Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 03:59:53 pm



Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 03:59:53 pm
- Tên sách: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
- Tác giả: Lê Linh Lan - Nguyễn Thu Hằng - Lê Đình Tĩnh
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
- Năm xuất bản: 2004
- Người số hóa: giangtvx, saoden


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về chiến lược toàn cầu của Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Về chiến lươc an ninh của Mỹ hiện nay do tập thể các tác giả thuộc Học viện Quan hệ quốc tế biên soạn.


Trên cơ sở trình bày những điểm chính trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ kể từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cuốn sách đi sâu phân tích bối cảnh tình hình thế giới và nước Mỹ sau "cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11 tháng 9" dẫn đến sự điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush hiện nay. Phần trọng tâm của cuốn sách tập trung vào những nội dung cơ bản của chiến lược an ninh khu vực của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh và nhất là Chiến lược an ninh quốc gia mới do Tổng thống Bush chính thức công bố vào ngày 20 tháng 9 năm 2002. Cuốn sách còn có phần phụ lục in toàn văn bản dịch "Chiến lược an ninh quốc gia của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" để bạn đọc tiện tra cứu và tham khảo khi theo dõi và nghiên cứu tình hình quốc tế và nước Mỹ.


Trong cuốn sách này, các tác giả đã cố gắng mạnh dạn phân tích và đưa ra những ý kiến riêng về một chủ đề đã và đang được giới nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới quan tâm và có thể thấy rằng các ý kiến cũng còn khác nhau. Để tôn trọng chính kiến của các tác giả, chúng tôi cố gắng giữ nguyên những đánh giá và phân tích trong sách để bạn dọc tham khảo và coi đây là ý kiến đánh giá, phân tích của riêng các tác giả.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 12 năm 2003
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Tư, 2022, 04:00:34 pm
LỜI MỞ ĐẦU


Chiến tranh lạnh kết thúc một lần nữa lại đem đến cho Mỹ cơ hội thực hiện tham vọng bá chủ thế giới, tham vọng Mỹ đã nuôi dưỡng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ theo đuổi chiến lược đối ngoại "can dự và mở rộng" với mục tiêu bao trùm là duy trì ưu thế, vai trò lãnh đạo của Mỹ và ngăn không cho một cường quốc hoặc một nhóm nước nào đe dọa vị trí của Mỹ. Dưới hai nhiệm kỳ của chính quyền Clinton, chiến lược an ninh của Mỹ, một bộ phận trong chiến lược toàn cầu "can dự và mở rộng", cũng nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của Mỹ.


Chính quyền Cộng hoà ở Mỹ hiện nay với một đội ngũ hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại gồm những nhân vật bảo thủ, chủ trương ngoại giao dựa trên ưu thế sức mạnh của Mỹ, đã có những bước điều chỉnh mạnh mẽ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng. Sau khi diễn ra sự kiện 11-9-2001, một trong những trọng tâm của chiến lược an ninh quốc phòng dưới chính quyền Bush là triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia nhằm bảo vệ toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ trước những thách thức tên lửa đạn đạo. Đổ thực hiện kế hoạch này, tháng 12-2001, Tổng thống Bush đã tuyên bố đơn phương rút ra khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM) mà Mỹ đã ký với Liên Xô cũ năm 1972. Một hướng điều chỉnh quan trọng khác với những hệ luỵ to lớn đối với châu Á là sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược an ninh quân sự dưới chính quyền Bush sang châu Á, nhằm đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những điều chỉnh này đã và đang có những tác động quan trọng đối với quan hệ của Mỹ với các nước trên thế giới nói chung và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.


Trong khi chính quyền Bush còn chưa hoàn tất quá trình điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại, cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11-9-2001 cùng với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Ápganixtan nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeđa và trùm khủng bố Bin Laden đã tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Mỹ về an ninh, dẫn đến những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược đối ngoại và an ninh của Mỹ.


Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu những điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ dưới chính quyền Bush là hết sức cần thiết. Cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu chung về chiến lược của Mỹ, một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng hàng đầu của chúng ta. Thông qua việc nghiên cứu những điều chỉnh trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush, cuốn sách cũng sẽ đưa ra dự báo hướng triển khai chính sách an ninh của Mỹ nói chung.


Trên thế giới, và đặc biệt ở Mỹ, có nhiều công trình nghiên cứu, sách và tài liệu về chiến lược an ninh của Mỹ và các bài tạp chí chuyên khảo và báo chí về những điều chỉnh gần đây dưới chính quyền Bush. Ở nước ta, Vụ châu Mỹ (Bộ Ngoại giao) gần đây cũng có hai công trình nghiên cứu khoa học có giá trị là dự báo chiến lược đối ngoại của Mỹ trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI và chính sách châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush, trong đó đã phần nào đề cập khía cạnh an ninh trong chiến lược đối ngoại của Mỹ. Tuy nhiên, hiện ở ta còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này. Do đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu điều chỉnh chiến lược an ninh Mỹ đầu thế kỷ XXI sẽ là một đóng góp thiết thực vào công tác nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung và đặc biệt là nghiên cứu về Mỹ.


Mục tiêu chủ yếu của cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay là nhằm đánh giá những điều chỉnh chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ trong năm đầu dưới chính quyền của Tổng thống Bush, tác động của những điều chỉnh này đối với chính trị quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ đó, các tác giả cuốn sách cũng sẽ đưa ra cỉự báo chiều hướng triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong thời gian tới.


Cuốn sách sẽ tập trung chủ yếu vào những điều chỉnh chiến lược an ninh chung cũng như đối với các khu vực chủ yếu dưới chính quyền Bush. Việc nhìn lại và đánh giá chiến lược an ninh dưói chính quyền Clinton là nhằm đúc rút những yếu tố kế thừa trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush con. Mặc dù khái niệm về an ninh đã trở nên toàn diện hơn, bao gồm cả an ninh kinh tế, môi trường, con người, v.v... cuốn sách chủ yếu chỉ tập trung vào khía cạnh an ninh truyền thống, tức an ninh quân sự, đối với hai khu vực chủ yếu là châu Âu và Đông Á - Thái Bình Dương.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:57:33 am
CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
VÀ LỊCH SỬ CHIẾN LƯỢC AN NINH CỦA MỸ


1. Khái niệm an ninh và sức mạnh quốc gia

1.1. An ninh quốc gia

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thức an ninh gần như chỉ xoay quanh vấn đề chiến tranh và hoà bình. Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các quốc gia trên thế giới cũng thường gắn liền với các cuộc chiến tranh. Các quốc gia dân tộc ở châu Âu được hình thành hầu hết từ các cuộc chiến tranh liên miên trong khi ở các khu vực khác trên thế giới, chiến tranh cũng được dùng làm phương tiện xác lập sự thống trị của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Bất kể vì nguyên nhân gì, hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai cũng đủ cho thấy tại sao an ninh thường được hiểu là đi liền với chiến tranh xâm lược và khả năng quốc phòng. Do đó, theo nghĩa hẹp truyền thống, an ninh quốc gia có nghĩa là bảo vệ đất nước và dân chúng chống lại kẻ thù bên ngoài. Khái niệm về an ninh nói chung là an ninh quân sự và việc bảo đảm an ninh đối với các quốc gia thường đi liền với tăng cường sức mạnh quân sự.


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh lạnh và chính sách đối đầu, chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường Xô - Mỹ càng nhấn mạnh khía cạnh quân sự trong việc bảo đảm an ninh của một nước. Sự ra đời của các tổ chức hợp tác quân sự như NATO, SEATO và việc ký kết các liên minh quân sự tay đôi giữa Mỹ với các nước ở châu Á cũng thể hiện rõ xu hướng coi trọng an ninh quân sự của các nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh.


Tuy nhiên, từ những năm 1970, khái niệm về an ninh nói chung cũng như an ninh quốc gia trở nên rộng hơn, bao gồm cả khía cạnh kinh tế. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 lần đầu tiên đặt Mỹ và các nước phương Tây đứng trước tình thế bị đe dọa rối loạn trong nước do tình trạng thiếu nguồn cung cấp năng lượng. Hơn nữa, sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã tương đối suy yếu cả về quân sự, chính trị lẫn kinh tế, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Wood tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Cũng trong giai đoạn này, nhân tố kinh tế đã trở thành một bộ phận cấu thành của khái niệm an ninh quốc gia1 (Amos A. Jordan và nhóm tác giả, American National Security, The Johns Hopkins University Press, tái bản lần thứ 5, năm 1999, tr.3). Khái niệm an ninh toàn diện (comprehensive security) - theo đó an ninh được nhận thức không chỉ từ khía cạnh quân sự, mà còn bao gồm cả kinh tế, chính trị, xã hội - đã xuất hiện chính trong thời kỳ này.


Cùng với sự khôi phục và phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, sự phân hoá trong xã hội ở các nước này ngày càng cao dẫn đến việc hình thành các tổ chức tội phạm hoạt động trong phạm vi một nước và các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia. Từ giữa những năm 1970, các hoạt động khủng bố do các tổ chức tội phạm thực hiện như cướp máy bay, đánh bom, bắt con tin... ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ tàn khốc. Thêm vào đó, nhiều vấn đề toàn cầu nổi lên đe dọa sự sống còn của loài người, đó là các vấn đề về môi trường, thiên tai với mức tàn phá lớn, bệnh dịch thế kỷ AIDS, nạn buôn lậu ma tuý và các tội phạm xuyên quốc gia khác. Những vấn đề mới nảy sinh này không thay thế, mà tồn tại song song cùng với những vấn đề an ninh truyền thống làm cho môi trường an ninh ngày càng thêm phức tạp. Chính vì vậy, nội hàm của khái niệm an ninh quốc gia ngày nay trỏ nên có tính toàn diện, bao gồm cả an ninh kinh tế, an ninh môi trường, xã hội, văn hoá, an ninh con người, an ninh giới, v.v...


Bên cạnh những thay đổi trong quan niệm về nội hàm của an ninh quốc gia, nhận thức về tính chất của an ninh quốc gia cũng có những thay đổi to lớn. An ninh quốc gia, như bản thân hàm ý của cụm từ này, không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia dân tộc đơn lẻ. An ninh trong một thời đại toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau mang tính quốc tế cao. Xung đột, bất ổn định ở một nước hay một khu vực có tác động lan toả và ảnh hưởng đáng kể đến an ninh của các nước khác. Chính vì vậy, ngày nay khái niệm an ninh quốc gia ngày càng trở nên gắn bó với an ninh khu vực và thậm chí là an ninh toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu đe dọa an ninh và thịnh vượng của nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ sự gắn bó giữa an ninh quốc gia và an ninh thế giới.


An ninh quốc gia là một khái niệm trung tâm trong luận điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị, một trong những trường phái lý luận có ảnh hưởng nhất ở các nước phương Tây và đặc biệt là ở Mỹ. Bên cạnh chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa hiện thực chính trị là trường phái lý luận rất có ảnh hưởng đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ. Trong khi quan điểm thế giới của Clinton và chính quyền Đảng Dân chủ thiên về chủ nghĩa tự do, thì thế giới quan và cách tiếp cận của chính quyền Bush lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn của chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, nhận định này cũng có tính chất tương đối, bởi xét cho cùng, chính sách an ninh đối ngoại của Mỹ chịu sự chi phối của những quan điểm cạnh tranh khác nhau trong nội bộ giới hoạch định chính sách của Mỹ cũng như ảnh hưởng của các nhóm lợi ích, đấu tranh cho những lợi ích đa dạng, đôi khi mâu thuẫn nhau. Vì vậy, cho dù thiên về chủ nghĩa hiện thực hơn, chính sách của chính quyền Bush cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do và chính sách thiên về tự do của chính quyền Clinton cũng có những thành tố hiện thực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:11 am
Những nhà lý luận của chủ nghĩa hiện thực cho rằng hệ thống quốc tế luôn ở trong tình trạng vô chính phủ theo nghĩa là không có một quyền lực vượt lên trên các quốc gia, và chính vì vậy, các quốc gia phải dựa vào sức mạnh của mình để bảo vệ an ninh và tăng cường vị thế của mình trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia có chủ quyền là những tác nhân chủ đạo và là chủ thể chính của hệ thống quốc tế. Các chủ thể phi quốc gia khác như các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khủng bố bị đặt xuống hàng thứ yếu. An ninh - thực chất là sự tồn vong - là mục tiêu cơ bản của các quốc gia và bởi vì rốt cuộc một quốc gia không thể dựa vào các cam kết của các quốc gia khác để bảo đảm cho nền an ninh quốc gia của mình, nên họ rất nhạy cảm với vị trí tương đối của họ. Các quốc gia dân tộc thường xuyên ở trong trạng thái ganh đua và cạnh tranh và sự thay đổi địa vị, sức mạnh, quyền lực là một trong những nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, có ba vấn đề chủ đạo. Thứ nhất, các quốc gia theo đuổi lợi ích, chứ không phải hoà bình. Nếu chiến tranh, xâm lược và các biện pháp cưỡng ép bằng sức mạnh khác phục vụ lợi ích của họ thì tìm kiếm hoà bình chỉ còn là ảo tưởng. Thứ hai, sức mạnh chính trị và quân sự là những yếu tố chủ đạo của quyền lực. Nó có ý nghĩa thiết yếu đối với một nền quốc phòng vững mạnh. Sức mạnh kinh tế cũng được coi trọng, dù không phải do tự thân nó, mà chính bởi vì nó có thể được chuyển đổi thành sức mạnh quân sự và chính trị. Kinh tế Mỹ cần phải mạnh và có sức cạnh tranh cao chủ yếu để có thể cung cấp những công nghệ cao cấp cần thiết cho những thế hệ vũ khí tiếp theo, và để duy trì sự ủng hộ chính trị cao đối với một ngân sách quân sự to lớn và các cam kết toàn cầu khác. Thứ ba, trong khi các vấn đề khác như thương mại và nhân quyền quan trọng hơn trước kia, chiến tranh và xảm lược vẫn nằm ở trung tâm chương trình nghị sự quốc tế1 (Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: Động lực của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI, W.W Norton&Company, 2000). Cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pécxích 1990-1991 cho thấy rõ điều này. Những cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ là những cuộc chiến tranh tệ hại nhất ở châu Âu kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những năm 1990 châu Phi đã phải trải qua nhiều xung đột hơn bất cứ thập kỷ nào trước đó trong lịch sử. Tiến bộ trong tiến trình hoà bình ở Trung Đông không loại trừ mối đe dọa về một cuộc chiến tranh lớn ở đó. Khu vực phi quân sự ở bán đảo Triều Tiên vẫn là một trong những điểm căng thẳng nhất trên thế giới.


Như vậy, sức mạnh, quyền lực và an ninh quốc gia là những phạm trù then chốt trong quan điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị. An ninh quốc gia gắn liền với sức mạnh quốc gia. Quan điểm chủ đạo này của các nhà hiện thực đã bị chỉ trích vì không chú ý thích đáng đến các vấn đề quan trọng khác liên quan mật thiết đến an ninh của một quốc gia, như vấn đề khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố. Hơn thế nữa, do đặt sức mạnh ở vị trí trung tâm, khái niệm cân bằng quyền lực luôn gắn với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực. Các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng cân bằng lực lượng - theo đó các quốc gia luôn có xu hướng tập hợp lực lượng để cân bằng - đối trọng lại sự thống trị của một quốc gia mạnh hơn. Kenneth Waltz, nhà lý luận tân hiện thực nổi tiêng của Mỹ cho rằng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh nhìn chung trở nên lỏng lẻo hơn và có xu hướng quay lại cân bằng quyền lực cổ điển. Với sự kết thúc của trật tự hai cực, Mỹ, với tư cách là siêu cường mạnh nhất, sẽ nhận thấy các quốc gia khác dần tách xa ra khỏi Mỹ; Đức ngày càng gắn bó với Liên minh châu Âu (EU) và xích lại gần Nga; Nga xích lại gần Đức và Nhật Bản. Như vậy, cân bằng quyền lực giữa các nước lớn tiếp tục là luật chơi chủ đạo của các quốc gia trong thế giới quan của các nhà hoạch định chính sách và chiến lược gia theo chủ nghĩa hiện thực.


Khác với trường phái hiện thực, cá nhân là đơn vị phân tích chủ yếu của các nhà lý luận tự do kinh điển. Quốc gia - dân tộc đóng một vai trò tối thiểu trong xã hội tự do, chủ yếu làm trọng tài phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Trong lĩnh vực quốc tế, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng có thể tạo ra một sự hoà hợp lợi ích giữa các quốc gia cho dù chiến tranh là thực tế tồn tại trong nhiều thế kỷ. Vì vậy, trong khi các nhà hiện thực chủ nghĩa có quan điểm bi quan về khả năng xảy ra chiến tranh trong một thế giới mà các quốc gia luôn tăng cường sức mạnh nhằm bảo vệ an ninh và giành ưu thế của mình trong quan hệ với các nước khác, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, khả năng xảy ra chiến tranh thấp hơn bao giờ hết, bởi kinh tế phát triển đã làm cho cái giá của chiến tranh trở nên quá cao và chiến tranh không còn phục vụ lợi ích kinh tế. Hờn thế nữa, những nhà tự do còn lập luận rằng những nước dân chủ thường không gây chiến tranh. Sự tồn tại và phát triển của các thể chế quốc tế tạo nên những ràng buộc, luật chơi được quốc tế công nhận giữa các quốc gia có thể góp phần giải quyết xung đột một cách hoà bình và thúc đẩy hợp tác.


Trên thực tế, sự lựa chọn chính sách của các quốc gia ngày nay, đặc biệt là Mỹ, gần với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, lấy sức mạnh làm trung tâm và lợi ích quốc gia là cơ sở để giải thích chính sách của một quốc gia1 (James E. Dougherty và Robert L. Pfaltzgraff, Jr., Contending Theories of International Relations, a Comprehensive Survey, Addison-Wesley Educational Publishers Inc. 1997, tái bản lần thứ 4, tr.14). Điều này được giải thích bởi tính trường tồn của chủ nghĩa hiện thực, xuất phát chủ yếu từ sự gần gũi của chủ nghĩa hiện thực với quan niệm về thế giới của giới lãnh đạo1 (Paul R.Viotti-Mark V.Kauppi, Lý luận quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2001, tr.90). Tại Mỹ, những người theo chủ nghĩa hiện thực nổi tiếng như Henry Kissinger hay Brzezinski đều là những cố vấn an ninh quốc gia có ảnh hưởng không chỉ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà ngay cả trong thời điểm hiện nay. Cho dù đã không còn ở chính trường, Kissinger và Brzezinski vẫn là những nhân vật rất có ảnh hưởng đối với chính quyền Mỹ. Gần đây, Tổng thống Bush đã bổ nhiệm Henry Kissinger làm Chủ tịch Ủy bẤn Độc lập đánh giá nguyên nhân của sự kiện 11-9-2001.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:46 am
1.2. Sức mạnh quốc gia

Với quan niệm truyền thống coi an ninh quốc gia đi liền với quốc phòng, sức mạnh quốc gia chủ yếu được đánh giá trên cơ sở sức mạnh về quân sự. Sức mạnh là một khái niệm tương đối, mang tính so sánh giữa nước này với nước khác, do đó các nhân tố về địa lý như diện tích lãnh thổ, dân số, tài nguyên, khả năng kinh tế, thể chế chính trị mạnh đều là những nhân tố quan trọng được tính đến khi xem xét sức mạnh của một quốc gia, vì xét cho cùng, đó là những nhân tố đóng góp vào khả năng quốc phòng của quốc gia đó.


Trước những năm 1970, sức mạnh kinh tế quan trọng ở chỗ nó có thể chuyển đổi thành sức mạnh quân sự. Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng tăng kéo theo mức độ dễ tổn thương của các nèn kinh tế, an ninh kinh tế trở thành một phần quan trọng của an ninh quốc gia. Sức mạnh kinh tế của một nước thể hiện ở mức độ công nghiệp hóa, ở năng suất và hiệu quả sản xuất, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập theo đàu người, trình độ khoa học kỹ thuật... Từ thực tế của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 và những xáo trộn về tiền tệ thời kỳ này, có thể nói, sức mạnh kinh tế và an ninh kinh tế liên quan đến khả năng điều chỉnh và thích nghi với những biến động về kinh tế và trong quan hệ kinh tế quốc tế.


Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, khi quan niệm về an ninh trở nên toàn diện hơn, khái niệm sức mạnh quốc gia cũng có những thay đổi. Sức mạnh quốc gia không chỉ bao gồm sức mạnh cứng (hard power) như sức mạnh quân sự, kinh tế. Sức mạnh mềm (soft power), theo cách gọi của học giả nổi tiếng của Mỹ Joseph S.Nye, bao gồm những yếu tố như ảnh hưởng, sức thu hút của thể chế chính trị, mô hình phát triển, ảnh hưởng về văn hóa, v.v...1 (Joseph S.Nye, The Paradox of American Power, Oxford University Press, 2002, tr.9). Bởi vậy, các quốc gia không bắt buộc phải sử dụng sức mạnh cứng, như quân sự và kinh tế, để cưỡng ép các nước khác thực hiện mục tiêu của mình. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia ngày nay, sức mạnh quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp lực lượng, hay nói cách khác, vào sức mạnh chính trị. Trong từng trường hợp khác nhau, sức mạnh chính trị có thể là sức mạnh của thể chế, là sức mạnh của chính nghĩa, hay cũng có thể là sức thuyết phục của một chính sách. Nhìn rộng hơn, sức mạnh chính trị bao gồm cả yếu tố văn hoá. Một quốc gia mạnh là quốc gia có thể mở rộng ảnh hưởng về lối sống, các giá trị văn hoá. Những yếu tố của sức mạnh mềm đặc biệt trở nên quan trọng trong thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Theo Joseph Nye: "Sức mạnh cứng sẽ luôn còn quan trọng trong một thế giới của những quốc gia dân tộc đang kiểm soát nền độc lập của mình, nhưng ý nghĩa của sức mạnh mềm sẽ ngày càng tăng khi người ta phải giải quyết những vấn đề liên quốc gia bởi việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi một sự hợp tác đa phương"1 (Thông tấn xã Việt Nam, Tin tham khảo Chủ nhật, 24-11-2002, tr.22).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:29:52 am
2. Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh

Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" bắt đầu chín muồi từ năm 1946-1947. Ý tưởng ngăn chặn được George Kennan2 (Những quan điểm chủ yếu trong bài báo này đã được đề cập trong một bức điện dài 8000 từ gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1946 của George Kennan), Đại biện Mỹ tại Mátxcơva đưa ra trong bài "Nguồn gốc hành động của Liên Xô" đăng trên Foreign Affairs số 7-1947. Trong bài báo nổi tiếng này, Kennan lập luận rằng chính sách đối ngoại của Liên Xô dựa trên ba trụ cột: chủ nghĩa đế quốc truyền thống của nước Nga; hệ tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa cộng sản và sự nghi kỵ của Stalin1 (Robert D. Schulzinger, U.S Diplomacy since 1900, Oxford University Press, 1998, tr. 209). Theo Kennan, chủ nghĩa cộng sản và sự lãnh đạo của Stalin không có tính chất bền vững, chỉ có chủ nghĩa bành trướng của Nga là yếu tố bất biến. Tuy nhiên, cũng theo Kennan, cho đến khi nước Nga tự từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, Mỹ cần phải sử dụng mọi biện pháp có thể để "ngăn chặn" Liên Xô trong phạm vi khu vực Đông Âu, nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô vào lúc đó.


Ý tưởng ngăn chặn cộng sản được chính thức hoá thành chiến lược ngăn chặn cộng sản bởi "học thuyết Truman". Tháng 3-1947, Tổng thống Mỹ Truman quyết định viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mục đích ngăn chặn những rối loạn bên trong do ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Không chỉ dừng lại ở đó, Truman đã tuyên bố nước Mỹ cam kết sẽ hỗ trợ cho bất cứ chính phủ nào mà ở đó phong trào cộng sản phát triển mạnh, đe dọa chính quyền đương nhiệm2 (Robert D. Schulzinger, Sđd, tr.208). Thực chất, đây là sự khởi đầu của một cuộc thập tự chinh chống cộng sản trên phạm vi toàn cầu, nguồn gốc gây ra cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập kỷ sau.


Mục tiêu chiến lược của Mỹ được nêu trong một tài liệu tối mật của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) năm 1950 với tên gọi NSC 68. Bản NSC khẳng định đến năm 1955, Liên Xô mới có khả năng trở thành một thách thức quân sự đối với Mỹ. Và để chuẩn bị đối phó với thách thức này, nước Mỹ cần nhanh chóng tăng ngân sách quân sự, từ 13 tỷ USD/năm lên tới 50 tỷ USD/năm để duy trì ưu thế quân sự của Mỹ. Điều này đã tạo ra cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đưa thế giới hơn một lần đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới.


Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" của Truman đã trở thành chiến lược đối ngoại chung của Mỹ trong hơn 40 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù dưới các đời Tổng thống khác nhau của Mỹ, phương thức và biện pháp thực hiện chiến lược này có khác nhau1 (Chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những năm 1990, Vụ châu Mỹ, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 1995). Dưới thời Tổng thống Eisenhower (1953-1960), dựa vào ưu thế về vũ khí nguyên tử, Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh lạnh lên một mức cao hơn, thể hiện ở học thuyết Eisenhower với chính sách "đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản", "bên miệng hố chiến tranh" và chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt". Dưới thời Kennedy, đứng trước việc Liên Xô chế tạo thành công bom khinh khí (1953), phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (1957), phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh và Nhật Bản, Tây Âu hoàn thành việc tái thiết kinh tế sau chiến tranh, bước vào chu kỳ phát triển mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách với Mỹ, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng hoà hoãn với Liên Xô nhằm tập trung đối phó với phong trào giải phóng dân tộc và khoét sâu mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược quân sự được điều chỉnh từ "trả đũa ồ ạt" sang "phản ứng linh hoạt" nhằm đối phó với cả ba loại hình chiến tranh: chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cục bộ ở các khu vực và chiến tranh toàn cầu bằng vũ khí hạt nhân. Và chính quyền Mỹ đã áp dụng chiến lược này vào Việt Nam. Sau khi Kennedy bị ám sát năm 1963, Johnson lên nắm quyền, áp dụng chiến lược phản ứng linh hoạt ở mức cao hơn, tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.


Bước vào những năm 1970, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam đã làm phá sản chiến lược phản ứng linh hoạt và buộc Mỹ phải điều chỉnh mạnh mẽ chiến lược an ninh. Hơn nữa, thất bại ở Việt Nam đẩy Mỹ vào khủng hoảng, chia rẽ trong nội bộ Mỹ sâu sắc. Kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Những nhân tố này đòi hỏi Mỹ phải điều chỉnh chiến lược để có thể kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam, và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài lãnh đạo thế giới. Ngày 25-7-1969, tại Guam, Học thuyết Nixon ra đời với khẩu hiệu "Vì hoà bình và răn đe thực tế". Về can dự quốc tế và bảo vệ đồng minh, Nixon nêu: "Mỹ không thể - và sẽ không - vạch ra mọi kế hoạch, thiết kế mọi chương trình, thi hành mọi quyết định và thực hiện tất cả việc bảo vệ các quốc gia tự do trên thế giới. Mỹ sẽ giúp những nơi nào thực sự mang lại kết quả và được xem là lợi ích của nước Mỹ". Mục tiêu chủ yếu của chiến lược này là rút ra khỏi Việt Nam trong danh dự thông qua chương trình Việt Nam hoá chiến tranh. Yêu cầu chiến lược lớn hơn là quay về củng cố trong nước cả về kinh tế, chính trị và xã hội, nắm lại đồng minh và tiếp tục kiềm chế Liên Xô bằng những biện pháp khác. Mỹ chủ trương, một mặt, sử dụng lực lượng đồng minh và chư hầu, mặt khác, hoà hoãn với Liên Xô, tranh thủ Trung Quốc, về mặt quân sự, học thuyết Nixon chủ trương "răn đe thực tế" và về đối ngoại chủ trương "chính sách mới vì hoà bình".


Thời kỳ đầu, chính quyền Carter (1977-1980) quay vào củng cố nội bộ, khắc phục khủng hoảng. Bên ngoài, tiếp tục hoà hoãn với Liên Xô, củng cố đồng minh và theo đường lối cơ bản của chính quyền trước. Tuy nhiên từ năm 1978, do tình hình quốc tế phát triển theo hướng bất lợi cho Mỹ với việc Liên Xô triển khai tên lửa tầm trung, đưa quân vào Ápganixtan, dưới sức ép của các lực lượng cánh hữu, chính quyền Carter đã quay trở lại chính sách chạy đua vũ trang, gây căng thẳng, đẩy mạnh "việc chơi" con bài Trung Quốc, ngừng quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và Cuba. Đầu năm 1980, Carter công bố học thuyết Carter về Trung Đông, đưa ra khả năng Mỹ sử dụng vũ lực để can thiệp và bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở khu vực này.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:30:38 am
Năm 1983, Reagan lên nắm quyền, tiếp tục thực hiện chiều hướng chiến lược từ dưới thời kỳ Carter. Reagan điều chỉnh chiến lược an ninh theo hướng đẩy cuộc chạy đua vũ trang lên đến mức cao nhất trong lịch sử nước Mỹ, kế hoạch quân sự 1600 tỷ USD, SDI, hiện đại hoá bộ ba vũ khí chiến lược lẫn vũ khí thông thường nhằm giành ưu thế quân sự so với Liên Xô. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế của Reagan đã biến nước Mỹ từ một chủ nợ thành con nợ và phải đối phó với những vấn đề cơ cấu nặng nề, như thâm hụt ngân sách, thương mại, vào nhiệm kỳ thứ hai, Reagan đi vào hoà hoãn với Liên Xô, nối lại đàm phán về giải trừ quân bị và vũ khí chiến lược. Hoà hoãn Xô - Mỹ cuối những năm 1980 với đỉnh cao là việc ký Hiệp ước INF tháng 11-1987 cùng với cải thiện quan hệ Xô-Trung đã mở đường cho sự kết thúc của chiến tranh lạnh


Mặc dù ngăn chặn Liên Xô là mục tiêu bao trùm của chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đã triển khai chiến lược ngăn chặn khác nhau ở những khu vực có lợi ích địa chiến lược khác nhau.

Đối với khu vực châu Âu, dựa trên sự đánh giá tầm quan trọng về địa chiến lược của Tây Âu, năm 1947, vài tháng sau khi học thuyết Truman ra đời, Mỹ đã thực hiện kế hoạch Marshall nhằm vực dậy các nền kinh tế châu Âu bị tàn phá sau chiến tranh. Do tầm quan trọng của châu Âu đối với cả Liên Xô và Mỹ, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, châu Âu luôn là trọng điểm chiến lược trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng của hai bên. Với kế hoạch Marshall, châu Âu đã phục hồi về kinh tế, đồng thời Mỹ cũng đã xác lập được vị trí lãnh đạo ở đây. Về an ninh, Mỹ và các nước Tây Âu đã ký kết Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào ngày 4-4- 1949 tại Washington, thành lập liên minh an ninh quân sự tập thể quan trọng và toàn diện nhất giữa Mỹ và Tây Âu. Mục tiêu chủ yếu của NATO có thể tóm gọn là nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Liên Xô ở châu Âu và kiềm chế Đức". Kế hoạch Marshallvà sự hợp tác về an ninh chính trị của Mỹ và Tây Âu trong NATO đã giúp cho quan hệ Mỹ - Tây Âu trở nên gắn bó mật thiết, và NATO đã trở thành trụ cột cho chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu.


Khu vực châu Á ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai không được coi là khu vực trọng điểm chiến lược như châu Âu. Tuy nhiên, từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công và phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở khu vực này, nhất là ở Việt Nam, Mỹ đã chú trọng hơn đến khu vực. Sự ra đời của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tháng 8-1948, và đặc biệt là sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tháng 10-1949, đã làm cho Mỹ vô cùng lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Tại Nhật Bản, uy tín của Đảng Cộng sản cũng tăng nhanh. Trong các cuộc bầu cử năm 1948 và 1949, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã giành được 3 triệu phiếu và 35 ghế trong nghị viện1 (Đào Huy Ngọc (chủ biên), Lịch sử quan hệ quốc tế 1870-1964, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1976, tr. 94). Tình hình này đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính toán chiến lược của Mỹ ở Đông Á, và đặc biệt là trong ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật Bản. Ở châu Á, chiến lược ngăn chặn của Mỹ được triển khai theo ba hướng chủ đạo.


Thứ nhất, Mỹ đảo ngược chính sách kiềm chế Nhật Bản thời kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mục tiêu ban đầu của Mỹ là biến Nhật Bản thành một nước phi quân sự, kiềm chế sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn có thể dẫn đến việc Nhật Bản tái vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị thiết lập một vành đai an ninh nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Mỹ không thể bỏ qua vị trí chiến lược then chốt của Nhật Bản. Mỹ muốn biến Nhật Bản thành tiền đồn chống chủ nghĩa xã hội ở châu Á. Cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ tháng 6-1950 càng đẩy Mỹ đi nhanh đến thực hiện điều chỉnh chiến lược này. Sự chuyển hướng ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật, mục tiêu biến Nhật Bản thành thành trì chống cộng sản ở châu Á trong chiến lược toàn cầu đã khiến Mỹ sớm thúc đẩy việc chấm dứt chiếm đóng Nhật Bản, quay ra hỗ trợ Nhật Bản tái thiết kinh tế và ký kết Hoà ước San Francisco và "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật". Hiệp ưóc an ninh Mỹ - Nhật vào tháng 9-1951 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc Mỹ duy trì quân đội trên đất Nhật Bản ngay cả sau khi Nhật Bản đã được trao lại chủ quyền và sự chiếm đóng của lực lượng đồng minh, mà đại diện chủ yếu là Mỹ, chấm dứt vào tháng 4-1952. Chính sách của Mỹ với Nhật Bản từ cuối những năm 1940 - đầu những năm 1950 đã trở thành một bộ phận trụ cột của chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở châu Á.


Thứ hai, cùng với việc thiết lập liên minh an ninh Mỹ - Nhật, nền tảng chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương, Mỹ cũng chủ trương xây dựng một vành đai phòng thủ ở khu vực, ký hiệp ước hợp tác an ninh với Hàn Quốc năm 1953, Thái Lan năm 1954, với các nước như Philippin, Ôxtrâylia, thành lập khối SEATO năm 1954. Với việc thành lập những liên minh an ninh song phương với các đồng minh ở khu vực, Mỹ đã xây dựng được một hệ thống an ninh hình nan quạt, trong đó Mỹ ở vị trí trung tâm, chi phối quan hệ với các đồng minh.


Thứ ba, ở Đông Nam Á, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ bắt đầu hỗ trợ Pháp quay trở lại Đông Dương. Tuy nhiên, trong những năm đầu, Mỹ chưa tích cực quan tâm đến khu vực này. Chỉ đến khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, Mỹ mới thay đổi chính sách đối với khu vực. Chiến tranh lạnh manh nha ở châu Âu giữa Mỹ và Liên Xô là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Mỹ ủng hộ Pháp quay lại áp đặt chế độ thực dân ở Đông Dương. Để bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở châu Âu, địa bàn ưu tiên số một của Mỹ, Mỹ đã dung túng thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam. Sự thay đổi chính sách của Mỹ cũng bắt nguồn từ nỗi lo ngại về sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này. Tháng 2-1950, chính quyền Truman viện trợ quân sự 18 triệu USD cho Pháp để chống lại phong trào Việt Minh ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam. Với cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 có sự tham gia của Mỹ, Mỹ đã mở rộng chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ châu Âu sang châu Á và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là đỉnh cao của chiến lược này. Vì vậy, cho dù chiến tranh lạnh đã không trở thành chiến tranh nóng giữa hai siêu cường ở trung tâm nền chính trị quốc tế, hai cuộc chiến tranh đẫm máu đã diễn ra chính ở châu Á và Mỹ đã là một trong những tác nhân trực tiếp của những cuộc xung đột này.


Tóm lại, với chiến lược ngăn chặn, Mỹ đã đạt được mục tiêu bao trùm là thiết lập và duy trì vị trí lãnh đạo trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, từ sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã suy yếu tương đối. Đồng thời, các nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản lúc này đã phục hồi và trở thành những đối thủ cạnh tranh của Mỹ. Trong bối cảnh này, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng giảm cam kết với bên ngoài, tăng cường hợp tác và chia sẻ trách nhiệm với đồng minh, quay vào củng cố bên trong thông qua học thuyết Nixon. Tuy nhiên, những đường hướng cơ bản của chiến lược ngăn chặn vẫn được Mỹ theo đuổi. Cùng với những rạn nứt trong quan hệ giữa Mỹ và đồng minh trên lĩnh vực kinh tế, cộng thêm tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970, Mỹ đã nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của an ninh kinh tế. Mặc dù vậy, với mục tiêu bao trùm đối đầu với Liên Xô, chiến lược an ninh thiên về khía cạnh quân sự vẫn là nét nổi bật trong chính sách của Mỹ suôt thời kỳ chiến tranh lạnh.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:33:00 am
3. Chiến lược an ninh của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh

3.1 Thách thức và cơ hội đối với Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Thực tế cho thấy sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, và chính những cơ hội và thách thức này đã tạo một khoảng cách giữa tham vọng cực kỳ to lớn của Mỹ với khả năng biến nó thành hiện thực.


Thứ nhất, sự tan rã của Liên Xô, siêu cường cạnh tranh toàn diện với Mỹ về ý thức hệ, kinh tế, chính trị và quân sự, đương nhiên đã tạo ra cho Mỹ lợi thế là siêu cường duy nhất. Với sự sụp đổ của Liên Xô, về cơ bản môi trường quốc tế trở nên thuận lợi hơn cho việc thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới của Mỹ. Nước Nga đang trong giai đoạn chuyển đổi khó khăn, phải mất nhiều năm nữa mới có thể thách thức vị trí của Mỹ. Trung Quốc tuy đang trên đà phát triển mạnh, nhưng sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc còn phải mất nhiều thập kỷ nữa mới có thể ngang tầm với Mỹ. Tuy là một trung tâm kinh tế phát triển, Tây Âu cũng chưa thể trở thành một thực thể chính trị an ninh thống nhất, với một tiếng nói chung. Nhật Bản vẫn là một cường quốc không toàn diện.


Chiến tranh lạnh kết thúc không những không làm Mỹ suy giảm tiềm lực, trái lại, gạt bỏ được đối thủ đáng gờm nhất của Mỹ là Liên Xô. Với lợi thế này, tham vọng lãnh đạo thế giới của Mỹ không ngừng được củng cố. Đây có thể nói là yếu tố rất quan trọng đối với những điều chỉnh chiến lược của Mỹ.


Thứ hai, với sự tan rã của Liên Xô và sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, mô hình phát triển kinh tế thị trường và các giá trị dân chủ phương Tây trở thành sự lựa chọn của một số nước trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội to lớn để Mỹ khuếch trương và truyền bá mô hình kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền theo kiểu phương Tây. Kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền cũng trở thành ngọn cờ mới tập hợp lực lượng trong bối cảnh chất keo dính và ngọn cờ tập hợp lực lượng "chống cộng sản" không còn nữa. Đây là lợi thế lớn đối với Mỹ và chiến lược "can dự và mở rộng" chính là nhằm tận dụng lợi thế này để mở rộng nền dân chủ kiểu Mỹ.


Những cơ hội lớn này là cơ sở cho chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, và ngược lại, chiến lược mới của Mỹ cũng nhằm mục tiêu khai thác và duy trì những thuận lợi mới cơ bản này.

Bên cạnh những cơ hội to lớn sau sự kết thúc của chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước một môi trường chiến lược thay đổi cơ bản. Thách thức chủ yếu từ Liên Xô trước đây không còn, nhưng nước Mỹ đứng trước những thách thức đa dạng, phức tạp hơn trước, xuất phát từ ngay chính nước Mỹ. Nhiều học giả Mỹ cho rằng, tuy nước Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nhưng nước Mỹ ra khỏi chiến tranh lạnh trong tình trạng mình đầy thương tích.


Thách thức từ bên trong. Những thách thức lớn nhất đối với nước Mỹ trong thời kỳ mới xuất phát chính từ bên trong nước Mỹ. Kinh tế Mỹ trì trệ và giảm sút sức cạnh tranh, nợ liên bang trầm trọng, thâm hụt cán cân buôn bán và ngân sách Mỹ lên đến mức báo động. Thời điểm Clinton lên cầm quyền, nước Mỹ gặp khó khăn về kinh tế. Điều này lý giải vì sao người hùng chiến tranh vùng Vịnh G. Bush không thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống lần hai. Cuộc chạy đua vũ trang tốn kém của chính quyền Reagan đã làm cho nền kinh tế Mỹ gặp phải những khó khăn trầm trọng. Mặc dù là siêu cường duy nhất còn lại nhưng sức mạnh tổng hợp của Mỹ đã giảm một cách tương đối, từ chỗ chiếm khoảng 50% GDP của thế giới trong những nam 1950, 40% những năm 1970, 27% năm 1994, nay chỉ còn chiếm khoảng 23-25% GDP thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm liên tục trong những năm 1940 (4,7%), 1950 (3.9%), 1960 (2,9%), 1980 (0,9%). Năm 1989, thâm hụt thương mại của Mỹ lên tới 108 tỷ USD, thâm hụt ngân sách liên bang 152 tỷ USD. Mức sống của người dân không được cải thiện kể từ năm 1973. Nợ liên bang tăng lên gấp 3 lần trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Tỷ lệ tiết kiệm chỉ đạt, mức 2,5% GNP1 (Stephen J.Solarz, "Of Victory and Deficits", in America's Purpose: New Visions U.S. Foreign Policy, edited by Owen Harries, The National Interest, 1991, tr.90). Những trung tâm kinh tế như Tây Âu, Nhật Bản nổi lên mạnh mẽ, thách thức vị trí của Mỹ.


Về chính trị nội bộ, sự sụp đổ của Liên Xô làm cho nước Mỹ mất đi cơ sở tạo nên sự nhất trí rộng rãi về một mối đe dọa rõ ràng, cụ thể đối với nước Mỹ. Ở mức độ nào đó có thể nói, với sự biến mất của kẻ thù chủ yếu, nước Mỹ rơi vào tình trạng bị động, trong một thế giới mới mà nước Mỹ chưa xác định được rõ ràng những lợi ích cơ bản của mình, thách thức đối với những lợi ích đó để từ đó xây dựng một chiến lược mới cho thời kỳ mới. Tương tự như những thời kỳ trước khi chiến tranh kết thúc và nước Mỹ bước vào một giai đoạn chiến lược mới, trong lòng nước Mỹ đang diễn ra một cuộc tranh luận gay gắt về vai trò của Mỹ trên thế giới. Cuộc tranh luận truyền thống giữa chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa quốc tế đã trở thành sự giằng co giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới. Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới trong lòng nước Mỹ chứng tỏ một thực tế là ngay chính nước Mỹ cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò lãnh đạo thế giới và xác lập bá quyền của mình. Trong giới lãnh đạo cũng như công chúng Mỹ, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái biệt lập và quốc tế vẫn chưa chấm dứt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến nàm 1997, chỉ có 13% cho rằng họ muốn nước Mỹ đóng vai trò nổi trội trong các vấn đề quốc tế, trong khi 74% muốn Mỹ chia sẻ quyền lực với các nước khác. Những cuộc thăm dò ý kiến công luận khác cũng có những kết quả tương tự. Nhìn chung, đối với những người dân Mỹ bình thường, 55 đến 66% số người được hỏi cho rằng những gì đang diễn ra ở châu Âu, châu Á hay châu Phi, ít hoặc hầu như không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Giáo sư Huntington đã nhận xét: "Mỹ không có cơ sở chính trị nội bộ để tạo dựng một thế giới đơn cực cho dù đa số giới tinh hoa Mỹ có thể bỏ qua hoặc lấy làm tiếc về điều đó"1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Đây cũng là một thách thức đối với việc hoạch định và triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ mới.


Thách thức từ bên ngoài. Một khác biệt căn bản trong môi trường chiến lược mới đối với nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh là tính chất phức tạp, không rõ ràng của những thách thức đối với nước Mỹ.

Thách thức thứ nhất là trên bình diện quốc tế, thế hai cực mất đi, quá trình phát triển không đồng đều giữa các quốc gia có thể sẽ tạo ra những trung tâm quyền lực mới. Như Paul Kennedy đã viết: "Cho đến nay, của cải và quyền lực, hoặc sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự trong hệ thống quốc tế luôn có tính tương đối và chúng ta phải nhìn nhận theo cách đó, và tất cả mọi xã hội đều có xu hướng dứt khoát phải thay đổi, cho nên cán cân quốc tế không bao giờ đứng yên"2 (Paul Kennedy, Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1994). Vị trí sức mạnh đem đến cho Mỹ nhiều quyền uy, nhưng đồng thời cũng khiến cho Mỹ có nhiều kẻ thù. Mỹ có thể đóng vai trò đầu tàu trong một loạt vấn đề, nhưng cũng có thể bị thế giới còn lại tập hợp chống lại sự thống trị hay sức ép của Mỹ trên nhiều vấn đề khác, chẳng hạn như vấn đề nhân quyền. Điều quan trọng hơn là các trung tâm quyền lực khác đều tìm cách vươn lên, do đó mâu thuẫn với mưu đồ chiến lược bá chủ thế giới của Mỹ. Trung Quốc, với những thành tựu trong công cuộc cải cách và những tiềm năng to lớn về kinh tế, chính trị và quân sự, có khả năng thách thức vai trò và giá trị Mỹ trong tương lai. EU thúc đẩy các nỗ lực độc lập trong quan hệ với Mỹ và tạo dựng cho mình vị thế là một cực trong một thế giới đa cực. Nga cũng đang nỗ lực tìm cách khôi phục lại vị trí và ảnh hưởng của mình với tư cách là một cường quốc. Do đó, vấn đề chủ yếu đối với Mỹ trong thời gian tới là ngăn chặn khả năng xuất hiện một siêu cường, hay một nhóm nước liên kết với nhau, có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Mỹ.


Thách thức thứ hai là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các cuộc xung đột cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố quốc tế có chiều hướng gia tăng và do vậy, ở một chừng mực nào đó, đe dọa đến an ninh của Mỹ, trước hết là các công dân Mỹ. Tổng thống Clinton cũng đã thừa nhận thế giới ngày nay "vẫn còn bị đe dọa bởi những thù hận và những hiểm hoạ mới... Trật tự thế giới cũ không còn, thế giới trở nên kém ổn định hơn"1 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đông đảo các nước phương Nam bị các nước đế quốc, các công ty xuyên quốc gia bóc lột nặng nề, tiếp tục chìm đắm trong nghèo nàn, lạc hậu, khiến cho khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển ngày càng tăng. Tình trạng khó khăn về kinh tế, mất ổn định về chính trị, rối ren về xã hội, cùng với những mâu thuẫn tiềm tàng về tôn giáo, sắc tộc, làm cho nhiều khu vực trên thế giới ở trạng thái dễ bùng nổ xung đột, gây nhiều khó khăn cho việc thiết lập trật tự thế giới của Mỹ.


Thách thức thứ ba là từ phía các đồng minh của Mỹ. Sự sụp đổ của Liên Xô làm Mỹ mất đi ngọn cờ tập hợp lực lượng. Trong các nước đồng minh của Mỹ, xu hướng ly tâm phát triển. Mâu thuẫn giữa Mỹ với các trung tâm kinh tế khác ngày càng gay gắt. Giờ đây Mỹ đã mất ngọn cờ tập hợp lực lượng là "mối đe dọa cộng sản". Thực ra, xu hướng ly tâm đã xuất hiện ngay từ trong thời kỳ chiến tranh lạnh khi so sánh lực lượng giữa Mỹ và các nước đồng minh Tây Âu và Nhật Bản có những chuyển biến quan trọng. Sự phục hồi kinh tế và những thập kỷ phát triển ngoạn mục đã đưa các nước Tây Âu và Nhật Bản nổi lên thành những trung tâm kinh tế cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, vai trò an ninh chính trị của các đồng minh của Mỹ cũng ngày càng trở nên độc lập với Mỹ. Đây là một thách thức lớn đối với Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Một mặt, Mỹ vẫn cần đến sự ủng hộ của đồng minh để đối phó với những thách thức an ninh đa dạng trong kỷ nguyên toàn cầu hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, xu hướng độc lập, ly tâm trong các đồng minh ngày càng gia tăng, tạo ra thách thức mới đối với Mỹ trong việc dựa vào các liên minh đa phương và song phương để triển khai chiến lược toàn cầu. Bên cạnh đó, trong khi phải mò mẫm để tìm con đường đi mới cho thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, Mỹ phải xử lý những mâu thuẫn cố hữu giữa các thế lực tư bản chủ nghĩa quốc tế, đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn mới nảy sinh trong một nền kinh tế toàn cầu mà các nguy cơ khủng hoảng cơ cấu và chu kỳ vẫn thường trực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:34:13 am
3.2. Mục tiêu và lợi ích chiến lược an ninh

Với Mỹ, cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, một trong những cơ sở xây dựng chiến lược là lợi ích quốc gia của Mỹ trước mắt cũng như lâu dài là lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh. Lợi ích lâu dài và xuyên suốt của Mỹ vẫn là "lãnh đạo thế giới", giữ vững vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, phổ biến giá trị và lối sống Mỹ trên toàn thế giới. Lợi ích chiến lược của Mỹ sau chiến tranh lạnh là duy trì vị trí siêu cường số 1 trong một thế giới có nhiều trung tâm quyền lực (first among equals), từ đó thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất cứ một nước nào có thể trở thành đối thủ có khả năng đe dọa vị trí, vai trò và nền an ninh của Mỹ. Clinton cho rằng "sự lãnh đạo của nước Mỹ trên thế giới chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này"1 (W. J. Clinton, Chiến lược an ninh quốc gia: sự cam kết và mở rộng 1995-1996, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). Dường như kế tục sự tự tin của chính quyền Bush vào khả năng lãnh đạo thế giới của Mỹ, đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ và Mỹ chiến thắng trong chiến tranh vùng Vịnh, Tổng thống Clinton khẳng định: "Được hỗ trợ bởi một nền quốc phòng có hiệu quả và một nền kinh tế mạnh mẽ hơn, dân tộc chúng ta (Mỹ) sẽ sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi"2 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đây chính là mục tiêu bao trùm và xuyên suốt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.


Do đó, củng cố vị trí siêu cường duy nhất, ngăn không cho bất cứ cường quốc nào nổi lên thách thức vai trò lãnh đạo thế giới vẫn luôn là mục tiêu an ninh chiến lược lâu dài của Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:35:45 am
3.3 Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Sự định hình chiến lược mới của Mỹ được bắt đầu ngay từ những năm đầu tiên thời kỳ sau chiến tranh lạnh dưới chính quyền Bush (cha). Chiến lược "vượt trên ngăn chặn" là điều chỉnh đầu tiên dưới chính quyền Bush. Nội dung của chiến lược "vượt trên ngăn chặn" được công bố trong bản báo cáo về chiến lược an ninh quốc gia mới tháng 3-1990, trong đó khẳng định mục tiêu của Mỹ là vượt trên ngăn chặn, tìm kiếm sự hoà nhập của Liên Xô vào hệ thống quốc tế với tư cách là một thành viên có tính chất xây dựng, đưa Liên Xô vào một mối quan hệ ngày càng có tính chất hợp tác, đặt cơ sở cho mối quan hệ sâu sắc hơn, thúc đẩy tự do dân chủ và cải cách chính trị-kinh tế ở Liên Xô.


Tuy nhiên, đứng trước tình hình biến đổi nhanh chóng ở các nước Liên Xô và Đông Au, chính quyền Bush lại một lần nữa phải điều chỉnh chiến lược. Khái niệm "trật tự thế giới mới"với ý đồ sử dụng Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc làm cơ sở pháp lý cho vai trò lãnh đạo của Mỹ đã được Mỹ thử nghiệm trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh tháng 1-1991. Trong bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia công bố tháng 8-1991, Bush đã nhấn mạnh mục tiêu "trật tự thế giới mới" và vai trò lãnh đạo không thể thiếu được của Mỹ. Liên hợp quốc là trung tâm chính trị ngoại giao chủ chốt trong trật tự thế giới mới của Bush. Vai trò của Mỹ được khẳng định là vai trò lãnh đạo trong cả việc xây dựng và duy trì "trật tự thế giới mới". Cùng với cuộc khủng hoảng vùng Vịnh tháng 8-1990, nhận thức của Mỹ về những mối đe dọa của các cuộc xung đột khu vực tiềm tàng trở nên sâu sắc hơn. Mỹ cho rằng đe đoạ an ninh từ phía Liên Xô không còn nữa và bắt đầu chuyển trọng tâm chiến lược quân sự từ việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh toàn cầu thời kỳ chiến tranh lạnh sang chiến lược phòng thủ khu vực.


Một trong những tài liệu chiến lược quan trọng, đặt cơ sở cho sự hình thành chiến lượ an ninh dưới chính quyền Clinton là bản Đánh giá từ dưới lên trên (Bottom Up Review) tháng 9-1993, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo đảm tính sẵn sàng về quân sự để:

• Răn đe việc sử dụng vũ khí hạt nhân, sinh học, hoặc vũ khí hóa học chống lại nước Mỹ, lực lượng và đồng minh của Mỹ;

• Ngừng hoặc chí ít làm chậm lại sự phổ biến những loại vũ khí giết người hàng loạt;

• Răn đe, và khi cần thiết, làm thất bại ý đồ xâm lược ở các khu vực quan trọng đối với Mỹ;

• Có khả năng đánh và thắng hai cuộc xung đột khu vực gần như đồng thời,... trong khi giảm thiểu thương vong của Mỹ;

• Chuẩn bị cho các lực lượng tham gia một cách có hiệu quả vào các chiến dịch duy trò hòa bình đa phương và can thiệp đơn phương, có thể bao gồm các hoạt động gìn giữ hòa bình, viẹn trợ nhân đạo, chống buôn bán ma túy và chống khủng bố;

• Thúc đẩy các giá trị dân chủ ở các nước khác trên thế giới;

• Duy trì ưu thế về công nghệ (Charles W.Kegley, Jr & Eugene R. Wittkopf, World Politics: Trend and Transformation, Sixth Edition, St. Martin’s Press, 1997).

Tren cơ sở xác định lợi ích bao trùm của Mỹ trên thế giới là thiết lập và duy trì sự lãnh đạo trên tất cả các mặt, năm 1995 chính quyền của Tổng thống Clinton đã đề ra chiến lược đối ngoại mới của Mỹ, còn gọi là chiến lược "can dự và mở rộng", trong đó sức mạnh của Mỹ được xây dựng hết sức toàn diện, bao gồm tất cả các mặt: quân sự, kinh tế, chính trị tư tưởng. Đây cũng chính là quan điểm an ninh toàn diện của Mỹ. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược an ninh mới của Mỹ dựa trên đánh giá toàn diện về an ninh cũng như sức mạnh quốc gia xuất phát từ những thay đổi cụ thể của tình hình thế giới. Như vậy, cho dù quyết tâm tập trung vào kinh tế như một "tia lade", chiến lược của chính quyền Clinton vẫn chú trọng đến sức mạnh quân sự . Về cơ bản, Clinton cho rằng an ninh của nước Mỹ gắn với việc ngăn chặn và giải quyết các cuộc xung đột khu vực cũng như việc "mở rộng" cộng đồng các nền dân chủ tự do. Như vậy, cơ sở tư tưởng chính sách an ninh đối ngoại của Clinton là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực. Hay như cách gọi của chính Clinton, chính sách của ông ta là "chủ nghĩa hiện thực dân chủ".


Bảo đảm an ninh quân sự Mỹ được dựa trên việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức không chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, Mỹ dựa vào sự răn đe của cả vũ khí thông thường và hạt nhân, trong đó vũ khí thông thường đặc biệt chú trọng kỹ thuật cao.


Năm 1997, Clinton đã đưa ra Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI của Mỹ. Trong bản Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia này, Mỹ đã khẳng định: lợi ích quốc gia và nguồn lực hạn chế của Mỹ cho thấy sự cần thiết phải sử dụng vũ lực một cách lựa chọn. Mục tiêu trước hết của các lực lượng Mỹ là răn đe và đánh bại việc đe dọa sử dụng vũ lực có tổ chức chống lại Mỹ và lợi ích của Mỹ: "Quyết định có hay không và khi nào sử dụng vũ lực trước hết phải được chỉ đạo bởi lợi ích quốc gia Mỹ đang bị đe dọa - dù là lợi ích sống còn, lợi ích quan trọng hay nhân đạo về thực chất - và bởi liệu cái giá và sự mạo hiểm của việc Mỹ can thiệp có tương xứng với những lợi ích đó hay không. Khi những lợi ích bị đe dọa có tính chất sống còn, Mỹ sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ những lợi ích này, kể cả đơn phương sử dụng vũ lực khi cần thiết". Theo bản báo cáo, những lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bao gồm:

1. Bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và nhân dân Mỹ.

2. Ngăn chặn sự nổi lên của các liên minh thù địch hay bá quyền khu vực.

3. Bảo đảm tiếp cận không hạn chế đối với những thị trường chủ chốt, nguồn cung cấp năng lượng và các nguồn lực chiến lược.

4. Răn đe và đánh bại khi cần thiết các cuộc xâm lược chống đồng minh và bạn bè của Mỹ.

5. Bảo đảm tự do hàng hải, đường sắt, vũ trụ và những đường giao thông huyết mạch.

Chiến lược quân sự bên ngoài nước Mỹ được dựa trên việc duy trì quân đội ở hai khu vực quan trọng là châu Âu và châu Á. Ở châu Âu, Mỹ tiếp tục thực hiện ráo riêt chính sách mở rộng NATO sang phía đông, phát triển ảnh hưởng của Mỹ và phướng Tây ở khu vực này, bó hẹp hơn nữa ảnh hưởng của Nga. Ở châu Á, tháng 2-1995 Mỹ công bố bản Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba, trong đó quyết định duy trì lực lượng quân sự trong khu vực tương đương với châu Âu, khoảng 100 ngàn quân1 (U.S. Department of Defense, United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995). Quan hệ của Mỹ với Nhật Bản cũng được điều chỉnh cân bằng hơn. Tuy chiến lược "can dự và mở rộng" là chiến lược an ninh toàn cầu và Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba là một phần của chiến lược lớn, những dàn xếp về an ninh quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương chỉ thật sự có định hướng rõ ràng sau khủng hoảng eo biển Đài Loan đầu năm 1996, kéo theo là sự điều chỉnh quan hệ an ninh Mỹ - Nhật ngay sau đó2 (Hisahiko Okazaki, "China: A Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 21 Tháng Tư, 2022, 08:36:22 am
Chiến lược an ninh mới của chính quyền Clinton còn dựa trên việc phát triển sức mạnh chính trị. Vị trí lãnh đạo của Mỹ có thật sự vững chắc hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng truyền bá các giá trị tư tưởng và lối sống Mỹ. Trong một thế giới các quan hệ ngày càng phức tạp, mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao, sức mạnh của một nước chỉ mang tính tương đối. Chính vì thế tăng cường sức mạnh chính trị là mục tiêu giúp Mỹ có khả năng tập hợp lực lương. Mỹ đã tích cực giúp đỡ những nước có xu hướng chính trị dân chủ kiểu phương Tây, đồng thời thực hiện chính sách dính líu với các nước khác với mục tiêu đem đến những biến đổi về chính trị ở các nước này.


Nhìn chung, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, an ninh chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đối đầu căng thẳng giữa hai siêu cường, cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối cạnh tranh làm cho hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng đến vấn đề an ninh. Từ giữa những năm 1970, đứng trước những thay đổi trên thế giới và thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đã có những điều chỉnh chiến lược quan trọng. Cũng chính từ thời kỳ đó, nhận thức về an ninh quốc gia và sức mạnh quốc gia đã có những thay đổi quan trọng. An ninh ngày càng trở nên mang tính toàn diện, bao gồm cả kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường... Nhận thức về an ninh của Mỹ cũng có những chuyển biến quan trọng, xuất phát từ sự suy yếu tương đối của Mỹ.


Chiến lược "can dự và mở rộng" của chính quyền Clinton là chiến lược đầu tiên cho thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Mục tiêu bao trùm của Mỹ trong thời kỳ mới vẫn là thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới. Đây là yếu tố bất biến chi phối chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những thập kỷ tới. Mỹ cho rằng Mỹ đang có thời cơ chiến lược để thực hiện mục tiêu này. Mỹ không còn đối thủ ngang sức như thời kỳ chiến tranh lạnh. Đây là điều kiện thuận lợi để Mỹ bành trướng ảnh hưởng về mọi mặt kinh tế, chính trị và văn hoá. Thực chất của chiến lược "can dự và mở rộng" của chính quyền Clinton là nhằm đạt được mục tiêu đầy tham vọng này. Tiền đề cho việc thực hiện thành công chiến lược này là một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, đi đầu thế giới về các ngành công nghẹ mũi nhọn. Khi Mỹ đã có thể yên tâm về vị trí nền kinh tế số 1 vững chắc của mình, bỏ xa Nhật Bản, Tây Âu và các nền kinh tế đã từng một thời năng dộng nhất thế giới ở Đông Á, trong nhiệm kỳ thứ hai của Clinton, Mỹ tập trung hơn vào các vấn đề an ninh.


Để đạt được mục tiêu chiến lược bao trùm này, Mỹ chủ trương cải tổ các liên minh an ninh song phương và đa phương cho phù hợp với tình hình mới. Từ thời Nixon, Mỹ đã chú trọng hơn đến việc hợp tác với đồng minh và chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, Bush và Clinton đã đi tiếp một bước, coi sự ủng hộ và đóng góp của đồng minh là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự can thiệp của Mỹ vào một cuộc xung đột. Một mặt, ý thức được khả năng không cho phép Mỹ hành động đơn phương và gánh vác toàn bộ trách nhiệm. Mặt khác, hợp tác và chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh nhằm xoa dịu dư luận Mỹ, đặc biệt trước những chỉ trích việc Mỹ phải gánh vác trách nhiệm bảo vệ an ninh cho những nước là đồng minh quân sự nhưng lại là những đối thủ cạnh tranh quyết liệt về kinh tế như Nhật Bản và Tây Âu. Vì vậy, một trong những trọng tâm chính sách của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh là chủ trương duy trì và thậm chí tăng cường các liên minh an ninh song phương và đa phương để đối phó với những thách thức mới. Hơn nữa, việc duy trì và củng cố những dàn xếp an ninh song phương và đa phương thời kỳ chiến tranh lạnh cũng phục vụ một ý đồ quan trọng của Mỹ là kiềm chế đồng minh, ngăn chặn xu hướng độc lập, ly tâm của những nước này đối với Mỹ trong thời kỳ mới khi mối đe dọa chung là "chủ nghĩa cộng sản" đã không còn. Vì vậy, xu hướng Mỹ duy trì và nâng cấp các dàn xếp an ninh song phương và đa phương phục vụ mục tiêu kép của Mỹ là thực hiện tham vọng lãnh đạo thế giới với sự hỗ trợ của các đồng minh phương Tây, đồng thời khống chế đồng minh dưới sự lãnh đạo của Mỹ.


Chiến lược "can dự và mở rộng" là chiến lược mang tính toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, trọng điểm chiến lược của Mỹ là châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương, nơi tập trung lợi ích an ninh, kinh tế sống còn của Mỹ. Hai khu vực này cũng là nơi tập trung các nước lớn, những đối thủ tiềm tàng có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Mỹ trong tương lai. Điều này cho thấy, mặc dù chính quyền Clinton chú trọng các thể chế đa phương và quốc tế hơn chính quyền tiền nhiệm, tư duy đối ngoại của Clinton vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực chính trị. Đối với các đối thủ tiềm tàng như Trung Quốc và Nga, Mỹ theo đuổi chính sách can dự và kiềm chế ngầm. Tính chất hai mặt trong chính sách của Mỹ đối với các đối thủ tiềm tàng bị chi phối bởi hai yếu tố lợi ích cơ bản. Một mặt, Mỹ có lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh quan trọng trong quan hệ với những nước này. Mặt khác, do Trung Quốc và Nga là hai nước có khả năng trở thành đối thủ cạnh tranh ngang tầm với Mỹ trong một vài thập kỷ tới, chiến lược của Mỹ đối với các đối tượng này phải bao hàm sự kiềm chế sức mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh quân sự. Tính hai mặt trong chính sách của Mỹ đối với những đối thủ tiềm tàng sẽ tiếp tục trong nhiếu năm tới.


Nhìn tổng thể có thể thấy tư duy của các nhà hoạch định chính sách của Mỹ chịu ảnh hưởng của hai trường phái lý luận cơ bản là chủ nghĩa hiện thực chính trị và chủ nghĩa tự do. Mặc dù không có chính quyền nào thuần tuý theo chủ nghĩa hiện thực hay tự do, hai trường phái tư duy đối ngoại này luôn tồn tại song song, ảnh hưởng lúc mạnh hơn hay yếu đi tuỳ thuộc một phần vào quan điểm đảng phái của Tổng thống Mỹ. Nhìn chung, các Tổng thống Đảng Cộng hoà thiên hơn về tư duy hiện thực chính trị, trong khi Đảng Dân chủ thiên hơn về chủ nghĩa tự do. Chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton thể hiện sự kết hợp, dung hoà giữa chủ nghĩa tự do và hiện thực. Điều này thể hiện không chỉ trong chính sách của Mỹ đối với đồng minh, các đối thủ tiềm tàng, mà còn thế hiện ở phương châm "Mỹ sẵn sàng hành động đa phương khi có thể và đơn phương khi cần thiết". Đây là một đặc điểm quan trọng trong chiến lược an ninh của Mỹ: chủ trương chia sẻ gánh nặng trong các vấn đề an ninh quốc tế khi điều này phục vụ lợi ích của Mỹ. Cho dù có những điều chỉnh nhất định theo hướng thiên về chủ nghĩa đơn phương hơn hoặc đa phương hơn, các chính quyền của Mỹ nhìn chung cũng sẽ không thể chỉ dựa vào chủ nghĩa đơn phương hay đa phương thuần tuý vì một thực tế cơ bản: cho dù là siêu cường với ưu thế sức mạnh vượt trội, Mỹ không thể hành động hoàn toàn đơn phương, không tính đến lợi ích của đồng minh và đối tác trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau. Hơn thế nữa, một mình Mỹ cũng không đủ khả năng để đối phó với các vấn đề toàn cầu, những thách thức an ninh đa dạng đòi hỏi sự hợp tác của nhiều nước trên thế giới.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:40:28 am
CHƯƠNG II
ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC AN NINH


1. Những nhân tố cơ bản chi phối sự điều chỉnh chiến lược an ninh

1.1. Thế và lực của Mỹ

Bước vào thế kỷ XXI, Mỹ được đánh giá là siêu cường hàng đầu thế giới về kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ. Vị trí này đã được Mỹ duy trì, củng cố và tăng cường trong suốt thập niên 90 của thế kỷ XX. Đây là nhân tố hàng đầu chi phối sự điều chỉnh chính sách an ninh của Mỹ.


Về sức mạnh quân sự, Mỹ đi đầu trong các công nghệ quân sự và có nguồn tài chính rất dồi dào để biến các ý tưởng quân sự thành hiện thực. Hệ thống phòng thủ tên lửa (MD) mà Mỹ đang theo đuổi cho thấy sự gắn bó chặt chẽ của giới công nghiệp quốc phòng với chính quyền hiện tại, tiềm lực khoa học công nghệ, tài chính và nhân lực khổng lồ của Mỹ.


Trên cơ sở sức mạnh đó, chính quyền Bush tuyên bố "quân đội Mỹ phải là đội quân tinh nhuệ, linh hoạt, phải có mặt trước tiên để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở mọi nơi trên thế giới". Nhiều nhà phân tích cho rằng chi phí quốc phòng của Mỹ trong năm 2003 lớn hơn toàn bộ chi phí quốc phòng của 15-20 quốc gia có chi phí quốc phòng lớn sau Mỹ. Khi năm tài chính 2003 bắt đầu vào tháng 10-2002, chi phí quân sự của Mỹ sẽ chiếm 42% tổng chi tiêu quốc phòng của cả thế giới1 (Carl Conetta, The Pentagon's New Strategy, New Budget, New War, Project on Defense Alternatives, 25-6-2002, at http://www.comw.org-pda-0206newwar.html). Cũng vào năm 2003, ngân sâch quốc phòng của Mỹ bằng 93% chi tiêu quốc phòng trung bình hàng năm trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX - thập kỷ mà chi tiêu quốc phòng của Mỹ đạt mức kỷ lục.


Xét về cơ cấu lực lượng, Mỹ có thể mạnh về hạt nhân, về không quân, hải quân và là quốc gia duy nhất có khả năng triển khai sức mạnh toàn cầu.

Dưới đây là những con số về lực lượng quân sự Mỹ:

• Hơn 200.000 quân Mỹ đang đồn trú ở hải ngoại và 50.000 linh và sĩ quan hải quân trên các đại dương; trong những năm gần đây 35.000 người trong số đó tham gia trực tiếp vào các chiến dịch khẩn cấp, chủ yếu tại Irắc hay vùng Bancăng;

• Hơn 800 cơ sở quân sự ở hải ngoại, trong đó có 60 căn cứ lớn;

• Hiện diện quân sự ở hơn 140 nước, trong đó triển khai quân đội với mức độ lớn (hàng trăm hoặc hàng nghìn quân) tại 25 nước.

• Cam kết mạnh mẽ hỗ trợ phòng thủ hoặc ủng hộ các nỗ lực quân sự của 31 nước và ký hiệp định hợp tác quân sự với 29 nước khác1 (Carl Conetta and Charles Knight, A New US Military Strategy-Issues and Options, Project on Defense Alternatives, 21-5-2001 at http://www.comw.org-pda-0105bm20.html).


Sức mạnh quân sự của Mỹ còn thể hiện ở trình độ công nghệ và kỹ thuật ứng dụng trong quốc phòng. Mỹ đứng hàng đầu thế giới về ứng dụng các công nghệ thông tin và viễn thông vào lĩnh vực quân sự, cũng như trong việc phối hợp và xử lý thông tin trên chiến trường và tiêu diệt các mục tiêu từ xa với độ chính xác rất cao. Washington có những chiến lược khiến các đối thủ không thể dễ dàng bắt kịp về mặt công nghệ, thể hiện rõ ở khoảng cách lớn về chi phí dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D); Mỹ đã dành một khoản lớn gấp ba lần cho R&D so với sáu quốc gia hàng đầu kế tiếp Mỹ cộng lại. Một cách so sánh khác là Mỹ đã chi phí cho R&D nhiều hơn toàn bộ chi tiêu quốc phòng của Anh hay Đức. Quân đội Mỹ được trang bị hiện đại, vượt xa các nước khác. Mỹ đi đầu trong lĩnh vực chiến tranh kỹ thuật cao. Nếu như trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, số vũ khí kỹ thuật cao như bom thông minh được sử dụng chỉ chiếm khoảng hơn 10%, thì trong cuộc không kích Kosovo năm 1999 con số đó là gần 70% và lên tới gần 90% trong cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan 2001.


Về kinh tế, Mỹ đã có những bước tiến vượt bậc và có tiềm năng to lớn để tiếp tục phát triển. Điều đáng chú ý là nền kinh tế Mỹ đã có sự biến đổi về chất, có khả năng kéo dài chu kỳ tăng trưởng và vượt qua chu kỳ suy thoái và khủng hoảng như thời kỳ qua cho thấy. Nền kinh tế Mỹ đã phục hồi trở lại sau thời kỳ suy thoái ngắn và ở mức nhẹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai với tỷ lệ tăng trưởng 5,6% trong quý 1-2002. Mức tăng trưởng dù giảm đi, chỉ còn 2,5 đến 3% trong năm 2002, cũng vẫn là mức tăng trưởng cao hơn đáng kể so với các trung tâm kinh tế tư bản chủ nghĩa khác như Tây Âu và Nhật Bản.


Mỹ đi tiên phong trong việc xây dựng nền kinh tế mới, đúng như nhà tương lai học A. Toiler dự báo trong cuốn Làn sóng thứ ba (1980). Nhiều người cho rằng Mỹ tiến vào nền kinh tế mới dựa trên cơ sở cách mạng công nghệ thông tin và sự toàn cầu hoá nền kinh tế thị trường. Ngành thông tin bao gồm thiết kế lưu trữ, truyền tải và xử lý thông tin, các ngành hữu quan và ngành dịch vụ chiếm tới 72% nền kinh tế Mỹ1 (Trần Bá Khoa, "Nền kinh tế mới của nước Mỹ, cái mạnh và cái yếu", Tạp chí Cộng sản, số 14 (7-2001) tại http://www.cpv.org.vn). Vào cuối năm 1999 trên thế giới có 180 triệu người sử dụng Internet thì riêng Mỹ đã chiếm 50% trong số đó. Bốn mươi sáu phần trăm lượng thông tin chu chuyển trên Internet xuất phát từ Mỹ. Trong cả thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế Mỹ đã tạo ra 20 triệu việc làm, trong khi Liên minh châu Âu (EU) bị mất 5 triệu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp cao và tình trạng này vẫn chưa khắc phục được.


Mỹ chiếm 4,7% dân số thế giới, nhưng có 31,2% trong số 31,4 nghìn tỷ USD GDP của thế giới1 (The Economist, 27-6-2002). GDP năm 2000 đạt 9.996,2 tỷ USD, lớn gần gấp đôi so với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản (4.619,8 tỷ USD), và gần gấp 10 lần so với nền kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc (1.070,7 tỷ USD) tính theo cân bằng sức mua (PPP)2 (U.S and Asia Statistical Handbook, 2001-2002 Edition, The Heritage Foundation, tr.21). Như vậy, phải mất khoảng hơn 30 năm nữa, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, kinh tế Trung Quốc mỏi có thể đạt mức của Mỹ hiện nay và tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu người vẫn thấp hơn3 (Henrry Kissinger, "The Architecture of an American Foreign Policy", in Preparing America's Foreign Policy for the 21st Century edited by David L. Boren & Edward J.Perkins, University of Oklahoma Press, 1999, tr.303). Hơn nữa, thập kỷ đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh lại chứng kiến một thời kỳ phát triển dài lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Khoảng cách giữa Mỹ và các đối thủ, đặc biệt là Nhật Bản và EU, càng được mở rộng vì sự chênh lệch lớn trong tốc độ phát triển kinh tế. Từ năm 1990 đến 1998, kinh tế Mỹ tăng tới 27%, gần như gấp đôi so với EU 15% và Nhật Bản 9% . Tỷ trong kinh tế Mỹ trong kinh tế thế giới tăng hơn 10%, đạt 31% năm 2000 so với hơn 20% thời kỳ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX.


Mỹ giữ vai trò chủ đạo trong các thiết chế tài chính, thương mại thế giới như IMF, WTO, WB... Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế có sức cạnh tranh rất lớn. Đồng đôla Mỹ chiếm hơn 60% giao dịch thương mại toàn cầu. Đồng đôla là đồng tiền dự trữ quốc gia chủ yếu của hầu hết các nước trên thế giới. Thị trường chứng khoán của Mỹ có vai trò trung tâm trong đời sống tài chính, tiền tệ toàn cầu. Biến động trên thị trường chứng khoán New York tác động đến thị trường chứng khoán ở khắp nơi trên thế giới. Xu hướng chung cho thấy nền kinh tế Mỹ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế thế giới. Gần 1/3 tăng trưởng GDP hàng năm của Mỹ là nhờ vào xuất khẩu. Hiện nay con số các xí nghiệp Mỹ kinh doanh trên toàn cầu chiếm tới 60% tổng số xí nghiệp của Mỹ. Đóng góp của ngành xuất khâu đối với tăng trưởng kinh tế đã vượt ngành xây dựng và ngành gang thép - vốn là hai ngành công nghiệp chủ đạo trong nền kinh tế Mỹ. Sự bành trướng toàn cầu của tư bản Mỹ diễn ra mạnh mẽ cùng với sự bành trướng về chính trị và quân sự. Các công ty xuyên quốc gia khổng lồ của Mỹ (doanh thu của một số công ty này lớn gấp nhiều lần GDP của nhiều nước) phát triển nhanh chóng, nắm phần lớn của cải thế giới, chuyển mạnh sang lũng đoạn các ngành công nghệ cao và tài chính tiền tệ trên thế giới.


Khác với Nhật Bản và Tây Âu, tiềm năng phát triển của kinh tế Mỹ còn mạnh xét về mặt dân số học. Thế hệ những người Mỹ sinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai giờ đây chính là những tác nhân chủ yếu của nền kinh tế. Số lượng các gia đình mà trong đó những người có độ tuổi từ 35-54 đóng vai trò trụ cột về kinh tế hiện lên tới con số 44 triệu. Những người này đang ở giai đoạn đỉnh cao về chi tiêu và tiết kiệm, là một động lực rất quan trọng của nền kinh tế1 (American Special Strengths, Kiplinger.com, tháng 6-2002).


Về khoa học công nghệ. Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Mỹ trong lĩnh vực công nghệ bằng bảy nước giàu nhất sau Mỹ cộng lại và chiếm 40,6% của tổng chi phí toàn cầu là 652.7 tỷ USD2 (Stephen Brooks and William C. Wohlforth, "American Primacy in Perspective", Foreign Affairs, tháng 7/8-2002, Vol, tr. 2).  Bằng phát minh khoa học của Mỹ chiếm hơn 60% toàn bộ số bằng phát minh khoa học trên thế giới. Mỹ đứng đầu 20 trong tổng số 29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ chế tạo vật liệu mới, không gian điều khiển học. Hai phần ba số người đạt giải Nobel về kinh tế và khoa học là công dân Mỹ.


Về văn hoá, các chương trình truyền hình và phim ảnh của Mỹ chiếm tới hơn 3/4 thị trường thế giới. Riêng trong lĩnh vực nghe nhìn, Mỹ chiếm 83,1% từ thu nhập 18,2 tỷ USD sản xuất phim trên thế giới1 (The Economist, 27-6-2002). Toàn cầu hoá được đồng nghĩa với McDonald hoá. Tiếng Anh là ngôn ngữ chủ đạo của Internet và tuyệt đại đa số các chương trình Internet cũng bắt nguồn từ Mỹ2 (Zbigniew Brzezinski, Bàn cờ lớn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999).


Sức mạnh và ưu thế của Mỹ có thể được duy trì trong nhiều thập kỷ tới. Tuy nhiên, sức mạnh Mỹ cần được đặt trong bối cảnh quốc tế, bởi như vậy mới có thể đánh giá được thực chất sức mạnh, quyền lực tương đối của Mỹ so với các trung tâm quyền lực khác cũng như những thách thức mà nước Mỹ phải đương đầu. Việc xem xét những giới hạn đối với sức mạnh của nước Mỹ phải được bắt đầu từ việc đánh giá những xu hướng địa chính trị và an ninh chủ đạo trong thời kỳ hiện nay và trong một vài thập kỷ tới. Trên cơ sở đó mới có thể đánh giá khả năng triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:41:13 am
1.2. Những xu hướng địa chính trị và an ninh quốc tế: giới hạn đối với sức mạnh của Mỹ

Sự hình thành, điều chỉnh và triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI chịu sự chi phối mạnh mẽ của bốn xu hướng địa chính trị và an ninh cơ bản. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh, cục diện địa chính trị và an ninh thế giới trở nên phức tạp hơn và khó dự đoán hơn trước bởi sự cộng hưởng của các vấn đề toàn cầu như môi trường, vấn đề nhập cư, chủ nghĩa khủng bố, sự bất ổn định của nền kinh tế toàn cầu... vượt quá khả năng giải quyết của bất kỳ quốc gia đơn lẻ nào, kể cả Mỹ. Hai ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á năm 1997 và sự kiện ngày 11 tháng 9. Vị trí biệt lập về địa lý của nước Mỹ không còn khả năng ngăn cách tác động của những sự kiện ngoài biên giới nước Mỹ. Trong một thế giới toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau, cho dù mạnh đến đâu, nước Mỹ cũng không thể đánh giá thấp những tác động của môi trường quốc tế đối với an ninh quốc gia Mỹ.


Xu thế địa chính trị quan trọng nhất đối với việc hình thành chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều thập kỷ tới là xu thế đa cực hoá. Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Trật tự hai cực sụp đổ. Thế giới đang trong thời kỳ chuyển tiếp sang một trật tự đa cực. Mặc dù vậy, Mỹ không thể chi phối toàn bộ công việc của thế giới và áp đặt ý chí của mình. Quyền lực trong kỷ nguyên toàn cầu hoá trở nên phân tán hơn bao giờ hết. Một trật tự thế giới mới đang hình thành. Cuộc tranh luận về "trật tự thế giới mới" đã dẫn tới những mô tả khác nhau về sự phần bố quyền lực mới như "nhất siêu-đa cường", "một cực, đa trung tâm", hay "đơn-đa cực"... Dù tên gọi có khác nhau, nhưng đều phản ánh một thực tế là Mỹ không thể dễ dàng áp đặt bá quyền lên hệ thống quốc tế. Các chính quyền Mỹ sau chiến tranh lạnh đều nhấn mạnh vai trò của các liên minh và đánh giá cao sự hỗ trợ của các đồng minh trong các nỗ lực quốc tế.


Nhìn vào quan hệ giữa các nước lớn ngày nay có thể thấy cuộc đấu tranh giữa đơn cực và đa cực tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong khi Mỹ chủ trương một thế giới đơn cực thì các trung tâm quyền lực khác như Nga, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và phần nào đó cả Ấn Độ đều phấn đấu cho một trật tự đa cực, trong đó vị trí bá quyền của Mỹ được kiềm chế và Mỹ không có khả năng áp đặt ý chí của mình trong quan hệ với các nước khác. Chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc, tinh thần Đại Nga và chính sách độc lập của Ấn Độ không dễ dung hoà với xu hướng bá quyền của Mỹ. Khi không còn một kẻ thù chung và một mối đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia, xu hướng ly tâm trong các nước đồng minh của Mỹ tăng lên. Pháp và Đức đã không ủng hộ Mỹ trong chiến dịch "con cáo sa mạc" tấn công vào Irắc tháng 12-1998. Mặc dù đứng về phía Mỹ trong quyết định không kích Kosovo bắt đầu vào tháng 3-1999, các đồng minh châu Âu của Mỹ đã kiên quyết không nhượng bộ Mỹ và đã không ủng hộ chủ trương bỏ qua vai trò của Liên hợp quốc trong các cuộc xung đột khu vực. Đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở châu Á là Nhật Bản cũng đã có những biểu hiện độc lập về chính sách ngoại giao rõ rệt trong một số vấn đề. Nhật Bản đã không ủng hộ nghị quyết do Mỹ bảo trợ tại kỳ họp hàng năm của Ủy ban nhân quyền nhằm lên án Trung Quốc.


Trong cuộc đấu tranh giữa đơn cực và đa cực, Mỹ luôn tìm cách duy trì và mở rộng ưu thế của mình. Mỹ đã thể hiện sức mạnh vượt trội ở Kosovo (1999), Ápganixtan (2001-2002). Mỹ thắng Đức trong việc giành vai trò lãnh đạo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Mỹ cũng ép Nhật trong khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á (1997), phản đối ý định thiết lập Quỹ Tiền tệ châu Á của Nhật, gây sức ép buộc các nước phải chấp nhận "phương thuốc chữa trị" của Mỹ. Trước cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ ngang nhiên đặt điều kiện với toàn thế giới rằng "chỉ có hai con đường hoặc là theo Mỹ chống khủng bố hoặc đứng về phía khủng bố. Ngay cả toàn cầu hoá là một xu thế khách quan nhưng các nước đều nhìn nhận nó như một hiện tượng do Washington chi phối và giúp phổ biến các "giá trị Mỹ", phục vụ cho lợi ích của Mỹ.


Xu thế lớn thứ hai chi phối chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều năm tới là chủ nghĩa khủng bố quốc tế và sự gia tăng của những thách thức không cân xứng (asymmetric challenges). Trong năm 2001, theo Bộ Ngoại giao Mỹ, có khoảng 63% các vụ khủng bố diễn ra trên thế giới là nhằm vào công dân hoặc tài sản của Mỹ so với mức 23% của năm 1995. Hoạt động khủng bố đã ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động thương mại, hoạt động không phổ biến vũ khí hạt nhân và an ninh nói chung của Mỹ. Vấn đề khủng bố quốc tế mà Mỹ là mục tiêu hàng đầu liên quan đến xu hướng phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt hoặc các phương tiện để sản xuất vũ khí này. Mỹ lo ngại việc các nước Mỹ coi là "bất trị" phát triển và sở hữu các loại vũ khí giết người hàng loạt sẽ cung cấp vũ khí hoặc công nghệ sản xuất vũ khí cho các tổ chức khủng bố. Tất cả bảy quốc gia mà Mỹ nghi ngờ là chứa chấp khủng bố cũng bị Mỹ nghi ngờ có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và hoặc hoá học, sinh học ở một mức độ nào đó: Iran, Irắc, Libi, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Xuđăng, Xyri và Cuba.


Chủ nghĩa khủng bố cùng với các mối đe dọa xuyên quốc gia khác thực sự đe dọa nước Mỹ. Nếu như Mỹ tự hào là quốc gia hàng đầu về quân sự và công nghệ thì sự kiện 11 tháng 9 buộc Mỹ phải tự nhìn nhận lại. Những kẻ khủng bố ngày nay dùng điện thoại di động mã hoá cao, e-mail và Internet để truyền đạt thông tin và chuyển tiền bằng điện tử. Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cho rằng những cuộc tấn công khủng bố đã làm thay đổi các mối đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Ông nói: "Theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta đang có định nghĩa về một chiến trường mới, chiến trường của thế kỷ XXI. Đó là một cuộc xung đột kiểu mới. Mặc dù đây không phải là điều đặc trưng của thế kỷ này nhưng với tính chất địa lý và điều kiện của nước Mỹ hiện nay, cuộc tấn công đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nước Mỹ".


Sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ, điều bảo đảm ưu thế trong một cuộc chiến tranh thông thường, không còn là yếu tố quyết định trong một cuộc chiến tranh không cân xứng. Như sự kiện 11 tháng 9 cho thấy, kẻ thù của Mỹ sử dụng những phương tiện phi truyền thống như khủng bố, đe dọa hạt nhân hay vũ khí hoá học, chiến tranh tin học hay phá hoại môi trường. Đây là những mối đe dọa không cân xứng đối với Mỹ. Tính chất không cân xứng của nó thể hiện ở ba khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là Mỹ phải bảo vệ toàn bộ những điểm có thể trở thành mục tiêu của khủng bố, trong khi đó, các tổ chức khủng bố chỉ cần nhằm vào một số điểm dễ bị tổn thương nhất để tấn công. Hai là, trong khi Mỹ và các lợi ích của Mỹ là mục tiêu có thể nhìn thấy được thì hoạt động của các tổ chức khủng bố không dễ gì bị phát hiện. Ba là, sự không cân xứng về chi phí và tổn thất. Người ta ước tính rằng việc dàn dựng và tổ chức sự kiện 11 tháng 9 chỉ tốn khoảng 2 triệu USD, nhưng tổn thất mà nó gây ra lên tới hơn 100 tỷ USD. Sự bất cân xứng giữa chi phí khủng bố và tổn thất do khủng bố gây ra sẽ còn lớn hơn nhiều nếu các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí giết người hàng loạt. Tính chất không cân xứng của những mối đe dọa khủng bố thực chất đã làm cho sức mạnh của Mỹ không còn là cơ sở để bảo đảm an ninh cho nước Mỹ và an toàn cho công dân Mỹ.


Xu thế thứ ba là tầm quan trọng ngày càng tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống. Những thách thức an ninh phi truyền thống như tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma tuý, ô nhiễm môi trường, nạn dịch HIV/AID đã thực sự trở thành những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và phát triển kinh tế. Hơn nữa, trong khi nước Mỹ phải tập trung toàn lực đối phó với chủ nghĩa khủng bố quốc tế, những vấn đề an ninh truyền thống khác vẫn có nguy cơ đe dọa ổn định ở các khu vực, nơi Mỹ có những lợi ích thiết yếu. Sự đan xen giữa các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, những quan ngại an ninh trước mắt và dài hạn, càng cho thấy những thách thức mà nước Mỹ phải đối mặt rất phức tạp, đa dạng và phân tán.


Xu thế thứ tư, xuất phát chủ yếu từ vị thế sức mạnh vượt trội và chính sách ngạo mạn, cường quyền của Mỹ, là chủ nghĩa chống Mỹ (Anti-Americanism) ngày càng trở nên mạnh mẽ trên thế giới. Sự kiện 11 tháng 9 là minh chứng rõ nét nhất, cho dù không phải duy nhất, về tâm lý chống Mỹ. Sự kiện này là đỉnh cao trong một loạt những vụ khủng bố nhằm vào Mỹ trước đó, như vụ tấn công tàu US.S. Cole tháng 10-2000, vụ đánh bom Oklahoma City, vụ đánh bom hai sứ quán Mỹ ở Kenia và Tandania. Thắng lợi của Mỹ ở Ápganixtan không có nghĩa là Mỹ không còn bị đe dọa. Mạng lưới Al Qaeda có mặt ở hơn 60 nước trên thế giới. Tiêu diệt được mạng lưới này một cách triệt để gần như là không tưởng. Khả năng các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí sinh học, hoá học hay thậm chí hạt nhân càng làm cho nguy cơ khủng bố quốc tế trở nên nghiêm trọng. Cuộc chiến của nước Mỹ với kẻ thù vô hình, hay cuộc chiến không cân xứng, cho dù người ta gọi nó như thế nào, cũng sẽ là một cuộc chiến không có kẻ thắng người thua. Vladimir Shlapentokh, giáo sư Đại học Tổng hợp bang Michigan cho rằng: "Hầu như không thể tìm thấy một quốc gia nào trên thế giới mà tại đó không có tình cảm chống Mỹ", "ít có hệ tư tương nào tại bất kỳ khu vực nào có thể hấp dẫn, mạnh mẽ và quan trọng đối với nhiều người như là tâm lý bài Mỹ".


Vì vậy, điều nghịch lý là ngày nay, cho dù là siêu cường duy nhất với sức mạnh áp đảo, an ninh của nước Mỹ lại trở nên dễ bị tổn thương và nước Mỹ và người dân Mỹ ít an toàn hơn bao giờ hết. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm, nước Mỹ không còn cảm thấy bất khả xâm phạm. Và khái niệm an ninh nội địa, điều vốn xa lạ với nước Mỹ, đã trở thành cụm từ không thể thiếu đối với bất cứ tuyên bố chính sách nào của chính quyền Mỹ kể từ sau sự kiện 11 tháng 9. Tháng 7-2002, chính quyền Mỹ đã công bố Chiến lược quốc gia cho an ninh nội địa, một chiến lược tổng thể nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ khủng bố trong lòng nước Mỹ. Bên cạnh đó, ưu thế về sức mạnh quân sự, tiền đề cho chủ nghĩa đơn phương trong chính sách đối ngoại của Mỹ, làm cho sức mạnh của Mỹ trở nên không hiệu quả trong việc đối phó với những thách thức phi truyền thống mà trong đó chủ nghĩa khủng bố quốc tế là mối đe dọa lớn nhất, nhưng không phải duy nhất, đối với nước Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:42:04 am
1.3. Quan điểm của giới lãnh đạo và công chúng Mỹ

Việc hoạch định và triển khai chiến lược an ninh và đối ngoại của Mỹ phụ thuộc, ở mức độ lớn, vào quan điểm của giới lãnh đạo Mỹ và thiên hướng chính trị trong chính quyền Mỹ. Cho dù mục tiêu cơ bản trong chiến lược an ninh của Mỹ không thay đổi, việc hoạch định chính sách cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chiến lược phụ thuộc vào quan điểm của bộ máy hoạch định chính sách an ninh, đối ngoại. Chính vì vậy, chiến lược "ngăn chặn cộng sản" của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh có những bước triển khai khác nhau và phương cách thực hiện khác nhau dưới các chính quyền khác nhau.


Tổng thống Bush con khi lên cầm quyền là một người ít có kinh nghiệm đối ngoại và trong thời gian tranh cử, ông ta đã để lộ rõ sự yếu kém của mình khi không nêu được tên một số nhà lãnh đạo các nước trên thế giới. Tuy nhiên, trên phương diện là thống đốc bang Texas và là người đầu tiên tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai ở bang này với số phiếu áp đảo, ông ta là người được coi là rất thành công trong việc "hoà giải" trong các cuộc tranh cãi đảng phái, là một chính trị gia trung dung, có thể tập hợp lực lượng từ phía cả hai đảng. Để bù đắp cho sự thiếu kinh nghiệm của Bush con, bên cạnh ông ta có một đội ngũ cố vấn hùng hậu, những "cựu chiến binh" của Đảng Cộng hoà, những người nổi tiếng am hiểu về các vấn đề an ninh, đối ngoại: Phó Tổng thống Dick Cheney, một nhân vật Cộng hoà rất có ảnh hưởng; Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng của chính quyền Bush con, từng giữ những vị trí trọng yếu trong lĩnh vực quốc phòng dưới các chính quyền Cộng hoà trước; Colin Powell, vị ngoại trưởng mới là một nhân vật nổi tiếng, một "anh hùng của nước Mỹ" trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân trong thời kỳ khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990-1991, ông là người nhấn mạnh đến việc sử dụng học thuyết "được ăn cả, ngã về không", theo đó vũ lực phải được sử dụng với liều lượng mạnh, có mục tiêu rõ ràng và thoát ra nhanh chóng; Condoleezza Rice, cựu giáo sư trường Đại học Stanford, một chuyên gia về Liên Xô cũ và Nga, từng là cố vấn cho George Bush cha về vấn đề châu Âu, trở thành cố vấn an ninh quốc gia, một vị trí có ảnh hưởng hàng đầu trong quá trình hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ. Như vậy, những người được coi là cứng rắn, những nhân vật bảo thủ "sáng giá nhất", sẽ chi phối việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại, an ninh của Mỹ trong thời gian tới. Với một nhóm cố vấn như vậy, nước Mỹ có thể sẽ có những quyết sách cứng rắn và thực dụng hơn.


Như đã phân tích ở trên, chính quyền Đảng Cộng hoà thường thiên về chủ nghĩa đơn phương hơn trong cách tiếp cận đối với các vấn đề quốc tế. Thực tế cho thấy, trong khi theo đuổi chủ nghĩa quốc tế mới, chính quyền của Bush (Đảng Cộng hoà) nói chung ít dựa vào các cơ chế đa phương, mà chủ trường dựa vào các liên minh song phương và đồng minh của Mỹ. Quan điểm truyền thống của Đảng Cộng hoà là chính sách đối ngoại của Mỹ phải phục vụ và dựa trên lợi ích an ninh quốc gia của nước Mỹ. Thực ra, chính sách đối ngoại của bất cứ nước nào, dù lớn hay nhỏ, đều nhằm phục vụ lợi ích quốc gia của nước đó. Điều khác biệt ở đây là việc xác định lợi ích quốc gia. Khác với chính quyền Dân chủ của Clinton, chính quyền Cộng hoà thường có xu hướng thực dụng, xác định lợi ích quốc gia một cách hẹp hòi, nhiều khi không tính đến lợi ích của các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Quan điểm đó cũng được thổ hiện rõ qua cách nhìn nhận thế giới của cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice. Trong bài viết của mình khi còn là cố vấn cho ứng cử viên Tổng thống Bush, bà Rice đã nhấn mạnh "chính sách của chính quyền thuộc Đảng Cộng hoà chắc chắn phải bắt nguồn từ cơ sở vững chắc là vì lợi ích quốc gia, không phải vì lợi ích của một cộng đồng quốc tế hão huyền"1 (Condoleezza Rice, "Campaign 2000 - Promoting the National Interest", Foreign Affairs, tháng 1/2-2000, Vol. 79, No. 1).


Theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống là quan chức liên bang chịu trách nhiệm tối cao về quan hệ của Mỹ với các nước khác. Một quyền lực quan trọng khác do Hiến pháp quy định là Tổng thống là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Mỹ (Điều 2. phần 2). Trong khi Quốc hội được trao quyền tuyên bố chiến tranh, tư cách tổng tư lệnh quân đội đã tạo cơ sở cho Tổng thống Mỹ tăng cường quyền hạn trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để thực hiện các mục tiêu đối ngoại. Các tổng thống Mỹ đã đưa quân đến bán đảo Triều Tiên, Libăng, Cộng hoà Đôminica và Việt Nam mà không hề có tuyên bố chiến tranh của Quốc hội. Nó đã trở thành cơ sở cho quyền sử dụng vũ lực rộng lớn hơn của Tổng thống trong lĩnh vực đối ngoại. Tổng thống Mỹ có thể quyết định sự tham gia hoặc dính líu của Mỹ vào một cuộc xung đột quốc tế mà không cần tìm kiếm sự phê chuẩn của Quốc hội.


Như vậy, Tổng thống Mỹ nắm giữ quyền lực cao nhất và chủ yếu nhất trong các vấn đề an ninh, đối ngoại của nước Mỹ. Tuy nhiên, quyền hạn của Tổng thống Mỹ, kể cả trong lĩnh vực đối ngoại, có giới hạn nhất định. Nguyên tắc tam quyền phân lập và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng (check and balance), hai nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động của hệ thống chính trị Mỹ, tạo nên tình huống chia sẻ và tranh giành quyền lực không chỉ trong các vấn đề nội trị, mà cả trong các vấn đề đối ngoại giữa ngành hành pháp và lập pháp của Mỹ. Thông qua Quốc hội Mỹ và các thiết chế chính trị như bầu cử, các tổ chức chính trị, xã hội khác ở nước Mỹ, như các nhóm lợi ích, cũng tạo nên những ảnh hưởng đáng kể đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ. Vì vậy, một tác nhân quan trọng khác trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ là Quốc hội Mỹ. Quan điểm của các nghị sĩ Mỹ về các vấn đề quốc tế cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến việc hoạch định và triển khai chiến lược an ninh, đối ngoại của Mỹ.


Nhìn chung, trước sự kiện 11 tháng 9, sự ủng hộ chính trị đối với chính quyền Bush rất yếu do tác động của cuộc bầu cử đầy tranh cãi năm 2000. Sự kiện 11-9-2001 đã thay đổi hoàn toàn bức tranh này. Nó giúp hàn gắn sự rạn nứt và chia rẽ sâu sắc trong nền chính trị nội bộ Mỹ. Vị thế chính trị mong manh của Bush cũng được củng cố bởi sự kiện 11-9-2001 và tình trạng chiến tranh mà nước Mỹ lâm vào. Lịch sử cho thấy, sự ủng hộ của chính quyền và công chúng Mỹ đối với tổng thống thường lên cao trong các cuộc khủng hoảng. Bush cha đã giành được 89% ủng hộ vào thời điểm kết thúc chiến tranh vùng Vịnh. Theo cuộc thăm dò dư luận ngày 22-9-2001, 90% dân chúng Mỹ ủng hộ cách xử lý khủng hoảng của Tổng thống Bush và đây là sự ủng hộ cao nhất trong lịch sử đối với một tổng thống. Bush cũng nhận được sự ủng hộ của cả hai viện trong Quốc hội. Ngay sau vụ khủng bố một ngày, hai viện đã họp và nhất trí thông qua nghị quyết cam kết trừng trị khủng bố và ủng hộ hoàn toàn đối với tổng thống. Kể từ nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 1964, đây là nghị quyết được cả hai viện thông qua nhanh nhất và với sự nhất trí cao.


Thắng lợi của Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2002 đã củng cố mạnh mẽ vị thế chính trị của chính quyền Bush. Đảng Cộng hoà giành quyền kiểm soát cả hai viện của Quốc hội: 229 ghế tại Hạ viện và 51 ghế tại Thượng viện và 23 ghế thống đốc bang. Như vậy, chính quyền Bush sẽ thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc hội đối với việc theo đuổi những mục tiêu trong chính sách an ninh và đối ngoại.


Thắng lợi của Đảng Cộng hoà cũng cho thấy khuynh hướng bảo thủ đang gia tăng trong công chúng Mỹ. Nếu dư luận công chúng là một nhân tố tác động đến hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ thì có thể thấy xu hướng này biểu hiện rất rõ trong các kết quả thăm dò dư luận sau sự kiện 11 tháng 9. Thăm dò dư luận ngày 28 - 29-5-2002 cho thấy 88% cho rằng khủng bố là một vấn đề quan trọng hoặc rất quan trọng, 82% (so với 68% vào tháng 1-2001) cho rằng các vấn đề quân sự và quốc phòng quan trọng hoặc rất quan trọng1 (http://www.gallup.com-poll-reseales-pr020612). Sự ủng hộ của công chúng là một cơ sở chính trị quan trọng để chính quyền Mỹ tiếp tục tăng ngân sách quân sự trong những năm tới.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 06 Tháng Năm, 2022, 06:43:02 am
2. Mục tiêu và ưu tiên chiến lược

Mục tiêu chiến lược bao trùm của Mỹ hiện nay và trong thời gian tới vẫn là tập trung củng cố thực lực nước Mỹ và vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo mà ở đó giá trị của Mỹ được phổ biến, ngăn chặn không cho bất cứ nước nào nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Đây là mục tiêu chiến lược dài hạn và là yếu tố bất biến chi phối chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều thập kỷ tới.


Bản báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (Quadrenial Defense Report) ngày 30-9-2001 của chính quyền Bush đã xác định những lợi ích quốc gia cơ bản của Mỹ:

• Bảo đảm an ninh và quyền tự do hành động của Mỹ bao gồm: chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tự do của Mỹ; sự an toàn của công dân Mỹ ở trong nước và nước ngoài; bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng của Mỹ.

• Tôn trọng những cam kết quốc tế bao gồm: an ninh và thịnh vượng của các đồng minh và bạn bè; ngăn chặn sự thống trị của kẻ thù đối với những khu vực quan trọng, đặc biệt là châu Âu, Đông Bắc Á, miền duyên hải Đông Á, Trung Đông và Tây Nam Á; hoà bình và ổn định ở Tây bán cầu.

• Góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế, bao gồm: khả năng tồn tại lâu dài và sức sản xuất của nền kinh tế toàn cầu; an ninh của vùng biển, vùng trời, không gian và các tuyến thông tin liên lạc quốc tế; quyền tiếp cận các thị trường chủ chốt và các nguồn tài nguyên chiến lược1 (Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (Quadrenial Defense Report) ngày 30-9-2001, Tài liệu tham khảo số 11/12-2002).


Sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan là một bước ngoặt quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Cuộc chiến chống khủng bố trở thành ưu tiên chiến lược hàng đầu của nước Mỹ ít nhất trong thập kỷ tới. Đối với Mỹ, ở khía cạnh nào đó, chống khủng bố đã thay thế mục tiêu "chống cộng sản" thời kỳ chiến tranh lạnh và trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, là ranh giới phân định bạn thù. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, ngăn chặn không còn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Mỹ. Trong một thời gian, nước Mỹ không có trọng điểm chiến lược đối ngoại mà chỉ có một đường hướng đối ngoại chung chung là "can dự và mở rộng". Theo một nghĩa nào đó, sự kiện 11 tháng 9 đã tạo ra một kim chỉ nam mới cho chiến lược đối ngoại của Mỹ và trọng tâm chiến lược đối ngoại của Mỹ trong tương lai ngắn đến trung hạn sẽ là cuộc chiến chống khủng bố. Mục tiêu chống khủng bố sẽ chi phối và xác định những ưu tiên chính sách đối ngoại của Mỹ đối với từng vấn đề, khu vực và đối tượng cụ thể. Đây sẽ tiếp tục là ưu tiên chiến lược của Mỹ, bất kể chính quyền tiếp theo là Cộng hoà hay Dân chủ. Xét cho cùng, nước Mỹ đang ở trong thời chiến, như tờ báo L’Express đã tuyên bố: "Chiến tranh thế giới thứ ba bắt đầu vào ngày thứ Ba, 11-9-2001"1 (Như đã trích trong L.Paul Bremer, "A New Strategy for the New Face of Terrorism", The National Interest, Thanksgiving 2001). Dù có phóng đại, tuyên bố này không hẳn là không có cơ sở. Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ sẽ là một cuộc chiến tranh dài lâu, với kẻ thù vô hình và đây sẽ là cuộc chiến tranh kỳ lạ, chưa từng có trong lịch sử.


Chính quyền Mỹ cho rằng mục tiêu bao trùm của chính sách chống khủng bố về cơ bản sẽ là ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố trong tương lai. Một chiến lược chống khủng bố toàn diện sẽ bao gồm ba mục tiêu cụ thể. Mục tiêu thứ nhất là đối phó với những lực lượng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự kiện ngày 11 tháng 9 mà Mỹ cho rằng đó là Bin Laden và mạng lưới Al Qaeda. Cuộc chiến của Mỹ ở Ápganixtan chính là bước đầu, hay giai đoạn một của cuộc chiến chống khủng bố. Mục tiêu thứ hai trong chiến lược tổng thể là tiêu diệt các cơ sở hoạt động của chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Các cơ sở đó có thể là bất cứ nước nào mà Mỹ cho rằng đang nuôi dưỡng, hoặc có khả năng nuôi dưỡng và chứa chấp các tổ chức khủng bố1 (L.Paul Bremer, Sđd). Mục tiêu thứ ba là duy trì một sự nhất trí quốc tế về cuộc chiến chống khủng bố nhằm tranh thủ sự ủng hộ và đặc biệt là sự hợp tác của các nước trên thế giới trong lĩnh vực chia sẻ tin tức tình báo.


Cuộc chiến chống khủng bố, ưu tiên chiến lược trước mắt và mục tiêu chiến lược dài hạn bá chủ thế giới song song tồn tại, và không hẳn đã mâu thuẫn nhau. Chính quyền Mỹ sẽ theo đuổi và thực hiện hai mục tiêu này cùng một lúc, đặc biệt ở châu Á. Hơn thế nữa, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt cũng được tính đến nhằm phục vụ mục tiêu dài hạn hơn là ngăn chặn không cho bất cứ nước nào nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Sự tăng cường hợp tác quân sự với Philippin vì mục tiêu chống khủng bố sẽ phục vụ lợi ích lâu dài của Mỹ ở khu vực là tăng cường sự hiện diện quân sự, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, việc Mỹ thúc đẩy xu hướng tăng cường quân sự với Ấn Độ, một mặt nhằm phục vụ mục tiêu trước mắt là chống khủng bố. Mặt khác, tăng cường quan hệ với Ấn Độ cũng là một phần quan trọng trong ván bài cân bằng quyền lực của Mỹ đối với Trung Quốc.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:45:04 am
3. Những điều chỉnh chiến lược an ninh chủ yếu

3.1. Cách tiếp cận mới đối với vấn đề phòng thủ

An ninh kinh tế, an ninh quân sự và thúc đẩy dân chủ nhân quyền là ba trụ cột cơ bản trong chiến lược đối ngoại "can dự và mở rộng" của Clinton. Nếu như dưới chính quyền Clintơn, an ninh kinh tế là trụ cột hàng đầu thì dưới chính quyền Bush, an ninh quân sự trở thành ưu tiên số một. Xu hướng này thể hiện ngay từ trước sự kiện 11 tháng 9 với việc chính quyền Bush chủ trương tăng chi phí quốc phòng và cam kết triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia. Sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã tạo cơ hội cho chính quyền Bush tiếp tục đẩy mạnh xu hướng này. An ninh theo nghĩa truyền thống, hay an ninh quân sự, sẽ là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Mỹ. Ngân sách quốc phòng năm 2002-2003 tăng mạnh, lên tới 379 tỷ USD, tăng 50 tỷ so với năm tài chính trước. Đây là mức tăng ngân sách quân sự lớn nhất của nước Mỹ kể từ thời kỳ dưới chính quyền Reagan. Mức tăng ngân sách quân sự này nhằm tăng cường bảo đảm an ninh nội địa và cuộc chiến chống khủng bố. Thực chất, đây là một ngân sách quân sự thời chiến. Cuộc chiến chống khủng bố đã tạo cơ hội cho lực lượng bảo thủ trong chính quyền Mỹ, mà đứng đằng sau là các tổ hợp công nghiệp quân sự đầy ảnh hưởng, thúc đẩy hơn nữa xu hưởng tăng cường ngân sách quân sự.


Một thay đổi quan trọng khác là sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với vấn đề phòng thủ. Điểm cốt lỗi của đường hướng chiến lược quốc phòng mới của Mỹ là dựa trên khả năng. Điều này có nghĩa là nếu trước kia, quân đội Mỹ phải chuẩn bị đối phó với những mối đe dọa cụ thể, thì giờ đây nước Mỹ phải chuẩn bị để đối phó với những khả năng khác nhau mà kẻ thù của nước Mỹ, bất kể đó là một quốc gia hay một thực thể phi quốc gia, có thể có. Theo Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần thì "một mô hình dựa trên các khả năng - mô hình tập trung vào các khả năng chiến đấu khác nhau của một đối thủ hơn là việc xem đối thủ là ai và cuộc chiến có thể xảy ra ở đâu - sẽ mở rộng bức tranh chiến lược"1 (Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo đánh giá quốc phòng bốn năm một lần, ngày 30-9-2001, Tài liệu tham khảo số 11-12/2002). Sự thay đổi trong cách tiếp cận này có khả năng dẫn đến việc tăng cường xu hướng sử dụng vũ lực trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Lý do thứ nhất là sức mạnh quân sự của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo. Lôgich thông thường cho thấy khi quyền lực càng nhiều và càng tập trung, người ta càng có xu hướng sử dụng nó. Và nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ. Lý do thứ hai là cuộc chiến chống khủng bố và môi trường chiến lược ẩn chứa những thách thức an ninh khó lường tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực bảo thủ và hiếu chiến của Mỹ thực hiện ý đồ của mình.


Sự khác biệt lớn thứ ba trong cách tiếp cận là chính quyền Bush đánh giá thấp vai trò của chủ nghĩa đa phương, các hiệp ước kiểm soát vũ khí, các cơ chế luật pháp quốc tế và các nhiệm vụ quân sự phi truyền thống. Chính quyền Bush có xu hướng thực dụng và thiên về hành động đơn phương hơn so với chính quyền tiền nhiệm. Bush chủ trương không sử dụng quân đội Mỹ vào các sứ mệnh nhân đạo và gìn giữ hoà bình trên thế giới và "chính sách của chính quyền thuộc Đảng Cộng hoà chắc chắn phải bắt nguồn từ cơ sở vững chắc là vì lợi ích quốc gia, không phải vì lợi ích của một cộng đồng quốc tế hão huyền"2 (Condoleezza Rice, "Campaign 2000-Promoting the National Interest", Foreign Affairs, tháng 1/2-2000, Vol. 79, No. 1). Chính vì vậy, Mỹ đã đơn phương rút khỏi hiệp ước ABM ký với Liên Xô năm 1972, phủ nhận Nghị định thư Kyoto về môi trường, không tham gia Toà án hình sự quốc tế bất chấp sự phản đối của nhiều nước. Ngoài ra, dấu ấn của sự kiện 11 tháng 9 cũng xuất hiện trong những điều chỉnh quan trọng về chính sách an ninh dưới chính quyền Bush, thể hiện trong tài liệu chiến lược quốc phòng được công bố sau sự kiện 11-9-2001.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:46:15 am
3.2 Thay đổi chiến lược đánh thắng đồng thời hai cuộc chiến tranh khu vực

Những chuyển biến cơ bản trong quan hệ Mỹ-Xô từ cuối những năm 1980 đã giảm thiểu nguy cơ của một cuộc chiến tranh lớn giữa hai siêu cường. Chiến lược quân sự của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh với trọng tâm là chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực đã lỗi thời. Ngay từ dưới chính quyền Bush cha, chiến lược phòng thủ khu vực đã ra đời. Chiến lược phòng thủ khu vực là sự thay đổi chiến lược quốc phòng lớn của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh, theo đó quân đội Mỹ phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó và chiến thắng đồng thời hai cuộc xung đột khu vực lớn thay vì một cuộc chiến tranh toàn diện với Liên Xô.


Khái niệm hai cuộc chiến tranh khu vực được hiểu là mỗi một cuộc chiến tranh khu vực phải có quy mô tương xứng với chiến dịch Bão táp sa mạc, trong đó Mỹ triển khai khoảng nửa triệu quân tham gia vào hai cuộc chiến tranh tổng lực xảy ra đồng thời hoặc gần như đồng thời. Thực chất chiến lược đối phó thành công với hai cuộc xung đột khu vực bắt đầu từ nhận thức về mối đe dọa của Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Chiến lược này cho thấy Mỹ sẽ sử dụng số lượng và binh chủng quân đội giống như nhau trong cả hai cuộc chiến - khoảng năm - sáu sư đoàn tác chiến trên mặt đất, bao gồm các binh chủng lục quân và hải quân, 10 phi đội không quân, bốn - năm hạm đội tàu chiến và những đơn vị khác cùng phối hợp với nhau1 (Survival, Vol. 43, No. 1, Spring 2001, tr. 37-52). Mục tiêu của lực lượng này là ngăn chặn sự xâm lược của kẻ thù, phục hồi những mất mát thiệt hai trên lãnh thổ đồng minh và cuối cùng, nếu cần thiết, lật đổ chế độ của kẻ thù cho tới khi một chính phủ mới được thành lập và củng cố quyền lực của mình.


Ngày nay, các quan chức chính quyền Bush lập luận rằng điều đó trở nên không cần thiết và việc duy trì những lực lượng tác chiến đông đảo như vậy là phung phí2 (Dan Koslofsky, Two War Strategy is..., April 23, 2001, at http://www.clw.org-milspend-2war.html). Việc triển khai đồng thời hai chiến lược kiểu như Bão táp sa mạc với sự tham gia của nửa triệu quân là quá mức cần thiết. Mỹ không cần những lực lượng tấn công trên quy mô lớn tại cả hai chiến trường để áp đảo kẻ thù, lật đổ chế độ đối địch. Chỉ cần một chiến dịch như vậy là đủ. Ý tưởng mới này được mô tả trong khuôn khổ của một cuộc chiến tranh rưỡi, bao gồm một cuộc chiến như Bão táp sa mạc và Lá chắn sa mạc (250.000 quân). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Mỹ sẽ từ bỏ hoàn toàn kế hoạch chuẩn bị cho hai cuộc chiến tranh khu vực để sẵn sàng đối phó với một cuộc xung đột. Trái lại, Bộ Quốc phòng Mỹ chỉ thay đổi về mặt nhận thức với việc lên kế hoạch mới giành thắng lợi trong mọi loại hình xung đột có thể xảy ra1 (US Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.18, 21).


Về phương diện kế hoạch, quân đội Mỹ được chuẩn bị sẵn sàng để đánh thắng nhanh chóng bất kỳ cuộc tấn công nào chống lại đồng minh và bạn bè của Mỹ trong cùng thời điểm. Đồng thời, các kế hoạch tác chiến sẽ tập trung vào tiêu diệt khả năng tấn công của kẻ thù đến tận cùng sào huyệt, vãn hồi khả năng quân sự có lợi tại khu vực và tạo điều kiện chính trị cho việc ngăn chặn các thế lực thù địch. Tuy nhiên, theo bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần ngày 30-9-2001, thực hiện lệnh của Tổng thống, các lực lượng quân đội Mỹ sẽ chỉ cần tập trung đánh bại một kẻ thù ở một trong hai cuộc xung đột khu vực là đạt yêu cầu2 (US Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.18, 21). Tại chiến trường đó, quân đội Mỹ tiến hành các kế hoạch tác chiến, áp đặt ý chí Mỹ và loại trừ bất kỳ mối đe dọa tương lai nào. Quân đội Mỹ còn có khả năng chiếm lãnh thổ hay tạo điều kiện để thay đổi chế độ nếu cần thiết. Trong cuộc xung đột còn lại, quân đội Mỹ phải nhanh chóng làm thất bại ý đồ của địch thủ, chặn đứng một cuộc xung đột, nghĩa là với mục tiêu khiêm tốn hơn tại chiến trường kia.


Hơn nữa, ít có chuyên gia quân sự nào lại cho rằng xung đột quân sự trong tương lai sẽ diễn ra trên quy mô lớn. Ngay cả nếu trong tương lai có nhiều cuộc xung đột quy mô lớn thì khả năng xảy ra hai cuộc xung đột đồng thời là thấp hơn nhiều so với một cuộc xung đột. Bên cạnh việc đối phó với một cuộc chiến tranh lớn tại khu vực, quân đội Mỹ còn được chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với các tình huống bất ngờ ở quy mô nhỏ hơn, trên tinh thần sẵn sàng phối hợp với các lực lượng bạn bè và đồng minh. Chẳng hạn, nhằm bảo vệ tốt hơn lợi ích của Mỹ, chính quyền Bush chủ trương tăng cường vai trò của các hiệp ước an ninh song phương, tăng cường vai trò quân sự của các nước đồng minh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản, Ôxtrâylia, duy trì quyển lui tới, sử dụng căn cứ quân sự (Xingapo), tập trận chung với Thái Lan, Malaixia, Philippin... Ko từ năm 1945 đến nay, Mỹ đã tham gia vào ba cuộc xung đột lớn, và trong cả ba lần, Mỹ đều nhận được sự hỗ trợ của đồng minh.


Như vậy, chiến lược an ninh quân sự của Mỹ nhấn mạnh đến tính thực dụng và linh hoạt. Bộ Quốc phòng đã thừa nhận rằng sở dĩ chiến lược phải nhấn mạnh yếu tố linh hoạt như vậy là vì các tình huống khẩn cấp sẽ rất khác nhau về khoảng thời gian, tần suất, mức độ ác liệt và số lượng nhân sự cần thiết. Để đối phó với các tình huống bất ngờ này, Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ thiết lập một căn cứ quân sự lưu động (rotational) bao gồm nhiều binh chủng có khả năng triển khai phía trước, hỗ trợ các tình huống khẩn cấp kéo dài tại những vùng thuộc lợi ích quan trọng của Mỹ1 (US Department of Defense, Quadrenennial Defense Review Report, 30-9-2001, tr.21). Rõ ràng chính quyền Bush chỉ chú trọng thực sự vào những khu vực thuộc lợi ích thiết thân.


Trên thực tế, chính quyền Bush tương đối thống nhất với ý kiến cho rằng chiến lược đánh thắng hai cuộc chiến tranh khu vực không phải là giải pháp tối ưu cho Mỹ. Chiến lược này quá đề cao nguy cơ xung đột khu vực và do đó gây trở ngại cho việc đầu tư vào các lĩnh vực quốc phòng khác và hạn chế các ưu tiên quân sự khác. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một chiến lược như vậy có thể hợp lý khi các khu vực chưa thực sự ổn định, còn ngày nay, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, với sự xuống cấp quân sự của Irắc và Cọng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, sự lớn mạnh của quân đội Hàn Quốc và sự tăng lên nhanh chóng về khả năng quân sự của Bộ Quốc phòng, chiến lược này trở nên không cần thiết, thậm chí là một sự hoang tưởng1 (Michael O' Hanlon, "Prudent or Paranoid? - The Pentagon's Two-War Plans", Survival, Vol. 43, No. 1, Spring 2001, tr. 47). Theo tính toán của các chuyên gia Bộ Quốc phòng Mỹ, việc từ bỏ chiến lược: hai cuộc chiến tranh sẽ tiết kiệm 10 tỷ USD mỗi năm cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Còn nếu tiếp tục duy trì chiến lược nay trong 60 năm tới, Mỹ sẽ phải tiêu tốn 3000 ty USD. Bên cạnh đó, Mỹ sẽ tập trung vào tái cơ cấu lực lượng quân sự, tăng cường hoạt động của quân cảnh, các đơn vị quân tâm lý chiến, chế độ cảnh báo điện tử...


Tóm tại, dưới chính quyền Bush, chiến lược quân sự phòng thủ khu vực đã được điều chỉnh từ chiến lược đánh thắng hai cuộc chiến tranh khu vực sang đánh thắng một cuộc chiến tranh, trong khi có khả năng ngăn chặn cuộc chiến tranh khác và đối phó với nhiều thách thức đa dạng.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:47:45 am
3.3. Chính sách hạt nhân mới

Chính quyền Bush đang theo đuổi một chính sách hạt nhân mới, dựa vào khả năng và tiềm lực hạt nhân của Mỹ, không căn cứ vào các mối đe dọa. Đây là một sự thay đổi đáng kể so với chính sách hạt nhân của các chính quyền tiền nhiệm. Sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với chính sách hạt nhân cũng nằm trong khuôn khổ sự thay đổi trong cách tiếp cận chiến lược quốc phòng nói chung của chính quyền Bush.


Ngày 1-5-2001, trong bài phát biểu ở Học viện quân sự Maryland, Tổng thống Bush đã nói rõ quan điểm của mình về những mối đe dọa tên lửa mới từ các nước "bất trị", thay thế cho mối đe dọa về một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa hai siêu cường thời kỳ chiến tranh lạnh. Khẳng định sự lỗi thời của khái niệm huỷ diệt lẫn nhau chắc chắn (Mutually Assured Destruction, MAD), Bush chủ trương thiết lập "một kỷ nguyên mới của an ninh hạt nhân" dựa trên phòng thủ tên lửa và cắt giảm vũ khí hạt nhân. Bất chấp cam kết tiếp tục cắt giảm vũ khí hạt nhân, việc chính quyền Bush quyết tâm triển khai kế hoạch phòng thủ tên lửa là một đòn nặng nề đối với tiến trình giải trừ vũ khí hạt nhân trên thế giới. Và hơn hết, thế cân bằng hạt nhân đã được thiết lập từ năm 1972 với Hiệp ước ABM giữa Mỹ và Liên Xô trước đây sẽ bị phá vỡ và thế giới lại đứng trước nguy cơ của một cuộc chạy đua vũ trang mới.


Theo yêu cầu của Quốc hội Mỹ, Bộ Quốc phòng Mỹ thực hiện một bản Báo cáo Chính sách hạt nhân (NPR) toàn diện nhằm đặt ra phương hướng cho các lực lượng hạt nhân Mỹ trong vòng 5-10 năm tới. Trước đó, Tổng thống Bush đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng cải cách (transformation) quân đội Mỹ và chuẩn bị sẵn sàng cho một thế giới mới và khó lường. Như trên đã phân tích, kết quả của chỉ thị này chính là bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (QDR), và dựa trên QDR, NPR đã tạo ra một cuộc cách mạng đối với lực lượng tấn công hạt nhân trong chiến lược răn đe hạt nhân của Mỹ. Với bản báo cáo này, chính quyền Bush thể hiện quyết tâm loại bỏ những mô hình (paradigms) của chiến tranh lạnh. Đây chính là điều mà bản báo cáo năm 1994 của chính quyền Clinton không thực hiện được.


Bản báo cáo nêu ra bộ Ba trụ cột (Triad), gồm: hệ thống tấn công (cả vũ khí hạt nhân và không hạt nhân); hệ thống phòng thủ; và nâng cấp cơ sở hạ tầng để kịp thời đối phó với các thách thức nảy sinh. Bộ ba này sẽ phối hợp với nhau thông qua hệ thống thông tin tình báo và được hỗ trợ bởi hệ thống Kiểm soát và Chỉ huy (Command and Control).


Mục đích của việc thiết lập bộ ba mới là vừa giúp giảm sự phụ thuộc vào vũ khí hạt nhân, vừa tăng khả năng răn đe các cuộc tấn công do sự phổ biến vũ khí giết người hàng loạt gây nên. Việc kết hợp các khả năng mới tạo nên bộ ba này giảm số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược từ 6000 xuống còn 1700-20001 (Tuyên bố của Tổng thống Bush ngày 13-11-2001). Việc cắt giảm này được tái khẳng định trong cuộc gặp gỡ thượng đỉnh giữa Tổng thống Bush và Tổng thống Putin tháng 5-2002.


Trụ cột thứ nhất của bộ ba, khía cạnh tấn công, sẽ hùng hậu hơn bộ ba thời kỳ chiến tranh lạnh bao gồm tên lửa xuyên lục địa (ICBMs), tàu ngầm phóng tên lửa đạn đạo (SLBMs) và máy bay ném bom chiến lược tầm xa. ICBMs, SLBMs và máy bay ném bom chiến lược vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò trụ cột, tuy nhiên, chỉ là một bộ phận trong bộ ba mới.


Trụ cột thứ hai của bộ ba mới nhằm vào việc phát triển và triển khai các hệ thống phòng thủ - một sự thừa nhận các khả năng tấn công chưa đủ để ngăn chặn các cuộc tấn công trong môi trường an ninh mới của thế kỷ XXI. Thực ra, ý tưởng phòng thủ tên lửa luôn là một ý tưởng của Đảng Cộng hoà. Tác giả của "cuộc chiến tranh giữa các vì sao" (SDI) là Tổng thống thuộc Đảng Cộng hoà Reagan. Tuy nhiên, kế hoạch này của Reagan đã không bao giờ trở thành hiện thực vì những lý do kỹ thuật, bất đồng trong nội bộ Mỹ cũng như những thay đổi trong quan hệ Mỹ-Xô từ giữa những năm 1980. Dưới sức ép của Quốc hội Mỹ do Đảng Cộng hoà kiểm soát, trong nhiệm kỳ thứ hai, Clinton đã có thái độ ủng hộ hơn đối với việc triển khai hộ thống phòng thủ tên lửa quốc gia1 (Clinton chưa bao giờ thực sự nhiệt tình với kế hoạch NMD. Trong nhiệm kỳ đầu, ông ta không ủng hộ kế hoạch này. Và theo một cố vấn thân cận, Clinton không muốn được lịch sử biết đến với tư cách là vị tổng thống đã phá vỡ ABM, hiệp ước nền tảng cho sự cân bằng hạt nhân thời kỳ chiến tranh lạnh). Tuy nhiên, vào cuối nhiệm kỳ, ngày 1-9- 2000, Clinton tuyên bố do chưa có đủ thông tin về tính hiệu quả công nghệ nên chưa thể đưa ra quyết định triển khai hệ thống NMD vào thời điểm hiện tại.


Phòng thủ tên lửa là một ưu tiên hàng đầu đối với chính quyền Bush con trước sự kiện 11 tháng 9. Mặc dù cuộc chiến chống khủng bố đã trở thành ưu tiên hàng đầu, chính quyền Bush vẫn tiếp tục cam kết với kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa và cho rằng sự kiện 11 tháng 9 củng cố thêm cơ sở cho sự cần thiết phải triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa vì tính chất phức tạp và không lường trước của các mối đe dọa đối với nước Mỹ ngày nay. Hơn nữa, theo các chiến lược gia của chính quyền Bush, bản thân sự phòng thủ cũng có tác dụng làm nản ý chí của những kẻ tấn công, tạo nên khả năng xử lý các cuộc khủng hoảng và bảo đảm khắc phục sự thất bại của răn đe truyền thống1 (Donald Rumsfeld, Forword-Nulear Posture Review, Pentagon, 9-1-2002).


Tháng 12-2001, chính quyền Bush tuyên bố rút ra khỏi Hiệp ước cống tên lửa đạn đạo (ABM), mở đường cho quyết định triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa (MD) do chính quyền Bush đưa ra vào tháng 12-2002. Khuôn khổ chiến lược mới này của Mỹ, trong đó vấn đề phòng thủ tên lửa là hạt nhân, cho thấy chính quyền Cộng hoà vẫn chưa từ bỏ tham vọng đạt được ưu thế hạt nhân tuyệt đối, thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Khái niệm mới này dựa trên sự xác định lại các thách thức hạt nhân mới đối với Mỹ, chuyển từ nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân ồ ạt sang mối đe dọa tên lửa từ các nước "bất trị" như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Irắc, Iran. Thực chất, đối phó với những cái gọi là nguy cơ từ các nước "bất trị" chỉ là một mục tiêu trước mắt, và không phải quan trọng nhất. Viêc xây dựng thành công một hệ thống phòng thủ tên lửa sẽ giúp Mỹ giảm thiểu khả năng răn đe vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, Nga, những đối thủ tiềm tàng có khả năng thách thức vị trí của Mỹ trong tương lai. Phòng thủ tên lửa sẽ là cơ sở vững chắc cho sự tự do hành động của Mỹ trên thế giới, không bị hạn chế bởi bất cứ sự răn đe hạt nhân nào. Phòng thủ tên lửa cũng giúp Mỹ giữ vị trí đi đầu, bỏ xa các nước đối thủ cũng như đồng minh về quân sự, một trong những nhân tố hàng đầu xác định vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:49:54 am
Bất chấp quyết tâm của chính quyền Bush trong việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, có không ít lý do để hoài nghi về tính khả thi của dự án này. Lý do thứ nhất là sự chưa chắc chắn về công nghệ phòng thủ tên lửa. Ngay cả khi điều kiện kỹ thuật cho phép, một hệ thống như vậy cũng dễ dàng bị đối phương làm cho thất bại bởi các biện pháp đối phó tương ứng. Quyết tâm của chính quyền Bush cũng sẽ phải vượt qua được những giới hạn về công nghệ phòng thủ tên lửa, tương tự như kết cục kế hoạch đầy tham vọng "cuộc chiến tranh giữa các vì sao" của Reagan1 (Nhìn chung, có ba nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của chương trình SDI: chi phí quá cao; sự không chắc chắn về mặt công nghệ; ảnh hưởng có thể đối với đàm phán Mỹ-Xô về kiểm soát vũ khí). Lý do thứ hai là sự thiếu nhất trí trong nội bộ nước Mỹ. Lực lượng phản đối MD chủ yếu dựa vào một số lý do là hiện thời, hiệu quả công nghệ chưa được kiểm chứng, mối đe dọa từ phía những nước như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên không thực sự nghiêm trọng và cũng khó lý giải được tại sao những nước đó lại phải tấn công nước Mỹ. Triển khai MD có nghĩa là Mỹ vi phạm Hiệp ước ABM, phá vỡ thế cân bằng chiến lược và tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Cuối cùng, chi phí cao cũng là một yếu tố bất lợi. Dự tính chi phí cho dự án này lên tới 100 đến 200 tỷ USD trong vài năm tới. Ngay khi tình trạng kinh tế Mỹ còn rất khả quan như năm 1999, cũng đã có rất nhiều lo ngại và chỉ trích về sự tốn kém của hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia hạn chế của Clinton. Giờ đây, khi kinh tế Mỹ, vốn đã suy giảm nặng nề trước vụ khủng bố 11 tháng 9 và nay không tránh khỏi một chu kỳ suy thoái mới, yếu tố chi phí sẽ lại càng trở nên quan trọng. Vì vậy, cho dù chính quyền Bush có quyết tâm triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, những yếu tố trên vẫn cho thấy rõ sự không chắc chắn của kế hoạch này.


Trụ cột cuối cùng của bộ ba là nâng cấp cơ sở hạ tầng quốc phòng. Kể từ sự kết thúc của chiến tranh lạnh, cơ sở hạ tầng quốc phòng của Mỹ có phần xuống cấp và cơ sở hạ tầng hạt nhân chưa được nâng cấp. Theo chiến lược mới, Mỹ sẽ tập trung trong vòng 20 năm tới để tạo ra những thế hệ vũ khí và cơ sở hạ tầng mới. Riêng đối với cơ sở hạ tầng hạt nhân, Bộ Quốc phòng chủ trương cải tạo nâng cấp và tăng cường sự tin cậy cho hệ thống triển khai hạt nhân, huỷ bỏ những vũ khí không cần thiết và chuẩn bị những phương án "giảm sốc" trước những tiến bộ vượt bậc nhanh chóng của công nghệ.


Bên cạnh đó, giờ đây đối tượng tấn công hạt nhân của Mỹ đã mở rộng ra rất nhiều. Theo Báo cáo NPR, Mỹ sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trong ba trường hợp sau: chống lại các mục tiêu có khả năng kháng cự một cuộc chiến tranh không hạt nhân; trả đũa một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân, sinh học và hoá học; và trường hợp diễn ra các hoạt động quân sự khẩn cấp. Mỹ đưa một loạt các quốc gia vào tầm ngắm hạt nhân của mình. Tờ Los Angeles Times tiết lộ Mỹ đang cân nhắc kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các nước Trung Quốc, Nga, Irắc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Libi và Xyri mà Mỹ cho là đe dọa đối với an ninh của mình. Trên tinh thần của QDR và NPR, Bộ Quốc phòng Mỹ chuẩn bị các kế hoạch can thiệp bằng vũ khí hạt nhân vào các cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Đài Loan, Ixraen và các quốc gia Arập, Ixraen và Irắc, và giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc. Đây được xem là bước ngoặt rất quan trọng trong chính sách hạt nhân của Mỹ sau chiến tranh lạnh. Từ trước tới nay, người ta mới chỉ biết tới kế hoạch tấn công Liên Xô, sau đó là nước Nga-đối thủ có tiềm lực vũ khí hạt nhân sánh ngang với Mỹ.


Ngoài ra, chiến lược này còn có nhiều điểm khác gây bất ngờ cho các nước như "các phương án tấn công hạt nhân sẽ hỗ trợ cho bất kỳ khả năng quân sự nào khác". Điều này đồng nghĩa với việc chính quyền Bush không xem việc sử dụng vũ khí hạt nhân như là phương sách cuối cùng (last resort), mà trái lại, không phân biệt giữa vũ khí hạt nhân với vũ khí thông thường, đi ngược lại một tập quán quân sự quan trọng có từ trước1 (Jane Wales, "US Nuclear Plan Signals a Policy Revolution", San Jose Mecury News, 17-3-2002, tr.1). Trong vòng 50 năm qua, các Tổng thống Mỹ đều duy trì chính sách phân biệt vũ khí hạt nhân với vũ khí thông thường, căn cứ vào tính huỷ diệt ghê gớm của vũ khí hạt nhân. Năm 1947, Tổng thống Truman quyết định đặt kho vũ khí hạt nhân dưới quyền quản lý của Ủy ban Năng lượng nguyên tử, chứ không phải Bộ Quốc phòng như hiện nay.


Thực chất, NPR lấy ý tưởng chính từ một bản báo cáo trước đó của Viện Chính sách công quốc gia (NIPP) do Keith Payne chỉ đạo soạn thảo. Keith Payne chính là người đã đưa ra một loạt các bài viết có ảnh hưởng tới giới quốc phòng Mỹ vào những năm 1980 với nhan đề "Chiến thắng nằm trong tầm tay". Robert Joseph và Stephen Hadley, hai thành viên trong Hội đồng An ninh quốc gia, và William Schneider, cố vấn tư tưởng cho Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, cũng đều tham gia vào việc đưa ra bản báo cáo NIPP. Xét tổng thể, bản báo cáo NIPP cho rằng các mối đe dọa đối với an ninh nước Mỹ trong tương lai là "không thể nhận biết" và "khó lường trước". Do đó, bản báo cáo kết luận: Mỹ phải duy trì kho vũ khí hạt nhân cũng như khả năng chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân mới. Đáng chú ý nhất là bản báo cáo cho rằng vũ khí thông thường không thể thay thế cho vũ khí hạt nhân bởi vũ khí thông thường không có đủ "sức mạnh huỷ diệt" như vũ khí hạt nhân.


Cùng với việc chỉ thị cho quân đội Mỹ khẩn trương chuẩn bị kế hoạch tấn công hạt nhân mới, chính quyền Bush ra lệnh sản xuất các loại vũ khí hạt nhân mới nhỏ hơn, có thể tiêu diệt các mục tiêu trong hầm ngầm, boong-ke kiên cố... để sử dụng trong một số trường hợp trả đũa các vụ tấn công bằng vũ khí hạt nhân, hoá học hoặc sinh học1 (Eisendrath Craig, "US Foreign Policy after Sep. 11", USA Today Magazine, tháng 5-2002). Điều này sẽ dẫn đến việc Mỹ quay trở lại tiến hành các vụ thử hạt nhân ngầm dưới đất.


Như vậy, chính quyền Bush đã đẩy lên cao khả năng sử dụng đòn đánh hạt nhân phủ đầu. Điểm điều chỉnh chính sách hạt nhân của chính quyền Bush chính là từ bỏ chiến thuật "răn đe" và áp dụng chiến thuật "thúc ép", nghĩa là hiếu chiến và phiêu lưu hơn. Hơn 50 năm qua, khi bắt đầu chiến tranh lạnh, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ thẳng thừng bác bỏ giả thuyết chiến tranh "ngăn chặn" hay "phủ đầu", coi đó là di ngược lại các giá trị và nguyên tắc của Mỹ. Chính sách đó đã có ích cho Mỹ nhiều thập kỷ qua và đã đóng vai trò quyết định trong việc ngăn chặn chiến tranh lạnh trở thành chiến tranh nóng. Nếu học thuyết răn đe và ngăn chặn đã đủ để đối phó với Liên Xô trước đây, tại sao những học thuyết này lại không có tác dụng chống Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện nay? Các quan chức Mỹ lập luận rằng các nhóm khủng bố hay các quốc gia bất hảo, không giống Liên Xô trước đây, được điều hành bởi những nguyên tắc tự vệ lôgích và có thể tiên liệu được. Bởi bài toán lợi ích thường là vô nghĩa đối với những nước bất trị nên Mỹ không thể chờ đợi để những đe dọa an ninh Mỹ trở thành hiện thực trước khi hành động.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 07 Tháng Sáu, 2022, 06:53:22 am
3.4. Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự

Chính quyền Bush đang cố gắng để vượt qua đưực thách thức có tính chiến lược là chuyển cuộc cách mạng quân sự-công nghệ (tác động của công nghệ thông tin đối với cách thức tiến hành chiến tranh) thành cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự (RMA) (chiến lược và tổ chức lực lượng).


Theo Andrew Marshall, Giám đốc Văn phòng Đánh giá trực thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, "cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự là một cuộc thay đổi lớn về bản chất của chiến tranh do việc ứng dụng những công nghệ mới mang lại, kết hợp với những điều chỉnh căn bản trong học thuyết quân sự cũng như các ý tưởng về hoạt động và tổ chức, làm thay đổi cách thức tiến hành các hoạt động quân sự".


Các nhà lý thuyết quân sự trên thế giới cho rằng việc ứng dụng các công nghệ mới và hệ thống vũ khí đã làm đứt đoạn lịch sử cách thức tiến hành chiến tranh. Liên Xô gọi những sự đứt đoạn đó là "các cuộc cách mạng quân sự-kỹ thuật", còn Mỹ gọi là "cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự". Việc đặt tên khác này của Mỹ hàm ý rằng cuộc cách mạng này còn có những yếu tố bên ngoài kỹ thuật, và tập hợp của tất cả những yếu tố đó tạo thành khả năng quân sự tổng hợp. Điều này cũng có nghĩa là những thay đổi về quân sự sau cuộc cách mạng đó có ý nghĩa sâu sắc và căn bản.


Có hai trường phái khác nhau giải thích về RMA: một trường phái đánh giá những lợi ích thu được của việc tái cơ cấu quốc phòng nhằm tận dụng thành quả của công nghệ thông tin; còn trường phái kia nhấn mạnh nhu cầu cải cách cơ cấu lực lượng quân đội, học thuyết quân sự và huấn luyện nhằm đối phó với "các mối đe dọa không cân xứng" và các kẻ thù của thời "hậu hiện đại"1 (Thomas G. Mahnken, "Transforming the us Armed Forces: Rhetoric or Reality?", Navy War College Review, Summer 2001, tr. 14). Tuy nhiên, hai trường phái này đều thống nhất ở một điểm, đó là cần và có thể tận dụng các tiến bộ về công nghệ để đối phó với các mối đe dọa không cân xứng. Mặc dù vậy, điểm khác mới cơ bản là một bên nhấn mạnh đến "tính ưu việt của công nghệ cao", còn bên kia nhấn mạnh đến "cách thức tiến hành chiến tranh". Sự kiện 11 tháng 9 đã làm mờ nhạt đi sự khác biệt này. Điểm mấu chốt là công luận Mỹ, nhất là giới tinh hoa, giờ đây có xu hướng ủng hộ việc quân đội Mỹ dính líu nhiều hơn ở nước ngoài và việc tăng chi tiêu quốc phòng lớn nhất kể từ thời kỳ Reagan. Người ta cho rằng đây là thời kỳ "trăng mật thứ hai" giữa giới quân sự và công luận Mỹ. Với sự ủng hộ của công luận và khả năng về tài chính, RMA sẽ có cơ sở để trở thành hiện thực.


Sau chiến thắng tại chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, giới quân sự Mỹ đã rất hưởng ứng khái niệm RMA. Giới này cho rằng công nghệ cao và đi kèm với đó là chiến lược và chiến thuật quân sự sáng tạo sẽ làm thay đổi bản chất của chiến tranh.


Đề cập lý do phải tiến hành RMA, các quan chức chính quyền Bush, nhất là Bộ Quốc phòng và Bộ Hải quân lập luận: thứ nhất, chiến tranh trong tương lai sẽ khác với chiến tranh ngày nay. Cuộc chiến tranh vùng Vịnh là một bài học cảnh báo các đối thủ không nên đụng độ quân sự với Mỹ. Do vậy các kẻ thù của Mỹ sẽ tìm những điểm yếu của Mỹ để khai thác, làm suy giảm điểm mạnh và tổ chức các cuộc tấn công không cân xứng. Thứ hai, Mỹ phải cải cách quân đội càng nhanh càng tốt bởi với thực trạng phổ biến vũ khí và công nghệ sản xuất vũ khí như hiện nay, nước Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng trong 10 năm tới chứ không phải là 25 năm1 (25 năm là thời gian mà nhiều chuyên gia dự báo là Trung Quốc sẽ trở thành đối thủ ngang tầm với Mỹ (peer competitor). Thứ ba, nước Mỹ có những cơ hội thuận lợi để tiến hành RMA, trong đó đáng kể nhất là những tiến bộ về công nghệ, chẳng hạn công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới... Thứ tư, RMA đòi hỏi phải có thời gian, theo dự tính có thể dao động từ 10-20 năm. Thời gian đó dành cả cho những sai lầm, thất bại và những bài học rút ra1 (Tổng hợp ý kiến của cuộc trao đổi tại Diễn đàn chiến lược của Bộ trưởng Hải quân Mỹ ngày 12 - 13-6-2001).


Mục đích chủ yếu của RMA là tạo thế thượng phong cho quân đội Mỹ, và nhờ đó Mỹ sẽ có khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả nhất khỏi các mối đe dọa trong tương lai. Cụ thể, quân đội Mỹ phải có khả năng triển khai lực lượng nhanh chóng và duy trì khả năng chiến đấu bất kể chiến lược của kẻ thù là như thế nào. RMA cũng đòi hỏi quân đội Mỹ phải tác chiến trên mọi loại hình xung đột, không chỉ là chiến tranh công nghệ cao mà còn các tình huổng khẩn cấp với quy mô nhỏ hơn.


RMA thực chất dựa vào cuộc cách mạng kép, kết hợp với nhau, đó là cách mạng thông tin và toàn cầu hoá2 (Saida Bedar, The Revolution in Military Affairs and the "Capabilities Race", at http://www.unog.ch-unidir-l-04-e6%20bedar.pdf). Do vậy RMA không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự và kỹ thuật. Nó cũng cần được xem xét trong bối cảnh của những biến đổi lớn về mặt xã hội do cuộc cách mạng kép mang lại. Sân chơi quốc tế giờ đây có thêm nhiều diễn viên hơn: công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ, phương tiện truyền thông và Mỹ còn đặc biệt chú ý tới các tay chơi "bất hảo" như các lực lượng khủng bố, maphia, phổ biến vũ khí, thanh lọc sắc tộc, v.v... Tất cả những diễn viên khó kiểm soát này trong điều kiện cách mạng kép đều có thể thể hiện quyền lực với nhiều mục đích khác nhau. Như trên đã đề cập, điều này tạo nên các mối đe dọa không cân xứng mà nước Mỹ phải đối phó bằng một cuộc cách mạng tương ứng là RMA.


RMA bao gồm ba cấp độ:

- Công nghệ: tích hợp các công nghệ thông tin mới vào các hệ thống vũ khí hiện có và vào tổ hợp C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy điện toán, tình báo, giám sát và do thám);

- Chiến lược và chiến thuật: tạo ra các kiểu chiến tranh mới bằng công nghệ cao;

- Tổ chức: thay đổi về cơ cấu và tổ chức lực lượng quân đội (sự phối hợp, khả năng quản lý của Bộ Quốc phòng, kết hợp giữa dân sự và quân sự...).

Theo dự báo của Bộ Quốc phòng Mỹ, với sự kết hợp của ba yếu tố này RMA sẽ xuất hiện vào năm 2025.

RMA sẽ được tiến hành cho tất cả các lực lượng, trước hết là lực lượng hạt nhân. Vì chú trọng tới việc đối phó với các mối đe dọa không cân xứng, Mỹ phải duy trì một lực lượng hạt nhân đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng như đã phân tích ở phần trên. Con số 1700-2000 đầu đạn hạt nhân là đủ để các nước như Pháp, Trung Quốc không thể có hơn, trong khi đủ lớn để các nước "bất hảo" không thể bắt kịp. Hơn nữa, số lượng này cũng đủ để nhằm vào các mục tiêu mà giờ đây không còn chỉ tập trung vào Nga. Về mặt chất lượng, chính quyền Bush tiếp tục chủ trướng không phê chuẩn hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) nhằm đối phó với các khả năng về C3D2 (ẩn núp, che giấu, ngụy trang, chối bỏ và đánh lừa) của các đối thủ có vũ khí hạt nhân.


Chính quyền Bush cũng chủ trương tiến hành RMA đối với các lực lượng thông thường, cố gắng tạo ra các thế hệ vũ khí mới dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ nanô và công nghệ sinh học. Trong thời gian chuyển đổi, Mỹ sẽ tiếp tục sử dụng các vũ khí khí tài truyền thống như tàu sân bay, máy bay có người lái, xe tăng và các lực lượng quân tương ứng là 12 tổ hợp tàu sân bay, 12 phi đội bay, 12 sư đoàn tăng thiết giáp, đồng thời tiến hành phát triển và thử nghiệm các thế hệ vũ khí mới. Tuy nhiên, chính quyền Bush đang phải tranh luận gay gắt về phương diện tổ chức do phải duy trì cả hai phương án (RMA và các lực lượng truyền thống còn lại).


Hiện tại, Bộ Quốc phòng Mỹ nêu ra một danh sách những việc phải làm để tăng cường khả năng quân sự (capabilities):

- Vũ khí thông minh đòi hỏi phải có quân nhân kỹ thuật cao;

- Thử nghiệm, bao gồm cả việc lập nên các đớn vị phát minh và sáng chế;

- Tình báo, cung cấp chi tiết ý định của các đối thủ tiềm tàng và cảnh báo các cuộc tiến công sắp xảy ra, cũng như khả năng mới của các đối thủ;

- Do thám vũ trụ, theo dõi và giám sát, bảo vệ không gian của nước Mỹ;

- Hệ thống phòng thủ tên lửa;

- Các kế hoạch tác chiến thông tin;

- Quản lý tiền xung đột nhằm ngăn chặn các cuộc xung đột;

- Nâng cấp hạ tầng cơ sở và hậu cần.


Tóm lại, so với chính quyền tiền nhiệm, chính quyền Bush tỏ ra quyết tâm hơn với RMA. RMA là một cuộc cải cách toàn diện, đòi hỏi phải có thời gian. An ninh, xét cho cùng, mang hàm ý đối phó với các mối đe dọa trong tương lai (forward-looking), do vậy, RMA chính là một chiến lược an ninh chuẩn bị cho tương lai của nước Mỹ. Trước mắt, nội bộ chính quyền Bush còn chưa hoàn toàn thống nhất về RMA: bản chất, nội dung cũng như cách thức tiến hành. Hơn nữa, theo nhiều nhà phân tích quân sự, chiến lược chiến tranh kỹ thuật cao, hay chiến lược an ninh lấy công nghệ cao làm nền tảng chưa hẳn đã hữu ích cho việc đối phó với các cuộc xung đột trong thế kỷ XXI. Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự, cho dù tên gọi của nó cho thấy tính "cách mạng" trong chiến lược quân sự, vẫn chỉ nhằm để đối phó với các cuộc xung đột, chiến tranh thông thường giữa các quốc gia đối đầu trực diện. Trong khi đó, nhiều dấu hiệu cho thấy những cuộc xung đột trong thế kỷ XXI phần lớn là các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo và dân tộc. Và điều quan trọng hơn nữa, chiến lược quân sự dựa trên công nghệ cao không có khả năng đối phó với các mối đe dọa không cân xứng, hay chiến lược không cân xứng khi kẻ thù của Mỹ sử dụng những biện pháp như khủng bố hoặc tấn công vào cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ nhằm làm tổn thương nước Mỹ và xói mòn ý chí chiến đấu của Mỹ hơn là đánh bại Mỹ về mặt quân sự1 (William C.Martel, "Công nghệ và sức mạnh quân sự", Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, tháng 10-2002, tr.48).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:38:00 am
4. Chiến lược an ninh quốc gia mối của Mỹ

Ngày 20-9-2002, chính quyền Bush đã công bố bản Chiến lược an ninh quốc gia đầu tiên của mình. Học thuyết đánh đòn phủ đầu hay tấn công phòng ngừa (The Bush doctrine of Preemptive strike) do Bush đưa ra trong bài phát biểu ngày 1-6-2002 tại West Point đã được chính thức đưa vào bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới. Cho dù Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ hoàn toàn không gây bất ngờ bởi những ý tưởng chủ yếu đã được đưa ra trong nhiều bài phát biểu của chính quyền Bush trước đó, đây vẫn là một tài liệu chiến lược quan trọng. Có thể nói, lần đầu tiên, kể từ khi G. Bush lên cầm quyền, chính quyền Mỹ mới công bố một bản báo cáo chính sách an ninh, đối ngoại toàn diện như vậy. Nó thể hiện một cách hệ thống và chính thức nhất quan điểm, học thuyết đối ngoại của chính quyền Bush trong bối cảnh sau ngày 11 tháng 9.


Nhiều nhà phân tích so sánh học thuyết này có tầm quan trọng tương tự như học thuyết ngăn chặn của chính quyền Truman, nguồn gốc gây ra chiến tranh lạnh kéo dài suốt hơn bốn thập kỷ. Bởi vậy, nó sẽ có những hệ luỵ trước mắt cũng như lâu dài không chỉ đối với quan hệ quốc tế.


Cũng như các chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush cũng xuất phát từ nhận thức then chốt về vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong thời kỳ hiện nay. Đó là: "Ngày nay, nước Mỹ có một vị trí sức mạnh quân sự vô song và ảnh hưởng to lớn về kinh tế và chính trị"1 ("Lời nói đầu", Chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, tháng 9-2002). Báo cáo tiếp tục khẳng định: "Nước Mỹ có sức mạnh và ảnh hưởng chưa có tiền lệ, và chưa có nước nào sánh được trên thế giới". Mặc dù chiến lược an ninh quốc gia của chính quyền Clinton cũng đã đề cập ưu thế sức mạnh của nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh và những cơ hội mà vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ mang lại, giới học giả Mỹ cũng nhận định rằng chưa bao giờ điều này được đề cập thẳng thừng, không che đậy đến như vậy.


Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ thể hiện sự kế thừa, hơn là thay đổi, những mục tiêu cơ bản, then chốt nhất trong chính sách an ninh, đối ngoại của Mỹ. Những mục tiêu cốt lõi cho chính sách đối ngoại của Mỹ như duy trì vị trí cường quốc số một trên thế giới, thiết lập một trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất kỳ một cường quốc thù địch nào nổi lên đe dọa vị trí và vai trò của Mỹ, thúc đẩy một nền kinh tế mở toàn cầu, tự do hoá thương mại và dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới. Về khía cạnh này, học thuyết mới của Bush không khác so với chính sách trước đây của các Tổng thống tiền nhiệm như W.Wilson hay W.Clinton, đã từng nhấn mạnh tham vọng phổ biến các giá trị của Mỹ như dân chủ, tự do cá nhân và tự do thương mại trên toàn thế giới.


Một trong những điểm nổi bật của chiến lược này là tuyên bố lần đầu tiên khẳng định rằng Mỹ sẽ không cho phép bất cứ cường quốc nước ngoài nào thách thức ưu thế quân sự tuyệt đối của Mỹ. "Không cho phép bất cứ cường quốc nước ngoài nào đuổi kịp ưu thế hàng đầu mà Mỹ có được kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ", "Mỹ phải và sẽ duy trì khả năng đánh bại bất cứ mưu toan nào của kẻ thù - dù là một quốc gia hay không phải là một quốc gia - áp đặt ý chí đối với Mỹ... Lực lượng của Mỹ đủ mạnh để ngăn cản các đối thủ tiềm tàng tìm kiếm việc tăng cường quân sự với hy vọng đuổi kịp hoặc vượt sức mạnh của Mỹ". Mỹ duy trì và mở rộng vị thế thống trị về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng kinh tế chính trị của mình và nỗ lực để không cho phép bất kỳ một cường quốc thù địch nào thách thức lại sức mạnh của mình.


"Chủ nghĩa đơn phương", một trong những xu hướng đối ngoại nổi trội của chính quyền Bush, tiếp tục được khẳng định trong bản Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới. Quan điểm của Mỹ là trong khi tìm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Mỹ sẽ không ngần ngại hành động một mình khi cần thiết, thực hiện tự vệ bằng hành động phủ đầu.


Tư tưởng chủ đạo trong Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phản ánh rõ nét những tư tưởng xuyên suốt trong hai tài liệu chiến lược trước đó. Tài liệu thứ nhất là bản Chỉ đạo chính sách quốc phòng (Defense Policy Guidance -DPG) do Paul Wolfowitz (hiện là Thứ trưởng Quốc phòng) và I. Lewis Libby (hiện là Chánh văn phòng của Phó Tổng thống Cheney) soạn thảo. Tài liệu thứ hai là Tái thiết nền quốc phòng của Mỹ: chiến lược, lực lượng và nguồn lực cho thế kỷ mới của Dự án thế kỷ mới1 (http://www.newamericanenturry.org). Nhóm tác giả của hai tài liệu chiến lược này chính là những quan chức cao cấp trong chính quyền Bush hiện nay. Họ có quan điểm rất gần với Reagan và cho rằng "những yếu tố thiết yếu dẫn đến thành công của chính quyền Reagan là lực lượng quân sự mạnh để đối phó với những thách thức hiện tại và tương lai và chính sách đối ngoại nhằm thúc đẩy những nguyên tắc của Mỹ trên thế giới một cách táo bạo và quyết tâm", về bản chất, tầm nhìn của những nhân vật bảo thủ này là tái tạo chương trình nghị sự của Reagan trên toàn cầu trong một thế giới không còn thách thức từ Liên Xô. Những quan điểm chính sách thiên hữu của nhóm dự án này với chủ trương tăng ngân sách quân sự, xây dựng chương trình phòng thủ tên lửa đã chi phối chính sách của chính quyền Bush con với việc đưa vào chính quyền mới ở Mỹ1 (Tom Barry and Jim Lobe, "U.S. Foreign Policy - Attention, Right Face, Forward March", Foreign Policy in Focus, tháng 4-2002) một loạt những quan chức cao cấp đã từng phục vụ dưới chính quyền Reagan.


Những kết luận chủ yếu của chiến lược quốc phòng do Dự án thế kỷ mới đưa ra bao gồm:

• Phát triển và triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu để bảo vệ nước Mỹ và các đồng minh và để tạo cơ sở bảo đảm cho sự triển khai lực lượng của Mỹ trên thế giới.

• Kiểm soát "di sản quốc tế chung" của vũ trụ, mở đường cho việc thiết lập một lực lượng quân sự mới: lực lượng vũ trụ Hoa Kỳ - với sứ mệnh kiểm soát vũ trụ.

• Tăng chi phí quân sự, bổ sung 15 tỷ USD đến 20 tỷ USD vào tổng chi tiêu quân sự hàng năm.

• Tận dụng "Cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự" (chuyển đổi sang vũ khí công nghệ cao, không do con người điều khiển) để bảo đảm cho tính ưu việt lâu dài của các lực lượng thông thường của Mỹ.

• "Sự cần thiết phải phát triển một loại vũ khí hạt nhân mới để đáp ứng những yêu cầu quân sự mới" và việc nước Mỹ đã "gần như chấm dứt việc phát triển các loại vũ khí hạt nhân an toàn và hiệu quả hơn".

• Đương đầu với thực tế của nhiều sứ mệnh đồng thời, việc này đòi hỏi sự phân bổ thường trực các lực lượng của Mỹ.

• "Nước Mỹ phải bảo vệ tổ quốc của mình" thông qua việc "tái cơ cấu lực lượng hạt nhân" và hệ thống phòng thủ tên lửa để "đối lại với hệ quả của sự phổ biến tên lửa đạn đạo và vũ khí giết người hàng loạt".

• "Sự cần thiết phải có một phạm vi an ninh rộng lớn hơn đối với nước Mỹ" và Mỹ "cần theo đuổi một mạng lưới "căn cứ triển khai" hoặc "căn cứ triển khai phía trước" để tăng cường tầm với của lực lượng hiện nay và tương lai".

• Tái định hướng lực lượng không quân của Mỹ để tiến tới "một lực lượng toàn cầu đánh trước".

• Chấm dứt sự cam kết của chính quyền Clinton đối với Hiệp định ABM.

• Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Iran, Irắc và những nước tương tự không được phép làm phương hại đến sự lãnh đạo của Mỹ, gây hấn với các đồng minh của Mỹ, hoặc đe dọa chính nước Mỹ.

• "Những nhiệm vụ quân sự chủ yếu" cần thiết để "duy trì một nền hoà bình kiểu Mỹ" và "một thế kỷ XXI đơn cực" bao gồm: bảo đảm và mở rộng các khu vực dân chủ hoà bình, răn đe sự trỗi dậy của một cường quốc cạnh tranh, bảo vệ các khu vực then chốt (châu Âu, Đông Á, Trung Đông)1 (Tom Barry, "A Strategy Foretold", Foreign Policy in Focus Policy Report, tháng 10-2002).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:38:40 am
Qua đó, có thể thấy rất rõ tư duy chủ đạo của Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ chịu ảnh hưởng rất lớn của hai tài liệu nói trên. Bên cạnh đó, sự kiện 11 tháng 9 có những tác động to lớn, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến một số những điều chỉnh chiến lược an ninh được chính thức đưa vào Chiến lược an ninh quốc gia.


Thứ nhất, Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phản ánh rất rõ sự tái nhận thức, hay xác định lại các mối de dọa đối với nước Mỹ. Nếu trước ngày 11 tháng 9, mối đe dọa từ những đối thủ tiềm tàng như Trung Quốc và Nga được xếp ở vị trí hàng đầu, thì nay chủ nghĩa khủng bố quốc tế đã trở thành mối đe dọa hàng đầu. Nói một cách khác, không phải là những nước đang lớn mạnh (rising), mà chính là những nước thất bại (failing), đe dọa an ninh của nước Mỹ. Bên cạnh đó, so với báo cáo chiến lược an ninh quốc gia cuối cùng của chính quyền Clinton, có một sự khác biệt rõ ràng về nhận thức về những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Mỹ. Dường như chính quyền Bush lại tìm được một mối đe dọa hiện hữu, rõ ràng để trở thành tiêu điểm của chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thời gian chuyển tiếp sau chiến tranh lạnh khi mối đe dọa "cộng sản" không còn. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế trở thành kẻ thù số 1 của nước Mỹ, và nước Mỹ sẽ chiến đấu trong một thời gian không hạn định, trên phạm vi toàn cầu để tiêu diệt các tổ chức khủng bố. Chiến lược an ninh quốc gia xác định mạng lưới khủng bố quốc tế có cơ sở ở "Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi, Trung Đông và toàn châu Á".


Thứ hai, cùng với sự nhận thức lại về mối đe dọa là sự thay đổi ưu tiên trong chương trình nghị sự an ninh quốc gia. Sự khác biệt thể hiện ở sự thay đổi ưu tiên trong chương trình nghị sự, hơn là sự thay đổi chương trình nghị sự an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush. Ngay cả vấn đề chống khủng bố cũng không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Dưới chính quyền tiền nhiệm, khủng bố quốc tế cũng đã trở thành một trong những thách thức an ninh đối với nước Mỹ. Mạng lưới khủng bố Al Qaeda cũng đã từng bị coi là dính líu đến vụ đánh bom Toà nhà Thương mại quốc tế năm 1993, vụ khủng bố Đại sứ quán Mỹ tại Kênia và Tandania năm 1998. Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush cho thấy rõ cuộc chiến chống khủng bố trở thành ưu tiên hàng đầu, thành chủ đề trung tâm chi phối các vấn đề khác trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như quan hệ đối ngoại của Mỹ. Quan hệ của Mỹ với Nga và Trung Quốc có những thay đổi rõ rệt, ít nhất là về ngắn hạn. Những bất đồng tồn tại trong quan hệ giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc tuy vẫn được đề cập nhưng với giọng điệu nhẹ nhàng hơn. Điều đáng lưu ý là vấn đề Tresnia hay Tân Nhĩ Cương hoàn toàn không được đề cập. Trung Quốc không còn là "đối thủ tiềm tàng" và "Hoa Kỳ hoan nghênh sự trỗi dậy của một nước Trung Hoa hùng mạnh, hoà bình và thịnh vượng và... theo đuổi một mối quan hệ xây dựng với một nước Trung Hoa đang thay đổi"1 (Chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, tháng 9-2002, tr.27). Hơn thế nữa, về quan hệ giữa các nước lớn, giọng điệu của Chiến lược an ninh quốc gia còn tích cực hơn. Với việc nhấn mạnh rằng chủ nghĩa khủng bố trở thành mối đe dọa chung, và chống khủng bố trở thành lợi ích chung, Chiến lược an ninh quốc gia khẳng định: "Chúng ta có cơ hội tốt nhất kể từ thế kỷ XVII, khi nhà nước dân tộc xuất hiện, để xây dựng một thế giới mà ở đó các cường quốc cạnh tranh trong hoà bình thay vì chuẩn bị cho chiến tranh". Những nước có vị trí quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ như Pakixtan, Udơbêkixtan được đề cập một cách tích cực.


Thứ ba, Học thuyết đánh đòn phủ đầu lần đầu tiên được chính thức đưa vào Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ. Thực chất đây không phải là một khái niệm hoàn toàn mới. Trước đây, Mỹ đã từng tấn công nhằm mục đích phòng ngừa, như việc tấn công Grenada. Tháng 10-1983, chính quyền Reagan đã can thiệp quân sự vào Grenada nhằm "bảo vệ công dân Mỹ", nhưng thực chất là để thay đổi chế độ sau một cuộc đảo chính và cánh tả lên cầm quyền ở Grenada. Chính quyền Clinton phần nào cũng coi việc dùng tên lửa tấn công Xuđăng và Ápganixtan năm 1998 là nhằm trừng trị và ngăn chặn khủng bố.


Điểm khác biệt là lần đầu tiên, khái niệm tấn công phòng ngừa chính thức trở thành một khái niệm trung tâm, một học thuyết đối ngoại cơ bản của nước Mỹ. Hơn thế nữa, khái niệm đánh chặn, hay đánh phủ đầu nhằm ngăn chặn một cuộc tấn công, hay một hiểm hoạ cụ thể, chắc chắn và sẽ xảy ra, đã được mở rộng thành Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa (Preventive War)1 ("The Bush National Security Strategy: A First Step", http://www.cdi.org/national-security-strategy- washington.cfm). Mỹ sẽ tấn công để phòng ngừa không chỉ đối với những mối đe dọa cụ thể, đang đến gần, mà chiến tranh phòng ngừa được thực hiện để ngăn chặn những mối đe dọa lâu dài, còn đang phát triển. Và phạm trù những thách thức mà Mỹ coi có khả năng đe dọa nước Mỹ, những đối tượng nằm trong tầm ngắm của Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa không chỉ là những nước có chương trình phát triển vũ khí giết người hàng loạt và nuôi dưỡng những tổ chức khủng bố, mà còn gồm toàn bộ những nước mà Mỹ cho là "bất trị". Học thuyết đánh đòn phủ đầu của Mỹ thực chất là một sự thay đổi học thuyết chiến lược quân sự của một siêu cường hung hăng, ngạo mạn.


Nhìn tổng thể, dưới chính quyền Bush, chiến lược an ninh của Mỹ đã có những điều chỉnh quan trọng. Xuất phát từ tư duy đối ngoại dựa trên ưu thế sức mạnh, ngay từ trước sự kiện 11-9-2001, chính quyền Bush đã có xu hướng chú trọng đến an ninh quân sự thông qua việc đẩy mạnh tăng ngân sách quốc phòng, quyết tâm theo đuổi việc xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia, thay đổi chiến lược phòng thủ khu vực, thúc đẩy cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự. Sự kiện 11-9-2001 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã giúp cho chính quyền Bush đẩy mạnh những xu hướng điều chỉnh chiến lược quân sự đã được bắt đầu từ trước đó. Sự ủng hộ chính trị trong nội bộ Mỹ đối với chính quyền của Tổng thống Bush trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố đã tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Bush thúc đẩy những chương trình quân sự tốn kém, gây tranh cãi. Đỉnh cao của quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush là Chiến lược an ninh quốc gia mới ngày 20-9-2002. Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa, lần đầu tiên chính thức trở thành khái niệm cơ bản, chi phối tư duy và đường hướng chiến lược của Mỹ trong những năm tới. Liệu Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa của Bush có đi vào lịch sử như Học thuyết ngăn chặn của Truman trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh hay không, điều đó phụ thuộc vào kết cục của cuộc chiến của Mỹ ở Irắc, sự triển khai đầu tiên của Chiến lược an ninh quốc gia mới của chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:39:51 am
CHƯƠNG III
CHIẾN LƯỢC AN NINH KHU vực CỦA MỸ


1. Vị trí các khu vực trong chiến lược an ninh của Mỹ

Sau chiến tranh lạnh, trọng tâm chiến lược của Mỹ về cơ bản vẫn nằm ở châu Âu vì đâv là khu vực mà Mỹ có những lợi ích sống còn cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương lại đang nổi lên thu hút sự chú ý của Mỹ với nhiều lý do khác nhau. Trước hết phải kể đến tiềm lực phát triển kinh tế của khu vực. Vào đầu những năm 1990, người ta nói nhiều đến "sự thần kỳ của các nền kinh tế Đông Á", đến hệ thống các nền kinh tế Đông Á được tổ chức theo mô hình đàn sếu bay, trong đó Nhật Bản là nước đi đầu, sau đó là bốn "con hổ" của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan và Hồng Công) và tiếp theo là các nước ASEAN. Những con số về thành tích kinh tế của khu vực đúng là rất ấn tượng. Năm 1960 các nền kinh tế Đông Á chỉ chiếm có 4% toàn bộ GNP thế giới, năm 1991 con số đó lên tới 25%, gần tương đương với Mỹ. Bảy nền kinh tế hàng đầu của Đông Á có 41% tổng dự trữ ngân hàng toàn thế giới. Cùng với những thành tích này là những dự đoán hết sức khả quan về triển vọng phát triển của nền kinh tế khu vực1 ("Asia Survery", The Economist, 30-10-1993, tr.3). Nhiều dự đoán còn cho rằng tương lai của nền kinh tế thế giới nằm ở vùng lòng chảo Thái Bình Dương. Do đó, Mỹ có lợi ích to lớn trong việc phát triển các quan hệ kinh tế với khu vực và thúc đẩy xu thế mở cửa về kinh tế ở đây.


Mặc dù có những mối liên hệ lâu đời với châu Á về thương mại và truyền giáo từ thế kỷ XVIII, không lâu sau khi nước Mỹ ra đời, quan hệ với châu Á không chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược chung của Mỹ cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai. Thất bại của Nhật Bản, nội chiến ở Trung Quốc và việc các cường quốc châu Âu từ bỏ thuộc địa ở châu Á đã làm cho Mỹ trở thành một cường quốc ở châu Á. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vị trí của châu Á - Thái Bình Dương trở nên ngày càng quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nhìn tổng thể, chiến lược Đông Á - Thái Bình Dương luôn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nó phục vụ những lợi ích an ninh chủ yếu của Mỹ ở khu vực, có tầm quan trọng ngày càng tăng đối với Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.


Chính quyền Bush con cho rằng châu Âu về cơ bản hiện ổn định hơn châu Á. Trong khi đó, Nga tuy có tiềm lực lớn, nhưng hiện đang gặp khó khăn, chưa thể là đối thủ cân xứng với Mỹ trong thời gian trước mắt. Bức tranh châu Á hoàn toàn khác. Châu Á tiềm ẩn nhiều thách thức an ninh và chưa có một cơ chế hợp tác an ninh toàn khu vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, hầu như toàn bộ những thách thức chủ yếu đối với hoà bình và ổn định quốc tế là ở châu Á. Nhiều di sản của chiến tranh lạnh vẫn chưa được giải quyết. Tình hình trên bán đảo Triều Tiên, xung đột ở eo biển Đài Loan, chạy đua hạt nhân ở Nam Á và hơn hết là sự trỗi dậy của Trung Quốc là những thách thức an ninh cả về ngắn hạn cũng như dài hạn đối với Mỹ.


Như vậy, vị trí của châu Á trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ tăng lên đáng kể. An ninh trở thành chủ đạo trong chính sách châu Á của Mỹ. Châu Á trở nên quan trọng hơn trong tính toán chiến lược của Mỹ không phải vì tầm quan trọng về kinh tế như thời kỳ nửa đầu những năm 1990 dưới chính quyền Clinton, mà vì những thách thức an ninh tiềm tàng ở khu vực này. Hơn nữa, an ninh luôn là vấn đề được coi trọng hàng đầu đối với chính quyền Cộng hoà. Điều này không có nghĩa là châu Âu không còn quan trọng. Thực tế, châu Âu vẫn có tầm quan trọng sống còn đối với Mỹ cả về an ninh và kinh tế. Vị trí của châu Á tăng lên trong chiến lược toàn cầu của Mỹ chủ yếu là do đây là nơi hội tụ những cơ hội (về kinh tế) cũng như những thách thức an ninh lớn nhất đối với Mỹ trong tương lai. Chính ở châu Á, những thách thức an ninh trước mắt cũng như lâu dài đối với Mỹ đòi hỏi Mỹ phải tập trung đối phó. Xét từ góc độ đó, có thể thấy trong thế kỷ XXI, châu Á sẽ là tâm điểm của cuộc cạnh tranh quyền lực toàn cầu giữa Mỹ và Trung Quốc, cường quốc đang trỗi dậy và phấn đấu trở thành một cực trong một thế giới đa cực. Một học giả nổi tiếng của Mỹ đã khuyến nghị: "Mỹ cần phải định hướng lại. Chúng ta tập trung nguồn lực và các kế hoạch quân sự quá nhiều ở châu Âu, mặc dù ở chiến trường châu Âu không có những thách thức lớn và đáng kể đối với lợi ích quốc gia sống còn của chúng ta. Những cuộc chiến tranh có khả năng xảy ra nhất, ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của Mỹ và những cuộc chiến tranh Mỹ sẽ tiến hành trong tương lai có thể sẽ xảy ra ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương"1 (Ross H.Munro, "China: the challenge of a rising power" in "Present Dangers: Crisis and Opportunity in American Foreign and Defense Policy", San Francisco, California, 2000).


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:40:34 am
2. Chiến lược an ninh của Mỹ đối với châu Âu

2.1. Cục diện an ninh ở châu Âu

Sự kết thúc của chiến tranh lạnh về cơ bản làm cho môi trường an ninh ở khu vực châu Âu trở nên hoà bình và ổn định hơn. Châu Âu không còn đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh quy mô lớn do đối đầu Mỹ-Xô không còn. Mặt khác, những mâu thuẫn về tôn giáo, sắc tộc, lãnh thổ ở châu Âu vốn tiềm tàng và bị kiềm chế bởi thế cân bằng hai cực nay có nguy cơ và điều kiện bùng nổ. Các nguy cơ tiềm ẩn này gồm sự hận thù tôn giáo, mâu thuẫn sắc tộc, tranh chấp biên giới lãnh thổ và được kích thích thêm bởi sự phục hồi của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Những biến động chính trị xã hội phức tạp ở Đông, Trung Âu và Liên Xô trước đây có nhiều khả năng tác động đến cục diện an ninh ở châu Âu do không còn đường giới tuyến chính trị phân cách. Sự kiện nổi bật và điển hình nhất là sự tan rã của Liên bang Nam Tư dẫn đến cuộc chiến tranh ác liệt với quy mô lớn nhất trên lục địa châu Âu kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì vậy, cho dù chỉ giới hạn trong phạm vi Nam Tư cũ, song cuộc chiến và những hậu quả của việc Nam Tư tan rã cùng các xu thế ly khai đã gây mất ổn định cho cả bán đảo Bancăng, đặc biệt là đối với các nước chung biên giới hay ở gần kề.


Sự sụp đổ của Liên Xô, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và việc khối Vacsava tan vỡ đã làm thay đổi cơ bản cán cân lực lượng ở châu Âu. NATO là khối liên minh quân sự duy nhất còn lại và tương quan lực lượng trở nên có lợi cho NATO hơn bao giờ hết.


Bên cạnh đó, Nga vẫn là cường quốc quân sự có khả năng trở thành đối thủ ngang hàng của Mỹ và Tây Âu trong tương lai, cho dù hiện nay Nga vẫn còn phải đối phó với những khó khăn về kinh tế và chính trị, và những nhân tố bất ổn khác như nguy cơ rò rỉ, phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại Tresnia. Vì vậy, tuy không phải đối đầu với đối thủ cân xứng về nhiều mặt như Liên Xô trước đây, một nước Nga đầy tiềm năng không phải là không đáng ngại với Mỹ và Tây Âu.


Sự liên kết kinh tế giữa các nước Tây Âu cũng đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Với sự kiện đồng tiền chung châu Âu (euro) ra đời vào tháng 1-1999, châu Âu sẽ là một thị trường chung rộng lớn với hơn 400 triệu dân và chiếm hơn 40% tổng thương mại của thế giới. EU cũng đang xúc tiến bước đi đầu của quá trình mở rộng sang phía Đông. Tháng 12-2002, Hội nghị thượng đỉnh EU đã quyết định kết nạp thêm mười nước thành viên mới, bắt đầu lần mở rộng thứ năm của tổ chức khu vực lớn nhất thế giới này. Những diễn biến này cho thấy EU là một lực lượng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng và là đối thủ cạnh tranh có khả năng thách thức vị trí của Mỹ trong tương lai. Đặc biệt, cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, Tây Âu đang ngày càng cố gắng độc lập hơn với Mỹ về mặt an ninh chính trị, thể hiện trên những cố gắng xây dựng một chính sách đối ngoại và an ninh chung của châu Âu, và lập trường khác biệt với Mỹ trên một loạt các vấn đề quốc tế như Irắc, cuộc khủng hoảng ở Trung Đông ...


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:41:40 am
2.2. Chiến lược an ninh đối với châu Âu

Chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu là một bộ phận trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ. Nó nhằm phục vụ những lợi ích sống còn của Mỹ ở khu vực này.

Lợi ích trước hết và lớn nhất của Mỹ ở châu Âu là duy trì hòa bình và ổn định ở châu Âu, tạo điều kiện cho việc triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nước Mỹ khó có thể quên thực tế là hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX đều bắt đầu ở châu Âu. Mac dù nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu đã giảm thiểu, sự kết thúc chiến tranh lạnh lại mở đường cho sự bùng nổ các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ. Và những cuộc xung đột này ẩn chứa nguy cơ lan rộng, gây mất ổn định ở châu Âu.


Lợi ích thứ hai của Mỹ ở châu Âu là lợi ích kinh tế. Thúc đẩy mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và châu Âu có tầm quan trọng to lớn trong việc thực hiện ưu tiên hàng đầu của Mỹ là chấn hưng nền kinh tế của Mỹ. Mỹ và Tây Âu là hai trung tâm kinh tế tư bản lớn nhất thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế đã trở nên vô cùng chặt chẽ. Giữa Mỹ và EU có mối quan hệ kinh tế vào khoảng hơn 1 tỷ USD một ngày1 (Xem thêm Thomas J.Duesterberg, Prospects for an EU-NAFTA Free Trade Agreement). Đặc biệt, EU mở rộng về phía Đông sẽ tạo ra một thị trường thống nhất, có tầm vóc và tiềm năng to lớn đối với Mỹ nếu Mỹ thúc đẩy quan hệ kinh tế với EU.


Lợi ích thứ ba là thiết lập trật tự thế giới mới ở châu Âu do Washington chi phối, kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, ngăn không cho bất cứ nước nào, đặc biệt là Nga, nổi lên, thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ, ủng hộ công cuộc cải cách ở Nga, ở các nước SNG và các nước Đông Âu, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ngăn ngừa khả năng phục hồi chủ nghĩa cộng sản ở những nước này. Mỹ cũng cần tiếp tục ngăn chặn sự vươn lên của Tây Âu, kiềm chế không để Tây Âu vượt ra khỏi vòng kiểm soát và ảnh hưởng của Mỹ bằng cách duy trì quan hệ đồng minh truyền thống với Tây Âu trong khuôn khổ NATO bởi lẽ qua cơ chế NATO, Hoa Kỳ đã tạo dựng được cho mình một sức nặng và khả năng can thiệp rộng rãi vào đời sống chính trị của các nước Tây Âu. Bên cạnh đó, Mỹ còn có lợi ích kiềm chế nước Đức thống nhất đang ngày càng lớn mạnh, một mối lo ngại không chỉ đối với Mỹ mà cả với các thành viên khác của Tây Âu. Ký ức về một nước Đức phát xít hùng mạnh, mưu toan chinh phục châu Âu dưới sự lãnh đạo của mình, chưa phải đã hoàn toàn phai mờ, đặc biệt ở châu Âu. Nếu Đức khôi phục lại được vị trí của mình, sự cân bằng Pháp-Đức, trụ cột của liên minh, sẽ có nguy cơ bị phá vỡ và ảnh hưởng đến cân bằng quyền lực tại châu Âu. Đúng như Henry Kissinger đã từng nhận xét: "Mỹ và châu Âu có một lợi ích chung trong việc ngăn cản các chính sách dân tộc không kiềm chế của Đức và Nga tranh giành nhau trung tâm lục địa châu Âu"1 (Richard L.Russell, "Lợi ích quốc gia của Mỹ ở châu Âu", Tin Tham khảo quan hệ quốc tế, số 11-95, tr.52).


Lợi ích thứ tư ở vị trí địa lý cận kề của châu Âu đối với một số khu vực co lợi ích sống còn đối với Mỹ, đặc biệt là khu vực Trung Đông, làm tăng ý nghĩa chiến lược của châu Âu đối với Mỹ. Duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực này có thể giúp Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng sang khu vực lân cận trong trường hợp khẩn cấp một cách nhanh chóng và kịp thời.


Lợi ích thứ năm là việc duy trì sự có mặt quân sự ở châu Âu sẽ giúp Mỹ duy trì và củng cố ảnh hưởng và sức mà cả của mình trong quan hệ chính trị, kinh tế với châu Âu1 (Amos Jordan, William J. Taylor, Jr. Michael J. Mazarr, American National Sercurity, The John Hopkins University Press, 1999, tr.483-484). Khi giải quyết những vấn đề quan trọng có tính chất toàn cầu và khu vực, Mỹ rất cần đến sự hợp tác của Tây Âu. Tây Âu cũng có vai trò rất quan trọng trong các tổ chức quốc tế và các thiết chế tài chính, kinh tế thế giới. Duy trì và củng cố mối quan hệ an ninh với Tây Âu sẽ giúp Mỹ tăng cường thế mà cả trong các vấn đề về kinh tế.


Trên cơ sở những lợi ích cơ bản của Mỹ ở châu Âu, "Chiến lược an ninh của My đối với châu Âu và NATO" đã vạch ra những mục tiêu chủ yếu trong chính sách của Mỹ đối với khu vực nay sau chiến tranh lạnh. Những mục tiêu cơ bản này là:

• Duy trì sự tuân thủ nguyên tắc dân chủ của các đồng minh, tăng cường các mối quan hệ kinh tế có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng của Mỹ, duy trì quan hệ an ninh hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vấn đề toàn cầu.

• Ngăn chặn và bảo vệ các thành viên NATO trước các mối đe dọa đối với lãnh thổ.

• Củng cố và hỗ trợ quá trình cải cách thị trường và dân chủ ở các nước Đông Âu, góp phần thúc đẩy ổn định ở châu Âu thông qua việc lôi kéo các nền dân chủ mới của châu Âu vào mạng lưới quan hệ an ninh song phương và đa phương ngày càng phát triển.

• Ngăn chặn việc phổ biến vũ khí giết người hàng loạt thông qua sự hợp tác với các nước có tiến bộ kỹ thuật ở châu Âu và Canada.

• Ngăn chặn bất ổn định lan rộng ở châu Âu, đặc biệt ở khu vực Bancăng và ở một số nước thuộc Liên Xô trước đây.

• Phát triển khả năng hiệu quả nhằm kiềm chế và giải quyết các cuộc xung đột khu vực, bao gồm cả khả năng quân sự cho việc giữ gìn hoà bình.

• Duy trì và củng cố hiệu quả của các tổ chức an ninh châu Âu, đặc biệt là NATO, làm phương tiện cơ bản, chủ yếu giúp Mỹ duy trì vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng đối với các vấn đề an ninh châu Âu.

Trên cơ sở xác định những lợi ích chủ yếu và mục tiêu cơ bản của Mỹ ở châu Âu sau chiến tranh lạnh, Mỹ đề ra hướng chiến lược đặc biệt quan trọng là chủ trương mở rộng NATO. Mặc dù lý do của sự tồn tại chủ yếu của NATO không còn với sự tan rã của Liên Xô trước đây, Mỹ cho rằng cần điều chỉnh và củng cố NATO nhằm sử dụng NATO phục vụ cho những mục tiêu mới của Mỹ ở châu Âu. Bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia nhấn mạnh: "Ra sức củng cố vai trò chủ đạo của khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh", điệu chỉnh chiến lược và hiện đại hoá NATO, sử dụng làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các nước châu Âu, không chế các nước này vào quỹ đạo của Mỹ.


Như vậy, Mỹ đã từng bước điều chỉnh theo hướng củng cố vai trò chủ đạo của NATO ở châu Âu nhằm bảo đảm cho NATO đóng vai trò chủ chốt trong việc giải quyết các cuộc xung đột sắc tộc và quốc gia ở châu Âu. Mỹ cũng chủ trương xây dựng NATO thành nòng cốt cho "Chương trình đối tác vì hoà bình" với các nước thành viên khối Vacsava cũ và tiến hành các chiến dịch ra ngoài phạm vi lãnh thổ của các nước thành viên NATO nhằm mục đích ngăn ngừa và giải quyết xung đột. Với chức năng mới này, NATO có thể được sử dụng để can thiệp ở các nước châu Âu, Trung Đông và vùng Vịnh.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:42:10 am
Mở rộng NATO là một bộ phận trong chiến lược bao trùm của Mỹ là xây dựng một châu Âu dân chủ và không chia cắt. Mục tiêu của Mỹ trong việc mở rộng NATO vẫn là mục tiêu ban đầu nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Nga và kiềm chế Đức". Mở rộng NATO cũng giúp cho Mỹ thực hiện việc tăng cường chia sẻ trách nhiệm giữa các nước đồng minh, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước thành viên mới trong các hoạt động của NATO.


Sự kiện ngày 11-9-2001 không làm thay đổi chiều hướng chính sách của Mỹ đối với Tây Âu. Ngày 21-11- 2002, Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Praha đã tiếp tục quá trình mở rộng NATO với quyết định mời bảy quốc gia Extônia, Lítva, Látvia, Xlôvakia, Bungari, Rumani và Xlôvênia gia nhập NATO vào năm 2004. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng thông qua kế hoạch hiện đại hoá lực lượng vũ trang, thành lập một lực lượng phản ứng của NATO (NATO response force - NRF) gồm 21.000 quân do Mỹ lãnh đạo để tấn công các nước "cứng đầu" và các phần tử khủng bố ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Như vậy, sự kiện ngày 11 tháng 9 cũng đã giúp Mỹ có thêm mục tiêu rõ ràng để định hướng lại chiến lược cho NATO, tạo cho nó lý do chính đáng để tồn tại, điều mà NATO vẫn thiếu kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc.


Chính sách đối với Nga. Kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, chính sách của Mỹ đối với Nga có những bước chuyển biến từ đối kháng sang vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong những tháng đầu năm 2001, chịu ảnh hưởng chung của chính sách đối ngoại cứng rắn của chính quyền mới ở Mỹ cũng như mâu thuẫn về kế hoạch MD và mở rộng NATO của Mỹ, khía cạnh căng thẳng, kiềm chế tăng lên trong chính sách của Mỹ đốỉ với Nga. Cho tới trước sự kiện 11 tháng 9, căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Nga đã có dấu hiệu giảm bớt chủ yếu do chính quyền Bush có điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng ôn hoà hơn.


Tuy nhiên, chỉ đến sau sự kiện ngày 11 tháng 9, quan hệ Mỹ - Nga mới có một bước chuyển biến về chất. Sự kiện 11 tháng 9 đã tạo ra một bước ngoặt trong quan hệ hai nước. Với chính sách thực dụng và mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ, cộng với những tính toán lợi ích đối nội trong việc chống lại quân ly khai ở Tresnia, Nga đã nhanh chóng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với chiến dịch chống khủng bố của Mỹ, chia sẻ thông tin tình báo, bật đèn xanh cho các nước Trung Á mở cửa cho quân Mỹ mượn căn cứ hậu cần làm bàn đạp tấn công Ápganixtan. Trên thực tế, sự kiện 11 tháng 9 là cơ hội cho Nga cải thiện mạnh mẽ và nhanh chóng quan hệ với Mỹ.


Do nhu cầu tập hợp lực lượng chống khủng bố, Mỹ cũng có nhũng điều chỉnh chính sách đối với Nga như giảm nhẹ phản ứng đối với các hành động của Nga tại Tresnia, tạm ngừng sử dụng vấn đề nhân quyền để chống Nga, hứa hẹn viện trợ kinh tế và ủng hộ việc Nga gia nhập WTO. Chính quyền Mỹ đã đề nghị Quốc hội xem xét huỷ bỏ luật sửa đổi Jackson Vanik. Tháng 11- 2001, Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn xoá một phần nợ cho Nga, tương đương với chi phí mà Nga phải dùng để thực hiện kế hoạch cắt giảm kho vũ khí hạt nhân, đồng thời Hạ viện cũng thông qua kế hoạch huấn luyện và viện trợ quân sự cho nước này.


Sự điều chỉnh chính sách mạnh mẽ của Mỹ và Nga sau sự kiện 11 tháng 9 vì những tính toán lợi ích song trùng đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trên một số vấn đề lớn trong quan hệ Mỹ - Nga. Về vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân, trong cuộc gặp cấp cao Nga-Mỹ tại Texas ngày 13 - 15-11-2001 hai bên chính thức thoả thuận cắt giảm 2/3 kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi nước. Ngày 24-5-2002 tại Mátxcơva, Tổng thống Nga Putin và Tổng thống Mỹ đã ký kết Hiệp ước cắt giảm tiềm lực tấn công chiến lược, trong đó cam kết hai bên sẽ cắt giảm số đầu đạn hạt nhân xuống còn 1700 - 2200 đơn vị trong 10 năm; Tuyên bố chung về đối thoại năng lượng mới giữa Nga và Mỹ; Tuyên bố chung về quan hệ chiến lược mới giữa hai nước. Về kế hoạch MD của Mỹ, Nga đã chuyển từ phản đốỉ quyết liệt sang ngầm chấp nhận việc Mỹ theo đuổi kế hoạch MD. Trên thực tế, ngày 13 tháng 12, sau khi Mỹ chính thức tuyên bố đơn phương rút khỏi ABM, Nga phản ứng có mức độ, chỉ lấy làm tiếc về hành động của Mỹ, nhưng vẫn tuyên bố Nga sẽ không có hành động nào làm tổn hại đến quan hệ Nga-Mỹ. Điều này cho thấy Nga đặt ưu tiên hàng đầu việc tăng cường quan hệ với Mỹ và không để vấn đề ABM làm trở ngại quan hệ Mỹ - Nga. Về vấn đề Tresnia, Mỹ làm ngơ để Nga trấn áp giải giáp vũ khí của lực lượng ly khai Tresnia. Về quan hệ kinh tế, Mỹ công nhận Nga là nền kinh tế thị trường, cam kết tăng viện trợ kinh tế cho Nga... Về vấn đề mở rộng NATO, Nga có thái độ mềm dẻo hơn, không còn phản đối mạnh mẽ và công khai.


Như vậy, rõ ràng trong quan hệ hai nước đã có sự chuyển biến rất lớn, đặc biệt là hai bên đã nhượng bộ để đạt được thoả thuận đối với quá trình cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược. Về phía Mỹ, nguyên nhân chủ yếu, về trước mắt, là do nhu cầu tập hợp lực lượng chống khủng bố, và về lâu dài, là nhằm phân hoá tập hợp lực lượng Nga - Trung chống Mỹ và lôi kéo Nga để đối phó với Trung Quốc, về phía Nga, lợi ích kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu vì nước Nga cần có sự hỗ trợ của phương Tây để thực hiện thành công cải cách kinh tế và khôi phục vị thế nước lớn của mình. Hơn nữa, Nga cũng có những tính toán lợi ích khác liên quan đến vấn đề Tresnia. Vì vậy, nhượng bộ về phía Nga lớn hơn (chấp nhận việc không phá huỷ vũ khí hạt nhân mà cất vào kho dự trữ). Điều này phản ánh thực tế thế và lực còn nhiều hạn chế của Nga, chính sách thực dụng, thoả hiệp với Mỹ trong tương lai ngắn đến trung hạn.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:43:27 am
3. Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của Mỹ

Để phục vụ mục tiêu chủ yếu của chiến lược đối ngoại nhằm thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh, mục tiêu cơ bản của chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ trong tình hình mới là "để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực này". Nói một cách khác, lợi ích bao trùm của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương là xác lập vai trò lãnh đạo của Mỹ, duy trì hoà bình, ổn định và ngăn chặn bất cứ một nước nào hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức vai trò của Mỹ, bảo đảm lợi ích an ninh, kinh tế và các giá trị của Mỹ.


3.1. Cục diện an ninh khu vực Đông Á - Thái Bình Dương

Sự sụp đổ của Liên Xô trước đây và cùng với nó là sự kết thúc chiến tranh lạnh đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong cục diện an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thế đối đầu hai cực giữa hai siêu cường thời chiến tranh lạnh và mối quan hệ tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung từ những năm 1970 ở châu Á - Thái Bình Dương không còn. Thay vào đó là một môi trường chiến lược mới hoà bình và tương đối ổn định. Các nước lớn trong khu vực đều điều chỉnh chiến lược theo hướng hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình. Tuy nhiên, môi trường an ninh khu vực tiềm ẩn những thách thức an ninh to lớn.


Loại thách thức an ninh thứ nhất xuất phát từ sự thay đổi cơ cấu quyền lực ở khu vực, cụ thể là sự lớn mạnh của Trung Quốc, sức mạnh còn lại của Nga và vai trò ngày càng tăng của Nhật Bản trong các vấn đề an ninh khu vực. Thách thức an ninh dài hạn lớn nhất đối với Mỹ là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, giá trị chiến lược của con bài Trung Quốc đối với Mỹ không còn. Vì vậy, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc cả về kinh tế, quân sự và chính trị trở thành một thách thức mới, đe dọa vị trí lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chính sách mở cửa về kinh tế của Trung Quốc thực hiện từ năm 1979 đã tạo nên sự chuyển biến lớn lao. Nền kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng với tốc độ 8-9% đã khiến GDP của Trung Quốc tăng lên gấp 3 lần chỉ trong vòng chưa đến hai thập kỷ1 (Joseph S. Nye, "The 'Nye report': six years later", International Relations of the Asia Pacific, Oxford University Press, 2001, Vol. 1, No 1, tr.100). Theo nhiều dự đoán, nếu Trung Quốc tiếp tục chính sách mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức trên 5% mỗi năm trong vòng hàng chục năm tới2 (Ezra F. Vogel, "Living with China-U.S.-China Relations in the Twenty-First Century", Norton and Company, 1997, p.19). Bên cạnh đó, Trung Quốc còn là một cường quốc quân sự. Mặc dù so với Mỹ, khả năng quân sự của Trung Quốc còn hạn chế, nhất là về mặt vũ khí kỹ thuật hiện đại, nhưng cùng với chính sách phát triển sức mạnh về kinh tế, Trung Quốc đang tập trung thực hiện hiện đại hoá quân sự. Quan trọng hơn, Trung Quốc lại là một trong năm cường quốc hạt nhân. Với những tiềm lực về kinh tế và quân sự, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc không chỉ trong khu vực mà cả trên thế giới. Trung Quốc cùng là nước có vai trò vô cùng to lớn trong các vấn đề an ninh khu vực vì sự dính líu trực tiếp cũng như gián tiếp của nước này đến hầu hết các điểm nóng tiềm tàng ở khu vực trong khi ở đây chưa có một cơ chế an ninh đa phương nào. Việc Trung Quốc tăng cường quân sự và thái độ dường như không thoả hiệp của Trung Quõc trong vấn đề Đài Loan và tranh chấp biển Đông làm cho Mỹ lo ngại về những ý đồ và hành động của Trung Quốc hiện nay, và đặc biệt, trong tương lai khi Trung Quốc hoàn thành công cuộc hiện đại hoá và trở thành một nước công nghiệp phát triển. Không ít ý kiến ở Mỹ cho rằng: "Thách thức lớn nhất đối với Mỹ và những lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ ở châu Á có thể xuất phát từ Trung Quốc"1 ("Asia in U.S. Foreign and National Sercurity Policy in the Next Millennium", Address by U.S. Representative Doug Bereuter, 2-2-2000).


Loại thách thức an ninh thứ hai là những vấn đề an ninh truyền thống như tranh chấp lãnh thổ, những di sản của chiến tranh lạnh vẫn còn tồn tại ở bán đảo Triều Tiên và vấn đề Đài Loan. Tình hình trên bán đảo Triều Tiên, và đặc biệt, những lo ngại về việc Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân cũng là một nguy cơ tiềm ẩn trong môi trường an ninh ở Đông Á. Đầu năm 1993, một nhóm chuyên gia về hạt nhân của Liên hợp quốc báo cáo về phát hiện liên quan đến việc Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có thể có những cơ sở sản xuất tên lửa hạt nhân. Tháng 5-1993, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tiến hành vụ thử tên lửa ở vùng biển Nhật Bản, đặt một nửa miền Tây Nhật Bản vào tầm bắn của tên lửa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Những sự kiện này là khởi đầu của cuộc khủng hoảng hạt nhân Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên năm 1994. Sau một loạt các cuộc đàm phán, tháng 10-1994 Mỹ và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đã ký Hiệp định khung, theo đó Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đồng ý ngừng sản xuất plutonium ở Yongbyon, và để đổi lại, giữa năm 1995 hiệp định bốn bên - hai miền Triều Tiên, Mỹ và Nhật Bản - được ký kết, trong đó ba nước kia cam kết cung cấp lò phản ứng nước nhẹ cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Với các hiệp định này vấn đề hạt nhân Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đã tạm thời lắng xuống nhưng không phải là đã hoàn toàn được giải quyết. Những nghi kỵ đối với các kế hoạch ngầm của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên xung quanh việc phát triển tên lửa hạt nhân làm cho Mỹ ngày càng cảm nhận rõ hơn mối đe dọa đối với lợi ích an ninh của mình trong khu vực và đây chính là một trong những động lực dẫn đến sự điều chỉnh chính sách của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương.


Bên cạnh đó, ở khu vực còn tồn tại một số nhân tố bất ổn tiềm tàng khác như tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, một loạt những tranh chấp giữa các nước về lãnh thổ trên biển và đất liền và vấn đề tăng cường quân sự với nguy cơ của một cuộc chạy đua vũ trang.


Trong ba điểm nóng tiềm tàng có nguy cơ xảy ra xung đột nhiều nhất ở khu vực, ngoài tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông liên quan đến nhiều nước, Mỹ có dính líu trực tiếp và có lợi ích trong các cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan giữa Trung Quốc và Đài Loan, và ở bán đảo Triều Tiên. Lợi ích của Mỹ trong việc tham gia giải quyết các cuộc xung đột này là nhằm bảo vệ quyền lợi của các đồng minh Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản và duy trì an ninh trật tự trong khu vực nhằm bảo đảm cho các quyền lợi kinh tế của Mỹ và không để cho nước nào nổi lên đe dọa vị trí lãnh đạo của Mỹ.


Loại thách thức an ninh thứ ba là bất ổn định nội bộ, phong trào ly khai ở các nước trong khu vực. Tại Đông Nam Á, tình hình diễn biến phức tạp. Các phong trào ly khai tại Inđônêxia và Philippin, quá trình chuyển đổi quyền lực chính trị tại Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và Philippin tiếp tục đe dọa những thành quả phát triển kinh tế trong nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX1 (Nicholas Khoo và Michael L. R. Smith, "A Concert of Asia", Policy Review, No. 108, tháng 8-2001 at http://www.policyreview.org-AUG01-khoo_print.html). Riêng đối với Inđônêxia, các phong trào ly khai như Aceh, quần đảo Moluccas và Irian Jaya vẫn tồn tại và phát triến. Bất ổn định và xáo trộn nội bộ ở những nước này, đặc biệt ở những nước như Inđônêxia, có khả năng tác động lan toả, ảnh hưởng đến an ninh và ổn định ở khu vực. Làn sóng người di cư, khủng hoảng nhân đạo là những thách thức không chỉ đối với các nước trong khu vực, mà cả đối với Mỹ.


Loại thách thức an ninh thứ tư là những vấn đề xuyên quốc gia. Dây là những vấn đề an ninh phi truyền thống như vấn đề khủng bố, nạn cướp biển, phổ biến vũ khí, buôn bán ma tuý và tội phạm xuyên quốc gia.

Toàn bộ những thách thức này thể hiện tính đa dạng, phức tạp và không rõ ràng của môi trường an ninh mới ở khu vực, đòi hỏi sự hợp tác đa phường giữa các nước trong khu vực. Trong khi đó, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác an ninh toàn khu vực như Tổ chức Hợp tác an ninh châu Âu (OSCE) để đối phó và giải quyết các vấn đề an ninh ở khu vực.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:44:47 am
3.2. Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của chính quyền Clinton

Nói tóm lại, thay vì mối đe dọa to lớn và rõ ràng của Liên Xô trước đây, môi trường chiến lược thay đổi ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiềm ẩn những thách thức đối với lợi ích của Mỹ ở khu vực này. Trong bối cảnh đó, Mỹ xác định những lợi ích an ninh chủ yếu của mình ở khu vực châu  - Thái Bình Dương là:

• Ngân chặn sự nổi lên của một nước bá quyền thù địch với Mỹ để duy trì ảnh hưởng quốc tế của Mỹ và vị thế siêu cường duy nhất sau chiến tranh lạnh.

• Hạn chế sự phổ biến vũ khí giết người hàng loạt (vũ khí hóa học, sinh học và vũ khí hạt nhân) cùng các hệ thống triển khai những vũ khí này để bảo đảm an ninh và ưu thế hạt nhân của Mỹ ở khu vực. Ngăn chặn Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tấn công Hàn Quốc.

• Ngăn chặn khả năng diễn ra một cuộc chay đua vũ trang gây mất ổn định khu vực, làm gián đoạn phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và kinh tế của Mỹ ở khu vực.

• Duy trì tự do giao thông đường biển nhằm bảo vệ sự lưu thông dầu mỏ từ các nguồn dầu tới Mỹ và giao lưu thương mại với các nước trong khu vực.

• Bảo đảm an toàn cho các công dân Mỹ ở khu vực.

• Phát triển một cơ cấu an ninh khu vực trong đó Mỹ giữ vai trò chi phối1 (Asia Project Policy Report, Redressing the Balance-American Engagemnet with Asia, Council on Foreign Relations, New York, 1996).


Đứng trước những thay đổi của cục diện an ninh chính trị trong khu vực, Mỹ đã có những điều chỉnh chiến lược an ninh mạnh mẽ để bảo đảm lợi ích và theo đuổi những mục tiêu chiến lược toàn cầu của mình trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.


Trong những năm đầu sau chiến tranh lạnh, căn cứ vào những đánh giá ban đầu về tình hình thế giới và khu vực, Báo cáo chiến lược Đông Á năm 1990 của chính quyền Bush đã vạch ra kế hoạch rút dần quân Mỹ khỏi khu vực với giai đoạn I kết thúc vào cuối năm 1992 giảm khoảng 10-12% trong tổng số 135.000 quân đóng tại đây. Kế hoạch này được kết hợp với việc rút quân Mỹ khỏi các căn cứ quân sự ở Philippin. Tuy nhiên, cuối năm 1992, đầu năm 1993, trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện tình huống mới, buộc Chính phủ Mỹ phải xem xét lại toàn bộ quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh với châu Á. Quá trình này bắt đầu từ cuối năm 1994, đến tháng 2-1995, Joseph Nye, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, cho ra đời Báo cáo chiến lược Đông Á mới của Mỹ. Báo cáo này còn được gọi là sáng kiến của Nye. Bản báo cáo nêu rõ ba hướng chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ ở Đông Á:

• Một là khẳng định lại cam kết của Mỹ đối với khu vực thông qua việc duy trì lực lượng quân sự Mỹ đóng tại đây ở mức khoảng 100.000 người. Như vậy là với chiến lược mối, Mỹ quyết định ngừng quá trình rút dần quân đội khỏi khu vực theo kế hoạch trong Báo cáo chiến lược an ninh Đông Á 1992. Trong số đó, 47.000 quân đóng ở khoảng 100 căn cứ quân sự ở Nhật Bản; 37.000 đóng ở khoảng 50 căn cứ quân sự ở Hàn Quốc; và ở căn cứ quân sự của Mỹ ở Hawaii. Mỹ cũng có thoả thuận sử dụng một số tiện nghi quân sự tại Ôxtrâylia và Xingapo.

• Nội dung thứ hai của Báo cáo kêu gọi tăng cường quan hệ liên minh của Mỹ với các nước đồng minh trong khu vực là Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan và Ôxtrâylia, trong đó liên minh Mỹ - Nhật được coi là cốt lõi của chiến lược Đông Á của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Bản báo cáo là một cố gắng cân bằng lại chính sách thiên về kinh tế mà chính quyền Clinton đã theo đuổi với Nhật Bản trong những năm đầu của nhiệm kỳ. Bản báo cáo khẳng định "chúng ta không được cho phép rạn nứt trong buôn bán làm tổn hại đến liên minh an ninh của chúng ta"1 (U.S. Department of Defense, United States Sercurity Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995, tr.10).

• Hợp tác khu vực là mũi nhọn thứ ba trong chiến lược an ninh của Mỹ. Mỹ ủng hộ các nỗ lực đa phương về an ninh như Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), đồng thời đẩy mạnh đối thoại an ninh với các nước trong khu vực, đặc biệt với Trung Quốc và Nga, như một phần của chiến lược can dự và mở rộng của Mỹ. Đây là một nét mới của chiến lược an ninh Đông Á thể hiện sự chú trọng hơn tới các kênh hợp tác khác, ngoài các liên minh an ninh song phương ở khu vực. Lần đầu tiên chính quyền Mỹ đã ủng hộ những nỗ lực tiến tới xây dựng cơ chế hợp tác an ninh đa phương ở khu vực. Tuy nhiên, trong khi ủng hộ các diễn đàn hợp tác an ninh đa phương ở khu vực, Mỹ cũng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của các liên minh an ninh song phương, đặc biệt là liên minh với Nhật Bản. Những dàn xếp an ninh đa phương chỉ có tính chất bổ trợ, chứ không thay thế cho các liên minh an ninh song phương của Mỹ ở khu vực này1 (Như trên, tr.9).


Báo cáo chiến lược an ninh Đông Á của Mỹ năm 1995 là sự điều chỉnh chính sách từ thiên về kinh tế những năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh trở lại chính sách khẳng định vai trò của an ninh. Trong Báo cáo chiến lược, thông qua việc duy trì sự có mặt của lực lượng Mỹ, khía cạnh an ninh quân sự đối với ổn định trong khu vực được coi như "ôxy" đối với sự sống2 (Như trên, tr.8). Chiến lược an ninh của Mỹ với khu vực Đông Á-Thái Bình Dương năm 1995 trên thực tế là một bộ phận của chiến lược toàn cầu can dự và mở rộng của chính quyền Clinton. Thực hiện những nguyên tắc chỉ đạo của Báo cáo chiến lược Đông Á năm 1995, Mỹ đã triển khai chính sách an ninh khu vực theo tám hướng chủ yếu.


Một là, thông qua việc công bố bản Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một (QDR) vào năm 1997, Mỹ cam kết duy trì 100.000 quân triển khai phía trước ở châu Á. Lực lượng triển khai phía trước của Mỹ ở khu vực giúp Mỹ bảo đảm các đường giao thông đường biển có tầm quan trọng sống còn đối với các hoạt động thương mại giữa Mỹ và Tây Thái Bình Dương cũng như bảo vệ sự lưu thông nguồn cung cấp dầu mỏ cho Mỹ từ khu vực này.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Sáu, 2022, 06:45:48 am
Hai là, tái khẳng định và nâng cấp Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, nền tảng chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực. Có thể thấy Mỹ có ba lợi ích chiến lược chủ yếu trong việc duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong thời kỳ mới. Lợi ích chiến lược lớn nhất mà Mỹ có được thông qua việc duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật là duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực với mục đích răn đe đối với sự lớn mạnh của Trung Quốc và những hậu quả khó lường mà điều này có thể dẫn đến. Lợi ích thứ hai là tiếp tục kiềm chế Nhật Bản. Ngay từ khi ra đời, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật không chỉ có một mục đích là nhằm đối phó với chủ nghĩa cộng sản, mà còn nhằm kiềm chế chính các nước đồng minh ở khu vực. Tuy không được nêu rõ, nhưng kiềm chế Nhật cũng luôn là một mục tiêu của Liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh. Và mục tiêu thứ hai của liên minh này vẫn còn tồn tại và tầm quan trọng của nó tăng lên trong bối cảnh Nhật Bản đã trở thành một siêu cường về kinh tế. Lợi ích thứ ba là sự chia sẻ trách nhiệm của đồng minh. Mỹ có lợi ích trong việc duy trì liên minh an ninh với Nhật Bản vì sự hợp tác và chia sẻ trách nhiệm của Nhật Bản trong các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế trong bối cảnh ở khu vực hiện vẫn chưa có được một cơ chế an ninh đa phương hiệu quả và có khả năng đối phó với các cuộc khủng hoảng và các vấn đề an ninh khu vực


Trung Quốc và sự lớn mạnh của Trung Quốc là mội đe dọa hàng đầu đối với lợi ích của cả hai nước và đây chính là mục tiêu ngầm chủ yếu của liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong thời kỳ mới1 (Hisahiko Okazaki, "China: a Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996). Sự chuyển hướng mục tiêu này là điều chỉnh quan trọng nhất trong quan hệ an ninh giữa Nhật Bản và Mỹ. Một nét mới khác là liên minh an ninh Mỹ - Nhật Bản chủ trương mở rộng phạm vi hợp tác an ninh Nhật - Mỹ và hoạt động của lực lượng phòng vệ ra các khu vực xung quanh, tăng cường vai trò của các lực lượng phòng vệ Nhật Bản trong việc hỗ trợ quân đội Mỹ. Theo phương châm chỉ đạo hợp tác phòng thủ Nhật - Mỹ mới, vai trò được mở rộng của Nhật Bản thể hiện trong việc tăng cường nhiệm vụ của lực lượng phòng vệ Nhật Bản, sự hỗ trợ hậu cần cho quân đội Mỹ và đóng góp tài chính của Nhật Bản đối với việc duy trì quân đội Mỹ đóng quân trên đất Nhật Bản.


Ba là, chính quyền Clinton chủ trương chính sách can dự toàn diện với Trung Quốc. Chính quyền Clinton, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai, đã nỗ lực xây dựng quan hệ đối tác toàn diện, thậm chí "đối tác chiến lược" với Trung Quốc thể hiện qua hai chuyến thăm Mỹ của Giang Trạch Dân năm 1997 và chuyến thăm Trung Quốc của Clinton năm 1998. Một mặt, các chính quyền của Mỹ chủ trương can dự với Trung Quốc vì Mỹ có những lợi ích kinh tế rất lớn ở Trung Quốc. Mỹ cũng có những lợi ích chiến lược tương đồng khác với Trung Quốc, như lợi ích duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên và ngăn chặn phổ biến vũ khí. Mặt khác, quan hệ Mỹ - Trung ẩn chứa những mâu thuẫn chiến lược dài hạn. Mâu thuẫn căn bản nhất và có tính chi phối nhất đối với quan hệ Mỹ - Trung là mâu thuẫn chiến lược: mâu thuẫn giữa chủ trương bá quyền, xây dựng một trật tự thế giới đơn cực và ngăn chặn không cho một nước hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức vị trí của Mỹ và quyết tâm của Trung Quốc vươn lên thành một cực trong một trật tự thế giới đa cực. Và không ít học giả, chính trị gia ở Mỹ cho rằng Trung Quốc chính là nước có khả năng thách thức trật tự hiện hành ở châu Á - Thái Bình Dương nhất1 (Douglas T. Stuart and William T. Tow, "US Strategy for the Asia Pacific", Adelphi Paper No.229, Oxford University Press, IISS, 1995). Xét về dài hạn, mâu thuẫn này có tính chất không thể dung hoà. Mỹ cũng lo ngại về ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực và khả năng Trung Quốc thôn tính Đài Loan và khống chế các tuyến giao thông đường biển thiết yếu đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở biển Đông. Cuộc khủng hoảng ở eo biển Đài Loan năm 1996 với việc Trung Quốc tập trận tên lửa quy mô lớn ở eo biển Đài Loan nhằm tác động đến kết quả bầu cử ở Đài Loan và Mỹ đưa tàu sân bay USS Independence từ căn cứ Yokosuka của Nhật Bản tới eo biển Đài Loan để răn đe Trung Quốc, cho thấy tầm quan trọng của liên minh Mỹ - Nhật đối với Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc và đối phó với những tình huống bất trắc, đe dọa trực tiếp lợi ích của Mỹ ở khu vực.


Bốn là, phối hợp với Hàn Quốc và Trung Quốc, lôi kéo Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và đối thoại bốn bên (Four Party Talks) nhằm giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Những mục tiêu của Mỹ ở bán đảo Triều Tiên bao gồm duy trì ổn định, không phổ biến hạt nhân, hoà giải trên bán đảo Triều Tiên và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Hàn1 (Joel Wit, "the United States and North Korea", Policy Brief #74, 3-2001, http://www.broooking.org). Chính sách chung và công khai của Mỹ là ủng hộ hai miền Triều Tiên đối thoại để tiến tới thống nhất. Tuy nhiên, xét từ nhiều góc độ, Mỹ không muốn việc thống nhất Triều Tiên diễn ra nhanh chóng bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ ở đây. Thứ nhất, một nước Triều Tiên thống nhất sẽ làm lung lay cơ sở chủ yếu của sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Bắc Á. Thứ hai, trong bối cảnh mối đe dọa tên lửa từ những nước "bất trị", trong đó có Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên được sử dụng làm cơ sở biện minh cho kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, triển vọng hai miền Triều Tiên sớm thống nhất sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch phòng thủ tên lửa của Mỹ.


Năm là, mở rộng quan hệ hợp tác an ninh và tiếp cận quân sự ở Đông Nam Á, cùng hợp tác với ASEAN để thúc đẩy đối thoại toàn khu vực và xây dựng lòng tin thông qua cơ chế ARF.

Sáu là, tái khẳng định hiệp ước an ninh với Ôxtrâylia năm 1996, thông qua Tuyên bố Sydney, cam kết thúc đẩy hợp tác trên các vấn đề an ninh toàn cầu và khu vực hai bên cùng quan tâm.

Bảy là thúc đẩy việc xây dựng những cơ chế xây dựng lòng tin như đối thoại tay ba, đa phương, các diễn đàn phòng thủ, và chương trình khoá học xây dựng lòng tin ở Trung tâm nghiên cứu các vấn đề an ninh châu Á - Thái Bình Dương có trụ sở ở Hawaii.

Tám là, tập trung đối phó với mối đe dọa phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, với vấn đề phổ biến hạt nhân thông qua Hiệp định khung và đối thoại không phổ biến tên lửa với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, cải thiện khả năng chống phổ biến vũ khí thông qua việc nghiên cứu và phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường.


Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của Mỹ về cơ bản được triển khai theo những hướng chủ đạo đã được vạch ra trong bản Báo cáo năm 1995, không có thay đối gì lớn cho đến hết nhiệm kỳ hai của Clinton. Năm 1998, chính quyền Clinton công bố Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương mới, chủ yếu khẳng định lại nội dung của Báo cáo chiến lược năm 1995. Bởi Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương là một phần trong chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ, Báo cáo năm 1998 nhấn mạnh hơn đến sự cần thiết phải can dự tích cực vào khu vực để Tạo dựng, Phản ứng và Chuẩn bị, ba khái niệm liên kết với nhau được đưa ra trong Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997.


Năm 2000, Tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Blair đưa ra sáng kiến thành lập "cộng đồng an ninh" ở châu Á, đề xuất kế hoạch diễn tập quân sự đa quốc gia nhằm lôi kéo tất cả các nước trong khu vực tham gia diễn tập quân sự chung, trong đó có cả Trung Quốc. Mục đích của ý tưởng này là thiết lập cơ chế an ninh đa phương với sự tham gia chủ yếu của các nước đồng minh hoặc đang có các hoạt động tập trận chung với Mỹ, sau đó mở rộng ra các nước trong khu vực, nhằm xác lập và củng cố vai trò của Mỹ trong khu vực, trước mắt là trong lĩnh vực an ninh, đối phó với những thách thức đe dọa ổn định khu vực cũng như các cuộc xung đột vũ trang, khủng hoảng, thiên tai1 (Dennis C. Blair và John T. Hanley Jr. "From Wheels to Web: Reconstructing Asia-Pacific Sercurity Arrangements", The Washington Quarterly, Winter 2001). Đối tượng chủ yếu ở đây mà Mỹ muốn nhằm vào chính là Trung Quốc, nhằm lôi kéo Trung Quốc vào một khuôn khổ an ninh do Mỹ lãnh đạo tại khu vực. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một ý tưởng của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ đưa ra dưới thời Clinton. Vì vậy, ý tưởng này chưa được chuyển tải thành một chủ trương chính sách mới, đặc biệt sau sự thay đổi chính quyền ở Mỹ đầu năm 2001 và cuộc chiến chống khủng bố.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Sáu, 2022, 06:26:24 am
3.3. Điều chỉnh chiến lược Đông Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush

Về cơ bản, những mục tiêu chủ yếu trong chiến lược của Mỹ với khu vực không thay đổi so với chính quyền tiền nhiệm. Tuy nhiên, dưới chính quyền Bush, chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương đã có những điều chỉnh đáng kể. Một số xu hướng điều chỉnh đã có từ trước sự kiện 11 tháng 9. Tuy nhiên, sự kiện 11 tháng 9 đã có những tác động khác nhau đối với những hướng điều chỉnh khác nhau.


Một là chú trọng hơn quan hệ với các đồng minh ở khu vực, đặc biệt là Nhật Bản. Chính quyền Bush cam kết tăng cường liên minh an ninh Mỹ - Nhật, cũng như khuyến khích Nhật Bản có vai trò độc lập hơn và gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong khuôn khổ liên minh an ninh Mỹ - Nhật. Sự kiện tàu ngầm hạt nhân USS Greeneville của Mỹ va chạm và đánh chìm chiếc tàu đánh cá Ehime Maru của Nhật Bản ngày 9-2-2001 đã được giải quyết êm thấm với việc Tổng thống Mỹ Bush nhanh chóng xin lỗi Nhật Bản. Sau đó, trong tuyên bố chung sau cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Bush và Thủ tướng Mori ngày 19-3-2001, hai bên đã khẳng định "một cách tiếp cận năng động đối với tham khảo hợp tác quốc phòng" cũng như quyết tâm tăng cường nỗ lực của hai bên để đối phó với những thách thức xuyên quốc gia trong thế kỷ XXI. Điều này phần nào phản ánh thái độ của chính quyền Mỹ đối với liên minh an ninh Mỹ - Nhật và vị trí của liên minh này trong chiến lược chung của Mỹ. Mặc dù quyết định duy trì và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Nhật, trong quá trình triển khai, chính quyền Clinton lại có lúc tỏ ra coi trọng Trung Quốc hơn. Tháng 6-1998, Clinton đã giáng cho đồng minh an ninh gần gũi nhất của mình ở châu Á - Thái Bình Dương một cú nặng nề khi trong chuyến thăm Trung Quốc kéo dài chín ngày, Clinton đã không ghé qua Nhật Bản. Chủ trương xây dựng quan hệ "đối tác chiến lược" của Clinton chứng tỏ sự công nhận vai trò ngày càng quan trọng của Trung Quốc, cũng như phần nào thể hiện sự bất bình và thất vọng của Mỹ đối với vai trò của Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Á. Chính quyền Bush con tỏ ra rõ ràng hơn khi coi Nhật Bản là đối tác chủ yếu của Mỹ ở châu Á và Trung Quốc là "đối thủ chiến lược" chứ không phải là "đối tác chiến lược".


Chuyến thăm Nhật Bản của Tổng thống Mỹ Bush ngày 17 - 19-2-2002 tiếp tục khảng định tầm quan trọng của liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong chính sách đối ngoại của chính quyền Bush. Quan hệ hai nước vốn đã được củng cố từ sau sự kiện 11 tháng 9 với việc Nhật Bản nhanh chóng thông qua đạo luật cho phép lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia vào các hoạt động hỗ trợ chiến tranh bên ngoài Nhật Bản. Sự ủng hộ của Nhật Bản trong cuộc chiến chống khủng bố là yếu tố quan trọng thúc đẩy quan hệ Mỹ - Nhật trong thời gian qua.


Hai là điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc. Mặc dù chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush vẫn mang tính chất hai mặt vừa can dự vừa kiềm chế như chính quyền tiền nhiệm, nhưng mặt kiềm chế, ngăn chặn được chú trọng thúc đẩy: (i) chủ trương tăng cường các liên minh an ninh song phương với các đồng minh ở khu vực, đặc biệt là Nhật Bản, nhằm kiềm chế Trung Quốc, (ii) đẩy mạnh chiều hướng thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ nhằm trước mắt ngăn chặn tập hợp lực lượng Trung Quốc, Nga và Ấn Độ chống Mỹ, và về lâu dài, dùng các nước này làm đối trọng với Trung Quốc.


Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực, chính quyền Bush công khai xem việc Trung Quốc trở thành đối thủ và cạnh tranh chiến lược là không tránh khỏi. Bằng cách chuyển trọng tâm chiến lược an ninh sang châu Á, Mỹ sẽ chủ động hơn trong việc đối phó với sự cạnh tranh ngày càng lớn của Trung Quốc trong tương lai. Tháng 3-2002, Trung Quốc tuyên bố tăng ngân sách quốc phòng tới 18%, nâng mức chi cho quốc phòng từ 14,5 tỷ USD lên 17 tỷ USD. Phái diều hâu trong Quốc hội Mỹ cho rằng việc tăng chi phí này là nhằm đối phó với Mỹ, do đó hối thúc chính quyền Bush tăng chi tiêu quốc phòng, về phía Trung Quốc, tờ Nhân dân nhật báo, thường phản ánh quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc, cho rằng các báo cáo của chính quyền Bush kêu gọi Mỹ thực thi vai trò "lãnh đạo thế giới" thực chất là áp đặt "bá quyền" Mỹ1 (Nicholas Khoo and Michael L. R. Smith, A "Concert of Asia", Policy Review, No. 108, tháng 8-2001 at http://www.policyreview.org-AUG01-khoo_print.html).


Như vậy, trước ngày 11 tháng 9, quan hệ Mỹ - Trung đặc biệt căng thẳng do chính sách cứng rắn của Mỹ. Tuy nhiên, sau một thời gian cầm quyền, chính quyền Bush đã điều chỉnh giọng điệu cũng như chính sách theo hướng ôn hoà và bớt cứng rắn hơn, đặc biệt trong chính sách đối với Trung Quốc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Trung Quốc không còn là "đối thủ chiến lược", mà "Trung Quốc không phải là đối tác chiến lược, nhưng cũng không phải là kẻ thù không thể tránh khỏi của Mỹ"1 (Confirmation hearing before the US Senate tháng 2-2001). Cũng cần khẳng định rằng việc điều chỉnh chính sách Trung Quốc của Mỹ cho dù theo hướng cứng rắn lên nhưng cũng không vượt ra ngoài khuôn khổ chính sách can dự với Trung Quốc. Nếu chính sách Trung Quốc của Clinton là "can dự tích cực, kiềm chế ngầm" thì có thể nói chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush là "tiếp tục can dự và tăng cường ngăn chặn".


Đặc biệt, sự kiện 11 tháng 9 đã có tác động đáng kể đến quan hệ Mỹ - Trung. Mặt hợp tác trong chính sách Trung Quốc của Mỹ trở nên rõ nét hơn sau sự kiện 11 tháng 9 vì hai nước chia sẻ lợi ích to lớn trong việc hợp tác chống khủng bố. Sự kiện 11 tháng 9 đã giúp cải thiện quan hệ Mỹ - Trung một cách đáng kể, cho dù ở mức độ thấp hơn so với quan hệ Mỹ - Nga. Trung Quốc ngay sau 11 tháng 9 đã nhanh chóng tuyên bố ủng hộ Mỹ, lên án chủ nghĩa khủng bố. Mặc dù không công khai ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ chống Ápganixtan, nhưng trên thực tế Trung Quốc không can thiệp vào sự hợp tác với Mỹ của đồng minh Pakixtan trong cuộc chiến ở Ápganixtan. Đầu tháng 11-2001, Trung Quốc, trong vai trò chủ nhà đã góp phần quan trọng vào việc biến hội nghị về kinh tế của tổ chức APEC thành diễn đàn lên án chủ nghĩa khủng bố và ủng hộ Mỹ.


Cũng như Nga, Trung Quốc có những vấn đề nội bộ về sắc tộc và ly khai muốn được Mỹ ủng hộ và coi các phong trào này là khủng bố. Đằng sau sự ủng hộ của Trung Quốc cũng là mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ nhằm tạo điều kiện cho phát triển cả về kinh tế lẫn hợp tác quân sự, nhất là các kỹ thuật quân sự cao của Mỹ. Hơn nữa, giữa Trung Quốc và Mỹ còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết, đặc biệt là vấn đề Đài Loan. Sau nhiều năm thi hành chính sách cứng rắn, Trung Quốc cho rằng cải thiện quan hệ với Mỹ có thể gây sức ép làm thay đổi được tình hình ở Đài Loan. Quan hệ qua eo biển Đài Loan cũng đặt yêu cầu cho Mỹ phải giải quyết vấn đề tiếp tục hay không "chính sách mập mờ" trước đây. Chính quyền Bush, một mặt, chịu sức ép của giới công nghiệp quốc phòng đòi bán vũ khí cho Đài Loan và sức ép của phái diều hâu đòi phải xem Trung Quốc là đối thủ chiến lược, mặt khác, vẫn thừa nhận "chính sách một Trung Quốc", coi trọng sự hợp tác trên nhiều mặt với Trung Quốc.


Tuy nhiên, mức độ cải thiện quan hệ Mỹ - Trung chỉ dừng lại ở việc giảm căng thẳng do chính sách cứng rắn của chính quyền Bush trong thời kỳ đầu gây ra, đưa chính sách Trung Quốc của chính quyền Bush trở lại gần hơn với chính sách của chính quyền Clinton, chứ chưa đạt tới mức thời kỳ năm 1997-1998 khi hai nước tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Xét từ góc độ cạnh tranh chiến lược, sau khi sự kiện chống khủng bố lắng xuống Trung Quốc vẫn được coi là đối thủ chủ yếu của Mỹ ở khu vực. Hiện nay, trong khi Mỹ đang bận rộn với chiến dịch chống khủng bố, Trung Quốc đang tập trung sức lực vào phát triển kinh tế và hiện đại hoá quân sự, quan hệ hai nước ở trong một tình trạng ổn định tương đối. Tuy vậy, bất chấp những cải thiện gần đầy, quan hệ Mỹ - Trung sẽ vẫn là một trong những quan hệ phức tạp nhất và sẽ còn có nhiều biến động.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 13 Tháng Sáu, 2022, 06:27:19 am
Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần của Mỹ, được công bố ngày 30-9-2001, tức là sau 11 tháng 9, vẫn khẳng định: "Hiện có khả năng một đối thủ quân sự có cơ sở nguồn lực đáng gờm nổi lên ở châu Á. Miền duyên hải Đông Á - từ vịnh Bengan đến biển Nhật Bản - tiêu biểu cho một khu vực đặc biệt mang tính thách thức". Như vậy, cho dù Trung Quốc không còn bị công khai gọi là "đối thủ chiến lược", Báo cáo Đánh giá quốc phòng vẫn hàm ý Trung Quốc khi đề cập những thách thức đối với nước Mỹ. Trong khi đó, "có những khoảng cách rất lớn ở chiến trường châu Á. Mật độ bố trí căn cứ của Mỹ và cơ sở hạ tầng trên tuyến đường đó thấp hơn so với những khu vực quan trọng khác. Mỹ cũng có ít sự bảo đảm hơn đối với việc tiếp cận các cơ sở ở khu vực này"1 (Thông tấn xã Việt Nam, "Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần", Tài liệu tham khảo số 11-12-2002, tr.9). Đây là những lý do khiến bản báo cáo đã đưa vị trí của Đông Á lên trước châu Âu. Báo cáo khẳng định sự cần thiết phải tái cơ cấu lực lượng của Mỹ để có thể đối phó hữu hiệu với các thách thức ở Đông Á và đề nghị tăng cường sức mạnh hải, lục, không quân cho khu vực Đông Á, Tây Nam Á và Trung Đông.


Ba là điều chỉnh chính sách đối với bán đảo Triều Tiên. Mỹ vẫn theo đuổi những mục tiêu không đổi ở bán đảo Triều Tiên, bao gồm duy trì ổn định, không phổ biến hạt nhân, hoà giải trên bán đảo Triều Tiên và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Hàn1 (Joel Wit, "The United States and North Korea", Policy Brief #74, 3-2001, http://www.brookings.org). Vì vậy, mặc dù chỉ trích chính sách của chính quyền Clinton, chính quyền Bush cũng không có sự lựa chọn chính sách nào phục vụ lợi ích của Mỹ ở bán đảo Triều Tiên tốt hơn là duy trì đối thoại, tiếp xúc và can dự với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tuy nhiên, sự khác biệt thể hiện ở cách tiếp cận cứng rắn hơn của chính quyền Bush.


Đúng vào lúc Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến ở Irắc, khủng hoảng hạt nhân xảy ra trên bán đảo Triều Tiên sau khi Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra tuyên bố không từ bỏ việc phát triển vũ khí hạt nhân và yêu cầu các thanh tra vũ khí hạt nhân phải rời Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Như vậy, Mỹ lại đứng trước một tình thế khó khăn mới. Tình hình hiện nay có những điểm giống với cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu những năm 1990. Cuộc khủng hoảng hạt nhân thời kỳ đó đã được tạm thời giải quyết với Hiệp định khung năm 1994. Theo hiệp định này, phía Mỹ đồng ý dàn xếp việc cung cấp hai lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và 500.000 tấn dầu nặng mỗi năm cho đến khi lò phản ứng nước nhẹ đầu tiên hoàn thành nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Đổi lại, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên sẽ cho phép quốc tế thanh sát hai cơ sở hạt nhân đang hoạt động, đồng ý không tái chế các chất thải từ lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon.


Sự sụp đổ của Hiệp định khung năm 1994 đặt chính quyền Bush trước những sự lựa chọn khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ đang tập trung vào vấn đề Irắc. Tình hình trước mắt còn diễn biến phức tạp. Tuy vậy, ít có khả năng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Triều Tiên như tinh thần của Học thuyết chiến tranh phòng ngừa. Khác với Irắc, bán đảo Triều Tiên là nơi đan xen lợi ích của nhiều nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, Nga và Nhật Bản. Sự có mặt của nhân tố vũ khí hạt nhân cùng với lợi ích của các đồng minh của Mỹ ở khu vực này làm cho khả năng xảy ra chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên vào thời điểm hiện nay là thấp. Mặt khác, xét từ cách tiếp cận cứng rắn và thực dụng của chính quyền Bush, cũng ít có khả năng chính quyền Bush chịu thoả hiệp nhanh chóng với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, chấp nhận những yêu cầu mà Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra. Giải pháp Mỹ gây sức ép đối với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thông qua Liên hợp quốc để tiến tới một thoả thuận mới có thể chấp nhận được với các bên là hai miền Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Sự cải thiện gần đây trong quan hệ giữa các nước lớn cũng như sự chia sẻ lợi ích của các nước lớn ở khu vực này cho thấy Mỹ có thể tìm được sự đồng thuận của các nước lớn khác trong vấn đề Triều Tiên để phục vụ mục tiêu chính sách cao nhất của Mỹ là ngăn không cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có được vũ khí hạt nhân và không phát triển các loại tên lửa tầm xa.


Bốn là điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á. Từ sau sự kiện 11 tháng 9, Đông Nam Á càng trở nên quan trọng đối với Mỹ. Mỹ coi đây là mặt trận thứ hai chống khủng bố chủ yếu vì hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, ở Đông Nam Á tập trung một số nước có cộng đồng Hồi giáo đông đảo và Hồi giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền chính trị khu vực. Thứ hai là sự tồn tại của một số nhóm Hồi giáo cực đoan, có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda ở khu vực này. Hơn nữa, nhìn về lâu dài, tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á cũng phục vụ mục tiêu lâu dài của Mỹ là kiềm chế Trung Quốc.


Mỹ thúc đẩy mạnh quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, với một số nước Đông Nam Á, điển hình là Inđônêxia và Philippin. Tháng 1-2002, sau khi chiến dịch "Tự do bền vững" ở Ápganixtan đã loại bỏ được Taliban và tiêu diệt được phần lớn cơ sở của Al Qaeda, cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ bước sang giai đoạn 2 với tuyên bố điều 650 quân trong lực lượng chống khủng bố của Mỹ sang Philippin để hỗ trợ và đào tạo lực lượng của Philippin tiêu diệt Abu Sayyaf, một nhóm khủng bố mà Mỹ cho là có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda1 (Rensselaer Lee and Raphel Perl, "Terrorism, the Future, and U.S. Foreign Policy", CRS Issue Brief for Congress, 26-3-2002). Trong khi đó, Philippin đồng ý cho Mỹ sử dụng không phận Philippin và tiếp cận các căn cứ quân sự Mỹ trước đây tại Philippin là Subic và Clark. Tổng thống Bush đã cam kết viện trợ kinh tế và quân sự cho Inđônêxia trị giá hơn 700 triệu USD để đổi lại sự hợp tác của nước này trong chiến dịch chống khủng bố. Quốc hội Mỹ bỏ qua các điều khoản cấm viện trợ vũ khí cho Inđônêxia. Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho Inđônêxia để đổi lại sự ủng hộ của nước này đối với cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Vai trò của Inđônêxia, với tư cách là một nước có số dân theo Đạo Hồi đông nhất thế giới, cũng rất quan trọng đối với Mỹ vì tăng cường hợp tác với những nước Hồi giáo ôn hoà là một thành tố chính sách quan trọng của Mỹ khiến cho cuộc chiến chống khủng bố không trở thành "cuộc xung đột giữa các nền văn minh".


Việc Mỹ tăng cường sự hiện diện và mở rộng hợp tác quân sự đối với khu vực Đông Nam Á vì mục tiêu chống khủng bố đã làm tăng thêm tính phức tạp và khó lường trong môi trường an ninh khu vực. Sự cải thiện trong quan hệ Mỹ - Trung từ sau sự kiện 11 tháng 9 có tính chất sách lược hơn là chiến lược. Trong quan hệ Mỹ - Trung, sự nghi ngờ về mục tiêu và ý đồ giữa một siêu cường đang mưu cầu vị trí độc tôn và bá quyền thế giới với một cường quốc đang trỗi dậy còn rất lớn. Bởi vậy, những hành động tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ cho dù với mục tiêu công khai chống khủng bố, ở Đông Nam Á và Trung Á, những khu vực sân sau của Trung Quốc, không khỏi khoét sâu những nghi kỵ và mâu thuẫn lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.


Tóm lại, châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương là hai khu vực chiến lược chủ yếu của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, vị trí của châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược an ninh của Mỹ vì ở đây tồn tại những thách thức lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ. Đặc biệt, sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành một quan ngại an ninh dài hạn đối với Mỹ bởi khả năng nước này thách thức vị trí siêu cường và vai trò lãnh đạo của Mỹ trong tương lai. Trong khi đó, khu vực này vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác an ninh hữu hiệu, một cơ chế Mỹ có thể dựa vào để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Chính vì vậy, giới hoạch định chiến lược, đặc biệt là giới quân sự của Mỹ, ngày càng chú trọng hơn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược toàn cầu từ châu Âu sang châu Á đã bắt đầu manh nha từ dưới chính quyền Clinton. Dưới chính quyền Bush, tư duy đối ngoại hiện thực chính trị của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh đã đẩy quá trình này thêm một bước. Tuy nhiên, sự kiện ngày 11-9-2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tạo ra một bước ngoặt mới trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ. Do ưu tiên trong những năm tới là cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ cần sự hợp tác của các nước lớn khác trong đó có Trung Quốc. Việc cải thiện quan hệ của Mỹ với Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố không có tính chất lâu dài. Một khi nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố quốc tế bị đẩy lui, những mâu thuẫn chiến lược khó có thể dung hoà giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ lại bộc lộ rõ.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:29:29 am
CHƯƠNG IV
TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN LƯỢC AN NINH MỚI CỦA MỸ


1. Việc triển khai chiến lược an ninh mới của Mỹ

Irắc không chỉ là mục tiêu tiếp theo trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ mà còn là nơi thử nghiệm Học thuyết tấn công phủ đầu của chính quyền Bush. Hơn thế nữa, Chiến lược an ninh quốc gia với một định nghĩa đầy đủ nhất và những "tiêu chuẩn" của một nước mà Mỹ coi là bất trị cùng với phương cách để đối phó với những nước bất trị này dường như được dựng nên để biện minh và làm cơ sở cho việc Mỹ tấn công quân sự Irắc.


Hiện tại, Mỹ theo đuổi một chiến lược toàn cầu hòng thiết lập sự lãnh đạo của Mỹ và truyền bá giá trị của Mỹ trên toàn thế giới. Để đạt mục tiêu này, Mỹ có lợi ích không chế, kiểm soát và duy trì một cán cân lực lượng có lợi đối với Mỹ tại những khu vực trọng yếu của thế giới. Trung Đông là một trong những khu vực Mỹ có lợi ích sống còn. Khủng bố quốc tế, vấn đề phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, đặc biệt là khi những vũ khí này rơi vào tay những nước mà Mỹ coi là bất trị là những mối đe dọa đối với vai trò lãnh đạo, sự tự do hành động và lợi ích của Mỹ trên thế giới. Vì vậy, chính quyền Mỹ cho rằng Mỹ phải "hành động trước" để ngăn chặn và răn đe.


Tại sao Mỹ coi Irắc là trọng điểm của cuộc chiến chống khủng bố, là cuộc thử nghiệm đầu tiên của Học thuyết chiến tranh phòng ngừa, mặc dù chưa chứng minh được mối liên hệ giữa Saddam và Al Qaeda? Có bốn nguyên nhân chủ yếu.


Một là, Irắc là tâm điểm hội tụ những thách thức lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ trong thời kỳ hiện nay. Thay đổi chế độ ở Irắc sẽ phục vụ những lợi ích chiến lược, kinh tế, chính trị của Mỹ ở khu vực này. Mỹ có những lợi ích chiến lược và dầu mỏ to lớn ở Trung Đông. Lợi ích chiến lược của Mỹ ở Irắc là lợi ích hàng đầu: thay đổi chế độ Saddam Hussein, thiết lập sự hiện diện quân sự ở Irắc sẽ giúp đặt toàn bộ khu vực dưới sự kiểm soát của Mỹ, giúp Mỹ giảm sự phụ thuộc vào Arập Xêút, tạo ra một thế chiến lược có lợi cho Mỹ ở khu vực. Và hơn hết, trừng phạt Irắc sẽ giúp Mỹ có được sự tự do hành động, răn đe các cường quốc thù địch thách thức lợi ích của Mỹ. Yếu tố dầu mỏ cũng là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng trong tính toán của Mỹ. Irắc có trữ lượng dầu lớn thứ hai trên thế giới, ước tính lên tới 112,5 tỷ thùng hay 11% toàn bộ trữ lượng dầu của thế giới1 (Miriam Pemberton, "War in Iraq: The Oil Factor", Foreign Policy in Focus, tháng 9-2002). Trong khi đó, nhu cầu dầu mỏ của Mỹ chiếm một phần tư của toàn thế giới và Mỹ phải nhập khẩu hơn một nửa số này. Theo Báo cáo chính sách năng lượng của chính quyền Bush tháng 5-2002 (còn gọi là báo cáo Cheney), đến năm 2020, Mỹ sẽ phải nhập hai phần ba lượng dầu tiêu thụ. Chính quyền Bush có liên hệ mật thiết với với giới công nghiệp dầu mỏ: cả Tổng thống Bush và Phó Tổng thống Cheney đều đã từng làm việc trong lĩnh vực này. Bốn mươi mốt quan chức cao cấp trong chính quyền Bush đã từng là giám đốc điều hành chính hoặc có cổ phần đáng kể và các mối liên hệ tài chính khác với giới công nghiệp dầu mỏ. Cuối cùng, một chế độ thân Mỹ theo hướng dân chủ ở Irắc sẽ giúp Mỹ thay đổi cơ bản bàn cờ chính trị ở Trung Đông, giúp cho các giá trị Mỹ thâm nhập vào khu vực vốn được coi là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan phát triển. Irắc cũng là nước "cứng đầu cứng cổ", là hiện thân của chủ nghĩa chống Mỹ. Sự đối đầu không che đậy, sự thù địch của chính quyền Saddam Hussein với Mỹ làm cho Mỹ lo ngại về khả năng nước này phát triển vũ khí giết người hàng loạt và truyền bá công nghệ và loại vũ khí này cho các tổ chức khủng bố và các nước "bất trị" khác. Mỹ đặc biệt lo ngại khả năng các nước được coi là "bất trị", các tổ chức khủng bố sử dụng vũ khí giết người hàng loạt (WMD) tấn công vào các lợi ích của Mỹ ở nước ngoài cũng như trên lãnh thổ Mỹ.


Hai là, so với hai đối tượng khác trong "trục ma quỷ" là Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Iran, chính quyền Bush cho rằng Irắc là mục tiêu dễ bị tổn thương hơn cả do nước này chưa có vũ khí hạt nhân và sau một thời gian dài cấm vận đã bị suy yếu đáng kể. Hơn nữa, khác với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, cho dù còn có một số nước phản đối việc Mỹ tiến hành chiến tranh để thay đổi chế độ ở Irắc, các nước lớn có lợi ích ở đây, đặc biệt là Nga, Trung Quốc, EU có khả năng dàn xếp và thoả hiệp với Mỹ về vấn đề này. Nói một cách khác, cái giá phải trả cho một cuộc chiến tranh ở Irắc có thể chấp nhận được, đặc biệt khi mà cái lợi đạt được từ cuộc chiến tranh này là rất lớn như đã phân tích ở trên.


Ba là, cuộc chiến chống khủng bố tạo điều kiện cho chính quyền Bush giải quyết một vấn đề còn dang dở từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Nhiều quan chức trong chính quyền Bush hiện nay đã từng phục vụ dưới chính quyền Bush cha cho rằng quyết định hồi tháng 2-1991 của Mỹ không tiến vào lật đổ Saddam là một sai lầm lớn cần được khắc phục, và thời điểm hiện nay, trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố, là cơ hội vàng.


Bốn là, chính quyền Bush đã đặt cược vào ván bài Irắc. Tương tự như Reagan đã đi vào lịch sử nước Mỹ như một vị Tổng thống đã "có công" chiến thắng trong chiến tranh lạnh, Bush muốn là tổng thống đi vào lịch sử với dấu ấn là vị Tổng thống đã mang lại cái gọi là "hoà bình và dân chủ" đến vùng Vịnh.


Thời điểm đầu năm 2003 là thời điểm tương đối thuận lợi đối với Mỹ. Về nội bộ, Quốc hội Mỹ ủng hộ chính quyền Bush sử dụng vũ lực trong vấn đề Irắc. Đây là yếu tố rất quan trọng, về cơ bản công chúng Mỹ trở nên ủng hộ việc sử dụng vũ lực trong cuộc chiến chống khủng bố kể từ sau sự kiện 11 tháng 9. Hơn thế nữa, nhìn chung đa số công chúng Mỹ cũng ủng hộ học thuyết tấn công phủ đầu, sử dụng vũ lực đổ tấn công ngăn chặn trong cuộc chiến chống khủng bố. Về quốc tế, Mỹ đã phần nào thành công trong việc thuyết phục đồng minh và đối tác trong cuộc chiến chống khủng bố thông qua việc gây sức ép, mặc cả và đổi chác với các nước nhằm lôi kéo sự ủng hộ, hoặc chí ít là sự ngầm chấp nhận việc Mỹ tấn công Irắc để loại bỏ Saddam Hussein. Nếu không có sự kiện 11 tháng 9, yếu tố quốc tế không thể thuận lợi như vậy đối với chính quyền Bush.


Về mặt chính trị, nếu không đưa ra được những bằng chứng có tính thuyết phục về sự liên hệ của Irắc với mạng lưới khủng bố quốc tế và không có được sự đồng thuận của Liên hợp quốc và sự ủng hộ rộng rãi của đồng minh, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Irắc sẽ xói mòn liên minh quốc tế chống khủng bố. Điều trớ trêu là trong khi trọng tâm của chính sách đối ngoại Mỹ trong thời gian tới là duy trì liên minh quốc tế chống khủng bố, thì điều kiện thiết yếu đối với cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu do Mỹ phát động, với việc biến Irắc và khả năng tấn công quân sự Irắc nhằm thay đổi chế độ ở đây thành trọng điểm giai đoạn II của cuộc chiến chống khủng bố và sẽ làm tan rã liên minh quốc tế chống khủng bố. Hơn thế nữa, nó sẽ khoét sâu mâu thuẫn giữa Mỹ và thế giới Hồi giáo, làm gia tăng tâm lý chống Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả trong các đồng minh thân cận.


Bên cạnh đó, việc tấn công quân sự Irắc cũng có những mạo hiểm đối với Bush về mặt chính trị nội bộ. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc nhiều hơn vào kết quả của cuộc tấn công quân sự.

Về mặt quân sự, thách thức đối với chính quyền Bush là tiến hành một cuộc tấn công quân sự để có thể chiến thắng nhanh chóng và ít thương vong. Trong khi đó, giới quân sự Mỹ vẫn chưa có phương án hữu hiệu để trung lập hoá nguy cơ phản công bằng vũ khí hoá học hoặc sinh học. Hơn nữa, thay vì ngăn chặn những hành động khủng bố trong tương lai, cuộc tấn công quân sự của Mỹ sẽ khiêu khích và kích động các tổ chức khủng bố thực hiện những cuộc khủng bố khác. Cuộc không kích trả đũa Libi năm 1986 là một ví dụ điển hình. Chính cuộc không kích này đã là nguyên nhân dẫn đến vụ đánh bom máy bay của hãng hàng không Pan Am 103 của Mỹ hai năm sau đó.


Về mặt tài chính, theo nhiều đánh giá, chi phí cuộc chiến có thể gấp từ 2 đến 4 lần chi phí của cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, tức từ 100 đến 200 tỷ USD so với 57 tỷ USD của năm 1991. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ có thể chịu được chi phí này. Điều khó khăn hơn là tái thiết Irắc và duy trì ổn định ở đây. Trong bối cảnh các đồng minh không sẵn lòng gánh vác những chi phí tài chính như trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, cuộc chiến của Mỹ ở Irắc có thể đưa chính quyền Bush con vào tình trạng như chính quyền Bush cha, tức là chiến thắng về đối ngoại sẽ không đủ trang trải cho thất bại về kinh tế và tài chính.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:32:02 am
2. Chiều hướng chính sách của Mỹ sau Irắc

Việc Mỹ coi Irắc là trọng điểm của giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến chống khủng bố, mặc dù sự liên hệ giữa việc Mỹ đánh Irắc và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ không có cơ sở rõ ràng, không khỏi làm người ta lo ngại: vậy đâu là giới hạn cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, và nước nào sẽ là mục tiêu tiếp theo của sự biểu dương sức mạnh quân sự của Mỹ?


Nhìn lại những điều kiện can thiệp quân sự và thực tế chính sách can thiệp của Mỹ, đặc biệt trong thời kỳ những năm 1990, có thể thấy toát lên ba nét nổi bật. Thứ nhất, điều kiện quan trọng nhất để Mỹ can thiệp vào một cuộc xung đột ngoài biên giới của mình được các nhà lãnh đạo Mỹ nhấn mạnh là khi lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ hoặc của đồng minh bị đe dọa. Tuy nhiên, trên thực tế, bản thân việc xác định lợi ích nào là lợi ích quốc gia sống còn bị đe dọa lại là vấn đề rất lớn bởi không có một công thức rõ ràng nào để xác định nó. Điều này có nghĩa là các nhà lãnh đạo Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh có khả năng can thiệp vào một phạm vi các vấn đề rộng hơn và ít liên quan trực tiếp hơn đến cái gọi là lợi ích sống còn của Mỹ. Thứ hai, sự can thiệp quân sự phải được sự ủng hộ của quốc hội và đồng minh, chi phí có thể chấp nhận được, có sự chỉ huy và kiểm soát rõ ràng, khả năng giành thắng lợi cao, ít thương vong và có điểm rút ra rõ ràng1 (Christopher, 4-1993). Thứ ba, những nhân tố nội bộ Mỹ đóng vai trò rất quan trọng trong các quyết định đối ngoại của Mỹ. Đấu tranh đảng phái, thời điểm trước bầu cử hay nhân tố cá nhân Tổng thống Mỹ trong một số trường hợp có thể có tác động không nhỏ đối với một cuộc phiêu lưu quân sự của nước Mỹ. Quyết định ném bom Irắc của Mỹ hồi tháng 12-1998 là một minh chứng điển hình cho mối liên hệ chặt chẽ giữa nhân tố đối nội và đối ngoại. Tổng thống Clinton đã phải tỏ ra quyết đoán và mạnh mẽ trong vấn đề Irắc để phần nào cải thiện hình ảnh của một vị Tổng thống đang gặp nhiều bê bối. Việc Mỹ tấn công Kosovo vào thời điểm NATO kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và chuẩn bị thông qua khái niệm chiến lược mới không chỉ trùng hợp ngẫu nhiên với thời kỳ Mỹ chỉ còn một năm nữa là bầu cử tổng thống. Kosovo cũng là một canh bạc lớn cuối cùng của Clinton với hy vọng làm mờ nhạt hình ảnh của một vị Tổng thống của các vụ bê bối. Tương tự như vậy, thời điểm Mỹ đưa vấn đề Irắc ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 9-2002 cũng là để nhằm hướng dư luận ra khỏi những vụ bê bối tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ mà bản thân Tổng thống Bush và các cố vấn thân cận của ông ta cũng có phần liên quan. Thời điểm Mỹ đánh Irắc một năm trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 cũng là sự tính toán kỹ lưỡng, tính đến nhân tố chính trị nội bộ.


Trên cơ sở ba yếu tố nêu ra ở trên, có thể thấy ít có khả năng Mỹ sẽ tấn công quân sự một nước khác trong "trục ma quỷ" ngay sau cuộc chiến của Mỹ ở Irắc. Thứ nhất, chính quyền Bush sẽ phải tập trung vào các vấn đề đối nội, chuẩn bị cho cuộc chạy đua năm 2004. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang tiềm ẩn nhiều vấn đề và sự phục hồi của kinh tế Mỹ không chắc chắn. Thứ hai, Mỹ cần sự hợp tác của đồng minh và đối tác trong cuộc chiến chống khủng bối Nếu Mỹ vung tay quá trán thì rạn nứt trong liên minh chống khủng bố của Mỹ sẽ không thể cứu vãn và chủ nghĩa chống Mỹ sẽ tiếp tục tăng mạnh.


Thứ ba, xét từ góc độ chi phí chiến tranh, khả năng giành thắng lợi nhanh, ít thương vong thì cả Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Iran đều khó có thể đáp ứng điều kiện này. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên làm người ta lo ngại rằng nước này sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo của Mỹ. Thực chất, các chiến lược gia của Mỹ khó có thể vạch ra một chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, ít thương vong ở khu vực này nếu tính đến tiềm lực quân sự của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, vị trí địa lý của nước này và khả năng can thiệp của Trung Quốc.


Vậy trong những hoàn cảnh nào thì Mỹ sẽ can thiệp ở châu Á? Và khả năng Mỹ can thiệp ở khu vực này lớn đến đâu và ở mức độ nào? Ở châu Á, hiện có ba điểm nóng tiềm tàng: bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan và tranh chấp biển Đông. Việc Mỹ duy trì liên minh an ninh Mỹ - Nhật và thậm chí mở rộng phạm vi hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật bao gồm cả "khu vực xung quanh Nhật Bản" với việc sửa đổi Phương châm hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật tháng 9-1997, dường như là một bước chuẩn bị cho sự can thiệp của Mỹ, với sự hỗ trợ hậu cần của lực lượng phòng vệ Nhật Bản.


Tuy nhiên, Mỹ khó có thể trông chờ ở sự ủng hộ của đồng minh của Mỹ ở Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, trong trường hợp Mỹ can thiệp vào khu vực này. Nội bộ Nhật Bản cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò cụ thể của Nhật Bản trong trường hợp Mỹ tiến hành can thiệp ở châu Á. Nói tóm lại, Mỹ khó có thể trông chờ Nhật Bản ủng hộ và tham gia vào một cuộc phiêu lưu quán sự nào đó của Mỹ ở eo biển Đài Loan hay ở biển Đông.


Cả Irắc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đều bị Mỹ nghi ngờ phát triển vũ khí hạt nhân và đòi hỏi hai nước này phải mở cửa các cơ sở bị tình nghi cho thanh tra của Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Tuy nhiên, trong trường hợp Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, các bên liên quan đã đạt được một thoả thuận khung theo đó Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đồng ý ngừng các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân để đổi lấy 500.000 tấn HFO và các lò phản ứng nước nhẹ. Cơ chế chủ yếu để xây dựng các lò phản ứng nước nhẹ là thông qua Tổ chức Phát triển năng lượng bán đảo Triều Tiên (KEDO). Đàm phán bốn bên giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần làm giảm căng thẳng và xây dựng lòng tin trên bán đảo Triều Tiên.


Mỹ phải tính đến vai trò của Trung Quốc, Nga, và ở mức độ nào đó là Ấn Độ, trong các vấn đề an ninh ở châu Á. Nói một cách khác, thế đa cực tương đối vững chắc ở châu Á - Thái Bình Dương sẽ là một nhân tố cản trở những cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ ở châu Á. Sau vấn đề bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan là một vấn đề an ninh có tiềm năng gây mất ổn định ở khu vực.


Quan hệ Mỹ - Trung Quốc đã đi đến đỉnh cao căng thẳng hồi năm 1996 khi Mỹ cử hai tàu sân bay đến vùng eo biển Đài Loan để răn đe cuộc tập trận của Trung Quốc ở khu vực này. Tuy nhiên, khi đến bên bờ của sự đổ vỡ, hai nước đã kịp thời điều chỉnh quan hệ và một giai đoạn nồng ấm trong quan hệ Mỹ - Trung bắt đầu với quyết tâm xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Cho dù vẫn tồn tại những khác biệt cơ bản và những mâu thuẫn to lớn giữa hai nước, đã hình thành một nhận thức sâu sắc ở cả phía Mỹ và Trung Quốc về tầm quan trọng và sự cần thiết phải hợp tác để giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu.


Những nhân tố nói trên sẽ có tác động mạnh mẽ đèn quyết định can thiệp quân sự ở châu Á. Tuy nhiên, những nhân tố này không loại trừ khả năng can thiệp quân sự của Mỹ ở khu vực này. Trong những hoàn cảnh đặc biệt và do tính toán sai lầm về chiến lược và lợi ích của chính quyền Mỹ vào thời điểm đó, Mỹ có thể can thiệp với mức độ khác nhau ở khu vực này.


Việc Mỹ đặt Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa giới hạn trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố và ứng phó với các nước "bất trị" cho thấy khả năng sử dụng vũ lực lan tràn đối với các đối tượng khác chưa hẳn đã được đặt ra. Xét cho cùng, chính quyền Bush cũng phải nhận thức được giới hạn sức mạnh của nước Mỹ trong một thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Bản thân nước Mỹ cũng đang gặp những khó khăn nội bộ lớn, đặc biệt là nguy cơ suy thoái kinh tế và việc giải quyết một loạt những vụ bê bối tài chính của các tập đoàn và công ty lớn. Số phận chính trị của Bush con phụ thuộc nhiều hơn vào triển vọng phát triển kinh tế của nước Mỹ chứ không phải vào các cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Bài học thất cử nhiệm kỳ II của Bush cha chắc hẳn không thể bỏ qua nếu George W. Bush không muốn đi theo vết xe đổ của Bush cha hơn một thập kỷ về trước.


Điều đáng lo ngại hơn là sự thắng thế hiện nay của phe bảo thủ trong chính quyền Mỹ có nghĩa là chính sách của Mỹ trong thời gian tới sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi tầm nhìn và quan điểm của những nhân vật bảo thủ như Dick Cheney, Donald Rumsfeld và Paulfowitz. Chiến thắng của Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11-2002 cho thấy sự ủng hộ chính trị trong nước đối với chính quyền Bush. Đối với chính quyền Bush, điều này không chỉ có nghĩa nội bộ Mỹ ủng hộ chính sách của chính quyền Bush trong thời gian vừa qua mà còn là cơ sở chính trị nội bộ để chính quyền Bush thúc đẩy việc thực hiện những ý đồ và tham vọng của mình trong thời gian tới. Xét từ góc độ này, chương trình nghị sự chính sách an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush, được hậu thuẫn bởi Quốc hội do Đảng Cộng hoà kiểm soát ở cả hai Viện, sẽ trở nên hung hăng hơn do ảnh hưởng của nhóm bảo thủ trong chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:33:24 am
3. Tác động đối với thế giới và khu vực

Điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ nói chung và Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa của chính quyền Bush nói riêng có những hệ luỵ trước mắt cũng như lâu dài đối với thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Việc chính quyền Bush công bố Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa cho thấy ít nhất hai điều. Thứ nhất, là siêu cường duy nhất, Mỹ tự cho phép mình định ra luật chơi, thay đổi luật chơi đã được cộng đồng quốc tế lập ra từ năm 1945 với việc thành lập Liên hợp quốc. Với việc đưa ra khái niệm tấn công phòng ngừa Mỹ đã tự đặt mình cao hơn luật pháp quốc tế. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, một quốc gia chỉ có thể sử dụng vũ lực chống lại một quốc gia có chủ quyền khác trong hai trường hớp. Trường hợp thứ nhất là theo điều 51, một quốc gia được quyền tự vệ, sử dụng vũ lực để đánh trả sự tấn công của một quốc gia khác. Trường hợp thứ hai là khi hoà bình và an ninh quốc tế bị đe dọa và được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngay chính Henry Kissinger cũng cho rằng việc chính quyền Bush chủ trương can thiệp quân sự để thay đổi chế độ là thách thức cả hệ thống quốc tế bởi vì nó đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Thứ hai là học thuyết của Bush thể hiện rõ ràng mục tiêu bá chủ thế giới. Cho dù đây không phải là điều mới mẻ bởi các chính quyền trước của Mỹ cũng đều theo đuổi mục tiêu này, chính quyền Bush đã đi xa thêm một bước khi không chỉ tự cho mình là sen đầm quốc tế, mà còn tự cho mình đứng cao hơn cộng đồng quốc tế. Nói một cách khác, ngay chính nhiều học giả Mỹ cũng cho rằng đây là sự hành xử của một đế chế. Một sen đầm quốc tế làm theo mệnh lệnh của cộng đồng quốc tế. Một đế chế tự mình đưa ra quyết định và cũng đớn phương thực hiện quyết định đó. Và nước Mỹ ngày nay không chỉ là sen đầm quốc tế, mà còn đang cư xử như một đế chế.


Điều chỉnh chiến lược trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ có tác động đối với những xu thế quốc tế chủ đạo thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Cho dù chiến tranh thế giới khó có thể xảy ra, thời kỳ hoà bình và ổn định tương đối trên thế giới kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đã chấm dứt. Sự cương quyết trả đũa của Mỹ và những tuyên bố mạnh mẽ về sự sẵn sàng theo đuổi cuộc chiến cho đến khi "tất cả các nhóm khủng bố có địa bàn hoạt động toàn cầu được phát hiện, ngăn chặn và đánh bại"1 (Phát biểu của Tổng thống George W.Bush trước hai Viện Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ ngày 20-9-2001) báo hiệu cho sự bắt đầu của một "vòng xoáy bạo lực" mới trên thế giới. Tính chất và phạm vi không giới hạn của cuộc chiến vô hình mà nạn nhân chủ yếu sẽ là những người dân vô tội càng làm tăng tình trạng thiếu an ninh và bất ổn trên thế giới. Trên thực tế, nạn khủng bố ngày càng gia tăng và trở thành mối đe dọa đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Vụ khủng bố ở Bali, vụ bắt cóc con tin ở Nga và những vụ khủng bố ở Trung Đông cho thấy khủng bố quốc tế ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe dọa an ninh của nhiều nước và khu vực trên thế giới.


Một trong những đặc trưng nổi bật của thời kỳ sau chiến tranh lạnh là các quốc gia trên thế giới đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế. Người ta nói đến cuộc chạy đua về kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá đã thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang thời kỳ chiến tranh lạnh. Kể từ sự kiện 11 tháng 9 và Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, vấn đề khủng bố và chống khủng bố quốc tế sẽ chiếm ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự an ninh quốc gia của Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, cướp biển, nhập cư bất hợp pháp, v.v..., vốn đã ngày càng trở nên quan trọng kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, sẽ càng trở nên cấp bách hơn. Và vấn đề này sẽ chiếm ưu tiên cao trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và khu vực trong thời gian tới.


Một hệ quả quan trọng khác của điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ là vấn đề chạy đua vũ trang. Như trong Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ nêu rõ, một mặt Mỹ phải duy trì và mở rộng khoảng cách sức mạnh để ngăn chặn một cường quốc nổi lên thách thức vị trí của Mỹ. Đó là tính toán của Mỹ. Những cường quốc nằm trong tầm ngăn chặn của Mỹ đương nhiên sẽ phải có đối sách tương ứng để tăng cường sức mạnh quân sự của mình, tránh khả năng bị phụ thuộc hoặc bị Mỹ dùng sức mạnh quân sự o ép. Một ví dụ điển hình là mặc dù Nga đã phải "ngậm bồ hòn làm ngọt" đối với việc Mỹ rút ra khỏi Hiệp ước ABM và xúc tiến việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia, tháng 1- 2003, Nga tuyên bố cũng sẽ xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa để bảo vệ an ninh cho mình. Điều này cho thấy một cuộc chạy đua vũ trang với quy mô có thể nhỏ hơn so với thời kỳ chiến tranh lạnh đã bắt đầu, chủ yếu do chính sách của Mỹ gây ra. Mặt khác, một mục tiêu quan trọng khác của Mỹ là các nước "bất trị". Đây cũng chính là mục tiêu của Học thuyết Chiến tranh phòng ngừa. Để chống lại ý đồ của Mỹ, do không có khả năng đối đầu quân sự trực diện với Mỹ, những nước hoặc những tổ chức thù địch với Mỹ sẽ ngày càng sử dụng những biện pháp không cân xứng. Đối với những đối tượng này, việc tăng cường sức mạnh quân sự thông thường có thể không được đặt ra. Nhưng việc tìm kiếm, sở hữu những loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đặc biệt là bộ ba vũ khí hạt nhân sinh học và hoá học sẽ càng ráo riết hơn bao giờ hết.


Quan hệ giữa các nước lớn Mỹ, Nga, Trung Quốc cũng có những biến chuyển quan trọng sau sự kiện ngày 11 tháng 9 và trước những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ của các nước, đặc biệt là Mỹ và Nga. Có thể thấy ít nhất ba nét nổi bật. Một là mặt hợp tác trong quan hệ giữa những nước này tăng lên đáng kể so với thời kỳ trước đó. Hai là sự đấu tranh giữa xu thế đơn cực và đa cực giảm do các nước lớn chia sẻ lợi ích trong cuộc chiến chống khủng bố. Ba là những dấu hiệu manh nha phân cực trong quan hệ giữa các nước lớn trước đó, do việc Mỹ - Nhật và Nga - Trung tăng cường hợp tác và mặt cạnh tranh nổi lên trong quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ - Nga, đã giảm đáng kể. Yếu tố hoà hợp quyền lực (concert of power) nổi lên rõ nét hơn với khả năng Mỹ, Nga và Trung Quốc tăng cường hợp tác và có khả năng đi đến thoả hiệp trên một số vấn đề gai góc. Những thay đổi này, nếu có tính chất lâu dài, sẽ có tác động quan trọng đối với trật tự thế giới trong thế kỷ XXI. Trật tự thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh đến nay có thể coi là một thế giới "đơn - đa cực"1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign affairs Vol. 78, No. 2, tháng 3/4-1999) như cách gọi của học giả Mỹ Samuel Huntington.


Chiến tranh lạnh kết thúc, lợi ích quốc gia thay thế ý thức hệ trở thành tiêu chí quan trọng nhất trong các mối quan hệ và tập hợp lực lượng quốc tế. Sự kiện ngày 11 tháng 9 và sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Mỹ, sẽ vạch một đường phân giới mới trong nền chính trị quốc tế. "Mọi quốc gia, mọi khu vực đang đứng trước một quyết định. Hoặc họ đứng về phía chúng ta, hoặc họ đứng về phía khủng bố1 (Phát biểu của Tổng thống George W.Bush trước hai Viện Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ ngày 20-9-2001) là tuyên bố chính sách thẳng thừng và mạnh mẽ của Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Powell cũng phát biểu, từ nay Mỹ sẽ đánh giá quan hệ với các nước khác căn cứ vào sự hợp tác chống khủng bố của quốc gia đó với Mỹ. Như vậy, ít nhất trong vài năm tới, trên thế giới có thể sẽ hình thành tập hợp lực lượng mới. Một liên minh quốc tế chống khủng bố do Mỹ cầm đầu và hạt nhân là các nước đồng minh của Mỹ trong NATO, đặc biệt là Anh, và phần nào là đồng minh của Mỹ ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Ôxtrâylia sẽ được hình thành. Vòng ngoài của liên minh này bao gồm các nước muốn tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ cả về kinh tế lẫn chính trị nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề ly khai, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo trong nội bộ của mình. Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan và các nước Cộng hoà Trung Á là những trường hợp như vậy. Đối lập với liên minh quốc tế này sẽ là mạng lưới khủng bố quốc tế được một số ít quốc gia bảo trợ. Tuy nhiên, đây chỉ là một liên mình lỏng lẻo, một sự liên kết nhất thời của các nước nhằm đối phó với một mối đe dọa chung trước mắt là chủ nghĩa khủng bố và phục vụ các tính toán lợi ích riêng. Tập hợp lực lượng của những nước "đồng sàng dị mộng" sẽ nhanh chóng tan vỡ một khi mục tiêu chống khủng bố không còn là mục tiêu bao trùm trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ.


Điều chắc chắn là biện pháp trả đũa quân sự sẽ chỉ khoét sâu thêm hận thù giũa Mỹ và thế giới Hồi giáo, làm cho thế giới ngày càng trở nên bất ổn định. Không ít người Hồi giáo sẵn sàng tham gia vào cuộc Thánh chiến chống Mỹ và phương Tây. Chính vì vậy, cho dù Mỹ và các đồng minh đã nhiều lần khẳng định đây không phải là một cuộc chiến tranh chống lại Đạo Hồi và thế giới Hồi giáo, cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Ápganixtan, đặc biệt là cuộc chiến của Mỹ ở Irắc, nguy cơ cuộc chiến chống khủng bố trở thành cuộc xung đột giữa phương Tây và Hồi giáo, hay luận thuyết "cuộc xung đột giữa các nền văn minh" của Samuel Huntington trở thành thực tế, càng lớn hơn bao giờ hết. Bởi vậy, việc tăng cường sử dụng vũ lực và sức mạnh quân sự nhằm đạt các mục tiêu trước mắt của Mỹ sẽ để lại những hậu quả về lâu về dài.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:34:46 am
KẾT LUẬN


Dưới chính quyền Bush con, chiến lược an ninh của Hoa Kỳ đã có những điều chỉnh quan trọng, về cơ bản xu hướng điều chỉnh này đã bắt đầu hình thành từ trước sự kiện 11-9-2001. Tuy nhiên, sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã đẩy nhanh sự điều chỉnh này cũng như tạo ra một số thay đổi về thứ tự ưu tiên trong chương trình nghị sự an ninh của Mỹ.


1. Tiền đề của sự điều chỉnh chiến lược an ninh dưới chính quyền Bush là ưu thế sức mạnh vượt trội của Mỹ trong một thế giới không còn thách thức từ phía Liên Xô. Nước Mỹ chiếm ưu thế sức mạnh trên tất cả những lĩnh vực then chốt của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Trong những năm 1990 dưới hai nhiệm kỳ của Clinton, kinh tế Mỹ đã có sự phát triển ngoạn mục, tạo cơ sở cho Mỹ củng cố sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin mà Mỹ đi đầu, đã giúp cho Mỹ không những giữ mà còn mở rộng khoảng cách đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng về kinh tế. Trong vòng hai đến ba thập kỷ tới, khó có cường quốc nào có thể thách thức vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ.


2. Từ sau cuộc chiến ở Ápganixtan, vị thế siêu cường hàng đầu của Mỹ càng được củng cố. Nói một cách khác, cuộc chiến chống khủng bố đã tạo ra một số chuyển biến có lợi cho Mỹ. Thứ nhất, cuộc chiến chống khủng bố đã giúp củng cố cơ sở quyền lực chính trị của chính quyền Mỹ, vốn rất yếu sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000. Thứ hai, cuộc chiến chống khủng bố đã giúp cải thiện đáng kể quan hệ của Mỹ với Nga và Trung Quốc. Sự ủng hộ mạnh mẽ của Nga trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ cùng với những nhượng bộ của Nga trong các vấn đề như phòng thủ tên lửa, mở rộng NATO về phía đông tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ trong việc theo đuổi những mục tiêu và ý đồ chiến lược của mình. Nó cũng giúp Mỹ làm suy yếu tập hợp lực lượng chống Mỹ giữa các nước lớn chủ trương một trật tự thế giới đơn cực là Nga, Trung Quốc và Ấn Độ. Thứ ba, cuộc chiến chống khủng bố cũng giúp Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở nhiều nơi trên thế giới, xâm nhập vào vùng ảnh hưởng truyền thống của Nga và Trung Quốc, thực hiện chiến lược lâu dài nhằm kiểm soát nguồn dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên ở Trung Á1 (Vùng biển Caspie chứa khoảng 270 tỷ thùng dầu, khoảng 20% trữ lượng dầu và 1/8 toàn bộ nguồn khí đốt thiên nhiên trên thế giới), củng cố ảnh hưởng của Mỹ ở vùng Vịnh. Như vậy, cuộc chiến chống khủng bố đã tạo cơ hội cho Mỹ thúc đẩy việc thực hiện những ý đồ chiến lược dài hạn là thiết lập bá quyền trên toàn thế giới, ngăn chặn ảnh hưởng của các đối thủ tiềm tàng.


3. Bộ máy hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại của chính quyền Bush bao gồm phần lớn những nhân vật bảo thủ, theo đuổi một chương trình nghị sự kiểu đế quốc mới (neo-imperial). Chính quyền Cộng hoà của Tổng thống Bush thi hành một chiến lược an ninh dựa trên ưu thế sức mạnh của Mỹ, bất chấp những ràng buộc quốc tế. Thắng lợi ban đầu trong cuộc chiến chống khủng bố đã giúp củng cố cơ sở quyền lực chính trị của chính quyền Bush và tăng ảnh hưởng của phe bảo thủ, hiếu chiến trong chính quyền Mỹ. Đây là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến chiều hướng chính sách của Mỹ trong thời gian tới.


4. Điều chỉnh chiến lược an ninh quốc phòng dưới chính quyền Bush thể hiện lập trường cứng rắn truyền thống của Đảng Cộng hoà trong vấn đề phòng thủ. An ninh quân sự trở thành trụ cột chủ đạo; tư tưởng chiến lược mang tính tấn công hơn thể hiện ở học thuyết chiến tranh phòng ngừa và chính sách hạt nhân mới; mưu cầu ưu thế và an ninh tuyệt đối thông qua việc phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa.


5. Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ mà cốt lõi là học thuyết Bush thực chất chủ trương tiếp tục phát triển thế mạnh quân sự của Mỹ nhằm ngăn chặn bất kỳ một thế lực nào có thể nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ. Bắt nguồn từ định nghĩa hẹp hòi về lợi ích quốc gia của Mỹ, "lợi ích của Mỹ bị đe dọa khi lãnh thổ của Mỹ bị đe dọa, nhân dân Mỹ bị nguy hiểm và đồng minh của My bị thách thức"1 (George Bush on Foreign Policy, Issue 2001: Every Political Leader on Every Issue, at http://issue2000.org/celeb), chiến lược an ninh quốc phòng của chính quyền Bush thể hiện tính thực dụng cao - một đặc điểm của các chính quyền Cộng hòa.


6. Những điều chỉnh quan trọng này trong chiến lược an ninh của Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI được thúc đẩy mạnh hơn trước trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố. Thực chất, nó phục vụ mục tiêu lâu dài, không đổi của Mỹ là thiết lập một nền hòa bình kiểu Mỹ trên toàn thế giới. Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ không những không dẫn đến thay đổi mà còn củng cố cơ sở tư tưởng chiến lược toàn cầu của Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mỹ cần khống chế khu vực ngoại vi đại lục Âu-Á thì mới có thể kiểm soát được toàn thế giới. Đại lục Âu-Á là bộ phận cấu thành cơ bản của chiến lược lớn của Mỹ nửa cuối thế kỷ XX và ít nhất trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI1 (Nữu Tiến Chung, Dự báo chiến lược thế kỷ XXI, Học viện Quan hệ quốc tế, 2002, tr. 100-101). Sự kiện 11 tháng 9 trên thực tế đã tạo điều kiện cho việc đặt chân vào những khu vực có vị trí chiến lược thiết yếu ở Trung Á, phục vụ lợi ích chiến lược dài hạn của Mỹ là ngăn chặn sự trỗi dậy của một cường quốc có khả năng đe dọa vị trí của Mỹ trong tương lai.


7. Châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ cả trong tương lai ngắn và dài hạn. Cuộc chiến chống khủng bố mặc dù có phạm vi toàn cầu, thực chất tập trung chủ yếu ở châu Á, đặc biệt là Tây Nam Á và Đông Nam Á. Về lâu dài, đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến cho châu Á sẽ trở thành trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ trong thế kỷ XXI. Trên thực tế, xu hướng chuyển dịch trọng tâm chiến lược của Mỹ theo hướng chú trọng châu Á hơn đã bắt đầu diễn ra từ cuối thập kỷ 90 thế kỷ XX và được đẩy mạnh dưới chính quyền Bush.


Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Gửi bởi: saoden trong 28 Tháng Sáu, 2022, 06:35:38 am
8. Cho dù ít coi trọng các thể chế quốc tế và chủ nghĩa đa phương hơn so với chính quyền tiền nhiệm, chính quyền Bush vẫn chú trọng quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh an ninh chủ chốt của mình ở châu Âu và châu Á. Những liên minh an ninh đa phương và song phương thời kỳ chiến tranh lạnh vẫn chiếm giữ vị trí trung tâm trong chiến lược an ninh của Mỹ. Quan hệ an ninh chính trị giữa Mỹ với các đồng minh chủ chốt ở châu Âu và châu Á không những có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, mà còn có tầm quan trọng to lớn đối với khả năng thực hiện chiến lược bá chủ toàn cầu của Mỹ. Đây là hai cánh chiến lược chủ yếu của Mỹ và quan hệ đồng minh an ninh với Tây Âu và Nhật Bản là trụ cột trong chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu và châu Á. Mặc dù những trở ngại trong quan hệ của Mỹ với các đồng minh vẫn tồn tại và có chiều hướng gia tăng cùng với xu hướng hành động đơn phương, bá quyền và ngạo mạn của Mỹ1 (Một số học giả Mỹ,  cũng chỉ trích Mỹ đang trở thành một "siêu cường cô đơn" và "siêu cường bất hảo" (rouge superpower) với xu hướng bá quyền, hành động đơn phương, không tính đến lợi ích của chính các đồng minh của mình. Xem thêm Sammuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999; Gary Wills, "Bully of the Free World", Foreign Affairs, Vol. 78, No. 2, tháng 3/4-1999), những liên minh an ninh này vẫn có cơ sở để tồn tại và phát triển trong một vài thập kỷ tới. Mặt khác, sự thay đổi trong tương quan lực lượng, ý chí độc lập của các đồng minh, cũng như những khác biệt nhất định về nhận thức và xác định lợi ích chiến lược làm cho những mối quan hệ này ngày càng trở nên bình đẳng hơn. Điều này cũng có nghĩa là các đồng minh của Mỹ không đơn thuần là những công cụ chiến lược của Mỹ mà còn là những trung tâm kinh tế, chính trị lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh với Mỹ trong một thế giới đang tiến tới đa cực.


9. Những điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush có những hệ luỵ quan trọng đối với Việt Nam. Trong tính toán của Hoa Kỳ, Việt Nam là một nhân tố quan trọng trong cân bằng chiến lược ở Đông Á và quan hệ với Việt Nam phục vụ lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Đông Á - Thái Bình Dương. Lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc và khả năng Trung Quốc có thể thách thức vị trí lãnh đạo của Hoa Kỳ trong tương lai, Mỹ cho rằng Việt Nam có thể tạo nên một đối trọng trong tương lai đối với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực. Một mặt, Mỹ chủ trương lôi kéo Trung Quốc vào khu vực và thế giới. Mặt khác, Mỹ vẫn triển khai chính sách cân bằng chiến lược ở khu vực để đề phòng những bất trắc nếu chính sách can dự của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc không thành công. Vị trí địa chiến lược, địa chính trị làm cho Việt Nam trở thành một nhân tố đáng kể trong những tính toán cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ. Mỹ cũng không muốn Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng từ Việt Nam ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á1 (Frederick Z. Brown, "Vì sao Hoa Kỳ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam", Tạp chí Quân sự nước ngoài tháng 1-1994, tr. 38-39). Cuộc chiến chống khủng bố về ngắn hạn có thể làm giảm ưu tiên của chính sách cân bằng với Trung Quốc trong chương trình nghị sự của Mỹ. Tuy nhiên, về lâu dài, mục tiêu kiềm chế Trung Quốc của Mỹ vẫn không đổi. Vì vậy, sự quan tâm của Mỹ đối với Việt Nam, cụ thể hơn là khả năng tiếp cận cảng hoặc sử dụng các cơ sở hạ tầng, là rất quan trọng về mặt chiến lược. Một bản báo cáo của Rand đã khuyến nghị chính quyền Bush củng cố các dàn xếp an ninh sẵn có với các nước Đông Nam Á (khu vực mà hiện nay Mỹ không có sự hiện diện quân sự thường trực) và thiết lập các dàn xếp mới với Philippin, Inđônêxia và có thể là Việt Nam nhằm chuẩn bị cho các tình huống quân sự nảy sinh ở khu vực này và đặc biệt là ở biển Đông2 (Zalmay Khalizad, The United States and Asia: Toward a new US. Strategy and force posture, RAND, 2001). Không ít học giả Mỹ cho rằng Việt Nam có hai tố chất để có thể trở thành đối tác chiến lược của Mỹ. Một là vị trí của Việt Nam: Việt Nam có thể trở thành bàn đạp để triển khai lực lượng ra biển Đông. Hai là Việt Nam có lịch sử lâu dài chống lại sự xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc3 (AAron L. Friedberg, Asia Allies: True strategic partners, tr. 214-215).


10. Vào thời điểm này, khi Mỹ điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để phục vụ cùng một lúc những mục tiêu chiến lược trước mắt và lâu dài trong một thế giới mà những thách thức đặt ra đối với nước Mỹ là vô cùng phức tạp và đa dạng, một câu hỏi lớn đặt ra về nguy cơ quen thuộc đối với các đế chế hùng mạnh là "sự quá dàn trải". Paul Kennedy, một sử gia nổi tiếng của Mỹ, đã nhận định hơn một thập kỷ trước đây trong cuổn sách Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc về sự suy yếu của Mỹ và về "thực tế trớ trêu và lâu dài là tổng số những lợi ích và nghĩa vụ toàn cầu của Mỹ ngày nay lớn hơn nhiều so với sức mạnh của Mỹ để bảo vệ cùng một lúc tất cả những lợi ích và nghĩa vụ đó"1 (Paul Kennedy, "Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ 1500 đến 2000: Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc", Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1992, tr.73). Những dấu hiệu ban đầu đã xuất hiện. Việc nước Mỹ tăng mạnh ngân sách quân sự đang đưa nước Mỹ quay trở lại thời kỳ thâm hụt ngân sách như dưới thời Reagan. Trong khi đó, thâm hụt cán cân thương mại nặng nề tiếp tục đe dọa đồng đôla Mỹ. Nền kinh tế tuy đã ra khỏi suy thoái nhưng vẫn ẩn chứa những thách thức tiềm tàng. Đây là những nguy cơ thực tế đối với một nước Mỹ đang lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố để tăng cường sức mạnh và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của mình. Mặc dù hãy còn quá sớm để kết luận rằng những nguy cơ này sẽ dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của đế chế Mỹ, kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy thời kỳ phát triển cực thịnh của các đế chế cũng là thời kỳ báo hiệu sự bắt đầu đi xuống. Xét cho cùng, không có gì là tồn tại vĩnh cửu và nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ.