Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:02:24 am



Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:02:24 am
Tên sách: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Nhà xuất bản: Hải Phòng
Năm xuất bản: 1998
Số hoá: ptlinh, dungnuocgiunuoc


Chỉ đạo nội dung:
   - Hội Khoa học lịch sử thành phố Hải Phòng
   - Ban Liên lạc đồng đội, tỉnh đội (cũ) Hải Dương - Hưng Yên.

Biên soạn:
   - VÕ AN ĐÔNG
   - ĐÀO NGỌC QUẾ
   - NGUYỄN HUY TRƯỜNG
   - ĐÀM MINH

Công tác giúp đỡ:
   - LÊ ĐỨC THỊNH   ĐT: 04. 8256135
   - MAI VĂN HÁCH   ĐT: 04. 8543993
   - PHẠM BÁCH   ĐT: 032. 858417


(https://i.imgur.com/3CNrncP.jpg)

Lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đăng trên báo Xưa và Nay số 47 tháng 1 năm 1998. Đó là tôn chỉ, mục đích của bộ sách nhiều tập Đường 5 - Anh Dũng - Quật Khởi.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:04:41 am
Phần I
THỜI KỲ TIỀN KHỞI NGHĨA VÀ KHỞI NGHĨA


Các tỉnh có đường số 5 chạy qua rất nhạy cảm với cách mạng. 3 ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp, đêm 12-3-1945 đã diễn ra trận tước súng giặc ở đồn Bần Yên Nhân (Hưng Yên). Đậy một trộn đánh du kích điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ hồi tiền khởi nghĩa. Ngày 8-6-1945 thành lập chiến khu Đông Triều, (Hải Dương) bộ đội đã đánh với những trận vang dội, điển hình là ngày 20-7-1945, giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên.


Tại các tỉnh Kiến An (Hải Phòng), Hải Dương, Hưng Yến đã sôi sục phong trào Việt Minh, phong trào phá kho thóc Nhật tiến tới việc lập chính quyền cách mạng cấp huyện, như huyện Kiến Thụy và một số nơi khác trước cả ngày tổng khởi nghĩa 19-8-1945.


Từ ngày 22-8 đến 25-8-1945 Ủy ban nhân dân cách mạng cấp tỉnh lần lượt ra mắt đồng bào. Trong tập sách này, xin trân trọng giới thiệu một số nhân chứng lịch sử chủ chốt hồi đó viết về những sự kiện đáng ghi nhớ theo thứ tự thời gian. 


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:05:36 am
HƯNG YÊN


NHỮNG NGÀY KHỞI NGHĨA

Hồi ký của Học Phi
Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên
Nhà văn - Giải thưởng Hồ Chí Minh



Sau khi tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội, ngày 20-8-1945, tôi được Xứ ủy chỉ định đưa đội danh dự - một đội vũ trang đặc biệt của Đảng, xuống Nam Định phối hợp với Đảng bộ địa phương tổ chức khởi nghĩa. Việc cướp chính quyền ở Nam Định cũng diễn ra nhanh gọn như ở Hà Nội, chỉ phải đấu tranh với bọn Nhật "mất nửa ngày".


Hai hôm sau, xong việc tôi về Hà Nội để báo cáo, chỉ mang theo một đồng chí trong đội danh dự, khoảng 3 giờ chiều thì xe về đến Đồng Văn cách Phủ Lý hơn mười cây số.

Nhìn con đường về thị xã Hưng Yên tôi bỗng thấy nao nao nỗi nhớ nhà, liền nảy ra ý nghĩ về qua thăm nhà rồi sáng mai hãy đi Hà Nội, đằng nào thì chiều nay cũng muộn rồi, thế là cho xe rẽ về bến đò Yên Lệnh.

Con đường từ ga Đồng Văn về bến đò Yên Lệnh dài 14 cây số, nhiều chỗ rợp bóng cây gạo. Mấy năm trước tôi thường qua lại đây để gặp các đồng chí ở trên. Tôi còn nhớ hôm đi gặp anh Hoàng Quốc Việt để nhận chỉ thị của Trung ương thành lập Hội Văn hóa cứu quốc Viêt Nam vào đầu năm 1943.  Hai bên đường hoa gạo đỏ ối, rụng ngập đỏ cả đường đi. Trên cành cây từng đàn sáo sậu vừa bay chuyền vừa kêu lảnh lót. Hôm nay tiết trời đã sang thu, hoa gạo không còn, nhưng có một màu rực rỡ hơn màu các loại hoa, đó là màu cờ cách mạng... Không đầy nửa giờ sau xe chúng tôi đã đến bến đò. Bên kia sông là thị xã Hưng Yên rồi, nước sông đang lên to, ngập mất cả bến, xe không xuống phà được. Tôi còn đang phân vân chả nhẽ đã đến đây lại phải quay trở lại, thì bà con canh nước ở một cái điếm gần đấy thấy xe có cắm cờ Việt Minh, vội chạy ùa ra xem. Thấy chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc sang sông, bà con liền bảo nhau đi lấy ván đem ra kê cho xe xuống phà. Một lần nữa tôi lại biết thế nào là sức mạnh của nhân dân. Sang qua sông, chúng tôi cho xe đi thẳng vào thị xã. Phố xá chỗ nào cũng đỏ rực màu cờ và tấp nập người đi. Ở đây hôm nay làm gì vậy? Chúng tôi được tin Hưng Yên đã cướp chính quyền từ ngày 17 rồi kia mà! Một đồng chí tự vệ đứng giữ trật tự ở đầu đường cho tôi biết là đang có mít tinh ở ngoài sân vận động. Chúng tôi liền rẽ vào sân vận động. Một biển người đang tụ tập ở đây. Người đứng vòng trong vòng ngoài san sát như nêm cối quanh bãi, đông gấp bội so với Nam Định và không kém Hà Nội mấy. Hầu hết đều nai nịt gọn gàng, một số đeo gươm, khoác súng. Chúng tôi xuống xe từ đằng xa, nhập vào dòng người hãy còn ùn ùn tiến vào trong bãi, rồi men theo rìa bãi đi về phía lễ đài. Lễ đài đặt trên sân trước một ngôi nhà hai tầng trước đây dành cho trường nữ học Đồng Khánh khi trường này sơ tán về Hưng Yên. Nhiều nữ sinh đã được chúng tôi giác ngộ cách mạng ở đây, trong đó xuất sắc nhất là Lê Bích và Nguyễn Thị Như. Sau này chị Như đã tham gia hai khóa Trung ương, khoá 4 và khóa 5 và là phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.


Ở dưới chân lễ đài tôi gặp đồng chí Lê Liêm và gần đủ các đồng chí lãnh đạo trong ban cán sự tỉnh và các huyện. Chưa kịp bắt tay hết mọi người thì bỗng có tiếng ầm ầm nổi lên tôi vội quay nhìn ra ngoài: hai đồng chí tự vệ đang khiêng một người bị trói vứt vào giữa bãi như vứt một con lợn trong tiếng hét của quần chúng:

- Việt gian!

- Việt gian! Đánh bỏ mẹ nó đi!

- Bắn vỡ sọ nó ra!

Nhiều người xông vào chỗ kẻ bị trói, định đánh thì cố tiếng hét to:

- Không phải. Không phải.

Rồi một người cao lênh khênh, mặc quần soóc, đeo khẩu súng pạc hoọc bên hông, chạy từ dưới sân lên lễ đài. Tôi nhận ra ngay là đồng chí Nguyễn Văn Chất mà ngày ở tù anh em thường gọi là Chất "Lý Toét", mặc dâu đồng chí ấy đã đỗ tú tài. Đồng chí Chất nói qua máy phóng thanh:


Không phải Việt gian. Ông này là ông Phủ Mẫn rất tốt. Ông ấy vẫn ủng hộ Việt Minh. Việt gian thân Nhật là tên Phủ Giao còn ở ngoài kia.

Mọi người, cùng ồ lên một tiếng. Đồng chí tự vệ liền cởi trói cho ông Phủ Mẫn và khiêng tên Phủ Giao vào. Đồng chí Chất báo cáo với quần chúng tội trạng của tên này rồi ra lệnh tống giam để xét xử. Tôi không nhớ sau đấy có ai nói gì nữa không, chỉ nhớ đến gần tối cuộc mít tinh mới kết thúc. Một đồng chí trong Ủy ban khởi nghĩa, mời đồg bào sáng mai tập trung lại để nghe thông báo danh sách Ủy ban lâm thời cách mạng tỉnh. Quần chúng được hướng dẫn về các nơi ăn nghỉ đã bố trí sẵn, chủ yếu là ở trường Lý Toán trong thành cũ còn thì ở các trụ sở, các trường học, các đình chùa, các nhà bà con trong phố.


Tối hôm ấy đồng chí Lê Liêm thay mặt Xứ ủy triệu tập Ban cán sự tỉnh họp ở nhà tôi để bầu ủy ban. Tôi được mời dự với tư cách là một cán bộ cũ của Hưng Yên. Trong cuộc họp tôi mới biết chính quyền địch ở toàn tỉnh đã tan rã, nhưng chính quyền cách mạng chưa thành lập được. Có tình trạng này là vì khi các đồng chí trong Ban cán sự tỉnh còn ở nông thôn, thì ở thị xã, ngày 17 tháng 8, các anh em đảng Dân chủ và một số cơ sở cứu quốc của ta ở trong phố đã nắm thời cơ, phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền. Thực ra chỉ mới tịch thu ấn tín của viên tỉnh trưởng và tước vũ khí của binh lính bảo an binh, nhưng chưa dám tự động lập chính quyền. Trong thời gian này thì các phủ, huyện đều đã cướp chính quyền và thành lập chính quyền cách mạng. Hôm nay 22-8 Ủy ban khởi nghĩa (mới được thành lập ngày 18-8 ở hội nghị Thổ Cốc, Yên Mỹ) - huy động quần chúng ở tám phủ, huyện trong tỉnh về thị xã để biểu dương lực lượng và thông báo thành lập Ủy ban tỉnh.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:07:13 am
Vì có sự tranh chấp của các anh em bên đảng Dân chủ, nên việc cử người vào ủy ban phải cân nhắc thận trọng. Để khỏi xảy ra mâu thuẫn trong nội bộ. Nếu mang tính mặt trận thì ủy ban phải gồm cả người của cứu quốc và dân chủ. Nhưng không ai biết những người đứng đầu đảng Dân chủ ở Hưng Yên là người thế nào? Khi tôi còn công tác ở tỉnh thì chưa có đảng Dân chủ, chỉ có một người tên là Việt Hùng không biết ở đâu đến, tự xưng là Việt Minh bị Nhật bắt, mới vượt ngục ra. Nhưng chúng tôi điều tra, biết rõ anh ta chỉ là thư lý của một hãng buôn Nhật, can tội thụt két, bị bỏ tù, sau trốn ra được. Hơn nữa, anh ta còn là một thanh niên trụy lạc. Khi anh ta xin gia nhập Việt Minh, chúng tôi không nhận. Chiều nay gặp anh ta trong cuộc mít tinh ở sân vận động, tôi mới biết anh đã vào đảng Dân chủ. Việt Hùng như thế thì không được rồi, đành phải chọn hai người còn lại là Đông và Nghệ, dù không biết tông tích họ thế nào. Bên cứu quốc cũng phải rà đi soát lại mãi mới chọn được ba người. Như vậy là ủy ban gồm năm người, ba cứu quốc, hai dân chủ, phân công như sau: Học - Phi chủ tịch, Hiền Phó Chủ tịch, Nguyễn Tích Chình ủy viên văn hóa, Đông kinh tế, Nghệ quân sự. (Đồng chí Nguyễn Tích Chình đến phút chót mới đưa vào thay cho đồng chí Kim (Quang) để đồng chí Quang làm công tác Đảng lợi hơn).


Họp xong tôi được giao viết thông báo ngay đem đi dán các nơi. Khi viết đến tên Hiền, tôi nghĩ bây giờ ra công khai rồi, người nào cũng phải có tên có họ, không thể chỉ có một cái tên không thôi, liền thêm họ Lương cho đồng chí Hiền. Đã hiền thì phải lương. Thế là cái tên Lương Hiền có từ đấy. Tôi cũng đặt họ cho anh em bên dân chủ, như Đông là Trịnh Quý Đông, Nghệ là Trương Công Nghệ. Đặt qua loa để viết vào thông báo, chứ cũng chẳng bàn bạc gì với anh em. Dưới thông báo ký là Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hưng Yên.


Sáng hôm sau danh sách ủy ban được công bố trong cuộc mít tinh của quần chúng họp lại ở sân vận động. Sau đó chúng tôi đến tiếp quản dinh tỉnh trưởng đã bỏ trống từ mấy hôm trước; nhưng không hiểu sao viên tỉnh trưởng Trần Lưu Vỵ vẫn còn ở lại, nhưng dọn xuống ở dưới nhà bồi bếp. Thực hiện lời dặn của Xứ ủy; nếu trong đám quan lại người nào không có nhiều tội ác với nhân dân thì cho họ làm đơn xin từ chức, tôi đã làm như vậy với tỉnh trưởng Trần Lưu Vỵ. Chính tôi đọc cho ông ta viết đơn, chứ không phải ông ta đã bỏ trốn như có người đã viết trên báo "Hải Hưng".


Chúng tôi ở ngay trong dinh tỉnh trưởng vốn là dinh công sứ cũ của tây. Không có người phục vụ. Đoàn thể phụ nữ phân công nhau mỗi ngày một người vào nấu cơm cho ăn. Việc canh gác thì có một đội tự vệ đảm nhiệm. Đội tự vệ này chỉ toàn là nữ, và đều mặc áo sơ mi, quần soóc. Mỗi khi chúng tôi ra vào, các cô đều bồng súng chào, chúng tôi phải chào lại. Thật là phiền. Mấy hôm sau đội nữ tự vệ ấy biến đi đâu không biết. Không nói với tôi, và tôi cũng không hỏi. Khỏi phải bị chào và giơ nắm tay chào lại suốt ngày là may rồi.


Hàng ngày chúng tôi sang Ủy ban làm việc - trụ sở ủy ban đặt ở tòa sứ cũ, chỉ cách dinh tỉnh trưởng có một khu vườn. Tôi và đồng chí Lương Hiền thay nhau thường trực. Nhưng ủy ban vừa được thành lập đã phải đương đầu với nạn lụt đang đe dọa, nhiều quãng đê xung yếu bị sạt lở, phải huy động hàng vạn nhân công để hàn khẩu. Hơn nữa, nạn đói vẫn chưa hết hẳn, nếu để xảy ra vỡ đê thì lại đói to, lấy gì mà cứu tế. Ngân khố thì trống rỗng, đến cả lương của viên chức cũng không có tiền trả. Ở một số nơi lại xảy ra xung đột giữa dân chủ và cứu quốc. Đảng Dân chủ do ta thành lập, nhưng khi phát triển về đến nông thôn thì đảng viên hầu hết là địa chủ, cường hào chúng chỉ tìm cách chống lại ta. Thêm vào đó là sự quấy rối của bọn phản động đội lốt công giáo. Có nơi như ở Ngọc Đồng, chúng đã giết một cán bộ của ta, lấy cớ là đồng chí cán bộ này đã cản trở việc rước lễ săng-ti của giáo dân. Khi tôi về điều tra, chúng đóng cổng làng lại, không cho vào, tôi phải dọa dùng vũ lực chúng mới chịu mở...


Khi đã qua nạn lụt rồi, chúng tôi mới có điều kiện bắt tay vào chấn chỉnh hành chính. Tôi và đồng chí Hiền thay nhau thường trực ủy ban, nhưng đồng chí Hiền đi xuống địa phương luôn, thường chỉ có mình tôi ở nhà. Từ nhỏ đến lớn tôi chưa đi làm công chức hay tư chức bao giờ, thế mà bây giờ được giao phụ trách một cơ quan hành chính, lại là cơ quan hành chính đầu tỉnh. Hôm đầu ngồi vào bàn làm việc, ngoài việc tiếp khách ra, tôi không biết làm gì, chỉ hết đi đi lại lại, lại đứng tì tay vào bậu cửa nhìn ra hồ bán nguyệt đằng sau nhà. Nước hồ lấp lánh ánh bạc và lấm tấm bụi sen vàng rất đẹp. Giá lúc này được đi dạo quanh hồ một lúc thì tuyệt. Cái nghề làm bàn giấy thật khô khan. Đồng chí Tốn là một cơ sở cách mạng ở Yên Mỹ làm chánh văn phòng để giúp chúng tôi, nhưng đồng chí ấy vốn là một tiểu thương, chỉ quen ghi chép sổ sách, chứ biết lãnh đạo văn phòng thế nào! Nhân viên ủy ban thì toàn là viên chức của chính quyền cũ. Một số trước đây có quen biết tôi. Trong khi tôi chưa nghĩ ra việc gì để cho họ làm thì họ cứ ngồi nghiêm chỉnh ở chỗ của mình, đợi lệnh tôi. Ngồi mãi cũng chán, họ phải lấy sách báo ra xem, nhưng thoáng thấy bóng tôi đi qua hành lang là họ vội vàng giấu sách báo đi, rồi lại nghiêm chỉnh ngồi đợi. Đồng chí Tốn thì chỉ loay hoay ghi chép sổ sách và tính tiền chợ với các chị đến nấu ăn giúp, cứ như thế mất đến gần tuền lễ.


Một buổi chiều, tôi chợt nhớ đến chùm chìa khóa viên tỉnh trưởng giao cho hôm trước vẫn để trong cặp liền lấy ra để mở cái tủ đựng hồ sơ lưu trữ. Toàn hồ sơ về địa bạ, thuế khóa, tôi đã chán không muốn xem thì chợt để ý đến một cái sơ mi buộc dây cẩn thận, ngoài bìa có dán mảnh giấy đánh máy "hồ sơ chính trị". Tôi mang về bàn ngồi đọc. Trong tập hồ sơ dày cộp này giấy đã bị vàng ố, có đủ tài liệu về phong trào cách mạng ở Hưng Yên từ ngày Pháp mới sang đến nay. Phần đầu là tài liệu về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy hay quá! Tôi đang cần những tài liệu này đây. Mấy năm trước, Đảng bộ Hưng Yên có ra tờ báo địa phương lấy tên là "Bãi Sậy". Tôi viết một bài giới thiệu về cuộc khởi nghĩa oanh liệt này, nhưng trong hoàn cảnh bí mật, không có tư liệu, chỉ viết chung chung và rất sơ lược. Bây giờ báo "Bãi Sậy" không còn nữa, nhưng tỉnh tôi đã lấy tên là tỉnh Tán Thuật1 (Ít lâu sau theo chỉ thị của Bộ Nội vụ, các tỉnh đều lấy lại tên cũ) thì không thể không hiểu rõ sự nghiệp đánh giặc cứu nước đã một thời lẫy lừng của cha ông để giới thiệu với bà con trong tỉnh.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:08:09 am
Mới đọc mấy cái báo cáo của tên chỉ huy đồn Bần Yên Nhân lúc ấy gọi là đại lý Bần Yên Nhân - gửi tên thống xứ Bắc Kỳ và tên công xứ đầu tỉnh, tôi đã thấy dâng lên trong lòng một niềm tự hào vô hạn về chiến công của nghĩa quân và nhân dân Hưng Yên. Mỗi cái báo cáo đều kèm theo một bản danh sách khá dài với đầy đủ tên tuổi, quê quán, cấp bậc của những tên giặc bị ta giết mà chúng gọi là "Uort à l’ennemi" chỉ một điều này thôi cũng nói lên tầm cỡ lớn lao của cuộc khởi nghĩa và sự tổn thất nặng nề của địch.


Bọn địch rất sợ nghĩa quân, vì chúng biết nghĩa quân được nhân dân hết lòng che chở, giúp đỡ. Trong tờ sao của tên công sứ Hưng Yên gửi lên phủ thống sứ Bắc Kỳ hồi ấy có đoạn viết: "Bề ngoài bọn dân quê tỏ ra qui thuận nhà nước đại Pháp, nhưng bên trong thì vẫn giúp ngầm quân giặc". Rồi nó kết luận: "Người nông dân An Nam vừa dốt nát vừa xảo trá" (Le paysan Annamite est à la fois ignoré et rusé). Lẩn trong những tờ giấy in và đánh máy còn có cả mấy tờ giấy bản viết chữ nho. Tồi cầm một tờ lên đọc chỉ tưởng là báo cáo của bọn quan lại các phủ, huyện không ngờ là bút tích của cậu cả Tuyển, một danh tướng của Bãi Sậy. Cậu cả Tuyển tên thật là Nguyễn Thiệu Sinh, con trai cả cụ Tán. Tờ giấy này là thư của cậu1 (Đến nay, các cụ già ở Hưng Yên vẫn gọi ông Tuyển bằng cái tiếng cậu kính mến ấy) gửi cho mẹ trước khi bị giặc đưa đi hành hình ở trước cổng đồn Bần Yên Nhân. Tôi còn nhớ trong thư có câu: "Nhi tử ư quốc sự, mẫu thân hà tất bi thương". (Con chết về việc nước, mẹ không nên buồn). Một mảnh giấy trắng ghim vào đầu bức thư có mấy chữ nhận xét của tên đồn trưởng Bần Yên Nhân: "Lời lẽ của phạm nhân khảng khái, nét chữ không hề run".


Tinh thần yêu nước và khí tiết sáng ngời của cậu cả Tuyển làm tôi cảm phục, xúc động bao nhiêu thì tôi càng căm thù tên việt gian bán nước Hoàng Cao Khải bấy nhiêu. Để lấy lòng Tây và để trả thù nghĩa quân đã làm nó nhiều phen khốn đốn, kể cả bị quan trên quở và các tờ báo chữ Pháp của Tây công kích, nó liền xin Tây cho quân năm tỉnh về triệt hạ cả tổng Liêu Thượng, nơi nó xuýt bị nghĩa quân bắt sống, rồi triệt hạ cả tổng Bạch Sam là quê cụ Tán. Tổng cộng 28 làng mà nó báo cáo với phủ thống sứ là "hang ổ của bọn cướp", (repaire des brigands), gần nửa tháng, suốt ngày đêm, lửa cháy rực trời. Nhà cửa, vườn tược, ruộng đồng, tất cả bị cháy ra tro. Nó còn bắt bớ gia đình, họ hàng các tướng sĩ nghĩa quân, và đào mồ mả ông cha họ.


Tôi chợt nhớ đến cái nhà bia thờ nó ở thị xã, chỗ dốc nhà thương đi ra đê sông Hồng và cũng như đến cái bia nó dựng trên một quả gò ở cánh đồng giữa xá Đống Long và Phương Tòng thuộc huyện Kim Động. Việc tôi phát hiện ra tấm bia này chỉ là một sự tình cờ. Một buổi chiều hè năm 1943, tôi từ mạn trên đi tắt đường đồng về một cơ sở ở làng Phương Tòng, thấy một quả gò ở giữa đồng có bóng cây rợp mát, tôi rẽ vào ngồi nghỉ. Chợt thấy ở đỉnh gò có một tấm bia nhỏ, tôi trèo lên xem, thì ra là bia của tên Hoàng Cao Khải cho dựng ở đây để nhớ ơn "một vị nữ thần" đã cứu nó thoát chết. Sau này nghiên cứu tư liệu để viết cuốn tiểu thuyết "Bà Đốc Huệ" nói về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, tôi mới biết năm 1887 nó cùng tên tướng Pháp Blanchart đem quân đánh vào đại bản doanh Bãi Sậy, bị đại bại, nó thoát chết chỉ còn một mình một ngựa chạy về đến đấy, ngoảnh lại thấy không còn nghĩa quân đuổi theo, nó xuống ngựa lên gò ngồi nghỉ. Đang thiu thiu thì nghe có tiếng la hét ầm ầm, nó giật mình mở choàng mắt ra, thấy nghĩa quân từ các cánh đồng ngô vừa la hét vừa túa ra đông nghịt. Nó hết hồn, buột miệng kêu lên: Giặc! Giặc! rồi không kịp xuống chân gò cưỡi ngựa, nó vội vàng luôn giữa các gốc cây, băng qua các bụi rậm, vượt gò sang bên kia, cởi cả áo dài vứt trong bụi, chỉ còn mặc chiếc áo cánh lụa phong phanh. Đến gần đê sông Hồng thì nó được một cô gái cứu thoát. Cô gái này người làng Bông, cô được nó trả ơn lấy làm vợ ba, bà con thường gọi là bà Ba Bông...


Sáng hôm sau tôi sang Ủy ban sớm, thảo một cái công văn gửi cho Ủy ban xã và Ủy ban huyện Kim Động ra lệnh phá ngay cái nhà bia ở thị xã và tấm bia ở quả gò thuộc hai xã Đống Long - Phương Tòng. Đoạn bảo đồng chí Tốn cho đánh máy gửi đi. Đánh máy xong, đồng chí Tốn đang cho công văn vào phong bì, thì viên chánh văn phòng của tòa tỉnh trưởng cũ tên là Sán ở buồng bên sang bảo đồng chí Tốn:

- Anh hãy cho đánh số công văn đã.

- Đánh số thế nào? Tôi hỏi.

Ông Sán quay về phía tôi:

- Thưa anh, giấy tờ officiel (giấy tờ công) thì cái nào cùng phải đánh số và lưu lại một bản.

- Thế à? Thế thì ông cho đánh số hộ.

- Dạ. Cái công văn này là công văn đầu của ủy ban thì đánh số 01, nhưng anh quên chưa cho đóng dấu.

Tôi ngớ ra :

- Dấu à? Chúng tôi chưa có.

- Thế thì để tôi cho thuê khắc ngay. Nhưng khắc thế nào ạ?

Tôi cũng không biết khắc thế nào, cứ trả lời bừa:

- Ủy ban lâm thời cách mạng tỉnh Hưng Yên.

Thế là từ đấy ông Sán trở thánh người giúp việc đắc lực cho văn phòng ủy ban. Nhờ có ông mà tôi biết được bộ máy của tòa sứ và tòa tỉnh trưởng cũ cùng bộ máy của các ty sở trực thuộc. Khi đã hơi thân, có lần ông tâm sự với tôi:

- Hồi làm việc với Tây, chúng tôi sợ nhất những tên sếp dốt. Sếp dốt thì bao giờ nó cũng đánh phủ đầu trước để ra oai, còn sếp giỏi thì việc gì mình chưa biết làm nó chỉ bảo cho...

Mấy hôm sau ủy ban mới có cuộc họp toàn thể. Ngoài các vấn đề khác, Hội nghị hôm ấy quyết định xóa bỏ hết các thứ thuế. Anh em phân tích thuế là một hình thức bóc lột của đế quốc, phong kiến, mình có bóc lột đâu mà đánh thuế. Khi nào cần tiền thì tổ chức quyên góp, chỉ một đợt quyên góp cũng bằng mấy năm thuế rồi. Cách mạng lên mà khống xóa thuế cho dân thì dân phấn khởi sao được, quả là nhân dân phấn khởi thật, các nhà buôn ở trong thị xã - nhất là các nhà buôn lớn - không ngớt lời ca tụng ủy ban là sáng suốt (!). Nhưng không phải đợi đến lúc Chính phủ ban hành sắc lệnh về thuế khóa mà chỉ mấy hôm sau, đến hết tháng không có tiền trả lương viên chức - khi cướp chính quyền kho bạc trống rỗng - chúng tôi đã thấy ngay sai lâm của mình.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2022, 07:08:50 am
Đã đến ngày mồng hai tháng chín. Tôi được ủy ban Bắc Bộ triệu tập lên dự hội nghị các tỉnh từ hôm trước. Chiều hôm mồng hai cùng các đại biểu đi dự mít tinh ở Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập. Sau đấy lại cùng về Bắc Bộ phủ - nay là nhà khách Chính phủ ở phố Ngô Quyền để họp với đồng chí Trường Chinh. Đang họp thì Bác vào. (Từ lúc ở Ba Đình về, Bác vẫn ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành mây ở hành lang phía trông ra Hồ Gươm, gần bậc lên xuống). Tôi có cái may mắn được ngồi gần Bác. Từ lúc mới tham gia cách mạng tôi đã được nghe nói nhiều đến Bác với cái tên Nguyễn Ái Quốc, cũng đã được đọc văn của Bác cả tiếng Việt và tiếng Pháp, nhưng mãi đến hôm nay mới được thấy Bác. Lúc chiều thì chỉ được thấy ở trên khán đài, tôi lại đứng xa nên trông không rõ, bây giờ mới thật thấy rõ. Tôi chăm chú nhìn Bác. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương đã có lần ở báo "Tin tức" của Đảng, khi sửa lại bài của đồng chí Trần Đình Long, trong tập hồi ký "Ba năm ở Nga Xô - viết", nói về việc gặp Bác ở Đức, tôi đã hư cấu thêm một câu để tả chân dung Bác: "Dưới vầng trán cao, ánh lên một cặp mắt sáng quắc và nhân từ". Lúc này ngồi ngắm Bác tôi lại nhớ đến câu ấy, và ngạc nhiên thấy mình tưởng tượng cũng gần đúng, chỉ có cách ăn mặc và cách nói giản dị của Bác thì không thể tưởng tượng được. Tôi liếc xuống cuốn sổ tay nhỏ Bác để trước mặt, thấy hai chữ "phân công" bằng chữ Hán. Chắc Bác giỏi chữ Hán lắm, tôi nghĩ bụng. Bác ghi thêm mấy chữ nữa, rồi không cần mào đầu Bác nói ngay:

- Bây giờ cách mạng đã thành công, nhưng khó khăn còn nhiều. Đừng có đồng chí nào nghĩ rằng đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ. Các đồng chí đều đã hoạt động bí mật đã phải sống kham khổ trong bóng tối, bây giờ ra ánh sáng mà không cẩn thận, thì sẽ bị lóa mắt về những cái vật chất, ở nhiều nơi nhân dân đã kêu các ông ủy ban đi đâu một bước là ô tô, ông chủ tịch đi ô tô, ông ủy viên đi ô tô, rồi cả bà ủy viên, cô, cậu ủy viên cũng đi ô tô. Làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, chứ không phải để thăng quan phát tài. Chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng. Nếu không giữ mình liêm chính thì sẽ tham ô, thụt két, rồi bị kỷ luật. Thế là hỏng cả cuộc đời...

Bác chỉ nói ngắn gọn có thế thôi, nhưng mọi người cảm thấy như Bác đã nhìn thấu ruột gan mình. Cái gì chứ cái dùng ô tô bừa bãi thì hầu như không nơi nào không mắc phải, không ít thì nhiều. Không ngờ Bác đang bận trăm công ngàn việc trong buổi đầu giành độc lập mà Bác vẫn không bỏ sót một việc nhỏ nào. Một điều nữa làm tôi ngạc nhiên là đã mấy chục năm Bác bôn ba ở nước ngoài, mà lời nói và cách nói không hề bị pha tạp một tí gì của nước ngoài, vẫn nôm na, giản dị như của các ông già dạy con cháu.


Tan cuộc họp, chúng tôi ra đến cổng đã thấy các nhà báo đi săn tin, đứng trên vỉa hè rất đông. Nhiều người biết tôi, họ vây lấy tôi hỏi: "Ông Hồ Chí Minh có phải là ông Nguyễn Ái Quốc không". Tôi không biết trả lời thế nào, chỉ ấm ư ậm ừ cho xong chuyện... Sáng hôm sau trên cáo báo hàng ngày ở Hà Nội đều có bài tường thuật những lời Bác phát biểu hôm trước. Họ nhấn mạnh vào mấy tiếng quan cách mạng. Một vài tờ còn đoán non đoán già ông Hồ Chí Minh chính là ông Nguyễn Ái Quốc, một lãnh tụ cộng sản nổi tiếng...


Một hôm, vào giữa tháng chín, tôi nhận được lệnh của Bộ Nội vụ ra lệnh tha tên tuần Ích mà chúng tôi bắt giam về tội chống cách mạng. Tên này cũng có viết văn. Cuốn tiểu thuyết Kim Anh lệ sử của y đã gây được tiếng vang trong giới trí thức và quan lại hồi ấy, vì nó đề cập đến một vấn đề thời sự: một viên tri huyện hiến vợ lẽ của mình là Kim Anh cho một tên công sứ Tây để được thăng quan tiến chức. Nhưng đến năm 1931 khi phong trào cộng sản lên cao thì y lại dịch cuốn "Moscou sans voile" sang tiếng Việt là "Mặt nạ cộng sản" để nói xấu cộng sản và xuyên tạc Liên Xô. Cuốn sách đã được bọn thống trị Pháp cho phát không về các làng, và y thì được thăng tri châu, rồi tri phủ, rồi tuần phủ. Cách mạng lên, y "từ quan" về ở ngôi biệt thự lỗng lẫy bên hồ Bán nguyệt".


Việc bắt tên tuần Ích, cả tỉnh đều biết, bây giờ phải tha nó thì biết ăn nói thế nào với nhân dân? sau khi trao đổi với anh em, tôi phóng xe lên Bắc Bộ phủ xin gặp anh Võ Nguyên Giáp lúc ấy là Bộ trưởng Bộ nội vụ. Anh Giáp cho anh Phan Bôi (Hoàng Hứu Nam) xuống tiếp. Nghe tôi trình bày xong, anh Bôi nói:

- Việc này nằm trong chính sách khoan hồng chung của Đảng đối với những người có sai lầm cũ, không thể thay đổi được, đến cả Vi Văn Định mà "Ông cụ" cũng sắp cho mời về làm việc kia.

Tôi đề nghị anh Bôi báo cáo với Hồ Chủ tịch xét lại cho chứ tha tên Ích bây giờ thì chúng tôi sẽ mất hết uy tín với dân Hưng Yên, anh Bôi lắc đầu:

- Không được đâu "Ông cụ" Rigide (cứng rắn) về nguyên tắc lắm.

Tôi vẫn nằn nì. Cuối cùng anh Bôi bảo tôi hãy chờ một lát anh phải lên làm việc với Bác để anh thử xin ý kiến của Bác xem. (Anh vẫn gọi Bác là "Ông cụ"). Lúc xong anh xuống gọi tôi lên gặp Bác. Bác chỉ ghế bảo tôi ngồi rồi hỏi ngay.

- Đồng chí cho bắt người ta có lợi gì không?

Lần đầu tiên được gặp riêng Bác, tôi rất lúng túng trong việc xưng hô, cuối cùng tôi nói:

- Thưa Chủ tịch, vì nó đã viết sách chửi cộng sản.

- Biết rồi, nhưng việc đã lâu ngày, bắt người ta bây giờ có lợi gì không?

- Thưa Chủ tịch để nó phải... phải sợ.

Tôi biết lỡ lời, định chữa lại, nhưng Bác đã hỏi:

- Thế đồng chí có biết làm cho người ta sợ hơn, hay làm cho người ta yêu hơn? Đồng chí có học chứ Nho không?

- Thưa, có học ít thôi ạ.

- Thế thì đồng chí có nhớ câu các cụ thường nói: "Xử nhân úy, bất như xử nhân ái" không? - Thấy tôi lúng túng. Bác tiếp - đồng chí nên nhớ rằng không sợ người không theo mình; mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Đồng chí về bàn với ủy ban giải thích cho người ta hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ rồi tha người ta. "Không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng". Đã qua mấy chục năm rồi mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in lời dạy ấy của Bác.

HỌC PHI


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:30:43 am
TƯỚC SÚNG ĐỒN BẦN YÊN NHÂN
(12-3-1945)


"Một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ" - Lời đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hoàng Thế Dũng
Nguyên Phó Bí thư ủy ban vận động
Việt Minh khu Bãi Sậy
   

Đồn Bần Yên Nhân nằm bên đường quốc lộ số 5 cách Hà Nội 26 km đối diện với xã Giai Phạm, cách con sông đào từ thời nhà Lê. Đế quốc Pháp thiết lập đồn này nhằm đánh nhau với quân khởi nghĩa của cụ Tán Thuật. Sau khi quân Bãi Sậy thất bại, Pháp tổ chức vùng này thành một đồn binh ở đây gọi là đồn Đại Lý (poste délégué). Nhiệm vụ của nó là khống chế nhân dân 4 phủ huyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Khoái Châu và bảo vệ đường 5, con đường chiến lược nối liền cảng Hải Phòng và Hà Nội.


Cho đến ngày 12 tháng 3 năm 1945, đồn Bần có một trung đội lính khố xanh do tên quan một người Pháp là Bu Lăng Giê chỉ huy, kiến trúc đồn sơ sài, theo hình chữ nhật, một chiều 200m, một chiều 100m. Chung quanh đồn có một hàng rào dây thép gai mỏng, xen lẫn hàng cây dứa rất to. Đồn ở gần nhà thương, nhà dây thép và nhà Đoan. Trong đồn có một lô cốt chính có ba tầng bằng bê tông dày đến 60 phân, ở 2 góc, mỗi nơi có chòi canh bằng tre nứa. Đồn có khu nhà ở của Tây đồn, nhà bếp, nhà kho, nhà lính, một gian "sà lim" để giam giữ người bị bắt. Vũ khí trong đồn có 24 khẩu súng trường, 3 khẩu trung liên FM15, 2 khẩu súng săn, 1 súng lục của Tây đồn trưởng, mấy hòm đạn, lựu đạn. Chúng tôi vẫn thường bảo nhau "Vùng ta mà khởi nghĩa thì thế nào cũng phải đánh chiếm đồn này".


Đồn Bần nằm lọt vào giữa A.T.K Bãi Sậy (An toàn khu) nơi có cơ quan của Xứ ủy do đồng chí Bang tức Lê Liêm phụ trách. Tôi tham gia Việt Minh vào quý đầu năm 1943. Giữa năm 1944 sau khi đi học lớp du kích về, tôi được cử làm Phó Bí thư ủy ban vận động khu Bãi Sậy, trực tiếp phụ trách thanh vận và binh vận. Tôi vận động được một lính khố xanh tên là Nguyễn Văn Việt người làng Đào Xá (Tiên Lữ, Hưng Yên). Đầu năm 1945 anh Việt tổ chức thêm ba anh lính nữa, thành một tổ Việt Nam Quân Nhân Cứu Quốc hội (anh Việt sau khởi nghĩa tham gia vệ quốc đoàn, làm trung đội trưởng, đã mất hồi tháng 5 năm 1997, thọ 78 tuổi).


Trước đó, tôi dạy học ở trường tiểu học công huyện Mỹ Hào, sau bị điều đi Hòa Bình, nhưng tôi nhận được chỉ thị của trên không đi, mà ở lại hoạt động và làm binh vận. Hồi đó, để có điều kiện kiểm tra tiếp xúc với binh lính địch, và vì sinh kế, lại được đồng chí Bang (Lê Liêm) đồng ý, tôi xin làm gia sư cho Tây đồn. Thế là tôi có dịp tiếp xúc với quản Nhượng, đội Tựa, ba người cai là cai Hòe, cai Hách, cai Dinh và các binh lính trong đồn, tìm hiểu xu thế, tính cách của mỗi người. Tôi được biết quản Nhượng người chỉ huy thứ hai sau Tây đồn có vẻ cầu an, yên phận, được biết đội Tựa, người Bùi Chu Phát Diệm rất tích cực đi sục bắt rượu lậu, muối lậu, đánh đập dân khi đi tuần tra v.v...


Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Hà Nội.

Đến trưa ngày 10-3, tôi chưa rõ tình hình Hà Nội ra sao. Không có báo. Cả thị trấn Bần không nhà nào có máy thu thanh cả. Tình hình phố Bần bề ngoài vẫn bình thường, nhưng nhiều nhà đã thu xếp cho trẻ con sơ tán vào các làng xa đường số 5. Người ta lo sợ và đề phòng một biến cố gì sẽ đến với cái thị trấn nhỏ này. Chỉ riêng anh em Việt Minh chúng tôi và quần chúng trung kiên lòng mừng như mở hội.


Trưa hôm ấy, tôi vẫn còn nhiều băn khoăn suy nghĩ, làm thế nào đánh chiếm được đồn này. Anh em mình trong tay không một khẩu súng. Nhân mối mới chỉ có một người tin cậy được. Lại cũng chưa nắm được hẳn bọn chỉ huy người Việt. Từ đêm 9-3 đến giờ, chưa có tin gì của Việt. Tuy qua điều tra trước đây đã biết tâm trạng sĩ quan và binh lính chán nản, cho rằng Nhật Pháp cắn xé nhau chưa biết con nào được nhưng nếu để Việt Minh lấy mất súng thì họ cũng sợ mất đầu. Thuyết phục mà lấy súng khó xong. Tay không mà xông vào nếu họ chống cự thì nguy hiểm. Lại chỉ có một đội tự vệ chiến đấu nhỏ bé trong tay! Suy đi tính lại, tôi cũng chưa biết giải quyết thế nào. Tình hình rối như mớ bòng bong. Quả là một bài toán rất hóc búa đối với tôi, một thanh niên mới tròn 20 tuổi, vừa rời ghế nhà trường chưa được bao lâu đã phải đảm đương trách nhiệm lịch sử nặng nề này.


Nhưng quá chiều ngày 10-3, Việt đã lẻn ra ngoài nhà báo cho tôi biết một tin mới. Chính cái tin cực kỳ quan trọng ấy đã đóng góp rất lớn vào việc quyết định số phận đồn Bần. Cai Hòe ở đồn nói lộ cho Việt biết có công văn tối mật của tên quan Tư giám binh người Pháp trên tỉnh cho lệnh về "cả đồn phải bó súng sẵn sàng nộp cho Nhật. Tuyệt đối cấm không được chống cự lại. Ai không tuân lệnh sẽ bị nghiêm trị theo quân pháp". Cái lệnh ấy vẫn còn giữ bí mật. Chính cái tin cuối cùng ấy đã làm đảo lộn tất cả mọi suy nghĩ trước đây của tôi. Tình hình thế là đã rõ: Pháp đã thua Nhật. Tây đồn Bần đã nhận được lệnh của Giám binh tỉnh chỉ còn chờ Nhật về thu súng. Súng ống sẽ được bó sẵn. Ta lại có nội ứng. Chỉ cần nhân mối mở được cổng đồn, anh em ta xông vào với giáo mác và mã tấu là chắc chắn chiếm được đồn vì binh lính địch tay không, muốn chống lại cũng không làm gì nổi. Tôi nghĩ ngay đến tâm lý sợ Nhật của binh lính trong đồn và kế hoạch đóng giả quân Nhật về thu súng hình thành trong đầu tôi. Thật là diệu kế.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:31:16 am
Tôi nói ngay với Việt: "Phải đánh ngay, không thì mất thời cơ. Mình sẽ đề nghị lên "thượng cấp" ngay". Việt cũng về ngay và tôi còn dặn với Việt: "Cậu phải theo dõi thật sát bao giờ bọn chỉ huy hạ lệnh bó súng thì tìm mọi cách báo ngay cho mình biết. Đề phòng địch cấm trại, có thể treo một chiếc khăn mặt trắng qua lỗ châu mai làm ám hiệu súng đã bố. Tôi không kịp ăn cơm, lấy ngay xe đạp phóng vội đi tìm Luật1 (Anh Luật tên thật là Nguyễn Trọng Côn, lấy bí danh là Luật nguyên là đảng viên phụ trách khu vực Bần Yên Nhân. Sau cách mạng tháng Tám, anh được cử làm Chủ tịch tỉnh Nam Định với tên công khai là Nguyễn Trọng Luật, sau làm Vụ trưởng Vụ bảo tồn bảo tàng, rồi làm Vụ phó Vụ đào tạo cán bộ Bộ y tế. Anh đã mất. Hồi ấy anh Luật làm tổ trưởng tổ thanh niên cứu quốc ở thị trấn Yên Nhân gồm 3 người lấy bí danh của tổ là tổ Kỷ Luật Sắt. Kỷ là đồng chí Trân Sâm tức Nguyễn Đình Vinh, hương sư xã Giai Phạm, sau này là Phó Bí thư thành ủy Hà Nội. Trần Sâm cũng đã mất. Sắt là bí danh của tôi) để bàn và đề nghị lên trên cho cho đánh đồn Bần ngay. Tôi nhấn mạnh với Luật là nếu đêm 11-3 tây đồn công bố lệnh bó súng thì đêm 12-3 ta phải đánh ngay. Nếu để đêm 13-3 mới đánh thì chắc chắn bọn Nhật sẽ về thu súng mất".


Luật nghe tôi nói, tỏ ra rất vui mừng và nhất trí với tôi, nhưng anh bảo tôi: "Để sáng mai mình đi báo cáo ngay với anh Bang, mình sẽ trình bày với anh kế hoạch đóng giả quân Nhật và cả tấm sơ đồ đồn Bần do Sắt chuẩn bị". Tôi rất bồn chồn chỉ sợ chậm. May sao vừa kịp tối hôm đó, anh Bang về nhà Luật hỏi: "Liệu có lấy súng đồn Bần được không? Mình vừa nghiên cứu với cán bộ Bắc Ninh xem có lấy được huyện lỵ Tiên Du không, song Tiên Du chưa có điều kiện. Luật trả lời ngay: "Tình hình đồn Bần có thể làm ăn được. Đồng chí Sắt mới cho biết có lệnh giám binh tỉnh cho đồn Bần bó súng, sẵn sàng nộp cho Nhật. Sắt có vẽ sơ đồ đồn Bàn và đề nghị dùng kế hoạch đóng giả quân Nhật về tước súng, cùng đề nghị anh huy động thêm lực lượng cho anh ấy vì ở đây chỉ vẻn vẹn có 12 người không đủ sức chọi với gần 40 quân địch". Anh Bang nói: "Kế hoạch đóng giả quân Nhật hay đấy! Phải khẩn trương chuẩn bị ngay. Chúng mình phải tranh thủ thời cơ không thì Nhật nó về lại thu mất súng. Đang lúc quân thù cực kỳ hoang mang, phải đánh chiếm đồn Bần tước lấy súng ngay". Anh dặn Luật cứ tích cực chuẩn bị ở địa phương, theo dõi sát tình hình trong đồn, anh còn đi bàn thêm với cấp trên. Ngày 11-3 anh lại về cho biết trên hoàn toàn tán thành chủ trương và kế hoạch của cơ sở. Cuộc họp được tổ chức ngay trưa hôm đó ở nhà cụ Hai Trí thôn Buộm của xã Giai Phạm, do anh Luật chủ trì gồm có cả bộ 3 tổ "Kỷ Luật Sắt", anh Nguyễn Phương Thảo (sau này lấy tên là Nguyễn Bình)1 (Anh Nguyễn Bình đã mất trong kháng chiến chống Pháp), anh Nguyễn Ngọc Vân tức Ngạnh (em ruột anh Nguyễn Ngọc Xuân Cục trưởng Cục quân giới) và anh Huỳnh tức Lê Trần Trừ2 (Lê Trần Trừ cũng đã mất sau trận đồn Bần thứ hai trong một trận quân Nhật về càn quét thị trấn). Cuộc họp đề nghị cụ Hai Trí viết chữ Hán rất đẹp, viết trên mấy chục cái băng trắng hai chữ Đại Việt và có sơn một hình tròn đỏ3 (Cờ của Nhật nền trắng có hình mặt trời đỏ ở giữa) để du kích đeo ở cánh tay giả làm đội quân người Việt thân Nhật. Các anh Thảo và Ngạnh được phân công đóng giả sĩ quan Nhật.


Về chủ trương đánh đồn Bần, về sau tôi mới biết thêm là anh Phương Thảo đi Mỹ Hào gặp anh Xuân và có nêu lên vấn đề cướp súng đồn Bần. Trưa ngày 10-3 có một cuộc họp ở nhà anh Xuân có các anh Thảo, Huỳnh, Xuân, Vân. Các anh đề nghị huy động tự vệ lấy đồn Bàn, lấy cả phủ lỵ Mỹ Hào, huyện lỵ Yên Mỹ và Văn Lâm. Hôm sau Huỳnh về cho biết trên đã quyết định chỉ cho đánh đồn Bần vì lực lượng không huy động kịp và yêu cầu phải đảm bảo chắc thắng. Huỳnh còn cho biết, trên chủ trương lấy người ở Mỹ Hào cách phố Bần độ 4,5 cây số mới kịp tham gia trận đánh. Các anh đều hoan hỉ nhất trí với chủ trương của trên.


Ngày 11, 12-3, thị trấn Bần Yên Nhân sau khi Nhật lật đổ Pháp mấy ngày cũng trở lại bình thường. Thị trấn Bần và các làng lân cận bề ngoài không có gì thay đổi, nhưng bề trong một cuộc chuẩn bị chiến đấu quyết liệt được ráo riết tiến hành.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:32:02 am
Chuẩn bị tước súng đồn Bần.

Đêm 12-3-1945, trời tối, anh em tự vệ chiến đấu chúng tôi đi lẻ từng người một để tránh con mắt nhòm ngó của địch. Con đường từ làng tôi đến địa điểm tập trung phải đi qua xế cửa đồn Bần. Địa điểm tập trung ở trên một cánh đồng, cách ngã ba Quán Chuột chừng 200 mét và xa các làng Hoàng Nha, Thanh Đặng. Mấy anh vì phải mang mã tấu, giáo mác nên để tránh đồn Bần đi ngược lên làng Yên Phú (nay thuộc xã Giai Phạm) rồi lại đi tắt ruộng vượt qua đường số 5 và đi theo con đường Quán Chuột - Lạc Đạo đến nơi tập trung. Đêm đó, tôi đóng vai thông ngôn cho viễn võ quan Nhật chỉ huy quân về tước súng đồn Bần. Tôi có nhiệm vụ dẫn quân du kích xông thẳng đến lô cốt, nơi địch để súng đã bó sẵn và đạn dược. Vì vậy, tôi chỉ thủ một con dao găm trong người, đề phòng có đánh lộn ẩu trong lô cốt thì dùng đoản khí lợi hơn. Là một ông giáo ở địa phương, lại ra vào đồn nhiều lần dạy con Tây đồn trước nên binh lính trong đồn đều biết mặt. Đêm đó tôi đi đàng hoàng qua phía trước cổng đồn, ăn mặc chỉnh tề, thực ra chỉ có một quần tây dài và một sơ mi nâu, còn cái mũ Lie rộng vành, tôi gửi một đội tự vệ mang đi trước vì buổi tối mà lại đội sùm sụp cái mũ to thì không hợp. Trong túi quần còn một lá cao to bản để dán lên má phòng binh lính trong đồn nhận được mặt. Cái băng trắng có hai chữ Đại Việt bằng chứ Hán nằm gọn trong túi.


Theo kế hoạch khi đánh đồn xong, sáng hôm sau tôi lại tiếp tục đi dạy học1 (Hồi đó, tôi không dạy học con Tây đồn nữa. Tôi dạy học ở trường tư thục tiểu học Hồng Châu do ba anh em Kỷ Luật Sắt chúng tôi mở để có cơ sở hoạt động. Chúng tôi phối hợp với anh Nguyễn Đình Tốn là quần chúng cảm tình Việt Minh, lại là trưởng cửa hàng đại lý rượu (R.A), làm đơn đề nghị Công sứ Hưng Yên cho phép mở trường và anh Tốn làm hiệu trưởng, còn tôi có bằng đíp-lôm và học hai năm tú tài được phép làm giáo viên dạy lớp nhất và hai năm lớp nhì. Trường học nay là số 26 phố Bần trước đây là nhà của anh) như thường lệ và bí mật theo dõi tình hình bên đồn và tìm hiểu dư luận. Tôi đến địa điểm tập trung chậm vĩ lẽ nữa là đã hẹn trước với Việt nếu có gì đặc biệt quan trọng có thể ảnh hưởng xấu đến cuộc chiến đấu thì đánh dấu riêng ở gốc cây gạo thứ ba. Khi qua xế cổng đồn, tôi làm ra vẻ ung dung, nhưng thực ra trong bụng rất bồn chồn và lo lắng, vì đây là trận đánh du kích qui mô đầu tiên của tôi và của tất cả các bạn chiến đấu.


Phía trong đồn vẫn yền tĩnh, đèn điện ở lô cốt chính và các gian nhà đã bật sáng làm nổi bật cái khăn trắng ngoài lỗ châu mai. Tôi yên tâm. Lúc ấy, có tiếng cười đùa, văng tục trong lô cốt. Họ đang sát phạt nhau trong cuộc đỏ đen. Tôi đi đến cây gạo đã hẹn trước, không thấy dấu hiệu gì, cẩn thận hơn, tôi đợi xem nhỡ Việt có ra ngoài bất ngờ không. 5 phút trôi qua không thấy anh ra. Mấy gian nhà lá ở phố gốc Bàng đã lên đèn, ánh đèn dầu hỏa le lói. Đi qua dãy nhà lá, tôi chạy như bay đến địa điểm tập trung. Trên con đường rải đá cách ngã ba 200 mét, đã có tới năm sáu chục người lố nhố đương rì rầm nói chuyện. Giữa lúc ấy có tiếng hô hơi to: "Các đồng chí trật tự, im lặng!". Cả đám đông rì rầm im hẳn, anh em đứng nghiêm nghe đồng chí Phúc1 (Phúc là bí danh của đồng chí Nguyễn Khang hồi đó là Thường vụ xứ ủy) thay mặt Tổng bộ Việt Minh hiệu triệu. Giọng nói đồng chí đanh thép, sôi nổi, càng về cuối càng xúc động "Các đồng chí, Nhật đã quật đổ Pháp, độc chiếm Đông Dương. Chúng là một bầy quỷ sống tham lam, tàn ác. Chúng dồn dân ta vào con đường chết. Đồng bào ta đã bị chết đói đầy đường. Nếu tình hình này cứ tiếp tục, gia đình chúng ta sẽ chết và bản thân chúng ta cũng không thoát. Chỉ có một con đường là vùng dậy đánh đuổi phát xít Nhật mới có thể cứu nước, cứu được đồng bào ta và bản thân chúng ta và gia đình. Chúng ta hoàn toàn chỉ có mã tấu, gậy, giáo mác để chống lại quân thù, nhưng sức mạnh không phải chỉ nhờ vũ khí, sức mạnh trước hết là đường lối tài tình của Mặt trận Việt Minh, là ở lòng căm thù sôi sục của toàn dân và tinh thần dũng cảm mưu trí, linh hoạt của mỗi chúng ta...".


Những lời hiệu triệu hùng hồn đanh thép và thống thiết kêu gọi mọi người dũng cảm lao vào cuộc chiến đấu đầu tiên làm cho tôi nhớ mãi. Những cảm xúc thiêng liêng dâng lên trong lòng tôi. Mấy anh em đứng bên tôi đều lộ vẻ xúc động.


Khi anh Bang phổ biến kế hoạch xong, có tiếng hô "đả đảo giặc Nhật", "Việt Nam độc lập muôn năm", "Việt Minh muôn năm" nho nhỏ bật ra. Không ai dám hô to, vì tuy rằng ở giữa đông không trống trải nhưng lại khá gần đồn theo đường chim bay. Công tác chính trị trước trận đánh tuy đơn giản nhưng thật là sâu sắc.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:34:46 am
Đội du kích đầu tiên của A.T.K Bãi Sậy bắt đầu lên đường.

