Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 06:56:51 am



Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 06:56:51 am
- Tên sách: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
- Tác giả: Đại tá Đặng Việt Thủy - Đại tá Đậu Xuân Luận
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2009
- Người số hóa: giangtvx, hqnd


LỜI NÓI ĐẦU


Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, đặc biệt là các nước lớn đều coi trọng xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.


Đối với nước ta, biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tô quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam. Biển, đảo nước ta có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới. Việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển, đảo là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.


Cuốn sách "Tìm hiểu về biến, đảo Việt Nam" sẽ giúp bạn đọc thuận lợi khi nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản về biển, Luật biển của quốc tế và Việt Nam; nhận rõ vai trò quan trọng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo, quần đảo, vịnh, vũng, các bãi biển ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Trong quá trình sưu tầm, biên soạn, nhóm tác giả có sử dụng tư liệu các công trình nghiên cứu của những cá nhân và tập thể về biển, đảo Việt Nam. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc.

TÁC GIẢ


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 06:58:22 am
Phần thứ nhất
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM


I. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ BIỂN

1. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982

Luật biển quốc tế được hiểu một cách đơn giản nhất, là tổng hợp các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên thế giới liên quan đến biển.


Công ước quốc tế về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước này (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức phê chuẩn ngày 23 tháng 6 năm 1994), là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao quát những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, quy định những quyền và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển, không có biển, không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng như trình độ phát triển) đối với các vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, cũng như những vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia.


Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền ở 5 vùng biển với phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Đó là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tháng 11 nàm 1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Hai văn bản quy phạm pháp luật nói trên, mặc dù ban hành trước khi Công ước 1982 ra đời, nhưng đã phù hợp với Công ước, thể hiện được chủ trương, chính sách của Nhà nước ta sớm nắm bắt tinh thần và xu hướng trong tiến trình xây dựng Công ước từ trước đó.


Luật biển quốc tế luôn thay đổi và phát triển ngày càng hoàn thiện. Có thể nói: Không gian mà con người sinh sống trên trái đất chủ yếu gồm ba phần: đất, biển, trời. Lãnh thổ quốc gia trên đất liền, bao gồm đất liền, đảo, sông, suối, hồ nội địa, vùng trời phía trên và lòng đất bên dưới nằm trong phạm vi các đường biên giới quốc gia xác định qua thực tế quản lý hay điều ước quốc tế. Đường biên giới trên đất liền về cơ bản được coi là bền vững và bất khả xâm phạm mặc dù trên thực tế vẫn đang luôn luôn diễn ra các loại tranh chấp và có sự biến động đường biên giới giữa nhiều quốc gia.


Giới hạn về độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâu của lòng đất bên dưới tuy không được xác định rõ rệt chính xác bao nhiêu cây số nhưng với khả năng kỹ thuật của nhân loại hiện nay, mỗi quốc gia hoàn toàn có thể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạn tối đa là vành đai khí quyển nằm dưới quỹ đạo địa tĩnh và tới độ sâu cho phép thuộc bề dày của vỏ trái đất ở bên dưới phần lãnh thổ của mình.


Riêng với vùng biển, trong thời gian gần đây có rất nhiều sự thay đổi về chất đối với phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc một nước ven biển, vùng biển thuộc về đại dương cũng như phần đáy và lòng đất dưới đáy đại dương không thuộc bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên, biển vẫn còn tồn tại một nguyên tắc cơ bản của Luật biển là có đất (bờ biển) mới có biển. Có thể thấy các thay đổi và phát triển của Luật biển diễn ra theo một tiến trình ba bước cơ bản sau:

Thứ nhất, từ xa xưa cho đến tận giữa thế kỷ XX, các nước ven biển chỉ có vùng biển hẹp (lãnh hải) thuộc chủ quyền rộng 3 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.852m). Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển công, ở đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi nước được hưởng quyền tự do biển cả. Hầu như không ai chia biển với ai cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán.


Thứ hai, từ năm 1958 đến năm 1994, các nước ven biển có lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài dưới biển ra không quá độ sâu 200m nước (theo các công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1958). Các nước láng giềng, kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vào luật, tự mình quy định phạm vi hoặc ranh giới vùng biển quốc gia, dẫn đến hậu quả có sự chồng lấn và tranh chấp về biển. Luật biển quốc tế lúc đó quy định các nước có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạch đường biên giới biển (bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, ranh giới biển trong vùng tiếp giáp và thềm lục địa) trong vùng chồng lấn. Nguyên tắc hoạch định biên giới biển lúc đó là qua thương lượng trên cơ sở pháp luật quốc tế và thường áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến.


Thứ ba, nước ta phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994. Theo Công ước này, một nước ven biển có năm vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa. Với sự ra đời của Công ước 1982, trên thế giới các nước sẽ phải cùng nhau vạch khoảng 412 đường ranh giới mới trên biển.


Như vậy, theo Công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng ra một cách đáng kể, từ vài chục nghìn km2 lên đến gần một triệu km2 với năm vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Nước Việt Nam không còn thuần tuý có hình dạng hình chữ "S" nữa mà mở rộng ra hướng biển, không chỉ có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philíppin, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:00:02 am
Để có cơ sở nhận thức đúng đắn điều đó, trước hết chúng ta cần hiểu được những khái niệm cơ bản sau đây:

- Đường cơ sở

Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định công bố.


Đường cơ sở là đường cơ bản, quốc gia ven biển có thể đơn phương xác định dùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác.

Có hai loại đường cơ sở:

Thứ nhất, đường cơ sở thông thường: sử dụng ngấn nước triều thấp nhất ven bờ biển hoặc đảo.

Thứ hai, đường cơ sở thẳng: Nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo. Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển. Việt Nam có chuỗi đảo dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng.


Năm 1982, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam, gồm 10 đoạn nối 11 điểm (trừ phần trong vịnh Bắc Bộ và vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia do ta còn đàm phán phân định biển với Trung Quốc lúc đó và chưa tiến hành đàm phán phân định biển với Campuchia).


Việt Nam cũng không vạch đường cơ sở cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì hai quần đảo này không được hưởng quy chế quốc gia quần đảo theo Điều 46 của Công ước này.


- Vùng nước nội thủy

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, nội thủy là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Vùng nước thuộc nội thủy có chế độ pháp lý như lãnh thổ trên đất liền. Tuy nhiên, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nội thủy vẫn có sự khác biệt so với chủ quyền trên lãnh thổ đất liền, vì quốc gia ven biển thực hiện quyền lực của mình trên vùng nước nội thủy không phải đối với các cá nhân mà là đối với tàu thuyền - cộng đồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng biệt.


Vùng nước nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.


Trong vùng nước nội thủy, quốc gia được quyền tự do thông thường của tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế và các quy định đối với tàu thuyền nước ngoài; có thẩm quyền tài phán dân sự và thẩm quyển tài phán hình sự.


- Lãnh hải

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển.


Trong lãnh hải có những nội dung cần chú ý là:

+ Bản chất pháp lý của lãnh hải;

+ Chiều rộng lãnh hải;

+ Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải;

+ Quyền đi qua không gây hại;

+ Vấn đề phân định lãnh hải.

Xét về bản chất pháp lý: Thuật ngữ lãnh hải là sự kết hợp thành công giữa hai từ lãnh thổ và biển. Lãnh hải là một vùng biển đệm giữa một bên là lãnh thổ do quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, ngoại trừ quyền "đi qua không gây hại" của tàu thuyền nước ngoài theo nguyên tắc tự do hàng hải.


Luật biển coi lãnh hải như một "lãnh thổ chìm", một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm, như quốc gia đó tiến hành trên lãnh thổ của mình. Điều 2 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, cũng như Điều 2 của Công ước năm 1982 của Liên Hợp quốc về Luật biển ghi rõ: "Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình,... đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải". Tuy nhiên, việc đồng hóa lãnh hải thành lãnh thổ không phải là tuyệt đối. Chủ quyền dành cho quốc gia ven biển trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thủy, do sự thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.


Chiều rộng lãnh hải: Hai hội nghị đầu tiên của Liên Hợp quốc về Luật biển đã thất bại trong việc thống nhất hoá chiều rộng lãnh hải. Trước khi có Công ước Luật biển năm 1982, tập quán chung áp dụng chiều rộng lãnh hải là ba hải lý. Sau này, Điều 3 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 đã thống nhất rằng, quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Tới năm 1994 đã có 116 nước tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý.


Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải: Việc xác định bề rộng thực tế và ranh giới ngoài của lãnh hải phụ thuộc vào việc vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Thông thường đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải được căn theo ngấn nước thủy triều thấp nhất. Các đảo cách ven bờ có thể được chọn làm điểm cơ sở để vạch đường cơ sở lãnh hải. Đường cơ sở lãnh hải là ranh giới trong của lãnh hải.


Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển. Công ước cũng đưa ra ba điều kiện để áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, đó là: ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm; ở những nơi có một chuỗi đảo chạy qua; ở những nơi có các điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ. Nhưng đường cơ sở thẳng vạch ra này phải đi theo xu hướng chung của bờ biển và không được cách xa bờ.


Như vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ sở và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:01:36 am
- Quyền đi qua không gây hại

Quyền đi qua không gây hại là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế, được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia. Công ước Giơnevơ 1958 đã pháp chế hoá quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển cho tàu thuyền nước ngoài. Công ước cũng gián tiếp công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu thuyền quân sự nước ngoài, vì nó có điều khoản cho phép quốc gia ven biển được yêu cầu tàu thuyền quân sự nước ngoài rời khỏi lãnh hải của mình trong trường hợp các tàu này vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 chỉ nhắc lại nội dung này. Điều 30 của Công ước quy định rằng, nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức. Tàu ngầm thực hiện quyền đi qua không gây hại phải đi ở trạng thái nổi và phải treo cờ quốc tịch.


Nghĩa của thuật ngữ "đi qua": Đi qua lãnh hải có nghĩa và bao gồm cả việc đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy, hoặc đi qua lãnh hải để vào nội thủy hoặc cảng và rời nội thủy ra biển. Công ước Luật biển năm 1982, Điều 18 khoản 2 bổ sung thêm việc đi qua phải là liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua có thể bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, trong trường hợp gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn.


Nghĩa của thuật ngữ "đi qua không gây hại" là các loại tàu thuyền nước ngoài được quyền đi qua lãnh hải của quốc gia ven biển mà không cần phải xin phép trước. Nhưng việc đi qua này là hành trình liên tục và không gây hại, không xâm phạm tới chủ quyền, an ninh, lợi ích của quốc gia ven biển. Theo Điều 19 của Công ước Luật biển năm 1982, tàu thuyền nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải không được tiến hành một hoặc bất kỳ hoạt động nào sau đây:


+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc;

+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

+ Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;

+ Xếp hoặc dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;

+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

+ Đánh bắt hải sản;

+ Nghiên cứu hay đo đạc;

+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.

Ngoài ra, quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình (Điều 21, 22 của Công ước).

Tàu thuyến nước ngoài phải tuân thủ luật pháp của quốc gia ven biển về:

+ An toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển;

+ Bảo vệ các thiết bị công trình, dây cáp, ống dân ở biển;

+ Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, giữ gìn môi trường biển;

+ Hải quan, thuế khoá, y tế, nhập cư.

Như vậy, Luật biển quốc tế và cụ thể là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền của các nước trong phạm vi lãnh hải của các quốc gia ven biển. Mặt khác, Công ước Luật biển cũng thừa nhận quyền của quốc gia ven biển bằng luật quốc gia quy định cụ thể chế độ pháp lý điều chỉnh hoạt động của tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải nhằm đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình.


- Vùng tiếp giáp

Vùng tiếp giáp là vùng biển rộng 12 hải lý tiếp giáp và tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền quy định biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế khóa, y tế xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình.


Đối với Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng mười hai hải lý.


Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, Điều 24 quy định quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại vùng tiếp giáp, nhằm:

+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình.

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Điều 33 nhắc lại nội dung trên nhưng cần lưu ý, về bản chất pháp lý, vùng tiếp giáp lãnh hải được quy định bởi Công ước năm 1958 là một phần của biển cả. Còn vùng tiếp giáp lãnh hải được quy định bởi Công ước năm 1982 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, có quy chế của một vùng sui generic (đặc biệt), không phải là một vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và cũng không phải là vùng biển có quy chế tự do biển cả.


Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, Điều 303 Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 đã mở rộng quyền của quốc gia ven biển đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ. Mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của quốc gia ven biển, đều được coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:02:16 am
- Vùng đặc quyền kinh tế

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (trừ lãnh hải thì chiều rộng là 188 hải lý). Trong vùng biền này, nước ven biển có quyền chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sử dụng các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt các công trình và thiết bị nhân tạo. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.


Đối với nước ta, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng hai trăm hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác.


Như vậy, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.


Xét về bản chất pháp lý: Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý mới, riêng biệt, lần đầu tiễn được ghi nhận trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982. Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc biệt, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước, mà không chia sẻ với các quốc gia khác.


Xét về chế độ pháp lý, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có các quyền sau:

+ Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

+ Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc: Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

+ Các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định.


Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.


Quốc gia ven biển quản lý các tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế:

+ Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình, đặt dưới quyền kiểm soát của mình;

+ Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong việc khai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư của quốc gia ven biển cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thoả thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc các quốc gia bất lợi về mặt địa lý.


Ngoài ra, quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý, nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức. Công ước Luật biển năm 1982 có ghi nhận một loạt điều khoản cụ thể quy định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong việc bảo tồn các loài sinh vật biển cụ thể như: các loài cá di cư xa; các loài có vú ở biển; các đàn cá vào sông sinh sản; các loài cá ra biển sinh sản; các loài định cư.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:04:52 am
- Thềm lục địa

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở; quốc gia ven biển này có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý, với điều kiện tuân thủ các quy định cụ thể về việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa trong Công ước Luật biển năm 1982 và phù hợp với các kiến nghị của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sở của Công ước.


Đối với Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc gia ven bờ có chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác.


Về mặt chế độ pháp lý của them lục địa:

+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình;

+ Những quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (bao gồm các tài nguyên không sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư), thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thoả thuận rõ ràng của các quốc gia đó;

+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào;

+ Tất cả các quốc gia đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa. Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hoặc cáp;

+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góp theo quy định của Công ước;

+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này;

+ Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được;

+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì.


- Vịnh

Điều 7 của Công ước năm 1958 và Điều 10 Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa: Vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền, chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển, diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm, đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý.

Như vậy, vùng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu thoả mãn hai điều kiện:

Thứ nhất, diện tích của vịnh ít nhất củng bằng diện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm. Theo Điều 10 khoản 3, diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ỏ các điểm của cửa vào tự nhiên. Nếu do có các đảo mà một vùng lõm có nhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó.

Thứ hai, đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý. Trong trường hợp ngược lại, thì cần phải vạch các đoạn cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong cửa vịnh sao cho phía trong của nó có một diện tích tối đa.

Vịnh có thể chỉ do một, hoặc do bờ biển của nhiều quốc gia bao bọc: mỗi quốc gia quy định lãnh hải của mình trong vịnh. Các quốc gia có thể, bằng con đường thoả thuận hoặc do toà án, công nhận chế độ đồng sở hữu vịnh. Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, giới hạn bởi bờ biển của 4 nước: Thái Lan, Việt Nam, Malaixia và Campuchia.


Công ước năm 1982 không quy định về vịnh lịch sử hay vùng nước lịch sử, tuy nhiên theo tập quán và thực tiễn quốc tế, một vịnh được coi là lịch sử khi có sự:

+ Thực hiện chủ quyền một cách thực sự của quốc gia ven biển.

+ Thực hiện việc sử dụng vùng biển này một cách liên tục, hòa bình và lâu dài.

+ Có sự chấp nhận, công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:05:58 am
- Biển cả

Biển cả là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc phạm vi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các quốc gia ven biển. Thuật ngữ biển cả chỉ áp dụng với cột nước bên trên đáy và lòng đất đáy đại dương.

Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển. Trong vùng biển này, tất cả các quốc gia đều được hưởng các quyền tự do như:

+ Tự do hàng hải;

+ Tự do hàng không;

+ Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm;

+ Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật cho phép;

+ Tự do đánh bắt hải sản;

+ Tự do nghiên cứu khoa học...

Các quốc gia thực hiện các quyền tự do biển cả trên cơ sở tôn trọng và lưu ý tới lợi ích của cộng đồng quốc tế.

Để đảm bảo trật tự, an toàn cho các hoạt động ở biển cả và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận một loạt những quy định về:

+ Quy chế pháp lý đối với các loại tàu thuyến hoạt động ở biển cả; quyền và nghĩa vụ của quốc gia có tàu đối với tàu thuyền hoạt động ở biển cả;

+ Việc ngăn chặn và cấm các hoạt động chuyên chở nô lệ, buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các chất kích thích, cướp biển, phát sóng truyền thanh, truyền hình bất hợp pháp từ biển cả hướng vào đất liền;

+ Sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật ở biển cả.

Ngoài ra, cần chú ý đến quyền khám xét và quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài trong biển cả.


- Đáy đại dương

Đáy đại dương là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, được gọi là Vùng theo quy định Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

+ Vùng và tài nguyên của Vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí, kể cả các khối đa kim nằm ở đáy đại dương và trong lòng đất dưới đáy - là di sản chung của nhân loại;

+ Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của Vùng được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế, gọi là Cơ quan quyền lực quốc tế (ta quen gọi là Cơ quan quyền lực Đáy đại dương). Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hành trong Vùng thông qua bộ máy của mình;

+ Cơ quan quyền lực có quyền định ra các quy tắc, quy định và thủ tục thích hợp cho việc sử dụng Vùng vào mục đích hoà bình, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ sự sống của con người, bảo vệ và bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên của Vùng, phòng ngừa những thiệt hại đối với hệ động vật và hệ thực vật.


- Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia không có biển

Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào để thực hiện các quyền mà những quốc gia này được hưởng theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, kể cả các quyền liên quan tới tự do trên biển cả và liên quan đến những lợi ích phát sinh từ chế độ di sản chung của nhân loại;


Các quốc gia không có biển thực hiện quyền đi ra biển thông qua những thoả thuận trực tiếp, phân khu vực hay khu vực với quốc gia láng giềng có biển - được gọi là quốc gia quá cảnh;

Quốc gia quá cảnh có quyền định ra mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các quyền và các điều kiện thuận lợi được quy định trong Công ước vì lợi ích của quốc gia không có biển không hề đụng chạm đến các quyền lợi chính đáng của quốc gia quá cảnh.


- Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán

Theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong phạm vi vùng biển của quốc gia đó. Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với vùng nước nội thủy và lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên dưới các vùng nước đó.


Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió.


Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển được quy định, cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó.


Ngoài các quyền đã liệt kê ở trên, trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển còn có một số thẩm quyền riêng biệt nhằm ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm đối với các quy định về hải quan, thuế khoá, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, cũng như thẩm quyền đối với các hiện vật lịch sử và khảo cổ dưới đáy biển của khu vực này.


Theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, chủ quyền quốc gia trên biển lại giảm dần từ đất liền ra hướng biển có nghĩa là: Các nước ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với vùng nội thủy (như trên đất liền), hoàn toàn và đầy đủ đối với lãnh hải (trừ quyền tự do hàng hải không gây hại của tàu thuyền các nước). Tại vùng tiếp giáp, các nước ven biển chỉ có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật liên quan đến hải quan, thuế khóa, nhập cư và vệ sinh dịch tễ. Tại vùng đặc quyền kinh tế các nước ven biển chỉ có quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia với một số hoạt động nhất định, trong đó có đặc quyền thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các công trình nhân tạo... cũng như những hoạt động khác vì mục đích kinh tế, nguồn lợi của biển. Trên thềm lục địa các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và độc quyền khai thác tài nguyên sinh vật thuộc đáy biển, khoáng sản thuộc lòng đất dưới đáy biển.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:07:47 am
2. Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam

Để bảo vệ chủ quyền vùng biển nước ta, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.


Ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam.

Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 vào ngày 23 tháng 6 năm 1994. Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994. Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo. Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.


Ngày 18 tháng 12 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều - quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển.


Trước nguy cơ cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số chưa kiểm soát được và sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, việc quan tâm đến khai thác sử dụng biển hợp lý kết hợp chặt chẽ với bảo vệ quốc phòng - an ninh trên biển và bảo vệ môi trường biển là vấn đề quan trọng để phát triển bền vững. Những năm gần đây, Nhà nước ta tổ chức tốt việc khai thác biển, đặc biệt là dầu khí, hải sản, giao thông vận tải phục vụ quốc kế dân sinh.


Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam có thể được phân loại theo các lĩnh vực sau:

- Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển (Ví dụ: Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia - 2003...).

- Pháp luật về khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển (Luật Thủy sản, Luật Dầu khí...).

- Pháp luật về nghiên cứu khoa học biển (Nghị định 242/HĐBT ngày 5-8-1991...).

- Pháp luật về du lịch biển, đảo Việt Nam (Luật Du lịch...).

- Pháp luật về giao thông, vận tải biển (Bộ Luật Hàng hải...).

- Pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn trên biển (Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển...).

- Pháp luật về bảo vệ môi trường biển (Luật Bảo vệ môi trường - 2005...).


Sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ đã tuyên bố quy định các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

1. Lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra.

Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.


2. Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.


3. Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liẽn lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.


4. Thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.


5. Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải nói ở Điều 1 có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong các điểu 1, 2, 3, và 4 của Tuyên bố này.


6. Xuất phát từ các nguyên tắc của Tuyên bố này, các vấn đề cụ thể liên quan tới lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được quy định chi tiết thêm trên cơ sở bảo vệ chủ quyền và lợi ích của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.


7. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Sáu, 2022, 07:09:50 am
Thực hiện Điểm 1 trong Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y, ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố đường cơ sở dùng đế tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam như sau:

1. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục kèm theo Tuyên bố này.


2. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam từ điểm tiếp giáp 0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia nằm giữa biển, trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai, đến đảo Cồn Cỏ theo các tọa độ ghi trong phụ lục nói trên được vạch trên các bản đồ tỷ lệ 1-100.000 của Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1979.


3. Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh đã được quy định trong Công ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc do Pháp và nhà Thanh ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

Phần vịnh thuộc phía Việt Nam là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được công bố sau khi vấn đề cửa vịnh được giải quyẽt.


4. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được quy định cụ thể trong một văn kiện tiếp theo phù hợp với Điểm 5 của bản Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.   


5. Vùng nước phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển, hải đảo của Việt Nam là nội thủy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


6. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề bất đồng về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.


Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; theo đề nghị của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua nghị quyết gồm những nội dung sau:

1. Phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.


2. Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.


3. Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.


4. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Quốc hội nhấn mạnh: cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.


5. Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiẽt đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam.

Quốc hội giao cho Chính phủ thi hành những biện pháp có hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ và quản lý các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết 5 hiệp định và thỏa thuận với các nước láng giềng có bờ biển liền kề hoặc kế cận. Đó là các nước Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan và Campuchia.

- Thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam - Malaixia.

Giữa Việt Nam và Malaixia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2, đây là một khu vực có diện tích không lớn nhưng có tiềm năng về dầu khí. Ngày 5 tháng 6 năm 1992, tại Kuala Lampur, hai bên đã ký Bản thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn. Thỏa thuận này có nội dung chính là xác định khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa hai nước và xây dựng cơ chế hợp tác khai thác thăm dò dầu khí trong khu vực này.

- Hiệp định về phân định ranh giới trên biển Việt Nam - Thái Lan

Việt Nam và Thái Lan trước đây còn có bất đồng trong việc phân định biên giới biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan. Bất đồng này đã được giải quyết ngày 9 tháng 8 năm 1997 bằng Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan được ký kết ngày 9 tháng 8 năm 1997. Hiệp định này đã xác định đường biên giới biển đồng thời phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước.

- Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau. Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngày 7 tháng 7 năm 1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán cũ.

- Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới. Giữa hai nước tồn tại một số vấn đề biên giới cả trên đất liền lẫn trên biển đang trong quá trình giải quyết. Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, trong năm 2000 hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàm phán kéo dài 27 năm từ năm 1974 và ký kết Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ. Nội dung chính của Hiệp định này là nhằm xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Hiệp định phản định thềm lục địa giữa hai nước Việt Nam - Inđônêxia

Trước khi tiến hành đàm phán phân định, giữa hai nước tồn tại một vùng chồng lấn khoảng 98.000km2. Qua nhiều vòng đàm phán, vùng chồng lấn này đã dần được thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là việc ký kết Hiệp định ngày 26 tháng 6 năm 2003 đã thiết lập thành công đường ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Inđônêxia.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 06:58:38 am
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ TIỀM NĂNG CỦA VÙNG BIỂN VIỆT NAM

1. Vị trí, vai trò của biển Việt Nam

Biển có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng đối với các quốc gia có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Từ trước đến nay, biển luôn là vấn đề được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt.


Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương", bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương.


Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tập trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực.


Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đôi với khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.


Chính vì vậy, việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mờ rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.


Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng 3.448.000km2, được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Philíppin, Brunây, Thái Lan, Campuchia, Xingapo và Đài Loan); là một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng đôi với cả khu vực và thế giới.


Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực này.

Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế, là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Cho nên, Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược về giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của những cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt. Ngay từ thế kỷ XIV - XV, Tây Ban Nha đã tới đây tranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philíppin, Inđônêxia. Đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây chiến tranh chống một số nước quanh khu vực Biển Đông.


Do những tồn tại của lịch sử để lại hơn một trăm năm nay, cùng với sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển và đặc điểm vị trí địa lý của Biển Đông, nên giữa các nước trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chưa thống nhất cần được giải quyết trên các vùng biến và thềm lục địa. Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và các nguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp.


Biển Đông có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới.


Việt Nam là quốc gia nằm bên bờ biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2. Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500km. Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2 và khoảng trên 1.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.


Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Đông đóng vai trò là chiếc "cầu nối" cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Biển và vùng ven biển là cửa mở lớn, là "mặt tiền" quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. So với các vùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư phát triển mạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có thể trở thành mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ thuận tiện; là môi trường hết sức thuận lợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan toả ra các vùng khác trong nội địa. Có thể nói, vùng ven biển là vùng có nhiều lợi thế hơn hẳn các vùng khác để phát triển kinh tế nhanh.


Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng Tây Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan và Campuchia. Hiện nay, các nước trong khu vực đang tích cực khởi động chương trình phát triển Tiểu vùng Mê Công, ta và Trung Quốc đang hợp tác xây dựng và thực hiện chương trình Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, coi đó là một cực tăng trưởng mới trong khuôn khổ của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.


Chính vì vậy, trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:00:28 am
2. Tiềm năng và nguồn tài nguyên của biển Việt Nam

Nước ta có bờ biển dài khoảng 3.260km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiều dài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 27/157 nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển, Việt Nam là 100km2 đất liền/1km bờ biển). Biển nước ta có khoảng 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn 3.000 hòn đảo ven bờ chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tích khoảng 1.700km2, trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100km2 (Phú Quốc, Cái Bầu, Cát Bà).


Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa "hình chữ S" mà còn có cả vùng biển rộng trên một triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta.


Đến nay, kết quả thăm dò, khảo sát cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng kế và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đôi với sự phát triển của đất nước. Khu vực ven bờ biển nước ta nhiều đảo có giá trị kinh tế cao về tiềm năng phát triển du lịch, khu sinh thái... Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, có trên 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy mô tương đối lớn (kể cả cấp trung chuyển quốc tế); có nhiều bài biển lớn và nhỏ, cảnh quan đẹp, trong đó, có những bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triển các loại hình du lịch biển. Ngoài ra, ven bờ biển có nhiều khoáng sản quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp như than, sắt, titan, cát thủy tinh, các loại vật liệu xây dựng khác và khoảng 5 - 6 vạn héc-ta ruộng muối biển. Nguồn tài nguyên biển có giá trị và trữ lượng tương đối lớn của vùng biển nước ta là dầu thô và khí đốt thuộc thềm lục địa lãnh thổ nước ta. Biển Việt Nam có hơn 2.000 loài cá, trong đó có gần 130 loài cá giá trị kinh tế cao và hàng trăm loài được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới, 1.600 loài giáp xác, 2.500 loài thân mềm, cho khai thác 45.000 - 50.000 tấn rong biển...


Vùng ven biển Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc, chiếm phần lớn dân số và nguồn lao động cả nước. Dự báo trong những năm tới, dân số vùng ven biển ngày càng tăng. Đây là nguồn lực lao động dồi dào để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới.


Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đễn việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên. Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta ở chỗ: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới. Trong tình hình hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hoà bình, hội nhập và ổn định ở khu vực, nơi hội tụ nhiếu cơ hội của phát triển. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn tồn tại tranh chấp chủ quyền biển, đảo, là nhân tố - nguy cơ gây mất ổn định, khó lường. Điều này luôn đặt ra những khó khăn thách thức, cũng như những thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.


Như vậy, nước ta có diện tích vùng biển rộng lớn, với nhiều tiềm năng tài nguyên thiên nhiên. Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước và tăng cường an ninh, quốc phòng.


Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động. Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi. Khi ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực.


Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng... Tiềm năng về khí - điện - đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.


Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ biển Đông. Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malắcca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philíppin, Inđônêxia, Xingapo đến Ôxtrâylia và Niudilân... Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.


Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thủy triều và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vào mức nước thủy triều. Ven biển miền Trung có nhiều vũng, vịnh nước rất sâu, có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó có các cảng trung chuyển côngtenơ tầm cỡ quổc tế; đồng thời cũng rất thuận lợi để xây dựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng đội thương thuyền đủ mạnh để buôn bán trên thế giới. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển vươn tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởng mới về kinh tế trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.


Dọc theo bờ biển, trung bình khoảng 20km lại có một cửa sông. Phần lớn các sông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các hệ thống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai - Vàm Cỏ, sông Cửu Long... có nhiều cửa thông ra biển thuận tiện cho giao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược lại. Các cửa sông với lượng phù du lớn và rất phong phú đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:01:13 am
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy triều... Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trời - một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 - 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm... Biển nước ta có trên 2.000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế như: trích, thu, ngừ, bạc má, hồng...; hơn 1.600 loài giáp xác (trong đó có tới 70 loài tôm), hơn 2.500 loài nhuyễn thể; hơn 600 loài rong biển...


Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu héc-ta, bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng... Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển. Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn.


Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển. Với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh... có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nảng trờ vào. Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý hiếm tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao, chữa bệnh...


Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay có trên 30% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế - quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối... thu hút hàng chục triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng của đất nước.


Về an ninh - quốc phòng, biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thể trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta. Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vực tỉnh, thành của chiến lược bảo vệ Tổ quốc.


Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, sử dụng đường biển sẽ có nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tẽ hậu cần, sử dụng vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngò. Ngoài tiềm năng về dầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên du lịch, thủy sản, khoáng sản và nguồn lực lao động, biển còn là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân - thế trận an ninh nhân dân trên biển phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.


Hiện nay, Biển Đông là nơi đang tồn tại những mâu thuẫn kinh tế, chính trị của thế giới - một trong các "điểm nóng" của thế giới; tập trung những mặt đối lập, thuận lợi và khó khăn, hợp tác và đấu tranh, hòa bình và nguy cơ mất ổn định, dễ gây ra xung đột vũ trang. Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranh chấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông; tạo nên tranh chấp đa phương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn cả về quốc phòng, kinh tế và đối ngoại... Có lúc các tranh chấp này trở nên quyết liệt, là một trong những yếu tố gây bất ổn định khó lường... Nguy cơ xâm lấn biển, đảo và hoạt động trái phép ngày một gia tăng. Hàng ngày có hàng trăm tàu thuyền, máy bay nước ngoài xâm phạm vùng biển và vùng trời trên biển của ta dưới nhiều hình thức như khai thác hải sản, thăm dò, nghiên cứu biển, đặt giàn khoan, buôn lậu, vi phạm pháp luật trên biển; thậm chí có nước còn có động thái mới nhằm đẩy mạnh tốc độ độc chiếm Biển Đông.


Sự thay đổi chiến lược của các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và sự thay đổi căn bản cục diện ở Đông Nam Á, những tranh chấp biển và động thái mới nói trên đặt ra tình hình căng thẳng trên khu vực Biển Đông; đặt chúng ta trước tình thế phải khẩn trương đổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó có chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển và chiến lược phát triển kinh tế biển...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:02:04 am
Vươn ra biển, khai thác và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còn của dân tộc Việt Nam. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết về "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020" nhằm nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra các mục tiêu và những giải pháp chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.


Hiện nay, nước ta có quan hệ thương mại song phương với trên 100 nước, quan hệ đầu tư với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ; tham gia nhiều tổ chức quốc tế. Tới đây, các hoạt động hợp tác song phương, đa phương diễn ra sẽ rộng lớn trong nhiều lĩnh vực cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại... Trong đó, hoạt động trên biển sẽ diễn ra với quy mô và cường độ lớn hơn, thuận lợi xen lẫn thách thức. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển. Đồng thời, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để nước ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang bị cho quốc phòng - an ninh; tăng cường hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế..., với mục đích cao nhất là ổn định để phát triển đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của nó trong cơ cấu kinh tế cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, các cấp các ngành có liên quan đến khai thác và bảo vệ biển cần có chiến lược của riêng mình trong chiến lược tổng thể của quốc gia, trong đó cần có những giải pháp và bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước và tranh thủ được vốn và kỹ thuật trong hợp tác quốc tế để vươn ra làm chủ biển khơi, phục vụ phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế đất nước nói chung, bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững và ổn định lâu dài.


Quan điểm cơ bản được nêu trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2025 là:

- Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa. Phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.


Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu, mạnh.


Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh. Phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch vụ biển. Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.


Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X thông qua. Đây là một trong những văn kiện hết sức quan trọng thể hiện sự quyết tâm xây dựng kinh tế biển Việt Nam phát triển.


Mục đích của chiến lược là nhằm phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước. Từ những yêu cầu đó, cần phải thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:

1- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2- Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trên biển.

3- Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển.

4- Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

5- Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đối với các vấn đề liên quan đến biển.

6- Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển.

7- Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển.

8- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mọi tình huỗng, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

9- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế biển với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:05:04 am
Phần thứ hai
ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO CỦA VIỆT NAM


I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ ĐẢO CỦA VIỆT NAM

1. Những đặc điểm cơ bản của đảo Việt Nam

Đảo là phần đất bị bao bọc xung quanh bởi nước, thường xuyên nhô cao lên, không bị ngập khi mực nước triều cao nhất, về phần lịch sử hình thành đảo có thể là do một phần lục địa lún xuống gây ra hoặc do hoạt động núi lửa dưới đáy biển tạo thành. Đảo có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, đảo có thể đứng đơn độc hoặc tụ hợp thành quần đảo hay kéo dài thành vòng cung... Đảo có nhiều loại hình thành, từ núi hay các rạn san hô, bãi đá ngầm hoặc đảo nhân tạo...


Ở vùng biển nước ta có khoảng 4.000 đảo, số lượng đảo ven bờ có gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, hợp thành hệ thống với tổng diện tích khoảng trên 1.600km2. Do đặc điểm kiến tạo, các đảo ven bờ của nước ta phân bố không đồng đều, chủ yếu là ở vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ. Trong gần 3.000 hòn đảo ven bờ Việt Nam có 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, chiếm 92% tổng diện tích, trong đó 23 đảo có diện tích lớn 60 hơn 10km2, 3 đảo có diện tích hơn 100km2 và 1.295 đảo chưa có tên. Tuy phân bố không đồng đều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các đảo che chắn với mức độ khác nhau. Việt Nam có 2 quần đảo lớn xa bờ là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.


Sự phân bố các đảo ờ biển Việt Nam không đều, ven bờ vịnh Bắc Bộ có số lượng hơn 2.300 đảo với diện tích khoảng gần 800km2, ven bờ miền Trung có khoảng trên 250 đảo, với diện tích khoảng 170km2, ven bờ Nam Bộ có số lượng hơn 200 đảo với diện tích 679km2. Các đảo có diện tích lớn là: đảo Phú Quốc (Kiên Giang) diện tích 567km2, đảo Cái Bầu (Quảng Ninh) diện tích 200km2, đảo Cát Bà (Hải Phòng) diện tích 149km2, Côn Đảo (Vũng Tàu) diện tích 56,7km2, Hòn Lớn (Khánh Hòa) diện tích 45km2, Hòn Tre (Khánh Hòa) diện tích 32km2, Phú Quý (Bình Thuận) diện tích 32,5km2, Vĩnh Thực (Quảng Ninh) diện tích 32km2, Cô Tô - Thanh Lân (Quảng Ninh) diện tích 23,4km2, Cái Chiên (Quảng Ninh) diện tích 10,9km2...


Vùng biển nước ta có khoảng 4.000 đảo, trong đó chủ yếu là ở vùng biển Đông Bắc, Bắc Trung Bộ; số đảo còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, các đảo, quần đảo của nước ta thường được chia thành các nhóm:

- Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ...

- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc...

- Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)...


Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa. Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta.


Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam khoảng gần 3 nghìn hòn đảo lớn nhỏ với diện tích khoảng trên 1.600km2, trong đó các đảo nhỏ (nhỏ hơn 0,5km2) chiếm hơn 97% và chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ Việt Nam. Các đảo ở khu vực này chủ yếu là những núi đá vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tác động của các quá trình phong hóa hóa học, tạo nên một quần thể đảo có kiến trúc đặc sắc: các sườn, vách dốc đứng với các đỉnh sắc nhọn, hoặc các khối đổ lơ chồng chất và các hốc đá sóng vỗ - một cảnh quan độc nhất vô nhị trong ý nghĩa toàn cầu về giá trị địa chất và địa mạo vùng đá vôi Karst với cái tên huyền thoại "Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long".


Các đảo này có sườn thoải (thường là sườn khuất gió, ít chịu tác động của các quá trình động lực biển) phát triển theo bể mặt các lớp đá có thể nằm nghiêng, có các bề mặt san bằng và các bậc thêm mài mòn trên những độ cao khác nhau 300m, 200m, 100m, 70m, 50m, 30m, 20m. Dưới chân đảo là những cung bờ lõm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, là những bãi tắm lý tưởng với những kích thước khác nhau như vài chục mét đến vài trăm mét, thậm chí vài ba nghìn mét (Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bầu, Phú Quốc, Phú Quý...). Sườn đón gió là những vách đá dốc đứng (30-60º), chịu tác động mạnh của các quá trình thủy động lực và vận động kiến tạo cục bộ, tạo các cảnh quan địa chất hùng vĩ. Đặc biệt các đảo cấu tạo từ đá granit ở vùng biển ven bờ miền Trung Việt Nam có các khe nứt, các hốc đá cheo leo trên sườn dốc là những nơi cư trú của chim yến như Hòn Khô, Hòn Lao, Cù Lao Chàm và các đảo ở vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa.


Về cấu tạo địa chất các đảo lớn này có sự phân hóa theo từng vùng. Các đảo ven bờ vịnh Bắc Bộ được cấu tạo từ đá cacbonat chiếm ưu thế, các đảo ven bờ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận và các đảo ven bờ Tây Nam được cấu tạo chủ yếu từ đá mắcma, đá xâm nhập, đá trầm tích và phun trào. Lớp vỏ phong hóa phủ trên sườn các đảo này thường không dày, thành phần vật chất gắn liên với cấu tạo địa chất, chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, là sản phẩm đất dốc tụ, đất feralit nâu vàng trên sản phẩm phong hóa đá vôi, có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét pha, đất feralit vàng đỏ trên sa diệp thạch có thành phần cơ giới nhẹ, đất feralit nâu đỏ trên đá bazan có thành phần cơ giới nặng, cấu trúc tốt. Đất cát hoặc đất nghèo mùn và nghèo đạm, thường hàm lượng lân và kali từ trung bình đến nghèo, phân bổ ở các thềm biển trên triều ở độ cao từ 6 - 10m.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:06:03 am
Địa hình đáy biển xung quanh đảo không đồng nhất, khá phức tạp bao gồm: địa hình tích tụ, nông, thoải, từ độ sâu 2m và từ 10 - 20m là thảm san hô rất phát triển, độ che phủ đạt hơn 60%, một hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệt đới có hệ số đa dạng sinh học cao, giàu nguồn lợi đặc sản, ngoài ra hệ sinh thái san hô còn là bộ lọc nước tự nhiên cao cấp, làm sạch môi trường nước biển. Địa hình xâm thực ở chân đảo tạo thành các thung lũng ngầm kéo dài và các rãnh sâu dưới chân các mũi nhô của đảo, độ sâu có thể đạt đến 30m hoặc sâu hơn tạo thành những cư sinh của các loài đặc sản như tôm hùm, các nhuyễn thể sống bám vào vách đá.


