Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:54:49 am



Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:54:49 am
- Tên sách: Biển Đông yêu dấu
- Tác giả: Trần Ngọc Toản
- Nhà xuất bản: Trẻ
- Năm xuất bản:
- Số hóa: giangtvx, dungnuocgiunuoc


LỜI GIỚI THIỆU


Nước ta có diện tích 330.000km2 đất liền và hơn 1 triệu km2 biển Đông, bao gồm các hải đảo và mặt biền. Đối với sự phồn vinh của cả dân tộc, biển Đông có vị trí và tầm quan trọng vô cùng lớn lao, nhưng sự hiểu biết của chúng ta về biển còn rất hạn chế, đặc biệt là trong thanh thiếu niên, những người chủ tương lai cùa đất nước.


Quyền sách nhỏ này ra mắt bạn đọc nhằm giới thiệu một số kiến thức về khoa học biển, về tài nguyên phong phú của biển Đông, lịch sứ hào hùng cứa dân tộc ta, và các thách thức trong sự nghiệp làm chủ, khai thác và bảo vệ phần lãnh thổ thiêng liêng này của Tổ quốc.


Để tránh sự khô khan trong việc phổ biến kiến thức khoa học, các vấn đề nói trên được trình bày thông qua câu chuyện kể về một chuyến khảo sát biển Đông suốt từ Bắc vào Nam. Các nhân vật mà các bạn gặp ở đây tuy là tên phóng tác nhưng là bóng dáng của những nhà khoa học từng nhiều năm gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu biển Việt Nam, tiêu biểu như TS Nguyễn Hiệp, nguyên Tổng Cục phó Tổng Cục Dầu Khí, GSTS Bùi Công Quế, Viện trưởng Viện Vật lý Địa cầu Việt Nam, TS Nguyễn Biểu, nguyên Viện trưởng Viện Địa chất biển, GSTSKH Lâm Quang Thiệp, nguyên Vụ trưởng Vụ các Truờng đại học của Bộ Đại học, TS Trần Văn Trị, TS Đặng Của, TSKH Trương Minh, GSTS Mai Thanh Tân, TS Lê Viết Khuyến, GSTS Tôn Tích Ái, GSTS Phạm Khoản, TS Trương Đình Hiển, TS Trần Lê Đông, TS Phan Quang Quyết, KS Đoàn Thiện Tích, KS Đỗ Bạt, KS Đỗ Văn Hãn và rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng khác không thể kể hết tên, các bạn có thể đọc các tác phẩm khoa học của họ trong dịp tìm hiểu sâu hơn về biển Đông, về dầu khí... trong tương lai.


Những vấn đề khoa học biển nói chung và biển Đông nói riêng là một lĩnh vực rất rộng. Mục tiêu của chúng tôi ở đây chỉ dừng lại ở mức giới thiệu tổng quan nhằm trang bị những kiến thức ban đầu cho học sinh trung học và các bạn đọc quan tâm đến biển nhưng chưa có điền kiện tiếp cận. Tuy đã giới hạn phạm vi như vậy nhưng chắc chắn nội dung quyến sách này còn chứa nhiều khiếm khuyết. Hy vọng chứng tôi sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp cùa các bạn để lần tái bản sau nội dung sẽ phong phú hơn.

Xin chân thành cảm ơn.

TRẦN NGỌC TOÀN


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:55:23 am
Vào hè

Tuyệt vời! Hoan hô! Cả lớp reo lên ầm ĩ khi cô giáo chủ nhiệm Minh Thu tuyên bố tất cả học sinh lớp 9A thi chuyển cấp đều đạt kết quả rất tốt nên được lên thẳng lớp 10 sau một năm học hành căng thẳng với kết quả thi tốt nghiệp phổ thông cơ sở một trăm phần trăm đạt từ điểm 8 trở lên.


Mới 10 giờ sáng mà các mái ngói đã hồng lên dưới ánh nắng đầu hè, tỏa sức nóng vào phòng học. Những cành phượng vĩ đầu mùa khảm đầy những chùm hoa đỏ chen trong đám lá biếc xanh, đung đưa ngoài cửa sổ khi có cơn gió thoảng qua như vẫy gọi vào hè.


Trong lúc này cảm xúc của tôi thật lộn xộn, vừa bịn rịn với thầy cô, bạn bè cũ, vừa háo hức chờ đón một thế giới mới với những kiến thức mới, môi trường mới, bạn bè mới. Lời cô Thu chợt vang lên trong đầu tôi: "Lên cấp III, Minh Sơn phải chơi bóng, đánh cờ giỏi hơn, làm thơ hay hơn, trở thành "cao thủ" về mạng, và nhất là phải học thật xuất sắc. Cô rất tin tưởng ở em". Tôi cảm thấy bất chợt mình lớn hẳn lên, chững chạc hơn, với trách nhiệm và quyết tâm rõ ràng hơn trong quãng đường mới mà thử thách chắc là không nhỏ. Nhưng trước mắt là nghỉ hè. Vui chơi, giải trí, thoải mái, biết thêm những miền đất mới, những kiến thức mới. Đi đâu, làm gì trong ba tháng hè? Bao nhiêu là chương trình hấp dẫn. Các bạn tôi đứa thì về thăm ông bà, chơi vui ở miền quê, đứa thì đi du lịch với cha mẹ, anh chị, đứa thì đi học thêm, nhất là môn ngoại ngữ. Các bạn nhà nghèo tranh thủ giúp việc gia đình, tham gia lao động kiếm thêm ít tiền để giảm gánh nặng cho cha mẹ. Mỗi người một kế hoạch riêng.


Tôi bắt đầu ngồi mơ mộng một chuyến viễn du khắp biển Đông. Đầu năm ngoái, ông trẻ Thế Dân - em bà ngoại tôi đã hứa nếu tôi đạt học sinh giỏi, thi đậu vào lớp 10 thì ông cho đi biển một chuyến dài ngày, ông Thế Dân là thuyền trưởng, kỹ sư hàng hải, năm nay đã gần bước sang tuổi năm mươi. Ông vẫn còn rất tráng kiện và đẹp rắn rỏi, điều đặc biệt là trên gương mặt rám nắng và gió của ông lại có hai đồng tiền trên má trông rất trẻ trung và có duyên. Kiến thức ông về biển rất rộng, đó là kết quả tích lũy trong một phần tư thế kỷ lênh đênh khắp đại dương trên những con tàu dịch vụ trong ngành dầu khí.


Bà tôi đã nhiều lần khuyên ông lên bờ làm việc nhưng ông vẫn tiếp tục đi biển, ông nói biển có sức hấp dẫn kỳ diệu, chỉ có ai gắn bó với nó mới cảm nhận hết được điều này, còn đối với người quen sống trên bờ thì sự bao la của biển làm cho họ thấy mình quá bé nhỏ, mong manh, thậm chí là choáng ngợp, sợ hãi. Hàng năm trên biển Đông ít nhất cũng có đến mười cơn bão, dữ dội như bão Chan Chu năm 2006 (còn gọi là cơn bão số 1), bóp nát những con tàu nhỏ như bóp nát một thứ đồ chơi và gieo tang tóc cho bao nhiêu gia đình. Nhưng đối với những người làm nghề biển thì sự bao la đó lại làm cho mình cảm thấy cao lớn hơn, dũng cảm hơn, đầy khát vọng chiến thắng và hoài bão khám phá. Những cột sóng biển cao không còn là những hình ảnh kinh dị như con quái vật tồn tại từ thời tiền sử mà là những bức tranh hoành tráng của thiên nhiên nhìn không chán mắt. Rồi bao nhiêu câu hỏi "tại sao" thôi thúc mình tìm lời giải đáp. Tại sao lại có thủy triều, gió, bão? Tại sao lại có những dòng nước nóng, lạnh và cả dòng nước ngọt trong biển cả mặn chát mênh mông? Tại sao lại có hàng nghìn loài thủy sản với đủ hình dáng, màu sắc? Tại sao trong lòng đất dưới đáy biển lại chứa đủ loại tài nguyên quý giá? Và biết bao những câu hỏi cao siêu như quy luật tương tác giữa biển - không khí - đất liền như thế nào, cấu trúc của vỏ đại dương và sự thay đổi của chúng trong lịch sử hàng vạn triệu năm ra sao, sự chuyển môi trường sống từ dưới nước lên cạn và ngược lại của các loài sinh vật cùng sự thay đổi cấu trúc cơ thể của chúng từ vĩ mô đến vi mô xảy ra dưới sự điều khiển của các quy luật lý - hóa - sinh học nào? Các câu hỏi loại này đòi hỏi bao nhiêu năng lực của các bộ não bác học mới giải mã được.


Sống với biển là sống với những ước mơ liên tiếp, dạt dào theo làn sóng và đầy ắp như thủy triều. Những lúc lênh đênh trên mặt biển, hít thật sâu vào lồng ngực cái hương mằn mặn của không khí, cảm nhận những vuốt ve dịu dàng của làn gió nhẹ lên mái tóc vàng nâu do bị nắng biển thiêu đốt, hay khi thả mình trong làn nước xanh trong để cho cái cảm giác mát rượi thấm dần vào từng tế bào của cơ thể thì tâm hồn ta càng thấy sảng khoái và càng thấy cuộc đời trần thế đẹp biết nhường nào. Ngay cả trong những hành trình trên biển gặp sóng to gió lớn, những quyết định - dù sai lầm hay sáng suốt - cũng là một dịp để kiểm chứng và rèn luyện bản sắc cá nhân, để đối phó với vô vàn hoàn cảnh bất lợi trong cuộc đời của một con người. Vì vậy mỗi lần gặp ông, nhìn thấy nụ cười của ông, nghe ông nói chuyện là tôi lại thấy tình yêu biển của ông truyền sang tôi với cường độ mỗi lúc một lớn dần lên. Bây giờ tôi tự thấy đủ lớn để có thể đi biển. Được cha mẹ đồng ý, tôi viết thư báo tin cho ông biết tôi đã thực hiện được những điều kiện ông đưa ra. Mấy ngày sau tôi nhận được điện thoại trả lới. Ông khen tôi ngoan, học giỏi và hẹn đầu tháng Sáu sẽ ra Hà Nội đưa tôi xuống tàu, cùng đi biển.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:48:31 am
Chuẩn bị ra khơi

Mẹ tôi đã chuẩn bị cho tôi đủ mọi thứ cần thiết: bốn chiếc áo phông ngắn tay và ba cái quần soóc, đặc biệt tôi còn có một chiếc áo lính thủy với những sọc xanh nằm song song trên cổ áo, một chiếc mũ lính thủy màu trắng, vành xanh, đằng sau có hai tua xanh dài hai gang tay, khi đội lên gặp gió chúng múa như được điều khiển bằng những bàn tay nghệ sĩ tài hoa. Riêng đôi giày vải thì ông tôi bắt thay bằng đôi xăng-đan nhựa, ông nói tốt nhất là đôi dép lốp cao su như của bộ đội ngày xưa, vừa gọn vừa tiện khi đi trên cát. Còn thức ăn, thuốc chữa bệnh thì không cần thiết vì trên tàu rất đầy đủ. Tôi chỉ mang theo mấy gói kẹo bạc hà, kẹo cao su và những lát mứt gừng để ngậm khi bị nôn nao. Trong ba lô tôi con có ba quyển sách: Người thắng biển của Nguyễn Bá, Biển của J.Banville, Tài nguyên và môi trường biển của Viện Hải dương học Nha Trang. Ngoài ra tôi cũng cố nhét được một quyển sổ tay khá dày với khoảng 20 bài thơ về biển của nhiều tác giả mà tôi chép rất nắn nót ở những trang đầu. Phần giấy trắng còn lại tôi dự định sẽ ghi nhật ký kiểu như "Mê Kông ký sự" mà tôi nghĩ sẽ rất hay.


Sau bữa liên hoan rất vui vẻ với vô số những búc ảnh chụp chung cả nhà, rồi chụp riêng với ông bà, ba mẹ, các cô chú, với các em Minh Hà, Bình Minh, An Phong và mấy bạn thân cùng lớp nữa, ông tôi đưa tôi xuống thành phố cảng Hải Phong, còn gọi la thành phố "Hoa phượng đỏ". Xe qua Hải Dương đang mùa vải thiều. Vải Hải Dương vỏ chín hồng, hạt bé tí, cùi rất dày và ngọt lịm được bày bán dày đặc hai bên đường đi; loại đặc sản Thanh Hà này nổi tiếng không nơi nào bì kịp. Ông mua theo mười ký để tặng các chú trên tàu. Hà Nội - Hải Phong chỉ cách nhau khoảng một trăm cây số mà tôi đã thấy đất nước ta rộng lớn, xinh đẹp, trù phú biết nhường nào. Dãy Đông Triều - Yên Tử ở phía bắc mờ tỏ trong mây, mang theo bao nhiêu huyền thoại về vua Trần Nhân Tôn, về Hưng Đạo Đại Vương, về Nguyễn Trãi, ở phía nam là đồng bằng ngút mắt, nơi năm mươi người con của bà Âu Cơ đã đến khai phá từ bốn nghìn năm trước, bây giơ đầy ắp lúa vàng. Và trong lòng đất, từ Quảng Ninh đến Thái Bình - Nam Định còn có bao nhiêu là than, là khí đốt và dầu mỏ đang chờ phát hiện, khai thác. Ông tôi cứ như một người hướng dẫn du lịch uyên thâm, mở ra trước mắt tôi bao nhiêu điều mà tôi chưa từng biết.


Tôi đến Hải Phòng vào buổi trưa giữa tiếng ve ngân vang trầm bổng từ các hàng cây xanh cổ thụ. Giống sinh vật này rất lạ, người ta bảo chúng chỉ uống nước sương mà sống. Và lạ lùng hơn nữa là chúng nhận biết giờ giấc rất chính xác dù trời nắng hay trời mưa, cứ đúng giơ là hàng nghìn con từ khắp mọi nơi cùng cất lên tiếng hát rất nhịp nhàng để rồi sau đó vài mươi phút lại đột ngột dừng, trả lại sự yên tĩnh cho không gian.


Rất nhiều khu công nghiệp và khu dân cư còn rất mới trải khắp vùng ngoại ô. Dọc sông vô số tàu thuyền neo đậu san sát như đang nghỉ ngơi sau những hành trình dài ngày trên các đồng sông và các đại dương. Qua cầu Thượng Lý, Hạ Lý chúng tôi vào trung tâm thành phố. Đường sá không rộng nhưng sạch sẽ và yên tĩnh hơn rất nhiều so với Hà Nội. Hai bên đường còn rất nhiều ngôi nhà cổ kính theo kiểu Pháp, cửa sổ vòm cong, mái ngói xám, chỉ cao vài ba tầng, xung quanh có sân rộng, đầy hoa và cỏ xanh. Cây rất nhiều, nào phượng vĩ, bằng lăng, me, bàng nhưng lại có rất ít sấu, một loại đặc sản mà các bạn gái trong lớp tôi chỉ nghe nhắc đến tên đã chảy nước bọt rồi. Một dãy dài gồm năm quảng trường và ba vườn hoa mới nằm kẹp giữa hai con đường Trần Hưng Đạo và Trần Phú chạy song song. Nghe nói nơi đây trước kia là một dòng sông đã bị lấp. Tượng bà Lê Chân rất đẹp, uy nghi giữa quảng trường lớn. Dừng chân đứng ngắm bức tượng này tự dưng tôi có cảm giác như trông thấy cờ xí, gươm giáo của cả một đoàn quân oai hùng của gần hai nghìn năm trước dưới sự chỉ huy tài giỏi của nữ tướng quê ở Hải Phòng, theo lệnh của bà Trưng kéo về giải phóng quê hương, đuổi giặc Hán tàn bạo ra khỏi mười lăm tỉnh thành và bảo vệ biên cương vùng duyên hải. Cách thành phố 20km về phía đông là thị xã Đồ Sơn sầm uất, đặc biệt vào những ngày hè.


Đây là căn cứ xuất phát của những con tàu không số lừng danh trong kháng chiến chống Mỹ, là điểm đầu của con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển mà thế hệ chúng tôi còn ít biết đến. Tôi nhẩm đọc đoạn thơ của Xuân Diệu về biển, chẳng biết có phải ông viết về Đồ Sơn hay không nhưng rất hợp cảnh ở đây:

   Bờ đẹp đẽ cát vàng
   Thoai thoải hàng thông đứng
   Như lặng lẽ mơ màng
   Suốt ngàn năm bên sóng


Chúng tôi nghỉ lại Hải Phòng một hôm rồi xuống tàu ra biển. Đó là con tàu Bình Minh, chuyên nghiên cứu tài nguyên biển trong đó chủ yếu là địa vật lý, của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Nghe cụm từ "địa vật lý" lần đầu tiên tôi cũng ngỡ ngàng. Có lẽ những cái chớp mắt của tôi đã nói cho ông biết là tôi chưa hiểu nội dung của từ này. Tiến sĩ Minh và nhà toán học Kim Trung, những chuyên gia trong lĩnh vực này giúp ông giải thích cho tôi biết, địa vật lý là từ ghép của hai ngành khoa học cơ bản, ngành địa chất và vật lý, để nói lên một ngành khoa học mới, mang tính chất trung gian của hai ngành khoa học nói trên. Nó rất quan trọng đối với thế giới văn minh, vừa nghiên cứu tính chất vật lý của quả đất, vừa dùng các phương pháp vật lý để nghiên cứu cấu trúc của hành tinh mà ta đang sống. Kết quả nghiên cứu của nó giúp cho loài người sử dụng đúng những quy luật của tự nhiên, khai thác những tài nguyên, phục vụ cho đời sống mỗi ngày một ấm no, hạnh phúc. Ngày nay, địa vật lý còn mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các thiên thể khác trong hệ mặt trời, trong vũ trụ, mở ra những chân trời mới trên con đường chinh phục thiên nhiên bao la, đa dạng và đầy bí ẩn.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:49:13 am
Con tàu Bình Minh

Chuyện về con tàu Bình Minh rất dài, tôi sẽ kể dần trong quyển sách này. Nhưng tính tôi vốn hay sôt ruột, cái gì thấy mới lạ mà không nói ra ngay thì cảm thấy bứt rứt không yên nên tôi sẽ kể sơ cho các bạn nghe về chức năng của con tàu đặc biệt này.


Theo lời Tiến sĩ Minh kể thì việc nghiên cứu cấu trúc địa chất của vùng biển vịnh Bắc bộ là một bức xúc của những người đi tìm dầu ở miền Bắc ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước. Lúc đó ta không có phương tiện, thiếu cả máy móc. Tàu chiến Mỹ lại phong tỏa suốt ngày đêm ngoài khơi. Trên biển thì Mỹ thả ngư lôi trôi nổi theo dòng nước nên không biết tử thần đang rình rập nơi nào. Trên trời thì mỗi ngày ít nhất năm lần từng tốp máy bay Thần Sấm, Con Ma xuất phát từ các căn cứ Mỹ ở Hawaii, Philippines hoặc từ Hạm đội 7 bay vào ném bom, bắn phá các thành phố, cầu cống, đê điều, làng mạc. Trên đương bay nếu thấy các tàu thuyền của ta trên biển thì chúng chẳng ngần ngại gì mà không gieo chết chóc xuống các phương tiện bé nhỏ này. Cái chủ trương "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá" của các tướng lĩnh diều hâu Mỹ tàn bạo đến như thế nào, thế hệ chúng ta lớn lên sau chiến tranh không hình dung được hết.


Thế nhưng những nhà địa vật lý trẻ măng của chúng ta không chùn bước. Họ dùng bè mảng, thuyền con, thậm chí là lội bộ ở những vùng nước cạn để đo vẽ bản đồ trọng lực vùng nước nông suốt một dải từ Kiến An đến Nam Định để chuẩn bị cơ sở cho công tác tìm kiếm dầu khí quy mô lớn sau chiến tranh. Nếu không có niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng thì khó có thể làm được việc đó.


Tôi thắc mắc không hiểu bản đồ trọng lực là gì? Mãi sau này tôi mới hiểu một ít khái niệm này và tôi sẽ kể cho các bạn nghe sau. Nói ngắn gọn, tôi hiểu là như thế này - chắc các bạn biết cả rồi, trong tự nhiên có một định luật chi phối toàn vũ trụ, đó là định luật hấp dẫn của Newton. Giữa hai vật nằm cách nhau có một lực hút lẫn nhau, bản chất lực đó như thế nào vẫn còn làm đau đầu các nhà vật lý hiện đại. Không gian mà lực hút đó tồn tại gọi là trường trọng lực. Như vậy trong lòng đất nơi nào mặt tầng đá móng rắn chắc, mật độ lớn, nhô cao hoặc võng xuống, hoặc có một vật thể với mật độ khác với xung quanh, ví dụ như một thấu kính chứa dầu khí chẳng hạn, thì nơi đó có một sức hút khác thường so với môi trường xung quanh. Nếu ta có một cái máy cực nhạy, cực tinh vi, đo được sức hút vô cùng nhỏ bé đó thì ta biết được ẩn sâu trong lòng đất có cái gì. Kỳ diệu không các bạn? Cái máy như vậy được gọi là trọng lực kế đấy, và giá trị sức hút đo được tính bằng miligal, đơn vị mang tên nhà khoa học vĩ đại Galileo người Ý mà chắc các bạn đã biết. Các giá trị này vẽ trên một mặt bằng nằm ngang gọi là bản đồ trọng lực. Trên bản đồ ấy người ta có thể đoán nhận ra cấu trúc lòng đất qua các tính toán phức tạp. Đây cũng là một dịp để ta thấy toán học có giá trị lớn lao đến như thế nào trong cuộc sống.


Sau khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc năm 1972, Liên đoàn Địa chất Dầu khí 36 (tên của tổ chức tìm dầu đầu tiên ở miền Bắc) bắt tay vào chuẩn bị để có một con tàu nghiên cứu địa vật lý biển và đến sau khi miền Nam được giải phóng thì con tàu đó ra đời. Tàu được đặt tên là Bình Minh. Bình Minh có nghĩa là thời điểm mở đầu cho một ngày đẹp trời. Bình Minh của ngành địa vật lý, của ngành dầu khí, của đất nước xinh đẹp Việt Nam. Tất nhiên con tàu lúc bấy giờ còn rất đơn giản, hoán cải từ một con tàu vận tải nhỏ, mới chỉ được trang bị một trạm máy thăm dò địa chấn biển.


Với bản tính tò mò tôi lại hỏi thăm dò địa chấn biển là gì. Các bác lại phải giải thích cho tôi hiểu những điều rất phức tạp mà có lẽ khi nào học đại học tôi mới học tới bằng thứ ngôn ngữ đơn giản nhất. Bác Quyết ném một hòn đá xuống nước và hỏi tôi có thấy gì không. Tôi nhìn kỹ và thú thật tôi chả thấy gì đặc biệt. Cái trò chơi ném đất xuống ao này tôi và các bạn tôi vẫn làm nhưng chỉ để thi xem ai ném xa hơn mà thôi. Bác lại ném một hon đá to hơn và tôi trả lời chỉ thãy những vòng tròn lan ra từ vị trí hòn đá rơi xuống nước. Một nụ cười rạng rỡ hiện ra trên khuôn mặt hiền từ, thông minh của bác kèm theo với lời khen làm tôi cũng bối rối: đúng rồi, cháu có óc quan sát đấy. Óc quan sát, phát hiện những điều khác lạ để rồi tìm cách giải thích là một tố chất vô cùng cần thiết cho một nhà khoa học. Hòn đá rơi xuống mặt nước chính là nguồn tạo ra sóng. Mặt nước phẳng lặng, yên tĩnh, dưới tác dụng của áp lực do hòn đá rơi ép vào khối nước, tạo thành những nếp gấp, gọi là sóng. Nếp gấp đó lại tạo một áp lực mới cho phần nước còn lại làm xuất hiện nếp gấp mới và sóng hình thành kiểu như vậy gọi là sóng tới, truyền đi ra khắp các hướng. Còn khi sóng gặp một vật cản thì quay trở lại, trong vật lý gọi là sóng phản xạ. Nếu ta có một thiết bị ghi lại hình dáng sóng khi xuất phát và khi trở về tại một điểm nào đó, cũng như đo chính xác thời gian sóng đi - về thì ta có thể biết được vật cản mà sóng tói đã gặp hình thù ra sao, ở cách điểm quan sát bao xa, bản chất nó là gì? Đó là nguyên lý của phương pháp thăm dò địa chấn. Bằng một thiết bị đặt trên tàu người ta tạo ra một nguồn sóng đàn hồi trong nước, sóng đó truyền vào lòng đất và mỗi lần gặp một giới hạn phân chia các tầng đất khác nhau lại lần luợt quay về, kể cho các nhà địa vật lý nó đã gặp những gì: sét, cát, đá vôi, đá núi lửa hay các nơi tầng đất bình thường bị đứt đoạn do những trận động đất xa xưa, cách bây giờ hàng nhiều triệu năm, v.v... Với các trạm máy tính cực kỳ tinh vi, các nhà địa vật lý tính toán, phân tích, cho ra những bức ảnh chụp lòng đất với mọi chi tiết, dựng lại lịch sử hình thành, biến động của các lớp đất, xác định các môi trường mà các lớp đất đã hình thành. Từ đó họ chỉ ra nơi nào có dầu, có khí, có nước ngầm, có than đá, có nguồn nhiệt lớn để đặt các giếng khoan khai thác chúng. Thật là tuyệt diệu! Các nhà địa vật lý đóng vai trò của những người lính trinh sát, những nhà tình báo tài ba, có những kiến thức toán, lý, địa chất, địa lý rất rộng và những tiến bộ khoa học công nghệ, những thiết bị hiện đại khuếch đại trí thông minh của con người lên rất nhiều lần. Cuối cùng sức lao động sáng tạo của họ cùng với của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác mang lại của cải, tiền bạc cũng như những kiến thức mới cho cộng đồng, cho nhân loại.


Con tàu Bình Minh đã xông xáo, hoạt động ngày đêm trên các vùng biển từ Bắc chí Nam trong những năm sau ngày thống nhất đất nước, giúp cho nhà nước có những thông tin ban đầu để đặt nền móng xây dựng ngành công nghiệp dầu khí nước ta phát triển như ngày nay. Theo quy luật tự nhiên, cái gì cũng sinh ra, lớn lên, trưởng thành, chuyển qua giai đoạn già nua rồi chết. Con tàu Bình Minh mà các nhà địa vật lý dầu khí rất tự hào cũng không thoát khỏi định mệnh đó. Với những khó khăn khách quan trong thời kỳ đó, vì không được đầu tư tiếp nên tàu Bình Minh bị loại, nó không còn tiếp tục làm chức năng ban đầu của nó nữa. Mãi đến nay, sau khi Tập đoàn Dầu khí quốc gia ra đời, một con tàu Bình Minh mới lại có dịp hồi sinh, to lớn hơn, hiện đại hơn, có thể gọi là con tàu nghiên cứu biển toàn diện vì làm những nhiệm vụ nghiên cứu biển đa dạng, rộng hơn là chỉ tìm dầu khí. Lần này tôi được đi với những chuyên gia về biển nổi tiếng của đất nước trên biển Đông. Tôi sẽ kể tiếp cho các bạn nghe trong các chương sau.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:30:07 am
Trên vịnh Hạ Long

Sáng ngày 1 tháng 6, tất cả 26 người bao gồm chỉ huy, các kỹ sư chuyên ngành hàng hải, các thủy thủ, các kỹ sư địa chất - địa vật lý, các nhà khoa học về biển và... tôi dậy rất sớm, ăn mặc tươm tất, mỗi người vào vị trí của mình. Tôi đứng cạnh ông tôi, dải mũ hải quân tung bay trong gió, trang nghiêm như trước giờ ra trận. Mặt trời đỏ hồng, có cảm giác to hơn bình thường, đường bệ từ từ bước ra khỏi các dải mây trắng mỏng, giống như một tấm riđô ai thả chấm trên mặt nước. Sương khói hai bờ sông Cấm loãng dần ra trước những tia nắng ban mai. Còi kéo một hồi dài, chào từ biệt thành phố Cảng.


Tàu nhổ neo, cửa sông mỗi lúc một rộng dần ra, nước trở thành mênh mông. Những con sóng nhỏ, lấp lánh trên mặt sông giống như những mảnh gương mỗi lúc một nhiều. Đứng trên boong tàu có thể nhìn thấy dãy núi đá vôi Tràng Kênh ở phía tây bắc, thấp dần xuống sau những rặng cây và các nhánh sông Bạch Đằng lịch sử chở nặng phù sa tuôn ra biển.


Sông Bạch Đằng ngày xưa còn có tên dân dã là sông Rừng vì đôi bờ cây cối um tùm. Ngày nay cảnh ấy không còn nữa nhưng vẫn còn lưu dấu địa danh Phà Rừng. Xa hơn chút nữa là bãi cọc Thủy Nguyên - Yên Hưng nổi tiếng với các trận đánh của Ngô Quyền, Lê Hoàn và nhất là của Trần Hưng Đạo. Chuyện xưa kể rằng vào năm 1288 chín mươi vạn quân Nguyên kéo sang xâm lược nước ta lần thứ ba bị quân dân nhà Trần đánh cho thua liểng xiểng. Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, Trấn Nam Vương Thoát Hoan - con trai của Hốt Tất Liệt - chia quân rút về nước. Cánh quân thủy do Ô Mã Nhi, một danh tướng khét tiếng chỉ huy rút theo đường biển, qua sông Bạch Đằng. Các đội quân của các tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quỗc Bảo, Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão... dưới quyền chỉ huy của Hưng Đạo Vưong Trần Quôc Tuấn quần đánh suốt ba ngày đêm từ Vạn Kiếp đến Tràng Kênh đã làm cho tên danh tướng Mông Cổ bách chiến bách thắng trên khắp các chiến trương Âu-Á rụng rời khiếp sợ. Ngày thứ tư đội quân Nguyên còn đông đến hơn một vạn tên đã có cơ may thoát thân khi chỉ còn cách biển một chặng đường ngắn nữa thì nước triều rút, mới đầu chậm, sau nhanh dần giúp cho đoàn chiến thuyền lao xuôi dòng nhanh như tên bắn. Bỗng nhiên từ phía Đà Bạch xuất hiện hàng trăm bè cỏ khô bốc lửa ngùn ngụt lao tới. Tiếp theo sau là một đoàn thuyền chiến nhỏ nhẹ hùng dũng cùng một rừng cờ đỏ rực rỡ, chữ TRẦN vàng tươi nổi bật ở giữa, phần phật tung bay giữa tiếng reo "sát thát" (nghĩa là giết giặc Nguyên) vang dậy. Những quân lệnh của tướng Nguyên rít lên thúc quân lính chèo thuyền tăng tốc. Bỗng tiếng va đập ầm ầm, chát chúa cùng với tiếng thét hoảng loạn vang lên khắp cả dòng sông. Đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi bị đâm vào những hàng cọc gỗ lim nhọn hoắt, dày đặc của quân ta được cắm bí mật từ những ngày trước đó. Thuyền địch lật ngang, lộn ngửa, đè lên nhau, cái vỡ, cái chìm, quân tướng rơi xuống nước, cờ trôi, giáo gãy. Các thuyền nhẹ của quân Trần lao tới dùng câu liêm móc kéo từng tên lên. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp mặt mày xám ngoét, bụng uống đầy nước, bộ áo giáp trên người một thời làm cho mọi người khiếp sợ bây giơ rách mướp, tả tơi. Chúng quỳ lạy dưới chân những quân sĩ Việt xin tha tội chết. Cái uy phong ngang ngược ngày trước sụp đổ tan tành, trôi ra biển cả.


Trong nắng sớm ông Doanh sảng khoái ngâm nga bài phú Bạch Đằng Giang của Trương Hán Siêu viết cách đây đã 700 năm mà tôi chưa được học ở trường:

   Đây chiến địa buổi Trùng Hưng vua Trần bắt Ô Mã
   Cùng là bãi đất xưa thuở trước Ngô Chúa phá Hoàng Thao
   Đương khi
   Muôn đội thuyền bay, hai quân giáo chỉ
   Gươm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khé
   Tướng Bắc, quân Nam hai bên đối lũy
   Đã nổi gió mà bay mây
   Lại kinh thiên mà động địa
   Kìa Tất Liệt thể cường, Lưu Cung chước quỷ
   Nó bảo rằng phen này một trận gieo roi
   Quét sạch Nam Bang bốn cõi
   Thế nhưng trời cũng chiều người
   Hưng đồ hết lối...
   Đến nay nước sông chảy hoài
   Mà nhục quân thù không rửa nổi...


Trên mặt sông những cành cây khô bị nước cuốn trôi, lúc chìm xuống, lúc trồi lên giống như những bàn tay chới với của quân tướng giặc bị đẩy ra biển Đông, nhấn chìm những tham vọng lập lại nền đô hộ kéo dài cả nghìn năm khi nước Việt con mới sơ khai, non yếu.


Khi tôi kể những cảm giác này cho ông tôi nghe, ông mỉm cười rồi nói thêm, tham vọng bành trướng đại Hán tuy nhiều phen bị nhân dân ta đánh bại nhưng vẫn âm ỉ, nối đời truyền kiếp qua các thế hệ vua chúa "thiên triều". Mỗi khi có dịp, nó lại trỗi dậy, cho nên tổ tiên ta không ảo tưởng một cách ngây thơ và nhất là không bạc nhược trước những lời đe dọa.


Tàu hướng mũi về phía đông bắc, đi vào vịnh Hạ Long, một kỳ quan vĩ đại của thiên nhiên với gần hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ. Nói chung các đảo ở đây thành phần chủ yếu là đá vôi, hình thành cách đây khoảng 500 triệu năm vào đại cổ sinh với rất nhiều hang động chứa đầy thạch nhũ, đa dạng về hình dáng, kích thước, màu sắc. Có thể nói đây là nơi hội tụ các thiên cung trên vịnh Bắc bộ. Chẳng thế mà vịnh Hạ Long đã được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc) công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới, và đang được nhiều người vận động bình chọn vào danh sách các kỳ quan tự nhiên của nhân loại.


Trong vịnh Hạ Long con có một số đảo cấu thành từ đất đá lục nguyên, rất thuận lợi cho rừng cùng các loại chim thú phát triển. Các đảo ở đây, mỗi đảo một hình thù khác lạ. Có lúc đảo sóng đôi, sừng sững hai bên làm ta đi giữa biển mà cứ tưởng như đi trên một dòng sông hiền hoa, yên tĩnh. Có lúc đường lên phía trước như bị chặn lại bởi một dãy núi đá vôi màu xám, vững chãi như một tường thành cao vút, nhưng đến gần, một ngách biển lại hiện ra cứ như đi trong trận đồ bát quái. Chỉ những người rất am hiểu vùng này mới có thể lái tàu đi yên ổn. Chẳng trách mà đoàn tàu của tướng giặc Trương Văn Hổ chở ba chục vạn hộc lương tiếp tế cho quân Nguyên bị Trần Khánh Dư bất ngờ xông ra từ những lối đi ngoắt ngoéo đánh chìm chỉ trong một trận giao chiến, tướng chỉ huy chỉ còn kịp nhảy xuống thuyền nhỏ chạy thoát thân. Và trong thế kỷ mười chín, con tàu du lịch rất quý phái mang tên Émeraude (ngọc lục bảo) của hai anh em người Pháp Roques, cũng vỡ tan vì bị va vào đá ngầm gần vùng đảo Titov.


Giữa sóng nước và bát ngát mây trời con tàu Bình Minh len lỏi đi trong vô vàn đảo lớn nhỏ, có tên và không tên. Bác Tích, kỹ sư địa chất, chỉ cho tôi xem những vết hằn nằm ngang ở các độ cao khác nhau cứa sâu vào thân đá thẳng băng một cách kỳ lạ như có bàn tay người đục đẽo. Đó là những vết tích của những lần mực nước biển dâng cao, hạ thấp trong các kỷ địa chất. Hiện tượng này tôi cũng có dịp thấy ở Ninh Bình, Quảng Bình, Quảng Trị và ở cụm núi huyền thoại Ngũ Hành Sơn, phía nam Đà Nẵng, quê ngoại của tôi. Hóa ra những nhà địa chất có thể đọc rõ ràng những trang sử xa xôi trong quá khứ của hành tinh chúng ta đang sống, còn tôi chỉ thấy đẹp mà chẳng hiểu gì.


Dọc bờ biển vùng Đông Bắc, trước thế kỷ 11, trên con đường tơ lụa cổ thế giới, thương cảng Vân Đồn đã xuất hiện như một dấu son chói lọi ở biển Đông. Năm 1149 đời vua Lý Anh Tôn, thương cảng này được chính thức thành lập như một đơn vị hành chính để đón nhận thuyền buôn và cho phép thương nhân các nước Champa, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc cư trú dài hạn để mua bán sản vật Đại Việt. Vân Đồn xưa trải suốt chiều dài hàng chục kilômét từ đảo Quan Lan đến đảo Ngọc Vừng. Ngoài bến cảng Vân Đồn, Vạn Ninh, phía trong cửa Lục cũng đã phát hiện di chỉ một bến ngoại thương cổ, và bến này thịnh vượng suốt nhiều trăm năm qua các thời Lý-Trần-Lê. Nay trên các địa điểm Cái Làng, Cống Cái, Cống Yên, Cống Đông còn tìm thấy gốm sứ của nhiều nước, nhiều triều đại. Các nhà khảo cổ học cũng tìm được cả những đồng tiền Tây Ban Nha đúc năm 1762 chứng tỏ nó đã đi qua nhiều cửa khẩu trước khi đến Vân Đồn.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:30:56 am
Từ điểm địa đầu biên giới giáp với tỉnh Quảng Đông Trung Quốc đến Hải Phòng còn có một số hải cảng khác nổi tiếng từ xa xưa đến ngày nay như Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai, Cẩm Phả, Hải Phòng. Tàu thuyền đậu san sát, hoạt động nhộn nhịp quanh năm. Tàu chở nông sản, lâm sản, khoáng sản, thủy hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp của các tỉnh miền Bắc nước ta xuất đi các nước, tàu ngoại quốc chở hàng nhập khẩu vào Việt Nam, tàu vào ăn than, tàu du lịch và tàu vào nghỉ tạm để duy tu, bảo duỡng, đủ loại, đủ kích cỡ. Trên cột cao ở mũi tàu và ở giữa thân tàu, cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ giữa hàng trăm lá cờ của các nước khác cùng vô số những lá cờ đủ hình dáng của riêng từng tàu một, tạo ra một không khí như lễ hội suốt những quãng dài xung quanh cầu cảng. Những đoàn xe tải dài ngoẵng chở đầy ắp hàng, những cần cẩu vươn cánh tay dài cần mẫn suốt ngày đêm nâng những container cồng kềnh. Bất cứ ai đến đây cũng có thể tận mắt thấy tổ quốc ta từ trong đổ nát của chiến tranh đã vươn vai đứng dậy với khí thế Phù Đổng như thế nào. Và sát trên bờ vịnh là các mỏ than đá antraxit chất lượng thuộc loại hàng đầu thế giới trải dài từ Yên Tử, Đông Triều đến Quảng Ninh, đã khai thác hàng trăm năm nhưng vẫn con trữ lượng đến hàng tỷ tấn. Đó là một nguồn tài nguyên năng lượng tuyệt vời chờ đợi phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa trong tương lai. Hiện nay Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam khai thác mỗi năm khoảng 30 triệu tấn, xuất khẩu 20 triệu tấn. Ai biết được các tầng than ấy còn kéo dài xuống phần đất dưới biển bao nhiêu nữa. Một câu hỏi để dành cho các nhà địa chất thuộc các thế hệ tiếp theo tìm lời đáp.


Dân cư trên quần đảo Hạ Long không đông lắm, sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng hải sản, một số làm nông nghiệp hoặc dịch vụ du lịch. Trên đường tàu Bình Minh đi qua thỉnh thoảng tôi lại gặp một vài làng nổi tập trung vài chục gia đình, sống trên các thuyền lớn hoặc bề nuôi trai, nuôi cá. Những chú chó xinh xắn cùng với các chú lợn con chạy đi chạy lại nhanh nhẹn trên những chiếc cầu phao, thỉnh thoảng dừng lại nghếch đầu nhìn chúng tôi một cách tò mò rồi tăng tốc phóng nhanh trốn vào các chỗ kín đáo như để tránh mối đe dọa hiểm nguy. Trên bề có những căn lều nhỏ, gió lộng bốn phương, tiếng võng kẽo kẹt cùng tiếng ru vọng lại đưa các em bé bụ bẫm đi vào những giấc mơ thiên thần. Đôi lúc cũng gặp vài chiếc thuyền chở đầy các em bé quàng khăn đỏ, vai mang cặp sách, tóc đỏ quạch, da sạm nắng gió đi học ở các trường trên đất liền về. Có thấy hết điều kiện ăn ở, đi lại trên biển khó khăn như thế nào mới hiểu được tinh thần hiếu học của các bạn ấy đáng khâm phục đến đâu. Thế mà nhiều bạn trong chúng ta sống trong những điều kiện sung sướng hơn rất nhiều lại lười học là điều chúng ta phải suy nghĩ.


Đến vịnh Hạ Long mà không đi khám phá các hang động thì thật là một thiệt thòi không gì bù đắp nổi. Nào hang Đầu Gỗ, Thiên Cung, Trinh Nữ, Bồ Nâu, Sửng Sốt, v.v... và nhiều hang động chưa có tên, chưa được khai thác cho du lịch.


Hang Đầu Gỗ nổi tiếng vì lòng hang rộng rãi và có nhiều ngăn giống như địa đạo nhân dân ta đào trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Ở đó khi mới phát hiện người ta còn tìm thấy những khúc gỗ lim ngắn, không biết chắc chắn là từ thời Ngô Quyền hay từ thơi Trần. Đó là những vết tích của những cọc gỗ nổi tiếng được sản xuất ở đây để cắm trên sông Bạch Đằng, tiêu diệt các đoàn thuyền chiến hùng mạnh của kẻ thù. Tên của hang được lưu truyền một cách trân trọng trong nhân dân quanh vùng qua nhiều thế kỷ.


Còn hang Thiên Cung thì đẹp mê hồn. Muốn vào hang phải leo lên một cái dốc nhỏ, hai bên cây cối xanh rì. Hàng đàn bướm sặc sỡ bay lượn như các tiên nữ đang múa để đón chào du khách. Bám theo chiếc cầu hẹp bắc trên các chỏm đá nhọn, uốn lượn quanh co ta mới vào được cửa hang, cảm giác đầu tiên là lạc vào một thế giới thần bí, không khí rất mát mẻ và trước mắt bày ra một cung điện nguy nga, sắc màu rực rỡ. Vòm động cao, hình ô van với vô số gợn sóng, tạo ra những bức tranh tự nhiên như được những bàn tay của các họa sĩ thiên tài sáng tác từ thuở hồng hoang. Trong hang bao nhiêu là thạch nhũ kích thước khác nhau, hình thù đa dạng. Nơi thì như chúa sơn lâm đang ưỡn ngực nhìn ra xa xăm để đe dọa tà ma, quỷ quái, giữ yên cho thế giới nhà trời. Nơi thì như đàn ngựa đang tung vó giữa không gian. Nơi khác lại giống như những chiếc bàn bày đầy hoa quả cùng với vô số các món ăn cao lương mỹ vị để người nhà trời về dự hội quần tiên. Màu sắc trong hang biến hóa theo thời gian và theo góc nhìn nên ta có thể tha hồ tưởng tượng ra những hình tượng, những cảnh trí lãng mạn nhất tùy theo ý thích. Cái đẹp ở đây là tất cả đều rất nguyên sơ, không có bàn tay của con nguời tác động. Một ngày nào đó tất cả các hang động được phát hiện, liên kết nhau thành một tour du lịch liên hoàn thì ai đến đây cũng biến thành Từ Thức lạc vào một thế giới thần tiên.


Giá trị hang động không phải chỉ có du lịch mà còn là một đối tượng nghiên cứu của khoa học đa ngành, từ lịch sử địa chất đến quá trình thay đổi khí hậu, lịch sử phát triển các quần cư thuộc bộ tộc Việt thời tiền sử cũng như môi trường sống, sự tiến hóa của các sinh vật từ dạng thô sơ đến phức tạp trong điều kiện hang động và biển cả.


Chỉ riêng những kết quả khảo cổ học mà chú Khoa kể cho tôi nghe cũng đã đưa lại cho tôi bao nhiêu điều mới lạ. Từ 25 nghìn năm trước đến thời Hùng Vương, ở khu vực này đã có ba nền văn hóa tiếp nối nhau: văn hóa Soi Nhụ, văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long.


Năm 1937 một công nhân đào cát tình cở phát hiện một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng, gây xôn xao giới khảo cổ học Pháp lúc bấy giờ. Hiện vật này cùng với các hiện vật khác được phát hiện tiếp theo trên một địa bàn khá rộng cho thấy những người tiền sử sống ở đây đã sáng tạo ra hoặc đã nhận chuyển giao công nghệ về kỹ thuật chế tác công cụ đá mài, chế tạo đồ gốm, và nền văn hóa cổ đại này được đặt tên là nền văn hóa Soi Nhụ.


Sau đó nước biển dâng lên, cư dân ở đây phải dời chỗ ở đến những nơi cao hơn, sáng tạo ra một nền văn hóa mới gọi là nền văn hóa Cái Bèo. Trong tầng văn hóa rất dày này người ta tìm thấy nhiều đồ gốm, công cụ lao động, mộ táng... chứng minh cuộc sống kéo dài rất lâu. Cư dân làm nghề khai thác biển còn để lại nhiều vết tích như các loài cá, hải sản, trong đó có cá lớn nặng hàng trăm kilôgam, sống ở biển sâu xa bờ, chứng tỏ họ đã biết chế tạo các thuyền bè lớn.


Nền văn hóa thuộc hậu kỳ đồ đá mới tiếp nối theo sau gọi là nền văn hóa Hạ Long với những hiện vật tìm thấy hết sức phong phú, xác nhận đã có sự giao thoa giữa nền văn hóa bản địa với các nền văn hóa khác trong khu vực.


Sang thời Trung Đại, vùng Hạ Long đã chứng kiến sự buôn bán, giao lưu rất nhộn nhịp giữa Đại Việt và thế giới bên ngoài. Bao nhiêu là bí mật của lịch sử đang nằm trong các tầng đất của các đảo hay đang chìm dưới làn nước xanh thẳm kia để chờ thế hệ chúng tôi vén bức màn thời gian đưa ra ánh sáng. Tôi tin rằng trong một tương lai không xa nước ta sẽ có một viện nghiên cứu Hạ Long đặt trên một đảo nào đó mà mọi người cho là đẹp nhất để khám phá những bí mật của vùng Đông Bắc, đưa nó lên thành một kỳ quan không thể tranh cãi của thế giới, một kho của quý, một niềm tự hào của cả dân tộc ta. Các bác lớn tuổi trên tàu con ước mơ xây dựng các tượng đài, đền miếu, nhà nghỉ trên các đỉnh núi cao để bạn bè từ phương xa đến hay người đi xa về được chiêm ngưỡng lịch sử, văn hóa hào hùng của Việt Nam, được tận hưởng hạnh phúc mà thiên nhiên ban tặng khi phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh Hạ Long.


Rất tiếc tàu Bình Minh đi làm việc chứ không phải đi du lịch nên chúng tôi không có điều kiện để tìm hiểu nhiều hơn về vùng biển đầy kỳ thú này. Rời nơi đây tôi vẫn tiếc vì chưa được ngắm các chú khỉ tinh khôn đu mình trên các cành cây la đà trên mặt nước, các đàn công và vô số các loài chim bay lượn như những chiếc diều biếc trên bầu trời bao la, những chú rắn biển mà người ta đồn dài hàng chục mét; và được nếm những món ăn đặc sản ở các khách sạn nổi mà chỉ nghe cái tên không thôi cũng đã có sức quyến rũ lạ thường. Cái kỳ vĩ, diễm lệ, đặc sắc về phong cảnh, về đa dạng sinh học, về văn hóa của vùng này chắc chắn phải viết thành những tập sách dày mới đủ. Nếu có điều kiện tôi sẽ trở lại chủ đề này để kể cho các bạn nghe sau.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:32:12 am
Đêm trên đảo Bạch Long Vĩ

Tối ngày 1 tháng 6 tàu Bình Minh ra khỏi khu vực các đảo đá vôi. Giờ này các em Bình Minh, An Phong chắc là đang được chị Minh Hà chia kẹo và dẫn đi xem xiếc. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày tết thiếu nhi, tôi và Minh Hà, đôi lúc có cả anh Thức nữa, dẫn các em đi chơi, vui không thể tả. Năm nay tôi đi xa, nhớ chúng nó lắm.


Trước mặt, biển mênh mông. Theo âm lịch hôm nay mới là ngày đầu tháng nên sẽ không có trăng. Khi mặt trời lặn hẳn, các dãy đảo sau lưng chuyển từ màu tím sẫm sang đen kịt rồi hòa lẫn vào màn đêm. Trên nền trời, vài ngôi sao ngập ngừng xuất hiện, lúc đầu mờ nhạt, yếu ớt, sau đó sáng dần lên và bắt đầu nhấp nháy như phát đi tín hiệu gọi bạn thiên cung. Đáp lại, hàng trăm, hàng nghìn ngôi sao khác lần lượt hiện ra, cái gần, cái xa, cái mờ, cái tỏ, làm cho bầu trời mỗi lúc một cao hơn, lung linh trong hằng hà sa số những chấm sáng. Đêm ở biển huyền ảo lạ lùng. Lâu nay sống ở thành phố tôi chẳng bao giờ nhìn thấy.


Trên mặt biển cũng dần dần hiện lên những chấm sáng nhỏ xíu, kết lại thành những đám nhỏ. Đó là những thuyền câu của ngư dân Quảng Ninh. Đứng trên boong tàu chúng tôi cũng thấy những chấm sáng như lân tinh di chuyển gần mặt nước xung quanh con tàu. Các chú thủy thủ bảo rằng đó là những đàn mực ống đang đi tìm mồi. Mực có hai loại chính là mực ống và mực nang, sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao và là loài nhạy cảm với điều kiện biến đổi thủy văn, thời tiết, ánh sáng. Chúng di chuyển theo ngày đêm, theo mùa, vì vậy các vùng có mực tập trung mật độ cao thường thay đổi liên tục. Mực bơi lùi, khi di chuyển với tốc độ cao có hình dạng như một mũi tên, mỗi giây có thể tiến về phía trước 15m (54km/h). Chúng vận động theo nguyên tắc phản lực. Trước tiên chúng hút nước vào cơ thể thông qua một lỗ nhỏ ở phía đuôi, sau đó co bụng, nước phun ra rất mạnh và sinh ra lực đẩy cần thiết. Mực ưa sống ở lớp nước có độ sâu cỡ 20 - 25m. Vào mùa xuân ở phần biển phía Bắc và vào mùa khô ở vùng biển phía Nam mực thường di chuyển vào vùng nước nông gần bờ để sinh sản. Mực ống ban ngày ở dưới sâu, ban đêm di chuyển lên tầng nước trên mặt vì lúc đó nhiệt độ ở đây giảm, thích hợp với cơ thể của chúng, và độ sáng của tầng nước trên mặt cũng cao hơn tầng nước sâu. Lợi dụng tập tính mực thích ánh sáng nên ngư dân dùng đèn để thu hút chúng tập trung lại. Và con tàu của chúng tôi cũng là một nguồn sáng đến chiêm ngưỡng thu hút chúng tới như thế. Chỉ cần thả một giây câu trong vài phút, gắn vào lưỡi câu một miếng bánh mì nhỏ là có thể kéo lên được một chú mực nặng đến nửa cân, tươi rói. Một thuyền câu mực mỗi đêm có thể bắt được vài chục cân bằng những dụng cụ thô sơ, giản đơn, có lẽ đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước. Mục khô mà nướng lên, chấm với tương ớt thì tuyệt trần. Trên tàu thiếu nhiều điều kiện nên mực tươi thường được hấp, chấm nước mắm gừng, thịt ngọt lịm. Tôi cũng được biết thêm là tổng sản lượng khai thác mực hàng năm của nước ta hiện nay đạt khoảng 50.000 tấn, một phần cung cấp cho thị trường nội địa, phần còn lại xuất khẩu, thu về cho đất nước một lượng ngoại tệ không nhỏ.


Biển Bắc bộ cũng như biển Đông của ta là vương quốc của các loài hải sản có giá trị cao. Dưới đáy cát, bùn có các loại nhuyễn thể mà nổi tiếng nhất là các loài sò, nghêu, ốc. Tôi thích nhất là sò huyết, khi nướng lên thì một dòng nước đỏ trào ra thơm phức. Thịt sò chấm với nước mắm pha chanh ớt, gừng, tỏi kèm với một ít rau thơm thì ngon không gì bằng, ở Hạ Long còn có một loài trai ngậm ngọc, hạt ngọc tự nhiên tròn trịa, màu trắng bạc, không tì vết. Ngày nay đã có những nơi nuôi trai lấy ngọc với những kỹ thuật rất điêu luyện, tạo ra một nguồn hàng xuất khẩu độc đáo mang thương hiệu Hạ Long. Các bà, các cô ở Việt Nam và trên thế giới khi có những chuỗi hạt trai này điểm trang trên vòng cổ thì tính đài các và vẻ đẹp của họ được tôn cao lên đến mức kiêu sa.


Tiếp theo sò là tôm với hàng trăm loài khác nhau, trữ lượng hàng trăm nghìn tấn. Có loài bé tí, thân chỉ bằng hạt vừng nhưng bụng đã chứa đầy trứng, sống thành đàn dày đặc, thường được gọi là moi. Dân chài dùng lưới dày vớt lên, phơi khô, bán khắp chợ cùng quê. Có loài to, sống cá thể như tôm hùm, nặng đến vài ba cân, màu sắc sặc sỡ, thịt ăn bổ dưỡng còn vỏ thì dùng làm mẫu vật trang trí trong các phòng khách sang trọng của các khách sạn, biệt thự ở các thành phố biển, ở Hòn Gai tôi đã có lần ngẩn ngơ trước những chú tôm võ sĩ đôm vàng chanh pha trắng đục, với những chiếc càng dài oai vệ được thiên nhiên trang bị để vừa bắt mồi dễ dàng vừa để chống lại các cuộc tấn công của các con vật khác. Còn xã hội loài cua cũng đa dạng không kém họ hàng nhà tôm. Qua những bàn tay chế biến tài hoa của các bà mẹ Việt Nam, nem cua trở thành một món ăn đặc sản, đựng trong mai cua luộc chín vàng ươm, làm cho mâm cơm trở thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời.


Về cá tôi sẽ nói đến sau. Dọc biển Đông có nhiều nơi nguồn cá còn phong phú hơn. Nhưng ở đây tôi muốn kể cho bạn nghe về một loài cá đặc sản của Hạ Long, đó là cá chình. Nó to, dài như con rắn biển, uốn mình luồn lách qua những hốc đá xung quanh các đảo. Cá này cũng có một cơ chế phát điện rất mạnh, đủ sức làm tê liệt con mồi, kể cả con người khi lặn. Đổi lại sự khủng khiếp này là thịt rất rắn chắc, thơm, không chứa xương dăm nên rất được ưa chuộng. Tôi được nếm nó trong món lẩu cá trên tàu trưa nay với một dư vị không bao giờ quên.


Tàu Bình Minh hướng về phía đông - đông bắc với đích là đảo Bạch Long Vĩ. Tối hôm nay tôi ngủ trên tàu. Căn phong nhỏ chỉ vừa đủ cho một chiếc giường cá nhân. Mùi vị của biển và hiện trạng gần như thiếu không khí làm cho tôi thấy khó chịu, phải khá lâu tôi mới quen dần. Tàu chạy, sóng lắc lư đưa tôi vào những giấc mơ chập chờn của người thủy thủ.


Sáng hôm sau một số cán bộ kỹ thuật lên đảo và tôi được lên theo. Bạch Long Vĩ nằm cách Hải Phòng 136km, từ hàng chục thế kỷ trước đây đã là cửa ngõ giao lưu giữa Đại Việt và các nước khác. Trong những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bạch Long Vĩ do Trung Quốc quản lý. Sau khi quân Pháp rút khỏi miền Bắc năm 1954, thủ tướng Chu Ân Lai thay mặt chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trao trả lại cho Việt Nam. Vì vậy Bạch Long Vĩ được nhân dân ta coi là một biểu tượng của tình hữu nghị Việt - Trung trong sáng, của tinh thần quốc tế chân chính. Nếu các chính quyền Trung Quốc luôn luôn tôn trọng tiền lệ Bạch Long Vĩ thì biển Đông đã thật sự trở thành một khu vực hòa bình, hữu nghị, hợp tác.


Cư dân trên đảo chủ yếu là bộ đội và các gia đình ngư dân. Cách đây gần bốn mươi năm, các khẩu súng máy, súng trường lạc hậu nằm trong tay những chiến sĩ anh hùng của chúng ta lần đầu tiên đã gây kinh hoàng cho các phi công sừng sỏ của Không lực Hoa Kỳ trên đường bay vào đánh phá Hòn Gai, Cửa Ông, Hải Phòng mà chúng cứ nghĩ là đang làm một cuộc dạo chơi trên vịnh Hạ Long. Ngày nay Bạch Long Vĩ đang trên đường trở thành một hòn ngọc của tổ quốc nằm xa nhất về phía đông trong vịnh Bắc bộ. Diện tích đảo chỉ khoảng ba cây số vuông và độ cao tuyệt đối của nóc đảo là 62m so với mặt biển. Nếu sau này ta xây dựng các công trình nổi nữa trên phần đất chìm vài mét nước xung quanh đảo thì đảo sẽ có tầm vóc của một thành phố tiền tiêu đủ để nền kinh tế biển phát triển và là một địa điểm du lịch lý tuởng. Tôi sẽ nói ý nghĩ này cho ông Lịch, một chuyên gia trong ngành du lịch, chắc là sẽ được đồng tình. Biết đâu chú Việt sẽ là chủ của dự án đó.


Chúng tôi đi thăm đảo và lần đầu tiên tôi nghe các chú tranh luận với nhau về tuổi của các lớp đá lộ ra trên mặt đất. Đá mà lại có tuổi sao? Các nhà khoa học thật là kỳ cục. Ông Bạt nói rằng đá cũng được sinh ra, trưởng thành và trở thành tro bụi trước sự tàn phá của gió mưa và nhiều tác nhân tự nhiên khác. Quá trình đó được gọi là phong hóa. Sự tồn tại của đá cũng có điểm khởi đầu và điểm kết thúc với nhiều số phận khác nhau. Nếu ta xác định được thời điểm ra đời của một tầng đá tức là ta xác định được tuổi của nó. Có thể đưa mẫu đá về phòng thí nghiệm, dùng phương pháp phóng xạ để xác định tuổi thì ta có tuổi tuyệt đối. Nếu không thì ta tìm các hóa thạch, tức là những sinh vật chết, những bào tử phấn hoa đã hóa đá, nằm trong lớp đá mà ta nghiên cứu, căn cứ theo lịch sử tiến hóa của các loài cũng có thể xác định được tuổi của lớp đá đó. Nếu không thể làm được điều vừa nói trên thì ta so sánh lớp đá đang nghiên cứu với các lớp đá trong khu vực gần kề mà ta đã xác định được tuổi trước đó để đoán định tuổi.


Xác định tuổi của đá chẳng phải để thỏa chí tò mò, bàn tán cho vui khi rảnh rỗi mà là để xây dựng lại lịch sử địa chất của một vùng đất, từ đó tìm ra lời đáp cho câu hỏi trong vùng đó, trong tầng đất đá đó có khả năng chứa tài nguyên gì, giá trị kinh tế của nó là bao nhiêu. Tôi thật sự ngạc nhiên khi nghe bác Đình nói rằng đá trầm tích cấu thành đảo Bạch Long Vĩ có tuổi Đệ tam, tức là hình thành cách đây khoảng sáu chục triệu năm về trước. Hệ tầng nằm dưới được ra đời trong điều kiện hồ - đầm lầy - vũng vịnh chứa nhiều vật chất hữu cơ có khả năng sinh ra dầu mỏ. Hệ tầng nằm trên lại chứa các đá sinh ra trong vùng ven biển, cũng chứa nhiều vật chất hữu cơ nhưng là loại có nhiều khả năng sinh ra khí đốt. Như vậy có thể rút ra kết luận dưới lòng đất vịnh Bắc bộ chắc chắn là có dầu khí và phải quyết tâm tìm ra bằng được. Bạn có thể nghĩ rằng những kết luận như vậy sẽ mở ra con đường để thu về hàng tỷ đôla cho đất nước chúng ta không? Giá trị lao động trí óc to lớn là như vậy, cho nên chúng ta phải cố gắng học tập thật chu đáo để thu nhận càng nhiều kiến thức càng tốt và càng phải biết coi trọng những người làm công tác khoa học mặc dù họ chẳng có chức tước gì trong xã hội.


Ngồi trên một phiến đá rộng, trải dài đến tận mép nước, các chú giở bản đồ, chấm một điểm đỏ sau khi xác định tọa độ chính xác qua vệ tinh vị trí của điểm này rồi tỏa ra đi nghiên cứu toàn bộ khu đảo.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:33:06 am
Cửa vịnh Bắc bộ và các chuyện kể về Hoàng Sa

Sáng ngày 2 tháng 6 tàu nhổ neo rất sớm. Bản tin khí tượng thông báo biển yên, gió nhẹ, tầm nhìn xa trên 10km. Giàn súng hơi được thả xuống nước. Mạng máy thu sóng gồm rất nhiều ống dây trong đó gắn các thủy chấn ký nhỏ nhắn, sơn màu vàng nhạt, kéo theo đuôi tàu khoảng 50m. Những luồng khí nén áp lực rất cao được súng hơi bắn vào nước biển, tạo ra những xung sóng địa chấn, truyền vào lòng đất. Các thủy chấn ký biến đổi cơ năng của sóng phản xạ quay về từ các mặt tầng đất dưới sâu thành điện năng, và chuyển các tín hiệu thu được này về trạm máy ghi địa chấn đặt ở trên tàu. Tổ định vị đã liên hệ kết nối tốt với các vệ tinh, xác định chính xác vị trí tọa độ của nguồn phát sóng và của các máy thu sóng tại bất kỳ thời điểm nào. Hệ thống định vị toàn cầu này gọi là GPS, gồm 24 vệ tinh nhân tạo, bay tít trên tầng cao của khí quyển cách mặt đất 110.000 dặm. Các thiết bị được gắn trên vệ tinh như đồng hồ nguyên tử, máy tính, máy thu, máy phát tín hiệu làm việc liên tục suốt ngày đêm. Mỗi giây vệ tinh phát đi một nghìn lần tín hiệu cho biết vị trí và tốc độ chuyển động của nó. Máy tiếp nhận GPS trên mặt đất là một máy tính siêu nhỏ. Thông qua trắc lượng thời gian thu nhận được mỗi tín hiệu người ta xác định khoảng cách giữa tàu Bình Minh và vệ tinh, sau đó qua tổng hợp những số liệu từ một số vệ tinh khác theo phương pháp giao nhau là có thể xác định chính xác kinh độ, vĩ độ nơi con tàu đang đứng. Nhờ vậy mà sau này khi lập bản đồ địa chất - địa chấn tầng sâu người ta biết rõ vị trí của từng điểm cụ thể ngoài thực địa nằm ở đâu.


Ngày làm việc bắt đầu. Tôi đã từng nghe nói đến tác phong công nghiệp nhưng đến bây giờ tôi mới hiểu nó là gì. Mọi người ngồi vào vị trí lao động của mình đúng giờ quy định. Các thao tác phối hợp với nhau chính xác đến từng giây. Ai làm việc nấy rất có kỷ luật, cường độ lao động rất cao, thể hiện rõ ở từng ánh mắt, từng nếp nhăn trên trán, từng giọt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt. Các thông tin thu được được chuyển qua vệ tinh về Trung tâm xử lý số liệu địa chấn ở thành phố Hồ Chí Minh ngay trong ngày, nơi ông Bạt, ông Quyết, chú Hoàng Anh, cô Xuân, cô Lan đang làm việc, ở đó các kỹ sư địa vật lý, các nhà tin học xử lý, phân tích, đưa ra các bức ảnh hai chiều, ba chiều của lòng đất, sâu đến 6 - 7km của vùng nghiên cứu mà con tàu Bình Minh đã đi qua.


Còn trên tàu, nhóm xử lý nhanh bằng máy chuyên dụng kích thước nhỏ do ông Kim Trung chỉ đạo cũng cung cấp tức thời những thông tin tương tự cho đội công tác, giúp họ điều chỉnh quy trình thu-phát sóng nhằm đạt chất lượng cao. Ở đầu ra của máy in, trên những cuộn giấy khổ rộng, các xung sóng thể hiện các tầng đất màu sắc đậm nhạt hiện dần lên sau tiếng rè rè của máy chạy.


Hóa ra cấu trúc lòng đất chẳng đơn giản tí nào. Nếu những lớp ở nông gần như nằm ngang, kéo dài liên tục thì các lớp nằm sâu uốn lượn đủ kiểu với vô số các đứt gãy cắt qua, tạo nên những gò đồi cao thấp, những thung lũng rộng hẹp, những lớp đất vót nhọn, những mặt mấp mô. Ông Minh vui vẻ giải thích ngắn gọn cho tôi biết những hiện tượng gì đã xảy ra trong quá khứ xa xăm hàng nhiều chục triệu năm về trước ở vùng này. Đã có lúc cái vùng nước mênh mông, sâu thẳm hiện nay là vùng đất khô ráo, với những đầm hồ nước ngọt, những rừng cây bạt ngàn, những chim chóc, sâu bọ, côn trùng, động vật to nhỏ, hình thù kỳ dị sinh sống. Rồi những trận động đất cực mạnh xảy ra, những núi lửa hoạt động phun lên những dòng dung nham, những cột tro bụi làm thay đổi cảnh quan, chỗ sụt xuống, chỗ trồi lên. Gió mưa bào mon đất đai đổ vào các dòng sông, lấp các chỗ trũng, vỏ quả đất lại chuyển động, mặt đất nguyên thủy nứt toác ra, chìm xuống, hình thành biển Đông cổ đại. Cùng với thời gian, biển này mở rộng dần về phía đông nam, tiếp cận với những vùng vây quanh địa khối Kontum, một vùng lục địa rất cổ, rắn chắc. Rồi nước biển lại dâng lên, hạ xuống theo chuyển động của vỏ quả đất, diện tích biển khi thì mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại. Và trong diện tích rộng lớn của biển Đông cổ đại ấy, đất đá ở các vùng cao xung quanh được vô số các dòng sông suối chở đến lấp đầy theo từng mùa nước lũ. Các dòng hải lưu cũng góp phần của mình trong quá trình sáng tạo này. Và cứ như vậy các tầng trầm tích, phù sa được lần lượt hình thành, bị thay hình đổi dạng theo không gian và thời gian để định hình như ta biết ngày nay.


Phía đông cửa vịnh Bắc bộ là nơi đáy biển cổ sụt lún nhiều nhất. Lượng đất đá trên đất liền bị bào mòn được hệ thống sông Hồng, sông Mã, sông Chu và các sông khác ở miền Trung chở về trong nhiều chục triệu năm, lấp đầy nên bề dày tầng đá trầm tích lên đến hơn 8km. Vì thế nó trở thành một đối tượng tìm kiếm dầu khí quan trọng. Lẫn trong trầm tích còn có nhiều mảnh vụn quặng khoáng sản khác. Đặc biệt có giá trị là quặng titan, một loại kim loại rất quý hiếm. Khối lượng riêng của titan chỉ bằng một nửa so với sắt, nhưng lại bền hơn thép siêu cứng. Trong lò nung khi nhiệt độ đủ cao để sắt bị nung chảy nhưng titan lại không hề suy tổn. Khi nhiệt độ thấp gang thép trở nên giòn nhưng titan lại trở nên càng cứng hơn so với bình thường, điện trở hạ thấp xuống gần bằng số không, trở thành một vật liệu siêu dẫn. Trong lúc các kim loại khác bị các loại dung dịch như muối, axit... ăn mòn nhưng titan thì không. Vì thể titan được dùng để chế tạo hợp kim siêu bền, dùng trong công nghiệp sản xuất máy bay, tên lửa. Do trọng lượng riêng lớn hơn cát, bùn nên trong quá trình được dòng nước vận chuyển, các hạt titan tách riêng ra, tập trung lắng đọng thành những dải dài. Vì vậy dọc theo bờ biển miền Trung, trong các doi cát trắng mịn thường gặp loại quặng này. Đó là loại nguyên liệu xuất khẩu đắt tiền nhưng xuất khẩu quặng thô là sự phung phí tài nguyên. Hơn nữa, đây là loại quặng quý, trên thế giới có không nhiều, ta cần để dành cho tương lai. Ông Minh nhấn mạnh như cố ý dạy tôi điều đó. Ngoài titan còn có ziếc côn, đất hiếm, vàng, thiếc và nhiều loại quặng quý hiếm khác, gọi chung là quặng sa khoáng ở biển.


Tàu chạy rất êm, tốc độ được chú lái tàu tài giỏi giữ gần như không đổi. Ông tôi bảo tôi lên boong để có thể nhìn thấy những điều kỳ thú của tự nhiên. Trên không trung có rất nhiều loài chim bay lượn. Đông nhất là hải âu, lông trắng muốt, đầu cánh điểm xuyết một số sợi lông đen, dài, rất mượt. Chúng họp thành đàn, lượn vòng vô trật tự, tiếng kêu inh ỏi. Chắc là chúng trò chuyện với nhau, báo tin cho nhau biết nơi nào có đàn cá nổi đang xuất hiện, giống như thói quen hay nói to của người dân miệt biển. Rồi bất chợt, chúng đáp xuống mặt nước, nổi bềnh bồng như những chiếc phao. Chẳng biết mỗi con đã bắt được bao nhiêu cá trước khi chúng lại thình lình bay lên, ồn ào không kém lúc đáp xuống. Điều lạ lùng nhất là mặt nước không rắn, không phải là chỗ tựa để tạo ra sức bật theo nguyên lý phản lực mà chúng lại cất cánh một cách rất dễ dàng. Điều này tôi cũng thấy ở một số loài chim biển khác mà tôi không biết tên. Chúng lặn sâu dưới nước từ lúc nào không biết rồi bất thình lình vút lên không trung giống như một quả tên lửa phóng từ các tàu ngầm mà tôi đã thấy trên ti vi. Khi nào về đất liền tôi sẽ tìm gặp ông Thạch, nhà vật lý, tác giả của quyển Nguyên lý bay của loài chim, để được nghe giải thích. Các đàn chim hàng vạn con này là nhà máy sản xuất phân bón tự nhiên thượng hảo hạng, ông tôi nói. Trên các đảo rải rác trên biển, nơi chim về nghỉ sau lúc kiếm mồi, chúng để lại những lớp phân dày.


Ông Dân nheo mắt nhìn ra xa xăm, nơi có vài chấm đen lúc ẩn lúc hiện ở chân trời. Đó là các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc ta.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:33:42 am
Quần đảo Hoàng Sa nằm giữa vĩ độ 16 và 17 độ bắc, kinh độ 111 và 113 độ đông, hợp thành từ hai nhóm đảo: nhóm An Vĩnh và nhóm Nguyệt Thiềm. Khoảng cách giữa hai nhóm khoảng 70km. Nhóm Nguyệt Thiềm ở phía tây gồm năm đảo chính là Hữu Nhật, Quang Hòa, Thu Lu, Duy Mộng và Hoàng Sa. Trên đảo Duy Mộng còn có năm ngôi mộ của binh lính thời chúa Nguyễn, trên đảo Hoàng Sa còn vết tích của một chiếc cầu tàu và một con kênh đào. Nhóm An Vĩnh gồm đảo Phú Lâm, đảo Đá, đảo Nam, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Cây và đảo Linh Côn. Ngoài hai nhóm đảo này còn có ba mươi đảo nhỏ, bãi cạn hoặc đá ngầm, chiếm khoảng 45.000km2 bề mặt biển, ở đây còn rất nhiều xác tàu đắm. Những nồi hơi của tàu có khả năng tồn tại lâu nhờ kích thước và trọng lượng lớn và trở thành vật báo hiệu nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại. Đáy biển Hoàng Sa có độ sâu 40-100 mét nước, được bao phủ bằng một lớp vỏ san hô cứng. Nhà địa chất Pháp Armand Krempf mô tả "đó là một bề mặt mà dáng vẻ của nó bắt đầu có từ thời băng hà và được bao phủ bằng nước biển sau khi băng tan hoàn toàn, đã không ngừng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của san hô, nhờ ở xa tất cả các bờ biển. Hiện nay nó được bao phủ đồng đều bằng san hô sống, bằng cát và bằng sỏi san hô". Khí hậu nóng ầm, mưa nhiều. Thường xuyên có sương mù và nhiều cơn bão trong năm đi qua. Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, cây cối um tùm. Có vô số chim và đặc biệt nhiều rùa biển sinh sống. Tài nguyên kinh tế gồm ba nhóm: phân chim (phốtphorít), các nguồn hải sản và có khả năng có dầu khí. Lớp phân chim thường dày đến hàng mét và hàm lượng phốtphát trong phân rất giàu. Từ 1956 đến 1963 các ông Lê Văn Cang, Bùi Kiến Thành chỉ huy các công ty phân bón Sài Gòn liên tục khai thác và cho biết trữ lượng còn nhiều.


Sau Hiệp định Genève (1954), nước ta bị chia làm hai miền. Từ vĩ tuyến 17 trở ra bắc thuộc quyền quản lý của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa... Từ vĩ tuyến 17 trở vào nam (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa) do phía quẤn Đội Liên hiệp Pháp trong đó có chính quyền Sài Gòn quản lý, chờ tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Do phía Liên hiệp Pháp phá hoại hiệp định nên năm 1956 cuộc tổng tuyển cử dự kiến không xảy ra. Lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956 Trung Quốc cho quẤn Đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa. Các đảo còn lại vẫn do quân Pháp và sau đó là chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Ngày 20 tháng 1 năm 1974 Trung quốc đưa một lực lượng lớn hải quân, không quân tới đánh chiếm nhóm đảo phía tây do một lực lượng ít ỏi quẤn Đội Sài Gòn bảo vệ. Những người lính Sài Gbn đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc khi bị nước ngoài xâm lược. Do lực lượng quá chênh lệch, lại không được tiếp viện nên tất cả đều hy sinh và bị bắt, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm dóng. Họ phá hủy hết các di tích Việt Nam từ xa xưa để lại và xây dựng sân bay, hai cảng trên đảo Phú Lâm, Tri Tôn với ý đồ chiếm đoạt vĩnh viễn vùng này, bất chấp lẽ phải và luật pháp quốc tế.


Chính phủ ta luôn luôn phản đối việc làm đó của chính quyền Trung quốc và khẳng định quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ lâu đời của nước ta. Để chứng minh cho lý lẽ của phía Việt Nam, ông tôi trích đọc cho chúng tôi nghe một số tài liệu lịch sử mà ông đã ghi chép được.


Sách Hải ngoại ký sự do vị cao tăng Thích Đại Sán, người Trung Quốc viết năm 1696* (Có tài liệu ghi năm 1697) khi làm cố vấn cho chúa Nguyễn Phúc Chu đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam từ thế kỷ thứ 15. Nhà bác học Lê Quý Đôn sống trong thế kỷ 18 cũng đã viết trong Phủ biên tạp lục về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: "Ở ngoài cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa, trước kia nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán khắp nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận chúng. Người ta phải đi ba ngày mới đến được đảo Đại Trường Sa... Ở trong các hòn đảo có bãi cát vàng, dài chừng hơn ba mươi dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong nhìn suốt đáy. Trên các hòn đảo có vô số các tổ yến, còn các thứ chìm thì kể có hàng ngàn, hàng vạn con, thấy người thì đậu vong quanh không tránh. Trên bãi có rất nhiều sản vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu... Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà cừ, thứ ốc này để tô điểm các đồ dùng... Có thứ gọi là con đạo mạo, tức là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba biển) cũng giống con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng...". Cụ Lê Quý Đôn kể rằng đội Hoàng Sa có bảy mươi người, toàn là những thanh niên rất quen đi biển, quê ở xã An Vĩnh thuộc vùng cửa biển Sa Kỳ, Quảng Ngãi. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi làm nhiệm vụ. Ra đi từ tháng Giêng, đến tháng Tám trở về Huế, nộp các sản vật thu được lên chúa Nguyễn. Sau đó các chúa Nguyễn còn lập thêm đội Bắc Hải để quản lý vùng phía nam Hoàng Sa cho đến Hà Tiên.


Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và bộ sử Đại Nam thực lục của triều Nguyễn cũng đều ghi chép về Hoàng Sa - Trường Sa như một bộ phận đất đai của nước ta và triều đình nhà Thanh cũng thừa nhận điều đó. Dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng đều có các đội đi đo đạc độ sâu nước biển để vẽ bản đồ giúp cho tàu bè qua lại tránh được những nguy hiểm như mắc cạn hoặc va vào đá ngầm. Các vua còn cho người ra xây miếu, dựng bia, trồng cây. Năm 1835 cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đưa người từ Quảng Ngãi - Bình Định ra xây miếu mới, bên trái dựng bia đá, trước miếu xây bình phong uy nghi, đồ sộ. Đô đốc Pháp, bá tước d’Estaing còn ghi rằng "những chiến thuyền của Việt Nam thường xuyên tuần tiễu vùng quanh đảo, với tốc độ nhanh, cơ động dễ dàng, là lực lượng đáng sợ nhất của xứ Đàng Trong". Tiến sĩ Trần Văn Trị, người Quảng Ngãi kể rằng các tộc Võ Văn, Võ Xuân, Phạm Văn, Phạm Quang, Nguyễn, Trần ở đảo Lý Sơn trước kia đều có người tham gia đội Bắc Hải. Mỗi chuyến đi Hoàng Sa - Trường Sa đều được xem như ra trận vì đầy ắp những hiểm nguy chờ đợi nên lễ tiễn đưa được tổ chức vô cùng trang trọng. Từ lâu nay tuy thế sự đổi thay, mỗi năm đến ngày 20 tháng 2 âm lịch, dân trên đảo Lý Sơn vẫn tổ chức lễ tế chiến sỹ trận vong cho những người ra đi đã không trở về một cách thành kính theo những nghi thức cổ để tưởng niệm các anh hùng đã hy sinh nhằm khẳng định chủ quyền của đất nước ta trên biển Đông. Tên các liệt sĩ Hoàng Sa được viết trên các linh vị đặt trên bàn thờ và khi kết thúc lễ tế, tất cả đều được đốt, tro tàn thả xuống biển cùng với chiếc thuyền giấy trên đó có các hình nhân bằng rơm và lương thực, thực phẩm, nước uống như những thứ mà chiến binh Bắc Hải được triều đình cung cấp khi xưa. Tên của những người chỉ huy còn được người đời sau lấy đặt tên cho đảo như đảo Hữu Nhật (lấy theo tên của cụ Phạm Hữu Nhật), đảo Quang Ảnh (cụ Phạm Quang Ảnh), đảo Duy Mộng (cụ Lê Duy Mộng) là những ví dụ.


Năm 1970 giáo sư Sơn Hồng Đức của Đại học Sài Gòn tham gia chương trình nghiên cứu hỗn hợp Việt-Mỹ vùng Hoàng Sa cũng kể lại rằng trên đảo ông còn thấy một số ngôi mộ binh sĩ thời Nguyễn, trong đền Bà ở phía đông đảo có pho tượng Quan Âm đặt trên bệ đá chạm trổ tinh vi và phía bắc có ngọn hải đăng. Gần đó, trước kia còn có căn cứ quân sự của quẤn Đội Pháp và một đài khí tượng hoạt động từ năm 1938 mà đến nay trên các tài liệu quốc tế vẫn ghi đài này là của Việt Nam.


Ông tôi nhắc nhớ tôi rằng Hoàng Sa hiện nay đang bị Trung Quốc chiếm, việc đòi lại sẽ không dễ dàng, nhưng chúng ta cũng như các thế hệ mai sau phải luôn ghi nhớ để liên tục đấu tranh cho đến khi giành lại được phần đất tổ tiên.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:34:46 am
Những kiến thức mới về biển

Suốt ba ngày liền tàu Bình Minh hoạt động hết công suất. Sáng sớm chúng tôi có thể ngắm mặt trời mọc trong một khung cảnh hoành tráng của vũ trụ bao la. Những chùm tia nắng ban mai tươi tắn bị làn không khí không đồng nhất bao quanh tách ra thành nhiều bó sắc màu riêng biệt như khi tia sáng đi qua một lăng kính mà ta thấy trong phòng thí nghiệm quang học ở trường. Mặt trời càng lên cao càng nhỏ dần, chuyển sang màu vàng chanh và sức nóng cũng tăng lên. Trong những giờ rảnh rỗi, các nhà khoa học làm việc trên tàu giảng giải cho tôi hiểu thêm nhiều điều về biển. Những con số khô khan sau đây mới nghe thì rất chán nhưng chắc sẽ rất có ích cho tôi khi dự thi những trò chơi trên truyền hình như Rung chuông vàng, Đường lên đỉnh Olympia... hoặc thi tốt nghiệp trung học và học lên đại học. Bán kính quả đất 6.400km; diện tích bề mặt quả dất 510 triệu km2; diện tích biển và đại dương 360 triệu km2; thể tích lớp nước biển 1.370km3. Nơi biển sâu nhất là hố Marian ở Thái Bình Dương, 11.000m, trong lúc đỉnh núi cao nhất hành tinh chỉ đạt 8.848m, đó là đỉnh Everest ở dãy Himalaya, nằm giữa Tây Tạng và Nepal. Khoảng cách trung bình giữa mặt trời và quả đất là 150 triệu km. Ta hình dung nếu vạch một đoạn thẳng nối Mặt Trời và tâm Quả Đất thì ở hai đầu mút của đoạn thẳng đó là hai nguồn nhiệt, cung cấp sự sống cho muôn loài trên hành tinh chúng ta. Nước biển tiếp nhận và lưu trữ một lượng năng lượng lớn hơn rất nhiều so với khí quyển và nó là một kho nhiệt rất hữu hiệu. Nhiệt mặt trời diễn biến ra sao khi chạm đến mặt nước, đi xuyên qua và gây ra những hiện tượng gì trong khối nước? Cũng giống như khí quyển, trạng thái nhiệt trung bình của thủy quyển là bất biến. Nói cách khác, thủy quyển chịu sự mất mát nhiệt bằng với lượng nhiệt mà nó nhận. Một phần của nhiệt bị mất mát của biển là do bức xạ, một phần khác là do phải tiêu phí để nước bốc hơi. Những mất mát này có một hệ quả rất lớn đối với chế độ của biển bởi vì dưới ảnh hưởng của chúng, những tác động sâu sắc của những hiện tượng bề mặt xảy ra tiếp theo, gây ra những chuyển động chậm của khối nước trên mặt kết hợp với các chuyển động của các dòng hải lưu chảy nông hoặc sâu trong lòng biển.


Nhiệt của biển bị mất mát được khí quyển tiếp nhận lại cũng gây ra những hệ quả đối với lớp dưới của khí quyển, tức là của tầng đối lưu. Không khí trong tầng đối lưu có mật độ lớn hơn tầng trên, khi bị đun nóng ở phần đáy sẽ làm cho cấu trúc nhiệt và sự phân bố hơi nước thay đổi, dẫn đến phân bố áp suất thay đổi và điều này gây ra sự chuyển động không khí trong tầng đối lưu. Sự xuất hiện những áp thấp của khí quyển là nguyên nhân của các hệ thống gió. Lực cọ xát của gió trên mặt nước là nguyên nhân tạo ra sự dịch chuyển của lớp nước trên mặt và gần trên mặt, tức là sóng biển. Theo cách nói của những nhà vật lý thì khí quyển là một cỗ máy biến đổi nhiệt năng của nước biển thành cơ năng, tức là tạo ra gió và sóng biển. Từ lâu rồi tôi đã thấy gió và sóng khi đi nghỉ mát ở biển với ba mẹ tôi nhưng chưa bao giờ tôi đặt ra câu hỏi chúng sinh ra như thế nào. Bây giờ nghe giải thích tôi mới thấy nó rắc rối làm sao. Hóa ra tự nhiên có sự phối hợp kỳ lạ như đã được lập trình từ trước để tạo ra mọi hiện tượng thoạt trông tưởng như chúng chẳng có liên quan gì với nhau, nhưng khi được nghiên cứu kỹ thì mọi rắc rối mới được giải mã một cách rõ ràng. Với khoa học, những ông thần gió, thần mưa, long vương, hà bá chẳng còn chỗ để ra oai, dọa dẫm con ngươi.


Đi tắm biển mà không được nhảy sóng thì coi như đi tắm sông, tắm ao. Lâu nay tôi vẫn nghe cô phát thanh viên chương trình dự báo thời tiết nói trên tivi về áp thấp, về sóng, về gió cấp này cấp kia nhưng tôi không tò mò tìm hiểu nguyên nhân nào tạo ra hiện tượng đó nên tôi thực sự sửng sốt khi biết mặt trời chính là người điều khiển toàn bộ những hiện tượng phức tạp này.


Hôm nay đã là ngày mười hai Âm lịch. Trăng chưa tròn hẳn và mọc rất sớm làm tôi nhớ đến một bài thơ. ông tôi đã vẽ lại cảnh mà tôi đang chiêm ngưỡng một cách hết sức thơ mộng từ khi ông còn là một sinh viên:

   "...Và những tối mặt trời vừa chợp mắt
   Bầy sao đêm đã mở hội lung linh
   Vừng trăng non duyên dáng nghiêng nghiêng
   Tha thướt đường mây, khoan thai gót ngọc
   Để biển say trăng triều dâng trắng bọt
   Như anh say em suốt mấy mùa hoa... "


Chắc người thiếu nữ xinh đẹp mà ông tôi say thuở đó nay đã là một bà lão rồi. Nhưng tôi không nói chuyện ấy ở đây mà là một chi tiết khác trong đoạn thơ trên. Triều là gì và có gì khác với sóng? Các bạn thấy đấy, tính tò mò, hay đặt câu hỏi của các nhà khoa học trên tàu Bình Minh đã lây lan sang tôi từ lúc nào mà tôi chẳng biết.


Bác Cần nói rằng không phải tất cả cơ năng trong biển chỉ là kết quả của bức xạ mặt trời cũng như của những trao đổi năng lượng giữa biển và không khí mà nó đưa lại. Thủy triều cũng gần giống như sóng nhưng khối nước khổng lồ dâng lên ào ạt, kéo dài vài ba giờ, ngập cả bờ bãi trên một diện tích rất rộng, sau đó lại rút ra xa, cứ tưởng như mặt biển sụt xuống một cách lạ lùng. Hiện tượng này lại do những lực có bản chất khác điều khiển. Đó là lực tương tác, còn gọi là lực hấp dẫn liên quan đến các đặc trưng và sự chuyển động của hai thiên thể gần quả đất nhất trong hệ mặt trời. Đó là Mặt trời và Mặt trăng. Hai thiên thể này trên đường di chuyển theo quỹ đạo của chúng, tạo ra một lực hút đối với quả đất, thay đổi cường độ và phương tùy theo vị trí tương đối so với quả đất, cũng tức là theo thời gian. Tất nhiên đất đá trên lục địa cũng bị lực này chi phối tạo ra hiện tượng gọi là địa triều nhưng ta chỉ thấy hệ quả của sự tương tác này rõ nhất ở phần biển vì nước ở thể lỏng, dễ cơ động hơn. Triều cường là nước dâng cao, lên đến đỉnh điểm lại rút xuống cho đến khi đạt trạng thái nước ròng, tức là mức thấp nhất, tạo ra một giao động hình sin rất đặc trưng và có thể tính toán để dự báo chính xác trước rất lâu khi hiện tượng đó xảy ra.


Hiện nay thủy triều đang trở thành đối tượng khai thác năng lượng công nghiệp ở các nước ven biển. Nếu có dịp đi du lịch ở Nhật, đến Okinawa, bạn có thể tham quan nhà máy điện chạy bằng thủy triều, sạch bong, không có những cột khói làm ô nhiễm bầu khí quyển như thường thấy ở những nhà máy nhiệt điện chạy bằng than hoặc dầu khí. Nước ta có trên 3.000km bờ biển và bờ hải đảo, rất nhiều nơi có thể xây dựng loại nhà máy này. Và gió cũng là nguồn tạo ra điện rất lớn. Ở Anh, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Mỹ... bạn có thể gặp cả rừng cột chong chóng đặt trên các đảo ven bờ, trên vùng biển nông hay trên đất liền, quay liên tục. Đó là những cỗ máy biến cơ năng của gió thành điện năng, sạch như điện của thủy triều. Nước ta cũng đã có một số nơi phát điện bằng sức gió và cụm lớn nhất hiện nay là ở bán đảo Phương Mai, gần Quy Nhơn, Bình Định. Có điều giá thành sản phẩm còn quá đắt so với nhiệt điện nên các loại nhà máy này còn chưa phát triển. Đó là một trong những nguồn tạo ra điện năng thương mại trong tương lai.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:35:22 am
Các trận động đất ở biển cũng có thể gây ra trong nước biển những vận động đột biến và thường đưa lại những kết quả phá hoại quy mô lớn, đó là sóng thần. Sóng thần khi đã xảy ra thì thật là khủng khiếp. Bức tường nước cao hàng chục mét sừng sững tiến vào và kéo mọi thứ gặp trên đường về đại dương. Sau khi con sóng thần đi qua thì đáy biển, bờ biển và toàn bộ cảnh quan ven biển đổi thay hình dạng rất khó khôi phục. Hiện nay con người chưa có giải pháp gì để chống lại sóng thần ngoài việc đặt các trạm quan sát, dự báo, rồi nếu có xảy ra thì chỉ có một cách là cao chạy xa bay để tránh như câu ngạn ngữ dân gian "tránh voi chẳng xấu mặt nào".


Còn nguồn nhiệt ở tâm quả đất tuy nhỏ nhưng cũng có thể gây tăng nhiệt độ địa phương trong một số vùng biển sâu vì ở đó bề dày lớp vỏ đại dương của quả đất mỏng hơn bề dày vỏ lục địa. Cần nói thêm rằng nguồn nhiệt này chịu tác động của sự quay của quả đất, đây chính là nguyên nhân của các hoạt động địa kiến tạo, sinh ra các đứt gãy sâu, các vòm nâng, hố sụt cũng như núi lửa, v.v...


Cụ Tản Đà, một thi sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ hai mươi, trong bài thơ Thề non nước cũng đã nói đến hiện tượng tuần hoàn của nước trong tự nhiên:

   "...Non cao có biết hay chưa
   Nước đi ra biển lại mưa về nguồn..."

Bây giờ thì tôi hiểu hiện tượng này rõ ràng hơn trước. Dưới tác dụng của mặt trời, nước biển bốc hơi, lọc muối trả lại đại dương, còn phần nước ngọt thì bay lên không trung thành mây. Gió đưa mây vào lục địa. Gặp lạnh, hơi nước tụ lại thành những giọt nước, rơi xuống thành mưa. Nước mưa một phần thấm xuống đất, một phần chảy vào sông suối đi ra biển và một phần bốc hơi bay trở lại vào khí quyển. Cái chu kỳ kỳ vĩ này góp phần tạo ra sự cân bằng năng lượng, sự giao lưu vật chất, làm cho sự sống bảo toàn, sinh sôi, nảy nở, trong đó vai trò của biển thật là lớn lao. Các vấn đề lý, hóa, sinh của biển vô cùng rộng, đó là những lĩnh vực nghiên cứu mà thế hệ chúng tôi cũng như các thế hệ mai sau nữa tha hồ vùng vẫy nếu chúng tôi có đầy hoài bão, nhiệt tình.


Bác Bình thì nói nhiều về hiện tượng quả đất nóng dần lên. Các hoạt động công nghiệp và nạn cháy rừng thải vào không khí một lượng khí carbonic mỗi ngày một lớn. Khí này tạo thành một nắp đậy cả bầu khí quyển làm cho nhiệt được giữ lại. Hiện tượng đó được gọi là hiệu ứng nhà kính và đó là nguyên nhân của sự thay đổi khí hậu toàn cầu mà loài người đang chứng kiến. Quả đất nóng lên, băng ở Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương cũng như ở đỉnh các dãy núi cao trên lục địa tan ra, làm cho nước biển dâng cao. Các nhà khoa học dự báo nếu cuộc đấu tranh hạn chế khí thải không thành công thì đến cuối thế kỷ này các thành phố, làng mạc ven biển trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam bị ngập nước đến hai mươi phần trăm. Diện tích đất ở, đất trồng trọt sẽ thu hẹp lại, dẫn đến đói kém. Nạn phá rừng vô ý thức làm cho đồi núi xác xơ. Nước mưa không bị giữ lại làm cho lụt lội, lũ quét xảy ra càng nhiều. Các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc và Lào lại xả lũ khi nước dâng cao làm cho thiệt hại càng thêm nghiêm trọng. Ngay sau lũ lụt là hạn hán. Lượng nước ngầm giảm, nước mặn xâm nhập càng sâu vào đất liền. Các ruộng lúa, vườn cây ăn quả không còn. Bao nhiêu là tai họa rình rập con người, mà tiếc thay những tai họa đó lại chính do sự vô ý thức của con người gây ra. Bảo vệ môi trường, bảo vệ biển, giữ cho khí quyển, thủy quyển sạch sẽ đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại. Đó là tiếng kêu cấp cứu của Quả Đất hiện nay.


Sáng hôm sau tàu Bình Minh đi vào vùng biển sâu hơn 100 mét nước. Trên lát cắt địa chấn, tức là biểu đồ sóng đàn hồi ghi được dọc theo tuyến khảo sát của con tàu, có thể thấy mặt các tầng đất nghiêng càng ngày càng nhiều về phía đông và phía đông nam. Phần đáy biển bị ngập chìm tới độ sâu 200 mét nước kéo dài từ bờ biển gọi là thềm lục địa. Sau đó độ sâu nước biển tăng nhanh, tạo thành một dốc nghiêng, gọi là sườn lục địa. Ở cuối dốc, nước biển có thể sâu đến ba, bốn nghìn mét. Góc nghiêng giảm dần để đáy biển dần dần trở lại gần như nằm ngang, đất đá trầm tích hiện đại trải rộng, tạo thành đồng bằng biển sâu. Trên mặt đồng bằng này có vô số những hòn quặng sắt, quặng mangan, có hòn nặng đến cả trăm kilôgam. Sau này khi công nghệ biển phát triển cao người ta có thể dùng tàu xúc để khai thác chúng.


Hiểu biết về thềm lục địa là điều vô cùng cần thiết để phân chia ranh giới biển giữa các quốc gia có biển. Trước đây hơn nửa thế kỷ, các nước ven biển chỉ quan tâm tới vùng nước gần bờ, nơi hoạt động đánh bắt hải sản thường được tiến hành nhộn nhịp và tàu bè đi lại nhiều nên cần phải bảo vệ. Khoảng biển từ bờ đến 12 hải lý (19km) được gọi là vùng lãnh hải, nước ngoài không được xâm phạm. Tại sao lại là 12 hải lý? Ông Thiệp giải thích có lẽ vào giai đoạn đó đại bác đặt trên tàu có tầm bắn không đến khoảng cách này, tức là không thể gây nguy hại đến lãnh thổ đất liền của một quốc gia ven biển. Ngày nay thì tình hình đã thay đổi.


Hầu hết các vấn đề pháp lý liên quan đến việc sở hữu các tài nguyên ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài vùng lãnh hải đã nổi lên từ 1945 đến nay. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ra đời năm 1982 mà Việt Nam đã ký và quốc hội ta đã phê chuẩn ngày 23 tháng 6 năm 1994 quy định rằng tất cả các quốc gia ven biển có các đặc quyền trên một thềm lục địa rộng tối thiểu hai trăm hải lý (mỗi hải lý dài 1,61km) bất luận độ sâu hay địa chất của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển như thế nào. Như vậy trong vòng 200 hải lý (322km) quyền pháp lý đã trở thành nhu cầu mặc nhiên và không được vượt ra xa hơn. Ra khỏi ngoài vùng đó biển được coi là tài sản chung của nhân loại. Giữa hai nước có vùng biển chung, nếu trong quá khứ lịch sử chưa được phân chia rõ ràng thì có thể thỏa thuận thông qua đàm phán dựa trên công ước biển nói trên, trong đó giới hạn phân chia là đường trung tuyến nối các điểm cách đều từ hai bờ hoặc đảo thuộc lãnh thổ của hai quốc gia mà tôi đã có dịp nói qua trong các chương trước. Các khái niệm kiểu như vậy còn rất nhiều và rất rắc rối, tôi nghe ù cả tai. Tôi sẽ bổ sung sau vậy. Tôi chỉ kể sơ lược vài điều cho các bạn nghe mà thôi để các bạn có thể hiểu ít nhiều về việc phân chia ranh giới biển giữa nước ta và các nước xung quanh. Đây là một vấn đề vô cùng phức tạp, chưa chắc thế hệ chúng ta có thể giải quyết xong và còn tiềm ẩn biết bao nhiêu tai họa.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:36:37 am
Tàu về Đà Nẵng tránh bão. Huyền thoại về các con tàu không số. Những hải cảng miền Trung

Ngày thứ năm, trong lúc chúng tôi đang ăn cơm chiều thì nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo cơn bão số 5 đã vượt qua Philippines, đổ bộ vào biển Đông. Tiếng cô phát thanh viên trong trẻo, rõ ràng, nhưng vẫn không giấu được nỗi lo âu. Năm nay bão về sớm và cơn nào cũng mạnh. Đường đi phức tạp, đang hướng về phía tây bắc lại quay ngoắt về phía đông nam rồi lại đổi hướng trở lại, như hổ vờn mồi, đe dọa những người đánh cá gan góc, liều lĩnh bám biển. Tôi ước ao một ngày nào đó có thể phát minh ra một phương pháp có khả năng điều chỉnh đường đi của bão, cho nó loanh quanh ở những vùng không có các hoạt động kinh tế hoặc cho đổ bộ vào các vùng cằn cỗi, không có ngươi ở. Tại sao lại không được nhỉ? Có điều chắc chắn là cần rất nhiều năng lượng nên ý tưởng đó chưa có tính khả thi trong điều kiện hiện nay.


Tâm bão còn cách chúng tôi 150km nhưng nước đã cồn lên, tạo thành những lớp sóng nhỏ dồn dập và bầu trời cứ mỗi lúc một đục nhờ như sữa. Lũ chim biển hình như có giác quan cảm nhận bão nhanh hơn người nên đã quang quác gọi nhau bay về những nơi biển còn yên tĩnh. Sau một lúc hội ý và điện đàm với sở chỉ huy trên bờ, con tàu Bình Minh quyết định thu thiết bị, tạm ngừng khảo sát để vào bờ tránh bão. Tuy tôi đã ít nhiều quen với biển nhưng lần này thì cảm thấy nôn nao, cả vùng bụng như có ai bóp chặt, đẩy ngược tất cả những gì chứa đựng trong dạ dày lên cổ. Đầu choáng váng, tay chân bủn rủn, cứ tưởng như sắp gục ngã không thể nào đứng vững được. Ông tôi cho tôi nhấp mấy ngụm nước nóng, ngậm một lát mứt gừng và bảo tôi nhắm mắt lại, thở thật sâu. Tôi bỗng thấy tiếc nuối những giờ phút được sống trên đất liền, cơ thể sảng khoái, đi lại dễ dàng. Như nhận ra ý nghĩ ấy qua con mắt lờ đờ của tôi, ông vuốt ve mái tóc tôi và âu yếm nói với tôi rằng sự dấn thân, dù cho bất cứ công việc gì, từ những ham muốn đơn giản đến những lý tưởng cao siêu đều tự đặt mình vào những tình huống khắc nghiệt. Biển Đông đâu có phải lúc nào cũng hiền hòa, thơ mộng như mấy ngày qua. Sẽ có những ngày mưa như trút nước, gió rít rùng rợn, sóng cồn nổi lên như núi. Cháu nhìn xem, ngay trong lúc này, cơn bão lớn đang chuẩn bị đe dọa chúng ta. Nhưng các bác trong nhóm nghiên cứu khí tượng thủy văn lại đang bận rộn đưa máy móc ra để đo tốc độ gió, cường độ sóng. Và những con thuyền bé nhỏ, đơn sơ của dân đánh cá lại đang lợi dụng hướng gió, đè sóng để thoát khỏi vùng hiểm nguy. Với khối óc thông minh, con người trở nên mạnh mẽ khi qua tôi luyện trong những thử thách của cuộc đời. Đừng bi quan, ngã lòng khi chỉ mới nôn nao, say sóng. Mọi thứ rồi sẽ quen dần.


Đúng như ông tôi nói, tất cả những người làm việc trên tàu chẳng làm sao cả. Họ đi lại, cười nói, vận hành máy móc, tuy điều khiển con tàu có vất vả hơn, ít nhiều có vẻ không bình thường, nhưng đâu vào đấy. Và bản thân tôi đến sáng hôm sau, sau một giấc ngủ li bì, bồng bềnh như đưa võng tôi cũng tỉnh táo trở lại. Tôi còn trẻ, chắc đó cũng là một nhân tố quan trọng để gió bão, sóng triều phải nhường bước.


Sau sáu giờ tàu chạy liên tục, bờ biển miền Trung đã dần dần hiện ra trước mặt. Trước tiên là những vệt xanh thẫm của các đỉnh núi Phú Túc, Bà Nà thuộc dãy Trường Sơn là là ở sát chân trời. Sau đó núi cao dần lên, rồi các ngôi nhà cao tầng xuất hiện và cuối cùng là màu trắng của các bãi cát viền quanh bờ. Tôi nhớ lại bài giảng địa lý nói về chứng cứ của quả đất tròn mà ngươi xưa đã phát hiện cách đây nhiều thế kỷ. Người quan sát đứng trên bờ nhìn ra biển, trước tiên thấy cột buồm rồi tiếp sau là cánh buồm và sau cùng là con thuyền đang hướng vào bờ. Bây giơ tôi cũng đang chứng minh quả đất tròn theo một chu trình ngược lại và điều này làm tôi vô cùng hưng phấn.


Phía tay phải tôi xa xa về phía nam đã có thể nhìn thấy các đảo thuộc nhóm cù lao Chàm, đối diện với phố cổ Hội An. Trên trời có vô số những chấm đen, bay vun vút, tạo thành một quang cảnh đầy kỳ thú. Nhóm các chú nghiên cứu sinh vật biển nói đó là các đàn chim yến, một đặc sản của biển miền Trung. Có hai loại chim yến: chim yến hàng và chim yến đen. Cả hai đều có thuộc tính là dùng nước bọt làm tổ trong các hốc đá hiểm trở của các đảo hoang vắng, trong đó loài yến hàng cho tổ trắng hoặc hồng, cánh to, có giá trị nhất. Tổ yến là một loại thức ăn bổ dưỡng cao cấp, ngày xưa chỉ dành cho vua chúa, công hầu. Từ "yến" để chỉ tiệc vua ban có lẽ bắt nguồn từ món yến sào, sản phẩm của loài chim quý hiếm này.


Ở nước ta từ Quảng Bình đến Kiên Giang đều có loài chim yến sinh sông. Tổ yến được khai thác từ một đến ba lần trong một năm, sản lượng hiện nay đạt khoảng 4.000kg. Công nhân khai thác tổ yến là những con người rất thông minh và dũng cảm. Tới mùa thu hoạch, họ xa nhà hàng tháng, treo mình trên các chiếc thang tre mảnh mai để nhặt từng tổ yến, giữ gìn cho chúng nguyên vẹn, không bị vỡ nát. Có thế giá trị xuất khẩu mới cao. Người ta bảo trong các nhà hàng Tàu ở Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Bắc, Tokyo giá một cân yến sào bằng giá cả cân vàng, chẳng biết sự thật đến đâu, chắc chắn là rất đắt rồi.


Thiên nhiên quả là rất ưu ái đối với nước ta. Ngày nay các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm nuôi chim yến thành công. Người ta cho chim làm tổ trên tường nhà gồ ghề, xây dựng riêng cho mục đích nuôi chim yến công nghiệp. Trong tương lai khi nghề nuôi chim yến phát triển, sản lượng chắc chắn sẽ tăng vọt và biết đâu nước ta lại có thêm một loại hàng hóa đặc sản, mang thương hiệu Việt Nam, đứng đầu thế giới. Các bạn có tự hào về điều đó như chúng tôi không?


Cù lao Chàm còn là một địa điểm du lịch tuyệt vời nhưng hiện nay mới bắt đầu được chú ý. Khách có thể đi thuyền máy nhỏ từ Hội An ra, dạo chơi trên các bãi biển còn rất hoang sơ, nhặt các loại vò sò đầy màu sắc, tắm biển, hóng gió, câu cá và tối đến tổ chức đốt lửa trại liên hoan, ca hát, nhảy múa tới lúc nào chán thì thôi. Rồi trải chiếu trên cát mà nằm ngắm sao trời, thả tâm hồn bay bổng theo những ý thơ và ngủ như người dân đi biển chuyên nghiệp, hưởng cái thú vị của không khí mát lành cho tới sáng. Trên các đảo nhỏ nằm rải rác trên một diện tích rộng trong tương lai có thể sẽ xây dựng thành những điểm dịch vụ cho nghề cá, tổ chức các trạm nuôi hải sản giá trị cao hoặc đặt các trạm phát điện bằng gió, bằng năng lượng mặt trời để cung cấp cho nhu cầu tại chỗ mà không cần dùng đến các máy phát điện diesel như hiện nay. Bao nhiêu là tiềm năng kinh tế đang chờ khai thác.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:37:39 am
Các chú thủy thủ nói đường con tàu Bình Minh đang đi là con đường mà năm 1858 hạm đội liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo vào đánh phá Đà Nẵng với mục tiêu chiếm một vị trí đầu cầu để tấn công kinh đô Huế từ phía nam. Những loạt đại bác nổ vang rền, gieo đau thương chết chóc trên cửa biển xinh đẹp này, mở đầu một cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân phẩm, giành lại tự do cho dân tộc ta kéo dài mãi đến mùa xuân 1975 mới chấm dứt. Thống chế Lê Đình Lý, tướng Nguyễn Tri Phương đã cùng với nhân dân Quảng Nam chiến đấu kiên cường suốt hai năm trời mới buộc được chúng rút quân sau khi để lại những bãi tha ma, thánh giá nghiêng ngả với hàng trăm xác thủy quân Âu châu trên bán đảo Sơn Trà. Hai nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của ta trong trận chiến đấu không cân sức ấy mà người Quảng Nam gọi là các nghĩa trũng hiện vẫn còn lưu dấu tại Đà Nẵng, cách không xa thành Điện Hải cổ xưa.


Và cũng theo con đường này lúc 9 giờ sáng ngày 08-3-1965 đại đội đầu tiên của Lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đã đổ bộ lên bãi biển Phú Lộc, quận Liên Chiểu ngày nay. Từ đó Đà Nẵng trở thành một căn cứ lớn nhất của quân đội Mỹ, và chúng đã biến vùng nông thôn trù phú của hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi trở thành hoang mạc.


Nhưng người chiến thắng cuối cùng lại vẫn là nhân dân ta. "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo", những câu sang sảng trong Bình Ngô Đại cáo từ thời Lê lại một lần nữa vang lên, minh chứng cho chủ nghĩa anh hùng và lòng yêu tự do thiết tha trong truyền thống yêu nước của dân tộc ta trường tồn mãi mãi.


Nhưng đường vào Đà Nẵng không phải chỉ có bóng quân xâm lược. Cũng giống như các con đường biển khác kéo dài suốt từ Bắc chí Nam, đây còn là con đường của bao nhiêu tàu buôn các nước từ hàng nghìn năm lui tới giao lưu, đem hàng hóa nước ngoài tới Chămpa, Đại Việt, chở hàng hóa Việt Nam đến các dân tộc khác. Và cùng với hàng hóa là văn hóa được giao thoa, là tình hữu nghị được thiết lập, tạo ra sự liên kết, hỗ trợ bền vững giữa các quốc gia, và chúng ta đang tiếp tục sự nghiệp đó hiện nay. Như vậy, giá trị của biển không phải chỉ có tài nguyên mà còn là những con đường hàng hải thuận lợi, là giao thông vận tải biển, là phương tiện để đất nước ta trở thành một trong những con rồng ở Thái Bình Dương nếu chúng ta biết khai thác, sử dụng biển một cách hợp lý.


Tối hôm ấy cơn bão số năm đã đuổi kịp chúng tôi. Sóng dâng trắng xóa bờ bãi. Cây cối, nhà cửa oằn mình trong từng cơn gió giật. Thiên nhiên thật là kỳ bí, khi thì như thiên thần, khi thì hơn cả quỷ dữ.

Chúng tôi tạm trú tại khách sạn Hàn Giang trông ra con sông đưa nước từ Trường Sơn đổ vào biển Đông, ở đây tôi gặp một người quản lý nước da ngăm đen, nhanh nhẹn, đã một thời là người anh hùng trên biển. Các xoáy nước vần vũ ngoài cửa sổ, các đám mây đen hối hả kéo đi dày đặc trên bầu trời. Tất cả những cảnh tượng này gợi nhớ những kỷ niệm của bốn mươi năm trước. Với giọng trầm trầm của người đi biển, bác giám đốc khách sạn trước kia là một trong những người chỉ huy tàu 99 huyền thoại kể cho chúng tôi nghe một trong những kỳ tích của con đường Hồ Chí Minh trên biển ngày xưa.


Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, những ngày bão lớn được xem là một cơ hội chứ đâu có phải chỉ là hiểm nguy. Trong lúc tàu chiến của giặc lo đi tránh bão thì những con tàu không số của ta lại ra khơi, chở súng đạn, thuốc men, và cán bộ vào chiến trường. Rất nhiều con tàu đã lập những chiến công lớn, nhiều anh hùng được tuyên dương công trạng, nhưng cũng không ít những con tàu cùng những chiến sĩ kiên cường của nó đã nằm lại ở biển Đông.


Con tàu mang ký hiệu 99 đã nhiều lần xuất phát từ Hải Phòng đi các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nam bộ thành công, là một trong những con tàu anh hùng đó. Chuyến đi vào Phú Yên đầu tiên ghi sâu, không bao giờ phai trong những kỷ niệm của các chiến sĩ. Đó là một chiều giá buốt cuối năm 1965, ở Đồ Sơn, nơi đặt sở chỉ huy của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Quanh chiếc bàn rộng trên trải một tấm bản đồ với chi chít những mũi tên xanh, đỏ, những con tàu tí xíu gấp bằng giấy, những lá cờ Mỹ và những chấm đỏ xen kẽ nhau, mô tả tình hình chiến sự biển Đông, bác gặp tư lệnh quân chủng, Đô đốc Nguyễn Bá Phát để nhận nhiệm vụ.


Bác Phát là người quê ở ngoại ở Đà Nẵng, mảnh đất mà bây giờ chúng tôi đang đứng. Tàu 99 lần này sẽ chở vũ khí vào Vũng Rô, nằm kề sát đường sắt và Quốc lộ 1, nơi địch đóng dày đặc nên chúng rất chủ quan, cho rằng quân cách mạng có gan cóc tía cũng không dám đặt chân đến đó. Các chiến sĩ trên tàu 99 gồm những người rất dày dạn sóng gió, đặc biệt có nhiều chiến sĩ giải phóng quân quê gốc Bình Định, Phú Yên vừa mới vượt Trường Sơn đi bộ ra Bắc nhận hàng. Tư lệnh bắt tay từng người, chào tạm biệt, chúc con tàu lập công xuất sắc.


Tàu rời Bãi Cháy giữa mùa gió chướng, biết đâu cũng đã đi đúng con đường mà tàu Bình Minh đã đi qua. Trong đêm tàu rẽ sóng chạy vòng ra vùng biển quốc tế rồi hướng về phía nam. Ngày tiếp nối đêm, xung quanh chỉ toàn là trời nước mênh mông. Gió tăng dần lên cấp bảy, cấp tám, sóng dâng cao, con tàu trở nên mong manh như chiếc lá. Trong đoàn có vài người không được khỏe, nôn mửa hết mật xanh đến mật vàng nhưng không ai rời vị trí của mình.


Khi vượt qua vĩ tuyến 17* (Giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam Bắc theo Hiệp định Genève - ND), tàu 99 bắt gặp các tàu đánh cá của ngư dân miền Trung. Mạn đầu tàu nào cũng vẽ hai con mắt thật to như để dẫn đường. Tàu 99 đổi biển số, hòa vào với họ, chạy trong vùng biển luôn luôn bị các hải thuyền của ngụy quân kiểm soát. Những người lính ngụy này phần lớn là lính quân dịch nên chỉ cần một ít quà như thuốc lá, đồ nhậu là họ cho qua. Hơn nữa cũng chẳng nghĩ có thể có tàu của quân cách mạng hoạt động ở vùng này.


Đến ngày thứ ba thì tàu vào địa phận Đà Nẵng và nhận được điện báo tin có một phái đoàn quân sự Mỹ đang đi thị sát cụm rađa cù lao Ré với nhiều tàu chiến đi tuần tra, bảo vệ vòng trong, vòng ngoài. Khoảng năm giờ sáng, bình minh vừa hé rạng đã thấy một máy bay từ phía đất liền bay lại, lượn vòng trên tàu 99 rất lâu rồi bay đi. Tiếp ngay đó đồng chí trực trên đài quan sát phát hiện hai chấm đen đang hướng tới con tàu của chúng ta. Đó là hai tàu chiến địch. Rõ ràng là Mỹ đã nhận ra con tàu 99, một con tàu đáng nghi vấn. Tàu 99 nhanh chóng thay số hiệu, dùng lưới đánh cá phơi ngụy trang đồng thời chuẩn bị vũ khí sẵn sàng chiến đấu. Hai tàu địch lố nhố đầy sỹ quan, cười nói oang oang, chạy song song kẹp tàu 99 vào giữa, dùng ống nhòm quan sát tàu ta để kiểm tra. Giờ phút đấu trí cực kỳ căng thẳng. Tàu 99 vẫn chạy ung dung. Các chiên sĩ ta ai vào việc nấy, vui vẻ mỉm cười, thỉnh thoảng lại đưa tay vẫy chào tàu địch để xua tan sự nghi ngờ của chúng. Vì quá chủ quan và bất ngờ nên sau hai giờ hù dọa theo kiểu rất anh chị, có lẽ chúng cho rằng tàu 99 là tàu đánh cá thực sự, tiếng nói của thủy thủ lại rặt giọng địa phương nên chúng kéo còi tăng tốc, quay về hướng khác.


Tàu 99 lại tiếp tục hành trình và chiều hôm sau thì đổi hướng, quay mũi vào bờ. Những đỉnh núi xanh của Trường Sơn thân thương đã lờ mờ hiện ra ở phía tây. Vài chiếc máy bay tuần tra của địch bay qua bay lại như đang đi dạo, ngắm cảnh nắng chiều trên vịnh. Trời tối dần. Ta dùng đèn pin tìm liên lạc trên bờ theo ám hiệu đã hẹn trước nhưng tuyệt nhiên không lời đáp. Chắc là có vấn đề gì đó đã xảy ra vì tàu vào bị trễ hẹn bốn ngày. Đành phải cho tầu chạy trở ra hải phận quốc tế cho an toàn và liên lạc trở lại. Lúc đi ra không gặp trở ngại gì nhưng ngày hôm sau khi đi vào lại gặp một khu trục hạm nhỏ của quân Mỹ trên đường ra Hạm đội 7. Vì tàu 99 hơi lớn so với các tàu đánh cá gần bờ khác nên không lọt qua được con mắt cú vọ của chúng. Trong trường hợp này thì phải chiến đấu thôi. Khu trục hạm chạy theo một đoạn, vòng lên phía đầu rồi áp sát vào gần mạn tàu 99. Hai tên sỹ quan ra lệnh thả cầu để sang kiểm tra trực tiếp. Đúng lúc ấy một loạt đạn B40 nổ xé trời, lao thẳng vào đúng phần giữa buồng lái và máy nổ của khu trục hạm. Chỉ trong mười phút khu trục hạm chìm nghỉm, địch không kịp phản ứng một tí gì thì đã bị tiêu diệt gọn.


Tàu ta đi ra hay tiếp tục đi vào? Quay ra thì an toàn hơn nhưng có thể bị Hạm đội 7 đón bắt dễ dàng, hơn nữa lại lỡ hẹn với bộ phận quân giải phóng trên đất liền. Tiếp tục đi vào thì nhiều rủi ro nhưng lại là điều mà quân địch không ngờ tới vì chúng không nghĩ được đối phương lại liều lĩnh đến như vậy. Hơn nữa địch cũng không hiểu mục đích của tàu ta là gì. Sau khi cân nhắc kỹ, tàu 99 chọn phương án hai, chuyển hướng chạy về phía Cam Ranh, căn cứ hải quân lớn nhất của Mỹ để tạo thêm tính bất ngờ hơn nữa rồi sau đó quay lại Vũng Rô khi trời bắt đầu tối. Trong lúc đó toàn bộ lực lượng hùng hậu của địch lại được huy động tỏa ra khơi truy lùng tàu 99. Hôm sau Đài tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin một tàu lạ xâm phạm hải phận miền Trung đã bị khu trục hạm Mỹ bắn chìm trong khi giao chiến.


Ra đến hải phận Phú Yên tàu 99 bình tĩnh, khôn khéo chạy từ từ vào giữa vịnh rồi tắt máy, thả trôi để không gây tiếng động. Một chiếc thuyền nhỏ được thả xuống, chèo vào bờ, tìm bến. Thời gian bò đi chậm chạp theo từng tiếng tích tắc của cây kim giây của chiếc đồng hồ trong buồng lái. Rồi niềm vui ập đến đột ngột. Đã có tín hiệu ánh sáng từ phía bờ. Tiếp sau là một chiếc thuyền nan cập mạn tàu. Các chiến sĩ ôm nhau nghẹn ngào, xúc động. Mệnh lệnh cấp trên - bốc dỡ 80 tấn vũ khí trong ba giờ để tàu rời Vũng Rô ngay trong đêm - là điều không thể thực hiện được. Lại phải xin chỉ thị cấp trên. Cuối cùng được lệnh cho phép tàu ở lại, ngụy trang giấu kín, bốc hàng xong tối mai trở ra. Lại thêm một ngày đấu trí với địch, giữ tàu an toàn, thần kinh căng thẳng như chuẩn bị đứt tung bất cứ lúc nào.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 16 Tháng Năm, 2022, 06:38:32 am
Hôm sau khi mặt trời chìm sau Đèo Cả, những ánh sáng cuối cùng đã tắt trên nền trời xa, tàu được dỡ bỏ ngụy trang, cập bến. Xa xa những ánh đèn pha của các đồn bót địch vẫn đều đặn quét đi quét lại giữa màn đêm. Hàng trăm dân công và chiến sỹ giải phóng quân hồ hởi, hối hả lên tàu đưa hàng lên bờ. Niềm vui không tả xiết qua giọng thì thầm đặc âm sắc Phú Yên. Thế là cả một bộ máy kìm kẹp của chính quyền ngụy, của quân đoàn lính Nam Hàn, cả hạm đội Mỹ với máy bay, đại bác, tàu chiến canh gác nghiêm mật vẫn không hay biết gì về hoạt động của tàu 99. Hai giờ sáng tàu bốc hàng xong. Các thủy thủ chia tay đồng bào, đồng chí trong niềm quyến luyến, nghẹn ngào. Tàu 99 lại rẽ sóng ra khơi, trở về miền Bắc để rồi lại tiếp tục nhận các nhiệm vụ nặng nề, vinh quang khác mà không phải lúc nào cũng thắng lợi như lần này.


Bác nhấp một ngụm nước, nhìn chúng tôi một lượt rồi nói tiếp: "Các câu chuyện về biển Đông đâu có phải chỉ có sóng gió bão bùng, tài nguyên giàu có, cảnh trí thơ mộng mà còn bao nhiêu là sự tích anh hùng, là hy sinh, gian khổ của bao thế hệ người Việt để bảo vệ nó, với tư cách là người chủ chân chính, hợp pháp của vùng biển này. Hiện nay chúng ta chưa sung sướng như nhân dân nhiều nước khác nhưng chúng ta đang hạnh phúc vì đã có một Tổ quốc thống nhất, độc lập, không còn là một dân tộc nô lệ đến mức tên nước cũng bị xóa sổ trên bản đồ thế giới như trước 1945. Cơn bão lớn đã đi qua, chân trời tương lai của nước mình đã rộng mở nhưng vẫn còn bao nhiêu thách thức do chính sự ấu trĩ, sự bảo thủ, giáo điều, nóng vội, tả khuynh, hữu khuynh của chính mình gây ra. Tham vọng của kẻ thù bên ngoài vẫn chưa chấm dứt. Thế hệ của các cháu sẽ vượt qua các thách thức đó một cách kiêu hãnh như lớp người đi trước".


Bác giám đốc ngừng lời. Một không khí vừa trang nghiêm vừa xúc động tràn ngập cả căn phòng và tôi càng thấy yêu biển, yêu tổ quốc biết bao.

Trong những ngày tàu Bình Minh dừng ở Đà Nẵng chúng tôi rất may mắn được gặp tiến sĩ Trương Đình Hiển, người đã cùng các cộng sự của mình có công phát hiện những cảng nước sâu ở miền Trung, đưa nó vào dây chuyền của guồng máy kinh tế thống nhất chung cả nước. Kết hợp công tác, bác Hiển đưa chúng tôi đi tham quan một số cảng đã và đang được xây dựng ở vùng này. Từ Thừa Thiên đến Bình Định có đến 12 cửa biển và vũng vịnh có thể xây dựng thành cảng lớn: Chân Mây, Đà Nẵng, Kỳ Hà, Dung Quất, Sa Kỳ, Cửa Đại, Trà Cầu, Sa Huỳnh, Tam Quan, An Dũ, Đề Gi, Nhơn Hội, Quy Nhơn. Trên thế giới này rất ít quốc gia có được một ưu thế tương tự. Hệ thống cảng biển của ta từ Móng Cái đến Hà Tiên và các khu kinh tế duyên hải trong các năm gần đây đã được chính phủ ta đặc biệt chú ý nhằm tạo ra thế chiến lược cho phát triển kinh tế - xã hội trong thế kỷ 21. Cùng với hệ thống đó, các cảng miền Trung trở thành một điểm nối của con đường thịnh vượng đang được mở ra cho cả tiểu vùng Mê Kông, bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Nam Trung Quốc và nối cả khu vực này với năm châu, bốn biển.


Xe đưa chúng tôi vượt đèo Hải Vân qua đường hầm dài rất hiện đại vừa mới xây dựng xong cách đây mấy năm một cách nhanh chóng. Cũng tiếc là không được đi theo con đường cũ để được ngắm "Thiên hạ đệ nhất hùng quan", một cửa ải cổ xây dựng trên đường phân chia ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam và xem cầu Rôgiê, nai bộ đội Liên khu năm trong kháng chiến chống Pháp đã hất đổ nhiều đoàn tàu quân sự địch xuống biển. Toàn cảnh mây trắng, núi xanh, biển biếc kết nối với nhau thành một quang cảnh hài hòa, đã làm rung động bao nhiêu tâm hồn các thế hệ văn nhân trong quá khứ khi họ có dịp bước đến chốn này.


Vịnh Chân Mây nằm ở đông nam tỉnh Thừa Thiên, có độ sâu nước biển tự nhiên từ 10 đến 14m, rộng 6km2 và không bị sa bồi vì nằm xa các cửa sông. Mặt vịnh được che chắn các hướng gió đông bắc - tây nam, giúp cho tàu lớn đến 80.000 tấn có thể vào ra an toàn. Cảng biển dài khoảng 14km, công suất 70 triệu tấn/năm, mặt bằng kho bãi rộng trên 70km2. Cảng nằm cạnh đường sắt, đường xa lộ Bắc-Nam, đường tải điện xuyên Việt 500 KV, hệ thống cáp quang quốc tế, thông với các nước phía tây qua đường 9, lại cách không xa thành phố Huế, sân bay Phú Bài, cảng Cửa Việt, cảng nước sâu Hòn La (Quảng Bình) ở phía bắc, thành phố và sân bay quốc tế Đà Nẵng ở phía nam. Do đó, nó là một cảng nước sâu rất lý tưởng để giúp cho vùng Bắc Trung Bộ nghèo nàn cất cánh. Một khu kinh tế - thương mại có dáng vóc hiện đại đang hình thành, nối với hai khu du lịch Bạch Mã, Lăng Cô, làm cho du khách từ phía bắc tới, trước khi lên đèo Hải Vân, không còn có cảm giác đi vào một vùng hoang vắng.


Quay trở vào phía nam, chúng tôi ghé thăm khu công nghiệp Dung Quất và cảng nước sâu ở đây, nơi đang xây dựng cơ sở vật chất của một khu vực hiện đại của thế kỷ 21 trên một diện tích rộng hàng chục km2, cảng Dung Quất có độ sâu tự nhiên 10-20 mét nước, diện tích mặt nước rộng được các nhánh núi vươn ra biển như những bàn tay che chắn gió từ hai hướng đông bắc - đông nam. Tàu có trọng tải đến 200 nghìn tấn có thể vào đây dễ dàng, neo đậu quanh năm. Công suât của cảng có thể đạt đến 100 triệu tấn/năm. Cảng được nối với một hệ thống đường sắt, đường bộ, đường hàng không tỏa khắp cả nước, nối với Lào, Campuchia, Thái Lan ở phía tây và hệ thống đường hàng hải quốc tế ở phía đông.


Trước đây không lâu đây là vùng không mấy ai biết đến, rất nghèo nàn, cằn cỗi. Dân địa phương gọi vùng này là "dũng quít" (Vũng Quít). Khi người Mỹ đến, vì không quen với lối phát âm của người Quảng Ngãi nên từ vũng Quít nghe ra thành Dung Quất. Họ ghi vào bản đồ, thế là trở thành tên dùng hiện nay mặc dù nó không mang một ý nghĩa gì cả.


Cảng Dung Quất cùng với những cảng lớn hiện có cũng như hàng chục thành phố, bãi tắm, nhà nghỉ sẽ là những hạt ngọc minh châu tỏa sáng cả một vùng biển đã từng là cửa ngõ của một nền văn minh Chămpa nổi tiếng. Chỉ trong vòng 10 đến 20 năm nữa, các sản phẩm công nghiệp lọc hóa dầu, vật liệu xây dựng, điện, điện tử, đóng tàu, cơ khí, chế biến nông lâm hải sản, công nghiệp kỹ thuật cao, hàng may mặc, da giày và các hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, các khu nghiên cứu thực nghiệm sinh học, hải dương học và các khoa học khác, các khu trung tâm thương mại - tài chính, các trường dạy nghề, đại học và các khu du lịch, thể dục thể thao sẽ biến đổi hoàn toàn bộ mặt miền Trung. Tôi thích nhất là công nghiệp đóng tàu biển. Cách đây 20 năm nước ta chỉ mới đóng được canô chạy sông, thế mà đến nay Việt Nam đã có thể đóng tàu hàng trăm nghìn tấn, bán cho Anh, Nhật và nhiều nước khác. Thật là một bước nhảy vọt không ngờ.


Phía nam Dung Quất, thành phố Vạn Tường đang ra đời làm cho vùng đất sỏi đá trơ trọi, trước đây 10 năm chỉ thấy dứa dại, xương rồng, các loại cây gai còi cọc này trở thành một đại công trường tầm cỡ lớn nhất đất nước. Chỉ trong 5 năm nữa ai đến Vạn Tường thăm lại chiến trường xưạ, đến Sơn Mỹ gặp hậu duệ của các nạn nhân của quẤn Đội Mỹ, Hàn Quốc, hoặc tìm lại các lối đi mà chị Thùy Trâm, người bác sĩ anh hùng nổi tiếng thế giới đã đặt chân, chắc chắn sẽ thấy một vùng đất hoàn toàn hiện đại, kéo dài suốt từ Chu Lai ở Quảng Nam đến bãi biển Sa Huỳnh ở Nam Quảng Ngãi.


Xe tiếp tục đưa chúng tôi vào đất dừa Bình Định. Thành Đồ Bàn, nay đã thành phế địa, chỉ còn lưu lại ngọn tháp Cánh Tiên thanh tú. Đường quốc lộ tách ra một nhánh chạy về hướng đông đến đầm Thị Nại và thành phố Quy Nhơn. Cách đây hơn 50 năm ông tôi đã viết về thành phố này với một tâm trạng nhớ nhung day dứt khi tập kết ra Bắc:

   ... Ta nhớ làm sao bãi Quy Nhơn
   Dừa thẹn thùng soi bóng chập chờn
   Đảo vắng bềnh bồng nơi xa thẳm
   Trên bờ tháp cổ đứng cô đơn...
   Bây giờ tôi mới có dịp đến chiêm ngưỡng cảnh này.


Đầm Thị Nại thuộc Nhơn Hội là khu vực hoàn toàn kín gió. Nếu xây dựng một kè chắn cát thì có thể nạo vét đáy vịnh cho tàu có trọng tải đến 50.000 tấn vào ra, tạo thành một cảng biển sâu có công suất qua cảng 50 triệu tấn/ năm. Cảng Nhơn Hội nối với Tây Nguyên, Campuchia qua đường 19, nối với Lào, Thái Lan qua đường 14. Cùng với khu kinh tế Nhơn Hội với mặt bằng 12.000ha có độ cao từ 10 - 12m không bị lũ lụt đe dọa, vùng này sẽ là một khu công nghiệp - thương mại quốc tế và du lịch, dịch vụ lớn. Sự ra đời của hệ thống cảng nước sâu từ Thừa Thiên đến cực nam Trung Bộ sẽ tạo nên một bước ngoặt lịch sử để đưa miền Trung phát triển kịp với các tỉnh khác ở hai đầu đất nước, xóa bỏ sự mất cân bằng kinh tế giữa các địa phương, tạo điều kiện để các vùng phối hợp, liên kết với nhau, sử dụng thế mạnh của nhau, đưa cả nước tiến nhanh tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hòa nhập vào thị trường thế giới.


Trên đường xe quay về Đà Nẵng cả đoàn tham quan cùng cất tiếng hát giữa tiếng vỗ tay nhịp nhàng và nụ cười rạng rỡ: "Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say...". Tiếng hát bay qua các làng xóm còn nghềo, các đụn cát còn vắng màu xanh, mở ra trước mắt tôi một tương lai tràn đầy hy vọng.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:42:33 am
Tàu lại ra khơi, hướng tới Trường Sa

Sau năm ngày thần bão tố ra oai trên biển, nhận chìm một số tàu đánh cá, cướp đi sinh mạng của khoảng 50 ngư dân, cơn bão số năm đổ bộ vào Quảng Bình. Hàng loạt đê biển kéo dài từ chân đèo Hải Vân đến Hà Tĩnh bị phá hủy, đất trên bờ bị xói lở, kéo theo nhà cửa, cây cối, mồ mả xuống biển. Các đầm nuôi tôm của nhân dân bị nước mặn tràn vào làm cho độ mặn của nước tăng đột ngột và tôm cá chết hàng loạt. Bão còn gây ra mưa lớn trên đầu nguồn, nước lũ tràn về nhận chìm tất cả làng xóm, ruộng đồng, cướp đi mọi nguồn sống của con người trên đường nó đi qua. Tôi cũng đã nhiều lần tham gia quyên góp giúp đỡ nhân dân vùng bị lũ lụt nhưng chưa bao giờ tôi hình dung được hết những thảm họa mà thiên nhiên hàng năm đưa lại cho dải đất miền Trung vô cùng đẹp đẽ nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt này. Gian truân rền đúc con người, câu nói tôi học trong bài giảng văn từ hồi lớp 6 thật là đúng và tôi bây giờ cũng hiểu được một phần vì sao người miền Trung lại cần cù, anh dũng, thông minh, kiên cường trước mọi thử thách.


Chị Minh Hải, cô Thu làm việc trong nhóm nghiên cứu thiên tai và các tai biến địa chất ngày đêm cặm cụi thống kê từng chi tiết nhỏ những diễn biến của các cơn bão, các vụ lở đất, những tàn phá do chúng đưa lại, phân tích tìm ra các quy luật, xây dựng các mô hình dự báo cung cấp cho Nhà nước và toàn xã hội. Lần đầu tiên tôi biết tới một ngành khoa học mang đậm tính nhân văn và có giá trị lớn lao. Các nhà khoa học này làm việc lặng lẽ, xã hội ít người biết đến, nhà nước cũng ít khi chú ý động viên, khen thưởng họ. Họ chỉ sống bằng đồng lương ít ỏi, cuộc sống chật vật gieo neo nhưng lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm đã giúp họ tìm thấy sự say mê, sáng tạo. Trên đất nước ta có biết bao nhiêu con người sống thầm lặng, làm việc hết mình trong những lĩnh vực vô danh để phục vụ nhân dân mà không kêu ca, đòi hỏi, thật đáng kính trọng. Tôi học thêm được một bài học làm người.


Tàu Bình Minh lại ra khơi. Bác Khoản, bác Ái, bác Hiệp tiến hành đo từ trường và trường trọng lực trên tuyến khảo sát mới nối từ Đà Nẵng ra Trường Sa. Hai trường vật lý này của vỏ quả đất đều chứa hai thành phần chính gọi là trường bình thường và trường dị thường sau khi đã loại bỏ các nhiễu. Trường bình thường là trường lý thuyết dựa trên giả thiết quả đất là một môi trường đồng nhất, đẳng hướng, nó có thể được tính theo các công thức toán học tương ứng với các điều kiện cho trước. Thế nhưng trong thực tế thì lòng đất lại chứa các lớp đất có tính chất vật lý khác nhau, vật chất cấu thành mỗi lớp có mật độ cũng như chứa một lượng hạt sắt có từ tính không như nhau, hình dạng lớp đất cũng chỗ cao, chỗ thấp, chỗ dày, chỗ mỏng. Sự sai khác này tạo ra một trường không giống với lý thuyết nên phần trường này gọi là trường dị thường. Từ trường cũng như trường trọng lực của quả đất chính là tổng của trường bình thường và trường dị thường. Công việc của các bác là đo các trường thật của khu vực nghiên cứu rồi tách phần dị thường ra, từ đó suy đoán độ sâu cũng như các thuộc tính khác của lớp đất hay vật thể địa chất nói chung đã tạo ra trường dị thường đó. Tôi đã hiểu ra rồi. Đó là cách gián tiếp nghiên cứu các lớp đất đá dưới sâu mà ta quan tâm.


Bác mở máy tính và gõ vào bàn phím một số lệnh. Những số liệu được máy tính xử lý cho hiện lên trên màn hình dưới dạng những biểu đồ, bản đồ, đưa lại những thông tin bổ ích bổ sung cho các kết quả khảo sát địa chấn, giúp cho các nhà khoa học hiểu tốt hơn cấu trúc lòng đất.


Sau khi nạp các dữ liệu riêng rẽ của từng loại tham số vật lý đo được vào máy xử lý chuyên dụng và khởi động một phần mềm đặc biệt, trước mắt chúng tôi hiện ra những tấm ảnh màu như đã có một nhà nhiếp ảnh vô hình chụp các lớp đá từ đáy biển tới độ sâu năm, sáu cây số dọc theo tuyến đường con tàu Bình Minh đi qua. Khoa học kỹ thuật hiện đại thật là kỳ diệu. Trên tấm ảnh này tôi thấy được các tầng thềm nghiêng thoai thoải từ bờ kéo dài về phía đông rồi đột ngột bị đứt đoạn như bị một nhát kiếm siêu hình chém đứt. Các bác gọi đó là những đứt gãy sâu và nó giống như một kẽ nứt khổng lồ. Theo đứt gãy này nếu có dầu mỏ, khí đốt hình thành ở dưới sâu thì chúng sẽ chảy ngược lên các lớp đá bên trên có độ xốp tốt hơn theo nguyên tắc thẩm thấu và mao dẫn, rồi tích tụ lại thành mỏ. Nhưng cũng có thể các loại khí độc hại khác cũng lên theo, làm các mỏ mất giá trị.


Tôi cứ tưởng các lớp đá chìm dần liên tục về phía đông nhưng không phải như vậy. Sau đứt gãy vừa nói trên là một đới nâng giống như một dãy núi ngầm, kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam và các bác đặt tên cho nó là đới nâng Tri Tôn. Trên dãy này các lớp đá trầm tích hình thành cách đây vài chục triệu năm lại trầm đọng tiếp. Vượt qua đới nâng này lại gặp một loạt đứt gãy sâu khác, làm cho các lớp đất đá sụt xuống rất nhanh để chuyển ra thành vùng trũng sâu mà ngày nay dù đã được trầm tích lấp đi rất nhiều, mực nước ở đây vẫn sâu trên vài nghìn mét, kéo dài sang tận phía bờ Tây Philippines. Vùng này là một ngư trường rất rộng, nơi đánh bắt cá của những tàu lớn, làm việc dài ngày, không những của Việt Nam mà còn của nhiều nước khác trong khu vực.


Trên tàu Bình Minh, ở khoang gần phía đầu mũi có đặt các máy dò tìm các đàn cá bằng sóng siêu âm. Các chú kỹ sư thủy sản làm việc trong bộ phận này còn rất trẻ, mặc những bộ áo liền quần màu vàng, giống như trang phục của thợ lặn. Trên tường dán rất nhiều ảnh của các loài cá khác nhau. Các chú trên tàu bắt cá như một trò chơi làm tôi hết sức thích thú. Họ buộc hai sợi cước dài khoảng năm mươi mét vào đuôi tàu, đầu mút có buộc lưỡi câu và một nhúm lông gà trắng. Tàu chạy, lông gà nhảy lên nhảy xuống, cá thu tưởng mồi, nhảy lên đớp và cứ như vậy có ngày bắt được cả chục con, dài đến cả mét, vừa để nghiên cứu sinh học, vừa để bổ sung chất tươi và dự trữ thực phẩm cho đoàn. Có lúc tàu chạy qua những vùng đầy rong biển, nơi kiếm ăn của loài cá chuồn, chúng thấy động bay vút lên, rơi xuống sàn tàu, giãy đành đạch. Cá chuồn có hai vi rất dài, nên khi phóng lên khỏi mặt nước với một tốc độ rất cao, chúng có thể bay xa hàng vài chục mét. Thịt cá chuồn rất ngon, nấu với mít non trở thành món đặc sản. Chẳng thế mà ở Quảng Nam có câu hát dân gian "Ai về nhắn với họ nguồn, mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên".


Biển Đông có hàng nghìn loài cá. Chị Diễm Quỳnh là sinh viên ngành hải sản nhiều lần say sưa kể cho tôi nghe về các loài cá biển, giúp tôi hình dung biển Đông là một kho báu, chứa đựng bao nhiêu giá trị. Các ám tiêu san hô và các đàn cá lớn nhỏ, màu sắc sặc sỡ là một kho gien rất quý, đầy hấp dẫn để các nhà khoa học nghiên cứu, khám phá. Cá cơm trắng muốt, con lớn nhất cũng chỉ bằng ngón tay út bơi thành đàn hàng vạn con, khi cuộn tròn thành một quả bóng khổng lồ, khi kéo dài, bẹt ra như một chiếc đĩa bay, nhào lộn liên tục trong làn nước xanh lục như các nghệ sĩ. Cá cơm, cá trích, cá chim, cá thu là nguyên liệu làm các loại nước mắm nổi tiếng như nước mắm Vạn Vân, Nam Ô, Phan Thiết, Phú Quốc. Cá đuối hình như chiếc diều, da lưng màu xám nhưng da bụng lại trắng toát, khi di chuyển uốn lượn như chim vỗ cánh. Điều đặc biệt là trong cái đuôi dài, nhỏ nhắn mỗi khi vung lên như một ngọn roi thì sinh vật nào bị đánh cũng sợ hết hồn vì dòng điện cực mạnh phát ra chẳng biết theo cơ chế nào. Nếu cá đuối hình dáng gần như một hình thoi cân đối thì thân cá hố lại bẹt và dài ngoẵng đến vài mét, da phủ một lớp nhũ trắng như bạc. Mùa xuân, ngày nào nhiều sương mù thì chợ miền Trung đầy loại cá này. Hấp dẫn nhất đối với tôi là các chú cá heo, đầu láng như bôi dầu. Đứng trên boong thỉnh thoảng tôi cũng thấy vài đàn cá heo đùa nghịch, đuổi theo phía đuôi tàu, khi lặn xuống, khi nổi lên, nhanh nhẹn như những diễn viên xiếc. Một hiện tượng kỳ lạ nhất mà tôi được thấy là có những chú cá trích nửa thân trắng bóng khi gặp đàn cá heo đến gần thì hốt hoảng nhảy lên khỏi mặt nước loạn xạ, nhiều con chui thẳng vào mồm cá heo mở rộng đến mức có thể nhìn thấy màu hồng trên vòm lợi. Chú cá heo gặp may, sau khi nuốt con mồi tươi rói như từ trên trời rơi xuống một cách ngẫu nhiên lại ngẩng đầu lên cao, há mồm chờ đến lượt chú cá trích khác. Không biết ai đã dạy loài cá này có cách săn mồi nghệ sĩ đến vậy.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:43:10 am
Các chú nói vùng này cũng có nhiều cá mập, loài cá hung dữ nhất đại dương. Loài cá này có con dài đến hàng chục mét, nặng vài tạ, răng sắc nhọn như dao kiếm. Tất cả các tầng nước đều thuộc vương quốc của chúng. Tốc độ bơi rất nhanh nên khi con mồi bị đuổi thì gần như không thể nào chạy thoát. Nhưng không phải loài cá nào cũng sợ nó đâu. Ngược lại có những loại lại sống thân thiện với chúng nữa là khác. Các chú cá nhỏ này bơi theo hàng đàn rất nhanh nhẹn, thu nhặt những vụn thịt rơi ra từ mồm cá mập, thỉnh thoảng lại còn xỉa răng cho chúng như được thiên nhiên phân công làm việc này vậy.


Loài cá to nhất ở biển Đông phải kể đến là cá voi. Đó là loài động vật có vú, đẻ con và nuôi con bằng sữa mẹ. Loài này theo các nhà khoa học thì xưa kia sống trên cạn, sau đó mới chuyển xuống sống ở môi trường nước. Nhưng tôi lại nghĩ tại sao không đặt giả thiết ngược lại rằng những loài động vật có vú trước kia cũng sống trong môi trường biển, thở cả bằng mang và bằng phổi, sau đó chuyển lên sống trên cạn. Riêng cá voi, cá heo, bò biển vẫn tiếp tục sống dưới nước như tổ tiên của chúng? Cá voi nặng hàng tấn, chỉ ăn cá con và sinh vật phù du, rất thân thiện với con người. Dân đánh cá kể rằng khi thuyền bị đắm, cá voi bơi đến kê lưng đỡ thuyền để cứu người khỏi chết đuối và đưa họ vào bờ. Vì vậy người dân sống ở ven biển kiêng gọi tên cá voi mà gọi là cá ông và không bao giờ đánh bắt. Khi cá voi chết, giạt vào bờ, mọi người vớt lên, tổ chức lễ tang rất trọng thể, xương cá được gom lại đưa vào thờ trong các đền. Phong tục này cũng nói lên người Việt ta sống rất có đạo đức, ai giúp được việc gì đều biết ơn một cách chân thành. Hàng năm vào mùa xuân các làng chài đều cúng tế cá ông, múa "bá trạo" diễn tả các động tác chèo thuyền, đánh bắt cá rất vui vẻ.


Cá voi tuy rất lớn nhưng bơi rất nhanh vì có thân hình thuôn, giống như một giọt nước dài, một mẫu hình gặp ít trở lực nhất khi bơi trong nước so với các mẫu hình khác. Tàu ngầm hạt nhân kiểu mới nhất được chế tạo theo hình mẫu và tỷ lệ thân cá voi, tốc độ nhanh hơn 20-25% so với tàu ngầm cũ. Người ta còn phát hiện cá voi bơi nhanh vì nhờ một chất dịch nhầy trên da. Khi bơi nhờ tác dụng trơn của dịch này mà giảm bớt lực cản do ma sát với nước. Các nhà khoa học sản xuất ra loại dầu nhơn mô phỏng theo loại dịch cá voi để quét lên thân tàu thuyền có thể tiết kiệm được 13% công suất của máy. Trên thế giới phong trào chống đánh bắt cá voi rất mạnh, đặc biệt là ở châu Âu, nhằm bảo vệ loài này khỏi bị tuyệt chủng. Tuy vậy một số nước vẫn cố tình đánh bắt một số lượng lớn để lấy thịt và mỡ, đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của chúng.


Cá và sinh vật biển nói chung không chỉ là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho loài người mà còn là nguyên liệu để sản xuất các loại thuốc chữa bệnh. Dầu cá thu là loại dược phẩm rất phổ biến để bồi dưỡng sức khỏe. Khi nào về Hà Nội tôi sẽ gặp giáo sư Phan Lệ Thủy để nhờ bà giảng giải thêm về chủ đề này rồi tôi sẽ kể tỉ mỉ cho các bạn nghe sau.


Về hình dáng cá, nhờ sự chọn lọc tự nhiên hàng triệu năm, nhiều loại đã đạt đến tiêu chuẩn tối ưu xét về khí động học nên trở thành một mô hình mẫu cho các nhà thiết kế phương tiện nổi, tàu thủy, máy bay nghiên cứu, mô phỏng để sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao, giảm ma sát tối đa, tăng tốc độ dịch chuyển. Trường họp cá voi mà tôi đã kể trên kia là một ví dụ. Gần đây, việc nghiên cứu hình thức vẫy đuôi liên tục của cá đã giúp các nhà khoa học phát minh ra loại máy đẩy mới - máy bàn quẫy. Bàn quẫy được lắp sau đuôi của tàu thuyền đáy bằng, thông qua một cơ cấu truyền động làm cho nó quẫy lên xuống liên tục, đẩy thuyến tiến lên phía trước. Ưu thế của loại tàu thuyền lắp loại máy này là khi đi vào các vùng nước nông, nhiều cỏ rong chúng vẫn vượt qua thật dễ dàng, trong lúc các tàu dùng loại máy có cánh quạt bị vướng, không thể chuyển động được. Thiên nhiên quả là một trường học lớn mà đến nay ta vẫn chưa biết khai thác hết.


Vùng biển sâu chắc chắn còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn. Mới đây một người đánh cá Indonesia tên là Lahma buông tấm lưới dài khoảng 100m ở ngoài khơi đảo Sulawesi. Sau ba phút ông nhận thấy lưới có dấu hiệu bắt được rất nhiều cá. Hai cha con vất vả lắm mới kéo được lưới lên thì trời ơi, ông thấy một con cá to rất lạ, nặng đến 50kg, hai mắt như có lân tinh sáng quắc, lại có hai chân, thật là đáng sợ. Các nhà khoa học cho biết đó là cá Vây tay, tức là cá có cặp vây phát triển như cánh tay người, có thể dùng để đi lại trên nền đất cứng. Cá Vây tay sống cách đây 360 triệu năm, tưởng rằng chúng đã tuyệt chủng cùng với khủng long vì lâu nay chỉ còn gặp dưới dạng hóa thạch. Loại cá này cũng thở bằng mang và cả bằng phổi, sống ở độ sâu từ 200 đến 1000 mét nước. Thật là một đối tượng sống để nghiên cứu khoa học, xác định sự tiến hóa của sinh vật, quý giá vô cùng. Biết đâu vùng biển sâu của ta cũng còn lưu giữ các loài cá quý hiếm tương tự?


Với mức độ hiểu biết con rất sơ sài hiện nay, trữ lượng cá ở biển Đông được đánh giá đạt khoảng 3 triệu tấn, trong đó cá tầng trên nhiều hơn cá tầng đáy. Đối tượng khai thác đa dạng, sản lượng hàng năm có thể đạt 1,5 triệu tấn, nhiều loại có giá trị dinh dưỡng lớn và là mặt hàng xuất khẩu hàng năm thu về nhiều tỷ đôla. Hoạt động đánh bắt cá có thể tiến hành quanh năm, các bãi cá quan trọng tập trung ở gần bờ, đáy biển tương đối bằng phẳng, rất thuận tiện khi dùng lưới quét cho năng suất đánh bắt cao. Những vấn đề về công nghệ đánh bắt, về sinh học biển để làm sao vừa khai thác được nhiều mà vẫn phát triển được đàn cá còn rất rộng, tha hồ cho những ai yêu ngành sinh học và thủy sản vẫy vùng.


Tàu đi xa hơn về phía đông nam. Nhóm nghiên cứu độ sâu đáy biển sử dụng máy dò âm học có độ chính xác cao để làm việc. Đây là loại máy dùng sóng âm thanh rất gọn nhẹ để đo thời gian sóng đi từ mặt nước đập thẳng đứng xuống đáy biển rồi quay lại theo nguyên lý phản xạ. Nước biển là một môi trường tương đối đồng nhất, tốc độ truyền sóng âm trong môi trường này khoảng 1.500 mét/giây và gần như không đổi. Máy có khả năng đo thời gian với sai số dưới một phần nghìn giây nên độ sâu đo được rất chính xác. Trước đây ta không có loại máy như vậy nên các nhà nghiên cứu phải dùng dây dọi để đo. Phương pháp thủ công này mất rất nhiều thời gian, lại có độ chính xác thấp vì dây có thể bị xoắn, bị gấp khi gặp vật cản hoặc không ở vị trí thẳng đứng khi gặp các dòng nước ngầm. Số liệu đo độ sâu được đưa lên bản đồ. Bản đồ độ sâu nước biển này vô cùng cần thiết cho ngành đánh bắt hải sản, cho vận tải biển và cho hải quân, giúp cho người đi biển biết các luồng lạch, các trở ngại, các dãy đá ngầm để tránh các hiểm nguy. Bản đồ này vài năm phải đo hiệu đính lại vì đáy biển nhiều nơi bị thay đổi do xói lở, sa bồi.


Ngày hôm sau tàu chạy cắt qua vĩ tuyến 16. Mặt đáy biển bắt đầu nâng lên dần về phía đông nam. Ông Dân thông báo tàu Bình Minh chuẩn bị đi vào vùng biển Trường Sa. Tiếng coi vang lên ba hồi dài tạo nên sự phấn chấn lạ thường trong mỗi tâm hồn chúng tôi, những người sắp biết thêm một vùng đất xa xôi, thiêng liêng của Tổ quốc.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:44:10 am
Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa là một chủ đề rất được quan tâm đối với bất cứ ai là người Việt Nam nên tất cả các bác, các chú làm việc trên tàu đều yêu cầu các ông lớn tuổi nói rõ hơn các vấn đề có liên quan mà báo chí ít khi đề cập.


Tối hôm đó trong lúc tàu Bình Minh neo đậu giữa biển Đông để nghỉ ngơi sau hai ngày làm việc vất vả, chúng tôi quây quần trên boong lộng gió, vừa ăn mực nướng dưới trăng, vừa nghe các ông kể chuyện. Tiến sĩ Tuấn treo tấm hải đồ biển Đông lên thành tàu và trình bày những điều bác biết về Trường Sa. Đúng là một vấn đề phức tạp, khá khô khan nhưng lại rất trọng đại, thiết thân đối với nước ta nên tôi chép lại nguyên văn để các bạn cùng biết.


Biển Đông rộng khoảng 2.940.000km2 và là một trong những biển lớn nhất trên thế giới. Phần lớn biển Đông nằm trên một thềm nông, bị nhiều cồn, bãi đá, đảo nhỏ và các bãi ngầm chia cắt. Gần một nửa diện tích biển Đông nằm trên đồng bằng biển thẳm, trải rộng ra tới độ sâu 5.000 mét nước ở máng Palawan, nằm ở phía tây bờ biển Philippines. Tùy theo cách phát biểu về hình thái đáy biển sẽ dẫn đến hai nhận thức khác nhau về nguyên tắc phân chia biển Đông. Nếu xem đồng bằng biển thẳm ở biển Đông là phần đại dương biển thẳm, nằm giữa các thềm lục địa của Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei thì mỗi nước có thềm lục địa riêng của mình chẳng có gì phải bàn cãi, tranh chấp. Trong trường hợp này Hoàng Sa - Trường Sa là phần kéo dài tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Còn nếu coi biển Đông là một phần của lục địa châu Á, nằm bên lề của Thái Bình Dương to rộng ở phía cực đông thì các nước trong vùng có cùng chung một thềm lục địa và việc phân chia lại phải dựa trên các nguyên tắc pháp lý khác.


Quần đảo Trường Sa nằm ở đông nam biển Đông cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 600 hải lý, tức là khoảng 1.000km và cách Việt Nam 200 hải lý (320km). Theo luật biển quốc tế, thềm lục địa của Nam Trung Quốc chỉ có thể rộng 320km nên vùng biển Trường Sa không có quan hệ gì với Trung Quốc. Trên nhiều bản đồ quốc tế, vùng này còn mang các tên nói lên những mối hiểm nguy khi tàu thuyền đi qua như "Khu vực nguy hiểm", "Cụm đảo nguy hiểm" vì có rất nhiều dãy đá ngầm đâm thẳng từ miền đồng bằng biển thẳm lên rồi đột ngột tụt xuống tới độ sâu vài nghìn mét nước. Cho đến nay chưa ai biết đích xác quần đảo Trường Sa có bao nhiêu đảo, bao nhiêu bãi ngầm, bãi cạn. Năm 1992, Cục Tình báo trung ương Mỹ xác định có 191 địa điểm có tên riêng trong quần đảo Trường Sa nhưng không nói chúng có hoàn toàn nổi cao hơn mặt nước hay không. Một công trình khoa học khác công bố năm 1979 thì mô tả nhóm đảo Trường Sa "là một chuỗi trải rộng gồm 200 đá san hô, rạn san hô, cồn cát và bãi ngầm".


Một số nhà địa chất cho rằng Trường Sa và Hoàng Sa trong thơi xa xưa là một tiểu lục địa nối liền với phần đất của nước ta ngày nay. Trong quá trình vận động của vỏ quả đất, tiểu lục địa này bị phá vỡ, những gì còn lại chính là những đảo nhỏ của hai quần đảo này. Một số khác lại cho rằng các đảo nhỏ là phần đỉnh của các núi lửa cổ nằm ở phần cực đông của thềm lục địa Đông Dương. Những đỉnh này khi bị nước biển dâng cao, nhận chìm xuông tới độ sâu vài ba chục mét nước, trở thành những địa điểm thích hợp cho san hô phát triển. San hô cứ lớp này chết đi lớp khác lại sinh ra, nâng cao lên, dần dần tạo thành các đảo san hô như ta thấy ngày nay. Để bảo vệ cho lập luận này có thể lấy đảo Thuyền Chài làm ví dụ. Đảo Thuyền Chài nằm ở phần phía nam quần đảo Trường Sa, hình giống như một chiếc thuyền đang rẽ sóng đi về phía đông bắc, trùng với hướng gió mùa. Thuyền Chài là một đảo chìm, mặt đảo là một bãi san hô chỉ nổi trên mặt biển khi nước ròng. Lúc này đảo có dạng một đảo san hô vòng, khép kín hai hồ nước bên trong, dài tới 34km, rộng 5-6km. Khi nước thủy triều lên thì toàn bộ đảo bị chìm trong nước biển, chỉ có những ngôi nhà cao của bộ đội đồn trú ở đây là con nổi trên mặt nước, giống như cảnh ta thường thấy ở những vùng đang bị ngập lụt.


Một đặc điểm của Trường Sa là hình thù các đảo thay đổi theo mùa. Đảo Trường Sa Lớn có một bãi cát trắng rộng hàng nghìn mét vuông, vào tháng Tư bãi này nằm ở phía tây nam, sang tháng Mười thì dịch chuyển sang phía đông nam đảo và quá trình này được lặp lại trong năm tiếp theo. Đảo Sơn Ca có hai doi cát lớn, rộng khoảng 300m2 bồi lở thất thường, khi thì ở phía đông, khi thì ở phía tây. Đảo Sinh Tồn có hai doi cát phía đông và phía tây, di chuyển thường xuyên theo mùa. Tất cả sự thay đổi này đều có nguyên nhân từ gió. Gió to, cát không có gì che chắn, cuốn bay mù mịt, làm ta có cảm giác gió được ông trời giao xúc cát từ nơi này đổ sang nơi khác để làm cho quang cảnh luôn đổi thay kỳ ảo. Thêm vào đó thủy triều và các dòng nước ngầm cũng góp phần vào công trình vĩ đại này.


Từ thế kỷ mười chín trở về trước quần đảo Trường Sa do các vua, chúa nhà Nguyễn quản lý. Các đội thủy quân của triều đình hàng năm đi kiểm tra các đảo, thu nhặt các sản vật, cứu tàu thuyền trong nước và nước ngoài bị đắm. Một sách xưa ghi lại rằng vào tháng Mười năm 1714, cách đây gần 300 năm, ba thuyền buôn từ các nước xa lạ dong buồm đi qua biển Đông thì gặp bão lớn. Thuyền bị gió đánh tơi tả, lại va vào đá ngầm chìm nghỉm. Tất cả người trên thuyền bám vào các mảnh gỗ còn sót, ngoi ngóp giữa lúc biển đang lên cơn thịnh nộ. May mắn làm sao, lúc đó họ gặp đội thủy quân của chúa Nguyễn đang đi tuần tra vớt lên đưa vào đất liền. Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh cấp cho họ cơm nước nhưng họ không biết dùng đũa nên phải dùng tay bốc. Người họ vừa to vừa cao, tay chân dài nên áo dài, quần dài của chúa ban cho cũng không mặc được. Còn guốc mộc thì chỉ để làm đồ chơi, chân đi đất bị đau, nhăn nhó thật là khổ sở. Mắt xanh, mũi lõ, râu ria xồm xoàm, bọn trẻ con, phụ nữ trông thấy sợ hết hồn luôn. Chúa cho mời một linh mục đến tiếp xúc mới biết họ là người Hà Lan, một quốc gia xa nước ta hàng vạn dặm, thuyền đi mất nửa năm mới tới nơi. Họ là một dân tộc rất giỏi nghề đi biển, đã chiếm được một vùng đất của Ấn Độ làm thuộc địa, xây dựng một thương điếm trên bờ Ấn Độ Dương. Từ đó họ đi lại giữa châu Âu và châu Á buôn bán hàng hóa, chở lụa là gấm vóc, hạt tiêu, đồ sứ, đồ gốm, trầm hương... từ phương Đông về cho các vua chúa và quý tộc phương Tây, chở vũ khí, đồng hồ quả lắc, ống nhòm, la bàn, bình lọ thủy tinh... sang bán cho các nước mà họ gọi là Viễn Đông, ở miền Nam, thuyền của họ thường ghé Hội An và ở miền Bắc họ thường đến Vân Đồn, Phố Hiến. Những người bị nạn tiếp tục được chúa Nguyễn chu cấp các điều kiện sống, chờ tàu thuyên các nước châu Âu đi ngang qua hải phận Việt Nam thì gửi họ về quê hương.


Sau khi chiếm được nước ta vào cuối thế kỷ 19, Pháp tiếp tục quản lý các đảo Trường Sa - Hoàng Sa và không có nước nào trong khu vực tranh chấp. Những yêu sách bắt đầu xuất hiện từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đặc biệt từ cuối năm 1960, lần lượt là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:44:46 am
Yêu sách của Trung Quốc đặc biệt mang tính chất nối tiếp các tham vọng của các vua chúa phong kiến cũ, muốn chiếm toàn bộ biển Đông, trừ một dải rất hẹp sát bờ, bắt buộc phải để lại cho các nước khác, vì có muốn cũng không thể nào chiếm giữ được. Lý lẽ của Trung Quốc là biển Đông thuộc Trung Quốc từ thời nhà Hán, cách đây gần 2.000 năm. Những đồ vật cổ và xương người có nguồn gốc Trung Quốc tìm thấy ở đây được viện dẫn làm căn cứ. Họ lờ đi những tư liệu sách vở viết trong các triều đại khác nhau, nhất là của triều đại nhà Thanh (cách đây khoảng 200 năm) nói rõ rằng biên giới cực nam của Trung Quốc là bờ biển đảo Hải Nam.


Bình luận về việc này, luật sư người Mỹ Brice M. Claget đã viết rằng "các yêu sách của Trung Quốc hoàn toàn bất hợp lý, đối lập sâu sắc với những nguyên tắc cơ bản nhất của luật pháp quốc tế và sẽ bị bác bỏ bởi bất kỳ một tòa án nào khi áp dụng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển hay tập quán quốc tế". Ông còn viết "thật là mỉa mai, yêu sách của Trung Quốc đòi chiếm hữu quần đảo Trường Sa lại hoàn toàn dựa vào sự bành trướng do đế chế Trung Nguyên (các triều đại phong kiến Trung Quốc cổ đại) tiến hành, vốn đã từng xâm lược và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam ngày nay". Các báo chí quốc tế khác còn viết "nêu căn cứ vào cổ vật và xương người thì cả quả đất này đều thuộc Trung Quốc". Từ ba thế kỷ gần đây nhất chỉ có Việt Nam là nước quản lý thực sự quần đảo này. Trước năm 1975 quần đảo Trường Sa thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Phước Tuy và quẤn Đội Sài Gòn đã đồn trú tại đây. Sau khi miền Nam được giải phóng, bộ đội ta lại tiếp tục canh giữ vùng này, trừ đảo Ba Bình bị Đài Loan lợi dụng tình hình phức tạp ở Việt Nam sau Hiệp định Geneve (1954) đã cho quân chiếm đóng bất hợp pháp từ năm 1956, và đến nay vẫn duy trì đội quân đồn trú của họ đông đến 1000 người trên đảo. Hiện nay Trường Sa là một huyện của tỉnh Khánh Hoa, còn Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.


Ngày 14-3-1988 các pháo hạm của Trung Quốc đã tấn công vào một đoàn tàu tiếp tế của Việt Nam, đánh đắm ba tàu và giết chết gần 70 chiến sĩ của ta. Sau đó họ chiếm một số bãi ngầm, tôn tạo bãi đá Chữ Thập thành một đảo nhân tạo hoàn chỉnh, có cả sân bay để làm căn cứ lâu dài.


Trận đánh tại đảo Colin* (Tên tiếng Anh: Collins Reef/Johnson North Reef) một cồn san hô ở hướng đông nam, nối với Đá Gạc Ma, một phần của cồn Union (chú thích - BTV))  xảy ra cách đây hai mươi năm thật là bi tráng. Khi các chiến sĩ hải quân ta đang canh giữ đảo thì bất ngờ pháo hạm Trung Quốc xuất hiện, khiêu khích, rồi đổ bộ lên đảo, giật cờ Việt Nam hòng chiếm đóng đảo vì họ biết lực lượng của ta rất nhỏ, trang bị thô sơ. Chiến sĩ Trần Văn Phương bất chấp lưỡi lê Trung Quốc kể cổ, đạn bắn xả vai vẫn hiên ngang giữ cờ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh anh dũng, táo bạo đá văng súng địch để bảo vệ đồng đội, bảo vệ cột mốc chủ quyền. Các chiến sĩ Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông... cũng "một tấc không đi, một ly không rơi", tử thủ để bảo vệ đảo. Tên tuổi của những anh hùng này tất cả nhân dân ta cần phải biết và lưu truyền mãi mãi. Tàu vận tải nhỏ HQ 604 của ta đến ứng cứu bị bắn chìm, các chiên sĩ hầu hết bị hy sinh. Tàu HQ 505 bị bắn trọng thương. Chính trong giây phút nguy kịch ấy thuyền trưởng Phan Huy Lễ mưu trí lái tàu HQ 505 lao hẳn lên đảo. Nhìn lá cở đỏ sao vàng trên nóc tàu tiếp tục tung bay hiên ngang trước những làn đạn xối xả của bọn xâm lược, các chiến sĩ coò sống tuy bị thương lại tiếp tục chiến đấu kiên cường và cuối cùng đã chiến thắng. Bây giờ mỗi lần tàu thuyền của ta đến đây đều giành một phút mặc niệm, thả hương hoa xuống biển và tên tuổi những chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ đảo được ghi rạng rỡ trong lịch sử QuẤn Đội Nhân dân Việt Nam, bên cạnh hàng vạn anh hùng, liệt sĩ khác.


Tới năm 1992 Trung Quốc đã chiếm 6 bãi ngầm, Philippines chiếm 8, Malaysia chiếm 3, Đài Loan vẫn chiếm đảo Ba Bình, Việt Nam giữ 24, vừa đảo vừa bãi ngầm. Đến năm 2003, Trung Quốc phê chuẩn Nghị định thư về An ninh khu vực Đông Nam Á, cam kết sẽ sử dụng giải pháp hba bình để giải quyết bất đồng, giữ nguyên hiện trạng để không làm phức tạp thêm tình hình. Tuy nhiên họ lại đưa 2000 quân đến đóng trên 9 đảo ngầm, xây dựng sân bay, công sự, các căn cứ phòng không, các bến tàu nhân tạo đủ sức tiếp nhận tàu vận tải 4000 tấn nhằm tạo điều kiện để mở rộng khu vực chiếm đóng, từng bước thực hiện tham vọng chiếm đoạt toàn bộ biển Đông. Trung Quốc còn dàn dựng màn kịch ký hợp đồng thăm dồ dầu khí với một công ty Mỹ bé tí xíu, không có tên trong danh sách các công ty dầu thế giới trên một vùng rộng lớn phía đông nam Côn Sơn, thậm chí còn đòi các mỏ Thanh Long, Lan Đỏ - Lan Tây của ta. Gần đây nhất chính phủ Trung Quốc còn tổ chức tập trận và quyết định thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Hải Nam để quản lý hành chính Hoàng Sa và Trường Sa, gây nên những phản ứng chính đáng của cả dân tộc Việt Nam, nhất là tầng lớp học sinh, sinh viên.


Nhân dân ta rất yêu chuộng tự do, hoa bình, mong muốn được sống bình yên và hữu nghị với các dân tộc khác. Vì vậy Chính phủ ta luôn biết kiềm chế, tiếp tục kiên trì chủ trương giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, giữ cho biển Đông mãi mãi về sau là một vùng biển thái bình. Với thiện chí đó Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã hợp tác cùng thăm dò dầu khí một số vùng Đông Bắc và Nam Trường Sa với Trung Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia. Nhưng cần phải khẳng định rằng nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam là những nguyên tắc thiêng liêng mà bất cứ thế hệ người Việt nào cũng kiên quyết bảo vệ. Điều cần lưu ý là hiện nay một số người xấu, yêu nước dởm, lợi dụng tình hình để bôi nhọ chế độ ta, họ không hề đề xuất được một giải pháp nào, có một hành động nào giúp giữ gìn lãnh thổ mà chỉ rêu rao nhà nước ta dâng đất cho nước ngoài. Cần cảnh giác cao với những luận điệu này để không bị họ lừa dối nhằm thực hiện các mục tiêu đen tối của họ.


Trong đêm khuya bầu trời như cao hẳn lên với ngàn sao lung linh khảm ngọc. Biết có cách nào nhanh nhất để tôi gửi đến các bạn những điều vừa lĩnh hội được cùng những tình cảm của mình trong lúc này không?

Khoảng 10 giở sáng ngày tiếp theo, chúng tôi đã bắt đầu nhìn thấy Trường Sa Lớn, bây giờ đã trở thành huyện lỵ của huyện đảo Trường Sa. Cảnh trí đã khác xa những gì tôi được biết qua sách báo xuất bản trước kia mà tôi đã đọc. Trước khi đến đây tôi hình dung Trường Sa là một vùng chỉ có nắng, gió, bão, san hô, cát sỏi và nước mặn hoặc nước lợ. Cây cối chỉ có ba loại sống lưa thưa là cây phong ba, cây bão táp và cây bàng vuông. Chỉ nghe cái tên cũng đã thấy khắc nghiệt rồi. Cây phong ba đặc biệt nhiều ở đảo Song Tử Tây. Nhìn từ xa, lá và hoa phong ba không khác gì cây hoa sữa nên đến mùa trổ hoa lính đảo gốc Hà Nội như tìm thấy lại hương vị thủ đô giữa biển Đông. Cây bão táp thô nhưng mềm mại, uốn cành ra phía biển, hứng lấy những lớp sóng và gió mặn liên miên mà vẫn xanh tươi. Cây bàng vuông xù xì, lá to, bóng tỏa xum xuê. Hoa bàng vuông màu trắng, mỏng manh và chỉ nở về đêm như chỉ để tặng riêng cho nhũng anh bộ đội gác đảo trong những đêm dài, vắng bóng trăng sao. Khi hoa bàng tàn, quả xanh xuất hiện, lớn dần theo từng ngày, hình vuông rất lạ mắt. Đến đảo Nam Yẽt ta lại gặp những bóng dừa cao vút thân nghiêng điệu đà trên mé biển. Ngoài dừa, không biết từ lúc nào, cây nhàu cũng được di thực đến đây mà ngày nay những chùm quả đã sum suê. Nhiều bạn chắc còn chưa biết đến trái nhàu là nguyên liệu điều chế ra thần dược Noni có khả năng chữa được nhiều bệnh hiểm vì chứa rất nhiều loại vitamin và khoáng chất vi lượng. Thật là những ví dụ điển hình cho sự thích nghi của sự sống đối với môi trường, một biểu trưng của tinh thần bất khuất và tình yêu đối với sự yên bình.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:45:25 am
Trong nhiều năm liền các anh bộ đội hải quân và các nhà khoa học đã cần cù mang đất từ đất liền ra để cải tạo cát, thử nghiệm trồng phi lao, nhàu, mù u, hoa sữa, bàng thường, đa, si... và cuối cùng tìm được loài cây tra rễ chùm, chịu được gió bão. Cây tra có đặc điểm là dễ chiết, mỗi năm có thể chiết hàng nghìn cành, trồng rất nhanh. Nhờ có cây xanh che gió, các vườn rau, các giàn bầu bí, các vườn hoa xuất hiện. Rễ cây lại giữ được nước mưa nên các giếng đào trước đây may mắn lắm mới gặp nước lợ, nay được ngọt hóa. Chim chóc có chỗ trú, cảnh trí vui hẳn lên. Môi trường lại tiếp tục được cải thiện, nhiều giống cây trước đây không sống được dần dần lại thích nghi.


Chúng tôi lên bờ giữa vòng tay chào đón thân thương của hàng trăm người lính đảo và vô cùng xúc động khi đứng trước bia chủ quyền ghi tên đảo dưới ngôi sao vàng lớn rạng rỡ.

Trường Sa Lớn chưa đông người, nhưng ngày nay ngoài bộ đội đã có một số gia đình thanh niên đến lập nghiệp. Thị trấn đã có một công viên xanh, đường đi lại lót bê tông, nhà ở quy hoạch vuông vắn, môi trường sạch đẹp. Giữa đảo có hội trường và sân bóng đảm bảo một cuộc sống tinh thần dễ chịu. Cầu cảng được xây dựng bằng bê tông kiên cố, khi triều cường có thể đón được các tàu lớn hàng nghìn tấn cập bến.


Bên cạnh đó là một khu nhà khách tương đối khang trang để đón tiếp ngư dân ghé nghỉ ngơi hoặc tránh bão.

So với trước đây 5 năm, đời sống trên đảo cũng đã được cải thiện rất nhiều. Từ nơi ăn ở, vui chơi đến công sự bảo vệ đảo đều được xây dựng kiên cố, không còn cảnh tạm bợ như xưa. Các vườn rau lang, rau muống, rau cải, mồng tơi xanh mướt, các giàn bí, giàn bầu trĩu quả, hàng năm cung cấp hàng tấn rau xanh giúp người sống trên đảo thoát khỏi những cơn bệnh do thiếu vitamin gây ra. Những chú lợn béo tròn nhờ được nuôi bằng cá tươi, ụt ịt, chạy rông trên đảo. Tiếng vịt gọi nhau quang quác. Tiếng gà gáy trưa. Tiếng chó sủa đêm. Tất cả những âm thanh ấy kết hợp với nhau làm cho ta sống trên đảo mà cứ như ở trong một làng quê. Các bể chứa nước mưa lớn, đủ dùng để ăn uống quanh năm. Buổi sáng trên bãi biển hàng trăm người tập thể dục nhịp nhàng theo tiếng nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ban ngày nếu trời yên biển lặng anh em lại dắt nhau đi bắt cá, bắt tôm cua, nhặt ốc để cải thiện. Buổi chiều các trận bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn giao tranh sôi nổi. Buổi tối trừ những lúc làm nhiệm vụ, các chiến sĩ ta lại quây quần bên chiếc tivi nghe thời sự, xem các chương trình ca nhạc, văn nghệ đặc biệt là theo dõi chương trình Chúng tôi là chiến sĩ của VTV3.


Cái khó khăn lớn nhất là thiếu vắng tình cảm gia đình và chữa trị các bệnh nguy cấp. Thư từ có khi hàng năm mới nhận được. Người thân ở quê khi đau ốm không được trực tiếp chăm sóc, trông nom. Con cái không được trực tiếp dạy dỗ. Khi nào mạng internet phủ sóng đến đây thì khoảng cách giữa đất liền và Trường Sa mới được rút ngắn. Các cư dân trên đảo lúc đó có thể tiếp xúc với gia đình, nói chuyện, nhìn thấy nhau qua màn hình bất kỳ vào giờ nào, và những thông tin đa dạng trên toàn thế giới có thể cập nhật qua một máy tính xách tay gọn nhẹ. Sống trên đảo khi đau ốm nặng giá như có một bệnh viện đa khoa, đầy đủ bác sĩ thì yên tâm biết bao. Các anh lính trẻ thì nói xa nói gần rằng ước gì có đại diện của một nửa nhân loại thì cuộc đời trên đảo sẽ rất hoàn hảo. Hiện nay tất cả những điều nói trên còn là mơ ước, nhưng là mơ uớc trong tầm tay nếu các cơ quan hữu quan có sự quan tâm đầy đủ.


Cuộc sống trên các đảo nhỏ còn khó khăn hơn rất nhiều. An Bang là một ví dụ. Đảo này từng được gọi là "lò nung vôi thế kỷ" vì chỉ có cát trắng, san hô. Nhiệt độ thường xuyên gần 40°c. Hình dáng An Bang giống như một chiếc chìa khóa khổng lồ. Mũi chìa khóa là một doi cát. Tháng Tư đến tháng Bảy hàng năm, doi cát chuyển dịch từ bờ Tây sang bờ Nam. Đến tháng Tám thì lại nằm ở bờ Đông và tháng Mười hai lại trở về vị trí cũ. Chung quanh đảo có dòng nước chảy xiết, khi sóng to, gió lớn tàu tiếp tế đến cũng khó có thể tiếp cận với đảo. Dưới cái nắng chói chang, sóng gió bất thường, bằng các phương tiện hết sức thô sơ, các chiến sĩ ta đã chuyển hàng vạn tấn sắt thép, xi măng đến đảo để xây dựng đèn biển, nhà ở, pháo đài. Bên cạnh các chiến sĩ còn có các nhà khoa học quan trắc khí tượng, các cán bộ của trạm hải đăng. Họ sống gần như biệt lập giữa trùng dương, ngày đêm làm việc không mệt mỏi để thông báo hướng gió, cấp gió, dự báo thời tiết cho mọi hoạt động trên biển. Đêm đêm từ ngọn tháp cao 25 mét họ phát luồng ánh sáng xuyên suốt màn đêm đen kịt để các tàu thuyền cách đó 20km cũng nhận ra họ đang ở đâu, nên đi theo hướng nào cho an toàn, thuận lợi. Họ âm thầm phục vụ không những cho lợi ích của Việt Nam mà còn cho nhân loại, qua đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước ta.


Gian khổ nhất là những người sống, làm việc trên các đảo chìm và ở các trạm khoa học - dịch vụ, gọi là các nhà giàn DK. Gọi là đảo chìm vì hầu hết ngày đêm bị nước phủ kín, chỉ nhô lên khi thủy triều xuống, tức là vào lúc nước ròng.


Trên các đảo chìm đó ta xây các công trình lâu bền, cao như ngôi nhà ba tầng để ăn ở, canh gác hải phận và nghiên cứu, phục vụ các nhu cầu sản xuất trong vùng. Thức ăn, nước uống phải dự trữ đủ cho nửa năm, đề phòng các bất trắc. Sóng có thể dâng nước lên đến tầng hai nên không gian sinh hoạt vô cùng chật chội, ẩm ướt. Trên quần áo, đồ dùng, thiết bị và cả trên da thịt lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, đầy muối. Giàn DK do những cán bộ ngành dầu khí xây dựng. Đó là một loại nhà sàn, đặt trên các chân đế làm bằng cọc sắt thép, cắm sâu xuống đáy biển. Sàn cách mặt nước khoảng mười mét nhưng lúc triều cường hoặc sóng lớn, nước biển cũng có thể tràn vào nhà dễ dàng. Cũng có lúc sóng quá mạnh, chân đế lâu ngày bị rỉ không chịu đựng nổi, giàn bị đổ sụp, người chết không tìm thấy xác. Đó là chưa kể trường hợp bị kẻ thù giấu mặt đánh lén.


Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữa thời bình vẫn còn biết bao hy sinh. Những người làm việc ờ Trường Sa cũng như ở biên cương, hải đảo khác quả là những chiến sĩ thép, những anh hùng của thơi đại. Họ xứng đáng được thướng các loại huân chương cao quý gấp nhiều lần những người khác. Không có lòng yêu nước thiết tha, không có lý tưởng cao đẹp luôn chói sáng tâm hồn thì không thể nào sống, làm việc và cảm thấy hạnh phúc trong những điều kiện khắc nghiệt như vậy. Những ai luôn hằn học với cuộc đời, luôn thấy xã hội đầy một màu đen tối mặc dù họ không làm được một việc nhỏ nào để đất nước trở nên hùng cường, văn minh, nếu một lần được đến đây chắc chắn sẽ được dịp nhìn lại chính xác bản thân mình, để sẽ phải tự vấn lương tâm.


Trong tương lai khi ta có đủ điều kiện đầu tư thì Trường Sa chắc chắn sẽ có các trung tâm dịch vụ biển, các cảng cá, nhà máy sản xuất nước đá, nhà máy chế biến hải sản, các nhà hàng du lịch và các ngành sản xuất khác. Và xa hơn nữa, chúng ta có thể lấn biển, xây dựng nhiều đảo nổi, bắc cầu nối các đảo, xây dựng sân bay, nhà máy điện chạy bằng sức gió và bằng năng luợng mặt trời, bằng thủy triều, bằng sóng biển, dùng điện để lọc nước mặn thành nước ngọt thì sẽ tạo được môi trường sống tốt hơn, cư dân sẽ đông đúc hơn. Một thành phố lớn sẽ ra đời trên biển Đông với bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu chuyên ngành chẳng khác gì trên đất liền. Các cuộc thi hoa hậu, các trận đá bóng quốc tế, các buổi biểu diễn văn nghệ giao lưu giữa các dân tộc và những khu du lịch hiện đại với những khách sạn tiện nghi mọc từ các bãi ngầm sẽ là các kỳ quan mới của đất nước. Những ý nghĩ ấy chứng tỏ các ông, các bác cùng đi với tôi trên con tàu Bình Minh thật là những con người yêu đời và vô cùng lãng mạn.


Hôm sau chúng tôi rời Trường Sa với bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Chúng tôi hát vang bài ca mới học gửi anh chiến sĩ Trường Sa: "Chúng ta hát bài ca/ một bài ca hay nhất/ gửi Trường Sa thân yêu/ cả niềm tin quê ta/ Chúng ta hát bài ca/ một bài ca hay nhất/ gửi các anh chiến sĩ/ đang canh giữ đảo xa! Vì quê hương các anh đã xa nhà/ Ở đảo xa chắc tay súng ngày đêm/ để quê nhà yên ấm/ thơm hương lúa đồng xanh/ để khăn quàng tươi thắm/ vui tiếng hát trẻ thơ". Tiếng hát vang xa, hòa trong gió và được gió mang đi khắp đảo.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Sáu, 2022, 06:46:11 am
Kho báu chìm dưới biển

Tàu Bình Minh đưa đoàn nghiên cứu đi khảo sát quanh các đảo. Điều gây cho tôi nhiều ấn tượng là trên đường đi, tôi nhìn thấy nhiều xác tàu. Có lẽ đó là những tàu bị đắm không quá lâu nên khung sườn vẫn còn nguyên vẹn. Gần đảo Phan Vinh mang tên người anh hùng của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, về phía tây vành đai san hô, khi nước triều thấp có thể lội bộ ra xem một xác tàu hoen rỉ. Không biết con tàu xấu số này của ai, chìm từ bao giờ, có ai còn sống sót không vì chẳng có một thông tin gì còn sót lại. Đồ đạc trên tàu nếu có thì cũng đã được những người trước kia đến đây thu nhặt hết rồi. Trên khung sắt đen ngòm có rất nhiều con hàu, những con sinh sau bám vào lưng những con đã chết, tạo thành, những chùm hoa biển. Chú Dũng phát hiện một điều lý thú mà đến nay chưa ai giải thích được: con hàu tiết ra chất gì mà có thể kết dính thân nó với chất sắt thân tàu chắc chắn đến nỗi phải dùng đến máy mài mới làm sạch được, ở Hà Nội, chúng tôi có nghe nói đến nhóm nghiên cứu do giáo sư Phái đứng đầu đã từng sản xuất được loại keo dán các thanh sắt làm dầm cầu mà không cần phải bắt bu lông. Chắc chắn loài hàu này chẳng học hành gì ráo mà cũng cha truyền con nối từ triệu năm về trước sản xuất ra loại keo chất lượng còn cao hơn sản phẩm của con người thông minh tạo ra. Tôi sẽ nói với giáo sư để bà tiếp tục nghiên cứu vấn đề hấp dẫn này. Nếu chúng ta biết được thành phần chất keo loài hàu tiết ra, biết được công thức và cơ chế sản xuất hoặc biết phương pháp tách chiết chất này, thì chắc chắn sẽ làm ra được loại keo sinh học tuyệt vời, rẻ tiền và đa dụng. Thế mới biết thiên nhiên giành cho con người những kho báu nhưng chỉ có học thức mới có thể tìm được câu thần chú "Vừng ơi, mở cửa ra!".


Ở đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Núi Le, mỗi nơi đều có thể gặp từ một đến bốn xác tàu kiểu như vậy. Khoang tàu trở thành cung điện dành riêng cho các loài cá nhỏ, tôm, cua, được trang trí bằng vô số các cành rong rêu đủ màu sắc, phất phơ uốn lượn giữa khối nước trong vắt. Các chú kể rằng khi triều cường cũng có những chú cá to lớn chui vào để bắt mồi rồi bị mắc kẹt khi nước triều lui. Dân chài bắt được, mổ bụng ra đôi khi còn tìm thấy chiếc nhẫn vàng, chiếc đồng hồ đeo tay, những di vật của những người quá cố. Chỉ nghe thôi đã đủ phát khiếp.


Dọc biển Đông còn rất nhiều nơi có những xác tàu như thế, nhất là trên những con đường hàng hải cổ xưa. Tàu chìm, mang theo những của cải bị cát, bùn do những dòng nước ngầm mang đến vùi lấp nên vẫn con gần như nguyên vẹn. Đó là những kho báu được giấu kín, và là đối tượng của ngành khảo cổ học đại dương.


Trong lịch sử nước ta còn ghi lại biết bao nhiêu trận chiến xảy ra trên biển, trên các cửa sông, trong các vịnh suốt từ Bắc chí Nam. Và còn biết bao nhiêu sự kiện khác đã chìm vào quên lãng liên quan đến hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước gần xa. Chắc rằng các sự kiện đó còn để lại dấu tích trong lớp bùn, cát đáy biển như gươm, giáo, cung nỏ, súng thần công, khiên, giáp, mũ mão cũng như các đồ dùng sinh hoạt, các loại hàng hóa, chiến lợi phẩm vùi theo cùng tàu thuyển bị đắm. Biết đâu một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm lại được ấn tín của An Dương Vương khi rẽ nước đi vào biển Đông để không bị rơi vào tay Triệu Đà; giáp trụ của bộ tướng Toa Đô khi bị đuổi chạy khỏi Chiêm Quốc hồi thế kỷ mười ba, Thần cơ sang pháo của Hồ Nguyên Trừng sáng chế, gươm báu của quân tướng Tây Son trong đầm Thị Nại, v.v... và các bia ký, tượng vàng, tượng đá tạc vua chúa, thánh thần ở các đền miếu, thành quách xây dựng gần bờ biển bị sụt lớ, cuốn trôi theo sóng nước thuộc các triều đại của vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, Champa, Đại Việt ngày xưa. Mới cách đây vài năm thôi ở vùng biển Thừa Thiên - Quảng Nam chúng ta đã vớt được hàng chục khẩu đại bác cổ phòng vệ bờ biển thuộc thế kỷ 18-19 và chắc chắn sẽ còn tìm thấy ở các vùng biển khác. Đúng là một kho tư liệu vô giá mà ta phải kiếm tìm để bổ sung cho lịch sử của dân tộc.


Các công ty tìm kiếm cổ vật của châu Âu có cả một danh sách ghi lại các con tàu viễn dương bị mất tích dài dằng dặc. Trên vùng biển Đông, tàu Kemphaan 100 tấn của công ty Đông Ấn Hà Lan bị đắm ở Đàng trong (từ Quảng Bình trở vào) ngày 22-10-1633 với toàn bộ hàng hóa và 18 khẩu đại bác; tàu Alblasserdam mất tích ngày 14-7-1735; tàu Keizerin trọng tải 200 tấn chở đồ gốm sứ mất liên lạc ở vùng biển Trung bộ từ ngày 29-10-1636; tàu Gouden Leeuw, 330 tấn, chìm tại vùng đảo ngoài khơi vịnh Bắc bộ năm 1674, v.v... mà đến nay không ai biết chính xác vị trí tàu chìm ở đâu.


Vào những năm cuối thế kỷ 20, chuẩn bị bước sang thiên niên kỷ mới, tin tìm được kho báu ở gần Cù lao Chàm (Hội An - Quảng Nam) đã khuấy động cả dư luận không những ở Việt Nam mà còn cả ở châu Âu, châu Mỹ. Tàu không biết tên, bằng gỗ tếch, một loại gỗ rất cứng của Trường Sơn, dài 30m, chở đầy đồ gốm, sản xuất cách đây 500 năm tại làng Chu Đậu, một làng gốm nổi tiếng bên tả ngạn sông Thái Bình. Trên tờ Mercury tháng Sáu năm 2000 có đăng lời bà Dessa Goddar, giám đốc ngành nghệ thuật Á châu của một tổ chức ở San Francisco nói lên ý nghĩa của phát hiện này như sau: "Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta thường nghĩ là đã hoàn toàn biến mất".


Trước kia một vài sản phẩm gốm của Đại Việt có ghi thời gian ra đời và nơi sản xuất là Chu Đậu được tìm thấy ở vài bảo tàng châu Âu nên người ta mới biết đến làng gốm Chu Đậu của Việt Nam vốn đã mất tăm, mất tích cách đây 300 năm. Lần này không những chúng ta tìm lại được gốm Chu Đậu mà còn với khối lượng hàng nghìn sản phẩm, cổ vật trục vớt được ở Cù lao Chàm cho thấy con tàu đã mua gốm từ một thương cảng nào đó ở đồng bằng Bắc bộ và đang trên đường chở đi tiêu thụ ở thị trường các nước phía nam thì bị chìm. Ngày nay các bạn có thể nhìn thấy các cổ vật này trưng bày trang trọng trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và nhiều bảo tàng khác trên thế giới.


Điều quan trọng là cùng với khám phá này, các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm ra được làng Chu Đậu thuộc tỉnh Hải Dương, phục hồi lại được dòng sông cổ, tìm lại được thương cảng từ lâu đã không còn, nối liền với phố Hiến và kinh thành Thăng Long. Các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đến làng, khai quật được rất nhiều lò gốm hoang phế, chốn vùi trong lòng đất với vô số kiểu dáng, hoa văn, màu sắc men độc đáo. Các sản phẩm gốm, sành sứ cao cấp, chất lượng ngang hàng với các sản phẩm cùng thời của Trung Hoa, Nhật Bản. Một doanh nhân tâm huyết với đồ gốm bỏ tiền đầu tư, xây dựng xưởng, đường sá, khôi phục lại một ngành thủ công mang tính văn hóa lâu đời. Cháu chắt chút chít của những nghệ nhân làng Chu Đậu ngày xưa bây giờ lại được đào tạo trở thành những nghệ nhân mới, kiến thực rộng và đầy tài hoa, tiếp tục đưa ra thị trường thế giới những sản phẩm truyền thống được nâng cấp ngang tầm thời đại. Một dòng gốm nổi tiếng được hồi sinh làm rạng rỡ cho văn hóa Việt.


Tháng 6-1997, ở Cà Mau trong một chuyến đi biển, một gia đình câu được một con cá mú khá to, dài gần nửa mét, nặng 20kg. Trong bụng cá, lẫn lộn với thức ăn có một mảnh gốm sứ. Cuộc săn lùng tàu đắm bắt đầu và cuối cùng tìm được chiếc tàu cổ, chìm ở hải phận huyện Trần Văn Thời, ở độ sâu 36 mét nước. Các nhà khoa học thuộc Hội khoa học lịch sử và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xác định con tàu tìm thấy ở Cà Mau là con tàu chở hàng từ Trung Quốc đến các thị trường Tây Á.


Con tàu đắm phát hiện ở Bình Thuận là con tàu thứ 5 được Việt Nam khai quật khảo cổ học thành công. Sau khi tìm được con tàu ở Cà Mau, sau Tết 2001 lại có tin đồn về một con tàu dài 20 sải tay, nằm ở đáy biển thuộc huyện Tuy Phong cách Phan Thiết khoảng 60km về phía đông. Các thợ lặn lấy lên từ độ sâu 40 mét nước được 61.000 hiện vật, chủ yếu là đồ sứ Chương Châu, Phúc Kiên và một số khác từ Quảng Đông, Trung Quốc. Con tàu xác định được đóng trong thế kỷ 19. 17.000 hiện vật được bán đấu giá tại Melbourne, Australia, thu được 1,2 triệu đô la Mỹ. Hiện nay ở Việt Nam cũng đã có những đơn vị chuyên nghiệp đi tìm và khai quật tàu đắm.


Việc tìm kiếm nói chung là khó khăn, vì kích thước tàu nhỏ, phần lớn bằng gỗ, lại chìm dưới cát, bùn, các phương pháp vật lý ứng dụng trong khảo cổ học trên đất liền không sử dụng được hoặc hiệu quả thấp. Cho đến nay các phát hiện đều dựa vào các thông tin từ những người đánh cá. Hy vọng trong tương lai công nghệ đánh bắt hải sản và khảo cổ học tân tiến hơn có thể góp phần tìm ra các kho báu này mà từ lâu biển cả vẫn giữ gìn để trả lại cho chúng ta.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:41:30 am
Dầu mỏ-khí đốt: kho báu trong lòng đất

Sau khi tham quan và làm việc ở Trường Sa một tuần, tàu Bình Minh lại hướng về phía tây nam, nghiên cứu trên một tuyến nối từ đảo Phan Vinh đến đảo Phú Quốc. Bây giờ chúng tôi đã quen với biển nhiều nên không say sóng nặng như những ngày đầu.


Rời Phan Vinh được nửa ngày chúng tôi đi vào một vùng biển rất sâu, trên 2.000 mét nước. Dưới cái nắng trưa lóa mắt, đứng trên boong tàu chúng tôi nhìn thấy phía xa có một hiện tượng lạ: mặt nước từng đợt, từng đợt như sôi lên trong một vùng hẹp. Cứ theo những điều tôi biết trong tập sách Vì sao? và Chuyện lạ đó đây, tôi nói ngay đó là cá voi đang ngoi lên mặt nước để hít thở không khí. Nhưng các bác lại không đồng tình với ý kiến này vì nếu là cá thì tại sao lại cứ đứng yên một chỗ. Tôi cũng thấy lúng túng và có phần cụt hứng. Trong khoa học, nếu một dự báo mà không phù hợp với hiện tượng quan sát thì phải tìm cách giải thích theo hướng khác.


Đứng quan sát cẩn thận một lúc, ông Tân, ông Khuyến và ông Huy Quý bảo đó có thể là hiện tượng khí phun. Các ông là những nhà địa chất - địa vật lý, rất có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Theo các ông thì trong lòng đất có thể có những đứt gãy, khí đốt từ dưới sâu theo đó đi lên, tích tụ lại trong các thấu kính cát nằm ngay dưới đáy biển, được lớp bùn đậy kín. Khi lượng khí tập trung đủ lớn, chúng tạo ra một áp lực làm vỡ lớp bùn, phun vào lớp nước và thoát vào không khí. Khí phun làm cho ta thấy mặt biển như có hiện tượng sôi vì các bọt khí nổ tung khi thoát ra khỏi nước. Chính cái thời gian cần thiết để khí tích tụ đủ lớn tạo ra chu kỳ khí phun đều đặn. Mọi người ồ lên, tỏ vẻ tán thành. Các ông trải tấm bản đồ ra, đánh dấu địa điểm có dấu hiệu lộ khí với một dấu hỏi đỏ bên cạnh. "Tại sao lại phải ghi dấu hỏi vào đó?", tôi hỏi ông tôi. Ông nói đã là khoa học thì phải thận trọng, đặt dấu hỏi là muốn nói "Có thể như vậy, cần xác minh". Trong đời sống hàng ngày cũng thế, cái gì còn chưa chắc chắn thì phải xác minh rồi mới khẳng định để tránh những kết luận hồ đồ. Một hiện tượng bao giờ cũng có thể có nhiều nguyên nhân, không thận trọng sẽ dẫn đến nhầm lẫn, mà nhầm lẫn thì thường đưa lại những hậu quả tai hại. Tôi học thêm được bài học quý để làm người.


Như vậy dấu hiệu lộ khí, nếu kèm theo một ít váng dầu nữa thì tuyệt, là một tín hiệu trực tiếp nói lên trong vùng đó có mỏ dầu khí. Các kỹ thuật cao được áp dụng tiếp theo để tìm kiếm, thăm dò, xác định mỏ và đưa vào khai thác.


Trong những vùng biển sâu, nhiệt độ ở đáy biển thường rất thấp, khoảng chừng không độ đến vài độ C. Cộng với áp suất của cột nước rất lớn, lớp đất ngậm nước bão hòa khí đốt hình thành từ vật chất hữu cơ hiện đại cách đây khoảng 5 triệu năm trở lại, cộng với khí đốt có thể di cư từ các tầng sâu lên đủ điều kiện để kết tinh trông giống như băng, tạo ra một nhiên liệu cháy, trong khoa học gọi là hydrat methan, còn trong ngôn ngữ thông thường gọi là băng cháy. Đó là một nguồn năng lượng rất lớn, rất có giá trị để thay thế dầu mỏ khi chất quý hiếm này cạn kiệt. Người ta hy vọng nguồn hydrat methan trên toàn thế giới có thể đủ cho nhân loại dùng trong thế kỷ 21, trong lúc loài người còn chưa tìm ra một nhiên liệu thay thế dầu mỏ vừa đủ nhiều, vừa tiện lợi, vừa giá rẻ, đủ để vận hành nền kinh tế và bảo đảm nhu cầu cuộc sống của hàng tỷ con người. Sau chuyến đi, khi trở về nhà kể lại chuyện này, tôi mới biết cô Giang trong gia đình tôi đang là một trong những chuyên gia chủ yếu thực hiện đề tài nghiên cứu tìm kiếm, thăm dò hydrat ở Việt Nam. Tôi rất hãnh diện về điều đó.


Vượt qua trũng sâu, chúng tôi lại gặp một vùng nâng, mực nước chỉ còn chưa đến 100m, đá vôi khối lộ ra gần ngay đáy biển. Nếu nước ở đây cạn khô hết thì vùng này trở thành một dãy núi cao vời vợi, hơn 2.000m so với phần đất bằng ở đáy trũng sâu. Ai đến đây nếu không nghiên cứu thì không thể biết được địa hình đáy biển kỳ vĩ đến thế. Đây là trũng Tư Chính - Vũng Mây. Những công nhân và kỹ sư của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trước đây mười năm đã tự mình điều hành khoan một giếng khoan sâu trên 3.000m để nghiên cứu địa chất và tìm dầu khí ở đây. Hiện nay công việc vẫn còn đang tiếp tục.


Qua khỏi trũng Tư Chính - Vũng Mây, tàu Bình Minh đi vào một vùng thềm nước sâu dưới hai trăm mét, trải rộng tới tận Côn Đảo ở phía tây, được các chuyên gia dầu khí đặt tên là trũng Nam Côn Sơn. Đây là một bồn trũng giàu dầu khí, nhất là khí đốt. Trũng này có thể coi là nơi khởi đầu của ngành dầu khí biển Việt Nam. Ngày 31-8-1974, giàn khoan Ocean Prospector (Người thăm dò đại dương) của công ty Mỹ Pecten đã khoan giếng Bông Hồng 1-X, tới độ sâu 1.640m. Giếng đã gặp dấu hiệu dầu trong tầng cát có tuổi địa chất Miocen. Điều này khẳng định trong lòng đất thềm lục địa Việt Nam có dầu khí, một kết luận vô cùng quan trọng cả về mặt khoa học lẫn kinh tế. Tiếp theo giếng Dừa 1-X sâu 4.049 mét kết thúc vào tháng mười 1974, thử vỉa ở độ sâu trên 3.000m thu được dòng dầu 1.514 thùng dầu/ngày và 164.000m3 khí đốt/ngày lại càng khẳng định nước ta có dầu công nghiệp, tức là có thể khai thác sản lượng lớn.


Tiếp nối với bồn trũng Nam Côn Sơn là bồn trũng Cửu Long, bao gồm cả một phần đất liền ở gần cửa sông Cửu Long, một bồn trũng giàu dầu mỏ nhất nước ta. Trước đây hai bồn trũng này gọi chung là bồn trũng Sài Gòn - Sarawak.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:42:07 am
Bây giờ tôi đã học được khá nhiều điều nên có thể chia sẻ sâu hơn những kiến thức về dầu khí với các bạn. Nếu chúng ta có phép thần thông, quay lùi lịch sử lại khoảng bảy chục triệu năm thì có thể đi bộ từ Thành phố Hồ Chí Minh sang tận Brunei và Indonesia. Hồi đó biển chưa tiến tới đây, toàn bộ đất đai đều khô ráo với những con sông từ các phía đổ về các hồ hoặc chảy tít lên phía đông bắc đổ vào biển Đông cổ ở phía bắc Trường Sa. Thế rồi do sự nứt vỡ, lún chìm của phần vỏ quả đất ở đây, biển Đông phát triển rộng dần ra theo hình một lưỡi kiếm khổng lồ, lách dần về phía nam. Đất sụt lún đến đâu nước biển tràn đến đấy và cách đây khoảng 40 triệu năm thì biển Đông có hình dáng gần như hiện nay. Nước các dòng sông bào mòn đất đá trên đất liền, chở về lấp đầy đáy biển. Đáy biển lại lún sâu thêm, đất đá lại tiếp tục bồi lấp hết lớp này đến lớp khác, tạo thành những lớp đá mới đè lên lớp đá cũ, lớp thì gồm vật liệu thô hạt, lớp lại mịn màng, chìm ngập trong nước nên gọi là trầm tích. Các loài thực vật từ hạ đẳng đến thượng đẳng, các loại sinh vật từ đơn bào nhỏ bé, đến tôm cá, động vật cao cấp sau khi chết bị chôn vùi trong các đá trầm tích đó. Nhiệt độ trong đá tăng cao, môi trường thiếu không khí. Dưới tác dụng của hoạt động của vi khuẩn, các chất hữu cơ bị phân hủy, biến đổi, các nguyên tố carbon (C), hydro (H), thành phần chủ yếu của chất hữu cơ, kết hợp với nhau theo các định luật hóa học mà chúng ta sẽ học trong chưong trình ba năm cuối cấp trung học phổ thông, hình thành các hợp chất đa dạng, gọi chung là hydrocarbon. Các hydrocarbon chứa từ một đến năm nguyên tố carbon là loại nhẹ, tồn tại dưới dạng khí, gọi là khí đốt. Các hydrocarbon chứa từ sáu nguyên tố carbon trở lên, tồn tại dưới dạng lỏng, gọi là dầu mỏ. Dầu có chứa trên 4% lưu huỳnh (S) gọi là dầu chua, con nếu chứa ít lưu huỳnh hơn thì gọi là dầu ngọt. Dầu càng chứa ít nguyên tố carbon trong phân tử hydrocarbon thì càng lỏng, gọi là dầu nhẹ. Còn chứa nhiều nguyên tố cacbon thì càng đặc và gọi là dầu nặng. Dầu chất lượng tốt là loại chứa ít lưu huỳnh và nhẹ vì dễ chế biến thành xăng, dầu và ít ăn mòn thiết bị, máy móc. Thế là các bạn có những kiến thức sơ đẳng về dầu khí rồi đấy.


Sau khi hình thành, dưới áp suất lớn, các giọt dầu bị ép, bắn ra khỏi nơi sinh ban đầu, kết nối với nhau thành dòng, di chuyển trong các lỗ hổng li ti liên thông với nhau của đá cát theo định luật mao dẫn hoặc khuếch tán. Tầng đá sinh ra dầu gọi là đá mẹ, còn đá chứa dầu gọi là đá chứa hoặc tầng sản phẩm. Khi gặp lớp sét dày che chắn, dầu khí tập trung vào các vòm cao, trở thành mỏ. Vì vậy sét trong địa chất dầu khí được gọi là đá chắn. Tất nhiên hiện tượng thật xảy ra trong tự nhiên còn phức tạp hơn rất nhiều nhưng đối với chúng ta kiến thức đơn giản hóa nói trên là đủ. Nếu khí đốt tồn tại cùng với dầu, thường là nằm bên trên lớp dầu hoặc hòa tan trong dầu thì gọi là khí đồng hành. Còn nếu tồn tại riêng biệt thì gọi là mỏ khí ròng. Lượng dầu chứa trong một mỏ gọi là trữ lượng tại chỗ. Số dầu này không thể lấy lên được tất cả mà chỉ được một phần, nhiều lắm là một nửa trong điều kiện kỹ thuật hiện nay. Lượng dầu có thể lấy được đó gọi là trữ lượng thu hồi hoặc trữ lượng thương mại, tức là khai thác lên, bán đi có lãi.


Bây giờ trong bồn trũng Nam Côn Sơn đã có hàng chục mỏ lớn nhỏ đang khai thác hoặc sắp khai thác, trữ lượng thu hồi mỗi mỏ từ vài chục triệu tấn trở lên.

Mỏ dầu đầu tiên mà chúng tôi gặp trên đường từ Trường Sa về đây là mỏ Đại Hùng. Đại Hùng có nghĩa là con gấu lớn. Chắc người đầu tiên đặt tên cho mỏ này rất kỳ vọng về trữ lượng mỏ. Gặp ngày đẹp trời, từ xa nhìn trên mặt biển phẳng lặng, xanh nhung đã thấy xuất hiện một ngọn tháp cao khoảng ba mươi mét và gần đó là những khu nhà cao tầng hình khối chắc khỏe, đặt trên các chân đế cắm sâu vào đáy biển. Một sân bay trực thăng trên nóc giống như một sân bóng vuông vắn, có hàng rào vây quanh. Trên chót vót đầu ngọn tháp, một ngọn lửa màu vàng rực, tiếng rít ầm ầm, kéo dài trong không trung như một dải lụa vơn trong gió. Đó là giàn khai thác. Tiếng ồn mỗi lúc một tăng khi chúng tôi tiến đến gần. Các chú công nhân, kỹ sư đầu đội mũ bảo hộ gọn gàng trong bộ quần áo lao động màu vàng đi đi lại lại giữa vô số những ống thép, những dây cáp lòng thòng những dãy thùng lớn, thùng nhỏ đặt chật ních trên sàn. Chúng tôi reo lên, đưa tay vẫy chào những anh hùng trên biển cả. Mười phút sau một chiếc nôi bằng sắt hình vuông treo trên móc ròng rọc được thả xuống để chúng tôi đúng vào và kéo lên giàn. Một cảm giác rờn rợn khi lơ lửng giữa không khí. Nói dại, nếu có gì trục trặc rơi xuống biển thì... Thế mà suốt ngày đêm những người làm việc trên giàn lên xuống khi cần đều bằng cách đó.


Chú giàn trưởng đón chúng tôi đưa đi quanh một vòng để xem máy móc làm việc. Lần đầu tiên tôi thấy dầu thô, một loại chất lỏng màu nâu đậm mùi hăng hắc vừa đủ loãng để chảy theo máng đến thùng lọc. Đây là loại dầu ngọt, nhẹ, rất có giá trị trên thị trường. Dầu được thu về nhưng khí đồng hành lại phải đốt bỏ vì không đưa được vào bờ nên mới có ngọn lửa nhìn thấy trên kia.


Phòng câu lạc bộ có đủ tivi màu và nhiều trò chơi giải trí. Ngồi quanh chiếc bàn bên cạnh các ly cà phê khói bốc thơm phức, chúng tôi nghe lịch sử mỏ với đầy đủ những gian truân, thăng trầm, làm bạc bao nhiêu mái đầu. ông Thanh, ông Luân, những kỹ sư đã có kinh nghiệm hơn 30 năm khoan dầu, tóc như rễ tre, giọng Bình Định nặng trịch nói một cách vừa khôi hài vừa nghiêm túc rằng khai thác dầu đâu có phải dễ ăn như một số người chuyên thích chê bai nói "bốc tài nguyên lên bán" một cách vô duyên. Dầu mỏ ở giữa biển cả mênh mông, sâu trong lòng đất. Nếu không có kỹ thuật cao, không có tư duy địa chất đúng thì không thể tìm ra. Khi đã tìm ra rồi nếu không có phương tiện hiện đại để xác định tọa độ mỏ một cách chính xác để ghi lên bản đồ thì sau này quay lại cũng không biết mỏ ở vị trí nào trên mặt biển bao la. Và khi đã biết vị trí rồi mà không có thiết bị khoan có thể khoan sâu đến 4 - 5km trong điều kiện sóng gió, thành giếng không sụp lở thì dầu khí cũng không phun lên được. Đó là chưa kể khi mỏ không đủ áp suất tự nhiên để đẩy dầu lên thì phải làm thế nào để khai thác được dầu. Vai trò của kỹ thuật và tri thức của con người trong ngành dầu khí là như vậy.


Mỏ Đại Hùng được công ty Mobil Mỹ tìm ra và bắt đầu khoan giếng đầu tiên ngày 10-3-1975. Tới độ sâu 1.747 mét thì miền Nam được giải phóng. Công việc ngừng. Tàu khoan rút đi. Mãi đến 1988-1991, Liên doanh dầu khí Việt Xô (Vietsovpetro) mới xác minh lại sự hiện diện của các tầng dầu ở Đại Hùng. Sau đó mỏ được giao cho một tổ hợp gồm các công ty dầu quốc tế do công ty BHP (Úc) điều hành, đến tháng Mười 1994 mới bắt đầu khai thác với sản lượng ban đầu 4.660 tấn/ngày. Nhưng đến năm 1997, tức là chỉ sau ba năm thì sản lượng chỉ còn 1.022 tấn/ngày. Họ tính toán thấy đầu tư không hiệu quả nên lần lượt rút lui. Mỏ chuyển bán lại cho công ty Petronas (Malaysia). Đến năm 2001 sản lượng tiếp tục giảm, chỉ còn 389 tấn/ngày và đến lượt Petronas cũng ra đi. Vietsovpetro và sau đó là công ty PVEP của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) được nhà nước giao cho thăm dò lại. Hiện nay sản lượng lại đạt 3000 tấn/ngày và đang tiẽp tục tăng. Như vậy không phải chỉ có công nghệ mà quản lý cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Quản lý không giỏi thì có của cũng vẫn cứ là nhà nghèo vì tài sản sẽ đội nón ra đi.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:42:55 am
Chúng tôi càng khâm phục tài năng sáng tạo của những người thợ khoan và khai thác dầu của Việt Nam. Tạo hóa đã cho con người Việt một bộ óc thông minh không kém bất cứ dân tộc nào. Nếu có điều kiện tốt và nếu có một lý tưởng đúng để hướng dẫn cuộc sống thì trí thông minh đó sẽ được khuếch đại lên nhiều lần, nhanh chóng đưa tổ quốc ta đến văn minh, hiện đại.


Trưa hôm đó chúng tôi được các chú ở mỏ Đại Hùng chiêu đãi. Bữa cơm giữa biển có rất nhiều món hải sản tươi, đầy đủ rau quả, các loại nước uống, sang như ở khách sạn. Những người làm việc trên biển trong ngành dầu khí đi lại từ đất liền ra giàn khoan bằng máy bay trực thăng, ăn uống theo nhu cầu, không phải trả tiền. Họ sống hết mình vì công việc hợp tác với nhau chân thành, không vụ lợi vì một mục tiêu chung, thật đẹp đẽ biết bao nhiêu.


Chúng tôi chia tay, hẹn ngày gặp lại. Các chú còn ở đây, xa cách gia đình, làm việc với cường độ cao, mỗi đợt mười lăm ngày liên tục mới về lại đất liền. Chúc các chú, các cô sức khỏe và thắng lợi.

Tiếp tục hành trình chúng tôi lại đến mỏ khí đốt lớn đang khai thác mang tên một loài hoa rừng rất đẹp, đó là Lan Tây - Lan Đỏ. Cái tên cũng đủ gọi cho ta tình yêu thiên nhiên và cái đẹp rồi.

Mỏ Lan Đỏ được phát hiện năm 1992 và mỏ Lan Tây vào đầu năm 1993. Hai mỏ nằm cách nhau 25km, độ sâu nước biển khoảng 150 mét. Cụm mỏ này nằm cách Vũng Tàu 370km, có trữ lượng thu hồi khoảng 60 tỷ m3 khí. Mỏ đủ để khai thác trong 20 năm, mỗi năm 3 tỷ m3. Đây là một mò khí ròng trong đó chứa một lượng đáng kể condensat, tức là loại xăng tự nhiên rất nhẹ.


Sống và làm việc giữa biển khơi làm cho lòng người lúc nào cũng rộng mở, vui vẻ, thân thiện. Chúng tôi bước lên giàn khai thác giữa những vòng tay ấm cúng và những nụ cười đầy tình cảm ruột thịt mặc dù đây là lần đầu tiên mới quen biết nhau.


Giàn khai thác khí có thể ví như một tổ dân phố thu nhỏ, chứa khoảng một trăm nhân khẩu, đến từ rất nhiều nơi trên đất nước. Hàng trăm đường ông to nhỏ, sơn vàng hoặc trắng, chạy ngang dọc chằng chịt, lấp lánh dưới ánh nắng chói chang. Mọi thứ được sắp xếp rất gọn, hợp lý và rất sạch. Khí được khai thác từ nhiều giếng, gom lại một nơi, xử lý thô cho sạch những bùn, đất và các chất bẩn khác rồi chuyển qua một hệ đường ống dài khoảng 400km, dẫn vào Vũng Tàu. Đây là hệ đường ống chuyên chở khí đồng thời với chất lỏng nên gọi là đường ống hai pha. Công ty dầu khí quốc tế BP, người điều hành mỏ, rất tự hào về công trình rất phức tạp này vì nó là đường ống hai pha dài nhất thế giới hiện nay. Xung quanh mỏ Lan Đỏ - Lan Tây còn rất nhiều mỏ khí nhỏ khác sẽ được khai thác trong tương lai nên đường ống được thiết kế dự phòng có thể mở rộng công suất để có thể thu gom khí trong vùng.


Khi khí đưa về tới đất liền thì được lọc tách riêng condensat, LPG và khí khô. Condensat được trộn trực tiếp vào xăng thông thường để chạy xe hoặc cung cấp cho các nhà máy hóa chất làm dung môi hay làm nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao. LPG là loại chứa hai hợp chất propan và butan, tức là loại hydrocarbon chứa từ ba đến bốn nguyên tử carbon. Khi bị nén thì LPG trở thành lỏng, được đóng vào các bình thép ta quen gọi là bình gas, cung cấp cho các gia đình, các nhà hàng đun nấu thức ăn rất tiện lợi. Khi mạng lưới thương mại phát triển cao hơn nữa thì LPG sẽ được cung cấp cho cả vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt ở các công trường đông người, LPG dùng làm chất đốt sinh hoạt thay thế cho than, củi, góp phần làm giảm nạn phá rừng và giảm ô nhiễm môi trường. Còn khí khô thì dùng chủ yếu cho phát điện và sản xuất phân bón.


Các nhà chuyên môn dự báo trữ lượng khí thu hồi của nước ta đến năm 2015 ước đạt 400 tỷ m3, đáp ứng đủ lượng khí cho khoảng 18 nhà máy điện sẽ đưa vào sản xuất từ nay đến 2022 ở khắp ba miền Trung Nam Bắc. Cụm nhà máy điện đạm chạy khí và nhà máy xử lý Dinh Cố được xây dựng ở Phú Mỹ - Vũng Tàu trong các năm 1996-1998 có công suất 4,2 triệu m3 khí/ngày đêm không những đã cung cấp một lượng điện rất lớn cho nhu cầu ở miền Nam, mà mỗi ngày còn sản xuất được 800 tấn LPG, 350 tấn condensat, 2.400 tấn phân urea và 350 tấn amoniac. Ngày 08-5-1999 Việt Nam lần đầu tiên xuất khẩu 1.712 tấn LPG sang Nhật, đánh dấu sự mở đầu của việc xuất khẩu khí đốt của nước ta ra thị trường thế giới. Tuy con số chưa lớn nhưng khi nói đến chi tiết này, trên khoé mắt các chú trên giàn ánh lên niềm tự hào lớn lao mà chỉ có những người mới cách đây vài chục năm chưa từng biết LPG là gì mới hiểu hết ý nghĩa của nó.


Khi chúng tôi đi tham quan các bộ phận sản xuất của mỏ thì một chiếc máy bay trực thăng từ Vũng Tàu bay ra. Cánh quạt trên lưng quay tít tạo thành một vòng tròn tưởng như một bánh xe đặc sít. Hóa ra khi tốc độ quay nhanh, mắt ta không kịp nhận ra vị trí cánh quạt trong một thời gian vô cùng ngắn nên sẽ có ảo giác như chúng dính liền nhau trong cả vòng tròn. Tiếng động cơ lạch bạch ầm ĩ cả không gian rộng khi lượn vòng quanh khu khai thác rồi đáp xuống nhẹ nhàng trên nóc giàn, ngay phía trên nơi dành làm chỗ ăn ở cho công nhân mỏ. Hai phi công rất trẻ, vui tính, và rất nhanh nhẹn. Với chiếc sân đỗ bé tẹo, chỉ cần điều khiển không chính xác thì nguy cơ xảy ra tai nạn là rất lớn. Thế mà các anh làm công việc này rất gọn, rất an toàn. Lại thêm một minh chứng cho sự khéo tay và thông minh của thanh niên Việt Nam, những người chỉ được đào tạo trong một thời gian ngắn đã đủ sức làm chủ kỹ thuật, thay thế được những phi công Pháp mà ngành dầu khí nước ta phải thuê khi bắt đầu tiến quân ra biển.


Máy bay chở 3 kỹ sư Việt Nam và một chuyên gia Nauy ra làm vệ sinh bên trong đường ống. Nghe nói trong quá trình vận hành lâu ngày, chất lỏng kết tinh lại thành một lớp rắn bám vào thành ống làm cho lòng ống hẹp lại, gây khó khăn cho khí lưu thông. Nhiệm vụ của họ là làm cho lớp đó bong ra và đẩy ra ngoài. Quả là công việc không dễ dàng chút nào khi đường ống dài hàng trăm cây số.


Ông tôi nói chuyện vui vẻ với họ và nảy ra ý tưởng gửi tôi về mỏ Bạch Hổ trong bồn trũng Cửu Long trước để nghỉ ngơi, chuẩn bị cho chuyến đi tiếp vào tuần sau. Bác Bình tôi làm việc tại đó. Tàu Bình Minh hai ngày nữa sẽ đến và sẽ đón tôi đi tiếp. Bữa cơm chia tay trên giàn rất thịnh soạn với món tôm hùm tươi rói mới bắt được to bằng cổ tay người lớn, thịt ngọt lịm, ăn một lần là nhớ đời.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:43:54 am
Máy bay cất cánh thẳng đứng, sau đó lượn một vòng chào mọi người rồi hướng về phía tây. Dưới chân tôi mặt biển rất hiền hòa, phân ra nhiều vùng màu sắc khác nhau. Nơi này xanh thẳm, nơi kia màu lục đậm, xa hơn ít nữa lại là màu da trời. Đó là do màu rong tảo ở dưới đáy biển chi phối. Trong cái thế giới đó có biết bao loài sinh vật trú ngụ, chung sống hòa bình với nhau hoặc ăn tươi nuốt sống nhau theo cái luật cạnh tranh sinh tồn rất lạnh lùng của thế giới hoang dã. Đáy biển nâng dần về phía tây để rồi tiếp giáp với đới nâng kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam, phân chia hai vùng trũng Nam Côn Sơn và Cửu Long. Vùng cao nhất của đới này chính là cụm đảo Côn Sơn, ngày xưa gọi là cù lao Côn Lôn. Tên này có nguồn gốc Mã Lai nên nghe có vẻ lạ tai và hay hay, đó là Pulau Kundur, có nghĩa là đảo hòn bi. Tôi biết thêm vùng đất này là nơi chứng kiến sự giao thoa của hai nền văn hóa Việt và Nam Á. Theo các nhà dân tộc học thì các dân tộc Tây Nguyên, Chăm, Khơme có nhiều điểm chung với các dân tộc Mã Lai, Indonesia và các cư dân sống trên các đảo Nam Thái Bình Dương. Các loài thực vật và động vật cũng vậy. Mối liên hệ này có lẽ đã bắt nguồn từ thời cả vùng này con chưa bị nước biển tràn ngập từ nhiều triệu năm về trước.


Côn Đảo cách Vũng Tàu 97 hải lý, có cùng kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và cùng vĩ độ với tỉnh Cà Mau. Vùng này có 16 đảo lớn nhỏ, Côn Đảo là đảo chính trong cụm này.

Vườn quốc gia Côn Đảo bao gồm 14 đảo. Được thành lập vào năm 1993, vườn rộng 20.000 ha cả đất liền và mặt biển cùng 20.500 ha vùng đệm, đây là khu duy nhất bảo tồn cả rừng lẫn biển. Vườn có 882 loài thực vật, 144 loài động vật, trong đó có 18 loài quý hiếm. Hòn Trứng và Hòn Tre Nhỏ là hai sân chim biển lớn. Một số loài chỉ thấy ở Côn Đảo như chim Điên Mặt xanh, bồ câu Nicôba, gầm ghì trắng, sóc đen Côn Đảo, sóc mun và thạch sùng Côn Đảo. Các loài cá và san hô đa dạng, sắc màu rực rỡ. Ốc đá, rùa, vích, đồi mồi, bò biển cũng là những động vật đặc hữu của Côn Đảo. Chính phủ đã có những chương trình bảo tồn riêng.


Cách Côn Đảo khoảng 7,5km2 về phía đông nam là hòn Bảy Cạnh, diện tích 5,5km2, nơi có ngọn hải đăng làm nhiệm vụ người hoa tiêu cho tàu qua lại gần 150 năm nay. Đến đây bạn có thể tắm biển, phơi nắng buổi sáng trên những bãi cát mịn màng, thơ mộng, khám phá những rạn san hô chỉ cách bờ vài chục mét, và vào những đêm tháng Năm, tháng Sáu hồi hộp chờ xem đàn vích kéo lên bờ đào hố đẻ trứng đông như đi hội.


Nằm trên đường hàng hải quốc tế nối liền châu Âu với các nước Viễn Đông nên phương Tây đã biết và chú ý đến Côn Đảo từ rất sớm. Năm 1294 đoàn thuyền của Marco Polo, nhà thám hiểm Ý lừng danh trên đường về nước đã gặp bão lớn, tám chiếc bị chìm, sáu chiếc còn lại giạt vào Côn Đảo. Suốt các thế kỷ từ 15 đến 18, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan luôn cho người đến nghiên cứu, điều tra. Năm 1702, dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu, công ty Đông Ấn của Anh đã đổ quân lên đảo, xây dựng pháo đài, cột cờ và đồn trú. Ngày 03-02-1705, binh lính đánh thuê người Mã Lai kết hợp với người Việt nổi dậy giết chết bọn sĩ quan. Người Anh từ đó rút lui khỏi Côn Đảo. Ngày 28-01-1861, Bonard, thủy sư đô đốc Pháp cho pháo hạm Norzagaray chiếm Côn Đảo và trung úy hải quân Pháp Sebastien Nicolas Joachim sau đó tuyên cáo chủ quyền Pháp tại vùng đất này. Ngay sau khi chiếm đóng, việc đầu tiên mà người Pháp làm với danh nghĩa đi khai hóa văn minh cho dân bản địa Đông Dương là ký sắc lệnh xây dựng nhà tù Côn Đảo khét tiếng ngày 14-01-1862. Sau hơn một trăm năm nô lệ, Côn Đảo tự vùng lên giải phóng ngày 01-5-1975 dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhà tù và ông Lê Câu, một trong những người tù nổi tiếng kiên cường được bầu làm chủ tịch Ủy ban giải phóng đầu tiên của đảo. Hiện nay Côn Đảo là một huyện của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, dân số 4.466 người với 21 khu du lịch quốc gia và nhiều cơ sở kinh tề khác đang được hình thành.


Máy bay bay dọc theo đảo. Bên dưới là tán cây rừng xanh biếc của khu bảo tồn sinh thái phủ kín các dãy núi đá hoa cương với các loài cây, động vật đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nghĩa trang Hàng Dương rộng mênh mông, nơi yên nghỉ của 200.000 nhà yêu nước tiền bối đã hy sinh trong nhà tù Côn Đảo từ nửa cuối thế kỷ 19 đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng.


Tôi hiểu thêm con đường đi biển của tôi trong chuyến này thấm đượm bao nhiêu máu xương của các lớp cha ông đã từng đi mở nước và giữ nước. Thế hệ chúng tôi nếu không sống xứng đáng với sự hy sinh to lớn đó thì thật là xấu hổ. Tôi ước ao có một ngày nào đó sẽ được đến thăm Côn Đảo, đặt chân lên cầu Ma Thiên Lãnh, đọc lại những câu thơ của các cụ Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... đầy hùng khí khi các cụ và hàng nghìn chiến sỹ cách mạng phá đá làm đường mà chân vẫn phải kéo lê chiếc xiềng sắt nặng nề của bọn xâm lược. Tôi sẽ đến thăm các chuồng cọp, nhà hầm, nơi từng nhiều năm giam giữ những người con trung kiên nhất của dân tộc, thắp hương trên mộ chị Võ Thị Sáu cùng các nấm mộ có tên và không tên trong các nghĩa trang liệt sĩ. Tôi sẽ vào rừng ngắm các chùm phong lan đầy màu sắc treo vắt vẻo trên các cành cây cổ thụ và đi dọc các bãi cát ven đảo tham quan các cơ sở nuôi rùa biển cùng các loại đặc sản của biển Đông, căng ngực ra hít thở không khí trong lành của vùng biển miền Nam giàu đẹp này. Tôi chúc cho các bạn cũng có được niềm vui đó.


Máy bay chuyển hướng tây bắc, đi vào vùng biển có vô số tàu thuyền đánh cá, chiếc đứng yên tại chỗ, chiếc xuôi, chiếc ngược với những lá cờ đỏ sao vàng tung bay rạng rỡ trên các cột buồm. Anh phi công tươi cười nói chúng tôi đã vào bể Cửu Long. Đây là một thuật ngữ địa chất chỉ một vùng biển cổ, hình thành cách đây khoảng 60 triệu năm, nằm giữa vùng bờ biển hiện nay và đới nâng Côn Sơn ở phía đông. Bể Cửu Long rộng 60.000km2, là bể chứa dầu giàu nhất của nước ta, với loại dầu chất lượng rất cao. Ở đây có rất nhiều mỏ đang khai thác và sẽ khai thác trong tương lai gần như Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Phương Đông, Vừng Đông, Kim Cương, Lục Ngọc, Sư tử Đen, Sư tử Vàng, Sử tử Trắng, v.v... Cả vùng này thực sự đang trở thành một thành phố công nghiệp nổi về dầu khí lớn nhất đất nước. Trong số các mỏ trên, mỏ Bạch Hổ và cụm mỏ Sư Tử thuộc loại mỏ lớn trên thế giới. Đứng trên giàn trung tâm của mỏ Bạch Hổ nhìn ra bốn phía, các giàn khai thác đồ sộ nằm rải rác khắp nơi, giàn này cách giàn kia khoảng vài cây số. Xung quanh mỗi giàn, các tàu bảo vệ, tàu phòng chống cháy, tàu cứu hộ, tàu dịch vụ, tàu chứa dầu và xuất dầu hoạt động nhộn nhịp như một công trường. Trên các giàn có hàng nghìn người làm việc. Họ là những công nhân, kỹ sư, các nhà nghiên cứu đủ các loại ngành nghề chuyên môn. Họ làm việc theo ca kíp, thay phiên nhau liên tục 24/24 giờ nên có một nhà thơ đã viết rằng "mỏ Bạch Hổ không bao giờ chợp mắt". Suốt ngày đêm tiếng ồn của các đuốc lửa, của máy móc, tàu bè, tiếng va chạm của sắt thép chát chúa không bao giờ ngừng. Có lẽ vì thế mà người ở đây thường nói to như quát, mà thậm chí quát cũng rất khó nghe. Ban đêm cả vùng biển sáng rực dưới ánh điện, giàn nào cũng giống như cây thông ngày tết. Hôm nay là ngày rằm. Trăng trên biển vừa tròn vừa lớn hơn mức bình thường so với khi ta ngắm trăng trên đất liền, có lẽ là do hiệu ứng quang học của mặt nước và của các tầng không khí chứa nhiều khói nước phân dị theo độ cao. Trong khu mỏ ánh trăng pha loãng trong ánh điện còn ra xa hơn thì bàng bạc, lấp lánh trên các gợn sóng, làm cho mặt biển tưởng như được phủ bằng kim tuyến, cả bầu trời như một vòm mái khổng lồ, điểm xuyết vô vàn các ngôi sao, cái tỏ cái mờ và càng ngắm càng thấy nhiều hơn.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:44:41 am
Chúng tôi ra hành lang của giàn, vừa để ngắm cảnh đêm vừa nghe bác Đông nói chuyện. Bác cho biết mỏ Bạch Hổ nằm cách Vũng Tàu 120km về phía đông nam. Tầng dầu trên cùng được công ty Mobil Mỹ phát hiện vào đầu năm 1975 và họ đã rút đi sau ngày giải phóng. Công việc đầu tiên của ta là phải xác minh lại có đúng Bạch Hổ là một phát hiện công nghiệp hay không. Tiến sĩ Đặng của, người chỉ huy cao nhất về khoan của Vietsovpetro thời đó nhớ lại cái giờ phút trọng đại khi người Việt Nam trực tiếp nhìn thấy dòng dầu của tổ quốc được lấy lên từ lòng đất mẹ. Ông kể rằng sau năm năm xây dựng cơ sở vật chất ban đầu trên những bãi sú vẹt Vũng Tàu và đo địa vật lý giống những gì tàu Bình Minh đang làm mà tôi đã thuật lại cho các bạn nghe, Vietsovpetro đã tìm lại được vị trí của cấu tạo Bạch Hổ. Tàu khoan mang tên nhà bác học Liên xô Mikhain Mircink được đưa từ biển Đông Sibêri sang, tiến ra vị trí dự định đặt giếng khoan đầu tiên và suốt năm mươi ngày đêm đã phải chịu những thử thách lớn của một vùng biển nhiệt đới mà họ chưa từng gặp. Những đợt sóng cao 8m, những luồng gió mạnh 25 mét/giây liên tục ào ào xô đến như muốn quật đổ cái tháp khoan bằng thép cao bằng một tòa nhà chín tầng sừng sững mọc lên giữa biển. Hệ thống neo thủy lực cực mạnh giằng co với sóng gió để giữ cho tàu khoan cố định, bảo đảm mọi hoạt động bình thường của con tàu. Cả một hệ thống cơ khí phức tạp điều khiển mũi khoan kim cương xuyên vào lòng đất. Lỗ khoan tiến tới đâu thì những ống thép tiến theo tới đó để giữ cho thành giếng khỏi sụt lở. Và một dòng dung dịch chứa nước, sét, hóa chất được điều khiển luân chuyển tuần hoàn giữa miệng giếng và đáy giếng để vận chuyển đất đá bị mũi khoan nghiền nát lên mặt đất đồng thời giữ cho mũi khoan được mát trong quá trình khoan. Gần hai tháng hoạt động liên tục như thế với biết bao khắc khoải, lo âu về những sự cố có thể xảy ra. Cuối cùng một lỗ thẳng đứng sâu trên 3000m đã chạm vào tầng đá được dự báo chứa dầu. Lại đến lúc phải lo đối phó với hiện tượng dầu khí phun bằng một hệ thống van an toàn vì áp suất của vỉa chứa sản phẩm rất lớn, chỉ cần một sơ suất thì một vụ nổ cực mạnh sẽ đẩy tất cả thiết bị, máy móc, tàu khoan lên cao, nát vụn trong chốc lát. Từ đây các kỹ sư khoan phải tập trung trí tuệ, sức lực, điểu khiển mũi khoan nghiến từng tấc đá đúng với quy trình kỹ thuật cho đến khi cắt hết tầng chứa dầu. Sau đó là đo các tham số vật lý trong giếng để biết chính xác nơi nào có dầu khí. Tiếp theo là dùng đạn chuyên dụng bắn vào thành giếng, mở đường cho dòng dầu khí tự phun lên mặt đất nhờ sự chênh lệch áp suất giữa khí quyển và tầng chứa sản phẩm. Thật khó quên giây phút được nhìn thấy dòng dầu khí ra khỏi lòng đất. Vòi đốt khí bật lên một tiếng gầm điếc óc, lửa bốc cháy, khói cuồn cuộn, đen kịt, vần vũ như rồng bay, báo tin chiến thắng. Dòng dầu nâu đen chảy qua lòng máng vào những bồn chứa. Mọi người từ công nhân, kỹ sư, bác sỹ cho đến chị nấu bếp, tất cả những ai có mặt trên tàu đều ùa ra reo hò, nhúng tay vào dầu, đưa lên mũi ngửi để tận hưởng cái mùi hăng hắc bốc lên, tận hưởng cái hạnh phúc được nhìn thấy thành quả lao động của chính mình và của cả một tập thể được gọi bằng cái tên trìu mến "cán bộ dầu khí" sau bao nhiêu tháng ngày nghiên cứu, khám phá những bí mật của thiên nhiên.


Ngoài việc xác nhận sự có mặt của tầng dầu đã được Mobil phát hiện trước kia, Vietsovpetro còn tìm ra nhiều tầng dầu mới ở sâu hơn. Đặc biệt là chúng ta đã phát hiện dầu trong đá móng nứt nẻ với trữ lượng lớn gấp hàng chục lần tầng dầu cũ. Đây là một kỳ tích vì loại đá móng nói chung đặc sít, về lý thuyết không có khả năng sinh dầu và chứa dầu. Trên thế giới chỉ một vài nơi tìm thấy dầu trong đá móng nhưng khối lượng rất nhỏ, không có giá trị thương mại. Còn ở bể Cửu Long lại khác, tầng chứa dầu này ngoài Bạch Hổ còn được phát hiện ở hầu hết các mỏ, kể cả một số mỏ ở bể Nam Côn Sơn, nên được xem là hiện tượng lạ, chưa từng có. Nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, giải thích nguồn gốc dầu trong đá móng, cấu trúc và phương pháp khai thác mỏ đặc biệt này. Đại đa số các nhà địa chất cho rằng dầu hình thành trong đá trầm tích vây quanh rồi di chuyển vào các chỗ nứt nẻ trong đá móng giống như chất lỏng ngấm vào một khối bọt biển. Cũng có không ít người cho rằng dầu Bạch Hổ có nguồn gốc vô cơ. Thậm chí đã có một hội nghị khoa học quốc tế tổ chức tại Mỹ trong đó mỏ Bạch Hổ được viện dẫn như một minh chứng cho học thuyết vô cơ về dầu khí.


Tầm quan trọng khoa học của phát hiện này đã là rất lớn lao, nhưng về thực tiễn lại càng lớn lao hơn nữa bởi vì nó mở ra một chân trời mới trong công nghiệp tìm kiếm, thăm dò dầu khí toàn cầu. Ngày nay ở khắp mọi nơi trên thế giới đá móng nứt nẻ được coi là một đối tượng tìm dầu khí quan trọng.
   

Mỏ Bạch Hổ có trữ lượng thu hồi khoảng 300 triệu tấn dầu thô và một lượng lớn khí đồng hành. Tính cả đời mỏ trừ hết chi phí sản xuất thì ngân sách nhà nước còn có thể thu về không dưới 50 tỷ đô la, tức là tương đương với số tiền xuất khẩu gạo với số lượng vá giá cả hiện nay trong cả 60 năm. Thiên nhiên đã bù đắp những thiệt thòi cho dân tộc ta, một dân tộc đã gánh quá nhiều hy sinh trong quá trình dựng nước và giữ nước. Dầu Bạch Hổ đã là một trong những nhân tố rất quan trọng giúp đưa đất nước ta thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện trong giai đoạn 1985-1995, khi mà hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề và mọi nguồn viện trợ quốc tế đều bị cắt, lại còn bị các lực lượng thù địch tấn công, bao vây, cấm vận.


Thế hệ chúng tôi chẳng biết gì về giai đoạn khủng khiếp này. Qua lời ông Hãn, trước mắt tôi hiện ra những chú bộ đội binh đoàn 318 vừa rời tay súng đã nắm lấy cuốc xẻng san lấp bùn lầy, biến các bãi sú vẹt ở Vũng Tàu thành những kho bãi, xưởng máy, bến cảng, tạo ra những cơ ngơi bề thế ban đầu của cả một ngành công nghiệp lớn lao mà không hề đòi hỏi được hưởng thụ những gì tương xứng với công sức của mình đã bỏ ra. Đó thực sự là những người lính Cụ Hồ. Những công nhân, cán bộ để lại gia đình, con cái ở miền Bắc vào Nam làm việc với tư cách như những người lính đi ra mặt trận.


Bữa ăn chỉ có bo bo thay cơm, đời sống gian khổ đủ đường nhưng họ đã lập những thành tích vang dội. Những người bạn Xô Viết từ bỏ tiện nghi, đến một xứ sở đầy nắng gió và thiếu thốn mọi mặt để đưa công nghệ giúp đỡ Việt Nam thoát khỏi đói nghèo với một tinh thần quốc tế, hữu nghị cao cả. Khi làm việc cũng không ít người bị tai nạn, rơi xuống biển. Làn nước xanh mông mênh kia là nấm mồ cất giữ thi thể của những chiến sĩ quốc tế quang vinh. Hàng năm, trong những ngày lễ trọng đại những người thợ dầu mò không quên thả hoa và đèn xuống nước để tưởng nhớ đến họ.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Sáu, 2022, 06:45:11 am
Các bạn sẽ rất ngạc nhiên khi nghe nói việc tìm kiếm các mỏ dầu giống như là đi bắt cá. Có những lần về quê đúng vào mùa nước cạn tôi đã từng thấy hàng chục người lội bì bõm trong hồ ao, tay cầm nom chụp vào làn nước đục ngầu để tìm cá. Cứ chỗ nào thấy cá móng hoặc có người bắt được chú cá to là mọi người đổ xô vào. Có người may mắn và cũng có người ra về tay không sau cả ngày vất vả. Ở bể Cửu Long cũng vậy. Sau khi dầu Bạch Hổ được phát hiện, rất nhiều công ty dầu lớn của Mỹ, Đức, Ý, Canada, Hà Lan, Anh, Pháp... với công nghệ rất hiện đại và kinh nghiệm nghề nghiệp đầy mình đã đến. Họ tiêu tốn hàng trăm triệu đôla nhưng thần may mắn lại không mỉm cười với họ nên đành phải rút lui, gánh chịu rủi ro. Sau đó các công ty ít danh tiếng hơn lại đến hợp tác với Việt Nam, nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân thất bại của những bậc đàn anh đi trước và tìm kiếm lại ngay tại các diện tích cũ. Và điều kỳ diệu đã xảy ra. Các công ty của Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Mỹ... lại tìm thấy hàng loạt mỏ mới trong đó có những mỏ lớn như cụm mỏ Sư tử, Cá Ngừ Vàng. Tôi nghiệm ra một bài học nữa cho cuộc đời. Không chỉ cần kỹ thuật cao siêu và tài năng, mặc dù đây là những yếu tố rất quan trọng để bảo đảm thành đạt mà còn cần sự cần cù, biết học từ những thất bại, sự kiên nhẫn, tự tin. Tương lai tươi sáng vẫn có thể lại đến với mình ngay trong những tình huống tưởng như tuyệt vọng.


Trong những năm tới bể Cửu Long sẽ có thêm hàng chục mỏ được đưa vào khai thác. Và biết đâu thế hệ chúng tôi cũng lại tìm thấy những mỏ mới nữa vì theo các nhà địa chất, đây là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để sinh thành và tích tụ dầu khí. Ngay những mỏ đã khai thác cũng có thể tăng cường thu hồi với sản lượng không kém các mỏ mới bằng những công nghệ hiện đại mà chúng ta sẽ được chuyển giao hoặc sáng tạo ra trong tương lai.


Trong lúc chúng tôi đang say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thành phố dầu trên biển cả thì trên ti vi xuất hiện những cảnh về nạn ô nhiễm môi trường dọc biển kéo dài từ Đà Nẵng đến Cà Mau. Trên các bãi cát trắng mịn được đánh giá là những bãi tắm tuyệt vời không những của nước ta mà còn của thế giới, hàng nghìn mẫu dầu đen ngòm, to nhỏ đủ kiểu bị sóng và thủy triều đẩy lên bờ, nằm ngổn ngang khắp nơi. Mẫu dầu bị ngấm nước lâu ngày đã bị phân hủy một phần nhưng vẫn còn đậm đặc. Chúng không những chỉ làm bẩn bãi tắm, mất mỹ quan mà còn làm cho môi trường sống của cá, tôm, sò, hến, rong tảo, cây cối bị hủy hoại. Nhân dân dùng tay đi nhặt các mẫu dầu này chất thành đống, mang đi đốt. Các nhà chuyên môn dùng các thiết bị hiện đại quây các diện tích bị ô nhiễm để thu gom hoặc dùng các hóa phẩm, các vi sinh để phân hủy, trả lại sự trong sạch cho môi trường. Một công việc vô cùng nặng nhọc và tốn kém. Thì ra công nghiệp dầu đem lại những lợi ích lớn lao nhưng cũng mang theo những hiểm họa không nhỏ nếu con người không nhận thức được cũng như không có những giải pháp hữu hiệu để hạn chế hoặc loại bỏ các hiểm họa đó.


Ông Quyết, bà Lan cho chúng tôi biết ngày nay nhờ những tiến bộ kỹ thuật mà các vụ tràn dầu, phun khí trong quá trình khoan giếng hoặc khai thác đã được khống chế tối đa nên những tai họa ít xảy ra. Ở Việt Nam suốt ba mươi năm qua các sự cố kiểu này rất hiếm. Trên thế giới cũng vậy. Tuy nhiên không được chủ quan. Dầu có thể bị rò rỉ từ đường ống thu gom sản phẩm, hoặc từ các giếng khai thác, khối lượng không lớn nhưng tích tụ lâu ngày vẫn có thể gây hại không nhỏ. Nguồn gây ô nhiễm chính và lớn nhất nhưng dư luận ít biết đến lại là từ các tàu chở dầu. Nếu tàu bị tai nạn, bị thủng do đâm vào đá ngầm hoặc vì các nguyên nhân khác thì lượng dầu trong tàu sẽ chảy vào nước biển với khối lượng lớn, tập trung, trong một thời gian ngắn. Sóng, gió, dòng biển sẽ mang chúng đi khắp nơi. Một số chủ tàu thiếu trách nhiệm còn rửa tàu, đổ dầu cặn xuống biển trên đường đi nếu không bị kiểm soát. Đó là không kể sự cố ý mang tính tội lỗi của các lực lượng thù địch hòng phá hoại uy tín, gây rối, gây thiệt hại kinh tế cho ta trong một thế giới còn đầy hiềm khích.


Biển Đông là con đường vận tải biển quốc tế rất nhộn nhịp. Hàng ngày có hàng trăm tàu qua lại, chở khách, chở hàng hóa, chở dầu thô và các loại sản phẩm dầu khí từ đủ các nơi đến các nước Đông Bắc Á, Bắc Mỹ và ngược lại. Trung Quốc cũng khai thác dầu ở ngoài khơi vịnh Bắc bộ, Đông Hải Nam, Đông Quảng Đông. Ta rất thiếu thông tin nên vẫn chưa xác định được nguồn gây ô nhiễm dầu ở ven biển Đông nói trên từ đâu đến. Tuy nhiên với trình độ khoa học hiện nay chúng ta có thể phân tích các ảnh vệ tinh, phân tích đối chiếu các mẫu dầu ô nhiễm với các loại dầu gốc từ nhiều nước, nhiều vùng, thì cuối cùng cũng sẽ tìm ra được thủ phạm.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:33:45 am
Tham quan Viện Hải dương học Nha Trang và các vịnh ở Nam Trung bộ

Sau ba ngày làm việc trên vùng biển ngoài khơi Vũng Tàu, tàu Bình Minh chuyển hướng đi lên phía bắc, vào địa phận của bể trầm tích Phú Khánh. Đây là một vùng có thềm lục địa nước nông rất hẹp, kéo dài từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, gọi là thềm Đà Nẵng và Phan Rang nối tiếp nhau, về phía đông chỉ cách bờ chừng vài chục km, biển tăng độ sâu rất nhanh, tạo thành sườn lục địa khá dốc. Sau đó đáy biển thoải dần, nước sâu trên một nghìn mét, để đi vào một bồn trũng rất rộng mà hiện nay chưa xác định được giới hạn phía cực đông.


Bể Phú Khánh cũng là một đối tượng được các nhà dầu khí rất quan tâm. Các điểm lộ dầu ở bán đảo Quy Nhơn nằm trên bờ Tây của bể này đã được các nhà địa chất Pháp và Việt Nam nghiên cứu từ năm 1940 tới nay.    Hiện nay đã có ba công ty của Mỹ, Malaysia, Ấn Độ đang thăm dò ở đây. Hy vọng trong năm bảy năm nữa chúng ta sẽ có thêm một khu công nghiệp dầu khí mới ở miền Nam Trung bộ để biến vùng đất nghèo này trở thành trù phú với một cơ cấu kinh tế đa ngành.


Đối diện với phía nam Bình Thuận cách thành phố Phan Thiết 105km là đảo Phú Quý. Đảo này còn gọi là cù lao Thu, không biết vì khí hậu quanh năm mát mẻ như mùa thu hay vì có nhiều cá thu. Hình thù đảo gần giống như một củ khoai xù xì nên ngày xưa con gọi là hòn Khoai Xứ. Đảo nhỏ, diện tích chỉ 16,4km2 nhưng dân số lại rất đông, 24.000 người. Hoạt động núi lửa cổ đã để lại một lớp tro dày cùng với đá phún xuất bị phong hóa làm cho đất đai rất phì nhiêu, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, đủ cung cấp lương thực tại chỗ cho dân trên đảo. Vùng biển này đặc biệt giàu về hải sản nên nghề đánh cá rất nổi tiếng. Từ xa xưa người Chăm đã khai phá và định cư trên đảo. Di tích còn lại là các khu mộ cổ dạng vò, trong mộ còn chôn theo các công cụ lao động bằng đá cũng như các đồ trang sức được chế tác rất tinh xảo. Người Kinh ở các tỉnh phía Bắc cũng vào đây định cư rất sớm, từ thế kỷ thứ 15. Họ mang theo kinh nghiệm nghề nông, nghề đánh cá, nghề làm mắm phong phú cùng các nghề thủ công như đồ gốm, dệt vải, đan vồng, ép dầu và vẫn giữ tên làng cũ để con cháu luôn nhớ đến miền quê cha đất tổ. Một số người Hoa chạy loạn Mãn Thanh theo đường biển cũng dừng chân ở đây để tạo lập một cuộc sống lâu dài. Các dân tộc tuy nguồn gốc khác nhau nhưng từ lâu đã hòa nhập thành một khối thống nhất, nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt, cùng một cộng đồng kinh tế, văn hóa phát triển. Có thể vì thế mà đảo có tên là Phú Quý.


Hoạt động hậu núi lửa hiện nay vẫn còn âm ỉ. Cách đảo Phú Quý không xa, trong đầu thế kỷ hai mươi dân chài nhìn thấy một đảo tro đột ngột xuất hiện, cao đến 30m, tồn tại gần ba tháng rồi bị sóng đánh chìm, mất hút trong nước biển. Bây giờ kể lại chuyện này họ thêm thắt các tình tiết huyền bí như trong truyện cổ tích.


Chúng tôi đi qua vùng biển Phan Rang, một ngư trường rất giàu có, cung cấp nguyên liệu làm ra các loại nước mắm Phan Thiết nổi tiếng. Ông Dân thông báo tàu sắp đến vịnh Cam Ranh làm cho không khí trong đoàn nghiên cứu sôi động hẳn lên. Vịnh rộng 60km2, thụt sâu vào trong đất liền 12 - 13km, mực nước sâu đến 20 mét. Bán đảo Cam Ranh xanh biếc, kéo dài phủ kín cả phía đông. Phía nam vịnh là đất liền và rất nhiều dừa. Một dãy núi đỉnh nhấp nhô như một trường thành, tạo nên một vành đai, chỉ để một cửa vịnh rất sâu và rộng 3 - 4km cho tàu lớn đến hàng trăm nghìn tấn ra vào dễ dàng. Nhờ địa thế như vậy nên mặt vịnh rất yên tĩnh suốt quanh năm, được coi là một vịnh quân sự tốt nhất thế giới. Vị trí Cam Ranh cũng rất độc đáo, phía bắc cách Hồng Kông 690 dặm, phía đông cách Manila, thủ đô Philippines, cũng 690 dặm, phía nam cách Singapore 698 dặm. Đó là những trung tâm kinh tế có tầm quan trọng đẳng cấp thế giới. Cảng lại rất gần với đường hàng hải quốc tế, chỉ cách một giờ tàu chạy, trong lúc Vũng Tàu cách 3 giờ và Hải Phòng cách 8 giờ.


Nhờ diện tích rộng, vịnh có thể chứa cùng một lúc hàng trăm tàu chiến nên được các nhà cầm quyền Pháp, Nhật, Mỹ chọn làm căn cứ hải quân suốt một trăm năm qua và được đánh giá là một pháo đài tự nhiên lý tưởng để kiểm soát hành lang Tây Thái Bình Dutmg. Trong lịch sử vịnh, hai sự kiện được ghi lại, đó là ngày 12 tháng 4 năm 1905 hạm đội Nga trên đường đi tiếp viện cho cảng Arthur ở Đông Siberie bị quân Nhật bao vây đã ghé vào Cam Ranh nghỉ ngơi, huấn luyện cả một tháng trời. Ngày 18 tháng 10 năm 1946, trên đường đi đàm phán từ Pháp trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hội kiến với cao ủy Pháp D’Argenlieu (Đac-giăng-liơ) trên thiết giáp hạm Suffren đậu trên vịnh Cam Ranh để tìm cách tránh cuộc chiến tranh Pháp - Việt, nhưng do lập trường thực dân lỗi thời của nhà cầm quyền Pháp nên đã không thành.


Hiện nay chính phủ ta chủ trương kết hợp các lợi ích quốc phòng và kinh tế nên đã mở cửa vịnh để phục vụ đồng thời cho cả hai mục đích. Sân bay Nha Trang được chuyển về Cam Ranh. Các dự án kinh tế được khởi động ở phần phía bắc và phía nam vịnh. Ngoài việc mở rộng cảng Đá Bạc ở thị trấn Ba Ngòi để trở thành cảng thương mại, Cam Ranh còn được chuyển mạnh sang thành một nơi du lịch. Thiên nhiên ở đây đẹp gần như hoang sơ. Vịnh có nhiều bãi tắm lý tưởng, đặc biệt là Bãi Dài, cát sạch mịn màng, cách xa khu dân cư, rất thuận tiện để tổ chức thành một quần thể du lịch khép kín, nghỉ dưỡng cao cấp dài ngày. Du khách đến đây có thể tắm biển, bơi thuyền, câu cá, lặn biển, ngắm các ghềnh đá hoa cương được sóng gió gọt đẽo thành những cảnh trí ngoạn mục hay xem các đàn cá đặc trưng đủ màu sắc "trình diễn thời trang" quanh các rạn san hô quý hiếm. Nếu thích bạn có thể leo núi, xem mai rừng nở vàng cả sườn đồi hoặc tìm hiểu các loại thú rừng qua sự hướng dẫn của người dân bản địa.


Tiến lên phía bắc xa hơn nữa, tàu Bình Minh đi vào phía nam vịnh Nha Trang. Hòn Mun hiện ra trước mắt. Những mỏm đá hoa cương lởm chởm, cắm nghiêng ra phía biển giống như một hàng chông sắc nhọn. Các vách đá hiểm trở, màu đen tuyền, hiếm thấy ở những nơi khác. Có lẽ màu đen đặc biệt này đã gây ấn tượng rất mạnh nên người xưa đã đặt tên cho đảo là Hòn Mun. Với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới (WB) và chính phủ Đan Mạch, năm 2001 Bộ Thủy sản và Tổ chức Thiên nhiên thế giới (IVCN) phối hợp xây dựng Hòn Mun thành khu bảo tồn biển. Khu bảo tồn rộng 160km2, bao gồm các đảo Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rom, Hòn Nọc và các vùng nước xung quanh. Mục đích của đề án này là "bảo tồn một mô hình đa dạng sinh học biển điển hình đang bị đe dọa và giúp cộng đồng dân cư tại các đảo nâng cao đời sống, cộng tác với các bên liên quan để bảo vệ, quản lý có hiệu quả, tạo nên một mô hình hợp tác quản lý cho các khu bảo tồn biển khác ở Việt Nam". Nếu trên thế giới có khoảng 800 loài san hô thân cứng thì ở Hòn Mun đã hội tụ được 310 loài. Vì vậy khu vực này được đánh giá là khu san hô quý nhất nước ta.


Trong các hang động Hon Mun, loài chim yến mà tôi đã kể cho các bạn nghe trên kia cũng sinh sống khá đông, mang lại một nguồn lợi kinh tế lớn cho địa phương. Đáy biển có dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo chảy đến, mang lại nhiều thức ăn và nguồn nhiệt nên các loài sinh vật biển phát triển rất mạnh, tạo thành một địa điểm hấp dẫn cho các nhà khoa học biển cũng như cho những ai yêu thích đi du lịch đến nghiên cứu và du ngoạn. Đến đây bạn có thể thuê phưong tiện để lặn biển, câu cá hoặc tham quan đáy biển bằng tàu đáy kính, tận mắt xem các loài cá nhiệt đới, sứa, mực cùng các rạn san hô rực rỡ sắc màu.


Ghé qua Hòn Miễu chúng tôi đến thăm hồ cá Trí Nguyên. Hồ được ngăn bằng một hệ thống kè đá, tạo hình dáng một con tàu dài 60m, cao 30m, nằm ngay sát biển. Trong hồ có hàng trăm loại cá và rất nhiều rùa được nuôi thả, cứ như một bảo tàng sống về biển. Tôi thật sự cảm phục khi biết đó là một sản phẩm của một người dân bình thường ở địa phương. Ông không những là một nhà kinh tế giỏi mà còn là một nghệ sĩ rất tài năng do năng khiếu bẩm sinh và thực tế cuộc sống đào tạo ra.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:34:40 am
Sáng ngày thứ hai chúng tôi đến vịnh Nha Trang. Vịnh rộng 251km2, ba phía là núi, phía bắc là Ninh Hòa, phía nam là Cam Ranh, phía tây là Diên Khánh, một huyện gắn liền với cây đàn đá cổ kính ra đời cách đây nhiều nghìn năm và các huyền thoại về cách đánh du kích tài tình của dân tộc Răclay anh em trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Trước mặt vịnh là một đảo dài, tạo thành một bình phong che chắn gió bão cho toàn vùng biển.


Khi nói đến Nha Trang là mọi người nghĩ đến một khu du lịch nổi tiếng, không thua kém bất cứ nơi nào trên thế giới. Các khách sạn năm sao trên đất liền và trên các đảo nằm ngay mé nước, sang trọng, tiện nghi, làm cho khách du lịch từ năm châu đến đây rất hài lòng.


Thành phố Nha Trang có 300.000 dân, nằm dọc theo bờ biển, trải dài trên các bãi và các triền đồi thấp. Theo quy hoạch đến năm 2020 dân số sẽ tăng lên đến nửa triệu. Các khu nhà mới xây khá nhiều, kiểu dáng xinh đẹp, nhưng không cao lắm. Chắc là các nhà kiến trúc không muốn nhân danh hiện đại để làm tổn thương vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên, của Tháp Bà cổ kính hay những biệt thự xinh xắn mang đậm phong cách Pháp còn lại sau sự tàn phá của thời gian và của chiến tranh. Gió, nắng bốn mùa mơn man trên những nóc nhà, trên những ngọn dừa, tàn lá thướt tha và cả trên những cánh chim hải âu sải cánh trên mặt vịnh luôn tạo ra sự hài hoa về màu sắc, làm tăng tình yêu thiên nhiên của con người.


Trước đây tôi đã có dịp đọc bài thơ của ông ngoại tôi viết về cảnh chiều Nha Trang:

Chiều nay ngắm biển Nha Trang
Nhấp nhô dãy đảo giăng hàng mờ xa
Sóng lừng vang vọng Trường Sa
Bâng khuâng cánh én biết là về đâu
Chiều đi biển tím sắc màu
Ngang trời mây bạc bắc cầu dở dang
Cánh buồm khi hợp khi tan
Xa xăm sương khói mơ màng Bổng lai
Cô Tiên suối tóc trải dài
Hòn Chồng thơ thẩn ngắm hoài không thôi
Tháp Bà trầm mặc đơn côi
Tiếng chuông Chiêm Quốc đổ hồi thu không
Đất trời hòa nhập mênh mông...


Bây giờ tôi mới được tận mắt mình nhìn thãy các cảnh được ghi lại trong bài thơ đó.

Tuy không có nhiều thời gian nhưng chỉ lướt qua thành phố cũng đã thấy Nha Trang có nhiều điểm hấp dẫn không thể nào quên. Trước mặt biển xanh ngắt, xa xa vài hòn đảo khi ẩn khi hiện. Các bãi biển cát trắng tinh, loại cát giàu thạch anh giống như cát Xuân Thiều ở phía bắc Đà Nẵng, được người Nhật mua để sản xuất thủy tinh cao cấp, trải dài từ chân núi Cô Tiên, qua Hòn Chồng, đến tận phía nam thành phố. Buổi sáng khi ánh nắng vừa đủ để xua tan cái giá lạnh của sương mai, ai đến đây cũng muốn lao ngay xuống ngâm mình trong làn nước biếc. Khi chiều tà bắt đầu buông, mặt trời chìm dần sau dải núi ờ phía tây thành phố, nhưng vẫn còn tiếc nuối một ngày vui nên hắt ánh sáng lên nền trời thành hình rẻ quạt sắc màu lộng lẫy, kéo dài ra tận ngoài khơi. Và buổi tối rủ vài người bạn tâm tình ra nằm dài trên cát để đón nhận ánh sáng dịu dàng của mảnh trăng thượng huyền lơ lửng giữa tầng mây, xoa lên người một lớp phấn ngọc ngà của thiên nhiên ban tặng, cảm nhận vị mằn mặn trong không khí miền duyên hải cũng như ngắm nhìn cái bao la của bầu trời, mặt biển thì tâm hồn ta trở nên thư thái lạ thường.


Hôm sau tôi theo các bác đi thăm Viện Hải dương học Nha Trang. Viện nằm trên một khu đất cao ráo, rộng rãi tại số 1 Cầu Đá. Được thành lập năm 1923, viện này là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học biển đồng thơi là cơ sở lưu giữ hiện vật biển lớn nhất ở Việt Nam cũng như của khu vực Đông Nam Á.


Theo chân cô hướng dẫn viên, bước qua chiếc cổng nhỏ giản dị, chúng tôi vào khu nhà xây theo kiểu Pháp với bề ngoài buồn tẻ nhưng thế giới bên trong thật là lung linh, kỳ ảo. Bảo tàng Hải dương học nổi tiếng từ những năm 30 của thế kỷ trước đến nay, đã phát triển thành một quần thể liên hoàn bao gồm những bể nuôi hải sản phục vụ nghiên cứu, tham quan, giáo dục cộng đồng và một hệ thống nhà lưu trữ mẫu vật biển.


Đến tham quan, ngoài việc chiêm ngưỡng hàng trăm loài sinh vật biển nhiệt đới, khách có thể tìm hiểu hơn 10.000 loài sống ở biển Đông. Bộ mẫu vật bao gồm các loài hiện hữu ở biển Việt Nam, Campuchia và các nước lân cận, trong đó có nhiều loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng như bò biển (dugong)... Đặc biệt còn có một bộ xương cá voi khổng lồ dài 26m, cao 3m bị chôn vùi trong lòng đất phù sa của tam giác châu thổ Sông Hồng ít nhất 300 năm. Thật là một di tích lịch sử tự nhiên vô cùng quý giá. Bảo tàng còn giới thiệu biển Đông, các loại tài nguyên biển, cảnh quan vùng biển ven bơ, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm cỏ biển, các đảo, nhắc nhở chúng ta nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ nguồn lợi cho mai sau cũng như giới thiệu truyền thống chinh phục, khai thác, bảo vệ biển Đông của người Việt, sắp tới Viện sẽ triển khai khu công nghệ cao thuần hóa sinh vật biển nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển kinh tế biển của nước ta. Cái nóng bên ngoài dường như dịu lại khi ta đi giữa các bể nuôi cá rộng như những bể bơi ở các thành phố lớn. Ở đó bạn có thể nhìn thấy những bộ phận chi tiết của từng loại cá độc đáo, kích thước, màu sắc, hình dáng khác nhau. Rất nhiều loài xinh xắn, màu sắc đan xen một cách tuyệt vời, lượn lờ giữa những đám rong. Có loài lại nằm im, thỉnh thoảng mới uể oải nhả vài bọt bóng lên mặt nước như cố tình nói với bạn rằng tớ cóc quan tâm đến những tiếng xuýt xoa, trầm trồ của các cậu đâu. Còn khi đến khu nuôi loài cá dữ bạn sẽ cảm giác chỉ cần nhúng tay xuống nước là hiểu ngay sức mạnh của hàm cá cùng những chiếc răng sắc như dao của chúng. Tôi đã kể cho các bạn nghe về loài cá chình ở vịnh Hạ Long nhưng chỉ khi đến đây bạn mới có thể chiêm ngưỡng những chú chình to lớn như con rắn, dài ngoẵng đến vài ba mét, uốn mình tài giỏi như thế nào giữa các hốc đá ngoằn ngoèo. Ngoài các mẫu vật sống còn có hàng chục nghìn mẫu vật chết của nhiều loại cá ở Đông Nam Á và các đại dương. Các hướng dẫn viên đều là các nhà khoa học biển chuyên sâu nên có thể giải đáp nhiều câu hỏi của các bạn nêu ra. Họ làm việc say sưa, xác định các tập tính của từng loài cá để bảo tồn, phát triển, lai tạo các giống cá quý, chữa trị các loại bệnh cho cá, cho tôm. Họ truyền cho chúng ta không chỉ các kiến thức khoa học về sinh vật biển mà còn cả ý thức bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn các loài, làm giàu cho xã hội.


Rời Nha Trang tôi được biết đến tháng Bảy 2008 tại đây sẽ tổ chức thi hoa hậu thế giới, và hàng năm đều tổ chức liên hoan biển vào tháng Tám cũng như hai năm một lần tổ chức festival. Ước gì tôi lại có dịp đến đây vài lần nữa.


Trước khi quay về khảo sát tiếp các vùng biển, theo kế hoạch chúng tôi đến thăm vịnh Vân Phong nằm cách Nha Trang 80km về phía bắc. Khí hậu ở đây rất hiền hòa, vịnh kín gió, bãi cát mịn và đẹp chẳng kém bãi biển nào trên thế giới. Núi đồi hùng vĩ bao quanh và dọc mé biển có vô số là dừa. Có một đồi cát dài 18km nằm giữa đất liền và hai hòn đảo tạo cho vịnh Vân Phong một cảnh trí thật tuyệt vời. Cùng với các cánh rừng nhiệt đới còn tương đối nguyên vẹn với hàng trăm sinh cảnh thuận lợi cho muôn thú đặc chủng cư trú, vịnh Vân Phong còn là nơi sinh sống của cả một hệ thống sinh vật biển đa dạng giúp cho Vân Phong có điều kiện thật thuận lợi để phát triển kinh tế du lịch sinh thái. Tổng cục du lịch xếp Vân Phong vào danh sách các vùng "du lịch trọng điểm phát triển" trong kế hoạch đến 2010. Vịnh cũng được Hiệp hội Biển thế giới công nhận là một trong bốn vịnh có vị trí du lịch biển lý tưởng hiện nay. Vân Phong còn là nơi được tỉnh Khánh Hoa chọn làm nơi xây dựng khu công nghiệp biển. Trong tương lai không xa ở đây sẽ có nhà máy đóng tàu viễn dương, đóng các giàn khoan dầu khí, các nhà máy thuộc các ngành công nghiệp khác và hệ thống các kho xăng dầu, kho chứa hàng hóa hiện đại. Hiện nay một số công ty nước ngoài đã đầu tư vào Vân Phong để xây dụng khu du lịch và khu đô thị. Khoảng mười năm nữa đến đây chúng ta sẽ được gặp một thương cảng, một thành phố mới.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:35:48 am
Trên vùng biển Tây Nam

Thế là tôi đã lênh đênh trên biển đến nay hơn một tháng. Tôi nhớ những người thân vô cùng. Mẹ tôi người bé nhỏ, nhanh nhẹn, đôi mắt trong sáng, hiền từ nhưng khi bà giận dữ thì cũng phát khiếp. Từ khi còn nhỏ, đến bây giơ cũng vậy, mẹ tôi luôn nâng niu chăm sóc tôi. Tôi sợ nhất là khi thấy mẹ buồn thiu, đôi mi cụp xuống, những giọt nước mắt chảy dài trên đôi má khi tôi phạm lỗi. Bố tôi thông minh, rất yêu tôi nhưng thường biền biệt xa nhà. Vì thế một tháng đối với mẹ tôi là rất dài. Chắc chắn mẹ tôi mong ngóng từng ngày, chờ tôi về với bà. Tuy nhiên chuyến công tác của tàu Bình Minh chưa kết thúc và biển còn đang vẫy gọi tôi phía trước.


Tàu lần này đi vào vịnh Thái Lan. Ngoài xa nhìn vào, tiếp giáp với màu nước biển xanh lơ chuyển sang vàng đậm của phù sa là màu xanh bát ngát của rừng đước tạo thành hình chữ V khổng lồ mà từ trước đến nay tôi chỉ mới thấy trên bản đồ trong các giờ học địa lý. Tôi nhớ đến bài thơ của Xuân Diệu về miền đất này với hai câu thơ mở đầu gợi lên hình ảnh chuyển động thật oai hùng:

   Tổ quốc tôi như một con tàu
   Mũi thuyền ta đó, mũi Cà Mau...


Ông tôi chỉ cho tôi thấy dòng phù sa sông Cửu Long khi trôi xuôi ra đến biển thì gặp dòng hải lưu ngầm từ phía bắc chảy xuống, vận chuyển khối lượng đất bùn khổng lồ đắp lên bán đảo này, làm cho mũi Cà Mau mỗi năm lấn dài ra biển hơn 30 mét. Đất nước ta như có bàn tay vô hình mở rộng diện tích thêm ra theo thời gian. Màu xanh của rừng đước ven bờ càng ngày càng vươn ra xa hơn. Những bộ rễ vững chắc, đồ sộ cắm sâu xuống bùn lại càng tạo điều kiện để phù sa lắng đọng dễ dàng, không bị các dòng hải lưu kéo ra biển cả. Ông Xuân Diệu đã viết về rừng rễ này như ngàn cánh tay ôm đất nước. Thật là một hình ảnh đẹp.


Ở đây vương quốc của tôm, cua, cá và của các động vật nhuyễn thể ngày đêm phát triển không ngừng.

Tàu chúng tôi chạy vòng về phía nam mũi Cà Mau, đi vào vịnh Thái Lan. Lớn lên trên đất liền miền Bắc, từ nhỏ tôi quen với cảnh mặt trời mọc từ biển và lặn sau những rặng núi phía tây nên tôi vô cùng ngạc nhiên khi lần đầu tiên thấy mặt trời mọc lên từ phía đất liền và lặn vào biển cả. Một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú mà chắc bạn sẽ say mê như tôi khi thấy chùm tia sáng tỏa ra từ dưới nước như hình rẻ quạt kéo dài trên nền trời, biến đổi liên tục màu sắc khi mặt trời chìm dần vào làn nước tím sẫm lúc hoàng hôn.


Bắt đầu vào ngày làm việc đầu tiên trên vùng biển mới, cả đoàn tập trung quanh chiếc bàn hẹp ở phía khoang giữa của tàu để nghe bác Thắng và chú Lâm giới thiệu về địa chất vịnh Thái Lan mà phần thuộc Việt Nam được gọi là bể Mã Lai - Thổ Chu. Chú đầu bếp kiêm tiếp tân trên tàu chiêu đãi chúng tôi mỗi người một cốc cà phê Trung Nguyên, mùi thơm bốc lên ngạt ngào làm cho căn phòng trở nên ấm cúng và gần gũi với đất mẹ rất nhiều, trong lúc con tàu vẫn dập dềnh nâng lên hạ xuống theo vũ điệu của sóng trong một vùng biển hẹp. Đưa tay trên tấm bản đồ với vô số những đường ngoằn ngoèo mô tả độ sâu của mặt đáy tầng trầm tích, chú Lâm kể cho mọi người nghe rằng vịnh Thái Lan cũng có lịch sử địa chất gần như biển Đông, hình thành từ quá trình sụt lún, tách giãn phần này của vỏ quả đất vào đầu kỷ Đệ tam. Các đứt gãy sâu theo hướng tây bắc - đông nam cùng các đợt gãy nhỏ hơn theo các phương khác chia vùng này thành rất nhiều khu vực nhỏ, lấp đầy bởi các trầm tích có tuổi và bề dày khác nhau do phù sa của các hệ thống sông Cửu Long, sông Chao Phraya (Thái Lan) và các sông nhỏ xung quanh vùng này cung cấp. Toàn bộ vịnh Thái Lan giống như một lòng máng không đối xứng, đường trục sâu nhất nằm về phía gần Malaysia, ở đó bề dày trầm tích lên đến 12km và cũng là nơi có giá trị kinh tế lớn nhất xét về tài nguyên dầu khí.


Gần vùng này trên bản đồ có một khu vực được đóng khung theo hình tam giác, diện tích rộng đến 1.300km2, tô màu hồng nhạt với hàng loạt các mỏ dầu khí từ nhỏ đến trung bình, mang tên các loài hoa nhưng bằng tiếng Mã Lai như Bunga Kekwa, Bunga Orkid, Bunga Raya, Bunga Pakma, v.v... Thấy tôi có vẻ thắc mắc bác Thắng giải thích ngay, đó là khu vực chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia, gọi tắt là khu PM3.


Mắt tôi tròn xoe chứng tỏ tôi cũng chẳng hiểu gì cả. Ông âu yếm đặt bàn tay to khỏe của ông lên vai tôi kéo tôi lại gần. Đó là vùng mà cả Việt Nam lẫn Malaysia đều cho là của mình, ông nói. Sở dĩ có vùng đó là vì Luật biển quốc tế qui định rằng, nếu vùng biển giữa hai nước trong quá khứ lịch sử chưa được phân chia thì nay phân chia theo nguyên tắc nối hai điểm trên đường cơ sở của hai lãnh thổ lại với nhau và chia đôi, mỗi nước một nửa. Ở vịnh Bắc bộ, vào cuối thế kỷ 19, chính quyền đô hộ Pháp và nhà Thanh (Trung Quổc) đã phân chia theo một đường thẳng song song với đường kinh tuyến, bắt đầu từ điểm tận cùng của đất liền thuộc thị xã Móng Cái, kéo dài xuống gần cửa vịnh và đã tồn tại đến 100 năm. Nhưng gần đây Trung Quốc không công nhận, bắt buộc phải chia lại theo nguyên tắc đường trung tuyến qui định trong Luật biển quốc tế. Hai bên phải áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến nói trên nên bây giờ đường giới hạn mới là một đường ngoằn ngoèo, uốn cong về phía Việt Nam, đem phần lợi về cho Trung Quốc vài trăm cây số vuông so với trước. Rất tiếc rằng lập trường đó Trung Quốc lại không giữ khi nói về Trường Sa, nói mà theo Luật biển, Trung Quốc không có quyền chiếm hữu một xăng ti mét vuông nào cả. Vì thế trong trường họp này Trung Quốc cố bám vào một căn cứ vu vơ, cho rằng Trường Sa đã là của Trung Quốc từ thời nhà Tống, cách nay hơn 1000 năm.


Trường hợp giữa ta và các nước ASEAN có khác vì vùng biển trước đây chưa được phân chia nên tất nhiên là phải áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến. Nhưng điều không rõ ràng là "hai điểm trên đương cơ sở của hai lãnh thổ" là điểm nào? Phía Malaysia không có đảo nên điểm đó phải nằm trên bờ biển đối diện với Việt Nam. Nhưng phía Việt Nam lại có đảo Thổ Chu, tuy nhỏ nhưng đó là lãnh thổ của ta nên ta lấy điểm nằm gần bờ đảo này làm mốc. Còn Malaysia lại cho rằng điểm đó nằm trên bãi biển Cà Mau. Do sự nhìn nhận khác nhau này nên các điểm trung tuyến không trùng nhau, tạo ra một vùng gọi là vùng chồng lấn.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:36:18 am
Trong lúc chờ đợi hai chính phủ đàm phán phân chia giới hạn biển chính thức, để trình Quốc hội hai nước thông qua thì hai bên, trên tinh thần hữu nghị, đồng ý khai thác tài nguyên chung ở vùng đó, mỗi bên được một nửa quyền lọi. À ra thế! Ngày 18-9-1996 mỏ dầu Bunga Kekwa được bắt đầu khai thác và đến nay sản lượng đạt khoảng 45.000 thùng/ngày. Mấy năm gần đây vài mỏ nữa cùng đã đi vào khai thác, đem lại một khoản thu nhập đáng kể cho mỗi nước, nhất là gần đây giá dầu tăng cao trên mức 90USD/thùng. Cũng vì lý do tương tự mà trên vịnh Thái Lan còn có những vùng chồng lấn khác, giữa Việt Nam và Campuchia, giữa Việt Nam và Thái Lan, giữa Việt Nam - Malaysia - Thái Lan, hoặc Việt Nam - Thái Lan - Campuchia, v.v... Chắc chắn là việc tranh chấp ở vịnh Thái Lan sẽ được giải quyết hợp tình hợp lý vì các bên tham gia tranh chấp đều có thiện chí, dựa trẽn tình hữu nghị láng giềng tốt.


Ở phần biển phía bên Việt Nam, các nhà thầu Petro Fina (Bỉ), Unocal (Mỹ) cũng đã tìm ra một số mỏ dầu khí nữa mang tên Năm Căn, Đầm Dơi, Cái Nước, Cá Voi, Kim Long, Ác Quỷ. Giếng khoan Năm Căn kết thúc ngày 31-3-1996 ở độ sâu 2.708m, xác định được một số vỉa chứa dầu khí, mở đường cho việc khoan tiếp giếng Đầm Dơi sâu 2.435m. Thử vỉa 4 tầng chứa cho kết quả tổng cộng 4.000 thùng dầu - condensat/ngày và 1,6 triệu m3 khí/ngày. Giếng Cái Nước gặp bốn vỉa, cho lưu lượng tổng cộng 6.693 thùng dầu/ngày và 439 thùng condensat/ngày cùng 1,5 triệu m3 khí/ngày. Các giếng Cá Voi, Kim Long, Ác Quỷ gặp các lớp chứa khí, trữ lượng thu hồi ước tính đến 30 tỷ m3. Các mỏ này là đối tượng khai thác trong những năm tới và khí đốt sẽ được đưa về phát điện, sản xuất phân đạm ở các khu công nghiệp Cà Mau, Ô Môn, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế đồng bằng Cửu Long. Hiện nay đường ống dẫn khí đốt từ khu PM3 về Cà Mau đã đi vào hoạt động. Vào đầu năm 2008, điện sản xuất từ khí đốt ở vịnh Thái Lan đã có thể cung cấp cho bà con vùng Tây Nam Nam bộ, mang lại ánh sáng, niềm vui cho những con người đã rất anh hùng trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước trong suốt thế kỷ 20.


Tàu Bình Minh sẽ tiếp tục nghiên cứu vùng thềm lục địa phía tây nam để phát hiện thêm những mỏ mới, làm giàu cho Tổ quốc.

Đứng trên boong tàu nhìn vào đất liền là một không gian mênh mông vì không có dãy núi nào án ngữ. Châu thổ Cửu Long, vựa lúa của cả nước cùng các vườn cây ăn quả đặc sản nổi tiếng chỉ cồn là một vệt mờ xanh ở chân trời. Lòng đất của vùng trù phú ấy sẽ được nghiên cứu để biết ở đó còn chứa đựng những tài nguyên quý giá gì nữa. Thế hệ chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.


Tàu Bình Minh tiếp tục rẽ sóng, tiến sâu hơn về phía tây bắc. Trên đường đi chúng tôi gặp vô số các tàu đánh cá các cỡ, xuôi ngược nhộn nhịp trên mặt biển. Sự giàu có về tài nguyên thủy sản của vịnh Thái Lan mới là điểm đặc biệt của vùng biển này so với các vùng khác. Các nghiên cứu chưa đầy đủ cho thấy nhóm cá nổi có đến 40 loài. Nhóm này luôn sống ở tầng nước mặt, tập trung thành đàn lớn, di chuyển nhanh, thức ăn là những sinh vật nổi. Đại diện cho nhóm này là các họ cá trích, cá ngừ, cá chim trắng, cá cơm... nguồn nguyên liệu sản xuất ra các loại nước mắm nổi tiếng trên thế giới mang thưong hiệu Phú Quốc, một đảo lớn của Việt Nam mà tôi sẽ kể tiếp ở phần sau. Nhóm cá đáy còn phong phú hơn, có đến gần 200 loài, sống sát đáy hoặc tầng nước gần đáy, cả vùng ven biển lẫn ngoài khai. Một số loài sống thành đàn, số loài khác lại sống riêng lẻ. Thức ăn của chúng là sinh vật đáy, cá con. Giá trị kinh tế lớn, là đối tượng của nghề lưới giã, lưới rùng, cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho các thị trường trong và ngoài nước. Những năm trước đây hoạt động xuất khẩu chưa phát triển, người dân còn dùng cá đánh bắt được làm phân bón, làm thức ăn cho gia súc và cả cho cá, tôm, cua, đồi mồi. Vịnh Thái Lan quả là một kho cá lớn lao, có mặt gần đủ các loài trong đó có nhiều loài rất quí hiếm. Nếu ta có kẽ hoạch đánh bắt hợp lý, không thu hoạch trong mùa cá sinh sản, không hủy diệt cá con, cá chưa đủ lớn thì đàn cá sẽ tái sinh liên tục. Tôi muốn kể cho các bạn nghe bao nhiêu chuyện về cá, tôm, cua, sò, mực ở vùng này để bổ sung cho những chuyện mà tôi đã kể trong các chương trước, để các bạn thấy câu nói "biển nước ta là biển bạc" quả là không ngoa chút nào. Hẹn một dịp khác vậy.


Xa xa trước mũi tàu hiện lên một quần thể đảo nhỏ như cả một hạm đội đang canh giữ sự bình yên cho ngư dân trên biển. Đó là quần đảo An Thới. Quần đảo này có đến 18 đảo nhỏ nhưng chỉ có năm đảo có người sinh sống. Hờn Thơm đông dân nhất. Trên đảo có miếu thờ thần núi, thần biển từ rất xa xưa, ghi dấu ấn của những tín ngưỡng bản địa của một nền văn hóa có lẽ đã từng phát triển rất sớm. Sát mặt bắc Hờn Thơm các ghềnh đá nằm san sát, ngâm nửa mình dưới làn nước xanh như tỏ ra mình là những người mê tắm biển nhất đời. Trên Hòn Thơm những hàng dừa cao vút chạy dọc suốt bờ đảo. Dưới bóng dừa thấp thoáng một số căn nhà lá của dân đánh cá cấu trúc rất đơn sơ. Cảng Hòn Thơm nằm ở phần giữa đảo, thuyền đánh cá địa phương và cả của các nơi khác về đây nghỉ ngơi sau những giờ làm việc vất vả. Cứ đến mùa gió Nam họ lại tụ tập lên phía bắc và đến mùa gió bắc họ lại di chuyển về phía nam giống như cảnh các bãi cát ở Trường Sa đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Len lỏi giữa các chiếc thuyền lim dim ngủ là những con thuyền bé tèo teo, các cô bé vừa bơi thuyền vừa rao bán mực tươi, tôm, ghẹ, bia phục vụ cho dân chài ăn nhậu.


Không xa Hòn Thơm là Hòn Rỏi và Hòn Dừa. Sát Hòn Rỏi là những dãy phao tròn nhấp nhô trên sóng. Đó là những lồng nuôi trai lấy ngọc, một nghề hái ra tiền ở đây. Trai được chọn lọc kỹ, cấy một hạt nhựa hoặc một hạt vỏ ốc vào thịt, chất ngọc do trai sản sinh sẽ phát triển dần bao bọc kín vật được cấy, trở thành những hạt ngọc trồn lấp lánh. Lồng nuôi trai bằng sắt có bọc lưới, thả lơ lửng cách đáy biển hai mét và trai tự kiếm thức ăn từ những phiêu sinh vật chứ ít khi được người nuôi cung cấp. Hòn Dừa tuy ít dân nhưng phong cảnh lại rất kỳ thú. Biển xanh sóng vỗ quanh năm, đập vào ghềnh đá xám tung bọt trắng xóa một vùng. Núi nhấp nhô, điểm xuyết giữa màu xanh của cây cỏ là những căn nhà như cảnh ta thấy ở những vùng cao nguyên. Trên triền núi kéo dài xuống sát mé biển là những vườn dừa, xoài và các loại cây ăn quả khác, trái treo đầy cành, trông thật thích mắt. Có những cây mọc cheo leo trên vách đá như lúc nào cũng sẵn sàng lao xuống biển. Ai muốn sống một cuộc đời yên tĩnh, gắn mình với thiên nhiên thì đến đây sẽ rất hài lòng.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:37:32 am
Qua khỏi quần đảo An Thới là nhìn thấy ngay đảo Phú Quốc, một đảo lớn còn có tên là đảo Ngọc, nằm trong quần thể 22 đảo trong vịnh Thái Lan, hợp thành huyện Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang. Tổng diện tích huyện đảo rộng đến 593,05km2, riêng đảo Phú Quốc chiếm 574km2, suýt soát với diện tích quốc đảo Singapore. Thủ phủ của huyện đảo là thị trấn Dương Đông, nằm ở phía bắc đảo, nơi rộng nhất đến 25km. Những lúc trời quang, đứng ở Dương Đông có thể nhìn thấy Hà Tiên, một thắng cảnh trên đất liền, cách đảo 45km. Núi Chúa cao ngất, 603m, như một cột cờ hoành tráng thông báo chủ quyền của nước ta trên vùng biển Tây Nam. Địa hình thoải dần từ nam lên bắc với 99 ngọn núi nhấp nhô. Biển sâu trên mười mét nước. Từ 1671, Mạc Cửu quê ở Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc chạy loạn đến Hà Tiên lập ấp, đến 1708 trở thành thuộc hạ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Đến đời con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ, người được triều đình Huế giao trấn thủ vùng này, được vua Campuchia là Nặc Nguyên và Nặc Tôn tặng đất bao gồm cả Phú Quốc và đem cả vùng này nhập vào lãnh thổ nước ta dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát.


Dân số Phú Quốc đến nay là 80.000 người. Giang sơn Phú Quốc thật là cẩm tú, nên thơ. Gần Dương Đông có một bãi đá màu thẫm nổi trên nền cát trắng và biển xanh, nơi có Dinh Cậu nổi tiếng linh thiêng. Dân chài từ lâu lập đền này để thơ thần biển cầu xin phù hộ cho cư dân khi đi đánh cá vượt qua được sóng to gió dữ, làm ăn thuận lợi. Cạnh đó còn có cây hải đăng chỉ đường cho tàu thuyền qua lại ban đêm. Suối Tranh trên đảo đẹp như tên gọi. Dòng nước bắt nguồn từ trên cao ở dãy Hàm Ninh len lỏi qua các vạt rừng, các khe đá rồi đổ xuống thành các thác nhỏ, hợp nhau lại thành suối dài đến 15km. Hai bờ đầy hoa thơm cỏ lạ. Những đám cây hình khẳng khiu, rắn rỏi mọc chen kẽ đá, cành khảm đầy những nhánh phong lan, hoa vàng, trắng, tím, đỏ kết nối nhau thành chuỗi treo lơ lửng giữa không trung. Mỗi khi cơn gió nhẹ thoảng qua mùi hương dìu dịu lại lan tỏa khắp vùng. Dọc theo suối có những hang động cao, loài dơi về trú ngụ treo mình dày đặc trên vách đá, không những tạo ra cảnh quan lạ mắt mà còn cung cấp cho dân địa phương một lượng phân tự nhiên quý giá, phục vụ cho nông nghiệp và cho cả nghề làm thuốc nổ.


Ở phía bắc đảo còn có đền thờ Nguyễn Trung Trực, người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến kéo dài 7 năm sau khi nhà Nguyễn đã nhượng Nam bộ cho Pháp hồi cuối thế kỷ 19, và là người có câu nói bất hủ trước khi hy sinh: "Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, thì dân Nam mới hết người đánh Tây". Tượng trưng cho truyền thống bất khuất của toàn dân tộc còn có nhà tù Phú Quốc, khét tiếng dã man không kém nhà tù Côn Đảo, nơi giam giữ hàng nghìn chiến sĩ cách mạng cận đại, nhất là các chiến sĩ thời kháng chiến chống Mỹ.


Trên vùng biển Tây Nam chúng tôi lại có dịp nghe thêm một truyện kể về một người anh hùng tàu không số. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Hiệu, người huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Là một chiến sĩ vệ quốc quân chiến đấu trên chiến trương Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, năm 1954 ông tập kết ra Bắc và năm 1962 ông tham gia đoàn tàu không số mang phiên hiệu "đoàn 125 hải quân". Trong 10 năm từ 1962 đến 1972 trước lúc hy sinh ông đã có thành tích tuyệt vời, đưa 13 chuyến tàu chở vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Nam bộ thành công mỹ mãn. Chuyến đi cuối cùng xuất phát từ Hải Phòng ngày 16 tháng 3 năm 1972 trên con tàu 642 chơ 70 tấn đạn cối và một tân thuốc nổ TNT cùng nhiều quân trang, quân dụng thiêt yếu cho quân khu 9. Lúc bấy giờ đường mòn Hồ Chí Minh trên biển không còn là bí mật đối với quân đội Mỹ nên hai chuyến ra khơi vượt sóng to gió lớn, đến địa phận phía nam mũi Cà Mau đều bị tàu chiến đối phương chặn lại, phải quay về nơi xuất phát. Chuyến đi thứ ba rời Hải Phòng ngày 12-4-1972 vòng ra hải phận quốc tế, đến sáng ngày 23 tháng 4, tức là sau 11 ngày, tàu 642 đã có mặt cách Phú Quốc 60 hải lý. Thành công đã ở trong tầm tay, nhưng các chiến sĩ của ta không biết rằng máy bay do thám Mỹ đã chụp hình rất rõ ràng con tàu yêu quý của các anh. Được điện báo của Bộ Tổng tham mưu "bến động", tàu 642 chuẩn bị quay trở lại vùng biển quốc tế thì đã bị vây chặt tứ phía. Tàu khu trục lớn nhất của hải quân đối phương áp sát hòng bắt sống tàu của ta và dùng hỏa lực cực mạnh để tấn công, uy hiếp. Đạn địch rơi như mưa quanh tàu 642. Ông Hiệu và ông Lê Hà, hai chỉ huy của tàu ra lệnh toàn đơn vị đánh trả. Một số chiến sĩ hy sinh vì lực lượng hai bên quá chênh lệch. Một quả đạn địch rơi đúng đuôi tàu, bánh lái bị gãy nát, tàu mất phương tiện điều khiển nên cứ phải chạy vòng tròn. Ông Hiệu ra lệnh cho ông Hà cùng các chiến sĩ còn sống sót nhảy xuống biển, bơi ra xa tàu, còn một mình ông ở lại chiến đấu, cho nổ tàu rồi bơi ra sau. Giây phút đó thật là khủng khiếp. Vì tàu chạy vòng tròn nên khi thì xa, khi thì gần với các chiến sĩ đang bơi, trong lúc tàu địch tăng cường áp sát, đạn bắn như mưa nên việc chọn thời điểm ấn nút điện cho một tấn thuốc nổ tung nhưng không gây thương tích cho đồng đội là vô cùng khó. Ông Hiệu quyết định ở lại tàu chờ đến khi tàu 642 cách xa đồng đội nhất mới điểm hỏa. Một tiếng nổ long trời lở đất, nước bắn lên cao như có sóng thần, ôm toàn bộ con tàu cùng ông Hiệu vào lòng, chìm xuống đáy biển. Biển Phú Quốc trở thành chiếc áo quan kỳ vĩ nhất bao bọc thi thể nát tan của người anh hùng. Cả 16 chiến sĩ đang bời bị địch bắt đưa về giam ở nhà lao Phú Quốc cho đến sau hiệp định Paris mới được trao trả. Mãi sau này khi đất nước đã bình yên, theo chỉ dẫn của những người còn sống sót, đồng đội ông mới tìm được một phần hài cốt đưa về nghĩa trang liệt sĩ và năm 1978 ông Hiệu được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Chúng tôi chẳng ai bảo ai, đứng nghiêm trang trên boong tàu Bình Minh, cúi đầu mặc niệm ông, các bọt sóng do con tàu đang chạy tạo ra thành những vòng hoa trắng xóa, tinh khiết, lặn dần vào làn nước trong xanh của vùng biển Tây Nam để trao tận tay những người chiến sĩ anh hùng của Tổ quốc vĩ đại.


Nhờ khí hậu tốt, Phú Quốc có rất nhiều khu rừng nguyên sinh phát triển đến nay vẫn còn nguyên vẹn, diện tích đến 8.700 ha, được nhà nước khoanh vùng thành rừng quốc gia với 530 loài thực vật bậc cao, 365 loài chim, 150 loài động vật và hơn 1.000 loài dược thảo như cam thảo, hà thủ ô, bí kỳ nam, nhân trần, đỗ trọng, sa nhân, ở đây trồng rất nhiều vườn điều, hồ tiêu chất lượng và năng suất cao, riêng hạt tiêu khô năm 2007 đạt đến 1.500 tấn, góp phần quan trọng đưa nước ta thành nước xuất khẩu sổ một trên thế giới về hạt điều và thứ hai thế giới về hạt tiêu.


Đặc sản của Phú Quốc ngoài nước mắm mà cả Thái Lan cũng mượn thươmg hiệu để xuất khẩu còn có cá khô, nấm tràm, các loại rượu thuốc đặc hiệu, các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và đặc biệt là giống chó ở Việt Nam không nơi nào có. Chó Phú Quốc có xoáy trên sống lưng, là một trong ba dòng chó có xoáy lưng trên thế giới. Chó biết đào hang để đẻ con, có biệt tài săn thú, biết bơi giỏi như rái cá nhờ bàn chân có màng như chân vịt. Lông mượt và ngắn, khi bị ướt chỉ cần rùng mình là toàn bộ nước bắn ra hết. Chó Phú Quốc đang trên đường trở lại đấu trường các cuộc thi chó quốc tế để khẳng định lại danh tiếng của một giống chó thuần chủng đã từng được thế giới biết đến hơn 100 năm trước. Chó Phú Quốc với các đặc trưng quý giá là nguồn cung cấp cho đội quân chó trinh sát mà lực lượng an ninh và quân đội ta đang rất cần.


Vùng biển Tây Nam của nước ta có đến 150 đảo lớn nhỏ, liên kết với nhau gần suốt chiều dài của vịnh, trở thành những căn cứ tiền tiêu chiến lược vô cùng quan trọng để bảo vệ tổ quốc, đồng thời cũng là cửa ngõ để chúng ta hòa nhập với thế giới, kết giao với bạn bè. Đảo Phú Quốc với diện tích rộng lớn, tài nguyên giàu có, nhất là gần nhiều mỏ dầu khí của ta cũng như của Campuchia, Thái Lan, Malaysia, có nhiều điều kiện để xây dựng thành một khu du lịch cao cấp, một khu công nghiệp đa ngành phát triển và một trung tâm thương mại của cả khu vực Đông Nam Á chẳng kém Singapore. Một khi dự án kênh đào Nam Thái Lan được xây dựng nối liền biển Đông với vịnh Bengal, thông thương với Ấn Độ Dương thì tầm quan trọng của Phú Quốc càng được nâng lên gấp nhiều lần. Hiện nay nhiều nước đã đến đầu tư vào Phú Quốc. Đường bay nội địa của hàng không Việt Nam đang được mở rộng, giúp cho hòn đảo này càng gần với đất liền và với các trung tâm kinh tế toàn cầu. Chừng 20 năm nữa, khi tôi trở thành một người thành đạt, chắc chắn tôi cũng sẽ đầu tư vào Phú Quốc, góp phần bé nhỏ của mình để hòn đảo này thực sự trở nên một khu vực giàu sang, một hòn ngọc quý như tên gọi của nó trên vùng biển cực tây của đất nước.


Rời Phú Quốc tôi về Rạch Giá, đi thăm Hà Tiên, ngắm Hòn Dương, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, chùa Hang và các động rải rác khắp chiều dài của bờ biển Tây Nam bộ. Nơi nào cũng cuốn hút tôi, không những bởi những gì được thấy hiện nay mà cả những đề án tương lai. Việt Nam, tổ quốc của tôi, của chúng ta nhất định sẽ cường thịnh, văn minh, hiện đại. Đó là niềm tin mãnh liệt của tôi sau chuyến đi dài ngày và rất thú vị này.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:38:21 am
Biển Đông vẫy gọi

Tàu Bình Minh còn tiếp tục làm nhiệm vụ nghiên cứu ở vịnh Thái Lan nhưng tôi phải về để giúp đỡ mẹ tôi, thăm ông bà, chơi với các em tôi, cũng như ôn tập chuẩn bị cho năm học mới. Suốt thời gian vừa qua ngao du thỏa chí khắp biển Đông, nhưng không lúc nào tôi nguôi nhớ về những người thân ở nhà.


Sau bữa cơm chia tay đầm ấm mà tôi không bao giờ quên, ông tôi đưa tôi ra ngồi hóng gió trước ban công khách sạn Phú Cường để nghe ông nói chuyện tiếp, ông hỏi tôi bây giờ đã hiểu những gì về biển. Tôi nhớ lại những điều đã được các nhà khoa học trên tàu giảng giải cho tôi suốt cuộc hành trình, nhưng cũng giống như học bài, mới chỉ đọc một lần làm sao nhớ hết được. Tôi nhắc lại về tiềm năng du lịch, về tài nguyên, về luật biển... nhưng chắc chắn là hết sức lộn xộn và không đầy đủ. Tuy nhiên ông vẫn khen tôi là đã hiểu được rất nhiều điều cơ bản. Tôi thích lăm mặc dù vẫn biết là ông động viên, khuyến khích tôi là chính.


Trước mặt tôi là biển Kiên Giang, vô vàn những chấm sáng của tàu thuyền di động. Thỉnh thoảng một vài hồi còi lại vang lên chào những người thân đi đưa tiễn hay đi đón người nhà trở về. Ông tôi im lặng suy tư rồi chậm rãi vào chuyện tiếp.


Biển nói chung là môi trường mở đầu sự sống trên hành tinh chúng ta. Trong môi trường đó vật chất đã vận động, chuyển hóa từ vô cơ sang hữu cơ để các tế bào sơ khai ra đời. Sau hàng tỷ năm tiến hóa, những mầm sống đơn giản nhất ấy đã phát triển để trở thành tất cả giống loài từ thực vật đến động vật, từ hạ đẳng đến cao cấp, sống trên cạn hoặc dưới nước như ta thấy ngày nay. Quy luật và cơ chế điều hành quá trình ấy còn là một bí mật sâu thẳm mà các nhà bác học đến nay chỉ mới bắt đầu khám phá được một phần vô cùng bé nhỏ. Do đó biển vừa là một trường học lớn, vừa là một phòng thí nghiệm khổng lồ để chúng ta nghiên cứu các lĩnh vực khoa học khác nhau.


Biển Đông là một bộ phận của Thái Bình Dương, đại dương lớn nhất, sâu nhất và có lẽ cũng cổ nhất thế giới, thông thương với toàn cầu, lại có tài nguyên phong phú, đa dạng nên có vị trí địa chính trị, địa kinh tế vô cùng quan trọng. Biển Đông được hưởng hầu hết những thuận lợi do điều kiện địa lý và điều kiện tự nhiên đưa lại nhưng đồng thời những thuận lợi ấy cũng là nguyên nhân của các tai họa khi nhân loại chưa đạt tới mức độ văn minh cần thiết để mọi dân tộc sống với nhau thân thiết như anh em một nhà.


Tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta quan trọng nhất hiện nay là dầu khí với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn dầu quy đổi, cùng các khoáng sản có giá trị khác như than, sắt, mangan, thiếc, titan, cát thủy tinh, vật liệu xây dựng v.v... khá dồi dào. Còn một tài nguyên quan trọng bậc nhất, khối lượng khổng lồ mà ít người nhắc đến là nước. Không có nước mọi loài sẽ bị hủy diệt. Quả đất chúng ta ưu việt hơn các hành tinh khác chính là vì nó có nước. Từ nước biển nhờ cơ chế bốc hơi nên có nước ngọt nuôi sống toàn bộ cây cỏ và muôn thú trên đất liền. Nhờ có biển nên lượng mưa của nước ta rất lớn, đó là điều mà nhiều nước mơ ước, nhất là các nước cận sa mạc hay sa mạc. Từ nước biển ta có thể lấy ra các loại muối, từ muối ăn đến muối iốt, các loại Sulfat, carbonat cùng nhiều loại muối đặc chủng, vi lượng khác. Khi công nghệ phát triển cao hơn, từ nước biển loài người có thể lấy ra hydro (H), làm nhiên liệu vĩnh hằng cho tương lai, thay cho dầu mỏ, than đá khi các loại nhiên liệu hóa thạch này đi vào cạn kiệt.


Hiện nay một nguy cơ lớn đang đe dọa loài người, đó là lượng CO2 do các ngành công nghiệp, do cuộc sống hiện đại, do nạn cháy rừng thải vào không khí, gây ra hiệu ứng nhà kính làm cho quả đất nóng dần lên và hậu quả khủng khiếp như thê nào cháu đã nghe qua. Đối với nước biển, CO2 còn làm tăng độ axít của tầng nước trên mặt, gây nguy hại đến đời sống sinh vật biển. Nhưng các vùng biển sâu lại có thể giúp chúng ta tìm ra giải pháp để hạn chế vấn đề này bằng cách thu hồi CO2 rồi cho hydrat hóa, tức là cho đóng băng rồi thả chìm xuống đáy để chôn cất hoặc thông qua cơ chế carbonat hóa, tạo thành khoáng vật kết tủa để trở thành các loại đá carbonat tự nhiên.


Hoạt động hàng hải quốc tế trên biển Đông vô cùng sôi động. Hàng năm hơn một nửa số tàu buôn trên thế giới đều chạy qua vùng này. Một nửa số lượng tàu chở dầu từ vịnh Ba Tư đến Đông Á đều đi qua Trường Sa, cho nên nhu cầu về cảng trung chuyển hàng hóa là rất lớn. Biển chúng ta có hàng trăm vịnh nước sâu có thể xây dựng nhiều cảng có tầm quan trọng quốc tế nên hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu này. Miền đất ven bờ và nhiều đảo có tiềm năng kinh tế cao, cảnh quan đẹp, là những địa điểm để phát triển du lịch lý tưởng. Trong lòng biển, tài nguyên sinh vật thật phong phú, ngành đánh bắt và nuôi trồng hải sản có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Ngành vận tải biển, đóng tàu và các ngành công nghiệp khác cùng các ngành dịch vụ đi kèm cũng sẽ là một trong những chìa khóa để đưa nước ta tiến lên hiện đại hóa. Tóm lại, một nước có đến hàng 3.000km bờ biển và một diện tích biển rộng hàng triệu km2 không có lý do gì để không là một cường quốc biển.


Nhưng biển không phải là không có mặt trái của nó. Đó là bão tố, sóng thần, cướp biển và cao hơn nữa là chiến tranh giành giật tài nguyên, đất đai. Biết những điều này để chúng ta không hoang mang, lo sợ mà có những kế hoạch đối phó dài hạn. Khi đi qua vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa cháu đã nghe những rắc rối có thể trớ thành một tiềm năng xung đột lớn ở biển Đông. Tuy nhiên về mặt luật pháp quốc tế, Công ước năm 1982 đã đưa ra một số nguyên tắc chỉ đạo liên quan đến tình trạng các đảo, thềm lục địa, vùng biển lân cận và giới hạn lãnh thổ có thể vận dụng để giải quyết bất đồng. Lần trước ông đã nói đến cách chia thềm lục địa, chắc là cháu đã nhớ rồi. Còn quyền đối với thềm lục địa thì có thể tham khảo ở một số điều cơ bản sau đây. Một là trong Điều 3 quy định: "Mọi quốc gia đều có quyền mở rộng hải phận trong giới hạn 12 hải lý". Điều 55-75 định nghĩa khái niệm khu vực kinh tế độc quyền (EEZ). EEZ là một khu vực rộng trên 200 hải lý và gần kề hải phận. EEZ cho phép các quốc gia ven biển có toàn quyền tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên sống hoặc không sống ở khu vực trên mặt biển, dưới đáy biển và trong lòng đất. Điều 76 quy định: "Thềm lục địa của một quốc gia bao gồm đáy biển, các tầng đất dưới sâu trong khu vực biển kéo dài từ bờ biển qua hải phận đến rìa ngoài của bờ lục địa hoặc đến khoảng cách 200 hải lý". Điều này rất quan trọng vì điều 77 "cho phép mọi quốc gia thực hiện toàn quyền trên thềm lục địa cho mục đích tìm kiếm, thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên". Điều 121 quy định những vùng bãi đá sẽ không có khu vục kinh tế độc quyền hoặc thềm lục địa nếu không duy trì sự sống của con người hoặc cuộc sống kinh tế của chính vùng này.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Sáu, 2022, 06:38:52 am
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển quy định các nước công bố chủ quyền chồng lấn sẽ phải giải quyết bằng đàm phán thiện chí. Nguyên tắc khu vực phát triển chung đã được áp dụng ở vịnh Thái Lan có thể là một mô hình trong lúc chờ đợi các quốc gia phân chia chính thức vùng bị tranh chấp. Indonesia đã đảm nhận vai trò chủ đạo trong các sáng kiến ngoại giao và thỏa thuận họp tác nhằm giải quyết những vấn đề của biển Đông thông qua diễn đàn của ASEAN, kêu gọi giải quyết chủ quyền lãnh thổ trong hòa bình. Các vấn đề này cũng được thảo luận tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tổ chức cùng với hội nghị các bộ trưởng ASEAN với 22 nước tham gia. Tháng 11 năm 1999 các thành viên ASEAN đã đưa ra một văn bản chung do Việt Nam và Philippines dự thảo, hướng dẫn giải quyết các xung đột trên biển Đông và Trung Quốc cũng đã chấp nhận. Ngoài ra một yếu tố cũng rất quan trọng là cùng với thời gian nhân loại sẽ văn minh hơn, những người chính trực ở mọi quốc gia sẽ đông hơn, lục lượng đấu tranh cho lẽ phải và cho hòa bình sẽ phát triển hơn, nước ta cũng sẽ cường thịnh hơn, tất cả sẽ tạo thành một lực cản mạnh mẽ để ngăn chặn những hành vi bạo lực xuất phát từ lòng tham cố hữu của các thế lực phong kiến, đế quốc lỗi thời.


Ông hỏi tôi đã nghe nói đến Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 chưa. Chiến lược là một ngọn đèn chỉ hướng cho chúng ta hành động trong tương lai nên cần phải biết, ít nhất là những nét cơ bản. Tôi nói cũng muốn biết lắm, nhưng chưa được nghe, ông đặt tay lên đỉnh đầu, vuốt mấy sợi tóc thưa như thói quen mỗi khi cần nhớ những điều đã quên rồi nói tiếp. Mục tiêu tổng quát của Chiến luọc này là "đến 2020 đưa nước ta trớ thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Để thực hiện mục tiêu này thì trong thời gian tới nước ta sẽ "đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển và các tuyến vận tải cao tốc trên biển. Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển. Tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh trên biển, khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và phòng chống thiên tai. Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người hoạt động trên biển. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước và quan hệ quốc tế về biển, đảo".


Nếu chiến lược này được thực hiện nghiêm túc thì sau mười năm nữa chúng ta sẽ xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh thành trung tâm kinh tế mạnh, nòng cốt là cảng biển, công nghiệp và du lịch biển, làm đầu tàu lôi kéo cả vùng biển phía Bắc từ Móng Cái đến Ninh Bình phát triển. Đối với miền Trung, Đà Nẵng sẽ trở thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển lớn nhất nước ta. Từ Thanh Hóa đến Bình Thuận sẽ là hành lang kinh tế dọc đường cao tốc Bắc - Nam, với các cảng nước sâu, sân bay quốc tế, và các đô thị ven biển. Đó là những trung tâm kinh tế tổng hợp với kinh tế hàng hải, du lịch, công nghiệp công nghệ cao làm nòng cốt. Ở vùng biển và ven biển Đông Nam bộ thì thành phố Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh là những trung tâm kinh tế lớn hướng ra biển của vùng. Các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang kinh tế dọc quốc lộ 51 sẽ phát triển mạnh mẽ. Ở vùng biển và ven biển Tây Nam, từ Tiền Giang đến Cà Mau, Kiên Giang thì đảo Phú Quốc sẽ là trung tâm kinh tế lớn của vùng hướng mạnh ra biển. Tuyến hành lang kinh tế ven biển phía tây (Rạch Giá - Hà Tiên) và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía đông (Bạc Liêu - Gành Hào - Cà Mau - Năm Căn) gắn với khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau sẽ là những con đường hoa của tổ quốc ở phương Nam.


Thông điệp mà thế hệ ông muốn gửi đến các cháu là phải giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải do tổ tiên để lại, giữ gìn môi trường cùng các hệ sinh thái bền vững, khai thác họp lý, thông minh các loại tài nguyên và bằng mọi cách xây dựng tình hữu nghị chân chính giữa dân tộc ta với tất cả các dân tộc trên thế giới, gần cũng như xa.


Năm nay cháu đã mười sáu tuổi, sẽ là đoàn viên và sẽ là một công dân đầy đủ để đảm nhận những trọng trách mà các thế hệ đi trước giao lại. Cháu và các bạn cháu sẽ học tập thật tốt, trang bị cho mình những kiến thức toàn diện để trờ thành những người tài của quốc gia. Đương nhiên việc này đâu có dễ dàng nhưng truyền thống yêu nước và trí thông minh của các cháu là những đảm bảo vững chắc cho niềm tin của thế hệ ông.


Ông tôi ngừng lời và ôm tôi vào lòng. Gió biển về đêm se se lạnh nhưng lúc này tôi thấy ấm cúng lạ thường. Ngoài bãi nước triều đang lên, kéo theo những tiếng gầm trầm trầm, mạnh mẽ. Các đợt sóng đua nhau hùng dũng tiến vào bờ trắng xóa dưới ánh điện đêm tỏa sáng cả bờ biển Rạch Giá. Lòng tôi cũng rạo rực không kém những con sóng ấy sau khi nghe những lời tâm huyết của ông.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Sáu, 2022, 06:28:46 am
Thăm lại các vùng duyên hải và tàu Bình Minh sau những năm xa cách

Thấm thoát đã ba năm trôi qua kể từ khi tôi đi biển lần đầu mà tôi đã kể cho các bạn nghe trong các chương trước. Năm rồi mẹ tôi ốm nặng. Mỗi khi tôi đến thăm bà ở bệnh viện bà luôn nén đau đón để cười vui, khuyên khích tôi ngoan, chăm học và lúc nào cũng bảo nếu tôi học giỏi thì bệnh bà sẽ khỏi. Vâng lời mẹ, tôi đã giảm hẳn chơi game, không sa đà vào những phim hoạt hình hoặc bạo lực trên ti vi, dành thời gian để đọc sách, làm bài, tham gia lao động, dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, sạch đẹp và cùng mọi người trong gia đình chăm sóc mẹ tôi. Tôi đã tốt nghiệp phổ thông trung học và cũng vừa thi đỗ vào đại học trong kỳ thi tháng 7 vừa qua. Mẹ bảo đó là món quà có ý nghĩa nhất trong dịp lễ Vu Lan năm nay của tôi dành cho ba mẹ. Hai ông bà vui lắm nên khỏe ra, riêng mẹ tôi đã chữa khỏi cơn bệnh hiểm nghèo nên có vẻ trẻ đẹp hơn ba năm trước. Đương nhiên là tôi rất hạnh phúc về điều đó. Hiện nay tôi đang chờ ba mẹ tôi cho ý kiến sẽ theo học trường Đại học Hàng hải hay trường Đại học Dầu khí vừa mới thành lập để tiếp bước ông bà tôi, gắn bó với biển, góp phần xây dựng nước ta thành một cường quốc biển trong tương lai. Đang chưa có kế hoạch gì cụ thể trong mấy tháng chơ đợi nhập học, tôi được ông tôi báo tin ông được mời đi thăm con tàu Bình Minh đang làm nhiệm vụ khảo sát địa vật lý ở vùng biển sâu trong chương trình tìm kiếm thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía nam, tiếp giáp với Trường Sa sau sự kiện sôi sục bị tàu Trung Quốc cắt cáp hồi tháng 6-2011. Nếu tôi thích ông sẽ cho đi cùng. Cố nhiên là tôi sướng quá đi chứ, làm sao mà bỏ lỡ một dịp may hiếm có như thế.


Kết hợp du lịch, hai ông cháu đi ô tô xuống tham quan Bãi Cháy, Hải Phòng, rồi theo đường ven biển vào Nam. Ông tôi bảo để xem chương trình phát triển kinh tế biển đã làm được những gì trong ba năm qua. Thành phố Hạ Long rất đẹp, nhiều phố mới hiện đại đã xuất hiện ngay trên những nơi trước đây còn là bãi sình lầy. Khách nước ngoài rất đông, chiếm gần hết chỗ trong các khách sạn cao cấp. Họ cũng đang tích cực ký tên chọn vịnh Hạ Long làm kỳ quan thiên nhiên thế giới theo sáng kiến của một tổ chức quốc tế bình chọn danh lam thắng cảnh toàn cầu đang diễn ra mấy năm nay và đang trong giai đoạn sắp kết thức. Du lịch biển đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nước ta, mang lại nguồn thu lớn không kém các ngành khác, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người, nhất là cho thanh niên có trình độ văn hóa và vốn ngoại ngữ tốt. Du lịch còn mở rộng giao lưu văn hóa, giúp người nước ngoài hiểu Việt Nam, ủng hộ Việt Nam hơn, đồng thời người Việt Nam cũng có dịp tiếp thu nền văn minh của các dân tộc khác, nhất là trong cung cách ứng xử, giao tiếp, tạo điều kiện tốt cho thu hút đầu tư, đổi mới toàn diện đất nước. Tuy thế ông tôi vẫn chưa vừa lòng khi nhìn thấy bãi biển còn chưa sạch, ít thấy các nhà máy sản xuất công nghiệp, các đội tàu thuyền đánh cá biển khơi chưa được đóng mới, trang bị chưa hiện đại nên vẫn còn quanh quẩn khai thác hải sản gần bờ, sản phẩm vừa ít vừa không đa dạng.


Trên đườg đi chúng tôi gặp những đoàn xe tải lớn, nối đuôi nhau chở đầy ắp hàng hóa xuất khẩu chạy về phía biên giới. Nhãn lồng Hưng Yên đang vào vụ thu hoạch đại trà, cùi dày, thơm phúc cùng với vú sữa, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, cam quýt, dưa hấu... từ các tỉnh phía Nam ùn ùn chảy về Móng Cái nhưng vẫn chưa cung cấp đủ cho nhu cầu của các thành phố lớn ven biển Trung Hoa. Tương lai của sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới xuất khẩu của nước ta đang rộng mở.


Vào Hải Phòng đôi mắt ông tôi thoáng buồn khi đi qua các xưởng đóng tàu biển của tập đoàn Vinashin nổi tiếng một thời. Do quản lý yếu kém kèm theo các tiêu cực khác, năm 2010 tập đoàn này đứng trên bờ vực phá sản. Nhờ sự hỗ trợ to lớn từ chính phủ và của các tập đoàn kinh tế khác cũng như sự nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ - công nhân làm việc ở đây, Vinashin đang dần phục hồi, nhưng vết thương quá nặng, chưa thể khắc phục một sớm một chiều. Con đường đi đến tương lai không phải chỉ được trải thảm đỏ mà còn có bao nhiêu gai góc. Nỗi buồn đó tạm lắng xuống khi trước mặt hiện ra những khu bồn chứa xăng dầu hình cầu đồ sộ, sáng loáng dưới ánh mặt trời. Đó là khu kho xăng dầu Đình Vũ. Để đổ đầy các bồn chứa đó chúng ta có thể hình dung các tàu chở sản phẩm lọc dầu từ các nơi vào ra cảng Hải Phòng nhộn nhịp đến mức nào cũng như các hoạt động dịch vụ ở đây phát triển ra sao. Khu công nghiệp Đình Vũ rộng lớn với nhà máy xơ sợi hiện đại, sử dụng dầu khí làm nguyên liệu đầu vào thu hút rất mạnh sự chú ý của mọi người. Công suất thiết kế của nhà máy này là 175.000 tấn sọi/ năm, đi vào sản xuất trong quý III - 2011. Ông tôi bảo ngành dệt may của nước ta có hàng vạn công nhân tay nghề cao, mỗi năm xuất khẩu một khối lượng hàng hóa với doanh thu trên 10 tỷ đô la Mỹ nhưng nguyên liệu hoàn toàn nhập khẩu nên lợi nhuận rất thấp. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ sẽ góp phần cải thiện tình trạng yếu kém đó trong các năm tới.


Dọc theo các bãi biển hai tỉnh Thái Bình - Nam Định xuất hiện vô số các khu nuôi ngao (nghêu), một hoạt động trước đây chưa từng có. Nhờ môi trường thích hợp, phù sa của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình rất giàu dinh dưỡng nên ngao phát triển rất nhanh, thịt rất ngon. Người đi cào ngao đông như đi hội, cười nói vui vẻ vang cả một vùng. Nghe nói nhờ gần với thị trường tiêu thụ nên ngao bán rất được giá, một lượng lớn được xuất khẩu, nhờ đó đời sống nhân dân ven biển được cải thiện rất nhiều, ông tôi bảo kinh tế biển không phải chỉ những gì to lớn, hiện đại mà còn cả những hoạt động cổ điển, giản đơn, cái gì mang lại sự tốt lành cho nhân dân đều phải được chú ý. Tôi thấy sáng ra qua những lời giải thích ngắn gọn đó.


Xe qua Thanh Hóa, khu lọc dầu Nghi Sơn đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng, công trường ngổn ngang những xe cộ, máy móc. Báo chí đưa tin nhà máy này còn to hơn Dung Quất, công suất lên đến 10 triệu tấn/ năm và có nhiều loại sản phẩm hơn. Hy vọng sau năm 2015 đi qua đây bạn có thể chiêm ngưỡng một thành phố công nghiệp mới, hiện đại, nguy nga, thay đổi hẳn bộ mặt của tỉnh Thanh nông nghiệp nghèo nàn với câu vè đau lòng từ nhiều năm trước: "Sản phẩm chủ lực là cây rau má... dô tá dô tà".


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Sáu, 2022, 06:29:23 am
Dọc biển miền Trung đã có một số cảng nước sâu như Vũng Áng, Chân Mây, Tiên Sa, Chu Lai, Dung Quát.... đi vào hoạt động. Hàng hóa xuất nhập cảnh qua các cảng này phục vụ cho kinh tế Việt Nam, Lào, Đông Bắc Thái Lan mỗi ngày một nhiều. Các bãi tắm Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Lăng Cô, Đà Nẵng... đông nghịt người trong nước và nước ngoài tới nghỉ ngơi, du ngoạn. Huế, thành cổ Quảng Trị, Hội An, Mỹ Sơn, Bà Nà trở thành quen thuộc với khách du lịch thuộc nhiều quốc tịch đủ các châu lục. Ấn tượng nhất đối với tôi là những cây cầu trên sông Hàn, thành phố Đà Nẵng. Ban đêm một chuỗi ánh sáng lung linh kéo dài từ đèo Hải Vân đến Hội An, đẹp như chuỗi ngọc trên cổ các bạn gái tuổi trăng tròn và bóng các ngôi nhà cao tầng, xinh xắn in trong làn nước trong vắt chảy từ nguồn Trường Sơn về tô điểm cho thành phố làm ta quên vùng này từng là chiến trường khốc liệt nhất trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc vừa qua. Và ấn tượng hơn nữa là khu lọc dầu Dung Quất vừa đi vào hoạt động chính thức ngày 22-02-2010. Đối với các nước khác đây chưa phải là công trình có tầm quan trọng đáng ca ngợi, nhưng đối với nước ta thì con chim đầu đàn của ngành công nghiệp lọc - hóa dầu này thật là đáng tự hào. Trong lúc chúng ta còn nghèo nàn, cơ cực, khó khăn đủ điều, nhân lực, công nghệ thiếu trầm trọng mà dám quyết tâm bỏ ra 3 tỷ đôla để đầu tư cho công trình này nhằm vực dậy cả nền kinh tế miền Trung là cả một hành động rất dũng cảm, sáng suốt của những người lãnh đạo đất nước trong giai đoạn vừa qua. Với công suất chế biên 6,5 triệu tấn sản phẩm lọc dầu/năm, nhà máy Dung Quất sẽ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu xăng dầu tiêu thụ của cả nước. Theo kế hoạch năm 2009, nhà máy được vận hành nâng dần công suất để đến tháng 8/2009 đạt 100% công suất thiết kế trước khi nhà thầu bàn giao cho phía Việt Nam. Hiện nay toàn bộ cán bộ kỹ thuật, công nhân làm việc ở đây đều là người Việt Nam, sản lượng trong một tháng đạt gần 150.000 tấn xăng, 240.000 tấn diesel, 23.000 tấn LPG (khí gas), trên 8000 tấn propylen và khoảng 30.000 tấn xăng máy bay, 25.000 tấn dầu FO. Ngày 25-8-2010 lễ bàn giao nhà máy sản xuãt polypropylen được tổ chức tại Quảng Ngãi từ tổ hợp nhà thầu sang chủ đầu tư là Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Nhà máy có tổng mức đầu tư 234 triệu đôla Mỹ, công suất 150.000 tấn/năm, được coi như một phân xướng mới của nhà máy lọc dầu Dung Quất. Cùng với khí hyđró (H2) và các chất xúc tác khác, nhà máy này sản xuất ra trên 30 loại sản phẩm nhựa homopolyme, polypropylen có nhiều ứng dụng khác nhau, đáp ứng một phần nhu cầu hạt nhựa của thị trường trong nước. Hiện nay sản phẩm đồ gia dụng bằng nhựa của Việt Nam đã xuất khẩu ra nhiều nước và nước nhập sản phẩm này nhiều nhất lại chính là Nhật Bản, nơi cung cấp bản quyền công nghệ Hypol-II của nhà cung cấp Mitsu Chemical Inc. cho Việt Nam, một trong những công nghệ tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới. Như thế, từ một vùng đất không ai biết đến, ngày nay Dung Quất đã trờ thành quả tim của cả miền Trung. Kể từ khi khởi công xây dựng nhà máy lọc dầu, GDP và thu ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi đã tăng liên tục, từ 259 tỷ đồng năm 2005 lên 2000 tỷ đồng năm 2010. Có nhà máy lọc dầu làm hạt nhân, năm 2005 Quảng Ngãi đã thu hút được 20 dự án với tổng vốn đầu tư 1.218 tỷ đồng. Sang năm 2006 số dự án đầu tư tăng lên con số 42 trong đó có 2 dự án lớn 100% vốn nước ngoài, năm 2007 có 40 dự án đi vào hoạt động; năm 2008 có thêm 17 dự án mới với tổng vốn đầu tư 3,4 tỷ đô la Mỹ. Như vậy việc đưa nhà máy lọc dầu Dung Quất vào hoạt động đã có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và quốc phòng, tạo đà cho phát triển toàn diện các ngành công nghiệp và kinh tế của khu vực miền Trung - Tây nguyên, đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các vùng miền trong cả nước. Điều đó đã giải tỏa được những băn khoăn của nhiều người trong những ngày đầu khi biết tin Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên tại vùng đất gần như hoang vắng này. Những khó khăn trước mắt còn nhiều. Làm sao để quản lý, vận hành nhà máy an toàn, có hiệu quả dài hạn, hoàn vốn nhanh và có lãi, làm sao bảo đảm đời sống của ngươi dân có đất bị giải tỏa để xây dựng nhà máy mỗi ngày một tốt đẹp hơn, làm sao để đối phó với các hiểm họa thiên nhiên và các thế lực thù địch, bành trướng có thể gây ra ở một nơi gần bờ biển, làm sao để đời sống của cán bộ, công nhân ngày một nâng cao, ngang tầm khu vực, giữ chân được nhân tài trong cơ chế thị trường nghiệt ngã v.v... là những day dứt, trăn trở của những nhà lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương. Chê bai thì rất dễ nhưng thực hành thì rất khó. Nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng mọi trở ngại sẽ được vuợt qua. "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết chí sẽ làm nên". Lời Bác luôn vang vọng bên tai thế hệ chúng tôi.


Tôi cũng được biết trong tương lai không xa lắm các nhà máy lọc - hóa dầu địa phương ở Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoa, Cần Thơ cũng sẽ được xây dựng nếu không gặp những trở ngại quá lớn trong tìm kiếm đối tác. Lúc đó, cùng với Dung Quất, Nghi Sơn, Cà Mau, Vũng Tàu, nước ta sẽ có một hệ thống các nhà máy lọc - hóa dầu liên hoàn, đa sở hữu, đủ sức trở thành một trung tâm phân phối và trung chuyển sản phẩm dầu khí cho toàn khu vực, mang lại nhiều lợi ích cho Tổ quốc. Khu kinh tế Chu Lai trước đây được tuyên truyền rất rầm rộ nhưng hiện nay chưa có thay đổi gì nhiều. Đó có lẽ một phần do đầu tư dàn trải, manh mún trong lúc nguồn vốn có hạn.


Sau ba năm tôi mới có dịp trở lại thăm vùng đất cực nam Trung Bộ. Các thành phố Nha Trang, Cam Ranh ngày nay đã trở thành những điểm sáng nhất trên bản đồ du lịch Việt Nam. Qua Ninh Thuận được nghe kể chuyện ở huyện Thuận Bắc từ tháng Giêng 2011 đến nay tình trạng phun bùn vẫn tiếp tục diễn ra làm nhiều người lo lắng, ông tôi giải thích cho tôi biết đây là vùng có nhiều đá chứa sôđa (cacbonat natri) tự nhiên, sét bentonit và nước khoáng. Từ mấy trăm năm trước cung nữ trong triều đình nhà Nguyễn đã dùng sôđa này để giặt quần áo khi nước ta chưa biết đến xà phòng. Nhân dân địa phương gọi chất này là "cát lồi". Trước năm 1970 dân Ninh Thuận còn tự khai thác "cát lồi" bán cho các chủ cơ sở sản xuất xà phòng ở Sài Gòn. Những vật liệu này có các chất vi lượng tương tự nhau, đều chứa natri và được hình thành từ hoạt động núi lửa cổ. Bùn nhão ở Ninh Thuận chính là sôđa tự nhiên nói trên. Natri trong thành phần bùn có tính trương nở rất mạnh khi tiếp xúc với nước. Dưới tác dụng của nhiệt độ trong lòng đất, bùn nhão bị đẩy lên mặt đất giống như một hoạt động hậu núi lửa, tạo ra hiện tượng phun trao tự nhiên nhung không gây nguy hiểm và các tổ chức du lịch có thể đưa khách đên tham quan hiện tượng hấp dẫn kỳ thú này để làm phong phú thêm nội dung du lịch. Ninh Thuận cũng đang xôn xao về đề án xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử ở đây: nhà máy số 1 dự định đặt tại Phước Dinh cách thành phố Phan Rang khoảng 10 km về phía đông nam, nằm ngay trên bờ biển và nhà máy số 2 tại Vĩnh Hải cách thành phố Phan Rang khoảng 15km về phía đông bắc, cách biển gần 2km. Người tán thành cũng đông và người không đồng tình cũng không ít. Người đồng tình cho rằng đây là một công trình rất cần thiêt để bảo đảm an ninh năng lượng cho vài chục năm sau cũng như cần phải tiếp thu công nghệ tiên tiến nhất của thời đại để giải quyết nhiều mục tiêu chiến lược khác, ông tôi lại nằm trong nhóm không đồng tình, ông nói đề án đòi hỏi một lượng vốn đầu tư quá lớn, trên hai chục tỷ USD khiến cho nợ quốc tế gia tăng, tạo thành gánh nặng cho thế hệ con cháu. Nguy cơ xảy ra tai nạn tiềm ẩn khó lường vì không có công nghệ nào dám đảm bảo an toàn 100%. Miền Trung đất hẹp nếu xảy ra sự cố như ở Nhật hoặc Ukraina thì hậu quả sẽ rất tai hại cho cả miền Nam. Giá thành điện hạt nhân quá cao và lượng điện sản xuất ra chỉ khoảng 10% tổng sản lượng cả nước. Khối lượng điện này có thể giải quyết bằng các giải pháp tiết kiệm điện tiêu dùng hoặc các nguồn năng lượng khác rẻ hơn và ít nguy hiểm hon. Tôi chỉ nghe vì chưa có hiểu biết gì về lĩnh vực này.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Sáu, 2022, 06:29:54 am
Thả bộ chậm rải trẽn bãi cát mịn màng Cam Ranh, ông tôi nhìn theo các lớp sóng đuổi nhau trên mặt biển, ông nói với tôi về những nhận xét của ông: cháu Sơn, cháu có thấy sự khác nhau của các lớp sóng đập vào bờ không? Tôi đáp sau một hồi lâu quan sát rằng có lớp mạnh, lớp yếu, có cả những lớp tan ngay từ xa, không vào được đến bờ. Ông nói rằng những con sóng trên đường đi liên kết được với nhau thì rất mạnh, còn liên kết yếu thì sẽ yếu hoặc không liên kết với nhau thì tan vỡ giữa đường. Tình hình phát triển kinh tế biển của các tỉnh miền Trung tuy khởi sắc rất nhiều nhưng cũng có cái gì đó ít nhiều tương tự. Tỉnh nào cũng đứng riêng, tìm mọi cách để thu hút đầu tư, cạnh tranh với nhau, tạo điều kiện cho các đối tác tiềm năng tăng sức ép, giành phần lợi thế về họ. Giá như lãnh đạo các tỉnh loại bỏ được hoàn toàn tính bản vị địa phương, liên kết với nhau theo một quy hoạch phát triển chung thì không những sử dụng được nội lực hiệu quả hơn, phát huy được thế mạnh của mỗi tỉnh, không đầu tư quá trùng lặp để sản phẩm đầu ra không dư thừa, cung vượt cầu, kéo theo giá trị doanh thu giảm cũng như điều kiện thu hút đầu tư không hạ quá thấp, gây thiệt hại lâu dài cho địa phương mình. Cháu nhìn xem, các bãi cát ven bờ suốt từ Bình Định trở vào bị đào nham nhờ để khai thác titan, một khoáng sản quý hiếm, phá sạch màu xanh của các dãy rừng chắn gió, chắn cát bay và sản phẩm khai thác được lại phải bán hạ giá cho nước ngoài để vài năm nữa lại phải nhập khẩu với giá đắt gấp nhiều lần. Các cảng cũng cạnh tranh nhau, tùy tiện trong quản lý xuất nhập khẩu, khám xét, kiểm tra qua loa làm cho kỷ cương buông lỏng, luật pháp không được tôn trọng. Nếu như liên kết được với nhau, phân phối lượng tiếp nhận tàu ra, tàu vào một cách hài hòa, phối hợp với nhau trong kế hoạch vận tải hàng hóa một cách có lợi nhất v.v... thì doanh thu sẽ cao do chi phí giảm, thiết bị, nhân lực sử dụng tối ưu. Cháu bây giờ sắp trở thành một sinh viên, một công dân đầy đủ quyền lại và nghĩa vụ nên cần phải quan tâm, phải biết các vấn đề của đất nước để góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước. Tôi suy nghĩ rất nhiều về lời khuyên của ông.


Lần trước tôi chỉ đi ngoài biển, vồng quanh đất mũi cực nam để về Phú Quốc nên lần này ông tôi cho tôi đi thẳng xuống Cà Mau để tận mắt thấy vùng đất đầy hấp dẫn được mô tả trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi hay trong các truyện ngắn nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Tư. Đường đi từ thành phố Hồ Chí Minh xuống miền cực nam của tổ quốc khá tốt, phần lớn mới được xây dựng. Các cây cầu trên sông Tiền, sông Hậu có thể xếp vào loại bậc nhất nhì về mức độ hiện đại và vẻ đẹp kiến trúc trong vùng Đông Nam Á. Hai
bên đường những hàng chuối mọc san sát, khác lạ so với cảnh quan dọc các con đường ở các vùng khác. Ruộng lúa bát ngát hòa màu xanh với các vườn dừa tạo thành một màu đặc sản quyến rũ. Những tán lá dừa xoe ra, che nắng gió cho những ngôi nhà rất đơn sơ, có thể gọi là các túp lều, nằm sát bờ kênh rạch. Những em bé nước da cháy nắng, đen nâu, tung tăng đi qua các cây cầu khỉ cheo leo. Những đoàn ghe thuyền gắn máy hối hả xuôi ngược trên mặt kênh tạo ra những con sóng nối tiếp đập vào bờ, dập dềnh từng đợt cùng với tiếng ồn kéo dài, khi to khi nhỏ. Thỉnh thoảng lại có những chiếc xuồng nhỏ nhắn, thảnh thơi lượn lơ như đi dạo giữa những rừng cây ngập nước. Phong cảnh thật là kỳ thú.


Tỉnh Cà Mau cách thành phố Hồ Chí Minh 370km, diện tích 5.329km2, ba phía giáp biển nên có thể coi như một tỉnh của biển. Cà Mau có nhiều tiềm năng thuận lợi để phát triển kinh tế toàn diện nhưng thế mạnh lớn nhất vẫn là thủy sản. Diện tích ngư trường rộng đến 70.000km2, diện tích nuôi thủy sản đạt 270.000 hécta. Tổng sản lượng khai thác thủy sản hiện nay đạt 320.000 tấn/năm, riêng tôm đã chiếm đến 120.000 tấn/năm. Ông chủ tịch tỉnh nêu những con số rất lạc quan: GDP năm 2009 đạt 20.494 tỷ đồng, GDP tính trên đầu người hiện nay đã vượt 1000 USD, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 647 triệu USD chưa kể số tiền thu về từ dầu khí. Các khu du lịch sinh thái, biển đảo như bãi Khai Long, đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạt, rùng ngập mặn, mũi Cà Mau, rừng tràm U Minh Hạ, sân chim Đầm Dơi... đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh học thế giới. Có đến vườn quốc gia mũi Cà Mau mới thấy hết vẻ đẹp kỳ diệu của rừng ngập mặn trù phú dọc theo bờ biển. Chúng như những bức tường phòng hộ, chắn gió, chống xói lở cũng như thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa mới ở biển, tạo ra môi trường sinh trưởng lý tưởng cho cua, cá, tôm và các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao. Từ các khu rừng này, Cà Mau khai thác mỗi năm được 120.000-150.000 mét khối gỗ làm nguyên liệu cho chế biến ván ép, ván dăm, gỗ ghép, phục vụ cho nhu cầu địa phương lẫn xuất khẩu.


Ngành dầu khí cũng đã góp phần biến đổi nhanh chóng Cà Mau thành một tỉnh nông-công mà nòng cốt là khu liên hợp khí-điện-đạm đang được xây dựng trên thềm đất U Minh Hạ, nơi đã từng ghi dấu bao chiến công oanh liệt trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vừa qua. Ngoài khu liên họp khí-điện-đạm còn có các khu công nghiệp Khánh An, Hòa Trung, Sông Đốc, Năm Căn, cảng hàng không Cà Mau và cảng Năm Căn.


Như tôi đã kể cho các bạn nghe trong các chương trước, tại vùng chồng lấn PM3 giữa Việt Nam và Malaysia ở phía nam Cà Mau, hai nước đã thỏa thuận và triển khai hợp tác khai thác dầu khí từ 5 năm nay. Khí đốt khai thác ở các mò vùng này được dẫn ngầm dưới biển đưa về đất liền làm nhiên liệu phát điện cho nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 với tổng công suất lắp đặt mỗi nhà máy 750 MW, đã đưa vào vận hành đúng tiến độ, sản xuất mỗi năm 7-8 tỷ Kwh điện và đã hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Phần khí còn lại cũng như khí sẽ khai thác từ các mỏ trong vùng thuộc chủ quyền của nước ta ở phía nam Cà Mau sẽ là nguồn nguyên liệu cho nhà máy đạm Cà Mau đang được xây dựng. Nhà máy này có công suất thiết kế 800.000 tấn urê/ năm, tổng mức đầu tư gần 900 triệu USD, giải quyết công ăn việc làm cho hơn một vạn người trong giai đoạn xây dựng và trên 600 người có trình độ kỹ thuật cao trong giai đoạn vận hành, được khởi công từ tháng 7/2008 và sẽ hoàn thành trong năm 2012. Sản phẩm chính của nhà máy này là phân đạm chất lượng cao, dạng viên vê, khí CO2 tinh khiết phục vụ đời sống, sản xuất công nghiệp và công nghệ thực phẩm. Đạm Cà Mau sẽ đáp ứng nhu cầu nông nghiệp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của Việt Nam. Cùng với đạm Phú Mỹ, sản lượng đạm do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sản xuất sẽ đạt 1,5 triệu tấn/ năm, chiếm khoảng 60% nhu cầu phân đạm trong nước, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm cân đối cung-cầu, bình ổn giá phân bón và an ninh lương thực của nước ta.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Sáu, 2022, 06:30:47 am
Sau một tuần đi đường, chúng tôi đến Vũng Tàu, nơi được mệnh danh là thành phố dầu khí. Gần tượng đài thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo mới xuất hiện một tượng đài mang ngọn lửa tượng trưng cho thương hiệu của ngành dầu khí Việt Nam. Các chú làm việc trong Liên doanh dầu khí Việt- Nga (một liên doanh mới, tiếp tục nhiệm vụ của Liên doanh dầu khí Việt-Xô đã hết thời hạn hoạt động giữa năm 2011) tiếp ông cháu tôi, cho biết đơn vị đầu đàn của ngành dầu khí Việt Nam này vừa mới tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm ngày ký hiệp định giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Xô Viết (19/6/1981 - 19/6/2011) thành lập Liên doanh Vietsovpetro rất trọng thể. Đến nay liên doanh này đã khai thác trên 193 triệu tấn dầu thô, chiếm 76% tổng sản lượng toàn ngành. Tổng doanh thu bán dầu thô đạt 54,3 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước và lợi nhuận của phía Việt Nam gần 34,4 tỷ, lợi nhuận phía Liên Xô cũ và Nga đạt 8,8 tỷ (số còn lại dành cho chi phí sản xuất), cung cấp cho Việt Nam 23 tỷ mét khối khí đồng hành không lấy tiền, tương đương khoảng 4 tỷ USD và quan trọng hon hết là đã đào tạo thông qua công việc cho nước ta một đội ngũ những công nhân chuyên nghiệp cũng như kỹ sư dầu khí có trình độ cao, đủ bảo đảm nhân lực cho toàn ngành. Liên doanh mới có thời hạn hoạt động 20 năm nữa sẽ bảo đảm cho sản lượng không dưới 7 triệu tấn dầu thô/năm. Vietsovpetro cũng vừa tìm thấy dầu ở mỏ Gấu Trắng, kết quả thử vỉa ngày 04-8-2011 cho dòng dầu tự phun với lưu lượng trên 2000 thùng/ngày và sẽ đưa mò này vào khai thác vào năm 2012. Như vậy tiếp theo phát hiện vỉa dầu mới ở tây bắc mỏ Bạch Hổ vào cuối tháng 6 vừa qua, đây là lần phát hiện dầu quan trọng thứ hai trong năm 2011 của Vietsovpetro. Bể Cửu Long quả là kho vàng của Việt Nam. Trong kế hoạch 2011-2015 Liên doanh dầu khí Việt-Nga, Tổng công ty thăm dò, khai thác dầu khí Việt Nam (PVEP) cùng các liên doanh, các chủ hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) khác sẽ gia tăng trữ lượng hàng năm 30-40 triệu tấn, khai thác dầu thô 15-20 triệu tấn/năm, khai thác khí đốt 8-13 tỷ mét khối/năm; các kế hoạch tiếp theo chắc chắn sẽ vượt các chỉ tiêu đó. Tôi mách cho các bạn biết tên các mỏ dầu khí ở thềm lục địa của nước ta đang và sẽ được đưa vào khai thác để các bạn dự thi tìm hiểu ngành dầu khí nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống của ngành vào tháng 11-2011 này nhé ! (thực ra tôi cũng chỉ mới nghe lỏm trước các bạn tí chút thôi): Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Lan Tây, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông, Phương Đông, Ruby, Bunga Raya, Cá Ngừ Vàng, Topaz, Dừa, Đồi Mồi, Chim Sáo (7-2011), Tê Giác Trắng (8-2011), Đại Hùng pha hai (9-2011), Lan Đỏ, Sư Tử trắng, Hải Thạch - Mộc Tinh, Gấu Trắng (2012), Hải Sư trắng, Hải sư Đen, Thiên Ưng, Thăng Long, Đông Đô, Diamond (2013), Kim Long, Ác Quỷ, Cá Chó, Cá Voi, Gấu Ngựa, Gâu Chúa, lô 11/1 (2014), Hàm Rồng, Lạc Đà Nâu, Hoang Long, Hắc Long, Bạch Long, Sư Tử Nâu (2015). Năm 1975 ta chỉ có một mỏ khí nhỏ ở Tiền Hải (Thái Bình), 40 năm sau ngay những người làm trong ngành dầu khí cũng không nhớ hết tên các mỏ. Các bạn thấy ngành dầu khí Việt Nam phát triển mạnh mẽ như thế nào và có thích không?


Thành phố Vũng Tàu vừa là thành phố du lịch nổi tiếng, với hàng loạt bãi tắm sạch đẹp mang tên rất dân dã như bãi Trước, bãi Sau, bãi Dâu hay văn hoa như Thùy Vân, cũng vừa là thành phối nổi tiếng về công nghiệp liên quan đến biển. Các cảng dầu khí xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ trước không ngừng được mở rộng, hiện đại hóa, nằm nối tiếp nhau, đủ các loại tàu chuyên dụng, tàu vận tải vào ra nhộn nhịp suốt ngày đêm. Ở đó cũng đã xuất hiện các công xưởng sản xuất, lắp ráp các bộ phận của các loại gian khoan biển, từ chân đế cho đến các kết cấu phần trên, nơi ăn ở, làm việc, nơi đặt sân bay trực thăng, vòi đuốc đốt khí không sử dụng hết v.v... Gần đây nhất ta đã tự thiết kế, chế tạo thành công giàn khoan rất hiện đại phục vụ cho khai thác mỏ Đại Hùng và ngày 12/8/2011 tại cảng dầu khí, Vietsovpetro đã long trọng gắn biển chào mừng lễ kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống dầu khí Việt Nam cho 2 giàn khai thác do ta tự thiết kế, chế tạo mang ký hiệu RC-6 và RC-7 phục vụ cho mỏ Rồng gồm nhiều hạng mục, với tổng khối lượng 2000 tấn mỗi giàn, sắp tới sẽ chế tạo tiếp và hạ thủy giàn Mộc Tinh 1 và chân đế giàn Hải Thạch 1 phục vụ cho dự án biển Đông, đặt tại mỏ Mộc Tinh và Hải Thạch. Đó là những công trình kỹ thuật cao, mở đầu cho công nghiệp phục vụ các công trình xây dựng chuyên dụng trên thềm lục địa từ nước nông đến nước sâu trên 100m, đánh dấu những bước trưởng thành của ngành kinh tế biển Vũng Tàu.


Tuy việc đi thăm tàu khảo sát địa chấn mang tên Bình Minh 02 đã được định trước nhưng tôi vẫn rất hồi hộp, suốt đêm trước khi lên tàu tôi không hề chợp mắt. Để phân biệt với con tàu Bình Minh đầu tiên, tự cải hoán từ tàu vận tải cũ đã đi vào lịch sử, các chú địa vật lý gọi con tàu mới mua năm 2008 là Bình Minh 02. Đây là con tàu đóng mới hoàn toàn, máy móc, thiết bị hiện đại, sử dụng công nghệ địa chấn 2D tức là thu hình ảnh lát cắt lòng đất dưới dạng hai chiều. Năm nay ta cũng đặt mua thêm một tàu địa chấn 3D, tức là thu sóng theo không gian 3 chiểu, chuyên phục vụ cho khảo sát tỉ mỉ các mỏ chuẩn bị đưa vào khai thác. Trong lúc chờ đợi nhận tàu mới, ngành dầu khí phải thuê tàu 3D của nước ngoài.


Sáng tháng Tám, mặt trời lên rất sớm, khí hậu mát mẻ dễ chịu. Ông Hãn, nguyên phó giám đốc công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí đưa hai ông cháu tôi cùng một số cán bộ dầu khí đã về hưu ra cảng Bến Đình. Tàu Bình Minh 02 đang nằm chờ vài ngày ở đây để kiểm tra kỹ thuật và chuẩn bị phương tiện, lương thực cho chuyến khảo sát dài ngày ở vùng biển sâu. Toàn là người quen cũ nên cuộc gặp gỡ xảy ra rất vui. Mọi người ôm nhau thân thiết sau một thời gian xa cách theo truyền thống của những nhà địa vật lý vốn rất tình cảm và vui tính. Ai cũng khen tôi chóng lớn quá, hoàn toàn đã là một thanh niên cường tráng, đủ sức đi biển dài ngày như các chú. Tôi rất sung sướng nhưng đôi lúc được khen nhiều cũng hơi ngượng vì thực tình trong thời gian qua thỉnh thoảng tôi cũng chưa tự giác học hành và tự khép mình vào kỷ luật. Lần này tôi không được đi ra biển vì thời gian quá hạn chế, tôi phải về sớm để chuẩn bị nhập học cũng như bổ sung thêm kiến thức cho Bình Minh, Minh Hà, An Phong, Hoàng Bách trước khi các em bước vào năm học mới.


Ông tôi và các bác, các chú khác cùng lên thăm tàu, thăm tất cả các ngóc ngách như đang đi về nhà cũ rồi ra boong tàu nghe các chú trình bày các thành tựu mới, những sáng kiến kỹ thuật đã được áp dụng, những phát hiện dầu khí mới mà các chú vừa thu được trong hai năm gần đây cùng những chuyện vui buồn nghề nghiệp. Dần dần câu chuyện chuyển qua vụ tàu hải giám Trung Quốc ngang ngược cắt cáp tàu Bình Minh 02 và tàu Viking 2 trong các tháng vừa qua.


Tiêu đề: Biển Đông yêu dấu
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Sáu, 2022, 06:31:33 am
Chú chỉ huy tàu Bình Minh 02 kể lại: khoảng 5 giờ 5 phút ngày 26-5-2011, tàu Bình Minh 02 tiếp tục công tác khảo sát bình thường theo một chương trình đã bắt đầu từ tháng 3-2011 trên vùng bể trầm tích Phú Khánh. Vùng này thuộc chủ quyền của Việt Nam, không có tranh chấp với bất kỳ nước nào vì chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) 116 hải lý. Khi tàu Bình Minh 02 đến khao sát tại vĩ độ 12°48’25" bắc, kinh độ 111° 26’ 48" đông thì rađa trên tàu phát hiện có tàu lạ di chuyển với tốc độ rất cao về phía mình mà không hề ra tín hiệu cảnh báo. 5 phút sau đó lại có thêm 2 tàu nữa đến hỗ trợ. Đó là 3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Việt Nam, cứ như đi trong ao nhà của họ. Để bảo đảm an toàn và tránh va chạm, Bình Minh 02 chủ động hạ giàn máy thu sóng kéo sau đuôi tàu chìm xuống nước 30m nhưng tàu Trung Quốc không dừng lại hoặc đổi hướóng. Đó là những con tàu quân sự cải hoán làm tàu dân sự, rất to lớn, ngoài vỏ tàu sơn trắng nổi lên hàng chữ Hán ngoằn ngoềo cùng dòng chữ tiếng Anh CHINA MARINE SURVEILLANCE. Trên sàn tàu lô nhô nhiều thứ, không rõ đó là vũ khí hay thiết bị. Khoảng 6 giờ kém 2 phút, tàu Trung Quốc áp sát tàu của ta, xông thẳng vào chỗ có giàn cáp, đưa thiết bị xuống nước lôi cáp lên và cắt đứt. Sau đó họ tiếp tục bám sát tàu Bình Minh, giở trò đe dọa, khiêu khích và cho một sĩ quan ra đọc thông báo tàu Việt Nam vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Tàu Bình Minh 02 cực lực bác bỏ luận điệu đó. Tàu Trung Quốc tiếp tục cản trở tàu Bình Minh 02 hoạt động. Mãi đến 9 giờ ngày 26-5 họ mới chịu rút ra khỏi khu vực này. Ta phải dừng công việc suốt cả ngày 26-5 để thu lại các thiết bị bị phá hỏng đưa đi sửa chữa. Thiệt hại của tàu Bình Minh 02 rất lớn. Ngay sau đó, ông Hậu, nguyên là chỉ huy trưởng tàu Bình Minh cũ, nay là phó tổng giám đốc thường trực Petrovietnam đã lên truyền hình cực lực lên án hành vi của phía Trung Quốc, đòi bồi thường cho Petrovietnam. Bộ Ngoại giao ta cũng đã trao công hàm phản đối cho đại diện Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội trong đó nêu rõ hành động nói trên vi phạm quyền chủ quyền của Việt nam đối với thềm lục địa của mình, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc mà hai bên đều ký kết tham gia, trái với tinh thần và lời văn của tuyên bõ năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc vể cách ứng xử ở biển Đông (DOC) cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc không làm phức tạp thêm tình hình biển Đông. Phía Trung Quốc tuyên bô việc làm đó là đương nhiên, bình thường của họ. Từ nhiều năm việc bắt giam ngư dân Việt, tịch thu tàu thuyền, ngư cụ rồi đòi tiền chuộc vẫn xảy ra liên tục. Tiếng khóc than của những gia đình nạn nhân sinh sống bằng nghề biển ở suốt dọc duyên hải miền Trung cứ kéo dài mãi. Theo báo Tuổi Trẻ ngày 28-5-2011, thuyền trưởng Nguyễn Văn Trung ở Tuy Hòa cho biết ở vùng biển giũa vĩ tuyến 9 đến 17° bắc, 111° kinh đông, nhiều ngày có đến vài trăm chiếc tàu Trung Quốc vào đánh bắt mực, họ lại còn dùng hung khí đâm chém ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản trên biển của nước mình, trái hẳn với truyền thống thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau đã có từ lâu đời. Ngày 08-6-2011 tàu Viking 2, quốc tịch Nauy, thuộc liên doanh giữa công ty CGG Veritas (Pháp) và PTSC của Petrovietnam tiến hành khảo sát địa chấn 3D tại lô 136 ở phía đông nam Cà Mau theo yêu cầu của công ty Talisman (Canada) cũng lại bị tàu đánh cá và tàu ngư chính Trung Quốc cản trở, phá hỏng giàn cáp nhiều lần, phải ngừng hoạt động để sửa chữa. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc mới đây tuyên bố đưa tàu sân bay của họ vào hoạt động ở biển Đông năm 2012 cũng như đưa giàn khoan nước sâu vào khoan tìm dầu ở quần đảo Trường Sa sắp tới đang tạo ra nhiều đám mây đen trên bầu trời khu vực. Các sự kiện nói trên đã gây ra các cuộc biểu tình tự phát bày tỏ sự phản ứng chính đáng của những người yêu nước Việt Nam sống trong nước lẫn ở nước ngoài liên tục trong tháng qua* (Trong thông báo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 18-8 yêu cầu chấm dứt biểu tình tự phát có đoạn viết: "... các cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát diễn ra trong các ngày chủ nhật từ đầu tháng sáu 2011 đến nay xuất phát từ tinh thần yêu nước và tâm lý bức xúc của quần chúng nhân dân..."). Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; nhân dân Việt Nam sẽ cương quyết bảo vệ chủ quyền bằng sức mạnh tổng hợp của mình nếu bị nước ngoài xâm lược** (Theo báo Tuổi Trẻ ngày 17-8-2011, trả lới câu hỏi của cử tri Hải Phòng về biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói: "Chủ quyền là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Đảng, Nhà nước ta đã, đang và sẽ làm hết sức bằng sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc chủ quyện của Tổ quốc; tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cải của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết tranh chấp ở biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trẽn biến của đất nước ta"). Các nước trong khối ASEAN và các nước khác có quyền lợi ở biển Đông như Mỹ, Nga, Nhật, Ấn Độ, các nước châu Âu, châu Đại Dương đều không đồng tình với các hành động của Trung Quốc và đều nỗ lực để tìm những giải pháp thích hợp cho biển Đông. Chiến tranh đem lại đau khổ và thiệt hại cho bất cứ ai. Ông Ánh, một đại tá từng làm việc ở Tổng cục Dầu khí Việt Nam và là khách tham quan nhắc lại rằng Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng con đường hòa bình thông qua thương lượng song phương những vấn đề liên quan giữa hai nước và đa phương nếu liên quan đên nhiều nước. Hòa hiếu là bản chất của dân tộc Việt Nam nhưng điều đó không có nghĩa là nhu nhược, là cam chịu khi bị dồn ép, bức bách. Bác Hồ đã dạy chúng ta trong suốt hai cuộc kháng chiến vừa qua biết phân biệt giữa bọn thực dân, đế quốc hiếu chiến, tham lam, tàn bạo với nhân dân lao động và những người yêu công lý ở các nước thù địch, nên chúng ta luôn luôn nhận đưực sự ủng hộ của bạn bè yêu chuộng chính nghĩa và hòa bình khắp nơi trên thế giới. Nhiều chú nhắc lại bài hát đã rất ưa thích một thời, ca ngợi tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Hoa trong đó có những câu lay động lòng người:

   Việt Nam - Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông,...
   mối tình hữu nghị sáng như vừng đông...
   chung một ý, chung một lòng, đường ta đi rực màu cờ cách mạng...



Ông tôi nói tiếp: Nhân dân Việt Nam, thanh thiếu niên Việt Nam không chống Trung Quốc, luôn tìm mọi cách để bảo vệ tình hữu nghị sâu đậm lâu đời giữa hai dân tộc nhưng rất kiên quyết chống chủ nghĩa thực dân, bành trướng, bá quyền, chủ nghĩa nước lớn lỗi thời của một bộ phận người Trung Quốc. Chắc chắn nhân dân Trung Quốc cũng đồng tình với quan điểm đó. Bác Hồ từng nói Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Chúng ta cũng hứa với Bác sẽ làm được điều Bác mong một cách xứng đáng nhất. Loài người sớm muộn rồi cũng bước sang giai đoạn văn minh. Chính nghĩa chắc chắn sẽ thắng hung tàn và những bài hát hữu nghị ngày nào sẽ được vang lên với tất cả sự nhiệt tình của những năm xưa.


Chia tay các chú trong ngành dầu khí làm việc ở Vũng Tàu, tạm biệt tàu Bình Minh, tôi đã viết vào nhật ký của minh những điều vừa nghe các ông, các chú nói trong buổi tham quan, gặp gỡ này. Cái gì của Việt Nam phải là của Việt Nam.

   Nam quốc sơn hà nam đế cư
   Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
   Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
   Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.


Một nghìn năm trước Lý Thường Kiệt đã viết như vậy, minh định Việt Nam không thể trở thành nước lệ thuộc, nô lệ dưới bất cứ hình thức nào đối với bất cứ cường quốc nào. Ngoài ra một đất nước có hàng vạn ki lô mét vuông biển, hàng nghìn cây số bờ biển, lại có rất nhiều bạn be trên khắp thế giới, nhất định sẽ có nền kinh tế biển phồn vinh. Tôi tin như vậy.