Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:33:59 am



Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:33:59 am
- Tên sách: Bên dãy Trường Sơn
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2009
- Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory


LỜI TỰA


Mấy chục năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, quân đội và nhân dân ba nước Đông Dương đã lần lượt đánh thắng các kẻ thù xâm lược và xây dựng nền độc lập của các dân tộc. Những năm tháng sát cánh kề vai cùng chung chiến hào đó đã để lại biết bao kỷ niệm sâu sắc thấm đẫm tình nghĩa thủy chung và những kinh nghiệm chiến đấu không thể nào phai mờ trong tâm trí mỗi chúng ta.


Tình bạn chiến đấu, tình nghĩa anh em đó cần phải được lưu giữ mãi mãi như là biểu tượng của tình đoàn kết thủy chung gắn bó giữa ba dân tộc, là di sản tinh thần quý giá để giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau, như Bác Hồ - lãnh tụ vĩ đại của chúng ta hằng mong muốn.


Được sự nhất trí của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị phát động Cuộc vận động "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia" và tổ chức trại "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào" năm 2009. Thông qua cuộc vận động này, sẽ có nhiều tư liệu nghiên cứu và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia; đồng thời, khơi dậy niềm tự hào của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã từng tham gia công tác, chiến đấu giúp bạn.


Do nhu cầu thưởng thức văn học của bộ đội, nhu cầu tự thân phản ánh cuộc sống chiến đấu của đồng đội và chính mình, trong quân đội ta từ trong các cuộc kháng chiến, đã xuất hiện đội ngũ những người viết, vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vừa cầm bút ghi lại những hiện thực nóng bỏng không khí chiến trường và hơi thở nhịp sống của người chiến sĩ. Phong trào viết kỷ niệm sâu sắc trong quân đội ra đời và đã trở thành nhu cầu sáng tạo và thưởng thức văn học của mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Nhiều chuyện kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội đã làm lay động lòng người về tính chân thật và nghệ thuật thể hiện, đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn học Việt Nam, đặc biệt là mảng đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Trong đó, nhiều tác phẩm về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã đoạt giải thưởng lớn của Nhà nước và Quân đội, sẽ còn sống mãi với thời gian.


Tổ chức phát động cuộc vận động và trại viết đầu tiên ở Hà Nội, nhằm tạo ra một phong trào viết kỷ niệm sâu sắc mà chủ đề tập trung vào cuộc chiến đấu của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến vừa qua, với chất lượng nội dung và nghệ thuật thể hiện cao hơn, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của bộ đội và nhân dân trong thời kỳ mới, lấy đó làm động lực cùng nhau khắc phục mọi khó khăn để xây dựng đất nước giàu mạnh, hòa bình, ấm no và hạnh phúc; đồng thời ghi lại cho thế hệ sau hiểu rõ hơn về tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, đức hy sinh quên mình vì nhân dân hai nước; khai thác những kinh nghiệm chiến đấu bổ sung vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam và của nước bạn Lào.


Các tác phẩm trong tập sách này gồm đủ ba thời kỳ giúp bạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và thời kỳ xây dựng đất nước. Những bài viết phản ánh toàn diện trên các mặt công tác. Người đọc nhận ra rằng tình đoàn kết Việt Nam - Lào là tình đoàn kết đặc biệt, được xây đắp bằng xương, bằng máu của hai dân tộc, mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững. Và đây cũng là món quà quý để kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (30-10-1949 - 30-10-2009); đó cũng là một hành động thiết thực hường ứng cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".


Tuy nhiên, do điều kiện thời gian tổ chức trại viết ngắn, các cây bút hầu hết là những cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Lào, chưa có kinh nghiệm viết kỷ niệm sâu sắc, do vậy chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót. Mong bạn đọc phê bình và góp ý.


Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

CỤC TUYÊN HUẤN - TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:35:25 am
BÁC HỒ ĐÓN KHÁCH LÀO


HỒ ĐỨC LIÊN


Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta luôn chú trọng đến công tác đối ngoại, từ lời nói đến hành động của Người luôn thể hiện tình cảm thân thiết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước anh em, bè bạn năm châu. Vinh dự được làm người phiên dịch cho Bác Hồ trong dịp đón khách nước bạn, tôi có dịp hiểu thêm về Người, cũng như hiểu thêm rất nhiều về tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt - Lào. Ấn tượng trong buổi gặp gỡ mãi mãi không xóa mờ trong tâm trí tôi cũng như trong lòng tất cả những người có mặt hôm đó.


Tháng 4 năm 1962, mười ba nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mời Đoàn đại biểu cấp cao của Chính phủ liên hiệp Lào sang thăm hữu nghị. Đoàn đại biểu này do Nhà Vua Lào Xa-vàng Vắt-tha-na làm Trưởng đoàn, đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít làm Phó đoàn. Hành trình của đoàn là sau khi kết thúc chuyến thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa, chặng đường cuối cùng trước khi về nước sẽ dừng lại thăm Việt Nam. Chuyến thăm này xuất phát từ lời mời nhiệt thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là để thực hiện mục tiêu bắt tay với các nước anh em theo như công tác đối ngoại của chúng ta khi đó. Tôi vinh dự được chọn làm người phiên dịch khi Bác tiếp đón đoàn đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào.


Đúng theo kế hoạch, chúng ta tiếp đón đoàn đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào tại Hà Nội. Khi đoàn từ Trung Quốc về đến Phủ Chủ tịch, Bác ra đón đoàn bằng cách chắp hai tay như nghi lễ chào hỏi của nước Lào. Bác nói:

- Xăm bai đi (Xin chào).

Trưởng đoàn - Nhà Vua cùng các thành viên trong đoàn bạn cũng chắp tay chào:

- Xăm bai đi.

Bác trả lời:

- Khọn chay (Cảm ơn).

Sau đó Bác mời đoàn vào phòng khách. Khi Bác đứng dậy trò chuyện, tôi phiên dịch cho đoàn biết về câu nói của Bác:

- Đoàn đi công tác về tới Việt Nam coi như đã về tới nhà. Xin đoàn cứ nghỉ ngơi tự nhiên, thoải mái như ở nhà mình ở nước Lào vậy.

Từ câu nói này của Bác, không khí trở nên thân mật, ấm cúng hơn. Cuối bài phát biểu, Bác ngừng lại một chút rồi thong thả nói:

- Tôi xin phép mọi người trong đoàn, cho phép tôi nhân danh một lão thành cộng sản xin được ôm hôn đức Vua.

Tôi dịch xong, cả hội trường vang dội tiếng vỗ tay; Bác và Nhà Vua quàng tay, ôm hôn thắm thiết. Hội trường lặng đi trong cử chỉ tôn vinh tình đoàn kết này. Tôi cũng xúc động trước cử chỉ của vị Cha già dân tộc kính yêu của chúng ta.


Sau bữa tiệc chiêu đãi, đoàn được xem biểu diễn văn nghệ. Theo chỉ đạo từ trước của Bác, chương trình văn nghệ diễn ra trong một tiếng rưỡi ấy có đến một phần ba là những tiết mục ca múa nhạc của nước Lào. Những điệu múa Lào rất uyển chuyển, nhịp nhàng theo lời ca êm ái, mượt mà... Trong tâm trạng phấn chấn, Vua Lào và Bác ngồi trò chuyện với nhau về các vấn đề trong nước và thế giới hết sức thân mật. Sau khi xem biểu diễn, Bác mời đoàn ăn tối. Tôi dịch lại ý của Bác cho đoàn nghe:


Biết tin có đoàn nước Lào đến thăm Việt Nam, đồng bào Tây Bắc tổ chức đi săn được một con nai. Vì thế, tối nay mời đoàn ăn phở thịt nai.

Nhưng người trong đoàn nghe thế, đều hiểu rằng nhân dân Việt Nam rất yêu quý và vui mừng khi biết tin đoàn đại biểu nước bạn đến thăm nước ta.

Tôi từng có một thời gian dài chiến đấu bên nước bạn Lào nên hiểu rõ về cách ăn uống của bạn. Vì thế tôi vào bếp bảo cô chiêu đãi viên lấy ớt cho các bàn, vì khẩu vị của người Lào là ăn món gì cũng khá cay. Tôi không quên dặn thêm các cô mang thìa và nĩa, vì có thể bên nước bạn không dùng đũa. Thấy tôi chú ý đến từng chi tiết nhỏ, Bác mỉm cười nhìn tôi hài lòng. Riêng đức Vua Lào thì dùng đũa giống như Bác để ăn phở.


Sau khi ăn, nhân viên lễ tân bưng cà phê đen và cà phê sữa ra. Bác cẩn thận nhắc các cô mang thêm nước đun sôi để nguội cho khách. Trước khi chào từ biệt để đoàn nước bạn nghỉ ngơi, Bác bắt tay đức Vua và chúc:

- Non đi! (Chúc ngủ ngon!).

Sáng hôm sau đoàn đi tham quan Trường đại học Bách khoa. Trường đã huy động khoảng năm nghìn sinh viên cầm cờ nước Lào và cò Việt Nam vẫy chào đoàn ngay từ ngoài cổng vào đến trong trường. Đồng chí Phạm Văn Đồng hướng dẫn đức Vua và các vị khách trong đoàn vào thăm, ban giám hiệu, các phòng học, ký túc xá sinh viên. Còn Bác Hồ thì ngồi xuống bãi cỏ ở ngoài sân. Thấy thế, các sinh viên ùa ra, sung sướng quây tròn xung quanh Bác, từng nhóm, từng nhóm rất đông. Bác trò chuyện, hỏi han đời sống, nơi ăn nghỉ, học hành, quê hương của từng cháu hết sức thân mật. Sinh viên cũng líu lo kể cho Bác nghe thật kỹ và mọi người đều cố gắng đến ngồi thật gần Bác. Khi đức Vua và đoàn đi ra sân, thấy Bác ngồi cùng sinh viên ngoài bãi cỏ, ngạc nhiên, một thành viên trong đoàn nói với tôi:

- Thường thì Nhà Vua đi tới đâu nhân dân phải đón rước long trọng, tưng bừng. "Vua" Việt Nam giản đơn và dễ gần gũi thật đấy! Không biết đến khi nào thì nhân dân Lào được vinh dự đón "Nhà Vua" Việt Nam sang thăm, chúng tôi mong lắm!

Nhân dịp này, ta cũng mời Đoàn bóng đá thanh niên Lào sang thi đấu hữu nghị. Song máy bay đưa đoàn sang Việt Nam bị trục trặc, kim sa bàn bị hỏng, mất phương hướng đường bay trong lúc chỉ còn hai mươi lăm phút nữa thì hạ cánh tại sân bay Gia Lâm. Cứ mười phút Bác lại điện thoại cho đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh phòng không - không quân hỏi thăm máy bay của Lào đã hạ cánh chưa. Đồng chí Phùng Thế Tài báo cáo với Bác rằng đã cho hai máy bay phản lực Micl7 đi đón. Thật may vì máy bay ta đã gặp được máy bay chở đoàn bóng đá cách xa biển Hải Phòng hơn hai trăm dặm, sau đó ta hướng dẫn máy bay đoàn bóng đá Lào hạ cánh tại sân bay Gia Lâm khi dầu máy bay chỉ còn đủ để bay thêm chừng mười lăm phút nữa.


Sáng hôm sau, Bác mặc bộ quần áo ka ki, đi dép cao su, đi xe pốp-pê-đa cũ đến gặp đoàn bóng đá Lào tại Phủ Chủ tịch. Khi Bác vào phòng, mọi người đều đứng dậy vỗ tay chào, Bác liền ra hiệu cho ngồi xuống và bảo:

- Cháu nào trẻ tuổi nhất trong đoàn thì lại ngồi gần Bác.

Anh trưởng đoàn bóng đá Lào thưa với Bác:

- Thưa Bác, Thao-khăm-pheng mười tám tuổi là trẻ nhất so với anh em trong đoàn ạ!

Khăm-pheng được đến gần Bác, liền chắp tay chào vàt rơm rớm nước mắt xúc động. Bác hỏi:

- Tại sao cháu lại khóc?

- Báo cáo Bác, cháu được gặp và ngồi gần Bác, cháu nhớ bố già của cháu vừa mới qua đời.

Bác liền an ủi Khăm-pheng và nói với cả đoàn:

- Bác được đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh phòng không - không quân báo cáo là máy bay của đoàn các cháu trục trặc kỹ thuật không xuống sân bay Việt Nam đúng giờ được nên Bác rất lo. Cho đến khi đồng chí Tài báo cáo lại rằng máy bay đã xuống sân bay Gia Lâm an toàn khi chỉ còn đủ dầu để bay mười lăm phút, Bác mới thở phào nhẹ nhõm. Ngày mai các cháu sẽ thi đấu với đội bóng đá Việt Nam. Bác sẽ đến xem, các cháu cố gắng chơi thật hay nhé!


Trưởng đoàn bóng đá Lào hứa với Bác rằng sẽ cố gắng đá thật tốt, được - thua - thắng - bại không quan trọng. Bác cười:

- Như thế, trận đấu hữu nghị ngày mai nhất định là hay rồi!

Cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Lúc chia tay, các cháu thanh niên đội bóng đá Lào đều đến chạm tay vào bộ quần áo ka ki của bác, ngắm "Vua" nước Việt Nam đi dép cao su, trở về trên chiếc xe pốp-pê-đa cũ, trong lòng vô cùng lưu luyến. Mọi người xúm lại hỏi Khăm-pheng - người may mắn được ngồi cạnh Bác về cảm tưởng của cậu. Khăm-pheng trả lời:

- Tôi cảm thấy như đang ngồi bên cạnh bố tôi khi bố còn sống. Đó là cảm giác vui sướng khi ngồi cạnh người thân thiết ruột thịt của mình.

Như dự đoán trước của Bác, trận đấu bóng đá diễn ra rất hấp dẫn, hai đội chơi rất đẹp, rất hay và kết thúc với tỷ số hòa 1:1.

Đoàn Đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào kết thúc cuộc viếng thăm hữu nghị 13 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu với kết quả tốt đẹp. Chuyến đi đã dừng lại tại nước Việt Nam. Không giống như một chuyến đi thăm thông thường nữa bởi với nước bạn Lào, bầu không khí ấm áp, thân thiết ấy gây cho họ cảm giác trở về với gia đình mình, ai nấy đều hết sức phấn khởi và vui vẻ. Về tới Thủ đô Viêng Chăn, đức Vua - trưởng đoàn vẫn không nguôi nhớ tới tình cảm chân thành của người Việt Nam khi đón tiếp đoàn nước bạn. Kết luận cuối cùng của Nhà Vua đã thể hiện rõ sự hài lòng của ngài về tình cảm hai nước: Chừng nào Cụ Hồ Chí Minh còn, nhân dân Việt Nam còn thì tình đoàn kết Việt - Lào mãi mãi còn son sắt.


Công tác đối ngoại của quốc gia luôn rất quan trọng, bài học này tuy Bác không trực tiếp dạy cho tôi, nhưng sau lần được đi phiên dịch ấy, tôi thấy mình trưởng thành và hiểu biết thêm rất nhiều điều về cách ứng xử với nước bạn. Tình cảm của những người trong đoàn nước Lào hôm ấy cũng xuất phát từ những ấn tượng tốt đẹp mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân Việt Nam đã dành cho họ trong những giờ khắc họ đến thăm.


Đã hơn bốn chục năm trôi qua, vị cha già của dân tộc đã yên giấc ngàn thu nhưng nhớ về Người, tôi vẫn không nguôi nhớ tới kỷ niệm với Người và đoàn công tác Nhà nước Lào năm ấy.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:21:13 am
CÁNH VÕNG NGHĨA TÌNH


CÔNG VIỄN
(Ghi theo lời kể của đồng chí Ngô Nẹp)


Tôi bảo bác sĩ Lạng: "Cứ mổ bụng noọng ra, chuyện nhân đức có chi mà ngại?". Nhưng Lạng rùng mình, đôi mắt lạc đi như mắt người vô hồn, tay run run làm cho con dao sáng loáng rơi đánh choang xuống chiếc đĩa đựng bông băng đã thấm cồn 90 độ. Lúc đó, hiển hiện hình ảnh một thiếu nữ người Mông với nước da mịn màng, đôi vai nở nang vuốt xuống cái eo lưng và đôi chân thon thả chạy lon ton trên chiếc cầu độc mộc vắt qua con suối nước cuồn cuộn chảy năm nào...


Ngày ấy, đơn vị bộ đội quân tình nguyện Việt Nam giúp các bạn Lào nhận nhiệm vụ từ Cánh Đồng Chum bí mật luồn rừng giữa mùa mưa của Thượng Lào vào khu địch hậu phía đông Viêng Chăn xây dựng căn cứ du kích để đón thời cơ giải phóng Viêng Chăn sau này. Chúng tôi xuất phát đêm 25 tháng 6 năm 1966 từ Khang Khay, với lời giao nhiệm vụ của Thủ trưởng Bình Sơn trước khi lên đường: "Vào khu rừng phía Đông Viêng Chăn ấy, các đồng chí phải hoàn toàn tự túc. Khi chưa nắm được dân, mọi sinh hoạt đều phải dựa vào sự hoang dã của rừng. Tuy nhiên, sự hoang dã ấy không phải là vô tận, nên phải dựa vào dân. Dựa vào dân không chỉ là bát gạo, trái bắp mà cái chính, cái vô tận là lòng dân...


Ai đã từng dọc ngang đất nước Triệu Voi đều biết sự khác nhau như ngày và đêm, như mưa và nắng, như ao và biển giữa rừng Trung Lào và rừng Thượng Lào. Nếu ở Trung Lào là những cánh rừng khộp trông thấy sự mênh mang, cây cối thưa thớt, trầm mặc thì rừng ở Thượng Lào là mịt mù dây rợ, gai góc chằng chịt. Do phải giữ bí mật nên trên đường đi chúng tôi chẳng những không được phát cây để mở đường mà còn không "bẻ cỏ" nên phải dắt tay nhau mà luồn rừng, nếu không là lạc. Mà đã lạc là sẽ nằm lại mãi mãi với rừng, với tiếng của hang động, tiếng cót két của cây rừng... Cũng vì phải luồn rừng như thế nên gai góc xé nát quần áo trên người. Các loại vắt: vắt xanh vắt vàng, vắt bò vắt nhay, vắt ngỗ ngược, vắt âm thầm đều "xây căn cứ" vào nách, vào bẹn, vào mang tai... làm cho chúng tôi ngứa ngáy, bực bội. Tất cả những gì vướng vất như nồi quân dụng kềnh càng đều lẳng đi hết. Khi xuất phát từ Khang Khai, mỗi người chỉ khoác được 15 ngày gạo. Bởi lẽ, gạo nuôi ta sống, nhưng sống để đánh giặc thì phải có súng ống, đạn dược và khí tài nữa chứ. Do mưa tầm tã suốt ngày lẫn đêm và gai góc cứa nát tất cả những gì trên người chúng tôi nên đến ngày thứ năm, thứ sáu gạo mang theo đã mốc xanh rồi biến thành màu đen như "cứt chó". Mặc dù vậy, gạo vẫn là gạo nên vẫn còn ăn được. Đến ngày thứ mười, đồng chí dẫn đường người Lào là Lườm A-pú trèo lên cây cao lêu đêu trên một đỉnh đồi rồi tụt xuống bảo: "Chúng mày ơi, vẫn còn ở phía tây nam Long Chẹng, phải trên 20 ngày nữa mới tới nơi!".


Thế là 5 ngày gạo phải chia ra cho 20 ngày. Khi ấy thì mười người như chục, ai cũng ngong ngóng "miếng cứt chó" của anh nuôi. Nhưng rồi "cứt chó" cũng chẳng còn, chúng tôi phải sống bằng măng rừng. Tuy nhiên, măng chỉ là "gia vị", chứ càng ăn càng rão, anh nào anh nấy đều hốc hác, mắt sâu hoắm, chân tay bủn rủn. Tôi trông bác sĩ Lạng thấy anh đến là thảm hại, vừa thương anh vừa bật cười về cái trán dô ra, cái má hóp lại của anh, nhưng không dám cười sợ anh mủi lòng. Có biết đâu, cả tôi, cả các đồng chí khác, té ra cả đoàn đều như vậy!


Trời vẫn cứ mưa như trút. Bỗng một đêm qua trảng trống, chúng tôi trông thấy một ngôi sao nhấp nháy, sáng lung linh và thấp lè tè tưởng chừng như với được. Ai cũng mừng thầm, sớm mai sẽ có nắng. Thủ trưởng Khoa bảo: "Ngày mai có nắng, ta sẽ nghỉ chân để trút đi sự hôi hám trong người". Chúng tôi chưa kịp mừng thì anh bạn Lào dẫn đường bảo: "Một sao - ao nước. Chúng mày chớ có mừng vội!". Lời "tiên đoán" của Lườm A-pú quả không sai. Mới tang tảng sáng gió đã mang theo mưa, ầm ầm đổ xuống núi rừng, quật gãy răng rắc các loại cây, trời tối mịt mùng, đen đặc như trong hũ. Hết thảy mọi người trong đoàn đều ướt sườn sượt. Mặt đất bỗng chốc chìm nghỉm trong nước. Chúng tôi đều phải chạy bì bõm lên các mô đất cao, ngồi ôm gối thu lu, run lẩy bẩy. Chúng tôi cứ ngồi thi gan với trời đất như vậy cho đến lưng lửng chiều thì bỗng thấy một bóng người lum khom bên kia bờ trảng. Cái bóng cứ thấp thoáng lúc có, lúc không. Mưa đã ngớt, mây đen dắt díu nhau trôi lan man về phía chân trời, ánh nắng yếu ớt đong đưa trên những đọt cây ngậm nước. Chúng tôi phân công cho mấy đồng chí cầm súng ra bìa rừng xung quanh trảng để cảnh giới và mấy anh hì hục đào củ mài ngay bên bờ suối, còn tất cả đều cởi quần áo, hay nói đúng hơn là những bộ đồ đã rách tươm tả vắt cho kiệt nước rồi hong lên những tảng đá ở giữa trảng tròn. Chúng tôi gạt nước mắt khi trông thấy thân hình tiều tụy của nhau rồi kiếm củi đem xuống suối rửa, đoạn đốt lên mướng củ mài. Một điều hết sức vô lý, tưởng là ngu ngốc nhưng lại hợp lý là, với củi khô ở Thượng Lào, trước khi đun phải đem rửa kỹ củi mới bắt lửa* (Củi bị mối đắp đầy đất bên ngoài nên nếu không rửa sạch đất thì không thể mồi lửa được). Đó là điều hết sức lạ lùng. Nhưng sự lạ lùng ấy vẫn chưa sánh kịp sự kỳ lạ là trong cùng một lúc, cùng một nơi lại có tới bốn hướng gió** (Vùng này có nhiều hang động dưới mặt đất, thường hút gió tạo thành vòng xoáy 4 hướng), làm cho củ mài không sao chín được. Sự kỳ lạ này đã giúp chúng tôi vợi đi sự thiếu thốn về vật chất, bù vào đó là sự từng trải của chí làm trai. Bỗng những câu thơ: Làm trai sống ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông của Nguyễn Công Trứ hoặc: Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng cứ chảy rần rần trong máu chúng tôi. Chúng tôi thấy tự hào vì ít nhất bản thân mình cũng sống có ý nghĩa, chép miệng xem thường những hạng người ru rú bên váy vợ hoặc: An góc bếp / Chết góc chạn...


Chúng tôi mỗi đứa cầm một khúc củ mài còn sường sượng, đen thui lủi chùi vào ống quần rách bươm bả, nhai nhồm nhoàm, trông nhau cười ré lên thì bỗng thấy mấy bóng người lại thập thò nơi bìa trảng. Chúng tôi bàn nhau rồi quyết định cử anh bạn Lào bí mật vòng ra phía sau những cái bóng kia xem sao. Thủ trưởng Khoa và chính trị viên Thu phân công cho từng tiểu đội chiếm lĩnh các gò cao sẵn sàng chiến đấu.


Chúng tôi chưa kịp triển khai đội hình thì anh bạn người Lào đã huơ tay, nhảy tâng tâng dẫn một đoàn người đi theo tiến về phía chúng tôi. Đi sau Lườm A-pú là một ông già quắc thước, bắp chân, bắp tay và lồng ngực se lại như một võ sĩ, trông ông na ná như những pho tượng đá trong những hang động Ma-hả-xay của người Lào. Chắc đó là già làng. Sau ông già là những thanh niên và thiếu nữ của một bản người Mông gần đó. Lườm A-pú bảo với tôi: "Đây là dân của bản Phù Vinh ra đón chúng mày do noọng này trông thấy chúng mày đầu tiên rồi chạy về báo cho người già". Lườm A-pú vỗ vào vai người thiếu nữ ấy. Noọng cười cười, bẽn lẽn liếc trộm từng đứa chúng tôi, còn dân bản thì xì xào với nhau. Chắc bà con thấy thân hình còm cõi của chúng tôi nên hết thảy đều sụt sịt, nước mắt lưng tròng. Giây phút thiêng liêng ấy đã hòa chúng tôi vào dân bản.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:21:48 am
Trời tạnh hẳn, bà con dỡ cơm từ những cái bọc mang theo cho chúng tôi ăn. Ăn đến đâu khỏe ra đến đó. Chúng tôi bốc cơm chấm muối, cơm mới đưa vào miệng đã trôi tuột xuống họng. Trong đời mình, đây là bữa cơm ngon nhất. Do nhịn đói lâu ngày, bụng anh nào anh nấy đã căng căng mà ánh mắt vẫn thòm thèm nên đồng chí chỉ huy phải liếc mắt ra hiệu cho chúng tôi dừng bốc. Tuy nhiên, đối với một số anh em, cái liếc của thủ trưởng đã quá muộn màng. Tôi là một trong số anh em ấy, cung do ăn quá no nên bụng cứ anh ách không sao đeo ba lô và khí tài được. Hồi còn nhỏ, mẹ tôi bảo khổ nhất là ăn quá no, bây giờ mới thấy thấm. Những đồng chí ăn quá no như tôi đều được bà con đeo ba lô, khí tài cho. Riêng tôi, không rõ là người còm cõi nhất hay là trẻ nhất mà người thiếu nữ kia giành phần ba lô của tôi đầu tiên. Hồi ở chiến khu Khang Khai, tôi đã biết võ vẽ tiếng Lào, kể cả tiếng Mông nên trên đường đi về bản, tôi hỏi người thiếu nữ: "Tên em là gì?". Em còn đang ngượng ngùng thì Lườm A-pú bảo: "Nó là Y-cơ, con gái của Dông Câu - Huyện ủy viên Nhọt Ngừm này đấy.


Năm ấy, Y-cơ chừng 14, 15 tuổi. Em hồn nhiên, cái miệng không hát thì cười, vừa đi đôi tay vừa vung vẩy như người đang múa, đôi chân chạy long tong. Mỗi lần qua cầu độc mộc là em chạy sang trước, đặt ba lô xuống rồi lon ton chạy sang dắt tôi qua cầu. Qua cầu rồi, trông dáng điệu anh Lạng cao lêu đêu, lò dò qua cầu là em bụm miệng cười rồi chạy đánh vút như con sóc sang bên kia dắt tay anh Lạng cùng sang. Chúng tôi cứ đi vui vui như vậy, chả mấy chốc đã tới bản của Y-cơ.


Đoàn chúng tôi nghỉ lại bản Phù Vinh của Y-cơ mươi ngày cho lại sức. Bản nằm chênh vênh trên một trái núi đá. Người Mông không ở nhà sàn như một số dân tộc khác. Nhà của họ được dựng ngay bên sườn núi hết sức sơ sài, gần như tuềnh toàng nhưng đầy gió và trăng sao về mùa khô, hương hoa về mùa mưa. Mới chỉ có mươi ngày được dân nuôi bằng khoai, bằng bắp với thịt nai, thịt hoẵng mà chúng tôi anh nào anh nấy đều béo phị má, da hồng, tóc mượt. Nhưng cũng có những anh, sau cái dáng bảnh trai giả tạo ấy là mở đầu cho những cơn sốt rét li bì, trong đó có tôi. Kinh nghiệm những năm tháng ở chiến khu Sầm Nưa, một chiều nọ, bốc nắm ngô đưa lên miệng mới nhệu nhạo đã tuột xuống cổ họng, ngòn ngọt như mía lùi và tiếp theo đó là cái rùng mình rồi cơn nóng ở đâu ập lại. Toàn thân như lửa đốt, chả biết mặt mũi như thế nào chứ chân tay thì đỏ rần rần và cơn ngứa từ gan ruột kéo ra. Mới xoa xoa được mấy cái thì bỗng da dẻ biến từ màu hồng sang trắng bệch, rồi thâm thẩm như da giun chết. Cái rét quật đổ tôi trong chốc lát. Tôi cứ sốt li bì như vậy hết ngày nọ sang ngày kia nên đơn vị phải gửi tôi lại gia đình Y-cơ. Bác sĩ Lạng để lại cho tôi một lọ thuốc quynin. Tôi vốc từng vốc đưa lên miệng, nhưng cơ thể đã nhờn thuốc. Chắc thân hình tôi lúc ấy hốc hác lắm nên Y-cơ cứ khóc lươi rươi mỗi lần tôi lên cơn sốt. Thế rồi già làng dẫn Y-cơ vào rừng, chỉ cho các loại cây chữa sốt rét, Y-cơ mang về nấu cho tôi uống. Chẳng biết các vị thuốc ấy là loại cây gì, khi uống không đắng như quynin mà ngòn ngọt, chua chua và thum thủm. Cứ uống đều đặn mỗi ngày ba bát dăm ngày sau thì tỉnh tỉnh, ăn được mấy thìa cháo. Thấy thế, Y-cơ vừa múa, vừa hát, vừa làm trò để khích lệ tôi. Lúc đầu tay tôi còn run lắm, không thể cầm được thìa, Y-cơ phải bón cho tôi. Mỗi lần tôi "ực" được thìa cháo là em cười như nắc nẻ, rồi lại múa, lại hát để tiếp tục bón cho tôi...


Quả là thuốc tiên. Một lần tôi hỏi Y-cơ: "Hàng trăm thứ lá trên rừng, em biết lá nào là lá thuốc?". Y-cơ liếc xéo tôi một cái rồi bảo: "Em phải bí mật ngồi dưới một hốc cây, chờ cho mặt trời gần lặn thì những con khỉ mẹ mới bồng con ra hái lá những cây tầm gửi, nó nhai nhai rồi đắp vào lỗ đít của con nó. Thế là em trèo lên hái cành tầm gửi đó đem về nấu nước cho anh uống". Tôi bịt miệng cười. Chắc em đoán được tôi cười gì, nên đấm vào vai tôi, má đỏ ửng, lon ton chạy xuống bếp.


Một tháng sau, đơn vị cho bác sĩ Lạng về đón tôi lên khu căn cứ. Anh Lạng bàn với tôi nên có một vật gì để lại làm kỷ niệm cho Y-cơ. Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi bảo: "Trong thời gian em được Y-cơ nuôi dưỡng, cải tử hoàn sinh, em thấy Y-cơ rất thích cái võng. Y-cơ đã bứt dây rừng nằm đu đưa trên ấy. Nhiều lần Y-cơ cứ liếc trộm cái võng của em. Nhưng nếu tặng Y-cơ cái võng thì về cứ em nằm bằng gì?". Suy nghĩ hồi lâu có vẻ lung lắm, rồi như tóm được điều gì trong đầu, anh Lạng đập vào tay tôi bảo: "Không lo! Không lo! Ngày mai các anh Thoong Pèn, Bun Hỏm là Tỉnh ủy viên tỉnh Viêng Chăn I Đông về cứ của ta xem ta cần gì, bạn sẽ cung cấp cho, lo gì chiếc võng của cậu".


Chiều hôm ấy, anh em chúng tôi tạm biệt bà con, tạm biệt gia đình Y-cơ. Mọi người bịn rịn bảo chúng tôi thi thoảng phải về với dân bản Phù Vinh. Căn cứ của chúng tôi ở dưới thung, cách sông Nậm Ngừm chừng hai ngày đường và cách bản Phù Vinh của Y-cơ chỉ dăm độ nghỉ, nên từ đó mỗi lần đi rẫy là Y-cơ lại bí mật để bắp để khoai vào một hốc đá có đánh dấu cho chúng tôi. Vì vậy, trong những ngày địch vây căn cứ, triệt đường tiếp tế của các bản làng, chúng tôi vẫn có đồ ăn.


Hơn một năm sau, năm 1967, Y-cơ lấy chồng. Chồng em là du kích của bản Huội Lức, cách căn cứ chúng tôi chừng hơn ngày đường, nhưng thi thoảng Y-cơ vẫn làm bánh ngô đưa cho chồng mang xuống cứ làm quà cho chúng tôi.


Đầu tháng 6 năm 1968 thì Y-cơ trở dạ. Đã hơn một ngày mà vẫn không đẻ được, trời lại mưa như trút, nước lũ trên các triền núi lao vun vút xuống thung. Chồng Y-cơ phải đánh vật với nước vừa phải luồn lách qua các chốt địch để xuống cứ đón bác sĩ lên đỡ đẻ cho Y-cơ. Vừa được tin là các thủ trưởng cử anh Lạng và tôi lên Huội Lức. Chúng tôi đi ngay trong đêm. Vì đi trong mưa tầm tã, lại phải tránh chốt giặc và do phải đi ngược đường nên mãi chạng vạng ngày hôm sau chúng tôi mới tới nơi. Chúng tôi chạy ào vào chỗ Y-cơ thì trời ơi Y-cơ mới tắt thở chừng mươi phút, người vẫn còn nóng, mắt vẫn còn vương lại sự chờ mong! Tôi và anh Lạng nấc lên từng hồi. Bà mẹ chồng Y-cơ vừa khóc sụt sịt vừa bảo chúng tôi: "Lúc mặt trời chưa khuất hẳn, nó biết nó không thể chờ được các con, nó dặn lại là xé cái võng kia ra làm đôi, cho nó nằm một nửa, cho con nó nằm một nửa".


Chúng tôi khóc òa. Chồng Y-cơ ôm choàng lấy vợ. Mấy anh du kích mãi mới kéo được anh ta ra rồi dìu sang nhà bên. Anh Lạng phải dăm bảy lần cầm dao mới lấy được cháu bé ra. Đó là phong tục của người Mông ở vùng này. Không nỡ để cho Y-cơ nằm nửa cái võng, anh Lạng lấy võng của mình cuộn thằng bé lại.


Cho đến bây giờ, sau 41 năm, mỗi lần nhớ về cái thời hai dân tộc Việt - Lào chúng ta cùng chia ngọt sẻ bùi cho nhau để giành độc lập, hình ảnh nhau để giành độc lập, hình ảnh người thiếu nữ ấy lại chập chờn trước mắt tôi...

Hà Nội, tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:23:40 am
VUA MẸO THAO TU


HUỲNH THÚC CẨN
(Ghi theo lời kể của đồng chí Huỳnh Thúc Tuệ)


Khoảng tháng 5 năm 1947, sau khi đơn vị tham gia tiêu thổ kháng chiến ở thành phố Vinh, tôi được điều lên chiến trường mặt trận miền Tây biên giới Việt - Lào. Khu vực hoạt động của đơn vị rất rộng lớn, hầu hết là núi cao rừng rậm, suối sâu vực thẳm, có quốc lộ số 7 chạy đến Xiêng Khoảng. Phạm vi chiến đấu từ Mường Xén đến Sầm Nưa giữa hai huyện biên giới là Noọng Hét (Lào) và Tương Dương (Nghệ An), có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, phân tán trên các sườn núi cao hoặc ven bờ suối như người Mẹo, Thơng; người Việt, người Hoa cũng buôn bán ở các thị trấn nhỏ.


Gần ba năm hoạt động ở biên giới, tôi làm công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố hậu phương để tạo "thế" và "lực" ở trong nhân dân, nên có dịp gặp gỡ, làm việc với cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt như đồng chí Thao Ô, Thao Bông, Thao Sộp, Thao Ma... những cán bộ Lào có quan hệ hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với bộ đội Việt Nam. Đặc biệt gắn bó như hình với bóng, từng đồng cam cộng khổ, lăn lộn trong vùng địch hậu, được nhân dân bộ tộc Lào tin tưởng, kẻ thù khiếp sợ, đó là đồng chí Thao Tu - Vua Mẹo Thao Tu. Sau này trở thành người lãnh đạo hay nói đúng hơn là một "lãnh tụ" của bộ tộc Lào một huyền thoại anh hùng mà bộ tộc Mẹo cả nước Lào suy tôn là Vua, là một người bạn thủy chung của Việt Nam.


Người giao liên dẫn tôi đến Mường Xén, vượt đỉnh Trường Sơn "bên nắng rát, bên mưa quây" sang Mường Long (Lào) cũng như nhiều bản Mẹo khác, dân sinh sống bằng nghề trồng thuốc phiện, chăn nuôi, săn bắn, lại có nghề rèn dao rựa và làm súng kíp nổi tiếng. Tôi tạm nghỉ tại nhà Tà xẻng Lồ Xây Chao. Hôm sau thì đồng chí Thao Tu đến gặp, đi theo có một số bộ đội và dân bản từ Noọng Hét đến, ăn mặc đồ đen, tóc dài, cổ đeo nhiều vòng bạc, vai khoác súng Mút hoặc súng Kíp, đặc biệt có nhiều người bị bệnh bướu cổ rất to. Riêng đồng chí Thao Tu có súng ngắn và dao găm dắt lưng. Đợt hiệp đồng chiến đấu này, bộ đội liên quân Lào - Việt đã chiến đấu dũng cảm, diệt nhiều địch, giải phóng được một số bản. Bọn phỉ ra đầu hàng trông như người rừng, tóc dài che cả mặt, áo quần rách nát, nhìn thấy gói muối để trên bàn, chúng thèm quá lao vào bốc cho vào miệng nhai ngon lành.


Ở xa hậu phương, nơi rừng thiêng nước độc, ốm đau, qua những lần sốt rét ác tính, cơm không có ăn, thuốc không có uống, thực đơn chỉ có rau tàu bay, bí xanh nên ai cũng xanh xao vàng vọt, riêng tôi lại bị sốt rét cách nhật, môi thâm đen nứt nẻ, tóc rụng gần hết. Lúc tôi đang lên cơn sốt nặng thì đồng chí Thao Tu đến báo quân địch đánh vào xã Mỹ Lý. Tôi vội vùng dậy xách súng hạ lệnh cho đơn vị cấp tốc hành quân nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, cùng bộ đội bạn xung phong lao vào diệt địch. Chúng bị diệt một số, số còn lại hoảng hốt bỏ chạy tán loạn, anh em ta mừng quá nên cơn sốt cũng phải đầu hàng trước sức mạnh tinh thần của người lính Cụ Hồ.


Sau chiến thắng, đến dự tổng kết với chúng tôi và mừng chiến thắng trận Mỹ Lý chỉ có rau và mấy củ mài. Thấy anh em thiếu thốn, đồng chí Thao Tu rơm rớm nước mắt trút một gùi gạo nếp, vài bát muối và cho một con lợn chừng 15kg. Tôi cảm ơn và lựa lời từ chốỉ vì cảm thấy bạn cũng khó khăn không kém gì ta, song đồng chí Thao Tu nói: "Các anh không nhận là chúng mình giận lắm vớ!" và nói tiếp bằng tiếng Lào "Bọ mi nhăng kin, bọ đây xút lốp", nghĩa là; không có gì ăn, không chiến đấu được đâu.


Sau đó ta và bạn chủ trương mở đợt hoạt động trong vùng Noọng Hét, Bản Ban, Nậm Mật, Nậm Tiền... Đồng chí Thao Tu nhận nhiệm vụ "vào hang bắt cọp tại sào huyệt của phỉ". Cùng đi có đồng chí Sơn Việt Húng (quân tình nguyện Việt Nam) và một vài anh em người Mẹo đã luồn sâu vào vùng địch, làm công tác vận động thuyết phục dân bản đi theo Neo Lào Hắc Xạt, không hợp tác với bọn phỉ và bọn Pháp. Dân bản nghe Thao Tu nói về âm mưu thủ đoạn của địch mà không sợ gì, lại thấy cả đoàn không ai mang theo súng, nên càng tin tưởng, phấn khởi đi theo kháng chiến. Dân bản dắt dìu nhau ra vùng tự do sinh sống, bọn phỉ cũng từng tốp ra hàng. Họ kháo nhau Thao Tu có tài thần thông biến hóa, nỏ và súng bắn không trúng, đi vào giữa quân địch như vào chỗ không người, nhịn đói nhiều ngày không hề gì, lại là tay súng "trăm phát trăm trúng".


Tình đoàn kết chiến đấu đã tô thắm tình hữu nghị của hai dân tộc, hai Nhà nước và hai quân đội nói chung và vòng tay bè bạn đã gắn kết người con gái Lào và con trai Việt thành tổ ấm chung sống hạnh phúc, đó là em gái Thao Tu kết duyên với con trai Việt là Sơn Việt Húng. Đồng chí Thao Tu làm chủ hôn và tôi được làm phù rể. Lễ cưới tuy đơn giản trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn nhưng rất ấm áp vui vẻ. Thanh niên nam nữ và nhân dân trong bản tham gia nhảy múa uyển chuyển theo điệu Lăm vông, bài hát Lăm tơi với tiếng khèn, tiếng sáo du dương mê mẩn lòng người quanh đống lửa trại bập bùng suốt đêm thâu, bè bạn đã nâng cốc chúc mừng cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc.


Một thời gian sau Tết Âm lịch, địch ở Xiêng Khoảng tăng viện cho Noọng Hét đánh chiếm Mường Lống. Tôi dẫn đơn vị tập kích Mường Lống, tiêu diệt nhiều địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.

Khi nghe tin chiến thắng, đồng chí Thao Tu từ Xiêng Khoảng xuống tận nơi chúc mừng chiến công này. Tôi tặng đồng chí Thao Tu một đôi giày da chiến lợi phẩm.

Đến năm 1953, trong chiến dịch Thượng Lào, đơn vị đã giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, tôi được cử tham gia Ban quân quản do đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít làm Chủ tịch. Năm 1960-1961, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào do đồng chí Thao Tu chỉ huy đã mưu trí thoát vây ra khỏi Viêng Chăn, về giải phóng Cánh Đồng Chum. Sau đó Thao Tu đã mất trong một tai nạn giao thông. Đảng, Chính phủ, Quân đội Lào đã mất đi một cán bộ tài đức, dân tộc Mẹo mất đi một người anh hùng, một ông Vua sống mãi trong lòng dân. Bộ đội tình nguyện Việt Nam mất đi một người bạn thủy chung son sắt.


50 năm sau, tháng 12 năm 2003 tôi được đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Xiêng Khoảng mời sang thăm lại chiến trường xưa. Các đồng chí dẫn tôi đến Mường Noọng Hét thăm bảo tàng và ra viếng lăng mộ đồng chí Thao Tu - vị Vua Mẹo uy danh lừng lẫy. Cả đoàn thắp những nén hương thơm mà đôi mắt nhoà lệ. Tự nhiên bát hương bốc cháy, biểu hiện sự linh thiêng của đồng chí về chứng kiến cuộc gặp gỡ của tình bạn, tình đồng chí, tình hữu nghị đoàn kết keo sơn giữa hai dân tộc kề vai sát cánh, đói no cùng chịu, thủy chung vẹn toàn.

Hồ Tây, ngày 25 tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:25:17 am
HAI CHA CON CHUNG MỘT CHIẾN HÀO


TRẦN HỮU TÀI


Ngồi ngắm nghía tìm vị trí thích hợp để treo mấy tấm huân chương của bố trên gian thờ của gia đình, tôi bỗng lặng người xúc động nhớ đến bố, cùng những kỷ niệm ngày hai cha con tình cờ gặp nhau trên chiến trường nước bạn Lào.


Thời gian trôi đi nhanh quá, những kỷ niệm ngày hai cha con tôi chung một chiến hào đánh Mỹ hơn bốn mươi năm trước được tái hiện trong ký ức tôi.

Vừa học xong lớp mười phổ thông, chúng tôi đã được nghe những câu chuyện, được chứng kiến những hình ảnh của lớp thanh niên nô nức lên đường tòng quân, xung phong ra trận. Ngày ấy, tinh thần xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước như một lời hiệu triệu, là động lực thôi thúc chúng tôi lên đường nhập ngũ làm tròn bổn phận của người trai với Tổ quốc, với quê hương.


Như bao thanh niên khác, tôi tạm biệt quê hương, gia đình, người thân, hăng hái lên đường nhập ngũ. Những ngày đầu trong đời quân ngũ, tôi được biên chế về huấn luyện tân binh tại Sư đoàn 304B. Những giây phút bỡ ngỡ ban đầu, tình cảm thân thương của đồng chí đồng đội, những người còn chưa nhớ hết tên nhau, quần áo thì rộng thùng thình như đang đợi chúng tôi lớn thêm, sự quan tâm chỉ bảo ân cần, nghiêm khắc của chỉ huy đơn vị và các anh đi trước... đã giúp những tân binh chúng tôi nhanh chóng hoà mình vào đơn vị mới. Rồi huấn luyện quân sự, chính trị, những buổi tập luyện vất vả ngoài thao trường, những cuộc hành quân đêm, những lần báo động càng làm chúng tôi dạn dĩ, đĩnh đạc và rắn rỏi hơn trong bộ quân phục đang mặc trên người.


Những ngày đầu quân ngũ có biết bao kỷ niệm đáng nhớ, nhưng tôi nhớ nhất là tâm trạng xúc động, bàng hoàng khi nhận được tin Bác Hồ qua đời. Hôm ấy, cả tiểu đoàn tập trung nghe thông báo tin buồn, không ai cầm nổi nước mắt, mọi người đều lặng đi, đâu đó trong hàng quân bật lên tiếng khóc nức nở. Không ai bảo ai, nhưng tôi biết đồng đội cũng như tôi đang nung nấu trong lòng quyết tâm biến đau thương thành hành động. Toàn đơn vị hăng say luyện tập, không quản đêm ngày, nắng cũng như mưa, từ cán đến binh... ai ai cũng hừng hực khí thế thi đua học tập, luyện rèn, háo hức mong đến ngày được ra chiến trường đối mặt với quân thù.


Bao ngày mong mỏi thao thức, bao ngày vượt nắng thắng mưa, đổ mồ hôi công sức luyện rèn trên thao trường bãi tập. Cuối cùng ngày trọng đại ấy cũng đã đến. Sau khi tập trung bàn giao quân ở Hà Bắc xong, chúng tôi được cán bộ nhận quân thông báo là sẽ đi chiến đấu tại mặt trận Lào. Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp đỡ dân các bộ tộc Lào kháng chiến. Chúng tôi được phát, những bộ quân phục của quân đội Pa-thét Lào. Thế là lại một lần nữa được xúng xính trong bộ quân phục mới toanh: áo có cầu vai, mũ mềm có lưỡi trai nhựa màu đen, khác với những bộ quân phục thường ngày chúng tôi vẫn mặc từ ngày đầu nhập ngũ.


Khi biết mình được đi chiến đấu trên chiến trường nước bạn Lào, trong thâm tâm tôi thoáng qua suy nghĩ và nhen nhóm hy vọng: Biết đâu, tại đó mình sẽ được gặp bố! Nhưng biết bố ở đâu mà gặp được? Tôi và gia đình chỉ biết bố là chuyên viên kinh tế sang giúp Trung ương Lào. Ngay cả địa chỉ của bố ghi trên phong thư gửi về cho gia đình chỉ vẻn vẹn HT 63551 US.


Một ngày cuối tháng 9 năm 1969, đơn vị tôi bắt đầu hành quân sang Lào. Mọi người hăm hở hành quân qua Bá Thước, Thanh Hoá, vượt qua đèo phỉ Na Mèo an toàn. Trước khi hành quân qua đây, chúng tôi được nghe kể rất nhiều về con đường sang Sầm Nưa, Na Mèo là một địa danh được nhắc đến nhiều nhất với những khó khăn, nguy hiểm luôn rình rập. Na Mèo được mệnh danh là đèo phỉ, bởi đây là nơi hoạt động ráo riết của bọn phỉ Vàng Pao. Vì thế chúng tôi phải bí mật vượt Na Mèo với tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Có lẽ, hồi hộp, thót tim là những cảm giác đầu tiên trong tâm trạng của một người chiến sĩ mới như tôi trước khi bước vào một trận đánh.


Cuộc hành quân lặng lẽ, mọi người nối gót nhau tiến về phía trước, vừa đi vừa cảnh giới, vừa đi vừa quan sát những lùm cây, hốc đá hai bên đường, những dấu vết khả nghi dưới mặt đất, lắng tai nghe những tiếng động lạ trong đêm... Bản, làng, đồi, núi, cùng những cánh rừng bạt ngàn xa dần...


Đơn vị tôi đến là Đại đội 98, Đoàn 959, đóng quân tại Na Vít. Na Vít nằm trong một lòng chảo rộng rãi, bốn bên được bao bọc bởi những dãy núi cao và hiểm trở. Muốn vượt qua được những ngọn núi cao chót vót ấy, ngoài việc đi bằng máy bay thì chỉ còn một cách duy nhất vừa an toàn, vừa đảm bảo bí mật là dùng thang áp sát vào vách đá dựng đứng, tay vịn vào sườn đá mà đi.


Những ngày đầu ở Đại đội 98, chúng tôi tiếp tục luyện tập và học tập chính trị; tìm hiểu phong tục tập quán của người dân nơi đây. Mọi người tạm quên đi nỗi nhớ nhà, nhớ người thân đang da diết trong lòng để lao vào luyện tập không quản ngại khó khăn, vất vả. Hơn lúc nào hết chúng tôi ý thức rõ được nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của mình. Trong tôi, lúc nào cũng thầm vang lên câu hát:


"Chúng ta tiến vào miền Tây. Quyết tâm cùng với dân quân Lào, đấu tranh đem lại ấm no, tự do. Ra đi vì Đảng vì dân phấn đấu. Ta ra đi vì Đảng, vì dân chiến đấu cho hai dân tộc sống bên nhau vui tự do...".

Đó là lời một bài hát mà chúng tôi vẫn hát trên suốt chặng đường hành quân sang làm nhiệm vụ trên đất bạn Lào.

Một lần, tôi và mấy đồng đội khác được chỉ huy đơn vị giao thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt là: Lên Na Kay bảo vệ và đón đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sang thăm Lào, do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu. Na Kay là khu Trung ương Lào và các cơ quan chuyên gia Việt Nam sang giúp bạn. Các cơ quan, ban ngành đóng ở Na Kay đều trú sâu trong hang núi; có hang tự nhiên, có hang do lực lượng công binh đào đắp gia cố. Ngay gần chỗ đơn vị tôi đóng quân có bệnh viện Na Vít - bệnh viện của Trung ương Lào cũng nằm sâu trong lòng núi. Với địa hình hiểm trở, được núi rừng bao bọc cùng với những công sự hầm hào kiên cố và được bảo vệ nghiêm ngặt mà quân địch ở Na Kay chủ yếu là bọn phỉ, hoạt động không có quy luật rõ ràng, bất kể đêm ngày chúng thường tổ chức những cuộc tập kích với quy mô nhỏ, bắn lén... gây khó khăn cho công tác đảm bảo an ninh của ta.


Khi đang ở khu vực đoàn bộ Đoàn 595, tôi bất chợt nhìn thấy một gốc cây có treo thùng thư to để ngỏ. Tôi tò mò lật xem những bì thư xếp đầy bên trong và không khỏi ngạc nhiên, xen lẫn hồi hộp khi nhận thấy lá thư tôi viết cho bố hồi tôi còn ở đơn vị huấn luyện tân binh tại Hà Bắc. Ngoài bì thư đề người nhận: Bố: Trần Hữu Nhân, HT 63551 US. Hy vọng được gặp bố trên đất bạn Lào bùng lên trong tâm trí tôi; cảm giác hồi hộp làm tim tôi đập nhanh và mạnh hơn. Đúng là bố tôi đang công tác ở đâu đó trên khu vực này rồi! Nhưng làm thế nào để tìm gặp được bố nhỉ? Tôi nghĩ bụng và lấy bút viết vội thêm mấy dòng trên mặt sau của chiếc phong bì: "Con đã sang Sầm Nưa từ ngày... hiện con đang ở Na Vít, Đại đội 98... Nhận tin này bố đến thăm con nhé!".


Quả thật từ khi khi biết Trung ương Lào đóng ở Na Kay, không hiểu sao tôi cứ đinh ninh rằng bố tôi đang ở đó. Nhất là từ hôm viết thêm mấy dòng nhắn trên chiếc phong bì thư, trong tôi lại ấp ủ niềm hy vọng được gặp bố hơn lúc nào hết; cảm giác thấp thỏm, hồi hộp như hồi còn là tân binh chờ đợi ngày được lên đường đi làm nhiệm vụ trên đất bạn Lào. Thế rồi đúng một tuần sau, trong lúc niềm hy vọng được gặp bố của tôi đang ứ đầy trong lòng, thì tôi nhận được tin báo bố tìm đến đơn vị thăm tôi.


Tôi mừng quýnh cả lên, chạy ra gặp bố. Từ xa đã trông thấy bố đang đứng nhìn về phía mình, tôi bỗng đứng chững lại: vẫn chiếc ba lô trên vai, cổ quàng chiếc khăn dù hoa, những cơn gió thu làm chiếc khăn khẽ bay lẫn vào những cành cây đang loà xoà phía sau. Cảm giác ngỡ ngàng, không thể tin nổi! Bố đang đứng trước mặt tôi, trên vùng đất Na Kay, trên mặt trận ở nước bạn Lào. Năm ấy, bố tôi khoảng bốn mươi lăm tuổi, tuy hơi gầy nhưng trông rất khỏe mạnh. Sau giây phút ngỡ ngàng đầy bất ngờ, bố ôm chầm lấy tôi. Hai bố con im lặng tận hưởng giây phút hạnh phúc hiếm hoi, trước những đồng đội đang xúm lại chia vui cùng niềm hạnh phúc bất ngờ.


Ban chỉ huy đại đội cho phép tôi được nghỉ để hai bố con có dịp tâm sự. Đại đội trưởng Vàng Tư Cà và chính trị viên Nguyễn Văn O còn thống nhất với nhau hôm nào thích hợp sẽ cho tôi lên Na Kay thăm bố.

Lúc chia tay, bố quàng lên cổ tôi chiếc khăn dù hoa: "Bố cho con để ngụy trang lúc luyện tập và đi chiến đấu". Ông còn cho tôi một ít tiền kíp để tiêu vặt và dặn dò phải luôn cố gắng, vượt qua khó khăn gian khổ, trong chiến đấu phải mưu trí dũng cảm. Hai bố con mình cùng làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào. Con hãy xứng đáng nhé!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:26:00 am
Mươi ngày sau đó, tôi được thủ trưởng đơn vị cho phép đi thăm bố ở Na Kay. Đại đội trưởng Cà cử anh Minh, cán bộ khung cũ, người đã ở đây lâu và thông thạo đường đi lối lại đưa tôi đi.

Na Kay toàn núi đá, lởm chởm tai mèo, vách núi dựng đứng nguy hiểm. Hai anh em vừa đi vừa nói chuyện. Trời chập choạng tối cũng là lúc hai chúng tôi đến được Na Kay. Núi rừng âm u, tĩnh mịch thỉnh thỏang từ lưng chừng núi loé lên những đốm sáng. "Có lẽ đó là ánh điện phát ra từ một cửa hang nào đó" - Tôi llalli bụng, rồi hăm hở bước đi. Trời tối, lại không biết chính xác bố tôi ở chỗ nào, nên hai anh em bàn nhau gọi to tên bố tôi lên, hy vọng ông sẽ nghe thấy tiếng gọi của tôi mà ra đón.

- "Bố Nhân ơi ơi...!" - Tôi chụm tay lại làm loa và cất tiếng gọi, tiếng vọng vào vách núi vang lên từng nhịp rồi tan vào màn đêm.

Bốn bề vẫn lặng thinh, hai chúng tôi bước đi trong màn sương đêm mờ mờ ảo ảo, rồi những con đường mòn len lỏi dưới tán lá rừng, những con đường lớn, rộng đủ cho xe ô tô chạy qua cũng lờ mờ hiện ra trước mắt, xa xa lấp loé ánh đèn điện thấp thoáng sau những vạt cây rừng, trông như những vì sao nhấp nháy. Chợt phía trước hắt lại ánh điện sáng rõ mặt người, vào hỏi thăm mới biết hai anh em đã tìm đến đúng cơ quan của người Việt Nam.


Biết tôi là con trai đến tìm gặp bố, đồng chí trực cơ quan đăng ký vào cuốn sổ trực rồi cất tiếng gọi một người tên là Ca, giọng nghe hân hoan và mừng rỡ như đã chờ đợi điều gì từ lâu lắm.

- Cháu có phải là Tài không? - Phía sau, người đàn ông bước ra, hăm hở tiến về chỗ chúng tôi, cất tiếng hỏi dồn dập.

- Vâng ạ ! - Tôi trả lời lúng túng.

- Bố cháu mong cháu mãi! Bố đang chờ cháu đấy! - Chú Ca niềm nở, rồi dẫn hai chúng tôi đi theo con đường mòn đến nơi bố đang đợi chúng tôi.

Tối hôm đó, tôi ngủ lại cùng bố. Bố đưa tôi đi thăm chỗ ở, chỗ làm việc, tất cả đều ở trong hang. Rồi bố đãi hai chúng tôi món kẹo lạc - món ăn mà tôi rất thích. Trước kia, hồi còn ở nhà thỉnh thoảng bố vẫn nấu kẹo lạc cho chúng tôi ăn. Tôi được ăn kẹo lạc của bố nhiều lần, lần nào cũng thấy ngon. Nhưng có lẽ, những thanh kẹo lạc hôm ấy là những thanh kẹo lạc tôi thấy ngon nhất, tuyệt vời nhất. Bởi thanh kẹo đó được chính tay bố làm và thết đãi tôi ngay trên đất bạn Lào xa xôi.


Những ngày cuối năm 1969, đầu năm 1970 đơn vị tôi được điều đi tăng cường cho chiến trường Nam Lào. Nhận được tin này, bố lại xuống đơn vị thăm tôi. Thủ trưởng O và thủ trưởng Cà nói: "Nếu cậu muốn ở lại đây cho gần ông cụ thì chúng tôi sẽ để cậu ở lại!".


Mặc dù tôi rất muốn gần bố, nhưng nhiệm vụ phía trước đang chờ tôi, nên tôi trả lời "cho phép tôi đi cùng đơn vị". Lúc đó tôi ngước lên nhìn thủ trưởng O và thủ trưởng Cà, ánh mắt cương quyết của tôi bắt gặp ánh mắt các anh đang nhìn mình, cái nhìn đầy tự hào và tôi nhận thấy trong ánh mắt ấy sự tin tưởng của đơn vị đối với mình. Hôm đó, hai bố con tôi lại có cuộc chia tay ngắn ngủi. Lúc chia tay, thật bịn rịn, cả hai bố con đều không nói lên lời. Tuy đã là một người lính, nhưng đứng trước bố tôi vẫn thấy mình bé bỏng như hồi còn ở nhà. Nhưng trong thâm tâm tôi tự hào rằng lần chia tay này, ngoài tình cảm cha con hai chúng tôi còn có một mối liên hệ đặc biệt đó là tình cảm đồng chí, đồng đội. Bố mong muốn tôi mạnh khoẻ và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Bố hứa sẽ tìm gặp tôi khi ông đi công tác tại Trung Lào và Hạ Lào trong thời gian tới.


Lại những tháng ngày hành quân ròng rã, lúc len lỏi dưới những cánh rừng bạt ngàn, khi vượt trên dốc đá dựng đứng của dải Trường Sơn hùng vĩ để về đơn vị mới. Càng đi tôi càng thấm thía sự gian khổ của người lính, sự ác liệt của chiến tranh.


Tôi về đoàn bộ Đoàn 565 và được biên chế về Trung đội vệ binh. Mùa khô năm 1970, một lần tôi được cử đi công tác xuống bản Cá Tép, một bản thuộc vùng Hạ Lào. Gọi là đường, nhưng thực chất chỉ là một lối mòn, rậm rạp, chỉ vừa bàn chân người, cây cối bao trùm, âm u, đầy rẫy sên, vắt... Đang đi, tôi bỗng nghe phía trước có giọng nói tiếng Lào, nhìn kỹ thì phát hiện một nhóm vài ba người đang tiến lại phía mình. Tới sát, chạm mặt nhau, khi nhìn lên để tránh nhau tôi bỗng bàng hoàng khi nhìn thấy đi sau hai người bạn Lào là bố. Tôi đã nghĩ là mình nhận nhầm, nhưng nhìn kỹ lại thì đúng là bố rồi! Vẫn cái dáng quen thuộc, lưng đeo ba lô, quần xắn ngang đầu gối, đang bước phăm phăm thì không thể nào nhầm lẫn được. Vì quá bất ngờ, tôi chỉ kịp ớ lên một tiếng rồi nhào tới ôm chầm lấy bố. Bố tôi cũng kịp ngước lên và ôm lấy vai tôi thảng thốt cất lên tiếng "con". Cứ thế hai bố con ôm nhau, lặng im giữa rừng, ngay trên đường đi công tác, với sự ngạc nhiên, ngơ ngác của mọi người.


Giây phút gặp nhau thật là ngắn ngủi, mươi phút trò chuyện, tâm sự của bố con tôi mau chóng trôi qua, những cái bắt tay, vỗ vai chắc nịch, những ánh mắt nhìn nhau nhắn nhủ chân cứng đá mềm, tràn ngập niềm tin và mọi người tiếp tục cuộc hành trình tiến lên phía trước. Giây phút ngỡ ngàng qua nhanh, thay vào đó là tình cảm bịn rịn lưu luyến lúc chia tay. Cuộc gặp gỡ lần này tuy ngắn ngủi nhưng tôi cũng kịp được bố thông báo tin mừng là ở quê nhà, mẹ và các em tôi vẫn mạnh khoẻ, bình an tại nơi sơ tán. Trước lúc chia tay, bố còn lục ba lô đưa cho tôi mấy lát sâm và vài gói thuốc bổ để phòng khi đi đường yếu mệt, bố còn cho biết thêm tôi qua địch ném bom bản Cá Tép.


Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân, tối hôm đó chúng tôi dừng chân tại bản Cá Tép, mới bị trận bom oanh tạc đêm hôm trước nên nhà cửa xơ xác, tiêu điều, những hố bom khoét sâu hoắm xuống lòng đất, mặt đất nham nhở những vết thương, có chỗ đất đỏ đặc quánh như vũng máu khô, nhưng may mắn dân bản vẫn bình an.


Suốt những ngày sau đó, hình ảnh bố luôn hiện rõ trong tâm trí tôi. Thương bố, tôi thầm cầu mong cho ông mạnh khoẻ và bình an trong chuyến công tác này.

Có thể nói trong suốt những năm tháng sống, chiến đấu trên đất bạn Lào, tôi có rất nhiều kỷ niệm. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất, tự hào nhất là hai cha con tôi cùng hoạt động trên chiến trường Lào.

"Hai cha con chung một chiến hào đánh Mỹ" là câu chuyện nhỏ, tôi ghi lại để nhớ về một thời cha con gọi nhau là đồng chí, chung câu hát quân hành... cũng là nén hương thành kính tưởng nhớ đến người cha thân yêu, người đồng chí của mình.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:43:35 am
GẶP LẠI NGƯỜI TÔI MANG ƠN CỨU MẠNG


NGUYỄN VĂN NGHIỆP


Giữa năm 1955, tôi được giao nhiệm vụ làm chuyên gia giúp Tỉnh ủy bí mật Chăm-pa-xắc. Từ cơ quan Khu ủy Hạ Lào tại tỉnh Xa-ra-van, tôi đi theo đường giao liên mật chuyển tiếp qua từng bản đã bố trí trước để về Chăm-pa-xắc.


Trên đường về đến Tà-mê-xẳng-thong tôi gặp Phò Vạ, Ủy viên Mặt trận tỉnh đang trên đường về cơ quan khu. Vì sợ tôi đi theo đường liên lạc qua từng bản thì không về đến cơ quan bí mật của Huyện ủy Pạc-xoòng trước lúc trời tối, nên Phò Vạ đã cho đồng chí bảo vệ dẫn đường đưa tôi về thẳng Pạc-xoòng, không qua liên lạc từng bản.


Độ 5 giờ chiều, đồng chí bảo vệ đưa tôi đến Phạ-nuỗn-nhày và giao tôi cho một cụ già đang giữ nương, nhờ ông ta đưa tôi đi gặp Huyện ủy, rồi đồng chí vội quay lại.

Tôi ngồi ven rừng chờ các đồng chí Huyện ủy và đồng chí Tấn là chuyên gia ta giúp bạn. Không ngờ hôm đó các đồng chí đều đi cơ sở, không có ai ở cơ quan, ông già phải báo cho cơ sở bản Phạ-nuỗn-nhày ra đón tôi. Ông bị điếc nên lúc chiều không nghe rõ lời giới thiệu của anh bảo vệ về tôi, nhưng nghĩ rằng tôi là cán bộ nên ông ta cứ nhận.


Trời sắp tối mới thấy mấy người dân làng ra gặp tôi. Vì chưa biết nhau, lại không có sự giới thiệu rõ ràng, tôi lại đến đây không qua con đường giao liên bí mật chuyển bản, khi hỏi ông già thì ông già cũng chẳng biết gì hơn, nên họ nghi ngờ tôi là người của địch giả danh bộ đội Việt Nam. Vì nghi ngờ như vậy, nên họ không tin khi tôi tự giới thiệu mình là bộ đội Việt Nam được phân công về giúp tỉnh Chăm-pa-xắc, đi ngang qua đây muốn vào gặp đồng chí Tân. Họ trả lời: "Quân đội Việt Minh và Pa-thét Lào đều đã rút về Sầm Nưa, không còn ai ở đây. Đây là vùng kiểm soát của chính quyền Vương quốc, mày là Việt Minh, tao phải bắt mày nộp lên Pạc-xoòng cho quan lớn!". Mặc cho tôi giải thích thế nào họ cũng không nghe, mà tôi thì chẳng có một thứ giấy tờ hoặc một cơ sở nào để họ tin mình.


Dân làng kéo đến mỗi lúc một đông. Họ bố trí canh gác cẩn thận. Họ bàn tán sôi nổi, nhưng họ không nói tiếng Lào mà nói bằng tiếng bộ tộc La-ve, nên tôi chẳng hiểu họ nói gì. Đã 8 giờ tôi chưa có gì vào bụng, nhưng nỗi lo canh cánh làm tôi chẳng cảm thấy đói. Càng về sau, dân làng hình như chia làm hai phái tranh cãi quyết liệt quanh đống lửa. Thỉnh thoảng họ lại liếc nhìn tôi, lục soát chiếc ba lô tư trang của tôi như để dò xét, phỏng đoán, tìm ra chứng cứ...


Cuối cùng, tôi sực nhớ, tại vùng này còn có chị Bua. Hình như chị không đi tập kết mà vẫn ở lại bám trụ theo lời kể của một chị ở cơ quan Khu bộ. Chị Bua vốn quen thân với tôi từ năm 1950, khi tôi đang phụ trách cơ sở ở vùng căn cứ Át-tô-pơ. Vì vậy, tôi đề nghị bà con dân làng cho tôi được gặp chị Bua. Bà con dân làng đưa mắt nhìn nhau rồi một ông già trả lời tôi rằng: "Xảo Bua là Ít-xa-la, nó đi theo Sỉ-thon kéo nhau lên Sầm Nưa rồi, không còn ở đây. Chúng tao chẳng còn quan hệ gì với nó nữa!".


Nghe nói thế, tôi hoàn toàn thất vọng, chẳng biết xoay xở ra sao, đành ngồi chờ quyết định cuối cùng của dân làng... Liền sau đó, tôi bỗng thấy mọi người giục số thanh niên đi khuân rất nhiều củi chất thành đống. Họ đốt đống củi thành ngọn lửa to trước mặt tôi, sáng cả một góc nương. Trời về đêm, ở độ cao trên 1.000 mét giữa cao nguyên Bô-lô-ven mà người tôi nóng toát mồ hôi. Tôi chẳng đoán được ý đồ của dân làng sẽ xử lý tôi như thế nào. Bỗng một người phụ nữ đứng lấp ló phía sau dân làng chạy vội ra ôm chầm lấy tôi kêu to: "Ôi! Đúng là Khăm Xỉ (tên Lào của tôi do một bà mẹ nuôi người Lào đặt cho lúc ở Át-tô-pơ), cục vàng của chúng ta đây! Đúng là người của bên ta rồi bà con dân làng ơi! Tý nữa thì nó chết oan rồi! Hay quá! Vui quá! Em ơi! Khăm Xỉ ơi...!".


Tôi bàng hoàng như tỉnh cơn mê khi nhận ra chị Bua. Tôi cũng ôm chầm lấy đôi vai gầy đang rung lên của chị mà chẳng nói nên lời. Chị Bua khóc vì mừng vui, vì cảm động! Thì ra dân làng đốt lửa thật sáng để giúp chị Bua đứng từ xa có thể nhận ra tôi.


Tất cả dân làng đều ùa đến vây quanh hai chúng tôi. Họ vỗ tay, cười nói râm ran: Đúng là người của ta rồi! Phúc quá! May quá!...

Già làng giục chị em phụ nữ chuẩn bị cơm nước cho tôi rồi kéo tay tôi ra ngồi trên một súc củi cạnh đống lửa. Mọi người vây thành vòng tròn. Già làng nắm lấy hai vai tôi lắc lắc rồi nói với một giọng cảm động:

"Thật phúc cho con mà cũng may cho dân làng. Già thay mặt dân làng xin nhận lỗi với con, vì đã không tin ở con, mong con thông cảm. Người La-ve này luôn đề cao cảnh giác với bọn địch. Bọn chúng lắm mưu mô, đã có lần chúng giả bộ đội Ít-xa-la để lừa dân làng. Tối nay, vì cho rằng con là người của địch, nên có ý kiến đưa con lên đồn nộp cho bọn địch, vừa để lừa chúng nó là dân làng La-ve vẫn đi theo chúng nó! Có ý kiến cho rằng, đã là người của địch thì cứ cho một mũi tên thuốc độc, hoặc đập vỡ sọ rồi vùi đi cho êm chuyện, vừa để trừ khử đi một tên bán nước. Hôm nay, nếu không có Xảo Bua nhận ra con thì hậu quả thật đáng tiếc. Thôi, con đi ăn cơm rồi nghỉ ngơi. Sáng mai sẽ có người đưa con gặp Huyện ủy và Xẻng Thoong" (tên Lào của đồng chí Tấn).


Cơm nước xong, già làng đưa tôi về nhà và thu xếp chỗ ngủ cho tôi. Suốt cả một ngày băng rừng, vượt suối, lại gặp cảnh ngộ bất ngờ nên tôi trằn trọc, thao thức mãi rồi mới thiếp đi mà trong giấc ngủ như còn vẳng nghe đâu đây tiếng nói của chị Bua: "Khăm xỉ, em tôi! Cục vàng của chúng ta đây rồi...!".


Năm 1997, sau 6 năm về nước nghỉ hưu, do lãnh đạo Đảng bạn yêu cầu sang giúp một số việc, tôi có dịp trở lại Chăm-pa-xắc, nơi tôi đã từng chiến đấu, công tác nhiều năm trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ - cũng là nơi tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc về mối tình hữu nghị Việt - Lào.


Lần này về lại Chăm-pa-xắc, tôi muốn tìm gặp chị Bua.

Hôm kết thúc đợt công tác, theo đề nghị của tôi, Tỉnh ủy đưa chị Bua đến Pắc Xế gặp tôi. Chị già yếu đi nhiều nhưng vẫn còn minh mẫn. Chị cảm động rơi nước mắt khi gặp lại tôi, vì chị cũng như tôi đều tin rằng chẳng thể có được cuộc gặp gỡ hôm nay. Mừng vui, xúc động với bao nhiêu kỷ niệm về những tháng ngày ở vùng căn cứ tây nam Át-tô-pơ, khi chị là cán bộ phụ vận, đi xây dựng cơ sở kháng chiến cùng chúng tôi với bao gian nan, vất vả. Nhất là những lần gặp địch càn quét khủng bố cơ sở, giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt làng, triệt phá chùa chiền... Hai chị em hàn huyên hết mấy tiếng đồng hồ.


Để tỏ lòng biết ơn, tôi biếu chị một ít tiền, một số thuốc men, vài bộ váy áo. Chị không chịu nhận mà nhờ tôi mua một ít bánh kẹo để chị đem về làm quà cho trẻ em và bà con nơi chị ở. Chị chia tay chúng tôi với niềm xúc động nghẹn ngào của một bà lão đã ngoài tám mươi tuổi.


Còn tôi, mỗi khi ôn lại kỷ niệm của hơn 40 năm phục vụ cách mạng Lào, hình ảnh đất nước  Lào, hìn ảnh chị Bua luôn hiện lên trong tôi cùng với biết bao đồng chí đồng đội, những ông bố, bà mẹ, các chị, các em của các bộ tộc Lào quý mến đã từng đùm bọc, cưu mang, chia sẻ ngọt bùi với tôi trong những năm kháng chiến gian khổ. Những con người mà tôi coi như đồng bào, đồng chí, người thân của mình!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:45:39 am
MẸ LIỀM - BÀ MẸ BẢN HÔM


QUÁCH BÁ ĐẠT


Đầu mùa khô năm 1952-1953, anh Liễn - Chỉ huy trưởng mặt trận Sê Kông giao nhiệm vụ cho tôi xuống vùng Hôm Lùm - Hôm Thơng để thay anh Phi Cơ làm nhiệm vụ quân báo bám nắm địch ở thị xã Mường Mày (Át-tô-pơ). Anh Phi Cơ là quân báo của khu Hạ Lào bị bệnh nặng phải về Khu điều trị.


Tôi xuống đến nơi thì anh Phi Cơ đã về Khu nên không được ai bàn giao lại nhiệm vụ, nhất là các cơ sở nắm địch ở Mường Mày. Tôi phải tự mình đi tìm và xây dựng cơ sở nắm địch lại từ đầu. Cái khó hơn nữa là khi học ở phân hiệu Võ bị Trần Quốc Tuấn - Liên khu 5 (1-1950 - 5-1951) tôi chỉ được học Chỉ huy bộ binh tiểu đội và trung đội, chưa được học một chút gì về trinh sát quân báo.


Lúc bấy giờ khoảng đầu tháng 10 dương lịch, đang là cuối mùa mưa, lúa đang đòng nên dân Bản Hôm phần lớn còn đang ở nhà ngoài ruộng chờ gặt hái. Trong làng chỉ còn lại một số ít người, tôi phải trực tiếp đến từng nhà gặp dân, quan sát cuộc trò chuyện, cách tiếp đón, thái độ cư xử của từng người để phát hiện ra người tốt, xây dựng cơ sở cho hoạt động bám trụ của mình ở Bản Hôm, làm bàn đạp để nắm tình hình địch ở Mường Mày.


Bản Hôm là cơ sở của ta, có trưởng bản và một số du kích bí mật. Đó là cơ sở tốt, là chỗ dựa của anh Phi Cơ trước đây. Một trong số đó là gia đình mẹ Liềm - gia đình từng che chở giúp đỡ anh Phi Cơ. Gia đình mẹ có 5 người, bố mẹ đã già cả và đều là nông dân. Con trai duy nhất của bố mẹ bị địch bắt đi lính ở Trung Lào. Hai cô cháu gái trạc 25 - 30 tuổi là con của chị gái mẹ Liềm, do mồ côi cha mẹ nên được gia đình mẹ nuôi dưỡng từ thuở bé. Chính mẹ Liềm đã hướng dẫn cho tôi liên lạc để nhận tiếp tế của mẹ và giúp tôi tổ chức người vào thị xã Mường Mày nắm tình hình địch.


Tôi nằm sâu trong rừng. Hàng ngày ra bám bìa rừng giáp cánh đồng Bản Hôm nhìn ám hiệu ở sàn hiên nhà ruộng của mẹ. Khi nào thấy mẹ phơi áo trắng là an toàn, không có địch, có thể vào liên lạc với mẹ. Nếu thấy mẹ phơi áo vàng là ám hiệu không an toàn, có địch hoặc bọn tay chân lượn lờ rình rập. Nhiều lần có quân địch, mấy tên lính người làng về thăm nhà, mẹ đều phơi áo vàng làm ám hiệu cho tôi biết. Những lần đó, tôi không vào được, mẹ lại nhờ hai cô cháu gái mẹ bí mật mang xôi và thức ăn ra rừng, treo vào chỗ mà mẹ đã quy định sẵn với tôi.


Mẹ Liềm đã giới thiệu các anh du kích bí mật dẫn tôi vào bản Sa Phào (cách Mường Mày 6km) để xây dựng cơ sở quân báo và quan sát bốt địch ở Huội Ta Hãy ở đầu sân bay Mường Mày.

Ở Át-tô-pơ lúc bấy giờ chỉ có một tiểu đoàn ngụy Lào do tên Grand Fean - quan ba người Pháp chỉ huy và tên Xủn Thon - quan hai người Lào làm phó chỉ huy. Tiểu đoàn của Grand Fean mùa mưa cụm về cố thủ ở thị xã Mường Mày, một đại đội bảo vệ sân bay đóng ở đầu cầu Huội Ta Hãy. Hàng ngày, một đến hai trung đội đi tuần tiễu hoặc bí mật phục kích ngăn bộ đội Ít-xa-la thâm nhập.


Đến mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 dương lịch) địch ở Mường Mày mới phối hợp với các cánh quân từ Pạc Xoòng cao nguyên Bô-lô-ven xuống và cánh quân từ Stung Treng (Cam-pu-chia) lên để càn quét vào huyện Xa-năm-xay là căn cứ của khu Hạ Lào.


Mẹ Liềm đã giúp tôi tổ chức được một số cơ sở, hầu hết là các mẹ, các chị ở Bản Hôm và bản Xa-phao, bằng cách cho tôi giả mua bán hoặc đi thăm hỏi bà con ở thị xã Mường Mày. Qua đó nắm quân số, vũ khí, đội hình bố trí kho tàng của địch, nhất là sự chuẩn bị của địch trong đợt càn quét vào vùng hậu cứ khu Hạ Lào. Đặc biệt mẹ Liềm đã vận động thuyết phục được cô Bua - người Bản Hôm, vợ tên quan hai Xũn Thon - có cảm tình với cách mạng, với Ít-xa-la và cô đã cung cấp cho tôi một số tin quan trọng.


Mẹ Liềm nhận tôi là con nuôi, đặt tên Lào cho tôi là Bua Phẵn (Mộng Liên). Bố Liềm cũng thương tôi như con, hai cháu gái của mẹ coi tôi như em.

Mùa làm ruộng nên dân ở nhà ruộng. Nhà nọ cách nhà kia khá xa nên chúng tôi dễ vào liên lạc, tiếp tế hơn. Sau khi gặt, đập lúa xong (khoảng tháng một dương lịch), dân lại quay về làng ở ven sông Sê Kông. Việc liên lạc có khó khăn hơn. Thường thì tôi đến chúng tôi mới vào làng gặp cơ sở, đêm lại phải ra rừng, leo lên cành cây cao cột võng để ngủ (chủ yếu đề phòng cọp). Chúng tôi luôn thay đổi chỗ ngủ, lúc ở nhà ruộng, lúc chui vào đống rơm giữa ruộng. Có lúc mẹ Liềm bảo bố chèo thuyền đưa tôi ra ngủ ở cồn cát giữa sông cho an toàn, song ở đó nhiều con dĩn, nếu đốt lửa thì lại sợ bị lộ, vì thế mẹ Liềm đã may cho tôi một chiếc xà lùng và một áo chàm Lào, một khăn phá phe rằn để hóa trang thành người Lào cho bớt lộ liễu, vả lại, bộ quần áo bộ đội của tôi bằng vải xita được Liên khu 5 trang bị lúc sang Lào hồi tháng 7 năm 1951 đến nay đã vá chằng vá đụp.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:46:40 am
Một lần, ban đêm địch từ Mường Mày bí mật hành quân bao vây Bản Hôm, phục kích chờ đón bắt Ít-xa-la vào liên lạc. Sáng ra, mẹ Liềm phát hiện được, bà cùng hai cháu gái giả vờ đeo giỏ đi kiếm măng, kiếm nấm, đọt mây để ra rừng báo tin và tiếp tế cơm nước cho tôi.

Gặp tôi, mẹ bảo:

- Mẹ lo quá, sợ con không biết mà vào làng thì bị địch bắt mất, nên mẹ mới liều mạng tìm cách ra báo tin.

- Thế bọn chúng không gây khó khăn cho mẹ sao?

- Có chứ, thằng chỉ huy quan một kiên quyết giữ lại không cho mẹ đi, nó bảo "Để bà đi báo cho Keo Việt à".

- Thế mẹ và hai chị đã làm cách nào ra được với con?

- Mẹ quay về, hai chị của con bảo hay là mình đi đường tắt sau làng vào rừng, song lại gặp một bộ phận lính gác ở đó. Ba bốn con đường mòn ra rừng đều có lính gác cả, mẹ càng lo cho sự an nguy của con. Ba dì cháu nghĩ mãi chẳng có cách nào đi được, chỉ biết khấn Phật phù hộ, ngăn cho con đừng vào làng. Bố con thấy ba dì cháu mang giỏ đi rồi lại quay về, rầm rì nhỏ to nên hỏi. Mẹ đành nói thật, bố con liền bảo: "Xảo Bua nó mới đi thăm chồng nó ở Mường Mày về hôm kia, hay bà đến nhờ nó nói với quan một thử xem, may ra... (Xảo Bua là vợ quan hai Xủn Thon - cấp trên của quan một).

- Đúng là mẹ già lú lẫn, có thể mà nghĩ không ra. Mẹ bèn đến nhà gặp Xảo Bua, cô ấy đưa ba dì cháu mẹ theo đường chính gặp tên chỉ huy, nó nói gì đó mẹ không nghe rõ, chỉ thấy tên chỉ huy ra chào mẹ và đẽ cho ba dì cháu vào rừng.

- Thế mẹ không sợ Xảo Bua đứng về phía chồng là quan hai Xủn Thon à?

- Ồ không, nó là con cháu trong làng, mẹ biết tính nó từ nhỏ, đã có lần mẹ nói với con, nó rất có cảm tình với cách mạng. Nghe mẹ kể về các con, nó thương và quý các con lắm. Chính nó là cơ sở nắm địch của ta đó. Vì nó là vợ quan hai Xủn Thon nên ra vào đồn địch ở Mường Mày thoải mái. Chính nó đã cho mẹ biết nhiều tin tức quan trọng của địch. Vừa rồi, mẹ nói thật với nó là ra để cứu con. Giờ đã báo được tin cho con là mẹ mừng và yên tâm rồi.

Mẹ Liềm và hai chị ôm chặt tôi như để truyền hết niềm vui của họ sang cho tôi.

Bỗng mẹ Liềm đột ngột dừng lại và nói:

- Quá mừng vui suýt nữa mẹ quên nói với con một tin cực kỳ quan trọng, Xảo Bua gửi lời hỏi thăm con và bảo con báo ngay lên thượng cấp là địch ở Mường Mày đang chuẩn bị ra càn. Con nhớ báo ngay nhé. Mẹ và các chị con phải vào rừng kiếm ít nấm, ít măng để khi về thằng quan một khỏi nghi ngờ.


Tôi vội vã băng rừng về Pui để báo cáo tin trên cho anh Liễn rồi trở lại Bản Hôm bám cơ sở. Đầu tháng một dương lịch, trời rất rét. Tối tôi thường chui vào giữa đống rơm ở ngoài ruộng để ngủ, đêm nay đống này, đêm mai đống khác để khỏi lộ. Một đêm, sáng ngủ dậy, chui ra khỏi đống rơm để về rừng, bỗng giật mình khi thấy dấu giày đinh dày đặc, cách chỗ tôi ngủ chừng 15 mét băng đồng đi về hướng Pui, Úc. Tôi lần theo vết giày đinh. Chúng không rẽ vào Pui - nơi cơ quan mặt trận đóng mà đi thẳng về hướng Úc Tạy - nơi đại đội 200 cơ động của Khu đóng.


Về đến cơ quan mặt trận thì anh em cơ quan đã biết rồi. 5 giờ sáng hôm đó đã nghe tiếng mìn nổ ở Úc Tạy. Anh Liễn - Chỉ huy trưởng giao cho tôi nhiệm vụ mới, cùng với Thừa và Xuân mang 10 quả mìn muỗi trở lại bố trí một bãi mìn ở gần đồn sân bay Huội Ta Hãy, nằm chờ để đón đánh cánh quân của Grand Fean sau khi càn quét trở về. Tôi đưa Thừa và Xuân qua Hôm, Sa Phào vào gần Huội Ta Hãy rồi từ đó quay ra chọn địa hình nơi địch có thể quay về. Ngày thứ hai chúng tôi đã bố trí xong bãi mìn, chuẩn bị ăn cơm trưa thì nghe tiếng chân lào xào. Quân của Grand Fean đã về, nhưng không theo đường mòn mà băng qua suối, dừng lại nghỉ ở cánh rừng rậm cách bãi mìn của chúng tôi chừng 10 mét.


Bố trí mìn lại thì không kịp, chúng tôi bàn nhau vòng ra phía trước đội hình hành quân của địch, tìm một cây gỗ đổ ngang, nấp sau cây gỗ đó chờ đánh địch. Xuân được trang bị khẩu súng trường Mút-cơ-tông với ba viên đạn, còn tôi và Thừa mỗi đứa chỉ được 1 quả lựu đạn để phòng thân. Chúng tôi im lặng nằm chờ. Gần một tiếng đồng hồ địch mới lục tục chuẩn bị hành quân. Chờ toán đi đầu của địch đến cách chúng tôi chừng 10 mét, tôi ra lệnh cho Xuân nổ súng vào tên đi đầu, còn tôi và Thừa ném lựu đạn vào địch rồi rút chạy.


Ba chúng tôi cắm đầu băng rừng chạy, ước chừng được khoảng 70, 80 mét thì địch mới bắn đuổi theo. Đạn nghe chiu chiu trên ngọn cây. Chỉ khoảng 10 phút sau thì im tiếng súng. Chiều hôm đó, chúng tôi quay lại quan sát chỗ đánh nhau chỉ thấy một vũng máu lớn, chung quanh có một số cành cây nhỏ bị lựu đạn tiện đứt. Có thể chỉ chết thằng đi đầu do Xuân bắn, còn hai quả lựu đạn của tôi và Thừa chỉ sát hại được vài ba lùm cây thôi.


Quay về mặt trận hay tin là Grand Fean đã bí mật hành quân thọc sâu đánh vào doanh trại của đại đội 200 cơ động của khu ở Úc Tạy. Hai anh Trường của cơ quan mặt trận ngủ canh rẫy đã bị địch bắn chết.

Do được báo trước tin địch sắp ra càn nên Đại đội 200 đã kịp thời chuyển lên núi Tà Pạc, chỉ để lại ba người trông coi và đã cài 10 quả mìn muỗi quanh doanh trại khi địch tập kích thì 6 quả nổ tại chỗ, chỉ 1 quả nổ văng mảnh và không ai khác, người bị trọng thương bởi trúng mảnh quả mìn đó chính là quan ba pháp Grand Fean - tên cầm đầu của cánh quân.


Cánh địch từ Pạc Xoòng xuống cũng bị thiệt hại nặng. Cuộc càn mùa khô 1952 - 1953 của Pháp thất bại. Sau đó mặt trận Sê Kông giải tán rồi thành lập Ban Quân sự của từng huyện. Tôi được điều về huyện Xàn Cũn Xay làm thư ký cho huyện. Sau 3 tháng đi xây dựng du kích ở: Úc, Pai, Chèng, In Thư, rồi làm trinh sát bám địch đồn Pui, sau đó về Ban Quân báo khu, tháng 10 năm 1954 hành quân cùng bạn Lào lên hai tỉnh tập kết Sầm Nưa, Phông Xa Lỳ tôi mới được gặp lại bố mẹ Liềm và hai cháu gái của mẹ.


Ngày 15 tháng 10 năm 1954 quân tình nguyện Hạ Lào cuối cùng hành quân theo đường lên Bô-lô-ven, Sa-ra-van, Sa-vẳn, Khăm-muộn ra miền Bắc (Việt Nam). Còn đại bộ phận đã sang Kon Tum qua Giá Vụt, Ba Tơ về Quảng Ngãi, Quy Nhơn rồi được tàu thủy Ba Lan đón đưa ra Bắc.


Trên đường hành quân tập kết từ Át-tô-pơ đi, nhân dân các bản Sa Phào, Hôm, Pui, Úc dọc đường 18 ra đứng hai bên đường bịn rịn tiễn đưa các con Việt Nam. Bố mẹ Liềm cùng hai chị cũng có mặt trong đoàn người dân Bản Hôm đi tiễn hôm ấy. Bố mẹ mừng rỡ khi gặp được tôi - đứa con nuôi của mình - lòng mừng vui mà nước mắt lưng tròng. Tôi tạm xa gia đình mẹ Liềm với cái tên Lào thân thương Thao Bua Phẵn.


Năm 1975 trước khi vào Viêng Chăn để trực tiếp chỉ đạo giành chính quyền ngày 23 tháng 8 năm 1975, tôi lại được đồng chí Kay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào đặt cho một cái tên nữa, đó là cái tên Khạo Khâm Lạ của tôi.


Mẹ Liềm là người đầu tiên dạy cho tôi nghề làm quân báo. Là người mẹ Lào từng nuôi dưỡng chăm sóc, che chở tôi, từng cứu mạng sống của tôi, tuy mẹ con chỉ gần nhau được 4 tháng mà nghĩa nặng tình sâu.


21 năm sau.

Ước nguyện trở lại thăm mẹ nuôi đã được toại nguyện, cuối năm 1974, đầu năm 1975 - một lần nữa tôi lại được Tổng Bí thư Kay-xỏn cho đi theo đến Át-tô-pơ để phát động phong trào đấu tranh ở Nam Lào chuẩn bị cho giành chính quyền trong cả nước.


Đến Át-tô-pơ, tranh thủ thời gian chờ đợi, tôi xin phép Tổng Bí thư cho ra Bản Hôm tìm thăm lại bà mẹ Lào của tôi. Đang là mùa rẫy, mẹ Liềm vẫn còn ở nhà ruộng chưa về bản, bố đã mất, con trai của mẹ đi lính cũng mất, cháu gái đầu của mẹ đã lấy chồng và ở bản Sa Phào. Chỉ còn một cháu gái ở với mẹ Liềm không đi lấy chồng. Mẹ Liềm đã ngoài bảy mươi tuổi. Hai dì cháu dựa vào nhau để sống.


21 năm cách xa biền biệt, tưởng chẳng bao giờ mẹ Lào con Việt được gặp lại nhau. Hai mẹ con nghẹn ngào mừng vui mà nước mắt rưng rưng, không nói được nên lời.

Việt Nam đất nước tôi còn hai miền chưa thống nhất. Tôi chưa về được quê hái quả xoài tượng Bình Định để tặng mẹ Liềm, tôi đã mua một chiếc khăn Nam Định để tặng mẹ. Gặp lại nhau khoảng một tiếng đồng hồ tôi lại phải xin phép mẹ về thị xã Mường Mày. Cuộc hội ngộ bất ngờ của hai mẹ con Lào - Việt quá ngắn ngủi như một giấc mơ.


Hồ Tây, ngày 21 tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:58:12 am
THẠO XỐN


PHAN SỸ QUÁN


Trước lúc xuống cơ sở, đồng chí Lê Tiền Tiến - cố vấn trưởng đoàn vận động quần chúng, phát triển sản suất, bảo vệ hai tỉnh Sầm Nưa và Phông Sa Lỳ, nói:

- Phỉ là dân...

Thấy toàn đội ngơ ngác, đồng chí nói thêm:

- Nắm được dân thì phá được phỉ, thâm nhập vào vùng có phỉ các đồng chí sẽ biết.

Đội hình hành quân đến bản Huội Uông, một bản người bộ tộc Khơ Mú, nằm dưới chân núi Huội Thầu, cách đồn phỉ khoảng một giờ đi bộ. Theo kế hoạch sẽ có một cuộc mít tinh để chào mừng đội, nhưng dân đi rẫy hết, chúng tôi đến thì bản vắng tanh. Gặp một bà già, chúng tôi hỏi gì bà cũng chỉ ú ớ lắc đầu. Huội Uông có chừng ba chục nóc nhà, toàn nhà tranh vách nứa tạm bợ, chẳng có một ngôi nhà nào bằng gỗ vững chắc như những vùng đồng bào khác. Bản nằm cách thị xã Sầm Nưa khoảng chừng hai giờ đi bộ, heo hút giữa những vách rừng sâu thăm thẳm, chỉ có tiếng gió thổi hun hút, xen lẫn những tiếng chim kêu.


Mười giờ tối hôm đó đội chúng tôi tổ chức cho dân làng thắp đuốc xuống mít tinh. Gom cả bản được hơn chục ông già, vừa ngồi mít tinh vừa hút thuốc và ho sù sụ. Đám trẻ nhỏ thì mon men nép mình bên góc khuất xem. Tuyệt nhiên không thấy bóng một người đàn bà con gái nào cả?


Đội trưởng Xạu là người cùng tộc, trong đội còn hai chiến sĩ là người Khơ Mú nữa. Theo kế hoạch ban đầu chúng tôi chưa dùng tiếng địa phương. Phò bản tên là Bun, độ bốn mươi tuổi nhưng mặt choắt như chuột làm phiên dịch cho buổi mít tinh. Nhưng khi đội trưởng nói một đằng hắn dịch một nẻo. Hắn nói với dân bản: "Cán bộ bảo Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận yêu nước Lào) đang bị đói nên giao cho mỗi bản một tiểu đội, phải cho cán bộ ăn thịt gà, thịt lợn. Nhà nào có gái đẹp phải...". Nghe thế đội trưởng Xạu đỏ mặt, mắt trợn ngược lên định phản đối, nhưng lúc ấy tôi đang ngồi bên cạnh, liền nháy mắt ra hiệu, ý bảo: Bình tĩnh!


Sau buổi mít tinh ấy chúng tôi chia nhau vào các gia đình ăn ở cùng. Theo tinh thần chỉ thị của cấp trên, mỗi đội viên làm công tác vận động phải thực hiện chính sách ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Thực ra trong suy nghĩ của tôi cũng cảm thấy hơi sờ sợ, dân trong bản tiếp xúc với chúng tôi rất e dè, cả bản như có tang, ai cũng tỏ thái độ lầm lì như thể bị cưỡng bức, không ai tỏ thiện cảm, hỏi câu nào thì họ trả lời nhát gừng bằng tiếng địa phương.


Ngay đêm đầu tiên tôi được phân công ở nhà Thạo Xốn. Nhà Thạo Xốn nghèo nhất bản, buổi sáng ngày hôm sau hai vợ chồng mang dao đi rất sớm, không ai nói câu gì với tôi, đoán được ý định của họ, tôi cũng vào nhà cầm một con dao đi theo. Ở trên nương tôi vừa làm việc cùng họ vừa gợi chuyện. Nhưng suốt cả buổi hai vợ chồng Thạo Xốn cứ cúi gằm làm việc, chẳng ai nói với ai câu nào. Họ làm theo thói quen, thông tin với nhau bằng ánh mắt, thỉnh thoảng Thạo Xốn lại liếc nhìn sang phía tôi canh chừng. Một mình tôi lọt vào giữa rừng sâu, sống chung cùng thân nhân những tên phỉ, đầu óc quá căng thẳng, mình như con mồi lọt vào khu có bầy cọp đói, nhỡ may...? Vì được cấp trên quán triệt tinh thần trước rồi, đây là đi vận động quần chúng, mình phải làm việc để thuyết phục người khác, dân còn đang nghi kỵ mình, họ không tin những gì mình nói.


Suốt buổi hôm ấy tôi phải cố gắng làm việc theo họ, dù khá thấm mệt, nhưng cứ nghĩ mình không làm được như họ thì nói có ai tin nên lại cố gắng làm. Gần trưa, mặt trời chiếu thẳng từ trên đỉnh đầu xuống, những vạt nương bốc mùi nồng nồng của cây mục, mồ hôi túa khắp cơ thể tôi, họ vẫn cúi mặt làm như một cỗ máy không biết mệt mỏi. Tôi cố khua dao nhưng đầu óc thì ong ong, đường dao bay loang loáng trước mặt tựa như trong giấc mơ. Bỗng tôi thấy mắt hoa như có hàng trăm con đom đóm đang bay lượn trước mặt, lưỡi dao rơi bịch xuống nền đất, núi rừng nghiêng ngả, tôi gục xuống, cố lết bám vào một gốc cây. Thạo Xốn đang làm ở bên cạnh thấy thế chạy đến xốc tôi lên, anh dìu tôi vào một hốc đá nằm. Rồi tôi thấy xung quanh yên ắng đến lạ kỳ, tiếng lá rừng khe khẽ đu đưa, tiếng chim kêu đâu đó, mặt đất bình yên. Vợ Thạo Xốn vừa chạy đi đâu tôi không biết, rồi chị quay về, hai bàn tay khô ráp của chị nhẹ nhàng đắp lên trán tôi thứ lá cây gì đó, nhìn trong ánh mắt họ, tôi cảm thấy có điều được cảm thông. Thạo Xốn chạy vào rừng lát sau mang về một đoạn nứa non, tôi chưa hiểu anh ta làm gì thì thấy anh ta tỳ đầu gối bẻ đốp một cái, từ trong lõi ống nứa đó văng ra hai chú nhộng trắng muốt.

- Này ăn đi, cái bụng cán bộ nó đói đấy mà. - Thạo Xốn nói bằng tiếng Lào.

Tôi há miệng nuốt ực cả chú nhộng béo đang ngọ nguậy vào bụng, bỗng các thớ cơ trong người tôi chuyển động, bụng bắt đầu sôi ùng ục. Thạo Xốn lấy bọc lá dong ra vắt cho tôi thêm một nắm xôi nữa. Chẳng còn ý tứ giữa mình và họ, tôi nhét nắm xôi vào miệng nhai ngấu nghiên.


Trở về nhà, hai vợ chồng Thạo Xốn lại không nói điều gì hết, họ cứ lầm lũi làm những công việc quen thuộc của họ. Đêm đến, núi rừng u tịch, cả bản im lìm như thể chìm sâu xuống tầng tầng lớp lớp của tán lá, tôi cảm thấy cô đơn và nhớ đến quê hương Việt Nam, chỉ có ánh lửa le lói hơi ấm tỏa ra từ các ngôi nhà là tôi còn cảm thấy có sự sống. Vợ chồng Thạo Xốn dành cho tôi một góc sàn, tôi có màn nhưng không dám mắc, người dân còn đang ngủ không, tại sao mình lại nằm màn? Khác nào cán bộ quan liêu! Từ dưới sàn bốc lên một thứ khói than củi cay xè. Tôi nằm trằn trọc không chợp mắt nổi, cộng với cả tinh thần cảnh giác, đây là vùng phỉ!


Nhỡ đêm chúng lẻn về cắt cổ cán bộ thì sao! Thỉnh thoảng phía rừng lại rộ lên một tràng súng tiểu liên, những làn đạn rít vèo vèo trong gió. Giật mình tôi tỉnh hẳn, mùi phân súc vật dưới gậm sàn bốc lên khai nồng nặc, xa xa vọng lại tiếng con mang tác càng làm tăng lên cái không gian đe dọa sự sống. Tôi đặt sẵn khẩu súng ngắn bên người phòng có chuyện bất trắc.


Gần ba tháng tôi và anh em trong đội bám trụ cùng với dân bản, người dân chẳng ai thèm bắt chuyện với chúng tôi. Họ thường rỉ tai nhau bằng thứ tiếng bản địa, chúng tôi chẳng nghe được gì, chỉ có mấy anh cán bộ cùng tộc người biết.


Thạo Xốn là người Lào Lùm ở bản khác đến lấy vợ ở đây. Anh ta bị thương tật do cây đổ đè gãy chân, đi cà nhắc, nhà thì nghèo xơ nghèo xác. Tôi bàn với anh em trong đội cùng nhau giúp gia đình Thạo xốn phát rẫy và dựng lại nhà. Kể từ đó Thạo Xốn bắt đầu thân thiết với chúng tôi, anh bảo các bản đều nhận súng của phỉ, riêng Huội Uông có 16 người đóng trên đồn, phò bản Bun thường xuyên liên lạc với họ, số đàn ông còn lại cũng hoạt động ngầm giúp phỉ. Họ đều nhận súng cất giấu kỹ trong rừng. Thạo Xốn là người nơi khác đến cộng với bị tật nên không được cấp súng. Người cầm súng mỗi tháng được nhận 3kg muối. Ai giết được một bộ đội Pa-thét Lào thì được thăng hàm quan mười một, được hưởng nửa "mừn"* (1 mừn bằng 12kg) thuốc phiện.

Thạo Xốn ghé tai tôi nói:

- Ải nọong! Bò giạn. (Người anh em, đừng sợ). Vì vợ con, cha mẹ chúng ở bản này nên không đứa nào dám động đến cán bộ đâu. Đêm chúng bắn hù dọa thôi!

Một hôm, đội trưởng Xạu gọi gã trưởng bản đến, tất cả cùng ngồi bên bếp lửa, ông bắt đầu nói bằng tiếng Khơ Mú. Trưởng bản lúc đó mới ngớ người, mặt đỏ gay đỏ gắt. Hắn xấu hổ định kiếm cớ tháo lui nhưng đội trưởng Xạu ngăn lại, trông hắn lúc đấy như con chuột run rẩy trước mặt một chú mèo. Hắn lùi dần vào tận góc nhà, hồi lâu không còn chối cãi được hắn mới cúi đầu nhận lỗi. Kể từ đó người trong bản bắt đầu nghe theo cán bộ. Thạo Xốn bảo: Cán bộ có việc gì nói với dân cứ để tao giúp cho, chúng nó nhận súng của phỉ thì phải làm việc cho họ thôi, vì cái bụng đói nên bắt buộc phải nghe theo phỉ! Tôi bàn với anh Xạu, đề nghị với cấp trên mang muối đến cấp cho dân. Hôm muối về bản, dân đến nhận muối vui vẻ, mặt mày ai cũng rạng rỡ.


Bao nhiêu năm rồi, vì nhiệm vụ tôi phải chuyển địa bàn hết nơi này đến nơi khác trên chiến trường Lào. Tôi không biết tin tức dân bản Huội Uông sống ra sao. Nghe nói đời sống nhân dân đã được cải thiện nhiều lắm, tôi không thể nào quên Thạo Xốn cùng cái bản xa tít nơi núi rừng heo hút, nhớ cái bắt tay chắc nịch của Thạo Xốn hôm chia tay.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:59:46 am
GIẢI PHÓNG ÁT-TÔ-PƠ


NGUYỄN QUỐC THƯỚC


Sau những thất bại nặng nề trong hai năm 1967 - 1968 của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng, chiến lược "chiến tranh cục bộ" lấy quân Mỹ là chủ yếu, với biện pháp "tìm diệt" đã hoàn toàn sụp đổ.


Để hạn chế tối đa thương vong cho quân Mỹ, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", lấy quân ngụy là chủ yếu, cộng với hỏa lực Mỹ từ xa, với biện pháp "quét và giữ" nhằm giữ cho được những vùng còn lại, mà thực chất là một sự đi xuống trong ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.


Để thử nghiệm chiến lược mới, chúng chọn địa bàn Tây Nguyên triển khai với hy vọng cải thiện được tình hình mà quân Mỹ không bị tổn thất nặng. Đầu năm 1970, chỉ trong vòng một tháng, chúng lần lượt mở 3 cuộc hành quân (3 chiến dịch) ra vùng Chư Pả tây thị xã Pleiku mang tên "Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50" với lực lượng gồm 2 trung đoàn, 1 liên đoàn biệt động ngụy, đã bị Trung đoàn 24 (thiếu) và các đơn vị tăng cường lần lượt đánh bại. Trước tình thế sụp đổ của quân ngụy, Mỹ buộc phải đưa 1 tiểu đoàn Mỹ ra ứng cứu, nhưng cuối cùng tiểu đoàn này cũng bị đánh thiệt hại, buộc số còn lại của Mỹ lẫn ngụy phải ôm đầu máu tháo chạy. Tiếp theo chiến thắng Chư Pả, quân và dân ta tiếp tục giáng những đòn sấm sét vào quân chủ lực ngụy, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ngày càng bị sa lầy nghiêm trọng. Để cứu vãn tình hình, đế quốc Mỹ vội vàng thành lập liên minh tay ba về quân sự gồm: Nam Việt Nam, ngụy Lào, ngụy Cam-pu-chia phối hợp mở các cuộc tấn công quy mô lớn trên đất Lào và Cam-pu-chia nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, uy hiếp hậu phương ba nước, buộc ta phải phân tán đối phó, giảm áp lực cho chiến trường miền Nam.


Tháng 1 năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp trên cơ sở nhận định âm mưu mới của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương, đã đề ra "nhiệm vụ cho quân và dân miền Nam tiếp tục đẩy mạnh tấn công địch trên các chiến trường, đồng thời ra sức phối hợp, giúp đỡ bạn nắm thời cơ đưa cách mạng Lào và Cam-pu-chia tiến lên mạnh mẽ. Đặc biệt Trung-Hạ Lào có vị trí hiểm yếu nối liền hành lang chiến lược Bắc - Nam; phải tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng và các căn cứ cách mạng bạn và ta, giúp bạn giải phóng nhiều vùng rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược là nhiệm vụ hàng đầu".


Thực hiện tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương (20-4-1970), trên hướng chiến trường Hạ Lào, quân đội ta được lệnh phối hợp chặt chẽ với bạn tiến mạnh về phía tây, cùng bạn giành thắng lợi lớn trên hướng chiến trường mới, tạo thế và lực cho cả ta và bạn để mở rộng địa bàn chiến lược quan trọng Tây Nguyên - Hạ Lào - Đông Bắc Cam-pu-chia, tập trung trọng điểm là thị xã Át-tô-pơ, Bộ Tổng Tham mưu hai nước Việt Nam và Lào quyết định thành lập mặt trận X (sau lấy tên là Mặt trận An Sơn), với nhiệm vụ giải phóng tỉnh Át-tô-pơ và một vùng rộng lớn cao nguyên Bô-lô-ven, tiến tới giải phóng Sa-ra-van, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào. Bộ Tổng Tư lệnh quyẽt định mặt trận B3 - Tây Nguyên cử một trung đoàn mạnh sang phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Lào thực hiện nhiệm vụ trên, dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Quân khu 4. Trung đoàn 24 được giao thực hiện nhiệm vụ này.


Là một đơn vị có truyền thống trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 24 có mặt trong những ngày đầu trên chiến trường Tây Nguyên (1965). Đơn vị vừa đánh bại ba cuộc hành quân Bình Tây 48, 49 và 50 của đế quốc Mỹ, được Bác Hồ trực tiếp gửi điện khen, khí thế cán bộ chiến sĩ rất cao, nay lại được thay mặt lực lượng vũ trang Tây Nguyên làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, tinh thần càng tăng thêm gấp bội. Nhiệm vụ vô cùng khẩn trương nhưng các đơn vị của Trung đoàn đang rải khắp từ bắc Kon Tum đến tây Gia Lai, Bộ Tư lệnh B3 quyết định Trung đoàn (thiếu Tiểu đoàn 5) được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28, 1 đại đội ĐKB và cối 120 ly cho kịp thời gian quy định. Với tinh thần bôn tập, bộ đội trèo đèo lội suối, xuyên rừng vượt biên giới, tìm đường mà đi trên một chiến trường hoàn toàn mới lạ. Chỉ trong thời gian chưa đầy 10 ngày, toàn đơn vị đã đến nơi tập kết quy định tại khu vực Huội Tiêu, phía tây nam thị xã Át-tô-pơ. Đặc biệt bộ phận tiền trạm và đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường phải đi cả ngày đêm, vượt lên trước bắt liên lạc với Bộ Tư lệnh chiến dịch tại Binh trạm 34 để nhận nhiệm vụ và triển khai công tác chuẩn bị chiến trường.


Tại Binh trạm 34, đồng chí đại tá Hoàng Kiện phổ biến nhiệm vụ và công bố quyết định của trên thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận do đồng chí Hoàng Kiện làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Trần Quyết Thắng làm Phó Chính ủy, tôi - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 kiêm Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ huy tiền phương. Lực lượng chiến dịch gồm: Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện Việt Nam, 1 đại đội đặc công S4 cùng lực lượng quân giải phóng bạn và lực lượng vũ trang địa phương bạn, có nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng thị xã Át-tô-pơ, đánh chiếm một vùng rộng lớn trên Cao nguyên Bô-lô-ven, uy hiếp Sa-ra-van và Pắc Xoòng. Theo mệnh lệnh của cấp trên, chiến dịch phải tiến hành khẩn trương để phối hợp với các chiến trường trên cả ba nước Đông Dương, chậm nhất là phải nổ súng vào đầu tháng 5 năm 1970.


Công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng và các cơ sở vật chất hậu cần kỹ thuật hết sức khẩn trương. Một mặt, chỉ huy các cấp từ trung đoàn đến đại đội đi trước để chuẩn bị chiến trường, lập phương án tác chiến chiến dịch, các đồng chí cấp phó chỉ huy bộ đội hành quân vào khu vực tập kết. Các đơn vị quân tình nguyện và bộ đội bạn có thuận lợi hơn vì đã nắm chắc tình hình địch và địa hình. Riêng Trung đoàn 24 lần đầu tiếp cận chiến trường, thời gian chuẩn bị rất gấp nên có nhiều khó khăn, nhưng được sự giúp đỡ của Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện do đồng chí Luận làm tiểu đoàn trưởng nên cũng nhanh chóng hoàn thành công tác chuẩn bị đúng tiến độ. Mọi tình hình về địa hình, nhân dân, nhất là tình hình địch đều được nắm rõ. Việc tiềm nhập được thuận lợi, các mũi tấn công đã tiềm nhập vào các lớp kẽm gai và nắm được quy luật hoạt động và bố trí của địch. Qua công tác nghiên cứu được biết, tỉnh Át-tô-pơ là một tỉnh ở đông nam khu vực Hạ Lào, thị xã nằm trong thung lũng sông Sê Kông được bao quanh ba phía, lưu thông với thị xã Sa-ra-van ở phía bắc và thị trấn Siêm Rạng thuộc Cam-pu-chia ở phía nam chủ yếu bằng đường sông, được cao nguyên Bô-lô-ven án ngữ từ phía tây tây nam - tây bắc cách thị xã khoảng 6 đến 7km. Từ các đỉnh cao 1001 Phu Lăng Kẹo trên cao nguyên Bô-lô-ven có thể khống chế toàn bộ thị xã. Muốn giữ được thị xã phải đánh chiếm được các điểm cao nói trên. Xung quanh thị xã là các làng bản rải rác đến chân cao nguyên Bô-lô-ven. Dân trong thị xã khoảng một vạn người, chủ yếu là đồng bào Lào, một ít là người Việt và người Hoa. Là một hướng tương đối cô lập, xa trung tâm Hạ Lào nên lực lượng địch tương đối mỏng yếu, tổng cộng khoảng một nghìn do đại tá Khăm Còm chỉ huy kiêm Tỉnh trưởng. Trong đó, tiểu đoàn 4BI là tiểu đoàn mạnh nhất, bố trí phòng thủ phía bắc thị xã thành 3 cụm, 2 đại đội phía trước, 1 đại đội và sở chỉ huy tiểu đoàn ở phía sau, cách thị xã 1km. Tiểu đoàn 43BV đóng ở phía đông thị xã và cao điểm Phu-xa-phông, có 1 trung đội pháo 105 ly, 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội pháo 105 ly bố trí ở điểm cao Phu-lăng-kẹo, 1 đại đội đóng ở phía Nam Sống. Trong thị xã có 1 đại đội văn phòng bảo vệ tỉnh trưởng cùng các lực lượng pháo cối, cảnh sát, biệt kích, thám báo, lực lượng ô hợp có khoảng 1 tiểu đoàn. Phía tây thị xã có sân bay bằng đất, hàng ngày máy bay cánh quạt lên xuống. Tất cả các đồn đều cấu trúc tương đối kiên cố với tường hộp bao quanh, bên ngoài có các lớp rào kẽm gai và rào gỗ. Địch thường tung thám báo biệt kích hoạt động cách 5 đến 10km để phát hiện tình hình, ban đêm bố trí các toán ra phục kích ngoài hàng rào. Trên các hướng ta có thể thâm nhập địch bố trí gài mìn trên các trục đường mòn.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 08:00:17 am
Sau một thời gian nghiên cứu tình hình, Ban chỉ huy Trung đoàn thống nhất phương án tấn công để thông qua Bộ Tư lệnh chiến dịch. Theo nhận định của Trung đoàn, nếu ta tập trung tiêu diệt nhanh tiểu đoàn 4BI, đơn vị chủ lực mạnh nhất án ngự hướng bắc thị xã, đồng thời đánh chiếm hai trận địa pháo khống chế tại điểm cao Phu-lăng-kẹo và Phu-xa-phông thì thế địch nhanh chóng bị vỡ. Trên cơ sở phân tích tình hình, trung đoàn quyết tâm sử dụng Tiểu đoàn 4 được các hỏa lực ĐKZ 12 ly 7, cối 120 ly của trung đoàn chi viện, được Tiểu đoàn 2 (- 1c) Trung đoàn 28 làm thê đội 2 có nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt tiểu đoàn 4BI. Tiểu đoàn 4 là đơn vị chủ công, thiện chiến trên chiến trường Tây Nguyên, đơn vị vừa đánh thiệt hại tiểu đoàn Mỹ tại Chư Pả tháng 1 năm 1970 và tiêu diệt gần hết một căn cứ tiểu đoàn Mỹ ở Làng Giã nên có nhiều kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc. Anh em có quyết tâm cao, được trung đoàn rất tin tưởng. Đồng thời phối hợp với hướng tấn công chủ yếu, đại đội đặc công của Trung đoàn tập kích đánh chiếm trận địa pháo tại căn cứ Phu-lăng-kẹo. Trung đoàn đề nghị giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 đặc công (thiếu) quân tình nguyện đánh chiếm căn cứ pháo binh tại Phu-xa-phông, Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện tiêu diệt đại đội địch ở Nam Sông, Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện và bộ đội bạn bao vây, đón lõng vòng ngoài phía đông thị xã, đồng thời sẵn sàng phát triển truy quét quân địch tháo chạy và bọn phản động tại chỗ, làm công tác dân vận ổn định tình hình. Do các mục tiêu ở xa nhau, trung đoàn đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cường Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện cho trung đoàn trực tiếp chỉ huy, còn hướng Phu-xa-phông và Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện vì ở xa nên đề nghị Sở chỉ huy cơ bản trực tiếp nắm. Hiệu lệnh tấn công lấy tiếng nổ bộc phá hướng Trung đoàn 24 để đồng loạt nổ súng. Sau khi nghe báo cáo quyết tâm của trung đoàn và các ý kiến đóng góp tại hội nghị, Bộ Tư lệnh nhất trí với phương án của Trung đoàn. Bộ Tư lệnh quy định rõ: Chỉ huy sở tiền phương chiến dịch do đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 kiêm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm thống nhất với sở chỉ huy Trung đoàn, có một số trợ lý của mặt trận tăng cường - lực lượng đánh Phu-xa-phông và Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện cùng lực lượng bạn do sở chỉ huy cơ bản trực tiếp nắm, có các đồng chí đoàn chuyên gia Hạ Lào tham gia, công tác đảm bảo hậu cần do Binh trạm 34 bảo đảm. Quy định giờ G là 0 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1970. Trường hợp có tình hình đột biến do đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 quyết định để kịp thời xử trí vì liên lạc với sở chỉ huy cơ bản chủ yếu bằng 15W không đảm bảo kịp thời. Các hướng hành động theo tiếng nổ bộc phá của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24. Sau khi Bộ Tư lệnh chiến dịch thông qua quyết tâm, các đơn vị khẩn trương triển khai đúng kế hoạch.


Tại Trung đoàn 24 mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, việc quán triệt phương án tác chiến đối với các đơn vị được tiến hành khẩn trương và chu đáo, khí thế quyết tâm của các đơn vị rất cao. Đối với Trung đoàn 24 thì đây là lần đầu tiên được lãnh nhận sứ mệnh cao cả về thực hiện nhiệm vụ quốc tế do Bộ Tổng Tư lệnh và Mặt trận B3 tin tưởng giao phó. Các tiểu đoàn quân tình nguyện và bộ đội bạn lâu nay hoạt động lẻ tẻ, nay được tham gia chiến dịch lớn cũng rất đỗi tự hào. Các đồng chí chuyên gia quân sự hết sức tận tình trong mọi công việc được phân công. Đặc biệt các đồng chí cán bộ lãnh đạo hết sức vui mừng và tin tưởng vì đây là sự kiện lịch sử đối với cách mạng nước bạn sau bao năm chiến đấu kiên cường liên tục.


Từ Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch tôi báo cáo lần cuối cùng bằng vô tuyến điện về Sở chỉ huy cơ bản, đề nghị cho thực hiện theo kế hoạch. Sau khi nhận được lệnh phê chuẩn của Sở chỉ huy cơ bản, các hướng bắt đầu hành động: tối 28 tháng 4, theo tính toán cự ly xa gần mục tiêu, các đơn vị bắt đầu tiềm nhập. Các đơn vị đặc công vì ở xa, đêm 27 tháng 4 đã bí mật ém sẵn gần khu vực mục tiêu. Trên hướng trung đoàn, các đơn vị tiếp cận mục tiêu không gặp trở ngại lớn. Riêng mũi tiến công chủ yếu của 4 tiểu đoàn đánh vào Sở chỉ huy tiểu đoàn 4BI trên đường tiếp cận gặp 1 tiểu đội địch nằm phục kích ngoài hàng rào 50 mét, 1 tiểu đội khác phục kích cách vị trí chỉ huy của tiểu đoàn khoảng 100 mét. Trời cao nguyên rất lạnh, quân địch trùm áo khoác ngủ nằm, ngủ ngồi không hay biết, ta phải vòng tránh để tiếp cận vào hàng rào. Các mũi bắt đầu cắt dây thép gai, bí mật mở cửa mở. Khoảng 22 giờ trở đi, thỉnh thoảng địch bắn pháo sáng, bắn cối 60 ly và M16. Có 2 đồng chí vướng đạn bị thương. Các mũi báo cáo có hiện tượng địch phát hiện tiếng động nên phải nằm im chưa cài bộc phá, lúc này mỗi hướng chỉ còn 1 lớp hàng rào cuối cùng. Đến 23 giờ 30 phút, Sở chỉ huy tiểu đoàn 4BI của địch có dấu hiệu báo động vì súng nổ nhiều, pháo sáng tăng cường hơn và có nhiều tiếng nói lộn xộn. Nhận định khả năng địch đã phát hiện, việc mở cửa mở chỉ còn 1 lớp rào cuối cùng, Trung đoàn hạ quyết tâm bắt đầu cho nổ bộc phá để phát lệnh tổng tấn công trước giờ G 30 phút theo tình huống đã dự kiến trước. Lập tức cả 3 mũi trên hướng Tiểu đoàn 4BI, các khối bộc phá bắt đầu nổ rền, hỏa lực bắn thẳng tập trung tiêu diệt các hỏa điểm, cối 120 ly, 82 ly, 60 ly dồn dập bắn vào trung tâm. Tiếng pháo cối, tiếng súng máy vang dội cả một vùng. Lửa bắt đầu bốc cháy trong đồn địch. Sau 15 phút phát huy hỏa lực, các mũi đồng loạt xung phong, quân địch bị bất ngờ, đứa bị bắn gục, đứa tháo chạy, tiếng súng AK vang vọng khắp cả vùng bắc thị xã, các tổ xung kích vừa chạy vừa quét tiểu liên, bọn địch tháo chạy thục mạng vào trung tâm nhưng đến đâu cũng gặp các mũi tấn công của ta nên toàn bộ trận địa tiểu đoàn 4BI chìm trong khói lửa. Bọn lính tiểu đoàn 4BI hoảng loạn tháo chạy vào thị xã. Chỉ sau gần 1 giờ chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa, địch chết ngổn ngang, ta thu được hàng trăm súng các loại. Đến 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1970 toàn bộ tiểu đoàn 4BI bị tiêu diệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, uy hiếp trực tiếp thị xã đang trong tình trạng hỗn loạn.


Hiệp đồng theo tiếng bộc phá trên hướng Phu-lăng-kẹo và Phu-xa-phông, các đơn vị cũng bắt đầu nổ súng, sau 30 phút đơn vị đặc công trung đoàn đánh chiếm trận địa Phu-lăng-kẹo bất ngờ, phần lớn quân địch bị tiêu diệt, một số tháo chạy về hướng cao nguyên Bô-lô-ven, ta thu 2 pháo 105 ly. Hướng Phu-xa-phông, đơn vị S4 đặc công quân tình nguyện sau 40 phút nổ súng cũng hoàn toàn chiếm lĩnh trận địa. Đến đây trên các hướng hầu như im tiếng súng, pháo cối, hỏa lực, pháo sáng trong thị xã bắn loạn xạ, nhân dân hỗn loạn, gia binh nhao nhác. Thừa thắng, trung đoàn cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 sẵn sàng chiếm lĩnh trận địa, đào công sự ngụy trang để đề phòng phi cơ địch oanh tạc, đồng thời sẵn sàng tấn công vào thị xã. Đúng như dự kiến, sáng ngày 29 tháng 4 hàng chục máy bay từ Thái Lan sang ném bom bắn phá xung quanh thị xã, tàn quân các nơi chạy về lại làm cho tình hình không thể kiểm soát, tên Khăm Còm - Đại tá Tỉnh trưởng tuyên bố tử thủ giữ vững Át-tô-pơ.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 08:01:00 am
Lệnh của Sở chỉ huy, trung đoàn thực hiện tiếp bước 2 chiến dịch, tấn công giải phóng thị xã, đồng thời sẵn sàng đánh địch phản kích ở Phu-lăng-kẹo và bắc thị xã. Lúc này tình hình trong và xung quanh thị xã hỗn loạn, địch không kiểm soát nổi mà ta cũng không phân biệt được đâu là dân, đâu là lính vì bọn này cải trang đem gia đình tháo chạy. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 cùng lực lượng phòng không một mặt kiên quyết bắn máy bay, lợi dụng giữa các đợt oanh kích tấn công đánh chiếm sân bay và ngoại vi thị xã, tạo thế cài răng lược, hạn chế hỏa lực của máy bay. Trong ngày, Tiểu đoàn 6 đã áp sát thị xã. Được sự chỉ đạo của đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn, Tiểu đoàn 3, quân tình nguyện đã tiêu diệt đại đội địch ở Nam Sông, thu toàn bộ vũ khí.


Để chuẩn bị tấn công vào thị xã, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 6 được tăng cường 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28, được ĐKB và cối 120 chi viện, chuẩn bị dứt điểm vào đêm 29 tháng 4 năm 1970, Tiểu đoàn 2 (-1c) làm lực lượng dự bị, sẵn sàng đánh địch phản kích từ phía bắc, đồng thời sẵn sàng 1 đại đội chi viện cho Phu-lăng-kẹo nếu bị địch phản kích Tiểu đoàn 4 nhanh chóng củng cố làm lực lượng dự bị chung.


Dưới sự chi viện của hỏa lực, 23 giờ ngày 29 tháng 4, Tiểu đoàn 6 bắt đầu tấn công vào thị xã. 2 khẩu pháo 105 ly lấy được tại Phu-lăng-kẹo dùng bắn uy hiếp vào thị xã nhưng không chính xác. Chớp thời cơ "quân hồi vô phèng" và sự hỗn loạn của dân, Tiểu đoàn 6 tổ chức thành 3 mũi tấn công vào trung tâm chỉ huy của Khăm Còm, tên này cùng đại đội văn phòng đã tháo chạy trước trong đêm, số quân ô hợp khoảng 600 tên đầu hàng tại chỗ, một số theo Khăm Còm chạy thoát trong đêm về Bô-lô-ven. Thị xã Át-tô-pơ hoàn toàn được giải phóng. Trên các hướng, cán bộ chuyên gia đã trực tiếp hướng dẫn các đơn vị bạn làm công tác địch vận, gọi hàng nhiều tên, thu được nhiều vũ khí.


Sau 2 đêm 1 ngày, vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1970, trung đoàn cùng các đơn vị quân tình nguyện và bộ đội bạn đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Át-tô-pơ, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.000 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, phương tiện chiến tranh. Hàng ngàn đồng bào các dân tộc thị xã Át-tô-pơ vẫy chào quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Ngày 2 tháng 4 trung đoàn bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm, vũ khí đạn dược, ôtô, tàu thuyền, lương thực, thuốc men cho Ban cán sự Đảng Át-tô-pơ cùng các cơ quan dân chính đảng có mặt hôm đó.


Nhận định địch chưa chịu cam tâm để mất thị xã Át-tô-pơ tạo tiền đề cho sự dao động suy sụp của quân ngụy Lào ở các thị xã khác, theo sự chỉ đạo của Sở chỉ huy cơ bản, trung đoàn chuẩn bị đánh địch phản kích trên hướng Phu-lăng-kẹo - Bô-lô-ven. Đúng như dự kiến, sáng ngày 1 tháng 5 địch dùng phi pháo oanh tạc vào căn cứ Phu-lăng-kẹo, sau đó cho 1 tiểu đoàn bộ binh đánh vào cứ điểm nhưng bị quân ta đánh bật, diệt gần 100 tên. Đại đội chốt giữ đề nghị trung đoàn tăng viện vì lực lượng địch rất đông, ở hướng bắc, trên trục đường 22 đi San Van cũng xuất hiện một lực lượng địch. Quyết tâm của trung đoàn là phải giữ bằng được Phu-lăng-kẹo làm bàn đạp tiếp tục tiến công vào trung tâm Bô-lô-ven thì mới giữ được Át-tô-pơ. Trước mắt trung đoàn sử dụng 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện, đơn vị thông thạo địa hình do đồng chí Tham mưu Trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy lên tăng cường cho Đại đội 13 tại Phu-lăng-kẹo và sẵn sàng cơ động Tiểu đoàn 2 của trung đoàn tiếp ứng sau. Trên đường lên Phu-lăng-kẹo, phát hiện khoảng 1 đại đội từ hướng Bô-lô-ven đang tiến về hướng Át-tô-pơ. Đại đội 3 bí mật triển khai phục kích, bọn địch không phát hiện được ta, lọt vào ổ phục kích, ta chủ động nổ súng xung phong, bọn địch bị bất ngờ đã bỏ súng đầu hàng, ta bắt 56 tên, thu toàn bộ vũ khí và cho giải về sau. Sáng ngày 3 tháng 5, Đại đội 3 quân tình nguyện bắt được liên lạc với Đại đội 13 tại Phu-lăng-kẹo. Lúc này địch đang dồn dập dùng phi pháo và bộ binh tấn công vào chốt Đại đội 13. Quân ta một số bị thương, số còn lại vẫn kiên quyết trụ bám, 2 khẩu pháo 105 ly lấy được của địch bị bom đánh gục. Sáng ngày 4 tháng 5, khoảng 1 tiểu đoàn địch liên tục tấn công vào chốt Đại đội 13. Đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn chỉ huy Đại đội 3 vận động bí mật tập kích vào phía sau đội hình địch. Bị bất ngờ, một số bị diệt, khoảng 2 đại đội địch còn lại tháo chạy về phía tây. Sau khi đánh tan bọn địch phản kích, Đại đội 3 cho thu quân, củng cố lực lượng vào tăng cường cho Đại đội 13.


Ngày 5 tháng 5, địch lại tập trung hỏa lực tấn công vào chốt của ta. Đại đội 3 báo cáo qua điện thoại địch quá đông nên đã chiếm mất chốt. Quyết tâm chiếm lại chốt trong đêm, trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 trong đêm bắt liên lạc với Đại đội 13 và Đại đội 3 quân tình nguyện tổ chức đánh chiếm lại chốt.


Là đơn vị đã nổi tiếng với cách đánh phản kích giữ chốt tại Đắc Xiêng, lợi dụng mây mù, Tiểu đoàn 2 bí mật tiếp cận trận địa, bắt đầu nổ súng, mãnh liệt xung phong và chỉ sau 30 phút đã tiêu diệt và đánh bật quân địch ra khỏi chốt, sau đó tổ chức củng cố công sự trận địa, giữ vững chốt. Trận này ta diệt 120 tên, thu trên 200 súng, có 3 đại liên ĐKZ, 1 cối 81 ly, 6 VTĐ. Ta truy kích địch đến PS38 (In Thi) và LS165 (Nậm Tiếng), địch tháo chạy về hướng Pặc Xông. Đến đây khu vực đông nam Bô-lô-ven thuộc Át-tô-pơ hoàn toàn được giải phóng, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 cùng Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện tiếp tục thay phiên nhau chốt giữ bảo vệ Phu-lăng-kẹo, bảo vệ vành đai vòng ngoài thị xã Át-tô-pơ suốt mùa khô 1970-1971.


Trong khi tập trung đánh địch phản công khu vực Phu-lăng-kẹo, các đơn vị còn lại của trung đoàn và các tiểu đoàn quân tình nguyện, quân giải phóng bạn tiếp tục truy quét tàn binh, giải phóng vùng rộng lớn tỉnh At-tô-pơ, ổn định tình hình, củng cố chính quyền tại các làng bản, sẵn sàng bảo vệ vững chắc vùng đông nam Hạ Lào, tiếp giáp với Việt Nam và Cam-pu-chia.


Ngày 15 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 24 được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu để lại Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 cùng lực lượng quân tình nguyện và bộ đội bạn tiếp tục củng cố vùng giải phóng, khẩn trương thu quân, vượt biên giới Lào - Cam-pu-chia nhanh chóng cơ động bằng đường sông để đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1970 trung đoàn tấn công giải phóng Xiêm Pạng, phát triến về phối hợp với lực lượng B2 giải phóng tỉnh Stung Treng (Cam-pu-chia), sau đó độc lập phát triển giải phóng tỉnh O-đa-men-chay - Prết-vi-hia, chốt giữ đến Prết-vi-hia trên biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan.


Phát huy truyền thống "quyết thắng" trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với thành tích trong chiến dịch Át-tô-pơ trung đoàn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 trực tiếp đánh địch giải phóng Át-tô-pơ, có mặt trên chiến trường đã để lại trong tôi bao kỷ niệm về tình đồng đội, về tình bạn quốc tế với lực lượng vũ trang nước bạn, về tình cảm thiêng liêng mà bà con các bộ tộc nơi đây dành cho chúng tôi.


Giờ đây, ghi lại những sự kiện và kỷ niệm này, tôi thực sự bồi hồi xúc động với những tình cảm thân thương được xây đắp bằng xương máu của quân đội và nhân dân hai nước dưới ngọn cờ bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng nên tình đoàn kết chiến đấu hữu nghị đặc biệt, tạo nên chiến thắng vĩ đại của hai dân tộc. Chúng ta sẽ mãi mãi sát cánh bên nhau trên con đường mà Bác Hồ, hai Đảng và nhân dân hai nước đã chọn.

Tháng 10 năm 2008


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:32:56 am
GIĂNG BẪY


NGUYỄN NGỌC LỢI
   

Bầu trời Lào mùa khô lạ lắm, có cảm giác như có một đám cháy nào đó từ rất xa đang toả khói, khiến khoảng không trên đầu cứ mù mù ong ong rất khó tả. Núi rừng, cảnh vật... tất cả như hiện ra sau lớp kính mờ ảo. Ngoài bãi trống, nơi con đường chạy qua vẫn ong ong một màu vàng bàng bạc. Phía trong này, chỗ tôi đang ngồi râm mát, chung quanh dong dóng những thân cây xa gần chạy hút vào vô tận.


Rừng Lào cũng lạ, trên cái nền đất bằng phẳng dày kín, chen chúc những ngọn cây cao thấp, trong cái màu xanh trùng điệp đó, thi thoảng lọt vào những trảng cỏ cũng bằng phẳng rộng mênh mông. Đường vận tải chiến dịch giữa mùa khô, đất dưới bánh xe lăn đã trở nên tơi xốp, mặt đường đã trở thành một lớp bụi dày cứ phát ra những tiếng lụp bụp dưới bước chân. Những đoàn xe vận tải của ta sau khi luồn trong những cánh rừng ngút ngát cuối cùng ló ra chạy qua những bãi trống và kéo theo những luồng bụi cuồn cuộn phía sau, và đó là miếng mồi béo bỏ cho máy bay ném bom của địch.    Một mình Đại đội 8 theo bộ binh hiệp đồng đánh Xê Băng Phai, tiểu đoàn chỉ còn 2 đại đội với tám khẩu pháo 37 ly 2 nòng đang nằm phục chung quanh bãi trống trước mặt.


Bây giờ xin nói về đơn vị tôi. Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 233 pháo cao xạ Quân khu 4 được tham gia chiến dịch 1972.

Cuối tháng 10 năm 1972, khi mùa mưa chỉ còn rơi rót bên kia dãy Trường Sơn thì chúng tôi lên đường. Sau khi qua biên giới, tiểu đoàn bố trí pháo dọc đường để bảo vệ hành lang giao thông. Đất công sự vị trí này chưa kịp phai màu đã lại kéo pháo đi tiếp vào vị trí khác. Hàng tháng trời suốt từ Lạc Xao, Kăm Kớt, cao nguyên Na Kay xuống tận Ma Ha Xay... toàn tiểu đoàn chưa có trận nào cho "hoành tráng", ngoại trừ Đại đội 10 cắm chốt bảo vệ bến vượt Nậm Thơn phía ngoài và Đại đội 8 theo bộ binh hiệp đồng đánh Xê Băng Phai ở phía trong đã có những trận đánh ác liệt. Ban chỉ huy do thượng úy Trần Kha làm tiểu đoàn trưởng và anh Trần Giảng, trung úy làm tham mưu trưởng đã có vẻ rất nóng ruột. Mấy lần các anh bố trí làm kho giả bằng cách cho phơi quần áo "hớ hênh", làm đường xe mờ mờ chạy dẫn vào những hang đá... nhưng chỉ kéo được vài tốp L19 vè vè trên cao một lúc rồi bỏ đi... Trước lúc ra đi, nhiệm vụ của tiểu đoàn đã được xác định rõ, trong chiến dịch giúp bạn mở rộng vùng giải phóng, tạo thế và lực cho cách mạng Lào thì pháo cao xạ của chiến dịch ngoài việc hiệp đồng bảo vệ bộ binh còn phải bắn rơi được máy bay địch. Nhiệm vụ đã rõ ràng như thế thì ban chỉ huy lo lắng và nóng ruột là điều tất nhiên rồi. Cánh lính trẻ chúng tôi rỉ tai nhau bàn tán và cũng ra chừng nóng ruột...


Một buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, anh Đề, tiểu đoàn trưởng vừa từ ban chỉ huy tiểu đoàn trở về đã bước ngay lại trước võng tôi, anh nói:

- Cậu lên gặp anh Giảng nhận nhiệm vụ của ngày mai và có thể cả ngày kia...

Ngày mai rồi cả ngày kia... là sao? Bụng thì thắc mắc nhưng tôi vẫn phăm phăm bước lên chỗ tham mưu trưởng. Nhiệm vụ gì thế không biết? Đi trinh sát địa hình, đi đào trận địa mới hay vào bản quan hệ điều gì đấy, bởi tôi biết bập bõm đôi câu tiếng Lào... Sao lúc nãy không hỏi anh Đề xem là nhiệm vụ gì. Mà nếu tôi có hỏi thì chắc gì anh Đề đã nói. Tôi vốn rất ngại thăm dò hỏi han kiểu đó, rất dễ bị đánh giá này nọ, dù lòng không hết thắc thỏm... Nhiệm vụ gì nhỉ, có quan trọng hay không? Vẻ mặt anh Đề vẫn bình thường như mọi khi... Tôi mang tâm trạng băn khoăn ấy bước đi... Chẳng có gì phải lo cả, tôi tự nhủ. Dù sao đây cũng là dịp để mình được thử thách, được thể hiện.


Tôi nói thế là bởi tuổi trẻ hồi đó, trước lúc lên đường cầm súng chiến đấu ai mà chẳng hy vọng rằng môi trường quân đội sẽ làm mình trưởng thành, cả tiểu đội thông tin 9 người thì có 7 là đối tượng đảng. Được trở thành đảng viên luôn là ước mơ cháy bỏng của lớp trẻ chúng tôi. Bởi thế mà mọi nhiệm vụ, mọi công việc hàng ngày trong tiểu đội anh nào chậm tay chậm chân xung phong sẽ hết phần ngay. Ví như, anh Quý tiểu đội trưởng vừa bảo sáng mai cần hai người đi lấy củi thì đã ba bốn cánh tay đưa lên. Chiều cần một người đi sửa đường dây thì cũng bốn năm người tranh nhau... Hồi chưa sang đây, lán trại của tiểu đội lúc nào cũng sạch sẽ, có anh thức cả trưa quét tước. Có anh xung phong trực ban chiến đấu hết ca này đến ca khác. Tôi không được nhanh tay nhanh chân như người khác nên thành thử bị coi là phấn đấu chưa tích cực. Vậy thì đây chính là cơ hội chứ gì nữa. Tôi bước những bước mạnh mẽ hơn khi phát hiện ra điều đó.


Chỗ ban chỉ huy cách cánh thông tin chúng tôi chỉ mấy chục bước chân trong một khoảng rừng. Võng anh Giảng, anh Kha chụm đầu vào nhau bên cạnh căn hầm do chúng tôi đào ngay dưới chân các anh. Chính trị viên và tiểu đoàn phó đang theo các mũi thọc sâu, thành thử "ở nhà" ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn lại tiểu đoàn trưởng và tham mưu trưởng. Lúc này trong rừng đã nhập nhoạng tối. Không biết tiểu đoàn trưởng Trần Kha đi đâu, trước mắt tôi chỉ còn tham mưu trưởng Trần Giảng. Ánh mắt anh Giảng sáng lên sau tán lá rùm roà cạnh chiếc võng anh đang ngồi. Anh đang chờ tôi... Ánh mắt anh có điều gì đó lạ lắm mà tôi không thể đọc ra được. Cười cợt, thăm dò, kích động hay... Bình thường tôi thấy anh Giảng rất vui vẻ với bộ đội, nhưng lúc đã vào công việc, lúc chỉ huy thì anh rất nghiêm khắc. Anh là một cán bộ chỉ huy thông minh và quyết đoán. Ấy là tôi chỉ nghe mấy anh lính cựu nhận xét thế chứ lính mới như tôi thấy anh thế chỉ biết khâm phục và hơi ngài ngại. Tôi ngại bởi nhiều lúc đang vui anh bỗng nghiêm nét mặt, ánh mắt quắc lên... Lúc này thì anh nhìn như chiếu một luồng sáng thắng vào mắt tôi:

- Cậu ngồi xuống đi.

Anh chỉ cho tôi chỗ ngồi bằng một thân cây gác ngang trên hai chạc ba đối diện.

- Cậu có biết tôi gọi lên vì việc gì không? - Anh hỏi tôi bằng một giọng rất bình thản.

- Dạ... - Tôi lúng túng.

- Tiểu đoàn ta chưa bắn rơi được T28, cậu biết rồi đó... Mà thằng này thì...

Anh Giảng bỏ lửng câu nói khiến tôi càng lúng túng hơn.

- Sang giúp bạn mà kéo pháo về không thì... mất công mất của cậu nhỉ?

Anh Giảng cứ thủng thẳng thế, khiến tôi càng như ngồi trên đống lửa. Rồi bất ngờ anh nói:

- Theo đồng chí, muốn bắn rơi T28 thì ta nên làm thế nào? Hay nói cụ thể hơn là... muốn kéo thằng T28 đến mà nổ súng thì ta nên làm gì?


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:33:59 am
Hai tiếng đồng chí mà anh Giảng vừa nói khiến tôi bỗng nhiên cứng đờ. Tôi ngồi thẳng người chờ đợi một điều gì đó trong không khí trang nghiêm. Chẳng biết lúc đó, trong bóng tối nhập nhoạng trông nét mặt tôi thế nào nhỉ, chắc là căng thẳng lắm, thật quá hồi hộp...


Đoạn đời vào bộ đội của tôi còn ngắn ngủi lắm, chưa có thử thách nào quá nghiêm trọng, chưa có những tình huống gay cấn, chưa gặp những sự thử thách hiểm nguy đến tính mạng. Cũng như bao người khác cùng thời, tuổi trẻ tham gia chiến đấu tôi luôn nghĩ đó là nghĩa vụ đối với Tổ quốc, quê hương. Ra chiến trường tôi đâu nghĩ tới việc sống chết mà lúc đó tâm hồn chỉ ngập tràn những điều cao cả... Ánh mắt, giọng nói của người chỉ huy lúc này bỗng dưng khiến tôi nghĩ tới những điều nghe được từ nhiều người kể lại. Người ta kể rằng, trong chiến đấu, gặp lúc gay cấn phải cần người xung phong nằm vắt qua hàng rào dây thép gai để bộ đội đạp lên lưng mà xông qua cửa mở cũng không được thoái thác. Cần anh xông lên trong làn đạn địch cũng phải chấp hành... Mệnh lệnh chiến đấu thì đừng có đùa. Còn anh Giảng lúc này vẫn cứ đang vòng vo. Anh đang thăm dò tôi, thử thách tôi... Vòng vèo thế nhưng tôi linh cảm rằng cấp trên đang chuẩn bị giao cho tôi một nhiệm vụ nguy hiểm... Mới nghĩ đến thế tôi đã thấy ớn lạnh. Sự hồi hộp khiến tim tôi đập mạnh... Chuyện gì thế nhỉ? Sao anh ấy không nói thẳng ra...


Nheo nheo mắt nhìn tôi một lúc thì anh Giảng nói tiếp:

- Cậu có dám làm người nhử T28 xuống không?

- Báo cáo thủ trưởng... nghĩa là sao ạ?

- Cậu có dám không đã... - Ánh mắt anh Giảng lúc này như nhìn vào tận đáy lòng tôi.

- Dạ, tôi sẵn sàng...

- Chắc không? Nếu còn ngại thì thôi...

Cho mãi tới sau này tôi vẫn không sao quên được kiểu nhìn và kiểu nói đầy vẻ diễu cợt và kích động ấy của anh. Sau này, mãi đến nhiều năm sau tôi mới nghĩ được rằng sao tạo hoá thật khéo đặt bày, cuộc đời một con người đã có một quãng đời tuổi trẻ. Quãng đời tuổi trẻ máu căng ứ trong tim và tràn trề sức lực. Anh Giảng, người cán bộ chỉ huy đã chọc trúng lòng tự ái của tuổi trẻ tôi. Chết thì thôi chứ, sá gì... Biết bao người đã ngã xuống... Sau khi anh nói cụ thể về những việc phải làm, tôi đứng dậy với vẻ nghiêm trang:

- Báo cáo, em sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Nhiệm vụ của tôi nghe qua có vẻ đơn giản. Đó là lúc nào máy bay L19 xuất hiện thì tôi phải cầm một cành cây thật to chạy ra đường, phải chạy làm sao cho bụi cuộn lên thật nhiều cho giống có xe đang chạy trên đường. Có thể phải chạy nhiều lần, chạy cho tới lúc L19 nhào xuống bắn pháo khói chỉ điểm cho máy bay ném bom và T28 xuất hiện mới thôi.


Trên đường trở về chỗ của mình, lúc này tôi mới thấy lo. Tôi sẽ chạy dưới ánh mắt dòm ngó của thằng phi công. Thằng này chỉ có nhiệm vụ bắn pháo khói... Liệu nó có súng gì nữa không nhỉ. Biết đâu... T28 bất thần đến thì sao? Tôi sẽ phải chạy thật nhanh, nếu không sẽ không đủ bụi cho giống như có xe đang chạy, cho nó có bắn cũng khó trúng... Đầu óc quay cuồng, tôi tự đặt ra bao nhiêu tình huống sẽ xảy ra... Bỗng dưng tôi nhớ đến anh trai tôi. Trước lúc vào Quảng Trị anh có về tranh thủ mấy ngày. Mãi tới hôm tôi ra đi vẫn không có tin tức gì của anh. Nghe đâu trong đó ác liệt lắm. Anh tôi liệu có sao không, người ta bảo trong đó là cái cối xay thịt... Tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp.


Chúng tôi có chuyện gì thì mẹ tôi chết mất. Nghĩ đến mẹ bỗng dưng tôi ứa nước mắt... Tôi len lén đến võng của mình, thật may mà lúc này trời đã tối hẳn, nếu không chúng nó biết tôi khóc thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Có một điều lạ là, nếu như mọi hôm mấy đứa kia sẽ nhào tới mà tra khảo xem tôi được giao nhiệm vụ gì, còn hôm nay không thế. Bọn thằng Mão, thằng Vinh đang ngồi thì thầm trao đổi thấy tôi về thì giả bộ tảng lờ. Mặc họ, tôi lần đến võng mắc màn rồi gieo mình xuống.


Có thể đó là một trong những đêm dài nhất của đời tôi. Tôi trằn trọc mong cho trời sáng, hễ chợp mắt một lúc lại giật mình tỉnh dậy. Không biết đã bao lần như thế, rồi cuối cùng tôi cũng giật bắn người khi nghe lao xao tiếng người và tiếng lách cách của súng đạn va nhau. Trong rừng lúc này đã hửng, tôi vùng dậy cuốn tăng võng nhét vào ba lô rồi xuống suối rửa mặt. Trở lên, qua nhà bếp, tôi ghé vào thì đã thấy anh Chiện bếp trưởng dọn sẵn một suất cơm. Cậu ăn trước rồi mà đi. Không hề hỏi rằng tôi đi đâu, giọng anh bình thường như hàng ngày khiến tôi chẳng còn một chút hồi hộp nào như tối qua nữa. Tôi ăn vội vàng ba bát cơm với chút ruốc bông rồi xách súng, khoác máy thông tin đi ra vị trí mà anh Giảng đã dặn. Đó là chỗ bắt đầu của đoạn đường sẽ phơi mình giữa trảng cỏ mà hôm trước đi rải dây tôi đã biết.


Phải nói thêm cho rõ là rừng Trung Lào bằng phẳng lắm. Từ Ma Ha Xay trở xuôi về phía nam lại càng bằng. Theo đường cái, cứ hết một quãng rừng rậm mươi lăm cây số lại gặp một trảng cỏ, rồi tiếp đến là rừng. Các trảng cỏ kế tiếp mênh mông trông như có nhiều sân bỏng đá ghép lại. Bãi cỏ nơi tôi nhận nhiệm vụ nhử máy hay địch như một cánh đồng nhỏ lọt thỏm giữa mênh mông những rừng cây. Đoạn đường mà tôi phải kéo cành cây để gọi T28 xuống chỉ như một dây cung, nó cắt vát qua cái hình elíp, khoảng hơn năm trăm mét.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:34:59 am
Khi tôi ra đến vị trí thì trời đã sáng rõ. Cuối bãi trống phía bên kia đã thấp thoáng bên bìa rừng một chiếc "ô tô" phủ ngụy trang sơ sài mà ai đó đã chuẩn bị chiều qua. Và ngay cạnh chỗ tôi sẽ ngồi đã có một đống to những cành cây cỡ hai tay nắm rùm roà cành lá. Bóng mấy chú gà rừng biến nhanh vào đâu đó, mấy con sóc nhảy nhoay nhoáy trên những cành cây trên đầu. Mặc chúng, lúc này tôi chỉ chú ý đến nhiệm vụ. Tôi tìm đầu dây mà anh Quý đã kéo ra đây từ chiều qua đấu ngay vào máy. Dây vừa đấu xong, tôi chưa kịp quay thử thì chuông đã đổ giòn. Giọng anh Giảng:

- Nghe rõ không?

- Dạ rõ.

- Cứ nghỉ đi, đừng lo. Lúc nào tớ bảo chạy hẵng chạy, nhớ chưa?

- Em nhớ rồi.

- Nhớ phải đeo cáp vào tai ngay nhé.

- Vâng.

Làm sao mà tôi không nhớ được. Tôi nhớ như in từng lời anh nói từ tối qua. Có gì đâu, bởi tôi thấy việc mình làm quan trọng quá, nó có liên quan đến thành tích, đến uy tín của tiểu đoàn... Và tôi đang cố gắng thể hiện mình... Sau việc này, nếu không có gì xảy ra thì tôi sẽ... Tôi thầm mong cho mọi việc êm xuôi. Nghĩ thế nhưng tôi vẫn cảm thấy lo lo. Hôm nay L19 có lên không nhỉ, rồi nó có lượn qua đây không. Nó lên thì liệu mình có lừa được nó không... Thôi, không nghĩ nữa... Tôi ngồi vẩn vơ lan man hết chuyện này đến chuyện khác.

- Cậu có nghe không đó? - Giọng anh Giảng vang vang kéo tôi về thực tại. - Nó lên rồi đấy...

- Em nghe rồi... - Tôi bắt đầu hồi hộp.

Rõ ràng tôi đã nghe tiếng è è rất trong của máy bay trinh sát ngoài kia. Tôi vốn ghét loại máy bay này, trông nó chảnh chọe ngoa ngoắt và dai nhách như đỉa. Loại này có thể luồn lách trong khe núi hay bay chậm như treo một chỗ để mà nghiêng ngó. Khi đã phát hiện được điều gì đó nó sẽ bám mãi. Nó tinh lắm, vì nó mà trước đó mấy hôm hai xe chở gạo của ta bị T28 bắn cháy rừng rực ngoài Na Kay.

- Chuẩn bị - Tiếng anh Giảng vang lên rành rọt trong tai nghe.

Tôi đứng dậy khoác khẩu AK chéo qua vai, để nguyên tai nghe trên đầu, hai tay túm đại một cành cây.

- Chạy - Giọng anh Giảng dứt khoát.

Tôi quay người, lột tai nghe đặt xuống bên máy, hai tay quài ra sau lưng túm chặt cành cây rồi cắm cổ lao ra. Nắng non trưa sáng loá trên đầu. Khẩu AK đập vào lưng đau buốt theo mỗi nhịp chạy. Hình như chiếc L19 đang ở trên mé trái trảng cỏ. Hai cánh nó đang trúng triếng lướt đi trên những tán lá. Tôi gò lưng tăng tốc, hai chân guồng mạnh, gió ù ù nổi bên tai. Tiếng những cành lá rùm roà xiết mạnh xuống nền đất. Đã ra giữa đoạn đường, hình như luồng bụi đã bốc cao và trùm kín mít cả tôi và cành cây phía sau. Luồng bụi theo bước chân tôi như một cái lò xo khổng lồ nối suốt từ mé rừng bên này sang mé rừng bên kia. Tới cuối đoạn đường, chỗ có chiếc "ô tô" thì bụi trùm lên phủ kín người, bụi đặc tràn cả vào mồm vào mũi khiến tôi sặc sụa. Tôi thả cành cây bám theo mép rừng lộn trở lại. Phía bên kia trảng cỏ, chiếc L19 đã vòng trở lại, nó nghiêng cánh bay vòng quanh đoạn đường mà tôi vừa chạy qua. Có lẽ luồng bụi đã đập vào mắt thằng phi công.
   Tôi chạy lần hai.
   Tiếp đến là lần ba. Không cần để ý xem chiếc L19 đang ở đâu, tôi như quên hết tất cả, tai ù đặc, mũi miệng thở hồng hộc và mồ hôi túa nhễ nhại trong cái nắng giũa trưa.
   Như cái máy, tôi cầm tiếp một cành cây nữa. Hình như lần này tôi chạy không còn nhanh được nữa, cũng không cần nhìn lên quan sát, hai chân đã nặng chịch. Tôi nghe ù ù bên tai tiếng vo vo xen trong tiếng gió quạt ào ào. Chiếc máy bay đã khép hẹp vòng lượn, hình như vậy... Vo vo o o... lúc này thì tiếng động cơ căng lên như tiếng xát của hai thanh sắt... Bất giác tôi nghiêng đầu. Trời, mắt tôi như chạm phải ánh mắt thằng phi công. Lúc này thì chiếc máy bay đã như con thuyền nhỏ màu xám lướt trên những ngọn cây bên phải chỉ cách tôi mấy chục thước. Anh mắt nó như đang găm vào gáy tôi, hàng số hiệu màu trắng trên thân nó loang loáng sau những tán lá. Tôi thấy ớn lạnh. Chỉ còn cách chiếc "ô tô" mấy bước, lấy hết sức tôi guồng mạnh đôi chân. Chưa kịp buông cành cây thì tiếng máy bay bỗng rít lên như tiếng sáo diều, nó đang lao xuống. Tiếng động cơ lúc này như một mũi khoan khoan thẳng vào màng nhĩ. Ngoắt người lao vào bìa rừng và bất giác tôi ngước mắt nhìn lên. Chiếc L19 lúc này như một mũi tên vun vút lao xuống đến kinh người. "Mũi tên" như cắm vào mặt tôi. Tôi chỉ kịp đổ ập người, đầu nòng khẩu AK cắm phập xuống đất, chiếc báng va mạnh nghe cộc một tiếng trên mũ cối, trời đất, rừng cây đang cuồng đảo.
   Oành. Quả pháo khói nổ cách tôi độ ba bước chân. Nó cắn câu rồi. Một thoáng ý nghĩ, tôi vùng dậy lao vào bìa rừng.
   Trở về vị trí, mồm miệng há ra như con cá mắc cạn, tôi hồi hộp cầm tai nghe đưa lên, tiếng anh Giảng vang vang:
   - Được rồi đấy, về đi.
   Khi tôi tháo máy khoác lên vai chuẩn bị bước thì ngoài kia, khoảng trời phía trên bãi trống đã vang rền tiếng động cơ máy bay ném bom của địch.
   Lúc này thì tôi đã nghe được khẩu lệnh từ các trận địa phục kích quanh bãi trống vang lên rành rọt. "Tất cả bám chiếc đi đầu... bám chiếc đi đầu"...

Hồ Tây, tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:15:37 am
NGÃ BA PHIA HÀ


CÔNG VIỄN
(Ghi theo lời kể của đồng chí Tư Được)


Binh trạm trên cao nguyên Bô-lô-ven phát cho chúng tôi 15 ngày gạo để hành quân về Át-tô-pơ, nhưng nước lũ đã chặn đứng đoàn quân lại ở khu rừng bên kia Mường Mày. Gạo đã không còn một lon mà trời vẫn mưa tầm tã, lũ vẫn gầm gào hùng hổ thúc vào những cây cao lêu đêu rồi hất tung những bộ rễ xù xì chổng trơ lên hai bên bờ suối. Chúng tôi đóng bè để vượt thác, nhưng thác đã cuốn phăng những mảng bè lộn tùng phèo vỡ thành trăm mảnh.


Từ đây về ngã ba biên giới có đi nhanh cũng phải mất 15 ngày (cô giao liên người Lào Lùm bảo vậy). Các kho gạo ở phía tây nam thị xã Mường Mày cũng bị lũ cuốn phăng đi, chúng tôi đành sống bằng môn thục, củ mài, măng le, mễn, cheo cheo... Nghĩa là bằng tất cả những gì hoang dã của rừng...


Tổ "tam chế" do tôi làm tổ trưởng có thêm Tư Trớ và Tám Triêm. Tám Triêm có biệt danh là "vua nói dóc". Nghe hắn ta kể chuyện có thể quên đi cơn đói đang hoành hành ngay tức thì. Hắn đã định lừa ai là người ấy "sập bẫy" liền, kể cả những tay đã phong cho hắn là "vua nói dóc". Hồi mới tập kết ra Thanh Hóa, tôi biểu hắn:

- Tám nè! Trong ngày hôm nay, một ngày thôi, mày dóc mà lừa được tao, tao sẽ mất suất cơm chiều.

Hắn cười cười, ném cho tôi cái nháy mắt như thầm bảo "hãy đợi đấy". Hôm ấy là một ngày mưa Ngâu; mưa dầm dề và là một ngày đói thuốc, miệng cứ nhạt thênh thếch mà căng tin thì chẳng còn một bao thuốc nào. Cơm trưa xong, hắn xin phép tôi cho hắn và Tư Trố đi sang làng bên thăm bạn. Ngồi một mình ở lán, trời vẫn cứ mưa rả rích buồn thảm và một lúc sau thì làng xóm bắt đầu khoác lên mình màu hoàng hôn. Giữa lúc nhớ nhà, nhớ thuốc, tâm hồn tôi chìm vào cái man mác trong bài thơ của Thâm Tâm: "Đưa người ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng/Bóng chiều không tím không vàng vọt/Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong". Bỗng thấy Tám Triêm chạy lúp xúp trong mưa qua lán chúng tôi, tôi buột miệng kêu:

- Ê, Tám dóc! Đâu vậy?

Hắn càng chạy nhanh hơn, đầu chui chúi về phía trước, ném lại câu:

- Dóc dách cái gì, thuốc mới về. Tới căng tin kiếm lạng rê.

Tôi quờ vội chiếc áo mưa rồi chạy theo hắn. Tới căng tin, tôi chìa tiền và bảo đồng chí bán hàng:

- Để cho tớ vài lạng thuốc.

Bỗng Tám Triêm từ trong quầy hàng đứng phắt dậy, chỉ tay vào tôi bảo:

- Một không rồi nhá!

Tôi ớ ra và cũng từ đó cả đơn vị không một ai kêu hắn là Tám Triêm mà là "Tám dóc".

Còn Tư Trớ là một tay nhát gan, hắn sợ tất cả những gì do hắn tưởng tượng ra như ma cà rồng chuyên hút máu người để thành tinh, nên có đêm cu cậu tè ra cả quần. Đó là chuyện hồi còn ở miền Bắc. Còn như đêm nay, tổ tôi được phân công đi bắn thú. Đêm hạ huyền, ánh trăng lung linh huyền ảo, chảy mềm mại xuống rừng khộp già nua làm cho đêm Hạ Lào hư hư, thực thực như cõi bồng lai tiên cảnh trong các thiên cổ tích Xu-pha-xít (Chuyện kể dân gian Lào) của các bộ tộc Lào. Đi bắn thú về ban đêm thường chỉ có hai người; một người đội đèn, cầm súng, người kia đeo bồng, mang theo bi đông nước để khi khát thì ực một hơi cho đã và mang xách thú khi người kia hạ được con mồi. Rất ít khi có người thứ ba. Nhưng với tổ tôi thì khác; bởi lẽ, mặc dù Tư Trớ bắn dở ẹc vẫn phải cho hắn theo vì vốn nhát gan không dám ngủ một mình ở nhà, còn tôi và Tám dóc phải thay nhau đội đèn, nếu không khi con thú ăn đèn ta sẽ trông thấy nó có ba bốn mắt. Ba chúng tôi vừa ra khỏi cứ thì gặp ngay con cu li. Đi săn mà gặp cu li thì không tai nọ cũng vạ kia. Tôi điên lên, tương cho cu cậu 2 viên CKC.


Trăng hạ huyền đã khuất bên kia dãy núi mà không gặp một con thú nào ngoài con cu li lúc đầu. Tôi chán ngán đưa đèn trao súng cho Tám dóc. Hắn là tay xạ thủ số 1 của đoàn Phương Đông chúng tôi. Kêu là đoàn Phương Đông bởi lấy sự kiện Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ do Ga-ga-rin lái. Đoàn chúng tôi rời miền Bắc ngày 5 tháng 5 năm 1961, còn lần đi săn này đã là một đêm tháng 10 âm lịch.


Lại chuyện tiếp về Tám dóc. Bất kể một loại thú nào đã ăn đèn của hắn là đều về chầu ông vải, kế cả loài nhím, mắt ti hí và chỉ ăn đèn một mắt, hắn đều xác định được mắt ấy là mắt phải hay mắt trái, chờ cho con thú ăn đèn bằng mắt kia là hắn lấy cự ly bắn vào giữa trán. Vừa trao đèn trao súng cho hắn được dăm bước thì một con cheo cheo ăn đèn. Hắn chơi luôn một phát CKC, con cheo cheo giãy đành đạch. Hắn đủng đỉnh đi tới nhặt thì trời ơi, con cheo cheo chết giấc chứ có ăn đạn của hắn đâu. Con cheo cheo bật dậy lao vào chân hắn, hắn điên lên lấy báng súng giáng luôn. Nhưng trớ trêu thay... con cheo cheo chạy luôn vào rừng còn báng khẩu CKC thì gãy làm đôi. Giữa lúc đang bần thần, tiếc ngẩn tiếc ngơ con thú thì bỗng Tư Trớ kêu toáng lên:

- Ma! Ma ma! Ma... a... a...!

Hai bóng người chạy xéo qua mặt chúng tôi. Tư Trớ cuống cà cuống kê... Tám Triêm chộp ngay khẩu CKC gãy báng rượt theo hai cái bóng, vừa chạy vừa "ra lệnh" cho tôi vòng sang bên phải, Tư Trớ vòng sang trái. Thế là, đùng một cái hắn trở thành "sếp" của tối. Chúng tôi đuổi miết, đuổi miết tới một trảng trống thì một trong hai cai bóng vấp dây rừng ngã chúi về phía trước. Tám Triêm ném khẩu súng cho tôi, ôm chặt lấy cái bóng. Tôi vẫy tay cho Tư Trớ chạy tắt sang bên kia bìa trảng. Hắn lưỡng lự, tôi lên đạn đánh rốp buộc hắn phải thi hành mệnh lệnh. Hai chúng tôi rượt theo cái bóng kia. Chắc nó thấy Tư Tró tay không, không làm gì được nên nó nhảy bổ vào Tư Trớ, cho Tư Trố vài chưởng, nhưng Tư Trớ đã nhanh tay ôm được chân hắn, làm hắn ngã sõng xoài ra đất. Tôi nhảy vào túm được tóc của "con ma". Chưa kịp hỏi han gì thì Tám Triêm đã dong "con ma" kia lại. Trời sáng dần, chúng tôi bứt dây rừng trói hai "con ma". Một "con ma" đực, một "con ma" cái. Quả thực, chúng đúng như những con ma sống, tóc tai rũ rượi, lòa xòa xuống tận thắt lưng, quần áo rách tả tơi, người không ra người, ngợm không ra ngợm. Duy chỉ có ánh mắt là vẫn sáng long lanh, lấp lánh những tia sáng vừa lưu giữ một hoài bão vừa thiêng liêng vừa bí ẩn...


Sợ dây rừng bị đứt, chúng tôi cởi "xanh tuya" xiết chặt tay từng đứa lại. Khi đã yên chí là chúng không tàng hình mà biến đi được, chúng tôi móc bi đông ra vừa uống nước vừa tủm tỉm cười về cái sự trông gà hóa cuốc của Tư Trớ. Bỗng "con ma" đực nhìn xoáy vào cái "xanh tuya" trói "con ma" cái và thi thoảng lại liếc trộm Tám Triêm.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:16:20 am
Chờ cho trời sáng hẳn, trước khi dong hai "con ma" này về cứ, tôi chọc Tám Triêm:

- Tám nè?

- Dạ!
   
- Chuyện cậu bắn dở ẹc có thể cho qua được, nhưng còn chuyện lấy báng súng đập con cheo cheo không chết mà báng súng nát bét thì biết ăn nói với anh em sao đây?

Tám Triêm còn đang tủm tỉm cười thì bỗng "con ma" đực bảo:

- Thì cứ bảo anh Năm Ngàn cạo cho nó chừa cái bệnh dóc dách đi!

Tôi và Tư Trớ gần như bàng hoàng, còn Tám Triêm thì nhảy bổ về phía "con ma", giọng lạc đi:

- Cái gì? Cái gì? Mày... à... cậu vừa nói cái gì?

- Thì khi nào về Mỏ Cày, quê hương của tao và mầy, tao sẽ nói cho nghe!

- Thì ra cậu... cậu... là... là... là...

- Là Phi...

- Trời đất! Mày là Đặng Phi, liên lạc của anh Năm à?

- Chớ sao!

Tám Triêm ôm chầm lấy Phi. Hai đứa lặng đi, nước mắt nhạt nhòa trước sự ngỡ ngàng không chỉ của tôi, Tư Trớ và cả cô gái đang bị trói vào một thân cây bên cạnh...

... Vẫn trong bộ quần áo tơi tả, Đặng Phi tiếp ba chúng tôi bằng một nồi lang luộc ở lán của cậu ta bên kia trảng trống. Trước khi ăn, Tám Triêm giới thiệu quê quán, ngôi thứ của từng người. Tôi là Tư Được - quê Châu Thành; Tư Trớ, Năm Phi và Tám Triêm đều quê ở Mỏ Cày tỉnh Bến Tre. Về tuổi tác, tôi hơn Tám Triêm, Năm Phi nửa con giáp, Tư Trớ ít tuổi hơn cả. Chúng tôi tổ chức cuộc liên hoan kết nghĩa anh em như chuyện kết nghĩa Vườn Đào khi xưa giữa Lưu Bị - Quan Công - Trương Phi thời Tam Quôc bên Tàu. Để khỏi lẫn lộn về ngôi thứ giữa tôi và Tư Trớ, chúng tôi đều kêu là Út Trớ. Mỗi đứa cầm một củ lang luộc thề không bao giờ quên nhau dù ở nơi chân trời góc bể. Sau bữa liên hoan bằng lang luộc, Năm Phi hỏi tôi:

- Anh Tư ơi, vậy kế hoạch Na-va sao rồi?

- Cái gì? Ken-nơ-đi chứ sao lại Na-va?

- Ken-nơ-đi nào? Anh Tư nói gì em không hiểu? Vậy năm nay là năm một nghìn chín trăm bao nhiêu?

Lại còn thế nữa! Nhưng bộ quần áo rách tơi tả mà Năm Phi đang mặc trên người đã giải thích một phần nào câu hỏi về Na-va và năm nào không rõ trong đầu cậu ta. Thì ra cách đây bảy năm, năm 1954, cậu ta, Tám Triêm và cô gái ấy chiến đấu trong tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam ở Nam Lào: Tiểu đoàn 49. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn thì cũng là lúc chiến trường Tây Nguyên và Nam Lào rực lủa. Tại mặt trận Tây Nguyên do anh Nguyễn Chánh làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đã bổ đôi Tây Nguyên ra làm hai. Tại bắc Tây Nguyên, quân ta giải phóng thị xã Kon Tum và một vùng rộng lớn từ đường 14 hất lên ngã ba biên giới mà bên nước Triệu voi gọi là ngã ba Phia Hà. Tại nam Tây Nguyên, quân ta bí mật qua đường 19 - đoạn từ đèo An Khê tới thị xã Pleiku rồi thiêu cháy Binh đoàn 100 của Pháp ở phía tây nam Pleiku làm cho Đờ-bô-pho (Tư lệnh Tây Nguyên) phải ra lệnh cho cả cao nguyên treo cờ rủ ba ngày đêm thì Tiểu đoàn 49 quân tình nguyện của Năm Phi và Tám Triêm phối hợp với bộ đội của bạn và các Trung đoàn của Tây Nguyên tiến quân đánh thọc vào phòng tuyến của quân Pháp dọc theo biên giới từ Tà-vên-oọc tới Át-tô-pơ. Khi tới khu rừng phía đông nam thị xã Mường Mày thì Năm Phi bị thương không thể tiếp tục truy kích được. Tại khu rừng này lại có kho hàng của quân ta nên Trung đội trưởng Năm Ngàn mới cử cô y tá Diệu Hà ở lại nuôi Năm Phi và trông nom kho hàng. Trên đường theo đơn vị tiến công giải phóng Át-tô-pơ, anh Năm Ngàn đã hy sinh nên cả Tiểu đoàn 49 không ai rõ chuyện Diệu Hà và Năm Phi ở lại khu rừng phía đông nam Mường Mày. Thế là kho hàng và hai đồng chí đã đi vào quên lãng sau khi quân ta hành quân đi tập kết về hai tỉnh của Thượng Lào. Còn Năm Phi và Diệu Hà cứ ngỡ là chiến tranh chưa kết thúc, Na-va vẫn còn ở lại Đông Dương và cứ chờ đơn vị cho người đến đón... Thế rồi chuyện bất ngờ đầy thú vị ấy đã diễn ra trong khu rừng khộp này. Điều rất đáng phâm khục là trong 7 năm ròng rã ấy, hai con người này không đụng đến một hạt gạo, một mảnh vải chất đầy trong kho. Họ tự làm rẫy để nuôi nhau, tự vá víu quần áo của mình để che thân. Đáng trân trọng hơn nữa là, trong một khu rừng vắng vẻ, chỉ một nam và một nũ họ vẫn giữ được sự trong trắng cho nhau. Ngày xưa, nàng Châu Long thay chồng nuôi bạn bằng mấy nén vàng của chồng đưa cho và cũng chỉ nuôi trong năm đã làm cho hết thảy mọi người bái phục. Còn bây giờ, Diệu Hà nuôi Đặng Phi không có vàng có bạc, không nhà không cửa, ở nơi rừng sâu núi đỏ ròng rã 7 năm trời. Tất cả những điều tưởng chừng như vô lý ấy lại là có thực.


