hưởng vừa dùng áp lực quân sự. Diệm đã thay thế hệ thống hành chính riêng của Cao Đài ở chu vi tòa thánh Tây Ninh bằng hệ thống chính quyền của Diệm và lực lượng quân sự lên đóng quanh tòa thánh. Rồi Diệm cho vận động Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc về hợp tác nhưng thất bại, tức thì Diệm sai Nguyễn Thành Phương đem quân lên chiếm đóng tòa thánh, tước súng cơ thánh vệ, bắt một số chức sắc Cao Đài và mưu toan bắt cả hộ pháp Phạm Công Tắc để đưa Trần Quang Vinh lên thay thế... Trần Quang Vinh đã từng là tay chân đắc lực của Nhật, của Pháp và nay lại bán mình cho Mỹ - Diệm, không có uy tín trong đạo bằng Phạm Công Tắc. Các đồng chí ta đã khéo léo lái tín đồ Cao Đài chống lại Phương và mưu mô của Diệm. Họ đã bãi thực ba ngày, đưa ra khẩu hiệu “Phản đối xâm lược tòa thánh” và “chống đưa Trần Quang Vinh thay hộ pháp Phạm Công Tắc”. Sợ sức mạnh đoàn kết của đông đảo nhân dân, Diệm phải xuống nước một bước. Cuối tháng 12/1955, Phương phải họp dàn xếp với chức sắc Cao Đài. Phương phải thả những người bị bắt và để cho cơ thánh vệ lo việc an ninh cho tòa thánh nhưng không cho trang bị vũ khí. Mỹ - Diệm lại rút Phương về cho Văn Thành Cao lên thay. Để lừa gạt tín đồ, Cao chỉ trích Phương là làm bậy. Nhưng theo lệnh Mỹ - Diệm, Cao buộc chức sắc Cao Đài phải ký cái gọi là “Hiệp ước Bính Thân” (1956), theo đó Cao Đài thuần túy là một đạo giáo, không có lực lượng vũ trang và không được làm chính trị.

    Biết rằng Mỹ - Diệm quyết tâm thanh toán Cao Đài nếu không biến được Cao Đài thành lực lượng phục vụ cho quyền lợi của Diệm, Phạm Công Tắc bí mật cho Hồ Khánh Vân ra lập chiến khu ở rừng Tây Ninh, bí mật kêu gọi binh lính Cao Đài trong quân đội Diệm đào ngũ trở về. Bản thân Phạm Công Tắc cùng một số chức sắc đứng đầu đạo như Hồ Tấn Khoa, Lê Văn Tất... sợ Mỹ - Diệm sát hại, liền chạy sang tị nạn chính trị ở Campuchia, gây xúc động mạnh và bất bình lan rộng trong tín đồ Cao Đài. Đứng trước một thất bại chính trị lớn như vậy, Mỹ - Diệm tìm cách gỡ gạc. Đã nhiều lần Diệm cho người ra sức dụ dỗ Phạm Công Tắc trở về nhưng đều thất bại. Bực tức Diệm ra lệnh bắt giam bà vợ ông Tắc và ra mặt khủng bố chức sắc và tín đồ, càn quét mạnh vùng rừng Tây Ninh, tổ chức mật thám ngay trong hàng ngũ chức sắc Cao Đài, ngay trong tòa thánh. Diệm rút Văn Thành Cao về, thay bằng người thân tín của y để sau này gạt nốt cả Cao lẫn Phương khi không còn cần nữa. Bằng hành động đàn áp đó, Diệm đã uy hiếp khuất phục được chức sắc Cao Đài không dám chống lại Diệm, nhưng không khuất phục được đông đảo tín đồ cả miền Đông lẫn miền Tây Nam Bộ. Tín đồ rất căm phẫn Diệm.

   Nhiều binh sĩ Cao Đài trong quân đội Diệm chạy ra rừng sung vào các đơn vị của Thiếu tá Nguyễn Thanh Mừng. Tham gia vào bộ đội giải phóng giáo phái của Đồng Tháp Mười có cả Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và do các ông Ba Thu và Bảy Môn chỉ huy như nói trên.

*
*      *

    Như vậy là vào giữa năm 1956, phe Ngô Đình Diệm và gia đình được Mỹ che chở và chỉ đạo hất cẳng Pháp, truất phế Bảo Đại, gạt bỏ phe nhóm đối lập, thanh trừng các đảng phái và diệt trừ xong về cơ bản các lực lượng vũ trang giáo phái cát cứ nhiều nơi, nắm trọn vẹn quyền hành và thi hành một chính sách cai trị ngày càng độc tài, gia đình trị dựa vào vũ khí và đồng đôla của Mỹ. Và cũng càng ngày Diệm càng trở thành tay sai đắc lực được chủ Mỹ tín nhiệm, thi hành mọi chủ trương của chủ. Nhưng không phải suốt trong quá trình đó Mỹ đã luôn luôn tín nhiệm. Tháng 12/1954, Đại sứ Mỹ - tướng Collin đã viết thư về Oasinhtơn đòi thay thế Diệm. Nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Dulles đã không chấp thuận vì không chọn được ai thay thế, đành than thở: “Mỹ phải “nhảy tùm xuống nước” với ông Diệm thôi”. Trong lúc đó người Pháp nói với Oasinhtơn là theo họ nghĩ thủ tướng Diệm đã “hết hy vọng” và “điên rồ”. Tới ngày 27/4/1955, Dulles đã miễn cưỡng “đánh điện cho sứ quán ở Sài Gòn để tìm người khác”. Diệm đã biết rõ điều này do sứ quán Diệm ở Mỹ cấp báo nên ngày 28/4 Diệm mời Lansdale đến than phiền rằng ông ta nhận được ý kiến của sứ quán ông ở Oasinhtơn nói rằng “Mỹ tỏ ra sắp sửa thôi không ủng hộ ông” và nhờ Lansdale hứa tìm mọi cách làm yên lòng và thực sự ra sức ủng hộ Diệm. Đến khi Diệm thắng được Bình Xuyên thì “người ta nói Sài Gòn là nên quên đi mệnh lệnh của Bộ trưởng Dulles về việc gạt bỏ Diệm”. Sau đó sứ quán “đem đốt bức điện ngày 27 tháng 4”.

    Thật là ở địa vị của người chủ, muốn nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng xong và phận tôi đòi chỉ biết vâng dạ và cúc cung tận tụy.

    Đến lúc Diệm dẹp xong các giáo phái và ra sức “tố cộng”, “diệt cộng” thì Mỹ ngợi khen đáo để. Tài liệu nghiên cứu của Lầu Năm Góc đã ghi: “Ông ta đã làm được những chuyện kỳ diệu” và trước sự ngạc nhiên của hầu hết các nhà quan sát, ông đã dẹp được bọn đầu trộm đuôi cướp Bình Xuyên ở Sài Gòn, giáo phái vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo ở nông thôn. Ông ta đã thành lập một chính phủ ổn định và một đội quân trung thành tại mọi nơi trước đó chỉ có hỗn loạn. Rồi mùa xuân năm 1960 tướng Willams viết thư cho Thượng nghị sĩ Mike Mansfiels là “tổng thống Diệm đã làm việc tốt đến mức Mỹ có thể bắt đầu “rút dần” các cố vấn Mỹ năm 1961”. Mỹ đã khen và hết sức ủng hộ thì trong nước bọn bà con dòng họ của Diệm, bọn cơ hội, bọn tham chức mê quyền, cố ngoi lên bằng cách xum xoe nịnh bợ Diệm hết mình. Đến nỗi từ đấy (có lẽ cho đến lúc sắp chết) Diệm cũng tự coi mình như thần thánh, mình là tất cả. Đoàn Thêm - Đổng lý văn phòng của Diệm kể rằng năm 1963, lúc Phật giáo và nhân dân chống lại sự đàn áp tàn bạo của Diệm, “để trấn an dư luận Diệm kêu gọi các giới có câu: “Còn hiến pháp” “nghĩa là có tôi”, bốn chữ sau này do chính tay ông ghi thêm vào cuối câu dự thảo”.

     “Hiến pháp là tôi”... có khác gì lời vua Louis XIV: “Quốc gia là Trẫm”...

     Và khi trừ xong các lực lượng vũ trang giáo phái, Diệm đã huênh hoang khoác lác. “Ngay trước khi người Mỹ tới giúp, ông đã cho quân đội những dịp chiến thắng để tự tin và tự cường, trên các mặt trận mà ông ra lệnh mở: Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ, Thoại Ngọc Hầu, Trương Tấn Bửu...

     Đoàn Thêm than thở: “Khi mới gần ông Diệm, coi phong thái của ông, tôi thấy ông bình dị và hồn nhiên. Nhưng chẳng bao lâu, thủ tướng thành tổng thống, tôi đã phải ghi nhận được sự biến cải âm thầm mà chắc ông không hề ý thức. Trái tim ông dần dần bị thổi phồng, do những luồng gió dâng hương ngào ngạt, để chứa và nuôi mà ông chẳng biết, những ảo tưởng kiêu kỳ về sứ mạng và quyền uy...”.

     “Khốn thay, từ chỗ vừa phải, tới chỗ thấy mình siêu việt, chẳng xa bao nhiêu. Trước hết rất dễ gán cho tài đức của mình, những sự thành công hay thắng lợi do thời thế cho phép, hay do nỗ lực của nhiều người cùng góp. Một khi có uy quyền thì hay được tán dương dù không muốn ngửi cũng thấy hương thơm, rồi ngây ngất lúc nào chẳng biết. Nghe mãi những tiếng tài năng xuất chúng, dũng lược, anh minh, cứu tinh... quá quen thì kết luận rằng mình phải suy tôn, đứng trên cả quốc dân, to lớn bằng quốc gia, vậy mình là hiện thân của nước: Ai trái mình là ngu muội, ai chống mình là phản quốc, không có mình thì chỉ có họa diệt vong. Diệm và gia đình được chủ Mỹ tin yêu, càng lộng hành, gây khổ chất chồng cho nhân dân, càng ra sức thực hiện mưu đồ của Mỹ: Một mặt xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, xóa bỏ tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, mặt khác thẳng tay đàn áp nhân dân, đẩy nhân dân vào các khu dinh điền, nhốt dân vào các khu trù mật, mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”.

    Theo các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ thì tháng 7/1955 hai miền ở Việt Nam phải bắt đầu hiệp thương để bàn việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7/1956. Trung thành với chữ ký của mình, tôn trọng Hiệp định Giơnevơ - một Hiệp định quốc tế được nhiều nước trên thế giới đảm bảo và hoan nghênh, kiên quyết đấu tranh cho hòa bình và dân chủ, ngày 06/6/1955, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố: “Sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với những nhà đương cục có thẩm quyền ở miền Nam bắt đầu từ ngày 20/7/1955 để bàn về vấn đề tổ chức tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc vào tháng 7/1956”.

    Tiếp theo, ngày 19/7/1955, một công hàm của Chính phủ Việt Nam ở Hà Nội đã gửi cho chính quyền ở Sài Gòn nói cụ thể: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng tôi đề nghị các ông cử đại biểu để cùng đại biểu chúng tôi mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20/7/1955 như đã quy định trong Hiệp định Giơnevơ tại một địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam do hai bên cùng thỏa thuận, để cùng nhau bàn về vấn đề thống nhất nước nhà bằng tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc”.

    Diệm vẫn một mực làm ngơ, cố giả câm giả điếc vì đã có lệnh của Mỹ không hiệp thương cũng không tổng tuyển cử. Nhưng dư luận của nhân dân trong nước và ngoài nước không cho phép coi thường ý chí của quần chúng đông đảo, không cho phép chà đạp lên pháp lý quốc tế của Hiệp định Giơnevơ. Sợ bị cô lập và bị vạch trần âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, lúng túng mãi Diệm buộc phải tuyên bố trên đài phát thanh (không phải chính thức trả lời cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nội dung nói xấu miền Bắc xuyên tạc Hiệp định Giơnevơ, rằng chính quyền Diệm mới thực sự mong muốn thống nhất nhưng không hề đả động gì đến hiệp thương tổng tuyển cử.

    Đầu tháng 7/1955, Mặt trận Liên Việt Nam Bộ đã phát lời kêu gọi các tầng lớp nhân dân và ngoại kiều đấu tranh đòi mở hội nghị hiệp thương. Truyền đơn kêu gọi đề ngày 01/7/1955 đã vạch trần âm mưu Mỹ - Diệm phá hoại tổng tuyển cử tự do, trường kỳ chia cắt Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa của Mỹ. Truyền đơn đòi: “Thành lập ở miền Nam Việt Nam một chính phủ dân chủ tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, tán thành hòa bình thống nhất:

    - Đảm bảo tính mệnh và tài sản, an ninh, trật tự cho nhân dân.
    - Cải thiện dân sinh, thi hành tự do dân chủ.
    - Phải nhận lời đề nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc.
    - Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở cuộc hội nghị hiệp thương chính trị ngày 20/7/1955 bàn về việc tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà đúng thời hạn”.

    Truyền đơn kêu gọi toàn thể các tầng lớp nhân dân Nam Bộ từ thành thị đến nông thôn và các bạn ngoại kiều hãy đoàn kết đấu tranh cho hòa bình và dân chủ, tỏ rõ ý chí của mình bằng cách đúng 1 giờ chiều ngày 09/7/1955 cho đến 12 giờ ngày 10/7/1955 hãy triệt để:

    - Ngừng sinh hoạt ngoài đường phố;
    - Không một ai ra đường;
    - Không một ai làm ăn, mua bán, đi lại;
    - Chợ không nhóm, tiệm không mở cửa, xe cộ không chạy...

    Hoảng hốt, chính quyền Diệm đã dùng nhiều lực lượng quân sự, cảnh sát để đối phó, đã hô hào mọi người đi làm bình thường, không “phụ họa với cộng sản”, hăm dọa trừng phạt nặng nề ai nghe theo Liên Việt.

    Thế nhưng ngày 10/7/1955 quả đã là một ngày đáng ghi nhớ. Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn cũng như nhiều thành phố khác đã nhiệt liệt hưởng ứng cuộc đấu tranh: Các khu lao động như ngừng sinh hoạt, các đường phố, kể cả đường lớn như đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo) xe cộ và người đi lại giảm đi phân nửa. Anh em xích lô và lái xe tắcxi thì từ chiều ngày 09/7 đã trả xe cho chủ. Chợ An Đông, chợ Tân Định và các chợ nhỏ khác không họp từ sáng đến tối. Chợ Bến Thành tuy có họp nhưng thưa thớt và đến sáu giờ chiều đã tan, tối không buôn bán như thường lệ. Đặc biệt thành phố Mỹ Tho cách Sài Gòn trên 70km về phía tây nam, mọi hoạt động đều ngừng suốt cả ngày.

    Trước và sau ngày 20/7/1955, từ đầu tháng 7 kéo dài đến tháng 8, tháng 9, các cuộc bãi công, bãi thị, biểu tình, míttinh đòi hiệp thương tổng tuyển cử rầm rộ khắp các đô thị và nông thôn, bất chấp đàn áp khủng bố của Mỹ - Diệm. Phong trào còn kéo dài đến năm 1956, ngày càng quyết liệt, thể hiện sự hưởng ứng của nhân dân đối với cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp ở Hà Nội đầu tháng 9/1955. Nội dung bản cương lĩnh ấy có những điểm cụ thể hợp tình hợp lý, chinh phục được lòng người cả miền Nam cũng như miền Bắc. Đó là:

    - Thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đúng thời hạn; các nhà đương cục miền Nam, miền Bắc cử hành hiệp thương để thỏa thuận về luật bầu cử, thiết thực chuẩn bị tổng tuyển cử tự do trong cả nước.

    - Đại biểu các đảng phái, quân đội, đoàn thể nhân dân và các giới, các nhân sĩ ở hai miền tiếp xúc, hội họp với nhau để thúc đẩy và ủng hộ hội nghị hiệp thương của các nhà đương cục có trách nhiệm ở hai miền Nam - Bắc đi đến hội nghị.

    - Qua tổng tuyển cử mà bầu ra quốc hội, quốc hội cử ra Chính phủ Liên hiệp Trung ương. Do tình hình thực tế của hai miền Bắc và Nam, sẽ thành lập Hội đồng dân cử và cơ quan hành chính có quyền hạn rộng rãi ở mỗi địa phương.

    - Để chiếu cố tình hình khác nhau giữa hai miền, mỗi địa phương được quyền ra những luật lệ địa phương thích hợp với đặc điểm của địa phương và không trái với luật pháp chung của nhà nước.

    - Để thỏa mãn yêu cầu bức thiết của nhân dân, phải lập lại quan hệ bình thường về kinh tế, văn hóa, xã hội, và tôn trọng quyền tự do đi lại giữa hai miền.

    - Trong khi nước nhà chưa thống nhất, nhà đương cục có trách nhiệm ở hai miền phải để cho tất cả các đảng phái và đoàn thể nhân dân tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, có địa vị hợp pháp, không được phân biệt đối xử...

    Ngày 20/7/1955 đã trôi qua không có hiệp thương giữa hai miền. Mỹ - Diệm vẫn chống lại Hiệp định Giơnevơ và tiếp tục dùng vũ lực thanh toán các đảng phái, giáo phái và đàn áp nhân dân. Trên miền Bắc, những đứa con của miền Nam tập kết xao xuyến băn khoăn, họ theo dõi tình hình không bỏ sót một sự kiện nhỏ nào diễn ra ở quê hương. Họ căm tức Mỹ - Diệm đã ló mồi phản bội Hiệp định Giơnevơ, nhưng vẫn tin tưởng ở đường lối đấu tranh chính nghĩa và hòa bình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ ra sức học tập, công tác và vẫn chưa hết hy vọng ở thống nhất đất nước. Mặc dù lúc ấy chưa được luyện tập học hỏi nhiều, hầu như mọi người đều sẵn sàng trở về miền Nam ngay nếu Đảng yêu cầu để làm bất cứ gì, đấu tranh chính trị hay vũ trang, công khai hay bí mật.

    Nằm trong tâm tư chung như vậy của những con người tập kết, tôi hân hạnh được chỉ định làm Tư lệnh các lực lượng vũ trang tham gia duyệt binh ngày lễ Độc lập - ngày 02/9/1955 ở Hà Nội. Trên quảng trường Ba Đình lịch sử, đứng trước từng khối đơn vị bộ binh và binh chủng được tập luyện thuần thục, nghiêm trang, thẳng tắp, lê trên đầu súng sáng chói uy nghi, trước mặt lễ đài trên đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ và khách quốc tế, trước hàng chục vạn nhân dân Thủ đô đại diện cho nhân dân cả nước, lòng tôi, lòng đứa con của miền Nam tự hào và rung động, tôi đã dõng dạc báo cáo với đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, cố tình nhấn mạnh: “... Bộ đội đã sẵn sàng, mời đồng chí đi duyệt!”. Thực tình lúc ấy tôi cũng đã nghĩ đến các cán bộ và chiến sĩ tập kết ra miền Bắc và tôi cũng đã nghĩ đến kẻ thù phản bội lợi ích của nhân dân ta và ý nghĩa của nhân dân thế giới để nhấn mạnh “bộ đội đã sẵn sàng”. Đúng là như vậy. Tất cả chúng tôi, những đứa con của miền Nam tập kết, đang ở trong các đơn vị vũ trang thường trực hay trên các nông trường, xí nghiệp như mỏ crôm Cổ Định, nông trường Lam Sơn..., những bệnh binh trong bệnh viện hay thương binh ở an dưỡng đường, mọi tấm lòng nôn nao xao xuyến về chuyện có hay không có tổng tuyển cử và mọi người đều sẵn sàng chờ lệnh của Đảng, của Bác Hồ. Chúng tôi đã dồn sức lực ra thi đua nhau, khỏe vì miền Nam, học tập rèn luyện hay cày sâu cuốc bẫm, đóng một con tàu hay sửa một chiếc máy, tất cả vì miền Nam của Tổ quốc thân yêu. Đã xuất hiện nhiều đơn vị, cá nhân bắn giỏi trong toàn quân, lao động xuất sắc trong chống lụt, chống bão, kiện tướng đào đất gánh đá ở công trường thủy lợi Bắc Hưng Hải... “Tất cả vì thống nhất nước nhà”, đó là khẩu hiệu của Đảng đề ra đúng lúc, phù hợp cả với nhân dân toàn quốc, thúc đẩy mọi hoạt động với năng suất cao nhất của nhân dân miền Bắc cũng như anh em miền Nam tập kết. Tất cả trí óc và tình cảm Việt Nam nhịp nhàng gắn kết vào khẩu hiệu, biến khẩu hiệu thành hiện thực.

    Khi địch ngày càng ngoan cố khước từ hiệp thương và tổng tuyển cử thì trong số anh em tập kết ngày càng bùng lên nhiều tâm tư, suy nghĩ: “ngày Bắc, đêm Nam” -ban ngày lao động, học tập, sản xuất, rèn luyện hết mình, đêm lại, sau khi mọi việc theo chương trình đã xong, thì nổi lên những đống lửa nông trường, những ngọn đèn trong trại, quây quần nhấp một ngụm trà hay chia nhau chung rượu nói chuyện quê hương. Những làng quê với những bụi trúc xinh tươi, rặng trâm bầu đầu xóm, rừng tràm, bãi lá tất cả đều được lôi ra kể. Rồi những người thân, người yêu không biết sống thế nào, có gì đã thay đổi. Có những cuộc thâu đêm suốt sáng không tàn, có những giấc mơ chập chờn khuấy động. Làm sao nói hết được tâm tình của những người xa quê hương, vì quê hương mà đi xa để đặng gần mãi mãi. Tình quê hương tình người là như vậy đó...

    Thời gian này sự cố tình xé bỏ Hiệp định Giơnevơ của Mỹ - Diệm với những người tập kết ra miền Bắc có tác dụng nung đúc căm thù và thúc đẩy khổ luyện, tập rèn, học hỏi để mau chóng trưởng thành. Mọi người như học thêm được chí kiên trì, bình tĩnh, tin tưởng và chờ lệnh của Đảng.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:08:19 pm
*
*      *

    Trước làn sóng đấu tranh vì hòa bình thống nhất của nhân dân cả nước, trước chính nghĩa sáng ngời của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ - Diệm không thể cứ im hơi lặng tiếng. Ngày 07/10/1955, nhà đương cục miền Nam đã phải gửi công hàm ra miền Bắc thông qua Anh, một trong hai chủ tịch Hội nghị Giơnevơ. Công hàm đã trắng trợn chống lại nguyện vọng toàn dân, từ chối hội nghị hiệp thương với cái cớ vô lý rằng chính quyền miền Nam không ký vào Hiệp định Giơnevơ nên không bị hội nghị này ràng buộc. Diệm đã dại dột dùng một lý do hoàn toàn không vững để che giấu âm mưu đen tối của Mỹ - Diệm là ra sức chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Cả thế giới đều nghiêm khắc lên án thái độ ngoan cố này của Mỹ - Diệm. Ông Mơnông đại diện ở Liên hợp quốc của Ấn Độ, một nước tham gia Ủy ban quốc tế ở Việt Nam thời ấy, đã tuyên bố như sau:

    “Các nhà đương cục miền Nam bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ và phải thi hành Hiệp định Giơnevơ một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ. Miền Nam Việt Nam đã hưởng những điều lợi của Hiệp định Giơnevơ, thì bây giờ không thể nào thoái thác nhiệm vụ đối với Hiệp định ấy.

    Tất cả các nước đã ủng hộ Hiệp định Giơnevơ thì mặt pháp lý cũng như về mặt luân lý đều có nhiệm vụ bảo đảm sự thực hiện Hiệp định Giơnevơ”.

    Báo Người Diến Điện ngày 21/9/1955 viết:

    “Cuộc tổng tuyển cử ở Việt Nam không phải là một việc thuần túy nội bộ Việt Nam. Việc ấy đã được một hiệp ước quốc tế đề ra và sẽ được Ủy ban quốc tế giám sát việc thi hành, mặc dù Diệm cố sức trốn tránh trách nhiệm bằng cách cho chân tay tấn công Ủy ban quốc tế hoặc rêu rao rằng Pháp ký Hiệp định chứ Diệm không ký. Hiện nay có ai mà không thấy rằng chính Diệm là người ngụy biện và thiếu thiện chí ở Việt Nam”.

    Vả chăng chính là lời văn của Hiệp định Giơnevơ cũng đã nói: “Những người ký Hiệp định này và những người kế tiếp nhiệm vụ của họ sẽ có nhiệm vụ đảm bảo sự tôn trọng việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định này”. Nhà đương cục miền Nam đã thi hành các điều khoản về đình chỉ chiến sự, tập kết, chuyển quân đã tiếp tục nhiệm vụ của Pháp về hành chính... không thể nói không ký, không bị ràng buộc mà lại chịu điều khoản này thi hành còn điều khoản khác là không thi hành. Cả Pháp mặc dù đã rút lui khỏi Đông Dương cũng không thể phủi hết trách nhiệm.

    Pháp lý quốc tế đã rõ ràng. Lòng dân cũng rõ ràng. Nhưng Mỹ - Diệm đã sợ điều khoản tổng tuyển cử tự do, đã chắc mười phần là thua nếu tổng tuyển cử tự do trong cả nước - ngay từ trước khi ký kết Hiệp định Giơnevơ thì ngày nay chúng càng xác định chắc chắn là thua, vì vậy chúng từ chối hiệp thương, phá tổng tuyển cử để chiếm miền Nam riêng rẽ bằng vũ lực là con đường tất nhiên của chúng.

    Kẻ thù chủ yếu thực chất của đế quốc xâm lược Mỹ và chế độ tay sai Ngô Đình Diệm là nhân dân yêu nước và cách mạng miền Nam Việt Nam, những người kháng chiến cũ và đặc biệt là những người cộng sản triệt để cách mạng và không bao giờ chịu khuất phục. Mỹ - Diệm lo hất cẳng Pháp, dẹp đảng phái đối lập và giáo phái vũ trang, xây dựng một chính quyền mạnh và một đội quân mạnh là cốt để đối phó với kẻ thù chủ yếu này. Cuộc chiến tranh mà Mỹ vội vã tổ chức ra, chồng mí lên cuộc chiến tranh đã tàn của thực dân Pháp cũng cốt là chống lại và đè bẹp đối tượng chủ yếu này để thôn tính miền Nam Việt Nam. Hành động và thủ đoạn đối với Pháp và thân Pháp, đối với các phe đối lập và giáo phái vũ trang chẳng qua là những dọn dẹp nội bộ và tập trung sức lực cho một cuộc “sống mái”, với nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam vậy.

    Chính vì vậy mà sau khi thanh toán xong Quốc dân Đảng và Đại Việt ở Trung Bộ vào tháng 5/1955 thì tháng 7/1955 Diệm phát động các chiến dịch “tố cộng” và “diệt cộng”. Mở đầu “giai đoạn 1” tố cộng, diệt cộng này thực tế được tiến hành ráo riết ở Trung Bộ vì ở đây đã dẹp xong các đảng phái đối lập, còn tiếp sau từ giữa năm 1956 trở đi, sau khi diệt xong các lực lượng vũ trang giáo phái, Diệm mới thi hành “giai đoạn 2” khốc liệt ở Nam Bộ. Để chỉ đạo chặt chẽ và có hiệu lực, Diệm lập ra “hội đồng chỉ đạo tố cộng” gồm tất cả các bộ trưởng của chính phủ Diệm và bản thân Diệm làm chủ tịch danh dự cho hội đồng. Hội đồng lại chỉ ra “ủy ban tố cộng trung ương”, mỗi tỉnh có ủy ban chỉ đạo “tố cộng” cấp tỉnh và mỗi xã có ủy viên chuyên trách “tố cộng”. Với tổ chức như vậy, rõ ràng chính quyền Diệm cố thực hiện các chức năng chủ yếu của mình mà Dulles đã chỉ thị như nói ở trên và xem đây là “quốc sách” của Diệm trong giai đoạn này. Còn phương châm của quốc sách thì báo Cách mạng quốc gia - cơ quan chính thức của chính quyền Diệm đã đề ra: “Tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc, không kể là người nữa, tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh” và “thà giết nhầm hơn bỏ sót”. Gọi là Việt cộng, thực tế chúng gộp vào đó tất cả những người mà chúng nghi là có tham gia kháng chiến và những người đối lập, những người có tư thù cá nhân. Thực hiện những phương châm ấy Diệm đã dùng tất cả quân đội, cảnh sát, công an, mật vụ, chỉ điểm,... tha hồ lùng sục, bắt bớ, đánh đập, bắn giết, dùng mọi hình phạt dã man nhất, những cuộc tàn sát đẫm máu nhất, vừa để không bỏ sót, vừa khủng bố tinh thần những người còn lại gọi là “quốc gia” theo Diệm.

    Hãy điểm vài vụ điển hình trong giai đoạn đầu “diệt cộng” ở Trung Bộ để hiểu rõ hơn quân thù. Từ ngày 09 đến ngày 14/7/1955 đã xảy ra vụ Hướng Điền thuộc tỉnh Quảng Trị mà Tiểu đoàn 126 của Diệm do tên Bình làm tiểu đoàn trưởng đã triệt hạ, làm cỏ toàn bộ hai thôn Tân Lập và Tân Hiệp, giết người bằng cách chặt làm ba khúc 34 đàn ông, hãm hiếp xong chặt tay chân, mổ bụng 27 đàn bà và chọc tiết 31 trẻ em. Khe Ba Rẩy, khe A Chô và bờ sông A Na, nơi vùi lấp 92 mạng người nay còn ghi đậm vết tích tội ác man rợ khó mà tưởng tượng của Mỹ - Diệm. Chỉ có hai người trong cả hai thôn đã thoát chết là chị Vân và anh Lạc; nhờ thế mới phát giác được mọi chi tiết của vụ giết người này. Rồi vụ Chợ Được thuộc tỉnh Quảng Nam mà Mỹ - Diệm đã chôn sống 21 người gọi là “Việt cộng” trong cùng một cái huyệt. Nhiều người trong gia đình các nạn nhân này cũng bị giết sau khi đã phát hiện ra huyệt và moi thây đem về chôn cất. Cả hai vụ nói trên đều có tố cáo với Ủy ban quốc tế nhưng bọn Diệm tìm mọi cách ngăn, phá cuộc điều tra.

    Thời kỳ ấy báo chí nước ngoài đã nói nhiều về những vụ tàn sát khủng bố tràn lan khắp miền Nam Việt Nam. Báo nước Pháp Người quan sát ngày 26/6/1956 đánh giá: “Chế độ Ngô Đình Diệm là chế độ tàn bạo nhất châu Á”.

    Trong lúc bọn Diệm khủng bố tàn sát gây một không khí khủng khiếp ở Trung Bộ thì trong hai năm đầu ấy ở Nam Bộ chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” được tiến hành thận trọng hơn, có trọng điểm, chưa lan rộng. Sở dĩ như vậy vì, một là Mỹ - Diệm còn phải tập trung sức diệt cho được lực lượng vũ trang giáo phái, chiếm lại cho được các vùng mà những lực lượng này cát cứ, chưa đủ sức đánh rộng vào dân; hai là nhiều vùng rộng lớn ở nông thôn cũng như các thị trấn nhỏ, vùng kháng chiến cũ, thế lực Diệm chưa có gì mấy và lực lượng nhân dân đoàn kết đấu tranh rất mạnh. Các phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân rộng khắp từ thành thị đến nông thôn như các phong trào hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ hòa bình lúc đầu đến phong trào chống đàn áp, đòi tự do dân chủ, phong trào chống bầu cử quốc hội riêng rẽ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và cả phong trào chống lại quốc sách “tố cộng” của Mỹ - Diệm đã nói lên sức mạnh của nhân dân có tổ chức, có lãnh đạo, làm cho kẻ địch phải gờm. Tự lượng sức, Mỹ -Diệm phải tiến hành kế hoạch của chúng từng bước.

    Còn đứng về phía ta, phía cách mạng thì sao? Ngay từ tháng 7/1954, Hội nghị lần thứ sáu mở rộng Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Bác Hồ chủ trì đã nhận định: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Vì vậy, nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng hết sức cảnh giác trước mọi hành động của Mỹ và tay sai Diệm, ra sức đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ hòa bình và thực hiện thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào và đặt nhiệm vụ ngay sau khi có Hiệp định Giơnevơ.

    “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và các cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí”...

    “Chúng ta quyết làm đúng những điều đã ký kết với Chính phủ Pháp, đồng thời chúng ta đòi Chính phủ Pháp làm đúng những điều họ đã ký kết với ta.

    Chúng ta phải ra sức củng cố hòa bình, tỉnh táo đề phòng âm mưu của những kẻ phá hoại hòa bình.

    Chúng ta phải ra sức đấu tranh thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đặng thống nhất nước nhà”.

    Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám vào tháng 8/1955 nhấn mạnh: “Thời kỳ mới của cuộc đấu tranh chính trị đặt trước nhân dân ta một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là đấu tranh kiên quyết và bền bỉ để thực hiện thống nhất nước nhà, đồng thời để củng cố hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh trở lại Đông Dương”.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:13:21 pm
    Căn cứ vào nghị quyết của Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ ngay từ đầu đã ra một nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới: “Nhiệm vụ cụ thể đối với miền Nam là giữ gìn, củng cố hòa bình tranh thủ thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh tiến tới thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc”. Phương châm, phương thức đấu tranh là: “Chuyển hình thức đấu tranh quân sự sang hình thức đấu tranh chính trị”, “củng cố phát triển cơ sở nông thôn, mở rộng và đẩy mạnh công tác đô thị, phối hợp chặt chẽ công tác đô thị với nông thôn...”, “phải biết phối hợp công tác trong quần chúng với quần chúng trong các cơ quan chính quyền của địa phương”, “... phải dựa trên nguyên tắc bí mật, công khai, bán công khai, kết hợp công tác bí mật với công tác công khai và bán công khai”... “Phải hết sức lợi dụng mọi khả năng tổ chức hợp pháp, nửa hợp pháp để kết hợp công tác hoạt động bí mật của Đảng và công tác công khai và bán công khai của quần chúng để tuyên truyền cổ động, giáo dục tổ chức quần chúng, để lãnh đạo quần chúng đấu tranh”. Nghị quyết của Xứ ủy đã đưa ra cho toàn Đảng bộ học tập và qua đó chấn chỉnh tư tưởng của cán bộ hoài nghi về hiệu quả của đấu tranh chính trị. Nghị quyết đã giải thích: “Ta đã có khả năng đấu tranh vũ trang tại sao ta không có khả năng đấu tranh chính trị? Hoặc giả chúng ta cho đấu tranh chính trị khó khăn hơn đấu tranh vũ trang nên không thể làm được hay sao? Thật ra sở dĩ tám, chín năm nay ta đã phát động được đấu tranh vũ trang là do chúng ta đã đấu tranh chính trị thắng lợi. Chúng ta đã thấy rằng lúc đầu chiến tranh, về mặt quân sự, về mặt đấu tranh vũ trang ta yếu hơn địch nhưng về mặt chính trị ta đã có ưu thế tuyệt đối hơn địch. Sự thực chín năm kháng chiến của Nam Bộ chứng minh rằng địch có thể chiếm được đất đai của ta nhưng không thể chiếm được lòng dân ta. Sự thật ta đã thành công nhất định trong công tác chính trị mới duy trì và củng cố phát triển lòng yêu nước, chí căm thù trong nhân dân ta, mới phát động được chiến tranh du kích anh dũng và gian khổ trong chín năm năm nay, như vậy hoài nghi cuộc đấu tranh chính trị hiện nay của ta là không có căn cứ”.

    Toàn Đảng bộ miền Nam và nhân dân đã được chuẩn bị tinh thần tư tưởng khá kỹ để kiên quyết đấu tranh bằng chính trị bảo vệ hòa bình, thực hiện độc lập, dân chủ và thống nhất nước nhà. Toàn Đảng bộ đã được đả thông tư tưởng là trung thành với chữ ký của mình và đòi đối phương phải thực hiện đúng Hiệp định đã ký kết, giữ vững chính nghĩa cách mạng của mình, không được manh động, không được dùng vũ trang để củng cố hòa bình, ngăn chặn chiến tranh. Ta phải giương cao ngọn cờ hòa bình, mặc dù luôn luôn cảnh giác địch gây lại chiến tranh.

    Chính vì vậy mà khi lực lượng vũ trang của ta chuẩn bị tập kết ra miền Bắc, Đảng bộ miền Nam lập tức củng cố lại hệ thống Đảng, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng mạnh mẽ, xây dựng lực lượng cách mạng ngay trong hàng ngũ chính quyền và quân đội địch để giữ vững và liên tục cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân.

    Từ một Đảng bộ có gần chục vạn đảng viên, công khai với nhân dân, nắm chính quyền, nắm lực lượng vũ trang địch chuyển lại thành một Đảng bí mật lãnh đạo quần chúng thật vô cùng phức tạp, khó khăn. Tổ chức và hoạt động của một Đảng công khai lãnh đạo chiến tranh khác nhiều với một Đảng bí mật lồng trong quần chúng, khéo léo giác ngộ, vận động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai hợp pháp cho quyền lợi dân sinh dân chủ. Đảng bí mật yêu cầu rất gọn nhẹ, trọng chất hơn lượng, không chức không quyền trước nhân dân, không hậu phương, không tiền tuyến, trước kẻ địch phátxít, bạo tàn. Thế mà ta đang có một số lượng đảng viên khá lớn đủ ngành, nghề, với nhiều cách hoạt động khác nhau ở các vùng khác nhau. Làm thế nào để rút vào bí mật trọn vẹn? Có đồng chí đã ví khác nào đưa một con voi ra giữa đồng, bảo phủ kín lại đừng lòi lưng và hở vòi. Và công việc ấy phải hoàn thành trong một thời gian rất ngắn. Ở miền Tây Nam Bộ ta có khu tập kết quân 200 ngày, tuy ngắn nhưng còn dễ dàng hơn nhiều so với miền Trung chỉ có 100 ngày và miền Đông 80 ngày. Phải chạy đua với thời gian nhưng lại phải bảo toàn cho được thực lực. Một loạt các chủ trương được đề ra như tinh giản các bộ máy, các tổ chức còn giữ lại, cho điều lắng 1 cán bộ, đảng viên. Một số nơi lại còn “sáng tạo” ra một số hình thức gọi là “đầu thai kiếp khác” có nghĩa là anh ta đi tới đâu cũng được, muốn làm gì cũng được kể cả làm cho địch, để biến anh thành một người khác hẳn rồi sau Đảng sẽ bắt liên lạc khi có điều kiện. Hoặc có nơi cho hợp pháp hóa hàng loạt, đảng viên, cán bộ ra xin giấy chính quyền địch, lấy hộ khẩu, ở và làm ăn công khai. Về sau địch theo dõi và bắt tù gần hết những số này gây thiệt hại mất mát không ít cho lực lượng cách mạng. Không những thế, có những đồng chí có súng sáu tùy thân, nhưng vì chấp hành chuyển qua đấu tranh chính trị một cách máy móc, chấp hành lệnh không được dùng vũ khí một cách cứng đờ, để cho địch bắt hoặc sát hại mà không dám bắn để tự vệ. Đảng ta đã trải qua một thời kỳ tổn thất khá nặng nề.

    Các đoàn thể quần chúng đã được tổ chức và hoạt động nhiều năm trong chiến tranh, có hệ thống từ khu đến xã ấp, nay cũng phải tự giải tán. Đảng lãnh đạo quần chúng không còn qua đoàn thể nữa mà qua tổ chức nòng cốt hẹp, từ nòng cốt ra quần chúng. Nhiều đồng chí cho rằng việc này gây khó khăn to lớn cho sự lãnh đạo của Đảng. Đồng chí Mười Thơ 2 nói: “Trước Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta vẫn còn hoàn toàn bí mật nhưng vẫn có các đoàn thể cứu quốc, vẫn còn có các công hội, vẫn có các mặt trận phản đế, dân chủ và Việt Minh thì sao? Ta không tổ chức thì địch tự do chiếm lĩnh trận địa, gom quần chúng vào “thanh niên cộng hòa”, “phụ nữ liên đới” và rất nhiều tổ chức khác. Đến năm 1959 trước Đồng khởi năm 1960, chúng tôi phải gấp rút xây dựng lại các đoàn thể quần chúng thì mới có được phong trào quần chúng mạnh và rộng. Ngày nay Đảng ta đề ra “Nhân dân lao động làm chủ”, muốn làm chủ như vậy cũng phải qua các đoàn thể quần chúng cách mạng mới làm chủ được”. Ý kiến này được đa số đồng chí có kinh nghiệm hoạt động cách mạng đồng tình.

    Ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, cho dân chủ. Nhưng không phải ta hoàn toàn tin vào Mỹ - Diệm cũng có thiện chí hòa bình và thực thi dân chủ. Vì vậy Đảng bộ Nam Bộ trong khi kiên quyết lấy chính trị làm phương pháp đấu tranh vẫn đề phòng có lúc nào đó kẻ địch và tình huống buộc ta phải cầm vũ khí. Hiện nay, ta đang tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, kẻ địch của ta là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm đại biểu của tư sản mại bản và quan liêu quân phiệt. Chúng có trong tay lực lượng vũ trang với mọi thứ vũ khí. Tuân thủ Hiệp định Giơnevơ mà ta đã ký với lòng mong mỏi hòa bình, dân chủ thống nhất đất nước, ta chọn đấu tranh bằng chính trị. Nhưng nếu kẻ địch không tuân thủ Hiệp định, dùng vũ khí tàn sát nhân dân, nếu đế quốc gây chiến tranh chống lại ta hòng chiếm nửa nước ta thì không lẽ ta bó tay. Tới lúc đó nếu chỉ riêng đấu tranh chính trị không có hiệu lực thì những người bị áp bức có quyền dùng mọi thứ cần thiết để bảo vệ cuộc sống của mình, bảo vệ tiến bộ xã hội và toàn vẹn Tổ quốc. Lênin đã nói: “Một giai cấp bị áp bức, nếu không có cố gắng học tập sử dụng vũ khí, không cố gắng để có được vũ khí, thì chỉ đáng bị người ta đối xử như đối với nô lệ”.

    Với ý nghĩa phòng xa một cách có căn cứ, với tinh thần cách mạng không lùi bước, Xứ ủy Nam Bộ đã chọn một số không nhiều cán bộ quân sự đã có kinh nghiệm về xây dựng lực lượng quân sự và tác chiến vũ trang để bổ sung vào đội ngũ cán bộ chính trị ở lại. Họ được chuyển qua làm công tác vận động quần chúng, tuyên truyền chính trị và hòa bình, tổ chức thanh niên yêu nước cũng như công tác vận động nhân viên và binh lính địch đi với chính nghĩa sẵn sàng đấu tranh cho tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Là những chỉ huy quân sự trong thời kỳ chiến tranh, họ trở thành những người dân bình thường làm ăn sinh sống hòa bình trong dân, các làng mạc hay phố phường. Nhiều người trong số này, chẳng qua là trở lại với cách sống và hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám mà thôi. Lúc ấy (trước Cách mạng Tháng Tám) họ đã biết gì về quân sự đâu, dưới quyền cai trị khắt khe của thực dân Pháp, họ làm gì có súng và tập bắn. Nhưng tình thế chiến tranh xâm lược của đế quốc buộc họ phải tìm lấy vũ khí, phải cầm súng, học bắn, chiến đấu trong chín năm qua để khỏi bị mất nước, khỏi bị làm nô lệ.

          “.. Yêu nước mỗi người cầm vũ khí,
           Súng gươm nên chẳng biết tay mình.
           Cờ đào lộng gió bừng tâm trí
      Áo vải, lòng dân, cậy đoản binh...”


    Ngày nay đình chiến rồi, hòa bình rồi họ lại trở lại cuộc đời người dân và làm chính trị là lẽ tự nhiên. Nhưng người dân đang làm chính trị này cũng là dự trữ của Đảng để khi bắt buộc phải dùng đến cái vốn kinh nghiệm đấu tranh vũ trang mà họ đã tích lũy được để khỏi đi đường vòng, ít nhất trong giai đoạn đầu.

    Số cán bộ quân sự được chọn để lại này không cần nhiều mà cần chất. Họ phải có điều kiện sinh sống làm ăn trong dân mà không lộ liễu. Không phải ai muốn tự ý ở lại cũng được và ai đã được chọn ở lại, muốn đi tập kết là đi. Đó là phẩm chất và là kỷ luật. Và đó là nhiệm vụ Đảng giao, đi tập kết hay ở lại hoạt động chính trị đều là nhiệm vụ của ngày nay của ngày mai, cán bộ nào cho nhiệm vụ ấy. Biết phân bổ và lựa chọn cán bộ vẫn là một khâu chiến lược quyết định thành bại. Nhiều việc lớn hư hỏng thất bại, có khi do khâu này trong lúc đường lối vẫn đúng đắn. Đó là kết luận từ thực tế. Lịch sử của ta cũng không hiếm những ví dụ về việc dùng “cán bộ”. Ngay thời phong kiến, Tô Hiến Thành - một đại thần đời Lý, làm thái úy chính cho vua còn nhỏ tuổi (Lý Cao Tông), là cột trụ giữ yên cho nhà Lý. Khi ông bệnh nặng Chiêu linh hoàng thái hậu đến thăm và hỏi rằng: “Nếu chẳng may, thì ai là người đáng thay ông?”. Tô Hiến Thành trả lời: “Trần Trung Tá có thể thay được” (Trần Trung Tá đang giữ chức vụ giám thị đại phu và đang bận việc công chưa lúc nào rỗi đến thăm hỏi ông được). Thái hậu nói: “Vũ Tấn Đường ngày nào cũng hầu thuốc thang cho ông, ông lại không nói đến là làm sao?”. Tô Hiến Thành trả lời: “Vì thái hậu hỏi người đáng thay tôi làm phụ chính nên tôi nói là Trần Trung Tá, nếu như hỏi người hầu nuôi thì không phải Vũ Tấn Đường, còn ai nữa?” (Vũ Tấn Đường làm tham tri chính trị trong triều, luôn túc trực bên giường bệnh Tô Hiến Thành).

    Thật là vì nước, không vì ơn riêng hay bà con dòng họ, không vì phe cánh cho tham vọng cá nhân. Trong thời đại phong kiến đã có con người như vậy. Xưa và nay dễ được mấy người.

    Chính các đồng chí Lâm Quốc Đăng và Lê Thanh mà tôi nói ở phần trên là nằm trong số này, không đi tập kết, ở lại làm dân nhưng rồi buộc lòng phải cầm súng trở lại. Họ chỉ cầm súng khi có yêu cầu mà Đảng chỉ thị, còn khi chưa có chỉ thị thì nhất thiết không được tự động dùng vũ lực. Đó là kỷ luật cách mạng. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến 3 là một cán bộ chỉ huy quân sự cao cấp nhất lúc ấy không đi tập kết, ở lại chuyển nhiệm vụ trong số này, đã kể lại rằng: Năm 1955-1956 (hồi ấy đồng chí sống ở miệt ruộng Bạc Liêu - Cà Mau và phụ trách tổ chức lực lượng thanh niên yêu nước và công tác binh địch vận), lực lượng của ta rất mạnh, làm chủ rộng rãi các vùng nông thôn, địch chưa tổ chức được chính quyền của chúng. Cơ sở đảng rộng khắp mọi nơi, hệ thống chỉ đạo vững vàng ngay từ năm 1955. Còn năm 1956 thì lực lượng quần chúng yêu nước được củng cố và phát triển nhất là thanh niên. Trong thời kỳ chiến tranh, nhân dân tự tổ chức tự vệ bao gồm các thanh niên hăng hái, hầu như xã nào cũng có, xã nhiều nhất như Biển Bạch có đến hàng trăm. Số tự vệ ấy trang bị gậy gộc hay bất cứ công cụ gì có trong nhà, ngoài ruộng, là lực lượng để chống trộm cướp bảo vệ tài sản của nhân dân, bảo vệ tính mạng cho cán bộ, và đặc biệt là bảo vệ các cuộc míttinh, biểu tình, đấu tranh chính trị của quần chúng.




------------------------------------------------------------------
1. Điều đảng viên từ nơi lộ đi một nơi khác mà ở đó không ai biết, lắng lại, chưa hoạt động trong một thời gian. Biện pháp để giữ bí mật an toàn cho Đảng.

2. Đồng chí Nguyễn Thành Thơ - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Tam Cần năm 1956, nguyên Bí thư miền Tây trong kháng chiến chống Mỹ, nguyên Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa IV.

3. Hiện nay là Trung tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 9. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã từng là Chỉ huy trưởng Liên trung đoàn hoạt động ở các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc thuộc Quân khu 8. Đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản trước Cách mạng Tháng Tám, đã bị thực dân Pháp bắt tù đày đi Côn Đảo. Đồng chí còn có bí danh là Tám Dên Dên, Tám Kiến Quốc, là cán bộ quân sự hoạt động ở chiến trường Nam Bộ từ năm 1945 liên tục cho đến năm 1975, khi đó là Chỉ huy phó các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:14:17 pm
    Một ví dụ điển hình về hiệu lực của các lực lượng tự vệ này là cuộc đấu tranh thắng lợi hai ngày hai đêm bảo vệ và giải thoát cán bộ ta bị một tiểu đội biệt kích của Diệm bắt, khoảng tháng 4/1955 tại kênh xáng Mương Điều, tỉnh Cà Mau. Do bọn chỉ điểm hướng dẫn, đang nửa đêm tiểu đội biệt kích ác ôn bí mật luồn vào ấp, ập vào nhà bắt hai cán bộ ta đang ngủ. Thanh niên tự vệ tại chỗ đánh mõ báo động. Hàng nghìn bà con tại xã An Khương đổ ra bao vây toàn bộ tiểu đội địch lại không cho di chuyển, tiếng mõ nhà này chuyển sang nhà khác, xóm này chuyển sang xóm khác lan xa hàng 30km. Thanh niên tự vệ từ các xã Cái Tàu, Khánh Lâm, Khánh Bình, Tân Lập, Tân Thành tay cầm gậy, đuốc sáng choang, chạy đến tập trung ngày càng đông, vây chặt vòng trong vòng ngoài quanh bọn biệt kích, đòi trả tự do cho những người vô tội bị bắt. Người bị bắt chưa được thả thì bọn biệt kích chưa được tự do. Tiếng náo động vang xa, một khoảng trời rực sáng, khí thế vút tầng cao.

    Bọn địch ở Cà Mau hay tin liền cho một tàu từ thị xã chạy đến để hỗ trợ cho bọn biệt kích. Nhân dân đã huy động lực lượng đông đảo đến đắp ngay một đập chắn trên kênh không cho tàu vào đến địa điểm. Cuối cùng, chịu thua, bọn biệt kích đành thả cán bộ ra, nhận là bắt lầm người lương thiện, xin lỗi nhân dân để được rút an toàn tính mạng.

    Thời kỳ ấy đâu đâu cũng có phong trào hợp pháp “dân canh chống cướp” này. Và bằng cách chống cướp đã giải thoát cho rất nhiều cán bộ ta bị địch bắt. Nhiều bọn lính địch bị gán là cướp, bị no đòn trước khi trở về được với đồng bọn. Thật là một sáng tạo lớn lao của cách mạng về tổ chức vũ trang tự vệ trong hoàn cảnh không được dùng vũ trang.

    Công tác dân vận trong chính quyền và binh lính địch cũng phát triển mạnh. Không khí chiến thắng của cách mạng từ Điện Biên Phủ đã có ảnh hưởng lớn trong các cấp ngụy quyền và sĩ quan địch. Ta đã có khả năng nắm hàng chục tiểu đoàn gồm cả thiết giáp, pháo binh, nhiều nhất là các tiểu đoàn bộ binh. Ta có cơ sở có hiệu lực trong ba của bốn hạm đội hải quân. Các cơ sở hành chính mà địch đã tổ chức, ta nắm khoảng 80%. Nhiều cán bộ chính quyền và sĩ quan các cấp của ngụy quyền đều có liên hệ với ta qua gia đình thân thuộc, qua bạn bè. Chưa có thời kỳ nào mà công tác binh địch vận của ta có kết quả lớn hơn như vậy, bao trùm lên cả các căn cứ, đồn bót, bộ máy, đối tượng và các loại lực lượng của địch. Nhờ thế ta đã vô hiệu hóa được nhiều cuộc càn quét, hạn chế được những khủng bố giết chóc, bảo vệ được nhân dân, cán bộ của ta.

    Đồng chí Tám Xuyến, năm 1967 về miền Đông còn có cái tên rừng dễ nhớ mà anh em đặt cho là Tám Dên Dên, có lẽ do tấm lòng thanh cao của đồng chí, đã cười một cách rộng mở thích thú khi kể rằng có một lần, đồng chí lãnh đạo cao cấp của ta - đồng chí Lê Duẩn, vô tình bị địch bắt giải về trụ sở chính quyền xã. Nhiều đồng chí ta không biết rõ tình hình, hết sức lo lắng. Nhưng “anh em ngụy quyền” ở xã đã tổ chức rất cẩn thận đưa đồng chí vào căn cứ an toàn. Tất nhiên là tình hình toàn Nam Bộ không phải đều như vậy, có nơi yếu hơn. Đó là chưa kể các đơn vị giáo phái vũ trang vào tá túc trong các vùng của ta và sẵn sàng nghe theo ta.

    Đồng chí kể tiếp: Trong các năm 1955-1956, lực lượng mọi mặt của ta rất mạnh, lực lượng chính trị của địch quá kém, nhưng ngay lực lượng vũ trang của chúng, bọn mà ta chưa nắm được thì sức chiến đấu hầu như không đáng kể. Đồn bót thì công sự phòng ngự không ra gì, cái cũ đổ nát, cái mới xây dựng còn sơ sài. Đến nỗi nhân dân cứ than phiền rằng ngụy yếu kém như vậy sao Đảng không cho diệt đi cho xong, dễ quá mà. Tụi bay ra lệnh là bà con tụi tao xông vô xô cũng lấy đồn được ngay. Trước tình hình đó, tôi đã đề nghị làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền như hồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chắc sẽ thành công. Tôi đã phân tích tương quan lực lượng và viện lý rằng Mỹ - Diệm ra sức phá Hiệp định Giơnevơ, cho đến lúc ấy không chịu hiệp thương tổng tuyển cử, thì nhân dân có quyền lật đổ chúng để thống nhất nước nhà. Cấp trên đã trả lời tôi rằng chưa phải lúc. Ta phải trung thành với chữ ký của mình, tôn trọng pháp lý quốc tế. Ta kiên quyết bảo vệ hòa bình, kiên trì đấu tranh bằng chính trị, dân chủ, chính nghĩa nhất định về ta, nhất định sẽ thắng. Không được tự động bất cứ trường hợp nào, phải nắm vững đường lối của Đảng. Cho mãi những năm về sau nữa, đồng chí Mười Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh) lúc ấy là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, thỉnh thoảng lại dè chừng tôi: Hãy bình tĩnh đừng ăn non đấy nhé!

    Tài liệu nghiên cứu của Lầu Năm Góc xác nhận: Từ năm 1954 đến năm 1956 Nam Việt Nam tương đối ổn vì cán bộ cộng sản được bố trí ở lại miền Nam chỉ chủ tâm đến “đấu tranh chính trị”. Tình báo Mỹ nhận định: “Số cán bộ ở lại có nhiệm vụ chính là chuẩn bị cho tổng tuyển cử dự định vào năm 1956 để thống nhất đất nước”. Số cán bộ khung này được lệnh chỉ tiến hành đấu tranh chính trị “nghĩa là nói chung chỉ hoạt động tuyên truyền và thâm nhập bộ máy chính phủ Sài Gòn”.

    Ta kiên trì giữ vững hòa bình, ngăn chặn chiến tranh, tuân thủ pháp lý quốc tế không đồng nghĩa với mất cảnh giác hay tin rằng mọi việc sẽ đi theo một chiều như đã sắp đặt. Trong lúc kiên quyết đấu tranh chính trị ta cũng đã đề phòng đấu tranh vũ trang trở lại nếu địch buộc ta phải hành động như vậy. Vì vậy Xứ ủy Nam Bộ đã dự liệu tình huống xấu là Mỹ - Diệm sẽ hủy bỏ Hiệp định Giơnevơ, tiến hành chiến tranh để thôn tính miền Nam, xâm lược miền Bắc, đặt đất nước ta vào vùng nô lệ một lần nữa. Cùng với cán bộ để lại, phải có một số vốn vũ khí tối thiểu để xây dựng lực lượng từ nhỏ đến lớn, nếu cần. Lịch sử lại lặp lại chăng? Đến một ngày nào đó ta lại trở lại sống và hoạt động như những ngày tháng 9/1945? Nhưng chắc chắn là lịch sử không lặp lại nguyên xi vì tình thế đã khác và kẻ địch cũng đã khác. Cái vốn ban đầu cần là cán bộ và vũ khí. Trong lúc lực lượng vũ trang ta tập kết ra miền Bắc thì hầu như tỉnh ủy nào cũng giữ lại cho mình một số vũ khí nhất định mà chỉ một hai đồng chí được biết. Số vũ khí ấy được cất giấu cẩn thận như kiểu niêm phong chắc chắn, khi có lệnh mới được động đến mở niêm ra. Khi chưa có lệnh thì dù phải hy sinh đến tính mệnh vẫn không được tự ý sử dụng. Số vũ khí này, những năm về sau một số ít bị địch lấy được do một vài tên phản bội chỉ dẫn, một số vì bảo quản không kỹ nên lâu ngày bị hư không dùng được, nhưng một số khác đã có tác dụng tốt sau này khi địch buộc ta phải sử dụng. Số cán bộ không nhiều, vũ khí không nhiều nhưng nó nói lên một suy nghĩ chiến lược, một tầm nhìn xa thấy rộng, một cảnh giác cách mạng cần thiết, một dự liệu cho nhiều tình huống phức tạp mà bất cứ với tình huống nào cũng chủ động không lúng túng. Ta tuân thủ Hiệp định Giơnevơ đấu tranh thực hiện Hiệp định đến cùng đồng thời đề phòng trước sự phá hoại, phản bội. Đó là chính nghĩa, là cách mạng. Ta có lực lượng chính trị, lực lượng binh địch vận mạnh, ta có vũ khí và cán bộ quân sự sẵn sàng nhưng lúc nào sử dụng lực lượng nào, điều kiện chín muồi cho phương pháp đấu tranh nào, đó là quyết định có trách nhiệm cao đối với nhân dân ta và nhân dân thế giới. Quyết định sớm khi chưa đủ điều kiện dễ đi đến thiếu chính nghĩa trong nước và ngoài nước, hành động non yếu, vội vã dễ đi đến thất bại, thiệt hại. Quyết định muộn có khi lỡ thời cơ, gây tổn thất nặng nề cho Đảng, cho nhân dân và kéo dài thời gian không có lợi cho cách mạng, thậm chí có khi dẫn đến thất bại chua cay. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi sáng suốt, nắm bắt sát và nhạy bén với tình hình chung và tình hình diễn biến cụ thể.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:18:55 pm
CHƯƠNG III
Cây muốn lặng - gió chẳng dừng



     Như đã nói trên, Mỹ - Diệm cố phá hủy Hiệp định Giơnevơ chia cắt lâu dài đất nước ta. Chia rẽ độc địa các gia đình Việt Nam kẻ Nam người Bắc. Chúng đã cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử dân chủ trong cả nước, tiêu diệt các đảng phái đối lập, các giáo phái vũ trang, thiết lập chế độ độc tài gia đình trị, khủng bố phátxít nhân dân, tố cộng diệt cộng một cách tàn khốc.

    Ở Nam Bộ từ cuối năm 1956 trở đi, các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” ngày càng tiến hành rộng rãi, cuộc tàn sát ngày càng đẫm máu. Diệm đã triển khai một chiến dịch tuyên truyền độc ác trên đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí, trong các trường học, trong nhân dân, bịa đặt, vu cáo nặn ra hình tượng cộng sản như một con quỷ dữ hút máu người. Trong lúc đó chúng dùng quân đội, cảnh sát, mật vụ, ác ôn, chia nhỏ từng tiểu đội ruồng sục khắp thôn ấp làng mạc hoặc mở các chiến dịch càn lớn bắt giết bất cứ người nào chúng nghi hay vu là cộng sản. Chúng dùng tất cả những thủ đoạn dã man tàn ác nhất để tra tấn và giết người, từ những thủ đoạn của thời trung cổ đến những thủ đoạn hiện đại nhất của các cố vấn Mỹ. Chúng bắt và giết không cần bằng cớ, không kể già trẻ, phụ nữ, trẻ em. Bọn bên trên thì hò hét đôn đốc theo phương châm: “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, bọn bên dưới thừa hành thì được dịp làm mưa làm gió để vơ vét của cải và trả thù cá nhân. Báo Cách mạng quốc gia của Diệm hô hào: “Không được xem cộng sản là người nữa, phải ra sức giết, giết không run tay!”. Chúng đã gây một không khí khủng khiếp khắp thôn quê, thành thị. Chúng tung mật vụ, tổ chức mật vụ trong từng phố phường, thôn ấp, trong từng cơ quan, xí nghiệp, trường học, trong từng gia đình, ly gián mọi người, cố tạo ra cảnh nghi kỵ, không tin nhau và ghét bỏ nhau ngay trong một gia đình.

    “CIA hết lòng ủng hộ chương trình hăm dọa và đàn áp ở nông thôn của Sài Gòn. Các nhà hoạt động CIA ở Việt Nam rõ ràng dùng Diệm để hủy bỏ Hiệp định Giơnevơ và khi mục tiêu chủ yếu đã đạt được, CIA giúp Diệm củng cố thế độc tài của hắn ở Nam Việt Nam”. Đó là lời xác nhận sau này của một người Mỹ: Giôdép Amtơ trong cuốn Vietnam Verdict (Lời phán quyết về Việt Nam).

    Mỹ - Diệm đã tuyên bố công khai: “Không được xem cộng sản là người nữa, phải ra sức giết, giết không run tay”. Đó phải chăng chúng đã thú nhận chúng không có một chút tình người nào mà là một bầy ác thú chỉ có giết và giết. Xin kể một vài câu chuyện nhỏ để dẫn chứng và nhớ lại thời kỳ khủng khiếp đó:

    Chúng bắt buộc các gia đình có người đi tập kết phải cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng, cha con. Chúng quy định thời gian cho những chị em nào có chồng đi tập kết phải làm giấy ly dị và bắt buộc chị em phải lấy cảnh sát, ác ôn: Không tuân thì giết. Chị Chín ở Bến Tre có chồng đi tập kết ra miền Bắc là anh Biên. Chính quyền xã ép buộc chị ly dị và lấy lẽ một cảnh sát trong ấp. Chị cự tuyệt. Một đêm, tên cảnh sát ấy ập tới nhà chị, bắt chị hãm hiếp rồi đâm chết, mổ lấy mật đem về lãnh thưởng vì đã giết được một tên “Việt cộng”.

    Bà Kế ở huyện Giồng Trôm có chồng là Mười Văn và các con tham gia kháng chiến, không đi tập kết. Chúng bắt bà tra tấn cực kỳ dã man, bắt chỉ chồng con cho chúng. Bà nhất định không khai. Biết không thể sống được với bọn mặt người dạ thú này, bà hét vào mặt chúng: “Chồng con ở trong tim tao nè, quân bây muốn kiếm thì moi ở tim tao mà lấy”. Chúng moi tim bà thật.

    Kể sao hết những hành vi man rợ như vậy đã diễn ra khắp miền Nam đau thương trong bao năm ròng đen tối. Chỉ riêng một tỉnh Bến Tre đã không thể kể xiết rồi. Anh Xưởng ở Mỏ Cày, người kháng chiến trở về làm ăn đã bị bọn ác ôn bắt đem ra giữa đồng cắt môi, cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, tim đem về bót nhắm rượu. Anh Võ Tấn Nhất đúng là một người cộng sản (Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre lúc ấy) mà nhân dân vô cùng yêu mến. Chúng bắt tra tấn cực hình đủ kiểu, anh vẫn cắn răng không hề hé một lời. Chúng hành hạ ở khắp các nhà giam. Cuối cùng chúng đưa anh về tỉnh nhà, đánh gãy thêm ba xương sườn, đóng lút đinh trên cả mười đầu ngón tay, căng trên ống cống phơi nắng cả tuần lễ, anh vẫn giữ vững khí tiết người cách mạng kiên cường. Không làm gì được, chúng bỏ anh vào hầm tối không cho ăn uống cho đến chết. Anh Tám ở xã Lộc Thuận bị địch cột chân sau xe GMC, cho xe chạy kéo theo anh trên đường đá lởm chởm, máu và thịt anh rơi rớt trên cả đoạn đường dài.

    Bọn cướp nước và bán nước đối xử với nhân dân ta như vậy đó. Thế mà ngày nay chúng còn dám mở miệng nói đến đạo lý, đến nhân quyền. Và người Mỹ có khó khăn gì mà không tìm ra nguyên nhân thất bại nhục nhã ở Đông Dương? Chúng ta thấm thía biết bao câu nói bất hủ của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

    Để chuẩn bị cho việc bắt giam hàng loạt đại quy mô, Diệm đã cho ra “Dụ số 6” từ ngày 11/01/1956, lập các trại tập trung các nơi, vì hệ thống nhà tù của thực dân Pháp để lại không thấm vào đâu với số người bị bắt giam trong thời kỳ “tố cộng” này. Trại tập trung và nhà tù cũ, mới không đủ chứa, Diệm phải giam cả trong các nhà thờ, nhà chùa, thánh thất, trường học. Có nhà tù lớn chứa tới 6.000 người như Phú Lợi, 4.000 người như Chí Hòa, 3.000 người như Biên Hòa và hàng trăm nhà tù khác chứa từ 1.000 đến 2.000 người.

    Theo phương châm “thà giết lầm chứ không bỏ sót”, “coi Việt cộng không phải là người”, Mỹ - Diệm đã tàn sát bừa bãi, bắt giam bừa bãi, gây thiệt hại lớn cho Đảng ta, cho nhân dân ta, nhưng chúng không thể nào bắt và giết hết những người cộng sản, những người cách mạng trừ phi chúng giết hết nhân dân.

    Chính nhân dân ta đã bằng mọi cách nuôi nấng bảo vệ cho từng cán bộ, từng đảng viên. Không phải cá biệt ở vùng nào mà khắp nơi từ làng mạc ở nông thôn đến khu phố ở các đô thị, nhân dân giấu cán bộ trong hầm bí mật, chăm chút từng bữa cơm, manh áo, săn sóc thuốc men khi đau yếu, đấu tranh giành giật với địch khi cán bộ bị bắt. Họ làm những việc ấy với ý thức đầy đủ là bảo vệ cán bộ, bảo vệ Đảng. Họ hiểu sâu sắc rằng còn Đảng là còn tất cả, quyền lợi, tự do, sinh mạng của người dân và sống còn của đất nước. Biết bao tấm gương vô cùng cảm động của những bà mẹ, người chị, của những em bé bị tra tấn chết đi sống lại vẫn không chịu chỉ hầm bí mật có cán bộ ẩn ngay trong nhà, trong vườn của mình. Đã có người bị bắn chết gần miệng hầm mà bên dưới cán bộ, đảng viên đang nấp.

    Má Kế ở Hưng Phong (Bến Tre) nuôi giấu cán bộ dưới hầm bí mật. Địch phát hiện được, bắt má tra tấn dã man, má vẫn không khai. Một câu nói bất hủ của má mà nhân dân Bến Tre còn truyền tụng đến hôm nay khi má trả lời với quân thù: “Việt cộng ở trong tim tao!”. Cuối cùng địch mổ bụng, moi gan, má chịu chết bảo vệ được cán bộ. Tinh thần hy sinh cao cả của nhiều người dân thường, không một lời nhắn nhủ, không để lại họ tên, tự nhận cái chết để bảo vệ đảng viên sống, để cho Đảng tồn tại, hầu đưa lại toàn thắng cho cách mạng, hạnh phúc cho toàn dân.

    Một trong những tấm gương sẵn sàng làm mọi việc để bảo vệ Đảng, bảo vệ đảng viên là anh nông dân Võ Văn Thiều ở xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Tam Cần (tỉnh mới do Diệm lập gồm các huyện Tam Bình, Tiểu Cần, Trà Ôn, Cầu Kè, Bình Minh, sau này chúng đã giải thể). Ngày ấy nhân dân trong xã đều một lòng đi với cách mạng. Hầu hết người của ngụy quyền đều được nhân dân giác ngộ, chịu nhận nhiệm vụ của cách mạng qua mối liên lạc với anh Võ Văn Thiều. Dựa vào cơ sở vững mạnh của toàn xã, các đồng chí trong tỉnh đã bố trí cho đồng chí Mười Thơ (Nguyễn Thành Thơ) - Bí thư Tỉnh ủy Tam Cần (do địch tổ chức tỉnh mới, ta cũng thành lập tỉnh ủy của tỉnh ấy để dễ lãnh đạo) ở và làm việc ngay tại xã này để đảm bảo an toàn. Trong một thời gian dài ta vẫn giữ được bí mật nhờ nhân dân và cơ sở ta trong ngụy quyền bao bọc. Nhưng rồi địch nghi ngờ, cho gián điệp điều tra theo dõi. Chúng đã phát hiện được đầu mối liên lạc với Đảng trong xã là anh Võ Văn Thiều nên chuẩn bị bắt anh. Cũng nhờ nhân dân mà ta biết được tin nên tổ chức cho anh Thiều tạm lánh qua một vùng khác. Chúng gian ác đã bắt vợ anh Thiều và định ngày xử bắn nếu đến ngày ấy anh Thiều không ra đầu thú. Các đồng chí ta đã bàn với anh Thiều chịu ra gặp địch để cứu gia đình và bàn cách khai báo để bảo vệ cơ sở cách mạng. Anh khẳng khái: “Tôi sẵn sàng làm mọi việc để bảo vệ Đảng, giữ vững cách mạng, dù chúng bắt giam hay bắn chết tôi”.

    Anh Thiều đã ra cho địch bắt và khai cho chúng tất cả những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân trong vùng, với đủ bằng cớ những tên ấy là “cơ sở bí mật” mà chúng muốn tìm. Bọn ấy bị bắt trong lúc tất cả các đồng chí, nhân dân trong xã cũng như những người của ngụy quyền giác ngộ làm cho cách mạng trong xã vẫn an toàn. Địch đã giết chết anh nhưng anh vẫn không chết trong lòng cán bộ và đồng bào vùng ấy.

    Mỹ - Diệm hiểu thấm thía qua thực tế: Nhân dân và những người cộng sản, cách mạng là thống nhất, mỗi Việt cộng là một người dân trong biển dân mênh mông. Chúng đề ra khẩu hiệu “Tát nước bắt cá”, có nghĩa là phải đánh vào dân, tách dân ra khỏi những người cộng sản thì mới diệt được.

    Ta nói tình quân dân như tình cá với nước là nói đến sự gắn bó máu thịt giữa quân và dân, dân và những người cách mạng không thể nào tách rời được. Ta xem nước không chỉ có tác dụng nuôi cá sống để cá vẫy vùng, mà nước còn là sức mạnh thần kỳ có thể nổi sóng nhận chìm tất cả bọn giặc và tay sai, cả loài phi nhân bạc nghĩa. Nước có thể chở thuyền và cũng có thể lật thuyền. Ở đâu có nước ở đó có cá, không thể nào bắt hết cá khỏi nước được. Hiểu một cách thô thiển, Mỹ - Diệm ra sức tát nước để bắt cá. Chúng tính nhốt hết nhân dân vào các trại tập trung gọi là khu dinh điền, khu trù mật. Mỹ - Diệm đã quy hoạch một hệ thống các khu dinh điền lấn vào các khu căn cứ cũ trong kháng chiến chống Pháp của ta. Chúng gọi các khu dinh điền ấy là “pháo đài tiễu cộng”. Những cứ điểm bao vây Việt cộng không cho chúng một mảnh đất hoang vu nào để hoạt động. Chúng chia nhỏ các tỉnh, huyện lập thêm nhiều tỉnh mới, nhằm mục đích trấn áp, đi đến phá tan các khu căn cứ của ta. Ví dụ như các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy để đánh phá các vùng căn cứ của Bà Rịa, Biên Hòa. Tỉnh Bình Long, Bình Dương, tỉnh Phước Thành trùm lên Chiến khu Đ và Khu A của ta. Tỉnh Long An, Kiến Tường, Kiến Phong để phá khu Đồng Tháp Mười, tỉnh Tam Cần để cắt làm hai vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh Long Xuyên, Chương Thiện để khống chế rừng U Minh... Từ năm 1957 đến năm 1959, Diệm đã lừa dân “di cư” bị mua chuộc ở miền Bắc và “di cư” cưỡng bức từ Trung Bộ lên Tây Nguyên, vào các tỉnh Nam Bộ, lập nhiều khu dinh điền (trên 80 điểm ở Nam Bộ), phá sạch trên 12.000ha rừng và các vùng căn cứ. Hơn nữa Trần Lệ Xuân còn dùng bọn tư sản, có lực lượng vũ trang bảo vệ, phá rừng khai thác gỗ, củi bừa bãi và làm đường xe hơi xé nhỏ các khu Bắc Biên Hòa, Phước Long, Bắc Tây Ninh... Diệm cho mở các chiến dịch gồm hàng sư đoàn càn quét ác liệt dài ngày như chiến dịch Trương Tấn Bửu vào rừng miền Đông, chiến dịch Thoại Ngọc Hầu ở miền Trung và miền Tây... Ở vùng đồng bằng đông dân Diệm lập khu trù mật tập trung dân vào đấy, kiểm soát chặt chẽ. Trong mỗi khu trù mật đều có một tiểu khu dành riêng cho những người tình nghi là cộng sản, những người kháng chiến cũ, những gia đình có người đi tập kết ra miền Bắc. Tiểu khu này được rào dây thép gai kiên cố hơn, có tháp canh nghiêm ngặt hơn. Diệm tuyên bố: “Xong khu trù mật này đến khu trù mật khác, cứ làm, làm mãi, làm cho nông dân trở nên những pháo đài kiên cố của tự do”. Thật ra Diệm cố nhốt chặt tự do vào những pháo đài kiên cố. Để tuyên truyền lừa mị, che giấu dã tâm, Diệm tuyên bố ở Vị Thanh rằng:
    “Ý nghĩa khu trù mật là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng, bác ái, đồng tiến xã hội trong hoàn cảnh một nước kém mở mang”.

    Nhưng thực sự đã đưa lại bao nhiêu thống khổ cho nhân dân, đời sống nông thôn bị xáo trộn toàn bộ. Tất cả dân phải vào khu trù mật, nhà ở cũ bị phá, dỡ hay đốt sạch, vườn tược cây cối bị đốn. Còn nơi xây dựng khu trù mật thì san bằng hàng ngàn, vạn công lúa, rẫy, kể cả lúa đang trổ bông, lấp hàng trăm đìa, ao. Ai không chịu bỏ vườn, nhà, mồ mả ông cha đi tập trung thì bị bắt bớ tàn sát, khủng bố thẳng tay. Hàng loạt khu trù mật kiểu mẫu, dồn nhốt vào mỗi khu hàng vạn nông dân như các khu Khánh Vân (Thủ Dầu Một), Hậu Mỹ (Mỹ Tho), Thành Thới (Bến Tre), Cái Sơn ở Tam Bình, Vĩnh Long, An Biên (Rạch Giá), Vị Thanh, Hỏa Lựu ở Cần Thơ... Nông dân căm phẫn và đã chống lại bằng mọi hình thức: Biểu tình, đưa đơn phản đối, dùng dao rựa chém bọn lính dỡ nhà, bị bắt lùa đi lại trốn về cất chòi ở trên nền nhà cũ, nổi lên tập thể phá rã khu trù mật... Báo chí công khai thời ấy cả trong và ngoài nước đều phản ảnh sự bất bình cao độ của nhân dân trước chủ trương độc ác thất nhân tâm ấy của Diệm.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:22:04 pm
    Báo Anh Người xứ Êcốtxơ ngày 22/6/1960 viết: “Khu trù mật là những khu hình vuông, có đèn điện, có nhà thương, trường học, nhà lá. Những thứ đó được xây dựng bằng sức lao động “tự nguyện” của những người nông dân do quân đội đi bắt một cách độc đoán. Khi một khu trù mật hoàn thành, thì những nhà cũ của những người đến khu trù mật đều bị phá. Nhưng như thế thì hàng ngàn nông dân phải đi hơn 10 dặm đường để làm việc trên ruộng đất của họ, để mang trâu bò và dụng cụ đi và về. Cho nên, phần đông họ không đồng ý với chương trình lập khu trù mật. Việc các khu trù mật có thể chống lại hoạt động của cộng sản một cách có hiệu quả là điều đáng ngờ”. Còn đổng lý văn phòng của Diệm thì kể lại:

    “... Tới giữa 1959 đã có 25 khu trù mật thành lập, 25 thị trấn hoàn thành trong thời gian kỷ lục chưa đầy hai năm, được coi như một kết quả không ngờ.

    Nhưng ông tổng thống cũng không ngờ những phản ứng trong dân gian. Lời ta thán và đơn khiếu nại tới ông mỗi ngày một nhiều: bị đe dọa nên phải dời nhà, bị thiếu thốn về mọi mặt thay vì được trợ cấp, công quỹ bị biển thủ, kinh phí bị phóng đại, tài sản bị xâm phạm... nhà nông không thể tiếp tục công việc hằng ngày, khu vườn ruộng cũ ở xa khu mới...

    Cực chẳng đã ông đành phải bảo tạm đình... chắc ông Diệm phải nhận rằng mưu sự tại ông, nhưng thành sự tại những người chấp hành”.

    Đó là nhốt người. Ngoài ra, Diệm còn cướp đất của nông dân. Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chính quyền cách mạng đã thực hiện một loạt các chính sách tạm cấp ruộng đất của Pháp và Việt gian, tạm giao ruộng đất vắng chủ, tạm cấp đất hoang và chia lại công điền, xóa bỏ nợ nần và giảm tô, giảm tức. Nhờ đó nông dân lao động Nam Bộ đã giành được khoảng trên 56 vạn hécta ruộng đất và nhiều quyền lợi khác. Đời sống ở nông thôn đã cải thiện khá nhiều. Mặc dầu chiến tranh, lắm nơi ác liệt, nông dân vẫn bám lấy ruộng vườn, vừa sản xuất nuôi mình, nuôi quân, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ làng mạc. Ngay ở những vùng trước thời kỳ kháng chiến còn hoang vu, nghèo khổ như vùng Đồng Tháp Mười, cuộc sống cũng được nâng lên rõ rệt. Tôi không thể nào quên cảm giác đau xót trước cảnh nghèo đói của đồng bào khi lần đầu tiên 1945-1946 vào Đồng Tháp Mười để xây dựng căn cứ kháng chiến. Đi đến đâu cũng gặp người dân ở trần, chỉ có mảnh bao bố rách che thân, nhà là những chòi dựng che tạm mưa nắng, dột nát và ngập ngụa trong mùa nước lên cao. Có nhà, hai vợ chồng chỉ có chung một mảnh bố, thay nhau ra ngoài làm lụng, người ở nhà phải trần truồng như tất cả trẻ con. Ở những vùng ruộng bao la, cò bay thẳng cánh mà họ không có mảnh đất cắm dùi, chỉ đem sức lao động, mồ hôi, nước mắt đổ ra kiếm cái ăn từng bữa vô cùng thiếu thốn. Sống giữa những vùng cá tôm đầy dưới kênh rạch đìa bàu, họ mò bắt một con cá con tôm đỡ lòng cho con nhỏ cũng bị bắt bớ, đánh đập, có khi ngồi tù, vì tất cả đất đai sông núi đều là của địa chủ. Chế độ thực dân và phong kiến bóc lột tận xương tủy nhân dân ta như vậy đó. Chín năm kháng chiến chống Pháp cũng là chín năm cách mạng bước đầu đem lại ruộng đất cho dân cày, đời sống ấm no cho người lao động, tự do và nhân phẩm cho mọi người. Tuy chưa phải sung túc và tự do trọn vẹn vì còn có giặc nhưng người dân đã hiểu Đảng và gắn bó với cách mạng, quyết tâm giữ vững quyền lợi của mình. Ngày nay Diệm lại rắp tâm cướp lại ruộng đất của nông dân đã được hưởng, phục hồi giai cấp địa chủ để làm cơ sở xã hội cho chế độ tay sai. Năm 1956, Diệm cho ra “Dụ số 57” đề ngày 22/10 về “cải cách điền địa”. Theo dụ này mỗi địa chủ được quyền sở hữu 100ha ruộng lúa, không tính ruộng đất trồng cây công nghiệp hoặc làm bãi chăn nuôi... Giai đoạn đầu của cái gọi là cải cách điền địa này Diệm cho triển khai lập khế ước tá điền, tức là buộc nông dân đang làm chủ ruộng đất của mình mà chính quyền cách mạng hồi chín năm đã chia cho, trả lại cho địa chủ và thực dân, và muốn khai thác mảnh ruộng đất ấy phải ký giao kèo mướn của địa chủ và trả tô theo quy định. Muốn làm được việc ấy Diệm cho tổ chức những cuộc hành quân xuyên sâu vào các làng mạc và ruộng lúa, có công chức của chính quyền và bọn địa chủ đi theo, chĩa súng ra làm cuộc kiểm kê lại toàn bộ ruộng đất cho địa chủ và xác lập quyền sở hữu của địa chủ, bắt nông dân phải làm tá điền như thời trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Rõ ràng đây là một cuộc phản công lại nông dân của phong kiến và thực dân chỉ khác là thực dân mới Mỹ nay thay cho thực dân cũ Pháp. Mục đích chủ yếu của cuộc phản công quy mô lớn và rất cơ bản này, được che giấu dưới một từ mĩ miều là “cải cách điền địa”, là nhằm thiết lập ách thống trị vững chắc của chúng trên vùng nông thôn rộng lớn, các vùng kháng chiến cũ, trấn áp phong trào cách mạng của nhân dân, nắm nông dân trong bàn tay sắt bóc lột của chúng, khôi phục lại giai cấp địa chủ kết hợp với tư sản mại bản và quan liêu quân phiệt là cơ sở xã hội vững chắc của chế độ tay sai cho Mỹ.

    Ngay từ đầu, đi đôi với khoản “viện trợ” dành riêng cho chương trình này, Mỹ đã phái qua miền Nam một đoàn cố vấn, đứng đầu là Vônphơ Latdinxky, một chuyên gia nổi tiếng của Mỹ về cải cách điền địa. Đúng ra là Latdinxky qua giúp Diệm chống lại phong trào cách mạng của nông dân bằng cái khâu trọng yếu là phá cho được thành quả cải cách ruộng đất của Đảng ta tiến hành ở miền Nam đã gây ảnh hưởng sâu sắc trong nông dân, khiến cho nông dân đi với cách mạng. Làm được khâu then chốt này, kết hợp với chính sách khu dinh điền, khu trù mật, Mỹ -Diệm sẽ thực hiện được cái mộng nắm được nhân dân ta dưới bàn tay sinh sát của họ, tiêu diệt được Việt cộng, phá tan được cách mạng. Chính Latdinxky đã nhận định và thú nhận âm mưu này như sau: “Không lấy gì làm lạ rằng những người cộng sản đã tìm được trong các làng mạc miếng đất tốt cho các mục tiêu chính trị của họ. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi họ bắt đầu cùng một số việc khác, tấn công vào trật tự của làng mạc thì họ được hưởng ứng ngay lập tức. Họ kiểm soát được nông thôn và được nông dân ủng hộ không phải chỉ vì họ kêu gọi đánh đuổi Pháp - một nguyện vọng ăn sâu trong nông dân - mà còn chỉ vì họ đề cập đến vấn đề ruộng đất... Sự thức tỉnh của nông dân là một bộ phận không thể tách rời của chất men cách mạng sau chiến tranh, đang tràn ngập châu Á... Việc những người cộng sản nhấn mạnh vấn đề ruộng đất và sự hưởng ứng của nông dân ít nhất đã góp phần làm cho Chính phủ Diệm phải thừa nhận là có vấn đề ruộng đất và sự cần thiết phải làm cái gì về vấn đề này” 1.

    Còn tài liệu mật của Lầu Năm Góc ghi: “Chương trình cải cách điền địa của Diệm đã không chia lại ruộng đất cho người nghèo mà rút cục chỉ lấy lại những thứ mà Việt Minh đã chia cho họ rồi trả về cho địa chủ”.

    Sự thú nhận của Latdinxky và của Lầu Năm Góc cũng chỉ mới đúng một phần. Chính nông dân ta là những người trong cuộc bị cướp đất, bị khủng bố, hiểu rõ thấu tim đen của Mỹ - Diệm. Vì vậy một phong trào đấu tranh quyết liệt của nhân dân nông thôn nhằm bảo vệ quyền lợi ruộng đất mà cách mạng đem lại, kết hợp với đấu tranh bảo vệ tự do chống dồn dân, chống khủng bố, chống tố cộng diệt cộng ngày càng lan rộng. Mặc dù bị bắt bớ, tàn sát, nông dân đã đồng thanh chống lại, không chịu làm khế ước tá điền, nhất định không chịu trả ruộng đất mà họ đã làm chủ. Đã bao năm nay, nông dân đi với cách mạng, được sự lãnh đạo của Đảng mới giành được ruộng đất từ tay địa chủ, để có đời sống ấm no, tự do lao động trên đất của mình, bây giờ nhất thiết không thể trở lại với kiếp sống tá điền trâu ngựa cho địa chủ, cho thực dân. Lúc đầu nhiều đồng chí của ta không đánh giá được hết tính chất cấp thiết của vấn đề quyền lợi ruộng đất đối với nông dân, không đánh giá được sức mạnh một mất một còn của giai cấp nông dân chống lại địa chủ, phong kiến, cũng không đánh giá hết sự liên quan mật thiết giữa đấu tranh vì quyền lợi ruộng đất, dân sinh với đấu tranh giải phóng dân tộc nên có phần nào phân vân. Các đồng chí ấy nghĩ rằng hiện nay nhân dân ta không còn chính quyền, quân đội, nên khó lòng mà giữ được ruộng đất cách mạng đã chia, có ý muốn lợi dụng các điểm về điều kiện bảo đảm quyền “lĩnh canh”, quyền “lưu canh” và quyền “tiêu mãi” của tá điền trong chính sách “cải cách điền địa” để nông dân không bị xáo canh. Làm như vậy có khác nào vô tình thừa nhận cuộc cải cách điền địa giả mạo, phản cách mạng, chống nông dân của chính quyền Diệm. Nhưng trước làn sóng căm phẫn và tự động đấu tranh của nông dân, nhiều nơi anh em đã hiểu và khẩu hiệu “giữ vững quyền lợi ruộng đất đã giành được” của Đảng đã đề ra được dân hoan nghênh và hưởng ứng. Có thể nói rằng bất chấp súng đạn dã man của quân Diệm, nông dân kiên quyết đấu tranh bằng nhiều hình thức từ hợp pháp đến bất hợp pháp. Họ đã tự động diệt trừ những tên ác ôn địa chủ hoặc tay sai của địa chủ, trong xã hay của Diệm phái xuống. Họ đã dùng lý lẽ phải chăng đấu với ngụy quyền, đã vận động binh lính ủng hộ quyền lợi của bà con và sẵn sàng chống lại bằng bạo lực. Một ví dụ của đấu tranh thắng lợi là cuộc đấu tranh của nhân dân Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh, gần Sài Gòn. Đó là một vùng lớn đất thuộc, cùng với đất bưng, nằm tại xã An Hòa huyện Trảng Bàng. Trước Cách mạng Tháng Tám đất này do tên địa chủ quan lại, đốc phủ Đâu chiếm hữu và phát canh thu tô. Sau cách mạng, chính quyền kháng chiến của ta đã đem chia cho nông dân khai phá làm ăn. Ngoài số ruộng thuộc, bà con đã đổ mồ hôi sôi nước mắt, vất vả nhiều năm mới biến vùng bưng thành ruộng lúa màu mỡ. Dựa vào chính sách “cải cách điền địa” của Diệm, con cháu đốc phủ Đâu cùng với ngụy quyền cố cướp lại ruộng đất này chia nhau thu lợi. Tên quận trưởng cầm đầu, sử dụng cả bộ máy cai trị của huyện cùng một số con cháu tên Đâu, nhân viên trắc địa, bọn tề địa phương và một trung đội dân vệ kéo về xã gom dân lại nghe quận trưởng nói chuyện trước khi tiến hành kiểm tra kê và thu ruộng lại.

    Hắn đã trịnh trọng nói về quyền sở hữu ruộng đất và kết luận:

    - Đất này là của ngài đốc phủ Đâu, giấy tờ sở bộ còn sở hữu đàng hoàng. Đông chí... tây chí... phải trả lại cho chủ cũ.

    Đồng bào nhao nhao phản đối và cử một đại biểu cãi lý lại:

    - Trước đây cách mạng đã đuổi Pháp giành độc lập cho dân tộc và chia ruộng đất của bọn tay sai Pháp cho dân nghèo. Chúng tôi đã biến những đồng bưng thành ruộng thuộc để có chén cơm ngày nay. Chính quyền quốc gia nói là bảo vệ dân, lo cho đời sống của dân, làm cải cách điền địa, tại sao lại lấy ruộng của dân trả lại cho con cháu tên tay sai của Pháp?

    Cứng họng, không trả lời được, tên quận trưởng cứ ra lệnh cho thủ hạ đo đạc, cắm cọc, giăng dây. Nhưng quần chúng kẻ cầm cuốc người cầm xuổng, rựa kéo theo sau nhân viên trắc địa, cọc, dây, cắm giăng ở đâu liền bị nhổ, chặt đến đó.

    Tên quận trưởng giận dữ ra lệnh:

    - Bắt đám dân đã bị cộng sản xúi giục này giải về quận ngay.

    Bọn tề dạ ran, nạt dân vệ bắt. Nhưng dân vệ đã bị kẹt trong đám dân chúng đông đảo đang bao vây kêu gọi thuyết phục họ: Không bắt, bắn vào bà con nghèo tay không, họ cũng như cha mẹ các cháu, các anh, là nông dân cày thuê cuốc mướn. Hãy thương người nghèo bị áp bức, bị cướp đất. Thấy dân vệ bất động, tên quận trưởng huy động thêm cảnh sát, bảo an đến đàn áp, khủng bố, bắt một số người mà chúng gọi làm cầm đầu. Cuộc đấu tranh của nhân dân kéo dài, buộc chúng phải thả những người bị bắt và rốt cuộc dân vẫn giữ được đất cày cấy. Một điển hình của sự chống trả quyết liệt nữa là vụ nông dân nổi dậy bửa đầu tên chúa đất gian ác Trương Hoàng Lâu ở Long Xuyên. Hắn là một tên đại địa chủ quỷ quyệt. Trong kháng chiến chống Pháp, trước phong trào cách mạng mạnh mẽ của nhân dân, y giả bộ giác ngộ, đem ruộng đất vùng Cái Sắn hiến cho chính quyền cách mạng, số này đã được chia cho nông dân không có đất hay ít đất. Y còn tự nguyện đứng ra đỡ đầu cho Tiểu đoàn chủ lực 308 của ta lúc ấy. Nhưng Tiểu đoàn 308 cũng như toàn bộ lực lượng vũ trang của ta đi tập kết, chính quyền cách mạng không còn, bây giờ y lại nghiễm nhiên là cha vợ của “đương kim phó tổng thống” Nguyễn Ngọc Thơ có đủ quyền thế để trở mặt, hiện rõ nguyên hình là một tên xảo quyệt và gian ác. Trương Hoàng Lâu đã gọi quân đội cộng hòa cùng những đại diện của chính quyền Diệm về trị lại nông dân, đòi đất cho y, hậu thuẫn cho y bóc lột địa tô nặng nề và thẳng tay đàn áp những ai không vừa ý. Quá uất ức và căm giận tên gian ác, nông dân đã tập hợp kéo đến nhà hỏi tội phản bội của y, buộc y không được đòi lại đất, thu tô. Không những không thực hiện y còn lên mặt dựa thế con rể “chức trọng quyền cao” chửi rủa nông dân thậm tệ và dọa trị tội nhiều người y đã biết mặt. Không thể lùi bước được nữa, nông dân đã dùng búa bổ vào đầu y, giết chết y ngay tại nhà. Sau vụ này mặc dù Diệm đã trả thù khủng bố nhân dân, nhưng nhiều tên ác ôn, nhiều địa chủ cũng chùn bước. Cũng không phải chỉ Trương Hoàng Lâu bị trị tội mà còn nhiều tên khác ở khắp các nơi bị trị, cuộc đấu tranh thật quyết liệt và dằng dai.




--------------------------------------------------------------------
1. V. Latdinxky: “Cải cách điền địa ở nước Việt Nam Cộng hòa”, in trong Những vấn đề của nền tự do miền Nam từ khi độc lập, do Trường Đại học Michigan xuất bản năm 1961. Những đoạn này trích theo sách Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam do Nxb. Khoa học xã hội xuất bản năm 1968.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:26:15 pm
    Cũng có nơi, gặp điều kiện thuận lợi và có sự lãnh đạo kịp thời, nông dân đã giành được thắng lợi mà tránh được đổ máu. Như trường hợp đối với tên địa chủ đầy thế lực Lý Thị Hường ở đất Long An. Hường là con gái tên đại địa chủ Lý Văn Mạnh. Đất đai tên Mạnh kể đến mấy ngàn mẫu nằm ở vùng kênh số 7, số 8, Gò Xoài thuộc Tân Bửu (xưa thuộc Trung Huyện, nay là đất Bình Chánh). Thời Pháp thuộc nông dân tất cả vùng này đều là tá điền của tên Lý Văn Mạnh, một tên dân Tây, dựa vào thế lực thực dân, tha hồ bóc lột, áp bức, chiếm đất, vơ vét mồ hôi, sức lực của nông dân. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, vùng này trở thành căn cứ địa du kích. Chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của tên Mạnh chia hết cho dân cày. Đồng bào được chia đất, phấn khởi khai thác trồng lúa, trồng mía và đặc biệt trồng thơm. Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng bào càng ra sức canh tác trên mảnh đất được chia, mía, thơm xanh tốt. Lý Thị Hường dựa vào em rể là tướng ngụy Trần Văn Đôn đầy quyền lực một thời, sai khiến các ngụy quyền quận huyện, lệnh cho các đơn vị quân đội cộng hòa, các đồn bảo an giành lại ruộng đất, buộc nông dân đóng tô, truy nộp hoa lợi những năm về trước. Không tuân theo thì đuổi đi khỏi xứ, bắt tù, có khi bắn bỏ. Nhân dân bị áp bức vô cùng căm phẫn, đấu tranh thì bị đàn áp. Còn đối với cách mạng? Nó không coi ra gì, cộng sản sẽ bị tố, bị diệt hết trong nay mai thôi. Đã nhiều lần, cán bộ địa phương nhân danh cách mạng cảnh cáo nó không được cướp đất, thu tô nhưng nó không đếm xỉa đến.

    Nhưng rồi một hôm... Đồng chí Ngô Văn Hoạch (Sáu Hoạch - Chủ nhiệm Công ty mía đường tỉnh Long An hiện nay) lúc ấy là chiến sĩ của Trung đội vũ trang B15 hoạt động ở Bến Thủ (Bến Lức - Thủ Thừa) kể lại:

    Hôm ấy tiểu đội tôi vừa đi công tác về, trời vừa sáng rõ, chưa kịp ăn, chưa kịp ngủ. Chợt có tin Lý Thị Hường đi canô vô kênh Bo Bo. Lệnh trung đội cho tiểu đội tôi phục kích bắt sống cho được tên địa chủ ngoan cố này ở kênh số 7. Anh Tư Chiểu 1 tiểu đội trưởng chỉ huy. Anh Tư Thân 2- Chính trị viên trung đội ở phía sau đợi. Khi canô tới trận địa, chúng tôi chĩa súng ra bắt ghé vào. Chúng đi cả hai vợ chồng và thủ hạ. Thấy súng nhắm thẳng vào canô, chúng hoảng hốt, tắt máy và ghé vào bờ. Chúng tôi bắt hết dẫn vào lán, canh gác cẩn thận. Tên nào cũng run như cầy sấy, nhất là vợ chồng Lý Thị Hường. Vẻ hách dịch coi trời bằng vung tiêu tán đâu hết.

    Anh Tư Thân nói chuyện với nó. Hỏi gì nó cũng trả lời rất lễ độ, thưa, dạ, rối rít. Nhưng thấy ta có vẻ đàng hoàng, văn minh, chúng nó dần hoàn hồn và bắt đầu phân bua. Lý Thị Hường nói:

    - Tôi khác với Trần Lệ Xuân. Trần Lệ Xuân làm chính trị, tôi không hề dính gì tới chính trị. Tôi chỉ làm kinh tế. Làm kinh tế là để dân có cơm ăn, có áo mặc. Chế độ nào tôi cũng chỉ làm kinh tế thôi. Chế độ nào cũng cần...

    Nó nói hăng say, như một diễn giả, khoa chân múa tay hình như quên mất mình đang bị bắt.

    Thấy gai mắt, tôi đứng bên, chĩa súng vào nó quát to:

    - Chị kia, đừng tưởng ở đây là một hội trường của Ngô Đình Diệm. Chị phải nói một cách lễ độ, nghe không?

    Nó lấm lét, cụt hứng.

    Anh Tư Thân nói thong thả và gằn giọng:

    - Ừ, làm kinh tế! Làm kinh tế của chị đồng nghĩa với cướp ruộng đất của dân, bóc lột bà con nông dân, trốn thuế đối với cách mạng. Chị không làm chính trị! Ừ, gia đình chị chỉ tiếp tay với Ngô Đình Diệm đàn áp, ức hiếp nông dân, chống lại cách mạng thôi. Chị khác Trần Lệ Xuân! Trần Lệ Xuân huênh hoang kiểu con buôn trên chính trường của chế độ, còn chị, chị im lìm xây dựng cơ sở vật chất cho chế độ.

    Thôi, chỉ vì chị cố biện bạch không làm chính trị nên tôi cũng không nói chính trị với chị nữa. Thôi nói kinh tế vậy. Chị phải đóng thuế ngay bây giờ cho cách mạng. Không thì chị không ra khỏi nơi này. Đó là cách mạng khoan hồng rồi. Nội cái tội cướp ruộng, ức hiếp nông dân cũng xử treo cổ chị rồi. Nhưng tha tội chết cho chị để chị cải hối. Từ nay về sau không được lấy đất, thu tô của nông dân nữa. Nếu không thì chị không bao giờ giữ được cái đầu trên cổ. Cách mạng không nói sai đâu.

    Lý Thị Hường nói không mang theo đủ tiền để đóng thuế.

    Anh Tư Thân bảo chồng nó về lấy tiền đem nộp ngay trong ngày, còn nó ở lại đây đợi. Anh cảnh báo:

    - Nếu như bất cứ đồn bót nào hay, bắn súng vô đây hay kéo tới giải vây, chúng tôi sẽ không đảm bảo mạng sống cho chị quá một phút. Biết chưa?!

    Chúng nó dạ và lập tức về lấy tiền đem đóng đủ. Tôi nhớ hình như nửa triệu bạc. Lúc ấy nửa triệu bạc cũng khá.

    Nộp tiền thuế xong, ta cho chúng về. Và từ đó nông dân vẫn canh tác đất của mình, không nộp tô, tức gì cả. Chúng nó biệt tăm không thấy tên nào léo hánh đến mảnh đất này nữa. Cả lò đường chúng làm lâu nay cũng bỏ luôn. Nông dân giữ được ruộng đất làm ăn và tham gia cách mạng.

    Nhưng ngụy quyền Diệm và chủ Mỹ đã rắp tâm biến miền Nam Việt Nam thành một nước riêng biệt, một thuộc địa kiểu mới thì có từ một thủ đoạn nào. Không thể lừa mị được dân, chúng quyết đạp lên oán thù, bước trên xương máu mà tiến. Cuộc khủng bố phátxít tràn lan nhằm đè bẹp ý chí kháng chiến của dân đến cùng. Nhưng nhân dân ta đã mang dòng máu bất khuất của ông cha từ ngàn xưa, đã đi theo Đảng và được Đảng giáo dục hàng chục năm rồi, có bao giờ chịu để cho thực dân, dầu thực dân Pháp hay Mỹ đô hộ và bọn Việt gian đè đầu cưỡi cổ. Số nào đấu tranh tại chỗ được thì bám trụ lại xóm làng, số nào lộ liễu bị hăm dọa thì tránh né lập những “làng rừng” trong rừng U Minh, những “địa bàn căn cứ phòng ngự” ở Đồng Tháp Mười và tự động lập những đội vũ trang trong các căn cứ cũ của ta ở miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ. Đây là một thời kỳ đen tối, Mỹ - Diệm xua quân đi bắn giết những người tay không. Bọn Việt gian ác ôn mọc lên như nấm. Đầu rơi, máu chảy, trời đất nhuốm màu tang tóc. Nhân dân khắp nơi, cả một số đông cán bộ, đảng viên đòi được diệt trừ bọn gian ác. Lúc này chủ trương của ta vẫn kiên trì đấu tranh chính trị, hòa bình, tránh dùng vũ khí. Nhưng khốn thay tình hình quá bức bách, cây muốn lặng mà gió chẳng chịu dừng. Nhiều nơi đã tự động trừ gian, diệt ác. Không phải chỉ có cán bộ ta tự động diệt ác ôn mà cả nhân dân nữa. Họ vừa tự động làm vừa đề nghị lên trên cho phép, cho chủ trương. Có những ông bà già nói: “Tụi tao đặt vấn đề trừ gian là vì thương cán bộ đảng viên thôi, chớ dân sống hợp pháp có sự gì đâu. Tụi tao nói vậy mà nếu cán bộ không nghe thì cán bộ sẽ bị chết hết thôi, không lẽ trời đất này để cho bọn vô lại làm chủ sao?”...

     Nhiều địa phương míttinh năm, bảy chục người, một vài trăm người, gửi kiến nghị lên cấp trên, lên Hồ Chủ tịch yêu cầu cho trừ gian. Điển hình là cuộc míttinh ở Càng Long thuộc Trà Vinh có tới năm, sáu trăm cán bộ và quần chúng tham gia. Một đồng chí là cán bộ nông hội cũ lên diễn đàn nói: “Trừ gian là cần, không thể có cách nào khác. Không thể dung túng cho bọn ác ôn tự do đi vô hang cùng ngõ hẻm, bắt giết anh em cán bộ dễ dàng. Anh em cán bộ có còn con đường nào trốn tránh nữa đâu? Không lẽ cứ bó tay bó chân cán bộ đảng viên để tụi ác ôn giết hết? Không thể hữu khuynh dữ như vậy được”. Quần chúng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt biểu lộ đồng tình triệt để. Nhiều người nói tại sao trên không báo cáo rõ tình hình này về Trung ương? Chắc Hồ Chủ tịch không hay biết việc này. Phải kiến nghị làm sao cho tới tai Hồ Chủ tịch, nếu không thì đảng viên chết hết, cách mạng không còn. Nhân dân xã Hòa Hội thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã cùng nhau ký vào một bức thư dài gửi lên Hồ Chủ tịch, báo cáo tình hình nhân dân bị khủng bố, cán bộ bị giết chóc và cuối cùng đề nghị cho bộ đội miền Nam tập kết trở về bảo vệ đồng bào, xóm làng.

     Đồng chí Mười Thơ kể: Ở Trà Vinh lúc ấy đồng chí Sáu Đại là Bí thư cũng chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị không cho trừ gian diệt tề. Nhưng sau anh em khóc quá, dân chúng gây áp lực mạnh quá, anh buộc phải cho, nhưng dặn đừng dùng súng, chỉ được dùng dao phay, mã tấu, cùng lắm thì thả rắn hổ cắn...”. Anh Mười Thơ cho hay tiếp: “Đến năm 1958 anh Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), lúc ấy là Bí thư Xứ ủy đồng ý cho trừ gian một cách có chọn lọc. Đó là sau khi chúng tôi cả các tỉnh, các khu đều báo cáo rõ tình hình hoành hành của địch và sự than phiền và kiến nghị của cán bộ, nhân dân, báo cáo rõ nguy cơ đe dọa Đảng ta, đe dọa cách mạng. Tuy vậy Xứ ủy cũng chỉ thị không được làm tràn lan, chỉ diệt những tên thật gian ác để cảnh báo bọn khác...”. Anh kể tiếp về chuyện Lâm Quang Phòng - một tên ác ôn ngoại hạng, bàn tay nó đẫm máu không biết bao nhiêu anh em ta, không biết bao nhiêu dân vô tội. Hồi đó, Mỹ - Diệm thành lập ra khu An Phước (tức gồm cả An Biên và Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá vùng căn cứ của ta). Chúng lập nên khu đặc biệt này để diệt cộng triệt để ở đây, phá tan khu căn cứ cách mạng cũ của ta. Lâm Quang Phòng đã tỏ ra vô cùng đắc lực cho Mỹ - Diệm trong việc tàn sát không gớm tay, chất chứa oán thù đầy dải đất này. Nó là con địa chủ, sinh ra ở An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá. Năm 1945 trước phong trào cách mạng rầm rộ nó cũng đi theo kháng chiến. Tới năm 1947, lúc cha nó làm quận trưởng An Biên của Pháp, nó chạy về thành đầu thú. Nhưng sau đó một thời gian nó trở ra kháng chiến, phải chăng giặc Pháp và cha nó đã cài làm gián điệp? Khi quân đội ta tập kết ra Bắc thì Lâm Quang Phòng về đầu Diệm và được phong hàm thiếu tá. Phòng đã ở vùng kháng chiến lâu năm, biết nhiều vùng ở miền Tây, biết mặt nhiều cán bộ ta và những người kháng chiến cũ, biết những gia đình nông dân tham gia ủng hộ cách mạng. Nó rõ ràng vừa là một tên Việt gian phản quốc, vừa là một tên địa chủ phục thù, không từ một thủ đoạn man rợ nào và giết người hàng loạt một lúc. Các đơn vị vũ trang của Diệm hồi ấy xây dựng vội vã ở miền Tây bằng cách lùa thanh niên vào, trong đó không ít người đã từng tham gia kháng chiến. Biết như vậy, nó đưa các đơn vị này đi hành quân liên miên, buộc phải bắn giết bừa bãi để chính bản thân những người này tự gây thù hận với dân. Mỗi lần hành quân về, nó cho tập hợp đơn vị lại, bắt hô đả đảo Bác Hồ. Ai hô đả đảo đứng qua một bên, ai không hô đứng qua bên khác rồi cho bắn chết ngay tại chỗ. Có lần nguyên một đơn vị không một người nào chịu hô đả đảo, nó cho dùng liên thanh bắn chết cả. Với tội ác tày trời như vậy, Mỹ - Diệm tin cậy cho làm quận trưởng rồi tỉnh trưởng, nắm quyền sinh sát cả một vùng.

    Không thể để một con rắn độc như vậy tha hồ làm mưa làm gió. Phải cứu lấy sinh mệnh hàng vạn nhân dân trong vùng. Các đồng chí ta chủ trương phải trị tội tên Phòng. Nhưng làm sao đối với một tên có chức quyền cao của Diệm, lại có trong tay lực lượng vũ trang và cả bầy chó săn mật vụ đông đảo. Một nữ đồng chí ta tên là Trần Quang Mẫn, thường gọi là chị Mười Mẫn, tình nguyện lãnh nhiệm vụ của Đảng giao đi giết con rắn độc. Nhưng giết bằng cách nào? Các đồng chí nghi ngờ khả năng của chị. Chị đã trình bày kế hoạch của chị, chị sẽ tạo điều kiện đến gần nó và sẽ chém đầu nó bằng dao phay như chém một con chó ghẻ. Chị cam đoan thành công và hứa quyết tâm sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn. Rốt cuộc các đồng chí tin chị, đồng ý với chị và tạo điều kiện cho chị tiến hành công tác. Chị ra công tập luyện lại các môn võ mà chị đã biết, rèn luyện cho thành thục. Rồi điều kiện đã xuất hiện: Nhờ nhân dân, trong đó có bà con của tên Phòng giúp đỡ, chị đã hạ sát đối tượng trong một đám giỗ ở nhà người cô ruột tên Phòng. Chị đã dùng dao phay, bằng một động tác điêu luyện, chém đầu tên Phòng y như kế hoạch đã định. Dao chưa thật bén, chưa đủ sức nặng, cổ tên “chó ghẻ” chưa đứt lìa, nó chưa chết hẳn. Mỹ đem nó về Mỹ chữa chạy nhưng tên Phòng đã trở thành một kẻ dật dờ, tàn phế, vô dụng sống dở chết dở. Còn chị bị bắt, bị tra tấn, bị chúng kết án 7 năm tù với lời khai trước sau như một: “Vì nó giết chồng, phải trả thù cho chồng”. Báo chí đã rộ lên một thời, bọn cai ngục khắp nơi chị đến lấm lét nhìn vị “nữ thần”, chúng nó đã gọi chị như vậy 3.





------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Văn Chiểu nay là Bí thư Tỉnh ủy Long An.

2. Nguyễn Văn Mến (Tư Thân) - Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

3. Chị Mười Mẫn sau khi mãn hạn tù từ chính quyền Mỹ - Diệm về tiếp tục công tác. Hiện nay chị nghỉ hưu tại tỉnh Kiên Giang.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:29:45 pm
    Tuy việc trừ gian diệt ác của ta ngày một có kết quả, nhưng Mỹ - Diệm cũng ngày càng khủng bố phátxít. Ở một vài nơi thanh niên kháng chiến cũ tự động lập đội vũ trang, dựa vào những nơi có địa hình tốt huấn luyện và chiến đấu. Họ xin lương thực của dân, họ đánh lấy của địch hay làm rẫy trong rừng để sinh sống. Họ đánh trả lại bọn địch đi càn quét, họ treo cổ bọn điệp viên, bọn cảnh sát ác ôn, họ cảnh cáo bọn ngụy quyền hà hiếp quần chúng, tình trạng gần giống những “yên hùng” cát cứ từng nơi, quân của Diệm không dám héo lánh tới những vùng cát cứ ấy. Đơn vị do Hùng chỉ huy, đóng ở U Minh Thượng có đến 200 người, trang bị súng đầy đủ, được dân chúng trong vùng ủng hộ. Ở rừng miền Đông có đơn vị của Phán ở Long Nguyên (Bến Cát), đơn vị của Liễu và Sênh ở Vĩnh Tân, Bình Chánh (Thủ Dầu Một)... Mỗi đơn vị có cả đại đội vũ trang. Đặc biệt Chiến khu Đ cũ có đơn vị anh Chín Quỳ. Nhân dân thường gọi là Chín Già, một nông dân chống Pháp, bất hợp tác với chính quyền thực dân từ thời Cách mạng Tháng Tám. Thời ấy anh tập hợp được chục người, tự vũ trang lưu động khắp rừng bắc tỉnh Biên Hòa cũ, dọc ngang một dãy biên thùy, sống hiên ngang ngoài vòng pháp luật, Pháp đành phải chịu. Thỉnh thoảng anh kéo đơn vị ra khỏi rừng hỏi tội một tên địa chủ quan lại giàu có, lấy của cải chúng đã bóc lột tích lũy đem chia cho dân nghèo, cứu trợ những người đói. Khi cách mạng thành công, anh đem hết đơn vị ra mệnh danh là “Đoàn lục lâm quân” tình nguyện đặt mình dưới sự chỉ huy của anh Huỳnh Văn Nghệ - Chi đội trưởng Chi đội 10 lúc ấy, đã tham gia chiến đấu đắc lực và xây dựng vùng căn cứ Chiến khu Đ. Năm 1954 tất cả bộ đội tập kết ra miền Bắc, anh xin ở lại, trở về làm người nông dân cày ruộng, sinh sống vùng Lạc An, Đất Cuốc (thuộc Chiến khu Đ - Tân Uyên). Rồi Mỹ - Diệm lại tiếp tục chiến tranh một phía, bắn giết những người cách mạng, những người dân vô tội. Biết Đảng dạy hãy kiên trì đấu tranh chính trị hòa bình, anh cố ép mình chịu đựng một thời gian. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua mà kẻ địch vẫn phản lại Hiệp định đã ký, gây bao tang tóc cho đồng bào. Không thể sống yên trong lúc quanh mình toàn chết chóc, bất công, anh nghĩ “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” rồi đi tập hợp thanh niên, kiếm vũ khí tự vũ trang, huấn luyện và chiến đấu, làm việc nghĩa bảo vệ nhân dân trong vùng. Tất cả các đơn vị vũ trang tự lập này về sau theo lời kêu gọi của cán bộ đều theo về với cách mạng, chịu sự chỉ huy của các cán bộ cách mạng và lập được công trạng. Cũng có một vài người “cứng đầu” nhưng rốt cuộc chính nghĩa khi nào cũng thắng, đã thu phục được họ.

    Cuộc khủng bố của Mỹ - Diệm đã lan tràn khắp nông thôn. Không một ngày nào, không một ấp nào không có người bị bắt, bị giết. Chưa được phép dùng bạo lực vũ trang chống lại thì chỉ có một cách chạy dồn cụm lại từng nơi có điều kiện để tự bảo tồn. Ở miền Trung Nam Bộ từ những năm 1956-1957 những cán bộ bất hợp pháp, những người kháng chiến cũ và các gia đình những người đi tập kết đã lánh vào Đồng Tháp Mười và tự tổ chức phòng ngự. Họ lập nhiều khu vực gọi là “địa bàn căn cứ phòng ngự” gồm có vòng ngoài là hệ thống báo động bằng dây đăng, gài lon và kíp nổ, vòng trong là hầm hố chông rồi lựu đạn gài. Nhờ đó mà bảo vệ được nhiều cán bộ và nhân dân, địch không dám vào. Đây cũng là căn cứ làm việc của Khu ủy Khu 8, có lúc gọi là Khu 2 (miền Trung Nam Bộ). Những khu phòng ngự này thực sự là tiền thân của xã, ấp chiến đấu về sau, khi được phép chiến đấu vũ trang. Ở sâu trong rừng U Minh Hạ, miền Tây Nam Bộ thì dồn lại nhiều “túi bất hợp pháp” gọi là “làng rừng”. Có làng lên tới vài trăm người. Trong làng có đội vũ trang có súng, nhưng phần lớn là mã tấu được trang bị rộng rãi cho thanh niên và được tập luyện sử dụng thành thạo. Nhân dân phá rừng làm rẫy đùm bọc nhau mà sống nhưng cũng phải nhờ bà con bên ngoài tiếp tế, nhất là tiếp tế cho các đội vũ trang. Tất cả dân trong làng được tổ chức lao động chung, đói no cùng hưởng, đau ốm, chết chóc có nhau. Trong hoàn cảnh như vậy, hầu hết không có gì là riêng tư, cả ngàn người như một, một tâm tư, một tình cảm: Làm thế nào để sống và chống địch? Bao giờ thì kẻ ác đền tội, cách mạng thành công? Cán bộ và đội vũ trang trong các làng thường được nhân dân vùng quanh rừng đem gạo, muối, thuốc men... vào nuôi. Việc tiếp tế này không phải dễ dàng. Địch phong tỏa gắt gao nên thường phải đi vào ban đêm và hết sức bí mật. Nhiều người đã bị bắt và chém đầu, đập đầu bằng gậy và chết ngay ở bìa rừng. Mặc, không ai sợ, người này chết người khác thay. Cái gì đã tạo nên khí phách anh hùng, lòng dũng cảm vô song không một tính toán riêng tư như vậy? Đó là lòng dân đối với cán bộ cách mạng, đối với Đảng tin yêu. Đồng chí Tám Bành (đã nói ở đoạn trên) cho biết chỉ riêng xã Vĩnh Viễn ở Cà Mau (sau này được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân), trong bảy tháng liền đã góp 900 thùng gạo (mỗi thùng 20 lít) để đem vào rừng nuôi một trung đội vũ trang. Nhân dân mong được vũ trang chống địch và vì vậy rất quý từng chiến sĩ, từng cây súng, rất xót khi thấy kẻ địch hoành hành quá quắt, xem mạng người như cỏ rác trong lúc cán bộ ta nhiều lúc vác súng chạy khi bị đuổi, chạy không kịp thì bị bắt sống, trong tay còn cầm súng. Những người lớn tuổi ngày nay được sống qua thời kỳ đấu tranh oanh liệt gian khổ mà kỷ luật nghiêm minh ấy, không bao giờ có thể quên, và thanh thiếu niên ngày nay, sống trong khi cách mạng đã thành công, không thể nào tưởng tượng nổi, sự thật - thường phong phú và phức tạp hơn trí tưởng tượng của con người nhiều - cảnh bọn ác ôn giết cha không cho con khóc, giết chồng cấm vợ chôn, cảnh địch khống chế nhân dân đến nỗi con trốn tránh đói khát vào nhà lấy gạo, cha mẹ phải đánh mõ báo cho ngụy quân biết, cảnh bọn địch lùa dân đi lùng đuổi Việt cộng thì cả làng này đến làng khác đi theo hết, trừ người bệnh nặng hay quá già đi không nổi. Ai không tuân theo bị bắn chết ngay tại chỗ. Đồng chí Mười Thơ, một thời gian dài làm Bí thư Khu ủy miền Tây, đã kể lại cuộc càn rừng của “Thanh niên Cộng hòa” của Diệm ở Đầm Dơi thuộc Cà Mau, vào năm 1958, nghe thật lạ lùng không khác gì nghe kể truyện Tàu. Thời ấy Diệm bắt tất cả thanh niên nam nữ đều phải vào tổ chức “Thanh niên Cộng hòa” (thời ấy đã giải tán và không tổ chức các đoàn thể quần chúng, mãi cho đến phong trào “Đồng khởi”). Nó tổ chức vào không kể xấu tốt, cả con cái cán bộ ta, con cái anh em đi tập kết. Rồi nó cho học tố cộng. Nó tổ chức cho vui chơi thả giàn, đi đâu thì rần rần bằng ghe máy. Nó biến tất cả thành một bầy cừu, bảo gì làm nấy, nhưng không phải cừu mà phải là chó sói, sẵn sàng ăn thịt cả người thân trong gia đình, giết người không gớm tay. Điển hình là thằng Tiếu và con Tuyết, hai đứa chỉ huy cuộc càn ở Đầm Dơi. Cả hai đều là con các đồng chí của ta đã đi tập kết ra miền Bắc, thế mà là ác ôn nhất bọn, nổi tiếng cả miền Tây, ngụy bắt Tiếu mở ngay một “chiến dịch” càn, ráp để diệt cộng, thực hiện “khu an ninh” toàn Đầm Dơi. Tất cả thanh niên cộng hòa trong khu vực, trai, gái, dàn từng hàng ngang, sát nhau, càn hết khu vực này đến khu vực khác. Chúng bắt những người đàn bà lớn tuổi đi nấu cơm cho chúng ăn, ông già thì đẩy thuyền tiếp tế theo sau. Nó di chuyển, càn từng khu vực, vũ trang toàn bằng gậy gộc, không cần súng, giết người bằng đập đầu đến chết. Con Tuyết, khi bắt được đàn ông, không cần cả gậy, không đập đầu mà dùng chân đá vào bộ hạ cho chết đi sống lại, kỳ đến chết hẳn.

    Nó càn như vậy đến bảy ngày. Ngày thứ bảy chúng càn đến rừng Chim Đẻ. Rừng này trước đây chim về ở và làm tổ nhiều nên gọi là “rừng chim đẻ”. Nhân dân và cán bộ ta sống bất hợp pháp ở đây khá đông. Không còn cách nào rút đi đâu nữa, anh em cho người xuất hiện bảo cho chúng biết là trong rừng này có lực lượng vũ trang cách mạng đóng, không được vô. Tiếu hô to: “nó nói láo không có súng đâu, tràn vô!”. Anh em ta liền giơ cao súng lên cho nó thấy. Tiếu lại hô: “Nó có súng chứ không có đạn đâu”. Anh em ta liền nạp đạn và bắn lên ngọn tràm, một cành tràm rớt xuống. Tiếu nói to: “Nó có đạn chứ không dám bắn vào ta đâu. Đảng chúng nó cấm bắn mà”. Rồi Tiếu xông lên đầu đi tới và hô: “Hãy tràn vô!”. Một rừng gậy tua tủa giơ lên, một rừng người xông tới, đi đầu là Tiếu và Tuyết. Đồng chí chỉ huy ra lệnh: “Chém!”. Anh em ta đã dàn hàng ngang nằm úp sẵn từ trước, liền đứng dậy đồng loạt, mã tấu vung lên loang loáng. Nhát mã tấu đầu tiên mà cũng là nhát độc nhất thực hiện, đầu tên Tiếu lìa cổ lăn long lóc, máu vọt lên cao, rồi cả thân hình nó ngã quỵ xuống vũng bùn bên cạnh. Tức thì cả lũ “Thanh niên Cộng hòa” sững lại. Nhiều tiếng la thất thanh: “Chết! Chết! Chết!”. Tất cả nhào trở lại, đạp lên nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Rất nhiều tên nhất là nữ “Thanh niên Cộng hòa” run lẩy bẩy không đứng được mà chạy lớp bò, lớp trườn loạn xạ. Nhưng nào có ai đuổi đâu. Có lẽ trước mắt chúng luôn hiện ra hình ảnh mã tấu loáng lên, đầu tên chỉ huy ác ôn văng ra, máu phụt lên cao và các tiếng la thất thanh “Chết! Chết! Chết!” không dứt bên tai làm cho cả đội hình tan nát, hỗn loạn, hồn vía lên mây. Sau trận này, cái tổ chức “Thanh niên Cộng hòa” của Diệm dần dần bị tàn lụi.

    Không tự nguyện để cho địch bắt, giết, cán bộ, nhân dân đã tự động lẻ tẻ diệt ác ôn cho đến khi được phép và khi được phép thì việc trị bọn gian càng mở rộng và thường xuyên. Ta thử xem Mỹ nói về việc này như thế nào:

    Tài liệu của Lầu Năm Góc nói: Tuy có một số vụ giết người hoặc bắt cóc ở vùng nông thôn miền Nam từ năm 1954 đến năm 1956, những vụ này không thể trực tiếp gán cho đám cộng sản “nằm vùng”.

    Một tài liệu nhận định của tình báo Mỹ tháng 7/1956 ghi nhận: “Trong năm qua cộng sản ở Việt Nam nói chung vẫn nằm im. Họ đã bỏ qua một số dịp để quấy rối chế độ Diệm...”.

    Các sĩ quan tình báo Mỹ ở Sài Gòn ước lượng có 30 vụ khủng bố vũ trang xảy ra trong quý cuối cùng của năm 1957, trong đó ít nhất 75 nhân viên chính quyền địa phương bị ám sát hoặc bị bắt cóc. Ngày 22/10/1958, có 13 người Mỹ đã bị thương trong vụ đánh bom ở Sài Gòn.
    Trong một bản báo cáo đặc biệt về tình hình an ninh nội bộ ở Việt Nam tháng 01/1960, sứ quán Mỹ ghi nhận rằng trong lúc cả năm 1958 có 193 vụ ám sát thì chỉ riêng trong bốn tháng cuối năm 1959 đã có 119 vụ ám sát.

    Sứ quán Mỹ nói điều đáng lo ngại hơn là lần đầu tiên Việt cộng đã tấn công vào các đơn vị lớn của quân đội Nam Việt Nam. Một trận phục kích của Việt cộng đánh hai đại đội thuộc Sư đoàn 23 của Sài Gòn ngày 26/9/1959, giết 12 lính chính phủ và thu hầu như toàn bộ vũ khí, đã làm sáng tỏ “toàn bộ tính chất nghiêm trọng của tình hình hiện nay”.

    Cuộc nổi loạn tăng lên gây ra những con số thương vong đầu tiên của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ngày 08/7/1959 một vụ nổ bom khủng bố trong khu căn cứ Biên Hòa giết chết hai quân nhân Mỹ.

    Nhưng sứ quán Mỹ đã nhớ lầm hoặc không nắm được tình hình không phải trận đánh ngày 26/9/1959 diệt hai đại đội thuộc Sư đoàn 23 ngụy là trận đánh lớn đầu tiên. Sau khi Diệm cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử toàn quốc, tháng 10/1956 đã xảy ra liền hai trận đánh, một ở Dầu Tiếng thuộc tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Sông Bé) và một ở Bến Củi thuộc tỉnh Tây Ninh. Trong mỗi trận này có đến một đại đội của Diệm bị diệt, quân cách mạng với danh nghĩa lực lượng giáo phái đã bắt được tù binh, thu toàn bộ các vũ khí và các kho lương thực dùng xe chở về căn cứ. Tháng 8/1957 thị trấn Minh Thạnh (Thủ Dầu Một) lại bị đánh chiếm nhiều giờ, quân đội ngụy và cảnh sát ở đây bị diệt toàn bộ, tất cả vũ khí và lương thực quân cách mạng thu được chở đầy trên 10 xe vận tải lớn GMC. Cũng đầu năm 1957 một trận đánh quan trọng nữa vào thị xã Biên Hòa, kết hợp với nổi dậy từ bên trong, phá khám tù giải thoát hàng trăm tù chính trị để bổ sung cho hàng ngũ cán bộ đang rất cần lúc ấy (nhiều người trong số này, về sau là những cán bộ cao cấp của Đảng). Tuy nhiên cũng có một số nhỏ, cửa tù đã mở rộng trong trận phá khám tài tình lại không dám và không chịu ra ngoài hoạt động dễ bị hy sinh, còn ở lại trong tù mất tự do, nhưng bảo tồn được mạng sống. Ý nghĩa cuộc đời, dũng khí con người, khác nhau như trời với bể mà thể hiện ở đây chỉ bằng một khoảng không gian rất bé nhỏ: Ngoài cửa nhà tù và trong cửa nhà tù. Đêm 10/8/1958, chi khu quân sự Trí Tâm và toàn bộ quận lỵ (ở Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một) bị tiêu diệt. Một lực lượng quân cách mạng bao gồm cả lực lượng Bình Xuyên và Cao Đài chống Diệm đánh thẳng vào chi khu bằng ba hướng, trọng điểm là đồn quân cộng hòa (chủ lực của Diệm) ở đó có Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 13 và bộ phận tiền phương của Sư đoàn 3. Các nơi bị tấn công đồng loạt còn gồm cả đoàn bảo an thuộc tỉnh đoàn Bình Dương, trụ sở quận trưởng, trụ sở công an và đồn điền hiến binh... Bị đánh bất ngờ bằng đặc công luồn vào bên trong kết hợp với bộ binh từ ngoài đánh vào, bọn địch bị rối loạn ngay từ đầu, lớp bị diệt, lớp bị bắt sống lớp bỏ chạy tán loạn. Chỉ trong hai tiếng đồng hồ quân cách mạng làm chủ hoàn toàn cả khu vực Dầu Tiếng và Bến Củi bên kia sông Sài Gòn. Nhiều chiến lợi phẩm bao gồm súng đạn, máy thông tin, tiền nong, lương thực... được chở bằng xe vận tải chiếm được về khu căn cứ. Ba ngày liền địch trong khu vực bị tê liệt, bất động. Nhưng ngày 12, tên Đại tá Lê Khương - Tổng Giám đốc bảo an cũng đã sơ bộ gửi được phúc trình lên “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” ở Sài Gòn về trận đánh với những nhận xét: “Với quân số quá đông và hỏa lực dồi dào chúng đã đàn áp tất cả các vị trí của ta... Bảo an đã bị tấn công bằng hỏa lực mạnh nhưng vẫn chiến đấu cho đến khi hết đạn... Quân đội cộng hòa: một phần đông binh sĩ quân địch thiếu kinh nghiệm chiến đấu và kém tinh thần...” và “sở dĩ địch đã thành công vì sau ba ngày liên tiếp, binh sĩ ta nằm ngoài trời lo bố trí cho đồn điền phát lương, vì thế nên thấm mệt” 1 ... Hẳn là “Phủ tổng thống” không báo cáo với “Tòa đại sứ” về tin này. Còn trận đánh ngày 26/9/1959 mà Đại sứ Mỹ nắm được có thể chỉ là trận đánh ở Gò Quản Cung trong Đồng Tháp Mười. Đây là trận do Tiểu đoàn 502 nổi tiếng của tỉnh Kiến Phong đánh tiêu diệt hoàn toàn một tiểu đoàn chủ lực của quân đội Diệm và một đại đội khác tiếp viện sau đó. Tiểu đoàn 502 lúc đó do đồng chí Tám Dần tức Lê Văn Khuyên làm Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Sáu Chung tức Nguyễn Văn Phàn làm Chính trị viên. Đồng chí Út Thu tức Võ Chơn, một đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy trận đánh. Lúc đó là mùa nước nổi, Đồng Tháp Mười mênh mông như một biển nước. Đơn vị của ta điều trú và di chuyển trên thuyền và xuồng ba lá, xuồng cui, mỗi xuồng chỉ được năm sáu người có súng, nhỏ gọn và nhẹ. Quân địch dùng thuyền máy có bố trí liên thanh, trên thuyền lớn có súng cối, lợi dụng nước ngập càn sâu vào Đồng Tháp Mười. Tuy các tỉnh của ta và các khu lúc ấy đều có tổ chức vũ trang vì bắt buộc phải có để tự vệ và bảo tồn lực lượng nhưng chưa có chủ trương chiến đấu quân sự. Vì vậy khi hay tin địch càn vào thì toàn quân vội rút vào sâu, chọn nơi có địa hình kín đáo, cho xuồng núp trong các đám chàng rậm rạp (một loại cây giống như cây mía, mọc hoang rất tốt cho Đồng Tháp Mười, chịu được ngập nước phèn). Thuyền và xuồng chở đơn vị vũ trang của ta được bố trí cẩn thận theo một đội hình phục kích hết sức bí mật. Nếu địch không vào tới thì không nổ súng nhưng nếu địch vào sâu thì thể nào cũng đến đó và tất nhiên sẽ sa vào một thế trận chờ sẵn hoàn toàn bất lợi cho chúng. Địch rất chủ quan, ỷ vào ưu thế thuyền máy và lực lượng đông, hỏa lực mạnh, cứ tiến vào và đã lọt cả đội hình vào trận địa bố trí sẵn của ta. Để chắc ăn, anh em ta chờ cho thuyền của địch chỉ còn cách mình vài thước mới nổ súng đồng loạt. Toàn bộ quân địch bị tê liệt, số chết, số chìm, không kịp nổ một phát súng nào vì hoàn toàn bị bất ngờ, bị tấn công hết sức đột ngột và quá gần. Không đầy 10 phút, trận đánh đã kết thúc, ta thu toàn bộ chiến lợi phẩm. Một đại đội địch vào tiếp viện cũng bị diệt gọn. Cũng vào năm 1959 này, vào tháng 5, ở miền Tây Nam Bộ, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở của ta đã phục kích đánh chìm tàu địch ở Ba Sao, Bến Dưa (sông Cả Ngay) Cà Mau, diệt gọn một đại đội địch, ta thu hàng trăm súng trong đó có đến 12 trung liên...



-----------------------------------------------------------------
1. Tài liệu thu được của địch, lưu trữ ở Phòng Lịch sử quân sự Quân khu 7.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2023, 04:31:36 pm
    Trên đây chỉ lược kể một số trận đánh của lực lượng vũ trang, những trận đánh tương đối lớn có tiếng vang đối với địch và ảnh hưởng nhiều trong nhân dân ta. Những trận đánh này, bức bách phải đánh trong thời kỳ nhất định, trong từng vùng nhất định, nhằm bảo vệ lực lượng, bảo vệ cơ sở, giữ vững ảnh hưởng của cách mạng, gây lòng phấn khởi tin tưởng trong nhân dân và làm nhụt bớt tính hung hăng dã thú của bọn ác ôn nhất. Tuy Đảng ta cho tới đầu năm 1959 vẫn kiên trì chủ trương không dùng đấu tranh vũ trang, giữ vững hòa bình, kiên trì đấu tranh chính trị, đòi tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình, nhưng đứng trước tình thế Mỹ - Diệm vẫn lao vào chém giết một cách điên cuồng để đạt được mục đích “tiêu diệt cộng sản đến tận gốc”, “hốt hết dân vào các khu dinh điền, khu trù mật, cướp lại ruộng đất của dân cày”, kiểm tra từng người dân chặt chẽ trong “ngũ gia liên bảo”... cán bộ và nhân dân miền Nam buộc phải tự vệ bằng diệt ác ôn, tự động vũ trang và đánh địch khi quá cần thiết. Từ sau tháng 7/1956, khi Mỹ - Diệm đã thực tế xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ như mảnh giấy lộn vào sọt rác, nhiều trận đánh lẻ tẻ, đánh nhỏ xảy ra liên tục khắp các tỉnh, các vùng ở cả nông thôn cũng như ở đô thị. Không một nhận định khách quan nào lại không thấy rằng những hoạt động tự động diệt ác ôn và đánh trả vũ trang như vậy là chính đáng, chỉ có tính chất tự vệ trước một chế độ phátxít đến cao độ. Nhất là sau vụ Phú Lợi, vụ đầu độc 6.000 đồng bào trong trại tập trung này giết chết một lúc hơn 1.000 người mà Mỹ - Diệm đã bắt nhốt trong trại tù của chúng, nghĩa là những người không còn cách nào chống lại chúng nữa. Giết người ở các làng xã, Mỹ - Diệm còn bịa đủ trăm thứ tội gán cho họ, còn giết trong trại giam của chúng, khi chúng đã tước mọi thứ tự do tối thiểu rồi và lại giết một lúc hàng loạt thì rõ ràng đó là hành động của lũ mặt người dạ thú. Trong trại giam đông đảo này bao gồm đủ các thành phần xã hội, đủ các lứa tuổi từ người già đến em nhỏ, có cả đàn ông, đàn bà bị bắt từ khắp các tỉnh thành miền Nam, không có bằng cớ phạm pháp nào, về giam lưu niên với một chế độ nhà tù vô nhân đạo. Ngày 01/12/1958 tay chân Mỹ - Diệm đã bỏ thuốc độc vào thức ăn khiến toàn bộ 6.000 chính trị phạm trong trại bị nhiễm độc, trên 1.000 người chết ngay. Thế là bọn cai ngục và lính của Diệm phong tỏa không cho đưa đi cứu chữa. Những người bị nhiễm độc kêu thét dữ dội, đòi được chữa chạy. Những thanh niên bị độc nhẹ còn sức, phải leo lên mái nhà kêu cứu với đồng bào xung quanh, khiến cho vụ đầu độc lộ ra nhân dân và truyền đi khắp cả vùng. Không phải chỉ đồng bào ta ở miền Nam, miền Bắc đều căm phẫn tột độ mà thế giới cũng bàng hoàng vì tội ác man rợ này.

    Chưa hết, tháng 5/1959, Diệm lại cho ban hành Luật 10/59, lập tòa án quân sự đặc biệt và đem máy chém lưu động các tỉnh. Căn cứ vào luật này tòa án quân sự đặc biệt sẽ xử hình hay khổ sai chung thân (chỉ có hai mức) những người can vào tội “phá rối trị an” mặc dù đã thành tựu hay tương hành vi toại nghĩa là không cần thiết phải là “đã làm” cái tội ấy, mà chỉ cần “có ý nghĩ” đến việc làm tội ấy. Thật là một sự việc có một không hai trong thời đại này. Gọi là luật là tòa án, thực sự chỉ có máy chém làm việc lê đi khắp nơi chém đầu ai có ý nghĩ chống lại Mỹ - Diệm. Ngày 14/5/1959, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi một điện phản đối Luật 10/59 cho Ủy ban quốc tế, có đoạn:

    “Luật 10/59 vi phạm một nguyên tắc pháp lý thông thường của các nước văn minh. Các nước văn minh đều không công nhận một chế độ pháp lý lấy “động cơ pháp luật” làm “yếu tố phạm pháp” để trừng trị. Luật 10/59 biểu hiện một chế độ hình phạt còn tàn bạo hơn chế độ Hítle, tước bỏ bất kỳ một bảo đảm tối thiểu nào cho người bị đem ra xử, nó giày xéo một cách trắng trợn lên những nguyên tắc tố tụng sơ đẳng nhất, nó xâm phạm đến quyền tự do căn bản của con người”.