Đảo biển là một đơn nguyên cảnh quan địa chất, địa mạo, là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, có rừng, có biển, có bãi cát và chan hòa ánh sáng mặt trời. Đảo có cảnh quan thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, tài nguyên đa dạng và phong phú, không gian rộng lớn, là nguồn sinh lực dồi dào cho sự phát triển của con người. Đây là nguồn lợi lớn để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.


Do hoàn cảnh tự nhiên về cấu tạo địa chất, địa hình và cảnh quan, mỗi đảo có những nét riêng, song lại có chung một điểm là nơi lý tưởng để phát triển kinh tế - sinh thái và du lịch. Trên thực tế rất nhiều đảo trên thế giới đã phát triển thành những thánh địa du lịch nổi tiếng như Tahiti - Nam Thái Bình Dương, Manlta - Địa Trung Hải, công viên đại ngàn Australia, công viên quốc gia biển Tây Bắc, Cộng hòa Liên bang Đức, đem lại nguồn lợi lớn.


Để có cơ sở khoa học cho việc định hướng đúng đắn chiến lược khai thác, phát triển kinh tế và quản lý bền vững tài nguyên môi trường vùng biển của nước ta cần phải đánh giá chính xác tiềm năng hệ thống đảo, biển. Khác với đất liền, hệ sinh thái rừng trên đảo phát triển rất khó khăn, phải trải qua hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm và có tính đặc hữu cao, đem lại cho con người những giá trị vật chất và tinh thần. Tài nguyên rừng ở đảo không chỉ là gỗ, vì rừng là tất cả, là áo giáp bảo vệ đảo, chống xói mòn, giữ ẩm cho đảo, là nguồn nuôi dưỡng mọi sự sống, là cảnh quan sinh thái có sức hấp dẫn du khách. Trong thảm thực vật rừng trên đảo phần lớn là các loài cây có nguồn gốc từ đất liền và có những loài thực vật có tính đặc hữu khác có giá trị dược liệu. Tại đảo Cù Lao Chàm có tới 116 loài cây có giá trị dược liệu, chiếm 22,8% tổng số loài. Thiên tuế là loài cây cảnh có tính đặc hữu của Cù Lao Chàm được xếp hạng trong sách đỏ, cần được bảo vệ. Tại Hòn Giài, Cù Lao Chàm, thiên tuế mọc thành "rừng", cao 1 - 3m, có tuổi từ 100 - 200 năm là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn lợi động vật rừng trên đảo tuy không phong phú nhưng có nhiều loài sống rất gần gũi với con người như sóc, khỉ, khiếu, vẹt...


Đất có khả năng canh tác nông nghiệp trên đảo chỉ chiếm khoảng 10 - 20% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất feralit và đất cát ít mùn và nghèo dinh dưỡng. Các bậc thềm sườn thoải của đảo được phủ một lớp vỏ phong hóa không dày gần vùng nước suối chảy qua thuận lợi cho việc phát triển các vườn rừng, cây ăn trái hoặc cây rừng lá rộng. Đặc biệt trên các bề mặt san bằng ở các độ cao 200m, 300m, thực vật có khả năng phát triển do nhiệt độ thấp, độ ẩm cao mang đặc điểm khí hậu biển và khí hậu cao nguyên, ở đây có thể phát triển kinh tế vườn rừng, kinh tế sinh thái và du lịch, có thể xây dựng các nhà nghỉ dưỡng, nhanh chóng phục hồi sức khỏe. Ở các đảo ven biển Việt Nam có thể tìm thấy cảnh quan sinh thái kiểu này trên đảo Hòn Khoai, đảo Cái Bầu, đảo Cù Lao Chàm, đảo Cát Bà.


Biển quanh đảo và các bãi cát thạch anh trắng mịn cùng với hệ sinh thái san hô là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái biển vô giá. Có thể tổ chức các cụm du lịch tắm biển, tham quan các hệ sinh thái san hô đa sắc màu ngầm dưới nước nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.


Các đảo gần như không sống đơn độc, bao giờ cũng hình thành cụm đảo, trung tâm là một đảo lớn xung quanh là các đảo con. Ở đó con người có thể thả mình tắm biển, câu cá, theo dõi nhịp sống của các loài sinh vật biển và các loài cá nhiều màu sắc sống trong các rạn san hô. Biển trên nền san hô bao giờ cũng lặng, màu của biển luôn thay đổi theo độ sâu và theo thời gian chiếu sáng của mặt trời.


Khí hậu biển mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông do có sự điều hòa nhiệt của biển. Biển vừa là bánh đà vừa là bình nhiệt hấp thu nhiệt vào ban ngày và vào mùa hè, tỏa nhiệt vào ban đêm và vào mùa đông. Nhiệt độ không khí tối cao và tối thấp trên biển bao giờ cũng chênh lệch so với đất liền từ 10°C - 30°C.


Không khí biển - đảo và nước biển là môi trường trong lành nhất, các hệ sinh thái đảo, biển có chỉ số đa dạng sinh học cao, nhưng khối lượng của các loài sinh vật không lớn do diện tích đảo rất hạn hẹp và tính nhiệt đới của địa sinh học. Trong khi đó các loài đặc sản biển của đảo mang tính địa phương cao.


Khai thác cá ở biển, đảo phụ thuộc vào hai yếu tố có tính quyết định. Thứ nhất, vị trí của đảo phải gần với các ngư trường khai thác truyền thống. Thứ hai là trình độ kỹ thuật và tiền vốn. Trên thực tế, các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ có khả năng phát triển nghề khai thác hải sản, nghề nuôi cá lồng quy mô vừa như Cô Tô, Cát Bà, Vĩnh Thực, Vân Đồn. Các đảo miền Trung và Nam Bộ nghề khai thác và nuôi hải sản rất hạn chế do điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi.


Đất liền trở nên chật hẹp, năng lượng khan hiếm, các hệ sinh thái bị suy thoái, môi trường trở nên quá tải. Biển và đại dương đang là miền đất hứa. "Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương".


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:07:29 am
2. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của một số đảo ở Việt Nam


*Huyện đảo Vân Đồn

Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử Long, nhưng lại nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh. Vân Đồn bao gồm khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ. Đảo lớn nhất Cái Bầu, diện tích chiếm gần nửa diện tích đất đai của huyện. Trước đây đảo có tên là Kế Bào, ở phía Tây Bắc huyện nằm kề cận đất liền lục địa, cách đất liền bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn. Trong địa phận xã Vạn Yên còn có đảo Chàng Ngo cũng tương đối lớn. Huyện lỵ là thị trấn Cái Rồng, nằm trên đảo Cái Bầu, cách thành phố Hạ Long khoảng 50km, cách Cửa Ông 7km (theo đường 31 qua cầu Vân Đồn và bến phà Tài Xá). Tuyến đảo Vân Hải, nằm ỏ rìa phía Đông Nam của huyện, gồm các đảo lớn như: Trà Bàn, Cao Lô, Quan Lạn, Đông Chén, Thẻ Vàng, Ngọc Vừng, Cảnh Tước,... và một loạt các đảo nhỏ khác, thành bức bình phong che chắn ngoài khơi vịnh Bái Tử Long. Diện tích đất đai xã Bản Sen chiếm hơn nửa diện tích của đảo Trà Bản - đảo lớn thứ hai trong huyện.


Huyện Vân Đồn có các phía Tây Bắc giáp vùng biển huyện Tiên Yên và Đông Bắc giáp vùng biển huyện Đầm Hà, phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả, ranh giới với các huyện thị trên là lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn, phía đông giáp vùng biển huyện Cô Tô, phía Tây Nam giáp vịnh Hạ Long (thành phố Hạ Long và vùng biển Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng), phía Nam là vùng biển ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.


Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3km2. Trong tổng số khoảng 600 hòn đảo thuộc huyện thì có hơn 20 đảo có ngươi ở. Lớn nhất là đảo Cái Bầu rộng 17.212ha, ở giáp địa phận thị xã Cẩm Phả. Các đảo đều có địa hình núi đá vôi, thường chỉ cao 200 đến 300m so với mặt biển, có nhiều hang động Karst. Cũng giống như tất cả các đảo trong vịnh Bắc Bộ, các đảo của huyện Vân Đồn vốn trước kia là các đỉnh núi của phần thềm lục địa, ở vị trí Tây Bắc vịnh Bắc Bộ, phần kéo dài của dãy núi Đông Triều. Sau thời kỳ biển tiến, hình thành vịnh Bắc Bộ, các đỉnh núi này còn sót lại, nằm nổi trên mặt biển thành các đảo độc lập thuộc hai vùng của vịnh Bắc Bộ là vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Các đảo thuộc huyện Vân Đồn chỉ là một phần trong quần đảo Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Các ngọn núi trên các đảo của huyện tiêu biểu có: Núi Nàng Tiên ở đảo Trà Bản, trên địa phận xã Bản Sen, cao 450m; núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397m.


Do địa hình quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, lại là núi đá vôi, nên trong toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất liền không lớn, chủ yếu là diện tích mặt biển. Huyện đảo Vân Đồn có 68% diện tích đất tự nhiên trên các đảo là rừng và đất rừng. Trên các đảo không có sông ngòi lớn mà chỉ có vài con suối trên những đảo lớn. Người dân địa phương thường gọi các eo biển giữa các đảo với nhau và với đất liền là sông như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu với đất liền, sông Mang ở đảo Quan Lạn. Trên địa bàn huyện có hai hồ nhỏ là hồ vồng Tre và hồ Mắt Rồng.


Huyện đảo Vân Đồn có lượng mưa bình quân hàng năm khoảng trên 2.000mm. Dân số toàn huyện khoảng 45.000 dân, trong đó: người Kinh chiếm 86%, người Sán Dìu 10%, người Hoa 1,5%, người Dao 1,3%, người Sán Chỉ, người Tày...


Giao thông trong huyện chủ yếu là bằng đường thủy giữa các đảo. Xã Vạn Yên có bến cảng Vạn Hoa, thị trấn Cái Rồng có cảng Cái Rồng, có thể cho xà lan, tàu thuyền tải trọng hàng trăm tấn ra vào dễ dàng, đồng thời là đầu mối giao thông qua lại giữa các đảo. Đường bộ dài nhất là đường 31 dài 40km, xuyên suốt đảo Cái Bầu và chỉ nối mỗi đảo này với đất liền qua Cửa Ông. Điểm cuối của đường này là cảng Vạn Hoa. Trên các đảo Trà Bản, Ngọc Vừng, Quan Lạn có những đoạn đường ô tô dùng cho quân sự và lâm nghiệp, nhưng chỉ là các đoạn đường trong nội bộ các đảo. Còn giữa các đảo với nhau và với đất liền chủ yếu vẫn dùng phương tiện giao thông đường thủy.


Con người đã có mặt trên các đảo của huyện Vân Đồn từ rất sớm. Di chỉ khảo cổ ở đây có mật độ dày đặc. Hang Soi Nhụ là một di chỉ thuộc trung kỳ đồ đá mới, trước cả văn hóa Hạ Long. Tại thôn Đá Bạc xã Minh Châu có di chỉ mộ cổ thời Hán. Tên Vân Đồn có nguồn gốc từ tên núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay thuộc xã Quan Lạn) nằm trong tuyến đảo ngoài Vân Hải. Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu nên theo sử sách, năm 980 ở đây đã có đồn Vân, trấn giữ vùng biển Đông Bắc của quân đội 70 nhà Tiền Lê. Năm 1149, vua Lý Anh Tông của nhà Lý chính thức lập trang Vân Đồn, đồng thời Vân Đồn thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt trong giao thương với các nước trong khu vực Đông Á và thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia... Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý - Trần - Hậu Lê (Lê Sơ) rồi suy thoái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc. Di tích thương cảng Vân Đồn chứa đựng dấu ấn của nhà Trần về chiến công chống ngoại xâm lại vừa có dấu ấn về giao thương, buôn bán.


Trận Vân Đồn năm 1288 trên dòng sông Mang (Quan Lạn) gắn liền với tên tuổi của danh tướng Trần Khánh Dư, dưới sự chỉ huy của ông, quân dân nhà Trần đã đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của trận Bạch Đằng năm 1288. Sau khi thương cảng Vân Đồn được hình thành từ thời Lý (1149), đến thời Trần đã phát triển hưng thịnh. Các bến thuyền cổ trung chuyển hàng hoá gồm hương liệu, gốm sứ, lâm thổ sản được hình thành từ cửa sông Bạch Đằng, Cửa Lục cho tới các đảo Cống Đông, Quan Lạn. Tại đảo Cống Đông (nay là xã Thắng Lợi), các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của nhiều công trình kiến trúc Phật giáo quy mô thời Trần như chùa, tháp, nhiều di vật bia đá, lan can, chân kê cột... Đây là những minh chứng rõ nhất cho sự phát triển phồn thịnh về thương mại dưới triều nhà Trần.


Trong quá trình lịch sử thì Vân Đồn đã nhiều lần thay tên và có lúc là huyện, lúc là châu... Đến tháng 12 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định thành lập huyện Cẩm Phả (được tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả). Đến ngày 23 tháng 3 năm 1994, huyện Cẩm Phả được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên là huyện Vân Đồn ngày nay.


Nền kinh tế của Vân Đồn chủ yếu là kinh tế biển và khai khoáng bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt hải sản, trồng và khai thác lâm nghiệp, dịch vụ du lịch biển, khai thác than, đá vôi, cát trắng, sắt, vàng sa khoáng. Nông nghiệp trồng trọt rất nhỏ bé. Kinh tế lâm nghiệp suy giảm do khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên.


Vùng biển của huyện có nhiều chủng loại hải sản quý như: tôm he, cá mực, sá sùng, cua, ghẹ, ngọc trai, bào ngư,... Nghề khai thác hải sản có từ lâu đời, song chủ yếu là đánh bắt trong lồng bè và ven bờ, chỉ từ năm 1995 tới nay mới phát triển đánh bắt xa bờ. Việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi cấy ngọc trai từ năm 1990 mới phát triển mạnh. Công nghiệp khai khoáng gồm: Than đá đã được khai thác từ thời Pháp thuộc, ở mỏ than Kế Bào. Trữ lượng hiện còn khoảng 107 triệu tấn. Mỏ quặng sắt Cái Bầu có trữ lượng lớn khoảng 154.000 tấn. Mỏ cát trắng Vân Hải có trữ lượng trên 13 triệu tấn, hiện đang khai thác với sản lượng 20.000 tấn/năm. Vàng sa khoáng và vàng trong đối quặng sắt có ở đảo Cái Bầu.


Huyện đảo Vân Đồn, nằm ôm trọn vùng vịnh Bái Tử Long, có nhiều đảo đá vôi và những hang động đẹp, lại nối liền vái vịnh Hạ Long, di sản thế giới. Các xã đảo tuyên ngoài giáp vịnh Hạ Long (tuyến đảo Vân Hải) có nhiều bãi tắm đẹp, nhiều hải sản ngon, khí hậu trong lành và những di tích lịch sử văn hóa, rất có tiềm năng để phát triển kinh tế dịch vụ du lịch.


Rừng trên nhiều đảo xưa kia có nhiều lâm sản quý, trong đó có nhiều loại gỗ quý như gỗ lim, gỗ táu, gỗ nghiến, gỗ mun... Cây gỗ mần lái là lâm sản đặc hữu ở đây. Đình làng Quan Lạn được làm hoàn toàn từ loại gỗ này. Trong rừng có nhiều chim thú quý (khỉ lông vàng, vẹt đầu bạc, đại bàng đất, công trĩ, hươu sao...), nhiều loài có số lượng không nhiều được ghi vào sách đỏ thế giới.


Khu kinh tế Vân Đồn được Chính phủ phê duyệt thành lập từ năm 2007 và hiện đang được triển khai xây dựng các cơ sở hạ tầng. Theo quy hoạch, đây sẽ là một trung tâm du lịch sinh thái biển, đảo chất lượng cao và dịch vụ cao cấp, đồng thời là trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế ở Vân Đồn nói riêng và Quảng Ninh nói chung.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:08:20 am
* Đảo Cô Tô

Cô Tô là tên một quần đảo phía đông của huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Địa danh hành chính là huyện Cô Tô, diện tích 46,2km2, dân số hơn 33.900 người.

Cô Tô có tên cổ là Chàng Sơn (Núi Chàng), từ lâu đời đã là nơi trú ngụ của thuyền bè ngư dân vùng Đông Bắc, song chưa thành nơi định cư vì luôn bị những toán cướp biển Trung Quốc quấy phá. Đầu thời Nguyễn, một số dân cư Trung Quốc đánh được những toán cướp biển và xin được nhập cư sinh sống.


Năm 1832, Nguyễn Công Trứ với cương vị Tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) đã xin triều đình cho thành lập làng xã, cắt cử người cai quản. Làng đầu tiên ở đây được Nguyễn Công Trứ đặt là làng Hướng Hoá. Ít lâu sau, nhà Nguyễn cho thu thuế và lập đồn Hướng Hoá canh phòng giặc biển. Dân cư đống dần, tất cả đều là người gốc nhiều dân tộc thiểu số ở vùng ven biển Quảng Đông, Phúc Kiến và đảo Hải Nam phiêu bạt đến.


Thời Pháp thuộc, Cô Tô là một tổng có năm xã (Đông giáp, Nam giáp, Tây giáp, Bắc giáp, Trung giáp) thuộc châu Hà Cối, phủ Hải Đông, tỉnh Hải Ninh. Sau ngày Nhật đảo chính, Pháp quay lại chiếm đóng Cô Tô. Từ Cô Tô và cảng Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu, tàu chiến Pháp vào quấy rối vùng biển Hòn Gai và cảng Hải Phòng. Tháng 11 năm 1946, Đại đội Ký Con giải phóng quân từ Hòn Gai dùng tàu chiến Le Créyac mới chiếm được của Hải quân Pháp tiến ra giải phóng Cô Tô nhưng không thành công. Cho đến cuối năm 1955, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, quân Pháp mới rút khỏi đảo. Đầu năm 1954, Cô Tô thuộc huyện Móng Cái, sau đó trực thuộc tỉnh. Từ năm 1964, được sáp nhập vào huyện Cẩm Phả.


Năm 1994, Chính phủ đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn đồng thời tách quần đảo Cô Tô gồm hai xã Thanh Lân, Cô Tô thành lập huyện Cô Tô. Từ đó đến nay Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ về giá điện, giá xăng dầu, xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng, hàng ngày đều có tàu khách Vân Đồn - Cô Tô, làm cho đời sống nhân dân nơi đây không ngừng được cải thiện.


Cô Tô có địa hình đồi núi. Đỉnh trên đảo Thanh Lân cao 210m, đỉnh đài khí tượng trên đảo Cô Tô lớn cao 160m. Phần giữa các đảo đều cao, vây quanh là những đồi núi thấp và những cánh đồng hẹp, ven đảo là những bãi cát nhỏ và vịnh nhỏ. Đất đai chủ yếu là đất feralit trên sa thạch. Đất rừng rộng 2.200ha, đất có khả năng nông nghiệp 771ha chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, trong đó một nửa số có khả năng cấy lúa, trồng màu, gần nửa có khả năng chăn thả gia súc và trồng cây ăn quả.


Cô Tô ít sông suối, nhân dân đã đắp đập hình thành 11 hồ nhỏ. Có nguồn nước ngầm rất dồi dào, chất lượng tốt. Thảm thực vật trên các đảo khá phong phú chủng loại. Rừng tự nhiên đa dạng với nhiều loại gỗ tốt và nhiều song mây, ràng rang. Rừng trồng gồm phi lao, bạch đàn, thông đuôi ngựa. Trên đảo Thanh Lân còn có cam, quýt, chuối đã nhiều năm thành sản phẩm hàng hoá nổi tiếng trong tỉnh. Có nhiều loại dược quý hiếm như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía... trên các đảo. Động vật rừng từ xa xưa khá nhiều nay ở đảo Thanh Lân còn có đàn khỉ vàng chừng 100 con và nhiều động vật quý hiếm khác.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:08:56 am
* Đảo Trần

Đảo Trần nằm trong địa phận huyện Cô Tô có diện tích là 4.465km và nằm cách bờ biển Quảng Ninh khoảng 30km. Hòn đảo này có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong vịnh Bắc Bộ và là hòn đảo tiền tiêu của vùng Đông Bắc Việt Nam.


Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đảo chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông bắc nên khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa và khí hậu đại dương, tuy nhiên thường có những cơn bão và gió lớn bất thường kéo theo mưa lớn gây ảnh hương nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng trên cạn và san hô ở đảo. Hiện tại đảo Trần không có dân cư chính thức sinh sống lâu dài ổn định, nhưng thường xuyên có mặt hàng trăm người gồm bộ đội, công nhân và ngư dân trên đảo.


Đảo Trần là một hòn đảo nhỏ, phần chân rạn hẹp nên san hô cứng chỉ phân bố tới độ sâu 5m. San hô ở các khu vực phía Bắc đảo còn nguyên vẹn chiếm 87,5% thành phần loài san hô toàn đảo. Khu hệ cỏ biển ưu thế bởi 2 loài Halophila ovalis và Cymodocea rotunda. Trai ngọc ở khu vực biển, đảo Trần là một trong số các loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ nên cần được bảo vệ. Khu hệ sinh vật trên cạn có 241 loài bao gồm 182 loài thực vật thuộc 166 chi và 86 họ, 59 loài động vật thuộc 4 lớp.


Đảo Trần hiện nay thuộc sự quản lý của huyện Cô Tô và bộ đội trên đảo. Tuy nhiên, nếu không có các chính sách và chiến lược cụ thể thì việc bảo vệ các nguồn tài nguyên trên đảo và các hệ sinh thái biển xung quanh là rất khó khăn do dân cư trên đảo chủ yếu là từ nơi khác tới. Năm 1999, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường báo cáo đề xuất đảo Trần nằm trong mạng lưới các khu bảo tồn biến Việt Nam do Bộ Thủy sản quản lý. Theo báo cáo, khu bảo tồn biển của đảo Trần sẽ gồm 2 phân vùng là vùng lõi và vùng đệm.


Vùng lõi bao gồm toàn bộ hòn đảo và vùng nước xung quanh đảo kể từ 6m trở vào; vùng đệm nằm ngoài vùng lõi với diện tích 452ha. Do vậy, cần có sự chỉ đạo và hướng dẫn của cơ quan chức năng và các cấp, các ngành để bảo tồn các hệ sinh thái và tài nguyên trong khu vực đảo Trần.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 30 Tháng Sáu, 2022, 07:09:43 am
* Tuần Châu

Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới với hàng ngàn các hòn đảo lớn nhỏ được tạo hoá sắp xếp trên đại dương bao la của biển trời Hạ Long, mỗi một hòn đảo mang một dáng vẻ riêng, đảo thì có hang Sửng Sốt, đảo thì có động Thiên Cung, có hang Trinh Nữ... riêng Tuần Châu là hòn đảo đất duy nhất nằm trong vùng di sản. Ngoài những vẻ đẹp thiên nhiên như rừng thỗng, hồ nước, bãi biển..., đảo Tuần Châu còn mang trên mình những dấu tích lịch sử của đất nước Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn đảo Tuần Châu làm nơi nghỉ ngơi của Người cùng các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước khi Người về thăm đảo năm 1959.


Đảo Tuần Châu hiện tại có diện tích khoảng 400ha, theo quy hoạch được duyệt, diện tích đảo Tuần Châu sẽ mở rộng lên tới 675ha. Đảo có vị trí rất thuận lợi cả về đường thủy và đường bộ, cách quốc lộ 18A khoảng 2km. Đây là tuyẽn đường huyết mạch quan trọng kết nối tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.


Tên đảo Tuần Châu được ghép từ hai chữ "lính tuần" và "tri châu" vì xưa kia, thời phong kiến, trên đảo đặt một trạm lính canh phòng có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ vùng biên ải do viên tri châu quản lý. Từ năm 1999 trở về trước, cơ sở vật chất trên đảo rất nghèo nàn và lạc hậu: không có điện lưới, không có nước sạch, đường sá chỉ là đường mòn và không có các phương tiện giao thông cơ giới. Tuần Châu lúc đó chỉ là một xã đảo nghèo trực thuộc thành phố Hạ Long, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề chài lưới sử dụng các phương tiện đánh bắt rất thô sơ. Đời sống văn hoá tinh thần của người dân vì thế rất thiếu thốn.


Dự án đầu tiên mang tầm chiến lược quan trọng của Công ty Âu Lạc là lấp biển, đắp con đường nối liền Tuần Châu với quốc lộ 18A. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày 28 tháng 2 năm 1998, con đường chính thức được khởi công xây dựng. Trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ nhưng với ý chí quyết tâm và lòng đoàn kết, ngày 8 tháng 2 năm 1999, con đường đã chính thức nối đảo với đất liền và biến ước mơ của người dân trên đảo thành hiện thực.


Hiện nay, đảo Tuần Châu đã nổi tiếng trong và ngoài nước và được coi là điểm đến không thể thiếu của các tour du lịch với các công trình như: Câu lạc bộ cá heo, hải cẩu sư tử biển, trình diễn ca múa nhạc thời trang; rạp xiếc, câu lạc bộ biểu diễn cá sấu, bãi tắm nhân tạo, khu ẩm thực Việt Nam, quần thể các cụm biệt thự, khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, khu vui chơi giải trí dưới nước gồm hoạt động như cano kéo dù, môtô trượt nước tốc độ cao, dịch vụ tham quan vịnh Hạ Long bằng tàu du lịch, bằng cano, dịch vụ tham quan vịnh Hạ Long bằng máy bay trực thăng, công viên trình diễn nhạc nước, laser, chiẽu phim trên màn nước lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:06:58 am
* Đảo Bạch Long Vĩ

Bạch Long Vĩ là một huyện đảo thuộc Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tên với diện tích vào khoảng 2,5km2 khi có thủy triều lên và khoảng 4km2 khi thủy triều xuống. Đảo nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Đảo Bạch Long Vĩ (20°07'35" và 20°08'36" vĩ độ Bắc; 107°42'20" - 107°44'15" kinh độ Đông), nằm ở giữa vịnh Bắc Bộ (cách Hòn Dấu - Hải Phòng 110km, cách đảo Hạ Mai 70km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130km). Đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong tám ngư trường lớn của vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ.


Trước đây đảo còn có tên là Vô Thủy và một tên khác là Phù Thủy Châu. Theo hiệp ước Pháp - Thanh 1887, Bạch Long Vĩ - nằm phía Tây kinh tuyến 105°43' tính từ Paris (tức 108°43') trong vịnh Bắc Bộ - thuộc về nước An Nam (xứ bảo hộ của Pháp).


Năm 1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, dân cư vùng Quảng Yên - Việt Nam tới đây sinh sống, lập nghiệp bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt và khai thác hải sản. Năm 1937, vua Bảo Đại phái người tới đảo lập đồn canh phòng và xây dựng chế độ lý trưởng. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và cho quân ra đảo tước khí giới của binh lính Bảo Đại. Năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo. Năm 1949, Quốc dân đảng (Trung Quốc) thua trận chạy ra Đài Loan, chiếm Bạch Long Vĩ. Tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quõc đánh chiếm đảo.


Ngày 16 tháng 1 năm 1957, Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tiếp quản đảo, khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với đảo, vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo. Trước khi giải phóng, trên đảo có 135 hộ dân với 518 người sinh sống.


Ngày 16 tháng 1 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra Nghị định số 49/TTg quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Cũng trong năm này, trên đảo đã có hợp tác xã nông ngư gồm 63 lao động chính và 31 lao động phụ, có 22ha đất canh tác, 11 thuyền, 2 tàu đánh cá và các ngư lưới phục vụ đánh bắt hải sản.


Cuối năm 1965, Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, toàn bộ dân cư của đảo đã được sơ tán về đất liền. Từ năm 1965 cho đến 1992, trên đảo chỉ có lực lượng vũ trang (Tiểu đoàn 152, sau này là Trung đoàn 952 Vùng I hải quân) làm nhiệm vụ.


Ngày 9 tháng 12 năm 1992, Chính phủ ra Nghị định số 15-NĐ/CP quy định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng. Ngày 26 tháng 2 năm 1993, Hải Phòng đã tổ chức đưa 62 thanh niên xung phong và một số hộ ngư dân đầu tiên ra sinh sống và làm việc tại đảo. Ngày 27 tháng 7 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 379/TTg phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật tổng thể xây dựng huyện đảo Bạch Long Vĩ.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:07:51 am
* Đảo Cát Bà

Đảo Cát Bà nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25km. Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất nằm trong một quần thể gồm 367 đảo. Về mặt hành chính, đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.


Khu vực đảo có tọa độ 106°52 - 107°07 kinh Đông, 20°42 - 20°54 độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300km2. Dân số 8.400 người (năm 1996). Xung quanh đảo có các đảo nhỏ khác như: Hòn Cát Ông, Hòn Cát Đuối, Hòn Mây, Hòn Quai Xanh, Hòn Tai Kéo,...


Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trong tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long. Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc là Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận có tên là đảo Các Ông. Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của Các Bà.


Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.


Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lỵ huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957, thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn của huyện Cát Bà mới thành lập.


Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70m so với mực nước biển. Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía Đông Nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.


Về khí hậu, Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là: Lượng mưa 1.700 - 1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8. Nhiệt độ trung bình 25-28°C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc). Độ ẩm trung bình 85%. Dao động của thủy triều 3,3 - 3,9m. Độ mặn nước biển từ 0,930% (mùa mưa) đẽn 3,111% (mùa khô).


Đảo Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia với một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp. Đường xuyên đảo Cát Bà dài 27km, có nhiều đèo dốc quanh co, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.


Ở Cát Bà có động Trung Trang nằm cách thị trấn 15km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người. Động Hùng Sơn cách thị trấn 13km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên động Quân Y vì trong chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi. Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang. Cát Bà có các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh, v.v... Đây là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Ở đây có thể xây dựng những "thủy cung" để con người được trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.


Cát Bà có rừng quốc gia được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1986 theo Quyết định số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn.


Vườn quốc gia Cát Bà nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 35 hải lý về phía Đông. Bắc giáp xã Gia Luận, Đông giáp vịnh Hạ Long, tây giáp thị trấn Cát Bà và các xã Xuân Đàm, Trân Châu, Hiền Hào. Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 15.200ha. Trong đó có 9.800ha là rừng núi và 5.400ha là mặt nước biển. Toàn bộ vườn quốc gia Cát Bà là một vùng núi non hiểm trở có độ cao < 500m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50-200m. Đảo Cát Bà chủ yêu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.


Vườn quốc gia Cát Bà gồm có 5 nhóm đất chính: Nhóm đất trên núi đá vôi là loại đất phong hóa màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên đá vôi và sa thạch, tầng đất > 50cm, pH = 6,5-7, phân bố dưới tán rừng, rải rác trong vườn. Nhóm đất đồi feralit màu nâu vàng hoặc nâu nhạt phát triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính. Trong nhóm đất này còn có loại feralit màu trắng xám hay màu nâu vàng phát triển trên diệp thạch sét chua vùng đồi trọc, tầng đất mỏng, cấu tượng xấu, nhiều đá lẫn, đất khô rời rạc. Nhóm đất thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ. Nhóm đất thung lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thường ngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng. Nhóm đất bồi tụ ngập mặn do sản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vùng ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long.


Với rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng,... Cát Bà là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới. Chính vì vậy, ngày 2 tháng 12 năm 2004, Cát Bà được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.


Động, thực vật ở Cát Bà có gần 60 loài được coi là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam như: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao, lá khôi, lát hoa, dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật. Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài động vật đáy cũng cần được bảo vệ.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:08:30 am
* Một số đảo lớn ven bờ ở Thanh Hóa

Vùng biển Thanh Hóa có nhiều đảo nhỏ với điều kiện tự nhiên và tiềm năng tương đối thuận lợi để phát triển các ngành khai thác hải sản và phát triển du lịch, một số đảo lớn ven bờ còn có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh. Đó là hòn Nẹ, hòn Mê, đảo Nghi Sơn...


Hòn Nẹ là tên chỉ hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông. Đảo Nẹ nằm thuộc hải phận tỉnh Thanh Hóa, nó nằm cách đất liền huyện Hậu Lộc khoảng 6km về phía Đông, cách bờ biển Hoằng Hoá khoảng 5km về phía Đông Bắc và cách bờ biển Nga Sơn khoảng 6km về phía Nam. Hòn Nẹ nằm ở tọa độ 19°54'46" độ vĩ Bắc và 106°00'32" độ kinh Đông.


Trên hòn Nẹ có đền thờ Long Vương. Hàng năm vào ngày 15 tháng 5 âm lịch là ngày "Trời đất giao hoà", dân chài ven biển Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa lại tổ chức các đoàn thuyền rồng ra đảo làm lễ hội cầu mưa thuận gió hoà, sóng yên biển lặng.


Cũng tại Hòn Nẹ, vào tháng 7 năm 1964, các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã chọn làm nơi phục kích để đánh đuổi sự khiêu khích và vi phạm chủ quyền của tàu khu trục Maddox trong "sự kiện vịnh Bắc Bộ".

Đảo Nghi Sơn là xã đảo mà trên bản đồ địa lý Việt Nam ghi là Cù Lao Bãi Biện hay Biện Sơn. Hòn đảo này như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển, ôm gọn trong lòng nó một vụng nước vái độ sâu thích hợp làm nơi cho tàu thuyền ẩn náu mỗi khi bão gió. Nghi Sơn cách Sầm Sơn 40km đường biển, cùng nằm trên một vĩ độ với Sầm Sơn nhưng khí hậu mùa hè trong lành mát mẻ hơn nhiều.


Đảo Nghi Sơn có khu thành cổ trên núi Ngọc như thành Đồn, thành Hươu, thành Ngọc. Trong khu thành cổ này, người ta đã phát hiện ra những mũi tên đồng, những mảnh gốm vỡ có tuổi thọ từ rất xa xưa. Dưới chân núi Ngọc, hãy còn giếng Ngọc, ghi dấu ấn một thiên bi tình sử thời Âu Lạc. Tương truyền khi An Dương Vương cùng con gái bị Triệu Đà đuổi đến đây, được thần Kim Quy hiện lên mách bảo, ông đã quay lại chém Mỵ Châu rồi rẽ nước đi ra biển. Trọng Thủy đến giếng Ngọc biết rõ sự tình, bèn nhảy xuống giếng tự tử. Máu Mỵ Châu hoà vào nước biển, trai biển nào ăn được biến thành ngọc trai. Ngọc trai mò được ở vùng biển này, chỉ có rửa nước giẽng Ngọc mới trong sáng. Thành Ngọc vẫn còn lại vòm cổng và hai khẩu súng thần công đặt ở đây từ vương triều Nguyễn do một viên chánh lãnh binh và một toán lính tráng trông coi.


Ngoài ra, ở Nghi Sơn còn có đền thờ Trần Quý phi (còn gọi đền Vua Bà hay đền Rắn). Trần Quý phi là vợ Long Vương. Bà là nhân thần, bảo hộ, che chở cho ngư dân trên Cù Lao Bãi Biện vượt sóng gió trùng khơi, mang về những khoang cá đầy, tạo dựng cuộc sống bình yên giữa mênh mang trời biển luôn luôn ẩn chứa những tai hoạ. Năm 1789, Nguyễn Huệ lấy Biện Sơn làm căn cứ hải quân hợp cùng các đạo quân trên bộ thần tốc kéo ra Thăng Long. Lúc cất quân nhà vua đã đến đền thờ Trần Quý phi khẩn cầu mong được phù hộ. Đại thắng quân Thanh, nhà vua đã quay lại tạ thần. Hoàng đế Khải Định sắc phong bà làm Thượng đẳng thần tối linh. Ngày 22 tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao Trần Quý phi.


Lần theo dấu vết những hiện vật đào được, người ta xác định từ thời Lý trên đảo Nghi Sơn đã có người đến sinh cơ lập nghiệp. Ngót một nghìn năm, người dân đảo muốn vào đất liền phải đi thuyền vài giờ. Năm 1937, một viên quan dòng dõi nhà Nguyễn là Tôn Thất Cơ bị vua Bảo Đại giáng chức đày đến Nghi Sơn. Ông đã dạy dân cắt tóc ngắn, học chữ quốc ngữ, xây giếng nước ăn. Năm 1939, ông đã cùng dân mở đường mòn qua núi vào đất liền. Con đường ấy ngày nay đã được mở rộng thành đường ô tô. Ông Tôn Thất Cơ chết trên đảo trong sự thương tiếc, quý trọng của nhân dân. Hiện nay, đền thờ và mộ chí ông vẫn được chăm nom hương khói và bảo quản chu đáo.


Đảo Hòn Mê thuộc huyện Tĩnh Gia, nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa và cách đất liền 11km. Hòn Mê có diện tích 420ha và xung quanh có hơn 10 đảo nhỏ. Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió trong năm là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Trên đảo hiện nay vẫn chưa có dân định cư. Tuy nhiên, do nằm khá gần đất liền nên hoạt động khai thác hải sản ở đây rất nhộn nhịp.


Theo kết quả điêu tra mới đây, khu vực quanh đảo Hòn Mê đã ghi nhận được 440 loài sinh vật biển thuộc 165 giông bao gồm 133 loài thực vật phù du, 46 loài động vật phù du, 8 loài rong biển, 56 loài san hô, 141 loài động vật đáy và 55 loài cá san hô. Các rạn san hô đang bị suy thoái nghiêm trọng, nhiều nơi chỉ còn lại nhóm san hô dạng khối thuộc giống Porites và có độ phủ không cao, bình quân dưới 30%. Các loài sinh vật biển cần được bảo vệ trước hết là nhóm san hô tạo rạn, tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm và một số loài rong biển. Các khảo sát về hệ sinh vật trên đảo còn thiếu, tuy nhiên qua khảo sát sơ bộ cho thấy rừng mưa nhiệt đới trên đảo được bảo tồn khá tốt với độ phủ cao. Trên đảo có rất nhiều khỉ và một số loài động vật khác như sơn dương, chồn và sóc.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:09:04 am
* Đảo Cồn Cỏ

Đảo Cồn Cỏ (còn gọi là Hòn Cỏ, Con Cọp, Hòn Mệ...) là một đảo ở Biển Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam, cách đất liền từ 13 đến 19 hải lý, nằm án ngữ ở cửa ngõ phía Nam và là một điểm để phân định đường cơ sở trong vịnh Bắc Bộ. Diện tích của đảo khoảng 2,2km2. Về mặt hành chính, đảo Cồn Cỏ đồng thời là huyện Cồn Cỏ.


Cồn Cỏ cách Mũi Lay 27km về phía Đông, có vị trí ở 17°10' vĩ Bắc và 107°21' kinh Đông. Trước khi thành lập huyện đảo Cồn Cỏ, đảo thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh và do Tỉnh đội Quảng Trị quản lý. Huyện Cồn Cỏ được thành lập theo Nghị định số 174/2004/NĐ-CP ngày 1 tháng 10 năm 2004 với diện tích 2,2km2. Dân số: khoảng 400 người. Tỉnh Quảng Trị đã làm lễ ra mắt huyện đảo này ngày 18 tháng 4 năm 2005.


Theo các nhà khảo cổ học với những phát hiện mới nhất, ở khu vực Bến Nghè của đảo đã tìm thấy nhiều công cụ đá của con người thời đá cũ cách đây hàng vạn năm. Trong thời gian của những thế kỷ đầu Công nguyên, Cồn Cỏ đã từng là địa bàn cư dân Chăm Pa đặt chân đến. Trong khoảng thế kỷ XVII - thế kỷ XVIII, trên con đường giao lưu buôn bán, cư dân Đại Việt cũng đã coi Cồn Cỏ là một điểm dừng. Những phát hiện khảo cổ học ở khu vực Bến Tranh trong tháng 7 năm 1994 đã ghi nhận điều đó. Tương truyền rằng, dưới thời nhà Nguyễn, Cồn Cỏ là nơi đày ải của những người có tội. Ở đây, bộ đội đảo khi khơi một giếng cũ (không rõ được đào từ thời nào) đã tình cờ phát hiện một bộ hài cốt cùng với xích cùm bằng sắt.


Cồn Cỏ ẩn chứa trong lòng những tiềm năng du lịch hết sức phong phú và đa dạng. Gần như là hải đảo duy nhất có hệ sinh thái đa dạng lại không quá cách xa bờ, Cồn Cỏ hoàn toàn đủ điều kiện để hình thành du lịch biển, đảo. Trải qua hàng thế kỷ hoạt động của núi lửa giữa biển khơi đã tạo ra một Cồn Cỏ có giá trị về địa chất và sinh thái cảnh quan như một bảo tàng tự nhiên độc đáo với các thềm đá bazan kỳ vĩ, các bãi tắm nhỏ hoang sơ được tạo thành từ vụn cát, san hô, sò điệp... Nước biển ở đây rất trong và ấm (ít khi xuống dưới 21°) đã ban cho Cồn Cỏ những mùa tắm kéo dài. Rừng trên đảo cũng là hệ sinh thái khá hiếm của đảo núi lửa ở Việt Nam... Đó là loại rừng nhiệt đới với ba tầng cây cỏ và dây leo làm cho Cồn Cỏ thực sự là hòn đảo xanh với thảm thực vật phong phú. ở đây có những khu rừng xanh tốt trên thềm san hô cổ - một hệ sinh thái đặc biệt trên nền đất khô.


Cồn Cỏ là hòn đảo nằm trong chuỗi địa danh lịch sử nổi tiếng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như hàng rào điện tử Mắc Namara, địa đạo Vịnh Mốc, cầu Hiền Lương, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Đường 9... Cồn Cỏ là đảo Anh hùng nổi tiếng của thời đánh Mỹ đã từng được Bác Hồ gửi thư khen, được mệnh danh là chiến hạm không bao giờ đắm trên Biển Đông, vẫn còn đây những tên đất, tên bến, tên người, những di tích trận địa, chòi canh, câu hát "Cồn Cỏ có con cá đua là con cua đá"... của quân dân ta một thời máu lửa.


Đảo Cồn Cỏ có nhiều tiềm năng phát triển dịch vụ - du lịch - lâm - nông - thủy sản; trong đó dịch vụ - du lịch là mũi nhọn. Khi được đầu tư phát triển chắc chắn Cồn Cỏ sẽ nhuận sắc, lên hương trở thành một điểm du lịch kỳ thú và hấp dẫn. Những tiềm năng sẽ trở thành hiện thực sống động để Cồn Cỏ xứng danh là hòn đảo Thanh niên - đảo du lịch xinh đẹp.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:10:04 am
* Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm là một cụm đảo xã đảo Tân Hiệp, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15km. Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.


Cù Lao Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An. Bản đồ Tây phương xưa thường ghi Cù Lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam Ấn (Autronesian) "Pulau Champa". Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm.


Cù Lao Chàm có địa hình đồi núi và thảm thực vật đã được tái tạo xanh tốt, nhiều loài quý hiếm. Các bãi biển cát vàng sạch mịn với những khối đá làm nên nhiều cảnh quẤn Độc đáo. Phía Đông của đảo sườn núi dốc đứng, bên dưới sóng biển mạnh mẽ tạo nên cảnh quan hùng vĩ. Các rạn san hô ở khu vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ.


Tháng 10 năm 2003, Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo, là một trong 15 khu bảo tồn biển của Việt Nam vào thời điểm 2007.

Cù Lao Chàm hiện có 135 loài san hô trong đó có 6 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở vùng biển Việt Nam, 500 thảm rong và cỏ biển, 202 loài cá, 4 loài tôm hùm và 84 loài nhuyễn thể. Nơi đây còn là nơi tụ cư của chim yến, tổ của chúng gọi là yến sào là một món ăn quý, bổ dưỡng chỉ dành cho vua chúa. Cù Lao Chàm còn có hang Tò Vò, hang Khô - nơi yến làm tổ trên vách đá cheo leo.


Cù Lao Chàm là một địa điểm du lịch có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên phong phú. Đến Cù Lao Chàm, du khách có thể tham quan phòng trưng bày "Văn hoá thiên nhiên, con người Cù Lao Chàm - báu vật từ đáy biển"; tham quan chùa Hải Tạng - ngôi chùa tồn tại đã gần 300 năm trên đảo; tham quan giếng cổ, Lăng Ông hay đi lặn san hô (lặn nông), xem cá nhiều màu sắc ở bãi Bấc, Hòn Dài; tham gia vượt biển tham quan làng chài bãi Hương, hoặc xuổng tắm biển ở bãi Ông hoặc bãi Chồng. Cũng trong dịp này, du khách có thể chọn các loại hình thể thao biển như lướt ván, dù bay, chèo thuyền kayak, thả diều, đua thuyền..., thưởng thức các món đặc sản tươi rói vừa đánh bắt từ biển lên.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:11:10 am
* Huyện đảo Lý Sơn

Đảo Lý Sơn, còn gọi là Cù Lao Ré, là huyện đảo được tách ra từ huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu từ khi đó. Huyện đảo Lý Sơn có diện tích tự nhiên khoảng trên 9,9km2, gồm đảo Lớn và đảo Bé, dân số hiện nay khoảng trên 20.400 người. Tổng chiều dài đường bờ biển trên 25km. Nằm ở vị trí tiền tiêu của Tổ quốc nên đảo Lý Sơn có vị trí rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển, đảo, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ đất liền.


Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa đã tắt từ thời tiền sử. Người dân trên đảo sống nhờ vào đánh bắt hải sản và trồng tỏi. Đảo Lý Sơn có một thắng cảnh thiên nhiên độc đáo với năm ngọn núi nhô cao giữa vùng trời biển bao la, đứng trên một trong số các đỉnh núi này nhìn xuống xung quanh đểu là trời biển bao la, thu tầm ngắm lại một chút là những cánh đồng tỏi hành xanh mơn mởn như một bức thủy mặc. Trên đỉnh của các ngọn núi là những thảm rừng, gần dưới chân là nhà cửa, đường sá và những cánh đồng xanh tươi bốn mùa. Bờ biển Lý Sơn rất đẹp, ở đây không có bãi biển thích hợp cho tắm, nhưng là nơi rất lý tưởng cho những ai thích ngao du dưới đáy biển, quan sát cá bơi lội, san hô, bắt ốc... Ven bờ biển từ chùa Hang đến hang Câu là một cảnh tượng hùng vĩ; một bên là vách núi sừng sững, một bên là trời biển mênh mông.


Truyền thuyết dân tộc Kor kể rằng, đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi Trà Bồng trôi dạt về phía Biển Đông sau trận giao tranh dữ dội của Thần Nước và người anh hùng Doang Đác Tố, chủ làng Tali Talok.

Thật ra, theo các nhà địa chất, hòn đảo Lý Sơn được hình thành cách đây vài triệu năm do vận động phun trào nham thạch của các núi lửa phủ lên nền những nếp gấp tạo sơn đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏi mặt nước biển. Chính các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ sở cho việc hình thành nhiều hang động, cổng đá do tác động xâm thực của nước biển trong thời kỳ biển tiến ở khu vực hòn Thới Lới, nơi vận động tạo sơn theo kiểu xếp nếp đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cả trong hệ thống đảo Lý Sơn. Còn vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hình dạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạo điều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ.


Lý Sơn có tiềm năng văn hóa vô cùng phong phú, là một bảo tàng sống động của kho tàng truyền thuyết, truyện kể, dân ca, lễ hội đua thuyền tứ linh đầu xuân, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2 và tháng 3 (âm lịch), các tín ngưỡng dân gian theo mùa, tục thờ cá Ông... Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu quan trọng để chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam như sắc chỉ của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến đội Hoàng Sa mà tộc họ Đặng đã giữ hơn 170 năm qua. Tộc họ Đặng cũng đã làm lễ dâng tài liệu quý này cho sở văn hóa tỉnh. Đến đảo Lý Sơn, chúng ta còn được nghe nhiều câu chuyện kể về Hải đội Hoàng Sa, về những người con đất đảo anh hùng một đi không trở lại để bảo vệ Hoàng Sa thân yêu của Tổ quốc.


Chùa Hang là hang động lớn nhất trong hệ thống hang động ở đảo Lý Sơn. Hang đá này được tạo thành từ một vách đá dựng đứng, cao gần 20m ở ngọn núi Thới Lới, do bị nước biển xâm thực trong thời kỳ biển tiến. Hang có bề ngang 30m ăn sâu trên 25m vào núi theo kiểu hàm ếch ngoài cửa cao 15m, thấp dần vào phía trong, ở đó có những kỷ đá, giường đá rất đẹp. Trước cửa hang là những cây bàng phễu cổ thụ, cành lá sum suê. Chùa Hang là nơi thờ Phật nên còn có tên chữ là Thiên Khổng Thạch Tự, nhưng nơi đây cũng kết hợp thờ 7 vị tiền hiền làng Lý Hải.


Đình làng và nhà thờ tiền hiền Lý Hải tọa lạc tại thôn Đông - xã Lý Hải, được xây dựng vào năm 1820 và trùng tu 4 lần, nhưng vẫn còn nguyên những nét kiến trúc chủ đạo ban đầu. Đây là ngôi đình làng cổ nhất và cũng là nơi duy nhất các lễ hội, sinh hoạt văn hóa (tế xuân thu nhị kỳ, tế tiền hiền, đua thuyền, vật,...) được duy trì liên tục cho đến nay ở Quảng Ngãi.


Ngoài chùa Hang, đình làng Lý Hải, Lý Sơn còn có hang Câu, miếu Bà Chúa Ngọc, Âm Linh Tự, dinh Bà Roi, giếng vua; những hiện vật bằng đá, gốm sứ Trung Hoa, Chăm, Sa Huỳnh Đại Việt. Đặc biệt, trong lòng đất Lý Sơn còn ẩn chứa nhiều di chỉ văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm mà các hiện vật gồm xương động vật, đồ gốm, hài cốt người cổ có niên đại cách chúng ta khoảng 2 - 3 nghìn năm.


Lễ khao lề thế lính là một lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng trăm năm nay. Thời gian đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, hàng năm người của đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này gọi là "thế lính". Lễ khao lề thế lính là một lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa hay nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về.


Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18, 19, 20 tháng 4 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn không chỉ của huyện mà còn của cả tỉnh Quảng Ngãi. Với hình thức tổ chức rất công phu nhiều công đoạn, song đặc biệt hơn cả là hình thức thả thuyền giấy ra biển ngụ ý mãi duy trì việc ra biển như trước và có lẽ vì thế mà lễ hội có tên là khao lề thế lính. Vào những ngày này, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ Hải đội Hoàng Sa (dân nơi đây gọi là Mộ gió).


Ngày nay, lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam, du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.


Lý Sơn nằm trong hệ thống các đảo tiền tiêu về phía biển, có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa phải gắn với yêu cầu về quốc phòng, trong đó đặc biệt lưu ý các tư liệu liên quan đến chủ quyền của Tổ quốc đối với không chỉ đảo Lý Sơn mà cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Để khơi dậy và phát triển những tiềm năng của đảo, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, sự nỗ lực cố gắng của nhân dân địa phương, nhiều công trình trọng điểm trên đảo đã và đang được xây dựng, đặc biệt là việc xây dựng tuyến đường phía Đông Nam đảo Lý Sơn. Công trình này không những có ý nghĩa về chính trị, quốc phòng - an ninh mà còn tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện Lý Sơn phát triển, đáp ứng khát vọng bao đời nay của nhân dân trên đảo.


Khai thác hải sản là một trong hai nghề chính và là thế mạnh của nhân dân đảo Lý Sơn. Hiện nay cả đảo có khoảng trên 400 tàu thuyền lớn bé chuyên hành nghề khai thác và dịch vụ thu mua hải sản với hơn 3.500 lao động tham gia. Cùng với làm biển, nghề nông trở thành nghề chính của bà con. Nơi đây được mệnh danh là "Vương quốc tỏi", tỏi ở đây thơm ngon, có tác dụng chữa bệnh cao, hương vị rất đặc trưng. Ngày 31 tháng 3 năm 2009, tỏi và hành của địa phương đã chính thức mang thương hiệu Lý Sơn. Đây là điều kiện thuận lợi để tăng giá trị kinh tế trong sản xuất kinh doanh tỏi, hành, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trên đảo.


Tháng 7 năm 2009, trên đảo Lý Sơn đang xây dựng tượng đài Hải đội Hoàng Sa. Tượng đài được thiết kê dựa trên tư liệu chính sử về Hải đội Hoàng Sa và lời kể lại của nhân dân ở huyện Lý Sơn. Tượng đài chọn ba nhân vật "tam nhân đồng hành" giong buồm ra Biển Đông là thể hiện sự vững chắc, sức mạnh trước sóng gió.


Nhân vật trung tâm của cụm tượng đài là vị cai đội chỉ huy đứng chính diện, tay phải chỉ ra phía trước Biển Đông thể hiện sự khẳng định chủ quyền biển và hải đảo của Tổ quốc, tay trái đặt trên tấm thẻ bài có khắc dòng chữ "Vạn lý Hoàng Sa" và "Vạn lý Ba Bình" với dòng lạc khoản ghi "Minh Mạng thứ 17 - năm Bính Thân 1836".


Đứng cạnh vị cai đội là hai dân binh: một dân binh tay trái cầm giáo và một dân binh vác lưới đồng hành cùng vị cai đội giong buồm ra Biển Đông thực thi nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Phía sau cụm tượng là dòng chữ do Bộ Công của triều đình dâng lên vua Minh Mạng phê chuẩn khẳng định quần đảo Hoàng Sa là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của đất nước, với dòng chữ "Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu".


Ba nhân vật của tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải cao 4,5m và năm thẻ bài (mỗi thẻ bài cao hơn 2,2m), chất liệu làm bằng đá xanh Thanh Hóa có tổng trọng lượng gần 40 tấn. Cụm tượng đài nằm trong dự án bảo tồn di tích lịch sử Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:12:27 am
* Đảo Phú Quý

Đảo Phú Quý (còn gọi là Cù Lao Thu hay Cù Lao Khoai Xứ) là một đảo nhỏ với diện tích 16km2 thuộc huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam, cách quần đảo Trường Sa 540km về phía Tây Bắc, cách thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phía Nam), cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc) và cách thành phố Vũng Tàu 200km (về phía Đông). Ngoài đảo chính, chung quanh đảo Phú Quý còn có Hòn Đá Cao hướng Tây - Bắc, Hòn Đỏ hướng Đông - Bắc và Hòn Tranh, Hòn Hải hướng Tây Nam.


Thời xa xưa, đảo Phú Quý ngoài tên Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu còn có tên gọi: Cỗ Long, Thuận Tịnh. Từ niên hiệu trị thứ 4 (1844), vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể cho triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận. Hiện nay, Phú Quý là một huyện đảo xa của tỉnh Bình Thuận.


Là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo lập cuộc sống từ rất sớm. Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những mộ vò lớn. Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người "Thượng" sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển. Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quý là nơi hội tụ của nhiều luồng dân di cư từ lục địa ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó người Kinh đóng vai trò chủ thể.


Cùng với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là khi kỹ thuật đóng thuyền buồm phát triển mạnh, nhiều chiếc thuyền vượt được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ lục địa đặt chân lên đảo. Cùng với những phần mộ còn sót lại trên đảo, sự tích công chúa Bàng Tranh chứng tỏ người Chăm đã có mặt ở đảo này. Sự tích kể rằng: Bàng Tranh là một công chúa xinh đẹp vì chống lệnh vua cha bị kết tội phản nghịch nên bị đày ra đảo tự sinh sống.


Mặt khác, trong thời kỳ phong kiến, nhiều người dân do không chịu nổi sự hà khắc của chế độ nên đã tìm đường ra đảo lập kế sinh nhai. Người Kinh có mặt ở đảo cũng từ rất sớm. Lúc bấy giờ, vào một thời điểm mà triều đại phong kiến Việt Nam đang trượt nhanh trên con đường mục nát, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi. Ở các tỉnh miền Trung lúc bấy giờ, những người cùng khổ hoặc phải bán vợ đợ con hoặc phải phiêu dạt đi khắp nơi để kiếm sông. Và Phú Quý là một điểm đến an lành mà họ đã tình cờ bắt gặp. Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1672), rất nhiều ngư dân thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung, hoặc chạy giặc lánh nạn, hoặc đi tìm nguồn cá, thuyền của họ vượt sóng trùng dương đã gặp phải những trận cuồng phong khốc liệt và xiêu bạt cập đảo Phú Quý. Cùng với người Kinh, một số người Hoa cũng hoà nhập vào cộng đồng cư dân ở Phú Quý. Vào thế kỷ XVII, một số quan lại nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, đã phải trốn ra nước ngoài. Từng đoàn thuyền vượt biển tiến về phía Nam, trong số đó có hàng chục thuyền đã quyết định dừng chân lập nghiệp ở Phú Quý. Người Hoa đến đây sống dựa vào các ngành nghề như dệt tơ lụa, buôn bán. Quá trình phát triển về sau, một số người do làm ăn trở nên giàu có đã lần lượt tìm vào các thành phố lớn ở đất liền, chỉ một số ít còn lại trên đảo.


Vào thời Lê Hiển Tông - Cảnh Hưng (1740 - 1786), nhà Lê đã tổ chức trên đảo thành từng hộ bạch bố đến đội bạch bố rồi dần dần trở thành ấp và làng. Tuy số dân lúc bấy giờ chưa đông đúc nhưng Phú Quý có đến 14 làng và 1 ấp.


Mỗi làng được lập trên cơ sờ một nhóm nhỏ ngư dân, đôi lúc chỉ có từ 10 đến 12 tránh đinh và thường mang những tên cũ của địa phương trước khi đến đây lập nghiệp: Thoại Hải, Thế Hanh, Thế An, Hội Thiên, Hội Hưng, Hương Lăng, Mỹ Xuyên, Phú Ninh, An Hoà, Hải Châu, Thượng Hải, Triều Dương, Hội An, Mỹ Khê và ấp Quý Thạnh. Từ niên hiệu Đồng Khánh - Nguyễn Cảnh Tông năm thứ 1 (1886), toàn đảo được tổ chức thành 11 làng và đến năm 1930 do sự sáp nhập hai làng Phú Ninh vào Phú Mỹ và Hương Lăng vào Quý Thạnh nên chỉ còn lại 9 làng: Long Hải, Phú Mỹ, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Quý Thạnh, Triều Dương, Mỹ Khê và Hội An. Hiện nay, đảo được chia làm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh.


Trên đảo Phú Quý có chùa Linh Quang là di tích lịch sử cấp quốc gia tọa lạc trên một đồi cao tại thôn Mỹ Khê, xã Tam Thanh. Chùa được xây dựng vào thời Cảnh Hưng thứ 8 đến nay đã có hơn 250 tuổi. Chùa còn lưu giữ các sắc phong của triều Nguyễn ban. Vạn An Thạnh nằm ở xã Tam Thanh thờ "ông Nam Hải" ở đây cũng có một số sắc phong mà các vua triều Nguyễn ban tặng. Đền thờ Bà Chúa Ngọc và vạn Thương Hải là 2 di tích lịch sử cấp tỉnh vừa mới được công nhận có 5 sắc phong thần cho Bà Chúa Ngọc và còn một số hiện vật tế tự quý như: chiếc đỉnh đồng, chân đèn và chuông đồng, ba sắc phong cho Thần Nam Hải và 2 sắc phong thần cho Bắc Trấn đô đốc Bùi Quận Công. Đình làng Triều Dương còn lưu giữ nhiều di vật quý giá như: các câu đối, hoành phi viết bằng chữ Hán Nôm; 5 sắc phong của các vua triều Nguyễn phong tặng cho Thành Hoàng bổn cảnh. Đây là di tích lịch sử cấp tỉnh.


Vào khoảng tháng 10 năm 1941, một con cá "ông" trôi dạt vào đảo. Theo tài liệu của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Thuận, đây là con cá voi đầu tiên trôi dạt vào đảo được người dân mai táng trọng thể, từ đó người dân Triều Dương lấy ngày 15 tháng 1 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ cá ông, gọi là ngày giỗ cố.


Đảo Phú Quý trong một thời gian dài đã sống trong điều kiện khép kín tự cung tự cấp với những hoạt động kinh tế như trồng trọt, đánh bắt hải sản, một số ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu... Trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo.


Xung quanh đảo Phú Quý có các đảo lân cận như: Hòn Tranh, Hòn Đen, Hòn Giữa, Hòn Hải, Hòn Đồ Lớn...

Hòn Tranh là đảo cách cảng Phú Quý khoảng 600m, nằm phía Đông Nam đảo Phú Quý vâi diện tích gần 40ha. Trước đây Hòn Tranh là một hoang đảo chủ yếu là cỏ tranh, sau được nhân dân khai phá trồng hoa màu, hiện nay đảo này đang được trồng rừng phục hồi môi trường. Tuy chưa có dân cư sinh sống nhưng trên đảo có trạm ra-đa quan sát biển của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam.


Hòn Đen là đảo nằm ở phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m. Đảo này gồm toàn đá mẹ bazan chưa phong hóa, vào những lúc nước ròng có thể lội bộ giữa Phú Quý và Hòn Đen. Hòn Trứng là đảo nằm phía Tây Bắc, cách Phú Quý 3km. Đây là điểm tựa của nhiều loại ghe thuyền neo đậu để tránh bão gió.


Hòn Giữa là một dãy gành đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, nằm vắt ngang như một nhịp cầu nối liền Hòn Đen và Hòn Đỏ. Hòn Đỏ nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý. Đảo có tên là Hòn Đỏ vì ở đây toàn là đá màu đỏ.

Hòn Hải cách đảo Phú Quý 70km. Đảo có hình dạng là một khối đá vuông cạnh mọc thẳng đứng. Tại đây là đường cơ sở Ao để tính lãnh hải của Việt Nam trên vùng biển Đông Nam.

Hòn Đồ Lớn nằm phía Đông Nam và cách Phú Quý 60km. Đây là hòn đảo mới hình thành năm 1923 do hoạt động phun trào dưới lòng Biển Đông. Lúc đầu có dạng hình tròn với đường kính 40m, trên mặt có cát trắng và xung quanh có cạnh bậc thang thoai thoải.


Từ rất lâu Phú Quý nổi tiếng với các loại hải sản quý hiếm. Năm 1935, thương lái Phan Thiết, Trung, Nam Bộ đi ghe bầu ra Phú Quý mua cá khô, tôm hùm, các loại ốc... bán sang Cao Miên. Từ thập kỷ 90 thế kỷ XX, với sự nỗ lực của chính quyền, nhân dân địa phương cùng sự hỗ trợ mạnh mẽ của tỉnh và trung ương, Phú Quý thật sự đổi thay. Nghề đánh bắt hải sản với các phương tiện đánh bắt hiệu quả đã làm tăng thu nhập của người dân.


Ngoài sự phát triển về ngành hải sản mũi nhọn, Phú Quý con được biết đến là một quần đảo có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái biển. Là một huyện đảo có khí hậu trong lành, biển ở xung quanh, nước trong xanh thấy rõ địa hình, địa vật dưới độ sâu 5 - 7m bằng mắt thường. Đặc biệt quanh đảo có một thảm thực vật rạn san hô rất đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại. Phú Quý có nhiều bãi tắm, như vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa, bãi Nhỏ Gành Hang, bãi dọc cái doi Mộ Thầy, nhất là bãi vịnh Triều Dương rất rộng, toàn là cát trắng mịn không có đá lộ đầu, trên bờ có rặng dừa và rừng dương rợp bóng, lại có nhiều nước ngọt. Không chỉ có phong cảnh đẹp mà con người Phú Quý lại cần cù, chất phác và hiếu khách.


Với điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, Phú Quý là điểm đến tham quan du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển, du lịch thể thao, câu cá trên biển và du lịch văn hóa lịch sử. Chương trình hoạt động du lịch Phú Quý gắn với chương trình du lịch biển Trường Sa; đồng thời gắn liền với các tour du lịch của toàn tỉnh Bình Thuận và xem việc tham quan du lịch nghỉ dưỡng tại Phú Quý là một bộ phận trong các chương trình tham quan du lịch của các đoàn khách trong và ngoài nước.


Những năm vừa qua, trung ương và tỉnh Bình Thuận đã quan tâm đầu tư kinh phí để xây dựng các công trình dân sinh kinh tế và thực hiện một số cơ chế chính sách thu hút đầu tư phát triển khu kinh tế Phú Quý. Tuy nhiên tình hình kinh tế Phú Quý những năm qua chưa được quan tâm đầu tư xây dựng, nên du lịch Phú Quý vẫn còn ở dạng tiềm năng. Để phát huy tiềm năng kinh tế du lịch biển đảo trong thời gian tới cần có nhiều chính sách thông thoáng thu hút đầu tư, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, cung ứng điện, nước, xử lý nước thải, vệ sinh môi trường đảm bảo thông tin liên lạc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về định hướng kinh tế du lịch, đi đối với phát triển các ngành nghề khác, nhằm tạo điều kiện phục vụ cho sự phát triển kinh tế du lịch.


Với tiềm năng kinh tế sẵn có, du lịch Phú Quý nếu được đánh thức và khai thác đúng hướng, nhất định con đường xây dựng và phát triển kinh tế du lịch Phú Quý sẽ có bước đột phá và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trong những năm tới.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:13:10 am
* Hòn Tre, Hòn Tằm

Hòn Tre là đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 3.000ha, nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5km về phía Đông, cách cảng cầu Đá 3,5km. Đây là nơi hội tụ tất cả những lợi thế vẽ mặt tự nhiên và xã hội của thành phố Nha Trang nói riêng và tỉnh Khánh Hoà nói chung. Đảo Hòn Tre có vị trí tương đối biệt lập, với bãi tắm thiên nhiên đẹp, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển.


Cấu tạo địa chất chỉ có đá chồng lên đá để tạo thành đảo Hòn Tre với đỉnh cao 395m. Những mảng đất ít ỏi kẹt giữa khe, hốc, hang đá trên đảo được người dân trồng xoài, mãng cầu, mít; phần trên cao gần đỉnh là rừng nguyên sinh ít cây cổ thụ, nhiều bụi lùm và dây leo; có nhiều khỉ, sóc, ít kỳ đà và trăn. Trên đảo có nhiều khe suối nhỏ là nguồn cung cấp nước ngọt sinh hoạt cho người dân Hòn Tre.


Ngoại trừ khu trung tâm chiếm khoảng 3km sát mép biển phía Đông, 8km còn lại của Hòn Tre còn rất hoang sơ. Vì cấu tạo nhiều đá tảng nên dưới chân núi giáp biển chỉ có đá nhẵn nhụi bởi được sóng biển gột rửa qua bao đời nay. Trên đảo có những công trình tôn giáo như miếu Bà Chúa Xứ, dinh Ông Nam Hải, miếu Bà Thượng, tịnh xá Phước Hải. Những công trình tôn giáo ở Hòn Tre đậm "bản sắc biển khơi", dinh Ông Nam Hải có thờ bộ xương "ông" cá voi dài 9,4m, ngang 3,8m nặng gần 5 tấn. Ngoài Tết cổ truyền, đảo nhỏ này mỗi năm có 4 lễ hội theo âm lịch người về dự rất đông: Lễ hội vía Bà Chúa Xứ vào ngày rằm tháng 2, Lễ vía Ông Nam Hải ngày 26 tháng 4, Lễ cúng rằm tháng 7 ở tịnh xá Phước Hải và ngày 9 tháng 9 Lễ vía bà Thượng Động.


Ngoài những công trình tôn giáo, khi đi vòng quanh đảo còn có 3 địa danh đều nằm sát mép biển, được người dân đảo rất yêu thích: Đuôi Hà Bá, Bãi Chén và Động Dừa. Bãi Chén có phong cảnh hữu tình, với vô số hòn đá lớn nhỏ giống như những chiếc chén úp kéo dài khoảng 2km. Bãi Chén không chỉ có phong cảnh đẹp hoang sơ, mà còn là nơi tắm lý tưởng nhất Hòn Tre vì đây là nơi hiếm hoi có ít cát. Hiện nay, theo quy hoạch, đảo bao gồm 2 khu vực chức năng:


Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn bao gồm: Khu du lịch Con sẻ tre, Vinpearl resort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái, sân gôn Vinpearl. Giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpearl.


Khu Đầm Bấy bao gồm khu vực du lịch thế giới biển (dự án hiện có) và Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy (dự án đế xuất). Đây sẽ là một khu làng du lịch sinh thái hoàn chỉnh với các khu nghỉ dưỡng, trung tâm văn hóa - thương mại và đặc biệt các khu dân cư du lịch sinh thái được phát triển từ các khu dân cư hiện có tại Đầm Bấy và Bích Đầm. Tiêu chuẩn tiện nghi của khu Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy ở mức thấp hơn so với quần thể các dự án du lịch cao cấp tại khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn, nhưng có nét đặc trưng riêng. Đó là hoạt động du lịch có sự tham gia tích cực của các hộ dân cư một cách có tổ chức dưới hình thức các khu dân cư du lịch sinh thái.


Mô hình quy hoạch đề xuất sẽ kiểm soát được sự phát triển tự phát của các khu dân cư, giữ gìn cảnh quan tự nhiên và đảm bảo vệ sinh môi trường; nâng cao đời sống cho cư dân bằng nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái; góp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sông cho cư dân thông qua việc tham gia vào hoạt động du lịch một cách có tổ chức; tạo ra một mô hình du lịch mang sắc thái riêng, thân thiện với môi trường tự nhiên và xã hội hiện có.


Hòn Tằm (đảo Thủy Kim Sơn) là một đảo rộng hơn 110ha, cách thành phố Nha Trang 7km về phía Đông Nam. Tên gọi Hòn Tằm cũng mang ý nghĩa tượng hình do người dân chài thuở xa xưa đặt vì hòn đảo trông giống như một con tằm màu xanh lục, đầu hướng về phía Đông. Từ Hòn Tằm, có thể nhìn thấy cả thành phố Nha Trang về hướng Bắc và bán đảo Cam Ranh về phía Nam.


Cách đây 10 năm, Hòn Tằm là một hoang đảo, còn bây giờ nơi đây trở thành một khu du lịch sinh thái biển hấp dẫn. Dự án đầu tư khu du lịch đảo được xây dựng trên tổng diện tích hơn 10ha, diện tích khai thác mặt nước khoảng 57,5ha, với 2 khu liên hoàn là khu A và khu B. Hòn Tằm có các sân chơi: bóng đá, bóng chuyền trên bãi cát. Ngoài việc tham quan, tắm biến, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ, du khách còn có thể tham gia các loại hình giải trí hấp dẫn như leo núi, thám hiểm rừng, chèo thuyền, bơi thuyền buồm, câu cá, săn bắt dưới nước hoặc thể hiện lòng can đảm bằng các môn thể thao cảm giác mạnh như bay dù, lướt ván, mô tô nước... và đặc biệt khám phá thế giới dưới đáy đại dương bằng các tour lặn biển. Nằm về phía Tây Nam Hòn Tằm là bãi Thiên Nga rất hoang sơ với thảm cát óng mịn và những gộc đá. Nơi đây đang được đầu tư để xây dựng đường leo núi, đường đua xe đạp địa hình, nuôi một số loài chim, thú và tổ chức cho du khách săn bắn...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:14:15 am
* Xã đảo Long Sơn

Long Sơn ]à một xã đảo trực thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là một xã đảo duy nhất trong cả nước trực thuộc thành phố. Về vị trí địa lý: phía Đông giáp sông Dinh, phía Nam giáp xã Tân Hải, huyện Tân Thành, phía Bắc và phía Tây giáp biển.


Long Sơn có diện tích 92km2, trong đó có đến 54km2 là đất liền, còn lại là đất ngập mặn. Xã được bao bọc bơi kênh rạch, sông biển. Xã đảo Long Sơn gồm 1 đảo chính nằm men theo triển của núi Nứa, đoạn cuối của dãy núi Phước Hoà đâm ra biển và nhiều đảo nhỏ. Xã gồm 11 thôn với tổng diện tích đất là 92km2, trong đó, diện tích đất đã được sử dụng tính đến năm 2003 là 57km2. Toàn xã có 13.558 nhân khẩu.


Long Sơn vốn nổi tiếng với di tích Nhà Lớn, nơi đã được công nhận là di tích văn hóa lịch sử vì những công trình kiến trúc cỗ và những phong tục tập quán xưa cũ khá độc đáo vẫn còn được người dân ở đây lưu giữ lại. Nhà Lớn Long Sơn, hay dân gian còn gọi là đền Ông Trần là một quần thể kiến trúc nghệ thuật theo lối cổ bề thế, uy nghi đã thu hút khá đông khách du lịch đến tham quan. Nhà Lớn còn là nơi tập trung sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của tín đồ tin theo đạo Ông Trần. Khu Nhà Lớn là một tập hợp quần thể kiến trúc khép kín với nhiều công trình như: dãy nhà phố, chợ, lâu đài, nhà máy đèn... Không chỉ nổi tiếng với những công trình kiến trúc, đạo Ông Trần còn nổi tiếng với những phong tục tập quán khá đặc sắc và mang biểu trưng của nhiều đạo giáo khác nhau: đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Nho, đạo thờ ông bà tổ tiên... Đặc biệt, tín ngưỡng đạo Ông Trần không có kinh kệ, chuông mõ, cũng không có ăn chay hay kiêng kị gì, chỉ có lời dạy của Ông Trần được truyền khẩu trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác.


Đạo Ông Trần có tục lệ tổ chức ma chay, cưới hỏi, lễ lạt đơn giản và tiết kiệm. Xưa kia, việc cưới xin cho người trong đảo thường được tổ chức vào ngày 30, mồng 1 và 15, 16 hàng tháng, không tính ngày giờ, không đặt ra những lễ nghi tục lệ phiền phức; khi tổ chức chỉ nấu xôi chè cúng ông bà, không cỗ bàn linh đình. Đám tang cũng đơn giản, người chết bó chiếu đặt trong một quan chung bằng tre, gỗ sơn đỏ và khiêng đi chôn ngay trong ngày, có kéo dài lắm cũng không quá 24 tiếng; không chôn theo hàng lối, không bia mộ nhân thân và xả tang ngay tại huyệt.


Bên cạnh di tích Nhà Lớn, hiện nay, xã đảo Long Sơn còn được nhiều du khách yêu thích ẩm thực biết đến với đặc sản hào. Trải dài hàng chục ki-lô-mét tuyến sông Dinh nằm bao quanh xã đảo là những bè hào nối tiếp nhau. Vài năm trở lại đây, cùng với con tôm, bãi muối thì nghề nuôi hào đang đem lại nguồn thu nhập khá lớn, góp phần làm thay đổi cuộc sống cho người dân xã đảo. Không những vậy, để phát huy thế mạnh của xã đảo, gần đây, nhiều khu du lịch đã được xây dựng nhằm khai thác những tiềm năng của xã đảo bằng hình thức kết hợp giữa du lịch sinh thái, ẩm thực với du lịch về nguồn. Khi kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân trên đảo ngày càng được cải thiện, các mặt y tế, giáo dục và sinh hoạt văn hoá cũng được nâng lên.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 22 Tháng Bảy, 2022, 07:15:05 am
* Côn Đảo

Côn Đảo là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Côn Đảo hay Côn Sơn là tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Sử Việt trước thế kỷ XX thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor. Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai từ chữ "Pulau Kundur" nghĩa là "Hòn Bí". Người Âu châu phiên âm là "Poulo Condor", sử Việt thì gọi là "Đảo Côn Lôn" có thể cũng từ "Kundur" mà ra. Riêng tên tiêng Miên của đảo là "Koh Tralach".


Côn Đảo có kinh độ 106°36 Đông và vĩ độ 8°36 Bắc. Khu vực đảo Côn Đảo gồm 16 hòn đảo với tổng diện tích 76km2, bao gồm: Côn Đảo, Hòn Côn Lôn Nhỏ, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Bông Lan, Hòn Vung, Hòn Ngọc, Hòn Trứng, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài Nhỏ, Hòn Trác Lân, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Anh, Hòn Em.


Côn Đảo nằm ở vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu - Á, vì vậy Côn Đảo được người phương Tây biết đến rất sớm. Năm 1294, đoàn thuyền của nhà thám hiểm người Ý Marco Polo, gồm 14 chiếc trên đường từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão nhấn chìm mất 8 chiếc, số còn lại đã dạt vào trú tại Côn Đảo. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI có rất nhiều đoàn du hành của châu Âu ghé qua thăm Côn Đảo. Cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, các nhà tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu để ý đến các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với dụng ý xâm chiếm Côn Đảo.


Năm 1702, năm thứ 12 đời chúa Nguyễn Phúc Chu, Công ty Đông An của Anh đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài và cột cờ. Sau 3 năm, ngày 3 tháng 2 năm 1705 xảy ra cuộc nổi dậy của người Mã Lai Macassar (lính đánh thuê của chính quyền Anh), đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo. Ngày 28 tháng 11 năm 1783, Bá Đa Lộc trong chuyến đem hoàng tử Cảnh và vương ấn của chúa Nguyễn Ánh về Pháp, tự đứng ra đại diện cho Nguyễn Ánh để ký với Bá tước De Mantmarin, đại diện cho vua Louis XVI của Pháp, Hiệp ước Versailles. Đó là văn kiện đầu tiên của nhà Nguyễn nhượng cho Pháp chủ quyền cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn. Để đổi lại Pháp giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1.200 lính, 200 pháo thủ, 250 lính Phi để chống lại nhà Tây Sơn. Tương truyền, trong đợt thứ 3 bị Tây Sơn truy sát, Nguyễn Ánh đã trốn ra Côn Lôn, sống ẩn dật mấy tháng trời ở đây. Vì thế, hiện nay ở đảo Côn Sơn có một ngọn núi cao gọi là núi Chúa; đền thờ thứ phi của Nguyễn Ánh là Hoàng Phi Yến ở làng An Hải và miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải con của thứ phi Hoàng Phi Yến tại làng Cỏ Ống.


Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng chiếm đóng bán đảo Sơn Trà, chuẩn bị đánh Huế. Tháng 4 năm 1861, Pháp đánh chiếm Định Tường. Chính trong thời gian này, Pháp khẩn cấp đặt vấn đề chiếm đóng Côn Đảo vì sợ Anh chiếm mất vị trí chiến lược quan trọng này. 10 giờ sáng ngày 28 tháng 11 năm 1861, Bonard (thủy sư đô đốc Pháp) hạ lệnh xâm chiếm Côn Lôn. Trung úy Hải quân Pháp Lespès Sebastien Nicolas Joachim lập biên bản: "Tuyên cáo chủ quyền" của Pháp tại Côn Đảo. Ngày 14 tháng 1 năm 1862, chiếc tàu chở hàng (Nievre) chở một số nhân viên ra đảo, họ có nhiệm vụ tìm vị trí thuận lợi dựng trạm hải đăng Côn Đảo, nhằm chống chế nếu có nước nào phản kháng hành động tuyên bố chủ quyền. Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo để giam giữ những tù phạm đặc biệt nguy hiểm như: tù phạm chính trị, tử tù..., nơi đây thời Pháp thuộc đã giam giữ những nhân vật cộng sản và những người ái quốc chống lại chính phủ thuộc địa. Địa điểm nổi tiếng nhất trong khu nhà tù này là "chuồng cọp".


Côn Lôn trước khi thuộc Pháp, thuộc tỉnh Hà Tiên, sau tỉnh Vĩnh Long quản lý. Ngày 16 tháng 5 năm 1882, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh công nhận quần đảo Côn Lôn là một quận của Nam Kỳ. Tháng 9 năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ nhà tù của Pháp và đổi tên quần đảo Côn Lôn thành hải đảo Côn Sơn. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập tỉnh Côn Sơn. Ngày 24 tháng 4 năm 1965, Việt Nam cộng hòa đổi tỉnh Côn Sơn thành cơ sở hành chính Côn Sơn, trực thuộc Bộ Nội vụ và chức tỉnh trưởng được đổi thành đặc phái viên hành chính. Sau Hiệp định Paris, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lại đổi tên quần đảo này một lần nữa là Phú Hải. Các trại tù đều được ghép thêm chữ Phú. Giai đoạn này số tù nhân lên đến 8.000 người. Với chế độ tàn bạo của nhà tù, khoảng 20.000 người Việt Nam đã chết và được chôn cất tại nghĩa trang Hàng Dương.


Ngày 1 tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được giải phóng. Tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được gọi là tỉnh Côn Đảo. Tháng 1 năm 1977, trở thành huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Tháng 5 năm 1979, trở thành quận Côn Đảo thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Tháng 10 năm 1991 đến nay là huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


Hiện nay Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn. Dân số tính đến cuối năm 2003 là 4.466 người, thuộc 9 khu dân cư.


Tại Côn Đảo có nghĩa trang Hàng Dương là nơi chôn cất hàng vạn chiến sĩ cách mạng và người yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ bị tù đày, kéo dài từ năm 1862 đến năm 1975, trong nhà tù Côn Đảo của chính quyền thuộc địa Pháp và sau này là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Họ đã chết dưới sự tàn bạo của cai ngục và hoàn cảnh sống khác nghiệt tại nhà tù. Hiện nay, nghĩa trang Hàng Dương đã được đầu tư tôn tạo trên diện tích khoảng 20ha, và được chia làm 4 khu:


Khu A: Gồm 688 ngôi mộ (có 7 mộ tập thể), trong đó 86 mộ có tên và 602 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1945 trở về trước. Nơi đây có mộ của liệt sĩ cách mạng Lê Hồng Phong và nhà yêu nước Nguyễn An Ninh.