Câu chuyện quá khứ tưởng như huyền thoại ấy chẳng những là sức mạnh của hai dân tộc Việt - Lào và mãi mãi là thiên chuyện kể trong Xu-pha-xít của đất nước Triệu voi...

Át-tô-pơ, tháng 8 năm 1961


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:17:44 am
VẮT ÔNG TOẠI


PHAN SỸ QUÁN


Chúng tôi ôm lấy nhau. Lần nào cũng thế, mỗi lần được gặp lại nhau thường thì nước mắt nhiều hơn những nụ cười.

- Thằng Toàn đâu rồi?

- Thằng Trung "cháy" đâu mất rồi hả tụi bay?

Không có câu trả lời. Chỉ có giọt nước mắt loang loáng trong cái nắng vàng nhạt và tiếng nấc nhè nhẹ lan trong gió, trong lênh lênh sóng Hồ Tây khi mùa thu mới chớm len vào từng con phố của Hà Nội.

Vâng! Những người lính quân tình nguyện Việt Nam - những người đã có những năm tháng không ngần ngại, sống hết mình và chiến đấu hết mình vì nước bạn Lào, vì nhân dân Lào cứ thưa dần, thưa dần những bước chân sau mỗi lần gặp gỡ.


Thế đấy. Là ai đi chăng nữa chúng ta cũng không thể cưỡng lại được quy luật của cuộc đời. Cái khó khăn của cuộc sống hình như không phải là sống mà có lẽ nó ở lẽ sống. Lẽ sống được hiến dâng tuổi thanh xuân, hiến dâng xương máu của mình vì độc lập, tự do vì hoà bình trên đất nước mình và những dân tộc yêu hòa bình đã ngấm trong hàng ngàn người lính Việt Nam ở mọi thời đại.


Giờ đây, chúng ta đang viết tiếp những trang sử mới. Nhưng với tôi thì có lẽ câu chuyện của những ngày hôm qua, cái ngày cách đây mấy mươi năm về trước ấy, khi mà máu và nước mắt của lớp lớp những người lính quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân Lào anh em hòa vào nhau trên mỗi thớ đất, mỗi mét hào, còn cào cấu trái tim chúng tôi mãi mãi.


Ấy là tôi muốn nói đến một câu chuyện. Câu chuyện về "Vắt ông Toại".

"Vắt ông Toại" có nghĩa là "Chùa ông Toại".

Ở Ma Ha Xây chỉ dân Lào, dân Phù Thày có chùa, còn dân Xổ không có chùa, thế nhưng dân kháng chiến bản Xổ vẫn gọi nơi ẩn náu bí mật của đội trưởng Hồ Vĩnh Toại là "Chùa ông Toại".

Đằng sau cái tên nghe mơ mơ và tưởng như ly kỳ mà người dân đã gọi ấy là cả một câu chuyện chẳng ảo chút nào đâu bạn ạ.

Thực ra đó là một hang nhỏ chỉ đủ khít cho bốn người nằm, ở phía tây núi Phù Xạng He, cách đồn Hin Xìu, đồn Phá Khống độ dăm cây đuốc "Ca boong" thôi.

Hang ở xa suối, xa đường mòn, trước cửa lúc nào cỏ cũng mươn mướt xanh. Vào những ngày khi mà cái nắng đủ sức xua màn sương nhờ nhờ đi, đứng ở hàm ếch có thể nhìn mây, mây như những đọn khói mỏng tang chảy lên từ nhấp nhô mái nhà sàn dưới chân núi. Con sông Xề Nọi nom như con trăn bạc khổng lồ trườn mình giữa thăm thẳm rừng xanh nhức tầm mắt.


Ở chùa, "sư Toại" được lòng đất, được cây rừng và nhân dân che chở.

Nhưng thú thật, phải mỗi khi hội ý hay hội báo chúng tôi mới gặp được "sư" ở hang. Đôi khi tôi cứ tự vấn mình rằng cái con người mặc áo chàm và thắt ngang bụng cái khăn phá phe, cái khăn mà sau này tôi mới biết là do một cô gái Lào tặng ấy, với nước da tai tái có gì mà dân quý, dân tin yêu đến thế. Và thế là những lần đi công tác, khi phải nghỉ chân ở quãng rừng nào đó vì không vượt được lũ suối, Đội trưởng Toại mới tỉ tê:

- Ban đầu dân vùng này họ sợ cách mạng như đỉa sợ vôi, như con trăn ngửi thấy hơi sắn rừng ấy. "Keo" chỉ dùng để ám chỉ những kẻ xấu xa, thế mà dân lại gọi anh em mình như thế thấy tủi lắm. Ai đời thấy bọn mình họ bỏ chạy hoặc hãn hữu có người ngồi lại, ngồi lại trong hoang hoải và im lặng. Sự im lặng ấy trong hun hút gió mở ra từ trong rừng thông quả là đáng sợ.

Biết là làm cái anh hoạt động địch hậu thì gian khổ. Nhưng gian khổ thì người lính Việt Nam nào chẳng quen. Có lẽ cái cơ cực và đau đớn nhất vẫn là thiếu dân.

Rõ ràng là chẳng phải không có dân. Tuy dân sống không đông đúc nhưng dọc sông Xề Nọi, suối Huội Nhàng có bản Xổ, bản Lào thế mà mình không gần họ được. Hàng rào ngôn ngữ ư? Không hẳn. Phải chăng nó phải là một hàng rào vô hình nào đó mới đủ lớn để chia rẽ những con người trên cùng một trận tuyến. Phải phá vỡ bằng được hàng rào này mới hòng mong cách mạng thắng lợi trên đất Lào và đội trưởng Toại là người tiên phong đi xiên qua hàng rào vô hình ấy.

Đội trưởng Toại lân la đến các rẫy lẻ, ít người. Anh bảo:

- Ở rẫy đông dân, người này nhìn người nọ họ không dám tiếp xúc. Còn các rẫy ít người mà lại đều là người nhà nên họ tin nhau, không sợ lộ ra ngoài, nên phải đi như thế.

Anh Toại nghiện thuốc rê, môi thâm như cà muối nổi nước, nhưng anh lại có nụ cười lành như hoa đại ngậm sương. Anh xoá tan sự ngờ vực, sự sợ hãi của dân bản trước tiên có lẽ ở nụ cười thân thiện của mình.

Toại len men đến với họ bằng tấm chân tình và đáp lại tấm chân tình mà bao tháng ngày miệt mài, họ đã đồng ý cho anh ở lại phát rẫy, dọn cây. "Cưa lâu lim đổ", Toại đã nhen nhóm khêu lên ngọn lửa kháng chiến từ các rẫy lẻ. Ngọn lửa âm ỉ lan dần vào những nơi đông dân hơn.

Rồi một ngày đáng nhớ đã đến với đội trưởng Toại.

Chiếc mâm đan bằng mây đặt giữa sàn nhà trên đó để gạo và mấy quả trứng gà, một con gà luộc, một chai rượu, một cái bát. Đặc biệt có cây phướn cắm trên gạo nếp treo lủng lẳng tờ bạc giấy. Trên "hoa phướn" đặt một nắm chỉ trắng, sợi dài hơn gang tay.

- Dợc! D..ơ. ơ..c.

Giọng già bản bỏng rát vắt ra từ cổ họng da đã chảy thành lớp, làm cho gian nhà đang ồn ào bỗng im bặt.

Ba anh em chúng tôi và đội trưởng Toại ngồi một bên, vòng quanh mâm lễ. Bàn tay chúng tôi ấm lên trên vành mâm. Chiếc mâm cứ dày lên những bàn tay. Chúng tôi hạnh phúc tột cùng khi thấy tim mình ấm trên mỗi nhịp của người dân và bát rượu hôm ấy đã làm nhoà đi khoảng cách hôm nào.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:18:44 am
Lần đầu tiên, tôi được tham gia vào lễ cầu yên, cầu phúc của dân bản. Đất trời như lặng đi khi già bản cầm sợi chỉ trắng huơ qua huơ lại trên cổ tay xanh nhợt của những người lính ở rừng...

"... Sợi chỉ trắng thay vàng
Sợi chỉ đen thay bạc
Cột điều lành điều phúc
Chúc các con bình yên...".


Xong lời cầu nguyện, ông cầm từng sợi chỉ và lần lượt quyện vào tay chúng tôi. Như đàn ong mật, dân bản bâu kín chúng tôi. Họ cố rướn tay, tìm cách chạm vào tay, vào người chúng tôi, như để truyền cho chúng tôi ý nguyện cầu tốt lành. Mắt chúng tôi nhoà đi. Gió gọi sóng trăng chảy ràn dạt trên những cánh rừng, ngỡ như nơi đây chưa khi nào và không bao giờ còn tiếng súng, tiếng bom nữa.


Đến lượt chúng tôi đáp lễ. Tiếng đội trưởng Toại nghẹn ngào, sợi chỉ rưng rưng trên cổ tay già bản.

   "... Sợi chỉ trắng thay vàng
   Cột điều lành điều phúc
   Dù sông trong hay đục
   Việt - Lào là anh em
   Như gừng một củ
   Như hai mặt bàn tay
   Không cho heo rừng phá rẫy
   Đuổi chó dữ khỏi nhà
   Dù ở đâu ai thay lòng đổi dạ
   Thì ở đấy cột chỉ tay kết "xiêu"...".


Sau lễ cầu phúc. Tiếng "dợc" chạy dài gọi trăng xuống thấp hơn. Khi đội trưởng Toại thay mặt anh em chúng tôi nói chuyện với dân bản.

Tôi vẫn nhớ cái khoảnh khắc ấy. Lúc đầu tôi thấy thất vọng về đội trưởng của mình. Ai đời đi kêu gọi dân đánh giặc mà lại toàn nói chuyện phát rẫy, chuyện ở bản Phù Thày có người nghèo, bản Xổ, bản Khơ Mú... kéo nhau về thác Hòn Mương dự hội cá. Những chuyện chẳng liên quan gì đến đánh Tây cả. Mất phương hướng rồi! Tôi nghĩ thầm như thế. Và máu nóng đang sôi lên khi đội trưởng Toại hỏi to.

- Bà con mình ngồi đây đã ai vào thành phố Thà Khẹc chưa?

Dân bản lao xao trả lời:

- Đám đàn ông chúng tôi vào thành phố nhiều rồi!

- Hàng năm phải vào phố để nộp tiền cho quan tỉnh!

- Có đứa đi mua muối, mua gương lược.

Rồi lại:

- Bà con có tận mắt thấy quan Tây không?

- Ồ, thấy nhiều rồi... họ khác người Lào, người Việt...

Khi mà đội trưởng còn hỏi tiếp câu hỏi. Rằng da quan Tây có trắng hơn da bà con không thì tôi đã cố tình bấm vào mông đội trưởng để phanh nhưng mọi người lại hào hứng.

- Da bà đầm còn trắng hơn nữa, chứ da dân mình thì đen ơi là đen!

- Chúng em quanh năm úp mặt xuống đất, ngửa lưng lên trời!

- Đứng nắng, ngồi nắng, đen như gỗ cháy. Bọn con gái Xổ chúng em xấu xí lắm, chỉ biết thương nhau thôi!

Đội trưởng Toại tiếp tục.

- Thế sao ông Tây, bà đầm béo trắng thế. Từ một câu hỏi tưởng như dớ dẩn và tự nhiên như nước chảy qua cầu, đến lúc này tôi mới thấy người đội trưởng của mình còn là một nghệ sỹ. Người nghệ sỹ đã khắc lên những khuôn mặt lão ông, khắc trong lòng lão bà cháy lên những tháng ngày đã qua. Những tháng ngày với cuộc sống cơ cực, với nỗi khiếp sợ triền miên giày vò cơ thể cạn như cọng cỏ mùa khô sẽ còn đeo đẳng mãi nêu như họ mãi chấp nhận cuộc sống đoạ đày. Người nghệ sỹ đã đánh thức bản tình ca của rừng đã bao năm ngừng hát. Chỉ có những khuôn mặt đanh lại và giọt nước mắt. Những tiếng tù và, tiếng rúc cứ vang lên.

- Nếu hổ dữ vào bản bắt trâu, bắt bò, dân bản phải dùng giáo mác, nỏ tên thuốc độc, đánh đuổi chúng đi. Dân rẫy ít người thì rủ thêm dân đồng.

Phải đứng lên cùng bộ đội Việt Nam đánh đuổi bọn Tây. Giành lại đất, giành lại tự do của chính mình.

Và cho mãi về sau, "Chùa ông Toại" là căn cứ chỉ huy hoạt động cách mạng của chúng ta trong quá trình chiến đấu trên đất nước Lào. Đội trưởng Toại đã cho chúng tôi sức mạnh của lòng kiên trì. Lòng kiên trì ấy sẽ thành công bên cái tâm của những con người chân chính. Chính điều ấy khiến tôi ghi tâm khắc cốt và thấy được thành quả của nó không chỉ trong chiến trận.


Gió bỗng thổi mạnh lên. Sóng Tây Hồ lênh lênh cuộn trong sóng mắt. Sóng mắt đau đáu những câu chuyện ngày hôm qua của gần sáu mươi năm về trước cứ vỗ mãi trong trái tim chúng tôi. Những người chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã từng sống và chiến đấu trên đất nước bạn Lào tươi đẹp. Những kỷ niệm chợt ùa về trong tiềm thức, trong tiếng kèn xung trận của những trái tim khao khát hoà bình.


Chúng tôi sẽ còn kể mãi kể mãi những câu chuyện về một thời đã qua. Rồi lần sau, lại lần sau nữa, những bàn chân sẽ thưa dần ở mỗi lần gặp gõ. Nhưng đồng đội ơi! Dù đồng chí ở đâu đi chăng nữa, hãy cùng chúng tôi giữ mãi những tháng ngày đáng sống. Những ngày tháng mà da thịt và máu của chúng ta thấm đẫm trên mỗi mạch đất của nước bạn Lào.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:19:31 am
HỦM PHENG


NGUYỄN HÙNG PHI


Tôi biết Hủm Pheng từ ngày mở lớp học bồi dưỡng cán bộ, gom cả Luông Pha Băng và Luông Phạ Thà được hơn một trăm người dự học do Phò Khăm Sẻng phụ trách. Lớp học bồi dưỡng rất thuận lợi. Trong lớp có Hủm Pheng là người được để ý hơn cả, anh ta là một học viên sáng dạ, lại chăm chỉ nên các bài thi đều đạt điểm cao, học lực xếp loại giỏi. Gần kết thúc khóa học, anh Phò Khăm Sẻng bảo tôi đi xác minh lý lịch và đề nghị chi bộ kết nạp Hủm Pheng vào Đảng, từ đó chúng tôi trở thành bạn thân thiết.


Tháng 3 năm 1952, kết thúc khóa học. Cấp trên phân công cán bộ về các địa phương công tác ở ba tỉnh Bắc Lào, Phò Khăm Sẻng dẫn một đoàn cán bộ về Phân khu A, tôi cùng Hủm Pheng về Luông Pha Băng. Tuy mỗi người nhận một nhiệm vụ khác nhau nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên qua lại thăm hỏi. Chuẩn bị chiến đấu chống địch hành quân càn quét Mường Ngòi, chúng tôi lại có dịp bên nhau. Nhiệm vụ của chúng tôi là đánh bại cuộc hành quân lập phòng tuyến liên lạc chiến lược đường bộ sông Nậm U của địch, xây dựng lực lượng cách mạng ở Mường Ngòi ngày càng vững mạnh, trở thành căn cứ vững chắc của vùng lưu vực sông Nậm U. Từ phía thung lũng Mường Ngòi vẫn dội về tiếng súng, tiếng cối 81 ly, địch đang ráo riết lùng sục vào bản, máy bay địch cũng thi nhau trút bom xuống, du kích đang đánh trả quyết liệt. Hơn hai chục anh em còn lại của trung đội địa phương Mường Ngòi lo lắng, khi nghe tôi thông báo tình hình chiến trường Điện Biên Phủ đang chuẩn bị mở chiến dịch đánh lớn, bộ đội của ta đã giành được một số thắng lợi bước đầu. Hủm Pheng bảo: "Nhất định chúng ta sẽ thắng lợi", anh em trong đội hình dơ tay reo hò. Sau đợt ấy, Hủm Pheng được đề bạt làm trung đội trưởng, trung đội còn được tăng cường thêm hai tiểu đội quân tình nguyện Việt Nam, chúng tôi lại cùng nhau sát cánh chiến đấu.


Sau đợt ấy chúng tôi nhận được tin báo: Khoảng một tiểu đoàn địch đang tiến lên bản Kìu Hịa đánh bản Phồn, chúng tôi tổ chức cho anh em mai phục tại đồi Yên Ngựa. Chờ suốt đêm không thấy địch hành quân đến, ngồi ngáp ngắn ngáp dài vì buồn ngủ, mãi đến sáng anh em đã quá mệt mỏi thì địch xuất hiện. Thời tiết khi ấy đang là mùa đông, mặt trời đã ló lên nhưng những lớp sương vẫn còn nặng trĩu phủ trên tán cây rừng, bỗng thấy chim chóc bay náo loạn, dưới chân dốc địch đang lom khom tiến đến. Anh em chúng tôi tín hiệu thông báo cho nhau sẵn sàng. Chờ thời cơ đến, chúng tôi đồng loạt nổ súng, địch co cụm lại thành từng nhóm, có tên bị bắn chết ngay tại trận, có tên bị thương nằm kêu la inh ỏi. Địch củng cố lại đội hình chiến đấu. Từ dưới đoạn suối cạn chúng bắn xối xả vào trận địa của chúng tôi, cối 81 ly, cối 60 ly liên tục nổ vang rền cả vùng núi rừng âm u. Vì lực lượng của chúng tôi quá mỏng, vũ khí của địch lại mạnh, nên phải rút lên đỉnh đồi, nhưng địch cũng không thể tiến thêm vì địa hình hiểm trở. Chiến thắng ấy Hủm Pheng vui mừng vỗ vai tôi: "Ôi! Người bạn, người anh em!".


Một hôm, chúng tôi đang ngồi trò chuyện trên tảng đá lớn thì có một du kích bản đến báo: "Cán bộ! Quân địch xuyên tắt rừng đến bản Lắt rồi. Khoảng ba trăm tên". Chúng tôi nhận định địch đã hành quân theo hai hướng tạo thành gọng kìm ép ta vào bản Phồn, một cánh đi từ Mường Ngòi qua Kìu Hịa đến bản Phồn, một cánh cắt qua bản Lắt. Hủm Pheng nói: "Chúng ta phải chiếm đỉnh đồi Nương trước". Nhưng từ chỗ chúng tôi đến đồi Nương phải đi mất một giờ hai mươi phút, địch từ bản Lắt đến chỉ mất một giờ. Chúng tôi bảo nhau quyết tâm chạy. Khi đến chân dốc gần suối Nậm Lắt, bỗng tôi thấy một tia sáng nhỏ vắt ngang qua đường, Hủm Pheng đang dẫn đầu đội hình, tôi nghi địch cài mìn, vội chạy lên giật cổ áo anh ghì xuống: "Anh em! Có mìn! Nằm xuống". Hủm Pheng lớ ngớ chưa hiểu chuyện gì nhưng cũng nghe theo. Một lát sau yên ắng, tôi ngồi dậy, Hủm Pheng cũng lóp ngóp theo, anh nhìn tôi đầy biết ơn.


Vụ phát hiện quả mìn ấy chúng tôi tạm gác lại, nhiệm vụ trước mắt phải nhanh chóng chiếm được đỉnh đồi Nương. Lên đến nơi tôi mệt quá nằm vật xuống đất thở, hai bắp chân cứng nhắc như bị chuột rút, không làm thế nào để tín hiệu cho anh em biết. Vừa lúc ấy Hủm Pheng đến, nhìn tôi nằm co quắp, anh chạy đến bóp chân tay cho tôi, cả hai chúng tôi đều mệt lử chẳng thể nói điều gì, mồ hôi ướt sũng chiếc áo trấn thủ. Chưa kịp hồi tỉnh thì địch xuất hiện lố nhố dưới chân đồi, hình như chúng cũng quá mệt mỏi vì quãng đường hành quân khó khăn, đội hình xộc xệch rải rác. Một tốp lính da đen đã vượt lên đến gần đỉnh, anh em đằng sau không biết đã đến nơi chưa? Tôi tự hỏi và không biết làm cách nào để gọi họ nhanh lên! Không thể chần chừ được nữa rồi! Chỉ còn giây lát nữa thôi là tốp da đen lên đến đỉnh, chân tay tôi vẫn còn run run chưa hết cơn co giật, đầu ngắm đưa về phía tốp lính da đen cũng di chuyển lên xuống. Đoàng! Một tên đi đầu ngã gục. Phát thứ hai một tên nữa trúng đạn. Hủm Pheng cũng nhanh chóng dương súng bắn. Tốp lính da đen bị tiêu diệt hoàn toàn. Vừa lúc đó, nghe tiếng súng nổ, anh em phía sau lên đến nơi, chúng tôi hiệp đồng với nhau thành đội hình chiến đấu. Từ trên cao nhìn xuống, giữa đám nương trống trải có từng tốp địch nấp sau những gốc cây cháy dở đen thui. Địch từ phía dưới thi nhau bắn lên đội hình chúng tôi. Biết chúng tôi không có hỏa lực mạnh, sức chiến đấu có phần đuối dần, địch tổ chức nhiều đợt tấn công và có nguy cơ địch sẽ chiếm được đỉnh đồi, chúng tôi không còn đường rút lui, địch chiếm được trận địa coi như chúng tôi hy sinh. Anh em có biểu hiện tuyệt vọng, đạn chỉ đủ cầm cự khi địch xuất hiện. May mắn cho chúng tôi thoát chết là nhờ có lực lượng phía sau lên chi viện kịp, khí thế chiến đấu trở lại, nhiều anh em trong đội hăng hái bò sát đến mục tiêu dùng lựu đạn ném, địch chết nhiều, những tên sống sót rút chạy xuống khe sâu rồi lui hắn. Sau chiến thắng hôm ấy, anh em chúng tôi rút về lán bí mật của du kích bản Phồn.


Chúng tôi về đến lán lúc trời nhá nhem tối, các lán đang đỏ lửa nấu cơm, nghe tin bộ đội về họ chạy ùa ra hỏi thăm. Trong trận này anh em chúng tôi chỉ có vài người bị thương nhẹ, người già chắp tay khấn bốn phương trời, cảm tạ đức Phật, ma xó đã che chở cho bộ đội được bình yên. Chúng tôi chia nhau thành từng tốp về ăn tối cùng dân bản. Tin thắng trận lan khắp vùng, tinh thần anh em càng thêm vững, nhất định sẽ đánh thắng những trận tiếp theo, dân khắp nơi tự nguyện đóng góp lương thực nuôi bộ đội, họ còn tổ chức lễ đi săn đoàn kết, được con thú nào thì chia đều theo nhân khẩu, kể cả những đứa bé trong bụng mẹ cũng được chia khẩu phần. Trước niềm tin của dân bản Phồn, chúng ôối được bổ sung thêm quân số, Hủm Pheng được đề bạt lên chức đại đội trưởng.


Tháng một năm 1954, hoa ban nỏ trắng rừng, mùa xuân vui trẩy hội, nhưng niềm vui qua nhanh, khắp vùng lưu vực sông Nậm U sôi sục không khí chuẩn bị đánh giặc. Từ sau tháng 12 năm 1953, địch biết tin bộ đội chủ lực của Việt Nam hành quân lên chiếm đóng Pun Lót, kế hoạch nối thông đường dây liên lạc giữa Bắc Lào với Điện Biên Phủ của chúng bị phá vỡ, nguy cơ bị quân chủ lực đánh bại, các tiểu đoàn địch cố thủ phía nam sông Nậm U liền rút về bờ bắc tăng cường trận địa phòng tuyến, địch phá sạch thuyền bè của dân hai bên bờ, máy bay Mỹ tăng cường chi viện cho quân đội Pháp cùng thi nhau ném bom xuống khu vực nghi ngờ, Nậm U trở thành dòng sông chết.


Đầu năm 1954, bộ đội các trung đoàn quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc hành quân lớn lên Sốp Nạo, chia thành hai mũi tiến đánh phòng tuyến giao thông chiến lược đường bộ sông Nậm U, một cánh đánh vào Mường Khoa, Mường Xây. Cánh thứ hai đánh Mường Ngòi, Nậm Bạc, Luông Pha Băng. Chúng tôi nhận được chỉ thị của trên thông báo xuống, Hủm Pheng vui lắm, bảo tôi: "Mình sẽ thắng lợi thôi mà".


Chiến dịch ấy chúng tôi cùng các trung đoàn chủ lực liên tiếp giành thắng lợi, tôi sát cánh bên anh tiến hành nhiều cuộc truy kích địch. Một hôm đại đội nghỉ chân bên con suối nhỏ, sau những ngày chiến đấu triền miên mệt mỏi, chúng tôi thi nhau tắm gội và gặt dũ những thứ lâu ngày cáu bẩn. Cơ thể tôi như cây héo gặp nước mát hồi sinh lại tươi roi rói, tâm hồn tôi trẻ trung như cậu thanh niên mười tám. Cho dù chiến thắng sắp sửa đến, phần thắng chắc đã thuộc về chúng tôi, trong niềm vui lớn lao của tất cả mọi người tôi lại cảm thấy man mác buồn? Đôi lúc ngồi bên bờ suối tôi hát, Hủm Pheng bảo: "Em mới chép được bài hát này hay lắm! Anh có thích thì em tặng". Nói rồi Hủm Pheng lục ba lô lấy cuốn sổ ra đọc cho tôi chép bài hát "Lăm tơi". "Hôm nào liên hoan mừng thắng lợi anh sẽ ra hát cùng các cô gái Mường Ngòi nhé". Ôi! Ngày chiến thắng tôi sẽ hát cùng những cô gái Mường Ngòi! Nghĩ đến vậy tôi cứ ngồi bên suối hát ngân nga.


Sau đợt ấy tôi cùng hai tiểu đội tăng cường nhận được lệnh của anh Nguyễn Sĩ Hoạt gọi trở về đoàn bộ đóng quân dưới chân đồi Phạn Thoong, chia tay Hủm Pheng, chia tay đại đội Mường Ngòi với niềm luyến tiếc, nhưng vì nhiệm vụ của người lính chúng tôi lại ra đi. Vì mục tiêu chiến đấu mới, vì những chiến công đang đợi tôi ở phía trước. Thế rồi tôi chuyển đi nhiều nơi xa hơn nữa. Xa rồi, nhưng tôi vẫn nhớ bài hát ngày nào bên suối...


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:39:18 am
ĐUÔNG CHĂN


NGUYỄN XUÂN DIỆU


Đầu mùa khô năm 1970, đại đội đặc công mang phiên hiệu S20 của Quân khu 4, tăng cường cho Mặt trận Trung Lào, nhận lệnh tấn công cứ điểm Pà-kôn-kô, thuộc tỉnh Khăm Muộn, do Đại đội 3 của BV32 (tiểu đoàn ngụy Lào) chốt giữ. Cái khó của trận đánh này là cứ điểm nằm sâu trong hậu phương địch. Muốn tiếp cận tấn công nó, quân ta phải len lỏi qua một loạt điểm chốt dày đặc những toán thám báo, biệt kích, quân tuần tra đủ các sắc lính... Đó là chưa kể nhiều bản làng mà ta chưa thể nắm chắc được do địch "xúc" vào hay dân tự chạy theo địch, tạo thành một vành đai bao quanh Pà-kôn-kô. Tổ trinh sát Pà-kôn-kô được thành lập có tôi trong đó, do mũi trưởng mũi chủ yếu Nguyễn Duy Đễ làm toán trưởng, lập tức lên đường.


Mới đầu mùa khô, nên thỉnh thoảng vùng này vẫn còn những cơn mưa rớt. Suốt ba ngày chúng tôi xuyên rừng dưới những cơn mưa bất chợt ấy. Sang ngày thứ tư chúng tôi vượt qua con đường nhỏ gần bản Na Khèn, bỗng từ lùm cây ven đường, một cô gái đột ngột chui ra. Nhác thấy chúng tôi, cô gái hốt hoảng thét lên rồi bỏ chạy. Tình huống hết sức bất ngờ. Nếu để cô gái chạy thoát, biết đâu cô ta là tên chỉ điểm mà chúng tôi biết bọn địch vẫn tung ra vòng ngoài để phát hiện quân ta? Mũi trưởng Đễ khoát tay, và chẳng mấy khó khăn cô nàng đã bị chúng tôi tóm được. Dù ở trong tình thế dở mếu, dở cười, nhưng vốn là lính trẻ, ba chúng tôi ai cũng sửng sốt trước sắc đẹp của cô ả. Cô ả còn trẻ lắm, dễ thường chưa đến 20. Bộ "xôông xưa" (váy áo) ướt đẫm nước mưa dính sát vào người, hằn rõ những đường đẹp nhất của người con gái. Chiếc dây lưng gắn những cúc màu trắng bạc, ánh lên, bó chặt đường eo thon mềm như một nét vẽ. Làn da cô trắng mịn đến nỗi sau cơn mưa buổi sớm, màu rừng thẫm lại, thì khuôn mặt, đôi cánh tay, đôi chân trần của cô như đang phát sáng. Thấy ba chúng tôi cứ nhìn nhau mà chậc lưỡi, xầm xà xầm xì, cô gái run như dế, khuôn mặt mướt mát trông càng đẹp. Khám trong chiếc gùi nhỏ cô ta mang bên người chỉ thấy mấy vắt xôi to đùng được đùm cẩn thận trong lá chuối khô và mấy gói thịt rang mặn, thơm phức. Chúng tôi tìm mọi cách hỏi tên và tung tích cô ta, giở đủ ngón khai thác của dân trinh sát ra, nhưng cô nàng chỉ mím môi im lặng. Toán trưởng Nguyễn Duy Đễ bực mình quát: "Cô không biết tiếng Việt hay không biết tiếng người?". Cô nàng cũng chẳng lắc đầu...


Tình hình càng trở nên phức tạp, khi tĩnh trí lại, chúng tôi nhận ra trong đội hình của một tổ trinh sát đặc công không thể hiện diện một cô gái lạ. Một cô nàng im lặng như hòn đá, chẳng ra tù binh mà cũng chẳng phải đồng minh. Rồi ăn, ngủ, sinh hoạt, tránh địch của cánh lính trinh sát đặc công vốn được kẻ địch gọi là "ẩn hiện như ma" sao tiện? Bàn đi tính lại mai, toán trưởng Đễ đành nói nhỏ với tôi:

- Cậu phải đưa cô nàng trở lại hậu cứ giao cho Mặt trận để họ giao cho bạn thôi. Việc "điều nghiên" Pà-kôn-ko để bọn mình lo. Cậu đến sau vậy,- Rồi anh nhún vai - Cậu phải cẩn thận đấy! Giao cho cậu áp giải vài ba thằng lính địch tớ chẳng lo bằng áp giải nàng tiên rớt từ cung trăng xuống này đâu!

Tôi ngao ngán quá. Đen đủi đến thế là cùng! Ra đường gặp gái đã đành chịu rủi là một chuyện, đằng này phải dẫn một cô nàng chẳng biết rơi từ trên trời xuống hay từ dưới đất chui lên cả ngày ròng giữa rừng sâu núi thẳm! Thấy cô nàng lại cứ lầm lầm, lì lì, tôi ngứa mắt, xốc súng, xẵng giọng bằng tiếng Lào:

- Pay! (Đi!)

Cô nàng chẳng nói chẳng rằng lầm lũi đi trước mũi súng của tôi. Những lúc dừng chân, cô ta thỉnh thoảng lại len lén liếc mắt về phía tôi như dò xét. Hai chúng tôi - hai người tuổi trẻ, một trai, một gái - đi với nhau trong những vạt rừng lốm đốm nắng, xao xác lá rơi mà lạnh lẽo như hai kẻ ở hai hành tinh khác lạ. Quá trưa, tôi và cô ta gặp một con suối lớn. Con suối này rộng, giữa mùa khô có lẽ xắn quần lội qua được. Nhưng bây giờ mùa khô mới bắt đầu, đang còn mưa nên nước ngập đầu người, trông như một con sông, phải bơi mới qua được. Tôi nhìn cô ta, hất hàm hỏi cụt lủn bằng tiếng Lào:

- Hụ lòi bọ? (Biết bơi không?)

Cô ta lắc đầu. Lần đầu tiên tôi nghe cô ta nói, cũng cụt lủn chẳng kém gì tôi:

- Bọ hụ! (Không biết!)

Nhìn cô ta, lại nhìn dòng suối cuồn cuộn, tôi mới hoảng thật sự! Chết cha mình rồi! Bây giờ biết làm sao đây? Cô ta không biết bơi, thế nghĩa là mình phải dìu cô ta bơi qua. Nếu là bạn với nhau thì có ngượng nghịu tí chút nhưng còn được. Đằng này, cô nàng lai lịch hoàn toàn mù mờ, mà đã chắc gì cô ta không biết bơi. Ra giữa suối, nước xiết thế kia, lỡ cô ta chết đuối hay lặn một lèo mất hút thằng lươn, mình biết ăn nói sao với đơn vị? Tôi vừa loay hoay cho ba lô vào ni lông cột lại làm phao để bơi qua, thì cha mẹ ơi, ai dè cô ta đứng ngay bên tôi từ từ cỏi bỏ hết xống váy. Phơi tấm thân trắng nõn căng tròn. Đã thế, cô ta lại còn đi đến bên tôi ưỡn ngực, người oặn oẹo khiêu khích. Người tôi run bắn lên! Của đáng tội, từ lúc lớn lên, học hết phổ thông rồi vào bộ đội, tôi chưa hề trực diện nhìn một thân hình con gái lồ lộ, sát ngay bên mình thế này bao giờ. Mà cô ta lại đẹp như tiên mới chết chứ! Người tôi nóng phừng phừng, mồm miệng khô rát. Ghì chặt như bóp báng khẩu AK trong tay, như bấu víu vào đó để kháng cự lại ngọn lửa tôi chưa từng gặp bao giờ đang bốc cháy ngùn ngụt trong người. Chợt nòng thép khẩu AK chạm vào má lạnh buốt làm bản năng của người lính trinh sát đặc công trong tôi trỗi dậy. Cái nhún vai đầy ngụ ý của anh Đễ bất chợt hiện đến. "Đích thị cô này chẳng phải con nhà lành rồi! Cô ta đang là tù binh của mình mà cởi bỏ áo quần, trần như nhộng thế kia rõ là cô ta đang câu mình đây!". Nghĩ thế tôi liền đứng phắt dậy nói như quát:

Thôi đi cô! Đừng giở trò nữa! Chuẩn bị bơi qua suối!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:39:58 am
Lạ lùng, nghe tôi quát, cô ta không hề tỏ ra sợ sệt, trái lại có vẻ hớn hở ra mặt. Khép nép mặc quần áo, cô ta nhìn tôi nhoẻn cười, nói thật dịu dàng:

- Phạ (trời) ơi! Thế là em biết anh rồi!

Nghe cô ta xưng em, anh với tôi bằng cái giọng mượt như nhung, tôi hoàn toàn bất ngờ. Lại còn định giở trò gì nữa đây? Tôi lùi lại. Thật tình, mặc dù đã dạn dày trận mạc, nhưng "đối mặt" với con gái, đặc biệt với một cô gái Lào, tôi chỉ là anh lính mới tò te. Thấy tôi cứ luýnh qua luýnh quýnh, cô gái bật cười:

- Thả hán (bộ đội) Việt hiền thật! Thì ra bọn họ nói vô thả hán Việt sai hết!

- Bọn họ là ai? Mà họ nói gì về chúng tôi? - Tôi luống cuống bật hỏi.

Cô gái không cười nữa:

- Bên Phu-mi, chậu Mường, Tà Xẻng đó! Họ nói bộ đội Việt tàn ác như con beo, con hổ, sang đây để cướp của, giết người. Gặp đàn bà, con gái, chẳng kể già hay trẻ là như con chó sói đực, vồ lấy liền!

Tôi cười méo mó. Cái vẻ lầm lì của cô gái không còn nữa. Cô nhí nhảnh:

- Thật lòng, em cởi váy áo trước mặt anh là để thử anh mà. Phò me (bố mẹ) em nghiêm lắm. Nhà em gần bến sông mà chẳng cho em tắm chung cùng trai bản bao giờ. Cũng thật là liều... Mà bộ đội Việt cũng lạ. Trước con gái trần truồng mà cứ yên lặng như hòn đá. Bộ đội Việt là người hay là Phật?

- Cô nhìn thì biết! - Tôi thở phào - Bộ đội Việt cũng như người Lào thôi. Mà cô liều vậy để làm gì?

- Để thử anh đó thôi. Người Lào có câu: "Hổ rằn ri ngoài da. Người rằn ri trong bụng!". Mới "bị bắt" giữa rừng, ai biết anh ra sao? Vì thế, lúc nãy em đã nói dối anh, nhà em gần sông Mè Khoóng (Mê Công), phò me em làm nghề chài lưới nên em bơi lặn giỏi lắm. Nếu lúc nãy anh vồ lấy em như con sói đực, thì khi bơi với em qua suối anh sẽ chết! Trong các cuộc thi bơi qua Mè Khoóng em chưa chịu thua ai, kể cả những trai bản bơi lặn giỏi nhất. Mường trên, bản dưới ai cũng gọi em là Đuông Chăn - Tu Nạk (rái cá). Anh mang ba lô, súng ông lỉnh kỉnh đầy người, vướng víu thế kia, ra chỗ nước sâu, em chỉ cần lặn xuống kéo chân anh là anh chết đuối thôi!


Tôi nghe mà sởn gai ốc. Nhưng nhân đà cô vui, tôi liền hỏi về sự có mặt kỳ lạ của cô ở vùng tranh chấp này. Cô kể rằng: Cô tên là Đuông Chăn, quê ở Pắc Xan. Rằng cô có một người anh trai tên là Khăm Xinh đóng quân ở Pà-kôn-kô. Chán ghét đời lính tay sai, anh đào ngũ đang trốn trong lèn Phà Kun. Ở Pắc Xan bọn lính Chậu Mường đang lùng ráo riết, nên mấy ngày nay anh chưa ra khỏi hang. Được một người bạn cùng trốn về báo, cô lên đây là để tiếp tế cho anh...!


Nghe lời cô kể, nhìn vào mắt cô, tôi biết cô gái không nói dối. Vừa thương người lính đào ngũ, vừa có một ý định táo bạo loé lên trong đầu, tôi nắm lấy tay cô:

Ta quay lại chỗ hang đá Khăm Xinh trốn đi. Đừng để anh ấy bị đói hay vì đói mò ra kiếm ăn rồi lại bị bắt. Anh ấy sẽ bị chúng hành hạ, khổ lắm cô ạ!

Đuông Chăn ngước nhìn tôi. Hình như cô muốn nói điều gì với tôi mà không nói được. Cô lặng lẽ gật đầu mà đôi mắt đen thăm thẳm thì ầng ậng nước...

Khi gặp nhau, nghe Đuông Chăn kể chúng tôi đến để cứu mình, Khăm Xinh xúc động lắm, cứ quỳ xuống chắp tay lạy chúng tôi vừa "khọp chay, khọp chay" liên tục. Hai anh em họ kéo nhau ra thầm thì điều gì đó rất lâu, đôi khi ngỡ như đang to tiếng. Một lúc sau, Khăm Xinh lặng lẽ đến nói với chúng tôi anh xin tình nguyện dẫn đường cho tổ trinh sát đột nhập căn cứ Pà-kôn-kô bằng con đường những người lính đào ngũ vẫn lẻn ra ngoài. Con đường bất ngờ nhất đã được họ tháo gỡ hết các loại mìn. Khăm Xinh còn xin được gặp và vận động những người bạn anh đang lừng chừng chưa dám bỏ trốn vì sợ tên trung úy Thao Mư đồn trưởng, nhân cơ hội này làm nội ứng, hiệp đồng với bộ đội ta, tiêu diệt cứ điểm, giải thoát cho mình.


Năm ngày sau, Đại đội đặc công S20 chúng tôi đột nhập vào Pà-kôn-kô, áp sát các mục tiêu mà kẻ địch chẳng hay biết gì. Gần đến giờ G, hết sức mau lẹ, tên trung úy Thao Mư đồn trưởng và mấy tên sĩ quan, binh lính ngoan cố bị Khăm Xinh và số anh em nội ứng trói gô lại. Số còn lại khi thức giấc mắt nhắm, mắt mở lồm cồm chui ra khỏi hầm đều bị chúng tôi bắt sống. Pà-kôn-kô được giải phóng, không hề mất một viên đạn, một mạng người nào...!


Trận đánh kết thúc, trên đường trở về nơi tập kết, Đuông Chăn ngập ngừng đến bên tôi. Tôi nhận ra một nét buồn mênh mang vương vít trên nét mặt thanh tú của em. Chúng tôi đứng bên nhau như những người bạn đã thân quen lâu lắm rồi. Bỗng đột ngột em ôm chầm lấy tôi, gục đầu vào ngực tôi, đôi mắt nhoà nước. Rồi đột ngột em buông tôi ra, quay người vội vã ù chạy. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo dáng em nhoà dần trong rừng chiều Khăm Muộn...


Nhiều năm sau đó, dù cuộc chiến tranh giữ nước của hai dân tộc cuốn chúng tôi tới mỗi đứa một chiến trường, nhưng tôi và Đuông Chăn vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Tôi biết em và Khăm Xinh, anh trai của em đã nghe lời chúng tôi gia nhập Quân Giải phóng nhân dân Lào.


Rồi tôi chia tay với trận mạc, với đời trai trẻ, trở thành người cựu chiến binh già. Giữa đời thường cơm áo, chưa một lần tôi có dịp trở lại đất nước Lào để gặp em. Nhưng trong nhiều đêm bồn chồn khó ngủ, nằm nghe tiếng sóng sông Lam - dòng sông của quê hương tôi được hoài thai từ đất Lào - cồn cào chảy, bóng hình em bên con suối ngày nào; kỷ niệm về trận đánh không tiếng súng giải phóng Pà-kôn-kô năm ấy lại hiện về trong tôi mồn một.

Trại viết 299, Hồ Tây mùa thu 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:39:04 am
ANH KHÁ


NGUYỄN HÙNG PHI


Tôi còn nhớ, tháng 11 năm 1953, ở Lào đã bước vào mùa khô. Các đơn vị Liên quân Lào - Việt đoàn 82 chúng tôi đang tích cực đẩy mạnh hoạt động nhiều mặt theo nội dung chỉ thị, nghị quyết của "Ban chỉ đạo Đảng cách mạng Lào" có nội dung: "Phối hợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam mở các cuộc tiến công lớn vào vùng địch kiểm soát, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng".


Ngày 21 tháng 11 năm 1953, tôi phụ trách Ban tham mưu Đoàn 82, trú quân tại Mường Ngòi nhận được điện báo cho biết: "Sáng ngày 20 tháng 11 năm 1953, quân Pháp đã nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ". Tôi báo cáo với đồng chí Chính ủy Nguyễn Sỹ Hoạt và ghi vào sổ nhật ký tác chiến của đoàn.


Trong cuộc họp, chúng tôi và một số cán bộ phụ trách các đơn vị được nghe đồng chí chính ủy nói về âm mưu chiến lược của Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương dùng không vận đánh chiếm Điện Biên Phủ với ý đồ chiếm đóng vùng Tây Bắc Việt Nam và Bắc Lào, nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là trục giao thông thủy bộ nối liền các miền biên giới Bắc Lào với Thái Lan, Miến Điện (Myanma) và Trung Quốc. Để tránh cho quân Pháp chiếm đóng ở Điện Biên Phủ khỏi bị cô lập, tướng Na-va đã ra lệnh cho tướng Cre-vơ, chỉ huy quân đội Pháp ở Lào, sử dụng 6 tiểu đoàn Âu - Phi từ Luông Pha Băng tiến ra đánh chiếm vùng giải phóng từ mường (huyện) Pạc Xeng, Mường Xừn, Nậm Bạc, Mường Ngòi (thuộc tỉnh Luông Pha Băng) và Mường Khoa, Sốp Nạo (thuộc tỉnh Phông Xa Lỳ), lập thành phòng tuyến liên lạc chiến lược đường bộ lưu vực sông Nậm U để nối liền Bắc Lào với Điện Biên Phủ, vùng Tây Bắc Việt Nam.


Sau khi nói rõ âm mưu và hoạt động của quân địch, Chính ủy Nguyễn Sỹ Hoạt phân công cho các đơn vị: Đại đội 68 và Đại đội Chăm Pa Xắc - chủ lực của khu đi tăng cường chiến đấu cho các mường Pạc Xeng, Mường Xừn; Trung đội bảo vệ đoàn bộ và trung đội địa phương Mường Ngòi tiến qua phía bắc sông Nậm U, chặn đánh quân địch trên đường Nậm Bạc đi Mường Ngòi... Ngay chiều hôm đó, các đơn vị lên đường.


Trời chiều cuối năm trải ánh nắng vàng nhạt khắp cánh đồng lúa vừa mới gặt chạy dài theo thung lũng hẹp từ bản Na Tợ đến thị trấn Mường Ngòi. Mấy ngày trước đây hàng quán còn mở cửa, người mua bán đông vui. Dưới bến sông, thuyền bè xuôi ngược; nghề chài lưới đánh bắt cá làm ăn trên sông khá nhộn nhịp, nhưng từ khi quân địch tiến công đánh chiếm vùng giải phóng và máy bay trinh sát thám thính theo sông Nậm U đã làm cho tình hình cả huyện Mường Ngòi và lưu vực sông Nậm U càng thêm căng thẳng; phần đông dân đi sơ tán vào các lán bí mật trong rừng. Chỉ còn lại các đội du kích canh gác, sẵn sàng chiến đấu chống quân địch, bảo vệ bản mường.


Những ngày cuối năm tiết trời se lạnh, đầu tháng 12 năm 1953, Pháp điều sáu tiểu đoàn Âu - Phi tiến đánh vào vùng giải phóng. Nhiều trận chiến đấu đã diễn ra ác liệt, các đơn vị bộ đội Lào - Việt và lực lượng du kích các bản chiến đấu dũng cảm, chặn đánh quân địch từng bước, nhưng vì lực lượng địch quá đông, hỏa lực phi pháo chi viện quá mạnh nên quân địch cứ tràn dần tới. Thông tin liên lạc đi về từ Ban Tham mưu đến các đơn vị, các ủy ban mường và những nơi cần thiết rất bận rộn, khẩn trương. Chúng tôi bám sát, nắm chắc tình hình và đánh dấu các mũi tiến quân của địch lên bản đồ tác chiến và báo cáo lên thủ trưởng.


Tình hình chiến sự khiến lòng chúng tôi như có lửa đốt vì quân địch đã chiếm được Mường Xừn, Nậm Bạc, Mường Ngòi, Mường Khoa, Sốp Nạo. Như vậy, quân địch đã đánh chiếm được toàn tuyến lưu vực sông Nậm U và nghe tin lần đầu tiên quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã bắt được liên lạc với quân của Cre-vơ ở tại Sốp Nạo (Lào).


Trong cuộc tiến công lần này, ngoài sáu tiểu đoàn Âu - Phi còn có nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội quân ngụy Lào và ngụy Thái. Đi tới đâu chúng đều bắn giết bừa bãi, đốt phá nhiều bản làng, chùa chiền, gây nhiều thống khổ cho nhân dân.


16 giờ ngày 14 tháng 12 năm 1953, tôi nhận được bức điện khẩn của cấp trên báo cho biết: "Có thể rạng sáng ngày 15 tháng 12, các tiểu đoàn Âu - Phi quân Pháp từ phía Luông Pha Băng sẽ đánh chiếm thị trấn Mường Ngòi". Đến 18 giờ, anh chị em đoàn bộ chúng tôi đã ba lô đeo vai sẵn sàng theo lệnh của đồng chí Chính ủy Nguyễn Sỹ Hoạt cấp tốc hành quân về bản Hạt Ngo, nằm giữa thung lũng hẹp trên đường đi bản Sốp Xàng thuộc địa phận tỉnh Sầm Nưa, cách Mường Ngòi khoảng một ngày đường để tiếp tục công việc giúp Chính ủy chỉ huy các đơn vị chiến đấu. Anh nuôi đã kịp chuẩn bị cho mỗi người một nắm cơm vắt với thức ăn khô. Anh chị em vừa đi vừa ăn trong đêm tôi, thỉnh thoảng nghe tiếng lá khô xào xạc dưới bàn chân. Càng thêm đau xót và căm thù hơn khi chúng tôi biết tin các cán bộ, chiến sĩ Lào - Việt đã anh dũng hy sinh trong trận chiến với quân địch: đồng chí Bun Mi - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện Mường Ngòi bị quân địch bắn chết ở bản Na Cang, đồng chí Nguyễn Văn Thiệu - Bí thư Ban cán sự giúp huyện Mường Ngòi bị địch bắn chết trên đường đi vận động nhân dân vùng cao chống quân địch càn quét. Trong trận chiến đấu đánh chặn quân địch, trung đội địa phương Mường Ngòi hy sinh gần một nửa số quân, đồng chí trung đội trưởng Bun Thay thì bị quân địch bắt. Số anh em còn lại của trung đội địa phương Mường Ngòi đã rút về bản Kìu Hịa để củng cố, ỦY ban kháng chiến huyện thì rút về bí mật ở rừng bản Phồn...


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:39:44 am
Để tiếp tục chiến đấu, đồng chí Chính ủy, Thủ trưởng chính trị Đoàn 82 liền cử đồng chí Ma-hả-xốm-bun làm Chủ tịch ủy ban huyện Mường Ngòi thay đồng chí Hun Mi; đồng chí Phạm Như Trí cán bộ đại đội thay đồng chí Nguyễn Văn Thiệu, ở huyện Mường Khoa cũng bị thiệt hại nên Chính ủy Nguyễn Sỹ Hoạt cử một số cán bộ Lào - Việt lên bổ sung, củng cố: đồng chí Cha-lơn Vong-săm-àng làm Chủ tịch huyện Mường Khoa, Đại đội Chăm Pa Xắc được điều động lên tăng cường chiến đấu cho huyện Mường Khoa. Cũng trong ngày hôm đó tôi được Chính ủy Nguyễn Sỹ Hoạt gọi lên giao nhiệm vụ trở lại Mường Ngòi củng cố bộ đội địa phương, các đội du kích và giúp huyện tổ chức chiến đấu chống địch lung sục, càn quét; tổ chức phối hợp với quân chủ lực tình nguyện Việt Nam đánh đuổi địch, giữ vững và phát triển vùng giải phóng. Chính ủy còn căn dặn:

- Nhiệm vụ lần này giao cho đồng chí là rất nặng nề nhưng chúng ta phải đánh thắng quân địch. Muốn vậy phải biết tổ chức, tổ chức giỏi mới có sức mạnh. Tôi cử hai tiểu đội đi theo đồng chí để tăng cường cho huyện Mường Ngòi.

Chính ủy vui vẻ nói thêm:

- Tôi giao cho đồng chí một tiểu đội lúc này là bằng một trung đội đấy! Chúc đồng chí thắng lợi!

Tôi đứng nghiêm, bắt chặt bàn tay rắn rỏi sạm nắng của anh và cảm động nói:

- Xin cảm ơn Chính ủy, chúng tôi hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Xin phép đồng chí cho lên đường.
127

Hành quân đến chiều, chúng tôi đến bản Kìu Hịa, nơi có người Lào Thơng sinh sống ở lưng chừng núi; xung quanh bản, nứa mọc thành rừng chạy dài đến tận chân thung lũng Mường Ngòi. Một du kích bản người Khơ Mú từ sau bụi rậm bước ra chặn hỏi:

- Các ngài là ai?

- Lào Ít-xa-la. - Tôi thân mật trả lời rồi hỏi Ba In (tên người nọ) một số tình hình. Ba In cho biết:

Chỉ có du kích ở lại bản canh gác, nắm tình hình quân địch, còn dân bản ra ở lán bí mật trong rừng. Quân địch chưa đến đây, chúng đang lùng sục, càn quét các bản ở thung lũng. Quân địch đi đến đâu đều được pháo binh, máy bay ném bom bắn phá, dọn đường đến đó. Hỏa lực chúng nó mạnh hơn hẳn những lần càn trước. Các nhà ở bản Na Tợ, Na Cang, Huội Xen... đã bị quân địch đốt cháy rụi hết. Bọn chúng độc ác hơn qủy dữ.


Ba In dẫn chúng tôi đến chỗ đóng quân của trung đội địa phương Mường Ngòi, cách bản Kìu Hịa 800 mét. Người đầu tiên tôi gặp là đồng chí Tiểu đội trưởng Hủm Pheng. Hai chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng vì đã thân quen, xem nhau như anh em từ trước.


Ngược dòng thời gian, trở lại năm 1950, tôi ở đơn vị Liên quân Lào - Việt, gọi là bộ đội Lào Ít-xa-la, hoạt động võ trang tuyên truyền, xây dựng và phát triển cơ sở chính trị ở bản Kẹng Khen bên bờ sông Nậm U, gần Mường Ngòi là quê hương của Hủm Pheng. Như đêm tối lâu ngày mới được thấy ánh sáng mặt trời nên nhân dân khắp các bản, từ các bộ tộc Lào Thơng, Lào Lùm ở Nậm Bạc, Mường Ngòi đến vùng lưu vực sông Nậm U đều đồng long đứng trong Mặt trận Lào Ít-xa-la, cùng đấu tranh chống ách thống trị bạo tàn của thực dân Pháp.


Được giác ngộ cách mạng, Hủm Pheng xung phong vào bộ đội Lào Ít-xa-la. Khi đã thân quen, Hủm Pheng kổ cho tôi nghe: Gia đình Hủm Pheng có sáu anh chị em, đời sống nghèo khổ vì bọn Pháp và quan lại địa phương bóc lột thậm tệ nên cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc, ốm đau không có thuốc cứu chữa. Bệnh tật đã mang đi hơn một nửa chị em trong gia đình, chỉ còn lại Hủm Pheng và cô em gái. Hủm Pheng khỏe mạnh, thông minh, lớn nhanh như măng rừng, anh thích săn bắn và xuống sông Nậm U đánh bắt cá. Da Hủm Pheng sạm nắng như bức tượng đồng hun.


Nở nụ cười hiền lành, anh kể tiếp: Cha mẹ chỉ sinh được một mình là con trai nên cả nhà yêu quý, vì vậy mới đặt tên là "Pheng" (có nghĩa là quý). Theo phong tục của người Lào Lùm, con trai phải vào chùa cạo đầu đi tu để học giáo lý làm người của đạo Phật phái Tiểu thừa, đem lại phúc đức cho cả gia đình và bản thân. Nhưng rồi một ngày kia, giặc Pháp bắt cha Hủm Pheng đi "cu li" (làm phu) làm đường từ Mường Khoa đi Sốp Nạo, Tây Trang. Khi ốm đau chúng không cho thuốc men cứu chữa. Khi chết, chúng vứt xác trong rừng. Chờ mãi không thấy cha về, đi hỏi Nai bản thì mới biết tin cha đã chết, mẹ và em gái kêu khóc thảm thiết. Hủm Pheng mới đi tu được một thời gian ngắn, phải xin phép vị sư cả làm lễ cởi bỏ áo nhà chùa để về nhà. Từ đó Hủm Pheng thay cha gánh vác công việc nặng nhọc trong gia đình, Hủm Pheng rất căm thù bọn thống trị. Hôm Hủm Pheng gia nhập bộ đội Lào Ít-xa-la, anh rất thương mẹ và em gái vì cuộc sống thiếu vắng đàn ông trong nhà sẽ khó khăn, vất vả hơn trước. Nhưng nhiệm vụ lúc này là đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giải phóng quê hương đất nước, sau mới là báo hiếu công ơn cha mẹ. Nghĩ vậy, anh quyết tâm đi kháng chiến.


Tôi còn nhớ mùa xuân năm 1951, lúc đó tôi chỉ huy một trung đội mà phần đông là anh em chiến sĩ tình nguyện Việt kiều ở Thái Lan đi bảo vệ, dẫn đường một đoàn cán bộ Lào ở các cơ sở vùng du kích huyện Mường Ngòi (thuộc tỉnh Luông Pha Băng) gồm hơn 50 người do Phò Khăm Sẻng - một lão thành cách mạng đã vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936 dẫn đầu đi vê căn cứ địa cách mạng Bò Ten, dựa vào vùng biên giới Lào - Trung Quốc (thuộc tỉnh Luông Nậm Thà) dự lớp bồi dưỡng học tập chính trị, quân sự để trở thành những "hạt giống đỏ" của cách mạng Lào. Trong sô cán bộ tự nguyện thoát ly đó có Hủm Pheng.


Do trong nội bộ có sơ hở nên quân địch biết được tin có một đoàn cán bộ địa phương tỉnh Luông Pha Băng do Phò Khăm Sẻng phụ trách dẫn đầu sẽ từ Mường Ngòi đi về vùng căn cứ Quân khu B (khu I Bắc Lào lúc bấy giờ chia làm 3 phân khu: Phân khu A vùng kháng chiến Mường Sỉnh; Phân khu B vùng kháng chiến tam giác Bò Ten - Luông Nậm Thà - Mường Beng; Phân khu C là khu kháng chiến lưu vực sông Nậm U từ Nậm Bạc - Mường Ngòi đến Mường Khoa, Sốp Nạo) để đào tạo, bồi dưỡng trở thành nòng cốt của phong trào kháng chiến Bắc Lào. Bọn chỉ huy Pháp rất lo sợ nguồn tin này, chúng liền điều động hai tiểu đoàn ở Luông Pha Băng và Mường Xầy, hình thành hai gọng kìm bao vây từ bản Ca Lăng Tắp qua bản Na Tơi đến bản Long Nai thuộc tỉnh Phông Xa Lỳ, giáp biên giới Lào - Trung Quốc. Chúng còn rải quân cho đi "đóng chốt" và "mai phục" nhiều nơi. Bọn Pháp ở Luông Pha Băng huênh hoang tuyên bố "một con chim cũng không thể bay lọt đến vùng Bò Ten".


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:40:30 am
Khi hành quân gần đến bản Ca Lăng Tắp trên đỉnh núi cao, trung đội chúng tôi bị sa vào ổ mai phục của quân địch. Tổ trinh sát ba người đi đầu thì một đồng chí hy sinh, hai đồng chí bị thương. Vì đường dốc độc đạo, cả trung đội nằm dưới chân dốc bắn mạnh lên để yểm hộ cho một số anh em xông lên lấy xác và đưa anh em bị thương về nơi cứu chữa. Đồng chí Thịnh - Tiểu đội trưởng bị thương ở cánh tay tự đi được, còn đồng chí Khá bị bắn dập nát đùi chân trái nên chúng tôi phải làm cáng giao cho anh em một tiểu đội thay nhau khiêng đi theo. Lực lượng chiến đấu của đơn vị chỉ còn lại hơn một tiểu đội. Quân địch ở trên đỉnh núi chốc chốc lại bắn vài loạt súng máy vào những bụi rậm mà chúng nghi ngờ có anh em ta ẩn nấp.


Màn đêm buông xuống rất nhanh, trời tối mịt. Trung đội chúng tôi phải bám sát nhau lội ngược theo suối Nậm Tắp, nước chảy xiết phát ra tiếng ào ào bởi những tảng đá to lởm chởm chắn giữa dòng. Phải dò dẫm từng bước nên tốc độ đi quá chậm, lại phải chờ đợi anh em khiêng cáng đồng chí Khá đi rất khó khăn vất vả. Trời hửng sáng, nhìn lại quãng đường lội suối đã đi suốt đêm qua chỉ được khoảng 2km, chưa thoát ra khỏi tầm kiểm soát của quân địch ở trên bản Ca Lăng Tắp nên nét mặt ai cũng lộ vẻ lo lắng. Tất cả anh em chúng tôi ngồi ém vào những lùm cây rậm rạp nghỉ lấy lại sức. Tôi đến gặp Phò Khăm Sẻng và bạn Hủm Pheng để nói sơ qua tình hình khó khăn và động viên anh em bạn Lào yên tâm. Sau những lúc đau ngất lịm, khi tỉnh dậy đồng chí Khá luôn đề nghị "xin được hy sinh" để đơn vị dẫn đoàn cán bộ bạn Lào nhanh chóng thoát ra khỏi vòng vây của quân địch đến khu căn cứ được an toàn. Anh em ai cũng cảm động đến ứa nước mắt, lắc đầu và động viên an ủi đồng chí Khá "quyết cùng sống chết có nhau".


Đồng chí Khá nói:

- Các đồng chí đừng để vì tôi mà gây tổn thất cho đoàn cán bộ bạn - những hạt giống quý của cách mạng Lào. Các đồng chí cùng tôi phải hoàn thành nhiệm vụ trên giao, bởi vậy, tôi xin được hy sinh...

Anh em chúng tôi lại động viên, an ủi như những lần nói trước... Khi anh em trở về nơi lấy ba lô, lấy lương khô ra ăn để tiếp tục chọn đường tắt băng rừng. Bỗng đồng chí Đỉnh y tá chạy đến vừa khóc vừa nói với tôi:

- Báo cáo, đồng chí Khá đã tự đập đầu vào đá hy sinh rồi!

Tôi và anh em vội chạy đến vây quanh đồng chí Khá. Chỗ anh nằm cạnh một tảng đá lớn cách cáng khoảng 3 mét. Chứng tỏ đồng chí Khá đã ráng chịu đau đớn, dồn hết sức còn lại lết đến tảng đá lốn sắc nhọn để thực hiện ý nguyện hy sinh của mình. Tất cả anh em Việt cũng như Lào đều bàng hoàng, xúc động bật ra những tiếng khóc thương tiếc và khâm phục lòng dũng cảm dám xả thân hy sinh để đơn vị đưa đoàn cán bộ bạn nhanh chóng thoát khỏi vòng nguy hiểm của quân địch. Đồng chí Khá nằm đó, mắt còn mở to, nét mặt đôn hậu, nghiêm trang như nhắc nhở đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. Tôi lấy khăn mặt của mình lau sạch vết máu trên trán và vuốt mắt lần cuối cho người đồng đội dũng cảm. Anh em chúng tôi lấy đá và đất đắp cao lên thành ngôi mộ bên bờ suối Nậm Tắp, con suối suốt ngày đêm đưa dòng nước chảy ra sông Nậm U qua Mường Ngòi - nơi đồng chí Khá từng hoạt động. Tôi chạy đi tìm bứng một cụm cây hoa mẫu đơn rừng trồng lên mộ đồng chí Khá rồi cho anh em mặc niệm lần cuối cùng. Chúng tôi nhanh chóng rời khỏi khu rừng bản Ca Lăng Tắp trong bóng hoàng hôn.


Hình ảnh thân thương của đồng chí Khá cứ hiện lên rõ nét trước mắt tôi: Một thanh niên Việt kiều 32 tuổi, trắng trẻo đẹp trai, mỗi lần cười để lộ hàm răng trắng muốt, ánh lên hai cái răng vàng càng làm cho khuôn mặt thêm rạng rỡ. Đồng chí Khá là thợ cắt may giỏi, đã có cửa hàng may đo ở xóm Phàn Phạp, mường U Đon, miên Đông Bắc Thái Lan. Cũng như hàng ngàn thanh niên Việt kiều ở Lào và Thái Lan, đồng chí Khá đã từ giã vợ và hai con xung phong vào đội quân cách mạng theo lời kêu gọi "kháng chiến cứu nước" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại qua làn sóng đài Tiếng nói Việt Nam từ đất nước quê hương thân yêu vọng tới, làm náo nức, rung động lòng người sống xa Tổ quốc. Cuộc chiến đấu còn dang dở thì đồng chí Nguyễn Khá đã nằm lại yên nghỉ mãi mãi trên núi rừng Bắc Lào, để lại niềm thương tiếc, cảm phục cho anh em bộ đội Liên quân Lào - Việt đoàn 82 Khu I Bắc Lào.


Từ nơi xuất phát được dự định đi 5 ngày là đến nơi (Phân khu B) nên mỗi người phải mang 10 bát sắt gạo ăn đường. Nhưng sau trận Ca Lăng Tắp, đơn vị phải thay đổi kể hoạch hành quân, phải vượt núi băng rừng. Không vào được bản dân, không được đi theo các con đường lớn vì có quân địch đóng chốt và mai phục nên tốc độ đi rất chậm. Khi hành quân đã qua một tuần, chỉ mối đi được một phần ba chặng đường thì anh em đơn vị hết lương thực, phải ăn đọt cây tào, cây mây, nõn chuối và rau rừng, để dành phần gạo ít ỏi còn lại cho anh em cán bộ Lào ăn để có sức mà "đi đến nơi đã định". "Xin được hy sinh" - lời đề nghị cuối cùng của đồng chí Khá cứ vang vọng mãi bên tai anh em chúng tôi, tất cả chỉ im lặng, chịu đựng đói khổ nhanh chóng đưa đoàn "hạt giống đỏ của cách mạng Lào" về đến căn cứ được an toàn.


Đơn vị chúng tôi vượt qua đỉnh núi bản Na Tơi đi về phía Bắc. Vừa xuống đến lưng chừng đồi cỏ gianh để ra đường cái thì chạm trán quân địch. Các loại súng của địch bắn về phía chúng tôi như mưa. Đồng chí Hợp - một chiến sĩ còn rất trẻ trong tổ trinh sát đi đầu bị đạn xuyên qua đầu gối ngã khuỵu lăn xuống dốc, càng gần họng súng quân thù. Trong tiếng đạn nổ ầm ầm, tôi nghe được tiếng gọi của đồng chí Hợp:

- Anh Phi ơi! Cứu em với!

Hình ảnh đồng chí Khá lại hiện lên, nghĩ đến quân địch trước mặt, ngực tôi tức nghẹn, cố gào thật to:

- Súng máy bắn cả băng, toàn trung đội xông lên!

Dứt lời, tôi và anh em vừa bắn vừa hô xung phong xông thẳng vào đánh bật quân địch chạy dạt sang hai bên, để lại một quãng đường rộng cho đơn vị chúng tôi đưa đoàn cán bộ Lào vượt qua được an toàn.

Tôi cử bốn đồng chí còn tương đổi khỏe, thay nhau khiêng cáng đồng chí Hợp cùng đơn vị nhanh chóng vượt núi băng rừng, rời xa đường cái và bản dân. Mới đi được một đoạn đường khoảng 3km, bốn đồng chí khiêng cáng đồng chí Hợp đến đặt cáng trước mặt tôi, vừa khóc vừa nói:

- Anh em kiệt sức rồi! Tự đi còn khó khăn nên không thể khiêng đồng chí Hợp nữa! Mong anh hiểu cho.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:40:59 am
Tôi ngồi im lặng, chưa biết nên giải quyết như thễ nào đây? Hình ảnh hy sinh của đồng chí Khá lại vụt hiện lên... Tôi lấy chiếc chăn chiên trong ba lô ra làm cái địu (như kiểu đồng bào dân tộc địu con đi nương) cõng đồng chí Hợp sau lưng, tay cầm tiểu liên và chỉ huy đơn vị tiếp tục hành quân. Nhưng lòng hăng hái và thương yêu đồng đội cũng không thể gắng sức được lâu vì cái đói cồn cào và đường rừng rất khó đi nên đi được khoảng 2km, tôi kiệt sức ngã khuỵu. Tôi họp trung đội bàn cách giải quyết. Cũng vừa lúc những đám mây đen kéo đến làm cho bầu trời tối sẫm lại, những giọt nước mưa đầu mùa nặng hạt rơi xuống đập vào lá cây nhiều tầng, tạo lên tiếng ào ào kéo dài như thác đổ. Gió cũng gầm rít mạnh lên như bầy voi rừng xô cây nghiêng ngả. Trận mưa rào nhiệt đới kéo dài hai tiếng đồng hồ thì ngớt, nước mưa chảy lêng láng xuống chỗ trũng tạo thành những con suối mới nước đục ngầu chảy xiết. Chúng tôi phải lên chỗ cao chờ nước rút cạn mới lội qua. Mặt trời lộ ra, bừng sáng, những làn gió nhẹ thổi đến làm rung động những cành lá, trút nốt những hạt mưa tí tách cuối cùng và tiếng vỗ cánh lao xao của đàn chim đi tìm mồi... Tất cả cảnh vật và tiếng chim đã làm cho tâm trí anh em cảm nhận rằng mình đang được hưởng những giờ phút vắng lặng, bình yên. Và cùng với gió, với núi rừng đại ngàn vuốt ve, che chở cho những khoảnh khắc đằm thắm tình quê hương, đất nước bạn Lào...


Anh em trung đội chúng tôi bàn bạc nhất trí để đồng chí Hợp và đồng chí Đỉnh y tá ở lại cứu chữa vết thương. Khi nào khỏi thì đi đường có ký hiệu và vết dao chặt ngang bên phải gốc cây. Đó là đường đơn vị đi về khu căn cứ an toàn, giải quyết như vậy là lối thoát duy nhất không còn cách nào khác, bởi vì trung đội phải hoàn thành nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ bạn Lào đến khu căn cứ an toàn là trên hết.


Anh em chúng tôi cấp tốc chặt cây gỗ bằng bắp chân còn nguyên cành lá dựng thành túp lều tròn để hai đồng chí ở tạm. Tất cả thuốc men bông băng và một ít muối của đơn vị cũng để lại hết cho đồng chí Hợp và Đỉnh. Chúng tôi chia tay và hẹn ngày sớm gặp lại. Toàn đơn vị vội vã lên đường.


Thượng tuần tháng 7 năm 1951, tại khu căn cứ an toàn, hai đồng chí Đỉnh và Hợp đã vê đến đơn vị. Tôi dang hai tay quàng lấy hai vai của đồng chí Đỉnh và Hợp, lòng vui mừng không sao tả xiết.

Đồng chí Hợp cầm chặt tay tôi mừng mừng tủi tủi và luôn mồm nói:

- Cảm ơn anh đã cứu em!

Rồi cả hai đồng chí cùng kể lại những ngày ở giữa rừng hoang vắng chữa vết thương:

- Các anh đi rồi, núi rừng trở nên âm u, trống vắng. Nỗi lo buồn cứ dâng lên tràn ngập trong lòng. Tiếng chim "bắt cô trói cột" và tiếng chim gõ kiến rúc lên từng hồi càng tạo nên bản nhạc buồn cô quạnh. Đêm đêm nằm nghe tiếng nai tác, hổ gầm, vượn hý càng thêm ảo não, đem lại cho chúng tôi giấc ngủ chập chờn, lo lắng vì nhiều điều huyền bí của núi rừng đại ngàn còn mang nhiều dấu ấn của thời hoang sơ.

Đồng chí Đỉnh kể tiếp:

- Hàng ngày, khi tiếng gà rừng gáy sớm, sương đêm còn đọng trên tán cây, tôi đã thức dậy nấu nước sôi pha thuốc tím để nguội, chuẩn bị thuốc kháng sinh để chữa vết thương cho đồng chí Hợp. Vì hai chúng tôi sống đơn độc giữa rừng nên phải hết sức gìn giữ, bí mật. Khó nhất là giữ bí mật với dân các bản xung quanh. Chúng tôi phải thực hiện "ở không có khói, nói vừa đủ nghe, đi về không dấu vết". Sau khi chuẩn bị mọi việc ở lán xong, tôi mang theo dao, túi, ăng gô và bình tông đi dọc theo các khe suối tìm kiếm các thứ ăn được như ốc, cua, cá, nhái và các loại rau. Còn chất bột thì tôi phải tìm đến các hang hoặc hốc đá của lũ chuột rừng, chúng tha về những nhánh thóc, hạt ngô từ các nương rẫy để dự trữ ăn dần. Tôi phải lấy đá ghè nát những hạt thóc, ngô thành bột, nấu thành bát cháo rau thập cẩm. Hôm nào đói quá thì đổ nhiều nước, húp cho đầy bụng sống qua ngày... Những ngày sống vô cùng gian khổ nhưng hình ảnh thân thương của đồng chí Khá hiện lên trước mặt với nụ cười rạng rỡ lạc quan đã an ủi, động viên chúng tôi rất nhiều.


Chữa vết thương cho đồng chí Hợp chỉ khoảng hai tuần là khỏi. Nhưng để đầu gối co duỗi được, đồng chí Hợp phải tập gần một tháng và phải chịu đau đớn mới tập đi và leo núi được. Tôi luôn động viên đồng chí Hợp cố luyện tập leo núi để chóng đến ngày trở về đơn vị. Trước hôm trở về đơn vị, anh em chúng tôi tìm theo lôi cũ trở lại bên bò suôi Nậm Tắp tìm mộ đồng chí Khá. May nhờ bụi mẫu đơn ra nhiều hoa đỏ rực mới nhanh chóng nhận ra. Hai chúng tôi rất xúc động, ôm hai đầu mộ và cùng nói rằng: "Anh Khá ơi! Có lẽ đây là viếng anh lần cuối. Anh em chúng tôi sẽ lên đường trở về đơn vị thân yêu của chúng ta. Anh cũng vui lòng như vậy chứ, anh Khá ơi!".


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:42:22 am
CHUYỆN Ở CAO ĐIỂM 1978


NGÔ TIẾN BAN


Trăng hạ tuần mọc muộn, màn đêm yên tĩnh. Ngồi tựa vào thành công sự trên đài quan sát ở cao điểm 1978, mắt tôi như dán vào từng đoạn giao thông hào, từng công sự, từng ụ súng mà địch đã dựng lên. Tôi biết trong đó bọn địch đang chui rúc, ẩn nấp và sẽ chống trả quyết liệt.


Biết bao tình huống giả định, các phương án lởn vởn hiện ra trong đầu tôi. Qua nhiều năm chiến đấu trên chiến trường Bắc Lào, tôi muốn tìm một phương án tác chiến có hiệu quả nhất mà đỡ tốn xương máu. Đang miên man suy nghĩ thì tiếng con chim lợn bất thần hét vang "éc... éc... éc..." cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, đưa tôi nhớ lại một ngày cuối năm 1970.


Đơn vị chuẩn bị một chiến dịch mới thì đồng chí Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào Kay-xỏn Phôm-vi-hẳn về thăm. Trong cuộc gặp mặt, có đồng chí cán bộ ta đứng lên hứa với đồng chí Tổng Bí thư:

- Sẽ giải phóng Long Chẹng trong thời gian ngắn nhất.

Cả phòng họp ồn lên, tôi buột miệng nói:

- Ông chủ quan quá đấy!

Người khác lại nói:

- Long Chẹng là thủ đô, là sào huyệt của Vàng Pao, không dễ ăn đâu. Ngắn nhất là bao lâu?

Nhiều cái đầu quay về phía người phát biểu lắc lắc với ánh mắt nghi ngờ. Đồng chí Tổng Bí thư cười mỉm, giơ tay ra hiệu im lặng rồi nói:

- Tôi cũng hứa với các đồng chí sẽ đề nghị tuyên dương anh hùng cho đơn vị các đồng chí.

Tiếng vỗ tay ran lên, không khí buổi gặp mặt trở nên thân tình, cởi mở.

Thế mà bây giờ đây, sau hơn hai năm, trận địa của chúng tôi, cao điểm 1978 này mới chỉ cách Long Chạng có vài cây số đường chim bay mà phải dừng lại. Lòng tôi se lại, mắt lại căng ra nhìn sang trận địa địch.

Những tháng cuối năm 1972, địch huy động một lực lượng lớn chưa từng thấy ở chiến trường Lào do CIA trực tiếp chỉ huy gồm 30 tiểu đoàn quân phái hữu, 28 tiểu đoàn quân phỉ Vàng Pao, 18 tiểu đoàn quân Thái Lan và 3 tiểu đoàn pháo binh với nhiều binh khí kỹ thuật thông tin, công binh, thiết giáp; phản lực Mỹ, B52 chi viện không tiếc bom đạn cho từng trận đánh, trực thăng hàng trăm lần/chiếc/ngày chở quân, cẩu pháo, tiếp tế đủ thứ bảo đảm đến từng đại đội của chúng. Bằng cố gắng cao nhất, sau 5 tháng tiến công đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cuối cùng địch cũng phải chịu thất bại.


Mùa khô sắp tới, phát hiện ta chuẩn bị phản công, địch đã lui về, tập trung quân chiếm địa bàn lập tuyến phòng ngự.

Dải núi dài khoảng 4 - 5km chạy qua Phu Lũng Mạt, Thẩm Lửng - Sao Phan có điểm cao 1978 là địa bàn tranh chấp quyết liệt nhất. Sau nhiều đợt tấn công, địch đã phải đưa 4 tiểu đoàn Thái Lan tới lập trận địa phía Tây Nam cao điểm để ngăn chặn một tiểu đoàn quân tình nguyện.


Cả dải núi dài và cao điểm 1978 vốn là những khu rừng già nguyên sinh hàng trăm năm tuổi, quanh năm xanh tốt um tùm, nhiều gỗ quý, nhiều thú hiếm sinh sống ở đây, chỉ sau ít ngày bị bom đạn địch tàn phá đã trở thành đất chết. Mặt đất tả tơi, lở loét, nham nhở những hố bom sâu hoắm, méo mó vì bom nọ nổ chồng lên hố bom kia. Rừng chỉ còn là những cọc gỗ đen thui, cháy nham nhở, sứt sẹo, xơ xác như những cái gai to. Không một sinh vật nào tồn tại, không một màu xanh nào nhú lên được. Ngày cũng như đêm, ngoài tiếng gió thổi, tiếng bom đạn, không một âm thanh nào khác. Im lặng bao trùm. Thỉnh thoảng từ mặt đất lại bốc lên những cột khói trắng, những đám bụi đục ngầu, mùi khét lẹt của những đám cháy do bom napan, bom phá, bom phạt Mỹ gây ra. Bộ đội ta ở đây đã quen với ác liệt, coi thường mọi nguy hiểm. Pháo địch "suýt chết", bom Mỹ "ném chưa chắc đã trúng, mà có trúng chưa chắc đã chết"... Ngày vẫn có cơm nóng, nước nóng, tối trong các hầm dưới ánh nến lung linh vẫn tú lơ khơ. Tất cả cùng chung ý chí cùng một quyết tâm, lạc quan yêu đời, tin chắc vào thắng lợi.


Chỉ còn nửa tháng nữa Hiệp định Viêng Chăn có hiệu lực. Chúng tôi phải lập thêm nhiều đài quan sát, theo dõi sát mọi hoạt động của địch suốt ngày đêm từ nhiều hướng. Chuẩn bị đánh trả ngay từ trước lúc chúng thực hành lấn chiếm khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực nhằm chiếm thêm đất làm chuyện đã rồi như bọn ngụy quân miền Nam Việt Nam đã làm.


Từ ngày lui về phòng ngự, rất ít nghe thấy tiếng máy bay phản lực trực thăng chưa bao giờ tiếp tế đến trận địa. Ngay tại Long Chẹng, một tuần cũng chỉ có một đến hai lần bay đến tiếp tế.

Từ đài quan sát tôi thấy rõ, cứ sáng sáng, từng tốp lính vài ba tên có tên khoác súng, có tên không tỏa ra các hướng, xuống các khe đồi, rãnh núi, vào các bụi rậm đào đào, bới bới, quần áo xộc xệch, mặt mũi phờ phạc, gò má dô ra, hì hà hì hụi. Có lúc chúng reo lên, hành động nhanh hẳn lên như là cố vồ, chộp một con vật nào đó đang cắm đầu chạy. Lúc thì thấy chuột, lúc là cóc... toán khác thì đào củ rừng, bẻ lá cây... đến gần trưa, từ trận địa của chúng bốc lên những đụn khói trắng, xung quanh vài ba tên tranh nhau, chia nhau "chiến lợi phẩm", mồm miệng nhồm nhoàm, mặt mũi nhem nhuốc, cười nói hể hả. Đã nhiều năm chiến đấu ở các chiến trường Bắc Lào, nhưng tôi chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng "đẹp mắt" như thế. Bỗng trong óc tôi vụt hiện lên một ý nghĩ, thích thú quá tôi buột miệng:

- Ta đã có cách đánh chúng mày rồi, chắc thắng mà ít tốn xương máu.

Định thần lại, tôi nghĩ: "Phải cẩn thận đấy, phải làm từ từ để thử chúng phản ứng thế nào đã...". Lồng ngực tôi giãn ra, từng hơi thở thoải mái làm cho tôi thấy khoẻ khoắn ra.

Bỗng một hôm, vừa rạng sáng tiếng máy bay phản lực đã gầm rú, bom đạn ầm ầm nổ. Dấu hiệu cuộc tấn công đã rõ. Bộ đội ta bỏ cơm sáng, nhanh chóng vào vị trí chiến đấu sẵn sàng đợi lệnh. Sau vài ba đợt oanh tạc của máy bay bầu trời lại yên tĩnh, chờ mãi đến gần trưa mới thấy tiếng súng bộ binh địch nổ lẻ tẻ, rồi lại im ắng. Mãi đến tận chiều, tiếng đạn lại nổ nhiều, cả đạn M79 cũng nổ, súng phóng lựu của chúng cũng đã nhả đạn, cứ thế lặp đi lặp lại ba, bốn lần nhưng không thấy một tên lính nào xuất kích. Quan sát vệt lửa đạn thì chỉ thấy đường đạn bay cao dần lên, có vệt lửa chọc thẳng lên trời. Té ra, mặc dù bọn chỉ huy ác ôn ra lệnh, thúc ép tấn công, binh lính địch chỉ nằm trong hố, chĩa súng ra ngoài hoặc chĩa lên trời bắn loạn xạ, cốt cho hết đạn rồi báo cáo cho chỉ huy bị đối phương đánh chặn ác liệt không tiến lên được. Lúc này ở đây chúng còn tới khoảng 10 nghìn quân, có cả 4 tiểu đoàn Thái Lan cùng nhiều binh khí kỹ thuật, kể cả AD6 đỗ ở Long Chẹng, nhưng rõ ràng tinh thần binh lính đã suy sụp nên tuy đông quân nhưng không có sức chiến đấu.


Tình hình như vậy càng củng cố lòng tin của tôi về việc mở đợt hoạt động địch vận. Bước một bắn truyền đơn sang phía địch để thăm dò. Truyền đơn giải thích hiệp định đình chiến, kêu gọi binh lính Thái Lan không đi đánh nhau, đòi về nước với gia đình và nói rõ bộ đội Pa-thét Lào tôn trọng hiệp định, nếu đối phương khiêu khích vi phạm sẽ bị trừng trị thích đáng.


Những ngày sau đó, mặt trận trở nên yên tĩnh, bộ đội ta được nghỉ ngơi và theo dõi sát địch, sẵn sàng chiến đấu.

