Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:41:15 am



Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:41:15 am
- Tên sách: Bắc Hải Vân Xuân 1975
- Tác giả: Xuân Thiều
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 1977
- Người số hóa: vnmilitaryhistory


I. Kể chuyện từ khu nhà thuộc về người chiến thắng

Kể lại những điều hiểu biết về chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở Trị Thiên - Huế cho một nhà báo nghe, tôi chợt nhớ cách vài hôm trước đây có một tin vắn đăng trên báo Nhân dân. Tin về tên bại tướng Lâm Quang Thi đã xin được chân bồi bàn ở một tiệm rượu bên Mỹ. Tôi khoe cái tin này với các bạn bè trong phòng tác chiến chúng tôi. Lạ thay, không ai bình luận gì cả. Có anh đọc xong đoạn tin, tủm tỉm cười. Có anh ghé mắt nhìn qua một tý rồi dửng dưng làm việc mình. Có anh còn phũ phàng gạt tờ báo ra, chặc lưỡi coi như chuyện Lâm Quang Thi làm bồi bàn là tất nhiên, tin này có gì mà quan tâm. Riêng tôi, tôi lại thấy thú vị. Thoạt tiên tôi bỗng buồn cười cho một kiếp người. Sau đó, tôi để trí tưởng tượng của mình bay đến một thành phố xa lạ, ồn ào, với những ngôi nhà cao tầng, với những dòng người và xe nườm nượp hối hả. Trong một khách sạn trang trí lòe loẹt, có một anh chàng bồi bàn da vàng đang chạy bắng nhắng giữa đám khách da trắng trong tiếng nhạc giật cuồng loạn, tiếng dao dĩa cốc tách va vào nhau, tiếng cười nói la hét, huýt sáo của những người say:

- Ê bồi. Thêm một "Mác-ten"! Cho nhiều Sô-đa vào!

- Ê ông lỏi da vàng! Sâm banh mau lên!

- Này! Vang trắng còn nữa không?

Hắn quay cuồng bận rộn, luôn mồm: thưa ông, thưa cô thưa ngài,... Hắn đang học cách bưng khay làm sao cho đi đứng thật uyển chuyển như múa. Ở Mỹ, nhìn người da vàng hầu bàn, không ai ngạc nhiên. Dù sao thì với hình dáng nhỏ bé, tóc đen, mũi tẹt với màu da vàng đục, với cách phát âm tiếng Anh còn cứng, hắn cũng trở nên một thứ lạ mắt. Còn lạ mắt hơn là khi khách hàng biết được rằng hắn vốn là tên tướng bại trận ở Việt Nam, một tướng ba sao cơ đấy. Người ta thích gọi hắn hầu bàn nhất là tụi sĩ quan hoặc lính tráng sống sót ở Việt Nam trở về. Hoặc vì tò mò để nghe thằng da vàng nói năng ngô nghê cho vui. Hoặc vì muốn hả dạ, để thằng tướng xưa kia biết thế nào là hầu hạ kẻ khác. Hoặc vì thương hại, tội nghiệp anh chàng. v.v.. Có điều là hầu như ai cũng gợi chuyện với hắn:

- Thế nào? Anh bạn người Việt Nam à? Di tản sang chăng?

- Thưa ngài, vâng.

- Hồi ở bên nước, đằng ấy làm nghề gì?

Hắn chỉ muốn quát vào mặt người đối thoại rằng, mày hỏi xỏ tao hả, mày coi thường tao hả? Tao đã từng là cấp tướng, gọi một tiếng là hàng trăm thằng như thứ mày chạy đến hầu hạ. Tao từng cụng ly thân hữu với các tướng lĩnh cao cấp Hoa Kỳ: Oét-mô-len, A-bra-ham,... Tao đã từng... chợt nhìn cái khay bưng trên tay, hắn sực tỉnh, hiểu ra thân phận mình lúc này. Hắn cười gượng:

- Dạ, làm nhì nhằng thôi ạ!

Hắn ỡm ờ đánh trống lảng, cố quên cái quá khứ xấu xa nhục nhã đi. Nhưng quá khứ chưa xa. Một bước ngoặt cuộc đời xảy ra cách đây sáu bảy tháng sao gọi là xa được? Hắn chưa quên thời kỳ vàng son của hắn - thời kỳ còn là trung tướng Lâm Quang Thi tư lệnh phó quân đoàn 1, quân khu 1, tư lệnh tiền phương vùng bắc Hải Vân - người chỉ huy cao cấp nhất ở Huế. Nói bước ngoặt cuộc đời cũng là thi vị hóa, chứ cái nghề làm tướng của Lâm Quang Thi thực chất cũng chỉ là anh bồi bàn cho thằng Mỹ mà thôi. Nhưng kệ thây cuộc đời hắn. Cuộc đời làm tướng tay sai của hắn có gì mà quan tâm? Sở dĩ đọc xong cái tin kia, tôi thấy thú vị có thể do cá tính của tôi, một thứ cá tính không biết nên khen hay nên chê. Tôi là trợ lý phòng tác chiến quân khu, nhưng anh em hay trêu tôi là người mơ mộng. Công việc ở phòng tác chiến là một công việc đòi hỏi tính cụ thể, chuẩn xác, khoa học, vậy mà anh em đùa như thế, nghe ra dễ bị mếch lòng, song tôi biết không ai có ý châm biếm chế giễu mình. Thú thật, chẳng qua thỉnh thoảng tôi cũng nổi hứng làm đôi bài thơ (thơ tôi là loại thơ vườn đến nỗi gửi sang báo Quân giải phóng Trị Thiên - Huế, cũng thường được góp ý kiến chứ ít khi được đăng. May phúc mà được đăng thì hầu như ban biên tập đã phải sửa đến nửa bài rồi). Tôi lại vốn là người đa cảm. Nghe một tiếng chim kêu thống thiết giữa trời hoàng hôn, nhìn những đợt sóng vỗ hoài vào ghềnh đá cam chịu, tôi thấy lòng mình chợt buồn, nỗi buồn của một người cô đơn. Đang đi giữa rừng bỗng thấy phía trước mở ra một thung lũng đầy nắng và hoa mua tím, tôi chỉ muốn reo lên. Cái cảm giác vui vẻ tràn dâng trong người khiến tôi chỉ muốn trở thành trẻ nhỏ, chạy tung tăng giữa nắng, ngắt những cánh hoa, đặt lên lỗ hổng nắm tay, dùng tay kia đánh một cái bốp. Cánh hoa này rách đã có cánh kia, lo gì. Mỗi cánh hoa là một tiếng nổ. Tiếng pháo tuổi thơ đấy!


Đầu óc tôi rất dễ liên tưởng. Đang vẽ bản đồ chiến lệ trận tập kích đồi 235 chợt nhớ tới chúng bạn thân hy sinh trong trận ấy, thế là nước mắt cứ giàn giụa. Ngồi gói thủ pháo với anh em, tôi là người đầu tiên nhắc tới chuyện gói bánh chưng, bánh tét, và lẽ dĩ nhiên chính tôi cũng đâm ra nhớ nhà...


Ừ nhỉ! Tôi là người hay liên tưởng. Bởi vậy, đọc xong cái tin vắn về tên bại tướng Lâm Quang Thi đã thành anh bồi bàn kia, tôi lẳng lặng rời bàn làm việc, đi ra hành lang lầu hai, tỳ tay vào lan can, nhìn ra toàn khu Mang Cá, nơi cách đây không lâu còn là sào huyệt của tên bại tướng Lâm Quang Thi. Nói cho đúng hơn, không phải sào huyệt của riêng hắn mà của hàng lô hàng lốc tướng tá ngụy khác. Chẳng hạn như tên trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1, tư lệnh quân khu 1 - một thứ người hùng kiểu Mỹ, một tay đại bợm đầu cơ chính trị và ma mãnh gian ngoan trong mánh khóe đề cao uy tín cá nhân. Với dáng người gày gò xấu xí nét mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, hắn rất ít nói; chỉ nói lúc cần quyết định, cần ra lệnh. Hắn không bao giờ nhắc đến cái tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), quê hương hắn với những cù lao Minh, cù lao Bảo với những kênh rạch và những nếp nhà lợp bằng lá dừa nước, dù để khoe khoang cái cơ nghiệp đại địa chủ của cha hắn mà hắn đã ăn xài thỏa thuê. Lúc còn trẻ tuổi, hắn cũng không bao giờ nói ra là bằng cách nào mà hắn cuỗm được vợ một tay đại úy về làm vợ mình. Ấy thế, nhưng hắn vẫn để cho người ta biết hắn còn mang một mảnh đạn trong phổi. Một mảnh đạn của Việt cộng nhức nhối trong người lúc hắn còn là trung úy. Và đáng lý hắn được giải ngũ, thì hắn tình nguyện ở lại quân đội thề chống cộng suốt đời, và hắn đã ở lại với ba nguyên tắc sống nổi tiếng bỉ ổi. Một là, bằng mọi giá phải làm vừa lòng cố vấn Mỹ, kể cả cố vấn cấp trên lẫn cố vấn đồng cấp (có lần hắn đã cõng một cố vấn Mỹ bị thương chạy thoát chết, và vì thế hắn được thăng chức rất nhanh). Hai là, biết và dám nướng quân: thí quân lúc cần thiết cho một mục đích nào đó (tất nhiên là vì mục đích cá nhân). Thí quân không hề thương tiếc, không mảy may động lòng. Ba là, biết hướng về binh lính, mà tìm cách vỗ về phỉnh nịnh họ, vì họ là những con vật hy sinh. Với ba nguyên tắc sống tàn bạo và bỉ ổi ấy hắn dám gạt bỏ ngay những ham muốn này để phục vụ cho ham muốn khác. Vì thế, hắn đã gây được ấn tượng giật gân cho mọi người chung quanh.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:41:59 am
Ở Đà Nẵng, hắn vẫn thường bay trực thăng ra Huế, đáp xuống cái khu Mang Cá này để kiểm tra, đôn dốc, để ra lệnh, hội họp. Để cho mọi người phải hiểu rằng hắn là tư lệnh quân đoàn 1, tư lệnh quân khu 1, người có quyền sinh quyền sát trong khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi.


Bà con ở Huế vẫn nhắc tới Ngô Quang Trưởng với mùa hè năm 1972, khi ta tiến công giải phóng Quảng Trị, đuổi địch đến sông Mỹ Chánh. Hồi đó, Ngô Quang Trưởng được phái đến thay Hoàng Xuân Lãm đã bị gọi ra tòa. Tên tướng gian ngoan này đã lớn tiếng trên đài phát thanh Huế tuyên bố tử thủ, quyết tâm bảo vệ cố đô đến giọt máu cuối cùng. Giữa cái thành phố đã rã rời hoảng loạn, tiếng nói của hắn ít ra cũng vỗ về trấn an được phần nào tụi ngụy quân, ngụy quyền. Tiếc thay, hồi đó ta chưa đủ mạnh để giải phóng được Thừa Thiên - Huế, nên bỗng nhiên, lời nói dóc của hắn hóa ra ứng nghiệm. Một số người nhẹ dạ tâng bốc hắn, cả đàn cả lũ tụi ác ôn đề cao hắn và hắn cũng biết cách đi bách bộ dọc đường Trần Hưng Đạo để đám thanh niên nuôi ria mép nửa say nửa tỉnh trong các quán rượu, quán cà phê đổ ra đường đứng nghiêm chào hắn, hò hét suy tôn hắn là bậc anh hùng.


Bà con ở Huế nhắc tới năm 1972 để giễu hắn năm 1975 này. Giễu hắn vì "bé cái nhầm", hắn lại huênh hoang tuyên bố "... dẫu có chết, hắn cũng sẽ sẵn sàng chết trên đường phố Huế". Buồn cười thay, hôm 25 tháng 3 năm 1975 không có xác chết nào trên đường phố Huế cả, và hắn vẫn sống mạnh khỏe ở Đà Nẵng, chỉ phải uống một ly rượu mạnh, để tự trấn an tinh thần mình.


Dưới trướng Ngô Quang Trưởng, ngoài Lâm Quang Thi ra còn nhiều tên khác : Tên thiếu tướng tư lệnh phó quân dân phụ trách các tiểu khu (tức là phụ trách bình định) Hoàng Vinh Lạc, tên đại tá tham mưu trưởng quân đoàn 1 Hoàng Mạnh Đán, tên đại tá Hy tham mưu trưởng quân đoàn 1 tiền phương, tên đại tá Duệ tiểu khu trưởng Thừa Thiên, tên chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, tên chuẩn tướng Bùi Thế Lân và tên đại tá Nguyễn Thành Trí chánh, phó tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến, tên chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng tư lệnh sư đoàn dù, tên đại tá Dũng, lữ trưởng lữ đoàn 1 thiết kỵ, tên... Ồ, nhiều tên khác không thể kể hết. Những tên tướng tá bại trận ấy đã có một thời vênh váo vào ra khu Mang Cá này, cái hang ổ đầu não dùng để chỉ huy toàn bộ quân ngụy ở Trị Thiên - Huế mà chúng còn gọi là bắc Hải Vân. Giờ đây, thằng thì đã cao chạy xa bay sang nước ngoài, thằng thì vào các trại cải tạo của ta, và có thằng đã xanh cỏ. Tôi đã bắt gặp chúng nó rạng ngày Bộ tư lệnh quân khu về đóng ở Mang Cá. Chúng phơi mặt ra trên những tấm ảnh vương vãi khắp sàn nhà, cầu thang, hố xí những chiến sĩ của sư đoàn 325, 324 của trung đoàn 6 đã lôi chúng từ những quyển "an-bom" lưu niệm, từ những khung ảnh treo tường, từ những ngăn kéo, ô bàn, ô tủ, v.v.; và sau khi chửi thề chửi đổng vài câu đã xé đôi, xé ba, xé tư, ném tung ra đất cho những khuôn mặt béo phì đầy hãnh tiến của một thời, tha hồ ngắm đế giầy đế dép cao su Quân giải phóng. Cùng vương vãi với những khuôn mặt nhớp nháp ấy là cờ xí, quần áo rằn ri, kê-pi, bê-rê.. mũ đồng; là những huy hiệu tạp nham mang hình chim ưng, trâu điên, hổ vằn, ngựa trắng,...; là súng đạn các loại, là giấy tờ, tài liệu, báo chí bay tung lên như bươm bướm mỗi lần có trận gió qua; là chân dung tên bán nước Nguyễn Văn Thiệu bị gạch chéo hoặc bị chọc thủng mắt; là dây thép gai, vỏ đồ hộp mang nhãn hiệu Mỹ, Đài Loan hoặc Nhật Bản.


Bây giờ, tất cả những thứ rác rưởi ấy đã được thu dọn từ lâu. Khu Mang Cá đã trở thành doanh trại Quân đội  nhân dân Việt Nam. Bộ tham mưu chúng tôi làm việc ở đây. Cục chính trị ở kia và đằng sau chúng tôi là Cục hậu cần, Cục kỹ thuật.


Lúc này, vừa vào đầu giờ làm việc của buổi sáng, doanh trại trang nghiêm. Các chiến sĩ vệ binh đứng gác, vài chiếc hon-da tắt máy dắt bộ qua cổng. Phía ngoài cầu Kho là áo màu, là xe cộ nổ máy, là cuộc sống bình thường của nhân dân. Tiếng súng đã tắt, vĩnh viễn tắt rồi. Một cuộc sống hòa bình đang mở ra... Bất giác, tôi ngước nhìn lên và bắt gặp lá cờ đỏ sao vàng đang uốn lượn trên cột cờ giữa sân. Cái màu đỏ như có hơi thở ấy đang phập phồng in lên những đám mây màu xà cừ.


"Đã ba mươi năm..." - Tôi thầm kêu lên. Đã ba mươi năm, kể từ ngày tôi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Hồi đó, tôi chỉ là một chú bé con bận quần xà lỏn chạy đi "coi" người lớn giành chính quyền ở huyện. Bây giờ tôi đã đến bốn mươi, lác đác vài sợi tóc bạc. Ba mươi năm, qua hai cuộc kháng chiến ác liệt để hôm nay lá cờ đỏ sao vàng bay lượn trên cột cờ khu Mang Cá như một sự khẳng định chiến thắng. Niềm tự hào trào dâng trong lòng, tôi đưa tay lên chấm những giọt nước mắt ứa ra trên mi, chỉ sợ ai trông thấy.


Với một tâm trạng xúc động như thế, tôi cứ lững thững đi dọc hành lang, xuống cầu thang, đi dọc hành lang tầng dưới - nơi có những bao cát xếp chồng lên nhau thành một bức tường bảo vệ. Có thể quên đi cái hang ổ của tụi ngụy xưa kia, bởi vì khu Mang Cá bây giờ gợi lại cho tôi cái cảm giác quen thuộc của khu doanh trại quân đội ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định - những khu doanh trại do Pháp xây để lại cổ lỗ xấu xí nhưng được cái chắc chắn, vững chãi. Lại vẫn cờ, khẩu hiệu, ảnh Hồ Chủ tịch trang trí ở các phòng. Lại vẫn những cán bộ bận quân phục "ga-bác-đin" hoặc vải chéo xanh, quân hàm đeo trên ve áo, ngồi làm việc hoặc đi lại bận rộn. Lại vẫn phích nước, ấm chén - và có khi còn có cái ống điếu thuốc lào bằng "đuya-ra" máy bay Mỹ - đặt trên bàn uống nước, lại vẫn những dãy giường cá nhân, chăn màn xếp gọn ghẽ vuông góc và những chiếc hòm gỗ giản dị vừa là tủ vừa là bàn đêm.


Cuộc sống của một doanh trại ổn định tạo nên cái không khí quen thuộc. Dấu tích của đội quân chiếm đóng và đội quân đánh thuê còn lại trên những chiếc tủ, chiếc bàn bằng kim loại nặng nề, trên những chiếc ghế dựa có bánh xe, có trục xoay di chuyển tiện lợi, trên những chiếc quạt hai cánh của hãng "Giê-nê-rôn Ê-léc-tơ-rích" Mỹ, to tổ bố, cao lênh khênh đặt ở góc phòng.


Không - tôi tự cãi mình - dấu tích của chúng còn khá nhiều, rải rác đó đây từ câu viết bậy trong hố xí đến lá cờ sọc dưa dùng làm giẻ lau xe đạp Nhưng tập trung hơn cả, có lẽ là khu nhà hầm "trung tâm hành quân". Đây là một thứ nhà hầm hình chữ nhật, khá rộng lớn, đắp nổi bằng nhiều tầng bao cát xếp dày, đạn đại pháo 130 ly không xuyên thông, có hàng rào thép chống đạn B.40 bao quanh. Nhà "trung tâm hành quân" này bây giờ trở thành một thứ bảo tồn để nghiên cứu, để nhìn vào đó càng tự hào về chiến thắng của ta.


Một ý nghĩ ham muốn xem lại chợt đến, mặc dù tôi đã quá quen thuộc với ngôi nhà này, tôi quay về phòng tác chiến mượn cái chìa khóa. Chẳng vì nhà này do phòng tác chiến chúng tôi quản lý. Đấy là nơi chúng tôi chứa tất cả mọi thứ tài liệu quân sự của địch và tất nhiên cũng là nơi thuận tiện để chúng tôi cất hon-đa, xe đạp mỗi lần đi phép hoặc đi công tác xa không cần đến. Tính tôi hay hình dung ra như thế, khi mở khóa đánh tách một cái, là tôi hình dung ra tên đại tá Hy đang đứng thẳng người giơ tay lên vành mũ kê-pi chào bọn quan trên Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, v.v.. Hắn đứng chào ngay cạnh cửa hành lang nơi có dán bản quy định cho tất cả các sĩ quan đi vào "trung tâm hành quân". Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ khôi hài : "...Riêng tớ thì được miễn chứ!". Cái hành lang tối lờ mờ bỗng chốc sáng bừng lên khi tôi ấn vào công tắc bên tường. Liên tiếp các buồng khác được sáng đèn. Một mùi mốc vì thiếu hơi người. Những dãy bàn ghế trống không. Vẫn treo nguyên trên tường là các bản theo dõi, thống kê, quy định nhiệm vụ sĩ quan trực chiến, các loại bản đồ được đánh dấu bằng bút chì màu. Chúng nó vẫn còn kia chăng? Những tên sĩ quan tham mưu trực tác chiến, tình báo, trực không quân, trực pháo binh, công binh, thông tin, sĩ quan trực hải quân, tiếp liệu, v.v.., những tên đeo hoa mai trên ve áo, tóc râu đều sức dầu thơm còn ngồi sau những chiếc bàn kia chăng? Thực ra, tôi đã gặp chúng trong các trại cải tạo, đang đánh trần ra chặt gỗ dựng nhà, hoặc đang im lặng nghe bài giảng vỡ lòng đầu tiên: thế nào là nước Việt Nam, thế nào là đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:42:30 am
Thực ra trước đó nữa tôi đã gặp chúng giơ tay đầu hàng dọc con đường xuống cảng Tân Mỹ bên cạnh ngổn ngang xác xe tăng, xe giép, xe vận tải các loại - cái thì chổng kềnh dưới ruộng, cái thì bẹp gí, vỡ mặt, cái thì cháy ra màu gỉ đỏ. Thực ra bạn bè tôi đã tóm được chúng trên các nống cát dưới Hà Thanh, Hà Úc, Tư Hiền - những tên ngoan cố nhưng bất lực không thể chạy ra biển trong lúc tàu bè ngoài khơi bị trúng đạn pháo ta bốc cháy.


Bây giờ chúng không thể nào còn ở trong ngôi nhà hầm này nữa, mà tôi vẫn tưởng tượng ra chúng. Nhưng lạ chưa, chúng trở nên bất động y như người trong cuốn phim dùng thủ thuật cho đừng hẳn lại. Khuôn mặt thằng nào cũng trở nên cứng đờ như đắp bằng thạch cao. Phải chăng cái ảo giác này là do từ cái không khí chết lặng của căn phòng mà thời gian dường như đã chấm dứt, đã dừng hẳn theo tờ lịch treo tường chỉ rõ ngày 25-3-1975.


Tôi đứng trước những tấm bản đồ ở buồng chỉ huy được thiết kế như những cánh cửa tủ xếp chồng lên nhau. Tấm bản đồ miền Nam Việt Nam đã được gạch xiên và khoanh viền lại bằng bút chì than ở toàn bộ Tây Nguyên, ở Tam Kỳ, Quảng Ngãi và Quảng Trị - đánh dấu những vùng đất đã mất vào tay quân ta. Đấy là lần ghi cuối cùng của tên sĩ quan tham mưu trực chiến, sau đó chắc hắn không còn đầu óc nào mà ghi vào bản đồ nữa, hắn lo thu xếp vợ con gia đình và thu xếp lấy cái thân hắn. Nhưng chỉ mới chừng ấy thì nhìn lên bản đồ, cũng đã thấy Huế - Đà Nẵng trơ ra như một cù lao, lọt thỏm giữa những vòng vây thít chặt.


Tôi lần lượt mở những cánh cửa tủ khác. Những tấm bản đồ Trị Thiên - Huế mỗi cái có một tác dụng theo dõi riêng cũng lần lượt hiện ra. Hầu như bản đồ nào cũng được ghi chép, đánh dấu vào những ngày đầu của chiến dịch. Sau đó, hoặc vì tự lừa dối để trấn an tinh thần ngay trong bộ tư lệnh tiền phương của chúng, hoặc vì không đủ minh mẫn sáng suốt để làm việc, chúng đành bỏ.


Giờ đây, trên tấm bản đồ bố trí lực lượng của chúng đã chết lặng tất cả ký hiệu những đơn vị, những sân bay, hải cảng, những căn cứ, sở chỉ huy chi khu quân sự, v.v. Đã chết lặng tất cả binh quân chủng của đội quân tay sai ngoại bang: bộ binh, pháo binh, dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp, không quân, hải quân, cảnh sát, ... Đã chết lặng trên màu xanh bút chì những phiên hiệu quen thuộc: lữ 2 dù, lữ 147, 258, 369 thủy quân lục chiến, trung đoàn 1, 3, 51, 54 thuộc sư 1 bộ binh, liên đoàn biệt động 15, 14, liên đoàn bảo an 913, 914, lữ 1 thiết kỵ, thiết đoàn 20, v.v.. Có điều là những ký hiệu biểu thị lực lượng của chúng quả là dầy đặc, chen chúc trên bản đồ từ Thanh Hội - Long Quang qua Tích Tưởng - Như Lệ về tây Hải Lăng, tây Phong Diễn kéo xuống đường 12, đường 14, vào tận Lăng Cô, Hải Vân. Hãy tưởng tượng xem hơn bốn chục tiểu đoàn với trang bị hiện đại của Mỹ cùng với năm vạn dân vệ, phòng vệ dân sự, tất cả gồm mười một vạn tay súng đã từng hoành hành trên mảnh đất Trị Thiên nhỏ bé này. Cảm giác của ta trở nên lạnh tanh, rợn người vì sự va chạm của sắt thép; cảm giác của ta trở nên chật chội khó thở vì đi đâu cũng vấp phải thằng người cầm súng. Vùng trời bị rạch nát vì những đường bay của hàng trăm phi vụ, những đường đạn đại bác cháy bỏng không gian. Chen trong tiếng sóng vùng biển, trên các cảng Mỹ Thúy, Thuận An, Tư Hiền là tiếng động cơ của các loại tàu chiến và tiếng nổ đầu nòng của đại bác tầm xa...


Sức mạnh của chúng hiển nhiên phơi bầy ra như thế, vậy mà chỉ trong vòng hai mươi ngày (từ ngày 5 tháng 3 năm 1975 đến ngày 25 tháng 3 năm 1975) đã tiêu tan. Điều gì đã khiến cho một đạo quân hùng hùng hổ hổ như vậy bỗng nhiên bị đè bẹp một cách nhanh chóng?


Bất giác, tôi lật thêm một cánh cửa tủ, và trước mắt tôi là cái bản đồ ghi chép theo dõi lực lượng của ta. Những ký hiệu kèm theo mũi tên đỏ từ Trường Sơn thọc xuống, từ phía bắc ép vào. Quả thật, thằng địch hiểu ta không sai mấy : Sư đoàn 324, sư đoàn 325 thuộc quân đoàn 2 tiến công từ Mỏ Tàu vào đến núi Kim Sức, Lưỡi Cái; Trung đoàn 271 ở La Sơn, trung đoàn 6 ở núi Chúc Mao, đèo Sơn Na, trung đoàn 4 và phía sau là trung đoàn 46 ở tây Phong Điền, lữ xe tăng 203 ở A Lưới, tiểu đoàn 3 ở nam Cửa Việt, tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 10 ở tây Hải Lăng, tiểu đoàn 21, tiểu đoàn 5 ở Lăng Cô, Hải Vân, v.v... Tất nhiên chúng có sai một số chi tiết như có chỗ chúng đã đặt cả sư 308, sư 341 vào vùng Gio Linh- Cam Lộ. Đấy lại là chuyện khác, chuyện về công tác nghi binh tài giỏi của ta. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng không làm sao hiểu rõ và ghi chép được những biểu hiện đầy đủ về sức mạnh. Sức mạnh của ta đâu chỉ riêng những sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn từ bàn đạp Trường Sơn thọc xuống mà còn hàng chục vạn nhân dân đang làm ruộng, đốn củi, buôn bán, học hành, còn cả những người lính tỉnh táo trong hàng ngũ chúng. Sức mạnh của họ đều là những trái bom hẹn giờ. Sức mạnh đâu chỉ trong khẩu AK cầm tay, trong những viên đại pháo 130 ly, trong những chiếc T54, trong các loại A72, tên lửa... mà sức mạnh còn trong trái tim, khối óc những người làm chủ vũ khí chiến đấu. Sức mạnh không chỉ ở lực mà còn ở thế nữa - cái thế ta đã giành phần ưu từng bước và vừa qua đã đến điểm áp đảo kẻ địch. Sức mạnh còn là sự tổng hợp của ba thứ quân, sự chặt chẽ của ba mũi giáp công, sự nhịp nhàng giữa tiến công và nổi dậy, sự uyển chuyển của đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao,...


Kẻ địch không làm sao hiểu nổi sức mạnh của ta, nên đã từ bàng hoàng, hốt hoảng đến tan rã nhanh chóng. Tan rã và thất bại hoàn toàn.

Tôi lần lượt đóng những cánh cửa tủ lại, để cho những tấm bản đồ quân sự của một bộ tư lệnh bại trận nằm yên cùng với tờ lịch trên tường dừng hẳn trong ngày 25 tháng 3 năm 1975. Ngôi nhà "trung tâm hành quân" này trở nên một thứ nhà mồ. Dấu tích của một đạo quân tay sai của đế quốc Mỹ, một đạo quân gần 11 vạn tay súng ở Trị Thiên - Huế này đã chôn vùi trong đó.


Ngoài sân, nắng đã lên màu mật ong xua tan cái giá rét mấy hôm nay. Có tiếng cười tiếng nói chuyện vui vẻ ở tam cấp nhà Bộ tham mưu. Tôi thấy đủ mặt các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân khu: thiếu tướng Lê Tự Đồng, thiếu tướng Hồ Tú Nam, đại tá Dương Bá Nuôi, đại tá Nguyễn Chi, đại tá Trần Văn Ân,... cạnh đó còn có đồng chí thượng tá tham mưu trưởng, người đã mất cánh tay phải trong trận Thanh Lam Bồ hồi chống Pháp và suýt mất nốt cánh tay trái trong chiến dịch 1972 ở Quảng Trị. Đồng chí thượng tá cục trưởng chính trị, một cán bộ vui tính mà chúng tôi hay gọi đùa là "nhà thơ mũi mác". Và một số cán bộ khác nữa. Có lẽ vì nắng ấm và vì câu chuyện trong giờ giải lao quá vui vẻ, nên ai cũng cười nói rất tươi, nét mặt đỏ au. Bây giờ đã xóa hẳn dấu chân của tụi Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, Hoàng Vinh Lạc,... Trên sân Mang Cá này là những con người đại biểu của chiến thắng. Chợt nhớ tới những ngày Bộ tư lệnh quân khu phải nương nhờ trên đất Mường Noòng bên nước bạn, những ngày về đứng chân trong khu rừng Cao Bồi trên biên giới Việt Lào. Những ngày mà anh em ở cơ quan Bộ tư lệnh chúng tôi mỗi bữa chỉ được một lạng gạo, chủ yếu sống bằng rau rừng mà vẫn đinh ninh một lời hứa son sắt, một lời thề nhất định có ngày sẽ trở về với Huế. Chao ôi, niềm tin của chúng ta thật là mãnh liệt!


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:14:07 am
II. Sự tích niềm tin vào thắng lợi cuối cùng

Dĩ nhiên, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng ta không phải vô căn cứ. Chúng ta đã thắng từ năm 1945, 1954, 1960, 1965, 1968, 1972, 1973,... thắng từng bước - những bước chắc chắn, vững vàng như thế đứng Trường Sơn. Nhưng trước mùa xuân 1975, chúng ta vẫn thường tự hỏi, bao giờ thì thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi vĩnh viễn; bao giờ thì ước nguyện cao cả của chúng ta là đất nước được thống nhất mở ra sau đại thắng của cách mạng Việt Nam? Bao giờ đấy hở thời gian?


Không ai tiên đoán được ngày 10 tháng 3 năm 1975 ta giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột buộc địch sau đó phải rời bỏ toàn Tây Nguyên. Không ai tiên đoán được ngày 25 tháng 3 năm 1975 nhiều mũi tiến công đã bao vây chia cắt rồi chọc thủng vào Huế, cắm cờ lên cửa Ngọ Môn. Không ai tiên đoán được chỉ bốn hôm sau ngày 29 tháng 3 năm 1975 chúng ta lại tiêu diệt cả một đạo quân: hàng chục vạn tên ở Đà Nẵng. Lại càng không thể tiên đoán được cái ngày rực rỡ nhất của dân tộc ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lá cờ vinh quang của ta đã phấp phới bay trên dinh "Độc Lập" sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.


Còn nhớ buổi chiều nắng nỏ ấy, tôi đang quét dọn vệ sinh ngoài đường, chợt thấy nhiều anh em chạy từ sân vào nhà trong tiếng gọi nhau í ới : "Sài Gòn giải phóng rồi! Sài Gòn giải phóng rồi!". Chúng tôi đứng im lặng vòng quanh chiếc đài bán dẫn nghe cô phát thanh viên với giọng xúc động khác thường đọc bản tin chiến thắng. Sau này tôi mới nhớ ra là giữa lúc tiếng vỗ tay hoan hô trong đài cứ vang vang, không hiểu sao anh em chúng tôi ngồi im như tượng. Cho đến khi có một người bạn khóc lên vì sung sướng, mọi người mới sực tỉnh và hầu như ai cũng lau nước mắt. Bây giờ là đến không khí hả hê.

- Trời ơi, tuyệt quá! Thiệt không ngờ!

Thiệt không ngờ! Đấy là một tiếng reo. Không ngờ sự việc vĩ đại ấy lại xảy ra ngày hôm nay, xảy ra mau lẹ như thế? Thốt lên hai tiếng không ngờ vì cảm giác của ta vẫn còn gắn chặt với những ngày cách đây chưa xa. Những ngày còn chịu bom chịu pháo trong những khu rừng sũng nước lầy lội, những ngày phải chôn cất bạn bè, băng bó cho đồng đội. Những ngày chia nhau nửa bánh lương khô, nhường nhau hớp nước trong bi đông để đương đầu với một đội quân tay sai nước ngoài hàng triệu tên. Chao ôi! Chỉ trong thời gian ngắn như thế ta đã đè bẹp hoàn toàn một đạo quân hàng triệu tên với trang bị hiện đại của Mỹ. Thốt lên hai tiếng không ngờ, vì thực ra không ai tiên đoán được cái mốc cụ thể của thời gian xảy ra sự kiện lịch sử. Không tiên đoán được nhưng lại rất tin vào ngày thắng lợi hoàn toàn. Dường như ai cũng linh cảm được điều đó đã tới gần, tới mỗi lúc một gần. Tất yếu lịch sử sẽ như thế. Y như dòng sông nào cũng chảy về biển cả, như trái cây trên cành còn xanh tất một ngày kia sẽ chín... Có thể kể ra hàng trăm hàng nghìn câu chuyện về niềm tin này. Trong hơn hai mươi lăm năm bộ đội, tôi đã nhiều lần chứng kiến giây phút cuối cùng của đồng đội hy sinh, nhiều lần tiễn biệt bạn bè đi làm nhiệm vụ và cẩm chắc sẽ không trở về. Trong những lời trăng trối, những lời dặn dò thật nhất ấy, tự đáy lòng nhất ấy bao giờ cũng lấp lánh niềm tin tất thắng.


Bây giờ không phải vì thắng lợi hoàn toàn rồi ta muốn nói thế nào thì nói, ta tha hồ lý lẽ về niềm tin, ta tha hồ biện luận về sự tiên tri của ước mơ. Đành rằng, cơ sở niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng ta là dựa trên tính lô gích của xu thế phát triển xã hội. Nếu ở xa một chút, đứng ngoài rìa cuộc sống một chút mà ngắm nhìn, mà cảm thụ, ta dễ thấy cuộc chiến đấu thật đẹp đẽ, thật lãng mạn. Và với một tấm lòng thành thật, ta sẵn sàng tin vào thắng lợi cuối cùng, một niềm tin còn dễ dãi còn quá mau lẹ. Hãy giáp mặt với cuộc sống, hãy giáp mặt với cuộc chiến đấu khốc liệt có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, ta mới thấy hết giá trị của niềm tin. Có được niềm tin vào thắng lợi cuối cùng quả là một thứ vàng đã thử lửa. Ở chiến trường Trị Thiên - Huế, tôi chưa phải là chiến sĩ lâu năm nhất, có nhiều anh lăn lộn từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám. Tuy vậy, đã qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, tôi thấy những thử thách ở chiến trường đối với ý chí chiến đấu của người chiến sĩ thật khắc nghiệt. Giờ đây lớp người chúng tôi còn lại không nhiều, nhưng ít ai dám nói mạnh rằng, suốt bao nhiêu năm vào sống ra chết, không có trường hợp nào hoàn cảnh nào đã có thể ảnh hưởng tới niềm tin sắt đá của mình, dù chỉ trong chốc lát. Hiển nhiên là có những kẻ dao động ngả nghiêng, những người giảm sút lòng tin, thoái thác nhiệm vụ, trốn tránh chui rúc vào những nơi an toàn. Thậm chí có những người mất hết lòng tin, trụy lạc và suy thoái đã trở thành những tên phản bội, chạy sang hàng ngũ địch, làm hại cách mạng. Số người này không nhiều nhưng cũng không phải ít. Lịch sử sẽ lướt đi trên đầu họ như lớp sơn màu quét lên vết bẩn trên bàn. Họ là những kẻ chiến bại, không có gì đáng nói tới. Đáng nói đến là những người đã chết, những người còn sống hôm nay - những người đã đứng vững qua bao nhiêu thử thách để trở thành người chiến thắng.


Quả thật, niềm tin không chỉ là khái niệm, trừu tượng nữa, mà đối với chúng tôi, có khi hầu như quá cụ thể đến nỗi mình có thể nắm bắt được, sờ thấy được. Nó hiện lên trên khuôn mặt từng người khi nổ súng, giữa trận B.52, lúc đói khát, bệnh tật, lúc lọt giữa vòng vây, khi nằm hầm bí mật dưới mũi thuốn đi xăm của thằng địch... Nó còn hiện lên khuôn mặt từng người qua từng bước thăng trầm của cuộc chiến đấu ròng rã ba mươi năm nay. Ba mươi năm chiến đấu với những kẻ thù hung ác và tàn bạo nhất của loài người tiến bộ. ôi! Thời gian! Qua bao nhiêu thắng lợi và đau thương, thời gian hôn lên trán ta những nếp nhăn của tuổi tác, nhưng đồng thời như một phép nhiệm mầu - thời gian ưu ái dành cho ta sự rắn rỏi chín chắn trong suy tư củng cố bồi đắp niềm tin cho ta, dành cho ta sự tích lũy cần thiết về ý chí và năng lực để chiến thắng hoàn toàn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:15:07 am
Lớp người tóc muối tiêu chúng tôi, khi rỗi rãi ngồi uống nước trà tán chuyện với nhau, thường gặp nhau ở một cảm giác chung. Hầu như ai cũng ngạc nhiên không hiểu sao mình còn sống nổi tới ngày hôm nay. Có anh còn nói đùa rằng mình sống như vậy là có lãi. Đấy là một cách nói để so sánh với những người bạn đã hy sinh khi còn trẻ. Dẫu sao, chúng tôi cũng còn thời gian để lập gia đình sinh con đẻ cái. Con cái chúng tôi đã có đứa trưởng thành. Ở cơ quan quân khu bộ, khối trường hợp hai cha con là đồng đội đồng chí của nhau. Rõ ràng là hai thế hệ, đấy là chưa kể trường hợp cá biệt, ba thế hệ cùng có mặt ở chiến trường. Thế mới biết thời gian để chiến đấu đã quá dài, thời gian đủ để sinh sôi hai hoặc ba lớp người. Lớp người đi trước giàu sức sống, giàu nghĩa tình. Lớp người trẻ tuổi đi sau sung sức và nhạy cảm. Hai lớp người hòa chung tiếng súng chiến đấu, hòa chung lời ca truyền thống cách mạng. Những lúc nằm đu đưa trên võng trong rừng, những lúc ngồi quây quần bên ngọn lửa đêm, chúng tôi - lớp người đi trước và lớp người đi sau thường kể về những tên đất, tên người quen biết, tâm sự với nhau về vết sẹo trên mình, về những ấn tượng mạnh mẽ cuộc đời chiến sĩ. Tất cả những tâm sự, những nỗi niềm của chúng tôi đều là những kỷ niệm vui buồn gắn chặt với mảnh đất Trị Thiên - Huế thân yêu. Những lúc tâm hồn dễ rung động nhất, dễ nhạy bén nhất ấy, chúng tôi chợt hiểu ra rằng, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng không phải từ ý muốn chủ quan hoặc từ một sự truyền bá nào. Mà chính là từ những kỷ niệm chiến đấu mình tích lũy được và đã biến thành ý chí và tình cảm của bản thân. Mỗi người có những kỷ niệm riêng đã trở thành vốn liếng tình cảm riêng, nhưng đồng thời lại có những kỷ niệm chung của cả vùng đất.


Sau ngày Huế được giải phóng, rất nhiều đồng bào tới thăm bộ đội. Phổ biến nhất là các bà mẹ từ năm mươi tuổi trở lên. Hôm tôi đến công tác ở một đại đội thuộc trung đoàn Phú Xuân cũng gặp một bà mẹ cỡ tuổi như vậy đến thăm. Bà mẹ tóc đã có vài sợi bạc, ăn mặc khá lịch sự, dắt một cháu gái cỡ tám tuổi. Bà xưng hô với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị bằng mẹ và con rất tự nhiên, nhưng khi thấy tôi thì bà gọi tôi bằng cậu và tự xưng bằng chị. Kể cũng phải. Điều đáng chú ý là lúc bà mẹ tặng quà cho đơn vị. Bà lấy trong làn ra một cái khay khảm bạc và đặt lên trên đó hai tút thuốc lá Cáp-tăng, rồi với một dáng dấp kính cẩn, bà nâng cái khay lên ngang tầm mắt y như người ta đang rượu lúc cúng tế. Chính trị viên đại đội - một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi, tỏ ra hết sức lúng túng và ngượng ngùng. Cuối cùng anh ta cũng đỡ lấy cái khay và kêu lên : "Cảm ơn mẹ! Mẹ đừng làm thế".


"Đừng làm thế", nghĩa là đừng dâng một cách kính cẩn như vậy. Riêng tôi, tôi lại hết sức xúc động vì đã bắt gặp lại hình ảnh này trong buổi lễ thành lập chi đội Trần Cao Vân lực lượng vũ trang đầu tiên của Thừa Thiên - Huế cũng như trong các buổi úy lạo bộ đội Nam tiến. Đi theo các đoàn đại biểu của mặt trận Việt Minh tỉnh và thành phố là các cô gái cỡ hai mươi. Các cô bận áo dài nâu, tay bưng một cái khay trên đó đặt một lá cờ và một cây kiếm. Sau lời chúc mừng của đại biểu là lễ dâng kiếm dâng cờ. Các cô gái bước tới, tay nâng cái khay lên ngang tầm mắt. Anh đại biểu Vệ quốc đoàn trịnh trọng đến nhận tặng phẩm tượng trưng cho nhận một lời thề danh dự, thề hy sinh chiến đấu cho Tổ quốc. Đấy là chuyện ngày xưa. Nhưng, phải chăng bà mẹ hôm nay là một trong những cô gái đi úy lạo Vệ quốc đoàn ngày xưa. Chắc hẳn người mẹ cũng hết sức xúc động vì đã tìm lại được bóng dáng mình thời con gái. Ngày xưa, đến thăm anh Vệ quốc quân đội mũ ca-lô đeo ngôi sao vàng thêu bằng kim tuyến, vai quàng xiên chiếc chăn đơn. Bây giờ tới thăm anh Giải phóng quân đội mũ tai bèo khoác ba lô con cóc... Cái gạch nối thời gian ở giữa là 30 năm. Ba mươi năm sau, người con gái đã có cháu gọi bằng bà ngoại. Ba mươi năm... Bây giờ tôi có cảm giác như chợt sực tỉnh: thế là mình đã trở về với Huế rồi, trở về thực sự rồi. Tôi đã đứng đây; trong ngôi nhà mà cách vài hôm còn là dinh tỉnh trưởng ngụy. Cờ ta đang bay trên cột cờ thành nội bên kia sông. Huế hoàn toàn yên tĩnh: ngoài kia, xe cộ và đủ các hạng người đi lại bình thường. Những nét mặt vui vẻ hân hoan, những nét mặt ngỡ ngàng và cũng có những mái đầu cúi xuống. Dẫu sao, tất cả đều yên tĩnh, đều trở lại bình thường... Các quân đoàn đang đánh sâu vào trong kia. Ba mươi năm... Những anh Vệ quốc quân chúng tôi và những anh chiến sĩ Giải phóng - lớp đàn em chúng tôi đều đã trở về với Huế thân yêu. Ôi, nào phải ba mươi năm nín lặng đâu mà là ba mươi năm bão táp. Ta đã làm gì để hôm nay có thể nói với Huế rằng, niềm tin tất thắng của ta là chính xác hỡi người anh em?


Ba mươi năm là câu chuyện dài của một đời người. Ba mươi năm chiến đấu càng là câu chuyện quá dài của một vùng đất. Ba mươi năm chiến đấu cho niềm tin có ngày hôm nay thành sự thật là cả một sự tích lạ kỳ...

Câu chuyện về những sự tích kỳ lạ của vùng đất Trị Thiên - Huế muốn chép lại phải hàng pho sách, mà kỷ niệm của từng người trong anh em chúng tôi chỉ là những mảnh rời rạc. Thực sự, kỷ niệm rời rạc của từng người đều gắn chặt với những giai thoại đã thành truyền thuyết của hai cuộc chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ trên đất Trị Thiên chúng ta.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:16:15 am
Khi Trị Thiên - Huế đã được hoàn toàn giải phóng, khi chúng tôi đã thực sự về với Huế rồi, tâm trạng chúng tôi đôi lúc bất chợt xúc động quay về với nỗi khôn nguôi của mình : những kỷ niệm vui buồn cuộc đời chiến sĩ. những bước thăng trầm của cách mạng Trị Thiên - Huế. Những lúc được chút thời giờ rỗi rãi, hoặc đi bách bộ trong khu Mang Cá, hoặc ngồi trong quán nước bên bờ sông Hương, hoặc lên đường đạp xe đi công tác xuống các đơn vị, chúng tôi lớp người ngoài bốn mươi thường nhắc tới chuỗi ngày quá khứ. Từ câu chuyện anh em tự vệ đường phố Huế đem rơm trộn ớt đốt nhà Mô-ranh, hi vọng làm cho giặc Pháp cố thủ ở đấy sặc khói không chịu được phải mò ra, đến chuyện những anh Vệ quốc quân thuộc chi đội Trần Cao Vân chúng tôi dàn ra trên những tuyến chiến hào phòng ngự quá sơ sài ở đèo Phước Tượng, Mũi Né với súng trường "mút-cơ-tông" và mã tấu, để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ từ bờ biển Cảnh Dương lên. Thời kỳ hào hùng và ngây thơ ấy được gợi lại với giọng điệu vui vẻ pha đôi chút châm biếm. Để sau đó, câu chuyện của chúng tôi lại trở nên nghiêm chỉnh khi nói về một thời kỳ tự hào và quật khởi. Đấy là câu chuyện về phong trào "ôm hè" - tay không giết giặc khởi đầu từ những đội du kích Ba Lăng - Quảng Xuyên, đã nhanh chóng lan khắp nông thôn Bình Trị Thiên. Đấy là những chiến công lẫy lừng ở Thanh Lam Bồ, Dương Hòa, Thanh Hương, Đồng Dương, Ba Dốc, Xuân Bồ,... và nhất là những đòn tiến công sấm sét trong chiến dịch mùa xuân năm 1954, phối hợp với Điện Biên Phủ. Trong câu chuyện của chúng tôi có cảnh tượng xác lính Pháp trôi đầy sông Dương Hòa, có lửa bom na-pan ném xuống Kê Môn - Đại Lược, có tiếng reo vui khi kéo khẩu pháo 75 ly lấy được của giặc Pháp trong trận Ba Dốc, có những chuyến đò đêm từ Ba Lòng xuống Trầm; có những cuộc hành quân vượt phá Tam Giang. Chuyện gợi lại hồi đánh Pháp của chúng tôi thường không thể bỏ qua những ngày đói cơm đói muối, chấy rận đầy người; những bộ quân phục bằng vải "xi-ta", những khẩu súng "tuyn", súng "mát". Lại càng không thể không nhớ tới những đêm lửa trại ở Phong Chương, ở Cùa; những ngày luyện tập nghỉ ngơi ở vùng biển Mỹ Lợi, Mỹ Á,... cuối cùng, một người bạn trong số chúng tôi nhắc lại cảm giác của mấy tên Pháp tù binh. Đấy là những cảm giác hốt hoảng sợ hãi thường xuyên ám ảnh đầu óc tụi lính thực dân. Tưởng như trên đất Trị Thiên, nơi nào chúng đi, chúng dừng cũng có lửa sẵn sàng bốc cháy ngay từ dưới chân. Trong như trong từng cơn gió Lào cuốn theo cát bụi, có sức mạnh vô hình nào đó có thể cuốn luôn cả tụi chúng ra tuốt Thái Bình Dương. Chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao mảnh đất có nhiều cồn cát vàng cồn cát trắng; có nhiều đầm nhiều phá, có cố đô yên tĩnh trầm mặc - cái xứ có nhiều cô gái duyên dáng nghiêng đầu dưới chiếc nón bài thơ, mảnh đất dịu hiền là thế mà không một chỗ đứng ấm chân, một bước đi thanh thản cho đội quân xâm lược nước ngoài.


Thực dân Pháp đã cuốn xéo và những truyền thuyết về chín năm đánh Pháp thì vẫn ở lại với nhân dân ta, ở lại với chúng tôi. Đế quốc Mỹ giàu có và hợm hĩnh đã vào thay chân thực dân Pháp mà không chịu coi trọng những sự tích kỳ lạ của vùng đất này. Trong anh em chúng tôi, có người tập kết ra Bắc, người ở lại tiếp tục xây dựng phong trào. Lúc này, câu chuyện thuộc về người ở lại. Đây là những câu chuyện đau lòng dưới thời Mỹ - Diệm với những vụ thảm sát Hướng Điền, Vĩnh Lộc, với cảnh tượng xác người bị đâm, bị chém, bị bóp cổ, bị dìm nước nổi lềnh bềnh trên các con sông khắp Trị Thiên: sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Định, sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương,... Những người bị giết chỉ có cái tội là dám đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Có những kỷ niệm đau buồn không được ai nhắc tới vì người mang kỷ niệm đã chết. Trong chúng tôi, không ai có thể nhớ hết các đồng chí trong đảng bộ Trị Thiên đã hy sinh trong thời kỳ đen tối ấy như thế nào đâu. Bây giờ là sự im lặng vĩnh viễn của đất. Chúng tôi bảo nhau, hãy trân trọng nhắc tới những đồng chí đã nằm trong đất thay bằng thắp một nén nhang để báo tin rằng chúng tôi đã làm tròn nhiệm vụ trả thù. Câu chuyện chúng tôi nói về một đồng chí có tuổi có tên nay đã hy sinh. Hồi đó đồng chí đã phải sống những năm cô độc trong rừng, râu tóc dài như người vượn, ăn rau ăn củ rừng, vài ba tháng lại xuôi vùng Đá Bạc quét lớp muối đọng trong các hốc đá, làm quen với chim, quên mất tiếng nói và tập được lối đi như con heo con cọp để xóa dấu tích quanh hang hốc mình ở. Để một ngày kia bắt liên lạc được với Đảng với nhân dân mà chiến đấu! Cuộc chiến đấu được nhen lên khởi đầu từ những đốm lửa hắt hiu như thế.


Ôi, nhớ sao mùa xuân 1960, mùa xuân chúng tôi lại bắt đầu xây dựng chiến khu. Thời kỳ đó, chúng tôi mở đường mòn xuyên rừng mà đi. Có lẽ khó quên cái cảnh chui qua cống rãnh đường 9, đóng bè chuối vượt sông Thạch Hãn rồi lần mò đi đêm này qua đêm khác. Những khẩu súng, viên đạn có khi nằm giữa bó củi để ô tô chở về dưới Ba Lòng, Mai Lĩnh hoặc vô tận Nam Đông, Khe Tre, ... Khi con người tỉnh ngộ thì khẩu súng, viên đạn tự khắc biết cách đi tới nơi cần tới. Để có đường dây đầu tiên của cách mạng, để có những đơn vị đầu tiên của Trị Thiên. Đấy là thời kỳ chúng tôi im lặng phát rẫy tự nuôi mình, im lặng đi vào nhân dân trên A Lê Thiêm, A Lê Lốc, miền tây Hương Hóa. Để một thời gian ngắn sau đó, chúng tôi đã đàng hoàng uống rượu doác nhắm với thịt nai nướng cùng các pả1 (nghĩa là cha (tiếng Vân Kiều)), các a-ăm2 (nghĩa là cha (tiếng Pa Cô)) trong các bản làng Vân Kiều, Pa Cô giải phóng, đàng hoàng cùng nhân dân lập các tuyến phòng thủ bằng chông thò, cạm bẫy để bảo vệ các xu3 (Xu: xóm (tiếng Pa Cô)), các chòi. Vùng rừng đã đỏ lửa cùng với những trận chiến đấu nổi tiếng của Vai, của Kan Lịch.


Trong anh em chúng tôi, có người hoạt động ở cơ sở trong thành phố đã kể về nỗi kinh hoàng của địch khi tiếng tăm của anh bộ đội Giải phóng từ trên rừng bay về. Cùng với tiếng tăm ấy, màu sắc lá cờ Mặt trận giải phóng khi xuất hiện là thắp sáng niềm tin cho đồng bào ta từng để thương để nhớ đến người đi tập kết năm xưa. Đồng chí hoạt động cơ sở trân trọng nhắc lại ngày bà con thành phố Huế xuống đường, trận xuống đường đầu tiên. Những chiếc xe tăng Mỹ mang tên Ngô Đình Khả cùng với cái ký hiệu ngoáo ộp : đầu lâu đặt trên hai xương chéo - tượng trưng cho cái chết, đã chồm lên. Dùi cui báng súng của đủ các loại sắc lính đã bổ xuống. Máu người Huế đổ dưới xích xe tăng Mỹ, dưới sự tàn bạo của Mỹ. Và sau đó là triều đình họ Ngô sụp  đổ. Nhân dân Trị Thiên đã nhất tề đứng dậy đồng khởi. Câu chuyện đồng khởi thật giản dị, một đêm nào đó, tiếng mõ vang lên từ đầu thôn đến cuối thôn, nhân dân ùa ra châm lửa đốt hết hàng rào trói, buộc, cắt tung kẽm gai, bắt hết bọn tay sai ác ôn. Sáng mai dậy cờ giải phóng bay khắp thôn, và nhân dân cầm súng (những khẩu súng hôm qua còn trong tay kẻ địch) đề giữ lấy vừng đất, khoảng không gian cùng những con người vừa được tự do.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:17:01 am
Năm 1965 là thời kỳ rực rỡ của Trị Thiên, thời kỳ đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Từng tiểu đoàn, rồi từng trung đoàn bộ đội Giải phóng được thành lập. Chúng tôi đã về đứng chân ở giáp ranh - cái thế chiến lược quan trọng của dải đất miền Trung, cái thế sẵn sàng đổ lên đầu quân địch những đòn sấm sét. Kỷ niệm về những ngày ấy là những kỷ niệm đẹp đẽ còn lưu lại trong trí nhớ chúng tôi như một thời vàng son. Chúng tôi từng tắm mát ở phá Tam Giang, từng đạp xe đi từ Phò Trạch về tận Sịa. Đã về Trương Lưu, Đông Đỗ xây dựng làng chiến đấu chống càn; đã sang Mỹ Lợi ăn cam, ra Gio Lễ, Cam Bình hái chè nấu nước... Chiến tranh đặc biệt của Mỹ đã thảm bại trong thời vàng son của chiến trường Trị Thiên chúng tôi. Và chiến tranh cục bộ bắt đầu khi xuất hiện những thằng Mỹ bằng xương bằng thịt với xe tăng M.48, với đại bác 175 ly, với máy bay các loại A, loại F, với chất độc hóa học bom rải thảm, với bình xăng đặc ném lên mái tranh, với súng phun lửa phụt vào địa đạo. Ở Việt Nam nói chung và ở Trị Thiên ta nói riêng, đứng về mặt toán học mà nhận xét, dường như có một công thức sau đây : những sự tích chiến công kỳ diệu tỷ lệ thuận với cường độ tội ác và tàn bạo của kẻ địch. Bấy giờ là thời kỳ chúng tôi thực hiện khẩu hiệu "nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh". Câu chuyện của chúng tôi kể về anh xã đội phó Nguyễn Viết Phong đã chỉ huy một tổ du kích quần nhau với hàng tiểu đoàn Mỹ ở ngay sát nách căn cứ Phú Bài và Ấp Năm. Nguyễn Viết Phong đã thắng lợi vẻ vang. Sự tích này thay cho lời kết luận về sức mạnh Mỹ, rồi những sự tích thắng Mỹ vang dội khác lại xảy ra ở Gio An, ở Phong Chương, Động Tòa, khách sạn Hương Giang,v.v. Anh bạn hoạt động cơ sở nội thành lại kể về người Huế liên tiếp xuống đường dùng đá, chai cháy ném vào cảnh sát, đốt nhà thông tin Mỹ, phá hàng rào kẽm gai của Mỹ, tự ý rào đường Duy Tân. Còn chúng tôi thì kể chuyện đường 9, mảnh đất đẫm máu mà sẽ còn là nỗi kinh hoàng từ cả trong giấc chiêm bao của tên lính Mỹ nào may mắn sống sót. Tụi lính cổ da thuộc sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, tụi lính dù thuộc sư đoàn 101 Mỹ đều đã no đòn ở đấy. Chắc hẳn nỗi khiếp sợ của lính Mỹ còn lưu truyền lại đời con đời cháu. Vết thương này là ở khe Sanh. Cánh tay kia bỏ lại trên cao điểm 2-11. Thằng Uy-li am này chết vì cối 82 ly. Thằng Đắc-uyn nọ tử thương vì B.41.


Giống như tụi lính Pháp trước kia, những tên lính Mỹ bắt đầu ngạc nhiên về mảnh đất nom dịu hiền này, chúng cảm thấy không yên ổn, hoàn toàn không yên ổn. Chúng đến đây bằng những thằng người hung hãn, và ra về trong những túi ni lông.


Rồi câu chuyện của chúng tôi trở nên rôm rả hẳn lên, sinh động hẳn lên khi nói về mùa xuân 1968, về trận tập kích chiến lược tết Mậu Thân.

Trong câu chuyện này, sự tích kỳ lạ nhất là nghệ thuật giữ bí mật bất ngờ. Chúng tôi xuýt xoa ôn lại với nhau về công tác chuẩn bị chu đáo từ trên rừng đến dưới đồng bằng và trong thành phố. Chợt nhớ ơn các đồng chí địa phương đã lo cho chúng tôi từ bát gạo, cái hầm, con thuyền, đến những đồng chí giao liên được gọi là "hoa tiêu" dẫn chúng tôi đi về thành phố. Chợt cảm ơn và kính cẩn nhắc tới những đồng đội trên đường hành quân bị pháo vùi bom dập, bị sóng nước cuốn trôi, thân chịu chết chứ không hề kêu la một tiếng cố giữ cho cuộc hành quân bí mật. Khó mà tưởng tượng được nhiều mũi tiến quân khổng lồ với lỉnh kỉnh trang bị, vượt qua hàng đồn bốt địch, vượt qua bao nhiêu xóm làng, sông ngòi, kênh rạch, dưới tầm kiểm soát của các loại phương tiện trinh sát trên không, dưới mặt đất của địch mà vẫn giữ được bí mật tuyệt đối cho đến giờ nổ súng. Kỷ niệm về trận tập kích Mậu Thân trong anh em chúng tôi mỗi người một vẻ, nhưng đều gắn chặt với dáng tự hào của lá cờ Giải phóng bay chót vót trên cột cờ thành nội trong hai mươi lăm ngày đêm. Hai mươi lăm ngày đêm ở lại thành phố Huế với những trận chiến đấu đẫm máu, ác liệt. Thành phố rung chuyển trong tiếng bom, tiếng đại bác cùng tiếng súng các loại. Đất dưới chân nóng bỏng. Không khí sặc mùi lưu huỳnh. Cửa Đông Ba và con đường Mai Thúc Loan đã trở thành những chốt thép, nơi bộc lộ đến tột cùng lòng quả cảm của chiến sĩ Giải phóng. Máu đồng đội chúng tôi đã thấm xuống đường phố Huế, để Huế đi vào lịch sử. Để khi trở lại Trường Sơn, nhớ về Huế, chúng tôi nhớ từng khuôn mặt bạn bè khi mờ khi tỏ; nhớ những ánh mắt rụt rè trìu mến các chị, các em; nhớ những sinh viên học sinh, những anh chị tự vệ công nhân tay quàng băng đỏ đã sát vai với chúng tôi nổ súng. Nhớ con đò chở đạn qua sông, nhớ chiếc xe ca chở thương binh về hậu cứ. Nỗi nhớ của chúng tôi dính chặt vào những phút đè bẹp quân thù trên núi Tam Thai, trên cầu Lò Rèn, cầu Bạch Hổ; những lúc giải phóng nhà lao Thừa Phủ, lùng địch ở Phú Cam, bao vây bắt sống bọn ác ôn tay sai vón lại trên Cồn Hến. Nỗi nhớ của chúng tôi còn da diết hơn, là nỗi nhớ tội ác kẻ thù : chúng đã sả súng vào hàng ngàn người tay không đi đòi quyền tự do ở ngã ba quận lỵ Phong Điền. Chúng đã giội bom xuống những khu phố đông dân trong thành phố Huế.