    Mặc sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân ta, mặc sự lên án luật phátxít ấy của cả thế giới tiến bộ, Mỹ - Diệm vẫn lao vào cơn say máu khủng khiếp. Chúng tưởng, với cái luật của kẻ cường bạo vô đạo lý, với cái máy chém nghênh ngáo khắp nơi, chúng uy hiếp được mọi người, làm cho nhân dân kinh sợ và phục tùng. Ngược lại, lòng căm phẫn của nhân dân càng lên cao, làn sóng đấu tranh còn dâng trào quyết liệt. Không phải chỉ có ở nông thôn mà cả ở đô thị các tầng lớp đều chống Diệm, đòi quyền sống và tự do dân chủ. Rộng rãi nhất là phong trào công nhân. Nếu mỗi năm Mỹ - Diệm cai trị càng khắc nghiệt, phátxít thì công nhân càng đấu tranh mạnh mẽ và lôi cuốn các tầng lớp xã hội tham gia. Lấy tiêu biểu là những cuộc kỷ niệm ngày 01/5 với những khẩu hiệu đòi các quyền dân sinh dân chủ, với ý thức chính trị rõ ràng. Ngày 01/5/1957 ở Sài Gòn có 200.000 người biểu tình và ở các tỉnh có 280.000, ngày 01/5/1958 có 500.000 người và trong lời hiệu triệu của Tổng Liên đoàn Lao động có nêu:

    “Tiếp tục truyền thống đấu tranh của các bậc tiền bối, với ý chí và hành động thống nhất, chúng ta tự tin ở sức mạnh đoàn kết, với kinh nghiệm bản thân, anh chị em phải kiên quyết phấn đấu vượt muôn ngàn trở lực”.

    “Chúng ta sẽ tiếp tục đòi hỏi làm thế nào cho có công ăn việc làm, lương đủ sống, ở được yên, có quyền tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp, đình chỉ nạn bắt bớ trái phép, bớt thuế, giảm phạt, tổ chức cứu trợ thất nghiệp, nâng đỡ và mở mang công thương nước nhà để công nhân có việc làm...”.

    Ngoài ra còn có hàng loạt các yêu sách do các đại hội đại biểu quyết nghị. Yêu sách chung của Tổng Liên đoàn đòi quyền lợi kinh tế, tự do dân chủ, còn có điều khoản đòi “thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình”. Yêu sách riêng của từng loại công nhân như của ngành dệt, ngành mộc, của công nhân đồn điền cao su, hỏa xa, công nhân xích lô, nghiệp đoàn giáo dục tư thục, liên đoàn văn nghệ... Yêu sách của giới văn nghệ năm 1958 và 1959 đòi:

    - Ban hành một quy chế cán bộ bảo đảm đời sống cho giới nghệ sĩ và công nhân sân khấu.
    - Bảo vệ quyền tác giả.
    - Yêu cầu kiểm duyệt nhanh chóng các vở hát, các bản nhạc.
    - Dành quyền ưu tiên xuất bản báo chí cho giới ký giả và văn học...

    Sinh viên đấu tranh đòi dùng tiếng Việt làm chuyên ngữ ở cấp đại học. Học sinh đòi tăng ngân sách giáo dục, giảm học phí, đòi cấp học bổng, đừng vu khống giáo sư và học sinh là thân cộng sản...

    Rõ ràng một chế độ chỉ dựa vào đàn áp khủng bố, chuyên dùng những thủ đoạn dã man nhất như dùng thuốc độc giết tù chính trị trong trại giam, chém đầu ai dám có ý nghĩ chống đối lại để cai trị, để mà tồn tại thì chế độ đó hoàn toàn thất nhân tâm và không còn cai trị được ai cả, và dĩ nhiên là không thể tồn tại.

    Ngay chính người dân Mỹ cũng đã thừa nhận sự thực, chống lại với “quan điểm chính thức của Chính phủ Mỹ là cuộc chiến tranh xẩy ra đối với Nam Việt Nam là do hành động xâm lược của Hà Nội”.

    Tập tài liệu của Lầu Năm Góc nói về những năm từ năm 1956 đến 1959 lúc cuộc nổi loạn bắt đầu là “hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí đều là người Nam Việt Nam và những lý do khiến họ chiến đấu không hề được xếp đặt ở Bắc Việt Nam”.

    “... Các nhận định của tình báo Mỹ trong những năm năm mươi đã chỉ rõ chiến tranh nói chung bắt đầu như là một cuộc nổi loạn ở miền Nam chống lại chế độ thối nát và ngày càng có tính đàn áp của Ngô Đình Diệm”.

    Từ năm 1945 đến năm 1959, tình hình miền Nam Việt Nam dưới chế độ cai trị phátxít của Mỹ - Diệm là như vậy đó. Chưa lúc nào im tiếng súng, chưa lúc nào có hòa bình cho nhân dân mà vẫn là trạng thái chiến tranh tiếp diễn nhưng đây là “chiến tranh một phía”. Chính Diệm đã tuyên bố với phóng viên báo Le Figaro của Pháp vào tháng 3/1959 rằng “miền Nam Việt Nam đang ở trong tình trạng chiến tranh”.

   Mỹ - Diệm làm chiến tranh chống lại nhân dân ta đấu tranh thực hiện hòa bình và dân chủ. Mỹ - Diệm phá bỏ Hiệp định Giơnevơ trong lúc nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên trì thi hành và đòi thi hành đúng đắn Hiệp định, Mỹ -Diệm ra sức đàn áp khủng bố, ngày một tàn bạo, ngột ngạt cho đến cao độ vào năm 1959 mà nhân dân ta không thể nào sống nổi nữa, buộc phải tự vệ chống lại, sức chịu đựng đã tột cùng rồi. Muốn sống phải đấu tranh bằng bất cứ biện pháp nào, không có cách nào khác. Nước đã dâng cao đầy ắp bến bờ, “tức nước phải vỡ bờ” thôi. Đó là lôgic của sự việc. Đó là chân lý của cuộc sống. Đế quốc và tay sai thường có thói quen ngấm sâu vào xương tủy - là bĩu môi coi thường sức mạnh của nhân dân. Nhưng khi nhân dân đã hiểu, đã đoàn kết và được lãnh đạo đúng thì nhân dân có sức mạnh vô biên sẽ quật cho chúng những đòn chí tử. Thường chúng không nhớ lâu những đòn đau ấy. Chúng hay quên vì tham vọng của chúng quá lớn.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 09:24:16 am
CHƯƠNG IV
Máu chảy ruột mềm


    Trong lúc cả miền Nam Việt Nam ngập chìm trong đau thương, chết chóc dưới sự cai trị tàn bạo phátxít của một chế độ chỉ biết vì quyền lợi của gia đình riêng và tệ hại hơn nữa của thực dân cướp nước, trong lúc cả xã hội miền Nam bị hỗn loạn, xáo canh xáo cư, tiếng súng chưa bao giờ chấm dứt mà ngày càng mãnh liệt trong không khí thực sự của chiến tranh, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam sống trong hòa bình ra sức xây dựng một xã hội tiến bộ và công bằng. Mặc dù cuộc cách mạng ở miền Bắc tiến triển có lúc quyết liệt và không tránh khỏi một số sai lầm đáng tiếc như sai lầm trong cải cách ruộng đất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn và dũng cảm tự phê bình trước quốc dân và kiên quyết sửa chữa - Nhân dân miền Bắc cùng với Nhà nước dân chủ của mình luôn hòa hợp làm một trong không khí hòa bình xây dựng, thông cảm sâu sắc của tình ruột thịt đồng bào, đồng chí. Nhưng không thể nào miền Bắc điềm nhiên tọa thị trong lúc miền Nam nước sôi lửa bỏng. Bắc, Nam tuy đôi miền cách trở nhưng vẫn là một nước có hàng ngàn năm cùng chung văn hiến. Nhân dân hai miền tuy đã chia ra trăm họ nhưng vẫn là con Hồng cháu Lạc cùng chung bọc trứng mà ra, như truyền thuyết xa xưa. Chính vì thế mà mỗi sự kiện của tình hình miền Nam đều vang dội khắp miền Bắc và mỗi hành động của nhân dân miền Bắc đều có tác động đến nhân dân miền Nam.

    Suốt hai năm 1954-1956, thời quy định của Hiệp định Giơnevơ phải tiến hành tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, nhân dân cả nước cùng sôi sục đấu tranh thực hiện Hiệp định, tuy mỗi hoàn cảnh có khác nhau cả đôi miền. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt và liên tục này, bằng đủ mọi hình thức kiến nghị, míttinh, biểu tình, đình công bãi thị, báo chí, truyền đơn, công hàm... rõ ràng trên đất nước Việt Nam đã phân chia rạch ròi thành giới tuyến. Đây không phải là giới tuyến quân sự tạm thời giả tạo trên sông Bến Hải mà là giới tuyến của lòng người, bên chính, bên tà, bên người ngay đấu tranh vì độc lập tự do, thống nhất giang sơn Tổ quốc chống bên kẻ gian muốn phân chia vĩnh viễn đôi miền đất nước và dâng đất cho Hoa Kỳ đến tận vĩ tuyến 17. Rồi những năm 1957-1959, trong khói lửa của khủng bố và chiến tranh, nhân dân Việt Nam kiên cường bất khuất, mặc bom đạn và máy chém, vùng lên đấu tranh bằng mọi hình thức vì phẩm giá và quyền sống của mỗi con người, vì tồn vong của nhà, của nước. Đấu tranh chính trị hợp pháp đôi khi kết quả bị hạn chế trước sự khủng bố hung tàn của phátxít thì đồng bào không ngần ngại hỗ trợ bằng vũ trang có mức độ, bằng bất hợp pháp. Trong lúc đó nhân dân miền Bắc sôi sục căm thù Mỹ - Diệm, đau lòng xót dạ trước cảnh đồng bào ruột thịt miền Nam bị khủng bố tàn sát, cũng dấy lên những phong trào đấu tranh không mệt mỏi. Suốt mấy năm liền, bao nhiêu cuộc míttinh, biểu tình đòi tuyển cử, thống nhất, đòi thi hành Hiệp định, hòa bình dân chủ, đời sống cho đồng bào miền Nam. Từ Hà Nội, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liên tiếp từng năm, từ năm 1955, đều có công hàm cho chính quyền miền Nam đòi hiệp thương thi hành Hiệp định. Kiên trì với chủ trương hòa bình thống nhất Tổ quốc, mặc dù Mỹ - Diệm điên cuồng chống cộng, chống nhân dân, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, cuối năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn gửi một công hàm cho chính quyền miền Nam, đề nghị đại biểu hai miền gặp nhau để thảo luận việc giảm quân số và giảm ngân sách quốc phòng, hai bên không tham gia khối liên minh quân sự nào và không dùng nhân viên quân sự nước ngoài trong quân đội mình, không làm thêm và không mở rộng căn cứ quân sự. Công hàm còn đề nghị hai bên thỏa thuận trao đổi hàng hóa, đình chỉ tuyên truyền chiến tranh, chia rẽ Nam - Bắc, trái lại tuyên truyền đoàn kết dân tộc, thống nhất Tổ quốc, thỏa thuận cho nhân dân hai miền đi lại bình thường, cho các tổ chức văn hóa ra vào trao đổi kinh nghiệm, cho mọi người tự do gửi thư thăm hỏi nhau. Tiếng nói chính nghĩa có lý có tình này đã vang dội khắp nơi, được sự hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân hai miền. Những đợt đấu tranh phối hợp “tấn công hòa bình” càng làm Mỹ - Diệm bị động lúng túng và ra sức khủng bố nhân dân. Đặc biệt là sau vụ đầu độc man rợ những người yêu nước ở trại Phú Lợi thì cả nước bừng lên ngọn lửa căm hờn dữ dội. Ở miền Nam, hàng vạn dân chúng biểu tình, bãi công, bãi thị phản đối vụ đầu độc. Nhiều vùng rộng lớn đồng thời tổ chức “để tang Phú Lợi”. Riêng quận Mỏ Cày, Bến Tre, nhân dân lấy ngày 28/3/1959 làm ngày để tang chung. Các chùa chiền, thánh thất đều làm lễ cầu siêu. Mỗi gia đình công khai lập bàn thờ chiến sĩ. Từ các tỉnh ở Nam Bộ, nhân dân kéo về Phú Lợi đòi được thăm chồng, thăm con, thành những cuộc đi biểu tình đường trường tự động mà điểm tập trung là Phú Lợi.

    Ngày 20/4 từ các nơi dòng người đổ về Sài Gòn, có hàng trăm thiếu phụ mặc đồ tang mang biểu ngữ đến trước trụ sở Quốc hội Diệm và gặp Ủy ban quốc tế để tố cáo. Từng địa phương, đoàn biểu tình kéo đến trụ sở tề xã, đến dinh quận trưởng, tỉnh trưởng để chất vấn. Ngày 09/3 cả trăm người mặc áo tang vào thị xã Cà Mau, 300 người đến dinh tỉnh trưởng Cần Thơ, trên 200 người kéo vào Sóc Trăng. Trong lúc đó ở miền Bắc, liền trong hai tháng, có ba triệu lượt người xuống đường biểu tình sôi nổi chống bọn sát nhân Mỹ - Diệm. Quốc hội Việt Nam, các đoàn thể nhân dân miền Bắc đều lên tiếng tố cáo trước dư luận thế giới vụ thảm sát dã man này.

    Cơn bão lửa căm thù Mỹ - Diệm đốt xé tim gan những người miền Nam tập kết trên đất Bắc, biểu hiện ra những diễn biến phức tạp đa dạng. Từng đơn vị thường trực, từng đại đội nông binh phát động những phong trào học tập, rèn luyện, lao động, công tác để trả thù cho Phú Lợi. Làm suốt ngày chưa ngơi cơn hận, đốt đuốc làm cả ban đêm. Không những nâng hiệu suất công tác, tập luyện lên gấp bội, anh em còn tham gia giúp nhân dân địa phương gặt hái, đắp đê, chống lụt, chống bão. Chiến sĩ nông trường Lam Sơn đã phá rừng, san núi để sản xuất dưới ánh sáng bập bùng của lửa trại, giống như đoàn nghĩa quân Lê Lợi năm xưa trở về liên hoan ở vùng căn cứ phạt Minh ngày nào. Có nhiều người cắt tóc mình để chêm cán cuốc, cán rựa cho chắc, cho bền, hầu tăng năng suất để tỏ rõ ý chí quyết tâm trả thù cho đồng bào bị thảm sát ở Phú Lợi. Trong lúc đó để hưởng ứng với bộ đội miền Nam tập kết, các đoàn thể nhân dân địa phương đã đến tận thực địa thăm, tặng quà. Tình cảm đậm đà quân - dân, Nam - Bắc đã làm dịu bớt những tâm hồn đang sôi sục.

    Lại cũng có những người không vượt qua cơn thử thách của căm giận, đau thương, tự động lẻ tẻ bỏ đơn vị vượt tuyến trở về Nam chống Mỹ - Diệm. Cũng có đơn vị nghe theo những người nông nổi, tưởng đâu có thể chống lại chế độ bạo tàn bằng sự cuồng nhiệt đơn sơ như Lữ Sĩ Tân, một đại đội trưởng thuộc Đoàn 78. Tân đã thuyết phục và tập hợp được tới một đại đội toàn anh em thanh niên hăng, khỏe, mệnh danh là đại đội “tiến về Nam”. Họ bí mật mài gươm, rèn mã tấu, giấu súng, trữ gạo rang, mắm, muối và chuẩn bị khăn gói, định ngày xuất phát phạt Diệm. Trung đoàn trưởng Trần Thắng Minh, thủ trưởng Đoàn 78 biết rõ đây là việc làm thiếu kỷ luật, đã cho người giải thích. Một hôm, đồng chí tự mình kêu Tân lên giáo dục khuyên răn. Ngồi nghe nghiêm chỉnh, nhưng sau đó, y đứng nghiêm, giơ tay chào trung đoàn trưởng:

    - Thay mặt đại đội “tiến về Nam”, xin báo cáo trung đoàn trưởng, chúng tôi lên đường. Chúc đồng chí, chúc ban chỉ huy đoàn và toàn thể anh em ở lại mạnh khỏe, về sau!

    Y quay gót, bước đều, đi ra thẳng.

    Nội đêm đó, cả đại đội đã bị giữ lại, tước vũ khí và đưa về Sư đoàn 330 để tiến hành giáo dục. Trong số này về sau nhiều anh em đã tiến bộ, luyện tập tốt rồi lại đi về Nam khi được phép, có tổ chức. Có anh em lập được những chiến công rực rỡ, có người đã hy sinh dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống Mỹ oanh liệt.

    Nhưng đó chưa phải là đơn vị lớn tự động vượt tuyến về Nam. Còn có cả một nông trường gồm toàn anh em quê các ở tỉnh Nam Bộ tập kết, đã xây dựng và sản xuất có nhiều thành tích: Nông trường Tịnh Môn thuộc tỉnh Nghệ An. Việc làm ăn có nhiều hiệu quả nhanh của nông trường đã được đưa lên mặt báo. Tỉnh ủy và các cơ quan của tỉnh hết lòng ủng hộ. Một số ngành Trung ương từ Hà Nội phái cán bộ về thăm đã hoan nghênh và khuyến khích. Các đoàn thể địa phương luôn đến động viên, tặng quà, rút kinh nghiệm. Mến kiểu cách làm ăn xốc vác, nhiều thiếu nữ quanh vùng đã đến tham quan, làm quen với những chàng trai nông binh dễ thương, trung thực, rồi tìm hiểu nhau đi đến xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái. Một cuộc sống đi lên đầy triển vọng của một tập thể nhiệt tình xây dựng Tổ quốc thân yêu vì hòa bình và thống nhất. Nhưng rồi năm tháng trôi qua mà hiệp thương chẳng có, tuyển cử cũng không. Mỹ - Diệm đã coi thường ước vọng nồng cháy của cả dân tộc, dư luận chân chính của cả thế giới. Hai năm chín đợi mười chờ lặng lẽ qua đi không một tiếng dội. Chỉ có dội lại từ quê hương yêu dấu những chết chóc, đàn áp, những máu lửa, bạo tàn. Hết chịu nổi nữa rồi, Tư Đẩu - một cựu trung đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp đã cùng một số lãnh đạo của nông trường bàn việc về Nam chiến đấu, cứu đồng bào. Lẽ nào ta ngồi yên đây mà nhìn cảnh quê hương bị tàn phá, cảnh chết chóc của bà con. Khi ta đi tập kết, người thân của ta, nhân dân ta, các má chiến sĩ gửi gắm theo ta biết bao hoài vọng! Đảng, Chính phủ lo việc lớn cả nước, còn hành động cụ thể cứu dân này ta phải tự động lo toan. Thế là cả nông trường nhất trí. Họ âm thầm chuẩn bị mọi thứ để toàn bộ bí mật vượt tuyến về Nam: Thức ăn khô, thuốc men, các đồ dùng gọn nhẹ cho hành quân đường rừng ngày dài. Rồi vũ khí đủ loại có thể kiếm được, đạn dược tối thiểu cho chiến đấu tự vệ dọc đường, chờ lấy vũ khí tốt của địch để trang bị cho chiến trường. Lấy của địch đánh địch là thói quen, là kinh nghiệm nhiều năm trong chống Pháp rồi. Ít sẽ hóa nhiều, nhỏ sẽ thành lớn thôi. Khi mọi việc chuẩn bị sẵn sàng thì làm lễ xuất quân, ngụy trang dưới cuộc liên hoan mừng sơ kết, những con số, những gương sáng, những con người, những sự kiện. Tất cả là sự thật, chỉ có mục đích là khác. Khách mời khá đông đủ, khách địa phương, khách của tỉnh, của Trung ương như Ban Thống nhất, Bộ Nông trường...

    Chiều hôm ấy, liên hoan kết thúc, tiễn khách ra về, muôn phần lưu luyến.

    Khuya hôm ấy, bắt đầu xuất quân, mọi người nô nức, cả nông trường lên đường.

    Thật là một đoàn quân hăng hái, im lặng tiến bước, người mạnh dìu kẻ yếu.

    Ba ngày sau địa phương mới phát hiện toàn nông trường về Nam, vượt tuyến.

    Nhưng mỗi ngày, khó khăn chồng chất. Lương thực bắt đầu cạn, người đuối sức dần bệnh tật sinh sôi, cuộc hành quân phải ngừng giữa rừng. Một cuộc họp được tổ chức và ý kiến sôi nổi: Nào là phiêu lưu mạo hiểm, nào là vô tổ chức kỷ luật, nào là thiếu kinh nghiệm hành quân đường dài, dẫn anh em đến chỗ chết trong lúc chưa nổ được phát súng vào đầu thù... Cũng có ý kiến khác hơn: Chẳng qua tất cả chúng ta vì lòng nhiệt thành với quê hương, với đồng bào, vì miền Nam, vì thống nhất. Chúng ta đã từng cầm súng chiến đấu giải phóng đất nước nay không thể để yên cho Mỹ - Diệm ngày đêm tàn sát bà con, anh em ta, tự do giày xéo xóm làng ta. Hãy cố gắng hết sức mà đi tới. Ai kiệt sức hãy nằm lại, bón cho cây rừng Tổ quốc thêm xanh, ai còn sức hãy tiến lên, về cùng đồng bào, đồng chí diệt thù cứu nước. Ý kiến thành ra phân vân... Một không khí trầm lắng kéo dài. Bỗng nhiên bầu trời tối sầm lại, mây đen phủ khắp, một trận mưa xối xả kéo dài làm nguội bớt những cái đầu nóng bỏng. Thực tế khi nào cũng có giá trị xét đoán và quyết định đúng nhất. Lương cạn, sức kiệt, đi nữa thì những người hiện còn khỏe mạnh nhất cũng sẽ ngã xuống trong một ngày nào đó. Chỉ có một con đường: Quay trở lại và nhận lỗi với cấp trên, mọi việc sẽ được giải quyết tốt nhất, cứu vãn được một việc làm xốc nổi theo cảm tính.

    Như vậy đó, tiếng dội từ miền Nam có tác động đủ mọi hướng, mỗi ngày một mạnh tới miền Bắc. Nếu như vụ Phú Lợi đã gây sôi sục căm thù, đòi hỏi phải trả thù, thì đến Luật 10/59 máy chém tung hoành đầu người vô tội rơi rụng đã giống như một cơn bão lửa nung chảy tâm can đến những người gọi là “từ bi” nhất. Cán bộ Bắc, Nam đều chung ý nghĩ: Ta phải làm gì? Miền Nam sẽ ra sao? Đồng bào của ta sẽ sống ra sao?


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 11:15:07 am
    Trước tình hình như vậy, đầu năm 1959 Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 15 (khóa II) được triệu tập do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì để bàn về cách mạng Việt Nam, cách mạng miền Nam. Cuộc họp khá đông bao gồm cán bộ chủ chốt các ngành Trung ương có liên quan, có cán bộ miền Nam tập kết, còn có cán bộ từ Khu 5 cũ, từ Tây Nguyên, từ Nam Bộ băng ngàn ra dự. Tôi xiết bao vui mừng được tham gia vào cuộc họp quan trọng này và xiết bao cảm động khi được gặp các đồng chí đại biểu từ miền Nam ra, những chiến sĩ kiên dũng đáng kính, đáng yêu 1.

    Hội nghị chăm chú và đầy xúc động theo dõi bản báo cáo súc tích tình hình miền Nam Việt Nam năm 1954. Người nào cũng thảo luận một cách sôi nổi nhiệt tình. Có ý kiến rất mạnh bạo nhưng cũng có ý kiến khá dè dặt. Thật hiếm có hội nghị nào mà suốt cả tháng trời làm việc rất khẩn trương căng thẳng, ai nấy đều biểu lộ tình cảm cách mạng dạt dào và sự nghĩ suy sâu sắc, chín chắn, đầy trách nhiệm. Hội nghị chỉ làm việc ban ngày nhưng ban đêm nhiều người không ngủ. Ngủ sao được trước đòi hỏi bức bách của tình hình: Phải hành động thế nào vì sự sống còn của miền Nam, vì bảo vệ miền Bắc đang hòa bình xây dựng, vì thống nhất Tổ quốc.

    Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp, đặt ách thống trị thực dân (kiểu mới) ở miền Nam nước ta. Âm mưu của chúng là xâm chiếm cả nước ta làm thuộc địa và căn cứ quân sự nhằm phá hoại phong trào độc lập dân tộc và nền hòa bình dân chủ ở Đông Nam Á...

    Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động tàn bạo và đen tối.

    Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam...

    Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại...”.

    “Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn trở sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy Mỹ - Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị, mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã được giải phóng”.

    Hội nghị đã xem xét đánh giá tình hình miền Bắc, tình hình miền Nam, cả tình hình thế giới, thế mạnh của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu so với phe đế quốc chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo, sự phức tạp diễn biến trong nội bộ từng phe và sự đấu tranh giữa các thế lực hòa bình và gây chiến trên thế giới. Hội nghị nhận định: “... Cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam”.

    “... Tiến hành ngay cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà”.

    “... Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà”.

    Như vậy là hai cuộc cách mạng ở miền Bắc và miền Nam đều song song tiến hành, có quan hệ hữu cơ với nhau, trợ lực và thúc đẩy lẫn nhau, nhằm mục đích vì hòa bình và thống nhất Tổ quốc, vì xã hội chủ nghĩa. Từ đó, miền Bắc thực sự trở thành căn cứ địa cho cách mạng cả nước. Miền Nam là tiền tuyến kiên cường chống xâm lược, miền Bắc là hậu phương vững mạnh, là chỗ dựa vật chất và tinh thần. Phải chăng sứ mệnh của dân tộc Việt Nam là đánh bại không những bọn thực dân cũ mà còn đánh bại cả bọn thực dân mới, trở thành người lính xung kích của lực lượng hòa bình và dân chủ tiến bộ, chống bọn gây chiến xâm lược và phátxít trên thế giới?

    Hội nghị xác định: “... Chừng nào còn Mỹ - Diệm ở miền Nam thì tình trạng đất nước bị chia cắt và khả năng xảy ra chiến tranh vẫn còn tồn tại. Vì vậy để thực hiện thống nhất nước nhà và giành hòa bình lâu dài ở Việt Nam, nhân dân ta không thể có con đường nào khác hơn là phải tích cực xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành đấu tranh cách mạng gian khổ ở miền Nam để bảo vệ quyền sống hằng ngày và tiến lên đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam khi có điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi”.

    Đối với những nhận thức sai lầm về hòa bình, về Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị nhấn mạnh: “Hiệp nghị Giơnevơ có tác dụng hạn chế một phần âm mưu gây chiến của địch và có lợi cho công cuộc đấu tranh chính trị để thống nhất nước nhà, có lợi cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Chúng ta phải biết triệt để sử dụng nó. Song cần nhận rõ nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng không phải là Hiệp nghị Giơnevơ mà là lực lượng đấu tranh của quần chúng nhân dân cả nước, được sự đồng tình ủng hộ ngày càng rộng rãi của nhân dân thế giới. Những tư tưởng ỷ lại vào Hiệp nghị Giơnevơ hoặc coi thường giá trị pháp lý của Hiệp nghị Giơnevơ, đều là sai lầm”.

    Như vậy là nhân dân cả hai miền đều phải đứng lên làm cách mạng.

    Cách mạng ở miền Nam có nhiệm vụ: “... Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

    Phương hướng của cách mạng miền Nam là: “Vì chế độ miền Nam là một chế độ thực dân và nửa phong kiến cực kỳ phản động và tàn bạo, vì chính quyền miền Nam là chính quyền đế quốc và phong kiến độc tài, hiếu chiến, cho nên ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. Chỉ có sự thắng lợi của cách mạng mới chấm dứt cảnh cùng khổ của nhân dân miền Nam, mới triệt để đánh bại mọi chính sách nô dịch, chia cắt và gây chiến của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam. Cách mạng Việt Nam ở miền Nam nói chung không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa từ trước đến nay, cho nên con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân.

    Đây là một quyết định lịch sử trọng đại, mở đầu cho trang sử vẻ vang của dân tộc ta thắng một hung thần chiến tranh của thời đại, đập tan triệt để ách nô lệ hàng trăm năm nay, giành tự do độc lập, đi lên xã hội chủ nghĩa.

    Suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã bao lần dân tộc Việt Nam ta đã có những quyết định trọng đại, dựng thành những cái mốc vinh quang trên con đường tiến lên của đất nước và dân tộc. Lần này nữa, trước nguy cơ nô dịch của một đế quốc đầu sỏ hiện đại, trước âm mưu thôn tính miền Nam, “Bắc tiến” thôn tính cả nước, làm đầu cầu chống phe xã hội chủ nghĩa, chống loài người tiến bộ, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, bằng Nghị quyết 15 đã có một quyết định trọng đại và lịch sử.

    Đây còn là một quyết định hết sức sáng suốt và dũng cảm, đầy trách nhiệm trước nhân dân ta. Trong lúc ta mới vừa giành được độc lập nửa nước, miền Bắc chưa xây dựng được bao nhiêu, dân ta còn rất nghèo, còn phải nhờ sự giúp đỡ nhiều mặt của các nước anh em mà vẫn kiên định đẩy mạnh đấu tranh cách mạng là một quyết định không dễ dàng chút nào.

    Nghị quyết 15 đề ra đường lối cơ bản cho cách mạng miền Nam, tạo ra một bước ngoặt cho tình hình miền Nam Việt Nam. Trước Nghị quyết 15, nhân dân miền Nam đã đấu tranh kiên cường liên tục, cả đấu tranh chính trị và võ trang, đã chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhưng cốt là để giữ vững quyền sống và bảo toàn thực lực, có tính chất tự vệ. Nghị quyết 15 đã nhận định rõ tình hình, vạch rõ đường lối và phương châm phương thức mục tiêu cần đạt của cách mạng, vì vậy đã phát động một phong trào tấn công, lớn mạnh ngoài sức tưởng tượng của quần chúng cách mạng chống lại chế độ phản dân hại nước. Tuy ra chậm (như nhiều đồng chí đã nhận xét) nhưng Nghị quyết còn bắt kịp thời gian để khơi dòng tuyệt đích cho một khối nước khổng lồ bị dồn ứ quá mức từ lâu khỏi phá bờ tung tóe mất hết hiệu quả và có hại.

    Thực sự ai cũng phải công nhận sức mạnh vật chất và quân sự của Mỹ. Nhưng không phải ai cũng nhận thức được sức mạnh vật chất và quân sự dù lớn đến đâu cũng không thể quyết định mọi vấn đề của nhân loại một cách phi nghĩa. Mỹ không thể dùng sức mạnh đó để buộc loài người phải suy nghĩ, phải sống, phải hành động theo ý muốn riêng và quyền lợi ích kỉ của mình. Sức mạnh thật sự có thể chiến thắng tất cả, đối đầu có hiệu lực đối với mọi thiên tai địch họa là lòng dân giác ngộ và đoàn kết. Bác Hồ và Đảng chúng ta đã nắm vững được chân lý bất di bất dịch này mà có quyết định hoàn toàn đúng. Cái đáng nói của dũng khí Việt Nam trong quyết định này là tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ trong suy nghĩ và hành động trên cơ sở thực tế của đất nước ta, nhân dân ta với đầy đủ tinh thần trách nhiệm vì dân vì nước. Trong thời điểm đó, ngay những người bạn quý của chúng ta cũng khuyên ta không nên đánh Mỹ. Rằng Mỹ mạnh lắm, ta nhất định thua và sẽ thua không còn manh giáp. Có bạn còn phát biểu chỉ nên đấu tranh chính trị thôi và trường kỳ mai phục chờ thời cơ khi tương quan lực lượng từng bước và trên thế giới thay đổi. Chúng ta đã thành thật cảm ơn các bạn nhưng vì ta có trách nhiệm chính trước nhân dân mình nên tìm mọi cách tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của bạn bè rộng rãi trên thế giới. Chúng ta đã nghĩ, làm đúng và thắng lợi. Nhắc lại việc này, một vấn đề lịch sử, chúng ta hoàn toàn không có ý tự phụ mà cốt nêu lên bài học lớn lịch sử về độc lập tự chủ và tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân ta và nhân dân trên thế giới.

    Vấn đề sát thực tế để hiểu rõ thực tế và đề ra quyết định phù hợp là mấu chốt thành công.

    Từ năm 1956, lúc đồng chí Lê Duẩn còn là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, hoạt động bí mật trong sự đùm bọc của nhân dân, sát với tình hình diễn biến trên thực tế, đồng chí đã nhận thức được tình hình và đã thảo ra bản Đường lối cách mạng miền Nam: Trong bản dự thảo ấy đã có nhận định chính xác rằng Hiệp nghị Giơnevơ không được thi hành, không có tổng tuyển cử, thống nhất Tổ quốc, lý do là bọn đế quốc xâm lược Mỹ và bọn phong kiến tập đoàn Ngô Đình Diệm đã tìm mọi cách phá hoại, không chịu thi hành Hiệp định, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự Mỹ để gây lại chiến tranh mong cướp đoạt giang sơn Tổ quốc ta. Vì vậy mà cần thiết phải “củng cố thật vững chắc miền Bắc”, “Miền Bắc hiện nay là cơ sở thật vững mạnh của toàn quốc” và “đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam”. Nói về tình hình miền Nam, bản dự thảo viết: “Nhân dân miền Nam hiện nay không những chỉ nằm trong cái cảnh đất nước bị chia xẻ, chiến tranh hăm dọa mà hằng ngày đương bị chính sách độc tài phátxít của Mỹ - Diệm áp bức bóc lột, tù tội chém giết ghê gớm, thợ thuyền đang ở trong cảnh chết đói, công ăn việc làm không có, nạn thất nghiệp nguy ngập không có lối ra, dân cày đương bị cướp đất tăng tô tăng thuế, ruồng bố, bị bắt lính, công thương nghiệp bị phá sản,v.v, nhân dân không có một chút quyền tự do dân chủ nào, chính sách khủng bố trả thù, tù tội, chém giết tràn lan khắp thôn quê đến thành thị. Tình thế ấy nhất định thúc đẩy nhân dân miền Nam phải đứng lên đập tan chính sách độc tài, phátxít của Mỹ - Diệm để tự cứu mình. Vì vậy, mục đích cách mạng của miền Nam còn phải đánh đổ chính quyền độc tài, phátxít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài phátxít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc”.

    Thật là một nhận thức sáng suốt và một suy nghĩ kịp thời về đường lối cách mạng cho miền Nam đúng đắn biết nhường nào. Nhưng tiếc thay từ đó nó không được khẳng định, chính thức hóa và phát triển theo đúng lôgic khách quan của thực tế diễn biến ngày càng dồn dập và rõ nét. Và cũng vì nó không được tiếp tục phát triển chấn chỉnh cho nên về phương pháp đấu tranh cách mạng đề ra trong bản dự thảo Đường lối cách mạng miền Nam là không phù hợp: “...Phát triển theo đường lối hòa bình”. “... Phong trào cách mạng tranh đấu theo đường lối hòa bình nghĩa là phong trào ấy lấy lực lượng chính trị của nhân dân làm căn bản, không phải lấy lực lượng vũ trang của nhân dân để đấu tranh với chính quyền hiện hữu để đạt mục đích cách mạng của mình”. Cho đến Nghị quyết 15 mới xác định là “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến...”.

    Trước khi rời khỏi miền Nam đi Hà Nội năm 1956, đồng chí Lê Duẩn đã họp với Xứ ủy Nam Bộ, có đại biểu các khu dự. Trong Hội nghị, có thảo luận về bản dự thảo về Đường lối cách mạng miền Nam này và tranh luận nhiều về bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang. Cuối cùng đồng chí Lê Duẩn có ý kiến:

    - Xây dựng lực lượng vũ trang ở vùng núi (miền Đông Nam Bộ).

    - Còn ở đồng bằng chỉ vũ trang các vùng căn cứ cũ Đồng Tháp Mười và U Minh thôi.

    Chính vì vậy mà năm 1957, Xứ ủy điều đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến cán bộ quân sự cao cấp nhất ở lại miền Nam từ miền Tây về miền Đông Nam Bộ để xây dựng lực lượng vũ trang.

    Nhưng sau đó không có xác định rõ chủ trương này của Trung ương (mặc dù đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất), đề cương về Đường lối cách mạng miền Nam không thành chính thức.

    Trong thời gian từ bản dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam đến Nghị quyết 15, trải qua ba năm trời máu lửa, trên thực tế cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đã diễn ra vô cùng quyết liệt bằng lực lượng chính trị quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tùy nơi tùy lúc nhiều hay ít, do không thể có cách nào khác, do tình hình khách quan đòi hỏi. Tất nhiên ta phải hiểu rằng tình hình miền Nam tự nó không thể tách rời tình hình cả nước và tình hình quốc tế. Song cách mạng luôn luôn vận động mà không một phút dừng lại, tấn công để đi lên đúng hướng, giành từng thắng lợi một dù nhỏ. Nếu nhân dân miền Nam không đấu tranh quyết liệt dưới sự lãnh đạo kiên cường và sáng tạo của đảng bộ địa phương, thì làm gì có luận chứng vững chắc cho Nghị quyết 15. Có đồng chí đã đưa ra một hình tượng rất hay là nếu giữa biển cả mịt mù sóng bão, thủy thủ không dũng cảm, chèo thuyền lướt tới, để nó đứng một chỗ thì người cầm lái làm sao mà lái đi cho đúng hướng.

    Nghị quyết 15 đã soi sáng và dẫn đường cho nhân dân cả nước làm cách mạng. Nó cũng soi sáng cho từng tấm lòng Việt Nam lâu nay đang khắc khoải chờ mong một trả lời xác đáng cho câu hỏi: Ta phải làm gì đây trước tình hình nóng bỏng? Giờ đây mỗi người đều có phương hướng tìm ra hành động đúng đắn nhất, phù hợp với trái tim và lý trí. Mặc dù nghị quyết còn giữ lâu trong vòng bí mật và chưa thành văn bản ngay, nội dung chủ yếu của nó đã được phổ biến rộng rãi và nhanh chóng cả ở miền Bắc lẫn miền Nam, được tiếp thu một cách nồng nhiệt và vô cùng phấn khởi. Khi một chủ trương đã phù hợp với thực tế, với lòng dân, đáp ứng tình hình cách mạng đi lên thì nó lại lan nhanh, thấm sâu vào lòng người với tốc độ khó mà tưởng tượng, không cần phải tuyên truyền cổ động hay ép buộc. Hơn nữa, nó chuyển thành hiện thực và với sức sáng tạo nhân lên gấp bội bằng hàng triệu trái tim và khối óc của cán bộ và quần chúng nhân dân.

    Có chủ trương rồi thì theo đó phải có sự đảm bảo cho thực hiện. Ở miền Bắc, Trung ương quyết định thành lập con đường tiếp tế chi viện dọc Trường Sơn, nối liền hậu phương và tiền tuyến vào tháng 5/1959. Con đường được lấy tên đúng theo ngày sinh của nó, Đường 559, mà sau này nó lớn lên mau chóng để đáp ứng với yêu cầu và nổi tiếng cả thế giới với cách gọi có ý nghĩa của các ký giả quốc tế: Đường mòn Hồ Chí Minh. Thực sự là con đường này không phải mới mở vào năm 1959. Nó đã là con đường mòn xuyên rừng xuyên núi của cán bộ cách mạng Khu 5 và Tây Nguyên từ những năm 1954-1955. Địch chiếm hết các đường ngang đường dọc, đường xe hơi, đường tàu, địch phong tỏa khắp nơi, khắp chốn. Nhưng cách mạng cần liên lạc giữa vùng này với vùng nọ, giữa miền núi và miền xuôi, cần thông tin và tiếp tế. Những con người cách mạng với ý chí vá trời lấp biển, chịu khổ chịu cực, biết hy sinh tất cả cho cách mạng thì có gì mà không khắc phục được, không làm được. Cán bộ Khu 5 và Tây Nguyên cần xin chủ trương của lãnh đạo, cần hạt gạo, viên thuốc ban đầu, cả khẩu súng tự vệ, nên họ phải xẻ núi, băng ngàn, tìm cho ra chân lý, chân lý của sự sống, cho hôm nay và cho ngày mai. Vì vậy mà đã hình thành con đường mòn dọc Trường Sơn nối thông với miền Bắc. Thật ra cũng chỉ từ những tỉnh gần với sông Bến Hải, từ Trị - Thiên, Quảng Nam, từ Gia Lai, Kon Tum trở ra thôi. Xa hơn nữa thì khó mong thông suốt trong hoàn cảnh lúc ấy. Nam Bộ càng không thể mong ước nối kết với miền Bắc bằng đường bộ thời kỳ gian khổ khó khăn. Vì vậy mà các tỉnh Nam Bộ lại cố mở ra con đường khác, hợp với điều kiện và khả năng hơn, bằng tàu thuyền trên sông nước: Đường mòn Hồ Chí Minh trên Biển Đông. Con đường này âm thầm hơn, bí mật hơn, ít người biết nên không danh tiếng bằng đường mòn Hồ Chí Minh dọc Trường Sơn, nhưng tác dụng chiến lược và vị trí của nó đối với cuộc kháng chiến là hết sức to lớn ngay từ những năm đầu của chiến tranh mở rộng và công khai (tôi sẽ nói về con đường chiến lược này vào tập sau - Tập 2, đúng với thời điểm của nó).





------------------------------------------------------------------
1. Ở Nam Bộ ra dự Hội nghị này có đồng chí Phan Văn Đáng và đồng chí Phạm Văn Xô, cả hai đồng chí đều ở trong Xứ ủy.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 01:58:15 pm
    Đồng chí Thượng tá Võ Bẩm 1, người Quảng Ngãi, tính xông xáo và nhiệt tình, cần cù và kiên định, tiêu biểu đức tính người dân Quảng Ngãi nói chung, đã được giao gây dựng Đường 559 ngay từ đầu.

    Trước đó, đồng chí cùng một số ít cán bộ Khu 5 cũ đã được đồng chí Trần Lương, lúc ấy là Bí thư Khu ủy Khu 5 và đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất giao nhiệm vụ tiếp tế lương thực thuốc men và một ít súng đạn tự vệ cho Khu 5 rồi. Nhưng bây giờ phải tổ chức thành đường giao thông và vận tải lớn hơn, tải nhiều hơn để đáp ứng với nhiệm vụ mới. Lúc này tôi được chỉ định thay mặt cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu phụ trách tổ chức con đường. Lần gặp gỡ đầu tiên với đồng chí Võ Bẩm, hỏi những công việc đã làm, khả năng mở đường, bàn kế hoạch tổ chức, tôi đã tin tưởng ngay đồng chí và phấn khởi là nhất định nhiệm vụ sẽ hoàn thành. Ngoài việc cấp quỹ và phương tiện, tôi đã ký lệnh cho đồng chí rút ngay một đơn vị khỏe nhất của Lữ đoàn 305 do đồng chí Nguyễn Minh Châu 2 làm Tư lệnh, một đơn vị gồm toàn chủ lực Khu 5, Khu 6 tập kết và được phép chọn rút bất cứ cán bộ nào, chiến sĩ nào quê ở Trung Bộ thích hợp với công tác. Sở dĩ chúng tôi chọn người địa phương Trung Bộ lúc này vì Đường 559 lúc đầu chủ yếu là cho Khu 5, chúng tôi sẽ phát huy được sự hiểu biết về dân tình, địa hình của anh em, lại kết hợp được tinh thần cách mạng với lòng yêu quê hương; khi lòng yêu quê hương phù hợp với yêu cầu của cách mạng thì trở thành một sức mạnh thần kỳ với một nhiệt tình vô bờ bến. Thực vậy, bất cứ đơn vị nào được rút người, bất cứ người nào được chọn thì từ thủ trưởng tới chiến sĩ bình thường ai nấy đều cảm thấy hãnh diện cao độ được đóng góp phần nhỏ bé của mình cho cách mạng miền Nam, cho đồng bào miền Nam, mặc dù đơn vị mình sẽ bị xộc xệch cần nỗ lực kiện toàn sau đó, mặc dù biết rằng công tác sẽ vô cùng gian khổ và nhiều nguy hiểm đến tính mạng. Ngày ấy, đường mòn đúng là con đường mòn len lỏi giữa các khu rừng núi hiểm trở phía tây, bí mật vượt sông Bến Hải, băng đường 9. Về sau đường mòn chuyển lên làng Ho, qua nước Lào anh em. Có muôn vàn khó khăn và nguy hiểm lúc ban đầu xây dựng. Có những ngày đói rét, màn trời chiếu đất, hy sinh chết chóc để mở, chỉnh lại đường, lập trạm dự trữ lương thực, tất cả gạo, đạn, thuốc men cho các đồng chí ở chiến trường đều phải gùi lên vai, ngày này qua ngày khác. Những ngày đầu anh em gùi được vài chục ký, đi gần. Nhưng thế thì ít hàng quá làm sao đủ cho đồng chí ta. Anh em trong tổ chức đường dây lúc ấy đâu có đông người. Phải nỗ lực, phải tập luyện, phải làm một người bằng ba. Ta tự giác lao động vì đồng chí, vì cách mạng. Cứ tập và làm, mỗi người đã nâng dần, gùi được 30, 40 rồi đến 60, 70 ký trên vai. Đi đường ngắn rồi đi đường dài, đi ban ngày rồi đi cả ban đêm. Cán bộ lãnh đạo phải tổ chức và chăm lo bồi dưỡng bù đắp sức lao động đã bỏ ra quá lớn của hàng trăm người. Lại phải bố trí hợp lý các cung trạm, đảm bảo việc nghỉ ngơi, thay đổi. Đường càng ngày càng dài ra, vươn tới, tổ chức có quy củ, nền nếp, kỷ luật, năng suất ngày càng cao, hàng hóa đến chiến trường ngày càng nhiều, càng quý. Những kết quả thần kỳ ấy cũng chỉ xuất phát từ những cái rất bình thường; đôi dép cao su cho ôm chân; cái quai gùi cho ôm vai, cái nạng, gậy cầm tay để chống vững qua dốc núi cheo leo, để đỡ vững gùi khi đứng nghỉ cho chắc 3...

     Chiến tranh càng phát triển thì nhu cầu càng tăng lên. Con đường mòn đi chân phải thay bằng đường xe đạp thồ, mỗi xe phải thồ hàng trăm ký. Lại phải phát, sửa lại đường, san dốc đứng, tổ chức lại trạm tiếp sức, tập lại cách thồ cho năng suất cao... cho đến khi đường thồ lại chuyển thành đường xe hơi vận tải, một đường rồi nhiều đường, đường dọc lại có đường ngang... Tất cả đều phải đi lên theo sự phát triển của chiến tranh, của nhu cầu giành thắng lợi. Con đường mòn năm xưa đã trở thành hệ thống đường xe hơi, tàu thuyền dọc sông, đường dây thông tin, đường ống xăng dầu... Đó là quy luật phát triển, quy luật của sống còn, làm khác đi là trái quy luật, không đảm bảo thành công.

    Lịch sử phát triển của con đường Trường Sơn có khác gì câu chuyện thần thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh mà em bé Việt Nam nào lại chẳng biết. Một cuộc đấu tranh để sống còn, để giành lấy hạnh phúc cho mình. Nước càng dâng lớn bao nhiêu thì núi càng vượt lên cao bấy nhiêu. Từ con đường mòn trở thành hệ thống đường xe hơi vận tải khi chiến tranh phát triển leo thang là vậy đó. Với sức bền dẻo dai, với trí thông minh và sáng tạo, với chí khí đạp lên đầu kẻ thù mà thắng, đường mòn Hồ Chí Minh là biểu hiện sức sống vĩ đại của dân tộc.

    Khi Đường 559 triển khai được vài tháng, ta thấy chưa thỏa mãn được nhu cầu, nên phải nghĩ tận dụng cho được Biển Đông. Rẻo đất Trung Bộ dài và hẹp. Hướng tây khống chế bởi dãy núi Trường Sơn hiểm trở, hướng đông đồng bằng đông dân hẹp chạy dài theo bờ biển. Các tỉnh Nam Bộ thì nhiều tỉnh có những dải rừng và sông rạch ăn thông sát biển, nhiều nơi có cả đảo gần, đảo xa rất thuận lợi. Để chi viện đắc lực cho miền Nam, trước mắt là cho Khu 5, Đường 759 - tuyến vận tải trên biển lại được tổ chức cũng do đồng chí Võ Bẩm và Đoàn 559 phụ trách. Dùng thuyền gỗ nhỏ, chạy bằng buồm không xa bờ, ghé đổ lên cho từng tỉnh. Cách vận tải này nguy hiểm nhiều vì vừa phải đối phó với địch vừa phải đương đầu với “sóng Biển Đông, giông Nam Hải”, nhưng nếu thành công thì tác dụng sẽ lớn hơn nhiều so với đường bộ. Tiểu đoàn 603 mang tên ngụy trang “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” được giao nhiệm vụ, đã tích cực chuẩn bị mọi mặt với sự giúp đỡ hết sức của địa phương Quảng Bình. Đầu năm 1960, chiếc thuyền “đánh cá” đầu tiên đã rời bến mang theo 10 tấn vũ khí cho chiến trường Khu 5. Chuyến đi không thành. Sóng to gió lớn đã nhận chìm thuyền, cán bộ thủy thủ dạt vào bờ và sa vào tay giặc. Thế là Đoàn 759 phải tạm ngừng công việc để nghiên cứu kỹ lưỡng hơn cũng để giải tỏa sự nghi ngờ có thể có của địch. Tất cả hãy tập trung vào lo Đường 559 đã. Về sau đường mòn trên Biển Đông đã được tổ chức lại khi điều kiện cho phép và con đường ấy đóng góp lớn cho chiến trường B2.


*
*      *


     Đó là việc lo lắng đảm bảo về vật chất, kỹ thuật. Còn biết bao nhiêu phần chi viện khác trong đó có vấn đề cán bộ các ngành mà cái mới là cán bộ quân sự cho chiến đấu vũ trang theo tinh thần của Nghị quyết 15. Các đồng chí đang có mặt ở miền Nam lúc ấy, tuy có cán bộ đã chiến đấu nhiều năm nhưng đã có ai học được cơ bản, được nghiên cứu có hệ thống về khoa học quân sự đâu. Ta không thể chỉ bằng lòng với kinh nghiệm thực tế. Cần phải tiếp sức, đó là sự lo nghĩ phải kịp thời. Việc chỉ đạo, việc xây dựng thực lực, mọi đảm bảo phải vượt qua tốc độ của chiến tranh, một cuộc chiến hiện đại của một đế quốc đầu sỏ.

    Đây là nói cán bộ xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ huy chiến đấu. Còn cán bộ khác như cán bộ vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở quần chúng thì ngay từ năm 1954 trở đi đã lần lượt vào Tây Nguyên, Khu 5. Ta cần xây dựng vùng Tây Nguyên thành một vùng căn cứ lãnh đạo của toàn miền Nam. Vì vậy những cán bộ tập kết của Khu 5 được lựa chọn, bồi dưỡng huấn luyện năm bước công tác cách mạng, phương pháp tổ chức quần chúng... đặc biệt là vận động người Thượng, chủ của núi rừng Tây Nguyên. Phải biết nhiều thứ tiếng dân tộc ít người, phải hiểu phong tục tập quán người địa phương và đặc biệt là tâm tư nguyện vọng của họ, để hướng họ đi theo cách mạng, đi làm cách mạng. Nhưng bây giờ tình hình đòi hỏi cao hơn, cách mạng miền Nam đã có đường lối rõ ràng trong Nghị quyết, đã dùng phương pháp đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Cán bộ phải đáp ứng với yêu cầu của đường lối cách mạng và phương hướng đấu tranh cách mạng.





-------------------------------------------------------------------
1. Thiếu tướng Võ Bẩm, đã nghỉ hưu.
2. Sau là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 7.
3. Chiến sĩ khi mang gùi nặng trên vai đi được một đoạn đường thì phải nghỉ từ 10 đến 15 phút rồi tiếp tục đi. Khi nghỉ không thể ngồi vì mất thì giờ và bất tiện khi ngồi, khi đứng lên đi, nên phải đứng mà nghỉ. Vì vậy, phải dùng một cái gậy có nạng, khi đứng nghỉ, thì chống đỡ gùi (bồng, ba lô) để vai được nghỉ và chân đỡ nặng.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:04:46 pm
    Một tối mùa hè năm 1959. Khí hậu nóng bức ở Hà Nội làm cho con người uể oải. Tôi ngồi ở hành lang nhà ở để hứng từng cơn gió nhẹ từ sông Hồng tạt vào, và lơ đãng dò tìm một vài bản nhạc nhẹ với cái máy thu thanh nhỏ. Nhưng tôi bỗng chú ý đến tin một trận đánh vừa xảy ra ở miền Nam, vùng ven Đồng Tháp Mười, thuộc tỉnh Long Xuyên. Đó là tin đài BBC của Anh. Đài loan báo: Trận đánh diễn ra giữa quân Chính phủ (Diệm) và quân Việt cộng. Mỗi bên có cỡ một trung đội. Súng nổ giòn trong vòng hai tiếng đồng hồ. Sau đó hai bên đều rút lui không có thương vong. Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ: Sao lại bắn nhau kéo dài đến hai tiếng đồng hồ mà không ai việc gì là thế nào? Có tin được là đài BBC thu lượm chính xác về trận đánh không? Nếu đúng như thế có phải do nguyên nhân về kỹ thuật: Súng cũ, nòng rộng, bắn không chính xác? Điều này chắc không đúng về phía quân Diệm vì Mỹ đã trang bị cho súng mới, nhưng có thể đúng về phía quân du kích. Súng đành rồi nhưng còn kỹ thuật bắn, phải chăng đôi bên đều không được huấn luyện tốt về bắn súng? Hay là do tinh thần, phát hiện nhau, hoảng sợ nằm bắn vãi đạn rồi rút? Điều này thì có thể đúng về phía quân Diệm nhưng không thể có về phía quân cách mạng. Hay là về chiến thuật: Bên nào tấn công, bên nào phòng ngự? Tấn công thì theo kiểu nào? Phục kích, tao ngộ? Thật là khó hiểu. Nhưng dù sao thì vấn đề đặt ra là anh em ta nhất định là rất cần được huấn luyện tốt về kỹ thuật, chiến thuật để đỡ xương máu và chắc thắng trong từng trận đánh. Đã là chiến tranh thì không thể đùa cợt được. Không thể cứ tưởng tượng, nói dài dòng rồi đâu lại vào đấy, rồi lại bỏ qua, lại tưởng tượng, lại nói. Không! Kết quả cụ thể sống chết sẽ ngay sau trận đánh. Hay dở sờ sờ ra đấy, không thể dở mà cứ nói hay được. Không huấn luyện tốt thì chắc chắn là không chiến đấu được tốt. Những suy nghĩ này không buông tha tôi trong giấc ngủ chập chờn đêm ấy. Ngày hôm sau tôi đi tìm gặp anh Nguyễn Văn Vịnh, người bạn chiến đấu cùng chiến trường Nam Bộ trong chín năm chống Pháp, đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng để trao đổi và chia sẻ nỗi lo lắng của tôi. Chúng tôi đã nhất trí với nhau rằng: Việc huấn luyện tốt cho anh em đang chiến đấu ở miền Nam là tối cần thiết và cấp bách. Cán bộ quân sự miền Nam tập kết ra Bắc đã được huấn luyện cơ bản và có hệ thống, nhiều người đã qua các khóa lục quân có chất lượng và cả các lớp bồi dưỡng đào tạo cao hơn. Anh em ấy đang rất cần cho cách mạng miền Nam không những để huấn luyện tại chiến trường mà cả cho chiến đấu nữa. Mỹ - Diệm đã công khai xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, đã chà đạp lên pháp lý quốc tế. Ta tập kết ra miền Bắc là thi hành Hiệp định, nay Hiệp định không còn giá trị nữa thì anh em miền Nam tập kết trở về quê hương chiến đấu chống chiến tranh xâm lược và hợp lý, là nhiệm vụ của công dân, là phù hợp với lòng mong mỏi của anh em và của nhân dân. Đây cũng là việc làm cần thiết thực thi Nghị quyết 15 của Trung ương. Chúng tôi bàn nhau cùng đến gặp anh Ba 1 trình bày cặn kẽ những điều suy nghĩ như trên và xin anh cho chọn người đưa về Nam cho kịp thời.

    Tôi và anh Vịnh đến gặp anh Ba ở nhà riêng chiều hôm ấy. Chúng tôi đã cố hết sức trình bày cặn kẽ mọi sự việc và đề ra yêu cầu, xin 100 cán bộ trẻ, tập kết, đã qua các khóa lục quân để về đợt đầu. Nghe xong anh đứng bật dậy, kéo chúng tôi rời khỏi phòng khách đến phòng làm việc của anh, ở đấy có bản đồ Việt Nam lớn treo ở tường. Anh bảo tôi chỉ chỗ diễn ra trận đánh mà đài BBC đã loan tin. Miền Nam Việt Nam nằm vào phần cuối bản đồ. Chúng tôi ngồi xổm dưới sàn gỗ để nhìn rõ vùng ven Đồng Tháp Mười, nơi xảy ra trận đánh. Anh Ba suy nghĩ trầm ngâm một lúc rồi lắc đầu. Tôi bàng hoàng. Anh nói: Khó làm, việc này Bộ Chính trị chưa có ý kiến, không thể được. Tôi và anh Vịnh ỉu xìu, ngược hẳn lúc ra đi và khi hăng hái trình bày lúc mới đến. Chúng tôi nhìn nhau: Làm sao bây giờ? Chúng tôi lại ra sức trình bày lý lẽ, sự cần thiết của miền Nam và sự mong đợi của anh em tập kết. Anh Ba vẫn trong trạng thái suy tư, hình như anh vẫn tiếp tục dòng suy nghĩ trong lúc chúng tôi cứ nói, cứ nài. Đột nhiên anh ngắt lời tôi, hỏi: Một trăm thì nhiều quá, ít hơn có được không? Tôi mừng rỡ nói ngay, thôi anh cho đợt đầu 50 cũng được. Anh vẫn lắc đầu, vẫn cho là nhiều. Rồi anh nói: việc này chưa đưa ra bàn ở Bộ Chính trị mà có bàn thì có lẽ cũng chưa được chấp thuận đâu. Nếu số ít thôi thì tôi có thể quyết định và cá nhân chịu trách nhiệm rồi sẽ báo cáo với Bộ Chính trị sau. Thôi cứ bằng lòng chọn đợt này 25 đồng chí vậy. Anh cầm cánh tay tôi lay lay mạnh và tươi cười: được nhé, nhé, nhé? Tôi vâng và thực tình hết sức mừng rỡ. Thế là thành công rồi. Ít nhưng là mở đầu. Cái mở đầu khi nào cũng hết sức khó khăn nhưng lại vô cùng quan trọng. Đầu xuôi đuôi lọt mà. Chúng tôi phấn khởi từ giã anh ra về. Anh bắt tay, còn dặn: Phải giữ hết sức bí mật đấy nhé, chỉ một ít người biết việc này thôi, càng ít người biết càng tốt. Ai được chọn về người ấy biết, không được nói với bạn bè, không được từ giã. Các anh chịu trách nhiệm đấy.

    Thế là ngay ngày hôm sau, chúng tôi triển khai lựa chọn người, trước nhất cho chiến trường xa, chiến trường Nam Bộ, tổ chức địa điểm tập trung, vạch kế hoạch chương trình huấn luyện, học tập và chuẩn bị mọi trang bị cần thiết cho từng người. Trong thời gian này mọi công việc lo cho miền Nam phải tuyệt đối giữ bí mật cho nên không thể giao cho các cơ quan có sẵn, ngại nhiều người biết dù là cơ quan quan trọng như Bộ Tổng Tham mưu. Vì vậy chúng tôi tổ chức riêng một bộ phận chuyên trách, “phòng nghiên cứu của Bộ Quốc phòng” đặt trụ sở tại nhà 83 Lý Nam Đế, do đồng chí Nguyễn Quang Minh (tức Minh B) một cán bộ tập kết làm Trưởng phòng. Nhà này đã nổi tiếng mà về sau tất cả cán bộ đi B (tức là đi công tác tại chiến trường miền Nam) đều biết. Khi chiến tranh đã phát triển thì công tác chi viện cho miền Nam không như lúc đầu, chỉ giữ bí mật về nội dung. Hai mươi lăm đồng chí được chọn đợt đầu tiên cho Nam Bộ là những đồng chí đã có thành tích chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Nam Bộ có đủ tiêu chuẩn sức khỏe, trình độ, những đảng viên trung thành tuyệt đối với cách mạng và đã qua các lớp đào tạo cơ bản về quân sự, chính trị. Tuy vậy trong lúc tình hình còn nhiều khó khăn gian khổ, đường đi chưa được tổ chức thông suốt, mọi việc đều coi như mở đầu khai phá, đòi hỏi quyết tâm cao và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn nên chúng tôi đặt nguyên tắc tự nguyện là chính. Mỗi đồng chí đều được để hoàn toàn tự quyết định việc đi hay ở. Sự lựa chọn không mảy may sai lầm. Tất cả đều đã được quá trình thực tế gian nguy trên đường hành quân, trong chiến tranh ác liệt kiểm nghiệm. Đồng chí Trưởng đoàn Tư Chương (tức Tăng Thiên Kim) sau khi về miền Nam đã qua các cương vị tham mưu của Ban Quân sự Xứ từ lúc bắt đầu hình thành; Trung đoàn trưởng trung đoàn chủ lực đầu tiên của B2, tức Trung đoàn 761 của Sư đoàn 9 về sau, rồi Tham mưu trưởng Quân khu 8, phụ trách trường lục quân của Bộ và nay là Đại tá hưu trí ở tỉnh Đồng Nai. Đồng chí Phó đoàn là Đặng Ngọc Sĩ, sau này là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đặc công của B2 và nay là Đại tá phụ trách trường đào tạo hạ sĩ quan Quân khu 7. Một phó đoàn khác, đồng chí Nhơn (tức Vũ) đã bị địch bắt rồi được trao trả tù binh năm 1973, vẫn giữ vững khí tiết cách mạng và nay là Chỉ huy phó Sư đoàn huấn luyện tân binh Quân khu 9. Còn phó đoàn nữa là đồng chí Phong Ba (tức Ba Nghiêm) đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu ở Quân khu 9. Những đồng chí khác, một số đã hy sinh và số còn lại đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang được giao, trong hàng chục năm chiến tranh cho đến ngày nay như đồng chí Ba Kính hiện nay là Tỉnh ủy viên tỉnh Sông Bé kiêm Bí thư huyện Phước Long. Nhiều đồng chí còn đang làm việc, có đồng chí đã về nghỉ hưu.

    Đoàn được tập trung vào tháng 6/1959, còn có thêm ba đồng chí bác sĩ là Đức, Dũng, Thanh. Tuy đã được đào tạo cơ bản, các đồng chí cũng được huấn luyện học tập thêm về chính trị, về bắn các loại súng, chiến thuật, thông tin, chụp ảnh và lái tất cả các loại xe hai bánh và bốn bánh, kể cả xe tăng và thiết giáp. Tập hành quân mang nặng, leo núi, không thể ra thao trường vì phải giữ bí mật, nên dồn đá gạch vào ba lô mang đi lên đi xuống thang gác trong nhà nhiều lần trong ngày, mỗi ngày mỗi tăng thêm trọng lượng trên vai.

    Trong lúc đang rèn luyện, chuẩn bị mọi mặt thì chúng tôi tổ chức đoàn đi trước xoi đường vào Nam Bộ vì lúc ấy đường chưa thông. Đồng thời Trung ương cũng điện cho Xứ ủy Nam Bộ cho cán bộ và đơn vị mở đường từ trong ra để hai đầu cùng tiến đến gặp nhau, bớt kéo dài thời gian chờ đợi.

    Tuy vậy, năm tháng đã trôi qua, chương trình huấn luyện phong phú đã mãn, công việc chuẩn bị xong xuôi mà đoàn xoi đường vẫn chưa bắt liên lạc được với đoàn đi đón. Chúng tôi phải quyết định cho B500 (bí danh của đoàn cán bộ quân sự đầu tiên vào Nam) cứ lên đường theo vết chân đoàn đi mở đường trước rồi bằng vô tuyến điện chúng tôi sẽ điều khiển cho các đoàn liên lạc với nhau. Đúng ngày 25/12/1959, B500 xuất phát từ gò Đống Đa lịch sử. Lúc này Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của đồng chí Bí thư thứ nhất, cho đoàn 25 cán bộ quân sự tập kết về Nam. Trước khi lên đường, đồng chí Phạm Hùng mời cả đoàn đến nhà riêng ăn bữa cơm gia đình chia tay, có món canh chua nấu cá lóc truyền thống Nam Bộ. Bác đã đến chia vui, Bác hỏi: Chú nào trưởng đoàn? Tư Chương đứng lên: Thưa Bác, cháu Tăng Thiên Kim, cán bộ trung đoàn. Trìu mến nhìn từng người, nhìn Tư Chương, Bác dặn: Hãy chọn đường nào an toàn nhất mà đi. Ý Bác muốn nói, dù xa, dù lâu, dù khó nhưng cũng phải đi tới nơi về tới chốn. Sau đó anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) chiêu đãi đoàn tại Câu lạc bộ quân nhân. Vinh dự biết bao những con người mở cửa đột phá, đột phá vào chiến trường khói lửa đành rồi, nhưng quan trọng hơn là đột phá quyết định chi viện miền Nam bằng cái vốn quý: Cán bộ chiến đấu. Các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là những đứa con tin yêu của Đảng. Sau các đồng chí có hàng ngàn, hàng vạn con người xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, có cả những quân đoàn đạp lên xác thù vào thêm sức cho quân dân miền Nam về giải phóng Sài Gòn, tiếng tăm vang dội mà ai cũng biết. Nhưng ít người biết được sự việc âm thầm cực nhọc mà cao cả của 25 anh em về chuyến đầu này cũng như những anh em khai phá mở đường.

    Đồng chí Tư Chương kể lại: Đoàn chúng tôi vượt làng Ho rồi qua sông Bến Hải. Đoạn sông chỗ này nước chỉ đến ống quyển, nhỏ như một con suối. Đôi bờ rậm rạp, cây cối xanh um. Cùng một thứ đất, cùng một loài cây, thiên nhiên không có gì khác biệt để phân chia Nam - Bắc. Thế mà qua khỏi sông, cả đoàn tự nhiên không ai bảo ai, cùng dừng lại ngẩn ngơ, xúc động nhìn dòng sông ngoằn ngoèo về xuôi, ra Biển Đông, xúc động nhìn từ giã bờ Bắc, nhìn xa hơn nữa giống như nhìn thấy lần cuối cả Thủ đô Hà Nội, cả Bác Hồ kính yêu. Đường đi thật hiểm trở, toàn leo núi cao từ núi này qua núi nọ. Vào đến địa phận Kon Tum thì đường có tổ chức đã hết, phải chờ khai thông. Nghỉ được vài hôm chúng tôi được lệnh: Trưởng đoàn phải trở ra bắc Quảng Nam để gặp Bí thư Khu ủy Khu 5. Thế là anh em nằm lại, tranh thủ phát rẫy sản xuất để có lương thực mà ăn và đem theo khi đi tiếp, còn tôi quay trở lại đường cũ. Đến nơi tôi gặp anh Bốn 2 - Bí thư Khu ủy. Anh bảo đường đi chưa thông hãy dừng lại đây chờ. Trong lúc chờ đợi, các đồng chí triển khai giúp chúng tôi một số việc:

    - Tổ chức và huấn luyện các trạm giao liên dọc Trường Sơn mới bố trí từ Quảng Nam đến Kon Tum.

    - Mở một lớp đào tạo y tá cho các địa phương miền núi.

    - Mở một lớp đào tạo tiểu đội trưởng cho anh em người Thượng.

    Hoàn thành các công tác được giao, thu hoạch vài vụ sản xuất, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Đến khoảng giữa Gia Lai và Buôn Ma Thuột, vừa ra khỏi một khu rừng rậm quanh co, chúng tôi cụng trán ngay với một toán lính ngụy người Thượng trên 10 tên và 3 con voi đồ sộ. Đôi bên đã thấy nhau, chúng sửng sốt dừng lại. Tôi ra lệnh nhỏ cho toàn đoàn: Sẵn sàng và theo tôi! Đến sát chúng, tôi tự xưng là một đơn vị biệt kích (chúng tôi ăn mặc theo lính ngụy và mỗi người trang bị một mituyn hoặc cạcbin và một súng sáu) và vặn lại chúng sao dám đi vào khu vực của chúng tôi hoạt động, từ nay phải tránh khu vực này. Chúng dạ một cách cung kính và riu ríu đi qua để cho chúng tôi lại tiếp tục hành quân của mình. Vào đến Buôn Hồ chúng tôi gặp được đoàn đồng chí Tư Lạc 3 đi trước xoi đường, đang trú tại đây, còn đồng chí Tư Lạc dẫn một tổ đi bắt liên lạc với đoàn của Xứ ủy đón chưa về. Thế là chúng tôi nhập bọn. Đúng vào mùa lúa rẫy chín, chúng tôi đi tuốt lúa cho đồng bào và lại làm rẫy tự túc cho đến khi đồng chí Tư Lạc trở lại dẫn cả đoàn đi tiếp. Vào đến địa phận Nam Bộ đoàn chúng tôi chia làm hai. Một bộ phận do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ dẫn đầu qua sông Đồng Nai Thượng, còn tôi dẫn một bộ phận vào Phước Long, gặp được anh Nguyễn Hữu Xuyến. Anh Xuyến lúc ấy là Trưởng ban Quân sự Khu 1.

    Chúng tôi theo anh Xuyến về Khu 1 ở Chiến khu Đ rồi nhận điện của Xứ ủy lại về gặp Xứ ở căn cứ Tây Ninh. Đó là vào đầu tháng 12/1960. Một năm trọn vẹn trên đường đi, bốn lần qua lại quốc lộ 14, hai lần dừng lại trỉa bắp, trỉa lúa để lấy lương ăn và công tác phục vụ địa phương. Tất cả đều vào đến đích, gầy đi, đen sạm, nhưng sức lực và chí khí được trui rèn thêm để lao vào công tác cho miền Nam yêu dấu.





-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Tức đồng chí Võ Chí Công, nay là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
3. Đại tá Phạm Văn Lạc, đã nghỉ hưu tại Xuân Lộc, Đồng Nai.



Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:09:21 pm
    Nghỉ ngơi bồi dưỡng cho lại sức, rồi cả đoàn chúng tôi được tham dự Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20/12/1960. Ở Đại hội này đồng chí Lê Thanh 1 đại diện chung lực lượng vũ trang, còn chúng tôi thì đại diện cho các binh chủng (đoàn chúng tôi gồm cả cán bộ bộ binh, pháo binh, đặc công, thông tin, quân y). Sau Đại hội chúng tôi được phân công công tác, được điều về Quân khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Chợ Lớn, mỗi nơi bốn người. Tôi và số người còn lại được bố trí ở Ban Quân sự thuộc Xứ ủy. Thực tế Ban Quân sự vừa lập để giúp Xứ ủy chỉ đạo về mặt quân sự, mới gồm vẻn vẹn một số cán bộ ít ỏi do các anh Ba Bường 2 và Hai Xô 3 phụ trách, anh Tư Võ (Võ Phát) - Chánh văn phòng, anh Nhựt Quang - Thư ký, anh Năm Thành - hậu cần. Còn tôi lo công tác tham mưu, anh Ba Nghiêm công tác chính trị.

    Lực lượng vũ trang trực thuộc có hai trung đội bảo vệ. Mầm mống lúc đầu là như vậy, nó là tiền thân quý báu của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam sau này. Công việc đầu tiên tại chiến trường mà các đồng chí trong đoàn chúng tôi đã thực hiện kết quả là mở các lớp dạy bắn súng. Các nơi dấy lên phong trào bắn chính xác: “Một viên đạn một quân thù”...

    Còn đoàn đồng chí Tư Lạc đi trước xoi đường để đưa đoàn đồng chí Tư Chương tới đích thì xuất phát từ ngày 01/6/1959. Đoàn gồm tất cả 32 đồng chí, có điện đài, do Tư Lạc và Ba Phước phụ trách. Đồng chí Tư Lạc nay đã gần 70 tuổi, vẫn kể chuyện rành mạch như mới xảy ra vào ngày gần đây. Đồng chí cười nói: “Ai có thể quên được chứ chúng tôi không bao giờ quên chuyện mình đã làm, nhất là những ngày đầy gian khổ ấy”. Đồng chí kể:

    Đường đi thật gian nan vất vả. Leo núi, xuống đèo, hết đèo lại núi. Thế mà phải mang theo nửa tháng đến một tháng gạo ăn mỗi người không kể đồ dùng, súng đạn. Có những suối đá, bờ dốc đứng, nước chảy xiết, vượt qua được thật nguy hiểm. Phải buộc dây vào mình mà lần từng bước. Trước khi đi chúng tôi đều được tập bơi lội đủ kiểu, nhưng bơi gì được với kiểu suối này. Đặc biệt là muỗi và vắt không chê vào đâu được. Vắt đen, vắt xanh, vắt nhỏ, vắt lớn, cả đàn, cả lũ. Dưới đất có mà trên cây cũng có. Nhất là ở bờ suối ẩm, không biết đặt chân vào đâu, vì tua tủa những “cần ăngten” ngọ ngoạy. Trong lúc ta chăm chú bọn vắt dưới đất thì từ cây cối hai bên, vắt bung chính xác vào mặt, vào cổ. Nếu không biết hoặc bắt còn sót thì vắt cứ im lìm bò dọc theo người, tìm nơi kín đáo nhất nằm, tha hồ hút đầy máu. Khi quá no căng, vắt nhả ra và rớt đi. Còn ta đi cho đến lúc có đồng chí bên cạnh phát hiện giùm vì máu thấm đỏ cả quần hoặc áo. Không nguy hiểm lắm nhưng mất bao nhiêu máu, bao sức lực, trong khi vận động nhiều mà ăn uống khổ cực. Thật phải chiến đấu ra trò với bọn chúng. Đường đi vắng vẻ, hầu như từ khai thiên lập địa chưa có dấu chân của con người qua đây. Vì vậy khi qua những vùng gần địch, băng qua đường xe, qua buôn rẫy của đồng bào... chúng tôi đều phải bỏ dép râu (dép cao su) ra cầm tay đi chân không, để khỏi lộ vết tích của “Việt cộng”. Đường chúng tôi đi dài cả năm như vậy mà đến hai phần ba là dép mang trên người chứ không phải người đi dép. Cuối tháng 11/1959 chúng tôi đến địa phận Buôn Ma Thuột. Qua khỏi con sông Ba là hết đường đi, không có trạm, phải nhằm hướng mà mở đường. May quá, đến Buôn Hồ lại gặp một trạm. Chúng tôi ở lại đây bắt liên lạc với Trung ương và Nam Bộ bằng máy 15 oát và phát rẫy sản xuất bảo đảm lương thực. Đến tháng 7/1960 thì chúng tôi nhận được điện chỉ đạo của Trung ương về hướng tiến, địa điểm bắt liên lạc với đoàn của Xứ ủy Nam Bộ đi đón: Bờ suối Đắk Rtí gần Gia Nghĩa, một con suối chảy ra sông Đồng Nai Thượng. Rồi cách làm dấu tại bờ suối nếu đoàn nào đến trước, khẩu hiệu hỏi, đáp để nhận nhau. Chúng tôi liền tổ chức một tổ gồm tôi, đồng chí Đỏ tức Mađen, người xã Xuân Thọ (Xuân Lộc) và đồng chí Thời người quê Túc Trưng (tỉnh Đồng Nai) đi đến địa điểm móc ráp, còn cả đoàn cứ ở lại trạm, sản xuất lương thực và chờ. Khi tới suối Đắk Rtí, nghe cả tiếng loa đài phát thanh ngụy từ thị xã Gia Nghĩa, chúng tôi đi lùng dọc bờ vẫn không có dấu vết gì của đoàn đi đón. Rõ ràng theo chỉ đạo ở trên thì ở bờ suối bên này. Nhưng cũng cứ qua bờ bên kia xem có gặp được không. Suối đá trơn, sâu, bờ suối dựng đứng, nước chảy xiết, tìm mãi không có nơi nào qua được dễ. Đành phải chọn nơi tốt nhất. Tôi để hai đồng chí lại, còn tôi cột dây vào thân mình để băng qua suối. Nhưng đồng chí Thời cản tôi lại, đòi để đồng chí đi vì đồng chí trẻ và khỏe hơn tôi và nếu có rủi ro thì không phải là trưởng đoàn hy sinh. Giằng co mãi tôi đành nhượng bộ. Người đi hăng hái, người ở lại theo dõi từng bước của bạn mới là khổ: Lo lắng, bồn chồn, rồi mừng, rồi lại lo. Phải mất nhiều giờ đồng chí mới qua gần đến bờ bên kia. Rủi thay, một cái trượt chân đồng chí vội bíu vào mỏm đá, nhưng đá trơn quá mà nước chảy mạnh, mang luôn đồng chí xuôi theo dòng. Chúng tôi chỉ còn kịp nhìn chăm chú sự vật lộn của đồng chí với dòng nước ác nghiệt, với những tảng đá lởm chởm cho đến khi khuất dạng. Băng qua cứu không được, chạy dọc theo bờ cũng không kịp, chúng tôi đành ngồi đợi một tin may rủi. Ba ngày vẫn bặt tăm. Lại cạn lương thực. Thế là hai chúng tôi còn lại phải trở về trạm Buôn Hồ lấy lương thực rồi trở vào lần nữa. Lần này có đồng chí Năm Nhường 4 thay chỗ đồng chí Thời cho đủ bộ ba. Đúng ngày 30/9/1960 thì tổ chúng tôi đến đúng nơi cũ ở bờ suối. Đã có nhiều dấu chân lạ. Đi lùng một hồi thì gặp hai cậu thanh niên đang nằm trên võng. Tôi hỏi theo khẩu lệnh: “Ký ninh xanh?”. Đáng lẽ trả lời là “Ký ninh vàng” thì một cậu hỏi có phải đoàn anh Tư Lạc không? Nhưng thôi, nhìn trang phục, nhìn người, nhìn thái độ cũng nhận ra, mừng quá rồi. Thì ra hai cậu này đã đến suối, trước cả lần trước chúng tôi đến tới bảy ngày nhưng lại ở bên kia bờ suối. Lần này mới qua đúng nơi hẹn gặp. Đây là đội viên của trung đội đi đón do đồng chí Bảy Tâm (còn gọi là Bảy BK) và Sơn phụ trách, nhưng cả trung đội đóng ở bên kia bờ sông Đồng Nai. Chúng tôi lại làm bè và lội qua sông, suýt nữa thì tôi và đồng chí Năm Nhường cũng bị trôi theo dòng, may nhờ ba cậu thanh niên cứu kịp vào bờ. Yên tâm rồi, chúng tôi trở về Buôn Hồ để đón đoàn vào. Khi đi cả tháng thế mà lần này chỉ mất có sáu ngày. Đó là nhờ đồng bào Thượng ở các buôn dẫn đường, từ buôn này qua buôn kia. Đồng bào Thượng tin và giúp chúng tôi vì có đồng chí Đỏ. Đồng chí gốc người Thượng lại được học nhiều tiếng dân tộc trước khi lên đường từ miền Bắc. Khi nghe đồng chí Đỏ nói chuyện, đồng bào rất ngạc nhiên hỏi: “Bây ở đâu tới? Sao bây biết nói tiếng? Từ thời Tây đến nay chưa có ai tới đây như bọn bây”.

    Đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang nhưng mất đi đồng chí thân yêu, một người con dũng cảm của Tổ quốc: đồng chí Thời.

    Tư Lạc sau đó được chỉ định phụ trách quân sự tỉnh Quảng Đức (từ tháng 10/1960 đến tháng 10/1961). Đồng chí đã xây dựng được lực lượng và tác chiến có kết quả. Đã có trận dùng một tiểu đội đặc công và hai trung đội bộ binh diệt gọn quận lỵ Đức Lập vào tháng 12/1960, thu được 50 súng. Sau đó được chuyển qua phụ trách quân sự tỉnh Lâm Đồng nhưng chưa kịp gặp tỉnh ủy nhận nhiệm vụ thì được điều về Khu 1 (miền Đông Nam Bộ) nơi đồng chí đã hoạt động trước khi đi tập kết. Sau khi được phép gặp vợ con lúc ấy đang làm công tác phụ nữ ở tỉnh Biên Hòa, đồng chí về phụ trách quân sự tỉnh Long Khánh. Kể xong sự việc đồng chí trầm ngâm, kết thúc: “Có thể gọi được rằng mình đã sống trong một thời kỳ lịch sử của dân tộc, và giờ đây vẫn còn sống. Thế là quý rồi!”.


*
*      *


    Sau khi đoàn đồng chí Tư Chương lên đường, chúng tôi lại được phép chọn nhiều cán bộ tập kết khác của chiến trường Nam Bộ cũng như Khu 5 cũ, lần lượt tập trung huấn luyện và lần lượt vào Nam tham gia chiến đấu. Rõ ràng là đầu xuôi đuôi lọt. Chúng tôi phấn khởi say sưa tổ chức đưa hết đợt này đến đợt khác vào chiến trường mong công việc không bị một bất ngờ nào làm đình trệ. Anh em cán bộ tập kết, mặc dù đã giữ hết sức bí mật sự việc về Nam chiến đấu, vẫn bằng cách nào đó, anh em còn lại biết được rành rẽ và hầu như ai cũng mong ngóng chờ đến phiên mình. Những ngày chủ nhật, ngày rảnh, gặp nhau ngoài đường họ mỉm cười gật đầu: Mày cũng còn đây hả. Rồi hỏi nhau thằng X, thằng Y đi rồi sao, lâu nay không thấy mặt. Cũng có người nôn nóng đi tìm người quen hỏi dò: Bao giờ tới phiên tôi. Tất nhiên cũng có người sợ chết không dám vào chiến trường, nhưng số này quá ít không đáng kể. Bản thân tôi cũng đâm ra sốt ruột. Từ năm 1959 tôi đã xin các đồng chí Bộ Chính trị cho tôi về Nam, cũng do Nghị quyết 15 kích thích. Các đồng chí đã trả lời: Bệnh anh chưa ổn định đi thế nào được, quyền quyết định bây giờ là do bác sĩ. Khi tiễn một đoàn cán bộ trung cao cấp lên đường vào năm 1960, một đồng chí quen thân đã cảm động bắt tay tôi thật chặt và nói để an ủi: “Anh đành phải ở lại thôi, rất cần thiết để lo cho tất cả anh em về và tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi về thay anh chiến đấu thật tốt vậy”, và nói thêm một cách thành thật: “Bây giờ anh đã làm trung tướng của Quân đội nhân dân rồi, về thế nào được”. Một lời nói chân tình nhưng không khỏi làm tôi bàng hoàng. Tôi nhớ ngay đến những ngày chuẩn bị tập kết năm 1954. Ngày ấy tôi đã đề nghị lên Trung ương Cục cho tôi ở lại miền Nam không đi tập kết. Các anh đã trả lời tôi: “Anh đã lộ liễu quá rồi, là Tư lệnh Khu, là Phó Tư lệnh Nam Bộ, anh ở lại thế nào được”. Tôi đã bực bội trong lòng không đâu vào đâu suốt cả tuần lễ chỉ vì các chức vụ cao cấp công khai của mình. Nhưng ngày ấy sợ vi phạm Hiệp định, còn bây giờ thì Hiệp định đã bị địch xé bỏ rồi. Sau phút bàng hoàng vì câu nói bất ngờ của bạn, tôi trấn tĩnh ngay và trả lời: “Chính vì cấp bậc trung tướng mà Chính phủ đã phong cho tôi trong đợt phong quân hàm đầu tiên cho quân đội này, nên để xứng đáng với nó tôi càng phải vào chiến trường sớm. Các đồng chí biết không, cấp trung tướng tôi được phong vì tôi đã hoàn thành những công việc tương xứng ở chiến trường Nam Bộ trong những năm chống Pháp. Chính chiến trường Nam Bộ đã đào tạo nên tôi, bao nhiêu đồng chí đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường, đồng bào Nam Bộ đã nuôi dưỡng và giúp đỡ cho tôi hoàn thành nhiệm vụ, tức như đã phong cấp cho tôi hoặc có thể hiểu rằng cấp bậc ấy không phải riêng cho tôi mà là vì chiến trường Nam Bộ đấy. Giờ đây tôi phải có nghĩa vụ phục vụ chiến trường và nhân dân miền Nam đang đem xương máu ra đấu tranh chống địch. Địch không đếm xỉa đến thỏa thuận với ta sao ta lại bám vào thỏa thuận không có giá trị? Các đồng chí hãy về trước, tôi sẽ cố gắng theo gót các đồng chí”. Tôi đã tin chắc như vậy. Và tôi đã nói đúng như thâm tâm của mình hiểu một cách trang trọng về cấp bậc quân đội. Cho đến 16 năm sau, năm 1974 tôi được lên một cấp, cấp thượng tướng, tôi cũng nghĩ rằng nếu tôi không vì nhân dân, vì chiến trường B2 mà chiến đấu, mà phục vụ hết mình thì không thể xứng đáng với cấp bậc ấy và cấp bậc ấy phải chăng là của B2, của những đồng chí đồng đội đã ngã xuống ở B2 mà có. Chính vì vậy có một lần tôi đã phản ứng ra mặt đối với một đồng chí cấp cao khi đồng chí ấy hỏi tôi, sao không phong đại tá cho một đồng chí đang làm công tác công khai mặt đối mặt với địch tại Sài Gòn, khi ấy đồng chí này mới là thiếu tá. Tôi trả lời rằng đồng chí ấy chưa đủ thành tích xứng đáng được phong vượt cấp lên đại tá. Đồng chí cấp trên ấy đã vừa cười và nói: Ôi chao, cấp bậc cũng do ta đặt ra mà mang thôi, có gì mà chưa với đủ. Tôi đã như bị một cú “sốc” mạnh vì cái cười và câu nói vô trách nhiệm ấy (đúng là đồng chí ấy chưa từng chiến đấu ngày nào ở chiến trường đâu hiểu nổi giá trị thực của một chiến sĩ, một cấp bậc sĩ quan), đến nỗi tôi sa sầm nét mặt, không nói thêm một lời nào và quay ngay đi chỗ khác. Tôi cay đắng nghĩ: Nếu ai cũng cho cấp bậc quân đội là như vậy, do ta đặt ra thì ta có thể tùy tiện phân phát, không có một chân giá trị thì quân đội chiến thắng của ta rồi sẽ ra sao? Không, mọi thứ trên đời này đều có chân giá trị của nó. Mỗi con người đều có một phẩm chất, mỗi sự việc đều có một ý nghĩa. Nếu không, xã hội không tồn tại. Năm 1973, khi tôi là Trưởng đoàn đại diện quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên ở Sài Gòn, tôi gặp Sullivan - Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, đại diện Chính phủ Mỹ đi công cán qua Sài Gòn, đến thăm xã giao tôi và Thiếu tướng Lê Quang Hòa ngày ấy là Trưởng đoàn quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi gặp tại trụ sở của hai phái đoàn quân sự chúng ta ở trại “Đavít” trong sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nói vừa thật vừa xã giao: “Được nghe tiếng ngài Sullivan từ lâu, nay mới được hân hạnh gặp ở đây”. Sullivan mỉm cười ý nhị trả lời: “Tôi cũng rất hân hạnh gặp Trung tướng Trần Văn Trà lần này, tuy rằng tôi đã biết tiếng ngài từ lâu, nhất là thời kỳ ngài đã phái Sư đoàn 316 qua tìm tôi ở Vientiane”. Lúc ấy y là Đại sứ Mỹ ở Lào đóng tại Vientiane. Tôi cười lớn một cách thành thật: “Vâng, lần này không tìm cũng gặp và tôi mong ta sẽ còn gặp nhau vui vẻ nhiều lần nữa trong cảnh thanh bình”.

    Như vậy đó, Mỹ và ta đã biết nhau nhiều. Trong thời đại ngày nay khó mà ai che giấu ai được mọi chi tiết. Sullivan nhắc chuyện hồi đầu 1960 ở Lào, khi đó Trung tướng Trần Văn Trà là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân, là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, ngày nay Trung tướng Trần Văn Trà lại là Trưởng đoàn quân sự miền Nam ở Sài Gòn, phải chăng y công khai thừa nhận việc cán bộ tập kết bất cứ ai đều có quyền trở về miền Nam chiến đấu vì độc lập tự do chống xâm lược? Tôi vui vẻ cười to một cách thành thật trong khung cảnh ngoại giao là nghĩa như vậy.




------------------------------------------------------------------
1. Nay là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7.
2. Phạm Thái Bường, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, đã mất.
3. Phạm Văn Xô, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, đã nghỉ mất sức.
4. Hiện nay làm công tác thanh tra ở tỉnh Sông Bé.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:17:24 pm
CHƯƠNG V
Đồng khởi



    Năm 1959 là một năm đáng ghi nhớ sau một giai đoạn vô cùng khó khăn của cách mạng miền Nam trong thế thủ chịu đựng những thiệt hại lớn lao của nhân dân và của lực lượng ta do Đảng lãnh đạo.

    Từ năm 1954 đến năm 1959, trải qua hơn 5 năm trời, chính quyền Ngô Đình Diệm được chủ Mỹ nuôi dưỡng và dùng vũ lực đặt lên ở miền Nam Việt Nam, được tên phù thủy Lansdale đã từng có kinh nghiệm phụ trợ cho Magsaysay đánh phá phong trào nhân dân Philíppin và hàng trăm cố vấn Mỹ giúp sức, dùng vũ khí và đôla Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh liên miên đánh vào nhân dân miền Nam dưới chiêu bài diệt cộng. Những cuộc hành quân cảnh sát lớn nhỏ, những cuộc càn quét giết người cỡ trung đoàn, sư đoàn tiến hành khắp thôn quê thành thị. Diệm diệt phe đối lập, đánh lực lượng vũ trang giáo phái, bắt tù và tàn sát hàng vạn người vô tội, nhốt cả triệu quần chúng vào các trại tập trung, khu dinh điền, khu trù mật, cướp ruộng đất của nông dân cho địa chủ, đàn áp các tầng lớp công nhân, tiểu thương, trí thức... ở thành thị, bóp nghẹt mọi tự do dân chủ, tạo nên một cuộc sống ngột ngạt dài ngày ở miền Nam. Chế độ buôn dân bán nước của Diệm không có cơ sở xã hội, phải tạo ra tầng lớp địa chủ tư sản mại bản, quân phiệt mới để làm chỗ dựa. Muốn giữ vững địa vị thống trị, chúng không thể cai trị dân theo các phương thức bình thường của một nhà nước gắn bó với dân, mà phải dùng biện pháp tàn ác nhất, phátxít nhất, nhằm đè bẹp sự chống đối của nhân dân từ mọi phía; phải dùng nhà tù và lưỡi lê để chống lại nhân dân, buộc nhân dân phải khuất phục một bề, dưới quyền lực của một nhóm nhỏ mà tiêu biểu cầm đầu là gia đình họ Ngô. Sự đàn áp khủng bố ngày càng tăng, bất chấp dư luận rộng rãi trong nước và ngoài nước, đạp lên oán hờn xương máu, miễn biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia riêng biệt chống cộng theo ý đồ của đế quốc Mỹ. Mức tột cùng của tàn bạo là vào năm 1959 khi Diệm cho kéo máy chém đi khắp mọi nơi, chặt đầu bất cứ ai dám có ý nghĩ chống đối lại. Thực ra Diệm tiến hành hàng loạt tội ác ấy ngoài ý thức giai cấp phong kiến địa chủ phục thù, ngoài sự ham mê quyền lực tối cao, danh vọng hão huyền một thời, còn bị sự thúc ép thực hiện ý đồ và kế hoạch của chủ Mỹ. Còn Mỹ, nếu ta bình tâm nghiên cứu âm mưu và hành động thực tế của Nhà Trắng qua các thời kỳ, từ lúc đầu tư lớn thúc đẩy Pháp tiếp tục chiến tranh, chiếm cho được Đông Dương trong những năm đầu thập kỷ năm mươi, đến lúc thay Pháp dựng Diệm lên làm tiếp chiến tranh một phía, thì ta thấy rõ con đường đã và sẽ tiếp diễn của Mỹ. Mỹ đã buộc Diệm xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, quyết xâm lược và biến miền Nam Việt Nam thành một nước phụ thuộc Mỹ, một đầu cầu trên đất liền châu Á để chống cộng dù phải tiến hành kiểu chiến tranh nào, thật đã rõ như ban ngày. Đó là sự nhất quán thi hành theo chính sách chiến tranh lạnh của đế quốc Mỹ thời kỳ ấy, thời kỳ mà “Harry Truman trở thành tín đồ của một cuộc chiến tranh lạnh đổi mới và mạnh mẽ chống lại Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nói chung” 1.