Theo kế hoạch, ngoài bộ phận chủ yếu có nhiệm vụ xung phong vào đồn, còn có bốn tổ hoạt động bên ngoài đảm bảo cho trận đánh. Nhóm 1 có Luật và Kỷ. Luật và một người nữa giám sát Lý trưởng Phách làng Yên Nhân (một tên phản động có thế lực ở thị trấn, về sau đã bị xử tử hình làm chấn động hàng ngũ tổng lý ở vùng này), Kỷ lảng vảng ở đầu nhà thương Bần để theo dõi tình hình có gì thì kịp báo khi đội du kích đến. Nhóm thứ hai do Lê Trung Miện và Đoàn Mậu Bách1 (Lê Trung Miện là em họ tôi, sau cách mạng làm trưởng ban tổ chức Ty công an Hưng Yên. Đoàn Mậu Bách sau này lấy tên là Đoàn Thế Hùng. Cả hai đã mất vì bệnh) được phân công gác ở cầu làng Giai Phạm để cản dân không cho ra ngoài đường 5 (về sau họ thấy có đoàn người rầm rập vào đồn, bỏ vị trí theo vào, rồi cũng ghé vai khiêng bó súng đi theo lên tận Nhạc Miếu). Nhóm thứ ba có Thắng2 (Anh Thắng là con một gia đình bán giò chả ở phố Bần. Sau làm trưởng ban quân báo trung đoàn Lạng Sơn đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp) và một người nữa có nhiệm vụ cắt dây điện thoại đường Bần đi Hưng Yên về Hải Dương và nếu thấy có bóng quân Nhật thì hỏa tốc đạp xe về báo tin ngay. Nhóm thứ tư có Chân và Công3 (Công là em họ tôi, sau được cử làm đại biểu đi dự Đại hội quốc dân Tân Trào rồi làm phó ty Thủy lợi Hưng Yên. Đã mất) được phân công cắt đường dây điện thoại đi Hà Nội. Ra đến ngã ba Quán Chuột, chúng tôi đi hùng dũng trên đường số 5, mã tấu, gậy tầy cầm tay, giáo mác vác lên vai đóng giả quân Nhật về thu súng đồn Bần. Đi đầu đội quân Nhật giả này, là anh Nguyễn Phương Thảo đóng vai võ quan Nhật. Anh người cao to, mặc quân phục sĩ quan Nhật, đủ lon, ghệt, sà cột và thanh trường kiếm trông giống võ quan Nhật như lột. Tôi đi bên anh trong vai thông ngôn. Danh nghĩa vậy thôi chứ tôi có biết tiếng Nhật đâu. Nhiệm vụ của tôi là đưa đội đu kích tiến thẳng đến lô cốt chính. Đi cạnh tôi còn một sĩ quan giả Nhật nữa là Nguyễn Ngọc Vân tức Ngạnh. Anh Vân người vạm vỡ, cũng mặc quân phục sĩ quan Nhật, cũng đủ lệ bộ như anh Thảo. Ngoài ra còn mấy anh nữa đóng vai lính Nhật. Nhưng tôi chỉ nhớ có anh Chè tức Trần Phong, người thôn Bình Tân xã Yên Nhân và hai nữa đóng giả lính Nhật tôi không nhớ tên. Anh Bang, người cao lớn, vạm vỡ, ăn mặc sang trọng, đóng vai một chính khách, đại biểu Đảng Đại Việt quốc gia liên minh. Tôi cũng có trù tính đến việc bất ngờ gặp ô tô Nhật giữa đường nhưng may không chạm trán một xe nhà binh nào. Cả đội du kích chỉ có hai khẩu súng lục còn toàn vũ khí thô sơ. Khẩu súng của anh Bang cỡ 7,65 là khẩu súng to duy nhất mà chúng tôi gọi là Hổ Tướng. Còn khẩu của anh Thảo lại là khẩu súng cỡ 6,35 nhỏ síu mà chúng tôi gọi là "súng bắn ruồi". Cả đội không có lấy một quả lựu đạn nào. Những quả lựa đạn đựng trong rọ tre, chỉ là lựu đạn giả bằng quả đu đủ gọt theo hình lựu đạn và sơn hắc ín. Đội quân cách mạng của A.T.K. Bãi Sậy đêm ấy quần nâu, áo vải, chân đi đất, trang bị chỉ mã tấu, giáo mác, đinh ba nhưng thật giàu lòng yêu nước căm thù giặc quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc xuất trận đầu tiên.


Một trận đánh chớp nhoáng.

Chúng tôi đi bộ đến gần một cây số thì gần đến dãy nhà tranh lụp sụp đầu phố gốc Bàng. Ánh đèn dầu le lói hắt ra ngoài những tia sáng yếu ớt. Có nhà còn mở cửa. Một đồng chí tự vệ sách mã tấu chạy đến trước, đấm vào các cửa liếp thùm thụp và hét to:

"Tắt đèn đi! Quân Nhật về lấy đồn"

- "Không ai được ra ngoài, chết toi mạng"

Lập tức các ngọn đèn tắt phụt. Tiếng cửa liếp buông xuống loạt xoạt, Một đồng chí tự vệ chiến đấu được lệnh ở lại gác. Hai bên đường vắng tanh không còn một bóng người. Cái lô cốt ba tầng đá lù lù trước mắt. Có lệnh truyền đốt pháo giả làm tiếng súng nổ để uy hiếp binh lính địch. Mấy dây pháo tống này do Thắng đi mua ở phố phủ Mỹ Hào. Chi1 (Đồng chí Chi sau này làm ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đã mất) người làng Yên Nhân đã thủ sẵn mấy thẻ hương đốt sẵn, liền lấy pháo ra đốt. Giữa đêm thanh vắng, tiếng pháo tống nổ cứ như tiến súng vang dội. Tiếp theo đó, phía nhà thương cũng vang lên một tràng tiếng nổ to bên sườn đồn Bần do bà Hồ đốt2 (Già Hồ là mẹ anh Nguyễn Trọng Luật. Cụ là vợ một du kích quân của Đề Thám. Hồi đó cụ làm hộ lý ở nhà thương Bần và thường đem truyền đơn, báo chí cách mạng giấu trong chiếc bô tráng men đi qua trước cổng đồn rồi mới trao cho cán bộ). Đội du kích rẽ trái tiến thẳng vào đồn. Cổng đồn ở thụt sâu cách đường số 5 gần chục mét. Chè và hai ba anh nữa biết chút ít tiếng Nhật ra sức hô to. Cổng đồn vẫn đóng kín. Hai anh Thảo và Vân xổ mấy tiếng Nhật rất to cốt cho bọn lính trong đồn nghe thấy. Trong vai thông ngôn, tôi cũng lấy hết hơi hết sức hét rất to, tưởng như vỡ lồng ngực.


"Quân đội Nhật về thu súng. Ai chống cự sẽ bị chém đầu. Binh lính Việt mau nộp súng đạn cho các quan!"

Cổng đồn từ từ mở ra, Việt nhân mối của tôi đã có mặt ở giữa cổng đôn. Tôi mừng lắm. Thế là kế hoạch 10 phần đã thực hiện quá nửa. Hồi đó, tôi mới tổ chức được có một mình Việt và anh Việt cũng mới tuyên truyền được ba người lính nữa mà theo nguyên tắc tôi chưa trực tiếp liên lạc, tổ chức họ thành một tổ Quân nhân cứu hội. Rất may Việt lại vận động được gác ca tối hôm đó. Tiếc rằng thiếu kinh nghiệm, tôi đã không bàn kỹ với Việt việc sử dụng ba anh đó, không ngờ địch bó súng để ở hai nơi là lô cốt và nhà kho ở cạnh gian sà lim nên bỏ sót súng đạn. Không có kế hoạch sử dụng đúng lúc ba binh sĩ cảm tình Việt Minh để đảm bảo chắc chắn thắng lợi là một thiếu sót.


Cổng trại mở toang, cả đội quân ồ ạt tiến vào. Cẩn thận tôi kéo sụp cái mũ rộng vành xuống. Lá cao đã được dán sẳn ở má lúc đi đường. Lính trong đồn nhớn nhác :

- Nhật về! Nhật về!

- Chạy mau chúng mày ơi!

Một số khá đông từ trong lô cốt ù té chạy ra phía sau đồn đạp lên rào thép gai chuồn ra cánh đồng phía sau. Biết rõ đường đi lối lại trong đồn, tôi dẫn các anh Thảo và Vân cùng một số anh em xông thẳng vào lô cốt chính. Tôi vừa chạy vừa hét rất to:

"Quân đội Nhật về thu súng. Kẻ nào chống cự sẽ bị chém chết". Cái câu ấy không biết tôi đã hô đi hô lại đến mấy lần vì nó đánh rất trúng tâm lý sợ Nhật của binh lính. Chúng tôi xông vào cửa lô cốt thì bọn lính đã chạy trốn toán loạn gần hết. Duy nhất có một thằng chống cự lại thì bị du kích ta chém một nhát vào vai bằng sống dao. Quang cảnh trong lô cốt thật bừa bãi. Chiếu bị đạp xô đi. Nhiều quân bài tung tóe trên sàn, giày dép lộn xộn dưới chân sàn. Du kích ta đông hơn địch. Anh Thảo và Vân nhảy lên bục hét mấy tiếng Nhật, kiếm tuốt trần trong tay. Dưới chân sàn ngủ, một tên lính nằm co quắp hai tay ôm lấy đầu miệng rối rít "Lạy các quan, tha cho con!"


Một đứa nữa chui vào một xó run bần bật. Có đứa vùng chạy trốn lên tầng gác trền. Giữa lúc ấy, tiếng đồng chí Bang vang lên:

"Binh lính người Việt đâu ở yên đấy, quân đội Nhật thu súng".

Bốn năm bó súng bọc trong chiếu đã được xếp nằm gọn một góc trên sàn ngủ. Dưới chân sàn là một hòm đạn to. Chúng tôi sướng như mở cờ trong bụng. Tình hình chỗ khác trong đồn như thế nào, tôi không rõ. Chỉ nhớ rằng quân ta đã chiếm được lô cốt chính. Du kích thấy súng đã bó là hùa nhau khiêng ra. Ba bốn người xúm lại khiêng một bó súng. Năm, sáu người khác khiêng một bó súng nữa đi thẳng ra cổng đồn. Cả đoàn chúng tôi rút ra cổng đồn và bắt ba tên lính đi theo khiêng đỡ. Một đồng chí nắm áo tên lính năm co quắp ở chân sàn kéo dậy: "Muốn sống khiêng ngay một bó súng ra ô tô cho các quan". Ra quá ngoài cổng đồn, vì không thấy ô tô đâu, một đứa hỏi: "Bẩm các quan, sao đi xa thế?"

- "Ô tô quan lớn đỗ ở đâu phố gốc Bàng, đi mau".

Qua hết dãy nhà lá, tôi lệnh cho họ về hết. Họ ù té chạy về đồn. Thế là bộ phận chính đã làm tròn nhiệm vụ của mình. Lúc này, các nhóm khác rút ra sau đã đuổi theo kịp. Cả đoàn đi rất nhanh, hầu như chạy, lộn xộn không còn hàng ngũ gì nữa. Vừa đi, họ vừa cười nói, kháo nhau về công việc và tình hình của bộ phận mình. Trong niềm vui lớn lao của chiến thắng đầu tiên. Trận này chúng tôi tước được 24 khẩu Mút-cơ-tông và Anh-đô-si-noa, hai khẩu súng săn, một hòm to có 6.000 viên đạn. Một số lượng vũ khí lớn nhất mà đội du kích A.T.K. Bãi Sậy lần đầu tiên cướp được. Khi đội du kích rút về ngang Đống Đền, nơi có hai cái gò con nổi lên ở gần đường thì có tin báo ô tô quân Nhật đã về đến đầu phố Bần. Ngay lúc đó, tôi hô rẽ xuống ruộng nấp sau gò. Từ cuối dãy nhà tranh, có ánh đèn pha ô tô sáng rực hắt lên trên liền trời đen kịt. Tiếng động cơ ô tô mỗi lúc một rõ. Tôi hồi hộp nhìn ra mặt đường số 5. Một chiếc ô tô nhà binh Nhật xuất hiện. Ánh đèn pha xe sau giúp tôi thấy rõ có đến hai tiểu đội lính Nhật, đội mũ sắt, lưỡi lê cắm sắn, ngồi ở phía sau chiếc xe đi đầu. Hai xe tiếp theo, mỗi xe đều có hai tiểu đội lính Nhật, vũ khí sẵn sàng. Thì ra bọn Nhật đã sớm về thu vũ khí đồn Bần. Bọn Nhật khi đến đầu nhà dây thép đã xuống xe bố trí và cho quân đến đồn thăm dò, đề phòng Tây đồn chống cự. Khi được báo tin rằng có hai võ quan Nhật và mấy người lính Nhật đến đồn thu súng rồi và vừa mới đi khỏi đồn. Bọn Nhật hò hét hối hả trèo lên xe đuổi theo. Có lẽ vì trời tối đen như mực vì du kích cướp đồn đã có súng trong tay, bọn Nhật có lẽ cũng ngại nên cho xe chạy từ từ về Hà Nội. Mấy phút sau, đoàn xe mất hút. Cả đoàn được lệnh phân tán, rút về cơ sở an toàn. Còn riêng bọn tôi, những tự vệ chiến đấu ở địa phương trở về nhà ngay để hôm sau theo dõi tình hình.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:35:27 am
Chuyện tây đồn thứ thế.

Sáng hôm sau 13-3-1945, tôi lại tiếp tục đi dạy ở trường tư thục tiểu học Hồng Châu như thường lệ. Các em học sinh đến học vẫn đông đủ. Nhưng buổi chiều, lớp học vắng khá nhiều. Chắc chắn các gia đình sợ Nhật về khủng bố nên cho các em đi sơ tán. Buổi học chiều hôm ấy thực sự biến thành buổi ra chơi tại chỗ. Đúng ra ngày hôm đó tôi cũng chẳng còn bụng dạ tâm trí nào dạy nứa, chỉ ngơm ngớp lo Nhật về khủng bố dân hoặc thằng Tây đồn bắt bớ bừa bãi để gỡ tội với Nhật. Nhưng tôi đã không thấy bóng dáng quân Nhật đến vùng này. Không ngờ đồn trưởng Bu-lăng-giê lại mò đến trường học. Trước đây, có Tây đồn đến thì ắt có chuyện chẳng lành.


Nhưng lần này, nhìn cái vẻ ủ rũ của nó, tôi bình tĩnh định gợi chuyện để thăm dò. Nào ngờ nó lại nói trước:

- "Chào ông giáo! Đêm qua không phải quân Nhật đánh đồn đâu ông ạ". Tôi làm ra vẻ ngạc nhiên: "Rõ ràng chập tối, tôi nghe thấy có nhiều tiếng súng nổ, lại thấy mấy xe nhà bỉnh Nhật, đèn pha sáng rực về đỗ trưởc cổng đồn rồi mới đi. Thế ông bảo không phải Nhật thì ai vào đấy".

Câu trả lời của Bu-lãng-giê làm tôi ngạc nhiên suýt bật cười: "Đúng là quân Nhật có về đồn, nhưng lại về sau khi có bọn cướp giả Nhật vào đồn lấy súng đi rồi. Không có súng, chúng đốt pháo, xác pháo còn đầy đường".

"Nếu súng vào tay cướp thì nguy hiểm cho an ninh của dân lắm". Đáp lại câu nói móc nó, Tây đồn Bu-lăng-giê nhún vai bĩu môi im lặng.

Tôi lại lân la dò hỏi: "Cướp sao ông không đánh"

"Đánh gì? Ông giáo bảo đánh thế nào? Tôi cũng tưởng là Nhật thật. Lại có lệnh quan trên cấm không được chống cự, súng ống lại bó sẵn rồi... Quan trên còn hàng Nhật nữa là mình.

Tôi lại hỏi:

- Thế lúc ấy ông ở đâu, làm gì?

- Tôi nghe thấy tiếng súng nổ to, tiếng hét ầm ĩ, náo động cả đòn, nhìn ra cổng thấy thấp thoáng hai võ quan Nhật đeo kiếm dài và mấy lính Nhật... Tôi hoảng quá chỉ sợ Nhật nó chém, liền chạy vượt ra vườn, chui qua rào, trốn sang nhà Đoan. Có lẽ tây đồn cũng ngượng, im lặng một lát, rồi nói: "Chỉ có các ông là yên chí thôi. Số phận tôi chẳng biết thế nào". Bu-lăng-giê bắt tay tôi rồi về. Rõ ràng nó đang sợ chết, sợ Nhật lấy đầu về tội để mất súng.


Lúc tan lớp một học sinh nán lại thì thầm với tôi: "Đêm qua Việt Mình đánh đồn Bần, thầy ạ! Việt Minh lấy hết cả súng!".

- "Sao em biết" ?

- "Ngoài phố, bà con nói chuyện với nhau, em nghe được".

Tôi cười đánh trống lảng. Thế là nhân dân nhiều người đã biết.

Sáng hôm sau tên đồn trưởng Bu-lăng-giê lại mò đến, bảo tôi:

- "Không phải cướp, mà Việt Minh đóng giả Nhật về cướp súng"

- "Sao ông biết là Việt Minh"

- Đúng là Việt Minh! Ngoài súng đạn, họ không hề đụng một thứ gì ở nhà riêng của tôi cả. Quần áo đồ đạc của tôi nguyên vẹn, cả tiền két vẫn còn nguyện. Lại còn khẩu súng lục của tôi để dưới gối ở dấu giường trong phòng ngủ, Việt Minh không biết".


Lúc ấy, tôi tiếc ngẩn người. Nhưng cố gắng không để lộ tình cảm đó. Kẻ thù của Việt Mình cũng phải nhận là Việt Minh quang minh, chính đại. Nhưng tôi vẫn tiếc cái khoản "tiền két" và khẩu súng lục. Tôi cứ ân hận mãi tại mình chỉ chăm chú đến vấn đề súng đạn.


Về sau gặp Việt, tôi mới được biết rằng còn 3 khẩu súng trung liên FM.15 để ở kho, lại còn mấy hòm đạn trung liên và lựu đạn để ở gian nhà kho sụp đổ nên không ai để ý. Việt tỏ ý tiếc không làm sao ra báo cho tôi lúc địch công bố lệnh bó súng. Lúc quân ta vào đồn rồi em mừng quá cứ luẩn quẩn ngoài lô cốt, quên không báo cho anh biết".


Mấy hôm sau, qua Việt tôi được biết thêm binh lính xôn xao bàn tán: Việt Minh giỏi thật! Việt Minh mưu mẹo đóng giả Nhật! Việt Minh rất nhân đạo chém bằng sống dao thì chết làm sao được! Có đứa còn bảo "tao thấy cả ông giáo trong trận này". Việt dặn tôi "Anh phải cẩn thận đấy".


Về sau mới biết quản Nhượng, đội Tựa trốn đâu không biết. Còn thằng Tây đồn trưởng bỏ chạy, ngâm mình dưới ao, vớt bèo tây phủ lên đầu, rồi trốn vào nhà tây Đoan đến sáng rõ chưa về. Lính bổ đi tìm gọi về thấy đầu nó còn lấm tấm vài cánh bèo hoa dâu. Thì ra Tây đồn sĩ diện đã giấu tôi chỉ tiết đó. Nghe nói về sau, nó đem vợ ra hàng Nhật tại Hà Nội. Tên chỉ huy Bảo An tỉnh người Việt được bổ nhiệm thay tên giám binh Pháp đã cử quản Nhượng làm đồn trưởng, ông ta nói với binh lính: "Bảo tao thông đồng vào giao súng cho Việt Minh là không đúng! Tao cũng tưởng Nhật thật. Thôi các ông Việt Minh tha chết cho là phúc lớn, có bị cách chức, tao về quê sống với vợ con cho yên ổn, sống với Nhật cũng chẳng biết thế nào".


Biết được tâm trạng quản Nhượng và binh lính trong đồn như thế, tôi và anh Kỷ, Luật bàn về việc phá kho thóc của Nhật để ở làng tôi. Hai anh hơi ngại về việc Nhật đã trang bị lại vũ khí cho đồn Bần. Tôi kể luôn tâm trạng viên đồn trưởng quản Nhượng và binh lính cho hai anh nghe. Hai anh đều nhất trí với tôi phải sớm phá kho thóc khi quản Nhượng còn làm đồn trưởng. Còn về binh lính thì không có gì đáng ngại. Ta chỉ cần dặn anh Việt rỉ tai của 3 quần chúng của anh, than thở với bạn đồng ngũ là "nếu Việt Minh phá kho thóc ở quê mình thì gia đình mình sẽ thoát khỏi chết đói, nếu bị bắt buộc đi đàn áp thì mình nhất định sẽ bắn chỉ thiên cho dân chạy". Quả nhiên sau này chúng tôi phá kho thóc xã Giai Phạm thì quản Nhượng làm ngơ và binh lính chỉ đứng bên đồn nhìn sang. Sau khi kho thóc bị phá địch mới điều quản Nhượng đi nơi khác và cử tên quản Điểm về thay.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:36:04 am
Ý nghĩa lịch sử trận tước súng đồn Bần.

Trận đánh đồn Bần đã có một tầm quan trọng lớn không chỉ đối với A.T.K Bãi Sậy. Về mặt quân sự, nói cho chính xác, đó là một trận dùng mưu tước súng địch chỉ sau 3 ngày Nhật đảo chính Pháp ở ngay giữa vùng đồng bằng miền bắc tỉnh Hưng Yên. Trận đánh mở đầu này về sau được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đánh giá là "Một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ".


Nhờ nắm vững được tình hình địch, chẳng những biết rõ được quân số vũ khí, địa hình và sự bố trí trong đồn địch mà còn hiểu được tỷ mỉ tinh thần binh lính, tâm trạng từng tên chỉ huy. Nhờ công tác binh vận xây dựng được nhân mối làm nội ứng, nhờ nắm được thời cơ và có quyết tâm, dũng cảm, mưu trí, có sự lãnh đạo đúng đắn của trên, đội du kích Bãi Sậy đã chiến thắng vẻ vang phỗng tay trên quân Nhật số vũ khí trong đồn, mặc dù so sánh lực lượng thật vô cùng chênh lệch.


Kể ra nếu đi vào chi tiết thì trận đánh cũng có nhiều khuyết điểm. Kế hoạch còn thiếu tỉ mỉ, chu đáo nên đã bỏ sót cả 3 khẩu trung liên FM.15, nhiều hòm đạn và lựu đạn, bỏ sót cả két tiền khá lớn và khẩu súng lục của Tây đôn. Sau trận đánh lại còn có khuyết điểm lớn nữa là đã sơ hở để địch lấy lại mất 21 khẩu súng1 (Số súng của đồn trừ mấy khẩu anh em mang về địa phương, còn lại 21 khẩu đem giấu ở thôn Ngô Xuyên bị địch phát hiện, về khám thấy súng đã thu hết và bắt 7 người).


Mặc dù trận đánh đã có những khuyết điểm nói trên, mặc dù số súng đã bị địch lấy lại gần hết - tôi nghĩ trận đánh du kích dồn Bần không hề giảm giá trị và ý nghĩa lịch sử của nó. Là một nhân chứng lịch sử thuật lại trận đánh, tôi thấy tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử ở trận đồn Bần không chỉ là bài học kinh nghiêm cụ thể của một trận đánh du kích. Tác động của chiến thắng đồn Bần còn quan trọng hơn nhiều. Ý nghĩa lịch sử của nó là ở chỗ trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi quân thù suy yếu, sơ hở, nhân dân ta quyết tâm nổi dậy để tự giải phóng và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thông qua Mặt trận Việt Minh2 (Đảng cộng sản Đông Dương khi đó còn hoạt động bí mật) chúng ta hoàn toàn có khả năng đánh du kích thắng lợi không những ở nơi rừng núi hiểm trở, xa các trung tâm của địch như trận Phai Khắt, Nà Ngần, cuối năm 1944 mà cả ở giữa đồng bằng ngay trong lòng quân địch, ngay trong đường giao thông huyết mạch của quân thù.


Chiến thắng đồn Bần là kết quả của con đường đi cụ thể của công cuộc cách mạng Việt Nam ở đồng bằng cũng như miền núi mà Đảng đã vạch ra là phải bắt đầu từ xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, tiến hành đấu tranh chính trị, kinh tế với địch từ thấp đến cao, rồi tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khi có thời cơ tiến lên khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi cuối cùng.


Quả thật trận đồn Bần thắng lợi đã vang dội cả một vùng rộng lớn, không phải chỉ ở miền bắc tỉnh Hưng Yên mà trong toàn tỉnh và nhiều tỉnh lân cận Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình.... dư âm của trận đó được mở rộng bằng sự tuyên truyền của các báo Cứu Quốc, Độc Lập, Hồn Nước, Bãi Sậy, Kèn gọi lính v.v... bằng truyền đơn rải khắp nơi báo tin chiến thắng và kêu gọi nhân dân tích cực chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Các cơ sở của Việt Minh cũng dựa vào đó mở rộng tuyên truyền miệng. Nhưng dư luận đồn đại trong nhân dân thì lại càng ghê gớm "nào là du kích Việt Minh về đông lắm" "súng ống nhiều vô kể". Thậm chí còn đồn rằng "Việt Minh đem cả ô tô về chở vũ khí đạn dược lên chiến khu". Những dư luận dồn đại ca ngợi và có phần nào thần thánh hoá những hoạt động đó đã góp phần đặt lòng tin tưởng của nhân dân vào khát khao mong muốn Việt Minh thắng lợi.


Sau này, tôi được biết thêm : "tin về đồn Bần Yên Nhân, ngay trên đường Hà Nội - Hải Phòng bị Việt Minh đánh chiếm, mặc dù được bưng bít, đã lan nhanh vào thủ đô Hà Nội". Theo anh Lê Trọng Nghĩa, một trong những nhân chứng lịch sử tham gia lãnh đạo Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi, trận đồn Bần đã làm cho đồng bào Hà Nội ngạc nhiên và rất vui mừng, rất tin tưởng Việt Minh, đồng bào Hà Nội to nhỏ bàn tán: "Quân du kích (Việt Minh) đã về đồng bằng", Hai từ "du kích" và "chiến khu" hồi ấy rất thiêng liêng. Trận đồn Bần vang dội và bất ngờ nhất ở đồng bằng Bắc Bộ hồi đó.


Trận đồn Bần đã phát động cao trào kháng Nhật thời kỳ tiền khởi nghĩa ở A.T.K Bãi Sậy. Phong trào trở thành bán công khai, rồi công khai, phối hợp hình thức hợp pháp và bất hợp pháp như phong trào chống cướp bảo vệ làng xóm, lợi dụng hình thức tổ chức Bảo An của Nhật để phát triển các đội tự vệ chiến đấu xã và luyện tập quân sự ban ngày, từ hình thức rải truyền đơn, viết khẩu hiệu đến xung phong diễn thuyết ở các chợ, mít tinh, biểu tình tuần hành thị uy, võ trang tuần hành chống thu thóc, thu thuế, lôi cuốn hàng trăm, hàng ngàn quần chúng phá các kho thóc Nhật ở các xã cứu đói cho dân. Một số xã tìm gặp và yêu cầu Việt Minh về xã tổ chức hội Việt Minh. Đỉnh cao của các hoạt động của Việt Minh ở A.T.K Bãi Sậy là việc sớm thành lập ủy ban dân tộc giải phóng ở một số xã sớm có cơ sở cách mạng và phong trào Việt Minh phát triển mạnh, đảm nhiệm việc chính quyền xã.


Phong trào cách mạng ở khu Bãi Sậy cứ như vậy dâng lên cho đến ngày tổng khởi nghĩa tháng Tám, hàng vạn dân các phủ huyện miền bắc của tỉnh hòa với dân các phủ huyện khác trong toàn tỉnh vũ trang bằng giáo mác, gậy tầy tập trung đi cướp chính quyền ở tỉnh.

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1997


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:37:20 am
TÔI VỀ HẢI PHÒNG TRONG CAO TRÀO KHỞI NGHĨA


Trích hồi ký của Vũ Quốc Uy
Đã được in trong sách "Hải Phòng những ngày sôi động" (Hội văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất bản năm 1980)


Ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa bung ra ở Thủ Đô và thắng lợi hoàn toàn.

Hải Phòng những ngày nói trên sùng sục như chảo dầu sồi trên bếp lửa.

Tôi lúc này vì phải phụ trách thêm cả một tờ báo của Mặt trận thay cho đồng chí chủ bút đi họp Đại hội Tân Trào nên phải ở gần Hà Nội. Tối hôm 15-8, mặc dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa phát ra từ chiến khu tối 13-8, cũng chưa biết cả tin Nhật đã đầu hàng. Trong một làng nhỏ ven thành Hà Nội, tôi cùng với vài anh em từ Hải Phòng lên sôi nổi bàn về những biện pháp chuẩn bị cho việc khởi nghĩa ở địa phương. Họp xong, các anh em về ngay trong đêm mưa gió.


Tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội xong, ngóng mãi không thấy tin từ Hải Phòng, Kiến An lên, ngày 20 tôi báo cáo với Xứ ủy, và được phái ngay về thành phố Cảng. Tôi được cấp một chiếc ô tô rất sang, mang ký hiệu KS RP của Phủ khâm sai cũ, cùng với một ôm báo Cứu quốc loại mới còn thơm mùi mực in. Chiếc xe hơi sang trọng, cắm cờ đỏ sao vàng nọ, tưởng rằng có thể bon một mạch về Hải Phòng, nhưng đến Hải Dương thì không có đường đi tiếp: Một trận lụt vào mức lớn nhất trong lịch sử nước ta đã làm ngập phăng cả đường xá. Tôi lại đâm tiếc chiếc xe đạp tồng tộc của tôi. Nằm ở tỉnh bạn một ngày, lòng tôi như có lửa đốt. Hôm sau thương lượng được một chuyến ca nô, tôi vui sướng lên đường, cảm ơn mãi ông chủ xuồng máy mới quen biết. Nước lụt còn ngầu màu bùn phù sa và mênh mông như biển. Trên mỗi làng mạc ẩn trong lũy tre và ngoi lên mặt nước như những đảo xanh, những lá cờ đỏ sao vàng treo cao bay phất phới như vẫy gọi chúng tôi tiến về Hải Phòng thật nhanh.


Về đến thành phố, tôi đi thẳng đến địa điểm đã hẹn là hiệu sách báo Mai Lĩnh. Mấy anh em đã chờ ở đó, chạy ra ôm chầm lấy tôi. Anh Mai Lĩnh đã phát hành xong tập báo đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong có 15 phút.


Một cuộc họp được cấp tốc tổ chức tại một địa điểm kín đáo. Chúng tôi kiểm lại tình hình và bàn kế hoạch hành động.

Tình hình có nhiều nét thuận lợi. Nhân dân Hải Phòng đã sẵn sàng. Bọn phản động hoang mang rệu rã. Thuận lợi lớn nhất là chính quyền cách mạng Trung ương đã được thành lập ở Hà Nội.

Nhưng khó khăn cũng không phải ít, 6 vạn quân Nhật của khu vực tập trung cả trong thành phố, bọn chỉ huy của chúng vẫn lầm lì bí mật, trong khi lực lượng võ trang của ta trong nội thành còn quá non trẻ và mới có vài ba chục khẩu súng cũ kỹ. Các lực lượng chính trị và võ trang trong khu vực còn thiếu sự chỉ huy thống nhất chặt chẽ. Thời gian để làm việc thì quá ít ỏi.


Yêu cầu đối với các hành động của chúng tôi lại rất nghiêm ngặt. Hải Phòng là một cửa biển quan trọng, là một thành phố lớn nhất của miền Duyên Hải; ta chậm cướp chính quyền ngày nào thì không lợi cho việc nhanh chóng thiết lập chính quyền cách mạng trong toàn quốc, bọn thực dân Pháp và bè lũ phản động càng có thêm điều kiện để gây khó khăn cho ta. Lại phải tránh việc đổ máu không cần thiết. Ở Hà Nội, quân Nhật đã xô sát với quân ta khi ta vào lấy súng ở trại Bảo An binh. Ở Hà Đông, có tên quản lính khố xanh đã bắn vào người đi biểu tình. Bọn phản động Đại Việt còn có lực lượng võ trang tại mấy nơi trong khu vực và nuôi nhiều tham vọng, chúng gây được xô sát là tạo cho bọn Nhật cái cớ can thiệp.


Chưa bao giờ chúng tôi thấy trách nhiệm trước sự nghiệp chung đè nặng như hôm nay lên vai chúng tôi, những người mà tuổi bình quân chưa tới 25 xuân xanh. Nhưng rồi Ủy ban khởi nghĩa thành phố mà tôi được cử làm chủ tịch đã nhanh chóng đề ra một kế hoạch tóm tắt như sau :

- Bằng mọi cách bắt liên lạc với các lực lượng chính trị, võ trang ở Đông Triều và Kiến An để thống nhất hành động.

- Vừa vận động vừa gây sức ép với bọn Nhật buộc chúng phải nằm im.

- Giám sát khống chế những tên thực dân Pháp và phản động địa phương, sẵn sàng trấn áp nếu chúng có hành động phá hoại.

- Kiến An là nơi so sánh lực lượng có nhiều thuận lợi cho ta hơn ở Hải Phòng, sẽ cướp chính quyền ngày 22, trước Hải Phòng một ngày, vừa để thăm dò địch, vừa để hôm sau mang lực lượng sang hỗ trợ cho Hải Phòng.   Có kế hoạch, chúng tôi lập tức phân công nhau đi thực hiện. Đêm hôm đó ít người trong Ủy ban khởi nghĩa chúng tôi ngủ được hơn một tiếng đồng hồ.


Sáng ngày 22, một tấm biển lớn đề hàng chữ Thành bộ Việt Minh Hải Phòng đàng hoàng chăng trước số nhà 14, đường Cát Dài. Đây cũng là nơi Ủy ban khởi nghĩa tiếp xúc với nhân dân. Chúng tôi làm việc trên gác. Một tổ tự vệ có súng gác ỏ dưới nhà, nhưng hôm đó không ai phải dùng đến vũ lực. Những đại biểu của các tổ đến nhận nhiệm vụ và báo cáo việc thi hành. Nhiều người, đủ mọi lứa tuổi, mà chúng tôi chưa quen biết, trong đó có nhiều cụ già, hăng hái đến xin giao nhiệm vụ, hay hiến kế với ủy ban. Người ra vào nườm nượp. Không khí của phòng làm việc như muốn bốc lửa.


Chúng tôi đã gặp được các đại diện của lực lượng chiến khu Đông Triều ở nhà ông Vũ Trọng Khánh một cách không hẹn trước trong khi hai bên đang đi tìm nhau.


Kế hoạch phối hợp hành động được vạch ra cấp tốc: các đơn vị Đông Triều sẽ chia làm hai mũi kéo về đúng ngày 23, một nửa sẽ bố trí bảo vệ ở ngoại vi thành phố phòng mọi sự bất trắc, một nửa sẽ vào dự mít tinh.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:38:40 am
Ngày và suốt đêm 22 tháng Tám thành phố náo nhiệt hẳn lên. Các máy khâu may cờ rầm rập. Các khẩu hiệu và lời kêu gọi được viết trên những tấm giấy hồng điều dán khắp phố. Các nhà máy, công sở, chợ búa, làng xóm ven thành, khu phố rậm rịch những lời gọi nhau, rủ nhau, sắp xếp người đi biểu tình. Các vũ khí được đem ra lau chuốt kỹ càng. Ban tổ chức mít tinh tất bật lo liệu mọi công việc trước nhà hát thành phố: Lễ đài, mi-cơ-rô, cột cờ, loa, băng, biển, nơi đứng cho từng đoàn, nơi tiến thoái khi phải chiến đấu...


Sau đấy, tôi đã được sống cùng với nhân dân Hải Phòng trong những ngày chuẩn bị đón những sự kiện lịch sử: Chuẩn bị đón Bác Hồ từ Pháp về. Chuẩn bị đại quân về tiếp quản sau ngày kháng chiến toàn quốc thắng lợi v.v... Những ngày chuẩn bị nào cũng là những ngày tưng bừng. Nhưng ngày 22 tháng 8 năm 1945 vẫn có cái vẻ riêng của nó: chuẩn bị cho cuộc đời của thành phố và của chính mình, chuẩn bị cho một cuộc giao tranh có thể quyết liệt, đổ máu; chuẩn bị đón chính quyền mới; chuẩn bị cho việc từ cuộc sống trong bùn đen của nô lệ vươn lên đón ánh sáng của cuộc đời làm chủ... Thật vui sướng hân hoan tự hào quyết tâm, vô cùng hồi hộp! Cho nên nhiều gia đình thức suốt đêm để chuẩn bị cho cả nhà cùng đi dự ngày hội và cuộc đấu tranh cực lớn đầu tiên của mỗi người, và của cả thành phố.


Ngày 23-8.

Hàng vạn quần chúng cách mạng từ các ngả đường kéo về quảng trường nhà hát thành phố, lúc đó còn mang tên là Vườn hoa Nhà kèn. Người khoác súng, người đeo kiếm, người vác mã tấu, gậy tre, gậy gỗ. Ai cũng hừng hực dũng khí và tràn dầy niềm hân hoan phấn khởi. Mấy anh trong ban tổ chức mít tinh giới thiệu với Ủy ban khởi nghĩa là đoàn của Ximăng, của nhà máy Carông, của Lạc Viên, Dư Hàng, Hàng Kênh... Kia là đoàn của Cầu Đất, phố Ga, Ngã Sáu... Mỗi đoàn mỗi vẻ. Công nhân rắn chắc trong mỗi dáng đi cũng như nét mặt, viên chức, công thương gia áo quần chững chạc, phụ nữ nhiều màu sắc và ríu rít tiếng nói tiếng cười, bảo an binh và cảnh sát gọn gàng trong quân phục... Và kia, vui chưa, các đoàn võ trang của Kiến An sang tham gia và hỗ trợ đúng như đã ước hẹn.


Đoàn nào đoàn ấy lần lượt tiến về nơi qui định, đội ngũ chỉnh tề. Anh em tự vệ đứng võ trang bảo vệ và giữ trật tự tại các tuyến xa, gần thì được bố trí trước. Và chung quanh là cả một rừng người. Trong đó có rất đông các cháu thiếu niên, chưa được xếp vào hàng ngũ, nhưng cũng đứng rất trật tự để xem các anh chị em, chú bác mình đang tiến hành một công cuộc lịch sử.


Quảng trường nhà hát được trang hoàng đẹp đẽ, cờ và biểu ngữ đỏ rực, loa phóng thanh chĩa ra bốn phía. Trong khi chờ đợi, một đồng chí cao lớn uy nghi đứng cao trên gác nhà hát, giới thiệu cách chào cờ. Cách chào cờ lúc này là đứng nghiêm, giơ nắm tay trái lên mang tai. Mấy chiếc loa cũng vang tranh thủ dạy mọi người cùng hát đều và đúng bài Tiến quân ca.


Giờ khai mạc đến, cờ đỏ sao vàng kéo lên. Hàng loạt súng nổ vang. Bài Tiến quân ca vang dậy. Lá cờ lên càng cao, càng cao, dường như không phải do sức kéo của bốn cánh tay vạm vỡ, mà vì sức đẩy của hàng vạn cặp mắt chăm chú nhìn vào nó. Lần đầu tiên trong đời, hàng vạn dân Hải Phòng được tự do, hồ hởi và cũng rất trang nghiêm hát, nghe bài ca, nhìn ngắm lá cờ thiêng liêng đã mang với mình tất cả hào quang của hàng trăm cuộc đấu tranh từ Bắc chí Nam.


Tôi thấy những người chung quanh tôi, và chính bản thân tôi, tay nắm chặt, mắt rưng rưng, hát, hát như vỡ lồng phổi...

Đội quân của chiến khu Đông Triều về chậm so với kế hoạch vì phải hành quân từ xa. Khi đội quân về thì đồng bào dự mít tinh đang nghe những lời tuyên bố bỗng sôi động hẳn lên. Đồng bào xếp lại hàng ngũ, nhường chỗ trang trọng nhất trước lễ đài cho đội quân đứng. Họ trìu mến nhìn những người con của biển đã chịu đựng biết bao gian khổ và lập được bao nhiêu chiến công anh dũng, nay đã về đứng trong lòng bọ, bảo vệ họ. Nhiều người sung sướng nhận ra con em, bè bạn của mình trong đội ngũ chiến đấu. Những người thân thương nhau đó chỉ những toan chạy tới ôm lấy nhau mà hàn huyên kể lể.


Các tiết mục trong chương trình được tuần tự thực hiện. Tuyên bố phá bỏ chính quyền cũ. Thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng. Đại biểu chiến khu lên hứa sát cánh phấn đấu với đồng bào, kêu gọi mọi người hăng hái làm nhiệm vụ dựng nước và giữ nước, tham gia và ủng hộ Mặt trận Việt Minh...


Mỗi phần qua đi thì mỗi lo lắng của tôi lại vơi theo thay vào đó là một niềm phấn khởi tràn đầy. Khi mít tinh mới bắt đầu, đứng trên đài, tôi còn vừa mừng vừa lo. Mừng như mọi người mừng vui. Nhưng lo là lo kẻ thù có giám đến phá phách? Liệu có một tiếng súng nổ hay một quả lựu đạn tung ra? Liệu xảy ra tình huống chiến đấu thì chúng tôi sẽ chỉ huy thế nào cho đúng. Liệu mấy cô Nhàn, cô Hải đang đi lại trong bộ quần trắng áo màu ở dưới kia sẽ hướng dẫn đội ngũ tiến thoái ra sao?


Lịch sử rất khắc nghiệt nhưng rất công bằng đã đóng một dấu son vào bản kế hoạch khởi nghĩa của chúng tôi và cũng là vào một trang lịch sử của thành phố.

Mít tinh kết thúc, trong muôn vàn tiếng hoan hô, mấy đồng chí chúng tôi xuống đường dẫn đầu cuộc diễu hành của đồng bào. Đây là những bước đi tự do đầu tiên của con người Hải Phòng trên thành phố vừa đập tan xiềng xích gông cùm. Không có ai uống rượu mà mọi người đều như say. Đoàn người đi như một dòng suối hừng hực lửa cháy giữa màu cờ đỏ tươi trên trước cửa mọi nhà, mọi phố. Đoàn đi đến đâu cũng đều được đồng bào hoan hô và gia nhập. Không cần ai giữ trật tự nữa. Vì lúc này có một trật tự mới trật tự tự giác, trật tự cách mạng bất khả xâm phạm.


Trời trên đầu chúng tôi xanh quá, cây lá như vẫy chào chúng tôi. Còi xe, còi nhà máy rúc giòn giã như tiếng kèn. Anh đại đội trưởng Bùi Tống Thủy của bộ đội Đông Triều đi cạnh tôi, vừa đi vừa khua lá cờ đỏ sao vàng lớn, mặc nhiên tạo thành một động tác múa tuyệt vời. Tiếng cười, tiếng hát, tiếng hô khẩu hiệu từ trong hàng ngũ cũng như từ những người đứng hoan nghênh cứ rào rào như sóng cồn. Thật là:

"Trăm năm mất nước mất nhà
Hôm nay mới cất lời ca tiếng cười"

   
Đi qua các đồn cảnh sát, tòa án, nhà lao, chúng tôi thấy nơi đây trong khoảng khắc đã thay đổi hẳn tính chất. Qua nơi đây từ nay người dân không còn phải sợ lo hay phẫn uất nữa. Đến lượt bọn phản động chúng mày phải run sợ!


Sau cuộc diễu hành, chúng tôi chia nhau đi lấy các cơ quan chính. Các anh bộ đội Đông Triều về đóng ở đồn Bảo an binh. Anh Tuấn về trụ sở Thành bộ Việt Minh. Anh Đỗ Trọng Giang xuống lấy tờ tin Hải Phòng và đổi tên nó thành tờ Dân chủ. Tồi đến tòa thị chính rồi đặt trụ sở Ủy ban nhân dân cách mạng ở nhà Ba chuông. Các tổ, nhóm cứu quốc ở nhà máy hay cơ quan nào thì trở về làm chủ các cơ quan đó.

Chúng tôi vào đón những anh em bị giam giữ mà bọn Nhật phải thả hết.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Tư, 2022, 07:39:20 am
Khởi nghĩa là một việc khó. Khởi nghĩa ở các thuộc địa càng khó. Khởi nghĩa ở các thành thị lại càng khó hơn nữa. Nhưng Hải Phòng ngày 23-8 đã thắng lợi rực rỡ, thậm chí không phải bắn một viên đạn nào. Nhưng chính vì thế mà người Hải Phòng rất cảm phục đường lối lãnh đạo tài tình của Trung ương Đảng, những người chiến sĩ đã đổ máu, ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đông Triều, Kiến Thụy... để ngày hôm đó Hải Phòng không phải đổ máu. Không phải chỉ có một cuộc mít tinh hòa bình mà cướp được chính quyền. Kẻ thù dân tộc như một tên khổng lồ độc ác, nhưng nó đã bị toàn dân ta đánh liên tiếp ở nhiều nơi, trong nhiều trận, ngày 19 tháng 8 lại bị đánh trúng đầu, cho nên đến ngày 23 này dân Hải Phòng chỉ mở một cuộc mít tinh có võ trang tấn công thì cũng đủ sức kéo sập nó xuống!


Năm 1873 tên tướng giặc Pháp Philát kéo cả một đội tàu chiến ngược dòng sông Cấm, bắn đắm thuyền, treo cổ người, tàn phá làng mạc của người Việt Nam. Trong bảy chục năm dân chúng ở đây quằn quại sống dưới lưỡi lê, báng súng, roi vọt, chửi rủa... Cái quyền cao quý nhất là quyền làm người bị tước đoạt, đến hôm nay con người Hải Phòng đã đứng lên dùng bạo lực giành lại được. Càng hồi tưởng tôi càng thấy ngòi bút của tôi càng như bất lực khi để truyền lại nỗi vui ngày đó. Năm 1951, một hôm trên đèo Voi, mấy cán bộ chúng tôi nhớ lại quang cảnh ngày Hải Phòng khởi nghĩa thành công. Một đồng chí đột nhiên hỏi tôi: "Cái mầm cây có cảm giác không anh nhỉ?". Tôi ngạc nhiên hỏi lại: "Tại sao anh lại có ý nghĩ ngộ nghĩnh đó?". Anh bạn tôi trả lời: "Cái hạt cây bị nằm hàng tháng dưới đất tăm tối, gột ngạt, hôi thối, nặng nề; nó dùng hết sức để chọc thủng được đất đè nó để vươn lên với ánh sáng, khí lành, gió mát. Nếu có cảm giác chắc nó cũng sướng như chúng mình hôm Hải Phòng được giải phóng". Câu ví von đó có thể chưa hoàn chỉnh lắm, nhưng cùng khiến tôi nhớ mãi.


Đêm hôm 23-8-1945, tôi cũng như bao nhiêu người Hải Phòng đã ngủ yên lành giấc ngủ đầu tiên của người công dân một nước độc lập. Trong lúc mơ màng vẫn nghe tiếng cờ bay phần phật ngoài cửa sổ. Đêm hôm đó trên khắp thành phố Hải Phòng có biết bao nhiêu lá cờ đỏ sao vàng như múa như reo chào mừng đất nước hồi sinh. Mẹ Tổ quốc như vỗ về ru hát che chở cho những đứa con của Mẹ vừa được tháo tung các gông xiềng, thành người tự do và bắt đầu một cuộc sống mới vô cùng quang vinh và đáng sống.

Tháng 7-1997 VŨ QUỐC UY


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 07:58:56 am
CHIẾN KHU TRẦN HƯNG ĐẠO VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA HẢI PHÒNG


Tóm lược tham luận của Nguyễn Hùng Phong
Nguyên là cán bộ chiến khu Trần Hưng Đạo


1. Trước ngày khởi nghĩa bộ phận Nguyễn Bình đã có sự hoạt đông mạnh ở Hải Phòng

Sau đảo chính Nhật, Pháp, nổi lên nhiều nhóm Việt Minh hoạt động ở Kiến An, Hải Phòng... nhưng chưa thống nhất với nhau. Bộ phận Nguyễn Bình có mạng lưới rộng, có trụ sở chính tại Ga Ra nhà ông Thái Văn Cốc ở số 88 phố La Côm (nay là 152 phố Hoàng Văn Thụ) ông Cốc là anh rể anh Dương Chính (tên thật là Phan Dương Chuyên) bạn tù với Nguyễn Bình từ 1930 - 1935 ở Côn Đảo. Cặp Nguyễn Bình - Dương Chính là cặp linh hồn của bộ phận này.


Bộ phận Nguyễn Bình rất chú trọng tuyên truyền, giác ngộ anh em binh sĩ trong hàng ngũ địch, đã gây đựng được nhân mối trong trại Bảo an binh tỉnh lỵ Kiến An, Đồ Sơn, đồn Đoan, đồn Muối ở Tiểu Bàng, sở xen đầm Đồ Sơn, lại bắt liên lạc được với anh Lê Phú, thủy quân lục chiến tàu Commandant Bourdais. Tổ Lê Phú đã tháo được 2 đại liên Hốt-kít đưa về huyện Đông Triều nộp cho Nguyễn Bình.


Bộ phận Nguyễn Bình lại quan hệ được với phong trào Việt Minh của phủ Thủy Nguyên, qua Thủy Nguyên với phong trào của huyện Đông Triều, và huyện Kinh Môn, mỏ và phố Mạo Khê.

Ngày 8-6-1945 thành lập chiến khu Trân Hưng Đạo. Ngày ấy đã hạ luôn mấy đồn: Đông Triều, Tràng Bạch, đồn Thiên (Chí Linh) v.v... sau đó ngày 20-7-1945 đã giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên. Thanh thế của chiến khu, của Mặt trận Việt Minh lên rất cao.


Ở Hải Phòng một số thanh niên kéo ra chiến khu, một số nhóm ở lại tiếp tục phát triển cơ sở và hậu cần cho chiến khu như nhóm Trần Ngọc Tràng, Trần Đình Thành ở đồn Muối Tiểu Bàng về sau đổi về đồn Đoan Hạ Lý, nhóm Phạm Khang chủ hiệu may, ở số 85 Cầu Đất, nhóm Bùi Đình Cầu ở Ty địa chính Kiến An cơ sở huyện An Lão, nhóm Trần Doãn Tòng ở khu Lạc Viên v.v... Những nhóm này có tác động lớn trong phong trào địa phương và tham gia việc giành chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An, Đồ Sơn sau này.


Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh, nhận được lệnh điện của Sainteny gửi tới, hai khinh hạm của Pháp Crayssac và Frézauls nhao về định xác lập lại vị trí của Pháp ở Hải Phòng ngày 16-8-1945 đã tới đậu ở Bến Ngự Hải Phòng. Chỉ huy của chúng lên bờ, gặp sở hiến binh Nhật xin phép cho gặp Pháp Kiều. Việt Minh phát động đấu tranh. Lập tức nhân dân Hải Phòng vác gậy gộc ra canh gác để ngăn không cho chúng gặp một vài Pháp kiều lấp ló gần Bến Ngự. Thị trưởng thành phố luật sư Vũ Trọng Khánh đã ngả về phía Việt Minh gặp tư lệnh Nhật thông báo rằng nếu Nhật cho quân Pháp lên bờ thì nhân dân ta phẫn nộ, chính quyền không thể bảo đảm tính mạng cho Pháp kiều được và Nhật phải chịu trách nhiệm về hậu quả. Liên đó thị trưởng Vũ Trọng Khánh phái vị thẩm phán tòa án sang gặp ngay tri phủ Thủy Nguyên Nguyên Quang Tạo nhờ giúp thị trưởng gặp được đại biểu chiến khu (ông Khánh đã biết trước tri phủ Tạo đã ở trong tổ chức Việt Minh). Nhà sư Lương (Hoàng Ngọc Lương) vẫn thường bên cạnh tri phủ Tạo, đã thu xếp để ông Khánh gặp Nguyễn Bình tại một ngôi chùa gần bến Kiên. Thị trưởng Khánh đề nghị chiến khu giúp đỡ Hải Phòng nếu quân Pháp lên bộ. Nguyễn Bình hứa trong trường hợp ấy, sẽ điều quân chiến khu về phủ Thủy Nguyên làm áp lực cho nhân dân và chính quyền thành phố.


Ngay ngày 17-8-1945, tại Thủy Nguyên, Nguyễn Bình đã bàn với sư Lương lập chính quyền cách mạng công khai ra mắt nhân dân.

Do áp lực của nhân dân và chính quyền Vũ Trọng Khánh, hai khinh hạm Pháp buộc phải rời khỏi bến Ngự. Ngày 17-8 Crayssac ngược sông định lên Hà Nội, nhưng đến Ninh Giang tự vệ và nhân dân ở đây được cán sự Việt Minh lãnh đạo đã kéo ra trên bờ, dưới sông, cản đường Crayssac buộc nó phải quay trở lại Hải Phòng, rồi cùng Freyzouls trở lại vịnh Bắc Bộ.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 07:59:55 am
2. Chiến khu Trần Hưng Đạo chuẩn bị cùng nhân dân tham gia khởi nghĩa (23-8-1945)

Ngày 21-8-1945, tôi (Hùng Phong) và Trần Sinh được ông Hải Thanh giao nhiệm vụ về Hải Phòng và Đồ Sơn nghiên cứu kế hoạch đưa quân chiến khu về.

Xế chiều ngày 22-8, chúng tôi mới qua đồn Đèo, qua đò Bính. Khi đến phố La Côm (Hoàng Văn Thụ ngày nay) đã thấy mấy hiệu đang may cờ đỏ sao vàng và đây đó có nơi đang tập hát bài Tiến quân ca. Hai người đi thẳng đến nhà số 9 ngõ Thuận Thái (đường Cát Dài) là nhà thị trưởng - luật sư Vũ Trọng Khánh. Gặp ông Khánh chúng tôi tự giới thiệu ngay là đại biểu của đệ tứ chiến khu và nói rõ nhiệm vụ. Luật sư Khánh tiếp đón rất ân cần cởi mở. Sau tuần nước, ông Khánh nói ngay là trong nhà hiện có hai đại biểu Việt Minh của Kỳ ủy, các anh có gặp không? Chúng tôi hoan nghênh liên. Ông Khánh liên mời hai đại biểu ra, đó là Vũ Quốc Uy và Quách Duy Yên. Tôi (Hùng Phong) lại báo cáo nhiệm vụ. Vũ Quốc Uy cho biết: "Chiều 22-8-1945, hai đại biểu Việt Minh cùng luật sư Khánh đã gặp BTL Nhật, hai bên đã nhất trí từ sáng 23-8-1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời sẽ ra mắt nhân dân trong một cuộc mít tinh không vũ trang. Nếu quân chiến khu kéo về, e quân Nhật và quân chiến khu có thể nổ súng.


Hùng Phong trả lời: "nếu chính quyền ra mắt thì phải có lực lượng vũ trang bảo vệ chính quyền, trấn áp bọn phản động và các trại lính cũ, bảo vệ kho bạc, ngân hàng và cơ sở quan trọng. Nếu các đồng chí đảm bảo được việc đó thì quân chiến khu không cần kéo về".


Vũ Quốc Uy suy nghĩ lưỡng lự và hẹn chúng tôi sẽ bàn tiếp vào 20 giờ tại gác hai một nhà ở phố Tám Gian (Lê Lợi ngày nay). Đúng hẹn, chúng tôi đến trước, Vũ Quốc Uy và Quách Duy Yên đi ô tô đến sau. Lúc này Vũ Quốc Uy nói rõ các đồng chí ấy không có lực lượng vũ trang nên chiến khu đưa quân về là cần thiết, nhưng chỉ mang lựu đạn, sẽ có ô tô ra đón quân chiến khu ở ngoại thành, bỏ lựu đạn vào xe và đi tay không vào thành phố dự mít tinh.


Chúng tôi, không chấp nhận quân đội lại rời vũ khí. Vũ Quốc Uy lại đề xuất: "quân Chiến khu có thể mang súng trường nhưng vẫn bỏ súng vào xe như trên. Chúng tôi vẫn giữ chính kiến của mình và nói: "Đã gọi là lực lượng vũ trang thì phải có đầy đủ vũ khí. Vậy các đồng chí nên gặp lại BTL Nhật giải thích cho họ thông là Nhật đã đầu hàng quân đồng minh rồi, Việt Minh không đánh Nhật nữa mà quân Nhật không nên can thiêp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhưng nếu quân Nhật bắn trước vào Việt Minh thì buộc lòng Việt Mỉnh mới phải bắn trả lại để tự vệ". Đến đây kết thúc bàn luận.


Sớm ngày 23-8-1945, Hùng Phong phân công Trần Sinh ngược đường bộ về huyện Đông Triều. Còn Hùng Phong đi xe đạp sang đồn thuế quan Hạ Lý gặp Trần Ngọc Tràng đề nghị cho mượn ca nô ngược sông về Đồng Triều. Ca nô ấy là Thomas (sau đổi tên là Tuấn Mã) do Vũ Văn Viện làm thuyền trưởng, Hoàng Văn Tài làm máy trưởng. Đồng thời được biết chiếc ca nô Bonneau (sau gọi là Nam Nhi) đã được phái đi Quảng Yên đón bộ phận Nguyễn Bình về bến Bính kịp tham gia khởi nghĩa ngày 23-8-1945.


Hùng Phong trên ca nô Tuấn Mã đến gần Sở Dầu thì nhận ra một tàu thủy là tàu Diamant đã chở quân chiến khu do đồng chí Nguyễn Hải Thanh và Nguyễn Hiền chỉ huy, đậu ở đó, những đại quân đã lên bờ hành quân về Hải Phòng. Hùng Phong phải chạy bộ đuổi theo, đuổi kịp quân ta đang nghỉ chân ở chân cầu. Hùng phong kịp báo cáo nhanh với Hải Thanh, Nguyễn Hiền vừa xong thì Vũ Quốc Uy, Quách Duy Yên đi ô tô tới. Vũ Quốc Uy lại nhắc đề nghị bỏ vũ khí vào xe. Hải Thanh không nghe, cứ cho quân mang vũ khí hành quân vào thành phố cùng các đoàn nhân dân mang cờ, biểu ngữ vào dự mít tinh. Còn Nguyễn Hiển đi xe cùng Vũ Quốc Uy, Quách Duy Yên đến gặp BTL Nhật.