Câu chuyện tiếp nối của chúng tôi gợi lại những ngày không thể quên được sau đó, những ngày giặc Mỹ tập trung gần bảy chục tiểu đoàn đủ các loại sắc lính để phản kích chúng tôi, để bình định cấp tốc nông thôn. Đấy là thời kỳ tụi kỵ binh bay tác yêu tác quái bằng đủ các thứ trực thăng hiện đại mà nhân dân gọi chúng bằng những cái tên nôm na : u-ti-ti, rọ, gáo, lép, v.v... Những loại trực thăng ấy đã bắn vào từng lùm cây, soi từng khuôn mặt ngoài đường làm một thứ ngoáo ộp dọa nạt những ai yếu bóng vía. Câu chuyện hả hê là của những người không yếu bóng vía, những chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi đã cho chúng phơi mặt hàng ba chục chiếc trong một trận A Lưới.


Kỷ niệm về thời kỳ đó của chúng tôi là những kỷ niệm vượt muôn vàn khó khăn gian khổ. Bây giờ có thể xót xa nói lại với nhau về những cảnh đói cơm lạt muối lả người, những cảnh sốt rét ác tính chết nhanh trong chốc lát, về những trận lũ tai quái, về những trận bom B.52 tàn khốc. Thế mà các chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi, những người lính xanh xao vì đói cơm thiếu ngủ, vì sốt rét bệnh tật đã đánh cho bọn kỵ binh bay, bọn lính dù và thủy quân lục chiến những đòn trí mạng ở Ca-cô-va, Tam Tanh, A Giơi, A Bia, 935. Sức mạnh được nhân lên gấp bội là sức mạnh con người đứng giữa tột cùng gian khổ để giành lại quyền sống, giành lại thế đứng chân.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:17:35 am
Anh bạn hoạt động cơ sở còn kể về nỗi xót xa ở đồng bằng : Đồng bào ta bị chúng nhốt sau tầng kẽm gai, xóm làng ta bị chúng đem máy xúc máy ủi về san bằng. Những người chết nằm dưới mồ không yên, những người còn sống ngồi trong trại tập trung mái tôn nóng bỏng, mỗi bước đi đều có mũi súng rê theo, căm thù muốn nổ con mắt... Nhưng chính cái bối cảnh khốc liệt của nông thôn đồng bằng như thế, mới xuất hiện những sự tích kỳ lạ về những người con gái anh hùng của Trị Thiên : Nguyễn Thị Lài, Trần Thị Tâm,... Nhớ lại những năm 1969-1970, dường như ngay anh em chúng tôi cũng ngỡ ngàng tự hỏi, làm sao ta vẫn là ta - đứng vững và chiến thắng, trưởng thành và dày dạn. Nhớ lại những năm ấy chúng tôi thường xúc động ứa nước mắt : một chút tủi thân, một chút tự hào. Thời kỳ khó khăn đã qua đi, và chúng tôi có dịp làm ăn lớn vào mùa xuân năm 1971, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - ngụy. Một người bạn từng đi qua Bản Đông, Huội San, Sê Pôn đã đưa ra một nhận xét sau đây : Trên những đồi cỏ tranh ngút ngàn thường có những đám cỏ xanh tốt trội hẳn lên. Đấy lạ chưa, cái màu xanh trội hẳn lên kia lại có hình dáng người. Đấy là dấu vết những tên lính ngụy xấu số đã nằm lại trên đất Lào trong lãng quên.


Câu chuyện của chúng tôi, bắt sang mùa hè 1972 lúc nào không biết. Chúng tôi nói về những trận tiến công, đập vỡ hệ thống phòng ngự kiên cố dầy đặc ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đầu Mầu, Quán Ngang, Hương Hoa rồi đến trận giải phóng thị xã Đông Hà, trận chiến đấu có tính chất quyết định để sau đó lực lượng của ta ào ào tiến công, đẩy chúng về bên kia sông Mỹ Chánh. Thực ra kỷ niệm của chúng tôi về mùa hè 1972 không phải ở những trận tiến công mà là những ngày giành giữ từng tấc đất từng ngôi nhà trong thành cổ Quảng Trị. Bây giờ đã ba năm qua mà dấu tích khốc liệt còn lưu lại trên những bức tường rỗ tổ ong, trên những mái tôn trở thành tấm lưới sàng đá cuội, trên phố xá đổ nát, trên bờ thành sạt đi từng quãng. Kỷ niệm của chúng tôi là ở những lúc chia nhau sự sống, sự chết, chia nhau từng hỏa điểm và từng viên đạn tiến công : chia nhau một bánh lương khô, vài ba ngụm nước lúc chờ giặc tới; chia nhau những trận bom trận pháo, chia nhau cả từng lúc chợp mắt giữa hai đợt tiến công.


Chúng tôi bảo nhau, sau này khi ta dựng nhà, xây công viên lại trên thị xã Quảng Trị, hãy nhắc nhở con em ta mở từng nắm đất ra mà xem. Đâu chỉ là đất mà còn là cái gì thiêng liêng hơn nữa. Dẫu không cố tình nói cho văn vẻ thì sự thật trần trụi vẫn như thế : nhà đã mọc lên, hoa đang tươi thắm trên xương máu chiến sĩ...


Phải nói chắc với nhau rằng, sự hy sinh tổn thất của ta trong chiến dịch này là lớn. Nhưng sự hy sinh lớn lao ấy cùng với sự hy sinh lớn lao trong cả nước đã làm nên chiến thắng 1972, giáng một chùy nặng nề vào đầu óc ngoan cố của tập đoàn Ních-xơn - Kít-xinh-giơ, khiến chúng phải ký vào Hiệp nghị Pa-ri về Việt Nam. Khiến chúng phải thừa nhận điều mà chúng không muốn : độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; khiến chúng phải chịu rút quân về nước sau bao năm gây tang tóc cho nhân dân Việt Nam. Ở Trị Thiên, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ rồi sư đoàn dù 101 lần lượt xuống tàu về nước. Gút-bai! Xin vĩnh biệt mảnh đất dịu hiền mà gai góc này đã để lại trong lòng từng tên Mỹ những kỷ niệm không vui. Có luyến tiếc chăng, hẳn là chúng chỉ luyến tiếc tuổi thanh xuân bị chôn vùi, bị phí phạm ở đây, vì quyền lợi bọn tư bản độc quyền, bọn ngồi trong Nhà trắng và Lầu năm góc.


Câu chuyện của chúng tôi lúc này bỗng nhiên quay ngược trở về thời kỳ Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, ... Để nói với nhau một điều hẳn không phải là thừa : quả thật, trên dải đất Việt Nam chúng ta, chỉ có chỗ cho bè bạn, không có chỗ cho bất kỳ một đội quân xâm lược nước ngoài nào, thuộc bất kỳ màu da nào, cả trước đây, bây giờ và sau này mãi mãi.


Những tên xâm lược nước ngoài lần lượt đến rồi lần lượt ra đi, mà cuộc chiến đấu của nhân dân ta vẫn còn phải tiếp tục. Đấy là nỗi đau của một dân tộc. Những người đã cầm súng chiến đấu hàng mấy chục năm là những người khát khao hòa bình nhất. Chúng tôi cũng vậy khi hai sắc cờ đã mọc lên trên tuyến tiếp xúc dài hàng trăm ki-lô-mét, chúng tôi vẫn ước ao hai bên ngồi lại với nhau, xóa bỏ hận thù trong mối tình hòa hợp dân tộc. Nhưng ngay sau đó chúng tôi có thể châm biếm về sự mơ hồ này của một số người trong anh em chúng tôi. Bởi vì chúng tôi đã có những kỷ niệm đau xót ở Bồ Điền, Hiền Sĩ- Nam Phổ Cần, ở Cửa Việt. Bạn bè chúng tôi, nhiều đứa đã ngã xuống những nơi đó do những cuộc tiến công lấn chiếm của chúng. Sự ngoan cố của kẻ thù khiến chúng tôi thêm tỉnh ngộ. Trên những tuyến tiếp xúc, chúng tôi sẵn sàng chia chén nước chè, điếu thuốc với binh lính phía bên kia, song cũng biết chuẩn bị sẵn sàng những điểm xạ để khi cần phải giáng trả những đòn trừng phạt đối với những kẻ say mê thuốc súng : Điều chúng tôi hiểu sâu xa trong những ngày sau đó là ta phải mạnh, phải mạnh hơn nữa. Có sức mạnh mới chủ động trong mọi tình huống.


Câu chuyện về kỷ niệm của chúng tôi trong thời gian này là câu chuyện về mở đường Trường Sơn, về huấn luyện đơn vị, về việc tách một số đơn vị chủ lực thuộc quân khu Trị Thiên ra thành lập quân dân cơ động, về những trận đánh trả bọn lấn chiếm, về việc tiếp tục xây dựng cơ sở ở nông  thôn đồng bằng và thành phố, về việc củng cố vùng giải phóng hậu phương.


Những năm 1973 - 1974 chưa xa, chưa quên trong trí nhớ chúng tôi. Bây giờ, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, ngồi với nhau giữa thành phố Huế, chúng tôi hoàn toàn tâm đắc với nhau về thắng lợi Hiệp nghị Pa-ri. Hiệp nghị Pa-ri nằm trong hồ sơ lưu trữ các bên hữu quan là những điều khoản, những quy ước, những chữ ký; nhưng với chúng ta là thời gian, là cơ hội. Dưới ánh sáng lãnh đạo của Đảng, biết làm chủ thời gian, biết nắm lấy cơ hội, sẽ có tất cả. Có lẽ mãi sau này, cùng với thử thách của thời gian, mỗi lúc chúng tôi càng thấu hiểu thêm, càng thấm thía thêm ý nghĩa điều đó.


Tất cả những tâm sự, những kỷ niệm của anh em chúng tôi vừa ôn lại chỉ là những mảnh rời rạc trong hàng pho sách chép về sự tích kỳ lạ của vùng đất Trị Thiên. Tuy nhiên, kỷ niệm rời rạc của chúng tôi đều y như những dấu chân đã in trên một chặng đường dài. Cùng quân dân Trị Thiên - Huế, chúng tôi đã đi trên chặng đường dài đầy gian truân như thế để làm một cuộc chuẩn bị cho thắng lợi cuối cùng khởi đầu từ những ngày mùa xuân năm 1975 lịch sử.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:19:03 am
III. Cuộc chuẩn bị ba mươi ngày - cuộc chuẩn bị ba mươi năm

Vâng, đang nói về mùa xuân năm 1975. Nhắc tới mùa xuân, ta chợt có cảm giác thanh thản nhẹ nhõm, dẫu đang ở trên rừng. Tưởng như ngửi thấy mùi thơm hoa phong lan phảng phất trong tiếng hót ngọt ngào chim khướu, trong tiếng róc rách suối chảy. Tưởng như có thể say sưa ngắm những ré nắng xuân xuyên qua đám sương màu lam...


Thực ra, mùa xuân ở Trị Thiên bao giờ cũng là một mùa xuân ẩm ướt, buồn tẻ. Nếu như ở vùng đất hanh khô, mùa xuân đến mang theo cái không khí hiu hiu mát dịu - cái không khí mơ màng của hơi sương, thì ở đây - trời vẫn mưa, một thứ mưa lai rai dai dẳng. Đất đỏ miền tây Quảng Trị dính bết vào dép cao su, còn ở miền tây Thừa Thiên, thứ đất pha lá mục, nom dễ đi, nhưng hễ giẫm chân vào là nước đen tứa ra từ các kẽ chân, vừa bẩn vừa ngứa.


Chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi chào đón mùa xuân năm 1975 trên những nẻo rừng sũng nước như thế. Chúng tôi đã quen với rừng hàng vài chục năm nay, hàng mươi năm nay hoặc ít ra hàng dăm bảy tháng nay. Có gì mà phải bực bội với mùa xuân đẫm nước ở cánh rừng miền tây Trị Thiên? Rất giản dị và yêu đời là chiến sĩ. Chúng tôi lọc ra niềm vui qua cái buồn của thời tiết, trong những sinh hoạt bình thường : mùa này, măng đang ngọt. Còn nấm mối thì có thể bất thần nhú lên ở một đám đất ẩm ướt ngay cạnh ta. Mùa xuân, chuối rừng khoe hoa đỏ chót, hoa lim màu tím rụng vào những hốc đá đầy nước. Mưa, ừ thì có ướt át nhớp nháp thật đấy, nhưng nếu qua suối rửa ráy tinh tươm, bước lên những bậc dốc lát bằng gỗ chẻ, vào trong nhà giũ áo mưa roàn roạt rồi hơ tay lên bếp lửa thì coi như đã gửi lại cái mưa gió ngoài rừng. Ở đây, dưới mái lán lợp lá đoác, lá gồi, chiến sĩ ngồi hong tay nghe củi nổ lép bép trong tiếng gió giũ nước mưa đọng lên lá xuống suối, trong tiếng thác đổ xa xa... Để tâm hồn nhẹ nhõm và chợt nhớ về những miền quê xa xôi, về những kỷ niệm tuổi thơ, về những buồn vui cuộc đời chiến sĩ. Hoặc nếu thích cuộc sống sôi nổi ồn ào thì hãy lao vào những trận đánh bài "tiến lên" vừa hò hét vừa trêu chọc lẫn nhau. Có thể bị vẽ râu hoặc beo tai bóp mũi gì đó nếu thua cuộc, nhưng không sao, chỉ đùa vui thôi mà - đời lính bao giờ cũng hướng về niềm vui, hướng về chiến thắng.


Mùa xuân năm 1975 đến với chiến sĩ Trị Thiên có gì khác ngoài những niềm vui bình dị. Có gì khác năm 1974 và những năm trước kia? Thực ra, mối quan tâm trước tiên đối với chiến sĩ chúng tôi khi mùa xuân đến là điều có liên quan tới sứ mệnh của mình. Năm nay sẽ mở chiến dịch ở đâu? Làm ăn ra sao? Ước nguyện sâu xa của người cầm súng là tự trả lời mình trước lúc lên đường nhập ngũ.


Anh chiến sĩ sẵn sàng bên khẩu đại liên trên chốt Long Quang, o du kích nằm trong hầm bí mật giữa trằm Bầu Bông vùng Phong Hòa, anh bộ đội địa phương gác nơi hòn Rẫm bên kia cửa Tư Hiền, cũng như chúng tôi - những cán bộ đã lớn tuổi công tác ở cơ quan quân khu - đều nghĩ về mùa xuân năm 1975 như hướng về ước mơ của mình. Chúng tôi nghe thời gian đi trong tiếng tắc kè điểm giờ, trong tiếng gà gọi sáng, trong khi bóc tờ lịch hàng ngày. Còn nghe tiếng thời gian đi khi nhìn mái tóc lốm đốm bạc của đồng chí chỉ huy, khi bất chợt tính với nhau rằng, thế là Bác Hồ đã đi xa được sáu năm. Sáu năm không có thơ mừng xuân của Bác, nhưng dường như lúc nào lời di chúc của Bác cũng văng vẳng bên tai : "... Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người . Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn...". Giữa ngày xuân, chiến sĩ chúng tôi chợt băn khoăn, vì chưa thực hiện được trọn vẹn lời di chúc của Bác. Thưa Bác, thế là một mùa xuân nữa lại đến, mùa xuân năm 1975. Bất giác thấy Bác vẫn đi trước hàng quân, cổ vũ chúng tôi, vẫy gọi chúng tôi. Tâm tư và ước ao của chúng tôi vẫn hướng về một trận thắng lớn. Chúng tôi nghe ngóng, phán đoán, thăm dò. Trí tưởng tượng của người lính chúng tôi tha hồ bay bổng, tha hồ tính toán về mùa chiến dịch sắp tới.


Một buổi tối ở trung đoàn Phú Xuân - chiến sĩ cảnh vệ tên là Tứ vừa theo một cán bộ trung đoàn ra công tác ở Quân khu về, sau khi tắm táp giặt giũ xong, đã hào phóng ném ra bao thuốc lá Tam Đảo và gói chè Ba Đình cho cả tiểu đội quây quần lại, người chủ cuộc vui tung ra một tin mới:

- Sắp làm ăn to rồi các cậu ạ!

- Sao? Nói đi! Bọn tớ cũng biết cách giữ bí mật chứ? Thề! - Đám lính trẻ xích lại gần nhau hơn. Trong màn thuốc lá tỏa ra bàng bạc, trong tiếng xuýt xoa vì bát nước trà nóng, những ánh mắt mở to vui vẻ chờ đợi. Tứ bèn kể với các bạn, bằng nét mặt quan trọng, bằng giọng nới tự tin. Câu chuyện của anh ta bắt đầu từ cuộc họp của người cán bộ trung đoàn ở Quân khu. Tất nhiên anh ta không được phép biết nội dung, song cứ xem cung cách tổ chức hội nghị tuyệt mật, cung cách tất bật của các cán bộ chủ trì về họp, hết làm việc với tham mưu lại đến với chính trị, hậu cần,... chắc hẳn là cuộc họp có tính chất giao nhiệm vụ quan trọng. Anh ta còn xem mặt, bắt hình dong, thấy đồng chí thủ trưởng của mình chợt vui vẻ, chợt bần thần tỏ ra nhiều lo lắng suy nghĩ là biết anh đang có nhiều điều cân nhắc tính toán.


Câu chuyện của anh kể về nhiều hiện tượng chuẩn bị chiến dịch: xe cộ chạy rần rần đi sâu vào trong kia, rất nhiều xe chở quân, toán tụi lính trẻ da dẻ đỏ au, quần áo mới cứng. Xe chở dầu máy và phụ tùng xe tăng của các đội sửa chữa. Xe chở đạn các cỡ hòm lớn hòm bé vô thiên lủng. Gặp những anh lính lái xe hay tán dóc, chỉ cần mời điếu thuốc lá làm quen là anh ta sẵn sàng phun ra cho biết, xe đang chở hàng gì, vào tận đâu. Theo Tứ - anh chiến sĩ thạo tin cho biết thì ở Quân khu đang có nhiều cuộc tập huấn : tập huấn quân sự, chính trị và binh vận. Quan trọng hơn cả là có một cuộc tập trung hàng ngàn cán bộ địa phương và du kích để tổ chức các đội vũ trang công tác. Có đến hàng trăm đội. Những đội này sẽ về phát động quân chúng nổi dậy ở đồng bằng phối hợp với chủ lực giải phóng nông thôn.

- Các cậu có nhớ con Lưu giao liên Phong Điền nữa không? Chính hắn nói với tớ và còn hẹn mời tớ về cái thôn Thế Chí Đông của hắn bên kia phá Tam Giang ăn cá biển. Thế có bốc không? Của đáng tội con bé cũng xinh, chỉ phải cái hơi ngắn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:19:46 am
Trong tiếng cười vui, Tứ tiếp tục kể thêm về dấu hiệu mùa chiến dịch sắp tới. Xuỵt! Các cậu có biết không, cánh trinh sát sư đoàn 325 đi chuẩn bị chiến trường gần tháng nay rồi đấy. Chúng nó đang làm ăn ở đường 12. "Thằng" trung đoàn 101 đang bò ra huấn luyện. "Thằng" trung đoàn 18 nghe đâu đã bí mật rời tuyến tiếp xúc, giao các chốt lại cho cánh bộ đội địa phương Quảng Trị. Lạ lùng nhất là "thằng" 95 - trung đoàn chủ công của sư 325 lại đang tổ chức ăn tết. Chính mắt anh ta trông thấy 95 gói bánh chưng, mổ bò mổ lợn chia về cho các đại đội : Gặp anh lính 95 nào là biết ngay, mặt mũi phởn phơ như bắt được của. Anh nào cũng chạy nhắng lên để chuẩn bị tết. Sao lại ăn tết sớm thế? Ăn tết "Quang Trung" để làm cái gì thế? Làm cái Mậu Thân nữa chăng? Tiếng bàn cãi khe khẽ nổi lên:

- Ồ không đời nào lặp lại cái Mậu Thân thứ hai nữa. Trong quân sự kỵ nhất là cái lặp lại. Mất hết cả yếu tố bất ngờ.

- Không, cậu ơi! Chính vì nghĩ như cậu nên có khi lặp lại mới bất ngờ.

Anh chiến sĩ thạo tin xua tay:

- Tớ biết chắc chắn là trung đoàn 95 ăn tết sớm để hành quân vào Tây Nguyên. Tuyệt mật đấy! Một thằng đồng hương nói lại với tớ, và dọa nếu để lộ ra là mất cái đội mũ tai bèo.

Đám lính trẻ xầm xì thán phục người đồng đội chỉ đi một chuyến công tác mà lượm được ối tin quan trọng. Và họ bắt đầu làm "tham mưu con". Thoạt tiên, họ tính với nhau về sự phân bố lực lượng quân đoàn 2 - quả đấm nặng cân nhất của chiến trường Trị Thiên : Vậy là, "thằng" sư 304 vẫn ngồi trong Thượng Đức, (trung đoàn 9 ở lại ngoài Cam Lộ thì đã có trung đoàn 3 thuộc sư 324 thay thế) "thằng" sư 324 đang xoay trần ra huấn luyện ở vùng A Lưới. "Thằng" sư 325 cũng rút ra khỏi tuyến tiếp xúc phòng ngự, "thằng" lữ xe tăng 203 tuy ở rải rác nhiều chỗ thật, nhưng đối với hắn thì lo quái gì, cơ động nhanh như chớp. Còn mấy anh chàng lữ 164 pháo binh, lữ 209 công binh, sư 673 cao pháo thì không phải không tính đến, nhưng các anh chàng ấy sẽ có mặt ngay nơi nào bộ binh cần đến. Tóm lại là toàn quân đoàn 2 đã được rảnh tay chuẩn bị giao cho các tuyến tiếp xúc lại cho địa phương. "Thằng" trung đoàn 271 ở Mỏ Tâu, La Sơn, "thằng" trung đoàn 4 ở tây Phong Điền. "Thằng" tiểu đoàn 14 tây Hải Lăng, "thằng" tiểu đoàn 13 ở Thanh Hội, Long Quang, v.v. Còn trung đoàn 6 chúng mình?


Đám lính trẻ mới sực nhớ ra chính họ cũng vừa được rút ra khỏi tuyến tiếp xúc, đang tranh thủ củng cố huấn luyện. Phải coi như trung đoàn 6 là lực lượng cơ động của Quân khu. Nhưng sẽ được ném vào đâu?
Điều đáng chú ý là tất cả lực lượng đều đang chuẩn bị tại chỗ, sao lại điều trung đoàn 95 đi Tây Nguyên? Điều một trung đoàn cứng được huấn luyện chu đáo đi nơi khác, tất là nơi đó phải quan trọng, phải là chiến trường chủ yếu. Vậy thì Trị Thiên ta là chiến trường phối hợp nhưng mức độ quan trọng của chiến trường phối hợp phải như thế nào mới tập trung hàng trăm đội công tác để tung về nhằm giải phóng nông thôn. Khó nghĩ là đường 12 - con đường chọc thủng vào phía tây thành phố Huế. Định giải phóng Huế chăng? Hay chỉ là giương đông kích tây giáng một đòn ở Quảng Trị. Đám lính trẻ làm "tham mưu con" thường có nhiều ý kiến, và bao giờ họ cũng tự đặt mình vào vị trí tư lệnh quân khu, tư lệnh chiến dịch chẳng hạn. Có anh còn cả gan làm Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh để tính toán mọi kế hoạch, mọi cách làm ăn trong mùa xuân năm nay.


Cuối cùng thì cái vai trò mà anh ta "dám làm" kia cũng chấm dứt, khi người trung đội trưởng nổi hiệu còi, ra lệnh tắt đèn đi ngủ.

Họ kết thúc buổi trà lá vui vẻ, thu vén ca bát, giũ chiếu mắc màn để làm một giấc ngon lành của anh chiến sĩ bình thường. Một cậu đứng giữa nhà, vươn vai, vặn xương kêu răng rắc rồi đủng đỉnh nói:

- Dù sao thì chúng mình cũng chuẩn bị đi thì vừa! Chuẩn bị cái đầu cho cứng, cặp tay chân cho khỏe vào mà húc.

- Ồ chuẩn bị là việc cấp trên, cánh lính chúng mình thì quái gì mà chuẩn bị. Cứ lệnh một cái là a-lê hấp, nhào dô luôn.

- Bậy, cấp trên có cái chuẩn bị của cấp trên, thằng lính có phần chuẩn bị của nó. Thí dụ: như cánh ta đang học quân sự đây này, phải làm sao đừng quỵ xuống vì sốt rét này, rồi phải làm đường, làm kho đạn, kho gạo này? Ồ, ối công việc... - Cuộc tranh luận nho nhỏ này cũng dễ nhất trí. Khi chiến sĩ đã manh nha được mùa chiến dịch sắp tới, hầu như ai cũng hiểu được mình phải làm gì để đảm bảo thắng lợi. Có điều là trong những dòng suy nghĩ miên man về chiến dịch sắp tới, xen lẫn với hình ảnh những người thân, hình ảnh quê hương thường hiện về lúc đã ấm trong chăn, các chiến sĩ chợt sực nhớ về một mùa xuân nữa đến.
Một cậu lớn tuổi nhất tiểu đội lên tiếng hỏi khẽ:

- Năm tới là năm Mão phải không các cậu?

- Ừ năm nay là Giáp Dần, năm tới là Ất Mão.

- Vậy là năm cầm tinh con mèo. Nghe đâu thằng Thiệu tuổi chuột. Cái giống chuột, vốn kỵ mèo nhất. Không chừng năm tới, Thiệu sẽ kềnh cũng nên.

Mẩu chuyện sinh hoạt của tiểu đội cảnh vệ sở dĩ tôi biết được là do Tứ kể lại. Cũng không riêng Tứ mà anh em trong tiểu đội mỗi người góp một câu nhân hôm tôi xuống chơi với anh em, sau ngày Huế giải phóng. Biết tôi là trợ lý ở phòng tác chiến, đám lính trẻ muốn khoe cái tài làm "tham mưu con" của họ, và để tôi xác minh những điều họ nhận định là đúng. Họ chỉ thừa nhận có hai điểm phán đoán chưa chính xác. Một là, hướng trọng điểm của chiến dịch tưởng là đường 12 hóa ra đường 14. Hai là, tưởng đánh chắc tiến chắc không ngờ lại thực hiện bao vây chia cắt lớn và áp dụng lối đánh thần tốc chọc thủng vào tung thâm địch.

Tôi cười:

- Các cậu sai những điều cơ bản nhất rồi, còn gì. Vậy là chưa đủ trình độ làm tư lệnh chiến dịch.

Anh em cười xòa.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:21:19 am
Quả thật là làm sao mà ai cũng có trình độ làm tư lệnh chiến dịch được. Ngay như chúng tôi - những cán bộ có trách nhiệm giúp cấp trên vạch kế hoạch tác chiến, vậy mà trong quá trình chuẩn bị, quá trình diễn biến chiến đấu cũng như sau khi chiến thắng hoàn toàn rồi, vẫn còn nhiều điều ngớ người ra, dần dần mới vỡ lẽ. Như vấn đề chọn hướng trọng điểm của chiến dịch chẳng hạn - một trong những vấn đề có tính chất quyết định thắng, bại của chiến dịch. Sau này, anh em cán bộ quân sự, chính trị chúng tôi lúc ngồi tán phiệu với nhau, dẫu biết vậy là khen phò mã tốt áo vẫn nắc nỏm thán phục Trung ương tài thánh thật - chọn Tây Nguyên làm chiến trường chính mà nam Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu, lại chọn Buôn Mê Thuột làm điểm then chốt của chiến dịch thì tuyệt, không chê vào đâu được. Ở Trị Thiên chúng tôi cũng vậy, vấn đề chọn hướng công kích chủ yếu của chiến dịch chắc là vấn đề lao tâm khổ tứ của cấp trên. Sở dĩ phải nói chung một chữ "cấp trên", vì chiến dịch mùa xuân 1975 tiến hành ở Trị Thiên trong thực tế là một bộ phận của chiến dịch "Huế - Đà Nẵng" trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, dưới sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh.


Xin nói thêm điều này: ở chiến trường Trị Thiên - Huế có hai lực lượng quân sự là B4 và B5 tức là quân khu Trị Thiên và quân đoàn 2. Xuất phát từ yêu cầu chiến dịch và đặc điểm tình hình Trị Thiên, Bộ Chính trị quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Trị Thiên, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Bí thư Đảng ủy là đồng chí thiếu tướng Lê Tự Đồng. Việc chỉ huy thì Bộ tư lệnh B4 và B5 trực tiếp chỉ huy lực lượng thuộc quyền mình. Về mặt tổ chức, tuy không có một Bộ chỉ huy mặt trận chung, nhưng hai Bộ tư lệnh B4 và B5 đều có liên lạc với nhau thường xuyên qua máy điện thoại. Hai nữa, về tình nghĩa mà nói, giữa quân đoàn 2 và chúng tôi là chỗ con một nhà mà ra. Đi lại, nói năng với nhau đều thoải mái, không phải giữ kẽ.


Bây giờ, tôi trở lại vấn đề chọn hướng công kích chủ yếu của chiến dịch ở Trị Thiên. Đây là một vấn đề quan trọng và khó khăn không thuộc quyền định đoạt của phòng tác chiến chúng tôi, cũng như phòng tác chiến quân đoàn 2. Bởi vậy, sự hiểu biết thật tỉ mỉ, cụ thể của chúng tôi dĩ nhiên là có hạn chế. Chỉ biết ngay từ lúc đầu, khi vạch kế hoạch tác chiến của chiến dịch, chúng tôi đã được chỉ thị về hướng tiến công chủ yếu là đường 12. Hầu như đấy là chỉ thị từ Bộ Tổng tham mưu. Quân đoàn 2 - lực lượng được tập trung vào hướng trọng điểm quân sự, đã tung cán bộ, trinh sát ăn đêm nằm ngày hàng tháng ở đường 12, từ trên Sơn Na về dưới Binh Điền - Hòn Vượn để nghiên cứu tình hình.


Đùng một cái, có lệnh chuyển hướng trọng điểm công kích của chiến dịch sang đường 14. Đối với lực lượng quân khu chúng tôi đảm nhiệm ở những hướng khác, kế hoạch có thay đổi tí chút cũng không sao, chứ với quân đoàn 2 là cả một cuộc đảo lộn hết sức vất vả. Thay đổi hướng trọng điểm công kích là thay đổi toàn bộ kế hoạch tác chiến, thay đổi toàn bộ công tác chuẩn bị. Thời gian lại quá gấp rút. Đâu như chỉ còn được một tháng để làm lại từ đầu. Thôi thì cứ vắt chân lên cổ mà chạy. Cánh cán bộ và trinh sát đi nghiên cứu chiến trường lại cơm đùm cơm gói kéo nhau vào Lưỡi Cái, Kim Sắc, vào Mỏ Tàu - điểm cao 303, 224, 75, 76, v.v. Tuy vùng Mỏ Tàu đối với sư đoàn 324 là nơi quen thuộc, vì mùa hè năm ngoái 324 đã giáng cho bọn sư 1 ngụy một đòn trừng phạt đích đáng, lấy lại được vùng đất này. Nhưng vào mùa mưa khi 324 rút ra huấn luyện giao lại cho trung đoàn 271 và trung đoàn 6, thì kẻ địch đã tập trung lực lượng lấn chiếm lại. Tất nhiên kẻ địch không thể nào để nguyên thế bố phòng như cũ. Chúng phải dùng những thủ đoạn mới. Việc chuẩn bị chiến trường của cán bộ và trinh sát cũng không phải giản đơn, cứ theo sách cũ mà làm được. Riêng sư đoàn 325 có nhiệm vụ tác chiến ở hòn Kim Sắc, hòn Lưỡi Cái, điểm cao 494, v.v. thì khá gay go, vất vả. Chiến trường hoàn toàn mới. Phải soi đường mà đi, phải mò vào tận hàng rào, vào tận công sự địch mà xem xét.


Trời lại mưa, mưa chi mưa thối đất. Cánh trinh sát thật không có chỗ đặt ấm lưng, ăn miếng lương khô cũng phải nhón hai ngón tay thật khéo không thì vướng bùn. Chỉ có nước uống là dồi dào. Nước khe nước suối tha hồ, nhưng vẫn chê đục. Cứ lấy lá cây chúm lại làm gầu múc nước mưa đọng trong các hốc đá vào bình toong, uống ngọt lịm.


Hãy tưởng tượng xem cánh công binh và cả bộ binh của sư đoàn 325 nữa phải gấp rút mở đường từ Vũng Tròn vào đến sông ruồi, con đường dài 13 ki-lô-mét 500 với khối lượng đất là 33.500 mét khối trong một thời gian ngắn nhất thì vất vả biết chừng nào. Làm ngày, làm đêm. Đường vừa lầy vừa dốc. Lũ máy bay trinh sát của địch không ngớt nhòm ngó, tìm kiếm. Đường làm đến đâu xe pháo nhích đến đó. Tính từng giờ từng phút làm sao cho kịp kéo pháo vào trận địa đúng giờ quy định nổ súng. Những ngày kéo pháo lên tận trên hòn Lưỡi Cái cao tới 847 mét cũng là những ngày vất vả, hào hùng làm chiến sĩ ta được sống lại thời kỳ Điện Biên. Chẳng những pháo binh mà còn phải huy động hàng tiểu đoàn bộ binh, công binh. Hàng ngàn con người căng sức lực ra trên những dây chão dây cáp kéo những khẩu 122 ly, 105 ly, 85 ly, 37 ly vượt dốc lầy trung bình 20 độ, có chỗ đến 40 độ dưới trời mưa rả rích, dưới tầm đại bác câu tới của địch. Đạn pháo có quả rơi vào giữa đội hình mà chiến sĩ ta vẫn cúi rạp người, găm dây cáp xuống không cho pháo lùi dù chỉ một tấc. Chiến sĩ hy sinh, bị thương đã có người lo, pháo vẫn nhích lên theo nhịp tay chỉ huy "hai, ba, ... nào" , y như Điện Biên năm xưa. Phó chính ủy sư đoàn, phó chính ủy trung đoàn trực tiếp chỉ huy kéo pháo. Bộ tư lệnh lữ đoàn công binh hội ý sinh hoạt ngay trên mặt đường. Không khí khẩn trương hối hả nhưng nghiêm túc không ồn ào. Cán bộ lo từng ngày, tính từng giờ. Khẩu pháo cuối cùng được đưa vào trận địa trên cao đứng vào trước giờ nổ súng. Sau này, lớp con cháu ta sẽ khó mà tưởng tượng được rằng chỉ dùng bằng sức người mà kéo pháo lên cao được như vậy. Ngay sau khi chiến thắng, muốn đưa pháo về xuôi, ta đã phải dùng trực thăng để cẩu.


Ngày 11 tháng 3 năm 1975 khi sư đoàn 324 đã nổ súng được ba hôm rồi, trung đoàn 18 mới hành quân vào đến nơi. Cán bộ còn tập trung để học tập cách đánh. Quân đoàn phó Hoàng Đan trực tiếp lên lớp cho cán bộ trung cấp. Sư phó Huy lên lớp cho cán bộ sơ cấp. Bàn với nhau cách đánh cũng gấp gáp, khẩn trương. Cán bộ chỉ huy trung đoàn 18 không có thì giờ trinh sát thực địa lần thứ hai. Mà trinh sát thực địa lẩn hai coi như tổ chức chiến đấu tại chỗ luôn.


Tất cả cái bối cảnh chuẩn bị hết sức hối hả, hết sức cực nhọc là ở phía đường 14 - nơi được chọn làm trọng điểm quân sự, nơi sẽ diễn ra cú đấm nặng cân nhất có tính chất quyết định cho chiến dịch.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:22:34 am
Khi cấp trên quyết định chuyển hướng công kích chủ yếu từ đường 12 sang đường 14, anh em cán bộ quân sự chúng tôi đều thấy phải - tuy có băn khoăn, liệu chuẩn bị có kịp không? Anh em cán bộ ở quân đoàn 2 còn băn khoăn hơn chúng tôi, vì chính các anh mới thực sự là những người vất vả.


Nghe đâu chính ủy quân đoàn 2 - thiếu tướng Lê Văn Linh đã nói một câu, đại để như thế này: "Trước mắt, chúng ta chỉ có 30 ngày để chuẩn bị, nhưng trong thực tế chúng ta đã có ba mươi năm chuẩn bị cho cuộc chiến đấu hôm nay. Phải lấy tinh thần, kinh nghiệm của 30 năm để cuộc chuẩn bị khẩn trương nhưng chu đáo này hoàn thành tốt đẹp...".


Vâng, đúng như thế. Chúng ta đã chuẩn bị từ ba mươi năm nay, ba mươi năm chuẩn bị bằng mồ hôi nước mắt và xương máu. Bởi thế, sự khẩn trương trong suy nghĩ, trong hành động đã thành tư tưởng, thành tác phong của cán bộ, chiến sĩ. Bởi thế, sự tính toán của cấp trên là dựa trên cơ sở khoa học, chính xác mới dám quyết định thay đổi hướng công kích, chủ yếu của chiến dịch. Sau khi giành được thắng lợi hoàn toàn rồi, nhìn lại toàn bộ chiến dịch, càng thấy quyết định chuyển hướng trọng điểm quân sự từ đường 12 sang đường 14 để cắt đứt đường số 1 là chính xác là tuyệt vời. Xét về địa hình Trị Thiên, đoạn hiểm yếu nhất là đoạn đường từ Truồi vào đến Lăng Cô, một bên là phá Cầu Hai, một bên là Trường Sơn, ở giữa chỉ một doi đất quá hẹp, lơ thơ vài xóm nhỏ, có chỗ chỉ đủ cho quốc lộ số 1 và đường sắt chạy qua. Cắt đứt đoạn này là cắt đứt sự liên lạc trên bộ giữa Huế và Đà Nẵng, làm rung chuyển thế phòng ngự của địch ở vùng 1 chiến thuật, làm dao động tinh thần và ý chí của đối phương.


Trong quá trình chiến đấu, chẳng những ta cắt đứt đoạn đường này mà còn bịt chặt cửa Thuận An và cửa Tư Hiền thoạt đầu bằng pháo binh, sau đó bằng bộ binh. Trước đòn hiểm bao vây chia cắt ấy, kẻ địch chỉ có rối loạn, như kiến bò quanh miệng bát bị đun nóng. Điều đó có thể giải thích được tại sao khi ta đánh vào Huế lại dễ dàng và nhanh chóng thế.


Tất nhiên, chuyển hướng trọng điểm công kích từ đường 12 sang đường 14 để cắt đứt quốc lộ số 1 là một quyết định chính xác, táo bạo, nhưng như ta đã biết, không phải là việc giản đơn. Nó đòi hỏi phải có sự cân nhắc, tính toán thật khoa học. Vậy ý kiến đúng đắn này từ đâu đề xuất ra?

Có lần tôi hỏi chuyện một cán bộ sư đoàn, thì anh trả lời:

- Thực ra chúng tôi chỉ là cấp chiến thuật, cấp thực hiện. Sau khi nhận lệnh chiến đấu ở đường 12, chúng tôi liền cử cán bộ, trinh sát đi nghiên cứu và nhanh chóng triển khai mọi kế hoạch chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật. Song quả thật, trong lòng vẫn còn đôi chút băn khoăn. Mạn đàm, trao đổi với nhau, chúng tôi nghĩ rằng, đánh đường 12 thì sẽ khó thực hiện được yêu cầu chia cắt chiến dịch lúc có thời cơ.


Hơn nữa, nếu địch tập trung lực lượng be bờ cố thủ thì tình thế chiến dịch dễ bị giậm chân tại chỗ, khó phát triển. Chúng tôi nghiêng về ý kiến chọn khu vực đường 14 làm hướng tiến công chủ yếu. Sau đó chúng tôi có mạnh dạn đề nghị ý kiến này lên cấp trên. Nhưng, chính các anh trên Bộ tư lệnh quân đoàn cũng đã sẵn ý kiến như vậy. Khi nghe đồng chí cán bộ sư đoàn nới thế, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đến đồng chí tư lệnh quân đoàn 2 - thiếu tướng Nguyễn Hữu An. Anh An nguyên trước kia là tư lệnh phó quân khu Trị Thiên, vừa đi nghiên cứu quân sự ở nước ngoài về, và nhận chức tư lệnh quân đoàn từ đầu chiến dịch. Vừa tiếp thu được kiến thức và kinh nghiệm của một nền khoa học quân sự hiện đại, chắc anh An là người có khả năng đề xuất những ý kiến mới mẻ.


Nhưng hỏi anh An, anh đáp, đấy là ý kiến tập thể của Bộ lư lệnh quân đoàn vừa là trùng hợp với ý kiến tập thể Bộ tư lệnh quân khu. Sau khi thống nhất trong Đảng ủy mặt trận, ý kiến này được báo cáo và thảo luận trong lúc thông qua phương án tác chiến và được Bộ nhất trí. Cuối cùng, Bộ quyết định cho chuyển hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch vào hướng Nam Huế.


Thực ra, tôi hỏi vậy cũng vì tò mò. Chứ các đồng chí cấp trên thường là rất nguyên tác và khiêm tốn: dù là ý kiến cá nhân đề xuất ra, nhưng khi đã thông qua tập thể là trở thành ý kiến tập thể.

Dù sao, trong vấn đề này, sự nhạy bén trong đầu óc cán bộ các cấp là một điều đáng lưu ý. Dường như có tia sáng vô hình nào đó lóe lên, soi rõ mọi ý đồ mọi dự định, và cán bộ chúng ta đã cùng một lúc nhìn thấy được, bắt nắm được. Sau này, khi đã nổ súng, sự hiểu biết lẫn nhau, sự thông cảm với nhau trong ý đồ chiến lược, chiến dịch cũng như phương pháp tác chiến đã biểu hiện điều đó. Nhiều lúc chưa kịp hợp đồng với nhau, mà các cánh quân đều tiến công nhịp nhàng, chưa kịp ra mệnh lệnh, chỉ thị mà cấp dưới đã hành động đúng ý đồ, đúng dự kiến. Phải chăng là chúng ta được soi sáng trong mọi đường lối chung của Đảng, vì chúng ta đã tích lũy được nhiều kiến thức, nhiều chiến thắng, từng đau đớn trước không ít tổn thất, hy sinh. Đúng là chúng ta không chỉ có ba mươi ngày để chuẩn bị, mà chúng ta đã chuẩn bị từ ba mươi năm nay cho trận thắng cuối cùng.


Trong những ngày chúng ta chuẩn bị ở đường 14, dường như kẻ địch cũng đã đánh hơi thấy. Theo thông báo của Bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy ngày 3 tháng 3 năm 1975 (tức là trước lúc ta nổ súng 5 ngày) thì ta đã trinh sát xong các cứ điểm của sư đoàn 1 nguy từ Hương Thủy trở vào. Lực lượng địch bấy giờ ở Trị Thiên ước tính 56.000 tên, kể cả chủ lực lẫn địa phương (không kể dân vệ và phòng vệ dân sự), tất cả là 41 tiểu đoàn.


Sư đoàn 1, một sư đoàn mạnh nhất của bộ binh quân ngụy gồm có 4 trung đoàn: 1, 3, 51, 54. Chúng có nhiệm vụ phòng giữ phía tây từ Hương Trà vào Hương Thủy đến bắc Phú Lộc. Sư đoàn thủy quân lục chiến gồm có 3 lữ : lữ 147 phòng ngự phía tây Phong Điền, lữ 258 ở Thanh Hội, Long Quang, lữ 369 ở thành cổ Quảng Trị sau này được rút ra làm lực lượng cơ động. Tóm lại, sư đoàn thủy quân lục chiến chỉ huy luôn cả mấy quận và tiểu khu Quảng Trị trong phạm vi mình phụ trách - đảm nhiệm khu vực chiến đấu từ bắc sông  Bồ trở ra.


Sư đoàn dù chỉ để lữ đoàn 2 ở Thừa Thiên do quân đoàn tiền phương nguy trực tiếp chỉ huy, đóng ở đèo Phước Tương có nhiệm vụ cơ động bảo vệ đường Huế - Đà Nẵng. Liên đoàn biệt động quân 15 gồm ba tiểu đoàn : 60, 61, 94, lúc đầu ở Phú Bài, về sau được đưa vào Phú Lộc do bị no đòn ở đấy.


Liên đoàn bảo an 913 ở Quảng Trị, liên đoàn bảo an 914 ở Thừa Thiên. Ngoài ra còn 9 tiểu đoàn bảo an khác trực thuộc hai tiểu khu Quảng Trị và Thừa Thiên.   

Lực lượng địa phương gồm 21 đại đội bảo an, 319 trung đội dân vệ, 119 ban chỉ huy phân chi khu quân sự, 2 đại đội cảnh sát đã chiến, 7.000 tên cảnh sát từ xã đến tỉnh, ba mươi ngàn phòng vệ dân sự (trong đó có 23 ngàn tay súng).   


Pháo binh mặt đất địch gồm 10 tiểu đoàn, 1 đại đội, 7 trung đội; tất cả có 194 khẩu kể từ pháo 105 ly đến pháo 175 ly.

Về thiết giáp, chúng có 3 thiết đoàn, 260 xe chiến đấu (trong đó có 100 xe tăng M48, M41). Thiết đoàn chiến xa 20 đóng quân ở Đức Tích cùng với lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp án ngữ vùng phía nam sông Mỹ Chánh, Đồng Lâm đề phòng ta chia cắt chiến trường Trị Thiên ra làm hai.


Thiết đoàn 17 thiết giáp phối hợp cùng lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến đóng ở đồng bằng Quảng Trị, một lực lượng mạnh có thể sẵn sàng tiến công. Thiết đoàn 7 thiết giáp ở ấp 5 phía nam Huế, phục vụ cơ động cho sư đoàn 1 bộ binh nguy. Pháo cao xạ chỉ có một tiểu đoàn mới thành lập gồm 27 xe M42 gắn pháo 40 ly 2 nòng và 37 xe gắn súng máy 12 ly 7 loại 6 nòng và 4 nòng.


Hải quân địch gồm 81 tàu thuyền, phần lớn loại nhỏ. Ở Cửa Thuận, có hai duyên đoàn số 11 và 12 và hai giang đoàn số 60 và 92. Ở cửa Tư Hiền có duyên đoàn số 13. Giang dân số 32 đóng ở bến Tòa Khâm, Huế. Lực lượng không quân của chúng chi viện cho chiến trường Trị Thiên do sư 1 không quân ở Đà Nẵng đảm nhiệm. Ở sân bay Phú Bài chỉ có 1 phi đoàn máy bay trực thăng UH.1 từ 18 đến 20 chiếc và hai phi đội máy bay trinh sát từ 8 đến 10 chiếc. Loại máy bay vận tải C.130 đến và đi, không ở lại. Nói chung, lực lượng của chúng khá hùng hậu, được bố trí chặt chẽ, có lực lượng vòng trong, lực lượng vòng ngoài, có lực lượng cơ động toàn chiến trường, có lực lượng cơ động từng khu vực và tại chỗ.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:23:56 am
Nhìn thế bố trí của địch, ta thấy chúng có chú ý vào đường 14. Khu vực đường 14 là nơi đã xảy ra nhiều trận chiến đấu quyết liệt từ mùa thu năm ngoái đến nay. Tháng 7 năm 1974, phối hợp với Thượng Đức và Đắc Pếch ta mở trận tiến công từng phạt địch ở Mỏ Tàu -303 do trung đoàn 54 và trung đoàn 1 nguy phòng giữ. Bọn địch ở đây đã bị thất thiệt 7 tiểu đoàn, gồm 4.000 tên.


Ngày 6 tháng 8 năm 1974 ta cắt hẳn đường tàu hỏa từ Huế vào Đà Nẵng, và uy hiếp quốc lộ số 1.

Từ đấy, bọn Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi qua những câu trả lời phỏng vấn của nhà báo nước ngoài đã biểu lộ sự lo ngại khả năng có thể bị chia cắt giữa Phú Bài và Phú Lộc.   

Vì thế, chúng đã tập trung toàn sư đoàn 1 và liên đoàn biệt động 15 đối phó với ta từ tháng 8 năm 1974 tới tháng 2 năm 1975 ở quanh đường 14. Cuối cùng, chúng đã tái chiếm được những mảnh đất ta vừa giành giữ. Tuy nhiên, kẻ địch không thể nào yên ổn trên mảnh đất này. Chúng biết, không chóng thì chầy, chúng sẽ bị giáng trả những đòn trừng phạt quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn.   


Vào những ngày sau Tết nguyên đán Ất Mão, qua những tin tức của gián điệp tình báo phối hợp với tài liệu phương tiện trinh sát kỹ thuật, kẻ địch cũng biết rằng có một lực lượng đáng kể của quân đoàn 2 sẽ đánh vào đường 14.   


Vậy thì tại sao kẻ địch không tập trung lực lượng cao hơn nữa để ngăn chặn ta ở đường 14? Đấy là nỗi đau khổ của những người cầm quân không nắm được thế chủ động trên chiến trường. Lực lượng chúng tuy đông nhưng bị căng mỏng ra, số quân cơ động bị hạn chế. Lâm Quang Thi, cùng tham mưu trưởng là đại tá Hy đã vật mình vật mẩy với Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân đoàn 1 xin thêm 1 lữ dù hoặc từ 468 thủy quân lục chiến mới thành lập ở Sài Gòn ra tăng thêm làm lực lượng cơ động cho Trị Thiên. Nhưng làm sao Ngô Quang Trưởng lại có thể đồng ý, khi sư đoàn 304 của ta vẫn uy hiếp chúng ở Thượng Đức. Trong quá trình chiến đấu, chẳng những không được tăng thêm mà còn bị điều mất lữ dù 2, tiếp đến còn điều nốt cả lữ 369 thủy quân lục chiến vào Quảng Nam để đổi liên đoàn biệt động quân 14 ra Trị Thiên, một đơn vị chất lượng chiến đấu chắc chắn là kém hơn bọn lính dù và thủy quân lục chiến.   


Không có đủ lực lượng cơ động đã đành, chúng vẫn không thể xem thường cánh bắc. Đòn tiến công quyết liệt  1972 của ta ở Quảng Trị đến bây giờ còn làm chúng khiếp đảm. Như con chim đã chết hụt một lần, hễ thấy cành cây cong cũng sợ, chúng luôn luôn để mắt ra hướng bắc và tây- bắc. Đấy là những hướng, ta có vùng giải phóng rộng lớn có thể áp đảo chúng. Cảm giác của tụi tướng tá ngụy luôn luôn bị ám ảnh bởi những trận pháo kích dữ dội, những đoàn xe tăng T.54 lao lên và tiếp theo là những đợt sóng xung phong của bộ binh thiện chiến và gan góc.


Sau này đọc lời khai diễn biến hành quân của sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy của tên đại tá Nguyễn Thành Trí, phó tư lệnh sư đoàn, ta càng thấy rõ kẻ địch đã để nhiều sức lực vào việc bố phòng hướng bắc. Không thể bỗng dưng mà chúng đề ra kế hoạch về các giai đoạn phòng ngự. Giai đoạn 1, chúng phòng ngư ở tuyến sông Thạch Hãn, mà chúng gọi là tuyến đen. Ở đây chúng sử dụng một lực lượng mạnh để tiến công hòng vá lại khi tuyến bị chọc thủng. Giai đoạn 2, chúng dự kiến nếu đối phương gia tăng áp lực mạnh ở Quảng Trị, thế không giữ nổi thì co về tuyến đỏ. Tuyến đỏ tức là phòng tuyến sông Mỹ Chánh từ thượng nguồn sông về tận Văn Trình sang bên kia Thanh Hương. Những kế hoạch này gọi là trì hoãn chiến. Sau này trong quá trình chiến đấu khi đã thực sự bị áp lực mạnh của ta từ phía bắc, chúng đề thêm dự kiến xấu hơn là nếu tuyến đỏ bị chọc thủng thì tử thủ ở tuyến Bắc Bình, tức là tuyến sông Bồ từ Lại Bằng, An Lỗ về dưới ngã ba Sình. Thực ra hy vọng tử thủ ở tuyến Bắc Bình này là quá mong manh, ở đây chỉ cách Huế trong vòng hai mươi ki-lô-mét trở lại. Nhưng điều quan trọng hơn hết là kẻ địch không đoán chắc được ta sẽ tiến công từ hướng nào là hướng chủ yếu. Chúng vừa lo ở hướng bắc, vừa lo ở hướng tây Phong Điền tức là giữa tuyến đỏ và tuyến Bắc Bình, vừa lo ở đường 12 - con đường ngắn nhất để chọc thủng về Huế, lại càng lo ở đường 14 phía nam, nơi chúng có thể bị ta cắt một nhát sắc bén từ đường 14 qua đường 1 và thế là bị cô lập hẳn với Đà Nẵng và toàn miền Nam. Nỗi lo lắng băn khoăn của chúng là do thế chủ động của ta tạo nên. Nghệ thuật chỉ đạo quân sự là biết đẩy địch rơi vào tình trạng khó khăn, và tiếp theo là biết khoét sâu vào khó khăn ấy.


Để đánh lạc hướng tiến công chủ yếu, để thu hút sự chú ý của địch về hướng bắc, ta đã khéo nghi binh. Một cuộc diễn tập thực binh do Quân khu tổ chức gồm lực lượng của trung đoàn 9 thuộc sư đoàn 304 và lực lượng bộ đội địa phương và dân quân dụ kích Quảng Trị có xe tăng và pháo binh tham gia, được tiến hành rầm rộ ở bắc Quảng Trị. Vào thời kỳ đó, ta lại cho xe xích và cả máy kéo nữa cơ động thêm ở một số nơi, di chuyển thay phiên quân ở nhiều địa điểm, nửa kín nửa hở gây không khí chuẩn bị chiến dịch. Và có thể do ta khéo tung tin, bọn phòng nhì của quân đoàn tiền phương ngụy ở Huế cuống cuồng ghi nhận là sư đoàn 308 đã trở lại Quảng Trị. Tin tức này được ghi nhận vào ngày 13 tháng 1 năm 1975 với những chi tiết có vẻ khá cụ thể: sư đoàn bộ đóng ở tỉnh Quảng Trị, Gio Linh, trung đoàn 102 ở sông Vĩnh Phước, trung đoàn 88 ở Khe Sanh, trung đoàn 36 tây Đông Hà có nhiệm vụ sẽ thay thế trung đoàn 101 thuộc sư đoàn 325. Ngoài ra, sư đoàn 341 cũng sẽ vào. Trước mắt, sư đoàn này đã cho một trung đoàn vào đóng phía bắc Cửa Việt. Ở vùng Cửa Việt và Gio Linh chúng còn ghi nhận thêm sự hiện diện của trung đoàn 31, trung đoàn 2 , trung đoàn 5 hải quân, trung đoàn 126 đặc công nước,...


Tóm lại, giữa cái hư và cái thực, kẻ địch không biết đằng nào mà tin. Theo tài liệu ta biết được thì bọn địch chỉ thị cho tụi gián điệp, tụi thám báo cố chụp ảnh cho được nghị quyết của Khu ủy Trị Thiên và xác minh lại tin tức về sư đoàn 308. Cố nhiên là chúng không làm được, hoặc là làm được trong vòng ý muốn của ta.


Bọn địch ở Trị Thiên cố ổn định ở phía bắc, để tập trung đối phó với ta ở phía nam Huế. Cũng như chúng cố ngan chặn ta ở giáp ranh để ráo riết đẩy mạnh bình định nông thôn đồng bằng, nhưng tất cả những cố gắng của chúng đều rơi vào tình trạng khó khăn, vì cơ bản chúng hoàn toàn ở thế bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Khi đã bị động đối phó thì lực lượng đông cũng cảm thấy thiếu. Như người đắp chiếc chăn hẹp và ngắn, cố đằng đầu thì hở đằng chân, kéo về phía trước bụng thì sau lưng gió lọt. Đấy là tâm trạng của lũ tướng tá thuộc quân đoàn 1 ngụy khi bắt buộc phải dăng quân ra khắp nơi cả ngoài Trị Thiên - Huế, lẫn trong Đà Nẵng - Quảng Nam, cả trên tuyến tiếp xúc và cả trong vùng nông thôn rộng lớn. Tâm trạng ấy càng trở nên rối bời khi chúng manh nha được sẽ phải chịu đòn trừng phạt quyết liệt sắp tới, nhưng sẽ rơi vào đâu?


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:25:06 am
Cuộc chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân năm 1975 ở Trị Thiên thực sự bắt đầu từ lúc nào? Thật khó mà rạch ròi được điều này. Những anh cán bộ tác chiến chúng tôi do thói quen nghề nghiệp, thường có sự chuẩn bị thực sự bắt đầu từ lúc vạch kế hoạch.   


Tôi nhớ một buổi chiều đầu tháng 12 năm 1974, đồng chí trưởng phòng chúng tôi đi dự họp ở Bộ tư lệnh về, tỏ ra rất vui. Khi xách bát đi ăn cơm, anh nói nhỏ với tôi: "sắp sửa mần ăn rồi đó cậu ạ!". Sắp sửa mần ăn, thế là tôi hiểu. Từ đấy chúng tôi xoay trần ra phục vụ cho Bộ tư lệnh quân khu trong việc vạch kế hoạch tác chiến. Sau này chúng tôi biết thêm: Cuối tháng 1 năm 1975 Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua kế hoạch thống nhất của quân khu Trị Thiên và quân đoàn 2, quyết định việc lãnh đạo chỉ huy và đến cuối tháng 2 năm 1975 thì kiểm tra và chỉ thị thêm lần cuối.


Tôi vẫn còn ghi nhớ quyết tâm và ý định tiến công của ta lúc bấy giờ:

"Thực hiện mệnh lệnh của Bộ, quyết tâm chung của chúng ta là, tập trung toàn bộ lực lượng B4 và B5, tranh thủ thời cơ thuận lợi của năm 1975, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng binh lực địch, đánh bạt về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở Trị Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh kho tàng, hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiên lên giành thắng lợi lớn - kể cả giải phóng Huế".


Toàn khu Trị Thiên chia làm 5 khu vực tiến công là:

- Nam Quảng Trị.

- Hai huyện Phong Điền và Quảng Điền (bắc Thừa Thiên).

- Đồng bằng Nam Huế.

- Ven đô và thành phố Huế (bao gồm cả huyện Hương Trà và một bộ phận huyện Hương Thủy).

- Trục giao thông từ Truồi trở vào đến đèo Hải Vân.

Trọng điểm giành dân là Phong Quảng. Trọng điểm quân sự và giành dân là nam Thừa Thiên. Mặt trận đồng bằng và mặt trận giáp ranh, phối hợp chặt chẽ với nhau: mặt trận đồng bằng đánh phá bình định, mặt trận giáp ranh thu hút, kiềm chế và tiêu diệt địch.


Kế hoạch dự tính trong năm 1975 sẽ mở hai chiến dịch tổng hợp ở Trị Thiên. Chiến dịch 1 gọi là chiến dịch "Xuân Hè" (ở quân đoàn 2 còn gọi là chiến dịch K.175) từ tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1975. Chiến dịch 2 gọi là chiến dịch "Mùa Thu" khoảng chừng 7 đến tháng 8 năm 1975. Đi đôi với "kế hoạch cơ bản" có "kế hoạch thời cơ" để sẵn sàng chủ động khi có thời cơ thuận lợi lớn; đồng thời có kế hoạch nghi binh để đánh lạc hướng địch như phần trên đã kể.


Những yêu cầu chính của chiến dịch "Xuân Hè" là:

1. Ở đồng bằng, từ phá lỏng đến phá rã hệ thống kìm kẹp của địch giành từ 7 đến 10 vạn dân, phát triển lực lượng vũ trang và chính trị địa phương, đưa cơ quan lãnh đạo chỉ huy xuống đứng ở vùng sâu.

2. Ở giáp ranh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế phân tuyến, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi nhất là trên đường 14, làm chủ cho được khu vực 303, đánh cắt giao thông phía Phú Lộc và phá kho tàng.

3. Khi có thời cơ thì tung hết lực lượng ra tiến công, giải phóng toàn bộ nông thôn, thực hiện chia cắt chiến lược bao vây uy hiếp thành phố Huế. Nếu có điều kiện thì kết hợp tiến công và nổi dậy để giải phóng hoàn toàn Trị Thiên - Huế.

Thế đấy: nhìn chung quyết tâm, ý đồ và những yêu cầu chính của chiến dịch mùa xuân 1975 ở Trị Thiên và chắc là ở cả miền Nam đều hãy còn khiêm tốn, thận trọng. Thắng lợi hoàn toàn vừa qua là nằm trong kế hoạch thời cơ. Thời cơ không bỗng dưng mà đến, thời cơ do ta tạo nên, do ta biết khoét sâu vào sai lầm của địch. Nhưng đấy lại là chuyện khác, chuyện về sau sẽ kể về diễn biến của chiến dịch.


Điểm lại quyết tâm, ý đồ và yêu cầu của chiến dịch để lưu ý một vấn đề tư tưởng chỉ đạo: lúc nào việc tiêu diệt địch và giành dân cũng đều xoắn xuýt lấy nhau. Mọi hoạt động đều lấy giành dân làm đích.

Bởi thế trong công tác chuẩn bị chiến dịch lần này có một điểm khá nổi bật: chúng ta đã huy động hàng ngàn cán bộ địa phương và dân quân du kích tổ chức lại thành từng đội vũ trang công tác - những đội quân xung kích ở cơ sở. Có đến gần 150 đội như thế. Đúng như tên gọi của nó, đội có 3 nhiệm vụ và chức năng chủ yếu: xây dựng phát triển thực lực cách mạng, xung kích trong khởi nghĩa vũ trang, nòng cốt trong việc xây dựng, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng mới. Các đội được tổ chức chặt chẽ, huấn luyện chu đáo cả về chính trị lẫn quân sự, sẵn sàng tung về khắp nơi nhất là ở những trọng điểm giành dân.


Trong câu chuyện làm "tham mưu con" của đám chiến sĩ trẻ trung đoàn Phú Xuân, cậu Tứ có nhắc tới cô Lưu nào đó với niềm tin mãnh liệt vào chiến dịch" vào đội vũ trang công tác của mình - đã mời Tứ về thôn Thể Chí Đông bên kia phá Tam Giang ăn cá biển. Chúng ta tin rằng, Tứ không bịa chuyện. Tôi đã từng gặp nhiều cán bộ, du kích địa phương trong thời gian họ còn tập trung học tập; quả thật, hầu như ai cũng vậy, nhất là đám các cô gái họ rất tin vào đợt làm ăn sắp tới. Chưa nghĩ đến toàn Trị Thiên - Huế sẽ được giải phóng như hôm nay, nhưng ai cũng hình dung ra từng mảnh đất tự do, từng thôn làng giải phóng như quyết tâm của trên và cũng là của bản thân họ. Có thể do nỗi thèm khát được trở về với quê hương tự do của mình sau nhiều năm phải nằm hầm nằm hố, chui rúc bờ bụi hoặc lên rừng, nhưng chắc chắn là có những điều, sâu xa hơn nữa thuộc về lý tưởng cách mạng, thuộc về ý đồ của chiến dịch và trước hết thuộc về công tác tổ chức cụ thể về hành động. Gặp anh Luyện bí thư huyện ủy Phong Điền, anh vui vẻ nhắc lại với tôi những kỷ niệm đẹp đẽ năm 1964 - 1965 lúc Phong Chương, Quảng Thái còn là "đất thánh" cách mạng của hai huyện Phong Điền, Quảng Điền. Câu chuyện của anh nhắc tới những lúc đi xuồng máy đuôi tôm qua bên kia phá Tam Giang, những lúc chúng tôi đèo nhau xe đạp đi từ Mỹ Phú về Phò Trạch... Nhắc tới quá khứ một cách vui vẻ là anh muốn tỏ ra thận trọng, không vội bốc đồng huênh hoang về tương lai. Tuy nhiên, qua cặp mắt tự tin và giọng nói kiên nghị của anh, tôi hiểu rằng, anh hoàn toàn tin vào kế hoạch của huyện ủy sẽ giải phóng hoàn toàn và làm chủ ở 6 thôn (Mỹ Phú, Nhất Phong, Phò Trạch, Vĩnh An, Trạch Phổ và Ưu Điềm), đưa 27 thôn còn lại của huyện Phong Điền lên vùng tranh chấp (kể cả những thôn ben kia phá Tam Giang mà địch tách ra làm quận Hướng Điền). Nhân thể xin nói thêm điều này: có vài anh cán bộ khi nói chuyện với tôi cho rằng, vừa qua chẳng thấy quần chúng nổi dậy đâu cả vì cơ sở quần chúng ta còn quá yếu. Thực ra không phải hoàn toàn như thế, nhìn chung, cơ sở ta còn yếu thật. Yếu là so với yêu cầu của cách mạng, yêu cầu một cuộc nổi dậy đồng loạt có tính chất quyết định, chứ không phải quá yếu. Ngay ở huyện Phong Điền chẳng hạn, xã nào cũng có chi bộ đảng từ 3 đến 5 đảng viên. Nói riêng cơ sở quần chúng ở một thôn như thôn Nhất Phong thuộc xã Phong Chương là khá mạnh. Ở đây có 1 chi đoàn thanh niên, 5 tổ phụ nữ và nông hội, 45 quần chúng cốt cán và 1 tổ du kích gồm 12 người. Số du kích này, đa số nằm trong hàng ngũ phòng vệ dân sự của địch.


Nếu nói vùng sâu thì ở Trị Thiên ta chắc không đâu sâu hơn thành phố Huế, ở đây, kẻ địch luôn luôn tìm mọi thủ đoạn đánh phá phong trào cách mạng, nhất là sau cuộc tổng công kích Mậu Thân. Xây dựng cho được một cơ sở quần chúng cách mạng thật không dễ dàng gì. Vậy mà trước khi giải phóng, Huế cũng đã có 8 chi bộ Đảng, ba mươi chi đoàn thanh niên phần lớn trong giáo chức, sinh viên, học sinh. Ngoài ra còn 170 cơ sở quần chúng cách mạng và 6 sĩ quan nội tuyến. Ở nông thôn cũng như ở thành phố, khi quần chúng bị o ép dưới bàn tay bình định khắc nghiệt, tàn bạo của địch mà có được những tổ chức cơ sở như vậy thật là đáng kể. Hãy tưởng tượng xem khi có đòn tiến công quân sự hỗ trợ, với những đội vũ trang công tác được tổ chức huấn luyện chu đáo lại có sự hợp đồng với mạng lưới cơ sở quần chúng cách mạng nằm sâu trong lòng địch, sao lại không làm nên chuyện? Sao lại không vận động đông đảo quần chúng nổi dậy được?


Trong thực tế, qua quá trình diễn biến của chiến dịch, các đội vũ trang công tác đã đóng góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung.

Cuộc chuẩn bị chiến đấu ở Trị Thiên chúng ta năm nay ngoài việc phải hết sức bí mật, tạo yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi còn dựa trên phương châm vừa tiến công vừa chuẩn bị, vừa chuẩn bị vừa tiến công; phương châm đúng đắn này được Khu ủy và Quân khu ủy đề ra và tính liệu từ năm 1974, tạo cơ sở và tiền đề cho năm 1975. Nhìn chung toàn chiến trường, ta thấy khi trung đoàn 271, trung đoàn 6 còn giành giật với địch ở Mỏ Tàu - 303 thì quân đoàn 2 đã khẩn trương chuẩn bị bước vào chiến dịch, các đội vũ trang công tác đã được tập trung huấn luyện, học tập. Khi chiến dịch đã nổ súng, sư đoàn 324, trung đoàn 4, trung đoàn 271 đã chiến đấu quyết liệt hàng tuần lễ các đội vũ trang công tác cùng bộ đội địa phương đã giành giật với địch từng thôn, từng làng ở đồng bằng, thì sư đoàn 325 vẫn gấp rút hoàn thành chuẩn bị vào đợt hai. Ngay trong từng đơn vị cũng có bộ phận tiến công, bộ phận chuẩn bị. Chuẩn bị khẩn trương chu đáo là tạo điều kiện tiến công thắng lợi. Ngược lại, tiến công thắng lợi chính là thiết thực chuẩn bị cho bước phát triển mới.


Khó mà rạch ròi được thời gian giữa chuẩn bị và tiến công. Bởi thế, nếu nói cuộc chuẩn bị này trong ba mươi ngày hoặc cuộc chuẩn bị này đã ba mươi năm đều chỉ là một cách nói mang ý nghĩa tượng trưng.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:19:11 am
IV. Hãy đợi đấy! Không lâu nữa đâu!

Tên bồi bàn da vàng ở Mỹ, tên bại tướng Lâm Quang Thi ấy chắc chưa thể quên được những ngày còn quá vui vẻ - những ngày cuối tháng 2 năm 1975. Đối với những tên tướng tá của cái "đệ nhị cộng hòa" thì vui vẻ nhất là lúc được hoàn toàn yên tâm. Riêng với Lâm Quang Thi, chỉ cần đôi chút yên tâm, hắn đã quá vui vẻ rồi.


Thời kỳ đó, chắc hắn biết tổng thống Thiệu không mấy vui. Nỗi buồn phiền của Thiệu tấy lên nhức nhối kề từ ngày vụ "Oa-tơ-ghết" vỡ lở, Ních-xơn bị nốc ao, và anh chàng Pho bất tài bất lực đành chịu lép vế trước sức ép của quốc hội Mỹ đang tìm mọi cách hạn chế quyền hành của tổng thống mà điều quan trọng nhất là không chịu tăng viện thêm cho Nam Việt Nam. Tiếp đến khi ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, Nhà trắng và Lầu năm góc làm ầm ỹ lên như thế, tưởng sẽ có hành động quyết hệt vậy mà về sau vẫn êm re. Đến cái mức tối thiểu là tăng viện thêm cho Nam Việt Nam cũng không nốt. Không riêng Lâm Quang Thi mà đa số tướng tá ngụy coi sự kiện trên chỉ là thử thách nhau mà thôi. Hoa Kỳ làm ra vẻ lạnh nhạt với Nam Việt Nam là để họ phải gia tăng tự lực chiến đấu, để họ phải buộc chặt hơn nữa với Hoa Kỳ. Còn như ông Thiệu để mất Phước Long một cách dễ dàng và không chủ trương tái chiếm là cốt gây sức ép với Hoa Kỳ, cốt mè nheo yêu sách viện trợ tối đa. Tất cả những trò xiếc trên sân khấu chính trị này sẽ phải chấm dứt để nhường chỗ cho sự thật là Hoa Kỳ không đời nào bỏ rơi Nam Việt Nam. Đấy là điều ngu xuẩn mà bọn Lâm Quang Thi cố tin vào đó tìm đôi chút yên tâm. Hơn nữa, chắc bọn hắn vẫn cảm thấy cái "đệ nhị cộng hòa" còn bề thế lắm. Có sứt mẻ tí chút rồi sẽ hàn gắn lại, không sao cả. Bởi thế, Bộ tổng tham mưu nguy còn nhận định rằng sắp tới, ít ra là trong năm 1975 này, ta chưa tổng tiến công được mà chủ yếu là đánh phá bình định. Có thể mở những trận tiến công vào Công Tum và đồng bằng sông Cửu Long. Muốn tổng tiến công phải là năn 1976.


Bộ tổng tham mưu ngụy đã đề ra kế hoạch Lý Thường Kiệt, tìm mọi biện pháp bảo toàn lãnh thổ, không để một tấc đất rơi vào tay đối phương.

Thực chất kế hoạch Lý Thường Kiệt là tìm cách chặn ta trước. Huy động không quân đánh vào hành lang ta, hạn chế sự chi viện từ miền Bắc vào. Tổ chức diễn tập hải quân "Con chồn biển" để đề phòng đường tiếp tế biển của ta. Tăng thêm lực lượng dù và thủy quân lục chiến để có khả năng cơ động tốt hơn. Điều chỉnh lại lực lượng để phù hợp với kế hoạch phòng thủ "ưu tiên số 1" là Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long. Sự chú ý tiếp đó là đồng bằng miền Trung Trung Bộ, nơi được coi là quan yếu. Tây Nguyên, biên giới, giáp ranh còn là "ưu tiên số 2". Theo nhận định trên, thì Trị Thiên - Huế chưa phải là điểm đối tượng tiến công chủ yếu của ta. Riêng điều đó cũng đủ làm Lâm Quang Thi yên tâm rồi.


Cố nhiên, mọi sự tính toán sắp xếp là do Thiệu, Viên, Bộ tổng tham mưu ngụy lo. Nhưng rút dây động rừng, khi bị điều hết lực lượng dù vào Đà Nẵng, vào Sài Gòn hắn có xuýt xoa tí chút, song với số quận hiện có là trên 40 tiểu đoàn, hắn có thể xoay xở được. Nói hắn có thể xoay xở là một cách nói để diễn đạt những điều có liên quan tới kế hoạch và nhận định của Bộ tư lệnh quân đoàn tiền phương ngụy mà chúng tôi biết. Chứ thực ra, theo lời một số sĩ quan cấp tá ở trại cải tạo mà sau này chúng tôi gặp, thì Lâm Quang Thi là tên tướng bất tài, vô học và ưa huênh hoang. Hẳn là hắn phải dựa vào Ngô Quang Trưởng, một tên tướng mà hắn vừa phục vừa sợ lại vừa ghen ghét. Nhưng thôi, nói làm gì chuyện nội bộ thối tha của chúng nó, chỉ biết là tụi chỉ huy quân đoàn tiền phương ngụy ở Huế đến cuối tháng 2 năm 1975 vẫn còn nhận định về phía ta rất cứng nhắc. Chúng cho rằng, ta chỉ giữ chốt, cầm chân không đánh mạnh, chủ yếu là xây dựng cơ sở ở đồng bằng. Sau Tết nguyên đán, ta sẽ đánh phá Bình Định, đánh cắt giao thông bộ và làm tê liệt phi trường. Đi đôi với những hoạt động trên là hoạt động vũ trang ở thành phố.


Điểm lại phía mình, bọn Lâm Quang Thi cho rằng chúng đã bình định được đồng bằng khá chặt, 100% ấp loại A. Tuy nhiên, chúng vẫn ra sức củng cố hệ thống kìm kẹp, tăng cường hành quân cảnh sát, nhằm đánh phá cơ sở của ta và đề phòng quần chúng bạo động. Vào thời kỳ đó chúng điều động tiểu đoàn 12 bảo an đang ở núi Yên Bầu về đông Phong Điền, phía tây phá Tam Giang, vùng nông thôn mà chúng cho là xung yếu. Ở phía nam có một sự hoán đổi giữa ba tiểu đoàn bảo an khác : tiểu đoàn 128 đang giữ Lăng Cô nay ra Phú Lộc thay tiểu đoàn 111, tiểu đoàn 111 vào Động Tốt thay tiểu đoàn 107, tiểu đoàn 107 lại vào Lăng Cô.


Sự hoán vị này nhằm mục đích phân công thích hợp với khả năng chống giữ của từng đơn vị, ngoài ra, thông thường chúng vẫn không muốn để một đơn vị ở một nơi lâu dễ bị ta bắt rễ vào làm nội ứng.

Về bố trí lực lượng chủ lực, chúng tổ chức phòng ngự từng khu vực (lấy trung đoàn hoặc đơn vị tương đương làm chủ) tập trung vào ba trọng điểm: Quảng Trị, Huế và trục giao thông đường 1, nhất là phía nam đoạn Huế - Đà Nẵng.


Trên hướng Bắc Huế chúng đưa hầu hết lực lượng bảo an ra vòng ngoài, để thủy quân lục chiến ở phía trong làm lực lượng cơ động tại chỗ. Ở hướng nam, chúng lại đưa hầu hết sư đoàn 1 bộ binh ra phía ngoài và tập trung vào khu vực Mỏ Tàu - 303 và Nong, Truồi. Đồng thời, tập trung lực lượng bảo an và một bộ phận chủ lực chốt giữ các đoạn giao thông quan trọng từ Lăng Cô đến Đá Bạc. Chúng cố gắng điều chỉnh dần thế bố trí để rút bớt lực lượng chiếm đóng ra làm cơ động và tranh thủ luân phiên củng cố một phần lực lượng. Nhìn chung, cả ở trên tuyến tiếp xúc giáp ranh cũng như ở đồng bằng nông thôn, kẻ địch có vẻ ổn định.


Chính cái vẻ ổn định ấy khiến cho tụi Lâm Quang Thi cảm thấy yên tâm. Chúng biết ta sẽ đánh, nhưng coi như đã sắp xếp đối phó xong, cứ yên trí mà ăn nhậu vui vẻ.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:20:37 am
Vào thời kỳ đó, Huế rất đẹp. Sau những cơn mưa, trời trong ra, không nắng. Buổi sáng sương dăng mờ sông Hương để những tà áo trắng của các cô nữ sinh Đồng Khánh đi dọc đường Lê Lợi nom xa như ẩn như hiện. Cảm giác trở nên nhẹ nhõm và thanh khiết. Buổi chiều, phía trên cầu Bạch Hổ ló chân trời màu vàng nhạt điểm những cụm mây màu vỏ trứng. Trên đường Trần Hưng Đạo, người và xe đi lại nườm nượp. Đông đúc là thế mà sao vẫn không hối hả vội vàng như Sài Gòn, Đà Nẵng. Huế vẫn có cái phong thái riêng: dường như đĩnh đạc và hơi vô tư. Ít ra đấy cũng là cảm giác của tên tướng tư lệnh tiền phương khi hắn còn đủ thì giờ để chiều chiều, tiền hô hậu ủng đi đánh tơ-nít bên kia cầu Tràng Tiền. Vào những ngày cuối tháng 2 năm 1975, người ta cảm thấy hắn nhậu nhẹt chơi bời ở nhà mụ Dạm chủ rạp xi-nê Tân Tân. Không ai biết hắn trác táng như thế nào, nhưng nếu cuộc vui mà có Bùi Thế Lân tư lệnh thủy quân lục chiến và Lê Quang Lưỡng tư lệnh lính dù thì thế nào cũng có Tường Loan hiệu trưởng trường Đồng Khánh và Tiểu Bích hiệu trưởng trường Thành Nội. Các bà ấy công khai khoác tay các vị tư lệnh để cho các em nữ sinh tha hồ bắt bồ với sĩ quan lính tráng, đặng làm cái trò kết nghĩa, thực chất là làm ô uế học đường, làm nhục xứ Huế.


Những ngày hoan lạc cuối cùng, Lâm Quang Thi, tên bồi bàn da vàng ở Mỹ ấy hiện nay hẳn còn nhớ. Nhớ và nuối tiếc một thời. Nhưng hắn đâu biết rằng, trong những ngày ấy nhiều người trong đám nhân dân lao động, trong giáo chức, sinh viên và học sinh đang luôn luôn theo dõi bọn hắn, đã nguyền rủa: "Được rồi! Cho chúng mày cứ hoách lác, cứ đú đởn đi! Hãy đợi đấy! Không lâu nữa đâu, các con ạ!".


"...Không lâu nữa đâu! ...". Hôm ấy đã là ngày 28 tháng 2 năm 1975. Ở Hà Nội, đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn đã thông qua xong kế hoạch tác chiến của chiến trường Trị Thiên - Huế với anh Hồ Tú Nam thay mặt Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên và Hoàng Đan thay mặt Bộ tư lệnh quân đoàn 2.


Trong lúc các anh Hồ Tú Nam và Hoàng Đan trên đường trở lại chiến trường, để kịp thời triển khai công việc anh Lê Trọng Tấn đã chỉ thị cho anh Lê Tự Đồng tư lệnh kiêm chính ủy quân khu Trị Thiên và các anh Nguyễn Hữu An, Lê Văn Linh, tư lệnh và chính ủy quân đoàn 2. Nội dung chỉ thị tập trung vào hai điểm:

1. Đúng ngày N. đã xác định, phải có hoạt động nhỏ và vừa bằng đặc công, đánh giao thông, kho tàng, diệt các ban chỉ huy tiểu đoàn địch ở điểm cao 235 (tây Hải Lăng) ở Cánh Giơi. Tích cực nghi binh để phối hợp chiến trường. Riêng các trận đánh then chốt của B5 và trận đánh tập trung của trung đoàn 6 thuộc B4 có thể chậm so với ngày N. là 3 ngày (N + 3).

2. Về hướng tác chiến của B5 như vậy là được. Riêng B4 cần tập trung trung đoàn 6 giải quyết cho được Chúc Mao. Sau đó tập trung lực lượng khoảng 2 trung đoàn trên hướng Chúc Mao, Sơn Na tiêu diệt tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, kiểm tra khu vực đó, hiệp đồng với hướng của chủ lực B5, hình thành hai hướng uy hiếp địch ở vùng giáp ranh, tạo điều kiện hỗ trợ hiệu lực cho đồng bằng. Cụ thể sẽ có chỉ thị tiếp.

Thế là tình hình chuẩn bị cho chiến dịch đang bước vào thời kỳ gấp rút hoàn thành. Ngày N được quy định là ngày 5 tháng 3 năm 1975. Vào ngày đó, theo lệnh của Bộ đã phải có hoạt động nhỏ và vừa và đến N + 3 tức ngày 8 tháng 3 năm 1975 sẽ nổ ra những trận đánh then chốt. Chiến trường Trị Thiên là chiến trường phối hợp với Tây Nguyên, theo ý đồ của Bộ là phải nổ súng sớm hơn, ngoài những yêu cầu của chiến dịch, nhìn chung về sự chỉ đạo chiến lược mà nói, cần phải cầm chân địch lại, không cho chúng rảnh tay tập trung đối phó với ta ở chiến trường chính. Toàn bộ kế hoạch chiến dịch ở Trị Thiên - Huế đã được Đảng ủy mặt trận nhất trí thông qua ngày 21 tháng 2 năm 1975 tại sở chỉ huy quân khu Trị Thiên.


Bấy giờ chỉ còn một tuần lễ nữa để vào giờ nổ súng. Thời gian là vàng ngọc. Tất cả bộ máy quân dân chính của ta đang chuyển động khẩn trương. Ở Bộ tư lệnh quân khu, vào thời kỳ đó chúng tôi đang hết sức vất vả vì có sự thay đổi trong tổ chức chỉ huy. Ban đầu Bộ tư lệnh quân khu tổ chức thành hai bộ phận: một bộ phận chỉ huy tiền phương ở hướng trọng điểm, có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ mặt trận nam Thừa Thiên, bao gồm cả đường 12 và thành phố Huế và trực tiếp hiệp đồng với quân dân, bộ phận phía sau, ở sở chỉ huy cơ bản, trực tiếp chỉ đạo chỉ huy cánh bắc Huế và Quảng Trị, đồng thời lo việc hậu phương.


Ngoài ra theo quyết định của khu ủy, một bộ chỉ huy hỗn hợp có tính chất tạm thời được tổ chức để trực tiếp phụ trách khu vực chỉ đạo thí điểm của khu ủy ở Phong Quảng.

Khi các bộ phận chỉ huy cùng các cơ quan giúp việc đã triển khai, thì Bộ chỉ thị thay đổi lại. chỉ huy chung của quân khu (bao gồm các cơ quan) cần tập trung ở hướng nam, không được phân tán.

Thế là sở chỉ huy cơ bản chúng tôi đang ở Cốc Ba Bó trên trục đường 70, 71 lại vội vàng đi chuyển vào phía nam, nơi đặt sở chỉ huy tiền phương ở hữu ngạn sông Hữu Trạch. Di chuyển một sở chỉ huy, tất nhiên không phải việc giản đơn, từ việc hành quân, hầm hố, chỗ ở và làm việc, đến tổ chức mạng lưới thông tin, mạng lưới chỉ huy, v.v. tất cả đều phải tiến hành đồng thời với công tác chỉ huy theo dõi các đơn vị hàng ngày, hàng giờ. Hơn nữa, các cục các phòng phải điều chỉnh lại cán bộ, trợ lý : ai ở lại sở chỉ huy cơ bản, ai đi theo dõi đôn đốc đơn vị, ai ra sở chỉ huy hỗn hợp lâm thời ở cánh bắc, ai ở phía sau. Cái bận rộn vất vả này có vẻ như một sự lãng phí. Phải chăng, qua vấn đề này, cũng cần rút ra những bài học về việc thấu triệt ý đồ của cấp trên trong xác định hướng trọng điểm chiến dịch và kiên quyết tập trung chỉ huy chỉ đạo vào nơi có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của toàn chiến dịch.


Tuy nhiên, những vấp váp trên cũng được khắc phục nhanh chóng. Mặc dù thời tiết không thuận lợi, vận chuyển khó khăn, nhưng nhờ sự cố gắng chung của cơ quan, đến ngày N. tức là ngày 5 tháng 3 năm 1975, việc tổ chức cơ quan chỉ huy đã tương đối hoàn chỉnh. Đảm bảo cho Bộ tư lệnh quân khu chỉ huy cuộc tiến công từ đầu.


Vào ngày đó, nhìn lên bản đồ bố trí lực lượng của ta, anh em cán bộ trong phòng tác chiến chúng tôi, ai cũng cảm thấy vừa phấn khởi, vừa hồi hộp. Y như những quân cờ đã bày sẵn trên bàn cờ thế.

Về phía quân đoàn 2, thì quân đoàn bộ đã cắm ở động Truồi, sư đoàn 324 đang triển khai quân ở khu vực đường 14. Sư đoàn 325 tuy còn trung đoàn 18 đang trên đường hành quân vào, song coi như cán bộ chủ chốt, trinh sát đã bám sát những mục tiêu quanh hòn Kim Sắc: những điểm cao 310, 312, 520, 560, 499, v.v. Đường kéo pháo đang gấp rút hoàn thành và những khẩu pháo của trung đoàn 84 đang được dần dần kéo lên điểm cao 769 ở hòn Lưỡi Cái. Lữ đoàn 203 xe tăng, tuy buổi đầu Bộ chưa cho lệnh sử dụng nhưng vẫn cài thế sẵn sàng cơ động. Các đơn vị trực thuộc khác thì thôi khỏi phải nói, bộ binh ở đâu là họ có đấy.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:21:30 am
Về phía Quân khu, thì các lực lượng đều đã đứng chân vào nơi quy định. Sở chỉ huy tỉnh đội Quảng Trị ở phía nam động Chiêng Dòng, cách điểm cao 367 - một điểm cao cách đang chốt giữ - có 3 ki-lô-mét. Quanh tỉnh đội đã có tiểu đoàn 10 đặc công, tiểu đoàn 8 bộ binh, còn tiểu đoàn 812 bộ binh thì đã ở động Tiên. Tiểu đoàn 14 bộ binh ở tuyến tiếp xúc Với địch phía Tích Tường, Như Lệ. Tiểu đoàn 3 bộ binh, ở thôn Lệ Xuyên cũng trên tuyến tiếp xúc phía đông. Phía sau tiểu đoàn 3 là đại đội 7 xe tăng thuộc lữ 203.


Sở chỉ huy trung đoàn 4 ở núi Công Tắt, các tiểu đoàn ở chân điểm cao 254, ấp Sơn Quả, ấp Công Thành sẵn sàng tiến công cứ điểm Phổ Lại. Tiểu đoàn 10 bộ đội địa phương Thừa Thiên phối thuộc cho trung đoàn 4 ở tây-bắc động Mái Nhà.


Tiểu đoàn 32 ở động A Vó, gần Tà Lương.

Toàn trung đoàn 271 đã ở chân đồi 401 ở phía nam núi Kệ 4 ki-lô-mét.

Trung đoàn 6 ở phía Bắc điểm cao 481.

Tiểu đoàn 4 ở bắc Truồi 3 ki-lô-mét đang hành quân về khu B.57.

Tiểu đoàn 5 ở cây số 7 đường Bạch Mã.

Tiểu đoàn 21 ở phía nam Hói Mít.

Tiểu đoàn 2 đặc công tỉnh Thừa Thiên ở đông-nam động Mang Chang, nhưng thực tế đã phân tán để đánh những mục tiêu quy định. Sở chỉ huy tỉnh đội Thừa Thiên đã dời về Đá Đen phía nam động Mang Chang.

Các đội công tác vũ trang đã ở địa điểm tập kết của từng huyện, trong khi đó một số cán bộ kể cả quân sự và chính trị đã luồn về dưới đồng bằng bắt liên lạc với cơ sở, chuẩn bị mọi điều kiện cho lực lượng đột nhập đồng bằng.   


Tóm lại, tất cả các lực lượng đều đã sẵn sàng, có đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị cũng có đơn vị đang gấp rút hoàn thành nốt những công việc cuối cùng, sở dĩ còn dở dang vì chủ yếu là do ảnh hưởng của những trận mưa kéo dài - nhất là ở phía nam. Tất cả đều đang hồi hộp đợi giờ G. điểm, giờ nổ súng của chiến dịch.


Thực ra, không phải đợi đến giờ G. tiếng súng chiến dịch mùa xuân ở Trị Thiên đã bắt đầu từ đêm 2 tháng 3 năm 1975. Đấy là một chớp lửa xé tan màn đêm soi rõ đường viền của những đám mây nặng nề, kèm theo là tiếng nổ chuyển đất dường như cứ âm vang mãi trên sông nước, trong xóm thôn và dội về tận thành phố Huế: cầu An Lỗ đã bị đại đội 25 đặc công nước của tỉnh Thừa Thiên phá sập.


Chiến công này không lớn, phá sập cầu thì chỉ trong ngày hôm sau kẻ địch sẽ huy động công binh sửa chữa lại, nhưng cùng với những trận đánh xe trên đèo Hải Vân của tiểu đoàn 21, những hoạt động uy hiếp địch ở tuyến tiếp xúc gây cho địch một điều gì đó không được yên ổn . Đối phương bắt đầu rồi chăng, bắt đầu như thế nào hay chỉ có thế, thực sự bắt đầu hay chỉ là diễn biến bình thường. Trong chiến tranh những diễn biến như vậy, kể ra hãy còn là bình thường. Chiến dịch thực sự bắt đầu từ không giờ ngày 5 tháng 3 năm 1975 (ngày N.). Không phải bằng trận tiến công có nổ súng, mà bằng cuộc diễn tập thực binh ở bắc Quảng Trị, hướng nghi binh của ta. Trước đó hàng tuần lễ, Quân khu đã cử đồng chỉ trưởng phòng quân huấn đi lo liệu việc này.


Vào giờ quy định, ở một số trọng điểm ở bắc Quảng Trị như Cửa Việt, Đông Hà, Mai Lộc, Cam Lộ đều được lệnh báo động. Dân quân du kích tập trung cơ động ngay đến vị trí chiến đấu. Nhân dân sửa sang lại công sự, thu xếp gọn gàng nhà cửa, đồ đạc sẵn sàng sơ tán đề phòng địch oanh tạc phản pháo.


Trung đoàn 9 thuộc sư đoàn 304 cùng với tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị, dân quân du kích Triệu Phong có đại đội 7 xe tăng thuộc lữ 203 tham gia, đã diễn tập tiến công quanh khu vực Cửa Việt - Thanh Hội. Quân khu trực tiếp chỉ huy cuộc diễn tập này qua điện đài. Tình huống của trận tiến công này là vào ngày hôm sau sẽ đánh chiếm chợ Sãi, Nại Cửu phía bên kia, đằng sau tuyến tiếp xúc của địch. Có điều là ta chưa thực sự tiến công, chỉ rập rình triển khai đội hình ở phía bên này. Trong lúc đó, bọn địch không lộ vẻ khiêu khích như trước kia, im lặng đào công sự - đào công sự hối hả và tích cực. Đêm, chúng bắn pháo sáng liên tục và tất nhiên là phải tăng cường cảnh giới.


Cuộc diễn tập được tiến hành tiếp tục vào ngày hôm sau, hôm sau nữa ở hướng thứ yếu: hướng Ái Tử, Tích Tường, Như Lệ. Ở hướng này do tỉnh đội Quảng Trị trực tiếp bố trí, lực lượng tham gia gồm có tiểu đoàn 14, tiểu đoàn 812 và đại đội Lê Hồng Phong bộ đội địa phương tỉnh, cùng lực lượng dân quân du kích trên tuyến phòng thủ và dân quân du kích ba xã phía tây đường 1 của huyện Triệu Phong. Trong lúc đó, Bộ cho trung đoàn 46 vào thay thế vị trí trung đoàn 9. Trước đó ít hôm trung đoàn này đã bí mật hành quân trở về đội hình của sư đoàn 304 làm đội dự bị của quân đoàn. Và trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 324 đang ở Thượng Đức cũng trở về đội hình của sư đoàn bấy giờ đang sắp mở trận tiến công quyết liệt vào khu vực Mỏ Tàu - 303, hướng trọng điểm quân sự của chiến dịch.


Cuộc diễn tập đã gây cho địch một trạng thái tâm lý căng thẳng. Nếu không hoàn toàn bị mắc lừa thì kẻ địch cũng bối rối. Cùng với tin sư đoàn 308 vào Quảng Trị chưa được xác minh cụ thể, bọn Ngô Quang Trưởng ở Đà Nẵng, Lâm Quang Thi ở Huế, chưa thể nào dám rút bớt lực lượng thủy quân lục chiến vào tăng cường cho hướng nam. Có thể nói, với lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích Quảng Trị, ta đã cầm chân được bọn địch lại. Điều quan trọng hơn, là trong khi bộ đội rập rình phía trước mặt, thì các đội vũ trang công tác và một số phân đội bộ đội khác đã bí mật luồn vào sau lưng địch, chuẩn bị chờ giờ G. nổ súng tiến công.


Xin nói xen ngang vào câu chuyện một điều này : làm anh trợ lý tác chiến, hay nói rộng ra là bất kỳ anh trợ lý ở phòng nào thuộc tham mưu, chính trị, hậu cần của cơ quan quân khu như chúng tôi, mỗi lần vào chiến dịch - ai nấy đều ước ao được xuống đơn vị làm phái viên. Hoặc phái viên đốc chiến, phái viên chính trị hoặc phái viên chỉ truyền đạt mệnh lệnh, chỉ thị hay có tính chất nghiên cứu, theo dõi, v.v. tóm lại là nhận nhiệm vụ gì mà được xuống chiến đấu với đơn vị là thích thú. Cũng không phải để thay đổi không khí, để có cơ hội phát triển khả năng hay lập công cụ thể, nhưng dường như ai cũng cảm giác là có đi như vậy mới thực sự là đi chiến dịch. Cố nhiên, đấy là cảm giác thiên lệch - tuy nguyện vọng của từng người tiêu chính đáng, nhưng cảm giác như vậy thì quả là thiên lệch.


Vào chiến dịch xuân 1975, thoạt đầu, tôi cũng có cảm giác thiên lệch như vậy. Chả là vì tôi không được phân công đi theo dõi đơn vị như một số anh em khác, mà được đồng chí trưởng phòng giao ở nhà "gác gôn". Đấy là một cách nói cho vui chứ "gác gôn" nào có phải mình tôi, hơn nửa, đâu phải chuyện giữ nhà là nhàn nhã, thoải mái. Cùng đồng chí trưởng phòng, nhóm trợ lý chúng tôi có trách nhiệm thay nhau trực suốt ngày đêm để phục vụ công tác chỉ huy của Bộ tư lệnh.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:31:23 am
Vào những ngày từ 5 đến 8 tháng 3 năm 1975, chúng tôi phải làm việc khá căng thẳng. Tất nhiên là qua hệ thống điện đài (các loại vô tuyến điện, hữu tuyến điện), phải làm sao nắm được tình hình chuẩn bị vào giờ G. của tất cả các đơn vị từ Cửa Việt đến Lăng Cô - theo dõi cả phía bên quân đoàn 2, lẫn các đội vũ trang công tác. Phải nắm tình hình từng ngày, từng giờ - và nếu có thể được - cả đến từng phút nữa.


Tôi đã ở đơn vị chiến đấu, từng làm cán bộ đại đội, tiểu đoàn nên càng hiểu rằng, trước lúc nổ súng là những giờ phút hồi hộp căng thẳng vô cùng. Trạng thái tâm lý ấy diễn ra đối với chiến sĩ, nếu trong trận phục kích là lúc chờ giặc tới hoặc giặc đã tới từ xa; nếu trong trận công đồn là lúc tiềm nhập nhất là lúc đã mò vào hàng rào kẽm gai, đã thấy lính gác địch đi đi lại lại trước mặt. Hiểu thế, nên những lúc ngồi trực bên máy điện thoại, tôi chợt hình dung ra bạn bè quen biết, hình dung ra các chiến sĩ, cán bộ ta đang trong giờ phút hồi hộp, lo âu vừa mừng vừa sợ, giờ phút đòi hỏi đầu óc phải tỉnh táo và hành động phải kiên quyết khôn ngoan.


Sau này, khi đã hồ hởi tay bắt mặt mừng gặp lại nhau ở Huế giải phóng, chúng ta mới thấy hết giá trị của những bước chân khởi đầu trước giờ nổ súng hôm ấy. Bây giờ không làm sao diễn tả hết những bước chân khởi đầu của tất cả các đơn vị. Nếu tiểu đoàn 21 phải vượt qua những tảng đá cheo leo trong đêm tối, để áp sát đường số 1 đoạn Mu Rùa trên đèo Hải Vân thì các chiến sĩ trung đoàn 4 đã phải bí mật giấu quân cả ngày dưới chân đồi cách vài trăm mét ngay trước cứ điểm Phổ Lại để đến gần chiều nổ súng. Nếu các chiến sĩ sư 324 phải tiếp cận các cứ điểm 303 - 224, 75, 76 - những cứ điểm đã được bố phòng vô cùng cẩn mật thì các đội vũ trang công tác Quảng Trị, Thừa Thiên phải giấu quân cả ngày giữa đồi trọc phía sau lưng tuyến tiếp xúc của địch, dưới sự quan sát thường xuyên từ trên không, dưới bộ của chúng. Nếu các chiến sĩ pháo binh quân đoàn 2 phải kéo pháo lên đặt trên đỉnh núi Truồi để bắn tà âm, thì các cán bộ và du kích của Phong Quảng phải nằm trong những bờ bụi ở thôn Vĩnh Nẩy hoặc giữa Tràm Dâu ở thôn Nhất Phong để chờ đón các đội công tác và lực lượng vũ trang về. Mỗi đơn vị đều có những nét đặc sắc độc đáo riêng.


Ở cơ quan tác chiến, chúng tôi có trách nhiệm theo dõi và ghi chép lại đầy đủ những diễn biến hoạt động của các đơn vị. Hồi mấy giờ, mấy phút, đơn vị nào đã làm việc gì, kết quả thắng lợi hoặc khó khăn thế nào, xin ý kiến Bộ tư lệnh và đã được giải quyết ra sao? Tóm lại, chúng tôi ghi chép diễn biến chiến dịch bằng những con số, bằng những lời lẽ vắn tắt, cô đọng và cụ thể. Chúng tôi đánh dấu trên bản đồ bằng những ký hiệu quân sự, sao chép các thứ điện từ trên Bộ xuống, Quân đoàn sang, các đơn vị lên và các loại điện từ Bộ tư lệnh quân khu gửi đi. Đấy là công việc nghiêm chỉnh, tuy có phần hơi khô khan.


Tuy nhiên, đối với tôi, công việc ấy cũng khá sinh động và hứng thú. Những con số, những lời ghi chép vắn tắt không chết lặng, không bị ép chặt vào những trang giấy mà dường như có sức sống riêng, đến nỗi có lúc tôi tưởng chúng không còn là chữ nghĩa nữa mà là những sinh vật có hành động, có tư duy. Không hẳn bởi vì tôi là người mơ mộng, có đầu óc tưởng tượng như anh em thường trêu đùa, mà vì tôi có nhiều kỷ niệm gắn chặt với mảnh đất quê hương này. Cứ nhắc đến một tên đất, đại để như thôn Trường Lưu hoặc Phò Trạch, cứ nhắc đến một tên đơn vị như trung đoàn 101 thuộc quân đoàn 2 hoặc trung đoàn 6 Phú Xuân, cứ nhắc đến một tên người như đồng chí Hiền ở Quảng Trị hoặc đồng chí Khánh ở Thừa Thiên, v.v... là tự nhiên lòng tôi cứ rộn lên nỗi niềm thương mến, và tôi như đang được cùng chiến đấu, cùng đi đứng, suy nghĩ với bạn bè, với đồng chí, đồng đội, với bà con chú bác.


Bởi vậy trong những ngày 7 và 8 tháng 3 khi các đơn vị bắt đầu hành quân đến mục tiêu chiến đấu, tôi đặc biệt chú ý theo dõi tiểu đoàn 4 bộ đội địa phương Thừa Thiên. Đấy là đơn vị cũ của tôi đã đành, lại có đồng chí Sinh trưởng ban tác chiến tỉnh đội - một người bạn quen của tôi cùng đi. Hơn nữa, hành trình của tiểu đoàn 4 là hành trình hết sức phức tạp khó khăn: đến nỗi anh em chúng tôi bảo nhau, nếu tiểu đoàn 4 hành quân trót lọt, tiếp cận mục tiêu được là nổ súng đúng giờ, thì không đơn vị nào còn lý do để bào chữa, nếu không hoàn thành nhiệm vụ tiếp cận địch.


Tôi nhớ đêm 8 tháng 3 năm 1975, tôi cứ gò lưng xuống, gào vào máy điện thoại hỏi trực ban tác chiến của tỉnh đội Thừa Thiên về tình hình cánh nam. Thoạt đầu chỉ nghe tiếng lục bục trong máy, lát sau mới có tiếng trả lời: "Không bắt được liên lạc với các mũi cánh nam".

- Nhớ mở máy theo dõi sát vào nhé. - Tôi dặn vậy, kể ra cũng thừa. Chắc ban chỉ huy tỉnh đội cũng hết sức lo lắng, đang tìm cách liên lạc với các mũi. Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, tôi vẫn nghe trả lời rằng chưa bắt liên lạc được và thêm tiếng đồng chí trực ban thở dài trong máy, lòng tôi càng se lại, cứ nghĩ đến những tình huống bất trắc.


Tôi biết là tiểu đoàn 4 bắt đầu hành quân từ khe B.57 nơi đóng quân của huyện đội Hương Thủy cũ, vào buổi sáng ngày 7 tháng 3 năm 1975. Cùng đi với tiểu đoàn 4 có 5 đội vũ trang công tác của các xã Phú Đa, Phú Cường, Phú Phong, Phú Gia, Phú Hồ.


Tất cả lực lượng này không phải là nhỏ, đều đi theo hướng núi Dích Dương. Cùng địa điểm xuất phát ở khe B.57 còn có mũi thứ hai gồm có một đại đội thuộc tiểu đoàn 2 đặc công cùng các đội vũ trang công tác của huyện Hương Thủy và thành đội Huế. Mũi này đi theo hướng Cồn Trao.


19 giờ đêm hôm qua (7-3) bộ phận đi đầu đến bờ sông Hương ở tọa độ 05-81. Khi họ bắt đầu vượt sông bằng thuyền cao su công binh, thì những đại đội phía sau chưa tới. Nhưng đến 24 giờ đêm, tất cả đã vượt sông an toàn. Và cả đội hình nối đuôi nhau, miệng ngậm tăm vượt qua tuyến tiếp xúc địch theo hành lang đã chuẩn bị sẵn. Vào hồi 4 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 3 năm 1975, toàn đội hình đã thu gọn vào địa điểm giấu quân ở chân núi Dích Dương. Đây là ngọn núi gần như trọc, chỉ lưa thưa những cây sim, cây mua, nhưng phía dưới chân chỗ tiếp giáp với ngọn núi khác thì cây cối rậm hơn, có cây cao hơn đầu người. Chiến sĩ ta chui vào các bụi cây, ăn cơm nắm, lương khô, uống nước bình toong và đánh một giấc. Ngày hôm đó địch có đi lùng sục nhưng chỉ cách chỗ giấu quân 300 mét. Lo ngại địch đã đành, còn lo ngại gặp dân đi hái củi. May sao không gặp ai, chứ nếu gặp thì bắt buộc anh em ta phải giữ họ lại để bảo đảm an- toàn cho đơn vị. Ém hàng ba bốn trăm quân giữa đồi suốt cả ngày là một việc làm táo bạo, những có tính toán, có dự kiến đầy đủ mọi tình huống xảy ra. Buổi chiều, có mưa, anh em có ướt tí chút nhưng không sao, mưa càng đảm bảo an toàn. Rồi mọi sự đã qua đi trót lọt.


Theo báo cáo cuối cùng thì 18 giờ 30 ngày 8 tháng 3 năm 1975 đơn vị lại tiếp tục hành quân về đồng bằng. Đến đây, đơn vị chia làm hai mũi. Tiểu đoàn phó cùng một đại đội đi vào hướng Phú Bài, qua quốc lộ đoạn Hải Thủy. Đại bộ phận còn lại đi theo hướng bắc Nong, vượt quốc lộ đoạn xóm Ga thuộc xã Hưng Lộc.


Từ 18 giờ 30 trở đi, chúng tôi không được tin gì nữa. Dẫu biết rằng, trên đường hành quân, đơn vị phải hết sức giữ bí mật, khó lòng mở máy ra liên lạc với sở chỉ huy. Con đường hành quân phải len giữa các thôn xóm, mà chỉ riêng dân vệ và phòng vệ dân sự cũng đã dày đặc. Rồi phải vượt qua đường sắt, quốc lộ số 1, qua một cánh đồng, tiếp đến lại vượt con sông thứ nhất, rồi vượt con sông thứ hai. Giữa hai con sông là cánh đồng ruộng ô, nước lội đến ngang bụng. Hồi trước chúng tôi đi qua đấy, giữa mùa hè mà bơi sông, lội nước lắm cũng rét thun vòi lại. Với con đường hành quân như vậy mà chỉ đi dăm ba người giữ bí mật cho được đã khó khăn, huống chi hàng ba bốn trăm con người với trang bị súng ống đạn dược và phương tiện lỉnh kỉnh.


Chúng tôi cứ lo lắng, sợ có chuyện gì bất trắc xảy ra... May sao, quãng 5 giờ sáng ngày 9 tháng 3 năm 1975 tôi nghe từ đầu máy bên kia tiếng nói vui vẻ của đồng chí trực ban tác chiến tỉnh đội:

- Tiểu đoàn 4 đã đến Diêm Trụ an toàn, đang triển khai đội hình chiến đấu.

"Chao ôi, thế ư! Thế thì tốt quá!" - Tôi reo lên trong máy như vậy. Vậy là thành công bước đầu rồi. Sắp đến giờ nổ súng. Dẫu chiến đấu kết quả đến mức độ nào đi nữa, thì ít nhất, sự xuất hiện hàng vài trăm Quân giải phóng cùng hàng loạt cán bộ và du kích giữa các thôn xóm vùng sâu Phú Thứ, Phú Vang cũng là điều có ý nghĩa thực sự.


Nỗi lo âu được xua tan, lòng tôi ấm áp hẳn lại. Chợt nghĩ đến anh Sinh, người bạn thân, chắc giờ này đang cùng ban chỉ huy tiểu đoàn, chỉ huy các đại đội tiến công tiêu diệt bọn tề nguy và dân vệ ở các thôn Dưỡng Mông, Viễn Trình, Lương Viện, Trường Lưu, Đức Thái, v.v... ước gì có rượu, tôi sẽ rót hai chén, một cho anh, một cho tôi và uống mừng anh. Song bây giờ đào đâu ra rượu. Tôi bèn bóc bao thuốc lá Ru-bi cất trong ba lô ra mời bạn bè rồi dành ra hai điếu. Tôi châm lửa hút một, còn điếu kia tôi gói vào giấy, cất kỹ vào túi áo trên, tự hẹn mình dù mai kia thiếu thuốc lá có thèm chết đi được cũng nhất quyết không đụng đến, để dành chút kỷ niệm mừng cuộc hành quân thắng lợi cho bạn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:32:31 am
Vào những ngày trước giờ nổ súng chiến dịch, các đồng chí ở phòng 2 bằng mọi phương tiện, mọi thủ pháp của mình, đã theo dõi sát sao tình hình địch.

Ngày 7 tháng 3 năm 1975 chúng tôi được tin, có một cuộc họp của Bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy với các tướng lĩnh thuộc quyền để bàn việc bố trí lại lực lượng. Chúng sẽ đưa liên đoàn biệt động 14 ở Quảng Ngãi ra Quảng Trị rút lữ thủy quân lục chiến 369 vào Quảng Nam, để cuối cùng rút hết sư đoàn dù vào phòng thủ Sài Gòn.


Tất nhiên tin này được Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch hết sức quan tâm. Chúng tôi là trợ lý không được nghe những bình luận chính thức của cấp trên, song khi mạn đàm "ngoài rìa" thì đồng chí phụ trách phòng 2 có nhận xét : Qua việc làm này, chứng tỏ kẻ địch đang lúng túng vì thiếu lực lượng tổng dự bị chiến lược. Chúng có hai sư đoàn (dù và thủy quân lục chiến) mà cảm thấy thiếu, phải co chỗ này kéo chỗ kia. Việc bố trí lại lực lượng là nằm trong kế hoạch Lý Thường Kiệt của chúng, nghĩa là coi Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long là khu vực ưu tiên số 1, kế đến nơi quan yếu mới là đồng bằng miền Trung Trung Bộ. Bởi thế, không thể nào để cả hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược ở quân khu 1. Việc chúng bố trí lại lực lượng như thế vừa tỏ ra chúng yếu thế, vừa tỏ ra chúng đã mắc mưu ta...


Mắc mưu ta, đấy là vấn đề hấp dẫn, nhưng chúng tôi không tò mò hỏi sâu thêm. Bầy mưu tính kế là từ tận ngoài Trung ương, ngoài Bộ Tổng tư lệnh. Chúng tôi chỉ hiểu đại thể rằng trong chiến tranh, mưu chiến lược lớn nhất là làm sao cho kẻ địch hiểu ta không đúng và phán đoán ta sai.


Sau này, chúng tôi thấy nhận xét "ngoài rìa" của đồng chí phụ trách phòng 2 là đứng đắn. Xin trích ra đây một đoạn trong lời khai của Nguyễn Thành Trí, đại tá phó tư lệnh thủy quân lục chiến, sau khi y đã ra trình diện cách mạng.


"... - Vì nhu cầu tình hình, ngày 6-3-1975 Bộ tổng tham mưu chỉ thị quân đoàn 1 tái phối trí quân để có thể sử dụng sư đoàn thủy quân lục chiến thay sư đoàn dù được di chuyển về Sài Gòn. Lệnh này có tính chất khẩn. Một cuộc họp được triệu tập ngay tại Bộ tư lệnh quân dân (Đà Nẵng). Thành phần tham dự gồm tư lệnh các sư đoàn 1, 2, 3 (bộ binh), sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến, trung tướng tư lệnh tiền phương quân đoàn 1, dưới quyền chủ tọa của trung tướng tư lệnh quân đoàn 1. Được biết các tướng lãnh đều không đồng ý việc đưa sư đoàn dù về Sài Gòn. Việc rút sư đoàn dù khỏi Đà Nẵng và sư đoàn thủy quân lục chiến khỏi Quảng Trị sẽ gây ảnh hưởng tâm lý bất lợi trong dân chúng. Về mặt chiến thuật, việc phòng thủ trở nên lỏng lẻo không hữu hiệu, đặc biệt đối với khu vực Quảng Trị khó có thể giữ vững được. Tuy nhiên trung tướng tư lệnh quân đoàn 1 nói đây là quyết định của tổng thống Thiệu; bằng mọi cách phải trả sư đoàn dù về Sài Gòn.


Kế hoạch thay quân được dự trù như sau:

2 lữ thủy quân lục chiến sẽ thay 2 lữ dù từ Đại Lộc đến đèo Hải Vân; sau đó một lữ thủy quân lục chiến sẽ thay cho 1 lữ dù phía bắc đèo Hải Vân (tức là đèo Phú Gia). Lữ này tăng phái cho sư đoàn 1 bộ binh.

Diễn biến thay quân:

Ngày 7 tháng 3 năm 1975: sư đoàn thủy quân lục chiến tiếp nhận liên đoàn 14 biệt động quân để thay thế cho tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến như sau:

2 tiểu đoàn biệt động quân thay 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến tại khu vực lữ 1 kỵ binh thiết giáp.

1 tiểu đoàn biệt động quân và ban chỉ huy liên đoàn 14/BĐQ thay một tiểu đoàn thủy quân lục chiến và ban chỉ huy lữ 369.

Liên đoàn 14 biệt động quân chịu trách nhiệm chỉ huy các lực lượng trong khu vực của lữ 369.

Ngoài ra, 1 tiểu đoàn địa phương quân thuộc tiểu khu Quảng Trị cũng được tăng phái cho lữ 1 kỵ binh thiết giáp, thay thế cho tiểu đoàn thủy quân lục chiến còn lại.

Ngày 8 tháng 3 năm 1975: Lúc 11 giờ ban chỉ huy lữ 369 cùng với 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến và đại đội quân y, đại đội trinh sát công binh, ba tiểu đoàn pháo binh thủy quân lục chiến di chuyển vào Đà Nẵng...".

Đoạn trích lời khai của Nguyễn Thành Trí càng xác nhận sự lúng túng và những sự bất đồng trong nội bộ chúng. Thực ra, dù bọn Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi và cả lô tướng lĩnh ở quân khu 1 có tỏ ra khôn ngoan hơn Thiệu, không bố trí lại lực lượng, vẫn để nguyên như cũ thì rốt cuộc cũng chẳng xoay chuyển được tình thế. Bởi vì tình thể xấu nhất của chúng là sự thất vọng hoàn toàn của quan thầy Hoa Kỳ, là những mâu thuẫn cố hữu từ trong bản chất của một đội quân tay sai đã đến lúc không còn phương gì giải quyết nổi...


Đối với tên tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 Lâm Quang Thi thì cấp trên điều lính dù vào Đà Nẵng, hắn vẫn tỏ ra yên tâm hoặc là cố tạo cho mình sứ yên tĩnh trong tâm tư - nhưng nay, đến lượt thủy quân lục chiến bị điều đi nữa (dù chỉ mới điều hẳn lữ đoàn 369 vào Đà Nẵng, còn lữ 258 vào đèo Phú Gia, bắc Hải Vân) thì chắc hắn sẽ phải bối rối. Bị điều đi hơn 5.000 thủy quân lục chiến để đổi lấy 700 lính biệt động trong lúc phải phòng giữ một khu vực đầu sóng ngọn gió này, Lâm Quang Thi hẳn không thể tiền hô hậu ủng nhênh nhang đi đánh tơ-nít như tuần trước, nhất là bấy giờ, giờ G. đã điểm, tiếng súng chiến dịch của ta đã bắt đầu.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:54:12 am
V. Mặt trận giáp ranh nổ súng. Mặt trận đồng bằng nổ súng

Theo kế hoạch Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên và Bộ tư lệnh quân đoàn 2 - đã được Bộ duyệt, thì giờ G, là 01 giờ 00 ngày N+3 tức là ngày 8 tháng 3 năm 1975. Tuy nhiên trong cd tổng hợp phạm vi cả quân khu, khó mà nổ súng đồng loạt vào giờ quy định như trong một trận đánh.


Đêm mồng 7 tháng 3 năm 1975 trong lúc các đội vũ trang công tác và một số đơn vị bộ đội địa phương, đặc công luồn sâu vào lòng địch, thì các đơn vị chủ lực tuyến giáp ranh, trong phạm vi nhiệm vụ được giao, đã triển khai lực lượng, tiếp cận địch.


Hướng trọng điểm quân sự, phía đường 14 như ta đã biết, do quân đoàn 2 đảm nhiệm. Lực lượng được sử dụng ở đây là 2 sư đoàn thiếu: sư đoàn 324 (vắng trung đoàn 3 đang tiến công chủ yếu ở khu vực Mỏ Tàu - 303, sư 325 (vắng trung đoàn 96 được Bộ điều đi Tây Nguyên tham gia đánh Buôn Mê Thuột) có  nhiệm vụ đánh ở cánh phải của quân đoàn, tiến công các điểm cao 560-499, hòn Kim Sắc làm bàn đạp cắt đứt đường 1.


Sư đoàn 324 sẽ nổ súng hợp đồng với toàn quân khu vào ngày 8 tháng 3 năm 1975 và sư đoàn 325 (theo kế hoạch cơ bản lúc đầu) sẽ nổ súng vào đợt hai: ngày 25 tháng 3 năm 1975.

Trong lúc sư đoàn 325 đang ra sức làm công tác chuẩn bị: tập kết quân, mở đường, kéo pháo, lót đạn, gạo, thì sư đoàn 324 đã triển khai chiến đấu. Tuy phải khắc phục nhiều khó khăn, nhất là thời tiết mưa gió, đường 74 lầy lội, đạn và gạo chuyển vào vị trí tập kết hết ức sức vất vả, nhưng sư đoàn 324 đã nổ súng đúng thời gian quy định.


Như trên đã có dịp nhắc tới, sư đoàn 324 trở lại vùng Mỏ Tàu - 303 lần này là lần thứ hai. Trong chiến dịch K.18 từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1974, phối hợp với Thượng Đức, sư đoàn 324 đã trừng phạt bọn lấn chiếm một đòn nặng nề, thu hồi lại hàng trăm ki-lô-mét vuông gồm các điểm cao: 273, 303, 324, 142, 201, núi Bông, núi Nghệ, 75, 76, Động Giếng, Mỏ Tàu. Sau đó, kẻ địch đã lấn chiếm lại hết phần đất cũ, còn lấn thêm sang cả sân bay Bạch Đàn. Mặc dù các lực lượng địa phương: trung đoàn 6, trung đoàn 271, tiểu đoàn 4 đã chiến đấu hết sức dũng cảm để giữ những phần đất do sư đoàn 324 giao lại, nhưng kẻ địch - bằng mọi giá, không chịu để ta làm chủ đường 14, dễ bề uy hiếp đường 1. Chúng lợi dụng mùa mưa ta có nhiều khó khăn trong tổ chức phòng ngự, đã huy động một lực lượng lớn của sư đoàn 1 và liên đoàn biệt động 15 đánh bật ta ra.


Giờ đây sư đoàn 324 trở lại làm ăn ở mảnh đất cũ, không ít cán bộ, chiến sĩ coi là chuyện "công cốc" và cũng không ít người coi thường kẻ địch "324 mà ra tay thì bọn sư 1 lại chết phen nữa". Thật ra sự tự tin ấy bắt nguồn từ thực tế là sư đoàn 324, từ ngày có mặt ở chiến trường Trị Thiên, hầu như thường xuyên đụng đầu với bọn sư đoàn 1 ngụy. Bọn địch huyênh hoang đề cao sư đoàn 1 là sư đoàn "anh cả đỏ", là đệ nhất hùng mạnh, là sư đoàn đáng mặt nhất trong hàng ngũ bộ binh. Tuy thế, sư đoàn đáng mặt nhất ấy vẫn lo ngại phải đụng độ với 324, sư đoàn từ ngày đầu ra quân đã đánh cho bọn thủy quân lục chiến Mỹ một trận nên thân ở Gio An, tiếp đến là ở Cô-ca-va, Tam Tanh, A Bia, sư đoàn 1 ngụy bắt đầu chờn sư đoàn 324 từ tổng công kích Mậu Thân và sau đó là những đòn liên tiếp trên đường 12: Động Tranh, Tà Lương, Bình Điền, là những đòn trong tổng công kích 1972 và ở miền tây Phong Điền. Trận quyết chiến gần nhất xảy ra ở vùng Mỏ Tàu này năm ngoái, khiến sư đoàn 1 ngụy càng e ngại sư đoàn 324. Với lối phòng ngự chốt kết hợp kiềng, với lực lượng phòng ngự là bọn trung đoàn 1, trung đoàn 54 những đơn vị sừng sỏ ác ôn khét tiếng ở Trị Thiên - Huế, bọn địch vẫn không giữ nổi. Sư 324 đã có lối tập kích táo bạo, đánh luồn vào hậu phương, tạo thế bao vây, cắt rời giữa chốt và kiềng, làm địch không chịu nổi. Giờ đây, khi tái chiếm được, chúng đã thay đổi cách phòng ngự. Không dùng chốt kết hợp kiềng nữa, mà tổ chức phòng ngự có chiều sâu, hình thành 3 tuyến: đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, dựa vào các điểm cao có khả năng khống chế ta. Các điểm tựa đại đội, tiểu đoàn đều liên hoàn với nhau, các sở chỉ huy tiểu đoàn cũng trở thành các cụm điểm tựa do đại đội chỉ huy và các phân đội biệt kích chiếm giữ, để phá chiến thuật luồn sâu của ta đánh vào sở chỉ huy địch.


Đầu tháng 1 năm 1975, sư đoàn 324 được quân đoàn báo cho biết có khả năng đánh trên đường 12, nên đã phái cán bộ và trinh sát đi chuẩn bị chiến trường. Sang đầu tháng 2 năm 1975 có lệnh chuyển hướng quay về đường 14. Mọi công tác chuẩn bị đều phải chuyển hướng, ngay cả những giáo trình quân sự đang học tập cũng phải thay đổi lại. Dù nhận thấy thuận lợi là quen thuộc địa hình, nhưng phần lớn cán bộ đều coi là không còn thế bất ngờ nữa, kẻ địch biết 324, biết cả lối đánh của 324.


Ngày 7 tháng 2 năm 1975 đồng chí Hoàng Đan, phó tư lệnh quân đoàn thay mặt Bộ tư lệnh trực tiếp giao nhiệm vụ chiến đấu cho sư đoàn 324. Những vấn đề được đặt ra để nghiên cứu lúc bấy giờ là sử dụng lực lượng như thế nào, cách đánh ra làm sao, và bằng mọi cách khắc phục khó khăn phải đem pháo lên cao bắn trực tiếp, tạo uy lực lớn khi tiến công. Cố nhiên, mọi vấn đề đều được giải quyết thỏa đáng. Nói về sử dụng lực lượng thì chúng ta có 2 trung đoàn 1 và 2. Trung đoàn 3, đang trong Thượng Đức, chưa được lệnh về. Trung đoàn 2 được phân công đánh hướng chủ yếu, trọng điểm là các vị trí 224, 303. Trung đoàn 1 đánh cánh trái, chiếm các mỏm 75, 76 và sẽ phát triển sang núi Bông, núi Nghệ. Trung đoàn 271 có 1 đại đội phối hợp đánh Động Giếng. Về sau này, khi tổng kết chiến dịch, việc sử dụng lực lượng cũng còn nhiều chỗ đã được rút kinh nghiệm, nhưng đấy là chuyện thuộc về nội bộ của sư đoàn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:55:10 am
Cách đánh thì rõ ràng không thể theo bài bản cũ, phải thay đổi. Bởi vì lần này không phải đánh tập kích nữa mà là đánh địch trong công sự vững chắc. Trong buổi thảo luận cách đánh ở Vũng Tròn, đồng chí Hoàng Đan đã chú ý nhấn mạnh điều này. Khi cán bộ nhất trí với nhau cách đánh lần này phải kết hợp đột phá chính diện với luồn sâu, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy ở quân đoàn và sư đoàn đã sớm nhìn ra một vấn đề cần chú ý. Đấy là mâu thuẫn giữa ý đồ chỉ đạo cũng là yêu cầu và khả năng mới với kinh nghiệm người chỉ huy và cả với kinh nghiệm chiến đấu của chiến sĩ. Nói chung, sư đoàn 324 vẫn quen và thông thạo lối đánh tập kích, chưa có nhiều kinh nghiệm đánh công sự vững chắc. Rất dễ xảy ra tình trạng uốn theo thói quen cũ, điều đó sẽ không phù hợp với yêu cầu chiến đấu mới. Sự lưu tâm của cấp trên có tác dụng uốn nắn kịp thời trong quá trình chiến dịch. Việc khắc phục mọi khó khăn để đưa pháo lên cao, ta đã mở một đoạn đường 10 ki-lô-mét từ đường 14 vào đến động Truồi, và từ động Truồi lại tụt xuống điểm cao 654. Trận địa được thiết lập ở đấy với 8 khẩu 85 ly, 4 khẩu 122 ly và 6 khẩu 37 ly. Bấy giờ từ sư trưởng Duy Sơn đến các pháo thủ có thể yên tâm về trận địa pháo của mình. Cảm giác của anh em pháo thủ là cảm giác mình đã ngồi trên đầu địch, đè địch xuống mà đánh.


Đúng 5 giờ 45 phút ngày 8 tháng 3 năm 1975 pháo ta bắt đầu trùm lửa xuống các cứ điểm địch. Sau khi pháo bắn chuyển làn vào tung thâm, thì bộ binh bắt đầu xung phong. Về phía trung đoàn 1, chỉ trong vòng ba mươi phút, bộ đội ta đã chiếm xong điểm cao 76 và các đồi ria quanh đấy. Tiếp đến là điểm cao 75 đã được bộ binh ta làm chủ vào lúc 8 giờ sáng. Coi như trung đoàn 1 đã hoàn thành nhiệm vụ bước đầu. Tuy nhiên sau này khi tổng kết lại, cán bộ trung đoàn 1 đều xuýt xoa rằng, giá lúc ấy tỉnh táo hơn thì đã nhanh chóng cho một lực lượng áp sang núi Bông, núi Nghệ, chặn địch từ điểm cao 273 xuống sẽ đỡ khó khăn cho những bước tiếp nối.


Ở hướng chủ yếu do trung đoàn 2 đảm nhiệm có khó khăn hơn. Do chuẩn bị chưa được thật chu đáo, hợp đồng giữa pháo binh và bộ binh chưa chặt, đơn vị đến vị trí tập kết cuối cùng muộn, nên đội hình chiến đấu bị doạc ra. Những đợt xung phong của ta bị hỏa lực dày đặc của địch chặn lại. Những đơn vị được trung đoàn giao nhiệm vụ tiến công, mặc dầu đã có nhiều cố gắng vẫn không dứt điểm được hai mỏm 224 và 303. Trong lúc đó, ta tung trinh sát công binh tập kích tiêu diệt một số xe tăng địch. Mới xuất quân mà tình thế không được trót lọt, Bộ tư lệnh sư đoàn 324 hội ý lại, nhận định tình hình và đề nghị với quân đoàn xin hoãn đánh cao điểm 224 vào ngày 10 tháng 3 để có thời gian tổ chức chiến đấu lại.


Đúng 14 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975, sau kjhi xốc lại đơn vị, trung đoàn 2 đã dũng mãnh tiến công và dứt điểm gọn 224. Đồng thời, ở cánh trái trung đoàn 1 đã chiếm thêm núi Bông.

Tuy nhiên, về phía quân ngụy, sau khi tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 1 cùng một đại đội trinh sát và tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 54 bị đánh thiệt hại nặng, Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 ngụy ở Huế ra lệnh bằng mọi giá phải giữ cho được khu vực 303 - Mỏ Tàu. Chúng điều thêm lực lượng tăng viện cho đường 14:

- Tiểu đoàn 61 liên đoàn biệt động quân 15 ra núi Bông.

- Tiểu đoàn 96 liên đoàn biệt động quân 15 đang huấn luyện ở Văn Thánh ra điểm cao 31.

- Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 1, sư đoàn 1 bộ binh đang ở khu vực Nam Phổ Cần ra điểm cao 224 tăng cường cho tiểu đoàn 1 cùng trung đoàn.

- Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3, sư đoàn 1 bộ binh dồn cả đội hình tiểu đoàn vào chốt giữ ở hòn Kim Sắc.

- Chi đoàn 37 thiết giáp cộng thêm 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 154 địa phương quân ở ấp 5 vào án ngữ khu vực điểm cao 52.

- Chi đoàn 27 thiết giáp vào điểm cao 31 phòng ngự cùng tiểu đoàn 94.


Cuộc chiến đấu ở đường 14 bấy giờ diễn ra vô cùng ác liệt, gay go. Trong những ngày 11, 12 tháng 3 năm 1975 kết hợp với máy bay oanh kích (17 lần chiếc/ngày) quân địch tập trung pháo từ Lương Điền, Mũi Né, Phú Bài, Huế bắn dữ dội vào đội hình ta (lượng pháo là 4.614 viên/ngày), đồng thời dùng bộ binh phản kích quyết liệt, cố đánh bật ta ra khỏi những điểm cao ta vừa mới giành lại được. Đẫm máu nhất là trên điểm cao 224:

- Ngày 14 tháng 3, địch tập trung lực lượng lớn có máy bay A.37 và pháo binh yểm trợ đánh bật ta ra. Ta chỉ còn giữ lại được cửa mở.

- Ngày 15 tháng 3 ta cùng một phân đội nhỏ 10 người chốt giữ lại để bám được đầu cầu.

- Ngày 16 tháng 3, địch đánh bật ta ra và chiếm lại 224.

- Ngày 17 tháng 3, ta tổ chức đánh chiếm lại nhưng không thành công, chỉ giữ được những đồi rìa 224. Cuộc chiến đấu ở điểm cao 224 đã diễn ra trong trạng thái giành đi giật lại từng tấc đất; kẻ địch bị thiệt hại nặng và phía ta cũng không ít tổn thất. Sau này, ta đã chiếm lại được vĩnh viễn vào ngày 21 tháng 3 năm 1975 khi toàn quân đoàn đã bước vào chiến đấu đợt hai. Tuy nhiên, bấy giờ là sự căng thẳng của sư đoàn 324, căng thẳng vì đơn vị đã qua 10 ngày chiến đấu gian khổ vất vả mà chưa đập vỡ được tuyến phòng thủ của địch ở khu vực này. Nếu như năm ngoái, sư đoàn 324 "làm ăn khấm khá" đã giáng cho bọn trung đoàn 1 và trung đoàn 54 ngụy phòng ngự ở đây một đòn nặng nề, thì nay tình thế không được êm chèo mát mái như trước, ít nhất là vào đợt đầu ra quân của chiến dịch.


Bộ tư lệnh sư đoàn 324 đã đề nghị lên Bộ tư lệnh quân đoàn 2 cho dừng tiến công lại, củng cố đơn vị sẵn sàng vào đợt hai trong đội hình tiến công của quân đoàn. (Lúc này sư đoàn 324 đã có thêm trung đoàn 3 vừa ở Thượng Đức ra). Cuộc tiến công tạm ngừng. Ta và địch cài thế xen kẽ nhau, giống như hai đô vật vừa nghỉ ngơi vừa lừa miếng nhau để quật ngã đối thủ.


Trên thực tế, thì sư đoàn 324 đã phải đột phá vào một tuyến phòng ngự vào loại mạnh nhất, kiên cố và dày đặc nhất trong phạm vi trách nhiệm chiến thuật của sư đoàn 1 bộ binh ngụy. Không thể bỗng nhiên mà tên chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1 ném vào một khu vực nhỏ toàn bộ hai trung đoàn bộ binh 1 và 54, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 3, hầu hết liên đoàn biệt động quân 15 và hai chi đoàn xe bọc thép thuộc thiết đoàn 7 tăng phái đến. Xin nói thêm về hai trung đoàn 1 và 54. Trung đoàn 1 do tên đại tá Võ Toàn 32 tuổi chỉ huy là trung đoàn lâu năm, đàn anh nhất được coi là chủ công của sư đoàn 1 ngụy. Trung đoàn 54 do tên trung tá Nguyễn Văn Bình 27 tuổi chỉ huy, mới thành lập sau tổng công kích Mậu Thân nhưng gồm phần lớn những tên ác ôn có nhiều nợ máu với cách mạng, mang nặng tư tưởng hận thù giai cấp, nên đã khét tiếng tàn bạo trong việc đánh phá cơ sở ta ở nông thôn. Hai trung đoàn này với những tên chỉ huy được chọn lọc: trẻ tuổi, hung hăng và trung thành nhất với Thiệu, càng trở nên nổi tiếng ngoan cố và hiếu chiến ở chiến trường Trị Thiên.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:56:07 am
Sự thể trên chứng tỏ bọn Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi đã nhận ra tầm hiểm yếu của khu vực này, khu vực bàn đạp để uy hiếp đồng bằng nam Huế và dễ bề cắt đứt đường 1 đoạn Cầu Hai - nếu ta chiếm được.

Sau này, khi chúng tôi gặp Trương Như Mân trung tá trưởng phòng 3 của sư đoàn 1 ngụy ở trại cải tạo, y cũng xác nhận điều đó. Y còn nói thêm về các nhận định và phán đoán của tướng tá ngụy thuộc sư đoàn 1, sau khi chúng phát hiện những chỉ dấu chứng tỏ mùa xuân 1975 ta sẽ mở những trận đánh lớn, chưa biết cường độ thế nào, nhưng chắc chắn là sẽ lớn hơn 1968. Những chỉ dấu ấy là sự cơ động của một số trung đoàn thuộc sư đoàn 325, sư đoàn 324 về phía nam, và đến cuối tháng 2 năm 1975 thì có tin xác nhận Bộ tư lệnh quân đoàn 2 của ta ở Nam Đông. Cùng với chỉ dấu trên là sự phát hiện ta đang triển khai những con đường mới ở phía nam, tăng cường mức vận chuyển từ 300 đến 400 xe/ngày, là sự phát hiện 8 xe tăng ta ở Bà Nà. Tin tức về chỉ dấu này là do ban bình địa phòng nhì đã dùng máy bay O2 trinh sát mỗi ngày đến 32 giờ bay phía nam hoành tuyến 15, cung cấp. Tuy nhiên, kẻ địch phán đoán ta có hai khả năng. Có thể ta tiến công đánh bứt An Lỗ, con đường thọc nhanh nhất vào Huế và cô lập được bọn thủy quân lục chiến ở phía bắc. Cũng có thể ta đánh dứt đoạn Cầu Hai, cô lập giữa Huế và Đà Nẵng. Ở hướng bắc, lực lượng cách mạng có vẻ mạnh. Ở hướng nam thì thế hiểm hơn. Dù có sự phân vân giữa hai khả năng ấy, kẻ địch vẫn đã có những biện pháp tăng cường phòng thủ ở cả phía An Lỗ, lẫn phía đường 14, mà càng về sau hướng đường 14 càng được địch chú ý hơn.


Giờ đây, cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt ở đường 14 và đồng thời cả phía An Lỗ. Dầu vậy, bọn tư lệnh sư đoàn 1 ngụy cũng biết đối thủ của mình là quân đoàn 2 của ta.

Và bấy giờ, hãy còn quá sớm để bọn sư đoàn 1 ngụy, bọn tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 ngụy ở Huế cảm thấy có thể yên tâm về khả năng phòng thủ của mình. Cuộc chiến đấu, không, nói cho đúng hơn, chiến dịch mùa xuân 1975 của ta vẫn đang tiếp diễn.


Ở sở chỉ huy quân khu, khi giờ G. điểm, hầu như không ai ngủ được, nhất là các đồng chí trong Bộ tư lệnh, các đồng chí phụ trách Bộ tham mưu, Cục chính trị, Cục hậu cần, các đồng chí phụ trách chủ chốt về tác chiến, pháo binh, thông tin, công binh, dân quân... Thực ra, không phải công việc bận rộn, cũng không phải họp hành hoặc có nhiều vấn đề phải giải quyết (những việc cần giải quyết đã giải quyết xong, những vấn đề sẽ phải giải quyết tất nhiên là chưa tới). Vậy mà ai cũng cảm giác hồi hộp, cảm giác mình rất bận rộn. Bộ tư lệnh quân khu chỉ có hai người ở sở chỉ huy cơ bản: anh Lê Tự Đồng vừa là tư lệnh kiêm chính ủy quân khu vừa là bí thư Khu ủy, bí thư Đảng ủy mặt trận và anh Hồ Tú Nam phó chính ủy nhưng cũng là người phụ trách chủ chốt trong quân khu. Anh Dương Bá Nuôi phó tư lệnh được phân công làm chỉ huy trưởng bộ chỉ huy hỗn hợp ở hướng Phong Quảng. (Về sau anh Trần Văn Ân phó chính ủy cũng ra cánh bắc với anh Nuôi). Anh Nguyễn Chi phó tư lệnh trực tiếp chủ đạo trung đoàn 6 và trung đoàn 271.


Tuy công việc và lo toan nặng nề, nhưng các anh trong Bộ tư lệnh thường xuyên đi sát cánh tác chiến chúng tôi. Nói cho đúng hơn - là chúng tôi phải thường xuyên và kịp thời báo cáo với các anh về những diễn biến của chiến dịch mà chúng tôi theo dõi được.


Sau đây là tóm lược tình hình chiến sự từ ngày 8 tháng 3 đến 17 tháng 3 năm 1975 (đợt 1 của chiến dịch).

Những đêm 6, 7 và 8 tháng 3. Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ khu ủy và Đảng ủy mặt trận, toàn bộ lực lượng từ Quảng Trị, bắc Thừa Thiên và nam Thừa Thiên tuy mỗi nơi có những khó khăn phức tạp riêng, nhưng tất cả đều được triển khai theo đúng kế hoạch. Đặc biệt là có trên 2.500 tay súng trong đó gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, gần 100 đội vũ trang công tác và các đội vũ trang địa phương cùng lực lượng chính trị, cơ quan chỉ huy các cấp tỉnh, huyện, thành, đều lần lượt đột nhập đồng bằng về các địa bàn hoạt động một cách bí mật, an toàn. Đây là một thành công xuất sắc, tạo ra đòn bất ngờ đối với kẻ địch.

- Ở giáp ranh, ngày 8 tháng 3, bộ đội chủ lực quân khu cùng với quân đoàn 2 đồng loạt tiến công trên hai hướng: đường 14 và Phong Sơn (tây-bắc An Lỗ), một bộ phận bộ đội Quảng Trị tiến công tây Hải Lăng.

- Ở đường 14, như ta đã biết vào sáng 8 tháng 3, sư đoàn 324 đã tiến công đánh chiếm các điểm cao 75, 76, 224, nhưng ngay sau đó, địch phản kích lấy lại 224 và cuộc chiến đấu diễn ra trong thế giành đi giật lại mãi đến ngày 21 tháng 3. Về hướng đó, một đơn vị thuộc trung đoàn 271 của quân khu cùng phối hợp tiêu diệt điểm cao La Sơn rồi theo kế hoạch chuyển về đường 12.

- Ở tây Hải Lăng, tiểu đoàn 8 Quảng Trị cùng với du kích địa phương bao vây khống chế, uy hiếp mạnh các điểm cao 367, động Ông Do, duieejt điểm lẻ, buộc địch phải rút 11 chốt chung quanh điểm cao 235.

- Pháo binh của ta đánh dồn dập vào một loạt căn cứ của địch ở Mỹ Chánh, Đồng Bồ, Đức Tích, Phò Trạch, Đồng Lâm, Hiệp Khánh, cầu An Lỗ, Động Hoàng gây rối loạn và thiệt hại cho địch.

- Ở Phong Sơn (tây-bắc An Lỗ) hồi 16 giờ 30 chiều 8 tháng 3, trung đoàn 4 nổ súng đánh chiếm Phổ Lại (điểm cao 51 và 57 do tiểu đoàn 130 bảo an thuộc quyền chỉ huy của lữ 147 thủy quân lục chiến, chiếm giữ).

Đây là hướng phối hợp quan trọng, địch đã chú ý tăng cường phòng thủ, nên ta sử dụng một cường độ pháo đáng kể làm địch càng bối rối, nghi hoặc về hướng tiến công chủ yếu của ta. Pháo trong trận này ngoài 37 ly, 12 ly 7 hạ nòng xuống bắn trực tiếp những điểm xạ dài còn có các loại cối 82 ly, DK 82 ly, pháo 85 ly, cối 12 ly, pháo 152 ly. Bởi thế, sau 30 phút bắn phá hoại, 40% công sự của địch đã bị phá hủy.


Lực lượng xung kích được sử dụng đánh Phổ Lại là 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 4 bộ binh (còn một tiểu đoàn khác đột nhập đồng bằng đánh các vị trí Trung Kiều, Sơn Tùng hỗ trợ cho các đội vũ trang công tác diệt ác ôn, phát động quần chúng).


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:57:25 am
Trận Phổ Lại cũng diễn ra vô cùng gay gắt, ác liệt. Thoạt đầu, từ ngày 6 tháng 3 ta đã bí mật đưa pháo lên các điểm cao có lợi để dễ dàng bắn chế áp địch, và nhất là trong đêm 8 tháng 3 ta đã ém được hàng tiểu đoàn bộ binh vào sát địch vài trăm mét, bí mật và bất ngờ.

- 16 giờ 30 ngày 8 tháng 3, các cỡ pháo ta bắt đầu bắn phá hoại vào Phổ Lại, cùng lúc ấy một lực lượng bộ binh tiến công một số điểm lẻ ở Cổ Bi, Thanh Tân, diệt 3 tiểu đội địch, gây cho địch hoang mang.

- 16 giờ 50, pháo địch ở Đồng Lâm, Từ Hạ, Yên Bầu, Hiệp Khánh bắt đầu phản ứng, bắn về tuyến Ồ Ồ, Thanh Tân.

- 17 giờ, pháo ta thôi bắn. Xung kích bắt đầu xung phong trên ba hướng, có hỏa lực đi kèm: trung liên, B.40, B.41 chi viện.

- 17 giờ 15, sau khi dùng thủ pháo, tiểu liên diệt từng ụ súng, từng công sự của địch, hai hướng quân đã gặp nhau, hoàn toàn làm chủ một khu vực gọi là khu A và một số mục tiêu khác, chỉ còn mục tiêu số 13.

- 17 giờ 30, tiếp tục công kích mục tiêu 13, nhưng quân địch - số sống sót đã dồn về đây, chống cự quyết liệt, nên ta đành dừng lại. Từ đấy cho đến suốt đêm 8 rạng 9 tháng 3 ta tổ chức 4 lần tiến công đều không dứt điểm được. Cũng trong đêm ấy tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 4 hoạt động ở đồng bằng đã tập kích tiêu diệt 2 vị trí Trung Kiều và Sơn Tùng, sau đó tổ chức chốt lại yểm trợ cho quần chúng nổi dậy.

Ngày 9 tháng 3 hồi 7 giờ 15. Pháo địch ở các nơi tập trung bắn vào Phổ Lại trong hai giờ liền. Ta chuẩn bị cho C17 và C5 đánh bọn phản kích.

- 9 giờ 15, lực lượng phản kích của địch gồm 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến và hai chi đoàn xe bọc thép tiến vào giải tỏa cứ điểm Phổ Lại. Ta đã khéo phục kích bắn cháy 1 xe tăng, tiêu diệt 1 trung đội đi đầu, buộc địch chùn lại.

- 9 giờ 30, địch điều thêm 1 đại đội cũng thuộc tiểu đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến nữa đến. Lực lượng địch bấy giờ có 3 đại đội bộ binh cùng với 19 xe tăng và xe tăng. Từ đó đến hết ngày 9 tháng 3 năm 1975 địch huy động 14 lần chiếc A.37 ném bom, kết hợp pháo chi viện, tổ chức hàng chục đợt phản kích, đều bị ta đẩy lùi. Trong lúc đó, hồi 15 giờ 45 ta lại chiếm thêm khu B, mở rộng bàn đạp bẻ gãy hoàn toàn một hướng phản kích của địch. Hồi 23 giờ đêm 9 tháng 3, một lực lượng của ta lại tập kích diệt một tiểu đội địch ở bắc sông Tứ Chánh, ngoại vi cứ điểm Phổ Lại.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975. 5 giờ sáng, địch điều thêm tiểu đoàn 60 thuộc liên đoàn biệt động quân 15 đang huấn luyện ở Phú Bài ra tăng viện, đứng chân ở Kiêm Lâm. Cùng với lực lượng tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 7 thuộc lữ 147 thủy quân lục chiến đã đứng chân ở Định Kỳ, Đồng Lâm, chúng chuẩn bị phản kích và ngăn chặn hành lang của ta từ giáp ranh về đồng bằng.

- Từ 10 giờ - 17 giờ, địch tổ chức đến 17 đợt phản kích ác liệt từ hướng đông và tây-bắc lên để tái chiếm khu A (Phổ Lại). Quân ta vẫn dùng cảm đẩy lùi hết đợt này đến đợt khác, nhưng do mật độ phòng ngự khá dày đặc, nên thương vong của ta không phải ít. Tình hình trở nên khá căng thẳng, Bộ chỉ huy cánh bắc ra lệnh cho trung đoàn 4 chỉ để lại lực lượng nhỏ cảnh giới, và hỏa lực khống chế Phổ Lại, còn tất cả rút về vị trí củng cố.

Ngày 11 tháng 3. Suốt ngày ta vẫn đánh phản kích, tuy không thể mạnh mẽ như trước. Đến 4 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975, ta gài mìn lại và rút hẳn. Trận Phổ Lại đến đây coi như kết thúc. Ta đã tiêu diệt trên 500 tên địch, đặc biệt có hai đại đội hầu như bị diệt gọn (đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 130 bảo an và đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến).


Trong đêm 8 tháng 3 rạng 9 tháng 3 năm 1975, tất cả lực lượng bộ đội địa phương, đặc công, các đội vũ trang công tác, sau khi đã lọt được về đồng bằng nông thôn, đều đồng loạt nổ súng, tập kích mãnh liệt quân địch, chủ yếu nhằm vào các tổ chức kìm kẹp, đánh trúng hầu hết các mục tiêu quân sự (trên ba mươi phân chi khu và một số chi khu). Tiêu diệt địch kết hợp với vũ trang tuyên truyền, lực lượng cách mạng đã tiếp xúc được trên hai mươi vạn dân trên một diện rộng lớn gồm 53 xã (150 thôn, ấp).

- Ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng (nam Quảng Trị) ta đã tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, đánh vào 12 phân chi khu (trên 24 phân chi khu) diệt gọn 3 phân chi khu Hải Lâm, Hải Vĩnh và Hải Nhi.

- Ở ba huyện bắc Thừa Thiên, ta đánh vào 9 phân chi khu, diệt gọn các phân chí khu Phong Chương, Phong Bình, Phong Hòa, Phong Nhiêu và Quảng Phú. Và ở nam Thừa Thiên, 10 phân chi khu của địch bị đánh, ta diệt gọn các phân chi khu Vĩnh Thái, Vĩnh Hiền, Phú Hồ, đánh hỏa lực vào quận lỵ Vĩnh Lộc, Cầu Hai.

Phối hợp với đòn tiến công mạnh mẽ ở giáp ranh và nông thôn đồng bằng, bộ đội đặc công đánh cháy kho xăng ở Động Tòa, tiểu đoàn 21 bám đánh xe địch trên đèo Hải Vân buộc lữ đoàn dù 1 phải tập trung lực lượng giải tỏa.


Sau khi giờ G. điểm, trong những ngày đầu của chiến dịch, hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng đã thực sự phối hợp với nhau một cách đắc lực, tạo ra một thế mới có lợi cho ta và uy hiếp địch rất mạnh làm chúng choáng váng. Có thể nói, từ năm 1968 đến nay, lần đầu tiên ta phát huy được sức mạnh tổng hợp cả hai vùng, đánh địch một đòn bất ngờ gây cho chúng tổn thất khá nặng nề, buộc chúng phải điều động lực lượng ứng cứu một cách chắp vá, phân tán và dè dặt. Ở giáp ranh, chúng tập trung lực lượng cơ động kết hợp với lực lượng phòng ngự tại chỗ phản kích chiếm lại được một số nơi, nhưng cũng bắt đầu co cụm chiến thuật, bỏ các chốt lẻ gom thành chốt lớn, be bờ cố thủ. Ở đồng bằng, trước sức tiến công ào ạt của ta, trên các khu vực trọng điểm từ Triệu Phong đến Phú Lộc, các lực lượng kìm kẹp của địch nhanh chóng bị tan rã, bỏ chạy tán loạn gây hoang mang dao động lớn trong hàng ngũ chúng; ở một số nơi lực lượng bảo an, dân vệ chống cự yếu ớt. Có thể nói, lực lượng vũ trang của ta đột nhập vào đâu, ở đấy vỡ từng mảng, ta nhanh chóng làm chủ những vùng nông thôn được chọn làm địa bàn trọng điểm, tiến hành công tác tuyên truyền, tổ chức quần chúng.


Cố nhiên khi đã định thần được, kẻ địch không dễ dàng chịu mất những thôn ấp mà trước đây chúng coi như đã bình định xong, có bộ máy kìm kẹp chặt chẽ. Không dễ dàng chịu để ta lập những căn cứ lõm, nhất là ở đồng bằng Phong Quảng và Phú Vang, Phú Thứ, khi hệ thống phòng ngự ngăn chặn của chúng trên giáp ranh chưa bị phá vỡ hoặc chọc thủng từng mảng. Chúng vội vàng huy động lực lượng phản kích, tìm cách đánh bật ta ra. Ở Quảng Trị, hồi 08 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm 1975 tiểu khu trưởng Quảng Trị mời lữ trưởng và trưởng ban tác chiến lữ 369 thủy quân lục chiến về họp bàn cách đối phó với ta. Sau đó, chúng ra lệnh báo động cấp 1 khắp toàn lực lượng. Chúng dùng lực lượng bảo an thuộc tiểu khu Quảng Trị hợp với những đơn vị cơ động tại chỗ của liên đoàn bảo an 913 và là thủy quân lục chiến 369, phân ra phản kích ở một số nơi trên giáp ranh như điểm cao 118, 122 và ở nông thôn như thôn Đông - Hải Lăng, v.v. (về sau, chúng còn rút tiểu đoàn 120 bảo an đang huấn luyện ở Đống Đa về đứng chân ở Trường Thọ, Quảng Trị sau khi tham gia càn quét ở Phong Điền, Thừa Thiên).


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:58:30 am
Ở bắc Thừa Thiên, trọng điểm phản kích của chúng là hai huyện Phong, Quảng. Ở đấy chúng tập trung 3 tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 6 thuộc lữ 369 thủy quân lục chiến, các tiểu đoàn 120, 112, một đại đội của tiểu đoàn 111 bảo an) cùng thiết đoàn 20 ở Đức Tịch, có trực thăng vũ trang yểm trợ chia ra nhiều mũi, càn từ đông Phò Trạch đến Sịa trong ba ngày liên tiếp. Có những trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở Phong Hòa, Trung Kiều, Cao Bạn. Mặc dù ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bắn cháy xe tăng, song cuối cùng ta không thể trụ nổi, phải rút lui.


Ở nam Thừa Thiên, chúng dùng lực lượng dù, sư đoàn 1 bộ binh, các tiểu đoàn bảo an tại chỗ kết hợp với thiết đoàn 7 đóng ở ấp 5 Hương Thủy phản kích lại ta - cụ thể như sau:

Hai đại đội của tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 54, sư đoàn 1 cùng với 2 đại đội bảo an có xe tăng và máy bay yểm trợ càn quét ở Phú Thứ. Những trận chiến đấu ác liệt xảy ra là ở Trường Lưu, Đức Thái, Viễn Trình. Ở Hương Thủy và tây Phú Vang, chúng dùng tiểu đoàn 8 dù, cùng 2 đại đội bảo an có trực thăng vũ trang và thiết giáp yểm trợ càn quét.


Ở Vĩnh Lộc chúng dùng hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1 dù cùng hai đại đội bảo an tiến công ta, còn dọc đường số 1 chúng dùng những đại đội trinh sát và quân cảnh đồn trú rải dài ra càn quét và ngăn chặn hành lang. Cùng với lực lượng được huy động để phản kích đồng bằng, trên giáp ranh phía nam Huế chúng cho đại đội trinh sát của trung đoàn 54 chuyên việc chỉ điểm cho pháo bắn, gài mìn và phục kích dọc hành lang ta đi về. Không quân địch chẳng những đánh ở giáp ranh mà còn ném bom vào cả những khu đông dân cư ở dưới đồng bằng như ở Phú Thứ để yểm trợ cho bộ binh và ngăn chặn sự phát triển của ta.


Trong lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt ở đường 14, ở Phong Sơn cũng như ở nông thôn đồng bằng từ Triệu Phong đến Phú Lộc, thì Quân khu chấp hành chỉ thị của Bộ, nhanh chóng tập trung trung đoàn 6 và trung đoàn 271 trên hướng đường 12. Sáng 13 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 6 nổ súng đánh chiếm Chúc Mao và tiêu diệt địch ở điểm cao 300, dùng hỏa lực đánh vào Sơn Na, đồi không tên. Bị thêm một áp lực mới trên một hướng tương đối hiểm yếu trong hai ngày 14, 15 tháng 3 năm 1975, địch đã bỏ một khu vực lớn tây đường 12 do trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy chiếm giữ, khu vực ấy gồm các điểm cao 620, 551, 401, Đèo Đông, 502, 506. Trận đánh này không lớn nhưng có giá trị khá quan trọng. Nó gây niềm tin tưởng phấn khởi mới cho ta, làm địch thêm bị động, bắt đầu co cụm lớn hơn. Điều đó đã giúp cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy sớm thấy được khả năng có hạn của địch. Chúng bắt đầu be bờ cố thủ bằng cách co cụm lớn hơn, mong bảo toàn lực lượng trước sức tiến công của ta.


Tuy nhiên, đòn tiến công ở đường 12 cũng như ở Mỏ Tàu và Phong Sơn cũng chưa đủ mạnh để phá vỡ từng mảng lớn phòng ngự của địch, tạo thế yểm trợ đắc lực cho đồng bằng chống càn. (Ngay việc đảm bảo và mở rộng hành lang để tiếp tế vũ khí đạn dược, để đưa tiếp thêm lực lượng, ta vẫn chưa làm tốt).


Sau mấy ngày hoạt động tích cực chiến đấu trong điều kiện gian khổ và căng thẳng, theo tư tưởng chỉ đạo chung và dựa trên thực tế tình hình khách quan, các lực lượng tập trung ở Quảng Trị rồi đến Thừa Thiên lần lượt rút lên giáp ranh chấn chỉnh củng cố, rút kinh nghiệm, sau khi cắm lại lực lượng nhỏ để nắm dân chuẩn bị cho đợt hoạt động mới.


Đây là cuộc rút lui vì không đạt được ý đồ ban đầu chăng? Trên thực tế thì không hẳn thế. Ta đã tiêu diệt hàng ngàn tên địch, tuyên truyền tổ chức quần chúng trên một diện rộng lớn 150 thôn khắp hai tỉnh Trị – Thiên. Ngay sự có mặt của hàng 2.500 tay súng cùng lực lượng cán bộ chính trị giữa vùng đồng bằng, mà trước đây bọn địch coi như những thôn ấp loại A, an toàn 100% đã là sự kiện kinh thiên động dịa. Hệ thống kìm kẹp của địch nơi thì bị tan rã, nơi thì bị phá lỏng, khiến cho kẻ địch không dễ gì siết chặt lại được như cũ. Hơn nữa, ta còn cắm lực lượng lại, (có nơi như Phong Điền hầu như tất cả lực lượng cán bộ chính trị và du kích đều ở lại). Nghĩa là ta còn tiếp tục chiến đấu để thực hiện bằng được ý đồ giành dân, theo tinh thần nghị quyết của Khu ủy. Sau này, khi ta trở lại đồng bằng lần thứ hai, giải phóng hoàn toàn nông thôn, ta càng thấy rõ giá trị của đợt hoạt động đầu tiên. Nó là cuộc biểu dương lực lượng, một đợt diễn tập phát động quần chúng nổi dậy, tiền đề quan trọng để khi chủ lực của ta đã đập vỡ hệ thống ngăn chặn của địch trên giáp ranh thì chẳng có gì ngăn cản được làn sóng nổi dậy của quần chúng nhân dân ở nông thôn đồng bằng.


Tuy nhiên, nhận thức cho ra nhẽ vấn đề này cũng không giản đơn. Tình hình thực tế lúc này, quả thật cũng có mặt phức tạp. Ở một số nơi, trong lúc đánh địch phản kích ta có tổn thất nhất định, nên đã nảy sinh hiện tượng kém tin tưởng. Có đồng chí cán bộ lắc đầu, kêu rằng, đồng bằng quả là "khó xơi". Ngay như tôi cũng vậy, khi được tin lực lượng đồng bằng ta đã rút lên hết, trong lòng không được vui, một chút xót xa, một chút băn khoăn cho công lao khó nhọc vất vả của cán bộ, chiến sĩ. Không hẳn là dao động, nhưng có điều gì đó gợi buồn. Hôm qua, vừa được tin một người bạn, phó chính ủy trung đoàn 4 đã hy sinh ở đồng bằng Phong Quảng khi địch phản kích vào thôn Vĩnh Nẫy, hôm nay lại được tin tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4 bị bom A.37 ở Trường Lưu, Phú Thứ. Bất giác, tôi sờ lên túi áo mình, nơi điếu thuốc lá "Ru-bi" để dành cho Sinh đã bẹp gí, vẫn gói trong giấy. Đành rằng, trong cuộc chiến đấu ác liệt và gian khổ này, hy sinh là chuyện bình thường. Sau một mùa chiến dịch, lại vắng thêm vài khuôn mặt bạn bè. Có thể nào không xót xa trước những mất mát? Nhưng nếu như ở những người kiên nghị, nỗi xót xa của mất mát càng làm cứng rắn dày dạn thêm trái tim, thì ở mình, tôi cảm thấy chưa tới mức đó. Bởi vậy, tôi không thể không lo lắng cho người bạn thân đang chiến đấu quyết liệt ở đồng bằng Phú Thứ. May sao, nỗi lo lắng của tôi đã tiêu tan nhường chỗ cho sự mừng vui khôn xiết khi ngày hôm sau tôi gặp lại anh Sinh trở về an toàn. Trông anh gầy rạc đi vì những đêm thiếu ngủ. Nhưng chỉ nhìn đôi mắt lanh lợi và vui vẻ của anh, tôi đã thấy yên tâm. Anh nắn nắn điếu thuốc đã bẹp gí của tôi tặng lại cho tròn, rồi thong thả châm lửa hút, mặc dù anh ném cả bao "Cáp - tăng" mới nguyên ra, để tôi đốt tha hồ. Trong câu chuyện anh kể lại có sự hồi hộp lo âu lúc đột nhập qua các tuyến phòng thủ của địch, có nỗi mừng vui khi bắt liên lạc được với cán bộ cơ sở và khi nổ súng tiến công các phân chi khu quân sự của địch. Anh nhắc đến Dưỡng Mông, Viễn Trình, Thanh Lam Trung, nơi chúng tôi đã sống với nhau ngày trước, nơi có những người quen mà vừa rồi chỉ mình anh được may mắn gặp lại.

- Cậu có nhớ bà mẹ...

Anh Sinh vẫn nhắc đến tên người này, người kia bằng câu hỏi như thế. Vâng, tôi nhớ. Làm sao có thể quên được những bà mẹ, những người chị, người em đã từng nuôi chúng tôi dưới hầm bí mật, đã từng chịu tra tấn tù đày vì bảo vệ chúng tôi từng nhường cơm sẻ áo và cả chia bữa cho chúng tôi. Làm sao có thể quên được những ngày giải phóng xưa kia, chúng tôi sống trong dân, cùng bà con làm ruộng, cùng bà con chống giặc về càn quét...


Anh Sinh bảo, những người quen, ai cũng hỏi tôi còn sống không, và gửi lời thăm hỏi. Tình cảm của bà con vẫn mặn nồng như xưa, còn hơn xưa vì họ đã sẵn một lòng tin, trước sau với Cách mạng cũng sẽ thắng. Chỉ có lâu hay mau thôi. Điều bà con băn khoăn là e ngại ta chưa đủ mạnh để giải phóng tới đâu là giữ vững được đó. Họ đã quá ê chề với cái cảnh sống ngột ngạt dưới bàn tay tàn bạo của địch. Tuy nhiên, đất thì không thể bỏ đi được, họ phải bám vào đất mà sống, đất đã từng đẫm máu và sẽ còn đẫm máu nữa - nếu thằng địch trở lại bình định được. "Chuyến ni mấy eng về rồi có định ở lại không?". Đấy là câu hỏi phổ biển mà chính anh Sinh cũng khó trả lời. "Ở lại được hay không, còn tùy nơi bà con...". Câu trả lời của anh thật khôn ngoan và suy cho cùng cũng là chính xác.


Sau buổi chuyện trò với anh Sinh, tự nhiên lòng tôi ấm áp hẳn lại. Phải chăng anh đã chuyển sang cho tôi ngọn lửa nhiệt tình cách mạng của bà con chú bác dưới đồng bằng, mà chính anh đã trực tiếp nhận xét và cảm thụ. Chính anh là người phải tạm biệt bà con, không có điều gì ân hận để cặp mắt phải làng tránh hoặc cúi xuống, anh vẫn vui vẻ hứa với bà con nhất định bộ đội giải phóng sẽ trở lại, vào một ngày không xa.


Đôi mắt anh thật vui vẻ khiến tôi vui lây, mặc dù trong câu chuyện, anh đã kể những giờ phút ác liệt trong chống càn, những lúc gian truân phải cõng thương binh vượt sông, vượt qua vành đai ngăn chặn của địch, những lúc nằm nhịn đói trên đồi Dích Dương, những khi nằm bẹp gí hàng tiếng đồng hồ dưới trận mưa pháo của địch. Tôi tự trách mình còn đôi chút ủy mị, chưa nhìn thấy hết cái sức mạnh tiềm tàng của bà con chú bác dưới xuôi. Nó là ngọn lửa nằm dưới tro, chỉ cần ngọn gió đủ mạnh để thổi bùng lên thành đám cháy.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 06:58:59 am
Cuộc gặp gỡ với bạn cũ đã để lại cho tôi một cảm giác thanh thản nhẹ nhàng. Có lẽ vì thế, nên tôi càng thoải mái khi tiếp thu sự nhận định đánh giá tình hình của Thường vụ khu ủy và Thường vụ quân khu ủy. Bấy giờ, trước những mặt phức tạp của tình hình, các đồng chí lãnh đạo đã kịp thời hội ý với nhau và khẳng định rằng: mở đầu chiến dịch, ta thắng lợi lớn, địch thất bại nặng, nhất là trên mặt trận đồng bằng. Đây là thắng lợi bước đầu có ý nghĩa quan trọng, nó làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, đang tạo ra những yếu tố mới để ta có thể tiến lên giành thắng lợi lớn hơn. Còn nơi nào có khó khăn, chủ yếu là do không quán triệt đúng đắn tư tưởng chỉ đạo chung. Tình hình đang phát triển thuận lợi, địch sẽ có nhiều biến động lớn, nhất là sau thất bại Buôn Mê Thuột. Tình hình đó sẽ tạo cho ta những triển vọng mới để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo của chiến dịch.


Đi đôi với nhận định trên, Thường vụ khu ủy và Quân khu ủy cũng đã có những chỉ thị bổ sung cần thiết cho các cấp bộ, phát huy thắng lợi, uốn nắn những lệch lạc thiếu sót, để tích cực chuẩn bị cho đợt hoạt động mới.

Từ khi nổ súng chiến dịch, Bộ tư lệnh quân khu và Bộ tư lệnh quân đoàn 2 thường xuyên báo cáo lên Bộ Tổng tư lệnh và cũng thường xuyên nhận được những chỉ thị tỉ mỉ cần thiết. Ngày 12 tháng 3 năm 1975, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung trơng chỉ thị cho Thường vụ khu ủy và Quân khu ủy Trị Thiên như sau: Từ ngày 4 tháng 3 năm 1975 - ngày mở đầu cuộc tiến công mới của ta đến nay, trên khắp các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Trị Thiên, Nam Bộ đều chuyển biến tốt và đang giành thắng lợi. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp ngày 11 tháng 3 đã nhận định kế hoạch chiến lược, chiến dịch của ta là chính xác. Mặc dù thời gian gấp rút, nhưng các chiến trường đều chuẩn bị tương đối tốt. Ngay những ngày đầu đã giành thắng lợi lớn. Tình hình ở nam Tây Nguyên, Khu 5 chứng tỏ ta có khả năng giành thắng lợi với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Tinh thần địch đang sa sút. Trước tình hình đó, ngay trong đợt hoạt động này và tiếp theo, cần quán triệt tinh thần khẩn trương, mạnh bạo trong điều kiện thuận lợi mới để giành thắng lợi to lớn hơn. Coi trọng tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong khi chúng rút chạy, tăng viện. Cần chú trọng việc tiếp quản, chính sách vùng giải phỏng, công tác binh vận ở những vùng thị trấn nông thôn mới giải phóng.


Hiện nay địch đang cố gắng lớn, nhưng việc điều động lực lượng cơ động của chúng cũng có hạn. Phải nhanh chóng tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực địch, nhất là lúc chúng rút chạy khỏi thị xã, cứ điểm hoặc tăng viện. Cần có kế hoạch phát triển theo những hướng đã dự kiến.


Tất cả những mệnh lệnh chỉ thị, những điện của Bộ, phòng tác chiến chúng tôi có nhiệm vụ lưu trữ. Thành ra chúng tôi có cái may mắn là sớm biết tình hình chung toàn chiến trường miền Nam.

Trong những ngày ở chiến trường Trị Thiên đang được coi như diễn biến gay gắt và phức tạp, thì Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã sớm vạch ra cho chúng tôi thấy triển vọng sáng sủa của tình hình chung, đã dự kiến những khả năng mới, những bước phát triển mới. Điều đó đã củng cố thêm niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ, tạo nên một luồng sinh khi mới, ai cũng cảm thấy háo hức muốn hoạt động, muốn chiến đấu. Đám cán bộ và chiến sĩ trẻ còn có tâm trạng cay cú, nhất là khi nghe tin chiến thắng ở khắp nơi về dồn dập. Chao ôi, nam Tây Nguyên tháng lợi lớn quá! Ở sở chỉ huy lúc nào cũng xôn xao về những tin mới. Quân ta đã chiếm quận lỵ Thuần Mãn, cắt đường 14 và đang phát triển xuống Buôn Hồ. À, vậy là cả hai đầu đường 14, thằng địch đang bị nện những chùy nên thân. Trị Thiên ta "uýnh" một đầu, Tây Nguyên "uýnh" nốt đầu kia. Ma coi bộ người anh em Tây Nguyên làm ăn khấm khá quá ta! Lại chiếm thêm quận lỵ Đức Lập rồi! Vẫn trên đường 14! Hoan hô, thắng to lắm: Buôn Me Thuột giải phóng, quân ta làm lẹ nốt cái Bản Đôn phía tây và cái Buôn Hồ phía bắc nữa. Hoan hô người anh em Tây Nguyên! Đâu? Bản đồ Tây Nguyên đâu, treo lên! Thế nào? Thằng BBC đưa tin chưa, tin đài phương Tây nói thế nào? Chắc chắn có thông báo chính thức của Bộ rồi chứ? Sư nào đánh Buôn Mê Thuột đấy? 320 hay sư 10? Không, hình như thằng 316 mới vào! A, chuyến này thằng trung đoàn 95B của 325 được tham gia đánh trận then chốt rồi. Tha hồ mà vểnh râu cáo nhé! Quân ta ở nhà, nếu làm ăn lèm nhèm thì tha gì mà nó không khinh cho! Cố lên anh em ơi!


Những ngày đó, ở ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của sở chỉ huy quân khu lúc nào cũng nghe tiếng xôn xao bình luận, bàn tán về những tin tức chiến thắng mới.

Trong ngôi nhà hầm của Bộ tư lệnh, các anh Lê Tự Đồng, Hồ Tú Nam không còn cái tuổi sôi nổi hay bốc như đám cán bộ trẻ, nhưng cũng tỏ ra rất vui. Cái vui xen lẫn cái bận rộn lo lắng. Dường như các anh luôn luôn theo dõi từng đường đi nước bước của kẻ địch, bắt nắm tình hình khắp chiến trường và cụ thể của các đơn vị thuộc quyền, lắng nghe một cách nhạy bén đề hiểu rõ ý đồ của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Dĩ nhiên, là các anh rất ít ngủ, nhiều đêm khuya lắm, chúng tôi vẫn thấy bóng các anh ngồi cặm cụi viết, hoặc đi đi lại lại cùng những ý nghĩ đang nung nấu trong đầu.


Rất thường xuyên, các anh trực tiếp gọi dây nói cho anh Nguyễn Hữu An, anh Lê Văn Linh bên quân đoàn. Những cuộc đàm thoại quan trọng ấy chúng tôi không được biết, nhưng chắc chắn là những điều sống chết đối với chiến trường Trị Thiên đang nóng bỏng.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:10:30 am
VI. Sấm tháng ba trên đất Quảng Trị

Xin nói riêng một chút về Quảng Trị, mảnh đất đầy tự hào về những chiến công vang dội mấy chục năm qua. Mảnh đất của những trận chiến đấu ác liệt, đẫm máu mà sự tàn phá kinh khủng chỉ có thể so sánh được với bản thân nó, ít nhất là ở Việt Nam ta. Điều muốn nói không phải tất cả những gì đã xảy ra trên mảnh đất này, mà chỉ những điều có liên quan tới ngày đại thắng của quân dân Quảng Trị.


Thực ra, tỉnh Quảng Trị đã được giải phóng hầu hết hồi chiến dịch 1972, vùng tạm chiếm chỉ còn 15% đất đai với toàn bộ huyện Hải Lăng và 5 xã thuộc huyện Triệu Phong. Nhưng đây là vùng đồng bằng tương đối trù phú của Quảng Trị, nên số dân khá đông: gần 20 vạn.


Với mảnh đất chỉ hơn một huyện, mà kẻ địch đã tập trung ở đây một lực lượng khá lớn. Cụ thể như sau:

- 2 lữ thủy quân lục chiến (lữ 258, lữ 369);

- 4 tiểu đoàn pháo;

- 1 đại đội pháo 175 ly;

- 2 đại đội thám báo biệt kích;

- 1 thiết đoàn và 1 chi đoàn M.48;

- 7 tiểu đoàn địa phương quân (105, 110, 119, 120, 121, 122, 126);

- 1 đại đội cảnh sát gồm 8 trung đội.

Về phía ta, sau khi quân đoàn 2 rút đi để đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu, các trung đoàn chủ lực của quân khu cũng hoạt động ở các hướng phối hợp trong Thừa Thiên, nên nhiệm vụ chiến đấu trên đất Quảng Tri hoàn toàn giao cho tỉnh đội.


Lực lượng địa phương được sử dụng trong quá trình chiến dịch gồm có:

- 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh (8, 10, 3, 14, 812);

- Đại đội 34 pháo DKB, đại đội 18, đại đội 23. Bộ đội địa phương huyện: Toàn bộ lực lượng huyện đội Hải Lăng, đại đội 15 Cam Lộ, đại đội 4 Gio Linh.

Dân quân du kích được huy động tham gia chiến dịch phần lớn là của Hải Lăng, ngoài ra là của các huyện Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh, Hướng Hóa, thị đội Quảng Trị và Đông Hà; tất cả gồm 545 đồng chí. Khỏi phải so sánh ti mỉ, qua số liệu trên, ta cũng biết, nếu chỉ tính đầu người cầm súng, kẻ địch cũng hơn hẳn ta, ít nhất là gấp 5 lần.


Trong đợt đầu của chiến dịch, cũng như tình hình chung toàn chiến trường Trị Thiên trình bày ở phần trên, lực lượng của Quảng Trị đã hoạt động tích cực và có hiệu quả. Ở giáp ranh, chủ yếu là phía tây Hải Lăng, bộ đội địa phương và du kích tập kích một số điểm cao và chốt của địch như 122, 90, 118, dùng pháo và cối bắn chế áp các trận địa pháo địch ở Dốc Bầu, Tân Điền, 101, v.v. Ngoài ra, còn tổ chức vây ép, phóng bom mìn, bắn tỉa ở một loạt điểm cao khác, nhất là quanh điểm cao 235, 367, động Ông Do. Trong lúc đó, các đội vũ trang công tác cùng một số đội đặc công, phân đội bộ đội địa phương lọt sâu vào lòng địch, đánh các phân chi khu, tuyên truyền vũ trang, phát động quần chúng. Nổi bật hơn hết là trận tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh vào đêm 10 tháng 3 năm 1975 đã gây tiếng vang khá lớn ở đồng bằng.


Cho đến ngày 15 tháng 3 năm 1975, trước sức ép phản kích của địch ở đồng bằng, ta chỉ cắm lại một ít lực lượng, còn nữa thì rút lên hậu cứ củng cố. Tuy nhiên, hoạt động của ta ở tuyến giáp ranh vẫn duy trì đều đặn bằng những đòn tiến công, vây ép uy hiếp địch, tuy nhỏ nhưng dai dẳng, liên tục, khiến địch phải bỏ hàng loạt chốt nhỏ, co cụm lại thành những chốt lớn. Qua một tuần lễ chiến đấu, ta thấy địch điều động lực lượng đối phó gây nên tình trạng xáo trộn, lúng túng. Hiện tượng rối loạn của địch thể hiện rõ trên tuyến phòng thủ. Nhưng ở đồng bằng, địch đã cố gắng dồn lực lượng đề phòng quần chúng nổi dậy.


Bấy giờ, lữ 369 thủy quân lục chiến đã được điều vào Quảng Nam thay cho lữ dù 3 về Sài Gòn. Bộ tư lệnh nặng sư đoàn thủy quân lục chiến đã di chuyển, chỉ còn lại Bộ tư lệnh nhẹ do Nguyễn Thành Trí, đại tá phó tư lệnh phụ trách đóng ở Hướng Điền có nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng còn lại từ bắc An Lỗ trở ra, gồm cả Quảng Trị.


16 giờ ngày 16 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 77 thuộc liên đoàn biệt động 14 cùng 3 phân đội và ban chỉ huy liên đoàn, ra thay thế thủy quân lục chiến, đến Trường Thọ. Ngày hôm đó, địch huy động tiểu đoàn 105 và tiểu đoàn 110 hành quân thăm dò phát hiện lực lượng ta trên hai hướng sông Nhúng và Mỹ Chánh.


Sáng ngày 17 tháng 3 năm 1975 có một cuộc họp bàn việc bố trí lực lượng và kế hoạch đối phó với ta. Thành phần tham dự có tư lệnh thủy quân lục chiến (nhẹ), tiểu khu trưởng Quảng Trị, liên đoàn trưởng bảo an 913, liên đoàn trưởng biệt động quân 14.


Chiều 17 tháng 3 năm 1975 lữ 258 thủy quân lục chiến bàn giao địa bàn hoạt động lại cho tiểu khu Quảng Trị, rồi cùng đại đội quân y, đại đội công binh và tiểu đoàn 1 pháo thủy quân lục chiến di chuyển vào đèo Phú Gia (bắc Hải Vân) thay thế lữ dù 2, đặt thuộc quyền sử dụng của sư đoàn 1 bộ binh.


Lực lượng của địch ở Quảng Trị được điều chỉnh lại như sau:

- Tiểu đoàn 77 liên đoàn biệt động 14 về thay tiểu đoàn 121 ở tuyến tiếp xúc Tích Tường - Như Lệ.

- Tiểu đoàn 77 liên đoàn biệt động 14 về thay tiểu đoàn 121 ở tuyến tiếp xúc Tích Tường - Như Lệ.

- Tiểu đoàn 121 cộng thêm đại đội 305 và đại đội 202 về tuyến tiếp xúc Long Quang - Thanh Hội.

- Tiểu đoàn 120 tăng phái hai đại đội cho liên đoàn bảo an 913 để bảo vệ giao thông, còn hai đại đội nữa thì về Tân Điền, Mỹ Chánh.

- Tiểu đoàn 122 về đóng ở khu vực tiểu đoàn 105.

Xét về lực lượng địch ở Quảng Trị từ 8 tháng 3 đến 18 tháng 3 năm 1975 theo tài liệu của phòng 2 Bộ tham mưu chúng tôi cung cấp là giảm hẳn 5 tiểu đoàn. Để tham khảo thêm, xin trích ra đây một đoạn trong lời khai của Nguyễn Thành Trí.


"... Lực lượng trong khu vực trách nhiệm hành quân của Bộ tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến từ An Lỗ đến Quảng Trị coi như bị giảm nhiều về quân số, chiến xa, pháo. Cụ thể, Bộ tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến được tăng phái liên đoàn 14 biệt động quân với quân số 700 mà phải rút mất đi 2 lữ thủy quân lục chiến (369 và 258) với quân số gần 5.000. Về pháo mất 2 tiểu đoàn, thiết giáp mất 1 chi đoàn M.48 (chỉ còn lại 1 chi đoàn M.48).


Khoảng đầu tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 cũng đã phổ biến một kế hoạch hành quân mới: tuyến đỏ bị thủng thì trì hoãn chiến về tuyến Bắc Bình (An Lỗ) cố thủ tại đấy. Khi đó, lực lượng chiến xa và thiết kỵ thuộc lữ đoàn 1 kỵ binh sẽ xuất phái khỏi Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến để làm trù bị cho quân đoàn 1 tiền phương...".


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:11:31 am
Ngày 17 tháng 3 năm 1975, Đảng ủy và Ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Trị nhận định tình hình và đề ra quyết tâm mới cho những hoạt động bước 2. Nội dung của quyết tâm mới vẫn năm trong kế hoạch cơ bản của chiến dịch đã được đề ra ban đầu. Nghĩa là tiếp tục động viên lực lượng tích cực tiến công bằng quân sự, chính trị, binh vận một cách rộng rãi và thường xuyên.

- Ở đồng bằng, cần tích cực diệt ác ôn, phá rã phòng vệ dân sự đưa các hoạt động lên đồng đều theo đúng phương châm "hai chân, ba mũi". Lực lượng vũ trang phân tán đánh bọn kìm kẹp, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh, chống bốc di dân. Tạo điều kiện đưa dân về làng cũ hoặc ra vùng giải phóng (phía bắc).

- Ở trên tuyến tiếp xúc và giáp ranh, cần tích cực tiến công quân sự, chính trị, binh vận. Dùng lực lượng đánh phủ đầu tiểu đoàn 77 thuộc liên đoàn biệt động quân 14 khi chúng đang còn chân ướt chân ráo. Tập trung lực lượng diệt một số chốt quan trọng, đồng thời dùng lực lượng cơ động đánh giữ cho được hành lang thông suốt.


Để thực hiện quyết tâm trên, Ban chỉ huy tỉnh đội có kế hoạch cụ thể sử dụng từng đơn vị thuộc quyền, quy định từng điểm tiến công từng vùng hoạt động và những yêu cầu cụ thể phải đạt được trong thời gian nhất định.


Nhưng cũng trong ngày 17 tháng 3 năm 1975, tỉnh đội Quảng Trị nhận được những tin tức mới về địch. Qua đài quan sát của ta kết hợp với tin nội bộ địch tiết lộ, thì địch đã dùng một số xe GMC chở lính từ điểm cao 367 về khu vực Tân Điền, Dốc Dâu, Trần Văn Lý. Và ở khu vực 235, động Ông Do, địch dùng chất nổ phá công sự, đốt nhà. Chúng bắn pháo hiệu nhiều và cho lực lượng nống ra chung quanh. Có hiện tượng chúng nghi binh ta để lui quân một số nơi. Ở đồng bằng, một số gia đình công chức, sĩ quan, binh lính và dân bắt đầu di tản. Đài quan sát phát hiện dân tập trung đông ở bắc Mỹ Chánh và xe cộ chạy nhiều. Tin còn cho biết: tối 17 tháng 3 ở cổ thành và tiểu khu Quảng Trị, hệ thống loa truyền thanh ngừng hoạt động, đèn điện giảm đi nhiều.