    “NSC-68” 2 kiến nghị rằng Mỹ phát triển một khả năng quân sự và một môi trường trong nước Mỹ và trong tất cả các khu vực khác của thế giới mà theo đó, Mỹ và hệ thống của Mỹ có thể sống sót, để đi đến mục đích đó, Mỹ phải tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự với người Xôviết hoặc với những người làm thay cho họ trong bất cứ nơi nào trên thế giới. Chính sách chiến tranh lạnh của Truman từ năm 1950 thúc đẩy nước Mỹ tăng chi phí quốc phòng, tăng quân số, chạy đua vũ trang, gây tình hình căng thẳng thế giới đi đến làm chiến tranh thực sự ở Việt Nam.

    Trong khi lao vào cuộc chiến tranh chống nhân dân Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, đế quốc Mỹ đã cố nặn ra Khối hiệp ước xâm lược Đông Nam Á (SEATO) để lôi kéo các nước ấy cho có thêm sức mạnh quân sự và chính trị phản động. Nhưng quan trọng hơn là đế quốc Mỹ tìm mọi cách chia rẽ, mọi thủ đoạn ngoại giao và áp lực để tìm sự nhất trí và cấu kết giữa đế quốc và các thế lực cơ hội bành trướng ngay từ lúc ấy là chia cắt lâu dài nước Việt Nam, nhằm bảo đảm cho sự thành công của chiến tranh xâm lược, chống cộng ở Đông Dương, để vững bước tiến trên con đường tội ác, hết nấc thang này đến nấc thang khác.

    Nếu năm 1959 là năm tột cùng tàn bạo khủng bố của chế độ Mỹ - Diệm thì năm ấy sức chịu đựng và chống đối của nhân dân miền Nam cũng đã đến giới hạn bùng nổ. Khi kẻ thù đã dùng đến những thủ đoạn cực đoan nhất, điên cuồng nhất chống nhân dân thì nhân dân cũng chống trả lại bằng hành động quyết liệt nhất. Chính vì vậy mà năm 1959 là năm chuyển mình to lớn của cách mạng miền Nam từ thế phòng ngự qua tấn công để đè địch xuống, vươn lên giành những thắng lợi. Đó là đêm trước của ngày khai hoa nở nhụy: Ngày hội Đồng khởi của miền Nam thành công.

    Hai tiếng “Đồng khởi” mà ngày nay trở thành quen thân với mọi người chúng ta, trở thành tiêu biểu của một thời đấu tranh cách mạng vang lừng năm 1959-1960 của miền Nam Thành đồng Tổ quốc, xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng tỉnh Bến Tre ngày 02/01/1960 để bàn chấp hành quyết định của Khu ủy 2 3 “tháng Giêng năm 1960 tiến hành nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt”. Các đồng chí dự họp đã gọi tắt “nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt” bằng “Đồng khởi”. Chỉ đơn giản thế thôi nhưng “Đồng khởi” đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân ta vì bao nhiêu máu của đồng bào đồng chí toàn miền Nam đã đổ ra, để đồng khởi làm chuyển biến một giai đoạn cách mạng hết sức quan trọng, đã chuyển một thời kỳ ảm đạm lên một thời kỳ rạng rỡ.

    Nghị quyết 15 đã được tóm tắt điện vào cho Xứ ủy Nam Bộ cũng như các khu khác và sau đó các đồng chí dự họp mới lần lượt trở về địa phương thông báo đầy đủ. Tháng 11/1959, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị lần thứ tư thảo luận Nghị quyết Trung ương 15 và bàn việc chấp hành. Hội nghị đã đánh giá sâu sắc tình hình và những ưu khuyết điểm trong lãnh đạo phong trào vừa qua. Ưu điểm căn bản là đã bảo toàn được lực lượng Đảng lãnh đạo, huy động được lực lượng quần chúng đấu tranh chính trị, qua những cơn bão tố đàn áp khốc liệt của địch, tuy có bị tổn thất nặng nề. Hội nghị đã biểu dương các Đảng bộ địa phương, cơ sở đã bám dân, bám đất, đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh với những khẩu hiệu chính trị dân sinh dân chủ đúng đắn, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ đã sớm hướng mạnh phong trào chống việc cướp đất tăng tô, giữ được quyền lợi thiết thân của nông dân. Về phương pháp đấu tranh, Hội nghị nhận định: “Mấy năm qua, trong đấu tranh chính trị ta biết kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền để hỗ trợ thúc đẩy phong trào. Trong một số vùng hoạt động võ trang tuyên truyền để hỗ trợ, thúc đẩy phong trào, trong một số vùng hoạt động võ trang tuyên truyền đã hạ uy thế địch và nâng uy thế ta, mở rộng ảnh hưởng và cơ sở cách mạng ở vùng yếu kém, có tác dụng hạn chế hung hăng của bọn gian ác địa phương và phân hóa bọn này. Nhưng sử dụng vũ trang tuyên truyền trong thời gian qua, trong phạm vi chiến thuật hỗ trợ thúc đẩy phong trào, ta cũng chưa sử dụng đúng mức và cũng chưa phát huy danh nghĩa ảnh hưởng của võ trang tuyên truyền tấn công chính trị vào địch. Có nơi co thủ quá, đối phó địch chưa tương xứng, có nơi không dám sử dụng, cho nên địch có lấn lướt uy thế đấu tranh của quần chúng, làm thiệt hại cơ sở cách mạng khá quan trọng”. Hội nghị cũng biểu dương: “Ta đã biết dựa vào lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng là chủ yếu, lấy đấu tranh chính trị rộng rãi của quần chúng làm chính và giữ thế công khai hợp pháp của phong trào. Điều đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh chống các chính sách của địch để đưa cách mạng tiến lên”. Nhưng Hội nghị cũng phê phán nghiêm khắc từng nơi, từng lúc “chỉ thuyết phục quần chúng trở về thế hợp pháp đơn thuần làm thiệt hại đến phong trào, địch đánh phá mạnh tổ chức, đưa quần chúng vào thế bị kềm kẹp của địch”. “Hiện nay trong các vùng căn cứ kháng chiến cũ, ở rải rác trong các tỉnh đã xuất hiện một số người bất hợp pháp đối địch với chính quyền Mỹ - Diệm. Có những cái “túi” gồm có hàng trăm hàng ngàn người lẩn tránh địch và chiến đấu chống địch để tồn tại. Ta phải có kế hoạch giải quyết hợp lý, hợp tình có lợi cho phong trào chung, không cho đó là một chướng vật cản ngại phong trào. Không vì thế hợp pháp mà thúc ép quần chúng co thủ ngăn cản không để cho họ dùng vũ trang chống lại địch để tự vệ”  4.





-----------------------------------------------------------------
1. Trích Lời phán quyết về Việt Nam (Vietnam Verdict) của Giôdép Amtơ, bản dịch của Trung tâm Thông tin khoa học và kỹ thuật quân sự.

2. NSC-68 là bị vong lục Hội đồng an ninh quốc gia ngày 14/4/1950 bao gồm một tài liệu lấy tên là “Một báo cáo cho Hội đồng an ninh quốc gia của các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng về các mục tiêu và chương trình của Mỹ đối với an ninh quốc gia”, được cho ra công khai ngày 27/02/1975. “NSC-68 hình thành và phản ánh các quyết định chính sách lớn của Chiến tranh lạnh. Tổng thống Truman tuyên bố một tình trạng khẩn cấp quốc gia, trong khoảng thời gian một năm, một triệu lính đã được thêm vào các lực lượng quân sự Mỹ; không quân đã được cung cấp thêm năm lần máy bay và ngân sách quốc phòng từ 13,5 tỷ đôla lên 48,2 tỷ đôla”

3. Lúc ấy miền Trung Nam Bộ ta hay gọi là Khu 2, miền Đông Nam Bộ là Khu 1 và miền Tây Nam Bộ là Khu 3.

4. Trích Nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ, tháng 11/1959. Hồ sơ lưu trữ tại Phân viện Lịch sử quân sự thuộc Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:23:47 pm
    Để thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương, Nghị quyết Xứ ủy đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là: “Giữ vững và đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, lấy đấu tranh chính trị rộng rãi và mạnh mẽ của quần chúng làm chính, đồng thời kết hợp hoạt động võ trang tuyên truyền để: chống chính sách khủng bố tàn bạo, chính sách bóc lột vơ vét, chính sách cướp nước và bán nước, nô dịch dân tộc và gây chiến của Mỹ - Diệm. Ngăn chặn và đẩy lùi từng bước mọi chính sách của địch, đẩy địch vào thế bị động và cô lập hơn nữa về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân chủ”. Ở đây, cũng theo Nghị quyết 15 của Trung ương, đã đặt rõ mục đích đường lối cách mạng miền Nam là đánh đổ Mỹ - Diệm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam có hướng đi rõ rệt và triệt để cách mạng. Về phương pháp có nêu một cách rất đúng đắn: “Phải biết kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và bất hợp pháp một cách linh hoạt, phối hợp chặt chẽ phong trào ở đô thị và phong trào ở nông thôn và vùng căn cứ thì mới tạo được cái thế vững mạnh để đẩy phong trào cách mạng tiến lên”. Về phương pháp đấu tranh vũ trang tuy chỉ để là “kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền” nhưng trên thực tế ở khắp các khu từ lâu đã có những trận đánh thực sự để tự vệ chống lại quân đội Diệm đi càn quét. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thường nói: “Có đường lối đúng, phải có phương pháp cách mạng đúng thì mới giành được thắng lợi”. Đúng là như vậy. Thực tế trong thời kỳ 1959-1960 ở miền Nam, cán bộ và quần chúng chỉ cần “nghe hơi” có nghị quyết của Trung ương và Xứ ủy đã cho kết hợp với đấu tranh vũ trang là khí thế đã bừng lên rồi. Nhiều đảng viên cũng như quần chúng đã nhảy lên reo hò mừng rỡ: Đảng đã cho đánh rồi. Cuối năm 1960 trong cuộc họp kiểm điểm công tác của Khu 1 (miền Đông Nam Bộ) anh em đã nhận định: “...Nhưng từ đầu năm 1960, sau khi học tập Nghị quyết 15 của Trung ương và Nghị quyết Hội nghị Xứ ủy lần thứ tư, đường lối chủ trương sáng suốt của Đảng lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu có kết hợp hoạt động vũ trang đúng mức nhằm phương hướng tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, đã đem lại cho chúng ta một luồng sinh khí mới và niềm tin tưởng phấn khởi”. Ở đây thấy rõ đường lối và phương pháp gắn chặt với nhau. Các đồng chí chúng ta phấn khởi tin tưởng với chủ trương phương hướng tổng khởi nghĩa cướp chính quyền để thoát ra khỏi chỗ bế tắc là đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, đòi hòa bình nhưng địch không thi hành Hiệp định, không chịu hòa bình từ bao năm nay rồi thì làm gì nữa? Lực lượng cách mạng ngày càng bị tiêu hao thì phải làm thế nào? Có thể nói từ tháng 7/1956 trở đi, các đồng chí chúng ta cũng như quần chúng cách mạng không ai nghĩ là phải đấu tranh gìn giữ củng cố hòa bình nữa vì từ năm 1954 đến nay có giờ phút hòa bình nào đâu mà giữ. Cũng không còn ai nghĩ là có thể đấu tranh đòi tổng tuyển cử theo Hiệp định Giơnevơ nữa vì Mỹ - Diệm đã tỏ ra quyết xé bỏ Hiệp định rồi. Rõ ràng chỉ có chống xâm lược Mỹ, loại bỏ ngụy quyền tay sai ngoại bang đang đàn áp đẫm máu nhân dân, giành tự do và độc lập mà thôi. Các đồng chí chúng ta cũng như quần chúng nhân dân đòi được trừ gian diệt ác, đòi được cầm súng bắn lại quân đội Mỹ - Diệm đã tiến hành chiến tranh từ bao lâu nay, nay nghe nói cho đánh rồi, tự nhiên phong trào bật lên mạnh mẽ một cách không lường được. Phương pháp cách mạng đúng, chủ trương chính sách cụ thể đúng, nhiều khi trở thành chìa khóa mở tung cửa căn phòng tối tăm để cán bộ qua một lâu đài rực ánh hào quang của thắng lợi. Và phương pháp, chính sách cụ thể sai, lắm khi đưa đường lối đến chỗ thất bại hoặc trở thành một trở lực cho thực hiện đường lối.

    Sau Hội nghị Xứ ủy, các khu về lại họp bàn thi hành. Đồng chí Nguyễn Minh Đường - Bí thư Khu ủy Khu 2 về đến Đồng Tháp Mười vào đầu tháng 12/1959 thì đại biểu các tỉnh trong khu đã có mặt vì đã được triệu tập từ đầu tháng 11. Chị Nguyễn Thị Định, lúc ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, đại biểu của tỉnh dự Hội nghị đã kể lại: “...Anh Sáu (Đường) báo cáo tình hình và chủ trương mới của trên. Tôi mới nghe qua mà đã vui như mở cờ trong bụng, mừng quá đỗi. Đây là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Chủ trương rõ ràng và phát động nhân dân miền Nam đấu tranh chính trị có kết hợp với vũ trang để tự vệ. Nghe nói vũ trang là Hội nghị vỗ tay rầm rầm. Thế là trên đi đúng với nguyện vọng bên dưới, rất tài tình. Thấy các đồng chí hướng về vũ trang quá, anh Sáu Đường phải dặn đi dặn lại: Các đồng chí nhớ đấu tranh chính trị là chủ yếu, vũ trang chỉ hỗ trợ mà yêu cầu là phát động nông dân nổi dậy phá thế kìm kẹp, làm chủ nông thôn, xã ấp” 1.

    Trong cuộc hội nghị ấy, Khu 2 đã chủ trương:

    “Phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở nông thôn, đối với các tỉnh tiếp giáp căn cứ Đồng Tháp Mười, đều tích cực đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang hỗ trợ phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ, mở rộng căn cứ du kích, đánh địch càn quét, bảo vệ căn cứ, ra sức xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, vũ trang, chuẩn bị tiến hành nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt”.

    Khu đã quyết định tháng Giêng năm 1960 nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt toàn khu. Để thi hành quyết định này của khu, mỗi tỉnh có cách làm riêng vì hoàn cảnh cụ thể mỗi tỉnh khác biệt nhau. Ở Mỹ Tho là nơi địch chọn làm trọng điểm “tố cộng, diệt cộng” đã gây cho ta thiệt hại quá nặng nề, cũng ở đây tỉnh cho cán bộ ra hợp pháp đông đảo, địch nắm rún ép, mua chuộc dụ dỗ một số, số khác điều lắng đi nơi khác nên cũng hao hụt nhiều. Vì vậy, trước Đồng khởi toàn tỉnh chỉ còn không đầy 100 đảng viên trong số 4.000 trước kia, nhiều vùng trở thành vùng trắng, ta không có đảng viên, không có quần chúng được tổ chức. Bọn tề điệp ác ôn khống chế nhân dân rất nặng nề. Bọn do thám, gián điệp ngầm nằm trong làng xã đông đảo phát hiện và ngăn chặn các hoạt động của ta. Mãi đến tháng 02/1960 tỉnh mới có được ít lực lượng vũ trang, và bắt đầu bằng diệt trừ bọn địch nguy hiểm nhất, bọn ác ôn, tề, điệp. Nhờ kinh nghiệm của các tỉnh bạn Kiến Phong, Bến Tre..., sự cổ vũ của phong trào toàn khu, toàn xứ, có sự chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, phong trào mới bật dậy. Khi quần chúng bớt bị địch khống chế, được cán bộ, đảng viên đi sát lãnh đạo, họ tự vũ trang gậy gộc, dao mác, nổi dậy phá tề ấp, tề xã, bao vây bức hàng, bức rút đồn bót, làm chủ thôn ấp, từ nổi dậy lẻ tẻ dần dần thành cao trào đồng loạt. Những nơi có đảng viên lãnh đạo, phong trào lên mạnh như nam, bắc lộ 4, các vùng Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành đến dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp. Điều đặc biệt ở Mỹ Tho là ở các vùng sâu, vùng trắng, ta không còn cơ sở cách mạng, không còn đảng viên, bị địch khống chế từ lâu, thế mà nay nhờ phong trào chung cổ vũ, quần chúng đã nổi dậy mạnh hơn các vùng khác, phá rã kìm kẹp hàng loạt xã, ta làm chủ hoàn toàn như các vùng dọc sông Cửu Long hay ở cù lao Thái Sơn. Rõ ràng nơi nào bị áp bức nặng nề, nhân dân căm thù địch cao độ, nơi ấy được phát động sẽ nổi dậy như nước trào dâng không gì cản nổi.

    Ở Long An, cũng như tất cả các tỉnh, thi hành chủ trương cho cán bộ, đảng viên ra lấy giấy tờ hợp pháp của địch, đi điều lắng. Khi địch khủng bố cán bộ bị hao hụt cũng nhiều. Nhưng có nhiều người bị lộ đã phải chạy vào căn cứ sống bất hợp pháp và dần dần tự động vũ trang trừ gian diệt ác lẻ tẻ. Đến năm 1956 khi địch đã không chịu tổng tuyển cử theo thời hạn quy định và tăng cường khủng bố đàn áp thì các đơn vị vũ trang cách mạng đã hình thành dần và cuối năm ấy đã có quy củ, có lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ. Có lực lượng vũ trang công khai thoát ly, có lực lượng vũ trang bí mật, ngầm, nằm trong nhân dân, kết hợp nhau hoạt động, vận động quần chúng đấu tranh, diệt ác. Nhờ đó mà cơ sở cách mạng vẫn giữ vững ngay từ đầu mặc dầu Long An giáp ngay với Sài Gòn, đầu não của địch. Năm 1957 hầu như ta đã làm chủ các ấp, tề ấp muốn làm gì phải xin ý kiến dân hoặc bí mật xin ý kiến cơ sở cách mạng, rồi mới dám làm. Cũng như năm 1957 ta đã tổ chức thành hai đại đội vũ trang lấy danh nghĩa là Tiểu đoàn 506 và Tiểu đoàn 508 hoạt động hai vùng nam, bắc lộ 4 chiến lược, con lộ chia tỉnh thành hai khu vực. Nhờ có lực lượng vũ trang sớm, lại được phân tán hoạt động khắp trong tỉnh, bám vào nhân dân, xóm làng mà làm công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở, ta diệt bọn gian ác nên phong trào chính trị quần chúng lên mạnh, vững vàng, địch hoang mang lo sợ. Đồng chí Chín Cần 2 lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Tư Thân 3 phụ trách quân sự, cho biết rằng cả phong trào chính trị của nhân dân và hoạt động vũ trang trong tỉnh lên mạnh và đều trong các năm 1958, 1959. Vai trò, tác dụng của lực lượng vũ trang là to lớn trong việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, trong việc diệt tề trừ gian và làm trụ cột cho nhân dân đấu tranh chống địch, giành quyền làm chủ thôn ấp. Đặc biệt là uy hiếp bọn địa chủ, giữ được ruộng đất cho dân, nhờ đó khí thế cách mạng lên mạnh, nông dân tin tưởng, phấn khởi.

    Chính trên cơ sở phong trào trong tỉnh như vậy, Long An bước được vào cuộc Đồng khởi theo quyết định của khu. Tỉnh chủ trương cần tạo đòn quân sự mạnh để phát động và hỗ trợ phong trào Đồng khởi của quần chúng, đồng thời sẵn sàng đối phó với phản kích của địch.

    Tháng 01/1960, ta chỉ dùng một tiểu đội kết hợp với ba nội ứng diệt đồn Đức Lập, thu toàn bộ vũ khí. Tư Thân và Tư Tâm trực tiếp chỉ huy trận đánh mở màn này. Tiếp theo là bót Rạch Chanh bị chiếm bằng cách ém quân xuống xuồng chở chuối đi bán. Khi xuồng đến bót, anh em bất thình lình nhảy lên, xông vào diệt địch lấy súng. Rồi đến dùng xe đò, chở hành khách là chiến sĩ hóa trang chạy ngang qua đồn. Đến cửa đồn, xe đỗ lại, “hành khách” bất ngờ nhảy xuống nổ súng đánh úp, diệt một loạt các đồn Tân Bửu, Hưng Long (Cần Giuộc), Mỹ Hạnh (Đức Hòa)... Khi địch đã cảnh giác đề phòng các kiểu kỳ tập mưu mẹo này thì lực lượng vũ trang ta lại chuyển sang đánh phục kích địch ngoài công sự, diệt một loạt các trung đội bảo an đi càn quét khủng bố, như trận ngã ba Lý Văn Mạnh, các trận Thạnh Lợi, A Rặc, Phước Chỉ... Chỉ trong vòng vài tháng đầu năm 1960 ta đã thu được gần 200 súng các loại, có cả một số trung liên. Có vốn liếng rồi, lực lượng vũ trang lại phát triển. Đến giữa năm đã vây đồn diệt viện ở Hậu Thạnh và đánh chi khu Đức Hòa. Trong suốt thời gian đánh mạnh về quân sự như vậy quần chúng nô nức nổi dậy phá tề, trừ gian, cưa cây cản đường, dựng chướng ngại vật, làm chủ nhiều xã, nhiều ấp, cả một số khu vực trong thị trấn; các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa đều có những lõm giải phóng gồm nhiều xã. Đặc biệt huyện Đức Huệ, một bộ phận của Đồng Tháp Mười, xem như cơ bản được giải phóng. Địch chỉ còn lại chi khu Quéo Ba, bót Kinh Xáng và các bót dọc lộ nối liền Quéo Ba và Hiệp Hòa. Tình hình cách mạng trong tỉnh thật sáng sủa.

    Ở miền Trung Nam Bộ, Kiến Phong là một tỉnh mà đồng khởi có tính chất điển hình: Tấn công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng. Tỉnh nằm trên dọc tả hữu ngạn sông Tiền bao gồm toàn tỉnh Sa Đéc cũ và một phần phía tây căn cứ Đồng Tháp Mười. Trung tâm của tỉnh là huyện Cao Lãnh, một vùng trù phú có phong trào cách mạng khá mạnh từ những ngày Đảng ta mới thành lập. Đây là khu 100 ngày chuyển quân tập kết của Nam Bộ hồi năm 1954 mà đồng bào vẫn không thể nào quên hình ảnh gắn bó keo sơn giữa kẻ đi và người ở. Chính ở đây ngay từ cuối năm 1954 đã bùng nổ những cuộc đấu tranh thắng lợi của nhân dân chống vụ thảm sát Bình Thành rồi phong trào quần chúng liên tục chống địch khủng bố tố cộng, bảo vệ phần mộ cụ Phó bảng thân sinh ra Bác Hồ kính yêu mà bộ đội cách mạng đã sửa sang và gửi gắm lại đồng bào khi đi tập kết. Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh khá dầy, nổi bật với cuộc nổi dậy tay không giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy do chị Sáu Ngày làm Bí thư hồi năm 1945. Sự thực ở tỉnh này từ năm 1954 chưa bao giờ vắng bóng lực lượng vũ trang cách mạng, dựa vào căn cứ Đồng Tháp Mười mà tồn tại. Có lúc, đó là lực lượng dân canh chống cướp hợp pháp. Thời kỳ Diệm diệt lực lượng vũ trang giáo phái thì đó là lực lượng giáo phái ly khai “Cao - Thiên - Hòa - Bình” 4 chống Diệm. Các đội, tổ vũ trang tuyên truyền do Tỉnh ủy chủ trương thường xuyên hoạt động tại các vùng đông dân. Cho đến cuối năm 1956 khi Mỹ - Diệm ra mặt phản bội Hiệp định Giơnevơ đã rõ, Tỉnh ủy chủ trương thành lập tiểu đoàn tập trung của tỉnh: Tiểu đoàn 502 đặt căn cứ trong Đồng Tháp Mười. Tuy vậy, lúc này chưa có chủ trương hoạt động vũ trang của trên nên tiểu đoàn hoạt động phân tán, vũ trang tuyên truyền và chỉ cốt tự vệ nhằm bảo vệ căn cứ, cán bộ và diệt ác giữ vững phong trào đấu tranh của nhân dân. Trong những năm đầu, tiểu đoàn hầu như không có một phương hướng xây dựng và hoạt động rõ ràng, thậm chí chập chờn có nên nổ súng hay không khi gặp địch. Tình hình ấy đã dẫn đến một thất bại chua cay vào năm 1958 khi địch lợi dụng mùa nước nổi mở trận càn, đánh úp bắt sống cả ban chỉ huy tiểu đoàn. Khi tiểu đoàn được củng cố lại với Tám Dần làm Tiểu đoàn trưởng và Sáu Chung là Chính trị viên thì cũng là lúc mà “hơi hám” được phép tấn công vũ trang của Nghị quyết 15 đem lại, nâng cao tinh thần cán bộ và chiến sĩ. Sau trận Gò Quản Cung thắng lợi, Tiểu đoàn đã trưởng thành và danh tiếng của tiểu đoàn đã lan rộng làm khiếp vía quân địch, làm nức lòng nhân dân. Sau trận đánh đó danh hiệu Tiểu đoàn 502 thật sự trở thành hiệu triệu, ngòi nổ cho phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận của Kiến Phong vào cuối năm 1959, ngay trước ngày Đồng khởi toàn khu. Số tù binh khá nhiều bắt được trong một trận đánh, tiểu đoàn đã đối xử tốt, giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào rồi thả về hết, kể cả sĩ quan. Số tù binh này đã cảm phục cách mạng, kể chuyện về lòng nhân đạo và sức mạnh vũ trang của cách mạng cho gia đình và nhân dân nghe, càng làm cho danh tiếng tiểu đoàn lan xa. Tại Cao Lãnh, tại Hồng Ngự, hàng trăm gia đình binh sĩ, hàng trăm quần chúng kéo đến dinh quân ngụy đòi gặp mặt chồng con, đòi con em về làm ăn, không đi lính nữa. Ở xã Thường Phước, nhân dân tự vũ trang giáo mác đánh đuổi bọn địch kéo máy chém đi khủng bố, bọn này hoảng sợ chạy tán loạn và liệng máy chém xuống sông, dòng nước Cửu Long đã tham gia cuốn trôi máy chém. Tháng 2, Tiểu đoàn 502 đột nhập xã Phong Mỹ (Cao Lãnh) diệt đồn, phá tề, phát động nhân dân làm míttinh ngay tại chỗ, lập tòa án nhân dân xử bọn gian ác. Cả xã đồng lòng diệt ác ôn, tề điệp làm chủ xóm làng. Tháng 12, lực lượng vũ trang huyện Mỹ An kết hợp nội ứng diệt đồn Vĩnh Huê, nhân dân nổi dậy giải phóng hoàn toàn xã Thanh Mỹ. Cả bên hữu ngạn sông Tiền lực lượng vũ trang diệt đồn Vàm Đình huyện Lấp Vò, bao vây trụ sở tề An Phú Thuận huyện Châu Thành, diệt bọn đi càn xã An Khánh, nhân dân nổi dậy trừng trị ác ôn, làm chủ một số vùng.

    Trước ngày thống nhất Đồng khởi toàn khu, tỉnh Kiến Phong, một tỉnh có thế mạnh dựa vào căn cứ Đồng Tháp Mười, có lực lượng vũ trang mạnh nhất trong khu, đã có phong trào tấn công và nổi dậy rầm rộ và tương đối rộng như vậy. Chính phong trào ở đây đã động viên, cổ vũ các đồng chí các tỉnh về họp hội nghị toàn khu, đã nêu lên một kiểu cách kết hợp quân sự, chính trị và binh vận, và do đó nghị quyết nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt toàn khu của hội nghị đã có cơ sở thực tế để tin tưởng thành công.

    Chấp hành nghị quyết của khu, tỉnh Kiến Phong lại tiếp tục làm cuộc Đồng khởi theo kiểu cách của mình, phát động rộng lớn trong toàn tỉnh.

    Từ căn cứ Đồng Tháp Mười, Tiểu đoàn 502 tỏa về các huyện phối hợp với lực lượng vũ trang huyện diệt địch, phát động nhân dân nổi dậy. Ở các huyện Cao Lãnh, Hồng Ngự, Mỹ An, tự vệ vũ trang cùng nhân dân trừ gian, phá tề, phá tan các tổ chức liên gia kìm kẹp của địch. Tề chạy trốn vào đồn, đồn nhỏ rút chạy về đồn lớn. Tại xã Mỹ Trà (Cao Lãnh) một đại đội địch bị diệt, ta bắt sống tên đại úy tỉnh đoàn trưởng bảo an. Tại Mỹ Hội ta đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch đang yểm trợ cho đoàn bình định hoạt động, tên trưởng đoàn bình định đền tội. Ở xã Thường Thới (Hồng Ngự) ta diệt gọn một trung đội biệt kích và ở An Bình diệt một trung đội bảo an, thu toàn bộ vũ khí. Ở Tân Quới, đồn dân vệ bị diệt, ác ôn bị trừng trị. Bọn hội đồng hương chính đem toàn bộ sổ sách, tiền bạc ra nộp cho nhân dân, xin đầu hàng cách mạng. Ở quận Lấp Vò, nhân dân cùng tự vệ vũ trang diệt đồn Long Hưng, đồn Bù Hút, bao vây trụ sở tề xã, giải tán tề ấp, làm chủ nhiều thôn xóm. Ở huyện Châu Thành, nhân dân nổi dậy phá tan các khu trù mật Cái Dầu, Cái Sơn, kéo về vườn cũ. Bọn ác ôn bị diệt, hàng trăm thanh niên bị bắt lính được giải thoát. Các khu trù mật và dinh điền trong Đồng Tháp Mười như ở Gẫy Cờ Đen, ở ngã tư Cái Bèo và dọc theo biên giới với Campuchia bị phá banh, đồn bót bị diệt, nhiều xã ấp được giải phóng.

    Chỉ trong quý đầu năm 1960 quân và dân tỉnh Kiến Phong đã diệt hàng ngàn địch, san bằng hàng chục đồn bót, trụ sở tề xã, tề ấp, bắt, giáo dục và thả nhiều sĩ quan binh lính và nhân viên ngụy quyền, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Vùng giải phóng mở rộng trong căn cứ Đồng Tháp Mười, sát ra lộ 30 ven sông Cửu Long và tới vùng ven thị xã Cao Lãnh. Ta làm chủ nhiều xã và phần lớn các ấp. Thanh niên tấp nập gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Nhiều gia đình đem con em nài xin cán bộ cho vào bộ đội để khỏi bị địch bắt lính. Phong trào cách mạng lên mạnh và đều.




------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Thị Định: Không còn đường nào khác (hồi ký), Nxb. Văn học Giải phóng, 1976, tr.3.
2. Đồng chí Nguyễn Văn Chính, hiện nay là Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
3. Đồng chí Huỳnh Văn Mến - Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.
4. Tức Cao Đài, Thiên Chúa, Hòa Hảo, Bình Xuyên.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:29:35 pm
    Nhưng điển hình nhất về phong trào quần chúng tự vũ trang nổi dậy lật đổ ngụy quyền làm chủ thôn ấp của dạng đồng khởi là phong trào tỉnh Bến Tre.

    Tỉnh Bến Tre là một tỉnh đồng bằng đông dân, phì nhiêu nhờ phù sa các nhánh sông Cửu Long bồi đắp trước khi đổ ra biển. Đó là các sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cửa Tiểu, cùng với bờ Biển Đông ôm gọn vào lòng và chia đất liền của tỉnh ra thành cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Nhân dân trong tỉnh có truyền thống đấu tranh cách mạng từ lâu đời, có tấm gương yêu nước, khẳng khái, trung trực của cụ Nguyễn Đình Chiểu mà phần mộ nằm ngay trên đất Ba Tri. Trong kháng chiến chống Pháp phong trào ở đây mạnh, ta làm chủ nhiều vùng rộng rãi. Ngay sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã nổ ra những cuộc đấu tranh chính trị nổi tiếng chống Mỹ - Diệm ở Bình Đại, ở Mỏ Cày... và ngày càng mạnh.

    Để dập tắt phong trào nhân dân, địch ra sức đàn áp, khủng bố, tố cộng, diệt cộng đẫm máu, nhất là từ năm 1957 đến năm 1959. Cho tới trước lúc Đồng khởi địch đã xây dựng được chính quyền đều khắp từ tỉnh đến xã ấp, có hệ thống kiểm soát kìm kẹp chặt chẽ nhân dân từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng dày đặc bọn cảnh sát, gián điệp. Do địch đánh phá ác liệt nên cơ sở cách mạng của ta bị thiệt hại nặng, số quần chúng có tổ chức còn ít, tổ chức trong lòng địch bị vỡ nhiều. Nhiều đồng chí cán bộ đảng viên bị giết, bị bắt tù đày, chỉ còn lại không đầy 200 trong tổng số trên 2.000 hồi năm 1954. Số vũ khí cất giấu trong tỉnh bị địch moi lấy hết do có cán bộ không giữ nổi khí tiết khi bị bắt, bị tra tấn dã man đã chỉ cho địch. Vì vậy trước lúc Đồng khởi tỉnh chỉ có bốn khẩu súng cũ với hơn vài chục đạn. Hôm ở khu, nhận lệnh nổi dậy đồng loạt, chị Định nghĩ đến tỉnh mình không có lực lượng vũ trang, đã hỏi anh Sáu Đường - Bí thư Khu ủy:

    “- Các anh phải cho tụi tôi một ít súng thì tụi tôi mới kết hợp vũ trang được chứ?

    Anh Sáu Đường cười:

    - Chị về bảo địch nó đưa súng cho mà dùng! Mà thật ra có súng ở đây thì chị cũng không làm thế nào mang về được”.

    Thế là chị Định đành ra về tay không, mà cũng không phải dễ dàng, lúc ấy phải giả dạng người làm ăn, đi công khai, lo về đến nơi cho kịp ngày kẻo các tỉnh bạn phát động nổi dậy trước thì đâu còn bất ngờ nữa. Thế nhưng lòng cứ mơ đến những trận thắng lớn như trận Gò Quản Cung, có được tiểu đoàn vũ trang như 502 và quần chúng nổi dậy như ở Hồng Ngự.

    Quả là tình hình tỉnh Bến Tre lúc ấy còn nhiều khó khăn. Cuộc họp Tỉnh ủy phổ biến nghị quyết Trung ương và Khu ủy, chấp hành chủ trương phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt quan trọng như vậy mà không thể nào triệu tập đủ Tỉnh ủy, chờ đủ thì thời gian quá lâu. Trong lúc chị Định về khu họp, địch càn quét đánh phá liên tục, một số đồng chí lãnh đạo tỉnh đã bị bắt. Ngày 30/12/1959 về đến Mỏ Cày, nơi cơ quan Tỉnh ủy đóng thì cơ quan đã dời đi nơi khác, đồng chí thường trực của trạm giao liên tỉnh cũng bị bắt. Tìm hiểu mãi qua nhiều mối, chị mới gặp được đồng chí Sáu Huấn 1 trong Huyện ủy Mỏ Cày. Thế là nhờ Sáu Huấn thông thạo địa phương, triệu tập các đồng chí trong Tỉnh ủy về họp. Chật vật khó khăn nhiều, đến tối ngày 02/01/1960 mới họp được nhưng cũng chỉ có ba đồng chí trong Tỉnh ủy là các đồng chí Nguyễn Thị Định, Bảy Hiền 2 và Ba Đao 3. Đồng chí Võ Văn Phẩm (Tám Chữ) - Bí thư Tỉnh ủy đã qua cù lao Bảo rồi, từ cù lao qua cù lao dễ gì mà gặp được. Đại biểu quận Mỏ Cày có các đồng chí Ba Cầu 4 và Sáu Huấn, quận Thạnh Phú có đồng chí Hai Chiến 5 và hai đồng chí nữa của quận Minh Tân. Vẻn vẹn chỉ có thế, đủ đại biểu các quận bên cù lao Minh thôi. Đồng chí Bảy Hiền đã nêu ý kiến và được tán thành là:

    “- Dứt khoát phải làm ngay mới kịp và ta cứ nổi dậy rồi tức khắc bắt được liên lạc cho mà xem...”.

    Và đồng chí Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy kiên quyết:

    “- Thôi bây giờ Hội nghị ta có bao nhiêu làm bấy nhiêu. Tập thể ta sẽ cùng chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy và Khu ủy. Nếu làm sai, mình xin chịu kỷ luật, mà làm đúng thì lấy thắng lợi bước đầu phát triển ra toàn tỉnh”.

    Mọi người đều nhất trí.

    Khi kiểm điểm tình hình, kiểm điểm thực lực, tương quan lực lượng đôi bên thì ai nấy đều lo lắng rằng lực lượng quân sự địch ưu thế tuyệt đối so với ta. Chúng nó hơn một ngàn dân vệ cơ động, gần ngàn bảo an trang bị đầy đủ, đủ các loại công an và cảnh sát tỉnh, quận, xã, công an miền Đông, công an Ngô Quyền, công an Duyên Hải. Ngoài 500 đồn bót, chúng còn có tàu thuyền trên sông và dọc biển, chúng còn có bộ máy tề điệp rộng khắp. Đặc biệt cần chú ý các tổng đoàn dân vệ cơ động là lực lượng mà bọn tề xã, tề ấp và ác ôn dựa dẫm để khống chế dân. Còn ta thì không có lực lượng vũ trang, tổ chức cách mạng của ta bị đánh phá hiện nay còn yếu. Nhưng ta có lòng dân và có chí cao của cán bộ. Địch càng phátxít, dân càng căm thù và sẵn sàng hướng về cách mạng. Về chính trị ta có ưu thế tuyệt đối so với địch. Chỉ cần ta kiên quyết hành động, có biện pháp đúng để khơi dậy sức mạnh khổng lồ và tiềm tàng của nhân dân đang bị đè nén đến cao độ. Phải tuyệt đối tin tưởng quần chúng, dựa vào sức mạnh của quần chúng. Phải biến ưu thế chính trị của ta thành lực lượng cụ thể của cách mạng đè bẹp quân thù.

    Như vậy vấn đề trọng yếu hàng đầu là phát động cho được một phong trào nổi dậy của quần chúng với khí thế thật mạnh để áp đảo địch ngay từ đầu và phải trên một diện rộng để phân tán sự chú ý và đối phó của địch, đảm bảo sự thành công của ta. Muốn thế trước hết ta phải có trong tay một lực lượng nòng cốt dù ít để làm nhiệm vụ phát động nhân dân và diệt bọn ác ôn nhất.

    Tỉnh ủy chủ trương:

    - Lực lượng vũ trang: Chọn ở mỗi xã một số thanh niên trung kiên tổ chức thành những tổ hành động, trang bị bằng dao mác, mã tấu. Có bốn khẩu súng phát cho bốn tổ ở trọng điểm. Tất cả những tổ hành động này đều lấy danh nghĩa là Tiểu đoàn 502 bách thắng ở Đồng Tháp Mười về. Ngoài ra mỗi xã đều tổ chức các đội thanh niên nam nữ mang vác khiêng các loại súng giả bằng cây, bằng bập dừa có bọc ni lông, có đủ hình dáng đại liên, trọng liên, súng cối và có cả một vài khẩu đại bác chở trên xe bò nữa, để hù dọa địch và động viên quần chúng phấn khởi. Ngoài danh nghĩa Tiểu đoàn 502 còn tung tin có bộ đội chính quy miền Bắc về, hành quân ban đêm rầm rập, súng to, súng nhỏ đủ loại. Để có tiếng nổ của đạn đại bác, súng cối thì dùng nhiều ống tre dồn khí đá vào làm ống lói, cũng có nhiều loại ống lói to, nhỏ, khí đá nhiều, ít, để minh họa cho súng lớn có, mà súng nhỏ cũng có. Lại chuẩn bị nhiều đống rơm khô ở nhiều nơi, để khi lấy đồn bót nào thì đốt cháy lên và đốt cả các đống rơm thêm vào để địch tưởng có nhiều bót bị diệt, bị đốt. Rồi dân làng còn chuẩn bị nào trống, nào mõ, nào thùng thiếc để đánh lên thúc giục khí thế đấu tranh, trấn áp tinh thần quân địch. Nơi nào cũng dùng mõ đình 6 làm hiệu lệnh vì mõ này tiếng vang to và xa.

    - Lực lượng chính trị: Cũng tổ chức thành lực lượng nòng cốt có nam nữ, đi công khai hợp pháp để phát động được rộng rãi quần chúng nhân dân nổi dậy kịp thời và liên tục. Phải kết nạp ngay những người tốt, hăng hái vào các tổ chức cách mạng, vào lực lượng vũ trang để phong trào càng lên, lực lượng quân sự chính trị càng lớn và tấn công liên tục, mở rộng diện đấu tranh.

    - Lực lượng binh vận: Kiểm kê và nắm chắc các gia đình binh sĩ ngụy, giáo dục động viên họ để khi phong trào lên họ tham gia đồn bót gọi chồng, con, anh, em mang súng trở về với cách mạng, ít nhất cũng không chống lại cách mạng. Nắm chắc các cơ sở bí mật của ta trong binh sĩ, trong đồn bót, trong tề để phối hợp hành động diệt ác ôn, triệt hạ đơn vị và đồn bót ngụy.

    Có chủ trương, có lực lượng, Hội nghị hạ quyết tâm:

    Phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi thật mạnh mẽ, thật quyết liệt, dùng mọi kiểu cách, bằng mọi sức mạnh, bằng mưu trí bức hàng bức rút, dứt điểm đồn bót địch, diệt ác ôn, phá kìm kẹp ở cơ sở, giải phóng nông thôn, giành quyền làm chủ của nhân dân. Phải giành lại ruộng đất của nhân dân đã bị cướp đoạt, các quyền dân sinh dân chủ bị tước. Nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, lực lượng Đảng, các đoàn thể quần chúng. Lấy súng địch trang bị cho ta, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng.

    Phương châm hành động:

    - “Đánh phải tới tấp!
    - Phát triển phải phát triển hết khả năng!
    - Khi sóng gió nổi lên, thuyền phải mạnh dạn căng buồm lướt sóng!”.




-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Huấn nay là Giám đốc Công an Tiền Giang.
2. Đồng chí Nguyễn Tân Cang, còn gọi là Hai Thủy.
3. Đồng chí Ngô Quang Đằng nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.
4. Đồng chí Trần Văn Cầu (Bảy Giàu) nay là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Đồng chí Huỳnh Thanh Mua, hiện nay là Tổng Giám đốc Liên hiệp cây có dầu.
6. Thường là bằng thân cây mù u, đường kính khoảng 25-30cm, và dài 1,5m, tiếng kêu to và ngân xa, dùng ở các đình làng.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:33:29 pm
    Hội nghị đã thảo luận chọn điểm phát động đồng khởi cho đợt một trong toàn tỉnh. Điểm phải chắc thắng, phải thắng lớn giòn giã và lan rộng nhanh chóng ra khắp diện. Phải là tiếng pháo lệnh vang xa làm nức lòng nhân dân và rung chuyển hệ thống kìm kẹp của địch. Mọi người đều nhất trí chọn ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Ba xã này liền ranh nhau, chiều dài độ 10km và ngang 4km, có sông lớn bao quanh và kênh rạch chằng chịt, lợi thế cho du kích chiến. Nhân dân ở đây đông đúc, phần lớn là lao động sống về nghề vườn, vườn dừa, vườn mía, làm đường thủ công. Phong trào cách mạng có truyền thống từ trước, trong kháng chiến chống Pháp cho đến ngày nay vẫn còn giữ được liên tục. Cả ba xã đều có chi bộ chất lượng tốt. Cơ sở nòng cốt cách mạng nắm quần chúng tương đối đều trong các ấp. Số tề ấp ta nắm được hầu hết. Ở xã Định Thủy còn có nội tuyến đáng tin cậy sẵn sàng hành động theo chỉ đạo của cách mạng. Từ kháng chiến chín năm đến nay hầu như thường xuyên xã này là nơi đóng của Huyện ủy và Tỉnh ủy, đặc biệt đây là nơi bám trụ trong thời kỳ khó khăn nhất. Bước vào Đồng khởi, đây là địa bàn thuận lợi để Tỉnh ủy đứng chân nắm tình hình và chỉ đạo phong trào chung toàn tỉnh.

    Theo sự phân công, ngoài đồng chí thường trực chỉ đạo chung, đồng chí phụ trách quân sự, các đồng chí khác sau khi đi phổ biến cho các quận phải trực tiếp chỉ đạo xã, mỗi đồng chí từ một đến ba xã.

    Hội nghị quyết định lấy ngày N. đồng khởi trong tỉnh là ngày 17/01/1960. Ngày 12/01 là ngày họp kiểm điểm lần chót mọi công tác chuẩn bị.

    Một trong số vấn đề then chốt của kế hoạch là tạo ra phát súng lệnh đồng khởi thế nào cho có hiệu quả cao, để cho quân thù khiếp sợ và quần chúng dám nổi dậy ngay từ đầu. Lâu nay bị khống chế mạnh, quần chúng lo sợ nhất là bọn tổng đoàn dân vệ cơ động. Ở đâu có đấu tranh là bọn này được điều đến nhanh chóng để đàn áp, bắn giết nhân dân không chùn tay. Tiêu diệt hay làm tan rã được bọn này là súng lệnh có hiệu quả nhất để quần chúng mạnh dạn đứng lên hành động. Như vậy phải lấy trận tiêu diệt bọn tổng đoàn dân vệ để mở màn cho khởi nghĩa. Lực lượng vũ trang ta chưa có gì thì phải dùng mưu kế. Quân sự nhất định phải đi trước để khơi ngòi.

    Kế hoạch chu đáo, lại được giữ bí mật rất cao để bảo đảm bất ngờ. Tuy vậy, không khí chuẩn bị thật nhộn nhịp. Thanh niên tập họp từng nhóm ba đến năm người để tập võ. Lò rèn làm việc ngày đêm để rèn dao và mã tấu. Thợ mộc đẽo súng cây. Nhân dân chuẩn bị mõ, trống và làm súng bập dừa. Công việc chuyển động rộn ràng, khẩn trương như vậy ngay trong những vùng địch còn kìm kẹp. Thế mà địch không hề hay biết mảy may. Cho nên những gì hợp với lòng dân, được nhân dân hưởng ứng thì khó mấy cũng làm được, quần chúng có đủ sáng kiến để che mắt địch, bảo vệ công cuộc ích nước lợi dân.

    Chưa hết những trắc trở và hồi hộp. Trước ngày đồng khởi mấy hôm đồng chí Đoàn Văn Tranh - một cán bộ huyện phụ trách chỉ đạo nổi dậy ở các xã An Định, Tân Trung (Mỏ Cày) biết rõ mọi việc của đồng khởi kể cả việc làm dấu giả Tiểu đoàn 502 để hù dọa địch, bị bắt và bị tra tấn dã man. Đồng chí Tư Tranh bị đánh đến chết vẫn không khai báo, giữ bí mật vẹn toàn của Đảng của nhân dân. Rồi nữa, cô giao liên huyện cũng bị bắt, và bà Hai Già - một cơ sở tốt, bơi xuồng đưa chị Định đến gặp đồng chí Bảy Hiền ở xã điểm Định Thủy, khi trở về một mình lại bị bắt, bị tra tấn lại một mực không khai. Đấy, những việc nhỏ làm nên việc lớn, vạn tấm lòng thành một tấm lòng, thì có việc đào núi lấp sông rồi thì chớ bao giờ quên những việc nhỏ này, nhỏ nhưng vĩ đại biết nhường nào vì nó có thể làm hỏng việc lớn hay đảm bảo việc lớn thành công. Và đây nữa cũng là một mẫu của đạo đức Việt Nam, đúc nên từ nghìn xưa dựng nước và giữ nước, ngược hẳn với tư tưởng được chim bẻ ná, được cá quên cơm của bao kẻ khác. Truyền thống Việt Nam ta, cốt vì nghĩa nước, tình dân mà bia miệng ngàn đời còn đó, như Thánh Gióng, diệt xong giặc Ân, cứu an đất nước rồi bay về trời, không màng vương, cũng không màng tướng; Trần Quốc Tuấn đuổi xong giặc Nguyên vững vàng bờ cõi thì lui về Vạn Kiếp an nghỉ, từ giã vương triều; và Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng từng tâm sự với núi rừng căn cứ:

           “...Kháng chiến thành công ta trở lại,
           Trăng xưa, hạc cũ với Xuân này”
1.

    Ngày N.17 tháng 01 đã gần tới. Kế hoạch ngòi pháo của Đồng khởi là diệt tổng đoàn dân vệ hiện đang đóng ở xã Tân Thành Bình. Dựa vào cơ sở nội tuyến ta nắm vững chắc ở xã Định Thủy làm nội công đánh từ bên trong kết hợp với lực lượng thanh niên mạnh của xã tấn công từ bên ngoài bằng “ôm hè”, “bắt hè”, nghĩa là bất thình lình đồng hè nhau ôm, bắt bọn dân vệ tước súng, hạ chúng. Vì vậy phải lập mưu điều tổng đoàn dân vệ về xã Định Thủy bao vây tiêu diệt. Chúng đã mắc mưu. Ngày 12/01/1960 tổng đoàn dân vệ do đội Tý, một tên ác ôn khét tiếng chỉ huy, đã hùng hùng hổ hổ kéo quân về Định Thủy để “làm cỏ bọn Việt cộng nằm vùng” như chúng tuyên bố, theo yêu cầu cấp báo của tề xã. Tới bước hai là diệt cho được tên đội Tý để rắn mất đầu mà ôm hè, bắt hè bọn lính. Nhưng đội Tý là một tên ác ôn xảo quyệt. Nó biết rõ bàn tay nó đã vấy máu nhiều đến cỏ cây cũng oán hờn nên rất mực cảnh giác. Ngày tháng sắp hết rồi mà ta đã hai lần thất bại với nó, cá không ăn câu. Ban lãnh đạo đã phải nghĩ đến kế hoạch cuối cùng là táo bạo cho lực lượng ta đột nhập bất ngờ vào ngay sở chỉ huy của nó mà diệt nó: Không vào hang sao bắt được hổ.

    Nhưng sáng ngày 17/01, trái với bình thường, tên Tý dẫn theo mấy dân vệ tới chợ Định Thủy rồi vào tiệm uống cà phê. Hắn nói muốn làm chuyện không ai ngờ và có lẽ cũng đã đến cơn ghiền. Thật là dịp may hiếm có. Vốn luôn bám sát nó không chút lơi lỏng và đã tổ chức sẵn những đội thanh niên có sức khỏe, có nghề võ, sẵn sàng hành động nên ban lãnh đạo hạ lệnh ra tay. Tổ đồng chí Ba Giai cũng vào ăn sáng uống cà phê, ngồi bàn sát sau bàn tên Tý. Bất thình lình đồng chí Ba Giai choàng qua, chẹn họng, vật nó ngã xuống. Anh em khác nhảy đến trói các tên dân vệ và sẵn sàng tiếp sức bắt tên đầu sỏ. Đội Tý cũng có nghề võ đã vật lộn giằng co kịch liệt với Ba Giai. Bảy Thống, tổ trưởng tổ hai, xông vào giật được súng của tên Tý, định bắn nó nhưng loay hoay mãi súng vẫn không nổ. Giữa lúc đó, Chín Chiếm - một Vệ quốc quân không đi tập kết tới kịp và kết liễu đời tên khốn kiếp bằng một phát súng. Đó là phát súng đầu tiên báo hiệu cuộc Đồng khởi bắt đầu.

    Tin tên Tý ác ôn bị diệt lan nhanh khắp chợ, khắp làng. Quần chúng nô nức phấn khởi rầm rộ kéo ra chợ, ra đình nơi tổng đoàn dân vệ đóng, bao vây bọn chúng. Đoàn người xông vào đình, đi hàng đầu là mấy tên dân vệ bị bắt, vừa đi vừa kêu gọi đầu hàng ầm ĩ:

    - Đội Tý đã đền tội. Anh em binh sĩ hãy đầu hàng nhân dân đi.

    Bọn dân vệ nhốn nháo, nửa tin, nửa ngờ, chưa biết nên hành động ra sao. Một nội tuyến của ta trong tổng đoàn liền hô lớn:

    - Đội Tý đã chết. Cách mạng đã về, cự lại Quân giải phóng là chết, bỏ súng chạy thôi!

    Đồng bào từ cổng chạy vào mỗi lúc một đông.

    Lực lượng thanh niên ém sẵn quanh đình hô xung phong vang dậy. Mất tinh thần, một số lính đầu hàng ngay tại chỗ, số khác vứt súng chạy tán loạn. Ta đón bắt gần hết, giải thích, giáo dục rồi thả, chỉ trị những tên có nợ máu. Toàn bộ vũ khí về tay các thanh niên cách mạng.

    Trận đánh mở màn Đồng khởi diệt gọn tổng đoàn dân vệ, trị tội đích đáng tên đội Tý ác ôn gây sôi động không những trong ba xã điểm mà trong cả quận Mỏ Cày.

    Tiếp đó, buổi chiều, bót Định Thủy, chỉ cách nơi tổng đoàn dân vệ một cây số lại bị tiêu diệt. Thanh niên, đồng bào phấn khởi do chiến công đầu diệt bọn dân vệ liền thừa thắng kéo đến bao vây bót Định Thủy với khí thế của nước vỡ bờ. Đoàn người nổi dậy, trang bị súng, tầm vông, dao, phảng, tràn tới hô vang:

    - Hoan hô Quân giải phóng! Hoan hô cách mạng! Anh em binh sĩ bót Định Thủy hãy hàng đi... Hàng thì sống!...

    Bọn ác ôn toan tổ chức phòng thủ chống lại, chờ viện. Nhưng mấy nội tuyến của ta trong bót nổi dậy kịp thời, diệt trừ bọn chúng, kéo toàn bộ ra hàng, đón lực lượng cách mạng vào bót, nộp súng đạn nguyên vẹn.

    Thế là mở đầu ta đã thắng hai trận giòn giã, thu được nhiều súng đạn. Không có lực lượng vũ trang mạnh nhưng khéo kết hợp quân sự uy hiếp, chính trị quần chúng nổi dậy và binh vận nội ứng, kết quả đã vượt quá sự mong ước. Ban lãnh đạo đã phân phối ngay cho Thạnh Phú và Minh Tân mỗi quận một số súng làm vốn. Đồng chí Ba Đào được chỉ định phụ trách quân sự, đem thay súng cây cho các tổ hành động “Tiểu đoàn 502”. Đúng ra thì giờ G. quy định là 18 giờ ngày 17/01 mới hành động nhất loạt nhưng linh hoạt và thời cơ xuất hiện sớm nên trận đánh mở màn xảy ra từ buổi sáng. Chỉ có lợi thôi, vì chiến thắng đã cổ vũ mạnh mẽ đồng bào.




------------------------------------------------------------------
1. Trích bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 02:38:43 pm
    Chiều đó, đúng giờ G. tiếng mõ đình các xã nổi lên làm lệnh rồi thì đủ thứ tiếng trống, mõ, thùng thiếc... vang dậy từ làng này tới làng khác không dứt. Nhân dân đổ ra đường tấp nập, vừa kéo đi vừa hô khẩu hiệu “đả đảo ngụy quyền Ngô Đình Diệm”, “hoan hô cách mạng”, nào gậy, nào cờ, bao vây các đồn bót, trụ sở tề, lùng diệt ác ôn. Đồng bào xé cờ ngụy, đốt bản nóc gia 1, cưa cây, đắp mô trên các đường, ngăn chặn giao thông địch. Tiếng loa dậy thôn xóm, kêu gọi tề điệp ra thú tội, binh lính các bót đầu hàng. Tiếng nổ của “đại bác”, “súng cối” ống lói càng làm địch khiếp đảm. Trong đêm, đây đó lại bùng lên những ngọn lửa cháy to, đồng bào các xã lại reo hò: “Bót địch cháy rồi, hoan hô Quân giải phóng!”. Có bót bị triệt hạ, bị đốt thật, cũng có những đống rơm cháy lên phụ trợ. Địch, ngụy lớp bị tiêu diệt, đầu hàng, lớp bỏ chạy, nằm im trong đồn bót, nhân dân làm chủ mọi nơi. Chỉ qua một đêm quang cảnh xóm làng đã đổi mới. Ba xã điểm được hoàn toàn giải phóng.

    Sáng hôm sau, khắp các nơi đông người, chợ, đình, đường đi thị trấn, đâu đâu cũng có dán một bản quân lệnh chữ to, dưới ký “Tiểu đoàn trưởng 502 Lê Thiết Hùng” có đóng mộc đỏ chói. Quân lệnh ghi mấy điểm:

    - Anh em binh sĩ dù có tội ác thế nào, nếu biết ăn năn hối cải mang súng trở về với nhân dân sẽ được khoan hồng tha thứ.

    - Tề xã, tề ấp, trưởng liên gia, cảnh sát, chỉ điểm viên đã trả chức và ra thú tội với nhân dân thì được nhân dân tha tội.

    - Địa chủ nào dựa hơi địch, giật đất tăng tô của nông dân, bây giờ phải trả lại cho nông dân.

    Quân lệnh này có giá trị từ ngày 17 tháng Giêng tới 25 tháng Giêng năm 1960, nếu ai không tuân lệnh, bị nhân dân lên án tử hình, tịch thu tài sản.

    Những ngày đồng khởi thực sự là những ngày hội quần chúng. Đâu đâu cũng có hội họp, míttinh, vạch trần tội ác của ngụy quân, ngụy quyền, giải thích đường lối, chính sách của cách mạng, quyền tự do sinh sống của nhân dân, nghĩa vụ người dân đối với Tổ quốc. Từ ấp này qua ấp nọ nhân dân hăng hái phá đường, rào xóm đắp ụ, đào hố chông, làm công sự, sẵn sàng chiến đấu chống quân địch càn quét. Thanh niên tấp nập xin đầu hàng, tham gia tuần tra canh gác, tiếp tục truy lùng bọn gian ác, tề điệp, bao vây bức hàng đồn bót còn lại. Tòa án nhân dân được mở ra xử tội những tên ngoan cố bị bắt. Nhờ được giải thích thuyết phục, quần chúng mới đồng tình với cán bộ cách mạng, chỉ xử tử hình một số tên đầu sỏ ác ôn nhất, số còn lại đều được giáo dục, mang án treo và cho về gia đình làm ăn, cho lập công chuộc tội. Tổ chức nông dân các xã họp kiểm kê số ruộng đất thu lại được của địa chủ, bình nghị phân chia lại cho người bị mất ruộng, người nghèo không có ruộng. Các đoàn thể quần chúng lại được củng cố, sinh hoạt. Nhiều gia đình binh sĩ xin đi liên lạc móc nối chồng con trở về với cách mạng hoặc trao cho cách mạng những túi đạn, lựu đạn cứu quốc từ đồn lớn gửi ra, từ thị trấn, thị xã gửi về. Tổ chức lực lượng vũ trang được nhanh chóng xây dựng. Tỉnh được hai trung đội trang bị vũ khí đầy đủ, huyện có một trung đội, mỗi xã có một tiểu đội tự vệ. Ta lấy được hàng trăm súng nhưng không đủ, tự vệ xã vẫn phải dùng mã tấu và tập võ. Thanh niên xin tòng quân nhiều quá không thể thu nhận hết được, mặc dù nhiều cha mẹ đem con đến năn nỉ cán bộ cho gia nhập lực lượng vũ trang. Ta phải nêu điều kiện là ai có súng mang đến thì được nhận ngay vào quân ngũ giống hệt như những ngày tháng 9/1945. Do vậy, một phong trào “bắt giò” 2 lính địch lấy súng đầu quân lan rộng trong thanh niên. Nhiều mưu kế được bày ra, nhiều tổ tâm giao đi giật súng hình thành. Mọi người đã hiểu rõ nhiệm vụ thanh niên đền nợ nước, trả thù nhà. Chất lượng các đội vũ trang vì vậy rất cao, hễ đánh là thắng mặc dù còn nhỏ. Thời kỳ ấy, mà thời kỳ nào cũng vậy, “binh mạnh hay yếu, không cứ ở nhiều” 3. Trong những ngày Đồng khởi, số nhiều đồn bót địch bị tiêu diệt không phải bằng lực lượng vũ trang mà do những người dân, những đảng viên ưu tú tích cực dùng mọi mưu kế thích hợp. Chị Tám Phụng, còn gọi là chị Tám Cạcbin, một huyện ủy viên, nay đã hy sinh, một mình đã lấy tám bót giặc. Có một bót xã thuộc huyện Chợ Lách, chị đã ôm con của trưởng bót vào kêu gọi chúng đầu hàng. Ở xã An Định và nhiều xã khác, thanh niên hóa trang thành một tiểu đội chủ lực ngụy, bắt bí thư chi bộ xã thật, đem vào gửi bót, thừa cơ bắt và tước vũ khí dân vệ, theo sự chỉ huy của bí thư, giống như Nguyễn Nhạc xưa kia. Nhiều chị em thanh niên hăng hái giả trai oai vệ để đi trừ gian diệt ác như cô Tám Thu, một bí thư chi bộ xã. Chị Nguyễn Thị Định kể lại:

    “...Năm giờ sáng, chúng tôi gọi một đồng chí phụ trách diệt ác ôn ở xã gần nhất đến để kiểm tra kết quả. Đồng chí ấy vác mã tấu đến báo cáo:

    - Mọi việc xong cả rồi. Bọn tề, điệp, ác ôn xuống nước hết trơn. Khi chúng tôi xông vô hô một tiếng, chỉ có một thằng ngoan cố chạy, còn bao nhiêu nạp mạng ngay, thằng nào thằng nấy run thôi là run.

    Đồng chí này người tầm thước, bận bộ đồ âu phục rất gọn, đội một cái nón nỉ, tay xách mã tấu, trông rất rắn rỏi, chỉ có tiếng nói là nhỏ nhẹ. Tôi nghe rõ là tiếng nữ, tiếng của người quen nào. Tôi bèn hỏi:

    - Đồng chí có anh em với cô Thu à?

    - Thưa chị, em là Thu đây mà!

    Thu nói rồi phá lên cười. Cô bảo:

    - Em tích cực chấp hành nghị quyết ngụy trang để che mắt địch và cũng để mấy ông nam giới trong tổ em vững tinh thần, mấy ông hay khinh phụ nữ mình lắm.

    Tôi cũng bật cười”.

    Sau vài hôm khiếp đảm nằm im trong đồn lớn, ở thị trấn, bọn địch bắt đầu hành quân thăm dò. Chúng cho một đại đội bảo an dùng tàu địch đổ bộ gần vàm Định Thủy. Ta đã bố trí sẵn ở đây một tiểu đội vũ trang, nổ súng chặn đánh, địch vội vàng rút lui. Biết thế nào chúng cũng cho trinh sát tìm hiểu lực lượng ta. Đồng chí Bảy Hiền liền cho làm một trận địa phục kích giả, dầy đặc những giao thông hào, hố cá nhân, ụ súng đại liên, cối... Địch báo cáo lên cấp trên: đúng là có bộ đội lớn, chắc là Tiểu đoàn 502... Có bộ đội chủ lực miền Bắc vô thật!

    Rồi chúng lại nằm im trong đồn bót, trong thị trấn, thị xã, không dám phản ứng ngay. Một tuần lễ Đồng khởi, ta thắng to; diệt trên 200 binh lính, tề điệp làm tan rã một số đông địch, bức hàng, bức rút 27 đồn bót, giải phóng hoàn toàn 17 xã. Nhiều xã khác địch dồn vào một ấp, các ấp khác dân làm chủ. Đại bộ phận bộ máy kìm kẹp ở nông thôn bị rã, bị lỏng. Cán bộ và nhân dân vô cùng phấn khởi. Ban lãnh đạo làm sơ kết, rút kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh phong trào.

    Từ ba xã điểm phong trào lan nhanh ra toàn huyện, toàn cù lao Minh, rồi toàn tỉnh. Hết đợt đầu, cuộc Đồng khởi lại liên tiếp nổ ra nhiều đợt khác, kéo dài các tháng tiếp theo.

    Bị choáng váng lúc đầu, bị thiệt hại nặng, lại tiếp tục bị thua, địch quyết tâm phản ứng mạnh dập tắt phong trào. Vào cuối tháng 2, địch huy động được một lực lượng thủy quân lục chiến từ Sài Gòn xuống, có máy bay và pháo binh yểm trợ, có tàu thủy chặn đường sông và xe cơ giới án ngữ các lộ, quyết tâm bao vây chặt toàn bộ ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh hòng tiêu diệt “cho hết lực lượng cách mạng”, trừng trị dân “nổi loạn”.

    Được tin này Ban Lãnh đạo Đồng khởi bàn ngay kế hoạch đối phó. Bộ đội vũ trang tập trung của ta chưa đầy một đại đội, quân địch lại quá đông và trang bị mạnh. Phong trào mới lên, quần chúng đang hăng nhưng chưa có kinh nghiệm đối đầu với quân địch lớn và cố tâm khủng bố tàn bạo. Phải bảo tồn cho được lực lượng cách mạng, phải bảo vệ cho sinh mệnh và tài sản của đồng bào. Nếu để địch thực hiện được ý đồ của chúng “làm cỏ” được ba xã điểm này thì không những chúng dập tắt được phong trào ở đây mà còn đẩy lùi được cách mạng trong toàn tỉnh và có khi trong khu nữa. Còn phen này mà ta thắng lợi thì phong trào cách mạng sẽ lên cao, chứng tỏ đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng là đúng, tương lai sẽ sáng sủa. Trách nhiệm thật nặng nề.

    Ban Lãnh đạo chủ trương: Bằng bất cứ giá nào, ta phải thắng trận này, chỉ một trận nhưng quyết định một thời kỳ cách mạng trong tỉnh. Phải đánh du kích rộng rãi bất cứ đâu địch đến. Phát triển hầm, hố chông, mìn, lựu đạn gài, bố trí nhiều súng “ngựa trời” 4. Bộ đội ban đầu phân tán đánh nhỏ, phối hợp với tự vệ đánh tiêu hao, theo dõi sát địch, hễ thấy cách nào ngon hơn thì nhanh chóng tập trung đánh phục kích hay tập kích tiêu diệt địch rồi di chuyển ngay, xoay quần lấy địch. Nhưng còn nhân dân thì sao? Ta đánh địch, địch giết dân, thả bom, bắn pháo bừa bãi thì sao? Có ý kiến muốn đưa dân đi nơi khác, địch rút hãy về. Nhưng thảo luận mãi thì thấy rằng dân không thể đưa tài sản đi hết được. Không có dân, địch đốt nhà cướp của phát trụi hết. Chỉ có bộ đội thôi thì không làm sao đủ sức chống địch. Như vậy phải vận động nhân dân ở lại, cất giấu của cải, đào hầm, núp đạn, giữ thế hợp pháp với địch. Địch đi đến đâu, dân kéo ra đấu tranh, có lý có lẽ, không cho địch đốt phá cướp bóc. Tập trung chòm xóm hỗ trợ lẫn nhau, nơi nào có gia đình binh sĩ thì cùng ông già bà cả vận động binh lính đừng gây tội ác với đồng bào.

    Như vậy là ngày nào cũng bị thiệt hại. Đi đến đâu địch cũng bị bắn tỉa, bị mìn nổ, rớt hầm chông, đạp phải bàn chông, thỉnh thoảng bị súng “ngựa trời” khạc đạn tứ tung. Lực lượng cứ bị hao mòn mà không thấy “Việt cộng” đâu cả, lại bị dân vây, chặn, đấu tranh đòi rút. Mỗi hành động đốt phá, cướp bắt heo gà, đều bị quần chúng bu lại, xông vào níu kéo ngăn cản. Dọa không được, đánh đập, bắn bị thương, chết, dân càng căm giận xông vào đông đảo chống trả quyết liệt. Một cánh vừa ập tới An Thạnh thuộc xã Bình Khánh thì bất thình lình từ đâu dưới đất trồi lên một đội cảm tử tay cầm mã tấu, chém tới tấp không kịp đỡ, tên bị bay đầu, tên bị mất cánh tay, ống chân, chạy tán loạn, tan tác. Vài ngày sau lại một trận nữa, làm địch mất tinh thần. Đi sục sạo suốt ngày mệt mỏi, đến chạng vạng tối vừa dừng lại nghỉ, đội hình lộn xộn thì bị tập kích tơi bời bằng lựu đạn, bằng súng trong lúc hỗn loạn lại bắn lẫn nhau chết một số nữa. Tỉnh lại thì “Việt cộng” rút đi đâu mất. Chán ngán, địch phải kết thúc sớm cuộc càn trong ngày thứ tư, lũ lượt kéo về Mỏ Cày. Chúng dùng thủ đoạn khác. Tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng một lực lượng pháo, cối, lập trận địa đóng lại ở xã Phước Hiệp. Ngày nào chúng cũng bắt về một số thanh niên, đánh đập tra tấn đến chết rồi vùi xác quanh nơi đóng quân. Đồng bào đấu tranh, chúng mặc kệ, cứ khủng bố theo kế hoạch. Mới mấy ngày, hàng chục thanh niên bị giết. Khí thế quần chúng trong xã có phần núng, sụt xuống. Các đồng chí phụ trách xã đòi cho lực lượng vũ trang về tiêu diệt bọn thủy quân lục chiến hung ác nhưng ta đâu có đủ sức diệt chúng, nhất là khi chúng cụm lại, có công sự. Đã có một số dân hoảng hốt sẵn có họ hàng quen biết ở thị trấn Mỏ Cày tự động tản cư ra đấy. Họ kể lại những vụ tàn sát đẫm máu của bọn thủy quân lục chiến làm mọi người đều căm giận nhưng cũng lo sợ.

    Đánh quân sự không nổi, đấu tranh chính trị chúng không nghe. Ban Lãnh đạo chỉ ra cách đấu tranh khác: Nhận thấy một số đồng bào đã chạy ra thị trấn an toàn lại còn kể chuyện làm đồng bào thị trấn phẫn nộ, vậy ta vận động và chủ động tổ chức nhân dân kéo lên quận, tố cáo tội ác man rợ của bọn thủy quân lục chiến, đòi quận trưởng phải che chở cho nhân dân trong quận. Lẽ nào quận sở tại, thay mặt cho chính phủ, lại để cho binh lính xa lạ từ đâu tới, bất chấp chính quyền địa phương, tàn sát cướp bóc nhân dân. Chủ trương này được nhân dân đồng tình hưởng ứng nhiệt liệt. Hàng trăm xuồng ghe bơi đặc sông nước, từ ba xã đổ về thị trấn Mỏ Cày, đồ đạc mùng màn, gà, heo, trâu bò, con cái nheo nhóc. Họ cắm trại trước dinh quận, quanh dinh quận. Ông già, trẻ con, đặc biệt là lực lượng phụ nữ hùng hậu kéo vào quận, đòi gặp quận trưởng, đòi chấm dứt bắn giết, bom, pháo, đòi bồi thường nhân mạng, đòi kết thúc ngay cuộc càn, rút ngay bọn thủy quân lục chiến, đòi quận trưởng bênh vực che chở cho dân. Cảnh sát tới dẹp, bị đấu lý, bị đánh trả và bị thuyết phục. Không giải tán được ai, mỗi ngày bà con các xã lại kéo đến tăng cường, đội ngũ đấu tranh ngày một đông. Đồng bào ở thị xã được vận động, xúc động trước cảnh đau khổ của dân mình ở nông thôn, căm tức bọn ác ôn tàn bạo, kéo đến tiếp tế thức ăn nước uống đầy đủ, giống như một tổ chức hậu cần và úy lạo cho lực lượng đấu tranh. Thật là cảnh náo động cả thị trấn, xáo trộn cả sinh hoạt bình thường, giao thông, công việc đều đình trệ. Cuộc đấu tranh gay go, giằng co cả tuần lễ. Mỗi ngày lực lượng quần chúng từ các xã trong quận kéo đến chi viện mỗi tăng lên, số đông là phụ nữ. Tin truyền lan khắp nơi: Nếu quận không giải quyết, không đủ sức bênh vực được dân thì lực lượng sẽ chia làm hai, một nửa vây quận, nửa kéo lên đòi tỉnh trưởng phải bảo vệ dân.

    Cuối cùng địch phải xuống nước. Tên quận trưởng Mỏ Cày, tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre và tên đại tá chỉ huy thủy quân lục chiến từ Sài Gòn xuống, phải đến tận nơi vỗ về xoa dịu đồng bào. Chúng phải hứa chấm dứt cuộc càn. Bọn chúng còn kéo về xã Phước Hiệp, thừa nhận tội ác của binh lính chúng và ra lệnh rút hết về Sài Gòn.

    Cuộc đấu tranh thắng lợi rực rỡ. Đánh bằng quân sự bất hợp pháp cũng thắng lợi, đấu bằng chính trị hợp pháp của lực lượng quần chúng cũng thắng lợi. Quân sự, chính trị kết hợp thành công, hợp pháp và bất hợp pháp kết hợp cũng thành công. Tuy ta bị thiệt hại không ít, nhưng tinh thần quần chúng không những không sụt mà lại cao lên, phong trào cách mạng trong tỉnh mở đầu mạnh mẽ bằng đồng khởi tiếp tục phát triển ngày càng mạnh.

    Lần đầu tiên, một cuộc đấu tranh của đa số phụ nữ có tổ chức chu đáo, có đội tiên phong, có quân tiếp viện, từ nông thôn kéo ra thành thị, lôi kéo cả quần chúng ở thị trấn tham gia, có hậu cần tiếp tế đầy đủ, đã tỏ ra sức mạnh phi thường, lợi hại của nhân dân, thắng được cả bọn hung ác nhất đã có dã tâm khủng bố tàn sát để dập tắt phong trào. Một đơn vị chủ lực ngụy được vũ trang đến tận răng phải chịu khuất phục trước một đội nữ quân chính trị tay không, nổi tiếng trên toàn chiến trường miền Nam, về sau được gọi một cái tên vừa thương mến vừa kính phục: “Đội quân tóc dài”. Cũng lần đầu tiên có một cuộc “tản cư” hiếm có từ nông thôn đổ ra thành thị. Trước đây, khi quân địch kéo đến khủng bố một vùng nào thì dân chúng ở đó tản cư tránh né đến các vùng không có địch, thường là nơi bưng rừng hẻo lánh. Nay ngược lại, tản cư thẳng ra thị trấn, thị xã là nơi quân địch đông đảo, đối đầu trực tiếp với địch. Vì vậy lại đẻ ra một danh từ mới: “Tản cư ngược”. Từ đó, tản cư ngược trở thành một kiểu cách đấu tranh, đưa cuộc đấu tranh từ thôn quê vào tận thành thị để phát động phong trào thành thị liên kết hỗ trợ cho phong trào nông thôn. Phương pháp đấu tranh mới “Tản cư ngược” và một lực lượng đấu tranh mới trực diện quyết liệt “đội quân tóc dài”, đẻ ra từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đã nhanh chóng lan rộng khắp miền Nam khói lửa, tồn tại suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ - ngụy. Sáng tạo của quần chúng là vô cùng, sức mạnh của nhân dân là vô địch. Phương pháp cách mạng là rất phong phú. Điều kiện khách quan, tình hình bức bách đòi hỏi phải có những biện pháp thích hợp kịp thời. Míttinh quần chúng, biểu tình chính trị, bãi thị bãi công thôi không đủ, quần chúng cách mạng đòi hỏi phải hành động kiên quyết hơn, phải đấu tranh quyết liệt hơn, hình thức cao hơn; đó là đấu tranh trực diện, là chiến đấu vũ trang, là khởi nghĩa đồng loạt. Họ đã làm như vậy, cũng dũng mãnh coi thường cả cái chết, tấn công địch mạnh mẽ và liên tục. Căn cứ vào thực tiễn cách mạng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên nhận định có tính chất tổng kết:

     “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền... Tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng và khéo léo kết hợp các hình thức đấu tranh cách mạng vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”  .





--------------------------------------------------------------------
1. Mỗi nhà phải làm một bản kê khai tên họ từng người trong nhà treo trước cửa để địch kiểm tra chặt chẽ từng gia đình.
2. Ôm chân quật ngã địch theo một thế võ dân tộc.
3. Nguyễn Trãi: Quân trung từ mệnh tập.
4. Súng tự tạo bằng ống sắt, có chân như kiểu trung liên. Đạn là mảnh chai nhọn trộn lẫn với sắt vụn, ngâm nước đái ngựa và đầu rắn độc. Dùng dây giật nổ, thuốc đầy đạn đi như đạn ria, trúng mục tiêu trong vòng mười thước, hễ bị thương là nhiễm độc nguy hiểm, địch rất sợ.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 04:32:28 pm
*
*      *


    Cuộc Đồng khởi ở miền Tây Nam Bộ cũng quyết liệt và rộng rãi không kém. Nơi đây là vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Thời Pháp thuộc, ruộng và lúa tập trung phần lớn vào bọn đại địa chủ, cường hào, từ đó sinh ra một tầng lớp cố nông đông đảo bị áp bức bóc lột đủ điều, bị đói rách cực nhọc trên một vùng phì nhiêu sung túc không những nhiều lúa, trái cây nhiều mà còn đầy tôm cá trên sông dưới biển. Vì thế nông dân đã đi với cách mạng từ sớm, luôn gắn bó với cách mạng và thấy rõ chỉ có cách mạng mới biến đổi được kiếp sống trâu ngựa của mình. Trong chín năm chống Pháp, chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng đã đem lại đời sống khấm khá cho dân cày. Ngày nay Mỹ - Diệm không có cách nào xuyên tạc được cách mạng, hay có được cũng chỉ là tạm thời trong một hoàn cảnh nhất định. Khi có dịp và được lãnh đạo đúng, nông dân nổi dậy mạnh mẽ trở thành đội quân chủ lực của cách mạng trong một nước nông nghiệp như nước ta. Nơi đây có rừng U Minh rộng lớn, là căn cứ kháng chiến nổi tiếng thời chín năm đánh Pháp mà các cơ quan của Xứ ủy Nam Bộ đã trú đóng nhiều ngày. Rừng U Minh đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trong các thời kỳ 1945-1946. Lúc đầu cách mạng gặp khó khăn mặc dù một số cán bộ chủ trương “xuyên đông” nghĩa là rút lực lượng vũ trang về phía đông theo đường biển ra Trung Bộ (Trung Bộ lúc ấy giặc Pháp chưa đến). Một số cán bộ trung kiên và đơn vị vũ trang còn lại không chịu đi, bám trụ lại, đã rút về đây, rồi lại từ đây bung về các tỉnh phát động chiến tranh du kích ngày càng thắng lợi. Cũng như ở Đồng Tháp Mười, rừng U Minh chưa bao giờ vắng bóng lực lượng vũ trang từ sau ngày bộ đội ta tập kết ra miền Bắc, với dạng quân canh chống cướp, lực lượng giáo phái chống Mỹ - Diệm, đến các tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, tiểu đoàn Ngô Văn Sở... Trong những ngày khủng bố ác liệt của Mỹ - Diệm, nhân dân nhiều xã chủ yếu là các gia đình cán bộ và có người đi tập kết, không chịu khuất phục ngụy quyền phản động và tránh sự tàn sát đẫm máu, đã kéo dài về đây lập ra những “làng rừng” bất hợp pháp, tự vũ trang để tự vệ, sống đùm bọc lẫn nhau và tự hào như những vùng đất xã hội chủ nghĩa đầu tiên tại miền Nam khói lửa.

    Chính ở miền Tây, nơi có khu tập kết 200 ngày Cà Mau, ta có thời gian chuẩn bị nhiều mặt, có sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ngay từ đầu nên phong trào quần chúng đấu tranh chính trị rất mạnh mẽ và liên tục. Những năm 1955-1956 hầu hết các xã đều có tổ chức lực lượng thanh niên tự vệ, xã nào cũng có cỡ trung đội, đại đội trang bị dao, gậy, đặc biệt mạnh là xã Biển Bạch. Nhờ lực lượng này, ta đã bảo toàn được lực lượng Đảng, lực lượng quần chúng cách mạng. Cũng ở miền Tây công tác binh vận phát triển mạnh nhất trong toàn miền. Thời ấy, hầu như đồn bót nào cũng có người của ta. Mãi từ cuối năm 1956 trở đi địch mới triển khai càn quét đánh phá mạnh, gây thiệt hại phần nào cho ta nhưng chưa bao giờ làm núng thế được phong trào. Hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác ôn, đánh địch càn quét xảy ra lúc mạnh, lúc yếu, nhưng chưa bao giờ im cho đến lúc đồng khởi.

    Tiêu biểu của phong trào Đồng khởi ở miền Tây là tỉnh An Xuyên, thuộc Minh Hải ngày nay. Cách thức tiến hành ở đây gần giống như ở Kiến Phong, tiến công và nổi dậy, vì có lực lượng vũ trang tương đối mạnh. Ngay từ giữa năm 1959 phong trào đã phát triển rầm rộ, với kinh nghiệm phong phú của hai xã Khánh Bình Đông và Khánh Bình Tây. Một bộ phận tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng đã về đây làm nòng cốt phát động quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, tranh thủ bọn dân vệ, giải tán tổ chức bảo vệ hương thôn của địch, giải phóng hai xã. Phổ biến kinh nghiệm này cho toàn tỉnh và theo tinh thần Nghị quyết 15 vừa nắm được, Tỉnh ủy kêu gọi nhân dân trong tỉnh nổi dậy phá tề trừ gian, làm chủ xóm làng.

    Đồn Năm Căn, đồn Chà Là hưởng ứng với cách mạng, làm nội ứng kết hợp với tấn công của ta từ ngoài, diệt chỉ huy, phá đồn kéo cả đơn vị mang toàn bộ vũ khí về với nhân dân. Tháng 11/1959, Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng tiêu diệt đồn quận lỵ Sông Đốc, thu toàn bộ vũ khí, phối hợp cùng với nhân dân phá tan các khu trù mật ở đây, hàng chục ngàn dân kéo về làng cũ. Tháng 12/1959, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở đánh chi khu Đầm Dơi. Du kích các xã bao vây, tấn công khu Bình Hưng, các tề ấp, tề xã ra thú tội với đồng bào, hệ thống kìm kẹp ở các cơ sở bị quét gần hết. Tháng 01/1960 trong lúc tỉnh tổ chức phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương cho cán bộ thì quần chúng đã tự vũ trang gậy gộc, dao, súng giả, nổi dậy diệt ác, diệt tề, phá rã kìm kẹp của địch. Đồn Tân Bức bị du kích và nhân dân bao vây dùng trống, mõ, súng giả, ập tới suốt một tuần lễ uy hiếp tinh thần và kêu gọi địch quay về với cách mạng. Cuối cùng toàn bộ quân địch ra đầu hàng, nộp vũ khí. Một đại đội thuộc Tiểu đoàn Ngô Văn Sở từ đất liền vượt biển ra Hòn Khoai, tiêu diệt gọn một trung đội địch. Hòn Khoai được giải phóng lần thứ hai (lần thứ nhất vào năm 1940 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ở đây một số đồng chí dưới sự lãnh đạo của đồng chí Phan Ngọc Hiển đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công) 1.

    Phong trào Đồng khởi của tỉnh cũng như cả miền Tây lan rộng suốt năm 1960, khí thế quần chúng lên rất cao. Nhiều vùng nông thôn ta đã quét sạch tề, ác. Một số đồn bót bị diệt, một số đồn nhỏ rút chạy hoặc ra hàng. Nhân dân làm chủ nhiều vùng rộng lớn. Các đoàn thể quần chúng được tổ chức và hoạt động sôi nổi. Lực lượng vũ trang nhờ thu nhiều súng đạn trong tác chiến, binh vận, thanh niên tấp nập đầu quân đã phát triển nhanh trong khu, ở tất cả các tỉnh. Tình thế cách mạng đã mau chóng chuyển biến với những phương thức hoạt động sôi nổi mới: Khởi nghĩa vũ trang, tiến công cả về chính trị, quân sự, binh vận và làm chủ nhiều vùng với nhiều mức độ khác nhau.

    Nếu ở miền Trung Nam Bộ có căn cứ cũ Đồng Tháp Mười, miền Tây có rừng U Minh là những chỗ dựa vững chắc để các lực lượng vũ trang tồn tại suốt thời kỳ, dưới nhiều hình thức, từ phân tán dần lên tập trung thì miền Đông, thế núi rừng liên hoàn rộng rãi, bao trùm phần phía bắc các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai và nối tiếp dãy Trường Sơn hùng vĩ, giúp ta làm chủ các căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Hắc Dịch... mà địch chưa bao giờ kiểm soát được. Chính tại những căn cứ này mà các đồng chí Ba Thu, Quốc Đăng, Lê Thanh đã hướng dẫn các đơn vị Bình Xuyên do Bảy Môn chỉ huy thoát khỏi cuộc truy diệt của lực lượng Diệm ở Rừng Sác. Theo chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ lúc ấy, cán bộ ta đã nuôi dưỡng giúp đỡ cho các lực lượng này cùng với lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo ly khai tồn tại, giác ngộ lòng yêu nước yêu dân, trở thành lực lượng vũ trang cách mạng chống Mỹ -Diệm những năm 1955-1956 tại Chiến khu C - Bắc Tây Ninh - đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên được thành lập lấy tên là C500 do đồng chí Lê Thanh chỉ huy. Tiếp theo là các tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa... đều có đơn vị vũ trang của mình.

    Để nuôi cán bộ bất hợp pháp và lực lượng vũ trang các đồng chí đã phát rẫy tỉa lúa, bắp, trồng khoai mì, nơi có điều kiện thì làm ruộng nước như ở các căn cứ Bắc Tây Ninh. Nhiều nơi, nhất là phía bắc Biên Hòa, Sông Bé, các đơn vị đã thay nhau đi đào củ mài, củ chụp, củ nần để thế gạo. Một người phải đào để nuôi thêm hai người. Có trường huấn luyện quân sự đã sống bằng củ nần, củ chụp ở rừng hàng nhiều tháng để đào tạo nhiều lớp cán bộ cho lực lượng vũ trang. Sự xây dựng bộ đội cách mạng và đảm bảo hậu cần lúc đầu từ hai bàn tay trắng, từ lao động cực nhọc và ý chí bền bỉ là như vậy đó. Nhưng nếu không có những bước rèn gan luyện chí của những đồng chí ít ỏi lúc đầu ấy thì có đâu cơ sở cho lực lượng lớn mạnh ngày sau. Năm 1957, khi đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến từ miền Tây được điều về miền Đông thì hình thành Ban Quân sự của Xứ, đồng chí Xuyến làm trưởng và đồng chí Lâm Quốc Đăng làm phó. Nhiều đội vũ trang tuyên truyền đã thâm nhập các vùng dân cư để hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng. Có những đội tiến sâu lên phía bắc, vận động bà con dân tộc M’nông, Cờ Ho, Chơ Ro làm chủ núi rừng trong lúc những đơn vị khác thâm nhập các huyện Bến Cát, Tân Uyên, Củ Chi, Trảng Bàng... về sát đô thành. Cũng như mọi nơi khác, để ngăn ngừa bọn gian ác hoành hành, nhiều cuộc tự động diệt trừ ác ôn có chọn lọc vẫn xảy ra. Từ năm 1957, các trận đánh vang dội của lực lượng vũ trang chống bọn càn quét, phá rừng, lấn căn cứ đã chặt bớt bàn tay độc ác của kẻ địch như trận Minh Thạnh, Biên Hòa, Dầu Tiếng, Bến Củi... Cho đến năm 1959, học tập Nghị quyết Trung ương 15, miền Đông quyết định mở trận đánh Tua Hai để lấy vũ khí phát triển vũ trang và phát động quần chúng nổi lên làm chủ. Thật sự, tình hình lúc ấy trong Sư đoàn 13 quân ngụy đóng ở thành Nguyễn Thái Học mà anh em ta gọi là Tua Hai (tức tháp canh số 2) của Pháp trước đây tính từ thị xã Tây Ninh, cách thị xã 7km trên quốc lộ 22, đang thúc bách ta phải đánh.

    Trong đơn vị ngụy này, ta đã đưa nhiều thanh niên yêu nước của ta vào đó từ lâu, đã thành lập một chi bộ Đảng và có số quần chúng cảm tình đông đảo. Thế rồi địch cũng đánh hơi được, nên ra sức truy quét gạn lọc. Địch đã phát hiện bắt tù hàng trăm quần chúng tốt và một số đồng chí ta. Chúng đang có kế hoạch phân tán lính đi các nơi để xáo trộn, điều chỉ huy mới đến thay đổi và tiếp tục bắt bớ những người chúng mới phát hiện. Đã đến lúc phải giải quyết không trì hoãn được nữa: Hoặc rút các đồng chí ta ra, hoặc tiêu diệt kẻ địch. Chi bộ Đảng bên trong cả quyết có khả năng nội công ngoại kích thành công và đề nghị tiến công diệt địch. Cũng phù hợp với ý muốn của lãnh đạo là đã đến lúc cần có một số súng đạn để xây dựng lực lượng vũ trang và cần có thối động để phát động quần chúng nổi dậy. Thế là quyết tâm tấn công căn cứ địch được hình thành. Địch ở đây có quân số đủ hai trung đoàn của Sư đoàn 13 nhưng một trung đoàn là lính mới tuyển còn đang huấn luyện, có một đại đội pháo và một đại đội thiết giáp. Thành Nguyễn Thái Học tương đối kiên cố, có tường cao và nhiều tháp canh, rộng mỗi bề tới 600m, là một cứ điểm lớn nhất của vùng này, có đông quân số và trang bị mạnh, án ngữ vùng rừng bắc Tây Ninh, bảo vệ hướng tây bắc của Sài Gòn. Thường xuyên trong căn cứ có một tiểu đoàn trực chiến được trang bị đầy đủ, và một đại đội thám báo, súng ống đạn dược chất đầy ba kho lớn. Các đơn vị khác được nhận súng ban ngày nhưng ban đêm thu lại cất vào kho. Vào lúc ấy có một căn cứ lớn của một đơn vị địch mạnh như thế này là vững chắc, bất khả xâm phạm, địch rất tin tưởng. Còn ta, Ban Quân sự Xứ ủy đã phân tích tình hình dựa vào tinh thần chủ quan khinh địch của quân ngụy mà đa số là lính mới, kém tinh thần, dựa vào khả năng kỳ tập và chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang ta, mặc dù số lượng còn ít, tin vào bản lĩnh của cán bộ chỉ huy đã được rèn luyện, đã hạ quyết tâm đánh bất ngờ, kết hợp đặc công với xung kích, tận dụng cơ sở nội tuyến để đảm bảo thành công. Đánh được trận này không những ta sẽ thu được nhiều súng đạn cho việc phát triển lực lượng mà quan trọng hơn nữa, sẽ là một đòn thối động lớn làm khiếp vía quân địch và gây tin tưởng cho quần chúng nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp, trừ gian làm chủ xóm làng. Đó là sự kết hợp tốt giữa quân sự, chính trị và binh vận, là ngòi pháo cho phong trào của miền Đông...