Thật là may, không hẹn mà nên, đến ngã ba bến Bính và Điện Biên. Nguyễn Bình và đoàn ở Quảng Yên về cũng kịp đến. Hai đoàn sát nhập. Nguyễn Bình dẫn đầu. Khi qua sở hiến binh Nhật ở ngã tư phố Điện Biên và Hoàng Văn Thụ ngày nay, một lính Nhật đang gác đã bồng súng chào đoàn quân chiến khu đang tiến về Nhà hát thành phố.


Trong mít tinh, tuyên bố danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố do ông Vũ Quốc Uy làm chủ tịch, xong đoàn quân cùng nhân dân tỏa đi chiếm 3 đồn Bảo an binh (số 2 Lạch Tray) và các công sở quan trọng. Tự vệ khu Lạc Viên do nhóm Trần Doãn Tòng xây dựng đã chiếm trại khố đỏ (ở trại Bouet (nay là BTL Hải quân) chiếm nhà băng năm sao (nay là ngân hàng công thương Hải Phòng) sau này trở thành bản doanh của Ủy ban quân sự liên tỉnh miên Duyên hải.


Chúng tôi không đi dự mít tinh khởi nghĩa ở Nhà hát thành phố, mà cùng với Trần Đình Thành lấy một xe ô tô con đi thẳng ra Đồ Sơn. Trên mặt kính xe đã dán sẵn giấy đề chữ to "Đệ tứ chiến khu". Trần Đình Thành trên đường đi cầm cờ đỏ sao vàng nhỏ đưa ra ngoài xe. Dọc đường gặp những đoàn nhân dân, những ô tô chở khách, bà con vẫy chào hoan nghênh. Trần Đình Thành đã có nhân mối trong trại Bảo an binh và sở Xen đầm, nên đến đây binh sĩ đều hoan nghênh, hạ cờ Đại Việt, treo cờ đỏ sao vàng. Họ vẫn được giữ vũ khí, tiếp tục nhận nhiệm vụ.


Sau đó chúng tôi đi Kiến An qua chợ Hương đến Kiến An, thấy tiếng súng nổ chúng tôi đến nhà Bùi Đình Cầu được biết lực lượng Việt Minh huyện An Lão và Kiến Thụy nổ súng do có sự hiểu lầm nhau. Bùi Đình Cầu là thông phán của Ty địa chính là người của bộ phận Nguyễn Bình. Những ngày trước tổng khởi nghĩa, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Ninh nói với cụ Trần Đức Duy trưởng ty địa chính là muốn gặp đại biểu Việt Mình. Cụ Duy giới thiệu Bùi Đình Cầu. Ông Cầu tới gặp tỉnh trưởng Ninh đón tiếp và nói luôn "chết chửa"! Núi Thái Sơn trước mắt mà tôi không biết. Pháp sẽ quay trở lại, chúng tôi không đủ sức giữ tình, chúng tôi muốn giao chính quyền cho Việt Minh". Bùi Đình Cầu bèn báo cho cơ sở An Lão và Việt Minh An Lão đã vào tỉnh tước vũ khí trại bảo an binh rồi đại bộ phận rút về An Lão. Tiếp theo, lực lượng Kiến Thụy cũng kéo vào tỉnh lỵ Kiến An nên đã xảy ra bắn nhau do hiểu lầm nhau.


Thấy tình hình trên, Hùng Phong vào bưu điện báo cáo với Nguyễn Bình ở trại Bảo an Hải Phòng. Nguyễn Bình cử Lê Phú đưa một số chiến sĩ vũ trang đi ô tô cắm cờ đỏ sao vàng có gắn loa sang Kiến An vào chiều ngày 23-8 và dàn xếp được trật tự trở lại bình thường; đơn vị Lê Phú trở lại Hải Phòng. Ngày 24-8-1945 chính quyền cách mạng Kiến An ra mắt như vậy. Chiến khu Trần Hưng Đạo đã góp phần vào việc xây dựng lực lượng và tham gia khởi nghĩa ở Hải Phòng.

HÙNG PHONG


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:01:18 am
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÕ TRANG CÁCH MẠNG
TRONG ĐỒN ĐOAN HẠ LÝ


Hoàng Văn Tài
Nguyên máy trưởng tàu Thomas,
chiến sĩ đội tàu thuyền thuế quan Hải Phòng


Trước tháng 8-1945 tôi làm máy trưởng tàu Thomas của đoàn hải thuyền thuế quan Hảỉ Phòng. Đoàn hải thuyền thuế quan Hải Phòng thời thuộc Pháp có khoảng 30 chiếc tàu, thuyền máy. Từ khi xuất hiện có băng nhóm buôn lậu trên biển có vũ khí thì các tàu thuyền thuế quan được trang bị súng trường, súng máy, một số tàu được trang bị pháo 37 ly loại 1 nòng và 5 nòng. Năm 1943, hải quân Pháp đã trưng dụng một số tàu lớn như: Crayssac, frézoul, Picanon... nên đoàn hải thuyền thuế quan còn lại 7 chiếc trong đó có tàu Thomas, Bonneau... thường trú tại bến Đoan Hạ Lý, đây cũng là trụ sở hành chính của cơ quan quản lý và điều hành đoàn hải thuyền.


Sau ngày đảo chính 9-3-1945, Nhật đưa tay sai vào nắm các chức vụ chủ chốt của thuế quan Hải Phòng.

Vào giữa tháng 3-1945, tôi đã được gặp anh Trần Đình Thành là cán bộ Việt Minh hoạt động ở Hải Phòng dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Bình, anh Thành đã giác ngộ cách mạng, giao công tác thử thách và tổ chức tôi tham gia hoạt động cách mạng trong lực lượng thuế quan ở Hải Phòng. Tôi đã vừa hoạt động vừa tuyên truyền, chọn những người anh em có tâm huyết và nắm những cương vị quan trọng như các anh Vũ Văn Viện thuyền trưởng tàu THOMAS, anh Trần Văn Tập thủy thủ kiêm xạ thủ pháo 37 ly tàu BONNEAU. Nên chỉ sau ít tháng, toàn bộ nhân viên trên hai tàu ThOMAS và tàu BONNEAU đã trở thành cơ sở tin cậy của cách mạng. Tiếp theo đó, cơ sở cách mạng đã được phát triển sang các tàu khác và cả bộ phận của cơ quan thuế quan ở trên bờ.


Khoảng tháng 6-1945 anh Trần Đình Thành đến gặp tôi nắm tình hình và giao nhiệm vụ :

- Để chuẩn bị tổng khởi nghĩa, phải khẩn trương xây dựng lực lượng vỗ trang của ta trong đồn Đoan Hạ Lý.

- Tổ chức khai thác cơ sở vật chất của địch như: xăng dầu, lương thực, vũ khí... tiếp tế cho chiến khu Đông Triều (chiến khu Trần Hưng Đạo).

Thời gian này tuy Nhật khủng bố ráo riết. Nhưng phong trào cách mạng Hải Phòng vẫn phát triển mạnh ở nhiều địa phương... uy tín và ảnh hưởng của chiến khu Đông Triều đã lan nhanh và rộng trong các tầng lớp nhân dân thành phố. Kể cả đối với một số viên chức của địch ở các huyện, thậm chí ở cả trên thành phố. Vừa lúc anh Trần Ngọc Tràng - đội trưởng thuế quan Tiểu Bàng, địch đưa về phụ trách Ty kiểm soát thuế quan Hải Phòng, kiêm phụ trách Ban thuyền vụ thuế quan Anh Trần Ngọc Tràng là đảng viên đảng Dân chủ lớp đầu tiên, và đã có bắt liên lạc với các anh Trần Đình Thành, Hùng Phong, Nguyễn Bình...


Trong khi ở Tiểu Bàng, anh đã tổ chức được cơ sở cách mạng, nay anh về phụ trách hai bộ phận của thuế quan Hải Phòng nên thật là một thuận lợi cho chúng tôi. Anh đã góp phần bảo đảm bí mật cho tổ chức, đồng thời lại tạo được điều kiện cho cơ sở cách mạng thuế quan Hải Phòng hoạt động thực hiện các nhiệm vụ trên.


Để hợp pháp, anh Trần Ngọc Tràng - với cương vị phụ trách đã báo cáo với thị trưởng Hải Phòng Vũ Trọng Khánh là do bọn buôn lậu cả trên bộ, dưới nước và phỉ đều đã có các nhóm trang bị vũ khí để chống lại... nên thuế quan Hải Phòng phải tổ chức thành đơn vị có trang bị vũ khí và phải được huấn luyện chiến đấu mới làm nhiệm vụ được.


Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Trần Ngọc Tràng, chúng tôi đã tổ chức trong lực lượng võ trang thuế quan Hải Phòng được một đại đội (có 4 trung đội) dưới sự chỉ huy của anh Tràng.

- Trung đội 1: Có 35 người do Kiệt - kiểm soát viên làm trung đội trưởng.

- Trung đội 2: Có 32 người do anh Toại - kiểm soát viên làm trung đội trưởng.

- Trung đội 3: Có 33 người do anh Chính - kiểm soát viên làm trung đội trưởng.

- Trung đội 4: (là trung đội giao thông liên lạc) có 50 người, với 7 tàu thuyền, do anh Tô Đình An - Máy trưởng làm trung đội trưởng.

Về trang bị vũ khí: Có 1 pháo 35 ly, 3 súng máy, 100 súng trường Indochinois. Ngoài ra, đại đội còn có 2 ô tô, 1 mô tô. Trung đội 4, mặc quần soóc xanh áo trắng, mũ cát, giày da cao cổ. Còn 3 trung đội kia mặc quần áo vàng, giày da cao cổ, mũ cát vàng (có một trung đội đội mũ sắt). Đại đội này luyện tập quân sự buổi sáng, buổi chiều học thời sự. Thời gian đầu anh Tràng trực tiếp huấn luyện. Về sau, giao lại cho một số anh em cổ năng lực phụ trách. Khi có những dịp đại đội tổ chức đi kiểm soát, đi bắt buôn lậu, thổ phỉ (trên bộ, dưới nước)... thì thực sự là những cuộc diễn tập, chiến đấu của anh em. Những hoạt động nói trên đều là "hợp pháp", che mắt được bọn Nhật và bọn tay sai.


Chúng tôi đã triệt để khai thác mọi tiềm năng vật chất của địch, để tiếp tế cho chiến khu Đông Triều. Ví như: cụ Quản Thanh - coi kho, phát hiện khẩu pháo 37 ly (Pháp) tháo rời vất lẫn lộn trong đống sắt vụn. Anh em đã tìm đủ các bộ phận rồi lắp lại, dùng xuồng máy trở lên giao cho chiến khu. Nhà máy cơ khí tầu thuyền thuế quan ở Tiên Hội cũng rất tích cực sửa chữa một số súng, làm dao găm, mã tấu... để gửi lên chiến khu. Khi khám xét các tàu thuyền buôn lậu... anh em rất chú ý tìm vũ khí, cất giấu tịch thu để gửi lên chiến khu. Chúng tôi cũng đă gửi lên chiến khu những hàng lậu tịch thu được: 20 phi xăng (bốn ngàn lít), hai mươi tấn gạo... phần lớn qua cô Nhung và cô Ngân do anh Thành phụ trách... các cô là cơ sở của chiến khu ở nội thành Hải Phòng.


Một buổi tối trung tuần tháng 8-1945, chúng tôi dùng tàu ThOMAS (sau đổi tên là Tuấn Mã) tàu BONNEAU (đổi là Nam Nhi) bề ngoài là đi tuần sông, biển nhưng thực ra là để chở anh Nguyễn Bình và những người cùng đi sang Quảng Yên, (Quảng Yên đã giải phóng từ 20-7-1945). Tàu chạy được một đoạn đường thì anh Nguyễn Bình cho gọi anh Vũ Văn Viện thuyền trưởng và tôi vào gặp anh. Anh Viện và tôi báo cáo với anh Nguyễn Bình về tình hình tổ chức cách mạng và hoạt động ở thuế quan dưới sự chỉ đạo của các anh Trần Ngọc Tràng và Trần Đình Thành. Anh Bình chăm chú nghe chúng tôi báo cáo và có vẻ hài lòng. Bấy giờ chúng tôi đã được biết anh Nguyễn Bình là người đã trực tiếp chỉ huy lực lượng giải phóng cả khu vực Đông Triều - Quảng Yên, có uy tín rất lớn. Đối với chúng tôi anh là "Thượng cấp". Nhưng hiện giờ, trước mắt chúng tôi chỉ là một đồng chí mặc bộ quần áo nâu, đeo kính mầu, có dáng vẻ oai nghiêm như một vị tướng mà lại rất hiền lành, dễ gần như một người anh. Qua lần gặp này, anh đã truyền thêm cho chúng tôi niềm tin và ý chí quyết tâm theo con đường cách mạng.


Tối ngày 22-8-1945 hai cán bộ từ chiến khu Đông Triều về là anh Hùng Phong và anh Trần Sinh, truyền đạt lệnh trên về khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng.

Ngay sau đó Ban chỉ huy lực lượng võ trang cách mạng trong ngành thuế quan Hải Phòng đả triển khai các công việc:

- Tập trung lực lượng võ trang về đôn Đoan Hạ Lý ngay trong đêm.

- Các hội viên cứu quốc có nhiệm vụ vận động nhân dân ủng hộ cách mạng, bảo vệ tài sản, tài liệu của ngành, tạo điều kiện cho cán bộ cách mạng, cho quân giải phóng làm nhiệm vụ.

- Làm ngay trong đêm cờ đỏ sao vàng, khẩu hiêu, biểu ngữ.

- Bố trí lực lượng tham gia mít tinh và diễu hành cùng lực lượng võ trang chiến khu và nhân dân, một bộ phận canh gác đảm bảo an toàn trật tự trên các ngả đường mà lực lượng diễu hành đi qua.

- Tàu THOMAS và tàu BONNEAU đi đón lực lượng võ trang chiến khu ở hai hướng Đông Triều và Quảng Yên về Hải Phòng.


Sáng ngày 23-8-1945 đại đội võ trang của thuế quan Hải Phòng, dẫn đầu là xe mô tô có cờ đỏ sao vàng cỡ lớn từ đồn Đoan Hạ Lý hùng dũng tiến về quảng trường Nhà hát lớn thành phố tham dự mít tinh. Trong cuộc mít tinh này, chúng tôi được cử hai chiến sĩ danh dự bắn súng chào cờ. Tôi vinh dự được bắn phát súng trường đầu tiên, tiếp đó một nữ chiến sĩ bắn một băng các-bin, anh Huấn chiến sĩ lực lượng võ trang trong thuế quan kéo cờ.


Sau mít tinh, lực lượng võ trang và nhân dân diễu hành qua các đường phố chính. Dẫn đầu đoàn diễu hành là xe mô tô quốc kỳ của thuế quan, tiếp đó là anh Nguyễn Bình dẫn đầu lực lượng võ trang của chiến khu, của thuế quan và các lực lượng khác. Đoàn diễu hành bước đi với khí thế hào hùng sôi nổi trước sự cổ vũ nhiệt liệt của nhân dân đứng kín hai bên lề đường.


Ngày 24-8-1945 anh Hùng Phong tới đồn Đoan Hạ Lý công bố Quyết định của Tư lệnh Nguyễn Bình công nhận Đại đội võ trang của thuế quan do anh Trần Ngọc Tràng làm Đại đội trưởng từ nay là một đơn vị giải phóng quân của chiến khu. Đội tàu thuyền thuế quan là đơn vị hải quân của chiến khu.


Tiếp sau ngày giải phóng Hải Phòng, đội tàu thuyền cùng một số tiểu đội lực lượng võ trang thuế quan (nay là giải phóng quân Đệ tứ chiến khu Đông Triều) đã được điều động tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu giải phóng các địa phương khác như: Đồ Sơn, Cát Bà, Hòn Gai, Cẩm Phả...

Làm xong tại Hải Phòng
Ngày 10-8-1995


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:02:19 am
TỪ NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP THÁNG 3-1945 ĐẾN KHỞI NGHĨA
GIÀNH CHÍNH QUYỀN TỈNH HẢI DƯƠNG THÁNG 8-1945


Hồi ký của Nguyễn Văn Kha
Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương hồi 1945
Nguyên Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim


Đêm 11-3-1945, tôi trốn khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, bắt được liên lạc với Xứ ủy Bắc kỳ và được phái đi hoạt động ở tỉnh Hải Dương. Trên đường số 5, thỉnh thoảng lại gặp xác người chết đói. Anh Vũ Oanh đưa tôi về làng anh ở gần Kẻ Sặt, gặp anh Vũ Duy Hiệu. Sáng hôm sau, chúng tôi đi tỉnh lỵ Hải Dương đến một ngôi nhà ở phố Hàng Đồng gặp anh Đỗ Văn Thanh. Thế là tôi đã chắp được hai đầu mối: anh Hiệu gây dựng Hội công chức cứu quốc ở Sở địa chính; anh Thanh phát triển thanh niên cứu quốc trong học sinh trường Đông Hải, nơi anh dạy học. Báo Đông Pháp đưa tin Hồng quân Liên Xô tiến rất nhanh về hướng Tây, tình hình rất khẩn trương. Ngày 15-3, tôi chắp mối với chị Tâm, giao cho chị gây dựng Hội phụ nữ cứu quốc thành phố, với anh Hạ, giao cho anh gây dựng Hội công nhân cứu quốc trong công nhân Sở rượu và công nhân khuân vác bến Bè. Trong một tuần lễ, tôi đã chắp mối với anh Hòa, anh Văn (huyện Thạnh Miện) anh Riệu, anh Huyến (huyện Tứ Kỳ), anh Điên (huyện Thanh Hà) anh Trần Cung (huyện Chí Linh), anh Hải - Thanh (huyện Kinh Môn), anh Kiểm (phủ Vĩnh Bảo), anh Ba Béo (phủ Nam Sách) chị Ba Miễn (huyện Cẩm Giàng). Khoảng 25-3 tôi nhận được chỉ thị của Thường vụ Trung ương "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Cuối tháng 3-1945, một cuộc họp bí mật được triệu tập tại một ngôi nhà phố Hàng Lọng gồm các anh Hiệu, Nguyễn Công Hòa, Trần Cung, Hải Thanh và tôi. Sau khi nghiên cứu chỉ thị rất quan trọng nói trên, chúng tôi bàn việc làm thế nào nhanh chóng phát triển các Hội cứu quốc ở các phủ huyện. Anh Hiệu nhận phụ trách hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng, anh Trần Cung nhận phụ trách ba huyện Chí Linh, Đông Triều và Nam Sách, anh Hải Thanh phụ trách hai huyện Kinh Môn và Kim Thành, anh Hòa phụ trách huyện Thanh Miện, tôi phụ trách các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang và thành phố. Chúng tôi tuyên bố thành lập ban cán sự Đảng tỉnh Hải Dương do tôi làm bí thư, hẹn nhau địa điểm liên lạc bí mật, hẹn gặp lại nhau cuối tháng 4-1945. Người nào cũng đã sẵn có một nhóm năm, bảy người cùng chí hướng với mình hoặc chí ít cũng là cảm tình cách mạng, nên đến cuối tháng 4, tại cuộc họp ở một thôn thuộc huyện Thanh Miện, có sự tham dự của đồng chí Trần Đức Thịnh, xứ ủy viên đã kiểm điểm phong trào thì người nào cũng có một danh sách dài gồm nhiều hội viên cứu quốc mà mình đã gây dựng được. Giao thông viên đi theo đồng chí Thịnh đem về một số điều lệ Hội cứu quốc, điều lệ Đảng, một số báo Việt Nam độc lập Đồng Minh, một số báo cờ giải phóng. Các tài liệu ấy in Litho rất đẹp, nhất là báo Cờ giải phóng của Trung ương Đảng có nhiều bài sắc sảo mà ai cũng thích, muốn giành cho mình. Đồng chí Thịnh bèn hứa là sẽ chuyển về tiếp cho nhiều tài liệu khác để thỏa khát vọng của phong trào lên khá mạnh lúc ấy. Các đồng chí phụ trách các huyện mỗi người đưa cho tôi một bản danh sách những cán bộ cũ trong huyện mình sẽ huy động ra làm việc và danh sách những người cảm tình Đảng. Chúng tôi thảo luận nhiều về việc phát triển Đảng, thành lập những chi bộ đầu tiên ở các phủ, huyện, thành phố. Đồng chí Trần Đức Thịnh tuyên bố công nhận đổi Ban cán sự thành Ban tỉnh ủy, do tôi làm Bí thư. Nghe đồng chí nói về Bắc Giang và Bắc Ninh (hai tỉnh do đồng chí phụ trách) đã tổ chức tự vệ vũ trang, nhất là chiến khu Hoàng Hoa Thám (Bắc Giang) và Trung Mầu (Bắc Ninh), anh Trần Cung hỏi riêng tôi là anh có bắt được mối với một người đội lính khố xanh đồn Đông Triều, thì có báo cáo với Hội nghị tỉnh ủy không hay là chỉ báo cáo riêng với đồng chí Thịnh? Tôi trả lời là anh cứ báo cáo với Tỉnh ủy. Anh đề nghị là nếu lôi kéo được binh lính đồn Đông Triều đi theo cách mạng thì đề nghị cấp trên lập chiến khu Đông Triều. Đề nghị này được đồng chí Thịnh chấp nhận.


Tháng 5-1945 trôi đi rất nhanh. Nhiều xã trước đây chưa có cơ sở Việt Minh thì nay đã có. Mỗi huyện chọn được một cán bộ đủ năng lực độc lập công tác làm cán bộ trực tiếp phụ trách huyện, còn đồng chí tỉnh ủy viên thì giành nhiều thì giờ hơn cho việc huấn luyện những cốt cán Việt Minh, những đảng viên dự bị, và chuẩn bị cho việc thành lập huyện ủy.


Một buổi sáng tháng 5, tôi xem báo Đông Pháp đăng tin: Quân Đức đầu hàng không điều kiện Hồng quân Liên Xô; đồng chí Thịnh cho giao thông tìm tôi lên Lang Tài (Bắc Ninh) để truyền đạt miệng chỉ thị của Trung ương là: Đức đã đầu hàng Hồng quân, thế nào Hồng quân cũng quay sang đánh quân Nhật ở phía đông và Nhật cũng sẽ phải đầu hàng; thời cơ trực tiếp khởi nghĩa càng đến gần, các địa phương phải sẵn sàng chuẩn bị cho khởi nghĩa khi thời cơ đến. Tôi hẹn với đồng chí Thịnh về dự họp Tỉnh ủy cuối tháng 5 để quyết định những việc cấp bách, chuẩn bị cho khởi nghĩa. Đúng cuối tháng 5 Tỉnh ủy họp tại một thôn ở huyện Tứ Kỳ, cách tỉnh lỵ độ 6 km, quyết định 4 việc quan trọng :

- Một là: Phát triển rộng khắp hơn nữa các Hội cứu quốc

- Hai là: Xúc tiến lập chiến khu Đông Triều bao gồm huyện Đông Triều, huyện Chí Linh và phủ Kinh Môn.

- Ba là: Các huyện phía nam tỉnh: Bình Giang, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Ninh Giang, Vĩnh Bảo, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Hà... tùy điều kiện mà tổ chức tự vệ vũ trang, tước súng lính khố xanh huyện và huy động quần chúng phá kho thóc của Nhật để cứu đói.

- Bốn là: Xúc tiến thành lập Huyện ủy.

Tháng 6-1945, hai đồng chí Trần Cung, Hải Thanh báo cáo là anh Đội Hiền đã kéo toàn bộ lính đồn Đông Triều đem vũ khí theo Việt Minh. Tôi gửi nguyên văn báo cáo ấy lên xứ ủy và Trung ương và nhanh chóng được Trung ương trả lời đồng ý cho lập chiến khu. Đồng chí Trần Cung và Hải Thanh được phân công trực tiếp việc thực hiện, mà anh Trần Cung là người chịu trách nhiệm chủ yếu. Đồn Đông Triều thất thủ kéo theo đồn Chi Ngãi ở huyện Chí Linh thất thủ, rồi huyện lỵ Kinh Môn thất thủ, là một đòn rất nặng đánh sập chính quyền cấp huyện ở phía bắc tỉnh Hải Dương.


Phía nam tỉnh, trong tháng 6 và tháng 7-1945, Việt Minh các huyện Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang, Tứ Kỳ, Thanh Hà lãnh đạo phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo, huy động các đội tự vệ vũ trang vây hãm huyện lỵ, tước súng của lính khố xanh. Nhiều nơi lính khố xanh bỏ súng chạy lấy người, tri huyện bỏ huyện, chạy thoát thân. Ta để cho họ chạy không nổ súng và không bắt một người nào. Thế là chính quyền huyện của địch ở phía nam tỉnh cũng tan rã từng mảnh lớn. Đây là một đòn quật khởi nữa đánh mạnh vào chính quyền thân Nhật. Còn ở thành phố Hải Dương, Việt Minh đã bí mật may nhiều cờ đỏ sao vàng, đã điểm danh những nhà nào có súng để thu, những tên tay sai đắc lực của Nhật để gửi thư cảnh cáo làm cho chúng phải chùn bước và đã cho đội danh dự trừ khử Tống Văn Kim một tên tay sai hung hăng nhất, với bản cáo trạng phủ lên xác. Nhưng chính quyền của Nhật vẫn tồn tại: Trại lính Nhật vẫn đóng ở trường Con Gái và Sở Rượu; trại Bảo an binh tỉnh vẫn cắm cờ quẻ ly; tòa đốc lý, dinh tỉnh trưởng, sở mật thám, sở cảnh sát... và các công sở khác vẫn thuộc về chính quyền thân Nhật.


Tháng 7 lại trôi qua nhanh, Tỉnh ủy lại họp tại một thôn thuộc huyện Tứ Kỳ để duyệt lại công việc chuẩn bị khởi nghĩa và đặc biệt xem xét việc giành chính quyền ở thành phố Hải Dương. Đến lúc ấy, Việt Minh thành phố chắp nối được với Hai Lạng viên quan hai chỉ huy bảo an binh tỉnh, đã kiềm chế được lực lượng nhỏ bé thân Nhật và làm tan rã hoạt động tờ rốt kít nhỏ bé ở thành phố; cảnh sát thì tỏ ra trung lập; mật thám nằm yên, nghe ngóng thời cuộc. Tri huyện Trần Văn Tuyến chạy khỏi huyện Thanh Miện về tỉnh, làm thương tá, tổ chức Chi hội thanh niên thuộc Tổng Hội thanh niên theo chủ trương của chính phủ Trần Trọng Kim. Ta cho người của ta là anh Bạch Năng Thi, một nhà giáo yêu nước, hội viên giáo giới cứu quốc đứng ra làm chủ tịch và anh Đỗ Văn Thanh một đảng viên trẻ trung kiên, một thày giáo có tín nhiệm đứng ra làm tổng thư ký của Chi hội thanh niên, để nắm tổ chức thanh niên công khai này.


Thành ủy Hải Dương do anh Đỗ Văn Thanh làm bí thư đã phân công những đảng viên dũng cảm và có năng lực khi nổ ra khởi nghĩa có trách nhiệm đến Sở kho bạc tịch thu tiền, đến Tòa đốc lý, dinh Tỉnh trưởng, sở Mật thám, sở Cảnh sát tịch thu con dấu, treo cờ Việt Minh... Với trách nhiệm là bí thư Tỉnh ủy, luôn luôn bí mật sống và hoạt động ở thành phố, tôi đã cùng Thành ủy rà soát từng việc cần làm để chuẩn bị cho khởi nghĩa ở thành phố, tỉnh lỵ của tỉnh. Tôi cũng đã rà soát lại những đồng chí Bí thư Huyện ủy nào nhiều nghị lực và năng lực thuộc những huyện ở gần thành phố để giao nhiệm vụ huy động quần chúng và tự vệ vũ trang kéo về hỗ trợ thành phố khi có lệnh. Đặc biệt là đồng chí Đặng Tính, bí thư huyện ủy Chí Linh, tuy ở xa thành phố cũng tình nguyện làm việc này. Anh là một cán bộ trẻ mới nổi lên, giàu nghị lực, rất có năng lực, rất nhạy bén, vui tính, dí dỏm. Có lần anh bảo tôi là ở Phả Lại - Chí Linh có mấy cô phụ nữ cứu quốc đẹp và ngoan lắm, ưng ai thì anh làm mối cho. Sau này, khi đã cùng ở trong Tỉnh ủy với nhau, tôi mới hiểu đó là anh nhắc khéo tôi phải đi sát cơ sở bên dưới. (anh Đặng Tính về sau là chính ủy bộ đội Trường Sơn).


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:03:47 am
Thấm thoắt đã sang giữa tháng 8-1945. Tỉnh ủy đang họp ở một thôn thuộc huyện Thanh Miện, thì trưa 17-8, nghe đài BBC đưa tin quân Nhật đầu hàng quân Liên Xô và quân Đồng minh. Chúng tôi bàn vắn tắt một số việc phải làm ngay rồi mọi người ra về để chỉ đạo khởi nghĩa ở những huyện mình phụ trách. Anh Trần Cung và tôi ra Quán Gỏi, rẽ đường 5 về thành phố. Những ngày giữa tháng 8, trời mưa rất to, đê sông Thái Bình bị vỡ, nước ngập đường 5. Chúng tôi dắt xe đạp, lội trên đường 5. Gần 17 giờ về tới nhà ở phố Hàng Lọng, thì đồng chí Mạc Ninh chờ sẵn, bảo là mọi người đang chờ chúng tôi ở câu lạc bộ (Cercle annamite). Đạp xe qua các phố, thấy nhà nào cũng treo cờ đỏ sao vàng. Câu lạc bộ chật đông người trong nhà và ngoài sân. Tay bắt mặt mừng, bao nhiêu là gương mặt quen thuộc thanh niên có, phụ nữ có, công nhân có, công chức có, giáo giới có, trí thức có, tự vệ đeo súng có... Khoảng 19 giờ chúng tôi đề nghị mọi người về nghỉ, hẹn sáng mai gặp lại, chỉ còn một số tự vệ đeo súng ở lại bảo vệ cuộc họp đêm nay của Tỉnh ủy, Thành ủy và Thành bộ Việt Mmh. Đồng chí Đỗ Văn Thanh bí thư Thành ủy kể lại tóm tắt mà rất đầy đủ quá trình diễn biến tình hình trong 2 ngày tôi đi vắng, từ lúc anh biết được chủ trương của tri huyện Trần Văn Tuyên định tổ chức cuộc biểu tình của thanh niên, anh đã biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng của Mặt trận Việt Mình thành phố diễu hành qua các phố, hạ cờ quẻ ly xuống, trương cờ Việt Minh lên, bố trí sẵn người của ta đón ở nhiều phố ùa xuống đường, hòa vào dòng người kéo về vườn hoa thành phố và anh Bạch Năng Thi đứng lên portique diễn thuyết hô hào ủng hộ Việt Minh, đánh đổ chính quyền thân Nhật... Anh Bạch Năng Thi kể chuyện diễn thuyết tuy đã có chuẩn bị trước mà vẫn hồi hộp trước một đám đông khoảng 4 trăm người trước cửa nhà Chánh Mực có 2 tên lính Nhật gác.


Tôi rất tiếc là không có mặt trong những giờ phút lịch sử này, bèn nói: "các đồng chí có san sẻ cho tôi những phút giây lịch sử này không?" thì nữ đồng chí Tâm phụ trách Phụ nữ cứu quốc thành (có mặt ở cuộc họp) nhanh nhẩu, nói "Em thấy anh Kha muốn lấy bao nhiêu phút của chúng em thì lấy". Mọi người ồ lên cười làm tôi phát ngượng. Tôi bèn hỏi: Thế anh Hách đã chỉ huy xong việc tịch thu tiền của kho bạc chưa? Anh Hách trả lời đã làm ngay chiều nay rồi và thu được 1 triệu tiền Đông Dương. Anh còn nói thêm là đã làm xong việc cho người đến Sở mật thám, Sở cảnh sát, dinh tỉnh trưởng, tòa đốc lý cắm cờ Việt Minh, tịch thu con dấu, tuyên bố giải tán chính quyền của Nhật... Chúng tôi ủy cho đồng chí Mạc Ninh và đồng chí Đinh Sỹ Hịch sáng 18-8 đến trại bảo an binh thu vũ khí do Hai Lạng giao cho, còn việc tiếp xúc với tên quan Năm (Nhật Bản) để thương lượng việc giao súng thì được phân công cho tôi tiến hành sáng 18-8 nhưng tôi thực hiện không thành công vì y không chịu giao. Tỉnh Hải Dương đã khởi nghĩa rồi, anh Trần Cung quyết định để chiến khu Đông Trỉèu đi hỗ trợ thành phố Hải Phòng khởi nghĩa.


Câu lạc bộ bờ sống biến thành đại bản doanh của Thành bộ và Tỉnh bộ Việt Minh. Cả ngày 18-8, Thành bộ Việt Minh, có đủ các giới cứu quốc, đã bàn việc thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời thành phố do anh Bạch Năng Thi làm chủ tịch. Anh chưa là đảng viên, nhưng là hiệu trưởng một trường tư, có nhiều tín nhiệm, chững chạc, ôn hòa đáng tin cậy. Một thành ủy viên có năng lực làm phó chủ tịch, quanh anh còn các ủy viên khác thì do một số đại biểu các giới cứu quốc đảm nhận.


Ngày 20 và 21-8, Tỉnh ủy họp mở rộng, có các đồng chí phụ trách các huyện, để bàn việc thành lập ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh và các huyện. Chúng tôi nhất trí nguyên tắc là chính quyền cách mạng của Việt Minh phải tiêu biểu cho khối đoàn kết rộng rãi, vừa phải có đảng viên cộng sản trụ cột cố năng lực và tín nhiệm, vừa phải có thân sỹ, trí thức yêu nước tiêu biểu. Sau khi cân nhắc kỹ, Hội nghị đi đến nhất trí cao:

- Chủ tịch ủy ban cách mạng ỉâm thời tỉnh là đồng chí Vũ Duy Hiệu, quê huyện Bình Giang, chiến sĩ cộng sản bị tù 1930 ở Côn Đảo, tỉnh ủy viên và bị Nhật bắt tháng 6-1945 mới được giải phóng khỏi nhà tù Hải Phòng. Đồng chí có khả năng đoàn kết mọi người, nhất là trí thức nhân sỹ ngoài Đảng, có năng lực, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, cổ văn hóa, có đạo đức.

- Phó chủ tịch: Đồng chí Lê Tâm quê Thanh Hà, là đảng viên cộng sản, cựu sinh viên đại học Đông Dương, trẻ và hoạt bát, có năng lực, làm trợ thủ đắc lực cho đồng chí Hiệu.

- Ủy viên thư ký: Đồng chí Nguyễn Năng Hách quê Gia Lộc, đảng viên Đảng cộng sản, công chức cố năng lực hành chính, điềm đạm.

- Ủy viên quân sự: Đồng chí Nguyễn Đình Văn quê Thanh Miện, đảng viên cộng sản, cương nghị, kiên quyết, có khả năng về quân sự.

- Ủy viên tài chính: Nữ đồng chí Bùi Thị Diệm, quê Thanh Hà, đảng viên cộng sản, tận tụy, tin cậy, có trình độ văn hóa, trốn khỏi tù tháng 3-1945.

- Ủy viên giáo dục: Ông Đinh Văn Mão, huấn đạo tỉnh Hải Dương, nhân sỹ trí thức, có cảm tình với Việt Minh, có tin nhiệm với giáo giới của tỉnh.

- Ủy viên thanh niên: Ông Sinh Anh, huynh trưởng hướng đạo sinh tỉnh Hải Dương, hiệu trưởng trường trung học tư thục Đông Hải, đảng viên đảng Dân chủ.

- Ủy viên y tế: Ông Lê Văn Khải, y sỹ Đông Dương, giám đốc bệnh viện tỉnh, có cảm tình với Việt Minh.

- Ủy viên: Ông Nguyễn Xuân Mẫn, công chức ngạch cao cấp gíam đốc Sở địa chính, có năng lực hành chính, có cảm tình với Việt Minh.

Ngày 25-8-1945, Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt trước cuộc mít tinh đông 5 vạn người từ các phủ huyện kéo về thành phố đầy cờ và hoa. Đồng chí Vũ Duy Hiệu, chủ tịch tuyến bố chương trình 10 điều của Việt Minh, hô hào nhân dân ủng hộ Việt Minh, ủng hộ chính quyền cách mạng. Ngày 2-9-1945 nhân dân tỉnh Hải Dương lại tụ tập hàng vạn người để nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập từ Ba Đình Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.


Trong những ngày tháng 8-1945 vô cùng hào hùng và phấn khởi. Tỉnh ủy lần lượt trao đổi với các đồng chí bí thư huyện ủy về nhân sự chủ chốt Ủy ban lâm thời các huyện theo tinh thần như đã thể hiện khi bàn về Ủy ban tỉnh. Sau đó, chúng tôi phân công nhau đi các huyện, kiểm tra việc thành lập chính quyền các mạng ở huyện và những xã trọng yếu, đôn đốc việc đắp đê, sản xuất cứu đói...


Cuộc khởi nghĩa ở tỉnh Hải Dương đã diễn ra như thế đấy; Cách mạng là ngày hội của quần chúng. Một ngày bằng 20 năm.

Tháng 3 - 1998
NGUYỄN VĂN KHA


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:06:11 am
ĐÁNH CHIẾM THUYỀN QUÂN LƯƠNG CỦA NHẬT


Phạm Văn Chuông 81 tuổi
308 phố Đà Nắng Hải Phòng


Tháng 5, 6-1945, tại An Bồ (nay thuộc xã Dũng Tiến) diễn ra hội nghị đại biểu huyện Vĩnh Bảo lúc đó thuộc tỉnh Hải Dương nhằm thống nhất lực lượng cách mạng. Toàn huyện - bầu ra ban chấp hành kết quả đồng chí Nguyễn Văn Ước làm bí thư, tôi làm phó.


Tiếp đó 5 tự vệ An Bồ được cử sang chi viện cho huyện Tiên Lãng, cùng tự vệ Kiến Thụy tập kích huyện đường tước vũ khí thắng lợi, anh em được thưởng 2 khẩu súng trường. Có súng trường, súng lục trong tay chúng tôi mạnh hẳn lên, tự tin hơn, vinh dự và tự hào vô cùng.


Thời kỳ này nạn đói đang đe dọa, nhân dân thì có chỉ thị của cấp trên là phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo. Chúng tôi canh cánh bên lòng làm thế nào tìm được kho lương thực của Nhật để đánh chiếm chia cho nhân dân. Bỗng sáng 6-8-1945 đồng chí Phạm Thị Mai báo cáo có đoàn thuyền chở nặng, đang xuôi từ xã Cung Chúc về.


Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và phân công: Đồng chí Mai cùng đồng chí Nguyễn Văn Thăng đi điều tra số lượng thuyền, chở gì, lực lượng địch bao nhiêu? Đồng chí Phạm Đình Thường và Phạm Trung Vũ đi Tiên Lãng xin chi viện, đồng chí Phạm Văn Chương thảo kế hoạch và chỉ huy.


Chiều 6-8 hai đồng chí trinh sát báo cáo có 24 thuyền lớn: 19 thuyền chở nhiều thùng to, 5 thuyền che mui kín, có một thuyền cắm cờ Nhật. Khả năng chiều hoặc tối sẽ về đến đò Mét (bến đò ngang thuộc xã An Bồ) chúng tôi quyết định đánh theo ba phương án.

1. Dùng thuyền nhỏ áp sát tập kích thuyền chỉ huy cắm cờ bức đoàn thuyền phải vào bờ.

2. Dụ đoàn thuyền nghỉ lại để đêm đánh.

3. Trường hợp có anh em hy sinh thì vận động bà con xuống đòi xác. Các ông Phạm Đình Quỳnh, Phạm Như Thu, Phạm Đình Kham, Phạm Khắc Các chủ trì vận động, nhân lúc ấy đánh chiếm lương thực của địch.

Các đồng chí Phạm Văn Chương, Phạm Văn Ngãi, Phạm Thị Mai, Nguyễn Văn Thắng, đem theo dao găm, súng lục xuống đò Mét, vận động ông Cựu Sơn (chở đò ngang) cùng dụ đoàn thuyền vào nghỉ để mua rượu, gà. Nhờ sự khéo léo của ông Sơn đoàn thuyền đã ghé vào nghỉ đỗ sát nhà ông dọc theo bờ sông, để sáng hôm sau đi.


Thuyền cắm cờ Nhật có hai tên lính Nhật các thuyền khác đỗ ngoài không rõ lắm. Có khoảng 600 chân sào (người ta) thuyền chở nhiều phuy dầu và lương thực. Các thuyền đều rất đằm, nước mấp mé mặt mạn thuyền. Chúng tôi rất mừng nhanh chóng ra về chuẩn bị lực lượng. Khoảng 7 giờ tối 6-8-1945 đồng chí Phạm Trung Vũ và Phạm Đình Thường về, đem theo một khẩu súng trường 15 viên đạn (bọc trong bao tải) và nói tự vệ Tiên Lãng không có chi viện. Chúng tôi phải tự lực chiến đấu, lực lượng xã chuẩn bị 7 người vắng 1 còn 6, dù ít nhưng thời gian gấp, thời cơ có một không hai, chúng tôi quyết định đánh. Không thể bỏ lỡ.


Đêm ấy trời sáng, sao lờ mờ, khoảng 1 giờ đêm (6 rạng 7-8-1945) anh em tập kết ở nhà thờ họ Phạm giữa làng. Phân công đồng chí Chương chỉ huy và trực tiếp phụ trách tổ mũi nhọn đem theo 1 lưỡi lê và 1 dao găm cùng đồng chí Phạm Văn Ngũ 1 súng lục, 1 đèn pin, 1 dao găm, đồng chí Phạm Đình Thường 1 súng trường, 1 dao găm. Tổ này bí mật nhanh chóng đột nhập thuyền cắm cờ diệt hai tên Nhật thu vũ khí, bức hàng các chân sào giành thắng lợi quyết định.


Tổ 2 dự bị: Đồng chí Vũ 4 mã tấu, 1 dao găm, 2 hòn đá, đồng chí Thăng cũng trang bị như vậy. Nếu nghe tổ mũi nhọn lệnh toàn đội chuẩn bị thì gõ đá thành nhiều tiếng động uy hiếp địch. Khi hô xông lên, thì ném đá nhanh chóng vượt lên thuyền, chiến đấu (nằm cạnh thuyền 10m).


Đồng chí Mai liên lạc nằm cách xa thuyền 15m. Khi thấy đã có người hy sinh thì nhanh chóng về báo các ông ở làng (đã phân công) dẫn bà con kéo xuống thực hiện như kế hoạch.

Chúng tôi bí mật, đi đường giữa làng, xuống tập kết tại địa điểm 2 (chùa Tháp) đầy đủ rồi các tổ nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí.

Tổ mũi nhọn vượt hết cầu thuyền, bỗng một bóng đen nhô lên khỏi khoang thuyền, chúng tôi nhanh chóng áp sát tên này, bóng đen hỏi ai ? Tôi hô "im" cùng lúc đó đồng chí Ngũ giơ súng - tôi chỉa lưỡi lê vào y để uy hiếp và nói luôn. "Chúng tôi là Việt Minh, được lệnh trên thu hàng hết trên các thuyền này, chia cho nhân dân. Các người đầu hàng thì sống, chỉ cho chúng tôi bắt 2 tên Nhật, bà con bạn thuyền và tài sản, chúng tôi không xâm phạm".


Anh này quỳ xuống, vừa lạy vừa van xin "Lạy các quan tha mạng, xin tuân lệnh". Tôi kéo anh ta đứng lên nhanh chóng vào khoang thuyền thu ngay 2 súng trường. Đồng chí Ngũ bấm đèn pin chĩa súng lục thẳng vào 2 tên Nhật, bọn Nhật bật dậy biết không làm gì được phải để tôi và đồng chí Thường trói lại.


Tôi bảo ông chủ thuyền mời tất cả chủ thuyền khác sang thuyền này đem theo giấy tờ nộp và nghe lệnh của Việt Minh. Các chủ thuyền răm rắp làm theo. Chúng tôi thu hết giấy tờ rồi nói với họ như trên đã nói. Bà con đều hoan hô và ủng hộ Việt Minh. Các chủ thuyền xin 2 điều:

a) Một là không giết hai tên Nhật sợ còn 6 thuyền sau đến thì các thuyền khồng an toàn.

b) Hai là chuyển nhanh hàng lên bờ và trả lại giấy tờ để bà con rút sớm.

Chúng tôi thu được 390 phuy dầu dừa, dầu lạc, đường, cá khô, muối, lương khô, xà bông V.V.. Tổng cộng ước trên dưới 200 tấn. Tôi lệnh cho bà con cùng chuyển hàng lên bờ, thuyền nào xong trước nhận giấy tờ ra đi trước. Trời sắp sáng. Chúng tôi phân công đồng chí Thường áp tải 2 thuyền sang Tiên Lãng giao chiến lợi phẩm cho các đồng chí bên đó chia cho nhân dân. (năm 1985 gặp lại đồng chí đại tá Diêu tức An Ngảnh nói cho biết số dầu ấy Tiên Lãng bán đi xung vào quỹ có mua tặng đồng chí Diệu một ví. Đồng chí còn giữ và đưa cho tôi xem.


Đồng chí Thặng và đồng chí Vũ lên Ninh Giang báo cáo đồng chí Bùi Thị Diệm cán bộ của cấp trên phụ trách (thay đồng chí Lê Thành Lập anh đồng chí Lê Thanh Nghị). Đồng chí Diệm chỉ thị chia cho nhân dân mau chóng và bố trí lực lượng có kế hoạch bảo vệ nhân dân phòng địch tiến công. Tôi được giao nhiệm vụ bảo vệ hàng và công khai chia cho nhân dân, được trang bị một súng trường.


Ngày 7 loan báo nhân dân đến nhận hàng. Từ 8-8-1945 trở đi dân đến nhận hàng rất đông. Nhưng hàng, quá nhiều chúng tôi cho nhân dân lấy tự do ai lấy được bao nhiêu cho bấy nhiêu. Ngày 13-8 đê Lô Đông vỡ, nước lụt dân đi lại khó chúng tôi phải chuyển hàng lên đề dùng thuyền nhỏ chuyển về đình làng, sau chuyển về huyện để anh em dùng trong những ngày tháng vừa giành chính quyền 5, 6 tháng sau mới hết.


Giây phút đầu tiên tôi chia gạo, cá khô, dấu lạc cho dân. Nước mắt tôi trào ra vì sung sướng.

Ngày 17 tôi chuẩn bị lực lượng xuống cướp chính quyền huyện. Nước lụt nên sáng 20 tôi mới mượn được thuyền cùng anh em xuống đến huyện, và cũng là lúc đồng chí Nhiễm từ Ninh Giang về với đoàn học sinh quân sự, phối hợp giành chính quyền huyện. Tri huyện Xám đầu hàng ngay anh em đã thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời do đồng chí Đào Trọng Nhiễm làm Chủ tịch, tôi được bầu làm phó chủ tịch. Khi đồng chí Ước họp ở Tỉnh ủy về thì trên chỉ định đồng chí Nguyễn Văn Ngọ làm Chủ tịch tôi làm phó Chủ tịch và vẫn là huyện Vĩnh Bảo.


Hoạt động những ngày tháng 8 nãm 1945 đối với chúng tôi thật sôi động và hào hùng. Riêng tôi đã mấy lần nước mắt trào ra vì sung sướng.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:09:45 am
Phần II
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

ĐÁNH GIAO THÔNG Ở KHU ĐỒNG BẰNG TẢ NGẠN SÔNG HỒNG TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1946 - 1954)


Hoàng Minh Thảo
Thượng tướng, giáo sư, nhà giáo nhân dân
Nguyên Chỉ huy Trưởng Bộ chi huy chiến khu 3


Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình là 5 tỉnh của khu đồng bằng tả ngạn sông Hồng (KTN). Đó là những địa phương có khả năng rất to lớn về sức người, sức của, có tầm chiến lược hết sức quan trọng đối với cả ta và địch. Hệ thống đường giao thông thủy bộ vốn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một khu vực dân cư: ở đây có đường số 5 từ cảng Hải Phòng qua địa phận Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên lên thủ đô Hà Nội; chạy song song với đường số 5 là đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Ngoài ra còn có đường số 10 từ Hải Phòng qua Kiến An, Thái Bình sang Nam Định; đường 17 từ cửa biển Vĩnh Bảo - Tiên Lãng (sông Văn Úc) qua thị trấn Ninh Giang thị xã Hải Dương lên Phả Lại nối với đường 18; đường 39 từ cửa Diêm Điền (Thụy Anh) qua thị xã Thái Bình, thị xã Hưng Yên lên gặp đường số 5 ở phố Nối và các đường 38, 20... Trong mỗi tỉnh đều có nhiều đường liên huyện. Đường thủy có các sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, Văn Úc, Trà Lý và một số sông nhỏ như sông Luộc, sông Hóa, sông Lạch Tray... Những hệ thống giao thông này không chỉ có tác dụng phục vụ giao lưu kinh tế thời bình, mà còn có ý nghĩa lớn về quân sự trong chiến tranh. Khi đánh ra miền bắc, địch đã triệt để lợi dụng những hệ thống đường sá này để phát huy ưu thế vũ khí kỹ thuật và phương tiện cơ động để thực hiện các ý đồ của chúng về chiến dịch chiến thuật. Vì vậy, trong cuộc chiến tranh giữa ta và Pháp những năm 1946 - 1954, các đường giao thông nói trên đã là nơi xảy ra các cuộc chiến đấu quyết liệt giữa hai bên tham chiến, đặc biệt trên các đường số 5 và đường sắt là những đường huyết mạch nối liền Hải Phòng - cửa ngõ của Hà Nội và các tỉnh phía bắc Hà Nội... với thủ đô Hà Nội.


Lịch sử đánh giao thông của các lực lượng vũ trang khu Tả Ngạn (LLVTKTN) trong kháng chiến chống Pháp xâm lược có thể tóm lược thành 3 giai đoạn:

Giai đoan một - Địch đánh chiếm, nối thông đường số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và tiến hành bình định các làng 2 ven đường (1946 - 1949).

Trong những ngày cuối tháng 12-1946, hàng chục vạn lượt người Hải Dương và Hưng Yên, Kiến An đã ồ ạt đi phá đường sắt và đường số 5, đã bóc dỡ hàng chục km đường sắt, phá nát và đắp nhiều ụ trên đường số 5. Khi địch bắt đầu tiến công để mở đường lên phía Hà Nội, LLVT tập trung của ta bố trí thành lập trận địa chặn địch nên thường bị thất bại. Nghị quyết của hội nghị chính trị ủy viên Khu và Trung đoàn tháng 2-1947 đã kịp thời uốn nắn "... Phải kiên quyết thay đổi cách đánh, tẩy trừ hình thức dồn đống và lối bố trí chính quy hóa...".


Ở Kiến An, trận đánh mìn đầu tiên trên đường 5 tháng 11 năm 1946 ở Quán Toan là của du kích Vật Cách ở Hưng Yên, trận đánh ở phố Nối ngày 20-11-1947 của một tổ công binh E64 phối hợp với du kích địa phương là trận đánh mìn đầu tiên trên đường 5. Người đi đầu trong việc đánh mìn của du kích là Nguyễn Văn Huân (xã Cộng Hòa - Yên Mỹ), thường được gọi là "Sáu đậu", nổi tiếng là "vua mìn" trên đường 5. Ở Hải Dương, trận đánh mìn đầu tiên phá hủy 1 đoàn tàu trên đường sắt ngày 6-5-1947 là chiến công của du kích Kim Thành.


Từ các trận này, đã mở ra một lối đánh bằng lực lượng nhỏ mà tỉnh, bám sát đường sắt và đường số 5 để tác chiến, đạt hiệu suất cao. Ngày 5-3-1949, Bác Hồ đã gửi thư cho chiến sỹ đường số 5, nội dung như sau:

"Nam nữ dân quân du kích đường số 5 năm ngoái đánh giặc khá, sang năm 1949 anh chị em du kích đường số 5 phải cố gắng thêm, đánh nhiều hơn, mạnh hơn để lập công to hơn nữa và để làm kiểu mẫu cho dân quân du kích khác. Tôi chờ đợi nhiều tin thắng lợi của các bạn. Sẽ đặc biệt thưởng đội nào lập công to nhất".
Chào thân ái và quyết thắng
Hồ Chí Minh


Tổng kết 3 năm từ 1947 đến 1949, 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên đã tiêu diệt 54 đoàn tàu quân sự trên đường sắt va 201 xe các loại trên đường 5 bằng mìn.

Đi đôi với các trận đánh mìn, các LLVT của ta còn tiến hành các trận phục kích, tập kích bọn tuần tiễu bảo vệ đường; chôn các vật kim loại giả làm mìn; quấy rối vị trí địch. Việc phá hoại đường được tiến hành liên tục, ngày địch sửa, đêm ta phá. Tháng 5 và 10 năm 1948, Mặt trận đường số 5 đã tổ chức 2 cuộc tổng công kích vào đường sắt và đường số 5, từ Văn Lâm (Hưng Yên) đến Kim Thành (Hải Dương) nhằm diệt một số vị trí, phục kích diệt viện, kết hợp với tổng phá hoại đường giao thông, quấy rối các đồn bốt và phá tề. Hai đợt tổng công kích này đều do các đơn vị chủ lực của MT5 chủ trì, chưa phát huy được sức mạnh của lực lượng địa phương nên không đạt kết quả mong muốn. Địch đã dễ dàng đối phó và khủng bố dữ dội, gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn. Sau đó, các đơn vị bộ đội địa phương (BĐĐP) của tỉnh, huyện các đội đột kích của e42 đã phải phân tán xuống xã, vũ trang tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh, trừ gian diệt tề, dìu dắt du kích, phục hồi và củng cố cơ sở.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:10:35 am
Giai đoạn hai - Địch chiếm các huyện tự do còn lại của hai tỉnh Hải Dương, Hưng Yên (chiến dịch Diabolo 22-12 - 31-12-1949); toàn bộ tỉnh Thái Bình (chiến dịch Tonneau 2-4-1950) và dùng các binh đoàn cơ động chiến lược càn đi quét lại đối phó với phong trào chiến tranh du kích của các tỉnh KTN (1951 - 1953).

1. Ở Hưng Yên và Hải Dương, do bị bất ngờ về thời gian, không gian, tính chất mục đích và cách đánh của cuộc hành quân Diabolo nên cả hai tỉnh không đối phó nổi với địch: ngoài hai trận chặn đánh địch của một bộ phận e42 và BĐĐP Hải Dương, không còn trận đánh nào đáng kể trên các đường tiến quân của địch.

Ở ngoài khu vực càn quét, đêm 31/12/1949, MT5 tổ chức tổng phá hoại đường sắt bằng các gói thuốc nổ đặt vào những chỗ nối của các thanh ray rồi cho nổ theo hiệu lệnh thống nhất: 13km đường sắt bị phá tung; vận chuyển của địch bị gián đoạn 8 ngày liền. Các trận đánh mìn trên các đường liên huyện để phối hợp diễn ra lẻ tẻ. Sau đêm tổng phá hoại này, địch lại càn quét, khủng bố, cơ sở bị vỡ, LLVT ta bị đẩy ra xa, hiện tượng hoang mang bỏ đất chạy dài xuất hiện; hoạt động tác chiến trên đường sắt và đường số 5 giảm hẳn.


Tháng 4-1950, hội nghị Quyển Sơn (Hà Nam) của Hưng Yên chủ trương "về bám đất, bám dân, gây dựng lại cơ sở, khôi phục lại phong trào...". Tháng 5-1950 hội nghị Đèo Voi (Đông Triều) của Hải Dương cũng có nghị quyết tương tự. Tiếp đó, Hải Dương còn có hội nghị Dồi Son (Thanh Hà) củng cố tư tưởng trường kỳ kháng chiến và chủ trương "mở đất" nhằm hình thành các khu du kích của các huyện. Một tháng hoạt động mạnh sau đó của các tỉnh được thực hiện: đã phục kích trên 50 trận trên các đường giao thông liên huyện nhằm diệt bọn tuần đường và bọn đi càn quét nhỏ; đánh mìn trên đường sắt 3 trận, phá 5 cầu nhỏ, tập kích kết hợp nội ứng diệt 37 tháp canh và đồn hương dũng; quấy rối 136 lần trong đó có nhiều đêm từng vùng tổ chức "đại náo" (nhân dân hò reo, gõ trống, chiêng, kẻng...) uy hiếp các đồn bốt lân cận, đồng thời chống địch càn quét, bảo vệ thôn xóm).