Trời cuối mùa khô, không khí mát dịu, thỉnh thoảng có những cơn mưa nhỏ vào buổi sáng. Ban ngày trời quang đãng, trong vắt, ánh nắng xuyên qua làn sương mỏng làm cho cảnh vật trở lên lung linh, nhiều màu sắc huyền ảo.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:43:09 am
Phát huy thắng lợi, chúng tôi chủ trương bằng mọi cách phải cảm hóa binh lính địch. Sáng kiến được nảy ra trong cuộc họp toàn đơn vị. Tuy có tranh luận, có khi gay gắt, nhiều ý kiến khác nhau nhưng cuối cùng cũng đi đến nhất trí: Bớt một lượng trong khẩu phần ăn của anh em và dùng một ít trong dự trữ cho thương bệnh binh làm địch vận. Quyết nghị xong, mọi người lao vào làm việc. Người thì lấy dao găm chặt, đẽo, gọt những cành cây khẳng khiu, cháy dở nham nhở, người đi tìm bất cứ thứ gì có thể buộc, ghép được để làm một cái bàn. Chân bàn cao khoảng hơn đầu người ngồi. Ngay tối hôm đó, chiếc bàn đã được chôn sát hàng rào dây thép gai của địch, trên bàn đặt dăm gói lương khô, vài gói đường, một vài hộp sữa Ông Thọ, có tờ giấy nhỏ lấy từ vỏ bao thuốc lá Trường Sơn lộn ngược ghi rõ bằng chữ Lào: "Thấy binh lính Thái Lan thiếu đói, phải đào chuột, củ rừng về ăn, chúng tôi để thực phẩm ở đây cho các anh lấy về dùng".


Khi bóng đêm phủ xuống trận địa, ánh trăng cuối tháng mờ mờ trong làn sương nhưng vẫn đủ để quan sát động tĩnh. Về khuya, trong một công sự địch, binh lính lố nhố ra cửa, một tên lom khom bò thấp ra phía bàn, ngó nghiêng trước, sau, phải, trái. Đến gần bàn nó vụt đứng lên, lại vội ngồi xuống nhanh như con rối. Yên tĩnh, hắn ngồi sát bàn, chỉ từ mắt trở lên mới cao hơn bàn, chăm chú nhìn vật phẩm đặt trên đó. Cẩn thận nhưng vẫn luống cuống, cúi thấp hơn mặt bàn, với tay quờ quạng, vét vét bất cứ thứ gì tay chạm phải ra sát mép, một tay lấy vạt áo ra hứng các vật phẩm được vét ra rơi xuống. Xong việc nó ôm gói đồ trước bụng, một tay chống bò về công sự vội vàng.


Mọi hành động của tên lính Thái đều lọt vào mắt tôi. Sau khi tên lính Thái chui vào hầm, tôi mừng thầm nhưng đầu óc lại nghĩ miên man. Hình ảnh cuộc họp buổi chiều vẫn lởn vởn, day dứt trong tôi. Dáng ngươi gầy gò, gương mặt cương nghị của một chiến sĩ và lời nói của đồng chí đó đến giờ vẫn không quên được:

- Tôi sẵn sàng nhịn đói để các em thơ, các mẹ già ở Xiêng Khoảng được ăn, chứ không đồng ý cho kẻ địch dùng. Làm như vậy là mất lập trường.

Bây giờ tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, không biết những tên lính Thái Lan được ăn lương khô, đường sữa ấy có nghĩ gì không? Liệu việc làm này có giúp phần nào cảm hóa được chúng không? Những tên lính đánh thuê chỉ có một mục đích vì tiền. Và tự an ủi mình: Dù sao việc đó cũng có tác dụng trước mắt. Mình chỉ làm vì muốn đỡ xương máu cho cả hai bên. Đầu óc tôi cứ miên man, rồi hai mắt cứng lại, rồi hai mi sụp xuống, lưng tựa vào vách hầm, tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không biết, chỉ mơ mơ màng màng thấy mình đang múa Lăm vông với đồng bào Phôn Sa Vẳn mừng chiến thắng trong ánh lửa trại, tiếng trống bập bùng... bập bùng...


Sau một tuần như vậy, không phải đợi đến đêm mà ngay buổi chiều, khi chúng tôi mang lương khô, đường sữa, cả họa báo nữa đặt lên bàn quay về thì binh lính Thái Lan đã chạy ra, tranh nhau vồ lấy thực phẩm, hớn hở quay về công sự, tay ngoái lại vẫy vẫy, vái vái vài lần. Một buổi sáng, chúng tôi nhận được tờ giấy của lính Thái đặt trên bàn: "Cảm ơn bộ đội nhà Phật. Chúng tôi đang đòi về nước". Như giải tỏa được nỗi lòng, anh em ai cũng thấy mình đã làm đúng; bụng tuy đói nhưng vẫn vui vẻ. Lúc rảnh rỗi anh em còn đi tìm hoa phong lan về tô điểm cho hầm của mình.


Đúng 12 giờ trưa ngày 22 tháng 2 năm 1973, lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Lào có hiệu lực. Bọn lính địch ào cả ra hò hát nhảy múa lung tung. Hai tay giơ cao hơn đầu lắc lắc, khua bất cứ cái gì có trong tay. Khăn mặt trắng, khăn rằn ri, áo, quần, mảnh dù rách, cành cây. Mặt mũi nhem nhuốc, gầy gò, hốc hác, quần áo nhàu nát. Âm thanh lộn xộn, đám lính lộn xộn, nhưng thấy tên nào cũng hả hê sung sướng như đã thoát khỏi địa ngục và chờ đợi một điều gì đó lâu lắm rồi nay mới toại nguyện. Nhìn cảnh ấy, tôi chợt thốt lên thật to để anh em ta nghe thấy:

- Các đồng chí ơi! Chúng ta đã ghi được điểm rồi!

Bên ta vẫn bình tĩnh, đã chờ ngày thực hiện kế hoạch cắm cờ phân giới tuyến. Đúng giờ, 3 tổ, mỗi tổ 3 đồng chí quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ lưỡi trai (mũ Pa-thét Lào), tay cầm những bó cờ nhỏ vải đỏ hiên ngang đi đều, những bước chân chững chạc tiến thẳng ra hàng rào của địch, lần lượt cắm chắc chắn những cây cờ, nhằm tỏ rõ ranh giới, hạn chế phạm vi hoạt động của đối phương chỉ được đến đó. Bọn lính Thái Lan nhìn sang dãy cờ đỏ lơ láo, ngơ ngác, đến khi anh em ta quay về chúng mới hiểu được mục đích việc phân tuyến. Những lá cờ đỏ vẫy vẫy trong gió như mừng thắng lợi bước đầu của chúng tôi, như vẫy chào những người con anh dũng của nhân dân Lào. Dãy cờ ngăn chặn mọi bàn tay tội ác của kẻ thù.


Hai bên nhìn nhau trong im lặng lúc lâu rồi tản về các nơi. Tôi xúc động, nước mắt làm nhòa đi hình ảnh bẩn thỉu, lem luốc của bọn lính phía bên kia. Bỗng nhớ lại, mới hôm nào đây mà đã hơn hai năm trôi qua, lời hứa với đồng chí Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào chưa thực hiện được trọn vẹn. Từ đây vào Long Chẹng chỉ còn vài cây số thôi mà phải dừng lại, tự thấy xấu hổ nhưng trấn tĩnh lại ngay, vẫn còn thời gian để làm nốt phần còn lại. Chắc chắn như vậy.


Chấp hành chỉ thị của trên, bộ đội Pa-thét Lào sẽ vào tiếp nhận địa bàn, trực tiếp tiếp xúc, quân tình nguyện lui về sau đứng làm dự bị. Chúng tôi đón đoàn cán bộ Lào do đồng chí Khăm Kiệu - Trưởng ban tác chiến quân khu bạn vào chuẩn bị. Đồng chí Khăm Kiệu dáng hơi thấp, nước da ngăm ngăm, thân hình chắc nịch, mặt hơi gầy nhưng hiền hậu, đôi mắt đen, lanh lợi, dáng đi chắc, nói năng thận trọng từ tôn và nói sõi tiếng Việt. Bạn, ta gặp nhau dù quen hay không đều chạy tới ôm chầm vào nhau, vồ vập, hết người này đến người khác như những anh em ruột thịt xa cách nhau lâu ngày mới gặp lại. Không khí hân hoan vỡ ra bởi những âm thanh tíu tít lẫn lộn cả tiếng Lào, tiếng Việt, chỉ cốt nói để thỏa tấm lòng thương nhớ, chờ đợi nhau. Tôi đã đôi lần được hưởng cái hạnh phúc ấy trên các chiến trường Bắc Lào mà hôm nay mắt vẫn nhoè đi xúc động. Sau những phút nồng ấm, chúng tôi đưa đoàn bạn đi nắm tất cả các vị trí từ phía sau ra phía trước. Đến sát tiền duyên, đoàn cán bộ bạn tản ra, mỗi người tìm một vị trí quan sát thuận lợi theo ý định và nhiệm vụ của mình. Khăm Kiệu đi đến từng người một, chỉ chỉ chỏ chỏ, nói với cán bộ của mình như dặn dò những chỗ, những điểm cần chú ý. Trước khi ra về để dẫn quân vào, Khăm Kiệu thay mặt đoàn cán bộ Lào nói:

- Cảm ơn các đồng chí. Các đồng chí đã tạo những điểm hiệu, những lợi thế tốt nhất cho chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi sẽ thực hiện thay quân đúng kế hoạch, bí mật, sẽ hoàn thành nhiệm vụ và luôn mong muốn sự hỗ trợ của các đồng chí.


Đơn vị bạn đã tiếp quản xong tất cả các vị trí. Mọi hoạt động của bạn vẫn diễn ra đúng như trước đây ta vẫn làm nên địch không hề biết. Bạn đã yên tâm, Khăm Kiệu hoạt bát hẳn lên, dáng đi thoăn thoắt nhanh nhẹn, khác hẳn những ngày đầu vào thâm nhập khu vực phòng ngự.


Sắp hành quân về phía sau, lòng tôi rộn ràng mừng lo lẫn lộn. Trong đầu bao nhiêu câu hỏi xuất hiện: "Không biết có còn điều gì mình chưa nói hết với Khăm Kiệu không? Bạn còn khó khăn gì không?". Nhưng tôi nghĩ lại, qua các buổi diễn tập chiến đấu theo các tình huống giả định, bạn đã tỏ ra nắm vững ý đồ, nắm vững quyết tâm, kế hoạch tác chiến; trong xử trí của chiến sĩ có nơi còn sáng tạo hơn, nhanh hơn đáp án. Tôi hoàn toàn yên tâm.


Chào Khăm Kiệu ra về, nhưng chúng tôi cứ ôm lấy nhau, bịn rịn không muốn rời ra, miệng thì thầm:

- Cảm ơn bạn, chúng ta sẽ nhớ mãi những ngày này.

Một làn gió mát thổi qua, tôi buông tay, vừa đi vừa ngoảnh lại, tay vẫy vẫy:

- Tạm biệt, chúng ta nhất định sẽ chiến thắng.


Hà Nội, tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:21:17 am
NGÔI MỘ GIỮA RỪNG


ĐÀO VĂN TIẾN


Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, ngày 27 tháng 7 là ngày ngừng bắn trên chiến trường Lào. Chính ngày này, chúng tôi được Bộ Tham mưu quân tình nguyện Việt Nam tại mặt trận Thượng Lào giao cho một công tác đặc biệt: "Công tác mồ mả".


Nhiệm vụ của chúng tôi là đi đến các bản làng, phát hiện mồ mả của các đồng chí quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trước đây, tiến hành đắp lại, vẽ sơ đồ và nhò nhân dân địa phương chăm sóc phần mộ. Sau khi quân tình nguyện tập kết về nước theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ mà chưa có điều kiện hồi hương hài cốt các liệt sĩ.


Đây là một công tác có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn, nó không những đảm bảo tốt chính sách quân đội đối với các đồng chí đã hy sinh và gia đình, mà nó còn củng cố thêm tình hữu nghị hai nước Việt - Lào.

Địa bàn tìm kiếm của chúng tôi hướng về biên giới Lào - Việt. Câu thơ trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng như mách bảo "Rải rác biên cương mồ viễn xứ". Cứ đến các bản làng biên giới xa xôi, hỏi dân thì chắc chắn phát hiện ra mộ liệt sỹ.


Chúng tôi đến bản Xiềng Ken vào một buổi xế chiều. Những người lính văn phòng như chúng tôi chỉ quen ở trong lán trại và ít tiếp xúc với nhân dân. Nay sau bao ngày trèo đèo, lội suối vất vả, đã có một buổi chiều êm ả. Buổi chiều tràn ngập âm thanh, hương vị.


Đầu tiên phải nói đến tiếng chày giã gạo của những cô phù xao (con gái) thật rộn ràng. Tiếng chày khuơ nhanh trong cối thuyền hoà trong tiếng giã chậm của cối tròn của các bà, các chị đứng tuổi, nghe như tiếng trống Lăm vông buổi hội làng. Rồi mùi hương của xôi đang lên hơi, mùi khói hăng hắc, khen khét của những đống dấm bằng rơm, trấu chộn lẫn phân trâu đốt để đuổi muỗi làm cho chúng tôi xốn xang, ngây ngất và ấm áp.


Từ suối về bản, một bà già vác trên vai hai ống nứa dài đựng nước, tóc búi cao tới tận đỉnh đầu, địu đằng sau là một đứa cháu. Đứa cháu đã ngủ say trên lưng bà và lắc lư theo từng nhịp bước. Rồi bà chỉ cho chúng tôi nhà ông Nai bản.


Đó là một ngôi nhà sàn cao to, lợp ngói gỗ. Dưới gậm sàn, một đàn trâu, con đứng, con nằm mắt lim dim, con thong thả nhai đi nhai lại, hếch cái mũi nhấm nháp làn khói cay xè đang hắt lên.

Chúng tôi cẩn thận cởi bỏ dép để ở dưới cầu thang, nhẹ nhàng bước lên và không quên đằng hắng đánh giọng cho chủ nhà biết.

Ông Nai bản tuổi trạc ba mươi. Một vết sẹo to bằng quá mận quân chín sát dưới mắt phải làm khuôn mặt ông hơi bị lệch. Đó thường là vết sẹo của những tay súng hoả mai cừ. Loại súng này báng ngắn, giống chiếc can. Người thành thị dùng để chống cho oai. Súng này khi bắn không tỳ lên vai như súng kíp, súng săn hay súng trận mà người bắn phải nâng báng súng lên tỳ vào xương má dưới mắt phải để ngắm. Đạn nổ, lao ra, báng súng giật mạnh thúc vào xương gò má, lâu ngày thành chiếc sẹo tròn bầm tím.


Ông Nai bản tiếp chúng tôi với vẻ dễ dãi, cởi mở và thân mật, chân tình.

Trong bữa cơm mà dân bản nghe mõ đánh, mỗi người mang đến góp một típ xôi, một gói "cheo", theo tục lệ khách của bản được dân bản chung tiếp, chung nuôi.


Xôi chỉ chấm với độc một món "cheo", loại thức ăn phổ biến mà dân dã của người Lào biên giới. Món này chỉ có muối giã với ớt nướng rất cay, nhưng không nồng mà lại còn thơm. Nước mắt, nước mũi chúng tôi trào ra vì cay. Nghe có người trong chúng tôi bảo "cay". Ông Nai bản cười bảo "nhắp khâu mè" có nghĩa là "dịch gần vào". Bởi "cay" theo tiếng Lào có nghĩa là xa. Kêu "cay" có nghĩa là kêu xa, nên xa thì dịch gần vào. Chúng tôi cười ngả nghiêng và vui vẻ trước sự thân tình của mọi người.


Cơm xong, chúng tôi báo cáo nhiệm vụ công tác và yêu cầu ông giúp đỡ. Ông gật đầu nói.

- Ở đây có một bộ đội hy sinh đã lâu. Hồi địch còn đóng đồn trong Sốp Hào. Chúng đi tuần đêm, bất ngờ gặp bộ đội ở đầu bản, hai bên đánh nhau. Một bộ đội chết. Chính tôi được chôn đồng chí ấy mà.

Ông quay sang hỏi chúng tôi:

- Các anh cùng đơn vị với anh ấy ư?

Tuy không phải cùng, nhưng chúng tôi đều gật đầu. Ông Nai bản rất hài lòng và nói.

- Các anh đối với nhau tình nghĩa như vậy là rất tốt.

Rồi ông chuyển giọng trách:

- Sao lâu nay các anh không đến thăm dân bản? Không đến thăm mộ đồng chí ấy?

Chúng tôi chỉ còn biết nói là vì nhiệm vụ quá bận nên giờ mới đến được. Mong bà con thông cảm cho.

Đắm mình trong hồi ức cũ, ông Nai bản kể tiếp.

- Đêm ấy, nếu có bác sỹ thì anh bộ đội không chết. Bọn lính đồn sau khi bắn nhau, chúng kéo vào bản quát tháo và cho rằng bản này theo Ít-xa-la, chúng dọa đốt cả làng. Nai bản xin mãi, rồi đem lợn một con, rượu một hũ, nếp một gánh, mấy băng "pa đẹc" cho năm người khiêng lên đồn để chúng mở tiệc mừng thắng trận. Thế là chúng tha, nhưng trước khi chúng tha, tên chỉ huy bảo Nai bản cho người ra chôn xác chết.


Tôi và phò Thít Bua bị bắt ra đào huyệt chôn anh bộ đội. Đang đào, tự nhiên thấy anh ấy sống lại, anh kêu khát. Tôi định về nhà lấy nước thì phò Thít Bua bảo tôi lên đồn báo với chúng việc này.

Tôi đốt đuốc đi đường tắt lên đồn. Khi đuốc cháy gần hết, tức là tôi đi đã được gần nửa đường. Tôi nghĩ, nếu báo đồn thì chúng sẽ bắn chết anh ấy. Nghĩ lại, tôi quay về với ý định sẽ bàn với phò Thít Bua tìm cách cứu anh ấy và tin phò Thít Bua sẽ nghe theo, vì phò là người tu hành đắc đạo, là người có lòng vị tha, nhân ái và có chức sắc ở chùa.


Khi tôi vế đến nơi, phò đang ngồi bó gối bên cạnh ngôi mộ đã đắp cao, miệng ngậm tẩu thuốc, vẻ mặt mệt mỏi, u buồn. Tôi thốt lên:

- Anh ấy đâu rồi?

Phò chỉ vào ngôi mộ:

- Bây giờ thì anh ấy chết thật rồi. Mày đã báo đồn chưa?

Tôi đáp:

- Tôi đi được gần nửa đường thì đuốc tắt. Không có đuốc tôi sợ chúng bắn nên quay lại.

Phò gật đầu:

- Thế là may. Nếu báo thì rắc rối to đấy.

Tôi thở dài trong thương cảm:

- Anh ấy còn trẻ quá.

Kể đến đây thì Nai bản đứng dậy.

- Thôi các đồng chí ngủ sớm cho đỡ mệt. Cứ mắc màn tự nhiên, nhà không kiêng khem gì đâu. Sớm mai tôi đưa các anh ra mộ. Bây giờ tôi phải đi gặp dân bản một lúc.

Chúng tôi hỏi thăm về phò Thít Bua, Nai bản cho biết từ dạo ấy phò đã ra đi và nghe đâu làm cán bộ trên tỉnh. Đã mấy năm rồi không thấy về làng.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:22:31 am
Sáng hôm sau, khi chúng tôi theo ông Nai bản ra đầu làng đã thấy nhiều người tụ tập ở đó. Họ đều mang theo dao, rựa, cuốc, thuổng... Hoá ra đêm qua Nai bản đã đi báo cho từng nhà dân sáng nay sẽ đi đắp mộ cho anh bộ đội.


Mộ người chiến sĩ nọ nằm ở rìa khu rừng cạnh đường vào bản. Ngôi mộ lâu ngày không ai đắp nên đất đã bằng địa. Chúng tôi không thể nhận ra nếu ông Nai bản không chỉ cho những dấu vết đặc biệt. Đó là một vết sẹo to ở gốc cây cạnh đó. Nghe ông nói thì chính phò Thít Bua đã dùng dao chém vào làm dấu. Còn nữa. Đó là hòn đá màu xám, to tròn và nhẵn được ông bê từ suối lên đặt vào.


Mọi người bắt tay vào công việc ngay. Người phát cây, người đắp đất, người khác kè đá quanh chân mộ. Không đầy một tiếng, ngôi mộ đã được đắp cao và dưới chân mộ, một hàng đá được ghép ngay ngắn. Thì ra tình cảm chân thành thường tìm đến những sáng kiến hay. Hàng chữ "Nhớ ơn đồng chí tình nguyện quân Việt Nam đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc Lào" đã được anh em thanh niên khắc lên bia gỗ, dựng trước mộ. Những cây hoa rừng được các em thiếu niên trồng xung quanh mộ.


Với giọng xúc động, đồng chí phụ trách tổ công tác chúng tôi đã rưng rưng nói mấy lời cảm ơn dân bản Xiềng Ken.

"... Mai đây bộ đội Việt Nam sẽ về nước tập kết. Chỉ có những đồng chí như đồng chí đây là còn ở lại với bà con một thời gian. Xin được sự chăm sóc cho người nằm xuống được mồ yên mả đẹp".

Những tiêng thở dài gọi giọt nước mắt mang nỗi niềm thiêng liêng rơi vào đất nhớ.

Ông Nai bản bước lên:

- Tôi không dám thay mặt cho bà con dân bản, lời tôi nói chưa chắc đã tiêu biểu cho ý nghĩ, tình cảm của mọi người. Tôi chỉ muốn nói những suy nghĩ của mình thôi.

Tôi là người tham gia cách mạng sớm và ngay sau cái đêm tôi cùng phò Thít Bua đưa tiễn anh bộ đội đang nằm ở dưới đây, tôi suy nghĩ mãi. Rằng anh ấy ở tận Việt Nam mà sang đây đánh Pháp, giải phóng cho dân tộc mình, tìm lại hạnh phúc cho nhân dân mình. Vậy mình là một thanh niên Lào, ta phải làm gì cho dân, cho nước, cho bản, cho làng? Thế rồi tôi vào rừng theo bộ đội Ít-xa-la đánh giặc giữ làng. Tôi đã tham gia chiến dịch giải phóng Sầm Nưa. Đến nay trong người tôi vẫn còn mảnh đạn, tôi vẫn được bà con tín nhiệm cử làm Nai bản. Tôi cảm ơn anh em quân tình nguyện Việt Nam. Cảm ơn con người Việt Nam. Tôi hứa sẽ làm cho tình đoàn kết Lào - Việt ngày càng tươi đẹp.


Một cụ già bước lên:

- Các con bộ đội Việt Nam cứ yên tâm. Các bố, các mẹ và bà con dân bản sẽ trông nom chăm sóc phần mộ anh ấy cẩn thận.

Tiếng một bé gái cất lên:

- Chúng em sẽ chăm sóc những cây hoa, để mộ anh quanh năm hoa nở.

Bỗng có tiếng một cụ già:

- Mọi người làm gì trong ấy mà đông thế?.

Tất cả quay lại phía tiếng hỏi. Cụ già tay cầm tẩu thuốc, vai khoác chiếc túi thổ cẩm rẽ cành lá bước vào.

Một em bé nhanh miệng.

- Chúng cháu đắp mộ cho anh bộ đội. Anh bộ đội quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh ở đây.

Ông già thong thả.

- Hoà bình rồi sao vẫn còn hy sinh?

Ông Nai bản giờ mới nhận ra:

- Ôi! Phò Thít Bua. Phò về từ bao giờ vậy?

Ông già không trả lời mà hỏi lại:

- Nai bản ơi sao lại có chuyện lạ vậy?

Nai bản kéo ông già đến chỗ chúng tôi:

- Phò ạ! Mấy anh đây cùng đơn vị với đồng chí năm xưa đã hy sinh. Các anh ấy sắp tập kết về nước, đến đắp lại ngôi mộ, nhờ dân bản ta chăm sóc, chứ không có ai phải hy sinh nữa cả.

Mặt phò giãn ra:

- Thế thì mừng. Nhưng bà con ơi! Bộ đội ơi! Đây chỉ là ngôi mộ giả.

Mọi người ngạc nhiên.

- Mộ giả là thế nào?

Nai bản gay gắt:

- Phò ơi! Phò không đùa đấy chứ. Nếu đây là mộ giả thì mộ kia ở đâu? Anh ấy được chôn ở đâu?

Phò Thít Bua nói từng câu:

- Khi anh bộ đội kêu khát, tôi đã biết anh ấy sống rồi. Tôi nghĩ, cần phải cứu anh ấy, nhưng sợ không có sự đồng lòng nên mới bảo Nai bản đi báo đồn với mục đích để Nai bản đi thật xa, rồi mới cõng anh ấy lên nhà rẫy buộc thuốc. Còn tôi. Tôi đã đắp ngôi mộ giả chờ Nai bản về và nếu có địch thì còn có cách mà xử trí. Lúc Nai bản về tôi cũng định nói. Nhưng bí mật thì chỉ một người biết thôi. Hơn nữa, ngày ấy tôi làm sao biết được bụng Nai bản.


Nai bản chỉ biết cười trong nước mắt. Mọi người và chúng tôi đều hỏi:

- Thế bây giờ anh ấy ở đâu?

Phò chậm rãi:

- Anh ấy nằm ở túp lều bí mật cạnh rẫy của ta gần một tháng. Con gái ta ngày ngày lên rẫy mang xôi và thức ăn cho nó, buộc thuốc, giặt dũ quần áo.

Vết thương khỏi, nó xin ta đi tìm đơn vị. Nó hẹn khi nào chiến tranh kết thúc nó sẽ trở lại. Hôm nó đi, con gái ta khóc suốt một buổi. Nó là bộ đội, vết thương đau đớn vậy mà cố cắn răng chịu đựng. Thế mà hôm chia tay bố con ta, mắt nó cũng rưng rưng.


Từ ngày nó ra đi đến nay, ta không nhận được tin tức gì. Bố con ta vẫn thường hỏi thăm tin tức nó mỗi khi có quân tình nguyện Việt Nam đi qua. Cũng có lúc ta nghĩ, có thể nó hy sinh trong một trận đánh nào đó trên đất Lào, sau khi lành vết thương; nhưng rồi ta vẫn tin, nếu nó còn sống, nó sẽ trở lại thăm ta, gặp con gái ta. Khổ thân con bé. Nó vẫn chờ.


Quay lại phía chúng tôi phò Thít Bua cảm động nói:

- Các con bộ đội Việt Nam. Các con sắp vế nước, về với Tổ quốc và gia đình thân yêu. Nhớ nói với mọi người là nhân dân các dân tộc Lào biết ơn nhân dân Việt Nam đã cho con em sang chiến đấu vì nền độc lập thống nhất của nước Lào. Bố mẹ và bà con dân bản không bao giờ quên các con.

Công việc của chúng tôi ở bản Xiềng Ken là đắp lại mộ cho người đã khuất. Sự việc diễn ra như trong một giấc mơ. Người chết đã bao năm, nay sống lại hóa thành một thương binh. Điều kỳ diệu đó không phải do phép thần thông mà do chính tấm lòng nhân ái của người dân nước bạn.


Rời bản Xiềng Ken, chúng tôi tiếp tục lên đường thực hiện nhiệm vụ đặc biệt. Chân bước đi mà chúng tôi, ai nấy lòng xốn xang niềm kính yêu và cảm phục đối với phò Thít Bua, ông Nai bản cùng dân làng Xiềng Ken. Thầm mong và tin tưởng người đồng đội ấy, nếu còn sống thì dù ở phương trời nào nhất định anh ấy cũng tìm về thăm hỏi bố con phò Thít Bua - những người không quản hiểm nguy đã yêu thương, đùm bọc chúng tôi những người lính tình nguyện Việt Nam.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:24:31 am
CAO NGUYÊN ĐÁ


NGÔ TIẾN MẠNH
(Ghi theo lời kể của đồng chí Ngô Đình Minh)


Đó là lần duy nhất tôi khóc kể từ khi tôi trở thành người lính. Tôi đã khóc, khóc hu hu và nấc lên như một đứa trẻ. Tiếng khóc của người lính quân tình nguyện Việt Nam đã nhoà trong tiếng khóc một cô gái Lào vào một chiều, khi mà hoàng hôn thăm thẳm thả xuống cao nguyên Bô-lô-ven. Và bây giờ, mỗi khi nhớ đến kỷ niệm ấy, trái tim tôi lại rưng rưng, thầm khóc.


Ngày ấy. Tôi. Người đàn ông bốn mươi tuổi, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 49 rồi chuyển thành Trung đoàn 59 thuộc mặt trận X, do đồng chí Hoàng Kiện làm chỉ huy mặt trận. Đó là trung đoàn chủ lực quân tình nguyện Việt Nam, cùng lớp lớp những người lính tình nguyện của Tổ quốc mình, sang giúp bạn giải phóng đất nước.


Mùa khô năm 1970. Khi mà bước chân tôi đã chạy dọc dãy Trường Sơn, đội mưa bom, xuyên qua bão đạn của kẻ thù, chỉ biết tiến lên và chiến đấu để giải phóng đất nước.


Đất nước mình chưa giải phóng được, cuộc chiến đấu của dân tộc ta ngày một cam go và có phần khốc liệt hơn. Nhận nhiệm vụ của cấp trên, tôi và biết bao nhiêu đồng đội được điều động sang nước bạn Lào làm nghĩa vụ quốc tế, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu để giải phóng đất nước.


Là anh lính quân sự, chỉ huy đơn vị chủ lực đi đầu trên mặt trận, mở màn mọi trận đánh, tôi đã rèn cho mình một điều, một điều tưởng trừng có lúc tôi đã không thể làm được. Đó là không được khóc trước mặt đồng chí, đồng đội và nhân dân khi có ai đó hy sinh. Nghe đến đây chắc hẳn có nhiều người sẽ nghĩ tôi là người vô cảm, là kẻ vô tâm. Nhưng thú thực lúc xung trận, tôi vẫn thường tự nói với chính mình và đồng đội rằng: "...Hãy nuốt những đau thương ấy vào lòng mà biến nó thành sức mạnh. Nước mắt xin để dành cho ngày chiến thắng...".


Cao nguyên Bô-lô-ven thuộc Hạ Lào, nơi được coi là địa hình chiến lược quan trọng trong quá trình bảo vệ hành lang của mặt trận X.

Lúc đầu tôi vừa là Trung đoàn trưởng, lại vừa là chủ nhiệm pháo mặt trận. Gọi là chủ nhiệm pháo, nhưng đó chỉ là một đại đội pháo mặt trận, duy nhất chỉ có một khẩu 12,5 ly.

Để bảo vệ được hành lang tuyến vận tải chiến lược 559, nhiệm vụ của Trung đoàn chúng tôi là phải chiếm giữ và làm chủ bằng được đường 23, con đường chiến lược chạy từ Đường 9 - Nam Lào xuống cao nguyên Bô-lô-ven đến Pắc Xế.


Cao nguyên Bô-lô-ven như một bông hoa sen đá, nở lên giữa đại ngàn. Bông sen đá ấy được bao bọc bởi những vách núi đá dựng đứng, và từ cao nguyên Bô-lô-ven những con sông nhỏ như: Chăm-pi, Sê-piêng, Sê-nậm-nọi... tựa mái tóc thiếu nữ mười tám đôi mươi, chảy xuống hun hút những vạt rừng bằng Hạ Lào.


Đẹp thì đẹp thế, nhưng đây là địa hình chiến lược, hiểm trở mà địch đang chiếm giữ để bảo vệ sườn phía đông của thủ phủ Nam Lào - Pắc Xế. Là nơi cố thủ vững chắc và có thể tiếp tế bằng không quân, vì trên đó còn có cả sân bay.


Đơn vị chúng tôi sống ở rừng là chủ yếu. Vào mùa khô còn đỡ, chứ vào mùa mưa thì thật là khủng khiếp. Những cơn mưa cứ ràn rạt giội xuống làm đất thối nhũn ra. Mùi rừng, mùi đất, mùi hơi người phảng phất và "quyến rũ" đến nỗi, lũ ruồi vàng, loài rắn và muôn loài cứ chen nhau tìm về, khiến rừng đêm tru lên những âm thanh thật hoang dã.


Ban ngày chúng tôi tổ chức đánh giặc, ban đêm thì rút vào rừng làm công tác tiếp tế lương thực và cấp cứu thương binh. Có những tháng, cả đơn vị không ai được ngủ lấy một tiếng trọn vẹn. Ngày giải phóng Át-tô-pơ đang đến gần.


Tỉnh Át-tô-pơ khi chúng tôi đến thì đúng như lời của đồng chí Hoàng Kiện đã nói trong khi giao nhiệm vụ cho đơn vị. Đó là một vùng mà dân cư rất thưa thớt, sống thu mình và ở rải rác, không tập trung. Được cái, người dân sống thật thà và tin người.


Là chỉ huy, nhưng tôi chỉ biết đánh đấm. Trên chỉ đâu, chúng tôi nghiên cứu mặt trận và đánh ở đấy, chứ thật ra tôi chẳng biết chút tiếng Lào nào cả.

Buổi chiều ngày hôm trước khi đánh cao nguyên Bô-lô-ven, tôi đã trực tiếp cùng cậu Hùng liên lạc và cậu Tiến quân y, đi trinh sát mặt trận. Khi đi đến men con suối Chăm-pi thì gặp Chay-khăm-min đi lấy nước. Chay-khăm-min là tên cô gái người dân tộc La-ve, cô nói tiếng Việt tương đối tốt.


Chay-khăm-min khoảng 20 tuổi, tóc dài. Chẳng biêt có phải do ánh hoàng hôn đang hắt từ dòng Chăm-pi tưới vào mặt cô, hay do tôi chưa từng được nhìn thấy người con gái Lào mà chân chúng tôi ngưng lại.


Môi cô nở nụ cười thật hiền. Nụ cười chỉ đủ mở he hé hàm răng trắng loá trên bờ môi cong đỏ. Chiếc váy được cuốn sát thân khoe ra những đường cong hun hút, và che đi cơ thể nhu nhú, vòi vợi thanh xuân. Cô như hút chúng tôi và thu cả hoàng hôn từ trên cao nguyên Bô-lô-ven đổ xuống thân thể mình, chảy lên khuôn mặt thánh thiện, vòn trên váy áo và ùa xuống dòng Chăm-pi qua cặp chân tròn dài đang hồng lên. Một buổi chiều bình yên ít ỏi của lính chủ lực mặt trận.


Tiếng nói của cô gái bỗng phá tan nỗi nhớ vừa ùa đến bên tôi. Nỗi nhó về người vợ trẻ và những đứa con nơi quê hương đang mong ngóng tôi mau chiến thắng trở về.

- Chào các anh bộ đội Việt Nam!

Vì đã được đồng chí Hoàng Kiện quán triệt, nên chúng tôi hết sức cẩn trọng.

Trận đánh diễn ra đúng ý định. Chỉ sau 6 quả 12,5 ly, đơn vị tôi đã làm chủ trận địa. Như được đà, chỉ sau một ngày, Trung đoàn đã làm chủ cao nguyên Bô-lô-ven và nhanh chóng giải phóng hoàn toàn tỉnh Át-tô-pơ.

Đó là cuối mùa khô năm 1970.

Đêm cuối mùa khô, trăng thả xuống cao nguyên Bô-lô-ven càng đầy hơn. Trên đường đi trinh sát thực địa, đến cuối bìa rừng, sát con sông Sê-piêng thì bỗng nghe tiếng "Xoạt".

Chúng tôi lên đạn, chĩa súng về phía vừa phát ra những âm thanh lạ. Tôi hô:

- Ai! Ra ngay! Ra không tôi bắn!

Từ trong lùm cây. Một cô gái bước ra. Tôi ngỡ ngàng:

- Chay-khăm-min! Sao cô lại ở đây?

Cô không nói gì, chỉ ném về phía chúng tôi cái nhìn rụt rè, đôi má đang mỗi lúc một hồng lên, rồi cô quay mặt bước đi như chạy. Nhìn dáng chạy chênh chếch của cô về phía cao nguyên, khiến chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi. Rằng tại sao Chay-khăm-min lại theo dõi chúng tôi? Hay là...? Hay là...? Rồi chúng tôi cũng chạy theo bước chân của Chay-khăm-min.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:26:09 am
Căn nhà sàn nhỏ nằm chênh vênh trên sườn Plô-han thuộc cao nguyên Bô-lô-ven. Chay-khăm-min ngồi bó gối bên bếp. Có lẽ đã phải từ lâu lắm rồi cái bếp nơi cô ngồi chưa được thắp lên một ngọn lửa nào.

Nghe Chay-khăm-min kể mà mặt chúng tôi thay đổi lừng giây. Mắt của hai chiến sĩ đi cùng đỏ hoe, ngấn nước làm đen thẫm tay áo quân phục.

Năm 1968. Địch mở cuộc càn quét đẫm máu trên địa bàn rộng, trong đó có cao nguyên Bô-lô-ven. Hôm ấy vào giữa mùa khô, Chay-khăm-min đi bắt cá dưới suôi Chăm-pi. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ liên tục phát ra từ bốn phía, sau tiếng nổ lớn là những tiếng nổ nhỏ, tiếng máy bay gào thét trên bầu trời. Chay-khăm-min sợ quá nên nép vào phiến đá. Dòng nước trong vắt bỗng đỏ ngầu dưới chân Chay-khăm-min. Rồi xác người. Xác người úp, ngửa. Có khi chỉ có lọn tóc, cánh tay... lập lờ cuộn theo dòng Chăm-pi đang gào thét. Cô ngất đi, dòng nước tanh mặn lại làm cô tỉnh lại. Chay-khăm-min hoang hoải, chạy ngã sấp ngã ngửa men theo con suối.


Nhà của cô. Nơi trận càn mới đi qua đỏ loang máu. Cô gào gọi nhưng cha, mẹ cô còn đâu nữa mà trả lời cô. Nơi góc nhà, chị gái của cô mắt trợn ngược, máu tứa tước từ tấm thân không một mảnh vải. Cô ôm lấy chị gái. Chị gái cô vẫn còn sống. Nhưng bây giờ thì...


Tôi đi về phía đôi mắt Chay-khăm-min dừng lại. Một người con gái quắt queo, mặt đang nổi lên những nốt to, mang mủ vàng ệch.

Hoá ra từ hôm gặp chúng tôi ở suối, qua bao nhiêu ngày nay cô đã thầm theo chúng tôi, mong được chúng tôi giúp đỡ mà không dám nói ra. Thế là từ những ngày ấy, tôi cùng anh em đơn vị đã thường xuyên lên thăm, giúp đỡ và chữa bệnh cho chị gái của Chay-khăm-min.


Nhưng vì căn bệnh lạ quái ác mà chị gái của cô đã qua đời sau đó chỉ vài tuần.

Sau đó chúng tôi vận động Chay-khăm-min chuyển đến đơn vị giúp việc cho tổ nuôi quân, nhưng Chay-khăm-min không đi. Thế nên chúng tôi đành phải giúp cô bằng cách cũ. Và những ngày sau đó, mỗi khi tôi đến, Chay-khăm-min luôn nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ.


Mọi việc cứ êm ả trôi qua, nếu không có buổi chiều hôm ấy. Cậu Hùng liên lạc báo với tôi một tin.

- Thủ trưởng ra ngoài cổng doanh trại, có người cần gặp.

Ai nhỉ? Tôi tự hỏi mình như thế. Vì nếu là cán bộ hay quân bưu của đơn vị khác đến thì họ phải trực tiếp vào phòng chỉ huy, chứ sao lại ra cổng?

Những câu hỏi tôi đặt ra cứ cuốn theo bước chân tôi ra phía cổng doanh trại.

Ra đến cổng, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra Chay-khăm-min đang thấp thỏm, đứng cách cổng doanh trại gần một trăm mét.

- Có chuyện gì hả Chay-khăm-min? - Tôi hỏi.

Chay-khăm-mim mặt đỏ ửng, môi mấp máy chẳng nói thành lời, tay chỉ về phía cao nguyên Bô-lô-ven. Tôi nghĩ chắc phải có chuyện gì quan trọng lắm, nên cô mới đến tận đây tìm tôi.

Tôi ra hiệu cho cậu Hùng liên lạc và cậu Tiến quân y, hai người thường xuyên bên cạnh tôi, không cần đi cùng tôi hôm nay nữa.

Chay-khăm-min cứ lầm lũi bước đi. Còn tôi, tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh hoàng hôn ở đâu đẹp bằng hoàng hỏn trên cao nguyên Bô-lô-ven chiều ấy.

Màu đỏ hoàng hôn thả xuống những dòng sông đang ôm lấy cao nguyên thành những đường cong hồng nhạt. Ánh hồng nhạt ấy như tấm gương chiếu hắt từ mặt sông chĩa lên cao nguyên. "Bông sen đá" ở độ cao hơn một nghìn mét là cả một màu hồng lấp lánh, trong thoang thoảng khói lam chiều.


Đến bờ đá men dòng Chăm-pi thì Chay-khăm-min bỗng dừng lại. Tôi tiến đến gần để xem có chuyện gì mà hôm nay cô bí hiểm thế.

- Trời ơi! Không! Chay-khăm-min!

Tôi kêu lên thất thanh khi cô quay mặt lại. Chiếc váy của Chay-khăm-min đã từ từ rơi ra khỏi thân hình.

Nhanh như cắt. Tôi giật chiếc áo quân phục đang mặc chạy về phía Chay-khăm-min.

Chay-khăm-min ngồi thụp xuống phiến đá, mặt cúi, tiếng nói run run theo những giọt nước mắt lã chã.

- Em chỉ xin anh một người con Việt. x...i...n... a...nh...!

Tôi ôm lấy Chay-khăm-min như ôm một người em gái bé bỏng, trong nước mắt của cả tôi và em. Còn Chay-khăm-min thì khóc nấc lên khi nghe tôi nói về người vợ của tôi, về những đứa con của tôi, về quê hương Việt Nam của chúng tôi và đặc biệt về tình yêu. Tình yêu của người lính quân tình nguyện Việt Nam khi đến với nhân dân Lào anh em.


Chay-khăm-min khóc to hơn và quay mặt nhìn thẳng vào mắt tôi trước khi vụt chạy về phía cao nguyên Bô-lô-ven.

Không biết đến bao giờ tôi có thể quên được ánh mắt nhìn đau đáu của người con gái Lào ở vào khoảnh khắc ấy. Và tôi đã khóc nấc lên.

Sau đó một tuần thì tôi được lệnh trở về Việt Nam nhận nhiệm vụ mới.

Từ đó đến nay đã gần 40 năm. Thời gian 40 năm đã đưa chàng trai 40 tuổi trở thành một ông cụ 80. Và đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi mình, rằng tại sao Chay-khăm-min chỉ mong có được một đứa con Việt Nam? Yêu tôi ư? Không hẳn... Đó chắc chắn phải là một cái gì đó bay lên khỏi tình yêu trai gái.


Từ khi về nước, đã bao lần tôi gửi thư cho Chay- khăm-min. Nhưng những lá thư đi chưa khi nào có hồi âm trở lại.

Không biết giờ đây Chay-khăm-min ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì em có được hạnh phúc không? Nhưng tôi tin chắc một điều rằng, dù còn sống hay đã chết, dù hạnh phúc hay bất hạnh thì cô cũng như tôi, sẽ chẳng bao giờ có thể quên được buổi chiều Bô-lô-ven hôm ấy. Buổi chiều mà giọt nước mắt của cô gái Lào và anh lính quân tình nguyện Việt Nam đã chảy và còn chảy mãi mãi. Chảy dọc theo thời gian năm tháng. Vẹn nguyên như tình cảm của những con người đã sống, đang sổng, sẽ sống và cùng đứng mãi bên nhau.


Trại viết kỷ niệm sâu sắc 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Ba, 2022, 07:27:30 am
HOÀNG THÂN XU-PHA-NU-VÔNG TRONG KÝ ỨC TÔI


ĐÀO VĂN TIẾN


Năm 1952, để chuẩn bị cho đợt hoạt động quy mô lớn trên chiến trường Thượng Lào phối hợp với chiến dịch Tây Bắc ở Việt Nam, Ban cán sự Thượng Lào và Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam Thượng Lào mở lớp chỉnh huấn chính trị về bản chất Quân đội nhân dân Việt Nam cho cán bộ trung, đại đội thuộc các đơn vị hoạt động ở các tỉnh Phông Xa Lỳ, Luông Pha Băng, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng.


Mục đích cuộc chỉnh huấn là làm cho cán bộ quân tình nguyện quán triệt nhiệm vụ được Đảng và quân đội phân công giúp cách mạng Lào theo tinh thần "Giúp bạn là tự giúp mình". Đoàn kết với cán bộ và nhân dân bạn, thực hiện nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Chính phủ kháng chiến Lào, phê bình và sửa chữa những lệch lạc, khuyết điểm...


Đây là lần đầu tiên chúng tôi được đi chỉnh huấn. Anh em về học có rất nhiều tâm tư, xa nhà, xa nước, lạ cảnh, lạ người, ngôn ngữ bất đồng, thiếu thốn đủ thứ.

Lớp học không đông, chỉ khoảng 50 người, chia làm 5 tổ. Tôi được làm tổ trưởng tổ 4, gồm ba đồng chí Lào cùng học là đồng chí Pa-vắt Ngôn, đồng chí Xỉn Xay và đồng chí Thao Thiềng. Pa-vắt Ngôn và Xỉn Xay là cán bộ đại đội, còn Thao Thiềng là thư ký riêng của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ngày khai mạc lớp học, đồng chí Mai Côn, bí thư ban cán sự động viên chúng tôi cố gắng học tập trau dồi phẩm chất đạo đức bộ đội Cụ Hồ: Trung với nước, hiếu với dân. Là bộ đội tình nguyện cần làm tốt lời dạy của Bác: Giúp bạn là tự giúp mình... Trong lớp học có ba đồng chí người Lào, các đồng chí phải thật thà, đoàn kết giúp nhau học tập đạt kết quả.


Sau lời khai mạc, đồng chí Mai Côn giới thiệu Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch mặt trận Lào tự do - Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào tới thăm và nói chuyện với lớp học.

Thật bất ngờ nhưng cũng thật vinh dự đối với chúng tôi. Nghe tên Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã lâu nhưng chúng tôi chưa một lần được gặp, được thấy, được nghe, được nói chuyện, cả hội trường đứng dậy vỗ tay hân hoan chào đón Người.


Hoàng thân trong bộ quần áo bà ba màu gụ, chân đi dép cao su, giản dị như một nông dân. Ngươi cao to, khỏe mạnh. Tóc cắt gọn, mặt hơi đen, rắn rỏi, bộ râu quai nón in đậm nét cương nghị. Trước mắt chúng tôi không phải là một ông Hoàng cao sang quý phái xa lạ mà là một con người quen thuộc gần gũi như những người lao động bình thường.


Hoàng thân chắp tay chào chúng tôi theo kiểu Lào và mời chúng tôi ngồi xuống. Người nói bằng tiếng Việt, chúng tôi chăm chú lắng nghe.

Sau những lời chúc mừng thăm hỏi, Hoàng thân nói với chúng tôi hai vấn đề mà đến nay tôi vẫn còn nhớ. Người nói: Đoàn đại biểu Neo Lào Ít-xa-la đi dự hội nghị kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị thành lập Mặt trận liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào và đề ra phương hướng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nhằm đưa sự nghiệp cách mạng của mỗi nước tiến lên giành những thắng lợi mới. Do đoàn đại biểu nhân dân Miên không ra kịp, nên chỉ hai đoàn của Việt Nam và Lào kiểm điểm với nhau. Khi đoàn Lào ra về, Chủ tịch Hồ Chí Minh có dặn dò đoàn Lào và cán bộ Việt Nam giúp Lào hai điểm mà hôm nay tôi truyền đạt lại với các đồng chí, để trong lớp học này và mãi mãi sau này các đồng chí nhớ lời Bác mà làm:

Thứ nhất là, đoàn kết và tổ chức nhân dân. Có nhân dân thì ta mới thắng lợi.

Hai là về Lào, các đồng chí cố gắng tổ chức mạng lưới du kích ở khắp nước Lào để địch đi đến đâu cũng bị tiêu hao. Chớ thấy Việt Nam đánh to, Lào cũng đánh to. Đánh nhỏ, nhiều thắng lợi nhỏ cộng lại thành thắng lợi to. Việt - Miên - Lào cùng chung một chiến trường, nơi thắng to, nơi thắng nhỏ, cộng lại là thắng lợi chung.

Còn một điểm nữa mà Bác Hồ mong muốn là cán bộ Việt Nam làm việc ở Lào thành khẩn thật thà tự phê bình. Các đồng chí Lào cũng phê bình anh em Việt Nam thật thà, không nể nang.

Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói tiếp: Tôi mong anh em Lào thành khẩn thật thà tự phê bình và anh em Việt Nam cũng phê bình anh em Lào không nể nang. Ở đây, trong lớp này có anh em Lào cùng học, chúng ta đoàn kết thân ái tự phê bình và phê bình giúp nhau cùng tiến bộ.


Truyền đạt xong ý kiến Bác Hồ, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói với chúng tôi như một lời tự phê bình: Các đồng chí Việt Nam từ năm 1945 đến nay (lúc đó là cuối năm 1952) đã 7 năm liễn tục sát cánh cùng nhân dân, quân đội Lào, cán bộ Lào cùng đánh Pháp. Các đồng chí đã trải qua bao gian khổ hy sinh mà chúng tôi chưa có gì đền đáp. Nhiều đồng chí, nhiều đơn vị khi đễn các bản làng, dân bản do chưa giác ngộ, chưa hiểu biẽt, có người cắm cành lá không cho vào bản, có người cắm "ta leo" ("Ta leo": Tấm đan bằng nứa, to bằng cái nón, là biểu tượng của sự cấm kỵ, không ai được vi phạm) không cho vào nhà...


Cuối cùng Hoàng thân nói: Chiến trường Lào không những gian khổ mà còn có những nỗi buồn phiền. Chúng tôi sẽ cố gắng vận động nhân dân, giác ngộ nhân dân để tạo những niềm vui. Vượt qua khó khăn gian khổ, tổ chức nhân dân, tổ chức mạng lưới du kích khắp nước Lào.


Sau khi kết thúc cuộc nói chuyện, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông gặp tôi và ba đồng chí Lào, Người căn dặn là phải đoàn kết giúp nhau học tập. Riêng với tôi, Người nói: Đồng chí có quá trình công tác lâu hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn anh em Lào, đồng chí giúp anh em Lào trong mọi công việc của lớp học. Anh em cán bộ Lào khi mới tham gia cách mạng giống như ngày mới tập đi, lúc đầu người lớn dắt từng bước, khi đã đi chập chững thì bỏ tay ra đừng dắt nữa để nó tự bước đi. Cũng như người mới tập đi xe đạp, lúc đầu ta giữ yên, giữ gi đông cho họ tập, sau khi đã vững thì ta bỏ tay ra cho họ tự đạp, tự đi. Nếu ta giữ tức là ta cản bước tiến của họ.


Thật là một lời dặn dò sâu sắc. Trong suốt thời gian học tập chỉnh huấn tôi đã cố gắng giúp các đồng chí Lào hiểu nội dung bài giảng, gợi ý để liên hệ vào bản thân và xã hội Lào. Với việc phê bình và tự phê bình thì bạn chưa quen, tôi gợi ý dần và vận dụng hình thức "nhắn tin" cho phù hợp tâm lý. Cũng trong thời gian học tập, tôi còn giúp anh em Lào học thêm tiếng Việt, chữ Việt. Còn tôi thì được đồng chí Thao Thiềng dạy cách học chữ Lào nhanh nhất, chỉ trong một tuần tôi đã đọc được bài quốc ca Lào.


Sau này, trong cuộc đời công tác phục vụ cách mạng Lào, tôi luôn nhớ lời dặn dò của Hoàng thân Xu-va-nu-vông, khi công tác cùng bạn tôi luôn đấu tranh khắc phục bệnh chủ quan, không bao giờ bao biện làm thay mà giúp bạn để bạn độc lập suy nghĩ nên rất chóng trưởng thành.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:26:29 am
LÁ THƯ TỪ CHĂM-PA


HOÀI NGUYÊN


Tháng 5 năm 1975, tôi vừa từ thao trường thảo nguyên Châu Mộc trở về đến cổng đơn vị đã thấy đồng chí trực ban Trung đoàn gọi giật lại và chuyển cho tôi lá thư: "Có đồng chí cán bộ tên là Sơn, trên đường đi công tác lên quân khu Tây Bắc có chuyển cho anh một lá thư viết bằng chữ Lào". Anh nói và quay trở lại với nhiệm vụ trực ban của mình.


Tôi cầm lá thư mà lòng bồi hồi xúc động. Ngoài bì thư dòng chữ Lào đã hoen ố vàng. Tôi nhận biết là thư của Đuông Ta đã trải qua hàng ngàn cây số và bao tháng ngày mưa gió trước khi đến với tôi.

Tôi run run bóc lá thư:

Anh Phay Bum quý mến!

Thế là anh đã ra đi và không còn trở lại với bản làng mường Chăm-pa nữa, không trở lại với dòng sông Mê Kông thương nhớ.

Anh có biết không, cái đêm mưa gió nặng nề đó, em vẫn ngồi trong nhà và nhìn qua khe liếp, dõi theo bước chân của đoàn quân các anh đi qua, trở về với Tổ quốc Việt Nam. Sáng sớm hôm sau ra gánh nước bên bờ sông, em còn thấy dấu chân các anh bên bờ cát trắng và những chiếc thuyền đưa các anh sang bờ bên kia. Dấu chân các anh còn đó, những con thuyền còn đó, dòng sông Mê Kông vẫn còn đó nhưng đâu còn bóng dáng các anh?

Làng trên xóm dưới như vắng lặng. Nhớ các anh quá và linh cảm thấy rằng các anh sẽ không trở lại nữa - mẹ em và bà con trong bản lấy mè tre rào lại nơi có dáu chân các anh đi qua, còn em Ná và lũ trẻ lấy mấy tấm tranh làm mái che, sợ mưa gió xói mòn...

Người dân Chăm-pa làm sao quên được những hình ảnh các anh để lại, những nụ cười hiền lành vô tư của những người trai Việt Nam sau những chiến thắng Don Ta Lat, Su Khu Ma... lẫy lừng trở về! Những câu nói bập bẹ tiếng Lào hồi mới sang, những cuộc té nước vui chơi hồn nhiên trong ngày hội năm mới, Tết tháng Năm. Và anh còn nhớ không? Câu hát mà anh hằng yêu thích trong ngày hội năm ấy:

   "Em nhớ anh một ngày ba bữa
   Bữa thứ nhất, lúc thấy trâu về
   Bữa thứ hai, khi đặt nồi cơm nấu tối
   Bữa thứ ba, lúc quay xa cuộn sợi
   Lòng em như tơ rối, nhớ anh mãi không nguôi..
   Anh Sơn, người bạn chuyển cho tôi lá thư có ghi thêm mấy dòng chữ:

"Mình rút sau cùng vì phải giúp bạn học tập về Hiệp nghị Giơ-ne-vơ 1954, nhân dân vui có mà buồn cũng có, nhưng buồn thì nhiều hơn vì lo lắng sau khi bộ đội giải phóng Lào và quân tình nguyện Việt Nam rút rồi thì tình hình sẽ ra sao khi kẻ thù phản bội... Còn Đuông Ta thì buồn, tránh không gặp Sơn mà chỉ nhờ chuyển thư cho Phay Bum".


Dòng thời gian trở lại với tôi từ buổi đầu gặp gỡ Đuông Ta. Đầu năm 1951, tôi chỉ huy một đơn vị sang phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng Lào vùng Chăm Pa Xắc - một vùng đông dân trù phú, nằm phía hữu ngạn sông Mê Kông tận phía Nam Lào, tiếp giáp với biên giới Thái Lan, có con đường 10 chạy từ Pắc Xế sang U Bôn.


Đất Chăm Pa Xắc có đền Vat Phu, kinh đô cổ Crết-tha-pu-ra của xứ Chân Lạp từ thế kỷ thứ VII. Sau này là thủ phủ triều vương quốc Chăm Pa Xắc của phong kiến Nam Lào. Trước khi sang đây tôi đã nghe nói về đất Chăm-pa đẹp, trù phú "gạo trắng nước trong", nhưng cho đến khi đứng trên mảnh đất này, tôi càng bị cuốn hút bởi vẻ đẹp thiên nhiên mà trời đã phú cho nó. Các bản làng đông đúc cư dân nối tiếp nhau như một dải lụa dài uốn khúc theo dòng sông, với những hàng dừa màu xanh thẫm, mượt mà ôm lấy xóm làng. Dọc theo con sông là bờ cát trắng nổi lên như một dải áo phân cách giữa một bên là màu xanh của dòng sông và một bên là màu xanh cây lá. Ở giữa dòng sông là những cù lao thơ mộng mà người Lào gọi là Đon, những Đon Xay, Đon Năng Loi, Đon Mạc Mi... kéo dài cho đến Đon Khổng - một cù lao lớn trù phú liên kết nhiều cù lao nhỏ được đặt tên là Si Phăn Đon, theo con số ước lệ, có nghĩa là bốn nghìn cù lao. Là một vựa lúa lớn của Nam Lào với những cánh đồng bát ngát và rừng cây tốt xanh đầy hoa trái.


Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất Chăm-pa theo những dòng thác lũ hàng năm từ thượng nguồn sông Mê Kông và các phụ lưu Nậm U, Nậm Thà... đưa nguồn phù sa về bồi đắp cho ruộng đồng vốn đã trù phú càng thêm trù phú. Đất Chăm-pa cảnh đã đẹp mà người cũng đẹp. Con gái Cà Tưp, Nương Cang... nổi tiếng đẹp và giỏi về nghề dệt lụa tơ tằm.


Hồi đó, tôi vừa đúng hai mươi tuổi và Đuông Ta độ tuổi trăng tròn. Đuông Ta có đôi mắt đen láy, ướt mọng, nó đúng với tên gọi nàng - Đuông Ta cũng có nghĩa là "đôi mắt đẹp". Nàng nết na, dịu dàng. Nàng dạy tôi học tiếng Lào và tình cảm cũng chớm bén từ đó. Cái tên Phay Bum có nghĩa là "ngọn lửa hạnh phúc" cũng do Đuông Ta đặt cho tôi. Cha mẹ Đuông Ta xem tôi như con trong gia đình. Sau những ngày đi chiến đấu, tôi lại về thăm Bản Vơn.


Thế rồi trong thế chiến lược chung toàn chiến trường Đông Dương, thực dân Pháp và tay sai tăng cường lực lượng chiếm đóng để thực hiện kế hoạch bình định. Vùng Bản Vơn, Thà He, U Thum nằm bên hữu ngạn Mê Kông trở thành vùng kiểm soát của địch. Lực lượng giải phóng Lào và quân tình nguyện Việt Nam phải tạm thời phân tán rút ra rừng đánh du kích và giữ vững phong trào. Địch liên tiếp càn quét khủng bố, gây không ít khó khăn cho chúng tôi.


Chính những ngày tháng đó, gia đình Đuông Ta là một trong những cơ sở vững chắc trong vùng Su Khu Ma. Cha mẹ, Đuông Ta và cậu em nhỏ mới 10 tuổi là những người trinh sát nắm tình hình, liên lạc nối cơ sở trong vùng, vận động nhân dân tiếp tế lương thực nuôi cán bộ, bộ đội... Đã có lần địch bất ngờ tập kích vào Bản Vơn, bao vây cả làng trên làng dưới. Anh Bun Mi, cán bộ Lào đang kẹt trong làng được cha mẹ Đuông Ta đưa giấu vào buồng con gái, một việc làm rất hiếm có đối với phong tục người Lào. Họ đã cứu được Bun Mi thoát nạn.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:27:09 am
Vào cuối năm 1952, quân khu Nam Lào (quân ngụy Lào) đưa quân càn quét vùng Chăm Pa Xắc. Chúng đóng quân dày đặc từ Bát Sắc xuống đến Su Khu Ma, Mường Mun rồi liên tiếp tung những cánh quân vào căn cứ của ta. Chúng tôi và bộ đội giải phóng Lào quần nhau với địch suốt bảy, tám ngày đêm. Phần thì mệt, phần thì cạn kiệt lương thực vì không liên lạc được với dân. Đang lúc gặp khó khăn như vậy thì gặp được Đuông Ta và cô bạn gái Khăm Phăn tại hồ nước Noỏng Bùa đang đi tìm bắt liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi mừng lắm. Đuông Ta báo cho chúng tôi biết:

- Mây hôm nay, địch chết và bị thương nhiều, chúng phải chuyển số thương vong bằng ca nô về Pắc Xế. Ở các bản chúng đóng, chúng kiểm soát người ra vào chặt chẽ, thế nhưng nhân dân vẫn có người ra rừng liên lạc, tiếp tế lương thực cho bộ đội. Không hiểu sao họ không gặp các anh. Sốt ruột quá, hôm nay em và Khăm Phăn làm quen với thằng lính gác người làng dưới, xin nó ra rừng hái măng.

Và thế là hai cô gái dẫn chúng tôi đên một hang đá gần đó, chỉ cho chúng tôi một kho lương thực nhỏ nằm giấu phía sau.

Đuông Ta còn rút trong khăn một gói bọc lá chuối xanh riêng cho tôi. Trong đó có một nắm cơm nếp thơm, một gói cheo, mấy con cá khô và bánh đường thốt nốt, rồi nhỏ nhẹ:

- Mẹ gửi cho anh đấy. Mẹ bảo anh cố gắng giữ mình cẩn trọng.

Với những lần gặp gỡ như thế, tình cảm giữa chúng tôi ngày càng sâu lắng.

Thế rồi, đầu năm 1953 tôi được Bộ Tư lệnh khu điều về công tác tại một đơn vị phía đông sông Mê Kông. Tôi lặng lẽ ra đi mà không muốn cho Đuông Ta biết. Buồn lắm. Buồn như xé cả ruột gan khi tôi phải vượt sông Mê Kông trở về phía đông. Đêm khuya, gió lạnh, trên chiếc thuyền độc mộc chòng chành giữa dòng sông rộng mênh mông, tôi nhìn lại bản làng ven sông của mảnh đất Chăm-pa đang yên ngủ mà lòng chứa chan bao kỷ niệm vui buồn.


Lúc bấy giờ, trên chiến trường chung Đông Dương đang có những chuyển biến lớn. Việt Nam mở chiến dịch từ Bắc đến Nam đánh những đòn chí mạng vào quân viễn chinh Pháp, ở Lào, sau chiến dịch Trung Lào, giải phóng Thà Khẹc cuối năm 1953, chiến dịch Hạ Lào mở màn, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, giải phóng Át-tô-pơ, cao nguyên Bô-lô-ven và bao vây Sa-ra-van. Tôi mải lao theo các cuộc chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường sôi động.


Nhưng rồi, tháng 3 năm 1954, tôi lại được trên điều theo một đơn vị tình nguyện quân từ Trung Lào xuống phối hợp chiến đấu. Từ phía tây Sa-ra-van, đơn vị vượt sông Mê Kông tiến đánh Chăm Pa Xắc. Mở màn trận đánh là trận Phôn Thong trên trục đường 10, tiếp đến tiến vào giải phóng Bát Sắc, Đon Ta Lat, Su Khu Ma... quét sạch hầu hết quân địch phía bờ tây sông Mê Kông.


Tháng 6 năm 1954, lễ mừng chiến thắng được tổ chức tại mường Su Khu Ma. Nhân dân các bộ tộc Lào từ khắp nơi kéo đến, áo quần màu sắc rực rỡ và trong dòng người đổ về tham dự lễ mừng chiến thắng ấy tôi đã gặp Đuông Ta cùng mẹ đi đến ngôi chùa gần đó lễ Phật. Trông thấy tôi, nàng buông tay mẹ đến cầm lấy tay tôi, nước mắt lưng tròng:

- Anh Phay Bum! Em tưởng rằng chẳng bao giờ còn gặp anh nữa.

Mới có hơn một năm mà Đuông Ta thay đổi nhiều. Nàng đẹp ra và lớn hẳn lên với cái tuổi mười tám tràn đầy sức sống. Những đường nét cơ thể căng tròn, mềm mại lượn cong bó sát trong bộ xiêm váy ngày hội. Đôi môi đỏ thắm của nàng vẫn mấp máy nụ cười hiền hậu.


Mẹ Đuông Ta cũng chạy đến mừng mừng tủi tủi nói với tôi:

- Từ ngày con ra đi, ngày nào em con ra bờ sông gánh nước cũng nhìn về Trường Sơn.

Tôi nghẹn ngào chẳng biết nói gì hơn cho xứng đáng tình cảm của Đuông Ta và mẹ. Tình cảm mà cho đến bây giờ trong tâm khảm tôi vẫn không bao giờ phai nhạt.

Tối hôm đó, sau lễ mít tinh mừng chiến thắng, cuộc múa Lăm vông diễn ra trên sân chùa. Tiếng khèn, tiếng trống, tiếng hát rộn ràng như thôi thúc mọi người.

Nhân dân, bộ đội Lào, Việt Nam hòa quyện bên nhau trong niềm vui chiến thắng. Đuông Ta đứng trong hàng những vũ nữ chính của ngày hội. Tôi chọn một vòng hoa Phum-ma-lay đẹp nhất đến khoác cho Đuông Ta để mời nàng múa đầu tiên. Đuông Ta múa đẹp lắm. Dịu dàng, uyển chuyển, đôi mắt nàng rạng rỡ vui sướng khi sánh đôi đi bên tôi. Đuông Ta dành cho tôi nhiều vòng múa đêm hôm đó.


Thời gian như đi chậm lại, ngọn gió nhẹ từ sông Mê Kông thổi vào nghe như những tiếng thì thầm, những âm hưởng đêm vui sau những ngày xa cách gặp lại. Không gian như lắng đọng một mùi hương ngạt ngào của hoa chăm-pa. Đó cũng là hương thơm của mái tóc, hương vị của tình yêu, hương hoa của xứ sỏ cô kính Crết-tha-pu-ma đẹp đẽ và thơ mộng, đã giữ lại trong tôi bao năm tháng.


Có biết đâu, đó là đêm hội cuối cùng mà tôi gặp lại Đuông Ta.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào trở về Tổ quốc, để lại bao tình cảm thương nhớ khôn nguôi bên bờ cát trắng của dòng Mê Kông lộng gió.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:28:09 am
KỶ VẬT THIÊNG LIÊNG


HUỲNH THÚC CẨN


Theo đề nghị của bạn và chỉ thị của đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Hoàng Sâm giao nhiệm vụ cho tôi hướng dẫn đoàn cán bộ cấp cao Lào tham quan nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu của Binh chủng Pháo binh.

Cụm của tôi có mười đại đội thuộc cả hai phái: Pháo binh Pa-thét Lào, Pháo binh thanh niên Vương quốc Lào (một lực lượng tiến bộ của nhân dân Lào). Đội hình bố trí trên địa hình khoảng một trăm kilômét vuông, từ Tha Viêng, thị xã Xiêng Khoảng qua Cánh Đồng Chum đến Bản Ban, Xen Chồ. Thành phần có nhiều chủng loại pháo khác nhau: pháo cao xạ, pháo mặt đất. Nhiều đơn vị làm nhiệm vụ khác nhau: có đơn vị huấn luyện, có đơn vị đang trong tình huống sẵn sàng chiến đấu, cứ như vậy vừa sẵn sàng chiến đấu vừa huấn luyện thay phiên nhau thành vòng tròn. Cán bộ quân sự của Lào còn đang phải gửi đi đào tạo ở nước ngoài, đa số các đại đội đều thiếu cán bộ chỉ huy, nên công việc này được giao cho bộ đội Việt Nam phụ trách.


Được đứng trước Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Hoàng thân - Thủ tướng Xu-văn-nả Phu-ma cùng các tướng lĩnh cán bộ cao cấp của Lào là một vinh dự và đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Binh chủng pháo binh thường có vị trí và vai trò quyết định trong các trận đánh; nhà quân sự Nga đã từng đánh giá pháo hình là ông thần của chiến tranh. Bộ đội Việt Nam gọi pháo binh là voi, một khi đã vào trận chiến đấu, voi đã gầm lên thì kẻ thù khiếp sợ. Lính pháo binh chúng tôi luôn được mệnh danh là "chân đồng vai sắt". Trên đất nước Triệu voi, những con voi đã góp sức vào nhiều công việc vĩ đại cho công cuộc xây dựng, những con voi sắt này không chịu thua kém, chúng cứ vươn cao những cái vòi lên sẵn sàng nhả đạn vào kẻ thù, những con voi ấy đang nằm dưới sự điều khiển của chúng tôi, làm thế nào cho nó phát huy sức mạnh để chứng tỏ trước các vị lãnh đạo.


Trước lúc đoàn đến, chúng tôi đã bố trí mọi công tác chuẩn bị thật kỹ lưỡng, căng hai cái lều bạt làm hội trường, ghép tre nứa làm bàn ghế, huấn luyện cấp tốc một đội danh dự có đủ màu cò sắc áo của hai phái sẵn sàng đón tiếp theo nghi thức quân đội, cho dù lúc đó điều kiện còn hạn chế nhiều mặt.


Đúng kế hoạch, ngày N đã đến, chúng tôi hồ hởi dậy sớm làm mọi công tác chuẩn bị lần cuối thật chu đáo. Rồi một đoàn xe con lần lượt tiến vào trước chỉ huy cụm đóng tại Phôn-xa-vẳn. Cả đoàn xuống xe, tôi thấy người đi đầu là hai Hoàng thân, tiếp theo đồng chí Khăm Tày - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Xi Xa Vát - Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí Xa Mán - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cùng các cán bộ khác thuộc cả hai phái.


Buổi lễ diễn ra hết sức trang nghiêm, trước hàng quân, đội trưởng danh dự dõng dạc báo cáo. Bước đầu chuẩn bị tốt nên thuận lợi cho công việc tiếp theo, cả đoàn cán bộ phấn khởi nói cười bắt tay nhau thân thiện. Do thời gian tham quan có hạn, nên mỗi buổi tôi chỉ giới thiệu về một loại pháo. Một khẩu pháo bắn trúng được mục tiêu đòi hỏi phải kết hợp nhiều thao tác hiệp đồng, đứng ở một vị trí không thể quan sát hết được các bộ phận trong khẩu đội chiến đấu: (thông tin, trinh sát đo đạc và đài quan sát, hậu cần, kỹ thuật). Khi tôi đang mải mê giới thiệu khẩu pháo 85 ly thì Hoàng thân Xu-văn-nả Phu-ma hỏi:

- Khẩu pháo này đặt trong phòng kín không nhìn thấy gì có bắn trúng được mục tiêu phía bên ngoài không?

- Thưa Hoàng thân! Được chứ ạ. Tôi nói.

Để chứng minh cho Hoàng thân thấy, tôi liền mở tấm bản đồ chỉ, nói:

- Thưa Hoàng thân! Đây là sào huyệt của Vàng Pao.

Nói xong tôi đặt tấm bản đồ xuống nền, lấy địa bàn ra xác định vị trí đứng, tính góc phương vị và cự ly, cắm cọc chuẩn hướng, xoay tầm pháo.

- Thưa Hoàng thân! Pháo đã chỉ đúng mục tiêu.

Nói xong cả đoàn thay nhau vào kính ngắm nhưng chỉ thấy cái cọc chuẩn, họ nhìn nhau đầy nghi ngờ. Biết ý của họ, tôi cho người lật tung tấm bạt che ra mời Hoàng thân vào ngắm. Quả thật y như lời tôi đã nói, nòng pháo hướng thẳng vào sào huyệt của Vàng Pao, mọi người hoan hô rầm rộ cả hội trường.


Giữa đợt có đoàn cán bộ về tham quan đó, để chứng minh khả năng chiến đấu của pháo binh Lào, từ hướng Thái Lan bất ngờ có một chiếc F101 bay ngang qua bầu trời, chúng ngang nhiên xâm phạm lãnh thổ của mình. Đây là cơ hội ngàn vàng, lời nói đi đôi với việc làm, chiếc máy bay đó lượn vòng xung quanh Cánh Đồng Chum. Không thể chần chừ đợi lệnh cấp trên, tôi quyết định hạ lệnh cho các khẩu đội vào vị trí chiến đấu. Những khẩu pháo vươn nòng cao lên bầu trời bắt mục tiêu, chiếc máy bay vào đúng tọa độ, lá cờ chỉ huy phất xuống, một loạt đạn nổ vang dòn, tiếp loạt đạn thứ hai, chiếc máy bay xì khói đen bốc cháy, từ trên trời cao tung ra một chiếc dù trắng.


Chiến công này làm vang rộn khắp nơi, tên giặc lái không ngờ pháo binh Lào đủ khả năng bắn rơi máy bay Mỹ, chiếc phản lực F101 đó của đoàn MAAG bay từ Sài Gòn sang Băng Cốc họp, trên đường về chúng muốn khảo sát địa hình Cánh Đồng Chum để chuẩn bị mở rộng chiến tranh. Không những Hoàng thân vui mừng mà cả dân chúng cũng hoan nghênh trước chiến công của pháo binh.


Chiến công ấy khiến tôi không thể nào quên. Hôm ra về Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đến bắt tay tôi, ông nói nhỏ và trao tặng tôi chiếc đồng hồ làm kỷ niệm. Đứng trước Hoàng thân, tôi nắm chặt bàn tay ông, nước mắt bỗng trào ra, nhớ đến lời dạy của Bác Hồ:

"Việt - Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long"

Ngày 8 tháng 12 năm 2003 tôi được lãnh đạo Lào mời sang thăm chiến trường xưa. Tại cơ quan Tỉnh ủy Xiêng Khoảng, trước sự có mặt của nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Quân đội và Chính quyền nước bạn, tôi đã kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe bằng tiếng Lào. Gặp lại những người năm xưa cùng sát cánh chiến đấu tôi rưng rưng xúc động, không thể nào ngăn nổi dòng lệ tuôn rơi từ trong khóe mắt nhăn nheo của mình. Sau bao ngày gặp lại, những người lính năm xưa giờ đã là những cựu chiến binh, tóc đã điểm hoa râm, chân tay run nhăn nheo... Chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong nỗi niềm xúc động khôn xiết. Cuộc hành trình về "chảo lửa" Cánh Đồng Chum thăm chiến trường xưa đã diễn ra ngay sau đó. Nhìn lại mảnh đất đã gắn bó với tôi trong suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt, trong tôi bỗng thấy bồi hồi, xúc động. Kỷ niệm về trận bắn rơi máy bay phản lực đầu tiên của pháo binh trên đất Lào như hiện về trong tôi. Bất giác lại nhớ lại buổi tập huấn của cán bộ cao cấp trong dịp bắn rơi chiếc máy bay thì Hoàng thân Xu-pha-nu-vông tặng tôi chiếc đồng hồ Wyler mà ông đang đeo trên tay với lời khen: Tặng cháu chiếc đồng hồ! Bác mong mọi người đoàn kết hiệp đồng ăn ý hoàn thành nhiệm vụ.


Chiếc đồng hồ Hoàng thân Xu-pha-nu-vông tặng tôi ngày đó nay tôi đã tặng lại cho Bảo tàng Pháo binh. Đầu năm vừa qua, cùng đoàn cựu chiẽn binh của đơn vị đến thăm quan Bảo tàng, tôi bồi hồi cầm lấy kỷ vật năm xưa, nhẹ nhàng lên dây cót và phát hiện ra sau bao năm rồi nhưng chiếc đồng hồ vẫn chạy tốt. Phải chăng nó như mối quan hệ anh em thân thiết nồng nhiệt của hai bác cháu, của nhân dân các bộ tộc Lào anh em dành cho bộ đội tình nguyện Việt Nam. Kỷ vật thiêng liêng nhất của cuộc đời người chỉ huy pháo binh, vẫn nhắc nhở tôi nhớ tới tình hữu nghị thắm thiết, cho dù những bước chân đồng, vai sắt đã chuyển mình đi rất xa, những con "voi sắt" của thời đại mới vẫn lầm lũi tiến lên bảo vệ quê hương đất nước thanh bình...


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2022, 07:29:43 am
MỘT ĐÊM VUI KHÔNG HẸN


HOÀI NGUYÊN


Năm 1968, sau chiến thắng Nậm Bạc lừng lẫy ở Bắc Lào của quân và dân Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, xóa sổ hoàn toàn 4 binh đoàn cơ động ngụy quân Viêng Chăn, đánh dấu một bước trưởng thành của cách mạng Lào, chúng tôi có dịp đi thăm một vài đơn vị vừa lập công xuất sắc trong chiến dịch. Từ Bộ chỉ huy chiến dịch, Chính ủy Trung đoàn Bùi Công Danh, Tiểu đoàn trưởng Hoàng Minh Hón và tôi định cố gắng đi suốt một ngày đường thì về đến đơn vị, nhưng vì dốc núi nhiều quá nên trời đã xế chiều mà mọi người cũng thấm mệt nên chúng tôi đành phải nghỉ lại ở một bản người Thái.


Bản người Thái này nằm bên một con suối nhỏ, chỉ lưa thưa có khoảng mươi nóc nhà. Khi chúng tôi đến thì dân cũng lục đục từ đồng ruộng, nương rẫy về. Trong thời kỳ mở chiến dịch, ban ngày họ phải di tản ra rừng tránh máy bay. Thấy chúng tôi từ mặt trận về, bà con trong bản chạy đến mừng rỡ chào hỏi và đưa cơm nước đến cho ăn.


Cơm nước xong, tôi và anh Công Danh chuẩn bị chỗ ngủ thì Tiểu đoàn trưởng Hoàng Minh Hớn đưa ra sáng kiến:

- Khoan hãy nghỉ các anh ơi, mấy khi mà được dịp múa hát như hôm nay?

Anh Danh suýt bật cười, nói:

- Cậu nói đùa hay nói thật đấy? Đi cả ngày mệt thấy mồ rồi mà còn múa với hát. Vả lại, cậu xem bản làng tối mịt tối mù thế kia. Khuya rồi, người ta ngủ cả, ai mà dậy múa hát với cậu?

Tôi cũng bật cười, nhưng Hớn thì ngồi dậy, chỉnh trang cẩn thận, vẻ tự tin, anh bước xuống cầu thang vừa nói với lại chúng tôi:

- Rồi các anh sẽ xem con gái con trai ở đây khát múa, khát hát lắm. Khuya thế này chứ khuya hơn nữa cũng chẳng sao!

Chúng tôi bất giác cũng bị đẩy xuống cầu thang với Hớn. Đến một sân rộng trước nhà Nai bản, Hớn phân công liền:

- Các anh đi tìm một cái trống hoặc thùng thiếc để đệm, còn tôi sẽ hát gọi.

Nói thế rồi Hớn lấy cái bi đông nước tợp một hơi xong giơ bàn tay làm loa rồi ngân lên giọng hát Lăm nhao (hát đối đáp của Lào):

... Mới tới đây anh thấy các nàng/Như người chẳng phải bản làng quen ta/Hay là em tự nơi xa /Ở kinh thành nào đó em vừa tới đây /Xin em hãy cho anh hay ! Hỡi người xinh đẹp tên gì hỡi em?

Chao ôi, tôi không ngờ Hớn lại giỏi hát tiếng Lào đến thế. Trước đây tôi cứ tưởng cậu ta chỉ biết hát sơ sơ cho vui vậy thôi, chứ hát Lăm nhao là khó lắm. Giọng hát đã đành mà còn lời nữa. Lời đây đâu phải thông thường mà là tiếng hò đối đáp, thứ tiếng dân dã, tiếng lóng, điển tích... Ấy thế mà giọng hát của Hớn vẫn ngân cao ngọt ngào mạnh mẽ, mặt cậu ta cứ tỉnh bơ đầy tự tin, hai tay múa theo nhịp đệm vừa dẻo vừa như vẫy gọi quyến rũ... Và đúng như Hoàng Minh Hớn dự kiến, câu hát vẫy gọi vừa có tính khiêu khích các cô gái trong bản như đã có hiệu ứng.


Trên các ngôi nhà bắt đầu có tiếng rậm rật ván sàn, những tiếng cười khúc khích của các cô gái, tiếng í ới gọi nhau và những ánh cà-boong (đèn chai) bắt đầu sáng lên. Đầu tiên là hai ba cô gái rồi năm sáu người từ các cầu thang nhà sàn bước xuống đến tụm lại bên cái sân Nai bản mà Hón đang hát. Hớn như không hay biết, cậu ta vẫn hát, vẫn múa. Chúng tôi kiếm được thùng sắt tây đem đến gõ nhịp tạch tạch tùng, làm cho không khí vui nhộn hẳn lên. Mấy cô gái nhìn Hớn tủm tỉm rồi hích nhau đối đáp lại.


Hớn vừa ngừng câu hát thì một cô gái trong đám bước ra. Cô gái có nụ cười khá duyên dáng, mặc một chiếc áo lụa hoa ngắn bó sát thân, giữa có khuy bướm, chiếc váy đen dài sát gót, có thắt lưng bằng bạc... Đây là trang phục người dân tộc Thái vùng Nậm Bạc. Cô gái mở đầu bằng một giọng ngân cao trong trẻo:


Em đây như bông hoa nở giữa rừng /Con ong vò vẽ tới lượn chơi/Chẳng cùng ở, chẳng cùng nơi! Anh đừng lừa dối lấy lau về làm mía/ Mía chẳng phải mía ăn đâu có ngọt bùi, anh ơi...

Chà, Hớn gặp đối thủ cứng rồi, liệu cậu ta có lúng lúng không đây? Tôi và anh Danh thấp thỏm lo cho Hớn nhưng cậu ta vẫn mỉm cười hòa nhịp múa. Không khí trong sân bây giờ có phần nhộn nhịp hơn, chẳng mấy chốc mà dân làng lục tục kéo đến. Chỉ tiếc là bọn con trai đã đi chơi các bản khác từ chập tối chưa về, nhưng ông Nai bản, tuổi trên 40, từ trên nhà vác khèn chạy xuống cầu thang để nhập hội.

- Khoan hãy đợi tôi, hát mà không có khèn không vui đâu.

Rồi ông ôm lấy khèn thổi say sưa...

Thế là đồng bộ, tiếng khèn của Nai bản vang lên, liếng thùng sắt tây của chúng tôi: tạch... tạch... tùng... Các cô gái đứng ngoài vỗ tay nhịp.

Tôi nhìn Hớn lúc này mặt tươi hẳn lên, đôi tay cậu múa dẻo theo với cô gái đang hát, chân vẫn rập rình nhảy tại chỗ...

Cô gái vừa hát xong đối đáp thì các bạn gái bên ngoài vui vẻ vỗ tay khích lệ cùng với tiếng âu... a... âu... a... Vừa có ý thúc giục đối phương đối đáp lại.

Một bà mẹ đang đứng trên nhà sàn gần đó sợ Hớn lúng túng, bà bảo Hớn:

- Hát đi con, hát đi con... đừng sợ... đừng sợ!

Tôi cũng hất hàm vỗ tay, động viên Hớn. Như để lấy lại bình tĩnh và kéo thêm thời gian suy nghĩ, Hớn múa một vòng quanh rồi dừng lại trước cô gái:

Anh đây mười năm anh cũng đợi, hai mươi năm anh cũng chờ / Trái tim anh ở đó, chỉ thân hình anh ở đây / Ngủ giữa đêm mơ thấy mặt em / Mở mắt ra chỉ thấy chỗ nằm / Chỉ muốn nhắm mắt luôn thấy em mãi mãi...

- Hay lắm! Hay lắm!

Mấy bà mẹ ngồi trên nhà sàn gần đó cổ vũ Hớn. Các cô gái bấm nhau khúc khích cười. Cái cười thiện cảm với chàng chiến sĩ quân tình nguyện hiền lành dễ mến.

Khèn vẫn giục giã, trống vẫn thúc, tiếng hò hát âu... ơ... âu... bên ngoài cùng với tiếng vỗ tay rộn rã. Hớn mỉm cười và tiếp tục ngân nga:

Lúc mưa rơi buồn anh nói chuyện với ai? / Nói chuyện với chim, chim không lượn về tìm / Nói chuyện với quạ, quạ không bay về đậu / Nói với em, em quay lưng lại / Anh biết làm sao đây em ơi...

Tiếng cười xung quanh bỗng rộ lên, ông Nai bản vừa thổi hồi khèn vừa gật gù tán thưởng. Tôi cũng thầm phục cái tài tán của Hoàng Minh Hớn hết chỗ nói.

Để thay đổi không khí vui tươi, các bà mẹ lại hô lên: Xảo-pheng, Xảo-pheng... Ý muốn nói Xảo-pheng ra thêm đối đáp.

Xảo-pheng được mấy cô gái đẩy ra sân. Cô ta hơi ngượng ngùng một chút nhưng rồi cũng lấy lại bình tĩnh, Xảo-pheng là cô gái đẹp nhất trong đám. Giọng cô thật ngọt ngào trong trẻo cao vút lên như cuốn hút mọi người. Đôi mắt đen lấp lánh tựa ánh sao đêm. Giọng hát chân tình tha thiết:

Anh ơi anh đừng buồn, đừng vội nóng lòng, em hiểu lòng anh / Anh có thích thì anh mới hỏi, muốn lấy em thì anh mới bàn / Nước tràn bờ anh mới đánh trâu mòng / Đúng là rừng, anh mới đánh trâu qua / Đánh trâu qua rồi làm sao trở lại / Khổ thay cho chàng, thương lắm chàng ơi...!

Lại một chuỗi cười âu a... âu a... Cô gái thẹn thùng quay mặt vào chỗ tối. Nhưng rồi đột nhiên cô lại ngân lên tiếng hát:

Anh ơi... anh có thật lòng không?/ Nếu đúng như lời anh...?/ Thì em đây muốn chết biến thành ếch để ở chung ruộng / Chết thành cá để ở chung đồng / Chết thành tằm để được nằm chung ổ...

Dà ơi, hay lắm! Tình cảm lắm...

Họ lại vỗ tay ran lên, cái thùng sắt tây được dịp đánh liên hồi tùng... tùng... tùng... Xảo-pheng xấu hổ cúi chào Hớn rồi chạy ra núp sau lưng các cô bạn. Bây giờ thì quanh sân đã chật người, các chàng trai đi chơi làng bên từ hồi tối đã trở về chung vui. Tiếng hò, tiếng hát, tiếng vỗ tay càng râm ran hơn. Hoàng Minh Hớn và ông Nai bản được các chàng trai làng mới về thay thế và cuộc vui kéo dài cho đến tận khuya...


Sáng hôm sau, chúng tôi lại ba lô lên đường. Mấy cô gái đêm qua vội vã chạy theo dúi cho chúng tôi mấy gói xôi nóng và mấy con cá nướng rồi vừa cười vừa nói:

- Hôm nào trở lại, các anh đừng quên bản nghèo này nhé?

Chao ơi, làm sao mà chúng tôi quên được giọng hát ngọt ngào và đôi mắt của những cô gái Thái. Những niềm vui được nhân lên trên đường chiến thắng Nậm Bạc trở về.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:34:46 am
SỐNG, CHIẾN ĐẤU GIỮA LÒNG ĐỊCH


TRẦN HUY TUẤN


Ngày đó vào khoảng cuối tháng 8 năm 1969, tiết trời đã bước vào mùa khô ở Lào. Trên cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, xen kẽ giữa những dãy đồi thông là một thảm lúa vàng trĩu bông hứa hẹn một mùa bội thu. Bản làng các dân tộc Lào anh em vốn yên vui thanh bình thì nay hoang tàn đổ nát sau nhiều đợt oanh kích hủy diệt của địch, dân bản phải rời bỏ vào rừng sâu ẩn náu.


Giữa lúc đó, địch huy động một lực lượng lớn chưa từng có bao gồm các sắc lính: quân phái hữu, lực lượng Vàng Pao của quân khu 2 (ngụy Lào), một số đơn vị chiến đấu Thái Lan, dưới sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, tiến hành mở chiến dịch "Cù kiệt" điên cuồng đánh phá nhằm chiếm lại cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Trước sức tấn công ồ ạt của địch, Quân khu (lực lượng vũ trang Pa-thét Lào) đã quyết định đưa toàn bộ cơ quan hậu phương cùng một số dân Xiêng Khoảng dời về phía Bản Ban - Noọng Hét để bảo đảm an toàn. Còn lại các đơn vị vũ trang được tổ chức gọn nhẹ phân tán bám đánh địch từng nơi, từng chỗ, phù hợp với nhiệm vụ phương châm tác chiến lúc bấy giờ.


Trong số các đơn vị nói trên, Quân khu chọn một số cán bộ, chiến sĩ ưu tú thuộc phẤn Đội trinh sát, công binh và bộ binh, tất cả là 10 người, chỉ định ban chỉ huy: đồng chí Bun Thoong - Đại đội trưởng lực lượng Pa-thét Lào; Trung úy Xi Lửa - thuộc lực lượng Trung lập yêu nước cùng Đại tá Đươn và tôi - chuyên gia trinh sát của Quân khu tổ chức thành một đội công tác có nhiệm vụ bám dân, bám địch, bám địa bàn hoạt động nhỏ lẻ, tạo điều kiện khi đại quân tiến vào phản công. Trước khi lên đường, đồng chí Khểm Phon thay mặt Quân khu căn dặn thêm: "Nhiệm vụ của các đồng chí rất quan trọng và nặng nề vì từ giờ phút này các đồng chí không có tiếp tế, không có điện đài liên lạc với Quân khu. Mọi sinh hoạt, hoạt động của đội phải tự lo lấy hết. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc!".


Tối hôm đó, ba chúng tôi cùng nhau bàn bạc phương hướng, phương thức hoạt động sao cho thích hợp, có hiệu quả và đều đi đến thống nhất: Trước tiên phải giải quyết được công tác hậu cần vì "có thực mới vực được đạo", vì không thể trông chờ vào sự tiếp tế của trên. Thứ hai là muốn hoạt động được, bằng mọi giá phải móc nối được với cơ sở bằng cách tổ chức xâm nhập vào khu vực sân bay Cánh Đồng Chum liên lạc với dân nắm tình hình địch, tình hình dân rồi vận động bà con Xiêng Khoảng còn kẹt lại trong đó đấu tranh chống gom dân về Viêng Chăn.


Để giải quyết vấn đề lương thực hàng ngày, chúng tôi nhất trí chỉ còn cách tổ chức thu lượm, tận dụng những trà lúa chín rũ trên khắp cánh đồng; tìm kho tàng hậu cần của Quân khu còn lại trong rừng, lấy đó để nuôi sống đơn vị trong suốt thời gian hoạt động. Tuy vậy, việc thực hiện cũng không phải dễ dàng, không thể tự do gặt hái bình thường, vì trên các cao điểm xung quanh địch đều đóng chốt phong tỏa, chỉ cần thấy có bóng người dưới cánh đồng là chúng bắn thả sức như đổ đạn. Bởi vậy, để có gạo ăn hàng ngày, đêm đêm, từng tốp anh em tiếp cận ruộng lúa, bố trí cảnh giới như một trận đánh bảo đảm an toàn cho số anh em thu lượm. Cũng có lần đang gặt thì đụng độ với bọn địch đi tuần phải nổ súng và thương vong đã xảy ra. Gặt được lúa rồi làm ra thành hạt gạo cũng vô cùng khó khăn vất vả, vì sau các đợt oanh tạc bắn phá, các làng bản nhà cửa cháy trụi, mọi dụng cụ để làm ra hạt gạo cũng cháy hẽt. Anh em phải dùng những chiếc mũ sắt làm cối.


Muốn thực hiện được nhiệm vụ bám dân, đêm nào chúng tôi cũng tổ chức một tổ thâm nhập vào sân bay Cánh Đồng Chum, để theo dõi và móc nối với cơ sở. Xung quanh căn cứ sân bay, địch gom số dân càn quét được, lập ra những quán ăn, quán rượu phục vụ bọn lính Thái Lan, lính phái Hữu; đồng thời còn có tác dụng làm hàng rào che chắn cho chúng khi bị quân ta tấn công. Lợi dụng điều đó, anh em trong đội cải trang như binh lính địch, đột nhập trà trộn vào khu dân, bắt liên lạc với cơ sở. Công việc này được trung úy Xi Lửa đảm nhiệm, vì cậu ta rất am hiểu mọi sinh hoạt của quân phái Hữu. Qua khai thác cơ sở được biết, anh em du kích Mường Pẹc bị bắt gom cùng gia đình, địch đã tổ chức thành một Tiểu đoàn chiến đấu (BV56) được trang bị vũ khí đầy đủ, đóng tại sân bay Cánh Đồng Chum.


Chúng tôi quyết định làm công tác binh vận, vận động số anh em này tìm cách cùng với gia đình trốn ra khu căn cứ của đội. Kết quả đợt đầu có ba người ở Bản Lạt tìm ra, mang theo ba khẩu súng Ga-răng (súng trường). Anh em cho biết, bà con trong đó sống rất cực khổ, rất mong bộ đội về giải phóng, ai cũng muốn thoát khỏi cuộc sống kìm kẹp, nhất là chị em phụ nữ luôn bị chúng quấy rầy, nhũng nhiễu...


Phát huy kết quả thắng lợi bước đầu và sự mong mỏi, nguyện vọng của bà con, chúng tôi tăng cường các tổ phân ra nhiều mũi xâm nhập vào dân bày cách cho bà con trốn ra khu căn cứ. Ưu tiên số anh em du kích ra trước rồi đến cán bộ chính quyền địa phương, chị em phụ nữ, ông già và trẻ em lần lượt ra sau.


Sau khi đã có chủ trương cụ thể, đêm nào chúng tôi cũng vào liên lạc với cơ sở đưa những thành phần, đối tượng nói trên lần lượt ra khu căn cứ của đội. Thật bất ngờ, chưa đầy một tháng quân số của đội đã lên tới hơn một trăm người, trong đó một phần tư là phụ nữ. Còn số anh em thuộc tiểu đoàn địch mới tổ chức trốn ra đều mang theo vũ khí như M16, Ga-răng, M79 và có cả súng cối 60 ly. Trước tình hình đó, tôi bàn với đồng chí Bun Thoong và Xi Lửa: "Chúng ta có người, có vũ khí nên tổ chức thành đơn vị chiến đấu". Thế là biên chế thành hai trung đội và một phẤn Đội hỏa lực. Số phụ nữ tổ chức thành tổ hậu cần, chuyên lo công việc tìm kiếm lương Ihực, thực phẩm bảo đảm sinh hoạt cho đơn vị hàng ngày. Tổ này do chị Bun Mi, cán bộ phụ nữ xã trước đây phụ trách. Từ đó sinh hoạt ăn uống hàng ngày của chúng tôi có bàn tay của chị em nên tươm tất hơn.


Có lực lượng, có tổ chức, có trang bị không kém gì các phẤn Đội bộ binh, chúng tôi bàn với nhau áp dụng rộng rãi phương thức đánh nhỏ như phục kích, gài mìn trên các trục đường địch thường lui tới, nên cũng hạn chế sự đi lại của chúng, do đó khu căn cứ của đội cũng không còn bị o ép như trước nữa.


Giữa lúc này lại nảy sinh một khó khăn phức tạp mới là làm sao có đủ số lương thực cho hơn một trăm người ăn hàng ngày. Lúa trên cánh đồng thì không thiếu song đã quá ngày nên chín rục xuống ruộng. Riêng tại khu vực Bản Sồm, Bản Sữa còn nguyên một cánh đồng lúa chín có thể thu lượm được, nhưng lại bị một bộ phận địch chốt giữ ngay trên một quả đồi gần đó thường xuyên khống chế.


Chúng tôi họp bàn cùng anh em làm sao thu hoạch được số lúa này thì ít nhất cũng cung cấp lương thực cho toàn đội được nửa tháng. Có ý kiến đưa ra là: Tổ chức tập kích vị trí địch trên đồi rồi chiếm giữ toàn bộ khu vực Bản Sồm, Bản Sữa. Nhưng bàn đi tính lại vẫn chưa ngã ngũ. Lực lượng ta là du kích, vũ khí trang bị thô sơ mà địch lại phòng ngự trong công sự vững chắc thì đánh làm sao nổi. Cuối cùng đồng chí Khăm Sẻn đề nghị bí mật mang một lượng thuốc nổ khoảng 20kg áp sát cao điểm phát hỏa để uy hiếp địch. Mọi người nhất trí.


Đêm 16 tháng 11 năm 1969, một tổ do đồng chí Khăm Đỏn làm chỉ huy cùng ba chiến sĩ bí mật chuyển lượng thuốc nổ lên đồi, áp sát công sự địch, ròng dây xuống chân đồi dùng phương pháp điểm hỏa bằng điện. Đúng 12 giờ đêm hôm đó, một tiếng nổ xé trời rồi không gian trở nên im ắng lạnh lùng. Không thấy địch có phản ứng gì dù chỉ là một phát súng nhỏ.


Kết quả thật không ngờ, sáng ra kiểm tra, địch đã bỏ chạy hết. Cũng từ hôm đó, chúng tôi đàng hoàng thu hái lúa giữa ban ngày.

Tình hình chiến sự ngày càng phát triển có lợi cho ta. Tiếng súng phản công của bộ đội Lào và quân tình nguyện Việt Nam ngày càng gần. Địch đã phải rút bỏ một số nơi, co cụm lại từng điểm, mọi sự liên lạc chúng phải dùng trực thăng. Tiếng súng phản công của các cánh quân ta vang lên ngay trong trung tâm Cánh Đồng Chum. Lợi dụng lúc này, chúng tôi đẩy mạnh công tác binh địch vận, giúp đỡ và tổ chức cho bà con trong sân bay trở lại quê hương bản làng, xóa sổ hoàn toàn BV56 (tiểu đoàn địch mới thành lập) mà không mất một viên đạn nào. Chúng tôi còn tiếp tục tổ chức lại tổ anh em du kích, khôi phục lại lực lượng dân quân của từng bản làng trước đây, ổn định đời sống cho nhân dân. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đội công tác chúng tôi giải tán về đơn vị cũ.


Tuy thời gian sát cánh bên nhau chiến đấu trong một hòan cảnh cực kỳ khó khăn gian khổ nhưng đã để lại trong tôi biết bao kỷ niệm thật sâu sắc khó quên. Một mối tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt - Lào, tình bạn chiến đấu chung một chiến hào giữa các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào, lực lượng Trung lập yêu nước Lào và những cán bộ, chiến sĩ chuyên gia quân tình nguyện Việt Nam.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:36:16 am
LỬA


PHAN SĨ QUÂN


Lăn lộn ở vùng địch hậu, độ hai ba tháng tổ dân vận chúng tôi lại kéo nhau về "Vắt Ông Toại" ở căn cứ kháng chiến Huội Nhàng. Đặt chân đến bờ sông Xề Nọi chúng tôi coi như đã về nhà. Lần này, trong lúc chờ anh em ở cơ sở về, chúng tôi xin phép đội trưởng Toại đi dự hội cá ở Hòn Mương. Hội cá vui lắm! Chớm mùa khô, cá suối Huội Nhàng tránh cạn nên hợp lại từng đàn bơi ngược về nguồn. Đến con thác Hòn Mương thì hành trình của chúng bị chặn lại, đàn cá tranh nhau vượt thác xúm đen xúm đặc. Dân các bản đứng chật hai bên bờ, đàn ông cởi trần đóng khố dùng vợt, dùng lưới xúc. Đàn bà con gái thu cá bỏ vào sọt, tìm các bãi đá bằng ven suối rải cá ra phơi.


Đến chiều cá khô cong, họ lèn vào sọt, lấy "lá tai voi" khô đậy kín. Ba bốn ngày có lái buôn đến mua hoặc chất lên xe bò chở về bản. Đêm đến mới thực sự là hội. Trai gái các bộ tộc: Lào, Phù Thày, xổ ăn vận diêm dúa như đi hội Bun ở chùa. Thanh niên mang theo trống cơm. "Chả trình chả! Chả trình chả!", tiếng trống cơm cất lên, từng đôi trai gái lượn vòng quanh bếp lửa múa Lăm vông, nhịp chân dập dìu theo ánh lửa. Tôi làm quen với một cô gái trẻ mang tên là Đuông Chăn trong một vòng múa, dáng cô e thẹn rụt rè khác với các cô gái Lào hồn nhiên bạo dạn. Sang vòng thứ ba, Đuông Chăn hỏi tôi:

- Anh là lính ông "Toạy" (Toại) à?

- Cô ở bản nào? - Tôi hỏi lại.

- Bản Keng Mũm.

Con gái Keng Mũm là dân Phù Thày nổi tiếng xinh xắn. Nhưng qua ánh lửa tôi thấy Đuông Chăn cũng bình thường, da nàng ngăm màu hạt dẻ, bắp chân hơi thô, nhưng mỗi lần tàn lửa bắn ra cô lại nhíu mày trông rất duyên, theo từng vòng múa tôi bắt chuyện. Đuông Chăn rủ rì:

- Bố em là Thít La, kết "xiều" với "ông Toạy" nên em gọi ông là "phò xiều" (bố kết nghĩa).

- Thế thì Đuông Chăn phải gọi tôi là "ải xiều"! (anh kết nghĩa).

Đuông Chăn che miệng cười e ấp như hoa "đoọng thoong".

Bản Keng Mũm của Đuông Chăn đông dân, giàu. Lính coong pạy (lính ngụy) thường hay đến bản quấy phá. Mấy lần phò (bố) Thít La sai con gái đến "Vắt ông Toại" báo tin địch, tôi ở cơ sở nên ít gặp.

Tôi quen biết Đuông Chăn tình cờ như thế.

Ai từng ở rừng Lào chắc không thể quên những cơn mưa kỳ quặc. Nhận được lệnh về "Vắt Ông Toại" trực thay đội trưởng đi họp ở phân đoàn, tôi và Huyên rời cơ sở từ sáng sớm. Đến đường rẽ, Huyên đi thẳng về phân đoàn bộ còn tôi một mình theo đường rừng khộp. Rừng khộp ban mai mát mẻ. Ánh mặt trời xuyên qua tán lá lung linh như những hạt ngọc. Tôi thấy lòng khoan khoái, tự nhiên cất tiếng điệu "đòn đống" (hò đi rừng). Nắng tắt. Trời bỗng tối sầm. Nhìn phía đông hướng Phù Luông mây đen vần vũ như hàng vạn thớt voi quần đảo đuổi nhau sang hướng Tây. Sấm. Chớp loe lóe. Rồi mưa xối xả. Về đến Phù Xạng He, tôi bám chân vào từng khía đá cố trèo nhanh lên dốc. Nước bùn đổ xuống trơn trượt như mỡ. Gần trưa mưa tạnh. Khi về tới "Vắt Ông Toại" thì hang đã ngập đầy nước. Nước mưa theo rễ cây, khe đá xối vào hang. Tôi chui vào xếp dọn giấy tờ, đồ đoàn của anh em vào chỗ khô ráo rồi đi sang hang dự bị. Bên hang dự bị càng tệ. Cỏ khô để nằm, nứa khô để nhóm bếp ướt sũng. Mưa vẫn tiếp tục trút xuống trắng rừng.


Tôi bắc nồi lấy phần gạo ở bao tượng nấu cơm trưa. Xé mấy tờ giấy ở sổ ghi chép để nhóm bếp. May ở hang dự bị có dự trữ bốn năm cây "ca boong" (đuốc thắp làm bằng mùn gỗ khô trộn với dầu rái). Tôi mở ba lô lấy diêm. Ôi thôi! Cả bao diêm Thái cũng đã sũng nước. Tôi chạy đến góc hang lấy bùi nhùi và đá đánh lửa. Mấy thứ này tuy còn khô nhưng không khí ẩm ướt thế này có tài thánh cũng chẳng thể đánh lửa được!


Mệt và đói, tôi cởi quần áo ướt chỉ mặc độc cái quần xà lỏn nằm thừ trên đệm cỏ ướt lắng nghe tiếng nước chảy, mưa rơi. Thế là phải chờ tạnh mưa mới xuống được núi kiếm cái lót dạ. Bỗng có tiếng động ngoài cửa hang, tôi giật mình ngồi phắt dậy vớ lấy khẩu xít-ten. Có tiếng con gái trong trẻo lọt vào:

- Ải xiều ơi!

Tôi đã nhận ra cái giọng trong trẻo thân thiết ấy là của ai rồi. Vơ vội lấy cái áo ướt vừa kịp khoác lên mình thì Đuông Chăn hiện ra trước mặt.

- Ải xiêu vừa đi đâu về vậy?

- Tôi đi họp về.

- Ở nhà em đã linh cảm nhất định có Thoong Đăm ở hang!

- Đuông Chăn vào trong này đi. Sao lại cứ đứng dưới mưa vậy?

- Em ướt như nhái lột da, còn chi nữa mà sợ ướt!

Hôm nay Đuông Chăn khác hẳn, không còn dáng vẻ e ấp, thẹn thùng như ở hội cá Hòn Mương.

- Vào trong ni. Khăn phá phe đây, lau người đi! Tôi kéo Đuông Chăn vào trong hang tránh mưa.

- Kệ em! Đuông Chăn nhìn tôi ái ngại. Tội chưa! Thoong Đăm chả có bộ quần áo nào khô. Típ xôi em mang theo, lúc qua suối Huội Nhàng nước cuốn mất. À, Thoong Đăm có gạo rồi. Hay quá! Em có tính hay lo xa nên lúc đi có mang sẵn cho anh thứ này!

- Vào trong này đi, ướt thế mà Đuông Chăn đứng chỗ gió lùa, cảm lạnh đấy! Khăn phá phe đây, lau đi.

Tôi cầm khăn định lau khô mái tóc của Đuông Chăn, cô giãy nảy:

- Em quen mưa, quen nắng rồi! Kệ em! Anh cầm gói này mà dùng!

- Gọi là ải "xiểu" chứ.

- Đừng hòng! Chưa giết gà ăn thề, chưa cột chỉ cổ tay mà đã muốn làm "Ái xiều"! Bò nạy nơ! (Không được đâu) cầm lấy cái này, để ướt thì nhịn đói! Em về đây. Nhùng nhằng lũ mà về thì chỉ có nước ngủ rừng!

Tiễn Đuông Chăn ra đầu dốc, cô chào tôi theo kiểu vào chùa. Tôi cầm hai cổ tay Đuông Chăn lắc lắc:

- Pay đí nỏ! (...)

Hứng chí tôi nói một tràng lời cầu chúc dân gian. Tôi nhìn theo mái tóc dài chìm vào cơn mưa trắng núi trắng rừng. Tôi cảm thấy một bầu máu nóng chạy rần rật từ đầu tới chân. Lúc đó, với tôi mưa, gió, cái ướt lạnh chả thấm vào đâu.


Tôi chạy nhanh về hang lấy cái gói. Cái gói nhỏ chỉ bằng nửa bao thuốc lá bọc lá chuối khô quấn dây vải chằng chịt. Tôi lấy kéo cắt dây. Tôi hơi lo khi thấy lớp lá chuối bọc ngoài bị ướt. Rất may, vào lớp trong thì lá chuối không còn bị ướt nữa. Hết lớp này đến lớp khác chừng sáu bảy lớp lộ ra một gói nhỏ bằng ngón tay bọc giấy bạc thuốc lá. Kỹ thế! Tôi thầm nghĩ trong lòng rất hồi hộp. Té ra là một bao diêm! Những que diêm vẫn còn khô nguyên ấm trong tay tôi. Sao mà Đuông Chăn biết tôi không có lửa nhóm bếp? Sao Đuông Chăn lại đến đúng ngày tôi ở "Vắt ông Toại"? Sao mà? Sao mà??? Tôi không thể nào trả lời được những câu hỏi bật ra trong đầu mình. Lòng hang ẩm mốc hình như cũng ấm lên. Nàng đã đưa lửa cho mình, cho anh lính tình nguyện khiến "anh chàng" đâm ra lẩn thẩn rải diêm lên khăn phá phe và đếm từng que một! Tất cả tròn mười sáu que! Sao lại đúng mười sáu que?


Trưa đó, tôi được chén một bữa cơm chấm muối trắng ngon lành. Bữa cơm đó ngon hơn tất cả những bữa tiệc mà tôi từng được dự. Bữa cơm ấy được nấu bằng lửa của Đuông Chăn và "ca boong" của dân bản mà lính tình nguyện chúng tôi coi như cha mẹ đẻ và thường gọi thân mật là "phò me".


Đời lính khác chi chân chim chẳng đậu yên cành nào. Hòa bình lập lại, tôi được chuyển lên hai tỉnh tập kết. Ở địa bàn xa xôi cách trở, tôi vẫn cố gắng tìm mọi cách gửi thư tay, hoặc nhắn để liên lạc với Đuông Chăn nhưng không có hồi âm. Thế là xa cách Đuông Chăn thân thiết của tôi rồi!


Tôi vẫn còn giữ gói diêm mà Đuông Chăn cho trong ngày mưa lũ ấy, mang theo mình như mang hơi ấm của em trên các nẻo đường chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Nhờ ngọn lửa ấy, tôi đã vượt qua vùng phỉ ở Sầm Nưa. Ngọn lửa ấy luôn ở trong tôi, nhắc tôi nhớ về một thời trai trẻ đã là anh lính tình nguyện; tôi nhớ tới tình yêu của nhân dân Lào dành cho chúng tôi. Ngọn lửa ấy mãi còn ấm áp thủy chung như tình cảm keo sơn của hai dân tộc Việt - Lào.


Trại viết kỷ niệm sâu sắc Hồ Tây
Tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:38:07 am
TÌNH DÂN NHỚ MÃI


TRẦN MẠNH HÀ
(Ghi theo lời kể của đồng chí Võ Ngọc Đạo)


Cuối năm 1950, tôi được anh Trường Sinh - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trung Lào giao nhiệm vụ dẫn một tiểu đội đi ra sát bờ sông Mê Kông tìm bắt liên lạc với một đơn vị Việt kiều Thái Lan (Phân khu 6) sang giúp bạn xây dựng cơ sở ở vùng giữa tỉnh Khăm Muộn và Sa-va-na-khệt.


Năm đó tôi 24 tuổi, sang Lào được mấy năm, kinh nghiệm thực tế còn ít nhưng khi nhận nhiệm vụ thì thể hiện quyết tâm và hăng hái lên đường ngay. Đi được vài hôm tôi mới chột dạ vì thực ra tôi chỉ nhằm theo hướng Thái Lan cắt rừng mà đi, chứ trong tay không có một tấm bản đồ chỉ dẫn nào cả. Ngay đến người dẫn đường hay thông thuộc địa hình nơi đây cũng không có. Thật là một khó khăn rất lớn. Nhưng sự đã rồi, chúng tôi chỉ còn mỗi một cách là tiếp tục tiến bước chú không còn đường lui.


Lúc này đang là mùa khô. Do vậy mà tốc độ đi của cả tiểu đội khá nhanh. Sau bốn hôm ngày đi đêm nghỉ, cứ nhìn ánh mặt trời mà đi, chúng tôi ước chừng đã đi được khoảng vài ba chục cây số. Nhưng càng đi thì hình như càng chậm lại vì ai nấy đều có vẻ đã thấm mệt, chân rã ra chứ không như mấy hôm đầu. Rừng lại càng rậm hơn, gai góc thêm nhiều, suối khe cũng lắm. Chúng tôi không ai nói gì nhưng vẻ lo ngại đã hiện lên từ ánh mắt. Lương thực cạn dần. Lòng tôi như lửa đốt. Trong tình thế này, không khéo lạc rừng như chơi. Đã không hoàn thành nhiệm vụ lại có thể sẽ gặp nhiều nguy hiểm cho tính mạng anh em trong tiểu đội.


Một buổi sáng, vừa vượt qua một con suối nhỏ thì cậu Nam trong đoàn phát hiện ra hai bóng người vừa thấp thoáng bên kia vạt rừng. Tôi vội cho người bám theo. Chỉ là một ông lão ngoài bảy mươi tuổi và một cô gái còn trẻ lắm. Đoán chắc đây không phải là địch mà chỉ là dân địa phương, chúng tôi vội tiếp cận ngay. Thoạt đầu, ông lão và cô gái có vẻ sợ sệt khi thấy chúng tôi như từ trên trời rơi xuống, nhưng rồi họ lấy lại bình tĩnh ngay khi đoán ra chúng tôi là quân tình nguyện Việt Nam.


Sau khi dò hỏi mới hay đây là hai ông cháu. Họ ở một bản người Lào cách đó vài ngày đường và cũng đang đi về phía biên giới Thái Lan. Thật may tôi biết được một ít tiếng Lào. Khi sang Lào, quãng tháng 10 năm 1949, đơn vị chúng tôi có tên gọi là Đội vũ trang tuyên truyền 812 xuất phát từ xã Sơn Hà, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, quân số khoảng 40 người do đồng chí Phạm Ngọc Thược - Đại đội phó làm đội trưởng. Sau một thời gian hành quân vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ thì đến vùng Tha-pay thuộc Mường Nhom Ma-rát tỉnh Khăm Muộn. Đến đây thì gặp đơn vị vũ trang của Pa-thét Lào, do anh Xổm Xắc làm Trung đội trưởng. Gặp nhau tay bắt mặt mừng. Lúc đó, anh Xổm Xắc cũng biết chút ít tiếng Việt, còn tôi bập bõm tiếng Lào. Thời gian được sống gần nhau, hai chúng tôi trở nên thân thiết. Xổm Xắc dạy tôi tiếng Lào, còn tôi dạy anh tiếng Việt. Anh Xổm Xắc sống với bạn bè rất chân thành, đồng cam cộng khổ. Anh dạy tôi hát dân ca Lào:

"Phò mẹ ơi lục khơi ma lẹo, pay âu lậu hạy lục khơi kin... (Bố mẹ ơi con rể đến rồi, đi lấy rượu cho con rể uống..)".

Thế là, cứ mỗi lần đi vào làng tôi lại hát nghêu ngao mấy câu dân ca ấy. Dân làng nghe ai cũng cười ồ cả lên.

Ông lão và cô cháu gái chúng tôi gặp đi dự một lễ hội hàng năm của người Thái có tên là Bun-thạc-pa-nôn, giống như bên Lào có lễ hội té nước. Điều làm tôi rất ngạc nhiên là ngay từ hôm đầu tiên, ông lão đã tỏ ra là người rất dễ gần và quý bộ đội chúng tôi. Tôi như chết đuổi vớ được cọc. Trời giúp chúng tôi rồi. Gặp được người dân địa phương lại biết là đang cùng hướng đi thì còn gì bằng. Cô cháu gái của ông còn rất trẻ, chỉ độ 18, 19 tuổi. Cô có nước da bánh mật, dáng hình thon thả và đặc biệt là đôi mắt đen láy như hút cả trời xanh vào đó. Lúc đầu cô có vẻ rất thẹn thùng. Cũng phải thôi, một cô gái mới lớn bị vây quanh bởi hàng chục thanh niên dạn dày phong sương. Thế nhưng chỉ sau một buổi là chúng tôi bắt chuyện dễ dàng và được cô tặng cho những nụ cười mê đắm.


Chuyện trò rôm rả suốt chặng đường làm cho cái mệt, cái đói vơi hẳn đi. Thời gian có vẻ như không tồn tại, bởi chúng tôi, những gã thanh niên trẻ muốn được gần cô gái lâu hơn nữa. Cũng qua ông lão, tôi được biết chúng tôi đang đi vào vùng đất địch kiểm soát. Ông lão không những không sợ liên quan đến chúng tôi nếu như gặp phải đụng độ mà còn tỏ ra rất vui vẻ và hài lòng khi được giúp chúng tôi. Miệng nói chân đi, chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến một cái bản nhỏ với những ngôi nhà nằm rải rác bên sườn núi. Đêm xuống, nhờ ông lão mà chúng tôi bắt chuyện khá nhanh với bà con ở đây. Được biết cơ sở bộ đội ta và Lào đang hoạt động ở vùng này, tôi bỗng thở phào nhẹ nhõm.


Sáng ra, ông lão và cô cháu gái đến chia tay để đi theo hướng khác sang đất Thái. Tôi nắm thật chặt bàn tay ông. Cô cháu gái bẽn lẽn đứng bên, hai má hình như ửng đỏ và đôi mắt chớp chớp lưu luyến...

... Hai năm sau đó, quãng cuối năm 1950 đầu năm 1951, chúng tôi có việc qua làng Na Môn cách đồn Na Nhôm của địch khoảng 3 cây số. Cho quân hạ trại nghỉ trong rừng bên một con suối nhỏ. Tôi vào làng, hỏi đến nhà của ông lý trưởng, rồi đứng dưới cầu thang gọi. Bỗng từ trong nhà xuất hiện một cô gái bước ra, cô đứng nhìn một chút rồi kêu lên đầy vẻ bất ngờ: "Ô... Hóa ra là quan anh! Quan anh thật rồi! Quan anh đi đâu mà mấy năm nay không gặp?". Tôi ngỡ ngàng đứng ngây ra rồi hỏi: "Nhà em ở đây à?".


Hóa ra cô ấy là em gái của ông lý trưởng. Lúc đó, do đồn địch rất gần nên tôi chỉ dám ngồi một lúc rồi đi ngay. Tôi nói với cô gái: "Khi nào ông lý trưởng về, em nói giúp hộ là tối nay ra chỗ bờ suối tôi có việc cần nhờ giúp đỡ". Em gật đầu nhìn tôi với nét mặt rất vui.


Cái việc mà tôi nhờ ông lý trưởng của làng là xin giúp ít lương thực cho đại đội. Mấy hôm nay chúng tôi đã cạn lương thực, thực phẩm. Nhiều hôm lần mò cả đêm dọc hai bên bờ suối mà chỉ kiếm được vài con nhái đem nướng lên, giã nhỏ trộn với ít muối chia cho anh em. Biết trong bản có cơ sở của ta nên tôi cho anh em nghỉ lại và vào bản nhờ giúp đỡ.


Buổi tối hôm đó, y hẹn, ông lý trưởng ra bờ suối gặp tôi và nói: "Buổi chiều, tôi về nhà, cô em gái có nói rằng đêm nay ra bờ suối gặp "quan anh" có việc cần bàn. Rồi ông ta chợt mở túi lấy ra một gói thuốc lá rê, loại thuốc được vấn bằng lá chuối khô buộc túm lại bằng dây, hút rất đậm. Ông bảo là cô em gái ông ta gửi cho tôi.


Tối hôm sau tôi vào bản theo lời hẹn của một người là cơ sở của ta để bàn công việc và được mời ăn cơm ở đó. Hỏi thăm tình hình và ăn uống được một lúc thì thấy cô em gái ông lý trưởng mang một "tip" (như cái giỏ đan bằng tre của ta) lèn đầy xôi và một bát canh đến. Từ nhà ông lý trưởng tới đây phải cách một quãng đường khá xa nên tôi không hiểu vì đâu mà cô gái lại biết tôi ở chỗ này. Một tay cô cầm "tip" xôi, một tay cầm bát canh và rất nhẹ nhàng, cô quỳ xuống từ bậc cửa rồi đi bằng hai đầu gối đến trước mặt tôi lúc đó đang hết sức ngạc nhiên, cô gái khẽ khàng: "Em mời quan anh ăn xôi và canh...". Tôi còn đang lúng túng thì bà mẹ chủ nhà ngồi gần đó đã vội nói: "Con cứ ăn đi... canh ngon lắm đó. Đây là canh Na-phắc-nậu, món canh của người Lào ta đó!". Tôi từ ngạc nhiên rồi cảm động không thốt nên lời, run run đón lấy thức ăn từ tay cô gái. Trao xong thức ăn, cô lại nhẹ nhàng lùi lại và ngồi vào một góc nhà ngắm tôi ăn...


Do công việc phải bí mật hành quân nên tôi gấp rút lên đường vào ngày hôm sau. Tôi không có dịp đến nhà để chia tay người lý trưởng của làng cùng cô em gái. Tôi chỉ biết thầm cảm ơn họ, cũng như những người dân bản tốt bụng đã cưu mang và giúp đỡ chúng tôi. Họ thật sự coi chúng tôi như những người con trong gia đình. Đến khi cả đại đội đã hành quân một quãng, tôi mới giật mình. Hóa ra tôi vẫn chưa biết tên em, ơi cô gái Lào dễ thương, dịu dàng, đôn hậu...


60 năm đã trôi qua, bao nhiêu kỷ niệm cứ lãng đãng chìm dần trong ký ức. Cũng vì tuổi tác ngày càng cao, bệnh tật thêm nhiều. Nhưng mỗi lần nhớ lại, đất nước Lào cổ kính và những người dân chất phác, hiền hậu, vô cùng mến yêu lại hiện về tươi rói trong tôi.

Hồ Tây, tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:39:24 am
NGÔI MỘ DƯỚI ĐÁY HỒ


CÔNG VIỄN
(Ghi theo lời kể của đồng chí Ngô Nẹp)


Tôi dự lễ "hạ sao" và nhận sổ hưu về sống với đời thường tháng 4 năm 1990 thì bảy năm sau - năm 1997 được các bạn Lào mời sang thăm lại chiến trường xưa. Đứng trên bờ đập của thủy điện Nậm Ngừm, anh bạn người Lào chỉ cho tôi vùng hồ chứa nước của nhà máy. Thế là biết bao niềm vui nỗi buồn gắn bó với khu căn cứ vùng địch hậu tỉnh Viêng Chăn Đông đã thức dậy trong tôi. Nó cứ chập chờn dưới đáy hồ không sao vớt lên được. Mắt tôi nhòa đi khi thấy cái bóng của anh Hiệu đang chơi vơi trong làn nước trong vắt và mênh mang của vùng hồ...


Ngày ấy, cách nay vừa tròn 40 năm. Năm 1969, chúng tôi được trên cử về vùng địch hậu của huyện Nhọn Ngừm thuộc tỉnh Viêng Chăn Đông này xây dựng căn cứ địa để đón lõng, chờ thời cơ giải phóng Thủ đô. Một ngày đầu xuân năm Kỷ Dậu (1969), tổ trinh sát của khu căn cứ do anh Hiệu phụ trách ngồi trên một chiếc thuyền mủng, ngược sông Nậm Ngừm luồn vào đồn Keng Nọi của địch. Keng Nọi là một đồn địch đóng cách khu căn cứ của chúng tôi chỉ chừng vài cây số, nó án ngữ cả một vùng hạ lưu, cắt đứt nguồn tiếp tế từ các bản dưới đó cho chúng tôi. Nếu không nhổ được nó thì cả khu căn cứ của tỉnh Viêng Chăn Đông sẽ không duy trì được cuộc sống. Khi tổ trinh sát đã tiếp cận tới gần đồn địch, thuyền đã neo vào một gốc cây, các tổ viên đã trèo được lên vách đá, trên thuyền chỉ còn một mình anh Hiệu thì dây thuyền bị tuột khỏi gốc cây và lập tức dòng nước đã lật úp thuyền, quật vào vách đá. Anh Hiệu hy sinh chỉ cách đồn địch chừng dăm trăm mét về phía thượng nguồn. Nếu không vớt được xác anh thì anh sẽ trôi vào đồn địch và bao nhiêu tài liệu nằm trong xắc-cốt anh đeo sẽ rơi vào tay giặc. Như vậy, tổn thất sẽ không sao lường được. Mặt khác, bọn phỉ sẽ băm nát xác anh, vứt xuống sông Nậm Ngừm làm mồi cho cá! Vì vậy, anh Nguyễn Quang Tăng - trưởng cố vấn cho bạn ở tỉnh đội Viêng Chăn Đông đã cử tôi, anh Mầu, anh Kính và anh Bun Mi, do tôi làm tổ trưởng bí mật đón lõng trước đồn địch về phía thượng nguồn để vót cho được xác anh Hiệu. Chúng tôi nhận mười ngày gạo, nai nịt gọn gàng rồi luồn rừng, vác theo một chiếc thuyền men bờ sông Nậm Ngừm xuôi về đồn địch. Đây là khu rừng lau sậy, xứ sở của hổ báo, nên chúng tôi cũng sò sợ. Vì trong khu căn cứ của chúng tôi đã có đồng chí bị hổ vồ khi đi một mình trong đêm. Tuy nhiên, với tổ chúng tôi, chuyện sợ hổ cũng chỉ thoáng qua vì đã có Bun Mi, anh là người vùng này, anh bảo: "Hổ bao giờ cũng sợ người. Nó chỉ vồ những người sợ nó. Với lại, hổ là chúa của những kẻ đãng trí nên đi tới đâu là nó phải đái để nhớ đường về. Mà nước đái hổ thì khai tới nhức mũi!". Biết anh nói cũng hơi dóc, nhưng cũng có tác dụng yên lòng chúng tôi. Mặt khác, cứ mỗi khi nghĩ tới bọn địch băm nát xác anh em mình vứt cho cá là chúng tôi lại không sợ gì nữa. Cứ lan man về chuyện hổ báo, chả mấy chốc đã tiếp cận đồn địch. Khi dòng sông Nậm Ngừm chảy tới gần đồn Keng Nọi thì phình ra tạo thành một cái vực. Nước trong cái vực ấy hầu như đứng yên mà chỉ có rất nhiều cái xoáy. Chúng tôi lần xuống phía dưới vực, dòng sông Nậm Ngừm bỗng chảy lững lờ như một chàng lãng tử. Vậy nước tạo thành những dòng thác ở phía trên vực chảy đi đâu? Bun Mi bảo, nó chảy vào lòng đất. Thế thì rất có thể xác anh Hiệu sẽ bị những cái xoáy kia xoáy vào lòng đất mất. Tất cả anh em chúng tôi đều thấy cay cay trong mắt.


Chúng tôi phân công nhau túc trực ở khúc sông phía trên đồn địch. Đã sang ngày thứ ba mà vẫn không tìm thấy anh đâu. Mấy anh em ngồi lại phán đoán. Anh Mầu bảo, có thể trong lúc nào đó chúng ta sao nhãng, anh ấy đã trôi vào đồn địch mất rồi. Tôi cũng nghiêng về nhận định của anh Mầu. Còn ý của anh Kính thì khác. Anh bảo khúc sông mà chúng tôi túc trực, nước có chảy xiết đâu, nên xác anh Hiệu không thể trôi qua mắt chúng tôi được mà rất có thể mấy cái xoáy ở giữa vực đã xoáy anh ấy vào lòng đất. Đó là hai ý kiến hoàn toàn ngược nhau. Còn ý của anh Bun Mi lại khác, anh bảo cả hai khả năng kia đều không thể có được. Bởi lẽ nước chảy lững lờ thì xác anh không thể trôi dưới mặt nước mà qua "trạm gác" của chúng ta; còn những cái xoáy kia chỉ là những cái xoáy nhỏ, vận tốc của nó chỉ đủ sức xoáy ba cái lá khô chứ không thể xoáy dựng đứng cả một khối kềnh càng như anh Hiệu được, chắc chắn xác anh còn dật dờ đâu đây. Là người chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng Quang Tăng, tôi hỏi anh em: "Vậy bây giờ giải quyết thế nào?".


Anh Mầu, người nhận định là xác anh Hiệu đã trôi vào đồn địch hiến kế: "Theo tôi, trong bốn anh em mình, chỉ để lại một người túc trực ở trạm gác, còn ba anh em luồn vào đồn địch bắt sống lấy một tên đem ra khai thác để biết xem xác anh đã trôi vào đồn địch chưa? Nếu chưa thì ta cứ kiên trì tìm anh ở cái vực này, trước sau sẽ thấy".


Chúng tôi thống nhất phương án của anh Mầu và quyết định chờ cho trời tối sẽ đột nhập vào đồn địch. Chiều hôm thứ ba đó, chúng tôi thổi cơm ăn sớm, tranh thủ chợp mắt cho tỉnh táo để nửa đêm sẽ đột nhập vào đồn. Trong bốn anh em, chúng tôi phân công anh Kính túc trực ở trạm gác, đem cơm cho anh ấy ăn tại đó. Còn ba anh em thì bốc cơm giữa rừng. Đang ăn, bỗng thấy cái mùi gì khang khác, nửa như thum thủm, nửa như khai khai. Còn đang phán đoán cái mùi ấy là mùi gì thì một tiếng động đánh xoạt gần đó. Tôi nghĩ ngay đên hình bóng của con hổ, người run cầm cập, không sao nuốt nổi miếng cơm. Chắc anh Mầu cũng nghĩ như tôi nên mặt tái mét. Mặc dù anh Bun Mi đã giải thích cho chúng tôi là loài hổ rất ít khi kiếm ăn ban ngày, nhưng tâm lý sợ hổ vẫn ám ảnh trong chúng tôi. Mang tâm trạng này mà vào đồn địch thì không những không bắt sống được địch mà nó lại bắt sống mình. Nghĩ vậy nên chúng tôi tạm hoãn. Chúng tôi, trừ anh Bun Mi, đều phải trèo lên cây, chọn những chạc ba ngồi thu lu trên ấy.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Ba, 2022, 07:40:01 am
Đêm mùa khô ở Bắc Lào rét thấu xương. Mùa xuân ở Lào khác xa mùa xuân miền Bắc bên mình. Bên ấy, mùa xuân không có "mưa xuân phơi phới bay" như trong thơ Nguyễn Bính và cũng không có hoa đào cười gió đông trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền mà là một mùa xuân oi ả, khô khan và ngứa ngáy. Lá vàng khô giòn, cong cớn dội vào không gian mỗi bước đi của thú rừng, kể cả những bước đi rón rén của con vật kiếm ăn đêm. Càng về sáng, cái mùi thum thủm càng rõ, đâu đó như có tiếng động của đám nhặng xanh, một cái gì rất mơ hồ thoáng qua đầu tôi về cái mùi thum thủm ấy, nó na ná như mùi của xác chết ở Cánh Đồng Chum năm 1962 mà tôi đã được chứng kiến. Bất giác, tôi nghĩ đến xác của anh Hiệu. Rất có thể anh đang nằm ở đâu đây? Tự nhiên, tôi quên đi hình ảnh của những con hổ mà tôi đã tưởng tượng ra để dọa mình từ chiều hôm đó đến giờ. Tôi tụt xuống cây, đến cái cây của Mầu, của Kính vỗ nhẹ dưới gốc. Hai anh tụt xuống, tôi hỏi: "Các cậu có ngửi thấy mùi gì là lạ không?". Mầu bảo: "Hình như mùi của hổ mỗi lúc mỗi gần anh ạ?". "Nhưng nó không khai mà thum thủm"- Kính chen vào.


Tôi vỗ nhẹ vào vai Mầu, vai Kính bảo: "Các cậu chỉ thần hồn nát thần tính. Làm gì có mùi hổ, hình như mùi xác anh Hiệu đã trương phình ở đâu đây?".

Ngẫm nghĩ hồi lâu rồi hít hít, Kính bảo: "Rất có thể?".

Trời sáng dần. Tôi và Kính đi vòng quanh vực. Mùi thum thủm cứ lảng vảng đâu đây. Chúng tôi cho thuyền luồn lách vào những khóm cây lòa xòa ra mặt vực. Cứ lần tìm cái mùi là lạ ấy, thoáng thấy ở bụi đằng đông, thoáng lại thấy ở đằng tây. Còn đang phân vân về cái mùi ấy có phải là mùi xác anh Hiệu đã trương phình hay không thì trên không trung bỗng xuất hiện mấy con quạ khoang cổ kêu "quạ, quạ" rồi đổ xuống một ngọn cây vươn ra mặt vực. Anh Kính đánh mắt cho tôi về phía ngọn cây ấy. Chúng tôi lái thuyền về phía đó. Còn cách ngọn cây ngả chơi vơi ra mặt vực chừng mươi sải tay thì hàng nghìn con nhặng xanh bay vù lên và mấy con quạ đang mổ mổ cái gì nổi lên lẫn vào khóm lá phủ lòa xòa trên mặt nước. Kính cho thuyền len lỏi vào đó, mấy con quạ bay vù lên, hốt hoảng gọi nhau. Nước mắt chúng tôi nhòa đi khi trông thấy chiếc đồng hồ vi-le của anh còn lấp lánh trên cánh tay trương phình. Đúng là anh Hiệu, thiếu tá của Quân đội nhân dân Việt Nam sang làm cố vấn quân sự cho tỉnh đội Viêng Chăn Đông đây rồi. Tình đồng đội, tình thương yêu giữa người chỉ huy và người lính trong những năm sống bằng cháo ngô, măng rừng đã làm cho chúng tôi không sao cầm được nước mắt. Mấy miếng da đầu của anh đã bị quạ mổ trơ vùng xương sọ. Chúng tôi khóc òa lên. Thương anh quá anh ơi!!!


Toàn thân anh đã rữa ra cả rồi. Nếu cứ để vậy mà đưa anh lên thuyền rồi chở về cứ thì không khéo chỉ còn được mấy khúc xương. Anh Bun Mi bàn với chúng tôi liền chặt tre đan một tấm giát như cái giát giường rồi luồn xuống dưới vớt anh lên. Chúng tôi làm theo sáng kiến của anh Bun Mi. Bốn anh em, kẻ kéo người đẩy ngược dòng nước, tới chiều thì về tới trạm xá của tỉnh đội. Chúng tôi cột thuyền vào một gốc cây, cử anh Mầu và anh Kính ở lại coi thuyền, tôi và anh Bun Mi vào trạm xá, nhờ bạn cử cho mấy người ra giúp chúng tôi khiêng anh Hiệu lên bờ và tiến hành mai táng cho anh. Chưa nói hết câu chuyện với các anh ở trạm xá thì anh Mầu hớt hải chạy vào kêu tướng lên: "Anh Nẹp ơi! Anh Hun Mi ơi! Anh Hiệu "chạy" mất rồi! Mất rô...ì...!". Tôi chạy trước, anh Bun Mi chạy sau. Ra tới bờ sông thì chiếc thuyền tuột dây đang lao vun vút xuống dưới nguồn. Hoảng quá, tôi "bông-nhông" xuống lòng sông. Khi túm được cái dây thuyền thì cũng là lúc dòng thác chồm lên đầu tôi, tôi đã bị thác dìm xuống nước thì may quá, anh Bun Mi đã túm được tóc tôi và dây thuyền...


Được các bạn Lào giúp đỡ, chúng tôi đã khâm liệm cho anh bằng mấy tấm tăng và lọ nước hoa của trạm xá.

Cuối năm đó, năm 1969, tôi được gọi về Sầm Nưa rồi trở về Tổ quốc. Trước khi rời khu căn cứ, tôi đến mộ anh, tạm biệt hương hồn anh. Tôi lầm rầm khấn: "Anh Hiệu ơi, anh nằm lại đây với hương ngàn gió núi của Thượng Lào nhé. Mai ngày, cách mạng Lào thành công, chúng em sẽ đưa anh về Bắc Giang, nơi có dòng sông Thương thơ mộng, anh nhé!". Một cơn gió rừng thoảng qua. Tôi có cảm giác như hồn anh đó...


Cuối năm 1975, tôi gặp lại Thủ trưởng Quang Tăng của mình tại Hà Nội. Thủ trưởng bảo: "Cậu về rồi, chúng tớ ở lại giơ hai tay hứng cái "Lào hóa chiến tranh". Tưởng nó cũng ngọt như "Bị vong lục về Đông Dương" của ngài Đại tướng Hăng-ri Na-va hồi 1953, dè đâu nó là con đẻ của học thuyết Ních-Xơn. Cái học thuyết lấy sức mạnh làm xương sống, lấy úm-ba-la dọa người nhát gan và lấy cả vú lấp miệng kẻ ỡm ờ. Xưa nay, ngươi giỏi võ không bao giờ chịu đứng yên mà hứng chịu cú đá song phi của chú ngựa non đang hăng tiết, nên chúng tớ đã kịp thời dời lên dãy núi ở thượng nguồn sông Nậm Ngừm. Về mặt nào đó, ngài Ních-Xơn đã kế thừa được "hoài bão" của Giôn-xơn là đưa chúng tớ trở về thời kỳ đồ đá dài nhất là từ 4 đến 5 năm (1969-1973). Chúng cho B52 rải thảm căn cứ của chúng ta suốt hơn nghìn ngày đêm. Nhưng xưa nay cái gì trong trời đất đều có giới hạn, nên bom Mỹ cũng không thể không cùng. Đến khi lá cờ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được gấp vào va ly của các ngài cố vấn Mỹ thì chúng tớ chui ra khỏi hang, trở về căn cứ cũ của chúng ta thì hình dáng nơi đây đã không còn nữa. Nhiều mỏm núi đã thành vôi trắng, nhiều cánh rừng đã thành tro than và mặt đất đã chồng chất những hố bom dày đặc... Chúng tớ và bạn đã để ra hàng tuần để tìm lấy một chút gì còn lại của Hiệu, nhưng tất cả chỉ là những cái lắc đầu. Có đêm tớ đang ngủ thì mơ thấy nó gọi tớ, nó chỉ cho tớ chỗ nó đang nằm. Tớ vùng dậy cùng anh em hì hục đào. Đào mãi, đào mãi chả thấy cái gì, chỉ thấy gió ngàn vi vút và cuối cùng là một con đom đóm vụt bay vào màn đêm dày đặc. Chúng tớ gạt nước mắt rồi lại lắc đầu. Nhiều lần như vậy, chúng tớ đành quay về Viêng Chăn. Trên đường về tớ có cảm giác như "nó" vẫn lẽo đẽo đi sau mình. Thế rồi công trường thủy điện Nậm Ngừm cũng phải hợp long. Mình ngẫm ra trên đời này, cái gì cũng có giá của nó, nhưng thực sự mình không dám nghĩ đến cái giá giữ ánh điện lung linh giữa Thủ đô Viêng Chăn với ngôi mộ còn nằm lại dưới hồ...".


Thế rồi, cái đêm tôi nằm lại trạm đón tiếp của Nhà máy thủy điện Nậm Ngừm, hễ chợp mắt là lại thấy hình bóng người đồng đội của chúng tôi năm xưa cứ chập chờn... chập chờn... rồi chơi vơi trong ánh điện...

Hà Nội, Thu 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 07:01:59 am
MƯỜI BẢY NGÀY TRÊN ĐẤT THÁI


TRẦN ĐỨC TĨNH
(Ghi theo lời kể của đồng chí Phạm Đình Cường)


Tôi nhìn vào đồng hồ, lúc này là 17 giờ 40 phút, từ trên cao nhìn xuống mặt đất đã nhá nhem, sương phủ lờ mờ trên các đỉnh núi. Theo ước tính thời gian, máy bay đã đến khu vực hạ cánh, nhưng vì bay ở độ cao trên ba nghìn mét, lại không có phương tiện chỉ huy từ mặt đất, chẳng có sông Mê Kông nào cả, mà đường quốc lộ số 13 cũng không thấy, chỉ có một con đường lạ. Như lúc trước đã hiệp đồng, không nhận ra địa điểm thì hạ cánh xuống khu vực quốc lộ số 13, đốt một đụn khói làm tín hiệu bắt liên lạc. Tôi cho chiếc Mi-4 hạ thấp độ cao, mặt đất hiện rõ hơn, có một cái sân bóng, máy bay lượn thêm một vòng nhỏ nữa rồi mới từ từ đáp xuống. Tất cả đoàn chưa biết đây là đâu? Chúng tôi có bốn, cộng thêm năm hành khách thành chín người. Mở cửa bước xuống đất, tôi nhận ra đây không phải đất Lào, phía trên sân bóng có một cột cờ, trên đó treo một lá cờ gạch chéo, tôi nghĩ đây là đất Thái Lan. Dân xung quanh thấy có chiếc máy bay lạ hạ cánh xuống, nhiều người kéo nhau ra xem, họ đã quây kín xung quanh. Rất may cho chúng tôi là trong đoàn có một người biết tiếng Thái, anh ta nhanh trí nói với họ: "Chúng tôi bay từ Pắc Xế đi Pắc San, đến đây vì trời tối nên phải hạ cánh để hỏi đường".


Trong đoàn không quy định ai chỉ huy cả, chúng tôi nhận thấy rõ sự nguy hiểm, chốc nữa thôi tất cả sẽ bị bắt. Tôi đã được quán triệt rất kỹ, tuyệt đối không để rơi vào tay địch, không được xưng khai, và không mang theo giấy tờ, tài liệu nào hết. Tôi bảo anh em nhanh chóng lên máy bay thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ngay lập tức không ai nói với ai, máy bay khởi động rồi cất cánh bay ngược lại theo hướng MK30 độ. Tôi là phi công đã được đào tạo lái máy bay IL-14 hai động cơ tại Liên Xô, chuyển về đoàn M19, cấp trên giao cho tôi bay loại trực thăng Mi-4. Bay trong điều kiện đêm tối, anh em rất lo lắng, ngay cả đồng chí Khai lái phụ cũng chưa gặp tình huống này bao giờ, nhưng tôi đã từng bay IL-14 ban đêm nên yên tâm hơn.


Bay được một đoạn chừng hai mươi phút trên địa hình rừng núi, trời tối đen như mực, không có điểm nào làm vật chuẩn, tôi không xác định được tọa độ, bắt buộc phải hạ cánh để tránh va vào núi. Tôi bật đèn pha soi xuống mặt đất, phát hiện có một khoảng đất rộng, máy hay từ từ hạ cánh, kim đồng hồ chỉ 18 giờ 20 phút. Tôi tắt khóa điện cho động cơ dừng hẳn, rất có thể rơi vào tay địch, tôi có cảm giác như vậy! Vì tôi là lái chính quyết định số phận của mọi người, anh em trong đoàn nghe theo lệnh tôi như một người chỉ huy. Tôi phân công mỗi người một việc, canh gác xung quanh máy bay, hủy toàn bộ giấy tờ có liên quan đến chuyến bay, riêng tấm bản đồ phải để lại. Dân quanh đó bắt đầu kéo nhau đến xem, tôi cử hai đồng chí biết tiếng đến liên hệ với họ, hỏi xem khu vực này thuộc địa phận nước nào? Qua một hồi trao đổi được biết nơi chúng tôi vừa hạ cánh xuống là sân bóng của Trường huấn luyện cảnh sát Thái Lan. Đang giữa thời chiến sự, quân đội Thái Lan đối địch với lực lượng cách mạng Lào, chúng tôi bay đi để bắt liên lạc với lực lượng cách mạng Lào, máy bay lại hạ cánh trên đất này khác nào vào khu rừng có nhiều cọp dữ. Tất cả đoàn ai cũng lo lắng, chúng tôi đã cầm chắc trong tay hơn nửa phần bị bắt, hy vọng sống là nhỏ nhoi, đang chưa biết xử trí ra sao? Nhưng lúc này thì chưa có lực lượng vũ trang nào của Thái Lan đánh hơi thấy, đây chỉ là những người dân hiếu kỳ ra xem. Chúng tôi nói với họ tránh xa chiếc máy bay, đoàn đang bay đi Pắc San, đến đây trời tối quá đành phải hạ cánh xuống nghỉ, ngày mai lại tiếp tục. Lát sau dân về hết, tôi giao nhiệm vụ cho thông tin liên lạc cùng cơ yếu đánh "Moóc" báo về Bộ Tổng Tham mưu, nói rõ tình hình đang bị lạc. Viết đến bốn bức điện phát đi nhưng chẳng nhận được sự hồi âm nào cả, bặt vô âm tín, phương tiện duy nhất chúng tôi mang theo là chiếc máy vô tuyến 15W. Núi rừng trả lời là sự im phăng phắc, màn đêm sâu hun hút đến vô tận, đêm đầu tiên không ai chợp mắt nổi, chỉ cần một tiếng động nhỏ là tất cả lại giật mình, chỉ mong cho trời nhanh sáng.


Ngày hôm sau, mới 5 giờ, ánh sáng bắt đầu le lói, nhưng trời đất vẫn còn mù sương, tầm nhìn còn bị hạn chế, cả đoàn rất nóng lòng muốn cất cánh nhưng điều kiện thời tiết không cho phép, nếu không nhanh chóng thì địch biết tin sẽ đến bắt sống, mỗi giây phút kéo dài là nỗi sợ lại tăng lên cấp số nhân. Mãi đến 7 giờ, sương mù bắt đầu tan, nhưng ngoài trời vẫn còn lạnh cóng, máy bay khó khởi động, phải nổ máy động cơ ba mươi phút mới cất cánh được. Khi máy bay đã bốc lên, tôi không dám nâng độ cao, chỉ bay là là cách mặt đất 300 mét, vì càng nâng độ cao càng tốn xăng, đồng hồ báo đã chỉ ở vạch đỏ. Bay được khoảng năm phút thì đồng hồ đo xung báo động mức nguy hiểm, mối đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng cả đoàn, nhìn xuống dưới mặt đất chẳng có vị trí nào để hạ cánh, tôi vẫn liều lĩnh cho máy bay tiếp tục tiến, sự sống và cái chết của chúng tôi cân bằng nhau, thêm một đoạn nữa tôi thấy có một dải đất bằng, nhưng không thể hạ cánh được vì cây cối mọc lởm chởm, nếu có hạ cánh rồi cũng chẳng có cơ hội bay tiếp. Trong suy nghĩ của tôi bắt đầu nảy sinh nhiều toan tính, một ý nghĩ táo bạo lóe sáng trong đầu. Chiếc máy bay như con chuồn chuồn đuối sức, cánh quạt quay chậm dần, toàn thân đè lên đám cây kêu răng rắc, cánh quạt chém lá bay tứ tung, kết thúc là một tiếng "khực", một cảm giác khủng khiếp, đồ đạc trong máy bay loảng xoảng, người ngồi trong dúi dụi, giây phút ấy diễn ra trong chốc lát rồi trả lại bình yên, nhưng mặt mũi ai nấy cũng đều tái xanh. Anh em chúng tôi bỏ máy bay, mang đồ đoàn mở cửa bước ra, vẫn đang ở đất Thái. Từ đâu đó năm người chĩa súng thẳng vào chúng tôi:

- Tất cả đứng yên.

Mặt mũi bọn họ đằng đằng sát khí, những họng súng đen ngòm sẵn sàng khạc lửa thẳng vào chúng tôi. Như hiểu ý nhau, tất cả chín anh em bình tĩnh đứng dậy giơ hai tay lên quá đầu. Không khí bớt căng thắng, họ bớt cảnh giác hơn.

- Chúng tôi đi khảo sát địa chất, máy bay bị hết xăng rơi xuống đây. - Chúng tôi nói bằng tiếng Thái.

Nhóm người dãn ra, họ bỏ súng xuống. Tôi ra hiệu cho một đồng chí chuẩn bị hủy máy bay. Nhiên liệu trong khoang máy chỉ còn dính đáy, phải thò tấm vải bông vào thùng thấm, nhóm người kia nhìn nhau ngơ ngác, họ chẳng biết gì. Tôi châm thuốc hút, rồi tiện đà mời họ hút thêm, thái độ họ thân thiện hơn. Trong lúc đang chuyện trò, chúng tôi nháy nhau chuẩn bị cướp súng, tất cả hiểu ý định liền trà trộn giáp lá cà với họ thành từng nhóm nhỏ, chỉ cần hiệp đồng đúng thời cơ. Không chần chừ, tôi hô lớn một tiếng, năm người dân địa phương bị đè nghiến xuống đất. Từ lúc nãy, mảng bông tẩm xăng được vứt sẵn trong buồng lái, chúng tôi châm lửa rồi cùng nhau mang súng bỏ chạy. Không ai nói câu nào, chúng tôi cúi đầu chạy một mạch, đằng sau có tiếng nổ lớn. Chúng tôi cứ thế chạy thẳng vào rừng sâu.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 07:02:48 am
Khi đã xa lắm rồi, không ai còn đủ sức chạy tiếp, cả đoàn nằm vật xuống dưới tán một bụi cây lớn. Chuyến bay đó rất gấp, chúng tôi không kịp chuẩn bị gì, trước đó tôi được thủ trưởng giao cho nhiệm vụ bay đến Xẻn Xum phía bắc Viêng Chăn, cách bờ sông Mê Kông khoảng hai mươi kilômét, ngoài ra tôi chẳng ai biết gì hơn. Chỉ biết đây là nhiệm vụ đặc biệt!


Ở trong khu rừng, chúng tôi bắt đầu nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau, có người bảo cứ hành quân theo quốc lộ, người khác lại bảo vào dân hỏi đường và xin lương thực. Tất cả những ý kiến đó đều không khả thi vì đây là đất Thái Lan. Cuối cùng, mọi ý kiến cũng được thống nhất. Đoàn của chúng tôi có chín người thì tám người là đảng viên, một người là đoàn viên ưu tú. Chi bộ lâm thời được thành lập, đồng chí Đạt có thâm niên lâu hơn được đề cử làm bí thư, tôi làm phó bí thư. Chúng tôi thống nhất phương châm "Chết đống còn hơn sống một". Đói qjuá, có anh em bắt đầu lả đi, nhưng lương thực quá ít ỏi không dám dùng hết, đành phải cắt một miếng bánh chưng nhỏ cho ăn, phần còn lại phải để dành những ngày tiếp theo.


Chúng tôi bắt đầu đi. Sông Mê Kông nằm ở phía đông, buổi sáng mặt trời mọc ở hướng đó, buổi chiều lặn phía sau lưng. Rừng ở Thái Lan không rậm lắm, chủ yếu là cây khộp và nhiều loại cây khác nữa, người khỏe thay phiên nhau dìu người yếu. Cứ vậy, chúng tôi hành quân về phía sông Mê Kông. Đi được một quãng khá xa thì bất ngờ nghe tiếng nổ lớn, tất cả anh em tản ra nằm rạp xuống, hóa ra là một khẩu súng kíp anh em lấy được của dân địa phương bị nảy cò nổ, may mắn không ai bị dính đạn. Sau tiếng nổ ấy chúng tôi lại tiếp tục chạy, sợ nhỡ địch nghe thấy tiếng súng ập đến bao vây. Lúc ấy đang là mùa đông, buổi chiều thời tiết ấm hơn, mùa này rừng cũng chẳng có loại hoa quả gì có thể ăn được, không thể tiếp tục đi mãi khi bụng đói tóp teo, chúng tôi tản ra tìm bất cứ thứ gì có thể cho vào miệng sống qua ngày.


Sau một giấc ngủ mê mệt, khí lạnh tràn về khắp khu rừng, chúng tôi tỉnh giấc giữa màn đêm tối om, bầu trời bắt đầu hiện đầy sao. Bỗng dưng tôi khát khao sự sống đến thế? Ở nhà (vợ, con) không ai biết tôi đang ở đâu. Tôi không kịp thông báo chuyến đi này; hình ảnh những đứa con đang ríu rít vui đùa khiến tôi ứa nước mắt, nếu tôi chết thì chúng sẽ sống ra sao? Anh Đạt cũng tỉnh từ lúc nào, đang ngồi trầm tư nghĩ ngợi bên gốc cây. Chúng tôi túm tụm lại thành một nhóm. Cơn khát lại kéo về giày vò, một đồng chí nữa lại lả đi. Cuộc hành trình của chúng tôi theo tinh thần của nghị quyết chi bộ. Để đảm bảo ăn dè sẻn số lương thực mang theo, chúng tôi bầu một đồng chí làm quản lý, phân phối tiêu chuẩn ăn mỗi người một bữa chỉ được một nhúm bicquy, một cái bánh chưng phải chia ra thành chín suất, tính như thế cũng chỉ đảm bảo được hai ngày, riêng hai hộp sữa phải để dành khi đến bờ sông Mê Kông ăn để lấy sức vượt. Giữa rừng sâu không có một dấu chân người, tất cả bốn bi đông nước không còn lấy một giọt, xung quanh không có dòng suối nào cả, không thể kiếm nước ở đâu uống qua cơn khát, một đồng chí đã quá yếu không dậy được. Chúng tôi không thể ngồi nhìn nhau chết dần trên đường về, không còn cách nào khác, đành phải đái ra lấy nước để uống.


Đi trong rừng, nhìn thấy dây củ mài mọc mà khống có cách nào đào lên được, trong tay chúng tôi chẳng có gì, mấy khẩu súng kíp lấy được cũng đành phải bỏ lại vì không đủ sức mang theo. Thật may mắn, anh em trong đoàn chúng tôi có một ngươi cầm bật lửa. Dọc đường đi, hễ cứ tìm được thứ gì ăn được là anh em cùng nhau kiếm, kể cả những loại cây thú rừng ăn nham nhở cũng hái bỏ vào ống nứa non nấu. Một hôm, chúng tôi qua mảnh nương cũ của dân bỏ lại, lấy được bí đỏ ăn no nê một bữa, thế rồi ba hôm sau không kiếm được thứ gì nên người mệt mỏi vô cùng, lê từng bước trong rừng, cứ đi được năm đến mười phút lại phải nghỉ giải lao hàng tiếng. Lúc đứng dậy mắt hoa đom đóm, đầu óc choáng váng. Một đồng chí ăn phải quả dại nên ngộ độc, mặt tái xanh, hôn mê, nôn mửa, chân tay run lật bật tưởng chết. Dọc đường đi gian khổ, cũng có một vài đồng chí nảy sinh tư tưởng muốn vào nhà dân xin cơm, nhưng nghị quyết chi bộ đã quán triệt nên nhất nhất phải nghe "Chúng ta đi theo tinh thần của người đảng viên Cộng sản".


Thêm một ngày là sức lực chúng tôi thêm kiệt quệ, phải vượt qua nhiều địa hình hiểm trở, đường cao, dốc thẳm. Tôi còn nhớ, một hôm, gặp dãy núi đá rất cao, người bình thường cũng khó lòng vượt qua. Thế mà chúng tôi, những người sức lực đã yếu, chi bộ phải chụm lại bàn bạc. Lúc đầu chúng tôi đi vòng quanh hình chữ z nhưng suốt một ngày không lên đến mỏm, cuối cùng phải quyết tâm leo. Nhích từng bước một, chúng tôi cồng kênh nhau, nếu chẳng may ai trượt chân ngã xuống coi như đã mặc niệm. Thế rồi cũng lên được đỉnh, không ai bị sơ suất. Rồi có một đồng chí bị đi kiết, ngươi rũ rượi không đủ sức đi tiếp, đồng chí đó rút súng ngắn (mỗi chúng tôi trước lúc lên máy bay đều dắt trong người một khẩu súng ngắn) định tự sát: "Thôi các đồng chí đi tiếp, chúng ta phải trở về với Tổ quốc. Còn tôi...". Lúc ấy tinh thần quyết tâm lại trỗi dậy, anh em xúm lại, nhìn đồng đội thoi thóp mà nước mắt ứa tràn hai khóe mắt. "Thà chết đống còn hơn sống một", cả đoàn lại đứng lên dìu dắt nhau đi bằng được.


Nhìn trên bản đồ quân sự, chúng tôi ước tính, chỉ đi bộ khoảng hai hoặc ba ngày là đến bờ sông Mê Kông, nhưng đã trải qua chín ngày vẫn chưa tới nơi. Vào một buổi chiều, khi mặt trời đã chuẩn bị chìm xuống dãy núi phía sau, phía trước mặt xuất hiện một cánh đồng rộng, tôi nghĩ thầm là sắp đến bờ sông. Cánh đồng đó rất rộng, xung quanh nhà dân mọc lên san sát, chúng tôi không thể ngang nhiên vượt qua đó được. Anh em ngồi lại đó quan sát kỹ lưỡng. Thế là chúng tôi nghỉ lại ở một mép rừng. Trong bản có tiếng chó sủa nhiều, phía xa có ánh đèn pha, mọi người bắt đầu thấy lo, lúc chiều đột nhiên gặp một số người dân, có thể đã bị lộ, địch đang tiến hành truy kích. Phương án của chúng tôi vạch ra: Tất cả nằm bất động, cử hai người cảnh giới, phải vượt qua cánh đồng trong đêm nay.


Đợi mãi, đến 1 giờ đêm chúng tôi mới bắt đầu thực hiện vượt tuyến, bởi lúc này đã có sương xuống nên chó không thể đánh hơi người. Trước lúc lên đường tất cả mọi người đều phải cởi giày. Tôi đã quen đi giày, da bàn chân mỏng như tờ giấy, giẫm lên gốc cây bàn chân cảm thấy nhói buốt, chẳng hiểu thế nào mà tôi đã cùng đồng đội đi suốt đoạn đường dài hai tiếng không nghỉ. Đêm trên đồng tối mờ mịt, bản đồ và địa bàn không thể đối chiếu với bên ngoài được. Nhìn lên bầu trời có vì sao Bắc đẩu, chòm Đại hùng tinh, Tiểu hùng tinh cùng chùm sao rất sáng, chúng tôi căn vật chuẩn vào đỉnh núi phía sau và ngọn cây phía trước để hành quân. Đến gần sáng thì chúng tôi đến một khu rừng.


Đây có lẽ là một cuộc thoát hiểm hiếm có trong chiến tranh, đã là ngày thứ mười chúng tôi sống trong nỗi sợ hãi, cái đói, khát cứ liên tục giày vò, không còn đủ sức mà tiếp tục, bờ sông Mê Kông đang vẫy gọi chúng tôi tiến đến. Khu vực này địch rất có thể ập đến bất cứ lúc nào, đã kiệt sức quá rồi nhưng không thể quên cảnh giới. Tối hôm sau chúng tôi lại tiếp tục vượt qua một rừng tranh, thêm hai người nữa mệt quá bị ngất đi, nhưng ước vọng lớn nhất của chúng tôi là nhìn thấy bờ sông Mê Kông, đã mười ngày trôi qua mà vẫn chưa nhìn thấy gì, niềm thất vọng lan ra khắp cả đoàn.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 07:03:20 am
Ngày hôm đó chúng tôi gặp một người dân, họ đến gần hỏi chuyện:

- Các ngài đang đi đâu?

- Chúng tôi là đoàn địa chất của Chính phủ. Từ đây đến Vang Sa Phông có xa không? Người trong đoàn biết tiếng Thái nói.

- Đường lên huyện và ra bờ sông bằng nhau, đi bộ mất khoảng một ngày.

Họ nói thế và mời chúng tôi vào bản nhưng chúng tôi đã phải từ chối. Đợi họ đi khuất rồi, chúng tôi lẩn vào rừng sâu.

Sau cuộc gặp gỡ, chúng tôi đã mừng thầm, nhẩm tính chắc chỉ đi bộ thêm ba ngày nũa. Nhưng thực tế không phải như vậy, chúng tôi đi hơn năm ngày nũa mới đến bờ sông, sức đã quá kiệt quệ mất rồi, đi bộ chừng mười lăm phút phải nghỉ mất hàng tiếng đồng hồ, rồi gặp gì ăn nấy. Những khi gặp được một con suối chúng tôi nghỉ lại cả buổi, anh em nào khỏe thì xuống mò ốc bắt cua, nhái nấu để ăn, lúc đó không ai còn biết ghê tởm điều gì hết.


Mười lăm ngày trôi qua là một cuộc đấu tranh vô cùng ác liệt, sáng sớm ngày thứ mười bảy, tôi thức dậy rất sớm, lợi dụng sương mù dày đặc tranh thủ men theo con đường nhỏ đi thám thính xem có phải bờ sông không. Đúng như dự tính, bờ sông Mê Kông đang ở ngay trước mặt tôi. Lúc đầu chúng tôi nghi ngờ nhưng mang bản đồ đối chiếu với thực địa thì quả thật đúng như vậy. 9 giờ rồi mà sương mù vẫn bao phủ khắp mặt nước, bờ sông đoạn này hai bên có rừng cây rậm rạp và các tảng đá to. Chúng tôi ngồi ở đó quan sát sang phía bờ sông bên kia.


Đến lúc này chỉ cần vượt sang bên kia sông là sự sống của chúng tôi có nhiều hy vọng. Nhưng không thể nôn nóng mà liều lĩnh rơi vào tay địch. Trong đoàn lại nảy sinh nhiều ý kiến, có người bảo lợi dụng thuyền của dân, ý kiến khác cho rằng thế là nguy hiểm, thỉnh thoảng lại có thuyền với ca nô chạy qua đoạn sông chúng tôi đang ngắm.


Nhiều ý kiến đề xuất nên chủ trương chính của chúng tôi vẫn dùng thuyền của dân để vượt sông, e rằng dùng bè chuối một số anh em yếu không đủ sức bơi. Chúng tôi phân công nhau thành nhiều nhóm. Đồng chí Đạt cùng hai người nữa ra mép sông trinh sát và lấy nước cho anh em. Lúc ấy đã là 17 giờ 30 phút, mặt sông đã nhá nhem tối. Lúc sau nghe một loạt AK, chúng tôi dồn cả về phía có tiếng nổ, nghĩ rằng tổ trinh sát đã gặp địch. Một cuộc đọ súng giữa ta với địch nổ ra. Họ bắn nhau dữ dội! Khi hai đồng chí trong tổ trinh sát quay lại, tôi hỏi:

- Đồng chí Đạt đâu?

- Không biết. - Một đồng chí nói rồi nằm vật xuông đất ngất đi.

Địch trên sông triển khai đội hình chiến đấu, súng của địch bốn phía bắn liên tiếp về phía bờ sông, cả đạn cối cũng nổ tung các cột nước trắng xóa. Tôi nghe thấy chúng hô hoán om sòm nhưng không biết tiếng, con đường phía sau xe tăng chạy ầm ầm. Trời đã buông màn đêm đen kịt xuống từ lúc nào, chúng tôi phải im lặng nằm tại vị trí chờ đồng chí Đạt trở lại. Chúng tôi chờ mãi cho đến 24 giờ không thấy đồng chí Đạt quay lại mới tiếp tục đi. Trong suy đoán của tôi có lẽ đồng chí ấy đã bị lạc hoặc hy sinh vì bị lộ. Chúng tôi quay lại rừng không vượt sông trong đêm ấy nữa.


Phải mất thêm hai ngày nữa tìm đồng chí Đạt nhưng không thấy, chúng tôi mới tổ chức vượt sông. Chúng tôi lê từng bước đi cách chỗ cũ khoảng mười kilômét mới đến bờ sông. Đoạn này cũng hẹp! Chỗ đấy là một cái khe nhỏ, hai bên khe có nhiều chuối rừng mọc, có cả cây đu đủ quả rất sai. Đói quá, chúng tôi thi nhau ăn đu đủ. Sau này tôi mới biết vì thế mà mình mắc chứng đau dạ dày. Quan sát thấy bờ sông vắng lặng, chúng tôi họp lại, anh em phân công tôi làm bí thư chi bộ. Đoàn lúc này còn lại tám người, chia làm hai nhóm vượt sông, tổ chức hiệp đồng cẩn thận xong xuôi đâu đấy. Đúng 2 giờ thì hai chiếc bè chuối được hoàn thành, chúng tôi chỉ có hai con dao dip nhỏ để tiện thân chuối, còn anh em khác dùng mồm để cắn dây buộc cuốn bè.


Mặt sông bồng bềnh trong sương lạnh, tất cả súng đạn cùng đồ đoàn chất lên trên, mỗi người phải lấy một sợi dây buộc mình vào bè chuối phòng mệt bị nước cuốn đi. Lờ mờ sáng thì sang đến bờ bên kia, một số anh bị ngất đi, những người khỏe hơn thì khuân vác đồ cùng cõng anh em vào trong bờ cất giấu, vừa xong việc thì một chiếc ca nô của địch đi tuần tiễu trên sông. Theo hiệp đồng, bè nào sang trước ở bên trên thì đi xuôi xuống tìm bạn, bè nào phía dưới thì đi ngược lên, tôi đi ngược tìm những người bên tổ bạn nhưng không thấy, ba anh em trong tổ bị ngất đi mãi đến 15 giờ mới tỉnh lại. Chúng tôi tiếp tục ngược lên phía trên tìm bạn, tối hôm ấy bắt đầu có trăng, dưới tán rừng, ánh trăng soi mờ ảo, chúng tôi vẫn đi đến khoảng 21 giờ thì nghe có tiếng huýt sáo (lúc trước đã hiệp đồng gọi nhau bằng tiếng huýt, người gọi bằng một tiếng, đáp lại bằng hai tiếng). Tôi huýt lại hai tiếng, thế là anh em gặp được nhau. Đáng lẽ chúng tôi phải cười lên mới đúng. Nhưng chúng tôi chẳng nở được một nụ cười nào. Tất cả lặng đi nhìn về phía bên kia nhớ thương đồng chí Đạt.


Sang đất Lào, chúng tôi may mắn gặp được một du kích Pa-thét. Lúc đầu họ vẫn chưa tin chúng tôi thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng may, một người trong đoàn gặp người bạn Pa-thét Lào cùng học hồi ở Trung Quốc, mọi nghi ngờ được tháo gỡ và được những người anh em giúp đỡ, chúng tôi tiếp tục hành quân bộ hơn 300 kilômét nữa, về đến Cánh Đồng Chum bắt được liên lạc về nước.


Nhiều năm lái máy bay phục vụ cách mạng Lào, đây là sự kiện quan trọng đọng lại trong ký ức tôi, không bao giờ quên được. Chỉ tiếc thương anh Đạt - người đồng đội chung ngọt, sẻ bùi trong chuyến lạc rừng 17 ngày trên đất Thái. Mãi sau này, theo một nguồn tin quân sự tôi mới được biết đồng chí Đạt đã hy sinh trong lần đụng độ ngày hôm ấy.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Ba, 2022, 07:04:37 am
XÊ BĂNG HIÊN
CUỐI MÙA KHÔ NĂM ẤY


PHẠM PHI HỒNG


Mùa xuân năm 1964, đơn vị tôi đóng quân ở Chuối, thuộc huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa, được bổ sung lớp chiến sĩ nhập ngũ 1962-1963, quê đều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Hà Nội để đi làm nhiệm vụ ở chiến trường. Hầu hết anh em còn rất trẻ, tuổi đời chỉ khoảng mười chín đôi mươi. Phần lớn là học sinh vừa mới tốt nghiệp cấp 3, rất hăng hái khi biết mình được đi chiến đấu.


Chúng tôi được nghỉ phép 5 ngày trước lúc lên đường. Quả là niềm vui khôn tả. Các đồng chí Đề, Phùng, Phú, Đại... quê ở huyện Đông Hưng và huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình), tuy ở hai huyện nhưng nhà lại gần nhau, anh em rủ nhau mua mỗi người một cây dừa con đem về nhà trồng và tin rằng, khi hoàn thành nhiệm vụ trở về là có nước dừa giải khát. Chúng tôi còn giao ước nếu có ai không trở về thì những người còn sống sẽ có trách nhiệm với gia đình người đã khuất.


Tuy rất tin tưởng vào ý chí, quyết tâm của anh em, song khi mọi người đã đi phép, tôi vẫn lo có người đến muộn, thậm chí không đến thì sẽ nhỡ kế hoạch hành quân. Nhưng đúng hẹn mọi người đều trở về đơn vị đông đủ không thiếu một ai. Tất cả chúng tôi hết sức phấn khởi, coi đó là thắng lợi ban đầu.


Chiều tối ngày 20 tháng 4 năm 1964, đoàn xe ô tô vận tải của Tổng cục Hậu cần, mui xe bịt kín, biển số đã trát bùn chở chúng tôi thẳng hướng về phía Nam.

Chiều ngày 21 tháng 4, chúng tôi dừng lại khu rừng đại ngàn Cha Lo. Trên sườn núi và dưới vực thẳm có vô số cây gỗ mọc thẳng đứng cao vút, cành lá sum sê che rợp cả một vùng. Chính nơi đây, từ năm 1965 giặc Mỹ đã trút xuống vô số bom đạn. Đây là một trọng điểm đánh phá ác liệt của các loại máy bay hiện đại Mỹ trên đường Trường Sơn, tuyến chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam.


Được một ngày nghỉ ngơi ở Cha Lo, một số anh em rủ nhau vào rừng tìm rau rừng cải thiện, bù lại ba ngày hành quân thiếu rau xanh. Mấy đồng chí xin vào bản chơi, mua gà, rượu về tổ chức liên hoan, cũng là giải quyết nốt số tiền Việt còn lại trước lúc sang đất Lào.


Chiều hôm đó, chúng tôi viết rất nhiều thư. Những lá thư đều được ghi dòng địa chỉ gửi về quê hương miền Bắc. Ai cũng muốn gửi thư cho gia đình, người thân của mình ở điểm dừng chân cuối cùng này, trước lúc sang đất bạn Lào. Đêm đó, đoàn xe tiếp tục đưa chúng tôi qua đèo Mụ Dạ, dốc cổng Trời, dọc theo quốc lộ 12 về phía Ba Na Phào, Lằng Khằng, qua những cánh đồng lúa đã gặt xong. Xe chậm chạp nhích dần khi phải qua những đoạn đường lầy lội. Khoảng 21 giò đêm thì đến nơi quy định, chúng tôi chuyển hết đồ đạc xuống bên bờ bắc sông Sê Băng Hiên.


Đang là cuối mùa khô, cứ theo kế hoạch hành quân mùa này sông Xê Băng Hiên đang cạn, một số đoạn có thể lội qua. Nhưng khi đến đây mới hay nước sông đã dâng cao, không chỗ nào lội qua được. Mặt sông khá rộng, độ sâu không lớn, nhưng dòng chảy mạnh. Tình huống bất ngờ. Chúng tôi bàn nhau vượt sông bằng cách mỗi người dùng 2 mét ni lông, bọc toàn bộ quân tư trang và súng ống làm thành phao rồi lần lượt bơi qua. Kế hoạch ấy có khả năng thực hiện, nhưng đó là đối với đơn vị bộ binh, vấn đề nan giải ở đây chính là việc đưa bốn khẩu cối 81 ly, hai khẩu ĐKZ 75, ba khẩu đại liên, sáu khẩu cối 60 ly cùng với một cơ số đạn vượt sông.


Trong lúc đang nghĩ cách giải quyết thì bỗng một cụ già xuất hiện. Dáng người cụ cao, gầy, tóc bạc gần hẽt, áo bằng vải thổ cẩm màu nâu dài đến nửa đùi trên, miệng ngậm tẩu thuốc, tay xách con dao đi rừng. Cụ nhìn hết lượt mọi người, dừng lâu hơn ở tốp người đeo súng ngắn và tiểu liên rồi lại nhìn đám súng ống to kềnh càng nằm dưới đất. Được một lúc, chẳng nói chẳng rằng, cụ bỏ đi về phía rừng...


Trung đội trưởng Lương lại gần tôi bảo:

- Sao anh không giữ ông già ấy lại, nhìn bề ngoài có vẻ đáng nghi lắm. Đây là vùng nửa giải phóng, thỉnh thoảng quân Phu-mi (quân ngụy Lào) vẫn hành quân ra đây. Đáng ra phải hỏi ông ta cho ra nhẽ?

Lương vốn là lính tình nguyện hồi 1953-1954 ở Thượng Lào, về nghỉ năm 1958 nay lại được gọi trở lại làm trung đội trưởng đơn vị tôi. Vốn tiếng Lào của Lương cũng khá, chủ yếu là giao tiếp thông thường. Nghe Lương nói vậy, tôi suy nghĩ rồi liếc mắt sang đồng chí Cửu - đại đội trưởng. Tôi nói:

- Chắc là dân địa phương đang sơ tán gần đây, nghe tiếng xe chạy qua thế là cụ ra xem tình hình ra sao. Cũng có thể là thám báo, nhưng ta có căn cứ gì đâu mà giữ người ta lại. Cụ xuất hiện đột ngột song cũng rất công khai đàng hoàng nên chắc không có vấn đề gì!


Độ nửa giờ sau, một đoàn thuyền độc mộc khoảng bảy tám chiếc xuất hiện ở bờ sông, ngay gần chỗ chúng tôi đứng. Thuyền độc mộc là loại thuyền làm bằng một cây gỗ tốt, tròn, không thấm nước, chiều dài khoảng 3 mét rưỡi. Loại thuyền này dễ lách qua thác ghềnh, trôi theo dòng nước rất nhanh, đồng bào dân tộc ở vùng thượng nguồn đều dùng thuyền độc mộc để làm phương tiện vận tải. Trên mỗi thuyền có một thanh niên khỏe mạnh, mặc áo giống áo ông cụ, tay cầm bai chèo, nhìn chúng tôi với vẻ thiện cảm. Cụ già từ thuyền bước lên bờ, tới chỗ chúng tôi, chỉ tay vào đoàn thuyền hướng sang bờ nam.


Tôi gọi Lương đến làm phiên dịch. Với vẻ mặt chân thật, thân thiện, cụ nói một hơi dài. Lương chăm chú lắng nghe và dịch lại, đại ý rằng: "Mấy ngày trước đây có nhiều trận mưa liên tục làm cho nước sông dâng cao. So với các năm trước, năm nay lũ về sớm, nước chảy khá mạnh. Ta nghe tiếng xe chạy qua đồng, ta biết đó là xe của bộ đội Việt. Trước đây 3 tháng, quân của Phu-mi từ Xê Nô (tỉnh lỵ Xa-va-na-khệt) cũng hành quân ra vùng này, đi bằng xe cam-nhông trên đường 9. Quân Phu-mi cũng có súng to na ná súng bộ đội Việt ở đây. Ta biết bộ đội Việt muốn đưa cái súng to qua sông, không có thuyền là không được. Sao bộ đội Việt không báo cho dân, bộ đội Việt không tin dân Lào à...?".


Tôi và mọi người được nghe Lương dịch những điều cụ nói ai cũng xúc động và bảo Lương thưa lại với cụ: "Bộ đội Việt không ngờ nước sâu thế này, đang là mùa khô mà. Xin cảm ơn cụ!". Với giọng nhỏ nhẹ, Lương hướng sang cụ và nói: "Cán bộ, bộ đội Việt Nam cảm ơn cụ!".


Ngừng một lát, cụ chỉ tay về phía hạ lưu và nói: "Muốn bơi sang sông là phải giỏi, khỏe mới được, nên phải cẩn thận. Ở đoạn cong của hạ lưu có vùng nước xoáy, nhìn mắt thường thì không thấy gì nhưng con trâu rơi vào xoáy cũng không lên được".


Lúc xếp vũ khí lên thuyền thì cụ lại nói tiếp, Lương dịch lại: "Dân bản ta đưa cho bộ đội Việt cái thuyền mà chở súng nặng, khi bàn với số thanh niên này, ai cũng ưng cái bụng rồi đi ngay".

Chúng tôi nghe thế rất cảm phục tình cảm của dân bản đối với bộ đội Việt và ân hận về những nghi ngờ ban đầu khi thấy cụ bỏ đi về phía rừng. Lương nói với cụ bằng tiếng Lào:

- Cán bộ, anh em bộ đội Việt Nam cảm ơn cụ nhiều nhiều!

Lương lại hỏi cụ tên gì để còn xưng hô. Cụ à một tiếng rồi nói: "Thoong Bay! Thoong Bay...!".

Đại đội trưởng Cửu đã chỉ đạo xong việc sắp xếp vũ khí lên thuyền để sang bờ nam. Mỗi thuyền gồm hai chiến sĩ đi cùng. Đồng chí Cửu và đồng chí Hỉ, phó chính trị lên chiếc thuyền thứ nhất để sang tổ chức ở phía bờ nam. Tôi và đồng chí Còn, đại đội phó ở lại bờ bắc để lo việc chuyển vũ khí lên từng thuyền. Với những cánh tay chèo thành thạo sông nước, lướt nhẹ qua lại đôi bờ, chắc chỉ sau hai chuyến là đã hết số vũ khí đạn dược.


Chuyến thứ nhất vừa đến bờ nam thì tôi và đội hình bơi bộ cùng xuất phát. Bỗng mây đen che kín bầu trời, sấm chớp ì ùng xuất hiện. Trời sắp mưa to! Do nước chảy xiết nên đội hình bơi bộ đã có người dạt về phía hạ lưu. Qua ánh chớp, tôi thấy những chiếc phao ni lông và những cái đầu nhấp nhô mờ nhạt. Người dạt xa nhất phải đến khoảng năm sáu trăm mét...


Những điều rủi ro có thể xảy ra... Tôi nghĩ đến cái xoáy nước mà cụ già đã kể. Tôi hoang mang, thật sự lo lắng...

Đội hình bơi bộ đến khoảng một phần ba mặt sông thì trời đổ mưa. Mưa rất to. Những hạt nước vỗ vào mặt ràn rạt. Tay tôi vừa vuốt nước mưa vừa chăm chú quan sát để giữ đúng hướng bơi...

Bỗng cả đoàn thuyền từ hướng thượng lưu đội mưa, xuôi dòng trôi về hạ lưu. Cụ Thoong Bay cũng có mặt trên thuyền. Với những tay chèo thành thạo, khéo léo, họ đưa thuyền áp sát vào các chiến sĩ đang bơi để anh em bám vào đó bơi dạt vào bờ.


Bờ nam phía hạ lưu nhiều chỗ dốc đứng, trời mưa to nên rất trơn, chúng tôi bám vào thuyền ngược về thượng nguồn. Tim tôi bỗng thắt lại dõi theo con thuyền độc mộc có cụ Thoong Bay đang đứng thẳng như pho tượng vững chắc chợt trôi vun vút về phía khúc sông cong, nơi có cái xoáy nước chết người. Nhưng rồi... mũi con thuyền đã quay ngược lại. Tôi trút một hơi thở thật dài. Cảm ơn cụ Thoong Bay! Cảm ơn bà con dân bản!


Sau hai tiếng đồng hồ vật lộn với sông nước, chúng tôi đã có mặt đầy đủ tại điểm tập trung ở bờ nam. Tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm. Mọi người thay quần áo, đeo ba lô, bịn rịn chia tay bà con rồi tiếp tục hành quân.


... Vượt sông Xê Băng Hiên ngày ấy là thử thách đầu tiên đối với chúng tôi, nhất là lớp chiến sĩ trẻ vùng đồng bằng sông Hồng và Hà Nội trên đường hành quân vào chiến trường Hạ Lào. Bao nhiêu năm đã trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ về chuyến vượt sông Xê Băng Hiên ngày ấy. Đó là kỷ niệm không thể quên của chúng tôi khi nhớ về chiến trường xưa, nhớ về bà con các bộ tộc Lào.

Hà Nội, tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:16:20 am
TRAO ĐỔI TÙ BINH


ĐÀO VĂN
NGUYỄN XUÂN ĐẠI


Bao nhiêu năm đã trôi qua mà tôi vẫn thấy như hôm nào, những ngày đi trao đổi tù binh trên đất Bạn...

Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết. Bộ đội tình nguyện Việt Nam chuẩn bị lên đường về nước theo hiệp định. Chúng tôi cũng chuẩn bị lên đường, nhưng không về nước mà đi làm nhiệm vụ đặc biệt, trao đổi tù binh.


Công việc chuẩn bị vật chất đơn giản, một tháng lương thực gạo muối, mắm khô, những thứ được vận chuyển từ nước nhà sang. Chúng tôi được ưu tiên cấp thêm hai lạng mỳ chính Trung Quốc đựng trong hộp sắt. Tôi còn nhớ, mỗi lần nấu canh, đồng chí bếp trưởng chỉ vẩy vào nồi canh to một chút mỳ chính bằng hạt đậu đen mà sao lại ngọt đến vậy. Rau là thức ăn chủ lực dọc đường. Nước được cung ứng từ suối không hạn chế. Riêng gạo phải cân đong định lượng cẩn thận từng bữa, phòng khi nhiệm vụ kéo dài.


Về trang phục, điều mà tôi không thể quên là, chúng tôi có thể là những người đầu tiên được phát một bộ đồng phục đại cán gồm: 1 mũ mềm, 1 áo đại cán với "36 đường gian khổ trên vai", 1 quần và 1 đôi giày vải mà hồi ấy chúng tôi đi thử vào thấy êm quá không muốn tháo ra nữa. Thời ấy chúng tôi đi dép cao su hoặc đi giày "săng đá", chiến lợi phẩm từ chiến dịch Sầm Nưa. Anh Phụng trưởng đoàn phổ biến: "Bộ đồng phục phát nhưng chưa được mặc. Chỉ khi nào gặp "quốc tế" mới được mặc và nhất thiết phải mặc, do đó cần giữ gìn cẩn thận, không được để nhàu nát". Nhưng chúng tôi vẫn không kiềm chế được cái tò mò, hiếu kỳ nên mặc trộm thử xem sao. Mặc xong, ngắm nghía nhau, đều phá ra cười vì ngỡ ngàng: Sao bọn mình giống Giải phóng quân Trung Quốc thế! Dọc đường hành quân, đôi bàn chân đau rát, nhưng không dám nghĩ đến đôi giày mới...


Nhưng thứ phải chuẩn bị nhiều nhất chính là về tinh thần, tư tưởng. Chúng tôi được phổ biến và đả thông việc đi làm nhiệm vụ trao đổi tù binh là đi làm nhiệm vụ chính trị, không phải nhiệm vụ tác chiến. Phải tránh mọi va chạm, xung đột vũ trang, đồng thời đề cao cảnh giác đối với địch, tuy chúng thất bại nhưng vẫn muốn lấn chiếm vùng giải phóng của bạn, nhất là trong giai đoạn này. Phải nhanh chóng, bí mật đến địa điểm trao đổi tù binh, hoàn thành nhiệm vụ rồi lại nhanh chóng bí mật rút về nước. Những điều đó chúng tôi phải độc lập, tự giải quyết mọi vấn đề liên quan đến nhiệm vụ vì bộ đội ta và bộ đội bạn đang tập kết về những nơi quy định.


Cả đoàn gồm 10 người, được trang bị một khẩu tiểu liên, điện đài, máy phát điện quay tay để hàng ngày liên lạc với trên. Đại diện cho bạn Lào là ông Thao Kê. Đại diện cho Việt Nam là anh Phụng, trưởng đoàn. Tôi với tư cách là thư ký đoàn nên luôn mang theo một cái sắc cốt to đựng sổ sách, giấy tờ. Tổ điện đài gồm ba đồng chí, một báo vụ, một cơ yếu, một quay máy phát điện.


Đoàn không có phiên dịch, phần tiếng Lào do ông Thao Kê chịu trách nhiệm. Dự kiến sẽ phải dùng đến tiếng Anh đối với khách quốc tế, tiếng Pháp đối với phía Pháp. Anh Phụng bảo: "Tiếng Pháp thì tớ với Trọng thừa sức. Còn tiếng Anh thì giao cho Đại (tên tôi). Tôi rất vui vì được anh giao cho trọng trách đó, nhưng cũng rất lo vì sợ làm hỏng việc của đoàn. Tiếng Anh tôi học khá nhiều nhưng rời ghế nhà trường đã lâu, lại mới chỉ dựa vào sách vở chứ chưa giao tiếp bao nhiêu. Dọc đường tôi cứ lẩm bẩm ôn lại những câu chào hỏi, chúc mừng... làm anh em phải bật cười.


Chúng tôi được lệnh hành quân theo hàng ngũ nghiêm chỉnh, dũng khí hiên ngang để lấy uy thế của người chiến thắng và của bộ đội tình nguyện Việt Nam.

Tuy đã được chuẩn bị khá kỹ càng về tinh thần tư tưởng, song chúng tôi vẫn không khỏi lo lắng khi nghĩ đến những ngày sắp tới. Nỗi ám ảnh vẫn là vũ khí thì ít, trang bị lại cồng kềnh, gặp địch tấn công biết đối phó ra sao. Anh Phụng cho biết, bọn địch không muốn đánh nhau, nhất là sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ, uy thế của bộ đội tình nguyện Việt Nam lại cao, địch không muốn đụng chạm, gây sự. Ngược lại, nếu ta mang theo nhiều vũ khí, có thể bất lợi về chính trị trước quốc tế, nhất là nhiệm vụ trao trả tù binh.


Tình hình thực tế dọc đường dần dần làm cho chúng tôi yên tâm hơn. Từ cơ quan Bộ Tư lệnh - bản Bô Pha, đến thị xã Sầm Nưa không có gì khó khăn đáng kể ngoài việc vượt đèo Mường Liệt, không dốc lắm nhưng kéo dài hơn chục cây số, phải trèo một mạch đến đỉnh đèo mới có chỗ nghỉ thuận tiện. Rồi thị xã Sầm Nưa hiện ra trước mắt chúng tôi trong nắng vàng rực rỡ với hàng chục quả đồi cao thấp bao quanh. Chúng tôi cùng nhau nhắc lại chiến thắng Sầm Nưa 1953. Trên sân vận động của thị xã, một quang cảnh tưng bừng đang diễn ra. Những đơn vị đầu tiên của Pa-thét Lào tập kết về. Các đơn vị bạn trong trang phục chỉnh tề, tự tin, vũ khí đầy đủ. Dân các bản xung quanh thuộc nhiều sắc tộc khác nhau, quần áo đủ màu sắc đổ đến xem bộ đội như đi trẩy hội. Bất giác chúng tôi xúc động trào nước mắt và có chút ân hận; chẳng phải đã có lúc chúng tôi thiếu tin tưởng và lo lắng cho bạn sau khi bộ đội Việt Nam rút về nước theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Bài học hôm nay về thắng lợi tất yếu của cách mạng Lào đối với chúng tôi hùng hồn hơn bao giờ hết.


Nhưng chúng tôi không được phép dừng lại lâu để chiêm ngưỡng khí thế hào hùng chưa từng thấy trên đất bạn. Anh Phụng đi nhận nhiệm vụ bổ sung. Lúc về anh cho biêt địa điểm chính thức trao đổi tù binh là Hua Mương. Tôi tìm kiếm trên bản đồ và thấy nó nằm sâu mãi về phía tây thị xã Sầm Nưa. Bắt đầu từ đây chúng tôi phải hành quân đêm. Đi đêm vừa giấu kín được lực lượng, vừa tránh được cái nóng gay gắt ban ngày. Khả năng gặp địch về ban đêm cũng ít hơn vì chúng thường co cụm trong cứ điểm.


Thế là khi mặt trời vừa khuất núi, chúng tôi lập tức lên đường. Trên đường, chúng tôi gặp từng đoàn bộ đội Pa-thét Lào xen lẫn những người dân thường vui vẻ rầm rập kéo về hướng thị xã Sầm Nưa. Chỉ có đoàn chúng tôi theo chiều ngược lại. Phấn khởi quá, chúng tôi quên cả bí mật, cất tiếng chào hỏi và đáp lại.


Nhưng rồi chẳng bao lâu, chúng tôi trở về tư thế sẵn sàng ứng phó. Tổ vệ binh mở đường báo đã đến bản Sa-la, một bản lớn trên đường bắt buộc phải qua. Đồng chí Hanh quay lại cho biết, có hơn chục tên phỉ trong bản nhưng không thấy động tĩnh. Anh Phụng nhận định chớp nhoáng: Đây là bọn phỉ đang bị bỏ rơi và lo sợ trước khí thế quân dân bạn. Anh lệnh cho chúng tôi cứ hàng ngũ chỉnh tề đi qua bản, phía trước có tổ anh Hanh sẵn sàng yểm trợ.


Đúng như nhận định, thấy chúng tôi đội ngũ chỉnh tề tiến bước, bọn phỉ từ trên các nhà sàn chạy xuống chắp tay vái, miệng lắp bắp: "Săm bai... săm bai... Koong tháp a sa mắc Việt Nam!". Rồi lại còn: "Sa ma khi, sa ma khi!". Rõ ràng bọn chúng tưởng chúng tôi đến lùng bắt, không kịp hàng đành phải ra chào đón. Anh Phụng và ông Thao Kê bảo chúng: "Về nhà với vợ con đi! Chúng tôi không làm gì các anh đâu. Bộ đội Pa-thét Lào sắp đến đấy!". Chúng cảm ơn rối rít rồi chạy biến vào bản. Anh Phụng bảo: "Đáng lẽ phải dừng lại làm công tác địch vận và động viên dân bản nhưng yêu cầu nhiệm vụ không cho phép nấn ná lâu. Mấy lời nói của chúng ta hồi nãy cũng là địch vận rồi".


Càng đi về phía tây càng vắng vẻ hiu quạnh, hầu như chẳng gặp ai. Chúng tôi phán đoán bọn địch đang co lại trong các cứ điểm, tránh va chạm với ta. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn luôn cảnh giác, ngày nghỉ đêm đi, ngủ trên đồi cao, không ngủ trong bản. Có đêm đi dưới chân đồi, nghe trên cao bọn địch cười nói ầm ĩ, đèn đóm lập lòe, chúng tôi thầm bảo: "Trên nhận định đúng thật, chúng rất sợ đêm gặp ta!".


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:17:15 am
Chúng tôi đến Mường Pơn. Từ đây đễn Hua Mương không còn bao xa nữa. Theo dự kiến sẽ nghỉ lại Mường Pơn lấy sức để sáng hôm sau đi một mạch đến Hua Mương. Nhưng tình hình trong bản làm chúng tôi lo ngại. Dân sợ địch chưa dám về, cả bản chỉ có một cụ già. Thấy chúng tôi cụ mừng lắm nhưng tỏ vẻ lo ngại. Chúng tôi đoán rằng bọn địch vẫn còn lẩn quất đâu đây, uy hiếp dân bản. Ngoài trời bỗng mưa như trút. Đây là đêm có mưa đầu tiên kể từ ngày chúng tôi lên đường. Còn đang phân vân thì đồng chí Hưng báo vụ đem đến cho đồng chí Phụng bức điện của cấp trên đại ý: "Phải tranh thủ bằng mọi cách đến ngay Hua Mương. Đến đó sẽ an loàn. Bạn đang đợi...". Không đắn đo, chúng tôi đi ngay. Đường vừa trơn vừa tối, sức chúng tôi dần kiệt. Anh Phụng động viên: "Trên theo dõi từng bước đi của ta và chỉ đạo kịp thời. Đi bây giờ là an toàn nhất. Ta phải biết biến khó khăn thành thuận lợi". Tất cả ni lông, vải bạt tập trung cho tổ điện đài. Đường chim bay đến đó chỉ còn khoảng chục cây số.


Cuối cùng chúng tôi cũng đã vượt qua tất cả để đến đích. Dòng sông Nậm Nơn chảy lấp lánh dưới chân đồi, hai bên bờ lau lách rậm rạp. Bản Hua Mương xinh xắn với những mái nhà sàn thấp thoáng. Những chiếc thuyền độc mộc đưa chúng tôi qua sông. Đại diện đơn vị hạn cử người ra đón.


Chúng tôi nghỉ ngơi chờ đợi. Điện của trên chỉ thị: "Yên tâm làm công tác chuẩn bị, không được đi đâu xa, đề phòng khách đến đột xuất". Chúng tôi giúp bạn làm nhà họp, dọn sạch đường vào bản, dựng ba-ri-e, cổng gác. Tù binh địch đã được dẫn đến nhưng số anh em ta được trao trả vẫn chưa thấy phía Pháp đưa đến. Một tuần, rồi hai ba tuần trôi qua. Lương thực bắt đầu cạn. Hàng ngày chúng tôi vẫn biết bọn phỉ thường ra cướp bóc mấy bản gần đó làm chúng tôi có phần lo lắng.


Có một tù binh Pháp tên là Giăng-ắc-lô, cấp bậc thiếu úy. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, hắn đi thả dù tiếp tế cho Đờ Cát-tơ-ri, máy bay bị trúng đạn ta nhưng rơi xuống đất Lào. Hắn được trao trả đợt này và đến Hua Mương trước chúng tôi một tuần lễ. Chúng tôi được bạn nhờ giúp điều trị cho hắn bởi hắn khá ốm yếu, sụt cân, ăn uống kém. Anh Trọng và tôi bàn nhau phải đi sâu vào tình cảm của hắn, không nói chuyện chính trị, có thể tình hình sẽ khá hơn. Chúng tôi đến gặp Giăng-ắc-lô, thấy hắn nằm dài, mặt quay vào vách. Anh Trọng chào hắn bằng tiếng Pháp rất lịch sự. Rồi anh hỏi thăm hắn nhẹ nhàng tình cảm. Được biết Giăng-ắc-lô ở đảo Coóc-sơ, một vợ và một con gái. Giăng-ắc-lô có vẻ ngỡ ngàng trước sự lịch lãm và hiểu biết sâu sắc về mọi vấn đề của chúng tôi, hắn nói: "Tôi xin lỗi! Tôi đã tưởng lầm các ông chỉ là người Cộng sản cuồng tín. Không ngờ các ông có trình độ văn hóa cao như vậy?". Khi biết chúng tôi từ xa tới và đi bộ, chân trần, hắn lại thốt lên cảm phục: "Không thể tin đươc! Không thể tin được!".


Chúng tôi lấy mục tiêu chính là động viên Giăng-ắc-lô cố gắng ăn uống, điều trị vết thương và từ đó thường xuyên đến thăm hắn. Giăng-ắc-lô trở nên hoạt bát vui vẻ. Sau này Giăng-ắc-lô còn viết một lá thư rất cảm động, ca ngợi sự khoan hồng nhân đạo của cách mạng, đọc trước tổ Quốc tế làm cho ông Trưởng đoàn người Ấn Độ rất xúc động.


Cuối cùng thì "khách" cũng đã đến, chậm gần một tháng so với dự kiến. Khách đến trong một tình hình mà mỗi khi nhớ lại, chúng tôi còn thấy "hú vía"! Như tôi đã kể trên, sau thời gian chờ đợi, chúng tôi nhận được điện của trên "Chuẩn bị đón tổ Quốc tế đến bằng máy bay trực thăng". Bức điện chỉ vẻn vẹn mấy chữ nhưng chúng tỏi rất lo lắng. Máy bay trực thăng hạ cánh xuống đây như thế nào? Chúng tôi chưa có khái niệm gì về nó. Sau khi bàn bạc kỹ, chúng tôi nhất trí với nhau là dọn một bãi lớn giữa bản, cắm cờ hiệu, giăng màn trắng ở bốn góc sân. Ngoài ra còn chuẩn bị một đống rạ khô để khi máy bay đến thì đốt lên làm hiệu.


Hôm sau, khoảng 9 giờ sáng thì có tiếng ì ì từ xa vọng lại. Chúng tôi lập tức đốt lửa cho khói bốc lên. Tiếng "phành phạch" rõ dần rồi máy bay hiện ra. Nó lượn một vòng quanh bản rồi tìm bãi đáp. Chúng tôi hối hả mặc bộ quần áo đại cán cất giữ bao ngày rồi chạy ra bãi. Nhưng một điều mà chúng tôi không ngờ lới đã xảy ra. Sức mạnh của cánh quạt quét mạnh làm bụi bay mù mịt, mái nhà dân gần bãi cứ phập phồng như gặp bão. Hình như máy bay cảm thấy nguy hiểm nên không hạ xuống bãi mà lại bốc lên cao rồi bay về hướng tây. Anh Phụng tái mặt bảo: "Nó không xuống nữa là có chuyện đấy! Thế nào nó cũng phê phán mình là không tiếp đón chu đáo. Không hoàn thành nhiệm vụ trên giao rồi!?".


Thế rồi bỗng tiếng ì ì lại vọng đến to dần, to dần... Nhưng vẫn không thấy máy bay đâu cả. Chúng tôi ngơ ngác, bất lực. Chợt đồng chí vệ binh gác trên đồi kêu to: "Máy bay hạ xuống sông rồi!". Đúng là máy bay đã hạ nhưng không phải xuống sông mà trên một bãi cát dài dọc bờ sông. Thật là hú vía!


Bước từ máy bay xuống là ông đại tá trưởng đoàn người Ấn Độ, một trung tá người Ba Lan, một thiếu tá người Ca-na-đa, một phiên dịch tiếng Anh, một tổ điện đài và một phi công người Pháp. Cuộc đón tiếp diễn ra suôn sẻ. Người nói tiếng Anh, kẻ nói tiếng Pháp. Chúng tôi hiểu được và đọc lưu loát bằng cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Ông trung tá Ba Lan hài lòng nhìn chúng tôi rồi giơ một ngón tay cái lên tỏ ý khen ngợi. Sau buổi tiếp, đồng chí phiên dịch người Ba Lan bấm chúng tôi lại nói: "Đồng chí trưởng đoàn muốn tối nay gặp riêng các ông".


Lần đầu tiên chúng tôi được hiểu biết thêm về "phe ta". Đồng chí Đoàn trưởng gọi chúng tôi là "đồng chí". Đồng chí cho biết hồi sáng đã phải đấu tranh với viên phi công người Pháp về việc hạ cánh. Viên phi công lấy cớ không hạ cánh xuống bãi vì quá gần nhà dân và cũng không muốn hạ xuống bờ sông vì muốn kiếm cớ trách ta tiếp đón không chu đáo. Đồng chí hỏi thăm điều kiện sinh hoạt của chúng tôi và tỏ ra rất thông cảm. Đồng chí gửi cho chúng tôi sữa, bánh, cà phê, thuốc lá...


Hôm sau đoàn Pháp đến. Cuộc trao đổi tù binh diễn ra tốt đẹp. Anh em ta bị địch bắt đều tố cáo hành động tra tấn dã man trong thời gian bị giam giữ. Ngược lại, số tù binh được ta trao trả đều cảm ơn sự đối xử nhân đạo của phía Việt Nam. Đặc biệt là bức thư do viên phi công Pháp Giăng-ác-lô đọc và trao cho trưởng đoàn Quốc tế. Đại diện của Pháp cúi mặt xuống...


Rồi chúng tôi cùng bạn Lào tổ chức buổi tiễn đưa khách quốc tế. Tất cả đều tham gia hát Lăm vông và được dân bản buộc chỉ cổ tay, chúc lên đường may mắn.

Tổ chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Giờ chia tay với bạn Lào cũng đến, sau khi đã cố nấn ná gần một tuần lễ vì quyến luyến. Đêm tháng 12 rất lạnh, trước lúc từ giã ai cũng bâng khuâng trong lòng. Biết bao giờ mới có dịp gặp lại. Các mẹ, các chị, các bạn tiễn đưa một quãng dài. Chúng tôi vừa đi vừa ngoảnh lại cho đến khi chỉ thấy một màu xanh thẳm của đồi núi sau lưng...


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:18:50 am
NHỮNG NGƯỜI LÍNH CÓ HAI TỔ QUỐC


NGUYỄN THẼ SỰ


Mùa khô năm 1968, đơn vị tôi đang chiến đấu ở nước bạn Lào. Đội hình cụm chiến đấu gồm bộ binh, đặc công, cao xạ phối hợp với các đơn vị quân đội Pa-thét Lào từ cấp tiểu đoàn trở lên. Vì yêu cầu nên trạm xá được biên chế cơ cấu trung đoàn gồm hai bác sĩ, hai y sĩ, sáu y tá và một tiểu đội chuyển thương. Riêng tiểu đội chuyển thương còn kiêm thêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu với lính đặc biệt Vàng Pao, ngụy Lào, Thái Lan, ngụy Sài Gòn.


Dòng sông Sê gần như cạn kiệt, chỉ còn lại những vũng nước màu đen, đầy lá mục. Những bầy cá loi nhoi há miệng đớp không khí, sống thoi thóp. Thực phẩm đã có cá, nhưng nước dùng sinh hoạt lại thiếu. Cái khó ló cái khôn, trạm trưởng - bác sĩ Rạng đã huy động đào hàng chục cái giếng ven bờ sông để lấy nước. Trạm xá nằm ẩn mình dưới tán rừng cây khộp cạnh hang đá. Hàng ngày thương binh được đưa về càng nhiều: bộ đội Việt Nam, bộ đội Pa-thét Lào, người dân Lào. Máy bay Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt. Nhiều bản làng cháy rụi, dân bản chia ra từng nhóm, chạy vào rừng ẩn nấp, sinh sống, nương rẫy loi thoi từng khoảnh nhỏ. Dân đi đào củ mài về để ăn.


Buổi chiều, sau khi đã vơi bớt công việc, trạm chia ra hai kíp. Một kíp ăn cơm, kíp còn lại trực tải thương... Xế chiều, ánh nắng Tây Trường Sơn đẫm một màu vàng đặc quánh. Mâm cơm gạo hẩm, canh lá rau rừng, ba cà mèn cá luộc nhờ tổ anh nuôi hăng hái đi bắt dưới sông.


Nhân bữa ăn, bác sĩ Rạng tranh thủ giao nhiệm vụ. Giọng anh ồm ồm:

- Bữa ăn này mừng thắng lợi, có cá tươi, lấy một chai "cồn" ra đây, mỗi người làm một hớp... Này, cấm không được quá tiêu chuẩn đâu đấy nhé. - Anh nói, mắt cứ nhìn chằm chằm vào tôi.

- Chấp hành mệnh lệnh đi đồng chí thủ kho ơi! Cồn mình tự chế, pha thêm chút nước dùng tốt đấy. Bên dưới có ai đó nói thêm vào.

Tôi là bác sĩ quân y mới ra trường, vừa được bổ sung qua trạm ít hôm. Còn nhớ hôm mới đến, anh Rạng nhìn tôi cười phán: "Này O ni... Tôi phải thử tay nghề dao kéo của O đã. Giao cho O ba nhiệm vụ quan trọng nhé: thủ kho, nấu rượu, làm thịt chó". Nghe anh nói vậy, mặt tôi đỏ bừng, môi mím chặt chực bật ra tiếng khóc.


Quê tôi, vùng ngoại ô Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ loại ưu, tôi xung phong sang Lào làm nhiệm vụ, giao cho tôi những công việc ấy khác nào đang làm khó cho tôi. Tôi nghĩ bụng, định chống lệnh, nhưng lại nghĩ trên chiến trường quân lệnh như sơn nên đành lặng lẽ chấp hành. Ba việc được giao thì thủ kho - dễ ợt, nấu rượu rửa vết thương và nhất là làm thịt chó thì thật vất vả. Nghĩ đến chuyện của những ngày đầu mới về trạm mà lòng tôi cứ sôi lên. Hôm nay là cơ hội trả đũa.

- Báo cáo thủ trưởng! Cồn quý như máu. Cồn để dùng sát trùng vết thương, dụng cụ y tế. Nặng trên 50 độ, đem uống sao được.

- Đúng là thủ kho to hơn thủ trưởng thật. Cứ theo tỷ lệ, một anh cồn cõng ba anh nước sôi để nguội là thành rượu ngay. Chấp hành đi cô bé ơi.- anh Rạng cười, giọng anh vui vẻ hài hước.

- Thôi em đi lấy một chút ra đây đi, voi rừng Lào nhìn thấy anh Rạng còn khiếp, không chối được đâu... - Chị Thuỷ, y tá đang ngồi bên cạnh ghé vào tai tôi thủ thỉ.

Tôi miễn cưỡng đứng lên đi pha rượu mà trong lòng cảm thấy hậm hực, vừa đi vừa lau nước mắt. Đang vui vẻ, anh Rạng cao hứng tuyên bố lý do ăn mừng thắng lợi.

- Nhà sư chùa Phà đã đồng ý cho trạm ta mượn hai phần ba chùa làm nơi điều trị cho thương binh. Nhưng với một điều kiện là không được làm thịt chó và phải giữ vệ sinh sạch sẽ. Đó có phải là một tin tuyệt vời không? Ngày mai, ta tiến hành dọn dẹp và một số sẽ đào hầm trú ẩn bên đó.

Quá bất ngờ, bên dưới chúng tôi vỗ tay râm ran. Tiếng vỗ tay chưa dứt anh đã nói luôn: Còn một thắng lợi nữa là sư trụ trì chùa đã nhận được thư của bọn đặc biệt Vàng Pao hăm doạ, định chạy trốn đã tự nguyện ở lại chăm sóc thương bệnh binh... Bữa cơm đang vui vẻ trong tình cảm thân mật thì có hai người đàn ông trong bản khiêng một người nằm trong võng vải, máu đỏ thẫm một phần ba cánh võng vào bên trong.

- Bộ đội Việt ơi. Cứu con dâu tôi với... - Ông lão nói giọng hốt hoảng, bên cạnh là người thanh niên đang rướn mình đỡ đòn võng, thở hồng hộc, đưa tay kéo vạt áo lau mặt...

Bác sĩ Rạng vừa ngoắc ống nghe vào hai tai, người phụ nữ oằn mình, máu từ vết thương trên đầu, ở mình chảy ướt giường phẫu thuật. Anh Rạng thần kinh căng thẳng, mồ hôi lấm tấm trên trán, đưa ống nghe tim người phụ nữ. Chị gồng mình, rồi từ từ tắt thở. Anh Rạng phát hiện ra tim thai nhi vẫn đập thoi thóp. Lúc ấy, anh Rạng giống như người đang "lên đồng", mắt ánh ngời tia hy vọng, miệng nói nhanh: "Đem dụng cụ mổ, bằng mọi giá phải cứu lấy cháu bé!". Cuộc chạy đua với tử thần để cứu một cháu bé liệu có thành công không? Lúc ấy không ai tin. Chỉ có lòng hy vọng mãnh liệt bốc lên trong lòng. Với những động tác chính xác, nhanh gọn, khẩn trương cháu bé đã oe oe cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui sướng của những người đang đứng chung quanh. "Một thằng cu...!" - Anh Rạng reo lên, lấy tay áo lau vội những giọt mồ hôi rịn ra trên trán.


Trong căn hầm trực của anh Rạng có một cái bàn nhỏ bằng gỗ Bạch Tùng, hai băng ghế bằng tre. Cụ già ngồi đối diện với bác sĩ Rạng, nét mặt u uất buồn bã, con dâu cụ đã mất vì vết thương quá nặng. Cũng may mà còn cứu được cháu bé, linh hồn người mẹ xấu số cũng được an ủi phần nào. Anh Rạng nghĩ bụng rồi hỏi cụ già, giọng anh ân cần chia sẻ.

- Bây giờ ý cụ thế nào ạ?

- Bộ đội ơi... Con dâu già chết rồi, chồng nó đi đánh Mỹ cách đây xa lắm. Già có đem cháu về thì cũng không nuôi được. Ta gửi bộ đội nuôi giúp ta. Khi nào con trai ta về sẽ đón nó về nuôi. Ông nói, rồi khóc hu hu. - Ông già run run, hai hàng nước mắt tuôn dài, giọng ông nấc lên nghẹn ngào. Hai khoé mắt bác sĩ Rạng nhòe đi, những dòng chữ trong trang bệnh án như nhảy múa trước mắt anh... Anh nghẹn ngào hướng dẫn cụ già ký vào các biên bản cần thiết rồi gọi hai chúng tôi vào ký tên người làm chứng. Tôi và chị Thuỷ run run ký vào tờ biên bản, ánh mắt chúng tôi rưng rưng nhìn cụ già, nhìn anh Rạng.

- Này hai cô kiều nữ chưa chồng. Hôm nay tôi giao cho hai cô nhiệm vụ làm mẹ đây. Phải hết lòng yêu thương chăm sóc đứa bé nhé. Chăm sóc thật chu đáo đấy. Có bằng làm mẹ thì tương lai dễ lấy chồng...

- Rõ...! - Hai chúng tôi đồng thanh thưa! Rồi vừa đi vừa lập kế hoạch chăm sóc đứa bé.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:19:44 am
Trên đường đi tôi phân vân không biết bác sĩ Rạng nghĩ sao lại để tôi và chị Thuỷ nuôi cháu bé. Từ chuyện bế ẵm, bú, ỉa, đái của cháu đều lạ lẫm với một người con gái như tôi. Không khéo đây lại là một vố chơi khăm của ông Rạng cũng nên. Nghĩ vậy nên tôi buột miệng hỏi chị Thuỷ.

- Chị thấy có vô lý không? Hai chị em mình đều là gái tân lại bắt làm mẹ! Sao không cắt phiên nữ cả trạm thay nhau làm mẹ có hợp lý không!

- Em mới về, chưa biết được cái lý của anh Rạng đâu. Tuy cực kỳ gia trưởng, nhưng bốn năm sống ở trạm này chị biết những gì anh Rạng đã nói là có cái lý của anh ấy và đúng 100%. Ví dụ như trong cuộc họp chi bộ tối qua, anh Rạng với cương vị là bí thư đã kết luận em là thủ kho, nấu cồn, làm thịt chó... đều giỏi. Cái chính của anh ấy là thử thách để kết nạp em vào Đảng... chị là người trực tiếp...


Nghe chị Thuỷ nói vậy, tôi cũng thấy mừng. Nhưng ấn tượng của tôi với ông Rạng thật khó hiểu. Gặp nhau tôi chẳng dám nhìn vào mặt, cứ mở miệng ra là một điều thủ trưởng, hai điều thủ trưởng. Có lần gặp nhau trên đường ra giếng tôi chào ông ta là thủ trưởng, ông ta không những không đáp lại mà còn đủng đỉnh: "Này tiểu thư Hà Thành. Đây là đất Lào, nơi chúng ta đều là người lính cả. Đừng một điều thủ trưởng, hai điều thủ trưởng nữa. Mà này, có mười cái bằng bác sĩ cũng không đổi được một ngày tình nguyện tại đây đâu". Tôi thật sự bị choáng, quay sang chị Thuỷ bộc bạch.

- Em thật sự choáng chị Thuỷ ạ. Thấy chị cứ anh anh, em em nghe gần gũi làm sao! Còn mình thì chỉ biết gọi là "ông" thì làm sao mà hợp được cơ chứ?!

- Em nên lột xác đi. Anh Rạng đã 33 tuổi, có mười năm ở Lào... Người bằng ấy tuổi đầu mà chưa có mảnh tình vắt vai. Không riêng gì chị mà những ai đã từng sõng với anh Rạng, đều quý trọng và coi anh ấy như người anh cả trong gia đình. Chẳng qua là em chưa thực sự cởi mở mà thôi. Không tin khi nào gặp anh ấy em cứ gọi là "đồng chí anh" mà xem. - Chị Thuỷ động viên tôi.

Theo diệu kế chị Thuỷ bày cho, khoảng cách giữa tôi và anh Rạng đã ngày một ngắn dần. Nhưng quan trọng hơn là công việc làm mẹ thằng bé đã là động lực kéo tôi và anh lại gần nhau hơn. Tôi và chị Thuỷ được bố trí một hầm riêng. Tại đây, hai chúng tôi bắt đầu học cách làm mẹ. Những đêm đầu thằng cu khát sữa khóc eo óc suốt đêm, sau sữa hộp và nước cơm cháu đã quen dần với giờ giấc của chúng tôi, đêm xuống chỉ rúc rích một lúc là ngủ ngon lành. Hai chúng tôi thay phiên nhau làm mẹ. Hôm nào tôi làm mẹ, chị Thuỷ lên làm công tác chuyên môn và ngược lại.


Chiến trường ngày càng ác liệt, thương binh đưa về ngày càng nhiều. Có ngày anh Rạng phải mổ hơn chục ca, nhìn đôi mắt anh thâm quầng mà tôi thấy thương thương. Thỉnh thoảng vào mỗi buổi tối, khi công việc đã giãn, anh lại ghé qua hầm của "ba mẹ con" chúng tôi. Hôm thì đưa cho hộp sữa, khi ít mật ong và bao giờ anh cũng xuất hiện cùng câu nói nghe mãi đến phát ngán "Răng rồi mấy o! Thằng cu ngoan chứ!", rồi ôm hôn chùn chụt lên má nó. Anh nựng nghe cứ như đã mấy lần làm bố rồi ấy: "Cún yêu à! Con lớn lên khi đó nước Lào đã thống nhất hoà bình rồi đấy. Nhớ đến những ngày này con nhé!". Có những hôm thằng bé sốt li bì, anh thương hai chị em tôi vất vả nên ngồi trực cả đêm. Có thể nói anh đã làm tròn bổn phận là bố của đứa bé thì đúng hơn.


Thấm thoắt thế mà sắp hết năm Mậu Thân, nghe tin ở quê nhà là một năm ta thắng lớn nhưng cũng phải đổi bằng máu. Hôm nay là ngày hạnh phúc của đời tôi. Tôi được kết nạp vào Đảng. Đứng nghiêm trang đọc lời tuyên thệ mà niềm xúc động dâng trào, tôi đã khóc vì sung sướng. Tối về, tôi đã chong đèn viết vội lá thư về nhà khoe với bố mẹ. Trước đây bố tôi được kết nạp Đảng thời chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) còn giờ đây tôi được kết nạp Đảng trên chiến trường Lào. Đêm qua tôi và chị Thuỷ nằm ôm thằng cu ngủ. Lạ thật! Chị Thuỷ nằm khóc thút thít. Tôi gạn hỏi mãi nhưng chị cứ ậm ừ: "... Tối mai thì biết, hỏi gì hỏi lắm thế?". Không biết có chuyện gì hệ trọng mà phải đợi đến mai?! Tôi phân vân, từ ngày về trạm, hai chị em coi nhau như chị em gái, niềm vui nhân đôi, nỗi buồn chia sẻ, ngay cả những bức thư tình hồi còn học bên Liên Xô tôi cũng đem ra đưa chị đọc. Đọc rồi chị khuyên: Thằng ấy "phò lắm" em mà lấy nó em sẽ khổ! Nghe lời chị tôi phăng teo luôn. Loài người có hàng tỉ đôi, muôn nẻo đường tình chẳng ai giống ai.


Công việc ngày càng nhiều. Bây giờ tôi đã là tay dao, tay kéo thành thạo. Nhưng mỗi lần bước vào phòng mổ là tôi lại nhớ đến lời anh Rạng nói "bàn mổ là trận địa, cứu được bệnh nhân là thắng trận, thiếu trách nhiệm làm bệnh nhân chết, pháp luật khó bỏ tù nhưng lương tâm thì dằn vặt". Nghe anh nói thật chí lý. Thảo nào trước đây, anh chuyên bắt tôi mổ chó. Có lần anh còn bảo "mổ chó mà chó chết đừng có mơ ăn thịt. Thịt chó sấy khô dùng để nấu cháo chăm sóc anh em thương binh". Đêm ấy khuya lắm, tôi chìm trong giấc ngủ chập chờn đợi đến sự kiện đêm mai.


Và điều mong đợi của tôi từ hôm qua đã đến. Trong hội trường nhà hầm, tịnh không có một đấng mày râu nào ngoài anh Rạng. Trạm vừa được trang bị một âm li, micro, ánh đèn măng sông làm hội trường sáng hơn.

- Đến giờ rồi, mời thị mẹt vào để tiến hành làm việc! - Anh nói qua micro. Tôi ghét nghe cách nói đó của anh. Ai lại gọi chị em là thị mẹt bao giờ. Nghe mà tức lộn cả ruột lên. Mà lão này cũng lạ, chiến tranh ác liệt là vậy, cái chết cái sống nhập nhèm chẳng biết đâu mà lần thế mà cứ đùa khơi khơi ra vậy. Tôi nghĩ bụng và bước vào hội trường. Trên bục chủ tọa có hai phó trạm cùng chị Thuỷ đang bế thằng cu sáu tháng tuổi trong lòng.

- Thưa các đồng chí! Ních-Xơn vừa lên làm Tổng thống Mỹ đã đề ra chiến lược lấy thịt đè người, tiến hành "Lào hoá chiến tranh". Trước đòi hỏi của tình hình, trạm xá ta sẽ được nâng cấp thành bệnh viện tiền phương ở Lào. Việc lớn đó bàn sau. Hôm nay, chúng ta bàn nhau xem làm thế nào để đưa hoàng tử của chúng ta về Việt Nam cho an toàn. Trong số những chị em nữ, có ai xung phong đưa hạt giống Lào về đất Việt sống ở trại thương binh. Ngày mai có ô tô lên đổ hàng y tế thì về luôn. Các chị em ai cũng nghĩ về hậu phương có nghĩa là về "phía sau" thì hèn quá, nên tất cả im lặng, sự im lặng làm không khí hội trường như lắng lại, nặng nề hơn. Biết là các chị em chẳng ai xung phong, anh Rạng nói luôn, giọng anh phá vỡ sự im lặng.

- Nếu không ai xung phong thì tôi chỉ định đồng chí y tá Nguyễn Thu Thuỷ sẽ đưa thằng cu về trại thương binh. Hai mẹ con sống... với nhau! - Anh nói nghẹn ngào, ứa nước mắt. Bên dưới chúng tôi im lặng, nhìn nhau. Anh nói tiếp:

- Các đồng chí. Chúng ta sắp chia tay hai mẹ con đồng chí ấy rồi! - Anh nói và bước đến chỗ chị Thuỷ đang ngồi ôm thằng bé trong lòng, dang tay ôm lấy thằng cu, mới gần sáu tháng tuổi, nó chưa biết chuyện gì đang xảy ra. Mắt trong, môi cười như một thiên thần. Nó đâu có biết ngày mai nó sẽ rời xa những vòng tay của anh em trong trạm, rời xa đất Lào về với đất Việt.

- Về Việt Nam, con hãy sống với mẹ Thuỷ nhé. Bố đặt tên con là Phà Nừng nhé! Anh em có nhất trí đặt tên nó là Phà Nừng không?

- Nhất trí... Nhất trí... bên dưới chúng tôi đồng thanh hô, tiếng vỗ tay râm ran như muốn át đi tiếng khóc thút thít của ai đó phía cuối hội trường. Mọi việc vậy là đã ổn.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Ba, 2022, 07:20:24 am
Đêm nay tôi ôm Phà Nừng ngủ, hôn lên cặp má bầu bĩnh, và cái mũi tin hin dễ thương của nó, làn da nó mát rượi. Từ ngày mai tôi sẽ phải xa nó, đêm nay ôm con trong lòng tôi chỉ mong sao nó đái dầm ra người tôi một lần nữa. Giả sử nó có đái ra thì tôi cứ để yên đó. Như biết quãng đường ngày mai hai mẹ con phải đi qua. Phà Nừng ngoan ngoãn ngủ ngon lành trong vòng tay tôi. Sáng hôm sau, chị Thuỷ bế Phà Nừng đi chơi khắp nơi, khi bế Phà Nừng vào chùa chào sư thầy, sư thầy đeo vào cổ Phà Nừng sợi dây chuyền bạc có hình đức Phật, thắt vào cánh tay nhỏ xíu, mịn màng của nó sợi chỉ màu đỏ... Giờ chia tay đã đến, chúng tôi chia tay nhau bịn rịn lưu luyến. Tôi lẽo đẽo theo sau hai mẹ con Phà Nừng đến xe ô tô. Phía sau, anh Rạng đứng lặng người nhìn theo dáng xiêu xiêu của hai mẹ con chị trong bóng chiều. Chị Thuỷ hai khóe mắt đỏ hoe, nói nghẹn ngào: "Em ở lại mạnh khoẻ, công tác tốt! Thay chị chăm sóc anh Rạng...". Tôi im lặng nhìn chị rồi khẽ gật đầu, tôi ôm hôn Phà Nừng, cảm giác yêu thương cồn cào trong lòng. Đợi những vầng lá ngụy trang trên chiếc xe chở hai mẹ con chị Thuỷ lẫn vào tán lá rừng xanh biếc, tôi và anh Rạng mới quay trở về trạm. Tôi nghe như văng vẳng đâu đó câu nói của chị Thuỷ "thay chị chăm sóc anh Rạng nhé". Trời chiều dường như tím lại.


Nửa năm sau, trong dịp về nước tập huấn nghiệp vụ, tôi đến trại điều dưỡng tìm chị Thuỷ. Theo hướng chỉ của mọi người tôi đã tìm ra phòng ở của hai mẹ con chị. Cửa mở, trước mắt tôi là một người đàn ông đang cầm tay Nừng.

- Xin lỗi, anh cho hỏi đây có phải phòng chị Thuỷ không ạ?

- Phải, đúng đấy... chị là! - Người con trai mặc quần đùi, để lộ cẳng chân trái nhăn nhúm vì những vết sẹo chằng chịt.

- Nừng... Nừng à... Mẹ đây! Mẹ đây... Tôi véo yêu vào má thằng cu, nó có vẻ sợ người lạ nên rụt rè mếu máo, trông mặt nó thật đáng yêu.

- Chị là Vân, bác sĩ vừa ở chiến trường Lào về...? - Người đàn ông bế Nừng trên tay quay sang hỏi tôi.

- Vâng ạ, sao anh biết?

- Thuỷ nói nhiều về Vân. Thuỷ mới gửi thư báo cho Vân biết là bọn mình sắp cưới nhau. Mình là Ngọc cùng học với Thuỷ hồi cấp ba, lính trinh sát, dính mìn bên Lào, một chân nát bấy. Vân thấy đấy... À mà kể lể nhiều quá. Vân bế cháu nhé, mình đi gọi cô ấy về....

Tôi bồng cu Nừng trong tay, mới có mấy tháng xa "con" mà nó đã cứng cáp lên nhiều, lúc đầu nằm trong tay tôi nó còn lạ hơi nên quẫy đạp, sau rồi tôi vỗ về như trước kia vẫn làm với nó thì như đã nhận ra người cũ, nó nằm im trong tay tôi. Hai mẹ con tôi đang chơi với nhau thì mẹ Thuỷ của nó về. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, ứa nước mắt. Gần nửa năm trời xa nhau, biết bao nhiêu chuyện muốn nói. Đêm ấy, hai chị em chong màn tâm sự tới tận khuya. Chị nói anh Rạng cũng có cảm tình với chị, nhưng chiến tranh mà, với lại chị đã yêu anh Ngọc rồi! Em ở bên anh Rạng lâu ngày biết đâu ngọn lửa tình lại bùng cháy. Tôi nghe chị nói vậy mà thấy bồi hồi nhen nhóm trong tim. Cũng trong dịp ấy tôi được đi dự đám cưới của anh chị.


Cứ như định mệnh, những gì chị Thuỷ nói với tôi đêm hôm ấy đã trở thành hiện thực. Sau thời gian sống chiến đấu trên đất nước Lào, chúng tôi yêu nhau lúc nào không biết nữa. Chỉ thấy xa thì nhớ, ai ốm đau thì thấy xót thương. Nhiều mối tình của người lính chúng tôi đã hình thành như vậy. Thành vợ thành chồng rồi chúng tôi cùng chuyển về bệnh viện Quân khu. Chúng tôi có hai con trai, một con gái. Rồi đất nước hoà bình, non sông thu về một mối. Từ những cuộc chiến triền miên. Nhân dân hai nước Việt - Lào hăm hở bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Đồng đội năm xưa mỗi người mỗi ngả. Không gặp nhau nhưng trong nỗi nhớ vẫn còn như mới hôm qua, hằng đêm ngủ mơ vẫn thấy những đồng đội thân thương của mình đang ở bên cạnh. Vợ chồng anh Ngọc và chị Thuỷ về quê làm ăn ra sao tôi cũng không được biết. Công cuộc mưu sinh cứ cuốn lấy chúng tôi trong vòng xoáy nhọc nhằn cơm áo gạo tiền.


Một ngày đầu xuân 1994, sau chuyến vi vu dã ngoại cả tháng trời trong thời gian nghỉ đợi chờ sổ hưu, anh Rạng trở về nhà, trên vai ngoài túi hành trang quần áo chuẩn bị trước lúc đi anh còn mang theo về một ba lô nặng trịch. Mở ra tôi mới phát hiện đủ các loại lá thuốc:

- Sau này về, hai vợ chồng mở phòng khám tư. Đông tây y kết hợp em ạ.

Anh nói, rồi đưa cho tôi một phong thư:

- Đây, quà đây này! Của kiều Thuỷ gửi cho thị mẹt Vân đây! - Giọng anh hăm hở, niềm vui hiện rõ trên ánh mắt, rồi anh đi tắm.

Tôi bồi hồi mở thư ra xem, những nét chữ của chị Thủy. Tôi đọc ngấu nghiến như hồi còn ở chiến trường vẫn mong mỏi từng trang thư nhà.

... Chị mừng vì được biết gia đình em hạnh phúc, các con học giỏi chăm ngoan. Còn chuyện của chị thì dài lắm. Ra quân về quê, trên vùng đất chó ăn đá, gà ăn sỏi, làm cật lực chăng đủ sống. Hồi đầu chúng mình sống củng vất vả lắm, lại thêm Phà Nừng luôn đau ốm. Nhưng rồi không phụ công mình và anh Ngọc, nó đã khỏe mạnh, lớn khôn. Bây giờ cháu đã là một kỹ sư lâm nghiệp rồi. Bọn mình đang chuẩn bị trong năm nay sẽ đưa Phà Nừng về bên ấy, cho cháu tìm gặp gia đình, và cũng là để vợ chồng mình trở lại nơi chiến trường xưa - nơi cả tuổi thanh xuân chúng mình đã gắn bó thủy chung chiến đấu cùng đồng đội và các bạn Lào. Nơi đó, những người lính tình nguyện chúng mình đã coi như tổ quốc thứ hai vậy.

Ngày 28 tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 06:55:21 am
CÁI TẾT TỪ TRÊN TRỜI RƠI XUỐNG


NGUYỄN XUÂN DIỆU


Như một sự tình cờ, vào những ngày cuối năm 2008, tôi có dịp về thăm lại chiến trường xưa, nơi tôi để lại cả quãng đời tuổi trẻ. Lực lượng đặc công Quân khu 4 có ý định viết cuốn sử Tiểu đoàn 31 Anh hùng. Lịch sử tiểu đoàn già nửa là những tháng năm làm quân tình nguyện trên chiến trường Lào. Đại tá Đặng Trung Thành - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Đặc công, người gần 30 năm gắn bó với đất nước Triệu Voi, có cái tên Lào thật đẹp: Bua Khăm, đích thân đến gặp tôi:

- Anh từng là lính đặc công tham gia "Tây tiến" nhiều năm trong "đoàn quân không mọc tóc". Tôi muốn nhờ anh làm chủ biên. Để "lấy không khí", tôi và anh lên Xiêng Khoảng, đến hậu cứ của đại đội tôi ngày ấy ở rừng Thậm Tạt huyện Mường Mộc một chuyến. Chúng tôi ăn Tết 1969 ở đó. Một cái Tết như từ trên trời rơi xuống. Kỷ niệm sâu sắc lắm! Anh đi được chứ?


Lời mời thật gợi, tôi hăng hái gật đầu. Chiếc U-oát đời mới có gắn máy lạnh hăm hở leo dốc về phía Trường Sơn mây mù giăng mắc. Đến ngày thứ hai, cả đoàn vượt qua Mường Xén, thị trấn cuối cùng của miền biên ải Nghệ An. Đang là đầu mùa khô, càng về chiều, sương mù dày đặc tràn ra giăng kín cả mặt đường. Giữa ban ngay mà xe chúng tôi phải bật đèn vàng để chạy. Dường như đang ngập trong ký ức bộn bề, đôi mắt Thành bị hút vào cái màn sương bên ngoài ấy. Cứ theo những lời kể chắp nối của anh trên xe, ngày xưa nơi đây toàn là rừng. Đường đi chỉ là những lối mòn của thú hoang, người lính phải nghiêng bàn chân mới bước được. Lại có những dốc núi cao chót vót, mờ sáng ở chân dốc, xế chiều mới tới được đỉnh. Khoảng 9 giờ đêm, chợt Thành nhoài người lên chỉ tay vào con đường đất bên trái ra hiệu cho xe rẽ vào. Chúng tôi dừng xe. Trung uý lái xe Trần Thanh Liêm tìm củi nhen một đống lửa giữa bãi trống bằng phẳng mà Thành quả quyết rằng đó là nơi ngày xưa đại đội sinh hoạt. Ngày ấy, ở đây ngút ngát những cây đại thụ lù xù rêu và dương xỉ, trông như người khổng lồ đứng mang tơi, chứ không trọc lốc như bây giờ. Rừng đêm ngoài vòng lửa huyền hoặc, bí ẩn. Tiếng chim chóp bóp âm u trong tiếng gió đại ngàn ào ạt. Hình như có tiếng suối đâu đó lúc ào lên như tiếng thác, lúc lại im ắng như tờ. Thành bồi hồi:

- Năm ấy, đại đội đang quần nhau chí tử với BV34 (tiểu đoàn quân nguỵ Lào) mạn Bô-ri-khăm-xay thì nhận lệnh tiến về phía Bắc, đến tập kết ở đỉnh rừng Thậm Tạt này. Đây là ngọn núi cao 1.810 mét. Dù mùa khô hay mùa mưa nơi này cũng quanh năm mây phủ. Máy bay trinh sát OV10, L19 của địch bay qua, ngồi ở đây vạch lá rừng ra nhìn rõ cả đầu thằng lái. Người được Mặt trận giao dẫn đường cho đại đội là Thoong Đăm, một người lính Pa-thét Lào. Nhìn bề ngoài, Thoong Đăm hệt như một người lính Việt. Anh dong dỏng cao, trắng trẻo, nét mặt toát lên nét thông minh. Sau mười ngày đêm hành quân xuyên rừng; khi đại đội đến được đây, tôi mới giật mình nhận ra đã là chiều 29 Tết. Ngỡ chỉ mình lo, ai dè chính trị viên Hoàng Ngọc với vẻ mặt ủ rũ đi đến nói với tôi:

- Gay quá anh ạ. Không chừng năm nay đơn vị chẳng có Tết mất thôi. Ngày mai 30 Tết rồi mà đại đội vẫn trắng tay. Gạo, thịt hộp, lương khô thì có đấy, nhưng suốt năm, suốt tháng toàn chén những thứ đó rồi, chẳng lẽ Tết nhất cũng thế? Đã đành ở chiến trường phải chịu thiếu thốn anh em mình cũng chẳng ai trách cứ gì, nhưng là người lãnh đạo, chỉ huy, tôi cứ thấy áy náy, cứ thấy như mình có lỗi. Lo cái Tết mà thắt ruột, thắt gan đi anh ạ!

- Mình cũng thế! - Tôi rầu rĩ - Với người Việt Nam mình cái Tết thiêng liêng lắm, nhất là người lính đang sống xa nhà giữa bom đạn bời bời. Nhưng chúng ta mới chân ướt, chân ráo đến đây, chung quanh chỉ toàn núi với rừng, biết làm sao được? Dân các bản Lào Lùm, Lào Thơng quanh đây bị quân Vàng Pao xúc đi cả rồi. Nếu còn, chắc chỉ có lèo tèo vài ba bản người H'Mông. Chúng tôi nghe nói các bản người H'Mông từng theo Vàng Pao, làm sao họ chịu giúp chúng ta!

- Người H'Mông chẳng phải ai cũng theo Vàng Pao cả đâu đồng chí ạ. - Đang lúi húi đào hầm, Thoong Đăm dừng tay ngẩng lên nói với chúng tôi - Tôi biết có nhiều bản, nhiều mường người H'Mông ai cũng một lòng một dạ với Pa-thét Lào. Người H'Mông như cái cây hướng về mặt trời, như cái suối chỉ chảy về một hướng, đã tin Neo Lào Hắc Xạt là theo đến cùng! Đồng chí nói thế là sai to rồi đấy!

Thấy tôi và chính trị viên biết mình có lỗi, cứ ghệt một ra, Thoong Đăm rụt rè hiến kế:

- Tôi biết cái Tết cổ truyền của Việt Nam cũng như cái Tết "Bun hót nậm" của nước Lào chúng tôi, vui lắm! Nhưng Tết Việt Nam phải có bánh chưng, phải có xôi, có thịt... Hay là thế này, các đồng chí cứ giao cho tôi vài ba tay súng bắn giỏi. Tôi sẽ đưa họ đi săn. Tôi đã đi xem kỹ, ở đây gà rừng nhiều lắm, rất dạn người, bẫy chúng dễ như không. Còn hai bên bờ suối, những chỗ củ ráy mọc nhiều, đất bị cày lên như ruộng cày vỡ. Thế nghĩa là ở đây lũ lợn rừng nhiều, chúng đi kiếm ăn theo bầy. Lợn rừng đi ăn bầy đàn như thế chẳng dữ như lợn độc đâu, dễ bắn lắm. Chỉ cần mấy phát AK là có Tết.

- Không được! - Tôi trợn mắt - Bẫy gà rừng thì được, nhưng tuyệt đối không được bắn lợn rừng! Mặt trận điều một đại đội đặc công về ém quân ở đây, dứt khoát không phải để săn thú. Hẳn cấp trên đã có kế hoạch cho chiến dịch mùa khô sắp tới. Hai BS (tiểu đoàn quân đặc biệt Vàng Pao) 225, 226 lấn chiếm Mường Mộc, Mường Nham còn đó, không được mất cảnh giác. Hơn nữa, đồng chí cũng thừa biết quanh chỗ ta đóng quân thiếu gì "cây nhiệt đói", thiếu gì thám báo, biệt kích. Chỉ cần một tiếng súng nổ là hỏng bét hết. Tuyệt đối không được bắn!


Thoong Đăm hấp háy mắt bỏ đi. Đêm đó tôi và chính trị viên Hoàng Ngọc cứ trằn trọc mãi. Vừa lo, vừa lạnh. Ngày ấy rừng đêm hình như lạnh hơn bây giờ nhiều. Hay bởi bây giờ lắm áo ấm. Ngày ấy lính ta mặc độc chiếc áo "chồn bay" hay trấn thủ? Lạnh buốt xương mà chẳng dám đốt lửa vì lũ máy bay B26 cứ "bùm bùm" chụp không ảnh nhoang nhoáng trên đầu. Rồi lũ C130 thả pháo sáng giăng khắp bầu trời, bắn 20 ly như xay lúa. Tôi và chính trị viên cứ bàn tới, bàn lui mãi vẫn không sao tìm được giải pháp. Có lẽ cung cách này đơn vị đành mất Tết thật rồi? Hai chúng tôi cứ nhìn nhau thở dài thườn thượt. Rừng càng về khuya, càng lạnh. Nằm võng, dưới lưng như ngâm trong nước đá. Nhưng mệt quá rồi chúng tôi cũng ngủ thiếp đi.


Chừng 8 giờ sáng, sương mù đang loãng dần, bỗng bộ phận cảnh giới chạy hộc tốc về báo có một đoàn người H'Mông đang vừa gùi, vừa gánh, có người mang cả súng các-bin, ga-răng đi về phía đơn vị. Tôi chột dạ. Đơn vị vừa hành quân tới đây tối qua, chắc là chẳng ai biết, cớ sao dân biết? Hay đây là mẹo của bọn Vàng Pao biết bộ đội ta không bắn dân nên đưa dân tới dò la tình hình quân ta? Tôi vội ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu rồi cùng chính trị viên Ngọc vội vã chạy ra. Đến bìa rừng, tôi đang đứng hỏi người lính gác, thì một ông cụ quắc thước, mặt mũi đen đúa, bòm bã râu ria đi trước đoàn người đĩnh đạc bước tới. Thấy tôi đeo súng ngắn, ông dang tay gạt mấy người lính ra, cất tiếng ồm ồm như tiếng vọng của rừng:

- Mày là thủ trưởng hử? Mày đưa bộ đội về mà mày im như hòn đá trên núi là sai rồi!

- Dạ thưa cụ, là... là sao ạ?

- Là mày sai to như trái núi rồi! Mày là thủ trưởng thì biết nhiều điều, đừng như con gà trống bới khắp nơi không có ổ vì sống không có bạn. Tết người H'Mông ta khác ngày, khác tháng với Tết Việt Nam. Nhưng ta biết ở Việt Nam bữa nay là Tết rồi, thế mà bộ đội không có thịt lợn, thịt gà, thịt trâu ăn Tết, mày cũng im như hòn đá, chẳng nói năng chi với bản ta. Mày không tin người M'Mông ta à? Đâu phải là người H'Mông ai cũng theo Vàng Pao cả. Ta là người H'Mông của Phay Đàng* (Phay Đàng: Lãnh tụ ngưởi H'Mông, Phó chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt lúc đó), của Neo Lào Hắc Xạt. Đừng bao giờ nhầm tiếng "poóc" của con nai với tiếng "poóc" của con hổ! Hay mày sợ người H'Mông ta nghèo không có con gà, con lợn, con trâu cho bộ đội Việt ăn Tết? Người Việt với người Lào là anh em. Đã là anh em thì phải giúp đỡ nhau, có chi thiếu thốn phải nói với nhau. May mà bữa nay có thằng Thoong Đăm, nó tin ta, nó nói thật với ta. Nếu không có thằng Thoong Đăm, bộ đội Việt không có Tết, ta với dân bản biết ăn nói sao với Phay Đàng? Con đường già chóng đến, đời người như cái bóng râm ngả trên đồi, ta gần 70 tuổi rồi, làm thế thêm dày tội, mai kia phải đi đường dưới** (Cái lý của người H'Mông: "Ai có phúc nhiều thì đi đường trên / Ai lám tội thì đi đường dưới") sao?

Nói rồi ông khoát tay cho đoàn người. Hai thanh niên lực lưỡng vừa dắt vừa dùng roi lùa một chú lợn đen sì, mõm dài như mõm lợn rừng, lông lá bờm xờm, dễ thường ngót nghét tạ thịt cột vào gốc cây. Mấy gùi nếp, lá dong trong các "lù cở" rời khỏi vai các cô gái thả xuống, mùi nếp thơm lừng. Lại mấy sọt gà vừa trống, vừa mái; những chú gà thấy nhiều người lạ quá cứ trố mắt nhìn, cục ta, cục tác ỏm tỏi. Ông cụ hắng giọng:

- Dân bản ta có con lợn, con gà, gùi nếp cho bộ đội Việt ăn Tết. Có cả con trâu đực nữa, nhưng nó đang thả trong rừng, ta đang cho người đi bắt về. Chiều ta sẽ dắt đến cho bộ đội mổ thịt. Bộ đội Việt nhận cho dân bản ta vui, để ăn cái Tết thật vui, để đánh thằng giặc thật hay, thật giỏi...!

Tôi và chính trị viên Ngọc đứng im như trời trồng, không sao nói được nên lời. Cán bộ, chiến sĩ ai cũng lặng phắc nhìn nhau. Tôi nhìn quanh tìm Thoong Đăm. Bắt gặp cái nhìn của tôi, Thoong Đăm méo mó cười, đỏ mặt tía tai, nép vào sau mấy chiến sĩ...

- Ái chà chà! Đúng là cái Tết trên trời rơi xuống! - Tôi xuýt xoa.

Cái Tết ấy, khỏi phải nói, chúng tôi được ăn cái Tết ra... Tết! Một cái Tết suốt đời không quên được! - Thành nuốt nước bọt đánh "ực", ngừng kể. Trong ánh lửa bập bùng giữa rừng khuya Thậm Tạt, ánh mắt anh trở nên xa vắng. Giọng anh thắc thỏm:

- Chiến dịch ấy cụ Vàng Chó - cụ già hôm đó đến "quát" mình ấy - và mấy thanh niên bản H'Mông Thậm Tạt xung phong dẫn đường cho đơn vị vào trinh sát cụm cứ điểm Mường Mộc do BS 225 và 226 chốt giữ, bằng con đường bất ngờ nhất mà họ đã thuộc như lòng bàn tay. Mường Mộc giải phóng, đơn vị rút đi, bản H'Mông bị máy bay T28 và phản lực đánh phá tơi bời, chẳng biết dân bản dời đi đâu. Người H'Mông đã di cư là khó tìm được lắm, anh ạ!

- Còn... còn Thoong Đăm? - Bỗng sực nhớ, tôi vội vùng hỏi.

- Ấy đấy! Câu chuyện lại bắt đầu từ Thoong Đăm đấy! Nước Lào hoà bình, Thoong Đăm ra quân tìm sang Việt Nam thăm tôi. Tôi cùng cậu ta trở về Xiêng Khoảng, và thật may, sau ba tháng tìm kiếm chúng tôi gặp được cụ Vàng Chó và bản người H'Mông tình nghĩa ấy. Rồi tôi khuyên Thoong Đăm đi ôn văn hoá thi vào Đại học nông nghiệp Hà Nội. Cậu ta sáng dạ lắm, thi là trúng ngay với số điểm cao. Tiếc là cụ Vàng Chó mất mấy năm nay rồi, nếu không đêm nay tôi đã đưa anh đến gặp cụ. Còn chàng kỹ sư Thoong Đăm, tốt nghiệp đại học, liền xin về ngay huyện Mường Mộc. Lâu nay, Thoong Đăm "nằm vùng" ở bản Thậm Tạt hướng dẫn cho bà con định canh, định cư, trồng lúa nước, trồng cây quế, cây pơ-mu, cây vải thiểu... Bây giờ bản H'Mông của Vàng Chó ngày xưa cùng nhiều bản Mường Mộc đã biết cách làm ăn, bỏ hẳn trồng cây thuốc phiện, đã giàu lên. Sáng mai tôi dẫn anh đến đó khắc thấy!


Thành kéo tôi đứng dậy. Hai chúng tôi thả bộ trên con đường đất quanh co bên những ruộng lúa nước như nằm bên trời; giữa những rừng quế, rừng pơ-mu thẫm đen trong đêm đang xôn xao gió; nơi một thời thấm đỏ hai dòng máu Việt - Lào trong cuộc chiến đấu sinh tử chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Bỗng Thành siết chặt tay tôi, thầm thì:

- Anh sẽ viết những điều trông thấy trong chuyến đi này vào cuốn sử chứ? Để cho con cháu mình biết cái thời cha ông chúng ăn Tết chiến trường ra sao? Nhưng tôi thì cứ nghĩ đây là câu chuyện của tình người, của những tấm lòng, hơn thế là của tình bạn chiến đấu Việt - Lào thuỷ chung, son sắt mà trên thế gian này không ai có được, chứ đâu phải chỉ là câu chuyện về một cái Tết, phải không anh?!

Hồ Tây, thu 2009.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 06:56:42 am
HƯƠNG CHĂM-PA


TRỊNH HỒNG HẢI
(Ghi theo lời kể của đồng chí Trịnh Quốc Liệu)


Ngày tôi còn nhỏ, vào mùng một, ngày rằm, ngày lễ, tết... tôi thường theo ông nội đến chùa lễ Phật. Mỗi lần hành lễ xong, ông lại ngồi suy tư dưới gốc cây hoa đại cổ thụ trước sân chùa. Mùa hè, hoa đại nở rộ, sân chùa tràn ngập mùi hương trầm phảng phất cùng hương thơm dìu dịu của những bông hoa đại trắng nõn mịn màng lẫn trong tán lá xanh mướt cứng cáp vươn lên đón ánh nắng chói chang.


Trong tư thế của một người đang ngồi thiền, ông ngước đôi mắt đục cùi nhãn nhìn những chùm hoa đại đung đưa trước gió. Ánh mắt ông chơi vơi như đang nhớ về nơi nào xa xôi lắm! Tôi cặm cụi nhặt những bông hoa đại rơi vung vãi khắp sân chùa, xâu vào một sợi dây cói, kết thành vòng hoa; vòng nhỏ cho tôi, vòng lớn tôi đeo vào cổ ong. Mỗi khi đeo vòng hoa đại trên người, ông lại nhẩm hát những câu hát bằng tiếng Lào. Những lúc như vậy, một tay tỳ lên đầu gối, tay kia chống vào chiếc gậy tre, khó nhọc cố rướn người đứng thẳng lên như thời đang còn trai trẻ. Chợt nhận ra là mình đã già! Năm tháng, tuổi tác đang đè trên vai ông, khoé mắt nhăn nheo rơm rớm ướt. Ông mơ màng nhớ về điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi mà ông cùng đồng đội vẫn múa, vẫn hát trong những buổi liên hoan văn nghệ trên đất bạn Lào xa xôi.

   ...

Người Lào gọi hoa đại là hoa chăm-pa. Hoa chăm-pa không chỉ tượng trưng cho sự thanh cao, lòng từ bi bác ái của cõi Phật mà còn là biểu tượng của tâm hồn trong trắng, tấm lòng thuỷ chung son sắc của nhân dân các bộ tộc Lào. Trên khắp nước Lào, hoa chăm-pa thường được trồng trước sân chùa, trồng làm cảnh trước sân nhà. Hàng đêm, trước khi đi ngủ, tôi thường rúc vào nách ông, nghe ông kể chuyện. Có lần ông kể cho tôi nghe truyền thuyết vẽ đất nước Triệu voi:


Xưa lắm, trên trời có mười hai nàng tiên xinh đẹp, hát hay, múa dẻo. Một hôm, các nàng nhìn xuống hạ giới thấy giữa vùng rừng núi bạt ngàn nổi lên một hồ nước, mặt hồ sáng lấp lánh như tráng bạc, bèn cưỡi mây xuống tắm, áo váy vắt trên những cành cây ven hồ. Một chàng hoàng tử đi săn ngang qua, thấy các nàng tiên xinh đẹp, chàng liền giấu bộ quần áo của nàng út. Thấy có người lạ, các nàng tiên hoảng hốt bay về trời. Riêng nàng út bị mất áo váy, không chắp được cánh bay đành phải ở lại trần gian. Tình yêu của nàng tiên nữ đó và chàng hoàng tử ngày càng thắm đượm. Họ thành vợ thành chồng, con cháu đông đúc, lập làng lập bản, lập nên đất nước Triệu voi... Đó là nước Lào ngày nay.


Nhưng tôi được nghe nhiều nhất vẫn là những câu chuyện chiến đấu của ông và đồng đội trong quãng thời gian ông phục vụ tại mặt trận Nam Lào.

Từ giữa năm 1966, Mỹ tăng cường dùng "pháo đài B52" tiến hành ném bom rải thảm đánh phá vùng giải phóng của Lào. Ngoài mục đích tấn công các căn cứ quân sự, Mỹ còn mượn bom đạn buộc nhân dân sống trong các làng bản phải về vùng chúng kiểm soát. Nơi bọn chúng ngụy trang dưới những cái tên mỹ miều như "khu chấn hưng", "làng đoàn kết"... để dễ bề cai trị là gom dân lấn chiếm ra vùng giải phóng của cách mạng nước bạn. Thực chất đây là một phần trong kế hoạch "tát nước bắt cá" của Mỹ và tay sai trong chiến lược "bình định".


Đầu những năm 1970, đế quốc Mỹ ráo riết triển khai học thuyết Ních-xơn" trên khắp xứ Đông Dương. Chúng chủ trương dùng "Người Đông Dương đánh người Đông Dương" nhằm hạn chế thấp nhất những tổn thất của cuộc hiến tranh mà Mỹ ngày càng sa lầy tại đây. Ở Việt Nam, chúng gấp rút thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Trên đất Lào, chúng tăng cường thực hiện chiến lược "Người Lào đánh người Lào".


Tháng 6 năm 1970, đang công tác và chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 thì đơn vị ông được biên chế vào Sư đoàn 968, thuộc Bộ Tư lệnh miền Tây, bên chiến trường C.

Thành lập ngày 28 tháng 6 năm 1968, Sư đoàn 968 có nhiệm vụ chính là chiến đấu giúp bạn, phối hợp cùng quân đội Pa-thét Lào bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh, ở Tây Trường Sơn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn còn chủ động giúp bạn tăng gia sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế... phục vụ kháng chiến. Với truyền thống "Cơ động liên tục, khắc phục khó khăn, đoàn kết lập công, trọn vẹn nghĩa tình dân tộc - quốc tế", mùa khô năm 1971-1972 Sư đoàn 968 đã chủ động tấn công địch theo hướng đường 23, chặn đánh quân địch phản kích ở I Tu, Bản Nhích, mở rộng hướng tấn công xuông Không Xê Đôn, uy hiếp quân địch ở Pắc Xế... tiến tới giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven trước ngày có hiệp định ngừng bắn ở Lào.

   ...

Ở nước Lào, mọi sinh hoạt văn hóa của người dân thường tập trung quanh đõng lửa. Mọi người cùng nhảy điệu Lăm vông, cùng hát khúc Lăm; điệu múa, câu hát, tiếng trống, tiếng chiêng cùng ánh lửa ấm áp nghĩa tình như quyện với màu sắc và hương hoa chăm-pa quyến rũ lòng người.


Do phải đảm bảo bí mật và những đòi hỏi khắt khe của cuộc kháng chiến, những buổi liên hoan văn nghệ lúc đó không dám đốt lửa, ngay cả tiếng nhạc, tiếng hát cũng chỉ dám cất lên vừa đủ nghe. Vì mọi người còn phải đề phòng những trận tập kích của máy bay và pháo tầm xa của địch. Chiến tranh ác liệt là vậy nhưng cả người già lẫn trẻ nhỏ, dân bản và bộ đội luôn quây quần bên nhau, cùng nhau nhảy điệu Lăm vông, hát các bài Lăm sau những ngày làm việc mệt mỏi và căng thẳng. Lễ hội diễn ra vui vẻ, thắm đượm tình đoàn kết quân, dân hai nước Việt - Lào anh em.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 06:57:18 am
Trong một buổi liên hoan văn nghệ "dã chiến" đầu mùa khô năm 1970. Ông đã gặp nàng tiên của ông! - Ngươi con gái tuổi độ mươi tám đôi mươi, múa đẹp như chim công trong mùa tìm bạn. Nàng có đôi mắt đen láy như màu tràng hạt của vị sư trong những ngôi chùa Lào cổ kính. Ngay từ lần gặp đầu tiên, ông đã bị cuốn hút bởi đôi mắt sâu thẳm ấy. Nàng là người đã dạy ông nhảy điệu Lăm vông, hát những câu hát Lăm đầu tiên trên đất bạn...


Bỗng câu hát như bị gãy làm đôi, điệu múa như giẫm lên nốt nhạc khi tiếng súng nổi lên ở khắp nơi. Buổi liên hoan trở thành trận chiến đấu ác liệt. Do tinh thần cảnh giác và đã lên kế hoạch phòng bị từ trước nên tan nhanh chóng phá tan trận tập kích của địch. Khi đã im tiếng súng, ông mới nhận ra mình còn chưa kịp hỏi tên và địa chỉ của nàng.


Năm 1970, đơn vị ông đóng quân trên triền đồi thoai thoải, núp dưới tán rừng thông xanh tốt trên cao nguyên Bô-lô-ven, phía dưới có con suối Bản Nhích đổ ra sông Sê Nậm Noi. Mùa khô, suối cạn trơ đáy, con suối như gầy ra, giữa dòng nhô lên những phiến đá chình ình như có đàn voi, đàn trâu rừng đang ngâm mình dưới nước.


Một buổi sáng ông cầm chiếc đinh ba ra suối Bản Nhích bắt cá, định bụng sẽ làm bữa tiệc nhỏ, để ngày mai tiến hành phát rẫy trồng ngô giúp bà con Bản Nhích. Từ xa ông đã trông thấy nàng qua tà áo váy sặc sỡ sắc màu; màu xanh của núi rừng, màu vàng của mùa màng bội thu và màu đỏ ấm áp của ngọn lửa trong những căn nhà gỗ. Nàng xuất hiện bất ngờ bên bờ suối như một nàng tiên vừa bước ra khỏi màn sương sớm tung tăng đón ánh ban mai sóng sánh như giọt mật ong rừng đọng trên mặt sáp. Nàng ra suối lấy nước?! Mùa cạn, cá còn trồi lưng khô vây. Nước đâu ra mà lấy!... Mùa này, sao không lấy nước trên mó nước mà lại ra suối! - Ông nghĩ bụng. Chợt nhớ về trận tập kích của địch... Hôm đó hoảng loạn, súng đạn, lửa cháy ngút trời, ông mải cùng đồng đội chiến đấu, chưa kịp hỏi tên thì nàng đã biến mất?! - Nghĩ vậy, mối nghi ngờ trong ông bốc lên ngùn ngụt như vạt cỏ gianh khô nỏ vừa được nhen lên mồi lửa. Nhưng...! Ngộ nhỡ nghi oan cho người ta thì chết!? Lúc này mà manh động thì hỏng chuyện...! Ông phân vân rồi nhảy phốc vào hốc cây săng lẻ, lặng lẽ theo dõi mọi động tĩnh bên ngoài.


Không may cho ông, nằm gọn trong hốc săng lẻ cổ thụ là một tổ kiến lửa to lù lù như ụ mối. Vỡ tổ. Lũ kiến hiếu chiến lao ra bò râm ran khắp người ông. Chúng nhằm những chỗ hiểm trên người ông mà cắn; kẽ chân, nách, bụng, bẹn... nhức buốt, tê dại. Ông nghiến răng nhìn nàng đi qua, đi lại trước hốc cây săng lẻ, dáng vẻ thấp thỏm, nôn nóng như muốn người khác chú ý đến mình. Không khéo lại chỉ điểm cho quân địch đang ẩn nấp đâu đây cũng nên!? Ông cảnh giác rồi cọ lưng lên hốc cây cho những vết kiến cắn đỡ đau nhức... Nắm chắc cây súng trên tay, nhẹ nhàng lên đạn, sẵn sàng hành động khi tình huống bất trắc xảy ra. Ông có cảm giác tâm trạng mình căng cứng như dây nỏ đã lên nẫy...


Dưới suối, nàng kiên nhẫn dùng chiếc gáo làm bằng vỏ trái bầu khô múc nước đổ vào ống bương. Nàng đeo bương nước đầy ắp trên vai, mắt len lén nhìn trước, nhìn sau rồi để lại vật gì trên phiến đá. Bóng nàng vừa khuất sau hẻm núi ông đã nhảy phốc ra khỏi hốc cây, thoát khỏi lũ kiến. Toàn thân ông nhức buốt tê dại, lưng áo ướt sũng mồ hôi. Người gì đâu... trông tử tế... thế mà...! câu nói bị bỏ lửng sau tiếng chép miệng thở dài. Ông phát hiện trên phiến đá có một gói thuốc rê, những điếu thuốc quấn gọn gàng và được gói bọc cẩn thận bằng những chiếc lá cà boong, cả tuần sau đó, những hành động đáng ngờ của nàng và gói thuốc rê luôn ám ảnh trong tâm trí ông. Gói thuốc rê ám chỉ điều gì?!


Tổ ba người do ông làm tổ trưởng được phân công phát rẫy cùng gia đình mẹ Sao. Chồng mẹ Sao hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ có một người con gái tên là Y May cũng trạc tuổi nàng. Ông bất ngờ đến sững người khi nhận ra nàng chính là con gái của mẹ Sao. Tâm trạng ông bồi hồi pha chút ngờ vực; trận tập kích bất ngờ của địch, những hành vi đáng nghi và gói thuốc rê trên phiến đá... Trước những suy luận logic như vậy! Ông tự nhủ cần phải cảnh giác! Ông vừa làm vừa để mắt canh chừng mọi hành động của nàng. Những đường dao phát trên tay ông mạnh và ngọt hơn, có lúc ông phải kìm tay phát lại vì sợ đường dao quá rộng sẽ làm địch phát hiện và cho máy bay ném bom hay nã pháo vào đánh phá.


Hai người im lặng làm việc. Sự im lặng kéo dài cho tới khi cây ngô lớn ngang ống chân, mọi người sung sướng nhìn nương ngô xanh tốt mà hân hoan chờ ngày trẩy bắp đang đến gần. Nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang! Mọi người đang phấn khởi vun gốc chăm bón cho ngô thì pháo địch nã xuống cấp tập, dồn dập hết đợt này đến đợt khác. Ruộng ngô, nương sắn của các gia đình trong bản bị pháo dập nát nhừ. Thế là đã rõ, có ả chỉ điểm địch mới cắt tọa độ chuẩn như vậy!...". - Bồng súng nấp sau tảng đá mồ côi giữa ruộng, ông dằn vặt với suy nghĩ của mình. Có ai đó từ phía sau đẩy ông ngã chúi vào hốc đá rồi nằm đè lên người ông. Ông chưa kịp trở tay thì một tiếng nổ khô khốc vang lên, đất đá bay ràn rạt, những mảnh pháo vút vào không gian nghe chiu chiu ghê rợn. Khi bụi đất loãng ra, ông mới nhận ra Y May đang nằm ngất lịm trên người ông, máu từ vết thương trên vai nàng thấm đẫm ngực áo của ông. Y May vừa lấy thân mình che chở cho ông. Cứu ông thoát chết trong gang tấc! Ông ôm Y May trong tay, vặt nắm lá tàu bay bỏ vào miệng nhai cảm giác đắng ngắt, ông xé chiếc áo đang mặc trên người băng bó vết thương cho Y May rồi cùng mọi người đưa nàng về trạm xá của đơn vị cấp cứu.


Y May nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, nét mặt thanh thản như nàng tiên. Biết ông vào, nàng nhìn ông qua đôi mắt nhắm hờ, nở nụ cười hiền dịu trên khoé môi tươm tướp máu.

- Bộ đội Việt Nam không sao chứ? - Nàng hỏi, ánh mắt nhìn ông ngân ngấn nước.

...


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 06:58:06 am
Hơn nửa tháng trời Y May nằm điều trị tại trạm xá của đơn vị, ông thường xuyên đến thăm và chăm sóc nàng thay mẹ Sao.

- Sao hôm đó anh không ra với Y May. Bộ đội thấy em xấu lắm à?! - Khi hai người đã trở nên thân thiết nàng trách.

- Ơ... ờ ! Hôm nào...! - Ông bối rối.

- Hôm ở ngoài suối, em đem cho anh gói thuốc rê, biết anh ngồi trong hốc săng lẻ nên để nó lên phiến đá! - Y May thỏ thẻ, lúc này trông mặt nàng hiền dịu và đáng thương biết bao.

- Có... có... Đây...! - Ông ấp úng rồi lấy ra gói thuốc rê được cất giữ cẩn thận ông vẫn mang theo, định bụng có dịp sẽ hỏi nàng xem nó ám chỉ điều gì.

Nghe Y May nói, ông đã hiểu được ý nghĩa của gói thuốc rê trên phiến đá. Nỗi băn khoăn trong lòng ông bấy lâu nay chợt tan biến đi đâu mất, thay vào đó là cảm giác ân hận xâm chiếm trong lòng. Ông thấy mình thật nông nổi vì đã nghĩ xấu và nghi oan cho nàng. Cũng may ông còn giữ được bình tĩnh! Không thì chẳng biết mọi chuyện sẽ đi đến đâu!? Ông cảm thấy mặt mình nóng ran như ngồi trước đống lửa khi nàng nhắc đến chuyện bên bờ suối Bản Nhích.

- Em biết trong hốc cây có tổ kiến lửa nên về sớm để anh ra. Nếu không kiến đã cắn chết anh rồi! - Nàng hóm hỉnh.

Đầu mùa mưa năm 1971, đơn vị ông được lệnh cấp tốc lên đường thực hiện nhiệm vụ đột xuất. Thời gian gấp gáp khiến ông chẳng có thời gian báo tin cho Y May và mẹ Sao biết. Khi đơn vị hành quân ngang qua suối Bản Nhích ông mới có dịp gặp lại Y May khi nàng ra lấy nước. Nghe ông nói lời từ biệt, Y May nhìn ông bằng ánh mắt đắm đuối pha chút thảng thốt chơi vơi. Nàng khóc, những giọt nước mắt nóng hổi ngậm ngùi lăn dài xuống hai gò má ửng hồng. Như nhận thấy quãng thời gian xa nhau vời vợi phía trước, nàng cắt phăng những sợi tóc óng mượt của mình rồi những ngón tay thon dài của nàng thoăn thoắt kết những sợi tóc lại thành một sợi dây, lặng lẽ buộc vào cổ tay ông. Trong giây phút bịn rịn ấy, hai người muốn nói với nhau nhiều lắm mà sao trong lòng bối rối chẳng nói nên lời. Dù không nói ra nhưng ông hiểu những tâm sự mà nàng gửi gắm trong chiếc vòng tóc đen nhánh nàng vừa thắt lên cổ tay chai sạm của ông.


Rồi nhiệm vụ người lính cứ cuốn lấy ông, ông cùng đồng đội rong ruổi khắp các chiến trường trên đất bạn. Trong ba lô của ông, ngoài những trang thiết bị của một người lính còn có những lá thư quê nhà và một kỷ vật đặc biệt - chiếc vòng bằng tóc của Y May.


Ngày 22 tháng 2 năm 1973, trên đường hành quân tiến công vào giải phóng Tha Leng - Lào Ngam - Sa-ra-van, đơn vị ông tình cờ gặp đoàn văn công của quân đội Pa-thét Lào trên đường đi biểu diễn phục vụ các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Lào. Một buổi giao lưu văn nghệ "dã chiến" được tổ chức chóng vánh ngay trên đường hành quân. Điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi lại cất lên, tiếng hát điệu múa như lướt trên dòng Sê Kông miên man sóng nước. Điệu múa, câu hát đã giúp ông nhận ra Y May chính là cô diễn viên xinh đẹp đang thể hiện những động tác uyển chuyển của điệu múa "Hoa Chămpa". Sau bao năm xa cách, giờ gặp lại nàng da trở thành một người chiến sĩ rắn rỏi dãi dầu mưa nắng. Hai người bạn cũ, hai người đồng chí gặp nhau, niềm vui đầy ắp như ánh nắng xuân rạo rực trên cung đường ra trận.

- Bộ đội Liệu! Đúng là "xiều"* (Xiều: Người bạn thân, người anh em) Liệu thật rồi! - Y May ngỡ ngàng thốt lên rồi chạy lại ôm chầm lấy ông, nước mắt nàng rơi xuống vai áo ông nóng hổi. Tiếng khóc nghẹn ngào của Y May cùng những lời động viên an ủi của ông lẫn trong tiếng vỗ tay rào rào và ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người xung quanh.


Trong giây phút xúc động đó, hai người tranh thủ hỏi han đủ chuyện về nhau. Y May khoe: Sau ngày ông đi, nhờ hát hay, múa dẻo, năm 1972 cô được chọn sang Việt Nam học khoá đào tạo diễn viên múa của Trường văn hoá - nghệ thuật tỉnh Nghệ An. Hoàn thành khoá học, Y May về nước phục vụ trong đoàn văn công Pa-thét Lào. Đoàn đang đi biểu diễn phục vụ chiến đấu trên chiến trường nên mới có cuộc gặp gỡ tình cờ thú vị trên đường hành quân. Trong không khí ấm áp của buổi chiều hôm, ông có cảm giác như thoang thoảng đâu đó mùi hương nồng đượm của hoa chăm-pa trên những vùng đất mà ông và đồng đội đã đi qua.

- Khi nào có dịp! Anh nhớ về Bản Nhích thăm mẹ và em nhé! Mẹ nhắc anh nhiều lắm đấy...! Trước khi lên đường Y May nói với theo, rồi bóng cô nhanh chóng hoà cùng đoàn quân đang tiến lên phía trước.

Tháng 2 năm 1979, sau mười một năm sống, chiến đấu trên đất bạn Lào, ông vê nước mang theo nỗi băn khoăn canh cánh trong lòng vì không có dịp trở lại Bản Nhích trên cao nguyên Bô-lô-ven thăm mẹ Sao và Y May được. Trong cuốn hồi ký của mình ông viết:

Ngày 2 tháng 2 năm 2000.

Có ai đọc được những dòng chữ này, nếu biết Y May diễn viên của đoàn văn công Quân đội Pa-thét Lào, người Bản Nhích thì xin hãy nhắn tới bà hoặc con cháu của bà rằng: Tôi luôn nhớ về những ngày tháng khó khăn, gian khổ... cùng tấm lòng thuỷ chung son sắt và những kỷ niệm tươi đẹp trên đất nước Lào xa xôi.


Chiều nay, sân chùa trải đầy hoa đại. Chớm thu, những bông hoa đại mịn màng lặng lẽ rơi trước những cơn gió thu nhè nhẹ. Tôi không còn được lẽo đẽo theo ông đến chùa lễ Phật nữa. Tôi đứng nhìn những cánh hoa chăm-pa rải khắp sân chùa mà nhớ đến ông, nhớ những câu chuyện mà ông đã kể và hình dung ra hình ảnh bà Y May - nàng tiên của ông. Xế chiều! Có lẽ! giờ này! Ở đâu đó trong vũ trụ bao la ông cũng đang nhớ về nàng tiên của mình, nhớ đến điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi trên đất bạn và cả không gian tràn ngập mùi hương nồng dìu dịu của những cánh hoa chăm-pa trắng mịn như nhung.

Ngày 26 tháng 8 năm 2009.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 06:59:03 am
ĐÓN XUÂN TRÊN ĐẤT LÀO


NGUYỄN THẾ ĐẮC


Một sáng đẹp trời mùa xuân năm Quý Hợi, ngày 11 tháng 2 năm 1983, rừng Mường Sài, tỉnh U Đôm Xay xinh đẹp như nàng tiên vừa bừng tỉnh sau giấc ngủ yên lành, bừng lên đón ánh nắng xuân ấm áp hoà lời ca cùng tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách.


Trong hương rừng thơm ngát ấy, cán bộ, chiến sĩ Mặt trận 379 quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đang tập những động tác thể dục buổi sáng khoẻ khoắn thì đồng chí Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Bùi Huy Bổng thông báo một tin quan trọng: "Hôm nay Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông sẽ đến thăm và làm việc với đơn vị chúng ta..." - Mọi người hò reo, tiếng hò reo vọng vào vách đá ngân vang trong tiết xuân ấm áp. Mọi người nhanh chóng trở về dọn dẹp vệ sinh doanh trại, chuẩn bị đón khách quý. Tôi để ý trong những đồng đội của mình có người còn chuẩn bị bộ quần áo đẹp nhất để mặc trong lễ đón tiếp Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông.


Đây là mùa xuân thứ ba những người lính tình nguyện chúng tôi xa Tổ quốc, quê hương, gia đình đến nước Lào anh em làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Đó là những năm tháng khó khăn gian khổ của nhân dân ba nước Đông Dương vừa trải qua những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, cuộc sống ở quê nhà còn thiếu thốn vất vả. Những người vợ mong chồng, người con mong cha được ở gần. Nhưng một lần nữa, vì tình hữu nghị Việt - Lào thuỷ chung son sắt mà chúng tôi tạm gác lại cảm giác nhớ nhà, nhớ quê hương da diết trong lòng.

...

Mỗi mùa xuân về, cảm giác nhó nhà, nhớ người thân lại được dịp ùa về. Vì vậy, mỗi sự động viên khích lệ của nhân dân nước bạn đều làm chúng tôi cảm động. Tin Hoàng thân - Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đến thăm đơn vị như một làn gió xuân ấm áp đến với những người chiến sĩ tình nguyện chúng tôi.


Bộ Tư lệnh mời các cán bộ chủ chốt các phòng ban họp bàn việc đón tiếp. Tư lệnh Bình Sơn và Phó tư lệnh Bùi Huy Bổng là những vị tướng đã nhiều lần được gặp các đồng chí lãnh đạo của nước bạn nhưng lần nào cũng xúc động bồi hồi. Tư lệnh phân công từng bộ phận chuẩn bị đón tiếp đoàn thật chu đáo.


Đồng chí Tham mưu trưởng đề xuất:

- Theo tôi, Hoàng thân - Chủ tịch đã cao tuổi, lại bận trăm công nghìn việc, thời gian thăm đơn vị chắc không được lâu. Chúng ta nên tổ chức đón tiếp ở hội trường lớn gần cổng và mời Chủ tịch nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ luôn, để Chủ tịch đỡ phải đi lại nhiều sẽ mệt".

Các cán bộ khác nhất trí ngay với ý kiến của đồng chí Tham mưu trưởng, bởi đường đi từ cổng vào đơn vị khá dài, lại phải qua một đoạn suối, leo qua một con dốc đứng.

Đúng 8 giờ, đoàn xe của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông và các vị lãnh đạo Lào xuất hiện trước cổng đơn vị. Đồng chí Tư lệnh mặt trận hô toàn đơn vị đứng nghiêm theo quân lệnh rồi báo cáo Chủ tịch. Chủ tịch nhận lễ, bắt tay thân mật Tư lệnh rồi tươi cười đi đến hàng quân. Bác Xu-pha-nu-vông mặc bộ quần áo màu sáng, rất hài hoà với mái tóc bạc và nước da trắng hồng. Các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam mạnh khoẻ, rắn rỏi trong những bộ quân phục màu xanh lá cây, trang nghiêm, chăm chú nhìn vị lãnh tụ kính mến. Bác đến từng hàng bắt tay các cán bộ, chiến sĩ ra đón. Cả hàng quân ai cũng cảm động khi được nắm lấy bàn tay ấm nóng thân tình của vị Chủ tịch nước.


Đến cửa hội trường, đồng chí Xu-pha-nu-vông dừng lại nói các đồng chí trong Bộ Tư lệnh dẫn đi thăm cơ quan, đơn vị trước. Thật là một tình huống bất ngờ, chưa ai nghĩ tới. Nhưng nhìn ánh mắt vui tươi, hiền từ và dáng vẻ quyết đoán của Chủ tịch, các đồng chí cán bộ biết rằng ý Người đã quyết, nên vui vẻ, líu ríu đi theo như con cháu bên cạnh người cha, người ông kính yêu. Và cũng thật không ngờ, Hoàng thân Chủ tịch còn khoẻ mạnh lắm. Bác đi lên dốc rất nhanh nhẹn. Bác dừng lại nhìn những luống rau xanh tươi tốt dọc hai bên bờ suối. Bác khen bộ đội Việt Nam chăm chỉ, chịu khó. Bác hài lòng khi đến từng nhà thấy anh em chúng tôi ăn ở sạch sẽ gọn gàng.


Bác đến thăm từng phòng, từng nhà. Ở đâu Bác cũng dừng lại thân mật hỏi chuyện cán bộ, chiến sĩ. Các chiến sĩ trẻ mới sang Lào, lần đầu tiên được gặp mặt vị Chủ tịch nước, mới đầu họ còn rụt rè, e ngại, sau thấy Bác giản dị chân tình, cởi mở nên ai cũng thấy lòng mình ấm lại, mạnh dạn nói chuyện với Bác như với người thân của mình.


Tôi cũng xúc động, toàn thân run lên khi được Chủ tịch bắt tay. Bác vỗ nhẹ vào vai tôi hỏi: "Đồng chí quê ở tỉnh nào?". Tôi thưa: "Dạ, cháu quê ở Phú Thọ ạ". Bác cười thân mật: "Thế là quê cháu ở đất Tổ Vua Hùng phải không?". Tôi sung sưóng nghẹn lời: "Dạ thưa Bác. Vâng ạ". Không ngờ Chủ tịch lại hiểu về quê tôi như vậy. Bất giác tôi nghĩ tới quê nhà, chắc giờ này mọi người cũng đang sửa soạn đón Tết. Gia đình, người thân có biết lúc này tôi đang được ở gần vị lãnh đạo cao nhất của đất nước Lào hay không?!


Bác đi một vòng quanh doanh trại, rồi mới cùng đoàn người đi vào hội trường.

Khi đến bàn để nói chuyện, Chủ tịch - Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nhìn tấm ảnh lớn phóng to treo bên phải hội trường, người dừng lại, rút khăn mùi soa. Hình như Bác rất xúc động, chúng tôi cũng ngước nhìn lên tấm ảnh. Đó là cảnh núi rừng Tây Bắc ở Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp, hai vị lãnh tụ của liai nước Việt - Lào đang ngồi bên nhau, cả hai người đều ăn mặc rất giản dị, dáng người mảnh mai. Nhưng nét mặt thì ngời sáng một niềm tin rực cháy. Đó chính là tấm ảnh chụp Bác Hồ và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông.


Có lẽ trong giây phút ấy, kỷ niệm chợt hiện về khiến Chủ tịch Xu-pha-nu-vông xúc động, nhưng rồi Người trấn tĩnh lại ngay. Nét mặt Người tươi vui trở lại. Cả hội trường lặng im nghe từng lời nói thân tình, ấm áp của Bác. Chủ tịch nói không dài. Người như thấu hiểu, cảm thông với tâm tư, tình cảm của chúng tôi trong những ngày xuân phải xa gia đình, xa quê hương, đất nước. Bác nói:

"Vì sự nghiệp cách mạng chung của hai dân tộc, các đồng chí đã sang đây làm nhiệm vụ cao cả. Nhưng các đồng chí luôn nhớ hai dân tộc chúng ta là anh em thân thiết. Hiện nay hai nước chúng ta đã giành lại được độc lập, tự do và đang xây dựng đất nước trong hoà bình. Nhưng các thế lực phản động quốc tế vẫn còn nhiều âm mưu thủ đoạn phá hoại chủ quyền, lãnh thổ hai nước Lào - Việt. Chúng ta phải đoàn kết, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao. Quân tình nguyện Mặt trận 379 hãy sát cánh cùng quân và dân Lào bảo vệ vững chắc cuộc sống bình yên của nhân dân hai nước".


Lời Bác nói gần gũi chân tình, cả hội trường vỗ tay vang dội. Mọi người như được truyền thêm sức mạnh, càng thấm sâu lời nói của Hoàng thân - Chủ tịch: "Tình hữu nghị Việt - Lào cao hơn đỉnh núi, dài hơn dòng sông, rộng hơn biển lớn, đẹp hơn trăng rằm, thơm hơn hương thơm của đoá hoa thơm nhất" và mùa xuân năm ấy được ghi nhớ mãi trong tâm khảm những người lính tình nguyện chúng tôi.

Ngày 28 tháng 8 năm 2009.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 07:00:13 am
ĐÊM BÔN LA


XUÂN DIỆU
(Ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Đình Lĩnh)


Ngày 25 tháng 4 năm 1985, Tiểu đoàn đặc công 31 chúng tôi nhận lệnh vượt Trường Sơn sang làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Lào. Đối tượng tác chiến của tiểu đoàn là bọn phỉ ở Buôn Lộng. Chúng chiếm gần một trăm ki-lô-mét vuông vùng núi cao hiểm trở trên dưới một nghìn mét. Vùng núi này có nhiều hang hốc dài hơn một trăm mét, cấu trúc tự nhiên làm 3 tầng, 5 cửa hệt như một địa đạo. Bọn phỉ đưa lương thực, thực phẩm, nước uống, đạn dược vào những hang này hòng chống cự với ta đến cùng. Phía trên hang, ở những mỏm núi, bọn phỉ xây dựng lô cốt, chất gỗ, đá bao quanh cùng những lớp dây thép gai, cành cây khô dày đặc. Nhiều lớp mìn được chúng chôn, cài xen trong những vật cản đó.


Đầu tháng 5 năm 1985, chiến dịch tấn công giải phóng Buôn Lộng được phát động. Đồng chí U Đòm - Ủy viên Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào, Bí thư Tỉnh ủy Xiêng Khoảng làm Chỉ huy trưởng; đại tá Hồ Dinh Tiếu - Tham mưu trưởng làm Phó chỉ huy trưởng chiến dịch. Lực lượng tham gia tác chiến gồm Tiểu đoàn đặc công 31, Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn bộ binh 335 và Tiểu đoàn 258 bộ đội chủ lực Xiêng Khoảng. Trận đánh mở màn chiến dịch được ấn định vào đêm 12 rạng ngày 13 tháng 5 năm 1985.


Ngày đó, tôi vừa nhập ngũ tròn 6 tháng, chưa huấn luyện xong kỹ chiến thuật đặc công đã cùng đơn vị lên đường. Rừng núi, suối khe, đèo dốc... tôi cũng chỉ mới làm quen trong thời gian huấn luyện, nên sang đất Lào thấy núi rừng trùng điệp, tôi nhìn mà ngơ ngẩn. Nhất là khi nghe quân y và các thủ trưởng kể về bệnh sốt rét. Nghe nói khi bị sốt, người rã rời, cầm cái bát ăn cơm còn không nổi, nói chi đến khẩu súng. Thế là lo. Tất nhiên chỉ là lo thôi chứ không sợ! Tiểu đoàn nhận lệnh vào chiến dịch. Suốt hai ngày 11 và 12 tháng 5 chúng tôi xuyên rừng tiến về Buôn Lộng. Chạng vạng tối, đội hình hành quân của tiểu đoàn vượt qua cánh rừng gần bản Bôn La. Nằm trên vùng núi cao gần một nghìn mét, nên màn đêm chưa ập xuống, cánh rừng đã mịt mờ sương khói, người đi sau chỉ còn thấy loà nhoà cái lưng người đi trước. Đang đi, tự dưng tôi thấy người ớn lạnh, hai thái dương đau buốt, đầu nặng chình chịch. Xung quanh tôi cây cối, sương mù, con đường đảo lộn, quay tròn. Người tôi rét run lên. Tôi lảo đảo khụy xuống. Anh em trong mũi vội vã chạy đến đỡ tôi dậy. Mũi trưởng đặt tay lên trán tôi, thở dài:

- Người ngợm chi mà nóng nảy như ri! Cứ như chạm phải hòn than ấy. Gọi y tá nhanh lên! Cậu này sốt rét mất rồi!

Sốt rét? Cái điều đáng sợ nhất sao lại đến với tôi lúc này, ngay trong trận đánh mở màn chiến dịch, ngay trong trận đánh đầu tiên đời lính của mình? Tôi lẩy bẩy bỏ mấy viên quynin mà cậu Lê Văn Sáu y tá đại đội mới trao cho vào mồm nuốt vội vừa co rúm người lại chống chọi với cái rét. Sáu bấm đèn pin nhìn nhiệt kế, lắc đầu:

- Phải đưa cậu ấy vào bản gần đây gửi lại thôi. Sốt 41 độ rưỡi thế này đi đứng sao được. Không chừng bị ác tính thì nguy to. Đêm ni nổ súng rồi, làm khổ anh em khiêng vác còn sức đâu mà đánh đấm nữa!

- Nhưng Lĩnh là xạ thủ B40. Vắng cậu ấy mũi ta khuyết đi một hoả lực chủ công đấy!

- Đành vậy, chứ biết làm sao!

Sau khi báo cáo với Tiểu đoàn trưởng, tôi được đưa vào bản Bôn La, một trong những bản vùng này có tổ chức Đảng, lực lượng dân quân mạnh, bọn phỉ không dám bén mảng đến khống chế. Nghe có bộ đội Việt bị sốt rét, trưởng bản vội vã ra đón. Ông hết sờ trán lại nắn tay tôi rồi chỉ vào ngôi nhà đầu bản:

- Đưa đồng chí thả hán (bộ đội) Việt này vào. Đó là nhà Bun Hương, cán bộ phụ nữ bản cùng con gái Xao Đi. Nghỉ ngơi một lúc, thả hán Việt khắc khỏi sốt thôi mà!

Tôi được đưa vào nhà, nằm trên tấm chiếu đan bằng lác bên bếp lửa vừa được nhen lên. Vừa nằm xuống, tự dưng cái rét quay trở lại hành hạ tôi. Nó như những dòng nước đá cuộn ra từ lồng ngực, buốt nhói làm tôi phải nghiến răng kèn kẹt, cắn cả vào mép chiếu, run lên bần bật. Bồng bềnh nửa tỉnh, nửa mê, tôi nghe tiếng bà Mun Hương rối rít lúc gần, lúc xa:

- Xao Đi à, đừng nấp như con dán trong buồng nữa. Ra đây rồi đưa hết chăn bông, chăn len, chăn chiên, đắp cho đồng chí bộ đội Việt đi. Đắp cả vào, bộ đội Việt rét lắm đấy! Đưa cả nước ra cho bộ đội Việt uống nữa. Mẹ phải đi họp bên nhà trưởng bản bàn việc đồ xôi, mổ lợn khao bộ đội đây!


Rét quá! Tôi cuộn tròn người lại, đưa hai cùi tay kẹp vào thái dương vẫn thấy đầu mình nhói như kim châm. Tôi gồng người chống lại cơn sốt, cố nén tiếng rên. Đang vật vã, bỗng tôi như thấy có ai ôm lấy mình và một cái gì đó thật mềm, thật ấm áp sát người tôi, ôm chặt lấy tôi. Một thứ hơi ấm cùng mùi thơm lạ lẫm tôi chưa thấy bao giờ. Mệt quá, tôi ngủ thiếp đi trong mùi hương nồng nàn và cái hơi ấm quấn riết lấy mình như thật như mơ ấy!


Khi tỉnh giấc, người nhẹ hẳn, tôi tung đống chăn lồm cồm ngồi dậy. Lúc này tôi mới nhận ra cô gái Xao Đi - tên cô gái tôi nghe bà Bun Hương gọi trong mê - đang ngồi bên tấm chiếu tôi nằm, hai chân gấp về phía sau theo kiểu ngồi nền nếp của con gái Lào, ngoẹo đầu gối lên đôi cánh tay trần khoanh trên chiếc bàn con ngủ ngon lành. Mái tóc đen nhánh của Xao Đi xõa tung phủ kín cả mặt bàn, tràn cả ra sàn nhà. Từng đợt gió từ cánh rừng xa ào đến rít u u qua khe liếp, lạnh tê tái. Tôi rón rén đứng dậy nhẹ nhàng sửa lại chiếc khăn thổ cẩm màu hồng đầy những hoa văn trễ xuống trên vai Xao Đi, rồi cứ ngồi yên nhìn cô ngủ. Khuôn mặt Xao Đi bị mái tóc dày che kín, chỉ còn lộ ra chiếc mũi thanh tú như một nét vẽ. Cặp môi Xao Đi mòng mọng đỏ, chúm chím như đang mỉm cười. Tôi cứ ngồi lặng lẽ, như thể nếu đánh động, người con gái đẹp như một thiên thần trước mắt tôi sẽ tan biến như một giấc mơ!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 07:01:02 am
Có lẽ lâu lắm, tôi không xác định được thời gian, Xao Đi khẽ cựa mình đưa tay dụi mắt. Cô ngẩng đầu lên ngơ ngác nhìn tôi:

- Ui da! Thả hán Việt ngồi dậy được rồi, khoẻ rồi! Ui da! Khi thả hán Việt sốt người nóng chi lạ. Noọng cứ lo lo   là...

Nghe Xao Đi nói thật hiền, chợt nhớ lại vòng tay mềm mại, bộ ngực căng tròn mềm ấm và mùi thơm da thịt con gái kỳ lạ lần đầu trong đời ôm lấy mình khi đang chống chọi với cái rét của cơn sốt, tôi mang máng hiểu ra. Hẳn là Xao Đi đã dùng hơi ấm thân thể con gái của mình để sưởi cho tôi. Tôi bồi hồi nhìn cô. Xao Đi bẽn lẽn quay đi. Như chợt nhớ ra điều gì, cô nhấc chiếc nồi nhôm trên bếp xuống. Mùi cháo trứng gà bốc lên thơm lừng. Xao Đi ngượng nghịu:

- Ai vừa sốt dậy, ăn đi cho nóng, cho khoẻ để còn phải đi đánh bọn phỉ Buôn Lộng nữa. Ải ăn đi! Nhiều giờ rồi đó!

Không đói, nhưng nghe Xao Đi nói tôi xúc động quá, bưng cháo lên húp sì sụp. Thỉnh thoảng ngừng húp, ngước nhìn lên, tôi bắt gặp ánh mắt Xao Đi. cả Xao Đi và tôi đều luống cuống quay đi. Bỗng Xao Đi cười vang:

- Ui da! Chắc là ải chưa có người yêu?

- Ò... ờ... Mà sao Xao Đi biết hay vậy?

- Nhìn ải thì biết! Ngồi trước con gái mà cứ lúng ta lúng túng như con gà trống chân bị quấn rơm. Thế ai mà chẳng biết!

Tôi cười buồn:

- Đời người lính mà Xao Đi! Yêu đương làm gì để người ta phải đợi chờ, phải lo lắng thêm khổ. Với lại hết nghĩa vụ tôi còn phải thi vào đại học nữa mà...!

Xao Đi nhìn tôi, cái nhìn thật lạ:

- Ải nói chi mà lạ! Đợi chờ biết là buồn, là khổ, nhưng đợi chờ cũng có niềm vui, hạnh phúc, hy vọng chớ! Dù chẳng ai mong tình yêu hoá đá, nhưng noọng nghe nói bên Việt Nam có nhiều nhiều đá moong há phúa (Vọng phu) lắm mà!

Chưa kịp trả lời ra sao, nhìn vào đồng hồ, tôi hốt hoảng:

- Hai mươi giờ rưỡi rồi, thế là tôi đã phải nằm lại mấy tiếng đồng hồ. cảm ơn mẹ Bun Hương, cảm ơn Xao Đi nhiều lắm! Nhưng lúc này tôi phải đuổi theo đơn vị cho kịp giờ G! Trận đánh mở màn chiến dịch này tôi không thể không có mặt. Có con đường tắt nào đến Buôn Lộng gần hơn không Xao Đi?

Xao Đi đứng dậy, lặng lẽ nhìn tôi. Tiếng cô hụt hẫng:

- Có đấy ải à! Con đường này nếu nhiều người đi một lúc thì không được, vì đường phải đi gần hai bản Nậm Chắc, Nà Cọi bị bọn Pun không chế. Nhưng chỉ ải với noọng đi thì được, vì hai người lẩn trong rừng dễ hơn. Để rồi noọng dẫn ải đi. Đường vòng thì như cánh cung, ta đi đường tắt thẳng như mũi tên bay, kịp thôi mà!


Chúng tôi xuống cầu thang, hai người chìm vào bóng đêm rừng. Tôi cứ nhìn theo vệt trăng trắng của đôi cánh tay trần và đôi bắp chân trần lấp loá của Xao Đi phía trước, cắm cúi bước. Hơn hai giờ sau, tới một khoảng rừng cháy trụi, Xao Đi chỉ tay vào dãy núi dựng đứng trước mặt. Dưới bầu trời đêm cuồn cuộn sương khói, dãy núi như đang đổ ập xuống đầu chúng tôi:

- Buôn Lộng đó. Noọng biết kỷ luật bộ đội Việt nghiêm lắm, nếu không noọng sẽ dẫn ải tới tận nơi. Ai cứ đi thẳng về phía núi, chỉ còn cách một tiếng hú nữa là đến thôi mà!

Rồi em khẽ khàng cởi chiếc khăn thổ cẩm đang quàng trên cổ mình, nhón chân quàng cho tôi, dịu dàng:

- Ải quàng khăn phá phe (khăn quàng) này vô cho ấm. Ai chưa hết sốt mà. Ai cứ coi đây là vật kỷ niệm của noọng Lào. Biết đâu sau này nó sẽ là của tin để chúng mình tìm được nhau!

Xao Đi chớp chớp mắt. Người em đứng sát ngay trước mặt, gần đến nỗi tôi nghe rõ nhịp tim em dưới vồng ngực căng tròn đập liên hồi. Đôi mắt em ngước nhìn tôi thăm thẳm...

Nhờ Xao Đi dẫn đường tôi đã nhanh chóng tìm được đơn vị. Đúng giờ G - 3 giờ 30 phút rạng sáng hôm đó (13-5-1985), chúng tôi nổ súng tấn công, mở màn chiến dịch Buôn Lộng. Tôi đang ôm khẩu B40 lao lên đúng tầm để diệt một lô cốt địch trước hang đá đang khạc đạn vào mũi chủ yếu của quân ta, bỗng thấy hông mình lạnh buốt. Sờ tay xuống, thì ra một mảnh phóng lựu của địch đã chém vào đó, vết thương rộng hoác. Băng cá nhân bị rơi đâu mất. Chợt nhớ đến chiếc khăn Xao Đi trao đang quàng trên cổ, tôi vội cởi ra quấn mấy vòng quanh bụng, cột chặt lại. Gắng hết sức, tôi quỳ xuống nâng khẩu B40 lên vai nhằm thẳng vào lô cốt địch. Khi chớp lửa quả đạn bùng lên trông rõ cả từng mảng bê tông vỡ toác, tung toé, cũng là lúc mắt tôi hoa lên, tối sầm lại. Tôi ngất lịm đi...


Từ trận đánh mở màn thắng lợi ấy đến khi kết thúc chiến dịch Buôn Lộng, ta tiêu diệt gần 50 tên địch, gọi hàng 200 tên, thu hàng trăm súng các loại; đưa hơn 3.000 dân bị địch khống chế về bản cũ làm ăn. Ta hoàn toàn làm chủ cả khu vực Buôn Lộng rộng lớn, phá vỡ hoàn toàn kế hoạch gây bạo loạn của địch ở Xiêng Khoảng. Chúng ta đã thực hiện đúng quyết tâm của Bộ chỉ huy Liên quân Lào - Việt: "Không bắn nhầm dân. Không bỏ sót địch. Ít đổ xương máu mà giành thắng lợi lớn!".


Tôi trở về Tổ quốc điều trị vết thương ở Viện quân y 4 (Quân khu 4). Một chiều cuối tháng 5 năm 1985, người hộ lý phòng vào thông báo tôi có khách. Tôi ngồi dậy nhìn ra cửa thì, trời ơi, hai người khách vừa bước vào phòng là mẹ Bun Hương và Xao Đi! Mẹ Bun Hương nói với tôi rằng, tỉnh Nghệ Tĩnh mời bà sang thăm Nam Đàn quê hương Bác Hồ, thăm thành phố Vinh; Xao Đi nằng nặc đòi đi cùng, để đến thăm thả hán Lĩnh bị thương. Xao Đi ôm chầm lấy tôi sụt sịt khóc. Nước mắt em ướt đẫm cả áo tôi.


Hai mươi bốn năm qua rồi, từ một chiến sĩ mới toanh lần đầu tiên đi chiến trường, tôi trở thành một tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc công anh hùng. Từ khi ra đời trong những năm đánh Mỹ, đến bây giờ, tiểu đoàn vẫn son sắt thuỷ chung: sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Lào. Riêng với tôi, nước Lào gần lắm, ngay giữa trái tim mình. Nơi có biết bao gương mặt những người bạn Lào yêu dấu; nơi có Xao Đi và ánh mắt em đêm Bôn La ấy... đằm sâu trong ký ức người lính của tôi, không bao giờ phai mờ!

Trại viết Hồ Tây, thu 2009.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 07:03:10 am
NHỮNG ĐỨA TRẺ Ở MA HA XAY


NGUYỄN NGỌC LỢI


Tôi cứ tạm gọi thằng Đon Chăn là thằng Đon, Bun Xay là Bun và thằng Khăm Kệt là Khăm cho dễ nhớ. Ba đứa con trai tuổi chín, mười, đen đúa, tóc tai khét nắng và có điệu cười hồn nhiên phô răng phô lợi rất dễ thương. Tôi quen chúng chỉ hai ngày sau khi tiểu đoàn tôi tập trung về bố trí trận địa quanh cái thị trấn Ma Ha Xay thơ mộng bên dòng Sê Băng Phai xanh trong uốn khúc.


Cũng cần phải nói rằng, hồi đó, sau khi có hiệp định lập lại hoà bình ở Lào thì không khí cực kỳ dễ chịu. Từ chỗ luôn phải cơ động thay đổi vị trí, hết đào công sự đến trực ban chiến đấu, không mấy khi được ngủ tròn giấc thì sau hiệp định đã bay bổng thơ thới thoải mái, thật bõ những ngày luôn căng thẳng và nơm nớp giữa cái sống và cái chết. Chúng tôi, những người lính sau những trận đánh ác liệt với máy bay địch đã cầm chắc phần sống và chỉ chờ ngày trở về. Lúc này, rừng Lào nơi chúng tôi đóng quân cũng đang gây cảm hứng cho những ai có tâm hồn lãng mạn bởi màu lá thay đổi từng ngày. Mới hôm nào những khu rừng quanh lèn Na Cốc, dọc đường 12 và xung quanh thị trấn hẵng còn trơ trụi thì sáng hôm sau, tất cả như bừng sáng. Những cành cây khô khắng tưởng chừng đã chết bỗng vào một thời khắc nào đó đồng loạt nảy chồi. Ban đầu cả khu rừng trông óng ánh như được dát xà cừ thì buổi chiều đã chuyển sang tím nhạt, và mấy hôm sau... màu xanh đã vỡ òa. Núi rừng lúc này đã choàng lên mình cái áo mới tinh khôi lộng lẫy đến choáng ngợp. Trong không khí thanh bình đột ngột đến ngỡ ngàng, màu xanh non tơ mỡ màng dễ đưa con người tới những khát vọng, dù khát vọng còn thăm thẳm, mơ hồ nhưng cũng khiến chúng tôi, những thằng con trai vừa qua tuổi đôi mươi trở nên mơ mộng. Thiên nhiên thật kỳ diệu. Thiên nhiên có thể đem lại cho con người sự thanh thản. Có một điều gì đó trong sâu thẳm tâm hồn khiến người ta có những phút giây bay bổng để không hiểu sao tôi cứ muốn được một mình dạo đi trong những khu rừng mới hồi sinh như thế.


Chẳng còn máy bay địch. Dù là trinh sát hay ném bom... đều mất tăm mất dạng. Thị trấn Ma Ha Xay như một thiếu nữ mơ màng bởi những biệt thự sang trọng và những hàng me, hàng dừa soi bóng duyên dáng xuống dòng Sê Băng Phai xanh trong. Lúc này thì đơn vị chỉ duy trì chế độ trực ban bình thường, ngoài giờ phải ở chỉ huy sở chúng tôi có dịp được nhàn tản thăm thú tìm hiểu. Tôi cứ tiếc sao một cái thị trấn đẹp và thanh bình như thế này lại tan hoang và buồn tẻ đến vậy. Những ngôi chùa đổ nát, những ngôi nhà hai tầng cửa kính cửa chớp bằng gỗ, kiến trúc đẹp, đã vô chủ. Những rặng dừa rủ bóng bên dòng Sê Băng Phai hiền hoà, những hàng me, rặng táo quả rụng vàng mặt đất... Thị trấn khi chúng tôi vào chỉ thấy thấp thoáng bóng dáng đôi ba người... Các đơn vị bố trí trận địa quanh cái bãi trống phía tây, pháo đặt trong những lùm cây thấp. Xung quanh là những vạt ruộng bỏ hoang với những hàng rào dây thép gai được chăng lên để ngăn trâu bò trong mùa mưa...


Hôm đó, một mình tôi lang thang trong khu rừng khộp để tìm phong lan. Trước khi trở về Việt Nam tôi muốn có một chút gì đó để kỷ niệm những tháng ngày chiến đấu trên mảnh đất này. Bao quanh Ma Ha Xay mạn hướng bắc và hướng tây là những khu rừng khộp ngút ngàn. Chẳng có gì phải cảnh giác đề phòng nên tôi vừa đi vừa dán mắt lên những cụm phong lan đuôi chồn, đai châu... đang bám dày trên những cành khộp. Phong lan các loại nhiều đến nỗi tôi phải lựa chọn. Tôi muốn tìm một cụm đai châu thật ưng ý. Trước mặt tôi lúc này là một cây khộp vừa phải, trên chạc ba lủng lẳng một cụm phong lan đai châu sum sê xanh mướt dễ có đến hàng chục ngọn, trông xa cứ như một buồng chuối tiêu mập mạp. Mừng quá, vừa dựng khẩu AK vào gốc cây để chuẩn bị leo lên thì tôi nghe một tiếng gọi giật giọng: E, bọ đạy (Ê, không được). Tôi sững người nhìn ra, ba đứa con trai đen đúa đứng sau mấy ụ mối cách tôi vài chục bước chân. Một thằng đưa tay chỉ lên chỗ cụm phong lan. Nhìn theo tay thằng bé tôi thấy một quả bom bi quả dứa vàng choé đang mắc giữa mấy cành nhỏ gần cụm hoa... Chúng theo tôi từ lúc nào mà xuất hiện như trên trời rơi xuống vậy. Hú hồn, tôi đứng sững bên cây khộp nhìn cụm phong lan tiếc rẻ. Thằng bé đưa tay khoát một vòng ra xung quanh. Đã bập bẹ đôi câu tiếng Lào, không hiếu hết ý nhưng tôi đoán nó nói rằng phong lan có đầy xung quanh, tiếc gì mà tiếc. Nó còn chỉ cho tôi mấy quả bom bi nữa. Bây giờ tôi mới thấy, trên những ụ mối, trong những lùm cây và mắc trên cành những cây khộp còn rất nhiều những bom bi quả dứa chưa nổ...


Tôi quen ba đứa trẻ từ hôm đó. Cả ba đều đen cháy, tóc hơi xoăn. Thằng Đon có lẽ lớn tuổi nhất, nó có cặp mắt nâu khá lanh lợi. Thằng Bun có cái miệng hếch, thằng Khăm có cái mũi cao và cái miệng rất duyên. Hôm đó cả ba đều ở trần, thằng Đon vận cái quần ngang đầu gối bằng vải kẻ, còn thằng Bun và thằng Khăm, cả hai đều quấn phạ xà ling tấm nâu tấm hoa xanh, trông rất ngộ. Tôi cùng ba đứa ra khỏi vạt rừng khộp theo sự dẫn đường của thằng Đon. Đon đi trước với cái dáng vừa ngang tàng vừa thận trọng. Có lẽ cu cậu tự hào rằng vừa làm được một việc có ích nên trông nét mặt có vẻ căng thẳng hơi thái quá. Tôi đi ngay sau thằng Đon, hai đứa kia thủng thẳng bám theo. Vừa đi, thằng Đon vừa chỉ tiếp cho tôi những quả bom bi nằm rải rác lẫn trong những đám lá khộp khô, trong các búi cỏ khô. Sao chúng tôi không để ý đến nhỉ, thật may là hôm trước đi rải dây chúng tôi đã không vướng quả nào.


Chuyện tìm lấy phong lan tôi hãy tạm gác lại. Ra khỏi vạt rừng, men theo mấy bờ ruộng khô dọc hàng rào thép gai, đi tiếp qua mấy lùm me, qua tiếp mấy gốc táo, qua luôn một vạt rừng khộp là về đến chỗ ở của tôi. Chỗ ở lúc này rất đơn giản, mùa khô mà. Muốn nghỉ thì chỉ cần rải ni lông xuống bất cứ chỗ nào cũng thành một chỗ nằm êm ái, mặt đất đã được phủ một lớp lá dày như rải nệm. Tuy vậy, chúng tôi vẫn mắc võng. Nằm võng có cái thú là được đu đưa mà nhìn trời sao, cây lá, tha hồ tán chuyện. Chúng tôi tập trung theo từng nhóm hai ba người, chuyện quê hương và người thân nổ ran như pháo hàng đêm. Lúc này thì cả ba đứa trẻ ríu rít tranh nhau mấy cái võng của chúng tôi dưới bóng cây khộp già. Để thưởng công cho chúng, tôi lục ba lô. Còn hơn nửa hộp sữa bột trong cóc sau, tôi lôi ra và xúc thêm mấy thìa đường đổ vào. Tôi trộn đều số đường sữa rồi trao cho thằng Đon. Thằng Đon đưa hai tay đỡ hộp sữa rồi hỏi:

- Kin đạy bọ? (Ăn được không'?)

- Đạy. (Được).

Cả ba đứa trẻ chăm chú nhìn cái hộp trong tay thằng Đon, rồi trố mắt nhìn tôi. Thằng Bun nói to:

- Ai co hụ khoăm Lào? (Anh cũng biết tiếng Lào à?)

Tôi cười với nó:

- Hụ nọi nọi... (Biết ít).


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 07:04:18 am
Khỏi phải nói bọn trẻ vui như thế nào khi chúng thấy tôi nói được tiếng Lào. Chúng mừng lắm, những khuôn mặt rám nắng sáng bừng, những cặp mắt lanh lợi lóe sáng. Với hộp sữa trong tay, cả ba đứa hoan hỉ ra mặt, chúng chào tôi rồi rồng rắn kéo nhau đi. Nhà của chúng ngay chỗ cụm dừa la đà cạnh bờ sông mà trước đó thằng Đon đã chỉ cho tôi. Chờ một lúc thì anh Thốc từ chỉ huy sở trở về, tôi bảo với anh mình phải vào thị trấn có việc. Tôi phải vào để xem bọn trẻ ra sao. Tuy mới gặp chúng một lúc mà lòng tôi đã ngập tràn thương mến. Trẻ con ở đâu cũng đều dễ thương, con người dù xa lạ nhưng vẫn tìm được ngôn ngữ chung bởi tình yêu thương.


Bọn trẻ đi rất nhanh, vừa thấy chúng lấp ló sau mấy cây me cổ thụ giữa đồng, một chốc đã mất hút sau nhưng gốc táo bên kia cánh đồng. Lúc tôi vào thì cả ba đứa đã xếp bằng trên sàn nhà. Chẳng biết đây là nhà đứa nào. Người lớn đi vắng, chỉ có tiếng bọn trẻ tranh nhau nói. Hộp sữa được chúng đặt ở giữa, chúng chuyền tay nhau cái thìa rồi xúc ăn. Vừa ăn chúng vừa nhồm nhoàm:

- Chẹp lái, tha hán Việt Nam chốp lái, chốp lái... (Ngon lắm, bộ đội Việt Nam tốt lắm, tốt lắm).

Tôi vừa nhô lên đầu cầu thang, cả ba đứa đã vụt đứng dậy rồi tranh nhau kéo tôi ngồi xuống. Chúng hỏi tên tôi, rồi thằng Đon lần lượt giới thiệu từng đứa. Hôm đó tôi ngồi với lũ trẻ hơn một tiếng đồng hồ, mãi lúc mặt trời ố vàng cuối rừng mới ra về.


Tôi và bọn trẻ như không còn khoảng cách, chúng quấn lấy tôi hằng ngày. Hễ thấy bóng tôi mang ba lô từ chỉ huy sở trở về là y như rằng chúng kéo đến. Chúng như bám sát tôi từng giờ. Đến với tôi hôm nào chúng cũng có một thứ gì đó, một ít me ngọt, một túi táo chua, có hôm chúng còn mang đến một túm dừa ba bốn quả. Chúng sướng lắm khi thấy tôi biết nói đôi câu tiếng Lào. Thằng Đon có lần nói:

- Ai Lợi khư khôn Lào, khoăm Việt cọ hụ khoăm Lào cọ hụ (Anh Lợi giống người Lào, tiếng Việt cũng biết tiếng Lào cũng biết).

Hôm đó, khi cả ba đã ngồi xếp bằng quanh tôi thì thằng Đon yêu cầu tôi dạy tiếng Việt cho chúng. Tất nhiên điều yêu cầu được nó nói bằng tiếng Lào rất dài nên tôi không hiểu. Thằng Đon lúng túng một lúc rồi hai mắt sáng lên. Nó lấy tay chỉ lên đầu, miệng nói:

- Ải Lợi, khoăm Việt? (Anh Lợi, tiếng Việt?)

Thằng bé thật là thông minh, giờ thì tôi hiểu. Tôi nói ngay:

- Đầu.

Cả ba lắp bắp nói theo.

- Đầu, đầu...

- Ai Lợi, khoăm Việt?

Giờ thì đến lượt thằng Bun. Nó đang hỏi tôi cái tay... Thế là cả ba đứa thi nhau hỏi tôi nào bụng, nào mắt, nào tai, nào mồm...

Phải nói rằng lũ trẻ rất sáng dạ...

Có lẽ chỉ nửa tháng sau thôi, chừng đó thôi, bọn trẻ đã giao tiếp được với tôi bằng tiếng Việt, tất nhiên chỉ những điều tôi dạy chúng. Ví dụ như là ăn cơm, ăn cá, đi tắm, đi chơi, bố mẹ... Những câu nói thông thường trong sinh hoạt và giao tiếp hàng ngày.

Một hôm thằng Đon làm tôi kinh ngạc. Nó hỏi rằng:

- Anh Lợi thấy con gái Lào có đẹp không, anh có muốn lấy con gái Lào làm vợ không?

Tôi hỏi rằng:

- Ai dạy em nói thế?

Nó không trả lời mà cười tủm tỉm. Tôi bảo với chúng rằng:

- Con gái Lào rất đẹp, nhưng bộ đội Việt Nam không được phép.

Thằng Đon ra chừng không hiểu, lúc sau nó ngẩng lên bảo với tôi bằng tiếng Lào:

- Con gái Lào thích anh đấy...

Hơn tháng sau thì thị trấn có vẻ đông người lên dần. Tôi chẳng biết họ từ đâu về. Chiều chiều, dưới bóng me, bóng dừa đã dập dìu bóng các cô gái. Họ trố mắt mỗi lần thấy lũ trẻ rồng rắn bám theo tôi. Nhiều hôm, chúng ra tận nơi ở kéo bằng được tôi xuống bến sông. Có lẽ không có gì thoải mái bằng sau mấy phiên đeo cáp trực ban, được ngâm mình trong dòng nước xanh trong của sông Sê Băng Phai hiền hoà thơ mộng.


Tôi xin nói đôi chút về dòng sông. Sông Sê Băng Phai chẳng biết bắt nguồn từ nơi nào trên dãy Trường Sơn, trước khi về qua đây nó phải len mình qua những lèn đá mọc dày như những bức tường thành ở phía đông. Trước khi xuôi về hướng tây nam, dòng nước đã ghé sát vào thị trấn tạo nên cảnh thơ mộng và rất thanh bình. Mùa khô, dòng sông thu hẹp lòng chảy êm đềm tĩnh lặng. Bến tắm của tôi và lũ trẻ ở chếch phía trên thị trấn một quãng. Đó là một bãi sông thoai thoải có bãi cát trắng phau. Phía dưới là chỗ tắm của dân thị trấn.


Các cô gái tắm phía dưới, váy quấn dần lên, họ cũng thong thả lội dần ra chỗ sâu. Tiếng cười nói rộn rã vang trên mặt nước... Thằng Đon rất hóm, nó cứ theo dõi tôi rồi bảo:

- Phải lên phía trên cho sạch.

Tôi và lũ trẻ vẫy vùng thoả thích trong dòng nước mát rượi. Cả ba đứa túm lấy tôi hò reo xô đẩy. Thằng Bun bé nhất, có lúc nhìn nó sặc nước ho lên sặc sụa mà thấy lo lo. Thấy vậy thằng Đon cười cười rồi ghé tai tôi thì thầm:

- Thằng Bun có chị rất đẹp, anh có thích không?

Tôi bảo:

- Chưa được gặp thì sao mà thích được.

Thằng Đon ngoảnh ra, mặt đầy vẻ đăm chiêu.

Phải công nhận rằng con gái Lào ở đây có những cô rất đẹp. Nghe thằng Đon nói tôi bỗng dưng nhớ tới cô gái mà tôi đã gặp. Hôm đó cũng là buổi tôi dạo một mình vào thị trấn. Trong ngôi nhà sàn thấp, ở đầu đường có một lớp học bổ túc, tôi đoán vậy. Giáo viên là một thanh niên rất trẻ. Và học trò chủ yếu là con gái, toàn cỡ tuổi mười lăm mười sáu tròn trịa chắc nịch trong những bộ váy hoa và áo sơ mi trắng. Đứng theo dõi một lúc, tôi thấy thầy trò họ đang loay hoay với một bài toán khó. Buổi học kết thúc rồi mà bài toán vẫn chưa giải xong. Không hiểu sao lúc đó tôi bốc đồng đến thế. Đứng dưới cầu thang, chờ cho người giáo viên bước ngang qua, tôi vẫy tay. Anh ta bước lại gần. Tôi xin viên phấn vạch vạch lên tấm ván cầu thang. Anh chàng giáo viên chăm chú theo dõi một lúc rồi ớ ra. Anh ta rất vui khi hiểu ra cách giải. Chợt thoang thoảng mùi hương lạ và thấy buồn buồn sau cổ, tôi quay lại và suýt chạm vào một khuôn mặt con gái. Một khuôn mặt tròn trĩnh trắng hồng với đôi mắt bồ câu long lanh. Cô gái sán lại nghe tôi giảng bài từ lúc nào. Cô nhìn tôi bằng cặp mắt sáng trong đầy vẻ thán phục. Trước lúc bỏ đi cô nhìn tôi nhoẻn một nụ cười hiền lành e ấp khiến tôi bâng khuâng mấy ngày liền.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Ba, 2022, 07:04:59 am
Lớp học chẳng theo một lịch trình nào, tôi cố theo dõi nhưng không sao gặp lại cô bé. Phong cảnh bên kia sông cũng rất hấp dẫn. Trong um tùm cây lá hiện ra một mái chùa cong cong và thấp thoáng bóng những cô gái choàng khăn vàng chéo vai đi đi lại lại. Không gian chiều ngân nga tiếng chuông và tiếng gõ mõ đầy vẻ thanh tịnh. Tôi bỗng hình dung ra cô gái xinh đẹp đã từng đứng sát bên tôi. Hiện tại cô đang ở đâu? Chẳng biết trong những bóng dáng yêu kiều như trong chốn bồng lai kia có cô không? Nghe thằng Đon nói, vô tình tôi lại nhớ khuôn mặt ấy và trở nên hồi hộp.


Mấy ngày sau, tôi chủ động đề nghị bọn trẻ sang bên kia sông chơi. Nửa chiều hôm đó, không biết thằng Đon mượn đâu được một chiếc thuyền độc mộc. Khi chúng tôi xuống đến bờ sông thì chiếc thuyền đã nằm gác mũi trên bãi cát. Thằng Đon giành lấy việc chống thuyền. Chúng tôi xuống thuyền, ngồi thành một hàng dọc, Đon xuống sau cùng, dùng sào đẩy thuyền ra một cách thành thạo. Chiếc thuyền dài và mảnh lướt nhẹ trên mặt nước lúc này đã in đầy bóng núi. Chẳng mấy chốc mũi thuyền đã trượt trên bãi cát bờ bên kia. Cả bốn anh em theo bậc đá leo lên. Buổi chiều cảnh chùa thật tĩnh mịch. Giữa mảnh sân bao bọc bởi những gốc sơn trà sum sê cành lá là ngôi chùa nhỏ và từ phía trong vọng ra tiếng mõ cốc cốc như điểm nhịp. Có lẽ đây là ngôi chùa duy nhất còn sót lại ở vùng này. Đứng ngoài nhìn vào, tôi thấy một vị sư già ngồi xếp bằng, một tay lần tràng hạt một tay gõ mõ. Trước mặt vị sư là một cô gái đang quỳ gối xếp nải chuối lên một cái khay bằng mây. Một không gian trầm mặc và thanh tịnh vô cùng. Đã nhiều lần đi thăm chùa, nhưng chưa lần nào tôi có cảm giác lâng lâng ở chốn cửa thiền như lúc này. Trong khung cảnh đầy vẻ liêu trai thoát tục, lòng tôi bỗng trở nên nhẹ nhõm. Cô gái mà tôi đi tìm không có ở đây. Mà tìm làm gì nhỉ, mọi điều bây giờ đã như là hương hoa, tất cả chỉ là sương khói... Tôi có cảm giác những gì chứng kiến trong buổi chiều hôm ấy chỉ là ảo giác mà thôi... Tôi giục ba đứa quay ra, lững thững dạo một vòng rồi trở xuống thuyền. Chẳng biết nét mặt tôi lúc đó ra sao mà thằng Đon cứ chốc chốc lén nhìn đầy vẻ tinh quái...


Hai hôm sau bọn trẻ đến chỗ tôi rất sớm, nét mặt đầy bí hiểm khiến tôi phải bật cười. Chúng đang giấu tôi điều gì. Lúc đó, mặt trời mới nhô lên vàng rực trên lèn đá và mặt sông thì lấp lánh như dát bạc. Đang là ngày nghỉ, tôi vừa đánh răng rửa mặt xong thì cả ba đứa xuất hiện. Tôi hỏi chúng đi đâu sớm thế thì thằng Đon bảo đến một nơi hay lắm. Thằng Khăm đang định nói điều gì đó, thấy thằng Đon nhìn sang thì im bặt... Bọn này có trò gì thế nhỉ? Tôi quay sang chỉ bát cơm với nhúm ruốc bông mà anh Thốc vừa xuống nhà bếp nhận về cho tôi thì thằng Đon dằng lấy tay giục đi. Tôi tặc lưỡi: Thôi, cứ đi với chúng xem sao. Chúng đi rất nhanh, tôi phải rảo bước mới theo kịp. Vừa chạm đến chân cầu thang một ngôi nhà bên rìa thị trấn, khứu giác tôi đã chạm mùi thực phẩm. Đó như là mùi thịt rán, có lẽ được toả ra từ trên nhà. Mùi thơm hấp dẫn kéo nhanh bước chân chúng tôi. Vào đến gian giữa thì tôi thật sự kinh ngạc. Khoanh giữa một cái đĩa sứ trắng là một con rắn đã được nướng chín vàng màu cánh dán. Hai bên lườn con rắn thịt nở bung trắng như bông. Cạnh đó là một đĩa muối ớt. Đĩa thức ăn hảo hạng đang toả mùi thơm ngào ngạt khiến nước miếng tôi tứa ra đầy miệng, cả ba đứa lúc này cười nói râm ran. Chúng kéo tôi ngồi xuống quanh chiếc mâm với vẻ hể hả không giấu giếm. Thấy tôi tần ngần, thằng Đon hỏi:

- Anh có quen ăn thịt rắn không?

Tôi gật đầu. Nghe vậy Đon nhanh tay cầm con rắn bẻ một khúc trao vào tay tôi. Tiếp đó Đon chia phần cho thằng Bun và thằng Khăm, cả ba đứa vừa ăn vừa nhìn tôi rồi lại nháy mắt với nhau. Bây giờ thì tôi mới hiểu ra trò bí mật của chúng. Miếng thịt rắn vừa mềm vừa ngọt toả mùi thơm nồng khoang miệng, đã lâu lắm rồi tôi mới được ăn một miếng ngon như thế này. Bọn trẻ thật giỏi. Định bụng lát nữa sẽ hỏi chúng bắt được con rắn như thế nào thì tôi nghe tiếng bước chân ở gian trong. Tôi ngước lên nhìn theo phản xạ tự nhiên thì... Một nàng tiên đột ngột hiện ra nơi khuôn cửa. Chao ôi, cái váy ca rô xanh nước biển ôm gọn đôi bắp chân thuôn dài. Khuôn mặt trắng hồng, đôi mắt sáng dưới cặp mày đen nhánh nhìn tôi... Người con gái mà tôi lâu nay tìm kiếm đây rồi! Khuôn mặt kia đã từng như gác trên vai tôi. Mùi hương kia đã từng phả vào mặt tôi... Bây giờ tôi mới phát hiện ra nàng có đôi bàn tay rất đẹp. Hai bàn tay cô gái úp trước ngực trông như một bông sen trắng, miệng nói đủ tôi nghe:

- Xăm bai đi...

Chào tôi xong cô gái quay trở vào, một lúc quay ra, trên tay bê tip xôi, cô cúi thấp người bước tới và đặt xuống...

Ba đứa trẻ đã ngừng nhai từ lúc nào, chúng đang hồi hộp theo dõi phản ứng của tôi bằng những cặp mắt háo hức đầy vẻ tinh quái và nghịch ngợm.

- Chị Bun Xi đấy...

Té ra đây là chị của thằng Bun Xay mà thằng Đon đã nói với tôi dạo trước. Thằng Bun có vẻ xúc động và sung sướng. Ánh mắt sáng long lanh, nó hết nhìn chị rồi lại nhìn sang tôi vẻ chờ đợi.

Tôi lúng túng thật sự vì chưa bao giờ rơi vào tình huống như thế này.

Bun Xi nhìn thẳng, ánh mắt bạo dạn đằm thắm khiến tôi càng lúng túng. Thằng Đon bảo:

- Chị Bun Xi nhắc anh suổt đấy.

Bun Xi không lấy đó làm ngượng mà lại nhoẻn miệng cười xác nhận. Hai bắp chân trắng hồng xếp nghiêng nghiêng, Bun Xi ngồi cạnh thằng Bun đổỉ diện tôi... Một không gian nồng ấm tình cảm khiến tôi như kẻ say. Chỉ cần nhìn Bun Xi, chỉ cần nhìn lũ trẻ lúc này là đã mãn nguyện, lại có thức ăn ngon, có xôi dẻo... Làm sao mà tôi có một buổi sáng hạnh phúc đến thế này. Tôi biết nói gì đây, và ăn uống được gì lúc này nữa. Đỡ nắm xôi nhỏ Bun Xi trao, tôi ăn nhỏn nhẻn... Không khí và cả thời gian như ngưng đọng. Mặc cho tôi và Bun Xi ngượng ngập ăn lấy lệ thì bọn trẻ lại ăn rào rào, vừa ăn vừa cười nói vui vẻ cứ như chúng đã lập được một chiến công. Nhìn sự vui sướng của lũ trẻ, lòng tôi nhói lên một nỗi buồn. Bun Xi đấy, phải chăng ông trời muốn thử thách đọa đày tôi mà mang Bun Xi ban tặng nhưng tôi đâu được phép yêu em...


Không thể cho bọn trẻ biết việc tôi sắp phải lên dường về nước, tôi không thể dập tắt niềm vui của chúng trong lúc này. Càng cố gắng giấu lũ trẻ tôi càng thấy bứt rứt không yên. Để chuẩn bị cho việc trở về nên tôi bận túi bụi, mấy lần bọn trẻ đến tôi đành xua tay. Chúng tiu nghỉu trở ra, vừa đi vừa quay lại nhìn tôi ra chừng trách móc giận hờn...


Hôm ấy, khi mặt trời mới hưng hửng đằng đông thì xe pháo chúng tôi đã xếp một hàng dài trên đoạn đường dẫn vào thị trấn. Điều bất ngờ là một lúc sau, dân thị trấn đã kéo nhau ra, đàn ông, đàn bà và rất đông trẻ con, tất cả tự động xếp hai dãy dọc hai bên đường... Một tình huống mà ngay cả ban chỉ huy cũng không lường trước được. Tôi đưa mắt tìm chẳng thấy ba đứa trẻ của tôi đâu, cả Bun Xi cũng không thấy mặt. Tiểu đoàn trưởng đi dọc hai dãy người, anh chắp tay cúi chào những người đưa tiễn xong rồi ra lệnh cho đoàn xe nổ máy. Tôi hốt hoảng thật sự. Chiếc xe đi đầu đã chuyển bánh, rồi chiếc thứ hai, chiếc thứ ba... Không thể kiên nhẫn được nữa bởi tiếng gọi của mọi người trên xe, tôi vội vàng trèo lên thùng chiếc Zil130. Ngay lúc đó tôi nghe tiếng gọi hốt hoảng:

- Anh Lợi...

Thằng Đon chạy đầu, tiếp đến là Bun Xi rồi thằng Bun và thằng Khăm. Đon oằn lưng vì một cụm lan đai châu trùm kín lưng. Khi mà cụm phong lan đã nằm trọn trên thùng thì chiếc xe đã rồ ga lao đi. Trong làn bụi vừa cuộn lên sau xe tôi còn kịp thấy ánh mắt cháy bỏng của lũ trẻ. Và cả Bun Xi nữa, ánh mắt em như là một tiếng gọi thảng thốt.

Tháng 8 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:22:25 am
ĐƯA CÁC LỰC LƯỢNG PA-THÉT LÀO VÀO HÒA HỢP DÂN TỘC


HÀ MINH TÂN


Tháng 10 năm 1957, Hiệp nghị Viêng Chăn được ký kết. Phái Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc thỏa thuận thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc, có đại biểu Mặt trận yêu nước Lào tham gia và đưa một bộ phận quân đội Pa-thét Lào vào sáp nhập với quân đội Vương quốc, còn đại bộ phận phục viên về địa phương.


Quân ủy Trung ương và Bộ Chỉ huy tối cao Lào đề nghị Đoàn cố vấn quân sự 100 tập trung giúp bạn thực hiện kế hoạch đưa các lực lượng vũ trang Lào vào hòa hợp dân tộc. Để giúp bạn thực hiện tốt các chủ trương kế hoạch trên, công tác giáo dục tư tưởng được coi là khâu quan trọng hàng đầu và Đoàn cố vấn quân sự đã giao cho tổ cố vấn tuyên huấn do tôi phụ trách khẩn trương chuẩn bị nội dung các tài liệu giáo dục cần thiết để giúp bạn tiến hành. Đây là một nội dung rất phong phú và mới mẻ đối với cả bạn và ta mà yêu cầu thời gian lại quá gấp, mọi việc phải làm xong trước tháng 12 năm 1957, để có thể bắt tay thực hiện chương trình giáo dục và sắp xếp tổ chức các lực lượng vào hòa hợp.


Tôi và đồng chí Xuân Lan - Trợ lý cố vấn tuyên huấn họp bàn sơ bộ, phác thảo kế hoạch tuyên truyền giáo dục rồi sang gặp đồng chí Khun-chăn-đang - Cục trưởng Tuyên huấn của bạn để tìm hiểu thêm tình hình tư tưởng của bộ đội và dự kiến nội dung tuyên truyền giáo dục cụ thể đối với các lực lượng vào hòa hợp.


Đồng chí Khun-chăn-đeng cho biết: Cục Tuyên huấn đã nhận được chỉ thị của Bộ Chỉ huy tối cao về vấn đề này, nhưng đang băn khoăn lo lắng chưa biết làm thê nào để đạt được kết quả.

Gặp chúng tôi, đồng chí Khun-chăn-đeng rất mừng, qua trao đổi đồng chí đề nghị:

Những nội dung tuyên truyền giáo dục có tính phổ cập như ý nghĩa thắng lợi và nội dung các điều khoản của Hiệp định Viêng Chăn; chính sách đoàn kết dân tộc và mối quan hệ với quần chúng nhân dân khi về các địa phương..., các đồng chí cố vấn góp ý kiến để bạn tự làm. Đặc biệt, những vấn đề' về đường lối chủ trương hòa hợp dân tộc và lập trường quan điểm đấu tranh của Đảng nhân dân và Mặt trận yêu nước Lào; trách nhiệm chính trị và yêu cầu nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ quân đội Pa-thét Lào trong bước ngoặt lịch sử của cách mạng Lào là những vấn đề cơ bản, bức thiết phải được giáo dục quán triệt thật sâu sắc, nhưng lại là những vấn đề rất phong phú và súc tích mà Lào chưa có đủ năng lực và tư liệu để có thể tự biên soạn. Đề nghị các đồng chí cố vấn Việt Nam hết sức giúp đỡ để có tài liệu giáo dục kịp thời.


Sau lần gặp giữa chúng tôi và đồng chí Khun-chăn-đeng, trở về cơ quan, tôi báo cáo xin ý kiến đồng chí Đoàn trưởng Chu Huy Mân và đồng chí cố vấn chính trị Lê Tiến Phục, được các đồng chí góp thêm một số ý kiến quý báu về nội dung và kế hoạch thực hiện. Tiếp đó, tôi bàn cụ thể với đồng chí Xuân Lan và phân công đồng chí Xuân Lan giải quyết những công việc giúp bạn hàng ngày, còn tôi dành phần lớn thời gian để nghiên cứu biên soạn gấp các tài liệu cần thiết theo yêu cầu của bạn.


Đêm đêm, trong cảnh núi rừng tĩnh mịch, thỉnh thoảng từng cơn gió lạnh ùa vào... một mình bên ngọn đèn khuya, tôi kéo vội tấm chăn phủ kín vai, đọc lại tất cả các nghị quyết của Đảng bạn, Đảng ta và các biên bản hội đàm giữa hai Bộ Chính trị Trung ương Đảng để nắm vững thêm những vấn đề cơ bản về đường lối chính sách của cách mạng Lào. Đọc lâu mỏi mắt, buồn ngủ, tôi đứng lên pha một ấm trà đặc, nhấm nháp từng ngụm cho tỉnh táo rồi tiếp tục nghiên cứu. Từng ý, từng lời rất cô đọng, sâu sắc của các văn kiện tôi thu nhập được kết hợp với những kinh nghiệm về công tác giáo dục tư tưởng thời gian công tác ở Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị quân đội ta và những năm làm cố vấn tuyên huấn giúp bạn, tôi cố chọn lọc, sắp xếp các tư liệu, dàn dựng đề cương chi tiết về nội dung giáo dục cho các lực lượng vũ trang của bạn với chủ đề "Đường lõi hòa bình trung lập hòa hợp dân tộc và trách nhiệm nặng nề của chúng ta". Tôi đem bản đề cương trao đổi với một số đồng chí cố vấn trong cơ quan chính trị và tranh thủ sang làm việc thêm với đồng chí Cục trưởng Khun-chăn-đeng. Các đồng chí khen tốt và góp thêm một số ý kiến. Được nhiều đồng chí nhất trí với bản đề cương, tôi dành toàn bộ thời gian, công sức không kể ngày đêm tập trung biên soạn tập tài liệu chính thức gồm ba phần với nội dung chủ yếu là: Khái quát những điểm chính về quá trình đấu tranh và những thắng lợi đã giành được của cách mạng Lào trong những năm qua; chỉ rõ sự khác nhau cơ bản về bản chất và lập trường chính trị của đối phương với bản chất, lập trường chính trị và mục tiêu chiến đấu của Đảng, quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào; dự báo những tình huống thuận lợi và khó khăn sẽ phát sinh trong quá trình đấu tranh để thực hiện chủ trương hòa hợp dân tộc với đối phương. Trên cơ sở đó, xác định lập trường tư tưởng vững vàng kiên định và bình tĩnh, sáng suốt để xử trí đúng đắn mọi tình huống xảy ra; luôn tin tưởng vào sức mình và sức mạnh của nhân dân, xây dựng mối quan hệ máu thịt bền vững với nhân dân các bộ tộc Lào để tạo sức mạnh vượt mọi khó khăn đi đến thắng lợi.


Để tìm được một hình tượng mô tả vẽ vinh dự và trách nhiệm của người cán bộ, chiến sĩ Pa-thét Lào trong cuộc đấu tranh hiện nay, tôi cố suy ngẫm những hình tượng cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng nói chung, nêu lên một ý tưởng: "... Mỗi cán bộ, chiến sĩ Pa-thét Lào dù ở cương vị nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào đều phải là "những hạt giống đỏ" đi gieo mầm cách mạng phát triển gấp 10, gấp 100 lần...".


Cũng như những lần trước, đồng chí Kay-xỏn Phôm-vi-hản thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào đã tỏ ý rất hài lòng với nội dung các tài liệu giáo dục ta đã biên soạn giúp bạn. Đồng chí Khun-chăn-đeng cho biên dịch thành văn bản của Lào, kết hợp với các tài liệu khác thành một giáo trình giáo dục hoàn chỉnh và hướng dẫn chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện.


Việc sắp xếp tổ chức các lực lượng vào hòa hợp, trên cơ sở giáo dục thông suốt tình hình nhiệm vụ, Đoàn Cố vấn quân sự đã giúp bạn chọn 1.500 cán bộ, chiến sĩ ưu tú, trong đó có hơn 150 đảng viên tổ chức thành hai tiểu đoàn mạnh lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đưa vào hòa hợp với quân đội Vương quốc. Còn đại bộ phận trong đó có hơn 700 đảng viên phục viên về các địa phương.


Qua hơn nửa tháng tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục cho các cơ quan, đơn vị kết hợp với các cuộc sinh hoạt học tập trong nội bộ Đảng, tuy cán bộ, chiến sĩ bạn còn những băn khoăn lo lắng về sự phản trắc của đối phương và cuộc sống còn khó khăn của nhân dân vùng địch kiểm soát; luyến tiếc màu cờ sắc áo của quân đội Pa-thét Lào và lưu luyến với cuộc sống mới đã được xây dựng ở khu căn cứ Trung ương, nhưng được học tập bồi dưỡng, hiểu rõ và tin tưởng vào đường lối chính sách và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Mặt trận yêu nước Lào; tự do, tin tưởng vào truyền thống và thắng lợi đã giành được do chính công sức xương máu của mình. Hầu hết cán bộ, đảng viên và chiến sĩ của bạn đã hoàn toàn nhất trí và có quyết tâm phấn đấu cao để góp phần đưa cách mạng Lào tiếp tục đi lên giành thắng lợi mới.


Cuối tháng 12 năm 1957, sau một thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, các đơn vị của bạn từ hai tỉnh bắt đầu hành quân, di chuyển về các khu vực, các địa phương theo đúng kế hoạch và sự thỏa thuận giữa hai phía Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc.


Tôi và đồng chí Xuân Lan rất phấn khởi tự hào vì đã nỗ lực cố gắng giúp bạn hoàn thành một nhiệm vụ khó khăn nặng nề của Quân ủy và Bộ Chỉ huy tối cao bạn giao cho. Đồng chí Khun-chăn-đeng - Cục trưởng Tuyên huấn của bạn cũng hết sức tin tưởng phấn khởi, chân thành cảm ơn và hoan nghênh chúng tôi trong một thời gian ngắn đã giúp các đồng chí biên soạn một chương trình giáo dục quan trọng với chất lượng cao, được Bộ Chỉ huy tối cao bạn khen ngợi.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:23:24 am
CÒN MÃI PHA THÍ TRONG TÔI


NGÔ TIẾN BAN


Trăng trung tuần trong vắt, ánh sáng dịu mát xuyên qua kẽ lá rơi xuống mặt đất lung linh, nhảy nhót như những bông hoa đang nở muôn hình dạng, thật là đẹp mắt. Vì lo nhiệm vụ nên tôi chẳng có thời giờ mà chiêm ngưỡng cảnh tuyệt vời này.


Tôi đang suy nghĩ về "cái gai Pha Thí" cắm sâu vào tây bắc Sầm Nưa, mà bao bọc xung quanh nó là các bản làng người dân tộc xen kẽ các cụm phỉ là lớp bảo vệ. Rađa TACAN ở Pha Thí là "con mắt thần" điều khiển các loại máy bay Mỹ đi ném bom tọa độ C (bay vòng thả bom) xuống Đông Bắc Lào, Tây Bắc Việt Nam mà vòng kiểm soát của nó đến tận Hà Nội. Nhổ cái gai Pha Thí là nhiệm vụ của chúng tôi trong đợt chiến đấu này.


Qua năm ngày hành quân, hôm nay được "xả hơi" trong khu rừng già không dấu chân người, lần đầu tôi thấy nhiều cây lạ mắt. Cây dâu rừng thân to ba người ôm vững chắc, hiên ngang vút lên cao tới chục mét, lại có cây rất lạ, từ gốc rất to cao lên đến đầu người, giữa phình ra ôm, nâng một tảng đá to bằng ba cái bàn, nặng hàng tấn lên cao vài mét, cành lá sum sê, che cả một khoảng đất rộng, có lẽ nó đã có hàng trăm năm tuổi. Chim rừng ríu rít, gà rừng đập cánh bay rào rào rồi đậu xuống nhìn tôi không sợ hãi. Đã hoạt động ở Bắc Lào vài năm, tôi hiểu biết phần nào về các tộc người sinh sống ở đây nên đã rất quý trọng và tin tưởng ở họ. Cuộc sống của họ gắn chặt với thiên nhiên nên suy nghĩ giản đơn, thật thà như đếm, nói thế nào làm thế đó, ít thay đổi. Người dân ở đây thường dùng cách so sánh để lập luận khi ứng xử, ghét cái ác, ưa làm điều lành. Nhớ lại, có lần sau đợt hành quân năm ngày, chúng tôi nghỉ lại ở khu rừng gần bản để vào mua thực phẩm bổ sung. Khi mua gà để làm ruốc, dân bản đồng ý bán một đồng một con, bắt con nào cũng được từ gà sống thiến, gà mái, gà tơ đến những con "chip chip" chạy theo mẹ. Quen mặc cả, anh em nói:

- Mẹ ơi, con nhỏ phải lấy ít đi...

Bà mẹ trả lời:

- Nó cũng là gà mà, khắc nuôi khắc lớn, sau này nó cũng như nhau mà!

Nhiều chiến sĩ ta bật cười: Đúng là cái lý người Mèo, không cãi vào đâu được.

Chúng tôi mua đủ số gà to, còn mua thêm hai đàn gà con và gửi bà con nuôi giúp, khi nào về sẽ lấy, nếu không thấy về thì bà con cứ dùng. Nghe vậy bà con nhìn nhau, nhìn chúng tôi lưỡng lự nhưng sau cũng nói:

- Tao đồng ý nuôi cho, nhưng bộ đội phải nhớ về lấy, tao không thích lấy của bộ đội đâu.

Mọi người cười vui vẻ, qua việc nhỏ này càng tăng thêm tình thân thiết, gần gũi, tin cậy nhau giữa dân với bộ đội. Nó đã xóa tan sự hoài nghi của các chiến sĩ trẻ lần đầu trực tiếp tiếp xúc với dân nước bạn.

Sau vài ngày hành quân tiếp, chúng tôi được nghỉ trong một khu rừng thưa, những cây to, các tán lá vẫn che kín bầu trời. Mọi người tản ra tìm chỗ nghỉ ngơi theo đội hình chiến đấu phòng ngự. Buông ba lô, hì hục đào hầm hố cá nhân cho thật nhanh. Xong việc, nhiều người mắc võng, tôi kiếm lá khô trải xuống đất làm chiếu. Ngả lưng xuống, nhấm nháp lương khô, tu vài hớp nước trong bi đông, mắt cứng dần lại. Màn đêm đã buông xuống qua tán lá rừng, chỉ thấy đen sì, thấp thoáng trên cao tít vài chấm sáng nhấp nháy, những làn gió nhẹ thoảng qua đưa tôi vào giấc ngủ lúc nào không biết. Đang trong giấc mơ lộn xộn, tôi bỗng giật nảy mình tỉnh giấc vì bị hất lên, rơi xuống, một quang cảnh hãi hùng đang diễn ra. Có một cái gì đó đang vỡ ra, đang tan đi trên mặt đất vùng này. Những tia chớp ngắn sát mặt đất loé liên tiếp xé rách màn đêm thành nhiều mảnh; tiếng nổ đinh tai, nhức óc, tiếng nổ ục ục đất rung động, tiếng oành oành như lựu đạn nổ; đám cháy, cột khói, cột bụi bốc lên sáng cả một khoảng trời. Theo phản xạ tự nhiên, tôi lăn xuống hố, rờ rẫm khắp thân thể thấy mình không bị sao, chỉ bị sức ép nhẹ. Tôi ngồi trong hõ định thần lại, mặc bom nổ, cây gãy, lửa cháy, biết là đã bị bom B52 tọa độ, chỉ còn trông chờ ở may rủi chứ không cách nào thoát khỏi cảnh vô cùng nguy hiểm này. Tự nhủ lòng phải bình tĩnh, chịu đựng ít nhất ba đợt rồi mới có thể yên được. Trời vừa tờ mò sáng, chúng tôi được lệnh nhanh chóng khắc phục hậu quả và di chuyển ngay. Chúng tôi tới vị trí mới kín đáo, bất ngờ để chấn chỉnh lực lượng, bổ sung vật chất và quán triệt lại nhiệm vụ.


Được biết buổi sáng hôm bị B52 oanh tạc, ban đêm đã có một chuyện buồn xảy ra. Té ra bộ phận đi trinh sát tìm nơi đặt đài chỉ huy bị phỉ phục kích bằng mìn định hướng. Hai đồng chí hy sinh, trong đó có đồng chí Nghệ cán bộ tác chiến. Đó là một cán bộ trẻ, vừa tốt nghiệp ra trường, mạnh mẽ, nhanh nhẹn, hăng hái, lạc quan. Vì có tác phong chính quy nên Nghệ làm việc gì cũng cẩn thận, ghi chép, vẽ bản đồ rất bài bản. Khi lấy thi hài Nghệ về, mọi người thương tiếc vô hạn, tập trung tổ chức viếng và chôn cất chu đáo theo đúng chính sách tử sĩ tại chiến trường. Khoảng 9 giờ sáng, một chiếc trực thăng tới, lượn vài vòng rồi đậu xuống một điểm, không tắt máy rồi lại bay đi ngay. Không ai chú ý đến các sự việc đó. Cũng chính tối hôm đó tôi nhận nhiệm vụ trực ban tác chiến. Giữa đêm, được điện trên hỏi xuống:

- Đồng chí Nghệ có mất gì không?

Tôi giật mình, gọi ngay điện thoại hỏi bộ phận đi lấy tử sĩ để trả lời và nhận được báo cáo:

- Khi đến nơi chỉ còn hai thi hài, túi quần áo bị lục tung, ngoài ra không còn gì.

Chưa kịp trả lời trên thì bom tọa độ đã xảy ra. "Thôi chết rồi!", tôi buột miệng và nghĩ có lẽ địch đã lấy được phương án, kế hoạch tác chiến và tài liệu mà đồng chí Nghệ mang theo. Đúng là sau khi mìn nổ, bọn phỉ đã xông ra lật xác, lục lọi cướp đi hai khẩu súng và túi tài liệu của đồng chí Nghệ. Được chiến lợi phẩm, chúng báo cho máy bay đến lấy đưa ngay về Viêng Chăn, vì vậy mới có trận bom B52 như đã xảy ra. Mọi nghi ngờ về việc tại sao địch lại đánh trúng toàn bộ đội hình của ta đã được làm rõ. Ai nấy đều kiểm tra lại mọi thứ giấy tờ, tài liệu mang theo có liên quan đến nhiệm vụ, đơn vị đều bị đốt hết, chỉ còn bản đồ trắng - mọi điều phải nhớ trong óc.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:24:02 am
Do bị lộ và tổn thất lớn, trận đánh phải chậm lại 15 ngày để chấn chỉnh đội hình, bổ sung lực lượng cả về vật chất và con người. Đồng thời bàn tìm phương án tác chiến mới nhằm thực hiện bằng được quyết tâm xóa sổ Pha Thí. Trong thời gian chuẩn bị phương án mới, các lực lượng trinh sát vẫn bám địch, tìm thêm hướng mới, bộ phận dân vận tiếp tục bám dân, tìm nòng cốt tin cậy. Theo phương án mới táo bạo, nguy hiểm hơn nhưng nếu khắc phục được khó khăn sẽ chắc thắng nhanh và đỡ tốn xương máu. Theo phương án này, ngoài đặc công và một mũi đánh vào đỉnh Pha Thí, còn thêm một mũi nữa luồn lách qua các bản dân đánh thẳng vào cụm phỉ dưới chân núi, không cho chúng hỗ trợ nhau.


Thật bất ngờ, một buổi chiều bộ phận dân vận đi cùng hai người dân về đơn vị, một già một trẻ. Đó là hai chú cháu Thao Tia, người dân ở một bản sát đồn địch. Người chú nhìn bề ngoài đã già nhưng vẫn nhanh nhẹn, gầy, mặt xương xương, mắt luôn nhìn thẳng, giọng nói hiền từ. Người cháu trẻ hơn nhiều, trắng trẻo, má bầu bầu, mắt sắc, người đậm chắc. Ông chú đã sổng ở vùng này gần sáu mươi năm nên thuộc đường ngang ngõ tắt như lòng bàn tay; người cháu thì hay vào chơi với lính nên biết hết tình hình bên trong của địch. Sau ba ngày ở với bộ đội, chú cháu Thao Tia đã cười nói tự nhiên, ăn uống không cần giữ gìn, vui vẻ kể hết những điều mình biết khi bộ đội hỏi. Có lúc Thao Tia vừa cười vừa nói:

- Đi dễ thôi mà, không sợ đâu, chỉ leo vách đá là khó một tý thôi mà, lính nó không biết được đâu!

Nghe vậy, tôi tỉnh người, háo hức hẳn lên, nghĩ đúng là ở đâu nhân dân cũng có nhiều người tốt, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội vô tư trong sáng như làm một việc bình thường. Tôi tin chắc đơn vị mình sẽ nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ vài ngày nữa "cái gai Pha Thí" sẽ bị nhổ, "con mắt thần Pha Thí" sẽ bị mù. Nhân dân Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam sẽ đỡ khổ hơn. Tôi sung sướng muốn trào nước mắt, thầm kêu lên: "Anh em, đồng chí ơi! Chúng ta có dân rồi! Có cách đánh hay rồi... Chúng ta nhất định thắng".


Suy nghĩ của tôi bị cắt ngang vì có lệnh triệu tập họp. Đây là cuộc họp cuối cùng, sau khi quán triệt nhiệm vụ, thảo luận kế hoạch hiệp đồng, lấy lại đồng hồ cho thống nhất giờ, trước lúc bước vào trận đánh.

Như đã dự kiến, trận đánh diễn ra nhanh gọn, thắng lợi giòn giã, mũi đánh của chúng tôi không có thương vong. Ngay trong đêm, đơn vị rời khỏi khu vực tác chiến, chỉ còn lại mấy đồng chí dân vận cùng bạn tiếp tục công việc tuyên truyền thắng lợi và xây dựng cơ sở. Được nghỉ một ngày để lại sức và rút kinh nghiệm bước đầu, tranh thủ thời gian, tôi rủ vài đồng chí cắt đường về thăm lại địa điểm chôn cất anh em ta lúc trước để thắp nén hương viếng đồng đội trước khi về nước.


Vượt qua con núi, nhìn xuống bìa rừng, trước mắt tôi lù một quang cảnh hoang tàn, mặt đất trơ trụi, không còn một thân cây nào nguyên lành. Các hố bom sâu hoắm, chi chít, đỏ quạch, nhiều mảnh ni lông (túi gói tử sĩ) tung toé khắp nơi, vài mẩu xương không định dạng được vương vãi, lẫn trong đám đất bụi mỗi nơi một ít. Mắt tôi hoa lên, thấm ướt nỗi nghẹn ngào, uất ức. Nơi an nghỉ cuối cùng của đồng đội mình cũng đã bị cày xới tan nát. Đây là cái chết thứ hai của các đồng chí. Tôi thì thầm khấn hương hồn các anh: "Xin vĩnh biệt các anh, mong hương hồn các anh chứng giám tấm lòng thương tiếc, kính trọng tấm gương hy sinh anh dũng của các anh. Chúng tôi xin hứa sẽ cố gắng hết sức mình làm nốt việc các anh để lại và góp sức vào việc ghi nhận đúng những gì các anh đã cống hiến để gia đình, vợ con các anh được tự hào chính đáng".


Tổng kết trận đánh, chúng tôi đề nghị xem lại vấn đề kỷ luật đồng chí Nghệ. Không ghìm được xúc động, tôi nói tuột ý nghĩ của mình:

- Đề nghị trên quyết định lại, chỉ nên hạ một cấp là nặng rồi. Đồng chí Nghệ là một đảng viên gương mẫu, một liệt sỹ hy sinh oanh liệt cho nền độc lập tự do và tình đoàn kết đặc biệt của hai dân tộc, hai Tổ quốc Việt Nam và Lào...

Giọng tôi run run, mắt nhìn mọi người như cầu khẩn, như tìm kiếm sự đồng lòng để nguyện vọng của mình được chấp nhận.

Năm 1976, khi hòa bình lập lại, chúng tôi về thăm gia đình đồng chí Nghệ. Chị Nghệ đã đứng tuổi, sắp nghỉ hưu, đứa con gái bé bỏng xinh đẹp ngày nào của đồng chí Nghệ đã học cấp hai. Nhìn lên bàn thờ, chúng tôi chăm chú ngắm bức ảnh đồng chí Nghệ vai mang cấp hiệu thượng úy chụp lúc ra trường, mặt tươi trẻ lạ lùng. Thắp nén hương, chúng tôi thầm khấn: "Cầu mong hương hồn anh siêu thoát, luôn phù hộ cho gia đình và chúng tôi mạnh khỏe, hạnh phúc".


Chị Nghệ nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào nói:

- Em xin gửi lời cảm ơn Quân khu, cảm ơn các anh đã nhớ tới chúng em. Địa phương, cơ quan em đã làm lễ truy tặng liệt sỹ cho đảng viên Huỳnh Văn Nghệ anh dũng hy sinh tại chiến trường C.

Bước chân ra về, lòng chúng tôi thanh thản, không muôn gợi lại nỗi buồn của chị Nghệ, một lần nữa chúng tôi chúc chị mạnh khỏe, cháu ngoan, học giỏi. Ra khỏi cửa, trong đầu tôi hiện lên hình ảnh anh Nghệ năng nổ, mặt xạm đen, hốc hác đang lúi húi chấm vẽ lên tấm bản đồ và đang đi xa dần về hướng có đỉnh núi Pha Thí mờ mờ ảo ảo.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Ba, 2022, 08:24:55 am
MÙA KHÔ NĂM ẤY


TRẦN HUY TUẤN


Đầu mùa khô 1965-1966, trên tuyến phòng ngự Phu Kút của ta ở Cánh Đồng Chum, quân Koong-le đã tổ chức ba lần tấn công hòng chọc thủng tuyến phòng ngự này. Koong-le đã dùng một lực lượng tới 5 tiểu đoàn bộ binh, được sự chi viện của máy bay Mỹ, pháo binh quân chư hầu Mỹ ở Bản Khai mở nhiều đợt tấn công lên Phu Kút, song đều bị Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào phòng ngự trên đó đánh bại. Cay cú vì không đánh chiếm được Phu Kút, địch thường xuyên dùng máy bay và các trận địa pháo lấy Phu Kút là cái bia để cho pháo binh bắn tập hàng ngày. Trước tinh thần chiến đấu dũng cảm, chịu đựng kiên cường với công sự hầm hào vững chắc, anh em trong Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào đã đánh trả địch bất cứ lúc nào trong suốt 5 năm trời. Do vậy, mỏm đồi Phu Kút đã đi vào lịch sử của lực lượng vũ trang cách mạng Lào với cái tên "Phu Kút - Núi Thép Anh Hùng".


Ngày đó, tôi là chuyên gia trinh sát của Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, được phân công theo dõi tình hình địch, diễn biến trên toàn mặt trận. Đặc biệt thường xuyên phải nắm thông báo của Bộ Quốc phòng ta những tin tức hoạt động của địch hàng ngày. Tuy địch đã thất bại trên hướng Phu Kút, song tổng hợp tình hình địch trên mặt trận Xiêng Khoảng, Quân khu dự đoán chúng chưa từ bỏ đánh chiếm Cánh Đồng Chum. Có thể địch còn chờ đợi sự phối hợp của quân phỉ Vàng Pao và Binh đoàn 13 (GM13) quân phái hữu đang có mặt ở hướng đông nam Xiêng Khoảng đánh lên. Quân khu dự đoán thế, song không phải chờ đợi đến tháng 10, tin từ Hà Nội cho biết: "Binh đoàn 13 đã hành quân lên hướng Phu Xao. Cánh Đồng Chum phải đề phòng". Nhận được bức điện này, lập tức tôi báo ngay cho đồng chí Bình Sơn - Đoàn trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo Quân khu bạn đang có mặt tại sở chỉ huy.


Đêm đã về khuya, sương cao nguyên xuống dày đặc, cái giá rét thấm buốt da thịt. Không khí trong Sở chỉ huy nóng hẳn lên, ai vào việc đó, khẩn trương một cách chính xác. Sau cuộc hội ý giữa chuyên gia ta và lãnh đạo Quân khu phân tích, cân nhắc tình hình ta - địch cụ thể trên hướng mặt trận đông nam Xiêng Khoảng. Sự thống nhất ý kiến giữa chuyên gia và lãnh đạo Quân khu bạn đi đến quyết tâm nhanh chóng đưa Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào vào trận. Điện ngay cho đồng chí Chum Ma Ly - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu đã từng có nhiều thành tích chiến đấu trong cuộc phá vòng vây tại Cánh Đồng Chum năm 1959.


Theo chỉ đạo của Quân khu, Tiểu đoàn 2 phải chỉnh đốn lại trận địa Phu Phắc Pheo, sẵn sàng chiến đấu đánh GM13, bảo vệ khu vực Mường Phàn. Lúc này bọn phỉ Vàng Pao quân khu 2 cũng động binh đánh chiếm Tà Khẹt, chúng đã bị lực lượng du kích chặn đánh. Tin diện các nơi báo cáo tình hình hướng đông nam Xiêng Khoảng sôi động hẳn lên. Tôi và tổ điện đài luôn luôn túc trực không kể ngày đêm, theo dõi mọi diễn biến chiến sự, kịp thời báo cáo cho Đoàn trưởng chuyên gia và lãnh đạo Quân khu bạn để xử lý.


Do công tác chuẩn bị và triển khai tác chiến của Tiểu đoàn 2 chậm, nên bị một đại đội của GM13 quân địch chiếm trước được Phu Phắc Pheo - một điểm cao có tính chất quyết định trên hướng này. Tại Sở Chỉ huy, lãnh đạo Quân khu xác định mất Phu Phắc Pheo là điều bất lợi cho ta, đã kịp thời ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 tập trung lực lượng đánh chiếm lại bằng được Phu Phắc Pheo - điểm cao quan trọng đối với nhiệm vụ bảo vệ Mường Phàn.


Ngay trong đêm hôm đó, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Chum Ma Ly - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Đại đội 16 bí mật tiếp cận, áp dụng cách đánh mật tập, sau hơn 30 phút đã chiếm lại Phu Phắc Pheo, diệt hơn 30 tên địch.


Đó là thắng lợi mở đầu của mặt trận đông nam Xiêng Khoảng, đồng thời khởi đầu cho những đợt tấn công liên tục giành đi giật lại suốt hơn 10 ngày đêm xung quanh điểm chốt quan trọng Phu Phắc Pheo thuộc Mường Phàn. Tại sở chỉ huy, tổ trinh sát điện đài chúng tôi liên tục nhận những báo cáo của Tiểu đoàn 2. Bọn địch đã dùng máy bay bắn phá dữ dội, chi viện cho cánh quân của GM13 nhưng chúng đều bị cao xạ 37 ly và 14,5 ly trên xe bọc thép AM của ta đánh trả quyết liệt, bắn rơi 3 máy bay của Mỹ. Sau mỗi đợt phản kích, ta chỉ chốt lại một lực lượng nhỏ, còn bố trí những nơi bí mật an toàn, đột nhiên xuất kích đánh địch làm cho chúng bị tiêu hao nặng nề. Cứ như thế liên tục ngày đêm, 3 đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 2, mỗi đơn vị đã phải tổ chức tập kích liên tục 2, 3 trận mới giữ vững được điểm cao Phu Phắc Pheo.


Không chiếm được Mường Phàn, địch phải tạm dừng tấn công để củng cố. Bầu không khí trên toàn mặt trận lúc này đều im ắng. Sự im ắng ớn lạnh, mỗi người đều có suy nghĩ, phán đoán của riêng mình.

Tại phòng làm việc của tổ điện đài, bỗng chiếc đèn tín hiệu dò nhấp nháy. Đồng chí báo vụ chú ý lắng nghe tín hiệu, tay hí hoáy ghi điện khẩn. Sau khi được giải mã, nội dung: "Tên đại tá Khăm Phết - chỉ huy trưởng GM13 lệnh cho binh đoàn chuyển hướng tấn công lên Bản Pi-ăng - Phu Thuộc, địch đánh thẳng vào thị xã Xiêng Khoảng". Tôi nhanh chóng báo ngay cho Đoàn trưởng chuyên gia Bình Sơn và lãnh đạo Quân khu. Được biết ý đồ của địch, Quân khu ra lệnh cho Tiểu đoàn 24 sẵn sàng chặn đánh địch trước ở Bản Pi-ăng - Phu Thuộc. Đồng thời Quân khu tổ chức ngay Sở chỉ huy tiền phương do đồng chí Si Phon - Phó Tư lệnh Quân khu cùng đồng chí Hồ Đệ - Phó đoàn chuyên gia và đồng chí Lưu Đức Tài - Chuyên gia tác chiến xuống đôn đốc Đại đội 2 Tiểu đoàn 51 (quân tình nguyện Việt Nam) cơ động đến tăng cường cho mặt trận.


Liền mấy hôm, trên cao nguyên Cánh Đồng Chum mây mù dày đặc, nhiệt độ xuống thấp. Hơn 9 giò sáng mà mặt trời vẫn chưa ló ra được. Lợi dụng thời tiết thuận lợi, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 51) áp dụng lối đánh mật tập bí mật áp sát địch khoảng trên dưới 50 mét. Bọn lính gác và sĩ quan địch do sương mù, trời lại giá rét, nhiều ngày lâm trận mệt mỏi còn đang say giấc trong những chiếc chăn lông vịt có khóa kéo kín người thì bất ngờ hàng loạt súng AK, B40 và lựu đạn của Đại đội 2 xả thẳng vào đội hình của chúng. Với lối đánh gần, dũng mãnh, chính xác, Tiểu đoàn 51 đã diệt gọn bọn địch trong đồn. Một điều bất ngờ nữa là ta đã đánh trúng sở chỉ huy của GM13, trong đó có đại tá Khăm Phết chỉ huy trưởng. Sau trận này, liên tục trong 3 ngày, trực thăng địch quần lượn khắp vùng để tìm đại tá Khăm Phết nhưng không tìm thấy. Nửa tháng sau, theo tin kỹ thuật Bộ Tổng tham mưu phái hữu tại Viêng Chăn xác nhận, đã tiến hành tìm kiếm khắp vùng Pắc San và Tha Thơm cũng không thấy một tên lính nào thuộc GM13. Như vậy có nghĩa là binh đoàn cơ động 13 của quân phái hữu đã bị xóa sổ từ đây.


Chiến thắng Mường Phàn đã đập tan âm mưu đánh chiếm Cánh Đồng Chum của quân Koong-le và lực lượng phái hữu Viêng Chăn. Đánh chiếm lại Phu Phắc Pheo, kiên cường giữ vững chứng minh khả năng tấn công, phòng ngự độc lập của Tiểu đoàn 2 anh hùng và Pa-thét Lào, khẳng định sự liên minh chiến đấu giữa bộ đội Pa-thét Lào với lực lượng quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 13 Phu Kút được thử thách qua lửa đạn là nòng cốt, được bồi dưỡng trở thành cán bộ chỉ huy các đơn vị Pa-thét Lào phát triển mạnh mẽ sau này. Với lối đánh diệt gọn và thành tích nổi bật của Đại đội 2 Tiểu đoàn 51, quân tình nguyện Việt Nam đã được đồng chí Nu Hắc Phôn-xa-vẳn - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào gắn Huân chương Giải phóng hạng Nhì tại chiến trường.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:42:49 am
CHUYỆN VỀ MỘT CHUYÊN GIA


TRẦN KIM ANH
(Theo tu liệu của đồng chí Bình Sơn)


Gần tám mươi tuổi, đã nghỉ hưu hai chục năm rồi, vậy mà những vết thương trên mình tôi lại luôn tấy lên đau nhức. Mỗi lần vết thương tấy lên, tôi lại nhớ đến đất nước Việt Nam, nhớ đến người bạn thân thiết của tôi, người bạn đã giúp tôi, giúp quân đội Lào trong những nấm tháng ông làm chuyên gia bên đất nước chúng tôi. Đó là anh Bùi Xuân Ngô!


Cảm thức trào dâng, nhớ đồng đội... Tôi lặng lẽ lên ô tô, rời Thủ đô theo quốc lộ 13 đến núi Kun, rồi rẽ về hướng Đông Bắc qua những thung lũng ngát hương, cỏ xanh rì một màu xanh như trải thảm. Xe để lại núi non trùng điệp phía sau. Xe ẩn hiện giữa những cánh đồng lúa nước. Xe bồng bềnh giữa bạt ngàn ngô ưỡn ngực ru con. Xe luồn vào rừng thông đang vươn mình cõng nắng, nhân chứng lịch sử một thời. Những sợi nắng mỏng manh nhuốm vàng ngã ba Phou Kou đón tôi xuống xe. Ký ức đưa bàn chân tôi đến chợ của người Lào Sủng. Tôi bần thần ngắm nhìn các chị, các bà đi bán những nông cụ của họ làm ra như cuốc, xẻng, dao, rựa... Những thực phẩm đặc trưng thơm ngon chỉ vùng núi sương mù mới có. Nào là rau cải xanh to dài, tua tủa như mồng gà trống. Nào là ngọn su su bụ bẫm, bằng đầu ngón tay, được bọc từng mó trong lá chuối rừng trông thật ngọn mắt. Rồi măng, thôi thì đủ loại măng: tre, nứa, mai, trúc. Măng xào với thịt hộp, cái món khoái khẩu thơm thơm dòn dòn dắt tôi vào một cái quán. Thay chủ chào tôi là những vỏ bom tấn canh cổng. Tàn gạt thuốc cho tôi là vỏ bom bi màu vàng. Bát đũa cho tôi ăn cơm là cánh máy bay nấu chảy... Và kia còn một biển báo bãi bom chưa nổ...


Chao ôi! Chốn này, ngã ba Trung Lào của quá khứ chiến tranh ác liệt, là nóc nhà Đông Dương mà "Ai chiếm được Cánh Đồng Chum thì như cưỡi lên được bành voi và làm chủ được nước Lào". Vì vậy, ta không ngạc nhiên khi Xiêng Khoảng là kho phế liệu lớn nhất Đông Dương sau 30 năm chiến tranh kết thúc.


Theo sương mù của cao nguyên rười rượi gió, tôi về lại nơi một thời... Xa Lỳ... Để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong đời binh nghiệp của tôi.

... Ngày ấy, được lệnh cấp trên, theo hướng đông bắc, tôi cõng ba lô lên cao nguyên Xiêng Khoảng. Hương chè tuyết ướp trong sương mù ngòn ngọt, thanh thanh của xứ Lào Sủng - Phu Xao ở độ cao 2.300 mét đỡ bước chân tôi... Sau tuần trà tuyết lịm cổ họng và tiếng vỗ tay của cán bộ, chiến sĩ chào đón Khăm Òn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào.


Cất ba lô vào chỗ ở của mình, tắm xong, đã tới bữa cơm đầu tiên. Vừa ngồi vào bàn thì một bàn tay vỗ nhè nhẹ lên vai tôi, giọng ấm áp:

- Đồng chí nghiền món này nhất... Tôi nấu đấy... Thịt lợn hộp xào măng... Ăn đi... Măng ở đây to, ngọt, dòn... bởi quanh năm măng được uống sương.

Người đàn ông vừa nói, dáng người cao gầy, có nụ cười thật hiền... Tôi cảm động và nói:

- Cảm ơn anh, anh thật chu đáo.

- Một chút với nhau cho ấm lòng khi xa quê anh ạ. Người đàn ông nói, rồi thả mắt về hướng bắc, bên kia dãy Trường Sơn. Chắc là mẹ già, gia đình anh đang chờ mong anh... Bữa cơm kết thúc thật ấm cúng.

Ấn tượng đầu tiên trong tôi thật đẹp về một con người đến với chúng tôi từ đất nước hình chữ S. Làn nắng nhẹ trên môi cười... Chè tuyết phảng phất thơm cả núi rừng theo anh và tôi hoà vào dòng chiến sĩ...

Thế là tôi và anh Bùi Xuân Ngô quen nhau từ đó. Anh là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được cử đến từ Đoàn chuyên gia quân sự 463, giúp Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng về công tác chuẩn bị chiến trường, phòng ngự thị xã Xiêng Khoảng, mà trực tiếp giúp tiểu đoàn của tôi - Tiểu đoàn 24. Anh chân thành, mộc mạc, gần gũi như bắp ngô, ngày ngày cho nước ngọt, cho hạt bùi để cái bụng dân bản khỏi đói, nên dân bản và chiến sĩ Tiểu đoàn 24 đã trìu mến gọi anh là Xa Lỳ (bắp ngô).


Chiều. Sương ngà ngà nghiêng nắng vào phòng họp chỉ huy của chúng tôi. Ánh nhìn của Xa Lỳ sâu và có lực hút đến lạ kỳ về mọi phía... Rồi chậm rãi thả ánh nhìn hút hồn ấy vào mắt tôi, anh nói:

- Lực lượng chúng ta chỉ bằng một phần năm của phái hữu, Koong-le, trung lập, chưa kể nơi chúng ta đang đóng quân là thủ phủ của Vàng Pao. Riêng lực lượng của Vàng Pao cũng không thể coi thường được. Đó là lực lượng tinh nhuệ. Khi tuyển quân, ai đứng xa 100 mét bắn tỉa vào bàn chân lợn rừng mà trúng là tuyển. Lực lượng này được Mỹ trang bị vũ khí hiện đại. Dân bản ở đây chủ yếu là người H'Mông thật thà, hiền lành như cây lúa nên bị lôi kéo đến độ gọi Vàng Pao là vua Mẹo (Chầu Sa Vít) không có gì là lạ".

Uống ngụm nước, Xa Lỳ vẫn hướng về phía tôi và tiếp:

- Thưa đồng chí Tiểu đoàn trưởng Khăm On! Ấy là chung, còn riêng Tiểu đoàn 24 của ta hiện nay, các cô gái trẻ họ nhà Un Khăm, da màu tuyết, mắt nai rừng, rực rỡ trong trang phục người H'Mông, ngày ngày theo men rượu rủ rê các chiến sĩ ăn chơi, chè chén cho đến lúc quên đơn vị, lẩn vào sương núi trốn về quê. Có đồng chí vì mắt nai long lanh mà xích mích, mà đánh nhau với đồng đội... Ấy cũng là âm mưu của kẻ địch. - Anh hạ giọng, rồi nét mặt anh giãn ra, thoáng môi cười, nhìn tôi nói tiêp: Tiểu đoàn trưởng đẹp trai, lại người Lào, coi mà dính tầm ngắm của sơn nữ mắt nai đấy.


Cuộc họp vừa tan. Những tia nắng cuối ngày lóng lánh rải vàng trên lá rừng nhẫy sương đang giữ chân chúng tôi, thì đồng chí liên lạc chạy ào vào lắp bắp: Báo cáo chỉ... huy... Một đại đội gốc Mường Luổng... Một đại đội gốc Hạ Lào ...Đang dàn trận trên đỉnh đồi... Chuẩn bị... bắn... nhau!


Như có gió ập mạnh vào ngực... Chết lặng một lúc, rồi tôi cùng chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Đuông, xin ý kiến chuyên gia. Xa Lỳ ngước mắt lên sườn đồi, giọng kiên quyết:

- Ta đi ngay! Không thể để cho bộ đội mình mắc mưu địch.

Vừa nói anh vừa lao ra. Anh hiểu, với người Lào chỉ có bằng sự thật chân tình mới có giá trị thuyết phục. Chúng tôi bám theo anh...

Gió hú man dại giữa cảnh tượng những anh lính trẻ của Đại đội 1 và Đại đội 3 đang "dàn trận", cự ly 100 mét... Tay súng sẵn sàng nhả đạn vào nhau. Họ bị bọn địch kích động, gây mâu thuẫn mà đến nông nỗi này.

Xa Lỳ hạ thấp người và hạ lệnh:

- Hai anh khoan hãy lên. Để tôi lên trước dễ xử lý hơn.

Tôi thoáng cảm phục sự dũng cảm, tự tin ở Xa Lỳ. Và kìa... Xa Lỳ trong bộ đồ màu xanh, trườn lên đồi, dưới những dây mâm xôi chằng chịt gai, rồi đột ngột Xa Lỳ của tôi đứng phắt dậy giữa hai làn đạn sắp nổ. Gương mặt lầm lỳ dài dại tựa như muốn khóc. Rồi anh nấc lên thành tiếng:

- Anh em ơi! Tiểu đoàn 24 ơi! Xa Lỳ nói với anh em đây. Xa Lỳ của anh em đây. Mời anh em bắn chết Xa Lỳ đi, rồi anh em hãy bắn nhau!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tư, 2022, 07:43:39 am
Im lặng... Rồi giọng nói của anh lại tha thiết vang lên như tiếng núi rừng vọng lại:

- Xa Lỳ của anh em làm chuyên gia tiểu đoàn còn sống, mà để anh em bắn nhau thì Xa Lỳ sẽ báo cáo thế nào với cấp trên hai Đảng, hai Chính phủ. Anh em có thương Xa Lỳ không?

Đôi mắt đầy súc hút của anh tràn lệ trong bầu không khí nặng nề... Cái chết không đến... Cái chết đến... Biết đâu từ một tay súng nông nổi nào đó... Đùng... Và anh gục xuống... Có thể lắm. Và Xa Lỳ bật khóc tức tưởi. Tiếng khóc dội vào vách núi, tiếng khóc làm cây rừng như ngừng thở, tiếng khóc lay động con tim của con người. Tôi lặng người xúc động và ngây ra bởi tiếng khóc của Xa Lỳ mà không biết làm gì đối với chức trách của mình. Một làn gió băng qua tôi thật nhanh, chưa kịp ngoảnh lại đã thấy đồng chí Đuông - Chính trị viên chạy ngược lên:

- Anh em hãy nghe lời đồng chí Xa Lỳ của chúng ta...

Nét mặt chính trị viên của tôi nghiêm khắc và chân thành. Rồi anh đến từng chiến sĩ, kéo mũi súng của họ xuống và ra lệnh:

- Tất cả tháo súng ra, về đi. Đừng mắc mưu bọn xấu mà bắn vào nhau để anh Xa Lỳ phải đau khổ thế này nữa.

Lúc đó, tôi bất giác nói lớn: "Đúng rồi anh em ơi!" và lao lên cùng ôm chặt anh Xa Lỳ và anh Đuông giữa khoảng trống hai hàng quân. Lặng lẽ. Mặt họ giãn ra, đỏ bừng. Tay họ buông cò súng... và lần lượt giải tán... Gió núi cũng thở phào nhẹ nhõm.

Xa Lỳ mắt nhòe lệ. Anh thẫn thờ một lúc rồi nở nụ cười rất tươi kéo chúng tôi trở về.

Ấy là lần thứ nhất trong đời binh nghiệp mà tôi ghi nhớ.

Xa Lỳ lại tiếp tục tạc vào ký ức tôi nỗi nhớ lần thứ hai. Lần này, tiếng súng ở chiến trường tạm thời im lặng. Những cây chè tuyết trổ búp màu thanh thiên thật nhiều như chào Phu Xao giải phóng.

Chúng tôi được lệnh giữ cao điểm mù sương này. Xa Lỳ gầy rộc đi vì công việc quá nhiều. Anh phá tan các tổ chức phỉ trong lòng bản. Xây dựng cơ sở nhân dân, lập đội du kích phối hợp hoạt động với bộ đội...

Buổi lễ uống máu ăn thề thiêng liêng của quân với dân diễn ra theo phong tục truyền thống của ngươi Lào. Mọi người đang thành tâm, hướng lòng mình theo hương khói. Tưởng như hồn núi sông và lòng người đang quyện chặt vào nhau trong tình quân dân cá nước thì có cấp báo: Trong bản, một cụ già cơ sở đi làm nương đã chết vì vấp phải mìn.


Có ai đó thì thào: "Bộ đội đặt mìn... giết dân...". Những ánh mắt nghi ngờ pha chút căm hờn xa lạ như con nai, con hoẵng gặp phải bầy thú đói. Những ánh mắt xét nét đổ về phía chúng tôi. Gió rừng hun hút đập vào vách đá.


Mất dân ư? Không được. Sau cuộc họp chớp nhoáng. Đơn vị cử một đoàn cán bộ, chiến sĩ về bản đưa tang người xấu số. Bằng mọi giá phải giữ lấy dân, như giữ lấy linh hồn của chính mình, phải phá tan âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc mà kẻ địch đã dàn dựng. Có điều, đi đưa tang thì anh em sợ nhất là... ăn cơm với người chẽt!


Nhìn và hiểu chúng tôi như đất hiểu cây rừng. Xa Lỳ chống tay lên cằm, nói từ trong tâm thức: "Xin phép tiểu đoàn cho tôi được đi cúng cơm cho ma". Điều khó khăn nhất của chúng tôi đã được giải toả. Chúng tôi dồn hết khó khăn cho anh. Lần thứ hai, Xa Lỳ lại làm cho tôi thêm kinh ngạc và cảm phục. Thực là, tiểu đoàn trưởng Khăm Òn và những người lính trong tiểu đoàn hôm nay đã không bằng người chuyên gia như Xa Lỳ rồi. Anh tận tụy, chịu khó và hiểu lòng dân như đây là nơi chôn rau cắt rốn của mình.


Sương chiều và tiếng ve rừng âm vang dẫn chúng tôi vào bản. Những tấm lưng lầm lũi và cả sự thách thức quất vào chúng tôi như roi của gió. Chào dân xong, chúng tôi xếp thành hai hàng ngang, đứng nghiêm trang ngoài cửa nhà người xấu số. Xa Lỳ bước vào kính cẩn đặt lên ban thờ muối, bánh kẹo, rượu, hương, pin đèn... Chắp tay cùng chúng tôi vái lạy theo nghi thức. Đưa mắt bao quát, anh biết người H'Mông tôn thờ cột nhà chính của họ nhất. Nơi đây chỉ để thờ ma lợn, tượng trưng cho sự hưng thịnh của gia đình, nên không ai được tựa vào. Khi người H'Mông sinh con trai, họ cắt rốn nhau của đứa trẻ đem chôn dưới chân cột nhà chính của mình. Tới ngày người con trai này lớn theo cây rừng rồi mất, thầy cúng chỉ đường cho anh ta lấy lại áo rốn nhau mà về với tổ tiên nơi cực lạc. Thẳm sâu trong văn hoá, cột nhà chính còn là nơi người H'Mông cúng tạ ơn cố nhân đã giúp họ giữ được cái chữ của dân tộc mình.


Giờ đây, người chết thản nhiên câm lặng đến sởn gai ốc... Như một thách thức! Đã ba ngày rồi, mà quan niệm của dân bản thì người chết thực ra là về thế giới cực lạc, nên họ không khóc... Tang tóc của im lặng càng sâu hơn, lạnh hơn. Giữa mùi thịt nướng, mùi rượu, mùi xác người đã bắt đầu phân huỷ, quyện trong mùi hương cúng và sự nặng nề nghi ngút khói... những giọt mồ hôi rịn ra, Xa Lỳ chắp tay, cúi người xuống, đến bên cột nhà chính, nơi người quá cố được bản làng đặt ngồi vào. Anh ngậm ngùi thì thầm với người xấu số, như là với chính mình. Rồi anh nói to, để rót vào tâm thức người chết và người sống: "Ma ơi ma! Mới hôm nào hẹn hò nhau quyết bảo vệ bản mường, mà sao hôm nay ma đã bỏ chúng tôi ina đi?". Tiếng của anh lẫn vào trong tiếng nấc như từ cõi âm âm u u mọng nỗi đau tràn lên mắt chúng tôi...


Anh nuốt buồn, nắm lấy bàn tay lạnh giá vô thức của người đã khuất, lắc lắc: "Ma ơi! Ma sống khôn chết thiêng. Ma biết đứa nào đặt mìn, không cho ma sống để về cái nhà. Ma hãy làm cho nó chết ngay, cả nhà đứa ác chết ngay, cả họ đứa ác chết ngay, chết hết. Còn chúng tôi sẽ thay ma bảo vệ bản mường...", vẫn giàn giụa nước mắt, anh quay sang mâm cúng, bê bát cơm, lấy một cái thìa, rồi trầm giọng: "Bây giờ, lần cuối ma ăn chung với tôi một bát cơm tình nghĩa". Anh xích lại, xích lại gần và ngồi xuống bên ma. Trong lặng phắc, chỉ còn nghe tiếng lá rơi nghiêng theo giọt nắng cuối ngày. Anh mời: "Ma ăn cơm nhé". Rồi anh xúc một thìa cơm đưa lên miệng đổ cho ma. Lại xúc thìa cơm thứ hai, xin ma cho mình ăn, và đưa vào miệng từ từ nhai... nuốt. Thìa thứ ba cho ma, thìa thứ tư cho anh, thìa thứ năm... thứ sáu... anh... nhai... nuốt... Cứ thế từ từ... rất từ từ... Xa Lỳ ăn hết bát cơm cúng với ma xong, anh chắp tay trong giàn giụa nước mắt: "Thôi! Ma yên tâm về với cõi phật. Chúng tôi còn đi bảo vệ bản làng ma nhé". Khói hương lay động như là sự đồng tình của người đã khuất. Xa Lỳ đau đớn đến câm lặng, anh lững thững đi về phía đồng đội. Tất cả chúng tôi cúi đầu chào rồi chia tay dân bản trong sự đáp lại mộc mạc nhưng ân tình: "Bộ đội yên tâm. Ăn cơm với ma như thế là bản biết cái bụng bộ đội thương bản rồi. Già bản ta không nói thêm nữa".


Tiếng súng lặng dần rồi chiến tranh cũng tắt. Chuyên gia Lê Xuân Ngô tạm biệt chúng tôi. Anh trở về với đất nước nồng hậu của anh, với mẹ già như ngọn gió heo may của anh. Bây giờ thì quê hương ru anh trong giấc ngủ ngàn thu. Đất nước Triệu voi xin làm nơi ấm để anh nằm, và tôi ghi lại kỷ niệm sâu sắc nhất này trong đời lính của mình thành bài ca... và tôi hát... Và đời sau hát... Ngợi ca anh, người lính Việt anh hùng...

Hồ Tây, mùa thu 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:35:09 am
GIÚP BẠN VIẾT LỊCH SỬ QUÂN ĐỘI LÀO


HÀ MINH TÂN


Sau hơn 25 làm cố vấn, chuyên gia quân sự giúp Cục Tuyên huấn và Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào, năm 1992 tôi được về nghỉ hưu. Trở về gia đình sau nhiều năm xa nhà tôi có ý định dành chút ít thời gian thu xếp việc nhà, giúp đỡ vợ và các con cải thiện đời sống. Công việc đang dở dang thì tháng 11 năm 1993 Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào có công hàm chính thức đề nghị Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử tôi sang giúp bạn biên soạn lịch sử quân đội Lào.


Nhận được thư mời của bạn và quyết định của Tổng cục Chính trị, lúc đầu tôi cũng hơi phân vân. Vì tuổi đã cao, sinh hoạt gia đình chưa ổn định. Hơn nữa, lại giúp bạn viết sử cho quân đội nước bạn thì không phải dễ.

Sau nhiều đêm trằn trọc, suy nghĩ, tôi tự thấy mình đã sang giúp bạn làm công tác giáo dục tư tưởng trong nhiều năm, ít nhiều cũng được chứng kiến sự hình thành và phát triển của quân đội bạn, sự phát triển của đất nước, con người Lào; tôi đã coi nước Lào là quê hương thứ hai của mình. Nay bạn đã tin tưởng và mời mình giúp đỡ thì làm sao có thể từ chối được. Bỗng nhiên tôi thấy nhớ tới những người bạn Lào, những người đồng chí, đồng bào, những "xiều" ngày còn sống chiến đấu và công tác trên đất nước Lào. Đem chuyện này bàn với bà nhà tôi. Lúc đầu bà có vẻ không vui, có phần trách móc. Vì gần như cả đời tôi xa nhà, vợ chồng xa nhau đằng đẵng, nay về nghỉ hưu tưởng được gần nhau chăm sóc lúc về già thì lại phải xa nhau. Phải thuyết phục mãi, cuối cùng bà ấy cũng đồng ý để tôi đi làm nhiệm vụ giúp bạn.


Trong buổi gặp mặt cả gia đình trước hôm tôi lên đường, vợ tôi sụt sịt động viên tôi và các con. Tiếng nói nghẹn ngào qua tiếng nấc, nhưng tôi cũng hiểu được bà ấy đang động viên tôi yên tâm lên đường, mọi việc ở nhà đã có bà ấy lo. Tôi bỗng thấy trong lòng mình bồi hồi xúc động nhớ lại hồi mới cưới chúng tôi cũng bịn rịn chia tay nhau để tôi đi chiến đấu. Sau 25 năm xa cách, gia đình mới được đoàn viên nay lại bịn rịn chia tay. Nhưng tôi biết và yên tâm lên đường, vì trong 25 năm xa cách, người vợ đảm đang tảo tần của tôi vẫn chu toàn nghĩa nàng dâu, tình vợ chồng thuỷ chung, người mẹ mẫu mực cho con cháu noi theo.


Theo Chỉ thị số 91/CT-QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao việc tổ chức giúp Lào nghiên cứu biên soạn lịch sử Quân đội Lào do Viện lịch sử quân sự Việt Nam phụ trách. Viện đã cử đồng chí Trần Bưởi cán bộ của viện cùng tôi và đồng chí Trần Công Hàm - một chuyên gia quân sự có nhiều năm công tác gắn bó với quân đội và nhân dân Lào, tổ chức thành một tổ chuyên gia sang giúp bạn. Tôi và đồng chí Hàm nhất trí cử đồng chí Bưởi làm tổ trưởng. Vì đồng chí Bưởi đã có thâm niên công tác lâu năm ở Viện, nhiều kinh nghiệm về công tác nghiên cứu biên soạn. Còn tôi và đồng chí Hàm đảm nhiệm thu thập tư liệu, tài liệu...


Đầu năm 1994, chúng tôi tới Thủ đô Viêng Chăn. Trong hành trang của mình, ngoài những vật dụng cần thiết còn có một số tư liệu quý về nước Lào. Chủ yếu là các nghị quyết của Đảng bạn và các bản tổng kết rút kinh nghiệm qua các thời kỳ kịch sử. Đó là những tư liệu mà chúng tôi đã dành nhiều thời gian sưu tầm ở Văn phòng Bộ Quốc phòng và tàng thư của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tuy nhiên, đó chỉ là những tài liệu vĩ mô, mang tính lý luận, còn những tư liệu thành văn ở cấp tổ chức thực hiện thì còn thiếu nhiều. Làm thế nào đủ tư liệu và phản ánh đúng được quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành của quân đội Lào? Câu hỏi luôn đau đáu trong tâm trí tôi. Đó không chỉ là câu hỏi về trách nhiệm trước nhiệm vụ cao cả, mà nó còn là tình cảm của tôi đối với những đồng chí bạn, là tình hữu nghị giữa hai quân đội và hai dân tộc anh em.


Những ngày giáp tết cổ truyền của dân tộc, nhìn bà con nô nức chuẩn bị sắm sửa chuẩn bị đón tết, đón xuân tôi bỗng thấy nao nao. Có lẽ đó là lần thứ ba trong đời quân ngũ của mình tôi thấy bồi hồi khi sắp phải chia tay gia đình vợ con. Lần thứ nhất là ngày đầu nhập ngũ, lần thứ hai là ngày chia tay vợ lên đường đi chiến đấu và lần này chia tay vợ con lên đường sang Lào giúp bạn viết lịch sử. Nhưng tâm trạng của tôi trong lần chia tay này thì khác với hai lần trước. Vì những lần trước đất nước đang trong chiến tranh ác liệt. Còn lần này là sang Lào trong thời kỳ hoà bình, nước Lào được độc lập, dân Lào được giải phóng. Tâm trạng bồi hồi xen lẫn niềm tin phơi phới vào phát triển của đất nước Triệu voi.


Đang miên man với những suy nghĩ thì máy bay đáp xuống sân bay Vạt Tày. Đón đoàn có các đồng chí Vi Xay, Khăm Chăm, Bu Lôm là cán bộ Cục Lịch sử Lào. Đại tá Vi Xay - Cục trưởng Cục Lịch sử ghé tai tôi nói nhỏ: "Bộ Quốc phòng đang xúc tiến triển khai việc biên soạn lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội Lào. Có các anh sang thì coi như xong rồi".


Về đến Phôn Khêng, cơ quan Bộ Quốc phòng Lào, chúng tôi cùng đồng chí Vi Xay được đồng chí Khăm Phuông - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đón tiếp trong không khí nồng ấp của những người anh em thân thiết.


Với tình cảm thân tình, đồng chí cho biết việc biên soạn lịch sử Quân đội Lào là một việc rất quan trọng, nhằm củng cố hệ thống lý luận, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Sau nhiều năm chiến tranh bây giờ là thời gian chúng ta tổng kết lại quá trình hình thành và phát triển của quân đội. Đồng chí Khăm Phuông còn nói thêm: "Nếu có điều gì khó khăn thì mọi người đừng có e ngại".


Sau buổi hôm đó chúng tôi bắt tay ngay vào việc. Đầu tiên là tiếp xúc với các nhân chứng ở Viêng Chăn, thu thập tư liệu của Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Khoa học Xã hội Lào, Bảo tàng Cách mạng quốc gia Lào. Thật may, chúng tôi đã tìm được nhiều tư liệu quý trong đó có bài "Mười chín năm sau tôi còn nhớ được" của Ma-ha-xi La-vi-đa-vông nói về hoạt động của Hội Lào Pên và Chính phủ lâm thời Lào trước và sau năm 1945. Chúng tôi còn tìm được tài liệu nghiên cứu của Pháp có tiêu đề "Lalibe’ration du Lao" do Fabre, một tướng Pháp viết năm 1945 khi còn đeo hàm trung tá chỉ huy tàn quân Pháp ở Trung - Hạ Lào, nói về các hoạt động chống Pháp, trong đó có nêu một số trận thất bại của quân Pháp trong những ngày đầu kháng chiến của Lào. Những tài liệu này giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan về quá trình đấu tranh của quân và dân Lào.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:35:39 am
Năm 1995, chúng tôi có chuyến đi khảo sát thực tế dài ngày ở năm tỉnh Xay-nha-bu-ly; Luông Nậm Ta; U-đom-xay; Luông Pha Băng (ở Bắc Lào), Bô-li-khăm-xay (ở Trung Lào) cùng hai sư đoàn 2 và 3 ở Trung và Hạ Lào, khu chấn hưng kinh tế ở Lắc Xao thuộc liên huyện 90. Các đồng chí Khăm Chăn và Bu Lôm đã đi cùng chúng tôi.


Chặng đường đi khá dài, ngoài tuyến bay Viêng Chăn - Luông Pha Băng còn phải vượt qua 1.000 ki-lô-mét bằng ô tô, và đi bằng xuồng máy. Đang là mùa mưa, chuyến công tác khá vất vả, đoạn Nậm Le - Luông Pha Băng bị tắc nên đoàn phải quay trở lại.


Trong những chuyến đi khảo sát thực tế qua nhiều địa phương, đơn vị trên khắp nước Lào, chúng tôi đã gặp các cơ quan Đảng, chính quyền các địa phương và gặp trực tiếp 51 nhân chứng cả trong và ngoài quân đội. Nhiều cuộc gặp gỡ diễn ra trong tâm trạng bùi ngùi xúc động. Tôi còn nhớ có lần gặp đồng chí Ka-răng, một cán bộ lão thành dân tộc La-ve ở Hạ Lào, đại tá Hao Tu dân tộc H’mông ở Bô-ly-khăm-xay, nữ dân quân Khăm phiu ở Bò Ten... Biết chúng tôi đang sưu tầm tư liệu để viết sử quân đội Lào ai cũng vui vẻ nhiệt tình giúp đỡ. Trao đổi tỉ mỉ, khách quan, kiểm chứng, kiểm tra thông tin cẩn thận. Trong một lần về địa phương gặp gỡ nhân chứng lịch sử tôi có gặp một thiếu nữ Lào. Sau khi giúp đỡ chúng tôi xách hành lý cô còn hào hứng nhắc chúng tôi: "Bác ơi! Bác đừng quên vai trò của người phụ nữ Lào trong chiến đấu và xây dựng quân đội bác nhé"! Cô bé nói rồi quay lại làm việc mà tôi cảm thấy như cùng với công việc của mình còn có rất nhiều niềm mong mỏi của nhân dân Lào. Điều đó càng làm chúng tôi phấn khởi hơn trong công việc cao cả của mình.


Sau những chuyến đi thực tế, tiếp xúc nhân chứng chúng tôi đã thu thập được nhiều tư liệu quý, xác minh được nhiều sự kiện lịch sử, kiểm tra tính khách quan của thông tin, giúp biên soạn cuốn sử được phong phú, chính xác, có tính thực tiễn và mang đậm tính lý luận khoa học sâu sắc.


Trong những năm 1995, 1996 chúng tôi đã biên soạn nội dung chi tiết cuốn lịch sử Quân đội nhân dân Lào; gồm phần mở đầu và ba phần, chín chương. Bao quát toàn bộ quá trình hình thành, chiến đấu và phát triển của quân đội Lào từ những ngày đầu thành lập, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, xây dựng quân đội và bảo vệ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.


Phương thức biên soạn là chuyên gia chúng tôi dự thảo nội dung từng phần, từng chương rồi chuyển sang cho bạn nghiên cứu, bổ sung. Các văn bản đó được xin ý kiến của Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng. Cho đến tháng 9 năm 1996 thì cuốn lịch sử quân đội Lào cơ bản đã được hoàn thành.


Đánh giá kết quả biên soạn, chúng tôi nhận thấy cơ bản cuốn lịch sử đã khái quát rõ diện mạo của Quân đội nhân dân Lào và hoàn thành đúng kế hoạch đã đề ra. Về nội dung mang tính lý luận, tổng kết thực tiễn sâu sắc, tôn trọng sự thật, mang tính khách quan cao và có tính biện chứng sâu sắc. Qua nhiều hội thảo khoa học, đọc, duyệt, góp ý chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục Chính trị, bộ lịch sử đã có được chất lượng toàn vẹn. Cuối năm 1996, tổ chuyên gia viết sử bàn giao toàn bộ công trình nghiên cứu cho bạn và trở về Tổ quốc sau gần ba năm rong ruổi khắp các địa phương, đơn vị trên nước Lào.


Mùa xuân 1997, trong một ngày nắng đẹp, tại trụ sở của Đại sứ quán Lào tại Hà Nội, tổ chuyên gia viết sử chúng tôi vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động hạng hai do Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào trao tặng.


Trong giây phút ấy. Tôi nhớ lại những ngày đầu sang giúp bạn viết lịch sử Quân đội nhân dân Lào. Bùi ngùi nhớ lại những đồng đội, những nhân chứng tôi đã gặp, những con người đã giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình trên vai trò của một chuyên gia viết sử. Và trong giây phút ấy, tôi lại suy nghĩ rằng: Những trang sử vẻ vang đó sẽ được lớp lớp thế hệ mai sau vun đắp tiếp nối trong quá trình hình thành vươn lên lớn mạnh của quân và dân Lào.

Ngày 2 tháng 9 năm 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:36:44 am
HAI NGÀY, HAI ĐÊM Ở NA BÒ NỌI


NGUYỄN TỰ LẠC


Cuối năm 1987, lần thứ hai các thế lực cực đoan nước ngoài lại cho quân đội tiến công xâm chiếm lãnh thổ Lào ở xã Na Bò Nọi, huyện Bò Ten, tỉnh Xay A Bu Ly. Khác với lần tiến công ở Ba Bản huyện Pak Lay (1984), lần này quy mô lớn hơn gấp nhiều lần cả về phạm vi khu vực xâm chiếm và số quân của họ tham gia (nhất là hoả lực pháo binh và không quân chi viện).


Do vậy, lực lượng tham gia đánh trả của bạn Lào cũng được huy động tăng thêm. Các đồng chí Thượng tướng Ay Xay Nha xẻng - Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướngf Bun Thon - Phó Tổng tham mưu trưởng lại được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiền phương Bộ và Mặt trận.


Do quy mô của cuộc chiến phải chỉ đạo cả phía trước, phía sau nên bạn yêu cầu chuyên gia tập trung giúp cơ quan Bộ tại Viêng Chăn.

Tuy nhiên, qua theo dõi tình hình, nhận thấy đang tồn tại một số nhược điểm, thiếu sót cần khắc phục, nhằm nâng cao tính bền vững của thế trận phòng thủ, phòng ngự. Đó là các vấn đề vận chuyển tiếp tế (làm đường ô tô vào trận địa, hạn chế tối đa việc sử dụng trực thăng, tiết kiệm xăng dầu, đạn dược, nhất là đạn pháo) và việc phản kích trong chiến đấu phòng ngự. Do vậy tôi đề nghị với đồng chí Trung tướng Nguyễn Hoà (Trưởng đoàn chuyên gia) cho tôi ra Na Bò Nọi tìm hiểu tình hình thực tế làm cơ sở đề xuất kiến nghị giải quyết.


Đồng chí Nguyễn Hòa nhất trí và báo cáo đề nghị lên đồng chí Đại tướng Khăm Tày Xi-phăn-đon - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được chấp nhận. Đồng chí Bộ trưởng còn chỉ thị thêm một số việc nhằm làm rõ một số vấn đề để có cơ sở hạ quyết tâm giữ vững trận địa đến ngày đàm phán thương lượng hòa bình. Đồng chí còn dặn thêm, khi ra ngoài đó nhớ mặc quân phục Lào, nói tiếng Lào.


Tối hôm đó, tôi bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Quân trang, đồ dùng cá nhân, do thường xuyên phải dùng nên tôi chỉ kiểm tra lại, lấy ra bộ quân phục Lào mặc trước, còn lại để gọn vào góc phòng. Tiếp đó, ngồi vào bàn làm việc chuẩn bị nội dung công việc cho chuyến đi. Khi đọc tài liệu, xem bản đồ, lần lượt tôi quán triệt lại nhiệm vụ được giao, ý kiến dặn dò của trên, hệ thống lại diễn biến tác chiến vừa qua, chắt lọc ra những nội dung cần thiết phục vụ cho lần đi này, trên cơ sở đó, tính toán lịch trình làm việc với quỹ thời gian được trên quy định. Tất cả phải lưu vào trí nhớ, vì không được mang theo tài liệu.


Thỉnh thoảng, tôi đi lại trong phòng, vừa thư giãn vừa suy nghĩ. Nhìn vào góc phòng thấy khẩu súng ngắn, chiếc địa bàn, đôi giày vải, bi đông nước, ba lô, toàn là những thứ thường chỉ dùng trong thời chiến, bất giác trong tôi suy ngẫm: Sớm mai đây, chỉ vài ba chục phút bay, tôi đã từ thủ đô yên bình sang tới nơi biên ải, ở đó đang diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt mà những đồng đội của tôi đang phải chịu đựng.


Tiếng gà gáy cất lên cắt ngang dòng suy ngẫm, báo hiệu đêm đã vào canh một, tôi tranh thủ chợp mắt để mai đi sớm.

Mờ sáng tôi đã có mặt ở sân bay quân sự Vắt Tày, đi trên chuyến trực thăng chở hàng cất cánh sớm nhất. Sân bay lúc này đang diễn ra cảnh nhộn nhịp, khẩn trương; chỗ này người bốc hàng từ trên ô tô xuống, chỗ kia người vác hàng lên máy bay. Phi công trực sẵn trên buồng lái, chiếc nào đủ hàng là cất cánh luôn.


Xuống sân bay Na Koọc (huyện lỵ Bò Ten), tôi đi tiếp đến bản Bò Sản, nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương Bộ. Trên đường đi đã thấy nhà dân bị bom đạn đối phương phá huỷ, nhân dân sơ tán nên vắng người qua lại. Thay vào đó là anh chị em dân quân du kích canh gác, tuần tra, bảo vệ tài sản cho dân.


Đến Sở chỉ huy, được anh Ay tiếp và làm việc luôn. Sau khi truyền đạt ý kiến cấp trên, hai anh em trao đổi với nhau, chủ yếu là vấn đề làm đường từ Na Koọc vào Phu Viêng. Tôi báo cáo với anh Ay diễn biến chiến đấu vừa qua cho thấy tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết giữ vững trận địa của anh em. Vấn đề nổi lên cần quan tâm hiện nay chính là con đường ô tô để vận chuyển tiếp tế đảm bảo đủ lương thực, súng đạn cho bộ đội. Việc sử dụng trực thăng như vừa qua chỉ là biện pháp tình thế, không thể duy trì lâu dài được. Qua tin tức ngoại giao, có thể đối phương chịu nhận giải pháp chính trị nhưng mới ở mức ngừng bắn, giãn quân, chưa rút hết quân khỏi Lào, nên không vì thế mà lơi lỏng.


Anh Ay là một cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy tác chiến dày dạn kinh nghiệm. Anh thường có mặt ở những điểm nóng. Thời kỳ Ba Bản, anh đã huy động nhân dân làm đường có kết quả. Những vấn đề tôi nêu ra, không phải là anh không nghĩ tới, nhưng vừa qua còn lo việc giữ vững trận địa phía trước nên chưa tập trung khả năng cao nhất cho công tác bảo đảm lâu dài nếu không thì việc giữ vững trận địa đến ngày đàm phán sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, có trao đổi thêm vấn đề cảnh giác đề phòng địch liều lĩnh đánh vu hồi vào chiếm Bò Sản, Nà Koọc, cô lập Phu Viêng để tạo thế có lợi cho đàm phán chính trị.


Chiều tối, tôi bay tiếp vào Phu Viêng.

Chỉ mười phút sau, máy bay đã hạ cánh. Nhìn nơi hạ cánh, tôi liên tưởng ngay đến cách dùng trực thăng khá táo bạo do anh Ay cùng anh em không quân Lào thực hiện tại Ba Bản. Diện tích rất hẹp, nằm trên một trong những điểm nhô ra phía sau dãy núi Phu Viêng, pháo đối phương ở phía trước khi bắn, đạn sẽ vượt qua đỉnh núi rơi xa về phía sau. Lại bay vào sáng sớm, chiều tối, ở tầm thấp nên đối phương khó phát hiện. Nhưng người lái phải giỏi, dũng cảm mới đáp xuống an toàn được. Tôi đi tiếp lên khu vực hậu cần sau khi leo một con dốc khá dài. Tại đây gặp anh Khăm Mặn (Cục trưởng tác chiến phụ trách Tham mưu trưởng Mặt trận) xuống đón lên Phu Viêng. Leo tiếp vài con dốc nữa, tới Sở chỉ huy Mặt trận gặp anh Bun Thon. Thăm hỏi, uống nước, nghỉ ngơi một lát, chúng tôi vào việc ngay. Tôi báo cáo mục đích chuyẽn đi, truyền đạt ý kiến lãnh đạo cấp trên. Các anh cho biết nhận định, đánh giá tình hình đầy đủ, ngắn gọn. Tiếp đó các anh mời tôi dự luôn cuộc họp giữa Mặt trận với chỉ huy các Sư 1, 2, cơ quan và một số đơn vị trực thuộc. Trong hội nghị tôi lắng nghe là chính. Gần cuối anh Bun Thon đề nghị tôi phát biểu với hội nghị. Tôi đề nghị cần chú ý tiết kiệm trang bị vũ khí đạn dược, vì vận chuyển của ta vào trận địa có khó khăn. Tiết kiệm sử dụng đạn pháo không phải chỉ có các đồng chí chỉ huy trên, của anh em pháo binh mà anh em bộ binh các cấp đều quan tâm, tính toán yêu cầu bắn chi viện vào đâu, lúc nào cho có hiệu quả với số lượng đạn tiêu thụ ít nhất. Đồng thời cần quan tâm chỉ đạo hoạt động đánh phía sau và tiến hành phản kích nhỏ.


Khi họp xong thì đã quá nửa đêm.

Đỉnh núi Phu Viêng ở độ cao 1.365 mét, càng về khuya càng thêm lạnh, đôi lúc điểm những loạt pháo đối phương bắn cầm canh hoặc những loạt súng máy của đối phương hoảng hốt bắn vu vơ, vẫn không làm mất đi cảnh tĩnh mịch của nơi núi rừng trùng điệp này.


Dưới ánh đèn dầu trong căn lán âm, chỉ còn lại anh Bun Thon và tôi. Tôi nói với anh những ý kiến trao đổi với anh Ay sáng qua ở Tiền phương Bộ, đề nghị anh lưu ý vấn đề cảnh giác trước hành động liều lĩnh của đối phương trước khi có giải pháp chính trị. Trong hội nghị vừa rồi, tôi cảm nhận thấy cũng đã có xuất hiện tư tưởng chủ quan sau khi đánh bại đợt tiến công thứ 5 của đối phương. Vấn đề đánh phản kích đã có tiến bộ nhưng hoạt động nhỏ, và tác chiến của các đơn vị đặc công chưa thực hiện được như thời kỳ Ba Bản, mặc dù đối phương đã tiến sâu vào đất mình hơn. Anh cho biết nguyên nhân và cùng trao đổi cách khắc phục.


Cuối cùng, tôi nêu một ý kiến: "Cuộc họp vừa rồi được nghe anh em phát biểu về một số tấm gương chiến đấu dũng cảm, táo bạo linh hoạt, có tác dụng đầu tàu dẫn dắt mọi người hành động theo. Đề nghị anh xem xét, điều chỉnh rút bớt số anh em này về cho đi học đào tạo thành cán bộ, đây là vốn rất quý cho cán bộ về lâu dài...". Nghe đến đây, tôi thấy anh xúc động. Có lẽ anh đang nhớ đến đồng chí, đồng đội dưới quyền chỉ huy của anh, vừa ngã xuống những ngày gần đây. Một lúc sau anh nói: "Đúng, đây là việc cần làm và phải làm ngay. Thương xót, tiếc thương lắm, anh Lạc ơi! Tôi sẽ cố gắng động viên thuyết phục anh em vì vào thời điểm này họ đâu có chịu rời vị trí chiến đấu của mình". Biết anh đang xúc động, tôi hướng sang chuyện khác.


Trời đã gần sáng, để kết thúc buổi trao đổi, tôi nói vui với anh: "Anh và anh Ay đều là những con người của phía trước. Chỉ huy trưởng Mặt trận Bắc Lào là anh, Ba Bản cũng là anh và nay Na Bò Nọi vẫn là anh. Anh còn là Sư trưởng sư đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Lào". Nghe tôi nói thế, anh mỉm cười.


Trời đã sáng, cơm nước xong, anh Khăm Mặn cùng tôi đi xuống Sư đoàn 1. Đi dọc theo đỉnh núi Phu Viêng được che phủ bời những tán cây rừng nguyên sinh, dưới mặt đất là một thảm mùn lá cây rụng qua nhiều năm tạo thành, đặt chân lên đó như bước lên tấm đệm vậy. Đường đi không dốc lắm, đôi lúc chỉ phải qua yên ngựa hơi lõm sâu, nên chúng tôi có điều kiện chuyện trò trao đổi xoay quanh nội dung đánh phản kích trong tác chiến phòng ngự. Do cùng công tác ở Cục Quân huấn thời kỳ ở Sầm Nưa, rồi sau này cùng chuyển sang Cục Tác chiến, nên chúng tôi rất hiểu ý nhau, giữa nguyên tắc và vận dụng vào thực tế. Bất chợt anh Khăm Mặn nói với tôi: "Rừng ở đây nhiều lá giong lắm, tôi đã cho chuẩn bị, khi về anh nhớ mang theo để anh em chuyên gia gói bánh chưng Tết nhé!". Tôi nhẩm tính, đúng là chưa đầy tuần nữa là đến Tết Việt Nam rồi. Thật cảm động, ngay lúc này, ở đây anh vẫn nhớ và dành tình cảm với anh em chuyên gia.


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:37:16 am
Tới Sở chỉ huy Sư đoàn thì cảnh vật đã khác, vết bom đạn đối phương cày xới, cây đổ ngổn ngang, nhìn ra phía trước đã dễ nhận ra một số điểm phòng ngự vì cây cối bị bom đạn thiêu trụi, vẫn còn sót một số thân cây sát gốc.


Anh Đuông Chay làm việc với chúng tôi tại căn lán âm trước cửa hầm. Có nước chè pha sẵn đựng trong bi đông, uống bằng bát sắt tráng men. Tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề đánh phản kích nhỏ của Sư đoàn những ngày gần đây. Anh nói, thời gian đầu anh em chỉ lo nhiều vào giữ vững trận địa, sau khi có chỉ đạo nhắc nhở của trên, đơn vị đã tích cực thực hiện đánh tập kích vào chốt của đối phương, ta chiếm được một số chốt làm cho địch rất sợ khi bị đánh tập kích bất ngờ. Từ thắng lợi đó, anh em rất tin tưởng. Anh trả lời khá tỷ mỷ những vấn đề tối tìm hiểu. Tôi đề nghị anh nên rút kinh nghiệm ngay để nhân rộng.


Rời Sư đoàn 1, anh Khăm Mặn và tôi trở về Phu Viêng, lên đài quan sát mặt trận. Đã quá trưa, trời nắng to, qua ống kính quan sát tôi thấy rõ các điểm cao 1428, 1370 ở tiền duyên, nơi phòng ngự trực tiếp của hai bên. Đây là hướng phòng ngự chủ yếu do Sư đoàn 2 đảm nhiệm, nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt nhất của mặt trận, nên các mỏm núi đều đã bị cạo trọc, nhìn rõ cả bờ chiến hào. Trên dãy 1428 bạn chốt giữ 2 điểm, đối phương 1; ở 1370 đối phương 7 điểm, bạn 4 điểm, cách nhau chỉ vài ba trăm mét. Qua đó càng thấy tính chất quyết liệt, chịu đựng căng thẳng của anh em cán bộ, chiến sĩ bạn bám trụ tại đó. Tại đài quan sát, qua điện thoại anh Khăm Mặn nhận được tin: Đơn vị phòng không ở Na Kok vừa bắn rơi một máy bay OV-10, bắt sống hai người lái. Đến giờ phải quay về để kịp đáp chuyến bay tối trở lại Viêng Chăn. Nhưng đến sở chỉ huy, nhận được tin sớm mai mới có máy bay. Vậy là tôi có thêm một đêm để làm việc với anh em cơ quan mặt trận.


Hai ngày, hai đêm ở mặt trận Na Bò Nọi thật là quý giá với tôi, nên gần như tôi không ngủ nghỉ. Khi làm việc, lúc tâm tư, trò chuyện, vì toàn là những anh em công tác chiến đấu cùng nhau từ thòi kháng chiến chống Mỹ. Mặc dầu mới vài tháng trước vẫn thường xuyên gặp nhau ở Phôn Khêng (trụ sở Bộ Quốc phòng), nhưng gặp nhau ở đây, thật là có những tình cảm khó tả. Có đồng chí cán bộ cơ quan nói với tôi, những ngày chiến đấu ở đây, tuy chỉ có lực lượng Lào, nhưng luôn nghĩ phía sau chúng tôi là các đồng chí Việt Nam, nên rất yên lòng.


Sớm hôm sau, chào tạm biệt anh Bun Thon và anh em cơ quan mặt trận, tôi và anh Khăm Mặn cùng về Viêng Chăn.

Về đến cơ quan Đoàn chuyên gia, tổng hợp lại tình hình báo cáo với Đoàn trưởng và bạn. Xong những việc trên vào đúng ngày 30 Tết.

Chiều tối hôm ấy, nhân dịp sắp sang năm mới (Tết Việt Nam), mặc dầu bận nhiều công việc, đồng chí Khăm Tày Xi-phăn-đon đã dành thời gian gặp mặt anh em chuyên gia tại nhà riêng. Trong lời chúc Tết, đồng chí cảm ơn sự giúp đỡ chí tình của Việt Nam, cảm ơn, biểu dương tinh thần tận tụy công tác của anh em chuyên gia vừa qua. Vừa ăn cơm, vừa nói chuyện, hướng về phía tôi, đồng chỉ hỏi: "Mấy ngày vừa rồi, đồng chí Lạc ra phía trước thấy tình hình thế nào?". Tôi đứng dậy báo cáo: "Tình hình và kiến nghị sau chuyến đi, tôi đã báo cáo anh Hoà, sau đó lên báo các anh trên Bộ Tổng Tham mưu, hôm nay chỉ xin báo cáo với anh một ý là sau thắng nhiều đợt tiến công lớn của đối phương, nhất là đợt thứ 5, đã xuất hiện tư tưởng chủ quan trong một số cán bộ". Đồng chí Khăm Tày nói: "Đúng vậy, cần phải nhắc nhở anh em hết sức cảnh giác, đề phòng với hành động liều lĩnh của đối phương trước khi chúng chịu chấp nhận giải quyết bằng đàm phán thương lượng". Cuối buổi liên hoan gặp mặt, đồng chí Nguyễn Hoà đứng lên báo cáo, cảm ơn sự quan tâm động viên của đồng chí Khăm Tày đối với anh em chuyên gia, nhất là vào dịp Tết cổ truyền Việt Nam và hứa sẽ tiếp tục làm tốt nhiệm vụ được giao.


Sau 66 ngày đêm tiến công bằng quân sự, đối phương đã thất bại nặng nề, bị dư luận nhiều nước trên thế giới và nhân dân trong nước phản đối không đồng tình. Do vậy họ đã chịu ký kết thoả thuận ngừng bắn dãn quân, tiếp tục giải quyết bằng đàm phán thương lượng hoà bình.


Cuộc đấu tranh của bạn còn tiếp tục, nhưng đã chuyển sang đấu tranh chính trị ngoại giao, buộc đối phương phải rút hết quân đội ra khỏi lãnh thổ Lào.

Những ngày sau, bạn vẫn tiếp tục củng cố xây dựng thế trận vững chắc hoàn chỉnh hơn. Đặc biệt đã cảnh giác, đánh bại đợt tiến công thứ 6 của đối phương trước ngày ngừng bắn. Và không lâu sau, đã thông đường từ Na Koọc vào Phu Viêng, ô tô chuyển được hàng vào trận địa.


Chiến thắng Na Bò Nọi đã giúp tôi càng thêm tin tưởng vào khả năng lực lượng vũ trang bạn hoàn toàn có thể tự gánh vác nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của mình.

Trại viết Hồ Tây, thu 2009


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:38:40 am
KỶ NIỆM Ở PẠC SÒN


NGUYỄN MẠNH HÙNG
(Ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Xuân Khoa)


Năm 1980, sau khi huấn luyện tân binh ở Bá Thước (Thanh Hóa), chúng tôi qua cửa khẩu Tây Trang sang nước bạn Lào với nhiệm vụ giúp bạn lập mạng tọa độ pháo binh. Những ngày đầu, đa số anh em chưa biết phong tục, chưa biết tiếng. Đặc thù công việc xác lập mạng tọa độ buộc chúng tôi phải leo lên những ngọn đồi, ngọn núi cao nhất để đặt máy kinh vĩ TT3, từ đó đo sang hai mỏm khác theo hình tam giác, vì thế, chúng tôi rất ít có điều kiện tiếp xúc với nhân dân để học tiếng, học phong tục.


Một lần, chúng tôi nhận nhiệm vụ đo đạc ở một ngọn núi gần bản Pạc Xòn ở Trung Lào, tổ đo gồm ba người: tôi, Hân và Tiểu đội trưởng Vinh. Hôm đó, Tiểu đội I rưởng Vinh về binh đoàn nhận nhiệm vụ đến sáng hôm sau mới lên. Chỉ còn tôi và Hân. Cả hai chúng tôi đều là lính mới tò te, ngoài mấy từ thông dụng như "Xăm ba (ti" (Chào), "piền" (đổi), "Xừ neo đẩy" (Tên gì) hầu như chúng tôi không biết từ gì khác.


Vì điểm tọa độ khá xa, lại thêm mấy hôm đó trời rất mù, sáng sớm và chiều hầu như không thể nhìn được, chúng tôi tranh thủ nắng hửng để đo. Bốn giờ chiều trời bắt đầu mù. Qua ống kính kinh vĩ, các quả đồi, cánh rừng bắt đầu mờ dần không thể đo được nữa, hai chúng tôi rủ nhau vào bản chơi. Chúng tôi bàn nhau mang đôi giày mới vào bản đổi con gà, ít rượu, chờ mai Tiểu đội trưởng Vinh về sẽ có cái để cải thiện. Vì không có ai ở nhà nên tôi vác máy đo kinh vĩ TT3 còn Hân mang theo hai đôi giày. Chúng tôi cắt phương vị, đi tắt qua một quả đồi tương đối rậm rạp để tới bản mà chúng tôi phát hiện ra trong quá trình đo đạc. Đi khoảng ba mươi phút thì gặp một con suối, nước rất trong, một cô gái Lào ra suối lấy nước cũng vừa đi tới. Tôi liền cất tiếng:

- Xăm ba đi.

- Xăm ba đi. - Cô chào lại.

- Xừ neo đẩy?

- Xi Von.

Cô gái cúi mặt cười e thẹn. Vốn tiếng Lào của chúng tôi chỉ có thế nên không thể trò chuyện thêm được gì.

- Hay bọn mình đi theo Xi Von về bản, vừa đỡ lạc lại có một thời gian đi đường để làm quen? - Hân bàn với tôi.

Chúng tôi ra hiệu muôn theo cô về bản chơi. Cuối cùng thì cô gái cũng hiểu. Cô cười gật đầu đồng ý. Chúng tôi đi theo Xi Von. Đến bản, Hân bàn với tôi:

- Cậu mang giày của cậu đi đổi con gà, còn tớ lên trên nhà hỏi cô gái đổi lấy xị rượu, tiện thể mượn cô gái kim chỉ để đính lại cái khuy quần, lúc chui qua bụi rậm thóp bụng thế quái nào lại làm đánh phựt một cái! Tớ đang phải buộc tạm bằng dây rừng đây này. Để thế này, nếu tối mà nhảy Lăm vông với các cô gái bản thì có mà mất hết "phẩm chất của người quân nhân cách mạng!" à.


Tôi phì cười khi nhìn thấy hai con đỉa quần bị túm lại với nhau bằng một sợi dây rừng mà Hân vừa kéo áo lên cho tôi nhìn. Hân vốn khá to béo nên mặc quân phục lúc nào cũng vừa khít. Vì vậy, hầu như Hân không bao giờ đeo xanh tuya nên mới dẫn đến cơ sự này! Tôi nháy mắt đùa Hân:

- Chắc ông thấy con gái nhà người ta xinh quá, muốn làm quen nên kiếm cớ "đứt dây chun quần" để đuổi tôi đi chứ gì! Có gì thì cứ nói với nhau một câu chứ làm gì mà phải "khổ nhục kế" như thế! Thôi đi đi, tối về báo cáo nhé!

Tôi vác máy kinh vĩ và mang đôi giày sang nhà sàn gần đó, còn Hân trèo cầu thang theo cô gái lên nhà. Chừng mười phút, tôi bỗng nghe có tiếng súng nổ phía ngôi nhà cô gái mà Hân đang ỏ đó. Tôi vội chạy lại thì thấy Hân cũng hốt hoảng chạy từ trên cầu thang xuống, phía, sau cậu ta là một ông già vẻ mặt rất giận dữ, cầm khẩu súng kíp vừa hô câu gì đó rất to vừa đuổi theo. Tiếng bước chân thình thịch, tiếng í ố. Chỉ một chốc, hai chúng tôi đã bị dân bản quây kín xung quanh ở dưới Hân. Nhìn vẻ mặt giận dữ của dân bản, tôi hỏi Hân:

- Mày làm gì Xi Von phải không?

Hân lắp bắp:

- Không! Không! Tao có làm gì đâu!

Tôi bực dọc:

- Thôi đi! Đến nước này rồi mà còn chối à! Mày không làm gì con gái người ta mà người ta lại nổ súng bắn mày! Đồ cà cuống chết đến đít còn cay! Mày phải nói thật để còn tính cách xử lý chứ!

Hân nhăn nhó vẻ tội nghiệp:

- Khổ quá! Tao thề! Tao không làm gì cả! Tao chỉ theo cô gái vào để hỏi mượn kim chỉ đính cái khuy quần bị đứt và hỏi đổi xị rượu để mang về thôi mà!

Tôi thấy ông già nói gì đó với mọi người. Vòng tròn dân bản đang bao quanh chúng tôi xôn xao chỉ trỏ. Rất nhiều gương mặt bừng bừng, nhiều cái chém tay rất giận dữ. Tôi đoán chắc có sự hiểu lầm chi đây nên thôi không hỏi Hân nữa mà bảo với Hân:

- Tao thấy dân bản có vẻ giận dữ lắm! Chắc thế nào họ cũng xử bọn mình theo luật lệ. Phải tìm cách gì đó chứ không thì nguy to.

Khốn nỗi tình cảnh này thì ngay cả thông thạo tiếng Lào còn khi cũng tình ngay lý gian, khó mà giải thích, huống hồ hai chúng tôi chỉ lắp bắp được vài từ bập bõm. Tôi nhìn quanh một lượt thấy vẻ mặt người nào cũng rất nghiêm trọng nên tôi bàn với Hân chỉ còn cách duy nhất đó là hoãn binh chờ đến sáng mai Tiểu đội trưởng Vinh về sẽ tìm cách giải thoát cho hai thằng. Hướng về phía dân bản, tôi đứng lên cố gắng dùng chút vốn tiếng Lào ít ỏi vừa nói vừa kết hợp ra hiệu đại ý nếu dân bản bắn hoặc làm gì chúng tôi thì cái này - tôi chỉ vào máy kinh vĩ - sẽ nổ "bùm" và tất cả sẽ chết hết!


Tiêu đề: Bên dãy Trường Sơn
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Tư, 2022, 07:39:14 am
Câu dọa của tôi có vẻ hiệu nghiệm. Vòng tròn hơi giãn ra, nhưng không có vẻ gì là họ sẽ giải tỏa. Hóa ra họ giãn ra là để ngồi xuống quanh chúng tôi. Trời mù mịt sương và bắt đầu tối dần, chúng tôi mừng thầm khi thấy có một số người lục tục đứng dậy ra về. Nhưng một lúc sau lại thấy một số người khác đến và ngồi xuống vòng tròn. Hóa ra, họ chỉ về ăn cơm. Một đống lửa rất to được nhóm lên gần đó. Suốt mấy tiếng đồng hồ leo đồi, cắt rừng đi vào bản đến giờ cái bụng bắt đầu đấu tranh biểu tình réo ùng ục. Tôi nhìn quanh tuyệt vọng bởi chẳng có biểu hiện gì là họ sẽ giải tán cả. "Chắc họ ngồi chờ chúng tôi mệt ngủ thiếp đi thì sẽ xông vào trói lại để xử theo luật lệ của bản". Nghĩ vậy, tôi khẽ nói với Hân:

- Tuyệt đối không được ngủ, kể cả ngủ gật đâu đấy! Chỉ cần mình sơ hở là dân bản sẽ xông vào bắt trói và xử theo luật ngay. Cố gắng thức đến sáng mai chờ anh Vinh về sẽ có cách giải quyết.

Ánh lửa nhập nhềnh hắt những cái bóng đổ dài trên mặt đất. Ánh lửa hắt lên những khuôn mặt gầy guộc không biểu lộ nhiều cảm xúc, làm tôi liên tưởng đế các bộ tộc da đỏ với các tập tục hoang dã trong các bộ phim đã xem khiến tôi càng hoang mang. Suốt đêm đó, chúng tôi ngồi trắng đêm trong vòng tròn dân bản. Tiếng côn trùng ỉ ê, tiếng chim lợn tắc, tiếng chim khảm khắc đóng vào không gian khiến đêm càng thêm rờn rợn và nhuốm màu huyền bí. Sương đêm bắt đầu lạnh ở mặt và cổ, có thể nhìn thấy sương bay là là ngay trước mặt. Sương đậu trắng trên tóc, lông mi, lông mày thành giọt. Quần áo chúng tôi bắt đầu ướt. Hắt xì! Tôi rùng mình sau cơn ớn lạnh dựng ngược thành vệt chạy dọc sống lưng. "Bây giờ mà cảm lạnh thì nguy mất!". Cái ý nghĩ ấy cộng với đói, mệt khiến tôi muốn xỉu đi. Chưa bao giờ tiếng gà gáy cất lên lại trở thành nỗi khắc khoải đợi chờ đến thế trong tôi.


Cuối cùng thì sự mong ước của tôi cũng đã đến. Tiếng gà thưa rồi mau dần. Trời bắt đầu bàng bạc. Tôi thở phào. Vậy là cũng đã qua một đêm căng thẳng. Tôi lại chợt lo: Không biết Tiểu đội trưởng Vinh có về như đã hẹn không? Và về thì anh có biết chúng tôi đang mắc kẹt lại trong bản không?


Sương bắt đầu loang ra, mỏng dần rồi đậu lại trên những ngọn cây, bìa rừng như được phủ một tâm voan trắng. Người tôi lên cơn hâm hấp sõt, nhưng mắt tôi đóng đinh vào con đường mòn chờ một bộ quân phục xuất hiện. Chúng tôi cứ ngồi ở trong vòng tròn của dân bản như vậy cho đến khoảng giữa buổi sáng thì Tiểu đội trưởng Vinh xuất hiện cùng với một người (về sau tôi mới biết đó là chủ tịch xã). Hai người gặp già làng và nói chuyện gì đó, khi ấy vòng tròn người mới tản ra. Sau hơn một đêm ngồi ở một tư thế, chân tê cứng, chúng tôi không thể nào đứng dậy nổi mà phải vịn vào vai của Tiểu đội trưởng Vinh để đứng dậy.


Cuối cùng thì lý do mà chúng tôi bị bao vây cũng được sáng tỏ. Dân bản nơi đây có tục cấm con trai lạ không được vào phòng con gái. Hân không biết điều đó nên đã theo cô gái vào buồng định mượn kim chỉ. Do không biết tiếng, Hân dùng tay làm động tác xâu chỉ vào kim rồi chỉ vào cô gái ra hiệu cho mượn và chỉ vào thắt lưng của mình ra dấu bị đứt cúc. Rồi Hân đưa đôi giày và nói nửa tiếng Lào, nửa Việt: "piền (đổi) xị rượu". (xị tiếng Lào là quan hệ nam nữ). Hân giơ một ngón tay lên để ra dấu bảo: Một xị!


Bố cô gái vừa đi săn về, thấy con trai lạ trong buồng con gái, lại có những động tác kỳ quặc dễ gây hiểm lầm, thêm nghe loáng thoáng thấy nói "xị, xị" nên rất tức giận, nghĩ kẻ này sàm sỡ con gái nên ông đã nổ súng cảnh cáo, sau đó sự việc diễn ra như đã kể.


Buổi tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong. Dân làng đốt một đống lửa rất to ở giữa sân. Sương bay bay, lửa bập bùng cháy bên ngoài, cháy cả trong mắt các cô gái. Tiếng trống, tiếng hát và điệu múa làm má của các cô gái Lào thêm hồng, mắt thêm lúng liếng. Xi Von đi cùng với một cô gái nữa đến chỗ tôi và Hân miệng chúm cười, hai tay chắp trước ngực ra ý mời vào vòng nhảy. Tôi định lắc đầu từ chối thì Tiểu đội trưởng Vinh ghé vào tai nói nhỏ: Trong đêm hát múa, con gái Lào thích chàng trai nào thì họ sẽ mời. Nếu chàng trai đó từ chối thì họ cũng không ra múa hát


Tiếng trống vang lên "phập phùm, phập phùm, phập phùm, phập phập phập, phùm phùm phùm". Tôi liếc lên, bắt gặp tiếng trống cũng đang phập phùm trong đôi mắt của cô gái nên đứng dậy và cùng cô bước vào vòng. Hân nhảy với Xi Von còn cô gái của tôi là Khăm Say.

   Vừa nhảy, đám thanh niên vừa hát:
   Pạc Sòn quê hương đất vàng Nơi nay rất đẹp
   Nừu ai đã được đến và thấy mường pạc sòn
   Đất nơi đây mến khách sẽ làm, đẹp lòng anh em
   Tất cả giúp đỡ lẫn nhau
   Ôi đẹp thế em gái Lào Thưng
   Chăm chỉ chịu khó đẹp nết tuyệt vời


Sau buổi tối hôm đó, tôi và Hân trở nên thân thiết với Xi Von và Khăm Say. Thời gian rảnh rỗi, tôi và Hân thường vào bản đi hái măng với họ. Khăm Say dạy tôi múa, hát điệu của Lào, còn tôi dạy Khăm Say hát dân ca Việt và bài "Ngày mai anh lên đường". Tôi bảo, ở Việt Nam mọi người rất thích hoa phong lan. Phong lan tượng trưng cho sự chung thủy. Khăm Say nghe rất chăm chú và mỉm cười. Tôi hỏi sao lại cười, Khăm Say bảo bí mật. Những đêm múa hát của dân bản sau đó, bao giờ Khăm Say và Xi Von cũng mời tôi và Hân.


Buổi chia tay trước khi chúng tôi đi đo đạc ở vùng núi khác thật là vui. Khăm Say hát tặng tôi bài Pạc Sòn còn tôi hát tặng Khăm Say bài "Ngày mai anh lên đường". Đến đoạn "Như hoa phong lan chờ đợi... Anh ơi em lại đón anh về" tôi thấy mắt Khăm Say lóng lánh. Tôi nhìn thấy có ánh lửa, có tiếng trông của điệu Lăm vông phập phùm, phập phùm trong mắt em. Sáng hôm sau khi chúng tôi chia tay, Khăm Say và Xi Von tiễn chúng tôi ra tận đầu dốc. Trước khi chia tay, Xi Von tặng Hân một chiếc khăn tay. Còn Khăm Say, em bảo tôi chờ một chút rồi chạy ù đi đâu đó. Một lúc sau, em hiện ra ở bìa rừng, trên tay là một giò phong lan đang nở hoa tím ngát rất đẹp. Bây giờ tôi mới hiểu cái nụ cười của Khăm Say hôm nào, sau khi nghe tôi nói chuyện về hoa phong lan. Chúng tôi chia tay, giò lan trên vai tôi đung đưa theo nhịp bước. Trên đầu dốc, Khăm Say và Xi Von nhìn hút theo chúng tôi, tóc hai em bay bay trong gió.