    Trận đánh nổ ra vào đêm 25 rạng ngày 26/01/1960 (nhằm ngày 27 Tết âm lịch) do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự của Xứ ủy trực tiếp chỉ huy, Chỉ huy phó là đồng chí Lê Thanh. Đồng chí Tư Nguyện 2 được giao nhiệm vụ huy động dân công để bảo đảm cho trận đánh. Lực lượng quân sự gồm cả của trên và của địa phương. Trận đánh giữ bí mật, bất ngờ và có nhiều thuận lợi. Sắp đến Tết âm lịch, một số sĩ quan và binh lính được nghỉ phép và một số đông tự động về nhà ăn tết, số khác chuẩn bị đón giao thừa, có nhiều sơ hở về phía địch. Tuy vậy không phải tất cả đều êm xuôi. Sắp tới giờ hành động, lực lượng tấn công đã được bố trí xong theo kế hoạch. Đặc công do đồng chí Vinh - Đại đội trưởng đã ém được bên trong gần sát với mục tiêu chỉ định. Mọi người chỉ còn chờ lệnh nổ súng từ sở chỉ huy. Bất ngờ vào lúc đó một đoàn xe chở binh sĩ ngụy từ hướng Tây Ninh lên theo đường 22, một số chạy vào cứ điểm, một số khác chạy thẳng lên phía bắc, đèn pha chiếu sáng, tiếng động cơ náo động cả một vùng. Phải chăng kế hoạch đã bị lộ, có kẻ phản bội báo trước cho địch tăng viện và đối phó kịp thời? Cán bộ và chiến sĩ ta cố giấu mình thêm kín và nín thở tránh từng tiếng động nhỏ, đầu óc căng thẳng, suy nghĩ cách chống trả nếu địch ra tay trước.

    Trận đánh cơ hồ bất thành và có nguy cơ thất bại nặng. Toàn mặt trận chờ lệnh xử trí của chỉ huy, mỗi phút giây dài bằng ngày tháng. Nhưng sở chỉ huy đã nhận được tin tình báo của ta từ trong lòng địch, có chậm nhưng vừa kịp đến giờ chót. Đó là địch triển khai một cuộc càn quét cuối năm, trước khi nghỉ tết. Lực lượng vào đồn chỉ là bọn lính của đồn đi liên hoan trở về, bọn lên phía bắc là tiểu đoàn từ xa đến cắm trại để mai triển khai càn quét. Tuy có bất ngờ nhưng chỉ huy trận đánh đã nhận định tình huống không ảnh hưởng lớn đến kế hoạch, ra lệnh nổ súng. Đúng giờ quy định, mìn nổ dữ dội ngay trung tâm chỉ huy địch, tên chỉ huy phó căn cứ chết (chỉ huy trưởng vắng mặt) và hệ thống thông tin bị hủy diệt. Tức thì hàng loạt mìn, và súng nổ liên hồi, nổ cùng khắp tại các đơn vị ngụy hầu như cùng một lúc. Không có chỉ huy như rắn mất đầu, lại bị đánh bất ngờ hết sức dữ dội ngay từ trong ruột và tiếng xung phong vang dậy từ ngoài vào, các đơn vị quân địch rối loạn, mất tinh thần, mạnh ai nấy chạy tán loạn. Một vài căn nhà bốc cháy, ngọn lửa theo gió lên cao, soi sáng khắp căn cứ. Một số sĩ quan và binh lính địch thấy lực lượng ta tiến công không nhiều, áo quần lếch thếch lại có phụ nữ, biết không phải là quân chính quy từ miền Bắc vào như chúng tưởng lúc đầu mà rõ ràng là du kích. Hoàn hồn, chúng tập hợp lại tổ chức phản kích. Nhưng chiến sĩ ta đã kịp thời bố trí ba khẩu đại liên mới lấy từ kho địch ra, nhả đạn dồn dập vào quân địch mới vừa tập hợp. Lớp chết, lớp bỏ chạy. Trận đánh kết thúc gọn ghẽ, thắng lợi vượt xa dự kiến. Hàng trăm địch bị giết, ta bắt sống 500 tên, giải thích giáo dục rồi thả ngay tại chỗ, số khác chạy tản mát. Số súng thu được trên 2.000 và rất nhiều đạn, lựu đạn... Tất cả đều mới tinh, chất thứ tự trong kho. Thương vong của ta không đáng kể. Kết quả về vật chất của trận đánh đã lớn, kết quả về tinh thần còn lớn hơn nhiều. Chiến thắng thành một tiếng vang bay xa làm nức lòng người, động viên nhân dân miền Đông nổi dậy đồng khởi diệt địch rửa hờn, làm chủ làng xóm. Tiếng vang còn đi xa hơn nữa, xuống đến miền Trung, miền Tây Nam Bộ, động viên thêm phấn khởi, đẩy mạnh thêm phong trào cách mạng. Càng đi xa, chiến thắng càng được người kể nhân lên gấp bội, thêm chút thần kỳ vào, vẽ thành một kiểu chiến thuật kỳ diệu xuất quỷ nhập thần, được chỉ huy tài tình và tô đậm thêm ý nghĩa. Thông thường như vậy, cái gì hợp với lòng mong đợi của dân, đúng với chính nghĩa sẽ được tán tụng hết lời và phát huy hiệu quả tích cực. Về phía địch thật là một đòn thất bại khủng khiếp. Chúng có bao giờ nghĩ rằng trong thời kỳ ấy một căn cứ của một sư đoàn chính quy, lớn rộng và kiên cố, được trang bị rất mạnh lại bị san bằng không đầy một tiếng đồng hồ. Phải là quân chính quy Bắc Việt vào mới đánh nổi và tài tình như vậy. Họ đã đánh được căn cứ Nguyễn Thái Học thì thị xã Tây Ninh nào có sá gì. Càng suy luận càng hoảng sợ, tên tỉnh trưởng Tây Ninh và bọn cầm đầu ngụy quyền có nợ máu khác dắt vợ bồng con chạy về Sài Gòn lánh nạn. Binh lính ngụy nhân đó đào ngũ hàng loạt. Các chị các bà trong “đội quân tóc dài” từ khắp nơi trong tỉnh, từ các tỉnh lân cận kéo đến đòi chồng, đòi con, khóc kể thảm thiết, chửi bới cho đã cơn giận, làm địch càng hoang mang, bối rối và quần chúng càng phấn khởi.





-----------------------------------------------------------------
1. Trong vụ giành chính quyền ở Hòn Khoai năm 1940, khi thực dân Pháp trở lại khủng bố tàn sát đẫm máu, đã bắt và xử tử hình đồng chí Phan Ngọc Hiển và 9 đồng chí khác. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã đổi tên quận Đầm Dơi là quận Ngọc Hiển để tưởng nhớ một đồng chí trung kiên cách mạng.
2. Đồng chí Đỗ Văn Muống, nay là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cao su.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 04:37:06 pm
    Được ảnh hưởng sớm nhất và mạnh mẽ là tỉnh sở tại Tây Ninh. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tây Ninh viết: “Tiếng súng Tua Hai đã đẩy mạnh khí thế cách mạng khắp tỉnh. Thắng lợi Tua Hai đã đưa cách mạng trong tỉnh chuyển sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp liên tục”, “khắp nơi quần chúng đã nôn nóng, cũng muốn cho xã mình vũ trang khởi nghĩa, tiêu diệt bót để phong trào lên kịp với các nơi khác...”. Ngay trong đêm Tua Hai bị diệt, đồn Vịnh ở xã Hải Đước sợ hãi rút chạy. Sau đó lực lượng vũ trang ít ỏi đã cùng đồng bào nổi dậy vây đồn bót diệt địch. Chỉ trong một thời gian ngắn tiếp theo, tại huyện Châu Thành đã có 11 xã trong tổng số 15 xã hoàn toàn giải phóng. Căn cứ bắc Tây Ninh (Khu C) đã quét sạch địch và mở rộng về phía nam đến sát thị xã. Phía căn cứ Dương Minh Châu cũ cũng được giải phóng thông đến tận Cầu Khởi, suối Ông Hùng... Trên 100 bộ máy tề ấp bị phá rã, nhân dân làm chủ hai phần ba tỉnh. Cuộc Đồng khởi trong tỉnh đạt kết quả lớn lao, bằng sự kết hợp giữa lực lượng vũ trang còn nhỏ bé, rất ít súng thật, khá nhiều súng giả bằng cây chuối, cây mì và ống lói, với lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng nổi dậy, kết hợp chính trị, quân sự và binh vận. Điển hình là ở xã Thanh Điền mà các đồng chí Tây Ninh đã kể: “Ở Thanh Điền, ngay trong tết chiến thắng, nhân dân đã rầm rộ xuống đường, kết hợp ba mũi tấn công, ào ạt đấu tranh trừng trị bọn ác ôn. Ngày mùng 7 Tết, các đồng chí đã tổ chức chiếm bót Hàng Đường và bót Nhà Vuông Cháy. Như vậy, địch chỉ còn kiểm soát vùng quanh bót Ôcôren, tức là vùng tiếp giáp thị xã, cách trung tâm thị xã chừng 1km đường chim bay. Được sự lãnh đạo của trên, xã ủy chủ trương phát huy chiến thắng, đẩy mạnh phong trào quần chúng kết hợp với vũ trang chống địch giữ đất, giành dân. Sau đó nhân một cuộc địch càn, các đồng chí Thanh Điền đã tổ chức một trận “đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị” đánh thẳng vào bót Ôcôren. Với lý do là để chạy càn, bà con đánh xe bò, dắt trâu, gồng gánh đồ đạc và dẫn trẻ em “tản cư ngược” ra bót. Giữa lúc bọn lính đồn nhốn nháo, hoang mang chưa có biện pháp đối phó với hơn 5.000 bà con đang khóc lóc, chửi rủa, đòi chúng phải mở cửa cho đồng bào ẩn náu vì “cộng sản về đông lắm, sẽ có đánh nhau to” thì du kích phối hợp nổ súng tiến công. Bọn lính tức thì bỏ bót tháo chạy. Du kích tràn vào làm chủ tình hình. Và để chặn viện, yểm trợ cho lực lượng vũ trang, bà con liền kéo thẳng vô thị xã. Đến cống Ba Miệng, gặp năm xe bọc thép chạy ra, bà con cản đường lại:

     - Chạy về đi thôi! Cộng sản về đông lắm. Họ đã chiếm bót Ôcôren rồi, còn đút đầu ra chịu chết hay sao?

     Quả nhiên bọn cơ giới bị trúng kế, quay đầu cút thẳng. Bà con thừa thắng kéo vô chợ, họp míttinh tố cáo bọn đi càn, gây mất an ninh trật tự cho thị xã mấy ngày đêm...”.

     Sự mưu trí và lòng dũng cảm của quần chúng cách mạng là như vậy đó. Một cử chỉ, một lời nói có sức mạnh, có hiệu lực của một đội quân thiện chiến, của một loại vũ khí lợi hại, có khả năng làm thất bại một âm mưu độc ác. Chính sức mạnh ấy đã cuốn trôi đồn bót giặc, đập tan tề xã, tề ấp ngụy quyền trong đồng khởi ở Bến Tre, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Ở miền Đông, ngoài Tây Ninh, các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, nhân dân cũng đồng loạt nổi dậy, kết hợp lực lượng vũ trang mới xây dựng, giải phóng các vùng nông thôn nối liền với các căn cứ kháng chiến cũ, thành những khu vực làm chủ rộng rãi của cách mạng bao quanh Sài Gòn từ tây bắc qua bắc và đông bắc, từ Đồng Tháp Mười ở Đức Huệ, Long An xuống đến bờ Biển Đông ở Xuyên Mộc, Bà Rịa.

    Sau Tua Hai trong tháng Giêng, đồn An Bình, đồn Nước Vàng (thuộc tỉnh Phước Thành) bị tiêu diệt, nhân dân làm chủ vùng ven căn cứ Chiến khu Đ, các trạm kiểm lâm của ngụy chuyên phá rừng trên các đường 13, 14, trên các sông Đồng Nai, Sài Gòn bị giải tán, phong trào công nhân cao su đấu tranh đòi quyền lợi và làm chủ lên cao ở các đồn điền Lộc Ninh, Xa Cát, Bình Sơn, Bình Ba, Dầu Giây, An Lộc... Tháng 02/1960 đồn Tân Long (Thủ Dầu Một) bị san bằng. Nhân dân các thị xã Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, Vĩnh Cửu (Biên Hòa) nổi lên làm chủ nhiều vùng nông thôn. Ở Bến Cát các ban tề đều rã hết. Ở Châu Thành, 11 trong tổng số 17 ban tề xã bị quét sạch. Ở Bà Rịa, chỉ một đêm ba đồn giặc ở sở Bình Ba bị diệt. Tại Long Điền, Đất Đỏ, các hội đồng hương chính đều rã và đầu hàng nhân dân. Tháng 3, quân địch ở đồn điền Phú Riềng bị tiêu diệt, Bù Đăng trên quốc lộ 14 được giải phóng. Nhân dân các dân tộc thiểu số đốt bỏ khu dinh điền trở về làng cũ trong vùng căn cứ làm rẫy sinh sống nuôi cách mạng. Miền Đông Nam Bộ, nơi nhiều khó khăn gian khổ, bị địch đánh phá càn quét liên miên, bao vây phong tỏa ráo riết, giờ đây làm chủ núi rừng, mở rộng làm chủ nông thôn ra sát thành thị, hình thành thế bao vây lại địch, đẩy địch về phía Sài Gòn.

    Phong trào Đồng khởi ở Nam Bộ kéo dài suốt nửa năm đầu 1960 với khí thế tiến công liên tục, giành nhiều thắng lợi. Tháng 7/1960, Xứ ủy họp hội nghị đánh giá tình hình, kiểm điểm thắng lợi, rút kinh nghiệm để chỉ đạo tiếp phong trào. Đặc biệt Xứ ủy đã đề cao kinh nghiệm đồng khởi của Bến Tre. Trước đó Khu ủy Khu 8 cũng đã công nhận phương thức đồng khởi của Bến Tre là mẫu mực và phát động các tỉnh trong khu noi theo. Để tiếp tục tiến công địch, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân khắp nông thôn, đánh quỵ địch từ cơ sở làng ấp là khâu yếu nhất của địch lúc ấy, Xứ ủy chủ trương tiến hành một đợt Đồng khởi thống nhất trong toàn xứ, lấy ngày 23/9/1960, ngày kỷ niệm Nam Bộ vùng lên đánh thực dân Pháp hồi năm 1945 làm ngày mở đầu cho toàn đợt. Thế là miền Đông đến miền Trung, miền Tây Nam Bộ, từ rừng núi đến đồng bằng sông Cửu Long lại dấy lên một phong trào nhân dân nổi dậy dùng chính trị, quân sự, binh vận, diệt đồn bót giặc, phá rã tề xã, tề ấp, giải phóng nông thôn. Các khu dinh điền, khu trù mật còn lại trong đợt này cũng bị phá gần hết. Nhân dân kéo về quê cũ, dựng nhà, làm ruộng, thực hiện quyền làm chủ, đấu tranh cho quyền dân sinh dân chủ. Suốt năm 1960 cao trào cách mạng của nhân dân Nam Bộ đã dồn dập và liên tục, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp đàn áp khủng bố mà Mỹ - Diệm đã dày công xây dựng trong 5 năm trời. Hàng loạt đồn bót của bảo an ngụy cắm sâu trong các làng mạc bị san bằng. Nhiều đơn vị quân ngụy bị diệt và rã. Lực lượng tề điệp, dân vệ khống chế nhân dân lâu nay, lớp trốn, lớp đền tội, không còn hiệu lực ngay trong các vùng sát thị trấn, thị xã. Đến cuối năm đã có trên 100 xã trong tổng số trên 1.000 xã được hoàn toàn giải phóng, có đến trên 800 xã nhân dân làm chủ một phần, đứng lên lập chính quyền cách mạng tự quản. Trước thắng lợi to lớn của cách mạng, trước khí thế tiến công của nhân dân và chính sách binh địch vận đúng đắn của ta, nhiều sĩ quan và binh lính ngụy nhận ra được lẽ phải, thấy rõ nỗi nhục làm tay sai cho giặc cướp nước và giết hại đồng bào, đã bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Số khác còn trong đơn vị ngụy cũng bớt hung hăng, không bắn giết bừa bãi nhân dân trong các cuộc càn, còn giúp dân giấu tài sản, và đôi khi trừ khử ác ôn, hay đứng về phía nhân dân trong các cuộc đấu tranh chống khủng bố, đòi dân sinh dân chủ. Càng ngày binh lính ngụy đào rã ngũ càng tăng. Trong năm 1960, ở đồng bằng sông Cửu Long có tới 11.500 binh sĩ trong các đơn vị ngụy bỏ ngũ về nhà hoặc theo cách mạng. Đã có hiện tượng đào ngũ tập thể như lực lượng bảo an đóng ở khu trù mật Cái Tàu (Cà Mau) nổ súng bắn chết chỉ huy mang súng trở về với nhân dân. Hãng tin AFP ngày 09/4/1960 nhận định rằng chính quyền Diệm không những bị nhân dân chống lại, mà còn đang đứng trước một sự đe dọa nghiêm trọng hơn. Đó là việc một phần quân đội không yêu mến chính quyền đó nữa. Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã phải cấp báo cho Kennedy: “Một thời kỳ hết sức nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam Cộng hòa hiện đã ở ngay trước mắt. Trong thời gian sáu tháng qua (cuối năm 1960) tình hình an ninh ở trong nước vẫn tiếp tục trở nên ngày càng xấu đi và nay đã lên tới một mức nghiêm trọng. Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía nam và tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng ở phía bắc đã nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản”.

    Ngụy quyền Diệm càng bị tan rã từ cơ sở thì càng bị cô lập và suy yếu. Từ đó đẻ ra tình trạng mâu thuẫn và phân hóa ngày càng gay gắt trong ngụy quân, ngụy quyền. Hốt hoảng, Diệm ra tay khủng bố thanh trừng nội bộ. Hắn gạt bỏ 73 trong số 123 dân biểu quốc hội kỳ 1, trong đó có ba nghị sĩ người Thượng. Ở Sài Gòn một nhóm 18 người gọi là “nhóm Caravelle”, vì họ thường gặp nhau ở nhà hàng Caravelle, đứng đầu là một cựu bộ trưởng kinh tế của Diệm, ngày 25/4/1960 đã gửi thư vạch tội Diệm là nhà chính trị độc tài, hà lạm, lạm quyền, và cảnh cáo rằng: “sự thật khả dĩ bùng nổ thành những làn sóng mênh mông của sự căm ghét và thù hận không thể chặn đứng được của một dân tộc đã đau đớn một cách khủng khiếp, đứng lên đập phá những xiềng xích đã trói buộc họ và quét sạch những người ngu tối và đào tận rễ sự bất công đã bao vây áp chế họ”.

    Tình trạng mâu thuẫn phân hóa trong hàng ngũ địch phát triển cao độ dẫn đến cuộc đảo chính Diệm ngày 11/11/1960. Cầm đầu cuộc đảo chính là Phan Quang Đán, lãnh tụ một phái thân Mỹ nhưng đối lập với Diệm, Đại tá Nguyễn Chánh Thi chỉ huy lữ đoàn dù, một sĩ quan thân tín bậc nhất của Diệm, và Trung tá Vương Văn Đông - một sĩ quan trong lữ đoàn dù. Tham gia cuộc đảo chính có bốn tiểu đoàn và một số lực lượng thiết giáp, cảnh sát và vài đơn vị hải quân đóng ở Sài Gòn. Cuộc đảo chính thất bại vì phe đảo chính lừng chừng, không triệt để, chẳng qua là cốt giành ăn chia ghế và cũng do Mỹ muốn kết thúc ngay, sợ cộng sản khai thác tình hình.

    Thắng phe đảo chính, Diệm ra tay trả thù, quyết trừng trị những kẻ “phiến loạn”. Chúng đập phá trụ sở và nhà in của các nhà báo đã đăng tải thông báo của phe đảo chính. Chúng bắt bớ hàng loạt. Theo tin UPI tháng 12/1960 thì ba ngày sau đảo chính số người bị bắt lên tới ba vạn, một loạt tướng, tá, úy bị bắt, thuyên chuyển... Song “ông Diệm có thể thanh trừng hàng loạt trong quân đội, nhưng điều đó không cứu vãn nổi chế độ ông Diệm về lâu dài”, đó là nhận định của Thời báo Ấn Độ.

    Phong trào Đồng khởi đã làm cho chế độ Diệm, bề ngoài tưởng như vững chắc ổn định, đi đến suy sụp rối loạn như vậy. Trong lúc đó về phía cách mạng tình thế đang vươn lên ngày càng mạnh, càng thắng. Lực lượng Đảng lãnh đạo trải qua một thời kỳ bị thiệt hại nặng nề được phục hồi mau chóng. Hầu hết làng xã đều có chi bộ, hệ thống nối liền Xứ ủy đến cơ sở với kinh nghiệm đấu tranh và chất lượng lãnh đạo được nâng cao. Quần chúng phấn khởi nô nức gia nhập các đoàn thể cách mạng, công đoàn, thanh niên, phụ nữ, nông hội... khiến cho việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh càng chặt chẽ vững vàng. Các lực lượng vũ trang các cấp được tổ chức, phát triển, được huấn luyện, trang bị và tôi luyện trong chiến đấu cũng như các đại đội địa phương và các thôn ấp đều có dân quân du kích. Công tác vận động binh lính và ngụy quyền của nhân dân, của cán bộ càng phát triển và trở thành một phương thức tiến công có hiệu quả của cách mạng. Từ phong trào đấu tranh cách mạng thực tế của quần chúng nhân dân và cán bộ địa phương, từ cuộc đấu tranh sống còn bền bỉ anh dũng tận cơ sở với sức sáng tạo kỳ lạ của quần chúng cách mạng, Xứ ủy đã đúc kết kinh nghiệm và nêu lên thành phương châm đấu tranh cách mạng “hai chân ba mũi”, sau được Trung ương chấp nhận và chỉ đạo các chiến trường, được áp dụng cho suốt các thời kỳ chiến tranh cách mạng, đưa lại toàn thắng vinh quang. Hai chân, chân chính trị kết hợp với chân quân sự để đi cho vững trong suốt các chặng đường gay go gian khổ, ba mũi, mũi tiến công chính trị, mũi tiến công vũ trang và mũi tiến công binh vận cùng giáp công trong từng trận đánh, ở từng cơ sở, trong từng cuộc đấu tranh và trong các chiến dịch đã đem lại hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Chỉ một năm đồng khởi, phong trào cách mạng tiến triển như vũ bão. Lực lượng Đảng, lực lượng quần chúng, chính trị và vũ trang đều tăng lên gấp bội, mạnh mẽ khác hẳn với những năm trước đây, nhất là từ năm 1957 đến năm 1959 khi mà địch tha hồ tự do bắn giết đã gây thiệt hại lớn cho phong trào. Rõ ràng một khi đã có đường lối lãnh đạo đúng đắn, thực hiện cương quyết bằng phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình thực tế, bởi những cán bộ được rèn luyện trong đấu tranh gian khổ, chỉ một mục đích duy nhất vì quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân bởi một lực lượng quần chúng được giác ngộ quyền lợi, đồng lòng xông lên phía trước vì ích nước lợi nhà thì thành công thật to lớn. Phong trào Đồng khởi có giá trị lớn lao khó lường hết. Nó cứu vãn một nguy cơ trông thấy của cách mạng nước ta và mở đầu trang sử vẻ vang thắng lợi của chiến tranh chống Mỹ xâm lược. Đồng chí Lê Duẩn đã nhận định: “Rõ ràng trong tình hình đen tối của miền Nam từ tháng 7/1954 đến cuối năm 1959, chúng ta không kịp thời phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa từng phần và tiến hành chiến tranh cách mạng thì lực lượng cách mạng ở miền Nam có thể tan rã, phong trào yêu nước có nguy cơ bị đè bẹp không sao gượng dậy nổi và Mỹ - Diệm có thể mang lục quân đánh ra miền Bắc như lúc bấy giờ chúng đã mưu tính và ra sức chuẩn bị”.

    Nhân dân ta thật cách mạng. Không phải đến năm 1960 mới nổi dậy. Suốt trong những năm qua, trước sự đàn áp dã man không thể tưởng tượng nổi của Mỹ -Diệm, đã từng có những cuộc nổi dậy của quần chúng không chịu sống quỳ ở từng con người, từng cơ sở, ở từng thôn, từng xã cho đến từng huyện ở khắp các vùng trong toàn miền Nam. Chỉ có các cuộc nổi dậy ấy còn cục bộ ở từng địa phương do nhân dân quá căm phẫn trước sự đàn áp của địch, được cán bộ ở đấy tự động lãnh đạo mà chưa phải “đồng khởi”, chưa phải nổi dậy đồng loạt rộng rãi trong một thời gian dồn dập. Nhưng các cuộc nổi dậy ấy không kém phần anh hùng và nhiều nơi đã đứng vững trước sự phản ứng quyết liệt của kẻ địch. Tiêu biểu cho các cuộc khởi nghĩa cục bộ đó có những cuộc diễn ra trong toàn một huyện là cuộc khởi nghĩa của huyện Trà Bồng - một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi tháng 8/1959. Chỉ trong vòng bốn ngày, tất cả đồn bót bảo an dân vệ, tất cả hệ thống ngụy quyền trong 16 xã trong huyện bị tiêu diệt bị đập tan. Chính quyền cách mạng tự quản của nhân dân được thiết lập và đứng vững mãi về sau. Trà Bồng, Quảng Ngãi là lá cờ đầu khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích của toàn tỉnh, của miền núi Khu 5 và cả toàn Khu 5. Trước đó nữa, vào tháng 01/1959, cũng một huyện miền núi đã nổi dậy liên tục đánh đổ ngụy quyền, đánh bọn phản kích suốt cả năm để rồi nhân dân hoàn toàn làm chủ trong năm 1960 nhập cuộc với phong trào Đồng khởi toàn Miền - đó là huyện Bác Ái thuộc tỉnh Ninh Thuận nay thuộc tỉnh Thuận Hải. Bác Ái là một vùng núi cao rừng rậm, hang động hiểm trở lại nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng, sát về phía bắc với đường 11 và đường xe lửa răng cưa từ Tua Chàm đi Đà Lạt, phía đông bắc liền với sân bay Thành Sơn - một sân bay lớn của địch, phía đông là đường 1 và đường xe lửa Bắc - Nam cùng song song theo đường bờ Biển Đông. Trên 10.000 dân cư phần lớn là dân tộc Raglai kiên cường bất khuất mà tiêu biểu là anh hùng Pi Năng Tắc, đã biến Bác Ái thành một căn cứ kháng chiến vững chắc suốt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Từ tháng 01 đến tháng 4, nhân dân đã nổi dậy, phá tan khu tập trung Bà Rau, Tầm Ngân, kéo về làm chủ núi rừng làng rẫy. Cả 12 xã trong huyện nhất quyết chống địch đến cùng, rào làng, lấp đường, đào hầm chông, cài cạm bẫy, tổ chức canh gác, bố phòng cẩn thận. Suốt tháng 9/1959, toàn dân đánh thắng oanh liệt cuộc càn lớn trả đũa của địch bằng đấu tranh chính trị của người già, bằng vũ khí thô sơ của thanh niên và bằng sự bất hợp tác của phụ nữ, trẻ thơ với địch, leo lên núi cao, lánh vào hang động. Cho đến tháng Giêng năm 1960, cùng với phong trào Đồng khởi toàn Miền, Bác Ái đã quét sạch tề, điệp, giữ vững quyền làm chủ và đến tháng 8 năm ấy khi lực lượng vũ trang diệt dồn bót địch còn lại thì huyện đã được hoàn toàn giải phóng.

    Đồng khởi năm 1960 trở thành cái mốc lịch sử oanh liệt đầu tiên trên con đường dài 21 năm đánh Mỹ, nó mở đầu thời kỳ cách mạng tiến công, chỉ có tiến công và tiến công liên tục của một phong trào quần chúng rộng rãi dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng nhằm đánh bại âm mưu nô dịch của Mỹ và đánh đổ ngụy quyền cam tâm làm tay sai ngoại bang, chia hai đất nước. Phong trào Đồng khởi đã huy động toàn dân đấu tranh cả chính trị và quân sự tuy chưa đều và mạnh trong các đô thị, đã củng cố và phát triển tổ chức Đảng lãnh đạo, tổ chức các đoàn thể cách mạng cũng như các lực lượng vũ trang cách mạng ngày một lớn mạnh. Đó là những điều kiện hết sức cơ bản để tiến lên đối đầu vững vàng và thắng lợi vẻ vang trước cuộc chiến tranh xâm lược thực sự của đế quốc Mỹ vào những năm tiếp theo. Nó làm cho đế quốc Mỹ không còn núp giấu được bộ mặt xâm lược đằng sau bọn Diệm mang chiêu bài “quốc gia dân tộc”, mà lộ rõ ra là một chiến tranh thực sự của Mỹ với chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” chống các dân tộc Việt Nam, Đông Dương rất xa nước Mỹ, chỉ vì họ muốn sống tự do theo kiểu cách của mình. Đúng, nhà sử học Mỹ Russel F. Weigleg đã nói đúng: “Việt Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên trong đó Mỹ tìm cách áp đặt một hệ tư tưởng lên một dân tộc khác” 1. Phải chặn đế quốc Mỹ lại không cho chúng tiếp tục đi theo con đường này. Phải để cho các dân tộc có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình và sống trong hòa bình và hữu nghị.

    Phong trào Đồng khởi năm 1960 là bước nhảy vọt quan trọng đầu tiên của cách mạng miền Nam, là một sáng tạo lớn lao về hình thức đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, biểu hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, kiên cường, bất khuất trước bạo tàn và áp lực. Đồng khởi năm 1960 đi vào lịch sử không chỉ nằm trong phạm vi hình thức đấu tranh, phương thức cách mạng mà còn là khởi đầu cho một đường lối sáng tạo độc đáo của cách mạng Việt Nam: Khởi nghĩa vũ trang kết hợp với chiến tranh cách mạng. Đó là sự vận dụng tài tình những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng vào điều kiện cụ thể ở miền Nam Việt Nam chống lại chiến tranh xâm lược và “thập tự chinh” chống cộng của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Duẩn viết: “Các cuộc nổi dậy bằng sức mạnh chính trị là chính, kết hợp với sức mạnh vũ trang của quần chúng ở một số vùng rừng núi Khu 5 và đồng bằng Nam Bộ vào cuối năm 1959 đầu năm 1960, giành chính quyền ở thôn xã là các cuộc khởi nghĩa cục bộ, là cao trào khởi nghĩa lớn đầu tiên”   và “kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng miền Nam trong đó khởi nghĩa từng phần ở nông thôn là bước mở đầu. Trong các bước tiếp theo những cuộc khởi nghĩa của quần chúng luôn luôn tiếp diễn, ngày càng mạnh mẽ, gắn chặt với chiến tranh cách mạng”.




------------------------------------------------------------------
1. Trong cuộc họp tháng 01/1983 của các viện sĩ, nhà sử học và phân tích quân sự tại trung tâm quốc tế Wood Wilson để đánh giá điều mà một diễn giả gọi là: “Một cuộc chiến tranh lớn nhất, tốn kém nhất, nhưng lại ít thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Nhưng sao lại ít thành công? Đúng ra là thất bại nhục nhã - T.G).


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Chín, 2023, 04:39:42 pm
CHƯƠNG VI
Mặt trận Dân tộc giải phóng



    Phong trào Đồng khởi năm 1960 trên toàn miền Nam của quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng chủ yếu là ở nông thôn đã lật đổ trong nhiều vùng rộng lớn ngụy quyền cơ sở, lập nên chính quyền cách mạng tự quản của nhân dân, là một bước ngoặt quan trọng của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Đó là bước ngoặt từ thế thủ để bảo tồn lực lượng, đấu tranh chính trị hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ - một Hiệp định quốc tế mà ta đã ký và triệt để tôn trọng, chuyển qua tiến công liên tục ngày càng mạnh bằng cả bạo lực chính trị và vũ trang vào ngụy quyền phản động phátxít chống nhân dân, làm tay sai cho đế quốc xâm lược, phản bội Hiệp định chia đôi đất nước. Đó là bước ngoặt từ chỗ cách mạng chưa có chính quyền - chỉ có một ngụy quyền phản động chống nhân dân, không có lực lượng vũ trang (mới có một đơn vị nhỏ từng nơi trang bị thô sơ, núp dưới những danh nghĩa khác nhau, mang ý nghĩa tự vệ) - chỉ có quân đội Mỹ - Diệm trang bị mạnh và tổ chức hàng sư đoàn, cả binh quân chủng, để tiến hành “chiến tranh một phía” và không có cả tổ chức các đoàn thể quần chúng cách mạng để huy động lực lượng, giáo dục và chỉ đạo đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình (các đoàn thể cách mạng đã chủ trương tự giải tán hồi năm 1954-1955), đi đến chỗ có tất cả, chính quyền tự quản, quân đội giải phóng và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông hội, trí thức, văn nghệ giải phóng...

    Giả sử đôi bên đều tôn trọng chữ ký của mình, thành tâm thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ thì tháng 7/1956 đã có tổng tuyển cử toàn quốc theo ý nguyện của dân và đi đến thành lập một chính phủ thống nhất cho cả nước Việt Nam tự do và độc lập, thì làm gì có phong trào Đồng khởi năm 1960. Tình hình diễn biến hình như đơn giản nhưng vô cùng phức tạp theo con đường đấu tranh chính trị hòa bình và hòa bình thống nhất đất nước. Đó là con đường ngắn nhất và có lợi nhất vào thời kỳ đó cho nhân dân ta, cho đất nước ta. Nó tránh được bao chết chóc đau thương, bao tàn phá đình trệ. Chính vì vậy mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân kiên quyết đấu tranh để đi theo con đường đó suốt nhiều năm trời. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố làm mọi cách để giữ hòa bình, tránh chiến tranh vì nhận thức rõ chiến tranh dù với mục đích nào vẫn là một bi kịch của nhân loại mà những người lương thiện trên quả đất này không ai muốn. Nhưng khốn thay cuộc “thập chinh chống cộng” của những nhà lãnh đạo nước Mỹ thời ấy đã được định ra từ cuối những năm 1940 nên không có hòa bình, không có tổng tuyển cử dân chủ, không có Việt Nam thống nhất, chỉ có cái “cộng hòa Việt Nam” chống cộng, hầu như là một bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Con đường phát triển hòa bình đã bị phá ngay từ đầu và vì vậy mới có đàn áp tàn khốc, những năm lửa và máu, của một bên là chiến tranh tạo ra cuộc “Đồng khởi” của nhân dân Việt Nam quyết tự mình định đoạt vận mệnh của mình.

    Khi đã có đường lối lãnh đạo đúng đắn rồi thì phương pháp đấu tranh cách mạng để đạt mục tiêu đề ra là khâu trọng yếu. Từ bao nhiêu năm quần chúng đã không còn chịu nổi sự đàn áp phátxít của Mỹ - ngụy, đã sẵn sàng dùng mọi biện pháp chống trả lại, khi biết có chủ trương đúng đắn chỉ có con đường bạo lực cách mạng đánh đổ ngụy quyền mới có thể sống còn, liền đồng loạt đứng lên làm chủ xóm làng. Phong trào mạnh phải có tổ chức mạnh và phù hợp. Muốn đấu tranh vũ trang phải tổ chức ra lực lượng vũ trang, có chỉ huy và tham mưu của nó. Muốn đấu tranh chính trị mạnh phải có lực lượng với những tổ chức đoàn thể và ban chấp hành của nó như hội lao động giải phóng, các hội thanh niên, phụ nữ, nông hội, trí thức, học sinh, sinh viên... Phải đoàn kết tất cả các đoàn thể yêu nước lại thành một mặt trận thống nhất thì sức mạnh của các đoàn thể mới được nhân lên gấp bội. Tình thế cách mạng, phong trào quần chúng, yêu cầu của nhiệm vụ cứu nước, cứu dân đòi hỏi phải có một mặt trận thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh dân tộc, đoàn kết tất cả mọi người yêu nước, mọi tầng lớp nhân dân, mọi đoàn thể cách mạng, mọi tôn giáo, đảng phái hoạt động dưới một ngọn cờ duy nhất, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước họa xâm lăng và bạo tàn phátxít. Phong trào Đồng khởi thắng lợi trên toàn miền Nam càng đặt ra vấn đề cấp bách là phải có một mặt trận như vậy để tập hợp lực lượng rộng rãi, nhân sức mạnh lên gấp nhiều lần nữa để đạp phăng mọi trở ngại tiến thẳng đến đích đã định.

    Cuối năm 1960, một sự kiện lịch sử tất yếu đã diễn ra: ngày 20/12, Đại hội đại biểu các tầng lớp xã hội, các tổ chức quần chúng cách mạng, các thân sĩ yêu nước đã mở ra ở vùng giải phóng bắc Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ, vùng căn cứ cũ Dương Minh Châu. Trong rừng cây to um tùm xanh tốt, vẻ ngoài trầm mặc, bên trong đã diễn ra cảnh tưng bừng nhộn nhịp của những người cách mạng hăng say từ các vùng nông thôn đã làm chủ, từ các thành thị kể cả Sài Gòn đổ về, thảo luận, phân tích tình hình, đề ra nhiệm vụ, sách lược đấu tranh cứu dân, cứu nước. Đại hội đã hoàn toàn nhất trí và tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đây là một chủ trương rất đúng với tình hình thực tế đang diễn biến ở Việt Nam và thế giới, chống lại nạn phátxít tàn bạo, chống ách nô dịch thực dân giành độc lập dân tộc và làm phá sản chiêu bài “chống cộng” của đế quốc Mỹ. Nó phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới là tự do, dân chủ, đời sống, hòa bình và thống nhất đất nước.

    Hàng triệu trái tim nhân dân Việt Nam một lòng hướng về Bác Hồ, Đảng kính yêu cùng với truyền thống bất khuất từ ngàn xưa của tổ tiên, mọi người đã đoàn kết lại cùng hành động cho nghĩa lớn: giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Bản tuyên ngôn của Mặt trận ra đời theo hướng đó và được phát hành rộng rãi ngay sau đó đã ảnh hưởng vang dội trong và ngoài nước, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, được thế giới hoan nghênh, đã đưa lại cho cách mạng một sức mạnh mới và làm kẻ thù phải run sợ. Bản tuyên ngôn đã phân tích sắc bén tình hình trong nước và thế giới từ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1960, đã lên án đanh thép đế quốc Mỹ mang dã tâm thay thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam ta thành thuộc địa trá hình và căn cứ quân sự, đã lên án chế độ tay sai Ngô Đình Diệm cam tâm phục vụ quân xâm lược, đàn áp khủng bố phátxít nhân dân, chia cắt lâu dài đất nước ta. Tuyên ngôn đã khẳng định mục tiêu chủ yếu của phong trào cách mạng nhân dân là “phải chấm dứt chế độ thống trị độc tài tàn bạo, phải độc lập dân chủ, phải cơm no áo ấm, phải hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

    Căn cứ vào tình hình thực tế của nước nhà và quyền lợi thiết yếu của các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã vạch ra chương trình hành động 10 điểm cụ thể, rõ ràng và phù hợp nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Mười điểm đó là:

    1. Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ.

    2. Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ, ban bố quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, tự do đi lại và các quyền tự do dân chủ khác. Toàn xá chính trị phạm, giải tán các trại tập trung, khu trù mật và dinh điền, bãi bỏ luật phátxít 10/59 và các luật phản dân chủ.

    3. Bãi bỏ độc quyền kinh tế của đế quốc Mỹ và của bọn tay sai, bảo vệ nội hóa, khuyến khích công thương nghiệp trong nước, mở mang nông nghiệp, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Giải quyết công ăn việc làm cho những người thất nghiệp, tăng lương cho công nhân, binh lính và viên chức. Bãi bỏ phạt vạ vô lý, thi hành chính sách thuế khóa công bằng và hợp lý. Giúp đỡ cho đồng bào di cư muốn về xứ sở, giải quyết công ăn việc làm cho những người muốn ở lại.

    4. Thực hiện giảm tô, đảm bảo nguyên canh, chia lại công điền, tiến tới cải cách điền địa.

    5. Bài trừ văn hóa nô dịch đồi bại kiểu Mỹ, xây dựng một nền văn hóa và giáo dục dân tộc và tiến bộ. Xóa bỏ nạn mù chữ, mở mang trường học, cải cách chế độ học tập và thi cử.

    6. Bãi bỏ chế độ cố vấn quân sự Mỹ, xóa bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài ở Việt Nam, xây dựng một quân đội dân tộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

    7. Thực hiện nam nữ bình quyền, đảm bảo bình đẳng giữa các dân tộc và thực hiện quyền tự trị của các dân tộc thiểu số. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều sinh sống ở Việt Nam. Bảo vệ chăm sóc quyền lợi của kiều bào ở hải ngoại.

    8. Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

    9. Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền. Tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

    10. Chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới.

    Chương trình đó bao gồm mọi phương diện của đời sống: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, nội trị, ngoại giao. Nó trả lời mọi yêu cầu của xã hội Nam Việt Nam lúc bấy giờ là độc lập dân tộc, tự do dân chủ, hòa bình trung lập tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Nhờ đó mà Mặt trận đã trở thành trung tâm đoàn kết tập hợp được đông đảo những người Việt Nam yêu nước, tiến bộ dưới lá cờ của mình, lá cờ nửa trên đỏ thắm nửa dưới xanh da trời với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa. Từ đây cương lĩnh cách mạng đúng đắn là lá cờ tiêu biểu của Mặt trận đã có mặt khắp nông thôn, thành thị, đã thức tỉnh hàng triệu người dân lao động bị áp bức bóc lộc, bị khủng bố tàn bạo đứng lên làm cách mạng và điều đó báo trước sự thắng lợi vẻ vang của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

    Chương trình 10 điểm của Mặt trận thể hiện đầy đủ và rõ ràng nhất ý chí sắt đá của những người cách mạng Việt Nam là giành tự do và độc lập, dân chủ, hòa bình, không thừa nhận bất cứ một sự đô hộ trá hình nào của đế quốc, một sự cai trị tàn bạo nào của một chế độ độc tài và tay sai. Nó đấu tranh cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, tăng lương cho công nhân, viên chức, cả binh lính nữa (tất cả binh lính của một quân đội bảo vệ Tổ quốc và nhân dân); ruộng đất cho dân cày, nhưng trước hết là giảm tô và nguyên canh đã rồi sẽ tiến lên; tư sản công, thương nghiệp được kinh doanh làm lợi cho nền kinh tế nước nhà, hàng nội hóa được bảo vệ; trí thức được chú ý, mở mang trường học, mọi người biết chữ, một nền văn hóa tiến bộ; các dân tộc đa số và thiểu số có quyền bình đẳng, chăm sóc các kiều bào ngoài nước và ngoại kiều trong nước,... Như vậy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng chủ trương một miền Nam Việt Nam độc lập tự do, quản lý bởi một chính quyền liên minh dân tộc và dân chủ, có chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, quan hệ với tất cả các nước tôn trọng chủ quyền của mình không phân biệt chế độ xã hội. Đối với miền Bắc, đặt quan hệ bình thường rồi sẽ tiến lên hòa bình thống nhất về sau. Mục tiêu cách mạng thật khiêm tốn sau bao năm đấu tranh vô cùng quyết liệt, xương máu chất chồng. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa đường lối của Đại hội III Đảng Lao động Việt Nam họp tại Hà Nội tháng 9/1960. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản đó, trước mắt phải: Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.

    Đường lối của Đảng, chương trình của Mặt trận đưa ra vào lúc này là hoàn toàn phù hợp với tình hình, là hợp tình, hợp lý, đúng mức. Chương trình 10 điểm của Mặt trận công khai trình bày trước nhân dân cả nước ta nhằm đạt đến một nhận thức và quan điểm thống nhất về mục tiêu cách mạng và phương hướng hành động trong một giai đoạn nhất định. Mọi người dân yêu nước, yêu hòa bình và tự do dân chủ đều có thể tập hợp lại, đoàn kết lại trong một mặt trận - Mặt trận Dân tộc Giải phóng - để chung lưng đấu cật đấu tranh cho một yêu cầu số