Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 03:59:53 pm



Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 03:59:53 pm
- Tên sách: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
- Tác giả: Lê Linh Lan - Nguyễn Thu Hằng - Lê Đình Tĩnh
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
- Năm xuất bản: 2004
- Người số hóa: giangtvx, saoden


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về chiến lược toàn cầu của Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Về chiến lươc an ninh của Mỹ hiện nay do tập thể các tác giả thuộc Học viện Quan hệ quốc tế biên soạn.


Trên cơ sở trình bày những điểm chính trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ kể từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cuốn sách đi sâu phân tích bối cảnh tình hình thế giới và nước Mỹ sau "cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11 tháng 9" dẫn đến sự điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush hiện nay. Phần trọng tâm của cuốn sách tập trung vào những nội dung cơ bản của chiến lược an ninh khu vực của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh và nhất là Chiến lược an ninh quốc gia mới do Tổng thống Bush chính thức công bố vào ngày 20 tháng 9 năm 2002. Cuốn sách còn có phần phụ lục in toàn văn bản dịch "Chiến lược an ninh quốc gia của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" để bạn đọc tiện tra cứu và tham khảo khi theo dõi và nghiên cứu tình hình quốc tế và nước Mỹ.


Trong cuốn sách này, các tác giả đã cố gắng mạnh dạn phân tích và đưa ra những ý kiến riêng về một chủ đề đã và đang được giới nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới quan tâm và có thể thấy rằng các ý kiến cũng còn khác nhau. Để tôn trọng chính kiến của các tác giả, chúng tôi cố gắng giữ nguyên những đánh giá và phân tích trong sách để bạn dọc tham khảo và coi đây là ý kiến đánh giá, phân tích của riêng các tác giả.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 12 năm 2003
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 04:00:34 pm
LỜI MỞ ĐẦU


Chiến tranh lạnh kết thúc một lần nữa lại đem đến cho Mỹ cơ hội thực hiện tham vọng bá chủ thế giới, tham vọng Mỹ đã nuôi dưỡng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ theo đuổi chiến lược đối ngoại "can dự và mở rộng" với mục tiêu bao trùm là duy trì ưu thế, vai trò lãnh đạo của Mỹ và ngăn không cho một cường quốc hoặc một nhóm nước nào đe dọa vị trí của Mỹ. Dưới hai nhiệm kỳ của chính quyền Clinton, chiến lược an ninh của Mỹ, một bộ phận trong chiến lược toàn cầu "can dự và mở rộng", cũng nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của Mỹ.


Chính quyền Cộng hoà ở Mỹ hiện nay với một đội ngũ hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại gồm những nhân vật bảo thủ, chủ trương ngoại giao dựa trên ưu thế sức mạnh của Mỹ, đã có những bước điều chỉnh mạnh mẽ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng. Sau khi diễn ra sự kiện 11-9-2001, một trong những trọng tâm của chiến lược an ninh quốc phòng dưới chính quyền Bush là triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia nhằm bảo vệ toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ trước những thách thức tên lửa đạn đạo. Đổ thực hiện kế hoạch này, tháng 12-2001, Tổng thống Bush đã tuyên bố đơn phương rút ra khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM) mà Mỹ đã ký với Liên Xô cũ năm 1972. Một hướng điều chỉnh quan trọng khác với những hệ luỵ to lớn đối với châu Á là sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược an ninh quân sự dưới chính quyền Bush sang châu Á, nhằm đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những điều chỉnh này đã và đang có những tác động quan trọng đối với quan hệ của Mỹ với các nước trên thế giới nói chung và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.


Trong khi chính quyền Bush còn chưa hoàn tất quá trình điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại, cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11-9-2001 cùng với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Ápganixtan nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeđa và trùm khủng bố Bin Laden đã tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Mỹ về an ninh, dẫn đến những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược đối ngoại và an ninh của Mỹ.


Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu những điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ dưới chính quyền Bush là hết sức cần thiết. Cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu chung về chiến lược của Mỹ, một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng hàng đầu của chúng ta. Thông qua việc nghiên cứu những điều chỉnh trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush, cuốn sách cũng sẽ đưa ra dự báo hướng triển khai chính sách an ninh của Mỹ nói chung.


Trên thế giới, và đặc biệt ở Mỹ, có nhiều công trình nghiên cứu, sách và tài liệu về chiến lược an ninh của Mỹ và các bài tạp chí chuyên khảo và báo chí về những điều chỉnh gần đây dưới chính quyền Bush. Ở nước ta, Vụ châu Mỹ (Bộ Ngoại giao) gần đây cũng có hai công trình nghiên cứu khoa học có giá trị là dự báo chiến lược đối ngoại của Mỹ trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI và chính sách châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush, trong đó đã phần nào đề cập khía cạnh an ninh trong chiến lược đối ngoại của Mỹ. Tuy nhiên, hiện ở ta còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này. Do đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu điều chỉnh chiến lược an ninh Mỹ đầu thế kỷ XXI sẽ là một đóng góp thiết thực vào công tác nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung và đặc biệt là nghiên cứu về Mỹ.


Mục tiêu chủ yếu của cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay là nhằm đánh giá những điều chỉnh chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ trong năm đầu dưới chính quyền của Tổng thống Bush, tác động của những điều chỉnh này đối với chính trị quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ đó, các tác giả cuốn sách cũng sẽ đưa ra cỉự báo chiều hướng triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong thời gian tới.


Cuốn sách sẽ tập trung chủ yếu vào những điều chỉnh chiến lược an ninh chung cũng như đối với các khu vực chủ yếu dưới chính quyền Bush. Việc nhìn lại và đánh giá chiến lược an ninh dưói chính quyền Clinton là nhằm đúc rút những yếu tố kế thừa trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush con. Mặc dù khái niệm về an ninh đã trở nên toàn diện hơn, bao gồm cả an ninh kinh tế, môi trường, con người, v.v... cuốn sách chủ yếu chỉ tập trung vào khía cạnh an ninh truyền thống, tức an ninh quân sự, đối với hai khu vực chủ yếu là châu Âu và Đông Á - Thái Bình Dương.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:57:33 am
CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
VÀ LỊCH SỬ CHIẾN LƯỢC AN NINH CỦA MỸ


1. Khái niệm an ninh và sức mạnh quốc gia

1.1. An ninh quốc gia

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thức an ninh gần như chỉ xoay quanh vấn đề chiến tranh và hoà bình. Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các quốc gia trên thế giới cũng thường gắn liền với các cuộc chiến tranh. Các quốc gia dân tộc ở châu Âu được hình thành hầu hết từ các cuộc chiến tranh liên miên trong khi ở các khu vực khác trên thế giới, chiến tranh cũng được dùng làm phương tiện xác lập sự thống trị của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Bất kể vì nguyên nhân gì, hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai cũng đủ cho thấy tại sao an ninh thường được hiểu là đi liền với chiến tranh xâm lược và khả năng quốc phòng. Do đó, theo nghĩa hẹp truyền thống, an ninh quốc gia có nghĩa là bảo vệ đất nước và dân chúng chống lại kẻ thù bên ngoài. Khái niệm về an ninh nói chung là an ninh quân sự và việc bảo đảm an ninh đối với các quốc gia thường đi liền với tăng cường sức mạnh quân sự.


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh lạnh và chính sách đối đầu, chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường Xô - Mỹ càng nhấn mạnh khía cạnh quân sự trong việc bảo đảm an ninh của một nước. Sự ra đời của các tổ chức hợp tác quân sự như NATO, SEATO và việc ký kết các liên minh quân sự tay đôi giữa Mỹ với các nước ở châu Á cũng thể hiện rõ xu hướng coi trọng an ninh quân sự của các nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh.


Tuy nhiên, từ những năm 1970, khái niệm về an ninh nói chung cũng như an ninh quốc gia trở nên rộng hơn, bao gồm cả khía cạnh kinh tế. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 lần đầu tiên đặt Mỹ và các nước phương Tây đứng trước tình thế bị đe dọa rối loạn trong nước do tình trạng thiếu nguồn cung cấp năng lượng. Hơn nữa, sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã tương đối suy yếu cả về quân sự, chính trị lẫn kinh tế, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Wood tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Cũng trong giai đoạn này, nhân tố kinh tế đã trở thành một bộ phận cấu thành của khái niệm an ninh quốc gia1 (Amos A. Jordan và nhóm tác giả, American National Security, The Johns Hopkins University Press, tái bản lần thứ 5, năm 1999, tr.3). Khái niệm an ninh toàn diện (comprehensive security) - theo đó an ninh được nhận thức không chỉ từ khía cạnh quân sự, mà còn bao gồm cả kinh tế, chính trị, xã hội - đã xuất hiện chính trong thời kỳ này.


Cùng với sự khôi phục và phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, sự phân hoá trong xã hội ở các nước này ngày càng cao dẫn đến việc hình thành các tổ chức tội phạm hoạt động trong phạm vi một nước và các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia. Từ giữa những năm 1970, các hoạt động khủng bố do các tổ chức tội phạm thực hiện như cướp máy bay, đánh bom, bắt con tin... ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ tàn khốc. Thêm vào đó, nhiều vấn đề toàn cầu nổi lên đe dọa sự sống còn của loài người, đó là các vấn đề về môi trường, thiên tai với mức tàn phá lớn, bệnh dịch thế kỷ AIDS, nạn buôn lậu ma tuý và các tội phạm xuyên quốc gia khác. Những vấn đề mới nảy sinh này không thay thế, mà tồn tại song song cùng với những vấn đề an ninh truyền thống làm cho môi trường an ninh ngày càng thêm phức tạp. Chính vì vậy, nội hàm của khái niệm an ninh quốc gia ngày nay trỏ nên có tính toàn diện, bao gồm cả an ninh kinh tế, an ninh môi trường, xã hội, văn hoá, an ninh con người, an ninh giới, v.v...


Bên cạnh những thay đổi trong quan niệm về nội hàm của an ninh quốc gia, nhận thức về tính chất của an ninh quốc gia cũng có những thay đổi to lớn. An ninh quốc gia, như bản thân hàm ý của cụm từ này, không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia dân tộc đơn lẻ. An ninh trong một thời đại toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau mang tính quốc tế cao. Xung đột, bất ổn định ở một nước hay một khu vực có tác động lan toả và ảnh hưởng đáng kể đến an ninh của các nước khác. Chính vì vậy, ngày nay khái niệm an ninh quốc gia ngày càng trở nên gắn bó với an ninh khu vực và thậm chí là an ninh toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu đe dọa an ninh và thịnh vượng của nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ sự gắn bó giữa an ninh quốc gia và an ninh thế giới.


An ninh quốc gia là một khái niệm trung tâm trong luận điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị, một trong những trường phái lý luận có ảnh hưởng nhất ở các nước phương Tây và đặc biệt là ở Mỹ. Bên cạnh chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa hiện thực chính trị là trường phái lý luận rất có ảnh hưởng đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ. Trong khi quan điểm thế giới của Clinton và chính quyền Đảng Dân chủ thiên về chủ nghĩa tự do, thì thế giới quan và cách tiếp cận của chính quyền Bush lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn của chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, nhận định này cũng có tính chất tương đối, bởi xét cho cùng, chính sách an ninh đối ngoại của Mỹ chịu sự chi phối của những quan điểm cạnh tranh khác nhau trong nội bộ giới hoạch định chính sách của Mỹ cũng như ảnh hưởng của các nhóm lợi ích, đấu tranh cho những lợi ích đa dạng, đôi khi mâu thuẫn nhau. Vì vậy, cho dù thiên về chủ nghĩa hiện thực hơn, chính sách của chính quyền Bush cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do và chính sách thiên về tự do của chính quyền Clinton cũng có những thành tố hiện thực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:11 am
Những nhà lý luận của chủ nghĩa hiện thực cho rằng hệ thống quốc tế luôn ở trong tình trạng vô chính phủ theo nghĩa là không có một quyền lực vượt lên trên các quốc gia, và chính vì vậy, các quốc gia phải dựa vào sức mạnh của mình để bảo vệ an ninh và tăng cường vị thế của mình trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia có chủ quyền là những tác nhân chủ đạo và là chủ thể chính của hệ thống quốc tế. Các chủ thể phi quốc gia khác như các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khủng bố bị đặt xuống hàng thứ yếu. An ninh - thực chất là sự tồn vong - là mục tiêu cơ bản của các quốc gia và bởi vì rốt cuộc một quốc gia không thể dựa vào các cam kết của các quốc gia khác để bảo đảm cho nền an ninh quốc gia của mình, nên họ rất nhạy cảm với vị trí tương đối của họ. Các quốc gia dân tộc thường xuyên ở trong trạng thái ganh đua và cạnh tranh và sự thay đổi địa vị, sức mạnh, quyền lực là một trong những nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, có ba vấn đề chủ đạo. Thứ nhất, các quốc gia theo đuổi lợi ích, chứ không phải hoà bình. Nếu chiến tranh, xâm lược và các biện pháp cưỡng ép bằng sức mạnh khác phục vụ lợi ích của họ thì tìm kiếm hoà bình chỉ còn là ảo tưởng. Thứ hai, sức mạnh chính trị và quân sự là những yếu tố chủ đạo của quyền lực. Nó có ý nghĩa thiết yếu đối với một nền quốc phòng vững mạnh. Sức mạnh kinh tế cũng được coi trọng, dù không phải do tự thân nó, mà chính bởi vì nó có thể được chuyển đổi thành sức mạnh quân sự và chính trị. Kinh tế Mỹ cần phải mạnh và có sức cạnh tranh cao chủ yếu để có thể cung cấp những công nghệ cao cấp cần thiết cho những thế hệ vũ khí tiếp theo, và để duy trì sự ủng hộ chính trị cao đối với một ngân sách quân sự to lớn và các cam kết toàn cầu khác. Thứ ba, trong khi các vấn đề khác như thương mại và nhân quyền quan trọng hơn trước kia, chiến tranh và xảm lược vẫn nằm ở trung tâm chương trình nghị sự quốc tế1 (Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: Động lực của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI, W.W Norton&Company, 2000). Cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pécxích 1990-1991 cho thấy rõ điều này. Những cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ là những cuộc chiến tranh tệ hại nhất ở châu Âu kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những năm 1990 châu Phi đã phải trải qua nhiều xung đột hơn bất cứ thập kỷ nào trước đó trong lịch sử. Tiến bộ trong tiến trình hoà bình ở Trung Đông không loại trừ mối đe dọa về một cuộc chiến tranh lớn ở đó. Khu vực phi quân sự ở bán đảo Triều Tiên vẫn là một trong những điểm căng thẳng nhất trên thế giới.


Như vậy, sức mạnh, quyền lực và an ninh quốc gia là những phạm trù then chốt trong quan điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị. An ninh quốc gia gắn liền với sức mạnh quốc gia. Quan điểm chủ đạo này của các nhà hiện thực đã bị chỉ trích vì không chú ý thích đáng đến các vấn đề quan trọng khác liên quan mật thiết đến an ninh của một quốc gia, như vấn đề khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố. Hơn thế nữa, do đặt sức mạnh ở vị trí trung tâm, khái niệm cân bằng quyền lực luôn gắn với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực. Các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng cân bằng lực lượng - theo đó các quốc gia luôn có xu hướng tập hợp lực lượng để cân bằng - đối trọng lại sự thống trị của một quốc gia mạnh hơn. Kenneth Waltz, nhà lý luận tân hiện thực nổi tiêng của Mỹ cho rằng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh nhìn chung trở nên lỏng lẻo hơn và có xu hướng quay lại cân bằng quyền lực cổ điển. Với sự kết thúc của trật tự hai cực, Mỹ, với tư cách là siêu cường mạnh nhất, sẽ nhận thấy các quốc gia khác dần tách xa ra khỏi Mỹ; Đức ngày càng gắn bó với Liên minh châu Âu (EU) và xích lại gần Nga; Nga xích lại gần Đức và Nhật Bản. Như vậy, cân bằng quyền lực giữa các nước lớn tiếp tục là luật chơi chủ đạo của các quốc gia trong thế giới quan của các nhà hoạch định chính sách và chiến lược gia theo chủ nghĩa hiện thực.


Khác với trường phái hiện thực, cá nhân là đơn vị phân tích chủ yếu của các nhà lý luận tự do kinh điển. Quốc gia - dân tộc đóng một vai trò tối thiểu trong xã hội tự do, chủ yếu làm trọng tài phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Trong lĩnh vực quốc tế, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng có thể tạo ra một sự hoà hợp lợi ích giữa các quốc gia cho dù chiến tranh là thực tế tồn tại trong nhiều thế kỷ. Vì vậy, trong khi các nhà hiện thực chủ nghĩa có quan điểm bi quan về khả năng xảy ra chiến tranh trong một thế giới mà các quốc gia luôn tăng cường sức mạnh nhằm bảo vệ an ninh và giành ưu thế của mình trong quan hệ với các nước khác, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, khả năng xảy ra chiến tranh thấp hơn bao giờ hết, bởi kinh tế phát triển đã làm cho cái giá của chiến tranh trở nên quá cao và chiến tranh không còn phục vụ lợi ích kinh tế. Hờn thế nữa, những nhà tự do còn lập luận rằng những nước dân chủ thường không gây chiến tranh. Sự tồn tại và phát triển của các thể chế quốc tế tạo nên những ràng buộc, luật chơi được quốc tế công nhận giữa các quốc gia có thể góp phần giải quyết xung đột một cách hoà bình và thúc đẩy hợp tác.


Trên thực tế, sự lựa chọn chính sách của các quốc gia ngày nay, đặc biệt là Mỹ, gần với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, lấy sức mạnh làm trung tâm và lợi ích quốc gia là cơ sở để giải thích chính sách của một quốc gia1 (James E. Dougherty và Robert L. Pfaltzgraff, Jr., Contending Theories of International Relations, a Comprehensive Survey, Addison-Wesley Educational Publishers Inc. 1997, tái bản lần thứ 4, tr.14). Điều này được giải thích bởi tính trường tồn của chủ nghĩa hiện thực, xuất phát chủ yếu từ sự gần gũi của chủ nghĩa hiện thực với quan niệm về thế giới của giới lãnh đạo1 (Paul R.Viotti-Mark V.Kauppi, Lý luận quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2001, tr.90). Tại Mỹ, những người theo chủ nghĩa hiện thực nổi tiếng như Henry Kissinger hay Brzezinski đều là những cố vấn an ninh quốc gia có ảnh hưởng không chỉ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà ngay cả trong thời điểm hiện nay. Cho dù đã không còn ở chính trường, Kissinger và Brzezinski vẫn là những nhân vật rất có ảnh hưởng đối với chính quyền Mỹ. Gần đây, Tổng thống Bush đã bổ nhiệm Henry Kissinger làm Chủ tịch Ủy bẤn Độc lập đánh giá nguyên nhân của sự kiện 11-9-2001.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:46 am
1.2. Sức mạnh quốc gia

Với quan niệm truyền thống coi an ninh quốc gia đi liền với quốc phòng, sức mạnh quốc gia chủ yếu được đánh giá trên cơ sở sức mạnh về quân sự. Sức mạnh là một khái niệm tương đối, mang tính so sánh giữa nước này với nước khác, do đó các nhân tố về địa lý như diện tích lãnh thổ, dân số, tài nguyên, khả năng kinh tế, thể chế chính trị mạnh đều là những nhân tố quan trọng được tính đến khi xem xét sức mạnh của một quốc gia, vì xét cho cùng, đó là những nhân tố đóng góp vào khả năng quốc phòng của quốc gia đó.


Trước những năm 1970, sức mạnh kinh tế quan trọng ở chỗ nó có thể chuyển đổi thành sức mạnh quân sự. Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng tăng kéo theo mức độ dễ tổn thương của các nèn kinh tế, an ninh kinh tế trở thành một phần quan trọng của an ninh quốc gia. Sức mạnh kinh tế của một nước thể hiện ở mức độ công nghiệp hóa, ở năng suất và hiệu quả sản xuất, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập theo đàu người, trình độ khoa học kỹ thuật... Từ thực tế của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 và những xáo trộn về tiền tệ thời kỳ này, có thể nói, sức mạnh kinh tế và an ninh kinh tế liên quan đến khả năng điều chỉnh và thích nghi với những biến động về kinh tế và trong quan hệ kinh tế quốc tế.


Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, khi quan niệm về an ninh trở nên toàn diện hơn, khái niệm sức mạnh quốc gia cũng có những thay đổi. Sức mạnh quốc gia không chỉ bao gồm sức mạnh cứng (hard power) như sức mạnh quân sự, kinh tế. Sức mạnh mềm (soft power), theo cách gọi của học giả nổi tiếng của Mỹ Joseph S.Nye, bao gồm những yếu tố như ảnh hưởng, sức thu hút của thể chế chính trị, mô hình phát triển, ảnh hưởng về văn hóa, v.v...1 (Joseph S.Nye, The Paradox of American Power, Oxford University Press, 2002, tr.9). Bởi vậy, các quốc gia không bắt buộc phải sử dụng sức mạnh cứng, như quân sự và kinh tế, để cưỡng ép các nước khác thực hiện mục tiêu của mình. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia ngày nay, sức mạnh quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp lực lượng, hay nói cách khác, vào sức mạnh chính trị. Trong từng trường hợp khác nhau, sức mạnh chính trị có thể là sức mạnh của thể chế, là sức mạnh của chính nghĩa, hay cũng có thể là sức thuyết phục của một chính sách. Nhìn rộng hơn, sức mạnh chính trị bao gồm cả yếu tố văn hoá. Một quốc gia mạnh là quốc gia có thể mở rộng ảnh hưởng về lối sống, các giá trị văn hoá. Những yếu tố của sức mạnh mềm đặc biệt trở nên quan trọng trong thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Theo Joseph Nye: "Sức mạnh cứng sẽ luôn còn quan trọng trong một thế giới của những quốc gia dân tộc đang kiểm soát nền độc lập của mình, nhưng ý nghĩa của sức mạnh mềm sẽ ngày càng tăng khi người ta phải giải quyết những vấn đề liên quốc gia bởi việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi một sự hợp tác đa phương"1 (Thông tấn xã Việt Nam, Tin tham khảo Chủ nhật, 24-11-2002, tr.22).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:29:52 am
2. Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh

Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" bắt đầu chín muồi từ năm 1946-1947. Ý tưởng ngăn chặn được George Kennan2 (Những quan điểm chủ yếu trong bài báo này đã được đề cập trong một bức điện dài 8000 từ gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1946 của George Kennan), Đại biện Mỹ tại Mátxcơva đưa ra trong bài "Nguồn gốc hành động của Liên Xô" đăng trên Foreign Affairs số 7-1947. Trong bài báo nổi tiếng này, Kennan lập luận rằng chính sách đối ngoại của Liên Xô dựa trên ba trụ cột: chủ nghĩa đế quốc truyền thống của nước Nga; hệ tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa cộng sản và sự nghi kỵ của Stalin1 (Robert D. Schulzinger, U.S Diplomacy since 1900, Oxford University Press, 1998, tr. 209). Theo Kennan, chủ nghĩa cộng sản và sự lãnh đạo của Stalin không có tính chất bền vững, chỉ có chủ nghĩa bành trướng của Nga là yếu tố bất biến. Tuy nhiên, cũng theo Kennan, cho đến khi nước Nga tự từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, Mỹ cần phải sử dụng mọi biện pháp có thể để "ngăn chặn" Liên Xô trong phạm vi khu vực Đông Âu, nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô vào lúc đó.


Ý tưởng ngăn chặn cộng sản được chính thức hoá thành chiến lược ngăn chặn cộng sản bởi "học thuyết Truman". Tháng 3-1947, Tổng thống Mỹ Truman quyết định viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mục đích ngăn chặn những rối loạn bên trong do ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Không chỉ dừng lại ở đó, Truman đã tuyên bố nước Mỹ cam kết sẽ hỗ trợ cho bất cứ chính phủ nào mà ở đó phong trào cộng sản phát triển mạnh, đe dọa chính quyền đương nhiệm2 (Robert D. Schulzinger, Sđd, tr.208). Thực chất, đây là sự khởi đầu của một cuộc thập tự chinh chống cộng sản trên phạm vi toàn cầu, nguồn gốc gây ra cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập kỷ sau.


Mục tiêu chiến lược của Mỹ được nêu trong một tài liệu tối mật của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) năm 1950 với tên gọi NSC 68. Bản NSC khẳng định đến năm 1955, Liên Xô mới có khả năng trở thành một thách thức quân sự đối với Mỹ. Và để chuẩn bị đối phó với thách thức này, nước Mỹ cần nhanh chóng tăng ngân sách quân sự, từ 13 tỷ USD/năm lên tới 50 tỷ USD/năm để duy trì ưu thế quân sự của Mỹ. Điều này đã tạo ra cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đưa thế giới hơn một lần đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới.


Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" của Truman đã trở thành chiến lược đối ngoại chung của Mỹ trong hơn 40 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù dưới các đời Tổng thống khác nhau của Mỹ, phương thức và biện pháp thực hiện chiến lược này có khác nhau1 (Chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những năm 1990, Vụ châu Mỹ, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 1995). Dưới thời Tổng thống Eisenhower (1953-1960), dựa vào ưu thế về vũ khí nguyên tử, Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh lạnh lên một mức cao hơn, thể hiện ở học thuyết Eisenhower với chính sách "đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản", "bên miệng hố chiến tranh" và chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt". Dưới thời Kennedy, đứng trước việc Liên Xô chế tạo thành công bom khinh khí (1953), phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (1957), phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh và Nhật Bản, Tây Âu hoàn thành việc tái thiết kinh tế sau chiến tranh, bước vào chu kỳ phát triển mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách với Mỹ, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng hoà hoãn với Liên Xô nhằm tập trung đối phó với phong trào giải phóng dân tộc và khoét sâu mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược quân sự được điều chỉnh từ "trả đũa ồ ạt" sang "phản ứng linh hoạt" nhằm đối phó với cả ba loại hình chiến tranh: chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cục bộ ở các khu vực và chiến tranh toàn cầu bằng vũ khí hạt nhân. Và chính quyền Mỹ đã áp dụng chiến lược này vào Việt Nam. Sau khi Kennedy bị ám sát năm 1963, Johnson lên nắm quyền, áp dụng chiến lược phản ứng linh hoạt ở mức cao hơn, tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.


Bước vào những năm 1970, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam đã làm phá sản chiến lược phản ứng linh hoạt và buộc Mỹ phải điều chỉnh mạnh mẽ chiến lược an ninh. Hơn nữa, thất bại ở Việt Nam đẩy Mỹ vào khủng hoảng, chia rẽ trong nội bộ Mỹ sâu sắc. Kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Những nhân tố này đòi hỏi Mỹ phải điều chỉnh chiến lược để có thể kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam, và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài lãnh đạo thế giới. Ngày 25-7-1969, tại Guam, Học thuyết Nixon ra đời với khẩu hiệu "Vì hoà bình và răn đe thực tế". Về can dự quốc tế và bảo vệ đồng minh, Nixon nêu: "Mỹ không thể - và sẽ không - vạch ra mọi kế hoạch, thiết kế mọi chương trình, thi hành mọi quyết định và thực hiện tất cả việc bảo vệ các quốc gia tự do trên thế giới. Mỹ sẽ giúp những nơi nào thực sự mang lại kết quả và được xem là lợi ích của nước Mỹ". Mục tiêu chủ yếu của chiến lược này là rút ra khỏi Việt Nam trong danh dự thông qua chương trình Việt Nam hoá chiến tranh. Yêu cầu chiến lược lớn hơn là quay về củng cố trong nước cả về kinh tế, chính trị và xã hội, nắm lại đồng minh và tiếp tục kiềm chế Liên Xô bằng những biện pháp khác. Mỹ chủ trương, một mặt, sử dụng lực lượng đồng minh và chư hầu, mặt khác, hoà hoãn với Liên Xô, tranh thủ Trung Quốc, về mặt quân sự, học thuyết Nixon chủ trương "răn đe thực tế" và về đối ngoại chủ trương "chính sách mới vì hoà bình".


Thời kỳ đầu, chính quyền Carter (1977-1980) quay vào củng cố nội bộ, khắc phục khủng hoảng. Bên ngoài, tiếp tục hoà hoãn với Liên Xô, củng cố đồng minh và theo đường lối cơ bản của chính quyền trước. Tuy nhiên từ năm 1978, do tình hình quốc tế phát triển theo hướng bất lợi cho Mỹ với việc Liên Xô triển khai tên lửa tầm trung, đưa quân vào Ápganixtan, dưới sức ép của các lực lượng cánh hữu, chính quyền Carter đã quay trở lại chính sách chạy đua vũ trang, gây căng thẳng, đẩy mạnh "việc chơi" con bài Trung Quốc, ngừng quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và Cuba. Đầu năm 1980, Carter công bố học thuyết Carter về Trung Đông, đưa ra khả năng Mỹ sử dụng vũ lực để can thiệp và bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở khu vực này.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:30:38 am
Năm 1983, Reagan lên nắm quyền, tiếp tục thực hiện chiều hướng chiến lược từ dưới thời kỳ Carter. Reagan điều chỉnh chiến lược an ninh theo hướng đẩy cuộc chạy đua vũ trang lên đến mức cao nhất trong lịch sử nước Mỹ, kế hoạch quân sự 1600 tỷ USD, SDI, hiện đại hoá bộ ba vũ khí chiến lược lẫn vũ khí thông thường nhằm giành ưu thế quân sự so với Liên Xô. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế của Reagan đã biến nước Mỹ từ một chủ nợ thành con nợ và phải đối phó với những vấn đề cơ cấu nặng nề, như thâm hụt ngân sách, thương mại, vào nhiệm kỳ thứ hai, Reagan đi vào hoà hoãn với Liên Xô, nối lại đàm phán về giải trừ quân bị và vũ khí chiến lược. Hoà hoãn Xô - Mỹ cuối những năm 1980 với đỉnh cao là việc ký Hiệp ước INF tháng 11-1987 cùng với cải thiện quan hệ Xô-Trung đã mở đường cho sự kết thúc của chiến tranh lạnh


Mặc dù ngăn chặn Liên Xô là mục tiêu bao trùm của chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đã triển khai chiến lược ngăn chặn khác nhau ở những khu vực có lợi ích địa chiến lược khác nhau.

Đối với khu vực châu Âu, dựa trên sự đánh giá tầm quan trọng về địa chiến lược của Tây Âu, năm 1947, vài tháng sau khi học thuyết Truman ra đời, Mỹ đã thực hiện kế hoạch Marshall nhằm vực dậy các nền kinh tế châu Âu bị tàn phá sau chiến tranh. Do tầm quan trọng của châu Âu đối với cả Liên Xô và Mỹ, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, châu Âu luôn là trọng điểm chiến lược trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng của hai bên. Với kế hoạch Marshall, châu Âu đã phục hồi về kinh tế, đồng thời Mỹ cũng đã xác lập được vị trí lãnh đạo ở đây. Về an ninh, Mỹ và các nước Tây Âu đã ký kết Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào ngày 4-4- 1949 tại Washington, thành lập liên minh an ninh quân sự tập thể quan trọng và toàn diện nhất giữa Mỹ và Tây Âu. Mục tiêu chủ yếu của NATO có thể tóm gọn là nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Liên Xô ở châu Âu và kiềm chế Đức". Kế hoạch Marshallvà sự hợp tác về an ninh chính trị của Mỹ và Tây Âu trong NATO đã giúp cho quan hệ Mỹ - Tây Âu trở nên gắn bó mật thiết, và NATO đã trở thành trụ cột cho chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu.


Khu vực châu Á ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai không được coi là khu vực trọng điểm chiến lược như châu Âu. Tuy nhiên, từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công và phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở khu vực này, nhất là ở Việt Nam, Mỹ đã chú trọng hơn đến khu vực. Sự ra đời của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tháng 8-1948, và đặc biệt là sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tháng 10-1949, đã làm cho Mỹ vô cùng lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Tại Nhật Bản, uy tín của Đảng Cộng sản cũng tăng nhanh. Trong các cuộc bầu cử năm 1948 và 1949, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã giành được 3 triệu phiếu và 35 ghế trong nghị viện1 (Đào Huy Ngọc (chủ biên), Lịch sử quan hệ quốc tế 1870-1964, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1976, tr. 94). Tình hình này đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính toán chiến lược của Mỹ ở Đông Á, và đặc biệt là trong ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật Bản. Ở châu Á, chiến lược ngăn chặn của Mỹ được triển khai theo ba hướng chủ đạo.


Thứ nhất, Mỹ đảo ngược chính sách kiềm chế Nhật Bản thời kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mục tiêu ban đầu của Mỹ là biến Nhật Bản thành một nước phi quân sự, kiềm chế sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn có thể dẫn đến việc Nhật Bản tái vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị thiết lập một vành đai an ninh nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Mỹ không thể bỏ qua vị trí chiến lược then chốt của Nhật Bản. Mỹ muốn biến Nhật Bản thành tiền đồn chống chủ nghĩa xã hội ở châu Á. Cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ tháng 6-1950 càng đẩy Mỹ đi nhanh đến thực hiện điều chỉnh chiến lược này. Sự chuyển hướng ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật, mục tiêu biến Nhật Bản thành thành trì chống cộng sản ở châu Á trong chiến lược toàn cầu đã khiến Mỹ sớm thúc đẩy việc chấm dứt chiếm đóng Nhật Bản, quay ra hỗ trợ Nhật Bản tái thiết kinh tế và ký kết Hoà ước San Francisco và "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật". Hiệp ưóc an ninh Mỹ - Nhật vào tháng 9-1951 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc Mỹ duy trì quân đội trên đất Nhật Bản ngay cả sau khi Nhật Bản đã được trao lại chủ quyền và sự chiếm đóng của lực lượng đồng minh, mà đại diện chủ yếu là Mỹ, chấm dứt vào tháng 4-1952. Chính sách của Mỹ với Nhật Bản từ cuối những năm 1940 - đầu những năm 1950 đã trở thành một bộ phận trụ cột của chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở châu Á.


Thứ hai, cùng với việc thiết lập liên minh an ninh Mỹ - Nhật, nền tảng chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương, Mỹ cũng chủ trương xây dựng một vành đai phòng thủ ở khu vực, ký hiệp ước hợp tác an ninh với Hàn Quốc năm 1953, Thái Lan năm 1954, với các nước như Philippin, Ôxtrâylia, thành lập khối SEATO năm 1954. Với việc thành lập những liên minh an ninh song phương với các đồng minh ở khu vực, Mỹ đã xây dựng được một hệ thống an ninh hình nan quạt, trong đó Mỹ ở vị trí trung tâm, chi phối quan hệ với các đồng minh.


Thứ ba, ở Đông Nam Á, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ bắt đầu hỗ trợ Pháp quay trở lại Đông Dương. Tuy nhiên, trong những năm đầu, Mỹ chưa tích cực quan tâm đến khu vực này. Chỉ đến khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, Mỹ mới thay đổi chính sách đối với khu vực. Chiến tranh lạnh manh nha ở châu Âu giữa Mỹ và Liên Xô là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Mỹ ủng hộ Pháp quay lại áp đặt chế độ thực dân ở Đông Dương. Để bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở châu Âu, địa bàn ưu tiên số một của Mỹ, Mỹ đã dung túng thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam. Sự thay đổi chính sách của Mỹ cũng bắt nguồn từ nỗi lo ngại về sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này. Tháng 2-1950, chính quyền Truman viện trợ quân sự 18 triệu USD cho Pháp để chống lại phong trào Việt Minh ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam. Với cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 có sự tham gia của Mỹ, Mỹ đã mở rộng chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ châu Âu sang châu Á và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là đỉnh cao của chiến lược này. Vì vậy, cho dù chiến tranh lạnh đã không trở thành chiến tranh nóng giữa hai siêu cường ở trung tâm nền chính trị quốc tế, hai cuộc chiến tranh đẫm máu đã diễn ra chính ở châu Á và Mỹ đã là một trong những tác nhân trực tiếp của những cuộc xung đột này.


Tóm lại, với chiến lược ngăn chặn, Mỹ đã đạt được mục tiêu bao trùm là thiết lập và duy trì vị trí lãnh đạo trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, từ sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã suy yếu tương đối. Đồng thời, các nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản lúc này đã phục hồi và trở thành những đối thủ cạnh tranh của Mỹ. Trong bối cảnh này, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng giảm cam kết với bên ngoài, tăng cường hợp tác và chia sẻ trách nhiệm với đồng minh, quay vào củng cố bên trong thông qua học thuyết Nixon. Tuy nhiên, những đường hướng cơ bản của chiến lược ngăn chặn vẫn được Mỹ theo đuổi. Cùng với những rạn nứt trong quan hệ giữa Mỹ và đồng minh trên lĩnh vực kinh tế, cộng thêm tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970, Mỹ đã nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của an ninh kinh tế. Mặc dù vậy, với mục tiêu bao trùm đối đầu với Liên Xô, chiến lược an ninh thiên về khía cạnh quân sự vẫn là nét nổi bật trong chính sách của Mỹ suôt thời kỳ chiến tranh lạnh.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:33:00 am
3. Chiến lược an ninh của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh

3.1 Thách thức và cơ hội đối với Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Thực tế cho thấy sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, và chính những cơ hội và thách thức này đã tạo một khoảng cách giữa tham vọng cực kỳ to lớn của Mỹ với khả năng biến nó thành hiện thực.


Thứ nhất, sự tan rã của Liên Xô, siêu cường cạnh tranh toàn diện với Mỹ về ý thức hệ, kinh tế, chính trị và quân sự, đương nhiên đã tạo ra cho Mỹ lợi thế là siêu cường duy nhất. Với sự sụp đổ của Liên Xô, về cơ bản môi trường quốc tế trở nên thuận lợi hơn cho việc thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới của Mỹ. Nước Nga đang trong giai đoạn chuyển đổi khó khăn, phải mất nhiều năm nữa mới có thể thách thức vị trí của Mỹ. Trung Quốc tuy đang trên đà phát triển mạnh, nhưng sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc còn phải mất nhiều thập kỷ nữa mới có thể ngang tầm với Mỹ. Tuy là một trung tâm kinh tế phát triển, Tây Âu cũng chưa thể trở thành một thực thể chính trị an ninh thống nhất, với một tiếng nói chung. Nhật Bản vẫn là một cường quốc không toàn diện.


Chiến tranh lạnh kết thúc không những không làm Mỹ suy giảm tiềm lực, trái lại, gạt bỏ được đối thủ đáng gờm nhất của Mỹ là Liên Xô. Với lợi thế này, tham vọng lãnh đạo thế giới của Mỹ không ngừng được củng cố. Đây có thể nói là yếu tố rất quan trọng đối với những điều chỉnh chiến lược của Mỹ.


Thứ hai, với sự tan rã của Liên Xô và sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, mô hình phát triển kinh tế thị trường và các giá trị dân chủ phương Tây trở thành sự lựa chọn của một số nước trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội to lớn để Mỹ khuếch trương và truyền bá mô hình kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền theo kiểu phương Tây. Kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền cũng trở thành ngọn cờ mới tập hợp lực lượng trong bối cảnh chất keo dính và ngọn cờ tập hợp lực lượng "chống cộng sản" không còn nữa. Đây là lợi thế lớn đối với Mỹ và chiến lược "can dự và mở rộng" chính là nhằm tận dụng lợi thế này để mở rộng nền dân chủ kiểu Mỹ.


Những cơ hội lớn này là cơ sở cho chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, và ngược lại, chiến lược mới của Mỹ cũng nhằm mục tiêu khai thác và duy trì những thuận lợi mới cơ bản này.

Bên cạnh những cơ hội to lớn sau sự kết thúc của chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước một môi trường chiến lược thay đổi cơ bản. Thách thức chủ yếu từ Liên Xô trước đây không còn, nhưng nước Mỹ đứng trước những thách thức đa dạng, phức tạp hơn trước, xuất phát từ ngay chính nước Mỹ. Nhiều học giả Mỹ cho rằng, tuy nước Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nhưng nước Mỹ ra khỏi chiến tranh lạnh trong tình trạng mình đầy thương tích.


Thách thức từ bên trong. Những thách thức lớn nhất đối với nước Mỹ trong thời kỳ mới xuất phát chính từ bên trong nước Mỹ. Kinh tế Mỹ trì trệ và giảm sút sức cạnh tranh, nợ liên bang trầm trọng, thâm hụt cán cân buôn bán và ngân sách Mỹ lên đến mức báo động. Thời điểm Clinton lên cầm quyền, nước Mỹ gặp khó khăn về kinh tế. Điều này lý giải vì sao người hùng chiến tranh vùng Vịnh G. Bush không thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống lần hai. Cuộc chạy đua vũ trang tốn kém của chính quyền Reagan đã làm cho nền kinh tế Mỹ gặp phải những khó khăn trầm trọng. Mặc dù là siêu cường duy nhất còn lại nhưng sức mạnh tổng hợp của Mỹ đã giảm một cách tương đối, từ chỗ chiếm khoảng 50% GDP của thế giới trong những nam 1950, 40% những năm 1970, 27% năm 1994, nay chỉ còn chiếm khoảng 23-25% GDP thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm liên tục trong những năm 1940 (4,7%), 1950 (3.9%), 1960 (2,9%), 1980 (0,9%). Năm 1989, thâm hụt thương mại của Mỹ lên tới 108 tỷ USD, thâm hụt ngân sách liên bang 152 tỷ USD. Mức sống của người dân không được cải thiện kể từ năm 1973. Nợ liên bang tăng lên gấp 3 lần trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Tỷ lệ tiết kiệm chỉ đạt, mức 2,5% GNP1 (Stephen J.Solarz, "Of Victory and Deficits", in America's Purpose: New Visions U.S. Foreign Policy, edited by Owen Harries, The National Interest, 1991, tr.90). Những trung tâm kinh tế như Tây Âu, Nhật Bản nổi lên mạnh mẽ, thách thức vị trí của Mỹ.


Về chính trị nội bộ, sự sụp đổ của Liên Xô làm cho nước Mỹ mất đi cơ sở tạo nên sự nhất trí rộng rãi về một mối đe dọa rõ ràng, cụ thể đối với nước Mỹ. Ở mức độ nào đó có thể nói, với sự biến mất của kẻ thù chủ yếu, nước Mỹ rơi vào tình trạng bị động, trong một thế giới mới mà nước Mỹ chưa xác định được rõ ràng những lợi ích cơ bản của mình, thách thức đối với những lợi ích đó để từ đó xây dựng một chiến lược mới cho thời kỳ mới. Tương tự như những thời kỳ trước khi chiến tranh kết thúc và nước Mỹ bước vào một giai đoạn chiến lược mới, trong lòng nước Mỹ đang diễn ra một cuộc tranh luận gay gắt về vai trò của Mỹ trên thế giới. Cuộc tranh luận truyền thống giữa chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa quốc tế đã trở thành sự giằng co giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới. Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới trong lòng nước Mỹ chứng tỏ một thực tế là ngay chính nước Mỹ cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò lãnh đạo thế giới và xác lập bá quyền của mình. Trong giới lãnh đạo cũng như công chúng Mỹ, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái biệt lập và quốc tế vẫn chưa chấm dứt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến nàm 1997, chỉ có 13% cho rằng họ muốn nước Mỹ đóng vai trò nổi trội trong các vấn đề quốc tế, trong khi 74% muốn Mỹ chia sẻ quyền lực với các nước khác. Những cuộc thăm dò ý kiến công luận khác cũng có những kết quả tương tự. Nhìn chung, đối với những người dân Mỹ bình thường, 55 đến 66% số người được hỏi cho rằng những gì đang diễn ra ở châu Âu, châu Á hay châu Phi, ít hoặc hầu như không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Giáo sư Huntington đã nhận xét: "Mỹ không có cơ sở chính trị nội bộ để tạo dựng một thế giới đơn cực cho dù đa số giới tinh hoa Mỹ có thể bỏ qua hoặc lấy làm tiếc về điều đó"1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Đây cũng là một thách thức đối với việc hoạch định và triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ mới.


Thách thức từ bên ngoài. Một khác biệt căn bản trong môi trường chiến lược mới đối với nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh là tính chất phức tạp, không rõ ràng của những thách thức đối với nước Mỹ.

Thách thức thứ nhất là trên bình diện quốc tế, thế hai cực mất đi, quá trình phát triển không đồng đều giữa các quốc gia có thể sẽ tạo ra những trung tâm quyền lực mới. Như Paul Kennedy đã viết: "Cho đến nay, của cải và quyền lực, hoặc sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự trong hệ thống quốc tế luôn có tính tương đối và chúng ta phải nhìn nhận theo cách đó, và tất cả mọi xã hội đều có xu hướng dứt khoát phải thay đổi, cho nên cán cân quốc tế không bao giờ đứng yên"2 (Paul Kennedy, Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1994). Vị trí sức mạnh đem đến cho Mỹ nhiều quyền uy, nhưng đồng thời cũng khiến cho Mỹ có nhiều kẻ thù. Mỹ có thể đóng vai trò đầu tàu trong một loạt vấn đề, nhưng cũng có thể bị thế giới còn lại tập hợp chống lại sự thống trị hay sức ép của Mỹ trên nhiều vấn đề khác, chẳng hạn như vấn đề nhân quyền. Điều quan trọng hơn là các trung tâm quyền lực khác đều tìm cách vươn lên, do đó mâu thuẫn với mưu đồ chiến lược bá chủ thế giới của Mỹ. Trung Quốc, với những thành tựu trong công cuộc cải cách và những tiềm năng to lớn về kinh tế, chính trị và quân sự, có khả năng thách thức vai trò và giá trị Mỹ trong tương lai. EU thúc đẩy các nỗ lực độc lập trong quan hệ với Mỹ và tạo dựng cho mình vị thế là một cực trong một thế giới đa cực. Nga cũng đang nỗ lực tìm cách khôi phục lại vị trí và ảnh hưởng của mình với tư cách là một cường quốc. Do đó, vấn đề chủ yếu đối với Mỹ trong thời gian tới là ngăn chặn khả năng xuất hiện một siêu cường, hay một nhóm nước liên kết với nhau, có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Mỹ.


Thách thức thứ hai là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các cuộc xung đột cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố quốc tế có chiều hướng gia tăng và do vậy, ở một chừng mực nào đó, đe dọa đến an ninh của Mỹ, trước hết là các công dân Mỹ. Tổng thống Clinton cũng đã thừa nhận thế giới ngày nay "vẫn còn bị đe dọa bởi những thù hận và những hiểm hoạ mới... Trật tự thế giới cũ không còn, thế giới trở nên kém ổn định hơn"1 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đông đảo các nước phương Nam bị các nước đế quốc, các công ty xuyên quốc gia bóc lột nặng nề, tiếp tục chìm đắm trong nghèo nàn, lạc hậu, khiến cho khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển ngày càng tăng. Tình trạng khó khăn về kinh tế, mất ổn định về chính trị, rối ren về xã hội, cùng với những mâu thuẫn tiềm tàng về tôn giáo, sắc tộc, làm cho nhiều khu vực trên thế giới ở trạng thái dễ bùng nổ xung đột, gây nhiều khó khăn cho việc thiết lập trật tự thế giới của Mỹ.


Thách thức thứ ba là từ phía các đồng minh của Mỹ. Sự sụp đổ của Liên Xô làm Mỹ mất đi ngọn cờ tập hợp lực lượng. Trong các nước đồng minh của Mỹ, xu hướng ly tâm phát triển. Mâu thuẫn giữa Mỹ với các trung tâm kinh tế khác ngày càng gay gắt. Giờ đây Mỹ đã mất ngọn cờ tập hợp lực lượng là "mối đe dọa cộng sản". Thực ra, xu hướng ly tâm đã xuất hiện ngay từ trong thời kỳ chiến tranh lạnh khi so sánh lực lượng giữa Mỹ và các nước đồng minh Tây Âu và Nhật Bản có những chuyển biến quan trọng. Sự phục hồi kinh tế và những thập kỷ phát triển ngoạn mục đã đưa các nước Tây Âu và Nhật Bản nổi lên thành những trung tâm kinh tế cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, vai trò an ninh chính trị của các đồng minh của Mỹ cũng ngày càng trở nên độc lập với Mỹ. Đây là một thách thức lớn đối với Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Một mặt, Mỹ vẫn cần đến sự ủng hộ của đồng minh để đối phó với những thách thức an ninh đa dạng trong kỷ nguyên toàn cầu hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, xu hướng độc lập, ly tâm trong các đồng minh ngày càng gia tăng, tạo ra thách thức mới đối với Mỹ trong việc dựa vào các liên minh đa phương và song phương để triển khai chiến lược toàn cầu. Bên cạnh đó, trong khi phải mò mẫm để tìm con đường đi mới cho thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, Mỹ phải xử lý những mâu thuẫn cố hữu giữa các thế lực tư bản chủ nghĩa quốc tế, đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn mới nảy sinh trong một nền kinh tế toàn cầu mà các nguy cơ khủng hoảng cơ cấu và chu kỳ vẫn thường trực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:34:13 am
3.2. Mục tiêu và lợi ích chiến lược an ninh

Với Mỹ, cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, một trong những cơ sở xây dựng chiến lược là lợi ích quốc gia của Mỹ trước mắt cũng như lâu dài là lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh. Lợi ích lâu dài và xuyên suốt của Mỹ vẫn là "lãnh đạo thế giới", giữ vững vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, phổ biến giá trị và lối sống Mỹ trên toàn thế giới. Lợi ích chiến lược của Mỹ sau chiến tranh lạnh là duy trì vị trí siêu cường số 1 trong một thế giới có nhiều trung tâm quyền lực (first among equals), từ đó thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất cứ một nước nào có thể trở thành đối thủ có khả năng đe dọa vị trí, vai trò và nền an ninh của Mỹ. Clinton cho rằng "sự lãnh đạo của nước Mỹ trên thế giới chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này"1 (W. J. Clinton, Chiến lược an ninh quốc gia: sự cam kết và mở rộng 1995-1996, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). Dường như kế tục sự tự tin của chính quyền Bush vào khả năng lãnh đạo thế giới của Mỹ, đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ và Mỹ chiến thắng trong chiến tranh vùng Vịnh, Tổng thống Clinton khẳng định: "Được hỗ trợ bởi một nền quốc phòng có hiệu quả và một nền kinh tế mạnh mẽ hơn, dân tộc chúng ta (Mỹ) sẽ sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi"2 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đây chính là mục tiêu bao trùm và xuyên suốt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.


Do đó, củng cố vị trí siêu cường duy nhất, ngăn không cho bất cứ cường quốc nào nổi lên thách thức vai trò lãnh đạo thế giới vẫn luôn là mục tiêu an ninh chiến lược lâu dài của Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:35:45 am
3.3 Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Sự định hình chiến lược mới của Mỹ được bắt đầu ngay từ những năm đầu tiên thời kỳ sau chiến tranh lạnh dưới chính quyền Bush (cha). Chiến lược "vượt trên ngăn chặn" là điều chỉnh đầu tiên dưới chính quyền Bush. Nội dung của chiến lược "vượt trên ngăn chặn" được công bố trong bản báo cáo về chiến lược an ninh quốc gia mới tháng 3-1990, trong đó khẳng định mục tiêu của Mỹ là vượt trên ngăn chặn, tìm kiếm sự hoà nhập của Liên Xô vào hệ thống quốc tế với tư cách là một thành viên có tính chất xây dựng, đưa Liên Xô vào một mối quan hệ ngày càng có tính chất hợp tác, đặt cơ sở cho mối quan hệ sâu sắc hơn, thúc đẩy tự do dân chủ và cải cách chính trị-kinh tế ở Liên Xô.


Tuy nhiên, đứng trước tình hình biến đổi nhanh chóng ở các nước Liên Xô và Đông Au, chính quyền Bush lại một lần nữa phải điều chỉnh chiến lược. Khái niệm "trật tự thế giới mới"với ý đồ sử dụng Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc làm cơ sở pháp lý cho vai trò lãnh đạo của Mỹ đã được Mỹ thử nghiệm trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh tháng 1-1991. Trong bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia công bố tháng 8-1991, Bush đã nhấn mạnh mục tiêu "trật tự thế giới mới" và vai trò lãnh đạo không thể thiếu được của Mỹ. Liên hợp quốc là trung tâm chính trị ngoại giao chủ chốt trong trật tự thế giới mới của Bush. Vai trò của Mỹ được khẳng định là vai trò lãnh đạo trong cả việc xây dựng và duy trì "trật tự thế giới mới". Cùng với cuộc khủng hoảng vùng Vịnh tháng 8-1990, nhận thức của Mỹ về những mối đe dọa của các cuộc xung đột khu vực tiềm tàng trở nên sâu sắc hơn. Mỹ cho rằng đe đoạ an ninh từ phía Liên Xô không còn nữa và bắt đầu chuyển trọng tâm chiến lược quân sự từ việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh toàn cầu thời kỳ chiến tranh lạnh sang chiến lược phòng thủ khu vực.


Một trong những tài liệu chiến lược quan trọng, đặt cơ sở cho sự hình thành chiến lượ an ninh dưới chính quyền Clinton là bản Đánh giá từ dưới lên trên (Bottom Up Review) tháng 9-1993, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo đảm tính sẵn sàng về quân sự để:

• Răn đe việc sử dụng vũ khí hạt nhân, sinh học, hoặc vũ khí hóa học chống lại nước Mỹ, lực lượng và đồng minh của Mỹ;

• Ngừng hoặc chí ít làm chậm lại sự phổ biến những loại vũ khí giết người hàng loạt;

• Răn đe, và khi cần thiết, làm thất bại ý đồ xâm lược ở các khu vực quan trọng đối với Mỹ;

• Có khả năng đánh và thắng hai cuộc xung đột khu vực gần như đồng thời,... trong khi giảm thiểu thương vong của Mỹ;

• Chuẩn bị cho các lực lượng tham gia một cách có hiệu quả vào các chiến dịch duy trò hòa bình đa phương và can thiệp đơn phương, có thể bao gồm các hoạt động gìn giữ hòa bình, viẹn trợ nhân đạo, chống buôn bán ma túy và chống khủng bố;

• Thúc đẩy các giá trị dân chủ ở các nước khác trên thế giới;

• Duy trì ưu thế về công nghệ (Charles W.Kegley, Jr & Eugene R. Wittkopf, World Politics: Trend and Transformation, Sixth Edition, St. Martin’s Press, 1997).

Tren cơ sở xác định lợi ích bao trùm của Mỹ trên thế giới là thiết lập và duy trì sự lãnh đạo trên tất cả các mặt, năm 1995 chính quyền của Tổng thống Clinton đã đề ra chiến lược đối ngoại mới của Mỹ, còn gọi là chiến lược "can dự và mở rộng", trong đó sức mạnh của Mỹ được xây dựng hết sức toàn diện, bao gồm tất cả các mặt: quân sự, kinh tế, chính trị tư tưởng. Đây cũng chính là quan điểm an ninh toàn diện của Mỹ. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược an ninh mới của Mỹ dựa trên đánh giá toàn diện về an ninh cũng như sức mạnh quốc gia xuất phát từ những thay đổi cụ thể của tình hình thế giới. Như vậy, cho dù quyết tâm tập trung vào kinh tế như một "tia lade", chiến lược của chính quyền Clinton vẫn chú trọng đến sức mạnh quân sự . Về cơ bản, Clinton cho rằng an ninh của nước Mỹ gắn với việc ngăn chặn và giải quyết các cuộc xung đột khu vực cũng như việc "mở rộng" cộng đồng các nền dân chủ tự do. Như vậy, cơ sở tư tưởng chính sách an ninh đối ngoại của Clinton là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực. Hay như cách gọi của chính Clinton, chính sách của ông ta là "chủ nghĩa hiện thực dân chủ".


Bảo đảm an ninh quân sự Mỹ được dựa trên việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức không chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, Mỹ dựa vào sự răn đe của cả vũ khí thông thường và hạt nhân, trong đó vũ khí thông thường đặc biệt chú trọng kỹ thuật cao.


Năm 1997, Clinton đã đưa ra Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI của Mỹ. Trong bản Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia này, Mỹ đã khẳng định: lợi ích quốc gia và nguồn lực hạn chế của Mỹ cho thấy sự cần thiết phải sử dụng vũ lực một cách lựa chọn. Mục tiêu trước hết của các lực lượng Mỹ là răn đe và đánh bại việc đe dọa sử dụng vũ lực có tổ chức chống lại Mỹ và lợi ích của Mỹ: "Quyết định có hay không và khi nào sử dụng vũ lực trước hết phải được chỉ đạo bởi lợi ích quốc gia Mỹ đang bị đe dọa - dù là lợi ích sống còn, lợi ích quan trọng hay nhân đạo về thực chất - và bởi liệu cái giá và sự mạo hiểm của việc Mỹ can thiệp có tương xứng với những lợi ích đó hay không. Khi những lợi ích bị đe dọa có tính chất sống còn, Mỹ sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ những lợi ích này, kể cả đơn phương sử dụng vũ lực khi cần thiết". Theo bản báo cáo, những lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bao gồm:

1. Bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và nhân dân Mỹ.

2. Ngăn chặn sự nổi lên của các liên minh thù địch hay bá quyền khu vực.

3. Bảo đảm tiếp cận không hạn chế đối với những thị trường chủ chốt, nguồn cung cấp năng lượng và các nguồn lực chiến lược.

4. Răn đe và đánh bại khi cần thiết các cuộc xâm lược chống đồng minh và bạn bè của Mỹ.

5. Bảo đảm tự do hàng hải, đường sắt, vũ trụ và những đường giao thông huyết mạch.

Chiến lược quân sự bên ngoài nước Mỹ được dựa trên việc duy trì quân đội ở hai khu vực quan trọng là châu Âu và châu Á. Ở châu Âu, Mỹ tiếp tục thực hiện ráo riêt chính sách mở rộng NATO sang phía đông, phát triển ảnh hưởng của Mỹ và phướng Tây ở khu vực này, bó hẹp hơn nữa ảnh hưởng của Nga. Ở châu Á, tháng 2-1995 Mỹ công bố bản Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba, trong đó quyết định duy trì lực lượng quân sự trong khu vực tương đương với châu Âu, khoảng 100 ngàn quân1 (U.S. Department of Defense, United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995). Quan hệ của Mỹ với Nhật Bản cũng được điều chỉnh cân bằng hơn. Tuy chiến lược "can dự và mở rộng" là chiến lược an ninh toàn cầu và Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba là một phần của chiến lược lớn, những dàn xếp về an ninh quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương chỉ thật sự có định hướng rõ ràng sau khủng hoảng eo biển Đài Loan đầu năm 1996, kéo theo là sự điều chỉnh quan hệ an ninh Mỹ - Nhật ngay sau đó2 (Hisahiko Okazaki, "China: A Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:36:22 am
Chiến lược an ninh mới của chính quyền Clinton còn dựa trên việc phát triển sức mạnh chính trị. Vị trí lãnh đạo của Mỹ có thật sự vững chắc hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng truyền bá các giá trị tư tưởng và lối sống Mỹ. Trong một thế giới các quan hệ ngày càng phức tạp, mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao, sức mạnh của một nước chỉ mang tính tương đối. Chính vì thế tăng cường sức mạnh chính trị là mục tiêu giúp Mỹ có khả năng tập hợp lực lương. Mỹ đã tích cực giúp đỡ những nước có xu hướng chính trị dân chủ kiểu phương Tây, đồng thời thực hiện chính sách dính líu với các nước khác với mục tiêu đem đến những biến đổi về chính trị ở các nước này.


Nhìn chung, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, an ninh chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đối đầu căng thẳng giữa hai siêu cường, cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối cạnh tranh làm cho hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng đến vấn đề an ninh. Từ giữa những năm 1970, đứng trước những thay đổi trên thế giới và thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đã có những điều chỉnh chiến lược quan trọng. Cũng chính từ thời kỳ đó, nhận thức về an ninh quốc gia và sức mạnh quốc gia đã có những thay đổi quan trọng. An ninh ngày càng trở nên mang tính toàn diện, bao gồm cả kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường... Nhận thức về an ninh của Mỹ cũng có những chuyển biến quan trọng, xuất phát từ sự suy yếu tương đối của Mỹ.


Chiến lược "can dự và mở rộng" của chính quyền Clinton là chiến lược đầu tiên cho thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Mục tiêu bao trùm của Mỹ trong thời kỳ mới vẫn là thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới. Đây là yếu tố bất biến chi phối chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những thập kỷ tới. Mỹ cho rằng Mỹ đang có thời cơ chiến lược để thực hiện mục tiêu này. Mỹ không còn đối thủ ngang sức như thời kỳ chiến tranh lạnh. Đây là điều kiện thuận lợi để Mỹ bành trướng ảnh hưởng về mọi mặt kinh tế, chính trị và văn hoá. Thực chất của chiến lược "can dự và mở rộng" của chính quyền Clinton là nhằm đạt được mục tiêu đầy tham vọng này. Tiền đề cho việc thực hiện thành công chiến lược này là một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, đi đầu thế giới về các ngành công nghẹ mũi nhọn. Khi Mỹ đã có thể yên tâm về vị trí nền kinh tế số 1 vững chắc của mình, bỏ xa Nhật Bản, Tây Âu và các nền kinh tế đã từng một thời năng dộng nhất thế giới ở Đông Á, trong nhiệm kỳ thứ hai của Clinton, Mỹ tập trung hơn vào các vấn đề an ninh.


Để đạt được mục tiêu chiến lược bao trùm này, Mỹ chủ trương cải tổ các liên minh an ninh song phương và đa phương cho phù hợp với tình hình mới. Từ thời Nixon, Mỹ đã chú trọng hơn đến việc hợp tác với đồng minh và chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, Bush và Clinton đã đi tiếp một bước, coi sự ủng hộ và đóng góp của đồng minh là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự can thiệp của Mỹ vào một cuộc xung đột. Một mặt, ý thức được khả năng không cho phép Mỹ hành động đơn phương và gánh vác toàn bộ trách nhiệm. Mặt khác, hợp tác và chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh nhằm xoa dịu dư luận Mỹ, đặc biệt trước những chỉ trích việc Mỹ phải gánh vác trách nhiệm bảo vệ an ninh cho những nước là đồng minh quân sự nhưng lại là những đối thủ cạnh tranh quyết liệt về kinh tế như Nhật Bản và Tây Âu. Vì vậy, một trong những trọng tâm chính sách của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh là chủ trương duy trì và thậm chí tăng cường các liên minh an ninh song phương và đa phương để đối phó với những thách thức mới. Hơn nữa, việc duy trì và củng cố những dàn xếp an ninh song phương và đa phương thời kỳ chiến tranh lạnh cũng phục vụ một ý đồ quan trọng của Mỹ là kiềm chế đồng minh, ngăn chặn xu hướng độc lập, ly tâm của những nước này đối với Mỹ trong thời kỳ mới khi mối đe dọa chung là "chủ nghĩa cộng sản" đã không còn. Vì vậy, xu hướng Mỹ duy trì và nâng cấp các dàn xếp an ninh song phương và đa phương phục vụ mục tiêu kép của Mỹ là thực hiện tham vọng lãnh đạo thế giới với sự hỗ trợ của các đồng minh phương Tây, đồng thời khống chế đồng minh dưới sự lãnh đạo của Mỹ.


Chiến lược "can dự và mở rộng" là chiến lược mang tính toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, trọng điểm chiến lược của Mỹ là châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương, nơi tập trung lợi ích an ninh, kinh tế sống còn của Mỹ. Hai khu vực này cũng là nơi tập trung các nước lớn, những đối thủ tiềm tàng có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Mỹ trong tương lai. Điều này cho thấy, mặc dù chính quyền Clinton chú trọng các thể chế đa phương và quốc tế hơn chính quyền tiền nhiệm, tư duy đối ngoại của Clinton vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực chính trị. Đối với các đối thủ tiềm tàng như Trung Quốc và Nga, Mỹ theo đuổi chính sách can dự và kiềm chế ngầm. Tính chất hai mặt trong chính sách của Mỹ đối với các đối thủ tiềm tàng bị chi phối bởi hai yếu tố lợi ích cơ bản. Một mặt, Mỹ có lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh quan trọng trong quan hệ với những nước này. Mặt khác, do Trung Quốc và Nga là hai nước có khả năng trở thành đối thủ cạnh tranh ngang tầm với Mỹ trong một vài thập kỷ tới, chiến lược của Mỹ đối với các đối tượng này phải bao hàm sự kiềm chế sức mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh quân sự. Tính hai mặt trong chính sách của Mỹ đối với những đối thủ tiềm tàng sẽ tiếp tục trong nhiếu năm tới.


Nhìn tổng thể có thể thấy tư duy của các nhà hoạch định chính sách của Mỹ chịu ảnh hưởng của hai trường phái lý luận cơ bản là chủ nghĩa hiện thực chính trị và chủ nghĩa tự do. Mặc dù không có chính quyền nào thuần tuý theo chủ nghĩa hiện thực hay tự do, hai trường phái tư duy đối ngoại này luôn tồn tại song song, ảnh hưởng lúc mạnh hơn hay yếu đi tuỳ thuộc một phần vào quan điểm đảng phái của Tổng thống Mỹ. Nhìn chung, các Tổng thống Đảng Cộng hoà thiên hơn về tư duy hiện thực chính trị, trong khi Đảng Dân chủ thiên hơn về chủ nghĩa tự do. Chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton thể hiện sự kết hợp, dung hoà giữa chủ nghĩa tự do và hiện thực. Điều này thể hiện không chỉ trong chính sách của Mỹ đối với đồng minh, các đối thủ tiềm tàng, mà còn thế hiện ở phương châm "Mỹ sẵn sàng hành động đa phương khi có thể và đơn phương khi cần thiết". Đây là một đặc điểm quan trọng trong chiến lược an ninh của Mỹ: chủ trương chia sẻ gánh nặng trong các vấn đề an ninh quốc tế khi điều này phục vụ lợi ích của Mỹ. Cho dù có những điều chỉnh nhất định theo hướng thiên về chủ nghĩa đơn phương hơn hoặc đa phương hơn, các chính quyền của Mỹ nhìn chung cũng sẽ không thể chỉ dựa vào chủ nghĩa đơn phương hay đa phương thuần tuý vì một thực tế cơ bản: cho dù là siêu cường với ưu thế sức mạnh vượt trội, Mỹ không thể hành động hoàn toàn đơn phương, không tính đến lợi ích của đồng minh và đối tác trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau. Hơn thế nữa, một mình Mỹ cũng không đủ khả năng để đối phó với các vấn đề toàn cầu, những thách thức an ninh đa dạng đòi hỏi sự hợp tác của nhiều nước trên thế giới.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:40:28 am
CHƯƠNG II
ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC AN NINH


1. Những nhân tố cơ bản chi phối sự điều chỉnh chiến lược an ninh

1.1. Thế và lực của Mỹ

Bước vào thế kỷ XXI, Mỹ được đánh giá là siêu cường hàng đầu thế giới về kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ. Vị trí này đã được Mỹ duy trì, củng cố và tăng cường trong suốt thập niên 90 của thế kỷ XX. Đây là nhân tố hàng đầu chi phối sự điều chỉnh chính sách an ninh của Mỹ.


Về sức mạnh quân sự, Mỹ đi đầu trong các công nghệ quân sự và có nguồn tài chính rất dồi dào để biến các ý tưởng quân sự thành hiện thực. Hệ thống phòng thủ tên lửa (MD) mà Mỹ đang theo đuổi cho thấy sự gắn bó chặt chẽ của giới công nghiệp quốc phòng với chính quyền hiện tại, tiềm lực khoa học công nghệ, tài chính và nhân lực khổng lồ của Mỹ.


Trên cơ sở sức mạnh đó, chính quyền Bush tuyên bố "quân đội Mỹ phải là đội quân tinh nhuệ, linh hoạt, phải có mặt trước tiên để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở mọi nơi trên thế giới". Nhiều nhà phân tích cho rằng chi phí quốc phòng của Mỹ trong năm 2003 lớn hơn toàn bộ chi phí quốc phòng của 15-20 quốc gia có chi phí quốc phòng lớn sau Mỹ. Khi năm tài chính 2003 bắt đầu vào tháng 10-2002, chi phí quân sự của Mỹ sẽ chiếm 42% tổng chi tiêu quốc phòng của cả thế giới1 (Carl Conetta, The Pentagon's New Strategy, New Budget, New War, Project on Defense Alternatives, 25-6-2002, at http://www.comw.org-pda-0206newwar.html). Cũng vào năm 2003, ngân sâch quốc phòng của Mỹ bằng 93% chi tiêu quốc phòng trung bình hàng năm trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX - thập kỷ mà chi tiêu quốc phòng của Mỹ đạt mức kỷ lục.


Xét về cơ cấu lực lượng, Mỹ có thể mạnh về hạt nhân, về không quân, hải quân và là quốc gia duy nhất có khả năng triển khai sức mạnh toàn cầu.

Dưới đây là những con số về lực lượng quân sự Mỹ:

• Hơn 200.000 quân Mỹ đang đồn trú ở hải ngoại và 50.000 linh và sĩ quan hải quân trên các đại dương; trong những năm gần đây 35.000 người trong số đó tham gia trực tiếp vào các chiến dịch khẩn cấp, chủ yếu tại Irắc hay vùng Bancăng;

• Hơn 800 cơ sở quân sự ở hải ngoại, trong đó có 60 căn cứ lớn;

• Hiện diện quân sự ở hơn 140 nước, trong đó triển khai quân đội với mức độ lớn (hàng trăm hoặc hàng nghìn quân) tại 25 nước.

• Cam kết mạnh mẽ hỗ trợ phòng thủ hoặc ủng hộ các nỗ lực quân sự của 31 nước và ký hiệp định hợp tác quân sự với 29 nước khác1 (Carl Conetta and Charles Knight, A New US Military Strategy-Issues and Options, Project on Defense Alternatives, 21-5-2001 at http://www.comw.org-pda-0105bm20.html).


Sức mạnh quân sự của Mỹ còn thể hiện ở trình độ công nghệ và kỹ thuật ứng dụng trong quốc phòng. Mỹ đứng hàng đầu thế giới về ứng dụng các công nghệ thông tin và viễn thông vào lĩnh vực quân sự, cũng như trong việc phối hợp và xử lý thông tin trên chiến trường và tiêu diệt các mục tiêu từ xa với độ chính xác rất cao. Washington có những chiến lược khiến các đối thủ không thể dễ dàng bắt kịp về mặt công nghệ, thể hiện rõ ở khoảng cách lớn về chi phí dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D); Mỹ đã dành một khoản lớn gấp ba lần cho R&D so với sáu quốc gia hàng đầu kế tiếp Mỹ cộng lại. Một cách so sánh khác là Mỹ đã chi phí cho R&D nhiều hơn toàn bộ chi tiêu quốc phòng của Anh hay Đức. Quân đội Mỹ được trang bị hiện đại, vượt xa các nước khác. Mỹ đi đầu trong lĩnh vực chiến tranh kỹ thuật cao. Nếu như trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, số vũ khí kỹ thuật cao như bom thông minh được sử dụng chỉ chiếm khoảng hơn 10%, thì trong cuộc không kích Kosovo năm 1999 con số đó là gần 70% và lên tới gần 90% trong cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan 2001.


Về kinh tế, Mỹ đã có những bước tiến vượt bậc và có tiềm năng to lớn để tiếp tục phát triển. Điều đáng chú ý là nền kinh tế Mỹ đã có sự biến đổi về chất, có khả năng kéo dài chu kỳ tăng trưởng và vượt qua chu kỳ suy thoái và khủng hoảng như thời kỳ qua cho thấy. Nền kinh tế Mỹ đã phục hồi trở lại sau thời kỳ suy thoái ngắn và ở mức nhẹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai với tỷ lệ tăng trưởng 5,6% trong quý 1-2002. Mức tăng trưởng dù giảm đi, chỉ còn 2,5 đến 3% trong năm 2002, cũng vẫn là mức tăng trưởng cao hơn đáng kể so với các trung tâm kinh tế tư bản chủ nghĩa khác như Tây Âu và Nhật Bản.


Mỹ đi tiên phong trong việc xây dựng nền kinh tế mới, đúng như nhà tương lai học A. Toiler dự báo trong cuốn Làn sóng thứ ba (1980). Nhiều người cho rằng Mỹ tiến vào nền kinh tế mới dựa trên cơ sở cách mạng công nghệ thông tin và sự toàn cầu hoá nền kinh tế thị trường. Ngành thông tin bao gồm thiết kế lưu trữ, truyền tải và xử lý thông tin, các ngành hữu quan và ngành dịch vụ chiếm tới 72% nền kinh tế Mỹ1 (Trần Bá Khoa, "Nền kinh tế mới của nước Mỹ, cái mạnh và cái yếu", Tạp chí Cộng sản, số 14 (7-2001) tại http://www.cpv.org.vn). Vào cuối năm 1999 trên thế giới có 180 triệu người sử dụng Internet thì riêng Mỹ đã chiếm 50% trong số đó. Bốn mươi sáu phần trăm lượng thông tin chu chuyển trên Internet xuất phát từ Mỹ. Trong cả thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế Mỹ đã tạo ra 20 triệu việc làm, trong khi Liên minh châu Âu (EU) bị mất 5 triệu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp cao và tình trạng này vẫn chưa khắc phục được.


Mỹ chiếm 4,7% dân số thế giới, nhưng có 31,2% trong số 31,4 nghìn tỷ USD GDP của thế giới1 (The Economist, 27-6-2002). GDP năm 2000 đạt 9.996,2 tỷ USD, lớn gần gấp đôi so với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản (4.619,8 tỷ USD), và gần gấp 10 lần so với nền kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc (1.070,7 tỷ USD) tính theo cân bằng sức mua (PPP)2 (U.S and Asia Statistical Handbook, 2001-2002 Edition, The Heritage Foundation, tr.21). Như vậy, phải mất khoảng hơn 30 năm nữa, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, kinh tế Trung Quốc mỏi có thể đạt mức của Mỹ hiện nay và tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu người vẫn thấp hơn3 (Henrry Kissinger, "The Architecture of an American Foreign Policy", in Preparing America's Foreign Policy for the 21st Century edited by David L. Boren & Edward J.Perkins, University of Oklahoma Press, 1999, tr.303). Hơn nữa, thập kỷ đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh lại chứng kiến một thời kỳ phát triển dài lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Khoảng cách giữa Mỹ và các đối thủ, đặc biệt là Nhật Bản và EU, càng được mở rộng vì sự chênh lệch lớn trong tốc độ phát triển kinh tế. Từ năm 1990 đến 1998, kinh tế Mỹ tăng tới 27%, gần như gấp đôi so với EU 15% và Nhật Bản 9% . Tỷ trong kinh tế Mỹ trong kinh tế thế giới tăng hơn 10%, đạt 31% năm 2000 so với hơn 20% thời kỳ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX.


Mỹ giữ vai trò chủ đạo trong các thiết chế tài chính, thương mại thế giới như IMF, WTO, WB... Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế có sức cạnh tranh rất lớn. Đồng đôla Mỹ chiếm hơn 60% giao dịch thương mại toàn cầu. Đồng đôla là đồng tiền dự trữ quốc gia chủ yếu của hầu hết các nước trên thế giới. Thị trường chứng khoán của Mỹ có vai trò trung tâm trong đời sống tài chính, tiền tệ toàn cầu. Biến động trên thị trường chứng khoán New York tác động đến thị trường chứng khoán ở khắp nơi trên thế giới. Xu hướng chung cho thấy nền kinh tế Mỹ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế thế giới. Gần 1/3 tăng trưởng GDP hàng năm của Mỹ là nhờ vào xuất khẩu. Hiện nay con số các xí nghiệp Mỹ kinh doanh trên toàn cầu chiếm tới 60% tổng số xí nghiệp của Mỹ. Đóng góp của ngành xuất khâu đối với tăng trưởng kinh tế đã vượt ngành xây dựng và ngành gang thép - vốn là hai ngành công nghiệp chủ đạo trong nền kinh tế Mỹ. Sự bành trướng toàn cầu của tư bản Mỹ diễn ra mạnh mẽ cùng với sự bành trướng về chính trị và quân sự. Các công ty xuyên quốc gia khổng lồ của Mỹ (doanh thu của một số công ty này lớn gấp nhiều lần GDP của nhiều nước) phát triển nhanh chóng, nắm phần lớn của cải thế giới, chuyển mạnh sang lũng đoạn các ngành công nghệ cao và tài chính tiền tệ trên thế giới.


Khác với Nhật Bản và Tây Âu, tiềm năng phát triển của kinh tế Mỹ còn mạnh xét về mặt dân số học. Thế hệ những người Mỹ sinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai giờ đây chính là những tác nhân chủ yếu của nền kinh tế. Số lượng các gia đình mà trong đó những người có độ tuổi từ 35-54 đóng vai trò trụ cột về kinh tế hiện lên tới con số 44 triệu. Những người này đang ở giai đoạn đỉnh cao về chi tiêu và tiết kiệm, là một động lực rất quan trọng của nền kinh tế1 (American Special Strengths, Kiplinger.com, tháng 6-2002).


Về khoa học công nghệ. Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Mỹ trong lĩnh vực công nghệ bằng bảy nước giàu nhất sau Mỹ cộng lại và chiếm 40,6% của tổng chi phí toàn cầu là 652.7 tỷ USD2 (Stephen Brooks and William C. Wohlforth, "American Primacy in Perspective", Foreign Affairs, tháng 7/8-2002, Vol, tr. 2).  Bằng phát minh khoa học của Mỹ chiếm hơn 60% toàn bộ số bằng phát minh khoa học trên thế giới. Mỹ đứng đầu 20 trong tổng số 29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ chế tạo vật liệu mới, không gian điều khiển học. Hai phần ba số người đạt giải Nobel về kinh tế và khoa học là công dân Mỹ.


Về văn hoá, các chương trình truyền hình và phim ảnh của Mỹ chiếm tới hơn 3/4 thị trường thế giới. Riêng trong lĩnh vực nghe nhìn, Mỹ chiếm 83,1% từ thu nhập 18,2 tỷ USD sản xuất phim trên thế giới1 (The Economist, 27-6-2002). Toàn cầu hoá được đồng nghĩa với McDonald hoá. Tiếng Anh là ngôn ngữ chủ đạo của Internet và tuyệt đại đa số các chương trình Internet cũng bắt nguồn từ Mỹ2 (Zbigniew Brzezinski, Bàn cờ lớn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999).


Sức mạnh và ưu thế của Mỹ có thể được duy trì trong nhiều thập kỷ tới. Tuy nhiên, sức mạnh Mỹ cần được đặt trong bối cảnh quốc tế, bởi như vậy mới có thể đánh giá được thực chất sức mạnh, quyền lực tương đối của Mỹ so với các trung tâm quyền lực khác cũng như những thách thức mà nước Mỹ phải đương đầu. Việc xem xét những giới hạn đối với sức mạnh của nước Mỹ phải được bắt đầu từ việc đánh giá những xu hướng địa chính trị và an ninh chủ đạo trong thời kỳ hiện nay và trong một vài thập kỷ tới. Trên cơ sở đó mới có thể đánh giá khả năng triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:41:13 am
1.2. Những xu hướng địa chính trị và an ninh quốc tế: giới hạn đối với sức mạnh của Mỹ

Sự hình thành, điều chỉnh và triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI chịu sự chi phối mạnh mẽ của bốn xu hướng địa chính trị và an ninh cơ bản. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh, cục diện địa chính trị và an ninh thế giới trở nên phức tạp hơn và khó dự đoán hơn trước bởi sự cộng hưởng của các vấn đề toàn cầu như môi trường, vấn đề nhập cư, chủ nghĩa khủng bố, sự bất ổn định của nền kinh tế toàn cầu... vượt quá khả năng giải quyết của bất kỳ quốc gia đơn lẻ nào, kể cả Mỹ. Hai ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á năm 1997 và sự kiện ngày 11 tháng 9. Vị trí biệt lập về địa lý của nước Mỹ không còn khả năng ngăn cách tác động của những sự kiện ngoài biên giới nước Mỹ. Trong một thế giới toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau, cho dù mạnh đến đâu, nước Mỹ cũng không thể đánh giá thấp những tác động của môi trường quốc tế đối với an ninh quốc gia Mỹ.


Xu thế địa chính trị quan trọng nhất đối với việc hình thành chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều thập kỷ tới là xu thế đa cực hoá. Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Trật tự hai cực sụp đổ. Thế giới đang trong thời kỳ chuyển tiếp sang một trật tự đa cực. Mặc dù vậy, Mỹ không thể chi phối toàn bộ công việc của thế giới và áp đặt ý chí của mình. Quyền lực trong kỷ nguyên toàn cầu hoá trở nên phân tán hơn bao giờ hết. Một trật tự thế giới mới đang hình thành. Cuộc tranh luận về "trật tự thế giới mới" đã dẫn tới những mô tả khác nhau về sự phần bố quyền lực mới như "nhất siêu-đa cường", "một cực, đa trung tâm", hay "đơn-đa cực"... Dù tên gọi có khác nhau, nhưng đều phản ánh một thực tế là Mỹ không thể dễ dàng áp đặt bá quyền lên hệ thống quốc tế. Các chính quyền Mỹ sau chiến tranh lạnh đều nhấn mạnh vai trò của các liên minh và đánh giá cao sự hỗ trợ của các đồng minh trong các nỗ lực quốc tế.


Nhìn vào quan hệ giữa các nước lớn ngày nay có thể thấy cuộc đấu tranh giữa đơn cực và đa cực tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong khi Mỹ chủ trương một thế giới đơn cực thì các trung tâm quyền lực khác như Nga, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và phần nào đó cả Ấn Độ đều phấn đấu cho một trật tự đa cực, trong đó vị trí bá quyền của Mỹ được kiềm chế và Mỹ không có khả năng áp đặt ý chí của mình trong quan hệ với các nước khác. Chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc, tinh thần Đại Nga và chính sách độc lập của Ấn Độ không dễ dung hoà với xu hướng bá quyền của Mỹ. Khi không còn một kẻ thù chung và một mối đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia, xu hướng ly tâm trong các nước đồng minh của Mỹ tăng lên. Pháp và Đức đã không ủng hộ Mỹ trong chiến dịch "con cáo sa mạc" tấn công vào Irắc tháng 12-1998. Mặc dù đứng về phía Mỹ trong quyết định không kích Kosovo bắt đầu vào tháng 3-1999, các đồng minh châu Âu của Mỹ đã kiên quyết không nhượng bộ Mỹ và đã không ủng hộ chủ trương bỏ qua vai trò của Liên hợp quốc trong các cuộc xung đột khu vực. Đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở châu Á là Nhật Bản cũng đã có những biểu hiện độc lập về chính sách ngoại giao rõ rệt trong một số vấn đề. Nhật Bản đã không ủng hộ nghị quyết do Mỹ bảo trợ tại kỳ họp hàng năm của Ủy ban nhân quyền nhằm lên án Trung Quốc.


Trong cuộc đấu tranh giữa đơn cực và đa cực, Mỹ luôn tìm cách duy trì và mở rộng ưu thế của mình. Mỹ đã thể hiện sức mạnh vượt trội ở Kosovo (1999), Ápganixtan (2001-2002). Mỹ thắng Đức trong việc giành vai trò lãnh đạo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Mỹ cũng ép Nhật trong khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á (1997), phản đối ý định thiết lập Quỹ Tiền tệ châu Á của Nhật, gây sức ép buộc các nước phải chấp nhận "phương thuốc chữa trị" của Mỹ. Trước cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ ngang nhiên đặt điều kiện với toàn thế giới rằng "chỉ có hai con đường hoặc là theo Mỹ chống khủng bố hoặc đứng về phía khủng bố. Ngay cả toàn cầu hoá là một xu thế khách quan nhưng các nước đều nhìn nhận nó như một hiện tượng do Washington chi phối và giúp phổ biến các "giá trị Mỹ", phục vụ cho lợi ích của Mỹ.


Xu thế lớn thứ hai chi phối chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều năm tới là chủ nghĩa khủng bố quốc tế và sự gia tăng của những thách thức không cân xứng (asymmetric challenges). Trong năm 2001, theo Bộ Ngoại giao Mỹ, có khoảng 63% các vụ khủng bố diễn ra trên thế giới là nhằm vào công dân hoặc tài sản của Mỹ so với mức 23% của năm 1995. Hoạt động khủng bố đã ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động thương mại, hoạt động không phổ biến vũ khí hạt nhân và an ninh nói chung của Mỹ. Vấn đề khủng bố quốc tế mà Mỹ là mục tiêu hàng đầu liên quan đến xu hướng phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt hoặc các phương tiện để sản xuất vũ khí này. Mỹ lo ngại việc các nước Mỹ coi là "bất trị" phát triển và sở hữu các loại vũ khí giết người hàng loạt sẽ cung cấp vũ khí hoặc công nghệ sản xuất vũ khí cho các tổ chức khủng bố. Tất cả bảy quốc gia mà Mỹ nghi ngờ là chứa chấp khủng bố cũng bị Mỹ nghi ngờ có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và hoặc hoá học, sinh học ở một mức độ nào đó: Iran, Irắc, Libi, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Xuđăng, Xyri và Cuba.


Chủ nghĩa khủng bố cùng với các mối đe dọa xuyên quốc gia khác thực sự đe dọa nước Mỹ. Nếu như Mỹ tự hào là quốc gia hàng đầu về quân sự và công nghệ thì sự kiện 11 tháng 9 buộc Mỹ phải tự nhìn nhận lại. Những kẻ khủng bố ngày nay dùng điện thoại di động mã hoá cao, e-mail và Internet để truyền đạt thông tin và chuyển tiền bằng điện tử. Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cho rằng những cuộc tấn công khủng bố đã làm thay đổi các mối đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Ông nói: "Theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta đang có định nghĩa về một chiến trường mới, chiến trường của thế kỷ XXI. Đó là một cuộc xung đột kiểu mới. Mặc dù đây không phải là điều đặc trưng của thế kỷ này nhưng với tính chất địa lý và điều kiện của nước Mỹ hiện nay, cuộc tấn công đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nước Mỹ".


Sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ, điều bảo đảm ưu thế trong một cuộc chiến tranh thông thường, không còn là yếu tố quyết định trong một cuộc chiến tranh không cân xứng. Như sự kiện 11 tháng 9 cho thấy, kẻ thù của Mỹ sử dụng những phương tiện phi truyền thống như khủng bố, đe dọa hạt nhân hay vũ khí hoá học, chiến tranh tin học hay phá hoại môi trường. Đây là những mối đe dọa không cân xứng đối với Mỹ. Tính chất không cân xứng của nó thể hiện ở ba khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là Mỹ phải bảo vệ toàn bộ những điểm có thể trở thành mục tiêu của khủng bố, trong khi đó, các tổ chức khủng bố chỉ cần nhằm vào một số điểm dễ bị tổn thương nhất để tấn công. Hai là, trong khi Mỹ và các lợi ích của Mỹ là mục tiêu có thể nhìn thấy được thì hoạt động của các tổ chức khủng bố không dễ gì bị phát hiện. Ba là, sự không cân xứng về chi phí và tổn thất. Người ta ước tính rằng việc dàn dựng và tổ chức sự kiện 11 tháng 9 chỉ tốn khoảng 2 triệu USD, nhưng tổn thất mà nó gây ra lên tới hơn 100 tỷ USD. Sự bất cân xứng giữa chi phí khủng bố và tổn thất do khủng bố gây ra sẽ còn lớn hơn nhiều nếu các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí giết người hàng loạt. Tính chất không cân xứng của những mối đe dọa khủng bố thực chất đã làm cho sức mạnh của Mỹ không còn là cơ sở để bảo đảm an ninh cho nước Mỹ và an toàn cho công dân Mỹ.


Xu thế thứ ba là tầm quan trọng ngày càng tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống. Những thách thức an ninh phi truyền thống như tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma tuý, ô nhiễm môi trường, nạn dịch HIV/AID đã thực sự trở thành những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và phát triển kinh tế. Hơn nữa, trong khi nước Mỹ phải tập trung toàn lực đối phó với chủ nghĩa khủng bố quốc tế, những vấn đề an ninh truyền thống khác vẫn có nguy cơ đe dọa ổn định ở các khu vực, nơi Mỹ có những lợi ích thiết yếu. Sự đan xen giữa các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, những quan ngại an ninh trước mắt và dài hạn, càng cho thấy những thách thức mà nước Mỹ phải đối mặt rất phức tạp, đa dạng và phân tán.


Xu thế thứ tư, xuất phát chủ yếu từ vị thế sức mạnh vượt trội và chính sách ngạo mạn, cường quyền của Mỹ, là chủ nghĩa chống Mỹ (Anti-Americanism) ngày càng trở nên mạnh mẽ trên thế giới. Sự kiện 11 tháng 9 là minh chứng rõ nét nhất, cho dù không phải duy nhất, về tâm lý chống Mỹ. Sự kiện này là đỉnh cao trong một loạt những vụ khủng bố nhằm vào Mỹ trước đó, như vụ tấn công tàu US.S. Cole tháng 10-2000, vụ đánh bom Oklahoma City, vụ đánh bom hai sứ quán Mỹ ở Kenia và Tandania. Thắng lợi của Mỹ ở Ápganixtan không có nghĩa là Mỹ không còn bị đe dọa. Mạng lưới Al Qaeda có mặt ở hơn 60 nước trên thế giới. Tiêu diệt được mạng lưới này một cách triệt để gần như là không tưởng. Khả năng các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí sinh học, hoá học hay thậm chí hạt nhân càng làm cho nguy cơ khủng bố quốc tế trở nên nghiêm trọng. Cuộc chiến của nước Mỹ với kẻ thù vô hình, hay cuộc chiến không cân xứng, cho dù người ta gọi nó như thế nào, cũng sẽ là một cuộc chiến không có kẻ thắng người thua. Vladimir Shlapentokh, giáo sư Đại học Tổng hợp bang Michigan cho rằng: "Hầu như không thể tìm thấy một quốc gia nào trên thế giới mà tại đó không có tình cảm chống Mỹ", "ít có hệ tư tương nào tại bất kỳ khu vực nào có thể hấp dẫn, mạnh mẽ và quan trọng đối với nhiều người như là tâm lý bài Mỹ".


Vì vậy, điều nghịch lý là ngày nay, cho dù là siêu cường duy nhất với sức mạnh áp đảo, an ninh của nước Mỹ lại trở nên dễ bị tổn thương và nước Mỹ và người dân Mỹ ít an toàn hơn bao giờ hết. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm, nước Mỹ không còn cảm thấy bất khả xâm phạm. Và khái niệm an ninh nội địa, điều vốn xa lạ với nước Mỹ, đã trở thành cụm từ không thể thiếu đối với bất cứ tuyên bố chính sách nào của chính quyền Mỹ kể từ sau sự kiện 11 tháng 9. Tháng 7-2002, chính quyền Mỹ đã công bố Chiến lược quốc gia cho an ninh nội địa, một chiến lược tổng thể nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ khủng bố trong lòng nước Mỹ. Bên cạnh đó, ưu thế về sức mạnh quân sự, tiền đề cho chủ nghĩa đơn phương trong chính sách đối ngoại của Mỹ, làm cho sức mạnh của Mỹ trở nên không hiệu quả trong việc đối phó với những thách thức phi truyền thống mà trong đó chủ nghĩa khủng bố quốc tế là mối đe dọa lớn nhất, nhưng không phải duy nhất, đối với nước Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:42:04 am
1.3. Quan điểm của giới lãnh đạo và công chúng Mỹ

Việc hoạch định và triển khai chiến lược an ninh và đối ngoại của Mỹ phụ thuộc, ở mức độ lớn, vào quan điểm của giới lãnh đạo Mỹ và thiên hướng chính trị trong chính quyền Mỹ. Cho dù mục tiêu cơ bản trong chiến lược an ninh của Mỹ không thay đổi, việc hoạch định chính sách cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chiến lược phụ thuộc vào quan điểm của bộ máy hoạch định chính sách an ninh, đối ngoại. Chính vì vậy, chiến lược "ngăn chặn cộng sản" của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh có những bước triển khai khác nhau và phương cách thực hiện khác nhau dưới các chính quyền khác nhau.


Tổng thống Bush con khi lên cầm quyền là một người ít có kinh nghiệm đối ngoại và trong thời gian tranh cử, ông ta đã để lộ rõ sự yếu kém của mình khi không nêu được tên một số nhà lãnh đạo các nước trên thế giới. Tuy nhiên, trên phương diện là thống đốc bang Texas và là người đầu tiên tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai ở bang này với số phiếu áp đảo, ông ta là người được coi là rất thành công trong việc "hoà giải" trong các cuộc tranh cãi đảng phái, là một chính trị gia trung dung, có thể tập hợp lực lượng từ phía cả hai đảng. Để bù đắp cho sự thiếu kinh nghiệm của Bush con, bên cạnh ông ta có một đội ngũ cố vấn hùng hậu, những "cựu chiến binh" của Đảng Cộng hoà, những người nổi tiếng am hiểu về các vấn đề an ninh, đối ngoại: Phó Tổng thống Dick Cheney, một nhân vật Cộng hoà rất có ảnh hưởng; Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng của chính quyền Bush con, từng giữ những vị trí trọng yếu trong lĩnh vực quốc phòng dưới các chính quyền Cộng hoà trước; Colin Powell, vị ngoại trưởng mới là một nhân vật nổi tiếng, một "anh hùng của nước Mỹ" trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân trong thời kỳ khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990-1991, ông là người nhấn mạnh đến việc sử dụng học thuyết "được ăn cả, ngã về không", theo đó vũ lực phải được sử dụng với liều lượng mạnh, có mục tiêu rõ ràng và thoát ra nhanh chóng; Condoleezza Rice, cựu giáo sư trường Đại học Stanford, một chuyên gia về Liên Xô cũ và Nga, từng là cố vấn cho George Bush cha về vấn đề châu Âu, trở thành cố vấn an ninh quốc gia, một vị trí có ảnh hưởng hàng đầu trong quá trình hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ. Như vậy, những người được coi là cứng rắn, những nhân vật bảo thủ "sáng giá nhất", sẽ chi phối việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại, an ninh của Mỹ trong thời gian tới. Với một nhóm cố vấn như vậy, nước Mỹ có thể sẽ có những quyết sách cứng rắn và thực dụng hơn.


Như đã phân tích ở trên, chính quyền Đảng Cộng hoà thường thiên về chủ nghĩa đơn phương hơn trong cách tiếp cận đối với các vấn đề quốc tế. Thực tế cho thấy, trong khi theo đuổi chủ nghĩa quốc tế mới, chính quyền của Bush (Đảng Cộng hoà) nói chung ít dựa vào các cơ chế đa phương, mà chủ trường dựa vào các liên minh song phương và đồng minh của Mỹ. Quan điểm truyền thống của Đảng Cộng hoà là chính sách đối ngoại của Mỹ phải phục vụ và dựa trên lợi ích an ninh quốc gia của nước Mỹ. Thực ra, chính sách đối ngoại của bất cứ nước nào, dù lớn hay nhỏ, đều nhằm phục vụ lợi ích quốc gia của nước đó. Điều khác biệt ở đây là việc xác định lợi ích quốc gia. Khác với chính quyền Dân chủ của Clinton, chính quyền Cộng hoà thường có xu hướng thực dụng, xác định lợi ích quốc gia một cách hẹp hòi, nhiều khi không tính đến lợi ích của các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Quan điểm đó cũng được thổ hiện rõ qua cách nhìn nhận thế giới của cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice. Trong bài viết của mình khi còn là cố vấn cho ứng cử viên Tổng thống Bush, bà Rice đã nhấn mạnh "chính sách của chính quyền thuộc Đảng Cộng hoà chắc chắn phải bắt nguồn từ cơ sở vững chắc là vì lợi ích quốc gia, không phải vì lợi ích của một cộng đồng quốc tế hão huyền"1 (Condoleezza Rice, "Campaign 2000 - Promoting the National Interest", Foreign Affairs, tháng 1/2-2000, Vol. 79, No. 1).


Theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống là quan chức liên bang chịu trách nhiệm tối cao về quan hệ của Mỹ với các nước khác. Một quyền lực quan trọng khác do Hiến pháp quy định là Tổng thống là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Mỹ (Điều 2. phần 2). Trong khi Quốc hội được trao quyền tuyên bố chiến tranh, tư cách tổng tư lệnh quân đội đã tạo cơ sở cho Tổng thống Mỹ tăng cường quyền hạn trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để thực hiện các mục tiêu đối ngoại. Các tổng thống Mỹ đã đưa quân đến bán đảo Triều Tiên, Libăng, Cộng hoà Đôminica và Việt Nam mà không hề có tuyên bố chiến tranh của Quốc hội. Nó đã trở thành cơ sở cho quyền sử dụng vũ lực rộng lớn hơn của Tổng thống trong lĩnh vực đối ngoại. Tổng thống Mỹ có thể quyết định sự tham gia hoặc dính líu của Mỹ vào một cuộc xung đột quốc tế mà không cần tìm kiếm sự phê chuẩn của Quốc hội.


Như vậy, Tổng thống Mỹ nắm giữ quyền lực cao nhất và chủ yếu nhất trong các vấn đề an ninh, đối ngoại của nước Mỹ. Tuy nhiên, quyền hạn của Tổng thống Mỹ, kể cả trong lĩnh vực đối ngoại, có giới hạn nhất định. Nguyên tắc tam quyền phân lập và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng (check and balance), hai nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động của hệ thống chính trị Mỹ, tạo nên tình huống chia sẻ và tranh giành quyền lực không chỉ trong các vấn đề nội trị, mà cả trong các vấn đề đối ngoại giữa ngành hành pháp và lập pháp của Mỹ. Thông qua Quốc hội Mỹ và các thiết chế chính trị như bầu cử, các tổ chức chính trị, xã hội khác ở nước Mỹ, như các nhóm lợi ích, cũng tạo nên những ảnh hưởng đáng kể đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ. Vì vậy, một tác nhân quan trọng khác trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ là Quốc hội Mỹ. Quan điểm của các nghị sĩ Mỹ về các vấn đề quốc tế cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến việc hoạch định và triển khai chiến lược an ninh, đối ngoại của Mỹ.


Nhìn chung, trước sự kiện 11 tháng 9, sự ủng hộ chính trị đối với chính quyền Bush rất yếu do tác động của cuộc bầu cử đầy tranh cãi năm 2000. Sự kiện 11-9-2001 đã thay đổi hoàn toàn bức tranh này. Nó giúp hàn gắn sự rạn nứt và chia rẽ sâu sắc trong nền chính trị nội bộ Mỹ. Vị thế chính trị mong manh của Bush cũng được củng cố bởi sự kiện 11-9-2001 và tình trạng chiến tranh mà nước Mỹ lâm vào. Lịch sử cho thấy, sự ủng hộ của chính quyền và công chúng Mỹ đối với tổng thống thường lên cao trong các cuộc khủng hoảng. Bush cha đã giành được 89% ủng hộ vào thời điểm kết thúc chiến tranh vùng Vịnh. Theo cuộc thăm dò dư luận ngày 22-9-2001, 90% dân chúng Mỹ ủng hộ cách xử lý khủng hoảng của Tổng thống Bush và đây là sự ủng hộ cao nhất trong lịch sử đối với một tổng thống. Bush cũng nhận được sự ủng hộ của cả hai viện trong Quốc hội. Ngay sau vụ khủng bố một ngày, hai viện đã họp và nhất trí thông qua nghị quyết cam kết trừng trị khủng bố và ủng hộ hoàn toàn đối với tổng thống. Kể từ nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 1964, đây là nghị quyết được cả hai viện thông qua nhanh nhất và với sự nhất trí cao.


Thắng lợi của Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2002 đã củng cố mạnh mẽ vị thế chính trị của chính quyền Bush. Đảng Cộng hoà giành quyền kiểm soát cả hai viện của Quốc hội: 229 ghế tại Hạ viện và 51 ghế tại Thượng viện và 23 ghế thống đốc bang. Như vậy, chính quyền Bush sẽ thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc hội đối với việc theo đuổi những mục tiêu trong chính sách an ninh và đối ngoại.


Thắng lợi của Đảng Cộng hoà cũng cho thấy khuynh hướng bảo thủ đang gia tăng trong công chúng Mỹ. Nếu dư luận công chúng là một nhân tố tác động đến hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ thì có thể thấy xu hướng này biểu hiện rất rõ trong các kết quả thăm dò dư luận sau sự kiện 11 tháng 9. Thăm dò dư luận ngày 28 - 29-5-2002 cho thấy 88% cho rằng khủng bố là một vấn đề quan trọng hoặc rất quan trọng, 82% (so với 68% vào tháng 1-2001) cho rằng các vấn đề quân sự và quốc phòng quan trọng hoặc rất quan trọng1 (http://www.gallup.com-poll-reseales-pr020612). Sự ủng hộ của công chúng là một cơ sở chính trị quan trọng để chính quyền Mỹ tiếp tục tăng ngân sách quân sự trong những năm tới.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:43:02 am
2. Mục tiêu và ưu tiên chiến lược

Mục tiêu chiến lược bao trùm của Mỹ hiện nay và trong thời gian tới vẫn là tập trung củng cố thực lực nước Mỹ và vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo mà ở đó giá trị của Mỹ được phổ biến, ngăn chặn không cho bất cứ nước nào nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Đây là mục tiêu chiến lược dài hạn và là yếu tố bất biến chi phối chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều thập kỷ tới.


Bản báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (Quadrenial Defense Report) ngày 30-9-2001 của chính quyền Bush đã xác định những lợi ích quốc gia cơ bản của Mỹ:

• Bảo đảm an ninh và quyền tự do hành động của Mỹ bao gồm: chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tự do của Mỹ; sự an toàn của công dân Mỹ ở trong nước và nước ngoài; bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng của Mỹ.

• Tôn trọng những cam kết quốc tế bao gồm: an ninh và thịnh vượng của các đồng minh và bạn bè; ngăn chặn sự thống trị của kẻ thù đối với những khu vực quan trọng, đặc biệt là châu Âu, Đông Bắc Á, miền duyên hải Đông Á, Trung Đông và Tây Nam Á; hoà bình và ổn định ở Tây bán cầu.

• Góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế, bao gồm: khả năng tồn tại lâu dài và sức sản xuất của nền kinh tế toàn cầu; an ninh của vùng biển, vùng trời, không gian và các tuyến thông tin liên lạc quốc tế; quyền tiếp cận các thị trường chủ chốt và các nguồn tài nguyên chiến lược1 (Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (Quadrenial Defense Report) ngày 30-9-2001, Tài liệu tham khảo số 11/12-2002).


Sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan là một bước ngoặt quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Cuộc chiến chống khủng bố trở thành ưu tiên chiến lược hàng đầu của nước Mỹ ít nhất trong thập kỷ tới. Đối với Mỹ, ở khía cạnh nào đó, chống khủng bố đã thay thế mục tiêu "chống cộng sản" thời kỳ chiến tranh lạnh và trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, là ranh giới phân định bạn thù. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, ngăn chặn không còn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Mỹ. Trong một thời gian, nước Mỹ không có trọng điểm chiến lược đối ngoại mà chỉ có một đường hướng đối ngoại chung chung là "can dự và mở rộng". Theo một nghĩa nào đó, sự kiện 11 tháng 9 đã tạo ra một kim chỉ nam mới cho chiến lược đối ngoại của Mỹ và trọng tâm chiến lược đối ngoại của Mỹ trong tương lai ngắn đến trung hạn sẽ là cuộc chiến chống khủng bố. Mục tiêu chống khủng bố sẽ chi phối và xác định những ưu tiên chính sách đối ngoại của Mỹ đối với từng vấn đề, khu vực và đối tượng cụ thể. Đây sẽ tiếp tục là ưu tiên chiến lược của Mỹ, bất kể chính quyền tiếp theo là Cộng hoà hay Dân chủ. Xét cho cùng, nước Mỹ đang ở trong thời chiến, như tờ báo L’Express đã tuyên bố: "Chiến tranh thế giới thứ ba bắt đầu vào ngày thứ Ba, 11-9-2001"1 (Như đã trích trong L.Paul Bremer, "A New Strategy for the New Face of Terrorism", The National Interest, Thanksgiving 2001). Dù có phóng đại, tuyên bố này không hẳn là không có cơ sở. Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ sẽ là một cuộc chiến tranh dài lâu, với kẻ thù vô hình và đây sẽ là cuộc chiến tranh kỳ lạ, chưa từng có trong lịch sử.


Chính quyền Mỹ cho rằng mục tiêu bao trùm của chính sách chống khủng bố về cơ bản sẽ là ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố trong tương lai. Một chiến lược chống khủng bố toàn diện sẽ bao gồm ba mục tiêu cụ thể. Mục tiêu thứ nhất là đối phó với những lực lượng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự kiện ngày 11 tháng 9 mà Mỹ cho rằng đó là Bin Laden và mạng lưới Al Qaeda. Cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan chính là bước đầu, hay giai đoạn một của cuộc chiến chống khủng bố. Mục tiêu thứ hai trong chiến lược tổng thể là tiêu diệt các cơ sở hoạt động của chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Các cơ sở đó có thể là bất cứ nước nào mà Mỹ cho rằng đang nuôi dưỡng, hoặc có khả năng nuôi dưỡng và chứa chấp các tổ chức khủng bố1 (L.Paul Bremer, Sđd). Mục tiêu thứ ba là duy trì một sự nhất trí quốc tế về cuộc chiến chống khủng bố nhằm tranh thủ sự ủng hộ và đặc biệt là sự hợp tác của các nước trên thế giới trong lĩnh vực chia sẻ tin tức tình báo.


Cuộc chiến chống khủng bố, ưu tiên chiến lược trước mắt và mục tiêu chiến lược dài hạn bá chủ thế giới song song tồn tại, và không hẳn đã mâu thuẫn nhau. Chính quyền Mỹ sẽ theo đuổi và thực hiện hai mục tiêu này cùng một lúc, đặc biệt ở châu Á. Hơn thế nữa, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt cũng được tính đến nhằm phục vụ mục tiêu dài hạn hơn là ngăn chặn không cho bất cứ nước nào nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Sự tăng cường hợp tác quân sự với Philippin vì mục tiêu chống khủng bố sẽ phục vụ lợi ích lâu dài của Mỹ ở khu vực là tăng cường sự hiện diện quân sự, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, việc Mỹ thúc đẩy xu hướng tăng cường quân sự với Ấn Độ, một mặt nhằm phục vụ mục tiêu trước mắt là chống khủng bố. Mặt khác, tăng cường quan hệ với Ấn Độ cũng là một phần quan trọng trong ván bài cân bằng quyền lực của Mỹ đối với Trung Quốc.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:45:04 am
3. Những điều chỉnh chiến lược an ninh chủ yếu

3.1. Cách tiếp cận mới đối với vấn đề phòng thủ

An ninh kinh tế, an ninh quân sự và thúc đẩy dân chủ nhân quyền là ba trụ cột cơ bản trong chiến lược đối ngoại "can dự và mở rộng" của Clinton. Nếu như dưới chính quyền Clintơn, an ninh kinh tế là trụ cột hàng đầu thì dưới chính quyền Bush, an ninh quân sự trở thành ưu tiên số một. Xu hướng này thể hiện ngay từ trước sự kiện 11 tháng 9 với việc chính quyền Bush chủ trương tăng chi phí quốc phòng và cam kết triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia. Sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã tạo cơ hội cho chính quyền Bush tiếp tục đẩy mạnh xu hướng này. An ninh theo nghĩa truyền thống, hay an ninh quân sự, sẽ là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Mỹ. Ngân sách quốc phòng năm 2002-2003 tăng mạnh, lên tới 379 tỷ USD, tăng 50 tỷ so với năm tài chính trước. Đây là mức tăng ngân sách quân sự lớn nhất của nước Mỹ kể từ thời kỳ dưới chính quyền Reagan. Mức tăng ngân sách quân sự này nhằm tăng cường bảo đảm an ninh nội địa và cuộc chiến chống khủng bố. Thực chất, đây là một ngân sách quân sự thời chiến. Cuộc chiến chống khủng bố đã tạo cơ hội cho lực lượng bảo thủ trong chính quyền Mỹ, mà đứng đằng sau là các tổ hợp công nghiệp quân sự đầy ảnh hưởng, thúc đẩy hơn nữa xu hưởng tăng cường ngân sách quân sự.


Một thay đổi quan trọng khác là sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với vấn đề phòng thủ. Điểm cốt lỗi của đường hướng chiến lược quốc phòng mới của Mỹ là dựa trên khả năng. Điều này có nghĩa là nếu trước kia, quân đội Mỹ phải chuẩn bị đối phó với những mối đe dọa cụ thể, thì giờ đây nước Mỹ phải chuẩn bị để đối phó với những khả năng khác nhau mà kẻ thù của nước Mỹ, bất kể đó là một quốc gia hay một thực thể phi quốc gia, có thể có. Theo Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần thì "một mô hình dựa trên các khả năng - mô hình tập trung vào các khả năng chiến đấu khác nhau của một đối thủ hơn là việc xem đối thủ là ai và cuộc chiến có thể xảy ra ở đâu - sẽ mở rộng bức tranh chiến lược"1 (Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo đánh giá quốc phòng bốn năm một lần, ngày 30-9-2001, Tài liệu tham khảo số 11-12/2002). Sự thay đổi trong cách tiếp cận này có khả năng dẫn đến việc tăng cường xu hướng sử dụng vũ lực trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Lý do thứ nhất là sức mạnh quân sự của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo. Lôgich thông thường cho thấy khi quyền lực càng nhiều và càng tập trung, người ta càng có xu hướng sử dụng nó. Và nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ. Lý do thứ hai là cuộc chiến chống khủng bố và môi trường chiến lược ẩn chứa những thách thức an ninh khó lường tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực bảo thủ và hiếu chiến của Mỹ thực hiện ý đồ của mình.


Sự khác biệt lớn thứ ba trong cách tiếp cận là chính quyền Bush đánh giá thấp vai trò của chủ nghĩa đa phương, các hiệp ước kiểm soát vũ khí, các cơ chế luật pháp quốc tế và các nhiệm vụ quân sự phi truyền thống. Chính quyền Bush có xu hướng thực dụng và thiên về hành động đơn phương hơn so với chính quyền tiền nhiệm. Bush chủ trương không sử dụng quân đội Mỹ vào các sứ mệnh nhân đạo và gìn giữ hoà bình trên thế giới và "chính sách của chính quyền thuộc Đảng Cộng hoà chắc chắn phải bắt nguồn từ cơ sở vững chắc là vì lợi ích quốc gia, không phải vì lợi ích của một cộng đồng quốc tế hão huyền"2 (Condoleezza Rice, "Campaign 2000-Promoting the National Interest", Foreign Affairs, tháng 1/2-2000, Vol. 79, No. 1). Chính vì vậy, Mỹ đã đơn phương rút khỏi hiệp ước ABM ký với Liên Xô năm 1972, phủ nhận Nghị định thư Kyoto về môi trường, không tham gia Toà án hình sự quốc tế bất chấp sự phản đối của nhiều nước. Ngoài ra, dấu ấn của sự kiện 11 tháng 9 cũng xuất hiện trong những điều chỉnh quan trọng về chính sách an ninh dưới chính quyền Bush, thể hiện trong tài liệu chiến lược quốc phòng được công bố sau sự kiện 11-9-2001.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:46:15 am
3.2 Thay đổi chiến lược đánh thắng đồng thời hai cuộc chiến tranh khu vực

Những chuyển biến cơ bản trong quan hệ Mỹ-Xô từ cuối những năm 1980 đã giảm thiểu nguy cơ của một cuộc chiến tranh lớn giữa hai siêu cường. Chiến lược quân sự của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh với trọng tâm là chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực đã lỗi thời. Ngay từ dưới chính quyền Bush cha, chiến lược phòng thủ khu vực đã ra đời. Chiến lược phòng thủ khu vực là sự thay đổi chiến lược quốc phòng lớn của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh, theo đó quân đội Mỹ phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó và chiến thắng đồng thời hai cuộc xung đột khu vực lớn thay vì một cuộc chiến tranh toàn diện với Liên Xô.


Khái niệm hai cuộc chiến tranh khu vực được hiểu là mỗi một cuộc chiến tranh khu vực phải có quy mô tương xứng với chiến dịch Bão táp sa mạc, trong đó Mỹ triển khai khoảng nửa triệu quân tham gia vào hai cuộc chiến tranh tổng lực xảy ra đồng thời hoặc gần như đồng thời. Thực chất chiến lược đối phó thành công với hai cuộc xung đột khu vực bắt đầu từ nhận thức về mối đe dọa của Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Chiến lược này cho thấy Mỹ sẽ sử dụng số lượng và binh chủng quân đội giống như nhau trong cả hai cuộc chiến - khoảng năm - sáu sư đoàn tác chiến trên mặt đất, bao gồm các binh chủng lục quân và hải quân, 10 phi đội không quân, bốn - năm hạm đội tàu chiến và những đơn vị khác cùng phối hợp với nhau1 (Survival, Vol. 43, No. 1, Spring 2001, tr. 37-52). Mục tiêu của lực lượng này là ngăn chặn sự xâm lược của kẻ thù, phục hồi những mất mát thiệt hai trên lãnh thổ đồng minh và cuối cùng, nếu cần thiết, lật đổ chế độ của kẻ thù cho tới khi một chính phủ mới được thành lập và củng cố quyền lực của mình.


Ngày nay, các quan chức chính quyền Bush lập luận rằng điều đó trở nên không cần thiết và việc duy trì những lực lượng tác chiến đông đảo như vậy là phung phí2 (Dan Koslofsky, Two War Strategy is..., April 23, 2001, at http://www.clw.org-milspend-2war.html). Việc triển khai đồng thời hai chiến lược kiểu như Bão táp sa mạc với sự tham gia của nửa triệu quân là quá mức cần thiết. Mỹ không cần những lực lượng tấn công trên quy mô lớn tại cả hai chiến trường để áp đảo kẻ thù, lật đổ chế độ đối địch. Chỉ cần một chiến dịch như vậy là đủ. Ý tưởng mới này được mô tả trong khuôn khổ của một cuộc chiến tranh rưỡi, bao gồm một cuộc chiến như Bão táp sa mạc và Lá chắn sa mạc (250.000 quân). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Mỹ sẽ từ bỏ hoàn toàn kế hoạch chuẩn bị cho hai cuộc chiến tranh khu vực để sẵn sàng đối phó với một cuộc xung đột. Trái lại, Bộ Quốc phòng Mỹ chỉ thay đổi về mặt nhận thức với việc lên kế hoạch mới giành thắng lợi trong mọi loại hình xung đột có thể xảy ra1 (US Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.18, 21).


Về phương diện kế hoạch, quân đội Mỹ được chuẩn bị sẵn sàng để đánh thắng nhanh chóng bất kỳ cuộc tấn công nào chống lại đồng minh và bạn bè của Mỹ trong cùng thời điểm. Đồng thời, các kế hoạch tác chiến sẽ tập trung vào tiêu diệt khả năng tấn công của kẻ thù đến tận cùng sào huyệt, vãn hồi khả năng quân sự có lợi tại khu vực và tạo điều kiện chính trị cho việc ngăn chặn các thế lực thù địch. Tuy nhiên, theo bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần ngày 30-9-2001, thực hiện lệnh của Tổng thống, các lực lượng quân đội Mỹ sẽ chỉ cần tập trung đánh bại một kẻ thù ở một trong hai cuộc xung đột khu vực là đạt yêu cầu2 (US Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.18, 21). Tại chiến trường đó, quân đội Mỹ tiến hành các kế hoạch tác chiến, áp đặt ý chí Mỹ và loại trừ bất kỳ mối đe dọa tương lai nào. Quân đội Mỹ còn có khả năng chiếm lãnh thổ hay tạo điều kiện để thay đổi chế độ nếu cần thiết. Trong cuộc xung đột còn lại, quân đội Mỹ phải nhanh chóng làm thất bại ý đồ của địch thủ, chặn đứng một cuộc xung đột, nghĩa là với mục tiêu khiêm tốn hơn tại chiến trường kia.


Hơn nữa, ít có chuyên gia quân sự nào lại cho rằng xung đột quân sự trong tương lai sẽ diễn ra trên quy mô lớn. Ngay cả nếu trong tương lai có nhiều cuộc xung đột quy mô lớn thì khả năng xảy ra hai cuộc xung đột đồng thời là thấp hơn nhiều so với một cuộc xung đột. Bên cạnh việc đối phó với một cuộc chiến tranh lớn tại khu vực, quân đội Mỹ còn được chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với các tình huống bất ngờ ở quy mô nhỏ hơn, trên tinh thần sẵn sàng phối hợp với các lực lượng bạn bè và đồng minh. Chẳng hạn, nhằm bảo vệ tốt hơn lợi ích của Mỹ, chính quyền Bush chủ trương tăng cường vai trò của các hiệp ước an ninh song phương, tăng cường vai trò quân sự của các nước đồng minh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản, Ôxtrâylia, duy trì quyển lui tới, sử dụng căn cứ quân sự (Xingapo), tập trận chung với Thái Lan, Malaixia, Philippin... Ko từ năm 1945 đến nay, Mỹ đã tham gia vào ba cuộc xung đột lớn, và trong cả ba lần, Mỹ đều nhận được sự hỗ trợ của đồng minh.


Như vậy, chiến lược an ninh quân sự của Mỹ nhấn mạnh đến tính thực dụng và linh hoạt. Bộ Quốc phòng đã thừa nhận rằng sở dĩ chiến lược phải nhấn mạnh yếu tố linh hoạt như vậy là vì các tình huống khẩn cấp sẽ rất khác nhau về khoảng thời gian, tần suất, mức độ ác liệt và số lượng nhân sự cần thiết. Để đối phó với các tình huống bất ngờ này, Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ thiết lập một căn cứ quân sự lưu động (rotational) bao gồm nhiều binh chủng có khả năng triển khai phía trước, hỗ trợ các tình huống khẩn cấp kéo dài tại những vùng thuộc lợi ích quan trọng của Mỹ1 (US Department of Defense, Quadrenennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.21). Rõ ràng chính quyền Bush chỉ chú trọng thực sự vào những khu vực thuộc lợi ích thiết thân.


Trên thực tế, chính quyền Bush tương đối thống nhất với ý kiến cho rằng chiến lược đánh thắng hai cuộc chiến tranh khu vực không phải là giải pháp tối ưu cho Mỹ. Chiến lược này quá đề cao nguy cơ xung đột khu vực và do đó gây trở ngại cho việc đầu tư vào các lĩnh vực quốc phòng khác và hạn chế các ưu tiên quân sự khác. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một chiến lược như vậy có thể hợp lý khi các khu vực chưa thực sự ổn định, còn ngày nay, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, với sự xuống cấp quân sự của Irắc và Cọng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, sự lớn mạnh của quân đội Hàn Quốc và sự tăng lên nhanh chóng về khả năng quân sự của Bộ Quốc phòng, chiến lược này trở nên không cần thiết, thậm chí là một sự hoang tưởng1 (Michael O' Hanlon, "Prudent or Paranoid? - The Pentagon's Two-War Plans", Survival, Vol. 43, No. 1, Spring 2001, tr. 47). Theo tính toán của các chuyên gia Bộ Quốc phòng Mỹ, việc từ bỏ chiến lược: hai cuộc chiến tranh sẽ tiết kiệm 10 tỷ USD mỗi năm cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Còn nếu tiếp tục duy trì chiến lược nay trong 60 năm tới, Mỹ sẽ phải tiêu tốn 3000 ty USD. Bên cạnh đó, Mỹ sẽ tập trung vào tái cơ cấu lực lượng quân sự, tăng cường hoạt động của quân cảnh, các đơn vị quân tâm lý chiến, chế độ cảnh báo điện tử...


Tóm tại, dưới chính quyền Bush, chiến lược quân sự phòng thủ khu vực đã được điều chỉnh từ chiến lược đánh thắng hai cuộc chiến tranh khu vực sang đánh thắng một cuộc chiến tranh, trong khi có khả năng ngăn chặn cuộc chiến tranh khác và đối phó với nhiều thách thức đa dạng.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:47:45 am
3.3. Chính sách hạt nhân mới

Chính quyền Bush đang theo đuổi một chính sách hạt nhân mới, dựa vào khả năng và tiềm lực hạt nhân của Mỹ, không căn cứ vào các mối đe dọa. Đây là một sự thay đổi đáng kể so với chính sách hạt nhân của các chính quyền tiền nhiệm. Sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với chính sách hạt nhân cũng nằm trong khuôn khổ sự thay đổi trong cách tiếp cận chiến lược quốc phòng nói chung của chính quyền Bush.


Ngày 1-5-2001, trong bài phát biểu ở Học viện quân sự Maryland, Tổng thống Bush đã nói rõ quan điểm của mình về những mối đe dọa tên lửa mới từ các nước "bất trị", thay thế cho mối đe dọa về một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa hai siêu cường thời kỳ chiến tranh lạnh. Khẳng định sự lỗi thời của khái niệm huỷ diệt lẫn nhau chắc chắn (Mutually Assured Destruction, MAD), Bush chủ trương thiết lập "một kỷ nguyên mới của an ninh hạt nhân" dựa trên phòng thủ tên lửa và cắt giảm vũ khí hạt nhân. Bất chấp cam kết tiếp tục cắt giảm vũ khí hạt nhân, việc chính quyền Bush quyết tâm triển khai kế hoạch phòng thủ tên lửa là một đòn nặng nề đối với tiến trình giải trừ vũ khí hạt nhân trên thế giới. Và hơn hết, thế cân bằng hạt nhân đã được thiết lập từ năm 1972 với Hiệp ước ABM giữa Mỹ và Liên Xô trước đây sẽ bị phá vỡ và thế giới lại đứng trước nguy cơ của một cuộc chạy đua vũ trang mới.


Theo yêu cầu của Quốc hội Mỹ, Bộ Quốc phòng Mỹ thực hiện một bản Báo cáo Chính sách hạt nhân (NPR) toàn diện nhằm đặt ra phương hướng cho các lực lượng hạt nhân Mỹ trong vòng 5-10 năm tới. Trước đó, Tổng thống Bush đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng cải cách (transformation) quân đội Mỹ và chuẩn bị sẵn sàng cho một thế giới mới và khó lường. Như trên đã phân tích, kết quả của chỉ thị này chính là bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (QDR), và dựa trên QDR, NPR đã tạo ra một cuộc cách mạng đối với lực lượng tấn công hạt nhân trong chiến lược răn đe hạt nhân của Mỹ. Với bản báo cáo này, chính quyền Bush thể hiện quyết tâm loại bỏ những mô hình (paradigms) của chiến tranh lạnh. Đây chính là điều mà bản báo cáo năm 1994 của chính quyền Clinton không thực hiện được.


Bản báo cáo nêu ra bộ Ba trụ cột (Triad), gồm: hệ thống tấn công (cả vũ khí hạt nhân và không hạt nhân); hệ thống phòng thủ; và nâng cấp cơ sở hạ tầng để kịp thời đối phó với các thách thức nảy sinh. Bộ ba này sẽ phối hợp với nhau thông qua hệ thống thông tin tình báo và được hỗ trợ bởi hệ thống Kiểm soát và Chỉ huy (Command and Control).


Mục đích của việc thiết lập bộ ba mới là vừa giúp giảm sự phụ thuộc vào vũ khí hạt nhân, vừa tăng khả năng răn đe các cuộc tấn công do sự phổ biến vũ khí giết người hàng loạt gây nên. Việc kết hợp các khả năng mới tạo nên bộ ba này giảm số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược từ 6000 xuống còn 1700-20001 (Tuyên bố của Tổng thống Bush ngày 13-11-2001). Việc cắt giảm này được tái khẳng định trong cuộc gặp gỡ thượng đỉnh giữa Tổng thống Bush và Tổng thống Putin tháng 5-2002.


Trụ cột thứ nhất của bộ ba, khía cạnh tấn công, sẽ hùng hậu hơn bộ ba thời kỳ chiến tranh lạnh bao gồm tên lửa xuyên lục địa (ICBMs), tàu ngầm phóng tên lửa đạn đạo (SLBMs) và máy bay ném bom chiến lược tầm xa. ICBMs, SLBMs và máy bay ném bom chiến lược vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò trụ cột, tuy nhiên, chỉ là một bộ phận trong bộ ba mới.


Trụ cột thứ hai của bộ ba mới nhằm vào việc phát triển và triển khai các hệ thống phòng thủ - một sự thừa nhận các khả năng tấn công chưa đủ để ngăn chặn các cuộc tấn công trong môi trường an ninh mới của thế kỷ XXI. Thực ra, ý tưởng phòng thủ tên lửa luôn là một ý tưởng của Đảng Cộng hoà. Tác giả của "cuộc chiến tranh giữa các vì sao" (SDI) là Tổng thống thuộc Đảng Cộng hoà Reagan. Tuy nhiên, kế hoạch này của Reagan đã không bao giờ trở thành hiện thực vì những lý do kỹ thuật, bất đồng trong nội bộ Mỹ cũng như những thay đổi trong quan hệ Mỹ-Xô từ giữa những năm 1980. Dưới sức ép của Quốc hội Mỹ do Đảng Cộng hoà kiểm soát, trong nhiệm kỳ thứ hai, Clinton đã có thái độ ủng hộ hơn đối với việc triển khai hộ thống phòng thủ tên lửa quốc gia1 (Clinton chưa bao giờ thực sự nhiệt tình với kế hoạch NMD. Trong nhiệm kỳ đầu, ông ta không ủng hộ kế hoạch này. Và theo một cố vấn thân cận, Clinton không muốn được lịch sử biết đến với tư cách là vị tổng thống đã phá vỡ ABM, hiệp ước nền tảng cho sự cân bằng hạt nhân thời kỳ chiến tranh lạnh). Tuy nhiên, vào cuối nhiệm kỳ, ngày 1-9- 2000, Clinton tuyên bố do chưa có đủ thông tin về tính hiệu quả công nghệ nên chưa thể đưa ra quyết định triển khai hệ thống NMD vào thời điểm hiện tại.


Phòng thủ tên lửa là một ưu tiên hàng đầu đối với chính quyền Bush con trước sự kiện 11 tháng 9. Mặc dù cuộc chiến chống khủng bố đã trở thành ưu tiên hàng đầu, chính quyền Bush vẫn tiếp tục cam kết với kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa và cho rằng sự kiện 11 tháng 9 củng cố thêm cơ sở cho sự cần thiết phải triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa vì tính chất phức tạp và không lường trước của các mối đe dọa đối với nước Mỹ ngày nay. Hơn nữa, theo các chiến lược gia của chính quyền Bush, bản thân sự phòng thủ cũng có tác dụng làm nản ý chí của những kẻ tấn công, tạo nên khả năng xử lý các cuộc khủng hoảng và bảo đảm khắc phục sự thất bại của răn đe truyền thống1 (Donald Rumsfeld, Forword-Nulear Posture Review, Pentagon, 9-1-2002).


Tháng 12-2001, chính quyền Bush tuyên bố rút ra khỏi Hiệp ước cống tên lửa đạn đạo (ABM), mở đường cho quyết định triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa (MD) do chính quyền Bush đưa ra vào tháng 12-2002. Khuôn khổ chiến lược mới này của Mỹ, trong đó vấn đề phòng thủ tên lửa là hạt nhân, cho thấy chính quyền Cộng hoà vẫn chưa từ bỏ tham vọng đạt được ưu thế hạt nhân tuyệt đối, thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Khái niệm mới này dựa trên sự xác định lại các thách thức hạt nhân mới đối với Mỹ, chuyển từ nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân ồ ạt sang mối đe dọa tên lửa từ các nước "bất trị" như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Irắc, Iran. Thực chất, đối phó với những cái gọi là nguy cơ từ các nước "bất trị" chỉ là một mục tiêu trước mắt, và không phải quan trọng nhất. Viêc xây dựng thành công một hệ thống phòng thủ tên lửa sẽ giúp Mỹ giảm thiểu khả năng răn đe vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, Nga, những đối thủ tiềm tàng có khả năng thách thức vị trí của Mỹ trong tương lai. Phòng thủ tên lửa sẽ là cơ sở vững chắc cho sự tự do hành động của Mỹ trên thế giới, không bị hạn chế bởi bất cứ sự răn đe hạt nhân nào. Phòng thủ tên lửa cũng giúp Mỹ giữ vị trí đi đầu, bỏ xa các nước đối thủ cũng như đồng minh về quân sự, một trong những nhân tố hàng đầu xác định vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:49:54 am
Bất chấp quyết tâm của chính quyền Bush trong việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, có không ít lý do để hoài nghi về tính khả thi của dự án này. Lý do thứ nhất là sự chưa chắc chắn về công nghệ phòng thủ tên lửa. Ngay cả khi điều kiện kỹ thuật cho phép, một hệ thống như vậy cũng dễ dàng bị đối phương làm cho thất bại bởi các biện pháp đối phó tương ứng. Quyết tâm của chính quyền Bush cũng sẽ phải vượt qua được những giới hạn về công nghệ phòng thủ tên lửa, tương tự như kết cục kế hoạch đầy tham vọng "cuộc chiến tranh giữa các vì sao" của Reagan1 (Nhìn chung, có ba nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của chương trình SDI: chi phí quá cao; sự không chắc chắn về mặt công nghệ; ảnh hưởng có thể đối với đàm phán Mỹ-Xô về kiểm soát vũ khí). Lý do thứ hai là sự thiếu nhất trí trong nội bộ nước Mỹ. Lực lượng phản đối MD chủ yếu dựa vào một số lý do là hiện thời, hiệu quả công nghệ chưa được kiểm chứng, mối đe dọa từ phía những nước như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên không thực sự nghiêm trọng và cũng khó lý giải được tại sao những nước đó lại phải tấn công nước Mỹ. Triển khai MD có nghĩa là Mỹ vi phạm Hiệp ước ABM, phá vỡ thế cân bằng chiến lược và tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Cuối cùng, chi phí cao cũng là một yếu tố bất lợi. Dự tính chi phí cho dự án này lên tới 100 đến 200 tỷ USD trong vài năm tới. Ngay khi tình trạng kinh tế Mỹ còn rất khả quan như năm 1999, cũng đã có rất nhiều lo ngại và chỉ trích về sự tốn kém của hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia hạn chế của Clinton. Giờ đây, khi kinh tế Mỹ, vốn đã suy giảm nặng nề trước vụ khủng bố 11 tháng 9 và nay không tránh khỏi một chu kỳ suy thoái mới, yếu tố chi phí sẽ lại càng trở nên quan trọng. Vì vậy, cho dù chính quyền Bush có quyết tâm triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, những yếu tố trên vẫn cho thấy rõ sự không chắc chắn của kế hoạch này.


Trụ cột cuối cùng của bộ ba là nâng cấp cơ sở hạ tầng quốc phòng. Kể từ sự kết thúc của chiến tranh lạnh, cơ sở hạ tầng quốc phòng của Mỹ có phần xuống cấp và cơ sở hạ tầng hạt nhân chưa được nâng cấp. Theo chiến lược mới, Mỹ sẽ tập trung trong vòng 20 năm tới để tạo ra những thế hệ vũ khí và cơ sở hạ tầng mới. Riêng đối với cơ sở hạ tầng hạt nhân, Bộ Quốc phòng chủ trương cải tạo nâng cấp và tăng cường sự tin cậy cho hệ thống triển khai hạt nhân, huỷ bỏ những vũ khí không cần thiết và chuẩn bị những phương án "giảm sốc" trước những tiến bộ vượt bậc nhanh chóng của công nghệ.


Bên cạnh đó, giờ đây đối tượng tấn công hạt nhân của Mỹ đã mở rộng ra rất nhiều. Theo Báo cáo NPR, Mỹ sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trong ba trường hợp sau: chống lại các mục tiêu có khả năng kháng cự một cuộc chiến tranh không hạt nhân; trả đũa một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân, sinh học và hoá học; và trường hợp diễn ra các hoạt động quân sự khẩn cấp. Mỹ đưa một loạt các quốc gia vào tầm ngắm hạt nhân của mình. Tờ Los Angeles Times tiết lộ Mỹ đang cân nhắc kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các nước Trung Quốc, Nga, Irắc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Libi và Xyri mà Mỹ cho là đe dọa đối với an ninh của mình. Trên tinh thần của QDR và NPR, Bộ Quốc phòng Mỹ chuẩn bị các kế hoạch can thiệp bằng vũ khí hạt nhân vào các cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Đài Loan, Ixraen và các quốc gia Arập, Ixraen và Irắc, và giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc. Đây được xem là bước ngoặt rất quan trọng trong chính sách hạt nhân của Mỹ sau chiến tranh lạnh. Từ trước tới nay, người ta mới chỉ biết tới kế hoạch tấn công Liên Xô, sau đó là nước Nga-đối thủ có tiềm lực vũ khí hạt nhân sánh ngang với Mỹ.


Ngoài ra, chiến lược này còn có nhiều điểm khác gây bất ngờ cho các nước như "các phương án tấn công hạt nhân sẽ hỗ trợ cho bất kỳ khả năng quân sự nào khác". Điều này đồng nghĩa với việc chính quyền Bush không xem việc sử dụng vũ khí hạt nhân như là phương sách cuối cùng (last resort), mà trái lại, không phân biệt giữa vũ khí hạt nhân với vũ khí thông thường, đi ngược lại một tập quán quân sự quan trọng có từ trước1 (Jane Wales, "US Nuclear Plan Signals a Policy Revolution", San Jose Mecury News, 17-3-2002, tr.1). Trong vòng 50 năm qua, các Tổng thống Mỹ đều duy trì chính sách phân biệt vũ khí hạt nhân với vũ khí thông thường, căn cứ vào tính huỷ diệt ghê gớm của vũ khí hạt nhân. Năm 1947, Tổng thống Truman quyết định đặt kho vũ khí hạt nhân dưới quyền quản lý của Ủy ban Năng lượng nguyên tử, chứ không phải Bộ Quốc phòng như hiện nay.


Thực chất, NPR lấy ý tưởng chính từ một bản báo cáo trước đó của Viện Chính sách công quốc gia (NIPP) do Keith Payne chỉ đạo soạn thảo. Keith Payne chính là người đã đưa ra một loạt các bài viết có ảnh hưởng tới giới quốc phòng Mỹ vào những năm 1980 với nhan đề "Chiến thắng nằm trong tầm tay". Robert Joseph và Stephen Hadley, hai thành viên trong Hội đồng An ninh quốc gia, và William Schneider, cố vấn tư tưởng cho Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, cũng đều tham gia vào việc đưa ra bản báo cáo NIPP. Xét tổng thể, bản báo cáo NIPP cho rằng các mối đe dọa đối với an ninh nước Mỹ trong tương lai là "không thể nhận biết" và "khó lường trước". Do đó, bản báo cáo kết luận: Mỹ phải duy trì kho vũ khí hạt nhân cũng như khả năng chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân mới. Đáng chú ý nhất là bản báo cáo cho rằng vũ khí thông thường không thể thay thế cho vũ khí hạt nhân bởi vũ khí thông thường không có đủ "sức mạnh huỷ diệt" như vũ khí hạt nhân.


Cùng với việc chỉ thị cho quân đội Mỹ khẩn trương chuẩn bị kế hoạch tấn công hạt nhân mới, chính quyền Bush ra lệnh sản xuất các loại vũ khí hạt nhân mới nhỏ hơn, có thể tiêu diệt các mục tiêu trong hầm ngầm, boong-ke kiên cố... để sử dụng trong một số trường hợp trả đũa các vụ tấn công bằng vũ khí hạt nhân, hoá học hoặc sinh học1 (Eisendrath Craig, "US Foreign Policy after Sep. 11", USA Today Magazine, tháng 5-2002). Điều này sẽ dẫn đến việc Mỹ quay trở lại tiến hành các vụ thử hạt nhân ngầm dưới đất.


Như vậy, chính quyền Bush đã đẩy lên cao khả năng sử dụng đòn đánh hạt nhân phủ đầu. Điểm điều chỉnh chính sách hạt nhân của chính quyền Bush chính là từ bỏ chiến thuật "răn đe" và áp dụng chiến thuật "thúc ép", nghĩa là hiếu chiến và phiêu lưu hơn. Hơn 50 năm qua, khi bắt đầu chiến tranh lạnh, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ thẳng thừng bác bỏ giả thuyết chiến tranh "ngăn chặn" hay "phủ đầu", coi đó là di ngược lại các giá trị và nguyên tắc của Mỹ. Chính sách đó đã có ích cho Mỹ nhiều thập kỷ qua và đã đóng vai trò quyết định trong việc ngăn chặn chiến tranh lạnh trở thành chiến tranh nóng. Nếu học thuyết răn đe và ngăn chặn đã đủ để đối phó với Liên Xô trước đây, tại sao những học thuyết này lại không có tác dụng chống Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện nay? Các quan chức Mỹ lập luận rằng các nhóm khủng bố hay các quốc gia bất hảo, không giống Liên Xô trước đây, được điều hành bởi những nguyên tắc tự vệ lôgích và có thể tiên liệu được. Bởi bài toán lợi ích thường là vô nghĩa đối với những nước bất trị nên Mỹ không thể chờ đợi để những đe dọa an ninh Mỹ trở thành hiện thực trước khi hành động.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:53:22 am
3.4. Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự

Chính quyền Bush đang cố gắng để vượt qua đưực thách thức có tính chiến lược là chuyển cuộc cách mạng quân sự-công nghệ (tác động của công nghệ thông tin đối với cách thức tiến hành chiến tranh) thành cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự (RMA) (chiến lược và tổ chức lực lượng).


Theo Andrew Marshall, Giám đốc Văn phòng Đánh giá trực thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, "cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự là một cuộc thay đổi lớn về bản chất của chiến tranh do việc ứng dụng những công nghệ mới mang lại, kết hợp với những điều chỉnh căn bản trong học thuyết quân sự cũng như các ý tưởng về hoạt động và tổ chức, làm thay đổi cách thức tiến hành các hoạt động quân sự".


Các nhà lý thuyết quân sự trên thế giới cho rằng việc ứng dụng các công nghệ mới và hệ thống vũ khí đã làm đứt đoạn lịch sử cách thức tiến hành chiến tranh. Liên Xô gọi những sự đứt đoạn đó là "các cuộc cách mạng quân sự-kỹ thuật", còn Mỹ gọi là "cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự". Việc đặt tên khác này của Mỹ hàm ý rằng cuộc cách mạng này còn có những yếu tố bên ngoài kỹ thuật, và tập hợp của tất cả những yếu tố đó tạo thành khả năng quân sự tổng hợp. Điều này cũng có nghĩa là những thay đổi về quân sự sau cuộc cách mạng đó có ý nghĩa sâu sắc và căn bản.


Có hai trường phái khác nhau giải thích về RMA: một trường phái đánh giá những lợi ích thu được của việc tái cơ cấu quốc phòng nhằm tận dụng thành quả của công nghệ thông tin; còn trường phái kia nhấn mạnh nhu cầu cải cách cơ cấu lực lượng quân đội, học thuyết quân sự và huấn luyện nhằm đối phó với "các mối đe dọa không cân xứng" và các kẻ thù của thời "hậu hiện đại"1 (Thomas G. Mahnken, "Transforming the us Armed Forces: Rhetoric or Reality?", Navy War College Review, Summer 2001, tr. 14). Tuy nhiên, hai trường phái này đều thống nhất ở một điểm, đó là cần và có thể tận dụng các tiến bộ về công nghệ để đối phó với các mối đe dọa không cân xứng. Mặc dù vậy, điểm khác mới cơ bản là một bên nhấn mạnh đến "tính ưu việt của công nghệ cao", còn bên kia nhấn mạnh đến "cách thức tiến hành chiến tranh". Sự kiện 11 tháng 9 đã làm mờ nhạt đi sự khác biệt này. Điểm mấu chốt là công luận Mỹ, nhất là giới tinh hoa, giờ đây có xu hướng ủng hộ việc quân đội Mỹ dính líu nhiều hơn ở nước ngoài và việc tăng chi tiêu quốc phòng lớn nhất kể từ thời kỳ Reagan. Người ta cho rằng đây là thời kỳ "trăng mật thứ hai" giữa giới quân sự và công luận Mỹ. Với sự ủng hộ của công luận và khả năng về tài chính, RMA sẽ có cơ sở để trở thành hiện thực.


Sau chiến thắng tại chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, giới quân sự Mỹ đã rất hưởng ứng khái niệm RMA. Giới này cho rằng công nghệ cao và đi kèm với đó là chiến lược và chiến thuật quân sự sáng tạo sẽ làm thay đổi bản chất của chiến tranh.


Đề cập lý do phải tiến hành RMA, các quan chức chính quyền Bush, nhất là Bộ Quốc phòng và Bộ Hải quân lập luận: thứ nhất, chiến tranh trong tương lai sẽ khác với chiến tranh ngày nay. Cuộc chiến tranh vùng Vịnh là một bài học cảnh báo các đối thủ không nên đụng độ quân sự với Mỹ. Do vậy các kẻ thù của Mỹ sẽ tìm những điểm yếu của Mỹ để khai thác, làm suy giảm điểm mạnh và tổ chức các cuộc tấn công không cân xứng. Thứ hai, Mỹ phải cải cách quân đội càng nhanh càng tốt bởi với thực trạng phổ biến vũ khí và công nghệ sản xuất vũ khí như hiện nay, nước Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng trong 10 năm tới chứ không phải là 25 năm1 (25 năm là thời gian mà nhiều chuyên gia dự báo là Trung Quốc sẽ trở thành đối thủ ngang tầm với Mỹ (peer competitor). Thứ ba, nước Mỹ có những cơ hội thuận lợi để tiến hành RMA, trong đó đáng kể nhất là những tiến bộ về công nghệ, chẳng hạn công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới... Thứ tư, RMA đòi hỏi phải có thời gian, theo dự tính có thể dao động từ 10-20 năm. Thời gian đó dành cả cho những sai lầm, thất bại và những bài học rút ra1 (Tổng hợp ý kiến của cuộc trao đổi tại Diễn đàn chiến lược của Bộ trưởng Hải quân Mỹ ngày 12 - 13-6-2001).


Mục đích chủ yếu của RMA là tạo thế thượng phong cho quân đội Mỹ, và nhờ đó Mỹ sẽ có khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả nhất khỏi các mối đe dọa trong tương lai. Cụ thể, quân đội Mỹ phải có khả năng triển khai lực lượng nhanh chóng và duy trì khả năng chiến đấu bất kể chiến lược của kẻ thù là như thế nào. RMA cũng đòi hỏi quân đội Mỹ phải tác chiến trên mọi loại hình xung đột, không chỉ là chiến tranh công nghệ cao mà còn các tình huổng khẩn cấp với quy mô nhỏ hơn.


RMA thực chất dựa vào cuộc cách mạng kép, kết hợp với nhau, đó là cách mạng thông tin và toàn cầu hoá2 (Saida Bedar, The Revolution in Military Affairs and the "Capabilities Race", at http://www.unog.ch-unidir-l-04-e6%20bedar.pdf). Do vậy RMA không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự và kỹ thuật. Nó cũng cần được xem xét trong bối cảnh của những biến đổi lớn về mặt xã hội do cuộc cách mạng kép mang lại. Sân chơi quốc tế giờ đây có thêm nhiều diễn viên hơn: công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ, phương tiện truyền thông và Mỹ còn đặc biệt chú ý tới các tay chơi "bất hảo" như các lực lượng khủng bố, maphia, phổ biến vũ khí, thanh lọc sắc tộc, v.v... Tất cả những diễn viên khó kiểm soát này trong điều kiện cách mạng kép đều có thể thể hiện quyền lực với nhiều mục đích khác nhau. Như trên đã đề cập, điều này tạo nên các mối đe dọa không cân xứng mà nước Mỹ phải đối phó bằng một cuộc cách mạng tương ứng là RMA.


RMA bao gồm ba cấp độ:

- Công nghệ: tích hợp các công nghệ thông tin mới vào các hệ thống vũ khí hiện có và vào tổ hợp C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy điện toán, tình báo, giám sát và do thám);

- Chiến lược và chiến thuật: tạo ra các kiểu chiến tranh mới bằng công nghệ cao;

- Tổ chức: thay đổi về cơ cấu và tổ chức lực lượng quân đội (sự phối hợp, khả năng quản lý của Bộ Quốc phòng, kết hợp giữa dân sự và quân sự...).

Theo dự báo của Bộ Quốc phòng Mỹ, với sự kết hợp của ba yếu tố này RMA sẽ xuất hiện vào năm 2025.

RMA sẽ được tiến hành cho tất cả các lực lượng, trước hết là lực lượng hạt nhân. Vì chú trọng tới việc đối phó với các mối đe dọa không cân xứng, Mỹ phải duy trì một lực lượng hạt nhân đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng như đã phân tích ở phần trên. Con số 1700-2000 đầu đạn hạt nhân là đủ để các nước như Pháp, Trung Quốc không thể có hơn, trong khi đủ lớn để các nước "bất hảo" không thể bắt kịp. Hơn nữa, số lượng này cũng đủ để nhằm vào các mục tiêu mà giờ đây không còn chỉ tập trung vào Nga. Về mặt chất lượng, chính quyền Bush tiếp tục chủ trướng không phê chuẩn hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) nhằm đối phó với các khả năng về C3D2 (ẩn núp, che giấu, ngụy trang, chối bỏ và đánh lừa) của các đối thủ có vũ khí hạt nhân.


Chính quyền Bush cũng chủ trương tiến hành RMA đối với các lực lượng thông thường, cố gắng tạo ra các thế hệ vũ khí mới dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ nanô và công nghệ sinh học. Trong thời gian chuyển đổi, Mỹ sẽ tiếp tục sử dụng các vũ khí khí tài truyền thống như tàu sân bay, máy bay có người lái, xe tăng và các lực lượng quân tương ứng là 12 tổ hợp tàu sân bay, 12 phi đội bay, 12 sư đoàn tăng thiết giáp, đồng thời tiến hành phát triển và thử nghiệm các thế hệ vũ khí mới. Tuy nhiên, chính quyền Bush đang phải tranh luận gay gắt về phương diện tổ chức do phải duy trì cả hai phương án (RMA và các lực lượng truyền thống còn lại).


Hiện tại, Bộ Quốc phòng Mỹ nêu ra một danh sách những việc phải làm để tăng cường khả năng quân sự (capabilities):

- Vũ khí thông minh đòi hỏi phải có quân nhân kỹ thuật cao;

- Thử nghiệm, bao gồm cả việc lập nên các đớn vị phát minh và sáng chế;

- Tình báo, cung cấp chi tiết ý định của các đối thủ tiềm tàng và cảnh báo các cuộc tiến công sắp xảy ra, cũng như khả năng mới của các đối thủ;

- Do thám vũ trụ, theo dõi và giám sát, bảo vệ không gian của nước Mỹ;

- Hệ thống phòng thủ tên lửa;

- Các kế hoạch tác chiến thông tin;

- Quản lý tiền xung đột nhằm ngăn chặn các cuộc xung đột;

- Nâng cấp hạ tầng cơ sở và hậu cần.


Tóm lại, so với chính quyền tiền nhiệm, chính quyền Bush tỏ ra quyết tâm hơn với RMA. RMA là một cuộc cải cách toàn diện, đòi hỏi phải có thời gian. An ninh, xét cho cùng, mang hàm ý đối phó với các mối đe dọa trong tương lai (forward-looking), do vậy, RMA chính là một chiến lược an ninh chuẩn bị cho tương lai của nước Mỹ. Trước mắt, nội bộ chính quyền Bush còn chưa hoàn toàn thống nhất về RMA: bản chất, nội dung cũng như cách thức tiến hành. Hơn nữa, theo nhiều nhà phân tích quân sự, chiến lược chiến tranh kỹ thuật cao, hay chiến lược an ninh lấy công nghệ cao làm nền tảng chưa hẳn đã hữu ích cho việc đối phó với các cuộc xung đột trong thế kỷ XXI. Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự, cho dù tên gọi của nó cho thấy tính "cách mạng" trong chiến lược quân sự, vẫn chỉ nhằm để đối phó với các cuộc xung đột, chiến tranh thông thường giữa các quốc gia đối đầu trực diện. Trong khi đó, nhiều dấu hiệu cho thấy những cuộc xung đột trong thế kỷ XXI phần lớn là các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo và dân tộc. Và điều quan trọng hơn nữa, chiến lược quân sự dựa trên công nghệ cao không có khả năng đối phó với các mối đe dọa không cân xứng, hay chiến lược không cân xứng khi kẻ thù của Mỹ sử dụng những biện pháp như khủng bố hoặc tấn công vào cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ nhằm làm tổn thương nước Mỹ và xói mòn ý chí chiến đấu của Mỹ hơn là đánh bại Mỹ về mặt quân sự1 (William C.Martel, "Công nghệ và sức mạnh quân sự", Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, tháng 10-2002, tr.48).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:38:00 am
4. Chiến lược an ninh quốc gia mối của Mỹ

Ngày 20-9-2002, chính quyền Bush đã công bố bản Chiến lược an ninh quốc gia đầu tiên của mình. Học thuyết đánh đòn phủ đầu hay tấn công phòng ngừa (The Bush doctrine of Preemptive strike) do Bush đưa ra trong bài phát biểu ngày 1-6-2002 tại West Point đã được chính thức đưa vào bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới. Cho dù Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ hoàn toàn không gây bất ngờ bởi những ý tưởng chủ yếu đã được đưa ra trong nhiều bài phát biểu của chính quyền Bush trước đó, đây vẫn là một tài liệu chiến lược quan trọng. Có thể nói, lần đầu tiên, kể từ khi G. Bush lên cầm quyền, chính quyền Mỹ mới công bố một bản báo cáo chính sách an ninh, đối ngoại toàn diện như vậy. Nó thể hiện một cách hệ thống và chính thức nhất quan điểm, học thuyết đối ngoại của chính quyền Bush trong bối cảnh sau ngày 11 tháng 9.


Nhiều nhà phân tích so sánh học thuyết này có tầm quan trọng tương tự như học thuyết ngăn chặn của chính quyền Truman, nguồn gốc gây ra chiến tranh lạnh kéo dài suốt hơn bốn thập kỷ. Bởi vậy, nó sẽ có những hệ luỵ trước mắt cũng như lâu dài không chỉ đối với quan hệ quốc tế.


Cũng như các chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush cũng xuất phát từ nhận thức then chốt về vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong thời kỳ hiện nay. Đó là: "Ngày nay, nước Mỹ có một vị trí sức mạnh quân sự vô song và ảnh hưởng to lớn về kinh tế và chính trị"1 ("Lời nói đầu", Chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, tháng 9-2002). Báo cáo tiếp tục khẳng định: "Nước Mỹ có sức mạnh và ảnh hưởng chưa có tiền lệ, và chưa có nước nào sánh được trên thế giới". Mặc dù chiến lược an ninh quốc gia của chính quyền Clinton cũng đã đề cập ưu thế sức mạnh của nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh và những cơ hội mà vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ mang lại, giới học giả Mỹ cũng nhận định rằng chưa bao giờ điều này được đề cập thẳng thừng, không che đậy đến như vậy.


Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ thể hiện sự kế thừa, hơn là thay đổi, những mục tiêu cơ bản, then chốt nhất trong chính sách an ninh, đối ngoại của Mỹ. Những mục tiêu cốt lõi cho chính sách đối ngoại của Mỹ như duy trì vị trí cường quốc số một trên thế giới, thiết lập một trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất kỳ một cường quốc thù địch nào nổi lên đe dọa vị trí và vai trò của Mỹ, thúc đẩy một nền kinh tế mở toàn cầu, tự do hoá thương mại và dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới. Về khía cạnh này, học thuyết mới của Bush không khác so với chính sách trước đây của các Tổng thống tiền nhiệm như W.Wilson hay W.Clinton, đã từng nhấn mạnh tham vọng phổ biến các giá trị của Mỹ như dân chủ, tự do cá nhân và tự do thương mại trên toàn thế giới.


Một trong những điểm nổi bật của chiến lược này là tuyên bố lần đầu tiên khẳng định rằng Mỹ sẽ không cho phép bất cứ cường quốc nước ngoài nào thách thức ưu thế quân sự tuyệt đối của Mỹ. "Không cho phép bất cứ cường quốc nước ngoài nào đuổi kịp ưu thế hàng đầu mà Mỹ có được kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ", "Mỹ phải và sẽ duy trì khả năng đánh bại bất cứ mưu toan nào của kẻ thù - dù là một quốc gia hay không phải là một quốc gia - áp đặt ý chí đối với Mỹ... Lực lượng của Mỹ đủ mạnh để ngăn cản các đối thủ tiềm tàng tìm kiếm việc tăng cường quân sự với hy vọng đuổi kịp hoặc vượt sức mạnh của Mỹ". Mỹ duy trì và mở rộng vị thế thống trị về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng kinh tế chính trị của mình và nỗ lực để không cho phép bất kỳ một cường quốc thù địch nào thách thức lại sức mạnh của mình.


"Chủ nghĩa đơn phương", một trong những xu hướng đối ngoại nổi trội của chính quyền Bush, tiếp tục được khẳng định trong bản Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới. Quan điểm của Mỹ là trong khi tìm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Mỹ sẽ không ngần ngại hành động một mình khi cần thiết, thực hiện tự vệ bằng hành động phủ đầu.


Tư tưởng chủ đạo trong Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phản ánh rõ nét những tư tưởng xuyên suốt trong hai tài liệu chiến lược trước đó. Tài liệu thứ nhất là bản Chỉ đạo chính sách quốc phòng (Defense Policy Guidance -DPG) do Paul Wolfowitz (hiện là Thứ trưởng Quốc phòng) và I. Lewis Libby (hiện là Chánh văn phòng của Phó Tổng thống Cheney) soạn thảo. Tài liệu thứ hai là Tái thiết nền quốc phòng của Mỹ: chiến lược, lực lượng và nguồn lực cho thế kỷ mới của Dự án thế kỷ mới1 (http://www.newamericanenturry.org). Nhóm tác giả của hai tài liệu chiến lược này chính là những quan chức cao cấp trong chính quyền Bush hiện nay. Họ có quan điểm rất gần với Reagan và cho rằng "những yếu tố thiết yếu dẫn đến thành công của chính quyền Reagan là lực lượng quân sự mạnh để đối phó với những thách thức hiện tại và tương lai và chính sách đối ngoại nhằm thúc đẩy những nguyên tắc của Mỹ trên thế giới một cách táo bạo và quyết tâm", về bản chất, tầm nhìn của những nhân vật bảo thủ này là tái tạo chương trình nghị sự của Reagan trên toàn cầu trong một thế giới không còn thách thức từ Liên Xô. Những quan điểm chính sách thiên hữu của nhóm dự án này với chủ trương tăng ngân sách quân sự, xây dựng chương trình phòng thủ tên lửa đã chi phối chính sách của chính quyền Bush con với việc đưa vào chính quyền mới ở Mỹ1 (Tom Barry and Jim Lobe, "U.S. Foreign Policy - Attention, Right Face, Forward March", Foreign Policy in Focus, tháng 4-2002) một loạt những quan chức cao cấp đã từng phục vụ dưới chính quyền Reagan.


Những kết luận chủ yếu của chiến lược quốc phòng do Dự án thế kỷ mới đưa ra bao gồm:

• Phát triển và triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu để bảo vệ nước Mỹ và các đồng minh và để tạo cơ sở bảo đảm cho sự triển khai lực lượng của Mỹ trên thế giới.

• Kiểm soát "di sản quốc tế chung" của vũ trụ, mở đường cho việc thiết lập một lực lượng quân sự mới: lực lượng vũ trụ Hoa Kỳ - với sứ mệnh kiểm soát vũ trụ.

• Tăng chi phí quân sự, bổ sung 15 tỷ USD đến 20 tỷ USD vào tổng chi tiêu quân sự hàng năm.

• Tận dụng "Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự" (chuyển đổi sang vũ khí công nghệ cao, không do con người điều khiển) để bảo đảm cho tính ưu việt lâu dài của các lực lượng thông thường của Mỹ.

• "Sự cần thiết phải phát triển một loại vũ khí hạt nhân mới để đáp ứng những yêu cầu quân sự mới" và việc nước Mỹ đã "gần như chấm dứt việc phát triển các loại vũ khí hạt nhân an toàn và hiệu quả hơn".

• Đương đầu với thực tế của nhiều sứ mệnh đồng thời, việc này đòi hỏi sự phân bổ thường trực các lực lượng của Mỹ.

• "Nước Mỹ phải bảo vệ tổ quốc của mình" thông qua việc "tái cơ cấu lực lượng hạt nhân" và hệ thống phòng thủ tên lửa để "đối lại với hệ quả của sự phổ biến tên lửa đạn đạo và vũ khí giết người hàng loạt".

• "Sự cần thiết phải có một phạm vi an ninh rộng lớn hơn đối với nước Mỹ" và Mỹ "cần theo đuổi một mạng lưới "căn cứ triển khai" hoặc "căn cứ triển khai phía trước" để tăng cường tầm với của lực lượng hiện nay và tương lai".

• Tái định hướng lực lượng không quân của Mỹ để tiến tới "một lực lượng toàn cầu đánh trước".

• Chấm dứt sự cam kết của chính quyền Clinton đối với Hiệp định ABM.

• Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Iran, Irắc và những nước tương tự không được phép làm phương hại đến sự lãnh đạo của Mỹ, gây hấn với các đồng minh của Mỹ, hoặc đe dọa chính nước Mỹ.

• "Những nhiệm vụ quân sự chủ yếu" cần thiết để "duy trì một nền hoà bình kiểu Mỹ" và "một thế kỷ XXI đơn cực" bao gồm: bảo đảm và mở rộng các khu vực dân chủ hoà bình, răn đe sự trỗi dậy của một cường quốc cạnh tranh, bảo vệ các khu vực then chốt (châu Âu, Đông Á, Trung Đông)1 (Tom Barry, "A Strategy Foretold", Foreign Policy in Focus Policy Report, tháng 10-2002).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:38:40 am
Qua đó, có thể thấy rất rõ tư duy chủ đạo của Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ chịu ảnh hưởng rất lớn của hai tài liệu nói trên. Bên cạnh đó, sự kiện 11 tháng 9 có những tác động to lớn, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến một số những điều chỉnh chiến lược an ninh được chính thức đưa vào Chiến lược an ninh quốc gia.


Thứ nhất, Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phản ánh rất rõ sự tái nhận thức, hay xác định lại các mối de dọa đối với nước Mỹ. Nếu trước ngày 11 tháng 9, mối đe dọa từ những đối thủ tiềm tàng như Trung Quốc và Nga được xếp ở vị trí hàng đầu, thì nay chủ nghĩa khủng bố quốc tế đã trở thành mối đe dọa hàng đầu. Nói một cách khác, không phải là những nước đang lớn mạnh (rising), mà chính là những nước thất bại (failing), đe dọa an ninh của nước Mỹ. Bên cạnh đó, so với báo cáo chiến lược an ninh quốc gia cuối cùng của chính quyền Clinton, có một sự khác biệt rõ ràng về nhận thức về những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Mỹ. Dường như chính quyền Bush lại tìm được một mối đe dọa hiện hữu, rõ ràng để trở thành tiêu điểm của chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thời gian chuyển tiếp sau chiến tranh lạnh khi mối đe dọa "cộng sản" không còn. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế trở thành kẻ thù số 1 của nước Mỹ, và nước Mỹ sẽ chiến đấu trong một thời gian không hạn định, trên phạm vi toàn cầu để tiêu diệt các tổ chức khủng bố. Chiến lược an ninh quốc gia xác định mạng lưới khủng bố quốc tế có cơ sở ở "Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi, Trung Đông và toàn châu Á".


Thứ hai, cùng với sự nhận thức lại về mối đe dọa là sự thay đổi ưu tiên trong chương trình nghị sự an ninh quốc gia. Sự khác biệt thể hiện ở sự thay đổi ưu tiên trong chương trình nghị sự, hơn là sự thay đổi chương trình nghị sự an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush. Ngay cả vấn đề chống khủng bố cũng không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Dưới chính quyền tiền nhiệm, khủng bố quốc tế cũng đã trở thành một trong những thách thức an ninh đối với nước Mỹ. Mạng lưới khủng bố Al Qaeda cũng đã từng bị coi là dính líu đến vụ đánh bom Toà nhà Thương mại quốc tế năm 1993, vụ khủng bố Đại sứ quán Mỹ tại Kênia và Tandania năm 1998. Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush cho thấy rõ cuộc chiến chống khủng bố trở thành ưu tiên hàng đầu, thành chủ đề trung tâm chi phối các vấn đề khác trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như quan hệ đối ngoại của Mỹ. Quan hệ của Mỹ với Nga và Trung Quốc có những thay đổi rõ rệt, ít nhất là về ngắn hạn. Những bất đồng tồn tại trong quan hệ giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc tuy vẫn được đề cập nhưng với giọng điệu nhẹ nhàng hơn. Điều đáng lưu ý là vấn đề Tresnia hay Tân Nhĩ Cương hoàn toàn không được đề cập. Trung Quốc không còn là "đối thủ tiềm tàng" và "Hoa Kỳ hoan nghênh sự trỗi dậy của một nước Trung Hoa hùng mạnh, hoà bình và thịnh vượng và... theo đuổi một mối quan hệ xây dựng với một nước Trung Hoa đang thay đổi"1 (Chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, tháng 9-2002, tr.27). Hơn thế nữa, về quan hệ giữa các nước lớn, giọng điệu của Chiến lược an ninh quốc gia còn tích cực hơn. Với việc nhấn mạnh rằng chủ nghĩa khủng bố trở thành mối đe dọa chung, và chống khủng bố trở thành lợi ích chung, Chiến lược an ninh quốc gia khẳng định: "Chúng ta có cơ hội tốt nhất kể từ thế kỷ XVII, khi nhà nước dân tộc xuất hiện, để xây dựng một thế giới mà ở đó các cường quốc cạnh tranh trong hoà bình thay vì chuẩn bị cho chiến tranh". Những nước có vị trí quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ như Pakixtan, Udơbêkixtan được đề cập một cách tích cực.


Thứ ba, Học thuyết đánh đòn phủ đầu lần đầu tiên được chính thức đưa vào Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ. Thực chất đây không phải là một khái niệm hoàn toàn mới. Trước đây, Mỹ đã từng tấn công nhằm mục đích phòng ngừa, như việc tấn công Grenada. Tháng 10-1983, chính quyền Reagan đã can thiệp quân sự vào Grenada nhằm "bảo vệ công dân Mỹ", nhưng thực chất là để thay đổi chế độ sau một cuộc đảo chính và cánh tả lên cầm quyền ở Grenada. Chính quyền Clinton phần nào cũng coi việc dùng tên lửa tấn công Xuđăng và Ápganixtan năm 1998 là nhằm trừng trị và ngăn chặn khủng bố.


Điểm khác biệt là lần đầu tiên, khái niệm tấn công phòng ngừa chính thức trở thành một khái niệm trung tâm, một học thuyết đối ngoại cơ bản của nước Mỹ. Hơn thế nữa, khái niệm đánh chặn, hay đánh phủ đầu nhằm ngăn chặn một cuộc tấn công, hay một hiểm hoạ cụ thể, chắc chắn và sẽ xảy ra, đã được mở rộng thành Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa (Preventive War)1 ("The Bush National Security Strategy: A First Step", http://www.cdi.org/national-security-strategy- washington.cfm). Mỹ sẽ tấn công để phòng ngừa không chỉ đối với những mối đe dọa cụ thể, đang đến gần, mà chiến tranh phòng ngừa được thực hiện để ngăn chặn những mối đe dọa lâu dài, còn đang phát triển. Và phạm trù những thách thức mà Mỹ coi có khả năng đe dọa nước Mỹ, những đối tượng nằm trong tầm ngắm của Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa không chỉ là những nước có chương trình phát triển vũ khí giết người hàng loạt và nuôi dưỡng những tổ chức khủng bố, mà còn gồm toàn bộ những nước mà Mỹ cho là "bất trị". Học thuyết đánh đòn phủ đầu của Mỹ thực chất là một sự thay đổi học thuyết chiến lược quân sự của một siêu cường hung hăng, ngạo mạn.


Nhìn tổng thể, dưới chính quyền Bush, chiến lược an ninh của Mỹ đã có những điều chỉnh quan trọng. Xuất phát từ tư duy đối ngoại dựa trên ưu thế sức mạnh, ngay từ trước sự kiện 11-9-2001, chính quyền Bush đã có xu hướng chú trọng đến an ninh quân sự thông qua việc đẩy mạnh tăng ngân sách quốc phòng, quyết tâm theo đuổi việc xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia, thay đổi chiến lược phòng thủ khu vực, thúc đẩy cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự. Sự kiện 11-9-2001 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã giúp cho chính quyền Bush đẩy mạnh những xu hướng điều chỉnh chiến lược quân sự đã được bắt đầu từ trước đó. Sự ủng hộ chính trị trong nội bộ Mỹ đối với chính quyền của Tổng thống Bush trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố đã tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Bush thúc đẩy những chương trình quân sự tốn kém, gây tranh cãi. Đỉnh cao của quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush là Chiến lược an ninh quốc gia mới ngày 20-9-2002. Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa, lần đầu tiên chính thức trở thành khái niệm cơ bản, chi phối tư duy và đường hướng chiến lược của Mỹ trong những năm tới. Liệu Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa của Bush có đi vào lịch sử như Học thuyết ngăn chặn của Truman trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh hay không, điều đó phụ thuộc vào kết cục của cuộc chiến của Mỹ ở Irắc, sự triển khai đầu tiên của Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:39:51 am
CHƯƠNG III
CHIẾN LƯỢC AN NINH KHU vực CỦA MỸ


1. Vị trí các khu vực trong chiến lược an ninh của Mỹ

Sau chiến tranh lạnh, trọng tâm chiến lược của Mỹ về cơ bản vẫn nằm ở châu Âu vì đâv là khu vực mà Mỹ có những lợi ích sống còn cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương lại đang nổi lên thu hút sự chú ý của Mỹ với nhiều lý do khác nhau. Trước hết phải kể đến tiềm lực phát triển kinh tế của khu vực. Vào đầu những năm 1990, người ta nói nhiều đến "sự thần kỳ của các nền kinh tế Đông Á", đến hệ thống các nền kinh tế Đông Á được tổ chức theo mô hình đàn sếu bay, trong đó Nhật Bản là nước đi đầu, sau đó là bốn "con hổ" của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan và Hồng Công) và tiếp theo là các nước ASEAN. Những con số về thành tích kinh tế của khu vực đúng là rất ấn tượng. Năm 1960 các nền kinh tế Đông Á chỉ chiếm có 4% toàn bộ GNP thế giới, năm 1991 con số đó lên tới 25%, gần tương đương với Mỹ. Bảy nền kinh tế hàng đầu của Đông Á có 41% tổng dự trữ ngân hàng toàn thế giới. Cùng với những thành tích này là những dự đoán hết sức khả quan về triển vọng phát triển của nền kinh tế khu vực1 ("Asia Survery", The Economist, 30-10-1993, tr.3). Nhiều dự đoán còn cho rằng tương lai của nền kinh tế thế giới nằm ở vùng lòng chảo Thái Bình Dương. Do đó, Mỹ có lợi ích to lớn trong việc phát triển các quan hệ kinh tế với khu vực và thúc đẩy xu thế mở cửa về kinh tế ở đây.


Mặc dù có những mối liên hệ lâu đời với châu Á về thương mại và truyền giáo từ thế kỷ XVIII, không lâu sau khi nước Mỹ ra đời, quan hệ với châu Á không chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược chung của Mỹ cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai. Thất bại của Nhật Bản, nội chiến ở Trung Quốc và việc các cường quốc châu Âu từ bỏ thuộc địa ở châu Á đã làm cho Mỹ trở thành một cường quốc ở châu Á. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vị trí của châu Á - Thái Bình Dương trở nên ngày càng quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nhìn tổng thể, chiến lược Đông Á - Thái Bình Dương luôn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nó phục vụ những lợi ích an ninh chủ yếu của Mỹ ở khu vực, có tầm quan trọng ngày càng tăng đối với Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.


Chính quyền Bush con cho rằng châu Âu về cơ bản hiện ổn định hơn châu Á. Trong khi đó, Nga tuy có tiềm lực lớn, nhưng hiện đang gặp khó khăn, chưa thể là đối thủ cân xứng với Mỹ trong thời gian trước mắt. Bức tranh châu Á hoàn toàn khác. Châu Á tiềm ẩn nhiều thách thức an ninh và chưa có một cơ chế hợp tác an ninh toàn khu vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, hầu như toàn bộ những thách thức chủ yếu đối với hoà bình và ổn định quốc tế là ở châu Á. Nhiều di sản của chiến tranh lạnh vẫn chưa được giải quyết. Tình hình trên bán đảo Triều Tiên, xung đột ở eo biển Đài Loan, chạy đua hạt nhân ở Nam Á và hơn hết là sự trỗi dậy của Trung Quốc là những thách thức an ninh cả về ngắn hạn cũng như dài hạn đối với Mỹ.


Như vậy, vị trí của châu Á trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ tăng lên đáng kể. An ninh trở thành chủ đạo trong chính sách châu Á của Mỹ. Châu Á trở nên quan trọng hơn trong tính toán chiến lược của Mỹ không phải vì tầm quan trọng về kinh tế như thời kỳ nửa đầu những năm 1990 dưới chính quyền Clinton, mà vì những thách thức an ninh tiềm tàng ở khu vực này. Hơn nữa, an ninh luôn là vấn đề được coi trọng hàng đầu đối với chính quyền Cộng hoà. Điều này không có nghĩa là châu Âu không còn quan trọng. Thực tế, châu Âu vẫn có tầm quan trọng sống còn đối với Mỹ cả về an ninh và kinh tế. Vị trí của châu Á tăng lên trong chiến lược toàn cầu của Mỹ chủ yếu là do đây là nơi hội tụ những cơ hội (về kinh tế) cũng như những thách thức an ninh lớn nhất đối với Mỹ trong tương lai. Chính ở châu Á, những thách thức an ninh trước mắt cũng như lâu dài đối với Mỹ đòi hỏi Mỹ phải tập trung đối phó. Xét từ góc độ đó, có thể thấy trong thế kỷ XXI, châu Á sẽ là tâm điểm của cuộc cạnh tranh quyền lực toàn cầu giữa Mỹ và Trung Quốc, cường quốc đang trỗi dậy và phấn đấu trở thành một cực trong một thế giới đa cực. Một học giả nổi tiếng của Mỹ đã khuyến nghị: "Mỹ cần phải định hướng lại. Chúng ta tập trung nguồn lực và các kế hoạch quân sự quá nhiều ở châu Âu, mặc dù ở chiến trường châu Âu không có những thách thức lớn và đáng kể đối với lợi ích quốc gia sống còn của chúng ta. Những cuộc chiến tranh có khả năng xảy ra nhất, ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của Mỹ và những cuộc chiến tranh Mỹ sẽ tiến hành trong tương lai có thể sẽ xảy ra ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương"1 (Ross H.Munro, "China: the challenge of a rising power" in "Present Dangers: Crisis and Opportunity in American Foreign and Defense Policy", San Francisco, California, 2000).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:40:34 am
2. Chiến lược an ninh của Mỹ đối với châu Âu

2.1. Cục diện an ninh ở châu Âu

Sự kết thúc của chiến tranh lạnh về cơ bản làm cho môi trường an ninh ở khu vực châu Âu trở nên hoà bình và ổn định hơn. Châu Âu không còn đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh quy mô lớn do đối đầu Mỹ-Xô không còn. Mặt khác, những mâu thuẫn về tôn giáo, sắc tộc, lãnh thổ ở châu Âu vốn tiềm tàng và bị kiềm chế bởi thế cân bằng hai cực nay có nguy cơ và điều kiện bùng nổ. Các nguy cơ tiềm ẩn này gồm sự hận thù tôn giáo, mâu thuẫn sắc tộc, tranh chấp biên giới lãnh thổ và được kích thích thêm bởi sự phục hồi của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Những biến động chính trị xã hội phức tạp ở Đông, Trung Âu và Liên Xô trước đây có nhiều khả năng tác động đến cục diện an ninh ở châu Âu do không còn đường giới tuyến chính trị phân cách. Sự kiện nổi bật và điển hình nhất là sự tan rã của Liên bang Nam Tư dẫn đến cuộc chiến tranh ác liệt với quy mô lớn nhất trên lục địa châu Âu kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì vậy, cho dù chỉ giới hạn trong phạm vi Nam Tư cũ, song cuộc chiến và những hậu quả của việc Nam Tư tan rã cùng các xu thế ly khai đã gây mất ổn định cho cả bán đảo Bancăng, đặc biệt là đối với các nước chung biên giới hay ở gần kề.


Sự sụp đổ của Liên Xô, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và việc khối Vacsava tan vỡ đã làm thay đổi cơ bản cán cân lực lượng ở châu Âu. NATO là khối liên minh quân sự duy nhất còn lại và tương quan lực lượng trở nên có lợi cho NATO hơn bao giờ hết.


Bên cạnh đó, Nga vẫn là cường quốc quân sự có khả năng trở thành đối thủ ngang hàng của Mỹ và Tây Âu trong tương lai, cho dù hiện nay Nga vẫn còn phải đối phó với những khó khăn về kinh tế và chính trị, và những nhân tố bất ổn khác như nguy cơ rò rỉ, phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại Tresnia. Vì vậy, tuy không phải đối đầu với đối thủ cân xứng về nhiều mặt như Liên Xô trước đây, một nước Nga đầy tiềm năng không phải là không đáng ngại với Mỹ và Tây Âu.


Sự liên kết kinh tế giữa các nước Tây Âu cũng đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Với sự kiện đồng tiền chung châu Âu (euro) ra đời vào tháng 1-1999, châu Âu sẽ là một thị trường chung rộng lớn với hơn 400 triệu dân và chiếm hơn 40% tổng thương mại của thế giới. EU cũng đang xúc tiến bước đi đầu của quá trình mở rộng sang phía Đông. Tháng 12-2002, Hội nghị thượng đỉnh EU đã quyết định kết nạp thêm mười nước thành viên mới, bắt đầu lần mở rộng thứ năm của tổ chức khu vực lớn nhất thế giới này. Những diễn biến này cho thấy EU là một lực lượng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng và là đối thủ cạnh tranh có khả năng thách thức vị trí của Mỹ trong tương lai. Đặc biệt, cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, Tây Âu đang ngày càng cố gắng độc lập hơn với Mỹ về mặt an ninh chính trị, thể hiện trên những cố gắng xây dựng một chính sách đối ngoại và an ninh chung của châu Âu, và lập trường khác biệt với Mỹ trên một loạt các vấn đề quốc tế như Irắc, cuộc khủng hoảng ở Trung Đông ...


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:41:40 am
2.2. Chiến lược an ninh đối với châu Âu

Chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu là một bộ phận trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ. Nó nhằm phục vụ những lợi ích sống còn của Mỹ ở khu vực này.

Lợi ích trước hết và lớn nhất của Mỹ ở châu Âu là duy trì hòa bình và ổn định ở châu Âu, tạo điều kiện cho việc triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nước Mỹ khó có thể quên thực tế là hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX đều bắt đầu ở châu Âu. Mac dù nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu đã giảm thiểu, sự kết thúc chiến tranh lạnh lại mở đường cho sự bùng nổ các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ. Và những cuộc xung đột này ẩn chứa nguy cơ lan rộng, gây mất ổn định ở châu Âu.


Lợi ích thứ hai của Mỹ ở châu Âu là lợi ích kinh tế. Thúc đẩy mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và châu Âu có tầm quan trọng to lớn trong việc thực hiện ưu tiên hàng đầu của Mỹ là chấn hưng nền kinh tế của Mỹ. Mỹ và Tây Âu là hai trung tâm kinh tế tư bản lớn nhất thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế đã trở nên vô cùng chặt chẽ. Giữa Mỹ và EU có mối quan hệ kinh tế vào khoảng hơn 1 tỷ USD một ngày1 (Xem thêm Thomas J.Duesterberg, Prospects for an EU-NAFTA Free Trade Agreement). Đặc biệt, EU mở rộng về phía Đông sẽ tạo ra một thị trường thống nhất, có tầm vóc và tiềm năng to lớn đối với Mỹ nếu Mỹ thúc đẩy quan hệ kinh tế với EU.


Lợi ích thứ ba là thiết lập trật tự thế giới mới ở châu Âu do Washington chi phối, kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, ngăn không cho bất cứ nước nào, đặc biệt là Nga, nổi lên, thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ, ủng hộ công cuộc cải cách ở Nga, ở các nước SNG và các nước Đông Âu, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ngăn ngừa khả năng phục hồi chủ nghĩa cộng sản ở những nước này. Mỹ cũng cần tiếp tục ngăn chặn sự vươn lên của Tây Âu, kiềm chế không để Tây Âu vượt ra khỏi vòng kiểm soát và ảnh hưởng của Mỹ bằng cách duy trì quan hệ đồng minh truyền thống với Tây Âu trong khuôn khổ NATO bởi lẽ qua cơ chế NATO, Hoa Kỳ đã tạo dựng được cho mình một sức nặng và khả năng can thiệp rộng rãi vào đời sống chính trị của các nước Tây Âu. Bên cạnh đó, Mỹ còn có lợi ích kiềm chế nước Đức thống nhất đang ngày càng lớn mạnh, một mối lo ngại không chỉ đối với Mỹ mà cả với các thành viên khác của Tây Âu. Ký ức về một nước Đức phát xít hùng mạnh, mưu toan chinh phục châu Âu dưới sự lãnh đạo của mình, chưa phải đã hoàn toàn phai mờ, đặc biệt ở châu Âu. Nếu Đức khôi phục lại được vị trí của mình, sự cân bằng Pháp-Đức, trụ cột của liên minh, sẽ có nguy cơ bị phá vỡ và ảnh hưởng đến cân bằng quyền lực tại châu Âu. Đúng như Henry Kissinger đã từng nhận xét: "Mỹ và châu Âu có một lợi ích chung trong việc ngăn cản các chính sách dân tộc không kiềm chế của Đức và Nga tranh giành nhau trung tâm lục địa châu Âu"1 (Richard L.Russell, "Lợi ích quốc gia của Mỹ ở châu Âu", Tin Tham khảo quan hệ quốc tế, số 11-95, tr.52).


Lợi ích thứ tư ở vị trí địa lý cận kề của châu Âu đối với một số khu vực co lợi ích sống còn đối với Mỹ, đặc biệt là khu vực Trung Đông, làm tăng ý nghĩa chiến lược của châu Âu đối với Mỹ. Duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực này có thể giúp Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng sang khu vực lân cận trong trường hợp khẩn cấp một cách nhanh chóng và kịp thời.


Lợi ích thứ năm là việc duy trì sự có mặt quân sự ở châu Âu sẽ giúp Mỹ duy trì và củng cố ảnh hưởng và sức mà cả của mình trong quan hệ chính trị, kinh tế với châu Âu1 (Amos Jordan, William J. Taylor, Jr. Michael J. Mazarr, American National Sercurity, The John Hopkins University Press, 1999, tr.483-484). Khi giải quyết những vấn đề quan trọng có tính chất toàn cầu và khu vực, Mỹ rất cần đến sự hợp tác của Tây Âu. Tây Âu cũng có vai trò rất quan trọng trong các tổ chức quốc tế và các thiết chế tài chính, kinh tế thế giới. Duy trì và củng cố mối quan hệ an ninh với Tây Âu sẽ giúp Mỹ tăng cường thế mà cả trong các vấn đề về kinh tế.


Trên cơ sở những lợi ích cơ bản của Mỹ ở châu Âu, "Chiến lược an ninh của My đối với châu Âu và NATO" đã vạch ra những mục tiêu chủ yếu trong chính sách của Mỹ đối với khu vực nay sau chiến tranh lạnh. Những mục tiêu cơ bản này là:

• Duy trì sự tuân thủ nguyên tắc dân chủ của các đồng minh, tăng cường các mối quan hệ kinh tế có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng của Mỹ, duy trì quan hệ an ninh hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vấn đề toàn cầu.

• Ngăn chặn và bảo vệ các thành viên NATO trước các mối đe dọa đối với lãnh thổ.

• Củng cố và hỗ trợ quá trình cải cách thị trường và dân chủ ở các nước Đông Âu, góp phần thúc đẩy ổn định ở châu Âu thông qua việc lôi kéo các nền dân chủ mới của châu Âu vào mạng lưới quan hệ an ninh song phương và đa phương ngày càng phát triển.

• Ngăn chặn việc phổ biến vũ khí giết người hàng loạt thông qua sự hợp tác với các nước có tiến bộ kỹ thuật ở châu Âu và Canada.

• Ngăn chặn bất ổn định lan rộng ở châu Âu, đặc biệt ở khu vực Bancăng và ở một số nước thuộc Liên Xô trước đây.

• Phát triển khả năng hiệu quả nhằm kiềm chế và giải quyết các cuộc xung đột khu vực, bao gồm cả khả năng quân sự cho việc giữ gìn hoà bình.

• Duy trì và củng cố hiệu quả của các tổ chức an ninh châu Âu, đặc biệt là NATO, làm phương tiện cơ bản, chủ yếu giúp Mỹ duy trì vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng đối với các vấn đề an ninh châu Âu.

Trên cơ sở xác định những lợi ích chủ yếu và mục tiêu cơ bản của Mỹ ở châu Âu sau chiến tranh lạnh, Mỹ đề ra hướng chiến lược đặc biệt quan trọng là chủ trương mở rộng NATO. Mặc dù lý do của sự tồn tại chủ yếu của NATO không còn với sự tan rã của Liên Xô trước đây, Mỹ cho rằng cần điều chỉnh và củng cố NATO nhằm sử dụng NATO phục vụ cho những mục tiêu mới của Mỹ ở châu Âu. Bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia nhấn mạnh: "Ra sức củng cố vai trò chủ đạo của khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh", điệu chỉnh chiến lược và hiện đại hoá NATO, sử dụng làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các nước châu Âu, không chế các nước này vào quỹ đạo của Mỹ.


Như vậy, Mỹ đã từng bước điều chỉnh theo hướng củng cố vai trò chủ đạo của NATO ở châu Âu nhằm bảo đảm cho NATO đóng vai trò chủ chốt trong việc giải quyết các cuộc xung đột sắc tộc và quốc gia ở châu Âu. Mỹ cũng chủ trương xây dựng NATO thành nòng cốt cho "Chương trình đối tác vì hoà bình" với các nước thành viên khối Vacsava cũ và tiến hành các chiến dịch ra ngoài phạm vi lãnh thổ của các nước thành viên NATO nhằm mục đích ngăn ngừa và giải quyết xung đột. Với chức năng mới này, NATO có thể được sử dụng để can thiệp ở các nước châu Âu, Trung Đông và vùng Vịnh.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:42:10 am
Mở rộng NATO là một bộ phận trong chiến lược bao trùm của Mỹ là xây dựng một châu Âu dân chủ và không chia cắt. Mục tiêu của Mỹ trong việc mở rộng NATO vẫn là mục tiêu ban đầu nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Nga và kiềm chế Đức". Mở rộng NATO cũng giúp cho Mỹ thực hiện việc tăng cường chia sẻ trách nhiệm giữa các nước đồng minh, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước thành viên mới trong các hoạt động của NATO.


Sự kiện ngày 11-9-2001 không làm thay đổi chiều hướng chính sách của Mỹ đối với Tây Âu. Ngày 21-11- 2002, Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Praha đã tiếp tục quá trình mở rộng NATO với quyết định mời bảy quốc gia Extônia, Lítva, Látvia, Xlôvakia, Bungari, Rumani và Xlôvênia gia nhập NATO vào năm 2004. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng thông qua kế hoạch hiện đại hoá lực lượng vũ trang, thành lập một lực lượng phản ứng của NATO (NATO response force - NRF) gồm 21.000 quân do Mỹ lãnh đạo để tấn công các nước "cứng đầu" và các phần tử khủng bố ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Như vậy, sự kiện ngày 11 tháng 9 cũng đã giúp Mỹ có thêm mục tiêu rõ ràng để định hướng lại chiến lược cho NATO, tạo cho nó lý do chính đáng để tồn tại, điều mà NATO vẫn thiếu kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc.


Chính sách đối với Nga. Kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, chính sách của Mỹ đối với Nga có những bước chuyển biến từ đối kháng sang vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong những tháng đầu năm 2001, chịu ảnh hưởng chung của chính sách đối ngoại cứng rắn của chính quyền mới ở Mỹ cũng như mâu thuẫn về kế hoạch MD và mở rộng NATO của Mỹ, khía cạnh căng thẳng, kiềm chế tăng lên trong chính sách của Mỹ đốỉ với Nga. Cho tới trước sự kiện 11 tháng 9, căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Nga đã có dấu hiệu giảm bớt chủ yếu do chính quyền Bush có điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng ôn hoà hơn.


Tuy nhiên, chỉ đến sau sự kiện ngày 11 tháng 9, quan hệ Mỹ - Nga mới có một bước chuyển biến về chất. Sự kiện 11 tháng 9 đã tạo ra một bước ngoặt trong quan hệ hai nước. Với chính sách thực dụng và mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ, cộng với những tính toán lợi ích đối nội trong việc chống lại quân ly khai ở Tresnia, Nga đã nhanh chóng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với chiến dịch chống khủng bố của Mỹ, chia sẻ thông tin tình báo, bật đèn xanh cho các nước Trung Á mở cửa cho quân Mỹ mượn căn cứ hậu cần làm bàn đạp tấn công Ápganixtan. Trên thực tế, sự kiện 11 tháng 9 là cơ hội cho Nga cải thiện mạnh mẽ và nhanh chóng quan hệ với Mỹ.


Do nhu cầu tập hợp lực lượng chống khủng bố, Mỹ cũng có nhũng điều chỉnh chính sách đối với Nga như giảm nhẹ phản ứng đối với các hành động của Nga tại Tresnia, tạm ngừng sử dụng vấn đề nhân quyền để chống Nga, hứa hẹn viện trợ kinh tế và ủng hộ việc Nga gia nhập WTO. Chính quyền Mỹ đã đề nghị Quốc hội xem xét huỷ bỏ luật sửa đổi Jackson Vanik. Tháng 11- 2001, Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn xoá một phần nợ cho Nga, tương đương với chi phí mà Nga phải dùng để thực hiện kế hoạch cắt giảm kho vũ khí hạt nhân, đồng thời Hạ viện cũng thông qua kế hoạch huấn luyện và viện trợ quân sự cho nước này.


Sự điều chỉnh chính sách mạnh mẽ của Mỹ và Nga sau sự kiện 11 tháng 9 vì những tính toán lợi ích song trùng đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trên một số vấn đề lớn trong quan hệ Mỹ - Nga. Về vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân, trong cuộc gặp cấp cao Nga-Mỹ tại Texas ngày 13 - 15-11-2001 hai bên chính thức thoả thuận cắt giảm 2/3 kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi nước. Ngày 24-5-2002 tại Mátxcơva, Tổng thống Nga Putin và Tổng thống Mỹ đã ký kết Hiệp ước cắt giảm tiềm lực tấn công chiến lược, trong đó cam kết hai bên sẽ cắt giảm số đầu đạn hạt nhân xuống còn 1700 - 2200 đơn vị trong 10 năm; Tuyên bố chung về đối thoại năng lượng mới giữa Nga và Mỹ; Tuyên bố chung về quan hệ chiến lược mới giữa hai nước. Về kế hoạch MD của Mỹ, Nga đã chuyển từ phản đốỉ quyết liệt sang ngầm chấp nhận việc Mỹ theo đuổi kế hoạch MD. Trên thực tế, ngày 13 tháng 12, sau khi Mỹ chính thức tuyên bố đơn phương rút khỏi ABM, Nga phản ứng có mức độ, chỉ lấy làm tiếc về hành động của Mỹ, nhưng vẫn tuyên bố Nga sẽ không có hành động nào làm tổn hại đến quan hệ Nga-Mỹ. Điều này cho thấy Nga đặt ưu tiên hàng đầu việc tăng cường quan hệ với Mỹ và không để vấn đề ABM làm trở ngại quan hệ Mỹ - Nga. Về vấn đề Tresnia, Mỹ làm ngơ để Nga trấn áp giải giáp vũ khí của lực lượng ly khai Tresnia. Về quan hệ kinh tế, Mỹ công nhận Nga là nền kinh tế thị trường, cam kết tăng viện trợ kinh tế cho Nga... Về vấn đề mở rộng NATO, Nga có thái độ mềm dẻo hơn, không còn phản đối mạnh mẽ và công khai.


Như vậy, rõ ràng trong quan hệ hai nước đã có sự chuyển biến rất lớn, đặc biệt là hai bên đã nhượng bộ để đạt được thoả thuận đối với quá trình cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược. Về phía Mỹ, nguyên nhân chủ yếu, về trước mắt, là do nhu cầu tập hợp lực lượng chống khủng bố, và về lâu dài, là nhằm phân hoá tập hợp lực lượng Nga - Trung chống Mỹ và lôi kéo Nga để đối phó với Trung Quốc, về phía Nga, lợi ích kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu vì nước Nga cần có sự hỗ trợ của phương Tây để thực hiện thành công cải cách kinh tế và khôi phục vị thế nước lớn của mình. Hơn nữa, Nga cũng có những tính toán lợi ích khác liên quan đến vấn đề Tresnia. Vì vậy, nhượng bộ về phía Nga lớn hơn (chấp nhận việc không phá huỷ vũ khí hạt nhân mà cất vào kho dự trữ). Điều này phản ánh thực tế thế và lực còn nhiều hạn chế của Nga, chính sách thực dụng, thoả hiệp với Mỹ trong tương lai ngắn đến trung hạn.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:43:27 am
3. Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của Mỹ

Để phục vụ mục tiêu chủ yếu của chiến lược đối ngoại nhằm thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh, mục tiêu cơ bản của chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ trong tình hình mới là "để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực này". Nói một cách khác, lợi ích bao trùm của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương là xác lập vai trò lãnh đạo của Mỹ, duy trì hoà bình, ổn định và ngăn chặn bất cứ một nước nào hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức vai trò của Mỹ, bảo đảm lợi ích an ninh, kinh tế và các giá trị của Mỹ.


3.1. Cục diện an ninh khu vực Đông Á - Thái Bình Dương

Sự sụp đổ của Liên Xô trước đây và cùng với nó là sự kết thúc chiến tranh lạnh đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong cục diện an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thế đối đầu hai cực giữa hai siêu cường thời chiến tranh lạnh và mối quan hệ tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung từ những năm 1970 ở châu Á - Thái Bình Dương không còn. Thay vào đó là một môi trường chiến lược mới hoà bình và tương đối ổn định. Các nước lớn trong khu vực đều điều chỉnh chiến lược theo hướng hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình. Tuy nhiên, môi trường an ninh khu vực tiềm ẩn những thách thức an ninh to lớn.


Loại thách thức an ninh thứ nhất xuất phát từ sự thay đổi cơ cấu quyền lực ở khu vực, cụ thể là sự lớn mạnh của Trung Quốc, sức mạnh còn lại của Nga và vai trò ngày càng tăng của Nhật Bản trong các vấn đề an ninh khu vực. Thách thức an ninh dài hạn lớn nhất đối với Mỹ là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, giá trị chiến lược của con bài Trung Quốc đối với Mỹ không còn. Vì vậy, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc cả về kinh tế, quân sự và chính trị trở thành một thách thức mới, đe dọa vị trí lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chính sách mở cửa về kinh tế của Trung Quốc thực hiện từ năm 1979 đã tạo nên sự chuyển biến lớn lao. Nền kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng với tốc độ 8-9% đã khiến GDP của Trung Quốc tăng lên gấp 3 lần chỉ trong vòng chưa đến hai thập kỷ1 (Joseph S. Nye, "The 'Nye report': six years later", International Relations of the Asia Pacific, Oxford University Press, 2001, Vol. 1, No 1, tr.100). Theo nhiều dự đoán, nếu Trung Quốc tiếp tục chính sách mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức trên 5% mỗi năm trong vòng hàng chục năm tới2 (Ezra F. Vogel, "Living with China-U.S.-China Relations in the Twenty-First Century", Norton and Company, 1997, p.19). Bên cạnh đó, Trung Quốc còn là một cường quốc quân sự. Mặc dù so với Mỹ, khả năng quân sự của Trung Quốc còn hạn chế, nhất là về mặt vũ khí kỹ thuật hiện đại, nhưng cùng với chính sách phát triển sức mạnh về kinh tế, Trung Quốc đang tập trung thực hiện hiện đại hoá quân sự. Quan trọng hơn, Trung Quốc lại là một trong năm cường quốc hạt nhân. Với những tiềm lực về kinh tế và quân sự, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc không chỉ trong khu vực mà cả trên thế giới. Trung Quốc cùng là nước có vai trò vô cùng to lớn trong các vấn đề an ninh khu vực vì sự dính líu trực tiếp cũng như gián tiếp của nước này đến hầu hết các điểm nóng tiềm tàng ở khu vực trong khi ở đây chưa có một cơ chế an ninh đa phương nào. Việc Trung Quốc tăng cường quân sự và thái độ dường như không thoả hiệp của Trung Quõc trong vấn đề Đài Loan và tranh chấp biển Đông làm cho Mỹ lo ngại về những ý đồ và hành động của Trung Quốc hiện nay, và đặc biệt, trong tương lai khi Trung Quốc hoàn thành công cuộc hiện đại hoá và trở thành một nước công nghiệp phát triển. Không ít ý kiến ở Mỹ cho rằng: "Thách thức lớn nhất đối với Mỹ và những lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ ở châu Á có thể xuất phát từ Trung Quốc"1 ("Asia in U.S. Foreign and National Sercurity Policy in the Next Millennium", Address by U.S. Representative Doug Bereuter, 2-2-2000).


Loại thách thức an ninh thứ hai là những vấn đề an ninh truyền thống như tranh chấp lãnh thổ, những di sản của chiến tranh lạnh vẫn còn tồn tại ở bán đảo Triều Tiên và vấn đề Đài Loan. Tình hình trên bán đảo Triều Tiên, và đặc biệt, những lo ngại về việc Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân cũng là một nguy cơ tiềm ẩn trong môi trường an ninh ở Đông Á. Đầu năm 1993, một nhóm chuyên gia về hạt nhân của Liên hợp quốc báo cáo về phát hiện liên quan đến việc Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có thể có những cơ sở sản xuất tên lửa hạt nhân. Tháng 5-1993, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tiến hành vụ thử tên lửa ở vùng biển Nhật Bản, đặt một nửa miền Tây Nhật Bản vào tầm bắn của tên lửa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Những sự kiện này là khởi đầu của cuộc khủng hoảng hạt nhân Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên năm 1994. Sau một loạt các cuộc đàm phán, tháng 10-1994 Mỹ và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đã ký Hiệp định khung, theo đó Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đồng ý ngừng sản xuất plutonium ở Yongbyon, và để đổi lại, giữa năm 1995 hiệp định bốn bên - hai miền Triều Tiên, Mỹ và Nhật Bản - được ký kết, trong đó ba nước kia cam kết cung cấp lò phản ứng nước nhẹ cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Với các hiệp định này vấn đề hạt nhân Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đã tạm thời lắng xuống nhưng không phải là đã hoàn toàn được giải quyết. Những nghi kỵ đối với các kế hoạch ngầm của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên xung quanh việc phát triển tên lửa hạt nhân làm cho Mỹ ngày càng cảm nhận rõ hơn mối đe dọa đối với lợi ích an ninh của mình trong khu vực và đây chính là một trong những động lực dẫn đến sự điều chỉnh chính sách của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương.


Bên cạnh đó, ở khu vực còn tồn tại một số nhân tố bất ổn tiềm tàng khác như tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, một loạt những tranh chấp giữa các nước về lãnh thổ trên biển và đất liền và vấn đề tăng cường quân sự với nguy cơ của một cuộc chạy đua vũ trang.


Trong ba điểm nóng tiềm tàng có nguy cơ xảy ra xung đột nhiều nhất ở khu vực, ngoài tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông liên quan đến nhiều nước, Mỹ có dính líu trực tiếp và có lợi ích trong các cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan giữa Trung Quốc và Đài Loan, và ở bán đảo Triều Tiên. Lợi ích của Mỹ trong việc tham gia giải quyết các cuộc xung đột này là nhằm bảo vệ quyền lợi của các đồng minh Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản và duy trì an ninh trật tự trong khu vực nhằm bảo đảm cho các quyền lợi kinh tế của Mỹ và không để cho nước nào nổi lên đe dọa vị trí lãnh đạo của Mỹ.


Loại thách thức an ninh thứ ba là bất ổn định nội bộ, phong trào ly khai ở các nước trong khu vực. Tại Đông Nam Á, tình hình diễn biến phức tạp. Các phong trào ly khai tại Inđônêxia và Philippin, quá trình chuyển đổi quyền lực chính trị tại Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và Philippin tiếp tục đe dọa những thành quả phát triển kinh tế trong nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX1 (Nicholas Khoo và Michael L. R. Smith, "A Concert of Asia", Policy Review, No. 108, tháng 8-2001 at http://www.policyreview.org-AUG01-khoo_print.html). Riêng đối với Inđônêxia, các phong trào ly khai như Aceh, quần đảo Moluccas và Irian Jaya vẫn tồn tại và phát triến. Bất ổn định và xáo trộn nội bộ ở những nước này, đặc biệt ở những nước như Inđônêxia, có khả năng tác động lan toả, ảnh hưởng đến an ninh và ổn định ở khu vực. Làn sóng người di cư, khủng hoảng nhân đạo là những thách thức không chỉ đối với các nước trong khu vực, mà cả đối với Mỹ.


Loại thách thức an ninh thứ tư là những vấn đề xuyên quốc gia. Dây là những vấn đề an ninh phi truyền thống như vấn đề khủng bố, nạn cướp biển, phổ biến vũ khí, buôn bán ma tuý và tội phạm xuyên quốc gia.

Toàn bộ những thách thức này thể hiện tính đa dạng, phức tạp và không rõ ràng của môi trường an ninh mới ở khu vực, đòi hỏi sự hợp tác đa phường giữa các nước trong khu vực. Trong khi đó, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác an ninh toàn khu vực như Tổ chức Hợp tác an ninh châu Âu (OSCE) để đối phó và giải quyết các vấn đề an ninh ở khu vực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:44:47 am
3.2. Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của chính quyền Clinton

Nói tóm lại, thay vì mối đe dọa to lớn và rõ ràng của Liên Xô trước đây, môi trường chiến lược thay đổi ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiềm ẩn những thách thức đối với lợi ích của Mỹ ở khu vực này. Trong bối cảnh đó, Mỹ xác định những lợi ích an ninh chủ yếu của mình ở khu vực châu  - Thái Bình Dương là:

• Ngân chặn sự nổi lên của một nước bá quyền thù địch với Mỹ để duy trì ảnh hưởng quốc tế của Mỹ và vị thế siêu cường duy nhất sau chiến tranh lạnh.

• Hạn chế sự phổ biến vũ khí giết người hàng loạt (vũ khí hóa học, sinh học và vũ khí hạt nhân) cùng các hệ thống triển khai những vũ khí này để bảo đảm an ninh và ưu thế hạt nhân của Mỹ ở khu vực. Ngăn chặn Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tấn công Hàn Quốc.

• Ngăn chặn khả năng diễn ra một cuộc chay đua vũ trang gây mất ổn định khu vực, làm gián đoạn phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và kinh tế của Mỹ ở khu vực.

• Duy trì tự do giao thông đường biển nhằm bảo vệ sự lưu thông dầu mỏ từ các nguồn dầu tới Mỹ và giao lưu thương mại với các nước trong khu vực.

• Bảo đảm an toàn cho các công dân Mỹ ở khu vực.

• Phát triển một cơ cấu an ninh khu vực trong đó Mỹ giữ vai trò chi phối1 (Asia Project Policy Report, Redressing the Balance-American Engagemnet with Asia, Council on Foreign Relations, New York, 1996).


Đứng trước những thay đổi của cục diện an ninh chính trị trong khu vực, Mỹ đã có những điều chỉnh chiến lược an ninh mạnh mẽ để bảo đảm lợi ích và theo đuổi những mục tiêu chiến lược toàn cầu của mình trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.


Trong những năm đầu sau chiến tranh lạnh, căn cứ vào những đánh giá ban đầu về tình hình thế giới và khu vực, Báo cáo chiến lược Đông Á năm 1990 của chính quyền Bush đã vạch ra kế hoạch rút dần quân Mỹ khỏi khu vực với giai đoạn I kết thúc vào cuối năm 1992 giảm khoảng 10-12% trong tổng số 135.000 quân đóng tại đây. Kế hoạch này được kết hợp với việc rút quân Mỹ khỏi các căn cứ quân sự ở Philippin. Tuy nhiên, cuối năm 1992, đầu năm 1993, trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện tình huống mới, buộc Chính phủ Mỹ phải xem xét lại toàn bộ quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh với châu Á. Quá trình này bắt đầu từ cuối năm 1994, đến tháng 2-1995, Joseph Nye, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, cho ra đời Báo cáo chiến lược Đông Á mới của Mỹ. Báo cáo này còn được gọi là sáng kiến của Nye. Bản báo cáo nêu rõ ba hướng chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ ở Đông Á:

• Một là khẳng định lại cam kết của Mỹ đối với khu vực thông qua việc duy trì lực lượng quân sự Mỹ đóng tại đây ở mức khoảng 100.000 người. Như vậy là với chiến lược mối, Mỹ quyết định ngừng quá trình rút dần quân đội khỏi khu vực theo kế hoạch trong Báo cáo chiến lược an ninh Đông Á 1992. Trong số đó, 47.000 quân đóng ở khoảng 100 căn cứ quân sự ở Nhật Bản; 37.000 đóng ở khoảng 50 căn cứ quân sự ở Hàn Quốc; và ở căn cứ quân sự của Mỹ ở Hawaii. Mỹ cũng có thoả thuận sử dụng một số tiện nghi quân sự tại Ôxtrâylia và Xingapo.

• Nội dung thứ hai của Báo cáo kêu gọi tăng cường quan hệ liên minh của Mỹ với các nước đồng minh trong khu vực là Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan và Ôxtrâylia, trong đó liên minh Mỹ - Nhật được coi là cốt lõi của chiến lược Đông Á của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Bản báo cáo là một cố gắng cân bằng lại chính sách thiên về kinh tế mà chính quyền Clinton đã theo đuổi với Nhật Bản trong những năm đầu của nhiệm kỳ. Bản báo cáo khẳng định "chúng ta không được cho phép rạn nứt trong buôn bán làm tổn hại đến liên minh an ninh của chúng ta"1 (U.S. Department of Defense, United States Sercurity Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995, tr.10).

• Hợp tác khu vực là mũi nhọn thứ ba trong chiến lược an ninh của Mỹ. Mỹ ủng hộ các nỗ lực đa phương về an ninh như Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), đồng thời đẩy mạnh đối thoại an ninh với các nước trong khu vực, đặc biệt với Trung Quốc và Nga, như một phần của chiến lược can dự và mở rộng của Mỹ. Đây là một nét mới của chiến lược an ninh Đông Á thể hiện sự chú trọng hơn tới các kênh hợp tác khác, ngoài các liên minh an ninh song phương ở khu vực. Lần đầu tiên chính quyền Mỹ đã ủng hộ những nỗ lực tiến tới xây dựng cơ chế hợp tác an ninh đa phương ở khu vực. Tuy nhiên, trong khi ủng hộ các diễn đàn hợp tác an ninh đa phương ở khu vực, Mỹ cũng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của các liên minh an ninh song phương, đặc biệt là liên minh với Nhật Bản. Những dàn xếp an ninh đa phương chỉ có tính chất bổ trợ, chứ không thay thế cho các liên minh an ninh song phương của Mỹ ở khu vực này1 (Như trên, tr.9).


Báo cáo chiến lược an ninh Đông Á của Mỹ năm 1995 là sự điều chỉnh chính sách từ thiên về kinh tế những năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh trở lại chính sách khẳng định vai trò của an ninh. Trong Báo cáo chiến lược, thông qua việc duy trì sự có mặt của lực lượng Mỹ, khía cạnh an ninh quân sự đối với ổn định trong khu vực được coi như "ôxy" đối với sự sống2 (Như trên, tr.8). Chiến lược an ninh của Mỹ với khu vực Đông Á-Thái Bình Dương năm 1995 trên thực tế là một bộ phận của chiến lược toàn cầu can dự và mở rộng của chính quyền Clinton. Thực hiện những nguyên tắc chỉ đạo của Báo cáo chiến lược Đông Á năm 1995, Mỹ đã triển khai chính sách an ninh khu vực theo tám hướng chủ yếu.


Một là, thông qua việc công bố bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một (QDR) vào năm 1997, Mỹ cam kết duy trì 100.000 quân triển khai phía trước ở châu Á. Lực lượng triển khai phía trước của Mỹ ở khu vực giúp Mỹ bảo đảm các đường giao thông đường biển có tầm quan trọng sống còn đối với các hoạt động thương mại giữa Mỹ và Tây Thái Bình Dương cũng như bảo vệ sự lưu thông nguồn cung cấp dầu mỏ cho Mỹ từ khu vực này.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:45:48 am
Hai là, tái khẳng định và nâng cấp Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, nền tảng chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực. Có thể thấy Mỹ có ba lợi ích chiến lược chủ yếu trong việc duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong thời kỳ mới. Lợi ích chiến lược lớn nhất mà Mỹ có được thông qua việc duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật là duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực với mục đích răn đe đối với sự lớn mạnh của Trung Quốc và những hậu quả khó lường mà điều này có thể dẫn đến. Lợi ích thứ hai là tiếp tục kiềm chế Nhật Bản. Ngay từ khi ra đời, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật không chỉ có một mục đích là nhằm đối phó với chủ nghĩa cộng sản, mà còn nhằm kiềm chế chính các nước đồng minh ở khu vực. Tuy không được nêu rõ, nhưng kiềm chế Nhật cũng luôn là một mục tiêu của Liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh. Và mục tiêu thứ hai của liên minh này vẫn còn tồn tại và tầm quan trọng của nó tăng lên trong bối cảnh Nhật Bản đã trở thành một siêu cường về kinh tế. Lợi ích thứ ba là sự chia sẻ trách nhiệm của đồng minh. Mỹ có lợi ích trong việc duy trì liên minh an ninh với Nhật Bản vì sự hợp tác và chia sẻ trách nhiệm của Nhật Bản trong các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế trong bối cảnh ở khu vực hiện vẫn chưa có được một cơ chế an ninh đa phương hiệu quả và có khả năng đối phó với các cuộc khủng hoảng và các vấn đề an ninh khu vực


Trung Quốc và sự lớn mạnh của Trung Quốc là mội đe dọa hàng đầu đối với lợi ích của cả hai nước và đây chính là mục tiêu ngầm chủ yếu của liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong thời kỳ mới1 (Hisahiko Okazaki, "China: a Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996). Sự chuyển hướng mục tiêu này là điều chỉnh quan trọng nhất trong quan hệ an ninh giữa Nhật Bản và Mỹ. Một nét mới khác là liên minh an ninh Mỹ - Nhật Bản chủ trương mở rộng phạm vi hợp tác an ninh Nhật - Mỹ và hoạt động của lực lượng phòng vệ ra các khu vực xung quanh, tăng cường vai trò của các lực lượng phòng vệ Nhật Bản trong việc hỗ trợ quân đội Mỹ. Theo phương châm chỉ đạo hợp tác phòng thủ Nhật - Mỹ mới, vai trò được mở rộng của Nhật Bản thể hiện trong việc tăng cường nhiệm vụ của lực lượng phòng vệ Nhật Bản, sự hỗ trợ hậu cần cho quân đội Mỹ và đóng góp tài chính của Nhật Bản đối với việc duy trì quân đội Mỹ đóng quân trên đất Nhật Bản.


Ba là, chính quyền Clinton chủ trương chính sách can dự toàn diện với Trung Quốc. Chính quyền Clinton, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai, đã nỗ lực xây dựng quan hệ đối tác toàn diện, thậm chí "đối tác chiến lược" với Trung Quốc thể hiện qua hai chuyến thăm Mỹ của Giang Trạch Dân năm 1997 và chuyến thăm Trung Quốc của Clinton năm 1998. Một mặt, các chính quyền của Mỹ chủ trương can dự với Trung Quốc vì Mỹ có những lợi ích kinh tế rất lớn ở Trung Quốc. Mỹ cũng có những lợi ích chiến lược tương đồng khác với Trung Quốc, như lợi ích duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên và ngăn chặn phổ biến vũ khí. Mặt khác, quan hệ Mỹ - Trung ẩn chứa những mâu thuẫn chiến lược dài hạn. Mâu thuẫn căn bản nhất và có tính chi phối nhất đối với quan hệ Mỹ - Trung là mâu thuẫn chiến lược: mâu thuẫn giữa chủ trương bá quyền, xây dựng một trật tự thế giới đơn cực và ngăn chặn không cho một nước hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức vị trí của Mỹ và quyết tâm của Trung Quốc vươn lên thành một cực trong một trật tự thế giới đa cực. Và không ít học giả, chính trị gia ở Mỹ cho rằng Trung Quốc chính là nước có khả năng thách thức trật tự hiện hành ở châu Á - Thái Bình Dương nhất1 (Douglas T. Stuart and William T. Tow, "US Strategy for the Asia Pacific", Adelphi Paper No.229, Oxford University Press, IISS, 1995). Xét về dài hạn, mâu thuẫn này có tính chất không thể dung hoà. Mỹ cũng lo ngại về ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực và khả năng Trung Quốc thôn tính Đài Loan và khống chế các tuyến giao thông đường biển thiết yếu đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở biển Đông. Cuộc khủng hoảng ở eo biển Đài Loan năm 1996 với việc Trung Quốc tập trận tên lửa quy mô lớn ở eo biển Đài Loan nhằm tác động đến kết quả bầu cử ở Đài Loan và Mỹ đưa tàu sân bay USS Independence từ căn cứ Yokosuka của Nhật Bản tới eo biển Đài Loan để răn đe Trung Quốc, cho thấy tầm quan trọng của liên minh Mỹ - Nhật đối với Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc và đối phó với những tình huống bất trắc, đe dọa trực tiếp lợi ích của Mỹ ở khu vực.


Bốn là, phối hợp với Hàn Quốc và Trung Quốc, lôi kéo Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và đối thoại bốn bên (Four Party Talks) nhằm giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Những mục tiêu của Mỹ ở bán đảo Triều Tiên bao gồm duy trì ổn định, không phổ biến hạt nhân, hoà giải trên bán đảo Triều Tiên và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Hàn1 (Joel Wit, "the United States and North Korea", Policy Brief #74, 3-2001, http://www.broooking.org). Chính sách chung và công khai của Mỹ là ủng hộ hai miền Triều Tiên đối thoại để tiến tới thống nhất. Tuy nhiên, xét từ nhiều góc độ, Mỹ không muốn việc thống nhất Triều Tiên diễn ra nhanh chóng bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ ở đây. Thứ nhất, một nước Triều Tiên thống nhất sẽ làm lung lay cơ sở chủ yếu của sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Bắc Á. Thứ hai, trong bối cảnh mối đe dọa tên lửa từ những nước "bất trị", trong đó có Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên được sử dụng làm cơ sở biện minh cho kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, triển vọng hai miền Triều Tiên sớm thống nhất sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch phòng thủ tên lửa của Mỹ.


Năm là, mở rộng quan hệ hợp tác an ninh và tiếp cận quân sự ở Đông Nam Á, cùng hợp tác với ASEAN để thúc đẩy đối thoại toàn khu vực và xây dựng lòng tin thông qua cơ chế ARF.

Sáu là, tái khẳng định hiệp ước an ninh với Ôxtrâylia năm 1996, thông qua Tuyên bố Sydney, cam kết thúc đẩy hợp tác trên các vấn đề an ninh toàn cầu và khu vực hai bên cùng quan tâm.

Bảy là thúc đẩy việc xây dựng những cơ chế xây dựng lòng tin như đối thoại tay ba, đa phương, các diễn đàn phòng thủ, và chương trình khoá học xây dựng lòng tin ở Trung tâm nghiên cứu các vấn đề an ninh châu Á - Thái Bình Dương có trụ sở ở Hawaii.

Tám là, tập trung đối phó với mối đe dọa phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, với vấn đề phổ biến hạt nhân thông qua Hiệp định khung và đối thoại không phổ biến tên lửa với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, cải thiện khả năng chống phổ biến vũ khí thông qua việc nghiên cứu và phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường.


Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của Mỹ về cơ bản được triển khai theo những hướng chủ đạo đã được vạch ra trong bản Báo cáo năm 1995, không có thay đối gì lớn cho đến hết nhiệm kỳ hai của Clinton. Năm 1998, chính quyền Clinton công bố Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương mới, chủ yếu khẳng định lại nội dung của Báo cáo chiến lược năm 1995. Bởi Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương là một phần trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ, Báo cáo năm 1998 nhấn mạnh hơn đến sự cần thiết phải can dự tích cực vào khu vực để Tạo dựng, Phản ứng và Chuẩn bị, ba khái niệm liên kết với nhau được đưa ra trong Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997.


Năm 2000, Tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Blair đưa ra sáng kiến thành lập "cộng đồng an ninh" ở châu Á, đề xuất kế hoạch diễn tập quân sự đa quốc gia nhằm lôi kéo tất cả các nước trong khu vực tham gia diễn tập quân sự chung, trong đó có cả Trung Quốc. Mục đích của ý tưởng này là thiết lập cơ chế an ninh đa phương với sự tham gia chủ yếu của các nước đồng minh hoặc đang có các hoạt động tập trận chung với Mỹ, sau đó mở rộng ra các nước trong khu vực, nhằm xác lập và củng cố vai trò của Mỹ trong khu vực, trước mắt là trong lĩnh vực an ninh, đối phó với những thách thức đe dọa ổn định khu vực cũng như các cuộc xung đột vũ trang, khủng hoảng, thiên tai1 (Dennis C. Blair và John T. Hanley Jr. "From Wheels to Web: Reconstructing Asia-Pacific Sercurity Arrangements", The Washington Quarterly, Winter 2001). Đối tượng chủ yếu ở đây mà Mỹ muốn nhằm vào chính là Trung Quốc, nhằm lôi kéo Trung Quốc vào một khuôn khổ an ninh do Mỹ lãnh đạo tại khu vực. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một ý tưởng của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ đưa ra dưới thời Clinton. Vì vậy, ý tưởng này chưa được chuyển tải thành một chủ trương chính sách mới, đặc biệt sau sự thay đổi chính quyền ở Mỹ đầu năm 2001 và cuộc chiến chống khủng bố.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Sáu, 2022, 06:26:24 am
3.3. Điều chỉnh chiến lược Đông Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush

Về cơ bản, những mục tiêu chủ yếu trong chiến lược của Mỹ với khu vực không thay đổi so với chính quyền tiền nhiệm. Tuy nhiên, dưới chính quyền Bush, chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương đã có những điều chỉnh đáng kể. Một số xu hướng điều chỉnh đã có từ trước sự kiện 11 tháng 9. Tuy nhiên, sự kiện 11 tháng 9 đã có những tác động khác nhau đối với những hướng điều chỉnh khác nhau.


Một là chú trọng hơn quan hệ với các đồng minh ở khu vực, đặc biệt là Nhật Bản. Chính quyền Bush cam kết tăng cường liên minh an ninh Mỹ - Nhật, cũng như khuyến khích Nhật Bản có vai trò độc lập hơn và gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong khuôn khổ liên minh an ninh Mỹ - Nhật. Sự kiện tàu ngầm hạt nhân USS Greeneville của Mỹ va chạm và đánh chìm chiếc tàu đánh cá Ehime Maru của Nhật Bản ngày 9-2-2001 đã được giải quyết êm thấm với việc Tổng thống Mỹ Bush nhanh chóng xin lỗi Nhật Bản. Sau đó, trong tuyên bố chung sau cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Bush và Thủ tướng Mori ngày 19-3-2001, hai bên đã khẳng định "một cách tiếp cận năng động đối với tham khảo hợp tác quốc phòng" cũng như quyết tâm tăng cường nỗ lực của hai bên để đối phó với những thách thức xuyên quốc gia trong thế kỷ XXI. Điều này phần nào phản ánh thái độ của chính quyền Mỹ đối với liên minh an ninh Mỹ - Nhật và vị trí của liên minh này trong chiến lược chung của Mỹ. Mặc dù quyết định duy trì và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Nhật, trong quá trình triển khai, chính quyền Clinton lại có lúc tỏ ra coi trọng Trung Quốc hơn. Tháng 6-1998, Clinton đã giáng cho đồng minh an ninh gần gũi nhất của mình ở châu Á - Thái Bình Dương một cú nặng nề khi trong chuyến thăm Trung Quốc kéo dài chín ngày, Clinton đã không ghé qua Nhật Bản. Chủ trương xây dựng quan hệ "đối tác chiến lược" của Clinton chứng tỏ sự công nhận vai trò ngày càng quan trọng của Trung Quốc, cũng như phần nào thể hiện sự bất bình và thất vọng của Mỹ đối với vai trò của Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Á. Chính quyền Bush con tỏ ra rõ ràng hơn khi coi Nhật Bản là đối tác chủ yếu của Mỹ ở châu Á và Trung Quốc là "đối thủ chiến lược" chứ không phải là "đối tác chiến lược".


Chuyến thăm Nhật Bản của Tổng thống Mỹ Bush ngày 17 - 19-2-2002 tiếp tục khảng định tầm quan trọng của liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong chính sách đối ngoại của chính quyền Bush. Quan hệ hai nước vốn đã được củng cố từ sau sự kiện 11 tháng 9 với việc Nhật Bản nhanh chóng thông qua đạo luật cho phép lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia vào các hoạt động hỗ trợ chiến tranh bên ngoài Nhật Bản. Sự ủng hộ của Nhật Bản trong cuộc chiến chống khủng bố là yếu tố quan trọng thúc đẩy quan hệ Mỹ - Nhật trong thời gian qua.


Hai là điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc. Mặc dù chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush vẫn mang tính chất hai mặt vừa can dự vừa kiềm chế như chính quyền tiền nhiệm, nhưng mặt kiềm chế, ngăn chặn được chú trọng thúc đẩy: (i) chủ trương tăng cường các liên minh an ninh song phương với các đồng minh ở khu vực, đặc biệt là Nhật Bản, nhằm kiềm chế Trung Quốc, (ii) đẩy mạnh chiều hướng thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ nhằm trước mắt ngăn chặn tập hợp lực lượng Trung Quốc, Nga và Ấn Độ chống Mỹ, và về lâu dài, dùng các nước này làm đối trọng với Trung Quốc.


Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực, chính quyền Bush công khai xem việc Trung Quốc trở thành đối thủ và cạnh tranh chiến lược là không tránh khỏi. Bằng cách chuyển trọng tâm chiến lược an ninh sang châu Á, Mỹ sẽ chủ động hơn trong việc đối phó với sự cạnh tranh ngày càng lớn của Trung Quốc trong tương lai. Tháng 3-2002, Trung Quốc tuyên bố tăng ngân sách quốc phòng tới 18%, nâng mức chi cho quốc phòng từ 14,5 tỷ USD lên 17 tỷ USD. Phái diều hâu trong Quốc hội Mỹ cho rằng việc tăng chi phí này là nhằm đối phó với Mỹ, do đó hối thúc chính quyền Bush tăng chi tiêu quốc phòng, về phía Trung Quốc, tờ Nhân dân nhật báo, thường phản ánh quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc, cho rằng các báo cáo của chính quyền Bush kêu gọi Mỹ thực thi vai trò "lãnh đạo thế giới" thực chất là áp đặt "bá quyền" Mỹ1 (Nicholas Khoo and Michael L. R. Smith, A "Concert of Asia", Policy Review, No. 108, tháng 8-2001 at http://www.policyreview.org-AUG01-khoo_print.html).


Như vậy, trước ngày 11 tháng 9, quan hệ Mỹ - Trung đặc biệt căng thẳng do chính sách cứng rắn của Mỹ. Tuy nhiên, sau một thời gian cầm quyền, chính quyền Bush đã điều chỉnh giọng điệu cũng như chính sách theo hướng ôn hoà và bớt cứng rắn hơn, đặc biệt trong chính sách đối với Trung Quốc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Trung Quốc không còn là "đối thủ chiến lược", mà "Trung Quốc không phải là đối tác chiến lược, nhưng cũng không phải là kẻ thù không thể tránh khỏi của Mỹ"1 (Confirmation hearing before the US Senate tháng 2-2001). Cũng cần khẳng định rằng việc điều chỉnh chính sách Trung Quốc của Mỹ cho dù theo hướng cứng rắn lên nhưng cũng không vượt ra ngoài khuôn khổ chính sách can dự với Trung Quốc. Nếu chính sách Trung Quốc của Clinton là "can dự tích cực, kiềm chế ngầm" thì có thể nói chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush là "tiếp tục can dự và tăng cường ngăn chặn".


Đặc biệt, sự kiện 11 tháng 9 đã có tác động đáng kể đến quan hệ Mỹ - Trung. Mặt hợp tác trong chính sách Trung Quốc của Mỹ trở nên rõ nét hơn sau sự kiện 11 tháng 9 vì hai nước chia sẻ lợi ích to lớn trong việc hợp tác chống khủng bố. Sự kiện 11 tháng 9 đã giúp cải thiện quan hệ Mỹ - Trung một cách đáng kể, cho dù ở mức độ thấp hơn so với quan hệ Mỹ - Nga. Trung Quốc ngay sau 11 tháng 9 đã nhanh chóng tuyên bố ủng hộ Mỹ, lên án chủ nghĩa khủng bố. Mặc dù không công khai ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ chống Ápganixtan, nhưng trên thực tế Trung Quốc không can thiệp vào sự hợp tác với Mỹ của đồng minh Pakixtan trong cuộc chiến ở Ápganixtan. Đầu tháng 11-2001, Trung Quốc, trong vai trò chủ nhà đã góp phần quan trọng vào việc biến hội nghị về kinh tế của tổ chức APEC thành diễn đàn lên án chủ nghĩa khủng bố và ủng hộ Mỹ.


Cũng như Nga, Trung Quốc có những vấn đề nội bộ về sắc tộc và ly khai muốn được Mỹ ủng hộ và coi các phong trào này là khủng bố. Đằng sau sự ủng hộ của Trung Quốc cũng là mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ nhằm tạo điều kiện cho phát triển cả về kinh tế lẫn hợp tác quân sự, nhất là các kỹ thuật quân sự cao của Mỹ. Hơn nữa, giữa Trung Quốc và Mỹ còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết, đặc biệt là vấn đề Đài Loan. Sau nhiều năm thi hành chính sách cứng rắn, Trung Quốc cho rằng cải thiện quan hệ với Mỹ có thể gây sức ép làm thay đổi được tình hình ở Đài Loan. Quan hệ qua eo biển Đài Loan cũng đặt yêu cầu cho Mỹ phải giải quyết vấn đề tiếp tục hay không "chính sách mập mờ" trước đây. Chính quyền Bush, một mặt, chịu sức ép của giới công nghiệp quốc phòng đòi bán vũ khí cho Đài Loan và sức ép của phái diều hâu đòi phải xem Trung Quốc là đối thủ chiến lược, mặt khác, vẫn thừa nhận "chính sách một Trung Quốc", coi trọng sự hợp tác trên nhiều mặt với Trung Quốc.


Tuy nhiên, mức độ cải thiện quan hệ Mỹ - Trung chỉ dừng lại ở việc giảm căng thẳng do chính sách cứng rắn của chính quyền Bush trong thời kỳ đầu gây ra, đưa chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush trở lại gần hơn với chính sách của chính quyền Clinton, chứ chưa đạt tới mức thời kỳ năm 1997-1998 khi hai nước tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Xét từ góc độ cạnh tranh chiến lược, sau khi sự kiện chống khủng bố lắng xuống Trung Quốc vẫn được coi là đối thủ chủ yếu của Mỹ ở khu vực. Hiện nay, trong khi Mỹ đang bận rộn với chiến dịch chống khủng bố, Trung Quốc đang tập trung sức lực vào phát triển kinh tế và hiện đại hoá quân sự, quan hệ hai nước ở trong một tình trạng ổn định tương đối. Tuy vậy, bất chấp những cải thiện gần đầy, quan hệ Mỹ - Trung sẽ vẫn là một trong những quan hệ phức tạp nhất và sẽ còn có nhiều biến động.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Sáu, 2022, 06:27:19 am
Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần của Mỹ, được công bố ngày 30-9-2001, tức là sau 11 tháng 9, vẫn khẳng định: "Hiện có khả năng một đối thủ quân sự có cơ sở nguồn lực đáng gờm nổi lên ở châu Á. Miền duyên hải Đông Á - từ vịnh Bengan đến biển Nhật Bản - tiêu biểu cho một khu vực đặc biệt mang tính thách thức". Như vậy, cho dù Trung Quốc không còn bị công khai gọi là "đối thủ chiến lược", Báo cáo Đánh giá quốc phòng vẫn hàm ý Trung Quốc khi đề cập những thách thức đối với nước Mỹ. Trong khi đó, "có những khoảng cách rất lớn ở chiến trường châu Á. Mật độ bố trí căn cứ của Mỹ và cơ sở hạ tầng trên tuyến đường đó thấp hơn so với những khu vực quan trọng khác. Mỹ cũng có ít sự bảo đảm hơn đối với việc tiếp cận các cơ sở ở khu vực này"1 (Thông tấn xã Việt Nam, "Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần", Tài liệu tham khảo số 11-12-2002, tr.9). Đây là những lý do khiến bản báo cáo đã đưa vị trí của Đông Á lên trước châu Âu. Báo cáo khẳng định sự cần thiết phải tái cơ cấu lực lượng của Mỹ để có thể đối phó hữu hiệu với các thách thức ở Đông Á và đề nghị tăng cường sức mạnh hải, lục, không quân cho khu vực Đông Á, Tây Nam Á và Trung Đông.


Ba là điều chỉnh chính sách đối với bán đảo Triều Tiên. Mỹ vẫn theo đuổi những mục tiêu không đổi ở bán đảo Triều Tiên, bao gồm duy trì ổn định, không phổ biến hạt nhân, hoà giải trên bán đảo Triều Tiên và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Hàn1 (Joel Wit, "The United States and North Korea", Policy Brief #74, 3-2001, http://www.brookings.org). Vì vậy, mặc dù chỉ trích chính sách của chính quyền Clinton, chính quyền Bush cũng không có sự lựa chọn chính sách nào phục vụ lợi ích của Mỹ ở bán đảo Triều Tiên tốt hơn là duy trì đối thoại, tiếp xúc và can dự với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tuy nhiên, sự khác biệt thể hiện ở cách tiếp cận cứng rắn hơn của chính quyền Bush.


Đúng vào lúc Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến ở Irắc, khủng hoảng hạt nhân xảy ra trên bán đảo Triều Tiên sau khi Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra tuyên bố không từ bỏ việc phát triển vũ khí hạt nhân và yêu cầu các thanh tra vũ khí hạt nhân phải rời Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Như vậy, Mỹ lại đứng trước một tình thế khó khăn mới. Tình hình hiện nay có những điểm giống với cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu những năm 1990. Cuộc khủng hoảng hạt nhân thời kỳ đó đã được tạm thời giải quyết với Hiệp định khung năm 1994. Theo hiệp định này, phía Mỹ đồng ý dàn xếp việc cung cấp hai lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và 500.000 tấn dầu nặng mỗi năm cho đến khi lò phản ứng nước nhẹ đầu tiên hoàn thành nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Đổi lại, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên sẽ cho phép quốc tế thanh sát hai cơ sở hạt nhân đang hoạt động, đồng ý không tái chế các chất thải từ lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon.


Sự sụp đổ của Hiệp định khung năm 1994 đặt chính quyền Bush trước những sự lựa chọn khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ đang tập trung vào vấn đề Irắc. Tình hình trước mắt còn diễn biến phức tạp. Tuy vậy, ít có khả năng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Triều Tiên như tinh thần của Học thuyết chiến tranh phòng ngừa. Khác với Irắc, bán đảo Triều Tiên là nơi đan xen lợi ích của nhiều nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, Nga và Nhật Bản. Sự có mặt của nhân tố vũ khí hạt nhân cùng với lợi ích của các đồng minh của Mỹ ở khu vực này làm cho khả năng xảy ra chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên vào thời điểm hiện nay là thấp. Mặt khác, xét từ cách tiếp cận cứng rắn và thực dụng của chính quyền Bush, cũng ít có khả năng chính quyền Bush chịu thoả hiệp nhanh chóng với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, chấp nhận những yêu cầu mà Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra. Giải pháp Mỹ gây sức ép đối với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thông qua Liên hợp quốc để tiến tới một thoả thuận mới có thể chấp nhận được với các bên là hai miền Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Sự cải thiện gần đây trong quan hệ giữa các nước lớn cũng như sự chia sẻ lợi ích của các nước lớn ở khu vực này cho thấy Mỹ có thể tìm được sự đồng thuận của các nước lớn khác trong vấn đề Triều Tiên để phục vụ mục tiêu chính sách cao nhất của Mỹ là ngăn không cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có được vũ khí hạt nhân và không phát triển các loại tên lửa tầm xa.


Bốn là điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á. Từ sau sự kiện 11 tháng 9, Đông Nam Á càng trở nên quan trọng đối với Mỹ. Mỹ coi đây là mặt trận thứ hai chống khủng bố chủ yếu vì hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, ở Đông Nam Á tập trung một số nước có cộng đồng Hồi giáo đông đảo và Hồi giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền chính trị khu vực. Thứ hai là sự tồn tại của một số nhóm Hồi giáo cực đoan, có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda ở khu vực này. Hơn nữa, nhìn về lâu dài, tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á cũng phục vụ mục tiêu lâu dài của Mỹ là kiềm chế Trung Quốc.


Mỹ thúc đẩy mạnh quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, với một số nước Đông Nam Á, điển hình là Inđônêxia và Philippin. Tháng 1-2002, sau khi chiến dịch "Tự do bền vững" ở Ápganixtan đã loại bỏ được Taliban và tiêu diệt được phần lớn cơ sở của Al Qaeda, cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ bước sang giai đoạn 2 với tuyên bố điều 650 quân trong lực lượng chống khủng bố của Mỹ sang Philippin để hỗ trợ và đào tạo lực lượng của Philippin tiêu diệt Abu Sayyaf, một nhóm khủng bố mà Mỹ cho là có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda1 (Rensselaer Lee and Raphel Perl, "Terrorism, the Future, and U.S. Foreign Policy", CRS Issue Brief for Congress, 26-3-2002). Trong khi đó, Philippin đồng ý cho Mỹ sử dụng không phận Philippin và tiếp cận các căn cứ quân sự Mỹ trước đây tại Philippin là Subic và Clark. Tổng thống Bush đã cam kết viện trợ kinh tế và quân sự cho Inđônêxia trị giá hơn 700 triệu USD để đổi lại sự hợp tác của nước này trong chiến dịch chống khủng bố. Quốc hội Mỹ bỏ qua các điều khoản cấm viện trợ vũ khí cho Inđônêxia. Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho Inđônêxia để đổi lại sự ủng hộ của nước này đối với cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Vai trò của Inđônêxia, với tư cách là một nước có số dân theo Đạo Hồi đông nhất thế giới, cũng rất quan trọng đối với Mỹ vì tăng cường hợp tác với những nước Hồi giáo ôn hoà là một thành tố chính sách quan trọng của Mỹ khiến cho cuộc chiến chống khủng bố không trở thành "cuộc xung đột giữa các nền văn minh".


Việc Mỹ tăng cường sự hiện diện và mở rộng hợp tác quân sự đối với khu vực Đông Nam Á vì mục tiêu chống khủng bố đã làm tăng thêm tính phức tạp và khó lường trong môi trường an ninh khu vực. Sự cải thiện trong quan hệ Mỹ - Trung từ sau sự kiện 11 tháng 9 có tính chất sách lược hơn là chiến lược. Trong quan hệ Mỹ - Trung, sự nghi ngờ về mục tiêu và ý đồ giữa một siêu cường đang mưu cầu vị trí độc tôn và bá quyền thế giới với một cường quốc đang trỗi dậy còn rất lớn. Bởi vậy, những hành động tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ cho dù với mục tiêu công khai chống khủng bố, ở Đông Nam Á và Trung Á, những khu vực sân sau của Trung Quốc, không khỏi khoét sâu những nghi kỵ và mâu thuẫn lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.


Tóm lại, châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương là hai khu vực chiến lược chủ yếu của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, vị trí của châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược an ninh của Mỹ vì ở đây tồn tại những thách thức lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ. Đặc biệt, sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành một quan ngại an ninh dài hạn đối với Mỹ bởi khả năng nước này thách thức vị trí siêu cường và vai trò lãnh đạo của Mỹ trong tương lai. Trong khi đó, khu vực này vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác an ninh hữu hiệu, một cơ chế Mỹ có thể dựa vào để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Chính vì vậy, giới hoạch định chiến lược, đặc biệt là giới quân sự của Mỹ, ngày càng chú trọng hơn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược toàn cầu từ châu Âu sang châu Á đã bắt đầu manh nha từ dưới chính quyền Clinton. Dưới chính quyền Bush, tư duy đối ngoại hiện thực chính trị của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh đã đẩy quá trình này thêm một bước. Tuy nhiên, sự kiện ngày 11-9-2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tạo ra một bước ngoặt mới trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ. Do ưu tiên trong những năm tới là cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ cần sự hợp tác của các nước lớn khác trong đó có Trung Quốc. Việc cải thiện quan hệ của Mỹ với Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố không có tính chất lâu dài. Một khi nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố quốc tế bị đẩy lui, những mâu thuẫn chiến lược khó có thể dung hoà giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ lại bộc lộ rõ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:29:29 am
CHƯƠNG IV
TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN LƯỢC AN NINH MỚI CỦA MỸ


1. Việc triển khai chiến lược an ninh mới của Mỹ

Irắc không chỉ là mục tiêu tiếp theo trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ mà còn là nơi thử nghiệm Học thuyết tấn công phủ đầu của chính quyền Bush. Hơn thế nữa, Chiến lược an ninh quốc gia với một định nghĩa đầy đủ nhất và những "tiêu chuẩn" của một nước mà Mỹ coi là bất trị cùng với phương cách để đối phó với những nước bất trị này dường như được dựng nên để biện minh và làm cơ sở cho việc Mỹ tấn công quân sự Irắc.


Hiện tại, Mỹ theo đuổi một chiến lược toàn cầu hòng thiết lập sự lãnh đạo của Mỹ và truyền bá giá trị của Mỹ trên toàn thế giới. Để đạt mục tiêu này, Mỹ có lợi ích không chế, kiểm soát và duy trì một cán cân lực lượng có lợi đối với Mỹ tại những khu vực trọng yếu của thế giới. Trung Đông là một trong những khu vực Mỹ có lợi ích sống còn. Khủng bố quốc tế, vấn đề phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, đặc biệt là khi những vũ khí này rơi vào tay những nước mà Mỹ coi là bất trị là những mối đe dọa đối với vai trò lãnh đạo, sự tự do hành động và lợi ích của Mỹ trên thế giới. Vì vậy, chính quyền Mỹ cho rằng Mỹ phải "hành động trước" để ngăn chặn và răn đe.


Tại sao Mỹ coi Irắc là trọng điểm của cuộc chiến chống khủng bố, là cuộc thử nghiệm đầu tiên của Học thuyết chiến tranh phòng ngừa, mặc dù chưa chứng minh được mối liên hệ giữa Saddam và Al Qaeda? Có bốn nguyên nhân chủ yếu.


Một là, Irắc là tâm điểm hội tụ những thách thức lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ trong thời kỳ hiện nay. Thay đổi chế độ ở Irắc sẽ phục vụ những lợi ích chiến lược, kinh tế, chính trị của Mỹ ở khu vực này. Mỹ có những lợi ích chiến lược và dầu mỏ to lớn ở Trung Đông. Lợi ích chiến lược của Mỹ ở Irắc là lợi ích hàng đầu: thay đổi chế độ Saddam Hussein, thiết lập sự hiện diện quân sự ở Irắc sẽ giúp đặt toàn bộ khu vực dưới sự kiểm soát của Mỹ, giúp Mỹ giảm sự phụ thuộc vào Arập Xêút, tạo ra một thế chiến lược có lợi cho Mỹ ở khu vực. Và hơn hết, trừng phạt Irắc sẽ giúp Mỹ có được sự tự do hành động, răn đe các cường quốc thù địch thách thức lợi ích của Mỹ. Yếu tố dầu mỏ cũng là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng trong tính toán của Mỹ. Irắc có trữ lượng dầu lớn thứ hai trên thế giới, ước tính lên tới 112,5 tỷ thùng hay 11% toàn bộ trữ lượng dầu của thế giới1 (Miriam Pemberton, "War in Iraq: The Oil Factor", Foreign Policy in Focus, tháng 9-2002). Trong khi đó, nhu cầu dầu mỏ của Mỹ chiếm một phần tư của toàn thế giới và Mỹ phải nhập khẩu hơn một nửa số này. Theo Báo cáo chính sách năng lượng của chính quyền Bush tháng 5-2002 (còn gọi là báo cáo Cheney), đến năm 2020, Mỹ sẽ phải nhập hai phần ba lượng dầu tiêu thụ. Chính quyền Bush có liên hệ mật thiết với với giới công nghiệp dầu mỏ: cả Tổng thống Bush và Phó Tổng thống Cheney đều đã từng làm việc trong lĩnh vực này. Bốn mươi mốt quan chức cao cấp trong chính quyền Bush đã từng là giám đốc điều hành chính hoặc có cổ phần đáng kể và các mối liên hệ tài chính khác với giới công nghiệp dầu mỏ. Cuối cùng, một chế độ thân Mỹ theo hướng dân chủ ở Irắc sẽ giúp Mỹ thay đổi cơ bản bàn cờ chính trị ở Trung Đông, giúp cho các giá trị Mỹ thâm nhập vào khu vực vốn được coi là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan phát triển. Irắc cũng là nước "cứng đầu cứng cổ", là hiện thân của chủ nghĩa chống Mỹ. Sự đối đầu không che đậy, sự thù địch của chính quyền Saddam Hussein với Mỹ làm cho Mỹ lo ngại về khả năng nước này phát triển vũ khí giết người hàng loạt và truyền bá công nghệ và loại vũ khí này cho các tổ chức khủng bố và các nước "bất trị" khác. Mỹ đặc biệt lo ngại khả năng các nước được coi là "bất trị", các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí giết người hàng loạt (WMD) tấn công vào các lợi ích của Mỹ ở nước ngoài cũng như trên lãnh thổ Mỹ.


Hai là, so với hai đối tượng khác trong "trục ma quỷ" là Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Iran, chính quyền Bush cho rằng Irắc là mục tiêu dễ bị tổn thương hơn cả do nước này chưa có vũ khí hạt nhân và sau một thời gian dài cấm vận đã bị suy yếu đáng kể. Hơn nữa, khác với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, cho dù còn có một số nước phản đối việc Mỹ tiến hành chiến tranh để thay đổi chế độ ở Irắc, các nước lớn có lợi ích ở đây, đặc biệt là Nga, Trung Quốc, EU có khả năng dàn xếp và thoả hiệp với Mỹ về vấn đề này. Nói một cách khác, cái giá phải trả cho một cuộc chiến tranh ở Irắc có thể chấp nhận được, đặc biệt khi mà cái lợi đạt được từ cuộc chiến tranh này là rất lớn như đã phân tích ở trên.


Ba là, cuộc chiến chống khủng bố tạo điều kiện cho chính quyền Bush giải quyết một vấn đề còn dang dở từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Nhiều quan chức trong chính quyền Bush hiện nay đã từng phục vụ dưới chính quyền Bush cha cho rằng quyết định hồi tháng 2-1991 của Mỹ không tiến vào lật đổ Saddam là một sai lầm lớn cần được khắc phục, và thời điểm hiện nay, trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố, là cơ hội vàng.


Bốn là, chính quyền Bush đã đặt cược vào ván bài Irắc. Tương tự như Reagan đã đi vào lịch sử nước Mỹ như một vị Tổng thống đã "có công" chiến thắng trong chiến tranh lạnh, Bush muốn là tổng thống đi vào lịch sử với dấu ấn là vị Tổng thống đã mang lại cái gọi là "hoà bình và dân chủ" đến vùng Vịnh.


Thời điểm đầu năm 2003 là thời điểm tương đối thuận lợi đối với Mỹ. Về nội bộ, Quốc hội Mỹ ủng hộ chính quyền Bush sử dụng vũ lực trong vấn đề Irắc. Đây là yếu tố rất quan trọng, về cơ bản công chúng Mỹ trở nên ủng hộ việc sử dụng vũ lực trong cuộc chiến chống khủng bố kể từ sau sự kiện 11 tháng 9. Hơn thế nữa, nhìn chung đa số công chúng Mỹ cũng ủng hộ học thuyết tấn công phủ đầu, sử dụng vũ lực đổ tấn công ngăn chặn trong cuộc chiến chống khủng bố. Về quốc tế, Mỹ đã phần nào thành công trong việc thuyết phục đồng minh và đối tác trong cuộc chiến chống khủng bố thông qua việc gây sức ép, mặc cả và đổi chác với các nước nhằm lôi kéo sự ủng hộ, hoặc chí ít là sự ngầm chấp nhận việc Mỹ tấn công Irắc để loại bỏ Saddam Hussein. Nếu không có sự kiện 11 tháng 9, yếu tố quốc tế không thể thuận lợi như vậy đối với chính quyền Bush.


Về mặt chính trị, nếu không đưa ra được những bằng chứng có tính thuyết phục về sự liên hệ của Irắc với mạng lưới khủng bố quốc tế và không có được sự đồng thuận của Liên hợp quốc và sự ủng hộ rộng rãi của đồng minh, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Irắc sẽ xói mòn liên minh quốc tế chống khủng bố. Điều trớ trêu là trong khi trọng tâm của chính sách đối ngoại Mỹ trong thời gian tới là duy trì liên minh quốc tế chống khủng bố, thì điều kiện thiết yếu đối với cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu do Mỹ phát động, với việc biến Irắc và khả năng tấn công quân sự Irắc nhằm thay đổi chế độ ở đây thành trọng điểm giai đoạn II của cuộc chiến chống khủng bố và sẽ làm tan rã liên minh quốc tế chống khủng bố. Hơn thế nữa, nó sẽ khoét sâu mâu thuẫn giữa Mỹ và thế giới Hồi giáo, làm gia tăng tâm lý chống Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả trong các đồng minh thân cận.


Bên cạnh đó, việc tấn công quân sự Irắc cũng có những mạo hiểm đối với Bush về mặt chính trị nội bộ. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc nhiều hơn vào kết quả của cuộc tấn công quân sự.

Về mặt quân sự, thách thức đối với chính quyền Bush là tiến hành một cuộc tấn công quân sự để có thể chiến thắng nhanh chóng và ít thương vong. Trong khi đó, giới quân sự Mỹ vẫn chưa có phương án hữu hiệu để trung lập hoá nguy cơ phản công bằng vũ khí hoá học hoặc sinh học. Hơn nữa, thay vì ngăn chặn những hành động khủng bố trong tương lai, cuộc tấn công quân sự của Mỹ sẽ khiêu khích và kích động các tổ chức khủng bố thực hiện những cuộc khủng bố khác. Cuộc không kích trả đũa Libi năm 1986 là một ví dụ điển hình. Chính cuộc không kích này đã là nguyên nhân dẫn đến vụ đánh bom máy bay của hãng hàng không Pan Am 103 của Mỹ hai năm sau đó.


Về mặt tài chính, theo nhiều đánh giá, chi phí cuộc chiến có thể gấp từ 2 đến 4 lần chi phí của cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, tức từ 100 đến 200 tỷ USD so với 57 tỷ USD của năm 1991. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ có thể chịu được chi phí này. Điều khó khăn hơn là tái thiết Irắc và duy trì ổn định ở đây. Trong bối cảnh các đồng minh không sẵn lòng gánh vác những chi phí tài chính như trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, cuộc chiến của Mỹ ở Irắc có thể đưa chính quyền Bush con vào tình trạng như chính quyền Bush cha, tức là chiến thắng về đối ngoại sẽ không đủ trang trải cho thất bại về kinh tế và tài chính.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:32:02 am
2. Chiều hướng chính sách của Mỹ sau Irắc

Việc Mỹ coi Irắc là trọng điểm của giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến chống khủng bố, mặc dù sự liên hệ giữa việc Mỹ đánh Irắc và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ không có cơ sở rõ ràng, không khỏi làm người ta lo ngại: vậy đâu là giới hạn cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, và nước nào sẽ là mục tiêu tiếp theo của sự biểu dương sức mạnh quân sự của Mỹ?


Nhìn lại những điều kiện can thiệp quân sự và thực tế chính sách can thiệp của Mỹ, đặc biệt trong thời kỳ những năm 1990, có thể thấy toát lên ba nét nổi bật. Thứ nhất, điều kiện quan trọng nhất để Mỹ can thiệp vào một cuộc xung đột ngoài biên giới của mình được các nhà lãnh đạo Mỹ nhấn mạnh là khi lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ hoặc của đồng minh bị đe dọa. Tuy nhiên, trên thực tế, bản thân việc xác định lợi ích nào là lợi ích quốc gia sống còn bị đe dọa lại là vấn đề rất lớn bởi không có một công thức rõ ràng nào để xác định nó. Điều này có nghĩa là các nhà lãnh đạo Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh có khả năng can thiệp vào một phạm vi các vấn đề rộng hơn và ít liên quan trực tiếp hơn đến cái gọi là lợi ích sống còn của Mỹ. Thứ hai, sự can thiệp quân sự phải được sự ủng hộ của quốc hội và đồng minh, chi phí có thể chấp nhận được, có sự chỉ huy và kiểm soát rõ ràng, khả năng giành thắng lợi cao, ít thương vong và có điểm rút ra rõ ràng1 (Christopher, 4-1993). Thứ ba, những nhân tố nội bộ Mỹ đóng vai trò rất quan trọng trong các quyết định đối ngoại của Mỹ. Đấu tranh đảng phái, thời điểm trước bầu cử hay nhân tố cá nhân Tổng thống Mỹ trong một số trường hợp có thể có tác động không nhỏ đối với một cuộc phiêu lưu quân sự của nước Mỹ. Quyết định ném bom Irắc của Mỹ hồi tháng 12-1998 là một minh chứng điển hình cho mối liên hệ chặt chẽ giữa nhân tố đối nội và đối ngoại. Tổng thống Clinton đã phải tỏ ra quyết đoán và mạnh mẽ trong vấn đề Irắc để phần nào cải thiện hình ảnh của một vị Tổng thống đang gặp nhiều bê bối. Việc Mỹ tấn công Kosovo vào thời điểm NATO kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và chuẩn bị thông qua khái niệm chiến lược mới không chỉ trùng hợp ngẫu nhiên với thời kỳ Mỹ chỉ còn một năm nữa là bầu cử tổng thống. Kosovo cũng là một canh bạc lớn cuối cùng của Clinton với hy vọng làm mờ nhạt hình ảnh của một vị Tổng thống của các vụ bê bối. Tương tự như vậy, thời điểm Mỹ đưa vấn đề Irắc ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 9-2002 cũng là để nhằm hướng dư luận ra khỏi những vụ bê bối tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ mà bản thân Tổng thống Bush và các cố vấn thân cận của ông ta cũng có phần liên quan. Thời điểm Mỹ đánh Irắc một năm trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 cũng là sự tính toán kỹ lưỡng, tính đến nhân tố chính trị nội bộ.


Trên cơ sở ba yếu tố nêu ra ở trên, có thể thấy ít có khả năng Mỹ sẽ tấn công quân sự một nước khác trong "trục ma quỷ" ngay sau cuộc chiến của Mỹ ở Irắc. Thứ nhất, chính quyền Bush sẽ phải tập trung vào các vấn đề đối nội, chuẩn bị cho cuộc chạy đua năm 2004. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang tiềm ẩn nhiều vấn đề và sự phục hồi của kinh tế Mỹ không chắc chắn. Thứ hai, Mỹ cần sự hợp tác của đồng minh và đối tác trong cuộc chiến chống khủng bối Nếu Mỹ vung tay quá trán thì rạn nứt trong liên minh chống khủng bố của Mỹ sẽ không thể cứu vãn và chủ nghĩa chống Mỹ sẽ tiếp tục tăng mạnh.


Thứ ba, xét từ góc độ chi phí chiến tranh, khả năng giành thắng lợi nhanh, ít thương vong thì cả Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Iran đều khó có thể đáp ứng điều kiện này. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên làm người ta lo ngại rằng nước này sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo của Mỹ. Thực chất, các chiến lược gia của Mỹ khó có thể vạch ra một chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, ít thương vong ở khu vực này nếu tính đến tiềm lực quân sự của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, vị trí địa lý của nước này và khả năng can thiệp của Trung Quốc.


Vậy trong những hoàn cảnh nào thì Mỹ sẽ can thiệp ở châu Á? Và khả năng Mỹ can thiệp ở khu vực này lớn đến đâu và ở mức độ nào? Ở châu Á, hiện có ba điểm nóng tiềm tàng: bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan và tranh chấp biển Đông. Việc Mỹ duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật và thậm chí mở rộng phạm vi hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật bao gồm cả "khu vực xung quanh Nhật Bản" với việc sửa đổi Phương châm hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật tháng 9-1997, dường như là một bước chuẩn bị cho sự can thiệp của Mỹ, với sự hỗ trợ hậu cần của lực lượng phòng vệ Nhật Bản.


Tuy nhiên, Mỹ khó có thể trông chờ ở sự ủng hộ của đồng minh của Mỹ ở Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, trong trường hợp Mỹ can thiệp vào khu vực này. Nội bộ Nhật Bản cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò cụ thể của Nhật Bản trong trường hợp Mỹ tiến hành can thiệp ở châu Á. Nói tóm lại, Mỹ khó có thể trông chờ Nhật Bản ủng hộ và tham gia vào một cuộc phiêu lưu quán sự nào đó của Mỹ ở eo biển Đài Loan hay ở biển Đông.


Cả Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đều bị Mỹ nghi ngờ phát triển vũ khí hạt nhân và đòi hỏi hai nước này phải mở cửa các cơ sở bị tình nghi cho thanh tra của Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Tuy nhiên, trong trường hợp Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, các bên liên quan đã đạt được một thoả thuận khung theo đó Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đồng ý ngừng các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân để đổi lấy 500.000 tấn HFO và các lò phản ứng nước nhẹ. Cơ chế chủ yếu để xây dựng các lò phản ứng nước nhẹ là thông qua Tổ chức Phát triển năng lượng bán đảo Triều Tiên (KEDO). Đàm phán bốn bên giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần làm giảm căng thẳng và xây dựng lòng tin trên bán đảo Triều Tiên.


Mỹ phải tính đến vai trò của Trung Quốc, Nga, và ở mức độ nào đó là Ấn Độ, trong các vấn đề an ninh ở châu Á. Nói một cách khác, thế đa cực tương đối vững chắc ở châu Á - Thái Bình Dương sẽ là một nhân tố cản trở những cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ ở châu Á. Sau vấn đề bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan là một vấn đề an ninh có tiềm năng gây mất ổn định ở khu vực.


Quan hệ Mỹ - Trung Quốc đã đi đến đỉnh cao căng thẳng hồi năm 1996 khi Mỹ cử hai tàu sân bay đến vùng eo biển Đài Loan để răn đe cuộc tập trận của Trung Quốc ở khu vực này. Tuy nhiên, khi đến bên bờ của sự đổ vỡ, hai nước đã kịp thời điều chỉnh quan hệ và một giai đoạn nồng ấm trong quan hệ Mỹ - Trung bắt đầu với quyết tâm xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Cho dù vẫn tồn tại những khác biệt cơ bản và những mâu thuẫn to lớn giữa hai nước, đã hình thành một nhận thức sâu sắc ở cả phía Mỹ và Trung Quốc về tầm quan trọng và sự cần thiết phải hợp tác để giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu.


Những nhân tố nói trên sẽ có tác động mạnh mẽ đèn quyết định can thiệp quân sự ở châu Á. Tuy nhiên, những nhân tố này không loại trừ khả năng can thiệp quân sự của Mỹ ở khu vực này. Trong những hoàn cảnh đặc biệt và do tính toán sai lầm về chiến lược và lợi ích của chính quyền Mỹ vào thời điểm đó, Mỹ có thể can thiệp với mức độ khác nhau ở khu vực này.


Việc Mỹ đặt Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa giới hạn trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố và ứng phó với các nước "bất trị" cho thấy khả năng sử dụng vũ lực lan tràn đối với các đối tượng khác chưa hẳn đã được đặt ra. Xét cho cùng, chính quyền Bush cũng phải nhận thức được giới hạn sức mạnh của nước Mỹ trong một thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Bản thân nước Mỹ cũng đang gặp những khó khăn nội bộ lớn, đặc biệt là nguy cơ suy thoái kinh tế và việc giải quyết một loạt những vụ bê bối tài chính của các tập đoàn và công ty lớn. Số phận chính trị của Bush con phụ thuộc nhiều hơn vào triển vọng phát triển kinh tế của nước Mỹ chứ không phải vào các cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Bài học thất cử nhiệm kỳ II của Bush cha chắc hẳn không thể bỏ qua nếu George W. Bush không muốn đi theo vết xe đổ của Bush cha hơn một thập kỷ về trước.


Điều đáng lo ngại hơn là sự thắng thế hiện nay của phe bảo thủ trong chính quyền Mỹ có nghĩa là chính sách của Mỹ trong thời gian tới sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi tầm nhìn và quan điểm của những nhân vật bảo thủ như Dick Cheney, Donald Rumsfeld và Paulfowitz. Chiến thắng của Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11-2002 cho thấy sự ủng hộ chính trị trong nước đối với chính quyền Bush. Đối với chính quyền Bush, điều này không chỉ có nghĩa nội bộ Mỹ ủng hộ chính sách của chính quyền Bush trong thời gian vừa qua mà còn là cơ sở chính trị nội bộ để chính quyền Bush thúc đẩy việc thực hiện những ý đồ và tham vọng của mình trong thời gian tới. Xét từ góc độ này, chương trình nghị sự chính sách an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush, được hậu thuẫn bởi Quốc hội do Đảng Cộng hoà kiểm soát ở cả hai Viện, sẽ trở nên hung hăng hơn do ảnh hưởng của nhóm bảo thủ trong chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:33:24 am
3. Tác động đối với thế giới và khu vực

Điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ nói chung và Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa của chính quyền Bush nói riêng có những hệ luỵ trước mắt cũng như lâu dài đối với thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Việc chính quyền Bush công bố Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa cho thấy ít nhất hai điều. Thứ nhất, là siêu cường duy nhất, Mỹ tự cho phép mình định ra luật chơi, thay đổi luật chơi đã được cộng đồng quốc tế lập ra từ năm 1945 với việc thành lập Liên hợp quốc. Với việc đưa ra khái niệm tấn công phòng ngừa Mỹ đã tự đặt mình cao hơn luật pháp quốc tế. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, một quốc gia chỉ có thể sử dụng vũ lực chống lại một quốc gia có chủ quyền khác trong hai trường hớp. Trường hợp thứ nhất là theo điều 51, một quốc gia được quyền tự vệ, sử dụng vũ lực để đánh trả sự tấn công của một quốc gia khác. Trường hợp thứ hai là khi hoà bình và an ninh quốc tế bị đe dọa và được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngay chính Henry Kissinger cũng cho rằng việc chính quyền Bush chủ trương can thiệp quân sự để thay đổi chế độ là thách thức cả hệ thống quốc tế bởi vì nó đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Thứ hai là học thuyết của Bush thể hiện rõ ràng mục tiêu bá chủ thế giới. Cho dù đây không phải là điều mới mẻ bởi các chính quyền trước của Mỹ cũng đều theo đuổi mục tiêu này, chính quyền Bush đã đi xa thêm một bước khi không chỉ tự cho mình là sen đầm quốc tế, mà còn tự cho mình đứng cao hơn cộng đồng quốc tế. Nói một cách khác, ngay chính nhiều học giả Mỹ cũng cho rằng đây là sự hành xử của một đế chế. Một sen đầm quốc tế làm theo mệnh lệnh của cộng đồng quốc tế. Một đế chế tự mình đưa ra quyết định và cũng đớn phương thực hiện quyết định đó. Và nước Mỹ ngày nay không chỉ là sen đầm quốc tế, mà còn đang cư xử như một đế chế.


Điều chỉnh chiến lược trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ có tác động đối với những xu thế quốc tế chủ đạo thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Cho dù chiến tranh thế giới khó có thể xảy ra, thời kỳ hoà bình và ổn định tương đối trên thế giới kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đã chấm dứt. Sự cương quyết trả đũa của Mỹ và những tuyên bố mạnh mẽ về sự sẵn sàng theo đuổi cuộc chiến cho đến khi "tất cả các nhóm khủng bố có địa bàn hoạt động toàn cầu được phát hiện, ngăn chặn và đánh bại"1 (Phát biểu của Tổng thống George W.Bush trước hai Viện Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ ngày 20-9-2001) báo hiệu cho sự bắt đầu của một "vòng xoáy bạo lực" mới trên thế giới. Tính chất và phạm vi không giới hạn của cuộc chiến vô hình mà nạn nhân chủ yếu sẽ là những người dân vô tội càng làm tăng tình trạng thiếu an ninh và bất ổn trên thế giới. Trên thực tế, nạn khủng bố ngày càng gia tăng và trở thành mối đe dọa đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Vụ khủng bố ở Bali, vụ bắt cóc con tin ở Nga và những vụ khủng bố ở Trung Đông cho thấy khủng bố quốc tế ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe dọa an ninh của nhiều nước và khu vực trên thế giới.


Một trong những đặc trưng nổi bật của thời kỳ sau chiến tranh lạnh là các quốc gia trên thế giới đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế. Người ta nói đến cuộc chạy đua về kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá đã thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang thời kỳ chiến tranh lạnh. Kể từ sự kiện 11 tháng 9 và Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, vấn đề khủng bố và chống khủng bố quốc tế sẽ chiếm ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự an ninh quốc gia của Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, cướp biển, nhập cư bất hợp pháp, v.v..., vốn đã ngày càng trở nên quan trọng kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, sẽ càng trở nên cấp bách hơn. Và vấn đề này sẽ chiếm ưu tiên cao trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và khu vực trong thời gian tới.


Một hệ quả quan trọng khác của điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ là vấn đề chạy đua vũ trang. Như trong Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ nêu rõ, một mặt Mỹ phải duy trì và mở rộng khoảng cách sức mạnh để ngăn chặn một cường quốc nổi lên thách thức vị trí của Mỹ. Đó là tính toán của Mỹ. Những cường quốc nằm trong tầm ngăn chặn của Mỹ đương nhiên sẽ phải có đối sách tương ứng để tăng cường sức mạnh quân sự của mình, tránh khả năng bị phụ thuộc hoặc bị Mỹ dùng sức mạnh quân sự o ép. Một ví dụ điển hình là mặc dù Nga đã phải "ngậm bồ hòn làm ngọt" đối với việc Mỹ rút ra khỏi Hiệp ước ABM và xúc tiến việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia, tháng 1- 2003, Nga tuyên bố cũng sẽ xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa để bảo vệ an ninh cho mình. Điều này cho thấy một cuộc chạy đua vũ trang với quy mô có thể nhỏ hơn so với thời kỳ chiến tranh lạnh đã bắt đầu, chủ yếu do chính sách của Mỹ gây ra. Mặt khác, một mục tiêu quan trọng khác của Mỹ là các nước "bất trị". Đây cũng chính là mục tiêu của Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa. Để chống lại ý đồ của Mỹ, do không có khả năng đối đầu quân sự trực diện với Mỹ, những nước hoặc những tổ chức thù địch với Mỹ sẽ ngày càng sử dụng những biện pháp không cân xứng. Đối với những đối tượng này, việc tăng cường sức mạnh quân sự thông thường có thể không được đặt ra. Nhưng việc tìm kiếm, sở hữu những loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đặc biệt là bộ ba vũ khí hạt nhân sinh học và hoá học sẽ càng ráo riết hơn bao giờ hết.


Quan hệ giữa các nước lớn Mỹ, Nga, Trung Quốc cũng có những biến chuyển quan trọng sau sự kiện ngày 11 tháng 9 và trước những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ của các nước, đặc biệt là Mỹ và Nga. Có thể thấy ít nhất ba nét nổi bật. Một là mặt hợp tác trong quan hệ giữa những nước này tăng lên đáng kể so với thời kỳ trước đó. Hai là sự đấu tranh giữa xu thế đơn cực và đa cực giảm do các nước lớn chia sẻ lợi ích trong cuộc chiến chống khủng bố. Ba là những dấu hiệu manh nha phân cực trong quan hệ giữa các nước lớn trước đó, do việc Mỹ - Nhật và Nga - Trung tăng cường hợp tác và mặt cạnh tranh nổi lên trong quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ - Nga, đã giảm đáng kể. Yếu tố hoà hợp quyền lực (concert of power) nổi lên rõ nét hơn với khả năng Mỹ, Nga và Trung Quốc tăng cường hợp tác và có khả năng đi đến thoả hiệp trên một số vấn đề gai góc. Những thay đổi này, nếu có tính chất lâu dài, sẽ có tác động quan trọng đối với trật tự thế giới trong thế kỷ XXI. Trật tự thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh đến nay có thể coi là một thế giới "đơn - đa cực"1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign affairs Vol. 78, No. 2, tháng 3/4-1999) như cách gọi của học giả Mỹ Samuel Huntington.


Chiến tranh lạnh kết thúc, lợi ích quốc gia thay thế ý thức hệ trở thành tiêu chí quan trọng nhất trong các mối quan hệ và tập hợp lực lượng quốc tế. Sự kiện ngày 11 tháng 9 và sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Mỹ, sẽ vạch một đường phân giới mới trong nền chính trị quốc tế. "Mọi quốc gia, mọi khu vực đang đứng trước một quyết định. Hoặc họ đứng về phía chúng ta, hoặc họ đứng về phía khủng bố1 (Phát biểu của Tổng thống George W.Bush trước hai Viện Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ ngày 20-9-2001) là tuyên bố chính sách thẳng thừng và mạnh mẽ của Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Powell cũng phát biểu, từ nay Mỹ sẽ đánh giá quan hệ với các nước khác căn cứ vào sự hợp tác chống khủng bố của quốc gia đó với Mỹ. Như vậy, ít nhất trong vài năm tới, trên thế giới có thể sẽ hình thành tập hợp lực lượng mới. Một liên minh quốc tế chống khủng bố do Mỹ cầm đầu và hạt nhân là các nước đồng minh của Mỹ trong NATO, đặc biệt là Anh, và phần nào là đồng minh của Mỹ ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Ôxtrâylia sẽ được hình thành. Vòng ngoài của liên minh này bao gồm các nước muốn tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ cả về kinh tế lẫn chính trị nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề ly khai, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo trong nội bộ của mình. Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan và các nước Cộng hoà Trung Á là những trường hợp như vậy. Đối lập với liên minh quốc tế này sẽ là mạng lưới khủng bố quốc tế được một số ít quốc gia bảo trợ. Tuy nhiên, đây chỉ là một liên mình lỏng lẻo, một sự liên kết nhất thời của các nước nhằm đối phó với một mối đe dọa chung trước mắt là chủ nghĩa khủng bố và phục vụ các tính toán lợi ích riêng. Tập hợp lực lượng của những nước "đồng sàng dị mộng" sẽ nhanh chóng tan vỡ một khi mục tiêu chống khủng bố không còn là mục tiêu bao trùm trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ.


Điều chắc chắn là biện pháp trả đũa quân sự sẽ chỉ khoét sâu thêm hận thù giũa Mỹ và thế giới Hồi giáo, làm cho thế giới ngày càng trở nên bất ổn định. Không ít người Hồi giáo sẵn sàng tham gia vào cuộc Thánh chiến chống Mỹ và phương Tây. Chính vì vậy, cho dù Mỹ và các đồng minh đã nhiều lần khẳng định đây không phải là một cuộc chiến tranh chống lại Đạo Hồi và thế giới Hồi giáo, cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Ápganixtan, đặc biệt là cuộc chiến của Mỹ ở Irắc, nguy cơ cuộc chiến chống khủng bố trở thành cuộc xung đột giữa phương Tây và Hồi giáo, hay luận thuyết "cuộc xung đột giữa các nền văn minh" của Samuel Huntington trở thành thực tế, càng lớn hơn bao giờ hết. Bởi vậy, việc tăng cường sử dụng vũ lực và sức mạnh quân sự nhằm đạt các mục tiêu trước mắt của Mỹ sẽ để lại những hậu quả về lâu về dài.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:34:46 am
KẾT LUẬN


Dưới chính quyền Bush con, chiến lược an ninh của Hoa Kỳ đã có những điều chỉnh quan trọng, về cơ bản xu hướng điều chỉnh này đã bắt đầu hình thành từ trước sự kiện 11-9-2001. Tuy nhiên, sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã đẩy nhanh sự điều chỉnh này cũng như tạo ra một số thay đổi về thứ tự ưu tiên trong chương trình nghị sự an ninh của Mỹ.


1. Tiền đề của sự điều chỉnh chiến lược an ninh dưới chính quyền Bush là ưu thế sức mạnh vượt trội của Mỹ trong một thế giới không còn thách thức từ phía Liên Xô. Nước Mỹ chiếm ưu thế sức mạnh trên tất cả những lĩnh vực then chốt của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Trong những năm 1990 dưới hai nhiệm kỳ của Clinton, kinh tế Mỹ đã có sự phát triển ngoạn mục, tạo cơ sở cho Mỹ củng cố sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin mà Mỹ đi đầu, đã giúp cho Mỹ không những giữ mà còn mở rộng khoảng cách đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng về kinh tế. Trong vòng hai đến ba thập kỷ tới, khó có cường quốc nào có thể thách thức vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ.


2. Từ sau cuộc chiến ở Ápganixtan, vị thế siêu cường hàng đầu của Mỹ càng được củng cố. Nói một cách khác, cuộc chiến chống khủng bố đã tạo ra một số chuyển biến có lợi cho Mỹ. Thứ nhất, cuộc chiến chống khủng bố đã giúp củng cố cơ sở quyền lực chính trị của chính quyền Mỹ, vốn rất yếu sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000. Thứ hai, cuộc chiến chống khủng bố đã giúp cải thiện đáng kể quan hệ của Mỹ với Nga và Trung Quốc. Sự ủng hộ mạnh mẽ của Nga trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ cùng với những nhượng bộ của Nga trong các vấn đề như phòng thủ tên lửa, mở rộng NATO về phía đông tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ trong việc theo đuổi những mục tiêu và ý đồ chiến lược của mình. Nó cũng giúp Mỹ làm suy yếu tập hợp lực lượng chống Mỹ giữa các nước lớn chủ trương một trật tự thế giới đơn cực là Nga, Trung Quốc và Ấn Độ. Thứ ba, cuộc chiến chống khủng bố cũng giúp Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở nhiều nơi trên thế giới, xâm nhập vào vùng ảnh hưởng truyền thống của Nga và Trung Quốc, thực hiện chiến lược lâu dài nhằm kiểm soát nguồn dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên ở Trung Á1 (Vùng biển Caspie chứa khoảng 270 tỷ thùng dầu, khoảng 20% trữ lượng dầu và 1/8 toàn bộ nguồn khí đốt thiên nhiên trên thế giới), củng cố ảnh hưởng của Mỹ ở vùng Vịnh. Như vậy, cuộc chiến chống khủng bố đã tạo cơ hội cho Mỹ thúc đẩy việc thực hiện những ý đồ chiến lược dài hạn là thiết lập bá quyền trên toàn thế giới, ngăn chặn ảnh hưởng của các đối thủ tiềm tàng.


3. Bộ máy hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush bao gồm phần lớn những nhân vật bảo thủ, theo đuổi một chương trình nghị sự kiểu đế quốc mới (neo-imperial). Chính quyền Cộng hoà của Tổng thống Bush thi hành một chiến lược an ninh dựa trên ưu thế sức mạnh của Mỹ, bất chấp những ràng buộc quốc tế. Thắng lợi ban đầu trong cuộc chiến chống khủng bố đã giúp củng cố cơ sở quyền lực chính trị của chính quyền Bush và tăng ảnh hưởng của phe bảo thủ, hiếu chiến trong chính quyền Mỹ. Đây là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến chiều hướng chính sách của Mỹ trong thời gian tới.


4. Điều chỉnh chiến lược an ninh quốc phòng dưới chính quyền Bush thể hiện lập trường cứng rắn truyền thống của Đảng Cộng hoà trong vấn đề phòng thủ. An ninh quân sự trở thành trụ cột chủ đạo; tư tưởng chiến lược mang tính tấn công hơn thể hiện ở học thuyết chiến tranh phòng ngừa và chính sách hạt nhân mới; mưu cầu ưu thế và an ninh tuyệt đối thông qua việc phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa.


5. Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ mà cốt lõi là học thuyết Bush thực chất chủ trương tiếp tục phát triển thế mạnh quân sự của Mỹ nhằm ngăn chặn bất kỳ một thế lực nào có thể nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Bắt nguồn từ định nghĩa hẹp hòi về lợi ích quốc gia của Mỹ, "lợi ích của Mỹ bị đe dọa khi lãnh thổ của Mỹ bị đe dọa, nhân dân Mỹ bị nguy hiểm và đồng minh của My bị thách thức"1 (George Bush on Foreign Policy, Issue 2001: Every Political Leader on Every Issue, at http://issue2000.org/celeb), chiến lược an ninh quốc phòng của chính quyền Bush thể hiện tính thực dụng cao - một đặc điểm của các chính quyền Cộng hòa.


6. Những điều chỉnh quan trọng này trong chiến lược an ninh của Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI được thúc đẩy mạnh hơn trước trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố. Thực chất, nó phục vụ mục tiêu lâu dài, không đổi của Mỹ là thiết lập một nền hòa bình kiểu Mỹ trên toàn thế giới. Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ không những không dẫn đến thay đổi mà còn củng cố cơ sở tư tưởng chiến lược toàn cầu của Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mỹ cần khống chế khu vực ngoại vi đại lục Âu-Á thì mới có thể kiểm soát được toàn thế giới. Đại lục Âu-Á là bộ phận cấu thành cơ bản của chiến lược lớn của Mỹ nửa cuối thế kỷ XX và ít nhất trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI1 (Nữu Tiến Chung, Dự báo chiến lược thế kỷ XXI, Học viện Quan hệ quốc tế, 2002, tr. 100-101). Sự kiện 11 tháng 9 trên thực tế đã tạo điều kiện cho việc đặt chân vào những khu vực có vị trí chiến lược thiết yếu ở Trung Á, phục vụ lợi ích chiến lược dài hạn của Mỹ là ngăn chặn sự trỗi dậy của một cường quốc có khả năng đe dọa vị trí của Mỹ trong tương lai.


7. Châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ cả trong tương lai ngắn và dài hạn. Cuộc chiến chống khủng bố mặc dù có phạm vi toàn cầu, thực chất tập trung chủ yếu ở châu Á, đặc biệt là Tây Nam Á và Đông Nam Á. Về lâu dài, đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến cho châu Á sẽ trở thành trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ trong thế kỷ XXI. Trên thực tế, xu hướng chuyển dịch trọng tâm chiến lược của Mỹ theo hướng chú trọng châu Á hơn đã bắt đầu diễn ra từ cuối thập kỷ 90 thế kỷ XX và được đẩy mạnh dưới chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:35:38 am
8. Cho dù ít coi trọng các thể chế quốc tế và chủ nghĩa đa phương hơn so với chính quyền tiền nhiệm, chính quyền Bush vẫn chú trọng quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh an ninh chủ chốt của mình ở châu Âu và châu Á. Những liên minh an ninh đa phương và song phương thời kỳ chiến tranh lạnh vẫn chiếm giữ vị trí trung tâm trong chiến lược an ninh của Mỹ. Quan hệ an ninh chính trị giữa Mỹ với các đồng minh chủ chốt ở châu Âu và châu Á không những có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, mà còn có tầm quan trọng to lớn đối với khả năng thực hiện chiến lược bá chủ toàn cầu của Mỹ. Đây là hai cánh chiến lược chủ yếu của Mỹ và quan hệ đồng minh an ninh với Tây Âu và Nhật Bản là trụ cột trong chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu và châu Á. Mặc dù những trở ngại trong quan hệ của Mỹ với các đồng minh vẫn tồn tại và có chiều hướng gia tăng cùng với xu hướng hành động đơn phương, bá quyền và ngạo mạn của Mỹ1 (Một số học giả Mỹ,  cũng chỉ trích Mỹ đang trở thành một "siêu cường cô đơn" và "siêu cường bất hảo" (rouge superpower) với xu hướng bá quyền, hành động đơn phương, không tính đến lợi ích của chính các đồng minh của mình. Xem thêm Sammuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999; Gary Wills, "Bully of the Free World", Foreign Affairs, Vol. 78, No. 2, tháng 3/4-1999), những liên minh an ninh này vẫn có cơ sở để tồn tại và phát triển trong một vài thập kỷ tới. Mặt khác, sự thay đổi trong tương quan lực lượng, ý chí độc lập của các đồng minh, cũng như những khác biệt nhất định về nhận thức và xác định lợi ích chiến lược làm cho những mối quan hệ này ngày càng trở nên bình đẳng hơn. Điều này cũng có nghĩa là các đồng minh của Mỹ không đơn thuần là những công cụ chiến lược của Mỹ mà còn là những trung tâm kinh tế, chính trị lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh với Mỹ trong một thế giới đang tiến tới đa cực.


9. Những điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush có những hệ luỵ quan trọng đối với Việt Nam. Trong tính toán của Hoa Kỳ, Việt Nam là một nhân tố quan trọng trong cân bằng chiến lược ở Đông Á và quan hệ với Việt Nam phục vụ lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Đông Á - Thái Bình Dương. Lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc và khả năng Trung Quốc có thể thách thức vị trí lãnh đạo của Hoa Kỳ trong tương lai, Mỹ cho rằng Việt Nam có thể tạo nên một đối trọng trong tương lai đối với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực. Một mặt, Mỹ chủ trương lôi kéo Trung Quốc vào khu vực và thế giới. Mặt khác, Mỹ vẫn triển khai chính sách cân bằng chiến lược ở khu vực để đề phòng những bất trắc nếu chính sách can dự của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc không thành công. Vị trí địa chiến lược, địa chính trị làm cho Việt Nam trở thành một nhân tố đáng kể trong những tính toán cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ. Mỹ cũng không muốn Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng từ Việt Nam ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á1 (Frederick Z. Brown, "Vì sao Hoa Kỳ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam", Tạp chí Quân sự nước ngoài tháng 1-1994, tr. 38-39). Cuộc chiến chống khủng bố về ngắn hạn có thể làm giảm ưu tiên của chính sách cân bằng với Trung Quốc trong chương trình nghị sự của Mỹ. Tuy nhiên, về lâu dài, mục tiêu kiềm chế Trung Quốc của Mỹ vẫn không đổi. Vì vậy, sự quan tâm của Mỹ đối với Việt Nam, cụ thể hơn là khả năng tiếp cận cảng hoặc sử dụng các cơ sở hạ tầng, là rất quan trọng về mặt chiến lược. Một bản báo cáo của Rand đã khuyến nghị chính quyền Bush củng cố các dàn xếp an ninh sẵn có với các nước Đông Nam Á (khu vực mà hiện nay Mỹ không có sự hiện diện quân sự thường trực) và thiết lập các dàn xếp mới với Philippin, Inđônêxia và có thể là Việt Nam nhằm chuẩn bị cho các tình huống quân sự nảy sinh ở khu vực này và đặc biệt là ở biển Đông2 (Zalmay Khalizad, The United States and Asia: Toward a new US. Strategy and force posture, RAND, 2001). Không ít học giả Mỹ cho rằng Việt Nam có hai tố chất để có thể trở thành đối tác chiến lược của Mỹ. Một là vị trí của Việt Nam: Việt Nam có thể trở thành bàn đạp để triển khai lực lượng ra biển Đông. Hai là Việt Nam có lịch sử lâu dài chống lại sự xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc3 (AAron L. Friedberg, Asia Allies: True strategic partners, tr. 214-215).


10. Vào thời điểm này, khi Mỹ điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để phục vụ cùng một lúc những mục tiêu chiến lược trước mắt và lâu dài trong một thế giới mà những thách thức đặt ra đối với nước Mỹ là vô cùng phức tạp và đa dạng, một câu hỏi lớn đặt ra về nguy cơ quen thuộc đối với các đế chế hùng mạnh là "sự quá dàn trải". Paul Kennedy, một sử gia nổi tiếng của Mỹ, đã nhận định hơn một thập kỷ trước đây trong cuổn sách Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc về sự suy yếu của Mỹ và về "thực tế trớ trêu và lâu dài là tổng số những lợi ích và nghĩa vụ toàn cầu của Mỹ ngày nay lớn hơn nhiều so với sức mạnh của Mỹ để bảo vệ cùng một lúc tất cả những lợi ích và nghĩa vụ đó"1 (Paul Kennedy, "Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ 1500 đến 2000: Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc", Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1992, tr.73). Những dấu hiệu ban đầu đã xuất hiện. Việc nước Mỹ tăng mạnh ngân sách quân sự đang đưa nước Mỹ quay trở lại thời kỳ thâm hụt ngân sách như dưới thời Reagan. Trong khi đó, thâm hụt cán cân thương mại nặng nề tiếp tục đe dọa đồng đôla Mỹ. Nền kinh tế tuy đã ra khỏi suy thoái nhưng vẫn ẩn chứa những thách thức tiềm tàng. Đây là những nguy cơ thực tế đối với một nước Mỹ đang lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố để tăng cường sức mạnh và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của mình. Mặc dù hãy còn quá sớm để kết luận rằng những nguy cơ này sẽ dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của đế chế Mỹ, kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy thời kỳ phát triển cực thịnh của các đế chế cũng là thời kỳ báo hiệu sự bắt đầu đi xuống. Xét cho cùng, không có gì là tồn tại vĩnh cửu và nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:32:07 am
PHỤ LỤC

CHIẾN LƯỢC AN NINH QUỐC GIA
CỦA HỢP CHÚNG QUỐC HOA KỲ

Tháng 9 năm 2002


LỜI MỞ ĐẦU

Những cuộc chiến vĩ đại của thế kỷ XX giữa tự do và chủ nghĩa chuyên chế đã kết thúc với thắng lợi quyết định thuộc về các lực lượng tự do và với một hình mẫu bền vững duy nhất cho sự thành công của các quốc gia - đó là: tự do, dân chủ và kinh doanh tự do. Trong thế kỷ XXI, chỉ có những quốc gia nào cam kết bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bảo đảm tự do chính trị và tự do kinh tế mới có thể phát huy tối đa tiềm năng của nhân dân và bảo đảm cho họ một tương lai thịnh vượng. Nhân dân ở khắp mọi nơi đều mong muốn được tự do ngôn luận, tự do chọn lựa người lãnh đạo, tự do tôn thờ những gì họ muốn, tự do giáo dục con em mình, cả nam và nữ, tự do sở hữu tài sản, và tự do hưởng thụ thành quả lao động của mình. Những giá trị của tự do đó là đúng và chính đáng đối với mọi người, ở mọi xã hội - và nhiệm vụ bảo vệ những giá trị này trước kẻ thù là lời kêu gọi chung của những người yèu tự do trên toàn thế giới và của mọi thời đại.


Ngày nay, Mỹ đang có vị thế không ai sánh bằng về sức mạnh quân sự và những ảnh hưởng kinh tế, chính trị to lớn. Để giữ vững được di sản và các nguyên tắc, chúng ta không sử dụng sức mạnh để gây áp lực giành lấy ưu thế đơn phương. Thay vào đó, chúng ta tìm cách tạo ra một sự cân bằng quyền lực vì tự do của con người: những điều kiện mà trong đó tất cả các quốc gia và các xã hội có thể tự chọn cho mình những phần thưởng cũng như thách thức của tự do chính trị và kinh tế. Trong một thế giới an toàn, con người có thể làm cho cuộc sống của họ tốt đẹp hơn. Chúng ta sẽ bảo vệ hoà bình bằng cách chống lại chủ nghĩa khủng bố và những kẻ bạo tàn. Chúng ta sẽ gìn giữ hoà bình bằng cách xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa các cường quốc. Chúng ta sẽ mở rộng hoà bình bằng cách khuyến khích các xã hội mở cửa và tự do trên mọi châu lục.


Bảo vệ đất nước trước kẻ thù là cam kết đầu tiên và căn bản của chính quyền liên bang. Ngày nay, nhiệm vụ này đã thay đổi đáng kể. Kẻ thù trong quá khứ cần những quân đội hùng mạnh và năng lực công nghiệp to lớn để có thể đe dọa Mỹ. Ngày nay, những mạng lưới trong bóng tối của các cá nhân cũng có thể đem sự hoảng loạn và tổn thất đến bờ cõi của chúng ta với cái giá thấp hơn để mua một chiếc xe tăng. Lực lượng khủng bố được tổ chức để thâm nhập vào các xã hội mở cửa và hướng sức mạnh của công nghệ hiện đại chống lại chúng ta.


Để chiến thắng được hiểm hoạ này, chúng ta phải tận dụng tất cả những công cụ có sẵn trong "kho vũ khí" của chúng ta - sức mạnh quân sự, cải thiện phòng thủ đất nước, thực thi luật pháp, tình báo, nỗ lực to lớn nhằm triệt tiêu nguồn tài trợ cho khủng bố. Cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu là công việc của toàn thế giới, được thực hiện trong khoảng thời gian không xác định. Mỹ sẽ giúp đỡ những nước cần sự trợ giúp của Mỹ chống khủng bố. Mỹ sẽ không bỏ qua bất kỳ quốc gia nào thoả hiệp với khủng bố, trong đó có cả những quốc gia chứa chấp những kẻ khủng bố, bởi vì đồng minh của khủng bố là kẻ thù của nền văn minh. Mỹ và các nước hợp tác không cho phép những kẻ khủng bố xây dựng những căn cứ mới. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm cách xoá bỏ chỗ trú ẩn của những tên khủng bố ở khắp mọi nơi.


Hiểm hoạ chết người mà dân tộc ta phải đối mặt chính là sự giao thoa của chủ nghĩa cực đoan và công nghệ. Kẻ thù của chúng ta đã ngang nhiên tuyên bố rằng chúng đang tìm kiếm vũ khí huỷ diệt hàng loạt, và bằng chứng cho thấy chúng đang nỗ lực hết mình để đạt được điều này. Mỹ sẽ không để những nỗ lực này thành công. Chúng ta sẽ xây dựng hệ thống phòng vệ chống tên lửa đạn đạo và các phương tiện phóng đạn khác. Chúng ta sẽ hợp tác với các quốc gia khác để ngăn chặn, kiềm chế và xoá bỏ mọi nỗ lực của kẻ thù trong việc tìm kiếm những công nghệ nguy hiểm. Và từ góc độ cư xử thông thường cũng như để tự vệ, Mỹ sẽ hành động chống lại mọi mối de dọa trước khi chúng được hình thành đầy đủ. Chúng ta không thể bảo vệ nước Mỹ và bạn bè của chúng ta bằng cách hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra. Vì vậy, chúng ta phải sẵn sàng đập tan mọi kế hoạch của kẻ thù, sử dụng lực lượng tình báo giỏi nhất và hành động một cách thận trọng. Lịch sử sẽ có phán quyết nghiêm khắc đối với những ai thấy hiểm họa đang đến gần mà không hành động. Trong thế giới mới mà chúng ta vừa mối bước vào, con đường duy nhất dẫn đến hoà bình và an ninh là con đường hành động.


Trong khi bảo vệ hoà bình, chúng ta cũng sẽ tranh thủ cơ hội lịch sử này để duy trì hoà bình. Ngày nay, cộng đồng quốc tế đang đứng trước cơ hội lớn nhất kể từ khi các quốc gia dân tộc ra đời vào thế kỷ XVII, đó là lúc các cường quốc cạnh tranh trong hoà bình thay vì phải liên tục chuẩn bị cho chiến tranh. Ngày nay, các cường quốc đã cùng chung một chiến tuyến, đoàn kết bởi hiểm hoạ của bạo lực khủng bố và hỗn loạn. Mỹ sẽ dựa vào những lợi ích chung đó để tăng cường an ninh trên toàn cầu. Chúng ta cũng ngày càng đoàn kết lại nhò những giá trị chung. Nước Nga đang ở giữa thời kỳ quá độ đầy hứa hẹn, đang vươn tới một tương lai dân chủ và là một đối tác trong cuộc chiến chống khủng bố. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang phát hiện ra rằng tự do kinh tế là nguồn lực duy nhất cho sự thịnh vượng của quốc gia. Sẽ có lúc họ nhận thấy rằng tự do xã hội và chính trị là nền tảng duy nhất cho sự vĩ đại của dân tộc. Mỹ sẽ khuyến khích việc thúc đẩy dân chủ và mở cửa kinh tế ở hai quốc gia này, bởi vì đó là nền tảng tốt nhất cho sự ổn định trong nước và trật tự quốc tế. Chúng ta sẽ phản đối mạnh mẽ sự hiếu chiến của các cường quốc khác - ngay cả khi chúng ta hoan nghênh việc theo đuổi sự thịnh vượng, thương mại và phát triển văn hoá một cách hoà bình.


Cuối cùng, Mỹ sẽ tận dụng thời điểm đầy cơ hội này để mở rộng những lợi ích của tự do trên toàn thế giới. Chúng ta sẽ tích cực mang niềm hy vọng về dân chủ, phát triển, các thị trường tự do và thương mại tự do đến khắp mọi nơi trên thế giới. Sự kiện ngày 11-9-2001 đã dạy cho chúng ta một bài học rằng một quốc gia yếu như Ápganixtan cũng có thể gây mối hiểm hoạ lớn đối với lợi ích quốc gia của chúng ta, không kém các quốc gia hùng mạnh. Sự nghèo đói không làm cho người ta trở thành những kẻ khủng bố hay giết người. Tuy nhiên nghèo đói, thể chế kém cỏi và tham nhũng có thể làm cho các quốc gia yếu kém dễ bị tổn thưdng trước những mạng lưới khủng bố và mạng lưới buôn bán ma tuý ngay trong lãnh thổ của họ.


Mỹ sẽ sát cánh cùng bất cứ quốc gia nào quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn bằng cách tìm kiếm và đem lại những phần thưởng của tự do cho nhân dân nước mình. Tự do thương mại và thị trường tự do đã chứng tỏ khả năng đưa cả một xã hội ra khỏi nghèo đói, vì vậy, Mỹ sẽ hợp tác với từng quốc gia, từng khu vực và cộng đồng thương mại toàn cầu nhằm xây dựng một thế giới buôn bán tự do và nhờ đó phát triển một cách phồn vinh. Mỹ tăng cường viện trợ phát triển thông qua "Tài khoản thách thức Thiên niên kỷ" đối với các quốc gia được lãnh đạo một cách công bằng, đầu tư vào con người và khuyến khích tự do kinh tế. Chúng ta cũng sẽ tiếp tục lãnh đạo thế giới trong các nỗ lực nhằm làm giảm tổn thất ghê gớm do HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác gây nên.


Trong khi xây dựng một sự cân bằng quyền lực vì tự do, Mỹ được định hướng bởi niềm tin rằng tất cả mọi quốc gia đều có những trách nhiệm quan trọng. Các quốc gia được hưởng tự do cần phải nỗ lực chống khủng bố. Các quốc gia đang phụ thuộc vào sự ổn định trên thế giới cần phải góp phần ngăn chặn sự phổ biến rộng rãi vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Các quốc gia đang tìm kiếm viện trợ quốc tế cần phải điều hành quốc gia mình một cách khôn ngoan để các nguồn viện trợ được sử dụng có hiệu quả. Để thúc đẩy tự do, trách nhiệm là điều mà chúng ta phải mong muốn và đòi hỏi.


Chúng ta cũng được định hướng bởi niềm tin rằng không có một quốc gia nào có thể tự mình xây dựng một thế giới an toàn hơn và tốt đẹp hơn. Các liên minh và thể chế đa phương có thể nhân sức mạnh của các quốc gia yêu chuộng hoà bình lên gấp bội. Mỹ tiếp tục cam kết đối với các thể chế bền vững như Liên hợp quốc, WTO, Tổ chức các nước châu Mỹ, NATO cũng như các liên minh lâu đòi khác. Sự thống nhất về chí hướng sẽ giúp nâng cao năng lực của các thể chế bền vững này. Trong mọi trường hợp, nghĩa vụ quốc tế cần phải được thực hiện nghiêm chỉnh. Không thể thực hiện những nghĩa vụ này một cách hình thức để tranh thủ sự ủng hộ mà phải hướng tới những kết quả thực tế và cụ thể.


Tự do là một nhu cầu tất yếu của nhân phẩm con người, là quyền lợi mà từ khi ra đời mỗi người, ở mọi nền văn minh, đều được hưởng. Xuyên suốt lịch sử, tự do đã bị đe dọa bởi chiến tranh và khủng bố, tự do đã bị thách thức bởi sự xung đột ý chí giữa các cường quốc và mưu đồ ma quỷ của những kẻ bạo tàn, và tự do đã được thử thách bởi sự lan rộng của nghèo đói và bệnh tật. Ngày nay, loài người nắm trong tay cơ hội để mở rộng thắng lợi của tự do đối với tất cả những kẻ thù đó. Mỹ hoan nghênh trách nhiệm lãnh đạo của chúng ta trong sứ mệnh vĩ đại này.

GEORGE BUSH
Nhà Trắng
17 tháng 9 năm 2002


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:32:44 am
MỤC LỤC


I. Tổng quan chiến lược quốc tế của Mỹ

II. Đấu tranh cho những khát vọng về nhân phẩm

III. Củng cố các liên minh nhằm đánh bại chủ nghĩa khủng bố toàn cầu và hợp tác đê ngăn chặn các cuộc tấn công nhằm vào chúng ta và bạn bè của chúng ta

IV. Hợp tác với các nước khác để giải toả xung đột khu vực

V. Ngăn chặn không cho kẻ thù đe dọa chúng ta, đồng minh và bạn bè của chúng ta bằng vũ khí huỷ diệt hàng loạt

VI. Mở ra một kỷ nguyên mới cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu thông qua thị trường tự do và thương mại tự do

VII. Mở rộng lãnh địa phát triển bằng cách mở cửa các xã hội và xây dựng hạ tầng cơ sở cho nền dân chủ

VIII. Xây dựng chương trình nghị sự cho các hoạt động hợp tác với những trung tâm quyền lực khác trên thế giới

IX. Cải cách các thể chế an ninh quốc gia của Mỹ nhằm tận dụng các cơ hội và đối phó với những thách thức của thế kỷ XXI


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:33:30 am
I. TỔNG QUAN CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ CỦA MỸ

"Sự nghiệp quốc gia của chúng ta luôn luôn lớn lao hơn nền quốc phòng của chủng ta. Chúng ta chiến đấu, như chúng ta vẫn thường chiến đấu vì một nền hoà bình chính nghĩa, một nền hòa bình hậu thuẫn tự do. Chúng ta sẽ bảo vệ nền hoà bình đó khỏi những mối đe dọa của khủng bố và những tên bạo chúa. Chúng ta sẽ bảo vệ nền hoà bình ấy bằng cách xây dựng quan hệ hữu hảo giữa các cường quốc. Và chúng ta sẽ mở rộng nền hòa bình đó bằng cách khuyến khích sự phát triển của các xã hội tự do và mở cửa trên tất cả các châu lục."

Tổng thống Bush, phát biểu tại Học viện
Quân sự West Point, New York, 1-6-2002


Mỹ chưa bao giờ có được sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội trên thế giới như hiện nay. Được duy trì bởi niềm tin vào những nguyên tắc về tự do và giá trị của một xã hội tự do, vị trí hiện tại của Mỹ cũng đi kèm với những trách nhiệm, nghĩa vụ và cơ hội lớn lao hơn bao giờ hết. Sức mạnh to lớn của quốc gia này cần phải được sử dụng nhằm thúc đẩy một sự cân bằng quyến lực hậu thuẫn cho tự do.


Trong suốt thế kỷ XX, thế giới đã bị chia rẽ bởi một cuộc đấu tranh gay gắt về tư tưởng, đó là cuộc đấu tranh giữa những quan điểm chuyên chế huỷ diệt với tự do và bình đẳng.

Giờ đây, cuộc đấu tranh lớn ấy đã chấm dứt. Những quan điểm quân phiệt về giai cấp, quốc gia và chủng tộc từng hứa hẹn những điều không tưởng và chỉ mang lại nỗi thống khổ đã bị đánh bại và không còn tính thuyết phục. Hoa Kỳ hiện đang bị đe dọa bởi các quốc gia thất bại hơn là bởi các quốc gia xâm lược. Chúng ta bị đe dọa bởi những công nghệ huỷ diệt đang nằm trong tay một số ít những kẻ thù hận, hơn là bởi những hạm đội và quân đội hùng mạnh. Chúng ta phải đánh bại những mối đe dọa này vì lợi ích của quốc gia, của các đồng minh và bè bạn của chúng ta.


Đây cũng là thời điểm đầy cơ hội cho nước Mỹ. Chúng ta sẽ nỗ lực để biến thời điểm đầy ảnh hưởng này thành những thập kỷ hoà bình, thịnh vượng và tự do. Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ dựa trên nền tảng của chủ nghĩa quốc tế đặc trưng của Mỹ, phản ánh sự kết hợp giữa các giá trị cũng như các lợi ích quốc gia của chúng ta. Mục đích của chiến lược này là để góp phần tạo nên một thế giới không chỉ an toàn hơn mà còn tốt đẹp hơn. Mục tiêu của chúng ta trên con đường dẫn tới sự tiến bộ rất rõ ràng, đó là tự do về kinh tế và chính trị, quan hệ hoà bình với các quốc gia khác, và tôn trọng nhân phẩm của con người.


Đây không chỉ là con đường dành riêng cho nước Mỹ, mà còn mở rộng cho tất cả các quốc gia.

Để đạt được những mục tiêu này, Mỹ sẽ:

• Đấu tranh cho những khát vọng về nhân phẩm;

• Củng cố các liên minh nhằm đánh bại chủ nghĩa khủng bố quốc tế và phối hợp để ngăn ngừa các cuộc tấn công nhằm vào chúng ta và bạn bè của chúng ta;

• Phối hợp với các nước khác để giải toả xung đột khu vực;

• Ngăn ngừa không để kẻ thù đe dọa chúng ta, các đồng minh và bạn bè của chúng ta bằng vũ khí huỷ diệt hàng loạt;

• Mở ra một kỷ nguyên mới của tăng trưởng kinh tế toàn cầu thông qua thị trường tự do và thương mại tự do;

• Mở rộng lãnh địa phát triển bằng cách mở cửa các xã hội và xây dựng hạ tầng cơ sở cho nền dân chủ;

• Xây dựng chương trình nghị sự cho hoạt động hợp tác giữa các trung tâm quyền lực thế giới chính; và

• Cải tổ các thể chế an ninh quốc gia của Hoa Kỳ nhằm tận dụng cơ hội và đối phó với những thách thức của thế kỷ XXI.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:34:23 am
II. ĐẤU TRANH CHO NHỮNG KHÁT VỌNG VỀ NHÂN PHẨM

"Một số người lo ngại rằng sử dụng ngôn từ đúng và sai có vẻ không được ngoại giao hay không lịch sự cho lắm. Tôi không đồng ý với ý kiến này. Những hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi phải có những biện pháp khác nhau, nhưng không đòi hỏi những giá trị đạo đức khác nhau."

Tổng thống Bush, phát biểu tại Học viện
Quân sự West Point, New York, 1-6-2002


Để đạt được những mục tiêu của mình, nhiệm vụ cấp bách nhất của chúng ta là phải xác định rõ chúng ta đấu tranh cho cái gì: Mỹ phải bảo vệ tự do và công lý bởi vì những nguyên tắc và nguyện vọng này là đúng và phù hợp với tất cả mọi người ở mọi nơi. Không một quốc gia nào sở hữu riêng những nguyện vọng này, và không một quốc gia nào tách ròi khỏi chúng. Các bậc cha mẹ trong mọi xã hội đều mong muốn con cái mình được giáo dục và không phải sống trong nghèo đói và bạo lực. Không một ai trên trái đất này lại mong muốn mình bị áp bức, lại khát khao cuộc sống nô dịch hay chờ đợi một cách háo hức tiếng gõ cửa lúc nửa đêm của lực lượng cảnh sát mật.


Nước Mỹ phải kiên định với những nhu cầu không thể bàn cãi về nhân phẩm, đó là pháp quyền, giới hạn đối với quyền lực tuyệt đối của nhà nước, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, công lý, tôn trọng phụ nữ, hoà đồng tôn giáo và chủng tộc, và tôn trọng quyền tư hữu.


Những nhu cầu này có thể được đáp ứng bằng nhiều cách. Hiến pháp Mỹ đã bảo đảm điều đó cho chúng ta một cách đầy đủ. Nhiều quốc gia khác, với lịch sử và văn hoá không giống nhau, đứng trước những hoàn cảnh khác biệt cũng đã thành công trong việc đưa những nguyên tắc cơ bản này vào hệ thống luật pháp của mình. Lịch sử thường không mấy khoan dung đối với những quốc gia tảng lờ hoặc xem thường các quyền và các khát vọng của nhân dân họ.


Là một nền dân chủ đa chủng tộc, kinh nghiệm của nước Mỹ đã khẳng định niềm tin của chúng ta rằng con người với di sản và đức tin khác nhau có thổ cùng chung sống và phát triển trong hoà bình. Lịch sử của chính chúng ta là cuộc đấu tranh lâu dài để giữ vững lý tưởng của mình. Ngay cả trong những giờ phút lâm nguy nhất, những nguyên tắc đã được khắc ghi trong Tuyên ngôn độc lập vẫn là kim chỉ nam cho chúng ta. Nhờ đó, xã hội Mỹ không chỉ mạnh hơn, mà còn tự do và bình đẳng hơn.


Ngày nay, những lý tưởng này là sợi dây cứu mạng cho những ai bảo vệ tự do nhưng còn đơn độc. Và khi cửa đã mở, chúng ta có thể khuyến khích sự thay đổi như chúng ta đã làm ở Trung và Đông Âu từ năm 1989 đến 1991, hoặc ở Belgrade năm 2000. Khi chúng ta chứng kiến tiến trình dân chủ diễn ra ở những nước và lãnh thổ bạn bè như Hàn Quốc và Đài Loan và chứng kiến những nhà lãnh đạo dân bầu thế chỗ các tướng tá ở Mỹ Latinh và châu Phi, chúng ta đã thấy được những ví dụ về sự cáo chung của các hệ thống chuyên chế, đem lại sự kết hợp hài hoà giữa lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia với những nguyên tắc mà tất cả chúng ta đều theo đuổi.


Tổng kết những bài học trong quá khứ và tận dụng cơ hội hiện có, chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ phải khởi đầu từ những niềm tin cốt lõi và hướng tới những khả năng có thể mở rộng tự do.

Những nguyên tắc của chúng ta sẽ định hướng cho các quyết định của Chính phủ về hợp tác quốc tế, tính chất của viện trợ nước ngoài, và sự phân bổ các nguồn lực. Những nguyên tắc này sẽ định hướng cho các hành động và việc phát ngôn của chúng ta tại các tổ chức quốc tế.


Chúng ta sẽ:

• chỉ ra một cách chân thực sự vi phạm những nhu cầu không thể tranh cãi về nhân phẩm con người, dùng tiếng nói và lá phiếu của chúng ta tại các tổ chức quốc tế để thúc đẩy tự do;

• dùng viện trợ nước ngoài để thúc đẩy tự do và ủng hộ những ai đấu tranh không bằng bạo lực cho tự do, bảo đảm rằng các quốc gia đang hướng tới nền dân chủ được cỉền đáp xứng đáng cho mỗi thành tựu mà họ đạt được;

• lấy tự do và sự phát triển của các thể chế dân chủ làm mục tiêu chính trong các quan hệ song phương, tìm kiếm sự đoàn kết và hợp tác với các nền dân chủ khác, đồng thời gây sức ép đối với các chính phủ phủ nhận quyền con người nhằm hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn; và

• đặc biệt nỗ lực trong việc thúc đẩy tự do tôn giáo và tự do lương tâm, cũng như bảo vệ các quyền tự do này khỏi sự xâm phạm của các chính quyền hà khắc.

Chúng ta sẽ đấu tranh vì nhân phẩm của con người và chống lại nhũng ai đi ngược lại sự nghiệp đó.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:35:33 am
III. CỦNG CỐ CÁC LIÊN MINH NHẰM ĐÁNH BẠI CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ TOÀN CẦU VÀ HỢP TÁC ĐỂ NGĂN CHẶN CÁC CUỘC TẤN CÔNG NHẰM VÀO CHÚNG TA VÀ BẠN BÈ CỦA CHÚNG TA

"Đối với người Mỹ, ba ngày thoát ra khỏi sự kiện này vẫn chưa phải là chiều dài lịch sử. Nhưng trách nhiệm của chúng ta đối với lịch sử đã rõ ràng: chúng ta phải đánh trả những cuộc tấn công này và giải thoát thế giới khỏi tội ác. Chiến tranh đã được phát động chống lại chúng ta bằng trộm cắp, lừa đảo và giết người. Quốc gia này là một quốc gia hoà bình nhưng nó sẽ trở nên hung dữ khi bị chọc giận. Cuộc xung đột này nổ ra với thời gian và điều kiện do kẻ khác xác định, nhưng nó sẽ chấm dứt theo cách thức và thời điểm do chúng ta lựa chọn."

Tổng thống Bush, phát biểu tại
Nhà thờ Quốc gia, Washington D.C, 14-9-2001


Mỹ đang tiến hành cuộc chiến chống lại khủng bố trên phạm vi toàn cầu. Kẻ thù ở đây không phải là một chế độ chính trị, một con người, một tôn giáo hay một hệ tư tưởng đơn nhất. Kẻ thù ở đây chính là chủ nghĩa khủng bố - có chủ định và động cơ chính trị khi gây ra bạo lực nhằm vào những người dân vô tội.


Tại nhiều khu vực, những bất bình chính đáng đã ngăn cản sự ra đời của một nền hoà bình bền vững. Những bất bình này đáng được, và phải được giải quyết bằng một tiến trình chính trị. Nhưng không lý do nào có thể biện minh cho khủng bố. Mỹ sẽ không nhượng bộ đối với những yêu cầu của quân khủng bố và sẽ không có bất kỳ thoả thuận nào với chúng. Chúng ta sẽ không phân biệt giữa những kẻ khủng bố và những kẻ cố ý chứa chấp hoặc Viện trợ cho khủng bố.


Cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa khủng bố toàn cầu hoàn toàn khác so với bất kỳ một cuộc chiến tranh nào khác trong lịch sử chúng ta. Cuộc chiến này sẽ diễn ra trên nhiều mặt trận chống lại một kẻ thù rất khó xác định trong một khoảng thời gian dài. Chúng ta sẽ đạt được tiến bộ bằng việc kiên nhẫn tích luỹ những thành công - có những thành công hữu hình, có những thành công vô hình.


Hôm nay, kẻ thù của chúng ta đã thấy được những gì mà các quốc gia văn minh có thể làm và sẽ làm để chống lại những chế độ chứa chấp, ủng hộ và sử dụng khủng bố nhằm đạt được những mục tiêu chính trị của mình. Ápganixtan đã được giải phóng, các lực lượng liên minh vẫn tiếp tục truy lùng Taliban và Al-Qaeda. Nhưng đây không phải là chiến trường duy nhất chúng ta chiến đấu chống lại bọn khủng bố. Hàng ngàn tên khủng bố được huấn luyện còn ẩn náu tại các cơ sở ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi, Trung Đông và khắp châu Á.


Ưu tiên đầu tiên của chúng ta là đập tan và phá huỷ các tổ chức khủng bố trên toàn cầu và tấn công bộ máy chỉ huy của chúng; bộ phận điều khiển, kiểm soát và thông tin liên lạc; ủng hộ vật chất và cung cấp tài chính. Điều này sẽ làm cho bọn khủng bố mất khả năng lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động khủng bố.


Chúng ta sẽ tiếp tục khuyến khích các đối tác khu vực phối hợp hành động để cô lập bọn khủng bố. Một khi chiến dịch khu vực khoanh vùng mối đe dọa trong một quốc gia cụ thể, chúng ta sẽ góp phần bảo đảm rằng quốc gia đó có đủ các phương tiện quân sự, công cụ thực thi pháp luật, chính trị và tài chính cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của mình.


Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với các đồng minh của mình để chấm dứt việc hỗ trợ tài chính cho khủng bố. Chúng ta sẽ xác định và cắt đứt các nguồn hỗ trợ cho khủng bố, phong toả tài sản của bọn khủng bố và những kẻ ủng hộ chúng, ngăn chặn bọn khủng bố tiếp cận hệ thống tài chính quốc tế, không để các hoạt động từ thiện chính đáng bị bọn khủng bố lợi dụng, và ngăn chặn sự trung chuyển tài sản của bọn khủng bố thông qua nhiều mạng lưới tài chính khác nhau.


Tuy nhiên, chiến dịch này cần phải được tiến hành liên tục để phát huy hiệu quả, những tác động tích luỹ tại các khu vực sẽ góp phần đạt được những kết quả mà chúng ta tìm kiếm.

Chúng ta sẽ phá huỷ và tiêu diệt các tổ chức khủng bố bằng các biện pháp sau:

• hành động trực tiếp và liên tục sử dụng tất cả các yếu tố sức mạnh quốc gia và quốc tế. Trọng tâm trước mắt của chúng ta sẽ là các tổ chức khủng bố trên phạm vi toàn cầu và bất kỳ kẻ khủng bố hay nhà nước nào bảo trợ cho chủ nghĩa khủng bố âm mưu giành lấy hoặc sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt hoặc tiền thân của những vũ khí này;

• bảo vệ Mỹ, người dân Mỹ, và những lợi ích của chúng ta ở trong nước và nước ngoài bằng cách xác định và đập tan mối đe dọa đó trước khi nó tiếp cận biên giới chúng ta. Trong khi Mỹ kiên trì tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chúng ta sẽ không ngần ngại khi hành động đơn phương, nếu cần thiết, để thực thi quyền tự vệ của chúng ta bằng cách tấn công trước bọn khủng bố, để ngăn không cho chúng gây tổn hại đến người dân và đất nước chúng ta; và

• chấm dứt việc tiếp tục bảo trợ, ủng hộ và chứa chấp những kẻ khủng bố bằng cách thuyết phục hoặc ép buộc các quốc gia chấp nhận những trách nhiệm chủ quyền của họ.

Chúng ta cũng sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh tư tưởng để giành thắng lợi trước chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Cuộc chiến này bao gồm:

• sử dụng ảnh hưởng đầy đủ của Mỹ, và hợp tác chặt chẽ với các đồng minh và bạn bè, để làm rõ rằng tất cả các hành động khủng bố là bất hợp pháp, theo đó chủ nghĩa khủng bố sẽ bị xem như chiếm hữu nô lệ, nạn cướp biển, hoặc tội diệt chủng, những hành động mà không một chính phủ đáng kính nào có thể tha thứ hoặc ủng hộ và tất cả phải phản đối;

• ủng hộ các chính phủ ôn hoà và hiện đại, đặc biệt trong thế giới Hồi giáo, nhằm bảo đảm rằng các điều kiện và các hệ tư tưởng khuyến khích khủng bố sẽ không thể tìm được mảnh đất màu mỡ để phát triển ở bất kỳ quốc gia nào;

• loại bỏ các điều kiện cơ bản làm nảy sinh khủng bố bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để tập trung nỗ lực và nguồn lực vào những nơi có nguy cơ cao nhất; và

• sử dụng hiệu quả ngoại giao nhân dân nhằm thúc đẩy nguồn thông tin và tư tưởng một cách tự do để khơi dậy những hy vọng và lòng mong muốn tự do của những người đang sống trong những xã hội bị những kẻ bảo trợ cho chủ nghĩa khủng bố toàn cầu cai trị.

Trong khi chúng ta biết rằng cách phòng vệ tốt nhất của chúng ta là tấn công sắc bén, chúng ta cũng đang tăng cường an ninh nội địa nước Mỹ để bảo vệ nước Mỹ và ngăn ngừa các cuộc tấn công.

Chính quyền đã đề xuất kế hoạch sắp xếp lại tổ chức chính phủ lớn nhất kể từ khi chính quyền Truman thành lập Hội đồng An ninh quốc gia và Bộ Quốc phòng. Với trọng tâm là việc thành lập Bộ An ninh nội địa bao gồm một ban chỉ huy quân sự thống nhất mới và sắp xếp lại một cách cơ bản FBI, kế hoạch tổng thể nhằm bảo đảm an ninh cho tổ quốc của chúng ta có sự tham gia của mọi cấp chính quyền và sự hợp tác giữa nhà nước với khu vực tư nhân.


Chiến lược này sẽ biến thù địch thành cơ hội. Ví dụ, các hệ thống quản lý khẩn cấp sẽ có khả năng tốt hơn để đối phó không chỉ với khủng bố mà còn đối với tất cả các mối đe dọa. Hệ thống y tế sẽ được tăng cường để không chỉ đối phó với khủng bố sinh học mà còn đối với tất cả các bệnh truyền nhiễm và các nguy hiểm gây thương vong hàng loạt. Việc chúng ta kiểm soát biên giới không chỉ giúp ngăn chặn bọn khủng bố mà còn cải thiện việc đi lại hợp pháp một cách có hiệu quả.


Trong khi trọng tâm của chúng ta là bảo vệ nước Mỹ, chúng ta biết rằng để đánh bại chủ nghĩa khủng bố trong thế giới toàn cầu hoá ngày nay, chúng ta cần có sự ủng hộ từ các đồng minh và bạn bè. Ở bất cứ nơi nào có thể, nước Mỹ sẽ dựa vào các tổ chức khu vực và các chính quyền nhà nước để hoàn thành sứ mạng chống chủ nghĩa khủng bố, ở những nơi mà các chính phủ thấy rằng cuộc chiến chống khủng bố vượt quá khả năng của họ, chúng ta sẽ kết hợp ý chí và những nguồn lực của họ với bất kỳ sự giúp đỡ nào mà chúng ta và đồng minh có thể đem lại.


Trong khi tiếp tục truy kích bọn khủng bố tại Ápganixtan, chúng ta sẽ tiếp tục hợp tác với các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, cũng như các tổ chức phi chính phủ, và các quốc gia khác để cung cấp viện trợ nhân đạo và sự giúp đỡ về chính trị, kinh tế và an ninh cần thiết nhằm tái thiết Ápganixtan để đất nước này không bao giờ còn có thể lạm dụng nhân dân họ, đe dọa những nước láng giềng và chứa chấp bọn khủng bố.


Trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố toàn cầu, chúng ta sẽ không bao giờ quên được rằng mục đích cuối cùng của chúng ta là chiến đấu cho những giá trị dân chủ và lối sống của chúng ta. Tự do và sự sợ hãi đang xung đột với nhau, và sẽ không có sự kết thúc dễ dàng và nhanh chóng cho cuộc xung đột này. Trong khi lãnh đạo chiến dịch chống khủng bố, chúng ta đang phát triển các mối quan hệ quốc tế mới và có hiệu quả và xác định lại những mối quan hệ hiện có theo cách mà chúng ta có thể đối phó với các thách thức của thế kỷ XXI.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:36:47 am
IV. HỢP TÁC VỚI CÁC NƯỚC KHÁC ĐỂ GIẢI TOẢ XUNG ĐỘT KHU VỰC

"Chúng ta xây dựng một thế giới công bằng, hoặc chúng ta sẽ sống trong một thế giới bị áp bức. Tầm quan trọng của những trách nhiệm chung của chúng ta sẽ thu hẹp những bất đồng của chúng ta."

Tổng thống Bush,
phát biểu tại Berlin, Đức, 23-5-2002


Các quốc gia liên quan cần phải tiếp tục dính líu tích cực vào những tranh chấp khu vực quan trọng để tránh sự leo thang dễ bùng nổ và giảm thiểu những tổn thất cho nhân dân. Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, khủng hoảng khu vực có thể gây căng thẳng giữa những đồng minh của chúng ta, gây nên sự đối địch giữa các cường quốc và tạo nên sự lăng nhục thô bạo đối với phẩm giá con người. Khi bạo lực bùng nổ và các nhà nước lúng túng, Mỹ sẽ hợp tác với bạn bè và đối tác nhằm xoá đi những tổn thất và khôi phục sự ổn định.


Không một học thuyết nào có thể dự đoán mọi tình huống trong đó hành động của Mỹ, dù là trực tiếp hay gián tiếp, được bảo đảm. Chúng ta có những nguồn lực chính trị, kinh tế và quân sự để thực hiện các ưu tiên toàn cầu của chúng ta. Mỹ sẽ tiếp cận từng trường hợp với những nguyên tắc chiến lược sau:

• Mỹ nên đầu tư thời gian và các nguồn lực vào việc xây dựng các mối quan hệ và thể chế quốc tế có thể giúp kiểm soát các xung đột khu vực khi chúng bùng nổ.

• Mỹ nên thực tế về khả năng của mình để giúp đỡ những người không muốn hoặc không sẵn sàng giúp đỡ chính bản thân họ. Ở những nơi và khi nào mọi người sẵn sàng làm phần việc của mình, chúng ta sẽ sẵn sàng hành động một cách quyết đoán.

Cuộc xung đột Ixraen - Palestin rất nghiêm trọng vì những tổn thất về người, vì mối quan hệ thân thiết giữa Mỹ với nhà nước Ixraen và các nước Arập chủ chốt, và bởi tầm quan trọng của khu vực đó đối với các ưu tiên toàn cầu khác của Mỹ. Sẽ không thể có hoà bình cho bất kỳ bên nào nếu không có tự do cho cả hai bên. Nước Mỹ tiếp tục cam kết đối với một nhà nước Palestin độc lập và dân chủ, sống bên cạnh Ixraen trong hoà bình và an ninh. Giống như tất cả các dân tộc khác, người dân Palestin xứng đáng có một chính phủ phục vụ cho lợi ích và lắng nghe tiếng nói của họ. Mỹ sẽ tiếp tục khuyến khích tất cả các bên đề cao tinh thần trách nhiệm trong khi chúng ta tìm kiếm một giải pháp toàn diện và công bằng cho cuộc xung đột này.


Mỹ, cộng đồng tài trợ quốc tế và Ngân hàng Thế giới sẵn sàng hợp tác với một chính phủ Palestin được cải tổ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, tăng viện trợ nhân đạo, và một chương trình thiết lập, tài trợ và giám sát một bộ máy tư pháp độc lập thực sự. Nếu người Palestin theo đuổi dân chủ, và pháp quyền, chống tham nhũng và kiên quyết loại bỏ khủng bố, họ có thể giành được sự ủng hộ của Mỹ về việc thành lập một nhà nước Palestin.


Sự ra đời của một nhà nước Palestin dân chủ cũng mang lại nhiều lợi ích cho Ixraen. Sự chiếm đóng thường xuyên đang đe dọa bản sắc và nền dân chủ của Ixraen. Do vậy, Mỹ tiếp tục yêu cầu các nhà lãnh đạo Ixraen có những bước tiến cụ thể nhằm ủng hộ sự ra đời của Nhà nước Palestin có năng lực và uy tín. Để cải thiện tình hình an ninh, quân đội Ixraen cần rút hoàn toàn khỏi các vị trí mà họ đã chiếm đóng trước ngày 28 tháng 9 năm 2000. Và để thực hiện nhất quán những khuyến nghị của Ủy ban Mitchell, Ixraen phải dừng các hoạt động định cư của mình tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Và khi bạo lực suy giảm, quyền tự do đi lại cần được lập lại, để người dân Palestin vô tội có thể trỏ lại với công việc và cuộc sống bình thường. Mỹ có thể đóng một vai trò quan trọng, nhưng trên hết, boà bình lâu dài chỉ có thể được tạo dựng khi người Ixraen và người Palestin giải quyết vấn đề và chấm dứt cuộc xung đột đang xảy ra giữa hai bên.


Tại Nam Á, Mỹ cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết để Ấn Độ và Pakistan giải quyết các tranh chấp của họ. Chính quyền đã đầu tư thời gian và các nguồn lực để xâv dựng các mối quan hệ song phương vững mạnh với Ấn Độ và Pakistan. Chính những mối quan hệ vững mạnh này đã tạo đà để chúng ta đóng một vai trò xây dựng khi căng thẳng trong khu vực trở nên gay gắt. Với Pakistan, quan hệ song phương của chúng ta đã được củng cố với việc Pakistan quyết định tham gia vào cuộc chiến chống khủng bố và tiến tới xây dựng một xã hội mở cửa và khoan dung hơn. Chính quyền nhận thấy tiềm năng Ấn Độ có thể trở thành một trong những cường quốc dân chủ lớn trong thế kỷ XXI và đã nỗ lực hết sức để chuyển hướng mối quan hệ của chúng ta một cách phù hợp. Sự tham gia của chúng ta vào giải quyết tranh chấp khu vực, phát huy những nền tảng đã tạo dựng được trong quan hệ song phương, trước tiên là tập trung vào xem xét các bước đi cụ thể của Ấn Độ và Pakistan có thể góp phần làm giảm đối đầu quân sự.


Inđônêxia đã có những bước tiến can đảm để xây dựng nền dân chủ thực sự và tôn trọng pháp quyền. Bằng cách đối xử khoan dung với các dân tộc thiểu số, tôn trọng pháp quyền, và chấp nhận các thị trường mở, Inđônêxia có thể tận dụng tối đa cơ hội mà một số nước giáng giềng của họ đã tận dụng đẻ thoát khỏi nghèo đói và tuyệt vọng. Nhờ có sáng kiến của Inđônêxia mà Mỹ có thể tạo sự khác biệt trong hình thức viện trợ của mình.


Ở Tây bán cầu, chúng ta đã hình thành các liên minh linh hoạt với những nước cùng có chung ưu tiên như của chúng ta, đặc biệt là Mêhicô, Braxin, Canađa, Chilê và Côlômbia. Chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một bán cầu có nền dân chủ thực sự, nơi mà quá trình hội nhập của chúng ta sẽ góp phần tăng cường an ninh, thịnh vượng, cơ hội và hy vọng. Chúng ta sẽ hợp tác với các thể chế khu vực, như Hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ, Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước châu Mỹ vì lợi ích của cả bán cầu.


Nhiều nước Mỹ Latinh hiện đang phải đối đầu với xung đột khu vực, đặc biệt là xung đột nảy sinh từ bạo lực giữa các nhóm buôn bán ma tuý và đồng bọn của chúng. Cuộc xung đột này và tình trạng buôn bán ma tuý không kiểm soát nổi có thể gây nguy hiểm đến sức mạnh và an ninh của Mỹ. Do vậy chúng ta đã xây dựng một chiến lược năng động nhằm giúp các nước trong nhóm Andean điều chỉnh nền kinh tế của họ, thực thi luật pháp, đánh bại các tổ chức khủng bố, và xoá bỏ việc cung cấp ma tuý, trong khi đó, cũng quan trọng không kém, chúng ta đang nỗ lực giảm nhu cầu sử dụng ma tuý trên chính đất nước chúng ta.


Tại Côlômbia, chúng ta nhận thức được mối quan hệ giữa các nhóm khủng bố và cực đoan đang thách thức an ninh của quốc gia này và các hoạt động buôn lậu ma tuý là nguồn cung cấp tài chính cho hoạt động của các nhóm này. Chúng ta đang nỗ lực giúp Côlômbia bảo vệ các thể chế dân chủ của họ và đánh bại các nhóm vũ trang bất hợp pháp của cả cánh tả và cánh hữu bằng cách mở rộng chủ quyền thực sự trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và đem lại an ninh cơ bản cho người dân Côlômbia.


Tại châu Phi, triển vọng và cơ hội luôn song hành với bệnh tật, chiến tranh và tình trạng nghèo đói kéo dài. Điều nàv đe dọa giá trị cốt lõi của Mỹ - đó là bảo vệ nhân phẩm con người, và ưu tiên chiến lược của chúng ta là đấu tranh chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu. Các quyền lợi và nguyên tắc của Mỹ, do vậy, cũng theo hướng đó: chúng ta sẽ hợp tác với các nước khác vì một châu Phi sống trong tự do, hoà bình và phát triển thịnh vượng. Cùng với các đồng minh châu Âu. chúng ta cần phải giúp đỡ củng cố các nhà nước yếu kém của châu Phi, giúp xây dựng nội lực nhằm bảo vệ biên giới, và tiến hành thực thi luật pháp và xây dựng cơ sở tình báo để xoá bỏ nơi cư trú của những tên khủng bố.


Một môi trường thậm chí còn nguy hại hơn đang tồn tại ở châu Phi khi các cuộc nội chiến lan ra ngoài biên giới quốc gia và tạo nên những vùng chiến tranh trong khu vực. Việc hình thành các liên minh của sự thoả thuận an ninh trên tinh thần tự nguyện và hợp tác là chìa khoá để đối phó với những mối đe dọa xuyên quốc gia đang nổi lên.


Một châu Phi rộng lớn và đa dạng đòi hỏi một chiến lược an ninh đặt trọng tâm vào quan hệ song phương và xây dựng các liên minh tự nguyện. Chính quyền sẽ tập trung vào ba chiến lược có liên hệ chặt chẽ với nhau cho khu vực này, đó là:

• những nước có ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng của mình như Nam Phi, Nigiêria, Kênia, và Êtiôpia đóng vai trò chủ chốt trong các thoả thuận khu vực và cần được quan tâm đặc biệt;

• cần phối hợp với các nước đồng minh châu Âu và các thể chế quốc tế trong việc dàn xếp xung đột trên tinh thần xây dựng và thực hiện các hoạt động gìn giữ hoà bình thành công; và

• những nhà nước đang tiến hành cải cách có hiệu quả và các tổ chức tiểu khu vực của châu Phi phải được củng cố, đây cần được coi như là công cụ hàng đầu nhằm đối phó với các hiểm họa xuyên quốc gia một cách bền vững.


Trên hết, con đường dẫn tới tự do chính trị và kinh tế là con đường chắc chắn nhất để đạt được sự tiến bộ tại vùng Nam Xahara châu Phi, nơi mà hầu hết các cuộc chiến tranh là các cuộc xung đột liên quan đến các nguồn nguyên liệu và sự tiếp cận về chính trị thường được giành giật với những hậu quả tang thương trên cơ sở của sự khác biệt về tôn giáo và sắc tộc. Việc chuyển đổi sang một Liên minh châu Phi cùng với cam kết thực hiện quản lý có hiệu quả và cùng chịu trách nhiệm đối với các hệ thống chính trị dân chủ mỏ ra các cơ hội để củng cố nền dân chủ trên châu lục này.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:38:24 am
V. NGĂN CHẶN KHÔNG CHO KẺ THÙ ĐE DOẠ CHÚNG TA, ĐỒNG MINH VÀ BẠN BÈ CỦA CHÚNG TA BẰNG VŨ KHÍ HUỶ DIỆT HÀNG LOẠT

"Mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với tự do chính là chủ nghĩa cực đoan và công nghệ. Khi các loại vũ khí sinh học, hoá học, và hạt nhân được sử dụng tràn lan cùng với công nghệ tên lửa đạn đạo, thậm chí cả các quốc gia yếu và những nhóm nhỏ cũng có thể có sức mạnh huỷ diệt để tấn công các quốc gia lớn. Kẻ thù của chúng ta đã tuyên bố điều đó một cách có chủ ý, và đã bị phát hiện khi đang tìm cách sản xuất những loại vũ khí nguy hiểm này. Chúng muốn có sức mạnh để đe dọa chúng ta, hay gây hại cho chúng ta, hay bạn bè của chúng ta - và chúng ta sẽ chống lại chúng bằng tất cả sức mạnh của mình".

Tổng thống Bush, phát biểu tại Học viện
Quân sự West Point, New York, 1-6-2002


Bản chất của mối đe dọa chiến tranh lạnh đòi hỏi Mỹ, cùng với đồng minh và bạn bè của mình, chú trọng vào việc ngăn chặn kẻ thù sử dụng lực lượng và xây dựng một chiến lược huỷ diệt lẫn nhau một cách chắc chắn. Cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xôviết và sự kết thúc của chiến tranh lạnh, môi trường an ninh của chúng ta đang trải qua những biến chuyển sâu sắc.


Việc chuyển từ đối đầu sang hợp tác, một dấu mốc trong quan hệ của ta với Nga, đã mang lại những lợi ích rõ ràng, đó là chấm dứt sự thù địch đã từng chia rẽ chúng ta; sự cắt giảm mang ý nghĩa lịch sử kho vũ khí hạt nhân của cả hai bên; và hợp tác trên các lĩnh vực như chống khủng bố và phòng thủ tên lửa mà cách đây không lâu chúng ta vẫn cho rằng khó có thể đạt được.


Tuy nhiên, những thách thức chết người mới đã nảy sinh từ các quốc gia thù địch và những kẻ khủng bố. Không có mối đe dọa hiện tại nào có thể so sánh được với sức mạnh huỷ diệt mà Liên bang Xôviết đã chuẩn bị nhằm chống lại chúng ta. Mặc dù vậy, bản chất và động cơ của những kẻ thù mới và quyết tâm của chúng nhằm có được sức mạnh huỷ diệt mà cho đến nay chỉ có những quốc gia mạnh nhất thế giới mới có được, cũng như khả năng ngày càng tăng bọn chúng sẽ sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt để chống lại chúng ta, khiến cho môi trường an ninh ngày nay trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn.


Trong những năm 1990, chúng ta đã chứng kiến sự nổi lên của một nhóm nhỏ các quốc gia thù địch. Mặc dù khác nhau về thế và lực, nhưng những quốc gia này đều có nhiều đặc điểm chung, đó là:

• Đối xử tàn bạo với chính nhân dân nước mình và lãng phí nguồn lực quốc gia vì lợi ích cá nhân của những kẻ cai trị;

• Bất chấp luật lệ quốc tế, đe dọa những nước láng giềng của mình, và nhẫn tâm vi phạm các điều ước quốc tế mà họ tham gia

• Quyết tâm sản xuất vũ khí huỷ diệt hàng loạt, cùng với công nghệ quân sự tiên tiến, và sử dụng chúng như là các mối đe dọa hay ngang nhiên xây dựng những mô hình xâm lược cho các chế độ của chúng;

• Bảo trợ khủng bố trên khắp trái đất; và

• Bác bỏ những giá trị cơ bản của con người, căm thù nước Mỹ và tất cả những gì mà Mỹ đại diện.

Trong chiến tranh vùng Vịnh, chúng ta đã có những bằng chứng không thể chối cãi rằng những bản thiết kế của Irắc không chỉ hạn chế ở các loại vũ khí hoá học mà Irắc đã sử dụng chống lại Iran và chính người dân của mình, mà cả việc sản xuất vũ khí hạt nhân và các tác nhân sinh học. Trong thập kỷ trước, Bắc Triều Tiên đã trở thành nước cung cấp tên lửa đạn đạo chính trên thế giới, và đã liên tục thử nghiệm các loại tên lửa có khả năng sử dụng đồng thời với việc xây dựng kho vũ khí huỷ diệt hàng loạt của mình. Các thể chế thù địch khác cũng theo đuổi việc sản xuất vũ khí hạt nhân, sinh học và hoá học. Những quốc gia đang theo đuổi và buôn bán trên phạm vi toàn cầu những loại vũ khí này đã trở thành mối đe dọa ghê gớm đối với tất cả các quốc gia.


Chúng ta phải sẵn sàng để ngăn chặn các quốc gia thù địch này và những kẻ khủng bố trước khi chúng có thể đe dọa và sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt chống lại Mỹ và đồng minh và bạn bè của chúng ta. Để đối phó lại, chúng ta phải khai thác tối đa lợi thế của một liên minh vững chắc, thiết lập các mối quan hệ đối tác mới với các nước thù địch trước đây, đổi mới trong việc sử dụng các lực lượng quân sự, công nghệ hiện đại, bao gồm xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa có hiệu quả, và tăng cường thu thập và phân tích thông tin tình báo.


Chiến lược tổng thể của chúng ta chống vũ khí huỷ diệt hàng loạt bao gồm:

• Các nỗ lực chủ động chống phổ biến vũ khí. Chúng ta phải ngăn chặn và chống lại mọi mối đe dọa trước khi nó xảv ra. Chúng ta phải bảo đảm được rằng những khả năng quan trọng - như phát hiện, phòng thủ chủ động và bị động, và khả năng ứng phó - được chú trọng trong kế hoạch cải cách quốc phòng và các hệ thống an ninh nội địa của chúng ta. Chống phổ biến vũ khí cũng cần phải được đưa vào các học thuyết, chương trình đào tạo và trang bị cho lực lượng của chúng ta và lực lượng đồng minh để bảo đảm rằng chúng ta có thể thắng trong bất kỳ cuộc chiến nào với kẻ thù được trang bị vũ khí huỷ diệt hàng loạt.

• Tăng cường các nỗ lực không phổ biến vũ khí nhằm ngăn chặn các quốc gia thù địch và những kẻ khủng bố tiếp cận nguồn nguyên liệu, công nghệ, và kỹ thuật để sản xuất vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Chúng ta sẽ tăng cường công tác ngoại giao, kiểm soát vũ khí, kiểm soát xuất khẩu đa phương nhằm ngăn chặn các quốc gia và quân khủng bố theo đuổi vũ khí huỷ diệt hàng loạt, và khi cần thiết, cấm phổ biến các công nghệ và nguyên liệu có thể sản xuất loại vũ khí này. Chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng liên minh để hỗ trợ những nỗ lực này, khuyến khích các nước đồng minh tăng sự hỗ trợ về chính trị và tài chính cho các chương trình không phổ biến vũ khí và giảm mối đe dọa. Thoả thuận mới đây giữa các nước G-8 cam kết sử dụng 20 tỷ USD để xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu chống phổ biến vũ khí đánh dấu một bước tiến quan trọng.

• Xử lý hậu quả một cách có hiệu quả nhằm đối phó với những ảnh hưởng của việc sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt của quân khủng bố và các quốc gia thù địch. Giảm thiểu ảnh hưởng của việc sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt đối với nhân dân chúng ta sẽ giúp ngăn chặn những kẻ có những loại vũ khí này và khuyên ngăn những kẻ đang theo đuổi để có những loại vũ khí này bằng cách thuyết phục kẻ thù rằng chúng không thể đạt được những gì mà chúng mong muốn. Mỹ cũng phải sẵn sàng ứng phó với những ảnh hưởng của việc sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt chống lại lực lượng của chúng ta ở nước ngoài, và giúp đỡ bạn bè và đồng minh nếu họ bị tấn công.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:39:15 am
• Chúng ta đã phải mất gần một thập kỷ để nhận thức được bản chất thực sự của mối đe dọa mới này. Với những mục tiêu mà các quốc gia thù địch và quân khủng bố đề ra, Mỹ không thể đơn thuần chỉ dựa vào vị thế bị động của chúng ta trong quá khứ. Không có khả năng ngăn chặn những kẻ tấn công tiềm tàng, tính cấp thiết của mối đe dọa ngày nay, và quy mô của mối nguy hại tiềm tàng của các loại vũ khí mà kẻ thù của chúng ta có thể sử dụng không cho phép chúng ta lựa chọn cách đó. Chúng ta không thể cho phép kẻ thù của chúng ta tấn công chúng ta trước.

• Trong chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, chúng ta đã phải đối mặt với sự thù địch lâu dài và gây ra nhiều rủi ro cho chúng ta. Răn đe đã là một biện pháp phòng thủ hiệu quả. Nhưng nếu răn đe chỉ dựa trên những lời đe dọa trả đũa thì khó có thể giúp chúng ta chống lại lãnh đạo các quốc gia thù địch, những kẻ sẵn sàng chấp nhận rủi ro, cá cược cả sinh mạng của nhân dân và tài sản quốc gia của mình.

• Trong chiến tranh lạnh, vũ khí huỷ diệt hàng loạt được coi là biện pháp cuối cùng mà việc sử dụng các loại vũ khí này huỷ diệt cả những kẻ sử dụng chúng. Ngày nay, kẻ thù của chúng ta coi vũ khí huỷ diệt hàng loạt là loại vũ khí mà chúng lựa chọn. Đối với những quốc gia thù địch nhũng vũ khí này là công cụ để đe dọa và xâm lược quân sự các quốc gia láng giềng. Những vũ khí này củng có thể cho phép các quốc gia đó hàm dọa Mỹ và đồng minh của chúng ta nhằm ngăn chặn không cho chúng ta răn đe hoặc đẩy lùi hành động xâm lược của chúng. Các quốc gia này cũng coi những vũ khí đó là phương tiện tốt nhất để đối phó với ưu thế vốn có của Mỹ.

• Những khái niệm truyền thống về răn đe sẽ không còn thích hợp để chống lại kẻ thù khủng bố, những kẻ thừa nhận chiến thuật mà chúng sử dụng là nhằm cố ý huỷ diệt và nhằm vào những người dân vô tội, những kẻ tự cho mình là những chiến binh tử vì đạo, những kẻ coi việc không có tư cách công dân là hình thức bảo vệ hữu hiệu nhất cho bản thân. Sự chồng chéo giữa các quốc gia bảo trợ cho khủng bố và quốc gia theo đuổi vũ khí huỷ diệt hàng loạt buộc chúng ta phải hành động.


Nhiều thế kỷ qua, luật pháp quốc tế đã công nhận rằng các quốc gia không cần phải hứng chịu một cuộc tấn công trước khi họ có thể hành động một cách hợp pháp để bảo vệ chống lại những lực lượng tạo ra mối đe dọa tiềm tàng của một cuộc tấn công. Các học giả trong lĩnh vực luật pháp và các luật gia quốc tế thường coi hành động tấn công trước là hợp pháp trước một mối đe dọa tiềm tàng, thường được thể hiện bằng các hành động huy động bộ binh, hải quân và không quân để chuẩn bị tấn công.


Chúng ta cần phải điều chỉnh khái niệm về mối đe dọa tiềm tàng trước những khả năng và mục tiêu của kẻ thù hiện tại. Các quốc gia thù địch và quân khủng bố không tiến hành tấn công chúng ta theo cách thông thường. Chúng biết rằng tấn công theo cách đó sẽ thất bại. Thay vào đó, chúng dựa vào việc sử dụng khủng bố và, có khả năng, sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt - những loại vũ khí có thể được che đậy dễ dàng, phân phối một cách lén lút và sử dụng mà không có cảnh báo.


Mục tiêu của các cuộc tấn công này là nhằm vào các lực lường quân sự và người dân vô tội của chúng ta, trực tiếp vi phạm một trong những quy tắc cơ bản của luật chiến tranh. Những mất mát trong sự kiện 11 tháng 9 cho thấy rằng những tổn thất lớn về sinh mạng của dân thường là một mục tiêu cụ thể của quân khủng bố và những mất mát này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn gấp bội nếu những kẻ khủng bố có được và sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt.


Từ lâu Mỹ đã duy trì giải pháp tấn công trước nhằm chống lại mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh quốc gia. Mối đe dọa càng lớn thì rủi ro của việc không hành động càng cao, và càng buộc chúng ta phải có những hành động được chuẩn bị trước để bảo vệ chính mình, thậm chí cả khi chúng ta chưa biết rõ thời gian và địa điểm của cuộc tấn công của kẻ thù. Để đón đầu và ngăn chặn những hành động thù địch của kẻ thù, Mỹ, nếu cần, sẽ hành động trước.


Mỹ sẽ không sử dụng lực lượng trong mọi trường hợp để tấn công trước các mối đe dọa hiện hữu, các quốc gia cũng không nên sử dụng hành động tấn công trước như là cái cớ để xâm lược. Tuy nhiên, trong thời đại mà kẻ thù của nền văn minh chủ động và công khai theo đuổi công nghệ huỷ diệt mạnh nhất trên thế giới, Mỹ không thể ngồi yên trong khi các mối đe dọa ngày một gia tăng.


Chúng ta sẽ luôn hành động thận trọng và cân nhắc hậu quả của những hành động đó. Để hỗ trợ cho giải pháp tấn công trước, chúng ta sẽ:

• xây dựng khả năng tình báo tổng hợp nhiều hơn và tốt hơn nhằm cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về các mối đe dọa ở bất cứ nơi nào chúng có thể xuất hiện;

• phối hợp chặt chẽ với các đồng minh nhằm hình thành một đánh giá chung về các mối đe dọa nguy hiểm nhất; và

• tiếp tục cải tổ lực lượng quân sự của chúng ta nhằm bảo đảm khả năng tiến hành các hoạt động chính xác và nhanh chóng để đạt được những kết quả quyết định.

Mục đích các hành động của chúng ta sẽ luôn nhằm loại bỏ những mối đe dọa cụ thể đối với Mỹ hay đồng minh và bạn bè của chúng ta. Lý do chúng ta hành động cần phải rõ ràng, dựa trên thực lực và theo đuổi chính nghĩa.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:40:27 am
VI. MỞ RA MỘT KỶ NGUYÊN MỚI CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TOÀN CẦU THÔNG QUA THỊ TRƯỜNG TỰ DO VÀ THƯƠNG MẠI TỰ DO

"Khi các quốc gia đóng cửa thị trường và những cơ hội chỉ được dành cho một nhóm nhỏ những người được hưởng đặc quyền đặc lợi thì không một khoản viện trợ phát triển nào là đủ. Khi các quốc gia tôn trọng nhân dân, mở cửa thị trường, đầu tư cho một hệ thống y tế và giáo dục tốt hơn thì từng đồng đôla viện trợ, từng đồng đôla thu được từ thương mại và vốn trong nước sẽ được sử dụng hiệu quả hơn"

Tổng thống Bush, phát biểu tại Monterrey,
Mêhicô, 22-3-2002


Một nền kinh tế thế giới mạnh sẽ góp phần tăng cường an ninh quốc gia của chúng ta bằng cách thúc đẩy sự thịnh vượng và tự do trên toàn thế giới. Tăng trưởng kinh tế được hỗ trợ bởi thương mại tự do và thị trường tự do tạo ra nhiều việc làm mới và thu nhập cao hơn. Điều này cho phép người dân thoát khỏi đói nghèo, thúc đẩy cải cách kinh tế và luật pháp, chống tham nhũng và thúc đẩy sự bền vững của tự do.


Chúng ta sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tự do kinh tế bên ngoài biên giới nước Mỹ. Tất cả các chính phủ đều có trách nhiệm xây dựng những chính sách kinh tế riêng và đối phó với những thách thức kinh tế của mình. Chúng ta sẽ sử dụng cam kết kinh tế của mình với các nước khác để nhấn mạnh những lợi ích của các chính sách đem lại năng suất cao hơn và tăng trưởng kinh tế bền vững, bao gồm:

• luật pháp và những chính sách pháp quy hỗ trợ tăng trưởng nhằm khuyến khích đầu tư kinh doanh, tinh thần sáng tạo và các hoạt động kinh doanh;

• các chính sách thuế - đặc biệt là thuế suất biên thấp - nhằm tăng những khuyến khích đối với công việc và đầu tư;

• pháp quyền và không khoan nhượng đối với tham nhũng để người dân vững tin rằng họ sẽ được hưởng những thành quả từ những nỗ lực kinh tế của mình;

• các hệ thống tài chính mạnh cho phép vốn được sử dụng hiệu quả nhất;

• những chính sách tài chính đúng đắn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh;

• đầu tư cho y tế và giáo dục để cải thiện đời sống và kỹ năng của lực lượng lao động và toàn thể nhân dân; và

• thương mại tự do nhằm tạo điều kiện cho tăng trưởng và thúc đẩy việc phổ biến những công nghệ và ý tưởng làm tăng năng suất và cơ hội.

Những bài học của lịch sử đã rõ ràng: các nền kinh tế thị trường, chứ không phải các nền kinh tế mệnh lệnh - chỉ huy với sự can thiệp mạnh của chính phủ, là cách thức tốt nhất để thúc đẩy thịnh vượng và giảm đói nghèo. Những chính sách nhằm tăng cường những cơ chế khuyến khích của thị trường và những thể chế thị trường là phù hợp đối với tất cả các nền kinh tế - các nước công nghiệp hoá, các thị trường mới nổi, và các nước đang phát triển.


Sự phục hồi tăng trưởng kinh tế cao ở châu Âu và Nhật Bản là tối quan trọng đối với những lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ. Chúng ta muốn đồng minh của mình có những nền kinh tế mạnh vì lợi ích của chính họ, vì lợi ích của nền kinh tế thế giới, và vì lợi ích của an ninh toàn cầu. Những nỗ lực của châu Âu trong việc loại bỏ những rào cản về cơ cấu trong các nền kinh tế của họ, cũng như những nỗ lực của Nhật Bản nhằm chấm dứt tinh trạng thiểu phát và giải quyết vấn đề liên quan đến những khoản cho vay không sinh lời trong hệ thống ngân hàng nước này là đặc biệt quan trọng. Chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng cơ chế tham vấn thường kỳ của chúng ta với các nước đối tác Nhật Bản và châu Âu, trong đó có cơ chế G7, để thảo luận về chính sách mà các nước này đang sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước mình và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế toàn cầu cao hơn.


Tăng cường sự ổn định của các thị trường mới nổi cũng hết sức quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Những dòng vốn đầu tư quốc tế là cần thiết để tăng cường năng lực sản xuất của các nền kinh tế này. Những dòng vốn này cho phép các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển tiến hành đầu tư nhằm nâng cao mức sống và giảm đói nghèo. Mục tiêu dài hạn của chúng ta là xây dựng một thế giới trong đó tất cả các nước đều có chỉ số tín nhiệm về đầu tư đủ cao để có thể xâm nhập vào thị trường vốn quốc tế và đầu tư cho tương lai.


Chúng ta cam kết tiếp tục thực hiện những chính sách giúp những thị trường mới nổi tiếp cận được với những nguồn vốn lớn hơn với chi phí thấp hơn. Để đạt được điều này, chúng ta sẽ tiếp tục thúc đẩy cải cách nhằm giảm bất trắc trên các thị trường tài chính. Chúng ta sẽ tích cực hợp tác với các nước khác, với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và khu vực tư nhân để thực hiện Kế hoạch Hành động G7 đã được đàm phán hồi đầu năm nay nhằm ngăn chặn khủng hoảng tài chính và xử lý khủng hoảng một cách hiệu quả hơn.


Cách thức tốt nhất để đối phó với khủng hoảng tài chính là ngăn không cho chúng xảy ra, và chúng ta đã khuyến khích IMF tăng cường nỗ lực theo hướng đó. Chúng ta sẽ tiếp tục hợp tác với IMF để giảm bớt những điều kiện chính sách đối với các khoản vay và hướng chiến lược cho vay của Quỹ vào mục tiêu đạt được tăng trưởng kinh tế thông qua những chính sách đúng đắn về tài chính và tiền tệ, tỷ giá hối đoái và chính sách đối với khu vực tài chính.


Khái niệm "thương mại tự do" xuất hiện như một nguyên tắc đạo đức ngay cả trước khi nó trở thành một trụ cột kinh tế. Nêu bạn có thể sản xuất một sản phẩm được người khác cho là có giá trị, bạn cần phải bán được sản phẩm đó. Nếu người khác có thể sản xuất một sản phẩm mà bạn cho là có giá trị, bạn cần phải mua được sản phẩm đó. Đây là tự do thực sự, quyền tự do của một người - hay một dân tộc - để kiếm sống. Nhằm thúc đẩy thương mại tự do, Mỹ đã xây dựng một chiến lược toàn diện bao gồm những nội dung sau:    

• Nắm bắt sáng kiến toàn cầu. Vòng đàm phán thương mại toàn cầu mới mà chúng ta đã góp phần khởi xướng ở Đôha hồi tháng 11-2001 sẽ có một chương trình nghị sự đầy tham vọng, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế tạo và dịch vụ, với mục tiêu hoàn thành vào năm 2005. Mỹ đã đi đầu trong việc giúp Trung Quốc và Đài Loan dân chủ hoàn tất việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Chúng ta sẽ hỗ trợ những nỗ lực của Nga nhằm gia nhập WTO.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Bảy, 2022, 06:41:10 am
• Thúc đẩy những sáng kiến khu vực. Mỹ và những nền dân chủ ở Tây Bán cầu đã thoả thuận thành lập Khu vực Thương mại tự do châu Mỹ, dự kiến hoàn thành vào năm 2005. Năm nay, Mỹ sẽ thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường với các đối tác, chủ yếu trong các lĩnh vực nông nghiệp, hàng hoá công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ. Chúng ta sẽ tạo nhiều cơ hội hơn cho châu lục nghèo nhất, châu Phi, bắt đầu bằng việc tận dụng tối đa những ưu đãi trong khuôn khổ Đạo luật về tăng trưởng và cơ hội của châu Phi, và dẫn tới thương mại tự do.

• Thúc đẩy việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương. Trên cơ sở hiệp định thương mại tự do với Gioócđani có hiệu lực từ năm 2001, trong năm nay, chính quyền sẽ nỗ lực xúc tiến ký kết các hiệp định thương mại tự do với Chilê và Xingapo. Mục tiêu của chúng ta là đạt được những thoả thuận thương mại tự do với các nước phát triển và đang phát triển ở tất cả các khu vực trên thế giới. Trước tiên, chúng ta sẽ chủ vếu tập trung vào Trung Mỹ, Nam châu Phi, Marốc và Ôxtrâylia.

• Đổi mới mối quan hệ đối tác giữa cơ quan hành pháp và Quốc hội. Chiến lược thương mại của mỗi chính quyền đều phụ thuộc vào một mối quan hệ đối tác hiệu quả với Quốc hội. Sau tám năm, chính quyền đã giành lại được sự ủng hộ đa số trong Quốc hội đối với tiến trình tự do hoá thương mại với việc Quốc hội đã thông qua Thẩm quyền Xúc tiến thương mại và những biện pháp mở cửa thị trường khác đối với các nước đang phát triển trong Đạo luật Thương mại năm 2002. Chính quyền của Tổng thống Bush sẽ tiếp tục hợp tác với Quốc hội để thông qua những hiệp định thương mại song phương, khu vực và toàn cầu mới được ký kết theo Thẩm quyền Xúc tiến thương mại vừa được thông qua.

• Tăng cường mối liên hệ giữa thương mại và phát triển. Các chính sách thương mại có thể giúp các nước đang phát triển tăng cường các quyền sở hữu, cạnh tranh, pháp quyền, đầu tư, sự phổ biến tri thức, các xã hội mở, phân bổ hiệu quả các nguồn lực, và hội nhập khu vực - tất cả đều dẫn đến tăng trưởng, mở ra những cơ hội và xây dựng lòng tin ở các nước đang phát triển. Mỹ đang thực hiện Đạo luật về tăng trưởng và cơ hội của châu Phi nhằm mở cửa thị trường cho hầu hết các sản phẩm được sản xuất tại 35 nước Nam Xahara châu Phi. Chúng ta sẽ tăng cường tận dụng đạo luật này và một đạo luật tương tự dành cho các nước Caribê, và tiếp tục hợp tác với những thể chế đa phương và khu vực để giúp đỡ các nước nghèo tận dụng cơ hội. Bên cạnh mở cửa thị trường, một lĩnh vực quan trọng khác mà trong đó hoạt động thương mại có liên quan mật thiết với vấn đề giảm nghèo chính là sức khoẻ cộng đồng. Chúng ta sẽ bảo đảm rằng những quy định về sở hữu trí tuệ của WTO đủ linh hoạt để cho phép các nước đang phát triển tiếp cận được thuốc chữa trị những bệnh đặc biệt nguy hiểm như HIV/AIDS, lao và sốt rét.

• Thực thi những hiệp định thương mại và luật pháp chống lại những hành động không công bằng. Thương mại phụ thuộc vào pháp quyền; thương mại quốc tế phụ thuộc vào những thoả thuận có thể thực thi được. Những ưu tiên hàng đầu của chúng ta là giải quyết những tranh chấp hiện có với Liên minh châu Âu, Canađa và Mêhicô, và thúc đẩy nỗ lực toàn diện để đối phó với những quy định mới về công nghệ, khoa học và y tế đang cản trở một cách không cần thiết xuất khẩu nông sản và cải tiến nông nghiệp. Luật pháp chống lại những hoạt động thương mại không công bằng thường bị lạm dụng, nhưng cộng đồng quốc tế phải có khả năng giải quyết những mối quan ngại thực sự về trợ cấp của chính phủ và bán phá giá. Tình báo công nghiệp quốc tế làm xói mòn cạnh tranh công bằng và vì vậy cần phải được phát hiện và loại trừ.

• Giúp đỡ các ngành công nghiệp trong nước và công nhân điều chỉnh. Chúng ta đã sử dụng một khuôn khổ luật pháp tốt cho những biện pháp tự vệ trong thời kỳ chuyển đổi để hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp và trong năm nay là ngành sản xuất thép của Mỹ. Những lợi ích do thương mại tự do đem lại phụ thuộc vào việc thực thi những thông lệ thương mại công bằng. Những biện pháp tự vệ này góp phần bảo đảm rằng những lợi ích do thương mại tự do đem lại không ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động Mỹ. Trợ giúp điều chỉnh thương mại sẽ giúp người lao động thích nghi với những thay đổi và tính năng động của những thị trường mở.

• Bảo vệ môi trường và người lao động. Mỹ phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng vừa đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn vừa tăng cường thịnh vượng. Chúng ta sẽ đưa những mối quan tâm về lao động và môi trường vào quá trình đàm phán thương mại của Mỹ, tạo ra một "mạng lưới" lành mạnh giữa những thoả thuận đa phương về môi trường với WTO, và sử dụng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), những chương trình ưu đãi thương mại, và đàm phán thương mại nhằm cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy thương mại tự do.

• Tăng cường an ninh năng lượng. Chúng ta sẽ tăng cường an ninh năng lượng của mình và thịnh vượng chung của nền kinh tế thế giới bằng cách hợp tảc với các đồng minh, đối tác thương mại và các nhà sản xuất năng lượng để mở rộng các nguồn và các loại năng lượng trên toàn cầu, đặc biệt là ở Tây bán cầu, châu Phi, Trung Á, và khu vực biển Caxpi. Chúng ta cũng sẽ tiếp tục hợp tác với các đối tác để phát triển các công nghệ sạch và sử dụng năng lượng có hiệu quả hơn.

Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với những nỗ lực toàn cầu nhằm ổn định lượng khí nhà kính do tăng trưởng gây ra, kiềm chế lượng khí này ở mức độ nhất định để ngăn cản sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với khí hậu toàn cầu. Mục tiêu bao trùm của chúng ta là giảm lượng khí nhà kính của Mỹ tương đương với quy mô của nền kinh tế, giảm 18% lượng khí tính theo đơn vị hoạt động kinh tế trong vòng 10 năm tới, vào năm 2012. Chiến lược của chúng ta nhằm đạt được mục đích này là:

• duy trì cam kết đối với Công ước khung của Liên hợp quốc về hợp tác quốc tế;

• đạt được thoả thuận với các ngành công nghiệp chủ đạo trong việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và cung cấp tín dụng chuyển khoản cho các công ty đã có cắt giảm thực sự;

• xây dựng những tiêu chuẩn cải tiến để đo và đăng ký sự cắt giảm khí thải;

• thúc đẩy sản xuất năng lượng tái sinh và công nghệ sử dụng than sạch, cũng như năng lượng nguyên tử - nguồn năng lượng không thải khí gây hiệu ứng nhà kính, trong khi tăng cường khả năng tiết kiệm năng lượng của ôtô và xe tải Mỹ;

• tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu và những công nghệ bảo tồn mới, lên mức 4,5 tỷ USD - đây là mức đầu tư lớn nhất dành cho hoạt động đối phó với thay đổi khí hậu của một nước trên thế giới, và đã tăng 700 triệu USD so với ngân sách năm ngoái; và

• trợ giúp các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước thải ra khối lượng lớn khí gây hiệu ứng nhà kính như Trung Quốc và Ấn Độ, để những nước này có những công cụ và nguồn lực cần thiết để cùng chúng ta nỗ lực phấn đấu vì một môi trường sạch hơn và tốt đẹp hơn.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:47:40 am
VII. MỞ RỘNG LÃNH ĐỊA PHÁT TRlỂN BẰNG CÁCH MỞ CỬA CÁC XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG HẠ TẦNG CƠ SỞ CHO NỀN DÂN CHỦ

"Trong Chiến tranh thế giới thứ hai chúng ta đã chiến đấu vì một thế giới an toàn hơn, và sau đó bắt tay vào tái thiết thế giới này. Ngày nay khi chúng ta bắt đầu một cuộc chiến vì một thế giới yên bình không có khủng bố, chúng ta cũng phải nỗ lực để xây dựng thế giới trở thành một nơi tốt hơn cho nhân loại"

Tổng thống Bush, phát biểu tại Ngân hàng Phát triển
Liên Mỹ, Washington D.C, 14- 3- 2002


Một thế giới, trong đó một số người sống trong tiện nghi và đầy đủ, trong khi một nửa loài người phải sống với mức thu nhập dưới 2 USD một ngày, là một thế giới không công bằng và bất ổn định. Đưa tất cả người nghèo trên thế giới vào vòng phát triển và cơ hội ngày càng được mở rộng là một đòi hỏi cấp bách về đạo đức và là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách quốc tế của Mỹ.


Những thập niên viện trợ phát triển ồ ạt đã thất bại trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước nghèo nhất trên thế giới. Tồi tệ hơn, viện trợ phát triển thường được sử dụng làm chỗ dựa cho những chính sách thất bại, làm giảm sức ép tiến hành cải cách và kéo dài thêm sự khôn khổ. Kết quả của viện trợ thường được đo bằng số tiền các nhà tài trợ bỏ ra, chứ không phải bằng tốc độ tăng trưởng và mức giảm đói nghèo của các quốc gia nhận viện trợ. Đó là những biểu hiện của một chiến lược thất bại.


Cùng hợp tác với các quốc gia khác, Mỹ đang đương đầu với thất bại này. Chúng ta đã đạt được một sự đồng thuận mối tại Hội nghị của Liên hợp quốc về tài trợ cho phát triển tại Monterrey, đó là các mục tiêu viện trợ và sự cần thiết phải thay đổi chiến lược để đạt được những mục tiêu đó.


Mục tiêu của Chính quyền là phát huy tiềm năng lao động của mỗi cá nhân ở mọi quốc gia. Tăng trưởng bền vững và giảm đói nghèo sẽ không thể có được nếu thiếu những chính sách quốc gia đúng đắn. Đối với những chính phủ đã thực sự tiến hành điều chỉnh chính sách, chúng ta sẽ tăng đáng kể viện trợ. Mỹ và các nước phát triển khác cần đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng và rõ ràng: đó là tăng gấp đôi quy mô của các nền kinh tế nghèo nhất trên thế giới trong vòng một thập kỷ tới.


Chính phủ Mỹ sẽ theo đuổi những chiến lược lớn sau để đạt được mục tiêu này:

• Cung cấp các nguồn lực để hỗ trợ các quốc gia đang phải đối mặt với thách thức của công cuộc cải tổ đất nước. Chúng ta đề xuất tăng 50% viện trợ phát triển chính thức của Mỹ. Trong khi tiếp tục thực hiện những chương trình hiện có, trong đó có viện trợ nhân đạo dựa trên nhu cầu cụ thể, hàng tỷ đôla viện trợ mới sẽ giúp thiết lập một Tài khoản Thách thức thiên niên kỷ mới cho những dự án tại các nước nơi chính phủ lãnh đạo đất nước một cách công bằng, đầu tư vào con người và khuyến khích tự do kinh tế. Các chính phủ phải chống tham nhũng, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, tôn trọng pháp quyền, đầu tư vào y tế và giáo dục, theo đuổi các chính sách kinh tế có trách nhiệm, và đề cao tinh thần kinh doanh. Tài khoản Thách thức thiên niên kỷ sẽ mang lại lợi ích cho những quốc gia đã và đang thực sự tiến hành thay đổi chính sách và thách thức những quốc gia không tiến hành đổi mới.

• Nâng cao hiệu quả của Ngân hàng Thế giới và các ngăn hàng phát triển khác trong việc nâng cao mức sống. Mỹ duy trì cam kết đối với một chương trình đổi mới toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của Ngân hàng Thế giới và các ngân hàng phát triển đa phương khác trong việc nâng cao đời sống của những người nghèo trên thế giới. Chúng ta đã đảo ngược xu hướng giảm đóng góp của Mỹ và đề xuất tăng 18% đóng góp của Mỹ cho Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) - quỹ của Ngân hàng Thế giới dành cho các nước nghèo nhất - và Quỹ Phát triển châu Phi. Chìa khoá để nâng cao mức sống và giảm đói nghèo trên toàn thế giới là tăng năng suất, đặc biệt tại các nước nghèo nhất trên thế giới. Chúng ta sẽ tiếp tục yêu cầu các ngân hàng phát triển đa phương tập trung vào các hoạt động giúp tăng năng suất kinh tế, như cải thiện giáo dục, y tế, pháp quyền và phát triển khu vực tư nhân. Tất cả các dự án, khoản cho vay và viện trợ không hoàn lại phải được đánh giá dựa trên mức tăng năng suất tại các quốc gia đang phát triển mà chúng có thể đem lại.

• Nhấn mạnh kết quả cụ thể để bảo đảm rằng viện trợ phát triển thực sự tạo ra sự thay đổi trong cuộc sống của người nghèo trên thế giới. Khi nói đến phát triển kinh tế, điều thực sự có ý nghĩa là có nhiều trẻ em được hưởng một nền giáo dục tốt hơn, nhiều người được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và nước, sạch và nhiều người lao động có thể tìm được việc làm để có thể bảo đảm một tương lai tốt đẹp hơn cho gia đình của mình. Chúng ta có nghĩa vụ đạo đức là xác định sự thành công của các chương trình viện trợ phát triển thông qua việc xem xét liệu các chương trình đó có đem lại kết quả hay không. Vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục yêu cầu viện trợ phát triển của chính mình cũng như viện trợ của các ngân hàng phát triển đa phương phải có các mục tiêu cụ thể và những tiêu chuẩn đánh giá rõ ràng nhằm đạt được những mục tiêu đó. Với sự lãnh đạo của Mỹ, thoả thuận bổ sung IDA gần đây sẽ tạo ra một hệ thống giám sát và đánh giá giúp đánh giá tiến bộ mà các nước nhận viện trợ đạt được. Lần đầu tiên, các nhà tài trợ có thể liên hệ phần đóng góp của họ cho IDA với việc đạt được các thành quả phát triển thực sự, và phần đóng góp của Mỹ sẽ được liên hệ theo cách này. Chúng ta sẽ nỗ lực để bảo đảm rằng Ngân hàng Thế giới và các ngân hàng phát triển đa phương khác sẽ phát huy những tiến bộ này nhằm biến việc chú trọng kết quả thực hiện thành một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ công việc mà các tổ chức này đang tiến hành.

• Tăng viện trợ phát triển dưới hình thức viện trợ không hoàn lại thay vì cho vay. Sử dụng nhiều hơn nữa các khoản cho viện trợ không hoàn lại dựa trên kết quả là cách tốt nhất giúp các nước nghèo đầu tư có hiệu quả, đặc biệt trong các lĩnh vực xã hội, mà không làm cho các nước này rơi vào cảnh nợ nần ngày càng gia tăng. Với sự lãnh đạo của Mỹ, thoả thuận IDA gần đây đã tăng đáng kể quỹ viện trợ không hoàn lại cho các nước nghèo nhất trong các lĩnh vực giáo dục, phòng chống HIV/AIDS, y tế, dinh dưỡng, nước, vệ sinh và các nhu cầu khác của con người. Mục tiêu của chúng ta là phát huy những tiến bộ đạt được bằng cách tăng sử dụng viện trợ không hoàn lại thông qua các ngân hàng phát triển đa phương khác. Chúng ta cũng yêu cầu các trường đại học, các tổ chức phi lợi nhuận và khu vực tư nhân có những hành động tương xứng với những nỗ lực của chính phủ bằng việc sử dụng những các khoản viện trợ không hoàn lại để hỗ trợ các dự án phát triển có kết quả.

• Mở cửa các xã hội cho thương mại và đầu tư. Thương mại và đầu tư là động lực thực sự của tăng trưởng kinh tế. Ngay cả khi viện trợ chính phủ tăng thì phần lớn tiền dành cho phát triển phải có được từ thương mại, vốn trong nước, và đầu tư nước ngoài. Một chiến lược hiệu quả cũng cần phải nỗ lực tăng thêm những dòng vốn này. Thị trường tự do và thương mại tự do là những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược an ninh quốc gia của chúng ta.

• Đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân. Cuộc khủng hoảng về sức khoẻ cộng đồng ở các nước nghèo đang ở mức độ hết sức nghiêm trọng, ở những nước bị ảnh hưởng bởi những đại dịch như HIV/AIDS, sốt rét và lao, tăng trưởng và phát triển sẽ vẫn còn bị đe dọa chừng nào những mối hiểm hoạ này chưa được kiểm soát. Những nguồn lực từ những nước phát triển là cần thiết nhưng sẽ chỉ có hiệu quả khi có quản trị công tốt hỗ trợ cho những chương trình phòng chống và cung cấp cơ sở hạ tầng hiệu quả ở địa phương. Mỹ đã ủng hộ mạnh mẽ quỹ toàn cầu mới cho HIV/AIDS do Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan sáng lập, cũng như trọng tâm của quỹ này là dành cho việc kết hợp ngăn ngừa với một chiến lược điều trị và chăm sóc rộng rãi. Những đóng góp của Mỹ cho quỹ này lớn gấp hơn hai lần số tiền nước tài trợ lớn thứ hai cung cấp. Nếu quỹ toàn cầu này có thể thực hiện được lời hứa của mình, chúng ta sẵn sàng cung cấp nhiều hơn.

• Nhấn mạnh đến giáo dục. Khả năng biết chữ và học tập là nền tảng cho dân chủ và phát triển. Chỉ khoảng 7% các nguồn lực của Ngân hàng Thế giới được dành cho giáo dục. Tỷ lệ này cần được tăng lên. Mỹ sẽ tăng nguồn tài trợ cho giáo dục ít nhất 20%, chú trọng đặc biệt đến giáo dục cơ bản và đào tạo giáo viên ở các nước châu Phi. Mỹ cũng có thể đem công nghệ thông tin đến những nước này, trong đó có những nước có nền giáo dục bị tàn phá bởi đại dịch HIV/AIDS.

• Tiếp tục hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Những công nghệ mới, trong đó có công nghệ sinh học, có tiềm năng cực lớn trong việc tăng năng suất cây trồng ở những nước đang phát triển trong khi sử dụng ít thuốc trừ sâu hơn và cần ít nước hơn. Ứng dụng khoa học tiên tiến, Mỹ cần góp phần đem lại những lợi ích này cho 800 triệu người, trong đó có 300 triệu trẻ em, đang còn bị đói và suy dinh dưỡng.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:50:14 am
VIII.   XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ CHO CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC VỚI NHỮNG TRUNG TÂM QUYỀN LỰC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI

"Chúng ta đang có cơ hội tốt nhất kể từ khi xuất hiện quốc gia - dân tộc hồi thế kỷ XVII để xây dựng một thế giới trong đó các cường quốc cạnh tranh trong hoà bình thay vì chuẩn bị chiến tranh".

Tổng thống Bush, phát biểu tại Học viện
Quân sự West Point, New York, 1-6-2002


Mỹ sẽ thực hiện những chiến lược của mình bằng cách thành lập những liên minh - với độ rộng phù hợp - gồm các quốc gia có khả năng và mong muốn thiết lập một cân bằng quyền lực hậu thuẫn tự do. Sự lãnh đạo liên minh có hiệu quả đòi hỏi phải có những ưu tiên rõ ràng, đánh giá về những lợi ích của các bên, và tham khảo thường xuyên với các đối tác trên tinh thần khiêm tốn.


Mỹ khó có thể đạt được những kết quả bền vững trên thế giới nếu không có sự hợp tác lâu dài của những đồng minh và bạn bè của chúng ta ở Canada và châu Âu. Châu Âu cũng là nơi có hai thể chế quốc tế mạnh nhất và có khả năng nhất trên thế giới, đó là Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), từ khi thành lập đã là điểm tựa cho an ninh xuyên Đại Tây Dương và liên châu Âu, và Liên minh châu Âu, đối tác của chúng ta trong việc mở cửa thương mại thế giới.


Cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 cũng là một đòn tấn công đối với NATO, như chính NATO đã thừa nhận khi NATO lần đầu tiên viện dẫn Điều V, điều khoản về phòng vệ. Nhiệm vụ chủ đạo của NATO - phòng vệ tập thể cho liên minh xuyên Đại Tây Dương của các nền dân chủ - vẫn còn đó, nhưng NATO cần phải xây dựng những cấu trúc và năng lực mới để thực hiện được nhiệm vụ này trong bốì cảnh mới. NATO cần phải xây dựng khả năng điều động nhanh chóng những lực lượng cơ động và được huấn luyện đặc biệt bất cứ khi nào cần để đối phó với mối đe dọa đối với bất kỳ thành viên nào trong liên minh.


Liên minh phải có khả năng hành động ở bất kỳ nơi nào mà lợi ích của chúng ta bị đe dọa, thiết lập những liên minh dưới sự chỉ đạo của NATO, cũng như đóng góp cho những liên minh được xây dựng dựa trên những sứ mệnh cụ thể. Để đạt được điều này, chúng ta phải:

• mở rộng NATO bằng cách kết nạp các quốc gia dân chủ mong muốn và có khả năng chia sẻ gánh nặng phòng vệ và thúc đẩy những lợi ích chung của chúng ta;

• bảo đảm rằng lực lượng quân sự của các nước thành viên NATO phải có đóng góp phù hợp trong các cuộc chiến của liên minh;

• xây dựng những tiến trình lập kế hoạch cho phép những đóng góp đó trở thành những lực lượng quân đội đa quốc gia hiệu quả;

• tận dụng những cơ hội và chi tiêu quốc phòng của chúng ta nhằm cải tổ lực lượng quân sự NATO để lực lượng này có khả năng chế ngự những kẻ xâm lược tiềm tàng và giảm khả năng tổn thương của chúng ta.

• tinh giản và tăng cường tính linh hoạt của các bộ tư lệnh nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến mới và các đòi hỏi liên quan về huấn luyện, phối hợp và thử nghiệm phương thức tập hợp lực lượng mới; và

• duy trì khả năng phối hợp chiến đấu với các đồng minh ngay khi chúng ta tiến hành những bước đi cần thiết để cải tổ và hiện đại hoá lực lượng của chúng ta.


Nếu NATO thực hiện thành công những thay đổi này, phần thưởng sẽ là mối quan hệ đối tác đóng vai trò trung tâm đối với an ninh và lợi ích của các quốc gia thành viên như từng thấy trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Chúng ta sẽ duy trì quan điểm chung về những mối đe dọa đối với các xã hội và sẽ nâng cao khả năng cùng hành động nhằm bảo vệ dân tộc và lợi ích của dân tộc chúng ta. Đồng thời, chúng ta hoan nghênh các đồng minh châu Âu của chúng ta đã nỗ lực tạo lập một chính sách ngoại giao và khả năng phối hợp phòng vệ lớn hơn với Liên minh châu Âu. Chúng ta cam kết sẽ tham khảo chặt chẽ để bảo đảm những thay đổi này phù hợp với NATO. Chúng ta không thể để mất cơ hội này, cơ hội giúp chúng ta chuẩn bị tốt hơn cho cộng đồng các nền dân chủ xuyên Đại Tây Dương để đối phó với những thách thức sắp đến.


Các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 đã tiếp thêm nghị lực cho các đồng minh châu Á của Mỹ. Ôxtrâylia đã thỉnh cầu Hiệp ước ANZUS tuyên bố rằng cuộc tấn công 11 tháng 9 là nhằm vào chính bản thân Ôxtrâylia và ngay sau quyết định lịch sử đó đã gửi một số lực lượng chiến đấu thiện chiến nhất thế giới tham gia vào Chiến dịch Theo đuổi tự do bền vững. Nhật Bản và Hàn Quốc đã hỗ trợ hậu cần quân sự ở mức chưa từng có trong vòng vài tuần sau khi xảy ra tấn công khủng bố. Chúng ta đã thắt chặt quan hệ hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố với các đồng minh Thái Lan và Philippin và nhận được sự giúp đỡ vô giá từ các bạn bè thân thiết như Xingapo và Niu Dilân.


Cuộc chiến chống khủng bố đã cho thấy các đồng minh châu Á của Mỹ không chỉ củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực mà còn linh hoạt và sẵn sàng đối phó với những thách thức mới. Để tăng cường mối quan hệ đồng minh và tình hữu nghị châu Á, chúng ta sẽ:    • dựa vào việc Nhật Bản tiếp tục xây dựng vai trò lãnh đạo trong các vấn đề quốc tế và khu vực dựa trên các lợi ích chung, các giá trị chung của chúng ta và mối quan hệ hợp tác chặt chẽ về quốc phòng và ngoại giao của chúng ta;

• phối hợp với Hàn Quốc duy trì cảnh giác với Bắc Triều Tiên trong khi chuẩn bị cho đồng minh của chúng ta đóng góp vào ổn định khu vực lâu dài và trên phạm vi rộng lớn hơn.

• phát huy mối quan hệ đồng minh 50 năm giữa Mỹ và Ôxtrâylia trong khi tiếp tục cùng giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu - chúng ta đã cùng hành động trong rất nhiều dịp, từ trận chiến ở Biển San hô đến Tora Bora;

• duy trì lực lượng trong khu vực nhằm thể hiện cam kết của chúng ta đối với các đồng minh, các yêu cầu của chúng ta, những tiến bộ công nghệ của chúng ta và môi trường chiến lược; và

• dựa vào sự ổn định do các mối quan hệ đồng minh này tạo ra, cũng như vào những thể chế như ASEAN và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương để hoạch định các chiến lược song phương và khu vực nhằm kiểm soát những thay đổi trong khu vực năng động này.

Chúng ta lưu tâm đến khả năng phục hồi mô thức cũ về cạnh tranh giữa các cường quốc. Nhiều cường quốc tiềm tàng hiện đang trong quá trình chuyển đổi nội bộ, quan trọng nhất là Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Ở cả ba nước, những diễn biến gần đây đã tăng thêm hy vọng của chúng ta rằng mối đồng thuận toàn cầu thật sự về các nguyên tắc cơ bản đang từng bước hình thành


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:51:04 am
Với Nga, chúng ta đã xây dựng một mối quan hệ chiến lược mới dựa trên một thực tế cơ bản của thế kỷ XXI, đó là Hoa Kỳ và Nga không còn là kẻ thù chiến lược nữa. Hiệp ước Mátxcơva về cắt giảm Chiến lược tượng trưng cho thực tế mới này và phản ánh một thay đổi cực kỳ quan trọng trong tư duy của người Nga, hứa hẹn đưa đến mối quan hệ lâu dài và hiệu quả với cộng đồng châu Âu - Đại Tây Dương và Hoa Kỳ. Các nhà lãnh đạo cấp cao của Nga đã đánh giá đúng những yếu kém và chính sách đối nội lẫn đối ngoại hiện tại của nước Nga và thấy cần thay đổi những yếu kém đó. Họ ngày càng hiểu rằng cách tiếp cận của chiến tranh lạnh không phục vụ lợi ích quốc gia của họ và rằng các lợi ích chiến lược của Nga và Mỹ song trùng trong nhiều lĩnh vực.


Mỹ chủ trương sử dụng bước ngoặt này trong tư duy của người Nga để hướng mối quan hệ của chúng ta vào những lợi ích chung và các thách thức mới nổi lên. Chúng ta đang mở rộng mối quan hệ hợp tác sẵn có trong cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố. Chúng ta đang hỗ trợ Nga tham gia Tổ chức Thương mại thế giới với các tiêu chuẩn gia nhập không thấp hơn mức thông thường, để thúc đẩy thương mại và đầu tư mà hai bên cùng có lợi. Chúng ta đã thành lập Ủy ban NATO - Nga nhằm tăng cường hợp tác an ninh giữa Nga, các đồng minh châu Âu của chúng ta và chính chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp tục thúc đẩy nền độc lập và ổn định của các quốc gia thuộc Liên bang Xôviết cũ với niềm tin rằng khu vực kề cận ổn định và thịnh vượng sẽ củng cố những cam kết hội nhập của Nga vào cộng đồng châu Âu - Đại Tây Dương.


Đồng thời, chúng ta nhận thức được những bất đồng vẫn chia rẽ chúng ta với Nga, cũng như thời gian và nỗ lực cần bỏ ra để xây dựng được một mối quan hệ chiến lược bền vững. Mối nghi ngờ dai dẳng của lãnh đạo chóp bu của Nga đối với động cơ và chính sách của chúng ta khiến mối quan hệ giữa hai bên chậm được cải thiện. Cam kết không nhất quán của Nga đối với những giá trị cơ bản của nền dần chủ thị trường tự do và những hoạt động không rõ ràng trong việc chống lại phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt vẫn là những vấn đề gây quan ngại sâu sắc. Chính điểm yếu của Nga đã hạn chế các cơ hội hợp tác. Tuy nhiên, giờ đây các cơ hội đó đã lớn hơn nhiều so với những năm trước, hay thậm chí so với những thập kỷ trước.


Mỹ đã chuyển đổi mối quan hệ song phương với Ấn Độ dựa trên nhận thức rằng lợi ích của Mỹ đòi hỏi một mối quan hệ chặt chẽ hơn với Ấn Độ. Chúng ta là hai nền dân chủ lớn, cam kết tự do chính trị và được bảo vệ bởi chính phủ đại diện. Ấn Độ cũng đang tiến tới tự do kinh tế lớn hơn. Chúng ta có lợi ích chung trong các luồng thương mại tự do, gồm cả thương mại qua các tuyến đường biển quan trọng trên Ấn Độ Dương. Cuối cùng, chúng ta có chung lợi ích trong cuộc chiến chống khủng bố và xây dựng một châu Á ổn định về mặt chiến lược.


Vẫn còn những bất đồng, trong đó có việc Ấn Độ phát triển các chương trình tên lửa và hạt nhân, và tốc độ cải cách kinh tế của Ấn Độ. Tuy nhiên, nếu như trong quá khứ những mối quan ngại này có thể chi phối suy nghĩ của chúng ta đối với Ấn Độ thì giờ đây chúng ta bắt đầu coi Ấn Độ là một cường quốc thế giới đang lên và chúng ta muốn thiết lập những lợi ích chiến lược chung với họ. Thông qua mối quan hệ đối tác chặt chẽ với Ấn Độ, chúng ta có thể giải quyết tốt nhất mọi bất đồng và tạo lập một tương lai năng động.


Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là một phần quan trọng trong chiến lược của chúng ta nhằm thúc đẩy một châu Á - Thái Bình Dương thịnh vượng, hoà bình và ổn định. Chúng ta hoan nghênh sự trỗi dậy của một Trung Quốc hùng mạnh, hoà bình và thịnh vượng. Sự tăng cường dân chủ của Trung Quốc có vai trò quan trọng đối với tương lai đó. Tuy nhiên, một phần tư thế kỷ kể từ khi bắt đầu quá trình lột xác khỏi những di căn tồi tệ nhất của chủ nghĩa cộng sản, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn chưa có những lựa chọn cơ bản tiếp theo về tính chất nhà nước của họ. Trong khi theo đuổi xây dựng năng lực quân sự hiện đại có thể đe dọa các láng giềng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Trung Quốc đã đi theo một con đường lỗi thời mà rút cuộc sẽ phương hại đến chính quá trình tìm kiếm tầm vóc vĩ đại của dân tộc mình. Trung Quốc sẽ dần dần thấy rằng tự do chính trị và xã hội là cội nguồn duy nhất của tầm vóc vĩ đại đó.


Mỹ muốn có mối quan hệ mang tính xây dựng với một Trung Quốc đang biến đổi. Chúng ta đã hợp tác tốt trong những trường hợp lợi ích của hai bên song trùng, bao gồm cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố hiện nay và việc thúc đẩy ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Tương tự, chúng ta đã cộng tác trong vấn đề tương lai của Ápganixtan và đã đề xướng đối thoại toàn diện về chống chủ nghĩa khủng bố và các vấn đề xuyên quốc gia tương tự. Các mối đe dọa chung về môi trường và sức khoẻ như sự lan tràn của HIV/AIDS buộc chúng ta phải cùng tăng cường phúc lợi cho công dân của chúng ta.


Việc giải quyết các mối đe dọa xuyên quốc gia này sẽ buộc Trung Quốc cởi mở hơn đối với thông tin, thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự và nâng cao các quyền cá nhân. Trung Quốc đã bắt đầu con đường đi đến cởi mở chính trị, cho phép tự do cá nhân nhiều hơn và tổ chức bầu cử cấp thôn, tuy nhiên vẫn cương quyết theo đường lối một Đảng, do Đảng Cộng sản nắm quyền. Còn rất nhiều việc cần phải làm để khiến quốc gia này thật sự chịu trách nhiệm trước nhu cầu và nguyện vọng của công dân họ. Trung Quốc chỉ có thể phát huy đầy đủ tiềm năng của mình bằng cách cho phép người dân Trung Quốc tự do suy nghĩ, hội họp và thờ phụng.


Mối quan hệ thương mại quan trọng của chúng ta sẽ có lợi khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, điều này sẽ tạo nhiều cơ hội xuất khẩu hơn và cuối cùng là nhiều công ăn việc làm hơn cho các nông dân, người lao động và công ty của Mỹ. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn thứ tư của chúng ta với kim ngạch thương mại hai chiều hàng năm đạt 100 tỷ USD. Sức mạnh của các nguyên tắc thị trường và những yêu cầu của WTO về tính minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm sẽ thúc đẩy mức độ cởi mở và pháp quyền của Trung Quốc nhằm thiết lập những nền tảng bảo vệ thương mại và công dân. Tuy nhiên, có những lĩnh vực chúng ta còn có những bất đồng sâu sắc. Cam kết của chúng ta về khả năng tự vệ của Đài Loan theo Đạo luật về quan hệ với Đài Loan là một vấn đề. Một vấn đề nữa là nhân quyền. Chúng ta hy vọng Trung Quốc sẽ thực hiện những cam kết về không phổ biến vũ khí hạt nhân của mình. Chúng ta sẽ hợp tác để giảm bất đồng trên các vấn đề còn tồn tại, nhưng sẽ không để những bất đồng đó ngăn cản sự hợp tác trên những vấn đề chúng ta thống nhất.


Sự kiện 11-9-2001 đã thay đổi cơ bản bối cảnh của mối quan hệ giữa Mỹ và các trung tâm quyền lực toàn cầu khác và mở ra những cơ hội mới to lớn. Cùng với các đồng minh lâu đời ở châu Âu và châu Á, và các nhà lãnh đạo ở Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, chúng ta phải đưa ra chương trình hợp tác tích cực để những mối quan hệ này không trở nên nhàm chán và không hiệu quả.


Tất cả các cơ quan của chính phủ Mỹ đều gánh vác thách thức này. Chúng ta có thể xây dựng các thói quen tham vấn hiệu quả, tranh luận lặng lẽ, phân tích sáng suốt và hành động chung, về lâu dài, sẽ có những cách thức duy trì ưu thế của các nguyên tắc chung của chúng ta và giữ cho con đường tiến bộ luôn mở rộng.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:52:13 am
IX. CẢI CÁCH CÁC THỂ CHẾ AN NINH QUỐC GIA CỦA MỸ NHẰM TẬN DỤNG CÁC CƠ HỘI VÀ ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG THÁCH THỨC CỦA THỂ KỶ XXI

"Bọn khủng bố đã tấn công biểu tượng của sự thịnh vượng Mỹ. Nhưng chúng không thể chạm đến được cội nguồn của sự thịnh vượng đó.
Nước Mỹ đã thành công bởi vì nhân dân chúng ta lao động chăm chỉ, đầy sáng tạo và dám nghĩ dám làm".

Tổng thống Bush, phát biểu tại phiên họp chung
của Quốc hội, Washington D.c, 20-9-2001


Các thể chế về an ninh quốc gia lớn của Mỹ đã được thiết kế trong một kỷ nguyên khác để đáp ứng những yêu cầu khác. Tất cả các thể chế này cần phải thay đổi.

Đã đến lúc phải tái khẳng định vai trò thiết yếu của sức mạnh quân sự Mỹ. Chúng ta phải xây dựng và duy trì nền quốc phòng để vượt qua thách thức. Ưu tiên lớn nhất của ngành quân sự chúng ta là bảo vệ Mỹ. Để thực hiện việc này một cách hiệu quả, ngành quân sự của chúng ta cần phải:

• cam kết với các đồng minh và bạn bè;

• ngăn cản sự cạnh tranh về quân sự trong tương lai;
   
• chống lại những mối đe dọa đối với lợi ích của Mỹ, đồng minh và bạn bè của chúng ta;

• kiên quyết đánh bại bất cứ kẻ thù nào nếu việc ngăn chặn thất bại.

Sức mạnh vô song của các lực lượng vũ trang Mỹ và sự tồn tại sớm nhất của các lực lượng này đã góp phần duy trì hoà bình ở một số khu vực có tầm quan trọng chiến lược nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các mối đe dọa và kẻ thù mà chúng ta phải đối mặt đã thay đổi, và vì vậy lực lượng của chúng ta cũng phải thay đổi. Một quân đội được cơ cấu để răn đe các quân đội trong thời kỳ chiến tranh lạnh cần phải được cải tổ theo hướng chú ý nhiều hơn đến việc một kẻ thù có thể sẽ đánh theo cách nào thay vì chú ý đến việc cuộc chiến sẽ diễn ra ở đâu và khi nào. Chúng ta sẽ bỏ công sức để vượt qua rất nhiều thách thức về tổ chức thực hiện.


Sự tồn tại của các lực lượng Mỹ ở nước ngoài là một trong những biểu tượng sâu sắc nhất của cam kết của Mỹ đối với các đồng minh và bạn bè. Với việc sẵn sàng dùng lực lượng của mình để tự bảo vệ mình và bảo vệ các nước khác, Mỹ đã cho thấy quyết tâm duy trì sự cân bằng quyền lực hậu thuẫn tự do. Để đối phó với sự không chắc chắn và đương đầu với những thách thức về an ninh mà chúng ta phải đối mặt, Mỹ sẽ tiếp tục phải duy trì các căn cứ quân sự trong và ngoài Tây Âu và Đông Bắc Á cũng như các dàn xếp về tiếp cận tạm thời đối với việc triển khai quân đội Mỹ từ xa.


Trước khi cuộc chiến tranh ở Ápganixtan xảy ra, khu vực đó không phải là một ưu tiên trong danh sách các khu vực cần có kế hoạch ứng phó. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian rất ngắn, chúng ta đã phải triển khai quân trên khắp mọi miền của đất nước xa xôi đó và phải tận dụng từng nhánh lực lượng vũ trang. Chúng ta phải chuẩn bị dàn quân nhiều hơn thế bằng cách xây dựng các cơ sở như viễn thám hiện đại, khả năng đánh chính xác từ xa, và thay đổi cách bố trí và triển khai lực lượng. Sự huy động khả năng quân sự to lớn này phải bao gồm khả năng bảo vệ đất nước, thực hiện các hoạt động thông tin, bảo đảm Mỹ có thể tiếp cận với các hệ thống tên lửa ở xa và bảo vệ những cơ sở hạ tầng và tài sản quan trọng của Mỹ trên vũ trụ.


Sự sáng tạo trong các lực lượng vũ trang sẽ phụ thuộc vào việc thử nghiệm các cách tiếp cận mới với chiến tranh, củng cố việc phối hợp thực hiện, phát huy các thế mạnh về tình báo của Mỹ, và tận dụng tối đa khoa học và công nghệ. Chúng ta cũng phải thay đổi cách thức điều hành Bộ Quốc phòng, nhất là trong khâu quản lý tài chính, tuyển dụng và giữ những nhân viên giỏi lại. Cuối cùng, trong khi duy trì tính sẵn sàng trong thời gian trước mắt và khả năng chiến đấu trong cuộc chiến tranh chống khủng bố, mục tiêu phải là cung cấp cho tổng thống nhiều lựa chọn hơn về quân sự để làm suy yếu tính hiếu chiến hay bất kỳ hình thức nào chống lại Mỹ, các đồng minh và bạn bè của chúng ta.


Lịch sử cho chúng ta thấy rằng việc ngăn chặn có thể thất bại; và kinh nghiệm cho chúng ta thấy một số kẻ thù không thể ngăn chặn được. Mỹ phải và sẽ duy trì khả năng đánh bại bất cứ mưu toan nào của kẻ thù, cho dù đó là một quốc gia hay là một chủ thể phi quốc gia, nhằm áp đặt ý chí của mình đối với Mỹ, các đồng minh và bạn bè của chúng ta. Chúng ta sẽ duy trì các lực lượng đủ để thực hiện các nghĩa vụ của chúng ta, và bảo vệ tự do. Các lực lượng của chúng ta sẽ đủ mạnh để khuyên can những kẻ thù tiềm năng, không theo đuổi các tham vọng phát triển quân sự hòng qua mặt hoặc sánh ngang với sức mạnh của Mỹ.


Công tác tình báo, và cách thức sử dụng thông tin tình báo, là cách phòng vệ đầu tiên mà chúng ta dùng để chống lại những kẻ khủng bố và mối đe dọa từ các quốc gia thù địch. Được thiết kế dựa trên ưu tiên là thu thập nguồn thông tin khổng lồ về một đối tượng lớn và cố định, đó là khối Xôviết, cộng đồng tình báo đang phải đối mặt với thách thức hiện nay là theo đuổi những mục tiêu phức tạp hơn và khó xác định hơn.


Chúng ta phải tạo chuyển biến về năng lực tình báo và xây dựng những năng lực mới nhằm đối phó với những mối đe dọa mới. Công tác tình báo phải được phối hợp đúng đắn với các hệ thống quốc phòng và thực thi pháp luật của chúng ta và phải được điều phối với hoạt động tình báo của các nước đồng minh và bạn bè của chúng ta. Chúng ta cần bảo vệ năng lực hiện có không để cho kẻ thù biết cách gây ra những bất ngờ lớn cho chúng ta. Những kẻ muốn hãm hại chúng ta cũng tận dụng yếu tố bất ngờ để hạn chế khả năng ngăn chặn và đối phó của chúng ta và tăng tối đa những thiệt hại mà chúng ta có thể chịu.


Chúng ta phải củng cố việc cảnh báo và phân tích tình báo để cung cấp các đánh giá đồng bộ về những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia. Do các đe dọa của các chính phủ nước ngoài và các nhóm có thể được thực hiện ở trong lãnh thổ Mỹ, chúng ta cũng phải bảo đảm việc trao đổi thông tin đầy đủ giữa cơ quan tình báo và thực thi pháp luật.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:52:55 am
Các sáng kiến trong lĩnh vực này sẽ bao gồm:

• củng cố quyền hạn của Giám đốc Cục Tình báo trung ương trong việc theo dõi sự phát triển và diễn biến của năng lực tình báo nước ngoài của quốc gia.

• thiết lập một khuôn khổ mới về cảnh báo tình báo trong đó đưa ra cảnh báo đồng bộ về phạm vi của mối đe dọa mà quốc gia và các đồng minh của chúng ta đang phải đối mặt;

• tiếp tục phát triển các phương pháp thu thập thông tin mới để duy trì lợi thế về tình báo của chúng ta.

• đầu tư cho năng lực tương lai trong khi nỗ lực bảo vệ những năng lực này bằng các biện pháp ngăn chặn sự thoả hiệp về khả năng tình báo; và

• thu thập thông tin tình báo để chống lại nguy cơ khủng bố trong toàn chính phủ thông qua phân tích từ tất cả các nguồn.


Trong khi dựa vào các lực lượng vũ trang để bảo vệ lợi ích quốc gia, Chính phủ Mỹ cũng cần phải dựa vào ngoại giao để hợp tác với các quốc gia khác. Chúng ta phải bảo đảm rằng Bộ Ngoại giao Mỹ có đủ nguồn tài chính để bảo đảm sự thành công của hoạt động ngoại giao của Mỹ. Bộ Ngoại giao đi đầu trong việc quản lý quan hệ song phương của chúng ta với các chính phủ khác. Và trong kỷ nguyên mới này, người dân và các thể chế của Mỹ phải có khả năng phối hợp bình đẳng với các tổ chức phi chính phủ và các thể chế quốc tế. Các quan chức được đào tạo chủ yếu về chính trị quốc tế phải nỗ lực để hiểu hơn về các vấn đề phức tạp liên quan đến quản lý trong nước trên toàn thế giới, bao gồm sức khoẻ cộng đồng, giáo dục, thực thi pháp luật, tư pháp và ngoại giao nhân dân.


Các nhà ngoại giao của chúng ta đứng trên chiến tuyến của những cuộc thương lượng phức tạp, nội chiến và các thảm hoạ nhân đạo khác. Khi các nhu cầu về viện trợ nhân đạo được hiểu rõ hơn, chúng ta cũng phải có khả năng góp phần xây dựng các lực lượng cảnh sát, hệ thống toà án, các bộ luật, các thể chế địa phương và cấp tỉnh và các hệ thống bầu cử. Hợp tác quốc tế có hiệu quả là cần thiết để đạt được những mục tiêu này, và Mỹ sẵn sàng hậu thuẫn bằng việc tham gia vào quá trình này.


Song song với việc các thể chế ngoại giao của chúng ta phải điều chỉnh để phù hợp với các thể chế khác, chúng ta cũng cần có một cách tiếp cận khác biệt và toàn diện hơn đối với các nỗ lực thông tin nhân dân, những nỗ lực có thể giúp người dân trên toàn thế giới tìm hiểu và hiểu biết về nước Mỹ. Cuộc chiến chống khủng bố không phải là sự xung đột giữa các nền văn minh. Tuy nhiên, nó cho thấy xung đột bên trong một nền văn minh, một cuộc tranh đấu vì tương lai của thế giới Hồi giáo. Đây là một cuộc đấu tranh vì ý tưởng và cũng là lĩnh vực mà Mỹ phải có thế mạnh vượt trội.


Chúng ta sẽ tiến hành những hành động cần thiết để bảo đảm rằng những nỗ lực của chúng ta nhằm thực hiện cam kết về an ninh toàn cầu và bảo vệ người Mỹ sẽ không bị suy yếu bởi khả năng Toà án Hình sự quốc tế có thể tiến hành điều tra, thẩm vấn hay truy tố, vì những phán quyết của Toà án này không có hiệu lực đối với người Mỹ và không được chúng ta chấp nhận. Chúng ta sẽ hợp tác với các quốc gia khác để tránh những phức tạp xảy ra đối với hoạt động và hợp tác quân sự của chúng ta, thông qua các cơ chế như thoả thuận song phương và đa phương nhằm bảo vệ công dân Mỹ trước Toà án Hình sự quốc tế. Chúng ta sẽ thực hiện đầy đủ Điều luật về bảo vệ binh sĩ Mỹ mà những quy định trong Điều luật này nhằm bảo đảm và tăng cường việc bảo vệ nhân sự và quan chức Mỹ.


Chúng ta sẽ phải đưa ra những lựa chọn khó khăn trong năm tới và sau đó nữa để bảo đảm mức độ và chi tiêu hợp lý của chính phủ đối với an ninh quốc gia. Chính phủ Mỹ phải củng cố quốc phòng để chiến thắng trong cuộc chiến này. Ưu tiên quan trọng nhất ở trong nước của chúng ta là bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Mỹ.


Ngày nay, sự phân biệt giữa các vấn đề đối nội và đối ngoại đang thu hẹp dần. Trong một thế giới toàn cầu hoá, các sự kiện diễn ra ngoài biên giới Mỹ đã có tác động lớn hơn đối với nước này. Xã hội chúng ta cần phải rộng mở đối với mọi người dân, mọi ý tưởng và hàng hoá trên khắp thế giới. Những gì chúng ta đang có là tự do, các thành phố, hệ thống giao thông và cuộc sống hiện đại của chúng ta đều có nguy cơ bị tổn thương trước khủng bố. Khả năng bị tổn thương này sẽ tồn tại rất lâu sau khi chúng ta đưa ra xét xử trước công lý những kẻ phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công ngày 11 tháng 9. Cùng với thời gian, các cá nhân có thể tiếp cận các phương tiện huỷ diệt mà cho đến giờ chỉ có quân đội, hạm đội và phi đội bay mới có thể sử dụng. Đây là một điều kiện mới của cuộc sống. Chúng ta sẽ thích nghi với nó và phát triển mặc cho sự tồn tại của nó.


Khi thực hiện vai trò lãnh đạo, chúng ta sẽ tôn trọng các giá trị, phán quyết, và lợi ích của bạn bè và đối tác của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta sẵn sàng hành động độc lập nếu điều đó là cần thiết để bảo vệ lợi ích và các trách nhiệm độc nhất vô nhị của chúng ta. Khi chúng ta không đồng tình về một vấn đề cụ thể nào, chúng ta sẽ giải thích thẳng thắn cơ sở cho những quan ngại của chúng ta và cố gắng dưa ra các giải pháp khả thi. Chúng ta sẽ không cho phép những bất đồng đó ảnh hưởng đến quyết tâm của chúng ta là cùng với các đồng minh và bạn bè bảo đảm các lợi ích và giá trị cơ bản chung.


Cuối cùng, nền tảng sức mạnh của Mỹ là ở chính trong nước. Sức mạnh đó nằm ở các kỹ năng của nhân dân chúng ta, sự năng động của nền kinh tế và sự kiên cường của các thể chế. Một xã hội đa dạng và hiện đại có trong mình nguồn sinh lực nội tại, đầy tham vọng và tinh thần kinh doanh. Sức mạnh của chúng ta phụ thuộc vào việc chúng ta sử dụng sinh lực này như thế nấo. Đó chính là nền tảng của nền an ninh quốc gia Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 01 Tháng Tám, 2022, 08:55:04 am
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Tiếng Việt

Frederick Z. Brown, "Vì sao Hoa Kỳ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam", Tạp chí Quân sự nước ngoài, tháng 1-1994.

Zbigniew Brzezinski, Bàn cờ lớn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

Lý Thực Cốc, Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

Nữu Tiến Chung, "Dự báo chiến lược thế kỷ XXI", Học viện Quan hệ quốc tế, 2002.

Paul Kennedy, Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1994.

Paul Kennedy, "Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ 1500 tới 2000: Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc", Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1992, tr.73.

Trần Bá Khoa, "Nền kinh tế mới của nước Mỹ, cái mạnh và cái yếu", Tạp chí Cộng sản, số 14 (7-2001) tại http://www.cpv.org.vn.

William C.Martel, "Công nghệ và sức mạnh quân sự", Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, tháng 10-2002.

Đào Huy Ngọc (chủ biên), Lịch sử quan hệ quốc tế 1870-1964, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1976, tr. 94.

Phạm Văn Quế, Chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những năm 1990, Vụ châu Mỹ, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 1995.

Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (Quadrenial Defense Report) ngày 30-9-2001, Tài liệu tham khảo số 11/12-2002

Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt.

Lê Bá Thuyên, Hoa Kỳ cam kết và mở rộng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

Paul R.Viotti-Mark V.Kauppi, Lý luận quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2001.


Tiếng Anh

Aaron L. Friedberg, "Asian Allies: True Strategic Partners", in Present Dangers: Crisis and Opportunity in American Foreign and Defense Policy, edited by Robert Kagan and William Kristol, Caliornia, 2000.

Amos A. Jordan và nhóm tác giả, American National Security, The Johns Hopkins University Press, tái bản lần thứ 5, năm 1999, tr.3

"Asia in U.S. Foreign and National Security Policy in the Next Millennium", Address by U.S. Representative Doug Bereuter, 2-2-2000.

Asia Project Policy Report, Redressing the Balance - American Engagement with Asia, Council on Foreign Relations, New York, 1996.

Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: Động lực của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI, W.W Norton&Company, 2000

Carl Conetta and Charles Knight, A New US Military Strategy-Issues and Options, Project on Defense Alternatives, 21-5-2001 at http://www.comw.org-pda-0105bm20.html

Carl Conetta, The Pentagon's New Strategy, New Budget, New War, Project on Defense Alternatives, 25-6- 2002, at http://www.comw.org-pda-0206newwar.html

Charles William Maynes, "Contending Schools", The National Interest, Spring 2001.

Colin Powell, Phát biểu trước Ủy ban Quan hệ quốc tế của Hạ viện ngày 7-3-2001.

Condoleezza Rice, "Campaign 2000 - Promoting the National Interest", Foreign Affairs, tháng 1/2-2000, Vol. 79, No. 1

Dan Koslofsky, Two War Strategy, April 23, 2001, at http://www.clw.org-milspend-2war.html

Daniel Okimoto, The Japan-American Security Alliance: Prospects for the 21st Century, Stanford, California, Asia Pacific Research Center, 1998.

Dennis C. Blair and John T. Hanley Jr. "From Wheels to Web: Reconstructing   Asia-Pacific Security Arrangements", The Washington Quarterly, Winter 2001.

Douglas T. Stuart and William T. Tow, "A US Strategy for the Asia Pacific", Adelphi Paper No.299, Oxford University Press, IISS ,1995.

Frank Carlucci, Robert Hunter, and Zalmay Khililzad, A Global Agenda for the us President, RAND, www.rand.org/publications/

Gary Wills, "Bully of the free world", Foreign Affairs, Vol. 78, No. 2, tháng 3/4-1999.

Graham Allison, "National Security Strategy", in America's Global Interests edited by Edward K. Hamilton, The American Assembly, 1989.

James E. Dougherty và Robert L. Pfaltzgraff, Jr., Contending Theories of International Relations, a Comprehensive Survey, Addison-Wesley Educational Publishers Inc. 1997

James Shinn, "Testing the United States - Japan Security Alliance", Current History, 12-1997.

Joel Krieger, .ed, The Oxford Companion to Politics of the World, Oxford University Press, New York, 1993.

Joel Wit, "The United States and North Korea", Policy Brief #74, tháng 3-2001, http://www. brookings.org/.

John Ikenberry, "Getting Hegemony Right", The National Interest, Washington, Spring 2001.

John Ikenberry, "Multilateralism and US Grand Strategy" in Multilateralism and US Foreign Policy: Ambivalent Engagement, edited by Stewart Patrick and Shepard Forman, Lynne Rienner Publishers, 2002.

John Kerry, "Stopping at the Water Edge", The Washington Quarterly, tháng 3-2001, tr.83-91.

Joseph S. Nye, "The 'Nye report': Six Years Later", International Relations of the Asia Pacific, Vol. 1, No 1, 2001, Oxford University Press.

Joseph S.Nye, "Seven Tests: Between Concert and Unilateralism", The National Interest, Winter 2001-2002.

Joseph S.Nye Jr, The Paradox of American Power, Oxford University Press, 2002.

Francis Boyle, "Bush Nuclear Policy Violates International Law, Again", Counter Punch, 14-3-2002 at http://www.counterpunch.org/boylenukes.html.

Henrry Kissinger, "The Architecture of an American Foreign Policy", in Preparing America's Foreign Policy for the 21sr Century, edited by David L. Boren & Edward J.Perkins, University of Oklahoma Press, 1999.

Henry Kissinger, "America at the Apex: Empire or Leader?", The National Interest, Summer 2001.

Hisahiko Okazaki, "China: A Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996

L.Paul Bremer, "A New Strategy for the New Face of Terrorism", The National Interest, Thanksgiving 2001

Nicholas Khoo and Michael L. R. Smith, "A Concert of Asia", Policy Review, No. 108, August 2001 at http://www.policyreview.org-AUGO 1 -khoo_print.html.

Michael O' Hanlon, "Prudent or Paranoid? - The Pentagon's Two-War Plans", Survival, Vol. 43, No. 1, Spring 2001, tr. 47

Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999.

Stephen Brooks and William C. Wohlforth, "American Primacy in Perspective", Foreign Affairs, tháng 7/8-2002, Vol, tr. 2

Nicholar Berry, "Is China an Agressive Power?", The Defense Monitor, Vol.29, No.9, 2000.

Nicholas Khoo và Michael L. R. Smith, "A Concert of Asia", Policy Review, No. 108, tháng 8-2001 at http://www.policyreview.org-AUG01-khoo_print.html

Ole R. Holsti, "Public Opinion and Foreign Policy" in Eagle rules? Foreign Policy and American Primacy in the Twenty-First Century, ed. by Robert J. Lieber, 2002.

Rensselaer Lee and Raphel Perl, "Terrorism, the Future, and U.S. Foreign Policy", CRS Issue Brief for Congress, 26-3-2002.

Richard K.Betts and Thomas J. Christensen, "China: Getting the Questions Right", The National Interests, Winter 2000-2001, tr. 17.

Robert D. Schulzinger, U.S Diplomacy since 1900, Oxford University Press, 1998, tr. 209

Robert Kagan and William Kristol, Present Dangers: Crisis and, Opportunity in American Foreign and Defense Policy, San Francisco, California, 2000.

Ronald J. Caridi, The Korean War and American Politics: the Republican as a Case Study, University of Pennsylvania Press, Philadelphia, 19104, 1968.

Saida Bedar, The Revolution in Military Affairs and the "Capabilities Race", at http://www.unog.ch-unidir-l-04-e6%20bedar.pdf

Samuel Huntington, The Lonely Superpower, Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999.

SIPRI Yearbook 2001, Stockholm International Peace Research Institute.

Stewart Patrick, "Multilateralism and Its Discontents: The Causes and Consequences of U.S. Ambivalence" in Multilateralism and us Foreign Policy, ed. Stewart Patrick and Shepard Forman, Lynne Rienner Publishers, 2002.

Steven Kull, "Public Attitude Toward Multilateralism", in Multilateralism and us Foreign Policy: Ambivalent engagement, edited by Stewart Patrick and Shepard Forman, Lynne Rienner Publishers, 2002.

Sueo Sudo, The Fukuda Doctrine and ASEAN, ISEAS, tr. 27.

The Military Balance 1999-2000, International Institute for Strategic Studies, U.S and Asia Statistical Handbook, The Heritage Foundation, 2001-2002 Edition.

Tom Barry and Jim Lobe, "U.S. Foreign Policy - Attention, Right Face, Forward March", Foreign Policy in Focus, tháng 4-2002

Tom Barry, "A Strategy Foretold", Foreign Policy in Focus Policy Report, tháng 10-2002

Thomas G. Mahnken, "Transforming the us Armed Forces: Rhetoric or Reality?", Navy War College Review, Summer 2001, tr. 14

U.S. Department of Defense, United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995

U.S. Department of Defense, United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, 1998.

Zalmay Khalizad, U.S. Grand Strategy: Setting a New Direction, RAND, 2001.


Các tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế

Far Eastern Econonomic Review

The Economist