Giữa lúc ấy, tỉnh đội Quảng Trị nhận được điện của anh Lê Tự Đồng tư lệnh quân khu, hỏi: "địch có triệu chứng bốc dân phải không? Cử người xuống nắm!".

Chẳng những đấy là mệnh lệnh thông thường mà còn là sự gợi ý về tình hình mới, về thời cơ xuất hiện.

Ở Bộ tư lệnh quân khu cũng như ở Bộ tư lệnh quân đoàn 2, những tin tức về sự điều chỉnh lực lượng mới của địch ở bắc An Lỗ và bắc Hải Vân đều được theo dõi sát sao. Cùng với tin chiến thắng dồn dập ở Tây Nguyên và những triệu chứng địch di tản dân ở Quảng Trị, sự điều chỉnh lực lượng của địch đang tạo ra một tâm trạng lúng túng, bối rối trong hàng ngũ chúng, mở ra những thuận lợi mới cho chúng ta.


Ngày 17 tháng 3, căn cứ tình hình trên, Thường vụ quân khu ủy và Thường vụ đảng ủy mặt trận nhận định: do tác động của thất bại ở Tây Nguyên và bị uy hiếp mạnh ở Trị Thiên, tại đây chúng đang dao động mạnh; thời cơ mới thuận lợi đã xuất hiện. Cần khẩn trương và mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào phòng tuyến của chúng kết hợp với thọc sâu, chia cắt, phá thế co cụm của địch, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây và cô lập Huế, cụ thể là:

- Kiên quyết táo bạo dùng toàn bộ lực lượng của Quảng Trị đang phòng thủ chuyển sang tiến công, tập trung trên hai hướng: hướng đông (Thanh Hội) theo trục đường 68 tiến vào và hướng tây (Tích Tường - Như Lệ) theo trục đường 1 tiến vào. Tung toàn bộ lực lượng đang củng cố, chấn chỉnh ở giáp ranh - kể cả trung đoàn 271 ở nam Thừa Thiên - về đồng bằng đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy.

- Trên hướng bắc, đưa trung đoàn 4 ra cắt địch ở An Lỗ, trên hướng nam quyết định bỏ khu vực 303 - 224 - đường 14 chuyển sang tiến công cắt giao thông ở khu vực Lương Điền - Đá Bạc (Phú Lộc).

- Thời gian: chậm nhất là ngày 19 tháng 3 năm 1975 phải nổ súng. Liền sau đó trong ngày 18 tháng 3 năm 1975 Bộ tư lệnh quân khu và Bộ tư lệnh quân đoàn 2 đều nhận được hai chỉ thị liên tiếp của Bộ.

Chỉ thị thứ nhất: "Bộ gửi anh Đồng, anh Nam B4, anh An, anh Linh B5.

Địch rút khỏi Công Tum, Plây Cu. Yêu cầu phải táo bạo hành động khẩn trương.

Quân khu Trị Thiên gấp rút đưa lực lượng xuống và đẩy mạnh hoạt động ở vùng sau đồng bằng. Không chỉ đưa các tiểu đoàn mà đưa cả trung đoàn xuống phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kich và các đội công tác đánh chiếm và làm chủ vùng sau, diệt ác phá kìm.


Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên được quyền sử dụng trung đoàn 46, nhưng phải bảo đảm đánh chắc thắng trận đầu. Kế hoạch cụ thể sử dụng trung đoàn 46 phải được Bộ duyệt.

Quân đoàn 2 phải nhanh chóng tiêu diệt quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt đường 1. Tập trung sử dụng cả 2 sư đoàn (324 và 325). Phải gấp rút chuẩn bị hỏa lực đánh vào Đà Nẵng.

Ba ngày nữa sẽ có một thủ trưởng của Bộ vào đôn đốc thực hiện kế hoạch.
Lê Trọng Tấn"


Chỉ thị thứ hai:

"Bộ gửi quân khu Trị Thiên, quân đoàn 2.

Ở Đà Nẵng, sư đoàn dù rút về Sài Gòn và sẽ được thay thế bằng sư đoàn thủy quân lục chiến.

Có khả năng địch bỏ từ bắc Huế đến sông Thạch Hãn. Việc điều chỉnh bổ trí năm trong kế hoạch co cụm lớn về chiến lược trên toàn miền Nam.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:12:20 am
Trước tình hình đang rất thuận lợi, các đồng chí cần chỉ huy các đơn vị thuộc quyền hoạt động một cách táo bạo, khẩn trương, không cho địch rút lui bỏ vùng bắc Huế một cách an toàn, mang theo cả bọn phản động về co cụm ở Đà Nẵng, sau này sẽ khó khăn cho ta. Phải nhanh chóng đánh xuống đường 1, cắt đường, đánh sân bay, kho tàng ở Phú Bài. Những chỉ thị này khi được giao cho chúng tôi ghi chép lưu trữ, đã trở thành niềm vui, nguồn cổ vũ và là đề tài đề anh em cán bộ trong phòng tác chiến chúng tôi xôn xao bàn luận. Theo nhận thức chúng tôi, thì hai chỉ thị kia toát lên tinh thần cơ bản là thời cơ đã xuất hiện, cần táo bạo khẩn trương tiến công. Nó có tầm soi sáng thêm, xác định mạnh mẽ thêm những ý nghĩ đã trở thành quyết tâm của các cấp lãnh đạo chỉ huy chiến dịch. Và chưa bao giờ chúng tôi lại nhìn rõ cái nhạy cảm, cái nhất trí giữa trên và dưới như vậy. Thôi thì anh em chúng tôi tha hồ mà tán dương Bộ tài giỏi, có tầm có cỡ. Các đồng chí cấp trên quả là nhìn xa..., đã với tay tới Đà Nẵng, nghĩa là coi như Huế có thể xong. Anh em còn nắc nỏm khen sự sáng suốt của Quân ủy Trung ương: nghe đâu anh Văn trực tiếp chỉ thị cho các quân khu, quân đoàn là phải có hai kế hoạch, kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ. Và thế đấy, bây giờ xem như thời cơ đã xuất hiện, các cấp cũng không có điều gì bất ngờ lúng túng. Sau này khi có dịp ra công tác ở Cục tác chiến, Bộ Tổng tham mưu, tôi càng hiểu thêm những gì đã xảy ra ở Trung ương chung quanh vấn đề chớp lấy thời cơ chuyển sang tổng tiến công, để bổ sung thêm cho nhận thức còn hạn chế của mình. Cố nhiên, chỉ huy chỉ đạo tác chiến trên chiến trường toàn miền Nam là thuộc trách nhiệm Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh. Nhưng do đặc điểm của chiến dịch này có liên quan đến vận mệnh cả dân tộc, nên Bộ Chính trị thực sự là Bộ tham mưu tối cao. Theo các anh ở Cục tác chiến kể lại thì, từ bắt đầu chiến dịch cho đến ngày đại thắng, hầu như ngày nào giao ban ở Bộ Tổng tham mưu cũng đều có đủ mặt Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.


Ngay từ cuộc họp Bộ Chính trị ngày 11 tháng 3 năm 1975 anh Ba Duẩn đã gợi ý: "Các đồng chí thử nghĩ xem đã tổng tiến công được chưa?", cũng chưa ai dám khẳng định là đã đến lúc chuyển từ chiến dịch xuân 1975 với những yêu cầu có mức độ sang một cuộc tổng tiến công giành đại thắng. Bấy giờ ta mới giải phóng Buôn Mê Thuột, chưa lấy được Buôn Hồ, Phước An – và tất nhiên là chưa có Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Sự gợi ý của anh Ba là sự gợi ý về theo dõi thời cơ. Sau đó là những ngày làm việc căng thẳng của Bộ Tổng tham mưu, nhất là Cục tác chiến, Cục 2. Chẳng những các đồng chí phụ trách các Phòng, các Cục, các đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn mà anh Duẩn, anh Thọ, anh Văn, đều thường xuyên theo dõi tác chiến, nghe ngóng tình hình địch.


Đêm ngày 16 tháng 3 năm 1975, một số đồng chí trợ lý Cục tác chiến đang ngủ ở gia đình được lệnh gọi đến cơ quan gấp. Anh Lê Trọng Tấn tổng tham mưu phó, anh Lê Hữu Đức quyền cục trưởng tác chiến đã có mặt ở phòng trực ban. Qua nguồn tin kỹ thuật, ta biết địch đang rút khỏi Plây Cu và Công Tum. Thế là thời cơ đã xuất hiện. Và kế hoạch tổng tiến công cho toàn miền Nam được gấp rút hoàn thành ở Bộ Tổng tham mưu. Cũng ngay trong đêm ấy, anh Lê Trọng Tấn đã gọi dây nói trực tiếp cho anh Lê Tự Đồng, tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Trong cuộc đàm thoại đường dài khá vất vả ấy, anh Lê Trọng Tấn đã thông báo tình hình mới cho anh Lê Tự Đồng biết và gợi ý với anh Đồng về những dự tính chuyển từ kế hoạch cơ bản sang kế hoạch thời cơ cho chiến trường Trị Thiên.    Sáng ngày 17 tháng 3 năm 1975 anh Tấn làm việc với anh Văn, sau đó cùng anh Văn đến gặp anh Ba Duẩn.


Sáng 18 tháng 3 năm 1975 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp. Cuộc họp quan trọng này đã nhất trí chớp lấy thời cơ ta thắng lớn ở Tây Nguyên, và khắp tất cả chiến trường, địch đang hết sức bị động lúng túng, phải nhanh chóng chuyển sang tổng tiến công giải phóng toàn miền Nam. Hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn được đặt ra từ đấy. Và muốn giải phóng Sài Gòn, trước tiên phải giải phóng Huế - Đà Nẵng. Sau khi kết luận cuộc họp, anh Ba Duẩn còn chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu: "Muốn đánh Sài Gòn trước tiên phải tiêu diệt cho được quân đoàn 1 ngụy - nếu để nó chạy mất là Bộ Tổng tham mưu phải chịu trách nhiệm".


Quả thật, nhận thức được thời cơ và quyết tâm chớp lấy thời cơ chuyển sang tổng tiến công là một công trình tập thể của những bộ óc sáng suốt nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu và của cả các Bộ tư lệnh chiến dịch. Đó là điều hết sức kỳ diệu.


Tất cả những sự kiện nói trên, lúc ở chiến trường chúng tôi làm sao biết được. Chỉ biết bấy giờ là một không khí sôi nổi bao trùm lên sở chỉ huy quân khu. Chúng tôi xoay trần ra thảo điện, viết mệnh lệnh chỉ thị, gọi dây nói và còn chia nhau đi truyền đạt. Phòng tác chiến phải đặc biệt lo lắng kế hoạch cho trung đoàn 271 về đồng bằng và trung đoàn 46 về làm đội dự bị cho trung đoàn 4 tham gia tiến công hướng bắc An Lỗ.


Ở bên quân đoàn, bấy giờ không khí khẩn trương chuẩn bị cho sư đoàn 325 vào chiến đấu. Quả là còn trăm ngàn khó khăn. Trung đoàn 18, đơn vị đảm nhiệm đánh hướng chủ yếu của sư đoàn cho đến chiều 11 tháng 3 năm 1975 mới hành quân về tới nơi tập kết tạm gọi là đầy đủ. Đường sá kéo pháo chưa xong. Gạo, đạn chưa đầy đủ. Quân đoàn phải huy động cả lữ 219 công binh, hai tiểu đoàn cao xạ của sư đoàn 673 rồi pháo binh, bộ binh đều xúm vào, làm sao để đưa được pháo vào trận địa. Quân đoàn lúc đầu cử anh Hoàng Đan xuống đôn đốc 325, bây giờ lại thêm cả anh Nguyễn Hữu An, anh Nguyễn Công Trang cùng xuống trực tiếp chỉ đạo. Chỉ mỗi mình anh Lê Văn Linh ở sở chỉ huy cơ bản. Tinh thần là làm sao chuẩn bị cho 325 vào chiến đấu được sớm, càng sớm càng tốt, cố nhiên là phải trên cơ sở đảm bảo thắng lợi. Theo kế hoạch cơ bản, ngày 25 tháng 3 năm 1975 sư đoàn 325 mới bước vào chiến đấu. Nhưng trước tình thế mới, chấp hành lệnh của Bộ và để hỗ trợ cho cánh 324 đang giành đi giật lại với địch phía núi Bông núi Nghệ, quân đoàn yêu cầu sư đoàn 325 phải nổ súng ngày 20 tháng 3 năm 1975. Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn 325, xét tình hình thực tế của đơn vị chưa chuẩn bị kịp, đã xin Quân đoàn cho lùi lại hai ngày. Nhưng với tinh thần khẩn trương của tình hình mới, Quân đoàn kiên quyết chỉ cho lùi lại một ngày. Bằng mọi giá phải mở đợt tiến công mới vào khu vực Kim Sắc, 499, 560,... vào sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975. Sư đoàn 325 tuy phải vắt chân lên cổ mà chạy mới chuẩn bị kịp, vẫn đã chấp hành mệnh lệnh với một quyết tâm cao, sẵn sàng giáng cho địch những đòn sấm sét. Và ở sư đoàn 324 có đồng chỉ Ái tham mưu trưởng quân đoàn xuống trực tiếp đôn đốc đang dấy lên khí thế vừa chiến đấu giành giật với địch, vừa khẩn trương củng cố lực lượng bước vào chiến đấu đợt 2. Riêng đối với trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 324 vừa mới ở Quảng Đà ra, đúng là đang chân ướt chân ráo, nên sự khẩn trương chuẩn bị như cách nói của bộ đội ta là phải bằng tốc độ tên lửa. Tuy nhiên, Đảng ủy và Bộ, tư lệnh quân đoàn 2 đã có thể vững tâm: khi thế chuẩn bị sôi nổi, khẩn trương của các đơn vị cùng với quyết tâm cao của các cấp bộ đảng, các cán bộ cấp dưới không thể nào không hứa hẹn thắng lợi sắp tới.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:13:15 am
Ở Bộ tư lệnh quân khu, mệnh lệnh tiến công được truyền đạt nhanh chóng và kế hoạch được triển khai hết sức khẩn trương. Công tác chuẩn bị ở Quảng Trị và bắc Thừa Thiên được hoàn thành sớm nhất.

Tại sở chỉ huy cơ bản của tỉnh đội Quảng Trị có một cuộc hội ý chớp nhoáng trong Bộ chỉ huy vào lúc 23 giờ ngày 17 tháng 3 năm 1975. Cũng không phải bàn cãi gì nhiều. Tình hình đã rõ ràng: địch đang chuẩn bị tháo chạy, phải huy động toàn bộ lực lượng khẩn trương, táo bạo tiến công. Xử trí của Bộ chỉ huy như sau:

- Đồng chí Hiền chính trị viên tỉnh đội trực tiếp chỉ huy một mũi gồm có tiểu đoàn 812 (thiếu đại đội 1), tiểu đoàn 10 và đại đội 10 đánh thẳng xuống hướng Mỹ Chánh.

- Đồng chí Vi tỉnh đội trưởng, có đồng chí trưởng ban tác chiến tỉnh đội giúp sức nắm tiểu đoàn 8 bộ binh thọc thẳng xuống Trường Thọ, Bến Đá, cắt đường 1.

Đại đội 1 thuộc tiểu đoàn 812 cùng với đại đội 2 Hải Lăng và các đội vũ trang công tác Hải Lăng đánh chiếm tiểu khu Quảng Trị.

- Trên tuyến tiếp xúc phía đông, tiểu đoàn 3 bộ binh có đại đội 7 xe tăng và 1 đại đội pháo 57 của Quảng Trị yểm trợ vượt tuyến Long Quang - Thanh Hội đánh thẳng theo đường 68. Mũi này có đồng chí Thả tỉnh đội phó đi cùng.

- Tiểu đoàn 14 bộ binh trên tuyến tiếp xúc phía tây vượt qua Tích Tường - Như Lệ đánh vào Phước Môn, La Vang, Hải Thượng.

- Lực lượng du kích vây ép địch phía tây có trách nhiệm vừa bám đánh địch vừa chuyển đạn, gạo, chuyển thương binh cho các mũi, các hướng.

Mệnh lệnh tiến công được truyền đạt qua điện thoại nhanh chóng, riêng phía tiểu đoàn 3 không gọi điện được nên đồng chí Châu chính trị viên phó tỉnh đội xuống trực tiếp truyền đạt.

Đêm 18 rạng 19 tháng 3, các lực lượng Quảng Trị bất thần tiến công. Về phía nam, tiểu đoàn 812 mới hành quân vào vừa đứng chân ở khu vực 480 liền khẩn trương chấp hành mệnh lệnh, nổ súng tiến công địch ở Dốc Dầu phát triển thẳng vào hướng Mỹ Chánh đánh địch cụm lại ở Cầu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ.


Tiểu đoàn 8 tiến công theo trục sông Nhùng, chọc thẳng về căn cứ Trường Thọ, đánh chiếm đường 1, và phát triển theo đường 1 vào Mỹ Chánh. Tiểu đoàn 10 đánh địch ở đông - nam điểm cao 367 rồi phát triển chiếm khu vực Hồ Lây, còn đại đội 10 cũng chia làm hai mũi đánh xuống đường 1. Đại đội 34 dùng hỏa lực khống chế địch, chi viện cho các mũi tiến công trên hai hướng sông Nhùng và Mỹ Chánh, sau đó bắn vào đội hình quân địch tháo chạy vượt sông Mỹ Chánh sang đất Thừa Thiên. Ở hướng tây-bắc Quảng Trị, tiểu đoàn 14 sau khi đã khẩn trương thu quân trên tuyến tiếp xúc, được tăng cường thêm đại đội Lê Hồng Phong, bèn chia làm 3 mũi tiến công. Mũi thứ nhất tiến công Tích Tường, Như Lệ, La Vang và treo cờ ở thành cổ Quảng Trị vào hồi 3 giờ sáng 19 tháng 3 năm 1975. Mũi thứ hai đánh vào Phước Môn sang Long Hưng, Thường Xá, thọc sâu vào Diên Sanh, phát triển chiếm Trung Đơn, Phước Diền, An Nhơn. Mũi thứ ba đánh chiếm khu vực điểm cao 15, phát triển theo đường xe tăng địch chạy vào Phú Long, lên Bến Đá, Hải Sơn, Mỹ Chánh.


Ở hướng đông, ngay sau khi được truyền đạt mệnh lệnh, các đồng chí phụ trách đã lập tức cho thu gọn đội hình lại và quyết định tiến công ngay trong đêm bằng hình thức tập kích. Nhưng lúc 4 giờ sáng, tỉnh ủy triệu tập đồng chí Thả tỉnh đội phó và tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 lên hội ý, đến 5 giờ 30 mới về. Trời đã sáng, phải thay đổi cách đánh. Lối đánh tập kích lúc này không còn thích hợp nữa, các đồng chí chỉ huy quyết định chuyển sang lối tiến công bằng sức mạnh. Được đại đội 7 xe tăng của lữ 203 và một đại đội pháo hỗn hợp gồm pháo 85 ly và 57 ly phối thuộc, đơn vị tổ chức tiến công bằng hai mũi. Hồi 10 giờ 19 tháng 3, mũi chủ yếu đột phá vào cửa mở Phường Sơn (từ năm 1972, ta đã mở vào Phường Sơn, nên anh em quen gọi đấy là cửa mở), rồi đánh vào Tài Lương, Đạo Đầu phát triển theo đường 68. Khi đại đội đi đầu vượt qua phòng tuyến địch, ta dùng loa gọi địch đầu hàng. Bọn địch tại chỗ im lặng, không đối phó, nhưng bọn ở điểm cao 11 và Phù Lưu, Thanh Hội lại bắn ra. Ta dùng pháo 57, B.40, B.41 bắn trả áp đảo địch, trong lúc đó các đại đội khác cứ thọc sâu. 12 giờ trưa đến Ngô Xá Đông, mũi tiến công của ta có du kích dẫn dường cứ lợi dụng cây cối rậm rạp mà thọc sâu, gặp địch đâu nổ súng đấy. 14 giờ, đại đội 3 đến ngã tư Hội Yên gặp thủy quân lục chiến, nổ súng tiêu diệt 1 trung đội. Đại đội Triệu Phong diệt địch ở Phù Lưu. Đại đội 11 và đại đội 9 phát triển sang Triệu Dương. Có thể nói, đại bộ phận quân địch bỏ chạy hoảng loạn, tan rã hoặc chống cự yếu ớt. Mũi thứ hai cũng bắt đầu tiến công vào lúc 10 giờ, đã đánh vào Thanh Hội, qua Gia Đẳng, Mỹ Thủy rồi phát triển vào Thẩm Khê.


Cho đến 18 giờ ngày 19 tháng 3 năm 1975, lực lượng bộ đội địa phương và du kích Quảng Trị tham gia tiến công trên các mũi các hướng, đã hoàn toàn giải phóng tỉnh Quảng Trị. Sở chỉ huy tỉnh đội đặt ở nam điểm cao 122, lúc này cũng đã dời về Bến Đá.


Bị tiến công bất ngờ, toàn bộ quân địch ở Quảng Trị hốt hoảng vùng chạy thục mạng về hướng nam, bấy giờ đang nháo nhào vội vã cụm lại trên tuyến Mỹ Chánh – Thanh Hương, có bộ phận tìm cách chạy tràn về Huế. Địch phải đưa lữ 147 thủy quân lục chiến làm lực lượng ngăn chặn ở An Lỗ, cố ổn định hàng ngũ rối loạn của chúng lại để củng cố tuyến phòng thủ, mà chúng gọi là tuyến đỏ.


Sáng 20 tháng 3 năm 1975, địch cho một lực lượng nhỏ (có tính chất cảnh giới) ra hướng cầu Bến Đá và Trung Đơn, nhưng đã gặp phải bộ đội ta vận động tới đánh, chúng vội co hẳn lại và phá cầu Mỹ Chánh, cầu Vân Trình, gấp rút triển khai phòng thủ ở bờ nam sông Mỹ Chánh. Lực lượng địch tập trung trên tuyến này gồm có liên đoàn biệt động 14, liên đoàn bảo an 913, 7 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn biệt động quân 77, thiết đoàn 17, tiểu khu Quảng Trị và các loại chi khu, phân chi khu.


Trong lúc tình thế địch đang rối loạn, chưa ổn định, ở hướng Phong Quảng, tiểu đoàn 15 thuộc trung đoàn 4 và tiểu đoàn 10 Thừa Thiên đã cùng lực lượng địa phương bám đánh địch và phát động quần chúng. Riêng phía nam Thừa Thiên thì các lực lượng đang chuyển đội hình, chỉ thực hiện đánh nhỏ.


15 giờ 20 ngày 19 tháng 3 năm 1975 pháo lớn của ta bắt đầu bắn vào khu Tây Lộc và Mang Cá trong thành phố Huế, đẩy thêm tình trạng rối loạn hốt hoảng trong hàng ngũ địch.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:14:02 am
Thành phố Huế bấy giờ tràn ngập dân di tản từ Quảng Trị vào (theo tài liệu của địch thì đến ngày 17 tháng 3 năm 1975 đã có 149.000 người vào Thừa Thiên và Đà Nẵng). Việc Thiệu tìm mọi cách co kéo dân đi theo tuyến co cụm của chúng tạo nên những khó khăn chúng không thể giải quyết được, đồng thời tâm trạng hoảng loạn truyền nhanh như một thứ bệnh dịch. Tình cảnh hỗn loạn của chúng ở Tây Nguyên tái diễn ở Quảng Trị. Dân bồng bế nhau chạy vào bằng đủ mọi thứ phương tiện: xe tải, xe buýt, xe lam, hôn-da, xe máy, xe đạp, đi bộ, đi thuyền. Thôi thì đủ mọi thứ nhếch nhác, tay xách nách mang, gánh gồng lỉnh kỉnh, trẻ con khóc, người già rên, nghé ọ, lợn kêu, trâu bò ỉa dọc đường phố, gà vịt phải bán tống bán táng đi một cách rẻ mạt mà cũng hiếm người mua. Dân Quảng Trị di tản chen chúc ở Long Thọ, chùa Diệu Đế, cầu Bạch Hổ, trường Việt Hưng và cũng không thiếu người nằm ngổn ngang dọc vỉa hè đường phố. Như một thứ phản ứng dây chuyền, gia đình công chức, sĩ quan, binh lính ngụy và một số người có của ở Huế lại hốt hoảng chạy vào Đà Nẵng, Sài Gòn. Sự rối loạn như thế làm sao mà không tác động tới tâm trạng lính tráng bấy giờ đang bị chặn lại để phòng thủ ở tuyến sông Mỹ Chánh, tuyến An Lỗ và nói chung là tất cả lực lượng ngụy quân, ngụy quyền đang co vón lại trên mảnh đất Thừa Thiên còn lại.


Để hiều rõ hơn thất bại ở Quảng Trị, chúng ta lại nghe một đoạn lời khai của Nguyễn Thành Trí.

"... 19 tháng 3 năm 1975, hồi 00 giờ 30 phút, khu vực liên đoàn 14 biệt động quân lại bị tiến công mạnh, một vài đại đội tại Như Lệ và La Vang mất liên lạc với tư lệnh.

10 giờ 45, khu vực liên đoàn 14 biệt động quân vẫn bị áp lực mạnh, lực lượng bộ binh Mặt trận giải phóng khoảng cấp tiểu đoàn.

Chiến xa và bộ binh (khoảng hai trung đội) xuất hiện tại bờ biển Thanh Hội đối diện với 1 đại đội địa phương quân đang phòng thủ (chiến xa và bộ binh Quân giải phóng chỉ dàn quân chứ không nổ súng).

11 giờ 30 tiểu khu Quảng Trị báo cáo mất liên lạc với đại đội địa phương quân nói trên, một số binh sĩ của đại đội này cũng như các đơn vị địa phương quân khác đã tự động lui về phía sau mặc dù không có nổ súng.

16 giờ tiểu khu Quảng Trị báo cáo, chiến xa Quân giải phóng đã vào đến Gia Đẳng, Mỹ Thủy và Hội Yên (ban chỉ huy lữ đoàn 258 cũ), đồng thời xin phi cơ yểm trợ nhưng không được thỏa mãn.

- Liên đoàn 14 biệt động quân báo cáo, bộ binh Quân giải phóng đã tiến vào La Vang, Cổ Thành và tình hình khu vực này rối loạn không liên lạc được với các tiểu đoàn.

- Hầu hết các đơn vị nghĩa quân tiểu khu Quảng Trị và nhân dân Quảng Trị di tản vào Huế, theo quốc lộ 1.

18 giờ, nhận thấy phía đông khu vực phòng thủ, chiến xa Quân giải phóng đã thọc sâu trong khoảng 10 ki-lô-mét, phía tây khu vực phòng thủ, liên đoàn 14 biệt động quân bị áp lực mạnh, gần như mất liên lạc với các tiểu đoàn. Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến quyết định cho trì hoãn chiến về tuyến đỏ theo kế hoạch. Sự kiện này cũng đã được báo cáo lên Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 ngay sau đó.

– 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến tại Thuận An (đang chờ tàu di chuyển về Đà Nẵng) được điều động tăng cường phòng thủ tuyến đỏ từ cầu Vân Trình ra bờ biển, được tăng cường chiến xa và 1 tiểu đoàn địa phương quân.

- Liên đoàn 913 địa phương quân trì hoãn chiến về tuyến đỏ, phối trí từ cầu Mỹ Chánh đến cầu Vân Trình với 5 tiểu đoàn địa phương quân.

- Liên đoàn 14 biệt động quân trì hoãn chiến về tuyến Bắc Bình, lực lượng này gồm 1 tiểu đoàn biệt động quân và 1 chi đội M.113 phối trí từ cầu An Lỗ đến phá Tam Giang.

- Hoàn tất cuộc trì hoãn chiến về tuyến đỏ.

- Một cuộc họp thuyết trình về tình hình bắc Hải Vân được triệu tập tại Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến tại Hướng Điền, dưới quyền chủ tọa của trung tướng tư lệnh quân đoàn 1. Các giới chức tham dự gồm có: trung tướng tư lệnh quân đoàn 1, thiếu tướng tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến, thiếu tướng tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, đại tá tư lệnh phó sư đoàn thủy quân lục chiến. Sau khi được nghe thuyết trình tình hình tại Trị Thiên, trung tướng tư lệnh quân đoàn 1 chỉ thị phải giữ cho bằng được Huế, thi hành đúng đắn kế hoạch dự trù, khai thác tối đa khả năng các đơn vị địa phương quân và nghĩa quân và linh động sử dụng lực lượng này cho hữu hiệu. Tuyến Bắc Bình là tuyến cuối cùng phải cố thủ...".


Những lời khai của Nguyễn Thành Trí, đại tá phó tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến trên đây đã thú nhận sự hốt hoảng bối rối và cuối cùng là sự thất bại mau chóng của chúng ở Quảng Trị.

Phải chăng kết quả đó là do ta tận dụng được thời cơ thuận lợi tiến công địch một cách táo bạo. Ấy là lúc địch đang dao động mạnh trước tình thế mới, lại vừa rút bớt lực lượng nên đội hình không ổn định. Có thể là sau thất bại Tây Nguyên, chúng có ý định bỏ Quảng Trị để thực hiện co cụm lớn, nhưng ít nhất cũng chưa phải trong những ngày đó, mà giữa lúc chúng đang điều động sắp xếp thì bị đánh, bởi vậy đã dao động chúng càng dao động mạnh hơn và dễ vỡ một cách thảm hại.


Kẻ địch đã bị tiêu diệt hoặc đã bỏ chạy khỏi những mảnh đất tạm chiếm cuối cùng ở phía nam của tỉnh, và thế là Quảng Trị đã được hoàn toàn giải phóng. Sự kiện trọng đại này được ghi nhận vào ngày 19 tháng 3 năm 1975.


Đêm hôm ấy, các chiến sĩ Quảng Trị lần đầu tiên dừng chân trên những miền đất mới: Diên Sanh, Hội Yên, Thẩm Khê, La Vang – trong những ngôi nhà tiểu khu, chi khu, phân chi khu. Họ ghép bàn làm việc lại, lau sạch bằng những lá cờ ba que bị giật xuống ném khắp xó xỉnh, đoạn trải tấm võng quen thuộc của mình ra, gối đầu lên ba lô, súng vẫn cạnh người. Tuy nhiên, họ chỉ thay nhau chợp mắt lấy sức. Phía trước họ, bên kia sông Mỹ Chánh, kẻ địch đang đào công sự và pháo của chúng lúc này đã bắn vào những ô đất mà chiều hôm nay chúng còn kiểm soát. Hơn nữa, cũng ngay trong đêm hôm ấy, Bộ tư lệnh quân khu đã chỉ thị cho bộ đội Quảng Trị phải tiếp tục phát triển tiến công, bám địch mà đánh, không được dừng lại ở ranh giới tỉnh mình. "Dừng lại là một tội lỗi không thể tha thứ được". Đây là mệnh lệnh, là lời kêu gọi đồng thời cũng là ý nguyện của cán bộ, chiến sĩ. Chừng nào kẻ địch còn ở Huế, ở Thừa Thiên, ở Đà Nẵng và còn ở khắp miền Nam, thì Quảng Trị vẫn còn bị đe dọa. Không thể có hòa bình vĩnh viễn cho riêng một tỉnh. Chiến sĩ Quảng Trị đều hiểu như thế và xốc súng lên đường. Chiến dịch còn tiếp diễn với nhịp độ khẩn trương. Phía trước là Thừa Thiên- Huế.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Ba, 2022, 08:31:36 am
VII. Phải chăng ngày 20 tháng 3 năm 1975 là ngày tương đối yên tĩnh?

Sau này, một số sĩ quan nguy cấp thiếu tá, trung tá mà chúng tôi gặp ở trại cải tạo đều coi ngày 20 tháng 3 năm 1975 là ngày tương đối yên tĩnh. Các trận chiến đấu lắng xuống, chỉ có những vụ pháo kích nhỏ.    Tụi thủy quân lục chiến và bảo an ở bắc An Lỗ sau khi đã lúng túng hốt hoảng chạy từ Quảng Trị vào, bấy giờ đã hoàn tất cuộc trì hoãn chiến về tuyến đỏ. Hoàn tất là cách nói của sĩ quan cấp dưới để yên lòng cấp trên, chứ thực tình thì làm sao mà hoàn tất được? Binh lính đứa thì bị chết, đứa bị thương, nhiều thằng chạy lạc đơn vị lung tung, đa số lại tự ý rã ngũ về lo di tản gia đình; ngay việc xốc lại lực lượng của chúng cũng chưa thể xong được trong chốc lát. Nói gì đến việc bố trí chiến đấu cho chu toàn.


Tụi sư đoàn 1 bộ binh ở phía tây - nam Huế cảm thấy yên tĩnh vì tình hình ở tuyến phòng ngự có vẻ dịu đi, không có những trận đụng độ lớn. Pháo kích vào Mang Cá và Tây Lộc thì không liên quan gì tới chúng. Dạ Lê Thượng - nơi sư bộ chúng đóng chưa bị ăn pháo có nghĩa là chưa có đánh lớn. Bọn chúng nghiệm thấy thế vì từ trước tới nay chỉ năm 1972 mới bị pháo kích dữ dội.


Trước áp lực tiến công trong quy mô chiến dịch tổng hợp của ta, được một ngày yên tĩnh, tên sĩ quan ngụy nào cũng cảm thấy nhẹ nhõm thoải mái và hy vọng yên tĩnh kéo dài.

Nhưng thực tế, thì những sự kiện gì đã xảy ra trong ngày 20 tháng 3?

Theo lời khai của Nguyễn Thành Trí - như trên đã trích dẫn - thì hôm đó, Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1 bay ra Hướng Điền chủ trì cuộc tường trình về tình hình bắc Hải Vân. Tên tướng người nhỏ bé luôn luôn có bộ mặt lạnh như tiền ấy chắc không thể có sự yên tĩnh trong tâm hồn được. Hắn kéo tụi tướng lĩnh bộ hạ ra tận Hướng Điền - nơi cách ta chỉ trong vòng 10 ki-lô-mét để hội họp, hẳn không phải ngẫu nhiên. Sao không họp ở Mang Cá, ở Dạ Lê Thượng, ở An Lỗ, v.v... mà kéo nhau ra nơi đầu sóng ngọn gió như thế? "Con người hùng của Việt Nam cộng hòa" thường hay chơi trội. Hắn muốn gây ấn tượng cho lời tuyên bố của hắn, gây ấn tượng cho cấp dưới và cho cả cấp trên, cho Thiệu, cho Viên, v.v... Hắn chấp nhận hơn là bắt buộc phải chấp nhận sự thất bại ở Quảng Trị, nhưng phải chặn đứng đối phương lại ở đây, trên tuyến đỏ, hoặc cùng lắm là trên tuyến Bắc Bình (An Lỗ). Tuyến Bắc Bình là tuyến cuối cùng phải bằng mọi giá, giữ cho được". Ít ra trong lời tuyên bố này cũng chứng tỏ hắn không còn hy vọng làm lại một cú phản kích như năm 1972. Tuy nhiên, hắn có vẻ đổ vấy cho Thiệu, Viên với lối rút lui, co cụm chiến lược và điều hầu hết lực lượng tổng dự bị chiến lược về Sài Gòn, bỏ hở vùng chiến thuật 1. Đã mất hai huyện Sơn Trà và Trà Bồng trong Quảng Ngãi, nay lại mất thêm Quảng Trị. Hắn muốn làm cái gì đó, để chứng tỏ hắn có khả năng xoay chuyển được tình thế nếu hắn gây áp lực được với Thiệu, Viên. Nghĩa là chẳng những không điều nốt lữ dù 1 về Sài Gòn, mà còn trả lại toàn sư đoàn dù trở về đội hình như cũ.


Tên tướng ít nói ấy, đã vung ra một lời thề: "Nếu có phải chết trên đường phố Huế cũng quyết giữ đến cùng!". Hắn tuyên bố tử thủ Huế để đặt điều kiện với cấp trên? Hay để chấp hành mệnh lệnh của trên? Hoặc để vỗ về trấn an dân chúng đang hoảng loạn, binh sĩ đang tan rã? Dầu với mục đích nào đi nữa, thì hắn vẫn muốn bộc lộ cái bản lĩnh của hắn – "con người hùng của Việt Nam Cộng hòa" đang ở trong tình trạng rối bời, đau khổ nhất của cuộc đời binh nghiệp hẳn.


Hắn vừa tuyên bố tử thủ Huế xong thì nhận được bức điện của Cao Văn Viên:

Hỏa tốc:
Công điện mang tay
20/545 H/3-1975 T 20.3/75/Sta

Nơi gửi: BTTM/phòng 3

Nơi nhận: BTL/QĐ1, QK1 (CĐ) (VFTL)

Thông báo – văn phòng Tổng thống
   - Văn phòng đại tướng TTMT/QLVNCH bản văn số 9.428/F341.

Tham chiếu: CÐ số 9.424/TTM/F342 ngày 20/145 H/3/1975 của Bộ TTM, tiếp theo công điện dẫn thượng, Bộ tổng tham mưu kính chuyển đến quý Bộ tư lệnh chỉ thị của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa sau đây:

Thứ 1: Phương tiện eo hẹp về không quân và hải quân, chỉ cho phép yểm trợ được một enclave1 (Cao Văn Viên có lối hay dùng xen tiếng Pháp vào trong công điện công văn. Enclave: vùng đất được sáp nhập vào, ở đây có nghĩa là vùng đất để co cụm chiến lược) mà thôi. Vậy nên mener1 (Mener: dẫn dắt chỉ hủy) trì hoàn chiến về tuyến đèo Hải Vân nếu tình hình cho phép.

Thứ 2: Đáp nhận và hiểu chỉ thị này.
   Đại tướng Cao Văn Viên
   Tổng tham mưu trưởng
   Quân lực Việt Nam Cộng hòa



Tiếp theo bức điện này, ngày 21 tháng 3 năm 1975, Cao Văn Viên lại gửi tiếp một công điện mang tay số 9364/TTM/P341 giải thích thêm một số chữ nghĩa, sợ cấp dưới hiểu sai ý. Xin trích nội dung ra sau đây:

"... Bộ tổng tham mưu kính chuyển đến quý Bộ tư lệnh bút phê sau đây của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa liên quan đến mục 1 của công điện dẫn thượng, nguyên văn như sau: Nói đúng hơn là khi tình hình đòi hỏi và còn cho phép thực hiện kịp thời".

Những ngày sau đó, Cao Văn Viên còn gửi tiếp mấy cái công điện nữa. Tất cả những bức điện ấy đều là những chỉ chị tử thủ Đà Nẵng bằng lực lượng 3 sư đoàn bộ binh: 1, 2, 3. Còn sư thủy quân lục chiến vẫn bị đòi hoàn trả về Sài Gòn khi đã ổn định được cái gọi là "enclave" Đà Nẵng. Rõ ràng là Thiệu, Viên có ý định bỏ Huế ít nhất là từ ngày 20 tháng 3 năm 1975 để về co cụm ở Đà Nẵng, và chủ yếu là đề rút bớt lực lượng tổng dự bị chiến lược về phòng thủ Sài Gòn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Ba, 2022, 08:34:00 am
Cũng trong ngày 20 tháng 3 năm 1975 Cao Văn Viên còn gửi cho Ngô Quang Trưởng một bức điện thúc trả gấp lính dù:

... "Lữ đoàn 1 nhảy dù ở lại cũng không biến đổi được tình hình, trái lại, ở quân khu 3 tình hình rất sôi động, mất "équilibre"1 (Equilibre: thăng bằng) phía bạn. Tùy theo khả năng của quân đoàn và biến chuyển của tình hình, quân đoàn áp dụng các "plan"² (Plan: kế hoạch) đã trình bày. Yêu cầu cho lữ đoàn 1 nhảy dù về gấp...".


Dĩ nhiên là Ngô Quang Trưởng phải chấp hành - chắc hắn thấy cái lối gây áp lực với cấp trên không hữu hiệu. Lời thề sẵn sàng chết trên đường phố Huế sẽ trở thành trò cười cho thiện ha, khi cấp trên hắn có ý định bỏ Huế. Và ngay bây giờ cũng đã quá bối rối, vì hắn biết chắc là chúng ta không thể để cho hắn tự do thực hiện cái gọi là các "plan" đã trình bày, thực hiện các chỉ thị của Thiệu, Viên.


Trong cái tình hình tương đối yên tĩnh của ngày 20 tháng 3, một tên tướng ranh ma như Ngô Quang Trưởng cũng thừa hiểu đấy chẳng qua là cái lặng gió trước cơn bão lớn. Áp lực của đối phương đã gia tăng cả ở Quảng Nam, Quảng Ngãi lẫn ở Trị Thiên, rồi sẽ còn gia tăng nữa. Liệu hắn có chèo chống nổi không, khi cấp trên của hắn chỉ lo bảo vệ có Sài Gòn?    Ngày hôm đó, 20 tháng 3 năm 1975, Ngô Quang Trưởng đã gửi điện
lên cho Thiệu:

Bức điện

   Nơi gửi: Tư lệnh quân đoàn 1/quân khu 1
   Nơi nhận: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (kính nhờ đại tướng Tổng tham mưu trưởng chuyển trình)

   Bản văn số 032/QĐ1/QK1/VFTL/30/3/1975
   Tham chiếu CĐ số 9428/TTL/F341 ngày 20/545H/3/1975.
   Trân trọng kính trình Tổng thống.
   Tự nhận thấy đuối sức và bối rối, sợ rằng không hoàn thành trách nhiệm.

   Kính xin Tổng thống cho được từ chức và "Fin"1 (Fin: hết, cuối cùng, ở đây Ngô Quang Trưởng muốn nói là hết).

   Ký tên: Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
   KBC4109 ngày 20/3/1975



Bản văn này có đề "tham chiếu công điện số 9428...", chứng tỏ Ngô Quang Trưởng phản ứng trước cái chỉ thị bỏ Huế về tử thủ Đà Nẵng. Điều quan trọng hơn là có lẽ hắn không còn tin tưởng gì mấy đến các kế hoạch tử thủ, hắn đã cảm thấy được sự thất bại khó lòng cứu vãn nổi. Đàng nào thì Huế cũng mất, và số phận của Đà Nẵng cũng chẳng hơn gì, sớm muộn cũng mất nốt. Hắn muốn tránh cái vết nhục ấy, nói cho đúng hơn là đổ vết nhục lên đầu những tên khác. Sự cố này đâu phải tại tướng Trưởng, mà là tại ông Thiệu, ông Viên. Tuy nhiên, không ai hiểu được hắn chán nản, đau đớn thế nào khi phải hạ bút viết điện xin tứ chức, may ra chỉ có vợ hắn. Hãy tưởng tượng cả quân đoàn, cả quân khu sẽ chiến đấu như thế nào khi vị tư lệnh quá bối rối, chán nản đang chờ cấp trên cho từ chức, cho rút lui khỏi trận chiến? Ngày 20 tháng 3 năm 1975 - ngày ảm đạm nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Ngô Quang Trưởng là thế đấy!


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Ba, 2022, 08:35:35 am
Ngày 20 tháng 3 năm 1975, ở sở chỉ huy quân khu Trị Thiên lại là một ngày sôi nổi vui vẻ. Qua những ngày mưa, hôm ấy trời quang, nắng hửng. Anh em chúng tôi còn nói với nhau là trời chiều chúng ta, mừng Quảng Trị giải phóng, trời nắng là phải. Đã nghe tiếng cười sảng khoái của anh Lê Tự Đồng và anh Hồ Tú Nam. Ở Bộ tham mưu chúng tôi cũng vậy, sôi nổi và rôm rả vẫn là câu chuyện về Quảng Trị giải phóng. Cả những kỷ niệm hồi năm 1972 lẫn những chuyện mới xảy ra hôm qua. Không khí hồ hởi như ngày hội. Anh nào còn gói trà, bao thuốc lá, hộp sữa trong ba lô đều dốc ra "liên hoan", Nói là liên hoan, chứ chúng tôi cũng không có thì giờ nhấm nháp niềm vui, công việc lúc này đòi hỏi hết sức khẩn trương. Quảng Trị được giải phóng một cách nhanh chóng đã đặt ra vấn đề rất mới đối với chiến trường Trị Thiên: địch đã buộc phải co cụm lớn trong thế bị động và hoang mang cực độ, thời cơ lớn đã đến, khả năng giải phóng Huế đã xuất hiện.


Chiều 19 tháng 3 Bộ tư lệnh quân khu đã nghiên cứu tình hình đề ra phương án giải phóng Thừa Thiên - Huế và sáng 20 tháng 3 đã trình thường vụ khu ủy để thông qua kế hoạch. (Để tranh thủ thời gian, ngay tối hôm 19 tháng 3 Bộ tư lệnh đã họp cán bộ để quán triệt quyết tâm và giao nhiệm vụ mới).


Cũng trong ngày 20 tháng 3 năm 1975, trung tướng Lê Trọng Tấn thay mặt Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên như sau:

"Việc lấy lại được toàn bộ tỉnh Quảng Trị rất đáng hoan nghênh. Bộ đội không được dừng lại ở Mỹ Chánh, mà phải tiếp tục tiến công từ hướng Hải Lăng, Hướng Điền, Phong Điền, Quảng Điền.

Để hình thành một mũi tiến công kết hợp với quân đoàn tiêu diệt địch ở Huế, cắt đường cửa Thuận An, cần tập trung ít nhất là 2 trung đoàn (trung đoàn 4 và trung đoàn 46) tiến công quân địch phía bắc Huế.

Có tin địch dự định rút bỏ khỏi Thừa Thiên, Huế, Quảng Ngãi để co cụm lực lượng vào những trọng điểm chiến lược. Cần theo dõi chặt chẽ và hành động táo bạo, kịp thời".

Được chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu soi sáng thêm, chắc hẳn Bộ tư lệnh quân khu càng vững thêm vào quyết tâm của mình.

Tình thế quân địch lúc này quả là vô cùng quẫn bách. Chúng đang hoang mang giữa hai khả năng: bỏ Huế hoặc quyết giữ Huế. Nghe đâu, có tin từ cơ sở của ta trong thành điện ra cho biết, ngày 19 tháng 3 trong khi địch ở Quảng Trị đang bị đánh phải rút chạy, bọn chỉ huy ở Thừa Thiên thấy "Huế khó giữ" chuẩn bị kế hoạch rút vào Đà Nẵng, ra lệnh sơ tán dân và phát "tiêu lệnh" phá hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật. Nhưng sáng 20 tháng 3 chúng hủy lệnh đó, chủ trương cử ở lại Huế, quyết tử thủ Huế vì đã có thế lực mới. Chính là cái ngày mà Ngô Quang Trưởng đã thề "nếu có phải chết trên đường phố Huế cũng quyết giữ đến cùng", ý định của chúng là:

- Giữ vững tuyến Mỹ Chánh – Thanh Hương, tạo điều kiện cho phía sau xây dựng trận địa bảo vệ Huế.

- Tăng cường tuyến Sông Bồ. Ngoài lực lượng sẵn có tại chỗ như lữ 147 thủy quân lục chiến, lữ kỵ binh, thiết đoàn 20, chúng có ý định điều thêm lữ 468 thủy quân lục chiến từ Sài Gòn ra thay cho lính dù ở Đà Nẵng, nay ra tăng cường cho bắc Huế triển khai từ Sịa đến Hướng Điền.

- Giữ vững vòng cung phía tây và tây-nam Huế từ núi Gió, Hòn Vượn qua Bình Điền về Mỏ Tàu – 303 bằng lực lượng sư đoàn bộ binh 1, liên đoàn biệt động 15, thiết đoàn 7 và một số tiểu đoàn bảo an.

- Bảo vệ cho được giao thông Huế – Đà Nẵng bằng lữ 258 thủy quân lục chiến và liên đoàn bảo an 914.

Kế hoạch giữ vững Thừa Thiên - Huế của chúng đang đứng chơi vơi trên ý đồ của Thiệu, Viên là trì hoãn chiến về đèo Hải Vân. Mặt khác chúng không thể lường được trong lúc đó quyết tâm của ta đang được phổ biến xuống tận chiến sĩ, tận cán bộ cơ sở quần chúng. Nội dung quyết tâm là tranh thủ thời cơ, dốc toàn lực giải phóng Thừa Thiên - Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp toàn diện, lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của chủ lực làm biện pháp then chốt, đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp đánh địch hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, đưa chiến dịch đến toàn thắng. Hết sức chú ý không cho địch cụm lại trong thành phố.


Các mũi tiến công chủ yếu của chúng ta được Bộ tư lệnh quân khu và Bộ tư lệnh quân đoàn thống nhất quyết định như sau:

- Trên hướng nam: quân đoàn 2 tập trung lực lượng cắt đứt giao thông dưới chân núi Kim Sắc – Lưỡi Cái và phát triển tiến công thành hai mũi: một mũi từ bàn đạp cắt giao thông thọc nhanh ra cảng Tân Mỹ; một mũi từ 303 – La Sơn tiến ra Huế. Hai tiểu đoàn 5 và 21 của quân khu dùng hỏa lực khống chế cửa Tư Hiền, đánh chiếm quận lỵ Vĩnh Lộc và phát triển ra cửa Thuận An.

- Trên hướng bắc, về phía đông, 2 tiểu đoàn của Quảng Trị, được tăng cường pháo binh và xe tăng tiến vào đánh chiếm quận lỵ Hướng Điền, rồi phát triển vào cửa Thuận An và ngã ba Sình.

- Về phía tây, trung đoàn 4, được tăng cường 1 tiểu đoàn Quảng Trị, có trung đoàn 46 làm dự bị, được pháo binh yểm trợ, tiến công lữ 147 thủy quân lục chiến, phát triển về An Hòa và ngã ba Sình.

- Trên hướng đường 12, trung đoàn 6 và trung đoàn 271 đánh chiếm Đình Môn, Kim Ngọc, nhanh chóng vượt sông Hương, rồi trung đoàn 6 tiến vào khu tam giác thành phố chặn đứng trung đoàn 3 ngụy từ đường 12 về để tiêu diệt, trung đoàn 271 tiến về phía đông thành phố chia cắt Huế - Phú Bài, sau đó phát triển ra quận lỵ Phú Vang cùng lực lượng quân đoàn 2 hợp vây diệt địch.

- Kết hợp với tiểu đoàn 5 hải quân đặt thủy lôi, pháo binh của quân khu và của quân đoàn khống chế chặt cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, đánh mạnh vào sở chỉ huy quân đoàn 1 tiền phương ở Huế và khu vực cảng Tân Mỹ.

- Toàn bộ lực lượng vũ trang còn lại của tỉnh, huyện, xã cùng với lực lượng chính trị về hết đồng bằng đánh địch và phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền.

Đồng thời với việc triển khai kế hoạch tiến công mới, chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu và gấp rút chuẩn bị công tác quân quản thành phố Huế, và chuẩn bị mọi mặt cho bộ đội trong công tác quản lý vùng giải phóng.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Ba, 2022, 08:36:11 am
Ngày 20 tháng 3 năm 1975, ngày chuẩn bị cuối cùng của quân đoàn 2 bước vào đợt hai của chiến dịch. Đặc biệt là sư đoàn 325 bây giờ mới được tung vào chiến đấu. Bộ tư lệnh quân đoàn đã tập trung vào kièm tra, đôn đốc giúp đỡ sư đoàn hoàn thành công tác chuẩn bị. Làm sao cho sư 325 chẳng những đánh thắng trận đầu, mà phải thắng giòn giã, liên tục, giành thắng lợi có tính chất quyết định cho chiến dịch. Ở hướng 303 - Mỏ Tàu, sư đoàn 324 đã chiến đấu vất và hơn 10 ngày qua, mặc dù hết sức cố gắng nhưng hiệu quả chiến đấu chưa cao. Hay nói một cách khác là hiệu quả chiến đấu của quân đoàn chưa cao. Sự quan tâm của quân đoàn đối với 325 là sự quan tâm tới một hướng mới, hướng hiểm yếu – và mặc dù trong mệnh lệnh tác chiến của quân đoàn lúc đầu coi đấy là hướng thứ yếu của quân đoàn, thì nay đã trở thành hướng chủ yếu – có tính chất quyết định. Mệnh lệnh của Bộ đã chỉ rõ: "phải cắt đứt đường 1, phải xuống đường 1". Anh Lê Trọng Tấn đã nói chuyện điện thoại trực tiếp với anh An, anh Linh về sự tập trung vào hướng Kim Sắc - Lưỡi Cái này và đã gợi ý có thể bỏ 303 – Mỏ Tàu. Tuy nhiên, 324 đã chuẩn bị sẵn sàng tiếp tục chiến đấu. Thắng lợi của 325 sẽ tạo điều kiện cho 324 thắng lợi và ngược lại. Đây là mối tương quan hữu cơ giữa hai hướng – nói cho đúng hơn là giữa hai mũi trong phạm vi đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của toàn chiến trường Trị Thiên.


Lúc này, các cán bộ sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đều tập trung mọi sức lực, mọi cố gắng để thực hiện cho được quyết tâm của từng đơn vị đã đề ra, những quyết tâm nằm trong kế hoạch cơ bản. Đương nhiên trong kế hoạch cơ bản cũng có nhắc tới thời cơ, tuy hãy còn thận trọng, dè dặt. Thực ra, kế hoạch thời cơ có nghĩa là kế hoạch cơ bản được thực hiện tốt nhất, xuất sắc nhất và được phát triển trong thời cơ mới. Đối với quân đoàn 2 trong nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, kế hoạch thời cơ chính là kế hoạch dự định sẽ thực hiện trong chiến dịch 2 (mùa thu 1975). Trước mắt là phải hoàn thành bằng được quyết tâm đã nêu, nhưng đồng thời Bộ tư lệnh quân đoàn đều hiểu rằng, đang có những yêu cầu cao hơn do tình hình thuận lợi mới đặt ra.


Cụ thể đối với sư đoàn 325 giờ đây không còn như quyết tâm của sư đoàn đã đề ra là tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch phòng ngự trên điểm cao 560, 494, hòn Kim Sắc trong thời gian 2 đến 3 ngày – mà phải tiêu diệt nhanh gọn, chậm nhất là trong 1 ngày. Không phải chốt giữ mà là tiến công liên tục. Không phải cắt đứt đường 1 từng thời gian, mà cắt đứt hoàn toàn, cắt hẳn với thời gian nhanh nhất, tạo thành cái thế chiến dịch lớn. Không phải giải phóng riêng quận Phú Lộc mà cùng các đơn vị khác giải phóng toàn bộ Thừa Thiên– Huế, những yêu cầu cao hơn ấy đang được cán bộ các cấp sáng tỏ dần dần từng bước. Nhận thức thường lạc hậu so với thực tế. Phải làm nên thắng lợi, và bản thân thắng lợi sẽ có tiếng nói hùng hồn với nhận thức của cán bộ. Điều đó có thể giải thích được tại sao Bộ tư lệnh quân đoàn 2 hết sức chú ý tập trung sự chỉ đạo cho sư đoàn 325 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chiều 20 tháng 3 năm 1975, anh An, tư lệnh quân đoàn gọi dây nói cho anh Tâm, sư trưởng 325 giọng vui vẻ:

- Thế nào? Đã ổn cả chưa? Có đảm bảo chắc thắng không?

- Báo cáo thủ trưởng, sư đoàn 325 đã sẵn sàng! Xin hứa với quân đoàn sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

- Nhưng phải xuất sắc chứ?

Có tiếng anh Tâm cười:

- Báo cáo, xin hết sức cố gắng.

Sau này, chúng ta biết sư đoàn 325 đã hết sức cố gắng, chẳng những thực hiện được lời hứa quyết tâm, mà còn tỏ ra xuất sắc trong hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy, lúc bấy giờ, đứng ở cương vị sư trưởng, anh Tâm vừa phải tỏ ra khiêm tốn với cấp trên, vừa chưa dám đoán chắc được mức độ thắng lợi như thế nào. Về một mặt nào đó mà nói, thắng lợi của một chiến dịch, một trận đánh không chỉ tùy thuộc ở khả năng và công sức của cán bộ chỉ huy, mà còn ở công sức và xương máu của chiến sĩ.


Lúc này, các chiến sĩ của sư đoàn đều đã triển khai chiến đấu. Trung đoàn 101 đang tiếp cận các mục tiêu 310, 312, 329, bình độ 275; trung đoàn 18 đang tiếp cận các mục tiêu 560, 494, 520 và Yên Ngựa, sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn đã vào vị trí. Trận địa pháo trên cao, trên hòn Lưỡi Cái tuy còn phải tiếp tục hoàn chỉnh, nhưng trung đoàn trưởng trung đoàn 84 pháo của sư đoàn đã hứa sẽ nổ súng đúng giờ. Bộ tư lệnh sư đoàn hoàn toàn tin tưởng vào trung đoàn 84, trung đoàn đã được tuyên dương anh hùng, từng trút lửa lên đầu Mỹ Trị những trận khiếp vía. Giờ đây, rừng núi hoàn toàn yên tĩnh. Thỉnh thoảng có đôi loạt pháo địch bắn vào những nơi chúng nghi ngờ ở phía sau. Ngoài ra, có thể nghe được tiếng suối chảy, tiếng chim chào mào đá bay ríu rít về tổ.


Thời gian lúc này là thời gian của những khẩu súng bồn chồn trong tay chiến sĩ ta, đợi chờ trút giận.

Dĩ nhiên tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 61 biệt động quân là không hay biết gì. Hắn vẫn nhởn nhơ hú hí với cô vợ trẻ của hắn trong hầm kèo ở sở chỉ huy tiểu đoàn trên điểm cao 560. Chắc hắn bây giờ hắn vẫn nghĩ rằng: ngày 20 tháng 3 là một ngày đẹp, một ngày thật yên tĩnh.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:15:51 am
VIII. Nhát dao sắc bén cắt đứt đường 1 đòn hiểm nhất của trận tiến công

Nhìn lên bản đồ của Thừa Thiên, ta thấy khi con đường 1 và đường sắt chạy vào đến Truồi (tức căn cứ Lương Điền) thì lọt vào một doi đất rất hẹp, một bên là phá Cầu Hai, một bên là chân dãy Trường Sơn. Doi đất hẹp ấy kéo dài đến đèo Phước Tượng, rồi mới phình ra. Nhưng cũng chỉ được một đoạn - đến đèo Phú Gia, gặp đầm An Cư, lại trở về thế như cũ, có khi hẹp hơn, chênh vênh hơn. Đến đây con đường 1 phải lượn qua bên trái đầm, sát biển, còn con đường sắt vẫn men theo chân Trường Sơn để cuối cùng cả hai cùng đến Lăng Cô, vượt đèo Hải Vân, về Đà Nẵng.


Vùng đất hiểm yếu thuộc huyện Phú Lộc này được chọn làm khu vực tác chiến của sư đoàn 325. Lực lượng địch ở đây gồm có:

- Liên đoàn biệt động quân 15 (trước đây ở Phú Bài làm đội dự bị cho sư đoàn 1 bộ binh, sau khi ta đánh ở Mỏ Tàu – 303, mới được điều vào tăng cường cho tuyến phòng ngự).

- Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến (ở Quảng Trị mới vào hôm 18 tháng 3 năm 1975) thay cho lữ 1 dù.

- Liên đoàn bảo an 914.

- Tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 1, sư đoàn 1.


Lực lượng của chúng được bố trí như sau:

- Tại căn cứ Lương Điền có sở chỉ huy liên đoàn 15 biệt động quân, tiểu đoàn 94 biệt động quân, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 1, sư đoàn 1.

- Căn cứ Phước Tượng có sở chỉ huy lữ 258, 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 pháo đội 105 ly.

- Quận lỵ Phú Lộc có sở chỉ huy chi khu, 1 trung đội bảo an của tiểu đoàn 128, 1 trung đội pháo 105 ly (hai khẩu).

- Dãy điểm cao 560, 494, 520, Lộc Điền, Ràn Bò, 360 do tiểu đoàn 61 biệt động quân đóng giữ (sở chỉ huy tiểu đoàn 1 ở điểm cao 560).

- Dãy hòn Kim Sắc do tiểu đoàn 60 biệt động quân chốt từ điểm cao 312 – 310 – 329 đến bình độ 275 (sở chỉ huy tiểu đoàn ở bình độ 275),

- Day Đá Bấc, Bạch Thạch, Mũi Né, 363 do tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến chốt giữ (sở chỉ huy tiểu đoàn cùng hai khẩu 155 ở đông Mũi Né). Tất cả lực lượng trên đều dưới quyền chỉ huy của Bộ tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ngụy. Rõ ràng là khu vực này địch có chú ý tăng cường phòng thủ, nhưng so với ngoài Mỏ Tàu sơ hở. Kẻ địch tin vào thế rừng núi hiểm trở phía nam Phú Lộc, nơi ta khó triển khai đội hình và binh khí kỹ thuật để mở tiến công lớn.


Tuy vậy, đã có triệu chứng địch đánh hơi thấy điều gì đó bất thường. Tung thám báo, biệt kích, cho máy bay trinh sát thường xuyên, bắn pháo vào các nơi chúng nghi ngờ ta tập kết quân, rốt cuộc, chúng chỉ nghi nghi hoặc hoặc. Trong lúc đó, sư đoàn 325 đang gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị và đã xây dựng xong quyết tâm chiến đấu. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn đều hiểu rằng, thời cơ thuận lợi mới đang đặt ra cho đơn vị những yêu cầu cao hơn về hiệu suất chiến đấu. Nổi bật hơn cả trong những yêu cầu đó là phải cắt đứt cho được đường 1.


Bằng mọi giá, phải cắt đứt cho được, cắt hẳn, chứ không phải cắt từng lúc. Đấy là yêu cầu lớn của chiến dịch mà sư đoàn 325 có trọng trách phải hoàn thành. Cắt đứt đường 1 sẽ tạo thành thế chia cắt chiến dịch, gây rung động mạnh mẽ trong hàng ngũ địch cả ở Huế lẫn Đà Nẵng.


Cố nhiên là muốn cắt được đường 1, phải đập tan hệ thống phòng ngự của địch ở các điểm cao án ngữ phía tây: 560, 494, 520, hòn Kim Sắc. Sư đoàn đã giao nhiệm vụ cho trung đoàn 18 tiến công ở hướng chủ yếu của sư đoàn, đánh chiếm các điểm cao 560, 494, 520, Yên Ngựa, và trung đoàn 101 tiến công ở hướng thứ yếu nhằm tiêu diệt địch trên các điểm cao 310, 312, 329 và bình độ 275. Coi như sư đoàn không còn lực lượng dự bị. Trung đoàn 95 đã được Bộ điều di tham gia giải phóng Buôn Mê Thuột, sự kiện này là một vinh dự cho sư đoàn, nhưng đồng thời cũng gây nên những băn khoăn lo lắng trong tâm tư cán bộ, chiến sĩ. Vắng mặt trung đoàn được coi là cứng nhất, được huấn luyện chu đáo nhất, trong lúc sư đoàn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ chiến đấu quan trọng, cán bộ ta ít nhiều cũng xuýt xoa, giá mà sư đoàn đầy dủ... Chính vì sư đoàn không đầy đủ, nên Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn, khi bố trí lực lượng đã có cân nhắc tính toán. Trung đoàn 101, một trung đoàn khá, nhưng chỉ đánh hướng thứ yếu là cốt dành sức để sư đoàn giao nhiệm vụ tiếp nối. Trung đoàn 18 có nhiều thành tích trong chiến dịch 1972, nổi tiếng nhất là trận Nhan Biều, tiêu diệt tiểu đoàn 6 thủy quân lục một tiểu đoàn đã được Thiệu phong anh hùng, trong thời kỳ phòng ngự ở tuyến tiếp xúc chiến Tích Tường – Như Lệ đến tây Hải Lăng, trung đoàn 18 đã làm tròn nhiệm vụ không để mất đất, lại còn củng cố được thế đứng chân. Tuy nhiên, trung đoàn còn có những thiếu sót mà các cán bộ trong sư đoàn đều biết tới. Đấy là vụ tập kích không thành công ở "H. I. C" và vụ để mất "Đồi Xanh" - một chốt mà đơn vị vừa chiếm được. Dù có thể có lý do giải thích này nọ, song những vụ này cũng đã gây tai tiếng cho trung đoàn.


Lần này, đưa trung đoàn 18 vào chiến đấu hướng chủ yếu của sư đoàn, ngoài việc đánh giá trung đoàn có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ, sư đoàn cũng muốn tạo điều kiện cho trung đoàn lập công cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 18 thường gọi là "rửa hận H. I.C và Đồi Xanh".


Bộ tư lệnh sư đoàn 325 tập trung sự chỉ huy, chỉ đạo cho hướng tiến công chủ yếu, cử đồng chí Huy sư phó trực tiếp giúp đỡ trung đoàn 18 hoàn thành nhiệm vụ.

Sở chỉ huy sư đoàn 325 đóng ở đồi 660, bên cạnh là đài quan sát. Nơi dây, nếu trời quang đãng, có thể nhìn thấy được bộ binh xung phong ở các điểm cao, nhất là ở hướng trung đoàn 18.

Giờ đây các chiến sĩ đã áp sát các mục tiêu công kích. Họ đã vất và hành quân từ sáng 19 tháng 3 theo những con đường ống xuyên rừng tự mở, cố tránh những đường mòn địch thường đi lại sục sạo. Ăn cơm nắm, uống nước lã, ngủ vật ngủ vờ bên cạnh công sự làm gấp, họ nín từng tiếng ho, nhịn cả hút thuốc để đảm bảo bí mật tiếp cận. Ngày hôm qua, 20 tháng 3 bắt được tin của đài địch, là chúng đã cho quân lên chiếm đồi 500, nơi đặt sở chỉ huy trung đoàn 18. Thực ra từ đường 1 chúng có nống ra sục sạo và nằm phục dưới chân đồi 500. Một đồng chí đại đội phó của trung đoàn 18 đi hội báo về đã bị chúng bắn chết. Tất cả cơ quan trung đoàn bộ 18 phải bò ra đào công sự, sẵn sàng đánh địch. Cố nhiên, nếu xảy ra phải nỏ súng là một tình thế không thuận lợi. Nhưng thằng địch cũng chỉ sục sạo qua quýt rồi về. Dẫu chúng có nghi ngờ cũng không phát hiện được gì thêm. Một tình huống khác xảy ra nữa là tiểu đoàn 7 thuộc trung đoàn 18 trên đường tập kết quân bị bom tọa độ. Dẫu bị thương vong một số cán bộ, chiến sĩ trước giờ chiến đấu, nhưng tiểu đoàn 7 đã nhanh chóng khắc phục hậu quả, biến nỗi đau thương kia thành sức mạnh căm thù, sẵn sàng tiêu diệt điểm cao 520 và đồi Yên Ngựa trong nhiệm vụ được giao: tiến công hướng thứ yếu của trung đoàn.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:16:51 am
5 giờ sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975. Trời đã mờ sáng mà sương mù quá dày dặc. Rừng núi tràn ngập trong một biển sương màu lam. Cây cối chung quanh sở chỉ huy cũng nhòa đi, nom hư hư thực thực như cảnh trong một giấc mơ. Sư trưởng Tâm và chính ủy Dương nhìn nhau lòng đều bồn chồn lo lắng. Chỉ còn 40 phút nữa là nổ súng, mà trời đất này thì pháo làm sao bắt được mục tiêu? Chiến đấu hợp đồng binh chủng, pháo đã kéo lên cao sẵn sàng nhà đạn mà đành câm tiếng, thì quả là đau thật. Chẳng lẽ xin quân đoàn lùi giờ nổ súng, nhưng lùi đến bao giờ ? Đành rằng, sư đoàn đã dự kiến đến tình huống khó khăn của pháo binh, yêu cầu các trung đoàn bộ binh lập phương án 2, phương án chiến đấu không có pháo chi viện, thì đấy là điều bất dắc dĩ. Trung đoàn 84 pháo do có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nên đã lấy sẵn phần tử bắn từ hôm qua, lúc trời quang, nhưng dầu sao bắn mà không quan sát được đạn nổ để điều chỉnh thì hiệu quả bắn sẽ hạn chế. Đấy là chưa nói đến tình trạng nguy hiểm có thể xảy ra: "Đấm nhầm vào lưng" bộ binh. Trời sáng dần. Sương mù vẫn không bớt dày dặc. Đồng chí Tám trung đoàn trưởng pháo binh qua dây nói – đảm bảo với sư đoàn là trường hợp nào cũng có thể nổ súng được, chỉ xin sư đoàn cho lùi lại 10 phút để đủ thời gian phát quang xạ giới. Sư đoàn chấp nhận. Tuy vậy, sư trưởng Tâm văn gọi dây nói cho đồng chí Lẫm trung đoàn trưởng 18 và đồng chí Giảng trung đoàn trưởng 101 chuẩn bị chiến đấu theo phương án 2, không có "gấu" nghĩa là không có pháo chi viện.


May sao, trời quang dần, sương mù có mỏng đi. Và đúng 5 giờ 50 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975, sư trưởng Tâm hạ lệnh cho pháo bắn.    

Pháo từ trên hòn Lưỡi Cái ở độ cao trên 700 mét bắn găm xuống nghe rất đanh. Sấm sét đang giáng xuống những điểm cao 560, 494, 520 và hòn Kim Sắc. Pháo của quân đoàn còn nã vào những trận địa pháo của địch ở Lương Điền, Mũi Né, Phước Tượng, Phú Lộc.


Trong lúc đó, ở phía Mỏ Tàu - 303, pháo của sư đoàn 324 cũng đang rót xuống 224, 273, núi Bông, núi Nghệ. Cả vùng rừng núi áp sát quốc lộ số 1 ở phía nam Huế đang rung chuyển trong tiếng pháo gầm.

6 giờ 45 pháo chuyển làn và tiếng súng con của bộ binh rộ lên, xen lẫn tiếng nồ ầm ầm của thủ pháo, lựu đạn đánh vào công sự, tiếng nổ của ĐKZ, B.40, B.41 tiêu diệt các hỏa điểm. Bộ binh ta đang xông lên đè bẹp sức đề kháng của địch.


Sau 30 phút chiến đấu, đại đội 11 tiểu đoàn 9 đã chiếm điểm cao 494, một điểm cao nhìn thẳng xuống quốc lộ 1.

Lát sau, tiểu đoàn 7 làm chủ điểm cao 520 và tiếp đến là đồi Yên Ngựa. Coi như tiểu đoàn 7 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tất cả mọi sự lo lắng của Ban chỉ huy trung đoàn 18 và Bộ tư lệnh sư đoàn 325 đều tập trung về điểm cao 560, nơi tiểu đoàn 9 đảm nhiệm công kích. Điểm cao 560, sở chỉ huy của tiểu đoàn 61 biệt động quân 15 là ngọn núi cao nhất trong hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực này. Địa thế lại phức tạp, độ dốc lớn nhất là ở hướng đại đội 9. Có đập vỡ được điểm cao này mới coi như tiêu diệt được tiểu đoàn 61 biệt động quân và chọc thủng tuyến phòng ngự địch, để có điều kiện đánh xuống đường 1.


Sau một giờ chiến đấu gay go, đại đội 10 đã chiếm được mỏm 1, nhưng đến đấy cũng bị địch chặn lại không phát triển dược. Ở hướng đại đội 9 lại càng khó khăn hơn. Địch đã dựa vào địa thế có lợi, vừa dùng hỏa lực bắn thẳng, vừa tung lựu đạn và bắn cối cá nhân xuống, nên đại đội 9 bị thương vong khá nặng nề, không bứt phá lên được. Ngay sau khi đại đội 11 chiếm xong điểm cao 494, liền được lệnh tổ chức ngay một mũi đánh lên hướng đông 560 hỗ trợ cho đại đội 9, nhưng mũi này cũng phát triển rất khó khăn.


Sau hai tiếng đồng hồ chiến đấu ác liệt, tình thế vẫn chưa thay đổi, đại đội 10 tổ chức hỏa lực kiên quyết đẩy lùi mọi cố gắng của địch hòng đánh bật ta ra khỏi mỏm 1. Trận địa đầu cầu này vẫn được giữ vững.

Bộ tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho trung đoàn 18, cử đồng chí Gang phó chính ủy và đồng chí Hóa trung đoàn phó xuống trực tiếp chỉ huy đánh chiếm cho được 560. Hai đồng chí này cấp tốc rời sở chỉ huy xuống ngay tiểu đoàn 9 nơi cuộc chiến đấu đang gay go căng thẳng.


Cho đến trưa, về hướng hòn Kim Sắc, trung đoàn 101 do chưa chuẩn bị được tốt, cách đánh còn nhập nhằng nên chưa dứt điểm được các mục tiêu 310 và 312 do tiểu đoàn 60 biệt động quân 15 chốt giữ.

Sau cuộc hội ý chớp nhoáng. Bộ tư lệnh sư đoàn 325 quyết định:    - Tung đại đội 7 thuộc tiểu đoàn 8 lực lượng dự bị cho tiểu đoàn 9 vào đánh 560.

- Lệnh cho tiểu đoàn 7 chỉ để một lực lượng chốt giữ các điểm đã chiếm được, xốc lại đội hình, sẵn sàng phát triển đánh 560.

- Tiểu đoàn 8 lực lượng dự bị của trung đoàn 18 (chỉ còn đại đội 5 và đại đội 6) sẵn sàng tại chỗ, đợi lệnh.

- Trung đoàn 101 tổ chức lại đội hình chiến đấu phải tiêu diệt được các điểm cao 310, 312, đồng thời đánh mỏm 329 hỗ trợ cho trung đoàn 18 dứt điểm 560. (Lúc đầu chủ trương của sư đoàn là giao trung đoàn 101 bao vây 310 và 312 lại, tập trung lực lượng làm dự bị cho trung đoàn 18 dứt điểm 560 để tràn xuống đường 1, nhưng trung đoàn 101 thiết tha đề nghị sư đoàn cho đánh nốt hai điểm cao trên). Tất cả quyết tâm của cán bộ chỉ huy từ trung đoàn, sư đoàn đến quân đoàn đều nhằm đánh gục kẻ địch ở 560, mục tiêu nguy hiểm nhất ngăn chặn sức đột phá của ta xuống đường 1. Bây giờ là sự hy vọng vào đại đội 7 mới được lệnh tung vào trận chiến.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:18:18 am
Đại đội 7 thuộc tiểu đoàn 8 do đại đội trưởng Dinh và chính trị viên Bạch chỉ huy, làm đội dự bị cho tiểu đoàn 9, từ sáng đến nay vẫn bồn chồn nằm trong công sự dưới chân đồi 366, nơi cách cứ điểm 560 có 300 mét đường chim bay. Anh em đang bàn tán với nhau rằng làm anh dự bị đến là buồn. Hành quân thì đi cuối đội hình, vất vả muốn chết. Đến nơi, ngồi giữ đạn và ba lô, tăng võng cho tiểu đoàn 9, nghe người ta nổ súng, tay chân cứ ngứa ngáy ran lên mà vẫn chỉ được nghe ban chỉ huy đại đội dỗ dành: "các đồng chí cứ yên trí, chuẩn bị cho chu đáo vào!". "Liệu chuẩn bị chu đáo rồi có được thu dọn chiến trường và khiêng thương binh hộ tiểu đoàn 9 không?" - Có anh còn nói dỗi như thế.


Khi được lệnh vào chiến đấu vì tình hình 560 đang khó khăn, đại đội trưởng Đinh hô lên "đại đội 7 xuất kích!", thế là cả đại đội thành một hàng dọc xốc súng lao lên trong tiếng đại liên, trung liên và các cỡ súng bộ binh vẫn nổ dữ dội trên đồi 560. Con đường xuất kích nhằng nhịt cây rừng, có chỗ phải vượt qua những bụi mây bụi song, gai cào rách tay rách chân, nhưng anh em chiến sĩ đại đội 7 cứ mặc, vẫn nhanh chóng hướng về nơi súng nổ của đại đội 10 đang giữ bàn đạp tiến công trên mỏm 1.


Bất thần một chùm pháo địch phản ứng đúng vào giữa đội hình hành tiến. Rồi những chùm khác nổ liên tiếp. Đội hình bị cắt đôi ra. Khi dứt tiếng đại bác, điểm lại đã mất 23 đồng chí hy sinh và bị thương. Tình thế trở nên khó khăn phức tạp. Nhưng đại đội 7 được chuàn bị tư tưởng chu đáo nên không hề nao núng. Giao thương binh, tử sĩ lại cho đội tải thương tiểu đoàn 9, đại đội 7 với 37 tay súng còn lại, nhất quyết trả thủ cho đồng đội.


Đại đội trưởng Đinh và chính trị viên Bạch bàn với nhau và quyết định, không tung đơn vị tiến công vào hướng bàn đạp của đại đội 10; ở đấy địch đã chuẩn bị đầy đủ hỏa lực và xung lực sẵn sàng đối phó với ta. Thế bất ngờ không còn, mà lực lượng của đại đội 7 cũng không nhiều, nên đòn đột kích sẽ không mạnh, không hiểm. Phải chọn hướng bất ngờ khác.


Cán bộ đại đội, trung đội nhanh chóng bò đi nghiên cứu và quyết định tiến công vào bên trái cửa mở đại đội 10, nơi địch rất chủ quan vì thế đất rất có lợi cho địch phòng ngự, lại có một bãi mìn khá dày đặc rải ở triền đồi. Bấy giờ đã là 14 giờ 00 chiều, nhưng trời vẫn âm âm, sương trong rừng nhất là ở hẻm dốc vãn còn lãng đãng. Lợi dụng cây rừng, lợi dụng màn sương mỏng và nhất là thế sơ hở của địch, anh em nhanh chóng bò lên gỡ mìn, mở lối tiến công. Đồng chí Toán, một đảng viên kiên cường đã dẫn tổ 3 người nhanh chóng và bí mật áp sát hàng rào gỗ của địch. Anh ôm cả mìn theo, sẵn sàng cắn nổ để mở cửa khi không còn giữ được bí mật nữa. Nhưng anh đã nhấc được cọc rào lên không khó khăn mấy. Nhanh như chớp, cả tổ lọt vào, tung lựu đạn xuống chiến hào, súng AK kẹp nách rẹt vào mấy tên địch dang ngơ ngác bên công sự. Đại đội trưởng Đinh chỉ huy cả đơn vị lao lên. Lập tức từng tổ được chia ra đánh thẳng vào tung thâm địch. Khi mũi nhọn đại đội 7 đã cắm vào giữa rốn điểm cao 560, các đại đội 10, 11, 9 từ ba phía đều đồng loạt tiến công. Bất ngờ quá, hoảng hốt quả, kẻ địch chưa kip trở tay đã bị hạ, đã bị bắt. Tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 61, vội rời bỏ hầm kèo - nơi còn treo áo quần phụ nữ lẫn với quân phục, nơi khói súng chưa át nổi mùi nước hoa - chuồn theo chiến hào định tẩu thoát. Nhưng không kip, hắn đã bị tóm cổ.


Đúng 15 giờ ngày 21 tháng 3 năm 1975, đồng chí Triển tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 báo cáo lên trung đoàn trưởng Lẫm là đơn vị đã chiếm xong 560. Tin này được báo cáo lên sư đoàn, lên quân đoàn hết sức nhanh chóng. Thế là trung đoàn 18 ở hướng tiến công chủ yếu đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đoàn 61 biệt động quân. Cùng lúc ấy, trung đoàn 101 cũng đánh chiếm xong hai điểm cao 310 và 312. Hệ thống án ngữ phía tây quốc lộ số 1 từ nam Lương Điền đến Đá Bạc đã bị đập vỡ tan tành.


Về phía Mỏ Tàu, sau 40 phút chiến đấu, trung đoàn 2 đã chiếm lại được điểm cao 224, nhưng không chiếm được tây-nam mỏm 303.

Trung đoàn 1 sau 3 giờ chiến đấu, chiếm được núi Bông, nhưng địch đã dùng xe tăng ở núi Nghệ phản kích đánh bật ta ra. Cùng ngày 21 tháng 3 năm 1975 Bộ tư lệnh quân đoàn 2 và Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên - Huế đều nhận được chỉ thị của anh Văn do anh Lê Trọng Tấn truyền đạt, nội dung như sau:

"Bộ gửi anh An, anh Linh (B5)
         anh Đồng, anh Nam (B4)

1. Ở Thừa Thiên - Huế, địch đã bắt đầu rút lui và đang rút lui tiếp.

2. Nhiệm vụ của quân đoàn 2 và quân khu Trị Thiên là phải khẩn trương, táo bạo chặn không cho địch rút, chia cắt tiêu diệt cho được toàn bộ lực lượng sư đoàn 1 ngụy và các lực lượng khác, thu hồi toàn bộ trang bị, tài liệu của địch, giải phóng hoàn toàn Trị Thiên, Huế và chiếm lĩnh toàn bộ đèo Hải Vân.

3. Lực lượng của B4, B5 phải hoàn toàn cắt hẳn được giao thông đường 1 của địch từ Huế vào Đà Nẵng, nội trong ngày 21 tháng 3 năm 1975.

4. Lực lượng của B4 không được dừng lại ở Mỹ Chánh mà phải kịp thời phát triển tiến công về hướng cửa Thuận An bằng hai đường: Đường từ Mỹ Thủy - Hướng Điền - cửa Thuận An. Đôn đốc trung đoàn 4 đánh từ hướng tây Sơn Quả - Phong Chương - Quảng Thái cắt chặn tiêu diệt địch rút chạy (không cần đánh điểm).

5. Dùng lực lượng tiểu đoàn 5 hải quân để rải mìn, chặn đường sông Hương, cửa Thuận An.

6. Bộ tư lệnh quân đoàn 2 và quân khu Trị Thiên được phép sử dụng lực lượng của mình để tiêu diệt địch, kể cả pháo và tăng. Trong 2 -3 ngày tới sẽ tăng thêm lực lượng phía sau cho các anh.

Pháo lúc này không cần phải đánh kho tàng nữa, mà phải khống chế sân bay, nơi tập trung di chuyển ở đường bộ, đường không. Địch rút chạy phải di chuyển trận địa bắn khống chế được cửa Thuận An.

7. Thủ trưởng tham mưu B4, B5 phải thường trực ở máy điện thoại và cách một giờ báo cáo về Bộ một lần".


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:19:17 am
Trên điểm cao 560, trời đã về chiều. Ban nãy trời hửng lên một lát, bây giờ lại âm u, sập sìu. Sương mù lan tỏa nhanh chóng dưới các thung lũng. Tuy vậy, nhìn xuống quốc lộ vẫn rõ từng dáng xe chạy, người đi. Vẫn nhìn rõ những cứ điểm ria quốc lộ: Ràn Bò, Bạch Thạch, 200, Mũi Né. Bây giờ ta đã chiếm được thế cao, thế áp đảo kẻ địch. Tiểu đoàn 9 nhanh chóng tổ chức chốt giữ. Xác quân địch ngổn ngang khắp nơi, đứa nằm ngửa, đứa nằm sấp, có thằng chân có chân duỗi như đang chuẩn bị nhổm dậy chạy, có đứa gục đầu bên công sự y như ngủ quên. Thôi, hãy ngủ yên đi những tên khốn khổ, những kẻ chết mà không hiểu vì sao mình phải chết. Lát nữa, chúng tao sẽ thu vén chúng mày lại cẩn thận, bây giờ chúng tao chỉ băng bó cho những thằng đồng đội bị thương của chúng mày. Những thằng mặt non choẹt, đau đớn đang gọi "mạ ơi! mạ ơi!". Chúng tao còn phải cải tạo lại công sự, nhặt nhạnh súng ống đạn dược của chúng mày - không, của thằng Mỹ chứ đâu phải của chúng mày. Những thứ vũ khi kia đã sẵn sàng trong công sự. Và những tên khác từ dưới Lương Diền - Phú Lộc cứ liều lĩnh lên đây!


Đấy là tâm trạng của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 9 đang tất bật tổ chức chốt giữ trên điểm cao 560 vừa chiếm được. Có mặt cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn 9 lúc này đã lên điểm cao 560 là các đồng chí Gang phó chính ủy và Hóa trung đoàn phó trung đoàn 18. Nhiệm vụ tổ chức đánh chiếm và tổ chức chốt giữ đã xong, Gang gọi dây nói báo cáo trực tiếp lên sư đoàn.

Tiếng chính ủy Lê Văn Dương:

- Sao? Bây giờ anh còn ở đấy à?

Câu hỏi gay gắt của chính ủy làm Gang ngớ người ra.

- Báo cáo chính ủy, chính anh Tâm ra lệnh cho tôi và đồng chí Hóa phải xuống trực tiếp chỉ huy đánh 560 - bây giờ nhiệm vụ đã hoàn thành, anh cho biết vị trí của tôi bây giờ là ở đâu?

Giọng nói của chính ủy trở nên đanh thép:

- Vị trí của anh là dưới đường 1. Vị trí của các anh, của trung đoàn 18 là dưới đường 1. Vị trí của chúng tôi, của cả sư đoàn đều dưới đường 1. Đấy là mệnh lệnh của quân đoàn!

Lập tức một cuộc hội ý qua máy điện thoại giữa ban chỉ huy trung đoàn 18 được tiến hành và quyết định chỉ để tiểu đoàn 9 chốt giữ 560 và làm lực lượng dự bị cho trung đoàn. Ban chỉ huy trung đoàn trực tiếp nắm tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8, chiến đấu trong hành tiến, chọc xuống đường 1 đoạn làng Bạch Thạch, rồi tiểu đoàn 7 phát triển lên hướng bắc, tiểu đoàn 8 đánh xuống phía nam, cố gắng mở rộng phạm vi cắt đường. Trời tối dần. Đồng bằng Phú Lộc chìm trong màu đen nhờ nhờ. Phá Cầu Hai với vùng nước rộng mênh mông còn lưu lại chút ánh sáng cuối cùng của trời hoàng hôn. Pháo của địch đánh vào những điểm chúng vừa mất. Bộ đội ta vẫn tổ chức hành tiến trong tiếng súng cối của tiểu đoàn 9 ở điểm cao 560 bắt đầu nã xuống đường 1 chặn đứng những đoàn xe của địch rút chạy vào Đà Nẵng. Khi những chớp lửa lóe lên dưới đường, thì những chiếc đèn pha ô tô vụt tắt, và sau đấy ta nghe tiếng xe quay đầu chạy ngược trở ra Huế.


Địa hình ở đay hoàn toàn mới lạ đối với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 18. Cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội bậc trưởng cùng với trinh sát đi trước nghiên cứu, cán bộ bậc phó chỉ huy bộ đội hành tiến phía sau, cứ mò mẫm trong đêm tối, tuy đói, mệt, vất và nhưng lòng dạ ai cũng để dưới đường 1. Phải cắt đứt đường 1, cô lập Huế tiến tới giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên – Huế. Mệnh lệnh của quân đoàn vừa được phổ biến xuống tận chiến sĩ và đấy cũng là ý nguyện, là lòng mong mỏi của quần chúng từng nung nấu xưa nay.


Trời mưa, đêm tối. Cán bộ, chiến sĩ cắt đường mà đi. Không ai được chợp mắt. Cán bộ và trinh sát đi nghiên cứu về thì trời đã sáng. Bị mất các điểm cao án ngữ phía tây đường 1, địch đã cho quân lên chiếm đồi Bạch Thạch, 200, Ràn Bò. Địa hình lại khá phức tạp. Từ chân núi ra đường 1 phải băng qua những đám ruộng trống trải, bùn lầy. Khi bộ đội ta xuất hiện, bọn địch chốt trên đồi Bạch Thạch, mỏm 200 dùng đại liên, trung liên và cối kết hợp pháo bắn chặn đội hình ta mãnh liệt. Các tiểu đoàn 7 và 8 đã dùng 12 ly 7, DKZ, đại liên kiềm chế các hỏa điểm của địch, yểm trợ cho bộ binh vận động qua đám ruộng lầy. Một số chiến sĩ hy sinh, bị thương trên đường vận động. Các cán bộ tiểu đoàn như Cách, Mão (tiểu đoàn 7) Thiệt, Dinh (tiểu đoàn 8) đều gương mẫu dẫn đầu bộ đội vượt đoạn trống và bình tĩnh chỉ huy hỏa lực mang theo, diệt từng hỏa điểm của địch. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, bọn địch ở đồi Bạch Thạch số bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy về hướng nam. Ba mươi phút sau, bộ đội ta đã tràn xuống đường 1. Bấy giờ là 10 giờ 30 phút ngày 22 tháng 3 năm 1975. Lập tức, tiểu đoàn 7 phát triển theo hướng bắc, tiến công vị trí Ràn Bò. Tiểu đoàn 8 phát triển xuống phía nam. Bọn tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến ở phía nam và bọn tiểu đoàn 94 biệt động quân 15 ở hướng bắc đều ra sức phản kích để khôi phục lại đường 1, nhưng đều bị đập tan. Đoạn đường 1 bị ta cắt đầu tiên từ Bắc Sơn (Ràn Bò) về đến Bạch Thạch dài 3 ki-lô-mét. Chỉ 3 ki-lô-mét đường về tay ta, mà giao thông bộ từ Huế vào Đà Nẵng bị tắc nghẽn. Hàng nghìn chiếc ô tô đủ các loại: xe quân sự, xe du lịch, xe tải, xe ca, xe lam, tắc xi, phần lớn là xe chở dân Quảng Trị, dân Huế di tản vào Đà Nẵng nghẽn ứ tại Lương Điền.


Ồn ào, nhốn nháo và hỗn độn là nơi đây. Những con người hốt hoảng vội rời bỏ quê hương mang theo cả gia đình con cái, áo quần, chăn màn, của nả, hon-da, ti-vi, tủ lạnh, bàn ghế – nghĩa là chất được cái gì lên xe là cố mang đi. Những người nông dân khá giả còn mang theo cả máy cày, máy đuôi tôm, gà, heo, mèo, chó. Những bà tiều thương chở cả hàng hóa đóng thành kiện cùng những thứ lỉnh kỉnh dụng cụ gia đình: nồi niêu, xoong chảo, bếp ga, bếp dầu hỏa, rổ rá bằng nhựa màu.


Cả hàng mấy ngàn con người đổ xuống hai bên cầu Truồi trong một mớ âm thanh hỗn tạp: tiếng tài công hò hét mọi người đừng rời xe quá xa, tiếng người gọi nhau, trẻ con khóc, lợn kêu, tiếng than thở số phận, tiếng nguyền rủa vô cớ, tiếng cãi vã chì chiết nhau vì những nguyên nhân mà lúc thường họ có thể bỏ qua.


Thoạt đầu, tụi lính quân cảnh dùng loa phóng thanh ổn định trật tự, hứa với đồng bào rán chờ chút xíu, quân đội đang được tăng phái đến để giải tỏa đường 1. Lát sau, người ta nghe rõ tiếng súng cối và tiếng súng con mỗi lúc một gần. Rồi những tin đồn lan đi nhanh chóng là quân giải tỏa đã bị thất thiệt nặng nề và "Việt cộng" sắp chiếm Lương Điền.


Một vài chiếc xe quay đầu, rồi mươi lăm chiếc, vài trăm chiếc, cuối cùng là tất cả xe cộ đều quay về Huế. Bọn lính gác cầu Từ Nong, Phú Bài cho đến An Cựu, Tràng Tiền, bọn lính quân cảnh tuần tra của trại Đống Đa, của quận Hương Thủy, đều giả vờ ách một vài xe lại, cốt để hỏi tin tức. Cuối cùng, những thanh niên đội mũ nhọn, để ria mép, mình trần láng bóng mồ hôi, bám cheo leo trước thùng những chiếc xe tải chở dân, cứ phải gào lên thật lực, như một thứ loa phóng thanh: "Đường bị cắt rồi! Đường bị cắt đoạn Đá Bạc! Quay lại thôi! Không đi được nữa đâu!".


"Đường một bị cắt rồi!".


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:20:26 am
Tin này truyền đi nhanh như cơn bão. Thành phố Huế hoảng loạn. Những chiếc xe chạy xuống cửa Thuận An. Cảng Tân Mỹ và cửa Thuận An đều bị pháo kích. Chạy liều xuống Vĩnh Lộc để ra cửa Tư Hiền. Cửa Tư Hiền cũng đã ầm ầm tiếng đại pháo 130 ly, 152 ly rót xuống. Những chiếc xe chạy quanh quéo trong thành phố Huế, cuối cùng đành phải dừng lại hoặc đổ về nông thôn. Lính sư đoàn 1 bắt đầu giở trò ngoài phố: mua rẻ, dọa dẫm, xông vào những cơ quan, những nhà ở vắng chủ, kể cả nhà tụi Mỹ và nhà dân. Chúng nó tìm cách kiếm chác nhưng hãy còn vụng trộm, rụt rè chưa dám trâng tráo. Phố xá đóng cửa dần dần.


Tại sở chỉ huy quân đoàn tiền phương ngụy, Lâm Quang Thi trực tiếp gọi dây nói cho Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1:

- Chuẩn tướng phải tập trung lực lượng giải tỏa ngay đường 1 - bằng mọi giá, phải nhanh chóng giải tỏa. Nếu không thì kế hoạch trì hoãn chiến về "enclave" Đà Nẵng của sư đoàn 1 bộ binh cũng không xong... Đừng nói đến thực hiện quyết tâm tử thủ Huế của trung tướng tư lệnh quân đoàn.

Tiếng của Điềm đáp lại:

- Thưa trung tướng, tôi đã sử dụng lực lượng thuộc quyền, hành quân giải tỏa nhiều lần bất thành. Tôi còn phải đương đầu với tụi 324 ở núi Bông, núi Nghệ, tôi không còn đủ lực lượng, xin trung tướng cho tăng phái thêm hoặc sử dụng lực lượng dự bị của quân đoàn tiền phuơng - lữ 1 kỵ binh của đại tá Dũng.

– Ồ, không được đâu, xin nói để chuẩn tướng rõ, không thể điều 1 người lính nào ở bắc An Lỗ vào. Sáng nay, cộng sản có ý định vượt sông Mỹ Chánh, đã xảy ra đụng độ, mà địa phương quân ngoài đó rất mong manh. Chuẩn tướng phải tự liệu lấy trong phạm vi trách nhiệm phòng ngự của mình. Vâng, tôi hiểu, thưa trung tướng!

Đoạn đàm thoại trên đây là do mấy sī quan tham mưu của sư đoàn 1 bộ binh sau khi bị bắt, kể lại. Họ còn kể rằng, khi buông máy nói, Điềm hậm hực chửi thề: "Mẹ kiếp! Để tướng Thi vô mà giải tỏa lấy!. Tin đường 1 bị cắt đứt đã gây một tâm trạng hoang mang, buồn bã trong bộ tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ngụy đóng ở Dạ Lê Thượng. Tụi sĩ quan nhìn nhau, nhún vai lắc đầu. Cảm giác mất Huế đã rõ ràng. Mọi suy nghĩ tính toán của chúng không phải để giải tỏa đường 1 mà chỉ lo cho vợ con gia đình, cho chính bản thân tụi chúng. Có thằng bắt đầu chuồn; mặc kệ tất, hắn lo sao cho hắn hãy cứ sống đã. Sáng 21 tháng 3 pháo binh của ta lại bắn rất chính xác trúng vào trung tâm huấn luyện, kho đạn và bản doanh Bộ tư lệnh sư đoàn 1. Tên thiếu tá Khoa chỉ huy pháo binh sư đoàn bị trúng đạn chết. Cái chết của tên Khoa gây cho bọn chúng một cảm giác bị trừng phạt bởi một đấng thần linh nào đó: "Trời có mắt, trời ủng hộ Việt cộng rồi!". Sự hoang mang dao động trong cơ quan bộ tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh nguy càng gia tăng. Hầu nhu không ai muốn làm việc nữa. Tên đại tá Trương Tấn Thuật phó tư lệnh sư đoàn phải gọi viên tham mưu phó chiến tranh chính trị, trung tá Võ Văn Từ đến để bàn cách trấn an sĩ quan, binh sĩ. Nhưng tinh thần chúng đã quá suy sup, trấn an sao nổi? Ngay cả tụi bộ tư lệnh: Điềm, Thuật, Lợi và tụi chiến tranh chính trị nào là phòng chỉnh huấn, phòng an ninh quân đội, phòng xã hội, phòng tâm lý chiến, thiếu tá tuyên úy, đại úy mục sư, v.v. đều như đang ngồi trên chảo rang, đều như đang đứng chênh vênh bên bờ vực thẳm.


Giữa thành phố Huế hoảng loạn, hớt hải, dằn vặt nhau, cắn xé nhau, những tên cảnh sát biết thân phận mình là những kẻ cùng đường nhất, ôm nhau khóc; những tên ác ôn khác quyền thế và giàu có đã đổ của ra thuê ghe máy, thuê gọ vượt biển cao chạy xa bay.


Những luận điệu chiến tranh tâm lý được tung ra: "Việt cộng chỉ đánh trên núi thôi. Năm Mậu Thân họ chiếm gần hết Huế, cuối cùng cũng phải ra. Hoa Kỳ sắp có phản ứng quyết liệt, v.v.". Tất thảy đều không thể vỗ về được cái thành phố đang trong cơn dao động lớn. Tuy thế, nhà máy đèn, nhà máy nước vẫn hoạt động; các bác công nhân văn kiên nhẫn đạp xe đến sở làm việc. Học sinh, sinh viên vẫn lẻ tẻ đến trường, mặc dù chẳng học hành gì nữa, nhưng họ đến đấy để nghe ngóng và bàn tán tin tức.


Ngoài phố, người vắng hẳn đi. Chỉ có lính và dân di tản Quảng Trị. Lính, đứa thì vứt súng cho súng và chuồn, đứa ở lại thì phá phách kiếm chác và tranh thủ ăn nhậu cho đã đời: la-ve nốc hàng két, thịt gà gặm cả con. Đánh chén no nê rồi nhảy "xuống đò" với các em giữa ban ngày ban mặt, cóc sợ thắng nào rầy la. Dân Quảng Trị di tản mắc kẹt không đi nổi Đà Nẵng, mà về quê cũng chưa được, cứ cuống cuồng lên, không biết xử trí ra sao. Đồ đạc mang đi bán tống bán táng, giá rẻ như bèo mà chẳng mấy ai thèm mua, chỉ cốt kiếm được gạo ăn cho qua những ngày nằm lăn lóc trên chùa Diệu Đế hoặc nơi trường Việt Hưng. Trâu thả rong đi đủng đỉnh giữa phố, chó ghếch chân lên đái bên cột điện, trẻ con di tản tụt quần ỉa ngay cạnh đường. Huế thanh lịch là thế mà lúc này trở nên dung tục quá xá. Giữa đám người hốt hoảng, trễ nải, ta vẫn thấy một số ông già bà già bình tĩnh trồng hoa, tưới cây, hoặc quét dọn nhà cửa.

- Bác không di tản răng bác?

- Chử thì đi mô cũng rứa đó thôi chú à!

- Bác gan thiệt! Không sợ Việt cộng răng?

- Việt cộng thì cũng như chú, như tui, Năm Mậu Thân, họ ở trong nhà tui mãi...

Đấy là vài nét phác qua bối cảnh thành phố Huế hôm 22 tháng 3 năm 1975 mà anh Lê Phương Thảo thành ủy viên Huế kể lại với chúng tôi sau ngày Huế giải phóng.

Anh Thảo và tôi quen nhau từ cuối năm 1969, hồi còn ở trên khu rừng Cao Bồi trên biên giới Lào – Việt. Mùa hè năm 1972, thực hiện chiến dịch Bình Minh, quét sạch Việt cộng nằm vùng địch đã hốt 1.500 người (đảng viên, đoàn viên, cơ sở, cảm tình và cả thành ủy viên) đày ra Côn Đảo. Cơ sở cách mạng ở Huế gần như trắng tay. Anh Thảo được giao nhiệm vụ về thành phố hoạt động xây dựng phong trào từ bấy đến nay.    Khi chiến dịch mùa xuân 1975 bắt đầu, anh được triệu tập lên "xanh" trực tiếp gặp khu ủy nhận kế hoạch hoạt động trong thành phố. Với 8 chi bộ, 30 chi đoàn thanh niên, 170 cơ sở cách mạng và 6 sĩ quan nội tuyến, lực lượng cách mạng ở Huế thật là đáng kể. Và đấy là những con người bình tĩnh, vững tin vào thắng lợi, hoạt động một cách tích cực, bí mật trong các xí nghiệp, đường phố, nhất là trong hàng ngũ giáo chức, sinh viên, học sinh.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:21:10 am
Để chuẩn bị đón thời cơ, họ đã tổ chức 4 ban cán sự để lãnh đạo ở các quận 1, 2, 3 và Phú Vang. Ngày 18 tháng 3, 40 tổ tự vệ được thành lập với trang bị bằng súng AK, K.54, đưa từ trên rừng về hồi Tết. Nhưng số súng này cũng không đủ, họ phải mua hoặc xin của tụi lính, nhất là của những thằng tự ý rã ngũ về lo di tản gia đình. Anh em còn xin và nhặt nhạnh được hàng trăm bộ quần áo lính, để dễ bề trà trộn. Mua sẵn 4 tấn gạo, chuẩn bị xăng, dầu, dầu đốt để có cái ăn mà chiến đấu. Một kế hoạch chiến đấu được phác ra để phối hợp với lực lượng chủ lực đánh vào thành phố. Phải chiếm các mục tiêu: nhà máy đèn, nhà máy nước, đài phát thanh và 6 chiếc cầu đi vào thành phố, không cho tụi chúng phá hoại. Tóm lại, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ thành ủy Huế, lực lượng cách mạng trong thành phố đã sẵn sàng hành động.


Ngày 22 tháng 3 cái tin đường 1 đã bị cắt ở Đá Bạc lan đi trong thành phố nhanh chóng. Bộ mặt thành phố Huế cũng thay đổi hẳn: Bọn dịch càng hốt hoảng, rối loạn bao nhiêu thì cán bộ, đảng viên, đoàn viên, cơ sở của ta vui mừng bấy nhiêu, gần như muốn reo lên tất thảy: "Đường 1 cắt rồi, đường vào Đà Nẵng bị nghẽn hoàn toàn rồi". Pháo vẫn nã vào Mang Cá, Tây Lộc, Dạ Lê Thượng, cửa Thuận An, Tân Mỹ. Pháo của ta bắn không nhiều nhưng chuẩn xác, khiến tụi địch phải kêu lên rằng, tiền sát pháo binh của ta đã cơm đùm cơm gói nằm cạnh nách chúng rồi.


Ngày 20 tháng 3, Thường vụ thành ủy đã chỉ thị cho lực lượng cách mạng nội thành chuẩn bị chớp thời cơ giải phóng Huế. Thời cơ đã xuất hiện rồi. Tin tức ở phía bắc mang về là ta đã vượt tuyến Mỹ Chánh. Phong Điền đã nổi dậy. Anh chị em ta đa số còn trẻ, xốc nổi, nên các ban cán sự phải khéo kiềm chế, giữ vững kỷ luật, không thì nhảy ra công khai hết.


Lời kêu gọi giải phóng Huế được in ra hàng vạn tờ và đem rải khắp nơi, các tổ tự vệ bắt đầu hoạt động. Ở nhà máy nước có cơ sở Đảng nên dễ dàng đem tự vệ đến chốt ngay. Nhà máy điện, đài phát thanh, ta chỉ bố trí những tổ tự vệ ăn bận áo quần lính sư đoàn 1 lảng vảng bên ngoài, sẵn sàng tràn vô ở, nếu thấy chúng có hiện tượng phá hoại là nổ súng. Có tin ở bệnh viện trung ương Huế, bọn địch bỏ chạy, lập tức một tổ tự vệ được phái đến chốt giữ. Các cầu quan trọng đều có lực lượng giám sát. Phải gấp rút may cờ! Vải ở đâu? Vải đỏ vải vàng thì chẳng thiếu giống, nhưng cái màu xanh da trời mới gay. Chợ Đông Ba không có bán. Một cô gái lấy ngay chiếc áo dài mới may của mình ra, chiếc áo may bằng hàng lụa Pháp, đúng màu xanh hòa bình. Thế là ổn rồi, phải có cờ Mặt trận cầm ngay trong đêm, nhỏ cũng được – để biểu thị sức mạnh của cách mạng, để uy hiếp kẻ địch. Một tổ tự vệ bận đồ lính sư đoàn 1 ngụy, phóng xe hôn-da xuống, treo cờ ở cửa Thuận An rồi ở Phú Vang. Sáng hôm sau, bọn địch đồn ầm lên là Việt cộng về cửa Thuận An đông lắm, tin đồn này càng làm chúng hoang mang. Việt cộng về dưới cửa Thuận An, thì còn đâu là sinh lộ?


Bây giờ thì cánh sinh viên giải phóng không còn thấy mặt đại tá Duệ – tiểu khu trưởng Thừa Thiên, con người mà mọi ngày văn thường giao du với sinh viên để tỏ ra mình là người bặt thiệp. Thực chất thì y muốn vuốt ve lấy lòng sinh viên – lực lượng trí thức trẻ đáng gờm nhất – thường là những ngòi nổ của các vụ đấu tranh chống Mỹ - Thiệu. Đấy là một người ngoài 40 có bộ mặt hoạn quan, hơi béo xệ, tay chân mềm mại, giọng nói xứ Bắc ngọt xớt, tuy hơi eo éo. Y chưa vợ con, mà lại không thích tiếp đàn bà, con gái, nghe người ta đồn rằng y là một thứ ái nam ái nữ chứ đâu phải là người đứng đắn. Ở cái xã hội này làm gì có người leo lên đến cấp đại tá (ngụy) mà lại không hám gái? Dù sao y vẫn được tiếng là người khôn khéo. Con người khôn khéo ấy, bây giờ người ta không nghe y ba hoa về dự định mở trung tâm cai thuốc phiện, ma túy, mở trung tâm dạy nghề cho trẻ em lang thang ngoài phố nữa. Y nằm tịt trong nhà tiểu khu ở Mang Cá để thỉnh thoảng phải rúc xuống hầm tránh pháo kích. Y đang đứng giữa một cơn lốc của thất vọng. Họp hành, ra lệnh, xử trí, thỉnh thị cấp trên, y mệt bã người ra, trán lúc nào cũng dâm dấp mồ hôi. Hết chạy sang tướng Thi, đến gọi điện cho tướng Lạc, tướng Trưởng, hết gọi tướng Điềm phía nam, đại tá Trí phía bắc, đến gặp trung tá Khanh chỉ huy cảnh sát, trung tá Phước trưởng khối chiến tranh chính trị, rồi hò hét các chi khu, y quay cuồng, giãy giụa, dằn vặt. Để cuối cùng, con người khôn khéo ấy phải ôm mặt khóc trước cuộc họp với bộ hạ của tiểu khu và than rằng: "... Tướng Thi đã phản tôi, lúc đầu bảo tử thủ, nay thì họ tìm cách tháo thân...".


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:34:13 am
IX. Một cuộc hợp vây tuyệt đẹp

Con đường 1! Ôi, con đường 1 mong nhớ, mến yêu! Giờ đây cả trung đoàn 18 đã ùa xuống đường 1, tiểu đoàn 9 ở phía sau cũng thôi không chốt giữ 560. Tất cả đã xuống đường 1. Chúng ta đã cắt được một đoạn đường 3 ki-lô-mét, rồi 4 rồi 5,... đầy lùi địch ra xa. Tiểu đoàn 7 phía bắc, tiểu đoàn 8 phía nam, các chiến sĩ đã nhanh chóng chiếm giữ những địa hình địa vật có lợi, đánh tan nhiều đợt phản kích của địch. Họ đã ở trong làng Bạch Thạch, nói cho đúng hơn là xóm nhỏ Bạch Thạch với quãng hai chục ngôi nhà ở rải rác lưa thưa. Xóm trống vẳng. Nhân dân đã bỏ chạy, tránh bom đạn. Nhưng hầu như đồ đạc: bàn, ghế, giường, tr còn nguyên. Còn nguyên cả heo, gà, ngan, ngỗn. Con mèo mướp nhà ai vẫn ngồi sưởi nắng trên mái bếp. Vài con chó sủa người lạ, lát sau cũng nằm im. Cả xóm chỉ còn một bà già ngoài 70 và một em bé trai cỡ 10 tuổi. Khi anh bộ đội Giải phóng vào, lên tiếng chào bà cụ thì cụ liền đứng dậy, dáng run sợ, vái thật dài:

- Không dám, chào các ông Việt cộng!

Em bé đứng cạnh bà, đôi mắt mở to, vừa tò mò vừa có ý đề phòng. Em không nói gì, hai tay bám chặt thành giường phía sau lưng, hết nhìn anh bộ đội này đến anh bộ đội kia. Khi các anh bắt chuyện thì em bé trả lời nhát gừng, đôi lúc mái đầu cúi xuống một cách bất lực.

- Cụ đừng xưng hô với chúng cháu như thế. Chúng cháu chỉ đáng bậc con bậc cháu của cụ thôi! Nhà có hầm ca-nông không? Có à? Vậy thì khi nào có súng nổ, cháu dẫn bà vô núp hầm tránh đạn nhé!

Anh chiến sĩ trung đoàn 18 không ngạc nhiên trước sự sợ hãi quá đáng của bà cụ và thái độ lạnh nhạt nghi ngờ của em bé. Thằng địch đã dày công xuyên tạc sự thật. Sự thật là anh bộ đội Giải phóng vượt qua bao nhiêu hy sinh gian khổ, để giải phóng nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc Mỹ và bè ũu tay sai, xóa bỏ vĩnh viễn cảnh chia cắt đất nước. Vậy mà qua giọng lưỡi tuyên truyền lừa bịp của chúng, anh trở thành con người hung hãn đáng kinh sợ. Nhưng không sao, mọi thủ đoạn tuyên truyền dựa trên cơ sở lừa dối, bưng bít sự thật, không chóng thì chầy sẽ bị chính bản thân sự thật xé toạc ra.


Kìa, trong nhà vẫn còn treo ảnh tên đại bịp, tên bán nước Nguyễn Văn Thiệu cùng lá cờ ba que của một thời nô lệ. Hãy để đấy, tự khắc nhân dân sẽ biết xử liệu.

Em bé đã để bà cụ lại, đi một vòng quanh xóm và cuối cùng về nói với bà:

- Mệ ơi! Họ không lấy chi cả. Họ chỉ ở ngoài nương đào hầm đặt súng thôi!

Lát sau, em bé đã gọi bộ đội là "chú Việt cộng", rồi "chú Giải phóng" và đêm ấy, em đã trải chiếu mời các chú vô nhà mà ngủ, ngủ ngoài nương mần chi cho cực.

Đối với chiến sĩ trung đoàn 18, lúc này không phải là chuyện cực hay không cực. Anh còn để mắt vào Mũi Né, nơi bọn thủy quân lục chiến đang chốt giữ, và hai khẩu pháo ở đấy vẫn bắn dai như giẻ rách. Hơn nữa, dẫu anh ôm khẩu AK dựa lưng vào gốc mít ngoài vườn chợp mắt được một tý cũng khoái rồi. Đã mấy đêm không ngủ, nhưng dường như không thấy buồn ngủ mấy. Ban trưa lúc tràn được xuống đường, nhìn con đường 1 quen thuộc mà trở nên xa lạ, nhìn mặt nước mênh mông, nhìn những doi ruộng lúa đang thì con gái, anh xúc động muốn trào nước mắt. Như một người đi xa nay gặp lại quê hương mình, anh đã bắt gặp những điều mà bấy lâu nay còn là ước mơ còn là mong mỏi. Con đường quốc lộ và con đường sắt thân quen thế kia, mà hồi nào - đêm đêm các anh vượt qua thật là khốn khổ. Chúng nó phục kích, cài mìn, bắn pháo. Mỗi lần qua quốc lộ để lọt về đồng bằng là một lần đổ xương máu. Bạn bè đã ngã xuống dọc con đường rải nhựa này, nơi mà chỉ động một tý là xe tăng, xe bọc thép từ các chi khu lao tới, pháo 6 nòng trên xe bắn giập cây nát cỏ. Giờ đây thì họ đã làm chủ đường quốc lộ. Có anh khoái quá, súng AK khoác chéo sau lưng, nhảy một điệu vũ kỵ binh Tây Tạng cho nó giãn chân giãn cằng, cho nó tung hê mọi thứ rán chịu xưa nay. Có anh lội ào xuống phá, vục tay vào nước rửa mặt để nhấm nháp vị nước mặn trên môi, rồi giơ tay chào sóng nước bát ngát: "... gió lên đi! Cho thuyền ta ra khơi...".


Tất cả những sự xúc động vui vẻ ấy chỉ trong chốc lát. Các chiến sĩ đều biết tự kiềm chế, không đến nỗi quá tếu, bởi vì trước mặt và sau lưng họ là kẻ địch chực phản kích lấy lại đường 1.

Nhưng muộn quá mất rồi. Thế của ta lúc này là thế chẻ tre.

Chiều 22 tháng 3 năm 1975 Bộ tư lệnh quân đoàn 2 hội ý với nhau và nhận định: Do ảnh hưởng của chiến thắng Tây Nguyên, trước sức tiến công của ta, địch ở Trị - Thiên - Huế đang rối loạn. Ở phía bắc chúng đang co về tuyến sông Bồ, An Lỗ. Phía nam địch đang thực hiện co về Phú Bài-Huế. Nếu sức ép của ta mạnh, địch buộc phải rút theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Nhưng địch vẫn ngăn chặn ta ở núi Bông, núi Nghệ để co cụm theo kế hoạch. Đây là thời cơ tốt nhất để tiêu diệt sư đoàn 1 bộ binh, không cho chúng rút chạy an toàn, giải phóng Huế, sẵn sàng phát triển xuống phía nam.


Sau khi nhận định, Bộ tư lệnh đã giao nhiệm vụ cho các sư đoàn như sau:

- Sư đoàn 325 nhanh chóng phát triển tiến công căn cứ Lương Điền và quận lỵ Phú Lộc, 1 trung đoàn lên hướng Huế hợp với sư đoàn 324 giải phóng Huế.

- Sư đoàn 324 - bỏ núi Bông, núi Nghệ – 303 nhanh chóng đưa trung đoàn 1 và trung đoàn 2 hành quân đêm ngày hình thành thế bao vây chiến dịch từ phía đông không cho địch chạy ra cửa Thuận An, Tư Hiền, tiêu diệt sư đoàn 1 bộ binh. Trung đoàn 3 + 1 đại đội xe tăng của lữ 203 nhanh chóng diệt cứ điểm La Sơn, phát triển về hướng bắc phối hợp với bạn tiêu diệt dịch giải phóng Huế.

- Lữ pháo binh 164-nhanh chóng di chuyển ít nhất được 2 khẩu pháo tầm xa từ Mũi Trâu (trên đường 14 sát Quảng Nam) về điểm cao 75 -76, khóa cho được cửa Thuận An, Tư Hiền.

- Trung đoàn 284 cao xạ khẩn trương di chuyển trận địa lên phía trước bảo vệ pháo và đội hình chiến đấu của quân đoàn.

- Lữ 219 công binh nhanh chóng đưa 1 tiểu đoàn lên phía trước bảo đảm cơ động cho xe tăng và chuẩn bị cầu phà vượt sông Truồi, An Nong, Phú Bài. Quân đoàn tổ chức sở chỉ huy tiền phương ở thôn Bàn Môn 2. Bấy giờ, Bộ đã cho sử dụng binh khí kỹ thuật, nhưng các lực lượng pháo tầm xa, xe tăng còn ở A Lưới, A Sầu đang được lệnh điều động gấp. Trước mắt là điều đại đội 4 xe tăng về phối thuộc cho sư đoàn 324 để tăng thêm sức mạnh đột phá.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:36:00 am
Cùng ngày 22 tháng 3 năm 1975, Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1, tư lệnh quân khu 1 đang điên đầu lên vì được tin đường 1 giữa Huế - Đà Nẵng đã bị cắt, liên đoàn biệt động quân 15 sau khi bị đánh, gom về Phú Bài chỉ còn được 15 % số quân, tuyến Mỹ Chánh bị sức ép mạnh thì nhận được điện của Cao Văn Viên:

Сông điện mаng tay

   22/T2H 3/1975
   Nơi gửi: Bộ Tổng tham mưu/phòng 3
   Nơi nhận: Bộ tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1/văn phòng TL (CĐ).    Thông báo: - VF trung tướng phụ tá đặc biệt về quân sự và an ninh phủ Tổng thống.
   - VP đại tướng tổng tham mưu trưởng QLVNCH. Bản văn số 9582/TTM/P341.

   Tham chiếu: 1. CĐMT số 9428/TTM/P341 ngày 20/3/1975 của phòng 3 Bộ Tổng tham mưu.
   2. CĐMT số 9564/TTM/P341 ngày 21/3/1975 của phòng 3 Bộ Tổng tham mưu.

   Trân trọng kính chuyển đến quý Bộ tư lệnh chỉ thị của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa như sau:

   Thứ 1: Khả năng Trung ương chỉ có thể yểm trợ 1 "enclave" mà thôi. Vì vậy bằng mọi cách kịp thời và khi tình hình đòi hỏi, thực hiện "enclave" Đà Nẵng.

   Thứ 2: Trong giai đoạn đầu, sư đoàn 1 bộ binh, sư đoàn 3 bộ binh và sư đoàn thủy quân lục chiến về "enclave" Đà Nẵng, giai đoạn 2, sư đoàn 2 bộ binh về luôn.

   Thứ 3: Khi sư đoàn 2 bộ binh về xong, hoàn trả tức khắc sư đoàn thủy quân lục chiến về Trung ương.
   Đại tướng Cao Văn Viên
   Tổng tham mưu trưởng Q.L.V.N.C.H.


Tiếp theo bức điện này, Trưởng nhận thêm bức diện thứ hai do Cao Văn Viên và Đồng Văn Khuyến cùng ký tên, chuyển lời phúc đáp của Thiệu về việc Trưởng xin từ chức vào ngày 20 tháng 3 năm 1975 : "Tổng thống chưa thể chấp thuận ý nguyện của trung tướng trong tình trạng hiện tại. Trong lúc này, ai cũng phải cố gắng và hy sinh tối đa".


Nghe người ta đồn rằng, sau hai bức điện ngày 22 tháng 3 năm 1975, Ngô Quang Trưởng nổi cáu thực sự. Hắn đấm bàn đấm ghế ầm ầm, hắn chửi tụi Thiệu, Viên ngu xuẩn, càng co càng chóng chết (tuy nhiên, hắn không hiểu rằng, co hay duỗi không tùy thuộc ý muốn của tụi Thiệu, Viên. Tình thế của tụi chúng đã đến nước không co cũng không được). Hắn quát tháo tụi cấp dưới, chỉ lo tháo thân. Hắn giận thân, giận đời. Hắn thất vọng hoàn toàn, không hiểu sao hắn lại không tự tử?


Sau đó, hắn ra lệnh điều lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến lên đèo Hải Vân. Lệnh đưa một tiểu đoàn tăng phái cho lữ 468, còn tiểu đoàn kia tăng phái cho lữ 369. Lữ bộ về nằm ở sân bay Đà Nẵng. Thực chất là hắn giải tán lữ đoàn này.


Chúng tôi không có tài liệu về những cuộc đàm thoại giữa Ngô Quang Trưởng và Lâm Quang Thi lúc bấy giờ. Nhưng chắc hẳn đây là những cuộc đàm thoại sâu thẳm và có thể bằng giọng nói mỉa mai chua chát nhất.

Theo mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh quân đoàn 2, Bộ tư lệnh sư đoàn 325 quyết định giao cho trung đoàn 101 đánh căn cứ Lương Điền, trung đoàn 18 đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc. Do tình hình phát triển trong chiến đấu, các trung đoàn lúc này cũng có sự hỗn hợp, không thuần nhất. (tiểu đoàn 7 trung đoàn 18 đi trong đội hình trung đoàn 101, và tiểu đoàn 1 trung đoàn 101 lại đi trong đội hình trung đoàn 18).


Bây giờ, thế của ta là thế thừa thắng, đánh địch như chẻ tre.

Ở hướng nam, sáng 23 tháng 3 năm 1975 tiểu đoàn 8, trung đoàn 18 được lệnh tiến công Mũi Né, một cứ điểm ở bình độ 134, nhô ra ngoài phá Cầu Hai. Nắm được tình hình nhân dân Đá Bạc cho biết, ở Mũi Né địch đang hết sức dao động, chỉ muốn rút chạy, tiểu đoàn 8 khẩn trương tổ chức tiến công. Tiểu đoàn trưởng Trần Thiết trực tiếp chỉ huy hai đại đội 5 và 7 cùng với hỏa lực tiến công chính diện theo đường 1. Trong lúc đó, đại đội 6 vòng sang phải, công kích địch ở đồi 200 để bảo vệ cạnh sườn cho mũi chính diện. Trận tiến công không lấy gì làm gay go, địch đã quá bạc nhược nên chống cự yếu ớt. Đúng 14 giờ ngày 23 tháng 3 ta đã chiếm xong Mũi Né. Số địch sống sót bỏ chạy thục mạng về quận lỵ Phú Lộc. Chớp thời cơ địch đang hoang mang, trung đoàn trưởng Lãm ra lệnh cho tiểu đoàn 8 truy kích địch và đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc tức là thị trấn Cầu Hai. Bọn địch ở đây thuộc tiểu đoàn 128 bảo an bị giết bị bắt một số, còn đại bộ phận vứt súng bỏ chạy vào phía trong. Quân ta chiếm xong quận lỵ Phú Lộc hồi 19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975.


Cũng trong đêm ấy, nhân dân hai xã Gio Hải, Gio Lễ thuộc Gio Linh, Quảng Trị bị địch cưỡng ép vào hồi năm 1972, ở khu tập trung Phước Hưng (bắc đèo Phú Gia) cùng với nhân dân địa phương được lực lượng vũ trang huyện và xã hỗ trợ, đã nổi dậy khởi nghĩa, gọi hàng một đại đội bảo an, giải tán một trung đội dân vệ và toàn bộ ngụy quyền xã ấp. Cờ Mặt trận giải phóng đã tung bay trên khu tập trung Phước Hưng, biểu hiện sức mạnh quần chúng đã vùng lên phía sau lưng địch làm chúng càng thêm bối rối hốt hoảng.


Trên đường truy kích địch phía nam, đến đây trung đoàn 18 được lệnh đưa một lực lượng xuống bít cửa Tư Hiền. Một tiểu đoàn tăng cường tách khỏi đội hình, rẽ trái men theo bờ phá Cầu Hai xuống Lộc Trí quét địch ở chân núi Vinh Phong để phối hợp với tiểu đoàn 15, tiểu đoàn 21 của quân khu Trị Thiên vượt phá sang đánh địch bên kia quận Vĩnh Lộc. Đại bộ phận còn lại, vẫn do tiểu đoàn 128 bảo an sau khi bị đánh thiệt hại nặng nề ở Phú Lộc, số còn lại chạy về Thừa Lưu nhập bọn với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến. Chúng lợi dụng chiếc cầu Thừa Lưu do đặc công ta đánh sập vài đêm trước, vón quân lên núi Thồ Sơn và ga Thừa Lưu, nơi địa hình có lợi, ngoan cố ngăn chặn ta.


Tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 18 lúc này chỉ còn 2 đại đội 5 và 6, (còn đại đội 7 được phái đi Tư Hiền) nhưng tiểu đoàn trưởng Trần Thiệt vẫn hạ quyết tâm công kích. Nếu không ở thế "trúc chẻ tro bay", thì làm sao với lực lượng chỉ ngót nghét 100 tay súng lại dám tiến công kẻ địch ít nhất đông gấp 5 lần, bố trí sẵn. Bấy giờ Trần Thiệt không cần phải phân tích chi ly, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 8 đều đang trong khí thế thừa thắng, chỉ một quyết tâm là nhất tề xông lên. Trần Thiết vốn là người con của Đà Nẵng nên anh càng nóng lòng đè bẹp quân địch, tiến nhanh về giải phóng thành phố quê hương sớm được giờ phút nào hay giờ phút ấy. Ngoài ra, hơn ai hết trong trung đoàn 18, Trần Thiệt và cán bộ chiến sĩ đều canh cánh một lời hứa, phen này phải "rửa mặt" cho đơn vị, trả cái hận "Đồi Xanh" bởi vì sự thể mang tai mang tiếng này chính là thiếu sót của tiểu đoàn 8 xưa nay vốn được coi là đàn em nhất trong trung đoàn và có khi trong cả sư đoàn, quân đoàn nữa. Với khí thế như vậy, với quyết tâm như vậy, dẫu địch dùng hỏa lực mạnh bắn rát chiếc cầu hỏng không cho ta qua, dẫu quân số chúng đông, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 8 dũng cảm và khôn ngoan đã dùng hỏa lực bản thân cùng với hỏa lực chi viện của trung đoàn bắn chế áp địch và lần lượt từng người một vượt qua chiếc cầu mong manh, nhanh chóng chiếm địa thế có lợi. Hành động dũng cảm của bộ đội ta vượt qua chiếc cầu chỉ còn một dầm sắt chênh vênh trước hỏa lực đan chéo của chúng, đã làm tụi chúng vốn đã mất tinh thần càng hoảng hốt thêm. Chỉ ba mươi phút tiến công, tiểu đoàn 8 đã tiêu diệt tiểu đoàn 128 bảo an, và một bộ phận thủy quân lục chiến. Mọt số sống sót liều mạng chạy về Lăng Cô. Bộ đội ta lập tức truy kích, nhiều tên bị hạ dọc đường 1, cách Thổ Sơn 4 ki-10-mét về phía nam. Do nhạy cảm về tình thế đang hết sức có lợi cho ta, thời gian lúc này là lực lượng, trung đoàn 18 dấn lên chiếm luôn đèo Phú Gia. Một trong những chiến công xuất sắc của tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 18 sau đó là trận đánh chiếm Lăng Cô. Trận đánh táo bạo, nhanh chóng đến nỗi địch đã cài hàng tạ bộc phá vào chân cầu Lăng Cô - chiếc cầu dài 400 mét mà không kịp châm ngòi nổ. Trận đánh có ý nghĩa quan trọng là mở ngõ hướng bắc cho quân ta, có xe tăng dẫn đầu đánh thẳng vào Đà Nẵng.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:36:54 am
Tất cả những diễn biến ấy thuộc về thời gian sau ngày thắng lợi ở Thừa Thiên – Huế, bây giờ chúng ta hãy quay trở lại với những mũi tiến công chủ yếu của quân đoàn 2, nhằm tiêu diệt dịch, giải phóng Huế.   Chấp hành mệnh lệnh của Quân đoàn, anh Tâm sư trưởng và anh Dương chính ủy sư đoàn 325 trực tiếp tổ chức cho trung đoàn 101 tiến công căn cứ Lương Điền. Đập vỡ được căn cứ Lương Điền là ta đã thọc được lưỡi dao vào sau lưng khu vực Mỏ Tàu – 303, là ta mở toang cửa phía nam để quân ta tha hồ phát triển tiến công Huế, cửa Thuận An bằng nhiều mũi. Trong cuộc thảo luận phương án tác chiến, nói chung cán bộ ai cũng quyết tâm chiến đấu. Song khi đánh giá địch, có đồng chí vẫn tính toán là địch mạnh hơn ta. Bởi vì lực lượng của địch ở đấy khá đông. Là một căn cứ, nên việc bố phòng rất vững chắc. Bình thường muốn tiến công một căn cứ như vậy, ít nhất ta phải dùng 2 trung đoàn. Đằng này chúng ta chỉ có mỗi trung đoàn 101, mà quân số lại đã hao hụt qua trận chiến đấu vừa rồi. Chính ủy Lê Văn Dương đã phân tích cho can bộ thấy rõ địch không mạnh mà trái lại. Theo anh, chủ động tiến công địch mà thấy địch mạnh hơn là không nên đánh. Bởi vì đánh như thế không chắc thắng, chưa nói đến khả năng có thể thất bại. Ở đây nếu tính theo quân số vũ khí đơn thuần thì ta và địch xấp xỉ nhau, cứ cho địch có nhỉnh hơn một ít, nhưng thằng địch đang trong thế thua, đang trong tình trạng nhấp nhòm rút lui. Còn ta thì khí thế xung thiên, tinh thần hoàn toàn áp đảo địch. Lúc này, một chiến sĩ của ta có thể chấp mười tên địch. Rõ ràng ta mạnh hơn hẳn địch, thừa sức đè bẹp địch. Đấy là chưa kể ta có cách đánh đúng đắn, thích hợp, táo bạo - có thể phát huy hết uy lực về tinh thần và vũ khí để hoàn toàn tiêu diệt quân địch ở căn cứ Lương Điền, mà vẫn còn đầy đủ khả năng phát triển. Cách phân tích chí lý của chính ủy sư đoàn càng củng cố thêm niềm tin vào thắng lợi trận đánh cho cán bộ trung đoàn 101.


8 giờ sáng ngày 23 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 101 thực hiện chiến thuật bao vây thọc sâu, bắt đầu nổ súng tiến công Lương Điền. Tiểu đoàn 3 từ điểm cao 44 đánh chính diện vào Lương Điền. Trong lúc đó, tiểu đoàn 2 vòng lên hướng tây-bắc thọc xuống đường 1 đánh xuyên hông địch. Tiểu đoàn 2 còn cử đại đội 6 làm mũi vu hồi đánh La Khê, Kẻ Bàng rồi xuống chốt cầu Truồi, chặn cửa sau địch lại (trong quá trình chiến đấu đại đội 6 hành động còn chậm chạp, nên để một số địch sổng mất). Tiểu đoàn 7 thuộc trung đoàn 8 được phân công men dọc bờ phá Cầu Hai, chiếm Xuân Lỗ (ta bắt được tin quân đoàn 1 ngụy đã lệnh cho liên đoàn biệt động 15 rút theo đường biển, dùng Xuân Lỗ làm bãi bốc quân). Tiểu đoàn 7 đến đây không gặp địch, bèn cho một bộ phận vượt sông chiếm làng Bàng Môn.


Đúng như ta dự kiến, địch tuy đông, nhưng tinh thần quá sa sút, nên đã thất bại. Ngoài số bị giết, bị bắt sống, số còn lại tháo chạy qua cầu Truồi về Phú Bài. Và khi qua cầu xong, chúng cài mìn phá sập cầu Truòi hòng ngăn chặn đòn truy kích của ta. Đúng 16 giờ 30 ngày 23 tháng 3 năm 1975 ta đã quét sạch địch phía nam cầu Truồi.


Ở hướng sư đoàn 324, những trận chiến đấu ngày 21 tháng 3 tuy thắng lợi, nhưng đạt yêu cầu chưa cao. Sư trưởng Duy Sơn và chính ủy Dần đều hết sức sốt ruột. Những cứ điểm núi Bông, núi Nghệ, 303 như những cái gai chọc trước mắt. Sư đoàn 324 vốn có truyền thống dũng cảm, kiên trì, nên bằng mọi giá phải đập tan tuyến phòng ngự vào loại cứng rắn nhất của sư đoàn 1 bộ binh ngụy. Giữa lúc ấy, Quân đoàn lệnh cho 324 thay đổi hướng đánh: bỏ núi Bông, núi Nghệ, nhanh chóng thọc xuống đường 1 hợp lực với sư 325 chia cắt chiến dịch, sau đó phát triển xuống Phú Thứ hình thành thế bao vây dịch, đánh thốc ra bịt chặt cửa Thuận An.


Lập tức trung đoàn 1 và trung đoàn 2 được lệnh của sư đoàn 324 gấp rút hành quân đêm ngày về hướng Lương Điền. Các chiến sĩ ra đi, còn cay cái khoản "Bông, Nghệ", có anh còn giơ cả nắm đấm về phía những cái gai ấy và dọa "Cứ đợi đấy! Rồi chúng ông sẽ quay lại, chứ chúng ông chưa tha đâu". Sau này các chiến sĩ mới hiểu, họ không cần phải quay lại, mà chính những thằng lính sống sót từng chốt trên các điểm cao ấy đã phải giơ tay đầu hàng tận dưới Phú Thứ, Phú Vang, Vĩnh Lộc. Bấy giờ các chiến sĩ 324 còn phải gấp rút hành quân, và đến 18 giờ ngày 22 tháng 3 năm 1975 tiểu đoàn đi đầu tiên đã đến thôn Bao Vinh. 05 giờ sáng ngày 23 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 1 cùng với trung đoàn bộ đã vượt quốc lộ số 1 sang thôn Hà Vĩnh.


Trung đoàn 3, sư đoàn 324 – đơn vị vừa ở Thượng Đức (Quảng Đà) ra, có đại đội 4 xe tăng của lữ 203 phối thuộc được lệnh sư đoàn tiến công tiếp núi Bông, núi Nghệ vào sáng 23 tháng 3 năm 1975. (Có thể là sư đoàn 324 còn cay khoản núi Bông, núi Nghệ, nên dù có lệnh bỏ, vẫn rán nện cho chúng thêm một quắn nữa). Xin nói thêm một chút về đại đội 4 xe tăng. Đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 4, lữ 203 trang bị bằng xe tăng T.59 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy. (Bùi Quang Thận là người sau này đã dẫn đầu xe tăng quân đoàn 2 tiến công vào Sài Gòn, và đã cắm cờ lên dinh "Độc Lập" trong ngày 30 tháng 4 năm 1975). Từ lâu, đại đội 4 vẫn huấn luyện ở trên A Lưới. Cũng là điều dễ hiểu cho tâm trạng cán bộ chiến sĩ xe tăng, khi chiến dịch đã mở từ lâu, tin chiến thắng bay về dồn dập, mà vẫn tiếp tục huấn luyện, chưa được lệnh của Bộ cho xuất quân. Nên khi có lệnh, cán bộ chiến sĩ đại đội 4, lòng vui như hội, chấp hành lệnh hành quân hết sức khẩn trương. Hành quân 80 ki-lo-mét từ đường 12 về đường 74, đại đội 4 đã vượt thời gian quy định một đêm. Đến nơi, chỉ kịp làm công tác bảo quản xe pháo, là tổ chức chiến đấu ngay. Địa hình quanh núi Bông, núi Nghệ lầy lội, đường vận động cho xe xích rất hạn chế. 6 chiếc T.59 dưới sự chỉ huy của Bùi Quang Thận đã triển khai cùng trung đoàn 3, sư đoàn 324 tiến công núi Bông, núi Nghệ vào hồi 05 giờ sáng 23 tháng 3. Trên đường vận động, một chiếc bị trúng mìn, đứt xích. Còn 5 chiếc đến khu vực lầy lội không vượt qua được, đành lùi lại ở địa thế có lợi biến thành những lô cốt di dộng, dùng pháo tiêu diệt từng hỏa điểm của địch. Các chiến sĩ xe tăng vẫn bình tĩnh dập tắt hết hỏa điểm này đến hỏa điểm kia, mặc cho chúng dùng A.37 ném bom bi, bom phát quang và các thứ pháo bắn rát vào trận địa ta. 17 giờ chiều, các hỏa điểm dịch bị diệt, bộ binh ta đã xung phong lên, hoàn toàn làm chủ núi Bông và chiếm được một phần núi Nghệ. Những tên địch thuộc sư đoàn 1 bộ binh ngụy bị giết chết ở núi Bông, núi Nghệ hôm ấy quả là những tên xấu số. Chẳng qua bọn chúng là vật hy sinh, có nhiệm vụ chặn ta lại cho bọn phía sau đỡ rối ruột, để có thể sắp xếp cuộc rút lui cho an toàn. Nhưng bọn chúng làm sao rút lui an toàn nổi, khi quân ta vừa bám sát gót, vừa vượt lên trước chặn đầu lại vừa cho những mũi xuyên hông chia cắt.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:37:51 am
Khu vực cầu Nong lúc này thật hỗn loạn. Địch từ Mỏ Tàu – 303 chạy về, bọn La Sơn chuồn ra, bọn sống sót ở Lương Điền kéo lên, rồi tụi địa phương quân, dân vệ, bọn hành chánh ngụy, tất cả tụi chúng đều hớt hơ hớt hải, cuống quýt như kiến chạy nước lũ.


Dường như bọn chúng vẫn cố gắng tổ chức một tuyến ngăn chặn nữa ở An Nong nhưng quân hồi vô phèng quá, quân lính bát nháo, sĩ quan chẳng còn đầu óc đâu mà chỉ huy. Hơn nữa, quân ta đã bám tận gót rồi. Trung đoàn 101, sư đoàn 325 sau khi quét địch ở nam cầu Truồi, cho tiểu đoàn 2 sang Bàng Môn họp cùng tiểu đoàn 7, trung đoàn 18 đã chiếm bàn đạp này từ trước. Rồi từ Bàng Môn, cả 2 tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của đồng chí Giảng trung đoàn trưởng, nhanh chóng truy kích địch. Hầu như gặp địch ở đâu, ta nổ súng, chúng chỉ cầm cự qua loa rồi tháo chạy. 04 giờ sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975 địch phá sập cầu Nong, cố chặn ta từng bước.


Sư đoàn 324 sau khi dùng trung đoàn 3 kết hợp xe tăng diệt xong núi Bông, núi Nghệ liền được lệnh của Bộ tư lệnh quân đoàn cho rời bỏ ngay Bông, Nghệ, đưa trung đoàn 3 nhanh chóng xuống La Sơn. Từ đấy trung đoàn 3, sư đoàn 324 có xe tăng phối thuộc sẽ cùng trung đoàn 101 sư đoàn 325 hình thành một mũi đánh thẳng lên Huế, theo đường 1.


Hai trung đoàn 1 và 2 của sư đoàn 324 vẫn tiếp tục hành quân về đồng bằng. Đêm 23 tháng 3 năm 1975 họ gặp quân của 325 dọc đường 1, các chiến sĩ chào nhau, chúc mừng nhau vui vẻ như trẩy hội. Hãy nghe một đoạn đối thoại giữa hai anh đại đội trưởng trẻ tuổi thuộc hai sư đoàn, vốn là bạn quen thân. Anh đại đội trưởng 325 nhận ra người quen trước, mặc dù đêm tối lờ mờ:

- Kìa, mày đấy à? Tưởng là mày "củ" rồi!

- Chà, cái thằng ăn nói độc mồm độc miệng! "Củ" thế nào được! Tao sẽ còn sống dai lắm. Thế nào? 325 làm ăn khẩm khá gớm! Chúng mày xuống được đường 1 sớm, phen này tha hồ mà vênh nhé!

- Ai chả biết chúng mày đánh từ đầu chiến dịch chiến công cũng nhiều mà vất vả cũng lắm, chúng mày không "vênh" thì thôi chứ lại... Cơ mà tụi tao cũng bảo nhau là nhờ tụi mày túm chặt chân thằng trung đoàn 1, trung đoàn 3 lại, tụi tao dưới này mới làm ăn chóng vánh, không thì còn khướt...

- Ờ. Thế bây giờ tụi mày cứ "đường ta rộng thênh thang tám thước", theo quốc lộ số 1 mà đánh tới Huế à?

- Chứ sao! Lúc này là phải không cho tụi nó kịp thở. Còn tụi tao thì "bôn" về Phú Thứ, lên Phú Vang rồi thọc ra bít cửa Thuận An đấy.

- Thôi hẹn gặp nhau ở Huế nhé!

Sau khi bắt tay, anh đại đội trưởng 325 nhét vào túi bạn một gói thuốc lá "Quân tiếp vụ":

- Chiến lợi phẩm Lương Điền đấy.

- Hay quá! Tao đang thiếu chất đốt.

Và họ chia tay mỗi người chạy theo đơn vị mình dang tỏa ra làm hai hướng khẩn trương xuyên qua đêm tối, truy kích địch.

Ở Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên, sau khi được tin quân đoàn 2 đã cắt đường 1 từ Bắc Sơn đến Bạch Thạch, một không khí vui mừng phấn khởi bao trùm lên sở chỉ huy "thế là chắc ăn rồi! Chuyến này thì ăn to!". Đấy là những lời bàn luận của anh em trong phòng tác chiến chúng tôi. Niềm vui cứ được nhân theo thời gian, theo tin chiến thắng về dồn dập: đã chiếm Lương Điền, đã giải phóng quận lỵ Phú Lộc... Cắt hẳn đường 1 mà địch không còn hy vọng tái chiếm, trong nghề tác chiến – chúng tôi biết: như vậy là ta đã nắm chắc đằng cán, hoàn toàn giải phóng Thừa Thiên - Huế.


Cũng trong ngày 23 tháng 3 anh Lê Tự Đồng, anh Hồ Tú Nam đã nhận được chỉ thị khẩn của anh Văn. Nội dung chỉ thị gồm mấy điểm như sau:

1. Báo cáo kế hoạch tác chiến của các anh về Bộ ngay.

2. Địch đang tháo chạy một cách tích cực, phải hết sức táo bạo khẩn trương, phải có kế hoạch cụ thể.

3. Địch đã bỏ quận lỵ Hướng Điền, phải cho bộ đội chiếm ngay, phải bít cửa Thuận An lại. Đã lệnh cho B5 đánh thẳng ra Thuận An vào đội hình địch tháo chạy.

4. Cho một trung đoàn theo hướng Hương Trà hoặc hướng Hòn Vượn đánh sát vào Huế.

5. Lệnh cho tất cả bộ đội khác đánh xuống đồng bằng.

6. Các anh được phép dùng xe tăng, pháo như các anh đề nghị, tận dụng lực lượng và vũ khí hiện có.

Ngoài chỉ thị của Đại tướng Tổng tư lệnh còn có chỉ thị của anh Lê Trọng Tấn – Tổng tham mưu phó, cũng với tinh thần trên, nghĩa là phải khẩn trương táo bạo tiến công không cho địch rút chạy, phải bít chặt cửa Thuận An, cửa Tư Hiền và cho một mũi đánh ép vào Huế.


Trước đó, vào ngày 20, 21 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh quân khu đã có hàng loạt điện cho các đơn vị: tỉnh đội Quảng Trị đang ở tuyến sông Mỹ Chánh, trung đoàn 4 và trung đoàn 46 ở phía tây An Lỗ, trung đoàn 6 và trung đoàn 271 ở hướng đường 12, tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 121 ở nam Phú Lộc.


Tất cả những bức điện trên đều là mệnh lệnh cụ thể để thực hiện kế hoạch giải phóng Thừa Thiên – Huế đã được khu ủy Trị Thiên thông qua.

Ngày 21 tháng 3 anh Lê Tự Đồng, tư lệnh quân khu điện cho tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 21 ở Phú Lộc:

"Hiện nay nhiệm vụ chủ уếu сủа сáс đồng chí là cắt đứt và khống chế cho được cửa Tư Hiền. Mọi việc khác do địa phương làm. Lệnh này thay cho tất cả các lệnh trước đây".

Đêm 22 tháng 3, sau khi quân đoàn 2 đã cắt đường ở Đá Bạc, thì hai tiểu đoàn 5 và 21 xuyên qua địch đang co cụm ở phía nam, hành quân xuống hòn Rẫm - một căn cứ của ta ở sát biển, phía nam cửa Tư Hiền. Trong hai đêm 23 và 24 tháng 3 năm 1975 các đơn vị tổ chức vượt qua phá Cầu Hai, sang tiến công quận Vĩnh Lộc, căn cứ hải thuyền, hỗ trợ cho các xã thuộc khu 3 Phú Lộc nồi dậy giành quyền làm chủ và sau đó quét tàn quân địch tan rã đang tìm cách làn trốn khắp các xã ven biển nam Thừa Thiên.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:38:42 am
Cũng ngày 21 tháng 3 năm 1975, tỉnh đội Quảng Trị nhận được lệnh của Quân khu, hướng dẫn kế hoạch tiến công như sau:

Lực lượng của tỉnh đội Quảng Trị sẽ tổ chức tiến công địch trên hai hướng:

- Hướng chính ở phía đông theo trục đường 68. Lực lượng gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo 85 ly tiến công địch, chiếm lĩnh khu vực Vân Trình, giữ cầu để đảm bảo cơ động, chiếm quận lỵ Hướng Điền làm bàn đạp uy hiếp cửa Thuận An (trong quá trình tiến công vào Phong Điền, cần liên lạc với tiểu đoàn 15 để phối hợp hành động cho chặt chẽ).

- Hướng thứ yếu tiến công theo quốc lộ số 1 nhằm vào Mỹ Chánh, lực lượng gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, bộ đội địa phương huyện và du kích, chiến đấu kết hợp với binh vận và kêu gọi quần chúng, nhằm tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã địch, đưa quần chúng trở về.

- Một tiểu đoàn bộ binh còn lại nhanh chóng củng cố đưa vào chiếm lĩnh đội hình trung đoàn 4 (giáp ranh tây Phong Điền) do Quân khu trực tiến chỉ huy.

- Dọc sông từ Mỹ Chánh đến Vân Trình, phải huy động bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch, không cho chúng nống ra.

Do thiếu sót trong việc tổ chức mạng lưới thông tin giữa Quân khu và tỉnh đội Quảng Trị, nên đến sáng 23 tháng 3 năm 1975 bộ phận tiền phương của tỉnh đội Quảng Trị mới nhận được điện. Lập tức Thường vụ đảng ủy và Ban chỉ huy tỉnh đội họp, quyết định: "... để góp phần vào thắng lợi toàn miền nói chung, Trị Thiên nói riêng, đạp bằng mọi khó khăn trở ngại chốt cho bằng được những điểm quan trọng nhất, mà Quân khu đã chỉ thị là ngã ba Sinh và cửa Thuận An, tạo điều kiện cho đơn vị bạn giành thắng lợi lớn nhất...".


Ban chỉ huy tiền phương cánh đông được thành lập do đồng chí Thả và đồng chí Châu trong Ban chỉ huy tỉnh đội phụ trách, có một cơ quan nhẹ giúp việc. Lực lượng chiến đấu gồm có tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 14 bộ binh, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo 57 ly và 85 ly.


Trước đó, ngày 22 tháng 3 tiểu đoàn 3 đã chia nhiều mũi tiến công vào 2 tiểu đoàn bảo an ở Xuân Viên, Thanh Hương. Bọn địch ở đây tuy bị tiêu hao một bộ phận nhưng vẫn cố giữ Thanh Hương, hàng rào phía bắc án ngữ không cho quân ta tiến công vào đất Thừa Thiên. Đồng thời, chúng dùng pháo từ phía sau bắn mãnh liệt, cố khống chế và ngăn chặn ta.


Có thể coi như ngày 23 tháng 3, lực lượng cánh đông của bộ đội Quảng Trị mới thực sự mở đợt tiến công mạnh mẽ vào tuyến ngăn chặn của địch, bằng 3 mũi:

- Mũi chủ yếu có xe tăng yểm trợ đánh thẳng vào Thanh Hương.

- Mũi thứ hai đánh vào bọn địch chốt giữ ở nhà thờ Nhất Tây.

- Mũi thứ ba từ tây đường 68 cũng chọc xuống Thanh Hương.

Thanh Hương, mảnh đất đã ghi dấu chiến công của trung đoàn 95 và trung đoàn 101 thuộc sư đoàn 325 hồi kháng chiến lần trước, nơi chôn vùi hàng tiểu đoàn quân xâm lược Pháp. Cũng nơi này, năm 1972, trung đoàn 18 sư đoàn 325 vượt qua bao nhiêu ác liệt gian khổ đã chiến thắng bọn thủy quân lục chiến vẻ vang. Mảnh đất Thanh Hương giờ đây đang ầm ầm trong tiếng pháo, tiếng súng các cỡ của bộ đội Quảng Trị. Tin chiến thắng ở phía nam - ta đã cắt đứt đường 1, càng làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ. Trước sức đột phá mạnh của các mũi tiến công, một số quân địch bị diệt, số còn lại chống cự không nổi, đã rút chạy về Tân Hội, Đại Lộc. Thừa thắng, các đồng chí chỉ huy bộ đội Quảng Trị ở cánh đông hạ lệnh cho các đơn vị truy kích, áp sát Đại Lộc. Chúng đưa xe tăng ra ngăn cản, bị ta bắn cháy ngay 2 chiếc. Được thế, bộ đội ta tiến công quân địch ẩn trú trong các thôn Thế Chí Đông, Thế Chí Tây và đánh chiếm quận lỵ Hướng Điền vào 6 giờ 15 sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975. Đánh chiếm được Hướng Điền làm bàn đạp, ta đã hoàn toàn chiếm ưu thế trên dải đất phía đông phá Tam Giang. Con đường duy nhất của địch rút chạy là dọc xã Quảng Ngạn ra bắc cửa Thuận An. Đại đội 7 xe tăng trang bị 7 chiếc xe T.34, trong suốt chặng đường chiến đấu từ Thanh Hội đến đây chỉ còn 1 chiếc có thể sử dụng được (một số hết nhiên liệu, số khác bị mìn của địch làm hỏng hóc chưa sửa kịp) chiếc T.34 cuối cùng ấy đã cùng tiểu đoàn 3 Quảng Trị tiếp tục tiến công truy kích bọn địch đang chạy hoảng loạn. Đến 15 giờ 30 ngày 25 tháng 3 năm 1975 bộ đội ta đã chiếm bắc cửa Thuận An. Pháo 85, 57 của ta tập trung bắn vào đám tàu và xà lan của địch, bắn vào đám tàn quân đang cướp thuyền của dân chạy sang bờ nam.


Trong lúc tiểu đoàn 3 đánh thốc xuống cửa Thuận An, tiểu đoàn 14 vượt sông Ô Lâu đánh vào Phong Hòa, Phong Bình, đuổi địch xuống tận Sịa và chốt được ngã ba Sinh vào hồi 24 giờ ngày 25 tháng 3 năm 1975.    Về hướng thứ yếu, tiểu đoàn 812 đã vượt sông Mỹ Chánh sang đất Thừa Thiên từ hôm 21 tháng 3. Những ngày 22 và 23 tháng 3, tiểu đoàn này đã đánh vào Phong Thu chủ yếu diệt bọn địch cụm lại ở xóm Bồ, Phò Trạch hỗ trợ cho bộ đội địa phương huyện Phong Điền giải phóng quận lỵ. Sau đó, đơn vị chia làm hai mũi tiến công chi khu Lương Mai thuộc xã Phong Chương. Ngày 24 tháng 3 tiểu đoàn 812 chiếm được Lương Mai, nhưng đã dừng lại một ngày ở đó để truy tróc bọn địch lẩn quất, theo yêu cầu của chi ủy địa phương. Mai sáng ngày 25 tháng 3 mới tiếp tục phát triển đánh Bao Vinh.


Tóm lại, lực lượng bộ đội Quảng Trị đã tiến công theo đúng kế hoạch của quân khu, nổi bật là mũi tiến công dọc doi đất bên kia phá Tam Giang đã kiên quyết táo bạo và khẩn trương đập vỡ sức đề kháng của địch, chốt được bắc cửa Thuận An, góp phần vào cuộc hợp vây quân địch thành công tuyệt diệu.


Ở hướng tây, trung đoàn trưởng Nguyễn Hạng và chính ủy Phạm Quang Ích nhận được lệnh của Quân khu nhanh chóng mở trận tiến công vượt sông Bồ, sang Lại Bằng, nơi địch đang sơ hở. Phải tiêu diệt lực lượng nòng cốt của địch là bọn thủy quân lục chiến, gây hoang mang rối loạn trong lúc địch đang bị động điều chỉnh lực lượng. Đồng thời phải thọc sâu chia cắt cho được hai trục đường rút quân chính của địch là đường 1 từ Quảng Trị vào và đường từ hòn Vượn xuống Hiệp Khánh. Sau đó phát triển truy kích diệt địch trên hướng bắc sông Hương.


Trung đoàn 4, trong đợt 1 của chiến dịch đã giành thắng lợi lớn ở Phổ Lại và đồng bằng Phong Điền. Sau đó, trung đoàn đã tranh thủ củng cố đơn vị, lần này ra quân với khí thế dũng mãnh và quyết tâm cao.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:39:47 am
Trong lúc lực lượng bộ đội Quảng Trị đang gây một áp lực nặng nề vào tuyến Mỹ Chánh tức là tuyến đỏ của địch, thì trung đoàn 4 từ phía tây chọc một mũi từ bàn đạp Phong Sơn xuống Lại Bằng. Thêm một áp lực đè nặng lên tuyến An Lỗ tức là tuyến Bắc Bình - tuyến cuối cùng của chúng phòng thủ Huế. Nguyễn Thành Trí, phó tư lệnh thủy quân lục chiến chỉ huy mà trận bắc An Lỗ cảm thấy hoàn toàn căng thẳng đến nghẹt thở. Tuy vậy, y vẫn ngoan cố chống đỡ, thực ra là cốt kéo dài thời gian để thực hiện cho được cuộc lui quân ra khỏi Huế một cách êm thấm. Cố chiến đấu vượt sông Lại Bằng xảy ra hồi 15 giờ ngày 23 tháng 3, bắt đầu bằng một trận mưa pháo vào Long Khê, Lại Bằng, núi Bản, trong lúc đó cối và 12 ly 7 lại tập trung bắn xối xả vào bến sông chỗ ta sắp vượt qua. Lúc pháo ta chuyền làn và đơn vị đánh chiếm đầu cầu bắt đầu vượt sông thì pháo của địch cũng lập tức bắn ngăn chặn ta ở bến vượt, bắn vào Cồn Nổi, vào làng Huyền. Giữa một cuộc đấu pháo khiến ta có cảm giác đạn va vào nhau giữa không trung, chiến sĩ trung đoàn 4 vẫn bình tĩnh bơi qua dòng sông Bồ mặc cho mảnh pháo rơi lủm bủm đó đây trên mặt nước, mặc cho đạn bắn thẳng của những tên lính liều lĩnh và dại dột không chịu rút lui hoặc bắt buộc phải ở lại làm vật - bắn xối xả.


16 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975, đơn vị đầu tiên gồm 34 đồng chí đã vượt qua sông Bồ, nhanh chóng chiếm bàn đạp chi viện cho các đơn vị tiếp tục vượt sông phía sau. Phòng tuyến của tiểu đoàn 5 lữ 147 thủy quân lục chiến bắt đầu bị chọc thủng. Đêm ấy, lực lượng chiến đấu trung đoàn 4 lần lượt vượt sông bám được vào đất Hương Trà. Để bảo toàn lực lượng thủy quân lục chiến, Nguyễn Thành Trí tung liên đoàn 14 biệt động quân vừa chạy ở tuyến Mỹ Chánh vào, có chi đoàn xe tăng M.113 gồm 18 chiếc yểm trợ, ra phản kích ngăn chặn ta. Trong lúc đó, Bộ tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến cùng lữ đoàn 147 chuồn về cửa Thuận An.


Suốt ngày 24 tháng 3 kịch chiến đã xảy ra ở Lại Bằng. Tám lần địch tập trung lực lượng phản kích, có lần chúng đã chiếm được bến vượt, nhưng cuối cùng lại bị đẩy lùi. Quãng 15 giờ chiều, chúng cụm lại ở bình độ 12. Và đấy là chút hơi tàn cuối cùng trước khi chúng rút chạy và tan rã hoàn toàn. 17 giờ 30 chúng giật sập cầu An Lỗ, chiếc cầu cửa ngõ thành phố Huế. Chấp hành lệnh của Quân khu, lập tức trung đoàn 4 tổ chức truy kích địch. Mặc dù tối trời, đường sá còn bỡ ngỡ, lại qua một ngày chiến đấu căng thẳng, chiến sĩ ta quên hết mọi sự vất và mệt nhọc, cảm thấy đây là những giờ phút đẹp nhất, tự hào nhất của cuộc đời chiến sĩ: Giờ phút của người chiến thắng trên đường khép chặt vòng vây tiêu diệt quân địch đã và đang tan rã.


Tiếng bộc phá đánh sập cầu An Lỗ báo hiệu sự tháo chạy của địch. Trung đoàn 4 liền phái tiểu đoàn 1 hành quân cấp tốc về Đồn Bó, Sịa nhanh chóng chặn địch ở bắc cửa Thuận An. 10 giờ sáng ngày 25 tháng 3 sau khi chiếm Sịa - quận lỵ Quảng Điền, tiểu đoàn 1 liền cho 1 trung đội ở lại cùng địa phương chốt giữ, còn tất cả tiếp tục hành quân truy kích địch và 14 giờ 00 ngày 25 tháng 3 năm 1975 tới Động Ấp (bắc cửa Thuận). Như vậy là tiểu đoàn Quảng Trị từ hướng bắc đánh vào, tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 từ phía tây đánh xuống, cả 2 tiểu đoàn đã hội quân ở đây, cùng nhau chốt chặt phía bắc cửa Thuận An lại không cho địch tẩu thoát theo đường biển kể từ chiều 25 tháng 3 năm 1975.


Sau khi phái tiểu đoàn 1 đi, ban chỉ huy trung đoàn 4 phái tiếp tiểu đoàn 2 truy kích địch ra La Chữ. Bọn trung đoàn 3, sư đoàn 1 ngụy từ Hòn Vượn chạy về đây đã bị tiểu đoàn 2 chặn đánh, diệt 19 tên bắt 3 tên, còn nữa là đứa nào lo thân đứa nấy, vất súng, cởi bỏ quần áo lính, hoặc trà trộn vào dân hoặc tháo chạy về Huế.

Từ đấy, trung đoàn 4 chia làm hai hướng tiến công:

- Tiểu đoàn 3 đánh vào Hương Cần hồi 9 giờ 40 ngày 25 tháng 3 năm 1975. 4 tên địch bị diệt, 17 tên bị bắt. Ta thu 20 súng. Đánh xong Hương Cần, tiểu đoàn 3 tiếp tục phát triển đến 12 giờ 00 trưa thì tới ngã ba Sinh.

- Tiểu đoàn liền bố trí 2 đại đội chốt cầu Thanh Phước, 1 đại đội khác tiếp tục phát triển lên Huế. Tiểu đoàn 2 hành quân qua bắc Hương Cần về Quảng Lợi lúc 13 giờ ngày 25 tháng 3 năm 1975. Ở đấy 1 trung đoàn bảo an bị diệt, bị ta tịch thu 35 súng. Và tiểu đoàn 2 tổ chức chốt cầu Thanh Hà.

Bị chặn tất cả các lối tẩu thoát, kẻ địch ở phía bắc Huế đã tan rã hoàn toàn. Trung đoàn 4 cùng với lực lượng Quảng Trị hợp với các tiểu đoàn 15, 10 của Thừa Thiên đã truy quét bọn tàn binh, lúc này hầu hết đã nhận ra con đường sống là dầu hàng cách mạng.


Cùng với những đòn tiến công quân sự, các đội vũ trang công tác của Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà hoặc đội hầm bí mật lên, hoặc từ các căn cứ trên núi về, đã nhanh chóng vận động quần chúng nổi dậy, đập vỡ chính quyền địch, khẩn trương tái lập nền trật tự mới, nền trật tự cách mạng.


Xin nói thêm về trường hợp tiểu đoàn 8 Quảng Trị - đơn vị nhiều chiến công nhưng trong câu chuyện kể về bộ đội Quảng Trị tham gia tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế chưa được nhắc tới. Chấp hành mệnh lệnh của Quân khu, tiểu đoàn 8 là đơn vị được tỉnh đội Quảng Trị phái vào thay thế vị trí chiếm lĩnh của trung đoàn 4 do Quân khu trực tiếp chỉ huy. Đang trên đường di chuyển, do tình hình rất khẩn trương của cuộc tiến công đòi hỏi, hồi 15 giờ 35 ngày 23 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 8 nhận được lệnh của Quân khu, thôi không chiếm lĩnh vị trí nữa, mà nhanh chóng phát triển theo đường 1, đánh sang bờ nam cầu Mỹ Chánh. Tuyến Mỹ Chánh bị vỡ, bọn địch chạy về tuyến An Lỗ. Tiểu đoàn 8 nhanh chóng bám sát địch. Khi bị áp lực cả phía bắc lẫn phía tây nặng nề, tuyến An Lỗ lại vỡ trong lúc trung đoàn 4 và các tiểu đoàn khác của Quảng Trị chia nhiều hướng đánh dịch để cuối cùng chốt cho được ngã ba Sinh và bắc cửa Thuận An, thì tiểu đoàn 8 cứ phát triển theo trục đường 1 và đánh chiếm quận lỵ Hương Trà vào quãng 9 giờ sáng 25 tháng 3 năm 1975. Rất nhanh chóng, tiểu đoàn 8 cho một bộ phận lên chốt cầu An Hòa, bấy giờ coi như bỏ ngỏ. Được tin nhân dân cho biết, địch ở Huế đã bỏ chạy hết về cửa Thuận An, Ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức một bộ phận nhỏ hành quân lên thăm dò. Giữa lúc ấy, một tổ tự vệ thành phố Huế ăn bận quần áo lính sư đoàn 1 bộ binh ngụy phóng xe hôn-da ra và kêu lên: chúng tôi là tự vệ thành phố đây!". Được tổ tự vệ cho biết tình hình là thành phố coi như bỏ trống, tiểu đoàn 8 lập tức lấy chiếc xe giép của tên lữ phó 369 thủy quân lục chiến chở phân đội đi trước theo tổ tự vệ vào chiếm thành phố. Họ đã cùng tự vệ chia ra chốt giữ cầu Tràng Tiền và cầu Mới - trong lúc đó, đồng chí Thành chính trị viên đại đội 1, tiểu đoàn 8 cùng hai chiến sĩ lên cắm lá cờ của Mặt trận lên Phu Văn Lâu vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975. Cố nhiên là trước đó, các tổ tự vệ thành phố đã cắm cờ nhiều nơi như tòa hành chính tỉnh, quận nhì, quận Phú Vang, cửa Thuận An, nhưng lá cờ của tiểu đoàn 8 treo ở Phu Văn Lâu báo hiệu Quân giải phóng đã chiếm thành phố Huế.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:40:31 am
Trên hướng đường 12, ngay trong đêm 22 tháng 3 năm 1975 khi quân đoàn 2 đã cắt đứt đường 1, trung đoàn 6 và trung đoàn 271 nhận được thông báo tình hình và mệnh lệnh tiến công của Quân khu (trung đoàn 271 lúc đầu nhận nhiệm vụ về hoạt động đồng bằng, nhưng sau do tình hình cuộc chiến đấu phát triển nhanh chóng, Quân khu chi tiếp tục giao nhiệm vụ đó cho tiểu đoàn 4 Thừa Thiên và các đội vũ trang công tác, còn trung đoàn 271 sẽ cùng với trung đoàn 6 hình thành một hướng tiến công đánh ép vào Huế).


Nhận lệnh, trung đoàn 6 rồi trung đoàn 271 nhanh chóng vượt sông Tả Trạch, vượt qua tuyến phòng thủ của địch về đánh chiếm hai làng Đình Môn và Kim Ngọc ở tả ngạn sông Hương vào đêm 24 tháng 3. Đây là hai làng nằm đối diện với quận lỵ Nam Hòa, bàn đạp trực tiếp uy hiếp khu tam giác trong thành phố Huế. Tuy nhiên, việc tiếp tục vượt sang hữu ngạn sông Hương chậm trễ nên đến sáng 26 tháng 3 trung đoàn 6 mới vào được thành phố, và trung đoàn 271 mới về được Phú Vang để hợp lực với trung đoàn 1, sư đoàn 324 quét bọn tàn quân.


Xin kể tiếp về đòn tiến công phía nam của quân đoàn 2, sau khi đập vỡ tuyến ngăn chặn ở nam cầu Truồi. Lúc này, Bộ tư lệnh quân đoàn dời về Bàng Môn 2 để chỉ huy cuộc hợp vây quân địch; lữ 164 pháo binh đã khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng điều được 2 khẩu pháo 130 ly về điểm cao 75, 76 giã tới tấp vào cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Phía sau lưng quân đoàn, trung đoàn 18, sư đoàn 325 đang đánh thốc dọc đường 1, khí thế như bão cuốn. Hệ thống phòng ngự của địch bị đập vỡ liên tiếp: Đá Bạc, Mũi Né, Cầu Hai, Nước Ngọt, Thừa Lưu, Phú Gia,... Cùng với tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 21 của Quân khu, mội bộ phận trung đoàn 18 đã rẽ sang bịt cửa Tư Hiền.


Mảnh đất phía sau lưng Quân đoàn đã được giải phóng một vùng khá rộng lớn. Và phía trước mặt, đại bộ phận đội hình của quân đoàn 2 đang hình thành hai hướng tiến công chủ yếu, hai gọng kim rắn chắc kẹp chặt lấy Huế và cửa Thuận An.


Hướng thứ nhất gồm có các trung đoàn 1 và 2 thuộc sư đoàn 324 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh sư đoàn từ đêm 23 tháng 3 năm 1975, đã vượt qua nhiều sông ngòi, ruộng sâu vượt qua nhiều tràng cát dài, tràn về đồng bằng Phú Thứ. Lúc này, Phú Thứ gần như cái túi đựng tàn quân từ các nơi kéo về, nhất là tụi sư đoàn 1 bộ binh ngụy. Thật khéo, sư đoàn 324 lại gặp sư đoàn 1 ngụy ở Lương Viên, Mộc Trụ, Dưỡng Mông và một số nơi khác. Cái sư đoàn được coi là anh cả trong hàng ngũ bộ binh ngụy, lúc nào cũng vênh váo, cũng tự đắc - bây giờ đã thoát ly khỏi công sự, đang trong thế tan rã, nên hễ chạm súng là đầu hàng hoặc vất súng, bỏ quần áo lính, làn trốn để cuối cùng phải ra trình diện với cách mạng.


Cùng với các đội vũ trang công tác và cơ sở địa phương, sư đoàn 324 nhanh chóng giành quyền làm chủ ở Phú Thứ, và liền phái tiểu đoàn 1, trung đoàn 1 phát triển ngược lên doi đất hẹp sát biển, đánh vào Kê Sung, Cự Lại, nơi bọn thủy quân lục chiến thuộc lữ 147 cuống cuồng như cá bị dồn vào đáy lưới đang chạy ngược chạy xuôi, chở tàu vào ủi bãi bốc quân. Mũi tiến công của tiểu đoàn 1 này sau khi quét địch ở dọc doi đất hẹp sát biển, cuối cùng đã chốt ở phía nam cửa Thuận An. Còn đại bộ phận lực lượng của hai trung đoàn 1 và 2, sư đoàn 324 đánh lên Phú Vang, chiếm cảng Tân Mỹ và phía đông thành phố Huế.


Hướng thứ hai của Quân đoàn nhằm thẳng đường 1 đánh vào Huế, gồm trung đoàn 101 sư đoàn 325 và trung đoàn 3 sư đoàn 324 có đại đội 4 xe tăng phối thuộc. Địch ở hướng này, sau khi bị đầy lùi từ Lương Điền, đã giật sập cầu Nong và vội vàng tổ chức ngăn chặn ta. Trên đường tiến công, trung đoàn 101 cử tiểu đoàn 2 đi đầu đội hình, đã đánh địch ở ngã ba La Sơn, áp sát cầu Nong và với hỏa lực bản thân chi viện, tiểu đoàn 2 tổ chức vượt sông đột phá vào tuyến ngăn chặn của địch. Trên bước đường cùng, kẻ địch điên cuồng và ngoan cố đã huy động A.37, trực thăng vũ trang kết hợp với pháo binh đánh phá mãnh liệt vào đội hình tiến công của ta. Trong khói bom, khói dạn mù mịt, chiến sĩ này ngã, chiến sĩ khác xông lên, mặc dù kẻ địch có gây thương vong cho 101, nhưng cuối cùng các chiến sĩ ta đã đập vỡ tuyến ngăn chặn, truy kích địch đến tận cầu Phú Bài khiến địch đã cài sẵn bộc phá vào chân cầu mà không kịp giật. Bấy giờ là 15 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1975. Trước mặt trung đoàn 101 lúc này là căn cứ Phú Bài rộng lớn gồm có sân bay, trại huấn luyện Đống Đa, cả một hệ thống kho tàng và doanh trại. Nơi đây là hậu cứ của nhiều đơn vị khi được rút về nghỉ ngơi và huấn luyện. Tiến công vào một căn cứ lớn, tất nhiên các cán bộ chỉ huy đều phải suy tính cân nhắc. Có nhiều ý kiến đặt ra cho trung đoàn 101. Hoặc chốt lại chờ trung đoàn 3, sư đoàn 324 có xe tăng yểm trợ mới có lực lượng đột kích mạnh. Hoặc tranh thủ lúc địch chưa ổn định, kiên quyết tiến công, chọc thẳng quốc lộ số 1 mà đánh tới (lúc ấy trung đoàn 3, sư đoàn 324 cũng đã bám sát đội hình trung đoàn 101, nhưng vì phải chờ đại đội 4 xe tăng không qua được cầu Nong phải tìm đường vòng trên núi xuống). Đang phân vân, thì trung đoàn 101 nhận lệnh của quân đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (do chính ủy sư đoàn truyền đạt) là phải lập tức tiến công quân địch, nhưng không tiến công căn cứ Phú Bài. Bỏ qua căn cứ Phú Bài, cho bộ đội tiến vòng ra ngoài bờ sông, đánh vào quận lỵ Hương Thủy.


Đêm 24 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 101 đã chấp hành nghiêm chỉnh lệnh của Quân đoàn, cho bộ đội hành tiến qua làng Tô Đà, Tân Tô men dọc theo con đê nhỏ sông Đại Giang tiến vào làng Lương Văn một cách bí mật. Mờ sáng 25 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 3 trung đoàn 101 bất thần tiến công quận lỵ Hương Thủy. Bị một đòn choáng váng đánh vào sau lưng, lại bị sức ép phía trước mặt, bọn địch ở căn cứ Phú Bài liền bỏ chạy tán loạn. Chúng hốt hoảng đến nỗi lúc bộ binh và xe tăng ta đột nhập vào căn cứ, thấy chúng vất bừa bãi súng ống, xe cộ và cả những chiếc M.48, M.113 đang nổ máy. Được dịp, đại đội 4 xe tăng liền nhanh chóng thu hai M.48, hai M.113 và cứ nguyên trang bị như thế, xếp vào đội ngũ tiếp tục hành tiến, tiến công địch.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:41:02 am
Chiếm quận lỵ Hương Thủy, trung đoàn 101 phát triển lên cầu An Cựu. Được nhân dân báo cho biết địch ở Huế đã hoang mang bỏ chạy, bộ đội ta lại gặp dịp chặn được hai chiếc xe giép của mấy tên sĩ quan đang cùng đường chạy tháo thân, rồi cùng với những chiếc xe ca, xe lam của dân giúp đỡ, trung đoàn 101 đã có phương tiện để nhanh chóng cơ động lên chiếm thành phố Huế. Hầu như không còn chút chống cự nào của địch. Đường phố vắng vẻ, lưa thưa người. Các cô các cậu thanh niên, sinh viên vẫy tay đón bộ đội là những chiến sĩ tự vệ, là những đồng chí đảng viên, đoàn viên, hoặc cơ sở cách mạng trong thành phố. Hàng quán phố xá hầu như đóng cửa từ hai hôm nay. Có một số dân, phần lớn là các bác già đứng bên đường mỉm cười gật đầu hân hoan chào các chiến sĩ. Còn tất cả đều vẫng lặng. Cái vắng lặng của một thành phố gây cho ta cảm giác ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Nó giống như một điều gì không thật. Nhưng chỉ một lúc sau - khi bộ đội ta đã chiếm Mang Cá, Thành Nội, Tòa hành chính và Ty cảnh sát thì không hiểu từ đâu mà dân ùa ra đầy đường. Già trẻ, gái trai đến xung quanh anh bộ đội giải phóng. Thoạt đầu là những lời chào hỏi rụt rè, cái nhìn tò mò, cái bắt tay thận trọng. Tiếp đến là sự cởi mở, là những câu chuyện về những ngày cuối cùng của lính ngụy ở Huế, là những yêu cầu được giải thích về các chủ trương chính sách của cách mạng sau khi tiếp quản thành phố. Rồi nước nôi, quà cáp. Rồi những câu hỏi tíu tít: hỏi về người thân đi tập kết, hỏi về Hà Nội, về Đồng Hới. Người dân xứ Huế lại trở về với nét mặt thật nhất của mình. Phố xá cũng bắt đầu mở cửa cho cuộc sống trở lại bình thường.

- Chu cha, 101 à? Tui có thằng cháu ở 101 đó? Chừ không biết hắn có về đây không?

- Nói đến 101 thì dân Huế lạ lùng chi nữa. Mấy anh con trai thành phố ni hồi trước đi Vệ quốc đoàn đều là lính 101, 95 cả thôi.

- Răng mấy eng? Chừ ông Hà Văn Lâu và ông Lê Tự Đồng có còn ở 101 nữa không?

Qua những lời thăm hỏi chân tình của mấy bác già, các chiến sĩ trẻ của trung đoàn 101 cảm thấy tự hào về truyền thống đơn vị mình, một đơn vị con đẻ của nhân dân Thừa Thiên Huế. Lòng tràn ngập niềm vui, họ muốn nói to với đồng bào rằng: "Vâng, thưa các chú các bác, chính trung đoàn 101 chúng con đã về đây, trung đoàn 101, con đẻ của bà con Thừa Thiên Huế, chiến đấu liên tục qua hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, trưởng thành và lớn mạnh, hôm nay về đây, đã góp phần giải phóng quê hương thân yêu".


Bấy giờ là 13 giờ ngày 25 tháng 3 năm 1975.

Đoàn xe tăng nghiến xích ầm ầm trên đường phố Huế. Đại đội 4 lúc này đã có 9 xe: 5 T.59, 2 M.48, 2 M.113. Vài tên lính nguy dại dột trốn nấp đâu đó, thấy xe M.48 tưởng là của quân ngụy trở lại phản kích vội chạy nhào ra, huơ tay vui vẻ. Khi bộ binh trung đoàn 3 đi phía sau từ trên những chiếc GMC nhảy xuống, tóm gọn chúng, thì chúng dở khóc dở cười kêu lên: "Trời ơi! Mãy anh làm lẹ quá ta! Tụi em thiệt không ngờ!".

- Mấy anh xài M.48 coi bộ có ngon không?

Lúc này, chưa phải lúc trả lời tụi chúng. Bỏ quần áo, bỏ súng, hãy cứ đi về phía sau đã! Bộ đội ta còn tiếp tục truy kích địch, xe tăng dẫn đầu, bộ binh theo sau, chấp hành lệnh của Quân đoàn, trung đoàn 3, sư đoàn 324 sau khi chiếm Mang Cá, liền quay sang Vĩ Dạ và từ đó hành quân cấp tốc diệt dịch trên đường Huế - cửa Thuận An. Có lẽ không nơi nào lại phơi bày đầy đủ sự tan nát rã rời, sự thảm bại cùng quẫn của đạo quân tháo chạy bằng con đường Huế - cửa Thuận An. Ra đến Dương Nỗ, các chiến sĩ lái xe tăng đã phải giảm tốc độ - Xe chết đầy đường, ngổn ngang hàng mấy cây số liền. Đủ các loại xe; xe tăng, xe GMC, xe ca, xe du lịch, xe giép, xe lam,... Cái thì cháy rụi, cái thì đổ chổng kềnh xuống ruộng, cái thì nằm ì bên lề đường. Có nhiều chiếc chắc là "hôn" nhau nên cả hai đều vỡ máy, bẹp tai, thân vặn vỏ đỗ và đều ngoẹo đầu xuống lề đường. Không hiểu sao có nhiều chiếc xe lại mò ra tận bờ đầm và nằm lịm ở đấy như những con trâu đầm nước. Nhiều xác lính chết lẫn với đám xe cháy, máu chảy thành dòng giữa đường, đã khô, màu nâu thẫm. Súng ống, mũ đồng, áo quần lính vất bừa bãi. Càng vất bừa bãi hơn là các thứ tạp nham của dân di tản: dụng cụ gia đình, áo quần trẻ con, giày dép, hôn-da, xe đạp và những con búp bê bằng nhựa, con gấu bằng bông.... Cả đoàn người đi ngược chiều hành tiến của bộ đội: Nhân dân di tản lếch thếch bồng bế nhau chạy trở về, ai cũng vất vả hớt hơ hớt hải nom đến thương hại. Có thể phân biệt được những tên lính ngụy chen trong đoàn người bằng những nét riêng: đa số chỉ bận quần áo lót, đầu trần, nhưng lại đi giày lính. Có tên kiếm đâu dược áo sơ mi còn nguyên nếp, nhưng vẫn quần rằn ri có hai túi xệ xuống đầu gői. Theo thói quen, nhiều tên vừa đi vừa giơ hai tay lên đầu hàng. Vài tên bỗng nhiên cười vui vẻ, vẫy tay chào bộ đội Giải phóng. Anh lính xe tăng mở nắp tháp pháo, ló cổ ra hỏi, giọng vui vẻ:    - Thế nào? Đã chịu thua chưa?

- Dạ thua rồi! Xin chịu các anh rồi!

- Trở về làm ăn lương thiện nhé!

- Dạ, cám ơn các anh, chúc các anh khỏe!

Cảng Tân Mỹ lúc này là vũng nước cuối cùng của cái hồ đã tát cạn. Không biết cơ man nào là người, đủ các sắc lính, đủ các thứ dân. Những tên lính bất lực kia, thực ra đã vất súng từ trước, bây giờ hầu hết chỉ còn hai tay không vừa đủ để làm động tác đầu hàng. Những họng pháo, những nòng súng của ta thôi không phải chĩa vào họ nữa, mà chĩa ra biển, nơi những chiếc L.S.T hoặc L.C.M đang cố sống cố chết chạy ra khơi mong tìm con đường sống.


Chiều nay, biển động. Những con sóng cao đuổi nhau rồi vỗ dữ dội vào bờ. Phía trên lưỡi sóng, nơi đám bọt trắng xóa, dập dềnh những xác người, những ba lô, những va li và những thứ gì không nhận ra hình thù. 7 chiếc tàu trong đó có 6 chiếc chở lính đã bị đánh chìm ở đây. Cũng khó mà phân biệt được chiếc nào bị đạn pháo tầm xa, bị pháo tầm gần, bị súng cối của bộ binh hoặc bị vướng mìn của đặc công hải quân rải ra phong tòa cửa biển. Lại càng khó phân biệt được tên lính nào bị chết vì đạn của ta, tên nào bị chết vì đạn của chúng nó: những cuộc bắn nhau giữa thủy quân lục chiến và các sắc lính khác đã diễn ra ở đây, cố nhiên là vì tranh nhau lên tàu tàu thoát. Khó mà tưởng tượng được có đến hàng vài trăm tên lính cướp phuy xăng của cảng làm phao, và bơi thẳng ra tàu thủy dưới làn đạn của những tên đứng trên tàu và cả những tên đứng trên bờ. Một cơn điên loạn của cảnh địa ngục. Chúng nó bắn nhau chả cần lý do gì rõ ràng. Trả thù nhau, giành giật nhau phương tiện và có khi chỉ vì ngứa tay nổ một loạt chơi, rồi đến đâu hãy hay. Những cái xác người dập dờn đầu ngọn sóng, những người lính xấu số ấy đã có một lần dại dột nghĩ rằng: phải bằng mọi giá nhảy được lên tàu mới tìm được con đường sống. Giờ đây, biển của Tổ quốc đã ưu ái trả những người lính xấu số ấy vào bờ. Phải chăng, họ là những tên lính ngụy cuối cùng chết trên đất Trị Thiên ta?


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:32:02 am
X. Những bằng chứng thất bại

Đến trại cải tạo sĩ quan ngụy, chúng tôi đã gặp và nói chuyện với nhiều người. Trong số đó có Trương Như Mân, trung tá trưởng phòng 3, sư đoàn 1; Trần Công Nhượng, thiếu tá trưởng phòng tâm lý chiến sư đoàn 1; Hồ Văn Vĩnh, thiếu tá ban chỉ huy pháo binh sư đoàn 1; Phạm Như Tĩnh, thiếu tá yếu khu trưởng Mang Cá; Phạm Cang, trung tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 thủy quân lục chiến; Phạm Bá Nhạc, đại úy cảnh sát Thừa Thiên; Đoàn Văn Hiệp, đại úy trưởng ban giám sát và phòng gian bảo mật tiểu khu Thừa Thiên, v.v.


Họ đều nói về những ngày tan rã cuối cùng của quân ngụy ở Tri-Thiên - Huế. Câu chuyện của họ thường được kẻ trong tâm trạng ngạc nhiên, không hiểu vì sao mà quân ngụy lại bê bối hoảng loạn và tan rã một cách nhanh chóng và kinh khủng như vậy. Không hiểu, thì ở trại cải tạo dần dà họ sẽ hiểu ra. Cố nhiên, đây không thuộc phạm vi trách nhiệm giải thích của chúng tôi, đây là chuyện khác. Điều chúng tôi quan tâm là theo họ thì đến ngày 23 tháng 3 năm 1975, Huế vô cùng hoảng loạn, không còn chút gì là trật tự nữa. Một không khí quân hồi vô phèng, ai lo phận nấy chạy tháo thân đang bao trùm lên thành phố. Điện mất, và tất nhiên nước cũng không có. Điện thoại và viễn liên bị cắt. Tụi ICCS (ủy hội quốc tế) ở khách sạn Thuận Hóa chuồn đi, thì lập tức lính tráng nhào vô giành nhau hôi của, chúng lấy được cái gì là lấy, khuân được cái gì là khuân. Không ai nói được chúng và thế là như một thứ bệnh dịch, lính tráng được thể rủ nhau đi hôi của, đi cướp giật, đi ăn phá cho đã đời, rồi đến đâu hẵng hay. Đường 1 đã bị cắt, xe cộ chạy loanh quanh nhưng chạy bạt mạng, cuối cùng đều phóng như điện về cảng Tân Mỹ để rồi bị vất bừa bãi ngoài đó.


Đêm 23 tháng 3 năm 1975 hàng trăm xe hôn-da của tụi sĩ quan ở trung tâm huấn luyện Đống Đa - Phú Bài rồ máy phóng như trong cuộc đua về Huế. Nhưng đã bị quân cảnh và cảnh sát Hương Thủy chặn lại, một cuộc ẩu đả lại xảy ra. Trong lúc đó, đại tá Thuần, chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Đống Đa gọi điện cầu cứu tướng Thi và được tướng Thi cho trực thăng đón về Huế.


Ở sư đoàn 1 bộ binh, tướng Điềm với nét mặt đau khổ đã họp bàn với đại tá Thuật, tư lệnh phó, đại tá Lợi tham mưu trưởng sư đoàn để trù liệu di tản sư đoàn bộ về Huế. Cuộc bàn bạc trù liệu được diễn ra nhanh chóng trong chớp lửa và tiếng nổ của đạn pháo ta.


09 giờ 00 sáng ngày 24 tháng 3, Điềm phái Trương Như Mân trưởng phòng 3 về trường Kiểu Mẫu ở Huế để sắp xếp cho sư đoàn bộ về. Đến 15 giờ coi như việc di chuyển sư đoàn bộ từ Dạ Lê Thượng về trường Kiều Mẫu xong xuôi. Nhưng nào có yên ổn gì đâu, chúng tưởng chạy khỏi Dạ Lê Thượng để khỏi bị pháo kích, thì vừa về đây, đạn pháo của ta lại rót trúng. Hồ Văn Vĩnh chỉ huy pháo binh sư đoàn 1, đã phải kêu lên rằng, tiền sát của Việt cộng theo chúng từng bước đi, thật nguy khốn đến nơi rồi.


19 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1975, tướng Điềm họp tại nhà riêng ở đường Duy Tân. Cuộc họp chỉ 15 phút. Đúng ra không phải cuộc họp, mà sĩ quan kéo đến để nghe tướng Điềm tuyên bố một cách bi thảm về tình hình của chúng và lệnh cho cấp dưới tiêu hủy tài liệu mật, mang theo 7 ngày gạo và rút khỏi Huế. Thôi khỏi phải nói rút theo đường nào nữa, đám sĩ quan đều hiểu ngầm với nhau rằng, đã đến lúc "chacun pour soi, Dieu ponr tous"1 (Tiếng Pháp: Ai lo phận nay) như một tay nào đó đã mạnh dạn nói ra. Đài BBC vừa mới đưa tin xong: sinh lộ duy nhất của lực lượng bắc Hải Vân là đường Huế - Thuận An. Thế có nghĩa là không còn hy vọng hành quân bộ qua cửa Tư Hiền để về Dà Nẵng. Trương Như Mân quay về đến trường Kiểu Mẫu thì hầu như cơ quan không còn mấy người. Điện bị cắt, may mà có ánh trăng để mò vô nhà. Nhìn sang bên kia sông Hương thấy lửa cháy, cũng không hiểu ai đốt nữa. Lính sợ đạn nổ chạy bát nháo, hỗn loạn. Mân chỉ kịp mò vô nhà lấy được khẩu súng, chiếc mũ và cái xắc rồi gọi được tài xế cùng mấy sĩ quan tùy tùng khác, chuồn luôn. Trần Công Nhượng, thiếu tá trưởng phòng chiến tranh tâm lý sư đoàn 1 bộ binh kể rằng, lúc 20 giờ kém 15 ngày 24 tháng 3 năm 1975 đang nghe đài BBC thì trung tá Từ chạy đến bảo lên xe rút nhanh, không thì bị cướp xe mất, lúc này tướng tá gì cũng nhỏ, anh nào có xe thì lo mà chuồn. Cuối cùng, Mân cũng như Nhượng, Từ hoặc bất cứ ai, đều phải vất xe, cuốc bộ tất. Xe không thể nào trèo lên những chiếc khác vất ngổn ngang đầy đường, cũng không thể nào lách giữa đám người không còn biết là dân hay lính nữa, đang chen chúc nhau mà chạy, đang giẫm bừa lên cả những xác chết nằm la liệt đầy đường mà chạy.


Đói, mệt, mất ngủ cũng không đáng sợ bằng cái mà theo bọn họ gọi là cảnh địa ngục ở trên cảng Tân Mỹ và cửa Thuận An. Hỗn độn hết chỗ nói. Tranh cướp nhau, giành giật nhau, cãi vã nhau, súng nổ vô tội vạ, lựu đạn nổ vô tội vạ. Rồi đại bác bắn tới, súng cối nã tới. Con người bấy giờ trở nên con thú; thủy quân lục chiến bắn nhau với lính thiết kỵ. Biệt động quân nổ súng vào đám bảo an. Những xác người cứ đổ xuống bãi, những xác người cứ rơi tòm xuống biển; những cái đầu bê bết máu, những tiếng kêu la chửi bới đến rợn người; tất cả cứ phơi bày ra thành một ấn tượng khủng khiếp của sự thảm bại. Nhìn xuống cửa biển, bấy giờ không ai có thể liên tưởng nổi biển vốn dĩ rất xanh, rất đẹp, rất nên thơ nữa. Phà thuyền, xà lan chen nhau, húc nhau, người bám vào phao bơi bộ, ba lô đồ đạc nổi lềnh bềnh cùng xác người, thằng trên xà lan hất thằng muốn bám lên ngã đánh tòm, đạn rơi lủm bủm trên mặt nước: đứng xa nhìn tới, cửa biển lúc này gợi lên cái cảm giác những bầy giòi bọ nhung nhúc trên cái xác chết đã thối rữa.


Vậy bấy giờ tướng Điềm, đại tá Duệ, tướng Thi ở đâu? Tướng Điềm đã có trực thăng bay đi, lo gì. Nhưng được biết trước đó, sĩ quan nghe Điềm nói trong máy với Ngô Quang Trưởng ở Đà Nẵng:

- Thưa trung tướng, tôiđang ở trong một hoàn cảnh rất bị đát. Thằng Quảng Trị không chịu đưa cho tôi 4 tiểu đoàn phòng thủ đường Huế - Tân Mỹ. Tướng Thi không giúp đỡ tôi. Thủy quân lục chiến giữ tất cả lực lượng đó để làm gì? Trung tướng bảo tôi tử thủ, lấy gì mà tử thủ? Lực lượng của tôi đã co lại cả rồi. Tôi chỉ còn có nước đầu hàng mà thôi. Tôi báo cho trung tướng biết, nếu không có tăng viện, tôi chỉ có nước đầu hàng mà thôi.

Có lẽ đây là lời báo cáo cuối cùng của chuẩn tướng Điềm và sau đó thì hắn cũng lo chạy lấy cái thân hắn, giá mà hắn đầu hàng như lời "dọa" của hắn đối với Trưởng thì còn may, đằng này hắn bay thoát thân. Nhưng nghe đâu, máy bay hắn đã bị du kích bắn rơi.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:32:20 am
Còn đại tá Duệ, tiểu khu trưởng Thừa Thiên, con người nổi tiếng khôn khéo có lẽ muốn tỏ ra trung thành với Thiệu, ít ra cũng là bề ngoài. Trong cuộc họp để tuyên bố rút lui, hắn đã khóc, làm ra vẻ giận tướng Thi đã phản hẳn. Khi sang gặp Điềm ở nhà riêng, Điềm gợi ý để cho Duệ đi nhờ máy bay của mình, nhưng Duệ đáp lạnh nhạt:

- Chuẩn tướng cứ mặc tôi.

Và hắn đi bộ với đám tùy tùng còn lại. Làm ra bộ sống chết với đồng đội, thực hiện "huynh đệ chi binh" như khẩu hiệu đã in trên nhãn bao thuốc lá "Quân tiếp vụ". Tuy nhiên, đến cửa Tư Hiền thì bộ mặt khôn khéo giả nhân giả nghĩa của Duệ bị bóc trần.


Đêm 24 tháng 3 năm 1975, tình hình ở cửa Tư Hiền rối loạn chẳng khác gì cửa Thuận An, còn rối loạn và căng thẳng hơn vì đại liên và M.79 của ta ở bên kia sông đã bắn qua. Trước thế bí, Duệ đã lệnh cho bộ hạ cướp ghe thuyền của dân đề tẩu thoát. Chúng ném lựu đạn sáng vào ghe rồi vất tất cả mọi người trong ghe - kể cả đàn bà con nít, xuống nước. Trong tiếng khóc la, một người dân gầm lên:

- Đại tá Duệ muốn gì?

- Câm mồm đi! Trưng dụng ghe công tác!

Rồi mặc những người dân ướt như chuột lụt, khóc lóc nguyền rủa, đoàn ghe tắt máy, chèo im lặng trong đêm. Nghe người ta đồn rằng, trong đoàn ghe chở Duệ, còn có Hy, đại tá tham mưu trưởng tiền phương, Khanh, trung tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên, Danh, thiếu tá chi khu trưởng Vĩnh Lộc, Địch, thiếu tá an ninh quân đội. Những tài công chở ghe phải làm việc dưới mũi súng gí vào mang tai. Đấy là mệnh lệnh của đại tá Duệ, cốt đảm bảo cho cuộc đào tàu đi trót lọt đến bến Thanh Bình, Đà Nẵng.


Còn Lâm Quang Thi? Là tư lệnh tiền phương quân đoàn, hắn đã cho máy bay trực thăng đổ giữa sân Mang Cá trước trung tâm hành quân từ chiều ngày 23 tháng 3 năm 1975. Chỉ từng ấy cũng đủ cho những thằng cấp dưới mất tinh thần. Dường như tên tướng này chỉ cho Hy, tham mưu trưởng tiền phương đi truyền đạt lệnh của Ngô Quang Trưởng cho các đơn vị thuộc quyền rút lui khỏi Huế, thế là công việc cuối cùng của đời làm tướng xong việc đánh thuê. Và hắn bỏ mặc cho quan quân muốn liệu sao đó thì liệu. Hắn vù.


Trên đây là những mẩu chuyện chúng tôi nghe tụi sĩ quan bị bắt và đầu hàng nói lại. Lời nói thường lắt léo, có thể là thế này hoặc cũng có thể là thế kia. Để hiểu rõ cuộc thảm bại của lực lượng ngụy bắc Hải Vân, có lẽ tốt hơn là đọc những tài liệu của địch. Những tài liệu do bọn sĩ quan cao cấp tự tay viết ra trên giấy trắng mực đen hẳn hoi. Đấy là những bằng chứng hùng hồn.


Trên kia, nhiều chỗ chúng tôi đã trích lời khai của Nguyễn Thành Trí, đại tá phó tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến. Bây giờ xin hãy đọc tiếp đoạn có liên quan đến cuộc thảm bại của lực lượng ngụy bắc An Lỗ:

"... Ngày 21 tháng 3 năm 1975. Tình hình chung tương đối yên tĩnh, chỉ có các vụ pháo kích và tiến công nhỏ không ảnh hưởng.

22 tháng 3 năm 1975. Đèo Phú Gia bị cắt. Lữ 285 được lệnh rút lên đèo Hải Vân, xuất phái 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến qua lữ 468 và 1 tiểu đoàn thứ hai qua lữ 369 tại khu vực Đại Lộc, ban chỉ huy lữ 258 về phi trường Đà Nẵng làm trù bị.

23 tháng 3 năm 1975. 08 giờ 00 khu vực liên đoàn 913 địa phương quân bị tiến công mạnh. Quân giải phóng có ý định vượt sông Mỹ Chánh.

10 giờ 00 lữ 147 báo cáo bị tiến công mạnh tại khu vực Cổ Bi, tuy nhiên đủ sức giữ tuyến.

14 giờ 00, liên đoàn 913 địa phương quân báo cáo mất liên lạc với 2 tiểu đoàn địa phương quân, một số bộ phận Quân giải phông đã vượt sông đánh thủng một vài vị trí và tiếp tục thọc sâu vào phía sau lưng, gây rối loạn hậu tuyến.

15 giờ 00. Nhận thấy liên đoàn 913 địa phương quân không còn khả năng giữ vững tuyến đỏ trong phạm vi trách nhiệm, trong khi mặt khác áp lực Quân giải phóng vẫn tiếp tục mạnh tại khu vực Cổ Bi và An Lỗ, và lúc bấy giờ cũng không còn lực lượng trù bị nào để phản công hữu hiệu. Bộ tư lệnh nhẹ sư lên trung tướng tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 và được chấp thuận thi hành kế hoạc trì hoàn chiến về tuyến Bắc Bình (An Lỗ). Theo kế hoạch này liên đoàn 14 biệt động phối trí từ cầu An Lỗ đến phá Tam Giang và nối với trung đoàn 51 sư đoàn 1 bộ binh ở phía tây (khu vực núi Giót). Liên đoàn 913 địa phương quân ở phía sau tuyến Bắc Bình, lữ đoàn kỵ binh 1 xuất phái khỏi tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến làm trù bị cho tư lệnh tiền phương quân đoàn 1.


Hoàn tất trì hoãn chiến về tuyến Bắc Bình.

- 24 tháng 3 năm 1975. Tình hình trở nên nặng nề. Tại khu vực lữ 147 (An Lỗ) áp lực bộ binh và pháo binh Quân giải phóng mỗi lúc một tăng với ý định vượt sông An Lỗ.

- 13 giờ 00, Bộ tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến di chuyển về Thuận An (căn cứ Trần Ba).

- 14 giờ 30, trung tướng tư lệnh tiền phương quân đoàn 1, chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, đại tá tư lệnh phó sư đoàn thủy quân lục chiến họp duyệt xét tình hình tại căn cứ hải quân Thuận An.


Nhận định chung:

a) Tình hình An Lỗ: - Liên đoàn 14 biệt động quân với quân số hiện hữu (300 người) và khả năng cơ giới tăng cường (1 chi đội M.113) không thể giữ vững tuyến Bắc Bình trong phạm vi trách nhiệm khi xảy ra cuộc tiến công. Nếu tuyến này bị vỡ sẽ có ảnh hưởng đối với hậu tuyến lữ 147, đồng thời con đường Huế - Thuận An sẽ bị cắt đứt, thành nội Huế trong đó có Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 bị cô lập.

- Liên đoàn 913 địa phương quân không nằm vững tình hình các đơn vị trực thuộc, một số lớn quân nhân trong đó có cả cấp chỉ huy đã tự động rã ngũ về lo di tản gia đình.


b) Tình hình sư đoàn 1 bộ binh: một số vị trí phía tây bị mất, áp lực Quân giải phóng mạnh và tràn xuống đồng bằng Phú Thứ. Dĩ nhiên trong một thời gian không lâu, đường Huế - Thuận An sẽ bị cắt đứt. Một số binh sĩ và cán bộ tự động rời đơn vị về lo di tản gia đình.


c) Tình hình Huế và bến phà Tân Mỹ: Tình hình hỗn độn xảy ra trong thành phố Huế, súng nổ bừa bãi, hàng ngàn dân chúng và binh sĩ ngược xuôi di tản, cướp giật tại một vài nơi. Tại bến phà Tân Mỹ hàng ngàn đồng bào chen chúc làm tắc nghẽn giao thông và đình trệ hoạt động của phà Tân Mỹ, số đồng bào này tập trung để chờ L.C.U. và sà lan chở vào Đà Nẵng, nhưng giờ chót không thấy đến.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:33:22 am
Sau khi nhận định tình hình, trung tướng tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 đề cử chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh đại diện, bay trực thăng vào Đà Nẵng trình bày tình hình bắc Hải Vân cho trung tướng tư lệnh quân đoàn 1, đồng thời đưa đề nghị rút quân khỏi Huế theo kế hoạch như sau:

- Các lực lượng do Bộ tư Tệnh nhẹ thủy quân lục chiến chỉ huy tập trung tại Thuận An và di chuyển dọc theo bờ biển về hướng nam đến ngã Тư Нiền, tại đây yêu сầu một thành phần thủy quân lục chiến trên đèo Hải Vân làm thành phần đón tiếp, sau đó tiếp tục di chuyển vào Đà Nẵng.

- Sư đoàn 1 bộ binh di chuyển song song với cánh này do Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến chỉ huy.

- Kế hoạch này thi hành ngay trong đêm.


17 giờ 30 lệnh của Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 cho rút lui theo kế hoạch đã họp. Kể từ lúc này Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến không còn liên lạc được với Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 cũng như với sư đoàn 1 bộ binh. Do đó cuộc rút lui không có sự phối hợp thành hàng ngang trên cấp sư đoàn.


19 giờ 00, các lực lượng thuộc Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến tuần tự đoan chiến và rút lui theo thứ tự ưu tiên lữ 147, liên đoàn 14 biệt động quân, liên đoàn 913 địa phương quân, lực lượng phía đông phá Tam Giang gồm 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn địa phương quân, thiết đoàn 17 và pháo đội thủy quân lục chiến.


Được biết trung tướng tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 đã ra tàu mаng tên Whe CО5. Tuy nhiên liên lạc rất khó khăn bằng hệ thống PRC25.    

- 25 tháng 3 năm 1975, 03 giờ 00 lữ 147 thủy quân lục chiến báo cáo hoàn tất việc tập trung tại bờ biển Thuận An. Liên đoàn 913 địa phương quân, liên đoàn 14 biệt động quân thì mất liên lạc, tuy nhiên lữ đoàn 147 báo cáo 2 liên đoàn này có theo sau lữ 147.

9 giờ 00 Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến lên tàu LCM.8 di chuyển ra khơi để chỉ huy.

11 giờ 00, lực lượng phía đông phá Tam Giang cũng đã đến điểm tập trung, 13 giờ 00, 1 tàu LSM dự trù ủi bãi để bốc các đơn vị thủy quân lục chiến nhưng nước cạn không vào được, bấy giờ các đơn vị này đang ở cách Thuận An 9 km về phía nam, việc tàu đến bốc là ngoài kế hoạch dự trù.

Bộ tư lệnh nhẹ sư đoàn thủy quân lục chiến được lệnh của Bộ tư lệnh nặng sư đoàn thủy quân lục chiến qua đài vô tuyến trung gian đặt tại đèo Hải Vân là sẽ có 3 tàu LCU đến bốc lữ 147 thủy quân lục chiến.

2 tàu LCU ủi bãi. Một chiếc bị mắc cạn và bị AT.3 bắn hư không hoạt động được. Một chiếc bốc được quãng 800 thủy quân lục chiến trong đó có chừng 100 thương binh và ban chỉ huy lữ 147 dưới áp lực pháo và hỏa lực bắn thẳng Quân giải phóng. Lữ trưởng 147 cũng bị thương trung bình nơi chân.

11 giờ 00, chiếc tàu thứ 3 không ủi bãi được vì bị pháo và có chạm súng trên bờ.

24 giờ 00 mất liên lạc với các đơn vị còn lại trên bờ. Các tàu hải quân được lệnh rời vùng bãi bốc và di chuyển về hướng nam. Như vậy quân số trên bờ còn lại quãng 2.500 thủy quân lục chiến...".

Tiếp theo đoạn lời khai của Nguyễn Thành Trí, chúng tôi còn được đọc thêm bản "Tóm lược phúc trình của phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại - tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, đoạn nói về yểm trợ lui binh cho Bộ tư lệnh quân đoàn 1 tiền phương.


Đây là một văn bản viết thiếu mạch lạc và nhiều câu sai chính tả. Lại có nhiều từ chuyên môn về hải quân nên đọc rất lủng củng. Mặc dầu vậy, bản văn này cũng cung cấp cho chúng ta thêm những chi tiết về việc tổ chức rút chạy bằng đường biển của lực lượng ngụy quân ngụy quyền bắc Hải Vân. Là tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, Hồ Văn Kỳ Thoại có góc độ nhìn của y. Nghĩa là y chỉ nói về phía hải quân làm nhiệm vụ lui binh, chứ quân trên bộ thế nào y không biết, không nói tới. Nghĩa là y cố thanh minh rằng y đã cố gắng tối đa chấp hành lệnh của Ngô Quang Trưởng, nhưng sở dĩ việc lui binh không thành công là do những lý do khác: nào là thời tiết xấu, bãi biển quá lài nên tàu LCU không ủi bãi được, nào là xin trực thăng bốc quân, nhưng trực thăng chỉ bốc một chuyến rồi chuồn thẳng, nào là phi cơ A.37 lại oanh tạc nhầm vào tàu HA.14, nào là quân trên bộ thiếu sự chỉ huy, nên gây lộn xộn mất trật tự. Cố nhiên y cũng công nhận là về phía hải quân, có một số giang đĩnh chở được một chuyến vào Đà Nẵng, rồi không chịu trở lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Y không nói gì về cuộc tiến công của ta, chi trừ một chỗ y có tường trình là phi cơ của ta xuất hiện bắc Thuận An vào sáng 25 tháng 3 năm 1975.


Về kế hoạch hành quân lui binh khỏi Huế mà y cùng Bùi Thế Lân, tư lệnh thủy quân lục chiến, được nghe Ngô Quang Trưởng chỉ thị, có lẽ y đã tường trình chính xác và rõ ràng hơn Nguyễn Thành Trí. Theo y thì quan niệm hành quân rút lui tổng quát như sau: Một cánh quân (chủ yếu là sư đoàn 1 bộ binh, liên đoàn 15 biệt động quân và liên đoàn bảo an 914) di chuyển theo hướng đông-nam, vượt qua đầm Thủy Tú tới cửa Tư Hiền, rồi tiếp tục hành quân bộ về Đà Nẵng. Để bảo đảm cho cánh quân này rút lui, giang đoàn 13 tại cửa Tư Hiền phải chịu trách nhiệm chuyển quân quá giang, và thủy quân lục chiến phải đưa một lực lượng chiếm núi Vinh Phong – một điểm cao quan trọng án ngữ nam cửa Tư Hiện.


Cánh quân thứ hai (chủ yếu là thủy quân lục chiến và lực lượng bộ binh, thiết kỵ ở bắc An Lỗ do đại tá Trí chỉ huy) hành quân tập kết ở cửa Thuận An. Hải quân vùng 1 duyên hải và quân của Bộ tư lệnh quân đoàn 1 tiền phương có trách nhiệm đưa tàu thuyền để cánh quân này rút tiếp theo đường biển về Đà Nẵng.


Ngay từ trong cuộc họp với Ngô Quang Trưởng, Hồ Văn Kỳ Thoại đã nhận thấy kế hoạch lui binh như trên sẽ gặp khó khăn, y đã dưa ra một đề nghị kế hoạch khác. Theo y, nên tập trung đại quân khoảng 20.000 tay súng cùng với 70 – 80 chiến xa các loại, gần 100 đại bác, sử dụng quốc lộ số 1 từ Huế bất ngờ đánh thẳng vào hậu cần các sư đoàn của ta, rồi hành quân theo đường 545 về Quảng Nam (có lẽ là đường 14?). Trong khi đó, một thành phần của sư đoàn 3 bộ binh hoặc thủy quân lục chiến từ Quảng Nam tiến ra đón đại quân về.


Kế hoạch quá ư phiêu lưu của Hồ Văn Kỳ Thoại chắc hẳn không phải xuất phát từ thiện chí, mà từ sự trốn tránh trách nhiệm của y. Tụi bắc Hải Vân có bị tiêu thì mặc mẹ chúng nó, miễn là hải quân của y không phải ăn đòn, không phải khốn đốn về vụ tháo chạy đường cùng này. Dĩ nhiên là Ngô Quang Trưởng đã bác bỏ kế hoạch của Hồ Văn Kỳ Thoại một cách thẳng cánh. Một tên tướng gian ngoan như Ngô Quang Trưởng hẳn cũng thừa biết rằng, lúc này mà còn tổ chức tiến công - mặc dù tiến công để rút lui - là một trò điên rồ, là một ý nghĩ vớt trăng dưới sông lên. Dẫu biết rằng, kế hoạch lui binh của hắn cũng mong manh, nhưng vẫn còn le lói chút hy vọng vào sự cầu may nào đó. May ra còn vớt vát được chút đỉnh, không để chịu mất sạch.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:34:01 am
Kể ra đoạn trích lời khai của Nguyễn Thành Trí và tóm lược phúc trình của Hồ Văn Kỳ Thoại cũng đủ chứng minh sự thất bại thảm hại của lực lượng quân ngụy tại bắc Hải Vân. Song để có bằng chứng hùng hồn hơn, xin hãy đọc thêm tài liệu sau đây của Lâm Quang Thi - người chỉ huy cao cấp nhất của quân ngụy ở Huế. Tài liệu này chúng tôi sưu tầm được ở Bộ tổng tham mưu ngụy sau ngày Sài Gòn giải phóng:


Tóm lược phúc trình của trung tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh phó quân đoàn 1, quân khu 1.

- Ngày 8 tháng 3 năm 1975, Cộng sản xâm lăng đồng loạt tiến công khu vực Truồi do sư đoàn 1 bộ binh chiếm đóng, đồng thời bôn tập Phú Thứ, Vĩnh Lộc, Quảng Điền và Hải Lăng. Các đơn vị bắc Hải Vân phản ứng mạnh và đã hạ được 1.000 tên trong 5 ngày.

- Ngày 19 tháng 3 năm 1975, Cộng sản xâm lăng tiến công bằng chiến xa tuyến Quảng Trị, trước áp lực mạnh, địa phương quân buộc phải về tuyến Mỹ Chánh.

- Ngày 21 tháng 3 năm 1975, 2 sư đoàn 324B và 325 cùng 3 trung đoàn địa phương tiến công khu vực Truồi và mỏm Kim Sắc, cắt đứt quốc lộ số 1 tại Đá Bạc.

- Ngày 22 tháng 3 năm 1975 tại tuyến bắc các đơn vị địa phương quân bị đẩy lùi về tuyến An Lỗ.

- Ngày 23 tháng 3 năm 1975, 09 giờ 30 được lệnh về họp tại Bộ tư lệnh quân đoàn 1 Đà Nẵng. Tư lệnh quân đoàn 1 chỉ thị nghiên cứu kế hoạch đưa sư đoàn 1 bộ binh về Đà Nẵng, bằng ngả Vĩnh Lộc. Cùng ngày, lúc 15 giờ 00 triệu tập chuẩn tướng Điềm, tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, đại tá Trí, tư lệnh phó sư đoàn thủy quân lục chiến, đại tá Duệ, tiểu khu trưởng Thừa Thiên đồng ý như sau:


Sư đoàn 1 bộ binh rút về Vĩnh Lộc, còn lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến rút ra Thuận An để được hải quân bốc lên tàu. Tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh và tư lệnh phó thủy quân lục chiến đồng ý phải thi hành kế hoạch rút lui trong đêm 23 tháng 3 năm 1975 với điều kiện cửa Tư Hiền phải có phương tiện để vượt, núi Vinh Phong phải được chiếm. Chỉ thị chuẩn tướng Điềm cùng đại tá Hy tham mưu trưởng bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 bay vào Đà Nẵng trình bày kế hoạch và nhấn mạnh những điều kiện trên. Kế hoạch được chấp thuận. Được biết sau đó trung tướng tư lệnh quân đoàn 1 đã họp chỉ thị tư lệnh thủy quân lục chiến và tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, các vị này bảo đảm có thể thi hành được chỉ thị. Đại tá Hy gặp đại tá Trì thông báo quyết định rút quân lúc 21 giờ 00 đêm 23 tháng 3 năm 1975.


Cuộc rút lui đã được thi hành như trù liệu, nhưng không thành công, vì hải quân và thủy quân lục chiến không thi hành hai điểm quan trọng nêu trên.

Kinh xin đại tướng cho biết lý do vì sao bị tạm giam tại Bộ tổng tham mưu.

Có lẽ khỏi phải bình luận gì thêm vào ba tài liệu đã giới thiệu trên, đặc biệt là lời thú nhận của Lâm Quang Thi. Tuy nhiên, tôi bỗng nảy ra ý nghĩ rằng, hẳn là có lúc tên bồi bàn da vàng bên Mỹ ấy được đôi chút rảnh khách và hắn chợt băn khoăn về những điều đã viết trong bản tường trình mà chưa được giải đáp. Theo hắn thì dường như hắn đã chu toàn trách nhiệm trong việc tổ chức lui quân khỏi Huế, sở dĩ cuộc rút lui không thành công là do bọn hải quân và thủy quân lục chiến không thi hành hai điểm quan trọng đã nêu, là phải có phương tiện để vượt cửa Tư Hiền và núi Vinh Phong phải được chiếm. Hắn quên mất cái lý do gì khiến tụi hắn phải tháo chạy, nếu không phải là đòn tiến công và nổi dậy dồng loạt của ta, là lối đánh thần tốc, táo bạo, bao vây chia cắt của ta?


Hắn không thể hiểu rằng, hồi 17 giờ ngày 22 tháng 3 năm 1975 Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên và Bộ tư lệnh quân đoàn 2 đều đã biết kế hoạch tháo chạy của chúng. Lập tức, từ quân khu Trị Thiên nhiều bức điện đã đánh đi, lệnh cho tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 21 của Quân khu, phải bằng mọi giá bịt cho được cửa Tư Hiền. Và trong hai đêm 23 và 24 tháng 3 năm 1975 lần lượt tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 21 đều có đơn vị vượt phá Cầu Hai sang Vĩnh Lộc, có đơn vị chốt hòn Rẫm. Cũng ngày 24 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 18 đã cho 1 tiểu đoàn tăng cường rẽ xuống quét địch ở nam cửa Tư Hiền, chiếm núi Vinh Phong.


Ngày 25 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 18 lại đánh thốc vào Thừa Lưu, Thổ Sơn và đuổi địch ra khỏi đèo Phú Gia. Vậy thử hỏi tụi hải quân làm cách nào mà đưa phương tiện đến để cho tụi sư đoàn 1 bộ binh, tụi liên đoàn biệt động 15 và tụi tàn binh khác vượt cửa Tư Hiền được? Thử hỏi tụi thủy quân lục chiến trên đèo Hải Vân làm cách nào mà đến chiếm được núi Vinh Phong?


Đã làm tướng mà những điều giản đơn như vậy cũng không hiểu, thì thật buồn cười. Đáng buồn cười hơn là hắn còn thắc mắc không hiểu vì sao bị tạm giam ở Bộ tổng tham mưu. Làm tướng chỉ huy mặt trận bắc Hải Vân mà mặt trận hoàn toàn tan vỡ, quân sĩ thứ bị giết, thứ thì đầu hàng và bị bắt (tổng số đầu hàng và bị bắt là 3.405 tên sĩ quan từ chuẩn úy lên đến trung tá; 64.089 tên lính các loại), vũ khí trang bị, phương tiện khí tài hầu như không còn một thứ gì, thử hỏi có đáng tội chết chém hay không mà mới chỉ bị tạm giam đã kêu oan. Đương nhiên là cuối cùng rồi thằng hạ lệnh giam cũng như thằng bị giam đều cao chạy xa bay, cuốn xéo ra nước ngoài tất. Giờ đây thì không ai bắt tội được ai, vì xét cho công bằng thì tội của Lâm Quang Thi, Ngô Quang Trưởng vẫn còn bé hơn tội của Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên.. chúng không còn cương vị gì mà bắt tội lẫn nhau, nhưng tất cả bọn chúng lại không sao tránh khỏi sự trừng phạt của nhân dân Việt Nam ta. Tên tuổi bọn chúng được xếp sau Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh, Ngô Đình Diệm - những tên phản bội Tổ quốc đáng nguyền rủa nhất. Trước mắt, bọn chúng phải chịu sự trừng phạt nặng nề: từ nay chúng không còn được gọi là người Việt Nam nữa, chúng là những tên lưu vong không có Tổ quốc.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tư, 2022, 07:12:35 am
XI. Mặt trận chuyển về phía Nam

Ngày 25 tháng 3 năm 1975, khi chúng tôi đang trên đường giải phóng Huế, thì tại Hà Nội, có cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Cuộc họp đã nhất trí quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa và có nhiều nghị quyết cụ thể cho chiến dịch giải phóng Đà Nẵng và Sài Gòn. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã cử anh Lê Đức Thọ vào tận Trung ương cục miền Nam để phổ biến nghị quyết, đồng thời cử anh Lê Trọng Tấn làm chỉ huy trưởng và anh Chu Huy Man làm chính ủy mặt trận Đà Nẵng. Sáng 26 tháng 3 anh Lê Trọng Tấn cùng đi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống trực tiep giao nhiệm vụ và động viên quân đoàn 1, trước khi quân đoàn hành quân vào tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.


Sáng 27 tháng 3 anh Lê Trọng Tấn bay trực thăng vào Gio Linh, rồi từ đấy đi ô tô vào mặt trận. Trên đường đi, anh Tấn vẫn dùng các phương tiện thông tin liên lạc với Bộ tư lệnh quân đoàn 2, Quân khu Trị Thiên và với anh Chu Huy Mân qua Bộ tư lệnh Quân khu 5.


Thực ra, những sự kiện quan trọng ấy sau này chúng tôi mới càng biết rõ, chứ bấy giờ chúng tôi chỉ hiểu đại thể là ta sẽ giải phóng Đà Nẵng, còn giải phóng Sài Gòn quả là chưa nghĩ tới. Biết sẽ giải phóng Đà Nẵng là qua những chỉ thị, những bức điện của Bộ. Ngay từ lúc chiến dịch mới phát triển, Bộ đã chỉ thị cho B5 (quân đoàn 2) chuẩn bị pháo bắn vào sân bay Đà Nẵng. Một bức điện do anh Lê Trọng Tấn ký có đoạn viết:

"... Quân đoàn 2 chỉ thị cho sư đoàn 304 và địa phương bám sát theo dõi chặt chẽ địch ở đồng bằng. Bộ đã có kế hoạch tăng cường gấp lực lượng cho phía trong đó...".

Ngày 25 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điện biểu dương khen ngợi B4 và B5 chiến đấu rất tốt. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh quân khu và Bộ tư lệnh quân đoàn 2 đều nhận thêm chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu như sau:

"Bộ gửi anh Đồng, anh An,

Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của Thừa Thiên là tiếp tục lùng sục bắt tù binh. Việc tiếp quản Trị - Thiên - Huế thì theo chỉ thị của Trung ương và Ban Thống nhất cùng chỉ thị hướng dẫn của Tổng cục Chính trị. Việc thu dọn chiến trường (chiến lợi phẩm và nhất là xe pháo, kho tàng, v.v.). Tổng cục Kỹ thuật và Tổng cục Hậu cần sẽ cử một đoàn vào giúp đỡ quân khu, trước mắt, B4 cho thu gọn gàng, đừng để ta phá hư hỏng hoặc để địch ném bom.

Lực lượng B5 sau khi đã tiêu diệt hết các bộ phận địch còn lại chống cự, phải nhanh chóng thu quân, chuẩn bị sẵn sàng chuyển vào hướng Đà Nẵng, đánh.

- Kế hoạch tiến công sẽ có chỉ thị của anh Lê Trọng Tấn. B5 cần tăng cường thêm pháo khu vực Nữu cho đủ một tiểu đoàn với đầy đủ đạn, để khi có lệnh, đánh được ngay vào sân bay Đà Nẵng. Cần khắc phục địa hình làm sao đưa được pháo lên phía trước hiện nay để bắn tới cảng Đà Nẵng.

Cho chiếm ngay cao điểm Thủy Tú để bảo vệ pháo và làm bàn đạp đánh Đà Nẵng.

CAO"



Cao là tên ký của anh Cao Văn Khánh, Tổng tham mưu phó. Như thế có nghĩa là anh Lê Trọng Tấn đang trên đường vào mặt trận, chúng tôi thầm đoán thế. Bỗng anh nào cũng ước ao được ở bên quân đoàn 2 vào lúc này, sẽ được tham gia giải phóng Đà Nẵng, sẽ còn được đi khắp đất nước... còn chúng tôi, nhiệm vụ trước mắt là tiếp quản Trị - Thiên - Huế.


Chúng tôi về Huế vào sáng 26 tháng 3 năm 1975. Bấy giờ trung đoàn Phú Xuân (tức trung đoàn 6) vừa chính thức treo lá cờ Mặt trận giải phóng lêm cột cờ Ngọ Môn. Lá cờ lớn hơn ba chục mét vuông uy nghi đĩnh đạc bay trong gió sớm, trên nền trời thành phố Huế xanh thẳm. Lá cờ khẳng định Huế hoàn toàn đã thuộc về ta. Tất cả đều yên tĩnh, yên tĩnh kỳ lạ khiến chúng tôi mất hẳn cảm giác - mới hôm qua đây còn bom đạn, khiến chúng tôi đâm ngỡ ngàng vì bộ quần áo chúng tôi bận trong người còn lấm bùn đất, khẩu súng chúng tôi mang vẫn lên đạn sẵn sàng.


Ở bên này đường Lê Lợi nhìn sang, lá cờ và bờ thành rêu phong cổ kính đều in bóng xuống dòng sông Hương phẳng lặng. Đẹp và bình yên lúc này dường như một sự thách đố. Bất giác chúng tôi đều nhớ tới năm Mậu Thân. Đã một lần kiêu hãnh nhìn lá cờ của ta bay trên thành phố quê hương. Lá cờ đã rách nát vì bom đạn suốt hai mươi lăm ngày đêm. Bạn bè chúng tôi nhiều người đã bị thương, đã hy sinh dưới chân thành cổ năm ấy. Để khi trở lại Trường Sơn, nhớ về Huế, chúng tôi luôn luôn nhìn thấy bóng dáng một lá cờ vẫy gọi...


Một anh cán bộ trẻ nhất trong chúng tôi thốt lên:

- Chắc phen này chúng ta thôi khỏi phải trở lại Trường Sơn lần nữa chứ?

Câu hỏi dường như bâng quơ của anh có lẽ là tâm trạng chung của nhiều người trong chúng tôi. Không ai trả lời anh. Quả thật, bây giờ đã có gì đảm bảo là sẽ không trở lại Truờng Sơn lần nữa, nếu như Đà Nẵng chưa giải phóng, toàn miền Nam chưa giải phóng. Bởi thế, hơn ai hết, các chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi - trong niềm vui giải phóng Huế còn xen lẫn sự háo hức, lòng mong mỏi tiêu diệt nốt căn cứ quân sự Đà Nẵng. Về Huế, chúng tôi được biết đêm hôm qua, trung đoàn 101 đã ở lại trong thành phố, các tiểu đoàn được phân công đóng chiếm Mang Cá, Thành Nội và nam cầu Tràng Tiền, trung đoàn bộ ở nhà Ty cảnh sát. Hồi 3 giờ sáng 26 tháng 3 trung đoàn được lệnh rời Huế hành quân về Vĩnh Lộc lùng quét tàn binh. Đấy cũng là một cách thu gọn đội hình sư đoàn 325 lại để sẵn sàng phát triển về phía nam.


Đêm 26 tháng 3 chúng tôi vừa gặp anh Nguyễn Hữu An và anh Hoàng Đan ở Huế, lát sau nghe tin các anh ấy có điện mời về Bàng Môn gấp để nhận nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ mới tất không ngoài việc tiến công Đà Nẵng. Lực lượng tham chiến của quân đoàn 2 sẽ là sư đoàn 325 và sư đoàn 304 đang ở Quảng Nam. Còn sư đoàn 324 ở lại cùng chúng tôi lùng quét tàn binh và tiếp quản Trị - Thiên - Huế.


Bộ tư lệnh quân khu cũng đã về thành phố để chỉ huy lo liệu trăm công nghìn việc đang bày ra trước mắt. Tiếp quản hai tỉnh và một thành phố vừa mới giải phóng là công việc vô cùng khó khăn phức tạp và hoàn toàn mới mẻ. Từ việc tổ chức quân quản thu dọn chiến trường, lập lại trật tự và cuộc sống mới đến việc tổ chức trình diện cho ngụy quân, ngụy quyền, thành lập chính quyền ở các địa phương; tất cả những việc có tên và những việc không tên đều phải có lực lượng bộ đội tham gia gánh vác. Một trong những công việc khẩn cấp nhất lúc bấy giờ nhanh chóng thu hồi một số xe pháo của địch để sung cho quân đoàn 2 tiếp tục nhiệm vụ chiến đấu.


Tôi được Bộ tham mưu giao trách nhiệm cùng các đồng chí ở Cục hậu cần lo liệu công việc bách ấy. Công tác tuy bận rộn và gấp rút mà tôi vẫn cảm thấy thực sự thoải mái, vui vẻ. Dù sao, tôi thấy mình còn may mản được đóng một chút công sức vào việc giải phóng Đà Nẵng, niềm mong mỏi từng ngày từng giờ của tất cả cán bộ chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tư, 2022, 07:13:42 am
Ngay từ lúc lên đường về Huế trong câu chuyện tán phiệu, cán bộ chiến sĩ chúng tôi phun ra bao nhiêu điều dự tính xả hơi. Nào phải ngủ vài hôm cho no mắt, phải chén một bữa thịt bò ngập chân răng, nào phải nằm khểnh lên ngai vàng nhà vua mà chớp một "pô" ảnh hoặc xuống thuyền thả cho trôi từ bến Tuần xuôi Cồn Hến để ngắm Huế từ đôi bờ. Trong câu chuyện có mùi thơm bánh khoái, bánh bèo, có màu thiên lý của chè đậu xanh đánh, có tiếng cười vui và tiếng nhạc trong các buổi dạo chơi... Chắc hẳn đấy là một góc tâm trạng chân thực của anh em chúng tôi, những chiến sĩ đã qua nhiều năm chiến đấu trong khó khăn gian khổ. Ngoài ra, những anh em có gia đình ở Thừa Thiên - Huế như tôi, thì những dự tính xả hơi ấy thường gắn chặt với niềm vui gặp lại gia đình sau bao nhiêu năm xa cách.


Nhưng khi đã về Huế, những câu chuyện tán phiệu kia coi như gửi lại dọc đường, mà quả thật, không ai nhắc đến nữa. Ai cũng bù đầu vào công việc. Các chiến sĩ, phần lớn đầu không mũ, chân không dép (hoặc đi giày dép lính ngụy) ba lô lép kẹp, mặt mũi đen cháy làm tất cả những công việc mà khi ở trên rừng chưa hề nghĩ tới. Canh gác các công sở, nhà máy, cầu cống, tuyên truyền, phát động quần chúng, truy tróc bọn ác ôn không ra trình diện, làm vệ sinh đường phố, thu dọn chiến lợi phẩm, tổ chức các hoạt động cho thanh thiếu nhi, điều khiển trật tự giao thông khi cần thiết, v.v. Anh lính không có thì giờ xả hơi mà trái lại, vất và đến hút hơi.


Tôi cũng nóng lòng về thăm mẹ và em gái tôi ở ngoài quận lỵ Phong Điền mà chưa dám nghĩ tới xin phép đi vào lúc này. Chiều 28 tháng 3 sau khi bàn giao xe pháo và các vũ khí cần thiết cho các anh bên quân đoàn 2, tôi xin phép ra phố Chi Lăng bên Gia Hội thăm ông chú họ, nhân thể hỏi thăm tin tức mẹ tôi. Chú họ tôi là một bác sĩ tư có mở phòng mạch riêng, đời sống cũng dư dật. Năm Mậu Thân tôi đã có dịp gặp - Và chính ông đã ra tận Phong Điền đón mẹ và em gái tôi vào cho tôi thăm, mặc dù cuộc chiến đấu đang hết sức căng thẳng. Ông là người học rộng, thức thời, có nhiều nét tiến bộ mặc dù tính nết ông đôi lúc hơi gàn gàn. Năm Mậu Thân, ông cho vợ và mấy đứa nhỏ dạt ra vùng nông thôn, còn ông vẫn ở lại và đã tham gia cứu chữa thương binh. Lần này tôi tin là ông không di tản. Quả thật thế, khi tôi đến, thấy ông đang tưới mấy cây hoa hồng trong mảnh vườn nhỏ. Ông nhận ra tôi ngay, mừng rỡ kêu len:

- Tôi biết cách răng rồi anh cũng về mà!

Ông cười hà hà, kéo tôi vào nhà, tíu tít gọi bà thím và mấy đứa em ra. Bà thím và mấy đứa em quả là lần đầu tiên tôi mới được gặp, nên sự chào hỏi chưa được tự nhiên lắm. Mấy đứa em gái cỡ mười, mười hai tuổi nhìn tôi với một vẻ nửa vui nửa sợ, y như thể chúng đang tự hỏi: "Cái ông Việt cộng này là anh họ mình đấy!". Cả gia đình chú tôi đều ở lại, kể cả thằng con lớn là hạ sĩ ngụy ở tiểu khu Thừa Thiên cũng được chú tôi kéo về sau hôm ta cắt đứt đường 1. Nhưng buồn thay, mẹ và em gái tôi lại di tản vào Đà Nẵng. Thực ra, mẹ tôi đi vì phải theo con gái. Em tôi lấy thằng chồng là trung úy ngụy, một tay trung úy tiếp liệu lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp. Đấy là cái cớ để em gái tôi thanh minh với tôi hồi gặp nhau năm 1968: "Anh ấy chỉ làm tiếp liệu chứ đâu phải lính chiến đấu". Tiếp liệu hay chiến đấu gì cũng đều chống lại cách mạng tất. Phải chăng câu nói của tôi hồi đó khiến em gái tôi sợ hãi mà dẫn cả gia đình lẫn mẹ tôi đi? Tôi đã dự tính đến hoàn cảnh này mà vẫn thấy đột ngột.

Chú tôi vẫn ung dung:

- Không sao anh ạ! Vài bốn hôm chi nữa là cùng, mẹ anh và mấy đứa lại kéo nhau trở về thôi. Nhất định Đà Nẵng cũng sẽ thất thủ. Không còn cách nào khác. Anh đi cách mạng, anh phải biết hơn tôi, có đúng không nào?

Tôi hỏi lại ông chú:

- Chắc chú nhận định thế, nên chú không di tản?

- À xin nói với anh. Đâu phải nhận định của riêng tôi mà của nhiều người. Tôi có người bạn là ông Ph. Ông Ph. dạy dương cầm, chắc anh không biết. Trong lúc mọi người nháo nhào di tản, cha con ông chẳng đi đâu cả, vẫn đánh đàn, đọc sách, trồng hoa như thường. Nhiều người kêu cha con ông gàn dở. Ông nói: đã chạy thì phải hiểu mình chạy để làm gì? Để tránh bom đạn, rồi hy vọng ông Trưởng bảo vệ được cố đô mà trở lại chăng? Làm chi có chuyện đó. Ông Trưởng, ông Thiệu chi cũng cốt nơi Hoa Kỳ. Mà Hoa Kỳ thua cuộc rồi. Ông Thiệu đến kỳ mạt vận rồi. Cách mạng họ sẽ lấy Huế nay mai. Rồi họ còn lấy Đà Nẵng, lấy Sài Gòn. Họ thắng là vì sao? Vì họ đúng. Sống với người làm đúng thì sao lại phải chạy? Mà chạy vô Đà Nẵng, vô Sài Gòn rồi chạy đi đâu nữa? Sang Mỹ, sang Pháp à? Ồ, như thế còn nói gì là người Việt Nam nữa?


Thái dộ ung dung của cha con ông Ph. làm tôi càng vững tin, chứ anh coi, thím anh cũng làm tôi rối ruột. Thấy người ta cuống cuồng lên chạy, thím anh cũng ca cẩm tôi, cho tôi là gàn.

Bà thím lườm yêu chồng, rồi nói với tôi:

- Anh nghĩ, nhà tôi có bạo gan không? Có mấy ông bạn vừa ngồi đây chơi, tranh cãi nhau ồn ĩ. Rồi đánh cuộc với nhau. Nhà tôi cứ một hai là Đà Nẵng sẽ thất thủ trong vài ba hôm nữa.

Chú tôi gần như reo lên:

- Hay quá! Có anh đây, anh thử làm cố vấn cho tôi coi sao...

Chú tôi xác nhận có một vụ "đánh cuộc" với nhau giữa mấy người bạn. Họ đều là trí thức, thương gia loại có hạng ở Huế cả. Trong số đó, có người không chạy, chú tôi gọi đùa họ thuộc về trường phái "Hoa hồng" - tượng trưng cho sự ung dung đĩnh đạc. Có người đã chạy xuống cửa Thuận An, cửa Tư Hiền quay về. Chú tôi gán cho họ cái tên là trường phái "Cát biển" tượng trưng cho sự đổi dời.


Tiêu đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tư, 2022, 07:14:29 am
Lập luận của phái "Hoa hồng" là ta sẽ giải phóng Đà Nẵng trong vòng tuần lễ trở lại. Theo họ thì ông Thiệu đã thất thế, để mất cao nguyên, mất Quảng Trị, Huế, mất Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Đà Nẵng rơi vào thế bị bao vây, thử hỏi làm sao mà giữ vững được lâu. Ừ, thì có mười vạn quân, nhưng mười vạn quân đã thất trận sẽ không chống nổi sức công phá của phía Giải phóng đang thừa thắng. Cứ xem cung cách đánh Huế thì biết tài tướng tá Việt cộng. Họ cho ép ngoài Quảng Trị, rồi cắt từ Đá Bạc đánh ra, trong lúc đó pháo cứ rót vào các cửa biển, thế là tướng Thi co giò chạy. Quân giải phóng đi vô Huế như đi vô chỗ trống, số phận Đà Nẵng cũng vậy thôi. Mất Đà Nẵng rồi sẽ mất cả Sài Gòn, không phương gì giữ được; Hoa Kỳ cay lắm, nhưng đã bất lực từ đầu. Đành bó tay thôi. Đành cứ để vệ tinh lịch sử bay theo quỹ đạo của nó thôi.


Phái "Cát biển" thì bảo rằng, ông Thiệu lùi ở cao nguyên, ở Huế là cố đợi 100 triệu đô la viện trợ Mỹ, dù đấy là một sai lầm quá đáng. Bây giờ thì không thể lùi ở Đà Nẵng nữa. Con chó bị dồn vào góc tường nó còn liều chết quay lại nhào vô cắn người, huống chi ông Thiệu? Ở Đà Nẵng còn hàng mười vạn quân, lại có ông Trưởng một tướng "tay tổ" chỉ huy, vô lẽ chịu để mất dễ dàng như mất Huế à? Đà Nẵng sẽ là nơi quyết chiến của ông Thiệu, đúng với nghĩa tử thủ. Để làm gì? Để bắt Hoa Kỳ phải xét lại thái độ muốn bỏ rơi Việt Nam cộng hòa. Để mặc cả với Giải phóng, với Bắc Việt. Cố nhiên là Hoa Kỳ muốn lấy lòng dân chúng thì phải hất ông Thiệu xuống, đưa một ông khác ôn hòa hơn lên thay. Và hai bên tái lập hòa đàm. Chắc hẳn Việt Nam cộng hòa phải nhượng bộ nhiều hơn, đại để là phải cắt từ Sa Huỳnh trở ra cho Giải phóng, còn sau ra sao nữa thì hạ hồi phân giải.


Hai bên tranh cãi, lý sự với nhau một chặp, bất phân thắng bại. Cuối cùng họ đánh cuộc với nhau để chờ thực tế trả lời. Điều kiện đánh cuộc cũng khá giản đơn: lấy cái mốc ngày 5 tháng 4 năm 1975 để xem thử Đà Nẵng đã được giải phóng hay chưa, làm tiêu chuẩn phân định thắng bại. Phái thua phải chịu một bữa nhậu với điều kiện thực đơn tự do, tùy thích. Ông chú bác sĩ kể hết câu chuyện "đánh cuộc", đoạn hỏi tôi: - Ý anh sao? Liệu chú có thắng cuộc không? Mà thắng hay không là do nơi các anh định đoạt phải không nào?


Cố nhiên, ý kiến của tôi khá rõ ràng. Phái "Cát biển" hoàn toàn dựa theo luận điệu tâm lý chiến của địch tung ra, mà mấy hôm nay tôi đã nghe vài người dân nói tới. Phái "Hoa hồng" của chú tôi có lý. Song cái lối khẳng định Đà Nẵng sẽ được giải phóng trước 5 tháng 4 năm 1975 có vẻ như chưa có căn cứ lắm. Nó mới là một thứ cảm giác, ước đoán, một lối nói cứng. Tôi chưa trả lời chú, mà quay sang hỏi thím:

- Thím có ủng hộ chú không?

Vốn là một nhà giáo, thím tôi trả lời nhỏ nhẹ, lịch sự:

- Hôm qua anh a! Tôi ghé lên chùa Hồng Ân thấy một hiện tượng lạ. Bạch ni sư Diệu Không chỉ cho tôi xem một cây lan rất quý tên là gì tôi quên mất. Loại lan quý này chưa hề lúc nào nở hoa, nay mới nở là một. Một chùm hoa thiệt đẹp nở vào đúng ngày bên ta vô giải phóng Huế. Suy ra, hẳn có đấng thần linh nào đó phù hộ độ trì cho Cách mạng thắng. Đã thắng ở Huế, tất phải thắng ở Đà Nẵng, ở Sài Gòn. Rồi dân tộc Việt Nam mình sẽ kết thúc chiến tranh một cách tốt đẹp. Không đổ máu nhiều, không tàn phá đổ nát nhiều. Chứ anh tính, ngay như ở Huế dây, lính quốc gia mà chống cự như năm Mậu Thân thì còn chi là Huế nữa. Có phép nhiệm mầu nào đó, có sức mạnh huyền bí nào đó, khiến họ buông súng, không chống cự...

Thím tôi nói chuyện thành thực đến dễ thưrơng, nhưng tôi cũng phải nhịn cười. Trái lại chú tôi lại cười vang:

- Thôi đi mình ơi! Mình nói trật rồi. Chẳng có đấng thần linh, chẳng có phép nhiệm mầu huyền bí nào tất. Phép nhiệm mầu là cái này này - chú tôi giơ bàn tay nắm chặt ra thành một quả đấm, rồi hỏi tôi - Phải không anh? Các anh không mạnh thì cớ sao Hoa Kỳ đành chịu rút lui, cớ sao ông Thiệu chịu bỏ cao nguyên, bỏ Huế, bỏ Quảng Ngãi, Tam Kỳ? Rồi còn bỏ nữa và cuối cùng thì phải kềnh thôi.

Tôi vui vẻ gật dầu tán thưởng chủ tôi:

- Chủ nói đúng lắm. Cháu cũng mong chú thắng cuộc.

Tôi chỉ dám nói thế. Chưa thể cho chủ tôi biết những gì liên quan tới việc sửa soạn tiến công Đà Nẵng. Ngay chiều hôm nay, tôi vừa chứng kiến cuộc hành quân cấp tốc của trung đoàn 101 từ bên kia Vĩnh Lộc vượt phá Cầu Hai sang bên này đèo Phước Tượng bằng xuồng máy mượn của dân. Hàng trăm chiếc xuồng máy băng băng rẽ nước như trong một cuộc đua, nom đẹp mắt và đầy khí thế. Chỉ một tiếng đồng hồ sau khi nhận lệnh, trung đoàn 101 đã có mặt trong đội hình hành tiến. Phía trước, trung đoàn 18 vừa đánh chiếm xong Lăng Cô. Trận đánh tuyệt với này do đại đội trưởng Ba chỉ huy, một cán bộ trẻ măng, nhỏ bé khiến khi gặp lần đầu, tôi cứ ngỡ đấy là chú liên lạc. Chiếm được Lăng Cô, quân ta đã đặt chân lên bàn đạp quan trọng ở hướng bắc. Tôi còn biết thêm, có lẽ vào giờ này, hướng theo đường 14, trung đoàn 9 và đại bộ phận lữ 203 xe tăng đã bắt đầu xuất phát. Điều quan trọng hơn, bí mật hơn là người chỉ huy trưởng Đà Nẵng, trung tướng Lê Trọng Tán hiện đang có mặt ở Huế. Tóm lại, tất cả đã bắt đầu. Đà Nẵng đang trong tầm tay quân ta. Còn bao giờ kết thúc thì tốt nhất là hãy đợi. Trong thâm tâm, tôi tin sự ước đoán của chủ tôi sẽ đúng. Giá tôi nói hết cho chú tôi biết những điều vừa rồi, hẳn là chú tôi còn dám nói cứng hơn nữa.


Sau buổi gặp gỡ, tôi càng hiểu chú tôi hơn, càng quý chú tôi hơn. Và qua chủ tôi, con mắt nhìn nhân dân thành phố của tôi cũng có khác trước, tin cậy hơn trước.

Khi tam biệt chú thím, tôi nói thêm:

- Thực ra, chú thắng cuộc đâu quan trọng bằng nhân dân ta thắng cuộc, phải không chú?

Chủ tôi lại cười vang. Ông có giọng cười thật sáng khoải.

Hai hôm sau, khi được tin Đà Nẵng giải phóng, chú tôi phóng xe hôn-da đến Mang Cá tìm tôi. Với tâm trạng vui vẻ như trẻ thơ, chú tôi nhất định kéo tôi đi dự bữa nhậu với đám bạn bè của ông:

- Đau phải vì bữa nhậu, tôi muốn anh chứng kiến phái "Cát biển" đã hoàn toàn Soumission sans conditions1 (Hàng phục vô điều kiện). Bọn họ chịu trận rồi. Họ đã thay đổi ý kiến. Chứ thì ông nào cũng bảo chắc chắn là Giải phóng sắp lấy Sai Gòn đến nơi. Anh đến với chúng tôi cho vui.

Dĩ nhiên là tôi không nên có mặt trong bữa nhậu đánh cuộc ấy, tôi hẹn chú là hôm nào mẹ tôi ra, mẹ con tôi xin kéo đến ăn cơm gia đình với chú thím. Tôi từ chối, vin vào cớ hết sức bận việc. Mà quả là chúng tôi bận việc thật. Chưa ai có thể cho phép mình rảnh rỗi vào lúc này được. Phải đâu Đà Nẵng giải phóng là bộ đội chúng tôi nhẹ gánh. Mặt trận vẫn tiếp tục chuyển về phía nam cơ mà! Với lại, mặt trận vẫn còn tiếp tục diễn ra dưới những hình thức khác ngay trên đất Trị Thiên - Huế chúng ta.