2. Ở Thái Bình, khi địch bắt đầu cuộc hành quân Tonneau (8-2-1950) do đã chuẩn bị về mọi mặt nên đã đánh địch hơn 60 trận (phần lớn là chống càn kiểu trận địa chiến, ít có những trận đánh trên đường giao thông và không tổ chức phá hoại đường địch vừa sửa lại). Địch càn quét, khủng bố ác liệt, nhân dân dao động hoang mang, nhiều nơi du kích và cán bộ bỏ đất chạy dài.


3. Cuối năm 1950, chiến dịch Biên giới (Cao - Bắc - Lang) thắng lợi, đã làm xuất hiện một hiện tượng mới trong cuộc chiến tranh giải phóng Đông dương (trích "Tình hình quân sự sau chiến dịch giải phóng Biên giới và nhiệm vụ cần kíp của chúng ta" - Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, trang 160-161). Đó là từ nay mỗi lần chủ lực ta mở chiến dịch, thu hút lực lượng cơ động chiến lược của địch lên chiến trường chính thì đó là thời cơ thuận lợi cho chiến tranh du kích phát triển. Và khi phong trào chiến tranh du kích lên cao, uy hiếp mạnh mẽ hậu cứ chiến tranh và các hệ thông giao thông huyết mạch của chúng thì lại làm cho địch lúng túng, không có khả năng giải quyết được mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực. Từ đó hình thành quy luật: khi chiến trường chính hoạt động thì lực lượng cơ động chiến lược của địch phải rút đi đối phó; khi hoạt động ta ở chiến trường chính kết thúc thì chúng lại quay về càn quét, đánh phá phong trào kháng chiến trong vùng tạm chiếm.

- Trong thời kỳ này, ở Hải Dương, lực lượng chiếm đóng của địch hoạt động yếu, ta có điều kiện thuận lợi để giữ vững và mở thêm các khu du kích, đồng thời đẩy được hoạt động tác chiến lên đều khắp: ngoài việc chống càn quét vừa và nhỏ của quân địa phương, đã chủ động phục kích, đánh mìn trên các đường giao thông liên huyện diệt bọn đi tuần đường, bắn tàu địch trên sông và phá 4 tàu trên đường sắt địa phận Kim Thành - Cẩm Giàng. Đêm 23-3-1951, ta lại tổ chức tổng phá hoại đường sắt lần thứ tư. BĐĐP còn diệt 2 đồn (có nội ứng), ở Hưng Yên, địch đóng dày đặc và hoạt động càn quét ráo riết phá cơ sở, nên ta hoạt động rất khó khăn. Tuy nhiên, ta cũng tiến công mở khu du kích đầu tiên của Hưng Yên ở Phù Cừ - Tiên Lữ và Ân Thi, mục đích giành dân và chuẩn bị bàn đạp tiến lên các huyện ven đường số 5. Ở Thái Bình, sau một thời gian phân tán bộ đội chủ lực BĐĐP tỉnh và huyện xuống các xã (phục hồi cơ sở, củng cố chính quyền, xây dựng làng chiến đấu, dìu dắt du kích, hướng dẫn nhân dân cất giấu của cải và đấu tranh chống địch khủng bố...) lại tiếp tục có các hoạt động đánh địch kết hợp với phá tề trừ gian: đã đánh hàng chục trận diệt đồn và tháp canh (phần lớn là có nội ứng), mở được khu du kích và phục hồi căn cứ du kích; giả làm phu sửa đường bất ngờ tập kích diệt bọn gác đường và tuẫn tiễu. Đặc biệt, toàn tỉnh đã hai lần tổ chức đêm "đại náo" kết hợp phá tề. Việc phá đường số 10 và đường liên huyện làm được ít nên không có ảnh hưỏng gì đáng kể đến việc hành quân vận chuyển của địch. Chiến đấu chống càn vẫn là hình thức tác chiến phổ biến, mặc dù về cơ bản không còn hiện tượng đánh kiểu trận địa cố thủ mà đã biết vận dụng mưu kế và vũ khí thô sơ để diệt địch.


Từ tháng 4 năm 1952 đến tháng 9-1953, quân dân KTN đã có 5 đợt hoạt động mạnh phối hợp với chiến trường chính, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, phá vỡ hệ thống đồn bốt, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng, phục hồi cơ sở, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích, huy động nhân tài, vật lực cung cấp cho trung ương. Mỗi đợt hoạt động của KTN đều làm rung chuyển hậu phương chiến tranh, uy hiếp các đô thị và đường giao thông huyết mạch của địch. Ta đã tiêu diệt và bao vây, bức hàng, bứt rút gần 400 vị trí đồn bốt (có trận đánh vào hậu cứ của binh đoàn cơ động chiến lược số 3 (GM3) ở Bần Yên Phú trên đường số 5 đêm 10-5-1953); Nhiều nơi ta diệt, địch đóng lại, ta lại diệt...; phục hồi và mở thêm nhiều khu du kích, trong đó đặc biệt đã giải phóng xã Cộng Hòa (nay là Trung Hòa), xây dựng thành một căn cứ "lõm" ở Yên Mỹ (Hưng Yên), thường xuyên uy hiếp đường số 5 và đường 39; phục kích hàng trăm trận, nhằm vào bọn tuần đường hoặc tiếp viện, càn quét; đánh mìn hơn 20 trận (riêng trên đường sắt 10 trận, diệt 10 đoàn tàu quân sự của địch; liên tục phá hoại các đường 17, 39 và 20; đắp nhiều ụ trên đê sông Hồng (đường số 5 và số 10 cũng bị phá nhưng ít hơn).

Để đối phó với phong trào chiến tranh du kích ngày một lên cao ở KTN, sau khi lên thay Carpentier làm Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông dương, De lattre de Tassigny đã tiến hành 14 cuộc càn quét lớn1 (Mirabelle (5-8-1951) đánh phá Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang (Hải Dương) Vatirable (25-8-1951) đánh Thần Đầu, Thần Huống (Thái Bình); Citron (25-91951) đánh Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ (Hưng Yên) và Bình Giang, Ninh Giang (Hải Dương); Mandarine (1-10-1951) đánh Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân (Thái Bình); Amaide (11-10-1951) đánh Quỳnh Côi, Phụ Dực (Thái Bình); Crachin (9-2-1952) và Mercure (26-3-1952) đánh Tiền Hải, Thái Ninh, Kiến Xương, Vũ Tiên (Thái Bình); Drmiadaire (24-4-1952) đánh phá toàn bộ địa bàn Hưng Yên, Hải Dương, trọng điểm là Phù Cừ, Tiên Lữ và Thanh Miện; Artois và Crapaud (1-2-1953) đánh Quỳnh Côi, Phụ Dực, Đông Quan, Kiẽn Xương, Vũ Tiên (Thái Bình); Nonnandie (3-1953) đánh các huyện phía nam Hưng Yên và Hải Dương; Claude (8-1953) đánh Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (Kiẽn An); Brochet (9-195) đánh lại nam Hưng Yên, Hải Dương) nhằm thực hiện kế hoạch chiến tranh tổng lực theo khẩu hiệu "bình định gấp rút và phản công quyết liệt" lực lượng sử dụng trong mỗi cuộc càn từ 2 đến 6 GM có sự yểm trợ tối đa của các lực lượng không quân, thiết giáp và thủy đội. Lực lượng ta trong vòng vây tích cực chống càn, vận dụng rộng rãi các vũ khí thô sơ (chông mìn, cạm bẫy, đạp lôi...) để đánh địch. Mìn chông được bố trí ở nhiều nơi: trên đường giao thông, đường làng ngõ xóm, sân nhà, gốc cây, chuồng gà, chuồng chim, khe cửa, ngăn kéo v.v... diệt được nhiều tên. Lực lượng ngoài vòng vây tìm sơ hở để đánh, thu hút địch: đã diệt hàng trăm đồn bốt, mở thêm khu du kích, phá hoại các đường giao thông 39, 20, 17 và đường 5, đường sắt đắp ụ trên đê sông Hồng; phá một số cầu trên đường 10, đường 39 (có cầu ta phá tới lần thứ 2); đánh mìn diệt 3 đoàn tàu trên đường sắt (phía Văn Lâm và Kim Thành); phục kích hàng chục trận (có một số trận trên sông) nhằm diệt bọn tuần đường, bảo vệ sửa đường và các xe, tàu chở quân lính, đạn dược, nhiên liệu...


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Tư, 2022, 08:12:22 am
Giai đoạn ba - Địch sa lầy và thất bại ở Điên Biên Phủ phải chấp nhận kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam

- Vào Đống Xuân 1953 - 1954, quân cơ động chiến lược của địch tập trung mở cuộc hành quân Mouette (15-10-1953) nhằm chủ động tiến công trước vào tây nam Ninh Bình - nơi chúng cho là chủ lực ta tập trung chuẩn bị đánh đồng bằng. Để thu hút, kìm chân địch phối hợp với chiến trường Tây Nam Ninh Bình và tranh thủ thời cơ tiêu hao, tiêu diệt địch kết hợp với chủ động tiến công chống phá bình định, các LLVTKTN tiếp tục vây hãm nhiều đồn bốt tập kích lần thứ hai vào hậu cứ của GM3 ở Dị Sử trên đường số 5 (Hưng Yên); tập kích tiểu khu Phương Điếm (vị trí ở Âu Phi có công sự Boong ke) và sân bay Đồ Sơn (Kiến An); đánh đổ 2 đoàn tàu trên đường sắt; đánh mìn diệt 23 xe trên đường số 5; phá 1 cầu trên đường 39; phục kích hàng chục lần trên các đường liên huyện. Địch phản ứng bằng 3 cuộc càn lớn1 (Buffle (27-11-1953) đánh Kiến Xương, Tiền Hải; Gerfaut (12-1953) càn lại Kiến Xương, Tiền Hải; Algérie (1-1954) càn quét nam Hải Dương, Hưng Yên). Lực lượng ngoài vòng vây đã hoạt động phối hợp với lực lượng trong vòng vây: tập kích sở chỉ huy cuộc hành quân Buffle; đánh mìn phá 15 đoàn tàu trên đường sắt (địa phận Kiến An) và 42 xe các loại trên đường 5.


- Khi địch đánh chiếm Điện Biên Phủ, cuộc tiến công Đông Xuân 1953 - 1954 của cả nước ta bắt đầu: LLVTKTN đã tập kích sân bay Cát Bi phá hủy 59 máy bay; đánh mìn diệt một đoàn tàu trên đường sắt và 42 xe vận tải quân sự trên đường 5. Đêm 11-3-1954, ta tiến hành tổng công kích đường sắt và đường số 5 (lần thứ 5, tính từ năm 1948) diệt 88 đồn và tháp canh, phá 2 cầu. Hàng vạn lượt nhân công đã ồ ạt phá hơn 70 km đường sắt. Ngày 7/5/1954 địch đầu hàng ở Điên Biên Phủ và phải chấp nhận kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Trong tháng 6 và những ngày đầu tháng 7-1954, trước khi thực hiện ngừng bắn, lợi dụng thời cơ địch rối loạn, LLVTKTN tiếp tục tiến công các toán quân từ các nơi kéo về; đã đánh mìn diệt 4 đoàn tàu chở nhiên liệu (thiêu hủy 270.000 lít xăng) ở Lạc Đạo; phục kích 2 trận trên đường 5 (trận cuối cùng ngày 8-6-1954 ở Lương Xá - Mỹ Hào - Hưng Yên); tập kích 15 trận vào những nơi địch trú quân đã ngoại (trận cuối cùng ở Bô Thời - Khoái Châu đêm 19-5-1954 và ở làng Vạc - Bình Giang cũng đêm hôm đó).


Ngày 20-7-1954, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Pháp kết thúc.

Mấy điều rút ra từ các hoạt động đánh phá giao thòng địch của các LLVTKTN trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

1. Dù địch có ưu thế tuyệt đối so với ta về quân số, binh khí kỹ thuật, phương tiện cơ động và các lực lượng yểm trợ (không quân, thiết giáp, thủy đội...); dù địch đã tổ chức ra một hệ thống bảo vệ đường gồm các vị trí, đồn bốt, tháp canh và các làng tề thường xuyên sục sạo càn quét, thậm chí có thời kỳ đã phải đưa một số binh đoàn cơ động chiến lược về tăng cường cho các lực lượng chiếm đóng, địch vẫn không thể giữ an toàn cho các đường giao thông quan trọng như đường sắt và đường số 5 Hà Nội - Hải Phòng - những con đường huyết mạch có ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại trong thực hiện âm mưu xâm lược của chúng.


Ngược lại, đối với ta, dù quân địch rất mạnh và xảo quyệt, hung ác; dù địa hình đông bằng trống trải, vũ khí thiếu thốn... ta vẫn có thể đánh phá vào đường sắt và đường số 5 cũng như các đường giao thông khác; đã tiêu hao, tiêu diệt, cầm chân địch, chi viện đắc lực cho chiến trường chính như các LLVT ta chiến đấu trong vùng địch càn quét ở KTN. Trong 9 năm kháng chiến (1946 - 1954) ta đã phá hỏng 140 đầu máy xe lửa và 1049 toa xe trên đường sắt (trung bình một năm phá được 16 đầu máy và 117 toa xe), 1692 xe quân sự các loại trên đường 5 (trung bình 198 xe/năm); 67 máy bay và hàng chục tàu chiến trên các sông thuộc KTN.


2. Khi quân địch dựa vào ưu thế tuyệt đối về lực lượng để tiến công, biến các làng xã 2 ven đường sắt và đường số 5 thành những vùng bị tạm chiếm; ra sức khủng bố, kìm kẹp nhân dân... thì điêu đầu tiên trong chủ trương kế hoạch đánh giao thông địch là phải biết căn cứ vào tình hình cụ thể tổng nơi, từng lúc, khéo léo kết hợp hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị: những đợt hoạt động ồ ạt gần như đơn thuần quân sự như những đợt tổng công kích đường sắt và đường số 5 trong những năm 1948, 1949, kết quả về đấu tranh vũ trang đã không bù lại được những tổn thất sau đó về cơ sở nhân dân và phong trào kháng chiến. Ngược lại, khi có thời cơ, nếu không nhạy bén kịp thời đưa đấu tranh vũ trang lên, sẽ không tiêu diệt được địch để phối hợp với các nơi như trong chống cuộc càn Dromadaire (4-1952), Văn Lâm đã không đánh được trận nào trên đường sắt vì đã điều BĐĐP huyện ra khỏi địa bàn phụ trách.


3. Tác chiến chống càn để giữ vững và mở thêm được các khu du kích của các lực lượng ta trong vòng càn của địch có ảnh hưởng to lớn đến các hoạt động đánh giao thông trên đường sắt và đường số 5 (cũng như một số đường khác); ngược lại, kết quả đánh địch trên những con đường này lại chia sẻ lực lượng địch, rút ngắn thời gian càn quét của chúng ở những khu căn cứ và khu du kích của ta. Bởi vậy, việc phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong và ngoài vùng địch càn, giữa vùng địch tạm chiến và vùng du kích là rất quan trọng: thông thường, những lực lượng đánh trong vòng càn không có điều kiện đánh giao thông bằng các lực lượng đánh ngoài vòng càn. Do đó, lực lượng ngoài vòng càn cần thường xuyên chuẩn bị sẵn mục tiêu tiến công, để khi cần có thể nổ súng phối hợp được ngay với các lực lượng đánh càn trong vòng vây của địch.


4. Thực tế cho thấy: Khi tình hình phát triển thuận lợi (thời gian phối hợp với chiến dịch Thượng Lào 4-1953) ta đã xây dựng được những khu căn cứ "lõm" ngay trong vùng địch tạm chiếm ven đường số 5 như xã Cộng Hòa (Yên Mỹ - Hưng Yên). Xã này nằm cách đường số 5 từ 4 đến 5 km, cách đường 39 từ 2 đến 3 km. Sau khi được giải phóng, nhân dân đã đào hào quanh làng để chống xe thiết giáp, đào các hố chống bom và đạn đại bác; tổ chức các đội du kích chuyên trách từng loại nhiệm vụ như đội đánh mìn phá tàu xe, đội trinh sát cảnh giới báo động và đánh chặn; đội luồn sâu tìm nơi địch sơ hở để tập kích. Các đội luân lưu làm nhiệm vụ tác chiến và sản xuất, đã chống càn hàng chục trận, diệt địch, thu vũ khí, bảo vệ được nhân dân.


5. Về cách đánh giao thông (phương pháp tác chiến): tập kích cần diệt hoặc uy hiếp, cô lập, vô hiệu hóa các vị trí, tháp canh, hương đồn bảo vệ đường, không cho nống ra ngoài càn quét phá cơ sở ta, đồng thời để tạo thế cho các trận đánh của ta trên đường, đánh nhỏ nhưng đau, hiểm và thường xuyên. Có thể dùng thủ đoạn đặc công để tập kích tiêu diệt, hoặc đùng địch vận tổ chức những trận đánh cố nội ứng hoặc vô hiệu hóa vị trí địch. Cũng có thể dùng thủ đoạn áp sát, vây khốn, bức hàng hoặc bức rút. Cần chuẩn bị để khi có thời cơ, có yêu cầu phối hợp, có thể nhanh chóng phá vỡ được từng mảng lớn tháp canh, hương đồn ven đường, tạo điều kiện cho việc phá hoại đường quy mô lớn. Tập kích vị trí cần chọn nơi tập trung sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch để tiêu diệt như hai lần đánh vào hậu cứ của GM3 ở Bần Yên Phú đêm 10-5 và Dị Sử đêm 15-12-1953. Phục kích: cần tìm diệt bọn tuần đường, bọn bảo vệ sửa đường... bằng các lực lượng nhỏ, dùng mưu kế và vũ khí thô sơ để bất ngờ diệt địch. Đồng thời, cần chuẩn bị chiến trường cho những trận phục kích sử dụng lực lượng vừa và lớn, vận động từ xa đến diệt địch. Có khi phục kích không cần xuất kích; đánh xong nhanh chóng cơ động sang chỗ khác đã có sự chuẩn bị trước và có tổ chức yểm hộ.


Đánh mìn: là cách đánh tốt nhất bằng lực lượng nhỏ mà tính hiệu quả lớn nhằm vào các đoàn tàu quân sự trên đường sắt và các loại xe quân sự trên đường số 5. Cần tổ chức các đội chuyên trách, thông thạo địa hình khu vực hoạt động, am hiểu kỹ thuật và có khả năng sáng tạo, khắc phục được các thủ đoạn đối phó của địch để đánh thắng chúng. Cần có đủ bom mìn, thuốc nổ. Khi cần, biết cách tự tạo ra vũ khí (ví dụ sửa lại bom đạn "lép" của địch; bí mật gỡ mìn ở vị trí địch để đánh địch).


Trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, đánh giao thông vẫn sẽ là một nội dung quan trọng của chiến tranh nhân dân. Đánh giao thông đường bộ là một trong các cách đánh dễ nhất, đánh vào nơi lực lượng địch dàn mỏng. Những kinh nghiệm chiến đấu của các LLVTKTN trên các đường giao thông sẽ còn tiếp tục được phát triển trong các điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại và trong những điều kiện xã hội mới ở nước ta.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:47:37 am
HƯNG YÊN

NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
CỦA HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN


Lê Đức Thịnh
Nguyên Bí thư Huyện ủy Văn Lâm
Nguyên Chủ tịch UBHC Hải Phòng
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nội thương


Huyện Văn Lâm nằm ở phía bắc tỉnh Hưng Yên, hiện nay đã sát nhập với huyện Mỹ Hào, huyện Yên Mỹ thành huyện Mỹ Văn. Huyện có địa thế dài và hẹp, có 25 cây số đường sắt, 9 cây số đường quốc lộ số 5 chạy qua, lại có đường 38 và đê sông Đuống vây quanh. Những ngày đầu kháng ciến chống Pháp, chỉ sau vài tuần lễ giặc đánh chiếm được huyện Văn Lâm là tất cả các thôn xã đều nằm trong vùng tạm bị chiếm,


Là người sinh ra lớn lên ở đây, được tham gia trực tiếp ngay từ những ngày đầu kháng chiến, tôi cố gắng ghi nhớ lại một phần về số trận đánh ở đây, phần nào đóng góp thêm tư liệu lịch sử chiến đấu bảo vệ, xây đựng quê hương của quân và dân huyện nhà. Mong được các đồng chí, đồng đội cùng quê hương góp ý bổ sung cho hoàn thiện hơn.


1) Chuẩn bị cho kháng chiến chống Pháp

Sau ngày 20-11-1946 giặc Pháp gây hấn, đánh chiếm thành phố Hải Phòng. Trung ương đã có chỉ thị phải khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Các ủy ban bảo vệ của tỉnh, các huyện, các xã được lần lượt thành lập (về sau là ủy ban kháng chiến hành chính các cấp), ủy ban bảo vệ của huyện Văn Lâm lúc đó do anh Lê Hồng Tâm, tỉnh ủy viên làm chủ tịch, anh Nguyễn Huy Thu (tức Thu Hạ) bí thư huyện ủy và anh Bùi Hướng Chất chủ tịch Ủy ban hành chính làm phó chủ tịch ủy ban bảo vệ. Lúc đó Ủy ban bảo vệ tổ chức rất gọn nhẹ, chỉ có một số đơn vị như: Ban phụ trách công tác tản cư, ban tiếp tế, Ban trinh sát giao thông và trung đội tự vệ. Ban trinh sát giao thông được coi như lực lượng vũ trang. Huyện ủy lúc đó chỉ có 7 đồng chí. Ban trinh sát giao thông cử anh Cần Thường vụ huyện ủy làm trưởng ban, tôi là huyện ủy viên làm phó ban. Huyện đã tổ chức được các trung đội tự vệ chiến đấu ở các xã, mở các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày, các lớp trinh sát giao thông, các lớp cứu thương và có kế hoạch xây dựng các trận địa, các làng chiến đấu, hướng dẫn cho dân cất giấu thóc lúa, của cải và các tài sản khác.


Cho đến đêm 19-12-1946 giặc Pháp gây chiến ở Hà Nội, là một huyện kề cận với thủ đô, tiếng súng các cỡ, ánh chớp lửa vọng về rất rõ mọi người đều hồi hộp chờ đợi. Sáng 20-12-1946 sau khi có lệnh toàn quốc kháng chiến, mệnh lệnh của ủy ban bảo vệ được phát đi cán bộ và nhân dân đồng tình hưởng ứng, thế là hàng trăm người đổ ra đường thực hiện tiêu thổ kháng chiến, một số đi phá đường sắt, một số đi phá đường quốc lộ số 5, đường 38, đường Quán Chuột là đường nối đường 5 và đường sắt, một số phá dỡ các nhà kiên cố ở chợ đường Cái, ở phố cầu Ghênh, ở phố Như Quỳnh, phố Nghĩa Lộ và một số nhà ga, một số tự vệ xã Kinh Xuyên, xã Minh Khai cùng anh em bộ đội công binh của tỉnh đặt bom phá sập cầu Bây thuộc huyện Gia Lâm cầu Ghênh, đông thời đào hào, đắp ụ chiến đấu, xây dựng trận địa ở những nơi hiểm yếu, nhất là trận địa cầu Ghênh.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:48:35 am
2) Trận đánh cầu Ghênh đầu tiên thắng lợi

Cầu Ghênh là địa điểm rất thuận lợi, có đường sắt và đường quốc lộ số 5 cùng chạy qua, phía nam có vực sâu, 2 bờ sông vừa cao vừa rộng có cây cối um tùm, phố chợ Ghênh Như Quỳnh nối liền với các làng mạc đông đúc, rất thuận lợi cho việc đào các giao thông hào, che giấu các lực lượng của ta.


Ban đầu ta bố trí trung đội tự vệ tập trung của huyện, 8 trung đội của các xã thì luân phiên nhau đào đắp công sự và trực chiến. Đã nhiều lần tôi được cùng với Ủy ban kháng chiến tới thăm trận địa, động viên các chiến sỹ.


Tôi thấy lo lắng thực sự vì thấy anh em tuy tinh thần thì rất hăng hái nhưng trang bị thì rất kém, trung đội tự vệ tập trung huyện chỉ có 20 khẩu súng, kể cả súng bắn chim, trung đội tự vệ các xã chỉ có 1 đến 2 khẩu súng, hơn nữa đạn lại rất ít, còn lại là dao, kiếm, gậy gộc, trình độ quân sự lại rất ấu trĩ, trừ một vài anh em trước đây trong hàng ngũ binh lính Pháp cũ, còn lại đại đa số anh em mới được hướng dẫn rất sơ sài về cách sử dụng súng. Thế mà phải đối mặt với đội quân Pháp nhà nghề, được trang bị đầy đủ và có kinh nghiệm thì làm sao có thể cản được chúng. Tôi thổ lộ với anh Thu Hạ bí thư Huyện ủy, anh rất đồng tình với nhận định của tôi, xong anh cũng dặn là chỉ bàn trong lãnh đạo, không được để cho anh em biết sẽ gây ra hoang mang dao động.


Chưa kịp bàn bạc thì tối ngày 27-12-1946 tại thôn Hướng Đạo ủy ban kháng chiến huyện có cuộc họp với anh Nam Long là trung đoàn trưởng trung đoàn 44 và anh Vũ Hiển, tham mưu trưởng chiến khu 3. Trung đoàn 44 sau mấy ngày chiến đấu ở thị xã Hải Dương đã rút ra ngoài, điều một tiểu đoàn lên phối hợp với địa phương tổ chức phòng ngự ở cầu Ghênh nhằm mục đích chặn địch tiến từ Hà Nội xuống Hải Dương. Anh Nam Long sẽ phổ biến kinh nghiêm đánh Pháp ở Hải Dương, hướng dẫn kế hoạch bố trí phòng ngự ở cầu Ghênh khái quát trận địa chính ở phía tây bắc cầu; phá hoại và đắp nhiều ụ đoạn đường từ phía Gia Lâm xuống, về phía đông cuối cầu làm những hố sâu ngụy trang để "bẫy xe tăng" và những làng lân cận làm "bẫy thổ phỉ", xây dựng các làng chiến đấu để ngăn chặn bước tiến của địch. Phải có kế hoạch tiếp tế cho bộ đội, cho tự vệ như xôi nếp, bánh đầy, nước uống để có thể chiến đấu được nhiều thời gian. Bản thân tôi cũng dần dần được yên tâm hơn và tin rằng tự vệ được phối hợp và dưới sự chỉ huy của lực lượng vệ quốc đoàn thì sẽ đỡ bỡ ngỡ, lúng túng. Kế hoạch được thống nhất và phân công nhanh chóng. Sau đó được anh em thực hiện rất sôi nổi, nhất là phong trào phá hoại đường giao thông, đào đắp trận địa, phong trào quyên góp trong dân để làm lương khô của các bà các chị tổ chức.


Nhưng sau mấy ngày trung đoàn 44 được lệnh chuyển đi nơi khác, chỉ để lại đại đội 14 do anh Văn Phụng làm đại đội trưởng. Lúc đó tỉnh điều cho 2 trung đội tự vệ của huyện Yên Mỹ và huyện Mỹ Hào lên tăng cường dưới sự chỉ huy thống nhất của đại đội 14. Bố trí ở phía Bắc cầu có đại đội 14, trung đội tự vệ huyện Yên Mỹ và tự vệ xã Kinh Xuyên, xã Minh Khai. Bố trí ở phía nam cầu có trung đội tự vệ huyện Văn Lâm, trung đội tự vệ huyện Mỹ Hào và tự vệ xã Ngọc Loan, xã Thọ Khang. Anh Văn Phụng lại chọn 20 chiến sỹ cảm tử gồm đại đội 14, trung đội tự vệ Yên Mỹ, Văn Lâm làm nhiệm vụ đào hố bí mật ở 2 bên đường để giấu quân phục kích ở đó.


Chiều ngày 4-1-1947 được tin quân Pháp đang tiến từ Gia Lâm xuống cầu Ghênh, mọi lực lượng của ta đã sẵn sàng chiến đấu. Anh Tâm cử tôi ra Như Quỳnh nắm tình hình và báo cáo cho anh. Tôi và một giao thông viên chạy như bay từ Ngu Nhuế về Như Quỳnh, dọc đường người vẫn đông. Đến hết làng Ngô Xuyên thì thấy phía đường 5 gần Cống Khoai có đám cháy to khói đen mù mịt. Thì ra du kích Minh Khai đã khéo luồn lách lên đốt sở canh nông, cách đường 5 chừng 300m buộc địch phải dừng lại bắn xả vào xung quanh rất nhiều. Vào tới đền Ghênh, ở đây đặt trạm liên lạc, trạm cứu thương, đông nhất vẫn là các bà, các chị gồng gánh cơm nắm, thịt rang, nước vối ra chờ để tiếp tế cho bộ đội và tự vệ. Lúc đó địch và ta bắt đầu nổ súng. Tôi viết báo cáo tóm tắt những điều quan sát được và cho giao thông viên về báo cáo trước. Sau đó tôi ra xóm chợ Ngọc Quỳnh hướng ra trận địa. Lúc này đạn bắn như mưa, tôi phải nhẩy xuống vệ đường bờ sông, lác đác đã thấy các chị cứu thương và anh em tự vệ đang chuyển thương binh về phía sau. Trời lúc đó đã nhá nhem tối, đạn bắn như tia lửa vọt qua đầu. Sau đó tiếng súng thưa dần và lùi về phía xa, có tiếng reo hò của quân ta, tôi đoán chừng địch đã rút lui. Tìm mãi không gặp được anh Văn Phụng đại đội trưởng 14, chỉ gặp được anh Nguyễn Đăng Ty là cán sự Huyện ủy Văn Lâm và đồng chí chỉ huy trung đội tự vệ xã Kinh Xuyên và một cán bộ của đại đội 14 tường thuật lại như sau:


Gần 5 giờ chiều, quân địch lọt vào trận địa cùa ta, chiếc xe tăng đi đầu xả súng bắn vào ụ lớn nhất của ta cách chừng độ 50m. Lúc đó đại đội trường Văn Phụng đích thân điều khiển súng máy 12,7 ly được đặt trên mái nhà bên bắn vào đội hình địch, đồng thời cũng là hiệu lệnh tấn công. Anh em nằm dưới hố sâu hai bên đường được ngụy trang cẩn thận lúc này đều nhất loạt bật dậy ném lựu đạn, ném chai xăng "krếp" vào đội hình địch, đồng thời dùng dao, mã tấu đánh giáp lá cà. Bị bất ngờ địch dừng lại một số lính trên xe nhảy xuống. Ba mũi quân của ta theo đường giao thông hào từ chợ ra, phía nam đường sắt cũng áp sát địch, tập trung bắn vào đội hình địch, một số xung phong lên cướp súng. Địch rất bị động với lực lượng độn thổ của ta, đội hình rối loạn, một số bỏ chạy, một số bắn loạn xạ, ít phút sau chúng cho xe tải quay đầu chạy, bọn lính trên xe bắn ngược lại một số địch chạy theo xe tăng, một chiếc xe tăng đã bị bốc cháy do chai xăng "krếp" của ta ném trúng.


Tôi vội về báo cáo gấp với anh Tâm, qua đền Ghênh đã có 7, 8 thương binh được đưa về đây băng bó cấp cứu xong được chuyển về chùa Ngô Xuyên trong số bị thương nặng có anh Lương Văn Cung là trung đội phó tự vệ huyện Yên Mỹ và hai chiến sĩ cảm tử khác đã hy sinh ngay trong đêm đó.


Trên đường về Ngu Nhuế, có nhiều người gồng gánh, cõng trẻ em đi tản cư. Có một số thanh niên chạy ra Ghênh xem bộ đội va tự vệ đánh Pháp. Tồi về báo cáo với anh Tâm và lúc đó cũng có mặt cả anh Thu Hạ. Các anh đã trao đổi và có chỉ thị hỏa tốc gửi đi biểu dương tự vệ, bộ đội đã đánh thắng trận đầu, biểu dương nhân dân đã ủng hộ, tiếp tế cho tự vệ và bộ đội kịp thời, biểu dương các đơn vị tích cực phá hoại đường sắt, đường giao thông, động viên nhân dân tiếp tục cất giấu thóc lúa, tài sản, triệt để đưa người già, trẻ em đi tản cư. Đến 11 giờ đẻê các anh ra cầu Ghênh để bàn bạc với chỉ huy đại đội 14 để tiếp tục bố trí và chiến đấu. Nhưng rất đáng tiếc là ra đến đền Ghênh được tin đại đội 14 được lệnh đi nhận nhiệm vụ mới và tỉnh sẽ cử một đơn vị cảnh vệ thay thế cho đại đội 14 chuyển đi. Việc đại đội 14 đột ngột chuyển đi làm cho các đơn vị tự vệ lúng túng, có phần dao động, mất chỗ dựa, mất chỉ huy, lại thiếu đạn, các đơn vị tự vệ đều rút về phía sau. Anh Tâm viết thư cho anh Riệc là trung đội tự vệ Văn Lâm lúc đó đã rút về phía "Cự Dũ tìm cách để liên lạc với các đơn vị tự vệ huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào nhưng cũng không liên lạc được".


Trưa ngày 5-1-1947 đơn vị cảnh vệ của tỉnh điều về chưa vào tới trận địa thì quân địch đã tới cầu Ghênh. Do đêm hôm trước địch bị thiệt hại rút về đóng quân ở chùa Bà, thôn Dương Xá, giáp với huyện Văn Lâm nay được tăng viện thêm bộ binh và xe tăng, có hỏa lực hỗ trợ nên chúng tiến nhanh, tiến mạnh. Mũi chính đi thẳng đường quốc lộ số 5, một mũi khác có xe tăng yểm trợ chúng đi tắt cánh đồng quá cầu Bình Lương bao vây phía sau ta. Trên trận địa ta lúc đó lẻ tẻ chỉ có tự vệ bắn trả rồi rút lui, không đủ sức ngăn được địch; mặt trận cầu Ghênh coi như bị vỡ. Tuy nhiên trận đánh chiều ngày 4-1-1947, địch chết và bị thương nhiều, ta giữ vững được trận địa, thu được một số vũ khí làm cho nhân dân phấn khởi và tin tưởng, cũng là bước đầu giành được thắng lợi.


Tiếp sau đó ngày 6-1-1947 địch chiếm được thị trấn Bần Yên Nhân; ngày 7-1-1947 chúng tiến chiếm được Dị Sử huyện Mỹ Hào, nối liên lạc địch với bọn địch ở thị xã Hải Dương. Từ 8-1-1947 đến 14-1-1947 địch bắt đầu càn quét các thôn xã xung quanh nhằm xua giãn lực lượng của ta, cướp lương thực, thực phẩm, vật liệu, bắt phu để xây bốt, sửa đường giao thông, đốt phá nhà cửa, tàn sát dân (tổng Như Quỳnh lúc đó gần 100 người bị giết).


Từ 15-1-1947 đến 20-1-1947 chúng chiếm đường sắt lần lượt chiếm đóng các ga như: Xuân Đào, cầu Bà Sinh, Nghĩa Lộ, Đình Dù. Những ngày tiếp theo là những ngày ta và địch tranh chấp. Mặc dù lực lượng lúc đó của địch mạnh hơn, ta vẫn tìm cách đánh địch bằng phá hoại đường sắt. Ban ngày địch huy động người để sửa đường sắt, ban đêm ta lại tổ chức phá hoại. Ta đã có sáng kiến là vặn một nửa số ốc rồi kéo cong thanh đường ray, làm như vậy vừa đỡ tốn công lại được nhiều đoạn, địch lại phải tốn rất nhiều công phải tháo các thanh đường ray bị cong và thay thanh mới vào thì mới sử dụng được. Cứ như vậy mãi cho tới tháng 2-1947 địch mới thông được đường sắt. Tuy vậy từ đó về sau ta vẫn tổ chức tiếp tục phá hoại bằng nhiều cách, địch vẫn phải tăng cường sửa chữa liên tục và phải tốn thêm một lực lượng canh giữ trên đường sắt hầu như suốt ngày đêm.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:49:12 am
3) Kết luận bước đầu, mở rộng đấu tranh, kháng chiến toàn diện

Sau trận đánh câu Ghênh chiều ngày 4-1-1947 và các diễn biến tiếp theo. Hội nghị cán bộ huyện họp vào chiều và đêm ngày 27-1-1947 để kiểm điểm kết quả hơn một tháng chiến đấu, bàn chủ trương biện pháp tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến. Hội nghị này có anh Học (tức anh Trần Sâm) nay đã mất) là thường vụ tỉnh ủy dự.


Anh Chất thay mặt Ủy ban kháng chiến huyện báo cáo về trận đánh chiều ngày 4-1-1947 ta diệt được nhiều địch, bảo toàn được lực lượng của ta, tổn thất không đáng kể, đạt được thành tích là phá hoại đường giao thông, nhất là đường sắt, đã cản được bước tiến và chuyển vận của địch, song về việc vận động người già trẻ em đi tản cư, cất giấu thóc lúa, của cải tài sản làm chưa được triệt để, còn thiếu sót, một số ít cán bộ tự vệ đã giao động bỏ nhiệm vụ. Về sự chỉ đạo, chỉ huy của Ủy ban kháng chiến còn rất bỡ ngỡ, lúng túng, sau đó đã đề ra các biện pháp để đẩy mạng kháng chiến, các biện pháp đánh địch sát hợp với hoàn cảnh và lực lượng của ta, tiếp tục phá hoại đường giao thông, nhất là đường sắt, chấn chỉnh lại công tác tản cư, cất giấu thóc lúa, của cải tài sản. Củng cố lại tổ chức cán bộ tự vệ, lực lượng tiếp tế, nhất là công tác lãnh đạo và chỉ huy được chủ động hơn.


Vì là rút kinh nghiệm một tháng kháng chiến, tôi cũng mạnh dạn nêu lên một số ý kiến về trận đánh chiều ngày 4-1-1947 là anh em bộ đội và tự vệ chiến đấu rất dũng cảm, chỉ huy giỏi, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng bộ đội, tự vệ, các bà các chị tiếp tế, tải thương làm rất tốt, ta bí mật bố trí được lực lượng "mật phục" ngay hai bên đường khi có hiệu lệnh là nhất loạt xông lên đánh địch làm cho chúng rất bất ngờ, lúng túng. Chỉ đáng tiếc là ngày hôm sau lực lượng chủ công phải chuyển đi nhận nhỉệm vụ khác, lực lượng của tỉnh chưa về kịp cho nên ta không có lực lượng mạnh, hơn nữa địch lại tăng cường và chiếm lại được cầu quá nhanh.


Về phía ta trong huyện thời gian đó không còn lực lượng vệ quốc đoàn cho nên tôi đề nghị: lực lượng tự vệ huyện, tự vệ các xã phải có cách đánh thích hợp, không thể bố trí trận địa và đối mặt với địch được, mà phải chia ra thành từng nhóm nhỏ, quấy rối, bắn lén, việc phá hoại đường sắt cản trở việc vận chuyển của địch là kinh nghiệm rất hay cần được phát huy hơn nữa.


Ngay 4 giờ sáng ngày 27-1-1947 hôm nay ta chỉ có 10 đồng chí tự vệ huyện với vài khẩu súng trường cũng đánh địch vào càn quét ở thôn Hùng Trì (thôn này nằm sát huyện Thuận Thành Bắc Ninh là nơi ủy han kháng chiến huyện đóng) mặc dù lực lượng mỏng, súng ít nhưng anh em đã mưu trí bắn từ vòng ngoài vào giữa đội hình địch, buộc chúng phải chững lại đối phó, ta kịp thời báo cho cán bộ và nhân dân rút được ra khỏi vùng càn quét.


Anh Học (tức anh Trần Sâm) thay mặt Tỉnh ủy hoan nghênh bộ đội, tự vệ đánh giỏi, dân tiếp tế tốt, phá hoại đường giao thông có nhiều thành tích khuyết điểm là bỡ ngỡ, lúng túng, một số cán bộ dao động là không tránh khỏi. Song ta vừa đánh, vừa rút kinh nghiêm học hỏi lẫn nhau rồi dần sẽ trưởng thành đồng thời phải tổ chức tốt việc tản cư cho người già, trẻ nhỏ, nhưng phải có kế hoạch đưa người khỏe về bám đất, sản xuất, chuẩn bị đấu tranh chống việc lập đại diện ngụy quyền, lập ngụy quân, cố gắng cướp súng địch để đánh địch.


Anh Tâm xem ý kiến của anh Học (tức anh Trần Sâm) là kết luận của hội nghị, sau đó phân công cụ thể cho cán bộ triển khai công tác.

Tại Hội nghị này cũng quyết định thống nhất lực lượng tự vệ và cảnh vệ huyện, tách ban trinh sát riêng ra khỏi ban trinh sát giao thông và lúc đó tôi được phân công làm trưởng ban giao thông huyện.

Hội nghị này đã củng cố lòng tin cho chúng tôi và cũng có thể nói là bước đầu chuyển hướng chủ trương kháng chiến toàn diện hơn và dần dần sát hợp với tình hình thực tế ở địa phương.

LÊ ĐỨC THỊNH


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:50:07 am
HUYỆN VĂN LÂM CHỐNG ĐỊCH LẬP NGỤY QUYỀN,
MỘT MẶT TRẬN ĐẤU TRANH DIỄN RA THƯỜNG XUYÊN, QUYẾT LIỆT SUỐT THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN


Lê Đức Thịnh
Nguyên Bí thư Huyện ủy Văn Lâm
Nguyên Chủ tịch UBHC Hải Phòng
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nội thương


Sau khi đã chiếm đóng đường 5, đường sắt, địch tăng cường càn quét, bắt đầu dụ dỗ dân về làng, lập ngụy quyền (ban đầu có tên gọi là lý trưởng, có lúc gọi là Hội đồng an dân, hương chính ta thường gọi là Hội tề). Cuộc đấu tranh chống địch lập ngụy quyền diễn ra hết sức quyết liệt, thường xuyên bằng mọi hình thức đấu tranh: Chính trị, địch vận, dân vận, vũ trang, tùy nơi tùy lúc suốt năm tháng chiến tranh.


A. Địch thiết lập Hội tề - sự bỡ ngỡ ban đầu của ta

Địch lập Hội tề đầu tiên ở Đình Tổ vào đầu tháng 2 - 1947. Đình Tổ là làng công giáo toàn tòng duy nhất ở Vãn Lâm, linh mục ở đây trông nom cả họ đạo lẻ ở Hướng đạo, Hành Lạc. Trước kháng chiến linh mục tỏ ra chấp hành chính sách của chính phủ, cũng rào làng chiến đấu tổ chức tự vệ, tuần tra canh gác, thực chất vẫn ngấm ngầm chống lại ta. Sau khi địch chiếm đóng cầu Bà Sinh, bọn xấu ở Đình Tổ bí mật đưa một số thanh niên lên đồn tập quân sự, chúng không cho cán bộ vào làng, không nhận thư của Ủy ban kháng chiến huyện. Chúng đưa số thanh niên được huấn luyện quân sự về, vũ trang cho 10 súng trường, sau lên 20 khẩu, công khai chống lại ta. Về phía ta, cơ sở quần chúng rất yếu khi bọn phản động nổi lên thì lúng túng, bị động không có đối sách rõ ràng.


Tiếp theo Đình Tổ nổi lên là tề phản động thôn Hành Lạc. Đây là một làng lớn, dài hơn 2 km ven đường sắt (từ thôn Đình Dù tới Lạc Đạo có xóm công giáo Xôi Đỗ. Mấy tên phản động như Chánh Khắc, Lý Tiến, Phó Gia (Phó Gia là người công giáo) bí mật cử một số thanh niên học quân sự ở Đình Tổ, lên bốt cầu Ghênh xin lập tề. Trước đó ta đã viết thư thuyết phục Chánh Khắc đi tản cư, nhưng hắn khất lần, rồi chúng đột nhiên rào nhà tên Lý Tiến biến thành hương đồn, tổ chức hương dũng canh gác chống lại ta. Nhà Lý Tiến khá rộng có 2 nhà ngói lớn, một nhà là nhà gác 2 tầng, xung quanh có tường bao bọc, có đoạn tăng thêm rào tre, đêm đêm thường có khoảng 20 tên hương dũng lúc đầu chưa được phát súng chỉ có dáo mác, gạch, chai lọ làm vũ khí phòng thủ. Bọn Khắc, Tiến, Gia thường đến ngủ ở đấy.


Lúc đó, UBKC huyện vẫn theo khẩu hiệu triệt để bất hợp tác với địch nên chủ trương phá bằng được bọn tề này, không cho lây lan sang các nơi khác và quyết định dùng lực lượng vũ trang phá tề Hành Lạc và bắt bọn phản động. 10 giờ đêm ta tiến đánh, gồm trung đội tự vệ huyện, tự vệ các xã Minh
Khài, Kinh Xuyên, Trung Kiên, có cơ sở dẫn đường chia làm 3 mũi tiến vào hương đôn. Cùng đi có các anh lãnh đạo huyện: anh Tâm, Thu, Chất, Câu và tôi; ngoài ra còn một số cán bộ dân vận vào các xóm vận động nhân dân chống lập tề.


Trận đánh diễn biến xấu, hợp đồng 3 mũi không khớp; thấy động, bọn hương dũng ở trên gác ném gạch đá xuống. Bên ta nổ súng cảnh cáo, và gọi hàng, anh Tâm, anh Câu và tự vệ cùng bắn. Có một chuyện mà đến nay tôi không thể nào quên là tôi cũng được trang bị một súng lục nhỏ có 5 viên đạn, thì bắn 3 phát không nổ vì đạn để quá lâu đã hỏng hết. Cuối cùng, ta cũng vào được nhà, phá cửa lên gác. Nhưng bọn hương dũng đã leo xuống gác chạy thoát sang hàng xóm. Sau này mới biết chánh tổng Khắc ngủ nơi khác, phó tổng Gia và Tiến đều trốn ra sau nhà, một tự vệ đã tóm được. Lý Tiến, nhưng không biết mặt tưởng là người hàng xóm nên thả ra, một số hương dũng bị bắt sau khi ta giải thích rồi thả ngay.


Mấy ngày sau, bọn địch ở cầu Ghênh về lùng sục, dụ dỗ dân và phát 20 khẩu súng cho hương dũng và bảo vệ cho chúng xây bốt.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:50:57 am
B- Chuyển hướng chủ trương phá tề - kết quả bước đầu

Huyện ủy họp, rút kinh nghiệm thấy rằng, dùng lực lượng vũ trang thì kém hiệu quả, lực lượng ta đông nhưng chỉ đạo, chỉ huy chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ, các mũi tiến vào làng thiếu sự hợp đồng ăn khớp, trong khi đó kẻ địch quen địa hình dễ luồn chạy vào dân. Kết quả là cán bộ, cơ sở kém tin tưởng, bọn tề sẽ có thêm tín nhiệm với địch chắc nó sẽ tiếp tục càn quét, phá cơ sở móc nối lập tề, xung quanh như Nghĩa Lộ, Xuân Đào cũng đã có tin bí mật ra bốt, xin lập tề. Tình hình dân thì người già, trẻ em nghèo không thể tản cư lâu dài mãi, tâm tư muốn được yên thân sản xuất, muốn có một hình thức liên lạc hay đại diện gì đó với kè địch để yên ổn làm ăn.


Huyện ủy thảo luận khá găng về chủ trương cách thức chống địch lập tề và hương dũng, đi đến nhận định là phải phá âm mưu, mục đích lập tề của địch là chính, chứ không nhằm diệt cá nhân người làm tề và hương dũng mà phải có sự phân biệt, không biến họ thành những kẻ quyết tâm theo địch chống lại ta. Ta vẫn chủ trương kéo dài thời gian lập tề, nhưng tùy điều kiện cụ thể ở mỗi làng xã ta có thể chủ động cử người ra làm đại diện, làm tề, lấy tự vệ bí mật làm cốt lõi bảo vệ làng mạc. Tề do ta cử ra phải theo sự lãnh đạo của ta, có thể họ phải làm một số việc theo lệnh của địch mà ít hại đến dân. Một thời gian nếu tề được cử ra có thái độ xấu thì ta có thể thay người khác.


Huyện ủy báo cáo với Tỉnh ủy cho phép làm thử gọi là "lập tề giả" sau này gọi là "tề hai mang". Thường vụ huyện ủy quyết định làm thử ở Minh Khai, gọi là Ngọ An. Ở đây có cơ sở vững, tự vệ đã được củng cố, ở gần bốt cầu Ghênh, lại đang bị tề Hành Lạc ép lập tề. Ở làng có ông Cai Nghiên là lính Pháp cũ, hội viên cứu quốc, hiện đang chỉ huy tuần phiên canh gác. Vài lần địch càn vào làng, ông Nghiên biết nói vài câu tiếng Pháp, có tiếp xúc với địch. Huyện đồng ý với xã để ông Nghiên xin với bốt cầu Ghênh được lập tề làm lý trưởng, cử ông Kết là người của ta làm phó lý. Như vậy địch đinh ninh rằng đã lập được tề Ngọ An nhưng tề vẫn có sự chỉ đạo chặt chẽ của chi bộ. Nhờ sự khôn khéo của mình ông Nghiên đấu tranh với địch ở cầu Ghênh và bọn Chánh Khắc không vào làng càn quét, lùng sục nữa mà vẫn chỉ huy tuần phiên canh gác bảo đảm cho dân yên ổn sản xuất.


Tháng 5-1947, địch trang bị cho 4 súng trường và một số lựu đạn. Do ta lãnh đạo chặt, nên tề thi hành rất ít lệnh của địch và lại hay kêu ca, tranh đấu, dần dần chúng bắt đầu nghi ngờ. Ông Nghiên có phần dao động, mấy lần đề nghị cho thôi làm tề. Chúng tôi chủ trương làm thử việc thay tề Ngọ An, bằng cách bố trí trận tấn công giả vào cuối tháng 7 -1947 vào đình Ngọ An, nơi tề và tuần đinh ngủ tại đây, có bắn súng, ném lựu đạn, cố ý để lại một lựu đạn không nổ và một số vỏ đạn tại trận. Ông Nghiên và mấy tuần phiên được rút vào bí mật, ta thu 3 súng trường. Còn lại ông Kết, phó lý cố ý làm toạc rách quần áo, trát bùn vào đầy người mang theo một khẩu súng, gần sáng mới chạy vào bốt báo là tề bị Việt Mỉnh đánh, ông mang súng đi tuần nên trốn thoát được, xin được ở lại bốt. Địch không cho ở lại, thu lại súng, bắt phải về tổ chức lại việc canh gác, rồi ra bốt báo cáo. Ông Kết lần chần 2 ngày sau mới về làng. Về làng, ông cũng được rút vào bí mật, không ra báo địch nữa. Mấy ngày sau, địch vào làng lùng sục, đe dọa một số bô lão phải cử người thay. Sau nửa tháng, lần chần đấu tranh ta mới chính thức cử một hội viên cứu quốc khác là hương lý cũ ra làm lý trưởng, chưa có phó lý.


Do khôn khéo đấu tranh, cơ sở được giữ vững nên suốt năm 1947 - 1948 các cơ quan huyện luân phiên ở đây được nhân dân ủng hộ, bảo vệ rất tốt.

Đến hết 7-1947 trừ xã Việt Hưng ra, còn lại các làng đều đã có tề, đại bộ phận do ta chủ động đưa người ra. Một số mới lúc đầu cũng có người tự ý nhẩy ra làm tề nhưng được ta thuyết phục, tranh thủ dần đần cũng theo sự chỉ đạo của ta. Địch cũng trang bị súng cho nhiều ban tề do ta cử ra. Ta cũng thay thế hoặc làm khập khiễng một số tề lừng chừng, có thể chuyển sang tề xấu. Về phía địch cũng dừng lại không trang bị thêm nữa, mà tập trung hơn cho tề mà chúng nắm chắc được như ngoài Đình Tổ, Hành Lạc có thêm tề Thanh Đăng, Tuấn Lương mỗi nơi được trang bị 20 súng.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:51:36 am
C. Tổng phá tề, phối hợp với chiến trường Việt bắc

Ngày 7-10-1947, Pháp tấn công Việt Bắc, Tỉnh ủy Bắc Ninh (từ tháng 7-1947, Văn Lâm được Trung ương quyết định chuyển về Bắc Ninh) chỉ thị đẩy mạnh mọi hoạt động đánh địch, tổng phá tề phá hoại đường giao thông, đấu tranh chính trị, phối hợp với chiến trường Việt Bắc buộc địch phải rút quân về đối phó với vùng tạm chiếm.


Chấp hành chỉ thị của Tĩnh ủy, ngoài việc phá đường sắt, đánh mìn v.v... chúng tôi chủ trương tổng phá tề, đại náo toàn huyện bắt đầu từ đêm 15-10-1947. Chúng tôi phân loại bốn loại tề để có đối sách thích hợp:

- Loại 1, là tề có võ trang, phản động vì thời gian gấp và chưa có điều kiện đánh nên chỉ quấy rối, hoặc đánh trả nếu chúng sang làng bên càn quét.

- Loại 2, trong bọn tề có người xấu thì bắt bằng được đưa ra vùng tự do và trạnh thủ nắm chắc hơn người còn lại.

- Loại 3, tế tuy ta nắm được nhưng cơ sở quần chúng còn yếu thì tạm thời chưa phá hoại làm khập khiễng, tạo thế cho họ.

- Loại 4, là tề do ta cử ra, cơ sở chính trị và tự vệ vững thì giải tán hoặc làm khập khiễng, tước toàn bộ vũ khí, mỗi nơi chỉ để lại một khẩu làm tượng trưng.

Phân công anh Chất chủ tịch UBKC huyện, phụ trách các xã phía bắc, còn tôi trực tiếp phụ trách các xã phía nam.

Đêm 15-10-1947, chúng tôi đã đồng loạt quấy rối, phá hoại đường sắt, đại náo, giải tán hoặc làm khập khiễng gần 30 ban tề, thu 26 súng và một số lựu đạn. Ngay trong đêm, cán bộ huyện và xã bàn với dân có kế hoạch đấu tranh với địch bảo vệ dân chống khủng bố.


Về phía địch có lẽ phần bị bất ngờ, phần vì không có quân chi viện nên chúng đối phó dè dặt, ít sục sạo vào làng, chỉ tuần tiễu trên đường do đó cán bộ và nhân dân đều phấn khởi.

Đầu tháng 12-1947, một trung đội của đại đội Trường Chinh thuộc e44 phối hợp với đội đặc vụ huyện, nữ du kích hóa trang phục kích đánh địch giữa ban ngày ở đầu chợ Nghĩa Trai, cách đường sắt 500m, bắt gọn một tiểu đội địch, thu 10 súng. Trận thắng này tác động rất mạnh đến tinh thần lính địch, tiếp theo, đầu năm 1948 ta tổ chức trận tập kích ban ngày vào quận Hành chính Nghĩa Lộ.


Một tháng hoạt động mạnh phối hợp với chiến trường Việt Bắc, nhất là tổng phá tề ta thu nhiều vũ khí và nhiều kinh nghiệm phá tề.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:52:26 am
D. Tập trung phá tề phản động có võ trang

Trước thế thắng của ta ở Việt Bắc và tổng phá tề ở địa phương, những tên tề phản động có võ trang là Đình Tổ, Hành Lạc, Tuấn Lương, Thanh Đặng có phần giao động, bớt hung hăng hơn. Chúng tôi chủ trương tập trung sức làm tan rã các tề này; phân công những cán bộ có kinh nghệm thâm nhập xây dựng quần chúng, làm địch vận, xây dựng nhân mối trong hương dũng, viết thư thuyết phục bọn tề, đưa ra một số điều kiện ban đầu chúng có thể làm được nhưng không được khủng bố, bắt dân đóng góp thuế quá cao, không theo địch càn quét, lùng sục, liên lạc báo cáo tình hình cho ta v.v...


Trước tiên chúng tôi tập trung vào tề Thanh Đặng. Ở đây cầm đầu hội tề là Chánh Dự nguyên là giáo học cũ có vẻ giao động hơn, lại là cơ sở cách mạng cũ, có nhiều cán bộ hoạt động ở huyện và nơi khác, nhiều gia đình tản cư vẫn có liên lạc với dân trong thôn, trong đó có quan hệ họ hàng với Chánh Dự, đã giúp đưa thư cho anh Chất vừa lấy danh nghĩa ƯBKC huyện vừa lấy tình bạn bè, thuyết phục Chánh Dự bỏ địch về với kháng chiến và làm theo sự chỉ đạo trên của huyện. Nhận thư Dự không viết trả lời, chỉ nhắn miệng cho được suy tính dần những điều đã nói trong thư. Đồng thời nhân mối của ta cũng tuyên truyền khuyếch trương chiến thắng, bắn tin với Dự tìm cách liên hệ với kháng chiến để khỏi bị trừng trị. Mấy ngày sau thấy thái độ ông ta có chuyển biến như nhắc nhở hương dũng không được sách nhiễu dân.


Cơ sở ta lại tiếp tục gợi ý nếu không gặp được ông Chất thì phải gặp cán bộ thì ông Dự nhận lời bí mật gặp cán bộ. Nhân đó anh Chất lại viết thư tiếp khuyên sớm cùng hương dũng về với kháng chiến và hứa sẽ bố trí công tác cho ông Dự ở vùng tự do. Xem thư, ông ta suy nghĩ hồi lâu và nhắn ra chỉ sợ hương dũng có người không đồng tình chống lại thì bản thân và gia đình ông ta sẽ không an toàn.


Ta đã dự đoán được tình hình, lên kế hoạch tấn công ngay, đại thể như sau: Bọn hương dũng ban ngày vẫn để tập trung khóa súng ở bốt chỉ để 2 khẩu cho tề gác bốt và đi tuần; tối đến, chúng mới tháo khóa súng, rồi phân công đi ngủ phân tán ở một số nhà.


Một ngày tháng 3 năm 1948, một tiểu đội bộ đội huyện do anh Minh Châu cán sự huyện và anh Cẩm, thôn đội trưởng chỉ huy bí mật vào trước ở nhà một cơ sở. Tới 7 giờ tối, nhân mối ta mở cổng bốt, ta ập vào bắt ông Dự và bắt ra lệnh tập trung hương dũng nộp súng đầu hàng. Mấy tên còn lừng chừng, nhưng bị bất ngờ cũng phải tuân theo. Ta tuyên bố ai muốn ra vùng tự do thì ta giúp đỡ cho đi; hầu hết đều xin đi được ta dẫn vượt qua đường 5 về huyện An Thi. Ta làm trận đánh giả, đốt bốt vào hồi 11 giờ đêm. Tổng cộng ta thu được 18 súng và một số lựu đạn. Sau mấy ngày ông Dự được tỉnh bố trí công tác làm Bình dân học vụ tỉnh.


Từ kinh nghiệm phá tề Thanh Đặng thắng lợi, chúng tôi chủ trương tấn công nhanh tề Tuấn Lương. Làng Tuấn Lương nằm sát đường sắt gần bốt cầu Bà Sinh và bốt Xuân Đào, do Tăng trước đây cũng đã làm phó chủ tịch UBHC xã làm chánh tổng và em là Trang làm xếp bốt. Lúc đầu những tên này lập tề cũng theo địch đi càn quét xung quanh; nhưng do chiến thắng của ta và cũng do có mẫu thuẫn với xếp bốt Xuân Đào tên là Trung, có lần nó đã đưa quân vào sục sạo, kiểm soát bốt Tuấn Lương; ngoài ra Tăng lại có quan hệ với vợ bé của Trung, nên Tăng sợ lộ thì Trung sẽ trả thù.


Còn về phía ta, cũng gây được cơ sở quần chúng và nhân mối bên trong. Cũng theo cách làm ở Thanh Đặng, anh Chất thay mặt UBKC huyện viết thư và anh Mạc Ninh thường vụ Huyện ủy gặp anh em Chánh Tăng thuyết phục ra hàng và nộp súng. Thực hiện kế hoạch, ta đưa nhân tình của Tăng ra huyện Tiên Du mấy ngày trước, rồi đưa Tăng trốn đi. Vì ở Tuấn Lương theo lệ thường tổng dũng tháo khóa súng, được phát sớm ngay từ 5 giờ chiều, nên một tiểu đội huyện có anh Tạ Lương và anh Quảng Nam phụ trách đã phải bí mật giấu quân ở nhà dân từ trước và tới giờ hẹn đã vào bốt, Trang đã tập hợp Tổng dũng nộp 18 súng đầu hàng, đợi tối sẽ sang Tiên Du. Cùng lúc đó, anh Bình Nam Phương, đội trưởng và 3 chiến sỹ thuộc đội Việt Dũng (thuộc công an tỉnh Hưng Yên) trước đó cũng có gây được nhân mối ở Tuấn Lương, cũng đột nhập vào bốt yêu cầu nộp súng (lúc này về chính quyền huyện Văn Lâm đã chuyển về Hưng Yên, nhưng về Đảng, đoàn thể vẫn thuộc Bắc Ninh).


Giữa anh Phương và anh Tạ Lương có sự giằng co tranh cãi. Anh Phương thì đòi đưa tổng dũng và vũ khí về tỉnh, còn anh Lương muốn giữ lại cho huyện, nói chỉ làm theo lệnh của huyện ủy. Về sau hai bên thống nhất là 14 tổng dũng về huyện, còn 4 anh về tỉnh. Thế là ta đã phá được tề Tuấn Lương. Anh Tăng sau này được bố trí làm phó văn phòng ủy ban kháng chiến hành chính huyện.


Thừa thắng, chúng tôi muốn phá nhanh tề Hành Lạc. Lúc này anh Hoàng Hữu Hiện, cán bộ Huyện ủy, đã gây được cơ sở quần chúng ở 4 xóm, có nhân mối trong tổng dũng, đã có liên lạc riêng rẽ với Chánh Khắc và phó Gia. Anh Tạ Lương vừa có kinh nghiệm phá tề Tuấn Lương, lại có họ hàng ở Hành Lạc nên được cử thay anh Hiện. Sau mấy ngày nhận bàn giao cơ sở với anh Hiện, anh Tạ Lương đã tìm cách bí mật trực tiếp gặp Chánh Khắc, đưa thư của anh Chất báo tin ông Dự, ông Tăng đã về với kháng chiến, được khoan hồng và được trọng dụng. Chánh Khắc khất để suy tính thuyết phục anh em. Gần một tuân sau anh Lương lại gặp Khắc giữa ban ngày, nửa bí mật nửa công khai, thuyết phục nó ra hàng, nộp súng cho ta. Tên Khắc có vẻ lúng túng, do dự, hứa xin ít ngày nữa sẽ mời vào gặp. Mấy ngày sau, tên Khắc mời anh Lương vào giữa ban ngày. Được tin, anh Tạ Lương cùng với một chiến sỹ bảo vệ, trên đường tới gặp tên Khắc, còn cách Hành Lạc 400m thì cơ sở ta báo là tên Khắc có hiện tượng bố trí bắt anh Tạ Lương; nghe vậy, anh Tạ Lương quyết định quay lại. Đúng là Khắc có kế hoạch bắt giữ anh Tạ Lương. Trước đó chúng đã bắt giữ 4 nhân mối của ta sau đó chúng lại truy bắt một số cơ sở của ta.


Như vậy, kế hoạch phá tề võ trang Hành Lạc phải hoãn lại. Trong chỉ đạo phá tề Hành Lạc, chúng tôi đã kiểm điểm, thấy ta đã quá say sưa với thắng lợi, còn chủ quan nôn nóng không phân tích kỹ đặc điểm tề ở đây. Bọn Chánh Khắc và Phó Gia đã gây nhiều tội ác, có nhiều kinh nghiệm trong lần trước chống lại ta mà ta không thành công nên rất thâm thù với cách mạng. Gần đây, trước thắng lợi của ta, chúng hoạt động có dè dặt hơn, nhưng chúng chưa giao động tới mức ta tưởng. Chúng nhận thư, gặp cán bộ ta, vừa khất lần, vừa thăm dò để cơ sở ta phải bộc lộ và lừa ta vào bẫy. Còn về ta, chỉ nặng về tiếp xúc với bọn Khắc, nhẹ về củng cố, phát triển cơ sở quần chúng và nhân mối dùng quần chúng vận động đấu tranh phá hoại địch, cô lập Chánh tổng Khắc và Phó Gia.


Sau vụ này, bọn tề Hành Lạc tiếp tục lùng sục ép các làng xung quanh lập tề xấu. Tên Khắc lúc này đã được đề bạt làm bang tá, tổng dũng Hành Lạc cũng được đồn lên thành Bảo chính đoàn. Cho tới năm 1951 tên Khắc bị du kích xã lập mẹo bắt giết và Bảo chính đoàn cũng chạy về bốt Bần. Ở Hành
Lạc, chi bộ xã Tiên Tiến đã bố trí cho ông Nhiễm ra tranh chức với Phó Gia và ông Nhiễm là người của ta được cử làm chánh tổng nên dần dần làm tan rã tề và tổng dũng ở đây.


Sau cuộc tổng phá tề tháng 11-1947, đến giữa năm 1948 ta không có cuộc tổng phá tề nào nữa. Từ giữa năm 1949 địch tăng cường củng cố đường 5 và đường sắt, xúc tiến kế hoạch bình định. Ngoài tề Đình Tổ, Hành Lạc, có thêm tề võ trang Bình Lương, Ngọ An, Hoàng Nha, Mậu Duyệt. Từ năm 1952 cơ sở được hồi phục, tề suy yếu đần. Phải đợi đến tháng 3-   1954, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, hoạt động quân sự của ta trên đường 5 và đường sắt mạnh mẽ, liên tục, bọn tề phản động ở Hoàng Nha và Đình Tổ mới bị phá rã hoàn toàn.


Ở Văn Lâm, cuộc đấu tranh giữa địch và ta giữa lập tề và phá tề, nắm tề đã thực sự trở thành mặt trận đấu tranh chủ yếu diễn ra thường xuyên liên tục giằng co, quyết liệt trong suốt những năm tháng kháng chiến.

LÊ ĐỨC THỊNH


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Tư, 2022, 06:53:15 am
TRẬN ĐÁNH PHÁ ĐƯỜNG XE LỬA NĂM 1949


Tạ Lương
Nguyên Huyện đội trưởng Văn Lâm - Hung Yên


Hồi tháng 11-1949, lúc đó tôi là Huyện Đội trưởng Văn Lâm - Hưng Yên. Một hôm nhận được công văn khẩn của ban chỉ huy tỉnh đội Hưng Yên, tôi phải trực tiếp về tỉnh nhận mệnh lệnh chiến đấu.

Tại chỉ huy sở của Tỉnh đội, tôi gặp đồng chí Việt tỉnh đội phó, người trực tiếp giao nhiệm vụ chiến đấu cho tôi "dùng thủ pháo phá hoại đường xe lửa Hà Nội Hải Phòng trên địa bàn huyện Văn Lâm" với chiều dài 17 km (để trừ 4 km thuộc các vị trí quân sự của giặc Pháp).


Nhận lệnh xong, tôi về huyện, dẫn một tiểu đội bộ đội huyện xuống vùng căn cứ ở miền Nam Hưng Yên dự lớp huấn luyện cấp tốc, chỉ một buổi sáng, và cũng tiểu đội này nhận thủ pháo mang về (loại thủ pháo nhỏ bằng bao thuốc lá). Về địa phương, chúng tôi chia huyện ra làm 3 cụm vào đúng ngày 31-12 mà tỉnh đội đã ra mật lệnh cho tôi, ban chỉ huy huyện đội họp cấp tốc, rồi chia số anh em bộ đội đã được hướng dẫn kỹ thuật, và toàn bộ đơn vị bộ đội huyện về ba cụm, mỗi cụm do một đồng chí trong ban chỉ huy Huyện đội trực tiếp chỉ huy. Huyện đội ra lệnh huy động cán bộ và dân quân du kích các xã theo mỗi khu vực, tập trung cùng một buổi chiều, theo số lượng cần thiết có chọn lọc, anh em bộ đội huyện đã được học kỹ thuật đạt và giật cho thủ pháo nổ, mở ngay lớp huấn luyện cấp tốc cho dân quân du kích, giao luôn cho mỗi người một quả và giữ luôn anh em ở lại không cho về, chờ đến giờ G đi làm nhiệm vụ.


Đúng 11 giờ đêm, toàn bộ lực lượng đã áp sát mép đường, một bộ phận bộ đội gác cạnh các bốt giặc, toàn thể bộ đội và dân quân du kích lên đường sắt, theo cự ly đã định, gài thủ pháo vào dưới thanh ray, đắp đất kín thủ pháo (đắp càng chắc sức công phá càng mạnh).


Đúng giờ qui định, từ sở chỉ huy trung tâm phát lệnh, toàn bộ đoạn đường sắt dài 17 km tiếng thủ pháo đông loạt nổ vang trời, làm cho bọn giặc đóng ở các vị trí dọc đường sắt phải kinh hoàng, không hiểu được rằng ta đã đánh phá như thế nào và bằng loại vũ khí gì. Mãi 15 - 20 phút sau, chúng mới nổ súng bắn loạn xạ, khi ta đã rút xa an toàn và đã cắt đứt đường ray trên đoạn đường dài 17 km.


Hôm sau giặc Pháp phải huy động lính công binh sửa lại các thanh ray bị cắt đứt, chúng sửa từ hai đầu vào giữa, vậy mà phải hai ngày sau mới được thông xe.

Trong thời điểm đông xuân 1949 - 1950 mà ta làm ngừng trệ giao thông đường sắt của giặc 2 ngày quả là một chiến công lớn.

Cũng năm 1949 trên đường sắt thuộc địa bàn huyện Văn Lâm, bộ đội huyện đã phối hợp với đại đội Vũ Hổ (bộ đội tỉnh Hưng Yên) đánh phá làm đổ 12 đầu máy xe lửa và hàng trăm toa xe, làm hư hại hàng trăm tấn quân trang quân dụng của giặc và hàng ngàn tên giặc phải bỏ mạng.

Do vậy năm 1949 lực lượng vũ trang nhân dân huyện Văn Lâm đã được chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương quân công hạng ba

TẠ LƯƠNG

Ghi chú:

Đây là trận Tổng phá hoại đường sắt bằng thủ pháo của các huyện tạm chiếm thuộc 3 tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An tổ chức 31-12-1949 do ông Dương Hữu Miên, chỉ huy trưởng Mặt trận đường số 5 chỉ đạo. Thủ pháo này là loại thuốc nổ chất dẻo, gọi là dynamite lượng thuốc ít nhưng có sức công phá lớn: Theo kế hoạch đáng lẽ trận đánh sẽ thực hiện vào giữa tháng 12-1949, nhưng phải hoãn lại do Pháp mở chiến dịch Diabolo ngày 22-12-1949, chiếm đóng miền Nam tỉnh Hưng Yên và Hải Dương. Sau một tuần lễ ta vẫn cương quyết thực hiện để phối hợp với các huyện phía Nam.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:49:02 pm
QUÂN Y TRONG ĐỊCH HẬU


Hồi ký Đại tá Doãn Thế Lân
Nguyên Giám đốc Viện quân y 47 - QK3
Thầy thuốc uu tú


1. Trở về, bám đất phục vụ chiển trường

Năm 1950 là thời kỳ đen tối, gian khổ ác liệt nhất của quân dân tỉnh Hưng Yên. Riêng về quân y, từ tỉnh đội, xuống huyện, đại đội chỉ là y tá, cứu thương. Bệnh xá Tỉnh đội cũng phải sơ tán từ Hải Dương sang Hà Nam và Thái Bình. Thời gian đi sơ tán, cũng đã mở được 2 lớp cứu thương. Lớp 1 ở huyện Duy Tiên (Hà Nam) có 40 học viên do y tá Lưu chỉ đạo. Phụ trách lớp 2 có 35 học viên do y tá Lê Quý Đạt trưông tiểu ban quân y Tỉnh đội phụ trách.


Ngày 31 tháng 3 năm 1951, Hưng Yên quật khởi, mở đầu là trận diệt đồn Thọ Lão, rồi liên tiếp mở các khu du kích, tới cuối năm 1951 tiến tới huyện Văn Giang sát đường số 5 và Hà Nội. Nhờ kết quả đó, quân y tỉnh đội từ Đồng Tu (Duyên Hà, Thái Bình) chuyển về Bãi Giữa sông Hồng thuộc hai xã Hùng Cường, Phú Cường và ngoài đê xã Đức Hợp (Kim Động): Đầu năm 1952 Tỉnh ủy và Tỉnh đội cho quân y tỉnh đội về triển khai ở ba xã Đại Tập, Đông Ninh, Liên Khê chủ yếu ở thôn Phù Sa, Ninh Tập và Đông Ninh, còn thôn Kênh Khê thường là trạm phân loại tiếp đón, chọn lọc thương bệnh binh. Từ ngày đó cho đến khi kết thúc chiến tranh, trong gần 3 năm liên, quân y Tỉnh đội bám trụ tại đó phục vụ đắc lực và kịp thời trong nhiệm vụ chữa chạy thương bệnh binh. Đặt địa điểm "Viện quân y" ở đây, ngay trong lòng địch là một quyết tâm táo bạo và sáng suốt vì:

- Địch cắm bốt ở hai đầu xã phía bắc là bốt Phương Trù, phía nam là đồn Nghi Xuyên, phía đông cách đường 39 độ 6km, phía tây sát bờ sông Hồng. Suốt ngày đêm có tàu chiến, canô địch qua lại, trên trời máy bay địch thường bay theo dọc sông.

- Địa hình tuy vậy có mặt thuận lợi cho việc chữa chạy thương binh. Mùa khô dễ đi lại, nhưng địch thường phải co cụm đối phó với hoạt động của quân ta. Mùa mưa, địch thường quay về địch hậu càn quét nhưng lũ sông Hồng tràn ngập, các thôn ở đây như những hòn đảo giữa nước mênh mông, phải đi lại bằng thuyền, mủng nên địch không thể vào được. Hơn nữa đây lại là con đường chuyển hướng gần nhất, thuận lợi đưa thương binh nặng vượt tuyến lên Viện quân y Liên khu 3 ở Hang Cáy (Ninh Bình). Khí hậu ở sát bờ sông lớn mát mẻ, trong lành, tiện cấp cứu nuôi dưỡng thương binh.

- Tỉnh ủy, Tỉnh đội và Huyện ủy Khoái Châu chỉ đạo cho Đảng ủy và du kích xã lấy việc chăm sóc thương bệnh binh là chính, không được hoạt động võ trang nặng tính hình thức mà tạo cớ cho địch khủng bố, gây phương hại cho việc chăm sóc, cứu chữa. Nếu địch càn tới, phải lấy đấu tranh công khai là chính, bất đắc dĩ mới phải chiến đấu tự bảo vệ.


2. Có Đảng, có dân, chiến sĩ áo trắng lập công

Đầu năm 1952 bộ đội tỉnh đã phát triển, có tiểu đoàn 352 và 9 huyện có đại đội, số thương bệnh binh cần cứu chữa tăng cao tổi hàng trăm trong tháng, cũng là lúc được bổ sung hai quân y sỹ khóa 3 về (Phan Sỹ Cảo và Cát) nên đã đưa chất lượng cứu chữa lên một mức cao, hạn chế chuyển thương binh về khu 3, giữ được nhiều quân số chiến đấu. Trung tâm bệnh xá là thôn Phù Sa thượng, chỉ huy sở ở nhà cụ Chỉnh (gọi theo tên con, tên thật là Nguyên Hữu Pảo). Đình Phù Sa thượng to rộng xây trên gò nổi rất cao; gần cổng đình có cây đa cổ thụ rất to, ở đây đặt phòng mổ và hồi sức cấp cứu. Thôn này chỉ điều trị thương binh nặng, thương binh sau mổ, còn người nào đã ổn định nhẹ và vừa thì phân về các thôn Phù Sa hạ, Ninh Tập, Duyên Ninh, Tử Lý, Nội Doanh. Mỗi thôn đều có một tổ quân y hàng ngày chăm sóc, cứu chữa.


Trạm tiếp đón đặt ở nhà cụ Khỏi thôn Kênh Khê thượng phía trong đê, mặc dù tuổi già ngày chỉ có hai bữa cơm ngô rang suốt 3 năm, cụ vẫn là người báo tin và chở đò liên tục chở thương binh sang phòng mổ cách đó 1km khi mùa lũ, đêm khuya nước chảy xiết, mưa to gió lớn nhưng vẫn an toàn. Có lần tiếp nhận 50 ca thương binh nặng trong một buổi sáng của C176 sau trận chống càn ở Xuân Nguyên (Ân Thi) ngày 18 tháng 8 âm lịch năm 1952.


Để bảo vệ thương bệnh binh, dân hai xã Đại Tập, Đồng Ninh đào đủ hầm tránh phi pháo, cả hầm kèo nổi về mùa lũ, đào mấy km giao thông hào ra tận mép sông Hồng để chuyển thương binh nặng vượt sông ban đêm về Viện khu 3, lại còn đào đủ hầm bí mật cất giấu thương bệnh binh khi địch càn quét tới.


Được giao nhiệm vụ chăm sóc thương binh, mọi người dân đều chuẩn bị cửa nhà, hầm hố, nô nức đón thương binh trong cả 6 thôn. Ai nhận trước được thương binh về là một vinh dự, có nhà cả hai bố con, hai vợ chồng đem cáng võng mà phải vác cáng về không thì áy náy không vui - Quân y phải giải thích, thương binh nặng cần phải để gần để mổ, cấp cứu, tiện chăm sóc mới đưa về các thôn ở xa được, bà con mới nghe ra vui vẻ.


Mỗi khi có thương binh về đông, đèn măng sông ở phòng mổ sáng thâu đêm là nhân dân lại tự động đem thuyền nhà (mùa lũ) hoặc cáng võng lên tụ tập ở đình Phù Sa thượng để đến lượt mình được nhận thương binh về nuôi. Chính tại đình này cách 2 năm, giặc Pháp đã bắn giết đồng chí bí thư và chủ tịch xã nên bà con cũng nóng lòng mong cứu chữa phục hồi sức khỏe cho các chiến sĩ sớm trở về chiến đấu để trả thù cho hai đồng chí. Nếu có đồng chí nào hy sinh, nhân dân đi đưa đông đảo, chôn cất chu đáo, coi như ruột thịt mình.


Nhân dân 3 xã đều nghèo, quanh năm cơm ngô xay độn ít gạo, thức ăn tự dân kiếm như cua, cá ngoài đồng sông ngòi, tương ngô rất ngon, rau muống hái ngoài ao, chuối xanh kho với cá chép đầm Kênh nổi tiếng làm cho thương bệnh binh máu hồi phục sức khỏe. Hàng tuần quản lý gánh gạo đến từng nhà nộp cho gia đình còn tiền thức ăn hầu như dân không nhận. Sự chăm sóc thật đáng kính phục, có gia đình nuôi hai ba thương binh, hàng ngày phải cõng, bế thương binh đi vệ sinh, tắm giặt, cắt tóc, gội đầu với tinh thần vui vẻ thân yêu.


Ngược lại, quân y tích cực làm dân vận, vận động làm tổng vệ sinh xóm làng, dạy các em học chữ, học hát, giúp dân làm vườn thu hoạch ngô, đỗ tạo một sức sống mới trỗi dậy trong xóm thôn.

Hội đồng bảo trợ thương bệnh binh được thành lập ở các thôn xã. Cụ Năm Duy (Phù Sa hạ) làm chủ tịch hội đồng, cụ Đảo (Phù Sa thượng) cụ Tình, ông Thơ, cụ Khởi (Kênh Khê thượng). Ban hộ lý do chị Thính xã đội phó cùng nữ du kích Hoàng Ngân phụ trách. Có nhiều tấm gương dân quên mình bảo vệ thương binh. Như trong trận càn Lạc Đà địa bàn Khoái Châu, giặc càn đi, quét lại tới 6 - 7 lần. Có lần, giặc vào Phù Sa thượng tới nhà cụ Đảo có một thương binh gãy xương đùi, vì bó nẹp không đưa được xuống hầm, cụ Đảo cởi bỏ hết bông băng, bọc vết thương bằng quần áo rách, rồi kêu với giặc là con trai cụ bị rắn cắn. Nhưng địch biết là thương binh lệnh cho lính xả lưỡi lê vào thương binh, cụ Đảo chặn trước giường và xòe hai bàn tay ra đỡ, lưỡi lê giặc đâm vào hai tay chảy đầm đìa máu. Cụ kêu la, bà con xúm lại đấu tranh. Tên chỉ huy Pháp lắc đầu nói "tao biết đây là Việt Minh, thấy các người hết lòng vì nhau nên cho qua"?


Sau này cụ Đảo được tặng Huân chương chiến công hạng Ba.

Vào dịp 27-7 hàng năm, các đoàn đại biểu của mặt trận Liên Việt, phụ nữ các huyện nườm nượp kéo về gồng gánh quà nặng trĩu hoa quả, trứng, đường, sữa, thuốc men, bông băng, cả tiền Đông Dương, vải, quần áo mưa, vượt qua vùng tề, đường 39 và đường số 5, ngụy trang mọi cách để đến thăm hỏi thương binh. Gặp thương binh, các bà các chị đã tràn nước mắt khi thấy các anh còn rất trẻ mà đã mất một phần thân thể. Anh em đều xúc động và tự hào. Gần 3 năm, nơi đây đã chữa hơn hai ngàn lượt thương bệnh binh, và đã trả hơn một ngàn chiến sỹ bổ sung cho chiến đấu.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:50:31 pm
3- Bám sát chiến đấu và xây dựng trưởng thành

Từ năm 1953 các trận đánh lớn ngày càng xa căn cứ, sâu trong hậu địch. Quân y tỉnh đã lập đội phẫu thuật lưu động (phẫu thuật khẩn cấp) hành quân cùng bộ đội chiếm lĩnh vị trí gần trận đánh 2 - 4km, triển khai phòng mổ, nhận thương binh ngay trong đêm, mổ ca nào xong, chuyển về bệnh xá ngay ca đó. Hộ lý, dân công đều do ủy ban, mặt trận phụ nữ đảm nhiệm, quân y chỉ đeo vác gánh y cụ trên vai; đến nơi là căng dù cho phòng mổ, luộc, hấp y cụ. Tổ đón tiếp lo việc huấn luyện cấp tốc cho hộ lý, dân công: cách lau rửa bùn đất, vệ sinh vết thương chuẩn bị mổ, cách phòng chống choáng, cách cáng thương binh và vận chuyển thương binh, dân công lo đào công sự cấp tốc tránh phi pháo v.v... Khi có thương binh về, mọi điều được hướng dẫn đều thực hiện đúng. Có sự hỗ trợ ghi nhớ bằng cả lòng yêu thương, chăm sóc cho chính con em mình.


Thường sáng là hết số thương binh cần mổ. Quân y họp rút kinh nghiệm, biểu dương hộ lý, dân công, rồi lại đeo y cụ lên vai, hộ tống số cáng thương còn lại. Kết quả thật đáng mừng, do cứu chữa, xử trí sớm và kịp thời nên đã giảm được số tử vong, tàn phế. Trận diệt đồn Kênh Câu đội phẫu thuật đặt ở thôn Từ Hồ, trận Bần Yên Phú, đội phẫu đặt ở thôn Nhị Mễ thượng, trận Cửa Gàn, đặt ở chùa Đồng Trôn thôn Nội Viên, trận đánh Đình Dù, đặt ở Thôn Mãn Xá Đông. Riêng trận Dị Sử, đội phẫu thuật đặt ở chùa Nhân Hòa, sáng sớm hôm sau, phát hiện có 2 xe tăng, tới sát chùa, may sao xe tăng lại vòng về Dị Sử đã bị diệt từ đêm trước. 


Sau này còn triển khai đội phẫu thuật khẩn cấp ở phía đông đường 39 để cứu chữa kịp thời thương binh,
hòng khi đường 39 bị ách tắc không vượt qua về Phù Sa được.

Cũng từ năm 1953, được khu Tả Ngạn và Cục quân y phổ biến kỹ thuật mới được áp dụng và phát triển tốt như cách thay băng, phương pháp phòng chống choáng, cách chữa thương nên đã giảm tử vong, tàn phế, vết thương mau lành, giảm rất nhiều thời gian điều trị.


4- Phòng bệnh là chính

Quân y tỉnh đội còn triển khai công tác vệ sinh, phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội tập trung vào việc:

- Rèn luyên thân thể và phòng chống bệnh sốt rét, ngoài da, đường hô hấp, tiêu hóa.

- Hướng dẫn 5 kỹ thuật cấp cứu lẫn nhau giữa các tổ, tiểu đội trong chiến đấu.

- Vận động các chiến sỹ, số đông hồi đó văn hóa còn thấp, có nề nếp đánh răng, ăn đũa hai đầu, rửa tay trước khi ăn, rửa chân trước lúc ngủ, ăn chín uống sôi, tập thể dục, không phóng uế bậy hướng dẫn đào hố mèo.

- Đóng quân ở đâu, làng xóm phong quang, cửa nhà gọn gàng, vại nước gánh đầy làm cho nhân dân thêm tin mến bộ đội.

Ngoài ra, quân y Tỉnh đội còn ra tờ báo "Phòng bệnh" do y sỹ, y tá viết và tự in bằng đất thó, bột và mực tím, mỗi tháng một số, 20 tờ đủ phát cho các đại đội và huyện. Tổng cộng trong 18 tháng in được 300 tờ. 

Các bài viết giúp cho y tá đại đội làm tài liệu tuyên truyền, ví như vận động cắt tóc ngắn, có câu ca dao:

Ba cô đội gạo khao quân
Gặp ba chiến sỹ ngồi sân húi đầu
Ba cô cười nụ bảo nhau
Rằng em chỉ thích cái đầu húi cua.


Các y tá đơn vị còn tự sản xuất gừng lát sao đường, mứt gừng, viên bột gừng phát cho chiến sĩ phòng bệnh mùa đông, ngậm ho khí công đồn bằng hình thức mật tập.

Cuộc vận động bảo vệ sức khỏe đã góp phần giữ vững quân số chiến đấu, các bệnh chấy rận, ghẻ lở, viêm họng giảm hẳn.


5- Cái nôi cách mạng

Trong phục vụ chiến đấu, quân y ở các tuyến đã có 6 đồng chí hy sinh và bị bắt, hơn 10 bị thương, có người hai lần bị thương, có người bị tàn phế, nhưng đồng thời cũng nhiều người được khen, được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua khu tỉnh và huyện. Từ cái nôi cách mạng này, quân y tỉnh đội Hưng Yên đã tôi luyện nhiều cán bộ trước đây chỉ là y tá, cứu thương đã trở thành cán bộ quân y cao cấp, các nhà khoa học phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng đất nước sau này. Đã có:

- 1 tiến sĩ y khoa về Răng, Hàm, Mặt (BS Cát)

- 2 giám đốc bệnh viện quân khu, quân chủng không quân (BS Nội, BS Lân)

- 5 giám đốc bệnh viện huyện (BS Cảo, Đam, Đối, Can, Súc, BS Súc năm 1952 còn nhỏ chỉ theo xem y tá thay băng, nay đã trở thành giám đốc bệnh viện huyện)

- 1 phó giám đốc Sở Y tế (BS Vinh)

- 10 bác sĩ, chủ nhiệm cấp sư, trung đoàn, chủ nhiệm khoa bệnh viện Trung ương, quân đội (BS An, Thìn, Đạt, Hy, Nhương, Thuận, Sinh, Hối, Miến, Nhân (BS Nhương chuyên khoa cấp 2 viện y học dân tộc chính là con trai thứ hai cụ Đảo đã nói ở phần trên). Trong số này có 2 đại tá, 3 trung tá, 4 bác sĩ chuyên khoa cấp 2, 1 được tặng danh hiệu thày thuốc ưu tú.


Quân y tỉnh đội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ huy của tỉnh đội được sự chở che và tiếp sức của nhân dân, hoạt động trong vùng địch hậu muôn vàn khó khăn, nhưng cũng hoàn thành nhiệm vụ rất vẻ vang và trưởng thành nhanh chóng trong lò lửa chiến tranh. Mãi mãi không quên bát cơm ngô với cá Đầm Kênh, những hầm bí mật, hào giao thông che giấu thương binh của nhân dân Đại Tập, Đông Ninh, Liên Khê và dân toàn tỉnh Hưng Yên đã lặng lẽ, quên mình phục vụ cho cuộc chiến đấu giải phóng quê hương.


Đại tá DOÃN THẾ LÂN

Ghi chú: Có tham khảo tài liệu của lịch sử Đảng bộ và LLVT huyện Châu Giang, xã Đại tập, Đông Ninh và tổng kết quân y quân khu Tả Ngạn


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:51:49 pm
XÃ ĐẠI TẬP XÂY DỰNG CƠ SỞ MẠNH VÀ NHIỆM VỤ CHĂM SÓC THƯƠNG BỆNH BINH


Đại tá Trần Đôn
Chỉ Hội lịch sử quân sự Hải Phòng


Tôi sinh ra và trưởng thành tại quê hương xã Đại Tập, thuộc huyện Khoái Châu (Hưng Yên) nằm trong địa bàn ngoại bối, hàng năm từ tháng 5 đến tháng 8 thường bị nước sông Hồng tràn vào ngập trắng các đồng bãi, có khi đến lưng chừng nhà. Những năm Pháp tràn xuống lập tề ngụy (cuối 1948 - 1951), chúng đóng đồn bốt bao quanh khu Ngoại bối như: có đồn Phương Trù - Lạc Thủy - Nghi Xuyên, một mặt là sông Hồng tàu địch thường qua lại, tạo thành thế bao vây khép kín, nên việc bảo vệ cơ sở cách mạng và chống địch càn quét gặp khó khăn. Nhưng với lòng tin ở sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần yêu nước và quyết tâm chiến đấu của nhân dân xã Đại Tập, quá trình cuộc kháng chiến, nhân dân đã giành nhiều thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu như:

- Năm 1949 đã chiến đấu chống càn quét, tập trung là ở chùa của xã, tổ du kích của đồng chí Đích người thôn Chi Lăng; chiến đấu với địch suốt ngày địch không vào được. Trong các năm địch chiếm đóng, nhiều lần địch vây càn đã bị cán bộ, bộ đội ta chống trả quyết liệt trong nhiều giờ, chúng đã dùng những hành động đốt nhà, bắn cán bộ, uy hiếp tinh thần nhân dân, nhưng nhân dân vẫn kiên định vững vàng.

Từ đầu năm 1952 tới khi kết thúc chiến tranh (1954) theo chỉ thị của Tỉnh đội và Huyện ủy Khoái Châu, xã tập trung phục vụ thương binh ở các nơi trong tỉnh về. Xã đã tổ chức sắp xếp quân y xá tỉnh đóng tại thôn thượng (thôn Lánh Điển); lấy đình thôn thượng làm trạm phẫu thuật và giao các thôn trong xã bảo đảm chăm sóc và đào hầm bảo vệ thương binh với lưu lượng thời điểm cao tói 60 - 70 thương binh. Trong quá trình phục vụ bà con đã nêu cao tình cảm và trách nhiệm đùm bọc chăm sóc tận tình, sắp xếp nơi ở, đào hầm bảo vệ, cử người trông nom cho ăn uống ngày đêm, giặt rũ, động viên anh em yên tâm điều trị nhanh khỏi tiếp tục ra chiến đấu... như ông Đảo, ông Năm Duy trong ban dân sinh tận tụy tổ chức bảo đảm; nhiều gia đình nuôi dưỡng bảo vệ thương binh tốt, như gia đình bà Niếm, bà Phương, bà Lạng, chị Kha... nuôi cất thương binh chu đáo; nhiều gương các bà mẹ, các chị chẳng quản nặng nhọc hôi tanh, có thương binh phải phục vụ sinh hoạt tại chỗ, bón cơm cháo, ngồi làm điểm dựa cho thương binh bớt đau đớn... như chị Gái, chị Kha ở thôn hạ (thôn Minh Khai), chị Lạng ở thôn Hương (thôn Lánh Điển), chị Đầm thôn ngoại (thôn Chi Lăng), (đến nay các chị đã cao tuổi), đều nêu cao tinh thần vui vẻ phục vụ. Do đó trong xã đã phục vụ được nhiều anh em bộ đội điều trị khỏi trở lại chiến đấu.


- Đồng thời tổ chức từng thôn xóm đào hầm bí mật liên hoàn, để nhân dân trụ lại vừa sản xuất vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu tốt; những năm 1952 - 1954, địch mở nhiều trận càn, nhân dân trong xã vẫn bám đất, đấu tranh khéo với địch bảo đảm đời sống và phục vụ thương binh có kết quả, nhân dân còn có nhiều hình thức động viên thanh niên xung phong tòng quân, nên tỷ lệ tham gia bộ đội du kích ngày càng đông (trên dưới 1000 thoát ly chiến đấu).


- Đảng bộ còn chăm lo lãnh đạo xây dựng địa phương vững mạnh. Tổ chức giáo dục, tuyên truyền ngày sản xuất, tối tập trung học quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương tuy năm gần bốt địch nhưng vẫn đẩy mạnh hoạt động văn hóa xã hội của các ban ngành đoàn thể như đã tổ chức mỗi xã một lớp bình dân học vụ, các thôn có trường phổ thông cấp 1, các sinh hoạt văn hóa văn nghệ được quan tâm, các hoạt động chính sách xã hội được các cấp chú trọng, nhất là tầng lớp các cụ và đoàn thể phụ nữ, như cụ Năm Duy, cụ Đa, cụ Cảnh, bà Ưng, bà Bột... ở thôn Chi Lăng v.v... tham gia rất nhiệt tình trách nhiệm để động viên tinh thần cách mạng của toàn dân. Đồng thời xã tổ chức đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống; một mặt tập trung làm thuế nông nghiệp, tích cực đóng góp đầy đủ cho kháng chiến với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" đã động viên được khí thế toàn dân tham gia đóng góp nhỏ bé vào cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành thắng lợi.


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đảng bộ, nhân dân xã Đại Tập giữ vững cơ sở cách mạng, là một điển hình phục vụ thương bệnh binh ở ngay sát nách địch, rất đáng tự hào về địa phương mình.


TRẦN ĐÔN


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:53:16 pm
HỒI KÝ CỦA MỘT TRINH SÁT VIÊN "SỜ"


Nguyễn Văn Nhiếp


Tôi Nguyễn Văn Nhiếp cán bộ nghỉ hưu tại quê nhà thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi tình nguyện đi bộ đội nhập ngũ tháng 10-1951 ở đại đội 176. Đến đầu năm 1953 trên điều động tôi sang đội trinh sát Tiền phong trực thuộc tỉnh đội Hưng Yên, do đồng chí Tựa đội trưởng, đồng chí Hội đội phó.


Tổ trinh sát của chúng tôi được đội trưởng giao nhiệm vụ trực tiếp trinh sát ở 4 đồn bốt của địch gồm:

1. Kho căn cứ hậu phương của địch đóng ở xóm Lẻ, thôn Bần Yên Phú.

2. Vị trí Nghĩa Lộ (Lạc Đạo) huyện Văn Lâm.

3. Bốt thiết trụ trinh sát đánh lần thứ hai.

4. Bốt Cửa Gàn thuộc địa phận xã Liên Phương, Tiên Lữ, cách thị xã Hưng Yên 1 cây số. Trinh sát đều đạt kết quả, đảm bảo tiêu diệt 4 đồn bốt địch đã nêu, tôi chỉ nêu lên ở 2 bốt, Nghĩa Lộ và Cửa Gàn xử lý các tình huống gặp địch, gặp mìn.


Tháng 2-1954, được lệnh trinh sát bốt Nghĩa Lộ. Mỗi lần đi làm nhiệm vụ trinh sát chúng tôi phải vượt qua đường số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Khi tôi đường sắt có chướng ngại vật hàng rào dây thép gai, địch thường xuyên có xe lu tuần tiễu trên đường sắt và địch phục bên kia mé đường. Do vậy, mỗi lần đến cách đường sắt khoảng 20m, nằm lại quan sát, dùng đất ném bên phải, bên trái thuộc mé đường bên kia, nếu có địch phục thì chúng bắn ngay, nếu không thấy có động tĩnh gì chúng tôi nhanh chóng vượt qua hào rào rồi đi vào hướng bốt Nghĩa Lộ. Qua đi lại vượt đường 5, đường sắt mấy lần chúng tôi thấy rất nguy hiểm. Nhất là không bảo đảm thời gian, ra vào trinh sát bốt. Do tình hình trên tôi trực tiếp liên hệ với cán bộ thôn, vẫn ở cách bốt Nghĩa Lộ khoảng 1 cây số, chúng tôi ở nhà chị bí thư phụ nữ. Chị tận tình giúp đỡ có hầm cho chúng tôi ở ban ngày và ăn uống đầy đủ. Hàng ngày cứ 6 giờ chiều nếu tình hình yên tĩnh chị ra mở cửa hầm cho chúng tôi lên ăn cơm rồi chuẩn bị đi làm nhiệm vụ. Mỗi khi đi, tôi nói dối chị là đi làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền. Khoảng 1-2 giờ đêm mới về, như thường lệ chị bố trí một mâm cơm để sẵn, ăn xong chúng tôi đi ngủ. Rất tiếc đến nay tôi không còn nhớ tên chị. Một lần bò vào hàng rào thứ ba gặp một tây đen ra ao cá, chỉ cách chỗ tôi nằm 1,5m, tôi bình tĩnh nằm im để quan sát, thấy nó nhấc cần câu cá đem về. Sau đó, tôi tiếp tục bò vào để sờ ụ súng, đến chân ụ tôi nằm im quan sát thấy trên ụ súng có một lính gác, một lúc sau tên lính này đứng dậy đái, nó đái cả vào người tôi nhưng tôi vẫn phải nằm im. Đái xong nó ngồi xuống, gác súng lên vai. Tôi bắt đầu làm nhiệm vụ dùng tay đo mặt đất lên lỗ châu mai, dùng cánh tay thọc vào đo độ dày của ụ, sờ vào trong ụ để nắm địch bố trí súng và súng thuộc loại gì. Có lần sờ cả vào chân lính đang ngủ trong ụ. Hoặc có lần trinh sát vào bên trong bốt địch để nắm tình hình bãi để xe, bãi để 4 khẩu pháo. Khi mới vào bãi để xe thì gặp 1 tiểu đội địch đi tuần tôi liền chui bám dưới gầm xe, chờ địch đi tuần qua, tôi tiếp tục công việc. Đầu tháng 3 năm 1954 tôi được lệnh bàn giao kết quả trinh sát cho trung đoàn 42 đánh bốt này và trở về trinh sát bốt Cửa Gàn.


Bốt Cừa Gàn thuộc địa phận xã Liên Phương, cách thị xã Hưng Yên 1 cây số. Bốt này, trước đây đã có một tổ trinh sát làm trong 2 tháng chưa vào được hàng rào. Từ miền bắc Hưng Yên tôi và đồng chí Phôn buổi tối vượt qua đường sắt, đường 5 trở về đơn vị. Đồng chí Tựa đội trưởng trực tiếp gặp trao nhiệm vụ. Đồng chí Tựa nói: "Thực hiện chỉ thị của Tỉnh đội để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, giao cho đồng chí trinh sát bốt Cửa Gàn, thời gian 7 ngày, phải hoàn thành sờ được 2 ụ đề kháng và đường tiến vào trung tâm bốt địch". Sau khi nhận nhiệm vụ tôi có suy nghĩ và phân vân là trước đây có 1 tổ trinh sát làm 2 tháng, chắc là có nhiều khó khăn. Tuy có phân vân nhưng tôi vẫn hạ quyết tâm và nói với các đồng chí khác trong tổ. "Dù khó khăn gian khổ thế nào - thậm chí phải hy sinh cũng phải quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ". Được các đồng chí trong tổ nhất trí, sau đó chúng tôi đến xã Liên Phương dùng ống nhòm quan sát vị trí địch, phác họa sơ đồ, chọn mũi tiến hành trinh sát - qua bàn bạc chúng tôi nhất trí chọn 2 mũi hướng Bắc và hướng Nam.


Hướng Bắc có một con đường độc đạo từ xã Liên Phương đi vào bốt chiều dài gần 1 cây số, hai bên đường là cánh đồng cấy lúa có nước. Trên mặt đường và hai mé đường địch bố trí 5 hàng rào dây thép gai. Tôi nhận định trên mặt đường, hai mé đường địch sẽ gài mìn nhiều. Rút kinh nghiệm các bốt trước dùng kim băng gài chốt an toàn vì số lượng mìn ít. Nhưng bốt này mìn sẽ nhiều nếu dùng kim băng sẽ mất rất nhiều thời gian như: khi vào gài chốt an toàn, khi ra phải tháo hết kim băng, nếu để kim băng lại sẽ lộ. Do vậỵ, ở bốt này không dùng kim băng mà lấy lò so ở ngòi mìn ra. Tuy mìn còn nhưng mất tác dụng. Nhưng khi vặn ngòi mìn ấn ra phải thận trọng. Theo cách này hai người phải mất hai tối mới lấy được lò so mìn ra được. Chúng tôi không đếm nhưng số lò so đầy hộp vuông cavenna cũ. Tối thứ ba chúng tôi vào trinh sát ổ đề kháng và đường đánh vào trung tâm, thế là song hướng Bắc thứ nhất.


Tiếp hướng mũi phía Nam, chúng tôi thấy cánh đồg nước rộng mêng mang, cỏ lác dày đặc, nước sâu gầân đến ngực người. Khu vực này thỉnh thoảng địch dùng móc 120 ly ở nhà thành thị xã Hưng Yên bắn ra. Chúng tôi lội đi vào cách ụ đề kháng khoảng 30m, địch phát quang nước trắng không thể ngụy trang cách nào vào được. Hơn nữa trên ụ có lính gác. Chúng tôi ra về. Chỉ có biện pháp lặn một hơi mới vào được. Ngày hôm sau hai chúng tôi tập lặn ở ao. Tối tiếp tục đi trinh sát mũi này. Kết quả lặn một hơi vào đến chân ụ và phải ngâm nước chờ địch đổi gác mới vào sờ ụ và quan sát từ ụ qua cái cầu băng gỗ tiến vào trung tâm bốt địch không có chướng ngại vật gì.


Theo nhiệm vụ giao chúng tôi hoàn thành trong 6 tối - về báo cáo với đồng chí Tựa. Một đêm đầu tháng 4-1954 đưa cán bộ đơn vị đi thực địa. Bốt này ta tiêu diệt hoàn toàn, tổ chúng tôi tiếp tục đi làm nhiệm vụ khác.

Dạ Trạch ngày 2 - 11 - 1997
NGUYỄN VĂN NHIẾP


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:54:40 pm
XÃ PHAN TÂY HỒ KHU DU KÍCH ĐIỂN HÌNH XUẤT SẮC
CỦA TỈNH HƯNG YÊN (1947 - 1954)


Đại tá Phạm Bách Nguyên
Huyện đội trưởng huyện Tiên Lữ


Xã Phan Tây Hồ ở phía Đông huyện Tiên Lữ gồm các thôn: Giai Lệ, Phù Liễu, Phí Xá, Hoàng Xá, An Tràng, Canh Hoạch (nay đã tách thành hai xã Lệ Xá và Trung Dũng).

Sông Cửu Khúc là một đoạn của sông Nghĩa Trụ chảy từ Tây sang Đông cắt xã làm hai, các thôn Giai Lệ, Phù Liễu, Phí Xá (xã Lệ Xá hiện nay) ở phía tả ngạn, còn lại (xã Trung Dũng hiện nay) ở hữu ngạn sông. Chiều dài của xã là 4 km, rộng 3 km, dân số 7000 người, chuyên làm ruộng.


Trước chiến dịch Đi-a-bô-lô ngày 22/12/1949 xã Phan - Tây - Hồ còn là vùng tự do. Chi bộ có trên 170 đảng viên, dân quân, du kích được tổ chức rộng khắp, trung bình mỗi thôn có từ 1 tiểu đội đến một trung đội du kích, trang bị còn thô sơ, chỉ có một ít súng trường cũ của Pháp, còn phần lớn dao găm, mã tấu v.v... hàng năm được huấn luyện từ 10 - 15 ngày. Từ những năm 1947 - 1948 một số tiểu đội du kích lên các huyện giáp đường sế 5 làm nhiệm vụ vừa gặt giúp dân sở tại đã buộc phải tản cư, vừa để rèn luyện ý thức chiến đấu, hay dùng từ lúc đó "đi nghe cho quen tiếng súng". Ngoài ra còn huy động dân quân du kích đi tham gia đắp ụ trên đê sông Luộc, phá hoại đường 39b từ phố Giác đi cầu Cáp, đường 200 phố Giác đi Hải Yến, đường 203 từ Thụy Lôi đi cầu Vóc - Đình Cao để hạn chế sự cơ động của xe cơ giới địch.


Xã còn được hướng dẫn làm hầm hào, công sự chiến đấu, giao thông hào từ thồn nọ sang thôn kia. Sau chiến dịch Đia bô lô, việc chuẩn bị chiến đấu từng bước mới được hoàn chỉnh.

- Các làng được rào chắn bằng tre, dưới lũy tre là hệ thống giao thông hào, hầm hố chiến đấu, mỗi làng chỉ để 2 - 3 lối vào làng, cổng vào làm theo kiểu "cổng chống" ra mở vào đóng và tuần tra canh gác suốt ngày đêm: Năm 1950 còn huy động toàn dân góp công, góp nguyên liệu làm giao thông hầm (địa đạo) xóm nọ sang xóm kia, ngoài ra từng người, từng tổ còn có hầm bí mật riêng, có chính, có dự bị, có hầm cho khách, những thanh niên không tham gia du kích cũng phải có hầm, theo số liệu còn lưu ở xã: xã đã huy động 27.390 ngày công, số hầm (địa đạo) là 13.695 m, riêng thôn Giai Lệ là 6.419m. Đó là chưa tính được số hầm bí mật của từng người, từng tổ đào riêng. Nhà nào cũng có hầm hố để lương thực, thực phẩm, cất giấu đồ đạc, hầm hố tránh phi pháo, có gia đình còn có hầm nuôi lợn gà v.v... Làng chiến đấu được hình thành khá kiên cố lại liên hoàn giữa các thôn trong xã với nhau đã tạo cho xã một thế rất hiểm hóc có thể chiến đấu lâu dài, bền vững cho những năm sau.

Nhân dân xã Phan Tây Hồ lúc nào cũng giương cao ý chí bất khuất chống càn quét, chống lại kẻ địch chiếm đóng, địch đóng ta phá, địch lại đóng, ta lại phá. Cuối cùng đi đến giải phóng toàn xã trước vài năm khi toàn tỉnh được giải phóng hoàn toàn.


Có thể chia thành 3 giai đoạn kháng chiến của xã:

Giai đoạn 1: từ ngày 22/12/1949 tới ngày 5/3/1951 địch mở chiến dịch "Con rồng" tấn công vào xã và đóng bốt ở thôn Canh Hoạch.

Từ ngày 22/12/1949 các vị trọng yếu của huyện Tiên Lữ đều bị địch chiếm đóng, xã Phan Tây Hồ bị bao vây tứ phía, phía Bắc trên đường 39b có các bốt: Phố Giác, Khả Duy, Cao Xá. Năm 1952 - 1953 còn các bốt cầu Cáp, bốt Đoàn Đào. Phía Đông Nam trên đê sông Luộc có: bốt Triều Dương, Lệ Chi (Thụy Lôi), Đặng Xá, Mai Xá - La Tiến. Phía Đông có bốt Đình Cao, xa hơn nữa có bốt Chùa Bản (Đào Đặng) và thị xã Hưng Yên.


Thủa ban đầu, quán triệt ý định của trên, kiên quyết không để lập tề ở xã và chống địch càn quét, Đảng bộ xã Phan - Tây - Hồ đã chấp hành đúng và có hiệu quả, một mặt động viên toàn dân tham gia kháng chiến, tích cực vận động quần chúng, nêu cao khối đại đoàn kết trong dân, dù phải hy sinh mất mát cũng không bị kẻ địch dụ dỗ kéo ra lập tề. Mặt khác tăng cường tổ chức, củng cố, huấn luyện du kích sẵn sàng đánh địch giữ làng, lại được sự phối hợp và dìu dắt thường xuyên của đại đội 26 bộ đội huyện, các đơn vị của bộ đội tỉnh và trung đoàn 42. Cơ quan của Huyện ủy, UBHCKC và các cơ quan của huyện Tiên Lữ cũng lấy các thôn trong xã Phan Tây Hồ là nơi ở và làm việc, nên có sự chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời cho xã và cùng nhân dân trong xã sát cánh chiến đấu chống địch càn quét.


Địch đã thiết lập bộ máy ngụy quyền ở hầu hết các xã trong huyện và các xã xung quanh. Duy nhất chỉ còn xã Phan Tây Hò kháng chiến. Nên các bốt chung quanh thay nhau hoặc phối hợp với nhau càn quét, đốt phá, bắn giết nhân dân.


Chiến đấu trong vòng vây bốn phía, càn quét và chống càn quét diễn ra hàng ngày, hàng tháng, bộ đội và du kích đã dựa vào làng chiến đấu liên hoàn, vững chắc đã ngoan cường chiến đấu đánh lui nhiều cuộc càn quét của địch.


Tuy nhiên, cũng có trận chúng mạnh hơn ta, quân ta buộc phải rút xuống hầm bí mật, địch vào được làng. Chúng mặc sức đốt phá, hãm hiếp, bắn giết, ở thôn Phí Xá chúng trói 7 người để nằm lên một cái chõng lần lượt cắt tiết vào cái bát hương đình ở sân ông lý Khôi; ở thôn Giai Lệ, chúng bắt được ông Nguyễn Văn Phồn, nghi là du kích, đem ra sân đình đánh đập rồi cắt gân, cắt thịt, róc xương cho đến chết, ông Ngô Văn Dật là y tá của xã, chúng bắt ở hầm lên, tra khảo không khai báo, chúng dìm xuống sông thôn Phù Liễu rồi bắn chết v.v...


Trong hơn một năm trời, cán bộ, đảng viên, du kích vẫn bám đất, bám dân, địch đến là đánh, địch vào được làng thì xuống hầm, địch đi, dân lại bám ruộng sản xuất, không trâu thì kéo cày thay trâu, bị đạn, pháo địch có người chết, có người bị thương vẫn không bỏ ruộng hoang, vẫn đủ lương thực nuôi sống dân trong xã và làm đủ nghĩa vụ đóng thuế nuôi quân, có lúc còn chuyển lương thực ra vùng tự do.


Các cơ quan của huyện Tiên Lữ vẫn ở và làm việc trong các làng của xã, ngoài ra còn hai trại tạm giam phạm nhân của hai huyện Tiên Lữ và Phù Cừ cũng ở thôn Giai Lệ.

Cuối cùng địch phải sử dụng lực lượng cơ động mở chiến dịch "Con rồng" ngày 5/3/1951, cắm bốt Canh Hoạch nằm giữa xã.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:56:17 pm
Giai đoạn 2: Từ ngày 5/3/1951 đến 25/4/1952 chiến dịch đóng bốt Canh Hoạch, hai lần ta chiếm lại, giải phóng xã hoàn toàn:

Chiều ngày 4/3/1951, một máy bay trinh sát L19 bay thấp để thăm dò, ta phán đoán địch sẽ càn quét lớn vào khu du kích. Ngay buổi tối đó, cán bộ xã - huyện và đại đội 26 về các thôn để chuẩn bị đánh địch theo phương án chiến đấu đã thống nhất. Đại đội 26: Một trung đội bố trí ở Canh Hoạch và An Tràng. Canh Hoạch có một trung liên.

Một trung đội bố trí ở Hoàng Xá, Phí Xá.

Một trung đội bố trí ở Giai Lệ - Phù Liễu, ở Phù Liễu có một trung liên. Bộ đội bố trí ở thôn nào đều có dân quân du kích ở thôn đó phối hợp tác chiến.

Diễn biến: Buổi sáng ngày 5/3/1951, Ngay từ tờ mờ sáng quân của các bốt La Tiến, Đình Cao đã đến bố trí ở các thôn, xã Đình Cao, án ngữ phía Đông.

- Quân của các bốt Cao Xá - Khả Duy bố trí ở thôn Cáp dưới, Cáp trên án ngữ phía Bắc.

- Quân của bốt Phố Giác bố trí ở Đa Cuông, Chế Chì xã Minh Khai và Quán Đỏ đường 39b án ngữ phía Tây. Địch đã hình thành thế bao vây xã.

6 giờ ngày 5/3/1951 có 1 trung đội lính từ thôn Thụy Lôi ra quán Thu lên quán Đề (Đồng Lạc) thăm dò lực lượng ta, một bộ phận quân ta ở thôn Đồng Lạc nổ súng. Địch quay trở lại quán Thu. 30 phút sau, pháo địch bắt đầu bắn vào các thôn An Tràng, Canh Hoạch, Hoàng Xá và bộ binh địch chủ yếu là lính Âu-Phi theo đường Thụy Lôi - quán Thu tiến lên thôn An Tràng, Canh Hoạch. Một mũi từ thôn Lương Trụ tiến sang Hoàng Xá. Quân ta vẫn giữ bí mật đợi địch vào thật gần mới nổ súng. Trận phản kích đầu tiên địch bị chết, bị thương một số phải lùi trở lại, gọi pháo bắn vào các thôn trên, cuộc chiến đấu kéo dài đến gần 12 giờ trưa, địch lần lượt đánh chiếm được các thôn An Tràng, Canh Hoạch, Hoàng Xá, bộ đội và du kích ở Hoàng Xá - An Tràng xuống hầm tại chỗ, ở Canh Hoạch một bộ phận xuống hầm còn số lớn qua sông Cửu Khúc rút sang thôn Phù Liễu, Giai Lệ. Sau khi chiếm được các thôn trên, địch tiếp tục bắn pháo vào các thôn Phù Liễu, Phí Xá, Giai Lệ và khoảng 13 giờ, địch từ Hoàng Xá đánh lên Phù Liễu theo trục đường độc đạo hai bên đường là ruộng chiêm trũng buộc chúng phải đi hàng dọc không có vật gì che chắn, khẩu trung liên của ta bố trí ở gần cầu Phù Liễu (cầu gỗ đã bị phá bỏ, chỉ còn thanh sắt bắc qua sông) cùng 40 tay súng trường đã bắn diệt được nhiều tên; chúng không thể qua sông được. Cùng lúc này, toán địch ở Canh Hoạch cũng tiến ra bờ sông. Nhưng nhờ có con sông, một số bộ đội và du kích rút từ thôn Canh Hoạch ra cùng lực lượng ta đã bố trí sẵn từ trước bắn cản; địch không thể vượt sông được.


Ở hướng Phí Xá, địch từ Lạc Dục tiến sang Phí Xá, cùng 1 lúc có một mũi từ thôn Đa Cuông đánh vào phía Tây thôn Phí Xá với số quân đông, có pháo chi viện. Ta chiến đấu ngoan cường, khoảng 16 giờ địch vào được thôn Phí Xá, quân ta một số xuống hầm, một số rút sang thôn Giai Lệ.


Ở Phù Liễu, khẩu trung liên do đồng chí Minh là xạ thủ bị thương nặng vì pháo địch, súng bị hỏng, ta cũng bị thương vong nên khoảng 16 giờ 30 ta phải rút khỏi thôn, một số ít xuống hầm, còn phần lớn rút sang thôn Giai Lệ.


Chúng lướt qua hai thôn Phí Xá và Phù Liễu, dồn quân tiến đánh thôn Giai Lệ, cũng là thôn cuối cùng còn đề kháng với địch, cũng là đích cuối cùng để địch "cất vó".

Giai Lệ là thôn lớn, đường ngang, ngõ tắt lắm, hầm hố nhiều, ở đây ngoài số bộ đội, du kích đã bố trí từ trước, còn có một số bộ đội, du kích, cán bộ và nhân dân ở các thôn vừa bị địch đánh chiếm rút sang nên số người rất đông.


Tiếp sau những loạt pháo, địch bắt đầu tấn công vào thôn Giai lệ từ Phù Liễu theo đường trục lên và từ thôn Phí Xá theo đường đông ruộng đánh vào phía Tây hy vọng cất vó ta ở đó, bị bộ đội và du kích đánh trả, mãi nhá nhem tối chúng mới vào được thôn Giai Lệ. Chúng không dám tiến ồ ạt, chỉ đi theo đường trục thôn, không dám lùng sục, quân ta hầu như toàn bộ xuống hầm. Một số bộ đội, du kích, nhân dân vừa rút ở các thôn sang không kịp xuống hầm thì ẩn ở bờ tre, khóm dứa, ao bèo v.v... chỉ có ông bà già, trẻ nhỏ ngồi tập trung, chúng bắt một số ông già đưa về thị xã Hưng Yên vài ngày rồi thả về. Đêm đó chúng đóng lại xóm Rặng thôn Giai Lệ và thôn Canh Hoạch.


Qua một ngày chiến đấu, địch đến thôn nào cũng bị đánh trả, gây thiệt hại nhiều cho chúng.

Về phía ta, cũng bị thương vong và thất lạc một số vũ khí, nhưng cán bộ từ thôn đến xã, cán bộ trung đội, đại đội của đại đội 26 còn nguyên vẹn. Đó là nhờ tinh thần chiến đấu hết sức anh dũng của bộ đội và dân quân du kích cùng cán bộ và nhân dân trong xã, nhưng còn nhờ kết quả xây dựng làng chiến đấu liên hoàn, có hệ thống hầm hố rộng khắp, vững chắc. Các cơ quan của huyện Tiên Lữ cùng sát cánh chiến đấu với nhân dân trong xã đều được an toàn, tài liệu, máy móc, tiền nong không mất mát gì.


Địch bị diệt 300 tên (trang 97 lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Phù Tiên) phải sử dụng quân, cơ động Âu - Phi chỉ để đối chọi với bộ đội huyện và dân quân du kích xã suốt một ngày mà không đạt mục tiêu: Tiêu diệt ý chí và sinh lực của xã. Tuy chúng vấp phải sự chống cự quyết liệt của lực lượng ta, nhưng chúng đã vào được các thôn trong xã và đã cắm được bốt Canh Hoạch từ ngày đó.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:56:58 pm
Để hỗ trợ cho việc xây dựng bốt Canh Hoạch, chúng đã tổ chức càn đi quét lại suốt một tuần lễ, hàng ngày lính ở các bốt về các thôn Giai Lệ - Phí Xá, cướp thóc lúa, lợn gà, trâu bò, chặt phá cây cối, phá nhà cửa, đình chùa lấy gạch xây bốt. Nhưng cán bộ, đảng viên vẫn bám cơ sở, ngày nằm hầm đêm chỉ đạo mọi công việc trong thôn, xã, dân vẫn phải bám ruộng, bám làng để lo cuộc sống. Vừa lúc đó, Huyện ủy Tiên Lữ đã quán triệt nghị quyết tháng 12/1950 của Tỉnh ủy Hưng Yên. Mọi hoạt động phải hướng vào giữ và phát triển cơ sở, lấy việc giành dân là chính, tùy theo điều kiện cụ thể mà xét việc cho lập tề hay không, không câu nệ hình thức mà cần nắm được dân, nắm được tề, hướng họ hoạt động có lợi cho kháng chiến. Trên tinh thần đó, xã đã đưa những người của ta chưa bị lộ ra lập Hội tề, đồng chí Trần Văn Tựu (Tẹo) đi lính đóng đội thời Pháp thuộc, đảng viên cộng sản năm 1946 ra làm Tổng ủy xã, đồng chí Vũ Văn Bài đảng viên năm 1948 làm chánh bảo an thôn Giai Lệ, bảo an viên là đảng viên, du kích và quần chúng tốt, toàn bộ ngụy quyền của xã do ta chỉ đạo, hoạt động dưới sự điều hành của ƯBKCHC xã. Các đoàn thể, dân quân được củng cố, hoạt động trở lại. Tuy địch đóng bốt giữa xã, ta vẫn bảo toàn được lực lượng.


Ngày 1/4/1951 bộ đội tỉnh diệt bốt Thọ Lão, diệt viện Cao Xá, binh lính đồn Canh Hoạch phải đi ứng cứu, chỉ để lại một tiểu đội giữ bốt. Chớp thời cơ, đêm 3/4/1951, xã cho du kích bao vây, rung dọa, địch bỏ đồn chạy. Ta huy động nhân dân phá bốt trong đêm. Đến ngày 6/4/1951 chúng quay về chiếm lại bốt, xây thành vị trí kiên cố, do một đại đội lính liên hiệp Pháp đóng.


Tháng 6/1951 bộ đội tỉnh mở khu du kích bắc và trung Tiên Lữ, uy thế của ta lên rất mạnh, xã Phan Tây Hồ tuy còn bốt Canh Hoạch, nhưng không bị cô lập như trước nữa. Ta đã phá bỏ các ban tề ở các thôn: Phù Liễu, Phí Xá, Giai Lệ, Hoàng Xá bao vây bốt Canh Hoạch, buộc chúng phải dùng máy bay tiếp tế. Nhân dân tăng cường công tác địch vận, đã dụ hàng một lính da trắng, giác ngộ một lính người của xã bỏ ngũ trở về.


Ngày 26, 27/9/1951 đồng chí Võ An Đông Tỉnh đội trưởng và hai đại đội của tỉnh sau khi đánh thắng trận "Trái Chanh" đã về trú quân ở thôn Giai Lệ và thôn Phí Xá được cán bộ - nhân dân đón tiếp niềm nở. Mặc dù trong xã còn bốt Canh Hoạch, vẫn giữ tuyệt đối bí mật. Tới đêm du kích lại dẫn đường cho bộ đội vượt sông Luộc an toàn sang Thái Bình.


Đầu tháng 10 cùng năm, địch mở tiếp trận càn "Trái Quýt" ở Thái Bình. Đồng chí Đặng Kinh cùng cơ quan Tỉnh đội và đại đội 61 tỉnh Kiến An, luồn càn từ Thái Bình vượt qua sông Luộc về trú ở thôn Giai Lệ của xã, xã bố trí nơi ăn chốn ở chu đáo, cung cấp cho 4 tấn gạo ở lại 7 ngày, sau đó mới trở về căn cứ.


Ta thắng lớn ở chiến dịch Hòa Bình, ngày 24, 25, 26/4/1952, Đại đội 26 cùng du kích xã bao vây gọi hàng bốt Canh Hoạch. Tên đồn trưởng cho lính đồn bắn trả và tuyên bố: khi nào nghe tiếng pháo của chủ lực thì mới hàng, ta liền mượn của đơn vị Đèo Cả (E 52/ F320) một khẩu DKZ và 1 viên đạn; trước khi bắn, báo cho bọn lính đứng về một phía, ta bắn vào lô cốt để thị uy, bọn lính trong đồn kêu la hoảng hốt, tên Đạo, đồn trưởng buộc phải dẫn 83 lính ra hàng đêm 25/4/1952. Ta lại lập mẹo buộc tên Đạo gọi điện xin tiếp tế. Hôm sau sáng 26/4/1952 địch không biết ta đã diệt đồn, dùng máy bay thả thư khen "giữ bốt giỏi" và thả dù xuống 1 tấn gạo, 2 tạ đường trắng, 1 thùng cà phê, ta thu toàn bộ chiến lợi phẩm và phá bốt.


Thế là ta đã hai lần diệt và phá bốt bằng tinh thần và mưu mẹo, từ ngày 26/4/1952 xã Phan Tây Hồ được giải phóng.


Giai đoạn 3: xã Phan Tây Hồ từ ngày giải phóng đến ngày toàn quốc thắng lợi.

Tuy xã Phan Tây Hồ đã được giải phóng, nhưng cuộc kháng chiến toàn quốc còn tiếp tục.

Xã còn phải chống đỡ với cuộc càn lớn "Lạc đà" kéo dài hàng tháng trên toàn tỉnh Hưng Yên giữa năm 1952 tiếp đến tháng 9/1953 phải đối phó với trận càn lớn "Cá Măng" (Brochet) và trận càn Angiêri tháng 1/1954.

Các trận càn trên, khi địch tới xã đều bị du kích đánh trả, trang bị của du kích đã tương đối mạnh. Toàn xã có 1 trung liên, 5 tiểu liên và 14 trường mas + 8 súng trường Mỹ, 12 súng trường Đức, 3 mút cơ tông, 177 bàn chông, 177 lựu đạn, 106 mìn muỗi, 61 mìn cóc.

Trước và sau các trận càn, nhân dân trong xã còn phải chịu đựng hàng chục trận bom, pháo địch bắn phá, nhờ có hầm hố vững chắc, sự thiệt hại của dân không đáng kể.

Để tăng cường lực lượng kháng chiến toàn quốc, xã đã bổ sung hàng trăm cán bộ và du kích cho bộ đội huyện và tỉnh, E42 v.v...


KẾT LUẬN :

Trải qua 8 năm kháng chiến, 5 năm xã bị địch bao vây tứ phía, 408 ngày bị địch đóng bốt ngay trong xã, Phan Tây Hồ đã hiên ngang đứng vững, chiến đấu ngoan cường, kẻ địch đã bao phen đốt phá, cướp bóc, bắn giết, chịu đựng bao gian khổ hi sinh mất mát, nhưng đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, hai lần chủ động phá bốt, lực lượng kháng chiến luôn được duy trì và phát triển, góp phần nhỏ bé cho công cuộc kháng chiến toàn quốc thắng lợi.


Nhân dân xã Phan Tây Hồ rất tự hào về thành tích chiến đấu và sản xuất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Chiến công đó bằng sức lực và trí tuệ của bản thân nhân dân xã lập nên.

Tháng 1/1998
PHẠM BÁCH


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:58:31 pm
HẢI DƯƠNG


NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG


   
Kính viếng Mẹ Thạnh


Mẹ Thạnh ơi, Mẹ Thạnh ơi!
Con luôn nhớ mẹ, suốt đời không quên
Nước nhà bao nỗi truân chuyên
Con tin ở mẹ, nghĩa tình thủy chung.
Dắt con đi khắp các vùng
Sang La, lên Đột, chợ Rồng Chí Linh
Tuyên truyền, tổ chức đấu tranh
Đi theo Đảng, Bác quyết giành tự do.
Đời mẹ, chưa được ấm no
Con mẹ đã bị chúng gô vào tù
Nhà mẹ, là nơi dựng cờ
Thành lập Tỉnh ủy, bấy giờ đầu tiên.
Tháng Tám giành được chính quyền
Nhân dân theo Đảng, tiến lên phất cờ
Đến khi giặc Pháp giở trò
Bệnh nặng, con mẹ hy sinh trận tiền.
Con mẹ, anh Tất, chị Oa
Giúp nuôi cán bộ, tham gia phong trào
Mẹ còn anh dũng xiết bao
Đón đưa cán bộ vào ra chẳng nề.
Nhớ lời mẹ dặn sắt son
Vì dân, vì nước các con một lòng
Nay mẹ được phong Anh hùng
Kính dâng lên Mẹ vài dòng biết ơn


Hà Nội ngày 15/10/1997
CHU THỊ KIM SƠN
Lão thành cách mạng
Nguyên Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương 1940


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 02:59:20 pm
ANH VĂN VỌNG BẤT KHUẤT,
KIÊN TRUNG TUYỆT VỜI


Đại tá Trương Văn Thuân


Anh Văn Vọng chính trị viên trung đội một, huyện đội Thanh Miện. Quê anh ở Hưng Yên, là người trẻ tuổi, đẹp trai, đàn giỏi, hát hay, tính tình điềm đạm, chiến đấu gan dạ, dũng cảm, anh em trong trung đội ai cũng mến anh.


Sau thất bại ở chiến dịch Biên giới năm 1950, địch tập trung quân về đồng bằng Bắc bộ, hòng chiếm giữ kho người, kho của. Trận càn năm ấy của địch vào huyện Ninh Giang và khu nam huyện Thanh Miện, gần như không còn làng nào là làng địch không càn đến. Đồng thời chúng dàn quân thành hàng ngang, giang tay nhau cà kếu trên các cánh đồng lúa, hòng bắt quân ta ẩn nấp ở đó.


Hôm ấy Trung đội một, huyện đội Thanh Miện do anh Nguyễn Đức Cảo trung đội phó và anh Văn Vọng chính trị viên trung đội chỉ huy, đã cùng dân quân du kích xã Thanh Giang, quần nhau với địch ở hai thôn Phù Tải và Đan Giáp suốt từ sáng sớm đến trưa, giành nhau từng bờ ao, từng căn nhà. Vì địch quá đông, chúng đã tràn được vào trong làng. Một số bộ đội và dân quân du kích đã được lệnh rút xuống hầm bí mật an toàn. Riêng tiểu đội tôi bị địch dồn xuống cuối làng Đan Giáp. Dưới sự chỉ huy của chính trị viên Văn Vọng, chúng tôi đã trườn theo ruộng lúa và bờ mương sang xóm Đồng Nai. Khi chúng tôi vào đến chân tre thì cũng là lúc địch vừa tràn vào xóm. Anh Vọng lệnh cho chúng tôi tạm thời phân tán, để đến đêm tập trung đến địa điểm đã định, để tìm cách tập kích vào nơi địch mới trú quân. Anh Vọng và chiến sĩ Dương nấp ngay dưới lớp bèo tây tại mương, còn tôi, Giới tiểu đội phó và San chiến sĩ trườn lên ruộng lúa gần đấy. Tôi và Giới nằm bên nhau, lúa khá tốt. Nước ở ruộng không lớn lắm, nhưng trời rét và rất nhiều đỉa. Chúng tôi nằm nghe rõ mồn một địch bắt lợn, gà và gọi nhau í ới. Tôi nhìn Giới thấy máu me lai láng. Tôi hỏi Giới cậu bị thương à? Giới bảo "không đấy là đỉa cắn đấy". Giới nhìn tôi bảo anh cũng thế mà. Tôi nhìn xuống chân, xuống đùi và bụng máu mê cũng như Giới. Chúng tôi chỉ nói thầm với nhau không thành tiếng và cũng không dám cựa quậy mạnh sợ địch ở rất gần phát hiện. Bỗng có thằng kêu to Việt minh... Việt minh... Chúng tôi hồi hộp nằm yên, nín thở. Thấy tiếng giầy đinh địch chạy lộp cộp rồi tiếng hô "lên ngay không tao bắn chết". Thế ròi chúng kéo anh Vọng lên khỏi mương. Chúng hỏi còn thằng nào không? "Chỉ có mình tao" anh Vọng đáp. "Nói láo này, huỵch... huỵch... hự... hư". Một thằng bảo cho nó mấy băng vào đám bèo tây kia nếu có thằng nào cho nó về chầu ông vải. Hai băng tiểu liên tà rẹt... tà rẹt. Chúng tôi bấm nhau bảo thế là Dương cũng chết rồi. Nếu chúng đánh anh Vọng đau có thể tính mạng chúng mình sẽ nằm trong tay chúng. Nhưng rất may hai băng tiểu liên chỉ trùm quanh Dương mà Dương không bị viên nào. Địch càng đánh anh Vọng đau bao nhiêu thì anh Vọng càng chịu đựng tuyệt vời bấy nhiêu, nào là giầy đinh, báng súng chúng đánh anh chết đi, sống lại mà anh không khai nửa lời. Chúng hỏi "mày tên là gì?" "Tao là bộ đội", anh đáp. "Huyện đội Thanh Miện có bao nhiêu thằng ở đây?" "Có một mình tao". Mày gan hả, lại cố tiếng huỵch... huỵch... hự... hự... Cứ như thế diễn đi, diễn lại không biết bao nhiêu lần. Cứ mỗi lần như thế chúng tôi càng thấy anh là người gan vàng, dạ sắt. Anh đã nhận lấy biết bao đau thương về mình để giữ gìn trọn vẹn tình đồng đội, giữ gìn mạng sống cho chúng tôi. Chúng tôi vừa ân hận, vừa thương anh, ân hận vì lúc đầu đã đánh giá không đúng về anh! thương vì địch đánh anh quá đau. Có lúc anh quát to vào mặt chúng "Chúng mày là đồ bán nước cầu vinh. Chúng mày có thể giết chết tao, nhưng đừng hòng tao khuất phục". Trời đã nhá nhem tối. Giới bảo tôi đêm nay phải bằng mọi cách cứu anh Vọng. Nhưng cứu bằng cách nào? Lựu đạn quần nhau với địch buổi sáng đã hết, súng thì cất một chỗ mỗi khẩu chỉ còn vài viên đạn. Địch lại rất đông, ta gần như chân tay không, cứu bằng cách nào đây? Chúng tôi đang băn khoăn thì thấy địch có lệnh thu quân và giải anh Vọng đi theo. Giới bảo tôi đề nghị cho tôi bám sát địch xem chứng đi đâu? và giải anh Vọng về đâu? Tôi đồng ý. Tôi và hai chiến sĩ Dương với San bảo nhau đi lấy súng đạn lau chùi sạch sẽ. Khẩu tiểu liên chỉ còn một băng đạn, hai khẩu súng trường một khẩu 5 viên, một khẩu còn 11 viên. Chúng tôỉ bò vào xóm Đồng Nai, địch đã rút hết và rất mừng thấy địch bỏ quên một hòm đạn, 5 quả lựu đạn.


Chúng tôi vừa đến chỗ tập trung thì anh Giới về, vừa nói, vừa khóc "địch đưa anh đến đầu làng Hội Yên, anh Vọng đau quá không đi được nữa, chúng đã bắn chết anh". Tất cả chúng tôi lặng người đi và xúc động cúi đầu để một phút vĩnh biệt anh. Vừa lúc đó anh Cảo trung đội phó đến báo tin lệnh của huyện đội trưởng toàn đơn vị hành quân gấp về bắc Thanh Miện nhận nhiệm vụ mới. Tôi đề nghị trung đội phó cho tôi ở lại chôn cất anh Vọng. Trung đội phó bảo "cử đồng chí Dương người địa phương ở lại tốt hơn, đồng chí Thuân về khu bắc có nhiệm vụ mới. Suốt buổi hành quân tôi miên man nghĩ về anh Vọng người chính trị viên kiên trung, bất khuất tuyệt vời trước quân thù.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Năm, 2022, 03:00:42 pm
HỒI KÝ

ĐÀO HẦM

Nguyễn Hiếu

Ai đó đã sáng tác bài hát Mẹ đào hầm:
Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh
Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc...


Thực vậy, qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có một chiến công thầm lặng nhưng rất vĩ đại, đó là việc đào hầm. Tôi chỉ xin viết một phạm vi nhỏ của một đại đội chiến đấu trên một đoạn quốc lộ số 5. Thiết nghĩ đây cũng là một tư liệu lưu lại hậu thế.


Đại đội Quang Trung - bộ đội địa phương huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) ra đời vào ngày 8 - 2 - 1950 giữa lúc phía địch còn rất mạnh.

Toàn huyện có khoảng 100 làng, ấp thì có tới 120 đồn bốt địch. Pháp và bọn tay sai ra sức đàn áp lực lượng kháng chiến của ta, truy tìm lùng bắt cán bộ, bộ đội, du kích và cơ sở nhân dân cách mạng. Người sống hợp pháp công khai phải hết sức giữ bí mật để tránh con mắt dò la của chúng. Người đã bị lộ, nhất là lực lượng vũ trang thì phải sống như thế nào trong lòng địch ở vùng chúng kìm kẹp gắt gao này?


Theo nghị quyết của Huyện ủy Cẩm Giàng, năm 1950 tất cả cán bộ cấp xã, thôn, các cán bộ của huyện phụ trách khu vực phải về trong huyện bám đất, bám dân lãnh đạo kháng chiến. Đặc biệt đại đội Quang Trung vốn là đơn vị tập trung nay cũng được lệnh về các xã dìu dắt dân quân du kích và chuẩn bị điều kiện đánh địch.


Chúng tôi phải phân công mỗi trung đội phụ trách một khu vực. Từng trung đội lại phân tán nhỏ đến tiểu đội hoặc tổ 3 người ở các thôn, kể cả những thôn có đồn bốt địch.

Chúng tôi lấy ban đêm để hoạt động là chính, ban ngày chủ yếu là tránh địch, do đó phải có hầm bí mật. Nếu địch mạnh, cơ sở ta yếu thì chúng tôi suốt ngày ở dưới hầm, 5 giờ sáng đã xuống hầm có người ngụy trang, 7 giờ tối mới lên hoạt động; nếu nơi nào cơ sở của ta mạnh có thể ban ngày ở trong nhà, bố trí người gác, địch đến mới xuống hầm.


Đã gọi là hầm bí mật thì phải làm thế nào để kẻ địch không phát hiện được. Yêu cầu chung là phải tạo được chỗ ngồi hoặc nằm, có lỗ thông hơi đủ không khí hít thở và đề phòng chó béec-dê ngửi thấy hơi người; nắp cửa hầm làm bằng gỗ, cả nắp trong nắp ngoài phải đẽo vát như lưỡi dao để dễ ngụy trang; nếu ở cả ngày phải có nơi đại tiểu tiện. Đặc biệt là công tác giáo dục kể cả bộ đội và nhân dân nếu không may bị sa vào tay giặc, dù có bị tra tấn cực hình cũng một lòng trung thành với cách mạng không phản bội xưng khai.


Từ yêu cầu đó, có hầm đào ở trong bếp, lỗ thông hơi là cột bếp bằng tre đục thủng mấu, nắp hầm ở chỗ để rơm rạ, người sống hợp pháp ngồi trên nắp hầm đun bếp. Có hâm làm ở trong buồng, nắp hầm ở góc có trấu và mùn, lỗ thông hơi ở khe tường, khe vách. Có hầm làm ở lũy tre, nắp hầm có lá tre phủ kín, lỗ thông hơi vào giữa bụi tre. Có hầm làm cạnh bờ ao lỗ thông hơi như hang cua, hang chuột, cửa ra vào làm dưới nước, chui từ ao vào hầm. Có hầm làm ở cạnh chuồng lợn, nắp hầm là phướn cho lợn ăn, làm ở cạnh nơi tắm giặt, nắp hầm là chum vại đựng nước. Có hầm ngăn đầu hồi nhà thành hai tường, lối xuống từ mái tranh nhà. Có hầm làm ở giữa đường cái làng, nắp hầm là những viên gạch đá lát. Có hầm làm trong chùa, lối xuống là đế pho tượng. Có hầm làm ngoài đồng, nắp hầm là chiếc mộ giả. Thật là trăm phương, ngàn kế do trí thông minh, sáng tạo của con người.


Nhờ có hầm bí mật mà đại đội Quang Trung chúng tôi đã góp phần cùng cán bộ địa phương tuyên truyền giác ngộ nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng bộ đội. Có gia đình biết là sẽ liên lụy đến tính mạng và tài sản nhưng vẫn sẵn sàng cho bộ đội đào hầm trong nhà mình. Có người bị địch bắt, đánh đập tra tấn nhưng không chỉ hầm, mặc dù bộ đội vẫn ở dưới lòng đất ngay nơi địch tra tấn. Có người bị tù đấy, thậm chí hi sinh vì trong nhà địch tìm thấy hầm. Có người còn để chiếc hầm kỷ niệm đến ngày nay.    Chúng tôi cũng đã góp phần xây dựng lực lượng dân quân du kích như vận động một số còn lưu vong về, củng cố và phát triển thêm, huấn luyện giáo dục cho lực lượng này đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ.


Cán bộ chiến sĩ đại đội phải trải qua một thời gian dài "ăn hang ở lỗ", cực kỳ gian khổ. Ở dưới hầm cả ngày cũng thiếu không khí, có lúc định mở cửa hầm chui lên thở một chút nhưng không dám lên, thiếu nước uống, khát đến khô cổ, đói không có thức ăn. Có lần tôi ngồi dưới hầm, thấy có cái gì rơi xuống róc rách sờ tay thì thấy những hạt ngô rang do các cô phụ nữ tiếp tế qua lỗ thông hơi, tôi phủi phủi cho sạch cát rồi bỏ mồm nhai ngon lành, có lẽ cái bệnh viêm đại tràng mãn bao năm nay tôi chữa chưa khỏi cũng là do ăn bẩn như vậy. Một lần khác tôi xuống hầm với 1 nữ du kích, chiếc hầm chỉ vừa 1 người ngồi, 1 người nằm, 2 người nằm quay đầu ra 2 phía thì 2 chân chạm vào nhau nên 2 người đều không dám chạm, phải co chân đến mỏi nhừ đầu gối.


Có đợt tôi ở dưới hầm 4 tháng mới được ra khu du kích họp. Ra đây tôi mới nhìn thấy mặt trời, mắt tôi mờ đến nỗi không đọc được báo.

Ban đêm từ dưới hầm lên, chúng tôi ăn cơm rồi đi hoạt động. Với bộ quần áo nâu, đi chân đất, tay cầm súng, tay chống gậy, không đèn không đuốc. Nếu địch phục kích thì tránh hoặc đánh mà đi. Hồi 4 giờ sáng ăn cơm và lại xuống hầm lúc 5 giờ. Ngày nào cũng vậy.


Ngoài nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, dìu dắt dân quân du kích, chúng tôi còn nghiên cứu tình hình địch để đánh. Chúng tôi đánh mìn lật đổ xe lửa ở đường sắt, lật đổ xe vận tải ở đường 5; tham gia diệt tề trừ gian; làm công tác binh vận v.v...


Thời gian nằm hầm đã tôi luyện chúng tôi thành gang thép, gian nan không quản, uy vũ không sờn. Cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau, coi nhau như anh em một nhà, lá thư đọc chung, điếu thuốc cấu đôi, nắm xôi xẻ nửa, có lệnh là đi, có điều kiện là đánh, đã đánh phải thắng.


Từ cuối năm 1951, chúng tôi tiến lên đánh những trận lớn hơn, củng cố cơ sở mạnh hơn mà dần dần thoát khỏi không phải xuống hầm mà địch đến thì đánh. Tuy nhiên, những nơi cạnh đường số 5 và cạnh các căn cứ quân sự lớn phải đến đầu 1954 mới chấm dứt được.


Phải chăng hầm bí mật trong địch hậu có tác dụng lớn lao, góp phần đáng kể vào sự nghiệp kháng chiến chống Pháp. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, hầm bí mật càng phát triển đa dạng mà tiêu biểu là "địa đạo Củ Chi" mãi mãi là một bảo tàng khổng lồ, vô giá mà cả thế giới phải khâm phục.

NGUYỄN HIẾU


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:31:45 am
DÙ PHẢI HY SINH CŨNG PHẢI MỞ ĐƯỜNG MÁU MÀ RA!


Hồi ký của Hứa Văn Chư
Nguyên Trung đội trưởng bộ đội huyện Kim Thành


Tôi bị địch bắt hồi 9 giờ sáng ngày 15/3/1951 tại cánh đồng Thiên Xuân (xã Tân Dân cũ) và chiều ngày hôm ấy, bọn chúng đưa tôi về vị trí Liên hiệp Pháp ở ga Phú Thái. Do bị bắt trong trường hợp tôi được cử ra làm binh vận đối với toán quân địch từ đường 5 kéo sang, mang theo cờ trắng, trá hàng nên bọn chúng đã biết được chức vụ của tôi. Hồi đó tôi là Trung đội trưởng thuộc đại đội bộ đội huyện Kim Thành - đang phân tán làm nhiệm vụ gây dựng cơ sở ở xã Tân Dân (nay là xã Kim Tân).


Đến Phú Thái, chúng giam giữ tôi trong một phòng kín, người đầu tiên gặp tôi là tên Cường (người cùng huyện) đã làm việc cho địch ở đây từ lâu nay nói: Ông cứ an tâm ở đây, chờ ông chỉ huy người Pháp về sẽ làm việc với ông!


Một mình ngồi trong phòng giam chật hẹp, lạnh lẽo tôi cố gạt đi những suy nghĩ về sự việc đã diễn ra khi bọn địch xảo quyệt "Trá hàng", bỏ qua đi những suy nghĩ riêng tư - để tập trung tìm cách đối phó với địch.

Tôi đã xác định - đây là trận chiến đấu quyết liệt giữa một bên là quân địch nham hiểm, có sức mạnh về mọi mặt với một bên là một mình tôi "đơn phương độc mã". Vì vậy tôi đã tự nhủ mình: - Phải bình tĩnh, sáng suốt, không sợ chết...", trong óc tôi luôn luôn trỗi dậy lời thề danh dự của người chiến sĩ quân đội nhân dân "... trong chiến đấu, nếu bị rơi vào tay quân thù, dù bị tra tấn cực hình tàn khốc đến đâu cũng không bao giờ phản bội xưng khai". Nghĩ vậy, tôi tự đặt ra những câu hỏi, rồi tự trả lời, để chuẩn bị sẵn sàng khi đối đầu với bọn chúng.


Gần tối, tên Cường đi cùng một tên lính da đen, mang lên cho tôi một mâm cơm thịnh soạn - có cả thịt và bia, mời tôi ăn! Thực ra, lúc này còn bụng dạ nào mà ăn uống, nhưng tôi nghĩ - Phải ăn để có sức mà chiến đấu! Để giữ cho mình tỉnh táo, tôi không uống bia, chỉ ăn cơm và tôi đã ăn no thực sự.


Thời gian chờ đợi trận chiến đấu thật căng thẳng. Đúng 12 giờ đêm, tên Cường đi cùng 2 tên lính da đen mở cửa phòng giam, áp giải tôi lên phòng thẩm vấn. Tôi đã thấy ngay một người Pháp to béo, có bộ râu quai nón trông vẻ dữ tợn, ngồi trên chiếc ghế bành, trước mặt là một chiếc bàn rộng, để khẩu súng ngắn và một số sổ sách giấy tờ, dụng cụ làm việc. Tại góc phòng trước mặt, đặt một số thiết bị - Tôi đoán là phương tiện tra tấn. Tên Cường làm nhiệm vụ thông dịch viên. Người Pháp to béo liền đứng đậy nói điều gì đó - thông dịch viên nói lại: Ông quan ba, chỉ huy căn cứ này vừa chào ông và mời ông ngồi vào ghế!


Tôi yên lặng ngồi vào ghế đối diện, người phục vụ đặt vào bàn rượu, bia, bánh kẹo, thuốc lá. Tên quan ba mở bao thuốc lá "Craven A" mời tôi! Tôi cảm ơn rồi trả lời "chúng tôi không quen dùng những thứ này!"

Tên quan ba Pháp chậm dãi nói một hồi dài, rồi thông dịch viên nói lại - Toàn những lời giải thích bịp bợm về chính sách của nước Pháp đối với Việt Nam và chốt lại là - cuộc nói chuyện giữa chúng ta hôm nay là bình đẳng, chân thành và yêu cầu tôi cũng phải đáp lại như vậy!


Tên quan ba đã hỏi tôi nhiều câu hỏi dồn dập, xen kẽ, có lúc nhẹ nhàng, có lúc như khiêu khích áp đảo. Chúng tập trung hỏi về quê quán, đơn vị, chức vụ, nơi đóng quân, ông về đây làm gì? Tất cả đã nằm trong dự kiến của tôi, nên tôi đã trả lời rành mạch rõ ràng. (Tất nhiên sự trả lời đó là sai sự thật!).


Điều gay cấn nhất đối với tôi là làm sao che giấu được tông tích gia đình mình vì nếu tiết lộ ra gia đình người thân ở vùng chúng kiểm soát thì lập tức chúng sẽ bắt làm con tin, gây sức ép buộc tôi phải làm theo ý chúng! Sự thật thì quê tôi ở làng Lương Xá, nằm sát đường số 5, cách ga Phú Thái chưa đầy 2 cây số, cha mẹ anh em tôi đang làm ăn sinh sống ở đó. Nhưng cũng rất may là bọn chúng cũng chỉ dừng lại ở đoạn tôi khai để che mắt chúng - "Tôi sinh ra ở làng Lương Xá1 (Lương Xá - Chứng lấy được giấy chứng minh của tôi, nến khống thể khai khác được), cha mẹ, anh em tôi đã chết hết, chỉ còn lại một mình sau trận đói năm bốn nhăm; tôi phải đi làm thuê, để kiếm sống; khi kháng chiến bùng nổ tôi vào bộ đội..."


Cuộc thẩm vấn đầu tiên tạm dừng vào lúc gần 2 giờ sáng, tên quan ba Pháp còn nói thêm:

- Chúng tôi rất mong ông suy nghĩ kỹ và đáp lại thiện chí của người Pháp chúng tôi!

Về đến phòng giam, tuy người đã thấm mệt, nhưng tôi cảm thấy nhẹ nhõm và an tâm về những lời khai báo của mình. Đêm ấy tôi đã thức trắng - Vì lúc này tôi mới có thời gian để nghĩ về đơn vị và đồng đội. Chắc rằng, sau khi tôi bị địch bắt, đơn vị phải di chuyển thay đổi địa điểm. Và cấp trên chắc chắn sẽ phê phán mình - mơ hồ, mất cảnh giác để sa vào tay giặc! Đầu óc tôi cứ miên man như vậy, nhưng cuối cùng vẫn phải tập trung suy nghĩ tìm cách đối phó với địch trong những trận tiếp theo.


Nghĩ lại tất cả những điều đã khai, tôi chưa thấy điều nào sơ hở để bọn chúng có thể lợi dụng để truy bức tiếp theo.

Nhưng về phía địch tôi phát hiện thấy tại sao thái độ của bọn chúng chưa có biểu hiện gì gay gắt, quyết liệt? Và tại sao, tên quan ba Pháp lại nói tôi phải đáp lại thiện chí của người Pháp? Chắc chắn là không, đây là một âm mưu thủ đoạn thâm độc gì đây! Nghĩ vậy, tôi lại xác định một lần nữa - "không sợ chết, không đầu hàng, không phản bội xưng khai..." tôi chuẩn bị tư thế sẵn sàng giáp mặt với quân thù.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:33:09 am
- 12 giờ trưa ngày 16/3 - Cuộc thẩm vấn thứ hai lại bắt đầu. Lần này chúng cũng hỏi những điều gần giống như lần trước. Nhưng qua cách hỏi của chúng lần này, tôi cảm nhận được - bọn chúng không tin vào những điều tôi đã khai. Lần này tôi cũng bình tĩnh, vững tâm hơn, nên khi trả lời các câu hỏi, tôi có kèm theo đôi chút phân trần nhằm để bọn chúng tin vào những lời khai của tôi là đúng sự thật! - Chẳng hạn như "Tôi là một quân nhân, bị các ông bắt tại trận, ngay từ phút đâu, tôi đã nói rõ cả chức vụ của tôi, bây giờ nằm trong tay các ông, tôi chẳng có điều gì phải giấu diếm..."


Đối phó với địch trong từng câu, từng lời - đầu óc tôi vô cùng căng thẳng. Nhưng đến phút cuối cùng - một tình huống nghiêm trọng đã xuất hiên. Tên quan ba Pháp liền hạ giọng nói:

- Ông đã nằm trong tay chúng tôi, cách giải quyết của chúng tôi như thế nào, hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ thiện chí của ông! Chúng tôi yêu cầu ông cộng tác với chúng tôi! Nếu ông thật sự cộng tác thì chúng tôi sẽ sử dụng ông nguyên chức, ông sẽ có ô tô, nhà lầu; có vợ đẹp và có nhiều tiền; Nếu ông đồng ý, ngày mai chúng tôi đưa ông lên sân bay Gia Lâm, ngồi trên máy bay, bay về vùng trời có đồng đội của ông, chỉ cần ông nói rõ là ông đã về đầu hàng chúng tôi và kêu gọi đồng đội của ông hãy làm theo ông - Chỉ cần ông làm như thế là mọi việc sẽ vô cùng tốt đẹp!


Nghe nói đến đây, người tôi sôi lên vì căm giận, cảm thấy mình bị xúc phạm nặng nề. Vội lấy lại bình tĩnh, tôi nhìn thẳng vào tên quan ba nói: "Chúng tôi là quân nhân chỉ biết chiến đấu vì đất nước của mình. Quân đội chúng tôi không được phép đầu hàng bất cứ một thế lực nào. Vì vậy yêu cầu của ông, tôi hoàn toàn không chấp nhận được!


Tên quan ba Pháp lặng đi giây lát rồi nhếch mép cười, hỏi lại:

- Vậy, theo ông thì chúng tôi nên đối với ông như thế nào?

Không do dự vì tôi đã xác định dứt khoát - Sa vào tay bọn giặc thì một là chết, hai là bị chúng cầm tù, tôi chợt nhớ ra mình là tù binh rồi nói ngay:

- Đối xử với tôi như thế nào, hoàn toàn do các ông quyết định! Tôi chỉ có thể nói:

- Một là các ông phải thực hiện công ước quốc tế về tù binh, trong chiến tranh như chúng tôi vẫn thường làm. Hai là các ông có thể thủ tiêu tôi!

Nghe tôi đáp lại, tên quan ba Pháp đứng phắt lên, đập mạnh nắm tay xuống bàn, tỏ vẻ bực tức, nói một tràng dàỉ, rồi một lát sau, một chiếc xe Zeep chạy đến - Bọn chúng đẩy tôi lên xe, xích tay chân tôi vào thành xe, chạy thẳng về Hải Phòng, giao cho Sở Mật thám - Tôi bắt đầu vào cuộc chiến đấu quvết liệt với bọn mật thám Hải Phòng. Vừa bước xuống xe để vào phòng giam, một số tên đầu trâu mặt ngựa, đã la hét, chửi bới, dùng gậy cao su đánh túi bụi vào đầu, vào người làm tôi đau buốt đến tận óc! Sau trận đòn phủ đầu này, bọn chúng tra hỏi một cách quyết liệt với thái độ hằn học thù địch. Bẩy ngày ở Sở mật thám là bẩy ngày tra tấn cực hình tàn khốc.


Ở đây bọn mật thám Hải Phòng tập trung cao độ vào việc truy tìm "Mày có phải là đảng viên cộng sản không?", "mày vào Đảng từ bao giờ". Mặc đầu tôi là một đảng viên của Đảng, nhưng tôi đều trả lời "tôi chưa được vào Đảng". Bẩy lần hỏi cung, bẩy lần chúng truy hỏi về Đảng, tôi đều trả lời như vậy. Mỗi lần trả lời như vậy là một lần bọn chúng tức tối, chửi bới, đánh đập tôi tàn nhẫn. Nhưng cuối cùng thì bọn chúng cũng không moi ở tôi được điều gì khác, buộc chúng phải quyết định tống giam tôi vào trại tù Đoạn Xá từ ngày 23/3/1951.


Bọn quản lý trại tù đưa tôi vào ở "Sàn cán bộ" thuộc khối tù quân sự1 (Khối tù quân sự - Chia ra 2 loại: Sàn cán bộ và sàn chiến sĩ và dân quân du kích) - thế là từ đây tôi đã trở thành một tù binh của trại tù này!


Nhưng dù sao lúc này tôi cũng thấy an tâm đôi chút vì đã vượt qua được những ngày căng thẳng cao độ trước quân thù, buộc chúng phải khép lại quá trình điều tra xét hỏi. Tôi bắt đầu tìm hiểu và làm quen với cuộc sống tù đầy.


Tôi đã nhận ra một số đồng chí, đồng đội bị địch bắt trước tôi cũng bị giam giữ ở nơi này - Anh Hoan (cán bộ huyện ủy), anh Lũy (cán bộ UB huyện) đến thăm hỏi động viên, cho tôi quần áo và tiền tiêu vặt.

Thời gian trôi đi, tôi dần dần quen với cảnh sinh hoạt trong tù. Bạn tù đến với tôi ngày càng đông - Tôi lại nhận ra ở sàn tù bên cạnh (thuộc khối quân sự thông thường) có các đồng chí Rói (người Đại Đức); Tít (người Quỳnh Khê); Bâu (người Thượng Vũ) và một vài anh em nữa là người cùng đơn vị cũng bị bắt và tù ở đây. Tuy không ở chung một sàn, nhưng chúng tôi vẫn có thể gặp nhau trao đổi những điều cần thiết. Tất nhiên chúng tôi phải hết sức cảnh giác, đề phòng bọn mật thám (2b) trà trộn vào tù nhân để dò la tin tức.


Quá trình cùng sống chung trong trại tù, tình cảm giữa các tù nhân, tuy ngày càng gắn bó, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Nhưng về mặt tinh thần và ý chí chiến đấu cách mạng thì cũng dần dần nhận ra - Ai là người có ý chí vững vàng? Ai là người dao động cầu an? Người nào cam chịu ở tù cho đến ngày mãn hạn?!


Tại sàn cán bộ (khối tù quân sự) tôi được anh Hải luôn luôn gần gũi tâm tình, cho tôi là người anh tin cậy, nên bàn với tôi về chủ trương tổ chức vượt ngục. Vượt ngục là một việc vô cùng nguy hiểm, nhưng nó phù hợp với ý nghĩ của tôi đã từ lâu. Mặc khác tôi cũng rất tin tưởng vào anh Hải  là một người chân thành, dũng cảm, không sợ gian nguy, nên tôi không chút do dự, liền đồng tình với chủ trương anh đã nêu ra.


Chủ trương thì như vậy, nhưng thực hiện thì không đơn giản - Những năm trước đây, tại trại tù này, đã có một số lần tù nhân đào hầm, khoét ngạch, chui rào vượt ra ngoài, nhưng đều thất bại - Có người bị bắn chết ngay khi còn ở hàng rào, có người thoát được ra ngoài, bị chúng săn lùng bắt trở lại, rồi bị hành hạ cho đến chết!


Bàn đi, tính lại, chúng tôi xác định chỉ có cách "vượt ngục ở ngoài trại tù". Ý định này xuất phát từ tình hình thực tế của những tháng cuối năm 1951, đầu 1952 - thời gian đó, bọn địch ở Kiến An vẫn thường đến trại tù Đoạn Xá lấy tù nhân về lao động ở khu kho hậu cần của quân đội Pháp tại Kiến An. Đây là cơ hội tốt để chúng tôi nghiên cứu áp dụng phương án "Vượt ngục ở ngoài trại tù".


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:34:16 am
Để thực hiện phương án này, chúng tôi phải có biện pháp giải quyết hàng loạt những khó khăn - Làm thế nào để chúng tôi trà trộn được vào đoàn tù nhân đi lao động trong lúc bọn địch cấm không cho tù nhân "Sàn cán bộ" ra ngoài? Mỗi ngày chúng lấy trên dưới 100 người đi làm việc thì làm cách nào để cả đoàn người đều chung một ý chí, một hành động? Mỗi xe chở tù nhân có 5 tên giặc, có đầy đủ súng ống áp tải bảo vệ, vậy tiêu diệt chúng bằng cách nào? Đoạn đường chọn làm nơi hành động chắc chắn ở sâu trong phòng tuyến dầy đặc đồn bốt địch, liệu khi rút có thoát được không? Cần phải có thời gian chuẩn bị, vậy làm thế nào để giữ được tuyệt đối bí mật? v.v...


Tất cả những khó khăn trên đây đã được anh Hải và chúng tôi lần lượt nghiên cứu, giải quyết trong điều kiện thận trọng và tuyệt mật. Công việc hàng đầu là phải bí mật xây dựng cho được một lực lượng có tinh thần chiến đấu dũng cảm, quyết tâm vượt ngục, dám hành động theo mệnh lệnh chỉ huy thống nhất, mà hướng chủ yếu nhằm vào những anh em cùng đơn vị hoặc thân tình tin tưởng, bị giam giữ ở "Sàn tù quân sự thông thường" đã thường xuyên được sang Kiến An lao động - Lực lượng này trên mỗi xe yêu cầu phải có từ 4 đến 5 đồng chí để đủ sức chiến đấu và vận động quần chúng cùng mình tiêu diệt gọn những tên địch áp tải trên xe, và là lực lượng nòng cốt dẫn đầu đoàn quân vượt ngục rút về nơi an toàn.


Anh Hải chỉ huy chung, mỗi xe chọn một phụ trách thật tin cậy - Tôi là một trong số đồng chí được lựa chọn để làm việc đó. Để bảo đảm cho trận đánh thắng lợi, những đồng chí được phân công chỉ huy ở các xe, lần lượt thay nhau đi điều tra thực tế - nghĩa là phải tìm cách trà trộn vào đoàn người đi lao động để điều tra tình hình, xác định điểm đánh và bí mật tập duyệt lực lượng.


Sau hơn 4 tháng điều tra, nghe ngóng, chuẩn bị - Các điều kiện để tổ chức một "trận đánh vượt ngục" đã chín muồi. Chúng tôi quyết định phải tranh thủ thời cơ triển khai hành động với quyết tâm "Dù phải hy sinh, cũng phải mở đường máu mà ra!"


Ngày 20/3/1952, bọn địch ở Kiến An cho 3 xe vận tải GMC đến trại tù Đoạn Xá lấy 100 tù nhân đi lao động. Theo kế hoạch, chúng tôi từ "Sàn cán bộ" đã trà trộn vào đoàn người đi lao động để cùng lực lượng nòng cốt ở đó thực thi nhiệm vụ. Người nào, xe ấy, cứ thế mà lên xe. Đoàn xe chuyển bánh, đưa chúng tôi đến thẳng kho đạn Kha Lâm1 (Kha Lâm - một địa danh thuộc phường Nam Sơn quận Kiến An - sát chân núi Kiến An).


Không khí lao động của tù nhân hôm đó diễn ra như mọi ngày. Chúng tôi nhắc nhau làm việc hăng say chu đáo, để che mắt địch và bí mật củng cố tinh thần chuẩn bị chiến đấu cho lực lượng nòng cốt. Đúng 5 giờ chiều, tiếng còi báo hiệu kết thúc ngày làm việc. Mọi người nhanh chóng ra khỏi kho, để chuẩn bị lên xe trở về Đoạn Xá. Đối với chúng tôi thì lại khác - chỉ muốn chần chừ, kéo dài thời gian càng muộn càng tốt. Vì vậy chúng tôi bầy ra đủ cớ - Nào là còn làm nốt mấy việc dở dang theo yêu cầu của thủ kho... nào là xin ông cho em đi đại tiện một tý... nào là xúm vào mời thầy cai xơi thuốc... tuy cố nặn ra lý do để nấn ná thêm phút nào hay phút đó, để càng gần tối càng tốt. Nhưng cuối cùng thì mọi người cũng phải tuần tự trèo lên xe.


Anh Hải đi xe đầu, tôi được phân công chỉ huy xe thứ hai, một đồng chí nữa (tôi không nhớ tên) phụ trách xe phía cuối. Lực lượng chiến đấu trên mỗi xe đã bí mật triển khai theo kế hoạch - Mỗi tên lính ngụy đứng ở một góc thùng xe, chúng tôi đều bố trí từ một đến hai người ép sát để sẵn sàng tiêu diệt chúng.


Vào khoảng 5 giờ 20 phút chiều đoàn xe lăn bánh theo hướng về thành phố. Đoàn xe tăng tốc đến đoạn đường giáp ranh giữa thôn Kha Lâm và thôn Trứ Khê - cách ngã 3 Quán Trữ chừng 7 - 800m thì trận đánh nổ ra.

Từ xe thứ hai tôi quan sát thấy xe đi đầu đã dừng lại, anh em ta đang đánh địch rồi lao xuống mặt đường. Tôi phát tín hiệu hành động - Theo sự phân công, các đồng chí Rói, Bẫu và một số anh em nữa cùng tôi tiêu diệt ngay từ phút đầu toàn bộ những tên địch ở trên xe. Giải quyết xong chiến trường, tất cả anh em ở 2 xe đi trước, mang theo súng đạn vừa tước được, băng qua 2 cánh đồng (mà bây giờ chúng tôi mới biết là cánh đồng Vành Lược và Cống Sâu - thuộc phường Quán Trữ, quận Kiến An) ra bờ sông Lạch Tray. Rồi nhanh chóng vượt sông sang cánh đồng Hoàng Mai - Xích Thổ (thuộc huyện An Hải).


Khu vực chúng tôi vừa đến, nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm - có nhiều đồn bốt địch mà chúng tôi lại chưa thông thạo đường đi lối lại thì quả là nguy hiểm. Nhưng dừng lại là chết, tiến nữa thì cần phải thăm dò tình hình. Vừa lúc đó, từ xa xa phía chân làng, chúng tôi nhìn thấy một số người đi đi lại lại, chỉ trỏ về phía chúng tôi - không rõ những người đang nhòm ngó ở chân làng kia là ta hay là địch? Nếu là địch thì tại sao nó không nổ súng bủa vây? Nếu là ta mà ở vùng địch như thế thì ai dại gì mà lại dám công khai ra liên hệ, họ phải đề phòng bọn địch giả vờ làm tù nhân chạy trốn? Suy đi tính lại, nghe ra anh em cũng đồng tình. Chúng tôi quyết định cứ tiến vào làng!


Khi đến gần, chúng tôi nhận ra trong đám người ấy, có mấy ông luống tuổi, đầu đội khăn xếp, mặc quần trắng, áo dài thâm - chúng tôi đoán họ là các vị "Xã ủy, tề". Họ nói: các ông từ đâu đến đây, có phải là Việt minh không? Tất cả các ông phải ở yên tại chỗ, để chúng tôi báo quan Tây về bắt các ông!


Thật hay giả khó mà phân biệt, nhưng có điều - nếu thật sự họ làm như vậy thì tại sao họ không cho người đi báo quan Tây ngay từ lúc đầu phát hiện thấy chúng tôi vừa sang sông? Nghĩ vậy chúng tôi từ tốn đáp lời: "Chúng tôi là những người kháng chiến, bị địch bắt tù ở Đoạn Xá, vừa đánh nhau với bọn địch áp giải chúng tôi đi lao động ở Kiến An, chạy về đây. Nếu các ông không phải là Tề - Dõng theo Tây thì cho chúng tôi quần áo, nước uống và chỉ đường cho chúng tôi nhanh chóng rời khỏi nơi này.


Nghe nói vậy, họ lặng thỉnh vẻ đắn đo suy nghĩ, một vài người đến gần quan sát chúng tôi - thấy một số anh em không còn cả chiếc quần lót, họ thì thầm hỏi: quần áo để đâu mà trần truồng thế này? - Lúc bơi qua sông bị nước cuốn trôi cả rồi! Một vài anh em đáp lại. Nhìn thấy một số anh em gầy gò, mặt hốc hác, mắt thâm quầng, họ nhận ra đúng là tù nhân chạy trốn thật! Không thấy ai trong đám người ấy nói gì đến việc đi báo quan Tây nữa!


Hoạt động trong vùng địch tạm chiếm chúng tôi hiểu rất rõ lòng dân ta đối với kháng chiến, chúng tôi vẫn tin rằng - bà con ta là người tốt. Và đúng là như vậy - chỉ một lúc sau, bà con đã mang ra cho chúng tôi nước uống và một số quần áo để mặc cho đỡ lạnh, rồi ân cần chỉ dẫn cho chúng tôi đi về nơi an toàn.


Lúc này, trời đã tối hẳn. Chúng tôi cảm ơn nhân dân, chia tay mọi người rồi lên đường.

Đội hình đi trên hai xe rút theo hướng này, khi vượt sông vì sức yếu lại bơi kém, nên bị nước cuốn trôi làm chết đuối mất 6 người. Số còn lại gần 60 anh em, chia ra thành từng nhóm, lấy đường số 5 làm chuẩn, đi chếch lên hướng tây, tìm đường về đất Kim Thành để từ đó sang khu căn cứ huyện Thanh Hà.


Trên đường rút quân chúng tôi không nắm được đâu là làng tề, chỗ nào là bốt địch. Vừa đi, vừa phải dò dẫm nghe ngóng. Quên cả đói khát, mệt nhọc, suốt đêm hôm ấy, chúng tôi đã mò mẫm vượt qua nhiều làng tề, bốt địch, bàng qua hàng chục cánh đồng - mãi đến gần sáng mới đến được khu bãi ở ven sông Hà Nhuận - nơi đây cũng nằm trong vùng kiểm soát của địch, buộc chúng tôi phải dừng lại tìm nơi ẩn nấp, để đêm sau đi tiếp. Khu vực ẩn nấp của chúng tôi xa dân cư, ít người qua lại, có điều kiện giữ bí mật.


Cả ngày nằm trong bờ bụi, bãi cói - bụng đói, miệng khát, có người đã mệt lả. Chúng tôi động viên nhau phải gắng sức chịu đựng, để vượt nốt đoạn đường cuối cùng. Trời vừa tối, kiểm lại đội ngũ, có một số anh em kiệt sức buộc chúng tôi phải làm một điều "vô kỷ luật" - đi bới trộm khoai của dân để nhai cho đỡ đói, rồi dìu nhau qua sông sang đất Kim Thành.


Vốn là người Kim Thành, tôi thống thạo đường đi lối lại và ít nhiều nắm được tình hình cơ sở của ta ở vùng này. Tôi quyết định dẫn anh em về xã Tân Dân (nay là Kim Tân) - một xã có phong trào kháng chiến mạnh của quê tôi. Và chính nơi đây đã xảy ra sự kiện - tôi bị địch bắt tại trận ngày 15/3/1951.


Khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi tìm gặp được các đồng chí lãnh đạo của Tân Dân. Gặp nhau tay bắt, mặt mừng và theo đề nghị của tôi, các đồng chí đã tận tình giúp đỡ - chia đoàn chúng tôi thành từng nhóm nhỏ, gửi vào từng gia đình, lo cho chúng tôi được ăn nghỉ chu đáo. Được sự đùm bọc của nhân dân trong xã - Cả ngày 22/3, chúng tôi được ăn nghỉ đầy đủ, anh em nào không có quần áo lại được bà con san sẻ giúp đỡ, có bà con còn cho tiền để anh em đi đường. Đêm ấy, chúng tôi lại cùng nhau vượt nốt đoạn đường cuối cùng sang huyện Thanh Hà.


"Trận đánh để vượt ngục" của những "tù nhân Đoạn Xá" chúng tôi mãi đến ngày 23/3/1952 mới được coi là kết thúc thắng lợi. Mọi người được cấp giấy tờ chứng nhận, rồi liên hệ với giao liên, tìm đường về quê hương và đơn vị. Còn tôi, lại trở về bộ đội, tiếp tục chiến đấu cho đến năm 1970 thì được về nghỉ hưu và tham gia công tác ở quê nhà!

HỨA VĂN CHƯ


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:35:40 am
"... ĐÁNH ĐÃ GIỎI, RÚT QUÂN LẠI GIỎI HƠN!"
(Viết về chiến thắng Viên Chử ngày 12/411954)


Hồi ký của Lê Văn Khoái
Nguyên chính trị viên phó Huyện đội, Kim Thành
Nguyên ủy viên Thường vụ
Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hải Hưng


Vị trí Viên Chử nằm ở trung tâm xã Tân Dân (nay là xã Kim Tân - huyện Kim Thành) - phía Bắc cách đường số 5 khoảng 1000m theo đường chim bay - phía Nam là hệ thống phòng thủ của địch ở đường 188.

Tháng 7 năm 1952, địch đưa một đại đội lính ngụy, do 3 tên sĩ quan Pháp chỉ huy về đóng tại Nhà thờ Viên Chử, xây dựng thành một căn cứ vững chắc, nhằm khống chế và chặn đứng mọi hoạt động của ta vào đường 5, và một số vùng phụ cận ở phía Đông - Nam huyện Kim Thành.


Bọn địch đã đánh phá rất ác liệt - biến cả 4 thôn của xã Tân Dân - từ chỗ đã một thời gian dài (từ 1949 - 1951) là địa bàn tin cậy cho cán bộ, bộ đội và một số xã bạn đứng chân hoạt động - trở thành một vùng "cơ sở trắng"!


Để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ (3/1954) - Chúng tôi được lệnh đem đơn vị phối hợp với tiểu đoàn 234.

Trận đánh nằm sâu trong lòng địch, đường hành quân của bộ đội vào trận địa gần 6 cây số, phải băng qua một cánh bãi lầy hơn 2 ngàn mét, vượt qua sông Rạng rộng 300m, lại phải luồn qua tuyến phòng thủ của địch ở đường 188. Do vậy, kế hoạch tác chiến phải tính toán kỹ làm sao đánh nhanh gọn dứt điểm, bảo đảm thời gian rút quân khỏi đất Kim Thành, không bám trụ lại giữa vòng vây của địch.


Tiểu đoàn 234 do Phạm Kim Bạo chỉ huy, là đơn vị chủ công; bộ đội Kim Thành là lực lượng phối thuộc - có nhiệm vụ dẫn đường và trực tiếp chiến đấu cùng các mũi tiến của tiểu đoàn 234; Huyện đội Thanh Hà chuẩn bị 100 chiếc thuyền nan đưa bộ đội qua sông, huy động 200 dân công phục vụ chiến đấu và thu giọn chiến trường.


Hồi đó, tôi là chính trị viên phó Huyện đội, là phó ban chỉ huy trận đánh, được phân công chỉ huy 2 trung đội Kim Thành và là đầu mối liên hệ giữa bộ đội huyện và tỉnh.

Trận đánh được quyết định vào đêm 12/4/1954. 18 giờ chúng tôi rời vị trí tập kết ở Thanh Hà hành quân vào trận địa.

Theo kế hoạch - cán bộ chỉ huy lần lượt dẫn đơn vị lội qua cánh bãi ra phía bờ sông - ở đó, từng đoàn thuyền nan do huyện đội Thanh Hà chuẩn bị đang chờ sẵn. 20 giờ 30 phút, tất cả bộ đội và dân công đã qua sông an toàn. Một tình huống bất ngờ xảy ra - bộ phận tiền tiêu lên bám chốt bảo vệ cho bộ đội vượt đường 188 thì gặp bọn địch phục kích gần chợ Giải (đoạn đường 188 chạy qua thôn Phù Tải). Nhưng thật đáng tiếc đồng chí Nguyễn Văn Thích trung đội phó và một đồng chí nữa đã trúng đạn bị thương, làm bộ phận này phải quay lại. Từ vị trí Phú Thái, pháo địch ầm ầm bắn về xung quanh khu vực bọn chúng vừa nổ súng! Lúc này ở phía bờ sông cách đó chừng 500m, bộ đội và dân công được lệnh "án binh bất động" nhanh chóng tìm nơi tránh đạn. Sau ba loạt đại bác bắn vu vơ, tình hình trở lại yên tĩnh. Chắc chắn lúc này bọn địch phục kích đã về bốt. Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý nhanh với chỉ huy các đại đội, đưa các đồng chí bị thương về tuyến sau, củng cố lại bộ phận tiền tiêu, khẩn trương lên bám đường và hạ lệnh cho các đơn vị luồn nhanh qua đường 188 tiến về hướng trận địa.


Gần 12 giờ đêm, các mũi xung kích của quân ta mới đến được vị trí. Các chiến sĩ trinh sát đẫn đường, lần lượt chui vào các hàng rào thép gai, dùng kim băng chốt lại những quả mìn tự động của địch để khai thông đường cho chiến sĩ đánh bộc phá tiếp cận các lô cốt và tạo cửa mở cho xung kích xông vào diệt địch.


Tôi được phân công đi cùng đại đội trưởng Lê Hà chỉ huy mũi tiến công ở phía Tây Bắc vị trí, trực tiếp liên hệ thường xuyên với chỉ huy sở của tiểu đoàn và phát hoả mở màn trận đánh theo lệnh của tiểu đoàn trưởng.

Theo kế hoạch thời điểm nổ ra trận đánh phát hỏa vào khoảng 1 giờ đêm. Nhưng vì phải đối phó với bọn địch phục kích trên đường hành quân, chậm mất hơn 1 giờ. Mặt khác, các mũi xung kích tiếp cận mục tiêu chậm. Mãi đến hơn 2 giờ sáng các mũi quân ta mới áp sát tất cả các mục tiêu và sẵn sàng chờ lệnh!


Sau khi xét thấy không bảo đảm thời gian rút quân - Tiểu đoàn trưởng Phạm Kim Bạo quyết định dừng trận đánh, và hạ lệnh đơn vị rút quân!

Tôi và đại đổi trường Lê Hà nhận được lệnh này mà lòng bần thần chán ngán! Công sức của cả ngàn con người để chuẩn bị cho trận đánh đã không đem lại kết quả gì! Chúng ta sẽ nói gì để cán bộ chiến sĩ thông suốt? Chúng ta sẽ giải thích làm sao cho đồng bào đồng chí đang ngóng chờ tin chiến thắng mà trước khi ra trận chúng ta đã hứa hẹn! Trong lòng chúng tôi băn khoăn khó tả! Tôi đứng dậy, gài khẩu súng ngắn vào dây lưng mà chần chừ không muốn bước đi. Đại đội trường Lê Hà lệnh cho đồng chí Nguyễn Văn Bền liên lạc viên của tôi vào báo cho tổ bộc phá rút quân! Chúng tôi vẫn chờ anh em ở ngoài hàng rào. Lúc này dân công, trung đội trợ chiến đã ra khỏi trận địa gần một cây số, anh em xung kích lần lượt chui ra khỏi vị trí ém quân. Tôi và đồng chí Hà lững thững đi về hướng tiểu đoàn trưởng, mới đi được chừng ba chục mét thì bỗng thấy tiếng bộc phá nể xé tai từ tổ đột phá của đại đội này. Tiếp theo là những tịếng nổ dậy đất từ các hướng, làm rung chuyển cả một vùng, khói lửa trùm lên vị trí địch. Tiếng thét xung phong của quân ta vang lên, xen lẫn tiếng súng tiểu liên, tiếng nổ của lựu đạn, thủ pháo - Tiểu đoàn trưởng lập tức ra lệnh cho bộ đội quay lại tiêu diệt địch. Các tổ bộc phá, áp sát các mục tiêu, chưa kịp nhận lệnh rút quân, thấy mũi đột phá phát hỏa đã lần lượt rút kíp nổ đánh sập các lô cốt phòng ngự, khai thông cửa mở, xung kích ta ào ào xông vào đánh chiếm khu nhà lính, đánh phá hầm chỉ huy, kêu gọi địch đầu hàng, tiêu diệt những ổ đề kháng ngoan cố. Quân địch hoảng loạn, chống cự yếu ớt, chỉ còn lại bọn địch ở gác chuông nhà thờ ngoan cố, dùng trung liên chống cự đến cùng. Vừa lúc đó, trung đội trợ chiến đã kịp thời quay lại. Để gác chuông nhà thờ không bị đánh sập, chúng tôi không dùng bộc phá, không sử dụng đạn súng lớn, mà đề nghị tiểu đoàn trưởng cho dùng súng đại liên đè bẹp ổ đề kháng này và được chấp nhận. Lập tức từng loạt đạn đại liên cứ nối đuôi nhau xuyên thẳng vào hoả điểm của địch trên gác chuông, làm khẩu trung liên của chúng phải câm họng, buộc bọn địch từ gác chuông phải kéo nhau xuống xin đầu hàng.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:36:17 am
Đến lúc này, cả trận địa đã yên tiếng súng. Bộ đội, dân công tập trung thu dọn chiến trường, các đơn vị khẩn trương kiểm lại đội ngũ, phát hiện và tìm kiếm thương binh liệt sĩ. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu rõ, tại sao tuy có lệnh rút quân mà bộc phá vẫn nổ? Sự thể như sau: Liên lạc viên Nguyên Văn Sên, khi bò đến tổ bộc phá ở mũi chủ công để truyền lệnh "rút quân" đã triệt để tiết kiệm "từ ngữ" và miễn giải thích nên dùng 2 ngón tay bấu bấu vào gót chân đồng chí tổ trưởng và chỉ khẽ nói gọn lỏn 1 từ "rút". Trong giây phút căng thẳng, tập trung cao độ, chờ lệnh tiến công mà nghe thấy tiếng "rút" thì chiến sĩ ta đinh ninh là rút kíp nổ - liền ôm bộc phá xông lên đánh sập lô cốt địch - Thế là tiểu đoàn trưởng lập tức chuyển hướng chỉ huy - hạ lệnh cho bộ đội quay lại đánh và đã đánh thắng tuyệt đẹp - Cả đại đội địch có công sự kiên cố ở vị trí Viên Chử đã bị tiêu diệt. Quân ta bắt sống 40 tù binh (có 1 tên quan ba Pháp), thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Bên ta 1 chiến sĩ hy sinh, 1 bị thương.


Trận đánh kéo dài đến hơn 4 giờ sáng mới kết thúc. Lúc này tại sân nhà thờ đã có mặt đầy đủ các đồng chí trong chỉ huy trận đánh và cán bộ chỉ huy các mũi tiến công.

Khi bàn việc rút quân thì thấy không còn đủ thời gian để vượt qua tuyến đường 188 và đưa bộ đội qua sông về đất Thanh Hà trước khi trời sáng rõ - trước tình thế đó, tiểu đoàn trưởng quyết định cho quân bám trụ lại đất Kim Thành. Nhưng đưa bộ đội và dân công về đâu để có điều kiện giấu quân, hoặc nếu buộc phải chiến đấu trong vòng vây của địch thì cũng bảo toàn được lực lượng và còn có điều kiện thuận lợi để đêm sau rút quân được an toàn. Đồng chí Phạm Kim Bạo quay lại hỏi tôi:

- Đồng chí Khoái ơi, tôi quyết định ở lại Kim Thành, theo đồng chí thì đưa quân về đâu là tốt nhất? Vốn là cán bộ hoạt động tại địa phương, nắm được tình hình cơ sở ở vùng này, tôi liền trả lời:

- Rút quân về bám trụ ở Cẩm La là tốt nhất, Cẩm La có cơ sở vững hơn các xã khác, có nhiều thuận lợi để giấu quân, hoặc tổ chức chống càn, và là nơi có nhiều ngả đường rút quân về Thanh Hà. Đề xuất của tôi được tiểu đoàn trưởng chấp nhận và hạ lệnh rút quân về bám trụ ở Cẩm La.


Cẩm La chỉ cách Viên Chử chừng 2 cây số, tuy là một làng có địa bàn rộng, dân cư đông đúc - nhưng lúc này thật sự đã quá tải - khắp các xóm, các gia đình nơi nào cũng có bộ đội, dân công và những người ở Tân Dân tránh địch chạy đến.


Ban chỉ huy trận đánh, các cán bộ đại đội đã họp nhanh với các đồng chí Kim, Thoán, Sổng là cán bộ lãnh đạo chủ chốt xã Cẩm La thống nhất đề ra một số quyết định quan trọng:

- Bố trí ngay lực lượng canh gác, cảnh giới chặt chẽ mọi diễn biến, và bằng mọi biện pháp giữ bí mật lực lượng đến cùng. Cố gắng thực hiện "nội bất xuất, ngoại bất nhập" là tốt nhất.

- Động viên nhân dân bình tĩnh, tích cực giúp đỡ bộ đội, chuẩn bị phòng chống địch càn quét, sơ tán tài sản ra ngoài đề phòng phi pháo của địch.

- Bộ đội chuẩn bị trận địa sẵn sàng chiến đấu. Dân công đào hầm hố tránh bom đạn cho mình và cho dân.

- Đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đến đêm rút quân an toàn. Trước mắt lo cơm nước chu đáo cho bộ đội, dân công, tù binh và thực hiện đầy đủ việc chăm sóc thương binh.

Được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và nhân dân địa phương, các quyết định trên đây đã được thực hiện khẩn trương và đến 12 giờ trưa đã hoàn tất.

Chúng tôi mong thời gian trôi đi từng giây, từng phút, và ai nấy đều phấn khởi thấy tình hình đến 15 giờ vẫn yên tĩnh, tin rằng mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp. Nhưng sau đó 30 phút - tổ trinh sát báo về chỉ huy sở: Từ vị trí Trung Xá, cách Cẩm La gần 2 cây số, xuất hiện 15 tên lính da đen đang đi về hướng trận địa. Bọn địch chắc đã phát hiên thấy điều gì đó, nên cho quân vào đây để thăm dò! Chúng tôi phán đoán như vậỵ rồi lập tức triển khai kế hoạch tiêu diệt toán quân này nếu chúng xâm nhập vào Cẩm La. Tiểu đoàn trưởng Phạm Kim Bạo hạ lệnh: Giữ bí mật đến cùng, tuyệt đối không được nổ súng, bỏ ngỏ đường giữa làng, lừa cho địch vào hẳn trong làng rồi bao vây bắt gọn cả toán. Đại đội 77 được giao nhiệm vụ này, đã ém quân mai phục sẵn sàng. Bọn địch đã rời khỏi đường 188 đi thẳng vào Cẩm La. Càng gần đến đầu làng, chúng càng thận trọng. Vừa đi, vừa nghe ngóng, tên nào cũng lăm lăm tay súng, sẵn sàng nhả đạn. Trận địa mai phục của quân ta vẫn "án binh bất động" chờ cho tên giặc cuối cùng lọt hẳn vào làng, là xông ra bao vây bắt gọn.


Từ chỉ huy sở chúng tôi chăm chú theo dõi sát từng tên giặc dò dẫm trên đường làng, chỉ còn 2 tên nữa lọt vào trong là phát lệnh tiến công - nhưng bỗng một tràng trung liên nổ ròn rã, làm tên giặc đi đầu chết gục tại chỗ. Tiếng thét xung phong vang lên khắp xóm làng. Bộ đội, nhân dân đổ ra mọi ngả, vây chặt đội hình địch, làm chúng hoảng loạn, hạ súng đầu hàng. Hai tên còn lại ở cổng làng cắm đầu chạy trốn. Bộ đội và nhân dân đuổi theo tiêu diệt nốt. Thì ra du kích đang mang theo khẩu trung liên chiến lợi phẩm thu được - nhìn thấy mấy tên da đen đi đầu hung hăng tiến sát vào khu vực mình đang ẩn nấp liền tự phát bấm cò lia 1 băng làm nổ ra trận đánh diễn ra chưa đúng theo ý định. Bộ đội và nhân dân vô cùng phấn khởi trước chiến công của trận đánh chớp nhoáng, diệt cả 15 tên giặc, thu 15 súng, có 5 tiểu liên. Nhưng có ai biết lúc này tại chỉ huy sở, các cán bộ đang chụm đầu vào nhau bàn bạc, phán đoán tình hình, đề ra biện pháp đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Mọi người đều cho rằng


- Có tiếng súng nổ, cả 15 tên da đen không còn tên nào quay về bốt, chắc chắn bọn địch ở Trung Xá sẽ phản ứng lại! Đồng hồ đã chỉ 16 giờ 20 phút, lệnh sẵn sàng chiến đấu và phòng chống phi pháo được cấp tốc chuyển đến tất cả các đơn vị và xóm ngõ. Đúng như dự đoán - 16 giờ 45 phút, 2 máy bay chiến đấu của địch từ phía Hải Phòng bay tới, lượn vòng gầm rú trên bầu trời Cẩm La, ném xuống 4 quả bom cháy (napan) thiêu đốt hơn chục nóc nhà. Lửa khói ngút trời chùm lên khắp xóm làng. Tiếp theo là chiếc máy bay trinh sát "Bà già" vè vè nghiêng cánh, lượn đi lượn lại, nhòm ngó mọi nơi; rồi gọi pháo binh từ đường 5 bắn về dồn dập làm 4 người dân thiệt mạng! Cả trận địa sặc mùi bom đạn, bộ đội ta vẫn bình tĩnh, cảnh giác và động viên nhau tìm mọi cách bảo toàn lực lượng, giúp đỡ dân công và nhân dân tránh bom đạn, cứu tài sản ở những gia đình đang bị lửa bom thiêu cháy!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:36:58 am
Trời gần về tối, tiếng đại bác địch cũng thưa đần. Nhưng địch đã cho một trung đoàn có xe bọc thép yểm trợ xuất phát từ Kinh Giao vượt qua cống Ngọ Dương (An Hải) tiến vào đường 188 (Kim Thành). Chúng lần lượt rải quân chốt giữ từng đoạn đường từ Kỳ Côi (Tam Kỳ) đến Bàng Lai (Ngũ Phúc) hình thành thế bao vây, chặn hết các điểm vượt đường rút quân của ta sang Thanh Hà!


Đến 19 giờ thì đại bác địch ngừng hẳn. Một vấn đề sống còn đặt ra, đó là - làm thế nào để bảo toàn được lực lượng? Làm thế nào bảo vệ được dân? Và làm thế nào để rút quân an toàn ra khỏi vòng vây của địch? Ban chỉ huy trận đánh đã đề ra và thực hiện mấy quyết định sau đây:

- Tất cả lực lượng bộ đội, dân công, tù binh - sau bữa cơm chiều phải rời ngay khỏi làng, lợi dụng đêm tối phân tán ra khu cánh đồng khoai ở phía tây bắc Cẩm La (nơi tiếp giáp với trại Quê Phương) để chờ lệnh và luôn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.

- Các đồng chí lãnh đạo địa phương vận động nhân dân cất giấu tài sản, chuẩn bị hầm hố để tránh bom đạn, và tổ chức cho dân tạm lánh sang một số xã bạn.

- Các đơn vị từ bộ đội đến các bộ phận hậu cần, dân công quản lý tù binh... kiểm tra nắm chắc quân số, chấn chỉnh đội ngũ - sẵn sàng khi có lệnh thì lập tức hành quân vượt khỏi vòng vây.

- Cử các đồng chí đơn vị Kim Thành thông thạo địa bàn đi tìm đường rút quân.

Bốn quyết định cấp bách trên đây được triển khai ngay và đến 20 giờ tất cả các đơn vị đã hoàn thành phân tán ra cánh đồng.

Riêng việc rút quân là việc cực kỳ khó khăn - Tất cả các điểm có thể vượt đường 188 của ta sang đất Thanh Hà đều đã bị địch chốt giữ hết; xe bọc thép của địch liên tục chạy đi chạy lại trên đường, thỉnh thoảng dừng lại dùng đèn pha quét ra xung quanh.


Anh em Kim Thành được phân công tìm đường rút quân có những đề suất, khác nhau - Có ý kiến đề nghị đánh thẳng vào vị trí Trung Xá để buộc địch phải co về đối phó, tạo ra kẽ hở để quân ta vượt đường! Có đồng chí đề suất, chọn 1 điểm vượt đường, có địa hình thuận lợi, tổ chức lực lượng đánh vỗ mặt, tiêu diệt địch để mở đường ra!


Những cách làm đó vô cùng nguy hiểm, kẻ địch không chịu bó tay, chắc chắn đó là cách mở đường đầy xương máu của đồng đội. Do vậy, tôi đề nghị kiên trì thực hiện phương án rút quân bí mật. Với trách nhiệm cùa mình, tôi bàn ngay với đồng chí Phí Văn Quyết trung đội trưởng là người thôn Quê Phương (xã Bình Dân), có đường 188 chạy qua, thông thạo địa hình, khẩn trương đưa cả đơn vị đi tìm đường rút quân! Tất cả các hướng đi đều chạm địch chốt giữ. Riêng hướng Hải Ninh để vượt về đường qua Phù Tải bị địch phục kích bắn bị thương 2 đồng chí (đồng chí Sự vì vết thương quá nặng, sau 2 tuần lễ thì hy sinh). Tình hình lúc này tưởng như hoàn toàn bế tắc đồng chí Phạm Kim Bạo đặt ra một câu hỏi: "Đã đến lúc phải mở đường máu mà vượt ra chưa? Sau giây lát suy nghĩ, chúng tôi quyết định đi tìm đường một lần nữa - đồng chí Phí Văn Quyết đã xung phong mang một tổ 4 anh em tiến thẳng về làng Quê Phương nắm tình hình địch và đã tìm ra được một kẽ hở giữa 2 vị trí Cầu Ngông và Trung Xá. Hai vị trí cách nhau chừng 1500m, địch không chốt cố định ở đoạn đường này mà sử dụng lực lượng của Trung Xá và Cầu Ngõng tuần tra phục kích. Có lẽ vì khoảng cách giữa 2 vị trí không xa, lại nằm trong tầm bắn của đại liên nên bọn địch chủ quan - toán quân phục kích đến gần 2 giờ sáng đã kéo nhau về bốt. Đồng chí Quyết lập tức lên kiểm tra đường, cho người về báo cáo.


Ban chỉ huy trận đánh quyết định vượt qua đoạn đường này, để quân ta thoát khỏi vòng vây. Thế là các đơn vị được lệnh tức tốc nối nhau băng qua cánh đồng Phú Nội ra phía bờ sông. Các chiến sĩ Kim Thành làm nhiệm vụ chốt giữ cửa mở rút sau cùng - lúc này đã là 3 giờ sáng ngày 14/4/1952.


Cả ngày hôm trước bám trụ ở Cẩm La, mọi đường liên lạc với ban chỉ huy tỉnh đội (ở Thanh Hà) đều bị cắt đứt nhưng chúng tôi tin chắc rằng việc bố trí thuyền đón chúng tôi qua sông đêm nay đã được chuẩn bị đầy đủ. Ra đến bờ sông, người nào cũng thấm mêt, bụng đói, miệng khát, nhưng ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm vì đã ra khỏi vòng vây của địch, chỉ còn việc chờ thuyền sang sông!


Đúng như dự đoán - sau khi phát tín hiệu bắt liên lạc với bên kia sông, chỉ ít phút sau, hàng trăm chiếc thuyền nan túc trực ở ven sông và trong các ngòi lạch, ùn ùn lao đến kín cả vùng sông - nơi quân ta đang đợi, để kịp về nơi an toàn trước lúc trời sáng, đề phòng địch truy kích bằng phi pháo - chúng tôi xếp nối thuyền trên mặt nước, tạo thành cầu phao nổi cho đoàn quân sang sông nhanh chóng an toàn. Tôi và tiểu đoàn trưởng cùng tổ chốt giữ "cửa mở" sang sông cuối cùng thì trời đã mờ sáng. Vừa lúc đó, từ phía thượng lưu sông Rạng - một chiếc thuyền nan có 4 tay chèo rẽ nước lao đến - Tỉnh đội trưởng Tăng Bá Dụ cùng 4 chiến sĩ đã từ phía Lang Can băng thuyền trên mặt nước đến tận điểm qua sông đón chúng tôi! Anh sung sướng ôm chúng tôi trong vòng tay, xúc động và luôn miệng khen "Các cậu đánh đã giỏi, rút quân lại giỏi hơn!".


Sáng sớm ngày hôm ấy, chúng tôi về đến mảnh đất mà cách đây 2 ngày, chúng tôi đã hạ quyết tâm "Nhất định mang chiến thắng trở về". Đồng đội, đồng chí, cán bộ nhân dân địa phương đổ ra các nẻo đường làng mừng đón chúng tôi đông như ngày hội, khiêng vác súng đạn cho bộ đội, giúp đỡ dân công mang chiến lợi phẩm. Gặp nhau tay bắt mặt mừng mà ai cũng nghẹn ngào chẳng nói lên lời. Nhất là những gia đình có người đi dân công phục vụ chiến đấu, bị kẹt trong vòng vây của địch, đã thức trắng đêm mong chờ tin tức ở chiến trường, giờ đây gặp chồng con, anh em mình, đã ôm lấy nhau khóc nức nở, như để trút đi bao nỗi lo âu đè nặng mấy ngày qua! Còn tỉnh đội trưởng Tăng Bá Dụ, các cán bộ lãnh đạo 2 huyện Kim Thành, Thanh Hà, cùng đại biểu đoàn thể địa phương thì lần lượt đến từng nhà thăm hỏi cán bộ chiến sĩ và anh em dân công. Tỉnh đội trưởng luôn luôn khen "Các cậu đánh đã giỏi, rút quân lại giỏi hơn!".


Kim Thành Xuân Mậu Dần -1998
L.V.K


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:38:02 am
HẢI PHÒNG - KIẾN AN


KỶ NIỆM PHÁ CÀN

Nguyễn Thế Ngọc


Ngày 28 tháng 8 năm 1953, giặc Pháp thực hiện "kế hoạch Na Va", mở cuộc càn quét lớn nhằm bình định chiếm đóng huyện Tiên Lãng.

Ngay từ chiều và tối ngày 27, địch tăng cường hoạt động vận chuyển xe pháo về phân khu Đông Tạ, nhiều tàu chiến, ca nô, tầu há mồm chạy trên sông Thái Bình. Lệnh của tỉnh đội cho đại đội 331 chuẩn bị sẵn sàng chống địch càn quét.


Chiều ngày 28, ban tham mưu tỉnh đội truyền lệnh cho C331, có nhiệm vụ đánh tập kích vào trận địa pháo địch ở Đồng Tạ và phục kích đánh Ca nô trên sông Thái Bình, chi viện cho huyện Tiên Lãng.

Lúc này anh Hoàng Quang đi chữa bệnh, anh Vũ Ước quyền đại đội trưởng, giao cho tôi chỉ huy chung trung đội 5 và khẩu đội Ba zô ka ra đê sông Thái Bình tìm mục tiêu.

Đêm hạ tuần trời tối, tôi và anh Liêm già "bê phó" triển khai đội hình ven đê, đi quan sát từ bến đò Đăng đến bến đò Tăng Thịnh, nhìn rõ ca nô địch giăng sông đậu khoảng giãn cách 200 mét chiếc, xe cóc lượn le ve, đi lại soi đèn pha tuần tiễu kiểm soát mặt sông. Khi thấy chiếc ca nô đậu cách bến Tăng Thịnh chừng bốn chục mét, anh Liêm già buột miệng: "Chà ngon quá". Chúng tôi quyết định tập trung hỏa lực cả trung liên, súng trường, tiểu liên K50 bố trí yểm trợ cho khẩu đội Bazoka bò trườn tới sát mép nước triển khai đội hình.


Mấy chớp lửa sáng tiếp theo là tiếng nổ đầu nòng của ba khẩu Đazoka (một khẩu xịt/đạn thối), như ngôi sao chổi xuyên trúng thành đẩy nghiêng lệch chiếc ca nô. Lập tức hỏa lực của phân đội bắn xối xả xuống chiếc ca nô, diệt gọn một tiểu đội địch. Khi phân đội rút về đến thôn Hu Trì, thì tàu chiến địch mới nã pháo "tăng xinh" (pháo 37mm) chạy đến cứu viện. Quân địch lập tức thay đổi cách bố trí đội hình, chúng chuyển sang Tả ngạn sông Thái Bình, nhằm vô hiệu hóa súng Bazoka của ta chỉ bắn được cự ly 50 mét, thực hành bao vây cô lập huyện Tiên Lãng, cắt đứt sự liên lạc với huyện Vĩnh Bảo.


Tiếp đó, chiều ngày 29, nhận lệnh của anh Đấu (Trần Quốc Hiệu) phân đội đánh sông có nhiệm vụ phối hợp với giao thông quân sự, bố trí vào bắt liên lạc với anh Chiến (Đặng Kinh) ở trong trại lẻ thôn Kinh Lương, huyện Tiên Lãng. Phân đội được tăng cường thêm hai khẩu trung liên và ba mươi tay súng. Đơn vị triển khai trinh sát từ bến đò Cầu đến bến đò Tăng Thịnh, nắm qui luật hoạt động tuần tiễu trên sông Thái Bình của địch; chọn hướng đột phá mở đường bí mật vào huyện Tiên Lãng. Qua một đêm nữa thức trắng, tuy chưa tìm được lối vào nhưng đã nắm được qui luật hoạt động của địch. Cứ cách 200 mét địch chốt một ca nô thả neo đậu về phía tả ngạn huyện Tiên Lãng, cứ 5 phút một xe Cóc chở 3 tên: 1 chỉ huy, 1 lái, 1 xạ thủ. Súng đại liên, chạy đi chạy lại suốt đêm. Chúng liên lạc với nhau bằng vô tuyến điện thanh, từ nửa đêm về sáng chỉ còn xe Cóc hoạt động. Chúng tôi bàn kế hoạch: Cử bốn chiến sĩ dũng cảm và bơi giỏi, cùng hai giao thông viên chia làm hai tổ, trang bị thủ pháo và dao găm, phao bơi, dùng búi thòng bong và bèo tây ngụy trang. Bó bèo tây thành từng cụm, trời tối gánh lên thượng nguồn thả trôi theo dòng sông. Chúng tôi quyết định chọn điểm đột phá vào giữa hai chiếc ca nô địch đậu gần cống Nẻ phía Tiên Lãng và cống Đợn phía Vĩnh Bảo. Bộ binh và hỏa lực sẵn sàng yểm trợ kiềm chế hai ca nô địch. Để giữ bí mật, chỉ khi có lệnh mới được phát hỏa.


Nửa đêm 30 - 8, tổ xung kích số 1 đội thòng bong, bèo tây xuống ngâm mình dưới mép nước, chờ cho chiếc xe cóc vừa đi qua là lao nhanh bơi qua sông, khi nó quay trở lại thì anh em đã sang tới bờ huyện Tiên Lãng. Chúng tôi nín thở nằm yên trên đê quan sát mặt sông. Khoảng 4 giờ sáng, tổ liên lạc bơi ra truyền lệnh của tỉnh đội trưởng: "bảo nó đưa thuyền vào đón anh Minh Nhẫn bí thư và tao ra ngoài". Chúng tôi lại bàn: không thể dùng thuyền vì dễ lộ mục tiêu, chỉ còn cách đóng bè chuối. Cử 12 chiến sĩ chia làm 4 tổ: tổ 1 bơi trước buộc dây vào bè chuối vừa bơi vừa kéo, tổ 2 vừa bơi vừa đẩy, còn hai tổ "tả hữu trắc vệ" bảo vệ hai bên sườn, sẵn sàng dùng thủ pháo đánh ca nô. Trên đê Vĩnh Bảo các loại súng trong tư thế chuẩn bị bắn.


Chúng tôi đã thường xuyên vượt qua phòng tuyến sông Văn Úc của địch nên đã giúp tôi kinh nghiệm tổ chức đột phá vòng vây, đưa đón bảo vệ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và tỉnh đội trưởng ra huyện Vĩnh Bảo an toàn vào rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1953. Cũng bằng cách đó theo đường dây đã mở, bốn ngày sau giao thông quân sự và quân y tỉnh đội đã vào đón đưa hết số thương binh ra khỏi trận càn, được khu ủy tả ngạn đánh giá là một thắng lợi lớn về chính trị.


Trận phá càn Tiên Lãng đã đi vào lịch sử, những kỷ niệm phá càn vẫn còn in đậm trong tâm trí và sống mãi trong lòng đồng chí, đông bào Kiến An.

N.T.N
Chỉ huy phân đội đánh sông


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:39:19 am
HỒI KÝ

CHIẾN THẮNG CÁT BI (7-3-1954)
Tóm tắt


Đại tá Đỗ Tất Yến
Nguyên đội trưởng trận đánh Cát Bi
(7-3 -1954)


1. Ý đồ tác chiến ban đầu

Ngày 2 - 10 - 1953, anh Trần Nhẫn, Bí thư Tỉnh ủy, Đặng Kinh, tỉnh đội trưởng Kiến An đến xã Kiến Thiết (Tiên Lãng) giao cho đại đội 295 (tôi làm đại đội trưởng) nhiệm vụ đánh BI là bí danh đặt cho sân bay Cát Bi, B2 bí danh sân bay Đồ Sơn. Anh Kinh dặn muốn làm nhiệm vụ này đại đội phải luyện tập chạy được 30 km và bơi được sông rộng. Tỉnh đồng ý đề nghị của tôi cho đại đội chuyển về xã Tam Đa (Vĩnh Bảo) ở đó thuận lợi cho luyện tập.


Sáng ngày 3 - 10 - 1953, tại nhà anh Đán, bí thư chi bộ xã Cấp Tiến, diễn ra cuộc họp có anh Nhẫn, anh Kinh, anh Trần Cư, bí thư huyện ủy Hải An, anh Giang Sơn quyền bí thư huyện ủy Kiến Thụy, anh Hoàn, trưởng ban quân báo tỉnh đội, anh Lục trưởng ban địch vận.


Trước hết anh Sơn báo cáo đã gây được cơ sở ở xã Tân Phong và ở Hòa Nghĩa nắm chắc được 3 gia đình tốt, đã cho đào hầm. Còn về hướng Đồ Sơn thì bãi sú rộng, mật thám lùng sục thường xuyên, khả năng không đột nhập được. Tiếp theo anh Trần Cư bí thư Hải An trải ra tấm bản vẽ màu tím nhạt có 2 đường chữ thập. Đó là bản vẽ của sân bay do cơ sở ta là Ký cađát (địa chính) cung cấp. Đường băng chính dài trên 2 km, đường băng phụ dài gần 2 km. Còn cách bố phòng thế nào, cơ sở ta không rõ.


Anh Hoàn, quân báo chỉ nói từ Tiên Lãng vào sân bay Cát Bi có phòng tuyến sông Văn Úc, phòng tuyến sông Đa Độ, phòng tuyến đường 14, còn cụ thể sân bay, phải chờ để trinh sát vào thì mới biết được.

Anh Lục, báo cáo đã cho nhiều hướng nhân mối, chỉ biết sân bay có nhiều hàng rào kẽm gai kiên cố, nhiều tháp canh, nhiều đèn pha, cụ thể không nắm được, tổ mật giao thì bị địch kiểm tra gắt gao.

Cuộc họp nghỉ giải lao. Anh Nhẫn và anh Kinh hội ý với nhau. Cuộc họp lại tiếp, nghe anh Nhẫn kết luận: Các anh rất cố gắng, có nhiều tin tức tốt, trong tháng 10 này, phải làm bằng được các việc sau:

- Tỉnh tăng cường cho anh Giang Sơn 5 trinh sát viên do đồng chí Thiều làm tổ trưởng dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, vào xã Tân Phong lập bàn đạp tiến sang gây cơ sở ở Hòa Nghĩa, tìm mọi cách đột nhập vào sân bay, kiểm tra kỹ cách bố phòng của địch.

- Anh Trần Cư, anh Lục khai thác thật khéo lực lượng ở sân bay, số lượng máy bay, cách bố phòng, nhưng phải thật khéo, tuyệt đối giữ bí mật.

Anh Kinh giao cho tôi về bàn với anh Văn Hiến, chính trị viên đại đội, luyện tập theo phương án và chuẩn bị đi trinh sát, chọn 2 - 3 đồng chí đi cùng.

Sau cuộc họp anh Nhẫn giữ tôi ở lại, lấy ở gói bọc ra cho tôi một gói thuốc lá Cô táp, thân mật nói: "Mình biết cậu chỉ hút Cô táp, nên tặng cậu đấy" rồi anh kéo tôi lại gần nói: "Nhiệm vụ quan trọng, cấp trên giục nhiều lắm, Yến về bàn với anh Văn Hiến chọn các đồng chí dám hy sinh hoàn thành nhiệm vụ, chú ý giữ bí mật, đi đường cẩn thận nhé". Tôi rất vui, cảm động hứa với đồng chí bí thư cứ yên tâm, đại đội 295 nhất định hoàn thành tốt nhiệm vụ tỉnh giao.


Chiều 3-10 tôi về đến đơn vị bàn với anh Văn Hiến thống nhất tập chạy. Đúng 17 giờ 30 phút, 3 trung đội trưởng đến nhận nhiệm vụ tập chạy từ Tam Đa đến Trung Thịnh 7 km rồi chạy về 7 km, từ Tam Đa đến cống Độn 7 km; chạy về 7 km. Trang bị súng đạn, quần áo gọn gàng, không phát ra tiếng động.


Cuộc chạy bắt đầu từ 20 giờ. Đại đội tham gia chạy cả liên lạc, trợ chiến được 112 người. Tốc độ vừa phải độ 3 km lúc đầu đội hình gọn gàng. Đến Trung Thịnh, mới chạy 8km, đội hình đã kéo dài, bản thân tôi thấy đau sóc bụng, mệt lắm. Chạy quay về đội hình còn 2/3. Từ Tam Đa đến cống Độn còn được độ 1/4. Trên đường về anh chạy, anh đi, anh ngồi thở. Về đến đích ở, tốp tôi chạy còn được 25 - 27 người lác đác tới 24 giờ mới về hết tới đích. Qua lần chạy này tôi và anh Văn Hiến thấy ngay, anh em thì khỏe, nhưng chạy chưa quen, nên hôm sau cho nghỉ một ngày, rồi cho chạy dần, luyện chạy từng đoạn, rồi mới chạy đường dài. Hôm sau các trung đội trưởng lên báo cáo, chân tay anh em đau hết cả, đang ngồi nắn bóp. Được nghe phương án luyện chạy từng đoạn, anh em đều đồng tình.


Từ ngày 5 - 10 - 1953 trở đi, cho anh em chạy từ thôn Tam Đa đến Trung Thịnh dài 7 km rồi về, cứ như thế ngày 10 - 5 - 1953, anh em chạy tốt đề nghị cho chạy dài thêm. Anh em đoán già, đoán non có lẽ sẽ đánh vào Hải Phòng hay Kiến An. Sợ lộ bí mật, đại đội phải họp cán bộ, họp tổ Đảng để chấn chỉnh.


Từ 15 - 10 - 1953 chuyển sang tập đánh máy bay thật khó, nó bay trên trời thì thấy nhưng nó đỗ ở sân bay có ai biết đâu? Tôi về hỏi bố tôi, trước đây ông thường đi máy bay tuyến Nam Định - Hải Phòng, lên máy bay thế nào ông chỉ nói gọn: "lên thì phải có thang xuống cũng phải có thang và nó cao lắm, với không tới". Tôi suy nghĩ nó cao thì phải chồng người, mà chồng người thật phức tạp.


16 - 10, anh Nhẫn và anh Kinh về thăm, tồi hỏi anh Kinh có biết máy bay thì hướng dẫn bộ đội tập. Anh Kinh nghĩ một lúc rồi nói "Hồi tớ đi Thái Nguyên, có thấy một máy bay bị bắn rơi, nó cao lắm, phải 3 tầm người mới tới".


Tối hôm đó chúng tôi tập chồng lên 3 tầm người nhưng khó quá. Anh em muốn lên 3 tầng phải có 1 cây sào giữa. Tối sau lại tập tầng dưới 3 người, tầng 2, 2 người, tầng 3, 1 người, chống sào lên được nhưng nó chông chênh lắm. Tôi cứ suy nghĩ như thế này đánh được ít lắm. Anh em lại đoán mò, cho là tập để đút thuốc nổ vào nòng pháo, lại đánh vào trại pháo thủ ở Kiến An. Chúng tôi lại phải họp chi ủy, dẹp đi sự bàn tán dễ lộ bí mật.


Đầu tháng 11 - 1953, chắc tỉnh cũng thấy khó khăn này nên giao cho chúng tôi đi nghiên cứu B2 tức là sân bay Đồ Sơn, rút kinh nghiệm để đánh BI (Cát Bi).


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:41:23 am
2. Đánh sân bay Đồ Sơn để thực nghiệm

Đại đội rất phấn khởi đi nghiên cứu sân bay Đồ Sơn, xem sân bay và máy bay nó thế nào. Anh em vào xã Ngọc Hải có 3 trung đội trưởng, 9 tiểu đội trưởng do anh Quốc Bình bí thư chi bộ và chị Nghị (nay là nữ anh hùng) dẫn vào. Ban ngày từ rặng bứa Ngọc Hải nhìn rõ sân bay, máy các hàng rào tháp canh, máy bay lên xuống. Tôi vào kiểm tra thực tế, quan sát thấy máy bay vận tải, đuôi sụt thấp, sải cánh không cao lắm, xác định ở tư thế đứng đánh vẫn được, chỉ cần 5 kg là kết liễu một máy bay.


Tối 10 - 11 - 1953, chúng tôi đi trinh sát trở về đến Lạch Hạng đang bơi sông thì bị địch phục kích; nhưng địch không bắt được ai, chỉ bị chết đồng chí Mạnh Hùng. Sau 2 ngày, dân vớt được xác, chôn cất chu đáo.

Ban đầu ngày 2-12-1953 tổ chức cả đại đội 295 vào đánh Đồ Sơn, đi bằng thuyền từ xã Vinh Quang (Tiên Lãng) vào Bằng La, tiến về mục tiêu, nhưng bị sóng lừng, cả đội say sóng, không đánh được, lần này anh Đặng Kỉnh cùng đi, anh quyết định trở về Tiên Lãng nghiên cứu cách đánh khác.


Đêm ngày 17 - 12 - 1953, tổ chức 2 tiểu đội kết hợp với tổ trinh sát của tỉnh, do anh Thắng đại đội phó 295 làm đội trưởng, tỉnh cử anh Minh Khánh trưởng ban tác chiến và anh Hoàn, quân báo đi đốc chiến.

Kết quả diệt được 5 máy bay vận tải, đốt cháy 1 kho xăng. Từ đó anh em kết luận, ở tư thế đứng cũng đánh được máy bay, thuốc nổ không cần 5 kg mà chỉ cần 1 - 2 kg và máy bay có nhiều chỗ móc được nên dùng thủ pháo có cái móc đánh là nhanh nhất. Cuối cùng, anh Kinh quyết định để ăn  chắc dùng lượng thuốc nổ 2 kg.


Từ trạm đánh sân bay Đồ Sơn, ta có đủ kinh nghiệm đánh sân bay Cát Bi.


3. Chuẩn bị tổ chức và diễn biến trận đánh Cát Bi

Lức đầu tỉnh quyết tâm sử dụng tiểu đoàn vào đánh Cát Bi; dùng đại đội 295 đánh sân bay, còn C 330, C 196 và đại đội Quang Trung (Kiến Thụy) ở khu Tân Phong đánh càn để đón C 295 ra... Nhưng khi hành quân ra bờ sông Dương Áo chờ thuyền thì tầu chiến từ bến Khuể xuống, chúng bắn súng và pháo địch ở Kiến An bắn về, lái đò bỏ chạy, bị địch cướp mất 2 thuyền; Do đó phải hoãn kế hoạch. Tỉnh thay đổi quyết tâm đùng lực lượng nhỏ, đánh xong rút ra ngay. Đại đội 295 lập đội quyết tử 30 - 35 người chiến đấu dũng cảm, còn quần áo dù, sản xuất thủ pháo vỏ sắt có móc do tỉnh phát.


Sau khi anh Thiều (Mai Năng) báo cáo kết quả trinh sát sân bay, đêm 2 - 1 - 1954, chúng tôi vào Hòa Nghĩa, suốt ngày ở đó, tình hình im ắng. Đêm 3-1, theo anh Thiều và anh Phiệt dẫn qua sông, chui qua 6 hàng rào, cuối cùng đến ngã tư đường băng, thấy sân bay quá rộng, quan sát mục tiêu rất rõ. 24 giờ, rút ra, vượt qua sông Lạch Tray, vượt đường 14 tới 3 giờ bơi về Tiên Lãng. Trời chưa sáng. Có thể tạm kết luận nếu nổ súng lúc 12 giờ đêm và rút ra sẽ ngon lành.


Ngày 5 tháng 1, anh Nhẫn và anh Kinh gặp và nghe kết quả trinh sát và tán thành phương án tổ chức một đội quyết tử 32 người trú quân ở Tân Phong, Hòa Nghĩa một ngày, tối sau vào đánh rồi rút quân ngay. Ăn cơm xong, anh Nhẫn gặp tôi nói "gọi là đội quyết tử nghe nó nặng nề hay cứ gọi đội đánh Cát Bi có được không?" Anh lại cười thân mật nhìn thẳng vào tôi nói: "đồng chí nên cưới vợ đi, có vợ càng thêm sức mạnh, chiến thắng về lại có vợ thật tốt chứ sao". Tồi vừa vui, vừa cảm động, rồi lúng túng chẳng biết thế nào thì anh Kinh nói ngay "cứ cưới vợ đi, đâu có đó, có vợ đánh càng hăng, tỉnh sẽ cử anh Sĩ Đô tham mưu phó, anh Thịnh, ban cán bộ về bàn với địa phương chuẩn bị chu đáo". Anh Văn Hiến củng rất đồng tình với tình và bàn với tôi phải tranh thủ vì anh Kinh qui định ngày 14/1 phải có ở đơn vị nhận lệnh.


Đúng tối 10/1 tổ chức cưới ở thôn Câu thuộc huyện Vĩnh Bảo, sáng 12/1 tôi tạm biệt ra đi, vợ tôi tiễn tôi đến tận sông đò Cầu, tôi bơi qua sông, nhìn lại vợ tôi vấn đứng ở đê, tôi vẫy tay, vợ tôi giơ nón vấy lại. Tôi nghĩ đừng làm phiên cho vợ, tôi tụt xuống chân đê, trở về đơn vị. Thật kỳ, 2 người ở 2 huyện, mới lấy nhau có 2 ngày đã khóc mếu, tình cảm đặc biệt thật.


7 giờ sáng 3/3/1954 tại thôn Chử Khê (Tiên Lãng) diễn ra cuộc họp triển khai kế hoạch, có các đồng chí Nhẫn, Kinh, Minh Khánh, Sơn (Kiến Thụy), Thiều (quân báo) và Khanh phó chủ tịch huyện Tiên Lãng phụ trách đò. Sau khi được biết tình hình không có gì lộ bí mật, đồng chí Nhẫn Bí thư Tỉnh ủy nói: "Trận đánh này rất quan trọng, cấp trên trực tiếp chỉ đạo chúng ta. Các đồng chí nhận nhiệm vụ phải thật thoải mái, kiên quyết thực hiện. Tôi chỉ nhắc phải tuyệt đối giữ bí mật, vì bí mật đã thắng một nửa".


Sau đó anh Kinh phổ biến kế hoạch như sau:

- Chỉ tiêu trên giao: phá hủy từ 50 máy trở lên. Phải đánh thắng, người phải an toàn, thương vong ít nhất. Nhiệm vụ giao cho đại đội 295 và tổ trinh sát của tỉnh là chính. Đồng chí Yến là đội trưởng đội đánh sân bay Cát Bi, đồng chí Minh Khánh tác chiến tỉnh đội, xuống đốc chiến đi với một mũi. Lực lượng có 32 người (28 người của C 295 + 3 người gồm anh Thiêu và 2 trinh sát viên + đồng chí Khánh) tổ chức cụ thể:

a) Đội đánh sân bay chia làm 2 mũi:

- Mũi một Đỗ Tất Yến chỉ huy, Thiều dẫn đường và 23 chiến sĩ cộng 25 người làm mũi chính nổ súng trước, đánh vào khu máy bay chiến đấu. Trang bị 1 súng ngắn, 2 tiểu liên K50, 2 khối thuốc nổ, mỗi khối 5 kg, 69 quả thủ pháo nặng 2 kg, 2 kìm công binh mỗi chiến sĩ 2 lựu đạn, 1 dao găm.

Đánh máy bay xong phát triển đánh kho đạn.

- Mũi hai do anh Minh Khánh chỉ huy, có anh Phiệt, trung đội trưởng C 295 và 5 chiến sĩ được trang bị 1 súng ngắn, 1 tiểu liên K50, 15 thủ pháo, 2 kìm công bỉnh, mỗi chiến sĩ 2 lựu đạn, 1 dao găm. Mũi có nhiệm vụ chính đánh 10 máy bay trinh sát (Moran), sau đó phối hợp đánh máy bay chiến đấu.

b) Lực lượng chặn địch của C 295 còn lại chia làm 2: một trung đội kết hợp với đơn vị Quang Trung (Kiến Thụy) chặn địch ở cầu Rào và một trung đội khác chặn địch ở phía Đồ Sơn xuống.

c) Bộ phận đò bảo đảm qua sông do đồng chí Khanh phụ trách. Tối 5/1 chở đội đánh máy bay đi trước. Tối 6/1 chở anh em còn lại, sau đó ở lại bên phía Kiến Thụy đón anh em đi đánh về chở sang Tiên Lãng.

d) Thời gian tác chiến: Từ 0 giờ đến 1 giờ ngày 7/3/1954; chỉ tiêu mỗi chiến sĩ đánh 3 chiếc máy bay.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Năm, 2022, 06:42:28 am
- Diễn biến trận đánh:

19 giờ ngày 5/3 tại thôn Chử Khê, xã Hùng Thắng, đội quân đến vị trí đầy đủ, mỗi người mang theo một gói cơm nắm to đủ ăn một ngày. Hôm đó có đồng chí Nhẫn bí thư tỉnh ủy, đồng chí Kinh tỉnh độỉ trưởng, đồng chí Giang Sơn bí thư Kiến Thụy. Tính đội trưởng nhắc anh em quyết thắng, đó là nhiệm vụ Tổ quốc giao cho.

Tôi đứng trước hàng quân, tuyên thệ: "Với Đảng, với Nhà nước và nhân dân Kiến An dù khó khăn mấy, anh em chúng tôi quyết hoàn thành nhiệm vụ". Cả hàng quân hô "Xin thề".

Khi xuất quân, các anh bắt tay hết anh em rồi đi với chúng tôi đến bờ đê Dương Áo. Anh Nhẫn nhắc tôi: "Chỉ huy phải quả cảm gương mẫu", anh Kinh bắt tay tôi Tân cuối "chúc hoàn thành nhiệm vụ".

Đúng 23 giờ đêm 5/3, mũi tôi vào tới Hòa Nghĩa. Tôi và đồng chí Thiều ở nhà bà Hàn; anh em khác chui vào đống rơm rỗng ở các nhà dân, cải trang lại, không phải xuống hầm, tôi nghĩ cách này cũng là một sáng kiến.

Sáng hôm sau ăn cơm xong, tôi đưa cho cô con gái bà Hàn 5 đồng tiền Đông Dương nhờ cô lẻn thành phố đi nghe tình hình và mua 32 chiếc kẹo quả bàng có gừng để khỏi ho khi tiềm nhập. Còn cô con dâu bà được giao nhiệm vụ bám tình hình ở cây đa đầu làng, còn anh Hành con trai bà đi nghe ngóng dân làng có gì lộ liễu.


9 giờ sáng anh Thiêu đi kiểm tra cho biết các nơi giấu quân ở đống rơm như thật, không lộ.

Bỗng nhiên có một tên Pháp đến cây đa Hòa Nghĩa bắn mấy phát súng rồi đi mô tô về Đồ Sơn. Thì ra thằng Tây đến bắn chim, nó bắn được một con chim cu xanh và một con chim sâu, rồi hí hởn đi Đồ Sơn. Tôi và anh Thiều nhìn nhau cười...


12 giờ trưa, con gái bà Hàn ở thành phố về cho biết tình hình bình thường, nhưng cô nói tiếp, vẻ mặt hơi hốt hoảng: "Em vào một nhà quen, ông ta mới đi Hà Nội về kể chuyện tối hôm 4/3/1954 Việt minh đánh sân bay Gia Lâm. Nó vây giáp Hà Nội ghê lắm". Anh Thiều suy nghĩ cũng như dự đoán của tôi: Trước đây ta đánh Đồ Sơn, thằng Pháp ở Cát Bi ở đây vẫn bình thường, còn Gia Lâm ở xa chắc nó còn chủ quan, dù nó có tăng cường đề phòng, ta vẫn vào ngon.


6 giờ tối tồi đang bàn với anh Thiều, có nên nhờ cơ sở nấu cơm nóng cho anh em ăn một bữa cho lại sức không thì anh Hàn đã nói ngay: "Em kiểm tra thấy nhà nào cũng giết gà để anh em ăn, dân chuẩn bị chu đáo rồi". Huyện ủy Kiến Thụy đánh giá dân Hòa Nghĩa luôn ủng hộ cách mạng thật chính xác, khi đưa bộ đội về trú quân ở đây.


19 giờ 6-3, đội chúng tôi xuất quân theo 3 đồng chí cơ sở và 3 đồng chí trinh sát, vượt đường 14 đi được một nửa km, gặp một thanh niên nằm ở đê phủ kín chăn chiên, tôi lệnh cho tổ cơ sở chói lại nhét giẻ vào mồm, khi nào anh em đi ra mới thả, thì ra anh này lại nằm coi đơm, anh ta van xin vì thời gian gấp, tôi lệnh cho cơ sở y lệnh thi hành.


Anh Thiều dẫn chúng tôi ra bờ sông Lạch Tray. Trước mắt là sân bay đèn sáng, các đèn pha chiếu đan xen nhau, tiếng xe xích ầm ầm. Anh Thiều sang sông trước kiểm tra yên tĩnh, đưa bật lửa xuống bờ sông bật ba nhát, báo yên. Mặc dầu tối đó rất rét, chúng tôi cởi quần áo thật nhanh, gói vũ khí, quần áo vào bọc ni-lông thổi phao bơi qua sông an toàn. Tất cả ngậm kẹo quả bàng, đi được 200 mét thấy phía bên trái có một xe xích chạy trên đê, đèn sáng lắm. Chúng tôi nhanh chóng nằm theo mô; đường tối xe xích không phát hiện được, chạy qua độ 300m, chúng tôi vượt đê tiến vào hàng rào thứ nhất. Hàng rào này là hàng rào mái nhà, anh Thiều và 2 chiến sĩ cùng tôi cắt hàng rào xong, giải băng trắng hai bên đánh dấu đường đi ra, cắt không gây tiếng kêu. Tiến vào hàng rào thứ 2 là hàng rào bùng nhùng cắt thứ tự như hàng thứ nhất, tiến tiếp vào hàng rào thứ 3. Anh Thiều lợi dụng ánh sáng chỉ cho anh em bên trái là cái đình cũ, bên phải là đèn đỏ bốt Tư Sinh. Khi ra cửa lấy bên phải làm chuẩn để đi đến cây đa Hòa Nghĩa là không lạc. Chúng tôi cắt hàng rào thứ 3 là hàng rào cũi chó rồi vượt tới hàng rào thứ 4. Ở đây nhìn rõ máy bay Moran (trinh sát) bên trái, máy bay chiến đấu bên phải... Tự nhiên đèn sân bay rực sáng, nhìn rõ đường băng. Nằm quan sát thấy 2 máy bay hạ cánh, chiếc thứ nhất vào đường phụ rồi chiếc thứ 2 cũng xuống, anh em nhìn rõ mục tiêu, hướng phát triển tốt. Một lát sau hệ thống đèn lại tắt. Chúng tôi tiếp tục vượt hàng rào thứ 5 là hàng rào bùng nhùng đã được đồng chí Thiêu và Phiệt cắt xong vượt được 100m; mũi chúng tôi rẽ bên phải vào ngã tư đường băng, còn mũi anh Khánh tiếp cận khu máy bay trinh sát. Mũi chúng tôi gặp một ao bèo tây, tôi xuống nước sâu ngập đầu, khó qua; lúc đó đồng hồ chỉ 11 giờ 20; nếu vượt được ao bèo thì quá giờ nổ súng. Tôi và anh Thiều bàn nhau quay lại mũi 2 tiến tới hàng rào thứ 6, gặp anh Khánh cũng đồng ý vào một hướng và tỏa ra 2 mũi. Cắt xong hàng rào, 2 mũi đột nhập vào đường băng rất nhanh rồi lại tỏa ra 2 mũi. 12 giờ đêm, mũi chúng tôi đến ngã tư sân bay, gặp 2 vật trông như 2 lính gác, quan sát thấy không động đậy gì, anh Thiều bò lên quan sát thì ra đó là 2 khẩu cối 81 ly, nó đội mũ nghi binh. Tới rãnh đường băng, triển khai đội hình song thì có 3 tên lính đi tuần qua mặt. Đợi chúng quay lại, chúng tôi quyết định: đồng chí Thiều và Sử dùng tiểu liên nổ súng tiêu diệt gọn bọn đi tuần rồi xung phong ngay lên đánh máy bay.


Tiếng xung phong, tiếng lựu đạn tiếp theo tiếng thủ pháo. Máy hay bốc cháy; cây lửa cháy kéo dài cả đường băng chính tới đường bàng phụ. Mấy phút đầu, địch chưa kịp phản ứng, sau đó chúng bắn trả lại. Phía chúng tôi có đồng chí Dung mới đánh 1 máy bay thì bị thương còn 2 quả thủ pháo giao cho anh Phong vào đánh tiếp, giao 5 kg thuốc nổ cho 1 đồng chí vào đánh kho bom.


1 giờ ngày 7/3/1954, sân bay đã biến thành biển lửa, địch đã phản ứng, anh em rút quân. Địch điên cuồng bắn lung tung, đạn lửa nối đuôi nhau như đàn chuột, đèn dù, pháo sáng, còi kéo inh ỏi. Theo đường cũ, chúng tôi trèo qua hàng rào chạy một lúc đến bờ sông, đang đứng gói quần áo thì một phát nổ vang động, hơi ép thuốc nổ đẩy ngã anh em, chúng tôi reo lên "đã phá trúng kho bom lồi". Bên kia sông ánh bật lửa báo an toàn; anh em qua sông gặp chàng thanh niên đi đơm đó đang bị cơ sở ta trói giữ, bây giờ mới được thả ra. Về đến cây đa thôn Hòa Nghĩa, dân đã nấu chè, nước uống mang ra cho bộ đội, chúng tôi đang khát ăn vội bát chè, uống nước. Nghe tiếng xe tăng gầm rú phía cầu Rào, chị Thanh bí thư chỉ bộ Tân Phong đã giục đi nhanh, chị dẫn chúng tôi đến bờ sông Văn Úc. Anh Khanh Phó chủ tịch huyện đã đón chúng tôi, chúc mừng chiến thắng. Đến bờ sông Dương Áo, các vết đau nhức nhối, chân tay rách máu chảy, quần áo rách mướp, cố dìu nhau lên đê, gặp đồng chí tỉnh đội trưởng hỏi đánh được bao nhiêu, tôi chỉ trả lời anh "nhiều lắm, làm sao đếm được, nổ cả kho bom".


Về đến khu an toàn, điểm quân thấy thiếu đồng chí Dung, Tuyên, Vành, toàn đội còn 29 người, có 1 đồng chí không hoàn thành nhiệm vụ.

Kết quả: Anh em đã nổ 78 quả thủ pháo, nhưng anh Minh Khánh tính độ 53 chiếc (trong sử sách ghi là 59 chiếc).

8 giờ ngày 8/3/1954 đồng chí tỉnh đội trưởng thông báo tin đầu tiên Bác Hồ khen quân dân Kiến An; Bác tặng anh em đánh sân bay Cát Bi danh hiệu: "Đoàn dũng sỹ Cát Bi".

Ngày 1/5/1954, Tỉnh ủy trao cho tôi (Đỗ Tất Yến) giấy khen của đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh.

Trận đánh sân bay Cát Bi là một trận đánh độc lập, ở sâu trong địch hậu, có tác dụng phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Điện Biên Phủ, đã phá hủy nhiều máy bay của địch. Trận đánh không chỉ là thắng lợi về quân sự mà cả về chính trị, không chỉ có ý nghĩa về chiến đâu mà còn có ý nghĩa về phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phù, có tính quyết định về chiến tranh.


Chiến thắng Cát bi là chiến công lịch sử của quân dân Hải Phòng. Đó là do sự chỉ đạo rất giỏi của Tỉnh ủy, Tỉnh đội, sự đóng góp to lớn của Huyện ủy Kiến Thụy, nhân dân xã Tân Phong, Hòa Nghĩa và sự phục vụ chiến đấu của Huyện ủy và UBKCHC huyện Tiên Lãng.


Chiến thắng Cát Bi rất vẻ vang. Anh em chúng tôi còn nhớ mãi danh hiệu Bác tặng: "Đoàn dũng sỹ Cát Bi"

ĐỖ TẤT YẾN


Chú thích:
   - Những tiểu đề do tổ biên soạn đặt.
   - Nhà nước còn tặng huân chương:
   + 1 Quân công hạng nhất cho đội đánh sân bay + 3 Quân công cho tỉnh đội trưởng Kiến An và 2 chiến sĩ trinh sát + 28 chiến sĩ hạng nhất cho các dũng sĩ Cát Bi


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:41:11 am
Phần III
ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG NHÂN DÂN TRÊN ĐƯỜNG 5

KỶ NIỆM 51 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TỈNH ĐỘI HẢI DƯƠNG
(27/3/1947 - 27/3/1998)


Đại tá Nguyễn Trọng Hiếu
Chỉ huy trưởng
Ban chấp hành quân sự tỉnh Hải Dương


Cách đây 51 năm (27/3/1947), để đáp ứng yêu cầu chỉ huy thống nhất các LLVT trong tỉnh, được sự nhất trí của Tổng quân ủy, Bộ Quốc phòng và Liên khu ủy khu III, Tỉnh ủy Hải Dương đã ra quyết định giải thể ủy ban bảo vệ tỉnh và thành lập tỉnh đội Hải Dương. Đồng chí Đặng Tính, nguyên Bí thư Tỉnh ủy được Tỉnh ủy đề nghị làm Tỉnh đội trưởng - ngày đó đã trở thành ngày truyền thống của LLVT tỉnh Hải Dương.


Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, LLVT tỉnh nhà trải qua chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, góp phần cùng với quân và dân trong cả nước tô thắm truyền thống vinh quang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng: Tận trung với nước, tận hiếu với dân. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, của nhiều thế hệ LLVT trong tỉnh đã cùng với toàn Đảng, toàn dân viết nên trang sử hào hùng của dân tộc, của vùng quê châu thổ sông Hồng, chấp nhận gian khổ hy sinh tiến hành thắng lợi chiến tranh giải phống đần tộc vớỉ lời thề: "Quyết tử cho Tố quốc quyết sinh".


Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vâng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng: Động viên toàn dân - tổ chức toàn dân - vũ trang toàn dân - đánh giặc toàn diện. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị - chiến tranh với khởi nghĩa vũ trang, tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tạo thành sức mạnh tổng hợp áp đảo quân thù, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Thực hiện khẩu hiệu: "Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến", quân và dân Hải Dương đã đánh trên 13.680 trận đánh lớn, nhỏ; Tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 75.058 tên địch; phá hủy 121 đoàn tàu với 912 toa xe; 760 xe quân sự các loại; 45 khẩu pháo; phá hủy hàng ngàn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Cùng cả nước, vì cả nước viết lên truyền thống "Đường 5 bất khuất". Những tên đất, tên làng trên quê hương Hải Dương hôm nay đã thấm đẫm biết bao máu, xương đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.


Những trận đánh giao thông sấm sét trên đường 5 cùng những trận công đồn chống vây càn, những cuộc phá tề, trừ gian làm nức lòng quân và dân trong tỉnh, đã hình thành "Hướng chiến trường du kích" sôi động, tiêu diệt, tiêu hao địch. Phối hợp với các chiến trường khác, căng kéo quân cơ động của địch, phá tan âm mưu "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của địch, góp phân đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.


Những làng chiến đấu kiểu mẫu như: Ái Quốc (Nam Sách), Xuân Nẻo, Ô Mễ (Tứ Kỳ), Việt Hồng (Thanh Hà), Nhân Quyền (Bình Giang)... Và biết bao thôn, làng trong vùng địch hậu, mà kẻ thù không có cách nào phá nổi. Đầu năm 1945, Đảng ta đã xây dựng Đệ tứ chiến khu Đông Triều, một trong những chiến khu trong cả nước đã lập nhiều chiến công hiển hách trên đường số 18 và tỉnh Quảng Yên xưa.


Kháng chiến chống Pháp, làng xã quê ta là những mục tiêu quan trọng để ta bám trụ đánh địch, kẻ thù quyết cướp đất, giành dân - ta quyết giữ vững quê hương, thôn làng, bảo tồn sinh lực kháng chiến lâu dài. Đã có biết bao tấm gương anh hùng, quả cảm, son sắt, thủy chung. Anh hùng liệt sĩ Mạc Thị Bưởi, người chiến sĩ du kích vùng địch hậu được cả nước biết tên, quân thù khiếp sợ.


Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Đăng Lành, 14 tuổi đời ở Nam Hưng, Nam Sách bị quân địch bắt tra tấn hết sức dã man, song anh vẫn kiên quyết bảo vệ cơ sở, bảo vệ cách mạng đến hơi thở cuối cùng, và cuối năm 1997 được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.


Những trận chiến đấu cắt giao thông trên đường 5 của du kích Kim Thành, du kích Cẩm Giàng lật đoàn tàu giặc. Những chiến công của đội nữ du kích Mê Linh, Thành Đông "Đòn gánh đánh Tây", đánh giặc giữa ban ngày ở chợ Chương, Thanh Miện. Những trận phục kích trên dòng sông Phà Gùa, Thanh Hà bắn chìm tàu chiến địch. Những đêm diệt bốt, phá tề tiêu diệt hàng trăm đồn bốt địch.


Với ý chí và lòng dũng cảm tuyệt vời, cả quê ta tạo nên "Thiên la địa võng" của chiến tranh nhân dân ngày một phát triển cao, đánh địch ở mọi nơi, bằng mọi loại vũ khí có trong tay.

Hình ảnh bác già Thìn ở Bình Giang dùng kèn lừa địch, bác Thòa ở Đại Đức, Kim Thành vua mìn lật đoàn tàu giặc... Và biết bao tấm gương anh dũng vô song của hàng chục vạn đồng bào, đồng chí đã nêu gương sáng về sự hy sinh, lòng đũng cảm, mưu trí, sáng tạo kiên cường đấu tranh với địch.


Vừa chiến đấu, vừa xây dựng tỉnh nhà đã bổ sung trên 38.000 thanh niên cho các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, trong đó có rất nhiều con em Hải Dương chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc trên khắp các chiến trường.

Anh hùng Lê Văn Nổ xã Hùng Sơn, Thanh Miện.

Anh hùng Đặng Đức Song, Cộng Hòa - Nam Sách.

Anh hùng liệt sỹ Mạc Thị Bưởi, Nam Tân, Nam Sách.

Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Đăng Lành, Nam Hưng, Nam Sách...

Đó là những tẩm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm truyền thống chiến đấu kiên cường của quê hương "Đường 5 bất khuất".

9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân và LLVT trong tỉnh đã có nhiều tập thể và cá nhân được Đảng, Nhà nước, quân đội tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quí, Huân chương các loại.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, với những kinh nghiệm quí báu của 9 năm kháng chiến chống Pháp, dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đã góp phần hình thành phát triển và hoàn chỉnh học thuyết chiến tranh nhân dân, toàn dân - toàn diện, xây dựng nên một nghệ thuật chiến tranh: "Lấy ít địch nhiều - Lấy nhỏ thắng lớn - Lấy chất lượng cao thắng số lượng đông", dựa vào sức mạnh nhân dân làm chủ để đánh giặc, luôn luôn đánh địch trên thế chủ động, tạo ra thế và lực mạnh hơn kẻ thù để giành chiến thắng.


Từ sau tháng 3/1968, 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên được hợp nhất, sức mạnh của Hải Hưng được nhân lên gấp đôi, trong xây dựng CNXH ở miền bắc và cùng đồng bào miên Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quân và dân Hải Hưng không tiếc máu xương, sức người, sức của, trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và chi viện cho chiến trường miên Nam, với khẩu hiệu: "Thóc không thiếu 1 cân, quân không thiếu 1 người". Đã có 159.801 người nhập ngũ. Lớp lớp con em Hải Hưng vào Nam chiến đấu trên khắp các chiến trường lập công xuất sắc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh còn nằm lại ở khắp các chiến trường.


Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại băng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc 1965 - 1968 và 1972, nhận rõ vị trí chiến đấu của đường 5 nối liền Hà Nội với cảng Hải Phòng, quân và dân Hải Hưng đã cùng với quân và dân cả nước chiến đấu ngoan cường, chiến thắng vẻ vang.


Đã tham gia chiến đấu 2.321 trận, bắn rơi 70 máy bay, trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 13 chiếc, tiêu diệt và bắt sống hàng chục giặc lái Mỹ. Tháo gỡ an toàn hàng ngàn quả bom nổ chậm, thủy lôi của địch đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt.


Địch đánh phá đường 5A, ta mở đường 5B - 5C, địch đánh phá đường bộ, ta có đường sông đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống, với khẩu hiệu: "Vừa chiến đấu, vừa sản xuất"; "Tay cày tay súng, tay búa tay súng". Đối mặt với bom đạn và không quân địch, quê hương ta đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu kiên cường:


Hình ảnh chị Bùi Thị Vân, cô gái Lai Vu huyện Kim Thành "Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù".

Chị Đặng Thị Quí người con gái Nam Chính, Nam Sách bình tĩnh phá bom nổ chậm trước ngày làm lễ cưới...

Trung đội dân quân gái phòng không của đồng bào thiên chúa giáo xã Tráng Liệt, Bình Giang bôn tập, đón lõng phục kích bằng vũ khí bộ binh bắn rơi máy bay địch.

Và biết bao bà mẹ "Vườn cam", "Bà mẹ chính ủy" thường xuyên có mặt ngoài trận địa động viên con cháu đánh trả không quân địch bảo vệ quê hương, với khẩu hiệu: "Hãy nhìn thẳng quân thù mà bắn".


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:42:02 am
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua, nhưng chiến công vẫn còn mãi mãi, hàng ngàn người con ưu tú của Hải Dương đã anh dũng hy sinh, hàng chục ngàn dồng bào, đồng chí còn mang trong mình vết thương chiến tranh. Lịch sử sẽ trân trọng, nhắc nhở cho các thế hệ mai sau: Đất Hải Dương giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm, người Hải Dương đoàn kết, gắn bó biết đánh và biết thắng quân thù.


Sau gần 30 năm chiến đấu gian khổ chống giặc ngoại xâm, Tổ quốc được thống nhất, Bắc - Nam xum họp một nhà, cả nước đi lên CNXH. Song kẻ thù lại gây nên 2 cuộc chiến tranh ở hai đầu đất nước. LLVT Hải Dương theo tiếng gọi của Đảng lại lên đường ra mặt trận, chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Các trung đoàn 813 - Đoàn Nguyễn Trãi tham gia chiến đấu trận đầu lập công xuất sắc, gần 10 ngàn chiến sĩ dân quân tự vệ được bổ sung để xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc. Trong chiến đấu, LLVT tỉnh nhà đã lập công xuất sắc. Trên trận tuyến lao động sản xuất xây dựng quê hương, LLVT Hải Dương đã góp phần hàng triệu ngày công, tham gia xây dựng các công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, Đập Bá Thủy, Nông trường Sao Đỏ, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, xí măng Vạn Chánh, Nhà máy gạch Chiến Thắng... góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp.


Giai đoạn 54 - 64, LLVT tỉnh nhà 8 năm giữ cờ thi đua khá nhất Quân khu III và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ: "Quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược".

51 năm qua "Cùng với cả nước và vì cả nước", LLVT Quân khu III, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã lập nên bao chiến công hiển hách. Sức mạnh quản khu III, của người đồng bằng châu thổ sông Hồng đâ viết lên truyền thống: "Đoàn kết - hy sinh - Chiến thắng". Sức mạnh của nhân dân và LLVT tỉnh nhà đã viết nên truyền thống: Giàu của - Giàu người - Giàu chiến công".


51 năm qua, nhân dân Hải Dương đã tiễn đưa 24 vạn con em của mình lên đường bảo vệ Tổ quốc. Có hàng chục ngàn người tham gia dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Trong số những người ra đi đã có hơn 37 ngàn là liệt sĩ; các anh, các chị mãi mãi nằm lại ở khắp các chiến trường.


Có hơn 16 ngàn là thương binh, 3.639 người là bệnh binh.

Có 1.700 người là bộ đội, thanh niên xung phong bị nhiễm chất độc màu da cam và chất độc hoá học, đang cần sự giúp đỡ của toàn xã hội.

Cho đến nay trong toàn tỉnh có 1.458 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".

Có 26 đồng chí được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hừng LLVT.

Có 9 đơn vị huyện, xă được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT. LLVT tỉnh được tặng thưởng đơn vị Anh hùng.

Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng, LLVT tỉnh nhà luôn gắn với sự lãnh đạo của Đảng, gắn với truyền thống dân tộc, truyền thống quê hương trải qua các thời kỳ lịch sử.

Tổ quốc và nhân dân mãi mãi biết ơn các Anh hùng liệt sỹ, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, những người có công với nước. Biết ơn lớp lớp cán bộ, chiến sỹ LLVT Hải Dương, nhiều đồng chí đã giành trọn cả đời mình chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng để có thắng lợi hôm nay và mãi mãi là niềm tự hào của quê hương ta.


Những năm vừa qua, phát huy truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, LLVT tỉnh nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân sự TW, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu III, mà trực tiếp là Tỉnh ủy, HĐND, UBND, sự phối hợp của các Ban, Ngành và nhân dân trong toàn tỉnh, nhiều năm liên LLVT tỉnh Hải Hưng và tỉnh Hải Dương sau này là đơn vị lá cờ đầu của Quân khu III. Năm 1997, trong điều kiện tỉnh nhà vừa được tái lập, đồng thời chia tách các huyện còn lại, biên chế tổ chức có nhiều biến động, tình hình cơ sở một số nơi biểu hiện chưa thật ổn định. Song các cấp ủy Đảng, chính quyền, nhân dân và LLVT đã khắc phục mọi khó khăn, quan tâm chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng LLVT tỉnh nhà có sự tiến bộ về nhiều mặt. Đã triển khai toàn diện các nhiệm vụ, trong đó có nhiều việc làm thiết thực, sáng tạo đạt hiệu quả cao, góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị ở cơ sở. Thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - xã hội ở địa phương theo định hướng tiến bộ. Chất lượng tổng hợp, nhất là chất lượng chính trị, độ tin cậy và sức mạnh chiến đấu của LLVT đã được nâng lên một bước khá toàn diện. Cùng nhân dân khắc phục hiệu quả thiên tai bão, lụt. Góp phần cùng với cấp ủy, chính quyền và các ban ngành địa phương giữ vững sự ổn định chịnh trị ở cơ sở. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội, chính sách đối với người có công, từng bước xã hội hóa về chính sách xã hội, thể hiện đạo lý uống nưổc nhớ nguồn của dân tộc ta.   Đất nước ta sau 10 năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, 4 nguy cơ đến nay vẫn là thách thức lớn. Như Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định, các nguy cơ đó có mối quan hệ tác động lẫn nhau đều không xem nhẹ nguy cơ nào. Tình hình Quốc tế và khu vực hiện nay và những năm sắp tới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hòa bình" âm mưu bạo loạn lật đổ, kết hợp với răn đe bằng quân sự khi có thời cơ nhằm chống phá cách mạng nước ta trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống, với qui mô rộng lớn và ngày càng tinh vi quyết liệt. Trong đó, LLVT nhân dân là một trong những mục tiêu phá hoại hàng đầu của chứng.


Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đứng trước một cuộc đấu tranh mới gay gắt, phức tạp mang ý nghĩa giai cấp, dân tộc và thời đại sâu sắc. Chúng ta không thể xem thường mà không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, chuẩn bị tiềm lực về mọi mặt, đối phó thắng lợi với các tình huống có thể xảy ra, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Vì vậy, nhiệm vụ quốc phòng, nhiệm vụ xây dựng quân đội trong những năm tới mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra là: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh chính trị của đất nước, xây dựng vững chắc liên quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân.


Nâng cao chất lượng các LLVT, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ...".

Chúng ta có quyền tự hào về truyền thống 51 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của LLVT tỉnh nhà đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH.

Trên chặng đừờng sắp tới, LLVT Hải Dương tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy quân sự TW, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy - Bộ Tư lênh Quân khu III, mà trực tiếp của sự lãnh đạo của tỉnh ủy, HĐND, UBND, sự giúp đỡ của các Ban ngành và nhân dân trong tỉnh, của các đơn vị bạn, LLVT tỉnh Hải Dương sẽ tiếp tục phát huy truyền thống LLVT Anh hùng, truyền thống quê hương đường 5 bất khuất lập nhiều chiến công mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:42:54 am
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG
NHÀ MÁY ĐÓNG TÀU BẠCH ĐẰNG MÃI MÃI XỨNG ĐÁNG
VỚI DANH HIỆU "ĐƠN VỊ ANH HÙNG"


Vũ Xuân Bão
Bí thư Đảng ủy
Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng


Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, đứa con đầu lòng của ngành công nghiệp tàu thủy miền bắc, là thành viên chủ chốt, của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, phục vụ sự nghiệp phát triển giao thông vận tải của cả nước. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam Bắc, nhà máy được khởi công xây dựng từ ngày 1/4/1960, đến ngày 25/6/1961 chính thức được thành lập theo quyết định số 577/QĐ của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Suốt chặng đường 36 năm (1961 - 1997), dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, tập thể lãnh đạo và đội ngũ cán bộ - công nhàn viên nhà máy bằng mồ hôi, sức lao động sáng tạo và cả bằng máu, đã viết nên những trang sử hào hùng, tạo dựng những truyền thống vẻ vang, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của thành phố Hải Phòng và đất nước, được Đảng-Quốc hội-Chính phủ hai lần phong tặng dang hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" (1/10/1971 và 2/9/1995).


Những năm 1961 - 1964 đánh dấu thời kỳ sự hình thành Nhà máy, nơi tụ hội những người con ưu tú của cả ba miền: Bắc-Trung-Nam, gồm bộ đội chuyên ngành, thanh niên xung phong, công nhân quân giới, những trí thức mới được đào tạo từ khóa đầu tiên của trường Đại học Việt Nam sau ngày miền bắc được hoàn toàn giải phóng... tất cả đều có tri thức văn hóa, trình độ kỹ thuật, nghề nghiệp vững, giác ngộ chính trị cao, hăng say lao động. Chính những con người này đã tạo thế đứng vững vàng cho nhà máy trong giai đoạn 10 năm vừa sản xuất, vừa chiến đấu (1965 - 1975), góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những thế hệ cán bộ-công nhân nhà máy ngày nay và mãi mãi sau này rất tự hào về những lớp người đi trước đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, đóng thành công con tàu đi biển trọng tải 1.000 tấn đầu tiên của Tổ quốc; cung cấp một khối lượng lớn hàng nghìn phương tiện vận tải và đảm bảo giao thông thông suốt trong chiến tranh, mà tiêu biểu là những "con tàu không số" làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển, tàu phá bom từ trường, tàu phá thủy lôi không người lái được điêu khiển bằng sóng vô tuyến từ xa, cầu phao Cồng binh (LPP)... đã có mặt ở khắp các chiến trường, góp sức trên trận tuyến đánh địch bằng tri thức khoa học kỹ thuật, bằng lòng quả cảm của giai cấp công nhân.


Bước sang giai đoạn hoà bình xây dựng và phát triển sản xuất (1976 - 1997), đặc biệt là trang 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhà máy đã có nhiều cố gắng nổi bật là tinh thần lao động sáng tạo, là những bước đi năng động trong việc tìm ra các giải pháp phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, vượt lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng đất nước. Đóng thành công các loại tầu đi biển pha sông, tàu đi biển xa trọng tải 1125 DWT, 3850 DWT do Việt Nam tự thiết kế, cùng nhiều sản phẩm đặc chủng phục vụ quốc phòng, an ninh và các ngành kinh tế trọng đỉểm như: Pông tông chở và dựng dàn khoan dầu khí đầu tiên trên biển Đông, cần cẩu nổi có sức nâng 600 tấn cho Trường Sa; sửa chữa lớn nhiều tàu biển có trọng tải hàng vạn tấn đạt chất lượng quốc tế v.v... Những công trình này tự nói lên bước trưởng thành về trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề của đội ngũ cán bộ, công nhân và năng lực sản xuất của nhà máy.


NÉT ĐẸP TRỞ THÀNH TRUYỀN THỐNG XUYÊN SUỐT 36 NĂM QUA CỦA NHÀ MÁY ĐÓNG TÀU BẠCH ĐẰNG LÀ TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO, TẬP THỂ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC CŨNG LUÔN LUÔN ĐOÀN KẾT, BIẾT CÁCH PHÁT HUY THUẬN LỢI KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, YẾU KÉM ĐỂ SÁNG TẠO VƯƠN LÊN.


Tinh thần đoàn kết được xây dựng trên những cơ sở khoa học của tình hữu ái giai cấp, tình đồng nghiệp và tính chất công nghiêp, đoàn kết thông qua đấu tranh đi đến nhận thức đúng đắn về thuận lợi, khổ khăn, yếu kém để vươn lên hoàn thành một cách sáng tạo. Nhân tố thuận lợi, mặt mạnh cơ bản này luôn được nhận thức đúng và không ngừng được bổ sung trên mỗi chặng đường phát triển của nhà máy.


Chiến tranh là một thử thách ác liệt đối với một cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung; 8 năm chiến tranh phá hoại, máy bay Mỹ đã đánh phá vào nhà máy 53 trận, trút xuống 689 quả bom cỡ từ 500-2.000 bảng Anh và hàng nghìn bom bi bom xuyên, tên lửa có tính hủy diệt. Nhà máy đã tìm ra giải pháp kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất với chiến đấu, kinh tế với quốc phòng, tổ chức lực lượng đánh địch 227 trận, bảo vệ vững chắc giữ cho nhà máy sản xuất liện tục; đóng mới 1.843 tàu, salan các loại, gần 50 "tàu không số", 46 bộ cầu phao Công binh (LPP) với tổng chiều dài hơn 8,000m, 12 tàu phá thủy lôi, 40 bộ cầu cáp vượt Trường Sơn v.v... góp phần tích cực chi viện tiền tuyến lớn miền Nam - và đảm bảo mạch máu giao thông thời chiến thông suốt, liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước năm sau cao hơn năm trước, thực hiện tốt lời thề với Đảng, với dân "Đứng vững đôi chân thép: sản xuất - chiến đấu" trong mọi tình huống.


Đất nước thống nhất, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, trong nước nhiều khó khăn nẩy sinh ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, vật chất tinh thần của công nhân viên chức, nhà máy càng phát huy sự đoàn kết nhất trí trong việc xác định phương hướng sản xuất - kinh doanh, tổ chức đời sống, đảm bảo giữ vững đội ngũ.


Hoạt động trong cơ chế thị trường, phát huy được tính tích cực trong hoạt động kinh tế nhưng mặt trái của nó cũng vô cùng nghiệt ngã, tiêu cực xã hội có đất phát triển, yếu kém nẩy sinh... đấu tranh nội bộ trong nhà máy được đẩy mạnh để giữ vững phẩm chất, đạo đức giai cấp công nhân và không bị chệch hướng xã hội chủ nghĩa; Sản xuất của nhà máy từng bước được phát triển vững chắc, doanh thu 1900 đạt 11,2 tỷ đông, 1995 đạt 50,5 tỷ, 1997 đạt 76 tỷ đồng, đời sống - việc làm của người lao động ổn định và có bước cải thiện.


Năm 1998, cả nhà máy đang đồn sức cho chương trình đóng tàu biển lớn của Việt Nam.

Cuộc hành trình suốt 36 năm qua của nhà máy đống tàu Bạch Đằng tuy chưa thực dài, song ở mỗi khúc quanh lịch sử khó khăn thường khắc nghiệt, nhưng thời cơ cũng được mở ra bởi vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, tổ chức điêu hành của chính quyền và các hoạt động của đoàn thể quần chúng đều có chung mục tiêu: tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì nhà máy thân yêu để phấn đấu vươn lên.


Trong chặng đường tiếp theo với đặc điểm của liên kinh tế thị trường vừa năng động, vừa nhạy cảm, nhưng cũng có nhiều thử thách đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng bộ nhà máy phải bám chắc định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, luôn luôn đổi mới để tập hợp cán bộ, đảng viên, công nhân viên thành một khối đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, giữ vững niềm tin, phát huy truyền thống lao động sáng tạo nhằm khẳng định vị trí, không ngừng nâng cao uy tín của nhà máy trong ngành công nghiệp đóng và sửa chữa tàu Việt Nam và đủ sức vươn ra thị trường quốc tế.


Tính nghiệt ngã của cơ chế thị trường đặt ra cho lãnh đạo nhà máy phải luôn nhạy bén, tránh bảo thủ, gia trưởng, giáo điều trong cách nghĩ, cách làm để phát triển sản xuất, giữ vững đội ngũ, ứng dụng phù hợp những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, từng bước chăm lo nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo trong công nhân viên chức, nhất là đối với người có công và các gia đình chính sách, coi người lao động là vốn quý nhất, là chủ thể của mọi hoạt động. Đây chính là bí quyết và là thực tiễn phải giải quyết để nhà máy đóng tàu Bạch Đằng tiếp tục tiến lên xứng danh "đơn vị anh hùng".


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:44:01 am
NHÂN DÂN VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUẬN HỒNG BÀNG
KHÔNG NGỪNG PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐƠN VỊ
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN


Đồm Minh
(Dựa theo tài liệu của Quận ủy Hồng Bàng)


Hồng Bàng là một trong 4 quận nội thành Hải Phòng, có vị trí xung yếu trong quá trình hình thành và phát triển thành phố công nghiệp, thành phố Hải cảng lớn miền Bắc Việt Nam.

Tại đây, tập trung các cơ quan đầu não lãnh đạo chính trị hành chính, như trụ sở Đảng bộ, UBND của toàn thành phố cùng với cơ quan Công an, Văn hóa v.v... Quận Hồng Bàng là đầu mối giao thông thủy bộ tỏa đi khắp mọi miền đất nước. Từ quận Hồng Bàng là cảng Hải Phòng có tàu biển có thể đi khắp trong nước và thế giới, có sông Cấm, sông Tam Bạc, sông đào Hạ Lý tạo 1 mạng lưới giao thông thủy rất phát triển, tàu thuyền đi lại tấp nập. Đồng thời có đường 10 từ Thái Bình qua phà Bính đi Uông Bí, Đông Triều, đi Quảng Yên - Hạ. Long; đặc biệt có đường số 5, nối Hải Phòng với thủ đô Hà Nội. Suốt dải hơn 10 km đường 5 chạy qua quận, mọc lên những cơ sở công nghiệp, dịch vụ có tầm quan trọng quốc gia như Sở Dầu, nhà máy Xi măng, nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, sông Cấm, Ngân hàng, Bưu điện, chợ Sắt v.v... do đó đã tập hợp hàng vạn dân đến đây sinh cơ lập nghiệp. Vì là trung tâm hành chính, kinh tế, thương mại, dịch vụ nên quận Hồng Bàng trước hết và đầu tiên là mục tiêu đánh phá, chiếm đóng của các kẻ thù xâm lược của thời chống Pháp và chống Mỹ. Nhưng trong gian nan thử thách của lịch sử, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy trên cơ sở kinh nghiệm truyền thống xây dựng Đảng bộ và các đội xích vệ từ những năm 1930, quân, dân quận Hồng Bàng đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trên địa bàn vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, lập nên những chiến công chói lọi về sản xuất và chiến đấu, góp phần vào chiến thắng chung của đất nước và thành phố.


Thời chống Pháp, "Sự kiện Hải Phòng" bùng nổ ngày 20/11/1946, bắt đầu từ quận Hồng Bàng tại bến Tam Kỳ rồi lan sang chợ Sắt, nhà Bưu điện, Nhà hát lớn, khắp nơi trong quận, những địa danh đã đi vào lịch sử chiến đấu của toàn thành phố và cả nước. Khắp nơi đã chứng kiến các cụ già, thành niên, phụ nữ, thiếu nhi tự vệ đẩy xe ô tồ, xe bò, giường ghế, bàn tủ làm chướng ngại vật trên đường, đào công sự, đục tường thông với các nhà, đắp ụ bắn, tổ chức tiếp tế, cứu thương v.v... Bộ đội và tự vệ với trang bị vũ khí thô sơ và nghèo nàn, trình độ quân sự còn ấu trĩ, phải đương đầu không cân sức với kẻ thù rất hùng mạnh. Nhưng đã đánh trả mãnh liệt, chôn mìn, ném lựu đạn, chai cháy vào xe tăng địch, dùng súng bắn tỉa. Cuộc chiến trên đường phố diễn ra rất hào hùng và bi tráng. Điển hình có trận đánh ở Bưu điện, chỉ có 1 tiểu đội vệ quốc đoàn đã giữ được vị trí hơn 1 ngày, trận đánh Nhà hát lớn chỉ có 1 trung đội vệ quốc đoàn do Đặng Kim Nở chỉ huy và 22 chiến sĩ đội tuyên truyền văn hóa chiến khu 3 do Nguyễn Văn Đạo làm đội trưởng, đã nêu gương chiến đấu đến cùng báo vệ Nhà hát lớn.


Trong suốt 8 năm kháng chiến, nhân dân quận Hồng Bàng phải sống dưới sự kìm kẹp của bọn xâm lược, sự lãnh đạo và ranh giới hành chính cấp quận cũng có nhiều đổi thay, từ các tiểu khu thành quận Bạch Đằng (tên trước của Hồng Bàng), hồi háng 5 năm 1950 rồi lại bỏ cấp quận (1/1952), (mãi tới tháng 8/1961 lại tổ chức thành khu phố Hồng Bàng, sau đó năm 1981 đổi tên thành quận như ngày nay). Nhiệm vụ chủ yếu lấy việc tranh thủ nhân dân, phát triến dân vận và ngụy binh vận làm công tác chính. Hành động nổi bật nhất là đêm 18/6/1953 bộ đội và du kích Kiến An đã đánh phá kho đầu, một kho xăng đầu có tính chất chiến lược của địch, 147 triệu lít xăng đầu, 300 xe cơ giới quanh đó bị tiêu hủy.


Từ ngày 20/7/1954, hòa bình được lập lại, phải trải qua 300 ngày sau, ngày 13/5/1955, Hải Phòng mới tiếp quản thắng lợi. Tiếp đó quân dân quận Hồng Bàng góp phần cùng thành phố xây dựng miền bắc xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị tiềm lực về mọi mặt, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vừa chi viện chiến trường vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần đánh thắng oanh liệt hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ vào thành phố. Quân dân quận Hồng Bàng đã lập được thành tích xuất sắc sau:

1/ Tổ chức hệ thống phòng không nhân dân, hầm hào phòng tránh, vừa bám trụ giữ vững sản xuất ổn định đời sống, bảo đảm an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội.

Quận là một trong những trọng điểm của thành phố bị đánh phá rất ác liệt, có nhiều khu vực bị đánh hủy diệt tàng bom rải thảm của máy bay B52. Nhưng nhờ tổ chức báo động tốt, có hệ thống hầm hào trú ẩn vững chắc tổ chức các cơ quan, trường học sơ tán tốt kịp thời giải quyết hậu quả đảm bảo mức tổn thất về người và của thấp nhất, tổ chức tốt đánh trả máy bay Mỹ, bộ đội và tự vệ bắn rơi 10 máy bay, nổi bật nhất là tiểu đoàn cao xạ nhà máy đóng tàu Bạch Đằng. Các nhà máy lớn trên đất Hồng Bàng vẫn đứng vững tiếp tục sản xuất, cầu phà, đoạn đường số 5 bị đánh phá tới đâu, ta lại sửa tới đó, đảm bảo giao thông thông suốt.


2/ Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, chi viện cao nhất sức người, sức của cho miên Nam.

Từ 1965 - 1975, Hồng Bàng đã tuyển 5.474 bộ đội, năm nào cũng đạt và vượt chỉ tiêu; đồng thời đã sản xuất nhiều sản phẩm chi viện cho miên Nam và các tỉnh bạn.


3/ Nhanh chóng giải quyết hậu quả chiến tranh rà phá bom, mìn còn lại, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Từ sau Hiệp định Pari, quận Hồng Bàng vừa tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ chi viện, góp phần giải phóng miên Nam, vừa lo việc khôi phục sinh hoạt bình thường, khôi phục sửa chữa hàng vạn ngôi nhà, trường học, cơ quan, nhà máy, đường xá; khắc phục bom, mìn còn sót lại, đảm bảo an toàn cho các công trình. Chính sách hậu phương quân đội cũng được chăm chú thực hiện. Từ 1976 đến 1994 đã sửa chữa, làm mới 204 nhà "tình nghĩa", tặng sổ tiết kiệm cho 141 gia đình liệt sĩ, thành lập các quỹ "từ thiện", quỹ "chi viện biên giới", quỷ "ân nghĩa" v.v...


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:44:47 am
4/ Trong cuộc chiến đấu đầy thử thách gian khổ, hy sinh Đảng bộ chính quyền, các đoàn thể trưởng thành cả về tổ chức, tư tưởng, năng lực lãnh đạo và chỉ huy.

Do đó việc xây dựng Đảng bộ, xây dựng chính quyền, xây dựng LLVT và công an, các ngành lao động thương binh và xã hội, văn hóa, giáo dục, thể thao đều đã từng bước nâng cao được khả năng quản lý và điều hành, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, có xây cầu mới Lạc Long, thông luồng sông Tam Bạc.


Từ những thành tích trên, rất vinh dự cho Đảng bộ, quân, dân quận Hồng Bàng năm 1994, Nhà nước đã trao tặng danh hiệu cao quý "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Từ ngày đó tới nay, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy, quận Hồng Bàng luôn phấn đấu không ngừng, quyết tâm đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Tháng 1/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ quận lần thứ 18 quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ quận 5 năm 1996 - 2000; Hướng phấn đấu của toàn quận là cùng với thành phố đầy nhanh quá trình xây dựng quận Hồng Bàng trở thành một trong những trung tâm công nghiệp dịch vụ, thương mại, trung tâm văn hóa, văn minh đô thị của thành phố Hải Phòng, có nền kinh tế, văn hoá phát triển, quốc phòng vững mạnh, an ninh trật tự được bảo đảm.


Tháng 1/1998, Quận ủy đã kiểm điểm công tác năm 1997, đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1998.

Năm 1997, Đảng bộ và nhân dân quận đã phấn đấu đạt được kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực: Sản xuất công nghiệp: 86% tổng số doanh nghiệp mà Đảng bộ trực thuộc Quận ủy lãnh đạo, đã hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi.


Khu vực ngoài quốc doanh, giá trị sản xuất hàng công nghiệp bằng 102% kế hoạch; giá trị thương mại dịch vụ tăng 12%; sản xuất nông nghiệp, nâng suất bình quân đạt 80 tạ/ha. Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 106,6% kế hoạch. Quận đã hoàn thành vượt mức 6/7 chỉ tiêu thu ngân sách thành phố giao.


Thực hiện chính sách xã hội: Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ, quận đã phát động sâu rộng phong trào toàn dân chăm sóc thương binh liêt sĩ. Đã thăm hỏi, tặng quà, trao tặng 198 sổ tiết kiệm tình nghĩa, sửa chữa 24 nhà tình nghĩa, vận động xây dựng đền thờ tưởng niệm các liệt sĩ trong quận.


Huy động cho chương trình "Xóa đói giảm nghèo" được 4153 triệu đồng từ nhiều nguồn khác nhau, kết quả đã giảm được 193/543 hộ nghèo. Đặc biệt hiện nay các hộ thuộc diện chính sách khổng còn hộ nghèo.

Hàng năm trung bình quận có 5000 lao động trong độ tuổi không có việc làm - 5% dân số trong quận; trong năm 1997 đã động viên được 3.193 người tự tìm việc làm.

Công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội đã được giữ vững và ổn định. Tiếp tục phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phòng, chống ma túy đâ phát hiện 41 điểm tổ chức mua bốn tàng trữ, 312 đối tượng nghiện hút và còn phải cố gắng hơn nữa bài trừ tệ nạn xã hội này.


Công tác quân sự địa phương, đã xây dựng và hoàn thiện kế hoạch tác chiến, hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo đục chỉnh trị cho các đối tượng dân quân, tự vệ, lực lượng dự bị động viên thực sự giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong sản xuất và bảo vệ an toàn đơn vị địa bàn. Hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân năm 1997 đạt 100% kế hoạch. Ngoài ra các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể đều đạt nhiều chuyển biến tiến bộ.


Tuy nhiên quận cũng còn một số mặt yếu kém: Các cơ sở sản xuất mới chỉ giữ ở mức ổn định, tốc độ kinh tế thấp, trang thiết bị lạc hậu, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh trên thị trường. Các tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, nhất là tệ nạn ma túy.


Bước sang năm 1998, Đảng bộ sác định tư tưởng chỉ đạo công tác là: "Tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ 8; Nghị quyết Đại hội thành phố và Nghị quyết Đại hội 18 của quận, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động; tăng cường chấn chỉnh kỷ cương; huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển đi đôi với quản lý có hiệu quả, chống lãng phí trên mọi lĩnh vực. Làm tốt cống tác quản lý đô thị, đất đai, xử lý nghiêm các trường hợp lấn chiếm, vị phạm quy hoạch. Thực hiện tốt các chính sách xã hội, phấn đấu nâng dần mức sống của nhân dân năm sau cao hơn nũni trước. Tăng cường cống tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng, xây dựng bộ máy chính quyền quận, phường trong sạch, vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo công tác quốc phòng địa phương".


Quận xác định 6 nhiệm vụ chung, tóm tắt sau:

1/ Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế ổn định và phát triển. Tập trung xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế của quận, nhất là khu vực sản xuất - dịch vụ và thương mại.

2/ Triển khai đồng bộ luật ngân sách, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thu ngân sách Nhà nước, đồng thời triệt để tiết kiệm, chống lãng phí trên mọi lĩnh vực.

3/ Tạo sự chuyển biến rõ trong cồng tác quản lý đô thị, đất đai đảm bảo trật tự mỹ quan, môi trường vệ sinh đô thị.

4/ Triển khai có hiệu quả công tác giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ. Chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện tốt chương trình "Dân số - KHHGĐ", "Xóa đói giảm nghèo".

5/ Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, đẩy lùi các tệ nạn xâ hội, đặc biệt tệ nghiện hút ma túy.

6/ Đẩy mạnh đổi mới chỉnh đốn Đảng, cải cách thủ tục hành chính. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Trước mắt, quân dân quận Hồng Bàng có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có nhiều thách thức. Phát huy truyền thống "Đơn vị anh hừng lực lượng vũ trang nhân dân", quân, dân Hồng Bàng quyết nêu cao tinh thần đoàn kết, nhất trí, năng động sáng tạo phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ đã đề ra.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:45:53 am
Phần IV
BÀI VIẾT CỦA BÁO QUÂN KHU 3, BÁO HẢI PHÒNG


NHỚ LIỆT SĨ DƯƠNG HỮU MIÊN
TRÍCH BÁO QUÂN KHU BA SỐ 791 (Bộ mới) tháng 9 - 1997


Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ, Hội khoa học lịch sử Hải Phòng phối hợp với BCHQS thành phố tổ chức buổi "sinh hoạt khoa học tưdng niệm liệt sĩ Dương Hữu Miên", nguyên Chủ tịch ủy ban kháng chiến Hải Kiến (Hải Phòng - Kiến An), nguyên Phó tư lệnh khu tả ngạn. Về dự có giáo sư - Nhà giáo nhân dân - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Nguyên Tư lệnh Quân khu Ba đầu tiên và là cấp trên của đồng chí Dương Hữu Miên; Thiếu tướng Lê Trung Thành, Phó tư lệnh Quân khu Ba và nhiều cán bộ và nhân chứng đã từng sống và chiến đấu với đồng chí Dương Hữu Miên. Đại diện gia đình có con rể đồng chí Dương Hữu Miên là Đại tá Đinh Ngọc Duy, Viện trưởng Viện Quân y 7.


Đồng chí Dương Hữu Miên, bí danh là Chính Tâm, sinh năm 1912, tại xã Quảng Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Nguyên là cựu binh sĩ thời Pháp, nhưng do có lòng yêu nước, nên trước khi tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, đồng chí đã liên lạc với Việt minh, bí mật lấy 50 khẩu súng của địch trao cho Mặt trận Việt minh và về với cách mạng. Đồng chí được kết nạp Đảng tháng 4 năm 1946, từng giữ các chức vụ: Chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phố Hải Phòng; Trung đoàn trường chỉ huy mặt trận Hải Kiến; Chỉ huy trưởng mặt trận đường số 5 kiêm trung đoàn trường trung đoàn 42; Chỉ huy trưởng mặt trận Tả Ngạn. Ngày 2 - 7 - 1954 đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi nhận nhiệm vụ từ Việt Bắc trở về, khi hòa bình sắp được lập lại ở miền Bắc.


Trong những năm tháng chiến đấu dù ờ cương vị nào, đồng chí Dương Hữu Miên cũng luôn có mặt trên vị trí chỉ huy của mình cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn "thực hiện nghiêm túc và sáng tạo các chỉ thị nghị quyết của Đảng và mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh... đưa khu Tả Ngạn vượt qua thời kỳ đen tối cực kỳ khó khăn gian khổ và đã góp phần quan trọng tạo nên một phong trào chiến tranh du kích phát triển ngày càng cao trong lòng địch" (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo).


Dù không đến dự nhưng Tổng Bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Đại tướng Van Tiến Dũng đã có thư và bài viết về đồng chí Dương Hữu Miên. Thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho buổi tọa đàm có đoạn viết: "Đồng chí tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đồng chí là người chỉ huy có bản lĩnh, trong tình huống nào cũng bình tĩnh, sáng suốt, gan dạ và quyết tâm, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, sống chan hòa với cán bộ, chiến sĩ, có nghị lực khắc phục khó khăn cả trong công tác và sinh hoạt". "Trong chỉ đạo chiến tranh, đồng chí tỏ rõ tài năng phối hợp và hiêp đồng giữa các lực lượng, các phương thức đấu tranh và tinh thần cách mạng tiến công" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp). "Dù bị quân thù bao vây bốn phía, tàn phá rất dã man nhưng đồng chí Dương Hữu Miên cùng các lực lượng vũ trang vẫn bền bỉ lăn lộn bám đất, bám dân, chiến đấu ác liệt với địch, góp phần phát triển mạnh chiến tranh nhân dân, tạo ra nhiều cách đánh rất phong phú đa dạng dỉêt địch, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích trong lòng địch" (Đại tướng Văn Tiến Dũng).


Mặc dù là buổi "sinh hoạt khoa học tưởng niềm'' về một người chỉ huy, nhưng là việc làm đầy ý nghĩa của những người có trách nhiệm với lịch sử, thể hiện truyền thống tót đẹp của dân tộc ta là trọng nghĩa trọng tình, thể hiện lòng biết ơn đối với những người đá hy sinh cho đất nước thanh bình. Đấy cũng là dịp để mọi người nhìn nhận đánh giá một cách khách quan, chân thực, công bằng về đức độ và sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ Dương Hữu Miên, người chỉ huy vùng địch hậu được mọi người yêu mến.

NGUYỄN TIỄN
(NGUYỄN ÁI)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 4
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Năm, 2022, 06:47:03 am
TẤM LÒNG NHỮNG NGƯỜI BIÊN SOẠN ,
BỘ SÁCH NHIỀU TẬP "ĐƯỜNG 5 ANH DŨNG, QUẬT KHỞI"
BÁO HẢI PHÒNG ngày 10 - 1 - 1998


TRước mặt tôi là tập 3 của bộ sách truyền thống nhiều tập "Đường 5 Anh dũng quật khởi" của Hội khoa học lịch sử thành phố Hải Phòng và Ban liên lạc đồng đội Tỉnh đội (cũ) Hải Dương - Hưng Yên, do Nhà xuất bản Hải Phòng vừa ấn hành. Như vậy kể từ tập 1 xuất bản vào tháng 9-1995 đến nay, trong khoảng thời gian hơn 2 năm, Nhà xuất bản Hải Phòng đã cho ra mắt bạn đọc 3 tập đầy đặn của bộ sách giáo dục về truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, những địa phương có đường giao thông huyết mạch quốc lộ 5 đi qua. Có thể nói, công lao đó thuộc về nhóm biên soạn gồm các đồng chí Võ An Đông, Nguyễn Huy Trường, Đào Ngọc Quế, Đàm Minh, Trương Văn Thuân - những cán bộ quân đội là lãnh đạo, chỉ huy từng tham gia những trận đánh nổi tiếng trên đường 5 gày cho quân thù bao nỗi kinh hoàng trong những ngày cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất.


Tôi đến thăm bác Võ An Đông tại nhà riêng số 180 phố Chùa Hang, quận Lê Chân, trong lúc bác đang miệt mài biên soạn nội dung tập 4 "Đường 5 Anh dũng quật khởi". Căn hộ bài trí giản dị, đơn sơ nhưng ấm cúng. Tạm ngừng bút, bác Võ An Đông gỡ cặp kính lão dầy cộp để sang một bên rồi nói với tôi:

- Quỹ thời gian của chúng tôi còn rất hạn chế, sức khỏe thì ngày một giảm mà công việc lại còn nhiều. Song chúng tôi động viên nhau phải khẩn trương khai thác "những nhân chứng sống" của một thời lịch sử hào hùng của dân tộc để phản ánh trong bộ sách truyền thống "Đường 5 Anh dũng quật khởi"... Chỉ mấy năm nữa thôi, thì...


Tôi hiểu bác Võ An Đông định nói gì và càng cảm thông những công việc bác cùng với những người cộng sự với bác đang làm. Năm nay bác qua tuổi 76. Năm 1986, ở cương vị chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng với quân hàm đại tá, bác nghỉ hưu. Lức này bác thường nghĩ: "nghỉ không có nghĩa là ngừng hoạt động. Phải tạo cho mình một nếp sinh hoạt, một chế độ làm việc phù hợp với hoàn cảnh hiên tại...". Từ tâm niệm ấy, bác say sưa dành thời gian viết hồi ký với ý nghĩ ban đầu "trước hết viết cho mình và cho gia đình mình" về những năm tháng tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Sâu xa hơn, bác nghĩ tới những người viết lịch sử sau này phải có những cuốn sách tư liệu để làm căn cứ; mà người viết hồi ký cách mạng ví như những người thợ mỏ khai thác quặng để cho thế hệ mai sau căn cứ vào những tư liệu đó mà viết lịch sử. Ngày này qua tháng khác, với tư duy lô-gíc và ký ức về một thời hoạt động trong lực lượng vũ trang Hưng Yên, bác đã hoàn thành một số bài viết, người thật, việc thật khá xúc tích, sinh động. Quan điếm "chiến tranh nhân dân" của Đảng và vai trò của nhân dân trong chiến tranh luôn luôn bao trùm trong các hồi ký của bác, chân thực và công bằng. Khi đã có "vốn liếng", bác nghĩ đến việc xuất bản để "trình làng" những hồi ký của mình. Rồi trong một lần gặp gỡ những chiến hữu của mình thời kỳ "chín năm", bác đem ý kiến trên ra trao đổi. Bác Nguyễn Huy Trường, vốn là chiến sĩ thi đua toàn quốc trong kháng chiến chống Pháp; rồi các bác Đào Ngọc Quế, Đàm Minh... những sĩ quan quân đội từng trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc, hoàn toàn ủng hộ. Họ quyết định thành lập Ban liên lạc đồng đội Tỉnh đội (cũ) Hải Dương - Hưng Yên (có sự giúp đỡ nhiệt tình của các ban, ngành chức năng), tạo tiền đề cho bộ sách truyền thống cách mạng của các tỉnh, thành phố có đường 5 đi qua, sớm hình thành. Và cũng chính bác Võ An Đông là người đem các bài hồi ký của mình để mọi người trao đểi, góp ý, coi đó là "bài mẫu" để cùng nhau "tập" viết hồi ký. Một vấn đề quan trọng được các bác quan tâm là "những nhân chứng sống" của một thời lịch sử ở Hải Phòng, Hải Dương, Hưng yên đang ngày một thưa vắng dần. Phải tranh thủ khai thác tư liệu, nếu không thì... mất hết. Thế rồi, các bác phân công nhau vè các địa phương thời hoạt động cách mạng để lo tổ chức mạng lưới cộng tác viên, lực lượng viết hồi ký... Những cán bộ lãnh đạo ở các địa phương này lúc ấy, nay chuyển về công tác hoặc nghỉ hưu ở Hà Nội, cũng được các bác tìm đến trình bày nguyên vọng và yêu cầu giúp đỡ, cộng tác. Trước tấm lòng và ý thức trách nhiệm đối với việc giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau, các bác đã dành được sự nhiệt tình ủng hộ về nhiều mặt. Bài vở viết theo từng chủ đề từ các nơi gửi về cho Ban liên lạc đồng đội ngày một nhiều. Cả những xã ven quốc lộ "tiếng sấm Đường 5", một số "nhân chứng lịch sử" tuy "mắt mờ, chân yếu" cũng tích cực hưởng ứng viết và gửi bài về Ban liên lạc đồng đội. Sự cổ vũ vô giá ấy động viên các bác nỗ lực lao vào nhiệm vụ tuyển chọn, biên tập cho tập đầu tiên của bộ sách sớm hoàn thành. Có một vài chi tiết cần được xác minh, các bác lại động viên nhau vượt hàng chục kỉỉômét, có đoạn phải vượt qua những con đường "sống trâu" bằng xe đạp, để gặp tác giả trực tiếp kiểm tra lại cho rõ...


"Đường 5 Anh dũng quật khởi" tập 1 ra đời vào đúng dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1995 với sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Hải Phòng và Hội khoa học lịch sử Hải Phòng. Ngay buổi đâu, tập sách đã giành được những tình cảm trân trọng của bạn đọc, nhất là đối với những người từng một thời sống và chiến đấu trên giải đất nóng bỏng khí thế diệt quân xâm lược, bảo vệ quê hương. Cảm thông với những người làm công tác biên soạn tập sách, Bộ tư lệnh Quân khu Ba, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh trong Quân khu và nhiều cơ quan, đơn vị vừa trích quỹ mua sách, vừa dành một khoản tiền nhất định để tài trợ "Đầu vào" và "đầu ra" của tập sách ổn định, là yếu tố quan trọng giúp cho nhóm biên soạn của bác Võ An Đông yên tâm, tiếp tục làm nhiệm vụ...

HƯƠNG GIANG


THƯ TỪ, BÀI VẾT, KÍNH XIN GỬI THEO ĐỊA CHỈ SAU

Hải Phòng
   - Võ An Đông, 180 phố Chùa Hàng, quận Lê Chân ĐT: 031.701040

   - Đào Ngọc Quế, 62 phố Quang Trung, Q. Hồng Bàng ĐT: 031.838558

   - Nguyễn Huy Trường 191, Trường Chinh, Kiến An ĐT: 031.876862

Hà Nội
   - Lê Đức Thịnh 71A phố Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trưng ĐT: 04.8256135

   - Mai Văn Hách F212 khu C2 Thanh Xuân Bắc ĐT: 04.8543993

Hải Dương
   - Phạm Bách số 8 phố Trân Quốc Toản, p. Trần Phú ĐT: 032.858417

Hưng Yên
   - Phan Khắc Thuận, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thị xã Hưng Yên.