Khu B: Gồm 695 ngôi mộ (có 17 mộ tập thể), trong đó 275 mộ có tên và 420 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1945 đến năm 1960. Nơi đây có mộ của nữ anh hùng Võ Thị Sáu và anh hùng Cao Văn Ngọc.


Khu C: Gồm 372 ngôi mộ (có 1 mộ tập thể), trong đó 329 mộ có tên và 43 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1960 đến năm 1975. Nơi đây có mộ của anh hùng Lê Văn Việt.

Khu D: Gồm 148 ngôi mộ, trong đó 11 mộ có tên và 137 mộ khuyết danh. Đặc biệt mộ khu D được quy tập các mộ từ Hòn Cau và Hàng Keo về.

Hiện nay, Côn Đảo là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam, được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên (rừng và biển).


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:46:03 am
* Đảo Phú Quốc

Đảo Phú Quốc hay còn gọi là Đảo Ngọc, là đảo lớn nhất của Việt Nam. Tên gọi Phú Quốc do ngươi Hoa đến đây lập nghiệp đặt, có nghĩa là "vùng đất giàu có". Đảo nằm trong vịnh Thái Lap, phía Tây Nam nước ta, trải dài từ vĩ độ: 9°53' đến 10°28' độ vĩ Bắc và kinh độ: 103°49' đến 104°05' độ kinh Đông. Mũi Đông Bắc của đảo cách quốc gia láng giềng Campuchia 4 hải lý. Đảo cách thành phố Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang khoảng 62 hải lý về phía Đông và cách thị xã Hà Tiên khoảng 25 hải lý.


Đảo Phú Quốc có hình tam giác, cạnh đáy nằm ở hướng Bắc, nhỏ dần lại ở phía Nam. Nếu tính đường chim bay theo hướng Bắc - Nam thì chiều dài lớn nhất của đảo là 49km. Nơi rộng nhất trên đảo theo hướng Đông - Tây nằm ở khu vực Bắc đảo với chiều dài là 27km. Chu vi của đảo Phú Quốc tổng cộng khoảng 130km. Tổng diện tích của Phú Quốc là 56.500ha. Có người ví hình dáng đảo giống như một con cá đang bơi, đầu hướng về phương Bắc.


Vùng đảo Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất và cao nhất (đỉnh núi Chúa là điểm cao nhất tới 603m). Địa hình thiên nhiên đảo Phú Quốc thoai thoải chạy từ Nam đến Bắc với 99 ngọn núi đồi. Phần các vùng biển quanh đảo nông có độ sâu chưa đến 10m. Tuy nhiên, cụm đảo nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía Nam của đảo Phú Quốc bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60m. Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Đảo gồm 8 xã và 2 thị trấn, trong đó thị trấn Dương Đông ở phía Tây Bắc của đảo là thủ phủ của huyện đảo.


Phú Quốc có nhiều nghề truyền thống của cư dân nhưng nổi tiếng nhất là nghề sản xuất nước mắm và nghề trồng hồ tiêu. Nước mắm Phú Quốc và hồ tiêu Phú Quốc là hai mặt hàng nổi tiếng thế giới lâu nay. Ngoài hai nghề này, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Phú Quốc là khai thác hải sản và dịch vụ du lịch.


Đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm sau. Mùa khô: Đảo Phú Quốc chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4m/s. Khi gió đông bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24m/s. Mùa khô có độ ẩm trung bình 78%. Nhiệt độ cao nhất 35°C vào tháng 4 và tháng 5. Mùa mưa: Đảo Phú Quốc là cửa ngõ đón gió mùa tây - tây nam, tốc độ gió trung bình 4,5m/s. Mùa mưa mây nhiều, độ ẩm cao, từ 85 đến 90%. Lượng mưa trung bình là 414mm/tháng. (Cả năm trung bình là 3.000mm). Trong khu vực Bắc đảo có thể đạt 4.000mm/năm; có tháng mưa kéo dài 20 ngày liên tục.


Như vậy, về điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu trên đảo Phú Quốc thuộc loại nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều,...), tuy nhiên do nằm trong vùng vị trí đặc biệt của vịnh Thái Lan nên ít bị thiên tai. Chính vì điều kiện khí hậu như vậy nên Phú Quốc có được một nguồn tài nguyên vô giá là rừng nhiệt đới, trong đó có rất nhiều giống, loài đặc hữu. Đây là vốn quý nhất để phát triển du lịch sinh thái trên hòn đảo này. Bên cạnh rừng, vì bản thân Phú Quốc là một hòn đảo và là đảo lớn, cho nên những nguồn tài nguyên khác như: tài nguyên biển, tài nguyên đất, tài nguyên nước,... ở đây có tiềm năng lớn để khai thác phát triển kinh tế.


Lịch sử của đảo được bắt đầu từ năm 1671, khi một người Hoa có tên là Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình cùng binh sĩ và một số sĩ phu (khoảng 400 người) lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, đoàn thuyền Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur, Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681.


Năm 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.


Ngoài ra ông còn lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Trai). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán, tức người Khmer), sau đổi thành Căn Khẩu (Càn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Trai cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có).


Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Quốc Chùa Nguyễn Phúc Chu. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh cai trị đất Căn Khẩu. Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh. Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan.


Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên. Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu). Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông - Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc, Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương sáp nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.


Trước năm 1975, dân số trên đảo chỉ hơn 5.000 người. Sau năm 1975, dân số trên đảo tăng lên nhanh chóng do hiện tượng di dân. Đến năm 2003, theo thống kê của tỉnh Kiên Giang, dân cư sinh sống trên đảo đã lên đến trên 79.800 người, với mật độ trung bình là 135 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình của cả nước 253 người/km2.


Phú Quốc được xem là nơi phát tích của đạo Cao Đài. Ngày nay trên đảo có một thánh thất Cao Đài ở thị trấn Dương Đông. Trên đảo có duy nhất một nhà thờ đạo Thiên chúa ở thị trấn An Thới, đó cũng là nơi trước đây tập trung dân di cư từ miền Bắc vào năm 1954. Ở đảo Phú Quốc, vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, người dân thường đi chùa tại thị trấn Dương Đông. Vào ngày này, sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá nhộn nhịp.


Phú Quốc được xác định là một khu du lịch quốc gia Việt Nam. Tại đây có nhiều thắng cảnh đẹp như: Bãi biển Phú Quốc, thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang vừa được hãng tin ABC News bình chọn đứng đầu trong số 5 bãi biển đẹp và sạch, nhưng còn ít người biết tới trên thế giới. Đứng đầu trong danh sách các "bãi biển tiềm ẩn" chính là Bãi Dài của đảo Phú Quốc. Bãi biển này được xem là "tuyệt vời" nhất trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm.


Ở Phú Quốc có khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc (nhà lao Cây Dừa). Trước kia nơi đây là một trong những trại giam lớn của chính quyền Việt Nam cộng hòa để giam giữ tù chính trị, bộ đội giải phóng và nhân dân trong chiến tranh.


Cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân của Trung Hoa Quốc dân đảng thua trận trước Quân giải phóng Trung Quốc, rút chạy dạt sang Việt Nam. Lực lượng nay có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra đóng tại phía Nam đảo Phú Quốc một thời gian trước khi quay về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch.


Tận dụng nhà cửa có sẵn của trại lính Quốc dân đảng, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40ha, gọi là "Căng Cây Dừa" (trại Cây Dừa). Trại gồm 4 khu nhà giam A, B, C, D. Các tù binh cộng sản bị Pháp bắt từ các chiến trường Trung, Nam, Bắc Việt Nam bị tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc. Số tù binh này gồm khoảng 14.000 người, đa số từ nhà tù Đoạn Xá (Hải Phòng). Cũng như các nhà tù khác trong chiến tranh Đông Dương, tù nhân cộng sản tại trại Cây Dừa sinh hoạt đấu tranh chống khủng bố, đàn áp và tổ chức vượt ngục. Sau hơn 1 năm ở trại, có 99 tù nhân bị chết, 200 người vượt ngục. Tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, Pháp trao trả cho phía Việt Nam dân chủ cộng hòa hầu hết tù binh ở trại này.


Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một trại giam ở địa điểm Căng Cây Dừa cũ, với diện tích rộng 4ha, đặt tên là trại huấn chính Cây Dừa, còn gọi là nhà lao Cây Dừa. Trại tù có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão. Ngày 5 tháng 1 năm 1956, 598 người tù từ trại Trung tâm huấn chính Biên Hòa được đưa đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống tàu vận tải Hắc Giang của hải quân chở từ Sài Gòn về đến Phú Quốc, về sau còn có thêm một số tù chính trị thuộc diện "Việt Cộng" hoặc "thân Cộng" cũng được đưa đến trại huấn chính Cây Dừa.


Trong 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1956, có khoảng 100 tù nhân vượt ngục, trong đó có một số người bị bắn chết khi vượt rào. Các ông Phạm Văn Khỏe (em ruột của ông Phạm Hùng) và Mai Thanh (Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Rạch Giá) cũng vượt ngục trong thời gian này. Thấy tình hình bất ổn, năm 1957, chính quyền Sài Gòn đưa số tù chính trị ở "Trại huấn chính Cây Dừa" về đất liến và đày một số ra nhà tù Côn Đảo.


Đến năm 1966, một trại giam rộng hơn 400ha được xây dựng ở thung lũng An Thới đảo Phú Quốc, cách "Căng Cây Dừa" cũ 2km. Trại giam gồm 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D, với trên 400 nhà giam, được gọi là trại giam tù binh cộng sản Việt Nam/Phú Quốc, thường được gọi là trại giam tù binh Phú Quốc.


Trong chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh ở trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống... Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6-1967 đến tháng 3-1973), trại giam tù binh Phú Quốc có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.


Năm 1995, Khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích cấp quốc gia. Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc gồm có tượng đài hình nắm tay, là biểu tượng của sự đàn áp khốc liệt và tinh thần hiên ngang vùng lên phá xiềng của tù binh Phú Quốc, nghĩa trang liệt sĩ và khu trại giam tù binh Phú Quốc được phục dựng.


Phú Quốc có vườn quốc gia được thành lập theo Quyêt định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 8 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn quốc gia Phú Quốc bao gồm địa phận khu bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo, khu vực núi Hàm Rồng, Gành Dầu và Cửa Cạn. Vườn có ranh giới hành chính thuộc các xã: Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Cạn và một phần các xã cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ và thị trấn Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.


Vườn quốc gia Phú Quốc trải dài từ 10°12' đến 10°27' vĩ Bắc và từ 103°50' đến 104°04' kinh Đông. Tổng diện tích 31.422ha, bao gồm: khu bảo vệ nghiêm ngặt 8.603ha, phân khu phục hồi sinh thái 22.603ha, phân khu hành chính và dịch vụ 33ha.


Vườn quốc gia Phú Quốc có chức năng bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo, nguồn gen động thực vật rừng quý hiếm và có giá trị, các sinh cảnh rừng tự nhiên độc đáo của rừng trên đảo; duy trì và phát triển độ che phủ của thảm thực vật rừng để đảm bảo chức năng phòng hộ rừng đầu nguồn, cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt của nhân dân, phát triển bền vững kinh tế, xã hội của huyện đảo Phú Quốc; góp phần củng cố an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh cho tuyến phòng thủ Tây Nam Việt Nam.


Vườn quốc gia Phú Quốc đã thu hút nhiều khách du lịch nhờ cảnh đẹp thiên nhiên và những bãi biển hoang sơ, hơn nữa Phú Quốc rất có tiềm năng về du lịch sinh thái được chính quyền cho là một chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế một cách bền vững, giảm thiểu những tác động của du lịch với môi trường tự nhiên.


Ngày nay, huyện đảo Phú Quốc đang được đầu tư phát triển theo hướng dịch vụ và du lịch biển; hệ thống đường giao thông trên đảo đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các tuyến vận chuyển hành khách từ đất liền ra đảo bằng cả đường hàng không lẫn hàng hải nên thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:46:36 am
* Đảo Thổ Chu

Đảo Thổ Chu (Việt Sơn đảo), hay còn gọi là Thổ Châu, là đảo lớn nhất của quần đảo Thổ Châu. Đơn vị hành chính là xã đảo Thổ Châu, thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đảo nằm trong khu vực gồm 8 đảo và là đảo lớn nhất, điểm cao nhất là 167m. Đảo cách mũi Cà Mau khoảng 80 hải lý, cách đảo Phú Quốc hơn 100km về phía Tây Nam. Đảo được các nhà thám hiểm phương Tây biết đến với tên Mã Lai là Poulo Panjang.


Trong khu vực gần đảo Thổ Chu có các đảo như: Hòn Cao Cát, Hòn Mô, Hòn Cao, Hòn Từ, Hòn Nước, Hòn Keo Ngựa; đặc biệt có Hòn Nhạn được chọn làm điểm chuẩn A1 của đường cơ sở dùng để xác định lãnh hải Việt Nam. Ngoài Hòn Nhạn là lãnh hải Việt Nam và trở vào vùng nội thủy còn có Hòn Cao Cát là hai hòn đảo nhỏ cách đảo 15km về hướng Đông Bắc.


Kinh tế của xã đảo Thổ Chu chủ yếu là đánh bắt hải sản và lâm nghiệp. Cư dân chủ yếu trên đảo là ngư dân từ Cà Mau ra sinh sống và bộ đội biên phòng.


Ngày 1 tháng 5 năm 1976, quân Khmer Đỏ tấn công đảo, tàn sát gần 500 thường dân ngay ngày lễ Quốc tẽ Lao động. Năm 1977, Khmer Đỏ lại tập kích đảo một lần nữa, nhưng bị tiêu diệt hoàn toàn. Trước những năm thập niên 80, quần đảo chứng kiến nhiều cuộc tấn công của cướp biển Thái Lan và Campuchia.


Hiện nay, khu vực rừng trên đảo Thổ Chu chưa hề bị tàn phá. Khu hệ thực vật trên đất liền có ít nhất là 200 loài, ưu thế bởi các loài thuộc họ Bứa, họ Đậu và họ Hồng xiêm. Các rạn san hô gặp phổ biến trong vùng và đặc trưng với mật độ cao nhưng tính đa dạng về thành phần loài thấp. Khu vực biển, đảo Thổ Chu đã xác định được tất cả 99 loài san hô. Các rạn san hô trong khu bảo tồn biển là nơi làm tổ lý tưởng đối với các loài rùa biển đang bị đe dọa trên toàn cầu. Bên cạnh đó, các thảm cỏ biển tại khu vực đảo Thổ Chu là nơi kiếm ăn quan trọng của các loài rùa biển trên. Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây các loài rùa đến đây làm tổ đã giảm đáng kể, hiện chỉ có một vài tổ rùa được ghi nhận.


Đảo Thổ Chu lần đầu tiên được đề xuất thành lập khu bảo tồn biển năm 1995. Khu vực này cùng với các đảo Nam Du và Phú Quốc thành khu bảo vệ biển gồm "Các đảo Tây Nam Bộ". Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đề xuất việc xây dựng khu bảo tồn biển, đảo Thổ Chu với diện tích 22.400ha, trong đó phần đất liền có diện tích 1.190ha và mặt biển là 21.210ha. Khu vực này hiện do quân đội quản lý.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:47:00 am
* Đảo Hòn Khoai

Hòn Khoai là tên một đảo lớn nhất trong cụm đảo thuộc tỉnh Cà Mau. Đảo cách đất liền khoảng 14,6km, nằm về phía Tây Nam thị trấn Năm Căn huyện Ngọc Hiển.

Khu vực này bao gồm 5 hòn đảo sát nhau: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ, Hòn Tương với tổng diện tích trên 4km2. Hòn lớn và cao nhất là Hòn Khoai với chiều cao 318m, do nhìn từ trên cao có hình dạng giống củ khoai nên có tên là Hòn Khoai. Cũng có giả thuyết cho rằng, trên đảo có suối nước ngọt nên có rất nhiều dây khoai mỡ, ngư dân thường dùng để làm lương thực trong những ngày ra khơi nên hòn đảo này được gọi là Hòn Khoai. Hòn Khoai còn nổi tiếng với cuộc khởi nghĩa năm 1941 của 10 chiến sĩ dưới sự lãnh đạo của thầy giáo Phan Ngọc Hiển.


Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng nguyên sinh còn gần như nguyên vẹn với nhiều loại gỗ quý, nhiều nhất là gỗ sao và một quần thể động thực vật phong phú, phong cảnh thiên nhiên còn hoang dã. Trên đảo có một tháp hải đăng. Cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá.


Hòn Khoai là nơi lý tưởng phát triển du lịch sinh thái với rừng nguyên sinh và suối nước ngọt, du khách đến đây còn có thể tắm biển và leo núi thám hiểm. Bên cạnh đó, du lịch lịch sử về lại chiến trường xưa cũng được đưa vào khai thác. Từ Năm Căn có thể ra đảo Hòn Khoai bằng 2 cách: đến cửa biển Rạch Gốc và chuyển sang tàu biên phòng ra thăm đảo hoặc đón tàu ra mũi Cà Mau rồi chuyển sang tàu biên phòng để ra đảo. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, bộ đội biên phòng và hải quân chỉ cho phép du khách đến tham quan vào mùa biển lặng (từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch hàng năm).


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:48:33 am
II. QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm ở giữa Biển Đông. Trong nhiều thế kỷ trước đây hai quần đảo thường được gọi dưới tên chung là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, v.v... Các nhà hàng hải và truyền giáo phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp) gọi dưới các tên Paracels, Parcels hoặc Pracels.


Trên các bản đồ đầu tiên của các nhà hàng hải phương Tây, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thường được vẽ thành một dải liền nhau hình lá cờ đuôi nheo nằm dọc bờ biển nước ta từ khoảng ngang Đà Nẵng tới cuối đồng bằng Nam Bộ. Vào thế kỷ gần đây nhờ sự phát triển của ngành hàng hải và ngành đo đạc bản đồ biển, người ta mới tách ra hai quần đảo riêng biệt mang tên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, trên các bản đồ nước ngoài thường gọi là quần đảo Paracels và quần đảo Sprataly.


Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng vĩ độ 15°45' đến 17°15' Bắc; kinh độ 111° đến 113° Đông, án ngữ ngang cửa vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý. Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá cồn, san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000km2. Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm.


Nhóm phía Đông, gồm khoảng 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô nhô lên khỏi mặt nước. Lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn rộng trên dưới 1,5km2, có nhiều cây cối, xung quanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm. Một số đảo khác như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam... có diện tích từ 0,4km2 trở xuống, nhiều đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh.


Nhóm phía Tây, gồm khoảng 15 hòn đảo nhỏ. Các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Én, Tri Tôn... diện tích khoảng từ 0,5km2 trở xuống và cao hơn mặt nước từ 4m đến 6m. Trong quần đảo Hoàng Sa, đảo Linh Côn nằm ờ ngoài cùng về phía Đông và đảo Tri Tôn nằm ngoài cùng về phía Nam. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo thuộc quần đảo khoảng 10km2. Ngoài các đảo, còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầm nước giữa biển khơi. Có cồn dài tới 30km, rộng 10km như cồn Cát Vàng.


Ở phía Đông đảo Hoàng Sa, có một cầu tàu bằng đá và bê tông dài khoảng 180m, do một công ty Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đây cho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích. Trên đảo Hoàng Sa còn có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938, đến năm 1947 được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) công nhận và đặt số hiệu 48860 trong mạng lưới khí tượng quốc tế (số 48 chỉ khu vực Việt Nam).


Quần đảo Hoàng Sa không có mùa đông lạnh giá và mùa hè nóng nực, nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 1 là 23°, cao nhất trong tháng 7 là 28°. Thời tiết có thể chia làm hai mùa. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.170mm. Từ tháng 6 đến tháng 8, bão thường xuyên đi qua quần đảo này. Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng. Có đảo cây cối um tùm, nhưng có đảo chỉ có các bụi cây nhỏ và cỏ dại. Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam. Nhiều triều vua trước đây của Việt Nam đã ra lệnh đem các loại cây ra trồng trên các đảo để thuyền bè qua lại dễ nhận, tránh khỏi tai nạn.


Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ từ lâu đời bị phong hóa. Qua khảo sát các nhà địa chất Pháp ước tính trữ lượng khoảng gần 10 triệu tấn. Đây là nguồn phân bón có giá trị lớn. Hải sản ở Hoàng Sa, có nhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi, v.v... và một loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế.


Dưới triều Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938 thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1982, Chính phủ ta quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Nay trở thành huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.


Quần đảo Trường Sa ở về phía Đông Nam nước ta trong khoảng vĩ độ 6°30' đến 12°00' Bắc; kinh độ 111°30' đến 117°30' Đông, gồm khoảng hơn một trăm hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 360 hải lý, chiếm một diện tích biển khoảng từ 160.000 đến 180.000km2. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hoà) khoảng 250 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhất cũng khoảng trên 600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý.


Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5m. Lớn nhất là đảo Ba Bình rộng khoảng 0,6km2, sau đó là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn, Vĩnh Viễn, An Bang, v.v... Ngoài ra còn nhiều đảo nhỏ và bãi đá ngầm như Sinh Tồn Đông, Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Ken Nan, Đá Lớn, Thuyền Chài... Các đảo ở đây cũng có vành đá san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh tràn lên. Có những vành đai san hô bao quanh dài, rộng hàng chục ki-lô-mét như đảo Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Lớn. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10km2 tương đương với quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quần đảo Hoàng Sa.


Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng ngày đêm theo dõi và thông báo các số liệu về thời tiết ở vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khí tượng thế giới và trên một số đảo có đèn biển của Tổng công ty bảo đảm Hàng hải Việt Nam như đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây. Chất đất trên các đảo của quần đảo Trường Sa là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùn cây có bề dày từ 5 đến 10cm. Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như đảo Song Tử Tây, đảo Trường Sa, đảo Song Tử Đông. Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo cỏ dại.


Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loại cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế cao...

Khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn với các vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn. Một số hiện tượng thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền. Hàng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Có thể chia ra làm 2 mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn. Hiện tượng dông trên vùng biển quần đảo này rất phổ biến, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông và là nơi thường có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa.


Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm gần như giữa Biển Đông, có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng, là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa án ngữ trong khu vực vùng biển có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực, năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đẽn Biển Đông bao gồm các con đường từ Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy ê, Trung Đông đên Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niudilân, con đường hàng hải Bắc Thái Bình Dương từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á, con đường từ Đông A đến úc và Niudilân, và từ Đông đến Trung Đông. Nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo... phụ thuộc sống còn vào các tuyến hàng hải này.


Về tài nguyên thủy sản, tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa do hoàn cảnh khách quan, ta chưa có điều kiện điều tra, đánh giá. Tại vùng biển Trường Sa, theo số liệu mới nhất, qua khảo sát, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 18 họ hải sản với 32 giống và 37 loài. Ngoài ra còn xác định được 9 họ hải sản với 13 giống và 14 loài cá, trong đó có các họ cá có giá trị kinh tế cao như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá thu ngàng. Cùng với tài nguyên thủy sản, vùng nước quần đảo còn là nơi có trữ lượng san hô lớn, có thể dùng sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ và sử dụng trong lĩnh vực y học.


Bên cạnh đó, khu vực đáy biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng một trữ lượng dầu khí khổng lồ và các mỏ khoáng sản sunphít đa kim, kết cuội sắt mangan. Theo số liệu của nhiều nhà khoa học và cơ quan khoa học quốc tế dự đoán, Biển Đông chứa khoảng 130 tỷ thùng dầu và khí tự nhiên, do đó khu vực Biển Đông được coi như vịnh Ba Tư thứ hai. Riêng dự đoán khu vực Trường Sa có trữ lượng dầu khoảng sáu tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70%.


Theo các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 mà nước ta là một thành viên, quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên một vùng biển rộng gấp rất nhiều lần diện tích lãnh thổ đất liền; kiểm soát các tuyến hàng hải, làm chủ các vị trí chiến lược về quốc phòng cũng như các tài nguyên biển và lòng đất dưới đáy biển. Bởi những lẽ đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần máu thịt của đất nước Việt Nam.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:49:45 am
2. Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ XVII. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa, ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi Cát Vàng. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn tổ chức "đội Hoàng Sa" lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp. Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm "đội Bắc Hải" lấy người thôn Tứ Chính, xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa. Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như: "Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư" của Đỗ Bá tự Công Đạo (1686), "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn (1776), "Lịch triều Hiến chương loại chí' của Phan Huy Chú (1821), "Đại Nam thực lục tiền biên" (1844-1848), "Đại Nam thực lục chính biên" (1844-1848), "Đại Nam nhất thống chí" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), Dư địa chí "Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ", "Quốc triều chính biên toát yếu" (1910). Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như Nhật ký Batavia (1936), Hải ngoại ký sự (1696) An Nam đại quốc hoạ đồ (1838)... Cùng với nhiệm vụ khai thác hải sản và hàng hoá trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo... liên tục trong các năm 1834, 1835 và 1836.


Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.


Thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra chiếm đóng trên các đảo. Để quản lý hành chính, chính quyền lúc đó đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, cho xây dựng nhiều công trình trên cả hai quần đảo. Trong suốt các năm 1931-1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.


Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt Nam và ngày 14 tháng 10 năm 1950, Pháp chính thức trao việc phòng thủ quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam.


Ngày 6 tháng 9 năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ miền Nam Việt Nam trong phát biểu của mình đã chính thức tuyên bố và khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo: "Và cũng vì cần phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Sprataly và Paracels, tạo thành một phần của Việt Nam". Tiếp đó chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã đóng quân trên hai quần đảo, đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam trao cho quản lý tạm thời nửa nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do.


Trong thời gian này, các Chính phủ Việt Nam đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo bằng các hoạt động Nhà nước. Chính quyền Sài Gòn đã quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên vào xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam và quyết định sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Tháng 4 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã đưa quân ra thay thế quân Pháp trên các đảo thuộc nhóm phía Tây của quần đảo Hoàng Sa và trong khi chưa kịp triển khai trên các đảo thuộc nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, quân đội nước ngoài đã bí mật ra chiếm đóng nhóm đảo này.


Tháng 1 năm 1974, khi quân đội nước ngoài dùng không quân và hải quân đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã tố cáo việc vi phạm chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía nước ngoài. Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Tháng 4 năm 1975, Hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng các đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang do quân đội Sài Gòn đóng giữ. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tuyên bố giành cho mình quyền bảo vệ chủ quyền đó.


Ngày 2 tháng 7 năm 1976, nước Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.


Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, các tài liệu này đã chứng minh một cách rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trên tất cả các khía cạnh: lịch sử, pháp lý và thực tiễn quốc tế.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:50:47 am
Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo, ngày 9 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghía Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai; ngày 28 tháng 12 năm 1982, trong kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá VII đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hoà). Nghị quyết ngày 6 tháng 11 năm 1996 kỳ họp thứ mười Quốc hội khoá IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Chính quyền hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hiện đang thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình.


Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ năm ngày 23 tháng 6 năm 1994 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 nêu rõ: "Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực". Quốc hội nhấn mạnh: "Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982".


Lập trường của Việt Nam là chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình cho đến khi nó bị nước ngoài dùng vũ lực xâm chiếm.


Cho đến nay, Việt Nam đang thực sự quản lý 21 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa, không ngừng củng cố và phát triển cơ sở vật chất và đời sống kinh tế - xã hội nhằm từng bước xây dựng huyện đảo trở thành đơn vị hành chính ngang tầm với vị trí và vai trò của nó trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Hiện nay, trên quần đảo Trường Sa - Việt Nam có dân trên 21 đảo, bãi cạn. Trong đó có 9 đảo nổi gồm: Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Trường Sa, Trường Sa Đông, Phan Vinh, An Bang và 12 bãi cạn gồm: Đá Lát, Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Đông, Tốc Tan, Núi Le, Tiên Nữ, Len Đao, Cô Lin, Đá Lớn, Núi Thị và Đá Nam. Cụ thể:

1. Đảo Song Tử Tây: Tọa độ 11°25'55" vĩ độ Bắc, 114°19'44" kinh độ Đông. Cách đảo Nam Yết khoảng 75 hải lý, cách Nha Trang khoảng 310 hải lý. Đảo có hình bầu dục, dài khoảng 630m, rộng khoảng 270m, diện tích khoảng 0,17km2, độ cao trung bình của đảo khoảng 3,9m, so với mực nước biển trung bình. Địa hình bề mặt của đảo có dạng lòng chảo, mặt đảo là cát san hô. Xung quanh đảo có thềm san hô rộng khoảng 300 - 500m. Trên đảo có nhiều cây như phong ba, bàng vuông, phi lao, trồng được rau xanh, đảo không có nước ngọt.


2. Đảo Nam Yết: Tọa độ 10°11'00" vĩ độ Bắc, 114°22'21' kinh độ Đông, cách đảo Sơn Ca khoảng 12 hải lý, cách Nha Trang khoảng 320 hải lý. Đảo có hình bầu dục, dài khoảng 650m, rộng khoảng 170m, diện tích khoảng 0,11km2, độ cao trung bình khoảng 3,5m. Địa hình bề mặt đảo khum dáng mu rùa, khá bằng phẳng, mặt đảo là cát san hô, xung quanh có thềm san hô rộng. Trên đảo có cây xanh như mù u, phong ba, dừa, phi lao; trên đảo trồng được rau xanh nhưng không có nước ngọt.


3. Đảo Sơn Ca: Tọa độ 10°22'42" vĩ độ Bắc, 114°28'30" kinh độ Đông, cách đảo Nam Yết khoảng 15 hải lý, cách Nha Trang khoảng 450 hải lý. Đảo có dáng hình bầu dục, dài khoảng 450m, rộng khoảng 150m, độ cao trung bình khoảng 3,5 - 3,8m. Địa hình mặt đảo khum dạng mu rùa, khá bằng phẳng, mặt đảo là cát san hô, xung quanh có thềm san hô rộng. Trên đảo có cây xanh như mù u, phong ba, dừa, phi lao. Trên đảo trồng được rau xanh, đảo không có nước ngọt.


4. Đảo Sinh Tồn: Tọa độ 9°52'25" vĩ độ Bắc, 114°19'10" kinh độ Đông, cách đảo Nam Yết khoảng 22 hải lý, cách Nha Trang khoảng 330 hải lý. Đảo có dáng hình vuông, chiều dài và rộng gần tương đương nhau khoảng 100m, độ cao trung bình khoảng 3,0m. Địa hình mặt đảo tương đối bằng phẳng, mặt đảo là cát san hô, xung quanh đảo là thềm san hô. Trên đảo có cây xanh như phi lao, đảo không có nước ngọt.


5. Đảo Sinh Tồn Đông: Tọa độ 9°52'30" vĩ độ Bắc, 114°34'45" kinh độ Đông, cách đảo Sinh Tồn khoảng 15 hải lý, cách Nha Trang khoảng 345 hải lý. Đảo có dáng hình bầu dục, dài khoảng 2.200m, rộng khoảng 50m, độ cao trung bình khoảng 2,5 - 3,0m, địa hình mặt đảo khá bằng phẳng, mặt đảo là cát san hô, xung quanh đảo là thềm san hô, đảo không có nước ngọt.


6. Đảo Trường Sa: Tọa độ 8°38'25" vĩ độ Bắc, 111°55'00" kinh độ Đông, là đảo lớn trong cụm đảo Trường Sa và gần đất liền nhất, cách Nha Trang khoảng 240 hải lý, cách đảo Trường Sa Đông khoảng 30 hải lý. Đảo có dáng gần hình tam giác vuông, dài khoảng 650m, rộng khoảng trên 300m, diện tích khoảng trên 0,2km2, độ cao trung bình khoảng 2,5 - 3,0m. Địa hình mặt đảo khá bằng phẳng, mặt đảo là cát san hô, xung quanh đảo là thềm san hô, trên đảo có nhiều cây xanh như dừa, phi lao, bàng vuông..., trồng được rau xanh, đào giếng có nước lợ. Trên đảo có trạm thông tin liên lạc, trạm quan trắc khí tượng, cầu tàu.


7. Đảo Trường Sa Đông: Tọa độ 8°55'00" vĩ độ Bắc, 112°21'00" kinh độ Đông, cách đảo Trường Sa khoảng 30 hải lý, cách Nha Trang khoảng 270 hải lý. Chiều dài đảo khoảng 200m, chiều rộng nửa phía Đông đảo khoảng 60 - 70m, chiều rộng nửa phía Tây đảo khoảng 10 - 20m, độ cao trung bình đảo khoảng 1,5 - 1,6m, mặt đảo là cát san hô và khá bằng phẳng, xung quanh đảo là thềm san hô. Trên đảo có cây xanh như bàng vuông, phi lao, trồng được rau xanh, đảo không có nước ngọt.


8. Đảo Phan Vinh: Tọa độ 8°58’00" vĩ độ Bắc, 113°41'30" kinh độ Đông, cách đảo Nam Yết khoảng 85 hải lý, cách Nha Trang khoảng 330 hải lý. Đảo có dáng hình gần tròn, đường kính khoảng 70 - 80m, độ cao trung bình khoảng 1,5 - 1,8m, mặt đảo là cát san hô và khá bằng phẳng, xung quanh đảo là thềm san hô. Trên đảo nhiều cây xanh như bàng vuông, phi lao, dừa. Đảo không có nước ngọt.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:51:24 am
9. Đảo An Bang: Tọa độ 7°52’00" vĩ độ Bắc, 112°54'10" kinh độ Đông, là đảo tận cùng phía Nam của quần đảo Trường Sa, cách đảo Trường Sa khoảng 71 hải lý, cách Nha Trang khoảng 340 hải lý. Đảo có chiều dài khoảng 220m, chiều rộng chỗ rộng nhất khoảng 100m, chỗ hẹp nhất khoảng 20 - 30m, độ cao trung bình khoảng 3,5m, mặt đảo là cát san hô và khá bằng phẳng, xung quanh đảo là thềm san hô. Đảo ít cây xanh và không có nước ngọt.


10. Bãi Đá Lát: Tọa độ 8°36' vĩ độ Bắc, 111°40' kinh độ Đông, cách đảo Trường Sa khoảng 14 hải lý về phía Tây, bãi nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Chiều dài bãi khoảng 5 - 6km, chiều rộng khoảng 1,8 - 2,0km, độ cao trung bình mặt bãi khoảng 0,4m. Khi thủy triều xuống thấp nhất, các bãi nhỏ và đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước. Trong bãi có hồ, không có luồng thông ra ngoài; độ sâu trung bình khoảng 2,5 - 3,0m, đáy hồ là cát trắng và có nhiều đá mồ côi nằm rải rác.


11. Bãi Thuyền Chài: Tọa độ 8°10' vĩ độ Bắc, 113°18' kinh độ Đông, cách Trường Sa khoảng 87 hải lý về phía Đông. Bãi nam theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, dài khoảng 17 hải lý, rộng khoảng 3 - 4 hải lý, thềm san hô xung quanh bãi rộng 250 - 300m. Khi thủy triều xuống thấp nhất có đá mồ côi nhô lên, đáy là cát san hô. Năm 1987, ta đã mở luồng ở phía Nam của bãi vào lòng hồ, dài 300m, rộng 20m, sâu 1,6 - 1,8m để xuồng ra vào lòng hồ.


12. Bãi Đá Tây: Tọa độ 8°52' vĩ độ Bắc, 112°21' kinh độ Đông, là cụm gồm bốn bãi đá san hô cách đảo Trường Sa khoảng 22 hải lý về phía Đông Bắc. Các bãi nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, chiều dài cụm bãi khoảng 9 - 10km, chiều rộng khoảng 5 - 6km, diện tích khoảng 44km2, độ sâu trung bình khoảng 0,2 - 0,3m, khi thủy triều xuống thấp, các đá mồ côi nổi trên mặt nước. Các bãi cách nhau bởi các lạch sâu từ 1,5 - 5 hoặc 6m, rộng khoảng 200 - 300m. Bãi san hô phía Đông có một doi cát nổi cao khoảng 0,5 - 0,8m. Có hai luồng chính cho xuồng vào hồ là luồng ở phía Đông Nam và Tây Nam bãi.


13. Bãi Đá Đông: Tọa độ 8°50' vĩ độ Bắc, 112°34' kinh độ Đông, là bãi san hô tương đối khép kín, chỉ có một luồng vào hồ, cách bãi Châu Viên khoảng 6,5 hải lý về phía Tây. Bãi nằm theo hướng Đông - Tây, dài khoảng 14km, rộng khoảng 4 - 5km, diện tích khoảng 44km2. Bề mặt của vành đai san hô phía Bắc cao hơn phía Nam, thủy triều xuống thấp nhất thì mặt bãi nhô lên khỏi mặt nước. Trong bãi có hồ dài khoảng 9km, rộng 2km, sâu từ 5 - 15m. Ven bờ phía Bắc và phía Đông có nhiều đá ngầm. Luồng vào hồ nằm ở phía Tây, dài khoảng 300m, rộng khoảng 30 - 40m, sâu khoảng 4 - 8m.


14. Bãi Tốc Tan: Tọa độ 8°50' vĩ độ Bắc, 114°02' kinh độ Đông, là cụm bãi san hô nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài khoảng 20km, rộng khoảng 0,7km, độ cao trung bình 0,2m, khi thủy triều xuống thấp nhất có nhiều đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước. Giữa cụm bãi có hồ dài khoảng 14km, rộng khoảng 3km, sâu 10 - 30m, có nhiều đá ngầm nổi lên lập lờ dưới mặt nước. Có hai luồng chính vào hồ là luồng phía Bắc rộng khoảng 600m, sâu khoảng 10m và luồng phía Tây Nam rộng 250m, sâu 4 - 5m.


15. Bãi Núi Le: Tọa độ 8°45' vĩ độ Bắc, 114°11' kinh độ Đông, là vành đai san hô tương đối khép kín chỉ có một cửa phía Nam. Bãi nằm theo hướng Bắc - Nam, chiều dài khoảng 10km, rộng khoảng 4 - 5km, diện tích khoảng 40km2, độ cao trung bình khoảng 0,3m. Khi thủy triều xuống thấp nhất, rải rác có nhiều khu vực nổi cao trên mặt nước, phía Nam bãi có nhiều đá mồ côi. Giữa bãi có hồ dài khoảng 8km, rộng khoảng 3,5km, sâu khoảng 6 - 10m, đáy hồ lòng chảo, dưới có nhiều đá ngầm. Luồng vào hồ rộng 200m, dài 300m, giữa luồng có nhiều đá ngầm nằm rải rác.


16. Bãi Tiên Nữ: Tọa độ 8°52' vĩ độ Bắc, 114°39' kinh độ Đông, cách bãi Tốc Tan 33 hải lý về phía Đông. Bãi dài khoảng 9km, rộng khoảng 4 - 5km, cao trung bình khoảng 0,3m, là vành đai khép kín, mặt bãi có nhiều đá mồ côi luôn nổi trên mặt nước, bờ Đông Bắc có ba hòn cao khoảng 2,1m. Khi thủy triều xuống thấp nhất, mặt bãi nổi lên trên mặt nước. Giữa bãi là hồ kín dài khoảng 7km, rộng 1,5 - 3,5km, sâu khoảng 10m, trong hồ có nhiều đá ngầm.


17. Bãi Len Đao: Tọa độ 9°45' vĩ độ Bắc, 114°21' kinh độ Đông, cách đảo Sinh Tồn khoảng 7,5 hải lý về phía Đông Nam, dài khoảng 1,5 - 2,0km, rộng khoảng 0,5 - 1,0km, khi thủy triều xuống thấp nhất còn ở độ sâu 0,1m.


18. Bãi Cô Lin: Tọa độ 9°45' vĩ độ Bắc, 114°13' kinh độ Đông, cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý về phía Tây Nam, cách bãi Gạc Ma khoảng 1,9 hải lý về phía Tây Bắc. Bãi dài khoảng 1,2 hải lý, rộng khoảng 1,0 hải lý, khi thủy triều xuống thấp nhất bãi vẫn còn ngập nước, chỉ có một số đá mồ côi nổi lập lờ trên mặt nước.


19. Bãi Đá Lớn: Tọa độ 10°04' vĩ độ Bắc, 113°52' kinh độ Đông, cách đảo Nam Yết khoảng 28 hải lý về phía Tây - Tây Nam, là bãi san hô nổi khi thủy triều xuống thấp nhất. Bãi nằm theo hướng Bắc - Nam, dài khoảng 15km, rộng khoảng 2,0km, độ cao trung bình khoảng 0,3m, diện tích khoảng 30km2, trong bãi có hồ chạy theo hướng Bắc - Nam và có luồng thông ra ngoài.


20. Bãi Núi Thị: Tọa độ 11°23' vĩ độ Bắc, 114°34' kinh độ Đông, cách đảo Sơn Ca khoảng 7 hải lý về phía Đông - Đông Bắc. Bãi nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, dài khoảng 2,0km, rộng khoảng 1,3km. Khi thủy triều xuống thấp nhất mặt bãi nhô lên khoảng 0,3m.


21. Bãi Đá Nam: Tọa độ 11°23' vĩ độ Bắc, 114°18' kinh độ Đông, cách đảo Song Tử Tây khoảng 2,5 hải lý về phía Tây Nam. Bãi theo hướng Bắc - Nam, dài khoảng 2,2km, rộng khoảng 1,0 - 1,5km, độ cao trung bình khoảng 0,3m, khi thủy triều xuống thấp nhất có nhiều đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước. Phía Đông Nam bãi có tảng đá mồ côi cao 0,8m; có hồ dài khoảng 600m, rộng khoảng 100m, sâu khoảng 3 - 15m, có luồng rộng 30 - 50m, sâu 2,5 - 3,0m thông ra ngoài.


Về kinh tế, khu vực quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu mỏ - khí đốt. Quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam, đơn vị hành chính là huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.


Quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và kinh tế của nước ta, vì vậy vấn đề bảo vệ chủ quyền của ta đối với quần đảo Trường Sa và khu vực Biển Đông là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược trước mắt và lâu dài.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 27 Tháng Bảy, 2022, 06:52:50 am
Phần thứ ba
MỘT SỐ VỊNH, VŨNG Ở BIỂN VIỆT NAM


* Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ, trước năm 1975 còn được gọi là vịnh Bắc Phần hay vịnh Bắc Việt là vịnh nước mặn nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn của thế giới, có diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa vịnh rộng khoảng 207km (112 hải lý). Bờ vịnh Bắc Bộ thuộc 10 tỉnh, thành phố của Việt Nam với tổng chiều dài khoảng 763km và bờ biển thuộc hai tỉnh Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc với tổng chiều dài khoảng 695km.


Vịnh Bắc Bộ tương đối nông (sâu chưa tới 60m). Sông Hồng là con sông chính chảy vào vịnh này. Thành phố Hải Phòng và Vinh (tỉnh Nghệ An) thuộc Việt Nam và Bắc Hải (tỉnh Quảng Tây) thuộc Trung Quốc là những hải cảng chính trong vịnh. Vịnh có hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 35,2km (19 hải lý) và cửa chính của vịnh từ đảo Cồn Cỏ, Việt Nam tới đảo Hải Nam, Trung Quốc rộng khoảng 207,4km (112 hải lý). Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền khoảng 110km, cách đảo Hải Nam khoảng 130km. Phía Trung Quốc có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc vịnh như đảo Vị Châu, Tà Dương.


Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh. Vịnh là nơi chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên. Trong vịnh có nhiều ngư trường lớn, cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho đời sống của nhân dân hai nước. Các dự báo cho thấy đáy biển và lòng đất dưới đáy của vịnh có tiềm nàng về dầu mỏ và khí đốt. Vịnh là cửa ngõ giao lưu từ lâu đời của Việt Nam ra thế giới, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, thương mại quốc tế cũng như quốc phòng - an ninh của nước ta. Đối với khu vực phía Nam Trung Quốc vịnh cũng có vị trí quan trọng. Vì vậy, cả hai nước đều rất coi trọng việc quản lý, sử dụng và khai thác vịnh.


Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ là thoả hiệp ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ. Đây là kết quả sau nhiều đợt đàm phán kể từ năm 1973. Hiệp định này thay thế Công ước Pháp - Thanh 1887. Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Hiệp định thông qua Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI và lễ trao đổi văn kiện thư phê chuẩn diễn ra ngày 30 tháng 6 năm 2004.


Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, mà cụ thế là phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ được đặt ra sau khi có sự phát triển tiến bộ của Luật biển quốc tế từ giữa những năm 1950 trở lại đây.


Theo quy định của Luật biển quốc tế năm 1982, quốc gia ven biển được hưởng lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý, vùng đặc quyên kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không quá 100 hải lý.


Do bờ biển hai nước vừa kế cận vừa đối diện nhau, nơi rộng nhất không đến 200 hải lý, nên các vùng biển và thềm lục địa của hai nước trong vịnh đều bị chồng lấn lên nhau, cần phải được phân định để xác định rõ ràng biên giới lãnh hải cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giũa hai nước.


Thực tế cho thấy, trước đây do chưa có đường biên giới và ranh giới biển rõ ràng trong vịnh Bắc Bộ nên giữa hai nước thường xảy ra các vụ việc tranh chấp phức tạp về đánh bắt hải sản và thăm dò khai thác dầu khí, gây bất ổn định và ảnh hưởng không tốt đến quan hệ hai nước, hạn chế việc khai thác bền vững và hiệu quả tiềm năng của vịnh.


Chỉ khi có một đường ranh giới biển rõ ràng trong vịnh, được hai nước chấp nhận và phù hợp với luật pháp quốc tế, hai nước mới có đầy đủ căn cứ pháp lý để tiến hành việc quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển và bảo tồn các tài nguyên biển của mình trong vịnh Bắc Bộ.


Quá trình đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc được tiến hành theo các nguyên tắc và cơ sở pháp lý như sau:

- Hai bên đã thống nhất và căn cứ vào luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc và quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 mà cả hai nước đều là thành viên để giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ. Luật pháp quốc tế nói chung và Công ước của Liên Hợp quốc vẽ Luật biển năm 1982 nói riêng không quy định một phương pháp bắt buộc áp dụng chung cho việc phân định các vùng biển giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.

- Căn cứ vào các quy định của công ước này và thực tiễn quốc tế, Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận thông qua đàm phán để phân định vịnh Bắc Bộ, với nguyên tắc giải quyết là "áp dụng Luật biển quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế" và "theo nguyên tắc công bằng, có tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh để đi đến một giải pháp công bằng".


Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ có 11 điều, trong đó Điều II hai bên thống nhất xác định một đường phân định với 21 điểm nối tuần tự từ cửa sông Bắc Luân ra đến cửa vịnh phía Nam, chia vịnh Bắc Bộ ra làm hai. Trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cửa vịnh lấy đường thẳng từ đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam đến mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam, Trung Quốc.


Trong hiệp định, hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ. Theo đó, mỗi bên tự chủ tiến hành việc thăm dò, khai thác một cách độc lập các tài nguyên khoáng sản trong phạm vi thềm lục địa của mình. Đối với những cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thỏa thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác. Ngoài ra, hiệp định cũng quy định về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:50:25 am
* Vịnh Bái Tử Long

Vịnh Bái Tử Long là vùng lõm trong vịnh Bắc Bộ, ở Đông Bắc của Việt Nam. Vịnh Bái Tử Long bao gồm một vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và huyện đảo Vân Đồn. Phía Tây Nam giáp vịnh Hạ Long, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đất liền với thị xã Cẩm Phả và phía Đông Bắc giáp huyện đảo Cô Tô. Vịnh Bái Tử Long bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo lớn và có dân sinh sống.


Vịnh Bái Tử Long là vùng đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm và mùa đông khô lạnh. Nhiệt độ trung bình năm từ 15°C - 25°C; lượng mưa vào khoảng từ 2.000mm - 2.500mm/năm. Vịnh Bái Tử Long còn có hệ thống thủy triều với mức triều vào khoảng 3,5 - 4m/ngày. Độ mặn vào khoảng từ 31 đến 34,5 MT vào mùa khô và thấp hơn trong mùa hè.


Địa hình, địa mạo đáy vịnh là hệ thống các lạch biển có địa hình đáy phức tạp, được hình thành bởi quá trình mài mòn, xâm thực và tích tụ ngầm. Có 2 hệ thống lạch định hướng Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Hệ thống lạch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chia cắt các đảo chắn ngoài và đạt tới độ sâu 32m ở giữa hòn Sậu Đông và đảo Sậu Nam, 20m ở giữa đảo Sậu Nam và hòn Vành (Cửa Sậu), 22m ở giữa hòn Vành và đảo Ba Mùn (Cửa Nội), 20m ở giữa đảo Ba Mùn và Quan Lạn (Cửa Đối), ở các lạch này, hoạt động xâm thực - mài mòn đáy mạnh mẽ, lộ ra các vật liệu thô. Hệ thống lạch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam tương đối rộng, sâu phổ biến 5 - 15m, nơi đây diễn ra quá trình hỗn hợp mài mòn - tích tụ.


Cấu trúc hình thái bờ đảo không đồng nhất do khác nhau về thành phần vật chất cấu thành đảo và động lực biển hiện đại. Bờ phía Đông các đảo chắn ngoài cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên, tương đối thẳng và dốc, thường xuyên chịu tác động của sóng ở tất cả các mùa, nơi phát triển các dạng địa hình bờ kiểu vách và bãi tảng. Ngược lại, bờ phía Tây các đảo và bờ các đảo phía trong ít chịu tác động của sóng hơn dòng triều, nơi phổ biến các dạng tích tụ triều như bãi triều ven bờ lạch giữa đảo Trà Ngọ Lớn và Trà Ngọ Nhỏ, ở cung lõm giữa đảo Ba Mùn (Cao Lồ) và đặc biệt ở sườn Tây Bắc đảo Quan Lạn.


Hệ thống đảo trong khu vực vịnh Bái Tử Long nằm trong đối địa chất duyên hải Bắc Bộ, hướng cấu trúc kiến tạo Đông Bắc - Tây Nam, song song với bờ biển của đất liền. Các đảo này thuộc phức hệ nếp lồi Quảng Ninh, và ở đơn vị cấp nhỏ hơn là khối nâng đơn nghiêng Vân Đồn. Trên các đảo Sậu Nam, Ba Mùn, Trà Ngọ Nhỏ và phần núi đất trên đảo Trà Ngọ có tầng đá mẹ là đá lục nguyên màu đỏ, tuổi Đề - Vôn Sớm hệ tầng Vĩnh Thực, với những thành phần cát sạn, thạch anh, kết cấu cát và cuội dạng quắc zít, pha lẫn trầm tích vụn thô - nguồn gốc hình thành từ trầm tích cơ học. Phần còn lại, bao gồm cả phần lớn đảo Trà Ngọ đá và các đảo đá nằm rải rác trong vịnh, tầng đá mẹ là đá vôi - có nguồn gốc hình thành là trầm tích hóa học. Như vậy đảo Trà Ngọ lớn có cấu tạo địa chất khá đặc biệt, một thân đảo có 2 nền địa chất với nguồn gốc hình thành rất khác nhau. Phần Bắc đảo là "núi đất" trên nền đá lục nguyên (gồm các đá mẹ sa thạch, cuội kết, cát kết) chiếm diện tích hơn 1/3 đảo. Phần Nam đảo là núi đá vôi, đặc trưng bởi địa hình castơ có nhiều hang động và thung áng. Do chịu ảnh hưởng thủy triều, các thung áng này hình thành thành các vụng kín trong lòng núi, tạo ra những cảnh quan rất đặc sắc và hấp dẫn.


Về địa hình, các đảo trong vịnh thuộc địa hình đồi núi thấp, bao gồm những đỉnh núi cao dưới 300m so với mặt biển, cao nhất là đỉnh Cao Lồ trên đảo Ba Mùn với độ cao 314m. Các đảo này nhìn chung hẹp về chiều ngang và kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Độ dốc của 2 sườn đảo có sự phân hóa rõ rệt, sườn đảo phía Đông của dãy đảo Ba Mùn và Sậu Nam rất dốc, vách núi gần như dựng đứng sát mép biển, trong khi sườn Tây khá thoải. Ven chân các đảo có nhiều vũng, bãi gian triều đất bùn, hoặc nhiều bãi cát hẹp và bãi đá ở chân đảo rộng từ 30m đến 70m, ngập triều theo chu kỳ. Một số vùng rộng hàng trăm héc-ta, vừa có bãi bùn, vừa có bãi cát, bãi đá, vừa có chỗ sâu, cảnh quan đẹp, thuận lợi cho việc neo trú tàu thuyền, như vũng Cái Quít, vũng Ổ Lợn, lạch Cống giữa 2 đảo Trà Ngọ Lớn và Trà Ngọ Nhỏ, vũng Cái Đé. Đặc sắc nhất là các bãi Chương Nẹp, bãi Nhãng Rìa thuộc xã Minh Châu và bãi Sơn Hào thuộc xã Quan Lạn. Các bãi cát thuộc xã Minh Châu dài hàng cây số, rất bằng phẳng, hạt cát rất trắng mịn và sóng êm ả. Trái lại các bãi cát ở xã Quan Lạn cũng rất dài, bằng phẳng nhưng hạt cát thô hơn, có màu vàng và sóng ở đây cũng mạnh hơn.


Đất trên các đảo hầu hết thuộc loại đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô. Từ độ cao hơn 100m đất có rừng che phủ, độ ẩm cao, tầng dày khoảng 50cm và giàu dinh dưỡng. Ở độ cao thấp hơn 100m, ven chân đảo đất có tầng mỏng khoảng 40cm, nghèo dinh dưỡng do bị xói mòn, rửa trôi. Trên các đảo Ba Mùn, Sậu Nam, Trà Ngọ Nhỏ và một phần núi đất Trà Ngọ Lớn đất còn tốt, giàu chất dinh dưỡng, thuận lợi cho quá trình tái sinh tự nhiên và nhân tạo của hệ thực vật.


Các đảo ở vịnh Bái Tử Long có dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, là hình ảnh cổ xưa của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất khoảng 300 triệu năm, do quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình castơ bào mòn, phong hoá tạo ra một hình thái đặc biệt như một bức tranh thủy mạc được tạo ra từ biển và đảo. Trên các đảo đá của vịnh cũng có các hang động castơ, đặc biệt là hang Quan (hang Hải quân) mà người ta dùng làm nơi trú ẩn của tàu thuyên xưa kia trong những khi biển động.


Những cảnh vật thể hiện giá trị địa chất, địa mạo trong vịnh Bái Tử Long đã tạo ra sức hấp dẫn. Hệ thống đảo đá với và đảo đất xen kẽ nhau đã tạo ra một cảnh quan địa hình với cảnh sắc tuyệt vời còn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên kỳ thú. Nhiều đảo đá vôi với nhiều hình thù kỳ lạ đã thu hút trí tưởng tượng của con người. Có đảo trông giống con công hay thiên nga đang bơi lội, có đảo lại giống một con ngựa đá khổng lồ... Cùng với đó là những quần thể thực vật tươi tôt quanh năm che phủ trên núi đá như mái tóc của các mỹ nhân. Những lạch biển trong xanh chạy dài giữa hai bên là các đảo có rừng xanh che phủ. Những bãi cát vàng với vẻ đẹp tinh khôi ẩn mình tĩnh lặng phân bố rải rác dưới chân các đảo nhỏ còn rừng tự nhiên tươi tốt. Một cảnh quan nổi tiếng là bãi cát trắng tự nhiên dưới chân rừng Trâm trên xã đảo Minh Châu, một điểm đến đẹp nhất vùng Đông Bắc. Khi triều xuống thấp, những ngấn đá hằn sâu dưới chân đảo cũng là những biểu hiện ngàn năm của các vận động địa chất hải văn, biển tiễn, biển lùi và thủy triều lên xuống.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:50:59 am
Cũng giống như vịnh Hạ Long, trong vịnh Bái Tử Long có hàng trăm đảo có tên gọi riêng gắn với những truyền thuyết, sự tích hay tên loài vật nào đấy theo trí tưởng tượng của con người. Đó là hòn Mẫu Tử kể về nghĩa mẹ thiêng liêng, qua câu chuyện một người mẹ trẻ vì chút tình thơ ngây bị vua cha quở trách đày xuống thủy cung không cho nhận con nhỏ, nhưng ngày ngày người mẹ trẻ vẫn nâng bầu sữa tràn đầy sự sống lên trên mặt nước, để con mình được nuôi dưỡng bằng tình thương của mẹ. Còn đây là hòn Thiên Thư niềm an ủi của những bậc văn nhân miệt mài đèn sách - Thiên Thư là chồng sách của trời, cả một hòn đảo đá khổng lồ được hình thành bởi những phiến đá phẳng xếp hơi nghiêng như những trang sách đang mở ra trước mắt một bậc hiền triết. Quay nhìn lại phía sau ta thấy hòn Con Quy như hứa hẹn đón ta về trong vinh quang, sau những vất vả nhọc nhằn mà ta đã vượt qua để tô đẹp thêm cuộc sống. Xa hơn nữa là hòn Thạch Mã xung quanh ngổn ngang nào cung, kiếm, khiên, đao, gậy tày, giáo vạt. Phải chăng đây là nơi ngày xưa một vị đại tướng nhà trời trên đường trở về sau cuộc chinh chiến, vì mải mê cảnh đẹp đã trút bỏ ngựa chiến và binh khí, ở lại nơi đây để xây đắp hạnh phúc và hoà bình cho mình và cho người trên mảnh đất này. Nơi đây còn có hòn Bàn Cờ Tiên với bàn cờ bằng phẳng trải ngay mép nước, bên cạnh một ngọn đèn lớn luôn sẵn sàng thắp sáng. Và còn biết bao dáng hình của đá, một thế giới hình khối cứng rắn như đá mà mềm mại như nước, một phòng trưng bày rộng đến khôn cùng.


Vịnh Bái Tử Long cùng với vịnh Hạ Long trở thành một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Nơi đây còn in dấu nền văn hóa Hạ Long từ hàng nghìn năm trước và cũng còn lưu giữ khá vẹn nguyên nét tinh khôi của một quần đảo thủa hồng hoang với những hòn đảo xinh đẹp và những bãi cát dài trắng xóa. Đặc biệt khu sinh thái Bái Tử Long thuộc huyện đảo Vân Đồn trải dài trên diện tích 100ha, có trên 10km bờ biển, khu du lịch sinh thái được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hoà kiến trúc truyền thống Á Đông với phong cách hiện đại phương Tây. Những nhà sàn khép kín, sát biển tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên, xoá nhoà ranh giới giữa thế giới hiện đại ồn ào, náo nhiệt với biển cả mênh mông. Nhịp sống của Vạn Chài với những truyền thuyết về biển cả và thưởng thức những đặc sản biển như cá giò, cá song, tôm, cua, ghẹ, hến, mai, ốc nhảy, ốc hương, mực...


Lịch sử vịnh Bái Tử Long gắn liền với những trang sử của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn, nơi cửa biển sầm uất thời Lý cách đây gần 900 năm, một vùng trên bến dưới thuyền, bộn bề hàng hoá, tấp nập thương nhân từ Xiêm La sang, Trung Quốc xuống, lại thêm những chuyến tàu bè cập cảng của Ấn Độ, Nhật Bản, từ vùng Trung Cận Đông.


Năm 1149 vua Lý Anh Tông cho thành lập trang Vân Đồn để buôn bán với người nước ngoài, mở ra sự hình thành và phát triển của hệ thống thương cảng Vân Đồn - cánh cửa hội nhập đầu tiên của nước ta. Đây cũng là thương cảng biển đầu tiên của Việt Nam, trong giao thương với các nước trong khu vực Đông Á và thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia,... Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý - Trần - Hậu Lê (Lê Sơ) rồi suy thoái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc. Di tích thương cảng Vân Đồn còn chứa đựng dấu ấn của nhà Trần về chiến công chống ngoại xâm lại vừa có dấu ấn về giao thương, buôn bán. Sau khi thương cảng Vân Đồn được hình thành từ thời Lý đến thời Trần đã phát triển tới hưng thịnh. Di tích thương cảng cổ Vân Đồn đã được xếp hạng di tích quốc gia.


Nhiều hiện vật đã được tìm thấy tại nhiều điểm trên các xã đảo thuộc huyện Vân Đồn, trong đó có một trung tâm chính tại Cái Làng thuộc xã Quan Lạn. Các bến thuyền cổ trung chuyển hàng hoá gồm hương liệu, gốm sứ, lâm thổ sản hình thành dọc ven sông Bạch Đằng, Cửa Lục cho tới các đảo Cống Đông, Quan Lạn. Tại đảo Cống Đông (nay là xã Thắng Lợi), các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của nhiều công trình kiến trúc Phật giáo quy mô thời Trần như chùa, tháp, nhiều di vật bia đá, lan can, chân kê cột... Đây là những minh chứng rõ nhất cho sự phát triển phồn thịnh về thương mại dưới triều nhà Trần.


Thương cảng cổ Vân Đồn không phải là một bến cảng với những cầu tàu nối tiếp trên một vũng biển như hiện nay mà gồm nhiều bến thuyền phân bố trên chiều dài hàng chục ki-lô-mét từ Nam lên Bắc. Từ đại dương đi vào, bến đầu tiên của cảng Vân Đồn là Cái Làng nằm sát dưới chân núi Man thuộc đảo Quan Lạn. Đối diện với bến Cái Làng là bến Cống Cái nằm dưới chân núi Vân. Rồi bến Con Quy ven đảo Ngọc Vừng, các bến thuyền nằm giữa hai đảo Cống Đông, Cống Tây, v.v... Việc bố trí cảng ở nhiều địa điểm là nhằm giảm lưu lượng tàu thuyền tập trung quá đông vào một bến, đồng thời quy định cụ thể nơi đỗ của tàu thuyền ngoại quốc và tàu thuyền trong nước, tránh đỗ xen kẽ để dễ bề quản lý. Hàng hoá trao đổi ở cảng Vân Đồn thời đó gồm: các sản vật tự nhiên phong phú như hương liệu, ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu. Loại hàng hoá này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hàng xuất khẩu hàng năm của quốc gia Đại Việt. Loại hàng hoá thứ hai, đứng sau sản vật tự nhiên là đồ sứ. Thời Lý, đồ sứ men ngọc với kỹ thuật chế tác khá cao, không kém đồ sứ men xanh "Long Tuyền" của Trung Quốc hồi đó. Đồ sứ thời Lý dáng thanh nhã, hoa văn trang trí khéo léo, đẹp mắt, thường là hoa văn đắp nổi cả trong và ngoài mặt thành đồ vật. Theo một nhà sử học Nhật Bản từng nghiên cứu về Vân Đồn, thì đồ sứ triều Lý được nhiều nước ưa chuộng và đã thấy bán ở tận xứ Đông Ấn.


Đến thời Trần, đồ sứ phát triển thêm một bước mới, kiểu dáng khoẻ khoắn, men son nâu thanh thoát, giản dị chẳng những làm cho thương nhân nhiều nước ưa chuộng, mà ngay đến cả vua chúa triều Nguyên (Trung Quốc) cũng ưa dùng, muốn trong số những công vật của nhà Trần dâng cho "Thiên triều" phải có loại bát sứ. Loại hàng hoá thứ ba là lụa là, gấm vóc. Tuy tỷ trọng xuất khẩu không lớn, những đồ dệt của thợ thủ công kỷ nguyên Đại Việt khá đa dạng, kỹ thuật tinh tế, màu sắc rực rỡ đã làm cho thương nhân ngoại quốc rất ưu chuộng.


Vịnh Bái Tử Long cũng là nơi tưởng nhớ chiến công oai hùng của Trần Khánh Dư cùng 3 anh em họ Phạm, người xã Quan Lạn đánh tan đoàn thuyền lương của tướng giặc Nguyên Mông - Trương Văn Hổ (1288). Ngoài ra, trên vịnh Bái Tử Long có các đền thờ nổi tiếng như: Đền Trần Quốc Tảng (còn gọi là đền Suốt), gần Cẩm Phả. Anh hùng Trần Quốc Tảng (tước Hưng Nhượng Vương) là con thứ ba của Đức ông Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, góp công rất lớn trong nhiều trận đánh quân Nguyên Mông. Ông còn là một nhà văn thơ khoáng đạt và một nhà tư tưởng sâu sắc về Thiền tông. Dân chúng ghi ơn và lập đền thờ; hàng năm đều mở hội kỷ niệm vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch. Đồn Tĩnh Hải, thành nhà Mạc (trên đảo Ngọc Vừng), đình Quan Lạn (trên đảo Quan Lạn), chùa 100 gian ở xã Thắng Lợi (huyện Vân Đồn - Quảng Ninh) là một trong những công trình kiến trúc lớn trên dải đất vùng Đông Bắc thuộc vịnh Bái Tử Long.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:51:43 am
Vịnh Bái Tử Long là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới.

Hệ sinh thái rạn san hô là một hệ sinh thái đa dạng nhất hành tinh và được ví như "rừng mưa nhiệt đới dưới đáy biển", nó chỉ phân bố ở vùng biển nông ven bờ. Đây là nơi sinh sống, đẻ trứng, ẩn náu, kiếm mồi cho rất nhiều loài hải sản. Hệ sinh thái rạn san hô còn có năng suất sinh học cao, là nguồn sản sinh ra hữu cơ, cung cấp thức ăn không chỉ cho chính nó, cho các sinh vật sống trong rạn mà còn có ý nghĩa cho toàn vùng biển. Vì vậy, đây là nơi lưu trữ nguồn gen của nhiều loài hải sản. Rạn san hô cũng là một hệ sinh thái rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường sống nên nó còn có ý nghĩa chỉ thị môi trường.


Các nhà khoa học đã thống kê được 106 loài san hô cứng thuộc 34 giống 12 họ phân bố chủ yếu tại khu vực Hòn Mang Khơi, Soi Mao, Đầu Cào, Đá Ấy, Nam Sậu Nam, phía Đông Ba Mùn... Các rạn san hô khu vực Bái Tử Long đều thuộc kiểu rạn không điển hình, rạn viền bờ ven đảo (island fringing reefs). Do đặc điểm là rạn hở chịu tác động mạnh của sóng và dòng chảy để lộ ra các tảng đá gốc lớn, địa hình đáy gồ ghề nên rạn thường hẹp. Có quan điểm cho rằng rạn san hô chỉ tồn tại ở những nơi có nhiệt độ trên 18°C, nhưng hệ sinh thái rạn san hô ở vịnh Bái Tử Long đã tồn tại trong điều kiện nhiệt độ có lúc xuống dưới 18°C và kéo dài tới hàng tháng trong 1 năm.


Sự phân bố mặt rộng của san hô phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, độ muối, địa hình và chế độ thủy động học. Do có nhiều đảo đất nên khu vực phía trong có nhiều trầm tích bùn, chất đáy là bùn cát và sỏi cuội nên không thích hợp cho san hô phát triển. Mặt khác khu vực này gần các cửa sông như Tiên Yên, Cửa Ông, nên vào mùa mưa lượng nước ngọt và bùn đất trên các đảo đổ xuống làm vẩn đục và ngọt hoá làm cho san hô không phát triển được. Sự phân bố theo độ sâu của san hô cứng cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: địa hình (độ nghiêng, nền đáy, độ sâu,...) độ trong và cường độ thủy động lực. Nhưng quan trọng nhất là độ muối và độ trong của nước biển vì trong san hô có chứa hàng triệu tế bào tảo Zooxanthellae cộng sinh, nhờ năng lượng mặt trời tảo quang hợp tạo nguồn thức ăn rất quan trọng cho san hô và tăng sự vôi hoá. Do ảnh hưởng của độ đục cao, độ trong thấp nên san hô không vươn xuống sâu.


Tính đến thời điểm tháng 1 năm 2008, ở vịnh Bái Tử Long các nhà khoa học đã thống kê được 1.909 loài động, thực vật. Trong đó hệ sinh thái rừng có 1.028 loài, gồm các nhóm: thực vật bậc cao có mạch, thú, chim, bò sát, lưỡng cư. Hệ sinh thái biển có 881 loài gồm: thực vật ngập mặn, rong biển, thực vật phù du, động vật phù du, giun đốt, thân mềm, giáp xác, da gai, san hô, cá. Tổng số loài quý hiếm lên đến 60 loài, trong đó có 52 loài trong sách đỏ Việt Nam (1996); 10 loài có tên trong Nghị định 32/2006/CP-NĐ của Chính phủ quy định danh sách các loài động thực vật quý hiếm cần bảo vệ (NĐ 32) và 2 loài có tên trong cả 2 danh sách.


Thành phần loài động vật hoang dã trên đảo có: Lốp thú có 24 loài thuộc 13 họ, 6 bộ. Lớp chim có 71 loài thuộc 28 họ, 9 bộ. Lớp lưỡng cư có 15 loài thuộc 1 họ, 1 bộ. Lớp bò sát có 33 loài thuộc 12 họ, 2 bộ. Côn trùng bộ Cánh phấn (Lepidoptera) có 120 loài, thuộc 8 họ.


Nằm trong danh sách được đưa vào sách đỏ về động vật rừng có: Bồ câu nâu, báo gấm (Neofelis nebulosa), báo lửa, sơn dương (Capricornis sumatraensis), rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata), tắc kè (Gekko gekko), kỳ đà hoa (Varanus salvator), trăn đất (Python molurus), rắn ráo thường (Ptyas korros), rắn cạp nong (Bungaus fasciatus), rắn hổ mang (Naja naja), rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah)...


Vịnh Bái Tử Long có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng. Hệ thực vật ở đây bao gồm 780 loài, 468 chi, 135 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó ngành Mộc lan (Magnoliphyta) chiếm đa số với 729 loài, 438 chi 114 họ. Ngành Dương xỉ (Podipidiophyta) với 16 họ, 24 chi, 45 loài. Hai ngành ít loài nhất là Lá thông (Psiliophyta) và ngành Thông đất, mỗi ngành chỉ gặp mỗi một họ, 1 chi, 1 loài. Ngành Thông (Polyphyta) có 3 họ, 4 chi, 4 loài.


Trong tổng số 135 họ thực vật có ở vịnh, số loài gặp trong mỗi họ có khác nhau. Có 31 họ mới gặp 1 loài, 32 họ có 3-4 loài, 28 họ có 5-9 loài và 24 họ có trên 10 loài. Hai họ có số lượng trên 40 loài là Rubiaceae (47 loài) và Euphorbiaceae (41 loài). Đây cũng là những họ có số chi và loài đa dạng nhất trong hệ thực vật Việt Nam.


Vịnh Bái Tử Long có 21 loài thực vật quý hiếm được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam (1996) và 10 loài có tên trong các phụ lục IA, IIA của Nghị định 32/2006/CP-NĐ của Chính phủ quy định danh sách các loài động, thực vật quý hiếm cần bảo vệ.


Nguồn tài nguyên cây có ích bao gồm: 431 loài cây thuốc, 126 loài cây cho gỗ, 44 loài cây cho quả và hạt ăn được, 33 loài cây làm rau ăn, 27 loài cây cho tinh dầu và dầu béo, 14 loài cây làm thức ăn cho gia súc.


Kết quả khảo sát điều tra cho thấy sự đa dạng về các loại động vật biển gồm 391 loài. Hầu hết các loại động vật biển ở đây đều là loài hải sản có giá trị knih tế cao và mang ý nghĩa khoa học rất lớn. Sự có mặt của ấu trùng sông phù du và sự có mặt của con non phản ánh chu kỳ khép kín của một vòng đời các loài hải sản. Sự tồn tại của hai dạng sống đồng thời này có được nhờ những hệ sinh thái biển thuộc vùng vịnh Bái Tử Long, nó là nơi phân bố, phát sinh, lưu giữ nguồn sống. Trong đó có nhiều loài quý hiếm như bào ngư, hải sâm, sá sùng, trai ong còn gọi là bò hải ngưu (Sirenia) thế giới đã đưa vào loài quý hiếm cần được bảo vệ.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:52:11 am
Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, được thành lập ngày 1 tháng 6 năm 2001 theo Quyết định số 85/2001/QĐ-TTg, trên cơ sở mở rộng và chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn. Đây là một trong bảy vườn quốc gia của Việt Nam vừa có diện tích trên cạn vừa có diện tích biển.


Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trong vịnh Bái Tử Long, sát cạnh Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. Từ truyền thuyết đến chính sử, cũng như từ huyền thoại đến hiện thực, đều chứng tỏ vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long là một thể thống nhất, với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và tự nhiên nổi trội.


Đồng thời những lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đã tạo cho vườn quốc gia những giá trị đặc sắc riêng có, nơi lưu giữ những đặc trưng của hệ sinh thái biển - đảo vùng Đông Bắc, môi trường và cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Đây chính là những tiềm năng và lợi thê cho việc phát triển du lịch sinh thái để hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên và cải thiện sinh kế cho người dân đang sông ở vùng lõi và vùng đệm của vịnh Bái Tử Long. Qua quá trình hoạt động, vườn quốc gia đã và đang triển khai thành công nhiều biện pháp bảo tồn, tăng cường quản lý bảo vệ, nghiên cứu khoa học và gìn giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có loài rùa biển.


Bãi cát Cồn Trụi nằm cách cảng Minh Châu khoảng 500m và nằm về phía bên trái là nơi làm tổ và đẻ của loài vích - một trong những loài rùa biển được bảo vệ cấp toàn cầu. Tại đây, năm 2004, các nhà khoa học đã phát hiện 2 ổ trứng vích, năm 2007 phát hiện 1 ổ và cứu hộ thả về biển 1 rùa mẹ. Đây là một bãi cát thường xuyên thay đổi khi bồi, khi lở, độ dốc lớn rất nguy hiểm đối với mọi hoạt động của con người. Nếu phân tích một cách khoa học, ta thấy loài rùa biển tuy chậm chạp nhưng rất thông minh, vì chúng đã chọn một nơi ít người đến và rất an toàn cho việc sinh sản. Do điều kiện thủy triều biến động lớn nên trong khu vực vịnh Bái Tử Long, rùa biển chỉ làm tổ vào buổi đêm trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm và đặc biệt là những đêm con nước cường vào lúc nửa đêm, nhất là vào những đêm có dông tố. Do độ biến động của thủy triều rất lớn nên chỉ những tổ trứng được đẻ vào đêm có mức nước cao nhất mới có khả năng tự tồn tại và nở ra rùa con. Trường hợp rùa đẻ vào con nước kém các tổ trứng sẽ rất dễ hỏng do bị ngập nước hoặc lở bãi, vì vậy nếu phát hiện phải kịp thời cứu hộ đưa lên chỗ an toàn. Và đương nhiên, việc cứu giúp sự sinh nở không phải là việc dễ dàng.


Hàng năm, đến mùa sinh đẻ, vào tháng 3 đến tháng 9 cao điểm vào tháng 7 thì rùa mẹ nặng nhọc bò lên bãi cát, đến chỗ cho là an toàn, nó bắt đầu dùng hai chân trước như hai mái chèo bối cát hất về phía sau để làm tổ. Khi nửa thân trước đã ngập trong hố, thì hai chân sau mới tiếp tục bới cát thành một hố tròn vo, dưới to, trên nhỏ, sâu đến 50 - 70cm. Lúc này rùa mẹ bắt đầu rặn đẻ. Từng quả trứng mềm to mỏng tròn như quả bóng bàn lần lượt rơi xuống. Mỗi lứa rùa đẻ hai, ba chục thậm chí đến cả trên trăm quả trứng. Đẻ xong, nó lấp cát đầy cẩn thận rồi chậm chạp quay đầu, lê lết tấm thân mỏi mệt quay về biển với đôi mắt giàn giụa nước mắt của một người đau đẻ. Trong điều kiện tự nhiên, sau khoảng 45-60 cùng lắm là 72 ngày sau thì trứng nở, người ta đã xác định được tỷ lệ rùa con sống sót chỉ là 1/1.000. Đang đào mà hố sập, nó bỏ ngay, đi tìm chỗ khác hoặc đêm sau lại bò lên đào cát làm tổ và đẻ. Rùa chỉ đẻ vào ban đêm, khi thủy triều lên cao nhất, đặc biệt khi trời có dông thì chắc chắn sẽ có rùa đẻ. Rùa con khi được nở ra trong tổ, chúng chờ nhau 1 vài ngày để cùng chui lên mặt đất, cuống quýt hối hả bò xuống nước và bơi ra xa bờ để tránh sự rình rập nguy hiểm từ các thiên địch như: chim, rắn, kỳ đà, các thú dữ khác... Đây là giai đoạn đầu đời của mỗi chú rùa con để ghi nhận những thông tin cần thiết và sau đó khoảng 20-30 năm khi đến tuổi trưởng thành chúng quay về nơi "chôn nhau cắt rốn" để thực hiện thiên chức làm mẹ lần đầu tiên trong đời, đây là một đặc điểm sinh học lý thú của các loài rùa biển.


Để giup rùa mẹ chuyển trứng tới nơi an toàn, những người làm việc trong khu bảo tồn phải rất công phu, không quản ngại vất vả, sánh ngang với công việc của những bà đỡ, bà mụ. Trước hết phải tuần tra trên bãi liên tục trong đêm, ít nhất 2 giờ một lần để phát hiện kịp thời việc sinh nỏ ngay khi việc đó đang bắt đầu. Sau đó, trong vòng 6 tiếng đồng hồ sau khi trứng được sinh ra từ rùa mẹ, phải chuyển ngay đến chỗ an toàn và ổn định, tạo một tổ mới để đưa trứng vào ấp. Phải làm như vậy là vì, phôi trứng đã phát triển ngay từ khi còn trong bụng rùa mẹ và chỉ tạm ngừng phát triển khi rùa đẻ trứng trong khoảng thời gian ngắn, sau thời gian đó phôi lại tiếp tục phát triển, đến lúc này chỉ cần một vận động nhẹ lắc quả trứng là các mạch máu trong phôi sẽ bị đứt và phôi bị chết.


Trong những năm qua, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN đã phối hợp với vườn quốc gia Bái Tử Long, chính quyền và nhân dân xã Minh Châu triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn rùa biển. Những hoạt động thiêt thực đó đã góp phần nâng cao nhận thức người dân, tích cực tham gia bảo tồn biển và rùa biển, đồng thời đã tiến hành một số hoạt động cụ thể như bảo vệ tổ trứng rùa, cứu hộ rùa mẹ lên bãi đẻ... góp phần bảo vệ rùa biển vịnh Bái Tử Long khỏi nguy cơ tuyệt chủng.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:53:23 am
* Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển, đảo thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hải. Các thời Lý, Trần, Lê vịnh mang các tên Hoa Phong, Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long (rồng đáp xuống) mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bản đồ hàng hải của Pháp từ cuối thế kỷ XIX.


Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.500km2 bao gồm gần 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của vịnh có diện tích 334km2 quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau; quá trình tiến hóa castơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể.


Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27 - 29°c và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16 - 18°C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15 - 25°C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm - 2.200mm. Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5 - 4m/ngày. Độ mặn trong nước biển trên vùng vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn. Mực nước biển trong vùng vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt.


Trong số gần 2.000 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có quy mô từ vài chục đến hàng ngàn héc-ta tập trung chủ yêu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).


Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích 434km2, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm) là di tích danh thắng quốc gia đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng. Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giũa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động các yếu tố: đá, nước và bầu trời. Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Có chỗ đảo quần tụ lại nhìn xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang xen kẽ nhau, tạo thành tuyến chạy dài hàng chục ki-lô-mét như một bức tường thành. Đó là một thế giới sinh linh ẩn hiện trong những hình hài bằng đá đã được huyền thoại hóa. Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người) đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng) đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng) phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); đảo lại lúp xúp như mâm xôi cúng (hòn Mâm Xôi) rồi hai con gà đang âu yếm vòn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái) đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất (hòn Lư Hương) đảo khác tựa như nhà sư đứng giữa mặt vịnh bao la chắp tay niệm Phật (hòn Ông Sư) đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa) mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn nên dân chài còn gọi là hòn Ông, v.v...


Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái. 14 loài thực vật đặc hữu và khoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại vịnh.


Vịnh Hạ Long có từ xa xưa do những kiến tạo địa chất. Tuy nhiên, trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn rồng tới hạ giới. Đàn rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc chặn bước tiến của thuyền chiến giặc. Đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đã đâm vào các đảo đá và va chạm với nhau vỡ tan tành.


Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15km).


Có truyền thuyết lại cho rằng, từ thuở dựng nước, khi đất nước có giặc ngoại xâm, một con rồng đã bay dọc theo sông xuôi về phía biển và hạ cánh xuống ở vùng ven biển Đông Bắc làm thành bức tường thành chắn bước tiến của thủy quân giặc. Chỗ rồng đáp xuống che chở cho đất nước được gọi là Hạ Long.


Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000 - 7.000 năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000 - 5.000 năm trước Công Nguyên và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:54:11 am
Tiến trình dựng nước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam trong suốt hành trình lịch sử cũng khẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà tên gọi gắn với điến tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, Bãi Cháy, v.v... Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn vẽ du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung.


Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là "Kỳ quan đá dựng giữa trời cao". Năm 1962, Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồng thời quy hoạch vùng bảo vệ. Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ (tiêu chuẩn vii), và được tái công nhận lần thứ 2 với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất - địa mạo (tiêu chuẩn viii) vào năm 2000. Cùng với vịnh Nha Trang của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất trên thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003. Hiện nay vịnh Hạ Long đang được dự kiến để xếp vào 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới.


Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số gần 2.000 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm về trước, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình carxtơ bào mòn, phong hóa gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị, với hàng ngàn đảo đá nhiều hình thù, dáng vẻ khác nhau lô nhô trên mặt biển, trong một diện tích không lớn của vùng vịnh.


Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà (vùng đệm). Hệ thống đảo ở vịnh Hạ Long dày đặc, trong đó có một số đảo tiêu biểu như: Hòn Con Cóc, đảo Tuần Châu, hòn Ngọc Vừng, đảo Ti Tốp, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ,...


Hòn Con Cóc nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12km về phía Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m. Hòn Trống Mái nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5km. Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh.


Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34km, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m2. Đảo Ngọc Vừng rộng 12km2, có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn từ thế kỷ XI và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía Đông của đảo có bãi cát trắng dài tới hàng ki-lô-mét. Khu vực này tương truyền trước kia có nhiều ngọc trai, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời biển, nên có một số đảo mang tên đảo Ngọc như đảo Ngọc Vừng (ngọc phát sáng) hay Minh Châu (ngọc châu, ngọc sáng).


Đảo Ti Tốp, thời Pháp thuộc mang tên hòn Cát Nàng, nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14km về phía Đông. Đảo được đặt tên Ti Tốp từ khi Hồ Chí Minh đến thăm vịnh Hạ Long cùng với nhà du hành vũ trụ người Nga Gherman Titov, vào năm 1962. Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân.


Ở vịnh Hạ Long những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ XX khẳng định rằng hầu hết các hang động đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.


Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên "Grotte des surprises" (động của những kỳ quan). Đây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Nằm ở vùng trung tâm của vịnh với hệ thống bao gồm bãi Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung - hang Luồn - hang Sửng Sốt. Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang được chia thành 2 ngăn chính.


Hang Sửng Sốt được phát hiện khá sớm trên vịnh Hạ Long (cuối thế kỷ thứ XIX). Tên của hang mãi đến năm 1946 mới được xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng do một số đoàn thám hiểm đã đến đây. Năm 1999, Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã đầu tư tôn tạo hang Sửng Sốt. Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng hang. Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang.


Đường lên hang Sửng Sốt quanh co uốn lượn dưới những tán lá rừng, với những bậc đá ghép cheo leo, khúc khủyu. Hang được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn thứ nhất như một nhà hát lớn rộng thênh thang với trần hang được phủ bằng nhũ đá, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá, mở ra một thế giới của cổ tích. Ngăn 2 cách biệt với ngăn 1 qua một lối đi hẹp. Bước vào lòng ngăn này, động mở ra một khung cảnh mới khác lạ hoàn toàn với lòng ngăn rộng có thể chứa được hàng ngàn người. Trong lòng ngăn 2 của hang Sửng Sốt có những hình tượng được gắn với truyền thuyết Thánh Gióng: cạnh lối ra vào là khối đá hình chú ngựa, thanh gươm dài và trong lòng hang có những ao hồ nhỏ như vết chân ngựa Gióng.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:54:54 am
Động Thiên Cung cách thành phố Hạ Long khoảng 8km. Qua khảo cứu, đảo Vạn cảnh có đỉnh cao 189m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung ở cách mép nước không xa. Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng 100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng.


Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Động có tiết diện hình tứ giác chiều dài hơn 130m, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn. Đó là 4 cột trụ to lớn giữa động mà từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành; những thạch nhũ mang hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát; trần hang với những điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc, hoàn toàn do bàn tay nhào nặn của tạo hóa tác thành qua hàng vạn năm. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng.


Hang Đầu Gỗ còn gọi là hang Giấu Gỗ, một hang động với những nhũ đá tráng lệ. Tên gọi hang Đầu Gỗ (tập trung gỗ) có từ sau khi tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân giấu các cọc gỗ lim tại đây trước khi đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng để bày thế trận cùng thủy quân đánh úp, đốt cháy đoàn thuyền tải lương thực của giặc Nguyên Mông vào mùa xuân năm 1288. Hiện các nhà khảo cổ còn tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn còn sót lại trong động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Đầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Merveilles du Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Đầu Gỗ là động của các kỳ quan.


Cửa hang Đầu Gỗ ở lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính. Ngăn phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức tranh khổng lồ vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ với những đàn voi, những chú hươu sao, sư tử trong những tư thế sinh động. Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều màu với nhiều hình thù tùy theo trí tưởng tượng của từng người. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo. Qua ngăn thứ nhất, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp lòng hang mở ra với ánh sáng chiếu vào mờ ảo, những bức tranh đá trở nên long lanh hơn và những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện. Tận cùng hang là một chiếc giếng nước ngọt và những hình tượng bằng đá như đang diễn tả một trận hỗn chiến kỳ lạ.


Năm 1917, hang Đầu Gỗ được vua Khải Định lên thăm và cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long nói chung và hang Đầu Gỗ nói riêng. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động tuy chữ đã bị mài mòn.


Ngoài ra, ở vịnh Hạ Long còn có hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thị xã Cẩm Phả 9km về phía Tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long, với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng xõa mái tóc dài hướng ra biển và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ; rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung, động Lâu Đài, Ba Hầm, v.v... đều được thiên nhiên kiến tạo nhiều đường nét, cảnh sắc tuyệt đẹp.


Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh thái điển hình là hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển ven bờ. Trong mỗi hệ lớn lại có nhiều dạng sinh thái nhỏ.

Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tim, cọ Hạ Long, khổ cử đại nhung, móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Một số tài liệu khác mở rộng danh sách thực vật đặc hữu của Hạ Long lên 14 loại, bao gồm cả những loại đã được người Pháp khám phá và đặt tên gắn với địa danh từ trước như sung Hạ Long, nhài Hạ Long, sóng bè Hạ Long, giềng Hạ Long, phất dụ núi, phong lan Hạ Long... Danh sách những loài thực vật đặc hữu khác tại vịnh Hạ Long rất có thể còn được bổ sung nhiều hơn, do chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đủ, toàn diện về thực vật trên tất cả các đảo trong khu vực vịnh và vùng lân cận. Chẳng hạn loài trúc mọc ngược mà mấy năm gần đây các nhà khoa học mới phát hiện ra trên một số đảo đá của vịnh Hạ Long, một giống trúc có cành chĩa xuống đất, khác các giống trúc thông thường chĩa cành lên trời.


Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Ở vùng này còn có loại khỉ thân nhỏ, hiện được nuôi theo phương pháp đặc biệt tại đảo Khỉ.


Hệ sinh thái biển và ven bờ chủ yếu là các thảm thực vật xanh mọc trên đảo đá vôi. Hệ sinh thái biển và ven bờ của vịnh Hạ Long bao gồm trong đó hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển với những điểm đặc thù:

- Hệ sinh thái đất ướt: Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên vịnh, bao gồm 20 loài thực vật ngập mặn; là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác. Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô được tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò, có 232 loài san hô đã được tìm thấy. Rặng sinh thái đáy cứng, san hô là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua. Dạng sinh thái hang động và tùng, áng ở vịnh Hạ Long rất tiêu biểu và hiếm nơi có được. Đặc biệt khu vực Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Dạng sinh thái đáy mềm là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển với 5 loài, là nơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác. Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn chủ yếu là sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao...

- Hệ sinh thái biển: Thực vật phù du ở vịnh Hạ Long có 185 loài. Động vật phù du vùng Hạ Long - Cát Bà có 140 loài. Động vật đáy qua thống kê sơ bộ vùng Hạ Long có đến 500 loài, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ, 13 loài da gai. Động vật tự du đã xác định được 326 loài phân bố trong vịnh Hạ Long.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:55:33 am
Theo đánh giá của các nhà khoa học đến nay hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong tổng sô 347 loài thực vật đã biết, có 16 loài đang nằm trong danh sách sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau.


Trên các đảo tại vịnh Hạ Long có nhiều loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu. Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang, mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc. Theo tài liệu của Phân viện Hải dương học Hải Phòng, trong 1.151 loài động vật tại Hạ Long thì đã có tới gần 500 loài cá, 57 loài cua. Đây là nguồn động vật phong phú có giá trị kinh tế cao cần được bảo tồn và phát triển.


Về di chỉ khảo cổ và chứng tích lịch sử ở vịnh Hạ Long: Năm 1937, ông Vũ Xuân Tảo đã tình cờ phát hiện được một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng. Phát hiện này đã gây xôn xao các nhà khảo cổ học Pháp thời ấy, bước đầu xác định Hạ Long không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của người tiền sử. Những nghiên cứu từ phía các nhà khảo cổ học Andecxen người Thụy Điển và chị em nhà Colani người Pháp sau đó đã cho thấy những công cụ đá, đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá và xương được phát hiện, thu thập ở Hạ Long đều thuộc thời đại hậu kỳ đá mới. Những di chỉ khảo cổ tại vịnh Hạ Long ban đầu được các nhà khoa học Pháp xếp vào khái niệm văn hóa Danhdola (Danhdola là tên đảo Ngọc Vừng do người Pháp đặt).


Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, các nhà khoa học Việt Nam và các chuyên gia khảo cổ học Liên Xô đã tiến hành nhiều cuộc thám sát điều tra trên diện rộng, quy mô lớn trong khu vực vịnh Hạ Long và vùng lân cận. Những cuộc khảo sát năm 1960 đã phát hiện tại di chỉ Tấn Mài trên vùng vịnh những mảnh ghè của người vượn và tiếp đó là khai quật được những mũi tên đồng từ thời Hùng Vương. Những kết quả nghiên cứu đó đã cho phép khẳng định về một nền văn hóa Hạ Long cách nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm.


Từ 1960 đến nay, sự thám sát và nghiên cứu rộng mở về khảo cổ học, văn hóa học tại trên 40 địa điểm, bao gồm trong đó Đồng Mang, Xích Thổ, Cột 8, Cái Dăm (thành phố Hạ Long); Soi Nhụ, Thoi Giếng (Móng Cái); Hà Giắt (Vân Đồn); hòn Hai Cô Tiên,... đã đưa đến kết luận quan trọng chứng minh cho sự tồn tại của người tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long lùi xa hơn nữa. Không chỉ có một văn hóa Hạ Long từ khoảng 3 - 5 thiên niên kỷ trước, còn có nền văn hóa Soi Nhụ cách ngày nay trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, phân bố rộng trong khu vực vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long với các di chỉ tiêu biểu tại Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long. Các di vật còn lại chủ yêu là sản phẩm đã được sử dụng làm thức ăn như ốc núi (cyclophorus) và ốc suối (melania), một số hóa thạch của nhuyễn thể nước ngọt và một số công cụ lao động thô sơ tích tụ cấu tạo thành tầng văn hóa. Các nhà khoa học nhận thấy, phương thức sống chủ yếu của cư dân Soi Nhụ là bắt sò ốc, hái lượm, đào củ, đào rễ cây, biết bắt cá nhưng chưa có nghề đánh cá. So sánh với các cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn đương thời thì cư dân Soi Nhụ sống gần biển hơn nên chịu sự chi phối từ biển nhiều hơn.


Bên cạnh nền văn hóa Soi Nhụ không thể không nói đến Văn hóa Cái Bèo, cách ngày nay 7.000 - 5.000 năm trước Công Nguyên, được coi như giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ trước đó và văn hóa Hạ Long về sau. Di chỉ khảo cổ Cái Bèo tập trung chủ yếu thuộc đảo Cát Bà (Hải Phòng) và Giáp Khẩu, Hà Gián thuộc vịnh Hạ Long. Văn hóa Cái Bèo là một trong những bằng chứng chắc chắn về sự đương đầu với biển khơi từ rất sớm của người Việt cổ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa đá cuội truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á. Phương thức cư trú và sinh sống của người cổ đại Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm nghề khai thác sản vật từ biển.


Trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ - Cái Bèo - Hạ Long trên khu vực vịnh Hạ Long chứa đựng những giá trị nhất định, cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại. Những đặc điểm của nền văn hóa này chưa được giải mã toàn diện và những kết quả thám sát khảo cổ học trong những năm gần đây vẫn tiếp tục hé lộ những bất ngờ mới mà một trong số đó là sự phát hiện di chỉ Đông Trong vào năm 2006. Trong một hang động tại Đông Trong, các nhà khảo cổ học phát hiện được di cốt người tiền sử, rìu đá, mảnh nồi gốm, trầm tích nhuyễn thể được sử dụng làm thức ăn và hàng trăm hạt chuỗi làm từ vỏ ốc, là một trong ba khu vực trên vùng vịnh Hạ Long tìm thấy di cốt người tiền sử.


Vịnh Hạ Long là nơi gắn liền với những trang sử của quân dân Việt Nam trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước với những địa danh như Vân Đồn, nơi có hải cảng cổ tại miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ XII. Thương cảng Vân Đồn với đặc điểm là có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu và kín gió, giúp cho thuyền bè neo đậu an toàn, không bị gió bão uy hiếp, đã khiến khu vực này trở nên sầm uất trong thông thương với khu vực và nhiều nơi trên thế giới.


Bên cạnh thương cảng Vân Đồn, tại vùng vịnh Hạ Long còn có núi Bài Thơ lịch sử, nơi lưu lại bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hoàng đế khắc trên đá từ năm 1468, nhân chuyến tuần du vùng biển phía Đông; và bút tích của chúa Trịnh Cương năm 1729. Bãi Cháy phía bờ Tây của vịnh, tương truyền gắn với sự tích những chiến thuyền chở lương thực của quân Nguyên - Mông bị quân dân nhà Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đốt cháy, dạt vào làm cháy cả cánh rừng trong khu vực. Trên vịnh còn có hang Đầu Gỗ, nơi còn vết tích hiện vật là những cây cọc gỗ được Trần Hưng Đạo cho đem giấu trước khi đóng xuống lòng sông Bạch Đằng và cách vịnh không xa là cửa sông Bạch Đằng, chứng tích của hai trận thủy chiến trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc. Hàng trăm đảo, hang động, nhũ đá trong vịnh Hạ Long được đặt tên theo các huyền thoại, truyền thuyết, hoặc theo trí tưởng tượng dân gian phong phú của cộng đồng cư dân nơi đây.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:56:30 am
Về phong tục và văn hóa, ngư dân làng chài cửa Vạn trên vùng vịnh Hạ Long hiện nay còn lưu giữ những câu hát giao duyên cổ xưa, đó là lối hát đúm, hò biển và hát đám cưới. Hát đám cưới của Hạ Long không kém gì lối hát của người quan họ Kinh Bắc và đám cưới của cư dân vạn chài cũng khá đặc biệt vì theo phong tục chỉ được tổ chức trong những ngày rằm. Đây là lúc trên vịnh có trăng sáng, cá ăn tản, vì vậy mà người dân chài không đi đánh cá nghỉ việc vui hội.


Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng.


Vịnh Hạ Long có các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí... Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan vịnh ban ngày, buổi chiều ngắm hoàng hôn trên vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh vịnh và câu cá mực. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước, trong đó vịnh Hạ Long là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang. Đây là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan biển, đảo.


Vịnh Hạ Long là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn.


Ngoài ra, vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng hải sản lớn. Vùng vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại... Đây sẽ là tiềm năng vô cùng to lớn để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, góp phần nâng cao đời sống người dân vịnh Hạ Long.


Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia. Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá - lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ).


Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển. Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long.


Ngày 21 tháng 12 năm 1991, Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới.


Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.


Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Giáo sư Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long. Giáo sư đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long. Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, ỦY ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long.


Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản Thế giới tại Paris. Tháng 12 năm 1999, tại hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Marrakech của Marôc, Hội đồng Di sản Thế giới đã đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất vịnh Hạ Long vào năm 2000.


Tháng 3 năm 2000, Giáo sư Erery Hamilton Smith chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định. Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản Thế giới tại Paris đã chính thức để nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản Thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất địa mạo, theo tiêu chuẩn viii của UNESCO "là ví dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sử trái đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đáng kể đang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn".


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 02 Tháng Tám, 2022, 06:56:57 am
Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất, địa mạo.


Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận vịnh Hạ Long là Di sản Thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng vịnh; cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới cũng đang xếp vịnh Hạ Long Việt Nam vào những thứ hạng cao.


Hạ Long, Hải Phòng và Hà Nội là các thành phố trung tâm quan trọng của sự phát triển kinh tế ở miền Bắc Việt Nam. Sự phát triển kinh tế của các khu đô thị này, cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các khu vực phía Nam Trung Quốc kể cả Hồng Kông, đều dẫn đến sự gia tăng về sức ép của con người tới vịnh Hạ Long. Khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hiện có mức tăng trưởng rất nhanh về sự phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt về mặt giao thông, tàu biển, khai thác than và các ngành du lịch, dịch vụ.


Từ năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng việc xây dựng cảng mới ở vùng vịnh Hạ Long có thể dẫn đến sự gia tăng về giao thông đường biển trong khu vực và phát triển cơ sở hạ tầng của du lịch sẽ là các mối đe dọa đối với vịnh, ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sự khai thác và đánh bắt tận diệt thủy sản cũng mang lại những đe dọa nghiêm trọng. Có những ý kiến cho thấy cần tiếp tục xem xét một cách thận trọng về sự phát triển trong vùng vịnh thông qua cơ cấu quản lý vì các giá trị quan trọng về mặt môi trường cho toàn vùng.


Hiện nay, sự phát triển mở rộng đô thị và sự gia tăng dân số cơ học, việc xây dựng bến cảng và nhà máy; các hoạt động du lịch và dịch vụ, rác thải trong sinh hoạt và chế xuất, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã không chỉ còn là nguy cơ, mà sự ô nhiễm môi trường và sự biến đổi cảnh quan của vịnh Hạ Long đã ở mức báo động. Do ô nhiễm, tình trạng những bãi san hô ở đáy biển sâu của vịnh Hạ Long đang trụi dần đi mà gần đây các nhà môi trường Việt Nam mới phát hiện ra. Mặt nước trong xanh của vịnh đang ngày càng đục dần, bồi lắng khiến các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo nguy cơ vịnh Hạ Long có thể bị "đầm lầy hóa". Thêm vào đó, do khu vực vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo mà phần lớn là núi đá vôi, nguồn nguyên liệu xây dựng tốt lại thuận tiện cho khai thác nên rất dễ bị tư nhân lợi dụng, gây biến dạng cảnh quan.


Ý thức về bảo vệ môi trường di sản của khách du lịch và của cộng đồng địa phương còn chưa cao, chưa xây dựng được hình ảnh, thương hiệu du lịch Hạ Long hiện đại, văn minh và lịch sự. Việc giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong mỗi người dân; sự hạn chế các khu lưu trú nghỉ dưỡng trên các đảo; nỗ lực kiểm soát theo tiêu chuẩn du lịch sinh thái và quy định bảo tồn di sản đối với cả mặt nước vùng đệm của di sản, đang là những vấn đề lớn đặt ra nhiều thách thức với chính quyền địa phương.


Trong những động thái nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long; đồng thời cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho vịnh theo khuyến cáo của UNESCO. Tại vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải.


Sự tương đồng về cảnh quan, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những nghiên cứu khoa học địa chất, khảo cổ, văn hóa và những hoạt động du lịch, khai thác hải sản, v.v... không còn bó hẹp trong phạm vi vùng vịnh. Đã có những ý kiến cho rằng cần xem xét việc mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt - Trung. Với chiều dài khoảng 300km và chiều rộng khoảng 60km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:28:07 am
* Vũng Mới

Vũng Mới là vịnh nằm phía Đông huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Phía Bắc vịnh được giới hạn bởi mũi Mét (mũi Xuân Thạnh), phía Nam được giới hạn bởi mũi Nước Ngọt. Vịnh được chia ra làm hai phần bởi núi Gò Dưa (núi Quả Phụ) và núi Cấm (núi Kê Khê). Trong vịnh có một số đảo nhỏ như: hòn Đụn (đảo Đồn), hòn Nhàn, hòn Tranh (đảo Quy) và nhiều rạng san hô. Phía Tây là các làng chài nằm trên các bãi cát trắng. Trong các bãi cát trắng này có một bãi cát kéo dài từ Tân Phụng đến mũi Nước Ngọt gọi là Bạch Sa Động (động cát trắng). Trên Bạch Sa Động có một gò đất nhô cao gọi là Gò Son nơi có những viên sỏi màu đỏ. Vịnh là nơi neo đậu ghe thuyền và là ngư trường gần bờ của ngư dân vùng này. Ngày nay trong vịnh còn lại một số xác tàu chìm, đó là những tàu của Nhật bị chìm trong chiến tranh. Vịnh còn được biết đến với di tích Mũi Rồng (Vi Rồng Đá Chém) và ngọn hải đăng Hòn Nước nằm trên núi Gò Dưa chiếu sáng cho vịnh.


Hải đăng Hòn Nước (còn gọi là hải đăng Vũng Mới) là ngọn hải đăng trên vùng biển Bình Định, Việt Nam. Nó có tác dụng chỉ vị trí đỉnh Gà Gô thuộc dãy Gò Dưa của thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, đồng thời giúp tàu thuyền hoạt động trên vùng biển Bình Định xác định vị trí của mình, tránh đá ngầm và xác định hướng đi. Tọa độ địa dư của hải đăng là: 14°16'8"N - 109°10'8"E. Với tầm hiệu lực ban ngày là 21 hải lý, ban đêm là 18 hải lý. Tháp đèn cao 16,2m được xây bằng đá có màu xám sẫm, độ cao của tâm sáng so với mực nước biển là 62,5m. Đèn phát ra ánh sáng trắng, chớp đơn theo chu kỳ 5 giây. Đèn chính là loại đèn APRB 251 DC, đèn phụ là loại HD300.


Hải đăng Vũng Mới được xây dựng từ thời Pháp thuộc trên vịnh Vũng Mới, hoạt động trong nhiều năm. Sau đó bị chiến tranh và thiên nhiên hủy hoại và trở thành một phế tích. Mãi đến những năm 90 nó mới được xây dựng lại, hoàn thành vào năm 1997 và được đặt tên mới là hải đăng Hòn Nước theo tên của hòn đảo nhỏ trong vịnh Vũng Mới.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:28:43 am
* Vũng Rô

Vũng Rô là một vịnh nhỏ thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, nằm tiếp giáp với biển Đại Lãnh thuộc vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. Vũng Rô có diện tích 16,4km2 mặt nước, được 3 dãy núi cao che chắn là Đèo Cả, Đá Bia và Hòn Bà từ 3 phía Bắc, Đông và Tây.


Phía Nam vịnh là đảo Hòn Nưa cao 105m, trên đảo có ngọn đèn biển lớn.

Nhìn trên bản đồ Phú Yên, ở góc Đông Nam có một bán đảo hình dáng như đầu con chim với chiếc mỏ nhọn. Bán đảo ấy được hình thành bởi núi Vũng Rô làm cho bờ biển cao và dốc, ghềnh đá ngổn ngang tạo ra nhiều mũi, phía Đông có mũi Mao, mũi Ba, phía Nam có mũi La. Các bán đảo này ôm lấy Vũng Rô, tạo nơi đây thành một cảng biển tốt, để tàu thuyền neo đậu, tránh bão, đánh bắt cá.


Vũng Rô có cả thảy 12 bãi nhỏ: bãi Lách, bãi Mù U, bãi Ngài, bãi Chùa, bãi Chân Trâu, bãi Hồ, bãi Hàng, bãi Nhỏ, bãi Chính, bãi Bàng, bãi Lau, bãi Nhãn. Phía Nam Vũng Rô là hòn Nưa, cao 105m, có hình dáng giống như cây trụ chia đôi cánh cửa vào Vũng Rô. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Trụ tự. Trong lòng vịnh có nhiều loại tôm cá trú ngụ. Dưới đáy biển còn có nhiều loại san hô rất đẹp và độc đáo.


Cảng Vũng Rô là một cảng biển quốc tế, vận tải hàng hóa tổng hợp của Việt Nam nằm trong Vũng Rô. Vũng Rô sâu tới 21m, lại có núi Đá Bia che chắn gió từ phía Đông Bắc đã tạo ra điều kiện tự nhiên lý tưởng cho cảng Vũng Rô. Cảng có thể tiếp nhận tàu biển trọng tải đến 5.000 tấn.


Cảng Vũng Rô được xây dựng từ năm 1966 bởi chính quyền Việt Nam Cộng hòa làm một cảng quân sự. Nơi đây, đêm 5 tháng 6 năm 1968, tiểu đoàn 14 đặc công tỉnh đội Phú Yên (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đã tấn công căn cứ quân sự của quân đội Hoa Kỳ gây một số thiệt hại về người và khí tài.


Vũng Rô xưa kia là một địa chỉ tiếp nhận vũ khí bí mật từ miền Bắc chuyển vào qua những chuyến tàu Không Số lịch sử. Từ năm 1964 đến năm 1965, Vũng Rô đã tiếp nhận 4 chuyến tàu cập bến an toàn, đưa được hàng ngàn tấn vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Vũng Rô đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.


Vũng Rô là một trong những vịnh đẹp nổi tiếng không chỉ của Phú Yên mà là của cả khu vực ven biển miền Trung. Từ đèo cả đi xuống thôn Vũng Rô, theo đường bộ về phía Bắc khoảng 10km, chúng ta sẽ đến Bãi Môn, một thắng cảnh tự nhiên thuộc xã Hoà Tâm - huyện Tuy Hoà. Bãi tắm rộng hàng chục héc-ta, trải dài trên bờ cát trắng mịn màng dài hơn 3km, độ dốc thoai thoải dần ra xa, với làn nước trong xanh, lặng sóng, là nơi lý tưởng để tắm biển, ở Bãi Môn có một con suối nước ngọt mát lạnh, nước trong veo rất thú vị.


Vượt qua đèo Cả, toàn cảnh Vũng Rô đẹp hút hồn hiện ra. Nhìn sang ngọn Thạch Bi Sơn (núi đá Bia), một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra Biển Đông, mới thấy rõ sự hài hoà của thiên nhiên khi kết tinh giữa biển và núi. Đi hết đèo Cả, chúng ta sẽ bắt gặp cảnh tàu thuyền tấp nập tạo nên một màu sắc đặc trưng của cư dân sống cùng với biển. Đó là bãi biển Đại Lãnh, từng được liệt vào danh thắng đất nước từ thời Minh Mạng và được khắc vào đỉnh đồng ở Huế. Có lẽ đây là bãi biển du lịch hiếm hoi của nước ta chưa bị ô nhiễm môi trường và còn giữ được nguyên vẻ tinh khiết của biển. Trước khi ra tới bãi biển, từ trên núi những dòng nước ngọt chảy xuống tạo ra nét riêng cho Đại Lãnh. Với điều kiện tự nhiên và tiềm năng vốn có của vùng biển, đảo này, tổ chức du lịch thế giới (OWT) đã đánh giá Đại Lãnh - Vũng Rô là một trong những thắng cảnh đẹp nhất ở châu Á và vùng Viễn Đông.


Hiện nay, Vũng Rô đang được Nhà nước đầu tư xây dựng thành Khu Du lịch Tổng hợp của quốc gia. Tỉnh Phú Yên đang đầu tư mở tuyến đường nối Vũng Rô với khu Công nghiệp Hoà Hiệp, sân bay Tuy Hoà và thành phố Tuy Hoà phục vụ cho phát triển vùng kinh tế Đông Tác - Vùng Rô. Khi các công trình xây dựng cầu cảng của cảng biển Vũng Rô hoàn thành, nơi đây sẽ chuyển động và trở thành giấc mơ đổi đời của hàng vạn nông dân, ngư dân Phú Yên.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:29:40 am
* Vịnh Xuân Đài

Xuân Đài là một vịnh nhỏ nằm dưới chân dốc Găng thuộc địa phận các xã Xuân Thọ, Xuân Thịnh và thị trấn Sông Cầu của tỉnh Phú Yên. Vịnh Xuân Đài có diện tích mặt nước khoảng 130km2, được tạo thành nhờ dãy núi Cổ Ngựa chạy dài ra biển độ 15km (bán đảo Xuân Thịnh) bao bọc lấy vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông trông giống hình đầu con kỳ lân. Theo sách Địa chí Phú Yên, thì vịnh Xuân Đài được mô tả: "nhờ dãy núi Cổ Ngựa thôn Tuy Phong chạy dài ra biển độ 15km, bao bọc phía ngoài đầm Cù Mông và tại vũng Trung Trinh được nối liền với một dãy núi khác chạy ra biển giống như hình một con kỳ lân. Đủ là vùng đất thuộc xã Xuân Thịnh".


Khi đi đường bộ lên đến đỉnh dốc Găng nằm trên quốc lộ 1A, chúng ta có thể nhìn thấy quang cảnh của vịnh này với rừng dừa bao bọc khu vực bờ của vịnh và vòng cung núi bao bọc khu vực vịnh Xuân Đài. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn thủy hài hòa và thơ mộng. Từ đèo Nại, một dãy núi chạy xuống phía Đông bao bọc vịnh Xuân Đài. Bờ vịnh, do ảnh hưởng của dãy núi, nên chỗ thì nhô ra, chỗ lại lõm vào, tạo thành nhiều vũng. Tên của từng vũng đểu có ý nghĩa riêng biệt.


Vũng Mắm: Có lẽ thuở trước dân ở vùng này đa số làm nghề muối mắm để làm kế sinh sống.

Vũng Dông: Trước kia là một gò cát pha, dông thường đào hang cư trú. Cư dân thường làm bẫy, bắt để dùng làm thức ăn cho gia đình và bán lại cho khách.

Vũng Chào: Dân vùng này làm nghề lưới cản, thường được các loại cá to như cá bò, cá ngừ. Ghe buồm từ các nơi đến mua đem bán nơi xa, người dân phải tiếp đón lái buôn với thái độ niềm nở chào mời.

Vũng La: Nằm về phía biển Nam Hải, có hai mỏm núi nhô ra nên cá thường vào ẩn trú. Mỗi lần có mẻ cá dạt vào, ngư dân hô hoán la to, báo hiệu cùng nhau đem thuyền lưới ra bắt, lệ ấy thành quen. Trước đây vũng La như một ốc đảo, những hôm mưa to gió lớn đường bộ không có lối đến, còn đường biển thì không dám vượt qua vì thuyền ghe nhỏ bé không đủ sức di chuyển. Ngày nay, con đường từ Trung Trinh đến vũng La dài 14,5km được mở, các loại ô tô đều đi được dễ dàng. Đời sống của người dân nơi đây ngày càng được cải thiện.


Phía Bắc vũng La có bãi cát nằm sâu vào giữa hai hòn núi nhô ra, từ mỏm núi này đến mỏm núi kia dài chừng 600m, bãi cát này có tên là bãi Ôm, nơi bãi Ôm không có nhà cửa, vắng vẻ, chỉ nghe tiếng sóng vỗ quanh năm. Tương truyền, ngày trước có nhiều đôi trai gái đưa nhau đến bãi này vui sống tự nhiên, nếu đôi nào còn giữ theo lễ giáo ắt bị trời đánh. Cũng theo truyền thuyết, đây là nơi trú ẩn một thời gian của nhân vật huyền thoại có sức mạnh: chàng Lía. Lại có giai thoại kể rằng: Nguyễn Ánh, khi dừng quân ở đây, nhìn núi non hùng vĩ, ông đã "giậm non, thể biển" nếu còn chân mạng đế vương thì xin trời đất, thánh thần chứng giám. Ông giậm mạnh bàn chân phải xuống ngay tảng đá làm tảng đá lõm sâu dấu chân ông. Ngày nay, dấu bàn chân ấy vẫn còn lưu trên một tảng đá ở vũng La.


Ở đây còn lưu truyền câu chuyện gành Tướng, vũng Mê. Vào ngày mùng hai Tết năm ấy là ngày kỵ Hà Bá, một ngư dân đi đánh chài vào lúc chiều tối, phát hiện hai ông lão râu tóc bạc phơ, tướng mạo phương phi đang đánh cờ trên gành đá, ông hốt hoảng buông tay chài. Hai ông lão nhìn ông và nói: "Ta là thiên tướng nhà trời, thấy phong cảnh hữu tình nên xuống đánh cờ, ngươi đã trông thấy thì không được kể với bất cứ ai, ta sẽ cho ngươi sống đến trăm tuổi, nếu kể "ắt phải chết" rồi biến mất. Mãi đến năm ông chín mươi mốt tuổi, nhân dịp cúng lăng, ông vô tình kể lại câu chuyện xảy ra cách đây bốn mươi năm. Đêm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, ông thấy hai thiên tướng xuất hiện, bảo ông đã phạm lời nguyền. Ông tỉnh giấc, gọi con cháu kể lại giấc mơ rồi nhắm mắt ra đi. Ngày nay, trên tảng đá to của gành vẫn còn hình dấu bàn cờ.


Dốc Xuân Đài án ngữ trên con đường từ Bắc vào Nam, cho nên muốn ra Quy Nhơn hay vào Phú Yên đều phải leo lên dốc Xuân Đài mà đi, không có con đường nào khác. Dốc cao, hiểm trở; mùa mưa thì trơn trượt do đất sỏi thấm ướt; mùa nắng nóng leo lên được tới đỉnh dốc cổ họng khô rát, mà trên đỉnh thì không có giếng nước nào để uống.


Từ phía Nam đi ra, bắt đầu từ Chí Thạnh, đến gần dốc Vườn Xoài chừng 3.000m có con đường đất rẽ trái đi về hướng Tây Bắc độ một cây số thì đến chân dốc (Xuân Đài). Dốc ngược theo triền núi cao khoảng 500m. Leo lên dốc như thể ta bước từng cấp một lên đỉnh Yên Tử, hai bên có nhiều cây cổ thụ tán lá che phủ cả con đường đi vào một vùng rộng lớn. Đỉnh dốc phía Bắc có vườn cam nổi tiếng thơm ngon, đã từng tiến vua cùng với xoài Đá Trắng, xuống khỏi dốc, đi ngược về phía Nam gần 7km thì tới ngã ba Triều Sơn, nơi trước kia triều đình nhà Nguyễn có đặt hai khẩu thần công để bảo vệ vịnh Xuân Đài.


Ngày nay, Xuân Đài là một trong những vịnh được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng du lịch lớn nhất nhì miền Trung với cảnh sắc hữu tình, có nhiều đảo, bãi tắm rất đẹp và hoang sơ. Xuân Đài còn nổi tiếng vì có nhiều loại hải sản ngon, quý như ghẹ Sông Cầu, tôm hùm, cá mú... Nơi đây đang được quy hoạch để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao nước, du lịch sinh thái biển.


Trong thời kỳ mở đất, bản doanh của Văn Phong rồi sau này là trấn thủ Nguyễn Phúc Vinh đều đặt tại vịnh Xuân Đài, bởi địa thế hiểm trở, là cửa khẩu rất tốt, nối kết giữa đất liền và ngoài biển, đầu mối giao lưu giữa Phú Yên với bên ngoài. Khi Phú Yên còn là vùng đất "Kimi" thì Xuân Đài được xem là chốt ngăn chặn sự quấy nhiễu của quân Chăm Pa, là con đường tiếp viện và vận chuyển lương thực cho quân Đại Việt rất thuận lợi cũng như nhận được sự tiếp tế nhanh chóng từ Quy Nhơn vào.


Chính vì vị trí chiến lược quan trọng, nên tại đây đã xảy ra trận huyết chiến giữa quân Tây Sơn và nhà Nguyễn. Đó là vào năm Ất Mùi (1775), Tống Phước Hiệp huy động toàn lực quân chúa Nguyễn tiến công quân Tây Sơn, đại bản doanh đóng tại Xuân Đài và ông sai Võ Tánh đánh lên La Hai, cắt đứt đường tiếp viện từ Vân Canh vào. Theo lịch sử, thì vịnh Xuân Đài còn là nơi Nguyễn Ánh tập kết thủy binh đánh vào Phú Yên, là nơi dưỡng quân trên đường tiến ra đánh phủ Quy Nhơn. Xuân Đài còn là nơi đặt kho đê thu nạp lúa gạo từ các nơi khác trong vùng chuyển đến để cung cấp cho quân Nguyễn Ánh. Vì vậy tại nơi đây còn có một địa danh gắn liền đến sự kiện này, đó là đèo Vận Lương cách phía Bắc thị trấn Sông Cầu khoảng 6km.


Năm Tân Dậu (1861), trong chuyến vi hành từ Phú Yên đẽn Bình Thuận để xem xét tình hình các địa phương về việc giao thông đi lại, làm ăn của dân chúng, hai ông Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Cấp đã ghi nhận rằng dốc Xuân Đài là dốc rất hiểm trở có lợi thế quan trọng trong xây dựng thế trận.


Vịnh Xuân Đài có một vị trí chiến lược quan trọng về mặt quân sự, nên trong thế chiến thứ hai, Xuân Đài là một trong những địa điểm "nhân chứng" của cuộc chiến tàn khốc này. Đó là vào tháng 4 năm 1945 tàu hải quân của Nhật Hoàng tiến vào vịnh đánh chiếm để làm bàn đạp tiến sâu vào đất liền, nhưng đã bị phi cơ Đồng Minh bắn chìm giữa vịnh. Thân tàu chìm khuất dưới làn nước sâu, chỉ còn nhô lên cột cờ tàu và đài quan sát. Đây là chứng tích của một thời kỳ chiến tranh ác liệt trong lịch sử của dân tộc ta.


Hiện nay, vịnh Xuân Đài đang được đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quân sự - quốc phòng để xây dựng khu vực này trở thành khu kinh tế tổng hợp, năng động gắn liền với thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:30:27 am
* Vịnh Vân Phong

Vịnh Vân Phong, người Pháp gọi là Port Dayot (tức Bến Gối) nằm ở phía Bắc trên địa phận hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hoà. Cách thành phố Nha Trang 50km, cách thị xã Tuy Hoà 35km, chạy từ chân núi Mã Cảnh đến chân phía Bắc núi Phước Hà. Vịnh Vân Phong nằm giới hạn trong khoảng 109°10’ - 1 09°26’ Đông và 120°29’ - 120°48’ Bắc.


Phía Tây vịnh Vân Phong (cách bờ vịnh 20 - 30km) là phần kéo dài của dãy Trường Sơn. Phía Đông Nam vịnh rộng 17km thông ra Biển Đông. Phía Đông Bắc là bán đảo Hòn Gốm gồm các dãy núi nhỏ và cồn cát kéo dài nên tránh được sóng. Bán đảo Hòn Gốm trải dài 27,5km có hình dáng như một cánh tay vươn ra nâng niu viên báu vật - đảo Hòn Lớn.


Đảo Hòn Lớn nằm trong vịnh Vân Phong có chiều dài 14,2km, chiều ngang chỗ rộng nhất 6km. Diện tích mặt cắt của đảo Hòn Lớn khoảng 46km2. Hình dáng đảo thu hẹp ở hai đầu. Nằm trên đầu thon hướng về đất liền là một ngọn núi có độ cao 567m. Phần thân chính giữa của đảo có độ cao khoảng 250m. Phần thân này có một địa hình mặt bằng tương đối phẳng ở độ cao 180m. Phần hướng ra biển có độ cao khoảng 320m thu hẹp dần và xuống độ cao khoảng 260m vươn ra Biển Đông.


Phía Đông Nam nằm giữa bán đảo Hòn Gốm, Hòn Lớn và đảo Cổ Cò có dải nước hẹp chiều rộng 200m, độ sâu trung bình 25m là kênh tàu tự nhiên rất thuận lợi. Tổng diện tích khu vực này khoảng 150.000ha; trong đó diện tích mặt nước vùng vịnh khoảng 80.000ha và diện tích đất liền khoảng 10.000ha. Khu vực này có địa hình phong phú, đặc biệt là hệ thống đảo, bán đảo, vịnh sâu và kín gió, bờ và bãi biển, cồn cát hấp dẫn và là khu vực có hệ sinh thái đa dạng như rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, động thực vật biển nông ven bờ. Từ Cổ Mã đến Đầm Môn có nhiều bãi tắm và các làng đảo như Đầm Môn, Ninh Đảo, Khải Lương, Vĩnh Yên và Điệp Sơn. Trong đó lý tưởng nhất là Đầm Môn vài hơn 30 bãi tắm hầu hết vẫn còn hoang sơ như Sơn Đừng, Bãi Tây, Bãi Búa, Bãi Nhàu, Bãi Lách...


Đặc biệt ở đây nhiệt độ ấm áp quanh năm, cảnh quan đặc sắc và môi trường tự nhiên hầu như còn được giữ nguyên vẹn chưa bị ô nhiễm, thực sự là một nơi có những điều kiện lý tưởng để xây dựng thành một khu du lịch biển hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.


Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đã tạo cho vịnh Vân Phong có tiềm năng để phát triển trở thành khu kinh tế tổng hợp. Về mặt địa lý, vịnh Vân Phong có bán đảo Hòn Gốm và đảo Hòn Lớn rất đặc biệt bởi vì nó nằm ở chính giữa của châu Á và châu Úc, trung tâm của một khu vực có trên 3 tỷ dân. Vịnh biển Vân Phong, theo đường chim bay, cách Thủ đô Hà Nội, cách thủ đô của Lào, cách thủ đô của Brunây và cách thủ đô của Thái Lan khoảng 1.000km. Vịnh Vân Phong cách thủ đô của Malaixia, thủ đô của Myanma, cách Xinhgapo, cách Hồng Kông, cách Quảng Đông và cách thủ đô của Philippin khoảng 1.250km. Vịnh Vân Phong đến thủ đô của Trung Quốc, đến thủ đô của Hàn Quốc, đến Nhật Bản, đến thủ đô của Ấn Độ, đến hải phận của nước Úc có quãng đường gần tương đương.


Vịnh Vân Phong đặc biệt hơn nữa là bởi nó nằm tiếp giáp ngay tuyến hàng hải tấp nập, vận chuyển đến 50% lưu lượng hành khách và hàng hóa của thế giới. Ngoài các đặc điểm này, vịnh Vân Phong, bán đảo Hòn Gốm và đảo Hòn Lớn còn có các đặc điểm khác là có thể liên kết với các tuyến đường ô tô và đường sắt cao tốc Bắc Nam của Việt Nam; có thể tạo ra một trục trung chuyển hành khách quốc tế bằng đường hàng không; có ưu thế để mở các cầu cảng trung chuyển hành khách du thuyền quốc tế với năng lực không giới hạn; có thể tạo cảng trung chuyển Container quốc tế với năng lực rất lớn; có thể tạo các cầu cảng trung chuyển quốc tế về hàng hóa vật liệu, nông, lâm, thủy, hải sản; trung chuyển các chất lỏng, khoáng sản; có thể tạo địa hình thành địa điểm du lịch lý tưởng; có thể quy hoạch vịnh là nơi bảo tồn sinh vật biển; có thể bố trí các diện tích lớn cho khu phi thuế quan, chế biến, lắp ráp, gia công hàng hóa; có thể kết nối đảo Hòn Lớn với bán đảo Phước Hà và bán đảo Hòn Gốm bằng cầu và các tuyến xe điện tạo lưu thông cho hành khách và hàng hóa; có đủ diện tích để xây dựng các khu mua sắm và các tòa nhà của một trung tâm tài chính tầm cỡ thế giới.


Trên thế giới hiện nay ít có một khu vực nào lại có thể kết hợp giữa trung chuyển hành khách hàng không, trung chuyển hành khách du thuyền, trung chuyển container, trung chuyển hàng hóa và kết hợp với các dịch vụ khác tại chỉ ở một địa điểm duy nhất, không tách rời, một khu phức hợp đa năng như khu vực trên vịnh biển Vân Phong. Để kết hợp được các ưu thế này, đảo Hòn Lớn nằm chính giữa vịnh đóng vai trò quan trọng nhất. Phần chính giữa của đảo Hòn Lớn có một khu vực tương đối bằng phẳng ở độ cao 180m so với mặt biển, là nơi có thể cải tạo làm một sân bay quốc tế. Khu vực tương đối bằng phẳng này có chiều dài khoảng 4,5km và chiều rộng khoảng 2,2km. Với một địa hình, địa thế như vậy, đảo Hòn Lớn đủ khả năng tạo ra một cảng hàng không có năng lực trung chuyến hành khách khổng lồ.


Khi xây dựng một trục hàng không đặt tại đảo Hòn Lớn thì sự kết hợp các ưu thế trung chuyển khác nhau sẽ được phát huy tác dụng tối đa. Khu phức hợp này, nếu phát huy được tiềm năng sẽ tạo ra những lợi thế mới trong phát triển kinh tế đất nước.


Theo đánh giá của nhiều chuyên gia Liên Hợp quốc và các nhà nghiên cứu đầu tư phát triển thì Vân Phong là nơi có tiềm năng hàng đầu khu vực châu Á để phát triển du lịch sinh thái, có sức thu hút đông đảo du khách bốn phương. Tổng cục Du lịch Việt Nam đã xếp Vân Phong vào "Vùng du lịch trọng điểm phát triển" trong kế hoạch dài hạn của ngành đến năm 2010. Vịnh Vân Phong cũng được Hiệp hội Biển thế giới công nhận là một trong bốn vịnh có vị trí du lịch biển lý tưởng nhất hiện nay.


Ngày 11 tháng 3 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg, phê duyệt Quy hoạch khu kinh tế vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020. Một thành phố du lịch cảng, trung tâm phân phối hàng hóa cho Việt Nam và khu vực Đông Nam Á với một cảng trung chuyển Container quốc tế sẽ ra đời trên vùng vịnh Vân Phong trong tương lai không xa.


Để sử dụng và khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phát huy mọi nguồn lực quý giá của vùng vịnh tuyến nước sâu này, phía Bắc vịnh Vân Phong sẽ được đầu tư tập trung phát triển du lịch biển ở khu vực Đại Lãnh, cảng trung chuyển quốc tế, du lịch sinh thái biển, sinh thái đầm vịnh, trung tâm thương mại - tài chính và khu dân cư phát triển tại bán đảo Hòn Gốm, Hòn Lớn và toàn bộ phần nước vùng vịnh. Phía Nam vịnh Vân Phong, khu đô thị bao gồm các khu Dốc Lết, Ninh Thủy, Ninh Phước gắn kết với thị trấn Ninh Hòa, Hòn Hèo, Đầm Nha Phu phát triển thành đô thị loại III, với tính chất là đô thị du lịch, dịch vụ, giáo dục, đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề và công nghiệp. Hai khu đô thị quy hoạch trên vịnh Vân Phong (Bắc và Nam), đều được chú trọng đầu tư du lịch biển.


Ngoài hai cảng tàu khách du lịch tại phía Đông vũng Đầm Môn (0,5ha) và cảng tàu khách du lịch Hòn Khói, phía Tây Bắc khu Dốc Lết (4-5ha) các khu du lịch trên vịnh Vân Phong cũng đã được xác định cụ thể trong quy hoạch. Khu du lịch thuộc Bắc Vân Phong gồm có khu du lịch nghỉ mát Tuần Lễ - Hòn Ngang (khoảng 350ha), bãi Cát Thắm (khoảng 210ha), bán đảo Hòn Gốm (khoảng 200ha), Đại Lãnh (40ha) các khu du lịch thuộc khu đô thị Nam Vân Phong gồm khu Dốc Lết - Mũi Dù (diện tích khoảng 150ha).


Sự phát triển của vùng vịnh Vân Phong không chỉ làm thay da đổi thịt mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân địa phương hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Đây không chỉ là vùng vịnh đẹp mà còn hội đủ mọi điều kiện thuận lợi nhất để trở thành thành phố du lịch cảng tầm cỡ quốc tế.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:31:16 am
* Vịnh Cam Ranh

Vịnh Cam Ranh thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây được xem là một trong ba vịnh thiên nhiên tốt và đẹp nhất thế giới. Vịnh Cam Ranh diện tích hơn 60km2, chỗ rộng nhất khoảng 6km, ăn sâu vào nội địa chừng 12km, phần lớn vịnh có độ sâu từ 18 - 32m. Cửa biển vào vịnh có đoạn rộng 3km, có đoạn nhỏ hơn, sâu 20m, không có phù sa bồi, bảo đảm tàu tải trọng 100.000 tấn và hạng nặng hơn nữa có thể ra vào dễ dàng bất cứ lúc nào trong năm và có khả năng đón nhận nhiều hạm đội tàu một lúc. Đây là lợi thế thiên nhiên tuyệt đối của Cam Ranh so với các hải cảng lớn của nước ta như Đà Nẵng, Chân Mây, Cẩm Phả chỉ có độ sâu giới hạn 9 - 12m nước. Từ đường hàng hải quốc tế vào Vũng Tàu cách ba giờ tàu biển, vào Hải Phòng cách tám giờ, còn vào Cam Ranh chỉ mất một giờ. Nếu biển Cam Ranh thành cảng trung chuyển quốc tế thì hiện không thể có cảng nào ở Việt Nam và nhiều cảng trong khu vực so sánh được với mức độ rút ngắn thời gian vận chuyển, chi phí và độ an toàn.


Vịnh Cam Ranh với vẻ đẹp nguyên sơ trải dài như một dải lụa xanh thẳm, chỗ hẹp nhất khoảng 10km, rộng nhất 20km. Vịnh gần như khép kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín cả phía đông, phía tây. Phía Nam vịnh là đất liền, chỉ mở ra một cửa lớn - được ví như một cánh tay ôm lấy vịnh, tạo thành một vành đai nên mặt nước luôn êm đềm.    Du thuyền trên vịnh như "đi trên thảm" bởi không có sóng lớn... Quanh năm nắng ấm chan hòa, bầu trời trong xanh tạo cho mặt vịnh một màu xanh rất dễ chịu.


Thủy triều trong vịnh khá đều đặn, hằng ngày hai con nước lên xuống tương đối đúng giờ. Đặc điểm hải dương này có ý nghĩa rất lớn về kinh tế và kỹ thuật hàng hải. Về địa chất hải dương, đáy vịnh gần như bằng phẳng, cấu tạo bởi loại cát pha bùn khá chắc, thuận tiện cho việc thả neo. Vịnh Cam Ranh được bán đảo che chắn nên khá kín gió, là nơi trú bão tốt cho tàu thuyền. Phía ngoài vịnh có một số đảo và cù lao án ngữ, trong đó có điểm cao thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống đèn biển và ra-đa hàng hải.


Thiên nhiên ở vịnh Cam Ranh đẹp gần như còn nguyên sơ với những bãi cát trắng vàng, trải dài mịn màng như chưa bao giờ có dấu chân người (cát ở Cam Ranh có hàm lượng silic và titan rất lớn, từng xuất khẩu sang Nhật Bản để chế tạo thủy tinh), dưới lòng vịnh có những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt. Nhưng đẹp nhất vẫn là những quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió, của nước biển đã tạo nên những hình thù chồng chất. Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, bên cạnh những rặng dừa xanh cao vút, tạo nên nét đặc trưng của miền duyên hải Trung Bộ.


Bán đảo Cam Ranh dài khoảng 12km, với hơn 10.000ha rừng, hồ nước ngọt lớn và nhiều bãi tắm tuyệt đẹp, trong đó nhiều bãi tắm có thể khai thác quanh năm. Bán đảo còn là nơi cư trú của nhiều loại thú rừng và không thể không kể đến những loại hải sản nổi tiếng xưa nay như: tôm hùm Bình Ba, sò huyết Thủy Triều... Với phong cảnh nên thơ, bán đảo Cam Ranh được xem là nơi có tiềm năng du lịch lớn; nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển quốc tế như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi... Xung quanh có núi bao bọc làm cho vùng biển luôn kín gió. Sân bay trên bán đảo Cam Ranh có thể tiếp nhận cùng lúc 10 máy bay vận tải cỡ lớn. Hệ thống đường sá, kho bãi, hạ tầng kỹ thuật trên bán đảo rất thuận lợi cho việc xây dựng một đặc khu kinh tế.


Vịnh Cam Ranh có vị trí rất quan trọng về quân sự. Trước đây, người Pháp đã dùng vịnh làm cảng hải quân cho các lực lượng của họ ở Đông Dương. Vịnh Cam Ranh cũng từng được dùng làm vùng chuẩn bị cho hạm đội Đế quốc Nga trước trận Tsushima năm 1905 và được người Nhật Bản dùng làm địa điểm chuẩn bị cho cuộc tấn công Malaixia năm 1942.


Ngày 18 tháng 10 năm 1946, thị xã Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch và cao ủy Pháp D'Argenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và nhà báo nước ngoài.


Từ năm 1965 - 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự được bảo vệ "bất khả xâm phạm" để làm căn cứ tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía Tây Thái Bình Dương. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới. Tuy nhiên bộ đội đặc công tinh nhuệ của ta đã từng đột kích thành công vào căn cứ này, đốt cháy máy bay C130 và cho nổ kho bom của Mỹ.


Sau khi chiến tranh chấm dứt và Việt Nam thông nhất, năm 1978, Chính phủ Xô-viết ký một thỏa thuận với Việt Nam để thuê cảng này trong vòng 25 năm; cảng Cam Ranh trở thành một căn cứ hải quân quan trọng trong thời Chiến tranh Lạnh của Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô.


Sau khi Liên Xô tan rã, Chính phủ Nga tiếp tục thực hiện thỏa thuận đó. Trước khi hết thời hạn thuê 2 năm, ngày 2 tháng 5 năm 2002, Nga đã quyết định rút toàn bộ nhân viên về và trả vịnh Cam Ranh lại cho Việt Nam.


Trước thế kỷ XX, Cam Ranh còn là một vùng đất rất ít người ở. Năm 1939, toàn quyền Đông Dương Pháp ban hành nghị định thành lập địa lý hành chính Ba Ngòi. Năm 1965, thị xã Cam Ranh được thành lập do cắt một phần đất của quận Cam Lâm. Đến năm 1970, thị xã Cam Ranh tiếp tục được củng cố với hai quận Bắc và Nam.


Sau năm 1975, Cam Ranh được tổ chức lại là đơn vị hành chính cấp thị trấn và huyện. Năm 2000, thị xã Cam Ranh được tái lập trên cơ sở thị trấn Ba Ngòi có diện tích tự nhiên 690km2, dân số khoảng trên 200 nghìn người, hiện có 27 phường, xã. Hiện nay, tỉnh Khánh Hòa đã có chủ trương đầu tư quy hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng khu vực vịnh Cam Ranh.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:32:17 am
* Vịnh Nha Trang

Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507km2 bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích trên 3.000ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4ha. Cửa sông Cái đổ ra giữa hai bãi biển hình trăng khuyết, cát mịn mát trải dài hàng 6 đến 7km.


Vịnh có khí hậu hai mùa rõ rệt mùa khô kéo dài từ tháng Giêng đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12; nhiệt độ bình quân hàng năm là 26°C; nóng nhất 39°c, lạnh nhất 14,4°c. Dưới ánh nắng mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các hòn đảo hoà cùng màu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát vàng dạt dào sóng trắng. Trong vịnh Nha Trang có gần mười đảo yến. Dưới mặt vịnh Nha Trang lại có một thế giới kỳ thú khác, đó là thế giới của 350 loài san hô, 190 loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, cỏ biển...


Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ. Đặc biệt khu vực Hòn Mun của vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới.


Vịnh Nha Trang là một trong số 29 vịnh trên thế giới được câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất trên thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003. Cùng với vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang là vịnh thứ hai của Việt Nam được xếp vào hàng danh dự này.


Trong số các đảo trong vịnh có nhiều đảo là các thắng cảnh nổi tiếng như: Hòn Nhiều (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có Thủy Cung Trí Nguyên với những sinh vật biển kỳ lạ. Cách hồ là bãi sỏi đủ màu, đủ dáng, trải thành từng lớp trên bờ thay cho cát trắng. Hòn Mun với những hang động hiểm trở, đá trên đảo có màu đen tuyền như gỗ mun nhưng bãi tắm lại được lát bằng đá trắng. Dưới đáy biển ven đảo là rừng san hô bạt ngàn với nhiều sinh vật biển kỳ lạ. Hòn Mun là khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam. Hòn Tằm với những bãi tắm tô điểm bằng những đá vân màu sặc sỡ trắng, xanh, nâu, đen... Dọc bãi tắm là bóng mát của những hàng cây ăn quả bao gồm xoài, mít, sa-pô-chê... Phía sau đảo này có một hang đá rất đặc biệt, kỳ bí. Đó là hang Dơi, nơi có rất nhiều đàn dơi cư trú trên những vách đá cheo leo ở độ cao 60m. Hòn Tre là đảo lớn nhất trong vịnh với bãi cát trắng trải dài mênh mông, nước biển ở đây xanh biếc. Đi về phía cuối bãi là những làng chài nho nhỏ.


Hòn Chồng - Hòn Vợ là những quần thể đá lớn với đủ loại hình thù, xếp chồng lên nhau chạy từ bờ cao xuống biển. Hòn Chồng là khóm nằm trên bờ, Hòn Vợ là khóm dưới biển. Truyền thuyết kể rằng xưa có vị khổng lồ qua đây ngoạn cảnh, gặp lúc các nàng tiên đang tắm. Mải ngắm, vô tình trượt chân ngã, ông vội bám tay vào núi làm cả mảng núi sụp đổ thành Hòn Chồng ngày nay. Trên một khối đá lớn ở đây còn in dấu một bàn tay khổng lồ, đủ cả năm ngón. Hòn Nội (Đảo Yến) có bãi cát đẹp, đây là khu vực khai thác Yến sào. Ngoài ra trong vịnh còn rất nhiều danh lam thắng cảnh khác.


Chạy dọc theo các đảo là bờ biển Nha Trang dài khoảng 7km, trải dài từ xóm Cồn đến cảng Cầu Đá. Là những bãi tắm lý tưởng nằm trên đường Trần Phú. Đó là một con đường rất đẹp nằm lượn theo bờ biển với rất nhiều ngôi biệt thự xinh xắn, những khách sạn cao cấp, nhà hàng sang trọng nối liền nhau.


Hòn Mun là hòn đảo thơ mộng nhất trong hệ thống đảo của vịnh Nha Trang. Đảo này nằm ở phía Nam vịnh Nha Trang và cách cảng Cầu Đá 10km. Được gọi là Hòn Mun vì phía Đông Nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.


Kết quả khảo sát đa dạng sinh học và nơi sinh cư khu bảo tồn biển cho thấy: Hòn Mun với rạn san hô và hệ sinh vật biển đa dạng, phong phú là khu bảo tồn biển đầu tiên và duy nhất của Việt Nam hiện nay, đã được Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) đánh giá là khu vực đa dạng sinh học biển bậc nhất ở Việt Nam, đặc biệt rất phong phú về san hô, hiện tại đã phát hiện được khoảng 350 loài trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới.


Hệ sinh thái động, thực vật biển ở khu vực biển Hòn Mun vô cùng phong phú. Ở đây, san hô nằm ở độ sâu 10m, cùng với rất nhiều loại cá đủ màu sắc và chủng loại. Với độ sâu dưới 18m, thì không còn cảnh đẹp của san hô, nhưng có rất nhiều hang động. Có những hang sâu 10-15m, phải dùng đèn để quan sát những sinh vật biển chuyên sống trong bóng tối như tôm, mực, tôm hùm, cá đuôi...


Trong những hang động đá đen của Hòn Mun hàng năm có chim yến về làm tổ. Do địa thế của đảo rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển của san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới cũng về đây quần tụ, đáy biển vùng Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú, bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu về biển. Đến Hòn Mun, du khách có thể lặn biển hoặc đi tàu đáy kính để ngắm nhìn các rạn san hô nhiều màu sắc với nhiều loài sinh vật biển tung tăng bơi lội.


Khu bảo tồn biển Hòn Mun nằm trong vịnh Nha Trang bao gồm các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rơm, Hòn Nọc và vùng nước xung quanh. Diện tích khoảng 160km2 bao gồm khoảng 38km2 mặt đất và khoảng 122km2 vùng nước xung quanh các đảo. Từ năm 2001, Khu bảo tồn biển Hòn Mun - dự án bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam chính thức ra đời. Dự án do Bộ Thủy sản, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và IUCN - Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới thực hiện. Dự án do Quỹ Môi trường toàn cầu thông qua Ngân hàng thế giới; Chính phủ Hoàng gia Đan Mạch thông qua DANIDA và IUCN - Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới tài trợ, cùng với vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam.


Khu bảo tồn Hòn Mun được xây dựng nhằm mục đích "Bảo tồn một mô hình điển hình về đa dạng sinh học biển có tầm quan trọng quốc tế và đang bị đe dọa" và đạt được các mục tiêu "giúp các cộng đồng dân cư tại các đảo nâng cao đời sống và cộng tác với các bên liên quan khác để bảo vệ và quản lý có hiệu quả đa dạng sinh học biển tại Khu bảo tồn biển Hòn Mun, tạo nên một mô hình hợp tác quản lý cho các Khu bảo tồn biển của Việt Nam".


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:33:06 am
* Vũng Tàu

Vũng Tàu là một thành phố phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 125km và cách thành phố Biên Hoà 90km. Vũng Tàu giống như một hòn đảo bởi nó được bao bọc ba mặt là biển và sông án ngữ mặt thứ tư. Nếu nhìn theo chiều Bắc Nam, Vũng Tàu nằm ở khúc quanh đang đổi hướng từ Nam sang Tây của phần dưới chữ S (bản đồ Việt Nam) và nhô hẳn ra khỏi đất liền như một dải đất, có chiều dài khoảng 14km và chiều rộng khoảng 6km. Đây là nơi có thể ngắm nhìn Biển Đông cả khi mặt trời mọc và lúc hoàng hôn.


Suốt thế kỷ XIV và XV, mũi đất trở thành Vũng Tàu bây giờ là một đầm lầy mà những tàu buôn từ châu Âu ghé đến thường xuyên. Cái tên Vũng Tàu (nơi tàu đậu) cũng ra đời từ đây. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha khi đi qua mũi đất này đã lấy tên Thánh Giắc đặt cho nó, do đó người Pháp gọi nơi này là Cap Saint Jacques (mũi đất mang tên Thánh Giắc), tiếng Việt là Cap Xanh Giắc. Người Việt theo đó gọi là Cấp (gốc tiếng Pháp: Cap) hoặc Ô Cấp (gốc tiếng Pháp: au Cap). Hiện nay mũi đất cực nam của Vũng Tàu có tên gọi là mũi Nghinh Phong. Vũng Tàu cũng từng có tên là Tam Thoàn hay Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ Tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn, tức Ba Thuyền.


Theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì "Thuyền Úc", tục danh Vũng Tàu... phía Bắc ôm cửa Tắc Khái, phía Nam đỡ núi Thát Sơn để che cửa Cần Giờ. Mặt vụng trông về hướng Tây, rộng lớn mênh mông để thu nạp các dòng nước sông đầm chảy về biển mà làm nơi êm đềm cho thuyền bè ẩn đậu".


Vũng Tàu chỉ có 2 mùa trong năm: Mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) khô và lạnh suốt những tháng mùa đông và trước, sau ngày Tết; trở nên nóng hơn vào tháng 4. Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) nhưng mưa ít hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh.


Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, hiện nay Vũng Tàu được quan tâm đầu tư và nhanh chóng trở thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trước hết là tiềm năng dầu khí. Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ tỷ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông.


Kinh tế trên địa bàn đã vượt qua nhiều khó khăn lớn hồi đầu thập kỷ 90 của Thế kỷ XX, sớm tạo được thế ổn định và đạt tốc độ phát triển khá; chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ cấu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tăng nhanh. Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước.


Vũng Tàu là một trong những cửa ngõ giao lưu giữa Việt Nam và thế giới, có hệ thống đường biển, đường sông và đường hàng không rất thuận tiện. Bên cạnh những tiềm năng to lớn về dầu khí. Vũng Tàu là một quần thể thiên nhiên hài hoà, sơn thủy hữu tình, có các dãy núi che chắn, xa xa Biển Đông có Côn Đảo bao bọc, ở gần có Long Sơn quy tụ.


Vũng Tàu có hai hòn núi là Núi Lớn và Núi Nhỏ. Núi Lớn có diện tích khoảng 400ha, có ba đỉnh lớn là Vũng Mây, Núi Lớn và Hòn Sụp. Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10km, đường dốc quanh co, trên là núi, dưới là biển, phong cảnh hữu tình, hùng vĩ nên thơ. Có nhiều thắng cảnh dọc đường đi như tượng Đức Mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm, Bạch Dinh... Núi Nhỏ có diện tích khoảng 120ha, đỉnh núi cao 170m. Về truyền thuyết, Núi Nhỏ mang tên Tao Phùng kể về câu chuyện giữa người con gái vua Thủy Tề và một chàng trai làng chài. Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài khoảng 6km. Đường mới, rộng và đẹp. Hai bên đường có nhiều di tích và danh thắng hấp dẫn như: Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, tượng Chúa Kitô, Hòn Bà...


Mũi Nghinh Phong nằm ở hướng cực Nam thành phố Vũng Tàu. Bãi tắm này hẹp, nước rất sạch, sóng gió dồn dập, ba bề vách đá cheo leo vô cùng hùng vĩ. Mũi Nghinh Phong nhô ra Biển Đông trông như một chiếc đầu cá sấu khổng lồ. Quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kỳ dị vô cùng lạ mắt, đây là nơi tuyệt vời dành cho những người thích câu cá và ưa mạo hiểm.


Bãi Trước hay còn gọi là Bãi Tầm Dương nằm giữa hai ngọn Núi Lớn và Núi Nhỏ, đột khởi từ mặt biển, theo một đường vòng cung khá đều. Dọc theo bãi biển có trồng nhiều dừa, dương liễu và bàng. Bãi Sau nằm ở Đông Nam thành phố Vũng Tàu, dài khoảng trên 8km từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp sạch, đẹp và rộng rãi. Đi lên phía Bắc, phi lao được trồng san sát che mát bãi tắm, phong cảnh quyến rũ, nên thơ. Bãi Sau tựa lưng vào những đồi cát và rừng cây, trước mặt là Biển Đông. Kề ngay Bãi Sau là núi Hải Đăng, những vách đá hang Dơi và Hòn Bà. Phía xa ngoài biển, phía trái chân trời là dãy núi Long Hải chạy dài đến núi Kỳ Vân. Mặt biển phang lặng vào mùa gió nam, nhưng lại sóng to và lạnh vào mùa gió bắc. Bãi Sau là bãi biển đông vui, náo nhiệt nhất trong các bãi biển ở Vũng Tàu. Bãi Dứa cách Bãi Trước chừng hơn một cây số. Đây là một bãi biển đẹp nằm dưới chân Núi Nhỏ, ở đây có những mỏm đá lởm chởm màu đen láy và những bụi dứa dại mọc rải rác trên bờ tạo cho cảnh biển thêm vẻ hoang sơ, tự nhiên. Bãi Dâu nằm ven Núi Lớn và cách bãi trước khoảng 3km. Bãi biển này hẹp, nông nhưng rất sạch sẽ. Hai đầu bãi biển có nhiều mỏm đá nhô ra biển, sau lưng bãi địa hình lòng chảo, cây cối um tùm bao bọc, tựa lưng vào triền Núi Lớn.


Dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, có một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ đấy chính là Bạch Dinh. Bạch Dinh được người Pháp xây dựng năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho toàn quyền Pháp Paul Doumer, dân địa phương quen gọi Bạch Dinh là biệt thự trắng. Sau đó nhiều đời toàn quyền Đông Dương (người Pháp) cũng dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên gọi là (Dinh toàn quyền). Sau này Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cũng lấy Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên Bạch Dinh còn có tên là Dinh ông Thượng.


Phía trước Bạch Dinh hướng ra biển có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước, Núi Nhỏ, Núi Lớn; khi nhìn thẳng xuống ta sẽ thấy hòn Hải Ngưu, đó là mũi đá nhỏ nhô ra biển có hình dáng một con trâu nằm dưới nước. Bây giờ Bạch Dinh được dùng làm nhà bảo tàng trưng bày cổ vật tìm được ở Hòn Cau - Côn Đảo.


Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) từ Bãi Trước qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong có Tượng Chúa. Tượng Chúa được xây dựng từ năm 1972 nhưng công trình bị bỏ dở, do yêu cầu của đồng bào giáo dân ngày 28 tháng 1 năm 1992 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định xây dựng tiếp công trình Tượng Chúa trên Núi Nhỏ. Sau hai năm xây dựng ngày 2 tháng 2 năm 1994 công trình đã được hoàn tất. Tượng Chúa được xây dựng trên núi cao 136m và cao so với mực nước biển 176m. Tượng đài cao 31m, hai tay dang rộng 18,4m được đặt trên một ngôi nhà hình vuông có trạm trổ chúa và 13 tông đồ.


Hải đăng Vũng Tàu được xây dựng từ năm 1907, lúc đầu đặt ở mỏm thấp của Núi Nhỏ, thắp bằng dầu, năm 1911 được xây dựng thành tháp tròn có đường kính 3m cao 18m được làm trên đỉnh cao nhất của Núi Nhỏ có độ cao 170m. Hải đăng Vũng Tàu dọi xa đến 35 hải lưu có kính viễn vọng để theo dõi tàu và hướng dẫn thuyền trên biển.


Cảng Cầu Đá được xây dựng từ năm 1896 nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, đồng thời phục vụ cho việc bốc xếp về kho, hàng hoá phục vụ cho thành phố nghỉ mát và các căn cứ quân sự. Tiền cảng Vũng Tàu là một con đê dài hơn 400m, chân đê rộng 15m, mặt đê rộng 4m được kè bằng đá đổ bê tông chạy dài từ mũi phía Bắc Núi Nhỏ ra giữa biển, song song với Bãi Trước. Cùng với trận địa pháo trên Núi Nhỏ, cầu Đá Bãi Trước hợp thành một quần thể di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng cấp quốc gia.


Hòn Bà là một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xoá, nằm phía ngoài biển theo đường Hạ Long vòng qua Núi Nhỏ, từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng 200m. Trên đảo có xây dựng một ngôi miếu gọi là Miếu Bà. Miếu Bà hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4m. Trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m, trước kia là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước chống đế quốc. Khi thủy triều xuống thấp, có thể men theo một lối đá trập trùng để ra đảo. Ngày rằm hay mồng một, bà con thường ra đảo rất đông để thắp hương cầu may tại ngôi miếu nhỏ này.


Ngoài ra, Vũng Tàu còn có khu di tích Nhà Lớn, chùa Linh Sơn Cổ Tự, chùa Thích Ca Phật Đài, Đình Thần Thắng Tam, Miếu Bà Ngũ Hành, Lăng Ông Nam Hải (Cá Ông), chùa Niết Bàn Tịnh Xá (chùa Phật Nằm), chùa Quan Âm Bồ Tát...


Vũng Tàu cũng là miền đất có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời với những khu di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử, nhiều khu di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Từ lợi thế về tiềm năng thiên nhiên và nhân văn phong phú, những danh lam thắng cảnh của Vũng Tàu đã và đang khẳng định thế mạnh du lịch của mình trong thời kỳ mới.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:34:33 am
* Vịnh Thái Lan

Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, với diện tích khoảng 320.000km2, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước Thái Lan (1.560km), Việt Nam (230km), Malaixia (150km) và Campuchia (460km). Đỉnh phía Bắc của vịnh này là vùng lõm Băng Cốc ở cửa sông Chao Phraya, gần Băng Cốc. Ranh giới của vịnh này được xác định theo đường nối từ mũi Cà Mau ở miền Nam Việt Nam tới thành phố Kota Baru trên bờ biển Malaixia. Vịnh khá dài (chừng 450 hải lý) nhưng có diện tích nhỏ, chiều rộng trung bình là 385km (208 hải lý).


Vịnh Thái Lan tương đối nông, độ sâu trung bình của nó chỉ khoảng 45m, độ sâu lớn nhất là 80m. Điều này làm cho sự đối lưu nước tương đối chậm và dòng chảy mạnh của nước các con sông làm cho nước vịnh tương đối nhạt (3,05-3,25%) và giàu trầm tích. Chỉ ở những vùng nước sâu thì nước biển có độ mặn cao hơn (3,4%) từ Biển Đông chảy vào vịnh và chiếm lĩnh các chỗ trũng có độ sâu hơn 50m. Các sông chính chảy vào vịnh này là Chao Phraya (bao gồm cả sông nhánh của nó là Ta Chin) và Maeklong ở vùng lõm Băng Cốc và ở mức độ thấp hơn là sông Tapi vào vịnh Bandon ở phía Tây Nam của vịnh này.


Do nhiệt độ của vùng nhiệt đới là tương đối cao nên trong các vùng nước của vịnh Thái Lan có nhiều bãi đá san hô ngầm, vì thế nó tạo điều kiện phát triển du lịch phục vụ cho du khách có sở thích bơi lặn. Nổi tiếng nhất đối với loại hình du lịch này là đảo Ko Samui ở tỉnh Surat Thani, Ko Tao là trung tâm của du lịch bơi lặn ngầm. Vịnh này có chứa một số nguồn dầu mỏ và khí đốt với trữ lượng tương đối lớn.


Căn cứ vào các quy định mới Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, toàn bộ vịnh Thái Lan là đối tượng của các yêu sách mở rộng quyền tài phán của các quốc gia ven biển ra tới hạn 200 hải lý. Thái Lan và Việt Nam là hai nước có bờ biển đối diện, cùng có quyền mở rộng vùng biển của mình, do đó đã tạo ra một vùng chồng lấn rộng khoảng 6.074km2. Do vậy, vịnh Thái Lan là nơi diễn ra các mâu thuẫn về việc phân chia lãnh hải giữa các quốc gia Malaixia, Thái Lan, Việt Nam và Campuchia.


Đối với Việt Nam và Thái Lan, sau chín vòng đàm phán, ngày 9 tháng 8 năm 1997, tại Băng Cốc - Thái Lan, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Ngài Prachuab Chaiyasan Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Thái Lan đã ký Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan, chấm dứt một phần tư thế kỷ tranh cãi giữa hai nước về giải thích và áp dụng Luật biển trong phân định vùng chồng lấn Việt Nam - Thái Lan.


Theo Hiệp định, hai bên đã đi đến thoả thuận:

1. Đường phân chia thoả thuận là một đường thẳng kẻ từ điểm C (7049'0"B, 103002'30"Đ), tới điểm K (8046'54"B; 102012'11"Đ). Điểm C chính là điểm nhô ra nhất về phía Bắc của khu vực phát triển chung Thái Lan - Malaixia được xác định rõ trong bản ghi nhớ ngày 21 tháng 2 năm 1979 và trùng với điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa của Malaixia năm 1979. Điểm K nằm trên đường thẳng cách đều Thổ Chu và Poulo Wai, đây là đường "dàn xếp tạm thời" Việt Nam - Campuchia năm 1991. Với hiệu lực 32,5% của đảo Thổ Chu, đường phân định thoả thuận này trên thực tế cho thấy Việt Nam được hưởng 1/3 diện tích và Thái Lan được hưởng 2/3 diện tích vùng chồng lấn.

2. Đường biên giới biển CK tạo thành biên giới phân định thềm lục địa giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan, đồng thời cũng là đường phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước. Mỗi bên ký kết đều thừa nhận các quyền chủ quyền và tài phán của bên kia trên vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nam trong phạm vi đường biên giới biên được xác lập bởi Hiệp định.

3. Trong trường hợp có cấu trúc dầu hoặc khí duy nhất hoặc mỏ khoáng sản có tính chất bất kỳ nào nằm vắt ngang đường biên giới thì hai bên phải có trách nhiệm trao đổi thông tin, cùng tìm kiếm thoả thuận sao cho các cấu trúc hoặc mỏ này được khai thác một cách hiệu quả nhất và chi phí cũng như lợi tức từ việc khai thác sẽ được phân chia một cách công bằng.

4. Hai bên cũng cam kết sẽ tiến hành đàm phán với Malaixia về khu vực yêu sách thềm lục địa chồng lấn giữa ba nước, nằm trong vùng phát triển chung Thái Lan - Malaixia được xác định bởi Bản ghi nhớ giữa Vương quốc Thái Lan và Malaixia về thành lập cơ quan quyền lực chung khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực thềm lục địa xác định của hai nước trong vịnh Thái Lan, ký tại Chiềng Mai ngày 21 tháng 2 năm 1979.


Hiệp định ngày 9 tháng 8 năm 1997 đã mở ra một trang mới không chỉ trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam - Thái Lan mà cả trong lịch sử phân định vịnh Thái Lan. Hiệp định bao gồm những điểm nổi bật sau:

- Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được trong vịnh Thái Lan. Ngoài tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan, vẫn tồn tại vấn đề phân định biển giữa Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Thái Lan, Việt Nam - Thái Lan - Malaixia và Việt Nam - Campuchia - Thái Lan.

- Đây là hiệp định về phân định biển đầu tiên được ký kết tại khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực, đồng thời cũng là hiệp định về phân định toàn bộ các vùng biển đầu tiên trong khu vực. Trong khu vực đã có Hiệp định về phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Malaixia ngày 27 tháng 10 năm 1969 và ngày 21 tháng 12 năm 1971, phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Thái Lan ngày 17 tháng 12 năm 1971 và phân định thềm lục địa giữa Thái Lan và Malaixia ngày 21 tháng 12 năm 1971; Bản ghi nhớ Thái Lan - Malaixia ngày 21 tháng 2 năm 1979 về thiết lập Cơ quan quyền lực chung nhằm khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực xác định trong vịnh Thái Lan, Hiệp định về khai thác chung Việt Nam - Malaixia ngày 5 tháng 6 năm 1992, nhưng đây là lần đầu tiên có một hiệp định phân chia cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước thành viên ASEAN có tranh chấp biển.

- Hiệp định này đã khẳng định xu thế có thể thoả thuận về một đường biên giới biển duy nhất phân định đồng thời thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong các vùng biển không rộng quá 400 hải lý giữa các bờ biển đối diện nhau.

- Cùng với việc ký kết Hiệp định về phân định, hai Chính phủ còn đạt được thoả thuận về hợp tác bảo đảm an ninh trên biển và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh thông qua việc tổ chức tuần tra chung giữa Hải quan Thái Lan và lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; tổ chức tuyên truyền, giáo dục ngư dân hai nước tôn trọng quy định về đánh cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật.

- Quá trình yêu sách kéo dài từ những năm 1971, 1973, nhưng quá trình đàm phán để đạt được hiệp định giải quyết vấn đề đã được tiến hành trong một thời gian ngắn. Trong vòng năm năm, từ 1992 đến 1997, với chín vòng đàm phán, hai bên đã nhanh chóng đi đến kết quả cuối cùng, thê hiện thiện chí của cả hai nước Việt Nam - Thái Lan, tinh thần hợp tác phát triển giữa các nước thành viên ASEAN. Trong khi đó Thái Lan và Malaixia đã mất hơn 10 năm đàm phán để tìm một giải pháp cho tranh chấp thềm lục địa giữa họ trên vùng chồng lấn rộng 7.250km2. Năm 1979, họ mới đạt được một thoả thuận về thành lập Cơ quan quyền lực chung phát triển chung vùng chồng lấn đó và phải tới năm 1992 cơ quan này mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động. Việc giải quyết một cách nhanh chóng và chính xác vấn đề phân chia vùng chồng lấn đã thể hiện quyết tâm của hai nước trong khu vực trong việc thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, mà Việt Nam và Thái Lan đều là các nước thành viên.

- Đối với Việt Nam, đây là Hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được với các nước láng giềng. Việt Nam là nước có số lượng các tranh chấp biển liên quan nhiều nhất trong số các tranh chấp biển của khu vực. Hiệp định ngày 26 tháng 7 năm 1997 có tác động nhất định thúc đẩy các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp biển giữa Việt Nam với các nước hữu quan trên tinh thần khoản 7, Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

- Hiệp định phân định biển này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Thái Lan, góp phần đảm bảo ổn định an ninh trật tự trên biển, đẩy mạnh sản xuất dầu khí giữa hai nước. Nó mãi mãi là một mốc son trong lịch sử quan hệ giữa hai nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 04 Tháng Tám, 2022, 06:35:02 am
Từ điều kiện tự nhiên, tiềm năng phát triển của vùng biển và ven biển nước ta trong khu vực vịnh Thái Lan, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan đến năm 2020. Mục tiêu của quy hoạch là phát triển vùng này thành khu vực kinh tế năng động, góp phần vào thịnh vượng chung của khu vực biển và ven biển Tây Nam Tổ quốc, đồng thời kết nối với các khu vực ven biển khác trong cả nước tạo thành một vành đai kinh tế từ Móng Cái đến Hà Tiên.


Theo quy hoạch, sẽ tập trung xây dựng hành lang kinh tế ven biển vịnh Thái Lan từ Năm Căn - Cà Mau đến Rạch Giá - Hà Tiên, từng bước hình thành vùng động lực quan trọng ở ven biển cực Nam Tổ quốc; triển khai xây dựng tuyến trục giao thông ven biển qua 3 nước Việt Nam - Campuchia - Thái Lan kết nối trục kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn (Việt Nam) với Xinhgapo.


Tại đây, phát triển các ngành mũi nhọn có ưu thế như công nghiệp, thủy sản, du lịch và dịch vụ biển. Xây dựng đảo Phú Quốc thành Khu kinh tế biển tổng hợp có Trung tâm du lịch sinh thái biển - đảo cao cấp hoàn chỉnh, tầm cỡ trong khu vực đê thu hút khách du lịch quốc tế. Nhanh chóng thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả Khu bảo tồn biển phục vụ du lịch. Phấn đấu đến năm 2010 thu hút được khoảng 1,3 -1,4 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 350 - 400 ngàn lượt khách quốc tế.


Theo đó, phát triển các ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống, sản xuất hàng tiêu dùng, đồ trang sức, đồ lưu niệm, cơ khí sửa chữa phục vụ vận tải biển và chế biến hải sản; hình thành một số cụm công nghiệp quy mô phù hợp tại Dương Tơ, An Thới với các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp kỹ thuật cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Xây dựng nhà máy phát điện diezen, điện khí, phát triển điện gió, điện mặt trời, xây dựng tuyến cáp ngầm đưa điện ra đảo Phú Quốc và hệ thống lưới điện thống nhất trên toàn đảo.


Tập trung phát triển mạnh các ngành kinh tế biển và ven biển, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông thôn ven biển. Từng bước xây dựng Phú Quốc thành trung tâm thương mại lớn trong khu vực; nâng cấp cửa khẩu Giang Thanh để mở rộng giao thương hàng hoá giữa vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan với Campuchia và các nước trong khu vực. Tiếp tục phối hợp với các quốc gia liên quan thực hiện các thoả thuận đã đạt được trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí ở các vùng biển chồng lấn; đẩy mạnh hợp tác với Malaixia phát triển khai thác các mỏ dầu khí thuộc khu vực hợp tác khai thác chung (PM-3) và tìm kiếm, thăm dò những mỏ khác trong khu vực chồng lấn giữa hai nước; mở rộng hợp tác với các công ty dầu khí khác trên thế giới, nhất là những công ty lớn để thăm dò và khai thác dầu khí tại các lô thuộc vịnh Thái Lan.


Bên cạnh đó, hệ thống đô thị ven biển cũng được đẩy nhanh tốc độ xây dựng như xây dựng thành phố Rạch Giá thành trung tâm kinh tế biển mạnh, trung tâm nghề cá lớn và hiện đại của cả nước. Phát triển thành phố Cà Mau trong sự gắn kết với khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau và các đô thị vệ tinh.


Nội dung quy hoạch nêu rõ việc tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty dầu khí lớn; phát triển hợp lý hệ thống cảng biển trong vùng, nâng cấp, mở rộng cảng Năm Căn, Hòn Chông đạt công suất từ 700-800 nghìn tấn/năm; từng bước xây dựng tại Phú Quốc một Trung tâm cảng biển và dịch vụ hàng hải lớn của khu vực vịnh Thái Lan.


Cùng với việc hình thành và phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn, vùng và ven biển vịnh Thái Lan sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao gấp 1,4 lần tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. Phấn đấu đến năm 2020 sẽ nâng mức sống vật chất của nhân dân trong vùng lên gấp 5 lần hiện nay và giảm tỷ lệ đói nghèo.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:43:49 am
Phần thứ tư
MỘT SỐ BÃI BIỂN NỔI TIẾNG ở VIỆT NAM


* Bãi Cháy

Bãi Cháy là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển kéo dài hơn 2km ôm lấy hàng thông cổ thụ nằm xen kẽ với những khách sạn cao tầng, những biệt thự nhỏ với kiến trúc riêng biệt nằm sát dọc theo bờ vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), với bãi cát dài hơn 500m, rộng 100m..., sóng nước êm đềm.


Cái tên Bãi Cháy có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo truyền thuyết xưa, Bãi Cháy chính là nơi đoàn thuyền lương của quân Nguyên Mông do Trương Văn Hổ cầm đầu vào xâm lược Việt Nam đã bị Trần Khánh Dư cùng quân dân nhà Trần thiêu cháy và bị dạt vào bờ. Do nhiều thuyền giặc bị cháy, gió đông bắc lại thổi tạt lửa vào bờ phía tây cửa Lục làm cháy luôn khu rừng đang hanh khô. Khu rừng bị cháy đó thành Bãi Cháy ngày nay.


Một truyền thuyết dân gian lại cho rằng trước đây tàu thuyền thường neo đậu vào bãi biển phía tây Cửa Lục. Dưới đáy và bên sườn thuyền thường có con hà bám vào rất chắc có thể ăn hỏng thuyền, vì thế dân chài phải lấy lá phi lao đốt xung quanh. Từ bên phía Hòn Gai và các nơi khác nhìn vào đó luôn luôn thấy lửa cháy rực lên nên gọi nơi này là Bãi Cháy.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:44:14 am
* Bãi biển Trà Cổ

Trà Cổ là nơi "đặt nét bút đầu tiên để vẽ hình chữ S bản đồ Tổ quốc Việt Nam", cách trung tâm thị xã Móng Cái 7km, bờ biển Trà Cổ uốn vành hình khuyên trải dài 17km từ mũi Gót ở phía Bắc đến mũi Ngọc ở phía Nam, dược mệnh danh là "Bãi biển trữ tình nhất Việt Nam" với bãi tắm rộng và bằng phẳng, nền cát trắng mịn hoà trong làn nước xanh biếc in bóng hàng dương xanh suốt bốn mùa. Nếu như Nha Trang được ví như là cô gái tân thời thì Trà Cổ được mệnh danh như một nàng thiếu nữ thôn quê còn e ấp nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn, duyên thầm chưa được khám phá.


Do nằm cách xa các thành phố, các khu công nghiệp, bến cảng nên Trà cổ có khí hậu mát mẻ, nồng nàn hương biển trong không gian tĩnh mịch và mang đậm chất hoang sơ. Do Trà Cổ là rìa bên ngoài của một đảo bồi tự nhiên do tác động của sóng và dòng biển ven bờ tạo thành, nên dọc bờ biển là những cồn cát cao từ 3 đến 4m, có làng ấp và dân cư trú đông đúc, chủ yếu sống bằng nghề nông và chài lưới. Sát bờ biển là các dải rừng phi lao chắn gió, râm mát giữ cát và gần đó còn có hệ thống sinh thái rừng ngập mặn.


Gần Trà Cổ có một nơi đón bình minh hoặc hoàng hôn cực kỳ lãng mạn, đó là Cồn Mang, Cồn Mang cách Trà Cổ chừng 6km. Cát ở đây chắc và mịn đến mức có thể thoải mái phóng xe máy trên bãi biển mà không hề sợ lún hay trơn trượt.


Ngồi trên những hòn đá to, lắng nghe những con sóng bạc đầu rì rào vỗ về đá và xung quanh hoàn toàn vắng vẻ, có cảm giác như mình được hòa tan cùng thiên nhiên, tự do, thư thái và tĩnh tại.


Cũng gần Cồn Mang, có một điểm địa đầu Tổ quốc, đó là mũi Sa Vĩ, nét bút đầu tiên tạo hóa vẽ nên chữ S của Việt Nam, khung cảnh êm đềm, thơ mộng.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:44:34 am
* Bãi biển Đồ Sơn

Bãi biển Đồ Sơn nằm ở thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình, với hàng chục mỏm cao từ 25 đến 130m. Nơi đây có bãi cát mịn, bên bờ biển rợp bóng phi lao. Sau là những ngọn núi và đồi thông.


Bãi tắm Đồ Sơn chia làm 3 khu riêng biệt: khu 1 nằm ngay đầu thị xã Đồ Sơn, khu 2 có nhiều khách sạn hiện đại, khu 3 yên tĩnh và kín đáo. cả ba khu vực đều có nhiều di tích lịch sử giá trị cùng với những bãi tắm trải dài, mềm mại ôm lấy mép biển.


Ở đây còn lưu dấu nhiều di tích lịch sử có giá trị từ thời Pháp như: đường Hồ Chí Minh trên biển, bến Nghiêng - nơi những lính viễn chinh cuối cùng rút khỏi, biệt thự hình bát giác kiên cố thời vua Bảo Đại - ông vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, đền Bà Đế linh thiêng, đảo Dấu dưới nước, đảo Dấu trên bờ, vườn Trúc Đào, thác Rồng nằm khuất sau vườn thông...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:44:59 am
* Bãi biển Đồng Châu

Bãi biển Đồng Châu thuộc xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, cách thành phố Thái Bình 30km đi theo quốc lộ 39B.


Bãi tắm Đồng Châu có chiều dài khoảng 5km, mang nhiều nét hoang sơ. Điều thú vị là từ bãi tắm Đồng Châu du khách có thể đi tàu, xuồng gắn máy ra thăm và tắm biển ở Cồn Thủ, Cồn Vành.


Nằm cách đất liền khoảng 7km, Cồn Thủ và Cồn Vành nổi lên như hai ngọn sóng xanh trên cồn cát rộng khoảng 5ha. Trên Cồn Thủ có bãi cát trắng mịn, có rừng thông, phi lao xanh ngắt, có những bãi tắm nhỏ yên tĩnh và thơ mộng. Cồn Vành rộng khoảng 15km2, có khu bảo tồn rừng ngập mặn, là điểm dừng chân của các loài chim quý hiếm như cò thìa, bồ nông, mòng biển. Bãi biển Đồng Châu không đẹp lắm nhưng khí hậu thật trong lành, bãi tắm luôn lộng gió, rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, đặc biệt hải sản ở đây rất ngon và rẻ. Ngoài ra, du khách còn được tham quan đền Nhà Bà thờ vợ một vị vua đời Tống bên Trung Quốc đã có công giúp nhà Trần đánh tan quân Nguyên Mông, và đây cũng là cơ sở hoạt động của Xứ ủy Bắc Kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:45:21 am
* Bãi biển Thịnh Long

Biển Thịnh Long nằm ở phía tây tỉnh Nam Định, thuộc thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu. Đây là bãi biển đẹp thơ mộng, trải dài hơn 3km với những hàng phi lao trên bờ biển xa ngút tầm mắt. Từ thành phố Nam Định theo đường 21 đến thị trấn Thịnh Long là bãi tắm Thịnh Long.


Thịnh Long là một bãi tắm mới đưa vào khai thác du lịch vài năm nay. Bãi tắm Thịnh Long có cát mịn, thoải dài hàng cây số, không bị bùn lún, an toàn, êm đềm và thơ mộng. Nước biển có độ mặn cao, sóng lớn hấp dẫn nhiều du khách trong mùa hè oi bức. Đặc biệt hàng phi lao xanh, cao vút, thẳng tắp vươn mình chạy đua cùng bãi tắm luôn cất tiếng du dương hoà lẫn với tiếng sóng rì rào tạo nên một âm thanh đặc trưng của biển Thịnh Long.


Vẻ đẹp hoang sơ cùng với khí hậu mát mẻ hơn hẳn với bãi biển Sầm Sơn, Cửa Lò vì không có cái nóng nực oi nồng của gió Lào, Thịnh Long luôn đầy ắp gió cả ngày lẫn đêm, tạo nên làn hơi nước mờ của sóng biển càng tôn thêm vẻ đẹp lãng mạn vốn có của nó. Nơi đây có Cồn Lu, Cồn Ngạn nằm cách bờ biển khoảng 2km với nhiều loại động thực vật phong phú, quý hiếm.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:45:51 am
* Bãi biển Sầm Sơn

Bãi biển Sầm Sơn thuộc xã Quảng Sơn, huyện Quảng Xương, cách thành phố Thanh Hóa 16km về hướng Đông. Thiên nhiên đã ưu ái cho Sầm Sơn một bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với nhiều tích sử - một tài sản vô giá của Sầm Sơn từ ngàn xưa để lại.


Nằm trên bờ vịnh Bắc Bộ, địa hình Sầm Sơn tương đối bằng phẳng, là vùng sơn thủy hữu tình với khí hậu trong lành, dải bờ biển cát vàng thoai thoải, nước trong xanh soi bóng núi Trường Lệ với những di tích văn hoá đã được xếp hạng quốc gia (đền Độc Cước, đền Cô Tiên, hòn Trống Mái...). Thị xã có đoạn bờ biển hình cánh diều tựa vào đất liền khoảng 5km, độ dốc thoai thoải và nông, cát phủ đáy mịn, nước vẽ mùa hè khá trong, không bị ảnh hưởng của phù sa cửa sông, bãi cát khá rộng, mịn màng và bằng phẳng, tạo nên một bãi tắm đẹp. Bãi tắm này được người Pháp khai thác từ năm 1906. Vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn.


Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn phú cho Sầm Sơn nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và lung linh sắc màu huyền thoại.


Phía Nam Sầm Sơn còn có dãy Trường Lệ với những phiến đá cuội như tòa tháp nhoài từ đất liền ra và đá trầm tích nhô từ biển lên.

Hòn Trống Mái chính là sự xếp đặt từ 3 khối đá thiên nhiên đã có từ bao đời nay. Hòn lớn bằng phẳng ở dưới trông như cái bệ lớn. Một hòn có đầu nhọn nằm chồng lên trên trông giống hình dáng con gà trống; hòn đối diện nhỏ hơn, có dáng tựa con gà mái. Các khối đá có hình dáng đẹp thơ mộng được gắn với truyền thuyết về một mối tình chung thủy.


Mặt khác, Sầm Sơn có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá lâu đời, với các hoạt động văn hoá mang đậm bản sắc quê hương như lễ hội bánh chưng - bánh giầy (ngày 12-5 âm lịch hàng năm).


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:46:11 am
* Bãi biển Nghi Sơn

Biển Nghi Sơn thuộc xã đảo Nghi Sơn và xã Hải Thượng, Tĩnh Gia, phía Đông Nam thành phố Thanh Hóa. Hòn đảo này như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển, ôm gọn trong lòng nó một vụng nước với độ sâu thích hợp làm nơi cho tàu thuyền ẩn náu mỗi khi bão gió. Nghi Sơn cách Sầm Sơn 40km đường biển, cùng nằm trên một vĩ độ nhưng khí hậu mùa hè trong lành mát mẻ hơn nhiều.


Từ Nghi Sơn kéo sang Hải Thượng là những bãi cát chạy dài, mịn màng như dải lụa, sánh ngang những bãi tắm nổi tiếng ở Đồ Sơn, Sầm Sơn, Bãi Cháy. Vô sô những hòn đá to nhỏ được nước biển cọ rửa, phẳng lì như mặt ghế, chào mời du khách nghỉ ngơi sau khi ngụp lặn thoả thích cùng sóng biển.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:46:35 am
* Bãi biển Cửa Lò

Thị xã Cửa Lò (Nghệ An) với bãi biển Cửa Lò nổi tiếng nằm bên bờ biển Đông, được ôm gọn giữa hai cửa biển: Cửa Lò phía Bắc, Cửa Hội phía Nam. Nằm cách thành phố Vinh 18km, Cửa Lò là bãi biển rộng, dài, là một trong những bãi tắm đẹp nhất nước, nằm giữa quần thể du lịch - văn hóa xứ Nghệ.


Với bãi tắm rộng dài hơn 10km, có độ dốc thoai thoải, cát mịn, nước trong và sạch, độ mặn cao, không pha lẫn bùn như một số bãi biển khác, phía trên bãi biển được bao quanh bởi rừng phi lao bạt ngàn, rừng cây vừa chắn cát, vừa là điểm dạo chơi lý thú.


Với đặc điểm của con sông Lam đổ ra Cửa Hội, dòng chảy mạnh ra Biển Đông theo hải lưu hướng về phía Nam mang theo bao phù sa để biển, nước biển Cửa Lò quanh năm trong xanh, nhìn thấy cả cát. Nước biển Cửa Lò không mặn chát mà vừa phải. Mùa hè, cũng là lúc gió tây nam vượt Trường Sơn đổ về, buổi sáng gió tây nam đìu hiu ru sóng biển dập dìu; chiều muộn, trước khi hoàng hôn buông xuống thì cũng là lúc gió tây ngừng thổi nhường chỗ cho gió nồm. Trong một ngày, Cửa Lò đón hai luồng gió, với hai cảm giác khác nhau. Đặc biệt, biển ở đây có nguồn hải sản phong phú, trong đó có mực nhảy và mực câu nổi tiếng cả nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:46:52 am
* Bãi biển Cửa Hội

Bãi biển Cửa Hội nằm giữa bãi biển Cửa Lò (Nghệ An) và bãi biển Xuân Thành (Hà Tĩnh), là nơi sông Lam chảy ra Biển Đông. Nơi đây có biển, có sông. Từ nơi này có thể nhìn thấy Hòn Ngực một cách rõ nhất.


Biển ở nơi này vẫn còn hoang sơ, tĩnh lặng, được bao bọc bởi bạt ngàn phi lao ngày đêm rì rào trò chuyện cùng với sóng, với gió. Sự tĩnh lặng, êm đềm của bãi biển khác hẳn với không khí náo nhiệt ở Cửa Lò.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 09 Tháng Tám, 2022, 06:47:22 am
* Bãi biển Xuân Thành

Cách Cửa Hội khoảng 5km về phía Nam là bãi biển Xuân Thành (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Bãi biển Xuân Thành kéo dài hơn 5km. Nước biển ở đây có độ mặn vừa phải, trong và rất sạch, bãi cát rất thoải, có thể lội bộ ra xa237 ngót trăm mét. Không gian thiên nhiên gần như còn giữ được vẻ nguyên sơ, giúp du khách có cảm giác được hòa mình vào thiên nhiên biển trời mênh mang và một sự thư giãn thoải mái, dễ chịu.


Điểu đặc biệt là dọc theo chiều dài bãi biển Xuân Thành có dòng sông nước ngọt Mỹ Dương từ núi Hồng Lĩnh chảy về chạy song song. Sông không sâu nhưng nước không bao giờ cạn. Đôi bờ sông là những tán cây xanh trùm mát rượi. Vượt cầu qua sông là dải rừng rộng 50m, qua dải rừng là biển. Suốt một chiều dài mấy cây số, biển cứ vờn cát trắng, sông cứ chạy theo rừng, tạo nên một không gian thật thơ mộng...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:57:38 am
* Bãi biển Thạch Hải

Thạch Hải thuộc huyện Thạch Hà là một bãi biển đẹp nhất nhì ở Hà Tĩnh và cũng là một trong những bãi biển đẹp nhất của miền Trung Việt Nam. Bãi biển Thạch Hải phẳng lỳ, nước trong vắt, cát trắng tinh khôi, sóng vỗ nhẹ nhàng hòa vào tiếng vi vu của rừng phi lao xanh ngắt rộng chừng 60 - 70m, chạy dài trên 10km.


Biển chiều ở Thạch Hải như nhuốm màu huyền thoại. Cả bãi cát mịn màng trải một màu trắng tinh khiết thành một đường vòng hơn 6km ôm trọn lấy chân ngọn núi Nam Giới. Nếu Thiên Cầm là một cây đàn trời muôn điệu thì có thể ví Thạch Hải là một cô gái đang độ xuân thì bấy lâu ngủ quên. Bởi Thạch Hải mang một vẻ đẹp hoang sơ, quyến rũ khác lạ mà mỗi lần đến đây du khách lại khám phá ra những điều mới.


Từ bãi tắm, du khách có thể tản bộ dọc theo bãi biển, dạo chơi trong rừng phi lao hoặc đến với những di tích danh thắng như núi Nam Giới dài 9km, cao 370m trong quần thể Quỳnh Viên gắn với truyền thuyết lập am tu luyện của Chử Đồng Tử, bia đá khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông; khe Ao Tăm, khe Mưa Giông, suối Hiêu Hiêu gần biển mà dòng nước vẫn ngọt mát như thường...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:57:56 am
* Bãi biển Thiên Cầm

Cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 20km về phía Đông Nam, Cửa Nhượng hay Thiên Cầm được biết đến và ca tụng bởi vẻ hoang sơ, môi trường trong sạch, bãi cát thoải dài yên tĩnh. Bãi biển Thiên Cầm như hình cánh cung bắt đầu từ núi Thiên Cầm đến núi Đầu Voi, cùng với Cùm Nậy (núi lớn) và Cùm Con (núi bé) tạo nên những phím đàn trời án ngự dòng suối Kỳ La, để dòng suối trong vắt này uốn lượn, êm đềm đổ ra biển. Nơi đây chỉ có tiếng sóng dội vào hang núi, Thiên Cầm có tới 3 bãi tắm, bãi chính dài 3km, bãi khác dài khoảng 10km, bãi cát trắng thoai thoải phẳng ít lồi lõm, nước biển xanh trong vắt màu ngọc bích, có thể nhìn xuống tận đáy, bờ biển thoai thoải, có thể tắm ở xa bờ hơn 100m, nước biển có độ mặn rất cao. Sóng biển nơi đây không quá to như Sầm Sơn song cũng đủ để tạo nên những tiếng nhạc du dương như tiếng đàn trời làm nên sự tích của khu du lịch này.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:58:17 am
* Bãi biển Nhật Lệ

Bãi biển Nhật Lệ ở ngay gần cửa sông Nhật Lệ, cách thị xã Đồng Hới (Quảng Bình) 2km về phía Bắc. Bãi biển này được thiên nhiên ban tặng cho bãi cát trắng, phẳng, dài và nước biển trong xanh, sạch đẹp, mang vẻ hoang sơ.


Từ lâu bãi biển Nhật Lệ đã nổi tiếng với một vùng trời mây, sông, nước, gió lộng khí trời, khí biển mặn mà. Biển Nhật Lệ kéo dài một màu cát trắng, những lúc trời thanh gió mát, bãi biển sạch như được trải nệm mới, cát mịn, cứng óng ánh có thể đạp xe hay chơi bóng một cách thoải mái. Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ như những chùm hoa, sóng tung bọt trắng xóa trông giống chuỗi ngọc trắng đang lăn vào bờ, ngân lên những âm thanh rì rào không dứt. Ban đêm, nước biển lấp lánh hoà lẫn với ánh trăng bàng bạc, xa xa rực lên ánh sáng của những đoàn thuyền đánh cá ra khơi giống như một "thành phố đêm" nổi trên mặt nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:58:41 am
* Bãi biển Lăng Cô

Lăng Cô là vùng đất cuối cùng của phía Tây Nam trên bản đồ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Bãi tắm Lăng Cô nằm cạnh quốc lộ 1A, dưới chân đèo Hải Vân (mặt Bắc), cách khu Bạch Mã chừng 24km.


Nằm lọt giữa một nhánh thuộc dãy Trường Sơn đâm ra biển, một đầu là đèo Hải Vân, đầu kia là đèo Phú Gia, tổng thể bãi tắm Lăng Cô gồm một dải cát dài chừng 10km, một bán đảo nổi lên giữa một bên là đầm Lập An, một bên là Biển Đông và rặng núi Răng Cưa đẹp như tranh vẽ soi bóng xuống mặt nước. Biển - đầm phá - núi rừng nằm cạnh bên nhau tạo nên một hệ sinh thái phong phú. Du khách vừa có thể hòa mình, lặn ngụp dưới làn nước trong xanh, vừa có thể tận hưởng không khí trong lành và thú tham quan dã ngoại trên núi, trong rừng, lại có thể thư thái bên chiếc thuyền câu trong êm đềm sóng nước. Chính sự đa dạng của hệ sinh thái còn mang lại cho Lăng Cô một thực đơn thủy sản không nơi nào có được.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:59:01 am
* Bãi biển Mỹ Khê

Bãi biển Mỹ Khê thuộc địa phận thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, nằm dọc theo quốc lộ 24B, cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 12km về phía Đông, cách cảng Dung Quất 16km, cách khu chứng tích Mỹ Sơn 3km và gần cảng Sa Kỳ.


Mỹ Khê là bãi tắm lý tưởng của tỉnh Quảng Ngãi với không gian mênh mông. Đây là bãi biển có hình cong lưỡi liềm với bãi cát vàng mịn, độ dốc thoải chạy dài khoảng 7km. Thiên nhiên đã ban tặng nơi đây một bãi tắm thoai thoải, an toàn, sạch sẽ, nước trong xanh bốn mùa. Quanh bờ biển là những rặng phi lao xanh ngút tầm mắt. Bên cạnh là con sông Kinh lặng lò thơ mộng, mang vị ngọt của thượng nguồn đổ về và vị mặn của biển đem lại nhiều đặc sản biển phong phú.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:59:33 am
* Bãi biển Sa Huỳnh

Nằm dọc theo Quốc lộ 1A, bãi biển Sa Huỳnh (còn có tên gọi là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng) thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, từ lâu được biẽt đến như một điểm du lịch khá lý tưởng.


Vẻ đẹp quyến rũ của bãi biển Sa Huỳnh là bờ cát vàng mịn màng trải dài hàng cây số, cong hình lưỡi liềm, trông xa giông như áng tóc xõa của người con gái đang tuổi xuân thì. Điểm đặc biệt là, màu cát ở đây không trắng như những nơi khác mà có màu vàng óng ánh thật đẹp.


Không chỉ vậy, biển Sa Huỳnh còn nổi tiếng bởi làn nước trong xanh, lắm tôm, nhiều cá, những rặng san hô tuyệt đẹp cùng những đảo nhỏ với muôn hình vạn dạng khác nhau tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Tên của những hòn đảo đó được đặt dựa theo hình thể: Hòn Bẹp, Hòn Dù, Hòn Khu Ông, Hòn Son...


Đến Sa Huỳnh, có đi thuyền dọc theo núi Cấm mới có thể cảm nhận được hết vẻ đẹp thiên nhiên giữa biển trời nơi đây, nhất là mỗi độ xuân về. Hang Hóc Mó lộng lẫy với rừng mai vàng nở rộ, làm rực cả một khoảng trời giữa biển nước mênh mông. Nằm cách bờ chừng hơn một hải lý là dãy đá ngầm cùng rặng san hô, thế giới của rong biển và những đàn cá đa dạng về chủng loại cùng nhiều màu sắc lượn lờ. Sự sống của đại dương chẳng khác nào một xứ sở thần tiên đang diễn ra trước mắt. Thú vị nhất là đứng trên đỉnh Đá Bia vào buổi chiều tà, phóng tầm mắt ra khơi xa ngắm những tia nắng cuối cùng sắp khuất sau rặng núi, hay ngồi dưới hàng dương lộng gió mà nghe lòi thì thầm của sóng về ngàn xưa. Trời, mây, sóng, nước..., tất cả như hòa lẫn, quyện chặt vào nhau, tạo nên sự thơ mộng và đầy quyẽn rũ cho bức tranh thiên nhiên của Sa Huỳnh...


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 06:59:57 am
* Bãi biển Khe Hai

Bãi biển Khe Hai thuộc xã Bình Thạnh, cách quốc lộ 1A tại Dốc Sỏi chừng 3km, cách huyện lỵ Bình Sơn chừng 12km về hướng Đông Bắc. Bờ biển Khe Hai trải dài từ sân bay Chu Lai đến cửa biển Sa Cần với bờ cát dài và rộng, lại khoác lên mình màu xanh bạt ngàn của những rặng phi lao xa tít tắp nên dễ tạo cho du khách cảm giác mênh mang, choáng ngợp khi đứng ở nơi này. Từ đây, bạn phóng tầm nhìn về hướng Đông sẽ bắt gặp dải núi nhô ra lưng chừng biển, đó là dãy Nam Trâm và mũi Co Co; phía tây được bao bọc bởi dãy núi Bàn Than (thuộc tỉnh Quảng Nam). Tất cả quần thể ấy tạo thành một hình vòng cung rất đẹp. Đến đây, bạn còn được chứng kiến cảnh vui nhộn của những đoàn thuyền nôi đuôi nhau đi tìm luồng cá. Và khi những chiếc thuyền đầy ắp cá trở về, cả bãi biển bỗng chốc rộn ràng như có hội.


Được thiên nhiên ưu đãi ban cho khí hậu trong lành, mát mẻ; bờ biển sạch đẹp, mực nước nông, bờ cát rộng thoai thoải và trải dài, bãi biển Khe Hai là nơi lý tưởng cho những ai chưa quen bơi lội, song vẫn có thể ung dung vui đùa cùng sóng nước.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 07:00:37 am
* Bãi biển Bình Tiên

Bãi biển Bình Tiên (gọi tắt là bãi Tiên) cách trung tâm thành phố Cam Ranh chỉ chừng 10km. Từ Cam Ranh, theo hướng về Thành phố Hồ Chí Minh, đến cầu Mỹ Thanh rẽ hướng tay trái, bạn sẽ lọt vào một cung đường khá đẹp. Cung đường này chạy đọc theo núi Chúa, Ninh Thuận. Nếu đi đúng vào mùa lúa chín, bạn còn chiêm ngưỡng được cảnh những đồng lúa vàng rộm nằm ngay dưới chân núi. Một bên là núi, một bên là biển, vẻ hoang dã này đủ để bạn có thể tùy nghi khám phá theo sở thích "lên rừng" hay "xuống biển".


Địa điểm của bãi Bình Tiên là vùng giáp ranh Ninh Thuận với Khánh Hòa. Tuy nhiên, cứ bỏ qua địa giới hành chính, bởi ngay tại đoạn giữa của cung đường ngắn đến Bình Tiên còn có thêm một nhánh rẽ để bạn chọn giữa bãi Bình Lập hay Bình Tiên, cả hai bãi biển này đều hứa hẹn nét hoang sơ thuần túy.


Bãi Bình Tiên không phải là địa điểm du lịch được biết đến rộng rãi. Hiện thời cũng chưa có tua của các nhà làm tua đưa khách đến đó. Vài năm trở lại đây mới xuất hiện du khách đi tua "bụi" từ Sài Gòn. Nơi đây thưa thớt vài quán lá phục vụ nhu cầu thưởng thức hải sản, giá cả rất phải chăng. Từ bãi Bình Tiên có thể nhìn suốt qua đảo Bình Hưng. Nhiều người sẽ "mách nước" cho bạn việc thuê ghe ra đảo Bình Hưng nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu cuộc sống cư dân trên đảo và mua hải sản tươi ngon mà giá cả lại rẻ đến bất ngờ.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 07:01:07 am
* Bãi Bàu

Bãi Bàu nằm phía Bắc huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, cách con lộ Sông Cầu - Quy Nhơn chừng 200m. Trước đây, khi con đường biển (tránh đèo Cù Mông) nối Sông cầu - Phú Yên với Quy Nhơn - Bình Định chưa được mở ra, cái tên Bãi Bàu hầu như còn xa lạ với nhiều người, thậm chí nó còn chưa có tên trong bản đồ du lịch. Thế nhưng, kể từ khi con đường này thông xe, Bãi Bàu đã thực sự cựa mình thức giấc.


Ấn tượng đầu tiên khi đến Bãi Bàu đó là sự ngỡ ngàng trước một bãi biển tuyệt sạch, hình cánh cung, dài chừng 1.000m, bao bọc bởi hai dãy núi nhô ra biển. Ở đây, nước biển trong xanh, cát trắng mịn màng, rất phù hợp với những ai thích tắm biển. Không những thế, Bãi Bàu còn có những ghềnh đá, đồi núi, tạo nên vẻ nguyên sơ, hữu tình. Khách đến đây ngoài tắm biển còn có thể nhảy ghềnh, câu cá, leo núi. Hiện nay ở đây đã hình thành khu du lịch nghỉ dưỡng mang tên Bãi Bàu với nhiều hạng mục: nhà hàng, nhà nghỉ, khu lều trại... khá sầm uất và đông vui.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 15 Tháng Tám, 2022, 07:01:30 am
* Bãi biển Nha Trang

Hiếm có nơi nào mang nét đẹp hoàn hảo của biển và đảo như thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa). Bãi cát trắng nổi bật trên nền nước biển trong xanh, những dải san hô khoe sắc kỳ ảo ở vịnh Nha Trang thật xứng đáng đứng trong danh sách 30 vịnh đẹp nhất thế giới hiện nay.


Nha Trang có bờ biển cát dài trắng xóa nằm dọc duyên hải phía Nam với hàng dừa thẳng tắp xào xạc trong gió Biển Đông. Nơi đây có những hòn đảo xanh tươi như bỗng nhiên mọc lên trên mặt biển xanh thẳm. Tạo hóa ưu đãi cho Nha Trang một điều kiện địa lý tự nhiên lý tưởng. Thành phố Nha Trang thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa mang dáng dấp vừa cổ điển vừa hiện đại với biệt thự công sở thời thuộc địa bên cạnh khách sạn cao ốc đang mọc lên trong tổng thể quy hoạch du lịch. Không như Vũng Tàu hay Đà Nẵng, bãi biển thường xa trung tâm thành phố, ở Nha Trang khách du lịch có thể đi bộ băng qua đại lộ Trần Phú là có thể xuống ngắm hoàng hôn trên biển Nha Trang.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:49:20 am
* Bãi biển Cà Ná

Bãi biển Cà Ná dài khoảng 3km, cong cong như hình lưỡi liềm, nằm ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang khoảng 30km về phía Nam. Phía Tây quốc lộ là dãy Trường Sơn hùng vĩ nhô ra gần sát bờ biển ôm gọn tuyến đường sắt Bắc - Nam. Tại khúc quanh thơ mộng này, đường xe lửa và quốc lộ 1 gặp nhau như một cuộc hẹn hò lý thú. Cả hai tuyến đường đều quay mặt ra biển cả mênh mông để hứng gió trời ngày đêm lồng lộng, lưng dựa vào núi Điện Bà cao ngất.


Cà Ná là một bãi tắm lý tưởng, nhờ biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non, mực nước lại không sâu, khí hậu quanh năm nắng ấm. Ít có bờ biển nào đa tình và diễm lệ đến thế, nên Cà Ná được nhiều người xếp vào loại bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Nước biển ở đây trong xanh với những bãi cát trải dài quanh co uốn lượn khiến cho Cà Ná đẹp đến mê hồn. Bên cạnh đó, phong cảnh thiên nhiên hữu tình khiến cho nơi đây như một bức tranh thủy mặc, với những đường nét chấm phá làm cho người ta phải đắm đuối ngắm nhìn. Kỳ thú nhất là ở sát bờ nước, những mỏm đá đủ hình thù được xếp đặt một cách ngẫu nhiên chồng chất hoặc chen chúc bên nhau, trải dài ra biển, nhấp nhô trong sóng nước với nhiều hình thù lạ mắt, lung linh và huyền ảo, mới trông tựa như đàn hải cẩu đang đùa giỡn trên mặt biển. Ai nhìn qua cũng háo hức muốn tận hưởng cái không gian yên ắng, thanh bình của một non nước. Chỉ cần từ bờ lội ra khơi chừng 20m, ở độ sâu chỉ 1 - 1,5m, du khách đã thấy được các rạn san hô rất đẹp.


Không khí Cà Ná trong lành, mát mẻ. Đặc biệt, đêm ở Cà Ná rất đẹp, nhất là vào những ngày có trăng, gió biển lồng lộng vi vu, tiếng sóng vỗ rì rào hòa lẫn với tiếng lá rừng xào xạc, mọi thứ như hòa vào đất trời, thiên nhiên, càng làm cho Cà Ná thêm thơ mộng và hữu tình.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:49:41 am
* Bãi Trước

Bãi Trước hay còn gọi là Bãi Tầm Dương (tầm dương là nhìn được ánh mặt trời), ở hướng Tây Nam của thành phố Vũng Tàu và nằm giữa hai ngọn Núi Lớn và Núi Nhỏ, đột khởi từ mặt biển, theo một đường vòng cung khá đẹp.


Vào buổi bình minh và hoàng hôn, mặt trời đỏ rực như tan vào nước biển mênh mông, Bãi Trước như một nửa vành trăng tựa lưng vào đất liền, hai đầu là hai ngọn núi Tương Kỳ và Tao Phùng. Thiên nhiên sơn thủy hữu tình đã tạo cho Bãi Trước cảnh thơ mộng, là bến đậu của những con tàu trở về sau những chuyến hải trình.


Dọc Bãi Trước trồng nhiều dừa vì vậy trước đây còn có tên là vịnh Hàng Dừa. Giờ đây Bãi Trước vẫn rợp bóng dừa và được điểm tô thêm màu xanh của những cây bàng, dương liễu và cây sứ che mát bãi cát gần biển. Bên dưới những bóng cây xanh rợp mát là một khu công viên đầy hoa dành cho khách bộ hành hóng mát... bên tiếng sóng biển du dương.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:50:04 am
* Bãi biển Nghinh Phong

Từ Niết Bàn Tịnh Xá, theo đại lộ Hạ Long, qua hết Bãi Dứa là tới mũi Nghinh Phong, nằm ở hướng cực nam thành phố Vũng Tàu. Mũi Nghinh Phong nằm giữa Bãi Sau và Bãi Dứa. Ở đây quanh năm gió lộng, vì thế cái tên "Nghinh Phong" có nghĩa là "đón gió" thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai bãi biển ở hướng Tây và hướng Đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong. Hai bãi tắm này tuy hẹp, nhưng nước rất sạch, sóng gió dồn dập, ba bề vách đá cheo leo tạo cho cảnh quan vô cùng hùng vĩ. Xa xa là Hòn Bà - Bồng đảo nơi du khách có thể ghé thăm vào những khi thủy triều hạ thấp.


Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn.


Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường. Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dập dồn.


Từ trên cao nhìn xuống, mũi Nghinh Phong nhô ra Biển Đông trông như một chiếc đầu cá sấu khổng lồ. Quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kỳ dị vô cùng lạ mắt, đây là nơi hẹn hò tuyệt vời cho những người thích câu cá và ưa mạo hiểm.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:50:26 am
* Bãi Sau

Nằm ở phía Đông Nam thành phố Vũng Tàu và còn có tên gọi khác là "bãi Thùy Vân", Bãi Sau dài khoảng trên 8km, từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp, là bãi biển dài và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Đây là bãi tắm sạch, đẹp và rộng rãi. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân được phủ đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, hiện đại, một bên là bãi cát vàng và nhiều loại hình giải trí vui chơi trên biển... dành cho mọi lứa tuổi.


Bãi Sau tựa lưng vào những đồi cát và rừng cây, trước mặt là Biển Đông. Kề ngay Bãi Sau là núi Hải Đăng, những vách đá hang Dơi và Hòn Bà. Phía xa ngoài biển, phía trái chân trời là dãy núi Long Hải chạy dài đến núi Kỳ Vân.


Bãi Sau còn có khu rừng dương - một cánh rừng rộng với những cây phi lao cổ thụ xanh rợp trên nền cát trắng, che mát bãi tắm, tạo cho phong cảnh nơi đây sự êm đềm, quyến rũ, nên thơ. Chỉ cần một luồng gió nhẹ, những cành lá phi lao nhỏ li ti lại cùng reo lên bản nhạc lạ kỳ. Dưới rừng dương thấp thoáng những căn nhà nghỉ bằng gỗ, thiết kế theo kiểu nhà rông vừa tao nhã, vừa thanh lịch, đậm nét văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, lại vừa hiện đại, vừa dân dã là chỗ dừng chân lý tưởng cho mọi du khách.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:50:54 am
* Bãi Dâu

Bãi Dâu nằm ở phía Tây Núi Lớn và phía Bắc trung tâm thành phố Vũng Tàu, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu cách chừng 3km. Trước kia, Bãi Dâu còn được gọi là bãi Vũng Mây vì trên hòn Núi Lớn nơi đây có nhiều cây mây rừng mọc xanh tốt. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, một thương nhân người Pháp đến đây lập cơ sở nuôi tằm và trồng rất nhiều dâu trên triền núi và dọc theo bờ biển nên dần theo thời gian tên Vũng Mây được thay the bằng Bãi Dâu.


Hai đầu bãi biển có nhiều mỏm đá lớn nhô ra ngoài biển, sau lưng bãi địa hình lòng chảo, cây cối um tùm bao bọc, tựa lưng vào triền Núi Lớn. Chân Núi Lớn ở Bãi Dâu dốc đứng và ăn ra sát biển.


Ngày nay, Bãi Dâu được mở rộng hơn, bao gồm những vịnh nhỏ khoảng giũa Núi Lớn. Do nằm bên triền núi ăn sát ra biển, Bãi Dâu được kiến tạo bởi nhiều vịnh nhỏ xinh xắn, những gộp đá nhỏ xen giũa triền cát vàng, cát trắng mịn màng. Các bãi tắm ở đây kín gió, nhiều đoạn biển sát chân núi với những vách đá dựng đứng hoặc thoai thoải đón từng đợt sóng biển vỗ về bọt tung trắng xóa, tạo nên cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Nơi đây còn có nhiều ghềnh đá thú vị, thơ mộng. Thú vị hơn là du khách có thể men theo con đường Trần Phú uốn lượn cheo leo trên vách núi, một bên là biển cả mênh mông, một bên là núi rừng, cỏ cây xanh thẳm mà thỏa sức ngắm nhìn, thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên hữu tình. Giữa khung cảnh núi rừng xanh ngắt nổi bật lên tượng Đức Mẹ Maria cao gần 30m, Phật Bà Quan Âm và những tòa nhà sáng trắng hoà quyện bên tiếng sóng biển dạt dào, tiếng gió ngàn vi vút tạo nên một âm thanh vừa huyên náo, vừa tịch liêu làm thư thái tâm hồn du khách thập phương dù lần đầu ghé đến.


Tiêu đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam
Gửi bởi: hqnd trong 18 Tháng Tám, 2022, 06:51:23 am
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Luật biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003.

2. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

3. Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5, ngày 23 tháng 6 năm 1994 về việc phê chuẩn công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

4. Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 25 tháng 12 năm 2000.

5. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977.

6. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, ngày 12 tháng 11 năm 1982.

7. Tư liệu về biển và hải đảo Việt Nam của Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

8. Tư liệu cuộc thi: "Tìm hiểu biển, đảo Việt Nam" do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức năm 2009.

9. Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia.

10. Nguồn tư liệu từ Website và cổng thông tin điện tử các tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam.