Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:13:45 am



Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:13:45 am
Tên sách: Miền Trung những tháng ngày không quên
Tác giả: thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Thể hiện: Nhật Tiến
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2003
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/ZhZBhvB.jpg)

Chương I
MIỀN ĐẤT - CON NGƯỜI


Có một miền đất - con người vừa là quê hương tôi, vừa là một địa bàn quân sự trọng yếu, có quan hệ máu thịt với những chiến dịch, những trận đánh mà tôi sẽ kể lại cùng bạn đọc trong tập ký ức này.

Tôi sinh ra và lớn lên tại một tỉnh thuộc Liên khu 5 cũ - một miền quê giàu về tài nguyên, đa dạng về di tích, danh thắng do tạo hóa ban tặng và do cả bàn tay khối óc, kể cả máu xương của các thế hệ tiếp nối tạo dựng lên theo năm tháng.

Từ thủ đô Hà Nội, qua thành Vinh quê Bác, qua cố đô Huế đến đỉnh đèo Hải Vân nhìn xuống là bạn đang đi vào vùng địa đầu quê tôi - đất Quảng Nam, một trong những tỉnh lớn của cả nước. Nhắc đến Quảng Nam - Đà Nẵng là ta liên tưởng đến những cảnh quan mĩ lệ, di tích danh thắng nổi tiếng: Ngũ Hành Sơn, tháp Chiêu Sơn, núi Bà Nà, bảo tàng Chăm - nơi trưng bày lưu giữ hàng nghìn tác phẩm điêu khắc vô giá bằng đá vẽ lại đầy đủ đời sống tâm linh phong phú của cộng đồng người Chăm cách đây hàng chục thế kỷ... cùng những sản phẩm dồi dào, đặc biệt như nước mắm Năm Ô, thuốc lá Cẩm Lệ, quế Trà Mi, khoai Trà Đỏa, lụa Phú Bông, vàng Bồng Miêu, than Nông Sơn, v.v...

Hội An, một phố cổ nổi tiếng nằm gọn bên tả ngạn của sông Thu Bồn, lập nên cách đây vài ba trăm năm, đã có thời nổi tiếng cùng với kinh kỳ và phố Hiến(1) ngoài Bắc... nay vẫn còn giữ lại một nét của thời xa xưa ấy. Nơi đây có nhiều chùa, song nổi tiếng là chùa Bà Mụ, chùa Cầu với những đường nét kiến trúc tinh vi độc đáo. Đến Hội An, ta không thể không ăn những món ăn đặc biệt của xứ Quảng: mắm nêm, canh hến, cao lầu(2).

Sẽ là thiếu sót khi du khách thăm Quảng Nam lại không thăm một địa danh, một di tích được các nhà nghiên cứu đánh giá ngang hàng với các di tích nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á, như Ăng-co (Cam-pu-chia), Pa-gan (Mi-an-ma), Bô-rơ-bu-đua (In-đô-nê-xi-a). Đó là khu Thánh đô(3) Mỹ Sơn, cách thành phố Đà Nẵng 68 ki-lô-mét về phía tây nam, ẩn sâu trong một thung lũng có đường kính dài 2 ki-lô-mét với vòng núi cao bao kín.

Là thánh đô của vương quốc Chăm-pa, Mỹ Sơn chứa đựng một tổng thể kiến trúc đa dạng nhất của nghệ thuật Chăm với hơn 70 đền tháp và một số bi ký có niên đại liên tục trong nhiều thế kỷ.

Tháp Chàm xây dựng bằng gạch nung. Nhưng kỹ thuật sử dụng gạch ở đây thật tuyệt diệu, tinh vi. Những viên gạch được xếp nằm khít nhau không hề thấy mạch hồ và rất mỏng mà vẫn đứng vững hàng nghìn năm phơi sương gió, mưa nắng. Cát bụi chỉ làm mòn dần chứ không thể bóc rời những viên gạch ấy ra khỏi nhau.

Tháp chính mang tên Ka-lau, là nơi vua và các đại thần cùng giáo sĩ đến hành lễ. Thần thờ duy nhất đặt trong ngôi tháp này là Thần Ba-ha-ơ-re-sva-ra được biểu hiện dưới hình thức một bộ sinh lực khí Lin-ga. Đây là Lin-ga thờ vua - thần xưa nhất tìm thấy ở miền Đông Nam Á.

Lin-ga vật thờ vua - thần có hình dáng thông tục mà khái quát về khởi nguồn cuộc sống con người trong tư duy tâm linh của dân tộc Chăm.

Mặc dầu thời gian có phôi pha, bão lửa chiến tranh xâm lược của quân viễn chinh Mỹ có tàn phá, Thánh đô Mỹ Sơn vẫn đáng được đề nghị UNESCO công nhận là một danh thắng của thế giới, có sức sống trường tồn cả về ngoại hình kiến trúc, và về nội dung độc đáo trong đời sống tâm linh phong phú của cộng đồng dân tộc trên mảnh đất Quảng Nam.

Qua tượng đài chiến thắng Núi Thành xuôi phía nam trên dưới 10 ki-lô-mét là đến Quảng Ngãi - sông Trà, với mười hai cảnh đẹp, trong đó nổi tiếng nhất có: “Thiên ấn niên hà” (dấu nhà trời đóng trên dòng sông), “Long đầu hý thủy” (đầu rồng đùa nước), “Thiên bút phê vân” (bút trời chấm mây), “La Hà thạch trận” (bãi đá La Hà), “Liên trì vục nguyệt” (đầm sen trăng tắm), “Cổ lũy cô thôn” (thôn vắng cổ lũy), “Thạch Bích tà dương” (chiều tà ở Thạch Bích), v.v... cảnh vật thiên nhiên đã vô cùng kỳ thú lại thêm óc tưởng tượng của con người hình dung tô vẽ càng sinh động, nên thơ.

Trà Khúc là dòng sông nhỏ, nước nông nhưng nó đã in hình bao thắng cảnh, khăng khít gắn bó đến nỗi khi nhắc đến núi Ấn - sông Trà là ta nghĩ đó là Quảng Ngãi.

Trà Khúc, cái tên thân thương, bình dị mà thơ mộng đã gắn quyện với núi, với người tạo thành bức tranh thủy mặc gắn cái đẹp của thiên nhiên với cái đẹp của con người nơi đây. Từ xa xưa dòng sông không chỉ in bóng núi Ấn mà còn in cả những bờ xa nước - một hệ thống dẫn thủy nhập điền vừa có chiều dài lịch sử xa xưa vừa mang tính khoa học và thẩm mĩ. Dọc sông cứ cách trăm mét có một bò xe nước, mỗi bò có chín mười bánh xe, có bánh to đến mươi mười hai mét đường kính. Các bò xe thường đặt dưới lùm tre hay bên gốc đa cổ thụ ngày đêm cần mẫn chạy rầm rì không nghỉ, đưa nước vào ruộng đồng, nhờ đó mà đồng ruộng Quảng Ngãi không kém phần phì nhiêu.

Mía và sản phẩm làm từ mía cũng được coi là nét riêng của vùng núi Ấn sông Trà. Mía trồng khắp nơi trong tỉnh, ruộng mía bạt ngàn tít tắp. Mía biến thành đường, nhưng đường được chế biến bằng kỹ thuật thủ công mang tính khoa học và kinh nghiệm dân gian truyền thống thành đủ các thứ đường với các tên gọi: đường bánh, đường phổi, đường phèn, đường dăm, đường trứng cá, v.v...

Ngày nay các loại đường trắng được sản xuất bằng công nghiệp hiện đại, bày bán khắp nơi, nhưng đường thủ công Quảng Ngãi vẫn có chỗ đứng trong thị phần, vì nó ngon, có vị riêng, có thứ đường là vị thuốc như đường phèn, có thứ đường thay cho kẹo như đường phổi.


(1) Kinh kỳ, Hà Nội trước đây. Phố Hiến nơi buôn bán sầm uất thời trước, ở thị xã Hưng Yên.
(2) Một món ăn như phở áp chảo, đậm đà ngon miệng.
(3) Thủ đô của các vị thánh, nơi các vua Chăm-pa hành hương đến hành lễ tổ tiên và vua - thần.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:18:25 am
Qua đồng muối Sa Huỳnh vượt đèo Bình Đê nhìn xuống là bắt gặp rừng dừa Tam Quan của tỉnh Bình Định.

Phải chăng công uổng, công thừa
Công đâu mà tưới cho dừa Tam Quan.

Thật thế, làm sao mà tưới được dừa Tam Quan? Vì ở đây dừa như rừng. Dừa theo ven sông, dừa men bờ ruộng, dừa leo sườn đồi, dừa ngút ngàn in bóng trên bãi biển. Từ đây trở đi sẽ là xứ dừa của Liên khu 5 anh dùng. Suốt dọc những miền đất ven biển, dù là huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ hay Phù Cát, An Nhơn, ta sẽ thấy bên trái là biển Đông xanh thẳm, trên đầu là bầu trời nhiệt đới xanh trong và bên phải là rừng dừa xanh biếc.

Công dụng của cây dừa thật nhiều. Nhưng yêu mến nhất vẫn là chùm “lơ lửng giữa trời, sông không đến, bến không vào, sao có nước"(1). Quả dừa thật quý. Nước dừa là một loại nước giải khát ngọt ngào và tinh khiết tuyệt vời, nước dừa còn dùng kho cá, kho thịt, nấu canh và chế biến thành loại nước mắm dừa Bình Định - vừa ngọt vừa bùi, vừa thơm vị dừa vừa thừa vị cá, vừa có cái mặn nồng của chất đạm lại vừa có cái dịu ngọt của chất đường. Còn cùi dừa thì hoặc ăn sống với bánh đa(2), kho riêng hoặc kho với thịt làm thức ăn, hoặc làm bánh, làm kẹo. Song chủ yếu dùng để nấu dầu. Một loại dầu rất cần cho công nghệ sản xuất xà phòng.

Quy Nhơn, thị xã tỉnh lỵ tỉnh Bình Định với bao phong cảnh hữu tình. Nếu ta đứng trên núi Bà Hòa vào lúc chiều buông mà ngắm nhìn cảnh quan thị xã cùng vùng phụ cận có khác gì bức tranh thêu nhiều mầu sắc. Nhìn ra phía đông, xa xa ngoài vũng Quy Nhơn là bán đảo Phương Mai. Trên bán đảo có dãy núi cùng tên Phương Mai, cuối dãy núi mang tên mũi Đất nằm sõng soài trên mặt biển là mũi Én. Đây là đại bản doanh của loài chim yến, hàng năm cung cấp tới ba bốn nghìn tổ yến quý giá. Tổ yến đem hấp với lòng đỏ trứng gà và đường phèn Quảng Ngãi thì trở thành món ăn tuyệt vời, vừa ngon vừa bổ.

Loại đặc sản này không phải chỉ có ở Quy Nhơn mà có rải rác từ đảo Vĩnh Sơn (Quảng Bình) cho đến vịnh Hà Tiên giáp giới Cam-pu-chia. Nhưng trong khu vực có một số địa điểm tập trung nhiều nhất, đó là Cù lao Chàm (Quảng Nam), vùng hải phận tỉnh Khánh Hòa (bảy đảo ngoài khơi theo thứ tự từ bắc vào: hòn Chà Là, hòn Hố, hòn Động (hay Đụm), hòn Mun (hay Mơn), hòn Xưởng, hòn Nội, hòn Ngoại...).

Chim én (còn gọi là chim yến) thịt không ngon, lông không đẹp, hót không hay nhưng xưa nay vẫn được người ta nhắc tới luôn, vì loài chim này sản sinh ra một loại thực phẩm rất quý: tổ yến. Tổ yến chữ Hán là yến sào, chính là do chim yến nhỏ dãi ra làm thành tổ trên những hốc đá ngoài các hải đảo.

Người Trung Quốc gọi chim ấy là huyền điểu (chim sắc đen như đá huyền) hoặc du ba điểu (chim bay chơi trên sóng nước). Loại này mình nhỉnh hơn chim sẻ một chút, cánh dài và nhọn, đuôi ngắn, mỏ cong, lông ở lưng và bụng màu xám; lông đuôi và lông cánh đen nhánh như huyền.

Chim én ở trong những hang núi mà cửa quay ra phía đông. Không bao giờ ta bắt gặp chúng làm tổ ở các hang hướng tây. Chim én thường làm tổ vào quãng cuối tháng chạp âm lịch. Ban ngày từ rạng đông cho tới xế chiều chim rời hang bay đi kiếm ăn rất xa. Khi bóng tối sắp buông chim tìm về hang suốt đêm nhả dãi vào những hốc đá làm tổ như kiểu tằm nhả tơ, dãi ra từng dây chằng chịt dính với nhau thành tổ.

Tổ yến là một loại thức ăn rất bổ, rất đắt tiền, một ki-lô-gam ngang giá một lạng vàng, chủ yếu xuất khẩu. Tổ yến có hình dáng một phần tư vỏ quả cam chanh và nhìn như một sợi dệt rối rít, chằng chịt. Các tổ tìm thấy ở hốc đá khô, cao ráo thì màu trắng; còn tổ màu xám, màu xanh thì nằm ở hốc đá ẩm thấp. Có điểm sắc đỏ thường gọi là yến huyết vì người ta cho rằng sắc đỏ là do chim mẹ ứa máu ra. Yến huyết bổ nhất, đắt tiền nhất. Trước năm 1945, mỗi năm ở nước ta thu hoạch được trên một vạn tổ yến. Tổ yến ở Cù lao Chàm quen gọi là yến Quảng, to nhất, nhưng yến Khánh Hòa thơm hơn và nhiều hơn.

Trước kia nguồn lợi này nằm trong tay thực dân Pháp. Chúng độc quyền chiếm các hang chim, cho trưng thầu hoặc thuê nhân công thu lượm và nắm quyền kinh doanh, thu lợi nhuận không nhỏ; còn người đi tìm kiếm tổ yến vẫn phải sống cảnh lặn lội đói nghèo và nguy hiểm.

Đến Bình Định là du khách đến với Tây Sơn thượng đạo (An Khê, Vĩnh Thạnh), căn cứ của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, thế kỷ XVIII. Đến Bình Định là ta đến với Cây Me, giếng nước ở thôn Phú Lạc, nơi có Nhà bảo tàng Quang Trung trưng bày và lưu giữ nhiều hiện vật lịch sử giúp du khách tìm hiểu một thời huy hoàng của vua Quang Trung được nhân dân ủng hộ, đã đập tan tập đoàn chúa Nguyễn ở Đàng Trong và tập đoàn chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, lập lại sự thống nhất đất nước, đánh tan 20 vạn quân xâm lược nhà Thanh (Trung Quốc), bảo vệ chủ quyền và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Từ Bình Định đi tiếp là tới:

Phú Yên có đỉnh Cù Mông
Có hòn Nhạn Tháp có dòng sông Ba

Câu ca dao giản dị đó đã ghi được những chấm phá có giá của bức tranh địa lý tỉnh Phú Yên. là một tỉnh tuy không lớn nhưng có địa thế đẹp và hùng vĩ.

Sông Ba lớn nhất miền Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ Tây Nguyên uốn khúc quanh co từ bắc xuống, qua Cheo Reo rồi quặt sang phía đông băng qua phần nam của Phú Yên mà đổ ra biển, ở miền thượng lưu lòng sông hẹp, lắm thác ghềnh nước chảy xiết nhưng càng về xuôi dòng chảy càng rộng, nước hiền hòa, chậm chạp. Từ Đồng Cam trở xuống dòng sông mang cái tên khác: sông Đà Rằng. Qua một đoạn đường dài gần 300 ki-lô-mét, thu hút hàng chục nhánh sông lớn từ cao nguyên đất đỏ về, sông Ba mang về Phú Yên một khối phù sa tươi tốt khổng lồ bồi đắp nên đồng bằng Tuy Hòa rộng lớn nhất, phì nhiêu nhất của miền Nam Trung Bộ.

Cũng có thể nói đồng bằng Tuy Hòa là một kho lương thực - thực phẩm của Nam Trung Bộ, khắp nơi là những ruộng lúa, những bãi mía mênh mông. Lúa ở đây nhiều loại, tẻ có ba giăng, tám thơm, móng chim, nếp có nếp bầu, nếp tượng thơm và dẻo. Mía Tuy Hòa ngọt, trồng nhiều nhất là ở Đồng Bò, ở đây thực dân Pháp cho lập nhà máy đường.

Tuy An nổi tiếng là bông, vào giữa mùa, cánh đồng tràn ngập một màu trắng mênh mông bát ngát. Bông ở đây không những cung cấp cho nhu cầu trong tỉnh mà còn đi các tỉnh khác của Nam Trung Bộ, ra cả nhà máy dệt Nam Định. Ngoài ra Phú Yên còn nhiều sản vật khác, như thuốc lá Sơn Hòa, khoai lang Suối Mít, đậu tương Hòn Dung, dừa Sông Cầu, Chí Thạnh, muối Lộ Uyên, v.v...

Thị xã Tuy Hòa tuy nhỏ nhưng duyên dáng. Đứng trên núi Nhạn Tháp nhìn về phía tây là hòn Vọng Phu mịt mù mây bạc, quay về phương nam xa xa dãy Đèo Cả khi tỏ khi mờ. Trên đèo có núi Đá Bia cao vút lên như chọc thủng trời xanh, quanh năm mây mù bao phủ. Men theo bờ biển bắt gặp đầm Ô Loan, vũng Xuân Đài, vũng Rô nước trong, gió mát, sóng vỗ thông reo thật nên thơ, ngoạn mục.


(1) Câu đố về quả dừa.
(2) Tục ngữ có câu: đánh chết không chừa cùi dừa bánh đa.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:20:12 am
Nam chân Đèo Cả là cảng cá Đại Lãnh thuyền bè đầy ắp, nhộn nhịp đông vui thuộc địa đầu của tỉnh Khánh Hòa. Trước khi vào thành phố Nha Trang, ta phải qua Vạn Ninh, Ninh Hòa, một thời tự hào là huyện có nhiều loại hàng lâm sản quý như gạc nai, trầm hương, loại hàng hóa được trao đổi khắp trong Nam, ngoài Bắc mỗi khi có xe hỏa chạy qua ga Ninh Hòa; cũng là thế mạnh xuất khẩu một thời.

Nha Trang, một thành phố không lớn của Nam Trung Bộ nhưng phong cảnh hữu tình. Ở đây có sóng nước mênh mông nhưng không dữ dằn, biển phẳng lỳ cát trắng, những lớp sóng nhấp nhô ngày đêm vồ vập. Ở đây lại có dòng sông Cái ghé qua trước khi ra biển. Dòng sông chảy trên phía bắc thành phố cùng với biển ở phía đông bao bọc, Nha Trang như một bán đảo nhưng cũng không xa rừng là mấy. Vị trí nằm sát bên bờ biển, tạo cho Nha Trang một khí hậu hiền hòa. không nóng như đổ lửa mà cũng không lạnh đến thấu xương. Nhiệt độ trung bình tháng giêng là 24oC, tháng tám là 28oC. Nơi đây thường trời quang mây tạnh. Những trận mưa rào về mùa hè chỉ đổ ào ào trong chốc lát, sau đó trở lại sáng trong, đất cát thấm hết nước, đường mịn màng không chút lầy lội.

Nha Trang là nơi nghỉ mát và tắm biển vào loại tốt nhất ở nước ta, nước trong xanh, sóng hiền hòa, bãi tắm thoai thoải, phẳng lỳ không lầy lội, không có lẫn hà cứa chân, đi lại thoải mái.

Nha Trang là nơi lắm cá, có nhiều loại nổi tiếng: cá nụ. cá thu, cá ngừ. Cá mực càng nhiều, to, ngon và giá phải chăng được bán nhiều ở chợ Đầm, ở ga xe lửa phục vụ khách du lịch và tàu xuôi, ngược Bắc Nam. Ban đêm những chiếc thuyền câu mực đốt đuốc, thắp đèn câu đêm, đứng từ bờ nhìn ra chẳng khác ngàn sao lấp lánh.

Đến Nha Trang du khách không thể không đến Cam Ranh, một cảnh quan non nước hữu tình do thiên nhiên ban tặng, ở đây dãy Trường Sơn hùng vĩ không những mở rộng ra sát bờ mà còn vươn những cánh tay dài ra biển. Một cánh tay hay một mũi đất nhô ra biển rồi quặt xuống phía nam song song với bờ biển quặp lại thành một vùng biển dài như chắn gió biển Đông, tạo ra một Cam Ranh có chiều dài trên 20 ki-lô-mét, chiều ngang trên 10 ki-lô-mét. Cam Ranh thực sự là một hồ nước hiền lành, kín đáo với độ sâu từ 16 đến 24 mét, thuận tiện cho hàng trăm tàu lớn, kể cả tàu sân bay (hàng không mẫu hạm) ẩn nấp, cập bến.

Nằm sát biển nhưng Cam Ranh lại sẵn nước ngọt. Thủy triều xuống đến đâu, chỉ cần moi cát lên là có nước ngọt. Sát Cam Ranh có ngọn núi Rồng (giống như đầu con rồng đang vươn ra biển, nên người ta gọi là Hòn Rồng). Trước đây đồng bào Thượng ở rải rác trên đỉnh núi thường đốt lửa, những đóm lửa đó nhiều lúc đã trở thành những ngọn đèn phương hướng cho các tàu bè ra vào Cam. Ranh hoặc ra Bắc vào Nam. Rõ ràng Cam Ranh hội đủ điều kiện cho việc xây dựng một hải cảng. Nước sâu, kín gió, tàu bè có thể vào ra dễ dàng, có thể tránh được gió to, sóng dữ, lại sẵn nước ngọt để dự trữ trên tàu. Hồi Nga - Nhật chiến tranh (1905) cả một hạm đội của Nga Hoàng đã vào đây trú ẩn. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) có lúc Nhật đã đưa hàng trăm chiến hạm vào Cam Ranh. Và trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ đã biến Cam Ranh thành một quân cảng và là một căn cứ quân sự lớn để đánh phá phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Không chỉ có thế. Vùng biển Cam Ranh còn là nguồn hải sản dồi dào, đặc biệt là ba ba, đồi mồi, trứng víc...

Ninh Thuận có thị xã tỉnh lỵ là Phan Rang. Con sông Dinh cắt đôi Ninh Thuận thành hai vùng: Thuận Nam, Thuận Bắc. Cái tên địa lý mà đầy tính trữ tình của thơ ca. Ninh Thuận có thác Krông-pha ngoạn mục, cách thị trấn Tháp Chàm hơn 30 ki-lô-mét về phía tây, có lưu lượng nước lớn thuận tiện cho quy hoạch thủy lợi và thủy điện phục vụ cho sản xuất và đời sống của một tỉnh được xếp vào vùng ít mưa.

Ninh Thuận được xem là xứ sở của các cánh đồng nho bát ngát chạy dọc theo chiều dài của tỉnh, cho sản phẩm là những chùm nho chín ngả màu tím sẫm được người tiêu dùng cả nước biết đến vì nó chứa nhiều vi lượng rất cần cho sự sống. Một thời nơi đây sản phẩm, thuốc lá được xếp vào loại nhiều và chất lượng, phong phú về chủng loại, hàng năm các hãng thuốc lá nổi tiếng của Pháp như Bát-tô, Cô-táp, Mích... đặt đại lý thu mua. Miền biển Ninh Thuận có những cơ sở sản xuất muối lớn: Phương Cửu, Ninh Chữ, Cà Ná. Sở muối Cà Ná thời trước có tới 500 công nhân, ngày mùa lên tới ba bốn nghìn công nhân. Muối Cà Ná thuộc loại dùng trong công nghiệp, xuất nhiều ra nước ngoài.

Tháp Chàm, Đầm Vua, Núi Đền... là những di tích danh thắng hấp dẫn du khách muốn có phút giây thư giãn để chiêm ngưỡng, thả tâm hồn mình vào dĩ vãng xưa trên con đường xuyên Việt vào Nam hay ra Bắc.

Bình Thuận với tỉnh lỵ là thị xã Phan Thiết, một tỉnh cuối cùng của Nam Trung Bộ quê tôi, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 ki-lô-mét.

Nhắc đến Bình Thuận, điều người ta nghĩ đến ngay không phải là những danh lam thắng cảnh mà là một đặc sản nổi tiếng - nước mắm! Hầu hết các thị xã, thị trấn lớn của tỉnh đều nằm trên bờ biển và nghề nước mắm tại đây rất phát triển.

Kể từ ngoài vào các thị xã, thị trấn ấy là La Gàn, Phan Rí, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi; khách đến chơi đây, bất cứ nơi nào sẽ được thưởng thức bữa cơm toàn cá. Cá thu ăn gỏi, cá chuồn gành kho nghệ, cá ngọn nguồn nấu canh chua, cá mại nướng chả, cá núc (cá song) ăn sống với “mù tạt”... rồi mắm cá mòi ăn lót với cá sông, mắm cá ngừ ngấu, mắm cá cơm hấp tới dừ... mỗi thứ một vị ngon riêng. Đến nhà nào ta cũng bắt gặp thùng ướp cá để làm nước mắm cao ngất ngưởng, quá đầu người. Nước mắm trong như hổ phách, sánh như mật ong, ngọt bùi thơm nức.

Ngoài sản phẩm nước mắm, Bình Thuận còn có đặc sản nổi tiếng nữa là nước khoáng Vĩnh Hảo đang được bán rộng rãi tại thị trường trong nước và xuất khẩu; vì nước suối Vĩnh Hảo có nhiều chất khoáng hòa tan như sắt, i-ốt, brô-muya có giá trị lớn về y học và sức khỏe con người. Trước đây trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945) nước suối nổi tiếng của Pháp là nước suối Vi-sy không chở sang Việt Nam được, thực dân Pháp mới nghĩ tới việc điều chế nước suối Vĩnh Hảo và sau đó dùng thấy tác dụng không kém gì nước khoáng Vi-sy.

Đến Bình Thuận, nơi du khách thường đến thăm đầu tiên là ngôi trường Dục Thanh nhỏ bé và giản dị nằm bên bờ nam sông Ca Ty, từ lâu đã trở thành, một di tích lịch sử mang tầm vóc lớn lao của cả nước. Nơi đây Bác Hồ - thầy giáo Nguyễn Tất Thành, một thời là thầy giáo của trường này trước khi Người xuống tàu ra nước ngoài tìm đường cứu nước vào những năm đầu của thế kỷ XX. Du khách có thể đi thăm Núi Ông; thăm chiến khu Ô-rô, căn cứ kháng chiến hồi chín năm với bao chuyện chính sử mang tính dã sử, huyền thoại mà sống động về hiện thực với bao bi tráng; hoặc ra bãi biển Phú Hải, đứng trên đồi có lầu ông Hoàng... Tất cả phong cảnh vùng biển khơi Phan Thiết nên thơ nằm gọn dưới tầm mắt bạn.

Nhưng một miền quê mà tôi gắn bó còn bao gồm cả vùng Tây Nguyên với năm cao nguyên được tính theo thứ tự từ Bắc vào Nam: Kon Tum, Plây Cu, Đắc Lắc, Lâm Viên và Di Linh, giữ vị thế trọng yếu trên bán đảo Đông Dương, có diện tích 67.000 ki-lô-mét vuông, giáp với Hạ Lào, đông bắc Cam-pu-chia, là cửa ngõ đi vào Sài Gòn, Nam Bộ.

Tây Nguyên một vùng đất giàu có của Tổ quốc. Núi đồi Tây Nguyên mang trên mình những cánh rừng nguyên sinh, chứa nhiều gỗ quý, nhiều dã thú, sơn cầm; lòng đất Tây Nguyên ấp ủ nhiều khoáng sản; đồng cỏ Tây Nguyên xanh tươi mườn mượt; sông ngòi Tây Nguyên có sức nước dồi dào. Tây Nguyên còn là xứ sở của phong tục, lễ hội và những truyện cổ tích chất phác mà giàu tính nhân văn, của những bản trường ca giàu tính chiến đấu và trữ tình. Phong cảnh Tây Nguyên như một bức tranh nhiều màu sắc và đường nét thơ, có sức thu hút hấp dẫn du khách. Những đỉnh núi cao Ngọc Linh, Ngọc Long, Chu Yang Sin quanh năm tuyết phủ. Kon Tum có thác Yaly cao trên 40 mét, Gia Lai có hồ Tơ-rưng trong trẻo, có suối Ya Pét ánh bạc, có Biển Hồ trong xanh lúc nào cũng đầy nước; Đắc Lắc có suối Đrông Sập, thác Đrông Linh và hồ Lắc mênh mông, v.v...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:24:02 am
*
*   *

Như bạn đọc đã biết, cư dân quê tôi vốn từ nơi Đất Tổ vô đây lập nghiệp: có lớp người theo Lê Đại Hành, Lý Thánh Tông, Trần Thái Tôn, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Hoàng đi mở cõi; có lớp người bất phục chế độ phong kiến, nặng lòng thương nước, thương dân mà đi tìm nơi lập nghiệp cứu nước; có lớp người phải lìa bỏ quê hương vì loạn lạc triền miên, thiên tai dồn dập, bị chế độ phong kiến áp bức, bóc lột không có đất làm ăn, còn bị quan lại cường hào truy nã đày ải mà phải ra đi. Công cuộc di dân, khai khẩn đất hoang càng đẩy mạnh thì người di cư đến càng đông, liên kết với cư dân tại chỗ(1), hình thành cộng đồng nhiều dân tộc gắn bó với nhau, hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam(2).

Con đường di cư, định cư lập nghiệp tuy có khác nhau nhưng ít nhiều trong họ đều mang theo tiến nơi ở mới cái hào khí “Trải Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần nối đời dựng nước, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo - NG(3)) - Cái cội nguồn ấy góp phần tạo nên một truyền thống yêu nước, bất khuất trong không gian và thời gian mới.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII do anh em nhà Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo là đỉnh cao của tinh thần quật khởi của nông dân Nam Trung Bộ chiến đấu đánh đổ thế lực phong kiến đồi bại, cát cứ, thực hiện thống nhất nước nhà, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc, thực hiện những cải cách kinh tế, văn hóa, xã hội có lợi cho dân cho nước.

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp đưa tàu chiến đổ quân đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu âm mưu dùng sức mạnh quân sự xâm lược nước ta. Nhưng chúng đã bị nhân dân Đà Nẵng đánh trả mãnh liệt và liên tục trong 19 tháng (từ ngày 1 tháng 9 năm 1858 đến ngày 2 tháng 3 năm 1860) buộc thực dân Pháp phải chuyển quân vào đánh chiếm vùng Gia Định. Thắng lợi trận đầu này, ta đã làm phá sản kế hoạch của địch biến Đà Nẵng thành đầu cầu để đánh ra kinh đô Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng.

Suốt 42 năm tiếp theo (1858-1900) hưởng ứng hịch “Cần vương” của Hàm Nghi, phong trào chống Pháp ở Nam Trung Bộ đã bùng lên nhanh chóng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa, nổi dậy chống thực dân Pháp xâm lược. Trong đó có các cuộc nổi dậy của Nguyễn Duy Hiệu (Quảng Nam), Mai Xuân Thưởng (Bình Định), có liên hệ và phối hợp với các cuộc nổi dậy của các tỉnh Phú Yên (do các ông Lê Thành Phương, Nguyễn Hào Sự, Võ Trứ, Trần Cao Vân lãnh đạo), Khánh Hòa (do các ông Trịnh Phong, Nguyễn Khanh, Trần Đường lãnh đạo), Ninh Thuận, Bình Thuận (do các ông Phạm Đoan, Phạm Sằng, Ung Chiến, Cao Hành, Phùng Hân, Phùng Tá lãnh đạo) kéo dài được một thời gian, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Cùng thời gian trên đồng bào Thượng ở Tây Nguyên và miền núi các tỉnh đồng bằng liên tục nổi dậy chống Pháp, diệt các đoàn thám hiểm, chống lại các cuộc hành quân càn quét của chúng; vẫn sống hiên ngang trong những buôn làng bất khả xâm phạm của họ. Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa liên minh các dân tộc Mơ-nông, Ê-đê, Mạ, Xơ-tiêng, Cơ-ho, ở Đắc Lắc do N’trang Lơng lãnh đạo diễn ra liên tục hơn hai mươi năm (1912 - 1935) gây nhiều tổn thất cho Pháp.

Phong trào “Cần vương” bị dập tắt, phong trào “Đông du” và “Duy tân” lại bùng lên, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Năm 1908 - 1909 phong trào chống sưu cao, thuế nặng tập hợp dưới danh nghĩa “Đồng bào” mạnh “như nước lụt vỡ đê, cuốn cả toàn kỳ trên mười tỉnh vào làm xoáy khu ốc, ảnh hưởng sâu rộng khắp trong nước, cả Nam, Bắc”.

Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng cổ súy phong trào khai dân trí. chấn dân khí, hậu dân sinh, dấy lên các hoạt động chấn hưng thương nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, mở trường dạy chữ quốc ngữ, lập trường kiểu mẫu. Nghĩa thục ở Quảng Nam, trường Dục Thanh ở Bình Thuận, vận động chống đồi phong, bại tục, chống cường hào, vua quan thối nát. bỏ khăn đen, áo dài, cắt tóc ngắn...

Chi nhánh “Việt Nam quang phục hội” ở Nam Trung Bộ do ông Thái Phiên lãnh đạo đã xây dựng lực lượng nghĩa quân từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, ráo riết chuẩn bị vũ khí, lương thực để thực hiện kế hoạch khởi nghĩa dự định ngày 3 tháng 5 năm 1916 bắt đầu khởi sự từ Huế, nhưng bị lộ, việc khởi nghĩa không thành.

Giặc Pháp đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân Nam Trung Bộ. Chúng đã xử tử các ông Trần Quý Cáp. Nguyễn Bá Loan, Tựu Khiết, Phan Long Bằng, Trần Cao Vân. Thái Phiên, Lê Nguy, Mai Xuân Thưởng, N’trang Lơng; đày đi Côn Đảo các ông Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành và nhiều người khác.

Kết quả của các phong trào chống Pháp lúc bấy giờ còn hạn chế do chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng. Nhưng tinh thần yêu nước, chí quật cường của thế hệ cha ông quê tôi thật tuyệt vời, mãi mãi là tấm gương soi trong suốt cho mọi thế hệ tiếp sau nối bước. Sự hy sinh lẫm liệt vì nước vì dân của các sĩ phu yêu nước có sức thôi thúc nhân dân Nam Trung Bộ và nhân dân cả nước trong các cuộc vận động cách mạng trong sự nghiệp giữ nước sau này.

Ngay từ các năm 1927-1930, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, Tân Việt cách mạng Đảng - các tổ chức tiền thân của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hình thành từ Quảng Nam đến Bình Thuận, Lâm Viên với khoảng 500 đảng viên, 134 chi bộ, 10 ban huyện ủy lâm thời. Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận đã thành lập ban chấp hành tỉnh ủy lâm thời để chỉ đạo điều hành công việc được thống nhất. Từ đây phong trào yêu nước chống sự thống trị của thực dân Pháp và tập đoàn phong kiến tay sai có hướng đi đúng, có phương pháp đấu tranh phù hợp, nhờ đó đã dấy lên cao trào chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa giành chính quyền, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11 tháng 3 năm 1945. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa này như là một hiệu lệnh chung thúc giục sự nhất tề khởi nghĩa của toàn vùng. Sau Ba Tơ là đến các tỉnh: Quảng Ngãi, 14-16 tháng 8; Quảng Nam, 18 tháng 8; Khánh Hòa, 19 tháng 8; Ninh Thuận, 21 tháng 8; Bình Định, 22 tháng 8; Gia Lai, 23 tháng 8; Kon Tum, Lâm Viên, Đắc Lắc, Phú Yên, 24 tháng 8; Bình Thuận, 25 tháng 8...

Dân cư quê tôi là như vậy đó. Truyền thống yêu nước bất khuất, tình đoàn kết cộng đồng luôn là sức mạnh tiềm ẩn, khi có Đảng lãnh đạo thì sức mạnh tinh thần ấy bật dậy, biến thành hành động, thành sức mạnh vật chất, quyết định khởi nghĩa. Và chỉ trong vòng 15 ngày, từ ngày 14 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945 toàn bộ chính quyền địch ở 12 tỉnh của Nam Trung Bộ đã về tay nhân dân.


(1) Từ ngàn xưa, trên vùng đất Nam Trung Bộ ngày nay đã từng sinh sống các dân tộc: Cà-tu, Cor, Xơ-đăng, Giẻ-triêng, Bờ-râu, Bơ-năm, Ba-na, Hrê, Chăm, Gia-rai, E-đê, Ra-gơ-lây, Mơ-nông, Mạ, Cơ-ho, Chu-ru, Xơ-tiêng...
(2) Dân số Nam Trung Bộ năm 1945 là 3,4 triệu người. Năm 1979 có 7,5 triệu, năm 1990 là 9,2 triệu, trong đó trên một triệu là người các dân tộc thiểu số.
(3) Người ghi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:26:16 am
*
*   *

Ở vào khoảng giữa của tấm bản đồ Tổ quốc, Khu 5 rộng trên 97.000 ki-lô-mét vuông, kéo dài từ vĩ tuyến 16 đến vĩ tuyến 11, có địa giới chung với Thừa Thiên Huế ở phía bắc, Bình Phước, Bình Dương ở phía nam; có biên giới chung hai nước Lào và Cam-pu-chia ở phía tây, với một ngã ba biên giới gần đến nỗi chỉ tiếng gà gáy cả ba nước đều nghe thấy.

Trong kháng chiến chống Pháp, Khu 5 chia thành 10 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận (vùng đồng bằng ven biển), Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng (vùng Tây Nguyên). Trong kháng chiến chống Mỹ, Khu 5(1) chia thành 14 tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai. Đắc Lắc, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng.

Nằm ở miền Trung của đất nước, trước mặt là biển Đông có dải Trường Sơn và cao nguyên hùng vĩ, Khu 5 là một địa bàn quân sự có vị trí chiến lược quan trọng của đất nước; là một căn cứ vững chắc và lâu dài của cách mạng Việt Nam; là chỗ dựa và bàn đạp tỏa đi các hướng chiến lược khác.

Khu 5 là hành lang chiến lược nối liền hai miền Nam và Bắc nước ta, gắn với Khu 4, giao tiếp với Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia, tạo thành thế đứng vững ở phần giữa nước ta và phần nam Đông Dương, không chỉ trong chiến tranh giải phóng trước đây mà cả sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Hình thể tự nhiên quê tôi là như vậy! Giàu về sản vật, tài nguyên, đẹp về cảnh quan, giữ thế hiểm về quân sự.

Trong trận chiến 30 năm (1945 - 1975), những đồng ruộng ven biển miền Trung, những nương rẫy mầu mỡ trên cao nguyên đất đỏ đủ lúa ngô, khoai sắn nuôi bộ đội đánh giặc dài ngày; những cánh rừng đại ngàn nguyên sinh, những quần thể đồi núi sông suối và mạng đường sá dọc ngang đã tạo “địa lợi” cho giấu quân, lập cứ, tiến hành hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ, hàng trăm loại hình chiến dịch tạo thế, tạo lực thực hành tiến công, phòng ngự, bao vây vu hồi, thọc sâu chia cắt, làm nên những trận đánh hiện thực mà huyền thoại: Vạn Giã, Hiền Lương, Ngân Sơn, Chí Thạnh, Com-plông, Tú Thủy, Thượng An, Cửu An, Măng Đen, Măng Bút, Công Brây, Đắc Đoa, Plây Ring, Đắc Pơ, Chư Đrếch, Kỳ Sanh, Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me, Sa Thầy, Núi Sầm, Hiệp Đức, Minh Long, Thuận Ninh, Nông Sơn, Tuy Phước, Bồng Sơn, Gò Loi, Hòn Bồ, Cấm Dơi, Thượng Đức, Tam Kỳ, Đường 19 - An Khê, Buôn Ma Thuột, Củng Sơn, Cheo Reo, v.v... góp phần dẫn tới chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cảm ơn một mảnh đất, một miền quê nơi tôi sinh thành, đã cho tôi cơ hội thử thách, phấn đấu trưởng thành, cùng đồng đội góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp chung để giờ đây có điều kiện kể cùng bạn đọc những điều tôi được chứng kiến, được tham gia vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược với những tâm đắc, cảm thụ riêng của mình.


(1) Về tổ chức chỉ huy quân sự, toàn miền Nam chia thành bốn chiến trường, mang ký hiệu:
- B1: các tỉnh duyên hải từ Quảng Nam đến Khánh Hòa.
- B3: các tỉnh vùng Tây Nguyên: Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
- B4: các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.
- B2: các tỉnh Cực Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng) và các tỉnh thuộc Nam Bộ cũ từ Đồng Nai trở vào.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:32:14 am
Chương II
NHỮNG NGÀY THÁNG ĐỔI ĐỜI


Cũng như các nơi khác trong cả nước, một cao trào cách mạng mới đã đến với Bình Định ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945 tại thị xã Quy Nhơn. Không thể chậm trễ, giữa tháng 4 tại huyện Hoài Nhơn, Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh được thành lập để lo công việc chỉ đạo chung... Cuối tháng 5, đại biểu các nhóm Việt Minh ở Phú Lạc, Vĩnh Thạnh, thị trấn Phú Phong và các đảng viên cũ ở Thủ Thiện... huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) họp tại hãng dệt Đờ-li-nhông(1) thống nhất thành lập Ủy ban vận động Việt Minh huyện do đồng chí Võ Xán(2) làm bí thư. Từ đây phong trào cách mạng huyện Bình Khê bước vào giai đoạn mới, trực tiếp gấp rút chuẩn bị lực lượng tiến đến khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

Như lớp thanh niên sống nửa đầu thập niên bốn mươi đầy sóng gió và bất hạnh, tôi tìm đến cách mạng bằng tất cả sự thôi thúc, mong đợi như nắng hạn mong mưa rào. Tôi sinh ra, lớn lên trong một gia đình nông dân như bao gia đình nông dân khác ở huyện Bình Khê, bị những tên chủ thực dân chiếm đoạt hết ruộng đất(3), phải làm công nhân hãng dệt Đờ-li-nhông. Nhưng ba má tôi cắn răng chịu cực, tần tảo chắt chiu cho tôi ăn học những mong khỏi bị địa chủ và tây bắt nạt. Hết tiểu học tôi lều chõng xuống Quy Nhơn theo tiếp trung học được hơn một năm thì bỏ học vì ba má không sao thắng nổi cái nghèo khó đến gõ cửa. Tuy sự học bị dở dang nhưng năm tháng học trường huyện, thầy giáo Nguyễn Đông (vừa là chú họ) đã chỉ cho tôi nhận biết nhiều điều về nhân tình thế thái. Những giờ sử ký, ông thường xen vào kể chuyện về khởi nghĩa Tây Sơn, về chuyện sĩ phu Mai Xuân Thưởng(4) hưởng ứng hịch “Cần vương” lãnh đạo nhân dân huyện Bình Khê chống Pháp, gây cho chúng nhiều tổn thất... khơi dậy trong học sinh chúng tôi lòng tự hào về quê hương, đất nước. Chúng tôi cứ mong đến giờ sử ký để được nghe thầy kể chuyện lịch sử nước mình, dân mình. Những lúc chỉ có thầy và tôi, ông lấy tình cha chú trong gia đình thẳng thắn khuyên nhủ - con ráng học để thành người, sau này làm việc gì cũng được, chớ làm nghề bợ đỡ Tây.

Cuối năm 1943 tôi trở thành công nhân dệt thực thụ của hãng dệt mà ba má tôi đang làm. Cuộc sống gia đình bớt chút khó khăn, nhưng trong tâm tư lúc nào cũng bị ức chế. Mỗi khi nhìn thấy những tên chủ, tên quản đốc da trắng, mũi khoằm, mắt xanh, tóc hung đi đứng ngông nghênh, ngạo mạn, tự đắc, nói năng hống hách, khinh miệt là tôi nóng mặt. Những lúc đó, tôi lại nghĩ đến lời khuyên của chú tôi...

Một hôm làm việc quá căng, người lảo đảo muốn ngã, tôi phải dừng máy ít phút để lấy lại thăng bằng thì thằng chủ Tây vừa đến. Không nói không rằng hắn giơ tay tát mạnh vào mặt tôi và mồm chửi “Tet an liair”, tạm dịch: Mày nhìn gì trong không trung. Bỗng trời đất tối sầm, toàn thân tôi khựng lại như muốn đổ. Tôi gắng gượng, đứng thẳng người, nhìn chiếu tướng vào tên quản đốc cao to, lông lá đầy ngực định trả đũa lại bằng một cái tát. Nhưng tôi kịp thời kìm chế - tự nhủ - làm như vậy liên lụy đến cả gia đình, cả ba má tôi sẽ bị cúp lương, tống giam và đuổi việc, cuộc sống gia đình sau đó sẽ ra sao? Tên quản đốc nhìn tôi, chờ tôi cúi đầu nhận tội. Không, tôi không làm gì cả ngoài cái nhìn nghiêm khắc. Hắn bỏ đi kèm theo câu chửi khinh miệt quen thuộc “đồ con lợn”.

Đêm hôm đó, tôi thao thức không sao ngủ được, với bao suy nghĩ mông lung, kể cả ý nghĩ muốn thoát khỏi nơi đây. Nhưng đi đâu và làm gì, liệu có tốt hơn nơi quê mình thì không có lời giải.

Giữa lúc đang đứng ngã ba đường chưa biết đi về đâu thì cách mạng về với cái từ mới mẻ mà gần gũi: Việt Minh! Sự thôi thúc, sự mong đợi trong tôi bật dậy, như bao thanh niên khác nơi quê hương Bình Khê đã được cách mạng đón nhận và chắp cánh cho bay cao, bay xa theo nguyện vọng của mình.


(1) Là một trong những nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương (năm 1911 có 600 công nhân, năm 1945 có 2.000 công nhân) đặt tại thị trấn Phú Phong, độc quyền khai thác, chế biến tiêu thụ tơ lụa ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
(2) Đồng chí Võ Xán, quê Bình Hòa, Bình Khê, là một chiến sĩ cộng sản (từ năm 1937) kiên cường, bị địch bắt, đưa từ nhà tù Sơn La về giam tại nhà lao thị xã Quy Nhơn. Tại đây đồng chí Võ Xán cùng các đảng viên khác vận động thành lập chi bô đảng trong nhà tù do đồng chí làm bí thư. Cuối năm 1943, chi bộ tổ chức vượt ngục, ra khỏi tù đồng chí trở về Bình Khê hoạt động, chỉ đạo cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ngày 23 tháng 8 năm 1945 tại Quy Nhơn.
(3) Hai tên thực dân Pháp Đờ-li-nhông và Ma-rít đã chiếm hơn 40.000 mẫu ruộng của nông dân huyện Bình Khê, lập các đồn điền trồng chè, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi trâu bò, khai thác rừng.
(4) Mai Xuân Thưởng, sinh năm 1860 tại làng Phúc Lạc, xã Bình Thành, huyện Bình Khê, đỗ cử nhân năm 1885. Ông bị Pháp bắt đưa ra xử chém ngày 7 tháng 6 năm 1887. Hiện trên đất Bình Khê còn nhiều dấu tích căn cứ do ông dựng nên để chống Pháp liên tục trong ba năm (1885-1887): Hương Sơn (Bình An), Bắc Trai (Bình Hiệp), Nam Trai (Bình Tường), Lai Đông (Bình Phú), Hòn Kho (Bình Giang).


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:33:46 am
Cuối tháng 3 năm 1945, cán bộ Việt Minh mà lần đầu tôi được gặp ngay tại hãng dệt Đờ-li-nhông là hai anh Lê Văn Nhiễu và Nguyễn Chơn vừa thoát khỏi nhà lao Buôn Ma Thuột sau ngày 9 tháng 3 Nhật đảo chính Pháp được phân công ở lại Bình Khê hoạt động. Các anh vẫn còn xanh gầy, dấu vết của những năm tháng bị thực dân Pháp giam cầm. đày ải, lao động khổ sai. Nhưng dáng dấp các anh thì hoạt bát, tinh nhanh, sôi nổi, dễ gần, khóe mắt, nụ cười luôn lạc quan, yêu đời. Các anh đều là những người con của quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh đã đi vào lịch sử, tham gia cách mạng khi đang còn tuổi học sinh vì yêu nước, yêu giai cấp cần lao, không chấp nhận cảnh đời nô lệ, mất nước; không chấp nhận áp bức bất công mà dấn thân, không chịu khuất phục địch giam cầm, tra tấn, vẫn kiên trinh, tin tưởng, tìm cách thoát tù tiếp tục lao vào hoạt động không biết mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

Chính cuộc đời thật đẹp của các anh đã thuyết phục chúng tôi, và bằng những điều giảng giải của các anh sau đó, ngắn gọn mà rõ ràng, giải tỏa được các băn khoăn, trăn trở và cả mặc cảm đã làm chúng tôi giác ngộ, trở thành hội viên của tiểu tổ Việt Minh đầu tiên ở hãng dệt Đờ-li-nhông. Sự đổi đời của tôi được bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 1945. Và sau đó cả ba chúng tôi: Trần Đình Chi, Bùi Tấn Ba, Nguyễn Nam Khánh trở thành hội viên Việt Minh cốt cán. Cuộc đời phơi phới, lâng lâng, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ do Ủy ban vận động Việt Minh huyện giao.

Mặc dầu vẫn còn một tiểu đội lính khố xanh canh gác, mặc dầu tri huyện Tôn Thất Diện vẫn có mặt ở huyện đường Bình Khê, hãng dệt Đờ-li-nhông lúc này hoàn toàn thuộc về ta. Là nơi hội họp, tập luyện của các tiểu tổ Việt Minh, của tổ tự vệ cứu quốc và thanh niên cứu quốc. Anh Lê Văn Nhiễu và Nguyễn Chơn đã vận động được Phạm Lương, giám đốc điều hành hãng dệt Đờ-li-nhông vào tổ chức Việt Minh, nên Phạm Lương đã dành hẳn một gian phòng rộng để thanh niên và công nhân sinh hoạt, đọc sách báo, nghe nói chuyện, vui chơi, văn nghệ, tổ chức cho thanh niên đi thăm các di tích lịch sử đền Tây Sơn, lăng Mai Xuân Thưởng, Hầm Hồ... qua đó phổ biến chương trình, điều lệ mặt trận Việt Minh. Đối với nữ công nhân ở bộ phận nhuộm, anh Nguyễn Chơn còn mở nhiều lớp để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Chị em đã đánh máy thành nhiều bản giới thiệu chương trình Việt Minh để phổ biến rộng rãi cho mọi người biết và vận động họ tham gia vào các đoàn thể như phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc...

Đầu tháng 4, sau khi được kết nạp vào tổ chức Việt Minh, cả ba chúng tôi được bổ sung vào Đội tuyên truyền xung phong lưu động trên địa bàn các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước và thị xã Quy Nhơn, do anh Lê Văn Nhiễu làm đội trưởng, anh Nguyễn Chơn đội phó. Đội chia thành hai tổ: tổ diễn thuyết và tổ văn nghệ - ngâm thơ, diễn kịch.

Trước khi lên đường, anh Võ Xán, bí thư Ủy ban vận động Việt Minh huyện Bình Khê đến thăm động viên khích lệ chúng tôi rất nhiều. Từ lâu đã nghe tên anh, biết nhà anh khác xã nhưng liền với thôn tôi, nhưng hôm nay mới gặp, thật bất ngờ mà vui! Dáng thư sinh, nho nhã mà chắc khỏe. Mới gặp mà đã như biết nhau từ lâu, anh thân mật, cởi mở, dễ gần. Sau khi thăm hỏi sức khỏe, công việc chuẩn bị lên đường có khó khăn gì, anh vào đề luôn. Từng ý nhấn mạnh anh đều bắt đầu từ chữ muốn. Anh nói: Muốn khởi nghĩa thành công phải có đông đảo quần chúng tham gia; muốn có đông đảo quần chúng tham gia, phải có công tác tuyên truyền cổ động; muốn tuyên truyền cổ động đạt kết quả cao không chỉ rỉ rả từng người mà phải thực hiện tuyên truyền xung phong, vũ trang, tổ chức những cuộc mít tinh, diễn thuyết công khai, kết hợp tán phát truyền đơn, áp phích, băng cờ nhằm hô hào cổ động mạnh mẽ mọi tầng lớp nhân dân tham gia đội ngũ cách mạng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

Ngừng một lát, anh chậm rãi tiếp: Nội dung kế hoạch cụ thể các đồng chí đã bàn, tôi chỉ nhấn thêm về vai trò công tác tuyên truyền xung phong lúc này là rất quan trọng, có tác dụng góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng tiến tới cao trào, hy vọng các đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ này...

Anh lần lượt nắm chặt tay từng người lắc mạnh tạm biệt trong lưu luyến, tự tin với nhiệm vụ được giao. Mọi người tranh thủ hoàn thành tiếp những việc được phân công. Tổ diễn thuyết lại đọc, lại nhẩm cho thật thuộc lòng các đề cương diễn thuyết đã được biên soạn theo các chủ đề: kháng Nhật là con đường sống còn duy nhất của dân tộc ta; những chính sách cấp bách cứu nước cứu nhà của Mặt trận Việt Minh, v.v... Tổ văn nghệ học thuộc hai kịch bản: Kịch thơ Nguyễn Trãi - Phi Khanh. Riêng tôi được phân diễn vở tuồng Trần Bình Trọng, đã học thuộc cách đây hai ngày; giờ chỉ còn nghĩ cách diễn như thế nào cho hay, đặc biệt luyện nói như thế nào cho dõng dạc, khí phách của Trần Bình Trọng: Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:35:22 am
Thượng tuần tháng 4 chúng tôi lên đường theo đò dọc xuôi dòng sông Côn cập bến An Vinh. Quang cảnh bến đò tấp nập người lên xuống, nhưng khi thấy chúng tôi từ đò bước lên, tuy không có đồng phục, ai nây đều vận quần áo gọn gàng, sạch sẽ, đầu đội mũ rộng vành, bo mũ có múi đúng kiểu hướng đạo sinh, người đi trước vác cờ đỏ sao vàng, có hai người, một mang mã tấu, một mang súng trường đi hai bên bảo vệ, khiến mọi người vòng quanh nhìn ngó, có tiếng xì xào: Việt Minh! Việt Minh! Rồi cứ đi theo đoàn. Anh Nhiễu phải đứng lại đưa tay lên thay loa, nói: Đồng bào ai việc nào vào việc nấy, tối nay mời đồng bào đến xem kịch và nghe diễn thuyết. Đến lúc này mọi người mới tản ra, bến đò tấp nập trở lại.

Chúng tôi gặp tổ Việt Minh thôn An Vinh thống nhất kế hoạch tổ chức bảo vệ cuộc mít tinh - diễn thuyết tối nay và đề nghị vận động bà con đến dự càng đông càng tốt.

Trời mới nhá nhem mà bà con đã đến rất đông, thành ba bốn lớp bao quanh ánh lửa hồng đã cháy bén vào thân củi, sáng rực cả khu vực chung quanh. Nơi diễn thuyết là một cái bàn được kê sẵn, trước bàn là cột cờ cao mười mét, dưới chân cờ là tôi được phân công bồng súng đứng gác. Cảnh trí oai nghiêm mà gần gũi, bà con ai nấy vui vẻ cười đùa và ai cũng hết ngước nhìn cờ bay phần phật trước gió lại nhìn tôi đứng gác với quần áo giày mũ chỉnh tề, tư thế nghiêm trang, uy thế Việt Minh lên cao trong ánh mắt mọi người.

Anh Lê Văn Nhiễu giới thiệu chương trình, anh Bùi Tấn Ba được phân công diễn thuyết mở đầu buổi mít tinh theo đề cương Kháng Nhật là con đường sống còn duy nhất của nhân dân ta, đang đứng trên bàn cao nhìn khắp lượt bà con đứng xung quanh. Phút im lặng trôi qua vẫn chưa thấy anh vào đề? Tôi đứng cạnh anh vừa hồi hộp vừa bồn chồn lo lắng, hay là anh chưa thuộc bài!

Bỗng anh dõng dạc: Hỡi các giới đồng bào !... Chúng tôi vui hẳn lên, thực sự phấn khởi vì anh đã hùng hồn, lưu loát diễn giải vì sao ta phải kháng Nhật, được đồng bào nhiệt liệt vỗ tay hoan nghênh sau khi anh hô lớn khẩu hiệu có sức cổ vũ, thôi thúc lòng người, kể cả những người trong cuộc chúng tôi:

Đánh đuổi giặc Nhật!

Tiễu trừ Việt gian!

Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!

Nước Việt Nam cộng hòa dân chủ muôn năm!

Đêm mít tinh kết thúc, cả diễn thuyết và diễn kịch - vở tuồng Trần Bình Trọng do tôi phụ trách đều đạt kết quả tốt mà nguyên nhân chính là hai chúng tôi đều thuộc bài, thuộc vở, chủ động trong diễn xuất hấp dẫn người xem, người nghe.

Rời An Vinh, An Thái chúng tôi xuôi xuống thành Bình Định, thị xã Quy Nhơn, Diêu Trì rồi ngược lại Phú Phong lên An Khê. Từ tháng 4 đến tháng 8 Đội tuyên truyền xung phong Bình Khê đã đi qua hơn 100 thôn xã thuộc các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước, thị xã Quy Nhơn. Đến đâu chúng tôi cũng tổ chức mít tinh diễn thuyết và diễn kịch công khai hô hào quần chúng không tham gia làm việc cho Nhật, không hợp tác với kẻ thù, không tiếp tay cho chúng áp bức bóc lột nhân dân, không giúp chúng dò xét, phá hoại cách mạng; hãy tham gia biểu tình, thị uy, bãi công, bãi thị, bãi khóa do Việt Minh tổ chức làm cho giặc Nhật bối rối thêm...

Đến đâu cũng vậy, đêm tổ chức mít tinh, diễn thuyết, diễn kịch, ngày nấu thạch in truyền đơn, khẩu hiệu (theo nội dung hướng dẫn của trên) phát xuống cơ sở, cùng tổ Việt Minh địa phương căng băng, cờ, dán áp phích hô hào, cổ động nhân dân sẵn sàng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Những ngày như thế này thật vui, đến đâu cũng được bà con cô bác niềm nở đón tiếp, tạo điều kiện cho đội hoàn thành nhiệm vụ một cách suôn sẻ, an toàn. Chỉ một lần khi chúng tôi đang diễn thuyết ở chợ Tuy Phước thì cảnh sát địch đến đòi giải tán. Do có chuẩn bị trước, tổ tự vệ cứu quốc Diêu Trì đã có mặt tức thì - nghiêm khắc cảnh cáo toán cảnh sát và mở lối ra cho chúng - muốn tính mạng được an toàn, các anh phải rút ngay và không được báo cho Nhật biết... Cuộc diễn thuyết và diễn kịch lại tiếp tục, dân đi chợ kéo đến ngày một đông nghe chúng tôi nói chuyện về nhiệm vụ kháng Nhật. Khí thế quần chúng càng lên cao.

Đầu tháng 8, Đội tuyên truyền xung phong được lệnh giải thể sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Tình hình đang diễn biến phức tạp, công việc chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa đòi hỏi cụ thể và khẩn trương. Các anh Lê Văn Nhiễu, Nguyễn Chơn trở lại Quy Nhơn tham gia ban chỉ đạo khởi nghĩa, tỉnh giao lãnh đạo phong trào cách mạng Bình Khê cho các anh Phạm Lương, Trần Đình, Nguyễn Đãi đảm nhiệm; tôi lại trở về Đội tự vệ cứu quốc hãng dệt Đờ-li-nhông thành lập hồi tháng 6 mà tôi được giao nhiệm vụ đội phó.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:37:18 am
Bình Khê vào những ngày đầu tháng 8, không khí cách mạng đã thực sự trở nên nhộn nhịp, sôi động. Nhiều đội tự vệ cứu quốc ở thị trấn Phú Phong và các xã phụ cận ra đời. Riêng số đội viên tự vệ cứu quốc trong công nhân hãng dệt Đờ-li-nhông lên tới hơn 100 người, lấy xưởng cơ khí của nhà máy là nơi sản xuất vũ khí (chủ yếu là rèn kiếm, giáo mác, dao găm, mã tấu) trang bị cho các đội viên tập luyện, chờ ngày hành động.

Tin Nhật đầu hàng quân Đồng minh (Anh, Mỹ, Pháp, Nga) đến Bình Khê vào chiều ngày 14 tháng 8 năm 1945, sau đó lan nhanh khắp thị trấn Phú Phong và các thôn xã lân cận. Đi đến đâu cũng nghe tiếng xôn xao bàn tán công khai: Nhật đầu hàng, Nhật thua trận, đáng đời quân xâm lược, đáng đời tên giặc lùn... Bộ máy chính quyền từ huyện đến xã bắt đầu hoang mang dao động, một số xã trưởng, thôn trưởng đến gặp cán bộ Việt Minh phân trần, thanh minh, tự nguyện nộp con dấu và sổ sách. Ngược lại về ta, khí thế cách mạng của quần chúng bỗng sôi sục hẳn lên, đâu đâu cũng hỏi đã có lệnh khởi nghĩa chưa. Thời cơ thuận lợi đã đến, nhưng làm gì và làm như thế nào thì không ai trả lời được. Vả lại cũng chưa có lệnh của cấp trên. Đang lúc lúng túng chưa biết xoay xở ra sao thì anh Võ Xán từ Quy Nhơn trở lại Bình Khê triệu tập một cuộc họp lớn tại hãng dệt Đờ-li-nhông. Tôi cũng được tham dự.

Mãi tới 8 giờ tối cuộc họp mới bắt đầu, vì còn phải chờ đại biểu Việt Minh các thôn, xã ở xa tới. Qua ánh đèn dầu tôi thấy anh Võ Xán vẫn dáng dấp khắc khổ mà lanh lợi, kiên nghị mà tình cảm, hai mắt trũng sâu, thâm quầng biểu hiện của nhiều đêm mất ngủ. Chưa họp mà mọi người cứ vây quanh anh hỏi đủ thứ tình hình, hỏi Bình Khê bao giờ khởi sự.

Mở đầu cuộc họp, anh thông báo tóm tắt tình hình chung: Ngày 13 tháng 8, Hội nghị toàn quốc của Đảng do Bác Hồ chủ trì họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) bàn về công tác chuẩn bị khởi nghĩa, về kế hoạch thành lập chính phủ lâm thời thì được tin phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước; đồng thời ngay trong đêm Ủy ban khởi nghĩa hạ lệnh số 1 với nội dung: ... Giờ tổng khởi nghĩa đã điểm! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy độc lập của nước nhà. Đập tan muôn tràng trở lực, các bạn hãy kiên quyết tiến!...

Như vậy là phát xít Nhật, kẻ thù chính của chúng ta đã ngã gục, thời cơ đã chín muồi, yêu cầu các thôn xã, nhất là hãng Đờ-li-nhông cần kiểm điểm lại lực lượng, sắp xếp lại tổ chức, trang bị vũ khí, sẵn sàng khi có lệnh là vùng dậy khởi nghĩa giành lấy chính quyền. Để đảm bảo cho khởi nghĩa thành công yêu cầu chúng ta phải hành động nhanh chóng, kiên quyết, anh dũng và thận trọng...

Cuối cùng anh Võ Xán trình bày dự kiến sau khi khởi nghĩa thành công, là phải thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện và Ủy ban cách mạng lâm thời các xã, để điều hành công việc chung và tuyên bố thực hiện mười chính sách Việt Minh... Trước hết cần làm ngay các việc bãi bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; chia lại ruộng công cho dân nghèo, thực hiện giảm địa tô, giảm tức, hoãn nợ, cứu tế dân bị nạn; thực hiện dân tộc bình đẳng nam nữ bình quyền.

Mãi 12 giờ đêm cuộc họp mới kết thúc. Mặc dầu đêm đã khuya, anh Võ Xán không nghỉ lại mà về ngay Quy Nhơn. Ôi! Thật là tấm gương sáng để chúng tôi noi theo. Lúc này công việc chuẩn bị khởi nghĩa ở thị xã, tỉnh lỵ thật nhiều phức tạp, anh vẫn bứt ra, về với Bình Khê, phần vì anh vẫn còn trách nhiệm là bí thư Ủy ban vận động Việt Minh huyện; phần vì tình cảm sâu nặng với quê hương. Anh về thật đúng lúc, qua bốn tiếng làm việc liên tục không nghỉ đã tháo gỡ những lúng túng của chúng tôi, chỉ cho chúng tôi công việc bắt đầu từ đâu và làm thế nào để khởi nghĩa thành công.

Ngày 21 tháng 8, Đội tự vệ cứu quốc của hãng dệt Đờ-li-nhông do tôi làm đội trưởng đang tiếp tục thực hiện công việc chuẩn bị khởi nghĩa tại huyện nhà do anh chỉ thị, lại được lệnh do chính tay anh ký - chuẩn bị gấp về tham gia khởi nghĩa tại thị xã Quy Nhơn.

Vinh dự, phấn khởi đi liền với lo lắng, lệnh đến quá gấp mà đoạn đường lại xa! Làm thế nào đến đúng thời gian quy định? Tính tới tính lui, cuối cùng chúng tôi quyết định ra đường 19 chặn xe đò xin quá giang(1). Để đảm bảo thành công tôi đã vận động ông Ngô Phiên là lái xe cho tên chủ hãng dệt giúp đỡ. ông đồng ý ngay, chúng tôi phấn khởi và rối rít nắm tay ông lắc mạnh, cám ơn, cám ơn! Đang vui, thỏa mãn với thành công ngay từ đầu thì đồng chí đội phó đến ghé tai – cần hai tài xế mới đủ, vì đội tự vệ của ta khá đông, trên 50 đội viên.


(1) Đi nhờ xe, nhờ thuyền.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:40:34 am
Lấy đâu ra tài xế lúc này? Tôi trao đổi băn khoăn của mình với ông Ngô Phiên:

- Có chớ - bác Phiên vui vẻ trả lời.

- Ở đâu, thưa bác - tôi hỏi.

- Thằng Ẩn, Ngô Ngọc Ẩn con trai tôi - bác Phiên trả lời.

- Ngô Ngọc Ẩn? - Tôi băn khoăn và thắc mắc!

Bác Phiên cười sảng khoái nói - Đúng là thằng nhỏ chưa có bằng, nhưng nó tự tập do tôi kèm. Nó đã nhiều lần đưa rước ông chủ thay tôi phần mắc bận, phần vì tôi muốn cho nó có điều kiện thực hành.

Thế là yên tâm người lái. Tôi và hai đội viên tự vệ dáng người cao to, khuôn mặt thoáng nét dữ dằn đứng trên đoạn đường 19, tây thị trấn Phú Phong. Thật may chỉ nửa tiếng sau đó có tiếng động cơ ầm ì từ phía An Khê vọng lại mỗi lúc một gần. Tôi thật sự hồi hộp và lo lắng không biết người ta có cho mình quá giang không? Lúc này đầu óc tôi lóe lên bao giả thiết, kể cả giả thiết họ không chịu thì làm gì.

Hai xe xuất hiện, tôi mừng thầm tự động viên – đủ số lượng xe mình cần. Xe cách khoảng 200 mét cả 3 chúng tôi dang tay ra hiệu dừng xe. Xe giảm tốc độ và dừng lại. Nhìn lên xe thấy hành khách và bác tài tỏ vẻ hoang mang, lo sợ không biết điều gì sẽ xảy ra với mình?

Thấy vậy, tôi trấn an:

- Xin bà con cô bác yên tâm! Chúng tôi là Đội tự vệ cứu quốc của Ủy ban vận động Việt Minh huyện Bình Khê muốn thưa chuyện.

Phong trào cách mạng ở huyện Bình Khê có từ những năm đầu của thập kỷ ba mươi. Đến năm 1936, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập ở huyện Bình Khê nhằm mở rộng phong trào cách mạng ở phía tây tỉnh. Từ cuối năm 1944 đầu năm 1945 phong trào cách mạng càng phát triển rộng khắp các vùng nông thôn và miền núi. Cộng sản, Việt Minh - những từ ngữ ấy không còn xa lạ, không bị ngộ nhận, trái lại đã trở thành quen thuộc đối với nhiều người; nhất là những tháng gần đây, sau ngày Nhật đảo chính Pháp nhiều gia đình có con em tham gia Việt Minh, tham gia các đoàn thể cách mạng như thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc. Ở Bình Khê từ giữa tháng 7 năm 1945, nhiều đội tự vệ cứu quốc ăn mặc gọn gàng, tay súng tay mác thường xuất hiện trong các làng xã tham gia trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ làm hả lòng hả dạ đồng bào các thôn xóm... Có lẽ vì thế mà công việc thương lượng của chúng tôi diễn ra suôn sẻ, bà con cô bác vui vẻ xuống xe. Tuy vậy đó mới chỉ là bước đầu.

Đường 19 giờ này còn vắng người qua lại. Phút yên tĩnh với tôi lúc này không phải chờ đợi sự đồng ý của bác tài mà là đang bật dậy trong đầu óc tôi một kế khác - phải chạy bộ, chạy thật nhanh, nếu bác tài từ chối, là kế hoạch dự phòng thực hiện liền.

Tất cả phụ thuộc vào bác tài. Hai bác đang đi về phía tôi và tôi chủ động đi về phía các bác tiếp tục thương lượng. Lúc này tôi mới có dịp ngắm nhìn gần thấy thần sắc hai bác uể oải, có cái gì tư lự, không vui.

- Hai bác đang đau bệnh? - Tôi thăm dò.

Cả hai bác nhìn tôi, miệng mấp máy định nói rồi lại thôi.

Bỗng bác tài người thấp đậm, da xanh tái, tuổi chạc 40 hắng giọng rồi phân trần - Mấy chú cần xe vì có công vụ gấp, tụi tôi đâu dám từ chối. Nh...ưng... như...ng hiềm một nỗi hồi này khách ngược xuôi đều thưa vắng nên cứ cách hai ngày mới có xe lên và xe về. Nếu chúng tôi đưa các chú về Quy Nhơn thì không có xe lên đón bà con trong ngày hôm sau, e bà con lỡ việc. Tụi tôi đang tính mà chưa ra!

Tôi định chen ngang - Bác khỏi lo, chúng tôi đã có lái xe. Nhưng muốn được nghe hết những điều bác muốn nói, để cho người thanh thản. Bác nhìn tôi, tỏ vẻ áy náy, ân hận vì không giúp được chúng tôi. Còn tôi nhìn bác càng vui và cảm động về một tình cảm đẹp đã dành cho đội quân khởi nghĩa trước lúc lên đường.

Đợi cho bác nói hết, tôi mới tiếp - chúng tôi đã chuẩn bị hai lái xe thay hai bác đưa anh em chúng tôi tới Quy Nhơn sẽ quay lại tại nơi đây giao lại xe cho hai bác.

- Dạ cảm ơn! - Cả hai bác đều đồng thanh cảm ơn chúng tôi.

Cuộc thương lượng đầy cởi mở và đã thành công. Được tin cả đội nhảy lên reo vui “hên rồi, hên rồi”, vang vọng cả đoạn đường. Toàn đội với 50 đội viên xếp thành hai hàng dọc ra xe lên đường trong tư thế hùng dũng. Lúc này, ngoài khẩu súng trường với 30 viên đạn tước của tiểu đội lính khố xanh được Nhật cử lên canh gác bảo vệ nhà máy, số anh em còn lại trang bị toàn dao găm mã tấu, giáo mác vẫn sáng mầu thép do xưởng cơ khí của hãng Đờ-li-nhông sản xuất.

Đường 19 lúc ấy còn nhỏ, to hơn đường kiểm lâm chút ít, chưa láng nhựa, xe chạy không nhanh vì quá xóc. Nhưng dù sao còn hơn là chạy bộ!


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:41:51 am
Chúng tôi tới ngã ba Diêu Trì đúng vào lúc mặt trời đậu trên đỉnh đầu. Nắng gắt, người mệt và khát nước, như qua một trận dần xương, tứ chi đâu cũng đau, cũng mỏi.

Ngày 23 tháng 8 năm 1945, bầu trời Quy Nhơn trong xanh, cả thị xã bừng lên như một ngày hội, đường phố tấp nập đông vui. Ai nấy đều rạng rỡ mà nghiêm trang, như chờ đón một cái gì thiêng liêng sắp đến. Hơn một vạn nhân dân nội thị và các vùng phụ cận đô về nhà ga theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh. Tại đây sau khi cử hành lễ chào cờ là phần diễn thuyết. Không khí đang ồn ào, náo nhiệt, bỗng trở lại trật tự. Mọi người hướng về phía kỳ đài, ai cũng cố nghển cổ, kiễng chân để mình được cao hơn, nhìn rõ hơn người cán bộ Việt Minh có khuôn mặt tươi tỉnh, đang quay một vòng nhìn những người đến dự mít tinh thuộc đủ mọi lứa tuổi đang hướng về mình, đang chờ đợi một điều gì mà họ muốn biết.

Người cán bộ Việt Minh trông còn rất trẻ, dõng dạc nói: Hỡi đồng bào! Quân Nhật ở Việt Nam đã hạ súng đầu hàng Đồng minh chờ ngày về nước... Giờ khởi nghĩa đã đến! Tất cả đồng bào có mặt tại đây hôm nay hãy kết thành hàng ngũ, hành động thật khẩn trương với tinh thần quả cảm, đánh đuổi giặc Nhật, đập tan chính quyền tay sai Nhật, lập nên chính quyền của nhân dân...

Dứt lời kêu gọi của Ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa, khối người dự mít tinh rùng rùng chuyển động xếp thành đội ngũ theo các đoàn thể: thanh niên, phụ nữ, lão thành, đi đầu là các lực lượng tự vệ cứu quốc có sự hướng dẫn của cán bộ Việt Minh, biến thành cuộc tuần hành thị uy, lần lượt diễu qua các cơ sở chính quyền địch trong thị xã. Hai trăm chiến sĩ tự vệ cứu quốc tỉnh dẫn đầu, tiếp đến là các đại đội thuộc địa phương Phú Phong, hãng dệt Đờ-li-nhông, Diêu Trì với nhiệm vụ được giao: đánh chiếm dinh tổng đốc, tòa đốc lý và các mục tiêu trọng điểm khác.

Được coi là lực lượng quân sự của cuộc khởi nghĩa, nhưng các đội tự vệ hồi đó đâu có nhiều vũ khí? Mỗi đội tự vệ khoảng 50 - 60 người mà vũ khí chỉ có dăm bảy khẩu súng trường cổ của Pháp, Nhật, đạn càng ít hơn (mỗi khẩu chỉ trên dưới 10 viên), còn lại là gậy gộc, giáo mác; hiểu biết quân sự càng ấu trĩ, ngay cả động tác đội ngũ đang còn lúng túng. Chỉ có tinh thần yêu nước dám xả thân, ý thức kỷ luật và tình đoàn kết thương yêu nhau thì ai cũng tràn đầy, ai cũng sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ gì.

Cuộc đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, tòa đốc lý, sở mật thám, đồn cảnh sát được thực hiện ngay từ đợt đầu. Các đội tự vệ nhanh chóng áp sát mục tiêu, hỗ trợ phía sau là đông đảo quần chúng cách mạng (có cả sự vận động thuyết phục của cán bộ Việt Minh trước đó) đã buộc tỉnh trưởng Phạm Phú Tiết, án sát Nguyễn Ngọc Sỹ nhanh chóng giao nộp vũ khí, ấn triện ngay. Riêng ở trại lính bảo an, tên chỉ huy Nguyễn Ngọc Dụ ỷ vào thế lực còn đông, vũ khí còn nhiều ngoan cố không chịu đầu hàng. Ta dừng lại, nhanh chóng chấn chỉnh đội hình, đưa toàn bộ lực lượng tự vệ áp sát mục tiêu, hình thành thế bao vây bốn mặt. Sát phía sau là gần một vạn quần chúng hỗ trợ, dùng loa hô đả đảo Nguyễn Ngọc Dụ ngoan cố; đồng thời cho người tiếp cận vận động, kêu gọi binh sĩ dưới quyền y hãy mau chóng tỉnh ngộ trở về hàng ngũ cách mạng, tình thế không thể chần chừ, Nhật đã đầu hàng Đồng minh đang đợi ngày xuống tàu về nước... Mặt khác ta cử người vào bắt liên lạc với số binh sĩ địch là nhân mối của ta, nhân lúc này vừa hù dọa vừa tự mình hợp pháp đấu tranh gây sức ép lên chỉ huy. Trước sức mạnh áp đảo của quần chúng cách mạng, Nguyễn Ngọc Dụ buộc phải vác cờ trắng ra hàng quân khởi nghĩa. Cùng lúc 500 binh lính theo sau mang đầy đủ vũ khí trên mình giao nộp cho cách mạng rồi đứng về phía cách mạng; một số xin tham gia đoàn diễu hành đi đánh chiếm các mục tiêu còn lại như ngân hàng, bưu điện, v.v...

Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 23 tháng 8 năm 1945 ở thị xã Quy Nhơn đã thành công, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ (tên mới của tỉnh Bình Định thời kỳ đó) được thành lập gồm sáu đồng chí do đồng chí Võ Xán làm chủ tịch.

Một thành công nữa mà tôi được chứng kiến kể cùng bạn đọc. Thừa thắng trận đầu, ban khởi nghĩa tỉnh đã tranh thủ tiếp xúc với quân Nhật đang còn đóng tại thị xã Quy Nhơn. Bằng biện pháp khôn khéo thuyết phục, chúng đã đồng ý giao cho ta 1.000 khẩu súng và nhiều loại đạn các cỡ (trang đó có khẩu pháo đã mất kim hỏa), mà chúng tước của Pháp trong cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3. Đây là một thắng lợi lớn, góp phần đáng kể tăng tiềm lực quân sự của Bình Định trong lúc ta đang “đói” vũ khí, trang bị.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:43:35 am
Ngày 25 tháng 8, trong khi chúng tôi đang chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp sau thì anh bạn đồng hương cùng công nhân dệt với tôi từ Phú Phong xuống dáng vẻ vừa vui vừa vội vã.

- Có việc gì mà xuống sớm thế - Tôi hỏi.

- Có chứ - Bạn tôi trả lời.

- Nói nghe - Tôi giục.

- Có tin vui!

- Tin vui gì?

Anh bạn tôi đặt vội ly nước chưa kịp uống xuống bàn rồi kể liền một mạch, rất say sưa: Không có thời gian mình tranh thủ ghé thăm cậu và báo cậu hay. Sáng qua ngày 24 tháng 8 năm 1945 lúc trời còn chạng vạng, thị trấn Phú Phong mới lác đác một vài nhà hàng mở cửa, chợ phiên chưa có người, đường 19 còn thưa vắng khách qua lại, thì đã có hơn 3.000 người, gồm công nhân hãng dệt Đờ-li-nhông mình và nhân dân một số làng Kiên Mỹ, Phú Phong, Phù Mỹ, Trịnh Tường thuộc tổng Phú Phong, Vĩnh Thạnh, có tự vệ cứu quốc đi đầu, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Việt Minh huyện tiến về huyện lỵ, đánh chiếm huyện đường, buộc tri huyện Bình Khê Tôn Thất Diện cùng bộ hạ phải đầu hàng, giao nộp con mộc cùng giấy tờ sổ sách như giấy thu thuế, sổ địa bạ, sổ đinh, sổ điền... cho Ban lãnh đạo khởi nghĩa. Làm xong nhiệm vụ xóa bỏ chính quyền tay sai Nhật, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Việt Minh, quần chúng nhân dân tiếp tục tuần hành thị uy qua các khu vực dân cư trong thị trấn. Đi đến đâu nhân dân cũng chào đón và gia nhập đoàn tuần hành ngày một đông, khí thế sục sôi, vừa đi vừa hô khẩu hiệu: đả đảo phát xít Nhật, Việt Nam độc lập muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm, v.v...

Tại sân vận động Trịnh Tường (Bình Tường) Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Bình Khê được thành lập và ra mắt trước đông đảo nhân dân đứng chật cứng sân vận động với tiếng hô và tiếng vỗ tay như sấm dậy.

- Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện có những ai? - Tôi hỏi.

- Toàn người mình cả, gồm công nhân cứu quốc hãng dệt Đờ-li-nhông và cán bộ Việt Minh các làng trong huyện do đồng chí Phạm Lương làm chủ tịch.

Tôi đang định hỏi tiếp tên các thành viên trong Ủy ban cách mạng lâm thời huyện, xem có ai quen, có ai là bạn bè, thì có lệnh lên đường. Chỉ còn kịp nắm tay bạn lắc mạnh và cám ơn, là chúng tôi vào việc ngay.

Đội tự vệ cứu quốc hãng dệt Đờ-li-nhông chúng tôi được lệnh tỏa ra các vùng phụ cận như An Nhơn, Diêu Trì, Tuy Phước hỗ trợ quần chúng giành chính quyền. Vất vả, khẩn trương có cả căng thẳng nhưng vẫn thấy phơi phới yêu đời.

Đi đến đâu là ở đó có những thay đổi: Ngày 25 tháng 8, quần chúng cách mạng kéo theo bao vây thành Bình Định, bắt tri phủ An Nhơn giao nộp ấn tín cho cách mạng,xóa bỏ chính quyền tay sai Nhật, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời do đồng chí Nguyễn Thành Mẫn làm chủ tịch, ở Tuy Phước sau khi tri phủ Trần Ngọc Liễn bị bắt giữ vì có nhiều tội ác với nhân dân, quần chúng khắp nơi trong phủ dưới sự lãnh đạo của cán bộ Việt Minh và sự hỗ trợ của tự vệ cứu quốc tỉnh đã nổi dậy. Tại đề-pô Diêu Trì đã thành lập đội tự vệ trong công nhân xe lửa. Các tổng An Định, Thiều Quang, Dương An... thanh niên yêu nước chủ động nổi dậy phá rã các tổ chức thanh niên thân Nhật làm chủ thôn xã. Ngày 3 tháng 9, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời phủ Tuy Phước được thành lập do đồng chí Đoàn Như Khương làm chủ tịch...

Liên tục 20 ngày đêm tham gia hỗ trợ nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền có bao nhiêu việc phải làm, nhiều đêm chúng tôi thức trắng hoặc chỉ chợp mắt một hai giờ nhưng vẫn tỉnh táo, phần vì công việc, phần vì quá vui! Vui này vẫn chưa hết vui khác lại đến nhanh, dồn dập mà lắng sâu. Chỉ chín ngày đêm (từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 8) cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh diễn ra nhanh chóng và giành thắng lợi giòn giã.

Những ngày này đi đến đâu, chúng tôi cũng bắt gặp những ánh mắt những nụ cười rạng rỡ, trên gương mặt mỗi người không phân biệt nam nữ, già trẻ đều đã xóa đi những nét hằn của ưu tư mặc cảm. Những danh từ độc lập, tự do, hạnh phúc, bình đẳng được cắt dán trên băng vải treo trong phòng họp, kẻ thành khẩu hiệu dán trên các ngả đường vào thị xã, thị trấn, các lối vào thôn xã, những từ mà thời kỳ cách mạng còn trong bóng tối chỉ truyền miệng thì nay đã đi vào đời thường, dễ hiểu, nó là những tín hiệu đổi đời của mọi người dân.

Thành công của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 ở tỉnh Bình Định được xem như là một sự kiện thần kỳ, góp một nét son chói lọi không thể nào phai trong lịch sử cứu nước của dân tộc.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:50:51 am
Chương III
MỘT THỜI NAM TIẾN


Cái từ thiêng liêng ấy trở thành thân quen với mọi người kể từ khi các đoàn tàu hỏa hối hả ngày đêm liên tiếp đưa quân Nam tiến từ các tỉnh phía Bắc qua dải đất Nam Trung Bộ vào chi viện cho Mặt trận Nam Bộ sau khi thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945. Khí thế hùng dũng, lạc quan yêu đời với tiếng hát đầy khí phách hiên ngang của những đoàn quân Nam tiến mỗi khi qua ga Diêu Trì: Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam, ta muốn băng mình tới phương Nam giết hết quân tham tàn... Những chuyến tàu Nam tiến tiếp theo, chúng tôi còn được nghe bài hát mới, lời ca giản dị mà đầy khí phách hùng dũng, dễ nhớ - Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi, nào có sá chi mong ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà chết chớ lui đã thực sự thôi thúc tuổi trẻ chúng tôi.

Những ngày này đi đến đâu cũng bắt gặp các khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân phản động Pháp xâm lược”, “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”, “Hi sinh hết thảy vì mặt trận phía Nam”, v.v... Ở thị xã Quy Nhơn hay ra Tuy Phước, Diêu Trì, An Nhơn, Đập Đá... đâu đâu cũng thấy không khí sục sôi, hội họp, mít tinh, biểu tình hô hào Nam tiến. Ngay tháng 8 năm 1945, trung đội Đỗ Trừ được thành lập tại thị xã Quy Nhơn được lệnh sáp nhập với hai trung đội của Quảng Ngãi thành đại đội B lên đường vào chiến đấu tại mặt trận Bến Phần, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một ở miền Đông Nam Bộ.

Công tác chuẩn bị chiến đấu được xúc tiến với nhịp độ khẩn trương. Tiểu đoàn Tăng Bạt Hổ gấp rút bổ sung quân số thành ba đại đội hoàn chỉnh, đủ sức làm nhiệm vụ tại chỗ và sẵn sàng Nam tiến. Chi đội 2 vệ quốc đoàn Quảng Ngãi (sau đổi tên thành trung đoàn 94) được điều vào Bình Định sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Các lớp y tá, cứu thương được đào tạo cấp tốc sẵn sàng phục vụ chiến đấu. Một hệ thống bệnh xá được thành lập từ Plây Cu đến Phú Phong (Bình Khê), Bồng Sơn để phục vụ cứu chữa thương bệnh binh từ phía trước chuyển về. Các công binh xưởng Quang Trung, Cao Thắng của tỉnh ngày đêm hối hả sản xuất các loại vũ khí thô sơ (lựu đạn, mìn) và sửa chữa vũ khí phục vụ chiến đấu.

Nam tiến! Cái từ giản dị mà thiêng liêng ấy đã như tiếng kèn báo hiệu sơn hà nguy biến, là lời kêu gọi của Tổ quốc có sức cổ vũ và thôi thúc mạnh mẽ lóp tuổi trẻ chúng tôi thời đó.

Cuối tháng 9 năm 1945, nguyện vọng Nam tiến của tôi đã được thực hiện. Tôi tranh thủ bàn giao công việc xong (lúc này tôi đang công tác tại Đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh) là đến cơ quan quân sự tỉnh nhận nhiệm vụ. Tại đây tôi và 30 bạn bè cùng trang lứa được biên chế về tiểu đoàn Tăng Bạt Hổ; riêng tôi và một vài anh em khác được phân công về đại đội Mai Xuân Thưởng, đóng quân ở trại lính khố xanh cũ của Pháp để huấn luyện quân sự.

Thị xã Quy Nhơn (nay gọi là thành phố) sau ngày khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi vẫn còn 50 lính Nhật đóng tại nhà băng Đông Dương (trụ sở ngân hàng của Pháp) đặt dưới sự chỉ huy của Phái bộ quân Anh ở Nha Trang. Ngày 15 tháng 10, một tàu chiến Nhật tiến vào Cù lao Xanh với âm mưu giải vây cho số lính Nhật đang bị ta bao vây (tại địa điểm kể trên) và phối hợp cùng bọn này tiến hành đánh phá, lập đầu cầu dọn đường cho thực dân Pháp trở lại chiếm đóng thị xã Quy Nhơn.

Bọn chỉ huy Nhật trên tàu viết đơn xin chính quyền cách mạng tỉnh cho phép chúng được lên bờ để liên hệ với số lính Nhật đang đóng quân trên thị xã. Nắm được tim đen của giặc Nhật, các anh lãnh đạo tỉnh đã một mặt trả lời - chỉ một viên sĩ quan và ba lính được phép lên bờ nhưng không ai được mang súng; mặt khác chỉ đạo lực lượng vũ trang tỉnh có kế hoạch xóa bỏ ngay cái gai này sớm ngày nào hay ngày ấy. Lực lượng tham gia tiến công gồm đại đội Phan Đình Phùng và đại đội Mai Xuân Thưởng chúng tôi. Chỉ huy chung trận đánh là anh Nguyễn Chính Cầu, chính trị uỷ viên chi đội Phan Đình Phùng. Nhưng 50 lính Nhật có đầy đủ vũ khí. lại đóng trong ngôi nhà kiên cố, tường móng đều dày, vững chắc xây bằng xi măng cốt thép, cần phải có pháo binh yểm trợ. Ngay lúc này lực lượng vũ trang tỉnh đã có một khẩu pháo 75mm do ta tranh thủ thuyết phục Nhật nộp cho cách mạng ngay từ ngày đầu khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Quy Nhơn.

Súng, đạn có nhưng thiếu kim hỏa (do Nhật tước của Pháp sau đảo chính ngày 9 tháng 3). Thảo luận mãi tưởng như bế tắc, thì một sáng kiến được anh Nguyễn Bá Phát, chi đội phó chi đội Phan Đình Phùng nêu ra - Dùng đinh chữ T và búa thay cho kim hỏa. Thoạt nghe thấy ngồ ngộ thế nào ấy. Sau trao đổi thấy có lý, được mọi người chấp nhận và cử người chuẩn bị.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:51:54 am
Trận đánh triển khai ngay trong đêm ngày 12 tháng 12 năm 1945. Đại đội Phan Đình Phùng tiến vào vị trí xuất phát tiến công hình thành thế bao vây quanh vị trí quân Nhật đóng quân. Đại đội Mai Xuân Thưởng đứng phía sau làm lực lượng dự bị. 10 giờ 30 phút đêm, sau hiệu lệnh tiến công, đại đội Phan Đình Phùng đồng loạt nổ súng vào các cánh cửa của ngôi nhà, cửa kính vỡ loảng xoảng. Bọn Nhật bị bất ngờ, 5 phút sau chúng nổ súng chống lại. Ta bắn tiếp, chúng dựa vào hầm hố và tường nhà kiên cố chống lại ta quyết liệt. Đã đến lúc phải dùng hỏa lực mạnh, ta quyết định đưa pháo vào cách địch 200 mét ngắm bắn trực tiếp. Chiến sĩ Từ Công Kế được huấn luyện trước cầm đinh chữ T đặt đúng hạt nổ, dùng búa đập mạnh vào đinh, đạn nổ lao trúng bức tường phá một mảng lớn, địch im tiếng súng. Thấy thành công, Từ Công Kế cho nổ quả đạn thứ hai rồi quả thứ ba, địch chống cự yếu dần, đạn nổ lẻ tẻ, rời rạc.

Thời cơ đã đến, anh Nguyễn Chính Cầu ra lệnh xung phong. Các chiến sĩ đại đội Phan Đình Phùng, tiếp theo là đại đội Mai Xuân Thưởng tiến vào mục tiêu, vừa bắn vừa kêu gọi đầu hàng. Quân Nhật phải kéo cờ trắng xin hàng.

Trận đánh kết thúc nhanh, ta diệt và bắt sống 50 lính Nhật (trong đó có tên quan tư vừa từ tàu lên khi chiều cũng bị thương nặng), thu toàn bộ vũ khí đạn dược và bảy triệu đồng tiền Đông Dương.

Bọn trên bờ bị diệt, bọn ngoài biển buộc phải rút lui.

Thị xã Quy Nhơn sạch bóng thù.

Cuộc chiến đấu anh dũng và bền bỉ của nhân dân ta đã gây cho quân Pháp những khó khăn. Đã hết năm 1945 mà kế hoạch đánh chiếm đến vĩ tuyến 16 của chúng vẫn chưa được thực hiện. Đây là thất bại có ý nghĩa chiến lược đầu tiên của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Nhưng với bản chất ngoan cố và được các thế lực phản động quốc tế hà hơi, thực dân Pháp vẫn cố dồn sức nhằm đẩy nhanh cuộc tiến công xâm lược.

Cuối tháng 1 năm 1946, sau khi có quân tăng viện từ chính quốc sang, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp tập trung 15.000 quân phối hợp với không quân và hải quân do tướng Lơ-cờ-léc trực tiếp chỉ huy mở cuộc hành quân Gô đánh chiếm Nam Trung Bộ. Quân dân Nam Trung Bộ lại tích cực chuẩn bị mọi mặt để làm thất bại cuộc hành quân đầy tham vọng này.

Sau khi tham gia trận tiến công xóa bỏ một chốt quân Nhật cắm lại nhà băng Đông Dương ở thị xã Quy Nhơn, đại đội Mai Xuân Thưởng trở lại đội hình tiểu đoàn Tăng Bạt Hổ tiếp tục học tập quân sự, kết thúc khóa học cũng là lúc mặt trận Nha Trang vỡ. Đại đội Mai Xuân Thưởng được bổ sung quân số thành một đại đội, được lệnh vào Phú Yên với nhiệm vụ ngăn chặn quân Pháp từ Đèo Cả đánh ra, từ Đắc Lắc đánh xuống.

Trước khi lên đường tôi có tin về nhà - sắp tới con được lệnh đi xa để gia đình khỏi mong. Nào ngờ cha tôi từ Phú Phong lội bộ xuống Quy Nhơn thăm tôi. Từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 3 tháng 2 năm 1946, cha con có dịp gần nhau trò chuyện. Tôi hỏi sức khỏe của mẹ và các em, hỏi tình hình thầy giáo Nguyễn Đông giờ sống ra sao, có còn dạy học hay chuyển nghề khác? Và một điều tôi chưa kịp hỏi, thì cha tôi kể liền, sôi nổi và tự tin - Phú Phong thay đổi dữ lắm. Hãng dệt Đờ-li-nhông đóng cửa hoàn toàn, hàng ngàn công nhân tản mát khắp nơi để kiếm sống, cũng chật vật lắm con ạ.

- Gia đình nhà mình sống thế nào? - Tôi hỏi.

- Cũng khó đấy nhưng đỡ hơn so với nhiều gia đình khác vì nhà mình vốn nông dân nên dễ xoay xở, cả nhà quay về làng làm ruộng, phát rẫy trồng thêm khoai bắp, có thứ đã cho thu hoạch. Mẹ con không lúc nào rảnh rỗi, quần quật suốt ngày ngoài đồng, ngoài rẫy. Về đến nhà lại lo ăn cho đàn heo, đàn gà. Mẹ con ham việc lắm, chẳng lúc nào chịu ngồi không.

Mẹ tôi là như vậy. Bà lam lũ, tần tảo, chắt chiu. Khi còn là công nhân sống bằng đồng lương rẻ mạt, bà vẫn (nói theo ngôn ngữ thời nay) là một nhà quản lý giỏi, người kế toán có tài đến chi ly, đủ tiền nuôi sống gia đình với bảy miệng ăn mà vẫn dành tiền cho tôi ăn học. Nghe cha kể, tôi càng nhớ càng thương, càng thán phục mẹ, càng ân hận chưa một lần báo đáp! Bỗng một ý nghĩ lóe lên trong đầu, biết là không tưởng nhưng vẫn cứ mơ, cứ ước - giá có phép màu nào bay được thì ngay bây giờ ta bay thật nhanh về thăm mẹ để mẹ vợi mong, đỡ đần bất cứ việc gì để mẹ bớt vất vả là mãn nguyện trước lúc lên đường. Đời trai thời chiến biết đâu mà lường trước được mọi việc…


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:52:55 am
Những ngày ngắn ngủi này cha tôi sống như một người chiến sĩ sắp ra trận. Cùng ở một nhà với chúng tôi, sáng cũng dậy sớm theo giờ quy định của đơn vị, ăn những bữa cơm đạm bạc, chẳng đủ no nhưng cha tôi lại vui, đầu óc thanh thản. Ngày đó đâu có nhà khách như bây giờ. Mọi nhu cầu sinh hoạt của chúng tôi đều do nhân dân tổ chức quyên góp.

Ngày 4 tháng 2 năm 1946, tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng lên đường. Lễ tiễn đưa được tổ chức tại sân ga Quy Nhơn. Có đại biểu Mặt trận Việt Minh thị xã Quy Nhơn, đại biểu các đoàn thể thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc tỉnh, các đồng nghiệp trong ban tuyên truyền cổ động tỉnh nơi tôi công tác, đông đảo người thân có con em là cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng. Họ từ thị xã Quy Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Bình Khê, Tuy Phước đến đây từ ngày hôm trước ăn trực, nằm chờ để đưa tiễn con em mình Nam tiến. Họ ăn mặc đủ kiểu loại quần áo và màu sắc, đứng chật cứng trước sân ga nhìn xa như một tấm thảm nhiều màu. Hàng quán bán đủ thứ hàng hóa và quà bánh.

Hai cha con tôi thủng thỉnh bước đều trên sân ga hòa nhập vào không khí náo nhiệt, ầm ầm âm thanh chuyện trò, cười nói, chúc nhau, hẹn hò của buổi tiễn đưa đoàn quân Nam tiến lớn nhất của tỉnh Bình Định. Gần đến giờ tập trung lên tàu cha tôi mới chậm rãi thủ thỉ... Nhìn thấy con khỏe mạnh, nhìn thấy anh em trong đơn vị đều là người khắp nơi trong tỉnh nhưng sống chan hòa, đối xử với nhau như anh em trong một nhà là cha vui lắm, yên tâm lắm. Chẳng có gì phải lo lắng cả. Mọi việc đã có cấp chỉ huy hướng dẫn, cha chỉ mong sao con giữ gìn sức khỏe, mọi công việc sao cho bằng anh bằng em, làm tốt bổn phận của mình. Quốc gia đang lâm nguy, phải có trách nhiệm gánh vác, vì con là con trai. Khi nào nước nhà được độc lập hoàn toàn lúc ấy con hãy nghĩ đến chuyện vợ con! Cha nghĩ sao nói vậy, chẳng có đầu có đuôi, con thấy thế nào?.

- Dạ cha nói phải, con xin hứa!

Nhưng tôi tự hỏi - sao đến giờ này ông mới căn dặn? Những ngày qua có đủ thời gian nhưng cha tôi chỉ nói chuyện về quê hương đổi thay, về công việc làm ăn kiếm sống trước mắt và lâu dài, về dự kiến sơ tán, cất giấu lương thực đề phòng Pháp tiến công, v.v...

Dẫu lý do gì đi nữa, thì những căn dặn của cha tôi tuy mộc mạc lại đúng vào không gian và thời gian của buổi tiễn đưa đầy ấn tượng đã thực sự khắc sâu trong tâm khảm tôi, giúp tôi xử thế sau này khi vào trận. Chẳng hạn như việc xây dựng gia đình, trong sáu năm từ năm 1946 đến năm 1952, cũng có lúc nghĩ tới như một yêu cầu bức xúc. Tôi lại tự mình an ủi, khi nào nước nhà được độc lập hãy tính đến chuyện vợ con như lời cha tôi căn dặn.

Buổi tiễn đưa được tổ chức đơn giản mà trang nghiêm, nhanh gọn mà đủ nghi thức, lưu luyến mà không bịn rịn. Người đi và người ở lại đều ý thức rõ công việc của mình phải làm trong lúc đất nước đang đứng trước thử thách độc lập hay nô lệ!

Đoàn tàu rú một hồi còi thật dài chào tạm biệt hậu phương, từ từ lăn bánh, rời khỏi ga Diêu Trì. Tôi cố vươn người ra ngoài cửa tàu vẫy tay đáp lễ và tạm biệt bà con cô bác ra tiễn. Tôi vẫn nhìn thấy cha mình mặc bộ đồ xanh công nhân của hãng dệt Đờ-li-nhông mà gọi thật to - Cha ơi, con tạm biệt cha, con chúc cha mạnh khỏe, cho đến khi con tàu lùi xa, không còn nhìn thấy bóng cha... (không ngờ đó lại là lần cuối cùng cha con gặp nhau. Tháng 11 năm 1950, tôi nhận được thư nhà báo tin ông mất hồi đầu năm, khi máy bay Pháp bất thần đến bắn phá một thôn yên lành quê tôi, trong lúc mọi người đang làm công việc sản xuất trên đồng ruộng như thường nhật). Màn đêm buông dần, không gian hai bên đường là những dãy núi cao, rừng rậm che lấp, bầu trời hẹp lại và cao hơn, xa hơn. cảnh vật thưa vắng, chỉ có tiếng bánh xe lăn đều. Thỉnh thoảng con tàu hơi nghiêng chao đảo ngả nghiêng một tiếng kịch kèm theo, là lúc bánh xe chạm vào đầu nối hai thanh ray. Cái âm thanh to nhỏ - xình xịch, xình xịch đều đều ấy như tiếng ru êm tạo thành giấc nồng, nhưng lại là một đêm trắng với đông đảo “du khách” lần đầu xa nhà. Câu chuyện cứ râm ran to nhỏ, lúc đầu chỉ là thăm dò lạc quan, sau đủ điều tâm sự đổi trao... cả chuyện phút giây bịn rịn lúc cầm tay người yêu hơi nóng truyền sang cả hai phía trước lúc lên đường.

Từ ga Chí Thanh trở vào đồi núi thấp dần, không gian rộng ra, bầu trời lấp lánh đầy sao, sáng như trăng, sương mờ mờ ảo ảo, xuất hiện rồi lại khuất nhanh ngược chiều con tàu: một vạt ruộng, một xóm ấp, một cây cầu, một thị tứ với sáng đèn le lói, yên tĩnh, thanh bình. Xa xa nơi chân trời phía đông ửng hồng báo hiệu một ngày mới đang đến. Cảnh quan bừng sáng, rõ dần, như một bức tranh muôn sắc sống động, tưởng như con tàu đang đi tới nơi phố đông chứ không phải vào nơi có tiếng súng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:54:52 am
Chín giờ sáng ngày 5 tháng 2 tàu tới ga Tuy Hòa. Tất cả chúng tôi đều thò đầu ra ngoài cửa đưa tay vẫy vẫy đáp lại đông đảo bà con, có cả bộ đội đứng dưới sân ga vẫy tay hoan hô chào đón chúng tôi - Lại có thêm một đoàn quân Nam tiến vừa vào với mảnh đất Phú Yên giờ đây đang bị quân thù lăm le tiến công từ phía nam và phía tây.

Đến đây được gặp nhiều đơn vị Nam tiến mới từ Bắc vào, ăn mặc thật oai, đi giày, đội mũ ca-lô, có anh đi ghệt bó chặt ống quần. Có đơn vị mặc toàn màu xanh thống nhất, hồi đó gọi là xanh cỏ úa hoặc xanh cứt ngựa, đầu đội mũ ca-lô và đính hình tròn viền vàng chung quanh, giữa là cờ Tổ quốc nền đỏ sao vàng. Nhưng cũng có nhiều đơn vị ăn mặc đủ kiểu quần soóc, quần xà lỏn, áo sơ mi hoặc áo cánh với đủ thứ mũ: mũ bê-rê, mũ cát, cả mũ phớt. Có đơn vị quần soóc, áo sơ mi ngắn tay, mũ ca-lô của lính bảo an (sắc lính do Nhật lập ra sau đảo chính Pháp).

Phú Yên lúc này hội đủ các đơn vị bộ đội Nam tiến, từ ngoài Bắc mới vào; từ Nha Trang ra, từ Buôn Ma Thuột xuống sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chặn làm chậm các cuộc hành quân xâm lược của thực dân Pháp, rút về đây nghỉ ngơi củng cố(1). Và có đơn vị Nam tiến của tỉnh Bình Định quê tôi vừa tới sáng nay làm nhiệm vụ đánh chặn địch tại mặt trận Phú Yên. Tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng chúng tôi cũng vậy, còn lôi thôi lếch thếch hơn. Lúc ấy không có quần áo phát thống nhất, quần áo tự túc từ nhà mang đi, có gì mặc nấy, đủ kiểu loại cũ mới, có người còn mặc quần áo vá, chân đất, không màn không chiếu. Lương thực ăn hàng ngày chủ yếu cũng dựa vào sự đùm bọc của nhân dân. Nhưng vẫn lạc quan yêu đời; chẳng ai thắc mắc, đòi hỏi.

Niềm vui dồn dập niềm vui khi chúng tôi vừa đặt chân lên sân ga. Vui vì có dịp hòa nhập cùng các đơn vị Nam tiến đến từ phía Bắc vừa vào, từ Nha Trang ra, đủ thứ chuyện vui buồn, mất mát được chia sẻ. Vui vì được anh em cơ quan chi đội Thu Sơn do anh Trương Hầu, trưởng ban chính trị chi đội dẫn đầu ra tận cửa lên xuống tàu thân mật chào hỏi và dẫn đơn vị về nơi đón tiếp chính thức. Vui vì tại dây có hơn một nghìn bà con cô bác thị xã Tuy Hòa, đang chờ sẵn trương khẩu hiệu “Hoan nghênh thanh niên Nam tiến”!

Tim tôi như muốn văng ra khỏi lồng ngực, vì mơ ước bấy lâu nay trở thành sự thật. Từ nay chúng tôi chính thức mang danh hiệu đội quân Nam tiến, nằm trong đội hình trung đoàn 79 do anh Thu Sơn, quê Cao Bằng - một chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm trung đoàn trưởng; anh Võ Bẩm, quê Quảng Ngãi - một chiến sĩ trong đội du kích Ba Tơ làm chính trị viên. Từ đây tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng của tỉnh Bình Định chính thức là thành viên của một trung đoàn phần lớn lực lượng nòng cốt là chi đội Thu Sơn - một trong những đơn vị Nam tiến có mặt đợt đầu tại chiến trường Nam Trung Bộ, đã tham gia vây hãm quân Pháp suốt 101 ngày đêm tại mặt trận Nha Trang.

Tình hình chiến sự lúc này đã trở nên vô cùng căng thẳng. Sau khi mặt trận Nha Trang bị vỡ, thị trấn Ninh Hòa, Vạn Giã bị quân Pháp chốt giữ, chúng đang ráo riết chuẩn bị lực lượng đánh nống mở rộng vùng kiểm soát ra phía bắc mà mục tiêu trước mắt là Phú Yên. Các lực lượng phía trước trong thực tế đã bước vào chiến đấu hoặc sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất. Ban chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên đã điều tiểu đoàn Cao Thắng cùng đại đội tự vệ thị xã Tuy Hòa vào lập phòng tuyến chiến đấu ở Đèo Cả và đường mòn Gia Long để chặn địch từ bắc Khánh Hòa theo đường 1 nống ra. Huyện Tuy Hòa cũng được lệnh huy động hàng ngàn dân công cùng bộ đội đào phá băm nát đường Đèo Cả, đắp nhiều công sự, chướng ngại vật trên đèo và lấp các miệng hầm xe lửa... Cùng thời gian này các thủy đội Bạch Đằng cũng được thành lập ở Hòa Hiệp và Tiên Châu để vận chuyển cán bộ vũ khí của Khu và Trung ương chi viện cho chiến trường Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Một không khí hừng hực chiến đấu đã diễn ra thôi thúc mọi người khi đặt chân lên mảnh đất Phú Yên...

Nhưng trung đoàn 79 vẫn được lệnh đứng chân ở phía sau, trước mắt là tranh thủ mở một đợt huấn luyện quân sự mà nội dung chủ yếu là các động tác kỹ thuật chiến đấu cá nhân như lăn, lê, bò toài, bắn súng đâm lê, ném lựu đạn, có cả phần đội ngũ.


(1) Sau khi mặt trận Bắc Sài Gòn bị địch phá vỡ, nhất là sau khi Pháp đổ bộ đánh chiếm Nha Trang (19-10-1945) đường xe lửa bị cắt đứt, hầu hết các đơn vị Nam tiến từ các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, v.v... đều dừng lại chiến đấu ở chiến trường Nam Trung Bộ.
Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu, một số chi đội (tương đương trung đoàn) nhập vào các đơn vị tại chỗ, các đơn vị khác tổ chức lại thành sáu chi đội: Thu Sơn, Bắc Bắc, Vi Dân, Hữu Thanh, Hùng Việt, 51.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:57:40 am
Đợt huấn luyện quân sự tuy ngắn mà căng thẳng, vất vả. Đã xuất hiện tư tưởng nôn nóng, đòi được ra trận ngay. Lường trước vấn đề, trên các thao trường, các anh trương khẩu hiệu: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” đã có tác dụng động viên cổ vũ mọi người yên tâm và hăng say học tập.

Đợt huấn luyện quân sự tuy vất vả nhưng cũng có phút nghỉ ngơi, thư giãn. Hàng ngày sau bữa cơm chiều, trừ trực ban và những người làm nhiệm vụ canh gác, số còn lại xen thành từng đợt được thay nhau đi ngắm cảnh quan nơi đóng quân. Tuy Hòa là một phố thị ngày ấy thuộc loại nhỏ, nhà cao tầng rất ít, có thể đếm đầu ngón tay. Ngoài tòa thị chính và nhà đoan, còn lại đều là nhà cấp bốn thấp, bé. Ngoài đường dẫn vào tòa thị chính được láng nhựa, còn lại là đường rải đá, lòng đường hẹp, mặt đường gồ ghề khó đi. Nhưng nơi đây đang thực hiện chiến dịch “tiêu thổ kháng chiến”, một vài khu vực nội thị, các tên đường, tên phố và các biển hiệu theo yêu cầu “vườn không nhà trống” đã trở thành gạch vụn, cỏ bắt đầu mọc. Tất cả một thời vang bóng chỉ còn lại trong tâm tưởng của các chủ nhân mà giờ đây họ đã tản cư ra các vùng phụ cận hoặc về hẳn miệt quê tính chuyện làm ăn lâu dài.

Tôi và anh Hoàng Thuyên (sau này là đại tá công tác tại Bộ Tổng Tham mưu) trở thành bạn tri kỷ ngay từ buổi đầu ở thị xã Quy Nhơn cùng nhau gia nhập đội quân Nam Tiến. Hai chúng tôi như đôi tình nhân, ngày nào cũng vậy, cứ chiều đến rong ruổi vừa dạo chơi ngắm cảnh vừa đổi trao tâm tình. Chuyện ấu thơ, học hành, gia cảnh, quê hương... kể cả hứa hẹn đánh Pháp xong sẽ đi thăm nhau: tôi ra Huế quê anh thưởng ngoạn cảnh sông Hương núi Ngự, ăn cơm hến, bún bò; anh vào Bình Khê quê tôi thăm cảnh vật, dấu tích một thời ba anh em họ Nguyễn từ dân ruộng trở thành vương triều một thời làm rạng rỡ non sông đất nước và thưởng thức đặc sản chim mía(1) chiên giòn, chè bột sóng thần(2)... Cái dòng chuyện lan man chẳng có đầu đuôi ấy đã đưa chúng tôi tới chân núi Chóp Chài mà ngắm nhìn không thấy chán về hình dáng hao hao tựa như Kim Tự Tháp khổng lồ; có lúc dừng chân thật lâu nơi núi Nhạn, có cấu trúc dáng hình như hòn non bộ nằm kề bên hữu ngạn sông Ba. Trên đỉnh núi sừng sững ngôi tháp Chàm đồ sộ và cổ kính, bọc quanh thân núi là một lớp rừng xanh ngắt, thân cây to, tán lá rộng chẳng khác nào một tiểu rừng nguyên sinh. Nhạn Tháp đứng giữa một khu dân cư đông đúc, liền kề với đường 1 và đường xe lửa ngày đêm tấp nập người, xe xuôi ngược, vào ra lại có một đàn khỉ sống tự do, như được thuần hóa, không bỏ trốn, nhưng cũng không mất một con nào, tự kiếm sống không cần có người nuôi. Nó được sống như vậy vì nhà cầm quyền ở đây có lệnh không ai được bắn, được bắt chúng. Đến mãi bây giờ tôi vẫn không sao hiểu nổi một chuồng thú nhưng không có chuồng, không có người chăm sóc bảo vệ mà vẫn tồn tại để chúng tôi có dịp được vui với chúng trong những ngày chờ đợi ra trận.

Tiếng súng trận từ phía trước vọng về mỗi ngày mỗi gần, nhưng ở cái phố thị nhỏ bé này vẫn bình tĩnh và chủ động, vẫn việc nào việc ấy. Đường số 1, đường xe lửa từ Tuy Hòa đi Bình Định vẫn giữ nguyên; tàu lửa, ô tô vẫn liên tục chạy cả ngày lẫn đêm vận chuyển bộ đội, vũ khí, lương thực phục vụ chiến trường phía nam. Từ đây ta đã tổ chức chuyến tàu biển đưa chị Nguyễn Thị Định (sau này là phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam) và một số vũ khí của Trung ương đến Nam Bộ an toàn.

Cuối tháng 3 năm 1946, sau đợt huấn luyện quân sự như đã kể trên, tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng được lệnh trung đoàn hành quân gấp lên phía tây đảm nhiệm giữ mặt trận Củng Sơn, cùng với tiểu đoàn Cao Thắng (trung đoàn 80) giữ mặt trận Đèo Cả, hình thành hai hướng chủ yếu chặn quân Pháp đánh ra Phú Yên.

Nhưng làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ trên giao? Vì tại Củng Sơn địch có thể từ Ma Đrắc theo tỉnh lộ 5 đánh sang, từ quốc lộ 7 đánh xuống. Trong cuộc họp cán bộ mở rộng đến cấp trung đội, ý kiến trao đổi rất sôi nổi, cuối cùng đều thống nhất tập trung lực lượng chặn địch từ hướng Ma Đrắc sang. Nhưng cụ thể bố trí lực lượng ở khu vực nào thì không ai trả lời được, vì tất cả đều không ai nắm được tình hình tự nhiên nơi đây. Vả lại ngày ấy đâu có bản đồ quân sự đầy đủ như bây giờ (mà nếu có cũng như không, vì tất cả chúng tôi đều “i tờ” về quân sự) để mà nghiên cứu, xác định trước trên bản đồ sau đó đi khảo sát thực địa là có đáp số. Vì vậy chúng tôi phải lội bộ đi nghiên cứu thực địa kết hợp khai thác nhân dân địa phương - là những “thổ công” tin cậy, mới đi đến quyết định lấy khu vực Buôn Mùi, Buôn Đức làm nơi chặn địch.

Tinh thần Nam tiến có cơ hội được thực hiện, lại được bà con các dân tộc tại chỗ giúp đỡ cả người và cho mượn cả cuốc, xẻng, dao, nhờ đó chỉ một tuần lễ là tiểu đoàn hoàn thành công việc xây dựng hầm hào chiến đấu, bao gồm:

Tuyến 1: Chốt giữ vòng ngoài.

Tuyến 2: Làm nhiệm vụ cơ động.

Tuyến 3: Làm lực lượng dự bị, mỗi tuyến bố trí một đại đội.


(1) Như loại chim sẻ, chuyên ăn sâu mía.
(2) Bột làm bằng đậu xanh, khi nấu chín, cứ trong suốt như thạch trắng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Bảy, 2022, 08:58:48 am
Công việc xây dựng trận địa chặn địch đã hoàn thành, tình hình nói chung vẫn yên ắng. Tiểu đoàn tổ chức một lực lượng phân tán vào các buôn làng làm công tác tuyên truyền vận động bà con các dân tộc tham gia kháng chiến. Công tác dân vận đang tiến hành suôn sẻ, có kết quả thì ngày 1 tháng 5 tôi nhận được lệnh của trung đoàn gọi về Củng Sơn gặp anh Võ Bẩm là để kết nạp tôi vào Đảng mà tôi đã được các anh trên ban chính trị trung đoàn báo trước cách đây một tuần. Mặc dầu bạn bè kéo đến chia vui và hỏi tôi lý do sự việc, hay là được cấp trên cất nhắc? Biết là có lỗi với bạn bè nhưng biết làm sao được! Vì như các anh hồi đó căn dặn: Đảng chưa ra hoạt động công khai, cơ sở Đảng trong quân đội còn quá mỏng, toàn trung đoàn 79 mới có một chi bộ. Mọi sinh hoạt, hội họp, học tập đều phải tranh thủ ngoài giờ, hoạt động phương thức bán công khai.

Buổi lễ kết nạp do anh Võ Bẩm chủ trì, diễn ra trong căn nhà nhỏ ở thị tứ Củng Sơn. Đơn giản mà nghiêm túc, không có Đảng kỳ, không có ảnh Bác Hồ. Có cờ Tổ quốc nhưng bằng giấy, chỉ to hơn vở học sinh, nền đỏ sao vàng đều mua phẩm màu về nhuộm. Hoàn cảnh lúc đó vô cùng thiếu thốn. Năm người chúng tôi được kết nạp hôm ấy lần lượt đứng quay mặt về phía bàn thờ Tổ quốc, năm ngón tay trái nắm lại, giơ cao ngang đuôi mắt theo tư thế chào và tuyên thệ. Không khí trang nghiêm, yên lặng...

Đến lượt tôi là người cuối cùng đọc tuyên thệ. Tôi xúc động và hồi hộp, tim đập nhanh, hơi run run, mất bình tĩnh, mãi mới nói được: Kể từ giờ phút này tôi đã là đảng viên Cộng sản Việt Nam, đứng trước bàn thờ Tổ quốc tôi xin tuyên thệ gọn trong sáu chữ: trung thành, trung thực, trung kiên. Trung thành với lý tưởng cộng sản; trung thực với Đảng, với đồng chí và kiên định giữ vững lòng tin vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, nguyện hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao... Tôi xin hết.

Lời tuyên thệ từ đáy lòng, đã đi suốt cuộc đời tôi và thực sự đã giúp tôi vượt qua khó khăn mà tôi sẽ kể cùng bạn đọc trong các phần sau. Bây giờ xin tiếp tục trở lại chuyện đang kể.

Những ngày tháng 5, địch từ phía Ma Đrắc gần như chưa có động tĩnh gì, ngoài những cuộc hành quân nhỏ lẻ có tính chất thăm dò, phát hiện ta. Các đại đội 1, 3 tạm thời chưa có “việc làm”, riêng đại đội 2 do tôi làm đại đội trưởng giữ vị trí cơ động thì bận tối ngày. Theo phân công của tiểu đoàn, chúng tôi phải tổ chức lực lượng thay nhau tuần tra, phát hiện, kể cả đánh địch từ xa bảo đảm an toàn trận địa trước khi xảy ra đánh lớn; tổ chức lực lượng bí mật phục kích nơi địch có thể đi qua thâm nhập, thăm dò lực lượng ta. Đã hai lần đại đội 2 chúng tôi gặp địch và chủ động tiến công, diệt hàng chục tên, chỉ có tính chất tiêu hao, xua đuổi chúng, tạo thêm lòng tin cho đơn vị, góp phần bảo vệ an toàn khu vực trận địa.

Đầu tháng 6 thực dân Pháp thất bại bước đầu trong âm mưu mở hướng tiến đánh chiếm Củng Sơn từ hướng Buôn Đức, Buôn Mùi, đại đội 2 chúng tôi được lệnh chuyển sang mặt trận Cà Lúi - Bà Lá làm nhiệm vụ bảo vệ Củng Sơn. Nắm được quy luật tuần tra của địch, một tuần lễ sau đó đại đội 2 tổ chức một trận phục kích từ xa (vận động phục kích). Ở đây cứ cách đều hai ngày địch từ Cà Lúi lại tuần tra một lần vừa lùng sục phát hiện đối phương, vừa cướp bóc lương thực, thực phẩm và cưỡng hiếp phụ nữ một số buôn làng người dân tộc Ê-dê, kề bên đường kiểm lâm. Địch rất nghênh ngang, chủ quan vì nhiều lần trước đấy chúng đi về đều an toàn, chỉ gặp những người dân tay không. Hôm ấy là ngày 10 tháng 6. Khi sương đêm vừa tan, địch vẫn theo lối cũ đi tuần tra cách trận địa phục kích của ta nơi xa nhất 100 mét, nơi gần nhất 30 mét, chúng tôi nhìn rất rõ khoảng một trung đội. Đi đầu là tốp lính người dân tộc, còn lại toàn lính da đen cao to. Đúng kế hoạch đã định, khi địch lọt hết vào trận địa, Tuynh, một chiến sĩ người cao to, da bánh mật chắc khỏe, quê An Nhơn giữ trung liên nổ một băng thật giòn. Địch bị bất ngờ, hoảng loạn không biết tiếng nổ từ đâu tới, chưa kịp đối phó, tôi lệnh cho Tuynh bồi tiếp băng thứ hai, chúng càng lúng túng, tất cả đều nằm rạp xuống đất. Liền đó toàn đại đội vừa vận động tiếp cận địch vừa hô xu...ng pho...ng, xu...ng pho...ng! Thực hành đánh gần, rồi rút thật nhanh. Địch chết 6, bị thương 10. Ta hai chiến sĩ bị thương nhẹ do mảnh đạn cối sượt bờ vai trên đường rút. Thắng lợi không lớn, chỉ nhằm tiêu hao sinh lực địch, nhưng là một đòn cảnh cáo rất mạnh vào tinh thần quân địch. Từ đây nhân dân quanh vùng không còn bị địch xách nhiễu, yên tâm làm ăn.

Lúc này cả hai hướng Đèo Cả và Củng Sơn đều yên tĩnh, bộ đội có giờ phút thư giãn. Tôi tranh thủ tổ chức cho bộ đội học tập 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật quân đội và thông báo tổng hợp tin tức thời sự. Tôi thông báo với bộ đội, Pháp đã ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 nhưng chúng vẫn trắng trợn phá hoại, ở Khánh Hòa Pháp vẫn liên tiếp xua quân tiến công vào các tuyến phòng thủ của ta ở Tu Bông, đèo Cổ Mã. Tiểu đoàn Cao Thắng trấn giữ mặt trận Đèo Cả đã kiên quyết đánh trả. Đặc biệt đêm ngày 7 tháng 5 hai trung đoàn vệ quốc quân do trung đoàn trưởng Hữu Thành chỉ huy, từ Phú Yên cơ động vào cùng lúc tiến công phá hủy hai phần ba chi khu Vạn Giã, đánh thiệt hại nặng cứ điểm Hiền Lương, diệt và làm bi thương 100 tên, thu 100 súng các loại... Xen vào đó, tôi nhận xét có lẽ vì thế mà địch chưa dám đánh ra Đèo Cả, vì còn phải dồn lực lượng đối phó với các hoạt động của ta ở phía sau... Tuy tin tức đã cũ nhưng anh em rất hứng thú nghe và mong tôi thường xuyên nói chuyện thời sự.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:40:38 am
Vào giữa tháng 6, trung đoàn thông báo địch đang ráo riết chuẩn bị, có khả năng sắp tới chúng sẽ tiến công đánh chiếm khu vực Đèo Cả - Củng Sơn và nhắc các đơn vị chuẩn bị sẵn sàng. Những ngày sau tin tức càng rõ dần. Địch tập trung trung đoàn bộ binh cơ giới từ Nha Trang theo đường 1 đánh ra Tu Bông; chúng còn cho một tiểu đoàn đổ bộ lên Đại Lãnh đánh lên phòng tuyến Đèo Cả; đồng thời một tiểu đoàn Âu Phi tiến đánh Củng Sơn. Như vậy là cùng một lúc địch tiến công ra Phú Yên từ hai hướng, phía nam và phía tây.

Biết là việc phải đến sẽ đến. Nhưng khi cái phải đến đang đến gần vẫn thấy hồi hộp! Đã qua đợt huấn luyện quân sự trước khi lên đây, trận địa chặn địch đã được chuẩn bị. Vậy mà chúng tôi vẫn cảm thấy có cái gì thiếu thiếu? Trước đó tuy có đụng độ với địch, song chỉ là những trận nhỏ lẻ với các tốp tuần tiễu của địch. Còn giờ đây đối tượng phải đương đầu là một đơn vị lớn, thiện chiến đang thách thức đối với nhiệm vụ mà chúng tôi được giao là cố giữ cho được Củng Sơn. Rõ ràng vấn đề đặt ra lúc này là không thể bằng lòng với công việc đã làm mà còn phải rà soát xem còn phải làm gì nữa để đáp ứng nhiệm vụ cụ thể đang đặt ra một cách cực kỳ khẩn trương? Bàn đi tính lại tất cả chúng tôi đều nhất trí triệu tập ngay một cuộc họp giữa chỉ huy tiểu đoàn với chỉ huy các đại đội để thống nhất nhận thức (đến cả chiến sĩ) về ý nghĩa và tầm quan trọng mang tính nghiêm túc của trận chiến đấu chặn địch không cho chúng đánh chiếm Củng Sơn; nhân lên trách nhiệm thiêng liêng của đội quân Nam tiến, niềm vinh dự, tự hào của tiểu đoàn Mai Xuân Thưởng được trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ bảo vệ một hướng quan trọng trong thế trận chặn địch tại mặt trận Phú Yên; cần phải củng cố lại trận địa, sửa sang, gia cố lại hầm hào cho chắc hơn, nhiều hơn; điều chỉnh lại lực lượng và thế bố trí - hai đại đội chặn địch phía trước, một đại đội phía sau, động viên bà con các dân tộc tham gia tiếp tế tải thương để đủ quân số; tổ chức một trung đội mạnh làm lực lượng dự bị chung. Và sau hết, nhắc nhở động viên mọi người sẵn sàng, có quyết tâm cao hoàn thành nhiệm vụ. Sau cuộc họp, tiểu đoàn ra lệnh chuyển vào trạng thái chiến đấu cao, trừ anh em đau yếu, tất cả đều có mặt tại trận địa, mọi sinh hoạt ăn, ngủ đều tại chỗ.

Ngày 21 tháng 6, một ngày yên tĩnh, và cái nóng của đầu mùa khô cũng nung trận địa nóng thêm khi mặt trời cao dần, đứng bóng, lúc này nhu cầu ăn ít hơn uống, mặc dầu khấu phần lương thực hàng ngày cho mỗi người còn thiếu.

Đúng lúc kim đồng hồ chỉ 12 giờ, trung đoàn thông báo xuống: Địch từ Nha Trang đã mở cuộc hành quân ra hướng Đèo Cả vào 8 giờ sáng nay, tiểu đoàn Trần Tạo (trung đoàn 80) đã đánh bại nhiều đợt tiến công của địch tại Tu Bông, đèo Cổ Mã. Nhận được tin, tôi kịp thời thông báo xuống các tiểu đội, khắp các trận địa tiếng vỗ tay vang lên và râm ran bàn tán. Một số anh em yếu mệt nằm phía sau xin ra phía trước tham gia chiến đấu.

18 giờ cùng ngày, trung đoàn lệnh xuống - nhắc chúng tôi phải sẵn sàng chiến đấu cao, trăm phần trăm quân số có mặt tại trận địa kể cả ban đêm, có khả năng ngày mai địch tiến sang hướng tây.

Cái đêm trước khi xảy ra trận đánh ở miền sơn cước sao mà dài thế, mãi không sáng. Tất cả đều thao thức không sao ngủ được! Biết bao ý nghĩ miên man về một trận đánh mà tất cả mọi người đều tham dự lần đầu.

Trời sáng dần, tất cả những người đi trực tiếp chiến đấu đều dùng bữa sớm hơn mọi ngày, đề phòng địch đến sớm không còn điều kiện để ăn, để uống. Nhưng rồi bữa sáng qua đi. Mặt trời lên cao, đã 10 giờ mà trận địa vẫn yên tĩnh. Thời ấy thông tin chiến trường đâu có hiện đại như bây giờ, tất cả đều chạy bộ, mãi 11 giờ chúng tôi mới nhận được tin tức cụ thể hướng Đèo Cả của ngày hôm qua; trung đoàn cơ giới của địch từ Nha Trang đã bị tiểu đoàn Trần Tạo chặn đứng ở Tu Bông và đèo Cổ Mã. Cánh quân đổ bộ lên Đại Lãnh cũng bị một bộ phận của trung đoàn 79 do trung đoàn trưởng Thu Sơn trực tiếp chỉ huy từ phía sau phát triển lên chặn đánh phủ đầu khi chúng chưa kịp lên đèo. Bị thiệt hại nặng nên ngay hôm đó địch phải vội vã xuống tàu bỏ chạy ra khơi. Mặt trận Đèo Cả được giữ vững. Tin tức thật phấn khởi, nhất là tin trung đoàn 79 đánh mạnh, buộc địch phải rút xuống tàu chạy thẳng càng làm anh em phấn khởi tự hào và nhắc nhở nhau thi đua với mặt trận Đèo Cả quyết không để mất Củng Sơn! Dù một ngày sau mới có tin tức đầy đủ về quân ta thắng to ở mặt trận Đèo Cả, nhưng đối với chúng tôi những thông tin đó đến đúng lúc có tác dụng động viên cổ vũ cán bộ chiến sĩ mặt trận phía tây càng tin ở sức mình, tin ở thiên thời, địa lợi, nhân hòa nơi mình đang trấn giữ nhất định sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Đúng 11 giờ ngày 22 tháng 6 chúng tôi bước vào trận đánh. Địch từ hướng tây tràn xuống cùng với hỏa lực yểm trợ tối đa, các cỡ súng như vãi đạn, sau đó bộ binh tiến lên. Hình như chúng rửa hận cho thất bại ở Đèo Cả ngày hôm trước?


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:43:17 am
Theo kế hoạch, các đơn vị phía trước đánh chặn địch ở Cà Lúi, Chấn Đơn, buôn Xã Ninh, Lỗ Lương, đại đội 2 chúng tôi nổ súng vào hai bên sườn đội hình. Địch hoang mang chững lại một lúc rồi lại tiến công tiếp với sự yểm trợ tối đa của pháo, cối và đại liên. Trận địa mờ trong khói súng. Hai bên trong thế giằng co. Đến 14 giờ cùng ngày địch lại mở đợt tiến công mới nhưng vẫn bài bản cũ. Lần này chúng tôi rút được kinh nghiệm, khi địch bắn phá dữ dội vào trận địa ta là lúc bộ binh địch nằm chờ, vậy ta cũng giấu mình trong công sự tránh thương vong không cần thiết, chờ thời cơ xuất kích diệt bộ binh. Trận đánh bắt đầu, ngoài hình thành thế trận trước mặt, hai bên sườn, chúng tôi còn cho một lực lượng nhỏ luồn sâu đánh phía sau đội hình địch. Gần như đội hình tiến công của địch lọt vào giữa trận địa đánh chặn của ta. Địch chết ít nhưng bị thương nhiều vì bị ta đánh trả từ nhiều phía. Tinh thần địch càng hoang mang, cuối cùng chúng buộc phải lui quân về cụm lại ở Cà Lúi, Bà Lá, cách Củng Sơn 28 ki-lô-mét về phía tây bắc.

Trong lúc địch tập trung lực lượng đánh ra Phú Yên, thì trung đoàn 80 đưa ra hai tiểu đoàn luồn sâu vào Khánh Hòa hoạt động, gây nhiều khó khăn cho chúng. Kế hoạch từng bước đánh chiếm Phú Yên của giặc Pháp đã bị quân dân Phú Yên đánh bại.

Sau thắng lợi, Bộ chỉ huy quân sự Khu 6 và tỉnh Phú Yên chủ trương tăng cường lực lượng, củng cố các tuyến phòng thủ tại mặt trận Đèo Cả và Củng Sơn. Chúng tôi phấn khởi đón thêm đơn vị bạn lên chia lửa với mình.

Lại có thời gian yên tĩnh để củng cố, nghỉ ngơi; lại văn nghệ, ngâm thơ ca hát - “Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam, ta muốn đem mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn”; lại “đoàn vệ quốc quân một lần ra đi, nào có sá chi mong ngày trở về”... Lời hai bài hát tủ của chúng tôi ai cũng thuộc lúc hát đồng ca, khi thì hát cá nhân, lúc nào cũng ngân vang. Củng Sơn những ngày này bớt u tịch. Ngồi đâu, đến đâu cũng bắt gặp không khí lạc quan, yêu đời và cả tự tin được nhân lên sau trận thắng! Có chiến sĩ cao hứng ngâm thơ:

Giặc từ Vũng Rô bắn tới
Giặc từ trong tràn ra
Nhưng Đèo cả vẫn đứng vững
Đèo Cả Nam
Máu giặc
Mấy lần
Vàng khô...
(1)

Cuối tháng 9 đầu tháng 10, chúng tôi mở một đợt hoạt động mới. Ở mặt trận Đèo Cả, tiểu đoàn Trần Tạo sử dụng từng tiểu đội đánh nghi binh, quấy rối liên tục ở ga Đại Lãnh, dùng bom phục kích địch ở Dốc Mỏ, làm chết và bị thương hàng chục tên địch. Ở mặt trận Củng Sơn, tiểu đoàn chúng tôi tổ chức tiến công hai đồn Cà Lúi và Ma-rốc. Do công tác điều tra chuẩn bị chưa tốt, nên không hoàn toàn làm chủ được trận địa, thắng lợi thu được hạn chế (diệt 12 tên, thu 5 thùng thuốc nổ TNT). Cùng ngày tự vệ huyện Sơn Hòa chống địch càn quét ở buôn Ma Dung, diệt và làm bị thương 10 tên, thu hai lựu đạn, phá hủy một súng trung liên.

Từ hạ tầng tháng 6 đến tháng 12 mặt trận chặn địch ở Phú Yên tương đối yên ắng. lực lượng vũ trang có khoảng thời gian tương đối dài để củng cố lực lượng, tổ chức lại thế trận, điều chỉnh thế bố trí, vì kẻ địch chưa từ bỏ âm mưu đánh chiếm Nam Trung Bộ, trước mắt là phải thôn tính bằng được tỉnh Phú Yên. Đi trước một bước, Bộ chỉ huy quân sự Khu 6 và tỉnh Phú Yên đã tăng cường lực lượng, củng cố công sự ở các trận địa trên Đèo Cả và mặt trận Hà Roi ở phía tây. Trung đoàn 80 cùng lực lượng tự vệ Tuy Hòa trấn giữ bảo vệ phòng tuyến Đèo Cả. Trung đoàn 79 chúng tôi cùng lực lượng tự vệ Sơn Hòa bảo vệ mặt trận Hà Roi. Đưa hai tiểu đoàn của trung đoàn 80 vào Khánh Hòa hình thành thế đánh địch giữa hướng chính diện và hướng sau lưng địch, giữa vùng địch tạm chiếm và vùng tự do. Ngoài ra còn có tiểu đoàn Ba Dương của Nam Bộ đang đứng chân tại Phú Yên củng cố sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có yêu cầu.

Có thêm viện binh từ chính quốc sang, thực dân Pháp xúc tiến chuẩn bị mở một cuộc tiến quân quy mô lực lượng lớn, dài ngày và ác liệt với tham vọng chí ít cũng chiếm cho được thị xã Tuy Hòa.

Mờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1947, hai trung đoàn địch chia làm hai cánh cùng tiến công vào trận địa của ta trên Đèo Cả và “đường mòn Gia Long”. Lợi dụng sương mù buổi sáng quân địch không bắn pháo chuẩn bị, đồng thời bắt dân lùa trâu bò đi trước để phá nổ bom mìn và ép số dân đi xen trong đó gây khó khăn cho bộ đội ta làm nhiệm vụ chiến đấu.


(1) Một đoạn trong bài thơ của nhà thơ Hữu Loan sáng tác khi đi đến mặt trận Đèo Cả đăng trên báo Chiến sĩ năm 1946.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:47:47 am
Phát hiện được thủ đoạn nham hiểm của địch, các chiến sĩ ta được lệnh nằm im chờ cho toán địch đi đầu vượt qua mới nổ súng. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn, lúng túng đối phó vì địa hình hẹp, quanh co, nhiều tên chết và bị thương, một số rơi xuống hố sâu, xuống biển.

Sau khi chấn chỉnh đội hình, lại được nhiều tốp máy bay thay nhau yểm trợ tối đa, quân Pháp tiếp tục tiến công Đèo Cả. Tiểu đoàn 6 (trung đoàn 8) do tiểu đoàn trưởng An Huy Vỹ chỉ huy và tự vệ Tuy Hòa vẫn ngoan cường bám trụ chiến đấu, đẩy lùi các đợt tiến công, giữ vững trận địa. Một số đơn vị đánh giáp lá cà, giành giật với địch từng gộp đá, từng đoạn đèo. Cả ngày và đêm ngày 14 bộ đội ta chiếm giữ nhiều điểm cao quan trọng trên Đèo Cả...

Mờ sáng ngày 15, được Bộ chỉ huy quân sự Khu 6 tăng viện thêm hai đại đội, trung đoàn 80 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Hải tổ chức phản công quyết liệt. Qua ba ngày chiến đấu, ta diệt hơn 400 địch. Mặt trận Đèo Cả vẫn được giữ vững. Sáng ngày 16 tháng 1, quân Pháp đổ bộ một trung đoàn lên Vũng Rô và bãi Xép, chia làm hai cánh đánh lên trận địa ta, kết hợp với cánh theo đường 1 và đường mòn “Gia Long”... Trước sức ép của địch từ nhiều phía, tiểu đoàn 6 và tự vệ Tuy Hòa được lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng.

Mặc dù đã chọc thủng mặt trận Đèo Cả của ta, phải mất hơn hai ngày sau (trưa ngày 18 tháng 1) quân Pháp mới đến nam cầu Đà Rằng. Nhưng cầu đã bị ta phá, nhìn sang bắc cầu. phòng tuyến ngăn chặn của đối phương với những hầm hào dày đặc, địch vội vã lui về cụm lại tại thị trấn Phú Lâm.

Từ nhận định phải lui về trú quân dã ngoại là điều kiện thuận lợi cho ta lập công, Bộ chỉ huy quân sự Khu 6 quyết định dùng một tiểu đoàn chủ lực của khu, tiểu đoàn Ba Dương(1) và lực lượng còn lại của trung đoàn 80 tổ chức tập kích cụm quân địch ở Phú Lâm. Mọi công việc chuẩn bị chiến đấu được khẩn trương triển khai. Đúng 14 giờ ngày 19 tháng 1 trận tiến công bắt đầu. Bị tiến công từ nhiều phía, địch hoảng loạn vội vã tháo chạy khỏi thị trấn, bỏ lại hơn chục xác chết và một số vũ khí, quân trang, quân dụng.

Thừa thắng các đơn vị tiếp tục truy kích đuổi địch đến cầu Bàn Thạch. Đến ngày 25 tháng 1 (ngày 4 Tết Đinh Hợi), tiểu đoàn Ba Dương cùng tiểu đoàn 6 (trung đoàn 80) phối hợp sử dụng cối 81 mi-li-mét pháo kích vào đội hình địch đóng quân dã ngoại tại Bàn Nham, tiêu diệt gọn một đại đội, trong đó có tên quan tư...

Giấc mộng cuối cùng đánh chiếm đồng bằng phía nam tỉnh Phú Yên của địch đã bị đập tan, buộc chúng phải co về bắc chân Đèo Cả, khu vực Hảo Sơn - Núi Hiềm thuộc xã Hòa Xuân.

Thắng lợi của cuộc phản công mưu trí và dũng cảm của ta là to lớn, tạo sự hình thành vùng tự do Phú Yên(2) liên hoàn với các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, nam Quảng Nam trở thành một vùng tự do mang cái tên đã đi vào lịch sử, vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú, tồn tại trong suốt cuộc kháng chiến chín năm, trở thành hậu phương - nhân tố thường xuyên - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc chiến đấu của quân và dân Nam Trung Bộ nói riêng, của cuộc kháng chiến cả nước nói chung.

Thắng lợi này là kết quả của quá trình chiến đấu đầy hi sinh gian khổ của quân và dân Nam Trung Bộ, được cả nước tiếp sức. Một trong sự tiếp sức đầy sôi động, đầy ấn tượng ấy là hình ảnh đội quân Nam tiến, con em của hầu hết các tỉnh phía Bắc có mặt ngay từ những ngày đầu khi thực dân Pháp mở cuộc hành binh đầy tham vọng - chỉ vài ba tháng sẽ đánh chiếm đến vĩ tuyến 16(3).

Nhưng trước hết và trên hết, có được thắng lợi mang tầm chiến lược này là Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ đã nghiêm túc triển khai thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến tranh có tầm nhìn xa của Trung ương Đảng, của Bác Hồ vĩ đại(4): là sự vận dụng đúng đắn quyết đoán và sáng tạo của Ủy ban quân chính Nam phần Trung Bộ bằng một chủ trương với ba nội dung ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với điều kiện thực tế lúc bấy giờ: tích cực chặn địch, tiêu hao ngăn chặn địch từng bước; bảo tồn lực lượng ta; cố giữ cho được một vùng tự do để làm căn cứ kháng chiến lâu dài.

Vùng tự do Phú Yên rộng lớn đồng thời là địa bàn chiến lược quan trọng, là tiền đồn phía nam của vùng tự do Liên khu 5, là kho nhân tài vật lực, làm hết mình trong trọng trách là hậu phương trực tiếp của chiến trường Khánh Hòa, Đắc Lắc trong đánh Pháp trong những năm đầu và những năm tiếp theo cho đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm(5).


(1) Tiểu đoàn của Nam Bộ, đang đứng chân ở Phú Yên để củng cố, Khu được phép sử dụng khi cần thiết.
(2) Trừ hai xã bị địch tạm chiếm: Hòa Xuân (huyện Tuy Hòa), Krông Pa (huyện Sơn Hòa). Năm 1950, ta tiến công giải phóng xã Xuân Hòa, bắc Đèo Cả sạch bóng quân thù. Năm 1952, ta bức địch phải rút khỏi xã Krông Pa, từ đây 100% số dân và đất đai Phú Yên đều là vùng tự do.
(3) Ngày 19 tháng 10 năm 1945, một đơn vị quân Pháp đổ bộ phối hợp với quân Nhật đánh chiếm thành phố Nha Trang, chuẩn bị bàn đạp cho cuộc tiến công lớn của chúng đánh ra Nam Trung Bộ đến vĩ tuyến 16.
(4) Cuối tháng 9 năm 1945, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ họp bàn kế hoạch thực hiện Chỉ thị kháng chiến của Trung ương Đảng, Lời kêu gọi Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến của Bác Hồ... đã quyết định thành lập Ủy ban quân chính Nam phần Trung Bộ để chỉ huy chiến đấu tại mặt trận phía nam gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Các đồng chí Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn, Trương Quang Giao được cử làm trưởng ban, phó ban và chính trị ủy viên.
(5) Năm 1947, Phú Yên đã đóng góp 230 tấn lúa, 750 tấn gạo, 180 tấn muối ủng hộ quỹ nuôi quân. Riêng lương thực, nhân dân Phú Yên quyên góp ủng hộ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi gặp khó khăn 304 tấn gạo.
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong sáu năm (1948-1954) nhân dân Phú Yên đã quyên góp ủng hộ bộ đội 48.200.000 đồng, 117 lạng vàng, 151 lạng bạc, 6.690 bộ quần áo, 200 mùng màn, 131 tấn bông, 2.891 con trâu bò, 60 con ngựa; đã huy động 72.000 dân công (1.879.624 ngày công), 2.116 ngựa, 55 ghe thuyền, 71 xe bò để vận chuyển tiếp tế lương thực: 4.685 tấn gạo; 24.835 tấn thóc, 1.700 tấn cá khô, muối, vũ khí, thuốc men, đào, đắp, xây dựng trận địa chiến đấu. Riêng tháng 4 năm 1954, Phú Yên đã huy động được 5.752 dân công, 75 ngựa và nhiều lương thực thực phẩm phục vụ mặt trận Nam Tây Nguyên.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:49:05 am
Cuối năm 1947, tôi được lệnh cấp trên điều sang đơn vị khác. Tin đến thật đột ngột trong lúc tôi đang quen người, quen việc, quen phong thổ, cả bệnh sốt rét rừng đã phải kiêng nể. Tất cả đang đi vào hòa nhập, gắn bó, nay phải xa! Thời gian sống và chiến đấu trên mảnh đất này thật ngắn, trên dưới một năm, nhưng những gì để lại trong tôi vào cái thuở ban đầu ấy sao mà sâu đậm, không thể phai mờ trong tâm khảm.

Nhớ buổi ban đầu đặt chân lên mảnh đất Củng Sơn bốn bề chỉ thấy rừng núi âm u hiểm trở, dân cư thưa thớt, buôn làng yên ắng, có cái gì tẻ nhạt, quạnh hiu. Nhưng đó chỉ là cảm nghĩ thoáng qua. Thấy bộ đội lên là đồng bào xáp vô, thăm hỏi, mộc mạc mà đằm thắm. Khi biết chúng tôi lên đây chặn thằng Tây không cho chúng từ Ma Đrắc sang, từ Cheo Reo xuống là bà con nói: Tụi bay làm vậy là vui cái bụng tao rồi. Nó ác lắm. Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ bộ đội không tiếc một thứ gì. Họ ăn bắp, ăn sắn, ăn củ rừng nhường gạo cho bộ đội. Thiếu cuốc có cuốc, thiếu dao có dao để bộ đội phát cây đào hầm hào, đắp ụ, đào hào xây dựng trận địa chặn Tây. Ngoài dân tộc Ê-đê, Giá Rai, nơi đây còn có dân tộc Xà Huống (gốc Chăm) lên định cư từ mấy thế kỷ. Phong tục tập quán khác nhau nhưng đều chung một căm ghét thằng Tây độc ác, khinh rẻ dân tộc, đã giúp họ gần nhau, nhanh chóng hòa nhập với bộ đội đuổi thằng giặc ác.

Chúng tôi ấm lòng khi có bà con các dân tộc đứng bên. Họ tham gia xây dựng trận địa, đưa dẫn bộ đội cắt rừng chưa có dấu chân người để chúng tôi phục kích, tập kích khiến quân địch bị bất ngờ, hoang mang rối loạn. Từ đông về quân số, mạnh về vũ khí mà hóa yếu sa vào cái thế trận bất lợi. Chính họ bằng những việc làm cụ thể, không ồn ào đã giúp chúng tôi thêm nhiều tai, nhiều mắt hiểu rõ địch hơn, rõ và đầy đủ. Chi một tiểu đoàn quân số không đông, vũ khí quá ít đã ba lần đọ sức với địch từ phía nam ra, từ phía tây xuống mà chúng không phá vỡ nổi mặt trận Củng Sơn, không thể thực hiện được âm mưu đánh chiếm thị xã Tuy Hòa từ phía tây. Ta không phải qua sông Đà Rằng, góp phần vào nhiệm vụ giữ vững vùng tự do Phú Yên ngay từ cái thuở ban đầu ấy.

Sốt rét cũng là một kỷ niệm khó quên trong những ngày chúng tôi lên trấn giữ tại mặt trận Củng Sơn. Lúc đầu lác đác một vài người, sau tăng dần, ảnh hưởng đến quân số chiến đấu, có đại đội tỷ lệ sốt rét chiếm đến 35 - 40%. Tôi thuộc diện ngã bệnh sớm và vào loại nặng. Nhìn hình hài tôi thay đổi quá nhanh, da xanh tái, môi thâm, mặt mũi hốc hác kèm theo cả chứng rụng tóc, người chỉ còn da bọc xương, bà con thương cảm khuyên: Bệnh mày nặng quá rồi, phải nuốt mật heo thôi, buôn làng tao nhiều lắm, nhà nào cũng phơi khô để dành phòng khi ngã bệnh đấy.

Lúc đầu còn phân vân, nhưng thấy chẳng còn cách nào khác, vì sốt vẫn chưa cắt cơn mà thuốc dự trữ của đơn vị đã hết từ lâu, nên tôi chấp nhận cách chữa bệnh của bà con dân tộc.

Đắng! Thuốc đắng giã tật, nghĩ như vậy tôi kiên trì nuốt chứ không phải uống để cái đắng không đụng vào lưỡi gây cảm giác ói mửa. Cứ thế ngày qua ngày, tính ra tôi đã đưa vào cơ thể mình ngót nghét một trăm túi mật, thấy đỡ, cuối cùng cắt cơn và khỏi, chỉ còn bệnh lỵ thì dai dẳng cho đến ngày nay vẫn còn hội chứng.

Ở Củng Sơn, Bà Lá săn bắn được xem như một nghề phụ vì nơi đây ra ngõ gặp thú rừng, nên nhà nào cũng có súng săn, và xạ thủ giỏi cũng không hiếm. Nhiều ít tuy khác nhau nhưng gần như nhà nào cũng có da nai và gân nai khô treo lủng lẳng trên gác bếp, coi như một thứ thực phẩm dự trữ, khi mùa mưa, mùa phát rẫy đến không đi săn được. Cũng là thức ăn để đãi khách đến chơi đột xuất, không có chợ phiên. Chế biến đơn giản, không cầu kỳ, nếu khách lần đầu thưởng thức thì đúng như người xưa nói, miếng ngon nhớ lâu. Gân nai nướng qua lửa phồng lên như bóng bì lợn, ngâm nước rửa sạch, phơi ráo nước, cắt khúc cho vào chảo rán bằng dầu hoặc mỡ làm phồng lên, bắc ra cho mắm muối vừa, ăn kèm với dưa leo (dưa chuột). Da nai khô nướng qua lửa hết lông, rửa sạch cắt miếng cho chảo rán phồng lên, làm nộm với hoa chuối, ăn kèm dưa leo.

Một kỷ niệm sâu sắc xuyên suốt trong cuộc đời là tôi cùng một số đồng đội, trong đó có Hoàng Thuyên, bạn chí thân đã trở thành đảng viên cộng sản Việt Nam ngay trên mảnh đất Củng Sơn khói lửa. Chính nơi đây là môi trường rèn luyện thử thách sống động nhất, rõ ràng và cụ thể nhất để chi bộ xem xét quyết định tổ chức kết nạp tôi vào Đảng. Những gì diễn ra trong buổi lễ kết nạp đơn giản mà trang nghiêm, ngắn gọn mà thấm sâu, tạo thành chất “xúc tác” ban đầu mạnh mẽ và bền vững thúc đẩy hóa thân trong tôi, nhắc nhở, động viên thôi thúc tôi vượt qua những lúc gay cấn nhất.

Tháng 6 năm 1947, tôi tạm biệt mảnh đất Củng Sơn một thời sâu nặng về công tác tại Phân khu 15, sau đó được giao nhiệm vụ trưởng ban chính trị trung đoàn 120, rồi xuống làm trợ lý chính trị tiểu đoàn 80 vào hoạt động ở vùng bắc Khánh Hòa. Là trợ lý chính trị kiêm bí thư tiểu đoàn ủy vì đồng chí chính trị viên tiểu đoàn bị khai trừ Đảng nhưng vẫn là chính trị viên đã gây khó khăn cho tôi khi thực hiện nhiệm vụ. Sau ba tháng về làm trưởng ban chính trị Phân khu 15, trên lại điều xuống làm nhân viên thống kê của ban cán bộ thuộc phòng chính trị Liên khu 5. Con đường đi của tôi thật gập ghềnh khúc khuỷu. Từ trưởng ban chính trị trung đoàn, xuống làm trợ lý chính trị tiểu đoàn kiêm bí thư tiểu đoàn ủy, rồi xuống làm nhân viên thống kê của ban cán bộ.

Tôi có suy nghĩ nhưng chỉ thoáng qua, bởi tuổi trẻ thời đó nghĩ về Tổ quốc thấy thiêng liêng và tối thượng lắm, nghĩ gì làm gì thấy có ảnh hưởng đến trách nhiệm đối với Tổ quốc, với dân tộc thấy như mình đã xúc phạm đến nhân cách của chính mình. Hoàn toàn không lên gân, không giả tạo mà thực lòng tôi lúc ấy lại nghĩ về cái hình ảnh buổi lễ kết nạp Đảng tại mặt trận Củng Sơn, nhớ cả hôm ấy là ngày 1 tháng 5 năm 1946, nhớ cả sáu lời tuyên thệ của tôi trước Đảng kỳ làm thành sức mạnh trong tôi nhắc nhở - mình đã là đảng viên rồi cần phải có ý nghĩ và việc làm vươn lên, không những nó đã giúp tôi vượt qua hàng loạt thử thách ban đầu như đã kể cùng bạn đọc mà cả các thời gian tiếp nối cũng vậy. Có lẽ chính vì thế mà suốt mấy chục năm công tác cho đến lúc nghỉ hưu vẫn sống trong thanh thản và yêu đời, yêu cuộc sống chung.

Tạm biệt Phú Yên mà vẫn lưu luyến với Phú Yên, bởi nơi đây tôi đã sống một thời Nam tiến đầy sôi động.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:51:20 am
Chương IV
NGƯỢC ĐÈO AN KHÊ


Hạ tuần tháng 10 năm 1952, sau khi tham gia đợt hoạt động quân sự Hè - Thu ở vùng Kon Plông (đông Kon Tum) trung đoàn 108 chúng tôi được lệnh phân tán làm nhiệm vụ của một đội quân công tác - vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở vùng núi Sơn Hà (Quảng Ngãi). Công việc thật mới, lúc đầu bỡ ngỡ không biết bắt đầu từ đâu và làm như thế nào. Trước lạ nhưng sau quen dần, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, lại thấy hứng thú, mọi việc đều suôn sẻ, tình cảm quân dân đậm đà, gắn bó, thì có điện của Bộ tư lệnh triệu tập cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên về họp nghe phổ biến nhiệm vụ mới.

Khi nhận điện, tôi có linh cảm sắp tới có đánh lớn. Tôi trao đổi ý nghĩ này với các anh trong ban chỉ huy tiểu đoàn 19 mà tôi là chính trị viên. Các anh đều có chung dự đoán như tôi. Thế là một cuộc “loạn đàm” diễn ra trong phạm vi hẹp nhưng không kém phần hào hứng. Ý kiến nêu ra sôi nổi và nhiều lý lẽ: hướng nào, ra Quảng Nam, vào Khánh Hòa hay lên Tây Nguyên?, v.v...

Những ý kiến chẳng đâu vào đâu ấy lại gây sự tò mò khiến chúng tôi càng hăm hở lên đường. Ngoài yêu cầu nắm chắc nhiệm vụ về tổ chức thực hiện, còn có cả mong muốn phụ - nhanh chóng tới sở chỉ huy Liên khu để được giải đáp, ai đúng, ai sai, ai có năng khiếu “tham mưu con” cầm đèn đi trước ô tô...

Cũng không phải chuẩn bị gì nhiều, ngoài bàn giao công việc cho các đồng chí ở nhà tiếp tục chỉ huy đơn vị hoàn thành các việc đang làm dở, là chúng tôi lên đường ngay, vì trong điện triệu tập có ghi: cần về gấp!

Dọc đường gặp mưa, một trận mưa đầu mùa xối xả, thật to kèm theo sấm chớp và gió giật. Đường lầy lội khó đi, mọi người ướt sũng nhưng vẫn lầm lũi đi tới.

Chúng tôi tới Đức Phong (Quảng Ngãi) là địa điểm họp thì mưa cũng tạnh, trời hửng nắng, quang mây. Làng mạc, cánh đồng huyện Đức Phổ hiện ra rõ nét như một bức tranh, tất cả đều là một màu xanh mượt mà, no nước.

Đoàn cán bộ trung đoàn 803 cũng vừa đến, sau chúng tôi chừng nửa giờ. Anh Nguyễn Duy Trinh, Bí thư Liên khu ủy, anh Nguyễn Chánh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ tư lệnh Liên khu đã chờ sẵn, lần lượt thân mật bắt tay chúng tôi.

- Các đồng chí có mặt đúng thời gian quy định - Anh Nguyễn Duy Trinh biểu dương.

Được đồng chí Bí thư Liên khu ủy khích lệ, chúng tôi thấy nhẹ nhõm, xua nhanh cái mệt nhọc, vất vả trong lúc đi đường, không khí buổi đầu trước khi họp rộ lên tiếng cười nói chuyện trò râm ran.

Cuộc họp bắt đầu. Ngoài đại biểu của hai trung đoàn 108. 803 còn có đại biểu quân, dân, chính, đảng hai tỉnh Bình Định và Gia Lai. Rõ ràng địa bàn tiến công quân sự trong đông xuân này nằm trên vùng giáp ranh hai tỉnh Bình Định, Gia Lai, nhưng cụ thể là đâu chưa rõ, chắc chắn không phải Quảng Nam, càng không thể là Khánh Hòa, vì ở đó xa hậu phương, bảo đảm hậu cần gặp nhiều khó khăn.

Anh Nguyễn Duy Trinh khai mạc hội nghị. Anh nói: Đầu tháng 10, hội nghị Ban chấp hành Liên khu ủy lần thứ 3 họp thảo luận và ra nghị quyết về các mặt công tác cần kíp trước mắt, trong đó có nghị quyết mở một đợt hoạt động quân sự trên toàn chiến trường liên khu. Trọng điểm của đợt hoạt động này là khu vực An Khê.

An Khê! Thế là mọi phán đoán của chúng tôi đều trật hết, chẳng ai có năng khiếu tham mưu cả - tôi tự trách thầm mình như vậy.

Anh Trinh nói tiếp: Sau đây anh Nguyễn Chánh sẽ trình bày cụ thể. Tôi chỉ lưu ý các đồng chí: Nhiệm vụ chiến đấu rất nặng nề, khối lượng chuẩn bị cho đợt chiến đấu lại nhiều mà thời gian có hạn. Các đồng chí cần tập trung theo dõi, nắm chắc nhiệm vụ, có gì chưa rõ cần mạnh dạn nêu ra trao đổi tìm biện pháp đánh thắng. Vì đây là trận đánh lớn đầu tiên trên địa bàn liên khu, mang nhiều mục đích: không chỉ tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh mà còn nhằm phối hợp với chiến trường toàn quốc trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy (nay là Đảng ủy Quân sự Trung ương)... Thay mặt Thường vụ Liên khu ủy, chúc sức khỏe các đồng chí, chúc hội nghị của chúng ta thành công!


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:55:07 am
Cử tọa tuy không đông, tiếng vỗ tay không vang xa nhưng giòn đanh, kéo dài hồi lâu và tất cả mọi người đứng dậy hướng về anh Nguyễn Duy Trinh, biểu thị sự đồng tình, hứa hẹn làm theo lời căn dặn của anh - người lãnh đạo cao nhất của liên khu.

Phòng họp nhanh chóng trở lại trật tự khi anh Nguyễn Chánh thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu phổ biến quyết tâm chiến đấu. vẫn vóc dáng cao gầy, khuôn mặt xương xương, nghiêm nghị mà tình cảm, trước khi vào nội dung, anh như tâm sự với những người dự họp hình dung về bối cảnh mà trận đánh sắp diễn ra.

Anh nói: Như các đồng chí đã biết, sau chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến của chúng ta đã chuyển sang một bước ngoặt mới. Thực dân Pháp tự mình không kham nổi cuộc chiến tranh mà phải dựa vào Mỹ. Từ đây viện trợ Mỹ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong ngân sách chiến tranh Đông Dương của chính phủ Pháp(1), nhưng cũng không thay đổi được tình thế!

Về ta, cũng sau chiến dịch Biên Giới, trong khí thế chuyển mạnh sang phản công và tiến công, các lực lượng vũ trang ta đã liên tiếp mở sáu chiến dịch(1) và hàng chục đợt hoạt động quân sự ở khắp các chiến trường toàn quốc, quy mô tương đối lớn ở trung du đồng bằng, miền núi đánh bại nhiều âm mưu thủ đoạn mới về chiến tranh “tổng lực”(3) của địch, tạo ra một cục diện và hình thái chiến tranh ngày càng có lợi cho ta. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh là phải “giữ vững và phát triển du kích chiến tranh để thực hiện kiềm chế và phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả”(4), sáu năm qua lực lượng vũ trang Liên khu 5 chúng ta đã liên tiếp tổ chức các đợt hoạt động và các chiến dịch quân sự nhỏ(5) tiến vào vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền tuyến của ta. Trong cuộc tiến công đầy gian khổ và hi sinh này, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích rất đáng tự hào. Phong trào du kích chiến tranh được phục hồi. Các khu du kích Lê Hồng Phong, Tam Giác (Bình Thuận), Bác Ái (Ninh Thuận), Hòn Hèo, Đá Bàn (Khánh Hòa), Gò Nổi, Điện Bàn (Quảng Nam) sau một thời gian bị địch đánh phá, lấn chiếm nay đã phục hồi và mở rộng. Vùng du kích bắc Tây Nguyên ngày càng mở rộng và hình thành những mảng lớn khá hoàn chỉnh từ Đắc Tô, Đắc Pét đến Đắc Lây, dọc đông, tây đường 14 nối liền với vùng du kích Hạ Lào và vùng đông bắc Cam-pu-chia. Khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - Ma Đrắc về phía tây đã mở rộng đến đường 14, về phía bắc nối liên lạc với du kích Đắc Pét của tỉnh Gia Lai. Một vùng du kích liên hoàn đã được xây dựng trong khu vực nam đường 19 đến đường số 7. Ở Lâm Đồng, mặc dù còn nhiều khó khăn, ta vẫn giữ vững các khu căn cứ Anh Dũng, La Ba, mở rộng được các vùng cơ sở du kích dọc đường 20 và đường 11 trong vùng đồng bào Mạ và đồng bào các dân tộc ở tây bắc Đà Lạt, v.v... Ngừng một lát, đồng chí Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu đưa mắt nhìn những người dự họp, nở nụ cười như chia vui với chúng tôi tiếp tục biểu dương: Gần đây - anh cao giọng nói - một chiến công vẫn đang còn nóng hổi do hai trung đoàn chủ lực 108 và 803 tạo nên trong đợt hoạt động Hè (8-1951) ở bắc Kon Tum chẳng những đã khôi phục lại căn cứ Sơn Hà (tây Quảng Ngãi) mà còn đẩy phạm vi chiếm đóng của địch phải lùi xa sát tận địa phận Kon Tum. Sau đó tháng 7 năm 1952 trung đoàn 108 chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Liên khu đã ngược ra phía bắc cùng lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch Hè ở Quảng Nam, liên tục chiến đấu. diệt 1.200 địch san bằng bảy cứ điểm, năm tháp canh, phá vỡ hệ thống cứ điểm bảo vệ vòng ngoài căn cứ quân sự Đà Nẵng, mở rộng vùng du kích bắc Quảng Nam đến sát thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An.

Một lần nữa, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu, tôi biểu dương tinh thần chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc của cán bộ chiến sĩ hai trung đoàn 108 và 803. Các đồng chí đã làm tốt vai trò của các đơn vị chủ lực của liên khu, góp phần tạo nên thế lực mới để hôm nay chúng ta có đủ yếu tố chắc thắng của một đợt hoạt động một trận tiến công trên bình diện tương đối rộng mà sau đây tôi sẽ trình bày với các đồng chí.


(1) Năm 1950: 52 tỷ phờ-răng, chiếm 19% ngân sách; 1951: 62 tỷ phờ-răng, chiếm 19%; năm 1952: 200 tỷ phờ-răng, chiếm 35%; năm 1953: 285 tỷ phờ-răng, chiếm 43%; năm 1954: 555 tỷ phờ-răng, chiếm 73%.
(2) Chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo) 1950-1951; chiến dịch Đường 18 (Hoàng Hoa Thám) từ 3-1951 đến 4-1951; chiến dịch Hà Nam Ninh (Quang Trung) từ 5-1951 đến 6-1951; chiến dịch Hòa Bình, Đông Xuân 1951-1952; chiến dịch Tây Bắc, tháng 10 năm 1953.
(3) Bình định vùng tạm chiếm và vùng du kích nhằm vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta để tăng cường lực lượng của chúng, chuẩn bị phản công ta.
(4) Tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (10-1951).
(5) Chiến dịch Phạm Văn Đồng (8-1948), chiến dịch Đông Xuân 1949-1950 ở Quảng Nam; chiến dịch Võ Nguyên Giáp (1-1950); chiến dịch Hoàng Diệu (10-1950) ở Quảng Ngãi; chiến dịch Hồ Chí Minh (6-1949) ở Gia Lai; chiến dịch Nguyễn Huệ (7-1950) ở Đắc Lắc; chiến dịch Đông Xuân (1948-1949), chiến dịch Đông Xuân (1949-1950), chiến dịch Trường Chinh (1-1950) ở Khánh Hòa.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:57:56 am
Một lần nữa, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu, tôi biểu dương tinh thần chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc của cán bộ chiến sĩ hai trung đoàn 108 và 803. Các đồng chí đã làm tốt vai trò của các đơn vị chủ lực của liên khu, góp phần tạo nên thế lực mới để hôm nay chúng ta có đủ yếu tố chắc thắng của một đợt hoạt động một trận tiến công trên bình diện tương đối rộng mà sau đây tôi sẽ trình bày với các đồng chí.

Dứt lời, anh vỗ tay và chúng tôi đứng dậy vỗ tay theo. Không khí hội trường sôi động hẳn lên, cười nói râm ran tán thưởng những điều Tư lệnh kiêm Chính ủy trình bày ngắn gọn mà khái quát, vừa mang tư duy của người một thời công tác ở cơ quan Tổng cục Chính trị vừa là những cảm nhận của một tư lệnh chiến trường, mang lại cho chúng tôi không chỉ niềm tin mà cả tầm nhìn xa và các công việc cần làm trước mắt, tiếp tục giữ vững và phát triển thế chủ động trong bối cảnh chung đã tạo ra.

Vừa đúng năm phút giải lao ngoài kế hoạch kết thúc, Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh tiếp tục công việc phổ biến quyết tâm chiến đấu. Dựa vào tư tưởng chỉ đạo của Trung ương - Bộ Chính trị; vào tình hình thực tiễn chiến trường Nam Trung Bộ như đã nêu trên, đầu tháng 10 vừa qua Hội nghị Ban Chấp hành Liên khu ủy họp lần thứ 3 thảo luận ra nghị quyết về nhiệm vụ chung và nghị quyết về hoạt động quân sự Đông Xuân 1952-1953 gồm hai nhiệm vụ:

Tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch do các trung đoàn chủ lực phụ trách địa phương(1) đảm nhiệm.

Tổ chức lực lượng đủ mạnh mở cuộc tiến công khu vực phòng thủ của địch ở An Khê do các trung đoàn chủ lực trực thuộc liên khu đảm trách.

Nhiệm vụ và kế hoạch đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, Bộ tư lệnh Liên khu đã phổ biến đến các trung đoàn đứng chân ở các địa phương, ở cuộc họp này tập trung trao đổi hướng An Khê, trận tiến công lớn đầu tiên trên địa bàn liên khu.

Trước hết vì sao Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương mở đợt tiến công vào khu vực An Khê? Vì An Khê(2) là khu vực phòng thủ mạnh của địch, án ngữ. đường 19, bảo vệ vùng chúng tạm chiếm đóng tỉnh Gia Lai, khống chế vùng du kích ở đông sông Ba, ngăn chặn ta tiến công lên phía tây. An Khê cũng là nơi uy hiếp gây nhiều khó khăn cho các vùng giáp ranh thuộc huyện Bình Khê, Vĩnh Thạnh; đồng thời cũng là bàn đạp tiến công vùng tự do đồng bằng ven biển của ta. Một khi nơi này bị địch uy hiếp và tiến công thì vùng tự do bốn tỉnh của ta bị chia cắt ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò hậu phương trực tiếp của cả mặt trận Nam Trung Bộ.

Tuy là khu vực hiểm yếu, có hệ thống phòng thủ mạnh nhưng An Khê có nhiều nhược điểm, sơ hở do không gian phòng thủ rộng, khoảng cách giữa các cứ điểm quá xa, sự hỗ trợ cho nhau (nhất là hỗ trợ bộ binh) khó khăn, ta có thuận lợi tiếp cận mục tiêu, thực hành đánh gần, thọc sâu chia cắt, đánh điểm diệt viện, v.v...

Về phía ta, lực lượng tham chiến có trung đoàn 120, tiểu đoàn 40 nhưng lực lượng chủ công trong đợt hoạt động này Bộ tư lệnh giao cho hai trung đoàn chủ lực cơ động 108 và 803.

Một thuận lợi đáng kể nữa, là chúng ta có hậu phương liền kề là vùng tự do các huyện Bình Khê, Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát (Bình Định) thuận tiện cho việc huy động lực lượng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu(3)...

Kết thúc phổ biến quyết tâm chiến đấu, Tư lệnh kiêm Chính ủy hỏi: Ai có thắc mắc gì cứ nêu để chúng ta cùng trao đổi thông suốt trước khi vào trận.


(1) Trung đoàn 120, đặc trách bắc Tây Nguyên; trung đoàn 84 đặc trách nam Tây Nguyên; trung đoàn 812 đặc trách bốn tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.
(2) Khu vực phòng thủ An Khê gồm các cử điểm: Kon Lía, Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An, Đầu Đèo, Eo Gió. Mỗi cứ điểm thường xuyên có một đại đội sơn pháo đóng giữ trong công sự vững chắc, có hệ thống hỏa lực bố trí ở Tú Thuỷ, Cửu An, trận địa pháo đầu đèo An Khê (có cả pháo 155 ly) tạo thành một hệ thống hỏa lực mạnh khi bị đối phương tiến công.
(3) Tỉnh Bình Định đã huy động 32.500 dân công vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược phục vụ chiến dịch An Khê. Ngoài ra còn hàng nghìn dân công hoả tuyến gồm du kích và thanh niên xung phong hăng hái hành quân bám sát đơn vị chủ lực tham gia chiến đấu. Mỗi ngày các mẹ, các chị phụ nữ khu giáp ranh huyện Bình Khê cung cấp cho các đơn vị chiến đấu 5.000-6.000 nắm cơm, kéo dài trong một tuần lễ.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 07:59:10 am
Không khí cuộc họp bỗng sôi động hẳn lên, tiếng rì rầm bàn tán, nhiều cánh tay giơ cao xin phát biểu, ý kiến tuy nhiều, song đều tập trung vào hai vấn đề:

- Là đợt tiến công lớn đầu tiên sao không thành lập đại đoàn để thực hiện.

- Trong mục đích của đợt tiến công không thấy có yêu cầu giải phóng đất đai.

Tư lệnh kiêm Chính ủy hoan nghênh thắc mắc chung của những người dự họp và anh giải đáp liền. Giọng sôi nổi, tự tin anh nói:

- Đúng là muôn đánh lớn phải có “quả đấm” chủ lực (cỡ từ đại đoàn trở lên), đó là nguyên tắc chung. Nhưng để “quả đấm” chủ lực phát huy được tác dụng thì quả đấm đó không thể chỉ là sự liên kết số cộng đơn thuần, mà là sự liên kết hữu cơ, các chiến sĩ phải thành thạo kỹ thuật cá nhân và chiến thuật chiến đấu hiệp đồng; cơ quan của “quả đấm” phải có nghiệp vụ tham mưu giỏi, những cán bộ chỉ huy của “quả đấm” phải có kiến thức và năng lực tổ chức huấn luyện, phải tổ chức chỉ huy chiến đấu hiệp đồng, phải có chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ và rộng khắp để đánh địch liên tục, kéo căng quân địch tạo điều kiện cho “quả đấm” rảnh tay tập trung lực lượng vào những nơi địch sơ hở, đứng chân ở địa bàn đã được chiến tranh du kích chuẩn bị trước để tổ chức những trận đánh then chốt có sức thôi động toàn cục làm chuyển biến cục diện chiến tranh.

Ngừng một lát. anh nói tiếp: - Những điều kiện trên đây chúng ta đang có. hoặc mới manh nha đang có xu thế phát triển. Còn hiện tại thì chưa đủ. Như chúng ta đã biết, từ tháng 5 năm 1946, Liên khu đã thành lập ba đại đoàn 23, 27, 31; liền sau đó không lâu thấy việc làm này chỉ có tác dụng giảm đầu mối, chứ không phát huy được hiệu quả như mong muốn nên Bộ tư lệnh Liên khu đã quyết định giải thể, trở lại hình thức tổ chức trung đoàn. Ngay ở chiến trường Bắc Bộ, từ năm 1947 có tới 25 trung đoàn chủ lực, mãi tháng 8 năm 1949 mới hội đủ điều kiện để ta thành lập Đại đoàn 308 - đại đoàn chủ lực đầu tiên của toàn quân.

Trước tình hình và nhiệm vụ đã thay đổi, yêu cầu đánh lớn đang xuất hiện, đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định về tổ chức lực lượng trong các đợt hoạt động quân sự sắp tới của liên khu, trước mắt là đợt tiến công khu vực phòng thủ của địch ở An Khê.

Bộ tư lệnh và Đảng ủy đã trao đổi, tính toán nhiều mặt, cuối cùng quyết định - đợt tiến công này ta sử dụng hai trung đoàn tiến công chính diện, một trung đoàn và một tiểu đoàn độc lập phối hợp cùng bộ đội địa phương và du kích các địa phương đánh địch vòng ngoài; tất cả đều thực hiện theo một kế hoạch tác chiến hiệp đồng thống nhất. Trên thực tế đây là cuộc tiến công đội hình đại đoàn nhưng không có bộ tư lệnh đại đoàn mà do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy... Nhìn xuống cử tọa thấy chúng tôi trong trật tự, chăm chú lắng nghe, anh kết luận: - Theo ý kiến riêng tôi, các đợt hoạt động tiếp sau An Khê, hình thức tổ chức lực lượng và điều hành chỉ huy này vẫn còn phù hợp với thực tiễn chiến trường Nam Trung Bộ.

Về ý kiến thắc mắc thứ hai, anh nói: - Trên chiến trường Bắc Bộ vấn đề giải phóng đất đai đã được đặt ra từ chiến dịch Biên Giới. Tiếp đến chiến dịch Hòa Bình ta đã giải phóng thị xã và vùng phụ cận. Và ngay lúc ta đang họp bàn triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân 1952-1953, thì chiến dịch Tây Bắc đang mở màn nhằm thực hiện chỉ thị của Bác Hồ “phải tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai” vì ngoài đó đã có đủ điều kiện để bảo vệ vùng giải phóng đã giành được.

Còn chiến trường Liên khu 5 thì sao? Anh nêu câu hỏi và giải đáp luôn. Giải phóng đất đai là mục tiêu hướng tới của chúng ta, có giải phóng đất đai từ cục bộ đến toàn cục mới hoàn thành sự nghiệp chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc. Trước mắt trong đợt hoạt động quân sự này chúng ta chưa đặt ra vì chưa phù hợp với tương quan lực lượng của liên khu. An Khê là khu vực phòng thủ hiểm yếu đối với toàn bộ phía đông Gia Lai, địch chịu thua chứ không chịu để mất. Chúng sẽ bằng mọi cách, huy động tối đa lực lượng để phản kích chiếm lại. Nếu chúng ta trụ lại chẳng những không giữ được, có thể bị thương vong lớn, từ thắng trở thành tạm thời thất bại, mục tiêu “tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta” không được thực hiện, sẽ dẫn đến bất lợi cho ta về mặt so sánh lực lượng nói riêng, về cục diện chiến trường nói chung.

Anh dừng lại tỏ vẻ cảm thông và nói tiếp, chậm rãi và tâm tình: Ý tưởng về tổ chức đại đoàn, về giải phóng đất đai của các đồng chí là hoàn toàn chính đáng, chúng ta cần phải có ước mơ đó để mà vươn tới, rất đáng khích lệ. Nhưng nôn nóng muốn đốt cháy giai đoạn thì không nên. Ý kiến của tôi là như vậy, ai còn ý kiến gì sẽ phản ảnh sau, bây giờ không còn thời gian để trao đổi mà là bắt tay vào công việc chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu, tình hình đã thật khẩn trương, chậm là yếu tố bí mật, bất ngờ sẽ không còn nữa.

Thay mặt Đảng ủy, Bộ tư lệnh Liên khu và Bộ tư lệnh chiến dịch, chúc các đồng chí thành công, góp phần cho ý tưởng của chúng ta không bao lâu nữa sẽ trở thành hiện thực...

Chúng tôi đứng dậy vừa vỗ tay hồi lâu tán thưởng những điều anh nói, vừa ngước lên phía anh biểu hiện quyết tâm thực hiện thắng lợi đợt hoạt động quân sự này, cho dù có khó khăn và phải xả thân.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Bảy, 2022, 08:00:55 am
Cuộc họp kết thúc vào lúc 20 giờ, sáng sớm hôm sau ngày 19 tháng 10 chúng tôi trở lại đơn vị, vì thời gian đã trở nên khẩn trương. Dọc đường vừa đi vừa trao đổi, trung đoàn đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các tiểu đoàn, để khi về đến nơi đóng quân của trung đoàn là các đơn vị có thể triển khai công việc chuẩn bị theo nhiệm vụ được giao:

- Tiểu đoàn 19 do tôi làm chính trị viên được tăng cường đại đội 215 tiểu đoàn 50 tiến công cứ điểm Cửu An.

- Tiểu đoàn 50 (thiếu một đại đội) tiêu diệt cứ điểm Eo Gió.

- Tiểu đoàn 79 làm nhiệm vụ chặn viện tạo điều kiện cho hai tiểu đoàn trên hoàn thành nhiệm vụ.

Làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ? Đó là điều tôi trăn trở. Từ kinh nghiệm rút ra qua đợt tham gia tiến công phân chi khu Kon-plông ở bắc Kon Tum tháng 8 năm 1951, từ kết quả chỉnh quân và được nghe cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh Liên khu phổ biến kinh nghiệm tổ chức chiến đấu qua các chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Đường 18 ở chiến trường Bắc Bộ, tôi mạnh dạn kiến nghị với ban chỉ huy trung đoàn:

- Một là, phải tổ chức cho cán bộ đi trinh sát thực địa, nắm chắc địch về cách bố phòng trong và ngoài các cứ điểm mà đơn vị có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt.

- Hai là đắp sa bàn(1) để cán bộ, chiến sĩ tập luyện thành thục trước khi bước vào chiến đấu.

- Quy định và thực hiện các quy định về giữ bí mật, nhất là thời gian và địa điểm tiến công địch.

Ban chỉ huy trung đoàn đồng ý và báo cáo lên Bộ tư lệnh Liên khu, được Bộ tư lệnh chấp nhận, điện xuống trung đoàn cho tổ chức thực hiện.

Ngoài việc đắp sa bàn trận đánh cho đơn vị tập luyện, tiểu đoàn 19 chúng tôi còn dựa vào tình hình tư tưởng, trình độ chiến thuật, kỹ thuật của từng chiến sĩ theo ba mức độ: khá, trung bình và yếu để từ đó sắp xếp vào các tổ theo nhiệm vụ chiến đấu: tổ đánh bộc phá mở cửa, tổ kìm chế lỗ châu mai, tổ đánh chiếm đầu cầu, tổ thọc sâu đánh vào tung thâm. Các chiến sĩ thuộc loại thứ ba (yếu) khi vào chiến đấu thường được giao nhiệm vụ ở phía sau, thử thách dần sẽ chuyển lên loại trung bình, khá, làm nhiệm vụ nặng nề hơn.

Trong thời gian tập luyện chuẩn bị chiến đấu, từ cán bộ tiểu đoàn trở lên được cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh Liên khu thường xuyên thông báo các thông tin về quá trình chuẩn bị chung, về các hoạt động chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch sẽ diễn ra phối hợp với chiến dịch An Khê; về tình hình liên khu đã huy động dân công và giờ đây dân công các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên đã lên đường vận chuyển lương thực, vũ khí vào Khánh Hòa, lên Đắc Lắc, Kon Tum, ra Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Phú Túc (Quảng Nam) để đánh lạc hướng địch trong lúc dân công Bình Định đang bí mật vận chuyển lên hướng Vĩnh Thạnh để vào địa bàn An Khê chuẩn bị cho ngày mở màn chiến dịch. Nhận được những thông tin này ai nấy đều phấn khởi, yên tâm và thán phục sự tài tình trong điều hành của Bộ chỉ huy chiến dịch do anh Nguyễn Chánh trực tiếp làm tư lệnh kiêm chính ủy. Cái vui cứ để bụng thật khó chịu, không thể nói cùng ai, vì bản thân những việc làm ấy đang là nghệ thuật lừa địch, tạo thế thuận lợi cho chúng tôi khi bước vào chiến đấu.

Sau một tháng chuẩn bị chiến đấu ở khu vực huyện Sơn Hà, ngày 8 tháng 1 năm 1953 trung đoàn 108 được lệnh lên đường. Từ đây ra Quảng Ngãi đi bộ, gần tới thị xã dồn đội hình, hành lý, kiểm tra đảm bảo mang đủ nhưng phải gọn và chắc để lần lượt lên tàu lửa. Mặc dầu cán bộ từ tiểu đoàn trở lên đã được thông báo trước vẫn cứ ngạc nhiên, anh em từ cán bộ đại đội trở xuống đến chiến sĩ thì sự ngạc nhiên đến khó hiểu bật thành các âm thanh bàn tán, mừng có, nghi ngờ có: tàu lửa nào, địch phá hết trọi từ lâu rồi, lấy đâu ra? Lấy gì mà bắc cầu cho tàu qua? Mãi khi ngồi lên xe rồi mà vẫn chưa hết ngạc nhiên, thấp thỏm chờ đợi cái gì sẽ xảy ra sau đó? Tàu lửa chỉ là những toa xe cũ biến thành xe goòng, lực đẩy là sức người, nhưng làm sao mà qua được cầu. Rồi goòng qua cầu thật, tuy chậm nhưng vẫn hơn là đi bộ, được thoải mái ngắm trăng sao trên đường ra trận. Tiểu đoàn tôi là đơn vị đi sau, có thì giờ trò chuyện với anh em cán bộ, công nhân đường sắt, các anh đã nhận lệnh phục hồi cách đây nửa năm. Mọi việc diễn ra thật vất vả gian nan, nhưng cứ âm thầm làm, ai biết cứ biết, ai không biết càng tốt, không tuyên truyền cổ vũ. Mọi thứ đã sẵn sàng. Chỉ sau 6-8 giờ là cầu hình thành. Sau khi đưa toàn bộ trung đoàn 108 qua sông, anh em công nhân đường sắt lại kích sập cầu, che mắt địch.


(1) Hình mẫu một khu vực địa hình đắp theo tỷ lệ thu nhỏ để trình bày, nghiên cứu và tập luyện.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:22:52 am
Đến ga Phù Cát, chúng tôi ngược phía tây vào tập kết tại khu vực rừng dầu Thuận Ninh. Tất cả đều an toàn, sức khỏe vẫn bình thường, nhờ có “tàu hỏa” dã chiến đưa rước.

Ngày 10 tháng 2 năm 1953 chỉ huy các tiểu đoàn và các đại đội trực thuộc đi trinh sát thực địa theo nhiệm vụ được giao. Đoàn cán bộ tiểu đoàn 19 chúng tôi đi theo đường cán bộ địa phương hướng dẫn, kín đáo và an toàn, thuận tiện tiếp cận mục tiêu. Khoảng 11 giờ chúng tôi tới địa điểm. Nắng chói chang, sương mù cao nguyên không còn vương trên các núi cao, cứ điểm Cửu An hiện ra rõ nét trước mắt mọi người, chìm trong yên vắng, vì thời điểm này là lúc vào bữa trưa, chỉ thấy bóng lính ra vào đổi gác xuất hiện và khuất nhanh.

Thực địa nơi đây so với sa bàn mà đơn vị thiết kế để tập luyện, trong thời kỳ chuẩn bị chiến đấu có khác chút ít về hình dáng, cự ly của cảnh vật tự nhiên. Hệ phòng thủ, số lượng hầm hào, kẽm gai có nhiều hơn so với sa bàn. Chỉ huy sở cứ điểm không phải đỉnh cao điểm mà ở sườn dốc phía tây. Khác cũng là phải, vì hồi đó đâu có đầy đủ bản đồ quân sự và nếu có thì chẳng ai đã qua lớp học bản đồ để nhận biết các ký hiệu thể hiện, cũng không ai được qua các lớp kỹ thuật đắp sa bàn, cho nên không thật đúng với thực địa là tất nhiên. Nhưng dù sao có vẫn hơn không, chính nhờ đó mà các chiến sĩ đã ít nhiều hiểu nhiệm vụ chiến đấu và hành động chiến đấu phải như thế nào khi thực tế tiến công Cửu An.

Chúng tôi từ ba hướng đông, đông nam và đông bắc nhìn vào căn cứ, đã thay đổi ý định chuyển hướng đột phá chủ yếu sang hướng đông bắc vì đây là nơi hiểm yếu, đánh vào đây là đập ngay vào đầu não chỉ huy cứ điểm mà địa hình lại kín đáo.

Ba ngày dừng lại ở khu tập kết đã hết. Ngày N-13 tháng 1 năm 1953 đã đến, toàn đội hình trung đoàn 108 đã qua sông Côn, Vĩnh Thạnh, vượt đèo Mây vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. Đêm hạ tuần trời tối như mực, không gian yên tĩnh, thoáng tiếng nai gọi đàn đâu đây và tiếng súng cầm canh vọng lại đan xen giữa yên bình và chiến tranh, làm bật dậy trong suy nghĩ của người lính ra trận chúng tôi những trọng trách phải giải quyết.

Sở chỉ huy tiểu đoàn bố trí trên hướng đột phá chủ yếu, sau đại đội 213 làm nhiệm vụ chủ công. Ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến của tiểu đoàn được sắp xếp có từ 35-40% chiến sĩ thuộc loại khá - nhiệm vụ nào cũng sẵn sàng (không có loại kém) đã an toàn tiến vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. Đồn địch vẫn yên ắng, như vậy là công tác giữ bí mật của chúng tôi đã chấp hành tốt. Nếu có ai đó lỡ để súng cướp cò thì yếu tố bất ngờ vẫn còn giá trị, vì giờ G đã tới gần, có lộ thì địch cũng hết đường xoay xở.

Đêm ngày 13 rạng ngày 14 tháng 1 năm 1953 trận đánh được bắt đầu bằng viên đạn súng trường bắn chỉ thiên; tiếp theo là tiếng súng các cỡ nổ dồn dập bất thần ập vào đồn địch: Tú Thủy, Cửu An, Eo Gió. Chỉ sau 30 phút tiểu đoàn 19 trung đoàn 108 đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Cửu An. Ai cũng thấy phấn khởi khi lần đầu tiên nhìn thấy khẩu pháo 88 mi-li-mét đã thuộc về mình. Nhưng loay hoay mãi không sao tháo được vì địch gắn chặt nó vào bệ xi măng cốt thép (có lẽ địch đã lường trước sẽ có tình huống này xảy ra). Không thể để chậm! Chúng tôi cử ngay cán bộ về phía sau nhờ bộ phận quân giới tiền phương lên tháo giúp; sau đó đơn vị dân công hoả tuyến khẩn trương tháo dỡ tạm giấu vào cánh rừng phía sau để phòng trời sáng địch phản kích cướp lại hoặc phá hủy phi tang thất bại.

Kiểm tra số địch chết, bị thương và bắt sống ít hơn số địch do quân báo cung cấp, nhất là không thấy tên chỉ huy, chẳng lẽ y có phép tàng hình? Không thể như thế, cùng lúc ta nhất tề bốn mũi tiến vào đồn địch, trừ số canh gác khi ta ập vào chúng mới tỉnh giấc, chưa kịp súng trong tay.

- Hay là địch trốn xuống hầm ngầm. - Một câu hỏi của đồng chí đại đội trưởng đại đội 213.

- Đúng! Đồn địch có hầm ngầm. Ta cần tìm cho ra, càng sớm càng tốt - Tôi khẳng định.

Một kế hoạch lùng sục hầm ngầm được triển khai.

Không gian yên tĩnh, nhưng màn đêm dăng đầy. May mà các đơn vị đều chuẩn bị đèn pin, nên chỉ sau 30 phút bộ phận trinh sát của tiểu đoàn phát hiện ra miệng hầm. Ta dùng loa kêu gọi, địch không trả lời; ta tiếp tục gọi, địch bắn trả. Đúng là dưới hầm có địch và chúng rất ngoan cố. Đã có ý kiến liệng lựu đạn xuống, tiêu diệt luôn, đáng đời bọn ngoan cố.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:24:20 am
Thời gian vẫn đang còn ủng hộ chúng tôi. Thực hiện kế hoạch bắt sống địch, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Bác Hồ vừa có điều kiện khai thác, vì những thông tin về địch lúc này đang rất cần không những cho nhiệm vụ trước mắt mà cho cả nhiệm vụ tiếp sau. Ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi hội ý chớp nhoáng thống nhất kế hoạch: đào thêm nhiều nhánh phụ áp sát hầm bí mật địch, dùng quần áo của địch đốt phả khói vào cửa hầm kết hợp với kêu gọi đầu hàng thì sống, chống lại thì chết. Biện pháp này quả là có hiệu nghiệm. Địch vừa bị ngạt vừa nghe ta kêu gọi đầu hàng thì được khoan hồng, nên chỉ mấy phút sau cò trắng xuất hiện nơi cửa hầm. Ta kêu gọi tiếp: Tất cả bỏ súng tại chỗ, ra khỏi hầm!

Dứt tiếng hô, lần lượt từng người hai tay giơ cao ra khỏi hàng đứng vào nơi quy định, trong đó hai phần ba là lính Âu Phi. Tên cuối cùng là tây da trắng cao to, đẫy đà dáng vẻ tiều tụy, hai mắt lơ láo, sợ sệt, hai tay giơ thẳng run run. Y là viên trung úy sĩ quan chỉ huy đồn Cửu An.

Chúng tôi thực sự nhẹ nhõm, thở phào. Thế là đủ số ra hàng 50 tên, cộng với số bị bắt, quân số đúng một đại đội, trong đó số bị bắt làm tù binh là 60 tên.

Những giờ đầu của đợt tiến công ta đã diệt Cửu An và Eo Gió, trong khi ở hướng Tú Thủy vẫn có tiếng súng vọng về nghe rất rõ. Chắc là gặp khó khăn? Vừa lúc đó, trung đoàn thông báo xuống: ở Tú Thủy địch dựa vào công sự ngoại vi vững chắc, có hào sâu, dưới cắm chông dày đặc chống cự, tiểu đoàn 365 trung đoàn 803 đang đánh trả quyết liệt.

Nhận được thông báo, bỗng trong tôi lại bật dậy ký ức xưa về một trận cũng ở địa danh ấy đã đi vào lịch sử như một khúc ca bi tráng xảy ra vào ngày 13 tháng 4 năm 1947. Hồi ấy Tú Thủy nằm trong hệ thống cứ điểm vòng ngoài của căn cứ An Khê - một cứ điểm mạnh, nơi xuất phát hành quân của địch mỗi khi chúng càn xuống Định Quang, Vĩnh Thạnh; nơi đánh phá, kìm kẹp quần chúng quanh vùng, nơi gây bao tang tóc cho nhân dân xã Tú An.

Phải diệt Tú Thủy, chủ trương này được giao cho trung đoàn 95 do Vi Dân là trung đoàn trưởng, nguyên là chi đội trưởng chi đội(1) Nam tiến gồm những người con của Hà Nội, có mặt ở chiến trường Nam Trung Bộ ngay từ ngày đầu của cuộc kháng chiến.

Trong trận đánh này, trung đoàn 95 áp dụng lối đánh tinh nhuệ hóa đội hình, chọn ra một lực lượng phần lớn là cán bộ vừa tốt nghiệp ở trường lục quân Quảng Ngãi ra - tất cả đều sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”.

Sau khi tuyên thệ, đội quân cảm tử do Vi Dân chỉ huy tiến về Tú Thủy. Nhưng do hiệp đồng chưa tốt, các mũi tiến công vẫn chưa đến kịp và điều quan trọng hơn là yếu tố bí mật không giữ được, việc chuẩn bị cho trận đánh quá rầm rộ mất yếu tố bất ngờ, địch phát hiện, chuẩn bị đối phó. Đúng 4 giờ 30 phút sáng (theo quy định đã quá muộn) nhưng trận đánh vẫn diễn ra. Khi ta nổ súng, địch dùng hỏa lực ngăn chặn, nhiều chiến sĩ hy sinh. Chỉ huy trưởng Vi Dân vẫn thẳng người đứng trên bệ cát ở gò mối bình tĩnh chỉ huy, chẳng may một quả đạn pháo rơi trúng. Anh hi sinh, trận đánh không thành, nhưng đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân Bình Định về tinh thần anh dũng tuyệt vời, vì Tổ quốc sẵn sàng xả thân. Ngay cả kẻ địch cũng hết sức khâm phục hành động chiến đấu hy sinh của các chiến sĩ quyết tử. Số tử sĩ trong đó có Vi Dân không đưa ra được, quân địch chôn cất theo nghi thức quân sự. Riêng với trung đoàn trưởng Vi Dân, chúng xây mộ, dựng bia trân trọng tỏ lòng khâm phục người chỉ huy anh dũng của Việt Minh.

Ngay những ngày đó nhân dân Bình Khê đã tổ chức lễ truy điệu trọng thể các chiến sĩ tử vong trong trận ngày 13 tháng 4 năm 1947 và xây dựng đài tưởng niệm ở chùa Kiên Mỹ, xã Bình Thạnh, huyện Bình Khê (nay là khối 1 thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, cách khu bảo tàng Quang - Trung khoảng 500 mét). Trong những năm dưới chế độ Mỹ - ngụy, kẻ địch nhiều lần định đập phá, nhưng nhân dân đã đấu tranh gìn giữ di tích này, cho đến hôm nay di tích hầu như còn nguyên vẹn.

Ngay lúc này đây, địch ở Tú Thủy điên cuồng chống cự, nhưng tinh thần chiến đấu của trung đoàn 95 Vi Dân là nguồn cổ vũ vô giá, tiểu đoàn 365 trung đoàn 803 sẽ vượt qua. Tôi tự nhủ mình như vậy. Và khoảng 4 giờ 30 sáng, trong lúc chúng tôi đang thảo luận về trận đánh địch phản kích sẽ xảy ra vào ngày 14 thì trung đoàn thông báo: Ta diệt xong Tú Thủy. Cả tiểu đoàn reo vui, trung đoàn bạn đã hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Thế là ta đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu đợt một của chiến dịch, cả ba cứ điểm Tú Thủy, Cửu An, Eo Gió đã bị tiêu diệt.

Đánh điểm diệt viện đã được anh Nguyễn Chánh nêu ra trong cuộc họp phổ biến quyết tâm chiến dịch. Và sau khi tiểu đoàn 19 chúng tôi diệt cứ điểm Cửu An thì Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh trung đoàn 108 khẩn trương chuyển sang đánh viện trên đường Hoàng Hoa Thám(2) - ngã ba tây đèo An Khê đi Cửu An.


(1) Tương đương với tổ chức trung đoàn ngày nay.
(2) Mật danh ta đặt cho đoạn đường nối với đường 19 (tây chân đèo An Khê) đi Cửu An dài 3 ki-lô-mét.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:25:27 am
Ngay trong đêm, Thường vụ Đảng ủy trung đoàn họp mở rộng bàn kế hoạch lãnh đạo thực hiện. Trong cuộc họp có ý kiến đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho phép trung đoàn 108 được tiếp tục thực hiện diệt các cứ điểm địch còn lại như Thượng An, Đầu Đèo, vì trung đoàn có truyền thống tiến công cứ điểm. Ý kiến khác (chiếm đa số) cho rằng, đúng là trung đoàn chưa có kinh nghiệm đánh viện, nhưng xin thay đổi nhiệm vụ trong lúc tình hình đang diễn biến cực kỳ khẩn trưởng chắc chắn cấp trên không chấp nhận, vì như vậy sẽ dẫn đến mất thời cơ, lúc đó dẫn tới nhiều khó khăn, phức tạp khó lường.

Cuối cùng Thường vụ Đảng ủy quyết định chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của trên, ngay trong đêm triển khai thực hiện kế hoạch. Trước hết cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội đi khảo sát thực địa, khảo sát đến đâu dự kiến bố trí quân đến đấy. Kết thúc khảo sát thực địa đồng thời kết thúc bố trí lực lượng diệt viện.

Đêm hạ tuần nhưng trời đầy sao giúp chúng tôi nhận biết cảnh quan địa hình nơi dự kiến xảy ra trận đánh. Đây là đoạn đường đất, rộng bốn mét, hai bên là rừng thưa, cây thấp, có đoạn trống trải xen kẽ những vạt ruộng. Địch muốn tái chiếm nhất thiết phải qua đoạn đường này.

Mọi việc diễn ra an toàn, thuận lợi, thỉnh thoảng có pháo sáng từ Thượng An, Đầu Đèo vút lên tỏa màu xanh đậm đặc, lan xa rồi tắt ngấm trong tĩnh không. Địch chẳng phát hiện được gì, mặc dầu lúc này đây cả một trung đoàn đối phương đang trong tầm pháo, với nhịp điệu hối hả, tấp nập, dàn trận một cách bình thản, như một cuộc dàn quân diễn tập thực binh đã ngoại trong đêm tối, nơi gò đồi vùng tự do tây Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên.

Đêm ngày 14 tháng 1 là một đêm sôi động mà êm ả với bao công việc bộn bề, nặng nhọc mà yên lặng không tiếng động, không ồn ào hối thúc mà mọi việc vẫn chạy đều, đúng tiến độ, đúng quy trình kỹ thuật khắt khe của chiến đấu. Hầm hố chiến đấu đủ cho người, cho vũ khí mà không làm gãy cây, không thay đổi màu cỏ. Đất đào lên được mang ra xa, dàn đều, phủ lá cây và cỏ hòa lẫn vào màu sắc tự nhiên, không một sơ hở dù là nhỏ để máy bay trinh sát địch phát hiện. Tất cả đã hoàn thành trước khi trời sáng.

Toàn trung đoàn 108 đã vào chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định trước 6 giờ sáng ngày 15 tháng 11 năm 1953, cách cứ điểm Cửu An chừng 500 mét.

Từ trên nhìn xuống, từ trong nhìn ra, từ đường 19 nhìn vào cảnh vật đoạn đường trận địa phục kích đánh viện binh địch vẫn như nó vốn có. Tất cả vắng lặng không một bóng người, không một dấu vết khác, lạ, gây nghi ngờ mặc dầu đoạn đường và những cánh rừng thưa hai bên đường đã chứa đựng một trận đánh đã bày sẵn: tiểu đoàn 19 chúng tôi làm nhiệm vụ chặn đầu, tiểu đoàn 79 khóa đuôi, tiểu đoàn 50 đánh khúc giữa đội hình địch, tiểu đoàn trợ chiến phân tán các đại đội hỏa lực xuống phối thuộc với các tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp. Ban chỉ huy tiểu đoàn 19 đứng cách sau đơn vị phía trước khoảng 200 mét để tiện chỉ huy chung.

Trời sáng dần, gió mạnh từ hướng đông thổi về xua những mảng mây đen tan nhanh, bầu trời trong xanh hiện lên cao lồng lộng như cảnh trời thu. Lúc ấy là 8 giờ 30 phút, đằng đông đã ửng hồng, tiếng động cơ máy bay bà già hướng thị xã Plây Cu vọng về mỗi lúc một gần, rõ dần. Đó là chiếc máy bay bà già thân hình mảnh khảnh, đen trũi phành phạch hướng về phía trận địa của trung đoàn, tốc độ bay chậm lại, thấp dần và bám theo đường Hoàng Hoa Thám xuống Cửu An rồi vòng lai. Cứ thế con cú vọ này lượn đi rồi lượn lại bốn vòng.

- Lộ rồi? - Tôi tự hỏi mình.

Tôi ngước mắt dõi theo, thấy tư thế bay bình thường, không chao đảo, ngó nghiêng.

- Không lộ! -Tôi tự nhủ và thở phào.

Cũng là lúc tiếng chiếc bà già rên rỉ xa dần về phía Thượng An, Đầu Đèo rồi quặt lại theo đường 19 ngược phía tây, tắt hẳn.

Tôi quay sang phía tiểu đoàn trưởng, nói vui:

- Trận địa của ta đạt chất lượng tốt, đã được phương tiện kỹ thuật của địch kiểm nghiệm.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:26:17 am
Tiểu đoàn trưởng cười hưởng ứng và nói:

- Mắt thằng địch bị cận thị!

- Ta vẫn phải đề phòng, biết đâu ngày mai địch mang kính cận - tôi tán thành ý nhắc nhở tế nhị của tiểu đoàn trưởng.

Trong niềm phấn chấn trận đầu thắng lợi, ban chỉ huy tiểu đoàn tranh thủ hội ý, thống nhất nhắc nhở những việc cần làm thì trung đoàn điện xuống nhắc cần kíp thời động viên bộ đội, nhắc nhở kiên trì chờ đợi nhưng phải tuyệt đối giữ bí mật, tranh thủ sửa lại ngụy trang trận địa không để một dấu vết gì khác lạ. Khi có máy bay kể cả lúc nó bay trên đầu không được nhúc nhích, ai ở đâu ở nguyên đấy, kể cả khi máy bay thả lựu đạn khói thăm dò.

Chúng tôi chia nhau xuống các đại đội truyền đạt mệnh lệnh của trung đoàn đến tận tiểu đội, trung đội.

Ngày 16 đã đến. Thời tiết thật đẹp, trong xanh và thoáng mát không một gợn mây nhưng với chúng tôi thì lo hơn là thanh thản, vì đây là điều kiện thuận lợi để máy bay địch dễ phát hiện. Mãi 9 giờ máy bay địch lại tới, vẫn rà soát trên đoạn đường - trận địa của trung đoàn. Nhưng số vòng bay lượn nhiều so với ngày 15, bay cả ra hai bên đường, ngó nghiêng, chao đảo. Tuy chưa đụng độ mà căng thẳng bởi tiếng động cơ cứ phành phạch đều đều gây khó chịu trong đầu óc, căng thẳng về sự im lặng, bất động như phải nằm, ngồi mãi trong một tư thế, gây mỏi mệt; thèm một cái vươn vai, hít thở và cả tiếng cười, tán chuyện tếu táo...

Một ngày nữa qua đi, khu chiến - đường Hoàng Hoa Thám vẫn yên ắng, hoang sơ, không một bóng người. Đêm về lại bận rộn thay “áo” cho trận địa, giữ nguyên một màu vốn có. Và một đêm thay ngày nữa lại đến. Tất cả mọi người đều đứng dậy, vươn vai, hít thở, cười nói râm ran, tán gẫu đủ chuyện, lấy lại sức cho ngày mai vào trận.

Ngày 17 đã đến, ngày thứ ba của cuộc đấu trí. Thời tiết không đẹp lắm. Hơn 8 giờ mà mây mù vẫn dăng dầy và thấp như sắp đổ mưa oi nồng khó chịu. Tất cả chúng tôi như sống dưới một lòng chảo khổng lồ, tức thở vì thiếu không khí.

Vẫn mụ “đầm già” quen thuộc nhưng hôm nay đến rất nhanh, mánh khóe xảo quyệt hơn những ngày trước đó. Lúc vọt cao, khi hạ thấp rà soát kỹ mặt đường, vòng hai lần ở cứ điểm Cửu An để ngó nghiêng, vừa như dò tìm thận trọng vừa như hối hả cho xong nhiệm vụ để mất hút thật nhanh về hướng tây.

Chúng tôi dõi theo cẩn trọng và nghe ngóng động tĩnh từ các hướng, thì cũng là lúc trung đoàn qua thông tin hữu tuyến gọi xuống giao nhiệm vụ cụ thể: Tiểu đoàn sơn chiến số 8 của địch từ căn cứ An Khê đang chia thành hai ngả - một ngả theo đường đèo Thượng An vòng vào Cửu An - ngả thứ hai theo đường Hoàng Hoa Thám hợp điểm chiếm lại Cửu An. Một cánh quân khác từ An Khê theo hướng đông đánh chiếm Tú Thủy... Các đơn vị sẵn sàng đánh địch theo kế hoạch đã định.

Tất cả chúng tôi đã trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao hơn, đạn đã lên nòng. Công sức ba ngày chờ đợi không uổng. Trận đánh chưa xảy ra mà chúng tôi đã tin phần thắng nhất định thuộc về ta! Vì cho đến giờ này địch vẫn cho rằng con đường mà chúng tôi ém sẵn là nơi khô cằn, trống trải không người, không cả muông thú.

Trinh sát trung đoàn, tiểu đoàn từ đường 19 báo về địch đang triển khai đội hình đi về hướng trận địa phụ sẵn của ta. Chúng tôi thật sự phấn khởi, cùng với cả hồi hộp căng thẳng. Địch đã lọt vào thế trận của ta, vẫn đội hình hàng dọc, ngông nghênh, ngạo mạn, không ngó nghiêng đề phòng. Đúng là địch quá chủ quan, sao ta không tranh thủ thời cơ nổ súng? Địch đến cách Cửu An 500 mét thì tiểu đoàn 79 làm nhiệm vụ khóa đuôi nổ súng, báo hiệu địch đã lọt hết vào trận địa phục kích của ta, tức thì tiểu đoàn 19 làm nhiệm vụ chặn đầu, đồng loạt nổ súng. Thế là địch bị dồn vào một tình thế đuôi bị khóa, đầu bị chặn, tiểu đoàn 50 tiến công khúc giữa. Đội hình địch bị rối loạn hoàn toàn như rắn không đầu. Tên Rút-sen, thiếu tá chỉ huy cuộc hành quân chưa kịp hoàn hồn thì bị một chiến sĩ từ phía sau sáp vô ôm chặt, cùng lúc một chiến sĩ khác kịp thời xông tới trói ghì hai tay y về phía sau, chỉ cho y ngồi nơi cạnh đường, tiếp tục cùng đồng đội xốc tới. Cuộc cận chiến diễn ra trong cảnh đan xen ta địch, có cái gì như hỗn chiến, không còn phân ranh khu vực nhiệm vụ được giao của từng đơn vị. Tiến công diệt những tên ngoan cố chống lại, đối xử nhân đạo với những binh sĩ thức thời bỏ súng giơ tay đầu hàng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:27:09 am
Trận chiến đấu kết thúc nhanh gọn, ta diệt 70 tên, địch bị bắt sống và đầu hàng 200 tên, trong đó có tên thiếu tá Rút-sen, một đại úy, hai trung úy và sáu thiếu úy; thu hai xe bọc thép cùng toàn bộ vũ khí trang bị của tiểu đoàn sơn chiến. Về phía ta thương vong không đáng kể. Nhưng trong niềm vui chiến thắng thật giòn giã này cũng có chuyện buồn thương đã hằn sâu trong ký ức tôi. Số là được tin trận đánh bắt được nhiều tù binh, trong đó có nhiều sĩ quan người Pháp, một số cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn trợ chiến đến xem, chẳng may bị máy bay địch ập đến bắn phá với dã tâm phi tang số tù binh mà ta bắt được, có 50 binh sĩ địch bị chết. Một số cán bộ, chiến sĩ ta đến xem cũng bị thương, trong đó có tiểu đoàn phó Thụng và chính trị viên Cầu phải đưa vào trạm xá cấp cứu nhưng không qua được vì cả hai người đều bị thương quá nặng.

Phối hợp với trận chặn viện, đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21 tháng 1 ta thực hiện mệnh lệnh đợt hai chiến dịch, trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt cứ điểm Thượng An và tháp canh Đầu Đèo. Như vậy là một vòng cung phòng ngự rộng lớn gồm bốn cứ điểm (Cửu An, Tú Thụy, Thượng An, Kon Lía) và hai tháp canh (Eo Gió, Đầu Đèo) chỉ trong chín ngày đã bị quân ta tiêu diệt và bức rút (đồn Kon Lía). Quân dân An Khê (Gia Lai), quân dân Bình Định, nhất là quân dân Bình Khê quê tôi vô cùng phấn khởi. Khẩu pháo 155 mi-li-mét ở lô cốt Đầu Đèo suốt mấy năm liền đã tàn phá làng mạc, ruộng đồng các xã Bình Giang đã thuộc về ta. Hai nghìn người tự nguyện xung phong lên Đầu Đèo kéo pháo về. Sau bảy ngày đêm vất vả, khẩu pháo được đưa về Gò Găng (An Nhơn) cất giấu an toàn trước sự hân hoan của bà con cô bác.

Liên tiếp trong hai ngày 24, 25 tháng 1, trung đoàn 803 phục kích tiêu diệt hai đại đội thuộc tiểu đoàn dù ngụy số 1, làm thất bại âm mưu tái chiếm Thượng An của chúng; đại đội 68 và đại đội địa phương huyện An Khê phục kích diệt một đại đội ngụy, phá hủy 25 xe quân sự. Thừa thắng, đại đội địa phương huyện Đắc Bớt tập kích địch bức chúng phải rút đồn Dgiama.

Cùng lúc trung đoàn 108 thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, đã và đang khẩn trương chuẩn bị đợt hoạt động đánh phục kích địch trên đường 19 từ Thượng An đi An Khê. Mọi việc đang tiến hành suôn sẻ thì được lệnh lui quân. Chúng tôi phải rút bỏ nơi mà ta đang chiến thắng, nơi mà địch đã và đang thất bại thật đau - cả một khu vực phòng ngự đồng bắc An Khê của chúng được coi là bất khả xâm phạm đã bị ta san bằng.

Ngỡ ngàng, thắc mắc vì sao lại lui quân trong thế thắng? Nhưng không ai giải đáp được ngoài Bộ chỉ huy chiến dịch. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch lại là người ra lệnh phải lui quân. Và dù thế nào, chúng tôi cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh khi đã có lệnh...

Cán bộ từ tiểu đoàn trở lên lại được về cơ quan Bộ tư lệnh Liên khu họp tổng kết chiến dịch. Mọi việc đã vỡ lẽ, nhưng trên đường về dự tổng kết chúng tôi cũng muốn cấp trên giải đáp một số vướng mắc mà bản thân thấy chưa thật thoải mái.

Phần chính của tổng kết đã xong. Ai cũng thấy vinh dự được tham gia một chiến dịch lớn chưa từng có từ trước đến nay; ai cùng phấn khởi vì đã được góp phần mình vào một chiến thắng thật lớn và giòn giã; thấy được sự trưởng thành lớn mạnh và cả những ấu trĩ cần tránh. Lần đầu tiên, tiểu đoàn 19 chúng tôi trong đội hình chiến dịch; lần đầu tiên trung đoàn 108 chiến đấu trong đội hình bốn tiểu đoàn; lần đầu tiên hai trung đoàn chủ lực 108 và 803 của liên khu chiến đấu hiệp đồng trên quy mô chiến dịch, cùng đánh hai trận then chốt mở đầu (108 đánh Cửu An, 803 đánh Tú Thủy) và cùng chiến thắng trong một đêm mở đầu, đã mang lại cho chúng tôi nhiều bài học về chọn hướng tiến công; bài học đánh điểm diệt viện; bài học về nghi binh lừa địch, tạo bất ngờ cả về chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu; giúp ích cho các đợt chiến đấu hiệp đồng quy mô sau đó bớt được những tổn thất không đáng có, chủ động và có bản lĩnh hơn trong quá trình tổ chức, chỉ huy, chiến đấu.

Phần phụ, nhưng chúng tôi xem như là phần chính. Những lướng vướng về nhận thức của chúng tôi đã được anh Nguyễn Chánh giải thích. Anh nói: Chiến thắng An Khê làm xáo trộn thế trận của địch ở miền Trung Đông Dương, chấn động về chính trị đối với toàn bộ vùng Tây Nguyên chiến lược, buộc địch phải tăng viện không những vào An Khê mà còn đưa lực lượng đổ bộ lên Quy Nhơn, ở chiến trường Bắc Bộ địch đã làm, như khi ta mở chiến dịch Biên Giới địch đánh lên Thái Nguyên, khi ta mở chiến dịch Tây Bắc địch đánh ra tây nam Phú Thọ. Nhưng tương quan cả thế và lực ngoài ấy khác, chiến dịch Biên Giới và chiến dịch Tây Bắc vẫn mở theo kế hoạch đã định đồng thời ta vẫn có lực lượng đánh địch phía sau, kết quả là ta thắng lợi kép, vừa mở rộng vùng giải phóng đồng thời vẫn giữ vững vùng tự do. Còn điều kiện ở chiến trường Liên khu 5 chưa cho phép. Nếu chiến dịch An Khê vẫn tiếp tục thì khả năng chiến thắng vẫn còn, nhưng thương vong có thể sẽ lớn. Mặt khác với lực lượng tập trung địch có thể mở các cuộc phản kích gây tổn thất cho ta ở phía trước, đồng thời mở cuộc hành quân đánh phá vùng tự do, thậm chí chúng có thể chiếm đóng một số vị trí quan trọng, lúc ấy chủ lực ta quay trở lại thì đã muộn. Đó chính là lý do để Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch An Khê.

Cuối cùng anh đích thân đọc thư khen của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

“Thắng lợi này, chứng tỏ các đồng chí đã tiến bộ về chính trị cũng như về kỹ thuật sau thời kỳ chỉnh huấn, đặc biệt là đánh điểm nhỏ, viện nhỏ”.

Hội nghị tổng kết chiến dịch kết thúc. Chúng tôi ra về trong thanh thản và tự tin mùa hoạt động quân sự 1953 - 1954 sẽ có những thắng lợi lớn và những bất ngờ lớn đối với địch.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:28:39 am
Chương V
LÊN TÂY NGUYÊN HAY Ở LẠI ĐỒNG BẰNG


Đầu tháng 1 năm 1954, sau đợt chỉnh huấn chỉnh quân tập trung, cán bộ trung cấp được Bộ tư lệnh Liên khu triệu tập về nghe phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 1954.

Nhận lệnh ai nấy đều háo hức lên đường, vì được tin anh Nguyễn Chánh vừa từ Việt Bắc(1) trở về, chắc sẽ được nghe anh truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu đối với chiến trường Nam Trung Bộ đang trong tình hình cực kỳ khẩn trương, địch ráo riết chuẩn bị lực lượng mở cuộc hành quân Át-lăng đánh chiếm vùng tự do Khu 5... Sau nữa được nghe anh kể chuyện cuộc sống nơi căn cứ địa Việt Bắc - cái nôi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, điểm tựa của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của cả nước, nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ ở và làm việc mà bấy lâu chúng tôi hằng ngưỡng mộ, mong ước được ra thăm hoặc những ai từ ngoài đó vô đây kể chuyện.

Chiều ngày 4 tháng 1, đoàn cán bộ trung đoàn 108 và 803 tới Ân Tường (xã Ân Tường, huyện Hoài Ân tỉnh Bình Định), nơi ở và làm việc của cơ quan Bộ tư lệnh Liên khu. Người gặp đầu tiên là anh Nguyễn Bá Phát, một thời làm trung đoàn trưởng trung đoàn 108 chúng tôi. Kỷ niệm xưa cũ được dịp bung ra thành cuộc hàn huyên không đầu, không đuôi mà sôi nổi, hào hứng, đậm đà, tình cảm cứ như anh em trong một gia đình lâu ngày gặp lại. Được biết anh giữ chức phó tham mưu trưởng chiến dịch Đông Xuân này, chúng tôi vây quanh, bám sát anh đua nhau “khai thác” về tình hình nhiệm vụ quân sự sắp tới; trung đoàn 108 và 803 làm gì, ở đâu. Nghĩ thế nào hỏi thế ấy, không e dè, giữ ý:

- Hướng hoạt động quân sự sắp tới là đâu?

- Âm mưu đánh chiếm vùng tự do của địch và kế hoạch đối phó của ta?

- Nhiệm vụ cụ thể của trung đoàn 803 ở hướng nào ra lại Quảng Nam hay vào Phú Yên; hay đứng chân ở Tuy Phước - Diêu Trì chặn địch từ An Khê đánh xuống, sẵn sàng đánh địch từ tàu biển đổ bộ đánh chiếm thị xã Quy Nhơn, v.v...

Thế là đang từ hàn huyên tâm tình chuyển sang không khí làm việc nghiêm túc, cấp dưới thắc mắc hỏi cấp trên để thông suốt nhiệm vụ. Anh Nguyễn Bá Phát vẫn thân tình cởi mở, chăm chú lắng nghe, phảng chút đăm chiêu.

- Còn ai có ý kiến gì nữa không? - Anh Phát hỏi

- Dạ đủ - Tôi đứng gần anh trả lời.

Phút im lặng chứa đựng ý thức trách nhiệm của cả người hỏi và người được hỏi. Bỗng Phó tham mưu trưởng chiến dịch đằng hắng lấy giọng và chậm rãi nói như tâm tình - những thắc mắc của các đồng chí sẽ được cuộc họp ngày mai giải đáp đầy đủ. Tôi tranh thủ trao đổi một số nội dung chính về chủ trương chỉ đạo chung đã được Thường vụ Khu ủy và Thường vụ Đảng ủy Liên khu thông qua, gồm ba nội dung chính như sau:

Một là, tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực cơ động lên hướng Tây Nguyên, trước mắt là Bắc Tây Nguyên, vì đây là hướng tiến công chủ yếu, cần phải có lực lượng tiến công đủ mạnh, đánh những trận then chốt nhằm tạo ra một chuyển biến về cục diện có lợi cho ta trên chiến trường Nam Trung Bộ...

Hai là, giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho các lực lượng địa phương; trước mắt các tỉnh cần khẩn trương xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp với làng xã chiến đấu liên hoàn theo phương án tác chiến mà Bộ tư lệnh Liên khu đã giao cho từng vùng. Thực hiện địch đánh đến địa phương nào địa phương đó tự đối phó, tiêu hao tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch; kìm chân không cho chúng mở rộng phạm vi kiểm soát; hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do địch gây ra. Địa phương nào địch chưa đến, phải tích cực động viên nhân dân phục vụ tiền tuyến...

Ba là, các tỉnh vùng sau lưng địch tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, đốt phá kho tàng, đánh phá giao thông, bao vây chia cắt đồn bốt địch; đánh sâu vào thị trấn, thị xã gây rối loạn ngay trong lòng địch. Khi chủ lực ta đánh mạnh ở Tây Nguyên hoặc lúc địch đánh ra vùng tự do phải tổ chức các đợt hoạt động quân sự mạnh, kìm giữ không cho địch rút lực lượng đi nơi khác; đồng thời lợi dụng lúc địch sơ hở, ra sức tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng du kích, vùng giải phóng...


(1) Ngày 4 tháng 8 năm 1953, anh Nguyễn Chánh ra Trung ương nhận nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954, 45 ngày sau mới đến Tuyên Quang. Ngày 2 tháng 12 năm 1953 anh Chánh rời Việt Bắc, 30 ngày sau về đến liên khu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:30:38 am
Tất cả như có cái gì ngỡ ngàng, bởi những điều anh Phát nói là dễ hiểu, đã được cấp trên phê duyệt thành chủ trương chung nhưng nằm ngoài những điều chúng tôi thắc mắc, muốn hỏi, muốn tìm hiểu tức thì. Gặp đoàn cán bộ trung đoàn 803 từ Phù Cát ra hồi sáng cũng có chung tâm trạng như chúng tôi, vì ở trong đó tin tức về cuộc hành quân Át-lăng của địch lan rộng ra cả nhân dân, đi đâu cũng nghe tiếng bàn tán nhỏ to, ai cũng mong đợi cấp trên sớm phổ biến kế hoạch đánh địch bảo vệ vùng tự do để làm công tác chuẩn bị.

Đêm hôm đó cả hai đoàn cán bộ trung đoàn 108 và 803 thao thức đến tận khuya, phần vì lâu mới có dịp gặp nhau thả sức tâm sự về những kỷ niệm vui, buồn, lúc thảnh thơi thư giãn, lúc cập rập những cơ cực của người chiến sĩ trong các đơn vị chủ lực trên một chiến trường quá rộng... Chuyện gì thì chuyện cuối cùng lại trở về câu hỏi lên Tây Nguyên hay ở lại đồng bằng!

- Tại sao địch đang tích cực, khẩn trương triển khai kế hoạch đánh chiếm vùng tự do, thì ta lại đưa chủ lực lên Tây Nguyên?

- Nếu tiến quân lên Tây Nguyên mà không phá được thế phòng thủ của địch, không giành được một khu vực có giá trị về chiến lược thì tình hình sẽ ra sao?

Cũng có ý kiến không thắc mắc mà khẳng định, bảo vệ vùng tự do lúc này phải là nhiệm vụ hàng đầu, chứ không phải hàng giữa, càng không thể là hàng cuối, vì mất vùng tự do là mất tất cả, mất hậu phương.

Từ thắc mắc đơn phương dẫn đến cuộc tranh luận khi một đồng chí trong đoàn nêu ý kiến đưa chủ lực phát triển tiến công lên Tây Nguyên là đúng thì cuộc tranh luận sôi nổi hẳn lên. Nhưng chiều hướng chung vẫn ngả về lý lẽ ở lại bảo vệ vùng tự do là đúng, là hợp lòng dân, song không mấy thuyết phục. Đêm đã về khuya và để đảm bảo yên tĩnh chung, chúng tôi tự nhủ ngày mai sẽ rõ.

Sáng hôm sau, cảnh vật Hoài Ân, một huyện trung du đang còn đọng sương mai đầy mờ ảo, chúng tôi đã thức giấc, tranh thủ làm vệ sinh cá nhân, đánh răng rửa mặt xong là lên ngay phòng họp. trước cả bộ phận tổ chức hội nghị.

Buổi sáng nghe Tham mưu trưởng chiến dịch Nguyễn Đôn phổ biến kế hoạch chung và nhiệm vụ cụ thể của hai trung đoàn 108 và 803.

Buổi chiều khi anh Nguyễn Chánh đến, tất cả chúng tôi đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Anh tươi cười vỗ tay đáp lại, nhìn về phía cử tọa, ra hiệu ngồi xuống và bắt đầu làm việc.

Phòng họp yên tĩnh trở lại, tất cả những người dự họp đều hướng về phía diễn giả chờ đợi.

Mở đầu buổi họp, anh Nguyễn Chánh thông báo: Trong lúc chúng ta mở hội nghị bàn nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 - 1954 thì diễn biến chiến sự ở các chiến trường khác trên toàn quốc đã trở nên khẩn trương, sôi động, bước đầu thu được những thành tích quan trọng. Đại đoàn 316 thực hành cuộc hành quân bôn tập dài 300 ki-lô-mét, kịp thời tiêu diệt 24 đại đội địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Lai Châu; trung đoàn 66 Đại đoàn 304 và trung đoàn 101 Đại đoàn 325 cùng phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào nổ súng mở đầu chiến dịch Trung - Hạ Lào làm đảo lộn kế hoạch phản công chiến lược trên toàn Đông Dương của tướng Na-va. Từ chỗ tập trung phần lớn lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ, địch buộc phải phân tán lực lượng, vội vã đưa sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, bảo vệ vùng Thượng Lào; đưa 22 tiểu đoàn sang Sê Nô nhằm ngăn chặn cuộc tiến công của ta đang phát triển xuống thị xã Thà Khẹt và thị xã A-tô-pơ...

- Còn chúng ta thì sao? - Anh dừng lại hỏi - Rõ ràng đúng như Bộ Tổng Tham mưu khi xây dựng kế hoạch chung đã dự đoán: Chủ lực Liên khu 5 có khả năng nổ súng muộn hơn so với các chiến trường khác. Như vậy là cấp trên đã thông cảm với khó khăn của chúng ta. Song không vì thế mà lề mề, chậm chạp. Tình hình đang đòi hỏi các đơn vị chủ lực Liên khu 5 phải thật khẩn trương, nỗ lực vượt bậc, sớm đưa đợt hoạt động quân sự ở chiến trường Nam Trung Bộ hòa nhập vào kế hoạch chung mà Bộ Chính trị đã thông qua(1).


(1) Cuối tháng 9 năm 1953, tại núi Hồng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Chính trị họp thông qua quyết định về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Tham gia hội nghị có Chủ tịch Hồ Chí Minh (chủ trì hội nghị), đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:32:13 am
Phòng họp nhúc nhích, có tiếng rì rầm và cả cái huých tay, ai nấy cảm thấy có cái gì thúc giục, rồi lại chăm chú nghe, ghi chép khi anh đi vào nhiệm vụ cụ thể của liên khu. - Sau khi nghe phổ biến kế hoạch chung, các đồng chí đều thấy đặc điểm trong đợt hoạt động quân sự Đông Xuân này là: chúng ta vừa khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên vừa phải triển khai nhiệm vụ chống lại cuộc hành quân Át-lăng của địch nhằm đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5. Có lẽ đây là nét thật riêng của mặt trận Nam Trung Bộ và cũng là một trọng trách nặng nề và rất vinh quang mà lịch sử đang giao phó cho chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải đạp bằng khó khăn, vượt lên thời gian trong cuộc chạy đua này.

Trong cùng một thời gian có nhiều nhiệm vụ đặt ra, ta phải suy nghĩ lựa chọn nhiệm vụ nào là trọng tâm, hướng tiến công nào là chủ yếu để tập trung sức lực hoàn thành cho được, cho dù có khó khăn đến mây cũng phải vượt qua giành cho được thắng lợi quyết định, tạo ra chuyển biến cục diện có lợi cho ta... Là người được tham dự hội nghị phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân 1953-1954 do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập cuối tháng 11 năm 1953 tại căn cứ Việt Bắc, anh không đi vào đối thoại thắc mắc cụ thể mà là truyền đạt những tư tưởng chỉ đạo có tầm nhìn xa của Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy làm cơ sở để chúng tôi suy nghĩ, tự mình giải đáp, tự mình thông suốt làm tốt chức năng lãnh đạo và chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.

Vừa chỉ lên bản đồ anh vừa nói: Nhìn nhận về chiến trường Nam Trung Bộ nói riêng, toàn miền Nam Đông Dương nói chung, thì Tây Nguyên có vị trí quan trọng hơn cả. Trong hội nghị Bộ Chính trị và hội nghị Tổng Quân ủy, khi thảo luận giao nhiệm vụ cho Liên khu 5 trong đợt hoạt động quân sự Đông Xuân này đã nhấn mạnh: Phải tích cực và mạnh bạo phát triển lên Tây Nguyên, trước hết là phía bắc, đồng thời tiếp tục củng cố vùng tự do hiện nay. Có phát triển lên Tây Nguyên mới giành được khu chiến lược quan trọng nhất ở miền Nam. Nếu khu chiến lược đó còn ở trong tay địch thì cục diện miền Nam rất khó cải biến.

Rõ ràng chỉ có phát triển về phía tây, mở rộng vùng tự do về hướng đó, mới giữ vững vùng tự do hiện nay. Thậm chí địch có thể tạm thời chiếm đóng một bộ phận đất đai vùng tự do của ta, nhưng nếu cuộc tiến công của ta phát triển thuận lợi trên chiến trường Tây Nguyên, thì cuối cùng chúng cũng bị bắt buộc phải rút quân, có khi phải rút khỏi nhiều địa phương khác.

Cuối cùng, Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh kết luận, đồng thời cũng là kêu gọi: Tổng Quân ủy đã xác định “phát triển lên Tây Nguyên lúc này là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, củng cố vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng thứ hai”(1), đòi hỏi chúng ta phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tìm mọi biện pháp thực hiện một cách tốt nhất.

Anh nói ngắn mà sâu, gần mà xa trúng vào những băn khoăn, vướng mắc của chúng tôi. Những tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy, của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu mà anh truyền đạt giúp cán bộ trung cấp chúng tôi rộng đường suy nghĩ đi vào ngóc ngách của chân lý mà trước đó chưa nhận ra, hoặc có thể phiến diện chưa đủ lý lẽ giải quyết cho bản thân, chưa đủ cơ sở thuyết phục cán bộ chiến sĩ cấp dưới, đến nỗi đã có lúc nghĩ đến phải dùng mệnh lệnh để giải quyết nhận thức và tư tưởng.

Cũng vẫn không gian và thời gian ấy, cũng vẫn những diễn biến đã và đang xảy ra ấy mà nay đã nhận ra nhiều điều mới mẻ, tạo lòng tin mới trước khi vào trận. Tây Nguyên đúng là địa bàn chiến lược quan trọng nhất, chính vì vậy mà khi Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2, trong kế hoạch tốc chiến đánh chiếm Nam Trung Bộ, bằng mọi giá chúng đánh chiếm cho được Tây Nguyên trước để quay lại khống chế đồng bằng. Gần tám năm qua, do địa bàn chiến lược Tây Nguyên bị địch chiếm, vùng tự do Khu 5 không có chỗ dựa lưng, luôn luôn bị chúng uy hiếp, nhiều lúc từ đây chúng mở những cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm làm cho vùng tự do phía tây Khu 5 luôn trong trạng thái mất ổn định, đã có lúc cả hai trung đoàn chủ lực 108 và 803 mất nhiều công sức và thời gian đánh địch ở bắc Kon Tum, bảo vệ vùng tự do thuộc hai huyện Sơn Hà và Ba Tơ.

Đúng là tương quan lực lượng lúc này, ta tạm thời chấp nhận “tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, đánh địch ở những nơi sơ hở”(2), thì Tây Nguyên hội đủ những điều kiện đó. Sau bảy năm đọ sức thế trận của địch ở đây bộc lộ nhiều điểm yếu; địa bàn rộng nhưng lực lượng chiếm đóng mỏng bố trí phân tán thành từng cụm rải dài theo thị trấn, thị xã, dọc các trục lộ dễ bị bao vây, chia cắt, khả năng ứng chiến yếu và chậm. Đó là một trong những yếu tố đảm bảo chắc thắng của chiến dịch Bắc Tây Nguyên mà Thường vụ Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu ủy đã hạ quyết tâm trong đợt hoạt động Đông Xuân này.


(1) Báo cáo của Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị ngày 27 tháng 11 năm 1953.
(2) Nghị quyết Trung ương lần thứ 4, tháng 3 năm 1953.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:33:25 am
Hội nghị kết thúc vào buổi sáng, thì sau bữa cơm trưa cùng ngày, tất cả những người dự họp đều tỏa về các đơn vị để kịp triển khai chuẩn bị cho mùa vào trận mới. Riêng tôi được Bộ tư lệnh Liên khu gọi lên trao quyết định về làm chủ nhiệm chính trị trung đoàn 803 và được nghỉ phép một tuần để cưới vợ!

Như bao anh em khác, mỗi khi được lên cấp lên chức đều là một lần phấn khởi trong đời, kèm theo cả lo sao hoàn thành nhiệm vụ, khỏi phụ lòng cấp trên. Còn việc được nghỉ phép để lo việc riêng thì trong tôi, phấn khởi và ngỡ ngàng xen lẫn. Thông thường, hôn nhân là kết quả của tình yêu đã chín muồi. Nhưng tình yêu của hai chúng tôi sự chín muồi lại đúng vào mùa ra trận, nhưng là một mùa ra trận lịch sử, có sự lãnh đạo và chỉ huy thống nhất trên phạm vi toàn quốc nên sau khi viết đơn lên cấp trên xin nghỉ phép... tôi tự nhủ - việc này không diễn ra thì tốt, chờ dịp khác. Nhưng nào ngờ cấp trên không quên, vẫn tạo cho tôi được thực hiện nguyện vọng riêng. Khi nhận lệnh vì quá xúc động tôi quên cả cám ơn cấp trên, cứ thế một mạch chạy về nhà vợ sắp cưới ở xã Nghĩa Diễn, Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) báo tin vui và lao vào chuẩn bị cho ngày lễ thành hôn như đã dự định.

Mọi việc diễn ra đơn giản, gọn nhẹ và hạnh phúc ban đầu mang lại nhanh đến mức ngỡ ngàng! Kết thúc tuần trăng mật, tôi lên đường đi chiến dịch, vợ mang bầu; kết thúc chiến dịch, trở về thăm gia đình, vợ sinh con trai tròn tháng tuổi. Sự sinh tồn nảy nở trong chiến tranh biến thành kỷ niệm sâu đậm thật riêng, mỗi khi nhớ lại, cả hai chúng tôi vẫn thấy nơi tim mình rộn rã nhịp sống của tuổi trẻ năm xưa, quên cả năm tháng và tuổi cao, thấy đời vẫn như ngày nào cách đây tròn nửa thế kỷ.

Đường về trung đoàn 803 tận Phù Cát (Bình Định). Nhớ thương, bịn rịn, có cả níu kéo theo tôi suốt chặng đường dài. Không buồn nản mềm yếu, chỉ thấy có cái gì sưởi ấm tâm hồn, xua đi những trống vắng khi cuộc sống lúc độc thân. Lại có cả cái gì như vợi bớt những tính toán, lo toan vì đã làm xong một việc đại sự(1), đã nâng bước tôi những ngày sau đó.

Tôi đến huyện Phù Cát vào buổi chiều tà, sau bốn ngày rưỡi vượt bộ trên chặng đường dài 160 ki-lô-mét. Thấy tôi các anh trong ban chỉ huy trung đoàn tay bắt mặt mừng, như đón người con của trung đoàn đi xa dài ngày trở về khiến tôi xúc động muốn khóc!

- Tụi này mong Nam Khánh hoài! - Trung đoàn trưởng Phan Hàm nắm tay tôi hồi lâu.

Tôi định trình bày lý do được phép cấp trên ở lại cưới vợ nhưng tự nhủ - chuyện riêng mà, nên chỉ thanh minh chung chung:

- Tôi mắc công chuyện đang phải làm dở, phải ở lại, mong các anh thông cảm.

- Không sao!- Trung đoàn trưởng Phan Hàm động viên - Vào đến đây là tốt rồi. Tụi mình vẫn để phần việc cho Nam Khánh.

Thật may, tôi đến đúng lúc trung đoàn đang triển khai chuẩn bị chiến đấu theo kế hoạch hướng dẫn tại hội nghị phổ biến nhiệm vụ mà tôi được tham dự.

Đúng là làm anh lính chủ lực cơ động cũng có cái hay, có điều kiện thỏa chí tang bồng, đi nhiều, biết nhiều, đánh những trận thối động có tiếng vang. Nhưng cũng lắm “cơ cực”, chưa ấm chỗ đã có lệnh chuyển quân, mới quen người quen cảnh, cả chuyện tỏ tình mới qua khóe mắt, nụ cười cảm thông, chưa kịp bén duyên đã lại đi liền! Suốt ba mùa vào trận (1951-1953) trung đoàn 108 và trung đoàn 803 những đi là đi, trận đánh này chưa kết thúc đã tiếp nối trận đánh khác. Sau đợt hoạt động hè ở Bắc Kon Tum là đến chiến dịch An Khê. Sau An Khê theo lệnh chúng tôi lại hối hả lên đường chia làm hai ngả: Trung đoàn 108 ngược hướng bắc đánh địch ở Đà Nẵng, Hội An; Trung đoàn 803 xuôi vào Nam Tây Nguyên thực hành một cuộc bôn tập thật dài qua địa phận ba tỉnh Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc sát tận Khánh Hòa.

Trận đánh cuối cùng kết thúc cuối tháng 5 đầu tháng 6, chưa kịp tổng kết rút kinh nghiệm chúng tôi lại được lệnh của Bộ tư lệnh Liên khu gọi về: Trung đoàn 108 đứng chân ở Quảng Ngãi, trung đoàn 803 đứng chân ở Phù Cát tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, sau chỉnh huấn chỉnh quân hai trung đoàn được lệnh gấp rút chuẩn bị tham gia chiến dịch Bắc Tây Nguyên mở đầu đợt hoạt động Đông Xuân (1953-1954).

Chủ lực cơ động ở chiến trường Nam Trung Bộ là như vậy đó. Lực lượng ít, mỏng, chiến trường rộng, nhiệm vụ nhiều, vất vả, gian nan, cơ cực, lúc đầu chưa quen thấy ớn! Sau quen dần thấy bình thường, háo hức mỗi khi mùa ra trận mới lại đến.


(1) Người xưa nói: tậu trâu, lấy vợ, làm nhà là ba việc lớn của một đời người.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2022, 06:34:43 am
Thời gian đang nhích dần qua giữa tháng 1 năm 1954. Bầu trời mặt đất vùng trung du Phù Cát, nơi trung đoàn 803 đứng chân cứ sau những trận mưa cuối mùa cảnh trí càng nên thơ, in đậm màu xanh dịu mát, thanh bình, no ấm, thì cũng là lúc công việc chuẩn bị chiến đấu của chúng tôi đang đi vào giai đoạn hoàn tất nhưng không mấy êm ả. Trước đó một tuần một không khí tràn đầy hứng phấn chờ ngày ra trận... Trên báo tường của các đơn vị đầy ắp những bài báo, tranh vẽ đủ loại nhưng nhiều nhất vẫn là thơ ca, hò vè động viên, nhắc nhở nhau ráng làm tốt việc chuẩn bị để có lệnh là đi. Một lần xuống làm việc với ban chỉ huy tiểu đoàn 59, tôi ghé đọc báo tường số mới nhất, trong đó có bài ca dao ngắn, vần điệu chưa nhuyễn nhưng nói được cái khí thế thúc giục, sẵn sàng của tiểu đoàn, đến nay tôi vẫn còn nhớ:

Đông Xuân nay đã đến rồi
Súng ơi! Súng có bồi hồi hay không?
Tiến quân dưới ngọn cờ hồng
Đã nghe tiếng súng diệt đồn nổ vang


Bỗng dưng có sự trùng xuống, có cái gì tẻ nhạt ít ra là vẻ bề ngoài! Lúc này đến đơn vị nào cũng dễ thấy chuyện bàn tán nhỏ to của chiến sĩ về chuyện ở và đi, như: vì sao ta lại thả lỏng vùng tự do trước nguy cơ địch đang ráo riết đánh chiếm; liệu thắng ở Tây Nguyên có bù được mất mát ở hậu phương không; có buộc địch phải nhả vùng tự do của ta không? hoặc hành quân lên Tây Nguyên là đánh vào núi xương, còn bầu sữa (vùng tự do) thì bỏ, v.v...

Một cán bộ đại đội có tên rất con gái là Lan, tuổi còn trẻ, đẹp trai, hồn nhiên, quê Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) thuật lại chuyện mắt thấy tai nghe: Sáng hôm qua tôi vừa ra khỏi nhà, gặp ông chú ruột xăm xăm bước tới, kéo tay tôi bắt đứng lại để ông giãi bày. Tôi thật bất lực không biết nói thế nào, khi ông giận dữ dồn tôi, lúc không có giặc thì có tụi bay, lúc giặc sắp vô tụi bay đi. Thôi được, để súng lại cho tao! Nhưng chú ơi, có súng đâu mà để lại. Cháu hết hạn nghỉ phép trở lại đơn vị đây, thưa chú!

Rõ ràng thắc mắc ở hay đi đang là hiện tượng phổ biến, lan ra cả nhân dân, ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội.

Ý thức được vấn đề, một cuộc họp Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn được triệu tập, diễn ra gần trọn một ngày để bàn kế hoạch ổn định tư tưởng bộ đội. Không khí thảo luận sôi nổi, có lúc tranh luận gay gắt, căng thẳng, ai cũng cho cái đúng thuộc về mình. Có ý kiến đồng với tâm tư thắc mắc của quần chúng; có ý kiến cho đây là hữu khuynh tiêu cực, thoái thác nhiệm vụ, cần phải phê phán. Nhưng số đông không đồng tình với hai khuynh hướng võ đoán trên. Ở lại với mong muốn được tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương đâu phải là sai. Song tuyệt đối hóa cho bảo vệ quê hương lúc này là trên hết cũng là phiến diện, không ổn. Ta ôn tồn giải thích chắc quần chúng sẽ thông. Hầu hết cán bộ chiến sĩ ta đều là nông dân mặc áo lính, tình cảm, tâm tư đều gắn chặt với những biến động thăng trầm của quê hương. Hơn nữa quê hương đang đứng trước một thử thách đầy cam go thì sao lại không lo lắng, trăn trở. Có gì sai mà phải phê phán, cái tình cảm đầy trách nhiệm ấy cần được trân trọng, biểu dương, nhưng lại phải hướng nó vào một suy nghĩ toàn diện hơn, vào cái yêu cầu chung tối thượng lúc này, chắc chắn sẽ trở thành nhận thức đúng và nó biến thành hành động đúng...

Thấy không còn ai ý kiến gì ngược lại, đồng chí chính ủy kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn kết luận: Dù là nhận thức, nhưng nhận thức không phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chung, cần tích cực giải quyết. Nhưng phải có lý có tình. Vì vậy ngay sau cuộc họp này cần tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị nhẹ nhàng, ngắn gọn, có lãnh đạo chặt chẽ. Làm trong chi bộ, tổ đảng trước, đại đội, trung đội, tiểu đội sau, để anh em thoải mái trao đổi tâm tư vướng mắc của mình, thực hiện quần chúng giải quyết nhận thức, tư tưởng cho quần chúng. Trên cơ sở đó các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy ôn tồn giảng giải để mọi người thấy rõ.

Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên là đúng đắn, đánh vào nơi địch yếu, nhiều sơ hở nhằm tiêu diệt lớn sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng căn cứ, không để cho địch dùng Tây Nguyên làm bàn đạp như chúng đã và đang làm để uy hiếp tiến công vùng tự do của ta ảnh hưởng đến sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân vùng tự do.

- Trong khi chủ trương đưa lực lượng chủ lực lên Tây Nguyên thực hành đánh lớn, giải phóng đất đai, lãnh đạo và chỉ huy Liên khu đồng thời có kế hoạch chiến đấu bảo vệ vùng tự do, đã cử 200 cán bộ của Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu về các địa phương tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận làng xã chiến đấu, sẵn sàng đánh địch khi chúng kéo đến.

Âm mưu địch tuy thâm độc nhưng chúng có những yếu điểm, lực lượng phân tán, tiếp tế lương thực đạn dược gặp nhiều khó khăn, tinh thần binh lính địch hoang mang sợ chết. Ta tuy có khó khăn nhưng với sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân nhất định chúng ta sẽ thắng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:50:52 pm
Đúng là khi được giảng giải cặn kẽ đầu đuôi, có lý có tình, biểu dương nhận thức đúng, ôn tồn nhắc nhở những suy nghĩ không đúng, các chiến sĩ nhanh chóng nhận ra lẽ phải, không khí háo hức lên đường trở lại như cũ.

Hạ tuần tháng 1 năm 1954, các lực lượng nằm trong đội hình chiến dịch(1) được lệnh hành quân lên Bắc Tây Nguyên. Cùng hành quân với chúng tôi là hàng vạn dân công(2) vận chuyển đạn dược và đủ các loại lương thực, nhu yếu phẩm theo sát đoàn quân đến tận hỏa tuyến. Sự chuẩn bị được tiến hành khá chu đáo. Các cầu lớn nhỏ trên các nẻo đường hành quân của bộ đội lên chiến dịch đã được sửa chữa. Các lực lượng an ninh được huy động và tăng cường hoạt động, khống chế bọn tề điệp bắt giam một số tên phản động tay sai ở Măng Bút, Vi-ô-lắc, Nước Chè, Nước Lờ đảm bảo an toàn cho bộ đội hành quân, vận chuyển hậu cần,

Ngày 21 tháng 1 năm 1954, đội hình chiến dịch vừa đến đỉnh đèo Gia Vực thuộc vùng Vi-ô-lắc, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) thì được lệnh dừng lại, cũng là lúc tin địch đánh ra Phú Yên được lan truyền, đến đâu cũng nghe cán bộ, chiến sĩ sì sào bàn tán: Thế là ta bỏ thịt gặm xương mà xương nào đã thấy; hoặc ta chưa tới Tây Nguyên địch đã ra Phú Yên biết làm gì đây, đi ở đều dở dang!

Đúng là trận đánh chưa bắt đầu, địch đang còn xa mà tình hình đã thấy phức tạp, trước hết là nhận thức, tư tưởng đang có vấn đề, điều đã thông suốt nay lại trở lại. Vừa lúc Bộ chỉ huy chiến dịch điện gọi lên gấp. Trên đường đến sở chỉ huy chiến dịch ai nấy đều sôi nổi bàn tán với những dự đoán về nội dung cuộc họp sẽ có nhiều vấn đề mới. Nhưng không ai trong chúng tôi nghĩ rằng có chuyện thay đổi chủ trương, bởi địch đánh ra Phú Yên đã nhằm trong phương án dự kiến. Mục tiêu của các đơn vị chủ lực trước mắt vẫn là Bắc Tây Nguyên.

Đến nơi đã thấy anh Nguyễn Chánh ngồi chờ. Anh thân mật bắt tay từng người, hỏi thăm sức khỏe bộ đội qua đợt một của cuộc hành quân đường dài, vẫn khuôn mặt xương xương với đôi mắt sáng quen thuộc, bình thản, kiên nghị nhưng đang ẩn chứa những suy tư và cả trăn trở của một vị tư lệnh đang giữ trọng trách điều hành một trong ba mũi tiến công chiến lược chung của cả nước.

Tất cả những người thuộc diện đến họp đã có mặt đầy đủ, ai nấy vẫn đang còn sung sức, tràn đầy khí thế mặc dầu biết rằng phía trước vẫn còn lắm cam go. Cuộc họp bắt đầu vào lúc 9 giờ, bầu trời trong xanh, tiết trời dịu mát, mọi người đều ngồi bệt xuống đất, lấy lá rừng làm chiếu.

Chúng ta tranh thủ làm việc. - Anh Nguyễn Chánh mở đầu rồi đi vào nội dung. Giọng trầm ấm xúc động, anh thông báo: - Mười giờ sáng ngày 20 tháng 1 năm 1954 địch huy động bốn binh đoàn cơ động(3) số 10, 41, 42, 100 và hai tiểu đoàn dù có sự yểm trợ tôi đa của không quân và hải quân, pháo hạm đánh ra Phú Yên gây xáo trộn cuộc sống yên bình của nhân dân làm xao xuyến tâm tư tình cảm cán bộ chiến sĩ ta.

Ngay khi hình thành chủ trương, kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân, lãnh đạo và chỉ huy Liên khu(4) đã lường trước tình huống này, đã có định hướng đối phó. Nhưng làm sao mà đoán định được ngày giờ và diễn biến cụ thể. Những lo lắng của cán bộ, chiến sĩ, thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương, có cả nhận thức và tầm nhìn là điều đương nhiên dễ hiểu.

Điều quan trọng là chúng ta vẫn đứng vững trên thế chủ động chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, đó là yếu tố quyết định phát triển cục diện có lợi cho ta; chỉ cần khắc phục những nhược điểm, những ấu trĩ có thể xảy ra trong chiến đấu cụ thể là đâu sẽ vào đó.


(1) Trên hướng chủ yếu bắc Kon Tum, lực lượng gồm các trung đoàn 108, 803 (thiếu đại đội 11), tiểu đoàn 30, liên đội đặc công; toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị trinh sát, công binh, thông tin trực thuộc Bộ tư lệnh Liên khu.
- Hướng thứ yếu Đường 19 - An Khê, lực lượng gồm trung đoàn 120 địa phương Gia Lai, tiểu đoàn 40 chủ lực liên khu, đại đội 11 thuộc tiểu đoàn 59 trung đoàn 803.
(2) Đồng bào Kinh, Thượng, Nam Trung Bộ đã góp 200.000 dân công (bằng 6 triệu ngày công), 2.000 xe đạp thồ, 1.000 ngựa thồ, hàng chục thớt voi vận chuyển ra mặt trận hơn 1.000 tấn gạo, 50 tấn muối, hàng nghìn trâu, bò, lợn, hàng chục tấn mắm, đường.
(3) Groupement Mobile (viết tắt GM) - binh đoàn cơ động, trên lữ đoàn, dưới sư đoàn.
(4) Từ đây cụm từ lãnh đạo và chỉ huy Liên khu dùng để chỉ Khu ủy, Đảng ủy quân sự và Bộ tư lệnh Liên khu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:52:43 pm
Ngừng một lát, giọng anh bỗng dõng dạc: - Dù tình thế nào, Bộ chỉ huy chiến dịch vẫn không thay đổi quyết tâm phát triển thế tiến công lên Tây Nguyên, trước mắt là Bắc Tây Nguyên. Nhưng bước đi cụ thể cần điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Không khí cuộc họp bỗng chùng xuống, yên lặng và nghiêm túc hơn. Tất cả cử tọa đều nhìn anh và bồi hộp chờ đợi anh nói tiếp về nội dung điều chỉnh cụ thể. Ngược lại, anh cũng nhìn chúng tôi như để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cấp dưới, rồi dõng dạc như ra lệnh. - Sau khi cân nhắc, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định:

Một là, tiểu đoàn 365 trung đoàn 803 tách khỏi đội hình chiến dịch, khẩn trương chuẩn bị hành quân gấp vào Phú Yên phối hợp cùng lực lượng vũ trang tại chỗ(1) tổ chức các trận phục kích, tập kích nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; gây xáo trộn đội hình hành quân, kìm hãm tốc độ hành quân của địch, làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của chúng ra vùng tự do.

Hai là, điều chỉnh lại kế hoạch tiến công cụm cứ điểm phòng thủ bắc Kon Tum như sau: bỏ kế hoạch 1 đánh bóc vỏ(2), thay bằng kế hoạch tiến công đồng loạt cả ba cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Kông Brây ngay trong đêm ngày 28 (đêm mở đầu chiến dịch). Nhiệm vụ tiêu diệt Măng Đen, Măng Bút vẫn do trung đoàn 108 đảm trách; tiêu diệt Kông Brây giao cho tiểu đoàn 59 (thiếu) trung đoàn 803 - Bỗng giọng anh chậm rãi, tâm tình - với kế hoạch điều chỉnh này các đơn vị có thêm khó khăn, nhất là tiểu đoàn 59. Kế hoạch cũ các đồng chí làm nhiệm vụ chặn viện Kông Brây - Măng Đen, nay tiểu đoàn 59 đảm nhiệm tiến công Kông Brây cùng một đêm với trung đoàn 108 đánh Măng Đen, Măng Bút. Biết vậy nhưng không có cách nào khác. Bởi địch đã đánh ra Phú Yên, đòi hỏi cuộc tiến công của ta phải nhanh về tốc độ, mạnh về cường độ, cùng một lúc tiến công dồn dập và phải đập tan bằng được cụm cứ điểm phòng thủ mạnh của địch ở bắc Kon Tum ngay đêm mở màn chiến dịch, tạo sức áp đảo lớn buộc địch phải điều quân tăng viện cho Tây Nguyên tạo thuận lợi cho ta đánh địch ngoài công sự, góp phần làm đảo lộn cuộc hành quân Át-lăng của chúng, hỗ trợ cuộc chiến đấu tại chỗ của quân dân Phú Yên...

Cuộc họp kết thúc vào lúc 1 giờ chiều khi mặt trời đã xế bóng, cái nóng nung như đang thử sức mọi người. Chúng tôi tỏa về các đơn vị mang theo lòng tin và quyết tâm mới được Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch tiếp sức.

Công việc chuẩn bị cho tiểu đoàn 365 lên đường đi làm nhiệm vụ mới tưởng khó nhưng mọi việc diễn ra đều suôn sẻ. Vì hầu hết cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn quê ở hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, gắn bó với nơi đây ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến; từng sát cánh cùng các đơn vị Nam tiến trong nhiệm vụ chặn địch ở nam bắc Đèo Cả, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Đồng Cam, Buôn Hai Đức, Ma Đrắc, Hảo Sơn, Núi Sầm, Củng Sơn, v.v... nay được lệnh trở lại chiến trường quen thuộc, chứa đựng bao kỷ niệm sâu nặng, gắn bó đùm bọc quân dân, sống chết, đói no có nhau qua tám mùa đánh giặc thì anh em hò reo hết cỡ, vang động cả khu rừng trú quân yên tĩnh. Gần như không ai băn khoăn, lo lắng trước nhiệm vụ đi xa mà chỉ hỏi cán bộ chỉ huy trung đoàn ngày giờ xuất phát, hướng và khu vực tiểu đoàn triển khai chiến đấu là đâu, là tiểu đoàn tổ chức thực hiện liền. Khỏi cần xoi đường vào qua bản đồ, tiểu đoàn cũng lên được kế hoạch hành quân theo đường nào, qua những đâu là thuận lợi, an toàn, tới đích nhanh nhất. Bởi đường vô trong đó, kể cả vùng Nam Tây Nguyên, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 365 thuộc như thuộc lòng bàn tay do nhiều lần vào trận.

Thường vụ đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn còn cử phó trung đoàn trưởng Hà Vi Tùng đi cùng với tiểu đoàn nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo và chỉ huy, đủ năng lực quyết đoán xử trí các tình huống gay cấn nảy sinh trong quá trình chiến đấu độc lập xa trung đoàn. Sức mạnh tình cảm quê hương, cộng với bề dày truyền thống là nguyên nhân trực tiếp để tiểu đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Pháp xâm lược tại chính quê hương mình. Vượt qua đường 19, đặt chân lên mảnh đất quê hương, tiểu đoàn 365 liên tiếp đánh thắng nhiều trận gây ấn tượng được ghi vào lịch sử chiến đấu của chiến trường Nam Trung Bộ nói chung và mặt trận Phú Yên nói riêng trong những ngày đánh trả cuộc hành quân Át-lăng của địch, trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954: Ngày 21 tháng 3 phục kích địch tại Suối Cối (Đồng Xuân). Sau 15 phút chiến đấu đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn “ngự lâm quân” số 2 ngụy, diệt 100, bắt sống 200 tên, thu 28 súng trung liên, 20 súng tiểu liên, hơn 100 súng trường; ngày 21 tháng 4, vượt sông Đà Rằng, tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn ngụy tại bắc cầu Bàn Thạch (Tuy Hòa). Ngày 21 tháng 6 về đội hình trung đoàn 803 (thiếu) cùng với lực lượng vũ trang địa phương tập kích quân Pháp tại thị xã Tuy Hòa, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn, phá hủy hơn 100 xe; Ngày 25 tháng 6 chặn đánh đoàn xe vận chuyển trên đỉnh Đèo Cả, bắn cháy 79 chiếc, diệt và bắt sống 200 tên địch, thu hơn 100 súng các loại; Ngày 17 tháng 7 phát triển xuống tây nam, cắt đứt đường 21 tại khu vực thị trấn Ma Đrắc, mở đường về thị xã Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc).

(Ngày nay hầu hết cán bộ chiến sĩ năm xưa của tiểu đoàn 365 trong chống Pháp đã về nghỉ hưu, đã hòa nhập vào cuộc sống đời thường ở khắp các thôn ấp tại tỉnh Phú Yên quê hương. Nhưng sức mạnh của truyền thống, của tình bạn, tình đồng chí một thời gắn bó đã thôi thúc họ lập ra một tổ chức mang cái tên thân thương Ban liên lạc cán bộ, chiến sĩ hưu trí tiểu đoàn 365, để họ có điều kiện thực hiện nghĩa tình với nhau, ôn lại truyền thống xưa, động viên nhắc nhở nhau sống sao cho xứng đáng với những gì hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất, nghĩa tình nhất của tiểu đoàn 365 trong những ngày chống Pháp năm xưa, “khuyên nhủ nhau” phát huy bản chất truyền thống bộ đội Cụ Hồ trong cuộc sống đời thường “nơi quê hương mình”).


(1) Bao gồm dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực được giao nhiệm vụ tại địa phương.
(2) Kế hoạch đánh bóc vỏ chia làm hai đợt:
a- Đợt 1, trung đoàn 108 và liên đội đặc công tiêu diệt Măng Đen, Măng Bút; trung đoàn 803 đánh viện trên đường Kông Brây - Măng Đen.
b- Tiến công diệt Kông Brây, đánh viện trên đường thị xã Kon Tum - Kông Brây.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:53:24 pm
Xin được tiếp tục trở lại chuyện đang kể. Nếu như việc chuẩn bị cho tiểu đoàn 365 lên đường ra trận không mấy khó khăn, thì việc chuẩn bị cho tiểu đoàn 59 bước vào chiến đấu lại mất nhiều thời gian, mọi việc đều phải làm lại gần như từ đầu. Bởi vì từ nhiệm vụ diệt viện chuyển sang nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm là hoàn toàn khác nhau. Có lẽ vì thế mà sau cuộc họp nghe phổ biến kế hoạch điều chỉnh sáng nay tôi và tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ được lệnh ở lại cùng Phó tham mưu trưởng chiến dịch Nguyễn Bá Phát bàn kế hoạch cụ thể: Tuy là chủ nhiệm chính trị trung đoàn, từ giây phút này tôi được các anh trong thường vụ Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn phân công đi với tiểu đoàn 59 cho đến khi kết thúc đợt hoạt động quân sự Đông Xuân 1953-1954.

Cả buổi chiều ngày 22 tháng 1 năm 1954, chỉ có ba người mà ý kiến trao đổi diễn ra thật sôi nổi, hào hứng. Người này nói chưa hết người khác chen vô, hoặc tán thành có bổ sung, hoặc phủ định. Thế là lại trao đổi, lại tranh luận để tìm chân lý.

Mở đầu buổi làm việc, Phó tham mưu trưởng Nguyễn Bá Phát truyền đạt lại tư tưởng chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch. So với Măng Đen, Kông Brây là một cứ điểm nhỏ cả về binh lực, hỏa lực, hệ thống hầm hào vật cản và cả về mặt bằng phòng thủ. Nhưng lại có vị trí rất quan trọng, nằm trên tỉnh lộ 5 (Kon Tum - Quảng Ngãi), cách thị xã chưa đầy 30 ki-lô-mét về phía đông bắc. Đánh chiếm Kông Brây ta có điều kiện uy hiếp thị xã tỉnh lỵ Kon Tum, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ Bắc Tây Nguyên của địch... Khi hạ quyết tâm đưa cứ điểm Kông Brây vào một trong ba mục tiêu cùng đánh chiếm trong đêm mở đầu chiến dịch, các anh trong Bộ chỉ huy chiến dịch đã nhìn thấy khó khăn, nhưng như Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh nhấn mạnh, gì thì gì cũng chỉ được bàn cách đánh thắng chứ không bàn lui!

Rồi giọng anh chùng xuống, thủ thỉ, tâm tình. - Thời gian không còn nhiều, đề nghị chúng ta để cao trách nhiệm, phát huy dân chủ cùng nhau bàn bạc những biện pháp thiết thực, phù hợp với thực tế, khỏi phụ lòng cấp trên tin cậy nơi bọn mình.

Thế là chúng tôi vào việc liền. Từ những nguồn thông tin tổng hợp do cơ quan tham mưu chiến dịch cung cấp, từ nguồn trinh sát của trung đoàn, của tỉnh ủy Kon Tum gửi về, chúng tôi chụm đầu vào nhau trên tấm bản đồ quân sự mảnh bắc Kon Tum mà đối chiếu lần tìm:

Cứ điểm Kông Brây nằm trên một gò đồi cây lúp xúp, kề bờ tây sông Kông Brây, sát tỉnh lộ 5, chếch tây nam Măng Đen 25 ki-lô-mét.

Muốn tiếp cận Kông Brây phải vòng phía dưới Măng Đen, Măng Bút dài trên 30 ki-lô-mét, qua nhiều đồi núi, nhiều buôn làng thuộc khu vực đồng bào còn bị địch lừa mị khống chế.

Khả năng nổ súng sau Măng Đen, Măng Bút là điều chắc chắn, nên yếu tố bất ngờ không còn, địch sẽ đề phòng kể cả tăng viện đối phó khi ta bị tiến công. Những thông tin quan trọng khác đang còn sơ sài, ngoài quân đồn trú ở đây có chừng một đại đội người Thượng do hai tên sĩ quan Pháp chỉ huy.

Trong khi bàn bạc, chúng tôi đã thống nhất một số việc cần làm ngay, có việc chỉ ra yêu cầu sẽ vừa hành quân vừa tiếp tục chuẩn bị, không thể cầu toàn ngồi chờ đủ điều kiện mới làm. Việc phải làm ngay là chuẩn bị tư tưởng và tổ chức, tinh thần và vật chất để đảm bảo hành quân vừa đi vừa chạy nhưng chạy nhiều hơn di, kịp giờ nổ súng. Ngay trong hành quân đã hình thành đội hình bao vây tập kích xung hỏa lực kết hợp để đến nơi có thể tiến công được ngay theo ba hướng chính, tây, đông và đông bắc đánh vào.

Buổi họp giao nhiệm vụ kết thúc. Từ sở chỉ huy chiến dịch chúng tôi theo tốc độ mã hồi, về đến đơn vị lúc kim đồng hồ đã chỉ 16 giờ.

Được Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn dự liệu trước, cuộc họp ban chỉ huy tiểu đoàn 59 mở rộng đến các đại đội trưởng, trung đội trưởng được triệu tập do trung đoàn trưởng Phan Hàm chủ trì. Trước hết tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ báo cáo lại ý kiến chỉ đạo của bộ chỉ huy chiến dịch, các biện pháp thực hiện đã được ba chúng tôi thống nhất; tiếp đến là phần trao đổi lấy ý kiến rộng rãi của các đồng chí đại đội trưởng, trung đội trưởng là những người trực tiếp chỉ huy chiến sĩ thực hiện.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:54:06 pm
Sau cùng trung đoàn trưởng Phan Hàm kết luận đồng thời cũng là mệnh lệnh cho tiểu đoàn 59:

1. Tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ chỉ huy các đại đội trưởng, đội trinh sát của trung đoàn tăng cường cho tiểu đoàn, 30 cán bộ địa phương thông thạo địa hình của tỉnh Kon Tum gửi đến lên đường ngay đêm nay. Có nhiệm vụ xoi đường vào Kông Brây, đi đến đâu đánh dấu đường đến đây, để người ở lại các đoạn dễ bị lạc làm nhiệm vụ “hoa tiêu” đưa dẫn tiểu đoàn tới đích; tiến hành trinh sát thực địa, xây dựng quyết tâm chiến đấu, phổ biến cho đơn vị ở khu vực tập kết đã quy định trước khi bước vào chiến đấu.

2. Chủ nhiệm chính trị trung đoàn Nam Khánh cùng các đồng chí phó tiểu đoàn trưởng và phó đại đội trưởng khẩn trương chuẩn bị kế hoạch hành quân, 5 giờ sáng mai lên đường theo hợp đồng chung để kịp ngày triển khai chiến đấu đúng ngày N+3 (tức ngày 28 tháng 1 năm 1954).

Đêm ngày 26, trước lúc lên đường tôi cứ thao thức hoài với những lo lắng bồn chồn. Tuy đã dự liệu trước về kế hoạch hiệp đồng cụ thể giữa bộ phận đi trước xoi đường với đơn vị đi sau, nhưng làm sao mà lường trước được những bất trắc!

Ba giờ sáng ngày 27 tháng 1 chúng tôi lên đường vào trận. Như vậy là tiểu đoàn 59 xuất phát trước ba tiếng đồng hồ so với quy định (vì tiểu đoàn 59 phải qua một đoạn đường vòng trên dưới 10 km) để cùng nổ súng đồng thời cùng trung đoàn 108 tiến công Măng Đen, Măng Bút. Nhưng không lường hết con đường vòng lại đèo cao, suối sâu, rừng rậm khó đi đến thế! Lúc này tôi cứ như con thoi, hết lên đầu hàng quân nhắc anh em đi chậm chờ dưới; lúc xuống cuối hàng quân động viên đôn đốc ráng đi nhanh kẻo lạc; lúc đứng giữa hàng quân nhìn các chiến sĩ đại đội trợ chiến, anh em mang vác đại liên, súng cối, ĐKZ mặt mũi bơ phờ, thở dốc, quần áo ướt sũng mồ hôi, bước đi nặng nề, chậm chạp, tôi lại ghé vai giúp anh em chút đỉnh và động viên - ráng lên, sắp đến đoạn đường dễ đi rồi!

Phải mất 6 tiếng đồng hồ mới qua được đoạn đường dài chưa đầy 10 ki-lô-mét. Thật là tốc độ con rùa. 16 giờ chiều chúng tôi vừa tới điểm hẹn thì đã thấy tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ đang chờ. Hai chúng tôi ôm nhau hồi lâu và thở phào nhẹ nhõm - thế là thắng lợi rồi! Đúng là trận đánh chưa bắt đầu mà đã gọi là thắng lợi, vì đã tìm được đường tới mục tiêu, đoạn đường vòng khó đi nhất đã vượt qua. Cả hai chúng tôi không còn bị ám ảnh của cái suy nghĩ lo xa, sợ sa vào một cánh rừng già nguyên sinh nào đó như một trận đồ bát quái không có lối ra, hoặc tìm được đường ra thì Măng Đen, Măng Bút bạn quân đã xóa tên trên bản đồ, lúc ấy biết nói với cấp trên thế nào?

- Đường vào còn xa không? - Tôi hỏi.

- Chừng 20 ki-lô-mét - Lê Hữu Trừ trả lời.

- Đã đến đoạn dễ đi chưa?

- Vừa dễ vừa khó, có cả mai vàng đang chờ đón chúng ta.

Tranh thủ trời còn sáng, chúng tôi họp cán bộ đến tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng để nghe tiểu đoàn trưởng phổ biến quyết tâm chiến đấu sau khi đã trinh sát thực địa.

Ráng chiều bỗng bừng lên, khu rừng già thoáng đãng, nổi rõ vuông giấy trắng mỗi cạnh 60 xăng-ti-mét đính trên thân cây săng lẻ nổi rõ hàng chữ ở phía trên: Sơ đồ trận tiến công cứ điểm Kông Brây. Sơ đồ do tiểu đoàn trưởng thực hiện.

Tất cả hệ thống bố phòng của địch trong cứ điểm này với lô cốt, hầm hào, tường bao, vật cản - rào kẽm gai, bãi mìn được thể hiện đầy đủ rõ ràng, có ghi cả chiều dày, độ sâu, khoảng cách giữa chúng với nhau. Các hướng tiến công do đơn vị nào đảm trách; trận địa SKZ, cối 81 mi-li-mét, đại liên đặt ở đâu cũng được thể hiện bằng những mũi tên, bằng hình vẽ các loại súng.

Nhìn vào bản sơ đồ trận đánh, ai nấy đều tấm tắc khen tiểu đoàn trưởng không những đàn ngọt hát hay mà còn có hoa tay, vẽ rất đẹp và rõ, nhìn vào là thấy liền đơn vị mình ở đâu. Nhờ công của tiểu đoàn trưởng mà buổi giao nhiệm vụ vừa ngắn gọn vừa dễ nhớ, đơn vị nào cũng có thể hình dung được nhiệm vụ của mình phải làm và ở đâu trong khu vực cứ điểm. Tất cả đều nhất trí nhanh, chỉ có một ý kiến nêu lên:

- Nếu địch đưa lực lượng ra ngoài phục sẵn, thực hiện thủ đoạn trong đánh ra ngoài đánh vào thì ta đối phó thế nào?

- Dù địch ở ngoài hay ở trong ta đều phải tiêu diệt, không cho chúng thoát.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:55:20 pm
Những người dự họp đều vỗ tay tán thưởng. Khí thế quyết tâm cao như vậy là tốt, chúng tôi những người trực tiếp chỉ huy trận đánh thật sự yên tâm. Nhưng có cái gì chưa thật ổn, chỉ có quyết tâm thôi chưa đủ mà còn phải có cách đánh phù hợp thì mới hoàn thành được nhiệm vụ. Nghĩ như vậy nên tôi góp thêm. Tình huống mà chúng ta nêu trên không còn là dự kiến, mà đã có trong thực tế và chúng ta đối phó thành công trong chiến dịch An Khê cách đây một năm. Thượng An là một cứ điểm mạnh, giữ vai trò then chốt trong tuyến phòng thủ của địch ở khu vực An Khê. Sau khi Tú Thủy, Cửu An, Eo Gió bị tiêu diệt, ban đêm địch ở Đầu Đèo, Thượng An kéo ra nằm phục bên ngoài. Mấy đêm liền ta tiếp cận đều bị lộ. Để giữ vững nhịp độ tiến công các đơn vị được giao nhiệm vụ phải nổ súng đúng như mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch. Vì vậy kế hoạch tiến công của ta phải điều chỉnh, có bổ sung thêm chi tiết: Bố trí sẵn các trận địa hỏa lực cầu vồng; trinh sát và bộ binh bám sát bọn địch nằm ngoài, mờ sáng khi chúng rút vào sẽ theo sau chân chúng chiếm lĩnh trận địa tiến công luôn. Mọi việc diễn ra đúng như dự kiến. Mờ sáng ngày 21 tháng 1 năm 1953, khi địch ở Thượng An rút vào chưa kịp đóng cự mã(1) thì các chiến sĩ tiểu đoàn 39 xông lên dùng bộc phá đánh sập lô cốt đầu cầu. Giữa lúc địch đang ngơ ngác hoang mang chưa biết quân ta xuất hiện từ đâu, bằng cách nào thì xung kích ta đã tràn vào. Chỉ trong 15 phút trận đánh kết thúc, giành thắng lợi giòn giã. Kinh nghiệm thành công này thật đáng quý, đáng để chúng ta học tập, vận dụng nếu địch ở Kông Brây giở trò bẫy ta.

Lại một tràng vỗ tay hồi lâu, thật giòn vừa tán thưởng điều tôi trình bày vừa để kết thúc cuộc họp thông qua quyết tâm chiến đấu.

Hoàng hôn đến nhanh, chúng tôi lại xuyên qua màn đêm đi tiếp. Mãi 23 giờ 30 phút đoàn quân mới vượt chặng đường mòn 12 km qua những buôn làng đang còn bị địch khống chế lừa mị. Bất chợt một khoảng sáng hiện dần phía trước, mỗi lúc một gần như có cái gì thúc giục, vẫy gọi.

- Hết rừng rồi anh em ơi!

Tiếng reo hò từ phía đầu hàng quân vọng lại, vang động cả khoảng không gian yên tĩnh. Tôi và tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ lúc đầu hơi lo, vì kỷ luật hành quân bị phá vỡ! Nhưng sau trấn tĩnh lại, tự an ủi, địch còn cách xa nếu có biết, cũng không có cách nào đối phó, nên để cho anh em ít phút xả hơi. Hai chúng tôi tranh thủ trao đổi: Giờ này chắc Măng Đen quân ta đã nổ súng, mà tiểu đoàn ta vẫn còn cách địch trên 10 km. Tranh thủ đường bằng lại rộng, ta dồn đội hình thành bốn hàng dọc để nâng cao tốc độ hành quân, kịp nổ súng trước khi trời sáng, địch ở thị xã Kon Tum có muốn tăng viện thì đã muộn.

Không ngờ đường gần tới mục tiêu lại thênh thang rộng mở, cứ men theo bờ tây sông Kông Brây mà xốc tới.

Bỗng tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ ghé sát tai tôi như để khẳng định lời nói khi chiều của anh không hề lãng mạn chút nào mà do chính anh nhìn thấy trên đường mò vào đồn nắm địch:

- Ta đang đi vào xứ sở của mai vàng đang nở rộ.

- Mai vàng! - Tôi khẽ reo mừng tán thưởng và một ý nghĩ chợt đến. - Tết Nguyên Đán gần kề rồi lại tan nhanh vào quên lãng, bởi từ đây kỷ luật hành quân cần phải siết chặt hơn, không để địch đánh hơi, phát hiện, dù chỉ là sơ suất nhỏ.

Vào lúc một giờ ngày 28 tháng 1, chúng tôi chỉ còn cách Kông Brây 5 ki-lô-mét thì nhận được điện của cơ quan tham mưu chiến dịch thông báo: trung đoàn 108 đã nổ súng tiến công Măng Đẹn vào lúc 23 giờ 30 phút; đồng thời trinh sát tiền phương trung đoàn báo cáo: địch ở Kông Brây đã thực hành báo động, nhưng chỉ rộ lên khoảng 15 phút rồi chìm vào màn đêm, không một động tĩnh. Rõ ràng địch đã được lệnh chuẩn bị đề phòng, yếu tố bất ngờ không còn nữa, song chúng vẫn chủ quan cho rằng Việt Minh chỉ đủ lực đánh Măng Đen, còn sức đâu mà vô đây, nên không cho lực lượng ra ngoài cứ điểm phục sẵn như ta dự kiến.

Tranh thủ thời cơ thuận lợi, địch vẫn nghĩ rằng ta không có khả năng đánh sâu vào vùng chúng kiểm soát, chúng tôi khẩn trương triển khai đội hình, nâng cao tốc độ hành quân theo ba hướng: tây (theo tỉnh lộ 5), tây bắc và tây nam tiến vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.


(1) Vật chướng ngại bằng dây thép gai bố trí ở các cửa ra vào.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:56:34 pm
Khoảng 3 giờ sáng địch lại báo động, lần này phóng nhiều pháo sáng và bắn như vãi đạn ra khu vực ngoài cứ điểm, trong khi ở hướng chính ta đã vào hết, nhưng ở hướng tây - nam các đơn vị hỏa lực đã vào chiếm lĩnh trận địa tiến công thì lực lượng xung kích vẫn còn ở phía sau. Chúng tôi thật sự lo lắng, giờ khởi sự đang tới gần nếu có trục trặc về hiệp đồng hậu quả sẽ khôn lường! Anh Lê Hữu Trừ phải đến tận nơi kiểm tra, tìm biện pháp tháo gỡ, guồng máy lại chạy đều, ăn ý. Các mũi, các hướng đã có mặt đầy đủ ở những vị trí quy định, tất cả đều sẵn sàng chờ lệnh.

4 giờ 30 phút địch mới thực sự tin là chúng đang bị đối phương bao vây tứ phía thì đã muộn. Hiệu lệnh tiến công là tiếng nổ của một viên đạn súng trường vút lên không trung, tất cả ba hướng đều đồng loạt nổ súng theo nhiệm vụ được giao, ở hướng tây bắc, hướng tiến công chủ yếu, các chiến sĩ SKZ được lệnh phóng hai quả đạn đánh sập hai trong ba lô cốt phòng thủ vòng trong; tiếp đến súng cối 81 mi-li-mét và trung liên bắn chế áp hỗ trợ các chiến sĩ bộc phá làm nhiệm vụ. Địch ngoan cố chống lại, trung đội phó Trần Xưng (sau được truy tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua) một mình liên tiếp đánh sáu ống bộc phá, cuối cùng anh bị thương nặng vẫn lao người nằm đè lên rào kẽm gai lấy thân làm cầu cho xung kích vượt qua.

5 giờ sáng, trời Tây Nguyên còn đậm mù sương, ở hướng tiến công chủ yếu các tổ bộc phá đã hoàn thành nhiệm vụ mở thông lớp rào kẽm gai cuối cùng, tạo thuận lợi cho lực lượng xung kích phát triển vào tung thâm, đánh chiếm lô cốt mẹ, sở chỉ huy, khu thông tin; thừa thắng phát triển hỗ trợ các hướng tây, tây - nam. Như rắn mất đầu, địch ở các hướng này chống cự yếu ớt, ta vừa tiến công vừa kết hợp kêu gọi địch đầu hàng sẽ được hưởng chính sách khoan hồng. Tiếng súng chống cự thưa dần, cuối cùng tất cả bọn địch bỏ súng giơ cao tay đầu hàng.

Đến 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1954, tiểu đoàn 59 (thiếu) đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm Kông Brây, diệt 10, bắt sống 40, trong đó có hai sĩ quan chỉ huy người Pháp; số khác bỏ chạy vào rừng sau đó đến trình diện nộp súng được ta giải thích chính sách khoan hồng và được phóng thích tại chỗ cho về quê hương, số ở xa còn được cấp gạo ăn đường.

Phải đợi đến lúc hoàn tất xong công việc thu dọn chiến trường, những người tham dự trận đánh chúng tôi mới có phút giây thư giãn, bỏ lại phía sau những tất bật trăn trở trong chuẩn bị kế hoạch chiến đấu; những vất vả gian lao trong cuộc hành quân trèo đèo lội suối liên tục trong 24 giờ liền, cả phút giây căng thẳng và hồi hộp khi tiến gần đến mục tiêu lúc trời sắp sáng, địch báo động đề phòng đối phương tiến công.

Nắng ban mai lan nhanh, phút giây yên tĩnh ngắn ngủi đã đến. Chúng tôi thanh thản ngắm nhìn cứ điểm Kông Brây - một thế hiểm đã thuộc về ta mà phấn khởi, tự hào, mà nghĩ về bước chuyển tiếp, sau Măng Đen, Măng Bút, Kông Brây, là thị xã Kon Tum. Riêng cán bộ tiểu đoàn chúng tôi thì sự suy nghĩ còn mạnh mẽ, cháy bỏng, thôi thúc hơn nhiều. Chẳng thế mà chiều hôm đó cả hai chúng tôi đã mệt nhoài vì công việc xây dựng thế trận đánh viện binh địch từ Kon Tum nống ra, tưởng nằm xuống là giấc ngủ sẽ đến, nhưng không, tiểu đoàn trưởng Lê Hữu Trừ vừa giở bản đồ vừa gọi tôi dậy trao đổi về biện pháp tổ chức hành quân tiếp cận thị xã như thế nào để nhanh mà an toàn.

... Vừa lúc có điện từ trung đoàn gọi xuống. Giọng trung đoàn trưởng Phan Hàm thông báo quyết tâm mới của Bộ tư lệnh chiến dịch.

- Trung đoàn 108 phát triển tiến công về phía tây tiêu diệt quân địch từ Đắc Tô đến Đắc Lây, giải phóng toàn bộ vùng bắc Kon Tum, nối liền vùng tự do Nam Ngãi với căn cứ cách mạng của bạn ở Hạ Lào.

- Trung đoàn 803 áp sát và uy hiếp thị xã Kon Tum, đồng thời đưa ngay một lực lượng xuống phía nam cắt đường 14 - đoạn Plây Cu đi Kon Tum...

Có cái gi như ngỡ ngàng sau khi nghe trung đoàn trưởng thông báo. Nhưng đây là mệnh lệnh nên cần phải động viên nhắc nhở mọi người nghiêm túc thực hiện.

Từ Kông Brây còn khét mùi thuốc súng, chúng tôi xốc lại đội hình, bổ sung thêm vũ khí (vừa lấy được của địch) tiếp tục lên đường ngay trong đêm, theo hướng tây mà đi tới. Mãi trưa hôm sau, ngày 29 tháng 1 mới đến đích. Một cuộc họp ban chỉ huy tiểu đoàn mở rộng đến cán bộ tiểu đội để nghe bộ phận đi trước trình bày phương án chiến đấu. Ban chỉ huy tiểu đoàn nhất trí với phương án tác chiến do bộ phận đi trước trình bày và nhấn mạnh thêm, dù cách nào mọi người cũng phải chuẩn bị tinh thần sẵn sàng và chủ động đánh địch, để thực hiện áp sát và uy hiếp, không thể bị động ngồi chờ.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 07:58:38 pm
Ngày 1 tháng 2, tại trận địa phục sẵn ở Kon-sơm-lư, đại đội 3 đã đánh chặn tiêu diệt một đại đội địch (tù binh khai đây là đơn vị thuộc binh đoàn cơ động 100 từ Phú Yên điều lên tăng viện cho Kon Tum). Tôi thông báo chi tiết này xuống các đại đội, động viên anh em tiểu đoàn 59, đơn vị đầu tiên đối đầu với binh đoàn 100, một đơn vị sừng sỏ của địch, rằng ta đã trực tiếp hỗ trợ mặt trận chiến đấu bảo vệ vùng tự do. Những ngày sau đó, chiến sự diễn biến càng khẩn trương và sôi động.

Đêm ngày 1 tháng 2 tiểu đoàn 59 phối hợp cùng lực lượng đặc công chiến dịch bí mật tập kích sở chỉ huy tiểu đoàn địch tại trung tâm thị xã Kon Tum.

Ngày 4 tháng 2, tiểu đoàn 39 sau khi lật cánh xuống phía nam đã phục kích diệt 7 xe vận tải quân sự trên đường 14 đoạn ngã ba đường vào Ialy. Cùng thời điểm này trung đoàn 108 đã hoàn thành nhiệm vụ đập tan hệ thống phòng thủ quân địch trên đường 14, giải phóng hai huyện Đắc Tô và Đắc Lây.

Ngày 5 tháng 2, toàn bộ quân địch ở thị xã Kon Tum rút chạy; liền sau đó tiểu đoàn 59 được lệnh vào tiếp quản thị xã và tôi được giao tạm làm chủ tịch ủy ban quân quản, chờ tỉnh đội đến sẽ bàn giao.

Vui quá! Bất ngờ quá! Nhiệm vụ được giao mới quá! Lần đầu được nghe cái từ tiếp quản! Nội dung nhiệm vụ và cách tiến hành ra sao, không có ai trả lời rành rọt, mà thời điểm triển khai nhiệm vụ thì quá gấp gáp, không thể ngồi chờ.

Ban chỉ huy tiểu đoàn họp chớp nhoáng, tôi trình bày và được hội nghị nhất trí. Ta tổ chức thành hai lực lượng. Lực lượng quân sự do anh Lê Hữu Trừ chỉ huy làm nhiệm vụ tiếp nhận, canh gác bảo vệ các công sở hành chính, các đồn binh và kho tàng quân sự; giữ gìn an ninh trật tự, truy quét tàn quân địch. Lực lượng chính trị - do tôi phụ trách làm công tác dân vận.

10 giờ, chúng tôi từ hướng đông tiến vào thị xã trong bộ đồng phục xi-ta màu ghi, súng khoác vai được lau chùi sạch sẽ. Càng vào gần thị xã càng háo hức, hồi hộp và ngỡ ngàng, khi đặt chân đến thị xã như đến một vùng đất chết, không một tiếng ồn ào của xe cộ, không một người qua lại, nhà hai bên đường thấp bé, phần nhiều là nhà gỗ, đóng cửa im ỉm.

Ngay những giờ đầu, công việc tiếp quản diễn ra suôn sẻ. Lực lượng quân sự đã tiếp nhận tổ chức canh gác các cơ sở thuộc diện quản lý; lực lượng chính trị phân tán từng tổ ba người xuống các đường phố, ngõ phố, vào từng gia đình thăm hỏi, giải thích chính sách. Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức ba buổi mít tinh quần chúng, hai lần gặp gỡ cha cố và giáo dân để ổn định tư tưởng bà con.

Ngày 7 tháng 2 toàn tỉnh Kon Tum được giải phóng, cuộc sống của thị xã Kon Tum đã trở lại bình thường. Các nhà đều tổ chức đón Tết Nguyên đán mặc dầu hôm nay đã là ngày mồng ba.

Ngày 12 tháng 2 năm 1954, trước khi trở lại đơn vị tôi bàn giao công việc quân quản cho các đồng chí lãnh đạo địa phương tỉnh và bàn giao cả danh sách 30 quần chúng cốt cán đã được lựa chọn để địa phương tiếp tục bồi dưỡng sử dụng họ vào các công việc quản lý đường phố, vận động nhân dân thực hiện chính sách của ta, trước mắt là ủng hộ kháng chiến.

Ngày ấy và bây giờ mỗi khi nhớ lại chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 ở chiến trường Nam Trung Bộ, đông đảo bạn đọc và cả những người trong cuộc chúng tôi đều có chung một băn khoăn là sau khi đập tan cụm phòng ngự then chốt ở phía đông Kon Tum, sao ta không thừa thắng tiến công giải phóng thị xã tỉnh lỵ mà chỉ áp sát uy hiếp? Nhưng thực tế thị xã tỉnh lỵ này đã được giải phóng trước khi toàn tỉnh Kon Tum được giải phóng.

Với tư cách là người chứng kiến lịch sử, tôi muốn kể cùng bạn đọc quá trình diễn biến dẫn đến sự kiện thị xã Kon Tum được xem như không đánh mà tan.

Như bạn đọc đã biết, kế hoạch chiến dịch Bắc Tây Nguyên được chia làm hai bước: Bước 1, tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt Măng Đen, Măng Bút, Kông Brây - cụm phòng ngự mạnh của địch ở đông Kon Tum; bước 2, áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum, đồng thời phát triển tiến công lên phía tây hoàn thành nhiệm vụ giải phóng vùng bắc Kon Tum...

7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1954, bước 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi, cánh cửa vào Bắc Tây Nguyên đã mở, thì ngay sau đó Bộ tư lệnh chiến dịch họp bàn kế hoạch triển khai bước hai.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 08:00:43 pm
Trong cuộc họp này không ít ý kiến đề nghị chuyển hướng tiến công giải phóng thị xã Kon Tum, vì quân lính trong các đồn bốt còn lại đang hoang mang dao động mạnh, thị xã Kon Tum hối hả xin tăng viện vì “quân Việt Minh chỉ còn cách thị xã 30 ki-lô-mét về phía đông!”. Nhưng các anh trong Bộ tư lệnh vẫn không thay đổi quyết tâm với lý do:

Một là, phát triển tiến công lên phía tây là đánh vào nơi địch yếu, có nhiều sơ hở, tiếp tục thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, mở rộng vùng tự do về phía tây thì mới giữ vững được vùng tự do hiện nay.

Hai là, trong tình hình so sánh tương quan lực lượng hiện nay “ta vẫn tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh địch ở nơi địch sơ hở”(1). Chỗ mạnh ta cần tránh đối đầu lúc này là thị xã Kon Tum - một căn cứ quân sự đầu não của tỉnh, có một hệ thống bố phòng mạnh cả về binh lực lẫn hỏa lực. Sau khi cụm cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Kông Brây bị ta san bằng địch vội vã điều hai tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động 100 từ Phú Yên lên tăng cường cho thị xã để chấp nhận tử thủ với ta. Vì vậy ta cần áp sát uy hiếp, đồng thời tổ chức lực lượng đánh cắt đường 14 đoạn Plây Cu đi Kon Tum, đẩy thị xã vào thế bị cô lập.

Nếu cuộc tiến công lên phía tây của ta phát triển tốt, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng vùng bắc Kon Tum, nối vùng tự do Nam - Ngãi(2) với căn cứ cách mạng của bạn ở Trung - Hạ Lào thì thị xã Kon Tum bị dồn vào thế bị bao vây, vai trò nòng cốt của một căn cứ quân sự đầu não của tỉnh sẽ bị vô hiệu hóa. Và nếu ta thực hiện đánh cắt đường 14 thì địch ở thị xã sẽ hoang mang rối loạn, dẫn đến tình hình quân địch hoảng loạn.

Anh Nguyễn Chánh nhấn mạnh - Lúc ấy rất có khả năng buộc địch phải rút bỏ thị xã, ta không nhanh thì bỏ lỡ thời cơ truy kích địch.

Từ những phân tích trên, tối ngày 28 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định bước hai của chiến dịch bắt đầu.

Mờ sáng ngày 29 tháng 1, trung đoàn 108 lật cánh sang hướng tây trong tình hình vũ khí đạn dược được bổ sung đầy đủ nhưng lương thực thì cạn kiệt, mỗi chiến sĩ chỉ còn đủ gạo ăn hai ngày, mà quãng đường hành quân lại dài. Nhưng không một cán bộ, chiến sĩ nào đặt ra một điều kiện gì, nhận lệnh là lên đường ngay.

Trận thắng mở đầu giải phóng quận lỵ Đắc Tô. Toàn bộ quân đồn trú ở đây bỏ chạy, đầu hàng và bỏ lại toàn bộ vũ khí đạn dược, cả lương thực dưới dạng thóc. Thật may cũng vừa lúc gạo mang theo vừa hết. Súng đạn đã quý nhưng lương thực lúc này quý hơn cả vàng. Thế là vừa thu dọn chiến trường, tiếp tục truy quét tàn quân địch, chuẩn bị kế hoạch chiến đấu tiếp sau; trung đoàn vừa tiến hành lập “phân xưởng” chế biến lương thực, số cán bộ, chiến sĩ có “tay nghề” từ các đơn vị được gọi gấp về thành lập các tổ đẽo chày, đan phên, rổ rá, giần sàng, đào hố đặt mê đan xuống lót hố thành cối giã gạo dã chiến, tiếng cắc cùm cum vang lên rộn ràng như cảnh thanh bình nơi buôn sóc. Ba giờ sau hạt thóc biến thành hạt gạo trắng phau, thơm phức đủ của ăn của để dành mang theo. Bữa cơm đầu tiên tại trận địa còn khét mùi thuốc súng thật ngon, thật đã, không còn cảnh ăn trông nồi, ai nấy được ăn thoải mái theo nhu cầu. Đúng là thực túc binh cường, tốc độ hành quân được nâng cao. Chỉ trong bảy ngày trung đoàn 108 vượt qua chặng đường gần 100km, vừa đi vừa trinh sát địch, vừa chuẩn bị chiến đấu và liên tục tiến công đập tan tuyến phòng thủ của địch, giải phóng hai huyện Đắc Tô, Đắc Lây. Một đại đội thuộc tiểu đoàn 50 với khí thế xốc tới, truy kích địch liên tục suốt 12 ngày đêm, qua cả đất Lào mà không biết. Mãi khi gặp bộ đội Pa-thét Lào và trung đoàn 101 Quân đội nhân dân Việt Nam mới biết mình đang ở nước bạn Lào...

Ngày 3 tháng 2 trung đoàn 108 kết thúc thắng lợi cuộc tiến công về phía tây, toàn bộ khu vực bắc Kon Tum hoàn toàn được giải phóng.

Ngày 4 tháng 2, tiểu đoàn 39 (trung đoàn 803) sau ba ngày hành quân vất vả, lật cánh xuống phía nam đã tổ chức thành công trận đánh cắt đường 14 đoạn Plây Cu - Kon Tum, diệt 7 xe quân sự của địch. Trận thắng tuy không lớn nhưng đã buộc tướng Đờ Bô-pho, tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Tây Nguyên phải ra lệnh rút khỏi thị xã Kon Tum, đưa quân về phòng thủ Plây Cu; đồng thời tạm đình chỉ cuộc hành quân Át-lăng, đưa phần lớn lực lượng từ Phú Yên lên tăng cường phòng thủ tuyến đường 19 và Nam Tây Nguyên.

Những diễn biến trên đây cho thấy ta giải phóng thị xã Kon Tum không phải bằng trận tiến công đối đầu trực tiếp với quân đồn trú trong khu vực phòng thủ thị xã mà bằng quá trình tạo thế, cài thế, dồn lực lượng địch tuy còn mạnh ở vào cái thế bị bao vây, uy hiếp mạnh buộc phải vội vã tháo chạy theo kiểu bỏ của lấy người.

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên kết thúc thắng lợi mà đỉnh cao là thị xã Kon Tum được giải phóng nhanh gọn và trong nguyên vẹn.

Ngày 6 tháng 2 địch rút chạy khỏi tiểu khu quân sự phía bắc cao nguyên chiến lược.

Ngày 7 tháng 2 Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Nguyễn Chánh từ sở chỉ huy ở Kon-xơ-bai lên ôtô tiến vào thị xã tỉnh lỵ Kon Tum. Tại đây anh Nguyễn Chánh đã liên lạc được với Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp kiêm Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ đang ở sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng. Sau khi nhận được điện báo cáo, Đại tướng hỏi:

- Có thật Kon Tum được giải phóng không?

- Hiện tôi đang đứng tại trung tâm thị xã để báo cáo Đại tướng Tổng tư lệnh.

Liền đó, Đại tướng qua anh Nguyễn Chánh chuyển lời khen ngợi tất cả cán bộ chiến sĩ tham gia chiến dịch đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm tạo nên một thắng lợi to lớn góp phần làm chuyển biến cục diện có lợi cho ta trên phạm vi toàn quốc.


(1) Nghị quyết Trung ương lần thứ IV tháng 3 năm 1953.
(2) Quảng Nam - Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 08:07:08 pm
Chương VI
MẶT TRẬN CHUYỂN VỀ NAM


1

Sau khi thị xã Kon Tum và vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng, hai trung đoàn 108 và 803 được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch khẩn trương phát triển thế tiến công về hướng Plây Cu. Riêng tôi mười ngày sau mới được lệnh bàn giao nhiệm vụ chủ tịch ủy ban quân quản thị xã cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh Kon Tum, trở lại trung đoàn 803 nhận nhiệm vụ mới.

Ngày 13 tháng 2 tôi bàn giao thì sớm ngày 14 lên đường với đầy ắp những hứng khởi. Chỉ một đợt tiến công đầy mưu trí, toàn bộ tuyến phòng thủ đông bắc và tây bắc được coi là bất khả xâm phạm đã bị đập tan, một vùng địa bàn chiến lược Bắc Tây Nguyên rộng 16.000 ki-lô-mét vuông với 200.000 dân đã được giải phóng, vùng tự do của ta được mở rộng từ ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi đến biên giới Việt - Lào, nối liền với vùng giải phóng của bạn ở Hạ Lào. Từ bàn đạp này ta có điều kiện thuận lợi phát triển thế tiến công vào Nam Tây Nguyên, đông bắc Cam-pu-chia, thậm chí có thể mở đường xuống Bù Đăng, Đồng Xoài quẹo vô hướng Sài Gòn...

Sự suy nghĩ vừa hiện thực vừa pha chút lãng mạn của người lính khiến tôi quên cả mệt nhọc bởi con đường lắm suối sâu, đèo cao, rừng rậm mà mình đang đi, tới đích rồi mà vẫn tưởng còn phải đi tiếp. Toàn bộ đội hình trung đoàn 803 (thiếu tiểu đoàn 365) đang đứng chân nơi khu rừng nguyên sinh cách Đắc Đoa chừng 3 ki-lô-mét, cách thị xã Plây Cu khoảng 20 ki-lô-mét mà kẻ địch không hề biết. Mới xa nhau vừa tròn một tháng mà câu chuyện chiến đấu dồn lại tưởng chừng đã lâu được dịp bung ra thả sức. Các anh trong ban chỉ huy trung đoàn cho tôi là người gặp hên, được làm người thành thị và muốn tôi kể đủ chuyện về người và cảnh ở cái thị xã phố núi nhỏ không bằng thị trấn Phú Phong quê tôi.

Ngày 15 tháng 2, Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn họp mở rộng quán triệt nhiệm vụ mới mà Bộ chỉ huy chiến dịch vừa giao cho trung đoàn 803. Tôi lại trở về nhiệm vụ của mình - chủ nhiệm chính trị trung đoàn.

Mở đầu buổi họp, anh Nguyễn Thái, Liên khu ủy viên, chính ủy kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn truyền đạt tinh thần hội nghị Thường vụ Liên khu ủy và Đảng ủy chiến dịch họp đầu tháng 2: Sau khi buộc phải tháo chạy khỏi Kon Tum, địch ra sức dồn lực lượng từ Phú Yên lên phòng thủ Tây Nguyên(1), nhất là khu vực thị xã Plây Cu nhằm tạo ra khả năng phòng thủ vững chắc, sẵn sàng mở các cuộc hành quân tái chiếm, nhanh chóng chuyển sang tiến công một khi ngăn chặn được các cuộc tiến công của ta xuống Nam Tây Nguyên. Về ta, thắng lợi giành được vừa qua là lớn, tạo được thế chiến dịch khá thuận lợi. Nhưng vẫn chưa giành được thế chủ động hoàn toàn về chiến dịch. Vì vậy lúc này cần tranh thủ thời gian đẩy mạnh hoạt động quân sự, coi “việc đánh giặc là nhiệm vụ trung tâm thứ nhất, các nhiệm vụ khác phải phục vụ cho đánh giặc”(2).

Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ chung trên đây, hội nghị Thường vụ Liên khu ủy và Đảng ủy chiến dịch quyết định nhiệm vụ quân sự trước mắt là tổ chức một đợt tiến công ngắn nhưng có sức thối động mạnh cụm phòng thủ thị xã Plây Cu và đường 19, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, buộc chúng bị động đối phó chưa dám rút lực lượng phản công ta, tạo thêm điều kiện để ta nhanh chóng ổn định vùng mới giải phóng, sẵn sàng đánh bại cuộc hành quân tái chiếm của địch.


(1) Lực lượng địch lúc này bố trí thành hai khu vực lớn:
a. Ở Tây Nguyên:
- 9 tiểu đoàn (trong đó có binh đoàn cơ động 100) bố trí thành hai khu vực thị xã Plây Cu và đồn điền Biển Hồ hình thành tuyến phòng thủ thị xã Plây Cu.
- Trên đường 19 - An Khê, 9 tiểu đoàn (trong đó có các binh đoàn cơ động 11, 12), tổ chức thành tuyến chốt chặn, không cho ta vượt đường vào cao nguyên Đắc Lắc.
- Hai binh đoàn cơ động 41, 42 bố trí ở Trà Khê vừa làm nhiệm vụ phòng thủ cửa ngõ đi vào Nam Tây Nguyên vừa làm lực lượng cơ động xuống đồng bằng.
b. Ở đồng bằng:
10 tiểu đoàn (có binh đoàn cơ động 10) đang chiếm giữ thị xã Tuy Hòa, ngã ba Chi Thạnh, La Hai; 6 tiểu đoàn dự bị đứng chân ở Ninh Hòa, Nha Trang.
(2) Mật điện của Trung ương gửi Khu 5 ngày 26 tháng 1 năm 1954.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 08:09:05 pm
Sau khi trình bày nhiệm vụ cụ thể của các mũi, các hướng và kế hoạch hiệp đồng chiến đấu, trung đoàn trưởng Phan Hàm nói thêm: Yêu cầu của đợt tiến công này là đánh sâu vào trung tâm thị xã đồng thời dồn dập tiến công vào cánh cung phòng thủ vòng ngoài, trong đó Đắc Đoa là mục tiêu chủ yếu của đợt tiến công này. Nhưng Đắc Đoa là một cứ điểm mạnh(1), muốn đập tan được nó ta phải có quyết tâm cao và phải có cách đánh phù hợp.

Được đảng ủy trung đoàn chấp thuận, tôi tranh thủ hội ý với các đồng chí chính trị viên tiểu đoàn, chính trị viên đại đội, bí thư chi bộ tổ chức quán triệt đến chiến sĩ về mục đích và ý nghĩa của trận đánh; tổ chức cho anh em mạn đàm làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng tinh thần chiến đấu xả thân.

Sau các buổi sinh hoạt chính trị và sinh hoạt dân chủ về quân sự ai nấy đều có quyết tâm cao trước khi vào trận. Ngày 16 trôi nhanh, thoảng có tiếng động cơ máy bay vượt qua khu vực đứng chân của trung đoàn 803, lao về phía ngã ba đường 19 bis như để trấn an quân đồn vừa từ Phú Yên điều ra tăng viện cho khu vực Plây Cu, đường 19.

20 giờ ngày 17, đội hình chiến đấu của trung đoàn chia thành ba lực lượng, theo ba hướng bắc, tây bắc, và đông bắc tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Phân đội kiềm chế pháo trên đồi Cơ-ty-prông đã đến vị trí trú quân.

Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Nguyễn Chánh theo sát trung đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh. Trận đánh đúng vào đêm rằm tháng giêng âm lịch, trăng sáng như ban ngày. Ta thuận lợi trong vận động tiếp cận, thực hành bộc phá mở cửa, đánh chiếm tung thâm. Ngược lại, địch không có pháo sáng vẫn từ trong cứ điểm nhìn rõ các mũi, các hướng của ta đang vận động áp sát cứ điểm, kịp thời dùng hỏa lực bắn chặn nếu ta không chú ý lợi dụng địa hình địa vật.

1 giờ ngày 28 tháng 2, trận tiến công bắt đầu. Tất cả các hướng đồng loạt nổ súng yểm trợ cho bộc phá mở cửa. Ở hướng bắc (hướng tiến công chủ yếu) do đại đội của tiểu đoàn 59 đảm trách, bị địch chống trả quyết liệt, đã có thương vong. Đại đội trưởng Lê Công Khai bị địch bắn nát cả hai chân vẫn lê mình tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu, nhưng vẫn bị hỏa lực địch bắn chặn, vì lớp kẽm gai quá nhiều. Anh em có sáng kiến dùng cây lồ ô (một loại tre, thân nhỏ, thẳng dài từ 5-10 mét mọc thành rừng - NG) chẻ đôi ghép thành bè bộc phá, cùng một lúc đánh được nhiều lớp kẽm gai. Nhưng cũng chỉ đánh được một lần, địch phát hiện (vì ánh trăng quá sáng) tập trung hỏa lực đối phó. Cuộc chiến đấu càng trở nên quyết liệt, giằng co. Song quân đồn trú có lợi thế, có công sự che chắn; còn ta ở vào thế bất lợi, phải chiến đấu ngoài công sự, thương vong tăng.

Tôi thực sự lo lắng trước những diễn biến không thuận ở hướng tiến công chủ yếu; các anh Nguyễn Thái, Phan Hàm cũng có chung tâm trạng như tôi, ai cũng đang ẩn chứa trong đầu, suy nghĩ tìm cách tháo gỡ nhưng chưa nói ra. Chính vì thế mà chúng tôi thấy cần thiết phải có cuộc hội ý để cùng nhau trao đổi. Phía trước súng vẫn nổ dữ dội, càng thúc giục chúng tôi buộc phải có cuộc hội ý Thường vụ Đảng ủy gồm anh Nguyễn Thái, bí thư, anh Phan Hàm và tôi, ủy viên thường vụ, để sớm có một quyết định xử trí hữu hiệu.

Mở đầu cuộc họp, anh Thái bình tĩnh, tự tin nêu ý kiến:

- Rút đại đội 1 (ở hướng chủ yếu) về phía sau củng cố, để lại một bộ phận nhỏ vừa đào công sự và chiến đấu cầm cự, cùng với các hướng khác tiến hành bao vây, bắn tỉa, tối mai đánh tiếp.

Một giây im lặng qua nhanh, anh Phan Hàm nhìn tôi, tôi nhìn anh Phan Hàm có ý để trung đoàn trưởng cho ý kiến trước. Như có cái gì đắn đo, pha chút ngập ngừng rồi anh khẳng định:

- Đưa lực lượng dự bị vào thay thế, đảm bảo liên tục chiến đấu, cố gắng dứt điểm trước khi trời sáng, chậm là mất thời cơ.

Tôi đồng tình với ý kiến anh Phan Hàm và thêm:

- Ở hướng thứ yếu đang phát triển thuận lợi, nên cần đưa lực lượng dự bị vào tiếp tục chiến đấu, các hướng hỗ trợ cho nhau, ta đủ khả năng dứt điểm.


(1) Cứ điểm Đắc Đoa nằm trên một ngọn đồi thoai thoải hình chữ nhật, dài 200 mét, rộng 150 mét, có ba lô cốt gỗ đất, ba lô cốt bê tông; có hệ thống giao thông hào chung quanh căn cứ, nối từ lô cốt mẹ sang các lô cốt khác, có tường đất cao 1,5 mét, rộng 0,40 mét. Khi đưa hai đại đội thuộc binh đoàn cơ động 100 ra chiếm giữ, địch bổ sung thêm 3 lớp, nâng tổng số 7 lớp kẽm gai. Nhà cửa trong đồn trại đều được bê tông hóa, mỗi nhà là một công sự có thể chịu được pháo 105 ly. Cứ điểm còn được trận địa pháo 8 khẩu 105 ly đặt ở đồi Cơ ty-prông yểm trợ khi bị đối phương tiến công.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Bảy, 2022, 08:11:39 pm
Anh Nguyễn Thái vẫn bình thản, không nói thêm cũng không bác ý kiến của hai chúng tôi mà điện báo cáo ý kiến xử trí của anh về Bộ chỉ huy chiến dịch, rồi bỏ ống nghe xuống chờ đợi. Thì liền ngay đó máy điện thoại đổ chuông. Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Nguyễn Chánh nói - Cách chức chính ủy và bí thư đảng ủy trung đoàn của anh Nguyễn Thái. Quyết định trung đoàn trưởng Phan Hàm kiêm chức bí thư đảng ủy tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu. Đây là trận then chốt trong đợt tiến công ngắn, khó mấy cũng phải đánh và phải thắng.

Cuộc chiến đấu tiếp tục theo phương án hai, phát triển đều trên cả ba hướng. Khoảng 4 giờ 30 phút sáng ở hướng tây - bắc (hướng thứ yếu thứ nhất) đại đội 2 của tiểu đoàn 59 phát triển thuận lợi hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Tiểu đoàn trưởng Phan Đình Dư bị thương băng kín cả nửa đầu vẫn không rời vị trí chỉ huy. Người này ngã xuống người khác xông lên. Cán bộ trên hy sinh cán bộ dưới thay thế, tiếp tục tiến công về hướng lô cốt mẹ ở giữa cứ điểm được xem như một điểm tựa mạnh khống chế toàn bộ cứ điểm. Địch ở hướng bắc bắt đầu dao động. Tranh thủ thời cơ, trung đoàn trưởng Phan Hàm hạ lệnh đại đội 4 của tiểu đoàn 39 (lực lượng dự bị) đang có mặt ở hướng này đánh mạnh vào lô cốt mẹ. Lô cốt bị sập, thừa thắng các hướng đồng loạt nổ súng đánh thẳng vào tung thâm phòng thủ của địch...

5 giờ sáng ngày 18 tháng 2, sau năm giờ chiến đấu gay go, quyết liệt, có lúc tưởng không vượt qua phải dừng lại củng cố rồi đánh tiếp, nhưng chúng tôi đã bằng cả cái quyết đánh phối hợp với cái biết đánh, nhờ đó trung đoàn 803 lại vượt tiếp một đoạn đường, hoàn thành nhiệm vụ được giao, đánh vào tận tung thâm cứ điểm Đắc Đoa, diệt và bắt sống 150 lính Âu Phi thuộc binh đoàn cơ động 100. Phía tây thị xã - khu vực Biển Hồ, phân đội kiểm chế của trung đoàn đã pháo kích kiềm chế hoạt động yểm trợ của trận địa pháo ở đây, hỗ trợ cho hướng Đắc Đoa; đồng thời nghi binh dụ địch nống ra nơi ta ém quân sẵn, bất thần nổ súng diệt và làm bị thương hàng trăm địch quanh khu đồi Cơ-ty-prông nơi đặt trận địa pháo 105 mi-li-mét của địch.

Sau giải phóng Bắc Tây Nguyên, sau trận thắng Đắc Đoa, tất cả các đơn vị đứng trong đội hình chiến dịch đã không còn mảy may những suy tư, những trăn trở, những băn khoăn lo lắng, cả nghi ngờ, rằng có cần thiết phải hành quân lên Tây Nguyên hay không?

Giờ đây chúng tôi đang phơi phới niềm tin tưởng mãnh liệt, tin vững chắc, tin tuyệt đối vào đồng chí Nguyễn Chánh - Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch, vững bước tiến xuống Nam Tây Nguyên đánh những trận thắng giòn giã hơn nữa, làm vỡ mộng Át-lăng của tướng Na-va trên chiến trường Tây Nguyên chứ không phải ở vùng tự do Khu 5.

Không cam chịu thất bại, ngày 12 tháng 3, tướng Na-va lại huy động 50 tiểu đoàn mở cuộc hành quân Át-lăng đợt hai đánh ra Quy Nhơn(1) Bình Định nhằm mục đích chủ yếu là “phòng ngừa một hiểm họa thường xuyên của đối phương đối với miền Nam Đông Dương bao gồm Nam Bộ, Hạ Lào và Cam-pu-chia(2)”.

Lường trước âm mưu địch, ngay sau khi chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên kết thúc, Thường vụ Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 5 chủ trương:

- Tập trung ba trung đoàn 108, 96 (mới thành lập sau giải phóng Kon Tum) và trung đoàn 120 (trung đoàn chủ lực hoạt động tại tỉnh Gia Lai) cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh gãy cánh quân địch trên đường 19, kiên quyết không cho cánh quân từ đường 19 xuống, cánh quân từ biển vào nối liền nhau.

- Điều trung đoàn 803 (thiếu một tiểu đoàn) vượt đường 19 tiến vào khu tam giác Plây Cu - Cheo Reo - An Khê, uy hiếp hệ thống đồn bốt địch bảo vệ đường số 7 (khu vực Mỹ Trạch) và đường số 14, đánh cắt giao thông trên tuyến đường này, buộc địch phải điều quân giải tỏa.

- Điều tiểu đoàn độc lập 375 (vừa mới thành lập) trực thuộc Bộ tư lệnh Liên khu vào Phú Yên hợp cùng tiểu đoàn 365 (trung đoàn 803) đã vào trước và cùng với lực lượng vũ trang địa phương uy hiếp mạnh phía sau lưng địch theo đường 1 đánh ra Bình Định. Đồng thời Thường vụ Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu còn chỉ thị các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, kể cả vùng vừa bị địch chiếm đóng... và đưa một số bộ phận chủ lực về đồng bằng đối phó với trường hợp địch đánh ra vùng tự do Quảng Ngãi.


(1) Cuộc hành quân Át-lăng đợt hai theo ba hướng: hướng thứ nhất gồm 8 tiểu đoàn (có binh đoàn 10) từ biển đổ bộ vào; hướng thứ hai gồm các binh đoàn 41, 42 từ Phú Yên theo đường 1 đánh ra Diêu Trì; hướng thứ ba gồm các binh đoàn 11, 21, 100 theo đường 19 đánh xuống Phú Phong (Bình Khê).
(2) Na-va, Đông Dương hấp hối, Nxb Plông, Pa-ri, 1958.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:40:54 am
Sau năm ngày khẩn trương chuẩn bị, cái khó không thể vượt qua vẫn là chuyện “thực túc binh cường”. Tính tới tính lui, Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn 803 buộc phải tính “quẩn”, dồn gạo cho tiểu đoàn 59 vào trước kịp phối hợp chung trên toàn tuyến. Trung đoàn bộ và tiểu đoàn 39 ở lại chờ lương thực vào sau.

Đêm ngày 28 tháng 2, tôi lại được phân công đi cùng tiểu đoàn 59 vượt đường 19 vào đứng chân tại khu vực ngã ba đường số 14 và đường số 7 (khu vực Mỹ Trạch). Khí thế trận thắng Đắc Đoa vẫn đang còn nóng hổi thôi thúc mọi người phấn khởi lên đường. Ngày 2 tháng 3 năm 1954 chúng tôi tới địa điểm tập kết thì ngay chiều cùng ngày một cuộc họp cán bộ từ đại đội trở lên được triệu tập để bàn kế hoạch nhổ đồn Plây Tàu, kề ngay ngã ba Mỹ Trạch do một trung đội ngụy người dân tộc đóng giữ với hệ thống bố phòng sơ sài. Đại đội 2 của tiểu đoàn đảm trách nhiệm vụ này.

Đêm ngày 2 rạng ngày 3 tháng 3 tổ đặc công bí mật cắt rào đưa bộc phá vào tận chân tường nhà ở của quân đồn trú. Đúng 1 giờ ba quả bộc phá nổ, quân lính hoảng hốt không hiểu pháo từ đâu bắn tới, thì một trung đội bộ binh tiến vào, địch không kịp đối phó, một số tên ngoan cố bị diệt, số còn lại tháo chạy và đầu hàng. Trận đánh kết thúc nhanh gọn, ta diệt 5, bắt sống 10, thu toàn bộ vũ khí.

Ngày 10 tháng 3, trung đoàn bộ và tiểu đoàn 39 cũng đã tới địa điểm tập kết, có đủ điều kiện để thực hiện những trận đánh lớn hơn. Nam Tây Nguyên lúc này đang vào cuối mùa khô. Vùng trú quân của chúng tôi là khu rừng khộp mùa này lá rụng, phải chuyển sang các rẫy chuối của đồng bào ở dọc hai bờ suối Ai Đưng thuộc khu du kích Đắc Pớt, tỉnh Gia Lai. Nghề sinh sống của đồng bào dân tộc ở đây là phát rẫy và trồng chuối, chuối bạt ngàn khắp nơi, có những nương chuối rộng tới 5-7ha, thực sự là những cánh rừng nhân tạo, là nơi giấu quân rất tốt trong thời gian này. Cũng cần nói thêm là ngày ấy ở khu du kích Đắc Pớt rộng hàng trăm ki-lô-mét vuông này tìm hổ, săn hổ, muốn nấu cao hổ không khó. Hổ là đối tượng thứ hai nhắc nhở mọi người cảnh giác đề phòng, nhưng chuyện đau lòng vẫn cứ xảy ra. Nhớ hồi cuối năm 1951, đội võ trang tuyên truyền chúng tôi từ đồng bằng tình nguyện lên đây làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động gây cơ sở chính trị trong quần chúng, một đội viên đã bị hổ vồ. Cả đội chia nhau đi tìm, vào tận rừng sâu cả tuần lễ vẫn không thấy. Đêm về hổ càng quậy phá mạnh; hổ vào các buôn làng bắt lợn, bò của dân lôi vào rừng sâu ăn thịt. Trên đường hành quân qua đèo Tông A xuống Cheo Reo gặp rừng già phải nằm lại đề phòng hổ, chờ sáng đi tiếp. Một đơn vị khác nghỉ lại qua đêm được hổ đến “thăm”, cả đơn vị báo động thức dậy hò la, hổ chạy, một chiến sĩ bị hổ liếm chân mất một mảng thịt, phải cấp cứu băng bó.

Xin được tiếp tục chuyện đang kể. Sau trận Plây Cần là đâu? Đó là câu hỏi được đặt ra đối với trung đoàn 803. Trên hướng đường 14 ư? Trung đoàn đã tung một đại đội lên đó, báo cáo về gặp không ít khó khăn. Địa hình trống trải, cháy trụi, năm mười ngày mới có chuyến “công voa” hàng trăm xe, có hộ tống, sục sạo kỹ, không tài nào phục kích được. Ấy là chúng tôi muốn cùng một lúc, đánh nhiều trận, trên nhiều hướng cảnh báo cho địch biết rằng không dễ dàng mở cuộc hành quân Át-lăng.

Sau nghĩ lại thấy có phần hơi lãng mạn. Tiếng là một trung đoàn nhưng tiểu đoàn 365 đã tách khỏi đội hình trung đoàn xuống chi viện cho mặt trận Phú Yên trước khi chiến dịch Bắc Tây Nguyên nổ súng, một đại đội lên hướng đường 14. Thực lực còn lại năm đại đội bộ binh, hai đại đội trợ chiến. Nói là đại đội nhưng ngót ba tháng chiến đấu, phần thương vong, phần đau yếu chưa được bổ sung, quân số thiếu nhiều.

Cuối cùng Đảng ủy họp quyết định, trước mắt tập trung lực lượng tiêu diệt Plây Ring làm bàn đạp thọc sâu xuống phía nam, đánh phá hậu phương an toàn của địch đang có nhiều sơ hở. Cứ điểm Plây Ring cách ngã ba đường 14 và đường 7 khoảng 15 ki-lô-mét về phía đông, có nhiệm vụ bảo vệ đường 7 đi Cheo Reo. Tại đây địch có một đại đội ngụy chốt giữ do một sĩ quan Pháp chỉ huy. Công việc chuẩn bị cho trận đánh đang tiến hành suôn sẻ thì địch đột ngột tăng thêm hai đại đội Âu Phi. Số là địch phán đoán chủ lực ta đã có mặt ở Nam Tây Nguyên. Sau trận Plây Tàu thì địch khẳng định chứ không còn ở mức phán đoán. Nhất là số tù binh bị tiểu đoàn 59 bắt trong trận Plây Tàu giao cho địa phương áp giải về phía sau; trên đường đi phải ngủ lại qua đêm. Lợi dụng sơ hở mất cảnh giác của ta, tù binh cướp súng bắn chết các chiến sĩ áp giải, chạy về Plây Cu hoảng hốt kêu: Việt Minh đã đến ngã ba Mỹ Thạch rất đông!

Ngày N đã đến (ngày 20 tháng 3). 5 giờ chiều lần lượt các đơn vị đội hình chiến đấu rời khỏi vạt rừng thưa, bắt đầu xuất kích. Từ vị trí trú quân đến Plây Ring, toàn rừng cây khộp trụi lá, đồi tranh trơ trụi, không có chỗ ẩn nấp. Kế hoạch là phải dứt điểm trước 3 giờ sáng để kịp vượt sông Ay-dưng, đi thêm 10 ki-lô-mét mới đến địa điểm trú quân kín đáo, an toàn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:41:36 am
Đêm nay sao giống như đêm vào trận Đắc Đoa cách đây vừa đúng một tháng. Trời trong vắt, trăng tròn (16 tháng 2 âm lịch) sáng vằng vặc treo lơ lửng, đọc viết không cần đèn. Nhưng chẳng ai còn thời gian để mà ngắm nhìn bình giá cái đêm trăng mùa xuân cao nguyên thật đẹp này. Trời trong hơn, thấp hơn, đẹp hơn dưới đồng bằng. Tất cả đang hút về phía trước.

Trên đường di chuyển, vừa đến điểm dừng trung đoàn nhận được điện thông báo của Bộ chỉ huy chiến dịch: Ngày 20 địch điều binh đoàn cơ động 100 tăng cường cho Plây Ring để ngày 21 chúng mở cuộc càn lớn vào khu du kích Đắc Pớt. Trung đoàn 803 chủ động đánh địch.

Đúng là chúng tôi đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan! Mọi diễn biến đến quá nhanh và ngoài dự kiến. Song cái giây phút ấy diễn ra không lâu. Anh Phan Hàm hội ý Thường vụ Đảng ủy, có anh Võ Bẩm mới được trên điều về làm chính ủy trung đoàn và tôi tham dự. Tình hình đã rõ, chúng tôi chỉ bàn và thống nhất một số việc cần làm trước mắt: Lệnh cho đơn vị tạm dừng tại chỗ nhưng vẫn duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; chỉ huy trưởng các tiểu đoàn, đại đội lên phía trước quan sát nắm địch và thống nhất nhiệm vụ, kế hoạch hiệp đồng chiến đấu ngay tại thực địa.

5 giờ 30 chiều, hoàng hôn xuống dần, từ đồi quan sát nhìn xuống Plây Ring vẫn rõ như có ống nhòm. Hôm qua còn là một đồn binh bé nhỏ nay đầy ắp những người là người, tràn cả ra ngoài hàng rào, vạt ruộng. Cảnh quân lính sau một ngày hành quân mệt mỏi nằm vạ vật, pháo vẫn lắp sau xe ô tô, ỷ vào bọn trong đồn không tổ chức canh gác.

- Một cảnh đóng quân dã ngoại lộn xộn và chủ quan. - Trung đoàn trưởng Phan Hàm nhận xét.

- Chỉ một quả cối cỡ 61 mi-li-mét, có thể xơi tái một đại đội - Tôi chen vào.

- Một ý kiến hay. - Anh Phan Hàm biểu dương và tiếp. - Địch tình và địa hình quá rõ, ai có ý kiến gì về kế hoạch tác chiến xin cứ nêu nhưng phải ngắn và rõ. - Anh Phan Hàm gợi ý mở đầu cuộc trao đổi.

Một cán bộ tiểu đoàn từng xông pha trận mạc nhiều lần nêu ý kiến trước:

- Tình hình địch đã thay đổi, chúng quá đông, ta cần phải có thời gian nắm thật chắc địch, đánh đêm nay khó bảo đảm thắng lợi!

- Hoãn đến bao giờ? - Đại đội trưởng đại đội 3, tiểu đoàn 59 hỏi.

- Đêm mai. - Đồng chí cán bộ tiểu đoàn trả lời.

Hoãn! Lại giống như trận Đắc Đoa. Tôi tự hỏi mình.

Không khí chùng xuống, yên lặng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, thăm dò. Anh Phan Hàm vẫn bình thản gợi ý mọi người mạnh dạn đóng góp ý kiến. Dân chủ thảo luận mà. Cuộc trao đổi sôi nổi dần lên, nhưng không ai nêu hoãn, mà ngược lại với lý lẽ ngắn, đơn giản mà thuyết phục: ta hoãn nhưng địch không hoãn; tiến công đêm nay là bắn một mũi tên trúng hai mục tiêu - tiêu diệt sinh lực địch và phá cuộc càn quét ngày mai; địch đóng quân quá lộ, chúng đang hiện ra trước mắt chúng ta là cảnh mệt mỏi, chủ quan, chưa thật sẵn sàng, tất cả người xe, phương tiện chiến tranh đang phơi mình trên một bãi trống không rộng lắm...

Cuối cùng trung đoàn trưởng Phan Hàm kết luận: Tiến công đêm nay là đúng thời cơ, nhưng cần điều chỉnh lại kế hoạch cho phù hợp với thực tế. Trước hết chuyển từ tiến công cứ điểm sang đánh tập kích quân địch đóng quân dã ngoại - một điều kiện để ta thực hiện tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhưng lại là sinh lực tinh nhuệ - binh đoàn 100 con cưng của lực lượng cơ động trong cuộc hành quân Át-lăng của tướng Na-va. Nếu hoãn tiến công đêm nay thì tình hình sẽ diễn biến phức tạp khó lường, chẳng những chúng ta không tiêu diệt được sinh lực địch mà cũng không còn thời gian chuẩn bị chống địch càn quét ngày mai. Khu du kích Đắc Pớt bị địch đánh phá thì ai chịu trách nhiệm, nếu không phải chúng ta đang có mặt ở nam Tây Nguyên đang trú quân, đang được đồng bào các dân tộc khu du kích này đùm bọc, chở che?

Không khí buổi trao đổi tại thực địa nghiêm túc hẳn lên. Kết luận ngắn gọn mà sâu sắc của trung đoàn trưởng thổi bùng ngọn lửa quyết tâm của mọi người. Quyết đánh đã được khẳng định một cách mạnh mẽ....


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:42:31 am
12 giờ 30 phút, anh Phan Hàm cầm ống nói dằn mạnh: Khai hỏa.

Không gian yên tĩnh bị phá vỡ. Từng loạt đạn cối dội xuống trận địa quân địch; tiếp đến bộc phá, đại liên nổ giòn nhưng vẫn chỉ là đơn phương, một phía. Phía địch vẫn yên ắng, hay là chúng tôi đã rời khỏi khu vực khi chiều.

Tôi đang phân vân chưa tìm được lời giải thì đồng chí mật mã hớt hải đến gặp trung đoàn trưởng báo cáo có điện tối hỏa tốc của Bộ chỉ huy chiến dịch. Anh Phan Hàm bỏ ống nói cầm tờ giấy giơ ra ánh trăng đọc. Vừa sửng sốt vừa tự hào, anh cho gọi tội đến thông báo: chiều nay địch vừa đưa đến Plây Ring GM. 100 và tiểu đoàn 4 của trung đoàn 4 của trung đoàn bộ binh ngoại quốc thứ hai, một tiểu đoàn pháo 105 mi-li-mét, một bộ phận D.B (sư đoàn thiết giáp). Chúng tôi thực sự xúc động về sự quan tâm của cấp trên, trong thời gian ngắn đã hai lần cung cấp cho cấp dưới những thông tin về địch rất cụ thể. Song chúng tôi cũng tự trách mình trong tổ chức nắm địch có nhiều thiếu sót cần khắc phục, vì biết địch, biết ta trăm trận đánh trăm trận thắng như người xưa đã nói.

Như vậy là trung đoàn 803 (thiếu) đang phải đương đầu với một lực lượng địch đông hơn gần tám lần. Tất nhiên lực lượng ít cũng có những khó khăn nhất định. Nhúng giờ đây chúng tôi đang là người giữ thế chủ động. Việc quyết định đánh địch trong đêm nay là hoàn toàn chính xác, tạo bất ngờ lớn đối với địch. Khi 4.000 quân quan địch cùng hàng trăm xe, pháo chủ quan không đề phòng đang nằm phơi mình la liệt trên đất thì hỏa lực súng cối 60, 81 mi-li-mét của ta bất thần dội xuống đầu chúng; đạn cối của ta rơi đâu trúng đấy, gây cho địch thương vong rất cao trong giờ đầu của trận tập kích, khiến địch trở tay không kịp. Giá thêm vài cơ số đạn cối nữa địch sẽ càng rối ren, chiến thắng của ta càng lớn. Có thể nói ngót nửa giờ đầu của trận tập kích ta hoàn toàn làm chủ, tiếng súng tiến công hoàn toàn là của ta, địch đã bị tê liệt. Trước cuộc tiến công đơn phương của ta trong giờ phút mở đầu của trận đánh, anh Phan Hàm quay sang trao đổi với tôi: Lạ thật! Sao đánh trúng “Dim xăng” (GM.100) mà thế này nhỉ? Gần nửa giờ rồi chưa nghe súng địch chống cự gì cả hè! Liền sau đó từng loạt súng địch bắn lẻ tẻ lúc đầu, sau tăng dần lên, rồi từng loạt tiếng víu víu trên đầu. Dần dần tiếng súng kháng cự của địch tăng lên. Địch hồi phục tổ chức đánh trả. Trận đánh mỗi lúc một ác liệt. Tôi đề nghị và được trung đoàn trưởng chấp thuận: Lệnh cho các đơn vị kiềm chế địch ở những nơi chúng chưa đánh tới, dốc sức tiêu diệt gọn từng cụm địch đã bị đánh tê liệt. Cách đánh địch không tràn lan này phù hợp với lực lượng ta quá ít mà địch thì đông đã có hiệu quả rõ rệt. Một số cụm quân địch ở đông, đông nam đã bị tiểu đoàn 39 xóa sổ...

Theo kế hoạch đã định, đúng 3 giờ 35 phút sáng ngày 22 trung đoàn 803 rút khỏi trận địa về trú quân tại một địa điểm cách Plây Ring chừng 15 km. Trời sáng dần, mặt trời nhô lên đỏ chói, ba chiếc máy bay Hen-cát xám xịt từ phía bắc lao vào bắn xối xả quanh khu vực Plây Ring nhằm truy kích đối phương cùng là lúc trung đoàn 803 chúng tôi đã đến nơi trú quân an toàn, nghỉ ngơi, tổng kết trận đánh. Rôm rả nhất vẫn là các đơn vị báo cáo kết quả diệt địch, với những con số cứ vênh nhau. Lãnh đạo và chỉ huy trung đoàn đang nghe bộ phận tác chiến báo cáo con số kết quả cuối cùng báo cáo cấp trên diệt và làm bị thương 600 lính Âu Phi, phá hủy 30 xe quân sự... thì đồng chí mật mã lại đến trước trung đoàn trưởng với vẻ mặt rạng rỡ niềm vui: Báo cáo anh có điện của cấp trên gửi.

- Điện gì? - Anh Phan Hàm hỏi.

- Dạ! Điện chiến thắng. - Đồng chí mật mã trả lời. Chưa hiểu nội dung nói gì nhưng thấy anh Phan Hàm niềm vui cứ rạng lên qua những dòng đọc là tôi cũng vui theo. Đọc xong anh cười to và quay sang tôi:

- Anh Khánh ơi! Ta chưa kịp tổng hợp báo cáo, trên đã làm thay ta.

- Thay gì? - Tôi hỏi lại.

- Về kết quả trận đánh. - Rồi anh đưa tôi bức điện. - Anh coi sẽ rõ...

Một loáng sau, các cán bộ chính trị, tham mưu quây quần trước lều chỉ huy trung đoàn hòa chung niềm vui. Các máy điện thoại chuông đổ liên tục, giọng điện thoại viên hối hả: Ghi ngay đi, kết quả đầu tiên trận đánh Plây Ring: nguồn tin chính xác cho biết đêm ngày 21 tháng 3 tại Plây Ring GM.100, tiểu đoàn 4, trung đoàn bộ binh quốc tế thứ hai, một tiểu đoàn pháo và một bộ phận D.B đã bị ta tập kích thiệt hại nặng. Tin đầu tiên, tổng số thương vong hơn 900 tên, 20 xe vận tải, 200 xe tăng, thiết giáp, xe kéo pháo bị phá hủy, bộ phận thiệt hại nặng nhất là sở chỉ huy GM.100.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:43:18 am
Ta thắng lớn, chỉ có 20 chiến sĩ bị thương. Địch bị thiệt hại nặng nề, buộc tướng Đờ Bô-pho phải hủy bỏ cuộc hành huân quét khu du kích Đắc Pớt được chuẩn bị từ lâu có máy bay địch ở Đà Nẵng, Nha Trang hỗ trợ.

Từ đầu chiến dịch trung đoàn 803 đã ba lần đánh thắng GM.100. Lần đầu diệt một trung đội ở Kon-sơm-lư, lần thứ hai ở Đắc Đoa diệt một đại đội và lần này.

Giữa lúc niềm vui tràn ngập niềm vui, trung đoàn 803 được lệnh của Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch Nguyễn Chánh hành quân gấp về đông Cheo Reo, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch trên đường số 7 - đoạn Cheo Reo đi Bà Lá. Mệnh lệnh đến gấp, gạo, muối thiếu (vì dân công vận chuyển chưa lên kịp). Nhưng khí thế chiến thắng Plây Ring thôi thúc, chúng tôi xốc lại đội hình lên đường với khí thế thần tốc. Gần 20 ngày hành quân vượt núi, xuyên rừng, chiều ngày 9 tháng 4 tới địa điểm tập kết mỗi chiến sĩ chỉ còn một ngày gạo. Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn họp bàn, không có cách nào khác đã quyết định, dồn gạo cho tiểu đoàn 39 ở lại chiến đấu, các đơn vị khác, kể cả cơ quan trung đoàn bộ ngay trong đêm xuống Phú Yên nhận gạo chuyển lên.

Có lương thực, lại được lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giúp đỡ, chi trong 12 ngày trung đoàn liên tiếp đánh thắng 4 trận; vận động tiến công cứ điểm Trà Khê (10-4), tập kích Buôn Ma Bét (12-4), cường tập diệt cứ điểm Ai Nu (19-4), vận động tập kích buôn Kà Ting (21-4), diệt gọn 6 đại đội, phá hủy 21 xe quân sự. Hệ thống phòng thủ của địch từ Cheo Reo đi Bà Lá hoàn toàn sụp đổ, đường số 7 bị cắt đứt, chi khu quân sự Cheo Reo bị cô lập, địch phải dùng máy bay tiếp tế cho các cứ điểm còn lại. Địch ở đông Đắc Lắc đã buộc phải co cụm vào căn cứ Tuy Bình, Cheo Reo và khu vực ngã ba Thuần Mẫn.

Nhiệm vụ tiếp theo mà Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho trung đoàn 803 là thừa thắng phát triển về phía tây, tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình - Củng Sơn - Ai Riêng, mở rộng hành lang phát triển thế trận vào đường 21.

Ý định của cấp trên thật rõ. Nhưng làm thế nào để thực hiện? Đánh cùng một lúc cả ba cứ điểm hay tiêu diệt lần lượt từng cứ điểm theo lối cuốn chiếu? Cách đánh thứ nhất quá sức của một trung đoàn (thiếu) lại bị tiêu hao trong quá trình chiến đấu! Cách đánh thứ hai không thật ổn, không đáp ứng được diễn biến mau lẹ của tình hình trên toàn tuyến. Đánh một điểm có sức thối động hai điểm còn lại, bắn một mũi tên trúng ba mục tiêu. Cụ thể là điểm nào trong ba điểm cần chọn?

Đó là những câu hỏi đầy trách nhiệm đặt ra trong cuộc họp đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn bàn biện pháp thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Cuối cùng chúng tôi quyết định tập trung lực lượng đánh Tuy Bình và phải thắng. Mất Tuy Bình hai cứ điểm Củng Sơn, Ai Riêng không còn chỗ dựa, không đủ sức trụ lại.

Tuy Bình là cứ điểm mạnh nhất trong cụm cứ điểm Tuy Bình - Củng Sơn - Ai Riêng. Là cứ điểm địch tăng cường trong cuộc hành quân Át-lăng. Tại đây có tiểu đoàn khinh quân 504, một đại đội pháo 105 mi-li-mét, một trung đội xe bọc thép chốt giữ, trong khi Củng Sơn và Ai Riêng mỗi cứ điểm chỉ có 1 - 2 đại đội. Là cứ điểm mạnh cả về thế hiểm và lực lượng đông, nhưng từ khi cuộc hành quân Át-lăng liên tiếp bị thất bại, cứ điểm Tuy Bình bị cô lập, quân đồn trú ở đây hoang mang dao động, lo sợ bị ta tiến công, liên tiếp báo động nhiều lần trong ngày, tung lực lượng ra phát hiện dấu vết đối phương. Cái mạnh không bù được cái yếu đang ngày càng phát triển là tinh thần binh lính đang sa sút, lo sợ như cá nằm trên thớt. Nhưng nó vẫn giữ vai trò nòng cốt là chỗ dựa cả tinh thần và vật chất đối với đồn bốt trong khu vực.

Từ những phân tích trên, đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn thống nhất quyết tâm: tập trung lực lượng tiến công Tuy Bình, đồng thời sử dụng một lực lượng nhỏ chặn đánh, tiêu diệt địch ở Củng Sơn, Ai Riêng sẽ rút chạy khi Tuy Bình bị tiêu diệt.

Khó khăn lớn nhất và lần đầu xuất hiện là muốn tiếp cận cứ điểm Tuy Bình phải vượt sông Ba. Tôi kiến nghị và được đảng ủy trung đoàn chấp nhận là phải cử cán bộ chính trị đặc trách làm công tác động viên đội thanh niên xung phong và nhân dân địa phương tích cực tham gia làm cầu phao qua sông Ba, do công binh trung đoàn đảm trách thiết kế và chỉ huy thi công. Sau bốn ngày làm việc sôi nổi và hào hứng, chiếc cầu phao bằng vật liệu tre nứa tại chỗ đã hình thành, chờ lệnh là lắp ráp phục vụ bộ đội vượt sông.

Một trục trặc khiến chúng tôi hồi hộp, tim đập nhanh như muốn rời khỏi lồng ngực! Vào thời điểm ngày N đang đến gần thì bộ phận đi trước chuẩn bị chiến trường sơ hở, địch phát hiện dấu vết, liền tung quân phong tỏa, các bến vượt, chúng tôi tưởng trận đánh không thành. Nhưng mọi việc qua đi, “thiên thời” đã ủng hộ chúng tôi. 16 giờ ngày 1 tháng 6, lợi dụng mây mù máy bay trinh sát địch không hoạt động, công binh và thanh niên xung phong khẩn trương lắp ráp cầu sớm hơn kế hoạch dự định. Chỉ sau một giờ chiếc cầu phao bằng tre nứa song mây đã hình thành nối đôi bờ tây và đông sông Ba và hàng chục chiến sĩ công binh đứng ngâm mình dưới nước để giữ cho cầu khỏi chòng chành khi trung đoàn qua sông.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:44:05 am
20 giờ ngày 1 tháng 6 - giờ G đã đến! Trận đánh mới chỉ mở đầu mà chúng tôi thấy nhẹ nhõm lâng lâng, bởi có biết bao khó khăn, trăn trở đã vượt qua mới có được giây phút này, giây phút báo hiệu thắng lợi đang tới gần. Đúng như chúng tôi khẳng định, qua được sông là thắng lợi một nửa. Vì địch quá ỷ lại cái thế hiểm của dòng sông, nhưng khi ta đã qua sông đang áp sát hàng rào phòng thủ, đang thực hành đánh bộc phá với tiếng nổ chẳng khác nào đạn pháo 105 mi-li-mét khiến địch vừa khó hiểu vừa hoang mang dẫn đến rời bỏ vị trí tháo chạy hoặc giơ tay hàng. Chỉ ở khu vực sở chỉ huy tên tiểu đoàn trưởng dựa vào trung đội xe bọc thép tổ chức phản kích, liền bị ĐKZ bắn hạ, địch hết đường chống cự. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn khinh quân 504 chết tại trận, cứ điểm Tuy Bình bị đập tan, ta thu hàng trăm súng các loại, hàng chục xe quân sự, bắt sống 500 tù binh.

Tuy Bình thất thủ, ngay đêm ngày 1 tháng 6, địch ở Củng Sơn đầu hàng. Hai đại đội địch ở buôn Ai Riêng bỏ trốn, bị ta phục kích sẵn trên đoạn buôn Bô-en đường 9B chưa kịp nổ súng, chúng đã giơ tay hàng. Hành lang vào đường 21 được mở toang, các huyện phía tây Phú Yên, đông Ma Đrắc (Đắc Lắc) được giải phóng, trung đoàn 803 lại được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị thọc sâu vào Tuy Hòa (Phú Yên).

Trên hướng chính diện, ngày 24 tháng 6 trung đoàn 96 phục kích diệt toàn bộ binh đoàn cơ động 100 trên đường rút chạy tại đèo An Khê. Thừa thắng ta phát triển tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch của binh đoàn cơ động 42, quét sạch địch trên đường 19, giải phóng hoàn toàn huyện An Khê, phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây thị xã Plây Cu.

Thế trận ở tỉnh Đắc Lắc đang có chiều hướng phát triển thuận lợi. Bộ tư lệnh Liên khu 5 hạ quyết tâm: khu vực Quy Nhơn, Plây Cu, Tuy Hòa để lại một lực lượng nhỏ chủ lực cùng với bộ đội địa phương bao vây tiến công các cụm quân địch, tập trung toàn bộ các trung đoàn chủ lực tiến vào Đắc Lắc:

Trung đoàn 96 tiến công hướng đường 7, trước mắt bao vây Cheo Reo, giải phóng toàn bộ bắc Đắc Lắc, sau đó tiến công thị xã Buôn Ma Thuột;

Trung đoàn 108 bỏ qua cụm cứ điểm ở khu vực Plây Cu, tiến về phía nam cắt đường số 14, sẵn sàng diệt địch ở thị xã Plây Cu tháo chạy, sau đó phát triển về hướng Buôn Ma Thuột;

Trung đoàn 803 phát triển vào hướng đường 21, tiêu diệt địch ở Ma Đrắc, sau đó tùy tình hình tiến sâu về phía nam Buôn Ma Thuột hoặc chuyển về phía đông cùng lực lượng tại chỗ giải phóng toàn bộ hoặc một phần Khánh Hòa; phối hợp với các trung đoàn bạn đang bao vây và đánh địch ở thị xã Buôn Ma Thuột.

Ôi! Thật phấn khởi đến xúc động. Kết quả thắng lợi mà các trung đoàn chủ lực góp phần trong 5 tháng qua thật lớn, làm chuyển biến rõ rệt cục diện, tạo tiền đề khả thi để cấp lãnh đạo và chỉ huy liên khu có được một quyết tâm táo bạo là giải phóng Đắc Lắc bằng ba “mũi giáp công” đánh vào Buôn Ma Thuột, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột - thủ phủ của cao nguyên miền Tây. Dẫu chặng đường phía trước còn lắm gian nan, nhưng chúng tôi được quyền chia sẻ sự lãng mạn của mình với cấp trên, chuẩn bị tinh thần vượt khó để thực hiện một ước mơ chưa đặt ra trong kế hoạch hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 - 1954 trên chiến trường Nam Trung Bộ.

Để thực hiện quyết tâm trên của Bộ chỉ huy chiến dịch, trung đoàn 803 có cuộc chia sẻ lực lượng lần thứ hai. Lần thứ nhất chiến dịch chưa mở màn, tiểu đoàn 365 đã phải tách khỏi đội hình trung đoàn vào Phú Yên tham gia trực tiếp chống cuộc hành quân Át-lăng đợt 1 của địch đánh ra Tuy Hòa. Lần này đến lượt tiểu đoàn 59 được lệnh ngược lên Đắc Lắc, trung đoàn 803 (thiếu) gồm tiểu đoàn 39 và tiểu đoàn 365 được lệnh về lại tham gia phản công chống lại cuộc hành quân Át-lăng đợt hai của địch ở khu vực Phú Yên - Tuy Hòa - đường 21.

Tôi cùng tiểu đoàn 59 trở lại hoạt động ở khu vực đường 14 - đoạn ngã ba Thuần Mẫn - Buôn Hồ, là do Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Chánh trực tiếp ra lệnh. Phấn khởi và lo lắng đan xen khi nhận lệnh. Phấn khởi vì được cấp trên tin giao nhiệm vụ. Lo lắng nơi mình sắp đến là vùng sâu do địch kiểm soát khống chế, bị chúng lừa mị và xuyên tạc, cơ sở quần chúng còn yếu hoặc không có. Hơn nữa đồng bào trên đó đang bị đói phần vì địch vơ vét, phần do mùa màng thất bát.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:46:20 am
Tôi đã trình bày những trăn trở này trong cuộc họp thường vụ đảng ủy trung đoàn, có cả đồng chí Bí thư tỉnh ủy Đắc Lắc dự. Các anh trong thường vụ đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn hoàn toàn thông cảm với những lo lắng của tôi, ưu tiên tối đa cho chúng tôi như quân số, vũ khí được bổ sung đầy đủ, đạn dự trữ nhiều hơn để có điều kiện hoạt động dài hơi. về lương thực các anh cũng băn khoăn, lo lắng, cố thỏa mãn định suất gạo ăn trong hành quân, đủ dùng trong vài ba ngày đầu mới đến. Tiếp sau đó thế nào thì chỉ còn nhắc nhau những việc có tính nguyên tắc, biết rồi nhưng sao lúc này thấy thiêng liêng đến thế, như một biện pháp bất biến mỗi khi gặp khó khăn. Phải tin dân, dựa vào dân, “khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Đồng chí Bí thư tỉnh ủy Đắc Lắc lắng nghe những vấn đề chúng tôi trao đổi, chia sẻ những trăn trở với chúng tôi. Cuối cùng anh nói: Đúng là ở một số nơi sát đồn bốt địch cơ sở của ta còn yếu, thậm chí có nơi còn là vùng trắng. Còn nói chung nhân dân vẫn hướng về kháng chiến, có nơi còn là căn cứ kháng chiến của tỉnh. Thắng lợi chiến dịch Bắc Tây Nguyên đã có ảnh hưởng lớn. Nhiều binh lính ngụy bị thương bỏ ngũ về buôn làng kể lại cảnh thất bại của Pháp, ngụy gây nên không khí hoang mang trong ngụy quân, ngụy quyền; bọn tề điệp ác ôn không dám hống hách với nhân dân, đêm đến phải vào đồn bốt ngủ tập trung. Ở một số buôn làng vùng địch, trong các thị trấn, thị tứ nhân dân tự động tìm bắt liên lạc với kháng chiến, có bà con xin ở lại làm đường dây liên lạc giữa vùng du kích và vùng tạm chiếm, ở nhiều buôn làng ta đã gây được cơ sở(1) những tổ trung kiên, một số nơi phát triển được đảng viên(2). Ngừng một lát, như chợt nghĩ ra một biện pháp hay, anh vui vẻ tiếp: Để tạo thuận lợi, tỉnh ủy cử hai đồng chí Y Yôn (Minh Sơn) dân tộc Ê-đê, quê Buôn Hồ, Y Phảy dân tộc Gia Lai quê Cheo Reo đi cùng đơn vị, chắc chắn hai đồng chí này sẽ giúp được nhiều việc trong thời gian tiểu đoàn lên trên đó làm nhiệm vụ. Cả hai anh được xem như già làng của cách mạng đã giúp chúng tôi thật nhiều trong thời điểm đầy cam go. Anh Y Yôn từng là thiếu úy trong quân đội Pháp rất thạo tiếng Pháp, tham gia cách mạng từ sau tháng 8 năm 1945, qua các chức vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn N’trang Long, rồi trung đoàn phó trung đoàn 84 kiêm tỉnh đội trưởng dân quân Đắc Lắc. Anh Y Phảy, một thanh niên có tinh thần yêu nước rất sớm, là một đại đội phó chiến đấu dũng cảm, được dân tộc anh tin yêu, mến phục. Các anh không chỉ giúp chúng tôi khắc phục khó khăn về ngôn ngữ bất đồng khi chúng tôi làm công tác vận động quần chúng mà cả việc vận động bà còn giúp đỡ về lương thực trong tình hình đơn vị hết nguồn tiếp tế.

Cuối tháng 5 chúng tôi chia tay nhau. Trung đoàn 803 (thiếu) đi về phía biển, tiểu đoàn 59 ngược lên miệt rừng đại ngàn Đắc Lắc, cứ như cuộc lên rừng xuống biển thời con cháu Lạc Long Quân và Âu Cơ, lưu luyến mà không bịn rịn. Đầu tháng 6 tiểu đoàn 59 tới khu vực ngã ba Thuần Mẫn với nhiệm vụ được giao đánh cắt giao thông, chặn địch chi viện cho thị xã Plây Cu đang bị trung đoàn 108 bao vây; uy hiếp thị trấn Buôn Hồ, phát triển tiến công về hướng Buôn Ma Thuột hợp điểm cùng với các đơn vị bạn giải phóng thị xã này khi thời cơ cho phép.

Nhờ nhân dân che chở, cung cấp tình hình địch và dẫn đường, ngày 10 tháng 6, tiểu đoàn 59 đã tổ chức thành công trận phục kích trên đường 14, diệt một trung đội địch, phá hủy 6 xe quân sự. Thắng lợi tuy không lớn nhưng đúng lúc, đã góp phần hỗ trợ địa phương đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở quần chúng và vận động bà con các dân tộc tham gia kháng chiến.

Việc phải đến đã đến. Lương thực dự trữ cạn dần. Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 6 lượng gạo còn lại rất ít, bộ đội phải ăn rau rừng thay cơm, dành gạo cho số anh em đau yếu. Nhưng nhờ hai đồng chí Y Yôn, Y Phảy vận động, bà con các dân tộc hưởng ứng. Nhiều gia đình tự nguyện ăn rau rừng, củ nần (loại củ hoang dại, có rễ đắng, phải ngâm nước gạo, nước gio 1 ngày rồi mới nấu ăn được) dành gạo nuôi bộ đội đánh giặc. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, việc làm đầy nghĩa cử của bà con các dân tộc nơi đây khiến chúng tôi vô cùng xúc động, nhắc nhở chúng tôi càng phải quyết tâm vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ...

Tình hình chuyển biến mau lẹ. Lúc này trung đoàn 96 đã siết chặt vòng vây quận lỵ Cheo Reo, nã pháo vào cứ điểm, địch hoảng sợ kéo cờ trắng đầu hàng; trung đoàn 803 (thiếu) đánh cắt đường 21, bao vây thị trấn Ma Đrắc, có một bộ phận thọc sâu vào Lắc mở đường xuống nam thị xã Buôn Ma Thuột đang bị lực lượng vũ trang địa phương bao vây, uy hiếp.

Trung đoàn 108 (thiếu) đang trên đường phát triển xuống nam Plây Cu, được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, bằng mọi cách chặn đánh tiêu diệt binh đoàn cơ động 42 đang từ thị xã Plây Cu rút về hướng Buôn Ma Thuột. Tiểu đoàn 59 chúng tôi đang trên đường phát triển về hướng Buôn Hồ cũng nhận được lệnh cùng trung đoàn 108 đánh địch rút lui. Chúng tôi quay ngược đội hình tiếp tục hành quân gấp, khoảng 14 giờ ngày 8 tháng 7 thì gặp trung đoàn 108 (thiếu tiểu đoàn 50) tại địa điểm tập kết cách đường 14 ba ki-lô-mét về phía đông để triển khai công việc chuẩn bị chiến đấu.


(1) Khu I (Ma Đrắc) có 43 trong 79 buôn; khu II (bắc Buôn Hồ) liên lạc được 20 buôn của 3 xã trong số 100 buôn của 6 xã; khu III (tây Cheo Reo) liên lạc được 4 xã có 75 buôn trong số 94 buôn: Khu IV (đông Cheo Reo) liên lạc với xã Plây Pa 15 buôn.
(2) Ea Bia có 6 đảng viên, Ea Bol mỗi buôn có 1 chi bộ, Ea Klôt có 42 đảng viên, xã Sông Ba có 1 chi bộ


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:48:14 am
Tình hình lúc này thật khẩn trương, cả hai bên đều muốn vượt lên thời gian giành thuận lợi về mình. Địch muốn tháo chạy thật nhanh tránh đụng độ với ta khi qua đèo Chư Đrếch. Ngược lại ta cần phải tranh thủ tối đa thời gian chiếm cho được con đèo trước khi địch tới. Bởi Chư Đrếch là con đèo duy nhất trên đường 14 đoạn từ Plây Cu đi Buôn Ma Thuột vừa đẹp về cảnh quan du lịch vừa giữ thế hiểm về mặt quân sự - một địa điểm phục kích đánh chặn địch lý tưởng. Phía tây đèo là dãy núi cao, rừng rậm có giá trị khống chế toàn bộ không gian con đèo. Phía đông đèo là quần thể đồi núi cỏ tranh xen kẽ rừng thưa với nhiều khe suối nhỏ, khó đi.

Từ nhiệm vụ được giao, từ đặc điểm địa hình kể trên, thường vụ đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn họp thống nhất quyết tâm: tây đèo là trận địa chính sử dụng tiểu đoàn 19 làm nhiệm vụ chặn đầu, tiểu đoàn 59 làm nhiệm vụ khóa đuôi, tiểu đoàn 29 được bố trí phía đông đèo làm nhiệm vụ đánh cắt giữa đội hình quân địch.

Cuộc hành quân chiếm lĩnh trận địa thật vất vả gian nan. Từ đông đường sang tây đường chỉ năm bảy bước chân, nếu dàn hàng ngang không đầy một phút. Vậy mà hai tiểu đoàn và cơ quan trung đoàn bộ phải thức trọn một đêm với bao cực nhọc mới qua nổi. Đó là vì để bảo đảm bí mật trận địa, không để lộ bất cứ dấu vết gì trên mặt đường, toàn bộ lực lượng làm nhiệm vụ trên mặt đường, toàn bộ lực lượng làm nhiệm vụ bên tây đèo đã thành hàng dọc, lần lượt từng người một tư thế lom khom chui qua một cái cống thoát nước trên đỉnh đèo có đường kính hẹp chưa đầy một mét. Giây phút qua cống sao mà dài thế, như đi vào cõi âm, lạnh lẽo, khó thở, cảm giác lâng lâng…

Một ngày mới đã đến. Ngày 19 tháng 7, khi mặt trời ló rạng, cực nhọc căng thẳng đã được đền bù, toàn bộ trận địa phục kích của trung đoàn 108 thiếu có sự phổi thuộc của tiểu đoàn 59 trở thành trung đoàn đủ đã được hình thành trong an toàn và bí mật, tất cả đều cách mặt đường từ 300 đến 500 mét, riêng đơn vị chặn đầu cách 200 mét để đề phòng địch lùng sục phát hiện. Nhưng một vấn đề mới lại nảy sinh, nếu địch qua đèo trong đêm tối thì ta rất dễ bị lạc hướng vì khoảng cách mặt đường quá xa? Sáng kiến của một đơn vị được nhân rộng, biến thành mệnh lệnh chung: tất cả các mũi xung kích đều phải chuẩn bị dây rừng buộc từ cây này sang cây khác thành một hàng dọc ra sát mép đường để đêm tối lần theo dây khi có lệnh xuất kích, đảm bảo nhanh mà không lạc hướng.

Ngày 21 tháng 7 đã đến. Hai ngày trôi qua trong yên tĩnh. Không gian đèo Chư Đrếch vẫn y nguyên như nó vốn có, không một biến dạng, đổi mầu, thay đổi dấu vết, mặc dầu đã có gần một nghìn con người đang ăn ở, sinh hoạt trên các sườn núi phía đông và phía tây con đèo. Địch chưa đến nhưng chúng tôi coi như đã đạt phần nửa của sự thắng lợi. Nhưng cũng đã xuất hiện vấn đề, tuy chưa đến mức nôn nóng, nhưng ai nấy đều tự hỏi mình, cái phải đến sao chưa thấy đến, hay là địch rút theo hướng khác.

Vào lúc 7 giờ sáng, ngày 12 tháng 7, cơ quan tham mưu chiến dịch điện xuống thông báo địch từ ngã ba Chư Sê đang xuôi về phía nam, trung đoàn cần tổ chức theo dõi và sẵn sàng chiến đấu cao... Tiếng động cơ từ phía bắc vọng lại mỗi lúc một gần. Trận địa phục kích ở tây và đông đèo chuyển động, nhưng vẫn ẩn mình thật kín trong các hầm hào dã chiến, dưới các lớp ngụy trang, dành sự bất ngờ tối đa cho địch.

Bỗng tiếng động cơ biến mất! Không gian khu đèo lại yên tĩnh trở lại.

- Tại sao không nghe thấy tiếng động cơ xe cơ giới của địch. - Tôi điện hỏi trung đoàn trưởng.

- Địch dừng lại cách chân đèo 2 ki-lô-mét và đang cho quân chiếm lĩnh các điểm cao hai bên đường. - Trung đoàn trưởng trả lời và nhắc chúng tôi tuyệt đối không được chủ quan lơ là mất cảnh giác.

Tuy chưa phát hiện dấu vết khả nghi, nhưng việc binh đoàn cơ động 100 bị trung đoàn 96 của ta xóa sổ ở đèo Măng Giang trên đường 19 vừa qua đã khiến Sốc-ken, viên đại tá chỉ huy binh đoàn cơ động 42 phải thận trọng. Y đã ra lệnh dừng lại, đóng thành cụm, căng lều bạt, cho nổi lửa, khói bay mù mịt làm như đóng quân dã ngoại lâu dài; đồng thời cho binh lính người địa phương cải trang giả dân lùng sục vào hai bên đường phát hiện đối phương.

Ngày 15 tháng 7. Ba ngày trôi qua, vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ địch chuẩn bị vượt đèo.

Tư tưởng nôn nóng xuất hiện, đã có ý kiến nên chuyển sang tập kích địch đóng quân dã ngoại.

Vấn đề không phải là chuyển đổi cách đánh, mà là làm gì để đối phó với âm mưu thâm độc của địch. Đóng quân dã ngoại chỉ làm để che giấu ý đồ kéo dài thời gian án binh bất động, ta hết lương thực buộc phải lui quân. Sự “thi gan” của địch đã gây khó khăn cho ta. Nước sinh hoạt thiếu, đại tiện kiểu “hố mèo” đã đến thời kỳ hiệu lực giảm, mùi hôi theo gió bay qua gây cảm giác khó chịu khi hít thở. Lớn nhất vẫn là nguồn lương thực dự trữ đang trong tình trạng báo động, vắt cơm hàng ngày nhỏ dần; bộ phận phía sau chủ động ăn cháo nhường gạo cho bộ phận phía trước. Cá biệt có đơn vị đã phải ăn rau rừng, củ nần.

Được tin này các cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn phân nhau xuống tận tiểu đội, trung đội nắm tình hình cùng chiến sĩ bàn bạc cách khắc phục. Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn hội ý bất thường kêu gọi đảng viên, cán bộ, chiến sĩ kiên trì chịu đói, chịu khát bền bỉ chờ địch “nhất định thắng địch”. Đồng chí chính ủy kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn trực tiếp quản lý và điều hành việc phân phối gạo hàng ngày, dành ưu tiên gạo cho lực lượng trực tiếp chiến đấu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Bảy, 2022, 06:48:54 am
18 giờ ngày 16 tháng 7, trung đoàn trưởng điện xuống thông báo địch có triệu chứng chuẩn bị rút quân và chỉ thị cho các đơn vị phải chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Tiểu đoàn 19 chặn đầu được lệnh chuyển đội hình chiến đấu ra sát mép đường! Cả đêm 16 rạng ngày 17 trên toàn trận tuyến yên lặng mà sôi động. Yên lặng là dành sự bất ngờ cuối cùng cho địch, đẩy chúng càng chủ quan khi qua đèo. Sôi động mà không ồn ào, chỉ nhắc khẽ nhau kiểm tra lại vũ khí trang bị, nhắc lại những động tác xử lý đối phó với những tình huống bất trắc và kiểm tra lại giây phút xuất kích nếu địch vượt qua đèo trong đêm nay...

Sự “thi gan” của địch đến hồi kết thúc. Chúng đã thất bại trong âm mưu đóng quân dã ngoại dài ngày buộc ta phải lui quân khi lương thực không còn. Nhưng dù đói, dù khát, dù phải tìm rau rừng thay cơm ta vẫn kiên trì chờ địch

Thời cơ diệt địch đã đến! Khoảng 10 giờ ngày 17 tháng 6, có hai xe jeep chạy qua đèo rồi quay nhanh trở lại thăm dò, nghe ngóng động tĩnh, phát hiện dấu vết khả nghi khu vực đỉnh đèo. Nhưng không gian vẫn yên tĩnh, cảnh quan chẳng hề thay đổi, các trận địa cả tây và đông đèo chưa được lệnh nổ súng, giây phút bí mật ém quân vẫn còn.

11 giờ 45 phút ngày 17 tháng 7 trận đánh bất đầu. Đoàn xe địch nổ súng máy tăng tốc lao về phía trước, vấp phải lực lượng chặn đầu của tiểu đoàn 19 đánh trả. Bộ phận tuần tiễu, lùng sục đi trước của địch bị đại đội 212 (tiểu đoàn 29) diệt gọn. Cả đoàn xe phía sau nối đuôi nhau lao đến đầu đèo - một đơn vị chặn đầu khác xuất kích vừa đến mặt đường bị hỏa lực địch trên xe chống lại, ta thương vong gần một trung đội. Cuộc chiến đấu chặn đầu diễn ra ác liệt. Các đơn vị phía sau của ta tiếp tục xông lên, dựa vào sườn đồi cao tung lựu đạn vào các xe, tốp đi đầu 7 xe bị phá hủy. Đoàn xe phía sau của địch vẫn vọt lên phía trước, lọt vào trận địa của tiểu đoàn 19 chặn đầu, tiểu đoàn 29 cắt giữa ở đông đèo và tiểu đoàn 59 chúng tôi ở tây đèo khóa đuôi. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch trên khu vực đỉnh đèo và nam đèo xen kẽ, ác liệt, thương vong của cả hai bên tăng lên. Máy bay địch kéo đến yểm trợ không thành phải bỏ đi. Địch liều mạng rút chạy, ta kiên quyết chia cắt, đánh chặn bằng đủ loại hỏa lực lựu đạn, súng trường, trung liên, ĐKZ...

Khoảng hai giờ chiều trận đánh kết thúc. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt 300 tên, bắt sống 200 tên, phá hủy 62 xe, thu nhiều vũ khí, trang bị của địch.

Từ thời điểm này đường số 14 từ Plây Cu đi Buôn Ma Thuột bị ta khóa chặt. Ý định của Đờ Bô-pho rút binh đoàn cơ động 42 về tăng cường phòng thủ Buôn Ma Thuột không thành.

Từ đèo Chư Đrếch lộng gió, chúng tôi có được giây phút thư giãn hít thở khí trời trong lành và thả sức phóng tầm mắt ngắm nhìn cảnh quan nên thơ của khu đèo mà chúng tôi đang làm chủ sau một trận đấu trí, đấu lực đầy cam go với kẻ địch tinh khôn và xảo quyệt. Cũng từ mảnh đất đang còn khét mùi thuốc súng, với lòng tràn đầy hứng khởi, tự tin, chúng tôi lại bước vào chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của Bộ chỉ huy chiến dịch giao, tiếp tục phát triển vào phía nam, tiến công dứt điểm thị xã Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc, một kế hoạch cách đây một tháng mới chỉ là dự báo, nay đã có cơ hội thực hiện. Vì chiến thắng Chư Đrếch đã góp phần tạo lực mới, thế mới - vô hiệu hóa cụm cứ điểm mạnh của địch ở thị xã Plây Cu, đẩy thị xã Buôn Ma Thuột vào thế bị cô lập, đang trong thế bị bao vây từ bốn phía. Quân đồn trú ở đây ngày đêm hy vọng mỏng manh lực lượng cứu viện đang tới gần nay đã trở thành tuyệt vọng. Tàn quân của binh đoàn cơ động 42 sống sót trở về kể lại những giờ phút hãi hùng khi bị quân Việt Minh tiến công tại đèo Chư Đrếch càng làm cho binh sĩ địch trong thị xã Buôn Ma Thuột hoang mang lo sợ, hễ thấy bóng Việt Minh là tìm cách bỏ chạy. Tận dụng thời cơ thuận lợi, các đội công tác áp sát thị xã, thâm nhập nội thị vận động quần chúng sẵn sàng nổi dậy phối hợp cùng lực lượng vũ trang từ ngoài vào khi có lệnh.

Kế hoạch triển khai đã hoàn tất, trung đoàn 108 không ngược đường 14 trở ra phía bắc phối hợp cùng trung đoàn 96 tiến công dứt điểm cụm quân địch ở thị xã Plây Cu (việc này chỉ trung đoàn 96 cùng lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai đủ sức đảm nhận) mà quẹo xuống đông Cheo Reo nhận gạo rồi quay trở lại ngã ba Thuần Mẫn chờ lệnh phát triển vào phía nam. Tiểu đoàn 59 sau khi được trang bị vũ khí vừa thu được của địch, được trung đoàn 108 nhường lại toàn bộ số gạo dự trữ của mình cũng chỉ vừa đủ ăn trong ba ngày. Biết khó khăn đang ở phía trước nhưng chúng tôi phải lên đường ngay làm nhiệm vụ của đơn vị phái đi trước, áp sát bao vây, uy hiếp Buôn Hồ tiêu diệt địch hoặc bức chúng rút lui, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị phía sau nâng cao tốc độ tiến công và cùng đội hình tiến công tiến vào mục tiêu cuối cùng - thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 19 tháng 7 khi mặt trời khuất sau đèo Chư Đrếch, không gian yên tĩnh là lúc tiểu đoàn 59 chúng tôi lên đường... Mờ sáng ngày 20 vừa tới địa điểm tập kết cách thị trấn Buôn Hồ 3 ki-lô-mét về phía đông bắc thì nhận được điện của Bộ tư lệnh Liên khu: Tiểu đoàn lui quân về ngay Phù Cát, vì Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết, lệnh ngừng bắn đối với khu vực miền Trung có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8.

Lệnh lui quân đến giữa lúc chúng tôi gặp nhiều khó khăn, gạo hết, đội hình hành quân nặng nề; phải mang vác cả vũ khí thu được của địch, khiêng cáng các đồng chí thương bệnh binh nặng mà đường hành quân dài nhiều đoạn phải cắt rừng!

Trung đoàn 108 cũng được lệnh rời khỏi vùng dễ xảy ra đụng độ sớm ngày nào hay ngày ấy, song các anh có thuận lợi là trong tay đang nắm giữ nhiều xe vận tải quân sự thu được của địch sau trận Chư Đrếch. Nhưng số người biết lái xe ngày đó rất hiếm, anh Giáp Văn Cương tham mưu trưởng trung đoàn phải vào cuộc, tham gia lái xe. Người nhiều, lái xe ít cứ thế mà nêm đến khi nào chật cứng mới thôi. Xe nào xe nấy ngất ngưởng người, vũ khí, trang bị bon bon ngược đường 14 quẹo phải sang đường 19 rong ruổi về tập kết tại Quảng Ngãi.

Khúc khải hoàn đầy gian khổ diễn ra nhiều vẻ với nhiều cách thức tổ chức lui quân khác nhau, như tiểu đoàn 59 chúng tôi nỗi vất vả gian nan còn nhiều hơn cả khi tiến vào bắc Kon Tum trong giai đoạn mở màn chiến dịch.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:45:44 pm
2

Như vậy là cùng với chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu diễn ra trên chiến trường Bắc Bộ, chiến dịch Tây Nguyên cũng được triển khai ở chiến trường Nam Trung Bộ chống lại cuộc hành binh với quy mô lớn của địch. Như các bạn đã biết, trong kế hoạch chiến lược Thu Đông năm 1953 và mùa xuân năm 1954, tướng Na-va, tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương xác định - giữ thế phòng ngự ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, nhằm bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương, đặc biệt là tiến công chiếm đóng vùng tự do Liên khu 5. Theo Na-va, vùng tự do (còn gọi là vùng đồng bằng) Liên khu 5 của Việt Minh là vùng quan trọng về kinh tế, chính trị và chiến lược, vì vậy Na-va đã tập trung tại đây khá đông lực lượng cơ động(1) mở cuộc hành quân mang tên Át-lăng nhằm mục đích chủ yếu là phòng ngừa một hiểm họa rất lớn, phá tan mối đe dọa thường xuyên với miền Nam Đông Dương bao gồm Nam Bộ, Hạ Lào và Cam-pu-chia. Đó là vì Khu 5 hiện nay là một căn cứ tiến công của đối phương vào những năm 1954 - 1955(2).

Tham vọng về cuộc hành binh Át-lăng của Na-va quả là lớn, nó chứa đựng nhiều tính toán âm mưu không chỉ khoanh trong địa bàn Lỉên khu 5 mà rộng đến cả miền Trung và miền Nam Đông Dương. Nhưng giấc mộng lớn của Na-va đã tan thành mây khói: So sánh lực lượng trong cuộc đụng đầu này ta 1 địch 4 (ta 10 tiểu đoàn, địch 40 tiểu đoàn), về trang bị vũ khí thì khoảng cách còn xa hơn nhiều, nhưng ta vẫn thắng, thắng giòn giã và thắng to hơn bất kỳ các đợt hoạt động quân sự nào trước đó. Chỉ trong 200 ngày đêm liên tục chiến đấu (từ ngày 26 tháng 1 năm 1954 đến ngày 17 tháng 7 năm 1954), quân dân Nam Trung Bộ đã tiêu diệt 28.771 tên địch; thu 7.592 súng các loại (có 30 khẩu pháo, 121 trọng liên, 1.852 trung liên, 92 súng cối), 400 tấn đạn, 2.400 viên đạn pháo, cối, 273 xe các loại; phá hủy 70 tấn và 8 kho đạn, 8 đầu máy và 57 toa xe lửa, 854 xe cơ giới, 6 máy bay; đốt cháy 6 triệu lít xăng và 7 kho xăng; san bằng 182 đồn bốt tháp canh từ tiểu đội đến tiểu đoàn; giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum, đại bộ phận tỉnh Gia Lai, nhiều vùng đông dân ở Nam Tây Nguyên và các tỉnh tạm chiếm ở vùng đồng bằng ven biển. Mầm sống hòa bình không ngừng nảy nở, đơm hoa kết trái, làm lành vết thương chiến tranh, nhưng những trận đánh Măng Đen, Măng Bút, Kông Brây, Đắc Đoa, Thượng An, An Khê, Đắc Pớt, Plây Ring, Tuy Bình, Chư Đrếch... thì vẫn đang là hội chứng về thất bại của cuộc hành quân Át-lăng đối với quân viễn chinh Mỹ thay Pháp tiến hành xâm lược miền Nam nước ta. Biết sư đoàn mình phải đóng hậu cứ tại An Khê, tướng Kin-na, tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ đã vận động ngoài hành lang một cách mạnh mẽ ở Oa-sinh-tơn, Sài Gòn và Băng Cốc để sư đoàn được đóng căn cứ ở bên trong Thái Lan, từ đó sư đoàn có thể tiến hành chiến dịch, chiến đấu ở bên trong lãnh thổ Việt Nam, vì đóng quân ở An Khê nơi quân Pháp đã thua trận, sẽ ảnh hưởng đến tinh thần quân linh. Nhưng đề nghị của Kin-na đã nhận được câu trả lời của cấp trên là tồi tệ, thậm chí còn bất lịch sự. Còn trung tá Mo, chỉ huy tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 kỵ binh bay bị ta đánh thiệt hại nặng ở thung lũng Ia Đrăng hồi tháng 11 năm 1965 phải rút về Plây Cu lại là người mang trong mình nhiều hội chứng nhất đối với cuộc hành quân Át-lăng của tướng Na-va. Khi mới đến Việt Nam, tiểu đoàn 1 của Mo được máy bay trực thăng Si-núc (Chinook) chở từ Quy Nhơn lên An Khê, khi “chúng tôi băng qua một đường băng nhỏ với một đài quan sát là một tòa nhà ba tầng cũ kỹ quét vôi màu vàng ở cuối đường băng phía tây bắc, tôi nhận thấy đường băng đó như là điểm bắt đầu đối với binh đoàn cơ động 100 của Pháp vào ngày 24 tháng 6 năm 1954 vì nó hướng về phía tây trên đường 19 và đi thằng vào trận địa phục kích của Việt Minh, trận phục kích đã góp phần quyết định số phận thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương”. Khi đặt chân đến An Khê, Mo và ba người đi một chiếc xe Zeep đến tận cầu Đắc Pớt (chân đèo Măng Giang), nơi xảy ra trận ta phục kích tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động 100, diệt và làm bị thương 700, bắt sống 1.200 (trong đó có toàn bộ ban chỉ huy binh đoàn do đại tá Ba-ru cầm đầu), thu toàn bộ vũ khí trong đó có 8 khẩu pháo 105 mi-li-mét, 229 xe (trong đó có 1 xe tăng). Mo kể lại: “Tôi đi trên bãi chiến trường khoảng hai tiếng đồng hồ. Những mảnh xương, những bộ phận vũ khí và xe cộ, những mảnh đạn và đồ đạc vẫn còn vứt bừa bãi trên mặt đất. Từ cuộc viếng thăm này tôi rút ra một bài học: Cái chết là cái giá anh phải trả cho việc đánh giá thấp đối phương ngoan cường này”.

Thế đấy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp kết thúc cách đây ngót nửa thế kỷ nhưng hội chứng của cuộc chiến tranh đó thì vẫn còn dai dẳng. Còn thắng lợi mà quân và dân Nam Trung Bộ quê tôi giành được trong chiến dịch Tây Nguyên cứ ngời sáng mãi với thời gian, năm tháng.


(1) Gồm sáu binh đoàn: binh đoàn số 10 vừa từ Pháp sang; binh đoàn số 100 từ chiến trường Nam Triều Tiên về; binh đoàn số 11 từ Bình - Trị - Thiên vào; binh đoàn số 21 từ Nam Bộ ra; hợp cùng các binh đoàn số 41, 42 và một số tiểu đoàn độc lập đã có mặt ở chiến trường Nam Trung Bộ từ trước.
(2) Na-va, Đông Dương hấp hối, Nxb Plông, Pa-ri, 1958.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:47:37 pm
Nhưng nguyên nhân gì đã dẫn chiến dịch Tây Nguyên Xuân Hè 1954 đến thắng lợi?

Có phương hướng chỉ đạo chiến lược sáng suốt, kịp thời của Bộ chỉ huy tối cao(1), có sự chấp hành nghiêm túc và chỉ đạo sáng tạo của Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Liên khu; có tinh thần chiến đấu dũng cảm mưu trí của quân và dân Nam Trung Bộ; có kết quả của đợt chỉnh huấn, chỉnh quân tập trung theo chương trình, nội dung và phương pháp học tập trong toàn quân do Tổng cục Chính trị hướng dẫn; có nguyên nhân tổng hợp được tích tự từ ít đến nhiều, từ nhỏ đến lớn, từ số lượng biến thành chất lượng ròng rã suốt tám năm đấu tranh, qua các đợt chiến đấu vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp, tiến công địch ở khắp nơi, tiến vào Tây Nguyên giành dân, thực hiện tạo lực, tạo thế, tạo địa bàn để chủ lực có điều kiện đánh lớn, mở các chiến dịch tiến công tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, giải phóng đất đai. Sau hết là có một vùng tự do, mang tên thân quen Nam - Ngãi - Bình - Phú vững mạnh làm “căn cứ kháng chiến lâu dài”, trở thành nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh...

Những nguyên nhân cơ bản xuyên suốt trên đây sách báo phát hành hồi đó đã viết; các công trình nghiên cứu lịch sử chiến tranh, tổng kết chiến tranh sau này càng viết đầy đủ và cỏ hệ thống. Với tư cách là người trong cuộc, tôi chỉ trao đổi cùng bạn đọc những cảm thụ của riêng mình, ngõ hầu bổ sung những chi tiết nhỏ làm nổi cái lớn lao, bất tử mà tôi vinh dự được trực tiếp tham gia, chứng kiến.

Đó là vai trò chỉ đạo điều hành toàn diện, cả chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu của đồng chí Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh. Thời thế tạo anh hùng, anh hùng tác động lại thời thế, thúc đẩy thời thế phát triển. Anh Nguyễn Chánh là người như vậy. Anh sinh ra ở Tịnh Hà, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi - một mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, đã cung cấp nhiều thành viên cho Đội du kích Ba Tơ, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ở khu vực miền Nam Trung Bộ; nơi sản sinh ra nhiều vị tướng trong quân đội: Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Võ Thứ, Trần Văn Trà, Trần Lương, Võ Bẩm, Nguyễn Đôn.v.v... Anh là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, đã trải qua nhiều nhà tù của thực, dân Pháp: Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột, Phú Bài. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), vượt tù trở về, anh được Xứ ủy Trung Kỳ bổ sung vào tỉnh ủy Quảng Ngãi, đặc trách chỉ huy Đội du kích Ba Tơ, từ 24 đội viên lúc ban đầu phát triển lên 1.000 đội viên, lập căn cứ ở Vĩnh Sơn Nước Lá. Tháng 8 năm 1945 anh chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh tiến công quân Nhật, hỗ trợ nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Sau đó anh được cử làm Ủy trưởng Quốc phòng Trung Bộ. Kháng chiến toàn quốc, anh được cử về làm Chính ủy Liên khu 5 rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 suốt 9 năm kháng chiến. Cán bộ, chiến sĩ Liên khu 5 coi anh như là người anh cả của lực lượng vũ trang Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp. Tập kết ra Bắc anh được cử giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng rồi Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ quân đội. Anh qua đời vì một cơn bệnh cấp năm 1957 giữa tuổi 43.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị họp tại Núi Hồng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên bàn nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954 cho tất cả các chiến trường trong đó có chiến trường Nam Trung Bộ. Có lẽ lường trước khó khăn vì đường xa, đi lại cực kỳ cách trở, ngay từ đầu tháng 8 Trung ương đã có điện triệu tập anh Nguyễn Chánh ra để nhận nhiệm vụ cụ thể.

Đi cùng anh Nguyễn Chánh có hai đồng chí thư ký, một bảo vệ, một anh nuôi. Đoàn lên đường ngày 4 tháng 8 năm 1953. Chuyến đi thật vất vả, cắt rừng mà đi, 45 ngày mới ra đến Tuyên Quang, phải ba ngày đi tiếp mới đến địa điểm họp. Trước đó, năm 1950, anh Nguyễn Chánh ra dự hội nghị tổng kết chiến dịch Biên Giới, ở lại tham gia Đảng ủy các chiến dịch Đường 18 và Trung Du, đầu năm 1951 với cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Có dịp sống gần các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh và đặc biệt là Bác Hồ, anh học tập được ở các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và quân đội về tư duy chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng, về đường lối quân sự và nghệ thuật quân sự.

Tư duy quân sự của một người tư lệnh cứ lớn dần lên trong anh không phải qua học viện, nhà trường mà bằng con đường tham dự các cuộc tổng kết thực tiễn và tham gia vào hoạt động thực tiễn chiến đấu qua các chiến dịch lớn đầy sôi động ở chiến trường Bắc Bộ -chiến trường chính của cuộc kháng chiến chín năm - và từ thực tiễn sinh động ở chiến trường Nam Trung Bộ mà anh gắn bó. Trở về lần này với cương vị Bí thư Liên khu ủy (thay anh Nguyễn Duy Trinh về Trung ương) kiêm Tư lệnh và Chính ủy Bộ tư lệnh Liên khu 5, anh đã đóng góp không nhỏ vào chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân, trong xây dựng lực lượng và hình thành thế trận, đặc biệt là anh đã cùng Liên khu ủy xây dựng một kế hoạch cơ bản mang tính thực thi về xây dựng toàn diện vùng tự do vững mạnh trở thành một hậu phương vững chắc để kháng chiến lâu dài.


(1) Cụm từ chỉ Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy (nay là Đảng uỷ Quân sự Trung ương), Bộ Tổng tư lệnh.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:50:04 pm
Anh đã đóng góp không nhỏ trong quá trình hình thành chủ trương mở đợt hoạt động quân sự Đông Xuân 1952-1953 mà trọng điểm tập trung chủ lực mở chiến dịch An Khê. Có thể nói đây là chiến dịch đánh lớn cỡ đại đoàn lần đầu tiên được tổ chức tại chiến trường Liên khu 5 nói riêng và chiến trường toàn miền Nam nói chung. Đây là bước tiến nhảy vọt trong nghệ thuật tổ chức và chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng - hiệp đồng giữa bộ binh và vũ khí trợ chiến - hiệp đồng giữa bộc phá và bộ binh vượt qua cửa mở phát triển vào tung thâm; hiệp đồng giữa hướng chủ yếu và hướng thứ yếu, v.v... Với cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch, anh đã điều hành tạo thế, khéo léo nghi binh, tạo bất ngờ, chủ động tiến công và tiến công liên tục, tập trung từng mục tiêu diệt gọn từng đơn vị, giữ vững quyền chủ động chiến dịch từ đầu đến cuối.

Ngày 28 tháng 1 năm 1953, chiến dịch An Khê kết thúc thắng lợi, tiếng vang của chiến thắng An Khê vượt ra ngoài phạm vi Đông Dương. Bộ trưởng thuộc địa Pháp Lơ Tuốc-nơ phải tường trình trước nội các Pháp về thất bại An Khê. Chiến thắng An Khê là chiến thắng lớn nhất của ta từ trước đến nay trên chiến trường Nam Trung Bộ.

Cán bộ, chỉ huy các trung đoàn chủ lực sau trận đánh này đã có bước trưởng thành về nhận thức và thực hành chiến dịch, đúng như thư khen của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Thắng lợi này chứng tỏ các đồng chí đã có tiến bộ về chính trị, quân sự, về kỹ, chiến thuật, đặc biệt về kỹ, chiến thuật đánh điếm nhỏ, viện nhỏ...”.

Ra Trung ương lần này, anh Nguyễn Chánh thấy không khí có cái gi rất nghiêm túc mà sôi động, cả bên Trung ương, Bộ Chính trị và cả các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh. Đi đến đâu anh cũng bắt gặp một không khí làm việc tất bật mà hứng khởi như đang chuẩn bị cho một cái gì lớn lao đang chờ ở phía trước. Sau khi báo cáo Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh về tình hình mọi mật của Liên khu 5, anh Nguyễn Chánh dự hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch Đông Xuân 1953-1954 do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập. Trong thời gian họp, anh xin gặp đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, hỏi thêm về Liên khu 5 được giao nhiệm vụ thực hiện một trong ba mũi tiến công chiến lược(1) và tranh thủ gặp các đồng chí tư lệnh các đại đoàn chủ lực 308, 304, 312, 316, 320, 325, 351 để trao đổi, học tập kinh nghiệm tổ chức chỉ huy hiệp đồng đánh lớn.

Hội nghị họp đến ngày thứ hai (20-11) thì địch nhảy dù lên Điện Biên Phủ. Ngay tối hôm đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh họp bàn, xem xét đánh giá tình hình. Hôm sau những người dự họp được nghe Đại tướng Tổng tư lệnh nói chuyện: “Rồi đây địch thay đổi thế nào, địch nhảy dù Điện Biên Phủ căn bản có lợi cho ta. Vì thế cần phải tìm cách kéo chủ lực của chúng lên Điện Biên Phủ và giữ chúng lại...

Ngày 23 tháng 11 năm 1953, hội nghị phổ biến kế hoạch Đông Xuân kết thúc, cán bộ chỉ huy các đơn vị các chiến trường nhanh chóng trở về tổ chức, lãnh đạo bộ đội thực hiện nhiệm vụ được cấp trên giao. Đầu tháng 12 năm 1953, khi Na-va quyết định tiếp nhận cuộc giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào, thì phương án tiến công Điện Biên Phủ của ta đã được dự thảo xong. Vào ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bô Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm tiến công Điện Biên Phủ. Tranh thủ từng giờ, từng phút, anh Nguyễn Chánh làm việc với Tổng cục Chính trị, Cục Tác chiến, Cục Quân báo Bộ Tổng tham mưu nắm thêm tình hình, nhiệm vụ và lên đường trở lại liên khu vào những ngày cuối tháng 11 giá lạnh thấu xương. Tình hình đã thực sự trở nên sôi động. Đại đoàn 316 đang gấp rút tiến lên đánh địch ở Lai Châu - Đại đoàn 308 chuẩn bị lên hướng Điện Biên Phủ - các đơn vị thuộc các đại đoàn 304, 325 đang trên đường hành quân sang nước bạn Lào, phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào kịp mở cuộc hành quân xuống Trung Lào. Mặc dầu đã điện về trước các nội dung cần thiết để các đồng chí ở cơ quan Bộ tư lệnh Liên khu có căn cứ triển khai kế hoạch, nhưng anh Chánh chưa thật yên tâm. Hiểu được sự lo lắng đó, Bộ Tổng tham mưu phát lệnh hành quân hỏa tốc, dọc đường từ Việt Bắc vào Khu 5 anh có thể trưng dụng tất cả các phương tiện vận chuyển có thể trên đường để rút ngắn thời gian đến mức tối đa. Nhờ đó mà cuộc hành quân trở về của anh Nguyễn Chánh còn 30 ngày so với lúc ra đi. Lúc này thời gian đúng là lực lượng.


(1) a. Sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch còn chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc.
b. Sử dụng một bộ phận chủ lực, phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào mở cuộc hành quân xuống Trung Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng.
c. Tập trung phần lớn quân chủ lực Liên khu 5 mở cuộc tiến công lên chiến trường miền núi Tây Nguyên ra sức tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:52:38 pm
Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh là linh hồn của Hội nghị Liên khu ủy, Đảng ủy Quân khu và Bộ tư lệnh Liên khu trong việc quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, là người giữ vai trò chủ chốt trong lập kế hoạch hoạt động quân sự Xuân Hè 1954 nói chung và quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên nói riêng.

Cán bộ chủ chốt của liên khu được triệu tập đã làm việc dưới sự điều khiển của Tham mưu trưởng. Anh Nguyễn Chánh chỉ giải đáp những vấn đề còn tồn tại trong thảo luận. Đúng như dự kiến, khó khăn nhất vẫn là nhận thức tư tưởng đối với nhiệm vụ được giao. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ tuy mức độ có khác nhau nhưng đều có chung một thắc mắc: Vì sao trong lúc địch đang ráo riết chuẩn bị mở cuộc hành binh đánh chiếm vùng tự do thì ta lại tập trung lực lượng tiến công lên hướng Tây Nguyên?

Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, nó là mối quan hệ giữa tình cảm và lý trí, giữa tư tưởng và nhận thức, không thể võ đoán một chiều, càng không thể dùng mệnh lệnh áp đặt, mà phải kết hợp giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp tổ chức. Anh đã cùng Khu ủy huy động hàng trăm cán bộ có uy tín, có năng lực và có thẩm quyền của hai cơ quan Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu xuống cùng lãnh đạo các tỉnh, huyện vùng tự do bàn bạc triển khai kế hoạch chuẩn bị chiến đấu cụ thể. Trong hội nghị cán bộ quân sự, anh Nguyễn Chánh đem lý lẽ và tình cảm của mình trao đổi một cách tâm tình. Anh nói rất kỹ lợi thế nhiều mặt khi ta tập trung chủ lực mở cuộc tiến công lên Tây Nguyên. Anh nhấn mạnh: Bảo vệ vùng tự do bằng biện pháp đối đầu lúc này đâu có lợi? Làm như vậy - húc đầu vào chỗ mạnh, là trúng âm mưu địch, đánh theo cách đánh của địch, trong khi ta có cách bắt địch phải đánh theo cách đánh của ta. Đúng là vai trò chính ủy của anh lúc này đã giúp chúng tôi thông suốt, có “lưng vốn” trở về đơn vị làm công tác chính trị, tư tưởng, chắc chắn quần chúng sẽ thông suốt.

Khi đội hình chiến dịch đến tây Quảng Ngãi thì địch đánh ra Phú Yên - mở đầu bước một của cuộc hành quân Át-lăng. thì anh hạ lệnh dừng lại và cho gọi chúng tôi đến gặp anh. Lúc này trong đơn vị lại rộ lên tiếng nhỏ to bàn tán, câu “châm biếm” có mùi chua chát được, dịp bung ra “bỏ bồ lúa giành chòi bắp” cũng chẳng còn hy vọng! Mất cả chì lẫn chài rồi! Trong cán bộ nhất là anh em sơ cấp tuy không nói ra nhưng ai nấy đều băn khoăn. Chúng tôi đến thì anh Chánh đã chờ sẵn. Vào việc anh nói: Bộ tư lệnh đã tính tới tình huống này. Trước mắt tiểu đoàn 365 thôi làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch, khẩn trương vào ngay Phú Yên cùng với tiểu đoàn độc lập 375 trực thuộc liên khu đã vào trước triển khai kế hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ tiêu diệt hệ thống đồn bốt địch mới thành lập, uy hiếp mạnh phía sau lưng quân địch theo đường 1 đánh ra Bình Định. Như vậy trận mở màn chiến dịch sắp tới không còn lực lượng dự bị, có thể gặp khó khăn, nhưng ta có thêm lực lượng tăng viện cho Phú Yên để làm chậm tốc độ hành quân của địch lúc này là rất cần. Ta gắng lên, nhất định sẽ vượt qua...

Chúng tôi ra về chuẩn bị tiếp tục hành quân. Anh Chánh bắt tay từng người và động viên chúng tôi “ráng lên là được”. Tuy vui vẻ, bình tĩnh tự tin nhưng ai nấy vẫn thấy còn điều gì trăn trở! Đến nửa đường chúng tôi được lệnh gọi lại bàn thêm. Thấy chúng tôi anh cười hết cỡ và nói vui: Mới chưa đầy một tiếng đã có hai hội nghị. Thôi chúng ta vào việc luôn. Do tình hình quá khẩn trương mình mới nghĩ được có vậy, gọi các đồng chí lên trao đổi đề về làm ngay, nhưng trong đầu óc vẫn có cái gì vương vướng cảm thấy chưa ổn. Khi cuộc họp giải tán thì mình thấy cần phải bàn thêm. Chúng tôi hồi hộp chờ ý kiến anh. Anh lại nói với nhịp điệu, dồn dập, sôi nổi: Tình hình đã thay đổi, kế hoạch tiến công cụm cứ điểm phòng ngự tây bắc Kon Tum phải thay đổi, không lần lượt theo kiểu cuốn chiếu nữa mà là trong một đêm phải đồng thời tiến công dứt điểm cả ba cứ điểm, như thế mới đủ mạnh uy hiếp thị xã Kon Tum, chúng không còn sức để phản công tái chiếm. Nhưng quan trọng hơn như thế mới đủ mạnh buộc địch phải đưa quân từ Phú Yên lên tăng viện, vừa giảm áp lực đối với Phú Yên, vừa có điều kiện đánh quân viện. Một mũi tên không phải hai đích mà nhiều đích! Ý kiến tôi là vậy, các đồng chí thấy thế nào, đồng ý hay không, phát biểu luôn nhưng phải nói rõ lý do vì sao không, vì sao có.

Tất nhiên là chúng tôi nhất trí cao với ý định điều chỉnh kế hoạch tiến công của Tư lệnh kiêm Chính ủy. Và mọi tình hình diễn ra sau đó đúng như dự doán của anh mà tôi đã kể cùng bạn đọc ở phần trên.

Ngày N tới gần, anh Chánh và một số cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần đi theo giúp việc rời sở chỉ huy cơ bản lên đứng chân ở xã Hiếu, huyện Kông Plông (Kon Tum) để tiện theo dõi diễn biến và kịp thời xử trí các tình huống phức tạp.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:53:56 pm
Măng Đen là cứ điểm kiên cố nhất, cái xương sống của cụm phòng thủ phía đông bắc Kon Tum của địch Trận tiến công do hai tiểu đoàn 19 và 79, trung đoàn 108 đảm nhận đã diễn ra rất ác liệt. Có mũi xác chiến sĩ ta nằm chồng lên nhau vì hỏa lực trong các lô cốt bắn chặn, hướng đột phá chủ yếu vẫn không mở được cửa. Đã có ý kiến cho bộ đội rút ra củng cố đêm sau đánh tiếp. Tư lệnh kiêm Chính ủy không chấp nhận. Anh nói: Rút ra chưa chắc đêm sau đã dứt điểm Và anh ra lệnh: Chính diện bị chặn lại thì tìm chỗ yếu của địch mà đột kích, cách tốt nhất là phải dứt điếm trước khi trời sáng.

Nhận lệnh, Thường vụ Đảng ủy trung đoàn hội ý. Chính ủy trung đoàn Đoàn Khuê xuống các đơn vị động viên các mũi giữ vững quyết tâm, tiếp tục tiến công. Tiểu đoàn 79 ở hướng thứ yếu sau khi mở được cửa đã băng qua sân bay đánh vào sau lưng của đồn chính. Địch hoảng sợ khi bị đánh cả hai mặt.

Cuộc tiến công lại rộ lên. Trời sáng dần, sự bất lợi đang tới gần như nhắc nhở mọi người ráng lên. Có mũi anh em dồn chăn trải lên rào kẽm gai làm đệm trườn vào. Hai hướng phía sau và hướng chính diện xáp vô, xông thẳng vào lô cốt mẹ đánh bộc phá, binh sĩ địch hoảng hốt giơ tay hàng. Trận đánh kết thúc vào 7 giờ sáng ngày 28 tháng 11, ta thu toàn bộ vũ khí, bắt sống 240 tên địch.

Sự quyết đoán của anh Chánh lại thể hiện một lần nữa khi tiến vào nam Kon Tum. Trung đoàn 803 được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm Đắc Đoa. Do nhiều nguyên nhân trận đánh phát triển không suôn sẻ. Ngay từ đầu địch bắn chặn quyết liệt, ta bị thương vong, ở hướng tiến công chủ yếu vẫn chưa mở được cửa vào vì hàng rào kẽm gai quá dày, không còn bộc phá đánh tiếp. Trước tình hình đó, chính ủy kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn 803 báo cáo Bộ chỉ huy chiến dịch: xin rút bộ đội ra củng cố, để bộ phận nhỏ bao vây, tối mai đánh tiếp. Ngay sau đó chuông điện thoại réo, anh Phan Hàm cầm ống nghe. Từ đầu dây bên kia giọng anh Nguyễn Chánh nghiêm khắc ra lệnh: Chuyển chính ủy về phía sau nhận công tác khác; trung đoàn trưởng kiêm bí thư đảng ủy tiếp tục lãnh đạo bộ đội chiến đấu, giành bằng được thắng lợi trong đêm nay.

Chúng tôi khẩn trương xốc lại đội hình, đưa lực lượng dự bị vào tiếp sức. Áp lực tiến công các hướng đều tăng. Đúng 6 giờ sáng ngày 18 tháng 2 năm 1954 trận đánh kết thúc thắng lợi đúng như lệnh anh Nguyễn Chánh giao. Hai đại đội địch thuộc binh đoàn cơ động 100 đã bị tiêu diệt.

Cả hai trận đánh Măng Đen và Đắc Đoa đều có phương án dừng lại, hôm sau đánh tiếp. Nhưng Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch không chấp nhận, vì anh cho rằng dừng lại là mất thời cơ, mà thời cơ trong chiến đấu đã mất thì không bao giờ trở lại. Trận Măng Đen không thắng, cụm phòng thủ đông bắc Kon Tum không bị đập tan, thì các kế hoạch tiếp sau bị đảo lộn... Và nếu trận Đắc Đoa cũng dừng lại, chắc địch không cho ta dừng, chờ sáng chúng đưa quân ra phản kích đẩy ta ra xa. Có nghĩa là trận đánh không thành, ta thất bại, áp lực tiến công (kế cả tiến công về tâm lý) không đủ mạnh, địch có điều kiện tập trung quân phản kích tái chiếm thị xã Kon Tum và các vùng mới giải phóng khác thì cục diện sẽ dẫn tới đâu!?

Chính vì lẽ đó mà anh Nguyễn Chánh quyết định kỷ luật người lãnh đạo cao nhất của trung đoàn, dù người đó đang là một liên khu ủy viên. Quyết định đó có tác dụng lớn trong việc củng cố tinh thần chiến đấu của bộ đội khi chiến dịch bước vào thời kỳ quyết định.

Quyết đoán đúng lúc, xử trí dứt khoát là một biểu hiện bản lĩnh vững vàng, lòng tin vào chiều sâu tư duy quân sự của Tư lệnh kiêm Chính ủy, bởi mỗi trận đánh then chốt đều có hai mặt đối nghịch đến cực đoan. Thắng lợi là dẫn đến phản ứng dây chuyền theo ý muốn được tính trước của người tư lệnh. Bại là kéo theo biết bao hậu quả, ảnh hưởng đến thế trận và cục diện quân sự trên chiến trường.

Thắng trận then chốt Măng Đen dẫn đến cụm phòng thủ bất khả xâm phạm đông bắc Kon Tum của địch bị sụp đổ, dẫn đến thắng lợi Đắc Tô, Đắc Lây, dẫn đến địch vội vã rút khỏi thị xã Kon Tum, đến toàn bộ tỉnh Kon Tum được giải phóng và cuối cùng là nỗi băn khoăn trăn trở - có nên “bỏ bồ lúa lấy chòi bắp” hay không tự nó cũng tiêu tan luôn. Từ dây một trăm phần trăm những người cầm súng tham gia chiến dịch giải phóng bắc Kon Tum đã thanh thản và tin tưởng vào sự điều hành của Tư lệnh kiêm Chính ủy.

Trận thắng Đắc Đoa đã tạo được áp lực đủ mạnh vào cụm phòng thủ thị xã Plây Cu, buộc địch không dám rút lực lượng ra để chuyển sang phản công tái chiếm thị xã Kon Tum, ta có thời gian yên tĩnh ngắn mà quý để chấn chỉnh đội hình, phát triển thêm lực lượng mới, như thành lập trung đoàn 96, tiểu đoàn độc lập 375 phục vụ bước phát triển tiếp sau của chiến dịch.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:55:39 pm
Sau giải phóng Kon Tum, chiến dịch Tây Nguyên chuyển sang giai đoạn hai, trực tiếp đối đầu với đợt hai cuộc hành quân Át-lăng của địch trên đất Tây Nguyên, tiếp tục đánh lớn, quy mô lực lượng đông hơn, nhịp độ tiến công khẩn trương hơn nhưng Tư lệnh kiêm Chính ủy vẫn sử dụng quả đấm chủ lực là các trung đoàn riêng lẻ chứ không đề nghị thành lập đại đoàn. Trên thực tế bộ chỉ huy chiến dịch làm cả công việc của bộ tư lệnh đại đoàn, vừa phối hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang địa phương mà không bị cồng kềnh về biên chế. Đánh lớn nhưng anh Nguyễn Chánh vẫn nghiêm chỉnh thực hiện điều mà mình tâm đắc khi ra Trung ương nhận nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954 được Bác. Hồ căn dặn: “Tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, đánh địch ở những nơi địch sơ hở”.

Từ tháng 3, trên mặt trận đường 19, anh sử dụng ba trung đoàn 96, 108, 120 làm nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, kiềm chế không cho các binh đoàn cơ động của địch đứng chân ở Plây Cu, An Khê tiến xuống Quy Nhơn hợp điểm. Trên đường 19 cuộc đọ sức giữa ta và địch diễn ra khẩn trương, sôi động. Mặc dù địch đã tung ra ba binh đoàn cơ động 11, 12 và 100 cố mở thông đường nhưng trong suốt đợt hai của chiến dịch, tuyến đường quan trọng này vẫn thường xuyên bị ta cắt đứt và uy hiếp mạnh.

Tư lệnh kiêm Chính ủy vẫn theo dõi chặt trên hướng này. Một câu hỏi luôn đặt ra với anh: Nếu ba binh đoàn cơ động cánh quân phía tây theo đường 19 tiến xuống, cùng hai binh đoàn cơ động 41, 42 từ Phú Yên theo quốc lộ 1 đánh ra, cánh quân từ biển đánh vào hợp điểm được tại Quy Nhơn thì diễn biến tiếp theo là gì? Chắc chắn là chúng đánh thọc ra Quảng Ngãi - mục tiêu đợt ba của cuộc hành quân Át-lăng.

Phải có hành động mạnh mẽ hơn nữa, phải có một trận đánh thật đau, gây ấn tượng mạnh để thủ tiêu cái khả năng hợp điểm tại Quy Nhơn của địch. Anh Nguyễn Chánh xoáy sâu vào cứ điểm Thượng An và tìm mọi dữ liệu của cứ điểm này. Nó là cứ điểm hiểm yếu về thế và mạnh về bố trí binh hỏa lực nhưng có những điểm yếu mà anh phát hiện qua tình báo chiến dịch cung cấp. Địch ở Thượng An đang hoang mang dao động như rắn mất đầu do tên tiểu đoàn trưởng chỉ huy cứ điểm bị mất tích trong trận phục kích của ta đêm trước. Anh thông báo tin này cho trung đoàn 108 và lệnh hãy chuẩn bị sẵn sàng, thời cơ diệt Thượng An đã đến. 1 giờ sáng ngày 30 tháng 3 anh trực tiếp lệnh cho tiểu đoàn 19 đang đứng chân tại đó dù chưa có chuẩn bị vẫn có khả năng đột kích bất ngờ và giành thắng lợi.

Sau khi theo dõi mọi động tĩnh ở hướng đường 19, cả hai hướng từ Plây Cu xuống, An Khê lên, thấy địch đều tung lực lượng nhỏ ra thăm dò, các cứ điểm địch chốt dọc đường cũng đưa quân ra kiểm soát, tuần tra phát hiện dấu vết khả nghi, máy bay trinh sát quần đảo suốt ngày... Dấu hiệu địch chuẩn bị rút - Anh khẳng định và lệnh cho Nguyễn Minh Châu, trung đoàn trưởng trung đoàn 96 triển khai lực lượng đánh binh đoàn cơ động 100 đang rục rịch rút. So sánh lực lượng lúc này ta một địch hai, nên đã xảy ra cuộc tranh luận không ngã ngũ - đánh tiêu diệt toàn bộ đội hình quân địch rút lui hay chặn đầu, chặn giữa hoặc đánh khúc đuôi diệt một, hai tiểu đoàn đi sau là vừa sức...

Nhận được báo cáo, 1 giờ 30 phút sáng ngày 24, Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh điện hỏa tốc, lệnh cho trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu: Lúc này ta lợi thế hơn địch, phải “kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy!”.

Quyết đoán của Tư lệnh kiêm Chính ủy là kịp thời, chính xác. Nếu chỉ đơn thuần so sánh về số lượng ta ít hơn địch(1), nhưng tổng hợp nhiều mặt thì ta ở thế mạnh, thế thắng; địch ở thế yếu, thế thua. Khu vực bày trận phục kích của ta là đoạn đường cầu Đắc Pơ, đây là một khúc “cua” tai ác. Lên cao nguyên, qua đường 19 đến đoạn này - phía Kà Tung đi lên vừa hết đốc đã tụt xuống ngay một cầu nhỏ, bắc qua con suối hẹp gấp khúc chữ chi, rồi lại bắt đầu lên dốc nối tiếp ngay vào một đoạn đường có nhiều mỏm đá nhô ra bám sát đường rất thuận lợi cho cả việc chặn đầu và khóa đuôi của một trận phục kích. Cái thế hiểm ấy là một thế mạnh, địch biết mà không thể nào tránh được, muốn rút về Plây Cu vì ở hướng đó đang có binh đoàn cơ động 42 xuống ngã ba Plây Bông đón sẵn. Nhưng kẻ đón và kẻ được đón đã không gặp nhau. Binh đoàn cơ động 100 và những đơn vị cùng rút ngày 24 tháng 6 năm 1954 đã bị trung đoàn 96 xóa sổ. Nó như một định mệnh, không thể nào khác.

Sau trận đánh, trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu cùng cơ quan tham mưu trung đoàn đi quan sát toàn bộ trận địa từ khu vực chặn đầu đến đoạn địch co cụm, đếm tất cả được 375 xe các loại vừa bị cháy, bị hư hỏng vẫn còn ngổn ngang trên mặt đường. Kết quả chung địch chết khoảng trên 500 tên, bị thương rải rác trên toàn khu vực khoảng 600 tên, bị bắt sống 800 tên (có cả tên quan năm chỉ huy Ba-ru). Số xe nguyên và hư hỏng ít là 229 xe, có một xe tăng còn nguyên vẹn, 18 khẩu pháo 105 ly và rất nhiều súng các loại. Đây là cả gia tài của tiểu khu An Khê và binh đoàn cơ động 100 của Pháp.

Sự phân vân tranh luận trong Thường vụ là ta chỉ đủ khả năng đánh khúc đuôi, diệt hai tiểu đoàn địch đi sau là vừa sức thì kết quả ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn cơ động 100 và lực lượng chiếm đóng của tiểu khu An Khê, cơ trên dưới hai trung đoàn, như vậy lực ta chỉ có một mà đã thắng địch có lực lượng gấp hai, ba lần. Đó là do cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 96 đã có tinh thần quyết đánh và biết đánh, nhưng sự chỉ huy tài giỏi của Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh cũng góp phần quan trọng nếu không nói là quyết định.


(1) Ta: trung đoàn 96 được tăng cường hai đại đội của trung đoàn 120 Gia Lai; địch: binh đoàn cơ động 100 gồm hai tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn ngụy Cam-pu-chia, một tiểu đoàn khinh quân ngụy, một tiểu đoàn địa phương chiếm đóng, một tiểu đoàn pháo 105 ly, các phân đội xe tăng, thiết giáp, các loại xe đặc chủng công binh, thông tin bảo đảm.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 07:57:12 pm
Tư tưởng chỉ đạo “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, dám quyết đoán, đánh nơi địch sơ hở” đã được anh Nguyễn Chánh quán xuyến suốt từ đầu đến cuối trên các hướng các mũi của chiến dịch. Ngay từ đầu tháng 3, trong khi tung ba trung đoàn lên mặt trận đường 19 để tạo thế tạo lực nhằm chặn đứng âm mưu hợp điểm 5 binh đoàn cơ động của địch tại thị xã Quy Nhơn, phá tan từ trứng nước âm mưu mở cuộc hành quân Át-lăng đợt ba đánh ra thị xã Quảng Ngãi, thì anh Nguyễn Chánh đồng thời sử dụng trung đoàn 803 (thiếu) chúng tôi nhanh chóng tiến vào vùng tam giác Plây Cu - Cheo Reo - An Khê với nhiệm vụ hoạt động sau lưng cụm quân địch trên đường 19, tiêu diệt hệ thống đồn bốt địch trên đường số 7 và đường 14... Còn đánh đâu, đánh như thế nào là chúng tôi tự chọn, miễn sao bảo đảm tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh ta càng mạnh.

Sự điều hành nhạy bén và sắc sảo, kiên quyết, linh hoạt mà chặt chẽ này tạo cho cấp dưới phát huy tính năng động và sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ nhưng cũng nhắc nhở chúng tôi phải có tinh thần trách nhiệm thật cao khi lựa chọn mục tiêu, khi suy nghĩ hạ quyết tâm và điều hành chỉ huy chiến đấu. Trên đường làm nhiệm vụ thọc sâu xuống nam Tây Nguyên, chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhất là lương thực và đạn dược. Trung đoàn phải tự giải quyết lương thực cho 3.000 người trong đó có 1.000 dân công đi cùng. Đường vào nam Tây Nguyên phải vòng phía đông đèo Măng Giang để tránh địch, rồi theo đường du kích xuống làng Xi Tơ. Từ đây vòng lên khu du kích Đắc Pớt. Đúng là chúng tôi đã đến vùng địch yếu và sơ hở là một thuận lợi, tạo cho trung đoàn 803 thế chẻ tre liên tục đánh thắng địch ở Plây Tàu (3-3), Plây Ring (10-4), tập kích Buôn Ma Bếp (12-4), vận động phục kích ở Ka Tung (21-4), tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình - Buôn A Riêng - Buôn Thô (1-6), tiến công thị xã Tuy Hòa, đánh thiệt hại tiểu đoàn địch, phá hủy 200 xe (21-6), đánh chặn diệt một đoàn xe 79 chiếc ở Đèo Cả (25-6). Và sau cùng khi chúng tôi vượt sông Đà Rằng thọc hướng tây nam, cắt đường 21 đoạn Ma Đrắc... có điều kiện để chúng tôi chính thức đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho tiến công thị xã Buôn Ma Thuột từ phía đông lên hợp cùng các trung đoàn 108, trung đoàn 96 từ phía bắc và đông nam, tiến vào giải phóng thị xã này, thì được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch rút về Phù Cát vì Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết (lệnh ngừng bắn có hiệu lực đến với khu vực miền Trung từ ngày 1 tháng 8 năm 1954).

Để kết thúc suy nghĩ về người Tư lệnh của tôi, xin trích ra đây cùng bạn đọc một đoạn trong bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhan đề “Nhớ anh Nguyễn Chánh, một cán bộ xuất sắc của Đảng, một vị tướng tài của quân đội”:

“... Cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của anh Nguyễn Chánh trước hết gắn liền với Liên khu 5 tức vung Nam Trung Bộ, một chiến trường khó khăn về kinh tế bị địch bao vây bốn bề, lại ở xa Trung ương, nhưng lại có truyền thống cách mạng lâu đời và là vị trí chiến lược rất quan trọng. Đặc biệt với vùng Tây Nguyên chiến trường này có vị trí chiến lược rất quan trọng, khống chế cả khu vực Nam bán đảo Đông Dương và là hành lang huyết mạch nối với Nam Bộ...

Từ khoảng năm 1949 trở đi, đồng chí Phạm Văn Đồng, rồi một số đồng chí lãnh đạo khác lần lượt được điều về Trung ương. Trách nhiệm của anh Chánh ngày càng nặng nề hơn, từ năm 1951 đã giữ trọng trách vừa là Bí thư Liên khu ủy vừa là Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5.

Đối với anh đây là một thử thách lớn. Chính thử thách này càng làm bộc lộ bản lĩnh và tài năng của anh.

Phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu 5 không những tiếp tục được giữ vững, mà từ năm 1951 trở đi đã rõ ràng có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, anh tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, anh tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là một người chỉ huy kiên quyết và có tài năng tổ chức.

Có điều đặc biệt đáng nói rõ là ở Liên khu 5 trong thời kỳ này, đi đôi với sự phát triển của lực lượng du kích và chiến tranh nhân dân du kích, lãnh đạo Liên khu và anh Nguyễn Chánh với chủ trương và sự chi viện của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đã chú trọng đúng mức, kiên định và liên tục xây dựng lực lượng chủ lực, biết sử dụng khéo quả đấm chủ lực để thúc đẩy kháng chiến phát triển, vừa tác chiến vừa xây dựng, trưởng thành khá vững và nhanh.

Chính đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến Liên khu 5 là một trong những chiến trường giành được thắng lợi rực rỡ nhất trong chiến cuộc Đông - Xuân - Hè 1953 - 1954, phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính Điện Biên Phủ...”(1).


(1) Võ Nguyên Giáp, “Nhớ anh Nguyễn Chánh, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một vị tướng tài của quân đội”, Tạp chí Xưa và Nay, hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 43, tháng 9 năm 1997.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 08:01:17 pm
Chương VII
TRẬN IA ĐRĂNG - MƯƠI NĂM CHUẨN BỊ


1

Từ Buôn Hồ (Đắc Lắc) tiểu đoàn 59 chúng tôi phải mất mười ngày để vượt qua chặng đường dài ngót 500 ki-lô-mét mới về đến Phù Cát (Bình Định) vào chiều ngày 27 tháng 7 năm 1954.

Một bước ngoặt đến với chúng tôi khi vừa đặt chân đến mảnh đất thân quen và gắn bó, thì được tin tất cả các lực lượng vũ trang Liên khu 5 đều tập kết ra Bắc, một nhiệm vụ mà chúng tôi chưa hề nghĩ tới. Khúc khải hoàn mà sao niềm vui cứ xen lẫn với băn khoăn khắc khoải? Riêng tôi, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định về làm chính ủy trung đoàn 108 và chuẩn bị đi tập kết đợt đầu, kèm theo là những công việc được giao: Sắp xếp tổ chức biên chế, trang bị thành một trung đoàn mạnh, là một thành viên của Sư đoàn 305 chuẩn bị dự lễ chiến thắng do Liên khu tổ chức; tổ chức cho đơn vị học tập thông suốt tình hình nhiệm vụ mới, trước mắt chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chuyển quân tập kết; tham gia chiến dịch dân vận; quy tập hài cốt tử sĩ vào các nghĩa trang; tiếp đón chu đáo bà con cô bác đến thăm con em mình trước lúc đi xa,v.v... Việc nào cũng cụ thể và gấp gáp khiến nhiều đêm tôi chỉ chợp mắt vài ba tiếng, phần vì lo công việc cứ dồn dập đến, phần vì đấu tranh giữa nguyện vọng được ở lại với đi tập kết là mệnh lệnh phải chấp hành nghiêm chỉnh.

Sau nữa là chuyện hậu phương. Hai câu hỏi đặt ra phải chọn một: Thăm mẹ hay thăm vợ? Mẹ ở xa cách gần 200 ki-lô-mét, vợ chỉ cách nơi đơn vị đóng quân trên dưới 20 ki-lô-mét. Tôi quyết định biên thư cho mẹ và về thăm vợ, vì thời gian cho việc riêng lúc này là quá ít. Được trên cho nghỉ ba ngày, tôi đi mà như chạy, với tốc độ mã hồi, về đến nhà trời đã nhá nhem tối. Niềm vui đến bất ngờ - vợ tôi mới sinh con trai vừa tròn tháng tuổi, như một gạch nối gắn bó đạo nghĩa vợ chồng từ đứa con vẫn còn đang đỏ hỏn. Lẽ ra phải cách ly nhưng hai chúng tôi cứ quấn quýt bên nhau, cố giấu nỗi buồn chia ly đang đến gần, kể cho nhau nghe đủ chuyện trên trời dưới biển, khuyên nhau chú ý giữ gìn sức khỏe, hứa cùng nhau giữ trọn lòng chung thủy đợi chờ. Ba ngày qua nhanh, chỉ còn vài giờ nữa là tôi tạm biệt nơi tổ ấm, lúc ấy chúng tôi mới cùng nhắc nhau ráng chờ, hai năm gặp lại sẽ tính chuyện lâu dài... Vài ngày sau đó, nhận được tin vợ tôi thuộc diện tập kết đã xuống tập trung tại khu vực Bồng Sơn chờ đi đợt sau cùng. Ngày lên đường đã đến, tôi chỉ kịp ghi tiếp mấy dòng nhắn gửi mẹ: Ngày mốt con xuống tàu ra Bắc, mẹ cố thu xếp xuống thăm con dâu và cháu đích tôn theo địa chi con ghi trong thư này... Tôi lại có thêm một niềm vui và một bịn rịn mới trong những ngày chuẩn bị rời xa quê hương.

Tháng 5 năm 1955 được tin vợ tôi đi trong đợt tập kết cuối cùng(1), đã ra Bắc được phân về công tác tại trường học sinh miền Nam ở tỉnh Thái Bình, nhưng mãi tháng 7 tôi mới được phép về thăm. Gần một năm xa cách vợ chồng mới gặp lại, con trai tôi đã biết lần giường tập đi. Đủ các chuyện để kể cho nhau nghe, chuyện quê hương, chuyện miền Bắc, nhưng xúc động nhất là vợ tôi kể chuyến mẹ tôi xuống thăm con dâu và cháu đích tôn, - Buổi sáng hôm ấy em nhờ chủ nhà trông con tranh thủ ra chợ mua vài thứ lặt vặt, thì mẹ theo địa chỉ anh dặn trong thư đã đến đúng nơi em ở. Nhìn thấy con đang được chị chủ nhà bồng nựng âu yếm, đoán là cháu mình mẹ giơ tay đón. Vạch áo nhìn sau lưng thấy có cái bớt, mẹ reo lên: đúng cháu nội tôi rồi! Rồi mẹ vừa phân bua với chị chủ nhà, vừa chỉ vào lưng, nói: cha nó cũng có cái bớt như thế này.

Hai mẹ con gặp nhau nước mắt lưng tròng vì quá vui. Lúc này em lại nhớ đến anh, ước gì anh cùng tập kết một đợt để được gặp mẹ. Thời gian còn dài mẹ đón em và con về thăm quê nội gần một tháng. Bình Khê quê anh đẹp quá, em tiếc phải xa ông bà nội, xa các chú, các cô không biết bao giờ mới gặp lại, em cố nén mà vẫn khóc òa khiến con giật mình cũng khóc theo...

Xin được trở lại chuyện đang kể ở trên. Với tôi cũng như bao cán bộ trung cấp khác, bề ngoài vẫn ngày đêm cần cù nghiêm túc chuẩn bị thực hiện việc chuyển quân tập kết theo đúng kế hoạch trên giao, nhưng trong tâm tư vẫn có cái gì trăn trở giằng xé giữa ở và đi. Nhất là được biết nhiều đồng chí được phân công ở lại để chiến đấu lâu dài với địch; lại được tin anh các Trần Lương và Võ Chí Công được Trung ương cử vào phụ trách bí thư, phó bí thư Đảng bộ Liên khu 5 đã đi bằng con đường hợp pháp vào Quy Nhơn rồi về cơ quan Khu ủy đang đóng ở trụ sở tại Phù Mỹ lo việc chỉ đạo các đảng bộ bí mật tiếp tục đấu tranh với địch trong điều kiện mới thì ý định ở lại trong tôi càng trỗi dậy. Trong hội nghị Khu ủy triệu tập các ngày 27, 28 tháng 7 và trong hội nghị Đảng ủy Sư đoàn 305 vừa được thành lập (mà tôi được tham dự), tôi đã trình bày trực tiếp nguyện vọng của mình với các anh Nguyễn Chánh, Nguyễn Đôn, Nguyễn Quyết... Mỗi anh một ý nhưng tất cả đều chân thành, thẳng thắn khuyên tôi: Nam Khánh còn trẻ, nên ra Bắc có điều kiện học tập nâng cao trình độ mọi mặt một cách cơ bản, sau này sẽ giúp nhiều hơn cho cách mạng. Cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc còn gian khổ, lâu dài. Về lý, ý kiến của các anh hoàn toàn đúng, tôi không thể không thông, nhưng trong tâm tư tình cảm thấy vẫn có cái gì lướng vướng, khi có điều kiện lại đặt ra.


(1) Ngày 16 tháng 5 năm 1955, các đơn vị cuối cùng của Khu 5 rời cảng Quy Nhơn. Không kể hàng vạn cán bộ dân chính, tổng số lực lượng vũ trang Khu 5 tập kết ra Bắc là 43.609 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm Sư đoàn 305 (các trung đoàn 96, 108, 210), các trung đoàn 90, 93, 803 (ba trung đoàn nảy ra đến Thanh Hóa thành lập Sư đoàn 324); trung đoàn 812 (Binh Thuận - Ninh Thuận), trung đoàn 120 (các dân tộc ít người ở Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng); tiểu đoàn đặc công 323, trung đoàn 673 quân tình nguyện Hạ Lào (trung đoàn này nằm trong đội hình Đại đoàn 325).


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 08:02:33 pm
Ngày 20 tháng 9, lễ mừng chiến thắng được tổ chức trọng thể tại sân vận động thị xã Quảng Ngãi, có hàng vạn người từ các nơi về. Cả thị xã bừng lên như một ngày hội, đường phố chật cứng những người là người. Sư đoàn 305 chúng tôi chỉnh tề trong bộ quân phục mới, cả vũ khí trang bị cũng mới (toàn chiến lợi phẩm thu được của địch trong chiến dịch Tây Nguyên vừa mới kết thúc). Nói chuyện trước buổi lễ, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ tư lệnh Liên khu Nguyễn Chánh dõng dạc tuyên bố: “Nếu sau hai năm không có tổng tuyển cử hòa bình thống nhất thì lực lượng vũ trang cách mạng Liên khu 5 sẽ sẵn sàng trở về với ngọn cờ quyết chiến, quyết thắng”, cả lễ trường vang lên tiếng vỗ tay như sấm dậy.

Cám ơn anh Nguyễn Chánh đã hiểu nỗi lòng chúng tôi, đã nói thay nguyện vọng cháy bỏng của chúng tôi trước bà con cô bác đang đứng dưới cờ.

Sau lễ mừng chiến thắng, trạng thái phân cực được hình thành rõ rệt. Ở những bộ phận “đi là thắng lợi” liên tục diễn ra những buổi liên hoan gặp mặt, tặng vật kỷ niệm, chúc nhau sức khỏe, hẹn ngày gặp lại. Nhất la những đơn vị tập kết đợt đầu như chúng tôi đã xúng xính trong bộ quân phục quen thuộc xi-ta còn thơm mùi vải mới, đội mũ nan bọc vải đính quân hiệu hình tròn cờ Tổ quốc được chị em khéo tay trong hội phụ nữ thức suốt ngày đêm thêu tặng đang chờ giờ phút xuống tàu. Những tin tức không được lưu truyền. không được công khai biểu dương khích lệ nay lại thôi thúc tôi viết thư gửi anh Nguyễn Chánh, hy vọng cơ hội cuối cùng sẽ đến với mình.

Ngày 7 tháng 10, đồng chí Lượng, bí thư của anh Nguyễn Chánh trong đoàn kiểm tra xuống đơn vị tôi làm việc lần cuối, trước, khi trung đoàn lên đường. Xong việc, đồng chí Lượng gặp riêng tôi truyền đạt ý kiến của anh Nguyễn Chánh sau khi nhận được thư của tôi. Anh Chánh nói: Tha thiết xin ở lại bám trụ quê hương, chấp nhận đi vào cuộc chiến đấu mới là một nguyện vọng chính đáng cần được biểu dương khích lệ. Nhưng người đảng viên còn có nghĩa vụ tuyệt đối thực hiện sự phân công của Đảng.

Tôi xúc động và cả hối hận vì đã làm cấp trên phải bận tâm về mình trong lúc có biết bao công việc chung đòi hỏi các anh phải lo toan, tính toán không thể để chậm. Bỗng tôi lại nhớ về giờ phút thiêng liêng đứng tuyên thệ trong buổi lễ kết nạp Đảng tại mặt trận Củng Sơn ngày nào.

Thời gian trôi nhanh, phút giây xa quê đã đến! Chiều ngày 10 tháng 10 năm 1954 trung đoàn 108 thuộc Sư đoàn 305 của Liên khu 5 chính thức lên đường đi tập kết. Bến cảng Quy Nhơn đông vui như một ngày hội, người đi lại tấp nập. Nhiều nhất vẫn là bà con cô bác từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vào, từ Phú Yên ra, từ Tây Nguyên xuống đã đứng chật hai bên đường chúng tôi đi qua, như muốn trút hết tình cảm thân thương của mình cho những người thân sắp sửa đi xa. Họ vẫy tay, vẫy nón, dặn dò, khuyên nhủ bao điều vừa tâm tình vừa hỗn độn đến khản cổ những mong chồng, con, em mình nhận được tiếng nói nhắn nhủ, hẹn ước để yên tâm tập kết. Trong không khí sôi động, náo nhiệt ấy tôi vẫn thấy trên khuôn mặt những người ra tiễn ẩn chứa một nỗi buồn lo tình hình sẽ ra sao đây.

Tôi đi sau cùng hàng quân đang mải giơ tay đáp lại một bà má từ phía sau cố dướn người nhìn tôi vẫy nón và nhắn nhủ: Con đi khỏe, nghe! Thì có một em bé trai 14 tuổi từ phía sau ôm lưng tôi như muốn giữ lại không cho đi.

Tôi cầm tay em ghé tai âu yếm:

- Hai năm các anh lại về.

Em nói trong tiếng nấc:

- Nhưng các anh đi, chúng nó đến!

Vì yêu cầu chung tôi không thể đứng lại an ủi em (mà cũng không biết nói thế nào để em yên tâm).

Một hồi còi dài cất lên từ nơi con tàu Nga mang tên Ắc-khăng-ghen chào tạm biệt đất liền. Không khí bến cảng sôi động hẳn lên, người người nháo nhác gọi nhau xuống sát mép nước để được nhìn người thân rõ hơn. Tàu nhổ neo từ từ quay mũi ra khơi. Cám ơn các thủy thủ Xô-viết đã thông cảm với người đi xa, cố ý làm chậm giờ phút rời bến để người ở lại và người xa quê nhìn nhau lần cuối. Khoảng cách con tàu và bến cảng cứ xa dần, chỉ còn giơ tay xòe hai ngón làm hiệu thay cho tiếng nói: “Hai năm sẽ về!”, vẫy mãi, vẫy hoài cho đến khi đất liền mờ xa, chỉ còn lại biển cả với tiếng sóng vỗ đều đều. Tôi cũng như bao anh em khác cũng giơ tay vẫy vẫy làm hiệu hai năm một cách thật lòng nhưng vẫn văng vẳng bên tai tiếng em nhỏ hồi chiều “Các anh đi, chúng nó đến!”.

Bỗng tôi tự hỏi mình: Sao mình lại đi lúc địch đến, mặc dầu đi là thắng lợi? Cái ý nghĩ trở lại trỗi dậy từ đây, đang lúc mũi tàu thẳng hướng bắc, xuyên qua màn đêm mà đi tới.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 08:03:18 pm
Theo lộ trình ba ngày ba đêm là tới đích nhưng gặp mưa bão, phải mất sáu ngày đêm tàu mới cập bến Cửa Hội. Từ Cửa Hội chúng tôi hành quân tiếp về đứng chân ở Chợ Còng, Thanh Hóa. Phút đầu đặt chân lên miền Bắc làm chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ vì cảnh vật nơi đây có cái gì na ná như vùng quê Nam Trung Bộ, cũng có biển, có đồng bằng và rừng núi, và con người nơi đây cũng lam lũ, khắc khổ nhưng giàu lòng nhân ái, coi chúng tôi như những đứa con đi xa nay mới trở về, không tiếc một thứ gì miễn là tạo thuận lợi cho chúng tôi nhanh chóng ổn định nơi ăn, chốn ở.

Một kỷ niệm khó quên đối với chúng tôi những ngày đầu tập kết ra Bắc, là được Bác đến thăm trong lúc đơn vị đang tập đội ngủ tại sân bay Bạch Mai chuẩn bị cho lễ diễu binh chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ về lại Thủ đô ngày 1 tháng 1 năm 1955.

Ngày 17 tháng 12 năm 1954, vào một buổi sáng mùa đông giá lạnh - một cái lạnh lần đầu bắt gặp thật khó chịu. Chúng tôi đang huấn luyện đội ngũ trong đội hình tổng hợp diễu qua lễ đài, yêu cầu động tác cá nhân phải thành thục đến mức điêu luyện, nên rất vất vả, thì được tin cấp trên đến thăm. Thấy chúng tôi tỏ vẻ lo lắng, các anh trên Tổng cục Chính trị ghé tai tôi nói nhỏ: Không phải chuẩn bị gì cả, ai việc nào cứ việc ấy, cứ tập luyện bình thường.

Bác đến! Đúng là Bác rồi, hao hao như người trong ảnh mà xưởng in của Liên khu vừa phát hành rộng rãi trong toàn vùng Nam Trung Bộ trong dịp ngừng bắn, chuyển quân tập kết vừa qua. Nghĩ như thế tôi chấn chỉnh đội hình, cao trên thấp dưới, dóng thẳng hàng ngang dọc. Tim cứ đập thình thình, vừa hồi hộp vừa vui sướng, tận mắt, rất gần nhìn rõ Bác. Thật không có gì tả xiết, vẫn còn in đậm dấu ấn những ngày gian khổ ở chiến khu Việt Bắc, nước da mai mái xanh gầy, ăn vận giản dị, chỉ khác là đôi mắt Bác sáng và vầng trán cao thông minh, dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói đầm ấm, thân tình như vị cha già nói với các con cháu: “Các cô các chú ăn có no không”, thì chúng tôi vô cùng cảm động, có người rưng rưng nước mắt.

Nhiều đồng chí chỉ nghe giọng nói ấm áp của Bác mà không nhìn thấy Bác, nên khi Bác ra về, bất chấp kỷ luật cứ ùa ra vây quanh để được nhìn rõ Bác. Chiến sĩ Hoàng Văn Kim cố bám thành xe khi xe chạy để được nhìn Bác gần hơn. Hiểu thấu tình cảm của những đứa con ở xa Trung ương nhưng vẫn ngưỡng mộ hướng về phương bắc thầm mơ có ngày được gặp Bác nên Bác cho dừng xe lại, đứng trên thềm gạch để tất cả mọi người nhìn thấy, cả bãi tập sôi động lạ thường, vang lên tiếng hô “Bác Hồ muôn... năm! Bác H... ồ... m... uôn năm!”. Bác tươi cười giơ tay ra hiệu trật tự và Bác nói nghe cảm động, thân thương vô cùng: Để Bác về nghỉ trưa, chiều Bác lại đến thăm các cô. các chú, có được không? Cả bãi tập lại hô vang: “Hồ Chí Minh mu... ôn n... ăm...!”.

Bác lại tiếp: Các cô các chú về nghỉ lấy sức chiều còn tập luyện.

Trưa hôm đó phòng ăn như chợ phiên, tiếng cười nói ồn ào, náo nhiệt, những đồng chí được đứng gần Bác, được, ngắm kỹ Bác thì bình về Bác, bình về đôi mắt sáng lạ kỳ; bình về vầng trán cao uyên bác; bình về giọng nói vang như tiếng chuông. Số đồng chí khác thất vọng, cho là hết cơ hội, là số không may, Bác bận trăm công nghìn việc, chắc chiều nay Bác không đến.

Còn tôi thì băn khoăn về cái nguyên tắc đội hình xếp theo thứ tự cao trên thấp dưới có từ bao giờ, sao không sửa. Rất có khả năng chiều nay vẫn có người không nhìn thấy Bác? Bàn đi tính lại, chúng tôi thống nhất: đội hình tập chiều nay không đổi, trước giữa hàng quân để một cái bàn, nếu Bác đến mời Bác đứng trên bàn nói chuyện. Chỉ có cách này mới thỏa mãn được nguyện vọng của mọi người.

Trời lất phất mưa bay, cái lạnh càng tăng. Bác đã đến. Tôi rất yên tâm vì lần này đã có kế hoạch chuẩn bị đón Bác, không bị động như sáng nay. Đội hình đã chỉnh tề, ngang dọc như ô cờ, thẳng hàng nhìn phía nào cũng thấy đẹp. Đây là đội hình sẽ thực hiện trong lễ diễu binh ngày 1 tháng 1 năm 1955.

Đội hình đón Bác vuông vức và nghiêm túc không một nhúc nhích, nhưng Bác băn khoăn khi nhìn thấy cái bàn vững chắc kê giữa hàng quân! Bỗng Bác đi vòng xuống cuối hàng quân. Đứng ra giữa, Bác hô thật to, giọng vang xa, dứt khoát như một chỉ huy quân sự thực thụ:

- Đằng sau, quay!

Chúng tôi nhẹ nhõm thở phào, nhìn đội hình thay đổi theo thứ tự ngược lại, đã hiểu ý định của Người là để các đồng chí thấp được đứng gần nhìn Bác rõ hơn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Bảy, 2022, 08:04:20 pm
Cả hàng quân rùng rình chuyển động làm theo lời Bác, có cả tiếng cười nói râm ran ấm tình cha con. Đồng chí chỉ huy đợt tổng duyệt đội ngũ đến báo cáo với Bác đây là tiểu đoàn 19 trung đoàn 108 Đại đoàn 305, đại diện lực lượng vũ trang Liên khu 5 tham gia lễ duyệt binh sắp tới.

Chiều đến bầu trời u ám, gió đông bắc mạnh dần, nhiệt độ xuống thấp. Hiểu được chúng tôi lần đầu sống chung với cái rét thấu xương ở miền Bắc, Bác ân cần hỏi:

- Các chú có lạnh lắm không? đã được phát áo bông chưa?

Mọi người đều hướng về Bác với tấm lòng thành kính, tràn đầy vui sướng, nhưng không có tiếng trả lời. Hiểu được từ bông trong Nam nghĩa là hoa, Bác giải thích tiếp: áo bông là áo may có hai lớp vải, ở giữa độn bông mặc vào mùa đông giá lạnh như hôm nay. Chúng tôi càng xúc động về tấm lòng yêu thương bao la của Bác. Bận nhiều việc chung, lớn lao của đất nước, nhưng Người không quên những nhu cầu thường nhật của quần chúng, từ miếng cơm manh áo, nhỏ mà quan trọng, không có nó không được. Sau đó Bác mới thăm hỏi và căn dặn:

“Hôm nay Bác đến thăm các cô các chú, có nghĩa là đến thăm toàn quân. Vì ở đây có đủ đại biểu các đơn vị. Khi các cô các chú về đơn vị, Bác gửi lời hỏi thăm và khuyến khích tất cả anh em, chị em cố gắng học tập... Cần học chính trị để nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, để đi đúng đường lối của cách mạng.

Phải học tập kỹ thuật vì kỹ thuật ngày càng tiến bộ... muốn cho bộ đội ta hùng mạnh chúng ta phải cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật để tiến lên chính quy.

Phải ngăn chặn những tư tưởng không đúng nảy nở. Đồng thời phải biết quý trọng của công, không được lãng phí; phải giữ gìn kỷ luật cho nghiêm, đừng vì hòa bình rồi mà coi nhẹ kỷ luật. Phải đoàn kết. Trước ở Bắc Bộ chỉ có bộ đội Bắc Bộ, bây giờ Bắc Bộ có bộ đội toàn quốc: Nam - Trung - Bắc đều có... Phải thật thà đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

Các cán bộ chỉ huy trẻ phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào phải chính quy hóa, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sĩ. Ngoài ra phải hết sức chăm lo mọi mặt về đời sống cho chiến sĩ”.

Lần đầu gặp Bác và được nghe Bác căn dặn đã trở thành một kỷ niệm không thể nào quên đối với cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 19 nói riêng, của bộ đội Khu 5 tập kết nói chung. Bởi từ sau đó, câu chuyện về lần gặp Bác được lan truyền khắp các đơn vị do người được gặp Bác về kể lại, người được kể lại kể tiếp cho người sau, cuối cùng người không trực tiếp gặp Bác coi như đã gặp, mà đại diện là tiểu đoàn 19 anh hùng.

Riêng tôi, ngoài cái chung, còn có sự tâm đắc riêng về những điều “cuối cùng Bác nhắc các cô chú: Hiện nay nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Trong nhiệm vụ đó, quân đội giữ một phần quan trọng. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó, các cô các chú phải làm cho đúng những lời Bác dặn”. Cái ý nghĩ trở về đã được Bác tiếp sức. Bác đã nhấn mạnh trong nhiệm vụ chính trị chung quân đội giữ một phần quan trọng.

Sau khi tham dự lễ duyệt binh chào mừng Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ về lại Thủ đô Hà Nội ngày 1 tháng 1 năm 1955 cùng với các đơn vị khác trong toàn quân, trung đoàn 108 được giao nhiệm vụ tham gia cải cách ruộng đất ở Tĩnh Gia, cứu đói ở Nông Cống (Thanh Hóa), chống cưỡng ép di cư ở Ba Làng An (Thanh Hóa), Hải Hậu (Nam Định); tham gia xây dựng công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải, khu công nghiệp Việt Trì, cứu đê Mai Lâm, v.v... Sau đó chúng tôi hành quân lên rừng đẵn gỗ ghép bè xuôi sông về xây dựng doanh trại ở Thậm Thình (Phú Thọ), bước vào kế hoạch dài hạn xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại. Cả miền Bắc dấy lên phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp hợp thành ba mũi mang những cái tên giản dị mà phong phú: Cờ ba nhất (quân đội), Gió đại phong (nông nghiệp), sóng duyên hải (công nghiệp).

Chúng tôi đã sống trong thời kỳ thật đẹp - thời kỳ khôi phục kinh tế miền Bắc đầy sôi động và hào hứng. Đất nước vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh chín năm (1945-1954), mọi thứ đều thiếu thốn, ai nấy đều vui vẻ thực hiện “thắt lưng buộc bụng”. Không ai đặt điều kiện, đòi thụ hưởng trước khi bắt tay vào công việc. Đó là thời kỳ hoàng kim, thời kỳ đức trị. Điều hành đất nước bằng đức trị; chấp hành nhiệm vụ cũng bằng đức trị; đối xử với nhau cũng bằng đạo đức tình người; ít khi phải dùng đến pháp luật mà mọi việc vẫn chạy đều, đường phố, xóm làng vẫn kỷ luật, yên vui, hạnh phúc, chan hòa tình cảm, giữa người với người là đồng chí, là bạn bè thân thiết.

Nhưng có cả sự gian khổ, quyết liệt và hy sinh. Máu của các chiến sĩ Sư đoàn 305 đã đổ khi làm nhiệm vụ chống âm mưu cưỡng ép di cư bị bọn phản động ở Ba Làng An giết hại. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn 108 chúng tôi quên ăn quên ngủ ngày đêm bám trụ tìm thủ đoạn dựng giả ảnh Đức mẹ hiện hình của bọn phản động nhằm lừa mị kích động giáo dân. Khi thủ đoạn này được đưa ra ánh sáng đã góp phần chặn đứng làn sóng di cư ở vùng đồng bào công giáo Hải Hậu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:52:21 am
Tháng 7 năm 1955, tôi được anh Trần Hoài Ân, Cục trưởng Cán bộ gọi lên báo tin Bộ quyết định tôi đi học nước ngoài. Tin vui mà tôi lại phân vân, vì khả năng hai năm tổng tuyển cử thực hiện thống nhất nước nhà đang bị đe dọa. Tin Mỹ - Diệm đang ráo riết thực hiện các chiến dịch “tố cộng” để trả thù người kháng chiến cũ; liên tiếp gây ra các vụ tàn sát đẫm máu ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Chi Thạnh... đã thực sự thôi thúc chúng tôi phải trở về.

Nhưng được các anh trong Cục Cán bộ giải thích, vả lại đây là mệnh lệnh nên tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành.

Sau gần một năm tập trung về trường văn hóa Kiến An để học ngoại ngữ, cuối tháng 5 năm 1956 đoàn học viên chúng tôi gồm hơn hai mươi anh em tạm biệt đất mẹ ngồi tàu liên vận sang học tại Học viện Quân sự chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Số anh em quê ở miền Nam đều có chung mong muốn: Một là, học xong được trở lại miền Nam tham gia chiến đấu chống lại âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của bọn Mỹ - Diệm; hai là, học cái gì thiết thực để khi trở lại chiến trường áp dụng được ngay. Một mong muốn phụ đã được Đại sứ quán ta ở Trung Quốc đáp ứng định kỳ các anh ở đại sứ quán đều có thông báo tình hình thời sự trong nước - có chuyên đề về tình hình đồng bào miền Nam đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Bạn tạo điều kiện ăn, ở rất thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập. Chúng tôi thật thoải mái khi bước vào học tập, mọi suy nghĩ riêng tư đều xếp lại. Đã thấy có hào hứng với kiến thức thật mới của môn khoa học quân sự Mác - Lê-nin. Nhưng đi vào các vấn đề về nghệ thuật quân sự có liên hệ đến thực tiễn thì cái hào hứng ban đầu dần dần mất đi, có vấn đề trở thành đề tài tranh luận. Các bài giảng về nghệ thuật chiến dịch, chỉ huy chiến đấu đều rút ra từ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong cuộc kháng Mỹ viện Triều của Trung Quốc. Có nhiều vấn đề không phù hợp với cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây và chống Mỹ ngày nay - một nước có diện tích không lớn, dân số không đông. Thế là từ thảo luận nhằm nắm vững nội dung biến thành cuộc tranh luận trực diện diễn ra giữa học sinh Việt Nam và các giảng viên Trung Quốc, bình tĩnh, thẳng thắn, chân tình, cũng có lúc sôi nổi, gay gắt, thậm chí căng thẳng để tìm chân lý.

Sợ vấn đề tranh luận đi quá xa, chi bộ học viên chúng tôi họp xác định lại tinh thần thái độ học tập đúng mực, cần phải thật khiêm tốn và đoàn kết. Nếu chưa thông thì bảo lưu, không nên gây căng thẳng không cần thiết. Phía bạn cũng kiềm chế. Họ nói, là giáo viên chúng tôi có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ nội dung giáo trình, giáo án của nhà trường, yêu cầu các đồng chí Việt Nam cứ học đã, còn nội dung được hay không, vận dụng nhiều hay ít tùy thuộc nơi các đồng chí sau này trở về nước.

Ba năm học trôi nhanh, khóa học đã bế mạc tràn đầy không khí hữu nghị giữa các giảng viên với các học viên Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo trường bạn đến thăm và tạm biệt đoàn học sinh Việt Nam. Câu chuyện trao đổi trong buổi gặp mặt hôm ấy diễn ra cởi mở, chân thành, thắm tình hữu nghị đồng chí. Chúng tôi đánh giá cao nghiên cứu khoa học và giảng dạy của trường; giáo trình, giáo án được biên soạn công phu mang tính khái quát, khoa học cao. Bạn khen tinh thần học tập thực sự cầu thị của đoàn học sinh Việt Nam; thảo luận sôi nổi, không xuôi chiều, thẳng thắn tranh luận để tìm ra chân lý.

Tháng 12 năm 1958, đoàn học sinh chúng tôi về nước. Sang tháng 1 năm 1959, tôi được điều về công tác tại Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Đến giữa năm 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, chuyên đề Cách mạng miền Nam chính thức ban hành.

Hồi đang còn học bên nước bạn, Đại sứ quán ta có thông tin nhanh về Nghị quyết quan trọng này, chưa thông báo nội dung cụ thể vì còn giữ bí mật. Sự thông tin chưa đầy đủ khiến tôi càng nôn nóng, học tập có phần hơi phân tán, chỉ mong thời gian trôi nhanh để được về nước xem thực hư, cụ thể thế nào.

Vì vậy khi về đến Trạm khách của Bộ, trong lúc đợi phân công tác, tôi tranh thủ về Sư đoàn 305 để tìm hiểu. Không khí ở cơ quan sư bộ lúc này có nhiều thay đổi. Theo yêu cầu của chiến trường, nhiều bạn bè thân quen của tôi đã lên đường, lặng lẽ mà khẩn trương chuẩn bị công việc hoặc tập trung lên thị trấn Xuân Mai tập luyện để vào tiếp.

Tôi được các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn cho biết cốt lõi của Nghị quyết 15 xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền là bạo lực... dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. Ôi! Thế là nguyện vọng của mình đã có cơ hội thực hiện. Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959 tôi đã ba lần viết thư đề nghị Cục Cán bộ báo cáo cấp trên cho tôi trở lại chiến trường vì Trung ương đã có Nghị quyết 15. Các anh lãnh đạo Cục hoan nghênh nguyện vọng của tôi và khuyên tôi sẵn sàng chờ, khi có lệnh là lên đường được ngay.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:53:13 am
Tháng 7 năm 1955, tôi được anh Trần Hoài Ân, Cục trưởng Cán bộ gọi lên báo tin Bộ quyết định tôi đi học nước ngoài. Tin vui mà tôi lại phân vân, vì khả năng hai năm tổng tuyển cử thực hiện thống nhất nước nhà đang bị đe dọa. Tin Mỹ - Diệm đang ráo riết thực hiện các chiến dịch “tố cộng” để trả thù người kháng chiến cũ; liên tiếp gây ra các vụ tàn sát đẫm máu ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Chi Thạnh... đã thực sự thôi thúc chúng tôi phải trở về.

Nhưng được các anh trong Cục Cán bộ giải thích, vả lại đây là mệnh lệnh nên tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành.

Sau gần một năm tập trung về trường văn hóa Kiến An để học ngoại ngữ, cuối tháng 5 năm 1956 đoàn học viên chúng tôi gồm hơn hai mươi anh em tạm biệt đất mẹ ngồi tàu liên vận sang học tại Học viện Quân sự chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Số anh em quê ở miền Nam đều có chung mong muốn: Một là, học xong được trở lại miền Nam tham gia chiến đấu chống lại âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của bọn Mỹ - Diệm; hai là, học cái gì thiết thực để khi trở lại chiến trường áp dụng được ngay. Một mong muốn phụ đã được Đại sứ quán ta ở Trung Quốc đáp ứng, định kỳ các anh ở đại sứ quán đều có thông báo tình hình thời sự trong nước - có chuyên đề về tình hình đồng bào miền Nam đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Bạn tạo điều kiện ăn, ở rất thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập. Chúng tôi thật thoải mái khi bước vào học tập, mọi suy nghĩ riêng tư đều xếp lại. Đã thấy có hào hứng với kiến thức thật mới của môn khoa học quân sự Mác - Lê-nin. Nhưng đi vào các vấn đề về nghệ thuật quân sự có liên hệ đến thực tiễn thì cái hào hứng ban đầu dần dần mất đi, có vấn đề trở thành đề tài tranh luận. Các bài giảng về nghệ thuật chiến dịch, chỉ huy chiến đấu đều rút ra từ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong cuộc kháng Mỹ viện Triều của Trung Quốc. Có nhiều vấn đề không phù hợp với cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây và chống Mỹ ngày nay - một nước có diện tích không lớn, dân số không đông. Thế là từ thảo luận nhằm nắm vững nội dung biến thành cuộc tranh luận trực diện diễn ra giữa học sinh Việt Nam và các giảng viên Trung Quốc, bình tĩnh, thẳng thắn, chân tình, cũng có lúc sôi nổi, gay gắt, thậm chí căng thẳng để tìm chân lý.

Sợ vấn đề tranh luận đi quá xa, chi bộ học viên chúng tôi họp xác định lại tinh thần thái độ học tập đúng mực, cần phải thật khiêm tốn và đoàn kết. Nếu chưa thông thì bảo lưu, không nên gây căng thẳng không cần thiết. Phía bạn cũng kiềm chế. Họ nói, là giáo viên chúng tôi có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ nội dung giáo trình, giáo án của nhà trường, yêu cầu các đồng chí Việt Nam cứ học đã, còn nội dung được hay không, vận dụng nhiều hay ít tùy thuộc nơi các đồng chí sau này trở về nước.

Ba năm học trôi nhanh, khóa học đã bế mạc tràn đầy không khí hữu nghị giữa các giảng viên với các học viên Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo trường bạn đến thăm và tạm biệt đoàn học sinh Việt Nam. Câu chuyện trao đổi trong buổi gặp mặt hôm ấy diễn ra cởi mở, chân thành, thắm tình hữu nghị đồng chí. Chúng tôi đánh giá cao nghiên cứu khoa học và giảng dạy của trường; giáo trình, giáo án được biên soạn công phu mang tính khái quát, khoa học cao. Bạn khen tinh thần học tập thực sự cầu thị của đoàn học sinh Việt Nam; thảo luận sôi nổi, không xuôi chiều, thẳng thắn tranh luận để tìm ra chân lý.

Tháng 12 năm 1958, đoàn học sinh chúng tôi về nước. Sang tháng 1 năm 1959, tôi được điều về công tác tại Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Đến giữa năm 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, chuyên đề Cách mạng miền Nam chính thức ban hành.

Hồi đang còn học bên nước bạn, Đại sứ quán ta có thông tin nhanh về Nghị quyết quan trọng này, chưa thông báo nội dung cụ thể vì còn giữ bí mật. Sự thông tin chưa đầy đủ khiến tôi càng nôn nóng, học tập có phần hơi phân tán, chỉ mong thời gian trôi nhanh để được về nước xem thực hư, cụ thể thế nào.

Vì vậy khi về đến Trạm khách của Bộ, trong lúc đợi phân công tác, tôi tranh thủ về Sư đoàn 305 để tìm hiểu. Không khí ở cơ quan sư bộ lúc này có nhiều thay đổi. Theo yêu cầu của chiến trường, nhiều bạn bè thân quen của tôi đã lên đường, lặng lẽ mà khẩn trương chuẩn bị công việc hoặc tập trung lên thị trấn Xuân Mai tập luyện để vào tiếp.

Tôi được các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn cho biết cốt lõi của Nghị quyết 15 xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền là bạo lực... dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. Ôi! Thế là nguyện vọng của mình đã có cơ hội thực hiện. Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959 tôi đã ba lần viết thư đề nghị Cục Cán bộ báo cáo cấp trên cho tôi trở lại chiến trường vì Trung ương đã có Nghị quyết 15. Các anh lãnh đạo Cục hoan nghênh nguyện vọng của tôi và khuyên tôi sẵn sàng chờ, khi có lệnh là lên đường được ngay.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:54:14 am
Anh say sưa nói liền một mạch, rồi giọng anh chậm rãi, tâm tình: Ý kiến mình là vậy, gợi ý nhiều hơn là khẳng định, các đồng chí có ý kiến gì cứ nêu để chúng ta cùng bàn bạc tháo gỡ.

Hai chúng tôi nhìn nhau, tôi đưa mắt đề nghị anh Điềm phát biểu. Hắng giọng, đồng chí lữ đoàn trưởng nói: Báo cáo, hiện giờ thì chưa, khi triển khai cụ thể có gì lúng túng lữ đoàn sẽ xin ý kiến thủ trưởng.

Anh Tấn cười: Mới quá mà, nên không hình dung được điều gì sẽ xảy ra để mà thắc mắc, trao đổi. Thế nhé, hãy tạm dừng ở đây, hãy lao vào việc đã, sau đó sẽ tính. Được không các đồng chí?

- Báo cáo được ạ! - Anh Điềm nói.

Thử thách đầu tiên đến với chúng tôi là mọi công việc huấn luyện không rải đều trong năm mà dồn vào những tháng cuối năm. Vì lúc này thời tiết khô hanh ổn định, không có mưa bão thất thường thuận lợi cho việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật nhảy dù. Thời gian ngắn, khối lượng luyện tập nhiều, phải tính toán sao cho tất cả cán bộ chiến sĩ (không trừ một ai) đều phải qua năm lần thực hành nhảy dù. Đây là bài học nhập môn, yêu cầu mọi người từ chỉ huy lữ đoàn đến chiến sĩ đều phải nắm vững lý thuyết và thực hành nhảy dù an toàn, trúng đích.

Sau khi suy tính, hai chúng tôi quyết định tham gia nhảy dù đợt đầu, trong đó tôi là người nhảy thứ nhất, anh Nguyễn Chí Điềm là người nhảy thứ hai. Việc làm đi trước này nhằm mục đích có được thực tế làm cơ sở cho việc lãnh đạo, điều hành đơn vị tập luyện sau đó - đồng thời cũng là thực hiện cán bộ gương mẫu đi đầu để động viên khí thế chung, vì đây là vấn đề mới, tuy đã được chuẩn bị về nhận thức, tư tưởng, nhưng trong anh em vẫn còn vướng mắc, băn khoăn, lo lắng, cá biệt có chiến sĩ nhút nhát lo sợ, ảnh hưởng đến bước thực hành.

Đêm trước khi thực hành nhảy dù, tôi ngủ một giấc thật sâu, mãi gần sáng một giấc mộng ập đến: Tiểu đoàn 1 lữ đoàn dù 305 do tôi và lữ đoàn phó chỉ huy có nhiệm vụ bất thần nhảy dù xuống khu vực Túy Loan, vu hồi phía sau phối hợp với đại quân từ nam đèo Hải Vân đánh vào tiêu diệt cụm căn cứ Đà Nẵng trong chiến dịch giải phóng toàn bộ vùng Nam Trung Bộ. Ba máy bay AN26 đang lăn bánh tăng tốc rời sân bay Đồng Hới vào một buổi sáng đẹp trời lao ra biển Đông rồi quẹo phải đưa những người lính dù chúng tôi vào phía nam. Ai nấy đều sảng khoái, tự tin sau hai năm học tập nay có cơ hội thử sức. Chắc chắn là thắng lợi.

Đã đến giờ quy định và máy bay đưa chúng tôi tới mục tiêu. Tôi hô: Tất cả sẵn sàng. Có tiếng chuyển động nhỏ trong khoang máy bay. Hai giây sau, tôi lấy hơi hô to hơn, mạnh hơn: Nhảy! Thì giấc mộng chấm dứt. Tôi bừng tỉnh, không gian căn cứ dù ở khu vực Chợ Buộm, Lạng Giang vẫn yên tĩnh. Tôi chớp mắt liên hồi và tự hỏi thật hay mơ thì có tiếng gà gáy. Mơ! Mơ thật rồi. Người ta thường giải thích mơ là do mình nuôi dưỡng một điều gì đó trong đầu óc, trong tâm tưởng, có dịp nó được tái hiện như thật trong giấc mơ.

Xin được tiếp tục trở lại chuyện đang kể. Trời sáng dần, tôi trở lại với cuộc sống thực, tranh thủ làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng để kịp giờ tập. Từ ngồi xe ra sân bay, từ máy bay ra bãi tập tôi phải làm đầy đủ các động tác của người lính dù thực thụ, không được phép dễ dãi với mình. Tôi tập trung nhớ lại các điều đã học các quy trình phải làm để bảo đảm nhảy an toàn không phải cho tôi mà còn góp phần động viên khí thế, lòng tin đối với mọi người. Vì nhảy lần đầu được ngồi gần cửa máy bay, bị cảnh quan mặt đất cuốn hút đến khi huấn luyện viên hô:

- Chuẩn bị nhảy!

Tôi giật mình và trấn tĩnh trở lại tư thế sẵn sàng

- Nhảy!

Tôi lao ra khỏi máy bay rơi theo quy luật vật rơi tự do nên giây đầu gần như không có cảm giác để nhận biết giây phút ấy nó như thế nào. Khi cánh dù mở người tỉnh lại, thấy mình đang lơ lửng trên không trung, người khỏe khoắn trở lại, mắt sáng ra và nhìn rõ cảnh vật dưới mặt đất. Thật đẹp, thấy được đâu là nguy hiểm mà lính dù cần tránh. Lúc đầu lúng túng quên cả điều đã học. Nhưng khi cánh dù cách mặt đất 50 mét, tôi đã lái dù vượt ra khỏi điểm rơi nguy hiểm và hồi hộp chờ đợi. Khi chân chạm đất tôi tự nhủ an toàn rồi, tuy nhiên lúc này người hơi chao đảo, song chỉ thoáng qua.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:55:03 am
Các huấn luyện viên là những người đầu tiên mang hoa đến chúc mừng. Tôi vui sướng xúc động nhận hoa và cám ơn công lao đóng góp của các đồng chí đã cho tôi cơ hội. Tiếp đến các đơn vị cũng cử người đến chia vui với tôi. Khí thế sôi nổi, hào hứng, tự tin lan nhanh ra toàn lữ đoàn.

Phần tôi việc cần làm trước mắt là tập hợp những điều nhớ và cần tránh trước, trong và sau cuộc nhảy dù kịp phổ biến đến các đơn vị, trước hết đến kíp nhảy sau tôi do anh Nguyễn Chí Điềm dẫn đầu sẽ thực hành vào đầu giờ chiều nay. Giai đoạn thực hành nhảy dù diễn ra các tuần sau đó đều suôn sẻ, đạt yêu cầu, trong đó có một số thuộc loại khá giỏi.

Nhảy dù trong đội hình chiến thuật - chiến đấu càng phức tạp. Tôi và anh Nguyễn Chí Điềm lại thực hành nhảy trước để rút kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm chỉ huy, vì chiến đấu trong binh chủng dù, người chỉ huy không thể từ mặt đất điều hành mà phải theo đơn vị bồng bềnh trên không, kịp thời xử trí khi đơn vị chạm đất. Sau nhiều lần nhảy phân đoạn thành công, lữ đoàn quyết định nhảy dù theo tưởng định tiểu đoàn dù thực hành đánh chiếm cứ điểm đầu cầu địch gần thị trấn Phả Lại. Tám giờ sáng máy hay của tiểu đoàn dù cất cánh từ sân bay Kép. Máy bay anh Điềm đi trước, gặp thời tiết thuận lợi, thực hành tiếp cận mục tiêu an toàn. Theo quy định 25 phút sau máy bay tôi mới cất cánh. Đến khu vực mục tiêu, gió tăng dần, từ 6 mét/giây lên 7 mét/giây. Linh tính cho thấy có cái gì không ổn đang đến gần, khả năng nhảy xa đội hình là không tránh khỏi! Nhưng biết làm thế nào. Khi tín hiệu phát lệnh, như một cái máy, tôi lao ra khỏi máy bay. Lúc dù tự động mở tôi đang lơ lửng trên không trung cách mặt đất 700 mét. Khi độ cao còn 300 mét thấy mình cách bãi đổ bộ gần một ki-lô-mét. Từ độ cao xuống 200 mét nhìn rõ nơi đây là một nghĩa địa. Tôi vận dụng kỹ thuật đã học cố lái dù ra xa, nhưng không mấy kết quá vì gió càng thổi mạnh, gần 8 mét/giây. Thế là cái phải đến đã đến. Tôi tiếp đất đúng vào bãi đất có nhiều mồ mả mấp mô, nên đã bị thương, bong gân chân phải, không sao đứng dậy được. Trạm quân y tiền phương phải cho xe cấp cứu đưa tôi về trạm xá lữ đoàn rồi vào nằm Viện quân y 108, hai mươi ngày sau mới trở lại đơn vị. Thật buồn, rất buồn nhưng không biết tâm sự cùng ai!

Thời gian nằm viện tôi mới có điều kiện tĩnh tâm suy nghĩ về binh chủng mà mình là một thành viên lãnh đạo và chỉ huy. Từ thích thú, hăm hở những ngày đầu khi mới nhận nhiệm vụ với hy vọng con đường vào trận thật lý tưởng này đang trong tầm tay sẽ trở thành hiện thực, thì nay lửa nhiệt tình đã giảm nếu không nói là đang nguội lạnh. Bởi loại hình chiến đấu này phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố khách quan. Chỉ một yếu tố gió thay đổi đã dẫn tôi đến những ân hận và buồn phiền, nhiệm vụ “chiến đấu” không hoàn thành, toàn bộ cuộc diễn tập phải bỏ dở, tôi bị thương gây phiền hà cho tập thể. Binh chủng dù chỉ thích ứng, phát huy trong những năm đầu và những năm giữa của thế kỷ XX. Còn bây giờ, có nhiều điều trở ngại không dễ phát huy. Tôi tự nhủ phải tìm cơ hội khác để thực hiện nguyện vọng được trở lại chiến trường Nam Trung Bộ mà tôi đã gắn bó trong cuộc kháng chiến chín năm.

(Đúng như dự đoán, đầu năm 1967, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định chuyển toàn bộ lữ dù 305 sang thành bộ đội đặc công do anh Nguyễn Chí Điềm làm tư lệnh trưởng).

Đầu năm 1964, tôi được Tổng cục Chính trị gọi về cùng với một số cán bộ trung cao cấp khác tập trung tại Trạm 66 (Cửa Bắc) để nghiên cứu quán triệt đường lối và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, tập luyện hành quân bộ dài ngày có mang vác nặng (đeo gạch) để sau đó trở lại Khu 5 tham gia chiến đấu. Nhưng cơ hội mới đã không đến! Tôi vẫn nuôi hy vọng nhưng tâm trạng hơi buồn. Đến đầu tháng 2 Bộ quyết định điều tôi về làm phó chính ủy Sư đoàn 304; và vài ngày sau đó Bộ tư lệnh sư đoàn được lệnh về Bộ Tổng tham mưu nhận nhiệm vụ. Thấy người phấn chấn và tự động viên mình: Lần này chắc ăn rồi! Linh cảm cho thấy có cái gì không phải thông thường, bình lặng như các lần trước nên tôi và đại tá Sư đoàn trưởng Hoàng Kiện thống nhất đưa cả trung tá Duy Sơn, Tham mưu trưởng sư đoàn, thiếu tá Quốc Biên, trưởng ban tác chiến cùng lên nhận nhiệm vụ.

Người mà chúng tôi gặp là Thiếu tướng Phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn (cách đây bốn năm cũng tại phòng làm việc này tôi và anh Nguyễn Chí Điềm đã đến gặp anh, nghe anh giao nhiệm vụ xây dựng lữ đoàn dù 305). Vẫn không có gì thay đổi, trái lại anh vẫn rắn chắc, nhanh nhẹn, tác phong vần giản dị, cởi mở dễ gần.

Sau khi nghe Sư đoàn trưởng Hoàng Kiện báo cáo tình hình mọi mặt của sư đoàn, Phó tổng tham mưu trưởng biểu dương công tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị của sư đoàn như vậy là tốt, gần với yêu cầu chiến trường và luôn coi trọng nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị, tinh thần sẵn sàng chi viện miền Nam là đúng hướng xây dựng quân đội trong tình hình hiện nay. Nhưng còn phải cố gắng hơn nữa vì giữa chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu với thực tiễn chiến đấu vẫn có khoảng cách. Làm thế nào cho khoảng cách đó càng nhích gần nhau càng tốt. Chiến trường gọi là lên đường ngay. Đến nơi là nhanh chóng hòa nhập, chiến đấu được ngay không mất nhiều thời gian tìm hiểu. Đó chính là điều mà tôi muốn trao đổi cùng các đồng chí.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:56:06 am
Ở chiến trường miền Nam địch đã và đang thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” nhưng chúng vẫn ngoan cố xúc tiến chiến lược “chiến tranh cục bộ”, khả năng đưa quân Mỹ vào trực tiếp xâm lược miền Nam là điều chắc chắn. Vấn đề là thời gian nào và lực lượng bao nhiêu thì ta cần tiếp tục theo dõi để kịp và chủ động đối phó, cố thắng trong trận đầu. Cách mạng miền Nam đang trên đà thắng lợi nhưng cần có sự chi viện của hậu phương miền Bắc nhiều hơn nữa. Lực lượng vũ trang ta từ lâu đã có mặt ở chiến trường miền Nam, song mới ở mức đi lẻ tẻ từng tốp vài ba chục người, cao nhất là đại đội, tiểu đoàn và một số trung đoàn; chủ yếu số cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết trở lại chiến trường. Tình hình hiện nay đã khác, đòi hỏi chi viện phải mạnh mẽ hơn, đưa những đơn vị cỡ trung đoàn, lữ đoàn và cả sư đoàn để thực hiện đánh lớn, tiêu diệt lớn quân địch, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Từ ý định trên, Bộ Tổng tư lệnh quyết định đợt này đưa toàn bộ Sư đoàn 304 tăng cường cho chiến trường, trước mắt là sư đoàn (thiếu) vào trước. Trên bố trí anh Nam Khánh giữ chức phó chính ủy sư đoàn nhưng chịu trách nhiệm toàn bộ công tác đảng, công tác chính trị của sư đoàn vì anh Trương Công Cẩn, Chính ủy đang còn nằm viện điều trị sẽ vào sau. Thời gian lên đường có thể giữa hoặc cuối năm 1965. Như vậy, còn trên dưới một năm để các đồng chí làm công tác chuẩn bị.

Lần đầu tiên một sư đoàn (thiếu) vào chiến trường và có khả năng đối đầu với quân viễn chinh Mỹ. Vì vậy yêu cầu lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn phải có kế hoạch xây dựng đơn vị có chất lượng cao để vào trong đó cùng với quân dân miền Nam góp phần đánh bại bất cứ một thủ đoạn chiến lược nào “chiến tranh đặc biệt” hay “chiến tranh cục bộ” của địch.

Còn vào đâu, Khu 5, Tây Nguyên hay Nam Bộ? Thông thường khi giao nhiệm vụ là nói luôn cả chiến trường, nhưng thời gian chuẩn bị còn dài, từ nay đến đó sẽ có nhiều thay đổi. Song điều có thể nói trước với các đồng chí là các đơn vị chủ lực của Bộ được tăng cường cho chiến trường miền Nam là để thực hiện nhiệm vụ đánh lớn và tiêu diệt lớn sinh lực địch, kể cả quân viễn chinh Mỹ. Điều kiện để thực hiện yêu cầu này phải là chiến trường rừng núi. Rừng núi ấy là Tây Nguyên hay Đông Nam Bộ, gần đến ngày lên đường sẽ rõ.

Những điều Thiếu tướng Phó tổng tham mưu trưởng giải thích chung mà cụ thể, có sức thuyết phục, giúp chúng tôi có thêm căn cứ để tiến hành công tác chuẩn bị.

Trên đường trở lại sở chỉ huy sư đoàn đứng chân ở Bỉm Sơn (Thanh Hóa) tôi và Sư đoàn trưởng Hoàng Kiện tranh thủ trao đổi thống nhất bước đầu về kế hoạch chuẩn bị cần tập trung vào bốn vấn đề cơ bản:

Một là, tổ chức học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam cho cả ba đối tượng: chiến sĩ, cán bộ sơ cấp, cán bộ trung cấp, nhằm nâng cao một bước mới về giác ngộ chính trị và ý thức trách nhiệm chính trị, xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Hai là, tiếp tục rèn luyện kỹ thuật chiến đấu cá nhân cho chiến sĩ và hạ sĩ quan tới mức thành thạo.

Ba là, tổ chức hành quân mang nặng đường dài trên địa hình đồi núi, kết hợp tổ chức diễn tập vận động tiến công, tập kích, đánh địch trong công sự và ngoài công sự mà đối tượng tác chiến là quân viễn chinh Mỹ có sức cơ động cao, có vũ khí phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Bốn là, xây dựng tổ chức chi bộ, chi ủy, tổ đảng trong sạch vững mạnh đủ sức lãnh đạo đơn vị tiến hành huấn luyện trong giai đoạn chuẩn bị hành quân vào chiến trường. Sắp xếp tổ chức theo hướng gọn nhẹ cơ quan, tăng quân số chiến đấu cho đơn vị, bảo đảm chất lượng chính trị đồng đều giữa các đơn vị.

Anh Hoàng Kiện chịu trách nhiệm chung, lo phần chất lượng quân sự, cả kỹ thuật, chiến thuật và tác nghiệp công tác tham mưu. Tôi lo công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng các tổ chức đảng viên vững mạnh, đảng viên gương mẫu trong mọi nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu.

Nội dung học tập không hoàn toàn mới, nhưng không khí học tập lại hăng say sôi nổi, không xuôi chiều. Xung quanh đánh Mỹ và thắng Mỹ rất nhiều ý kiến trái ngược nhau đều được đưa ra, tranh luận đến cùng để tìm lý lẽ thuyết phục đồng đội và thuyết phục chính mình. Có ý kiến đi rất xa: như đánh Mỹ có sợ dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba không?


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:57:21 am
Tuy tất bật với công việc nhưng tôi thật sự phấn khởi hăng say trước tinh thần tích cực học tập chính trị, tìm hiểu nhiệm vụ và rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật của cán bộ chiến sĩ với một định hướng: học là để ứng dụng khi vào chiến trường trực tiếp đối đầu với quân Mỹ. Vừa theo dõi tình hình học tập để chỉ đạo uốn nắn hàng ngày, vừa đọc sách báo, nghe đài, đọc cả tiểu thuyết Thượng Cam Lĩnh xem Trung Quốc đánh Mỹ thế nào trong thời kỳ kháng Mỹ viện Triều để chuẩn bị nội dung giải đáp.

Việc gì dù có khó khăn đến mấy rồi cũng đến hồi kết thúc. Trong quá trình học tập chính trị, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật quân sự, tự do tư tưởng được tôn trọng, đã có hàng “núi” lý lẽ được nêu lên, khẳng định có, phủ định cũng có đan xen, cọ xát nhau rất bình đẳng, hào hứng, sôi nổi, có lúc thái quá dẫn đến căng thẳng để rồi chân lý tất thắng của cuộc đấu tranh dần dần ló rạng trở thành chủ đạo dẫn dắt nhận thức, tư tưởng mọi người. Nhưng ý kiến phủ định vẫn còn tồn tại dưới dạng băn khoăn, lướng vướng. Tất cả đều được giải quyết trong bước giải đáp lần cuối. Rằng con đường đi tới thắng lợi của chúng ta đang còn đầy gay go gian khổ và mất mát hy sinh; nhưng chúng ta đã vượt qua, đang vượt qua và nhất định vượt qua tới đích thắng lợi vì chúng ta có đường lối chiến tranh nhân dân với ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); có phương pháp cách mạng đúng đắn sáng tạo hai chân, ba mũi (hai chân: chính trị, quân sự song song; ba mũi: giáp công chính trị, quân sự và binh vận) và bằng lối đánh truyền thống vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp với chốt chặn, tập kích, phục kích đánh gần không cho địch phân tuyến, v.v... Một luồng gió mới, một sinh khí mới đã đến với mọi người, tích cực tự giác, chấp nhận, sẵn sàng lên đường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đến đây xin được mở ngoặc kể cùng bạn đọc về một việc làm nữa mà tôi được Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn giao làm thử. Từ kinh nghiệm đã làm trong thời kỳ kháng chiến chín năm ở chiến trường Liên khu 5, từ kinh nghiệm tham gia chỉ đạo huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật nhảy dù ở lữ đoàn dù 305 trong các năm 1962-1963, giờ đây tôi lại được thực hiện ở Sư đoàn 304 trong thời gian huấn luyện chuẩn bị tăng cường cho chiến trường miền Nam.

Tóm tắt những kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị là:

- Việc đầu tiên là xuất phát từ nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, mọi mặt quân đội thì ở đơn vị cơ sở quân đội phải xây dựng được đảng bộ tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh mọi mặt, có đảng ủy trung đoàn gồm những đồng chí đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực lãnh đạo, quản lý chỉ huy giỏi, ở các đại đội chiến đấu bộ binh phải có chi bộ gồm từ 11 đến 15 đảng viên trở lên, có chi ủy vững chắc trong số đảng viên của chi bộ đại đội chiến đấu phải có tỷ lệ đảng viên ưu tú từ 30 đến 35% để làm gương mẫu và đi đầu trong chiến đấu và công tác.

- Hai là, phải xây dựng ý chí chiến đấu và giác ngộ yêu nước, căm thù địch, yêu chủ nghĩa xã hội rất cao. Phải xây dựng được điều này thì người chiến sĩ mới có linh hồn của người cách mạng trong chiến đấu và công tác.

- Ba là, công tác đảng, công tác chính trị phải đi sâu vào khoa học kỹ thuật quân sự. Làm được điều này là xây dựng cho người chiến sĩ luôn luôn bắn tên có đích. Bởi vì chiến đấu không phải chỉ có đơn thuần gây cho địch thương vong nhiều (thương vong là quan trọng), nhưng phải thông kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch và chiến lược của địch. Có khi địch bị thương vong chưa nhiều lắm nhưng vì thua kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch nên phải chịu thất bại chiến tranh xâm lược.

- Bốn là; phải xây dựng được đội ngũ chiến sĩ thành đội quân cách mạng kiên cường trong mọi tình huống.

- Năm là; phải xây dựng mối quan hệ ruột thịt giữa quân đội với nhân dân. Đây là vấn đề sống còn của quân đội.

Trong khi xây dựng toàn diện năm vấn đề nói trên, tôi chú ý nhiều và để nhiều tâm trí vào xây dựng đội ngũ người chiến sĩ bằng thông qua phát động tư tưởng cán bộ chiến sĩ kể khổ trong thời kỳ sống dưới chế độ đế quốc phong kiến; thông qua giáo dục chính trị, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật chuẩn bị phục vụ chiến đấu; thông qua rèn luyện thực tế trong công việc thường nhật, sự bồi dưỡng, giáo dục động viên của chi bộ, tổ đảng, của cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội; tôi đã xây dựng đạt được chất lượng chính trị của cán bộ, chiến sĩ trong toàn đơn vị theo ba cấp độ, báo cáo trước hội nghị Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn:

1. Loại nòng cốt chiếm từ 30 - 35% tổng số cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn. Gọi là nòng cốt vì đã hội đủ các yếu tố: kiên định vững vàng về chính trị; có chí tiến thủ, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ chiến đấu, công tác và học tập; có ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, khiêm tốn; gương mẫu miệng nói tay làm và vận động người khác cùng làm.

2. Loại khá, chiếm từ 50 - 55% tổng số cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn, về phẩm chất chính trị và ý chí chiến đấu, tinh thần công tác, học tập cơ bản như loại nòng cốt. Nhưng còn có lúc, có việc thực hiện chưa tốt, nếu lãnh đạo sâu sát, kịp thời nhắc nhở động viên thì số này vẫn hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có dao động nhưng rất ít

3. Loại đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ từ 12 - 15%. Loại này cần được tăng cường giáo dục, động viên nhắc nhở một cách tích cực, mạnh mẽ. Trước mắt để lại chuẩn bị thêm, chưa đi chiến đấu đợt đầu.

Sự phân loại trên đây trong bước đầu chỉ là tương đối, nó sẽ chuyển hóa, tăng giảm tùy thuộc vào sự lãnh đạo của chúng ta. Tác dụng trước hết của phân loại là để có cái nhìn toàn diện, có kế hoạch củng cố xây dựng đơn vị vững mạnh phục vụ mọi nhiệm vụ chính trị mà đơn vị được giao. Việc phân loại không phải chỉ để phân loại mà có tác dụng nhiều mặt: đó là việc điều hòa cân đối chất lượng giữa các đơn vị trong sư đoàn phục vụ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng huấn luyện thời bình, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thời chiến.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 07:59:58 am
Ngày 15 tháng 8 năm 1965, chúng tôi lại về Bộ Tổng tham mưu nhận nhiệm vụ cụ thể. Chiếc xe U-oát đưa hai chúng tôi lên đường vào lúc mặt trời chưa mọc. Đường vắng, gió ban mai trong lành thoáng mát, xe bon bon chạy qua dốc Sây, Tam Điệp, thị xã Ninh Bình vẫn còn chìm trong bóng đêm mờ ảo. Xe qua Cầu Giẽ, chạm địa phận thị trấn Phú Xuyên thì trời sáng rõ. Từ đây người xe xuôi ngược tấp nập, quang cảnh thanh bình nhộn nhịp. Thoảng bắt gặp đoàn xe thồ với đôi sọt buộc hai bên cồng kềnh, chậm chạp ngược lên Hà Nội với những hàng hóa nông sản đủ loại rau xanh đầu đông: cà chua, su hào, bắp cải... Càng đến gần Hà Nội tốc độ càng chậm. Chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đánh phá dữ dội khắp vùng “cán xoong”(1) với dã tâm biến miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá. Nhưng Hà Nội vẫn bình tĩnh và hiên ngang, xứng đáng là Thủ đô phẩm giá của cả nước. Qua ga Văn Điển xe chúng tôi lăn bánh trên đường phố Hà Nội vào giờ làm việc buổi sáng, gặp cảnh “người xe như nước, áo quần như nêm”. Xe phải đi với tốc độ con rùa... Vào đến cơ quan Bộ Tổng tham mưu đã là 8 giờ 15. Không khí yên tĩnh, chỉ nghe thấy tiếng máy chữ lách tách và chuông điện thoại đổ liên hồi từ các phòng làm việc vọng ra. Như đã trở thành quán tính, hai chúng tôi đi về phòng làm việc của anh Lê Trọng Tấn, chí thấy cửa đóng then cài. Tôi thất vọng tự hỏi mình: Hay là cấp trên đã thay đổi kế hoạch? Đang chưa hết phân vân thì một trung tá người dong dỏng cao, da trắng mịn, tuổi chạc 30 mang băng trực ban đến gần niềm nở hỏi:

- Có phải các anh ở Sư đoàn 304 đến làm việc?

- Đúng, chúng tôi lên theo điện của Bộ. - Tôi trả lời.

Đồng chí trực ban nở nụ cười:

- Tôi đoán không sai mà - rồi ngước mắt lên phía trên bên phải: Mời các anh theo tôi, thủ trưởng Thái đang chờ (sau này tôi được biết giữa năm 1964, anh Lê Trọng Tấn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cử vào chiến trường Đông Nam Bộ và được Quân ủy, Bộ chỉ huy Miền giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng các chiến dịch Bình Giã, Phước Long - Đồng Xoài).

Đúng là Phó tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đang chờ. Hai chúng tôi dừng lại theo tư thế đứng nghiêm, giơ tay chào và báo cáo có mặt.

Trung tướng Phó tổng tham mưu Hoàng Văn Thái đứng dậy đáp lễ, thân mật bắt tay và mời chúng tôi ngồi. Sau khi biểu dương công tác chuẩn bị của sư đoàn là đúng ý định của Bộ, phù hợp với yêu cầu của chiến trường và anh nói tiếp: Đất dụng võ của các đơn vị chủ lực trong những năm trước mắt không phải là đô thị, đồng bằng mà là vùng rừng núi. Thắng lợi chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài đã chứng tỏ chiến trường rừng núi nói chung, chiến trường Tây Nguyên nói riêng có điều kiện giảm bớt khó khăn nhược điểm của ta và cũng hạn chế mặt mạnh của địch, tạo thuận lợi cho ta thực hiện đánh lớn và tiêu diệt lớn quân địch, đẩy mạnh chiến tranh chính quy phát triển. Chính vì lẽ đó Bộ quyết định điều Sư đoàn 304 (thiếu) vào tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên, cùng với trung đoàn 33, trung đoàn 320 đã vào trước hợp thành một lực lượng chủ lực mạnh cỡ sư đoàn tăng cường đủ sức đánh lớn, tiêu diệt lớn quân chủ lực ngụy kể cả quân viễn chinh Mỹ. Như các đồng chí đã biết, sau thắng lợi Bình Giã, An Lão, Đồng Xoài, Ba Gia và phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ đều khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam tiến lên, Lầu Năm Góc buộc phải vội vã ồ ạt đưa quân Mỹ vào miền Nam(2), bị động chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” đưa quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam thì địa bàn Tây Nguyên sẽ là một khu vực quan trọng Mỹ phải đánh chiếm, thực hiện tham vọng kiểm soát toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Cuối cùng, đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng chậm rãi nói: Bộ đả chính thức ký quyết định điều Sư đoàn 304 (thiếu) tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên nhưng do yêu cầu phải giữ bí mật cả về danh chính ngôn thuận và về thủ tục hành chính không thể trao tay quyết định cho các đồng chí được (đã đưa vào cơ quan lưu trữ của Bộ). Nhưng trong thực tế từ giờ phút này các đồng chí đã thuộc quân số Quân giải phóng miền Nam. Chúc các đồng chí lên đường thắng lợi. Hy vọng sớm nhận được chiến công của các đồng chí trong đó gửi ra.

- Sự tế nhị về chính trị là như vậy, không có cách nào khác, - Anh kết luận.

- Dạ, chúng tôi hiểu.- Anh Hoàng Kiện đáp lại.


(1) Vùng Khu 4 (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình).
(2) Mùa hè năm 1965, tổng số quân Mỹ đã vào miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến là 82.000 tên trong đó có sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn nhảy dù số 101, lữ đoàn nhảy dù số 173 đứng chân ở Đông Nam Bộ, sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, số 3 đứng chân ở Đà Nẵng, Chu Lai, Quảng Nam. Hết năm 1965, tổng số quân Mỹ có mặt ở miền Nam là 100.000 tên, có thêm sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới” đứng chân ở Tây Ninh, sư đoàn kỵ binh bay số 1 đứng chân ở An Khê (Gia Lai).


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Bảy, 2022, 08:00:57 am
Cảnh tiễn đưa âm thầm mà sâu đậm, giữa người ở lại và người đi xa qua cái nắm chặt tay nhau lắc mạnh, ôm hôn nhau hồi lâu thắm tình đồng chí.

Còn tôi thì thấy có gì đó nhè nhẹ, lâng lâng khó tả. Đến giờ phút này sự ức chế mong ước trở lại chiến trường bấy lâu bị dồn nén nay đã được giải tỏa, đầu óc thanh thản. Hình ảnh một miền quê - một chiến trường Nam Trung Bộ một thời gắn bó lại hiện về.

Chúng tôi rời cơ quan Bộ Tổng tham mưu vào lúc 9 giờ. Xe rú ga, theo đường cửa Nam, anh Hoàng Kiện rất chân thành:

- Nam Khánh nên tranh thủ về thăm chị và các cháu, thời gian còn cho phép.

Một phút suy tính: Còn những bốn ngày nữa mới chính thức lên đường, vợ con đang công tác dưới thị xã Hải Dương, chỉ trên dưới 50 ki-lô-mét, đường tốt chẳng có khó khăn gì. Nhưng nghĩ lại, làm như vậy không tiện, mình đã vậy, còn bao cán bộ, chiến sĩ khác thì sao? Tranh thủ kiểu này là không nên, rất dễ dẫn đến giờ phút lên đường quân số không bảo đảm trăm phần trăm, ảnh hưởng đến khí thế chung. Lại nữa, bảo đảm bí mật cho những cuộc lên đường như thế này vẫn là một yêu cầu nghiêm túc. Nghĩ vậy, tôi thành thật cám ơn sự quan tâm của anh Hoàng Kiện và trình bày với anh rằng: Lúc này mà thiếu vắng chúng mình dù chỉ ít phút cũng không có lợi chung.

Hai chúng tôi càng cảm thông nhau. Chiếc xe U-oát bon bon trên đường đưa chúng tôi trở lại đơn vị. Việc đầu tiên bằng một “chiến dịch” động viên, kêu gọi mọi cán bộ, chiến sĩ vì miền Nam ruột thịt, tình nguyện không về thăm gia đình trước lúc vào Nam chiến đấu đã được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng.

Ngày 20 tháng 8 năm 1965, thiên nhiên đã ủng hộ chúng tôi. Tiết thu thật đẹp, bầu trời xanh trong cao lồng lộng và thoáng đãng. Trăm phần trăm quân số đã có mặt vào đúng giờ phút thiêng liêng xuất trận. Cảm xúc về cái giây phút đáng nhớ này đều dồn nén, giữ nó ở trong lòng vì yêu cầu bí mật quân sự. Tất cả dáng vẻ bề ngoài đây chỉ là một cuộc hành quân luyện tập dã ngoại như bao cuộc hành quân cùng loại. Không ồn ào, không có liên hoan gặp mặt giữa người đi xa và người ở lại.

Mười lăm ngày sau lúc rời tỉnh Thanh ra đi, tất cả không trừ một ai đều thấm mệt, vậy mà khi đến ngã ba Khe Ve, đặt chân lên cây số không của đường Tây Trường Sơn trong tâm khảm mọi người chỉ thấy phấn chấn và tự hào. Từ đây ta chính thức đi trên đường Tây Trường Sơn, một con đường vừa huyền thoại vừa hiện thực. Một con đường được tập trung, hội tụ tất cả những cái gì cao nhất của phẩm giá con người, mang trong mình chất vàng mười của quyết tâm, ý chí, của sự xả thân có danh và vô danh tạo nên.

Từ cây số không, chúng tôi xuôi theo hướng nam, càng đi càng thấy kỳ vĩ, nhưng cũng bắt gặp vô vàn những thử thách, đúng như sau này nhà thơ Tố Hữu viết: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa, Ai chưa đến đấy như chưa biết mình”. Mình là thế nào - vững vàng, kiên định hay chao đảo nửa vời; anh hùng hay hèn nhát, chỉ cần qua đây là biết rõ.

Trên vai mỗi người mang từ 34 - 45 ki-lô-gam vũ khí, trang bị. Các chiến sĩ đơn vị trợ chiến còn mang nặng hơn nhiều lần. Đường mòn mới mở, nhiều đoạn dốc dựng thành, chiến sĩ ta tay chống gậy kiên nhẫn dướn lên từng bước vượt qua. Nhiều cung trạm kho tàng của ta bị địch đánh phá, lương thực mang theo hết, đơn vị phải kiếm củ rừng, rau rừng ăn thay cơm. Sư đoàn đã đi qua những cánh rừng nguyên thủy, qua những cao nguyên mênh mông, về mùa khô đi cả ngày không một con suối, khúc sông nào còn nước. Tất cả đều cạn khô. Sức khỏe cán bộ chiến sĩ giảm sút trông thấy do thiếu thốn vật chất và sốt rét rừng đã bắt đầu tiến công vào cơ thể mỗi người tuy nặng nhẹ có khác nhau. Có người đã ngã xuống trên dọc đường hành quân vì đau yếu. Song ý chí vẫn giữ vững. Có đồng chí vừa thương cảm vừa mến phục, nằm trên võng sốt rét rên hừ hừ, chân tay run cầm cập vẫn cố ngẩng đầu lên, lưu luyến nhìn đồng đội tiếp tục hành quân rồi ôm mặt khóc vì phải nằm lại, không được cùng đồng đội tiếp tục đi về phía trước.

Khó khăn tuy nhiều nhưng ý chí và quyết tâm cao đã đạp bằng mọi trở ngại mà tiến bước, vượt qua. Người khỏe giúp người yếu, họ san sẻ giúp nhau cân gạo, vác giúp nhau khẩu súng, tối tối mắc võng gần nhau, an ủi động viên nhau cố lên!

Ngày 15 tháng 9, anh Hoàng Kiện, tôi và cơ quan sư đoàn bộ bứt lên trước đội hình để tới vị trí trú quân nam Đức Cơ. Ba ngày sau cà đơn vị cùng tới. Đủ cả, trừ một số đồng chí bệnh nặng phải nằm lại trạm xá của các binh trạm. Mọi người cất được gánh nặng trên vai, ngồi bệt xuống đất nhẹ nhõm thờ phào, mừng là toàn đội hình sư đoàn đã tới đích an toàn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:50:40 am
2

Ngày 22 tháng 9 năm 1965 tôi và anh Hoàng Kiện, Sư đoàn trưởng đến sở chỉ huy Bộ tư lệnh Mặt trận B3 nhận nhiệm vụ. Người đầu tiên chúng tôi gặp là Thiếu tướng Chu Huy Mân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ tư lệnh chiến dịch. Ấn tượng ban đầu là thấy anh nghiêm nghị mà cởi mở, thân tình, nên nhìn cái chòi nơi anh ở quá trống trải cách bờ nam sông Ia Đrăng không xa, tôi hòi liền:

- Thủ trưởng ở thế này e không an toàn?

- An toàn chứ. - Anh cười tự tin, và tiếp. - Từ góc độ nào kẻ địch cũng bất ngờ khi thấy một cái chòi quen thuộc nằm giữa nương ngô, sao có thể là nơi làm việc của sở chỉ huy chiến dịch. Thôi chuyện ăn ở cho qua, ta vào việc nhé.

Mở đầu, anh vui mừng bày tỏ việc lần đầu tiên một sư đoàn hoàn chỉnh được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên, tiếp thêm sức mạnh cho chiến dịch Plây Me đang trong giai đoạn khẩn trương hoàn tất việc chuẩn bị.

Sau khi thăm hỏi tình hình hành quân, tình hình sức khỏe của bộ đội và biểu dương hai chúng tôi đã lãnh đạo chỉ huy cuộc hành quân đường dài thắng lợi, tới đích an toàn, anh hỏi:

- Sư đoàn có chiến đấu ngay được không?

- Dạ được.- Anh Hoàng Kiện trả lời.

- Rất hoan nghênh tinh thần sẵn sàng của các đồng chí. - Rồi anh hạ thấp giọng thong thả trao đổi. - Sự nghiệp chiến đấu còn lâu dài, Bộ tư lệnh Mặt trận đã thống nhất dành thời gian để sư đoàn nghỉ ngơi hồi sức, chấn chỉnh sắp xếp lại tổ chức, nghiên cứu tìm hiểu tình hình nhiệm vụ lâu dài và trước mắt của Mặt trận B3 và triển khai chuẩn bị chiến đấu. Ngày N và giờ G của chiến dịch tiến công Plây Me đang tới gần, các trung đoàn 33, 320 vào trước sẽ đảm trách đợt một, Sư đoàn 304 làm nhiệm vụ đợt hai và là lực lượng trực tiếp đối đầu với sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ vừa tới An Khê.

Tôi băn khoăn định hỏi: Kế hoạch đánh thế nào, khi sư đoàn này đang đứng chân cách Plây Me hơn một trăm ki-lô-mét thì anh Mân giải thích tiếp. - Bộ tư lệnh chiến dịch sẽ điều Mỹ đến đây để các đồng chí đánh. - Ngừng một lát, anh sôi nổi nhấn mạnh. - Nhưng phải đánh một trận áp đảo tinh thần để từ nay về sau khi nghe thấy quân chủ lực Việt Nam là quân Mỹ khiếp đảm...

Cuối cùng anh kết luận: Thôi nhé, ta hãy tạm dừng ở đây. Trước mắt, các đồng chí cần làm việc cụ thể với các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần chiến dịch để nắm tình hình và yêu cầu cụ thể của đơn vị về các mặt có liên quan đến ba cơ quan đó phải giải quyết để nhanh chóng ổn định cuộc sống đơn vị, sớm bắt tay vào công việc chuẩn bị chiến đấu. Có ý kiến gì các đồng chí cứ nêu để cùng nhau bàn bạc cách tháo gỡ.

Anh Hoàng Kiện thận trọng nói:

- Báo cáo, đây là vấn đề mới, xin Tư lệnh cho chúng tôi có thời gian suy nghĩ trao đổi, sẽ phát biểu sau.

- Tôi cũng vậy. Các vấn đề chung đã rõ, chỉ còn lướng vướng đánh trận áp đảo tinh thần địch là thế nào và phải làm gì để thực hiện trận đánh thuộc loại này thì còn quá mới. Xin Tư lệnh cho chúng tôi về chuẩn bị trong Bộ tư lệnh và đưa ra thảo luận lấy ý kiến chung của cán bộ, xong sẽ báo cáo Tư lệnh.

Anh Mân vui vẻ nói:

- Rất tốt! Thái độ đối với cái mới như vậy là đáng biểu dương, khích lệ. Các đồng chí về tiếp tục suy nghĩ, trao đổi. Nhưng phải khẩn trương, không được “ngâm” cứu, không cầu toàn. Các đồng chí bàn, Bộ tư lệnh chúng tôi cũng bàn, trên dưới đồng lòng, cùng nhau sáp vô nhất định sẽ thành công.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:51:28 am
Cảnh quan ở đơn vị thật thanh bình, nên thơ. Con sông Ia Đrăng ở đoạn hạ lưu này vẫn còn nước róc rách chay, xanh trong nhìn thấy đàn cá con bơi lội, ngược nước kiếm mồi. Những cánh rừng cao su, những vườn xoài vẫn xanh tốt mà quạnh hiu, côi cút vì chủ nhân của nó bị dồn đẩy vào các trại tập trung. Bầu trời trong xanh, không gian tĩnh lặng. Tôi và anh Hoàng Kiện đi vừa ngắm cảnh vừa tranh thủ trao đổi rất say sưa sôi nổi, mặc dầu chỉ có hai người. Gần như các công việc đặt ra và biện pháp chỉ đạo, điều hành như thế nào để đạt hiệu quả đều thống nhất, duy chỉ có thế nào là “trận đánh áp đảo tinh thần” thì chúng tôi đều thống nhất đưa ra thảo luận chung làm rõ nội dung, có như vậy công tác chuẩn bị mới đúng hướng, đúng tư tưởng chỉ đạo của tư lệnh chiến dịch.

Đúng, đây là vấn đề mới, hấp dẫn, được đông đảo cán bộ chỉ huy đơn vị hưởng ứng thể hiện ở tinh thần tự do tư tưởng, hăng say thảo luận, góp ý.

Thoạt đầu là một ý kiến, sau đó nhiều ý kiến bổ sung, cuộc họp sôi động hẳn lên. Lý lẽ thì nhiều, nhưng tựu trung đều cho rằng đánh trận áp đảo tinh thần quân địch là ta phải dùng tối đa sức mạnh hỏa lực bắn thật mạnh vào đội hình quân địch; là dùng pháo binh bắn tập trung, bắn cấp tập, bắn dồn dập chính xác, làm cho địch hoảng loạn không ngóc đầu lên được...

Bỗng có ý kiến cắt ngang của một đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 7: Nhưng lấy đâu ra sức mạnh hỏa lực để mà áp đảo, súng đạn của ta thuộc loại vũ khí mang vác? Không khí buổi thảo luận chùng xuống, im ắng. Ngay người nêu ý kiến phủ định cũng không đưa ra nội dung gì mới.

Tất cả cử tọa như có cái gì ngơ ngác hướng về phía tôi (vì bận công việc điều hành chung, anh Hoàng Kiện phân công tôi chủ trì cuộc thảo luận dân chủ quân sự này). Trước hết, tôi thông báo: Trong buổi làm việc với sư đoàn sáng ngày 16 tháng 9, sau khi phổ biến chủ trương và kế hoạch chiến dịch, anh Mân đã giao nhiệm vụ cho sư đoàn “phải đánh một trận áp đảo tinh thần quân Mỹ”. Chúng tôi coi đây là mệnh lệnh phải nghiêm túc chấp hành. Hai ngày qua chỉ huy sư đoàn đều trăn trở suy nghĩ và đã có ý niệm ban đầu về một trận áp đảo. Trước hết, phải là trận đánh gần. Kẻ địch, nhất là quân Mỹ rất sợ và rất kỵ bị đẩy vào thế phải đánh gần, nó vô hiệu hóa sức mạnh vạn năng của vũ khí hiện đại - lá bùa hộ mệnh của chúng mất thiêng.

Trong cái ranh giới không phân tuyến ấy ta có điều kiện phát huy hết sở trường truyền thống, phát huy sức mạnh của các loại vũ khí cận chiến: súng trường, lưỡi lê, lựu đạn sát thương và tiêu diệt sinh lực địch.

Thước đo để xác định áp đảo tinh thần quân địch còn phải tính đến hiệu suất chiến đấu tiêu diệt (chứ không phải tiêu hao) thật nhiều sinh lực địch cỡ đại đội, tiểu đoàn quân Mỹ.

Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch sẽ kéo quân Mỹ ra một địa điểm thuận lợi để chúng ta thực hiện. Tư lệnh còn dành thời gian cần thiết cho chúng ta tiếp tục rèn luyện kỹ năng chiến đấu cá nhân, nhất là kỹ năng bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn, tiếp tục ôn luyện chiến thuật vận động tiến công, chiến thuật phục kích, tập kích đánh quân địch đột kích đường không, đánh quân địch đóng quân dã ngoại...

Trước mắt là như vậy, quá trình thực hiện sẽ có bổ sung.

Cuộc thảo luận dân chủ về quân sự lại tiếp tục. Hầu hết những người dự họp đều nhất trí với cách đặt vấn đề của Bộ tư lệnh sư đoàn, anh em bổ sung nhiều khía cạnh cụ thể... Duy chỉ có mức độ tiêu diệt cỡ tiểu đoàn Mỹ thì còn phân vân. Thế là buổi thảo luận lại sôi động hẳn lên. Ngày không xong, kéo đến khuya vẫn còn ý kiến trao đổi. Các trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần trên cơ quan Bộ tư lệnh xuống sư đoàn công tác cũng vào cuộc, tham gia ý kiến, góp phần mở rộng hướng suy nghĩ, tìm tòi. Những trận diệt gọn một đại đội Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) tháng 3 năm 1965, trận diệt tiểu đoàn Mỹ ở Đất Cuốc (Đông Nam Bộ) tháng 5 năm 1965, ở Vạn Tường (Quảng Ngãi) tháng 8 năm 1965 lại được đưa ra làm dẫn chứng rằng: lịch sử luôn chuyển động, phát triển, không đứng yên. Ở Thượng Cam Lĩnh trong kháng Mỹ viện Triều, một quân đoàn chí nguyện quân Trung Quốc diệt một đại đội Mỹ. Cái mà xưa chưa làm được thì nay con người có thể làm được và hơn thế nữa. Những trận diệt đại đội và tiểu đoàn Mỹ đã xảy ra gần cả về không gian và thời gian nơi chúng ta đang đứng, đang thảo luận là những ví dụ sinh động về sự phát triển của nghệ thuật chiến đấu, chiến thắng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:54:16 am
Đêm khuya, Tây Nguyên se lạnh nhưng bầu nhiệt huyết của những con người say sưa tìm chân lý phả ra làm ấm áp phòng họp. Cái gì cũng có kết thúc với nhiều dáng vẻ đối nghịch: được mất, buồn vui, thắng bại. Nhưng cái kết thúc của buổi họp đêm nay thì vui và được thật nhiều, họ đã tìm được một luận cứ cho một lòng tin, một định hướng cho bước đi đến bến bờ thắng lợi - một khi buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta thì đó sẽ là đáp số thắng lợi.

Ngày 25 tháng 9, tại sở chỉ huy cơ bản chiến dịch (cách hạ lưu sông Ia Đrăng 2 ki-lô-mét về phía tây), sau khi nghe chúng tôi báo cáo, Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch tỏ ý hài lòng và biểu dương về kế hoạch trận đánh áp đảo tinh thần quân địch của Sư đoàn 304 là đúng ý định chỉ đạo của trên, như vậy là tốt. Nhưng đi vào cụ thể, anh khuyên chúng tôi: Cần phải làm tiếp nhiều việc. Bởi cái chung đã khó, cái riêng, cái cụ thể càng khó hơn. Những vấn đề chung của chiến dịch Plây Me (mục đích, nhiệm vụ, kế hoạch, cách đánh) đến nay đã hoàn tất, song có biết bao công việc cụ thể đã và đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết. Lúc đầu nhiệm vụ đặt ra cho chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận chủ lực ngụy, nếu Mỹ tham chiến thì cố gắng tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, vì lúc này sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ đứng chặn ở An Khê, chúng sẽ mở các cuộc hành quân “tìm diệt” đánh chiếm Tây Nguyên, giành quyền kiểm soát toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Nhưng thực hiện như thế nào thì đâu có đơn giản. Phải họp bàn, cân nhắc, tính toán cuối cùng mới định ra cách đánh vây ép đồn Plây Me(1), đánh viện, đánh ngụy trước, diệt Mỹ sau, kéo quân Mỹ ra xa căn cứ lấn sâu vào rừng núi để diệt chúng. Nhưng thực lực chiến dịch lúc đó chỉ có 2 trung đoàn chủ lực với nhiệm vụ được giao: trung đoàn 33 vây ép Plây Me; trung đoàn 320 tiêu diệt lớn (cỡ chiến đoàn)(2) quân ngụy ra tăng viện trên khu vực tỉnh lộ 21. Khi trung đoàn 320 hoàn thành nhiệm vụ đánh đau quân ngụy buộc Mỹ phải vào tham chiến cứu quân ngụy thì trận đánh Mỹ sau sẽ diễn ra ở đâu và đơn vị nào đảm trách. Cho đến giữa tháng 9 vẫn chưa có lời giải!

Ngừng một lát anh chậm rãi vừa như chia sẻ nỗi niềm vừa như gợi mở cấp dưới chúng tôi những vấn đề cần chú ý trong công tác lãnh đạo, chỉ huy. Anh nói: Cuối tháng 7 đầu tháng 8, trước thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” bằng việc ồ ạt đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, nâng tổng số quân Mỹ từ 23.000 lên 184.000. Cũng trong thời điểm này B3 (bí danh Mặt trận Tây Nguyên) họp tổng kết đợt hoạt động hè và bàn kế hoạch đợt hoạt động Thu Đông. Ngoài nhiệm vụ tiêu diệt lớn quân ngụy, Đảng ủy mặt trận còn xác định “cần phải cảnh giác mọi mặt, thường xuyên bồi dưỡng, chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội sẵn sàng diệt quân Mỹ, quyết đánh thắng trận đầu”. Tháng 9, sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ chiếm đóng An Khê, chúng lấy nơi đây làm căn cứ bàn đạp để mở các cuộc hành quân “tìm diệt” đối phương đồng thời kiểm soát đường 19. Theo chúng, có kiểm soát được đường 19 mới kiểm soát được Tây Nguyên, có kiểm soát được Tây Nguyên mới khống chế được toàn bộ chiến trường phía nam Đông Dương. Như vậy, đánh Mỹ không còn là kế hoạch định hướng nữa, mà đã trở thành một nhiệm vụ cụ thể, rất nghiêm túc và khẩn trương của các lực lượng vũ trang B3.

Nhưng có đánh được Mỹ không và đánh thế nào để thắng chúng trong khi lực lượng chủ lực lúc này chỉ có 2 trung đoàn chưa hoàn chỉnh. Đây là một mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu và khả năng, khiến tất cả thành viên trong Bộ tư lệnh B3 đau đầu suy tính, không phải ban ngày mà cả khi đêm về. Các đơn vị và cơ quan tiến hành thảo luận quân sự dân chủ, xoay quanh câu hỏi - Liệu ta có đánh thắng được Mỹ không và đánh như thế nào để thắng chúng? Khi thảo luận về khả năng thì nhiều tính toán cụ thể được nêu ra: Một trung đoàn ta có thể diệt được một đại đội Mỹ, đánh thiệt hại một đại đội Mỹ khác; một tiểu đoàn ta có thể diệt một trung đội Mỹ, đánh thiệt hại một trung đội Mỹ khác. Không có ý kiến nào nêu ra diệt một tiểu đoàn Mỹ ta cần bao nhiêu lực lượng.

Phía phủ định cho rằng tính toán như vậy là khiêm tốn nhưng không thực tế, không thể thực hiện được. Làm gì có chuyện một đại đội Mỹ, một trung đội Mỹ đi riêng lẻ để ta tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng. Có ý kiến thẳng thắn hơn, cho tính toán trên tuy thận trọng mà non gan, nếu không nói là quá đề cao địch, không thấy hết khả năng ta, v.v...


(1) Mỹ gọi là trại lực lượng đặc nhiệm, cách thị xã Plây Cu 30 ki-lô-mét về phía tây nam, là tiền đồn bảo vệ mặt trận tây nam Plây Cu, là bàn đạp của các cuộc hành quân của địch đánh phá vùng căn cứ huyện 4 (Chư Pa), huyện 5 (Chư Pông). Tại đây địch bố trí 600 lính lực lượng đặc nhiệm người Thượng, có 12 cố vấn Mỹ (trong quá trình chiến dịch tăng thêm 24 tên). Vũ khí có 10 đại liên, 27 trung liên, 10 súng cối 60 và 80mm, 1 cối 106,7mm. Đồn chính hình tam giác có 6-7 lô cốt bê tông, tường bao bằng gỗ đất cao 1,5 mét, rộng 0,8 mét. Phía nam đồn chính khoảng 1 ki-lô-mét có tiền đồn Chư Ho. Plây Me là cứ điểm biên phòng mạnh và hiểm yếu của địch. Nếu Plây Me mất, các cứ điểm của địch nằm trong dải phòng ngự phía tây, tây nam Plây Cu bị uy hiếp vùng đất ấy sẽ bị cắt rời và trở thành bàn đạp tiến công của ta. Vì vậy suốt thời kỳ “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ - ngụy đã nỗ lực tối đa giữ bằng được.
(2) Tổ chức lâm thời phục vụ tác chiến cỡ 1 - 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 chiến đoàn xe tăng, xe bọc thép.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:56:11 am
Không khí thảo luận ở các đơn vị diễn ra sôi nổi, hào hứng, song không đi đến kết luận vì không có thực tiễn, ngay cả hiểu Mỹ tuy có được phổ biến nhưng vẫn còn chung chung mà yêu cầu vào trận là phải hiểu địch một cách cụ thể. Không lẽ chờ đến khi hiểu đầy đủ mới đánh? Như vậy cũng là không thực tế. Suỵ tính đủ cách, cuối cùng thay mặt Bộ tư lệnh, tôi nói: Ý kiến như vậy là đủ rồi, tạm xếp lại không bàn nữa, hãy bắt tay vào việc chuẩn bị đánh, cứ đánh sẽ tìm ra cách đánh, vừa đánh vừa tìm hiểu địch, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm tốt hơn.

Trong bối cảnh lúc ấy ý kiến của Tư lệnh là cần thiết, xuất phát từ lòng tin ở cấp dưới, tin ở chiến sĩ...

Anh kể lại chuyện đã qua mà chúng tôi những người từ hậu phương lớn mới vào lại thấy như một gợi mở cần phải chuẩn bị tốt hơn nữa theo yêu cầu cụ thể của chiến trường, trước hết phải tập trung chuẩn bị tốt hơn nữa, triệt để hơn nữa cho đơn vị về tư tưởng quyết đánh, không có tư tưởng quyết đánh thì không thể nói đến các yêu cầu khác.

Nhìn thẳng vào hai chúng tôi như để chia sẻ điều trăn trở đã vượt qua, anh lại tiếp:

Vừa rồi Hà Nội điện vào thông báo: Bộ Tổng tư lệnh quyết định tăng viện cho B3 Sư đoàn 304, đã lên đường vào chiến trường từ ngày 20 tháng 8. Đúng như nắng hạn gặp mưa rào, tôi tranh thủ trao đổi với các anh trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh đều nhất trí kiến nghị của tôi sử dụng Sư đoàn 304 tham gia đợt hai chiến dịch với nhiệm vụ “tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ”, nhưng ở đâu thì vẫn còn bỏ ngỏ. Mừng đi liền với lo. Liệu Sư đoàn 304 có vào trước ngày N giờ G của chiến dịch hay không; hoặc khi vào có thể chiến đấu được ngay hay không, cũng lại là một câu hỏi đang còn bỏ ngỏ.

Bây giờ thì câu hỏi đã được trả lời. Sư đoàn 304 đã có mặt đúng lúc. Các đồng chí đã có phương án sơ bộ thực hiện đánh một trận áp đảo, như vậy là tốt. Để thực hiện nhiệm vụ này có nhiều việc phải làm. Bởi đánh Mỹ, nhất là đối đầu với sư đoàn kỵ binh bay số 1 - lực lượng chữa cháy của chúng ở chiến trường miền Nam thì đâu phải chuyện đơn giản, ở đây, tôi chỉ nhấn mạnh một số ý mà chúng ta đã thống nhất về đại thể. Một là, phải đặc biệt coi trọng việc xây dựng quyết tâm đánh Mỹ cho bộ đội. Thời kỳ chuẩn bị ở ngoài Bắc sư đoàn đã thực hiện, vào đây làm tiếp cũng không thừa, nhất là đánh Mỹ bằng xương bằng thịt đang ở trước mặt ta. Lúc này “tư tưởng dẫn đầu” đâu phải là duy ý chí, trái lại nó là việc làm không thể xem thường nếu không nói là quyết định. Nhưng quyết tâm khác với cuồng tín, nó phải được xây dựng trên cơ sở tin vào sức mạnh chính nghĩa, vào truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc và cả tài thao lược của dân tộc ta đã vượt qua bao thử thách ngàn cân treo sợi tóc trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của cha ông để lại. Phải thực sự coi trọng giáo dục ý thức “hiệp đồng theo tiếng súng”, “bám thắt lưng địch mà đánh”(1)... Bởi nói thì dễ, làm thì khó nếu không có giác ngộ chính trị sâu sắc, không có lòng yêu nước nồng nàn, dám xả thân vì nghĩa lớn. Hai là, tranh thủ cho bộ đội tiếp tục tập luyện kỹ thuật chiến đấu cá nhân phục vụ cho yêu cầu đánh gần và hợp luyện chiến thuật vận động tiến công, tập kích, phục kích. Vì “ngựa bay” chỉ là phương tiện cơ động hiện đại, còn giải quyết cụ thể trên chiến trường vẫn là bộ binh, chúng vẫn phải xuống đất, vẫn phải hành quân, đóng quân dã ngoại, không lý cứ bay suốt ngày ở trên trời. Ba là, tổ chức khảo sát thực địa, qua đó xác định cho được các khu vực địch đổ quân thực hành đột kích đường không. Khu vực địch thực hiện chiến thuật “cóc nhảy”, trên cơ sở đó tổ chức lực lượng thích hợp, đưa lực lượng đến ém quân lót ổ, đảm bảo bí mật, an toàn sẵn sàng đánh địch khi chúng vừa đổ quân đứng chân chưa vững, sẵn sàng đánh bại chiến thuật “cóc nhảy” của địch.

Nhưng thời gian đã ủng hộ B3. Việc các đồng chí 304 có mặt đúng lúc không những chúng tôi vui mừng mà các anh trong cơ quan tham mưu - tác chiến chiến dịch phấn khởi vì chiến dịch đã có thêm lực lượng gánh vác chung.


(1) Trận Ba Gia (Quảng Ngãi) diễn ra từ ngày 29 - 31 tháng 5 năm 1965. Trong trận đánh nảy địa hình không thuận lợi, địch chiếm ưu thế binh lực, hỏa lực so với ta (địch 9 tiểu đoàn, ta 3 tiểu đoàn). Địch đã dùng tối đa hỏa lực (cả phi pháo) bắn chặn ta phát triển tiến công. Trước tình hình gay go đó, một đồng chí tiểu đội trưởng ở phân đội tuyến trước hô “bám thắt lưng địch mà bắn!” được các đơn vị làm theo, đã vô hiệu hóa được hỏa lực của địch. Trận đánh kết thúc thắng lợi, tiêu diệt gọn quân địch, bắt được nhiều tù binh, thu được nhiều vũ khí, ta thương vong rất ít. Nhận được báo cáo, anh Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Quân ủy Miền điện biểu dương Quân khu 5 - Hay lắm “Bám thắt lưng địch mà đánh” là cách đánh hay không còn của riêng Quân khu 5 mà sẽ được nhân rộng ra thành cách đánh chung của toàn Miền.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:58:10 am
Bỗng giọng anh trầm xuống như thủ thỉ: Hình thái chiến dịch dự kiến diễn ra là như vậy. Vây điểm, đánh viện, đánh ngụy trước, diệt Mỹ sau, kéo quân Mỹ ra xa căn cứ lấn sâu vào rừng núi hiểm trở mà diệt chúng... - Rồi anh thân mật nhìn chúng tôi và hỏi:

- Các đồng chí thấy thế nào, đã hợp lý chưa, có ý kiến gì cứ nêu để ta cùng trao đổi tháo gỡ, bổ sung lúc này vẫn chưa muộn.

- Dạ, báo cáo rõ - Anh Hoàng Kiện đáp lại.

Đúng là chúng tôi không khiêm tốn mà thực lòng.

Bằng những ý kiến cụ thể mà khái quát, anh Mân đã cho chúng tôi cái nhìn tổng thể về chủ trương, kế hoạch và cách đánh chiến dịch tiến công Plây Me. Từ đó, chúng tôi hiểu được nhiệm vụ mà 304 đảm trách đứng ở đâu, giữ vai trò gì trong chiến dịch chung đó. Niềm tin và trách nhiệm của hai chúng tôi được nâng lên qua buổi làm việc lần thứ hai với Tư lệnh.

Anh Chu Huy Mân nói tiếp: Sáng ngày 22 tháng 9, trong buổi làm việc lần đầu, thay mặt Bộ chỉ huy chiến dịch tôi đã giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 304 và hứa sẽ điều Mỹ đến địa điểm thích hợp, thì hôm nay sau khi trao đổi thống nhất trong Bộ chỉ huy, tôi thông báo cái địa điểm thích hợp để sư đoàn các đồng chí thực hiện tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ (như các đồng chí đề nghị) là thung lũng Ia Đrăng. - Ngừng một lát, giọng sôi động, anh như kêu gọi: Đây là trận then chốt quyết định, dù phải một đổi một ta cũng quyết đánh và đánh thắng ngay từ trận đầu, rồi anh chậm rãi vừa như ra lệnh vừa tâm tình, cứ láy đi láy lại nhiều lần - nhưng chỉ được phép một đổi một trong trận đánh quan trọng này, các trận khác sau đó phải đạt hiệu suất cao, một đổi tám chín hoặc nhiều hơn nữa. Nước mình nhỏ, dân mình ít không thể đánh theo kiểu lấy thịt đè người như người ta được.

Chúng tôi không có thắc mắc gì mà chỉ thấy thanh thản, phấn chấn, nghĩ nhiều về công việc phải làm sau buổi nhận nhiệm vụ. Nhưng có một đề nghị, rất tha thiết mong được anh chấp nhận. Số là, cuộc hành quân đường dài đồng nghĩa với mệt mỏi, ngại mang vác nặng khi càng vào sâu. Lại nữa, anh em cho rằng đánh Mỹ là đụng đến vũ khí hiện đại và siêu hiện đại thì lưỡi lê chẳng có ý nghĩa gì, nên một số chiến sĩ, nhất là các anh em yếu mệt đã bỏ nó nằm lại dọc đường. Vào đây mới thấy việc làm đó là sai lầm, đánh gần mà thiếu lưỡi lê là khó khăn. Vì vậy một mặt chúng tôi nghiêm khắc nhận khuyết điểm trước thủ trưởng, đồng thời cũng tha thiết đề nghị thủ trưởng cho phép đơn vị tổ chức cho người quay lại thu gom số lưỡi lê bỏ lại dọc đường để dùng trong các trận đánh sắp tới. Anh Mân đồng ý và nhắc: Phải thật khẩn trương về trước khi chiến dịch mở màn.

Việc triển khai thực hiện thật suôn sẻ. Sau hơn một tuần lễ, số anh em được giao nhiệm vụ đã thu gom được 400 lưỡi lê (kế hoạch đề ra 300) và về đến đơn vị trước một ngày theo quy định, đã được cán bộ, chiến sĩ nhiệt tình chào đón, như đón những người vừa lập công từ mặt trận trở về.

Không khí trên thao trường sôi động khác thường, không như những ngày trước đó. Những buổi tập luyện xung phong không có lưỡi lê thật tẻ nhạt, như đâm vào không khí, chẳng có cảm giác. Hôm nay thì ngược lại, cười nói râm ran, hào hứng. Cũng là tiếng thét xung phong, nhưng có khí thế mỗi khi lưỡi lê đâm trúng ngực, trúng tim hình nộm, gây cảm giác rõ ràng, kèm theo tiếng cười nói khen chê, chất lượng buổi tập nâng lên rõ rệt.

Đầu tháng 10, đoàn cán bộ sư đoàn (từ cấp chỉ huy đại đội trở lên) đến thung lũng Ia Đrăng mở đầu công việc chuẩn bị chiến đấu theo nhiệm vụ được giao.

Trước khi khởi sự, có qua bước nghiên cứu địa hình nơi thung lũng qua tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000 do Phòng đồ bản Bộ Tổng tham mưu cấp phát. Làm việc với Ban tham mưu tác chiến chiến dịch, với các đồng chí huyện đội sở tại Chư Pông về dự kiến của chúng tôi trên thung lũng Ia Đrăng có 3 khu vực bãi trống địch có thể đổ bộ trực thăng thực hành đột kích đường không “tìm diệt” đối phương. Ba khu vực bãi trống được khoanh trên bản đồ mà chúng tôi thống nhất đặt tên theo mật danh bãi đáp số một, số hai, số ba(1). Các đồng chí huyện đội Chư Pông nhìn ngắm, đối chiếu khoảng 10 phút rồi khẳng định: Đúng đây là những khu đất trống bằng phẳng, trực thăng Mỹ có thể hạ cánh đổ quân. Nhưng hạ cánh được bao nhiêu thì phải đến đó mới xác định được. Bước đầu yên tâm với dự kiến của mình và mời các đồng chí huyện đội Chư Pông cùng chúng tôi đi khảo sát thực địa.


(1) Những bãi đáp mang số thứ tự 1, 2, 3 trùng hợp với dự kiến của quân Mỹ mang mật danh bãi Tia X (bãi 1), Tăng-gô (bãi 2), Yăng-ki (bãi 3). Để tiện theo dõi, từ đây chúng tôi dùng mật danh của Mỹ để kể cùng bạn đọc về những trận đánh Mỹ xảy ra ở thung lũng Ia Đrăng hồi cuối năm 1965.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 07:59:45 am
Sáng ngày 2 tháng 10, chúng tôi đi trên đường từ khu vực trú quân đến thung lũng không mấy khó khăn, vì không gian chiến dịch trong khu tứ giác Plây Me - Bầu Cạn - Đức Cơ - Plây Thê rộng 1.200km vuông lúc này vẫn yên tĩnh, chiến dịch vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị, địch vẫn chưa biết gì về ý đồ cụ thể của ta. Nhưng từ thung lũng tỏa đi các nơi để khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi phải nghiêm túc thực hiện ba không: đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng đề phòng biệt kích và thám báo địch.

Ia là sông, Đrăng là tên con sông. Thung lũng mang tên Ia Đrăng, bởi dòng chảy của con sông hội tụ hầu hết các dòng chảy của các khe suối lớn nhỏ của thung lũng. Ia Đrăng chảy giữa thung lũng hùng vĩ, nên thơ mà dữ dằn, màu mỡ mà khắc nghiệt. Sông Ia Đrăng rộng từ 50 - 100 mét, chảy từ đông sang tây đi vào nước bạn Cam-pu-chia, và ở đó nó dồn nước vào sông Mê Công rồi quanh co uốn khúc quay trở lại Nam Bộ, đến hạ lưu tách thành chín dòng chảy ra biển, bởi thế đồng bào Nam Bộ đã hình tượng hóa nó thành chín con rồng - sông Cửu Long và đất Nam Bộ còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long.

Bây giờ đang là mùa khô, chúng tôi qua sông thật dễ dàng, không gây trở ngại cho việc cơ động lực lượng, Nhưng vào mùa mưa thì ngược lại, nước đầy ắp và chảy xiết, ào ào như thác đổ.

Rừng khoọc, thưa (mùa khô lá rụng càng thưa) mọc khắp thung lũng, trải dài hai bờ sông Ia Đrăng. Dưới tán rừng khoọc có nhiều bãi cỏ ngập đầu, nhiều kiến và gò mối to nhỏ khác nhau, có tổ mối hình thù như chiếc ô tô tải thuận lợi cho tiếp cận, ẩn nấp, bám địch. Còn lính Mỹ thì khiếp sợ những cánh rừng nhiệt đới nhiều tầng, mặt trời không chiếu qua, đất ẩm thấp và nhiều muỗi độc.

Ngoài cái chung, khu vực “Tia X” (bãi 1) cũng có những đặc điểm riêng. Là bìa nam của thung lũng, khu vực “Tia X” giáp sườn bắc núi Chư Pông. Từ phía tây tiến vào là lòng sông cạn sâu tới ngực, rộng 3,5 mét là đường tiếp cận mục tiêu tuyệt vời đến từ hướng núi. Tiếp đến là rừng cây xen lẫn những đám cỏ voi màu nâu mọc giữa những thân cây khẳng khiu cao từ 3-5 mét. Rải rác trong khu vực là những gò đất đỏ, bụi rậm, gò mối, những đám bùng nhùng của các dây leo “chờ một phút”(1). Địa hình phía bắc, phía đông và phía nam tương đối bằng phẳng, không có lòng suối cạn. Rìa phía nam của bãi “Tia X” gần núi và những đồi đất. Vượt qua các chướng ngại vật kể trên, chúng tôi tiến vào khu đất trống đã phát hiện qua bản đồ trên thực địa dài khoảng 360 mét tính từ đông sang tây, có dạng hình phễu. Miệng phễu nằm ở phía tây gần lòng sông cạn rộng khoảng 345 mét. đáy phễu rộng 152m. Nằm ở phía đông trung tâm của khu đất trống là một đám cây khẳng khiu, kích thước bằng nửa sân ten-nít. Tất cả không gian khu “Tia X” không lớn hơn một sân đá bóng. Đây là khu vực hạ cánh lớn nhất trong thung lũng, có thể cùng một lúc hạ cánh được 8-10 trực thăng.

Qua ba ngày khảo sát, chúng tôi đã lội bộ khắp nơi trong thung lũng, dừng lại ở những điểm dự kiến địch đổ bộ đường không, đặt trận địa pháo và những đường địch chuyển quân, cơ động lực lượng thực hành “tìm diệt”.

Nhìn tổng thể, Ia Đrăng là một thung lũng tương đối bằng phẳng, cơ động thuận tiện, địch có thể đổ bộ bằng trực thăng. Tuy nhiên, do bị rừng núi và sông ngòi chia cắt, nên các bãi đổ quân không rộng, chỉ có ba khu vực trống, địch có thể thực hành đột kích đường không là bãi “Tia X” (bãi 1), bãi Tăng-gô (bãi 2), bãi Yăng-ki (bãi 3) trong đó khu vực “Tia X” là khu vực đổ quân chính vì mặt bằng phẳng, tương đối rộng; còn Yăng-ki và Tăng-gô chỉ là điểm hạ cánh phụ do mặt bằng hẹp, lại nằm trên đường đất dốc. Các khu vực làng Gà, Quynh Kla sẽ đặt trận địa pháo yểm trợ cho việc đổ quân và ngăn chặn ta tập kích vào “Tia X” khi địch phải co vào đóng quân dã ngoại.

Địa hình phức tạp, có nhiều hạn chế về mặt bằng không cho phép địch đổ quân ồ ạt trên một khu vực, mà phải đổ quân nhiều lần trong một khu vực; khi cần địch có thể đổ quân ở các bãi phụ nhằm hình thành thế bao vây, chia cắt để thực hiện nhiệm vụ “tìm diệt”.

Từ đó, chúng tôi thống nhất một phương án bố trí đội hình chiến đấu theo thế chân kiềng:

Tiểu đoàn 9 đứng cách “Tia X” khoảng 1,5 ki-lô-mét về phía tây; tiểu đoàn 7 đứng cách “Tia X” 2 ki-lô-mét về phía đông nam, hình thành thế trận đánh địch đổ quân xuống bãi “Tia X” từ 2 hướng; tiểu đoàn 8 đứng chân ở Ba Bỉ, cách “Tia X” 3 ki-lô-mét về phía bắc làm ba nhiệm vụ: lực lượng dự bị của trung đoàn 66, đánh địch đổ quân phân tán lực lượng chúng hỗ trợ bạn quân và sẵn sàng phục kích diệt địch khi chúng di chuyển từ “Tia X” rút về; sở chỉ huy trung đoàn đứng chân ở làng Tung một.

Sở chỉ huy sư đoàn đứng ở sườn bắc dãy núi Chư Pông, cách “Tia X” 3 ki-lô-mét về phía đông nam, cách sở chỉ huy tiền phương chiến dịch khoảng 300 mét để tiện phối hợp chỉ huy đánh địch ở bãi đổ quân chủ yếu này.


(1) Lính Mỹ khi đi qua đám bùng nhùng của các dây leo đều phải dừng lại “chờ một phút” khắc phục, chặt phá mới đi tiếp được.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:00:56 am
Sau bước khảo sát thực địa và xây dựng kế hoạch chiến đấu, tranh thủ thời gian còn yên tĩnh, sư đoàn tổ chức cho cán bộ chỉ huy từ cấp trung đội trở lên tiếp cận khu vực thung lũng Ia Đrăng nhằm tạo điều kiện để cán bộ chỉ huy nắm được địa hình, đường sá chính mà địch có thể cơ động lực lượng, những nơi địch có thể đặt trận địa pháo; và chủ yếu chúng tôi tập trung giới thiệu đặc điểm địa hình nơi dự kiến địch đổ quân thực hành không kích đường không; đồng thời giao luôn nhiệm vụ chiến đấu ngay trên thực địa cho các đơn vị được phân công đảm trách từng khu vực bãi trống. Lường trước nếu cuộc chiến xảy ra sẽ rất gay go, phức tạp và cực kỳ khẩn trương; vì kẻ địch không cam chịu thất bại, được trang bị vũ khí hiện đại đến tận răng, có phương tiện vận chuyển cơ động là những con “ngựa bay”, chở được nhiều quân lính, nhanh chóng “cẩu” cả pháo 105 mi-li-mét xuống bất cứ đâu, chúng sẽ ngoan cố chống trả quyết liệt với những thủ đoạn dã man, tàn bạo; nên khi giao nhiệm vụ, chúng tôi chú ý gợi ý mọi người phát huy dân chủ bàn bạc cho hết lẽ rồi mới kết luận để các đơn vị chủ động xử trí. Chỉ thỉnh thị xin ý kiến cấp trên khi gặp tình huống ngoài điều đã bàn. Ngay cả thay thế chỉ huy, chúng tôi cũng nêu nhiều trường hợp: cấp trưởng hy sinh, cấp phó thay; cấp trưởng phó hy sinh, cấp trưởng phó cấp dưới lên thay, cứ theo thứ tự dưới thay trên; hết cán bộ, chiến sĩ chủ động thay để bảo đảm chỉ huy liên tục.

Cho đến ngày 5 tháng 10, toàn bộ bước chuẩn bị chiến đấu đã được hoàn tất. Mọi người háo hức chờ ngày mở màn chiến dịch với một quyết tâm và lòng tin mới.

Ngày 8 tháng 10, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập họp cán bộ từ cấp chỉ huy tiểu đoàn trở lên để quán triệt chủ trương, kế hoạch chiến dịch tiến công Plây Me đã được thai nghén sau đợt hoạt động quân sự Hè năm 1965 đến nay mới được hoàn tất. Cuộc họp được tiến hành tại khu rừng nguyên sinh Plây Thê, cách Đức Cơ 10 ki-lô-mét về phía tây, cách Plây Me 25 ki-lô-mét về phía bắc mà địch vẫn không hể hay biết.

Đúng là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” như nhà thơ Tố Hữu khẳng định. Một bãi rộng vừa phải được phát quang đủ cho hơn một trăm người hội họp và nghỉ ngơi được ẩn dưới tán ba tầng cây rừng nhiệt đới kín đến mức mặt trời không chiếu tới; trên thân cây kền kền có đường kính hai người ôm đính tấm sơ đồ và dưới gốc cây là một sa bàn thu hẹp mô phỏng toàn cảnh đồn Plây Me và vùng phụ cận, minh họa bố trí các mũi tiến công và hiệp đồng giữa các lực lượng. Không gian yên tĩnh muôn thuở của khu rừng Plây Thê bỗng rộn lên tiếng cười nói râm ran hết cỡ của những người dự họp. Ai cũng cảm thấy nơi đây như một ốc đảo hòa bình giữa biển lửa chiến tranh. Đầu óc được thư giãn, tâm hồn được thanh thản, thoảng có phút giây nhớ về gia đình, vợ con và cả những dự kiến về một cuộc sống mai hậu... nói cười được bung ra hết cỡ. Hiềm một nỗi là thiếu một điếu thuốc lá Điện Biên, một hơi thuốc lào Tiên Lãng, ấm trà Hồng Đào Hà Nội...

Thời gian trôi đi thật nhanh. Sau khi kết thúc ba buổi nghiên cứu, thảo luận, chiều nay buổi thứ tư của hai ngày làm việc, mọi người đã tề tựu đông đủ chờ Thủ trưởng Chu Huy Mân nói chuyện, vẫn khuôn mặt nghiêm nghị bề ngoài nhưng cởi mở, dễ gần, mở đầu, anh Mân biểu dương những người dự họp đã đóng góp hết mình làm phong phú các vấn đề nêu trong kế hoạch chiến dịch và cách đánh chiến dịch. Anh cho đây như một nguyên nhân được báo trước rằng chiến dịch mở đầu đánh Mỹ ở Mặt trận Tây Nguyên nhất định thắng vì mọi người dự họp đã xác định quyết tâm cao. Ngừng một lát, như để chia sẻ niềm vui với các cử tọa, anh sôi nổi nói, ngắn gọn mà rõ khiến chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc và trách nhiệm phải làm của mình khi chiến dịch mở màn: Chúng ta đang ở vào thời kỳ sôi động của đất nước đang có những bước phát triển mới, còn về phía địch thì ngược lại. Do chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, quân ngụy Sài Gòn đang trên đà suy sụp không có gì ngăn cản nổi, Nhà Trắng buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào trực tiếp xâm lược miền Nam nước ta. Vì thế, đối tượng tác chiến của chiến dịch không phải chỉ có quân ngụy, mà chính là quân Mỹ bằng xương bằng thịt. Đó là sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ đã kéo đến An Khê, đang ráo riết âm mưu đánh chiếm Tây Nguyên. Khả năng trước mắt, quân Mỹ có thể đứng phía sau, giữ đô thị và các căn cứ, hậu cứ, đẩy quân ngụy ra phía trước chịu đòn. Rõ ràng tình hình đã và đang đặt ra cho các lực lượng chiến dịch nói chung và từng đơn vị nói riêng, là phải sẵn sàng tiến công cả hai đối tượng, đánh đối tượng này tạo điều kiện diệt đối tượng kia, cụ thể là:

- Trung đoàn 33 mở ngòi chiến dịch, tiêu diệt đồn Chư Ho, bao vây đánh mẻ (chứ không tiêu diệt) Plây Me đến mức buộc quân ngụy phải ra ứng cứu.

- Trung đoàn 320 đánh thật đau lực lượng ngụy ra ứng cứu (có thể là 1 chiến đoàn) làm cho chúng không còn đủ khả năng, buộc Mỹ phải ra thay ngụy để giữ bằng được Plây Me mà địch từ lâu đã xác định không để mất tiền đồn quan trọng này.

- Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) mới từ miền Bắc vào còn sung sức đảm trách nhiệm vụ trực tiếp đánh Mỹ, cần tiếp tục chuẩn bị tốt hơn nữa cả về quyết tâm đánh Mỹ và cách đánh để thắng chúng. Bộ chỉ huy chiến dịch sẽ điều Mỹ ra địa hình thích hợp, tạo thuận lợi cho trung đoàn, nhưng các đồng chí phải có tinh thần quyết đánh thắng trận đầu, tiêu diệt cỡ tiểu đoàn, bắt sống tù binh. Đây là trận then chốt phải thắng thật giòn giã để kết thúc chiến dịch. Dự kiến này có thành hiện thực hay không, đòi hỏi các đơn vị phải cố gắng thật cao, trước hết hoàn thành nhiệm vụ mà mình được phân công; đồng thời thực hiện nghiêm kế hoạch hiệp đồng tạo thuận lợi cho nhau hoàn thành nhiệm vụ chung của chiến dịch.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:01:55 am
Tư lệnh kết luận: Tây Nguyên thời kháng chiến chín năm đã là một trong những chiến trường tiêu diệt lớn quân Pháp mà đỉnh cao là trận phục kích diệt gọn binh đoàn cơ động 100 tại đèo Măng Giang trên đường 19, góp phần xứng đáng vào sự cáo chung của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Tây Nguyên thời chống Mỹ, cứu nước ngày nay cũng sẽ là nơi đánh đau quân đội viễn chinh Mỹ. Trước mắt, chúng ta thực hiện cho được một trận đánh áp đảo tinh thần, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, góp phần làm phá sản âm mưu đánh chiếm “nóc nhà Đông Dương” để giành quyền kiểm soát chiến trường Đông Dương của chúng.

Hy vọng ý tưởng chiến dịch tiến công Plây Me được chúng ta đồng lòng nhất trí cao trong cuộc họp lần cuối cùng này sẽ thành hiện thực.

Dưới cánh rừng già im ắng lại râm ran tiếng nói cười, tiếng vỗ tay hồi lâu. Đồng chí Thủ trưởng chiến dịch cũng vỗ tay hòa vào cái âm vang của nhiều cánh tay của các cử tọa. Anh Mân nghiêm trang nói: Tiêu diệt gọn đơn vị địch là ta phải bắt tù binh. Để ghi nhớ thực hiện triệt để quyết tâm này, tôi xin trao dây trói tù binh cho các trung đoàn 33, 320, 66...

Rồi anh giơ tay vẫy vẫy ra hiệu im lặng. Trật tự nhanh chóng được lập lại. Anh lại dõng dạc mà thân mật, tình cảm: Tôi xin chuyển ý kiến của anh em trong bộ phận hậu cần chiến dịch có nhã ý mời tất cả chúng ta vui vẻ ở lại dự bữa cơm thân mật đánh dấu buổi gặp mặt đầy ấn tượng này. Nhưng đã nhận thì phải thực lòng, ai dùng không hết có quyền mang về, cấm không được làm khách, không được bệnh sĩ.

Đúng là một bữa liên hoan mang đậm màu sắc dã chiến nhưng thật đã. Thịt trâu, thịt lợn, cá khô chiên giòn, món nào cũng nhiều, đầy ú ụ bày trên các tàu lá chuối rừng. Điều thú vị bất ngờ nữa là có cả chất cay, tuy không nhiều nhưng làm cho buổi tiệc thêm rôm rả. Đã gần hai tháng không có chất tươi vào người thấy mỏi mệt, khớp chân, khớp tay như muốn rơi ra, thì hôm nay thoải mái, không cần giữ kẽ “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” nữa. Cứ là thả sức. Ấy thế mà vẫn có người phải mang về vì đã được phép của Tư lệnh.

Cuộc liên hoan kết thúc vào lúc chiều muộn. Chúng tôi ai nấy đều lưu luyến nắm tay nhau lắc mạnh hẹn gặp nhau trong thắng lợi; lưu luyến cánh rừng Plây Thê giàu tiềm năng mà khiêm tốn, ẩn chứa bao cảnh bao tình thật khó quên khi phải xa nó.

Sau cuộc họp cuối cùng này nhịp độ chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, các đơn vị chuyển dần vào mục tiêu được phân công, ngày mở màn chiến dịch không còn xa nữa.

Ngày 18 tháng 10, theo kế hoạch chung, sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304 và trung đoàn 66 từ làng Nhịp (khu vực trú quân) lật cánh sang phía đông tiến vào thung lũng Ia Đrăng gần như không có khó khăn gì đáng kể. Cuộc hành quân chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công cứ như cuộc hành quân diễn tập thực binh trong khoa mục trung đoàn vận động tiến công hồi còn ở ngoài Bắc trong thời kỳ xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại. Bãi “Tia X “ được xem như là thao trường của cuộc diễn tập, vì lúc này chưa có địch; chỉ huy các cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn thoải mái đưa dẫn đơn vị mình vào các vị trí chiến đấu, hướng dẫn bộ đội đào hầm hào, ngụy trang trận địa...

Ngày 19 tháng 10, ngày mở màn chiến dịch đã đến, giờ nổ súng chỉ còn ít phút nữa. Tất cả các lực lượng chiến dịch đã vào trận, nghiêm túc và sẵn sàng chờ giờ G (giờ nổ súng) đang chỉ còn trong tích tắc. Với chúng tôi - trung đoàn 66 thì thật mà vẫn như không thật, cả đêm ngày 19 rạng ngày 20 tháng 10, chúng tôi thức trắng ung dung “tham quan” cái giờ nổ súng tiến công Tân Lạc trước, kế đó là tiến công Chư Ho, thực hành bao vây Plây Me. Cuộc chiến đấu ác liệt tăng dần lên. Ba ngày 20, 21, 22 viện binh ngụy chưa đến, địch dùng 360 lần chiếc máy bay phản lực bắn phá hỗ trợ cho quân đồn trú Plây Me nống ra phản kích. Nhưng chúng tôi cứ như thể thê đội hai, thê đội ba đang còn ở phía sau, còn lâu mới giáp trận. Chỉ có điều là phải cảnh giác vì hàng ngày máy bay trinh sát đã bay qua trận địa “Tia X” vào sâu khu vực núi Chư Pông, rất có thể địch đang chuẩn bị cho các phi vụ B.52 rải thảm phía sau đội hình chiến dịch. Chưa trực tiếp đánh địch mà lại bị thương vong do máy bay chiến lược B.52 rải thảm thì cực kỳ vô lý. Chính vì thế, chúng tôi được lệnh là tạm rút ra, nhưng tất cả sẵn sàng khi có lệnh là trở lại ngay được.

Đêm ngày 23 tháng 10, chúng tôi tạm rút khỏi khu vực bãi “Tia X” thì sáng ngày 24, Bộ tư lệnh chiến dịch thông báo: Ngày 23 tháng 10, trung đoàn 320 đã thắng lớn trên tỉnh lộ 21, tiêu diệt chiến đoàn thiết giáp 3, 1 tiểu đoàn, 1 đại đội quân ngụy trên đường đến giải vây cho đồn Plây Me. Sư đoàn hãy sẵn sàng, khả năng chỉ một vài ngày tới Mỹ sẽ nhảy vào vòng chiến...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:05:03 am
Đúng như dự kiến, ba ngày sau trận quân ngụy bị đòn đau, tướng Oét-mo-len, tư lệnh quân viễn chinh Mỹ tức tốc bay lên Tây Nguyên, ra lệnh cho trung tướng Ha-ri Kin-na, tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1: “Phải đi tìm địch và cướp lấy quyền chủ động về tay mình”(1); đồng thời quân ngụy Sài Gòn cũng đình chỉ cuộc hành quân ở Bồng Sơn (Bình Định) đưa chiến đoàn thủy quân lục chiến lên Plây Cu. Theo lệnh tướng Ha-ri Kin-na, cuối tháng 10, lữ đoàn 1 sư đoàn kỵ binh số 1 do đại tá Stốc-tơn (Stockton) chỉ huy đã đổ quân xuống Plây Cu tham gia giải vây cho Plây Me. Từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 10 tháng 11, lữ đoàn 1 sử dụng lực lượng nhỏ cỡ trung đội, đại đội đổ bộ bằng trực thăng xuống những nơi nghi vấn có đối phương nhằm thực hành “tìm diệt”, từng hước tìm cách giành lại quyền chủ động, chuẩn bị cho đòn phản đột kích chiến dịch của lữ đoàn 3. Nhưng những cuộc đổ bộ đường không nhỏ lẻ theo kiểu “nhảy cóc” đó chẳng những không “tìm diệt” được đối phương(2) mà còn bị đối phương đánh trả gây nhiều thiệt hại, khoảng 5 trung đội lính Mỹ bị loại khỏi vòng chiến. Riêng trận “nhảy cóc” vào bệnh viện trung đoàn 33 ngày 11 tháng 11 có gây cho ta một số tổn thất. Nhưng liền sau đó đã bị trung đoàn 33 phản công trong nhiều giờ, làm 11 lính Mỹ chết, 55 lính Mỹ bị thương”(3). Đặc biệt, trận ngày 3 tháng 11, tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 đã diệt 1 trung đội Mỹ, phá hủy 2 máy bay lên thẳng...

Sau những thất bại kể trên, ngày 6 tháng 11 tướng Ha-ri Kin-na đã lệnh điều lữ đoàn 1 kỵ binh bay trở lại An Khê, đưa lữ đoàn 3 vào thay thế. Nhưng mãi đến ngày 10 tháng 11 mệnh lệnh mới có hiệu lực, khi lữ đoàn 3 do đại tá Tim Brao chỉ huy chính thức đổ quân xuống Bầu Cạn, chuẩn bị cho cuộc phản kích mới vào khu vực thung lũng Ia Đrăng.

Ngày 10 tháng 11 toàn trung đoàn 66 được lệnh trở lại Ia Đrăng. Tiến vào, rút ra lại tiến vào. Bất quá tam, chắc lần này không rút ra nữa. Vì chiến dịch đã chuyển sang giai đoạn 2 - trực tiếp đánh Mỹ, hơn nữa lại đọ sức với sư đoàn siêu mạnh(4), mang cái tên thật ngạo mạn - sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ.

Về bố trí lực lượng không có gì xáo trộn, các tiểu đoàn đã vào chiếm lĩnh các khu vực được giao.

Tất cả đều trong tư thế sẵn sàng cao.


(1) Oét-mo-len, Tường trình của một quân nhân, chương 8.
(2) Cùng ngày 26 tháng 10, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định nhiệm vụ bao vây Plây Me đã hoàn thành, cho mở vây Plây Me và điều 2 trung đoàn 33, 320 xuống đứng chân ở khu vực trung tuyến (đông bắc và đông nam suối Ia Mơ) và vùng hậu tuyến thuộc địa khu từ bắc đông bắc Chư Pông đến thung lũng Ia Đrăng, tập trung lực lượng đánh bại cuộc phản kích tiếp theo của địch, nên lữ đoàn 1 kỵ binh bay đã “nhảy cóc” vào nơi không có đối phương.
(3) Hơ-rôn Mo (Harolơ G.Moore) và Giô-dép Gơ-lâu-ây (Josepe Galoway), Đã một thời chúng tôi là người lính... và trẻ trung (We were soldies once... and young), Nxb Random House, New York – Bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1993, tr. 28.
(4) Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 (còn gọi là binh đoàn cơ động đổ bộ bằng máy bay lên thẳng) được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1965. Sư đoàn gồm 15.787 người, trang bị 434 máy bay lên thẳng, 1.800 xe quân sự, 2 tiểu đoàn pháo 105mm. Có 11 chiếc trực thăng vũ trang UH1B. Mỗi chiếc trực thăng vũ trang UH1B tương đương với 2 đại đội pháo 105mm (12 khẩu).


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:07:22 am
3

Đêm ngày 13 tháng 11 năm 1965, không khí trong sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304 ồn ào, sôi động như mọi đêm áp trận. Ai cũng thao thức bàn tán chuyện đợt một chiến dịch kết thúc quá đẹp, mọi diễn biến đúng như dự kiến. Nhưng rôm rả, sôi động hơn vẫn là chuyện đang tới cùng với những dự kiến sắp tới. Lữ đoàn 1 đã cuốn gói về An Khê, lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh bay số 1 do đại tá Tim Brao chỉ huy đã đặt hậu cứ ở Bầu Cạn, bao giờ thì thọc xuống Ia Đrăng? Đã ba ngày trôi qua rồi, hay là chúng thay đổi kế hoạch, nếu thế thì uổng công chuẩn bị của ta sẵn sàng “tiếp” chúng.

Riêng tôi linh cảm như mách bảo đang có chuyện gì đó rất hệ trọng sắp xảy ra, nên sau khi trao đổi với Tư lệnh Hoàng Kiện, tôi động viên bộ phận anh nuôi: Gì thì gì, ngày mai các đồng chí phải chuẩn bị cho cả hai bữa ăn sáng và trưa. Phòng xa vẫn hơn, nếu địch đến ta không bị động về cái ăn.

Một đêm áp trận qua nhanh, chủ nhật ngày 14 tháng 11 đã đến. Không khí ban mai hơi se lạnh nhưng thoáng đãng, trong lành. Từ sườn núi Chư Pông nhìn xuống thung lũng sương mai phủ kín bồng bềnh như một biển mây. Rồi mặt trời ló rạng, báo hiệu một mùa khô Tây Nguyên lại đến với những ngày dài đỏ lửa, thiêu đốt mọi cỏ cây hoa lá nơi đây. Thinh không tĩnh lặng, bầu trời trong xanh bỗng có tiếng động cơ máy bay từ hướng đông nam vọng lại, bay rất cao ngang qua sườn bắc Chư Pông, vọt lên phía Đức Cơ bất thần quặt lại sà thấp trên khu vực “Tia X”.

- Máy bay trinh sát - Tôi phán đoán.

- Đúng, địch trinh sát trước khi chúng đổ quân - Anh Hoàng Kiện khẳng định rồi quay sang trưởng ban tác chiến - Nhắc các đơn vị chú ý theo dõi.

Lúc ấy là 8 giờ 30 phút sáng. Rồi tin tức từ tình báo chiến lược, trinh sát Quân khu 5, trinh sát Mặt trận B3 thông báo: Tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 đang tập trung ở sân bay Plây Me chuẩn bị đổ quân xuống “Tia X”; đồng thờ trực thăng Si-núc (cần cẩu bay) đang hối hả cẩu 12 khẩu pháo 105 mm xuống tây nam Quynh Kla (địch gọi là Columbus) và đông nam Ia Đrăng (địch gọi là Falcon) thành hai trận địa pháo hỗ trợ cho cuộc đổ quân. Các tiểu đoàn 2 (trung đoàn 7), tiểu đoàn 2 (trung đoàn 5) của lữ đoàn 3 đứng phía sau làm lực lượng dự bị sẵn sàng chữa cháy, khi cần đổ quân xuống tăng viện cho tiểu đoàn 1.

Không khí làm việc trong sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304 bỗng sôi động, khẩn trương và nghiêm túc hẳn lên. Tất cả đang sẵn sàng chờ đợi cái phải đến đang đến gần. Không gian vang động tiếng động cơ của đủ loại máy bay tạo thành âm thanh ầm ì kéo dài nghe nặng nề. Khoảng hơn 10 giờ sáng tiếng nổ rộ lên ở khu bãi trống “Tia X”, pháo 105 mi-li-mét, trực thăng vũ trang phóng rốc-két, xả súng máy xuống các khu vực xung quanh. Địch bắn dọn bãi kéo dài khoảng gần nửa tiếng đồng hồ.

Đài quan sát của ta đặt trên đỉnh núi Chư Pông cao 732 mét lúc này đang làm việc hối hả hết công suất, nhử nó và kết hợp tin tức trinh sát chiến dịch thông báo và sau này được tiếp xúc với các tài liệu của địch mà chúng tôi nắm được diễn biến quá trình địch đổ quân.

10 giờ 48 phút, 8 trực thăng hạ cánh xuống “Tia X”đổ bộ phận đi đầu của 2 đại đội A(1) và B. Trung tá Hơ-rôn Mo chỉ huy tiểu đoàn 1 nhảy xuống từ chiếc trực thăng đầu tiên để chỉ huy nhiệm vụ “tìm diệt”. Mười giây sau đó, 8 trực thăng đổ tiếp đợt 2; 11 giờ 30 phút, 16 trực thăng đổ quân đợt 3; 12 giờ 10 phút đổ quân đợt 4...

Tuy phải căng thẳng theo dõi địch đổ quân nhưng chúng tôi cũng yên tâm, phấn khởi, tự tin rằng mình đã xác định đúng khoảng trống địch phải đổ quân và đã chủ động đưa lực lượng đến trước hình thành thế trận ém sẵn, đánh được ngay khi chúng mối đổ quân. Nhưng cũng thật sự băn khoăn, lo lắng vì theo kế hoạch sáng nay giữa chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn, còn phải gặp nhau để thống nhất kế hoạch hiệp đồng bổ sung; cử người đi lấy gạo vì lượng dự trữ vừa hết. Rất có thể trục trặc về chỉ huy, về quân số tham gia chiến đấu!?

Chúng tôi càng bồn chồn đứng ngồi không yên vì đã gần 2 tiếng kể từ đợt đầu địch đổ quân mà vẫn chưa thấy động tĩnh. Hay là có khó khăn gì mà đơn vị chưa báo cáo. Mãi 1 giờ hơn, khi địch bắt được một chiến sĩ trinh sát của ta đang làm nhiệm vụ ở gần lòng suối cạn thì tiểu đoàn trưởng Mo thực sự hoảng hốt, tức tốc điều quân lên phía núi, đại đội B triển khai bên phải mục tiêu (cơ quan tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9), đại đội A chuẩn bị sẵn sàng triển khai sang bên trái mục tiêu với ý định phải tiến công trước không để đối phương (tức tiểu đoàn 9) áp sát khu vực hạ cánh, vì “vùng đất trống (chỉ “Tia X”) kích thước bằng một sân bóng đá này là đường sống, đường tiếp tế của chúng tôi, nếu để đối phương khóa đường đến của những chiếc trực thăng thì tất cả chúng tôi sẽ chết tại đây”(2).


(1) Cấp đại đội trong quân đội Mỹ lấy phiên hiệu thống nhất theo vần Alphabe: Đại đội Alpha, đại đội Bravo, đại đội Charlie, đại đội Delta, gọi tắt là đại đội A, đại đội B, đại đội C, đại đội D.
(2) Sách đã dẫn, tr. 70.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:08:48 am
Về phía ta, lúc đầu có lúng túng vì sự việc diễn biến quá nhanh nhưng giây phút đó diễn ra không lâu. Đồng chí trợ lý chính trị tiểu đoàn Vũ Thanh Xuân chủ động đứng ra nhận trách nhiệm chỉ huy cán bộ, chiến sĩ cơ quan tiểu đoàn bộ chiếm lĩnh trận địa chiến đấu chặn địch. Trung đội 1 đại đội 13 cùng với tiểu đoàn bộ đánh chặn địch quyết liệt, địch đã bị thương vong hiệp đồng theo tiếng súng, đại đội 13 vận động nhanh chóng đến chi viện cho tiểu đoàn bộ, 1 trung đội đánh vào sườn trái quân địch, thực hiện đánh gần, dùng lưỡi lê, lựu đạn diệt địch. Có thêm lực lượng, ta phát triển thế tiến công dồn trung đội 1 đại đội B vào thế bị bao vây, buộc chúng phải đưa trung đội 2 vào cứu nguy. Số lính Mỹ thương vong ngày càng nhiều vượt quá khả năng y tế phía trước, địch phải đưa y tế và cả bác sĩ ở phía sau lên cứu chữa.

Đến 1 giờ 30 phút chiều tình hình càng sáng sủa. Liên lạc giữa các đơn vị với sở chỉ huy sư đoàn đã được nối thông, tất nhiên là tương đối. Thực hiện tập trung lực lượng, cả ba đại đội 11, 12, 13 cùng với cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9 đã mở đợt tiến công đánh vào 2 trong số 3 trung đội của đại đội B. Đến 2 giờ chiều ta liên tiếp mở 4 đợt tiến công đánh vào bên sườn đại đội đi đầu, dồn trung đội 1 vào cái thế mà Đil, viên trung úy chỉ huy trung đội này phải kêu cứu: Chúng tôi đã cố gắng làm hết sức mình nhưng cuối cùng do thương vong, chúng tôi phải dừng lại, hãy cho chúng tôi rút khỏi nơi đây. Trung đội 2 trên đường đi cứu nguy cho trung đội 1 đã bị tiểu đoàn 9 đánh chặn, đẩy ra khỏi vành đai bảo vệ của khu vực “Tia X”, cắt rời khỏi đại đội B.

Quân địch từ chỗ hung hăng muốn dồn sức đánh lên phía núi “tìm diệt” đối phương đã phải chững lại trước diễn biến bất lợi không ngờ đối với chúng. Trung đội 2 đang bị ta quây lại ở lòng suối cạn như một cú sốc đối với tiểu đoàn trưởng Mo: Không một sự kiện đơn lẻ nào lại ảnh hưởng đến hình thái cuộc chiến tranh lớn hơn việc trung đội 2 của trung úy Hen-ry Ê-rích bị cắt rời khỏi đại đội B.

Có thể nói, từ đây cho đến khi màn đêm buông xuống, cuộc đụng độ giữa ta và địch chủ yếu diễn ra giữa một bên dốc toàn lực cho yêu cầu phải cứu trung đội 2 và một bên tìm mọi cách, dù phải xả thân duy trì một hiện trạng trung đội 2 địch bị cắt rời khỏi đại đội B ở lòng suối cạn càng lâu càng tốt, một lợi thế được xem là “khu phi quân sự” để ta an toàn tiếp cận đánh sâu vào vành đai bảo vệ của địch, tiêu diệt và tiêu hao quân địch.

Cho đến lúc này, 3 trong 4 đại đội của tiểu đoàn 1 đã bị thương vong, số sống sót tinh thần rệu rã, lữ đoàn 3 phải tăng viện cho tiểu đoàn trưởng Mo đại đội B của tiểu đoàn 2.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của anh Hoàng Kiện, Tư lệnh sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304, tranh thủ lúc địch hoang mang dao động, tiểu đoàn 9 mở đợt tiến công thứ bảy đánh vào đại đội A, đại đội C ở lòng sông cạn, gần khu vực hạ cánh “Tia X”. Viên đại úy chỉ huy đại đội D bị trúng đạn trong một cố gắng bắt liên lạc với trung đội 2 của đại đội B đã bị cắt lìa đến lúc này đã hơn 2 tiếng. Hê-rích, trung úy chỉ huy trung đội này được xem là “con ngựa chiến cứng rắn” đã bị chết, quyền chỉ huy giao cho một trung sĩ, tên này bị trúng đạn chết, giao lại cho một trung sĩ khác tên là Sa-va-giơ...

Những tin tức được xem là “kỳ tích” này khi nhận được chúng tôi giao cho cán bộ chính trị tổng hợp, kịp thời phổ biến xuống các đơn vị đang có mặt ở khu vực thung lũng Ia Đrăng để động viên khí thế sẵn sàng phối hợp với tiểu đoàn 9; đồng thời truyền đạt ý kiến chỉ đạo - triệt để phát huy lợi thế đã giành được, áp sát vào khu vực hạ cánh để tránh phi pháo địch, tiếp tục tiến công mà giữa chúng tôi và các anh trong bộ phận chỉ huy tiền phương chiến dịch đã thống nhất.

Trung tá tiểu đoàn trưởng Mo tiếp tục kêu cứu lữ đoàn tăng viện vì khu vực “Tia X” đang bị sức ép của 3 tiểu đoàn quân đối phương. Nhận được mẩu tin kỹ thuật mang tính thổi phồng này những người trong sở chỉ huy chúng tôi cười ra nước mắt. Mo muốn được trên chi viện càng nhiều càng tốt và cũng là cách tự đề cao mình, 1 tiểu đoàn đang phải chống đỡ với 3 tiểu đoàn quân đối phương thì quả là một trung tá có tài (!?). Như bạn đọc đã biết, đối diện với tiểu đoàn 1 của Mo (lúc này có 5 đại đội, vừa được tăng cường 1 đại đội), chỉ có tiểu đoàn 9 trung đoàn 66, nhưng quân số không đủ so với biên chê vì qua 3 tháng hành quân vào chiến trường số bệnh tật, nhất là sốt rét đã ảnh hưởng không ít đến quân số hiện diện chiến đấu.

Địch lại mở đợt tiến công dữ dội bằng hỏa lực để cứu nguy cho bộ binh. Không quân tiến hành 50 phi vụ yểm trợ, trực thăng phóng pháo đường không, phóng rốc-két vào sườn núi Chư Pông đối diện với khu vực hạ cánh “Tia X”. Chỉ trong ngày đầu tiên, 2 khẩu đội pháo 12 khẩu pháo 105mm ở trận địa pháo Phan-côn đã bắn 4.000 quả đạn pháo vào trận địa tiểu đoàn 9 suốt 5 tiếng đồng hồ, 2 trong số 12 khẩu pháo đã bị hỏng thủy lực bởi không chịu được nóng vì đạn pháo bắn quá nhiều.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:12:16 am
4 giờ 30 phút chiều, địch dốc toàn lực tiến về phía núi đánh vào trận địa tiểu đoàn 9, nhưng đã bị ta chặn lại. Tranh thủ lúc địch co đại đội A và đại đội B về sát khu vực hạ cánh, ta chuyển lực lượng xuống sườn núi hình thành thế trận bao vây. Cuộc chiến nhanh chóng dữ dội ở cự ly gần gây cho địch thương vong nặng nề. Ét-uốt, viên đại úy chỉ huy đại đội C phòng giữ khu vực trung tâm hạ cánh, gần sở chỉ huy tiểu đoàn đã kể lại nỗi kinh hoàng mà y được chứng kiến: “Từ sở chỉ huy của tôi ở gò mối có thể nhìn rõ đối phương (chỉ tiểu đoàn 9) cách 100 mét về phía nam, họ là những người lính thiện chiến, ẩn nấp một cách tuyệt vời và là những tay súng chết người. Phần lớn những người (lính Mỹ) chết và bị thương của tôi đều bị trúng đạn vào đầu hoặc vào phần trên cơ thể. Họ đặc biệt chú ý các nhân viên điện đài và chỉ huy. Hình như bản thân họ không có điện đài, họ điều khiển binh sĩ của họ bằng nói, vẫy tay chỉ trỏ ra hiệu, thỉnh thoảng bằng kèn”(1).

Mặt trời đã chếch chiều hôm. Từ tiểu đoàn 9 báo cáo về, từ Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch thông báo xuống: Lúc này khoảng 5 giờ chiều, 13 trực thăng hạ cánh xuống “Tia X” đổ đại đội B tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3 tăng viện cho tiểu đoàn 1 và chở gấp số lính Mỹ chết và bị thương về phía sau. Sau 2 phút được thông báo, đồng chí trợ lý tác chiến sư đoàn đã có một tổng hợp nhanh báo cáo anh Hoàng Kiện: Trong khu vực “Tia X” lúc này ngoài 4 đại đội có trong biên chế, tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 kỵ binh bay còn được tăng viện thêm 2 đại đội của tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3, một đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 5, nâng tổng số lên 7 đại đội trên một khu vực hạ cánh hẹp.

Không gian tạm yên ắng, chỉ còn nghe thấy tiếng động cơ trực thăng đi về làm nhiệm vụ vận chuyển số lính Mỹ chết và bị thương.

Địch đang co cụm về phòng thủ ban đêm đề phòng ta tiến công - Anh Hoàng Kiện nhận xét.

Chúng tôi yên lặng không nói, nhưng tỏ ý đồng tình với nhận xét của anh. Bỗng trong sở chỉ huy lại rộn lên cái không khí khẩn trương với công việc mới.

Sau khi trao đổi thống nhất với các anh Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp trong Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch, lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn chúng tôi nêu ra một số việc cần làm và phân công nhau thực hiện:

- Một là, chính ủy trung đoàn 66 Lã Ngọc Châu xuống nắm tình hình và thống nhất kế hoạch cho tiểu đoàn 7 tiến hành tập kích quân địch đóng quân dã ngoại ở khu vực “Tia X” ngay trong đêm nay.

- Hai là, trưởng ban tác chiến sư đoàn xuống giao mệnh lệnh của sư đoàn cho tiểu đoàn 8 chuẩn bị hành quân trở lại sở chỉ huy trung đoàn nhận nhiệm vụ; đồng thời phải có kế hoạch dự phòng đánh địch trên đường hành quân nếu có địch đi ngược lại.

- Ba là, tôi xuống tiểu đoàn 9 nắm tình hình chiến đấu trong ngày; chỉ đạo thực hiện tốt chính sách thương binh, tử sĩ; cùng tiểu đoàn 9 bàn kế hoạch đánh phối hợp với tiểu đoàn 7 tập kích quân địch từ hướng đông nam lên.

Thời gian như trôi nhanh, chỉ kịp ăn vội bát cơm chưa thật chín kỹ với một mẩu cá khô nướng quá lửa là chúng tôi lên đường. Cùng đi với tôi có đồng chí trợ lý tác chiến và một chiến sĩ bảo vệ kiêm liên lạc. Đoàn ba người cứ theo hướng tây bắc mà cắt rừng đi tới trong ráng chiều muộn hắt lên một màu đỏ máu báo hiệu ngày mai trời vẫn nắng nóng. Dấu vết của một trận chiến cực kỳ ác hệt vẫn còn nguyên in hằn trên từng tấc đất chúng tôi đang đi. Những cánh rừng bị bom đạn phạt cắt cây cối đổ ngổn ngang; những lùm cỏ voi vẫn âm ỉ cháy phả mùi khét hắc, nồng như muốn ngạt thở; con đường mòn quen thuộc bị bom đạn cày xới, đất đá tung tóe dài hàng ki-lô-mét. Xa xa, đã nhìn thấy khu vực hạ cánh “Tia X” đang chìm dần vào đêm dài.

Tiểu đoàn 9 đây rồi! Tôi reo lên niềm vui chất chứa lúc lên đường, phút gặp mặt sao mà xúc động đến thế. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau trong im lặng mà nước mắt cứ trào ra vì được chia vui và cả nỗi buồn thiếu vắng những đồng chí, đồng đội của mình mãi mãi đi xa sau khi đã làm hết sức mình cho trận đánh mở đầu này.

Tôi bắt đầu công việc được phân công. Tất cả đều ngồi bệt xuống nền đất nơi trận địa vẫn còn khét mùi thuốc súng để nghe các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn 9 báo cáo kết quả tổng hợp trận đánh, cùng nhau trao đổi những bài học rút ra kịp thời phục vụ yêu cầu chiến đấu trước mắt.


(1) Sách đã dẫn, tr. 120.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:13:54 am
Là người chịu trách nhiệm về công tác đảng, công tác chính trị của sư đoàn, tôi có nhiệm vụ nhân điển hình và phát hiện biểu dương người tốt, việc tốt, cổ vũ và khích lệ mọi người noi theo, thực hiện. Nhưng đứng trước trận đánh với nhiều tình tiết anh hùng ca này mà thời gian tìm hiểu có hạn, biết nói thế nào để biểu dương cổ vũ; biết nhắc nhở điều gì cần rút kinh nghiệm, chú ý khắc phục là điều không dễ. Nhưng cán bộ, chiến sĩ đang cần tiếng nói của tôi. Cuối cùng, tôi thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn nhẹ 304 nhiệt liệt biểu dương tinh thần dũng cảm, mưu trí tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 9, nhờ đó mà có được chiến công đầy ấn tượng, đã thực hiện được yêu cầu phải thắng trận đầu. Trong điều kiện địch đông về quân số, nhiều vũ khí hiện đại yểm trợ nhưng chỉ 6 tiếng đồng hồ các đồng chí đã tổ chức 9 đợt tiến công lớn nhỏ, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, giữ vững thế tiến công của mình, làm thất bại âm mưu “tìm diệt” của địch, buộc chúng phải co về phòng thủ vòng tròn quanh khu vực hạ cánh “Tia X”. Ba trong số bốn đại đội (tiểu đoàn 1) địch đã bị các đồng chí tiến công gây nhiều thiệt hại. Đại đội A mất 3 sĩ quan, 31 binh sĩ chết và bị thương, còn lại 2 sĩ quan, 84 binh sĩ; đại đội B mất 1 sĩ quan, 46 binh sĩ chết và bị thương, còn lại 4 sĩ quan, 68 binh sĩ, 1 trung đội bị mắc kẹt ở ngoài vành đai bảo vệ; đại đội C mất 4 binh sĩ, còn 5 sĩ quan, 102 binh sĩ(1). Đặc biệt chỉ hơn 1 tiếng sau khi nổ súng, các đồng chí đã bao vây cắt rời trung đội 2 thuộc đại đội B ra ngoài vành đai bảo vệ của khu hạ cánh trong nhiều giờ, 20 trong số 27 binh sĩ của trung đội này đã bị chết (trong đó có trung úy chỉ huy trung đội). Đó là thành tích rất đáng tự hào của tiểu đoàn 9 nói riêng, của trung đoàn 66 Sư đoàn 304 nói chung. Tôi xin được chia vui cùng các đồng chí.

Nhưng kẻ địch vẫn còn ngoan cố và ngạo mạn với danh hiệu sư đoàn kỵ binh bay số 1 của quân lực Mỹ, chúng chưa chịu chấp nhận thất bại. Chúng tạm thời co cụm đêm nay, tiếp tục thực hiện “tìm diệt” khi trời sáng.

Phát huy thắng lợi đã giành được, tranh thủ lúc địch đang rệu rã và điều kiện thuận lợi đêm tối, Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch thống nhất với kiến nghị của Bộ tư lệnh Sư đoàn nhẹ 304, chủ trương tổ chức một trận tập kích nhằm tiêu hao tiêu diệt thêm sinh lực địch, làm lung lay thêm tinh thần ý chí quân địch, đẩy chúng lún sâu vào thế bị động, tạo thuận lợi cho ta đánh đòn quyết định trong nhiệm vụ tiếp sau. Lực lượng tập kích chủ yếu đêm nay là tiểu đoàn 7 từ hướng đông nam đánh vào. Tiểu đoàn 9 tập kích từ hướng tây bắc xuống nhằm phân tán lực lượng, đánh lạc hướng chú ý của địch tạo thuận lợi cho tiểu đoàn 7 hoàn thành nhiệm vụ.

Tuy còn mệt mỏi sau một ngày chiến đấu nhưng khi nghe ý nghĩa và tầm quan trọng của trận đánh, cán bộ, chiến sĩ - những người có mặt trong buổi làm việc chiều nay sẵn sàng nhận nhiệm vụ và chuẩn bị lên đường ngay. Nhưng anh em cũng lo lắng, băn khoăn vì lực lượng đang còn phân tán, có số lạc đường chưa tìm về được đơn vị, có số đang làm nhiệm vụ vây cắt trung đội 2 đại đội B địch ở lòng sông cạn, không được nghe phổ biến nhiệm vụ mới sẽ hoạt động tự do, tùy hứng, tiến công không mạnh, thiếu tập trung ảnh hưởng đến hiệu suất chiến đấu chung.

Hiểu được tâm trạng của anh em, tôi ôn tồn trao đổi tiếp: Những lo lắng, băn khoăn của các đồng chí là chính đáng. Tất cả là ở nơi khách quan. Nhưng ý thức hiệp đồng theo tiếng súng đã trở thành tiềm thức, thành mệnh lệnh, được vận dụng có kết quả trong trận chiến đấu ngày hôm nay. Nhờ đó đã giúp các đồng chí khắc phục nhanh chóng các sự cố trục trặc lúng túng lúc ban đầu. Chắc chắn đêm nay các đồng chí có mặt trong buổi giao nhiệm vụ này sẽ nổ súng trước báo hiệu trận đánh mới bắt đầu, các đồng chí đang còn thất lạc sẽ nổ súng phối hợp tiếp, tuy còn lẻ tẻ nhưng là tiếng súng khẳng định sự hiện diện của chúng ta khiến kẻ địch càng hoang mang.

Tạm biệt tiểu đoàn 9, tôi trở lại Sở chỉ huy Sư đoàn nhẹ 304 vào lúc 9 giờ tối, thì anh Hoàng Kiện gọi đến nghe luôn tình hình.

- Chuyến đi thế nào? - Anh Hoàng Kiện hỏi.

- Dạ, rất thành công - Tôi trả lời và tiếp - Các đồng chí tiểu đoàn 9 gửi lời thăm chúc sức khỏe thủ trưởng...

- Mọi chuyện hãy để sau, bây giờ ta nghe tin tức có liên quan đến nhiệm vụ đêm nay, tổng hợp từ nguồn trinh sát chiến dịch, từ tin kỹ thuật và các trinh sát viên nằm vùng của sư đoàn - Rồi anh quay sang đồng chí trợ lý tác chiến:

- Trình bày thoải mái nhưng phải ngắn gọn mà đầy đủ.

- Dạ được, xin các anh cho bắt đầu - Đồng chí trợ lý tác chiến đề nghị.


(1) Sách đã dẫn, tr. 156.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:15:39 am
Báo cáo các anh, tại khu hạ cánh “Tia X” địch đã có kế hoạch phòng thủ đề phòng ta tiến công ban đêm.

Địch có 5 đại đội đã triển khai bố trí vòng tròn theo thứ tự: Đại đội C giữ sườn phía nam và đông nam liên kết với đại đội A ở cánh phải; đại đội B ở cánh trái; đại đội D giữ phần đông - đông nam; đại đội B, C (tiểu đoàn 2 đến tăng cường cho tiểu đoàn 1) giữ bắc - đông bắc vành đai, đảm trách bảo vệ cả trận địa cối của tiểu đoàn và khu vực hạ cánh nhỏ; đại đội B giữ phía bắc và tây bắc bảo vệ dọc theo lòng sông cạn và khu vực vành đai phía tây. Không quân và pháo binh đã có kế hoạch chi viện hỏa lực khi phát hiện đối phương tiến công sẽ tiến công trước và có cả kế hoạch chi viện trong tình huống cụ thể. Các đơn vị đều được lệnh báo động một trăm phần trăm. Địch cho 2 trực thăng có máy bay tiêm kích hộ tống tiếp thêm đạn dược và nước uống. Trực thăng địch đang hối hả chở hết số lính Mỹ bị chết và bị thương ra khỏi bãi “Tia X” nhưng vẫn còn 2 chiếc trực thăng nằm đó, chưa có dấu hiệu gì chúng sẽ chuyển đi trong đêm nay.

Về ta, theo báo cáo của chính ủy trung đoàn 66, mọi việc chuẩn bị cho tiểu đoàn 7 đánh trận tập kích đêm nay đã hoàn tất. 12 giờ 30 phút, tiểu đoàn 7 tiến vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. Giờ nổ súng dự kiến vào lúc 1 giờ, chậm nhất là 2 giờ sáng.

- Đại đội 3 đi lấy gạo đã về chưa? - Tôi hỏi.

- Dạ chưa về - Đồng chí trợ lý tác chiến trả lời.

Tôi khẽ thở dài, cố giấu mọi lo lắng bằng tiếng thở nhẹ và tự an ủi mình: lực lượng tiến công chỉ có 2 đại đội như vậy là quá mỏng, nhưng không còn cách nào khác!

Trên hướng tiểu đoàn 9, tiếng súng nổ phối hợp được bắt đầu từ rất sớm, vào hồi 8 giờ tối, lúc tôi đang trên đường về sở chỉ huy sư đoàn. Đúng là ở đó súng nổ lẻ tẻ, phân tán nhưng liên tục, suốt đêm có tính chất thăm dò, quấy rối tiêu hao làm thần kinh địch căng nhão là rất có lợi cho hướng tiểu đoàn 7.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, 10 giờ, 11 giờ, 12 giờ khuya và 1 giờ sáng - thời gian của ngày mới - Ngày 15 tháng 11 năm 1965. Vậy mà vẫn chưa thấy động tĩnh?

Tại sao? Lạc đường ư, đã có trung đội 9 (đại đội 13 tiểu đoàn 9) thuộc địa hình nơi đây dẫn đường. Hay tinh thần trách nhiệm cán bộ. Không, không thể có, chính ủy Lã Ngọc Châu là người có trách nhiệm cao, có tác phong làm việc cụ thể, sâu sát. Anh không dừng ở kế hoạch khi giao việc, mà còn bàn biện pháp thực hiện kế hoạch, tạo thuận lợi cho cấp dưới có điều kiện thực hiện. Vậy thì tại cái gì? Vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp, nhưng đành phải gác lại vì lúc này tình hình đã trở nên khẩn trương, trời sáng dần, có biết bao công việc của một ngày mới đang chờ ở phía trước.

Vào khoảng 3 giờ sáng, ở hướng tây - tây bắc khu vực hạ cánh súng nổ dữ dội, kéo dài. Đó là cuộc tiến công mạnh nhất trong đêm của tiểu đoàn 9 nhằm duy trì trung đội 2 đại đội B địch lún sâu trong trạng thái bị bao vây, bị cắt rời tại tây lòng sông cạn; đồng thời cũng là cuộc tiến công tạo áp lực buộc chúng phải chú ý ở phía tây bắc mà nhẹ chú ý ở hướng nam và đông nam khu hạ cánh. Cuộc tiến công còn qua đợt thứ hai (3 giờ 15 phút) và đợt tiến công thứ ba kết thúc vào lúc 4 giờ sáng bằng một đợt “mưa” lựu đạn của ta tung vào, thêm 5 lính Mỹ chết, chỉ còn 7 tên sống sót.

Đằng đông đã ửng hồng, trận đánh dự kiến vào lúc nửa đêm 14 thành trận đánh ngày 15. Có bao nhiêu vấn đề đặt ra khi ta phải giao chiến với địch từ đêm chuyển sang ngày. Mặc dù ta đã có một số kinh nghiệm của tiểu đoàn 9 trong trận đánh ngày 14 nhưng làm thế nào phổ biến kịp khi mà chưa biết lúc này tiểu đoàn 7 đang đứng chân ở tọa độ nào?

Lúc này, tất cả những người có mặt trong sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304 đều có chung một tâm trạng chộn rộn băn khoăn, lo lắng, thấp thỏm và hy vọng. Chỉ một tiếng nổ từ phía nam - đông nam khu vực hạ cánh vọng về là mọi người có thể thở phào nhẹ nhõm - tiểu đoàn 7 vẫn còn và đang chiến đấu. Rồi cái hy vọng ấy đã đến! Lúc đó là 5 giờ 30 phút, trời còn đang tranh tối tranh sáng. Tiểu đoàn 7 sau 4 tiếng đồng hồ hành quân đầy vất vả do bom đạn địch đánh phá dữ dội trong đêm, địa hình xung quanh đã thay đổi, không còn nhận ra lối cũ, giờ này mới bắt được mục tiêu, khẩn trương triển khai lực lượng. Trận đánh không đạt kế hoạch thời gian, chậm gần 6 tiếng, nhưng là chậm chắc, ở vào cái thời điểm địch bất ngờ chủ quan, vì địch cho rằng thời gian ban ngày là thuộc về chúng. Trung tá Mo, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 đã nghĩ đến kế hoạch giải cứu trung đội bị mắc kẹt bằng việc dùng 3 trong số 5 đại đội hành quân theo đội hình cái nêm vượt khỏi lòng sông cạn tiến về phía tây nơi trung đội 2 đại đội B đang bị ta bao vây sau khi hỏa lực không quân và pháo binh bắn yểm trợ tối đa. Một số sĩ quan ở sở chỉ huy tiểu đoàn địch đã lục trong ba lô của mình để tìm các thứ cho món sô-cô-la nóng buổi sáng...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2022, 08:18:01 am
Nhưng tất cả những dự định đó đã không xảy ra. Tiểu đoàn 7 dưới quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu sau khi triển khai xong lực lượng đã mở đầu trận tập kích bằng một loạt đạn cối 82mm dội vào trận địa địch. Tiếp đó, lợi dụng khe hở nơi tiếp giáp giữa đại đội B và đại đội D, tiểu đoàn 7 nhanh chóng vượt qua vành đai bảo vệ đánh vào tung thâm khu vực hạ cánh. Bị tiến công bất ngờ, binh sĩ địch hoảng loạn tháo chạy, kêu la: Địch (tức tiểu đoàn 7) đến, địch đến, rất nhiều địch, cả 4 trung đội của đại đội C trấn giữ sườn phía nam và đông nam khu vực “Tia X” đều bị đại đội 2 tiểu đoàn 7 tiến công ngay từ phút đầu. Một mũi đánh thẳng vào phía trước cửa hầm sở chỉ huy đại đội C. Viên đại úy Ét-uốt, chỉ huy đại đội này hoảng hốt: “Quân Bắc Việt Nam đã an toàn trong khu vực vành đai thép”, cầu cứu tiểu đoàn trưởng Mo “tôi cần được giúp đỡ”. Nhưng tiểu đoàn trưởng Mo trả lời: “Sẽ không có sự yểm trợ, anh phải trụ lại bằng lực lượng và hỏa lực của mình”(1). Vì lúc này cả sở chỉ huy tiểu đoàn 1 và sở chỉ huy đại đội A, đại đội B đều bị ta vây ép, tiến công, phát triển thành thế trận đánh gần, ta địch nhìn rõ nhau, thấy cả hành động chiến đấu của nhau, viên trung úy chỉ huy trung đội thuộc đại đội B kể lại những điều mắt thấy: “Khi quân Bắc Việt Nam (tiểu đoàn 7) tiến công chúng tôi, họ có kiểu bắn rất lạ lùng. Họ bắn sát mặt đất nhằm cố gắng cắt ngang chân anh, hay nếu anh nằm không đủ thấp trong hầm của mình, thì họ bắn văng đầu anh ra”.

Ta tiếp tục tiến công đánh vào sườn sau sở chỉ huy đại đội, viên đại úy Ét-uốt trúng đạn bị thương nặng, cầu cứu đại đội B tiểu đoàn 2 đến giúp sức nhưng đại đội này cũng đang bị ta vây ép. Trung úy Ác-ring-tơn thay Ét-uốt chỉ huy đại đội C cũng bị thương sau đó ít phút.

Như vậy chỉ trong 20 phút đầu, tiểu đoàn 7 đã vượt qua vành đai bảo vệ, đánh vào tung thâm khu vực hạ cánh thực hiện đánh gần. Đến 7 giờ 30 phút sáng ta đã mở đợt tiến công phòng tuyến đại đội C, khu đất trống, sở chỉ huy tiểu đoàn 1 và phía sau các đại đội A, B. Tiểu đoàn trưởng Mo thú nhận: “Đối phương bố trí lực lượng trước mũi chúng ta, gần tới mức pháo binh của chúng tôi không thể sử dụng một cách có hiệu quả... Họ đã dồn 2 trung đội của đại đội C vào vành đai chết chóc”(2).

Quá trình ta phát triển tiến công, địch cũng phản kích quyết liệt chống lại, giành giật nhau từng tấc đất, từng khu vực trong khu vực hạ cánh. Bằng súng máy M.60, súng tiểu liên M.79 và cối 81 mi-li-mét đặt ở những vị trí lợi hại bắn quét, bắn chặn, sát thương ta, buộc ta phải nhiều lần dừng lại chấn chỉnh đội hình, tiếp tục tiến công. Ta cố giữ và phát triển thế đánh gần trong khu vực vành đai bảo vệ thì địch tìm mọi cách đẩy ta ra xa, tạo những khoảng cách vừa phải từ 15-20 mét đủ để các loại vũ khí tự động của bộ binh phát huy hiệu lực gây không ít khó khăn cho ta. Chẳng hạn như khi ta đánh vào phòng tuyến đại đội D ở hướng đông nam khu vực hạ cánh đã bị 9 khẩu súng máy M.60, 7 khẩu cối 81 mi-li-mét của đại đội này bắn chặn, gây cho ta nhiều thương vong.

Khoảng 9 giờ, từ ba hướng, tiểu đoàn 7 mở đợt tiến công vào đại đội A ở hướng tây khu vực hạ cánh, bắn 15 quả đạn cối 82 mi-li-mét vào sở chỉ huy tiểu đoàn 1 ở gò mối. Tiểu đoàn trưởng Mo hoảng hốt cầu cứu: “Chúng tôi đang bị cầm chân trong một cuộc chiến chí tử, đang phải chịu thương vong nặng nề ở khu vực đại đội C... Chúng tôi cần sự giúp đỡ”(3).

Mo còn lớn tiếng nói rằng tiểu đoàn 1 đang chịu sức ép của 1.000 quân đối phương. Nhưng thực tế đối phương mà Mo đang phải chống đỡ chỉ là đại đội 1 và đại đội 2 của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66. Rõ ràng sự thổi phồng này nhằm đề cao mình và xin trên tăng viện. Đúng là sau đó ít phút, đại đội A tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3 đã được trực thăng đổ xuống bãi “Tia X” đóng giữ khu vực của đại đội C vì đại đội này không còn đủ quân số. Như vậy, ngoài 4 đại đội thuộc biên chế, tiểu đoàn 1 của Mo đã được tăng cường đại đội A và đại đội B của tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3. Trên khu vực bãi “Tia X” đã có 6 đại đội nhưng Mo vẫn thấy chưa đủ lực lượng phòng giữ.

Hơn 4 tiếng đồng hồ, tiểu đoàn 7 mở 3 đợt tiến công ngay trong vành đai bảo vệ khu hạ cánh “Tia X” đánh phá tất cả các hướng phòng thủ của địch, gây cho chủng nhiều thiệt hại. “Đại đội C khi bắt đầu chiến đấu có 5 sĩ quan, 102 binh sĩ. Đến khoảng trưa không còn một sĩ quan nào. Tổng cộng 42 chết (có 2 trung úy), 20 bị thương (có 1 đại úy, 2 trung úy) trong 2 tiếng rưỡi đồng hồ của cuộc chiến đấu giáp lá cà”(4).

Trận chiến đấu kết thúc vào lúc 10 giờ sáng, nhưng tiểu đoàn 7 vẫn để lại lực lượng bắn tỉa, tiếp tục uy hiếp địch, binh sĩ địch còn lại trong khu vực hạ cánh phải hứng chịu hỏa lực bắn tỉa rất khó chịu của ta.

Mo, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 buồn rầu than thở: “Trong cuộc ngưng chiến này, nhiệm vụ đau lòng nhất và nặng nề nhất phải chịu đựng là thu nhặt số tử vong của chúng tôi và đưa họ lên những chiếc trực thăng. Nhiều tử vong đến nỗi lữ đoàn ra lệnh đưa tới những chiếc trực thăng vận tải lớn, những chiếc Chinook-CH-47 (cần cẩu bay - NG). Một chiếc trực thăng chở tất cả 42 tử thi của đại đội C, tất cả đều được bọc trong lớp pông-sô (poncho) bằng cao su màu xanh”.


(1), (2), (3), (4) Sách đã dẫn, tr. 173, 182, 184, 187


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:46:21 am
*
*   *

Mười lăm giờ ngày 15, sau khi chúng tôi nghe bộ phận tác chiến sư đoàn báo cáo tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 7 đã liên lạc được với nhau, anh Hoàng Kiện vui mừng: như vậy là tốt - rồi quay sang đồng chí trợ lý tác chiến sư đoàn hỏi:

- Ý kiến Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch?

- Dạ có - Đồng chí trợ lý tác chiến báo cáo tiếp - Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch chấp nhận đề nghị của sư đoàn và còn lệnh cho trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo địch ở Cô-lơm-bớc hỗ trợ cho tiểu đoàn 7.

Tình hình địch ở bãi “Tia X” đã có thay đổi. Theo tin trinh sát chiến dịch và trinh sát nằm vùng của sư đoàn, của tiểu đoàn 9, thì tiểu đoàn 2 trung đoàn 5 lữ đoàn 3 đã đến “Tia X” lúc 12 giờ trưa nay, hiện đang phòng giữ phía bắc và phía đông vành đai bảo vệ. Tiểu đoàn 1 của Mo cùng 2 đại đội A, B, tiểu đoàn 2 được tăng cường giữ phía nam và đông nam, nơi mà sáng nay bị tiểu đoàn 7 tiến công. Riêng đại đội C của tiểu đoàn này không còn làm được nhiệm vụ vi bị chết và bị thương quá nhiều trong trận đánh sáng nay.

Như vậy là lực lượng địch chốt giữ khu vực hạ cánh “Tia X” lên tới 10 đại đội, gần bằng 1 trung đoàn, trong khi lực lượng tập kích đêm nay chỉ có 1 đại đội được tăng cường trung đội 1 của đại đội 1 (đang bám địa bàn), 1 khẩu súng cối 82mm. Sau khi đi lấy gạo về, đại đội 3 tiểu đoàn 7 được giao nhiệm vụ tải thương nhưng nguyện vọng của anh em vẫn muốn được tham gia chiến đấu, nhất là khi được tin đại đội 1, đại đội 2 lập công, đánh quỵ 1 đại đội Mỹ anh em càng háo hức, quyết tâm. Khi được tin trên cho tham gia chiến đấu ngay đêm nay, anh em chủ động, nhắc nhở nhau thu xếp, sẵn sàng chờ lệnh là lên đường tham gia chiến đấu.

Hòa vào cái khí thế lạc quan ra trận ấy, nhưng chúng tôi những người có trách nhiệm cao nhất của đơn vị, không thể không lo lắng, băn khoăn trước một tương quan địch ta quá chênh lệch, mặc dù nghệ thuật đánh tập kích không nhất thiết lực lượng phải nhiều. Nếu ta tạo được thế lợi, bất thần đánh vào tung thâm địch thì khả năng lập công lớn không phải không có trong lịch sử quân sự xưa và nay.

Bàn tới bàn lui, chúng tôi quyết định tập hợp kinh nghiệm thành công của đại đội 1, đại đội 2 và những gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm trong trận đánh sáng nay phổ biến kịp thời cho đại đội 3.

Về yêu cầu trận đánh, khi làm việc với cán bộ chỉ huy, chúng tôi nêu định hướng với mức khiêm tốn, vừa phải: Tiếp tục tiến công quân sự, tiêu hao sinh lực địch, gây sức ép tinh thần và ý chí quân địch. Còn cụ thể thế nào, tùy tình huống diễn biến mà thực hiện đánh nhanh, dứt điểm gọn, rút ra an toàn.

Đêm xuống nhanh. Trăng trung tuần mọc muộn, trời tối đen như mực. Ở hướng đông bắc súng nổ lẻ tẻ mà liên tục ngay từ 7 giờ tối. Đó là tiếng nổ chủ động phối hợp của các chiến sĩ tiểu đoàn 9 gây sức ép trên phòng tuyến của tiểu đoàn 2 trung đoàn số 5 lữ đoàn 3. Nhưng không gian ở hướng nam - đông nam vẫn yên tĩnh. Tin từ tiểu đoàn 7 báo về, đại đội 3 hành quân đến sở chỉ huy tiểu đoàn vào lúc 22 giờ 30 phút, dừng lại chấn chỉnh đội hình, kiểm tra lần cuối, tiếp tục hành quân vào chiếm lĩnh trận địa chiến đấu. Nhưng lúc này đã là 1 giờ 30 phút ngày 16 tháng 11, vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Sau này được biết lý do chậm là do phi pháo địch bắn dự phòng rất dữ dội, đường hành quân vào trận địa bị cày xới, lấp lối. Cũng còn do vị trí mục tiêu địch do trinh sát trung đội 3 đại đội 1 xác định hồi chiều có thay đổi, địch đã chuyển lùi về phía bắc, phải mất thời gian quan sát, đối chiếu mới thấy lại.

2 giờ 30 phút ngày 16 tháng 11, đại đội 3 tiểu đoàn 7 mở đầu trận tập kích thứ hai bằng 20 quả đạn cối 82mm bắn vào tuyến phòng thủ đại đội B, gần sở chỉ huy tiểu đoàn 1 về phía tây. Mo cho rằng đây là dấu hiệu cảnh báo rằng đối phương chưa từ bỏ ý định tiến công khu vực hạ cánh “Tia X”. Từ đây cho đến sáng, đại đội 3 đã liên tiếp tổ chức 6 cuộc tiến công, chủ yếu đánh vào khu vực vành đai bảo vệ của đại đội B (tiểu đoàn 2) ở bắc - đông bắc khu vực hạ cánh buộc địch phải đưa máy bay C.123 của không quân vào liên tục phóng ra những dù pháo sáng, cầu cứu hai trận địa pháo ở Cô-lơm-bớc và Phan-côn bắn yểm trợ. Như trên đã kể, để phối hợp với tiểu đoàn 7, Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch hạ lệnh cho trung đoàn 33 pháo kích vào trận địa pháo địch nhưng trung đoàn đã không thực hiện được lệnh này, nên địch đã phát huy hỏa lực chi viện đắc lực cho tiểu đoàn 1 địch, gây khó khăn cho tiểu đoàn 7.

Trận đánh kết thúc vào 6 giờ 30 phút sáng ngày 16 tháng 11, kết quả cụ thể không cao nhưng tinh thần của những người tham chiến thì tuyệt vời. Tương quan lực lượng quá chênh lệch, địch có kế hoạch đề phòng suốt cả buổi chiều, lại đưa hỏa lực không quân và pháo binh chi viện tối đa. Còn về phía ta chỉ có 1 đại đội, vừa đi lấy gạo về, sức khỏe chưa được hồi phục, đã chủ động xin được tham gia chiến đấu.

Trong hơn 2 giờ 30 phút, đại đội 3 tiểu đoàn 7 đã tổ chức 5 đợt tiến công (2 giờ 30 phút, 4 giờ, 4 giờ 30 phút, 5 giờ 30 phút, 6 giờ) đánh vào các mục tiêu cách sở chỉ huy tiểu đoàn 1 năm mươi mét về phía tây, vào sở chỉ huy đại đội B tiểu đoàn 1, vào sở chỉ huy đại đội B tiểu đoàn 2, v.v... Những tiếng hô xung phong làm vỡ vụn màn đêm, khi quân ta ào ào xuống núi. Trận tập kích của đại đội 3 tiểu đoàn 7 đêm ngày 15 rạng ngày 16 như giọt nước làm tràn cốc nước, dẫn đến việc quân Mỹ phải vội vã rút khỏi khu vực hạ cánh “Tia X” sáng ngày 17 tháng 11.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:48:52 am
4

An-ba-ny (Albany) là trận đánh Mỹ thứ tư và cũng là trận đánh Mỹ cuối cùng trong thung lũng Ia Đrăng, kết thúc thắng lợi chiến dịch Plây Me lịch sử trên chiến trường Tây Nguyên hồi cuối năm 1965.

Trận đánh xảy ra vào lúc 1 giờ 15 phút chiều thứ tư, ngày 17 tháng 11 năm 1965 tại bãi đổ quân đông nam thung lũng Ia Đrăng (địch gọi là bãi đổ quân An-ba-ny), và kết thúc vào sáng hôm sau, ngày 18 tháng 11.

Hai mươi năm sau, phóng viên Mỹ Gơ-lâu-uây có mặt tại mặt trận đã viết bài “Một câu chuyện về Việt Nam” đăng trên tờ Tin tức Hoa Kỳ số ra ngày 29 tháng 8 năm 1990. Bài báo có đoạn: “Tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh bay số 1 bị thiệt hại nặng nề: Đơn vị đi đầu, đại đội A đã mất đúng 2 trung đội 50 người ngay phút đầu nổ súng. Đến khi ra khỏi khu vực An-ba-ny nó chỉ còn 20 trong số 100 người. Đại đội C lúc tập hợp ở “Tia X” để hành quân có 110 người thì lúc này đã chết 50 người, bị thương 50. Đến lúc mặt trời mọc, tiểu đoàn 2 của Mê-đên đã mất 155 chết, 125 bị thương và ít nhất 5 người bị mất tích trong chiến đấu. Một trung úy đến trước mặt chuyên viên Uôn-le-ni-út, pháo thủ súng cối của đại đội B và yêu cầu được tình nguyện đi gom xác lính Mỹ chết về. Lúc đầu, họ đưa về những xác còn lành lặn; sau đó đến những người lính còn từng mảnh; Uôn-le-ni-út và những người khác đã phải đưa những “kiện hàng” khiếp đảm đó đến chờ những chiếc máy bay trực thăng Si-núc, chất lên trực thăng cuối cùng đầy sát nóc. Anh ta kể: Khi chúng tôi nâng đuôi cầu thang máy lên, máu trào ra chảy ròng ròng qua các khe bản lề...”

Nhưng nguyên nhân dẫn đến trận đánh này và quá trình diễn biến của trận đánh ra sao, đó là điều mà tôi muốn kể thêm cùng bạn đọc.

Như trên đã kể, ngày 14 tháng 11 Mỹ đã thực hiện cuộc đột kích đường không, đổ tiểu đoàn 1 do trung tá Mo, tiểu đoàn trưởng chỉ huy xuống khu vực hạ cánh “Tia X” với nhiệm vụ “tìm diệt” trung đoàn 66. Nhưng liên tiếp trong các ngày 14, 15 và rạng sáng ngày 16, tiểu đoàn 1 Mỹ đã bị chính trung đoàn 66 phản công đánh quỵ, hơn nửa quân số của tiểu đoàn đã bị loại khỏi vòng chiến, như chính tiểu đoàn trưởng Mo đã thừa nhận, cho đến sáng ngày 16 tiểu đoàn 1 đã có “79 lính Mỹ chết, 121 bị thương”(1). Đại đội C gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, không còn khả năng tham chiến, buộc phải cầu viện.

Không thể để mất “Tia X”, đại tá Tim Brao, chỉ huy lữ đoàn 3 tức tốc điều tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 5 đến tăng viện cho tiểu đoàn 1. Thế là từ 12 giờ trưa thứ ba ngày 16 đã hội đủ 3 tiểu đoàn trong biên chế chính thức của lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ sống chen chúc trong một khu đất hẹp mang tên bãi hạ cánh “Tia X”. Rõ ràng “Tia X” cần được bảo vệ, để biến nơi đây thành điểm tựa, thành căn cứ hành quân dã ngoại của sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ tiếp tục thực hiện “tìm diệt” trung đoàn 66 nói riêng, khu vực Chư Pông nói chung. Vì Chư Pông địch vẫn coi là “căn cứ chính của đối phương”(2), là “một mật khu của Việt cộng” (tức quân giải phóng), một trọng điểm của “tìm diệt”. Đến trưa ngày 16, địch có điều chỉnh, rút tiểu đoàn 1 về thị xã Plây Cu vì tiểu đoàn này đã mất sức chiến đấu, để lại 2 tiểu đoàn còn nguyên vẹn, sung sức.

Lường trước diễn biến của tình hình, chiều ngày 15 tôi và anh Hoàng Kiện thống nhất cần phải đưa tiểu đoàn 8 đang đứng chân ở Ba Bỉ trở về hợp sức với tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 9 đánh địch co cụm với lực lượng khá đông. Được anh Nguyễn Hữu An trong Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch chấp thuận, chúng tôi cho triển khai thực hiện: củng cố lực lượng tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 7 hợp cùng tiểu đoàn 8 (đang trên đường trở về) thành thế trận mới đánh địch trong co cụm dã ngoại và trong hành quân “tìm diệt”.

Nhưng tình hình đã diễn biến ngược lại. 8 giờ sáng ngày 17 chúng tôi còn đang khẩn trương chuẩn bị kế hoạch theo phương án trên, thì sở chỉ huy tiền phương chiến dịch thông báo: Địch ở “Tia X” có dấu hiệu chuẩn bị rút, các đơn vị cần có kế hoạch theo dõi mọi động tĩnh... Đến 9 giờ 30 phút, đài quan sát đặt trên núi Chư Pông thông báo: Địch đang rút về hướng bắc.


(1), (2) Sách đã dẫn, tr. 239, 29.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:51:08 am
Chúng tôi thực sự bất ngờ trước diễn biến quá mau lẹ. Đã có ý kiến đề nghị kiểm tra độ chính xác của thông báo. Tại sao địch rút và rút về đâu, để làm gì? Sau này qua sách báo Mỹ nói về cuộc chiến tranh ở Việt Nam; qua tiếp xúc với đoàn sĩ quan cựu chiến binh sư đoàn kỵ binh bay số 1 từng tham gia cuộc hành quân tại thung lũng Ia Đrăng sang thăm Việt Nam trong các năm 1991, 1997 để tìm hiểu “Vì sao chúng tôi (Mỹ) thua thì được biết ngay cả người trong cuộc như trung tá Tun-li, chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn 5; trung tá Mê-đên(1), chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 lữ đoàn 3 kỵ binh cũng đều hoàn toàn bất ngờ khi nhận lệnh rút lui. “Thực sự chúng tôi không biết một tý gì, không có tin tức tình báo khi Tun-li và tôi rời khỏi “Tia X”. Chúng tôi không hề biết cái gì chờ đợi chúng tôi ở đó. Họ bảo chúng tôi đi đến một địa điểm gọi là An-ba-ny và thiết lập ở đó một khu hạ cánh. Không ai nói với chúng tôi sẽ phải tìm đường đến khu hạ cánh đó, chỉ nói đi và thiết lập nó”(2). Mãi đến khi binh sĩ của 2 tiểu đoàn này khoác ba lô lên vai, thì mới có mệnh lệnh truyền xuống “Các máy bay hạng nặng B.52 của lực lượng không quân đã cất cánh từ đảo Gu-am và mục tiêu của họ là sườn núi Chư Pông phía gần quân Mỹ. Lực lượng quân ta (tức Mỹ) phải ở ngoài khu vực an toàn đường kính 2 dặm (1 dặm = 1,609 ki-lô-mét) vào giữa buổi sáng, nên 2 tiểu đoàn phải di chuyển”(3).

Trong cái tất bật lo ứng phó với diễn biến quá nhanh, chúng tôi cũng có những phút giây thư thái, tin ở công việc mình đã làm. Trong mệnh lệnh gửi tiểu đoàn 8 sáng ngày 16, Bộ tư lệnh Sư đoàn nhẹ 304 nhấn mạnh: Tiểu đoàn cần có kế hoạch chiến đấu trong hành tiến nếu gặp địch đi ngược trở lại. Cái nếu ấy nay đã không còn là giả thiết nữa, mà đã trở thành sự thật. 9 giờ sáng thứ tư ngày 17 cả hai tiểu đoàn cùng lúc rời “Tia X”. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 5 hướng tới bãi Cô-lơm-bốc (cách “Tia X” 5 ki-lô-mét về phía đông), tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 đi sau đến ngã ba đường mòn, rẽ hướng tây bắc đến khu vực hạ cánh An-ba-ny (cách Ia Đrăng 4km về phía nam).

Một ngày đầy nắng, nắng chui qua khe lá thành hoa nắng đủ thứ hình thù in khắp nơi trong khu vực. Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 304 nom rất ngộ nghĩnh và vui mắt. Chúng tôi đang được hưởng không khí trong lành của một buổi sáng yên tĩnh thì bỗng một loạt tiếng nổ rền, kéo dài, mặt đất rung lên như động đất. Khói bụi quyện vào nhau theo gió bay cao lan rộng, bầu trời sẫm lại. Một sự chi viện khó hiểu, vì lúc này “Tia X” đâu còn lính Mỹ. Đúng là bom B.52 đang rải thảm phía trước mặt Sở chỉ huy Sư đoàn nhẹ 304 - bắc núi Chư Pông.

Nhưng điều mà chúng tôi quan tâm lúc này là ở phía trước và chờ đợi một cái gì đó là tiếng súng. Song vẫn yên tĩnh, hay là tiểu đoàn 8 đã lạc đường, sa vào một bãi cỏ voi lút đầu như một trận đồ bát quái, không lối ra.

Nhưng tôi và anh Hoàng Kiện vẫn tin điều đó không thể xảy ra. Chúng tôi tin ở Lê Xuân Phôi, một tiểu đoàn trưởng giàu bản lĩnh chiến đấu, trưởng thành từ chiến sĩ mà lên. Anh đã có mặt trong các chiến dịch Bắc Bắc, Trung Du, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Trận tập kích cụm quân địch Bản Ban trong chiến dịch Thượng Lào (4-1953), với cương vị trung đội trưởng xung kích, Lê Xuân Phôi xông xáo dẫn đầu đơn vị thọc sâu, đánh chia cắt diệt hàng chục tên địch. Trận đánh địch phản kích ở Bản Bông trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Lê Xuân Phôi là trung đội trưởng đại liên đã chỉ huy trung đội dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt, bộ đội bị thương vong nhiều. Đồng chí chỉ huy bộ binh hy sinh, Lê Xuân Phôi chỉ huy cả hai lực lượng chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa, bảo vệ an toàn thương binh. Lê Xuân Phôi được tặng huân chương Chiến công hạng nhì. Chúng tôi xếp Lê Xuân Phôi thuộc chất lượng loại một, chỉ huy tiểu đoàn 8 sẵn sàng làm nhiệm vụ chữa cháy trong đợt hoạt động này. Chúng tôi chờ một trận đánh ngoạn mục sẽ xảy ra, vì tiểu đoàn 8 đã và đang trên đường hành quân, không thể lạc được. Anh rất thạo tác nghiệp công tác tham mưu, thạo sử dụng bản đồ. Còn địch thì cả 2 tiểu đoàn sáng nay mới nhận lệnh một cách thụ động.

Chiều ngày 16, sau khi nhận lệnh, tiểu đoàn 8 đã khẩn trương chuẩn bị cho đơn vị hành quân trở lại trung đoàn với kế hoạch hiệp đồng chiến đấu, đánh địch trong hành tiến - tìm địch mà đánh, địch lớn hơn cũng đánh. Không đánh địch toàn bộ thì đánh một bộ phận. Dọc đường hành quân, đội hình luôn bị đứt đoạn do phi pháo địch bắn phá, nên sau khi qua cầu Ba Bỉ, tiểu đoàn tạm dừng để điều chỉnh đội hình, nấu cơm ăn và nắm cơm cho cả ngày hôm sau dự phòng gặp địch phải di chuyển và chiến đấu liên tục. 5 giờ sáng thứ tư ngày 17 tháng 11 tiểu đoàn tiếp tục hành quân quặt theo hướng tây nam. Càng đi, càng gặp phi pháo địch bắn phá dữ dội. Bằng sự từng trải của mình, Lê Xuân Phôi linh cảm thấy dấu hiệu của pháo địch bắn dọn đường cho bộ binh ở phía sau đang đi tới. Anh nhắc đơn vị triệu chứng địch đang tới gần, cần phải sẵn sàng chiến đấu cao, gặp địch là đánh được ngay.


(1) Mê-đên từng chỉ huy trung đội ở Nam Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, chỉ huy 1 đại đội trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), là nhân vật chính trong trận thất bại ở An-ba-ny.
(2), (3) Sách đã dẫn, tr. 259, 261.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:53:57 am
Trong khi tiểu đoàn 2 trung đoàn 5 đã đến khu hạ cánh Cô-lơm-bớc thì tiểu đoàn 2 của Mê-đên đang đi vào khu vực có tiểu đoàn 8 trung đoàn 66. Đại đội A của tiểu đoàn 2 địch đi đầu đến con suối cạn (cách An-ba-ny khoảng 100 mét), bắt được 2 chiến sĩ trong tổ săn máy bay của tiểu đoàn 1 trung đoàn 33, ba chiến sĩ khác còn lại chạy về báo cáo tiểu đoàn đã gặp quân Mỹ.

Được tin bắt được tù binh, tiểu đoàn trưởng Mê-đên hạ lệnh đơn vị đóng quân tại chỗ và tự mình đến thẩm vấn tù binh 20 phút, trong khi binh sĩ ở phía sau đội hình nằm lăn lóc ra bãi cỏ ngủ vì quá kiệt sức. Sau đó Mê-đên lệnh cho các đại đội trưởng thuộc quyền cùng mình lên phía trước tiến vào khu vực An-ba-ny, đại bộ phận còn lại của tiểu đoàn vẫn ở phía sau trong một đội hình kéo dài 400 mét phân tán về phía đông khu vực mục tiêu.

Về phía ta (theo anh Lã Ngọc Châu, chính ủy trung đoàn 66 thuật lại trong hội nghị tổng kết chiến dịch Plây Me): Khoảng 12 giờ trưa, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 sau khi được trợ lý tác chiến tiểu đoàn báo cáo 2 chiến sĩ của đơn vị bị bắt, đã nhanh chóng cho bộ đội triển khai tiếp cận địch, sẵn sàng chiến đấu. Cùng lúc tiểu đoàn 8 cũng vừa đến khu vực đó, được trinh sát phái đi trước báo cáo địch đang ở phía trước. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi lệnh cho đơn vị triển khai chuẩn bị vì địch đang tới gần; đồng thời nhanh chóng bắt liên lạc với tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 chủ động bàn kế hoạch phối hợp tiến công, trong khi binh sĩ địch đang nằm nghỉ trên một bãi cỏ dày hoang mang không biết làm gì vì các đại đội trưởng của họ đang ở phía trước.

Trong khi tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi khẩn trương dẫn tiểu đoàn vào chiếm lĩnh trận địa, các chiến sĩ phân tán ẩn nấp sau các gò mối, trong các đám cỏ cao, trên các cây gỗ tán lá xòe rộng kín đáo, sẵn sàng đợi lệnh, thì nhóm chỉ huy tiểu đoàn 2 địch do Mê-đên cầm đầu vẫn đang lần đường tìm vào khu vực bãi trống An-ba-ny, coi như không có gì phía trước mặt.

Nhìn rõ địch đang đi vào khu rừng thưa nằm giữa hai khu đất trống, cự ly gần, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 phát lệnh tiến công. Đại úy Lê Xuân Phôi trên lưng vẫn nguyên chiếc ba lô khoác miếng vải dù, đầu đội mũ bên ngoài cùng bọc vải dù, một tay rút khẩu súng ngắn, một tay cầm gậy tre ở gốc có hình giống như đầu con thỏ (chắc là vật kỷ niệm quý của anh). Anh vừa chỉ thị mục tiêu cho hỏa lực cối, đại liên, vừa điều động các đại đội vận động theo hướng cây gậy của anh vòng trái, vòng phải. Anh[ vẫn thẳng người chạy đến 2 khẩu đại liên của ta đang nhả đạn về hướng địch. Trong lúc trên không máy bay trực thăng vũ trang vừa phóng rốc két vừa nhả đạn cối, dưới mặt đất đạn AR15 nổ rùm trời, anh vẫn đứng thản nhiên quan sát và chỉ huy. Hình như anh lo chỉ huy chứ không lo tránh đạn(1).

Sau đợt súng cối bắn dồn dập mở đầu là tiếng nổ của các loại súng tiểu liên. trung liên, thoảng có cả tiếng lựu đạn, lẫn tiếng hô xung phong của ta, tiếng la inh ỏi của lính Mỹ. Dưới sự chỉ huy dũng cảm và mưu trí của Lê Xuân Phôi, tiểu đoàn 8 từ hướng bắc - tây bắc đánh thẳng vào trung đội trinh sát, đại đội A, tiến công cắt ngang đội hình tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 kỵ binh; chia cắt phần đầu đội hình tiểu đoàn khỏi phần còn lại và chặn đứng nó lại; tiêu diệt phần lớn 2 trung đội của đại đội A trong nửa giờ chiến đấu đầu tiên; dồn địch vào thế bị động đối phó, không đào được hầm hào phòng tránh, tất cả đều dựa vào cây cối, gò mối, các bụi cỏ cao để ẩn nấp.

Cuộc đụng độ bắt đầu ở phía đầu đội hình, tiểu đoàn 8 phát triển thế tiến công xuống phía dưới đội hình. Đại đội C đang đi về phía trái đại đội D thì gặp phân đội đi đầu của tiểu đoàn 8 đang di chuyển về hướng đó. Địch cho rằng “đại đội C đã rơi vào tử địa phục kích của đối phương”(2) hoặc đã “đâm đầu vào một cuộc tiến công hấp tấp của quân Bắc Việt Nam”(3) (tức tiểu đoàn 8). Như vậy rõ ràng là đại đội C đã rơi vào trận địa bày sẵn của tiểu đoàn 8, hoàn toàn bị động trước cuộc tiến công chủ động của ta.

Sau khi dùng hỏa lực súng cối bắn xối xả vào trận địa địch, tiểu đoàn 8 chia thành 3 mũi đánh thẳng vào đại đội C, chiếm khu gò mối khống chế chung. Đội hình đại đội C bị ta chia cắt làm đôi, thực hành bao vây nhỏ để sát thương chúng. Địch ngoan cố chống lại, tìm mọi cách phản kích đẩy ta ra xa, gọi phi pháo đến hỗ trợ. Các phân đội địch xông vào dãy gò mối, bị các xạ thủ súng máy của ta sau ở gò mối bắn chặn lại, địch chết như ngả rạ. Cuộc đụng độ biến thành trận đánh giáp lá cà dữ dội, ta và địch trộn vào nhau trong một trận diễn ra cực kỳ quyết liệt nhưng kết thúc thật nhanh. “Đại đội C tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 lữ đoàn 3 kỵ binh bay đã bị thương vong nặng nề nhất so với các đơn vị khác tham chiến ở khu vực An-ba-ny. “Trước cuộc đụng độ dữ dội của nó đối với quân Bắc Việt Nam (chỉ tiểu đoàn 8), quân số của đại đội là 112 người. Vào rạng sáng ngày hôm sau, ngày 18 tháng 11 chỉ còn đúng 12 người có thể trả lời “có mặt” trong buổi điểm danh”(4).


(1) Chiến thắng Plây Me ha mươi năm nhìn lại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 239.
(2), (3), (4) Sách đã dẫn, tr. 286, 349, 291


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:55:56 am
Thừa thắng, tiểu đoàn 8 tiếp tục phát triển về phía cuối đội hình đánh vào đại đội D. Trên đường tiến quân, tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi chẳng may trúng đạn địch, hy sinh, chính trị viên tiểu đoàn bị thương nặng. Trước tình thế đầy thử thách đó, đồng chí Luận, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đang phối hợp chiến đấu với tiểu đoàn 8 đứng ra nhận trách nhiệm chỉ huy chung cả hai tiểu đoàn tiếp tục chiến đấu, tiếp tục thực hiện ý định của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8, đã được tất cả cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn nhiệt liệt ủng hộ và triệt để chấp hành mệnh lệnh.

Thiếu tướng Trần Đối (hồi đó là tham mưu trưởng tiểu đoàn 4 trung đoàn 320) kể lại trong hồi ức của mình về trận đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên như sau: “... Sau trận tiêu diệt chiến đoàn ngụy trên đường 21, tôi dẫn 1 trung đội vận tải từ Làng Gà về phối thuộc cho tiểu đoàn 635 (sau gọi là tiểu đoàn 5) để tập kích trận địa pháo Mỹ vừa thiết lập ở Gia Bò. Đến gần suối Gia Giao kề chân núi Chư Pông thì gặp một đơn vị đang bố trí đội hình chiến đấu hai bên đường. Tôi đoán biết là trung đoàn 66 mới vào, anh em cứ nhìn chúng tôi hình như muốn tìm người quen. Gần hết đội hình của bạn. tôi thấy một người và đoán là thủ trưởng của đơn vị bạn. Tôi định dừng lại hỏi thăm tình hình, thì đồng chí ấy bắt tay tôi và rất phấn khởi hỏi có phải trung đoàn 320 không? Tôi đáp “phải”. Đồng chí nhanh nhẹn giới thiệu là Lê Xuân Phôi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 trung đoàn 66. Đồng chí nói: Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, chúng tôi đang trên đường vào vị trí đứng chán thì gặp Mỹ, chúng đang ở bên kia bờ suối, phía trước mặt địa hình rừng núi trùng điệp và hiểm trở mà đơn vị mới vào còn lạ nước lạ cái. May quá gặp được các anh, vậy các anh cùng chúng tôi phối hợp đánh bọn này đi. Anh hỏi tiếp: Đơn vị có bao nhiêu người. Tôi đáp: 1 trung đội bộ binh và 1 trung đội vận tải. Tôi là Đối, Trần Đối, tham mưu trưởng tiểu đoàn 34 (sau đổi phiên hiệu tiểu đoàn 4). Tôi đang suy nghĩ, phần lo đi gặp tiểu đoàn 635, phần muốn ở lại tham gia chiến đấu. Lê Xuân Phôi đang chờ quyết định của tôi thì súng phía trước nổ; anh chỉ nêu một đề nghị tôi giữ cánh sườn và phía sau giúp anh, còn chính diện do tiểu đoàn 8 của anh đảm nhiệm. Tôi đồng ý ngay. Lê Xuân Phôi đứng dậy phấn khởi nắm chặt tay tôi lắc mạnh: Cám ơn anh Đối. Trên đường trở về vị trí được phân công, tôi vẫn dõi theo anh: Lúc chạy qua cánh phải, lúc chạy qua cánh trái, khuất dần vào đội hình chiến đấu, chìm vào trong khói bụi của bom đạn với những tiếng nổ chát chúa và những tin thắng lợi giành được... Rồi một tin sửng sốt, đau lòng: Anh bị một viên đạn súng máy M.60 bắn chéo trúng tim, máu lênh láng đầy ngực nhưng chiếc gậy tre của anh vẫn chĩa thẳng về hướng địch. Nhớ lại trận đánh của tiểu đoàn 8 trong chiến dịch Plây Me, tôi không bao giờ quên được người bạn từ miền Bắc vào mà tôi chưa hề quen biết, nhưng lại rất gần gũi tâm đồng, ý hợp trong một trận chiến đấu ác liệt, mở đầu sự đọ sức giữa quân đội ta với quân cơ động chính quy siêu hiện đại - sư đoàn kỵ binh bay số 1 Hoa Kỳ. Lê Xuân Phôi hy sinh trong khi cuộc tiến công đang ở vào giai đoạn cuối là một tổn thất không thể bù đắp được. Nhưng tư thế hiên ngang hướng về phía trước của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho những người còn sống. Cường độ cuộc tiến công tăng lên, tốc độ cuộc tiến công nhanh hơn, hiệu quả cuộc tiến công cao hơn. Sau nay về tổng kết nghe cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 8 kể lại: Lúc đó không có ai hô hào, kêu gọi (nếu có thì chẳng ai nghe được ngoài tiếng bom đạn các loại nổ liên hồi) nhưng trong chúng tôi bỗng có sự thôi thúc, sự nhắc nhở tự thân phải có hành động cụ thể trả thù cho người tiểu đoàn trưởng mẫu mực của mình không còn nữa. Chính trị viên phó đại đội 6 mặc dù đã ba lần bị thương nhưng vẫn cương quyết ở lại chỉ huy đơn vị chiến đấu, tự tay dùng dao găm đâm chết tên giặc thứ tám trong ngày. Trung đội trưởng hy sinh, trung đội phó trung đội 3 đại đội 6 đã hai lần bị thương, nén chịu đau đớn, tự tay băng bó vết thương tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu. Xạ thủ trung liên Nguyễn Văn A, đại đội 7 bình tĩnh chờ địch tới gần bắn 2 phát diệt tên Mỹ đi đầu, sau đó diệt tiếp 12 tên Mỹ khác. Đồng chí Huân, chiến sĩ cứu thương nêu cao tinh thần yêu thương đồng đội, lăn lộn dưới làn bom đạn địch, không bỏ sót một thương binh, tử sĩ. Và đồng chí Mỹ, tiểu đội trưởng khi thấy trung đội trưởng đại đội 8 hy sinh đã chủ động nhận trách nhiệm đứng ra chỉ huy đại đội chiến đấu, rồi tìm đến đồng chí Luận tiểu đoàn phó tiểu đoàn 33 báo cáo tình hình và xin chỉ thị hiệp đồng chiến đấu. Việc làm thật đẹp ấy càng thôi thúc đồng chí Luận làm hết sức mình chỉ huy cả hai tiểu đoàn chiến đấu cho đến khi đồng chí bị thương nặng và hy sinh. Nhờ sức mạnh căm thù được nhân lên mà ý tưởng của tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi đã được thực hiện. Mục tiêu di tối của tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 33 là đại đội D tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 lữ đoàn 3 kỵ binh đang ở phía trước, rất gần. Tình thế bất ngờ không còn nữa, cả ta và địch đều hiểu ý của nhau. Nhưng ta đông hơn, tinh thần phấn chấn, tự tin sau khi đã loại đại đội C ra khỏi vòng chiến; địch yếu hơn và tinh thần thì hoang mang dao động. Tiểu đoàn phó Luận thay đổi cách đánh dùng đại liên, súng cối bắn khống chế và đánh lạc hướng chú ý của địch; đồng thời các mũi bộ binh giấu quân ở các gò mối, hàng cây hình thành thế trận bao vây ba mặt. Trận tiến công bắt đầu. Cường độ hỏa lực của cả hai bên đều tăng nhanh đến mức không thể nghe được một cái gì ngoài tiếng súng các loại đang bắn. “Những hàng cây đầy quân Bắc Việt Nam (tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 1), nhưng gần như không thể phát hiện được một người nào, họ hòa lẫn vào màu cây”(1). Từ những nơi này các chiến sĩ ta bất thần đạp lên những bụi cây đánh thẳng vào đội hình quân địch. Địch phản công chống lại bằng hỏa lực súng máy M.60, tiểu liên, súng trường tự động M.16. Một số chiến sĩ ta trúng đạn hai lần vẫn tiến lên áp sát địch. Bị sức ép mạnh từ phía trước, bị đánh thọc sườn, địch buộc phải lùi về co cụm ở phía cuối đội hình, nơi đang có đại đội A tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 được tăng viện ra ứng cứu thì cũng là lúc trận đánh kết thúc. Như vậy, chỉ sau 20 phút dụng độ với ta, đại đội D của tiểu đoàn 2 địch đã mất 26 lính Mỹ chết, 15 lính Mỹ bị thương.


(1) Sách đã dẫn, tr. 291.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 07:59:18 am
Trận chiến diễn ra tại khu vực An-ba-ny ở vào cái thế ta hoàn toàn chủ động, còn địch thì bị động từ đầu đến cuối. Trong khi binh sĩ tiểu đoàn 2 của trung tá Mê-đên đang còn nằm nghỉ trên bãi cỏ vì quá mệt sau nhiều giờ hành quân bộ (chứ không phải bằng trực thăng vận); trong khi các đại đội trưởng các đại đội cùng với tiểu đoàn trưởng đi trước khảo sát địa hình ở khu vực An-ba-ny và thiết lập khu vực hạ cánh ở đó thì cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 8 đã ở trong các vị trí giấu quân, được lệnh của tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi nổ súng tiến công vào phía đầu đội hình, đánh vào trung đội trinh sát và các trung đội thuộc đại đội A là những đơn vị đi trước; sau đó phát triển xuống dưới đội hình, vây quanh và xông thẳng vào đại đội C, tiến công một bộ phận đại đội D và cả đại đội A, thực hiện “bám thắt lưng địch mà đánh”. Chính địch phải thú nhận: “Thật là hỗn loạn, một vài người nghĩ họ đang bị bắn bởi những người Mỹ khác ở trong khu vực. Sự hỗn loạn chấm dứt khá nhanh khi làn sóng tiến công của quân Bắc Việt Nam (tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 33) đến gần tới mức chúng tôi có thể nhìn thấy họ và nghe họ trao đổi. Họ đột nhiên xuất hiện phía sau những gò mối và ở phía trước những hàng cây, họ bắn vào bất cứ cái gì di chuyển... Khi chúng tôi bò quanh trong đám cỏ voi cao thì thật khó mà nói ai đang ở đâu, họ là bạn hay là thù. Một điều mà tôi nắm bắt rất nhanh là quân Bắc Việt Nam đang ra hiệu cho nhau trong đám cỏ cao bằng cách gõ vào báng gỗ các khẩu súng AK.47 của họ”(1).

Máy bay trinh sát địch bay chữ chi trên bầu trời An-ba-ny nhằm xác định điểm chuẩn trên vị trí quân Mỹ đang đứng chân để thực hành phi pháo yểm trợ. Nhưng tất cả đều không gặp may, thậm chí địch dùng cả những viên đạn khói của pháo binh để xác định vùng hỏa lực phòng thủ của Mỹ cũng không có kết quả. “Không thể hỗ trợ được vì lúc này trên mặt đất mọi người hòa lẫn vào nhau”(2). Ngay cả đại tá Brao, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 kỵ binh bay khi báo cáo tình hình lên tướng Oét-mo-len, tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam vào lúc 2 giờ chiều cùng ngày cũng than phiền: “Chúng tôi ở cái thế không thể bắn được một chùm đại bác hay tiến công đường không vì chúng tôi không biết đặt chúng vào đâu”(3).

Cuối cùng địch đã áp dụng cách tiểu đoàn 1 của trung tá Mo đã làm ở bãi “Tia X” là một mệnh lệnh truyền miệng, tất cả đồng loạt ném lựu đạn khói, qua màn khói đó khoanh vùng các vị trí đứng chân của quân Mỹ. Mãi 3 giờ chiều đợt không kích mới được thực hiện bằng những máy bay Skai-rai-đơ (Skyraider), A.1E ném bom na-pan chứa xăng đặc. Nhưng trớ trêu thay, ngay đợt oanh kích đầu tiên 2 quả bom na-pan đã rơi đúng vị trí số binh sĩ sống sót của trung đội 2 đại đội A đang trụ lại. Song đây không phải là lần thả nhầm duy nhất. Vì làm sao qua màn khói mà phân biệt được rạch ròi trong cái thế trận mà lính Mỹ và các chiến sĩ tiểu đoàn 8 trộn vào trong một trận đánh giáp lá cà. Hiệu quả của các phi vụ lầm lẫn đó đã được đại úy Đi-đu-ry, chỉ huy đại đội B tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ thu dọn chiến trường kể lại “Xác chết (lính Mỹ) nằm ngổn ngang khắp nơi, nhiều xác chết bị băm nát bởi các trận không kích, bởi bom, pháo binh và hỏa lực rốc-két đường không. Thật là khủng khiếp, hết sức khủng khiếp. Một vài người trong họ bị tan tành từng mảnh bởi không quân và pháo binh. Chúng tôi phải dùng xẻng để súc chúng vào những chiếc poncho và đưa chúng đi”(4).

Hoạt động yểm trợ của phi pháo địch có gây khó khăn nhất định cho ta nhưng không chặn được cuộc tiến công của ta. Khẩu hiệu “nắm thắt lưng địch mà đánh” lại được thực hiện. Trận địa phòng không được thành lập kề bên quân Mỹ khiến chúng sửng sốt. “Mỗi khi các máy bay Skyraider thả bom thì khu rừng xung quanh lại rộ lên hỏa lực của đối phương vì quân Bắc Việt Nam nhắm tất cả các vũ khí của họ vào chiếc máy bay đang tiến công”(5). Nhóm xạ thủ đại liên của tiểu đoàn 8 bố trí ở một gò mối rất gần địch, khi máy bay A.1E bay đến không hề dao động, ngẩng cao đầu tiếp tục bắn khiến chúng phải vọt lên cao lánh đạn, nhưng sau đó lại bị đạn pháo, cả tổ hy sinh.


(1), (2), (3), (4), (5) Sách đã dẫn, tr. 297, 297, 299, 315, 363.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:00:06 am
Tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 1 chuyển hướng tiến công chủ yếu nhằm vào đại đội A và đại đội B tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 đến tăng viện cho tiểu đoàn 2 đang đứng chân ở cuối đội hình. Ta dùng khẩu súng máy M.60 vừa mới lấy được của địch bắn vào đội hình đại đội A, sau đó tiến vào áp sát địch, thực hiện đánh gần. Đại đội này đã bị nhiều thương vong và đang bị mất tích 1 trung đội. Đại đội B của đại úy Tun-ly vừa từ khu vực Cô-lơm-bốc tới trên đường di chuyển về phía trước thì bị hỏa lực súng cối và đại liên của ta bắn chặn, cả 3 trung đội của đại đội này đã bị ta ra đòn phủ đầu, hàng ngũ rối loạn. Sau đó cả hai đại đội A và B tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 được lệnh cụm lại thành vành đai phòng thủ ở cuối đội hình, nhưng trên vành đai phòng thủ này vẫn còn 20 lính Mỹ bị thương nằm rải rác rên la trong khi màn đêm đang tới gần.

Trận đánh kéo dài đến rạng sáng ngày 18 tháng 11 mới kết thúc, tiểu đoàn 2 của Mê-đên đã bị mất 155 người chết, 125 bị thương và 5 người bị mất tích trong chiến đấu.

Đây là trận then chốt thứ hai (trận then chốt thứ nhất trung đoàn 320 tiêu diệt chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy đi cứu viện trên tỉnh lộ 21) và là trận then chốt quyết định của chiến dịch Plây Me toàn thắng.

Sau thất bại ở khu vực An-ba-ny, các đơn vị thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ đã lần lượt rút khỏi thung lũng Ia Đrăng.

Ngày 20 tháng 11, tiểu đoàn 1 của trung tá Mo được lệnh lui quân. Tiểu đoàn đã tổ chức diễn tập chiến thuật phản phục kích trước khi lên những chiếc quân xa loại hai tấn rưỡi, đề phòng lịch sử sẽ lặp lại trận quân Việt Minh (trung đoàn 96 bộ đội Liên khu 5) phục kích bắt sống toàn bộ binh lính, sĩ quan binh đoàn cơ động 100 của Pháp tháng 6 năm 1954 trên đoạn đông đèo Măng Giang mà tiểu đoàn phải đi qua để về căn cứ An Khê.

Ngày 21 tháng 11, tiểu đoàn 2 của trung tá Mê-đên được giao 4 chiếc xe tải quân sự đủ chở 100 binh sĩ (trong tổng số 450 người) còn sống sót sau trận An-ba-ny để đưa họ vượt qua đèo Măng Giang về nhà (căn cứ An Khê - NG). Trên đoạn đường Plây Cu - An Khê, binh sĩ của tiểu đoàn này nơm nớp lo sợ lại sẽ xảy ra những việc như đã xảy ra ở “Tia X” và An-ba-ny; sợ bị đối phương tiến công trên đoạn đèo. Tất cả bọn họ đều ngồi quay mặt ra ngoài, súng sẵn sàng, quan sát từng bụi cây, từng cái hố, từng hòn đá trong nhiều giờ căng thẳng trên dọc đường 19 trở lại căn cứ An Khê.

Ngày 27 tháng 11, đến lượt lữ đoàn 2 kỵ binh bay cũng được lệnh rút quân. Số là trưa ngày 20 tháng 11, đại tá Brao, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 được lệnh của thiếu tướng Kin-na, tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1: Chuyển quyền chỉ huy cuộc hành quân ở thung lũng Ia Đrăng cho lữ đoàn 2 do đại tá lữ đoàn trưởng Ray-lin chỉ huy. Bảy ngày lữ đoàn 2 tuần tiễu lùng sục đến tận biên giới Cam-pu-chia vẫn không có trận đụng độ nào với đối phương, nên được lệnh lui quân. Đây là đơn vị kỵ binh bay cuối cùng còn ở chiến trường đã rút về căn cứ An Khê.

Nhưng vì sao lại có việc làm khó hiểu này trong khi chiến dịch Plây Me đang đi vào giai đoạn kết thúc? Pi-tơ Ác-nét, phóng viên báo Mỹ cùng đại tá Brao chỉ huy lữ đoàn 3 từ trên trực thăng Huey nhảy xuống thung lũng Ia Đrăng từ ngày đầu tiên, sau này trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa, đã kể lại những dòng sau đây, hy vọng bạn đọc có thể lý giải phần nào về cái việc làm không đáng có như đã nêu trên:

“Tại sở chỉ huy tiền phương sư đoàn kỵ binh bay số 1 đặt tại Plây Cu, chiều thứ ba, đại tá Brao có nói với tôi (Pi-tơ Ác-nét) là ông ta muốn rút ngay khỏi thung lũng Ia Đrăng. Bám lấy vùng đất như thế và tiến sâu hơn là trò chơi nguy hiểm. Quân Bắc Việt Nam (trung đoàn 66) đang thâm nhập rất nhanh...

Tôi hỏi: Thế sao ông không cho rút ra?

- Tướng Oét-mo-len không muốn cho tôi làm thế. Ồng nói rằng nếu chúng tôi triệt thoái, báo chí sẽ cho là chúng tôi rút lui”.

Thế là rõ. Tướng Oét-mo-len muốn đánh lạc hướng dư luận bằng việc đưa lữ đoàn 2 lên thay thế lữ đoàn 3 tiếp tục thực thi cuộc hành quân “tìm diệt”, sau 1 tuần lại điều về căn cứ An Khê thì việc làm đó là chuyện bình thường, chứ không phải rút lui, vì có đánh, có thua đâu mà phải rút lui.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:03:14 am
*
*   *

Như vậy là từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 11 năm 1965, bằng 4 trận đánh của trung đoàn 66 và trung đoàn 33, ta đã tiêu diệt tiểu đoàn 2 của trung tá Mê-đên, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 của trung tá Mo thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ.

Đối với quân đội Mỹ, trận đánh ở thung lũng Ia Đrăng đã trở thành nỗi kinh hoàng. Trong hồi ký của mình, tướng Oét-mo-len đã thừa nhận - đây là tổn thất nghiêm trọng của sư đoàn kỵ binh bay số 1 trong trận đầu ra quân ở Tây Nguyên.

Nhưng không chỉ giới hạn ở “tổn thất nghiêm trọng” mà hơn thế nữa - nó như một thứ hội chứng. Bởi trận đánh ở thung lũng Ia Đrăng đã vượt qua khuôn khổ chiến thuật, trở thành trận đánh có tầm cỡ chiến dịch, chiến lược, “một trận đánh làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam”. Tin sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ thất trận ở la Đrăng bay về Mỹ đã gây nỗi hoang mang bất bình trong dân chúng Mỹ đối với chính phủ Mỹ; gây bàng hoàng, làm thay đổi những suy nghĩ, tính toán đối với người cầm đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Theo lệnh của tổng thống Giôn-xơn, Mắc Na-ma-ra, bộ trưởng quốc phòng đã phải hai lần tức tốc sang Sài Gòn và đáp máy bay lên tận An Khê (hậu cứ của sư đoàn kỵ binh bay) để trực tiếp nghe tướng Kin-na, tư lệnh sư đoàn này báo cáo chi tiết những gì đã xảy ra ở Ia Đrăng?...

Ngay sau khi trở về thủ đô Oa-sinh-tơn, Mắc Na-ma-ra đã trình lên tổng thống một phương án - hoặc đi đến một giải pháp thỏa hiệp... hoặc đáp ứng yêu cầu tăng (quân) của tướng Oét-mo-len. Tôi cảnh báo là phương án hai sẽ không đảm bảo thành công, số lính Mỹ chết trận có thể lên đến 1.000 người/tháng”(1). Ngày 12 tháng 12 năm 1965, Mắc Na-ma-ra lại điện thoại tiếp cho tổng thống Giôn-xơn khẳng định lại suy nghĩ của mình - “từ khi ở Sài Gòn về tôi đã ngày càng tin tưởng là chắc chắn chúng tôi nên nghĩ đến một hành động nào khác chứ không phải hành động quân sự là chương trình duy nhất”(2).

Cũng như nhiều quan chức khác trong Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, Mác Na-ma-ra, người được xem là người có bộ óc “điện tử”, là người thiết kế chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và ném bom miền Bắc Việt Nam, lập hàng rào điện tử ở đường 9 và người kiến trúc sư tạo dựng mô hình sư đoàn kỵ binh bay số 1; đồng thời là tác giả của chiến thuật hiện đại “trực thăng vận” giờ đây bắt đầu hoài nghi về vai trò của cái sư đoàn có gần 500 máy bay lên thẳng là quá cồng kềnh, tốn kém mà không thể đánh bại được đối phương trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Lịch sử sẽ mãi mãi ghi nhớ trận đánh này bởi nó là trận đánh phủ đầu, đồng thời là lá cờ đầu diệt tiểu đoàn Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên. Đây cũng là trận đầu tiên Mỹ đưa quân vào Tây Nguyên với tham vọng lớn đảo ngược thế cờ để lần đầu buộc phải rút chạy về chiến dịch.

Sau khi nhận được báo cáo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Miền đã điện gửi Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên: Bộ tư lệnh Miền không có loại huân chương nào cao hơn, nhưng để xứng đáng với chiến công xuất sắc nên quyết định tặng các lực lượng tham gia trận đánh Mỹ ở thung lũng Ia Đrăng 2 huân chương Giải phóng hạng nhất.

Độ lùi thời gian càng xa càng giúp ta nhận thức sâu sắc ý nghĩa nhiều mặt của trận thắng Ia Đrăng, càng bồi đắp lòng tự hào về bản anh hùng ca bất diệt ấy.

Nhưng với trung tá Mo (sau này là trung tướng công tác tại bộ quốc phòng Mỹ), nguyên chỉ huy tiểu đoàn 1 lữ đoàn 1 sư đoàn không vận số 1 Mỹ thì vẫn còn sửng sốt về trận đánh này. Đã gần 30 năm trôi qua, trong lòng ông ta vẫn canh cánh nỗi đau thua trận. Năm 1992, trung tướng Mo trong đoàn cựu chiến binh sư đoàn kỵ binh bay số 1 sang Việt Nam xin được gặp những người chỉ huy của ta trong trận đánh này như Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Nguyễn Hữu An... để tìm hiểu vì sao thua trận.

Dưới đây là những ý chính cuộc đối thoại của Đại tướng Chu Huy Mân với trung tướng Mo xung quanh trận đánh này.


(1), (2) Mắc Na-ma-ra, Nhìn lại quá khứ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 224, 225.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:04:35 am
Hơ-rôn Mo:

- Trận Ia Đrăng ngài đã thắng chúng tôi về chiến thuật nhưng ngài đã thua về chiến lược, vì ý định của các ngài định đánh chiếm miền Trung từ Tây Nguyên, Khánh Hòa, Nha Trang, Bình Định, cắt miền Nam thành hai mảng, nhưng khi quân Mỹ vào Việt Nam các ngài bỏ cuộc.

Chu Huy Mân:

- Tình báo của các ngài nhiều và thạo việc nhưng đã không phát hiện được ý định của chúng tôi. Đúng là trước năm 1965, chúng tôi có ý định đó nhưng khi quân Mỹ vào chúng tôi không theo ý định đó nữa.

Hơ-rôn Mo:

- Quân của ngài đánh ở chiến trường Tây Nguyên là chiến trường rừng núi, khó khăn thiếu thốn về vật chất, ngài lấy gì ăn để hoạt động.

Chu Huy Mân:

- Quân đội nhân dân Việt Nam vừa chiến đấu vừa sản xuất. Chúng tôi sản xuất ra lương thực để ăn nhưng phần lớn là các ông đã tiếp tế cho chúng tôi.

Hơ-rôn Mo:

- Ngài thắng quân Mỹ trong trận Ia Đrăng là vì theo tôi biết quân của ngài gấp 7 lần quân Mỹ. Ngài đã dùng chiến thuật lấy thịt đè người nên đã thắng chúng tôi.

Chu Huy Mân:

- Việt Nam là một nước nhỏ, kinh tế lại nghèo nếu chúng tôi đánh theo ý nghĩ của các ông suy diễn thì chúng tôi lấy đâu ra nhiều người, nhiều của để đánh thắng Mỹ. Chúng tôi thắng Pháp trước đây, thắng Mỹ ngày nay là do lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của mỗi cán bộ và chiến sĩ. Có được tinh thần ấy là do chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì độc lập tự do, vì thống nhất Tổ quốc. Tinh thần là yếu tố cơ bản nhất của sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nghệ thuật quân sự của chúng tôi luôn sáng tạo và thực tiễn, chúng tôi đã bắt các ông phải đánh theo cách đánh của chúng tôi.

Đến khi hiểu rằng tỷ lệ đó là 1/1 (chứ không phải là 7/1) thì Mo thực sự thán phục “bộ đội các ông thật tuyệt vời!”.

Với tư cách là một nhân chứng trong trận đánh này tôi muốn nói đôi điều về yếu tố làm nên chiến thắng. Một là, thường xuyên chăm sóc, vun trồng yếu tố cơ bản nhất tạo thành sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam là nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, truyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù. Gốc có vững, cây mới chắc khỏe, vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt. Hai là, công tác chuẩn bị chiến đấu phải chu đáo mọi mặt, nhất là chuẩn bị về chính trị. Tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng, vì thắng lợi cuối cùng trên chiến trường phụ thuộc vào yếu tố tinh thần và tâm lý của người chiến binh cầm súng trực tiếp đối mặt với kẻ thù. Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 đã có ý thức chuẩn bị theo định hướng này ngay từ những ngày còn ở hậu phương lớn, vào chiến trường tiếp tục chuẩn bị theo yêu cầu cụ thể của chiến đấu: mỗi cán bộ, chiến sĩ đã thực hiện tốt khẩu hiệu quyết thắng để tìm cái biết thắng; chủ động, linh hoạt thực hiện “hiệp đồng theo tiếng súng”, “bám thắt lưng địch mà đánh” để thắng địch giòn giã trong điều kiện vô cùng ác liệt do bom đạn Mỹ gây ra(1).

Có thể nói Ia Đrăng - trận đánh đã được chuẩn bị trong mười năm, mọi diễn biến, mọi thắng lợi trong chiến đấu đều do kết quả của công tác chuẩn bị, không hề có sự tham gia của bất cứ một yếu tố ngẫu nhiên nào.


(1) Sau các trận đánh ngày 14, đêm ngày 14 rạng ngày 15, đêm ngày 15 rạng ngày 16, từ cái chung, chúng tôi đã hiểu địch mạnh yếu một cách cụ thể. Ngoài hoả lực không quân cường kích còn có uy lực của trực thăng vũ trang của sư đoàn kỵ binh bay số 1, mỗi đại đội có 21 khẩu đại liên đặt trên trực thăng và nhiều dàn rốc-két. Ngoài máy bay cường kích, địch còn dùng máy bay chiến lược B.52 làm nhiệm vụ chi viện chiến thuật cho quân ở mặt trận, về pháo binh, lúc đầu ta dự đoán ở vùng rừng núi, cách xa căn cứ hoả lực và đường giao thông chính, sẽ hạn chế được hoả lực pháo binh mặt đất của địch. Nhưng trong thực tế thì ngược lại. Máy bay trực thăng CH.47 (cần cẩu bay) có thể cẩu pháo đến bất cứ nơi nào, để luôn luôn bảo đảm cho mỗi tiểu đoàn bộ binh có từ 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) trở lên chi viện chiến đấu với mật độ hoả lực 6.000 viên đạn pháo cối/ngày. Với mật độ pháo cối như vậy, chúng có khả năng làm thay đổi địa hình khu vực tác chiến một cách nhanh chóng. Hoặc về khả năng cơ động, với số trực thăng gần 500 chiếc các loại, chúng có thể thực hành chiến thuật “nháy cóc” khắp nơi, kể cả vùng nằm sâu trong hậu phương ta, có thể cơ động từng lữ đoàn đến khu vực giao chiến trong thời gian ngắn, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho chúng, có thể làm đảo lộn hình thái bất lợi cho ta... Song bên cạnh chỗ mạnh đó, qua đọ sức với tiểu đoàn 1 của trung tá Mo ở bãi “Tia X” trong 3 trận, chúng tôi càng khẳng định những mặt yếu cơ bản của địch là hoàn toàn chính xác như Mỹ sợ đánh gần, đánh đêm, thiếu sự chi viện hoả lực đắc lực của pháo binh, không quân thì tinh thần dễ hoang mang, dao động, đội hình dễ hỗn loạn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:09:05 am
Chương VIII
NGÀY XUÂN ĐẾN MUỘN


1

Kết thúc chiến dịch Plây Me, tôi được Bộ tư lệnh B3 điều về làm chính ủy nông trường 4 (Mặt trận Kon Tum). Cùng Tư lệnh trưởng anh Nguyễn Hữu An đang bắt tay vào công việc chuẩn bị mở chiến dịch Sa Thày, thì Bộ quyết định điều tôi về làm Chính ủy Sư đoàn 3, Quân khu 5.

Ngày 25 tháng 12 năm 1966, tôi từ sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Sa Thày trở về Khu 5. Cùng đi với tôi có hai chiến sĩ liên lạc, công vụ và đồng chí Đinh Đế, người dân tộc Cà-tu quê Quảng Nam cũng chuyển công tác về Khu 5. Chặng đường thật xa, càng ngược lên bắc Kon Tum rừng núi càng âm u, nhiều núi cao, suối sâu và thú dữ mà vẫn thấy phơi phới vui. Đã 10 năm xa quê, tôi chỉ ước gì có cánh để bay đến thật nhanh. Từ Ngọc Hồi, qua Binh trạm 5 chếch đông xuôi về Binh trạm 10 ở bờ sông Khâm Đức là đi vào đất Quảng Nam. Trời đổ mưa to, tầm tã, kéo dài, nước sông Khâm Đức dâng cao, chúng tôi phải nằm lại đúng một tuần, thì cũng là lúc binh trạm hết gạo, lượng dự trữ sẵn chỉ đủ ăn hai ngày, may mà còn da nai khô, chúng tôi đem chế biến ăn thay cơm. Da nai nướng cho cháy hết lông, rửa sạch, cắt miếng to bằng bao diêm, bỏ nồi luộc dừ là ăn được. Ba ngày đầu ai cũng tấm tắc khen ngon, có thể thay cơm dài dài. Đến ngày thứ tư, thứ năm thấy ớn! Và sang ngày thứ sáu thì đành chịu đói vì hễ ngửi thấy da hai luộc là tôi ói liền.

Ngày 3 tháng 2 năm 1967 tôi đến cơ quan Quân khu bộ ở bờ tây sông Tranh, huyện Trà My (Quảng Nam). Người gặp đầu tiên là Tham mưu trưởng quân khu, anh Giáp Văn Cương. Là bạn bè cũ, cứ thế chúng tôi ôm nhau hồi lâu như muốn khóc.

- Sao vào muộn thế? - Anh Giáp Văn Cương hỏi.

- Các cụ ngoài Bộ giữ hoài tiếp tục rèn luyện để chờ thời cơ, nay mới được lệnh - tôi trả lời.

Anh Giáp Văn Cương thân mật nói:

- Thôi mọi việc sẽ bàn sau, Nam Khánh đi rửa mặt chân tay cho tỉnh táo, rồi ăn với nhau bữa cơm mừng quả đất tròn hai đứa mình lại gặp nhau nơi chiến trường quen thuộc một thời gắn bó.

Bữa cơm đạm bạc mà ngon, tôi ăn liền bốn bát. Ngon vì cả tuần nay chưa có hạt cơm nào vào bụng, ngon vì đã lâu lắm rồi mới được ăn món “mắm cái” quen thuộc, một đặc sản của Nam Trung Bộ.

Cơm xong, anh Giáp Văn Cương động viên tôi:

- Cứ nghỉ cái đã, các anh trong Bộ tư lệnh xuống đơn vị chưa về. Ngoài Tết ta vào việc vẫn chưa muộn.

- Tôi muốn được đọc tài liệu trước.

- Được, mình sẽ nói với bảo mật, tài liệu tổng kết, các báo cáo kết quả hoạt động trong hai mùa khô, rất nhiều, v.v... không có sức mà đọc.

Rồi anh Giáp Văn Cương trực tiếp dẫn tôi đến nghỉ tạm tại căn lán của một đồng chí phó tư lệnh đi công tác xa, phải ra Tết mới về.

Bản tổng kết chung dày 200 trang như một chiếc chìa khóa mở lối để tôi tiếp cận thực tế sống động của chiến trường Khu 5 qua hai mùa khô đánh giặc, những thành tích, những mất mát do kẻ thù gây ra và những bài học rút ra mang lại cho tôi phấn khởi, tự hào, lòng tin và cả những bùi ngùi, đau xót về những tội ác mà kẻ thù đã gây ra.

Tôi thực sự tâm đắc bài học rút ra thành công thức “bốn bám”(1), xem đây như là một bước phát triển mới mang tính đặc thù của phong trào toàn dân đánh giặc tại chiến trường Khu 5.


(1) + “Đảng bám dân” để lãnh đạo nhân dân chống địch. Đây là vấn đề cơ bản nhất, ở đâu Đảng tồn tại, Đảng bám vào dân, lãnh đạo nhân dân và nhân dân đấu tranh chống địch, ở đó có phong trào chống “bình định” sôi nổi, mạnh mẽ và thắng lợi.
+ “Dân bám đất” để giữ thế hợp pháp đấu tranh không cho địch phân tuyến phân vùng, tạo thế cho du kích, bộ đội đánh địch.
+ “Du kích và bộ đội bám địch” để chống phá các cuộc càn quét, cướp bóc, trừng trị những tên ác ôn ngoan cố, những toán “cán bộ bình định”, tạo thế cho quần chúng bám đất đấu tranh.
+ “Cấp trên bám cấp dưới” để kịp thời nghiên cứu phát hiện các thủ đoạn đánh phá của địch, cùng cấp dưới đề ra những chủ trương đối phó thích ứng với từng vùng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:10:16 am
Loáng một cái Tết Đinh Mùi đã đến. cả cơ quan chiều nay bừng lên không khí đón năm mới. Các lán làm vệ sinh riêng và chung trong khu vực cơ quan Bộ tư lệnh. Sôi động nhất vẫn là khu vực anh nuôi, tiếng lợn kêu, tiếng dao chặt băm pha chế biến các món chuẩn bị cho bữa liên hoan chung chào đón xuân mới.

Hoàng hôn buông nhanh. Đêm ba mươi trời tối đen như mực, nhưng ở đây còn hơn mực bởi các tán cây rừng che khuất, có lán không nhìn thấy khoảng trời, máy bay địch đành chịu thua nếu ta giữ nghiêm kỷ luật khói và ánh sáng đèn. Tôi sửa soạn áo quần chỉnh tề đến dự đêm giao thừa cùng Tham mưu trưởng Giáp Văn Cương theo lời mời của anh khi chiều.

Anh đã chờ sẵn tự bao giờ. Tài liệu, sổ sách được xếp gọn vào một góc, trên bàn làm việc có thuốc lá và chè Blao sản xuất từ Bảo Lộc, Lâm Đồng. Thêm nữa là giò lan cánh vàng thay cho mai vàng, biểu hiện cảnh sắc đón Tết cổ truyền của người Việt phương Nam. Một đĩa ngũ quả theo phong tục, nhưng chỉ có nhị quả: dăm bảy quả cóc bày xen trên buồng chuối màu vàng ươm.

Không gian tĩnh lặng mà ấm cúng. Các lán đều le lói ánh sáng đèn tự chế bằng đủ các chai lọ. Đủ các loại đài bán dẫn mờ nghe các chương trình ca nhạc, ngâm thơ, tấu hoạt cảnh dân ca Bắc - Trung - Nam, v.v... chào mừng năm mới cùng với tiếng cười nói râm ran làm ấm lòng người.

Tiếng chuông giao thừa đã điểm, ngân vang, thánh thót, nghiêm trang, tất cả đều chờ tiếng chuông thứ 12, thế là phút giây đầu tiên của năm con Dê đã đến.

Bác lại đọc thư chúc Tết đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài.

Giọng Bác dõng dạc mà ấm áp. Nghe sao mà gần gũi thế, cứ như Bác đang ở bên mình, bỗng lại nhớ câu nói bất hủ của Bác - miền Nam trong trái tim tôi.

Giờ phút thiêng liêng của cái đêm trừ tịch đã hết. Không khí các lán lúc này rộ lên, thả sức nói cười chúc mừng xuân mới.

Khêu to ngọn đèn cho sáng hơn, anh Giáp Văn Cương ra góc trái căn lán mang vào đủ thứ bày lên bàn: vịt hầm rút xương, nem chua, hột vịt lộn và một chai mang nhãn hiệu annis (một loại rượu mạnh lưu hành ở miền Nam trong những năm này).

Sự ngạc, nhiên của tôi lên tới đỉnh điểm, sắp sửa bật thành câu hỏi kiếm đâu ra những thứ này, thì anh Giáp Văn Cương bình thản nói: Tất cả đều là cây nhà lá vườn, đều là tự sản, tự chế biến, tự tiêu thụ, ai cũng có, riêng chú vịt này anh em nhà bếp bổ sung vì có Nam Khánh từ Bắc mới vào. Còn chất cay của bà con trong Quy Nhơn gửi biếu, mình cố giữ cho đến hôm nay.

Hai chúng tôi vừa nhấm nháp vừa hàn huyên, đủ các thứ chuyện chung riêng; chuyện đã qua, chuyện hiện tại, có cả mơ ước về một ngày mai...

Biết rằng ra Tết có bao nhiêu điều cần phải tìm hiểu, nhưng tình hình chung, nhiệm vụ chung và cả chặng đường đã qua của Sư đoàn 3, mà người am tường lại là anh Giáp Văn Cương, nguyên Sư đoàn trưởng vừa mới xa sư đoàn về quân khu theo sự phân công mới của cấp trên, tôi ngỏ ý muốn được anh kể cho nghe chuyện thăng trầm mà Sư đoàn 3 đã nếm trải, rút ngắn thời gian bỡ ngỡ khi về sư đoàn công tác.

- Được, mình sẵn sàng. - Anh Giáp Văn Cương đồng ý. - Nhưng biết kể cái gì đây, nội dung thì nhiều, mà thời gian có hạn.

- Anh nói những gì mà anh tâm đắc. - Tôi đề nghị.

Hai chân mày sát lại như nghĩ một điều gì rất lung, bỗng tươi tỉnh, anh nói:

... Tính đến tháng 10 năm 1965, tổng số quân chiến đấu Mỹ và chư hầu ở địa bàn Khu 5 lên tới 120.000 tên, bằng hai phần ba tổng số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam. Riêng Bình Định địch tập trung 20.000 quân Mỹ và chư hầu Nam Triều Tiên với 500 máy bay các loại, hàng chục tiểu đoàn thiết giáp, pháo binh, vì Bình Định là trọng điểm của cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ trên địa bàn Khu 5.

Thực hiện ý định của Bộ tư lệnh Quân khu, cho đến cuối tháng 12 năm 1965, phối hợp với thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ba huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Sư đoàn 3 đã hình thành xong thế bố trí chân vạc: trung đoàn 2 ở Hoài Ân, trung đoàn 22 ở Hoài Nhơn, trung đoàn 12 đứng chân tại bắc Phù Mỹ. Cả ba trung đoàn đều có thể cơ động theo đường số 1 tiến công quận lỵ Bồng Sơn theo hai hướng bắc và nam, hoặc lật đội hình giải phóng quận lỵ Phù Mỹ; hoặc dễ dàng khống chế địch thực hiện chia cắt chiến dịch. Trường hợp địch mở cuộc tiến công trước, các trung đoàn của ta đã đứng chân ở những địa bàn quân Mỹ có thể đổ bộ đường không và sẵn sàng chi viện cho nhau. Với đội hình trên, toàn sư đoàn có thể kết hợp chặt chẽ với các lực lượng quân sự, chính trị của ba huyện đánh địch bảo vệ nhân dân, đủ điều kiện về địa thế và lương thực để đánh địch nếu đợt hoạt động kéo dài.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2022, 08:11:38 am
Ngày 28 tháng 1 năm 1966 mở đầu cuộc hành quân mùa khô, hai vạn quân Mỹ - ngụy và chư hầu Nam Triều Tiên do tướng Kin-na, tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1 chỉ huy bắt đầu đánh ra Bồng Sơn và thị trấn Tam Quan. Tại đây địch đổ lữ đoàn 3, sư đoàn kỵ binh bay số 1 do đại tá Mo chỉ huy.

- Lữ đoàn 3? - Tôi hỏi.

- Sao? Nam Khánh hỏi sao, đúng lữ đoàn 3. - Anh Giáp Văn Cương khẳng định.

Tôi thông báo hai tiểu đoàn 1 và 3 của lữ này đã bị trung đoàn 66 tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây Me.

- Vậy hả! - Anh Giáp Văn Cương nói tiếp. - Về đây nó lại bị đánh bồi.

- Còn Mo có đúng là đại tá không? - Tôi hỏi.

- Đúng, tin từ tình báo Bộ thông báo vào.

- Thế là rõ. - Tôi chen ngang. - Cách đây hai tháng y còn là trung tá, nay đã là đại tá, kiểu gì mà lên dữ vậy. Lúc ấy y chỉ huy tiểu đoàn 1 bị ta đánh đau phải rút chạy khỏi bãi đáp “Tia X” tây nam thung lũng Ia Đrăng.

Nhân đây xin mở ngoặc kể cùng bạn đọc một số chi tiết về viên đại tá Mo. Gần ba mươi năm sau ông ta mang quân hàm trung tướng đi trong đoàn cựu chiến binh Mỹ sang Việt Nam, gặp chúng tôi tìm hiểu vì sao sư đoàn “kỵ binh bay” số 1 Mỹ lại thất bại? Và Mo cũng là đồng tác giả của cuốn sách mang tựa đề “Đã một thời chúng tôi là những người lính và trẻ trung”. Nội dung cuốn sách kể về những ngày sư đoàn kỵ binh số 1 nói chung, tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 kỵ binh của Mo nếm mùi thất bại ở thung lũng Ia Đrăng tháng 11 năm 1965. Trang 422 của cuốn sách này Mo viết: “Trong đợt đột kích vào Bồng Sơn ngày 28 tháng 1 năm 1966, tôi đi trên chuyến đầu tiên và xông vào một hàng cây. Có một ngôi nhà nhỏ lợp mái rạ ẩn dưới những tán cây; một gia đình nông dân dồn cục lại, sợ mất hồn bởi hỏa lực dọn đường của pháo binh đang rơi xuống xung quanh họ...

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt và khi đối phương (trung đoàn 22 - NG) rút đi, 82 binh sĩ của tôi bị chết cùng với 318 binh sĩ khác bị thương. Cái giá phải trả thật là cao... Trong vòng một tuần sau khi chúng tôi rút đi, quân Bắc Việt Nam và các đơn vị chủ lực Việt cộng đã trở lại những xóm làng ở Bồng Sơn. Lữ đoàn của tôi được phái trở lại trong một cuộc biểu dương lực lượng vào tháng 4 và một lần vào tháng 5, lần này số binh sĩ của chúng tôi bị chết và bị thương còn đông hơn nữa”. Mo đổ lỗi gây nên sự thiệt hại của cuộc hành quân này là trách nhiệm của Đại sứ quán Mỹ và Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ (MACV) đã không thành công trong chương trình phối hợp những hành động quân sự của Mỹ và Nam Việt Nam với các chương trình phối hợp tiếp sau của chính phủ Việt Nam cộng hòa (chỉ ngụy quyền Sài Gòn) nhằm tái lập sự kiểm soát ở những vùng mới giải phóng (vùng mới trải qua các cuộc hành quân càn quét bình định của địch).

Xin được tiếp tục trở lại chuyện đang kể. Theo Tham mưu trưởng Giáp Văn Cương lúc ấy là chỉ huy trưởng mặt trận Bình Định thì lữ đoàn 3 vừa đặt chân xuống khu vực Bồng Sơn - Tam Quan đã bị trung đoàn 22 trực sẵn chủ động tiến công. Trong bốn ngày chiến đấu (từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 1 năm 1966) trung đoàn 22 đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng bốn đại đội thuộc lữ đoàn 3 kỵ binh bay. Quân Mỹ tiếp tục dồn sức vào trận đánh quanh khu vực thị trấn Tam Quan nhằm đạt cho được mục tiêu “tìm diệt” vì đã đánh hơi thấy trung đoàn 22 đang đứng chân ở khu vực này. Đoán được diễn biến bất lợi có thể xảy ra, Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 cho đại bộ phận trung đoàn 22 tạm rút ra vòng ngoài thực hiện đánh nhỏ nhằm bảo toàn lực lượng, thì địch lại cho rằng đối phương đã rút về phía sau. Từ phán đoán đó, tướng Kin-na tức tốc tập trung toàn bộ lực lượng sư đoàn “kỵ binh bay” số 1 mở cuộc hành quân mới mang tên “Cánh trắng 1” “tìm diệt” lực lượng còn lại của Sư đoàn 3 mà y cho rằng đang đứng chân ở thung lũng An Lão. Kết quả là cuộc hành quân “Cánh trắng 1” đã đánh vào chỗ không người. Các trung đoàn 2, 12 khi ấy đang chuẩn bị cho những trận đánh của mình ở các khu vực khác. Trung đoàn 22 vẫn đứng ở bắc Bồng Sơn.

Cay cú vì vồ hụt ta ở An Lão, ngày 6 tháng 3, địch mở cuộc hành quân “Cánh trắng 2” đánh vào thung lũng Kim Sơn (Hoài Ân). Phút căng thẳng có cả sự bối rối đã qua. Lúc này bọn mình có chút thanh thản để lựa chọn cách đối phó. Một quyết định gần như tức thì. Mở cuộc phản công có ý nghĩa quyết định bằng việc điều trung đoàn 2 đang đứng chân ở bắc Phù Mỹ về Hoài Ân cùng với trung đoàn 12 đánh mạnh vào hai bên sườn quân địch, dồn chúng vào một trận phục kích bày sẵn, ta diệt thêm ba đại đội thuộc lữ đoàn 3 kỵ binh bay vẫn do đại tá Mo chỉ huy.

Ngày 6 tháng 3 năm 1966, địch buộc phải kết thúc cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất ở bắc Bình Định. Kin-na, tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1 và là người chỉ huy cánh quân lớn nhất của cuộc phản công đầy tham vọng bị cách chức vì đã để một phần ba quân số và 75% trực thăng bi ta tiêu diệt.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:41:35 am
Đêm về khuya, không gian càng yên tĩnh, các căn lán trong khu vực cơ quan Bộ tư lệnh đã chìm vào giấc ngủ sâu, chỉ hai chúng tôi còn thức, thì thầm nhỏ to như đôi tình nhân, không bao giờ hết chuyện.

Anh vẫn say sưa kể, còn tôi thì tỉnh như sáo và tự nhủ - chỉ còn đêm nay cần phải tập trung tối đa thời gian để nghe, để hiểu. Anh lại rót rượu và nâng ly, lần này anh cũng dốc cốc để chứng minh đã cạn trăm phần trăm. Còn tôi thì chỉ nhấm nháp. Mâm cỗ tối giao thừa vẫn còn nhiều. Anh động viên tôi “ăn đại đi Nam Khánh, lấy sức mà nhịn dài dài, chiến tranh mà”.

Anh kể tiếp: “Ngay từ mùa hè năm 1966, Bộ tư lệnh Quân khu họp quyết định mở chiến dịch Hè - Thu nhằm tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, cũng là để thiết thực phối hợp với chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị đang xúc tiến triển khai theo lệnh của Bộ Tổng tư lệnh. Trong chiến dịch này, Sư đoàn 3 được lệnh của Quân khu tiến quân vào Vĩnh Thạnh mở một đợt hoạt động tiêu diệt sinh lực địch ở đó; đồng thời sử dụng một số đơn vị phối hợp với địa phương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phá kế hoạch “bình định cấp tốc” của địch ở phía bắc Bình Định”. Bỗng anh dừng lại kèm theo tiếng thở dài nhỏ, như có cái gì buồn buồn bật dậy trong anh. Thấy vậy tôi không gặng hỏi và cũng im lặng theo anh.

Rồi anh tiếp tục nói giọng trầm buồn: “Nhưng sư đoàn không thực hiện được ý định trên giao, vì bộ phận trinh sát pháo binh bị địch phục kích để mất sơ đồ kế hoạch tiến công. Hướng tiến công bị lộ”.

Nhưng lúc này đâu phải ngồi đây mà buồn phiền, hối hận, ăn năn, mà phải xốc tới, thua keo này bày keo khác. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn họp ra quyết tâm. Để đảm bảo hiệp đồng với các chiến trường toàn quân khu, Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định thay đổi phương án tác chiến: Lệnh trung đoàn 2 gấp rút quay ra bắc Phù Mỹ đánh cắt giao thông, đoạn từ Phù Cũ đi Đèo Nhông. Trung đoàn 12 thọc xuống tây Phù Cát, tiến công khu vực Phù Mỹ, Phù Cát. Ở bắc Hoài Nhơn, tiểu đoàn 9 trung đoàn 22 phải có kế hoạch cụ thể tăng cường hoạt động, làm lạc hướng và giam chân quân Mỹ ở đó.

Ngừng một lát, anh Giáp Văn Cương nhấn mạnh - Rời Vĩnh Thạnh về đồng bằng là quyết định nhạy bén, kịp thời. Bởi nếu sư đoàn cứ bám quyết tâm cũ chẳng những không thực hiện được ý đồ chiến dịch mà rất có thể còn bị thương vong. Mặt khác đột ngột chuyển hướng tiến công xuống đồng bằng sẽ tạo được thế chủ động mới và gây được bất ngờ lớn đối với địch.

Nếu mùa khô một, về phía địch nhiệm vụ “bình định” nông thôn được xếp hàng thứ yếu thì trong mùa khô hai, nhiệm vụ “bình định” được xếp ngang với nhiệm vụ “tìm diệt”. Quân Mỹ đảm nhận “tìm diệt” để cho quân ngụy “bình định”. Mục tiêu chủ yếu mùa khô hai là Đông Nam Bộ, trọng điểm là Chiến khu Dương Minh Châu (còn gọi là vùng căn cứ R - nơi làm việc của các cơ quan Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Còn ở chiến trường Tây Nguyên và Khu 5, chúng sử dụng lực lượng nhỏ để kiềm chế không cho ta đánh lớn. Lực lượng xung kích chủ yếu của địch trên chiến trường Bình Định vẫn là sư đoàn kỵ binh bay số 1 (vì chúng vẫn đóng căn cứ chính ở An Khê). Nhưng lực lượng ngụy quân, đặc biệt là lực lượng vũ trang địa phương (bảo an, dân vệ, thanh niên chiến đấu) tăng lên rõ rệt. Do đó việc chống phá “bình định” ở nông thôn khốc liệt hơn mùa khô trước. Nếu mùa khô 1965-1966, Mỹ ào ạt đánh lướt khiến quân ngụy không trụ nổi ở những vùng quân Mỹ vừa “tảo thanh” để gom dân lập ấp, thì mùa khô thứ hai này quân Mỹ chủ trương đánh phá dai dẳng ở từng khu vực. Chúng dùng máy bay chở lô cốt, rào kẽm gai, máy cưa, máy ủi... thiết bị các trận địa pháo, xây dựng các cứ điểm dừng chân dài ngày làm chỗ dựa cho quân ngụy tiến hành “bình định”.

Tháng 10 năm 1966, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân 1966-1967 nhằm đánh quỵ cả hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của quân Mỹ và quân ngụy trên địa bàn quân khu.

Từ ý định chỉ đạo trên, Bộ tư lệnh Sư đoàn chia thành hai đợt hoạt động: đợt 1, từ trung tuần tháng 12 năm 1966 đến hết tháng 1 năm 1967; đợt 2, kết thúc vào cuối tháng 3 năm 1967.

Nhiệm vụ chủ yếu của sư đoàn là đánh bại các cuộc hành quân bình định của quân Mỹ và quân ngụy song song với việc đánh vào các căn cứ “điểm tựa” của chúng. Chiến trường của Sư đoàn 3 vẫn là bắc Bình Định mà khu vực chính là huyện Hoài Ân, trọng điểm càn quét và đóng chốt của Mỹ.

Bước vào mùa khô thứ hai, Mỹ - ngụy đã thực hiện một chiến dịch xúc tát dân hết sức thâm độc và tàn bạo. Chúng dùng xe ủi san bằng nhà cửa, vườn tược, cả phương tiện sống như nồi niêu, bát đĩa chúng cũng đập phá, dân không còn cơ sở kinh tế và phương tiện sinh hoạt để quay về làng cũ; đồng thời dùng máy bay trực thăng bốc đi từng làng, từng xã đổ xuống các khu dồn quanh các thị xã, thành phố trong vùng chúng kiểm soát. Kết hợp với chiến dịch xúc tát, lập vành đai trắng, là các cuộc hành quân “chài lết”(1) dai dẳng ở các vùng giáp ranh, các khu căn cứ và dùng máy bay B.52 thả bom trải thảm, hóa chất độc tàn phá núi rừng. Chúng đánh vào hai chỗ dựa chủ yếu của lực lượng vũ trang là dân và vùng căn cứ rừng núi, bọn Mỹ hy vọng có thể có lập và tiêu hao lực lượng kháng chiến để giành thế chủ động trong mùa khô 1966-1967.


(1) Từ bộ đội và đồng bào Khu 5 thường dùng để chỉ bọn địch rải quân phục kích, sục sạo dai dẳng từ một tuần đến hàng tháng ở một địa điểm, ngăn chặn sự di chuyển của ta.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:42:29 am
Do việc xúc tát dân và tăng cường đánh phá hành lang, cửa khẩu của địch, Sư đoàn 3 gặp khó khăn không nhỏ. Càng ngày việc tiếp tế lương thực, đạn dược càng trở nên hiếm hoi. Trong các trận đánh, hỏa lực sư đoàn, trung đoàn đã phải bắn cân nhắc từng viên một. Đạn súng trường, tiểu liên cũng trong tình trạng tương tự.

Tháng 10 năm 1966. Thường vụ Khu ủy và Quân khu uy ra lời kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong liên khu quyết tâm vượt lên khó khăn ác liệt, đánh bại cuộc hành quân mùa khô lần thứ hai của địch.

Trong những ngày sư đoàn chuẩn bị bước vào chiến dịch, biệt kích Mỹ - ngụy, Nam Triều Tiên không ngừng thay nhau lùng sục vào các hẻm núi, đổ quân xuống các điểm cao nhưng vẫn không sao phát hiện được hướng tiến công chính của sư đoàn.

Ngày 17 tháng 12 năm 1966, trận đánh mở màn chiến dịch Đông - Xuân 1966-1967 của sư đoàn đã nổ ra tại hai thôn Lộc Giang và Long Giang (Hoài Ân), đối tượng tác chiến vẫn là sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ. Bảy ngày trước khi bước vào trận đánh này, trung đoàn 12 vẫn đang đứng chân ở Vĩnh Thạnh. Nhận lệnh, trung đoàn lên đường trong khi không còn một hạt gạo nào. Cơ quan trung đoàn bộ phải gom góp từng lon mới đủ nấu cho tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 6 mỗi người một nắm cơm mang theo. Vừa hành quân cấp tốc trở lại phía bắc, các đơn vị vừa lo liệu cái ăn trên dọc đường, chủ yếu là sắn, củ nần (khác với củ mài ở miền Bắc), chuối và các loại rau rừng...

Đến vị trí chiếm lĩnh, bộ đội vừa bám địch vừa ra đồng cắt lúa hoang, bới các ruộng lúa bị giặc đốt cháy, hót từng nắm, từng bát đem về bỏ vào mũ sát giã. Nỗi đau mất dân lúc ấy thực sự ngấm vào tâm trí mọi người. Hai thôn Long Giang, Lộc Giang trước kia đông đúc, trù phú là thế, giờ đây hoang tàn chỉ còn dăm cụ già ở cách nhau hàng trăm mét, trong những túp nhà đơn sơ, hoặc những căn hầm sụt lở.

Vào một buổi chiều, các chiến sĩ trinh sát trung đoàn gặp má Diên sống lặng lẽ trong một túp nhà siêu vẹo. Vừa gặp anh em má Diên òa lên khóc. Má kể, cả nhà có bảy người thì sáu người đã bị bom đạn Mỹ giết chết. Khi địch đem trực thăng đến định xúc má đi khu dồn, má đã kiên quyết ở lại. Hàng ngày má đeo giỏ, lặn lội từ cánh đồng này sang cánh đồng khác để mò cua bắt ốc, nên má biết quân Mỹ hay dừng lại nghỉ mỗi khi qua Long Giang, Lộc Giang.

Theo phương án cơ bản đã vạch, dựa vào tin tức của trinh sát trung đoàn và ý kiến “cố vấn” của má Diên, trung đoàn quyết định tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 6 sẽ triển khai một trận phục kích tiêu diệt từ một đến hai đại đội Mỹ ở khu vực Long Giang và Lộc Giang.

Mười giờ sáng, hai tiểu đoàn Mỹ không đi vào trận địa phục kích của ta, mà chia thành ba mũi thọc vào sườn và sau lưng đội hình phục kích của trung đoàn. Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng, chính ủy Lê Hoài Thanh đã kịp thời thay đổi phương án, từ phục kích chuyển thành phản kích.

Mãi 13 giờ ngày 17 tháng 12 năm 1966, trận đánh của trung đoàn 12 mới xảy ra. Đợt đầu địch bị diệt 47 tên. 16 giờ, địch dùng chín trực thăng đổ thêm một đại đội, thêm 21 tên bị diệt. 18 giờ, địch đổ tiếp đại đội nữa, đưa tổng số quân Mỹ lên tới bảy đại đội. Trận đánh diễn ra giằng co, ác liệt, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 đã tiêu diệt gần hết bốn đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều đại đội khác, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng.

Trong chiến công ấy, có chiến công của một người mẹ, mà sau này các chiến sĩ trung đoàn 12 thường gọi là “người mẹ trinh sát”, đó là má Diên.

Sau trận Long Giang, Lộc Giang là trận tập kích cụm quân Mỹ ở Xuân Sơn (Hoài Ân) đêm ngày 25 tháng 12 năm 1966.

Vào những ngày cuối năm trời mưa tầm tã. Từ An Lão, các tiểu đoàn 8, 9 trung đoàn 22 trải qua hai ngày đêm vượt rừng lội suối vào tới vị trí tập kết. Đến nơi người nào cũng ướt sũng, mệt vì đói và mất ngủ. Mỗi đại đội chỉ còn 35 đến 40 tay súng.

So với hai tiểu đoàn địch trong căn cứ, có công sự lô cốt dã chiến, tương quan lực lượng chênh lệch không có lợi cho ta. Nhưng biết chắc bọn địch mới từ Tây Nguyên về, không thông thạo địa hình, lại chủ quan, Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn hội ý nhanh chóng xác định quyết tâm tiêu diệt căn cứ này. Mọi việc chuẩn bị được hoàn thành vào đêm ngày 23 nhưng trưa ngày 24 trời đột nhiên đổ mưa lớn, nước lũ tràn về ngập đầy các cánh đồng, bộ đội phải vượt qua để vào chiếm lĩnh trận địa. Sau khi hội ý, Thường vụ Đảng ủy trung đoàn quyết định lùi giờ nổ súng vào đêm ngày 25 rạng ngày 26. Việc hoãn giờ nổ súng cũng căng thẳng quyết liệt như khi phát lệnh nổ súng, bởi bộ đội đã vào tới vị trí tập kết, dừng lại hai ngày liệu có giữ được bí mật trong khi máy bay trực thăng, trinh sát địch thường xuyên quần lượn, xoi mói trên đầu. Rồi bom, pháo không ngớt giội xuống xung quanh căn cứ tạo thành một vành đai chết bảo vệ an toàn cho quân đồn trú. Cuối cùng trung đoàn quyết định chuyển đội hình vào sát căn cứ, cách địch từ 200 đến 500 mét để đón thời cơ nổ súng tiến công và tránh phi pháo địch sát thương.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:43:22 am
Với quyết định vừa táo bạo vừa có sự phân tích các yếu tố khác, ban chỉ huy trung đoàn 22 đã tạo được thế bất ngờ lớn. Địch không thể lường được cách chúng chỉ vài trăm mét đối phương đã ém sẵn trong các khe, bụi cây. Chúng rất yên tâm bởi những loạt bom và pháo không ngớt dập xuống các vị trí mà chúng cho rằng muốn tiến đánh Xuân Sơn đối phương không thể không tập kết, giấu quân ở đó.

12 giờ đêm ngày 25 tháng 12, vào đúng thời điểm địch cho rằng đã qua giờ tiến công của ta thì trung đoàn trưởng Sơn Diệp phát lệnh nổ súng...

Cuộc chiến đấu diễn ra trong năm ngày đêm. Địch điều lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ phối hợp với sư đoàn kỵ binh bay số 1 đi giải tỏa, trận đánh lại diễn ra vô cùng khốc liệt. Đạn pháo, rốc-két từ trực thăng vũ trang phóng xuống và bom đánh nát các khu rừng còn sót lại. Từng tốp trực thăng bốc lên, đổ xuống đen đặc. Trời vẫn mưa tầm tã. Bộ đội, thương binh không còn gì để ăn. Đói lúc gặp được một tổ du kích hoặc một vài bà con địa phương đem cho ít gạo nhưng không thể nào nấu nổi, đành chia mỗi người một nắm nhai sống để giữ sức.

Kể đến đây anh Giáp Văn Cương xúc động như muốn khóc!

Tôi vừa thán phục vừa thương mến đồng đội của mình đã gồng mình lên để chịu đựng, để mà vượt qua, để mà chiến thắng và buột miệng so sánh:

- Gay go hơn cả ở Ia Đrăng!

Anh Giáp Văn Cương định kể tiếp những chi tiết để minh họa cho bản anh hùng ca - trận Xuân Sơn, nhưng vẫn xúc động về sự chịu đựng, sự hy sinh quá lớn của đồng đội, cuối cùng anh đằng hắng lấy hơi như để kết luận. - Trận tập kích Xuân Sơn đã kết thúc giòn giã năm 1966. Nó đã giáng một đòn nặng vào chiến thuật “điểm tựa”, “đóng chốt” để càn quét dai dẳng của quân đội Mỹ. Trong tổng kết của Bộ tư lệnh Quân khu 5, trận Xuân Sơn được đánh giá là một trận điển hình về tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn Mỹ, là trận đánh có giá trị về chiến thuật cao, mở ra khả năng cho trung đoàn chủ lực thực hiện rộng rãi hình thức tập kích diệt gọn từng tiểu đoàn Mỹ.

Với chiến thắng Xuân Sơn, trung đoàn 22 được Nhà nước tặng thưởng huân chương Quân công hạng nhì.

Tiếng gà gáy dồn từ căn lán các chiến sĩ nuôi quân vọng lại, anh Giáp Văn Cương vẫn còn say sưa truyền lại những điều mà anh chứng kiến, tâm đắc trong những ngày làm chỉ huy trưởng mặt trận bắc Bình Định. Còn tôi vẫn tỉnh táo nghe anh kể, nhưng thời gian không còn nhiều, trời sáng dần. Tôi chủ động:

- Còn nam Bình Định thế nào, xin anh kể tiếp.

- Nam Bình Định? - Anh Giáp Văn Cương hỏi.

- Vâng thưa anh.

- Nhưng thời gian đâu còn nhiều?

- Anh kể những điều thật xúc động, cả thành công và không thành công.

Giây phút suy nghĩ đắn đo qua nhanh, anh lại bắt đầu - Mặt trận nam Bình Định hoạt động cũng sôi động và có hiệu quả. Lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với một số đơn vị hỏa lực của sư đoàn pháo kích vào căn cứ tiền phương sư đoàn kỵ binh bay số 1 ở Núi Một, Phù Cát, phá hủy 60 trực thăng, 4 pháo 105mm, 70 xe quân sự, gần 500 lính Mỹ bị diệt. Các tiểu đoàn 50, 51 chủ lực tỉnh đánh quân địch càn quét và chặn viện từ nam Phù Mỹ đến Phù Cát; tiểu đoàn 52 phục kích diệt 140 lính Nam Triều Tiên ở Khánh Phước, Cát Hạnh, và đánh đoàn xe Mỹ chở vũ khí từ bắc Phù Mỹ đi chợ Gồm, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ đi hộ tống.

Ngày 22 tháng 8 năm 1966, du kích thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận, huyện Bình Khê phối hợp với đại đội 2 tiểu đoàn 52 tiến công lữ đoàn không vận 101 Mỹ đến càn quét. Thôn này được giải phóng từ năm 1965, du kích cùng nhân dân xây dựng làng chiến đấu, xây dựng công sự, địa đạo, chuẩn bị đánh địch bảo vệ vùng giải phóng. Địch cậy quân đông, vũ khí hiện đại đánh ồ ạt, ta ít người thực hành đánh du kích quần đảo với địch suốt một ngày, diệt 150 lính Mỹ, bắn rơi tại chỗ bốn máy bay lên thẳng, cuối cùng chúng phải rút ra khỏi làng.

Đồng chí Võ Lai, người chỉ huy tài trí và dũng cảm trong trận Thuận Hạnh đã được Quốc hội tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:44:10 am
Nhưng trong cái được ấy cũng có nỗi đau nhớ đời. Ngừng một lát, giọng anh trầm xuống xúc động - đó là sự kiện Núi Bà.

Núi Bà, như Nam Khánh đã biết, là một dãy núi lớn, nằm giữa vùng đồng bằng ven biển giữa huyện Phù Cát và Tuy Phước có nhiều hang đá lớn, là căn cứ vững chắc của lực lượng địa phương tỉnh và huyện trong nhiều năm qua. Suốt năm năm, bom, pháo, chất độc hóa học Mỹ không ngừng trút xuống căn cứ hiểm trở này, nhưng vẫn không sao phá hủy được.

Ngày 17 và ngày 18 tháng 9 năm 1966, địch huy động một lực lượng lớn gồm sư đoàn Mãnh Hổ, một bộ phận sư đoàn Bạch Mã (Nam Triều Tiên), lữ đoàn kỵ binh bay số 1 và hai trung đoàn của sư đoàn 22 ngụy mở cuộc càn quét vào khu vực Núi Bà. Địch nham hiểm ở chỗ chưa tiến công Núi Bà ngay mà chúng rải quân càn vào các khu vực xung quanh, từ Mỹ Chánh, Mỹ Tài (huyện Phù Mỹ), Cát Tài, Cát Minh, Cát Khánh (huyện Phù Cát), Phước Hiệp, Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Quang (huyện Tuy Phước) một cách khốc liệt, nhằm dồn cả cán bộ, du kích và đồng bào các vùng xung quanh vào khu Núi Bà để tiêu diệt. Khi đồng bào, du kích, cán bộ cơ sở chạy dồn vào chân núi, chúng dùng trực thăng thả dây thép gai xung quanh núi, kết hợp với bao vây bằng bộ binh, cơ giới từ bốn phía.

Lúc này trên căn cứ Núi Bà có một bộ phận lực lượng Sư đoàn 3, tiểu đoàn 50, Đ10, một số phân đội vũ trang của Phù Cát, Quy Nhơn, Tuy Phước, An Nhơn, bệnh xá tỉnh và trạm xá của ba huyện. Ngoài ra còn có cán bộ cơ sở, du kích và đồng bào các xã bị địch càn chạy vào núi. Tất cả hơn một vạn người. Sau khi vây chặt chân núi, địch cho máy bay phát loa kêu gọi chiêu hồi. Thấy lực lượng cách mạng trên núi không nao núng, sáng ngày 22 tháng 9 từng đợt B.52 và máy bay phản lực kéo đến ném bom dữ dội toàn bộ vùng căn cứ Núi Bà. Sau đó máy bay trực thăng đổ quân chiếm các điểm cao kết hợp với bộ binh từ dưới đánh lên. Khẩu hiệu của chúng là “lật đá tìm cộng sản”. Chúng lùng sục từng hang đá, ném lựu đạn, dùng xăng đốt, thả chất độc hóa học. Cán bộ, chiến sĩ ta trên núi đã đánh trả kiên cường, nhưng lâm vào thế bất lợi, nhiều bộ phận đã chiến đấu đến người cuối cùng và anh dũng hy sinh. Nhiều đơn vị phân tán thành nhiều tổ quần lộn đánh nhỏ lẻ và duy trì cuộc chiến đấu nhiều ngày. Một số cán bộ quê các huyện Phù Cát, An Nhơn tập kết ra Bắc tình nguyện trở lại quê hương chiến đấu bắt liên lạc với gia đình, vợ con vừa mới gặp chưa kịp chuyện trò, thăm hỏi quê nhà ai còn ai mất đã bị địch lùa vào Núi Bà giết hại.

Địch không từ một thủ đoạn dã man nào không đem ra áp dụng. Mỹ - ngụy rút đi, quân Nam Triều Tiên ở lại tiếp tục lùng sục, chà xát hàng tháng trời mới rút.

Trong những ngày đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh ấy, đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng chói chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đồng chí Xơ, nữ y tá một mình chống chọi lại mấy chục tên lính Nam Triều Tiên. Hết đạn, hết lựu đạn đồng chí luồn lách, thoát ra khỏi vòng vây của chúng. Đội du kích xã Phước Quang, sau khi chiến đấu, hy sinh hết chỉ còn đồng chí Lẹ, một mình tìm cách tự nuôi sống và chiến đấu hàng tháng trời với địch... và còn biết bao tấm gương chiến đấu oanh liệt khác.

Lực lượng cách mạng và nhân dân các huyện phía nam tỉnh Bình Định chịu tổn thất nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh giữ nước 30 năm. Đây là cuộc tàn sát lớn nhất của kẻ thù đối với đồng bào Bình Định. Nỗi đau này không thể nào quên.

Ngày ấy, được tin này hầu hết cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 lặng người đi vì căm thù quân cướp nước, vì thương xót đồng bào, đồng chí và bà con phía nam tỉnh đã đùm bọc, chia ngọt sẻ bùi, nhờ đó mà sư đoàn tồn tại, trụ vững trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao trên địa bàn tỉnh Bình Định, đánh thắng kẻ thủ qua hai mùa khô đọ sức.

Với trách nhiệm của mình, sau tổn thất ở Núi Bà, Tỉnh ủy, Ban cán sự và Ban chỉ huy tỉnh đội đã nghiêm khắc kiểm điểm: Thỏa mãn với những thắng lợi ở phía bắc tỉnh, thiếu cảnh giác, không nắm vững bản chất và âm mưu thủ đoạn tàn ác của địch, từ đó thiếu biện pháp chỉ đạo cụ thể cho nhân dân và lực lượng vũ trang các huyện phía nam tích cực chuẩn bị phương án đối phó với các cuộc càn quét lớn của địch...

Khoảnh khắc bỗng trở nên yên lặng, như cố nén nỗi đau đã tới đỉnh điểm trở thành những dòng lệ rơi, rồi giọng trầm buồn, anh Giáp Văn Cương kể tiếp - Khuyết điểm của Tỉnh ủy và tỉnh đội cũng là khuyết điểm của mình, bởi trong thời gian đó cấp trên giao trách nhiệm chỉ huy trưởng mặt trận Bình Định và anh Trần Quang Khanh, Bí thư Tỉnh ủy làm chính ủy. Mình thực sự có lỗi để xảy ra một tổn thất quá lớn, một tổn thất lẽ ra là không đáng có, vì lúc này lực lượng ta đang phát triển mạnh. Rồi anh kết luận - chủ quan bao giờ cũng phải trả giá.

Đến đây thấy anh Giáp Văn Cương thanh thản trở lại, do cất được gánh nặng mặc cảm nơi tâm tư. Anh nhìn thẳng vào tôi:

- Nam Khánh thấy thế nào, kể như vậy được chưa?

- Dạ được, xin cám ơn anh đã cho tôi được sống lại với những bước đi thăng trầm đầy tự hào của Sư đoàn 3 Sao Vàng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:47:08 am
2

Ra Tết, tôi còn lưu lại cơ quan Quân khu bộ ít ngày để tìm hiểu sâu thêm tình hình, nhiệm vụ chung, gặp anh Đoàn Khuê, Phó chính ủy quân khu nhận nhiệm vụ đợt hoạt động Xuân Hè 1967. Ngày 26 tháng 3, tạm biệt Quân khu bộ, tôi lên đường về Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Con đường không tên mà tôi đang đi dài hàng trăm ki-lô-mét song song với đường xuyên Việt được xem như một nhánh phía đông của con đường Trường Sơn vạn dặm mang tên Bác, trước mắt nó mới nối Quảng Nam - Bình Định, sát bắc đường 19. Dẫu lòng đường còn hẹp, mặt đường còn gồ ghề khó đi, nhưng nó đang ẩn chứa một ý tưởng kéo dài, dài mãi về phía nam, thế hiện tinh thần quyết thắng và biết thắng của quân và dân Khu 5, cho dù đế quốc Mỹ có giở trăm phương nghìn kế xảo quyệt gì gì đi nữa.

Con đường mới định hình mà đã tấp nập người vào, người ra như mạch máu đã lưu thông đều đặn trong cơ thể một con người, đã và đang đi vào cuộc chiến tranh cứu nước.

Ngày thứ ba, khoảng 10 giờ, tôi vừa tới Nà Niu thuộc địa phận huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) thì gặp anh Hoàng Văn Thái(1) từ trong đi ra. Cuộc gặp bất ngờ mà như hẹn trước để lại trong tôi một ấn tượng khó quên về một vị tướng ở cấp vĩ mô, một tinh thần năng động say mê với nhiệm vụ được giao, một đức tính khiêm nhường, đoàn kết, cởi mở dễ gần.

Anh xởi lởi nắm chặt tay tôi lắc mạnh, nhắc tên tôi hồi công tác ở lữ đoàn 305. Rồi anh kéo tôi lên cái chòi canh lúa của đồng bào dân tộc cách đường 200 mét ẩn dưới tán cây tranh thủ làm việc.

Anh hỏi tình hình sức khỏe của tôi, hỏi tình hình vợ con ngoài Bắc, hỏi thời gian làm việc ở cơ quan Quân khu bộ thế nào, còn gì chưa rõ...

- Báo cáo anh, thắc mắc thì không, nhưng băn khoăn, lo lắng về tổ chức thực hiện thì có. - Tôi trả lời.

- Băn khoăn lo lắng là đúng, là thể hiện tinh thần trách nhiệm tìm ra các giải pháp để thực hiện. - Anh biểu dương.

Đúng là trước mắt Sư đoàn 3 đang gặp nhiều khó khăn, nhưng chỉ là khó khăn tạm thời, khó khăn trong phát triển đi lên. Thắng lợi Đồng khởi ta phải đối phó với “chiến tranh đặc biệt”, thắng “chiến tranh đặc biệt” ta gặp vô vàn khó khăn đặt ra của “chiến tranh cục bộ” - đối tượng tác chiến là đội quân viễn chinh Mỹ - một đội quân chưa biết thất bại là gì. Nhưng chúng đã thua ta trong hai mùa khô đọ sức.

Con đường vượt qua khó khăn của Sư đoàn 3 không có gì khác hơn là phải dựa vào tập thể, phát huy trí tuệ tập thể; nắm chắc và vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp cách mạng “hai chân ba mũi”(2) phù hợp với điều kiện địa bàn đứng chân của sư đoàn.

Anh nhấn mạnh, Sư đoàn 3 là đơn vị chủ lực của quân khu, đứng chân trên một địa bàn cụ thể nên phương thức hoạt động phải kết hợp chặt chẽ các mối quan hệ giữa tiêu diệt sinh lực địch với việc xây dựng cơ sở quần chúng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy chống phá bình định; giữa đánh địch trong đội hình sư đoàn đủ, sư đoàn thiếu với bố trí các trung đoàn làm nhiệm vụ độc lập trên một hướng hỗ trợ phong trào chiến tranh du kích. Chiến tranh nhân dân tại chỗ, không nhất thiết lúc nào cũng phối hợp với chiến trường bằng tập trung đánh lớn. Anh nhấn mạnh, dù khó khăn đến mấy cũng không được để địch đánh bật Sư đoàn 3 ra khỏi chiến trường Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, vì chiến tranh nhân dân giữ vững và phát triển là bao gồm có lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Cuối cùng anh kết luận - Dù khó khăn thế nào cũng giữ cho được đội hình sư đoàn làm nhiệm vụ tạo thế tạo lực trên một địa bàn có ý nghĩa chiến lược của quân khu, sẵn sàng đón thời cơ chiến lược.

Từ Nà Niu còn phải đi tiếp ba ngày mới đến địa điểm trú quân của sư đoàn. Càng đi vào các tỉnh phía trong, mức độ ác liệt của bom đạn tọa độ của máy bay B.52, B.57 càng tăng.

Trưa ngày 30 tháng 3 tôi tới sở chỉ huy sư đoàn ở dốc Lá Lốt, cách sông Re 3 ki-lô-mét về phía đông. Tôi vừa kịp đặt ba lô xuống bãi cỏ thì bom B.52 trải thảm ngay phía trước mặt trùm lên cơ quan Sư đoàn bộ. Khói bụi mù mịt bốc cao, tỏa rộng, trời bỗng sầm lại, đất đá bị cày xới, cây cối đổ ngổn ngang.


(1) Tháng 2 năm 1966, anh Hoàng Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng tham mưu trường được Trung ương cừ vào Khu 5 truyền đạt Nghị quyết Trung ương lần thứ 12. Sau hội nghị khu ủy, anh được Bộ Chính trị quyết định ở lại làm Bí thư quân khu ủy, chính ủy Quân khu, đồng thời làm Bí thư Khu ủy 5 thay anh Võ Chí Công ra Bắc chữa bệnh.
(2) Hai chân là quân sự, chính trị song song; ba mũi là quân sự, chính trị, binh vận.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:49:14 am
Ngay chiều hôm đó, sau khi khắc phục xong hậu quả, Sở chỉ huy sư đoàn di chuyển gấp về Vực Lim, cách thị trấn Ba Tơ 10 ki-lô-mét về phía đông nam. Ba ngày sau di chuyển gấp về Sa Lung (An Lão - Bình Định). Vừa đến nơi, tranh thủ giữa hai đợt bom B.52 trải thảm, chúng tôi tổ chức lễ thành hôn cho đồng chí Đặng Hòa, Chính ủy sư đoàn kết duyên cùng cô Mai, tình yêu đã qua thời gian dài thử thách. Lễ cưới đời mới, chỉ có nước lá rừng và ít kẹo (đã chảy nước) bày tượng trưng không đủ chia đều cho hơn ba mươi người của họ nhà trai là cán bộ, chiến sĩ cơ quan Sư đoàn bộ. Sau hôn lễ, anh Đặng Hòa chính thức bàn giao công việc chính ủy sư đoàn cho tôi, để cùng cô Mai về Quân khu bộ công tác.

Nhưng ở đây cũng bất ổn, B.52 cứ theo riết, sở chỉ huy sư đoàn lại rời về dốc An Toàn, tây An Lão, giáp với tỉnh Gia Lai. Ở đây là hậu cứ của Tỉnh ủy và cũng là hậu cứ của Sư đoàn 3.

Cũng vẫn là những khó khăn mà các anh trên quân khu đã nói, nhưng qua các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn trao đổi thì những khó khăn đó ở đây có thể nhìn thấy, sờ thấy và cả ngửi thấy. Nó không còn là định tính mà là định lượng, có thế cân, đong đo đếm được.

Mặc dầu bị thất bại sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô, nhưng Mỹ vẫn còn tiềm lực quân sự mạnh, chúng điên cuồng phản kích, triệt để thực hiện chính sách “tam quang”(1) để xúc tát quần chúng, lập ngụy quyền ở khắp các vùng đông dân, biến vùng giáp ranh - bàn đạp của Sư đoàn 3 thành vùng trắng, tự do bắn phá. Ở những vùng địch tạm thời kiểm soát, bình quân cứ ba người dân có một tên lính trực tiếp kìm kẹp. Những làng mạc, thị trấn, thị xã, thành phố bỗng phút chốc trở nên ngột ngạt, chật chội bởi dân các vùng nông thôn và giáp ranh bị dồn đến. Hàng trăm khu dồn được thành lập. Người dân sống chui rúc sau những hàng rào kẽm gai. Đi làm hoặc trở về đều phải qua trạm kiểm soát. Ban đêm mỗi nhà phải đặt một ngọn đèn dầu trước cửa. Nhiều người chưa kịp trả lời đã bị bọn lính rình rập bắn chết ngay tại chỗ.

Ở vùng giáp ranh, nơi trước đây là những làng mạc, vườn tược xanh tốt, hoa trái sum suê giờ đây chỉ còn lơ thơ một vài bờ tre, một vài ngọn dừa khô héo khẳng khiu.

Những cánh rừng già nguyên thủy ngút ngàn ở tây các huyện Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, An Lão nối liền với dải Trường Sơn hùng vĩ, chỉ sau một trận mưa có hóa chất độc đã rụng lá, trơ lại những thân cây khẳng khiu. Máy bay địch còn dàn hàng ngang phun thuốc trắng xóa như mưa phùn. Mỗi lần các chiến sĩ đi công tác, đi cõng gạo bị “mưa” hóa học giội ướt từ đầu đến chân, mùi tanh, mùi khét xông lên nồng nặc. Tàn bạo hơn địch còn dùng máy bay thả bột hóa học vào khe suối, hang đá. Nhiều khi tình hình gay cấn sư đoàn phải dùng nước cuối nguồn sinh hoạt, ăn uống. Khi đó anh em chỉ có một ý nghĩ duy nhất: ăn để sống, sống để đánh giặc.

Sư đoàn 3 sau hai mùa khô chiến đấu liên tục, quân số mỗi ngày một hao hụt, gạo đạn mỗi ngày một khan hiếm, đến mức sư đoàn phải chỉ thị cho các đơn vị chi được ăn lá, tuyệt đối không được nhổ gốc cây các loại rau rừng tự nhiên để khai thác lâu dài. Đói rách, bệnh tật, bom đạn cứ bám riết lấy người chiến sĩ.

Đúng là giờ đây chúng tôi đang bị dồn đẩy đến chân tường của sự khó khăn.

Sau khi trao đổi với Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn, tháng 7 tôi xuống nắm tình hình các trung đoàn. Đến trung đoàn 22, đứng chân ở bắc Hoài Nhơn đang tìm cách áp sát Đồi 10 và căn cứ Đệ Đức của địch; đến trung đoàn 2 ở khu vực Ân Tường, Hoài Ân. Dân quanh khu vực trung đoàn 2 làm nhiệm vụ đều bị địch xúc tát vào các khu dồn, nhà cửa vườn tược xơ xác, hoang tàn, trơ lại những cây dừa cô quạnh, thân mình đầy vết xước bom đạn Mỹ. Trải, chiến sĩ cần vụ đi cùng tôi quê Bắc Giang lần đầu gặp cây dừa và quả dừa, liên tưởng đến câu đố thời niên thiếu đi học - “sông không đến, bến không vào, sao có nước”, bèn bổ quả dừa để chứng minh lời giải. Đúng là có nước mà nước trong tinh khiết, uống mát và ngọt, nếm thử cùi dừa thấy giòn, béo như mỡ, có mùi vị thơm thơm. Trải ăn liền một lúc bốn năm quả, lúc sau đầy bụng ấm ách khó chịu lại ngẩm ngẩm đau, người thấy rạo rực. Nhưng ở cái vùng đất chết này tìm đâu ra cách chữa, Trải đành ôm bụng ngồi chờ cho cỗ máy tiêu hóa làm việc.


(1) Đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Tử ngày Mỹ kéo vào Bình Định đến hết năm 1966 Mỹ và tay sai đã đốt cháy gần bốn vạn nóc nhà, cướp đốt hàng vạn tấn gạo, hàng vạn héc-ta lúa và hoa màu, lùa bắt 150.000 dân. Sau những lần càn quét lớn của quân Nam Triều Tiên, ở vùng căn cứ và vùng giải phóng bắc tỉnh Phú Yên chỉ còn một vạn dân.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:51:03 am
Sau khi đi thăm vị trí đóng quân của các đơn vị, tôi trao đổi với các đồng chí trong chỉ huy trung đoàn 2:

- Đứng ở đây cũng được nhưng hơi xa, không thực hiện được bám địch để đánh địch, tạo thế cho quần chúng bám đất đấu tranh. Phải lùi xuống An Bảo, xã Mỹ Lộc (Phù Mỹ).

Các đồng chí chỉ huy trung đoàn 2 chấp nhận ý kiến gợi ý của tôi và ngay sau đó tổ chức thực hiện.

Tôi cùng đi với trung đoàn 2, rời Hoài Án là tới khu vực xã Mỹ Lộc huyện Phù Mỹ, phải qua đèo Ông Bồ. Trên đường đi tôi và đồng chí chính ủy trung đoàn 2 Nguyễn Văn Hà, quê ở Hoài Nhơn, năm đó 35 tuổi, có người yêu là một nữ y tá của trung đoàn 2, lên đồi quan sát vùng giáp ranh Mỹ Lộc. Địch phát hiện nã pháo, đồng chí chính ủy trung đoàn hy sinh. Trong đợt bắn pháo này, Trải, chiến sĩ cần vụ của tôi cũng hy sinh. Cả chính ủy trung đoàn và Trải đều được chôn cất chu đáo, đúng thủ tục, có đánh dấu mộ chí cẩn thận. Nhưng ở vùng trọng điểm này chiến sự liên tục xảy ra ác liệt suốt từ 1967 đến 1975, đất đá lớp lớp bị bom đạn Mỹ cày xới, sau này mộ chí không còn. Thế là hai đồng chí trở thành liệt sĩ vô danh nằm yên nghỉ trong nghĩa trang của huyện Hoài Ân đặt cạnh Gò Loi - một địa điểm xảy ra trận đánh lịch sử mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1972 giành thắng lợi giòn giã giải phóng bắc Bình Định, cắt đứt đường 1 đoạn tiếp giáp giữa quân khu 1 và quân khu 2 của địch.

Trước tình hình địch tập trung lực lượng điên cuồng phản kích, để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài ta phải tạm thời lùi về phía sau là cần thiết, là lấy nhu chế cương, tiếp tục chuẩn bị tạo lực, tạo thế mới, đón thời cơ. Nay thời cơ mới đã và đang manh nha cần phải cướp lấy. Chính sách dùng sức mạnh, dùng bộ máy kìm kẹp hà khắc của Mỹ trong chương trình tranh thủ “trái tim khối óc” dân chúng ngày càng làm cho dân chúng Việt Nam dần dần nhận diện đầy đủ hơn, góc cạnh hơn, Mỹ là kẻ thù của họ. Mỹ càng rải quân kiểm soát, bình định càng tạo nhiều sơ hở... Thời cơ đưa lực lượng về gần dân, thực hiện bám địch đã hé mở. Phải hạ sơn đưa lực lượng về áp sát vùng giáp ranh, xuống vùng đồng bằng, chủ động lập lại thế trận “bám địch” để đánh địch.

Đầu tháng 9 năm 1967, Đảng ủy sư đoàn họp mở rộng, có mời các anh Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định sang trao đổi. Tôi được Thường vụ Đảng ủy sư đoàn phân công trình bày những suy nghĩ của mình sau chuyến đi nghiên cứu tình hình thực tế các trung đoàn và báo cáo dự kiến kế hoạch hoạt động quân sự Hè Thu, được các đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định nhất trí. Anh Nguyễn Trung Tín, Bí thư Tỉnh ủy còn hứa - tỉnh ủy sẽ cử lực lượng phối hợp thực hiện.

Để có thêm cơ sở thực tế, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định tổ chức một đoàn cán bộ đi nắm tình hình và khảo sát thực địa vùng đông Phù Mỹ để đưa lực lượng xuống làm nhiệm vụ phối hợp với vùng tây Phù Mỹ khi kế hoạch chung bắt đầu triển khai thực hiện. Đoàn gồm có tôi, Chính ủy, Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, bộ phận nhẹ sư đoàn bộ (các trưởng ban tác chiến, trinh sát, thông tin). Cùng đi còn có một đại đội bảo vệ sở chỉ huy nhẹ sư đoàn, một bộ phận tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2 gồm 70 người.

Đoàn lên đường vào đúng ngày 15 tháng 8 âm lịch, trăng thu vằng vặc sáng, trời trong xanh không một gợn mây, thuận lợi cho quan sát và nhận biết đường, hướng hành quân.

Vậy mà đến hai giờ sáng ngày 16 tháng 8 từ Mỹ Lộc đoàn mới vượt qua được đường 1 thì trời sắp sáng phải dừng lại, trú tạm tại hang núi đá xã Mỹ Phong. Đêm thứ hai, có xã đội trưởng Mỹ Thọ dẫn đường, từ hang xã Mỹ Phong xuống hang Điện Biên (tên do đoàn tự đặt). Đêm thứ ba, cũng phải chờ quá 12 giờ khuya, trinh sát phái đi trước nắm tình hình, nghe ngóng không thấy động tĩnh, đoàn chia thành hai mũi: mũi thứ nhất bộ phận tiểu đoàn của trung đoàn 2 chếch hướng đông nam xuống thôn Dương Liễu, xã Mỹ Thành; tôi, anh Huỳnh Hữu Anh, bộ phận sở chỉ huy nhẹ sư đoàn, một đại đội bảo vệ chọc thẳng xuống Tân Phụng, xã Mỹ Thọ - một thôn nằm sát mép biển, thế không hiểm, đất không rộng, người không đông đang là căn cứ “lõm” của vùng làm chủ đông Phù Mỹ.

Mặc dầu ba mặt đều có đồn bốt địch nhưng chúng tôi vẫn ăn, ở làm việc một cách đàng hoàng ngay trong lòng dân Tân Phụng, vì nơi đây không một ai làm việc cho địch(1), tất cả một lòng theo kháng chiến, nhà nào cũng có hầm hào trước hết là để phòng tránh phi pháo địch bắn bừa bãi hàng ngày, sau nữa là để phục vụ du kích, bộ đội triển khai chiến đấu chống địch hành quân càn quét, bình định.


(1) Ở Khu 5, nhiều nơi Mỹ - ngụy không tìm ra tay sai để thành lập bộ máy cai trị ở thôn xã. Lính Mỹ phải đứng ra làm ấp trường hoặc đại diện xã, như ở các ấp Lệ Mỹ (Quảng Đà, nay là Quảng Nam), Tân Hy (Quảng Ngãi), Ba-rơ-manh (Gia Lai). Tờ Thời báo Nữu Ước số ra ngày 24 tháng 5 năm 1967, chua xót thú nhận: “Theo ý kiến của nhiều quan chức quân sự và dân sự thạo tin thì chương trình “bình định” tại các tỉnh có tầm quan trọng chiến lược ở phía bắc Nam Việt Nam đã dừng lại và thụt lùi, các quan chức cấp thấp, gần với thực tế hơn thì thậm chí bi quan, thất vọng”.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Bảy, 2022, 07:53:13 am
Ba ngày làm việc liên tục với xã đội trưởng các xã Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Đức, Mỹ Chánh vừa nắm tình hình địch, tình hình ta; vừa đối chiếu địa hình in trên bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000 với địa hình trên thực địa để hỏi những thông tin cần thiết như: đồi núi nào có khe suối còn có nước, có bao nhiêu hang đá rộng hẹp thế nào, có sức chứa được bao nhiêu người, v.v... Cũng có lúc thư giãn, chiều đến chúng tôi thả bộ như khách du lịch ngắm cảnh, mới thấy Tân Phụng đẹp như một bức tranh, có biển cả, có đồi núi, có đồng ruộng xen kẽ. Quý nhất đối với chúng tôi lúc ấy là Hòn Rồng, nơi có hang đá đủ sức chứa cả tiểu đoàn.

Tuy được xã phân về các gia đình là cơ sở nòng cốt, có hầm bí mật chắc chắn, nhưng ba ngày đầu chúng tôi làm việc trong nhà có bàn ghế thoải mái; có cả nước chè pha sẵn... nên không phải sử dụng đến nó. Sang ngày thứ tư, vào khoảng 10 giờ 30 phút sáng tôi sang thăm nhà anh Bình, đang hỏi tình hình, và nghe Bình kể về nghề biển của gia đình gặp khó khăn vì hải thuyền của ngụy quân quậy phá dữ lắm, thì có tiếng phành phạch máy bay trực thăng từ hướng tây nam lao tới, đổ một đại đội Mỹ, chia thành hai mũi đánh vào thôn Tân Phụng, một mũi đã đến lối rẽ vào nhà Bình. Rất bình tĩnh, Bình đóng cửa trước coi như chủ nhà đi làm vắng, rồi anh nắm tay tôi theo cửa sau vọt ra vườn xuống hầm bí mật dự bị. Thế là ổn nhưng lo cho đồng bào không tản kịp. Ngồi dưới nghe rất rõ tiếng chân lính Mỹ chạy đi chạy lại trên mặt đất, vừa chạy chúng vừa la “Vi-xi! Vi-xi” (VCL. VC!)(1).

Địch rút, vừa lên khỏi mặt hầm tôi sửng sốt:

- Cháy, cháy, Bình ơi nhà cháy rồi!

Tôi vỗ vai, chưa kịp động viên an ủi thì Bình thản nhiên.

- Không sao đâu, của đi thay người mà chú!

Tôi xúc động, ôm chặt lấy Bình - Chú cám ơn cháu, ch... ú, c... ám ơn ch... áu!

Có một việc làm mãi lúc sửa soạn tạm biệt Tân Phụng chúng tôi mới được biết. Số là nhìn thấy anh em từ miệt rừng trở về người nào cũng mắc chứng sốt rét da xanh như tàu lá, thân thể gầy còm chỉ còn da bọc xương, bà con thấy thương xót và bàn nhau “phải kiếm cái gì cho tụi nó ăn mau lại sức”. Bàn tới bàn lui bà con bảo nhau làm bánh xèo(2).

Đúng là bữa cơm nào chúng tôi cũng thấy có một đĩa bánh xèo to và đầy đặn nơi gia đình mình ở mang ra chiêu đãi. Anh em quê ngoài Bắc lần đầu được thưởng thức tấm tắc khen ngon và hỏi cách làm để sau này trở lại quê hương cũng làm và phổ biến cho nhiều người cùng làm một thứ bánh đơn giản dễ làm mà ngon, bổ. Còn tôi, cái ngon được tái hiện càng ngấm sâu. Đã 13 năm mới được thưởng thức, cũng là bánh xèo nhưng bánh xèo đặc sản quê hương bọc nhân cá nục chấm với mắm “cái”.

Ôi! Việc làm thầm lặng mà cháy bỏng tình nghĩa quân dân. Sau này mỗi khi thưởng thức bánh xèo, tôi lại nhớ về bà con cô bác nơi làng quê Tân Phụng thân thương.

Sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che của bà con cô bác nơi đồng quê Tân Phụng đã giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ của chuyến đi; từ cái điểm tựa trong lòng dân này mà chúng tôi hiểu được, nắm được, tận mắt thấy được các điều kiện để hạ quyết tâm đưa lực lượng về lại đồng bằng, không chỉ đứng chân trên các “địa lợi” mà còn đứng chân trong điều kiện “nhân hòa” của vùng đông Phù Mỹ để mở đợt hoạt động Đông Xuân 1967-1968 mà cả sau những năm 1968-1969...

Ngày 25 tháng 8, đoàn khảo sát thực tiễn đông Phù Mỹ về tới sở chỉ huy sư đoàn. Ngay tối hôm đó Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn tranh thủ làm việc, nghe đoàn báo cáo kết quả chuyến đi và dự kiến kế hoạch hạ sơn, đưa đội hình sư đoàn trở lại địa bàn bám địch để đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá chương trình “bình định” của địch. Cũng tại buổi làm việc tối nay chúng tôi quyết định triệu tập hội nghị liên tịch giữa Đảng ủy sư đoàn và Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định để có một kế hoạch thống nhất trong đợt hoạt động Đông Xuân tới.

Cái khó đặt ra trong lúc này là lấy gì ăn để hội nghị họp trong hai ngày?

Đành rằng các anh bên tỉnh ủy cũng chung hoàn cảnh như sư đoàn. Tối sắn cộng môn thục, sáng môn thục cộng sắn thay cơm. Mà đâu có dư dật gì, vẫn phải dè xẻn, ăn bữa sáng lo bữa tối, ăn bữa tối lo bữa mai, bữa mốt, v.v... và, v.v... Cái chu kỳ luẩn quẩn ấy cứ bám riết chúng tôi, cố gỡ mà không sao gỡ nổi.


(1) Việt cộng... Việt cộng.
(2) Bánh làm bằng bột gạo tẻ xay ướt, tráng mỏng trên chảo rồi gập đôi lại, trong đó có nhân tôm, thịt và giá sống.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:38:23 am
Sang sư đoàn họp, các đồng chí tỉnh ủy là khách mời của sư đoàn. Lẽ nào cứ bài bản cũ sao tiện.

Nghĩ mãi, nghĩ mãi, trằn trọc đến tận khuya vẫn chưa thấy lối ra. Trời gần sáng nghe tiếng nai quang quác gọi đàn mới có tia sáng. Tự trách mình dễ ợt mà không tìm ra.

Trời sáng chưa rõ mặt người, tôi cho gọi đồng chí trưởng ban trinh sát sư đoàn Nguyễn Hồng Quân, người cùng quê Bình Khê với tôi lên giao nhiệm vụ. Chờ sáng rõ đồng chí gọi thêm hai chiến sĩ có trình độ xạ kích khá vào rừng săn thú. Trước khi đi nhớ xuống hậu cần xin hai bộ quần áo, sau khi bắn được thú rừng, mang quần áo đến chỗ đồng bào dân tộc đổi lấy ít sắn tươi về phục vụ hội nghị ngày mai họp, có các anh bên tỉnh ủy sang dự.

Đồng chí trưởng ban trinh sát có “máu” hiếu khách phấn khởi, tự tin:

- Chính ủy cứ yên tâm, bọn em đã đi là có chiến thắng mang về.

- Hy vọng là như vậy - và tôi nhấn mạnh - nhất định phải thắng, giòn giã càng tốt.

Chỉ nửa buổi sáng, đội săn bắn đã mang về hai con voọc (một loại họ nhà khỉ), hai chú kỳ đà và hai gùi sắn mới nhổ, còn tươi, củ mập nhiều bột nộp cho nhà bếp.

Thắng tuy không lớn, tôi thực sự yên tâm như cất được gánh nặng của sự lo nghĩ. Ngay chiều hôm đó bếp trưởng, một chàng trai quê vùng quan họ đưa lên một thực đơn ăn trong hai ngày đều giống nhau:

Sáng:

Bánh bao bột sắn bọc nhân gan voọc xào.

Trưa:

- Súp xương voọc với sắn thái lát.

- Thịt voọc xào lăn, kỳ đà nướng.

- Sắn luộc (thay cơm).

Chiều:

- Súp xương voọc với sắn thái lát.

- Thịt voọc xào lăn, kỳ đà nướng.

- Sắn luộc (thay cơm).

Nhìn bản thực đơn hai bữa giống nhau, với những dòng chữ nắn nót rất học sinh, tôi thực sự yên tâm và thán phục tài chế biến của người lính trong chiến tranh. Họ không chịu tiêu thụ sản phẩm dưới dạng thô khi có điều kiện và khi công tác đối ngoại yêu cầu.

Hội nghị họp đúng vào ngày 2 tháng 9, tạo không khí trang nghiêm, hào hứng. Ai trong giờ phút thiêng liêng này cũng mong muốn mình phải làm một cái gì đó để thiết thực chào mừng ngày Quốc khánh.

Mở đầu cuộc họp, tôi báo cáo kết quả chuyến đi khảo sát thực tế và nói những cảm xúc của mình trong những ngày sống cùng bà con cô bác thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ.

Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh báo cáo dự kiến kế hoạch chuyển đội hình sư đoàn xuống tây và đông Phù Mỹ, một phần tây Phù Cát, bám địch để phản công địch.

Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, anh Nguyễn Trung Tín trình bày kế hoạch đấu tranh chính trị nổi dậy diệt ác phá kim trở về làng cũ làm ăn, mở rộng vùng làm chủ, tạo địa bàn đứng chân cho lực lượng vũ trang bám địch, tiến công tiêu diệt sinh lực địch đánh bại âm mưu bình định của chúng.

Cuối cùng hội nghị nhất trí lấy ngày 28 tháng 10 là ngày N mở đầu đợt hoạt động Đông Xuân 1967-1968. Nhưng ngay sau đó, Quân khu điện xuống: củng cố thế đứng phía tây, hoãn đưa lực lượng xuống vùng đông Phù Mỹ.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:40:18 am
Như vậy nghĩa là thế nào? Tập trung lực lượng đánh lớn, nhưng vào đâu, quận lỵ Phù Mỹ hay thị xã Quy Nhơn.

- Cả hai - Sư đoàn trưởng Lư Giang khẳng định.

Ngày N đang tới gần, chúng tôi tranh thủ điều chỉnh lực lượng theo lệnh của quân khu, toàn bộ trung đoàn 2 áp sát tây Phù Mỹ và một phần tây Phù Cát.

Ngày 20 tháng 10, Phó chính ủy Quân khu, anh Đoàn Khuê xuống phổ biến nhiệm vụ cụ thể trong khi Sở chỉ huy đang gấp rút chuẩn bị chuyển quân xuống phía dưới. Anh Đoàn Khuê chấp nhận ý kiến đề nghị của chúng tôi, cùng hành quân với sở chỉ huy xuống địa điểm mới phổ biến một thể.

Từ dốc An Toàn (huyện An Lão), phải qua sáu ngày hành quân đầy vất vả, khuya ngày 26 tháng 10, sở chỉ huy Sư đoàn 3 mới vào tới Cát Sơn (tây huyện Phù Cát). Cuộc họp quán triệt nhiệm vụ được tiến hành tại hang đá Cây Rui (có thể chứa được một tiểu đoàn quân) thuộc dãy núi Hòn Nọc. Thời tiết thật đẹp, trời trong và quang mây. Ngồi trong cái hang thoáng rộng và cao ráo này phóng tầm mắt ra xa, nhìn thấu đến tận làng xã bên đông đường số 1 thuộc các huyện Phù Mỹ, Phù Cát và xa mờ kia là cả một vùng đồng bằng của An Nhơn, Tuy Phước, xa nữa là thị xã Quy Nhơn... Núi Bà vẫn sừng sững hiên ngang trước mặt, rất gần như nhắc nhở những người dự họp về một tội ác trời không dung đất không tha của quân Mỹ - ngụy và lính Nam Triều Tiên đã gây nên trong mùa khô 1966-1967.

Cuộc họp giữa Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 3 và Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định với đồng chí Đoàn Khuê bắt đầu lúc 8 giờ ngày 28 tháng 10 năm 1967 trong một hang đá có nhiều tia nắng ban mai chiếu qua cửa hang được thắp sáng, gương mặt những người dự họp hiện lên những nét thanh thản hồ hởi chờ đón một hướng đi mới mà đồng chí phái viên Khu ủy mang đến.

Mở đầu cuộc họp đồng chí Đoàn Khuê nói: Tôi được Thường vụ Khu ủy phái xuống để truyền đạt nhanh với Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 3 và Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định về nhiệm vụ quân sự và chính trị trong thời gian tới để các đồng chí chủ động chuẩn bị kế hoạch thực hiện. Đồng chí Đoàn Khuê nói tiếp: Trong Đông Xuân 1967-1968, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở một đợt hoạt động lớn, hướng chính là thị xã và thành phố. Trên địa bàn Khu 5, Đà Nẵng và Quy Nhơn là trọng điểm, cả hai nơi này, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy Quân khu chủ trương dùng lực lượng lớn có sư đoàn đủ, hoặc sư đoàn thiếu tiến công đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thị xã và thành phố để hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền, vì vậy ngay từ bây giờ đề nghị của các đồng chí có kế hoạch nắm địch, nắm ta, nhất là nắm chắc các tổ chức cơ sở quần chúng, sẵn sàng lãnh đạo quần chúng nổi dậy khi mũi quân sự giành thắng lợi(1).

Không khí cuộc họp trầm lặng ít phút như có điều gì bất ngờ trong nhận thức của những người dự họp. Tiếp đến rộn lên ý kiến trao đổi giữa diễn giả và cử tọa, giữa cử tọa với nhau diễn ra liên tục sôi nổi mà nghiêm túc, lạc quan mà thận trọng, như thầm nhắc nhau phải thực tế? Chủ trương dễ thông suốt, nhưng biện pháp thực hiện thì tranh luận thẳng thắn, chính kiến rõ ràng, không bốc đồng và không né tránh. Những ý kiến tranh luận về một chủ trương chiến lược diễn ra ngày ấy vẫn còn đọng lại trong tiềm thức tôi các ý kiến:

- Tương quan lực lượng lúc này chưa cho phép ta dùng lực lượng có sư đoàn thiếu, sư đoàn đủ tấn công vào thành phố, thị xã được. Ngay trên chiến trường Bình Định lực lượng địch vẫn còn đông (gồm sư đoàn 22 ngụy, sư đoàn Mãnh Hổ (Đại Hàn), lữ đoàn 173 Mỹ - 6 liên đoàn biệt động, gần 40 đại đội bảo an và vài trăm trung đội dân vệ, thanh niên chiến đấu), chúng sẵn sàng chặn các ngả đường ta tiến quân vào thành phố, thị xã.

- Ý kiến cho rằng khi vào hoạt động Đông Xuân 1967-1968, ta đánh lớn khắp nơi, địch ở Bình Định phải đi cứu viện, lực lượng bị dàn mỏng ta sẽ có điều kiện đánh vào thành phố thị xã là không thực tế; vả lại mũi tiến công quân sự phải thực hiện ngay từ giờ đầu, ngày đầu, nếu chờ địch bộc lộ sơ hở là mất thời cơ. Vả lại những tình huống nêu ra đây chỉ mới là phán đoán.

- Dự kiến khả năng có thể có và có thể không nên khả năng bị động đối phó còn nhiều và chắc không thể giành chủ động trong mỗi tình huống được. Vậy lực lượng nào sẽ đánh vào thị xã Quy Nhơn là thích hợp? Chỉ có lực lượng đặc công phối hợp với biệt động và tự vệ mật trong nội thị, nhưng chỉ có khả năng đánh vào một vài mục tiêu và không đủ khả năng chiếm giữ lâu dài. Như vậy không đủ mạnh để hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Rõ ràng lực lượng quân sự của ta trên chiến trường Bình Định không đủ sức đánh lớn; chỉ có khả năng tiêu diệt nhỏ, hỗ trợ cho việc củng cố cơ sở chính trị của quần chúng mở rộng vùng làm chủ.

- Lực lượng quần chúng vào tiếp thị trên chiến trường Bình Định ở đâu đến và đi đường nào vào thị xã Quy Nhơn? Họ từ vùng nông thôn, hay thị tứ, thị trấn, hay từ nông thôn các huyện Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, theo tỉnh lộ và quốc lộ 1, quốc lộ 19 vào tiếp thị hay bằng biện pháp tập kết bí mật quanh thị xã Quy Nhơn rồi ập vào tiếp thị. Khả năng mỗi huyện huy động được bao nhiêu xã, bao nhiêu đoàn và chất lượng ra sao, ta chưa nắm được cụ thể? Tất cả yếu tố xây dựng kế hoạch huy động quần chúng nổi dậy đều là “nếu”, cái “nếu” ấy lúc này mới “nếu”, nếu có thì mới manh nha, chưa đủ mạnh.

- Trong đánh địch có nêu phương châm tập trung diệt quân ngụy, trung lập quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên là không thực tế vì quân Mỹ không thể tự trói tay ngồi xem quân ngụy bị đánh đau.


(1) Ý kiến truyền đạt của đồng chí Đoàn Khuê là dự kiến nội dung cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên chiến trường Khu 5. Lúc ấy còn giữ bí mật.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:41:11 am
Đồng chí Đoàn Khuê, vốn khiêm tốn và thường nghe nhiều, nói ít và nói ngắn, nên trong cuộc tranh luận này, đồng chí Đoàn Khuê chủ yếu là nghe, có nêu ý kiến tranh luận chứ không kết luận.

Cuối hội nghị, tôi đề nghị đồng chí Đoàn Khuê:

1 - Báo cáo ý kiến của cuộc họp này với quân khu để quân khu chỉ đạo kịp thời cho hoạt động Đông Xuân 1967-1968.

2 - Trong khi chờ đợi ý kiến quân khu, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 3 và Thường vụ Tỉnh ủy đồng thời xúc tiến hai kế hoạch để khi quân khu duyệt kế hoạch nào đều chủ động:

- Kế hoạch 1 như ý kiến truyền đạt của đồng chí Đoàn Khuê.

- Kế hoạch 2 là đợt hoạt động Đông Xuân 1967-1968 sắp tới là huy động cao nhất sức mạnh tổng hợp quân sự chính trị, ba thứ quân, ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) trên chiến trường Bình Định, tấn công tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch phá hủy phương tiện chiến tranh, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành và mở rộng quyền làm chủ nhiều xã liên hoàn làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Đồng chí Đoàn Khuê ghi nhận, hôm sau lên đường về quân khu và nhắc chúng tôi đi khảo sát tình hình lại sẽ có quyết định cuối cùng. Sau cuộc họp công việc đang tiến hành suôn sẻ thì có điện trên quân khu gọi cho chỉ huy Sư đoàn 3 do Tham mưu trưởng Giáp Văn Cương với nội dung “Sư đoàn 3 cần triển khai gấp phương án tấn công lớn vào thị xã Quy Nhơn”.

Là mệnh lệnh khỏi phải bàn, điều cần bàn lúc này là tiến công Quy Nhơn theo hướng nào. Hiện nay bắc tây bắc là đánh vào chỗ rắn của địch. Chỉ còn hướng nam đông nam; nhưng thực tế hướng này thế nào, có thuận lợi, khó khăn gì? chưa ai nắm chắc.

Sau cuộc hội ý nhanh, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định tổ chức đoàn đi khảo sát vùng đông nam Phù Mỹ (Mỹ Thành, Mỹ Chánh và Cát Khánh). Đoàn gồm có tôi, Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, các đồng chí Trắc, trung đoàn phó trung đoàn 2, bộ phận nhẹ sư đoàn bộ (trưởng ban tác chiến, thông tin, trinh sát, trung đội bảo vệ) và tiểu đoàn 1 trung đoàn 2.

Chúng tôi đi theo lộ trình: ngày thứ nhất, 11 tháng 11 từ Cát Sơn ngược phía bắc qua Mỹ Trinh, Mỹ Lộc, nghỉ lại đợi đến 12 giờ 30 khuya từ Mỹ Lộc vượt qua đường 1 đoạn chân bắc Đèo Nhông đến hang đá Mỹ Phong; đêm thứ hai, 12 tháng 11 từ Mỹ Phong thọc xuống Mỹ Thọ vào Tân Phụng nhưng trời sắp sáng chúng tôi phải đóng quân ở khu vực suối đá có nhiều hang hốc có thể ẩn nấp phòng tránh phi pháo địch và chiến đấu khi cần thiết. Tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 từ Mỹ Phong xuống thẳng thôn Dương Liễu, Mỹ Thành, đào hầm hào chuẩn bị chiến đấu nếu địch càn quét đánh vào.

Trời sáng dần, không gian tĩnh lặng, nước suối trong vắt róc rách chảy luồn qua kẽ đá, ai cũng thèm được tắm giặt thả sức sau những ngày hành quân lấm bụi, người dính nháp chua chua. Nhưng do yêu cầu nghiêm ngặt giấu quân nên những sinh hoạt đời thường trong tầm với đành cho trôi qua. Sự mệt nhọc đã nhanh hồi phục bởi không gian trong lành của con suối. Chúng tôi đang dự kiến công việc của đêm nay, của ngày mai, ngày mốt thì có tiếng máy bay trực thăng từ tây bắc vọng lại mỗi lúc một gần. Chúng ập đến rất nhanh, đổ một đại đội lính Mỹ thuộc lữ đoàn không vận 173 bịt chặt lối ra của chúng tôi. Lúc đó là 3 giờ chiều ngày 13 tháng 11. Có lẽ chúng tôi đã để lộ, không xóa dấu vết khi bộ phận cuối cùng đi vào, nên giờ đây phải trả giá.

Mỹ đến nhưng không sáp vô, không tiến công, chúng định giở trò gì đây? Từ trong nhìn ra tôi và Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh thấy rất rõ địch đang hình thành thế trận bao vây nhiều lớp. Lớp gần suối đá cứ cách năm mét có một lính Mỹ gác; lớp thứ hai, cứ 100 mét chốt một tiểu đội Mỹ; lớp thứ ba, cứ 200 mét có một tổ lính Mỹ, ngoài cùng chúng đặt một chốt chặn. Cứ năm phút chúng lại ném lựu đạn xuống suối chặn đường ra, 10 phút lại bắn pháo sáng. Rõ ràng địch đang khép chặt vòng vây đợi ngày mai là “cất vó” chúng tôi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:41:57 am
Một cuộc hội ý gồm có tôi, Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, các đồng chí Trắc, trung đoàn phó, Nguyễn Văn Chước, chính ủy trung đoàn bàn cách thoát khỏi vòng vây địch trong đêm nay.

Đánh địch mà ra, không ai đồng ý, cho đây là hành động phiêu lưu, thương vong sẽ không nhỏ, vì ta đâu có sức mạnh, người đã ít lại toàn là lính văn phòng cả. Chỉ còn cách lặng lẽ, bí mật mà ra nhưng ra tất cả hay một số ít ra trước. Cuối cùng chỉ còn hai ý kiến giằng co: Ra hết một lần và ra trước một số ít. Lại trao đổi, lại ý kiến đi, ý kiến lại - số ít ra trước là ai. Mãi 12 giờ khuya mà vẫn chưa ngã ngũ.

Cuối cùng (sau khi trao đổi với Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh) tôi kết luận: những người ra trước có tôi, anh Huỳnh Hữu Anh, anh Trắc, trung đoàn phó, đồng chí trưởng ban trinh sát và hai chiến sĩ công vụ liên lạc, có nhiệm vụ điều tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 đến giải vây.

Số người và thành phần ra trước như vậy là tạm ổn, một vấn đề khác lại đặt ra cần phải thảo luận nhất trí để mọi người cùng thực hiện, tránh sơ suất không đáng có, địch phát hiện là phức tạp cho cả người ra trước và số ở lại ra sau. Mọi người bằng những động tác kỹ thuật chiến đấu cá nhân đã học, bằng kinh nghiệm thực tế chiến đấu đã đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, cuối cùng anh Huỳnh Hữu Anh tóm tắt kết luận thành những động tác cụ thể:

1. Vũ khí cá nhân phải buộc chằng cẩn thận đảm bảo không được rơi, không va chạm dễ gây thành tiếng nổ.

2. Vừa bò vừa quan sát, chờ khi lựu đạn địch nổ mới bò nhanh, 10 mét nằm lại chờ lựu đạn địch nổ lại bò tiếp.

3. Đến trạm gác cuối cùng phải bò thấp như kiểu thằn lằn, ai ra trước trạm gác phải đứng chờ người ra đủ mới đi tiếp. Riêng trưởng ban trinh sát sư đoàn vì đã thạo đường, khi ra khỏi vọng gác, tiếp tục đi càng nhanh càng tốt. Cất đường mà đi tới thẳng thôn Dương Liễu đưa lệnh của sư đoàn điều tiểu đoàn 1 hành quân gấp đến giải vây bộ phận sư đoàn bộ đang bị địch bao vây.

Bạn đọc không thể hình dung được cái phút giây mà cái sống, cái chết cách nhau chỉ một chớp mắt ấy, thần kinh chúng tôi căng nhão đến mức nào, con tim đập nhanh và đập mạnh như muốn văng ra khỏi lồng ngực ra sao? Sau này nhiều lúc nhớ lại cái kỷ niệm vui buồn khó quên ấy tôi càng không cắt nghĩa vì sao chúng tôi lại thoát ra một cách an toàn như vậy. Phải chăng giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên trong cuộc đời chúng tôi hòa nhập - cái tất nhiên là ý chí, là chấp hành nghiêm các động tác thoát hiểm đã thống nhất, và cái ngẫu nhiên như sự tính toán vô hình mà ăn khớp - khi lựu đạn địch phát nổ thì chúng tôi đã kịp nằm xuống.

Đến 4 giờ sáng chúng tôi vượt khỏi vòng vây của quân thù. Đồng chí trưởng ban trinh sát sư đoàn ra trước đang trên đường xuống tiểu đoàn 1 trung đoàn 2. Còn lại năm người chúng tôi cũng định hành quân tiếp xuống dưới đó thì mặt trời đã ló rạng, đành phải đi về phía nam Mỹ Thọ tạm ẩn mình trong bụi rậm bên đường, gần bót gác địch khoảng trên dưới 400 mét. Lại một tình thế hiểm nghèo nữa đến với chúng tôi. Trời sáng, con đường người qua lại rất đông. Qua kẽ lá chúng tôi nhìn thấy cả lính ngụy và lính Mỹ xì xồ. Hàng quán bên đường phát ra tiếng nhạc xập xình và giọng hát rên rỉ, khóc than sướt mướt, giờ đây tôi vẫn còn lõm bõm nhớ đôi câu - tình chết không đợi chờ tình cũ ai nào ngờ, tình yêu! Có cả tiếng loa inh ỏi của bọn tâm lý chiến - tin mới đây, tin mới đây. Quân đồng minh Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa vừa bắt được hai đại tá Việt cộng, nhưng không nói tên cụ thể. Nghe mà tức, chẳng lẽ đứng dậy nói - hai đại tá đang còn ngồi đây.

Nước không một giọt, cơm không một hạt, cổ khô cháy, ruột gan cồn cào khó chịu, nhưng phải ráng chịu rồi quên dần. Chỉ lo là đồng chí Trắc, trung đoàn phó trung đoàn 2 rất dễ ngủ, đã ngủ là ngáy, đã ngáy là ngáy to. Con người có bộ máy điều hòa giữa hưng phấn và ức chế thật tuyệt, ngủ thức sòng phẳng, phân minh. Nhưng ở cái không gian và thời gian này anh đã làm cho mọi người phút chốc lại lo lắng, căng thẳng. Đập thật khẽ vào người để anh tỉnh, không ngáy. Vừa làm vừa chỉ xuống đường, anh tỉnh và gật đầu - Mỹ đang đi, biết rồi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:43:30 am
Ở vùng này ngày địch, đêm ta. Đợi đến 8 giờ tối chúng tôi qua đường, tạt vào nhà hàng, mỗi người gọi một tô mì ăn liền cho ấm bụng. Chủ quán biết chúng tôi là bộ đội giải phóng không chịu nhận tiền. Tôi nằn nì - bác nhận giùm, chúng tôi có tiền mà. Dân đây tốt, đa số người mình, ông chủ quán vẻ tự hào.

- Ngày nào các chú giải phóng dưới Dương Liễu cũng lên nhờ tôi mua giùm gạo, mắm.

- Vậy hả. - Tôi nắm tay bác lắc mạnh - Cảm ơn!

Tạm biệt bác chủ quán tốt bụng, theo hướng đông men theo bờ bao ruộng muối, chúng tôi tới thôn Dương Liễu vào khoảng 9 giờ tối.

Cả ngày thấp thỏm mong ngóng thấy chúng tôi còn sống trở về anh em mừng quá vây quanh hỏi chuyện ngày qua sống ở đâu, đã ăn uống gì chưa... rồi cháo cá, ghẹ luộc bưng ra vẫn còn bốc hơi.

- Kiếm đâu ra? - Tôi hỏi.

- Vùng này sẵn và rẻ, chỉ có gạo là hiếm. Vùng cát mà chú. - Đồng chí bếp trưởng đon đả trả lời.

Nghe các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn 1 báo cáo trận đánh giải vây hồi sáng càng yên tâm, thanh thản. Địch đang dương dương tự đắc, thì chúng tôi đưa lực lượng súng cối luồn phía sau lưng đội hình địch mà nã đạn vào. Địch hoảng hốt, kêu la, cầu cứu. Ta thừa thắng cho trung liên bắn quét. Máy bay trực thăng chưa kịp hạ cánh bốc quân đã bị trung liên bắn quét, địch càng hoảng sợ bỏ chạy. Hai chiếc trực thăng chưa kịp đỗ bốc quân đã bị ta bắn trọng thương cố lết về Phù Mỹ. Anh em ta rút ra an toàn, chỉ có hai chiến sĩ bị thương nhẹ vào tay.

Giai đoạn gay cấn đã qua, phải bắt tay vào công việc chính. Tôi gọi đồng chí cơ yếu dịch điện gửi qua máy liên lạc vô tuyến mời anh Bảy Hữu, Ủy viên Thường vụ Khu ủy đang ở đông Phù Cát sang làm việc.

Ngày 16 tháng 11 theo điện mời, từ bên Núi Bà anh Bảy Hữu bơi qua một đầm nước sâu và rộng sang Dương Liễu. Tôi báo cáo nhiệm vụ của chuyến đi mong được anh giúp đỡ.

- Sẵn sàng. - Anh Bảy Hữu vui vẻ nhận lời. Được biết anh từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chín năm. Anh quê Quảng Nam nhưng lại gắn bó với chiến trường Khánh Hòa. Anh đã có công xây dựng căn cứ Đá Bàn làm chỗ dựa đánh Pháp lâu dài ở bắc Khánh Hòa trong suốt thời kháng chiến chống Pháp cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết.

Trong chống Mỹ anh lại say sưa với công tác vận động quần chúng, từ các cuộc đấu tranh chống âm mưu “tố cộng” thâm độc, chống dồn dân lập ấp chiến lược, khu dinh điền của Mỹ - Diệm. Từ đó anh đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị trở thành một mũi tiến công trong chiến dịch tổng hợp đánh bại nhiều cuộc hành quân và phản công chiến lược của địch ở chiến trường Khu 5.

Hai chúng tôi say sưa làm việc suốt cả ngày 16 tháng 11. Những điều anh hiểu là những điều tôi muốn biết, đã khiến buổi làm việc như là cuộc trao đổi tâm tình, thoải mái và cởi mở, qua những đối thoại ngắn, mà rõ:

- Có thể đưa đội hình Sư đoàn 3 vào đánh thị xã Quy Nhơn qua đường Cát Khánh - Núi Bà được không?

- Đưa lực lượng lớn qua bên ấy là khó vì Núi Bà đã trải qua một đợt đánh phá ác liệt của quân Mỹ và Nam Triều Tiên, nhà cửa, vườn tược, đồng ruộng bị chất độc hóa học tan hoang, dân không có gạo ăn. Hiện vẫn còn một trung đoàn quân Nam Triều Tiên đứng chân ở ngã ba chợ Gồm, không dễ gì có thể an toàn vượt qua.

- Vai trò đặc công và biệt động đánh vào thị xã Quy Nhơn?

- Có khả năng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng nhưng giữ thì khó.

- Phong trào quần chúng thế nào, lực lượng tham gia nổi dậy được bao nhiêu?

- Cát Hanh được vài trăm, Tuy Phước khó vì sư đoàn Mãnh Hổ đang đứng chân ở đó.

- Phong trào nổi dậy của quần chúng ở thị xã Quy Nhơn?

- Có nhưng áp lực quân sự phải mạnh, đánh là phải chiếm những mục tiêu quan trọng trong một thời gian nhất định, chứ đánh mà rút thì nổi dậy khó vì không có chỗ dựa.

- Phong trào quần chúng bên Phù Mỹ ?

- Mỹ Hiệp, Mỹ Lộc ít; Mỹ Trinh khoảng vài nghìn người.

- Cơ sở và vai trò binh vận trong ba mũi giáp công?

- Thị xã Quy Nhơn cơ sở nội tuyến là sĩ quan cấp đại úy, các quận lỵ An Nhơn, Phù Cát có nhưng còn ít và yếu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:44:41 am
Kết thúc một ngày làm việc đầy hứng khởi, tất cả những điều cần tìm, thuận hay nghịch, được hay không đều rút ra từ những điều anh Bảy Hữu nói. Ở anh chất lãng mạn cách mạng rất cao, anh nhìn nhận, đánh giá thực tiễn bao giờ cũng cao hơn nó biểu hiện, bởi anh có cái nhìn chiều sâu, cái nhìn phát triển, do chính sự từng trải và gắn bó với thực tiễn gần như trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình với lĩnh vực mà anh được phân công.

Biết những điều tôi hỏi có liên quan đến việc tổ chức những trận đánh sau đó, đến thành bại sau đó, đến sự phải trả giá máu xương chiến sĩ sau đó nên anh chỉ nói những việc đang có, chứ không nói xu hướng phát triển và manh nha của sự việc.

Anh vui vẻ nhận lời ở lại dự bữa cơm dã ngoại với đơn vị. Suốt bữa anh tấm tắc khen cháo cá và bánh xèo quá ngon.

Trăng thượng tuần vừa nhú, chúng tôi tạm biệt nhau. Anh Bảy Hữu ngược lên Mỹ Phong, Mỹ Đức bắc quận lỵ Phù Mỹ. Còn tôi quẹo bắc sang Tân Phụng làm tiếp một số việc.

Nắm chặt tay anh, tôi hơi bốc:

- Hẹn gặp anh tại thị xã Quy Nhơn!

- Hy vọng là như vậy. - Anh dè dặt nói.

Đến ngày 18 tháng 11 đoàn chúng tôi từ Tân Phụng qua Mỹ Thành ven bắc Mỹ Chánh, qua bắc Mỹ Hòa men theo bắc Diêm Tiêu, bắc núi Nùng về Mỹ Trinh - nơi sở chỉ huy sư đoàn đang ở đó.

Đến 5 giờ sáng ngày 19 tháng 11, trời sáng đoàn chúng tôi phải vào trú tạm các lũy tre của bắc Mỹ Chánh, phải trải qua một ngày căng thẳng.

Ngày 20 tháng 11 năm 1967 đoàn khảo sát chúng tôi về tới chỉ huy sở sư đoàn.

Ngay tối hôm đó tôi điện báo cáo kết quả chuyến đi với Bộ tư lệnh Quân khu và cá nhân đồng chí Đoàn Khuê. Trong nội dung báo cáo với quân khu và đồng chí Đoàn Khuê, tôi khẳng định dứt khoát là không thể dùng sư đoàn thiếu hoặc sư đoàn đủ tấn công vào thị xã Quy Nhơn được.

Trong tháng 12 năm 1967, sư đoàn vừa chờ đợi ý kiến phê duyệt của quân khu vừa đồng thời tiến hành chuẩn bị theo hai phương án nói trên. Nhưng trong hành động cụ thể chúng tôi để nhiều tâm trí chuẩn bị cho phương án 2 để khi trên có quyết định, phương án 2 không bị động, vì tôi tự cho rằng sau hai lần đi nghiên cứu chiến trường, tôi thấy phương án 1 dứt khoát không thể thực hiện được.

Đầu tháng 1 năm 1968 quân khu điện thông báo cho sư đoàn hủy bỏ phương án 1. Sau này khi tổng kết đánh giá kết quả cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở quân khu tôi được biết là bản thân đồng chí Đoàn Khuê sau khi đi kiểm tra chiến trường Bình Định tháng 10 năm 1967 về quân khu, trong quá trình tham gia xây dựng kế hoạch tấn công và nổi dậy Đông Xuân 1967-1968 là người tích cực đấu tranh trong Khu ủy để xác định phương án tối ưu. Đồng chí Đoàn Khuê đã phân tích phê phán tư tưởng, quan điểm ảo tưởng hy vọng trung lập được Mỹ và Nam Triều Tiên và tư tưởng ảo tưởng giành chính quyền trong Tết Mậu Thân 1968.

Tranh thủ giờ phút nghỉ ngơi, tôi ngả mình trên cái võng gắn bó, tận hưởng phút giây thư giãn, cả chút thanh thản, tự hào về bước đi của Sư đoàn 3 trong Hè Thu vừa qua.

Sau cuộc khảo sát của chúng tôi trong cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 1967, được Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 3 quyết định phải xuống núi, là một quyết định táo bạo và chính xác, bởi nếu không như thế thì đến một lúc nào đó sẽ không còn đất đứng nữa.

Đưa lực lượng xuống đồng bằng, xuống vùng sâu, dựa vào dân, bám vào dân để tồn tại nhờ đó mà có những trận đánh mới xuất hiện sau một thời gian yên ắng như: Ngày 17 tháng 8 trung đoàn 22 đồng loạt tiến công bảy vị trí địch ở quận lỵ Bồng Sơn, thị trấn Tam Quan (Hoài Nhơn); cùng ngày đại đội đặc công (trung đoàn 12) phối hợp với lực lượng địa phương tiến công quận lỵ Phù Mỹ, làm chủ một đêm, diệt hầu hết bọn tề điệp ở các xã Mỹ Tài, Mỹ Thọ...; ngày 27 tháng 8, trung đoàn 2 tiêu diệt 210 lính Mỹ ở Cát Sơn (tây Phù Cát) v.v...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:46:23 am
Những trận thắng mùa Thu năm 1967 của Sư đoàn 3 đã tạo được địa bàn trong lòng địch. Ngược lại nhờ có hỗ trợ tiến công quân sự của sư đoàn, phong trào địa phương cũng có bước phát triển mới. Hàng loạt xã, thôn ở các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát đã giữ vững được phong trào. Thời cơ chuẩn bị cho những trận đánh tập trung lớn hơn, tiêu diệt sinh lực địch lớn hơn đã mở ra trước mắt.

Nhưng tôi cũng thực sự băn khoăn, trăn trở về bước đi sắp tới của sư đoàn sẽ diễn ra như thế nào. Thời điểm của Đông Xuân 1967-1968 đang tới gần mà vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Công việc chuẩn bị cho đợt hoạt động mới vẫn chưa có định hướng thống nhất, nên tuy vất vả mà vẫn như công dã tràng. Mặc dầu Quân khu đã hai lần điện cho sư đoàn hoãn đưa lực lượng xuống đông Phù Mỹ; ráng chuẩn bị gấp phương án đánh lớn thị xã Quy Nhơn. Rồi anh Đoàn Khuê, Phó chính ủy Quân khu xuống trực tiếp phổ biến chủ trương mới về đợt hoạt động Đông Xuân với ý tưởng lớn và táo bạo. Những người dự họp hôm ấy đã trao đổi ý kiến thẳng thắn, khẳng định và phủ định đan xen nhau. Có ý kiến cho ta đủ mạnh, thực hiện dùng lực lượng lớn tiến công thị xã Quy Nhơn, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Ý kiến khác ngược lại - lúc này ta chưa đủ điều kiện. Đến nay đã hơn một tháng trôi qua kể từ ngày anh Đoàn Khuê trở lại quân khu, sư đoàn vẫn không nhận được hồi âm, kết luận đúng sai như thế nào về hai ý kiến khác nhau nói trên. Lại nữa, báo cáo kết quả chuyến đi khảo sát đông nam Phú Mỹ đã khẳng định rằng không thể đưa lực lượng lớn tiến công thị xã Quy Nhơn bằng con đường Núi Bà - Phù Cát được, sư đoàn cũng chưa nhận được ý kiến nhận xét của quân khu.

Linh cảm như mách bảo với tôi rằng tất cả những việc dường như là “khó hiểu” trên đây đang ẩn chứa sự chuẩn bị triển khai cho một đợt hoạt động có tầm chiến lược quan trọng, có tác động đến toàn bộ guồng máy quân đội mà giờ đây vẫn chưa thể nói ra được chỉ vi lý do đơn giản, ai cũng thấy - đó là “bí mật” quân sự.

Tôi đem cái linh cảm mách bảo trên đây trao đổi với các đảng ủy viên sư đoàn và các thành viên Bộ tư lệnh sư đoàn, các đồng chí đồng ý với tôi và còn bổ sung thêm những điều mà các đồng chí tự hiểu ngầm. Thế nghĩa là không chóng thì chày chủ trương mở đợt hoạt động mới sẽ được phổ biến đến chúng ta, để có định hướng chuẩn bị. Vậy thì ngay từ bây giờ nếu cái gì đó, việc làm nào đó có liên quan, thì cần triển khai chuẩn bị dần, để giảm mức thấp nhất cái bị động.

Chúng tôi thống nhất hai việc cần làm: mở một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn sư đoàn, song song với tổ chức một đợt hoạt động quân sự để giành địa bàn ở vùng sâu.

Trong đợt sinh hoạt chính trị, nhiều đơn vị tìm ra các hình thức sinh hoạt nhẹ nhàng, sinh động mà hiệu quả nâng cao nhận thức trách nhiệm chính trị của mỗi người, làm chuyển biến hành động thực tế trong công tác và học tập hàng ngày, trong chức trách mình được giao. Trung đoàn 12 ở sâu nhất (giáp Quy Nhơn) dấy lên phong trào “tình nguyện vào đội quyết tử”, đội “Xung kích Ngô Mây”(1) do trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng làm đội trưởng. Các chiến sĩ muốn trở thành chiến sĩ xung kích Ngô Mây đều phải làm đơn và phải tuyên thệ trước cờ.

Cuộc sinh hoạt Chính trị tạo thêm cái nền cho cuộc vận động lập công diễn ra sau đó, tuy ngắn nhưng hiệu suất chiến đấu cao. Ngày 15 tháng 12, tiểu đoàn 6 trung đoàn 12 đã táo bạo theo tinh thần Ngô Mây đột nhập vào trường huấn luyện Gò Trạm, tiêu diệt 150 sĩ quan và học viên sĩ quan; tiểu đoàn 5 bất ngờ tiến công thị trấn Đập Đá (An Nhơn) diệt một trung đội dân vệ, bắt sống một trung đội dân vệ khác. Chiến sự loang ra nhiều nơi, uy hiếp trực tiếp bắc và tây bắc thị xã Quy Nhơn.

Ngày 24 tháng 12, đại đội 52 tiểu đoàn 5 đã thực hành một trận tao ngộ cực kỳ mưu trí và dũng cảm tại chân Núi Bà; diệt gọn một đại đội quân Nam Triều Tiên. Đây là một trận đánh xuất sắc, một đại đội ta diệt một đại đội địch trong một tình thế vô cùng khó khăn. Trước khi xảy ra trận đánh, tiểu đoàn 5 đang trong tình trạng thiếu gạo, thiếu thuốc nghiêm trọng. Từ chỗ mỗi người mỗi ngày một lon gạo, tới chỗ 10 người một ngày một lon gạo. Riêng đại đội 52 hôm đó chỉ còn một lon gạo rang dành cho những đồng chí đau yếu. Trong điều kiện thiếu đói cực kỳ nghiêm trọng, các chiến sĩ ta vẫn đánh thắng đối tượng thuộc loại sừng sỏ, trên một địa hình trống trải, trong một tình thế không được chuẩn bị trước. Ngẫu nhiên gặp nhau, bên nào có bản lĩnh chiến đấu vững vàng, mưu trí linh hoạt tinh khôn hơn là bên ấy thắng.

Ngày 19 tháng 1 năm 1968 (trước 6 ngày lệnh tiến công và nổi dậy mới được phổ biến chính thức đến cán bộ cấp trung đoàn), tiểu đoàn 6 trung đoàn 12 được lệnh tiến công thị trấn Đập Đá lần thứ hai và tiêu diệt bọn địch giữ cầu Xi-ta, sau đó ba ngày trụ bám đánh địch ở làng Phương Danh cho đến ngày 23 tháng 1 năm 1968 mới rút.

Đây là những trận đánh tạo thế đứng chân ở vùng sâu của sư đoàn trước khi cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa mùa Xuân năm 1968 bắt đầu.


(1) Ngô Mây quê Phù cát, Bình Định, người anh hùng ôm bom ba càng lao vào đội hình địch trên đường 19 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:49:07 am
*
*   *

Điều mà linh cảm mách bảo tôi đã trở thành hiện thực. Công sức mà cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 vất vả, gian truân trong ngày Hè, ngày Thu vừa qua đã không uổng. Từ tít miệt rừng xanh kiên quyết xuống núi, bám dân đánh địch để có thế đứng gần trùng hợp với yêu cầu mới đã thật đúng hướng.

Những ý kiến trao đổi hào hứng, thẳng thắn đến gay gắt ở hang Cầu Rui, Hòn Nạc (Cát Sơn - Phù Cát); những chuyến đi khảo sát vùng đông Phù Mỹ hồi tháng 8 và đông nam Phù Mỹ hồi tháng 11 của Sư đoàn 3 là những việc chuẩn bị thực hiện ý tưởng Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10 “tranh thủ giành thắng lợi cao nhất”, đồng thời cũng là những đóng góp thực tiễn sống động để Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu có thêm căn cứ hình thành kế hoạch tổng thể - Kế hoạch tiến công Tết Mậu Thân vừa thể hiện cái chung, vừa chứa đựng cái riêng - nét đặc thù của Quân khu 5 lúc đó(1).

Ngay từ tháng 7, lãnh đạo khu đã chia địa bàn Khu 5 thành bốn hướng tiến công: Hướng Quảng Đà, hướng Bình Định (bao gồm An Khê), hướng Tây Nguyên và hướng Phú Yên - Khánh Hòa. Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy Quân khu xác định Đà Nẵng và Quy Nhơn là hai trọng điểm của cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, cần tập trung lực lượng lớn cỡ sư đoàn đủ hoặc sư đoàn thiếu tiến công đánh chiếm các mục tiêu quan trọng hỗ trợ quần chúng nội thị nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền, ở hướng Quảng Đà, Quân khu đã cho thành lập Mặt trận 4 bao gồm toàn bộ lực lượng vũ trang của tỉnh đội Quảng Đà, thành đội Đà Nẵng và một số đơn vị bổ sung của quân khu. Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, mặt trận được tăng thêm hai trung đoàn pháo binh, một trung đoàn bộ binh từ miền Bắc mới hành quân vào.

Ở hướng Bình Định, Quân khu cũng có ý định tương tự, dự kiến sẽ tăng thêm một số đơn vị hỏa lực và đặc công và thành lập mặt trận Bình Định để chỉ huy chung. Anh Nguyễn Chánh - Phó tư lệnh, anh Đoàn Khuê - Phó chính ủy Quân khu giữ chức chỉ huy trưởng và chính ủy mặt trận Bình Định. Nhưng do nhiều lý do; và sau chuyên đi hồi tháng 10 của anh Đoàn Khuê vào phổ biến nhiệm vụ, được nghe Sư đoàn 3 và Tỉnh ủy Bình Định phản ảnh về những khó khăn thực tế nêu ý định thành lập Mặt trận Bình Định được thay bằng hai khu vực bắc Bình Định và nam Bình Định, mỗi khu vực có một bộ phận phụ trách riêng(2).

Ngày 20 tháng 1 năm 1968, Bộ tư lệnh Quân khu chính thức thông báo lệnh Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân và ngày 25 tháng 1, Bộ Tư lệnh sư đoàn được phép phổ biến lệnh này tới các trung đoàn, các đơn vị trực thuộc.

Mặc dầu đã được chuẩn bị tư tưởng, nhưng khi nhân lệnh chúng tôi vẫn vừa ngỡ ngàng vừa lâng lâng phấn khởi, vì cuộc chiến đấu đã chuyển sang một bước ngoặt mới, sang trang mới. Các anh Lư Giang, Huỳnh Hữu Anh cũng đều có suy nghĩ như tôi.


(1) Những điểm chính phương án tiến công Tết Mậu Thân của Khu 5:
- Các sư đoàn chủ lực ở chiến trường miền núi và vùng giáp ranh kéo Mỹ và chủ lực ngụy ra, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn, kìm giữ phần lớn các đơn vị cơ động của chúng tại đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công kích và khởi nghĩa ở thành thị.
- Các đơn vị pháo binh và đặc công đồng loạt đánh phá các sân hay, bến cảng, kho tàng, trận địa pháo, sở chỉ huy và trung tâm thông tin, phá hủy phần lớn phương tiện chiến tranh, làm tê liệt các sân bay, bến cảng, hệ thống chỉ huy, tiếp vận của địch.
- Ở Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang: sử dụng các đơn vị, bộ binh, biệt động, tự vệ mật đồng loạt đánh chiếm một số mục tiêu then chốt để hỗ trợ cho quần chúng ở nông thôn vào kết hợp với lực lượng quần chúng trong thành thị khởi nghĩa giành chính quyền. Lấy khởi nghĩa của quần chúng giành chính quyền là chính.
- Ở các thị xã Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phú Yên: kết hợp giữa đòn tiến công của lực lượng khởi nghĩa của nhân dân tại chỗ và từ nông thôn vào, tiêu diệt địch, đánh sập bộ máy ngụy quyền và thành lập chính quyền cách mạng.
- Các thị xã Kon Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột: chủ yếu đòn tiến công quân sự để giải phóng.
(2) Phụ trách mặt trận bắc Bình Định có Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Lư Giang chỉ huy trưởng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, Nguyễn Trung Tín chính ủy.
Phụ trách mặt trận Quy Nhơn do anh Nguyễn Xuân Hữu, Thường vụ Khu ủy, anh Đặng Thành Chơn, Khu ủy viên phụ trách. Đồng chí Nguyễn Xương, Tỉnh đội trưởng Bình Định trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang tiến công thị xã Quy Nhơn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:50:55 am
Dựa vào kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy chung của Quân khu, vào ý kiến trao đổi với các anh bên Thường vụ Tỉnh ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn họp thống nhất phương án tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân trên chiến trường Bình Định:

1. Tiến công kết hợp với nổi dậy ở hai khu vực thị xã Quy Nhơn và huyện Hoài Nhơn, trong đó thị xã Quy Nhơn là trọng điểm, ở đây sư đoàn bố trí trung đoàn 12 đứng vòng ngoài (An Nhơn) hỗ trợ 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh và các lực lượng chính trị của mặt trận nam Bình Định tiến công và nổi dậy trong thị xã Quy Nhơn.

2. Sử dụng sư đoàn thiếu (trung đoàn 12) tiến công giải phóng quận lỵ Phù Mỹ, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng nông thôn và sẵn sàng nhập thị.

Trong quá trình xây dựng phương án trên có hai vấn đề nêu ra: một là, cần mở rộng mục tiêu tiến công, ngoài thị xã Quy Nhơn, Phù Mỹ, Hoài Nhơn là Đức Phổ nam Quảng Ngãi; hai là, khả năng cô lập quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên, kìm hãm chúng tại các căn cứ lớn.

Hai vấn đề nêu trên, thì mở rộng mục tiêu tiến công được trao đổi, thảo luận khá sôi nổi. Phía khẳng định cần phải mở rộng mục tiêu tiến công ra nam Quảng Ngãi vì ở đó trung đoàn 22 đang đứng chân không phải điều động lực lượng phức tạp, vừa diệt địch tại chỗ vừa câu viện địch đến để tiêu diệt, như vậy bắn một mũi tên trúng hai đích, tạo thuận lợi cho việc giải phóng quận lỵ Phù Mỹ. Phía phủ định cho rằng lực lượng ta có hạn, mở rộng mục tiêu tiến công lực lượng càng bị dàn mỏng, phân tán sự điều hành chỉ huy, dẫn đến không có mục tiêu nào của địch bị tiêu diệt, vì không nơi nào ta chiếm ưu thế lực lượng.

Xét thấy thời gian trao đổi đã kéo dài, ý kiến nêu ra đã cạn, không có gì mới, nên tôi đề nghị biểu quyết. Chỉ có hai người trong số mười người đồng ý mở rộng mục tiêu tiến công.

Hầu hết những người dự họp đều cho rằng đề ra khẩu hiệu cô lập quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên là không thực tế. Nhưng kìm hãm Mỹ và quân Nam Triều Tiên không những có khả năng mà trong thực tế ta đã thực hiện trong các trận đánh trước đó.

Phương án chuẩn bị mũi tiến công chính trị Tết Mậu Thân cũng được khẩn trương tiến hành. Cán bộ phụ trách được gấp rút tăng cường cho các hướng trọng điểm. Các tỉnh ủy viên nữ được điều về tăng cường cho thị xã Quy Nhơn, ở những nơi phong trào mạnh như Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Cát Hanh (Phù Cát), một số xã ở huyện An Nhơn, Tuy Phước, đội quân “đấu tranh chính trị” được tổ chức thành từng đội 100 người, thành từng cụm 500 người. Đội quân chính trị với số lượng 272 nghìn người được tổ chức thành 590 đội. Từ những ngày trước tháng 12, đội quân này đã được trang bị gậy gộc, dao liềm, cờ băng, khẩu hiệu, lời kêu gọi... có nơi còn xây dựng kế hoạch phối hợp với mũi tiến công quân sự thực hiện nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền(1), v.v...

Ngày 29 tháng 1, các lực lượng tiến công và nổi dậy trên mặt trận bắc, nam Bình Định đã vào vị trí tập kết. Nhưng Bộ tư lệnh sư đoàn vẫn đang hồi hộp theo dõi cuộc hành quân trở về của trung đoàn 22. Từ nam Quảng Ngãi, đông Hoài Nhơn, trung đoàn chia làm hai đường tiến về Phù Mỹ. Một cánh đi từ núi xuống, một cánh khác từ biển vào. Nhưng vì phải luồn lách qua nhiều vị trí địch, trung đoàn 22 (trừ tiểu đoàn ở Hoài Nhơn) đã không đến kịp ngày nổ súng. Trong khi đó, các chiến sĩ trung đoàn 2 do trung đoàn trưởng Trần Ngọc Sơn, chính ủy Lê Huân chỉ huy đã vào tới vị trí chiếm lĩnh, chuẩn bị nổ súng tiến công giải phóng quận lỵ Phù Mỹ.


(1) Đội quân khởi nghĩa của huyện Phù Mỹ có 15.357 người biên chế thành 54 đại đội, chia thành hai cánh:
- Cánh 1 (chủ yếu) gồm quần chúng các xã Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Thành tập trung về Hưng Lạc (Mỹ Thành) ngoài cán bộ hợp pháp chỉ huy, còn có ba huyện ủy viên thường vụ cử vào dưới danh nghĩa quần chúng trực tiếp chỉ đạo quần chúng tiến vào chiếm lĩnh các trụ sở quận lỵ, chi khu quân sự, chi công an, chi thông tin, v.v...
- Cánh 2 gồm quần chúng các xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc, Mỹ Phong tập trung ở thôn Vân An hợp cùng đồng bào thôn Trà Quang truy quét bọn tề điệp. Các xã còn lại tiến công địch, sẵn sàng nhập thị, v.v...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:52:48 am
Hai mươi bốn giờ ngày 30 tháng 1 năm 1968, tức đêm 29 Tết Mậu Thân, trung đoàn 2 đã cắt xong hai lớp rào kẽm gai. Hỏa lực cối, ĐKZ lần lượt đưa vào vị trí chuẩn bị nổ súng thì sở chỉ huy sư đoàn nhận lệnh khẩn của Bộ tư lệnh Quân khu - hoãn nổ súng đến đêm mai(1).

Tình hình thật bất ngờ!

Bộ tư lệnh sư đoàn hội ý bàn cách xử trí, thì chuông điện thoại réo liên hồi.

Sư đoàn trưởng cầm ống nghe. - Tôi đ... ây, t... ôi đây, Lư... Gi...ang đây, ừ, ừ trên này đang bàn xong sẽ trả lời ngay. Rồi anh bỏ máy vẻ ngờ vực:

- Có chắc là đêm mai mọi việc sẽ suôn sẻ.

Biết trung đoàn 2 đang có những khó khăn, nằm sát địch rất dễ bị lộ, mà lộ trong tình huống nằm phơi mình ngoài đồn địch nếu chúng phát hiện thì nguy hiểm sẽ đến một cách khôn lường, thương vong lớn là điều khó tránh nhưng đánh hay rút cũng phải có sự bàn bạc thống nhất.

Cuộc trao đổi trong Bộ tư lệnh sư đoàn diễn ra không kém phần sôi nổi. Khuynh hướng chung lúc đầu đều cho rằng đã vào đến đây mà rút ra là bỏ mất cơ hội diệt địch, sau đó sẽ khó có thể gặp lại. Rút ra lúc này thật tiếc. Nhưng cũng có ý kiến băn khoăn phân vân giữa ở lại và rút ra, không biết nên thế nào, ở lại là vô kỷ luật, rút ra là chấp hành mệnh lệnh!

Tôi đồng tình với loại ý kiến thứ hai và khẳng định:

- Ở lại chiến đấu là thể hiện tinh thần quyết tâm vượt khó để tiêu diệt sinh lực địch là đáng khích lệ. Không có quyết tâm sẽ không có cái gì hết. Nhưng rút là thể hiện tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật của cấp trên. Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cũng là một điều kiện tạo nên sức mạnh của quân đội. Lúc này ta đang xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh là phục vụ cho tập trung lực lượng đánh lớn. Không có ý thức tổ chức kỷ luật cao, không thể có hiệp đồng binh chủng đánh lớn và tiêu diệt lớn quân địch.

Cũng phải mất hơn một giờ sau đó chúng tôi mới có sự thống nhất cao. Và Sư đoàn trưởng Lư Giang mới cầm máy điện thoại dõng dạc ra lệnh - Trung đoàn 2 khẩn trương tổ chức cho bộ đội rút khỏi quận lỵ Phù Mỹ về thôn Bình Trị trước sáng, và có kế hoạch đánh địch phản kích.

Sau này khi kết thúc đợt hoạt động Tết Mậu Thân về hậu cứ tổng kết, trung đoàn trưởng trung đoàn 2 Trần Ngọc Sơn thuật lại cái giờ phút thật bất ngờ ấy - biết rút ra sẽ bị lộ và đêm mai khó có thể thực hiện nhiệm vụ được giao nên tôi phải báo về sư đoàn hỏi lại cho chắc chắn. Sau đó là giờ phút đang từ thế chủ động tiến công biến thành bị động rút lui. Tai lúc nào cũng áp vào máy nghe động tĩnh từ phía đầu dây bên kia, cơ thể trong trạng thái bất động, muỗi đốt không dám động đậy, nhất là phải nhịn ho càng khó chịu hơn. Trận địa vẫn im tiếng súng mà đầu óc chúng tôi cứ căng nhão, đợi lệnh...

Ở phía nam tỉnh lúc này, theo kế hoạch hiệp đồng chung, đến giờ nổ súng, cơ sở trong thị xã đưa ô tô và lực lượng quần chúng ra đón bộ đội tỉnh nhập thị. Nhưng một tình huống bất ngờ xảy ra. Sắp đến giờ nổ súng thì đồng chí Nguyễn Khuông, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư thị ủy Quy Nhơn bị địch bắt. Kế hoạch hiệp đồng với bên ngoài không thực hiện được. Trước tình huống đột xuất này, Thường vụ Tỉnh ủy chỉ định đồng chí Tô Đình Cơ, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách hướng tiến công thị xã Quy Nhơn.


(1) Theo tính toán năm ấy, ngày mồng một Tết âm lịch Mậu Thân của ta là ngày 30 tháng 1 năm 1968, trong khi đó Sài Gòn vẫn giữ lịch cũ (tức ngày 31 tháng 1 năm 1968). Thực hiện lệnh của Bộ Tổng tham mưu, Quân khu điện các đơn vị lùi thời gian nổ súng một ngày để phối hợp toàn Miền.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:54:04 am
Không còn cách nào khác, đến giờ G, các chiến sĩ bộ đội tỉnh, huyện và trung đoàn 12 Sư đoàn 3 cứ chiếu theo mệnh lệnh và phương án đã chuẩn bị, dóng hướng trên bản đồ mà nổ súng tiến công. Nhờ có bàn đạp vững chắc và có lực lượng địa phương dẫn đường, trung đoàn 12 đã đánh rất mạnh ở phía An Nhơn và đến ngày 3 tháng 2, trung đoàn 2 tiến công sở chỉ huy trung đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên ở Phú Kiều, diệt 100 tên. Các ngày 9, 10, 11 phá sập cầu trên đường số 1, tiêu diệt bọn dân vệ, bảo an ở Ân Đức, bắn cối 82 vào chợ Gồm. Để hỗ trợ lực lượng vũ trang tỉnh tiến công Quy Nhơn, tiểu đoàn 5 trung đoàn 12 phối hợp với địa phương vượt đầm Thị Nại, xóa sạch một loạt đồn bót địch, “ấp chiến lược”, mở toang một mảng lớn ở bắc thị xã Quy Nhơn.

Cũng trong thời gian này, để hỗ trợ lực lượng vũ trang tình tiến công thị xã Quy Nhơn, một bộ phận trung đoàn 10 từ bắc Phú Yên thọc ra theo đường đèo Cù Mông án ngữ phía nam thị xã.

Trung đoàn 2 Sư đoàn 3, sau khi đưa toàn bộ đội hình ra khỏi hàng rào kẽm gai quận lỵ Phù Mỹ, địch phát hiện, lập tức tung trung đoàn 41 sư đoàn 22 ngụy tràn ra vây bọc phía bắc quận lỵ. Một số đơn vị thám báo, bộ binh địch còn bám sát dấu vết của trung đoàn tới thôn Bình Trị. Từ phương án tiến công giải phóng quận lỵ, trung đoàn 2 nhanh chóng chuyển sang đánh phản kích diệt địch ngoài căn cứ. Cuộc chiến đấu của trung đoàn 2 diễn ra ác liệt ngay ngày 31 tháng 1. Các chiến sĩ trung đoàn trong những ngày lịch sử đáng ghi nhớ này đã chiến đấu quên mình để thực hiện nhiệm vụ mới do sư đoàn giao - thu hút, kìm giữ địch cho các đơn vị bạn và lực lượng nổi dậy nhập thị.

Tối ngày 3 tháng 2, tin tức từ mặt trận Quy Nhơn báo cáo về anh Nguyễn Trung Tín vừa là chính ủy mặt trận bắc Bình Định, vừa là Bí thư tỉnh ủy có trách nhiệm chỉ đạo chung. Qua báo cáo nhanh gửi về anh Tín, Bộ tư lệnh sư đoàn được biết, các đồng chí chỉ huy mặt trận Quy Nhơn triệt để lợi dụng địch đang dồn sức đối phó với lực lượng Sư đoàn 3 đứng chân ở vòng ngoài, dồn dập đưa lực lượng vào nhập thị. Tiểu đoàn 50 và tiểu đoàn đặc công tỉnh cùng với lực lượng biệt động từ vị trí giấu quân ở thôn Hưng Thạnh (thị xã Quy Nhơn) - một căn cứ lõm của ta được tự vệ mật và cơ sở cách mạng nội thị dẫn đường, luồn lách vào trung tâm thị xã, áp sát các mục tiêu tiến công.

Đúng 1 giờ 15 phút ngày 31 tháng 1, các chiến sĩ đặc công do tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Mười chỉ huy đánh chiếm đài phát thanh, dinh tỉnh trưởng, chi khu cảnh sát, quân cảnh, quân vụ thị trấn, bắt 200 địch giải thoát 20 cán bộ và cơ sở cách mạng bị địch giam cầm từ lâu trong đó có đồng chí Nguyễn Khuông Bí thư thị ủy bị bắt một ngày trước khi nổ ra cuộc tiến công và nổi dậy. Các đơn vị của tiểu đoàn đặc công 50 hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu bến xe nhà ga, diệt gọn một trung đội cảnh sát, bắt gọn 30 lính ngụy. Tiểu đoàn 405 đặc công quân khu tiến công khu kho Đèo Son phá hủy nhiều đạn dược và phương tiện chiến tranh.

Trong ngày 30 tháng 1, một tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên mở bốn đợt phản kích vào đài phát thanh, nhưng đều bị các chiến sĩ đặc công tỉnh (mới thành lập) đánh bật, diệt hàng chục tên. Đêm ngày 31 tháng 1, địch liên tiếp dùng máy bay trực thăng vũ trang, pháo bắn thẳng đánh phá ác liệt khu nhà ga Quy Nhơn và tổ chức bảy đợt phản kích, nhưng đã bị 20 chiến sĩ của tiểu đoàn đặc công 50 đánh trả quyết liệt, diệt hàng chục tên. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Quý chỉ huy đơn vị ngoan cường đánh chiếm các mục tiêu và bám trụ hai ngày đêm giữa thị xã Quy Nhơn, bị địch vây hãm, tuy bị thương nặng vẫn ở lại chiến đấu, nghi binh đánh lạc hướng cho đơn vị rút ra khi có lệnh. Đồng chí hy sinh nhưng đơn vị đã vượt khỏi vòng vây...

Nghe giao ban xong, tôi trao đổi với chủ nhiệm chính trị sư đoàn cần kịp thời thông tin thắng lợi bước đầu tại mặt trận nam Bình Định và những tấm gương hy sinh vì thắng lợi và vì tính mạng đồng đội để động viên tinh thần chiến đấu của các đơn vị, kết hợp nhắc nhở các đơn vị quán triệt và nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ xuyên suốt của sư đoàn trong quá trình tiến công và nổi dậy là phải kéo, kìm diệt chủ lực ngụy, kìm hãm quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên tại các căn cứ lớn, góp phần hỗ trợ có hiệu quả cuộc nổi dậy của nhân dân.

Những ngày này không khí làm việc trong sở chỉ huy sư đoàn thật sôi động, căng thẳng mà hào hứng, ở đây hội tụ cả công việc chỉ huy các đơn vị vũ trang tham gia tổng công kích; đồng thời theo dõi tình hình nổi dậy của đội quân chính trị, cùng anh Nguyễn Trung Tín tham gia chỉ đạo các mũi nổi dậy ở các địa phương trong tỉnh.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Bảy, 2022, 10:56:08 am
Song song với tiến công quân sự, lực lượng chính trị của quần chúng trong toàn tỉnh, lấy “đội quân tóc dài” làm lực lượng xung kích nổi dậy áp đảo quân địch ở hầu hết các thị trấn, thị xã.

Gần ba vạn đồng bào huyện Hoài Nhơn kéo đến bao vây các thị trấn Tam Quan, Bồng Sơn. Tiểu đoàn 40 đặc công huyện đánh vào căn cứ Đệ Đức (căn cứ của trung đoàn 40 sư đoàn 22 ngụy) diệt nhiều địch, phá hủy 13 máy bay. Du kích các xã trong huyện tiến công các chốt điểm diệt trên 200 địch. Một bộ phận của tiểu đoàn đặc công 40 tập kích tiểu đoàn 2 trung đoàn 40 địch ở Tài Lương diệt 160 tên địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh quyết liệt với địch, buộc chúng phải nhượng bộ. Ở Đồi Mười, xã Hoài Châu, mặc cho địch xả súng bắn vào quần chúng nổi dậy, đội quân đấu tranh chính trị vẫn cứ tiến lên. Quân địch quăng lựu đạn, anh Ngô Bàn nằm đè lên lựu đạn giành lấy cái chết về phần mình để nhân dân khỏi thương vong. Chị Liên giật súng địch bắn địch, chúng bắn lại, chị đã hy sinh. Má Nguyễn cầm cờ đi đầu xông thẳng vào bọn địch, nắm nòng súng địch giơ lên cao cho đạn không trúng vào đồng bào. Cuộc đấu tranh của nhân dân Hoài Châu ở Đồi Mười diễn ra vô cùng quyết liệt. Nhiều tấm gương hy sinh cao cả của các mẹ, các chị đã tô thắm truyền thống cách mạng kiên cường của quê hương Hoài Nhơn Bình Định. Hàng vạn đồng bào các huyện Phù Cát, Bình Khê, Vĩnh Thạnh, An Nhơn... sôi sục xuống đường đấu tranh lật đổ chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu, đòi Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam.

Ở huyện Phù Mỹ, sáng sớm ngày 31 tháng 1, tranh thủ địch đang dồn sức chống lại trung đoàn 2 trên khu vực Bình Trị, đội quân chính trị gần 11.000 người lên đường nhập thị. Địch ngăn chặn quyết liệt, 6.000 đồng bào đã tràn lên nhập thị trong tay có đủ gậy gộc, dao liềm, băng cờ khẩu hiệu tiến vào thị trấn Phù Mỹ, bao vây các nhiệm sở, tranh thủ làm công tác tuyên truyền giải thích chính sách, tranh thủ binh sĩ địch; đồng thời hàng vạn lượt người cùng du kích kéo vào bao vây các chốt điểm và ấp chiến lược thuộc các xã Mỹ Đức, Mỹ Lợi, Mỹ Thọ, 32.800 đồng bào đấu tranh phá bung các khu dồn trở về làng xóm, ta mở vùng giải phóng và vùng làm chủ, mở rộng thêm 19 thôn với 8.000 dân...

Khắp các địa phương sôi động trong không khí tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt. Chỉ trong thời gian từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 29 tháng 2 năm 1968 quân và dân Bình Định đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.317 địch, 300 tên tề điệp, ác ôn. Trong số này Sư đoàn 3 đã diệt 1.288 tên, bộ đội và du kích địa phương diệt 3.020 tên; giải phóng 41 thôn với trên hai vạn dân, buộc địch rút bỏ 20 cứ điểm. Vùng nông thôn khu Đông và khu Nam được mở rộng, tạo thế bàn đạp của ta ở vùng này.

Cùng với chiến thắng chung của cả miền(1), trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968, Sư đoàn 3 và quân dân Bình Định với chiến công của mình, đã góp phần vào chiến công chung của Quân khu 5, đẩy bọn xâm lược Mỹ và các đội quân tay sai của chúng ngày một lún sâu hơn vào thế bị động.

“... Tiến công Tết Mậu Thân là ta đánh đúng vào cơ quan đầu não của địch ở Huế, Sài Gòn và nhiều thành phố khác, vây hãm nhiều ngày bọn địch ở Khe Sanh, đồng thời đánh địch ở khắp vùng nông thôn rộng lớn tạm chiếm, đã giáng một đòn bất ngờ rất lớn, làm cho bọn Mỹ - ngụy hoang mang dao động mạnh...”.

“Cuộc tiến công chiến lược ấy đã giành được những thắng lợi rất to lớn buộc quân Mỹ phải thay đổi chiến lược của chúng, ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ta đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải nhận rằng không thể dùng lực lượng viễn chinh Mỹ để thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ta đã kéo Mỹ phải xuống thang chiến tranh, buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và phải nhận họp hội nghị bốn bên ở Pa-ri”(2).

Tuy nhiên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 trên địa bàn Khu 5 nói chung, địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng cũng có những khuyết điểm, chủ yếu là đánh giá chưa đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch, đề ra kế hoạch và yêu cầu vượt quá sức mình; đánh giá thấp khả năng phản ứng của địch và đánh giá không chính xác khả năng nổi dậy của quần chúng trong các thành thị, nên đã có chủ trương không thích hợp như định chiếm một số thành phố, thị xã, kể cả Đà Nẵng, chủ yếu bằng lực lượng chính trị, nêu ra khẩu hiệu “trung lập hóa quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên”, v.v... là không thực tế... Không nắm vững phương hướng, mục tiêu đánh thắng địch về quân sự... Có ảo tưởng thắng nhanh, dứt điểm dễ dàng... thiếu chuẩn bị chu đáo để đối phó với tình huống khó khăn khi địch phản kích quyết liệt... Trong công tác tư tưởng nhấn mạnh một chiều thuận lợi...”(3).


(1) Chỉ trong một tháng (30-1 đến 2-1968) của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, ta đã tiến công vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, đánh trúng 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong số 11 bộ tư lệnh sư đoàn, quân đội Sài Gòn, hai bộ tư lệnh biệt khu, hai bộ tư lệnh dã chiến Mỹ vào 45 sân bay trong đó có sân bay lớn như Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng. Chu Lai, nhiều tổng kho lớn như: Long Bình, Nhà Bè, Liên Chiểu, Đà Nẵng, v.v...
(2) Nghị quyết Trung ương lần thứ 21, tháng 10 năm 1973.
(3) Quân khu 5 - Thắng lợi và những bài học trong kháng chiến chống Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.103-104.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:37:08 pm
Chương IX
CẢM XÚC BẢY HAI


1

Thắng lợi chiến lược của cuộc tiến công - Tết Mậu Thân đã buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, phải “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh, tạo tiền đề quan trọng dẫn đến sự kiện năm 1972.

Đế quốc Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, chứ chưa phải đã buộc chúng rút khỏi chiến tranh. Vì vậy chúng còn chống phá mạnh hơn, thâm hiểm và xảo quyệt hơn, cố kìm giữ không để thua nhanh, vì Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế và quốc phòng lớn nhất thế giới.

Sau thất bại Tết Mậu Thân, Giôn-xơn đã phải thay đổi chiến lược quân sự từ “tìm diệt” và “bình định” sang chiến lược “quét và giữ”. Nhưng “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh chưa được bao lâu, Ních-xơn thay bằng “Việt Nam hóa chiến tranh” mà bình định nông thôn là biện pháp chiến lược chủ yếu để thực hiện chiến lược ấy.

Hội nghị Khu ủy 5 (mở rộng) họp tháng 4 năm 1969 đã khẳng định muốn đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh”, trước hết phải đánh bại biện pháp chiến lược của địch là bình định nông thôn. Đây là cuộc chiến đấu toàn diện, quyết liệt trên mọi mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế và tư tưởng.

Trong lúc ta đang điều chỉnh lực lượng và thế trận thì địch đã dồn sức phản klch ta hết sức quyết liệt trên cả hai hướng đồng bằng và rừng núi.

Mỹ chọn Tây Nguyên làm thí điểm đưa quân ngụy ra đương đầu với chủ lực ta. Ngày 10 tháng 1 năm 1969 địch tập trung 6 tiểu đoàn của 2 liên đội biệt động quân và trung đoàn 45 sư đoàn 22 ngụy, có máy bay Mỹ yểm trợ, bộ binh Mỹ đứng tuyến sau đánh vào vùng núi Chư Pa (Gia Lai).

Ngày 13 tháng 1 năm 1969, tám tiểu đoàn quân Mỹ và trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy được pháo hạm đội 7 chi viện đánh vào khu vực căn cứ Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tiếp theo các sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn A-mê-ri-cơn, lữ đoàn 173 Mỹ và sư đoàn Mãnh Hổ, sư đoàn Bạch Mã Nam Triều Tiên lần lượt đánh vào các khu căn cứ Giang Rây (Quảng Đà), An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định), Cây Vừng, Kỳ Lộ, Sông Hinh (Phú Yên).

Máy bay B.52 liên tục ném bom rải thảm dọc theo trục hành lang, các khu căn cứ mà bộ binh chúng chưa thể đánh vào. Chỉ trong 10 ngày đầu năm 1969, chúng đả huy động 180 lần chiếc máy bay B.52 ném gần 5.000 tấn bom vào khu vực sở chỉ huy Quân khu 5 ở dọc nam bắc sông Tranh (Quảng Nam).

Cùng với các cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài, lực lượng còn lại của địch cũng bung ra càn quét, đánh phá để gom dân lập ấp khắp các vùng giải phóng, vùng tranh chấp ven biển và vùng đất bằng Tây Nguyên.

Địch ráo riết thực hiện kế hoạch “tam giác chiến”: đẩy mạnh chiến tranh tâm lý; chiêu hồi chiêu hàng; cài cắm gián điệp bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Sâu độc hơn là thủ đoạn bôi đen quần chúng. Chúng bắt mọi người phải ghi tên vào các đảng phái phản động. Ai không đồng ý chúng cũng ghi tên vào danh sách. Bọn tay sai giao việc cho mọi người. Ai không nhận chúng cũng giao, rồi sau đó phao tin người này đã làm được việc này, người kia đã làm được việc kia. Thậm chí chúng còn trắng trợn mang “tặng vật” đến cho một số người vì đã có công giúp chúng phát hiện ra được các cơ sở của “Việt cộng”.

Trong “chiến tranh cục bộ” Giôn-xơn làm một thì thời “Việt Nam hóa chiến tranh” Ních-xơn làm mười, ở Khu 5 sau các cuộc hành quân “bình định” xúc tát dân khốc liệt, lực lượng quần chúng làm chủ các thôn, ấp từ 1,5 triệu người xuống còn 0,5 triệu người. Từ dụ dỗ mua chuộc, vô hiệu hóa cơ sở cách mạng, từ dùng kinh tế đến dùng vũ lực để làm cái gọi là tranh thủ “trái tim khối óc” dân chúng như trực thăng, thiết giáp, súng phun lửa, chất độc hóa học, B.52; địch cố tạo một sự tương phản giữa hai vùng: một bên là chết chóc, bom đạn, đói khát, một bên là yên tĩnh, no đủ... để đi đến mục đích xóa sạch vùng “da báo” ở đồng bằng tiến tới tiêu diệt tận gốc phong trào cách mạng Khu 5.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:39:19 pm
Đó chính là công việc của “bình định” và chống “bình định”, lấn đất, kiểm soát dân và giành dân, giữ dân, giữ quyền làm chủ, cuộc chiến đấu giữa địch và ta diễn ra gay gắt, quyết liệt, dai dẳng hết tháng này sang tháng khác.

Địch tập trung lực lượng, tập trung bom đạn cố sức đánh phá để “giữ” ở vòng trong và “quét” ở vòng ngoài. Ta phải dùng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân tiến công địch ở cả ba vùng chiến lược, cả ở phía trước và phía sau, nhằm tiêu diệt quân cơ động và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, diệt ác phá kìm, hỗ trợ nhân dân đấu tranh.

Do nhận thức, tư tưởng và tổ chức lực lượng chuyển chưa kịp với tình hình, nên sức tiến công của ta chưa đều và chưa rộng. Những trận tiến công đồng loạt hàng trăm mục tiêu tuy vẫn còn có hiệu lực nhưng dần dần mất đi sức chấn động lớn lúc đầu. Địch đã phát hiện được quy luật tiến công ào ạt trong một thời gian ngắn của ta. Khi ta tiến công mạnh chúng co lại cố thủ chờ cho ta hết đạn, hết gạo. Lúc ta lui về củng cố, chúng liên tục bung ra đánh mạnh vào lực lượng cơ sở thôn xã. Trên chiến trường xuất hiện và lặp đi lặp lại một hiện tượng nhưng là hiện tượng không có lợi cho ta. Ta mở đợt hoạt động, diệt được một số đơn vị địch, giành được một số dân, mở rộng quyền làm chủ ở một số thôn xã, nhưng lực lượng cũng bị tiêu hao, buộc phải dừng lại. Lúc đó, địch bung ra phản kích chiếm lại hầu hết vùng ta vừa mở ra, đồng thời chiếm thêm một số thôn xã khác.

Vùng giải phóng và vùng làm chủ của ta mỗi lúc một hẹp. Lính Mỹ, lính ngụy, lính Nam Triều Tiên ngày đêm hỗ trợ cho bọn “bình định” ác ôn đánh phá. Thủ đoạn càn quét gom dân của địch vẫn như cũ nhưng tập trung hơn, quyết liệt hơn. Lính Mỹ phân tán đến đại đội, có nơi đến trung đội lùng sục suốt ngày đêm. Chúng tập kích vào chỗ ở của cán bộ, du kích; phục kích ngăn chặn các đường hành lang từ trên núi xuống. Lính Nam Triều Tiên khi đi phục kích, một tên cõng một tên. Một trung đội thành hai trung đội. Một trung đội kéo về, một trung đội phục lại. Nắm địch không chắc, nên cán bộ và bộ đội ta nhiều lần rơi vào ổ phục kích của chúng.

Trước những thủ đoạn đánh phá quyết liệt của địch, lực lượng ta mỗi lúc một tổn thất. Cơ sở chính trị ở nhiều nơi tan vỡ. Phần lớn các xã chỉ còn một tiểu đội hoặc một tổ du kích. Tỉnh ủy Quảng Đà phải giải thể một số đơn vị tập trung, lấy chiến sĩ người miền Bắc bổ sung cho đội du kích xã.

Mỹ - ngụy ráo riết đôn quân bắt lính, chúng thực hiện được một phần kế hoạch tăng cường lực lượng, tăng cường bộ máy kìm kẹp ở cơ sở và lực lượng “bình định” ở nông thôn (1)

Diễn biến trên đây là sự chống phá của Mỹ trong thế thua. Tất cả các thất bại tiếp sau của chúng có nhiều nguyên nhân trong đó có một nguyên nhân bắt nguồn từ thất bại mùa xuân năm 1968. Ngược lại về ta cũng vậy. Một trong những tiền đề quan trọng để cơ quan Tổng hành dinh(2) của ta đi tới quyết định mở cuộc tiến công chiến lược 1972 cũng bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Quân dân Khu 5 đã làm gì trong cái thời điểm thăng trầm từ cuối năm 1968 đến hết năm 1971? Sách báo hồi đó và sách báo hiện nay đã nói nhiều, ở đây tôi chỉ kể cùng bạn đọc về những gì Sư đoàn 3 đã làm mà tôi được chứng kiến, được tham gia với tư cách là chính ủy của sư đoàn.

Trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1968, chiến trường Bình Định vẫn nóng bỏng bởi bom đạn Mỹ dồn vào các cuộc hành quân phản kích nhằm đẩy Sư đoàn 3 chúng tôi trở lại rừng xanh. Sư đoàn kỵ binh bay số 1 đưa ra “chữa cháy” ngoài Trị - Thiên, địch đưa lữ đoàn 173 Mỹ(3) từ Phú Yên ra. Lữ đoàn có khoảng 100 xe tăng và xe thiết giáp.


(1) Đến cuối năm 1969, tổng quân số Mỹ - ngụy và chư hầu ở Khu 5 tứ 365.000 tên cuối năm 1968 đã tăng lên 380.000 tên. Địch đã tổ chức 15 vạn phòng vệ dân sự có vũ trang, về phương tiện chiến tranh, máy bay tăng 583 chiếc, pháo tăng 115 khẩu, xe tăng, xe thiết giáp tăng 154 chiếc. Mỗi thôn xã có 10-12 tên “cán bộ Phượng Hoàng”, 12 tên cảnh sát, 1-3 trung đội dân vệ, 1-2 đại đội phòng vệ dân sự. Nhiều xã, một tên trong bộ máy kìm kẹp kiểm soát 8-10 người dân. Ở đồng bằng nhiều nơi ta không còn giữ được quyền chủ động, vùng căn cứ rừng núi không ổn định. Dân số vùng giải phóng và vùng căn cứ của ta chỉ còn 838.000 dân.
(2) Thay cụm từ Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh.
(3) Lữ 173 là đơn vị dù, sang Việt Nam được trang bị thêm xe tăng, thiết giáp phù hợp với yêu cầu tác chiến nên còn gọi là lữ đoàn “kỵ binh thiết giáp”.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:40:09 pm
Là một đơn vị có sức đột kích mạnh trên chiến trường miền Trung lúc bấy giờ, vừa đặt chân tới Bình Định, lữ đoàn 173 tổ chức ngay những cuộc hành quân nống lấn, càn quét trên một quy mô lớn. Tên đại tá lữ đoàn trưởng thường huênh hoang - những gì lính “kỵ binh bay” trước đây không làm được thì lính “kỵ binh thiết giáp” sẽ làm được, kết hợp với chiến thuật “thiết xa vận”, lữ đoàn này ném một lúc nhiều chục xe tăng, xe bọc thép vào các cuộc càn quét, cày ủi, bọn bộ binh địch gồm lính của sư đoàn 22 ngụy, sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên rải quân đóng chốt trên khắp các điểm cao, dọc các đường mòn vùng giáp ranh phía tây, các vùng đồng nước và vùng cát ven biển.

Những trận phản kích của lữ đoàn 173 diễn ra dữ dội từ tháng 3 đến tháng 5, nhưng đó chỉ là những biện pháp đối phó với các cuộc tiến công của ta vào các thị xã, thị trấn. Theo chỉ thị của Quân khu, cách tốt nhất đối phó với chiến thuật “thiết xa vận” của lữ đoàn 173 là phải “điều chúng ra tương đối xa thành phố, thị xã, tìm cách chặn chúng lại, vây chặt bằng các hình thức vận động phục kích, vận động tiến công và tập kích diệt từng tiểu đoàn, tiến tới đánh quỵ cả lữ đoàn”.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn họp quán triệt chỉ thị của quân khu và bàn cách thực hiện. Trước hết dành một tháng cho 2 trung đoàn tổ chức củng cố lực lượng, chuẩn bị cho trận đánh lớn. Riêng trung đoàn 12 vẫn tiếp tục hoạt động thu hút và giam chân địch ở khu vực nam Bình Định.

Tuy đã qua những trận phá hủy và bắt sống xe tăng địch ở An Lão (1964), Đèo Nhông (1965) và gần đây trận tập kích diệt cả một cụm xe bọc thép địch ở Diêm Tiêu, nhưng cách đánh xe tăng và xe bọc thép địch vẫn đang còn là vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu. Bên cạnh những khó khăn về chiến thuật, còn một số khó khăn không thể không quan tâm, đó là quân số và vũ khí. Từ trước đến nay, vũ khí đánh tăng của sư đoàn lớn nhất là ĐKZ, nhỏ là AT và thủ pháo tự tạo. Súng B.40 mỗi đại đội chỉ có vài ba khẩu với số đạn rất ít ỏi. B.41 cả sư đoàn mới được trang bị năm khẩu.

Cũng như thời kỳ đối đầu với sư đoàn “kỵ binh bay”, một câu hỏi được đặt ra là, với thực lực hiện nay liệu có thể diệt gọn được đơn vị xe bọc thép Mỹ không? Trận đánh Diêm Tiêu hồi đầu tháng 3 của trung đoàn 22 là một chiến thắng rất đáng khích lệ, nhưng đó mới chỉ là tập kích xe “chết” ban đêm, là trận tập kích cụm đóng quân dã ngoại ban đêm. Còn bây giờ là trận đánh xe bọc thép hành quân ban ngày, có những yêu cầu hoàn toàn khác.

Xuống trung đoàn 2 nắm tình hình và cùng các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn 2 bàn công việc triển khai chuẩn bị, tôi thấy việc giáo dục ý thức trách nhiệm và ý chí quyết thắng phải được coi trọng, tiếp đó mới tiến hành học tập chiến thuật và kỹ thuật đánh xe tăng và xe bọc thép, tư tưởng và lòng tin thông suốt là cơ sở để vượt qua những khó khăn cụ thể.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn chấp nhận công tác chuẩn bị cần đi theo định hướng trên. Giáo dục phát động tư tưởng đi trước một bước, gây khí thế hào hứng tin tưởng, tiếp đến là huấn luyện cách đánh và kỹ thuật cá nhân, nhất là kỹ thuật sử dụng B.40, B.41 sao cho có hiệu quả cao trong tình hình đạn ta có hạn.

Sau một tháng chuẩn bị, khí thế đơn vị đã chuyển biến trông thấy. Phong trào đăng ký “đại đội tình nguyện diệt xe”, “tổ tình nguyện diệt xe”, những cá nhân hăm hở xin nhận B.40, chai cháy, thủ pháo diệt tăng lan rộng khắp các đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ gặp nhau là bàn cách diệt xe cơ giới.

Cuối cùng một phương án tác chiến đã được thống nhất: hai trung đoàn 2 và 22 sẽ mở đợt hoạt động tại khu vực ba xã Mỹ Lộc, Mỹ Trinh, Ân Tường, nơi tiếp giáp với hai huyện Phù Mỹ và Hoài Ân, câu lữ đoàn 173 ra giải tỏa để tiêu diệt chúng ở khu vực An Bảo - nơi ta ém quân trước. Trận địa ém quân hình thành các bộ phận chặn đầu, vận động tiến công bên sườn và bộ phận khóa đuôi.

Ngày 3 tháng 5 sở chỉ huy sư đoàn chuyển đến khu vực Hòn Nọc để tiện theo dõi và chỉ huy chung cả hai hướng nam và bắc tỉnh.

0 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5, phối hợp với chiến trường toàn quân khu, cùng một lúc các đơn vị đặc công, công binh, pháo binh của sư đoàn tiến công 8 cứ điểm và căn cứ, trận địa pháo địch trên đường số 1. Một đoạn đường dài hơn mười ki-lô-mét từ cầu Ông Diệu qua Bình Dương, Đèo Nhông đến giáp quận lỵ Phù Mỹ hoàn toàn bị cắt đứt, buộc bộ chỉ huy quân Mỹ ở Bình Định phải tung lữ đoàn 173 “kỵ binh thiết giáp” đi giải tỏa.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:40:51 pm
Tờ mờ sáng, từng đoàn xe tăng, xe bọc thép từ quận lỵ Phù Mỹ ngạo nghễ xồng xộc theo hướng bác thọc lên. Phía sau đoàn xe là bộ binh Mỹ.

Đến gần cánh đồng An Bảo đoàn xe địch đột nhiên dừng cả lại. Giữa lúc đó một loạt đạn tiểu liên của ta từ ven núi bất thần rộ lên. Rồi một loạt nữa, một loạt nữa... Có tiếng hét của chỉ huy, bọn lính nhảy bổ lên xe, và đoàn xe rú máy, chạy về phía có tiếng súng nổ. Nhưng hai tổ bộ binh của tiểu đoàn 2 được lệnh bắn nhử địch bây giờ nằm im làm cho tên chỉ huy đoàn xe do dự. Khi còn cách trận địa ta 600 mét hắn lại ra lệnh cho đoàn xe dừng lại và tung bọn bảo an lên trước. Một trận đánh nhỏ diễn ra. Ngay từ loạt đạn đầu, 12 lính bảo an ngã gục, số còn lại vội chạy lui bám vào xe bọc thép Mỹ.

Biết chắc có đối phương phía trước mặt, đoàn xe Mỹ ngập ngừng xông lên. 15 chiếc vừa M113, M41 dàn thành hai hàng vừa chạy vừa bắn, chùng chình mãi 12 giờ trưa địch vẫn còn thập thò trước trận địa trung đoàn 2. Thấy có thể đánh được, phó trung đoàn trưởng Vũ Quang Trắc báo cáo xin lệnh nổ súng. Phó sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh khẳng định nhất định chúng sẽ vào gần, và lệnh cho đơn vị hãy đợi! Trận đánh diễn ra càng muộn càng có lợi.

Bọn lính xe tăng dừng lại, mở đồ hộp ra ăn. Một hai tên dò dẫm đi về phía trận địa tiểu đoàn 3. Vẫn chưa có lệnh nổ súng. Rồi trực thăng vũ trang ào lên vãi đạn xuống phía sau trận địa của trung đoàn.

“Tất cả chuẩn bị”. Phó trung đoàn trưởng ra lệnh cho các tiểu đoàn khi thấy đoàn xe tăng lại rồ máy.

“Bắn!”. Nhiều tiếng hô cùng bật lên một lúc. ĐKZ nổ, B.41 nổ, những chiếc xe tăng đang chồm lên bỗng khựng lại, bốc cháy... Lúc đó trên cánh đồng An Bảo đội hình xe tăng và bộ binh địch vỡ ra từng mảng, xế trưa, bọn giặc và 15 xe sống sót mới lọt ra khỏi tầm súng của ta, chỉ còn lại bốn chiếc lui về thôn Tân Ốc.

Sau đó là bom pháo dập tới tấp xuống trận địa của trung đoàn 2. Dứt bom, 15 chiếc xe tăng khác lại tiến vào khu vực trận địa của ta, lại bị các chiến sĩ đại đội 2, tiểu đoàn 2 trụ lại ở thôn An Bảo đánh bật ba đợt tiến công của địch, bắn cháy 2 chiếc.

Vào lúc 14 giờ, có thêm 17 xe tăng và xe bọc thép khác lao vào. Như vậy trên cánh đồng An Bảo lúc đó đã có 30 xe tăng với sự chi viện của nhiều tốp máy bay ném bom và hàng chục trận địa pháo các loại, kể cả pháo 175 “vua chiến trường”.

Mặt trời đã ngả về tây, lúc này là 16 giờ ngày 5 tháng 5. Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi họp nhận định: trước mắt địch có hai khả năng: thứ nhất, địch dùng toàn bộ 30 xe tăng, xe bọc thép và bộ binh tràn vào trận địa lấy xác đồng bọn và giải quyết hậu quả; thứ hai, sẽ huy động thêm trực thăng đổ quân phía sau lưng trung đoàn 2, đánh từ trên xuống, kết hợp xe tăng từ dưới lên nhổ cho được trận địa trung đoàn 2.

Từ nhận định đó chúng tôi thống nhất quyết định - vẫn giữ trung đoàn 22 ở phía Ân Tường, sẵn sàng đánh trực thăng đổ quân và làm lực lượng dự bị. Nếu trung đoàn 2 không diệt được đoàn xe 30 chiếc trước khi trời tối thì phải kim chúng lại bằng được để tổ chức tập kích vào ban đêm.

Hoàng hôn buông nhanh, địch hết đường chạy thoát. 30 xe tăng của chúng cùng với quân lính đi theo đành phải nằm lại trên cánh đồng An Bảo.

Sau khi hai chúng tôi trao đổi thống nhất, đồng chí Sư đoàn trưởng Lư Giang lệnh lập tức cho hai trung đoàn khẩn trương tổ chức trận tập kích quân địch co cụm ngay trong đêm. Đây là thời cơ tốt, cần cố gắng dứt điểm trước khi trời sáng.

Từ giờ phút này máy 2 oát xè xè làm việc liên tục, trên dưới thông suốt, thông tin dồn nén trên từng mảnh giấy mà hiểu được ý định của nhau. Qua máy liên lạc chúng tôi được biết các trung đoàn 2 và 22 theo lệnh của sư đoàn đã chọn đủ 6 đại đội mạnh nhất để làm nhiệm vụ đêm nay và giờ G chính thức nổ súng là 3 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 5.

Hai chúng tôi nhẹ nhõm thở phào và thầm tự hào sư đoàn mình có đội ngũ cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn dũng cảm và tài năng. Quần nhau với địch suốt cả ngày, căng thẳng và mệt nhoài, nhưng kiến thức tham mưu giàu tính ứng dụng được tôi luyện qua trường đại học thực tiễn chiến đấu đã giúp họ giải quyết công việc trôi chảy, từ trận chiến đấu phục kích ban ngày chuyển sang trận tập kích ban đêm; mọi việc điều chỉnh lực lượng, sắp xếp thế trận, tính toán thời gian đều được tiến hành suôn sẻ, để tự tin báo cáo giờ G nổ súng thật đẹp, không sớm quá dễ mắc sơ suất trong công tác chuẩn bị, không muộn quá dễ đẻ số, gây nhiều phức tạp khôn lường.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:41:43 pm
Đêm đó tôi, Sư đoàn trưởng Lư Giang và các cán bộ cơ quan sư đoàn bộ đều thức trắng để được hòa mình vào nhịp sống tất bật của hai trung đoàn để theo dõi, để xử trí kịp thời các tình huống ngoài dự kiến. Cả thảy có bốn báo cáo từ các trung đoàn gửi về. Nhưng giờ này thời gian đã chuyển sang ngày 6 mà không có tin tức gì, như vậy là ổn rồi, mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch.

Trời sáng dần, đằng đông đã ửng hồng. Tất cả đều hồi hộp ngóng chờ! Hay là trận đánh không thành? - Tôi tự hỏi mình và định nhắc trưởng ban tác chiến sư đoàn điện hỏi thì đồng chí báo vụ viên hớn hở đến trước mặt Sư đoàn trưởng Lư Giang - Báo cáo thủ trưởng có điện của trung đoàn 2.

Tất cả hướng về phía sư đoàn trưởng theo dõi. Thấy khuôn mặt anh vui đoán là biết là tin lành.

- Thắng rồi! Thắng... rồi!

Mọi người đứng dậy vỗ tay và chuyền tay nhau bức điện ngắn gọn mà vui, chiến thắng đã nhìn thấy, sờ thấy qua những dòng chữ với bao xúc động.

Thế là trong vòng 18 tiếng đồng hồ, kể từ 11 giờ trưa ngày 5 đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 6, 33 xe tăng và thiết giáp Mỹ đã bị cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 phá hủy, trong đó có hai chiếc còn nguyên vẹn, chỉ tiếc lúc ấy sư đoàn không có ai biết sử dụng để đưa nó về khu giáp ranh cho bà con mình tận mắt nhìn thấy, sờ thấy những con quái vật đã mất thiêng. Ngoài ra 3 đại đội cơ giới và 2 đại đội bộ binh thuộc lữ đoàn 173 đã bị Sư đoàn 3 loại ra khỏi vòng chiến.

Sau trận đánh tôi tranh thủ xuống làm việc với anh Lê Huân, chính ủy trung đoàn 2 về chấp hành chính sách thương binh và chôn cất tử sĩ, nắm tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ sau trận đánh và hỏi về công tác chính trị trong thực hành chiến đấu...

Lê Huân nói: Đúng là cái thằng 173 này rất “cáo”, nó kiêu căng coi thường thằng “kỵ binh bay” cũng có lý. Sau pháo hiệu tiến công, các chiến sĩ xung kích của ta lao về phía địch. Cối 82, cối 60, súng máy từ các hướng nổ giòn vào đoàn xe tăng đậu rải rác từng cụm trên bờ một con suối cạn giữa đồng. Giữa lúc các mũi xung kích đang phát triển thuận lợi thì một nhóm hỏa lực địch rất hiểm xuất hiện ở góc một vườn dừa bắn xả về hướng tiểu đoàn 3. Thì ra trong lúc nhá nhem tối, một số xe tăng địch đã di chuyển đội hình, ngụy trang kín, khiến các chiến sĩ trinh sát không phát hiện được hết. Bây giờ chúng trở thành những ổ đề kháng hết sức lợi hại...

- Cái nham hiểm của địch lại là bài học có ích cho ta - Tôi nói.

- Đúng thế! Thất bại là mẹ thành công - Lê Huân tâm đắc và thêm - Trận sau còn giở ngón này sẽ thua đậm hơn.

Sau trận An Bảo, Sư đoàn 3 còn năm lần đọ sức với lữ đoàn 173 Mỹ ở Ân Tường, Đèo Nhông, cánh đồng Trinh Vân, phá hủy thêm 10 xe tăng, xe bọc thép Mỹ.

Chúng tôi không bao giờ nói là mình đã đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của Mỹ. Nhưng qua sáu lần đụng đầu, sư đoàn đã góp phần chứng minh lời tuyên bố của viên đại tá lữ đoàn trưởng lữ đoàn 173 khi mới đặt chân đến Bình Định là hoàn toàn khoác lác, một thuộc tính vốn có của quân đội Mỹ.

Vào 7 giờ sáng ngày 25 tháng 5, một đoàn xe tăng và xe bọc thép 36 chiếc thuộc lữ đoàn 173 và một chi đoàn xe bọc thép của trung đoàn 41 ngụy mở cuộc hành quân giải tỏa hỗn hợp lên phía tây quận Phù Mỹ. Khi đến cánh đồng thôn Trinh Vân, xã Mỹ Trinh, chúng thận trọng tiến theo đội hình chữ V và nham hiểm bắt dân đi hai bên. Sư đoàn lệnh cho các đơn vị bí mật xuất kích. Đặc biệt 2 đại đội khóa đuôi phải khép đội hình thật kín không cho chúng chạy thoát...

Cuộc chiến đấu diễn ra gay go ác liệt. Cho tới tận chiều tối, đoàn xe địch mới rải rác chạy về đường số 1. Lúc đi 36 chiếc ầm ầm cuốn bụi dài hàng ki-lô-mét, khi về vẻn vẹn còn 10 chiếc mang đầy thương tích.

Sau trận đọ sức cuối cùng này, Sư đoàn 3 được lệnh của Quân khu chuyển địa bàn hoạt động ra Quảng Ngãi, tham gia chiến dịch X.2 của Quân khu với nhiệm vụ: Đánh thiệt hại nặng sư đoàn 2 ngụy ở vùng Tư Nghĩa, Nghĩa Hành; kìm chân sư đoàn A-mê-ri-cơn Mỹ ở vùng Mộ Đức, Đức Phổ, giải phóng quận lỵ Sơn Hà. Nhiệm vụ nặng nề, địa bàn rộng mà lực lượng thực hiện lại ít, vừa trải qua cuộc chiến đấu rất ác liệt với lữ đoàn 173 Mỹ. Ta thắng lớn, góp phần đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của Mỹ trên đất Bình Định, nhưng ta cũng tổn thất không nhỏ. Quân số đạn dược đã thiếu lại càng thiếu hơn. Bộ đội cũng thấm mệt, bởi suốt sáu tháng chiến đấu chưa một ngày được nghỉ ngơi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:42:19 pm
Lại một thử thách lớn đến với sư đoàn!

Không có cách nào khác, chúng tôi lại bắt đầu bằng động viên, khơi gợi phát huy truyền thống của sư đoàn vượt lên khó khăn mà đi tới.

Đầu tháng 6 chúng tôi xốc lại đội hình, lầm lũi ngược ra phía bắc. Vẫn là đội hình sư đoàn thiếu, vì trung đoàn 12 vẫn phải có mặt ở nam Bình Định.

Bộ chỉ huy Mặt trận Quảng Ngãi được thành lập, do đồng chí Lư Giang - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 làm chỉ huy trưởng, đồng chí Phạm Viết Thanh (tức Biền) - Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi làm chính ủy.

Chiến dịch mở màn vào ngày 22 tháng 8 và kết thúc vào ngày 5 tháng 10. Trong chiến dịch này, tuy không giải phóng được quận lỵ Sơn Hà, nhưng sư đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.546 tên Mỹ - ngụy, diệt gọn một tiểu đoàn và 10 đại đội, san bằng bốn cứ điểm, góp phần cùng Mặt trận Quảng Ngãi tiêu diệt 8.921 tên địch, bắn cháy 49 xe quân sự, có 25 xe thiết giáp, bắn rơi 17 máy bay; hỗ trợ cho 47 cuộc đấu tranh quy mô của 39.870 lượt đồng bào thị xã Quảng Ngãi và các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ.

Bước sang năm 1969, sư đoàn vẫn được lệnh hoạt động ở hai khu vực chính: các trung đoàn 2, 22 ở Quảng Ngãi, trung đoàn 12 ở Bình Định.

Sư đoàn vẫn gặp khó khăn về quân số, đạn, gạo. Trung đoàn 12 ở phía nam, có trận đánh vì thiếu gạo phải trở về, cán bộ chiến sĩ đã phải nhường nhau từng nắm ngô rang, từng hạt gắm ăn trừ bữa. Trung đoàn 2 và trung đoàn 22 gần sự chi viện của Quân khu hơn nhưng vẫn không sao khắc phục được những khó khăn ấy vì ngay Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu cũng đứng trước tình trạng đói gạo, đói muối gay gắt.

Để phối hợp với chiến trường chung và giải quyết khó khăn trước mắt, Bộ tư lệnh sư đoàn họp nhận định những việc đã làm được, chưa làm được và quyết định chuẩn bị mọi mặt, giữa tháng 2 năm 1969 mở cuộc hành quân thọc thẳng xuống vùng sâu, phối hợp với các lực lượng bộ đội tỉnh, huyện, du kích và nhân dân địa phương mở chiến dịch Xuân Hè ở trung tâm địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đối tượng tác chiến chủ yếu vẫn là sư đoàn A-mê-ri-cơn Mỹ và sư đoàn 2 ngụy.

Theo kế hoạch được Bộ tư lệnh sư đoàn thông qua, đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 2, đặc công sư đoàn tiến công cứ điểm Gò Huỳnh diệt 80 lính Mỹ và đại đội bảo an số 425. Cùng lúc, lần lượt các vị trí Đồi Tranh, Gò Đa, Núi Chóp và hàng loạt cứ điểm khác cũng bị ta tiến công, ở Núi Chóp đại đội đặc công trung đoàn 22 đánh một trận xuất sắc, diệt gọn 1 đại đội Mỹ 80 tên, phá hủy 3 khẩu pháo 105.

Ngày 23 tháng 2, Nguyễn Hữu Quang - tham mưu trưởng tiểu đoàn đặc công, người chiến sĩ trinh sát đánh sập cầu Bồng Sơn năm 1966, đã chỉ huy đánh sập cầu Châu Ổ trên đường số 1, bắc thị xã Quảng Ngãi. Con đường chi viện của địch từ nam ra bắc. tỉnh bị cắt đứt. Chớp thời cơ, các lực lượng vũ trang địa phương đột nhập vào yếu khu Trà Khúc và khu vực cảnh sát thị xã Quảng Ngãi, đại đội bảo an bảo vệ khu vực này bị diệt gọn. Các đại đội đặc công, biệt động thị xã, du kích mật, tiểu đoàn đặc công quân khu... tiến đánh trụ sở tình báo Mỹ và Ca-na-đa, làm chủ nhiều khu vực và đường phố thị xã.

Ngay trong ngày 23 tháng 2, chuẩn tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh sư đoàn 2 ngụy đẩy 4 tiểu đoàn cùng 2 chi đoàn xe bọc thép vào giải tỏa. Ngày 24, Toàn ném thêm 2 tiểu đoàn và 1 chi đoàn xe bọc thép chi viện cho cuộc hành quân. Nhưng cả 6 tiểu đoàn và 3 chi đoàn xe bọc thép đã bị trung đoàn 22 Sư đoàn 3 chặn đứng trên các cánh đồng và các làng mạc.

Hết lực lượng dự bị, chuẩn tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ còn trông chờ sự hỗ trợ giúp y thoát khỏi vũng lầy ở ngoại vi thị xã Quảng Ngãi, là lữ đoàn 11 sư đoàn A-mê-ri-cơn. Nhưng lữ đoàn này cũng đang bị trung đoàn 2 Sư đoàn 3 của ta tiến công liên tục và bị giam chân ở vùng Mộ Đức, Đức Phổ. Trước tình hình nguy ngập, tên tỉnh trưởng Quảng Ngãi phải ra lệnh cho quân ngụy rút bỏ 20 đồn bốt cứ điểm, dồn lực lượng về bao quanh các khu vực ven thị xã và đường số 1.

Sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy diễn ra ăn khớp đã góp phần làm cho vùng giải phóng ngày càng được mở rộng. Thanh niên nam nữ các thôn xã nô nức tòng quân. Chỉ tính riêng hai huyện Sơn Tịnh và Nghĩa Hành, trong vòng ba tháng kể từ khi bắt đầu chiến dịch đã có 2.000 thanh niên tạm biệt quê hương gia nhập quân giải phóng và đi dân công hỏa tuyến.

Thắng lợi của chiến dịch Xuân năm 1969 trên chiến trường Quảng Ngãi mang sắc thái rõ rệt của một chiến dịch tiến công tổng hợp, có vai trò to lớn của nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương. Khi Sư đoàn 3 thực hiện kèm Mỹ, diệt ngụy thì các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Quảng Ngãi tiến công thẳng vào trung tâm thị xã, thị trấn, thị tứ khác nằm dọc theo đường số 1, bước đầu làm phá sản biện pháp chiến lược “giữ” trong “quét” ngoài của tướng A-bram, tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam (vừa thay tướng Oét-mo-len).


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:45:03 pm
*
*   *

Giữa lúc cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 3 chúng tôi đang bước vào đợt hoạt động mới thì được tin (thông báo nội bộ) - Bác Hồ lâm bệnh. Nỗi buồn ập đến nhưng chúng tôi vẫn tin là Bác sẽ qua khỏi, hy vọng Bác mau khỏe để lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta chiến đấu đưa sự nghiệp thống nhất Tổ quốc tới đích thắng lợi... Khi Bộ tư lệnh Quân khu điện xuống báo tin Bác mất, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, sửng sốt, có cả nỗi xót xa, ân hận như thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm!

Ngay đêm 3 tháng 9, một bàn thờ Bác được dựng lên tại sở chỉ huy sư đoàn, đơn giản mà thành kính để các đơn vị trực thuộc sư đoàn về viếng Bác và một đợt thi đua “Làm theo Lời Bác” được phát động.

Theo điện triệu tập, tôi và anh Biền, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi về dự Lễ truy điệu Bác do Khu ủy tổ chức. Ngày 11 tháng 9, Lễ truy điệu Bác được cử hành trọng thể trang nghiêm, có đại biểu các tỉnh và các đơn vị vũ trang từ bắc đường 19 trở ra. Tất cả chúng tôi trong tư thế nghiêm trang, lặng người nhìn lên ảnh Bác với tình cảm ngậm ngùi thương tiếc; chăm chú lắng nghe từng chữ, từng câu ngắn gọn mà đầy đủ, giản dị mà thiêng liêng trong Di chúc của Bác.

Trong những giây phút đầy đau thương và xúc động này, mỗi người chúng tôi đều có chung một suy tư - từ nhân cách trong sáng và vĩ đại của Bác mà soi vào mình để thấy mạnh yếu của bản thân, thầm hứa trước vong linh Bác sống trung thực, khiêm tốn, luôn tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Sau khi dự lễ truy điệu Bác Hồ do Thường vụ Khu ủy 5 tổ chức ngày 11 tháng 9 năm 1969 tại Nước Len thuộc huyện Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, tôi làm việc với Bộ tư lệnh Quân khu 5 do đồng chí Đoàn Khuê chủ trì trong 2 ngày để làm kế hoạch thực hiện Di chúc Bác Hồ và làm việc riêng với từng đơn vị.

Đồng chí Đoàn Khuê cho biết khái quát tình hình địch và ta từ sau tết Mậu Thân. Đồng chí Đoàn Khuê nói:

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, “phi Mỹ hóa” và “Việt Nam hóa chiến tranh”, chứ chưa buộc chúng rút khỏi chiến tranh, nhưng dứt khoát Mỹ sẽ rút khỏi chiến tranh Việt Nam. Vì vậy chúng còn chống phá mạnh hơn, thâm hiểm và xảo quyệt hơn, cố kìm giữ không để thua nhanh, vì Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn nhất thế giới. Sau thất bại Mậu Thân, Giôn-xơn đã phải thay đổi chiến lược quân sự từ “tìm diệt” sang chiến lược “quét và giữ” và “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Nhưng chưa được bao lâu, Ních-Xơn thay bằng “Việt Nam hóa chiến tranh” mà bình định nông thôn là biện pháp chiến lược chủ yếu để thực hiện chiến lược ấy.

Quân khu 5 trong nhiệm vụ chống phá bình định đã có nhiều thành tích, nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế. Quần chúng nổi dậy chưa thật mạnh mẽ vì địch còn đóng chốt điểm nhiều nơi (mỗi xã có từ 5 đến 10 chốt điểm), kết hợp với nhiều cụm cứ điểm kiên cố và lực lượng cơ động gồm nhiều chiến đoàn, trung đoàn, sư đoàn cơ động trong từng tỉnh và từng khu vực nhiều tỉnh để đánh phá tàn khốc và kẹp dân.

Đến phần làm việc riêng với Sư đoàn 3 đồng chí tập trung hướng dẫn, chỉ đạo:

Về lực lượng chính trị quần chúng nổi dậy. Phải kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương tỉnh, huyện dân quân du kích tiêu diệt, bức hàng bức rút làm tan rã lớn quân địch thực hiện cho được phương châm “chủ lực diệt một, địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích kết hợp với quần chúng nổi dậy tiêu diệt, bức hàng bức rút mười”. Các đồng chí đã nghe về chiến thuật và phương pháp phát động quần chúng nổi dậy.

Hôm nay tôi (đồng chí Đoàn Khuê) tập trung nói về công tác chính trị làm cho bộ đội thành thạo các chiến thuật quân sự đã xác định và phương châm, phương pháp phát động quần chúng nổi dậy kết hợp với tiến công quân sự để tiêu diệt bức hàng, bức rút và làm tan rã nhiều cứ điểm, nhiều đơn vị địch.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:45:43 pm
Tôi (đồng chí Đoàn Khuê) gợi ý để các đồng chí nghiên cứu và trao đổi ngay và về làm rồi quân khu sẽ có kiểm tra và rút kinh nghiệm. Trong công tác đảng, công tác chính trị làm cho bộ đội thành thạo chiến thuật thì người cán bộ chính trị phải biết rõ đối tượng địch, nội dung chiến thuật và đội hình hình thành chiến thuật sắp áp dụng để làm cho công tác tư tưởng và công tác tổ chức, cán bộ đạt được mục đích của chiến thuật và phải làm cho công tác tư tưởng, công tác cán bộ, công tác tổ chức, kể cả công tác bảo đảm kỹ thuật, công tác bảo đảm hậu cần gắn chặt với từng chiến thuật, từng đơn vị.

Ví dụ: Do yêu cầu và tính chất của chiến thuật. Bao vây đánh lấn, bao vây tấn công diệt cụm cứ điểm, chi khu quận lỵ là phải đánh trong điều kiện rất ác liệt, khá phức tạp, dài ngày, về đội hình gồm nhiều thành phần khác nhau với yêu cầu khác nhau nên công tác tư tưởng phải làm cho cán bộ, chiến sĩ chủ động, phải thắng từng bước và thắng triệt để về mặt công tác tổ chức và cán bộ phải xây dựng được đảng bộ và chi bộ vững mạnh trong sạch trong các thành phần của chiến thuật. Các mũi, tổ chiến đấu phải xây dựng cán bộ đảng viên, cốt cán thật kiên định về ý chí, thành thạo về chiến thuật, kỹ thuật, nghiệp vụ, đạt tỷ lệ gấp rưỡi hoặc gấp đôi ở thành phần các đội hình quan trọng; các tổ, mũi và số người giữ vị trí chủ yếu trong chiến thuật và kỹ thuật phải cao hơn các đơn vị nói chung.

Về công tác đảng, công, tác chính trị trong chiến thuật ta đã có kinh nghiệm ít nhiều.

Công tác đảng, công tác chính trị trong quán triệt thực hiện phương châm, phương pháp phát động quần chúng nổi dậy phải đạt được yêu cầu quần chúng có giác ngộ cao, có tổ chức đội hình chặt chẽ, có chỉ huy lãnh đạo vững vàng, nhạy bén xử trí có hiệu quả làm chuyển biến tình hình. Thực hiện được ba mũi giáp công tại cơ sở, tại chỗ, tại chiến trường, tại địa điểm cụ thể và mục tiêu cụ thể của chiến tranh đặc biệt và “Việt Nam hóa chiến tranh” thì ta còn ít kinh nghiệm. Đề nghị các đồng chí nỗ lực vận động giáo dục, tổ chức, thử nghiệm và rút kinh nghiệm trong năm 1970 và năm 1971 để Quân khu 5 hình thành được thế trận vững chắc ba mũi giáp công ở cơ sở và trong từng tỉnh. Tôi trở lại sư đoàn vào hạ tuần tháng 9, lúc này đơn vị đã chuyển về tây sông Re. Quốc tang Bác đã kết thúc mà không khí trong sư đoàn vẫn trầm lắng hướng về Bác, nhưng ai nấy đều khẩn trương, nghiêm túc hoàn thành công việc chuẩn bị với tinh thần biến đau thương thành sức mạnh cho nhiệm vụ mới đang chờ.

Tháng 12 năm 1969, Sư đoàn 3 được lệnh của Quân khu trở lại Bình Định trong khi Bộ tư lệnh chúng tôi đang bàn tính một kế hoạch hoạt động quân sự năm 1970 trên mặt trận Quảng Ngãi.

Thế là lại tạm xa vùng đất và con người cùng chia ngọt sẻ bùi hơn một năm ròng khốc liệt. Cũng vẫn con đường ra đi nay theo nó trở về nhưng cảnh sắc thì đổi thay. Cây rừng ngả nghiêng, đổ gãy, héo úa, mặt đường bị băm bổ cày xới. Đó là kết quả của các chiến dịch tàn phá hành lang, vít lối cửa khẩu của quân thù bằng tối đa bom đạn và chất độc hóa học. Con đường trở nên ngoằn nghèo quanh co, khó đi, thời gian trở về như dài ra, mệt nhọc và nhức nhối hơn.

Cả sư đoàn tạm thời tập kết ở khu vực dốc An Toàn thượng nguồn sông Côn. Không biết từ bao giờ đả thấy anh Đặng Thành Chơn, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định và một số cán bộ trong tỉnh đứng trên đỉnh dốc đón các chiến sĩ sư đoàn như đón người thân đi chiến đấu xa trở về. Mừng mừng tủi tủi, anh Đặng Thành Chơn nắm chặt tay tôi, mát chớp chớp để dòng lệ khỏi rơi, nói:

- Được Quân khu thông báo, tụi này ngày nào cũng nhắc đến Sư đoàn Sao Vàng.

- Nhận lệnh là chúng tôi lên đường ngay, nhưng đường về khó đi quá! - Tôi đáp.

Ngay chiều hôm đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh sư đoàn và Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định họp liên tịch để bàn kế hoạch phối hợp thực hiện chống phá “bình định” của Khu ủy.

Thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn, tôi báo cáo đồng chí Bí thư Tỉnh ủy kết quả đợt hoạt động và sự trưởng thành của đơn vị qua một năm chiến đấu và xây dựng trên chiến trường Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:46:19 pm
Các đồng chí tỉnh ủy cho biết sau khi sư đoàn ra Quảng Ngãi, tại chiến trường Bình Định chỉ còn trung đoàn 12 hoạt động ở một địa bàn quá rộng, vì vậy không thể kìm chế được những thủ đoạn nham hiểm của địch trong thời điểm chúng tập trung sức “bình định cấp tốc”, “bình định bổ sung” ở những địa bàn trọng điểm. Tháng 4 năm 1969, chúng làm thí điểm ở một số khu vực An Thái, Hoài Mỹ, Chánh Khoan, Tân Phụng, rồi thực hiện rộng ra toàn tỉnh. Tình hình trên gây cho tỉnh vô vàn khó khăn, tổn thất. Hầu hết những vùng giải phóng trong những năm 1967, 1968 đều bị địch chiếm lại. Chúng còn lấn sâu hơn lên vùng giáp ranh, đóng chốt trên các núi cao, càn quét, đánh phá dai dẳng các khu hậu cứ, cắt đứt các trục đường vận chuyển nối liền với đồng bằng.

Tuy vậy tấm lòng người dân Bình Định lúc nào cũng như lúc nào, luôn luôn kiên trung, bất khuất, sống chết với cách mạng, với sự nghiệp giải phóng đất nước. Cơ sở cách mạng ở các nơi vẫn vững vàng. Hiện nay tỉnh đang rất cần một lực lượng vũ trang đủ sức làm nòng cốt cho phong trào địa phương đánh phá “bình định” của địch. Giữ vững được địa bàn Bình Định là giữ vững được thế chia cắt chiến dịch, chiến lược đối với địch trên toàn chiến trường Trung Trung Bộ.

Đến lúc ấy, nhiều cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn mới hiểu rõ hơn vì sao Quân khu lại điều gấp sư đoàn trở lại Bình Định.

Tôi xúc động muốn khóc khi được nghe những tin tức không vui này. Bỗng trong tâm tưởng tôi lại hiện về những kỷ niệm khó quên của hai chuyến đi xuống vùng đông Phù Mỹ cách đây chưa đầy ba năm. Ngày ấy cả tiểu đoàn hai lần đứng chân ở thôn Dương Liễu (xã Mỹ Thành) bốn bề nước biển mênh mông, đêm ngày nghe tiếng rì rào của cây dương chắn gió cát mà địch vẫn không hề biết mặc dầu đồn quân Nam Triều Tiên nằm cuối thôn Dương Liễu, bắc cửa biển Đề Gi rất gần. Cả cơ quan nhẹ sư đoàn bộ và một đại đội bảo vệ hai lần đi về đều ở Tân Phụng sống trong tình che chở đùm bọc của bà con cô bác. Hai lần Mỹ càn vào tới cổng làng là cả hai lần được chị Hòa, anh Bình dành cho căn hầm bí mật tốt nhất, nhờ đó mà thoát hiểm. Giờ đây chúng lấy nơi đó làm thí điểm chà xát, dùng tất cả các thủ đoạn tàn bạo, thâm độc cả bằng vũ lực và tâm lý chiến dồn đẩy người dân đến cùng cực để nhân rộng ra trong việc thực hiện âm mưu “tát nước bắt cá”. Nhưng càng áp bức, đè nén chúng càng tạo thành sức bật mạnh mẽ trong nhân dân ta.

Cũng trong cuộc họp này, một kế hoạch tác chiến của Mặt trận Bình Định trong chiến dịch Xuân Hè năm 1970 đã được gấp rút hình thành.

Theo phương án chung của quân khu, chiến dịch nhằm diệt một bộ phận sinh lực địch, kéo chủ lực Mỹ - ngụy ra vùng giáp ranh, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương diệt kẹp, phá kìm giành dân ở đồng bằng, ở Mặt trận Quảng Đà, bộ đội chủ lực mở chiến dịch Thượng Đức, Sư đoàn 2 tiến đánh Hiệp Đức. Sư đoàn 3 kết hợp với bộ đội địa phương Bình Định khôi phục và mở rộng vùng giải phóng trong toàn tỉnh. Cụ thể là, trung đoàn 2 đánh quân địch ở quận lỵ Phù Mỹ, trung đoàn 22 kìm và tiêu diệt lữ đoàn 173, trung đoàn 12 vẫn chiến đấu ở phía nam tỉnh. Đối tượng tác chiến chủ yếu là bọn bảo an, dân vệ đóng chốt kẹp dân.

Cho đến lúc xuất quân, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi vẫn còn phải tính toán rất căng thẳng về tình hình cụ thể của các đơn vị. Hiện tại, mỗi đơn vị chỉ còn 50 phần trăm cơ số đạn dược, làm sao có thể chiến đấu liên tục trong một thời gian dài? Hơn nữa, sau một năm chiến đấu trong điều kiện khó khăn thiếu thốn ở chiến trường Quảng Ngãi, bộ đội chưa được nghỉ ngơi.

Suy nghĩ mãi, cân nhắc mãi, câu trả lời cuối cùng và duy nhất vẫn là dân. Phải dựa vào dân nhưng trước hết phải giành lấy dân thì mới có chỗ dựa. Cái gì sư đoàn không có, dân sẽ có. Dân mãi mãi là nguồn sống vô tận của sư đoàn.

Bằng cách dùng lực lượng vừa và nhỏ luồn lách đánh bọn địch phục kích rải rác trên núi, buộc chúng phải co lại, sau một tuần, trung đoàn 2 và trung đoàn 22 đã đưa lọt phần lớn lực lượng xuống vùng ven thuộc hai huyện Phù Mỹ và Hoài Nhơn.

Để tạo được thế đứng chân ban đầu ở đồng bằng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng trăm người khác bị thương, chưa kể đến sự tổn thất của các lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân. Nhưng điều lớn nhất, cơ bản nhất trong giai đoạn này sư đoàn đã đạt được là sợi dây giữa dân với cách mạng, giữa dân với sư đoàn đã được nối liền, mặc dầu cơ sở bị địch chà xát khốc liệt.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2022, 04:47:53 pm
Sư đoàn cũng đã bắt đầu đánh được một số trận, nhưng lực lượng còn bị rải mỏng, chưa đủ sức làm nòng cốt cho phong trào. Để phù hợp với tính chất hoạt động mới và tăng cường lực lượng địa phương trong giai đoạn đánh phá “bình định” nông thôn của địch, tháng 2 năm 1970, quân khu chấp nhận ý kiến đề nghị của tôi, quyết định cho phân tán trung đoàn 22 Sư đoàn 3: Tiểu đoàn 7 ra Quảng Ngãi; tiểu đoàn 8 về Bình Định; tiểu đoàn 9 vào Phú Yên. Số còn lại bổ sung cho trung đoàn 2, trung đoàn 12 và sư đoàn bộ.

Sau khi trung đoàn 22 bổ sung cho các nơi; sư đoàn chỉ còn trung đoàn 2, trung đoàn 12 và các đơn vị trực thuộc, xem như một sư đoàn thiếu. Qua đợt hoạt động tạo bàn đạp thắng lợi, trên cơ sở phối hợp với lực lượng vũ trang Bình Định, sư đoàn quyết định đẩy chiến dịch Xuân Hè lên một bước cao nhằm khôi phục lại phong trào cách mạng của hai huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn và một số khu vực phía nam tỉnh, cụ thể là:

- Trung đoàn 2 và tiểu đoàn đặc công của sư đoàn làm lực lượng chủ yếu có nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đoàn 3 ngụy đang tham gia “bình định” ở Phù Mỹ. Mặt khác, sư đoàn dùng một bộ phận lực lượng còn lại kìm, kéo tiêu hao quân cơ động của lữ đoàn 173 và lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở vùng hậu cứ trên núi.

- Phía nam tỉnh, trung đoàn 12 một mặt tiếp tục đánh giao thông trên đường 19, một mặt dùng từng đại đội tinh gọn luồn sâu vào vùng địch, ngày giấu quân dưới hầm bí mật của dân, đêm bật dậy đánh địch.

Phương châm hoạt động của sư đoàn trong thời gian này là “kìm Mỹ, diệt ngụy, phá kèm, giành dân”.

Sư đoàn quyết định chọn Núi Lá (tây Phù Mỹ) là điểm mở màn cho đợt hai của chiến dịch nhằm đánh điểm diệt viện.

Nửa đêm ngày 31 tháng 3, tiểu đoàn đặc công sư đoàn tiến công Núi Lá. Chỉ sau 15 phút, toàn bộ tiểu đoàn 3 ngụy (thiếu) và một trung đội thuộc trung đoàn 41 ngụy đã bị tiêu diệt và bắt sống. Lửa bốc cháy dữ dội cho đến sáng.

Núi Lá mất kéo luôn cả tuyến phòng thủ phía tây Phù Mỹ lung lay theo. Đây là trận đánh tập trung tiểu đoàn đầu tiên của đặc công đạt hiệu suất chiến đấu rất cao.

Cùng với Núi Lá, một loạt 15 cứ điểm, trận địa pháo, quận lỵ... từ bắc xuống nam tỉnh bị sư đoàn và các đơn vị bộ đội địa phương tiến công dồn dập. Tin chiến thắng liên tiếp bay về thì ở sở chỉ huy sư đoàn, Bộ tư lệnh chúng tôi cũng vừa duyệt xong phương án đón đánh quân giải tỏa do trưởng ban tác chiến sư đoàn trình bày. Và những gì xảy ra sau đó đúng như phương án đã vạch, chỉ xê xích chút xíu về thời gian.

Ngày 5 tháng 4, một tiểu đoàn Mỹ thuộc lữ đoàn 173 đổ xuống khu vực rừng dầu Cát Sơn và khu đồi tranh xã Mỹ Hiệp, nhằm thực hiện giải tỏa từ xa. Bộ tư lệnh sư đoàn đã dự kiến tình huống này. Cả bọn Mỹ cũ lẫn bọn vừa đổ xuống đều bị tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 kìm chân tại chỗ. Trong khi đó tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 đã thọc xuống đông Phù Mỹ, tiến công một loạt “ấp chiến lược” ở các xã Mỹ Đức, Mỹ Chánh, Mỹ Thọ... diệt và bắt sống hàng trăm tên bảo an, dân vệ, cán bộ “bình định”. Không còn cách nào khác, ngày 8 tháng 4, địch ở Phù Mỹ đành phải tung 11 xe bọc thép và GMC chở một đại đội bộ binh đi cứu viện. Nhưng bọn đi cứu viện mới đến đoạn đường giáp giới giữa hai xã Mỹ Chánh, Mỹ Thọ đã bị đại đội 2, tiểu đoàn 2 phục kích tiêu diệt.

Càng về cuối mùa hè cách đánh của bộ đội, du kích càng táo bạo, mưu trí và linh hoạt. Bọn ngụy quyền xã, ấp, cán bộ “bình định” nông thôn ở nhiều nơi ban đêm đã phải bỏ trốn vào Quy Nhơn, Bồng Sơn và các quận lỵ, ban ngày mới dám ló mặt ra trụ sở hội đồng xã.

Không khí vùng quê dịu dần, đồng bào đã bàn tán công khai về chuyện nổi dậy phá khu dồn trở về làng cũ. Ở những vùng “ngày địch, đêm ta”, chiều chiều đã thấy xuất hiện những cô du kích đội mũ tai bèo, xách súng đi tuần tra.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:33:27 am
Ở đồng bằng, các tiểu đoàn bộ binh ta tiếp tục đánh mạnh vào quân chủ lực ngụy và bảo an, dân vệ, phá “ấp chiến lược”, phá khu dồn. Nhưng do lực lượng mỏng lại căng ra trên một địa bàn rộng, lực lượng địa phương còn yếu nên khi bộ đội vừa rút đi, bộn địch đã líp(1) lại như cũ. Đúng là cuộc đấu tranh ta địch trên lĩnh vực “bình định” và “chống bình định” diễn ra thật gay go quyết liệt, giành lại giật đi. Được cái này, cái khác lại phát sinh ra, lại phải suy tính, họp bàn. Cuối cùng Bộ tư lệnh sư đoàn đã thấy lối ra, và quyết định muốn hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, phải quét sạch bọn dân vệ, bảo an, bọn ngụy quyền thôn xã và bọn ác ôn “bình định”. Không diệt được bọn này, quần chúng khó nổi dậy. Do đó đối tượng tác chiến trước mắt của các chiến sĩ Sư đoàn 3 không phải là quân chủ lực Mỹ - ngụy, Nam Triều Tiên mà là bọn lính bảo an, dân vệ, bọn ngụy quyền ác ôn. Nhưng muốn diệt được chúng phải có cách đánh và phương thức hoạt động thích hợp. Hơn nữa, ngoài bọn hoạt động công khai, còn dày đặc những loại chỉ điểm “chìm” cài trong dân dưới nhiều hình thức trá hình khác nhau. Bọn này hết sức thâm độc và nguy hiểm, chúng thường được mệnh danh là “kẹp” của “kẹp”.

Tóm lại là, muốn hoàn thành nhiệm vụ hết sức gian khổ và phức tạp kể trên, sư đoàn yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ phải làm tốt hai chức năng: vừa là người lính chủ lực có kỹ năng chiến đấu cao vừa là người cán bộ phong trào giỏi.

Sau khi nghiên cứu tình hình thực tiễn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn đã họp và thống nhất chủ trương lấy đại đội là đơn vị tổ chức thực hiện phối hợp với địa phương và du kích luồn sâu hơn nữa vào vùng địch kiểm soát. Khi cần đại đội có thể phân tán thành từng tổ làm công tác vận động quần chúng. Đồng thời sư đoàn vẫn dành một phần lực lượng cơ động, sẵn sàng đánh tập trung tiểu đoàn hoặc tiểu đoàn tăng cường đề phòng địch đi giải tỏa.

Được chuẩn bị kỹ cả về nhận thức, tư tưởng và kỹ năng chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã vận dụng phương thức hoạt động mới có hiệu quả. Từ các nơi báo cáo về sư đoàn nhiều điển hình về phương thức chiến đấu mới.

Đêm ngày 4 tháng 6, đại đội trưởng Võ Thành Khuê phụ trách một tổ ba chiến sĩ lọt vào khu vực nhà hội đồng xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ. 8 giờ sáng, theo lệ thường, bọn cán bộ hội đồng mới từ quận lỵ phóng xe hon-đa tới. Chờ cho cả 11 tên bước vào trong nhà, Khuê và ba chiến sĩ ập tới. Trong năm phút cả một “mâm” tề xã bị diệt gọn. Cùng một đêm “lốt” quân tương tự, Khuê đã chỉ huy năm chiến sĩ diệt sạch một trung đội bảo an ở sân nhà cụ Ba Hiền, giữa ấp Gò Dựa, xã Mỹ Hiệp.

Những trận đánh nhỏ lẻ, bất ngờ và liên tục như vậy gây kinh hoàng cho bọn tề điệp, ác ôn. Lúc nào và ở đâu chúng cũng nơm nớp lo bị đánh. Chúng vội vã thay đổi quy luật làm việc, đi lại nhưng vẫn không thoát, vì đã có hàng ngàn tai mắt của nhân dân dõi theo.

Nhờ có những con mắt tinh tường đó, tiểu đội trưởng trinh sát Đỗ Văn Đạo cùng với hai du kích đã đột nhập vào “ấp chiến lược” xã Mỹ Đức bắt sống tên thượng sĩ ác ôn, sau đó lập phiên tòa phát động bà con vạch tội rồi tuyên bố tử hình tại chỗ. Có lần đi trạm xá về, gặp đích, Đỗ Văn Đạo đã dùng chiến thuật nghi binh một mình bắt sống bảy tên ác ôn, chỉ điểm và bảo an đang trốn trong một căn hầm...

Cách đánh của Võ Thành Khuê, Đỗ Văn Đạo không lâu đã trở thành phổ biến trong sư đoàn. Nhờ đó phong trào diệt ác phá kìm ở các địa phương phát triển chưa từng thấy. Các xã đều thành lập các đội diệt ác, du kích diệt ác, các cụ già diệt ác, các em nhỏ cũng tham gia diệt ác. Ở xã Hoài Thanh, Hoài Nhơn đã thành lập đội diệt ác của các em nhỏ gọi là “Đội chim én”, có tên Huân độc ác khét tiếng. “Đội chim én” giao cho đội viên Đào diệt tên ác ôn này.

Vào một buổi sáng sớm, Đào đã có mặt trên con đường từ quận lỵ về xã. Khi tên ác ôn đi gần tới, Đào bình tĩnh quăng quả lựu đạn. Tên Huân chết. Bọn dân vệ gần đó đổ xô lại bắt Đào. Chúng dẫn em về nhà hội đồng và đánh đập em tàn nhẫn. Hết tra tấn lại dụ dỗ lừa phỉnh nhưng Đào không hé răng khai báo nhưng đồng đội “chim én” của mình. Bất lực, một tên ác ôn gầm lên - “Mày muốn sống hay muốn chết?”. Đào trả lời: “Tao muốn sống để giết hết bọn bay cho đồng bào bớt khổ”. Thằng ác ôn lại hỏi: “Được, tao sẽ cho mày chết, một là đâm đầu xuống nước, hai là buộc chân vào sau xe ô tô kéo đi cùng đường, mày chọn cách nào”. Đào thản nhiên trả lời: “Cả hai cách, bay muốn làm cách nào thì làm”. Và bọn ác ôn đã chọn cách thứ hai(1).


(1) Lấn.
(2) Hoài Nhơn lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước 1930-1975, Ban chấp hành Huyện ủy Hoài Nhơn, 1986, tr.266.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:34:28 am
Trong thời gian này rất khó phân biệt đâu là trận đánh của bộ đội chủ lực, của bộ đội địa phương, của các đội diệt ác, các đội chim én. Nhiều tên ác ôn đã phải xin chuyển vùng hoặc xin thôi việc. Nhiều nơi quần chúng lấy thế đó để mặc cả với địch, đòi tự do đi lại, chống bắt lính, chống khủng bố. Thế kìm kẹp ở các ấp, xã phía bắc tỉnh lỏng dần và đã đến lúc cần có những trận đánh tập trung, tiêu diệt sinh lực địch lớn hơn, giáng những đòn đau hơn vào chương trình “bình định cấp tốc” của Mỹ - ngụy.

Mùa xuân và mùa hè năm 1970, từ thế bất lợi ban đầu, sư đoàn đã biết kết hợp có hiệu quả giữa chủ lực và địa phương, tập trung, phân tán linh hoạt, hợp lý; vận dụng các chiến thuật một cách có hiệu quả, bước đầu đã đánh vỡ một số mắt xích chủ yếu trong hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng.

Nếu xét đơn thuần về mặt quân sự, một sư đoàn chủ lực phải phân tán đánh nhỏ lẻ, thậm chí đánh theo cách đánh của du kích, biệt động, không tổ chức những trận đánh tập trung, tiêu diệt lớn sinh lực địch là một cách đánh không thể chấp nhận. Nhưng xét tình hình thực tế tương quan lực lượng ta, địch, yêu cầu nhiệm vụ chính trị bức thiết của địa phương là phải đánh bại kế hoạch “bình định cấp tốc”, “bình định bổ sung” của địch, giành đất giành dân, giành quyền làm chủ, củng cố và xây dựng lực lượng tại chỗ cho phong trào cách mạng địa phương, tạo điều kiện cho đánh to, thắng lớn tiếp đó, cộng với những khó khăn không thể khắc phục được ngay về quân số, đạn, gạo, ở vùng sư đoàn đang hoạt động, thì việc sư đoàn chuyển đối tượng tác chiến từ đánh quân chủ lực Mỹ - ngụy và quân chư hầu Nam Triều Tiên sang tiêu diệt bọn kìm kẹp tề điệp trong một thời điểm nhất định là hoàn toàn đúng đắn và chính xác.

Đôn quân bắt lính là một trong những biện pháp chủ yếu của Mỹ - ngụy trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để đảm bảo cho quân ngụy mạnh lên thay cho quân viễn chinh Mỹ dần dần rút về nước. Tính đến đầu năm 1971 quân ngụy đã được tăng vọt về quân số. Từ 390.000 tên cuối năm 1970 đã lên tới 480.000 tên vào đầu năm 1971. Nơi nào cũng thấy nhung nhúc lính cộng hòa (lính thuộc các đơn vị chủ lực của quân ngụy), bảo an, dân vệ(1). Bảo an trước chỉ biên chế đến trung đội, đại đội, nay nâng lên liên đội, liên đoàn, trang bị không khác gì chủ lực. Với một đội quân đông như vậy, chúng ra sức thực hiện kế hoạch “bình định” ở khắp các vùng nông thôn miền núi, đồng bằng và ven biển.

Để thay thế sự thiếu hụt do việc ngừng tác chiến của quân Mỹ (cuối năm 1970 Mỹ đã rút về nước 13 tiểu đoàn bộ binh, 9 phi đoàn máy bay), bọn ngụy quân, ngụy quyền rất chú trọng phát triển và sử dụng hệ thống chốt điểm hòng ngăn chặn lực lượng ta tràn xuống đồng bằng và để dễ dàng kìm kẹp dân chúng. Làng xã nào, ngọn đồi nào cũng thấy đồn bốt địch mọc lên như nấm dại. Sự giành giật từng người dân, từng tấc đất giữa ta và địch diễn ra thường xuyên trên chiến trường miền Trung. Có làng xã phải giải phóng đi, giải phóng lại hàng năm bảy lần; có chốt điểm đánh đi đánh lại hàng chục lần. Địch chốt, ta phá. Địch chốt lại, ta phá nữa.

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu trước mất và để giải quyết một phần khó khăn quân số và lương thực của chiến trường, Thường vụ Khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đã quyết định giải thể Sư đoàn 3. Một bộ phận cơ quan sư đoàn trở thành tiền phương Quân khu do Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, lúc này là Phó tham mưu trưởng quân khu phụ trách. Tôi được điều về làm chủ nhiệm chính trị quân khu. Trung đoàn 2, ngoài ba tiểu đoàn bộ binh, được biên chế thêm một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn pháo cối, một tiểu đoàn 12,8 mi-li-mét. Trung đoàn 12 được tăng cường tiểu đoàn công binh.

Nhiều anh em trong đó có tôi thấy có cái gì hụt hẫng, luyến tiếc, không biết bao giờ mới được lập lại tổ chức sư đoàn như cũ, để được mang truyền thống và danh hiệu Sư đoàn Sao Vàng một thời hào hùng một thời gắn bó với chiến trường Bình Định. Còn tôi lại nhớ về kỷ niệm buổi gặp vội vàng anh Hoàng Văn Thái ở Nà Niêu cách đây đã ba năm có lẻ. Anh nắm chặt tay tôi trước lúc tạm biệt nhấn mạnh - bằng mọi giá giữ cho được Sư đoàn 3 đứng vững ở khu vực sông Côn, nơi có đường chiến lược 19, sẵn sàng đáp ứng thời cơ đột biến. Vậy mà giờ đây ý kiến tâm đắc của anh không được thực hiện!


(1) Tổ chức quân đội ngụy Sài Gòn gồm có ba thứ quân:
- Chủ lực: gồm các sư đoàn bộ binh, sư đoàn dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân. Các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin, tăng - thiết giáp. Các quân chủng không quân, hải quân.
- Địa phương: Lực lượng bảo an, tổ chức từ đại đội, tiểu đoàn, liên đoàn (tương đương trung, lữ đoàn chủ lực).
- Dân vệ làm nhiệm vụ an ninh xã, ấp. Ngoài ra còn có tổ chức bán vũ trang như nhân dân tự vệ, thanh niên chiến đấu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:36:43 am
Tôi thấy như mình có lỗi với anh!

Nhưng biết làm sao được? Cái thế, cái lực lúc này không cho phép chúng tôi làm khác được, như chính anh đã căn dặn - Nam Khánh nhớ một điều, là sư đoàn chủ lực thuộc quân khu, mọi hoạt động không thể tách khỏi tình hình thực tiễn nơi địa bàn mình đứng chân.

Giây phút hụt hẫng qua nhanh, tôi và anh Huỳnh Hữu Anh bắt tay vào việc triển khai thực hiện chỉ thị và mệnh lệnh của cấp trên, nhanh chóng hình thành tổ chức tiền phương của quân khu đáp ứng tình hình thực tiễn đang đòi hỏi với một tự tin rằng đây chỉ là bước tạm thời, tan để mà hợp và đến lúc cái hợp trở lại sẽ vững chắc hơn, đảm nhận những nhiệm vụ lớn hơn, xa hơn, hiệu quả và giòn giã hơn…

Hai năm 1969-1970, trong chiến dịch “diệt kẹp giành dân, giành quyền làm chủ” Sư đoàn 3 đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt địch. Nhưng hệ thống chốt điểm của địch vẫn còn nhiều, chúng giăng khắp các xóm ấp để thực hiện bình định tại chỗ và kìm kẹp ngăn chặn quần chúng nổi dậy. Dùng biện pháp quân sự đơn thuần, bằng chiến thuật đặc công, ta đã làm, đang làm và có hiệu quả. Nhưng làm không xuể vì chốt điểm của địch vẫn còn nhiều, nếu chỉ đơn thuần một biện pháp nào đó, thì đến bao giờ mới nhổ hết những “cái” gai đó? Đã đến lúc ta phải dùng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) tiến công bức rút, bức hàng, vì đây là một trong những phương pháp cơ bản để giành thắng lợi cho cách mạng miền Nam mà Đảng đã xác định.

Đầu năm 1971 tôi trình bày ý nghĩ của mình với Tỉnh ủy Bình Định. Thật may là ý nghĩ của tôi trùng hợp với suy nghĩ của các anh, được các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy chấp nhận và quyết định lấy Gò Cớ(1) làm nơi thí điểm, sau đó nhân rộng ra.

Nhá nhem tối một ngày đầu tháng 2 năm 1971, tôi và anh Đinh Bá Lộc, Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Định vượt đường số 1 xuống căn cứ Chóp Chài gần đầm Châu Trúc gặp huyện ủy và huyện đội Phù Mỹ để bàn kế hoạch triển khai thực hiện.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày dự kiến, các anh lãnh đạo và chỉ huy huyện Phù Mỹ đều nhất trí, chỉ còn một hai ý kiến phân vân vì địch còn mạnh, quần chúng chưa có kinh nghiệm đấu tranh bức rút, bức hàng và mũi tiến công quân sự của địa phương chưa thật đủ sức hỗ trợ.

Nhưng sau khi trao đi đổi lại, tất cả đều nhất trí địch tuy mạnh nhưng nằm trong thế thua, thế bị bao vây cô lập trong vùng làm chủ của ta, quân lính đang hoang mang dao động. Ta có một vài điểm yếu nhưng nằm trong thế mạnh, quần chúng đang bức xúc, căm ghét địch và đều mong muốn nhổ cái “gai” này sớm ngày nào hay ngày ấy để được sống tự do, đi lại làm ăn không bị chúng kìm kẹp, đe dọa.

Đây là thời cơ thuận lợi để ta thực hiện dùng áp lực quần chúng đấu tranh, nhất định thành công.

Ngày 20 tháng 2 năm 1971, mở đầu đợt đấu tranh ta đưa 300 quần chúng của hai thôn Phú Thứ, Phú Hòa, ra đấu tranh thực hành bao vây Gò Cớ. Địch trong đồn bắn ra uy hiếp. Quần chúng đã được chuẩn bị trước, nên ai nấy đều bình tĩnh thực hiện các bước đấu tranh đã bàn theo sự hướng dẫn trực tiếp của các cốt cán. Tốp đầu mười người có gia đình binh sĩ địch đi kèm được trang bị lý lẽ ứng phó mang thư, truyền đơn, tin chiến thắng đưa cho binh sĩ địch và tiến công mạnh về tư tưởng, tâm lý, đề cao uy thế ta, hạ uy thế địch, đe dọa chúng nếu bà con bị đàn áp, quân đội giải phóng sẽ đánh trả và cắt không cho xuống núi lấy nước.

Ngày 23 tháng 2, sau ba ngày chuẩn bị ta đưa lực lượng đấu tranh lên con số 1.000 người, có cả bà già và trẻ em, số gia đình binh sĩ ngụy đi đông hơn, từng tốp có cán bộ binh vận đi kèm. Ngay từ sáng sớm ta đã hình thành bao vây kín bốn phía. Vừa bao vây vừa phát loa kêu gọi, giải thích chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với binh lính, sĩ quan địch; kêu gọi binh lính, sĩ quan địch hãy trở về với nhân dân, với cách mạng, sẽ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, đối xử nhân đạo, ai có công được khen thưởng.


(1) Gò Cớ là một chốt lớn nằm sát biển, giữa hai thôn Phú Thú, Phú Hòa thuộc xã Mỹ Đức, có hầm hào kiên cố, có một đại đội bảo an đóng giữ, kìm kẹp quần chúng quanh vùng và kiểm soát ven biển tử Phú Thứ đến thôn 9 xã Mỹ Thắng.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:37:32 am
Cuộc đấu tranh trở nên phức tạp, căng thẳng. Mỗi lần ta gọi loa, địch bắn ra, ta bắn trả uy hiếp cảnh cáo địch. Sang ngày thứ tư, 24 tháng 3, đội quân đấu tranh chính trị càng đông thêm gần 1.500 người, vòng vây ép càng dày đặc, áp sát vào chân núi, cổng đồn. Địch bắn uy hiếp vào xóm làng làm chết một đồng bào ta, lập tức ta đánh trả, súng B40, cối 60, 80 bắn vào đồn địch. Địch hoảng sợ, chui vào công sự cố thủ. Chị Lang, vợ đồng chí Đinh Râu tự nguyện cầm lửa đốt nhà mình sát đồn, để đồng bào hợp pháp kéo lên chữa cháy sáp vào đồn địch đấu tranh. Tiếng la hét: lính bảo an bắn chết người, bắn cháy nhà dân! Hàng nghìn đồng bào có cả thôn 11 xã Mỹ Thắng tham gia vây sát đồn địch giữa ban ngày. Tiếng la vang dậy xung quanh chốt. Địch hoảng sự không dám phản ứng, hứa không bắn vào nhà. Vòng vây siết chặt không cho địch xuống lấy nước uống và mua thực phẩm.

Chúng tôi họp nhận định: địch đã núng thế đang co vào phòng thủ, ta càng phải đẩy mạnh tiến công, tổ chức khiêng xác người chết vào cổng đồn đấu tranh, bắt chúng phải bồi thường nhân mạng.

Địch hứa sẽ báo cáo lên cấp trên và yêu cầu nhân dân không bao vây Gò Cớ. Ta càng tổ chức quần chúng bao vây áp sát và lệnh cho đại đội vũ trang huyện và du kích tiến lên phía trước, sẵn sàng đánh trả địch, hỗ trợ nhân dân đấu tranh hô khẩu hiệu tiếp tục đòi chúng phải bồi thường nhân mạng, đòi chúng phải rút khỏi Gò Cớ.

Địch vẫn im lặng, chui vào các công sự đề phòng ta vào căn cứ. Khâu hiệu của ta lúc này vẫn là đòi chúng phải rút khỏi Gò Cớ và tiếp tục tiến công tư tưởng và tâm lý. Chúng tôi thống nhất nội dung tối hậu thư dưới danh nghĩa Bí thư huyện ủy Phù Mỹ gửi cho tên Xuân, trung úy đồn trưởng Gò Cớ. Nội dung tối hậu thư vừa tranh thủ vừa uy hiếp, vừa giải thích chính sách khoan hồng, tranh thủ lôi kéo và sẵn sàng trừng trị những ai ngoan cố chống lại cách mạng, chống lại nhân dân - “ông là người chỉ huy cao nhất ở đồn này, phải có trách nhiệm đối với tính mạng của anh em binh sĩ trong đơn vị và cả bản thân ông. Phải thức thời, không nên chết một cách vô ích, bỏ lại vợ con côi cút. Hãy lãnh đạo đơn vị trở về với nhân dân sẽ được cách mạng khoan hồng. Ai lập công sẽ được khen thưởng thích đáng, hoặc phải rút khỏi Gò Cớ để trả lại đất cho dân. Nếu không Quân giải phóng sẽ tiến công tiêu diệt”.

“Mời trung úy Xuân, đại đội trưởng đến gặp Mặt trận giải phóng huyện Phù Mỹ để bàn bạc cụ thể, khi đi không mang vũ khí, Quân giải phóng sẽ bảo đảm an toàn tính mạng”.

Tối hậu thư vừa gửi trực tiếp vừa phát lên loa để tranh thủ binh sĩ gây áp lực buộc Xuân phải thực hiện những điều nêu trong thư.

Ngày thứ bảy, Xuân cử một chuẩn úy và một trung sĩ xuống gặp. Ta không đồng ý và nói rõ chỉ gặp trung úy Xuân, người đủ thẩm quyền quyết định mọi việc có liên quan. Ngay sau khi hai tên chuẩn úy và trung sĩ về đồn, Xuân xuống mang theo bảy tên lính có vũ khí. Đồng bào la ó phản đối Xuân không chấp hành quy định nêu trong tối hậu thư. Xuân buộc phải thực hiện.

Cuộc nói chuyện bắt đầu. Phía ta, đồng chí Trần Thị Nhung, phó ban binh vận huyện, đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng huyện, đồng chí Đinh Râu, đảng ủy viên xã, đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng xã Mỹ Đức và một đại diện nhân dân.

Mở đầu đồng chí Trần Thị Nhung tiến công tinh thần Xuân bằng thông báo tin tức chiến thắng chung toàn quân khu và riêng vùng đông Phù Mỹ, sau đó đồng chí nêu hai điểm yêu cầu ghi trong tối hậu thư. Tên Xuân xịu xuống, mặt cúi gằm đắn đo, căng thẳng và bối rối viện nhiều lý do để hoãn binh. Đồng chí Trần Thị Nhung đã chuẩn bị sẵn tình huống này, chủ động tiến công tiếp, phân tích lý tình và khẳng định lúc này chỉ có hai cách lựa chọn, không thể có cách thứ ba. Không thể đắn đo, trông chờ vào ai hết, chỉ có mình tự cứu lấy mình, chậm là hết thời cơ... Cuối cùng tên Xuân được ta mở đường, xua đi mặc cảm về thân phận đã tự quyết định - Hứa với Mặt trận giải phóng, đại đội bảo an chúng tôi xin rút khỏi Gò Cớ, trả đất cho nhân dân.

Cuộc tiến công bằng ba mũi giáp công của nhân dân xã Mỹ Đức đã thu được thắng lợi giòn giã sau bảy ngày đấu tranh gay go và phức tạp. Địch đã buộc phải rút khỏi cứ điểm Gò Cớ vào hồi 4 giờ chiều ngày 27 tháng 2 năm 1971.

Trong những ngày tiếp theo, nhiều nơi của Hoài Nhơn và Phù Mỹ làm theo cách làm của Gò Cớ đã nổi dậy bao vây bức rút, bức hàng 59 đồn bốt, giải phóng gần hai vạn dân thoát khỏi hệ thống chốt điểm kìm kẹp của kẻ thù, trở về làng cũ làm ăn.

Thế là lời thề mở một đợt hoạt động tiến công và nổi dậy mạnh mẽ tiêu diệt địch, chống phá bình định giành quyền làm chủ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng mà đồng chí Bí thư Khu ủy đọc trong buổi Lễ truy điệu Bác Hồ ngày 11 tháng 9 tại vùng sâu huyện miền núi Phước Sơn (Quảng Nam) đã trở thành hiện thực. Quân dân Khu 5 vượt lên mọi khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ cả thế và lực có lợi cho ta được mở ra từ đầu tháng 2 năm 1971...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:39:52 am
2

Vẫn biết cái phải đến sẽ đến. Thắng lợi Tết Mậu Thân 1968 đã tạo tiền đề dẫn đến sự kiện 1972. Nhưng khi không khí chuẩn bị lặng lẽ mà sôi động cho “thắng lợi quyết định” này từ Hà Nội vào đến Khu 5 thì ai nấy đều rộn ràng niềm vui, có chút ngỡ ngàng - sao nhanh thế?

Giữa lúc cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực Quân khu còn chưa hết “xốc” về quyết định giải thể Sư đoàn 3, phân tán các trung đoàn về cùng với các lực lượng vũ trang địa phương, với dân quân du kích ở các vùng trọng điểm, đánh những trận nhỏ lẻ, diệt các nhóm bảo an, dân vệ, bọn tề điệp ác ôn kìm kẹp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá “bình định”; giữa lúc Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn chỉ huy vì địa bàn hoạt động bị co hẹp, vì vũ khí trang bị hao hụt chưa được bổ sung, vì nguồn gạo, thực phẩm cạn kiệt phải tạm thời ra đường 9 để củng cố, thì Bộ chỉ huy tối cao của ta từ tầm nhìn xa, từ phân tích khách quan và khoa học về so sánh lực lượng đã đi đến một quyết định táo bạo mà sáng suốt: “Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược - tiến công mới trên toàn chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng đối với Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua”(1).

Trong khi chúng tôi đang còn chụm đầu vào nhau ở vùng giáp ranh xã Mỹ Lộc (tây huyện Phù Mỹ) vừa bị bom đạn Mỹ cày xới mà bàn phải thắng thủ đoạn giăng dựng chốt điểm khắp nơi của địch để “bình định” kìm kẹp dân tại chỗ, thì một chiến dịch vận tải trên quy mô lớn hối hả suốt ngày đêm đưa sức người sức của(1) từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam phục vụ cho mùa ra trận mới. Chỉ trong ba tháng đầu năm 1972, Đoàn 559 đã hoàn thành chỉ tiêu vận chuyển cả năm.

Có một chuyện thật mà ngỡ huyền thoại. Đó là vào đầu thu đông năm 1971, tiểu đoàn xe tăng 171 đã từ Quảng Bình đi theo một con đường dành riêng dài gần 2.000 ki-lô-mét (có 900 ki-lô-mét đường quân sự làm gấp) vào tới Đông Nam Bộ đúng vào mùa xuân năm 1972, để kịp tham gia chiến dịch mang tên người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, tháng 4 năm 1972.

Việc xe tăng ta bất thần xuất hiện, tham gia tiến công thị xã An Lộc, cách Sài Gòn khoảng 80 ki-lô-mét về phía đông đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước, đặc biệt là trong chính giới Mỹ và những người cầm đầu Lầu Năm Góc, Bộ Quốc phòng và cầm đầu Bộ Ngoại giao Mỹ lúc bấy giờ.

Tổng thống Mỹ Ních-xơn vội vã triệu tập cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia để “giải mã” và Bộ Quốc phòng Mỹ họp để tìm nguyên nhân vì sao xe tăng đối phương vào đến cửa ngõ Sài Gòn mà các phương tiện trinh sát điện tử hiện đại phát hiện từ xa vẫn không hề hay biết!?

Còn trên bàn thương nghị tại Pa-ri, Kít-xinh-giơ, bộ trưởng ngoại giao và là trưởng đoàn thương lượng Mỹ, trong giờ nghỉ giải lao, cố tỏ ra bình tĩnh nói với cố vấn Lê Đức Thọ - nếu được sang thăm Hà Nội, hy vọng của tôi muốn biết làm thế nào mà các ông có thể đưa được xe tăng đi xa đến như vậy?

Cảm xúc cứ theo thời gian mà dâng đầy trong tâm khảm chúng tôi qua sự điều hành và chỉ đạo đầy thông minh và sáng tạo của Bộ chỉ huy tối cao, qua những biến thiên diễn ra sau đó đã đưa cuộc tiến công chiến lược 1972 đi đến thắng lợi giòn giã như một dấu son chói lọi trong trận chiến ba mươi năm mà tôi tiếp tục kể cùng bạn đọc.

Cuộc tiến công chiến lược 1972 theo dự kiến ban đầu được thực hiện trên ba hướng: Đông Nam Bộ là hướng chủ yếu thứ nhất; Tây Nguyên mà chủ yếu là Bắc Tây Nguyên là hướng chủ yếu thứ hai; Quảng Trị - Thừa Thiên là hướng tiến công quan trọng.


(1) Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1971.
(2) Cùng với 800 xe vận tải đưa 16 vạn tấn hàng, một vạn tấn xăng dầu, 55.000 cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn. Sư đoàn 320, trung đoàn 24, trung đoàn 27, trung đoàn bộ binh 271, ba tiểu đoàn xe tăng, 20 tiểu đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 2.000 thợ sửa chữa và 9 tiểu đoàn, 44 đại đội địa phương, hàng nghìn cán bộ cao cấp, trung cấp tham mưu, chính trị, hậu cần kỹ thuật được bổ sung tăng cường cho chiến trường miền Nam, cũng có mặt trước tháng 3 năm 1972. Nam Bộ, chiến trường xa nhất, trước ngày nổ súng cũng đã nhận được 2 trung đoàn bộ binh (24 và 271), 2 tiểu đoàn pháo 85mm, 1 tiểu đoàn pháo 122mm, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 1 tiểu đoàn xe tăng 20 (36 chiếc), 1 đại đội tên lửa chống tăng B72. vì tiếng gọi của tiền tuyến lớn, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị hành quân ròng rã 60 ngày đêm vượt qua hơn 1.200 ki-lô-mét đường rừng, đưa đến chiến trường an toàn 97% số xe pháo và trang bị, vật tư kỹ thuật. Đây là một trong những chiến công xuất sắc trước khi trận đánh bắt đầu.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:41:03 am
Theo cảm thụ của tôi, ý tưởng ban đầu sở dĩ có sự sắp xếp các hướng tiến công trên đây là đánh rắn thì phải đánh dập đầu hoặc muốn làm chủ Đông Dương, khống chế đồng bằng Khu 5 thì phải làm chủ địa bàn chiến lược Tây Nguyên, trước hết là Bắc Tây Nguyên.

Lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc ta cho thấy vấn đề chọn đúng phương hướng tiến công chiến lược, nhất là hướng chủ yếu để đánh đòn quyết định là vấn đề hết sức quan trọng. Với một lực lượng nhất định, nếu ta tiến công trên hướng này thì có thể diệt được một lực lượng nhất định nhưng không gây được tác động lớn đến cục diện chung. Thắng lợi thu được chỉ ở tầm chiến dịch, chiến thuật. Nếu ta biết chọn đúng hướng khác để đánh đòn quyết định thì thắng lợi thu được sẽ có tầm quan trọng về chiến lược, như hướng tiến công Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới tháng 10 năm 1950, hướng tiến công bắc Kon Tum trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong Đông Xuân 1953-1954, hướng tiến công Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, v.v... Mỗi hướng tiến công đó đã làm chuyển biến cục diện, dẫn đến chuyển biến toàn cục, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng trở thành hậu phương lớn, thành nhân tố thường xuyên góp phần thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị nghe báo cáo và duyệt đề nghị của Quân ủy Trung ương chuyển Quảng Trị - Thừa Thiên thành hướng chiến lược chủ yếu.

Sở dĩ có sự điều chỉnh trên đây là vì cuộc tiến công này phải giáng đòn quyết định của bộ đội chủ lực vào địa bàn dễ gây tác động lớn đến quá trình thực hiện yêu cầu do Bộ Chính trị đề ra. Có nghĩa là phải đánh mạnh vào nơi địch mạnh hoặc tương đối mạnh, nơi hiểm yếu của địch, buộc địch phải đối phó quyết liệt với những cố gắng chiến tranh rất cao của chúng. Đối với ta, đây cũng là nơi có điều kiện để ta phát huy cao nhất sức mạnh của bộ đội chủ lực, của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm này vùng đất Quảng Trị - Thừa Thiên thỏa mãn được yêu cầu đó. Địch ở khu Quảng Trị - Thừa Thiên rất đông, có hai sư đoàn tăng cường, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, nhiều tiểu đoàn pháo binh, ba thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép; có hệ thống phòng ngự kiên cố vững chắc, hệ thống hỏa lực mạnh. Nhưng chỗ yếu cơ bản của địch ở đây là thiếu lực lượng dự bị, bố trí vòng ngoài mạnh nhưng bên trong sơ hở. Từ khi bộ binh Mỹ phải rút đi quân ngụy mất chỗ dựa, tinh thần chiến đấu kém.

Đối với bộ đội ta, một yếu tố có tầm quan trọng quyết định là chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên kề sát hậu phương miền Bắc, sẽ được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh. Nó có điều kiện phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả cho những cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao diễn ra hàng ngày hàng giờ của ta trên diễn đàn quốc tế. Diễn biến chiến dịch, càng ác liệt, khối lượng binh lực, hỏa lực, phương tiện vật chất đưa vào cuộc chiến đấu ngày càng rất lớn. Chỉ có địa bàn Quảng Trị - Thừa Thiên mới có điều kiện tiếp nhận và phát huy cao nhất những yêu cầu lớn và đột biến cả về người và vũ khí liên tiếp sẽ diễn ra.

Theo kế hoạch tác chiến, chỉ còn bảy ngày nữa là quân ta nổ súng mở màn chiến dịch tiến công trên hướng Trị - Thiên. Nhưng địch vẫn cho rằng năm 1972 ta mới chỉ đủ sức mở một chiến dịch lớn trên hướng Tây Nguyên. Tết Nhâm Tý trôi qua vẫn không thấy động tĩnh gì. Tâm lý chủ quan của địch tăng lên. Rồi tình báo địch phát hiện Sư đoàn 304 đang hành quân lên hướng Tây Nguyên. Địch càng tin là chúng đã phán đoán đúng hướng tiến công chủ yếu của ta.

Như vậy là hướng tiến công chiến lược chủ yếu Quảng Trị - Thừa Thiên vẫn được giữ kín.

Đó là kết quả của nghệ thuật chỉ đạo nghi binh lừa địch của ta.

Từ giữa năm 1972 hoạt động quân sự của địch trên chiến trường miền Trung giảm rõ rệt so với những năm trước. Chúng không mở một cuộc hành quân nào lớn lên vùng căn cứ rừng núi hoặc giáp ranh của ta ở đồng bằng, phần lớn các cuộc đánh phá càn quét của địch quy mô trung đoàn nhằm yểm trợ cho kế hoạch “bình định bổ sung”. Nguyên nhân do quân ngụy Sài Gòn không thể thay thế được vai trò quân Mỹ mà quân Mỹ cứ phải tiếp tục rút(1). Mặt khác cũng do ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với địch, nên mặc dầu phần lớn các đơn vị chủ lực và một nửa lực lượng vũ trang địa phương tỉnh huyện luân phiên rút về căn cứ củng cố. Địch vẫn không lấn chiếm được thôn ấp nào.


(1) Đến tháng 6 năm 1971, ở Khu 5 lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã rút hết. Chỉ còn sư đoàn A-mê-ri-cơn ở Quảng Nam, Quảng Ngãi lữ đoàn 173 ở các tỉnh phía nam quân khu nhưng ít hoạt động. Quân chư hầu Nam Triều Tiên cũng co cụm lại để chờ ngày về nước.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:43:35 am
Sau Xuân Hè năm 1971, Thường vụ Khu ủy, Đảng ủy quân sự và Bộ tư lệnh Quân khu 5 họp nhằm quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 5 năm 1971 Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 6 năm 1971 và bàn kế hoạch thực hiện các nghị quyết quan trọng này.

Để chuẩn bị thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hội nghị quyết định một số công việc cần kíp trước mắt:

1. Gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng các đơn vị chủ lực đủ sức tiêu diệt từng trung đoàn, đánh quỵ từng sư đoàn quân chủ lực ngụy. Xây dựng bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích đủ sức độc lập hay phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại quân địa phương của địch, tiêu diệt từng cụm chốt điểm lớn, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch từng khu vực rộng, mở vùng giải phóng liên hoàn 5 - 7 xã.

2. Tiếp tục phát động quần chúng xây dựng thực lực chính trị cả ở nông thôn và đô thị, xây dựng các đoàn thể quần chúng, củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị và ban lãnh đạo đấu tranh chính trị, sẵn sàng phối hợp và tranh thủ khi có tiến công quân sự, kịp thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy đấu tranh từ thấp đến cao, phá ấp chiến lược, khu dồn trở về làng cũ làm ăn.

3. Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ, bảo đảm nguồn lương thực tại chỗ, đồng thời ra sức khai thác thu mua vận chuyển nguồn hàng từ vùng địch ra và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn vào, chuẩn bị cho tác chiến quy mô tương đối lớn, dài ngày.

Đúng là việc xây dựng lực lượng vũ trang phục vụ tác chiến tập trung, tiêu diệt lớn quân địch không phải chỉ đáp ứng cho cuộc tiến công chiến lược 1972 mà còn là một đòi hỏi cấp bách của địa phương. Hai năm 1969-1970, trong nhiệm vụ chống phá “bình định”, Khu 5 có nhiều thành tích, nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế là quần chúng nổi dậy chưa thật mạnh mẽ, vì địch đóng chốt điểm ở nhiều nơi, thôn ấp nào cũng có từ 5-10 chốt điểm để kìm kẹp quần chúng. Nếu chúng ta cứ bằng lòng với cách phân tán, đánh nhỏ lẻ như hiện nay thì không thể có nổi dậy mạnh mẽ và rộng khắp được. Đã đến lúc ta cần sắp xếp, tổ chức lại lực lượng, huấn luyện đầy đủ về chiến thuật, kỹ thuật cho bộ đội, cán bộ cần được bồi dưỡng về nghệ thuật chiến dịch thì mới có những hoạt động đem lại hiệu quả lớn. Tình hình đã và đang đòi hỏi phải nâng cao chất lượng bộ đội, không thể dậm chân tại chỗ mãi được.

Vừa nghĩ như thế, vừa nhớ lại lời chỉ đạo của đồng chí Đoàn Khuê sau truy điệu Bác Hồ tháng 9 năm 1969 là phải tìm ra hình thức chiến dịch mới là chiến dịch tổng hợp tấn công nên tôi được phép Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tạm hoãn điều hành nhiệm vụ Chủ nhiệm chính trị quân khu, trở lại Mặt trận Bình Định, trở lại Sư đoàn 3 để cùng các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn tham gia xây dựng đơn vị theo yêu cầu đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới.

Thế là tôi đi cùng các anh Võ Chí Công và anh Chu Huy Mân, Chính ủy và Tư lệnh quân khu trở lại nơi đã để lại trong tôi bao dấu ấn tốt đẹp khó quên.

Công việc trước mắt là tôi cùng với các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức lại lực lượng theo cơ cấu sư đoàn mà Bộ tư lệnh Quân khu vừa ký quyết định tái lập lại với số hiệu truyền thống Sư đoàn 3 gồm 3 trung đoàn: trung đoàn 2, trung đoàn 12 và trung đoàn 21 mới được bổ sung cùng các đơn vị trực thuộc pháo binh, công binh, thông tin, đặc công, tiến hành học tập chính trị và quân sự theo chương trình chính quy, đáp ứng yêu cầu đánh lớn.

Nhưng có “thực túc” thì binh mới cường, vì vậy tôi đã cùng sư đoàn tham gia chiến dịch lương thực âm thầm mà đầy sôi động.

Trong một hoàn cảnh bộn bề công việc mà việc nào cũng phải tiến hành, thế mà các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn: Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, Chính ủy Mai Tân, Phó sư đoàn trưởng Việt Sơn và các đồng chí giúp việc: Tham mưu trưởng Trần Bá Khuê, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Ngọc Tiến, Chủ nhiệm hậu cần Nguyễn Hữu Xuân đã nhanh chóng định ra một phương châm làm việc rất thông minh - chuẩn bị lương thực là trọng tâm số một, huấn luyện chiến thuật mới là then chốt, hoạt động giữ thế chiến trường là quan trọng với một tiến độ: ba tháng chuẩn bị lương thực, hai tháng huấn luyện quân sự, tháng cuối cùng huấn luyện bổ sung, diễn tập và tổ chức đánh một trận để rút kinh nghiệm.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:45:27 am
Anh Huỳnh Hữu Anh mời tôi tham gia ban chỉ đạo chiến dịch lương thực. Tôi cám ơn và nói: Hãy để cho mình tham gia với tư cách là phái viên của quân khu mới có điều kiện có mặt ở nhiều nơi nhất là ở những nơi trọng điểm, kịp thời phát hiện các vấn đề cần khắc phục và cổ vũ động viên những việc làm tốt, những người làm tốt.

Chiến dịch lương thực diễn ra vào giữa năm 1971. Hậu cần Quân khu, hậu cần mặt trận và hậu cần sư đoàn, tỉnh đội cùng các cơ quan chi viện tiền phương của Khu ủy, các tỉnh ủy dồn sức thu mua và vận chuyển lương thực, hàng nghìn cán bộ chiến sĩ liên tục mấy tháng liền, đêm nào cũng vượt qua các vùng địch kiểm soát xuống các vùng phía đông đường số 1 để chuyển gạo cất giấu trong dân về căn cứ. Phụ nữ và các cháu thiếu nhi là lực lượng quan trọng chuyển gạo từ vùng địch ra vùng giải phóng. Mặt trận Tây Nguyên tổ chức mua và vận chuyển gạo từ Đông Bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào. Đến cuối năm 1971, Tây Nguyên đã dự trữ được 1.920 tấn, đồng bằng được 2.300 tấn.

Tôi muốn mở vòng ngoặc kể cùng bạn đọc những gì tôi được chứng kiến, được tham gia cùng Sư đoàn 3 thực hiện chiến dịch lương thực do Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương.

Tháng 7, với những trận mưa tầm tã đầu mùa, những đêm trăng trong suốt không gian, sư đoàn bước vào chiến dịch vận chuyển gạo khổng lồ mà sau này các chiến sĩ thường gọi là chiến dịch “kiến tha mồi”.

Những dòng người, bằng nhiều ngả đường khác nhau đổ xuống đồng bằng, tới vùng giáp biển. Một lần nữa bà con cô bác Bình Định lại biểu lộ tấm lòng thơm thảo của mình đối với Sư đoàn 3. Nhiều bà con cô bác gánh gạo tới gặp cán bộ địa phương la lối ầm ĩ: “Trời ơi! Có vài chục ký gạo, mắc chi các chú trả tiền?”. Nhân dân Bình Định là những người cung cấp lương thực vô tận cho sư đoàn.

Lại nhớ về việc làm nghĩa cử của nhân dân xã Mỹ Tài, một vùng cát nguồn sống chính là sắn, khoai. Không biết từ bao giờ và ai là tác giả, hễ nhắc đến những câu: “Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm”; hoặc “Vạn Ninh, Vạn Thái(1) có tài, nấu một lon gạo nồi hai(2) cũng đầy” là dân quanh vùng hiểu đó là xã Mỹ Tài, một vùng quê nghèo về gạo thóc nhưng giàu lòng thương yêu đùm bọc. Trước cảnh bộ đội sư đoàn thiếu lương thực, phải ăn củ nần, rau rừng thay cơm, người xanh như tầu lá mà thương, cứ băn khoăn, day dứt trong lòng! Gạo không có, sắn thì vừa nặng vừa cồng kềnh, để lâu chảy nhựa đắng không ăn được, có khi còn nguy hiểm chết người vì say sắn.

Cuối cùng đồng bào bảo nhau chỉ còn cách chế biến thành bột, nhiều gia đình chế thành tinh bột, phơi khô đóng vào bao cát Mỹ (loại bao Mỹ dùng nhồi cát để làm các công sự dã chiến), mỗi bao dồn được từ 5 đến 10 ki-lô-gam đem vùi xuống “điểm hẹn”.

Đêm đến bộ đội vượt qua đường số 1 về nhận, để lại mảnh giấy biên nhận - Chúng con đã nhận đủ, xin cảm ơn bà con cô bác!

Xin trở lại chuyện đang kể. Chiến dịch vận chuyển gạo kéo dài hết ngày này qua ngày khác, các mạng thông tin, trinh sát hợp pháp luôn luôn được tung xuống đồng bằng nắm địch và bảo vệ tuyến hành lang vận chuyển, cảnh ngày nghỉ, đêm đi vất vả nguy hiểm mà vui. Ban ngày trú ẩn ở các cửa rừng, Suối Son, Dốc Dài, Cát Hanh, Cát Hiệp, lúc trời xấu, máy bay ít quần lượn, cũng là lúc những cánh võng giăng kín rừng. Bộ đội, dân công, các đơn vị vận tải có nam, có nữ có dịp làm quen, rồi hát hò, ghi địa chỉ hò hẹn... Tối đến từng đại đội, tiểu đoàn bám sát cán bộ địa phương đến các thôn, ấp nhận gạo. Chỗ trực tiếp lấy trong từng gia đình, chỗ ra đồng bới các ngôi mộ ngụy trang, bên dưới là gạo, là cá khô, mắm muối... Mỗi đêm có hàng nghìn người tràn xuống đồng bằng lấy hàng. Cứ như vậy, ngày nghỉ trên núi, tối tràn xuống đồng bằng. Tỉnh ủy Bình Định đã chỉ đạo ngành lương thực, bằng mọi biện pháp, kiên quyết cấp đủ gạo và thực phẩm cho sư đoàn đúng kỳ hạn. Ngoài nhân dân cung cấp, các chiến sĩ còn có nguồn lương thực thực phẩm khá lớn của lính Nam Triều Tiên. Mỗi ngày cơ sở địa phương đã thu mua được của chúng hàng xe GMC gạo, thịt, cá hộp, máy thông tin, đôi khi cả vũ khí nữa.

Chiến dịch gạo diễn ra sôi động, lạc quan như những ngày hội giao lương nhưng không kém phần ác liệt. Nhiều chuyến, bộ đội vai gùi, tay nổ súng đánh địch, cướp đường mà đi. Hàng trăm chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh. Có đồng bào mang thương tích suốt đời vì bị địch khảo tra. Có gùi gạo, gùi muối khi đổ vào kho còn đỏ loang vết máu.


(1) Tên các thôn trong xã Mỹ Tài.
(2) Nồi hai nấu được ki-lô-gam gạo chợ - ý nói là sắn cõng cơm vì thiếu gạo


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:53:14 am
Có gạo rồi phải vận chuyển sao cho nhanh, cho hết đề phòng bất trắc, địch càn quét lần tìm dấu vết, bịt cửa khẩu. Một phong trào hợp lý hóa cách mang vác, đuổi vượt năng suất của nhau được hình thành. Chiến sĩ Nguyễn Sinh, trung đoàn 2 vừa mang 115 ki-lô-gam thì đêm sau chiến sĩ nuôi quân Đinh Xuân Chung đã gùi được 125 ki-lô-gam. Với bộ binh năng suất ấy là đáng kể, nhưng đối với chiến sĩ vận tải, gùi 125 ki-lô-gam vẫn chưa được gọi là tuyệt đỉnh. Trong một chuyến hàng đột xuất, phó trung đội trưởng Nguyễn Minh Phụng, quê Bình Định với dáng cao và gày đã mang 215 ki-lô-gam, gấp năm lần trọng lượng bản thân, nêu kỷ lục cao nhất trong sư đoàn.

Cuối tháng 9 “chiến dịch gạo” kết thúc. Trong kho mỗi trung đoàn đã có từ 350 tấn đến 650 tấn lương thực, thực phẩm, bảo đảm cho bộ đội ăn no liên tục trong sáu tháng. Vậy mà, trước đó một năm mỗi trung đoàn không sao dự trữ nổi vài ba trăm ki-lô-gam gạo.

Gạo không những là vấn đề chiến lược mà nó còn là yếu tố chi phối ngay đến từng trận đánh của sư đoàn. Có nhiều chiến dịch vì thiếu gạo mà phải bỏ dở, phải rút bớt thời gian. Thậm chí vì thiếu gạo lâu ngày các chiến sĩ kiệt sức, phải ra lệnh bỏ trận địa.

Nhìn những kho gạo ngồn ngộn, đầy ắp càng thấm thía sự chỉ đạo sát sao của cấp trên đã nắm bắt kịp thời tình hình chiến trường, công tác tổ chức lãnh đạo tài giỏi của đảng bộ, chính quyền và cơ quan tài mậu (tài chính, mậu dịch) địa phương, cảm thấy sung sướng, ấm lòng được hoạt động, chiến đấu trên một mảnh đất mà từ người già đến em nhỏ đều tận tình với cách mạng, với quân đội. Sau này, tại đại hội mừng công chiến thắng năm 1972, trong danh sách tuyên dương những ngọn cờ đầu sư đoàn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh không quên ghi nhận em Nguyễn Thị Út 15 tuổi, quê Mỹ Hiệp đã mua và chuyển 1.000 ki-lô-gam gạo, thực phẩm cho Sư đoàn 3 trong “chiến dịch gạo” khổng lồ.

Lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng đã được sắp xếp lại. Khối chủ lực gồm Sư đoàn 3 và Sư đoàn 711. Lực lượng tập trung tỉnh và huyện có 22 tiểu đoàn, 60 đại đội, 62 trung đội bộ binh, 5 tiểu đoàn pháo, cối; 5 tiểu đoàn và 6 đại đội đặc công. Các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên đã xây dựng được một lực lượng tập trung từ 3 đến 6 tiểu đoàn. Trong chiến đấu, lực lượng tập trung các tỉnh đủ khả năng mở một hướng tiến công phối hợp với hướng tiến công của chủ lực. Dân quân, du kích tuy số lượng không tăng nhưng được tăng cường trang bị. Toàn quân khu đã tổ chức được 203 đội hoặc tổ du kích đặc công, 91 tổ du kích công binh.

“Lương thực là trọng tâm số một” đã hoàn thành, góp phần không nhỏ để thực hiện “huấn luyện chiến thuật mới là then chốt”. Thực hiện chủ trương huấn luyện của Quân khu, tôi bàn với các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn và được các anh thống nhất tập trung hai phần ba lực lượng về khu vực thượng nguồn sông Côn tiến hành huấn luyện.

Trước khi đi vào cụ thể chúng tôi còn bàn bạc thống nhất một định hướng, phải xây dựng, tổ chức huấn luyện sư đoàn theo phương hướng tập trung, hiệp đồng binh chủng, vận dụng chiến thuật thích hợp với biên chế và trang bị hiện nay(1) để tự mình hoặc hỗ trợ nhân dân giải phóng từng vùng đất, vùng dân hoàn chỉnh.

Một vấn đề thuộc về nhận thức cũng phải giải quyết trước khi bước vào học. Với các chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên, chiến thuật bao vây tiến công liên tục và bao vây đánh lấn không có gì lạ, nhưng đối với các chiến sĩ Sư đoàn 3 hoạt động ở đồng bằng thì rất mới mẻ - Vì thế việc tiếp thu chiến thuật đối với từng cán bộ, chiến sĩ không chỉ trong lĩnh vực quân sự mà cả trong tư tưởng và công tác hậu cần. Có vây lấn được không và vây lấn như thế nào trong điều kiện bom pháo địch dữ dội như thế? Có đánh liên tục được không, có giải phóng chi khu, quận lỵ được không với điều kiện trang bị còn ít ỏi.

Giải quyết những nhận thức trên, chúng tôi đã tập trung làm tốt đợt tập huấn quân sự cho 500 lượt cán bộ từ đại đội trở lên nhằm nắm chắc nội dung lý thuyết của hai chiến thuật trên đi đôi với tập bài trên sa bàn và tổ chức đánh địch để thể nghiệm các vấn đề đã học, để rèn luyện năng lực chỉ huy và làm nòng cốt cho việc tổ chức huấn luyện tại đơn vị mình.

Công tác chính trị trong huấn luyện cũng được tăng cường, việc phát hiện, khơi gợi và khuyến khích tính năng động bản thân chiến sĩ, có tác dụng củng cố lòng tin vào chiến thuật và cổ động tinh thần hăng say học tập trở thành người chiến sĩ có bản lĩnh.


(1) Thời gian này, trung bình mỗi đại đội chỉ có 45 tay súng. Hỏa lực lớn nhất của sư đoàn là hai khẩu cối 120 mi-li-mét và 100 viên đạn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2022, 07:54:47 am
Mùa huấn luyện năm ấy mưa liên miên, thao trường lúc nào cũng ướt nhão. Hầu hết các chiến sĩ của sư đoàn chỉ còn một bộ quần áo, ngày tập, đêm đốt lửa hong dưới hầm, sáng dậy lại mặc ra thao trường. Gần kết thúc đợt huấn luyện cơ bản trời vẫn mưa. Sáng ra thao trường bộ đội phải lấy gáo múc cạn nước trong các công sự hầm hào tiếp tục tập.

Bước sau cùng của đợt học tập quân sự là tổ chức đánh đồn An Bảo nhằm thể nghiệm chiến thuật đã học.

An Bảo thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, bắc huyện Phù Mỹ, là một đồn nhỏ do đại đội bảo an số 190 đóng giữ. Ngoài đồn có 2 đại đội lính cộng hòa đóng rải rác ở các khu vườn hoang. Sư đoàn quyết định sử dụng tiểu đoàn 3 vào trận đánh thể nghiệm này.

Theo phương án, tiểu đoàn 3 được tăng cường 5 đại đội hỏa lực để tiêu diệt cứ điểm An Bảo theo chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc bằng hiệp đồng giữa xung lực và hỏa lực. Hai đại đội cộng hòa giao cho đại đội 1 và 2 tiểu đoàn 3 tiến công bằng chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục.

Nhưng trận đánh diễn ra không đúng như mong muốn. Địch chết 24, số còn lại chạy thoát ra đường 1, vì tiểu đoàn 3 không thực hiện cách đánh địch trong công sự vững chắc như phương án đã định mà đánh theo chiến thuật tập kích, chỉ xua đuổi địch chứ không tiêu diệt được địch như kế hoạch đã đề ra.

Bài học của tiểu đoàn 3 nhanh chóng được phổ biến trong toàn sư đoàn. Các thao trường lại sôi động ngày đêm. Những buổi huấn luyện bổ sung lại diễn ra với tinh thần sôi động và nghiêm túc. Mọi người đều hiểu sâu sắc rằng: từ nay, đánh theo chiến thuật nào, phải hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc chiến thuật đó, nếu không sẽ xảy ra thương vong vô ích.

Song song với huấn luyện quân sự là đợt giáo dục chính trị tập trung nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh về chính trị và tư tưởng, một sức mạnh cơ bản của quân đội ta, một yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi trong chiến đấu.

Quân khu trực tiếp tổ chức tập huấn chính trị cho 300 cán bộ từ cấp sư đoàn, trung đoàn, tỉnh đội và tương đương để làm nòng cốt triển khai đợt học tập sâu rộng trong đơn vị mình. Hai nội dung tập huấn và cũng là hai nội dung giáo dục chính trị cho các đơn vị là “Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ, cứu nước” ngày 17 tháng 7 năm 1966 và Di chúc của Bác. Đây là hai nội dung mang tính thời sự nóng hổi, có tính giáo dục lòng yêu nước sâu sắc, động viên cổ vũ ý chí quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Sau khi trao đổi quán triệt nội dung trên đây, Quân khu còn tổ chức thảo luận hai chuyên đề: công của một trận chiến đấu thắng lợi thuộc về ai và thế nào là một cán bộ chỉ huy giỏi nhằm giáo dục tính khiêm tốn, tinh thần trách nhiệm, tác phong sâu sát của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy.

Ngoài ra Quân khu còn hướng dẫn các đơn vị thường xuyên có kế hoạch giáo dục, bồi dưỡng phân loại quần chúng theo ba cấp độ: nòng cốt (thường chiếm tỷ lệ 30-35% tổng số quần chúng trong đơn vị); khá (45-50%) và loại đạt yêu cầu (10-15%) làm cơ sở cho việc lãnh đạo động viên quần chúng thực hiện nhiệm vụ học tập, công tác và chiến đấu.

Các anh Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy, Chu Huy Mân - Tư lệnh quân khu, Nguyễn Xuân Hữu - Ủy viên Thường vụ Khu ủy và tôi cùng một số cán bộ các cơ quan quân khu gần hai tháng cùng sư đoàn nghiên cứu chiến thuật, cách đánh, nêu vấn đề, dựng tình huống diễn tập và thảo luận, giải quyết cụ thể từng vướng mắc cụ thể của bộ đội.

Có lẽ không có năm nào, mùa huấn luyện nào lại sôi động, khẩn trương và hào hứng như mùa huấn luyện năm ấy - năm chuẩn bị sẵn sàng tham gia cuộc tiến công chiến lược Xuân Hè năm 1972.

Tây Nguyên là một trong ba hướng tiến công của bộ đội chủ lực nhưng đã có Mặt trận B3 do đồng chí Trương Chí Cường, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng và đồng chí Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo là chính ủy và tư lệnh mặt trận đảm trách. Khu ủy, Đảng ủy và Bộ tự lệnh Khu 5 chịu trách nhiệm chiến trường đồng bằng ven biển.

Như vậy trên bình diện quân sự, trong cuộc tiến công chiến lược 1972, quan hệ giữa chiến trường Tây Nguyên và chiến trường đồng bằng ven biển miền Trung là quan hệ phối hợp. Nhưng qua nghiên cứu Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 5 năm 1971, Nghị quyết Quân ủy tháng 6 năm 1971, các chỉ thị của Quân ủy Trung ương tháng 4 năm 1971 và chỉ thị tháng 3 năm 1972, các anh lãnh đạo Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đã rút ra cho mình những nhận thức tích cực. Đồng bằng ven biển là một trong những chiến trường trọng điểm tiến công và nổi dậy diệt sinh lực địch, diệt kẹp giành dân, đánh bại cơ bản “bình định nông thôn” của địch; trách nhiệm của vùng đồng bằng ven biển Khu 5 không chỉ là tiến công và nổi dậy giải phóng nông thôn mà còn phải tiến công tiêu diệt và kìm giữ một bộ phận quân cơ động của ngụy, phối hợp với chủ lực ở Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:26:24 pm
Những nhận thức cần thiết trên đây là tiền đề, là định hướng để quân khu vạch kế hoạch và biện pháp thực hiện cuộc tiến công chiến lược 1972, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn chiến trường đồng bằng ven biển vừa phối hợp, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác, các hướng khác mà trực tiếp là hướng Tây Nguyên tiêu diệt sinh lực địch.

Cuối tháng 12 năm 1971, phương án tác chiến Xuân Hè 1972 trên chiến trường đồng bằng ven biển Khu 5 đã được chính thức thông qua.

- Trên hướng Bình Định, Sư đoàn 3 và 2 tiểu đoàn đặc công cơ động 403, 406 của Quân khu tiến công tiêu diệt trung đoàn 40 sư đoàn 22 ngụy, đánh vỡ một bộ phận phòng tuyến cơ bản của địch, giải phóng huyện Hoài Ân, hỗ trợ lực lượng địa phương và nhân dân các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa tiến công và nổi dậy, đập tan hệ thống kìm kẹp, đánh bại “bình định nông thôn” của địch, giành dân, tạo ra một vùng giải phóng rộng từ nam Quảng Ngãi đến bắc đường 19 và liên hoàn với căn cứ hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum.

- Trên hướng Quảng Nam, Sư đoàn 711 (thiếu) và tiểu đoàn đặc công cơ động 409 của quân khu tiến công tiêu diệt một bộ phận quân cơ động của sư đoàn 2 ngụy; kết hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy đập tan hệ thống kìm kẹp, đánh bại “bình định nông thôn” của địch, giành dân và giải phóng khu vực Quế Sơn, Tiên Phước, tây Thăng Bình, Nông Sơn, Trung Phước (Quảng Nam), Đức Phổ, Ba Tơ, Giá Vụt (Quảng Ngãi).

Đến đây xin được kể sâu cùng bạn đọc về quá trình tổ chức tiến công của Sư đoàn 3 trên hướng bắc Bình Định mà tôi được chứng kiến.

Bắc Bình Định gồm hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn và bắc huyện Phù Mỹ, rộng khoảng 1.500 ki-lô-mét vuông. Đây là địa bàn quan trọng, có cửa biển Tam Quan và hơn 50 ki-lô-mét đường 1 chạy qua. Tại khu vực này có ba quận lỵ, thị trấn: Tam Quan, Bồng Sơn, Hoài Ân với 2 trung đoàn chủ lực (40 và 41) thuộc sư đoàn 22 ngụy, 1-3 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép, 42 khẩu pháo. Ngoài ra còn có 4 liên đội và 50 đại đội bảo an, 200 trung đội dân vệ và thanh niên chiến đấu.

Chiến dịch Xuân 1972 của Sư đoàn 3 được mang mật danh D6, dự kiến lược đồ chiến dịch có sáu trận đánh, trong đó Gò Loi là trận đánh mở màn, Hòn Bồ là trận then chốt, Hoài Ân là trận then chốt quyết định. Ngoài ra có thể có từ 1 đến 2 trận phát triển đánh địch phản kích và tiêu diệt địch trên đường số 1 từ cầu Bồng Sơn đến nống Mồ Côi, nam đèo Phù Cũ, bắc huyện Phù Mỹ, thời cơ thuận lợi phát triển tiến công diệt địch ở thị trấn Bồng Sơn, căn cứ quân sự Đệ Đức, bức rút thị trấn Tam Quan, giải phóng Bắc Bình Định.

Gò Loi nguyên là căn cứ biệt kích Mỹ được xây dựng từ năm 1966, cách thị trấn Hoài Ân 10 ki-lô-mét về phía tây. Mỹ rút giao lại cho ngụy. Đây là một căn cứ kiên cố bậc nhất trong những căn cứ ở Bắc Bình Định, do liên đoàn bảo an 48 đóng giữ. Căn cứ đặt trên ngọn đồi không cao lắm nhưng đỉnh đồi nhọn như nón úp. Ba mặt chân đồi là bùn lầy và cỏ rậm. Từ chân đồi lên đỉnh đồi có ba tầng lô cốt, hầm hào bao quanh như vành khăn. Xung quanh cứ điểm có 14 lớp rào, chưa kể các bãi mìn và vật chướng ngại bao bọc bốn phía rộng hàng trăm mét. Cứ điểm có sân bay lên thẳng và đường láng nhựa chạy vòng quanh lên tới đỉnh. Một hệ thống hầm ngầm có thể để được ô tô, dự trữ đạn dược, thực phẩm để cầm cự hàng tháng nếu bị bao vây.

Chiếm được Gò Loi, Hoài Ân mất một tiền đồn quan trọng, sẽ giáng một đòn nặng nề vào tinh thần binh sĩ ngụy trong vùng. Do vị trí quan trọng của căn cứ nên việc thảo luận kế hoạch đánh và đã đánh là phải thắng có nhiều ý kiến tranh luận. Ban đầu sư đoàn định dùng tiểu đoàn đặc công tiêu diệt Gò Loi bằng hai phương án: một là, mật tập hoàn toàn; hai là, nếu bị lộ giữa hàng rào thì chuyển sang tập kích bằng xung lực và hỏa lực. Qua huấn luyện thấy phương án trên bộc lộ những vấn đề phức tạp, như vậy đơn vị đảm nhận nhiệm vụ phải chuẩn bị cả hai chiến thuật trong một trận đánh, đòi hỏi phải trang bị thêm súng đạn cồng kềnh không phù hợp với chiến thuật đặc công. Nhưng chỉ chuẩn bị một phương án với một cứ điểm kiên cố như vậy liệu có ổn không? Đêm ngày trăn trở với những câu hỏi đặt ra, cuối cùng Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định, chỉ sử dụng phương án duy nhất cho đặc công - phương án mật tập; đồng thời dùng tiểu đoàn bộ binh 2 sẵn sàng đánh theo phương án hai - vây lấn Gò Loi nếu đặc công bị lộ không diệt gọn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:27:15 pm
Như vậy, các tình huống đặt ra được giải quyết triệt để và mỗi đơn vị được khẳng định chiến thuật của mình để tập trung huấn luyện. Tiểu đoàn 40 đặc công của sư đoàn được giao đánh trận mở màn này.

Ngày N của trận đánh là đêm ngày 8 tháng 4 (sau chiến thắng Lộc Ninh một ngày) và 1 giờ sáng trận đánh bắt đầu. Sau đợt bộc phá mở cửa, từ các hướng, các mũi tiến vào chia cắt Gò Loi thành những mảnh nhỏ để tiêu diệt.

Nhờ hệ thống hầm ngầm, lô cốt kiên cố, bọn địch sau phút bàng hoàng hoảng loạn đã hồi phục, chúng dồn vào khu vực còn lại, chống trả ta quyết liệt. Tên liên đội trưởng và tên quận phó Hoài Ân lồng lộn thúc giục binh lính chống cự. Ba chiếc lô cốt vừa bị ta đánh lướt lại quét đạn xối xả, nhưng đều bị các chiến sĩ đặc công đánh trả. Biết không thể cứu vãn được tình thế, tên liên đội trưởng và tên quận phó dẫn theo một tiểu đội lén lút chui đường hầm ra ngoài chạy thoát.

Cứ điểm Gò Loi - “cánh cửa thép” phía tây bị đập nát, địch trong quận lỵ Hoài Ân hết sức hoang mang lo sợ.

Ta dự kiến Gò Loi thất thủ địch sẽ phản kích chiếm lại và khu vực đánh địch phản kích là Hòn Bồ, cách Gò Loi 2 ki-lô-mét về phía đông. Nhưng ba ngày sau khi Gò Loi bị đập nát, địch vẫn chưa ra. Trong chiến sĩ xuất hiện tư tưởng nôn nóng, còn trong cán bộ đã có ý kiến nên có phương án khác...

Nhưng Bộ tư lệnh sư đoàn kiên quyết giữ phương án cũ - trung đoàn 2 vẫn ở vị trí chờ đợi; trung đoàn 21 và tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 đánh ép mạnh phía bắc và đông bắc Hoài Ân thúc trung đoàn 40 ngụy nhanh chóng vào tham chiến.

Bị ép mạnh, ngày 12 địch buộc phải thành lập chiến đoàn 40 gồm 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chiến đoàn xe bọc thép đi giải tỏa Gò Loi.

Vừa thấy địch xuất hiện, Bộ tư lệnh sư đoàn lệnh cho trung đoàn 2 và một bộ phận trung đoàn 21 vừa nổ súng vừa rút, bỏ ngỏ phía đông bắc Gò Loi cho địch tràn lên. Trưa ngày 13, địch theo đường 3A thọc lên chiếm dãy điểm cao Hòn Bồ, khu vực Gò Đê và ngã ba Tân Thạnh.

Trận đánh địch phản kích bắt đầu. 24 giờ đêm, sở chỉ huy tiểu đoàn địch chiếm mỏm 2 dãy Hòn Bồ, mờ sáng ngày 15 tháng 4, cối và ĐKZ của tiểu đoàn 2 trung đoàn 2 kịp thời nổ súng bắn dồn dập vào đội hình quân địch, các mũi các hướng của tiểu đoàn 2 vượt lên áp sát mục tiêu. Trận đánh diễn ra rất nhanh. Sau một giờ tiến công quyết liệt, ta dồn địch lên mỏm cuối cùng của dãy Hòn Bồ.

Ở chân Hòn Bồ thứ hai, địch cũng bị ta chia cắt, vây chặt, không cho chúng chi viện cho cánh quân trên núi đang trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, chiến đoàn 40 đang bị ta dồn vào thế cô lập và bị chia cắt với hậu phương của chúng.

Thời cơ tiêu diệt chiến đoàn 40 đã đến. Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh hạ lệnh mở đợt công kích toàn diện vào đội hình quân địch... Cho đến tối ngày 15 tháng 4 chiến đoàn 40 đã bị xóa sổ, trận đánh vận dụng chiến thuật bao vây vận động tiến công liên tục lần đầu tiên vận dụng đã thắng lợi giòn giã.

Mất Gò Loi, Hòn Bồ và bị ta bao vây ở Lại Khánh, quân địch ở quận lỵ Hoài Ân như cá nằm trên thớt. Một số tên ác ôn và bọn cố vấn Mỹ ở quận lỵ vội vã lên máy bay trực thăng về Quy Nhơn. Huyện ủy Hoài Ân kịp thời chỉ đạo cơ sở vận động bà con phá khu dồn trở về làng cũ.

Ở Sở chỉ huy Quân khu lúc này tuy công việc tất bật nhưng vui. Các đồng chí ở bộ phận tác chiến đưa ra nhận định làm phấn chấn mọi người, theo lược đồ chiến dịch phải qua trận thứ sáu, nhưng mới qua hai trận ta đã tới sát Hoài Ân. Anh em cười nói râm ran và đế vào - Ta đã bỏ qua được bốn công đoạn và hướng về phía Tư lệnh chờ đợi một ý kiến nhận xét.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:28:15 pm
Bỗng có điện từ Sư đoàn 3 gửi qua máy liên lạc vô tuyến về do đồng chí báo vụ viên đưa. Tất cả chúng tôi hướng vào sự chú ý của mình về phía Tư lệnh đang đọc điện để biết tin vui. Đọc xong điện, Tư lệnh quay sang trưởng phòng tác chiến ghi điện gửi Sư đoàn 3 - Đồng ý cho sư đoàn tiến công giải phóng quận lỵ Hoài Ân trong hai ngày 18 và 19 tháng 4. Từ nay dùng vô tuyến điện thường xuyên liên lạc với Quân khu, không làm việc theo phiên giờ như trước.

Từ khi có chế độ liên lạc mới, các buổi giao ban ở Sở chỉ huy Quân khu trở nên phong phú về tin tức chiến sự, ý kiến chỉ đạo của trên xuống dưới được kịp thời. Trong thời gian này mọi diễn biến từ mặt trận bắc Bình Định chiếm tỷ lệ rất cao và cụ thể - Mờ sáng ngày 18 tháng 4 các trung đoàn 2, 21, tiểu đoàn 4, trung đoàn 12, tiểu đoàn công binh 14, tiểu đoàn đặc công đã nổ súng đánh chiếm ngoại vi quanh quận lỵ. Càng vào gần địch càng phản ứng quyết liệt. Các trận đánh diễn ra căng thẳng, dai dẳng. Tại khu vực đồi 75, Truông Sỏi, địch và ta chia nhau từng mỏm đồi nhỏ, chiến đấu suốt ngày trong bom, pháo ác liệt. Đói khát đến khô người. Trời sắp tối, trung đoàn 2 báo cáo xin tạm dừng để xốc lại đội hình, sáng mai đánh tiếp nhưng sư đoàn không chấp nhận vì nếu không dứt điểm Truông Sỏi, đồi 75 trước khi trời tối không thể diệt được quận lỵ trong ngày mai như kế hoạch đã định.

Chiều ngày 18, Tư lệnh quân khu làm việc với Tư lệnh Sư đoàn 3 qua máy liên lạc vô tuyến.

- Địch bây giờ thế nào?

- Chúng ném bom dữ dội xuống khu vực vừa mất, hàng binh khai chúng đang cố thủ chờ viện binh.

- Chúng sẽ chạy đấy! Địch không còn lực lượng nào chi viện cho Hoài Ân nữa... Sư đoàn cần đưa ngay lực lượng vào vây lấn Hoài Ân...

Lúc này, tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 đang áp sát phía nam quận lỵ; tiểu đoàn 9 trung đoàn 21, tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 đã chiếm lĩnh phía đông bắc quận lỵ.

Ba giờ sáng ngày 19, trong trung tâm quận lỵ bùng lên năm đám cháy lớn kéo theo những tiếng nổ. Tham mưu trưởng sư đoàn điện hỏi trinh sát, thông tin và tiểu đoàn 3 ở gần địch xem đó là hiện tượng gì, nhưng không đơn vị nào biết một cách cụ thể? Cuối cùng cơ sở của huyện ủy Hoài Ân cho biết địch đang phá kho tàng và tập trung xe pháo hướng ra cửa chính phía đông.

Thế là rõ. Địch chuẩn bị tháo chạy. Tư lệnh sư đoàn kiểm tra lại các hướng vây lấn rồi hạ lệnh tiến công. Lúc đó ủy ban quân quản huyện Hoài Ân do chủ nhiệm chính trị sư đoàn làm chủ tịch đã được thành lập.

Từ đây Sở chỉ huy Quân khu liên tục nhận được tin tức từ sư đoàn báo cáo về: sau loạt đạn cối và ĐKZ của ta bắn vào, ba xe pháo và hai kho xăng, đạn của địch trúng đạn bốc cháy. Các tiểu đoàn siết chặt vòng vây quận lỵ. Tên quận trưởng vội vã cho bảy xe bọc thép và một đại đội bộ binh đánh ra cổng chính phá vây, liền bị ta chặn lại. Biết không thế cố thủ được nữa, tên quận trưởng Hoài Ân gọi máy bay ném bom xuống quanh hàng rào và ra lệnh tháo chạy.

Địch bung ra khỏi quận lỵ sớm hơn dự kiến. Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh lệnh cho trung đoàn 21 và tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 xuất kích chặn địch. Gần 1.000 tên địch và 11 xe bọc thép tràn ra giữa cánh đồng. Cầu Giáo Ba bị đánh sập từ hôm trước, địch ùn lại trên con đường độc đạo hai bên là lúa nước. Hỏa lực của ta từ mọi phía ập xuống đầu chúng...

11 giờ trưa ngày 19 tháng 4 năm 1972, hơn ba vạn đồng bào sống trong ách kìm kẹp của địch được hoàn toàn giải phóng. Cũng từ buổi trưa hôm ấy Hoài Ân vĩnh viễn nằm trong vùng giải phóng và trở thành một bàn đạp quan trọng của chiến trường Khu 5 sau này.

Tất cả chúng tôi, những người có mặt trong sở chỉ huy Quân khu đều vỗ tay reo mừng khi nghe tiếng Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh báo cáo Tư lệnh Quân khu - Hoài Ân đã được giải phóng và xin được đánh tiếp Bồng Sơn, Đệ Đức.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:29:07 pm
Ai cũng đinh ninh rằng sau Hoài Ân, đánh tiếp Bồng Sơn, Đệ Đức, Tam Quan là đúng, nhưng Bộ tư lệnh Quân khu lại nghĩ khác. Như đã trù liệu từ trước, Tư lệnh Chu Huy Mân ghé sát vào máy liên lạc vô tuyến ra lệnh cho Sư đoàn 3 với lời lẽ ngắn gọn - Dùng một bộ phận vây ép Bồng Sơn, tập trung lực lượng nhanh chóng diệt Bình Dương giải phóng bắc Phù Mỹ.

Tất cả chúng tôi có mặt ở sở chỉ huy Quân khu đều bất ngờ đến khó hiểu, nhưng đành để bụng, ai nấy nhanh chóng vào việc mà mình được phân công để mệnh lệnh được nghiêm chỉnh thực hiện. Sau này gặp lại Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, được biết lúc đó anh cũng có chung tâm trạng bất ngờ như chúng tôi, vì lúc này điều kiện giải phóng Hoài Nhơn đang trong tầm tay, thuận lợi hơn Phù Mỹ.

Hai tiếng đồng hồ sau khi nhận lệnh, đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường do Phó sư đoàn trưởng Việt Sơn phụ trách đi gấp xuống Phù Mỹ. Sau này về tổng kết, đối chiếu với thực tế diễn biến trên chiến trường mọi người đều thừa nhận quyết định lúc đó của Tư lệnh là sắc sảo. Ngay đêm hôm đó, phương án giải phóng bắc Phù Mỹ của sư đoàn với phương thức kết hợp tiến công của chủ lực, bộ đội địa phương và nổi dậy của quần chúng đã được báo cáo về quân khu phê chuẩn.

Phía trước đang vẫy gọi. Chưa ngủ trọn vẹn một đêm trong vùng giải phóng Hoài Ân, các chiến sĩ Sư đoàn 3 lại cuốn võng, khoác ba lô xuống bắc Phù Mỹ với cái mệnh lệnh ngắn gọn mà chứa đựng bao điều tính toán sâu xa chẳng khác nào người cao cờ tướng, đi một nước tính trước năm mười nước tiếp sau, dồn đối phương vào cảnh biết thua mà vẫn không sao gỡ được, ngay cả ý định kéo dài cái thế thua cũng đành bó tay xin được chơi ván khác.

Mục tiêu đề ra chỉ giải phóng Hoài Ân, nhưng thời cơ và sự nỗ lực cụ thể của quân dân Hoài Ân đã tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ trước quá nửa thời gian. Tình hình chiến trường ven biển miền Trung vẫn đang còn thuận lợi. Hầu hết lực lượng cơ động của địch đang phải điều ra mặt trận Trị - Thiên và Bắc Kon Tum. Chúng sẽ còn bị hút khi ta tiến công Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum. Tổ chức tiến công và nổi dậy của các lực lượng địa phương và quần chúng đang phát triển đều khắp và vững chắc, nhất là ở chiến trường Bình Định. Khả năng giải phóng huyện Hoài Nhơn đang tới gần. Nhưng chặn cắt trước ở bắc Phù Mỹ không những có giá trị chiến thuật, chiến dịch mà còn giáng đòn cân não đối với sĩ quan và binh lính địch. Từ đó quay lại giải phóng Hoài Nhơn sẽ thuận lợi và triệt để hơn...

Đó là sự tính toán của Bộ tư lệnh Quân khu 5 sau khi Tư lệnh Sư đoàn 3 báo cáo đã giải phóng Hoài Ân và giải thích lý do vì sao Tư lệnh quân khu lại ra lệnh cho Sư đoàn 3 và Mặt trận Bình Định thọc xuống giải phóng bắc Phù Mỹ chứ không đánh Bồng Sơn, Đệ Đức ngay để giải phóng Hoài Nhơn được triệt để hơn.

Ý định chí đạo nhạy bén và thông minh của Bộ tư lệnh Quân khu 5 lúc đó chưa có điều kiện giải thích, nhưng với tinh thần “quân lệnh như sơn”, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 đã làm cho cái mệnh lệnh ngắn gọn đó trở thành hiện thực một cách uyển chuyển, sinh động, đạt hiệu quả cao vượt dự kiến ban đầu ngay trên đường hành quân. Súng đạn, trang bị vừa thu được của địch cấp phát bổ sung ngay cho đơn vị đi làm nhiệm vụ. Vượt đường số 1, các đơn vị nối nhau đến vị trí tập kết, xốc lại đội hình rồi đi tiếp.

Đêm về trên bờ đầm Châu Trúc, hàng trăm ghe thuyền của đồng bào cắm sào đợi sẵn. Các đơn vị lần lượt xuống thuyền, súng đạn lích kích...

Cho đến giờ phút ấy, bọn giặc ở căn cứ Bình Dương, ở nống Mồ Côi, ở Đèo Nhông và các khu vực xung quanh đều không ngờ Sư đoàn 3 có thể đưa được một phần lực lượng vào bắc Phù Mỹ qua con đầm mênh mông đầy ắp nước, đó là con đường nguy hiểm và khó thực hiện nhất, nhưng lại là con đường gần và an toàn để ta làm nên những chuyện bất ngờ sau đó.

Bước vào giai đoạn hai của chiến dịch, sư đoàn hoạt động trên hai khu vực chủ yếu. Khu vực Bình Dương có trung đoàn 2 (thiếu tiểu đoàn 1), tiểu đoàn đặc công 40, các đại đội đặc công 71 và 72 của trung đoàn 12 cùng lực lượng địa phương và nhân dân có nhiệm vụ tiêu diệt hai tiểu đoàn chủ lực ngụy, một liên đoàn bảo an và 10 đại đội bảo an khác ở căn cứ Bình Dương, Đèo Nhông và nống Mồ Côi... giải phóng hoàn toàn phía bắc huyện Phù Mỹ.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:30:16 pm
Khu vực hai gồm có trung đoàn 21, tiểu đoàn 4 trung đoàn 12, tiểu đoàn công binh hoạt động dọc đường số 1 từ tây núi Lại Khánh đến cầu Bồng Sơn, sân bay Thiết Đình, cùng địa phương cắt giao thông đường số 1, bao vây và tiêu diệt địch ở khu vực Lại Khánh, Văn Cang, Trung Lương và Thiết Bình, làm bàn đạp tiến đánh Bồng Sơn trong đợt tiếp theo.

Ngày 15 tháng 4, sau khi làm chủ các ấp chiến lược Vân Tường, Vĩnh Bình, Dương Liễu, tiểu đoàn 2 trung đoàn 2 giãn đội hình, tạo thành thế vây trên một hướng, cùng các phân đội hỏa lực bảo vệ cho tiểu đoàn 3 sáp vào vây lấn căn cứ Bình Dương.

Cũng như Gò Loi (Hoài Ân), Bình Dương là một căn cứ được cấu trúc khá kiên cố, có 10 lớp rào kẽm gai và một hệ thống hầm hào bao quanh, một trận địa pháo 105 mi-li-mét bốn khẩu, hàng chục khẩu súng cối 81, 60 mi-li-mét và súng máy các loại. Từ khi tình hình bắc Phù Mỹ căng thẳng, địch cấp tốc điều một tiểu đoàn lính chủ lực ra đóng giữ. Nhổ được Bình Dương ta sẽ tạo được thế cho lực lượng địa phương Phù Mỹ nổi dậy tiêu diệt, bức rút hàng loạt các chốt lẻ khác, phá vỡ tuyến phòng thủ cơ bản của địch trên đường số 1, cô lập toàn bộ trung đoàn 40 và ngụy quyền Hoài Nhơn, cắt đứt sự chi viện giữa nam và bắc tỉnh, tạo thế chia cắt chiến dịch giữa Bồng Sơn và Phù Mỹ.

Trước khi tiểu đoàn 3 thực hành vây lấn Bình Dương, tiểu đoàn đặc công 40 có tiến công nhưng không diệt gọn được hai cứ điểm Mồ Côi và Đèo Nhông, đã gây khó khăn cho tiểu đoàn 3. Nhưng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 bất chấp bom đạn, bám chắc trận địa, lấn dần vào căn cứ địch. Dùng bộ binh phản kích không xong, tên chỉ huy tiểu đoàn địch ra lệnh đưa ĐKZ90, M72, M79 và súng 12,7 mi-li-mét lên các đỉnh lô cốt và các ụ đất cao nhằm vào công sự của ta mà nhả đạn. Ta đưa các trận địa ĐKZ75, súng cao xạ, cối 82 mi-li-mét lên đường cái lớn và các gò cao sát hàng rào dập tắt hỏa điểm địch. Nửa giờ sau hỏa lực địch câm bặt, tiểu đoàn 3 đưa đội hình nhích lên từng bước vào gần căn cứ địch. Tên tiểu đoàn trưởng chỉ huy căn cứ xin máy bay ném bom vào trận địa vây lấn của ta. Nhưng ta vẫn nhích dần vào, quân địch trong căn cứ hoảng sợ, chúng liên tục điện về sở chỉ huy trung đoàn 41 ở Trà Quang xin mở vây để rút chạy nhưng đã muộn. Ta điều tiểu đoàn 2 trung đoàn 2 khóa chặt đường số 1, ấp Vĩnh Bình và lệnh cho tiểu đoàn xung phong vào căn cứ. Trong ngày hôm đó 480 tên địch từ trong căn cứ và các chốt xung quanh bị dồn đến cánh đồng Vĩnh Bình giữa vòng vây của tiểu đoàn 2 và đại đội công binh để rồi bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ ở đó.

Mất Bình Dương, toàn bộ ngụy quân ngụy quyền ở bắc Phù Mỹ rơi vào cảnh hỗn loạn. Tranh thủ thời cơ, sáng ngày 27 tháng 4 dưới sự chỉ đạo của huyện Phù Mỹ, nhân dân và du kích các xã bắc Phù Mỹ kéo đến bao vây đồn bốt địch còn lại ở Mồ Côi. Hơn một nghìn nhân dân có du kích bảo vệ đã ùn ùn kéo đến bao vây. Được ban chỉ huy các đại đội, tiểu đoàn của trung đoàn 2 Sư đoàn 3 dẫn đầu, bà con sáp tới trong tiếng súng hỗ trợ của bộ đội và du kích, nhân dân nổi mõ, vung dao, cuốc, gậy gộc đe dọa bọn ngoan cố, phát loa kêu gọi binh lính trở về với nhân dân. Trước áp lực của sức mạnh nhân dân, bọn địch ở chốt điểm Mồ Côi rút chạy về Phù Cũ kéo cả bọn ở đây chạy về Bồng Sơn nhưng đã bị ta phục kích tiêu diệt chỉ còn khoảng một trăm tên sống sót chạy về phía bắc.

Ngày 28, do bác Tám phát hiện và chính bác lại là người dẫn đường, đội quân tổng hợp gồm các chiến sĩ tiểu đoàn 2, bộ đội huyện, du kích bốn xã tiếp cận địch đang lẩn trốn tại Hố Chuối khoảng 500 tên. Cuộc bao vây truy lùng đến bốn giờ chiều. Các chiến sĩ vừa nổ súng vừa kêu gọi đầu hàng. Cuối cùng chúng đã lũ lượt kéo ra hàng, đi đầu là 7 sĩ quan thuộc liên đội bảo an số 702. Đây là trận đánh ta bắt nhiều tù binh nhất từ trước đến nay (gần 500 tên).

Như vậy là trong thế phát triển của chiến dịch, với bốn ngày đêm liên tục tiến công, hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang và nhân dân Phù Mỹ, Sư đoàn 3 đã diệt và bắt sống gần 2.000 tên địch, quét sạch hệ thống ngụy quyền trong vùng, đập tan tuyến phòng thủ dọc đường số 1 dài 20 ki-lô-mét.

Bắc huyện Phù Mỹ được giải phóng. Tỉnh Bình Định bị cắt làm đôi. Ngụy quân, ngụy quyền ở Hoài Nhơn như cá sa lưới, lo sợ, nhốn nháo. Số phận của chúng đã được định đoạt.

Cùng với việc mất bắc Phù Mỹ, ngày 24 tháng 4 hệ thống phòng thủ cứng nhất của địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh, Bắc Tây Nguyên đã bị trung đoàn 66 và trung đoàn 1 Sư đoàn bộ binh 2 đập tan. Tên đại tá tư lệnh sư đoàn 22 ngụy và tên đại tá cố vấn Mỹ chết tại trận, tên đại tá sư đoàn phó và toàn ban tham mưu tiền phương của sư đoàn này bị ta bắt sống...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:33:02 pm
Cùng với việc mất bắc Phù Mỹ, ngày 24 tháng 4 hệ thống phòng thủ cứng nhất của địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh, Bắc Tây Nguyên đã bị trung đoàn 66 và trung đoàn 1 Sư đoàn bộ binh 2 đập tan. Tên đại tá tư lệnh sư đoàn 22 ngụy và tên đại tá cố vấn Mỹ chết tại trận, tên đại tá sư đoàn phó và toàn ban tham mưu tiền phương của sư đoàn này bị ta bắt sống...

Đến lúc này tên cố vấn Mỹ Giôn Pôn-van và bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy mới khẳng định hướng chính của đối phương là Bắc Tây Nguyên khiến chúng không thể rút được lực lượng ở đây. Trái lại còn phải tăng cường thêm nữa, vì “Sư đoàn 320 Bắc Việt Nam đang mở đường tiến vào thị xã Kon Tum”.

Bằng thắng lợi phá vỡ tuyến phòng thủ Đắc Tô -Tân Cảnh, chiến trường Tây Nguyên đã và đang “thu hút và giam chân quân chủ lực địch, tạo điều kiện cho phong trào tiến công và nổi dậy giải phóng đồng bằng Khu 5, giành thắng lợi lớn”(1). Chính vì thế mà trong cuộc họp giao ban ở sở chỉ huy Bộ tư lệnh Quân khu ngày 26 tháng 4, khi trung đoàn 2 vừa dứt điểm cứ điểm Bình Dương, chúng tôi đã được nghe đồng chí Tư lệnh quân khu lệnh cho Mặt trận Bình Định và Sư đoàn 3 nhanh chóng đánh chiếm Bồng Sơn, Đệ Đức với tốc độ nhanh nhất, thắng áp đảo, giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Nhơn vì các anh đã nắm chắc thế bí của địch, nhận rõ thế phát triển thuận lợi của ta ở Bình Định.

Sự chờ đợi bị dồn nén được bung ra sau khi Tư lệnh quân khu chính thức lệnh cho bộ đội tiến quân vào Bồng Sơn mở đầu cuộc tiến công giải phóng Hoài Nhơn. Mỗi người theo chức trách của mình hăm hở lao vào công việc để phục vụ cho đợt tiến công mới.

Mãi bốn giờ chiều ngày 28 mới kết thúc trận đánh cuối cùng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng bắc Phù Mỹ thì ngày 29 Sư đoàn 3 đã hội đủ các điều kiện để bước vào trận đánh mới - tiến công quận lỵ Bồng Sơn với lực lượng sử dụng 4 tiểu đoàn.

Sáng sớm ngày 29 các tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch co vào khu trung tâm. Cho đến lúc có bộ binh và xe thiết giáp địch từ căn cứ Đệ Đức nống ra chi viện, chúng lại bung ra chống cự.

Chín giờ sáng, các mũi tiến công của ta dừng lại củng cố. Đợt thứ hai diễn ra vào lúc 10 giờ. Tiểu đoàn 1 chật vật lắm mới đẩy được địch ra khỏi bến xe, nhưng chúng ngoan cố leo lên các tầng gác dùng lựu đạn, súng liên thanh quét xuống mặt đường làm ta bị thương vong gần nửa trung đội. Các khẩu đội ĐKZ57, B40, B41 phải chếch nòng với góc nguy hiểm cho người bắn mới diệt được hỏa điểm địch. Tuy vậy tiểu đoàn 1 vẫn phát triển chậm.

Mười một giờ ta chiếm được đồn quân cảnh, trung đội trưởng Hà Đức Trọng nhanh nhẹn cắm cờ giải phóng lên cổng đồn. Cùng lúc ấy mũi thứ hai của tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 phát triển từ An Đông sang tây nam quận lỵ bát liên lạc với tiểu đoàn 1.

Sau một đợt tiến công liên tục từ hai phía, tiểu đoàn 4 trung đoàn 21 đã hoàn toàn làm chủ quận lỵ. Tiểu đoàn 1 cũng đã chiếm chi cảnh sát, khu trường Tăng Bạt Hổ, trường Bồ Đề, hậu cứ liên đội bảo an 43, dồn địch về phía cầu Bồng Sơn. Ở đây chúng đã bị bộ phận đón lõng của ta bắt sống toàn bộ. Riêng tên quận trưởng ngoan cố tháo chạy đã bị ta bắn chết giữa cầu Bồng Sơn ngay trên chiếc xe jeép của hắn.

Thị trấn Bồng Sơn được giải phóng. Cờ Mặt trận trong phút chốc đã tung bay trên khắp các mái nhà, các ngọn dừa.

Phối hợp với trung đoàn 21, Sư đoàn 3 tiến công đánh chiếm quận lỵ Bồng Sơn, sân bay Thiết Đình. Hàng vạn nhân dân các xã Hoài Châu, Hoài Hảo, Hoài Thanh, Hoài Hương... có du kích làm nòng cốt nổi dậy bao vây bức rút các chốt địch ở Đồi Đành, Hội Phú, Cự Lệ, Mỹ Bình, Cự Tài... phá banh hàng chục “ấp chiến lược” xung quanh thị trấn Tam Quan.

Bồng Sơn mất, địch ở Đệ Đức, một căn cứ lớn ở bắc Bình Định vẫn bình tĩnh trong căn cứ, hy vọng có thể cầm cự được với Sư đoàn 3 trong lúc chờ viện binh đến giải tỏa.


(1) Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 6 tháng 3 năm 1972.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:34:09 pm
Đệ Đức nguyên là căn cứ của lữ đoàn 173 Mỹ, rộng 5 ki-lô-mét vuông, có sân bay vận tải chạy dọc theo đường số 1. Mỹ rút, căn cứ này giao cho trung đoàn 40 sư đoàn 22 ngụy. Hiện trong căn cứ có khoảng 1.200 tên địch, gồm lực lượng còn lại của trung đoàn 40 ngụy, hai liên đội bảo an 201, 207 và một số đại đội trực thuộc. Bọn tàn quân và ngụy quyền ở Hoài Ân, bắc Phù Mỹ, Hoài Nhơn sống sót chạy vào căn cứ. Hỏa lực còn khá mạnh với 12 khẩu pháo 105, 155, mười khẩu cối 81 và 106,7 mi-li-mét, 2 chi đoàn xe tăng và bọc thép. Bao quanh căn cứ là 14 hàng rào kẽm gai rộng hàng trăm mét với hàng chục đại đội bảo an bảo vệ vòng ngoài.

Trong khi tổ chức đánh Đệ Đức chiều ngày 30 tháng 4, Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 lệnh cho tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 đánh quân địch ở một số khu vực và điều gấp tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 hành quân ra phía bắc phối hợp với lực lượng địa phương bao vây, tiêu diệt quân địch, giải phóng thị trấn Tam Quan, cát đứt đường rút của địch ra nam Quảng Ngãi.

Đúng như kế hoạch đã định, sáng sớm ngày 1 tháng 5, tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 đánh úp đồn An Thái, đông thị trấn Tam Quan. Thừa thắng, bộ đội địa phương và đồng bào cùng với tiểu đoàn 4 kéo đến bao vây thị trấn Tam Quan. Trước sức ép của cả ba thứ quân, địch bỏ Tam Quan tháo chạy về căn cứ Đệ Đức, gây thêm rối loạn ở căn cứ này...

Chiều ngày 1 tháng 5 hai khẩu pháo 105 mi-li-mét của sư đoàn đặt ở bờ nam sông Lại Khánh được lệnh bắn thử vào đồn địch. Khi đài quan sát báo về, đạn rơi trúng khu vực tháp nước trong căn cứ, các pháo thủ nhảy lên hò reo. Đối với các đơn vị pháo binh khác bắn trúng tọa độ là chuyện bình thường và hiển nhiên. Nhưng đối với pháo thủ 105 mới mẻ này là cả một kỳ tích. Sau khi đưa pháo chiến lợi phẩm ra khỏi vành đai phá hủy của bom đạn địch ở đồi 75, các pháo thủ cối 120 mi-li-mét đã trở thành pháo thủ 105. Thế là phải mày mò tìm tài liệu của địch để học cách sử dụng. Khi bước vào huấn luyện các pháo thủ mới phát hiện ra pháo không có kim hỏa, lẫy cò, bảng bắn. Bọn địch trước khi tháo chạy đã vứt bỏ những bộ phận thiết yếu kể trên. Lại mất hai ngày tìm bới, mò mẫm ở các ao hồ, ruộng nước quanh cứ điểm mới tìm ra được các thứ đó.

Đó là tất cả những nguyên nhân khiến các pháo thủ pháo 105 non trẻ của sư đoàn nhảy lên reo hò khi quả đạn đầu tiên trúng mục tiêu.

5 giờ 30 phút sáng ngày 2, sư đoàn ra lệnh nổ súng tiến công. Ngay từ phút đầu căn cứ Đệ Đức đã chìm trong khói lửa. Một kho xăng và kho đạn trúng đạn pháo bốc cháy. Các khu ra-đa, truyền tin, chỉ huy, sân bay, trại lính đều trúng đạn. Trận địa pháo 12 khẩu của địch hầu như không bắn được viên đạn nào.

Sau khi pháo ta bắn phá hoại có hiệu quả, các tiểu đoàn 1, 3, 4 từ các hướng tiến công vượt qua hàng rào, tiến vào bắt sống 300 tên địch ở chợ Bông. Cùng lúc tiểu đoàn 2 lấy ván, bao cát vượt rào, đánh chiếm khu trinh sát, khu nhân viên kỹ thuật và nhà truyền tin. Pháo ta vẫn dồn dập giội đạn vào căn cứ. Địch hết sức run sợ vì pháo ta nã trúng, lại bị các mũi xung kích chia cắt, đánh từ bốn phía, địch phải ra hàng.

Hơn một giờ sau, căn cứ Đệ Đức đã vơi đi 600 tên địch. Nhưng vì căn cứ rộng, bố phòng phức tạp nên không dễ dàng đánh chiếm nhanh gọn như các trận đánh trước. Mặt khác máy bay địch đến ném bom xung quanh để ngăn chặn sự tan rã của binh lính địch. Các mũi tiến công trên các hướng được lệnh áp sát hơn nữa vào khu trung tâm để tránh thương vong.

Ba giờ chiều, lợi dụng khe hở nơi tiếp giáp giữa tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 1, bọn địch cho 10 xe M.113 dẫn bộ binh chạy thục mạng ra đường số 1 đã bị tiểu đoàn 4 trung đoàn 12, nhờ xe của dân, chở súng cối, súng 12,7 mi-li-mét kịp thời truy kích, nhờ có tiểu đoàn 4 trung đoàn 21 phối hợp kịp thời với tiểu đoàn 4 trung đoàn 12 đã vây bắt bọn địch vừa cụm lại ở khu vực Núi Kho, giáp biển...

Chiến dịch Xuân Hè 1972 kết thúc.

Bắc Bình Định hoàn toàn giải phóng - hình thành một vùng giải phóng liên hoàn nối liền với hậu phương chiến lược đã mở ra tới sát bờ biển.

Các thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Ân rợp bóng cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Bảy, 2022, 02:34:59 pm
Năm tháng qua đi. Mỗi khi nhắc về những ngày hè nóng bỏng và sôi động ở Mặt trận Bắc Bình Định, cảm xúc trong tôi lại trỗi dậy hiện về rõ nét như một bộ phim ký sự chiến tranh với những người, những việc mang tính sử thi hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh. Chỉ một sư đoàn (thiếu một trung đoàn), vũ khí trang bị cao nhất là 2 khẩu súng cối 120 mi-li-mét và vài chục viên đạn đã thắng quân địch có số lượng đông gấp 2 - 3 lần, có ưu thế tuyệt đối về trang bị vũ khí, 3 chi đoàn xe tăng xe bọc thép, 40 khẩu pháo 105 và 155 mi-li-mét với một hệ thống phòng ngự dày đặc, có hầm hào kiên cố và được phi pháo Mỹ yểm trợ tối đa.

Đây là một nghịch lý, trái với học thuyết quân sự từ cổ chí kim đều cho rằng - bên tiến công phải có lực lượng chí ít gấp 2-3 lần mới thắng được bên phòng ngự. Nhưng trong thực tế bên tiến công, Sư đoàn 3 thiếu đã thắng và thắng lớn. Dự kiến ban đầu chỉ giải phóng quận Hoài Ân, nhưng đã thực hiện vượt mức, giải phóng cả huyện Hoài Nhơn và vùng bắc Phù Mỹ, diệt gọn trung đoàn 40, phần lớn trung đoàn 41 thuộc sư đoàn 22 ngụy, quét sạch chính quyền xã ấp trong gần ba huyện, giải phóng hàng vạn dân, làm chủ đường số 1 dài 50 ki-lô-mét từ bắc huyện Phù Mỹ đến đèo Bình Đê, thu một khối lượng chiến lợi phẩm đáng kể gồm 22 khẩu pháo 105, 155, hai khẩu cối 106,7 mi-li-mét, 63 xe quân sự, có 10 xe tăng, xe bọc thép, 320 máy thông tin các loại, hàng trăm tấn đạn dược...

Kết quả to lớn mà Sư đoàn 3 giành được có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân bắt nguồn từ kinh nghiệm thắng lợi của các cuộc tiến công và nổi dậy chống phá bình định ở Hoài Nhơn, Phù Mỹ trong các năm 1969, 1970, 1971 và khái quát thành một khái niệm mới - chiến dịch tổng hợp tiến công, lần đầu được đưa vào thực hiện trong đợt hoạt động Xuân Hè năm 1972 tại ngay chiến trường Bắc Bình Định. Nội dung của chiến dịch bao gồm các trận chiến đấu của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương (bao gồm cả lực lượng dân quân, du kích), các cuộc đấu tranh của lực lượng chính trị, binh vận theo một mục đích, một ý định và một kế hoạch thống nhất giữa Sư đoàn 3 và Tỉnh ủy Bình Định trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5. Đây là nét biểu hiện của chiến tranh nhân dân phát triển cao, mang tính đặc thù của Khu 5 nói chung, của Bắc Bình Định nói riêng.

Đưa chiến dịch tổng hợp tiến công vào đợt hoạt động quân sự Xuân Hè 1972 là một bước nhảy vọt của chiến trường Bình Định cả về quy mô, thời gian và tốc độ tiến công. Để giải phóng huyện Hoài Ân ta mất 11 ngày liên tục chiến đấu, giải phóng bắc Phù Mỹ mất bốn ngày; cả một huyện đồng bằng ven biển Hoài Nhơn, địch có hai thị trấn, chi khu và một căn cứ lớn cỡ trung đoàn, ta chỉ tiến hành gọn trong bốn ngày.

Đặc biệt ở đây sức mạnh của chiến dịch tiến công tổng hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng đã được phát huy tới đỉnh cao. Nếu như giải phóng Hoài Ân hầu hết ta dùng quả đấm chủ lực, ở bắc Phù Mỹ đòn chủ lực đi trước thì ở Hoài Nhơn, nắm chắc địch, ta với điều kiện cho phép, đòn tiến công của chủ lực và nổi dậy của địa phương cùng tiến hành song song.

Trong số 78 chốt điểm địch đóng ở Hoài Nhơn, lực lượng chủ lực chỉ diệt 15 điểm (những điểm then chốt nhất), số còn lại địa phương và quần chúng nổi dậy bức rút, bức hàng.

Một trong những cảm xúc của tôi là sự xuất hiện chiến dịch tiến công tổng hợp được manh nha từ các cuộc đấu tranh chống phá bình định trở thành một khái niệm chiến dịch hoàn chỉnh, trở thành một bộ phận cấu thành của nghệ thuật quân sự Việt Nam và đã được kiểm chứng trong cuộc tiến công chiến lược 1972, trở thành cột mốc lịch sử trên con đường tìm tòi cái biết thắng của quân và dân Khu 5.

Sau khi ta hoàn toàn làm chủ huyện Hoài Nhơn đã có ý kiến cho rằng nhiệm vụ cấp bách lúc này là bảo vệ cho được vùng giải phóng mới giành được bằng cách tập trung lực lượng lập thế trận chốt chặn kết hợp với tiến công trên các điểm cao quan trọng hai bên đường 1C đoạn từ đèo Phù Cũ đi đèo Nhông, đồng thời tổ chức lực lượng luồn sâu tiến công quận lỵ Phù Mỹ, thị trấn Đập Đá, quận lỵ An Nhơn. Nhưng đa số ý kiến ngược lại. Lúc này cần sử dụng Sư đoàn 3 cùng với Sư đoàn 2 mở chiến dịch nam Quảng Ngãi, tạo ra một vùng giải phóng từ nam sông Vệ tới bắc Bình Định nối với vùng giải phóng bắc Kon Tum. Tiếc rằng ý tưởng này đã không được thực hiện. Trong khi Sư đoàn 3 hành quân ra Quảng Ngãi thì địch tập trung một lực lượng lớn quân cơ động gồm 17 tiểu đoàn và 5 chi đoàn xe bọc thép mở cuộc hành quân tái chiếm.

Trước tình hình đó, Sư đoàn 3 được lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu 5 hành quân trở lại cùng với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, giữ vững vùng giải phóng Bắc Bình Định thì đã muộn. Sau khi chọc thủng đèo Phù Cũ, địch lần lượt chiếm lại quận lỵ Bồng Sơn, căn cứ Đệ Đức, thị trấn Tam Quan, hoàn thành nối đường 1 từ Bình Định đi Quảng Ngãi.

Rõ ràng do ta chủ quan không dự kiến hết âm mưu địch và việc chuẩn bị phòng ngự vùng giải phóng của ta còn nhiều thiếu sót, gây nhiều khó khăn cho nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng huyện Hoài Ân sau đó.

Với tôi đây là một bài học nhớ đời.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2022, 09:36:09 am
Chương X
TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG


1

Hiệp định Pa-ri chưa ráo mực, ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ tiếp tay đã trắng trợn phá hoại ngay từ gốc. Kế hoạch “Lý Thường Kiệt” năm 1973 của Nguyễn Văn Thiệu đề ra với năm biện pháp lớn(1) nhằm tiếp tục âm mưu giữ miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ, vĩnh viễn chia cắt nước ta, chống lại sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.

Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước ta lại đứng lên tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuối năm 1973 (từ ngày 15 đến ngày 27 tháng 12) Đảng bộ Khu 5 họp Đại hội Đảng lần thứ 3 để quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương, thảo luận ra Nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ mới của Đảng bộ.

Tôi được vinh dự cử đi dự đại hội và được đại hội bầu vào Ban chấp hành Khu ủy; được Bộ bổ nhiệm làm phó chính ủy quân khu.

Trong quá trình đại hội thảo luận, có hai ý kiến nêu ra trao đổi:

Một là, vì sao từ tháng 1 năm 1973 đến nay địch đã lấn chiếm gần hết vùng ta mới mở ra trong năm 1972 và còn lấn chiếm gần hết vùng ta giải phóng trước đó!

Một số ý kiến cho rằng Quân khu để lực lượng làm nhiệm vụ chiến đấu quá ít trong khi địch tập trung lực lượng ra sức càn quét lấn chiếm. Nhưng số đông cho rằng do ta mơ hồ, mất cảnh giác, cho địch có thiện chí thi hành Hiệp định Pa-ri. Do tư tưởng hữu khuynh, hòa bình chủ nghĩa, muốn nghỉ ngơi, xả hơi, muốn yên ổn êm khéo, ngại đấu tranh mạnh, kể cả đấu tranh chính trị, sợ vi phạm Hiệp định Pa-ri.

Cũng do chưa nhận thức được yêu cầu chiến lược của giai đoạn mới, lại bức xúc do việc địch tập trung lực lượng lấn chiếm ác liệt vùng giải phóng, càn quét bình định dồn dân, nên một số cán bộ lãnh đạo muốn gác việc tranh thủ xây dựng và củng cố lực lượng, huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị nâng cao chất lượng chiến đấu đáp ứng tình hình mới nhất định sẽ đến; muốn phân tán thêm các sư đoàn chủ lực về tăng cường cho các tỉnh làm nhiệm vụ chống địch bình định, lấn chiếm, thậm chí còn nghi ngờ sự vững vàng của cán bộ quân đội kể cả cấp chỉ huy quân khu.

Hai là, con đường tiến lên của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, nhưng bạo lực nào là chủ yếu, quân sự hay chính trị, có ý kiến cho rằng lúc này bạo lực chính trị là chủ yếu vì Hiệp định Pa-ri về Việt Nam đã được ký kết...

Không khí trao đổi thảo luận trong những ngày đại hội họp diễn ra thật hào hứng, sôi nổi. Người thẳng thắn nêu thắc mắc, người chân thành trao đổi có lý có tình, cuối cùng đại hội đã nhất trí cao với nghị quyết, tất cả những người dự họp đều khẳng định - “Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất cứ trong tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công”(2); cũng “phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta nhằm đánh bại kế hoạch “bình định” và lấn chiếm của đích, đặc biệt là vùng đồng bằng và vùng giáp ranh”(3).


(1) Lấn chiếm và bình định là biện pháp trọng tâm; xây dựng quân đội mạnh là biện pháp trụ cột, năm năm trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa và hiện đại hóa quân lực Việt Nam cộng hòa (tức quân đội ngụy); phá Hiệp định Pa-ri về Việt Nam những điều có lợi cho Việt Nam cộng hòa (tức ngụy quyền Sài Gòn); hồi phục kinh tế năm 1973-1974 trong kế hoạch dài hạn 1973-1978, nhất là công nghiệp đi đôi với bao vây kinh tế đối phương; duy trì lực lượng răn đe không quân, hải quân của Mỹ ở Đông Nam Á.
(2) Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10 năm 1973.
(3) Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10 năm 1973.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2022, 09:38:32 am
Quán triệt Nghị quyết 21 và Nghị quyết Đại hội đảng bộ Khu 5 lần thứ 3, tháng 1 năm 1974, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Khu 5 chủ trương mở một đợt hoạt động mạnh, nhằm tiêu diệt một số cứ điểm, chi khu, quận lỵ, đánh vỡ từng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở vùng căn cứ giáp ranh và đồng bằng, hoàn chỉnh vùng căn cứ rừng núi phía bắc quân khu, hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng tiến công và nổi dậy; phá vỡ một bộ phận hệ thống kìm kẹp của địch ở nông thôn đồng bằng.

Đây là một yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách, vì thực tế các khu căn cứ của ta ở vùng rừng núi Khu 5 vẫn chưa được hoàn chỉnh, địch còn chiếm đóng xen kẽ, xây dựng thành những cứ điểm hoặc cụm cứ điểm kiên cố, vừa gây bất ổn cho các khu căn cứ, vừa cản trở cho việc tạo thế, tạo lực của ta để đón các binh đoàn cơ động của Bộ tập kết khi thời cơ chiến lược mới xuất hiện.

Dưới ánh sáng Nghị quyết 21, chúng tôi lại vững bước trên “con đường bạo lực cách mạng” mà đi vào màn đầu trận đánh cuối cùng của trận chiến trường kỳ mà lòng tràn đầy phấn khởi, tự tin, ai nấy đều thanh thản, lâng lâng vì đã bỏ lại phía sau những chập chờn chao đảo, những do dự hữu khuynh và cả hòa bình chủ nghĩa do chưa bắt kịp bước phát triển mới của cách mạng.

Một lực mới, một thế mới đã được chuẩn bị(1), vậy mà Bộ tư lệnh Quân khu chúng tôi vẫn phải suy nghĩ để tìm ra phương án tối ưu, vì mục tiêu của các trận đánh là những cụm cứ điểm phòng thủ kiên cố của địch, không thể chủ quan.

Phương án cơ bản đã được khẳng định là dùng chiến thuật bao vây tiến công địch trong công sự vững chắc; tập kích hiệp đồng binh chủng (cường tập) những cụm cứ điểm địch mới hình thành. Nhưng pháo ta có hạn cả về số lượng và chủng loại. Ta không có pháo cỡ lớn xuyên thép, xuyên đất, mà chỉ có pháo 85 nòng dài, pháo 105 và một số pháo 130 mi-li-mét bắn đạn sát thương, nhưng đạn thì rất hạn chế vì vận chuyển đạn từ hậu phương vào chiến trường rất khó khăn.

Ta đã có phương án dự phòng, nếu tình huống không thuận thì chuyển sang bao vây đánh lấn, bao vây tiến công liên tục. Như vậy trận đánh sẽ kéo dài, không có lợi cho ta, chí ít là trong thời điểm vừa nhạy cảm vừa thử phản ứng của Mỹ, nếu đánh lai rai, kéo dài không dứt điểm nhanh gọn dễ đẻ số vấn đề, vì lúc này ta và địch vẫn dựa vào Hiệp định Pa-ri để đấu tranh.

Với ý tưởng phải tạo ra sức mạnh áp đảo tinh thần quân địch, giảm thương vong tối đa cho chiến sĩ ta, nâng cao tốc độ tiến công tiêu diệt lớn quân địch tạo ra thế mới, lực mới sẵn sàng đón thời cơ chung, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định đưa pháo lên cao vào gần thực hiện bắn thẳng, vừa tạo hiệu lực gấp bội so với bắn cầu vồng vừa khắc phục được khó khăn về đạn.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ có chuyện kéo pháo ra rồi lại kéo pháo vào vị trí thích hợp, làm công sự vững chắc bảo vệ an toàn cho pháo có điều kiện yểm trợ bộ binh thực hiện “đánh chắc tiến chắc”. Với chúng tôi vấn đề không phải kéo pháo vào mà là phải tháo rời các bộ phận của pháo đưa lên cao, vào gần lắp rắp lại để thực hiện bắn thẳng.


(1) Qua quá trình vừa chiến đấu vừa xây dựng và được Bộ bổ sung, đến đầu 1974, Khu 5 có ba sư đoàn 3, 2, 711 và lữ đoàn 52 với biên chế hoàn chỉnh, hai trung đoàn pháo mặt đất 572, 576, một trung đoàn pháo cao xạ 573, một trung đoàn xe tăng - thiết giáp, trung đoàn thông tin 575 và hai trung đoàn công binh 83 và 270. Lực lượng địa phương, số lượng không thay đổi, mỗi tỉnh tổ chức thêm một tiểu đoàn trợ chiến. Lực lượng du kích có hơn bốn vạn, có 50 trung đội và 70 tổ du kích đặc công, 120 đội và tổ du kích công binh. Tất cả đều được qua đợt huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị theo yêu cầu đánh lớn, hiệp đồng binh chủng. Năm 1973, toàn khu đã huy động 534.507 ngày công mở 977 ki-lô-mét đường cơ giới, hình thành 4 trục đường dọc và 11 trục đường ngang, ở Tây Nguyên, đường cơ giới nối liền từ bắc Kon Tum đến Đắc Lắc, từ bắc Kon Tum đến đèo Măng Giang, ở đồng bằng, đường cơ giới đã nối liền với tuyến Đường 559, chạy dọc theo sườn đông dãy Trường Sơn suốt từ Quảng Đà đến bắc Bình Định. Chiến trường ven biển miền Trung đã tiếp nhận một khối lượng trang bị, kỹ thuật, lương thực và cơ sở vật chất khác xấp xì với số lượng của bốn năm trước đó... Đường thông tin dây trần và thông tin tiếp sức đã nối thông với Hà Nội.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2022, 09:39:29 am
Tháo và lắp tuy không nặng nhọc nhưng rất phức tạp. Tháo rời đã khó, lắp vào càng khó hơn, đòi hỏi phải cực kỳ chính xác, chỉ sai một ly không phải đi một dặm mà là nhiều dặm, hoặc không bắn được, hoặc bắn được nhưng không chính xác, đều trở thành công dã tràng. Tất cả những người tham gia công việc tháo, lắp và vận chuyển đều phải qua “lớp học” kiến thức về pháo, từ tính năng tác dụng, cấu tạo, vận hành, bảo quản trước khi bước vào thực hành tháo, lắp.

Vì là công việc mới mẻ, đòi hỏi công tác chính trị tư tưởng phải có mặt ở. tất cả các khâu, từ chọn người, huấn luyện và thực hành tháo, lắp, động viên, nhắc nhở, kiểm tra, uốn nắn và biểu dương kịp thời.

Quân khu chỉ đạo Sư đoàn 2 thực hiện đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng trong trận tiến công cụm cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, mở màn cho hoạt động Thu.

Sư đoàn 2 đã dành gần một tháng tiến hành huấn luyện các động tác tháo, lắp, mang vác; và đã lấy quận lỵ Hiệp Đức vừa mới được giải phóng còn nguyên hệ thống công sự hầm hào kiên cố, trên địa hình đồi núi cao thuận tiện cho việc thực tập làm quen với thực tế trước khi bước vào chiến đấu.

Nông Sơn - Trung Phước (Quảng Nam) là một cụm cứ điểm với 10 cứ điểm lớn nhỏ trải ra trên một khu vực dài 4 ki-lô-mét, rộng gần 3 ki-lô-mét. Nông Sơn là một điểm tựa then chốt của cụm cứ điểm được xây dựng kiên cố trên núi đứng có ba tầng hỏa lực và chỉ có một đường lên tới đồn. Lực lượng địch khoảng 2.000 tên trong đó có tiểu đoàn biệt động biên phòng 78. Đúng ngày ta tiến công, địch đưa tiểu đoàn 3 trung đoàn 53 sư đoàn 3 lên thay tiểu đoàn 78.

Địch vừa chủ quan vừa bất ngờ. Chúng cho rằng ta chưa đủ sức tiến công tiêu diệt một cụm cứ điểm mạnh lại bố trí trên một chính diện rộng.

0 giờ 15 phút ngày 18 tháng 7, Sư đoàn 2 nổ súng tiến công Nông Sơn - Trung Phước, mở màn đợt hoạt động Thu ở chiến trường Khu 5.

Địch hoàn toàn bất ngờ về hỏa lực pháo binh của ta, nhất là pháo bắn thẳng. Ngay từ những phút đầu của trận đánh, ta bắn tan 38 trong số 41 lô cốt, hỏa điểm địch, gây chấn động lớn về tâm lý, làm đổ vỡ tinh thần quân đồn trú về hiệu quả của pháo vào gần, bắn thẳng.

Sau 17 giờ 15 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Nông Sơn - Trung Phước. Lần đầu tác chiến hiệp đồng binh chủng, các chiến sĩ pháo binh ta nhờ đưa pháo lên cao vào gần đã bắn tập trung, chính xác tạo ra uy lực mạnh, phá tan hệ thống công sự, hỏa lực của địch, góp phần kết thúc nhanh gọn trận đánh, mở toang cánh cửa tiến vào Đà Nẵng từ phía tây nam.

Ngày 29 tháng 7 (10 ngày sau trận thắng Nông Sơn - Trung Phước), Sư đoàn 304 (thiếu) nổ súng tiến công chi khu quân sự Thượng Đức.

Trước trận đánh, sau khi Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ, cơ quan tham mưu quân khu có trao đổi với các anh trong Bộ tư lệnh Sư đoàn 304 về kinh nghiệm sử dụng pháo bắn thẳng đã có hiệu lực, hiệu quả trong trận tiêu diệt cụm cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước. Các đồng chí Sư đoàn 304 cám ơn và nói một cách thực lòng - Là sư đoàn cơ động của Bộ, chúng tôi được trang bị khá mạnh. Pháo 85 nòng dài, pháo 105 mi-li-mét đều gấp hơn hai lần số lượng pháo Sư đoàn 2 của Quân khu. Ngoài ra sư đoàn còn được trang bị cối 160 mi-li-mét bắn đạn xuyên đất, xuyên thép, đủ sức chế áp phá hoại các hệ thống công sự, hầm ngầm của địch, yểm trợ đắc lực cho bộ binh xung phong đánh chiếm tung thâm quân địch...

Nghe các đồng chí tham mưu báo cáo lại, tôi nói:

- Trao đổi kinh nghiệm là trách nhiệm của chúng ta, có thực hiện hay không là quyền của bạn.


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2022, 09:40:07 am
Thượng Đức cách Đà Nẵng 40 ki-lô-mét về phía tây và là cụm cứ điềm then chốt của tuyến phòng thủ vòng ngoài bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, cũng còn là căn cứ xuất phát của nhiều cuộc hành quân đầy tội ác của địch đối với đồng bào huyện Đại Lộc. Thượng Đức nằm trong thung lũng kẹp giữa hai đường giao thông chiến lược số 4 và 14, cùng hai con sông Cái và sông Con chạy từ tây sang đông, được cấu trúc kiên cố gồm nhiều cứ điểm, công sự hầm ngầm, trận địa pháo và sân bay lên thẳng tạo thành một cụm cứ điểm hoàn chỉnh. Lực lượng địch ở đây có khoảng 1.600 tên bao gồm tiểu đoàn biệt động quân 70, hai đại đội bảo an, một đại đội cảnh sát dã chiến, một trung đội viễn thám, một trung đội pháo 105 mi-li-mét và 16 trung đội dân vệ do tên thiếu tá quận trưởng ác ôn Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.

Lực lượng tiến công là Sư đoàn 304 mạnh, dày dạn kinh nghiệm trong đánh Mỹ. Thiếu một trung đoàn nhưng lại được tăng cường trung đoàn 3 Sư đoàn 324.

Trận đánh được bắt đầu vào lúc 5 giờ ngày 29 tháng 7 năm 1974, đây là trận đánh cường tập hiệp đồng binh chủng rất mạnh. Sau nhiều đợt pháo bắn chuẩn bị hỗ trợ, bộ binh tiến công nhưng không thành công.

Ta dừng lại củng cố, tìm cách đánh, tiếp tục tiến công đợt hai, vẫn bị địch chặn lại. Trận đánh trở nên ác liệt, ta mở đường vào, địch chống trả quyết liệt, ta thương vong nhiều... phải dừng lại củng cố. Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân khu 1 và quân đoàn 1 ngụy thấy Thượng Đức vẫn còn giữ được, vội tung quân tái chiếm Trung Phước nhưng bị thất bại. Đúng là giá đắt của sự chủ quan.

Ở Sở chỉ huy Quân khu chúng tôi nhận được báo cáo về trận đánh đang gặp khó khăn, chưa hướng nào đột nhập được vào căn cứ địch. Rõ ràng là pháo ta bắn rất nhiều nhưng chưa chế áp được địch, chúng vẫn dựa vào hệ thống công sự hầm hào ngoan cố chống lại ta.

Từ nhận định trên, Bộ tư lệnh Quân khu cử Phó tư lệnh Nguyễn Chánh xuống cùng các đồng chí Sư đoàn 304 bàn cách đánh mới.

Ngày 7 tháng 8 đợt ba của cuộc tiến công Thượng Đức lại bắt đầu, vẫn là pháo bắn chuẩn bị, nhưng là pháo được đưa lên cao, vào gần và bắn thẳng, số đạn dùng ít hơn mà hiệu lực chế áp rất cao, các hệ thống lô cốt, hầm ngầm bị san bằng, phá sập. Mất chỗ dựa phòng thân, địch trở nên bất ngờ, hoảng loạn, bỏ chạy và đầu hàng.

Ta hoàn toàn làm chủ chi khu quân sự Thượng Đức, diệt và bắt sống toàn bộ quân đồn trú, bắn rơi 13 máy bay, thu 1.000 súng các loại, giải phóng quận lỵ Thượng Đức và bốn xã ven quận lỵ với 13.000 dân. Nhưng dù sao trận đánh đã phải kéo dài 10 ngày, ta bị thương vong khá cao.

Từ hai trận thắng Nông Sơn - Trung Phước và Thượng Đức, Bộ tư lệnh Quân khu cho đúc kết kinh nghiệm sử dụng pháo theo yêu cầu mới và gửi nhanh xuống các đơn vị, được các đơn vị hoan nghênh và hứa học tập thực hiện.

Ba ngày sau Quân khu nhận được báo cáo của lữ đoàn 52 - Quyết tâm đưa pháo 130 mi-li-mét theo cách đánh mới, đề nghị xin nhân viên kỹ thuật xuống hướng dẫn cách tháo, lắp.

Trong kế hoạch hoạt động Thu năm 1974, lữ đoàn 52 được giao nhiệm vụ tiến công giải phóng chi khu quân sự Minh Long còn cắm sâu trong vùng rừng núi tây Quảng Ngãi. Đây là cụm cứ điểm liên hoàn gồm 18 cứ điểm. Lực lượng địch có bốn đại đội biệt kích, một trung đội cảnh sát, 12 trung đội dân vệ, một trung đội pháo 105 mi-li-mét và bọn ngụy quyền ác ôn ở quận lỵ.

Do tính chất quan trọng của trận đánh và do nguyện vọng của lữ đoàn muốn được thực hiện cách đánh mới của pháo binh, các anh trong Bộ tư lệnh Quân khu phân công tôi vào trong đó trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị và tham gia chỉ huy chiến đấu.

Ba giờ chiều ngày 12 tháng 8 tôi tranh thủ lên đường, với suy nghĩ tối đâu ngủ đấy, càng rút ngắn được giờ nào hay giờ ấy.

Theo điện báo trước, các đồng chí chỉ huy lữ đoàn 52 căn giờ đã ra đón tôi và báo cáo những việc đã làm, đang làm cùng những khó khăn...


Tiêu đề: Miền Trung những tháng ngày không quên - thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2022, 09:40:56 am
Nghe các đồng chí chỉ huy lữ đoàn 52 dự định đưa pháo lên điểm cao 600 mét, cách quận lỵ Minh Long 5 ki-lô-mét, tôi hỏi:

- Có điểm nào thấp hơn không? - Vừa hỏi tôi vừa lần tìm trên bản đồ quanh vùng phụ cận rồi biểu dương - Các đồng chí chọn đúng, khỏi bàn. Nếu có bàn chỉ là bàn cách khắc phục làm thế nào đưa pháo lên điểm cao đã chọn một cách an toàn cho đến giờ nổ súng là đã thắng lợi gần một nửa..

Công việc tuy mới mẻ nhưng nhờ có kinh nghiệm của các đơn vị đi trước nên không phải mò mẫm, mọi việc đều tiến hành suôn sẻ. Bộ phận tháo, lắp đã được hình thành gồm trước hết là các pháo thủ đang điều hành khẩu pháo được giao và huy động thêm một số chiến sĩ đã tốt nghiệp khoa cơ khí Trường đại học Bách khoa Hà Nội tham gia, đang bắt tay vào việc tháo, lắp có sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật pháo binh quân khu phái xuống.

Cái khó không phải khiêng thế nào mà là tìm đường khiêng. Từ vị trí trú quân đến điểm cao đặt pháo dài gần năm ki-lô-mét, nằm trên địa hình trung bình, gò đồi thấp có thể dùng xe kéo hoặc dùng tời kéo tay, nhưng rất dễ lộ sẽ hỏng việc, nên buộc phải khiêng vác. Công việc tuy đơn giản nhưng vất vả cực nhọc cần phải bồi dưỡng về vật chất và động viên, biểu dương tinh thần.

Đào trận địa cho pháo và đường đưa pháo vào gần là hai công việc cực nhọc và có khả năng thương vong, nếu để địch phát hiện được. Hai khối việc này tiến hành vào ban đêm, đất đá đào đến đâu phải thu vét đổ ra xa và phải ngụy trang cẩn thận. Cây cối trên đường mang vác pháo vào giữ nguyên, không được chặt phá.

Mọi việc tháo, lắp, đào công sự và khiêng vác diễn ra ăn khớp, xong trước giờ nổ súng một ngày, tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm, nhưng lại hồi hộp căng thẳng liền đó, vì phải qua một ngày chờ đợi trong điều kiện rất gần địch. Một ngày chờ đợi sao mà dài thế!

Quận lỵ Minh Long vẫn không một động tĩnh. Thế là tốt, địch hoàn toàn không biết gì về pháo 130 mi-li-mét của ta đã vào gần trong thế bắn ngắm trực tiếp.

Ngày 16 tháng 8 đã đến!

Trận cường tập hiệp đồng binh chủng tiến công chi khu quận lỵ Minh Long bắt đầu.

Sau 10 phút với 20 quả đạn pháo 130 mi-li-mét được bắn thẳng, toàn bộ hệ thống lô cốt, hầm hào phòng thủ của địch bị phá hủy. Quân đồn trú bị bất ngờ và sốc mạnh bởi tiếng nổ và sự tàn phá của pháo ta ở cự ly gần lại bắn ngắm trực tiếp. Các tù binh bị bắt đều có chung tâm trạng bàng hoàng. Không hiểu các ông có loại pháo gì mà dữ vậy!

Tiếp đến là tiếng gầm rú của động cơ xe bọc thép K.63 của trung đoàn xe tăng - thiế